Ngày 17/01 Thánh Antôn

Thứ năm - 16/01/2025 17:36
Ngày 17/01 Thánh Antôn
Ngày 17/01 Thánh Antôn

Ngày 17/01 Thánh Antôn
---------------------------------
 

Ngày 17/01 Thánh Antôn

---------------------------------

Mục Lục:

Ngày 17/01-1: Thánh Antôn, viện phụ. 1

Ngày 17/01-2: Thánh Antôn Ai Cập. 4

Ngày 17/01-3: THÁNH ANTÔN, 5

Ngày 17/01-4: Thánh Antôn. 7

Ngày 17/01-5: Thánh Antoine. 7

Ngày 17/01-6: THÁNH ANTÔN.. 10

Ngày 17/01-7: Thánh Antôn Cả. 13

Ngày 17/01-8: THÁNH ANTÔN.. 14

Ngày 17/01-9: Thánh Antôn, Viện Phụ. 16

 

---------------------------------

 

Ngày 17/01-1: Thánh Antôn, viện phụ

 

1. Đôi dòng tiểu sử.

 

Hôm nay Giáo Hội cho chúng ta mừng lễ kính thánh Antôn. Thánh Antôn hôm nay Giáo Hội mừng Ngày 17/01-1

 

Hôm nay Giáo Hội cho chúng ta mừng lễ kính thánh Antôn. Thánh Antôn hôm nay Giáo Hội mừng kính không phải là thánh Antôn Padua quen thuộc mà mọi người chúng ta kính mến. Antôn thành Padua hoặc Antôn thành Lisboa, sinh ngày 15 tháng 8 năm 1195 và qua đời ngày 13 tháng 6 năm 1231, là một linh mục Công giáo người Bồ Đào Nha và là tu sĩ Dòng Phanxicô. 

 

Còn thánh Antôn chúng ta mừng kính hôm nay được gọi là thánh Antôn viện phụ sinh tại Cosma bên AiCập vào khoảng năm 250 và qua đời vào ngày 17/1/356.

 

Nhìn lại cuộc đời của Ngài, chúng ta phải nhận là Ngài có nhiều may mắn. Cha mẹ Ngài là người giầu có, quí phái. Ngài và cô em gái luôn được sống trong sự bao bọc ấm cúng của gia đình.

 

Lúc ngài được 18 tuổi thì cha mẹ Ngài lần lượt ra đi để lại cho hai anh em một gia tài kếch xù. Hai anh em tiếp tục sống đùm bọc yêu thương nhau. Với số của cải cha mẹ để lại, hai anh em có thể sống một cuộc sống dư dật và thật thoải mái. Thế nhưng ý Chúa nhiệm mầu, Người đã kêu gọi Antôn dâng hiến cuộc đời cho Người.

 

Hôm đó trong ngôi nhà nguyện nhỏ dâng cúng thánh Augustinô, Lời Chúa vang lên: "Nếu con muốn trở nên trọn lành, hãy về bán hết gia tài, phân phát cho kẻ nghèo khó" (Mt 19,21). Lời Tin Mừng đó đã làm cho Antôn suy nghĩ vì hai anh em đang có thật nhiều tiền của. Nghe những Lời đó Antôn tưởng như Chúa đang nói với chính mình nhưng chưa biết phải làm gì. Và Chúa Nhật sau đó, Lời Chúa lại vang lên như một chỉ dẫn: "Anh em đừng lo lắng về ngày mai: ngày mai, cứ để ngày mai lo. Ngày nào có cái khổ của ngày ấy."(Mt 6,34). Thế là con đường đã quá rõ. Antôn nhất định áp dụng đến cùng Lời Chúa dạy, và nhất quyết theo Chúa đến cùng. Ngài về nhà, chia vườn đất cho người nghèo trong làng, bán đồ đạc lấy tiền bố thí cho người nghèo khó. Ban đầu ngài còn để lại chút ít để nuôi mình và cô em gái, nhưng khi suy nghĩ đến Lời Chúa: "Con đừng bận tâm đến ngày mai", Ngài lại đem bán tất cả những cái còn lại lấy tiền cho người nghèo. Xong việc, ngài gởi cô em vào một cộng đoàn Trinh nữ, rồi quyết tâm bỏ thế gian.

 

Năm 35 tuổi, Antôn quyết tâm đi vào sa mạc để sống đời khổ tu và kết hợp hoàn toàn mật thiết với Thiên Chúa. Tiếng tăm nhân đức và sự khôn ngoan của Ngài lan tỏa rất xa. Nhiều khách thập phương đã kéo đến xin Ngài chỉ giáo.

 

Năm 327, khi được tin hoàng đế Maximinô Đaia ra chỉ bách hại công giáo, và tại Alexandria sắp có cuộc xử tử một số tín hữu trung kiên, thánh nhân liền nhất định xuống khích lệ anh em đồng đạo và mong được cùng chết vì Chúa Kitô. Vì thế, Ngài cùng với một anh em khác xuôi dòng sông Nil, đáp thuyền vào tận thành phố, rồi Ngài ngang nhiên tiến thẳng vào tòa án, khuyến khích tín hữu giữ vững đức tin; không kể gì đến các quan và dân ngoại. Ngài can đảm sống gần các vị tử đạo cho đến giây phút cuối cùng trên đấu trường. Nhưng ý Chúa không muốn ban cho thánh Antôn triều thiên tử đạo. Chúa muốn Ngài thành một tấm gương can đảm chiến đấu và cầu nguyện, ăn chay cho đại gia đình trụ trì, tuy nhiên thánh nhân vẫn lưu lại đô thị Alexandria cho đến khi ngọn lửa bách hại tắt hẳn mới quay gót về cộng đồng của mình.

 

Và từ đây cho đến cuối đời, Ngài dựng lều trên sườn núi Gokzin, suốt ngày đón tiếp mọi người: các tu sĩ, các tín hữu và cả lương dân.

 

Sống được 105 tuổi, thánh Antôn biết mình kiệt sức và giờ về thiên quốc sắp tới, Ngài liền hội các tu sinh lại quanh giường khuyên bảo họ lần sau cùng. Ngài cũng dậy các môn đệ đừng ướp xác và làm ma chay theo kiểu người Ai Cập. Sau cùng thánh nhân giơ tay chúc lành cho tất cả các thày và phó linh hồn trong tình yêu vô biên của Chúa. Hôm ấy là ngày 17.1.365.

 

Năm 561, xác thánh nhân được cải táng trong nhà thờ kính thánh Gioan Tiền Hô tại Alexandria. Các Giáo Hội Trung Ðông đã sùng kính thánh Antôn đầu tiên, sau đó tràn qua Âu Châu và Giáo Hội đã chính thức tôn phong Ngài lên bậc hiển thánh.

 

2. Bài học.

 

Cuộc đời của thánh Antôn để lại cho chúng ta rất nhiều bài học. Nhưng đặc biệt nhất vẫn là bài học về lòng yêu mến Lời Chúa. Đối với Antôn thì Lời Chúa chính là Kim Chỉ Nam, là lẽ sống cũng như là ánh sáng luôn hướng dẫn cuộc đời của mình. Ngài luôn đi tìm thánh ý của Thiên Chúa, can đảm đem những soi sáng của Chúa vào cuộc đời của mình.

 

Được cha mẹ để lại cho một gia tài kếch xù, Antôn đã không nghĩ như người phú hộ trong Tin Mừng Luca. Người phú hộ trong Tin Mừng Luca nhìn vào đống tài sản trời ban cho đã nghĩ ngay đến việc hưởng thụ. Ông đã vẽ ra cho mình một tương lai mà nhiều nhà chú giải Kinh Thánh gọi là bỉ ổi: "Lúc ấy ta sẽ nhủ lòng: hồn ta hỡi, mình bây giờ ê hề của cải, dư xài nhiều năm. Thôi, cứ nghỉ ngơi, cứ ăn uống vui chơi cho đã!"(Lc 12,19).

 

Antôn đã không nghĩ như vậy. Ngài đã đi tìm ý Chúa và sau khi được Chúa soi sáng qua Lời Chúa trong Tin Mừng, Antôn đã bán tất cả và cho đi tất cả không giữ lại cho mình cái gì. Rồi sau khi được soi sáng cũng qua Lời Chúa trong Tin Mừng Antôn đã bỏ tất cả và sống đời phó thác cho Chúa.

 

Năm 35 tuổi thánh nhân muốn rút hẳn vào sa mạc. Với một số lương thực vừa đủ sáu tháng Ngài băng qua sông Nil, trèo lên một ngọn núi cao gần Atfite và ở đó suốt 20 năm, không tiếp đón ai, trừ mấy mấy người bạn hàng năm hai lần đem lương thực tới cho Ngài.

 

Ngài có ý tránh xa thế tục, nhưng hương thơm nhân đức lại lôi kéo nhiều người khách thập phương đến thăm. Ban đầu thánh nhân còn tìm lẽ nọ lẽ kia, bày ra kế nọ kế kia để thoái thác, nhưng được ít lâu vì số người đến mỗi ngày một đông, lại nhất định tìm mọi cách để gặp mặt đấng thánh nên thánh nhân buộc lòng phải ra đón tiếp họ.

 

Năm 305, ý Chúa là muốn Ngài bỏ đời ẩn tu để đi lập các tu viện. Vâng ý Chúa, Ngài lập nhiều tu viện các cộng đồng tu hành và huấn dụ về đời sống thiêng liêng. Theo kinh nghiệm bản thân, Ngài bày tỏ cho các tu sĩ những mưu mô xảo quyệt của satan, chỉ cho họ những khí giới chiến đấu hữu hiệu hơn cả là cầu nguyện, ăn chay, làm dấu thánh giá và thái độ coi khinh chúng.

 

Đó là cuộc đời của một vị thánh. Chúng ta cám ơn Chúa đã để lại cho chúng ta tấm gương của một con người đã cố gắng đi theo tiếng gọi của Chúa, sống một cuộc đời siêu thoát thánh thiện đễ nên gương sáng cho mọi người.

 

Lạy Chúa, Chúa đã cho thánh An-tôn, viện phụ sống một đời phi thường trong sa mạc để phụng sự Chúa. Xin Chúa nhận lời ngài nguyện giúp cầu thay mà cho chúng con biết quên mình để một niềm yêu mến Chúa trên hết mọi sự.

 

Lm. Giuse Đinh Tất Quý

 

---------------------------------

 

Ngày 17/01-2: Thánh Antôn Ai Cập

 

 (251-356)

 

Thánh Antôn sinh năm 251 tại một ngôi làng nhỏ bên nước Ai Cập. Khi lên hai mươi tuổi, song Ngày 17/01-2

 

Thánh Antôn sinh năm 251 tại một ngôi làng nhỏ bên nước Ai Cập. Khi lên hai mươi tuổi, song thân Antôn qua đời. Họ để lại cho Antôn một gia sản lớn và giao cô em gái cho Antôn coi sóc. Antôn cảm thấy tràn ngập đau buồn và ngài đã cầu nguyện với Thiên Chúa. Dần dần, Antôn ý thức hơn về quyền năng của Thiên Chúa trong cuộc đời của ngài. Khoảng sáu tháng sau, Antôn nghe được lời này của Chúa Giêsu trong Kinh Thánh: “Hãy đi bán tất cả những gì anh có và hãy bố thí cho người nghèo; và anh sẽ có một kho tàng trên trời” (Lc 18,22). Antôn đã chiếm giữ những lời đó như một sứ điệp riêng hướng dẫn các kinh nguyện của mình. Ngài đã bán hầu hết của cải, chỉ giữ lại một phần nhỏ đủ để nuôi sống bản thân và người em gái. Rồi Antôn đem phân chia cho những người nghèo khổ hết số tiền ấy.

 

Sau đó, cô em gái của Antôn gia nhập nhóm các chị em sống đời cầu nguyện và chiêm niệm. Còn Antôn thì quyết định trở thành một ẩn sĩ. Ngài đã nài xin một thầy ẩn tu cao niên hướng dẫn mình về đường thiêng liêng. Antôn cũng viếng thăm những vị ẩn sĩ khác nhằm có thể học hỏi được các nhân đức nổi bật nơi mỗi vị. Rồi thánh Antôn bắt đầu đời sống cầu nguyện và sám hối riêng một mình với Thiên Chúa.

 

Khi được 55 tuổi, thánh Antôn xây một tu viện để giúp đỡ những người khác. Nhiều người nghe biết về danh của Antôn đã đến xin ngài những lời khuyên. Thánh nhân đã ban cho họ những lời khuyên thực tế như: “Ma quỷ sợ chúng ta khi chúng ta cầu nguyện và hy sinh. Nó cũng sợ chúng ta khi chúng ta sống khiêm tốn và nhân hậu. Nó đặc biệt khiếp sợ khi chúng ta yêu mến Chúa Giêsu thắm thiết. Nó chạy xa khi chúng ta làm dấu Thánh Giá.”

 

Thánh Antôn đã viếng thăm thánh Phaolô ẩn tu, là vị thánh chúng ta vừa mừng kính hôm 15 tháng Giêng. Nhờ bởi gương sáng đời sống thánh thiện của thánh Phaolô mà Antôn cảm thấy được can đảm mạnh mẽ thêm. Và rồi Antôn đã mất sau một cuộc đời dài chìm đắm trong cầu nguyện. Antôn sống thọ 105 tuổi. Thánh Athanasiô đã viết một cuốn tiểu sử nổi tiếng về thánh Antôn Ai Cập. Chúng ta sẽ mừng lễ kính thánh Athanasiô ngày 2 tháng Năm.

 

Chúng ta không bao giờ nên nản lòng thất vọng khi ma quỷ cám dỗ chúng ta làm những điều sai quấy. Hãy nhớ rằng Đức Chúa Giêsu luôn luôn ở ngay bên cạnh chúng ta. Nếu chúng ta cầu nguyện, Người sẽ trợ giúp. Người sẽ ân thưởng cho tình yêu và lòng trung thành bền đỗ của chúng ta.

 

---------------------------------

 

Ngày 17/01-3: THÁNH ANTÔN,

 

(St Anthony) Viện phụ

 

Thánh Antôn, viện phụ thọ tới 105 tuổi. Một tuổi đời thật sung mãn được Chúa chúc lành. Ca Ngày 17/01-3

 

Thánh Antôn, viện phụ thọ tới 105 tuổi. Một tuổi đời thật sung mãn được Chúa chúc lành. Ca nhập lễ trong ngày lễ thánh Antôn đã ca ngợi người công chính như sau:" Người công chính vươn lên tựa cây dừa tươi tốt. Lớn mạnh tựa hương bá Libăng. Ðược trồng nơi nhà Chúa. Giữa khuôn viên đền thánh Chúa ta "( Tv 91, 13-14 ).

 

 

 

THÁNH ANTÔN, VIỆN PHỤ

Thánh Antôn sinh tại Cosma bên Ai Cập trong một gia đình quí phái. Thánh nhân được ấp ủ trong bầu khí ấm cúng của gia đình. Thánh nhân đã được Chúa chuẩn bị kỹ càng vì thế cha mẹ của Ngài lần lượt ra đi, Ngài phải bao bọc đứa em gái. Hai anh em luôn thương yêu nhau và nâng đỡ, giúp nhau sống giữa cuộc đời. Khỏang năm 270, một buổi sáng tới nhà thờ, thánh nhân nghe được tiếng Chúa qua đoạn Tin Mừng Mt 19, 21:" Nếu con muốn trở nên trọn lành, hãy về bán hết gia tài, phân phát cho kẻ nghèo khó". Lời Tin Mừng này đã làm cho chàng thanh niên giầu có tiu ngỉu vì chàng có lắm tiền, lắm của. Nhưng, đối với Antôn lời Phúc âm này tưởng như Chúa đang nói với chính mình, Antôn đã quyết tâm thực hiện. Thánh nhân chia ruộng đất cho những bà con nghèo khó lối xóm, bán tất cả gia sản mình đang có, phân phát tất cả cho những bà con nghèo. Antôn gửi em gái yêu quí của mình vào một cộng đồng trinh nữ, còn Ngài quyết tâm dấn bước đi theo tiếng Chúa gọi. Sau nhiều ngày vất vả, lang thang, thánh nhân đã gặp một vị tu hành và xin dựng lều gần vị khổ tu để học tập cuộc sống tu với vị tu hành ấy. Các nhân đức và cuộc sống của Ngài đã lan tỏa khắp nơi, được các bạn hữu mến chuộng. Ma quỉ luôn rình mò cám dỗ Ngài, nhưng Ngài đã luôn chiến thắng chúng nhờ lời cầu nguyện và sự hy sinh của Ngài. Năm 35 tuổi, Antôn quyết tâm đi vào sa mạc để sống đời khổ tu và kết hợp hoàn toàn, mật thiết với Thiên Chúa. Tiếng tăm nhân đức và sự khôn ngoan của Ngài lan tỏa rất xa. Nhiều khách thập phương đã kéo đến xin Ngài chỉ giáo. Năm 305, thánh nhân bỏ đời ẩn tu và thiết lập các tu viện, Ngài đã qui tụ được rất nhiều môn đệ. Thánh nhân cũng ao ước được phúc tử vì đạo. Chúa muốn dùng Ngài qua cuộc sống để làm gương và hướng dẫn người khác vì thế vào năm 327, hoàng đế Maximinô Dain ra sắc chỉ cấm đạo công giáo. Thánh Antôn tới Alexandria động viên và khích lệ những người sắp lãnh nhận vì danh Chúa Kitô, thánh nhân đã ở lại đó cho tới khi cơn cấm cách chấm dứt. Thánh nhân dựng lều tại sườn núi Gokzin, suốt ngày tiếp khách và làm nhiều phép lạ như chữa bệnh, trừ quỉ và nói ngôn sứ .

 

 

 

GIÁO HỘI THƯỞNG CÔNG CHO THÁNH NHÂN

Với một lòng yêu mến Chúa dạt dào, thánh Antôn đã làm gương cho nhiều người về đời sống thánh thiện và các nhân đức siêu việt của Người. Thánh nhân qua đời ngày 17/01/356 . Vào năm 561, xác thánh nhân được cải táng trong nhà thờ kính thánh Gioan tiền hô tại Alexandria. Các Giáo Hội Trung Ðông đã sùng kính thánh Antôn đầu tiên, tràn qua Âu Châu và Giáo Hội đã chính thức tôn phong Ngài lên bậc hiển thánh.

 

 

 

Lạy Chúa, Chúa đã cho thánh Antôn, viện phụ, sống một đời phi thường trong sa mạc để phụng sự Chúa. Xin Chúa nhận lời người nguyện giúp cầu thay,cho chúng con biết quên mình để một niềm yêu mến Chúa trên hết mọi sự ( Lời nguyện nhập lễ, lễ thánh Antôn, viện phụ ).

 

 

 

Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT

 

---------------------------------

 

Ngày 17/01-4: Thánh Antôn

 

 (251-356)

 

Cuộc đời Thánh Antôn nhắc chúng ta nhớ đến Thánh Phanxicô Assisi. Lúc 20 tuổi, Antôn được đánh Ngày 17/01-4

 

Cuộc đời Thánh Antôn nhắc chúng ta nhớ đến Thánh Phanxicô Assisi. Lúc 20 tuổi, Antôn được đánh động bởi câu Phúc Âm: “Hãy bán những gì bạn có và cho người nghèo,” (Mc 10:21b) nên ngài đã bán tài sản thừa kế to lớn của ngài để cho người nghèo. Ngài khác với Thánh Phanxicô Assisi, vì hầu hết cuộc đời Thánh Antôn sống trong cô tịch. Ngài thấy thế gian đầy những cạm bẫy, ngài cho Giáo hội và thế giới thấy sự khổ tu trong cô tịch, hành xác và cầu nguyện. Không thánh nhân nào phản xã hội, Thánh Antôn đã lôi kéo nhiều người đến với ngài nhờ sự hướng dẫn và chữa lành tâm hồn.

 

Lúc 54 tuổi, ngài đáp lại yêu cầu của nhiều người và thành lập một dòng có nhiều phòng nhỏ nằm rải rác. Ngài giống Thánh Phanxicô Assisi là rất sợ “những tòa nhà sang trọng với những chiếc bàn đầy đồ ăn.”

 

Lúc 60 tuổi, ngài muốn tử đạo trong thời Đế quốc Rôma bách hại kiểu mới hồi năm 311, ngài không sợ nguy hiểm khi đến các nhà giam để hỗ trợ tinh thần và vật chất. Lúc 88 tuổi, ngài đấu tranh với tà thuyết Arian, các tổn thương của Giáo hội từ nhiều thế kỷ qua được hồi phục.

 

Thánh Antôn kết hợp nghệ thuật với Thánh Giá hình chữ T, con heo và cuốn sách. Con heo và Thánh giá là biểu tượng chiến đấu can trường của ngài với ma quỷ: Thánh Giá là sức mạnh của ngài vượt qua ma quỷ, con heo là biểu tượng của ma quỷ. Cuốn sách nhắc nhớ “cuốn sách của thiên nhiên” hơn hẳn những lời được in ấn. Thánh Antôn qua đời trong cô tịch lúc 105 tuổi.

 

---------------------------------

 

Ngày 17/01-5: Thánh Antoine

 

 – Đan viện phụ (251-356)

 

Lễ nhớ

 

1. Ghi nhận lịch sử – Phụng Vụ

 

Lễ nhớ đến vị thầy của đời sống tâm linh và là tổ phụ của các ẩn sĩ được cử hành vào ngày 17.01 Ngày 17/01-5

 

Lễ nhớ đến vị thầy của đời sống tâm linh và là tổ phụ của các ẩn sĩ được cử hành vào ngày 17.01, đã có từ khởi đầu thế kỷ thứ V trong các lịch của Syriaque, Copte và Byzantin. Ở Phương Tây, việc tôn kính vị thánh này chỉ xuất hiện vào thế kỷ thứ IX. Chúng ta chỉ được biết về thánh nhân qua quyển “Cuộc đời thánh Antoine” do người bạn của ngài là thánh Athanase viết, sau khi thánh nhân qua đời ; Hạnh thánh Antoine là quyển sách gối đầu của thánh Augustinô và thánh Martin cũng như nhiều vị thánh khác.

 

Thánh Antoine, được gọi là Cả hay Đan viện phụ, sinh tại Queman, miền Thượng Ai Cập, vào năm 251 từ một gia đình Kitô giáo. Vào khoảng 20 tuổi, khi nghe một đoạn Phúc Âm trong Thánh lễ : “Nếu anh muốn nên hoàn thiện, thì hãy bán tài sản của anh và đem cho người nghèo, anh sẽ được một kho tàng trên trời ; rồi hãy đến theo tôi” (Mt 19,21). Cuộc đời ngài đã thay đổi. Nắm từng chữ của Phúc Âm, ngài bán đi tài sản của mình, bố thí cho kẻ nghèo và bắt đầu đi học với một vị ẩn sĩ già đạo đức, dạy cho ngài biết chia đời sống ra thành những giờ cầu nguyện, đọc Lời Chúa và lao động tay chân. Sau đó ngài rút vào sa mạc Thébaide ; trong vùng cô tịch này, ngài phải chiến đấu với các cơn cám dỗ nặng nề trong vòng 15 năm.

 

Antoine thu hút được nhiều đệ tử cùng chí hướng, muốn sống đời ẩn tu hay khổ tu, mỗi người sống trong một lều riêng cách biệt nhau. Tiếng tâm vị thánh vang rất xa, vươn khỏi xứ Ai Cập ; vị Thượng phụ Giáo chủ ở Alexandrie là thánh Athanase cũng là một trong các bạn hữu của ngài.

 

Vào năm 311, dưới thời bách hại của hoàng đế Maximin Daia, Antoine rời bỏ sa mạc, tuyên bố rằng : “Chúng ta hãy đi chiến đấu cùng với bạn bè chúng ta.” Ngài đến Alexandrie để động viên các tín hữu bị bách hại, bị bỏ tù hay bị kết án lao động khổ sai. Ngài trở lại thành này một lần nữa để giúp đỡ thánh Athanase trong việc chiến đấu với bè rối Arius.

 

Trở về sa mạc, ngài cắm lều gần Biển Đỏ, dưới chân núi Quelzoum, có một dòng suối và một cụm dừa. Đó là nguồn gốc Đan viện Copte ngày nay của thánh Antoine. Vị thánh đan sĩ này sống đến 150 tuổi và qua đời cách thánh thiện trong căn lều của mình, khi dạy các môn đệ : “Hãy sống như anh em phải chết hàng ngày. Hãy cố gắng bắt chước các vị thánh.”

 

Các ảnh tượng cho thấy thánh Antoine bị ma quỉ cám dỗ, đang khi ngài cầu nguyện giang tay theo hình Thánh giá, và một con heo, nhắc nhớ lại một đặc ân của Nhà trú của thánh Antoine : vào thời Trung cổ, các vị này có quyền để cho các con heo của mình đi lang thang trong thành phố, cổ đeo một chuông nhỏ.

 

Thánh Antoine được kể vào số 14 vị thánh Bảo Trợ và thường được kêu cầu để chống lại Lửa thánh Antoine. Ngài cũng được xem như thánh quan thầy cho các thú vật trong nhà.

 

2. Thông điệp và tính thời sự

 

Thánh Antoine, tổ phụ các ẩn sĩ Ai Cập, là một mẫu mực cho mọi tâm hồn đi tìm Chúa, không gắn bó những gì đã qua, nhưng luôn giữ Lời Chúa trong tâm hồn.

 

a. Thánh Vịnh 91 gợi lên đời sống cô tịch của thánh nhân trong sa mạc, hoàn toàn dùng để cầu nguyện, suy niệm Lời Chúa và làm việc : Người công chính lớn lên như cây dừa, giương cao như cây hương bá xứ Liban.

 

– Sa mạc biểu trưng cho việc từ bỏ, dứt bỏ, nơi Đức Giêsu mời chúng ta đến : Nếu anh muốn nên hoàn thiện, thì hãy đi bán tài sản của anh và đem cho người nghèo…Rồi hãy đến theo tôi (Phúc Âm : Mt 19,16-21).

 

– Sa mạc là nơi, hay là biểu trưng cho sự thử thách, chiến đấu và khổ hạnh. Theo gương Đức Giêsu Đấng được dẫn vào sa mạc để chịu thử thách (Mt 4,1) và bước ra như người chiến thắng, Antoine chọn sự cô tịch nơi Thébaide, chiến đấu với ma quỉ và sống một cuộc đời anh hùng để yêu mến Chúa “trên hết mọi sự”.

 

Bài đọc một (Ep 6,10.18) : Chúng ta chiến đấu với những quyền lực thần thiêng, với những bậc thống trị thế giới tối tăm…, nhắc nhớ đến những cuộc chiến đấu kiên cường của thánh Antoine chống lại các thần lực xấu suốt 15 năm khi ngài ở trong sa mạc. Thánh Athanase đã nói điều này trong Hạnh thánh ; truyền thuyết và mỹ thuật làm cho những hình ảnh này nổi tiếng. Antoine, bước ra khỏi sa mạc như một kẻ chiến thắng, dạy cho chúng ta biết phấn đấu đẩy lui các thần xấu : “Không có gì làm cho linh hồn yếu đuối trở nên mạnh mẽ bằng việc kính sợ Thiên Chúa, cầu nguyện và chiêm niệm không ngừng Lời Chúa… Dấu Thánh giá và niềm tin vào Chúa chúng ta là những tường lũy bất khả xâm phạm.”

 

Ngày kia, sau một cuộc chiến đấu, thánh Antoine la lên: “Lạy Chúa và Thầy của con, Chúa ở đâu ?” Một tiếng nói thiêng linh đáp lại : “Ta ở gần ngươi. Ta thấy tất cả cuộc chiến của ngươi và, bởi vì ngươi đã chống cự lại ma quỉ, Ta sẽ bảo vệ phần còn lại cuộc đời của ngươi…”.

 

Thánh Antoine nói với các môn đệ : “Con người chỉ tốt lành, khi nào Thiên Chúa ở trong người đó.” Vì thế, nhờ được kiên vững bằng Mình Máu Thánh Chúa Kitô, chúng ta cầu xin Chúa ban cho chúng ta “có khả năng chống lại mọi chước cám dỗ” và “chiến thắng quyền lực thống trị bóng tối” (Lời nguyện hiệp lễ).

 

Enzo Lodi

 

---------------------------------

 

Ngày 17/01-6: THÁNH ANTÔN

 

Viện Phụ (Thế kỷ IV)

 

Lm Phaolo Phạm Quốc Tuý

 

Thánh Antôn chào đời năm 250 tại Corma, gần Hieraclens, miền thượng Ai cập. Cha mẹ Ngài Ngày 17/01-6

 

Thánh Antôn chào đời năm 250 tại Corma, gần Hieraclens, miền thượng Ai cập. Cha mẹ Ngài nổi danh giàu có lẫn đạo đức, đã lo lắng dạy dỗ ngài sống đạo ngay từ nhỏ.

 

Khi được 18 tuổi thì cha mẹ ngài qua đời. Sáu tháng sau ngày mất cha mất mẹ, tại một giáo đường, thánh nhân đã nghe đọc lời sách thánh : “Nếu con muốn nên trọn lành, hãy về bán hết của cải và đem phân phát cho kẻ nghèo khó rồi theo Ta” (Mt 19,21). Tưởng như Thiên Chúa nói riêng với mình thánh nhân đã về bán hết của cải và đem phân phát cho người nghèo khó.

 

Sau khi lo lắng gửi gấm em gái của mình cho một nữ tu viện, ngài lui vào sa mạc để làm việc và cầu nguyện, ngài theo đuổi một cuộc sống rất khắc khổ, chỉ ăn bánh với muối và uống nước ngày một lần sau khi mặt trời lặn. Để giữ được sự cô tịch trọn vẹn, ngài còn ẩn thân vào một ngôi mộ bỏ trống. Thỉnh thoảng một người bạn mang bánh đến cho ngài nhưng ma quỉ đã tìm cách quấy phá để trục ngài ra khỏi “căn phòng” và cuộc sống khắc khổ. Chúng thường hay la hét và hiện hình kỳ quái. Phản ứng lại, thánh nhân thường cầu nguyện nhiều hơn và tăng gấp những việc hãm mình. Giận dữ vì các mưu mô bị thất bại, ma quỉ còn công khai hành hạ ngài nữa.

 

Một ngày kia người bạn mang bánh đến, bỗng thấy thánh nhân nửa sống nửa chết, mình đầy thương tích. Nhưng khi vừa bừng tỉnh, thánh nhân liền chỗi dậy và la lớn :

 

– Tôi còn sẵn sàng chiến đấu. Lạy Chúa, không, không gì có thể tách lìa con khỏi lòng yêu mến Chúa được.

 

Giữa những đau đớn vì các cuộc tấn công của ma quỉ, Ngài khinh bỉ trả lời :

 

– Ồn ào vô ích. Dấu thánh giá và lòng tin tưởng vào Chúa là những thành trì kiên cố.

 

Thánh nhân luôn tin tưởng nơi Chúa. Ngày kia, được an ủi trong tâm hồn và cảm thấy là ma quỉ đã lùi bước, ngài cầu nguyện :

 

– Ôi, lạy Chúa, Chúa ở đâu ? Sao Chúa không ở đây lau sạch nước mắt và thoa dịu những dày vò của con ?

 

Tiếng Chúa trả lời :

 

– Cha ở gần con, cha giúp con chiến đấu. Bởi vì con đã chống trả lại ma quỉ, cha sẽ bảo vệ quãng đời còn lại của con. Cha sẽ làm cho tên con rạng rỡ trên trời.

 

Tràn đầy nghị lực, thánh nhân chỗi dậy tạ ơn Chúa. Muốn xa mọi người hơn nữa, ngài vượt sông Nil đến trú ngụ trong một pháo đài hoang phế đầy những rắn rết. Nhưng sự thánh thiện của ngài như một sức nam châm, vẫn thu hút nhiều người đến xin làm môn đệ. Thế là một phong trào ẩn tu nổi lên mạnh mẽ. Sa mạc mọc lên những mái tranh, từ đó không ngừng vang lên những lời kinh ca khen Chúa. Thánh nhân trở nên vị thủ lãnh của nếp sống ẩn tu.

 

Dầu vậy, thánh Antôn đã hai lần từ giã sa mạc. Vào năm 311 khi có cuộc bách hại của Maximinô, ngài nói :

 

– Nào ta cùng đi chiến đấu với anh em ta.

 

Ngài lên đường đi Alexandria. Người ta thấy thánh nhân khích lệ các tù nhân nơi các trại giam, theo họ tới trước quan tòa và khuyên nhủ họ can đảm chết vì đạo, ngài còn xuống hầm trú để an ủi các linh mục. Ngài thoát chết là một điều lạ lùng.

 

Cuộc bách hại chấm đứt được một năm, thánh nhân lại tìm về sa mạc. Số các môn sinh ngày càng tăng thêm đông. Sợ bị cám dỗ thành kiêu căng, và thấy gương các thánh tử đạo, thánh Antôn khao khát sống khắc khổ để đền tội. Ngài tiến sâu hơn nữa vào sa mạc. Sau ba ngày đi theo đoàn người buôn bán, ngài dừng lại gần Biển Đỏ, dưới chân núi Kolzim và dựng một căn lều vừa đủ để nằm để ở. Dân Bê-đu-anh (Bédouins) cho ngài bánh ăn. Về sau các môn sinh tìm tới và mang cho ngài một cái xuổng với một ít hạt giống, đây là nguồn gốc của tu viện thánh Antôn hay là Deir-el-Arab, một tu viện theo nghi lễ Cốp (Copte) ngày nay vẫn còn.

 

Lần thứ hai, thánh nhân trở lại Alexandria theo lời mời của Đức Giám mục Athanasiô, để chống lại lạc giáo. Dân chúng cả thành chen lấn nhau đi đón ngài. Các lương dân cũng bảo nhau :

 

– Chúng ta đi gặp người của Thiên Chúa.

 

Nhiều người cảm động vì những bài diễn thuyết và những phép lạ ngài làm, đã xin lãnh bí tích rửa tội, người ta tưởng sẽ gặp một lão già tám mươi hoang dại, nhưng đã ngạc nhiên khi thấy ngài rất lịch thiệp, xử dụng ngôn ngữ văn hóa và diễn tả tư tưởng rất uyên thâm. Các triết gia ngoại giáo ngạc nhiên hỏi ngài :

 

– Ngài làm gì được trong sa mạc không có sách vở chi hết ?

 

Thánh nhân trả lời:

 

– Thiên nhiên đối với tôi là một cuốn sách mở rộng.

 

Và người ta ngỡ ngàng về những điều thánh nhân đã khám phá được trong cuốn sách vĩ đại này của Đấng Tạo Hóa.

 

Điều đáng kể dường như không phải những nhiệm nhặt ngài theo đuổi, mà là tâm hồn trong trắng ngài kết hiệp mật thiết với Thiên Chúa, ngài nói :

 

– Hư danh là kẻ thù nguy hiểm nhứt của chúng ta.

 

Danh tiếng của thánh Antôn lan rộng đến nỗi vua Constantinô và con cái ông đã viết thư tham khảo ý kiến ngài. Môn sinh của ngài hãnh diện lắm. Nhưng ngài bảo họ :

 

– Đừng ngạc nhiên lắm khi thấy nhà vua là một con người viết thư cho một con người. Đáng ngạc nhiên là chính Thiên Chúa đã muốn viết luật cho loài người, và đã nói với chúng ta qua Đức Giêsu Kitô .

 

Và trả lời cho lớp người vương giả ấy, ngài dùng những lời cao thượng để khuyên họ biết khinh chê danh vọng mà nhớ tới cuộc chung thẩm.

 

Khi ngài đã quá 90 tuổi, Thiên Chúa qua một thị kiến đưa ngài đến thăm thánh Phaolô ẩn tu trong sa mạc. Ngài còn được cho biết là sẽ sống tới tuổi 105.

 

Biết sắp tới giờ từ giã trần gian, ngài đi thăm anh em mình lần chót. Ngài nói với họ về sự chết với niềm vui của người hồi hương. Họ đã khóc ròng, nhưng ngài khuyên nhủ họ :

 

– Hãy sống như phải chết mỗi ngày. Hãy cố gắng noi gương các thánh.

 

Thánh nhân trở lại núi với hai môn sinh. Trong căn phòng nghèo nàn của mình, ngài đã phó linh hồn trong tay Chúa lúc 105 tuổi.

 

Chúng ta biết được ân sủng giai thoại quý báu của đời thánh Antôn là nhờ thánh Athanasiô kể lại.

 

---------------------------------

 

Ngày 17/01-7: Thánh Antôn Cả

 

Tu Viện Trưởng 

 

(Khoảng 251-356)

 

Cosma, một ngôi làng xinh đẹp với cảnh sắc thơ mộng của miền Ai Cập đã là nơi đón nhận Antôn Ngày 17/01-7

 

Cosma, một ngôi làng xinh đẹp với cảnh sắc thơ mộng của miền Ai Cập đã là nơi đón nhận Antôn vào cuộc sống. Antôn lớn lên giữa bầu khí đầm ấm của một gia đình quý phái. Nhưng rồi cha mẹ lần lượt khuất bóng và Antôn phải bảo bọc em gái. Hai người luôn thương yêu và nâng đỡ lẫn nhau.

 

Một buổi sáng, Antôn tới nhà thờ dự thánh lễ và đã nghe lời Phúc Âm: "Nếu con muốn trở nên trọn lành, hãy về bán hết gia tài, phân phát cho kẻ nghèo khó" (Mt 19, 21). Tưởng như Chúa đã phán bảo chính mình, Antôn đã quyết tâm thực hiện. Chàng chia ruộng đất cho bà con lối xóm, bán tất cả những cái đang có, lấy tiền bố thí cho người túng bấn, gửi em gái vào một cộng đồng trinh nữ, còn chàng một mình lên đường theo tiếng gọi của Chúa bên Ai Cập (khoảng năm 270).

 

Sau nhiều ngày lang thang, ngài đã gặp một vị tu hành và dựng lều gần vị ấy để học tập cuộc sống khổ hạnh. Nhân đức của chàng sáng chói và được các bạn hữu cùng lý tưởng quý mến. Trong thời gian này, ma quỷ dùng mọi nỗ lực để cám dỗ chàng, nhưng chàng đã dùng lời cầu nguyện và sự hy sinh như khí cụ để chiến thắng.

 

Năm 35 tuổi, Antôn vào sa mạc hầu được hoàn toàn kết hợp với Thiên Chúa. Danh tiếng ngài đồn xa. Khách thập phương kéo đến xin ngài chỉ dạy. Năm 305, ngài từ bỏ cuộc đời ẩn tu để thiết lập các tu viện và đã quy tụ được rất nhiều môn đệ.

 

Ngoài ra, ngài còn nuôi ước vọng tử đạo. Năm 327, hoàng đế Maximinô Dain ra sắc chỉ cấm đạo Công Giáo. Thánh nhân liền tới Alexandria để khích lệ những người sắp lãnh nhận cái chết vì danh Ðức Kitô, và ngài đã ở lại đó cho đến khi cơn bách hại chấm dứt. Từ đó, ngài dựng lều trên sườn núi Gokzin, suốt ngày tiếp đón mọi người và làm nhiều phép lạ: Chữa lành bệnh nhân, trừ ma quỷ và nói tiên tri.

 

Thánh nhân qua đời ngày 17/01/356, hưởng thọ 105 tuổi. Năm 561, xác ngài được đem về an táng trong nhà thờ thánh Gioan Tiền Hô tại Alexandria. Lòng sùng kính ngài phát sinh từ các giáo Hội Trung Ðông, tràn sang Âu Châu và Giáo Hội đã chính thức tôn phong ngài lên bậc Hiển Thánh.

 

---------------------------------

 

Ngày 17/01-8: THÁNH ANTÔN

 

VIỆN PHỤ

 

Antôn sinh năm 241 tại Cosma, nước Ai Cập trong một gia đình giàu có và đạo đức. Ngay từ Ngày 17/01-8

 

Antôn sinh năm 241 tại Cosma, nước Ai Cập trong một gia đình giàu có và đạo đức. Ngay từ nhỏ Antôn đã được cha mẹ kiên tâm rèn luyện và giáo dục về tri thức, cũng như đời sống đạo. Lúc Antôn 18 tuổi thì cha mẹ lần lượt qua đời để lại cho Antôn và em gái một gia tài lớn. Hai anh em luôn sống yêu thương, đùm bọc nâng đỡ nhau.

 

Năm 270, vào một buổi sáng Antôn tới nhà thờ tham dự Thánh lễ và nghe lời Chúa Giêsu nói với người thanh niên giàu có: "Nếu con muốn trở nên trọn lành, hãy về bán hết gia tài, phân phát cho kẻ nghèo khó". (Mt 19, 21). Antôn nhận ra đây là lời Chúa đang nói với chính mình, nên đã về bán hết của cải đem phân phát cho người nghèo khó. Sau khi gửi em gái vào cộng đoàn các trinh nữ, ngài đã vào sa mạc sống kết hợp mật thiết Chúa trong cầu nguyện, hãm mình và sống rất khắc khổ khi chỉ ăn bánh với muối và uống nước ngày một lần sau khi mặt trời lặn.

 

Trong 20 năm sống cô tịch giữa sa mạc hoang vu, thỉnh thoảng một người bạn mang bánh đến cho ngài. Dù thế, ma quỷ luôn rình rập, cám dỗ và thậm chí hành hạ ngài để lôi kéo thánh nhân nghiêng về những ham mê xác thịt, tiền của, danh vọng và nhất là từ bỏ lối sống ẩn tu, trở về với thế gian. Nhưng ngài đã chống trả các cơn cám dỗ ấy bằng việc ăn chay, cầu nguyện và hãm mình nhiều hơn nữa. Nhờ ơn Chúa, ngài không bao giờ chịu khuất phục nhưng luôn chiến thắng những cơn cám dỗ khốc liệt ấy.

 

Đời sống thánh thiện, và hương thơm nhân đức của thánh nhân đã lan tỏa khắp nơi và thu hút nhiều người tìm đến xin làm môn đệ; ngài kiên quyết từ chối nhưng sau đó, nhận ra ý Chúa, thánh nhân thành lập nhiều cộng đoàn. Sa mạc cằn cỗi giờ đây mọc lên những mái chòi, ngày đêm vang lên những lời kinh ngợi khen Chúa, nhiều người đã nên thánh nhờ sự chỉ bảo, dạy dỗ của ngài. Từ đây phong trào ẩn tu nổi lên mạnh mẽ, cha Antôn huấn đức và viết luật, trở nên vị tổ phụ của nếp sống ẩn tu.

 

Tuy thế, thánh nhân đã hai lần từ giã sa mạc để đáp ứng nhu cầu của Giáo hội:

 

Lần thứ nhất, vào năm 311, do cuộc bắt đạo của hoàng đế Maximinô Đaia, tại Alexandria sắp có cuộc xử tử một số tín hữu trung kiên nên cha Antôn quyết định rời sa mạc đi gặp các tù nhân để khuyên nhủ họ trung thành làm chứng cho Chúa, can đảm chết vì đạo. Cuộc bách hại chấm dứt được một năm, thánh nhân lại tìm về sa mạc, tiến sâu vào chân núi Kolzim và dựng một căn lều nhỏ vừa đủ để nằm và sống ở đó.

 

Lần thứ hai, vào năm 355, cha Antôn trở lại Alexandria theo lời mời của Giám mục Athanasiô, để giảng thuyết chống lại lạc giáo Ariô. Ngài đi khắp các thành thị, làng mạc kêu gọi mọi người trung thành với giáo huấn của Hội Thánh. Dân chúng tuôn đến, lắng nghe những bài giảng và chứng kiến các phép lạ thánh nhân thực hiện. Nhiều người tội lỗi ăn năn sám hối trở về, các lương dân bảo nhau: "Chúng ta đi gặp người của Thiên Chúa", còn những nhà trí thức thì rất ngạc nhiên khi thấy cha Antôn, dù sống tách biệt với thế giới con người, không tiếp xúc với với sách vở, với các nền văn hóa mà sao ngài lại thấu suốt mọi vấn đề. Thực ra, họ đã không biết được rằng thánh nhân đã học biết về Chúa qua cảnh vật thiên nhiên. Sau khi giúp Đức Giám Mục giải quyết xong vấn đề về lạc giáo, thánh nhân trở lại sa mạc tiếp tục lối sống ẩn dật, khắc khổ như trước.

 

Thánh nhân qua đời ngày 17/01/356, hưởng thọ 105 tuổi. Vào năm 561, xác ngài được cải táng trong nhà thờ kính thánh Gioan tiền hô tại Alexandria. Giáo Hội đã tôn phong Ngài lên bậc hiển thánh.

 

Thánh Antôn đã sống trọn một đời vâng phục thánh ý Chúa, yêu thương người nghèo khổ, sẵn sàng từ bỏ sự giàu sang, phú quý để sống cuộc đời ẩn tu, âm thầm, kết hợp mật thiết với Chúa. Xin giúp chúng con biết noi gương thánh nhân luôn sống thánh thiện, can đảm thực thi ý Chúa, đón nhận hoàn cảnh sống hiện tại, dù là những trái ý, những đau khổ, khó khăn và quảng đại giúp đỡ những người nghèo khó xung quanh mình. Amen.

 

Nt. Maria Phạm Hường, OP tóm lược

 

---------------------------------

 

Ngày 17/01-9: Thánh Antôn, Viện Phụ

 

Antôn sinh ngày 12.01.251 tại Coma, miền Thượng Ai Cập. Cha mẹ giàu có lẫn đạo đức, dạy Ngày 17/01-9

 

Antôn sinh ngày 12.01.251 tại Coma, miền Thượng Ai Cập. Cha mẹ giàu có lẫn đạo đức, dạy dỗ cậu sống đạo từ nhỏ. Lên 18 tuổi cha mẹ mất.

 

Sáu tháng sau Antôn nghe lời Chúa: “Nếu con muốn nên trọn lành, hãy về bán hết của cải và phân phát cho kẻ nghèo khó rồi theo Ta” (Mt 19,21). Antôn về bán hết của cải và phân phát cho người nghèo.

 

Sau khi gửi em gái cho một nữ tu viện, Antôn lui vào sa mạc làm việc, cầu nguyện, và sống khắc khổ. Để cô tịch trọn vẹn, Antôn còn ẩn thân vào một ngôi mộ bỏ trống. Thỉnh thoảng có một người bạn mang bánh đến cho Antôn. Ma quỉ tìm cách quấy phá, Antôn càng cầu nguyện nhiều hơn và tăng thêm những việc hãm mình.

 

Antôn còn muốn ở xa hơn nữa nên vượt sông Nil đến trú trong một pháo đài hoang phế. Sự thánh thiện của Antôn như sức nam châm thu hút nhiều người đến xin làm môn đệ. Một phong trào ẩn tu nổi lên mạnh mẽ. Sa mạc mọc lên những mái tranh vang lên lời kinh ca ngợi Chúa. Antôn trở thành vị thủ lãnh của nếp sống ẩn tu.

 

Năm 311 có cuộc bắt đạo của hoàng đế Galêriô, Ngài đi Alêxanđria khích lệ các tù nhân và khuyên họ can đảm chết vì đạo. Hết bách hại, Ngài lại tìm về sa mạc. Các môn sinh ngày càng đông. Ngài tiến sâu hơn nữa vào sa mạc. Sau 03 ngày theo đoàn người buôn bán, Ngài dừng lại gần Biển Đỏ, dưới chân núi Kolzim, dựng một căn lều để ở.

 

Theo truyền thuyết, quạ đem cho Ngài bánh ăn. Về sau các môn sinh mang tới cho Ngài một cái xuổng với một ít hạt giống, đó là nguồn gốc Tu viện thánh Antôn, một Tu viện theo nghi lễ Copte ngày nay vẫn còn.

 

Lần thứ 02 ngài trở lại Alexandria theo lời mời của Đức Giám mục Athanasiô, để chống lạc giáo. Dân chúng cả thành chen nhau đi đón Ngài. Các lương dân cũng bảo nhau: “Chúng ta đi gặp người của Thiên Chúa”.

 

Những bài giảng và các phép lạ ngài làm khiến nhiều người xin rửa tội. Các triết gia ngoại giáo ngạc nhiên hỏi ngài: “Ngài làm gì được trong sa mạc không có sách vở chi hết?”. Ngài trả lời: “Thiên nhiên đối với tôi là một cuốn sách mở rộng”.

 

Khi 90 tuổi và biết tới giờ từ giã trần gian, Ngài đi thăm anh em lần cuối và nói với họ về sự chết với niềm vui của người hồi hương. Họ khóc ròng, nhưng Ngài khuyên: “Hãy sống như phải chết mỗi ngày”!

 

Rồi Ngài trở lại núi với 02 môn sinh. Ngài mất ngày 17.01.356, thọ 105 tuổi. Năm 561, xác Ngài được cải táng trong nhà thờ Thánh Gioan Tiền Hô ở Alêxanđria. Giáo hội đã tôn Ngài lên Hiển Thánh.

 

Lm. Sta-nít-la-ô Nguyễn Đức Vệ

 

Nguồn: tonggiaophanhue.org

 

---------------------------------

 

Ngày 17/01-10: 

 

Ngày 17/01-11: Ngày 17/01-12: Ngày 17/01-13: Ngày 17/01-14: Ngày 17/01-15: Ngày 17/01-16: Ngày 17/01-17: Ngày 17/01-18: Ngày 17/01-19: Ngày 17/01-20:

 

 

 



---------------------------------


 

Tác giả: Nguyễn Văn Mễn

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây