Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật PS 7-C Bài 1-50 Xin hiệp nhất nên một

Thứ năm - 30/05/2019 22:03
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật PS 7-C Bài 1-50 Xin hiệp nhất nên một
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật PS 7-C Bài 1-50 Xin hiệp nhất nên một
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật PS 7-C: Bài 1-50: Xin hiệp nhất nên một

---------------------------------
Mục Lục:

Phúc Âm: Ga 17, 20-26. 2
PS7-C1. HIỆP NHẤT.. 3
PS7-C2. HIỆP NHẤT.. 4
PS7-C3. NÊN MỘT.. 7
PS7-C4. NGƯỜI YẾU.. 8
PS7-C5. CHO ĐI 10
PS7-C6. Cái Giá Phải Trả Cho Cuộc Sống. 11
PS7-C7. Xin cho chúng nên một 13
PS7-C8. Suy Niệm của Nhóm Đồng Hành. 15
PS7-C9. Để họ được nên một.... 17
PS7-C10. LÀM VIỆC VỚI NHAU.. 18
PS7-C11. JESUS IS THE WORLD ! 20
PS7-C12. LỜI CẦU NGUYỆN TRỌNG ĐẠI CỦA ĐỨC GIÊSU,  XIN CHO HỌ NÊN MỘT.. 21
PS7-C13. LỜI CẦU NGUYỆN CHO GIÁO HỘI 25
PS7-C14. Nên một như trong Thiên Chúa. 30
PS7-C15. Yêu một người đã chết 32
PS7-C16. Trong cung lòng Thiên Chúa. 36
PS7-C17. Dấu ấn của Thiên Chúa. 38
PS7-C18. Chờ mong Thần Khí 39
PS7-C19. BÀI HỌC TỪ PHAOLÔ.. 41
PS7-C20. Chú giải của Noel Quesson. 43
PS7-C21. Ái mộ những sự trên trời 48
PS7-C22. Luyện được con mắt thứ ba. 51
PS7-C23. Để họ được nên một 55
PS7-C24. Để chúng được hiệp nhất nên một như Chúng Ta. 57
PS7-C25. Suy niệm của Lm. Nguyễn Hữu Thy. 60
PS7-C26: Xin cho tất cả nên một 62
PS7-C27: Chúa Giêsu Hằng Cầu Thay Nguyện Giúp Cho Chúng Ta. 64
PS7-C28: ĐỨC GIÊSU CẦU NGUYỆN CHO GIÁO HỘI MỌI THỜI 66
PS7-C29: Nguyện hiệp nhất 73
PS7-C30: Câu truyện Tê-pha-nô tử đạo. 76
PS7-C31: “Lạy Cha, xin cho họ nên một, xin thánh hiến họ trong sự thật”. 79
PS7-C32: Hiệp nhất 81
PS7-C33: Suy Niệm của Lm Phêrô Phan Văn Lợi 84
PS7-C34: Hiệp nhất 88
PS7-C35: THÁNH VỊNH 96. 90
PS7-C36: AN TÂM VÌ CHÚA CHA LUÔN GÌN GIỮ.. 92
PS7-C37: Lòng vị tha. 95
PS7-C38: Giải nghĩa và hát mẫu Thánh vịnh 102. 96
PS7-C39: HÃY Ở NHÂN TỪ NHƯ CHÚA CHA.. 98
PS7-C40: Trở nên phi thường trong cuộc sống đời thường. 101
PS7-C41: Kẻ thù của Đức Giê-su là ai?. 103
PS7-C42: Suy niệm chú giải Lời Chúa Chúa Nhật VII TN C.. 105
PS7-C43: Hãy có lòng nhân từ. 110
PS7-C44: Yêu kẻ thù, lòng nhân ái từ bi 112
PS7-C45: Hãy ở nhân từ như Chúa Cha. 120
PS7-C46: Yêu thương. 122
PS7-C47: Bác ái vô biên. 125
PS7-C48: Luật yêu thương. 127
PS7-C49: Tiến mãi không ngừng. 130
PS7-C50: Sự tha thứ cho tất cả. 131

-------------------------------
 

Phúc Âm: Ga 17, 20-26


“Ðể chúng được hoàn toàn nên một”.

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.

Khi ấy, Chúa Giêsu ngước mắt lên trời cầu nguyện rằng: “Lạy Cha chí thánh, Con không cầu xin cho chúng mà thôi, nhưng còn cho tất cả những kẻ nhờ lời chúng mà tin vào Con, để mọi người nên một, cũng như Cha ở trong Con và Con ở trong Cha, để cả chúng cũng nên một trong Ta, để thế gian tin rằng Cha đã sai Con. Con đã ban cho chúng vinh hiển mà Cha đã ban cho Con, để chúng nên một như Chúng Ta là một. Con ở trong chúng, và Cha ở trong Con, để chúng được hoàn toàn nên một, và để thế gian biết rằng Cha đã sai Con, và Con đã yêu mến chúng như Cha đã yêu mến Con.”
“Lạy Cha, những kẻ Cha ban cho Con thì Con muốn rằng: Con ở đâu chúng cũng ở đấy với Con, để chúng chiêm ngưỡng vinh quang mà Cha đã ban cho Con, vì Cha đã yêu mến Con trước khi tạo thành thế gian. Lạy Cha công chính, thế gian đã không biết Cha, nhưng Con biết Cha, và những người này cũng biết rằng Cha đã sai Con. Con đã tỏ cho chúng biết danh Cha, và Con sẽ còn tỏ cho chúng nữa, để tình Cha yêu Con ở trong chúng, và Con cũng ở trong chúng nữa”. - Ðó là lời Chúa.

---------------------------------

---------------------------------
 
 

PS7-C1. HIỆP NHẤT

 

Một linh  mục dòng Tên làm việc tại Ấn độ, đó là cha Anthony de Mello, đã kể lại một câu: PS7-C1


Một linh  mục dòng Tên làm việc tại Ấn độ, đó là cha Anthony de Mello, đã kể lại một câu chuyện tưởng tượng như sau:

Ngày kia, Chúa Giêsu than phiền là Ngài chưa bao giờ được đi xem một trận bóng đá nào cả. Và thế là chúng tôi bèn đưa Ngài đi xem một trận đấu rất gay go giữa một đội Tin Lành và một đội Công giáo.

Đội Công Giáo làm bàn trước. Một không. Chúa Giêsu vỗ tay hoan hô và tung cả mũ lên trời.

Vài phút sau, tới phiên đội Tin Lành làm bàn. Một đều. Lần này, Chúa Giêsu cũng vỗ tay reo hò và tung cả mũ lên trời.

Một khán giả ngồi bên cạnh lấy làm ngạc nhiên và khó chịu về thái độ của Chúa Giêsu. Ông ta lấy tay đập lên vai Ngài và hỏi:

- Này ông bạn, ông bạn ủng hộ đội nào vậy ?

Xem chừng như còn bị kích thích bởi trận đấu, Chúa Giêsu trả   lời:

- Tôi hả ? Tôi không ủng hộ đội nào cả. Tôi đến đây là chỉ để thưởng thức trận đấu mà thôi.

Người khán giả đã khó chịu về thái độ của Chúa Giêsu, bây giờ lại càng bực bội hơn nữa. Ông ta quay sang người bên cạnh  và nói   nhỏ:

- Gã này quả là một tên vô thần.

Trên đường về nhà, chúng tôi bàn luận với Ngài về tình hình tôn giáo trên thế giới. Chúng tôi nói với Ngài:

- Lạy Chúa, những người có tôn giáo thật buồn cười, Họ tưởng rằng Thiên Chúa chỉ đứng về phía họ và chống lại với kẻ thuộc tôn giáo khác.

Chúa Giêsu gật đầu tỏ vẻ ưng ý. Ngài nói:

- Đó là lý do tại sao Ta không ủng hộ tôn giáo, mà chỉ ủng hộ con người mà thôi. Con người quan trọng hơn tôn giáo. Con người quan trọng hơn ngày Sabbat. Các con nên biết là chính những người có đạo đã treo Ta trên thập giá.

Khi nói đến hiệp nhất, chúng ta thường mơ tưởng đến một sự hiệp nhất, trong đó những ai nghĩ khác chúng ta, đều phải qui phục và đứng về phía chúng ta. Thế nhưng, sự hiệp nhất theo ý muốn của Chúa thì khác. Sự hiệp nhất này không xóa bỏ những sự phong phú riêng biệt của mỗi người, hay mỗi nhóm. Giáo hội phải xây dựng sự hiệp nhất trong sự tôn trọng những khác biệt chính đáng.

Chỉ có một Chúa, một phép rửa, một đức tin, nhưng có nhiều cách diẽn tả khác nhau. Để nói về Chúa Giêsu, chúng ta có tới bốn cuốn phúc âm. Vậy tại sao lại không chấp nhận có nhiều có nhiều cách sống đạo, sống Tin mừng khác nhau trong Giáo hội và trong thế  giới ?

Qua thư gửi tín hữu Corintô, thánh Phaolô đã dùng hình ảnh các chi thể của một thân xác để  nói về sự hiệp nhất của Giáo hội trong sự đa dạng, bổ túc và liên đới với nhau. Thân xác có nhiều chi thể. Chân tay, mắt mũi, môi miệng…tất cả đều phải cộng tác chặt chẽ với nhau để làm cho thân xác được lớn mạnh, đồng thời liên đới chịu trách nhiệm về sự lớn mạnh ấy.

Cũng thế, mỗi người chúng ta là một chi thể của Giáo hội. Tuy trình độ khác nhau, ý nghĩ khác nhau và việc làm khác nhau, nhưng mỗi người đều phải cộng tác với nhau để Giáo hội được phát triển, đồng thời liên đới chịu trách nhiệm về sự phát triển ấy.

Chúng ta hãy cầu nguyện cho Giáo hội, để mọi phần tử biết sống hiệp nhất trong tôn trọng lẫn nhau. Hiệp nhất nhưng không đơn điệu. Đa dạng nhưng luôn hiệp nhất và hiệp thông cùng nhau.

Lúc đó, Giáo hội được sánh ví như một vườn hoa, và mỗi thành viên là một loài hoa khác nhau, một hương thơm khác nhau.

Ôi xinh đẹp thay, phong phú thay Giáo hội  Đức Kitô!!!

 ---------------------------------

 

PS7-C2. HIỆP NHẤT


NTGT/149

 

Mỗi người Kitô hữu chúng ta vì đã được rửa tội, nên ai cũng có trách nhiệm và trách nhiệm: PS7-C2


Mỗi người Kitô hữu chúng ta vì đã được rửa tội, nên ai cũng có trách nhiệm và trách nhiệm phải truyền giáo, nghĩa là có bổn phận phải rao giảng về Thiên Chúa, về Chúa Kitô và nước trời cho những người khác. Trong việc thực thi bổn phận ấy, sống hiệp nhất có một sức mạnh rất đặc biệt. Vậy sự hiệp nhất đó, là sự hiệp nhất nào ? Sự hiệp nhất ấy có giá trị đặc biệt như thế nào trong việc truyền giáo ? Và người Kitô hữu chúng ta phải sống sự hiệp nhất ra sao, để góp phần vào công việc truyền giáo của Giáo Hội ? Phụng vụ lời Chúa qua bài Tin Mừng hôm nay sẽ trả lời cho chúng ta những câu hỏi đó.

Trước khi từ biệt trần gian, Chúa Giêsu đã cầu nguyện một cách tha thiết với Chúa Cha cho các tông đồ và tất cả những ai nhờ lời họ mà tin vào Chúa Kitô, trong đó có chúng ta được ơn hiệp nhất: “Con không chỉ cầu xin cho những người này nhưng còn cho những ai nhờ lời họ mà tin vào Con để tất cả nên một”.

Sự hiệp nhất ở đây là một ân huệ của Chúa Cha mà Chúa Giêsu đã tha thiết cầu xin với Cha Ngài cho chúng ta. Do đó hiệp nhất ở đây không thể là giả tạo như sự hiệp nhất của hai cây gậy buộc lại với nhau thành một ; cũng không như hai người bạn đi đường cùng nhau, cùng mục đích, cùng mối lợi, nhưng là nhắm lợi ích riêng của mình ; càng không phải là sự hiệp nhất rẻ tiền: cố nhịn nói, cố tránh va chạm để người ngoài nhìn vào không biết chúng ta đang chia rẽ. Trái lại, đây là sự hiệp nhất trong tình yêu thương của Thiên Chúa. Sự hiệp nhất đó phải được như là sự hiệp nhất giữa Thiên Chúa Ba Ngôi: “Như Cha ở trong Con, như Con ở trong Cha”.

Như vậy, sự hiệp nhất ở đây không phải là bất cứ sự hiệp nhất nào, mà là sự hiệp nhất giữa Chúa Kitô và Cha trong Thánh Thần. Căn bản của sự hiệp nhất này là tình yêu phát xuất từ Cha và chính trong sự hiệp nhất này là sức mạnh có tính thuyết phục thế gian tin vào Chúa Giêsu là Đấng Cứu Thế và nhận ra tình yêu thương của Chúa Cha đối với nhân loại.

Chắc hẳn, Chúa Giêsu biết rất rõ sự hiệp nhất mà Ngài mong ước thiết tha cho chúng ta (như đã trình bày ở trên) có một sức mạnh truyền giáo rất đặc biệt. Sở dĩ như vậy, vì Thiên Chúa và nước trời là những mầu nhiệm, những thực tại vô hình không dễ gì tin, bởi mắt phàm không thấy. Trái lại, khi nhìn thấy đời sống yêu thương hiệp nhất của các tín hữu, người ta sẽ nhận ra có sự hiện diện của Thiên Chúa và nước trời.

Đức cố Giáo Hoàng Phaolô VI cũng đã diễn tả sâu sắc về giá trị tông đồ của sự hiệp nhất, ngài nói: “Lời di chúc thiêng liêng của Chúa Giêsu cho chúng ta hiểu rằng, sự hiệp nhất giữa chúng ta không những là bằng chứng chúng ta là môn đệ Ngài, nhưng còn là bằng chứng Ngài được Chúa Cha sai đến và đó cũng là trắc nghiệm về sự đáng tin của các Kitô hữu và của Chúa Kitô”.

Quả vậy, có hiệp nhất với nhau, các kẻ tin mới tỏ ra mình không phải là những con người bị chia rẽ bởi những tranh chấp, nhưng là những con người có đức tin trưởng thành, có khả năng đối thoại, gặp gỡ nhau nhờ việc cùng tìm kiếm chân lý cách chân thành vô vị lợi. Như vậy sự hiệp nhất minh chứng chúng ta là môn đệ Đức Kitô, là những con người có đức tin vững mạnh và đó là lý do hấp dẫn người ngoài để họ dễ tin vào lời chứng của chúng ta. Hơn nữa, một sự hiệp nhất đến từ Thiên Chúa liên kết chúng ta lại với nhau là biểu hiện sự hiện diện của Thiên Chúa và nước trời ở giữa thế gian, như lời Chúa Giêsu thân thưa cùng Chúa Cha:”Xin cho họ nên một, như vậy, thế gian có thể nhận biết rằng chính Cha đã sai Con và đã yêu thương họ như đã yêu thương Con”.

Sống hiệp nhất nên một cách thân mật như “Cha ở trong Con và Con ở trong Cha” có một sức mạnh rất đặc biệt cho việc loan báo Tin Mừng. Thế nhưng làm sao chúng ta có thể hiệp nhất nên một cách thân mật như Cha ở trong Con và Con ở trong Cha được ? Quả thật, một sự hiệp nhất như thế nằm ngoài tầm tay của chúng ta và sự hiệp nhất này chỉ có thể thực hiện nơi chúng ta nếu chính Thiên Chúa thực hiện trong ta. Đó là điều mà Chúa Giêsu đã nói: “Con đã ban cho họ vinh quang mà Cha đã ban cho Con, để họ được nên một như Chúng Ta là một…” Vinh quang ở đây, chính là sự sống của Thiên Chúa. Việc chúng ta hiệp nhất vào chính sự sống của Thiên Chúa là cơ sở cho việc chúng ta hiệp nhất với nhau, cho nên phương thế hay nhất để thực hiện sự hiệp nhất giữa chúng ta là mức độ chúng ta thông hiệp vào vinh quang của Chúa Giêsu, vào cuộc sống Thần Linh của Ngài, nhờ việc kết hiệp với Chúa Giêsu trong Bí tích Thánh Thể, qua rước lễ, viếng Chúa Giêsu Thánh Thể ; nhờ việc lắng nghe và thực thi lời Chúa trong cuộc sống ; nhờ việc chân thành cầu nguyện cho sự hiệp nhất trong Giáo Hội, giữa các Kitô hữu với nhau và cho một thế giới tốt đẹp hơn. Một khi hiệp nhất với Chúa Giêsu như thế, chúng ta sẽ dễ dàng hiệp nhất và yêu thương nhau, tránh được mọi hận thù, chia rẽ, ghét ghen… Có như thế, chúng ta mới thực sự là dấu hiệu để người ngoại nhận ra Thiên Chúa là tình yêu và nhận ra Đức Giêsu là Đấng Cứu Thế được Chúa Cha sai đến để thực hiện chương trình yêu thương của Người, và lúc đó chúng ta sẽ thấy rằng sống hiệp nhất có một sức mạnh rất đặc biệt trong việc truyền giáo.

Ước chi phụng vụ lời Chúa hôm nay giúp chúng ta ý thức được sống hiệp nhất có một sức mạnh truyền giáo ; ý thức rằng Chúa Giêsu đã tha thiết cầu nguyện cho chúng ta được hiệp nhất với nhau như Ngài trong Cha và Cha trong Ngài ; ý thức rằng Chúa Giêsu đang cần đến sự cộng tác của chúng ta với ơn Chúa để làm triển nở sự hiệp nhất trong cộng đoàn xứ đạo, gia đình của chúng ta. Nhờ đó chúng ta sống gắn bó với Chúa Giêsu hơn qua việc năng dâng lễ, hiệp lễ, lãnh nhận các bí tích, lắng nghe lời Chúa, cầu nguyện cho sự hiệp nhất yêu thương trong gia đình cũng như trong xứ đạo của chúng ta. Hơn nữa, có Chúa Giêsu là giềng mối sự hiệp nhất trong chúng ta, chúng ta sẽ dễ dàng sống hiệp nhất yêu thương đối với anh chị em của chúng ta. Nguyện xin Chúa Giêsu tiếp tục tác tạo sự hiệp nhất nơi chúng ta.

---------------------------------
 
 

PS7-C3. NÊN MỘT


PV/305-

 

Khi cầu nguyện cho các môn đệ tương lai điều quan tâm chính của Người là sự hiệp nhất giữa: PS7-C3


Khi cầu nguyện cho các môn đệ tương lai điều quan tâm chính của Người là sự hiệp nhất giữa họ. Người cầu xin Chúa Cha: “Để họ được nên một như chúng ta là một”.

Sự hiệp nhất không giống như sự đồng phục. Đức Giêsu chọn lựa các môn đệ với đủ loại tính khí, phân cách, phong cách và tầng lớp xã hội để gợi ý rằng Người đã tìm trong tính đa dạng một sức sống lành mạnh.

Sự nên một không thể được thực hiện trong một cộng đoàn từ chối sự khác nhau. Sự nên một được hoàn thành khi mọi thành viên khác nhau và góp phần bằng những ơn gọi khác nhau, nhưng tất cả đều được hiệp nhất xung quanh một mục đích chung bởi sự yêu thương nhau. Mỗi người chúng ta phải được thanh luyện khỏi nhu cầu chứng tỏ mình là tốt nhất. Chúng ta phải mở rộng lòng mình với những người khác và vui mừng tiếp đón những ơn gọi của họ.

Chúng ta được kêu gọi từ nhiều tình trạng khác nhau để tạo thành một thân thể trong Đức Kitô. Bằng sự vượt lên trên những sự khác nhau đó, chúng ta trở thành nhân chứng của Thiên Chúa, Đấng cho ánh sáng chiếu soi trên những đường lối khác nhau.

Người ta kể lại một câu chuyện rằng ngày thứ ba của công cuộc sáng thế, sau khi đã tạo ra cây cối, Thiên Chúa đụng phải một vấn đề bất ngờ. Những cây tuyết tùng ở xứ Libăng dường như quá cao đến nỗi chúng bị cám dỗ sinh ra lòng kiêu ngạo. Và thế là Thiên Chúa quyết định tạo ra chất sắt.

Các cây ấy lập tức biết rằng đã có mối đe dọa và bắt đầu khóc, vừa khóc chúng vừa nói: “Oi khổ thân chúng tôi, một ngày nào đó, chúng tôi sẽ bị lưỡi rìu đốn ngã”. Nhưng Thiên Chúa đã trấn an chúng ; Người nói với chúng: “Nếu không có cái cán, cây rìu chỉ là một cục sắt. Mà cái cán rìu lại làm bằng gỗ, các ngươi hãy cố sống trong bình an và không phản bội nhau. Hãy sống hiệp nhất và cái rìu sẽ không có quyền lực gì để chống lại các ngươi”.

Đức Giêsu biết rằng sự nên một hay hiệp nhất là sự sống của cộng đoàn non trẻ (các môn đệ). Nhưng phải có sự nên một trên nền tảng yêu thương, và là kết quả của lòng trung thành với giới răn yêu thương: “Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em”.

Cộng đoàn là một thách đố lớn. Tình huynh đệ còn đi xa hơn sự tha thứ cho nhau. Nó bao hàm sự liên đới, chia sẻ, tùy thuộc, nhân hậu và niềm vui mừng trong hạnh phúc của những người khác. Tính vị kỷ là một tai họa đối với một cộng đoàn: mỗi người yêu cầu cộng đoàn quan tâm đến mình, nhưng không một ai muốn quan tâm đến những người khác.

Đáng buồn là qua bao thời đại, sự hiệp nhất mà Đức Giêsu mong ước cho Giáo Hội của Người đã bị rạn nứt nhiều lần. Kết quả là ngày nay chúng ta không phải chỉ có một mà có nhiều Giáo Hội Kitô giáo. Những chia rẽ giữa các Kitô hữu là một cớ gây vấp ngã cho người ngoại giáo. Tuy nhiên, điều thật sự gây vấp ngã không phải là có nhiều tín ngưỡng và sự hành đạo khác nhau của các Kitô hữu thuộc các giáo phái khác nhau, nhưng là giữa họ, có sự thù địch nhau. Chúng ta thấy sự thù địch được đẩy nén cực độ trong bài đọc sách Công vụ Tông đồ liên quan đến việc giết chết Têphanô. Ở đây chúng ta có những người trung kiên của một tôn giáo (Do thái giáo) giết những người của một tôn giáo khác nhau. Chúng ta không nên ngồi chờ điều đó. Nhưng phải chuẩn bị sẵn sàng cho sự qui tụ sắp tới của mọi Kitô hữu.

---------------------------------

 

PS7-C4. NGƯỜI YẾU


PV/312

 

Làm một tín hữu trong thế giới ngày nay có thể là một công việc lẻ loi. Nhưng chính ở chỗ này: PS7-C4


Làm một tín hữu trong thế giới ngày nay có thể là một công việc lẻ loi. Nhưng chính ở chỗ này mà cộng đoàn xuất hiện. Chúng ta cần có cộng đoàn để nâng đỡ đức tin của chúng ta. Trong bữa Tiệc Ly, Đức Giêsu đã cầu nguyện cho sự hiệp nhất của các môn đệ Người: “Lạy Cha, xin cho họ được nên một như chúng ta là một”. Nhưng có phải đây là một lý tưởng không thể có sao ? Phải chăng người ta không cần trở nên hoàn thiện và thuộc về một cộng đoàn như thế ?

Ngày xưa, một thanh niên có lý tưởng được một cộng đoàn các thầy tu lôi cuốn. Ước muốn gia nhập cộng đoàn ấy là một điều không tránh khỏi đối với anh. Và khi gia nhập, anh trở thành một tập sinh. Ban đầu anh được huấn luyện để trở thành một thành viên của một cộng đoàn những người thánh thiện. Nhưng anh không ở lại đó lâu khi anh có một sự thức tỉnh đột ngột. Anh khám phá rằng những người mà anh xem như hoàn hảo cũng có đầy những thiếu sót và bất toàn. Thật vậy, họ cũng mỏng giòn, tội lỗi và vị kỷ như anh. Anh ta hoàn toàn vỡ mộng đến nỗi anh đã rời bỏ tu viện.

Một cộng đoàn Kitô hữu không gồm những người hoàn hảo. Cộng đoàn nhỏ các tông đồ mà Đức Giêsu cầu nguyện cho họ gồm những người nhút nhát, yếu đuối và sợ hãi. Jean Vanier nói về “Hội đoàn của những người yếu” và nói rằng sự đoàn kết lớn hơn có thể là kết quả của việc chia sẻ sự yếu đuối so với việc chia sẻ sức mạnh.

Điều này xem ra mâu thuẫn. Nhưng hãy lấy một bó đũa làm ví dụ. Từng chiếc đũa thì yếu ớt và dễ bị bẻ gãy. Nhưng khi cột chung thành bó, chúng hầu như không thể bẻ gãy được. Với con người cũng thế, sức mạnh to lớn là kết quả của việc qui tụ, đặc biệt qui tụ những người yếu đuối. Cộng đoàn dường như được liên kết với sự yếu đuối và dễ bị tổn thương. Khi người ta đang vui hưởng sự thành công, người ta tìm kiếm sự thán phục, nhưng khi người ta yếu đuối, người ta tìm kiếm sự hiệp thông. Nếu người ta tìm thấy sự hiệp thông, người ta biết rằng họ được yêu thương không phải vì những thành tựu của họ, nhưng vì họ là ai. Kết quả là họ đạt được sự tín nhiệm lẫn nhau.

Và tâm hồn của một người có khả năng và mạnh mẽ luôn mở ra và tiếp xúc với lời kêu gọi yêu thương đến từ một người yếu đuối hơn mình. Khi một người nào đó nói với bạn về sự thành công và năng lực khác thường của người ấy, bạn thán phục người ấy. Nhưng khi người ấy chia sẻ những thất bại và yếu đuối của người ấy với bạn, người ấy gợi lên lòng thương cảm. Sự thương cảm dẫn đưa và tạo ra sự hiệp thông.

Sức mạnh được giấu kín trong sự yếu đuối và cộng đoàn chân thật gồm những bạn bè yếu đuối. Hội những người nghiện rượu vô danh là một ví dụ cho điều này. Điều kéo các thành viên đến với nhau là không để được chia sẻ sức mạnh mà là chia sẻ sự yếu đuối là thừa nhận một cách trung thực sự yếu đuối và tính chất dễ tổn thương mà người nào cũng có. Không ai là một mối đe dọa cho người khác, và điều này làm họ sẵn sàng chia sẻ và đón nhận lẫn nhau. Không phải là người hoàn hảo mới được chia sẻ đời sống cộng đoàn.

Các Kitô hữu tiên khởi chịu đựng lẫn nhau bằng việc cầu nguyện và cùng nhau thờ phượng Thiên Chúa cũng như yêu thương phục vụ lẫn nhau. Chúng ta có thể làm được điều tương tự. Chúng ta có thể cùng nhau tiến bước, lắng nghe và học hỏi lẫn nhau. Chúng ta phải mở rộng sang những thành viên khác của cộng đoàn cùng loại hiểu biết và thương cảm mà chính chúng ta mong ước nhận được từ họ.

“Mầu nhiệm cứu độ của tình yêu Thiên Chúa được nhìn thấy “không phải trong một cộng đoàn của các anh hùng tâm linh mà của anh chị em khuyến khích nhau trong cuộc hành trình về vương quốc của niềm hy vọng và thương xót” (Timothy Radcliffe)

---------------------------------

 

PS7-C5. CHO ĐI


SCĐ/313

 

Trong bữa Tiệc Ly, Chúa Giêsu nói cho các môn đệ hay Ngài sắp ra đi. Chẳng lạ gì khi các: PS7-C5


Trong bữa Tiệc Ly, Chúa Giêsu nói cho các môn đệ hay Ngài sắp ra đi. Chẳng lạ gì khi các ông buồn. Họ không muốn Ngài ra đi. Họ muốn giữ Ngài lại mãi bên họ. Thật không dễ chịu chút nào khi một người thân yêu ra đi. Cũng không dễ chịu gì khi để mất đi một món đồ hay một con vật mà mình yêu thích.

Một cậu bé nhìn thấy một chú chim non rơi từ chiếc tổ trên cành xuống nằm trên mặt đất. Cậu lượm nó lên, sưởi ấm nó. Một lát sau chú chim tỉnh dậy. Nhưng thay vì đặt chú chim trở về tổ, cậu đem nó để trong một chiếc lồng. Hằng ngày cậu mang cho nó rất nhiều thức ăn và nước. Chú chim ngày càng khỏe mạnh. Nó bắt đầu bay và hót. Cậu bé rất thích. Nhưng một hôm chú chim cứ đập cánh xành xạch vào thành chiếc lồng. Cậu bé không hiểu nên hỏi cha mình. Người cha giải thích:

- Tại vì nó không hạnh phúc đó.

Cậu bé cãi lại:

- Con đã đặt vào lồng cho nó tất cả những gì nó cần rồi kia mà.
- Nhưng vẫn còn thiếu cái điều mà chim yêu quí nhất.
- Điều gì ?
- Đó là tự do.
- Bộ cha muốn con thả cho nó đi sao ?
- Đúng thế.
- Nhưng con không thể cho nó đi. Nó đâu có biết là bên ngoài chiếc lồng này có rất nhiều hiểm nguy đang rình rập nó.
- Nhưng con phải chấp nhận như thế.

Cậu bé nài nỉ:

- Cha ơi, con thương nó lắm.
- Nếu con thương nó thì con phải để cho nó đi.

Cậu bé đành mở cửa lồng cho chú chim bay đi. Lòng cậu rất buồn. Nhưng chú chim vừa ra khỏi lồng đã cất tiếng hót líu lo, tỏ vẻ như trước đây chưa bao giờ vui vẻ và hạnh phúc như thế. Khi đó cậu bé không buồn nữa mà cảm thấy vui lây.

Các tông đồ không muốn Chúa Giêsu ra đi. Nhưng như thế là các ông không biết nghĩ cho Chúa mà chỉ nghĩ cho mình. Chúa Giêsu biết thế nên mới nói: “Nếu các con yêu mến Thầy thì các con hẳn vui mừng vì Thầy về cùng Cha Thầy”. Về cùng Cha, đó là mục tiêu cả đời của Chúa Giêsu.

Tình yêu chiếm hữu thì rất thông thường. Nhiều cha mẹ cũng thương con kiểu đó. Họ đã ban sự sống cho chúng, nhưng họ không để cho chúng phát triển sự sống của chúng theo cách của chúng. Nhiều cặp vợ chồng cũng vậy. Họ cứ muốn người vợ hay người chồng của mình sống theo cách sống của mình.

Tình yêu chiếm hữu gây ra rất nhiều đau khổ. Còn tình yêu không chiếm hữu thì phát sinh nhiều điều kỳ diệu cho cả hai phía, chẳng hạn: đổi mới, lớn lên, phát triển…

Phải biết để cho những người hoặc những gì mình yêu thích ra đi. Làm như thế quả là mất mát đấy. Nhưng mất cái hiện tại để được cái tương lai, mất điều mình yêu quí mà sẽ được điều đáng quí hơn. Bởi vậy, trước khi ra đi, Chúa Giêsu đã nói: “Thầy ra đi thì có lợi cho các con. Thật vậy nếu Thầy không ra đi thì Đấng Phù Trợ sẽ không đến với các con ; nhưng nếu Thầy ra đi, Thầy sẽ sai Đấng ấy đến với các con”.

---------------------------------
 
 

PS7-C6. Cái Giá Phải Trả Cho Cuộc Sống

 

Kitô hữu chúng ta thường bị tố giác là những người bị ám ảnh với sự sống đời sau mà lãng: PS7-C6


Kitô hữu chúng ta thường bị tố giác là những người bị ám ảnh với sự sống đời sau mà lãng quên mất cuộc sống hiện tại. Nhưng Kitô giáo không phải là một tôn giáo nghi kỵ cuộc sống cho dù là bên ngoài có vẻ đối ngược với cách sống của một số người. Chúa Giêsu đã không đến trần gian để cướp đi niềm vui của cuộc sống. Chúa Giêsu đến mang cho nhân loại Tin Mừng: cuộc sống này là món quà Thiên Chúa ban cho chúng ta bởi vì Ngài yêu thương chúng ta và lo lắng cho chúng ta! Có lẽ bởi vì chúng ta còn chưa hiểu rõ được sứ điệp Tin Mừng mà Chúa Giêsu mang đến cho chúng ta tại thế gian cho nên chúng ta mới lo sợ đến sự sống đời sau. Thật ra sự sống đó đã bắt đầu ngay từ ở đời này. Sự sống đó đến với chúng ta, và nếu chúng ta còn không biết sống ở đời này ngay bây giờ thì việc lo sợ đến sự sống đời sau thật là vô ích.

Có một câu truyện kể về một chàng thanh niên trẻ xích lại gần, ôm người bạn gái và nói, "Em ơi, anh rất yêu em, anh rất cần em, anh không thể nào sống nếu thiếu em." Người con gái nhẹ nhàng đẩy người bạn ra và bảo, "Làm ơn đi anh Gioan, đừng nói như vậy. Đừng có làm như thiệt vậy." Và anh Gioan liền hỏi lại, "Như thiệt vậy?" Thật ra đó là cách thức mà nhiều người chúng ta thường nói và bày tỏ trong cuộc sống mà trong tâm tư không có ý gì cả. Chúng ta chỉ nói chơi thôi.

Chúa Giêsu không bao giờ chơi chữ với chúng ta như thế. Chúng ta còn nhớ câu truyện người thanh niên giàu có đi tìm sự an ủi cho sự trống rỗng trong tâm hồn của anh. Anh có tất cả những gì cần thiết trong cuộc sống, thế nhưng anh vẫn cảm thấy một sự trống rỗng. Anh đã tuân giữ Thập Giới từ khi còn bé. Đối với tiêu chuẩn của cuộc sống, anh là người gương mẫu và lý tưởng, thế nhưng anh lại là một người xa lạ đối với cuộc sống của chính mình. "Lạy Thầy nhân lành, con phải làm gì để tìm kiếm được sự sống đời đời?" (Lc 18:18). Chúa Giêsu đã trả lời với anh một cách thành thật và đứng đắn rằng anh cần phải làm thêm một điều nữa là hãy về bán hết của cải và bố thí cho người nghèo khổ và đến theo Ngài (Lc 18:22).

Có một câu truyện khôi hài như vầy. Một người đàn ông nọ có một sáng kiến muốn đi trên một sợi dây thừng bắt ngang qua Thác Niagara. Sáng kiến này đã được nhiều người thực hành, thế nhưng người đàn ông này còn táo bạo hơn nữa là ông định tâm sẽ vừa đi trên dây vừa đẩy một chiếc xe cút-kít và chở một người ở trên đó. Ông đã không ngừng luyện tập đi trên dây và đẩy chiếc xe cút-kít chở đầy đá. Một ngày nọ, có một người đến nói với ông rằng anh rất tin tưởng ông ta có thể làm được chuyện đó. Người đi trên dây hỏi lại, "Có phải anh rất tin tưởng tôi có thể làm được chuyện này không?" Người kia liền trả lời, "Tôi tin như thế!" Người đi trên dây liền bảo anh ta, "Vậy thì anh hãy lên ngồi trên chiếc xe cút-kít này để tôi đẩy anh đi trên dây."

Đó là điều mà Chúa Giêsu đã làm đối với những ai muốn đi theo Ngài. Ngài hỏi họ có tin vào Ngài không, nếu có thì, "Hãy ngồi vào chiếc xe cút-kít! Hãy chứng minh! Hãy từ bỏ những chiếc thuyền đánh cá! Hãy từ bỏ gia đình! Hãy theo ta!" Việc này thường được gọi là vâng lời một cách tuyệt đối mà không ngoại lệ. Đó là điều làm cho nhiều người phải điêu đứng ngập ngừng khi phải đối diện. Cái lý do tại sao là bởi vì chúng ta coi thường sự việc, chúng ta lơ là không nghiêm túc. Chúng ta không hoàn toàn tín thác vào Chúa Giêsu khi Ngài nói với chúng ta phải trả cái giá để đạt được sự viên mãn của mình.

Nếu các bạn là những người đang đi tìm những câu trả lời cho những thắc mắc của cuộc sống thì bạn nhớ hai điều: hãy nghiêm túc và hãy chuẩn bị để trả cái giá mà nó đòi hỏi. Các bạn phải sẵn sàng như Thánh Stêphanô trong thời Giáo Hội tiên khởi. Bởi vì vâng lời Chúa Kitô một cách tuyệt đối, ngài đã phải chịu sỉ nhục và ném đá do những người chống đối. Tại chỗ bị ném đá, thánh nhân đã quì gối và cầu rằng, "Lạy Chúa, xin nhận lấy linh hồn con... Nói thế rồi, ông an nghỉ" (Cv 7:59). Những lời cuối cùng này chứng tỏ rằng Thánh Stêphanô đã nắm chắc được điều ông tin và hiểu được ý nghĩa của cuộc sống, và ông sẽ đi đâu. Thánh Stêphanô không phải là người xa lạ với sự sống đời sau, và cũng không phải là người xa lạ với sự sống đời này. Thánh Stêphênô đã không do dự để trả lời lời kêu gọi của Chúa Giêsu để bước vào chiếc xe cút-kít bởi vì thánh nhân đã quá quen với sự việc đó nhiều lần trước khi ngài trả lời để đi theo cuộc sống làm chứng nhân. Thánh nhân đã tin vào lời hứa của Đức Kitô rằng khi cuộc sống này kết thúc thì phần thưởng sẽ là hân hoan và vui mừng. Nhiều người trong chúng ta, có lẽ tất cả chúng ta, sẽ được hỏi để mà trả cái giá dưới một hình thức nào đó.

Chúng ta đi tham dự Thánh Lễ và chẳng có chút gì biến đổi cả. Chúng ta cần phải làm gì để chúng ta được biến đổi. Chúng ta có tin rằng Chúa Giêsu có thể đem tình yêu của Thiên Chúa vào trong cuộc sống của chúng ta, canh tân cuộc sống của chúng ta! Vậy, chúng ta hãy nhảy vô chiếc xe cút-kít, hãy đặt sự sống của chúng ta trong tay Ngài, và hãy hoàn toàn tín thác vào Ngài

---------------------------------
 
 

PS7-C7. Xin cho chúng nên một


 – Lm. Jos. Vũ thái Hoà

 

Con không cầu xin cho chúng mà thôi, nhưng còn ............. Sự mong ước của Chúa Giêsu đối: PS7-C7


«Con không cầu xin cho chúng mà thôi, nhưng còn cho tất cả những kẻ nhờ lời chúng mà tin vào Con, để mọi người nên một cũng như Cha ở trong Con và Con ở trong Cha.»

Sự mong ước của Chúa Giêsu đối với Giáo Hội của Ngài, đó là sự hiệp nhất. Lời cầu nguyện của Chúa Giêsu trên đây cho chúng ta thấy sự sáng suốt tuyệt vời của Ngài. Ngài đã biết trước sẽ có hàng triệu người tin vào Ngài, cũng biết trước rằng thảm họa lớn của các môn đệ Ngài, chính là sự chia rẽ. Phải, sự chia rẽ là một đề tài thời sự đau thương. Trên thế giới hôm nay, có biết bao sự đối nghịch, chia rẽ và hận thù! Giáo Hội cũng không tránh khỏi những đau thương đó, ngay cả các cộng đoàn công giáo Việt Nam...

Một linh mục Ấn Độ tên là Anthony De Mello đã tưởng tượng ra một câu chuyện như sau: Chúa Giêsu than phiền với chúng tôi là Ngài chưa bao giờ được đi xem một trận bóng đá nào cả. Chúng tôi bèn đưa Ngài đi xem một trận đấu rất gay go giữa một đội Tin lành và một đội Công giáo. Đội Công giáo làm bàn trước, một không. Chúa Giêsu vỗ tay hoan hô và tung cả mũ lên trời. Vài phút sau, tới phiên đội Tin lành làm bàn. Lần này, Chúa Giêsu cũng vỗ tay reo hò và cũng tung mũ lên trời. Một khán giả ngồi bên cạnh lấy làm ngạc nhiên và khó chịu về thái độ của Chúa Giêsu. Ông ta lấy tay đập lên vai Ngài rồi hỏi: «Ê ông bạn, ông bạn ủng hộ bên nào vậy?». Xem chừng như vẫn còn bị khích động bởi trận đấu, Chúa Giêsu trả lời: «Tôi hả? tôi không ủng hộ bên nào cả. Tôi đến đây là chỉ để thưởng thức trận đấu mà thôi». Người khán giả đã khó chịu về thái độ của Chúa Giêsu, bây giờ lại càng bực bội hơn. Ông ta quay sang người bên cạnh và nói nhỏ: «Hắn này là một tên vô thần!»

Trên đường trở về nhà, chúng tôi bàn luận với Chúa Giêsu về tình hình tôn giáo trên thế giới. Chúng tôi nói với Ngài: «Thưa Chúa, những người có tôn giáo thật là buồn cười. Họ tưởng rằng Thiên Chúa chỉ đứng về phía của họ và nghịch lại với những người thuộc tôn giáo khác». Chúa Giêsu gật đầu tỏ vẻ ưng ý. Ngài nói: «Đó là lý do tại sao Ta không ủng hộ tôn giáo mà chỉ ủng hộ con người. Con người quan trọng hơn tôn giáo. Con người quan trọng hơn ngày Sabbat. Các con nên biết là chính những người có tôn giáo đã treo Ta trên thập giá.»

Khi nói đến hiệp nhất, chúng ta thường mơ một sự hiệp nhất mà trong đó những ai nghĩ khác chúng ta, phải về phía chúng ta! Sự hiệp nhất theo ý muốn của Chúa không phải ở sự xóa bỏ những sự phong phú riêng biệt của mỗi người hoặc của mỗi nhóm. Giáo Hội phải xây dựng sự hiệp nhất trong sự tôn trọng những sự khác biệt chính đáng. Chỉ có một Chúa, một phép rửa tội, một đức tin, nhưng có nhiều cách khác nhau để diễn tả đức tin. Để nói về một Chúa Giêsu, chúng ta có tới bốn cuốn Phúc Âm, tại sao chúng ta không chấp nhận có nhiều cách diễn tả, có nhiều cách sống Tin Mừng, sống đạo khác nhau trong Giáo Hội và trong thế giới?

Trong lá thư gửi tín hữu Côrintô (1 Cr 12, 12-30), thánh Phaolô dùng hình ảnh các chi thể của một thân xác để nói về sự hiệp nhất của Giáo Hội trong sự đa dạng, trong sự bổ túc và liên đới của các phần tử. Thân xác có nhiều chi thể khác nhau. Chân, tay, mắt, mũi, tai và các chi thể khác đều phải cộng tác chặt chẽ với nhau để làm cho thân xác nên mạnh mẽ, và cùng liên đới chịu trách nhiệm với nhau về sự lớn mạnh của thân xác. Cũng thế, mỗi người chúng ta là một chi thể của Giáo Hội. Tuy trình độ khác nhau, nhân sinh quan khác nhau, mỗi người đều phải cộng tác với nhau để Giáo Hội được phát triển và liên đới chịu trách nhiệm về sự phát triển ấy.

Chúng ta cùng cầu nguyện cho Giáo Hội chúng ta, cho mọi phần tử biết sống hiệp nhất trong sự tôn trọng lẫn nhau. Hiệp nhất nhưng không đơn điệu, đa dạng nhưng trong hiệp nhất và hiệp thông. Lúc đó, Giáo Hội được ví như một vườn hoa lớn, và mỗi thành viên là một loài hoa khác nhau, một hương thơm khác nhau. Ôi đẹp thay, phong phú thay, Giáo Hội của Chúa Kitô!

---------------------------------
 
 

PS7-C8. Suy Niệm của Nhóm Đồng Hành


Chi Tiết Hay
 
 

Bài đọc Phúc Âm hôm nay là một phần trong lời cầu nguyện của Đức Giêsu trong bữa tiệc: PS7-C8


Bài đọc Phúc Âm hôm nay là một phần trong lời cầu nguyện của Đức Giêsu trong bữa tiệc ly (17:1-26) và là đoạn kết của Diễn Từ Cáo Biệt - lời cầu nguyện của Ngài trước khi chịu khổ nạn và chịu chết.

Những ý tưởng lập đi lập lại:

"Cha" được dùng tất cả sáu lần (cc.1,5,11,21,24,25) - Kết hiệp hoàn toàn với Cha nên một, Đức Giêsu luôn chứng tỏ là người Con yêu thương và vâng lời Cha.

"sai" (cc.3,8,21,25) - Tin rằng Đức Giêsu là Đấng được Chúa Cha sai đến là chấp nhận sự thật rằng Ngài là một cùng Cha.

"Thế gian" được dùng mười bảy lần - là thế gian của không tin tưởng vào Thiên Chúa, của thù hận, đối nghịch với lối sống của một Kitô hữu.

"yêu thương", trong câu 23,24,26 - Giáo Hội là một cộng đoàn tình thương, là dấu chỉ sống động của tình Cha Con yêu thương nhau.

"tôn vinh", trong câu 1,4,5,10,22,24 - tột đỉnh của sự hiệp nhất là được chia sẻ vinh quang của Đức Giêsu với Cha Ngài.

"ban cho"

c.22a "Con đã ban cho họ vinh quang": trở nên rõ nghiã hơn trong câu 26b dưới đây.

c.24 "Cha đã ban cho con": chúng ta là quà tặng của Chúa Cha cho Đức Kitô chứ không phải gánh nặng hoặc sự đau khổ mà Đức Kitô phải gánh chịu.

c.26b "để tình Cha đã yêu thương con, ở trong họ, và con cũng ở trong họ nữa": Đức Giêsu ban cho chúng ta một quà tặng độc đáo đó là tình thương của Chúa Cha và của chính Ngài. Trong Cựu Ước, Chúa ở với dân Ngài nơi Hòm Bia Thiên Chúa. Qua sự ban tặng của Đức Giêsu, Chúa đến ngự ngay trong lòng chúng ta.

"hiệp nhất", sự song song trong các câu sau đây cho thấy rõ hơn nội dung lời cầu nguyện của Đức Giêsu: đó là sự hiệp nhất của các tín hữu.

21a. để tất cả nên một
21b. như Cha ở trong con và con ở trong Cha
21c. để họ cũng ở trong chúng ta
21d. như vậy, thế gian sẽ tin rằng Cha đã sai con
22b. để họ được nên một
22c-23a như chúng ta là một, con ở trong họ và Cha ở trong con
23b. để họ được hoàn toàn nên một
23c. như vậy thế gian sẽ nhận biết là chính Cha đã sai con.

Cặp câu 1 và 3: mục đích là sự hiệp nhất nơi các tín hữu.

Cặp câu 2: gương mẫu của sự hiệp nhất là giữa Cha và Đức Giêsu.

Cặp câu 4: ảnh hưởng của sự hiệp nhất các tín hữu trên thế gian.

Một Điểm Chính

Cộng đoàn tín hữu của Đức Giêsu phải hiệp nhất giống như sự hiệp nhất giữa Đúc Giêsu và Cha Ngài.

Suy Niệm

Tình thương và sự hiệp nhất liên hệ với nhau như thế nàỏ Có thể nào chỉ có một trong hai mà thôi chăng?
Cộng đoàn (hoặc nhóm) của tôi hiệp nhất ra sao? Làm sao để gia tăng sự hiệp nhất này?

---------------------------------

 

PS7-C9. Để họ được nên một....


CHÚA NHẬT 7 PHỤC SINH C

Ga 17, 20-26
 
 

Những lời cuối trong diễn từ ly biệt, Chúa Giêsu với tư cách là một vị Tư tế đang cầu nguyện hay chính: PS7-C9


Những lời cuối trong diễn từ ly biệt, Chúa Giêsu với tư cách là một vị Tư tế đang cầu nguyện hay chính Người đang cầu thay nguyện giúp cho hết những ai liên kết với Người trong đức tin và đức mến. Trong giờ cầu nguyện đó, Chúa Giêsu không chỉ cầu nguyện cho chính mình (17,1-8), cầu nguyện cho các môn đệ (17, 9-19), mà còn cầu nguyện cho những người qua lời rao giảng của các môn đệ, tin và bước theo Người (17, 20-26). Tin mừng hôm nay ghi lại lời cầu nguyện cuối cùng này của Chúa Giêsu dành riêng cho người tín hữu.

Có chứng kiến sự xung khắc giữa các quốc gia gây nên những cuộc chiến liên miên giữa các dân tộc; những xung đột, những hiềm khích nhiều khi chẳng đáng là gì giữa các tín đồ của các tôn giáo; rồi những chuyện chia rẽ trong nội bộ của từng Giáo hội, trong từng cộng đoàn, từng gia đình, chúng ta mới thấy sự trân quý thế nào là sự hiệp nhất, thế nào là tình yêu thương huynh đệ. Đồng thời cũng giúp chúng ta cảm nghiệm thế nào là tình yêu vô bờ bến mà Chúa Giêsu đã dành cho tất cả chúng ta là những kẻ tin theo Người. Điều dễ thấy trong lời cầu nguyện của Chúa Giêsu khi cầu xin cùng Chúa Cha ban cho tất cả chúng ta là ơn được hiệp nhất nên một (Unicitas). Chúng ta hiểu “hiệp nhất nên một” ở đây là gì? Rất có thể chúng ta hay hiểu sai về điều này và gây ra những ngộ nhận đáng tiếc. Chúng ta vẫn thường hay co cụm trong một tổ chức, một đoàn thể và lấy điều lệ do tổ chức và đoàn thể làm thước đo chuẩn mực để phán quyết đúng sai, ở trong hay ở ngoài, hiệp nhất hay không hiệp nhất,… Tệ hơn, đó còn là những quan niệm mang tính “bè phái” khi cho rằng người này hay tổ chức này, đoàn thể nọ không cùng chính kiến, không cùng trình độ, không cùng “chiến tuyến” nhân sinh quan, vũ trụ quan,… với mình và vì thế, cần phải “quy về một mối” bằng mọi giá!

Hơn ai hết, Chúa Giêsu cũng như các tông đồ mà đặc biệt là Thánh Phaolô không có cái nhìn như chúng ta. Sự hiệp nhất theo đó không phải là xoá bỏ những nét riêng biệt, làm mất đi những tâm tình diễn tả đức tin phong phú và riêng tư nơi tâm hồn mỗi cá nhân hay trong từng bản sắc văn hóa của mỗi dân tộc. Điều cốt yếu ở đây chính là niềm tin của chúng ta. Qua lời rao giảng được lưu truyền từ các tông đồ, tất cả chúng ta, không phân biệt giống nòi, ngôn ngữ, giai cấp, biên giới, … đều có cùng một Thiên Chúa là Cha, đều lãnh nhận cùng một phép rửa và có cùng một niềm tin vào Thiên Chúa. Chính điều này làm nên sự hiệp nhất, làm nên sự gắn kết giữa chúng ta với nhau trong tình yêu Thiên Chúa.

Thánh Phaolô đã dùng hình ảnh các chi thể trong thân thể con người để diễn tả tính hiệp nhất nên một này. Theo đó thân thể không phải là tổng các chi thể cộng lại hay lắp ghép nên mà chính là một nguyên lý nhất thống của mọi chi thể. Với dân miền Trung Cận Đông, thì thân thể còn đồng nghĩa với chính con người. Như thế, Chúa Giêsu Kytô chính là thân thể, là nguyên lý thống nhất để quy tụ các Kytô hữu vốn là những chi thể được hiệp nhất nên một. Như thế, điều cốt yếu ở đây chính là chỉ có một nhiệm thể là Đức Kytô, còn tất cả chúng ta, bất luận là ai đều quy tụ trong cùng một nhiệm thể mà thôi.

Vẫn biết rằng ơn giảng hoà phát xuất từ thập giá của Chúa Kytô để cho Ngôi Lời thực hiện sự kết hiệp giữa các tín hữu với Thiên Chúa và các tín hữu kết hiệp với nhau, không phân biệt. Thế nhưng vẫn còn đó một thực tế không thể chối cãi là chia rẽ vẫn còn đó, phe nhóm bè phái vẫn tràn lan. Chúng ta vẫn còn nghe văng vẵng bên tai điều mà Thánh Phao lô trong thư gửi tín hữu Côrintô nhắc nhở: “Trong anh em có những luận điệu như:‘Tôi thuộc về ông Phaolô, tôi thuộc về ông Apôlô, tôi thuộc về ông Kêpha, tôi thuộc về Đức Kytô’. Thế ra Đức Kytô đã bị chia năm sẻ bảy rồi ư?” (1Cr 1, 12-13).

Ước gì chúng ta nhận ra lời cảnh tỉnh của Thánh Phaolô tông đồ để có thể đóng góp phần nhỏ bé của mình nhằm cỗ võ cho sự hiệp nhất không chỉ trong Giáo hội mà còn cho thế giới này biết xích lại gần nhau trong yêu thương hầu tất được hưởng ơn hiệp nhất, tình yêu và bình an của Thiên Chúa.
Lm Jos. Phạm Ngọc Ngôn, Csjb

 ------------------------------

 

PS7-C10. LÀM VIỆC VỚI NHAU

 

Chúng ta đã nghe biết về Walt Disney, tác giả hai bức tranh Mickey Mouse và Disneyland: PS7-C10


Chúng ta đã nghe biết về Walt Disney, tác giả hai bức tranh Mickey Mouse và Disneyland. Nhưng có lẽ chúng ta không nghe nói đến anh em của ông là Roy. Nhưng hai anh em đã cộng tác với nhau chặt chẽ. Họ đã sớm nhận ra rằng: Walt là một nghệ sĩ và Roy là một nhà kinh doanh. Họ đã hợp đồng với nhau. Roy làm việc trong hậu trường lo mọi chi tiết kinh doanh. Như  thế Walt được tự do sáng tác và sản xuất. Như Roy đã tiết lộ: “Công việc của tôi là giúp Walt làm những gì anh ưa thích. Tôi giao dịch với ngân hàng để Walt rảnh tay”.

Đây là một tấm gương về điều Chúa Giêsu nói tới trong bài Tin Mừng hôm nay khi người cầu nguyện: “Xin cho họ nên một như Chúa Cha và Chúa Con là một” Từ công đồng Vaticanô II, chúng ta đã cố gắng đem lại sự hiệp nhất giữa các Giáo hội Kitô. Nhất là những cố gắng tạo sự hợp nhất giữa các Giáo hội công giáo. Chúng ta có thể mượn tinh thần của anh em trong gia đình đức tin, trong đó cá nhân cũng như  đoàn thể chiếm những vị trí khác biệt, trên những phơng diện khác nhau. Những người cấp tiến muốn thay đổi tất cả. Những người bảo thủ không muốn thay đổi gì hết. Thay đổi nhiều quá, chưa thay đổi đủ. Hát nhiều quá. Hát chưa đủ. Bãi bỏ trường công giáo, phải duy trì bằng mọi giá. Chỉ lo vấn đề thiêng liêng, phải hội nhập vấn đề xã hội, phải nới rộng giáo luật – giáo luật phải chặt chẽ hơn.

Ngay trong Giáo hội, cũng có tranh chấp về quốc tịch, giống nòi, giữa anh em công giáo có trình độ kinh tế, nghề nghiệp giáo dục và xã hội khác nhau. Ngay trong một họ đạo, chúng ta cũng thấy có hiều sự khác biệt, nhiều bất công.

Chúng ta phải làm gì ? Làm sao tìm được sự hợp nhất Chúa Kitô muốn giữa các kẻ theo Người.

Sự hợp nhất xây dựng trên tình yêu: thật sự mong muốn điều lành cho mọi người không phận biệt tuổi tác, điạ vị, trình độ văn hóa, kinh tế, mầu da, quốc tịch hay nghề nghiệp.

Hãy cầu nguyện cho những người bạn không đồng quan điểm: “Lạy Chúa, xin giúp con hiểu đường lối họ suy nghĩ, xin giúp họ, hiểu đường lối suy tưởng của con”. Hãy cầu nguyện như Chúa Kitô cho sự hợp nhất.

Hãy đối thoại, bàn luận với họ, và quan trọng hơn, hãy lắng nghe lý do của họ, ý kiến của họ. Hãy cố gắng tìm sự thật hơn là tìm thắng thế bằng lý luận.

Hãy tin tưởng vào sự thành thật của người khác, dầu bạn có thể hoài nghi họ mị dân hay ngoan cố.

Hãy có tinh thần trách nhiệm, trong mỗi cộng đoàn hoặc gia đình bạn. Giáo xứ hay rộng lớn hơn Địa phận của bạn, tổ quốc của bạn... mỗi người đều có phần trách nhiệm phải cân  nhắc lời nói.

Hãy chú ý những lời trong kinh nguyện Thánh Thể II “Xin cho chúng con khi thông Mình Máu Chúa Kitô, được hợp nhất cùng nhau nhờ Chúa Thánh Thần”.

Tất cả chúng ta rước cùng một Chúa Kitô trong bí tích Thánh Thể, đức Kitô đã cầu nguyện cho chúng ta hợp nhất. Đức Kitô đã ban chính mình Người cho chúng ta trong thánh lễ này, xin tinh thần Chúa Kitô, tinh thần hợp nhất giúp chúng ta, những người công giáo biết cộng tác với nhau.
Xin Chúa chúc lành  bạn. Amen

---------------------------------
 
 

PS7-C11. JESUS IS THE WORLD !


Jn 17:20-26

JESUS IS THE WORLD!
 
 

Cách đây hai năm tôi có dịp dạy giáo lý cho các em lớp 8 tại thành phố Avondale, Louisiana: PS7-C11


Cách đây hai năm tôi có dịp dạy giáo lý cho các em lớp 8 tại thành phố Avondale, Louisiana. Tôi còn nhớ có lần đề nghị với các em làm một vài posters treo trong lớp cho sống động. Các em hỏi: "Làm cái gì cũng được hả thầy?" "Thì cái gì cũng được. Miễn là nó nhắc mình nhớ đến Chúa Giêsu là được rồi." Tôi trả lời như thế. Thế là vài ngày sau một trong những tấm posters được trình bày lộng lẫy với những tấm hình sặc sỡ chung quanh hàng chữ: "Jesus is the world!" Nhìn tấm poster, tôi lắc đầu không biết phải nói sao về "tư tưởng thần học" mới lạ này. Khác hẳn với điều tôi được học hỏi.

Trong bài Tin Mừng hôm nay, thánh Gioan cũng đã ghi lại hai chữ: Jesus (Chúa Giêsu) và the world (thế gian). Thánh Gioan không nói Jesus is the world (Chúa Giêsu là thế gian), nhưng ngài nói Jesus prays for the world (Chúa Giêsu cầu nguyện cho thế gian).

Tìm hiểu thánh kinh, chúng ta thấy từ ngữ the world có 3 ý nghĩa: 1/ thế gian là thế giới chúng ta đang sống. 2/ thế gian là những người chưa nhận biết Chúa. 3/ thế gian là những người chống lại Chúa. Cả ba ý nghĩa này không đồng nghĩa với Chúa Giêsu, nhưng nó là đối tượng của công cuộc cứu rỗi của Chúa Giêsu. Thánh Gioan ghi rõ Chúa Giêsu không chỉ cầu nguyện cho các môn đệ mà thôi, nhưng còn cho tất cả những người nhờ lời các môn đệ rao giảng mà tin vào Cha -- những người chưa nhận biết Chúa, và cả những người chống lại Chúa. Chúa đã cầu nguyện cho tất cả mọi người được hợp nhất nên một.

Đến đây tôi nhớ đến tích truyện của cha Brandsma. Một tấm gương yêu thương tha thứ và ước ao cho người giết mình được nhận biết Chúa. Ngày 26.7.1942, trước khi bị hành quyết, cha Brandsma đã trao cho nữ y tá trẻ tuổi ngoại đạo người Hòa lan một xâu chuỗi Mân côi thô sơ mà ngài đã làm trong tù. Người y tá này có nhiệm vụ chích thuốc độc cho cha chết. Cha nói với cô ta: "Cô hãy dùng xâu chuỗi này để cầu nguyện."

- Tôi không cần, vì tôi không biết cầu nguyện - cô ta đáp.

- Cô cứ thử mà xem, ít là cô hãy lập lại câu: "Xin cầu cho chúng tôi là kẻ có tội..."

Đó là những lời cuối cùng của cha Brandsma trước khi chết. Chính nhờ xâu chuỗi Mân côi của cha Brandsma mà cô đã tìm được đức tin, và năm 1955, cô đã tự ý trình diện để cung khai bổ túc hồ sơ phong chân phước cho cha Brandsma. Cha Brandsma đã được ĐTC Gioan Phaolô đệ nhị phong chân phước ngày 3.11.1986. Cha bị Đức quốc xã giết trong trại tập trung Dachau, gần Muenchen, Tây Đức.

Là người công giáo chắc hẳn chúng ta không những đã được học hỏi thế nào là cầu nguyện, mà còn được khuyên dạy phải sống đời cầu nguyện làm sao. Biết là một chuyện. Sống là một chuyện khác. Nhiều lúc cầu nguyện cho những người thù ghét hãm hại mình xem ra cũng thực hiện được. Trái lại, thật oái oăm thay những lần nghĩ đến phải cầu nguyện cho những người gần gũi, những người đáng lý ra phải yêu mến thì xem ra lại là một vấn đề.

Nhìn lại tấm poster với những tấm hình dán chung quanh: Michael Jordan, cầu thủ bóng rổ nổi tiếng của đội banh Chicago Bulls" mẹ Têrêsa Calcuta bên cạnh những em bé bụng ỏng với thân hình da bọc xương" công chúa Diana" tổng thống Clinton... dường như tôi đã cảm nghiệm được ý nghĩa câu các em muốn nói: Jesus is the world!
Br. Minh Trân, CMC

---------------------------------
 
 

PS7-C12. LỜI CẦU NGUYỆN TRỌNG ĐẠI CỦA ĐỨC GIÊSU,  XIN CHO HỌ NÊN MỘT


(Ga 17,20-26

 I. VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI

1.Tiếp theo diễn từ giã biệt...
 
 

Xưa kia, trước khi ông Mô sê lìa xa các môn đệ, thì ở phần cuối những lời từ biệt, ông đã cầu: PS7-C12


Xưa kia, trước khi ông Mô sê lìa xa các môn đệ, thì ở phần cuối những lời từ biệt, ông đã cầu xin Thiên Chúa chúc lành cho các chi tộc Israel (Đnl 33). Cũng thế, trong Tin Mừng Gian, Đức Giêsu, Mô sê mới, trước khi lìa xa các môn đệ cũng ngước mắt lên trời đàm thoại với Cha Người. Người thâu tóm một trật trong lời cầu của mình, cả quá khứ những ngày sống ở trần gian, cả tương lai đang chờ đón Người và các môn đệ.

- Trước hết Người cầu cho chính mình (c.l-5).

- Rồi nhắc đến tình thế do cuộc ra đi của Người gây nên, Người cầu cho các môn đệ (c.6-19).

-Và sau cùng Người cầu cho các tín hữu tương lai (c.20-  26). Sách Bài đọc đã trích đoạn sau cùng này để đọc trong Chúa nhật VII Phục sinh.

2...là lời cầu nguyện trọng đại của Đức Giêsu.

 Đức Giêsu cầu xin: "Xin cho họ nên một" bằng hai vế  (c:20-21 và 22-23), được kết cấu theo kiểu song hành.

Từ ngữ "nên một” không phải được sử dụng lần đầu nơi Gioan. Đức Giêsu dùng từ ngữ đó để chỉ sự liên kết giữa Người với Cha (10,30) và Người cũng đã áp dụng cho các tín hữu: “sẽ chỉ có một đoàn chiên và một mục tử" (l0,16). Còn trong lời cầu nguyện cho các môn đệ lúc này, từ ngữ đó còn vượt xa mối liên hệ tình cảm giữa các tín hữu, nó chỉ sự hiệp nhất thuộc hữu thể và xuất phát từ sự hiệp thông của Thiên Chúa. X. Léon-Dufour giải thích: "Thật vậy, đọc mấy câu trước và câu sau này thì ta hiểu: sự hiệp nhất nên một của các tín hữu bắt nguồn từ sư hiệp nhất của Chúa Cha và Chúa Con " (“Lecture de l'Evangile selon St. Jean", Seuil, cuốn 3, trg 306-307).

Chính nhờ sự hiệp nhất của các môn đệ mà người đời sẽ nhận biết rằng Đức Giêsu là Đấng Chúa Cha sai đến: "Như vậy, thế gian sẽ nhận biết là chính Chúa đã sai Con”

- “Rằng Con ở đâu thì họ cũng ở đó với Con". Ở với Đức Giêsu bên cạnh Chúa Cha chính là "chiêm ngưỡng vinh quang của Người " - tác giả giải thích tiếp - là được thấy Người mặt đối mặt, "Người thế nào, chúng ta sẽ thấy Người như vậy".( I Ga 3,2).

- Nhưng việc các tín hữu được dự phần vào vinh quang của Người Con. duy nhất, phát xuất từ việc cũng ở lại với nhau, vốn sẽ là đặc điểm của đời sống đức tin. Bởi vậy, lời nguyện kết thúc bằng câu: "Để tình Cha đã yêu thương Con ở trong họ, và Con cũng ở trong họ nữa ". Sự chiêm ngưỡng cuối cùng chỉ có thể xảy ra, nếu nó đã được khởi đầu trong cuộc đời người Kitô hữu.

II. BÀI ĐỌC THÊM:

Dấu chỉ của Thiên Chúa nơi trần gian

(Đức Cha Daloz: "Nous avons vu sa gloire”, DDB, trg 214-216).

Đức Giêsu đã sống những giờ phút sau hết của cuộc đời trần thế của mình với nhóm nhỏ môn đệ. Người sắp bị nộp vào tay những kẻ toan giết Người.

Đó là "giờ của Người". Tuy nhiên ánh mắt của Người không bị lu mờ vì những lo âu của giờ phút ấy. Ánh mắt ấy mở rộng tầm nhìn hướng về đám đông những người sẽ tin theo Người cho đến ngày tận thế. Chúng ta cũng nằm trong số những kẻ được Chúa cầu nguyện cho, cùng với các môn đệ Chúa thuộc mọi thế hệ . "Con không chỉ cầu cho những người này nhưng còn cho những ai nhờ lời họ mà tin vào Con”. Chúng ta được lời cầu nguyện của Chúa nâng đỡ. Đó không phải là nơi nương tựa của ta đó sao?.

Ngươi cầu xin điều gì cho các kẻ tin? Người chỉ xin có một điều duy nhất: "Cho họ được nên một, như Cha ở trong Con là như Con ở trong Cha, cho họ cũng ở trong chúng ta " .

Ta luôn bị cám dỗ hiểu sai những lời này, không dám bạo dạn và hiểu đúng tầm mức. Có khi chúng ta hiểu những lời đó như một bổn phận Đức Giêsu trao cho ta, để cổ võ sự hiệp nhất và xóa bỏ những chia rẽ. Sự hiệp nhất nên một mà Đức Giêsu nói ở đây không phải là một bổn phận Chúa trao cho ta đâu. Nó là một ân huệ của Chúa Cha, một ân huệ mà Đức Giêsu cầu xin cho ta. Nó chỉ là một nhiệm vụ phải chu toàn, bởi vì trước hết nó là một ân huệ. Hơn nữa, sự hiệp nhất mà Đức Giêsu xin cho ta nằm ngoài tầm tay của sức lực loài người: làm sao ta có thể hiệp nhất nên một cách thân mật như Cha ở trong Con và Con ở trong Cha? Sự hiệp nhất thần linh này chỉ có thể thực hiện nơi chúng ta, nếu chính Thiên Chúa thực hiện trong ta.

Đó chính là điều Đức Giêsu nói: "Con đã ban cho họ vinh quang mà Cha đã ban cho Con, để họ được nên một, như chúng ta là một... " ước vọng của Đức Giêsu là các môn đệ đi vào sự hiệp thông đời sống, là chính sự sống của Thiên Chúa. Chính vì thế, Người mới tỏ cho họ biết danh Chúa Cha và thông huyền cho họ tình yêu duy nhất phát' xuất từ Chúa Cha: "để tình Cha đã yêu thương Con ở  trong họ, và Con cũng ở trong họ nữa ".

Bởi vậy, cộng đoàn các môn đệ có thể trở thành đấu chỉ của chính Thiên Chúa giữa trần Gian, dấu chỉ của Thiên Chúa là Tình yêu. Bởi vì. họ ở  trong Thiên Chúa và Thiền .Chúa sống trong họ, chính nhờ họ mà Thiên Chúa tỏ mình ra cho thế gian.

Tình yêu nối kết họ là tình yêu của chính Thiên Chúa, là chính tình yêu nối kết Chúa Cha với Chúa Con. Cũng bởi vậy, cộng đoàn các môn đệ có thể khơi dậy đức tin: "Như vậy đê thế gian tin dằng Cha d(ĩ sai Con ". Đức Giêsu hướng về một mình Thiên Chúa. Sự hiệp nhất toàn bích đến từ~ Thiên Chúa và liên kết các môn đệ lại 'với nhau, là biểu hiện sự hiện diện của Thiên Chúa ở giữa thế gian. "Như vậy, thế gian' có thể nhận biết rằng chính Cha dã 'sai Con và đã yêu thương họ như Cha đã yêu thương Con ". ơn gọi của chúng ta vĩ đại dường nào! Này đây chúng ta được gọi để trở nên địa điểm cho Thiên Chúa tỏ mình cho thế gian! Chỉ có sức mạnh lời cầu nguyện của Đức Giêsu mới có thể thực hiện được điều đó trong chúng ta. z Hội Thánh là hiệp thông (HĐGM Pháp: "Giáo lý cho người lớn", trg 187-188).

"Tôi tin Hội Thánh duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền ". Khi các tín hữu tuyên xưa đức tin trong kinh_Tin Kính, họ xác quyết rằng Hội Thánh được nhận biết nhờ những đặc điểm đó. Đó là những "điểm son " của Hội Thánh. Vì không chỉ mô tả mặt ngoài của Hội Thánh, mà còn nói lên chân lý sâu xa về mầu nhiệm Hội Thánh. Xác quyết những điều đó thuộc lãnh vực đức tin, chứ không phải chỉ nguyên nhờ nhìn bề ngoài mà biết được. "Hội Thánh toàn cầu xuất hiện như một dân tộc mà hiệp nhất do sự hiệp nhất giữa Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần" (HC "Anh Sáng Muôn Dân" 4, trích th. Cyprianô).

 Nguồn phát sinh sự hiệp nhất của Hội Thánh được nói đến'trong thư thánh Phao lô gởi tín hữu Êphêsô: "Chỉ có một thân thể, một Thần Khí, cũng như anh em đã được kêu gọi để chia sẻ cùng một niềm hy vọng. Chỉ có một Chúa, một niềm tin, một phép rửa. Chỉ có một Thiên Chúa, Cha của mọi người, Đấng ngự trên mọi người và trong mọi người " (Ep 4,4-6).

Bởi vậy, Hội Thánh ca quyết rằng sự hiệp nhất Hội Thánh có được không do chính mình, mà là hồng ân của Chúa Thánh Thần.

Sự hiệp nhất này có thể nhìn thấy được, và theo lời Đức Kitô hứa, sẽ không bao giờ mất đi. Nó biểu hiện trong việc tuyên xưng cùng một đức tin, được định thức trong cùng một kinh Tin. Sự hiệp nhất ấy có nền tảng là một phép Rửa duy nhất, làm cho mọi môn đệ Đức Kitô nên một dân tộc duy nhất. Bí tích Thánh Thể, bí tích của sự hiệp nhất, củng cố, xây dựng và không ngừng canh tân sự hiệp thông giữa các tín hữu, liên kết họ lại với nhau bằng dây đức ái. Tác vụ tông đồ, tác vụ các Giám Mục, linh mục, phó tế là phục vụ cho sự hiệp thông của Hội Thánh.

Bởi vì sự hiệp nhất của Hội Thánh không chỉ do cơ cấu tổ chức tốt đẹp hay do kỷ luật chặt chẽ, mà do sự hiệp thông. Coi Hội Thánh như hiệp thông đó là "một khái niệm trung tâm và nền tảng" (Thượng HĐGM đặc biệt năm 1985) . Khái niệm này được triển khai trong các tài liệu của Công Đồng Vatican II. Sự hiệp thông này là hiệp thông giữa Chúa Cha, với Con của Người, Đức Giêsu Kitô, trong Chúa Thánh Thần (xem 1 Ga 1,3) và là sự hiệp thông giữa các môn đệ trong tình bác ái.

Sự hiệp nhất còn là một yếu tố căn bản và cần thiết cho việc làm chứng của các tín hữu sống trong thế gian và cho sự khả tín của việc truyền giáo.

-------------------------------
 
 

PS7-C13. LỜI CẦU NGUYỆN CHO GIÁO HỘI


Ga 17,20-26
 
 

Sự hiệp nhất mà Chúa Giêsu cầu xin là dấu hiệu đầu tiên của sự nối tiếp mạc khải sống: PS7-C13


1. Sự hiệp nhất mà Chúa Giêsu cầu xin là dấu hiệu đầu tiên của sự nối tiếp mạc khải sống động của Ngài qua mọi thời đại, là dấu hiệu của sự tiếp xúc thường xuyên và trực tiếp của mỗi thế hệ tín hữu với Chúa và TC Cha: “Con trong chúng và Cha trong Con để chúng cũng ở trong chúng ta”. Sự liên tục này là phản ảnh sự hiệp nhất nối kết Cha và Con (10,38; 4,10-11). Con chỉ là Con bao lâu còn tiếp xúc với Cha; cũng thế Kitô hữu chỉ thực sự là Kitô hữu khi, như các tông đồ, họ trực tiếp gặp gỡ thực tại của Đức Kitô trong lời rao giảng đức tin (1Ga 1,1-3). Họ chưa biết Kitô giáo là gì nếu chỉ biết Đức Kitô nhờ nghe nói lại, biết Ngài sống chết bao lâu, mà không bao giờ đối diện với Đức Kitô hằng sống.

Mối dây hiệp nhất đang nối kết trực tiếp mỗi một thế hệ tín hữu với Đức Kitô và Cha nhờ việc rao giảng đức tin được diễn tả ra bên ngoài bằng sự hiệp nhất giữa các tín hữu và bằng sự hòa điệu của một cơ thể sống động đang qui tụ họ lại. Càng xa dần biến cố lịch sử Đức Kitô, càng phải sợ rằng, những yếu tố ngoại lai sẽ len lỏi vào trong Giáo hội và làm mất đi sự mới mẻ ban đầu. Trước đây là vấn đề hiệp nhất trong giáo thuyết, nhưng cũng là vấn đề tình huynh đệ Kitô hữu, vì đó là qui luật đời sống Kitô giáo. Khi thánh Gioan viết thư nhắc lại giáo huấn mà các tín hữu Ngài đã nghe từ ban đầu (1Ga 2,7.24; 3,11; 2Ga 5-6), Ngài cũng khuyên nhủ họ sống yêu thương nhau và trung thành với giáo thuyết. Từ đó người ta hiểu rằng trái tim của vị tông đồ đầu tiên đã se thắt lại khi, vào cuối thế kỷ thứ nhất, Ngài linh cảm là Kitô giáo sẽ không còn hiệp nhất.

Trong sợi dây lưu truyền sứ điệp cứu độ của một TC tình yêu, thì vòng xích nào cũng đáng kể cả: Cha - Con - các tông đồ, mỗi một tín hữu, mỗi một thời đại. Triều thiên là lòng khoan hậu của TC kết nên chỉ mong trở thành một (1Ga 2,5; 4,12.17). Cộng đoàn Kitô hữu, qua mọi thời đại, hoàn toàn chỉ là một đại gia đình uống cùng một nguồn suối sự sống, nguồn suối của Đức Kitô; trong Ngài tỏ lộ ra nguồn mạch đầu tiên của tất cả sự sống: TC Cha.

Sự tiếp nối nguồn sinh lực này, biểu lộ ra trong sự tiếp nối tinh tuyền học thuyết và củng cố trong tình huynh đệ, là một luận cứ đáng kể để thuyết phục thế gian. Sự vững chắc của một đầu cầu đủ gây ấn tượng cho một thế giới cần phải chinh phục, dĩ nhiên không phải là một ấn tượng sợ hãi mà là một ấn tượng tốt đẹp và lôi cuốn. Vì sự bền vững trong đức tin tinh tuyền và duy nhất của cộng đoàn qua mọi thời đại đủ biện minh cho đấng sáng lập. Ngài đã không thể đạt được hiệu quả ấy nhờ quyền lực nhân loại của Ngài, nhưng chỉ đạt được nếu sứ mạng của Ngài bắt nguồn từ một thế giới siêu nhiên - thần linh. Như vậy sẽ không gì có thể biện minh cho việc thế gian từ chối tin rằng Chúa Cha đã thật sự sai Chúa Kitô và từ chối tin rằng đến lượt Ngài, Ngài đã uỷ nhiệm cho các nhân chứng công bố cho mọi người tình yêu mà Cha đã tỏ ra trong Ngài.

2. Sự hiệp nhất giữa các tín hữu trực tiếp phát xuất từ việc đồng tham dự vào vinh quang Đức Kitô. Ngay từ lúc nhập thể, nhưng nhất là trong sự sung mãn hoàn toàn khi thăng thiên, nhân tính của Chúa Giêsu nhờ thần tính phong phú, đã được tràn ngập vinh quang TC. Khi hiệp nhất với Ngài nhờ đức tin, các môn đệ được thông ban vinh quang đó; mỗi một người tùy theo mức độ, thông vào bản tính của TC khi sinh bởi TC nhờ thánh linh (1,14; 3,6; 2P 1,4). Dù chia sẻ vinh quang và mọi của cải thần thiêng của Ngài, họ vẫn làm nên một thân thể với và trong Ngài mà thôi: “Chỉ có một thân mình và một thần khí, cũng như chỉ có một TC, một đức tin, một phép rửa... Tuy nhiên mỗi người chúng ta đã được ân sủng ban xuống tùy theo lường ân lộc của Đức Kitô” (Ep 4,4-7)

Như thế, nhờ việc Đức Kitô ở trong các môn đệ như nguyên lý tác động sự sống thần linh và đàng khác nhờ việc Cha ở trong Con như nguyên lý sự sống và nguyên lý hành động của Ngài, tất cả chỉ làm thành một: “Con trong chúng và Cha trong Con để chúng hoàn toàn nên một”. Ở giữa Ba Ngôi TC và Giáo hội có một sự hiệp nhất thiêng liêng rất khắng khít: “Điều mà chúng tôi đã từng thấy và đã từng nghe, thì chúng tôi loan báo cho anh em nữa... để anh em được thông hiệp với chúng tôi (nhờ đức tin); nhưng sự thông hiệp của chúng ta, là thông hiệp với Cha và với Con của Người, Chúa Giêsu Kitô” (1Ga 1,3)

3. Sau khi nhìn đến các tín hữu đang sống trong thế gian, Chúa Giêsu nghĩ đến tình cảnh của họ trong tương lai. Đối với Ngài, nay đã đến lúc trở về cùng Cha (14,28), trong vinh quang mà Cha đã ban cho Ngài từ lúc sinh ra trong vĩnh cửu, trong vinh quang mà nhân tính Ngài sắp được liên kết cùng. Đó là điều Cha đã quyết định trong tình yêu dành cho Chúa Con khi, trong vĩnh cửu, Ngài đã ra lệnh cho Con Ngài nhập thể. Những kẻ Cha đã ban cho Chúa Giêsu là toàn thể các tín hữu xét như một khối. Đó là kỷ phần của Đức Kitô. Ngài đã nhận kỷ phần đó từ Cha và đã chấp nhận nó. Kỷ phần đó thuộc về Ngài và Ngài đã tỏ ra sẵn sàng nói lên sự chấp nhận bằng giòng máu đổ ra. Quyền lợi của Ngài, như thế, liên kết với quyền lợi của chúng ta. Do đó Ngài đòi hỏi với một uy quyền khiến ta ngạc nhiên vì nằm trong một lời cầu nguyện. Con muốn diễn tả một hành vi ý chí, chứ không chỉ là một ước muốn đơn thuần. Chắc chắn, Chúa Giêsu bao giờ cũng chỉ muốn điều Cha muốn (4,34; 5,30; 6,38-40). Nhưng trên điểm này, ý muốn nhân loại của Ngài hòan tòan trùng hợp với ý muốn của Cha, nên Ngài đã nói cách cương quyết. Chúng ta thấy Ngài tha thiết với chúng ta dường nào. Điều Ngài muốn bây giờ là chúng ta được kết hợp với sự sống vinh hiển của Ngài. Có thể nói vinh quang và niềm vui của Ngài sẽ không trọn vẹn nếu không có điều đó. Đức Kitô mạc khải tình yêu Ngài đối với chúng ta cách tuyệt hảo. Con người hãy dừng bước để hồi tâm đón nhận và suy niệm trong lòng những lời nói chưa chan lời âu yếm đó.

4. Sau khi nhìn đến số phận tại thế của các môn đệ, vị tôn sư cầu xin cho họ ơn một ngày kia được đi theo Ngài về trời, ở bên Chúa Cha. Ngài đã nói với họ trước khi chịu nạn: họ sẽ theo Ngài lên trời vì Ngài đi dọn chỗ và sẽ trở lại đưa họ theo với Ngài (13,37; 14,2-3). Lúc này, Đức Kitô tỏ cho Chúa Cha thấy ý muốn cương quyết có họ gần bên Ngài. Và đó cũng là chính ý muốn của Cha, Đấng đã uỷ thác họ cho Ngài với sứ mạng bảo vệ họ khỏi hư mất ở đời này cũng như đời sau: “Này đây ý của Đấng đã sai Ta: phàm sự gì Người đã ban cho ta, thì Ta không được để hư đi điều gì, song ngày sau hết ta sẽ cho nó sống lại” (6,39).

Chính khi cho họ sống lại là Chúa Giêsu dứt khoát đem họ theo ở bên Ngài, cho họ thấy vinh quang thần linh sắp hội nhập và biến đổi nhân tính Ngài trên trời. Ngay lúc còn tại thế, vinh quang này đã nhiệm mầu chiếu sáng trong các công việc, cử chỉ và toàn thể con người của Ngài, đến nỗi các môn đệ đã có thể chiêm ngắm vinh quang đó nhờ ánh sáng đức tin (1,14; 2,11). Bây giò khi Ngài phục sinh, vinh quang đó chiếu sáng mãnh liệt hơn, và họ thấy cách rõ ràng hơn. Trên trời, nhân tính của Ngài sẽ tiếp nhận cách sung mãn vinh quang mà Cha đã vì yêu mà ban cho Ngài lúc tiền hữu, trước khi tạo dựng vũ trụ. Như một tấm gương không vết nhơ hay như một tấm màn trong suốt, nhân tính Ngài sẽ phản chiếu và tràn ngập vinh quang này một cách hoàn hảo đến độ thấm nhuần và được biến đổi nhờ vinh quang đó. Khi chiêm ngưỡng vinh quang này, những người được chọn sẽ vui mừng phấn khởi, sung sướng hạnh phúc, như lời Chúa Giêsu: “Ta sẽ gặp lại các con và lòng các con sẽ vui mừng, và sự mừng vui của các con không ai giựt mất được” (16,22)

Như Đức Kitô vinh hiển sẽ là hình ảnh hoàn hảo của Cha và sự chiếu sáng huy hoàng của vinh quang Ngài (Col 1,15; Dt 1,3), thì chính Chúa Cha vinh hiển mà các môn đệ sẽ chiêm ngưỡng trong tấm gương Con Ngài; chính lúc đó ứng nghiệm lời Chúa Giêsu: “Ai thấy Ta là thấy Cha...Ta ở trong Cha và Cha ở trong Ta” (14,9-10).

Theo thánh Phaolô, khi chiêm ngưỡng vinh quang của Đức Kitô nhờ đức tin, các tín hữu đã nhận lãnh một phần vinh quang này: “Còn chúng ta hết thảy, không màn che mặt, ta ngắm, như dọi lại trong gương, vinh quang của Chúa; và nhờ cũng một hình ảnh ấy, ta được biến hình đổi dạng từ vinh quang này đến vinh quang khác” (1Co 3,18). Sự trực tiếp chiêm ngưỡng Đức Kitô vinh hiển sẽ làm cho họ được vinh quang.

5. Cuối lời nguyện, Đức Kitô bày tỏ lý do khiến lời cầu nguyện sẽ đáng được nhậm: Chúa Giêsu đã ngỏ lời với cha Ngài bằng cách gọi Người là Cha chí công. Ngài đã tôn vinh Cha bằng cách tỏ danh Cha (c.4), và việc Ngài đã bắt đầu, Ngài sẽ tiếp tục trong tương lai, bằng cách dẫn con người đến đức tin. Đã có và sẽ có những sự chống đối. Thế gian đã từ chối không nhận biết Cha ở trong Con, Đấng đã được sai đến với họ. Nhưng những người mà Đức Kitô vừa cầu nguyện cho đã cư xử cách khác. Họ đã rộng lòng đón chân lý, vì thế Đức Kitô làm cho họ nhận biết rằng chính Cha đã sai Ngài, để tình yêu của Cha ở trong họ, sống và hành động như trong chính Ngài (vì họ thuộc về Ngài); và nhờ đó, Ngài được yêu mến bởi họ và trong họ. Nếu đó là thái độ tâm hồn của các tín hữu bán chặt vào Đức Kitô, và nếu đó là ý muốn của Đức Kitô suốt cuộc đời của Ngài thì việc Chúa Cha nhậm lời Con Ngài là một điều chính đáng, khi Chúa Con cầu xin Ngài hiệp nhất mọi tín hữu trong tình bác ái.

6. Lúc sắp lìa trần, vị Tôn sư tổng kết thành quả cuộc đời trần thế của Ngài. Dù ngài đã hết sức cố gắng minh chứng và mạc khải cha, thế gian đã không biết, đã khong muốn biết TC với nhận thức đầy tình yêu và vâng phục đức tin, như lời của Đức Kitô nói với người Do thái: “Đấng mà các ngươi xưng rằng: Người là TC của chúng tôi, vậy mà các ngươi lại không biết” (8,55). Trái lại, chính Ngài đã nhận biết Người nhờ trí óc và con tim; Ngài không ngừng sống sự hiểu biết này: “Ta biết Cha và Ta giữ lời của Người”, Chúa Giêsu quả quyết với người Do thái như thế (8,55).

Trái với thế gian, các môn đệ đã nhận biết và thừa nhận rằng Thầy của họ đến từ TC, rằng chính Chúa Cha đã sai Ngài (17,8). Từ đó Ngài đã có thể bày tỏ Cha, mạc khải danh Cha cho những ai mà TC đã đưa ra khỏi thế gian mà ban cho Ngài: “TC, nào ai đã thấy bao giờ, Con Một, ở nơi cung lòng Cha, chính Ngài đã tỏ cho biết” (1,18). Một khi được tôn vinh, thì thay vì chấm dứt, Chúa Giêsu sẽ theo đuổi nhiệm vụ đó cách mãnh liệt và mầu nhiệm hơn; Ngài sẽ tỏ Chúa Cha khi tự thân mật mạc khải và sống với Cha trong các môn đệ. Còn Chúa Cha sẽ yêu mến môn đệ bằng chính tình yêu Người dành cho Chúa Con. Quả thật, vì Đức Kitô và Kitô hữu ở trong nhau, thì chính Chúa Con mà Chúa Cha yêu mến trong người môn đệ: “Ai yêu mến Ta thì được Cha Ta yêu mến, và Ta sẽ yêu mến nó và sẽ tỏ mình ra cho nó... Ai yêu mến ta, thì sẽ giữ lời Ta và Cha Ta yêu mến nó và chúng ta sẽ đến cùng nó và sẽ lập cư nơi mình nó...” (14,21-23). Đó là điều làm các môn đệ vững tâm khi sư phụ ra đi: họ sẽ tiếp tục hưởng nhờ sự hiện diện, tình yêu và hoạt động mạc khải của Ngài, cũng như tình yêu vô biên và thường xuyên của Cha trên trời.

KẾT LUẬN

Đức Kitô, nhờ cái chết thập giá, đã được Chúa Cha ban cho vinh quang. Vinh quang đó là bày tỏ cho mọi người biết Ngài thông hiệp sâu xa với Cha. Các tín hữu cảm nhận được vinh quang ấy thì cũng được liên kết vào đó, và đến lượt họ, họ sẽ tỏ bày vinh quang của Đức Kitô. Điều này được thực hiện một cách cụ thể bằng việc họ hiệp nhất trong tình yêu.

Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG

1. Ở đầu bản văn, Chúa Giêsu quả quyết không chỉ muốn cầu nguyện cho các môn đệ vây quanh Ngài và đang ăn tiệc ly với Ngài. Ngài còn cầu nguyện “cho những ai, nhờ lời của các tông đồ mà tin vào Ngài”. Ngài cầu nguyện cho những kẻ sau này sẽ kế vị họ và cho những người, nhờ Lời, sẽ nhận biết Đức Kitô là Con TC. Lúc đó, Ngài cũng đã nghĩ đến mỗi một người trong chúng ta hôm nay đang lắng nghe lời Ngài.

2. Trong hoàn cảnh trang nghiêm như thế này, Ngài xin điều gì quan trọng ? Ngài xin: “Chớ gì chúng nên một”, như thể Ngài đoán trước có mối nguy hiểm đang chờ các tín hữu, hiểm nguy đó là sự chia rẽ. Chúa Giêsu vắn tắt nói cho chúng ta cái khuôn mẫu, hiệu quả và phương thế của sự hiệp nhất này, một sự hiệp nhất phải luôn luôn tìm kiếm, nhưng không bao giờ đạt được: “Chớ gì chúng cũng nên một như chúng ta”. Sự hiệp nhất phải thể hiện giữa các tín hữu là sự hiệp nhất có giữa Cha và Con: “Cha ở trong Con và Con ở trong Cha”. Không thể tưởng tượng được một sự hòa hợp, một sự hiệp thông mãnh liệt hơn, hoàn hảo hơn sự thông hiệp giữa Cha và Con. Sự hiệp nhất có giữa tín hữu nhờ lời cầu xin của Đức Kitô, giống như sự hiệp nhất giữa Chúa Cha và Chúa Con.

3. Và Chúa Giêsu nói tiếp: “Để thế gian biết rằng Cha đã sai con và Con đã yêu chúng như Cha đã yêu Con”. Khi lời cầu nguyện của Chúa Giêsu sẽ được chấp nhận, thì hiệu quả đầu tiên tỏ ra cho người ngoài biết là Chúa Giêsu yêu nhân loại như Chúa Cha đã yêu Ngài. Một viễn cảnh được mở ra cho những ai buồn phiền vì thấy đức tin đã biến mất, vì thấy Giáo hội không còn được lắng nghe, cho những ai đang tìm phương thế, những kỹ thuật thuyết phục mọi người theo Chúa; Chúa Giêsu tỏ cho chúng ta phương thế chính Ngài đã hoàn chỉnh: đó là Chúa Cha thực hiện ước nguyện của Ngài: “Chớ gì chúng nên một”.

Sau cùng Ngài nói cho chúng ta biết điều đó sẽ thực hiện như thế nào: “Con đã ban cho chúng vinh quang mà Cha đã ban cho Con để chúng nên một”. Vì vinh quang này là sự thông phần vào vinh quang TC vào sự sống mãnh liệt phát xuất từ Cha, cho nên phương thế hay nhất, để thực hiện sự hiệp nhất Cha Con, là mức độ chúng ta thông hiệp vào vinh quang của Chúa Giêsu, vào cuộc sống Thần linh của Ngài, múc ra từ các nhiệm tích, từ việc nghe lời Chúa, từ việc chân thành và kiên nhẫn cầu nguyện cho một thế giới tốt đẹp hơn.

-------------------------------
 
 

PS7-C14. Nên một như trong Thiên Chúa


(Ga 17, 11b - 19)
 
 

Bước vào Chúa nhật thứ VII, Chúa nhật cuối cùng mùa Phục Sinh, Phụng vụ Giáo hội mời gọi PS7-C32


Bước vào Chúa nhật thứ VII, Chúa nhật cuối cùng mùa Phục Sinh, Phụng vụ Giáo hội mời gọi chúng ta chuẩn bị tâm hồn mừng Chúa Thánh Thần hiện xuống như lời Đức Giêsu đã hứa với các môn đệ trong bữa tiệc ly trước khi về trời là không bỏ chúng ta mồ côi, Người sẽ gửi Chúa Thánh Thần là Đấng Bầu Chữa đến.

Khi đến giờ rời bỏ thế gian mà về cùng Đức Chúa Cha, Chúa Giêsu đã nói với các môn đệ nhiều điều, toàn bộ Phúc Âm thánh Gioan chương 17 là một bằng chứng. Sau một loạt diễn từ ly biệt, được kết thúc bằng kinh nguyện vô cùng cảm động Chúa Giêsu dâng lên Cha. Kinh nguyện mở đầu bằng lời khẩn cầu danh Cha, ca tụng Ngôi Cha và Ngôi Con (Ga 17, 1-5). Thứ đến là xin "Cha tôn vinh Con Cha để Con Cha tôn vinh Cha" (Ga 17, 1). Và sau cung là lời cầu xin cho các môn đệ.

Xin cho chúng nên một

Chúa Giêsu thấu hiểu những yếu đuối mỏng giòn của các môn đệ, nên Người tha thiết cầu xin Cha cho họ được hiệp nhất trong tin yêu, để các ông có thể thi hành sứ mạng rao giảng tin mừng Nước Thiên Chúa, một sứ mạng vô cùng khó khăn và đầy những thử thách. Các ông phải tự mình đương đầu với những khó khăn ở trong thế gian, mặc dù sống giữa thế gian, nhưng không thuộc về thế gian, hoạt động của các ông phải qui hướng về thế giới khác. Đó là lý do khiến Chúa Giêsu cầu nguyện: "Xin cho họ nên một như Cha ở trong con và con ở trong Cha" (Ga 17, 21). Nhờ "sự hiệp nhất của Chúa Thánh Thần", được ràng buộc "bởi sợi dây bình an", tất cả họ sẽ "duy trì sự hiệp nhất của Thần khí... Chỉ có một Thân mình và một Thần khí " (Ep 4, 3 - 4), giúp họ đồng lòng hợp ý với nhau.

Vì muốn nhân loại kết hiệp ở trong Thiên Chúa, nên đã sai Con Ngài đến thế gian để thánh hiến họ trong chân lý. Khi đầu thai trong lòng Trinh Nữ Maria, Chúa Giêsu đã thực hiện một sự hiệp thông đầy kinh ngạc giữa bản tính Thiên Chúa với bản tính loài người "Đức Giêsu Kitô, là Thiên Chúa thật và là người thật" (Kinh Tin Kính). Trong cuộc Thương Khó, Người đã xuống ngục tổ tông, nhà tù giam hãm chúng ta để giải thoát và đưa chúng ta lên cùng Thiên Chúa.

Chúa Giêsu ban vinh quang cho các môn đệ: "Con đã ban cho họ vinh quang mà Cha đã ban cho con" (Ga 17, 22). Vinh quang ở đây là Chúa Thánh Thần, Đấng liên kết con người với Thiên Chúa. Chúa Giêsu đã ban cho họ vinh quang khi nói, "Hãy lãnh nhận lấy Chúa Thánh Thần" (Ga 20, 22). Chúa Giêsu đã nhận được vinh quang khi mặc lấy bản tính loài người chúng ta, bản tính đã được tôn vinh trong Thánh Thần. Vinh quang Người đã có "trước khi tạo thành thế gian" (Ga 17,5) liên kết nhân loại nên một trong Chúa. Vì thế, Chúa Giêsu nói: "Lạy Cha, vinh quang mà Cha đã ban cho con, con đã ban cho chúng, để họ nên một như chúng ta là một" (Ga 17,22).

Xin Cha gìn giữ chúng

Trong suốt thời gian ở giữa các môn đệ, Chúa Giêsu đã trung thành gìn giữ họ. Khi trở về cùng Cha, Người không vắng mặt, Người cầu xin Cha cho họ, để họ giữ vững niềm tin vào Thiên Chúa Ba Ngôi, là Cha và Con và Thánh Thần.

Chúa Giêsu đến thế gian để hoàn thành sứ mạng mà Chúa Cha đã trao, đến lượt các môn đệ, họ cũng được trao cho một sứ mạng (x. Ga 13, 1). Chúa Giêsu không xin Cha đưa họ ra khỏi thế gian, nhưng xin gìn giữ họ khỏi những hiểm nguy của thế gian (x. Ga 17, 15). Vì nếu đưa họ ra khỏi thế gian thì sứ mạng tông đồ của họ chấm dứt. Xin Cha gìn giữ họ khỏi bị thế gian lây nhiễm, và thánh hoá họ trong sự thật (x. Ga 17, 17), xin cho họ được tràn đầy thần chân lý. Lời cầu nguyện của Chúa Giêsu làm sáng tỏ: "Chúng không thuộc về thế gian, cũng như Con không thuộc về thế gian" (Ga 17,16).

Chúa Giêsu xuống tận vực thẳm của con người để kéo con người lên vì: "Thiên Chúa là Tình Yêu". Đây là tột đỉnh của Mạc Khải. Lời cầu nguyện của Chúa Giêsu thôi thúc chúng ta hiệp nhất với Thiên Chúa, và trong vinh quang đầy quyền thế Chúa Giêsu không ngừng cầu nguyện và gìn giữ để: "Không một ai trong chúng bị mất" (Ga 17,12).

Xin thánh hiến họ

Lời khẳng định trên cho thấy Chúa Giêsu và các môn đệ không thuộc về thế gian. Để hoạt động trên thế gian và trong thế gian, mà không liên can đến thế gian, nghĩa là được miễn dịch khỏi thế gian, các môn đệ cần phải được hiến thánh (x. Ga 17-19).

Khi muốn bảo vệ các môn đệ khỏi Sự Dữ trong thế gian, Chúa Giêsu đã tự thánh hiến chính mình, Người nhấn mạnh đến tầm quan trọng là "viên mãn trong Thiên Chúa" khi "ở trong tình yêu". Nguồn gốc của sự thánh hiến này là trung thành với Chúa Giêsu, Con yêu dấu của Chúa Cha, Đấng tự hiến chính mình. Người ban Chúa Thánh Thần cho họ và xin cho họ sớm đạt được điều Người cầu xin. Chúa Thánh Thần là sự hiệp nhất của Chúa Cha và Chúa Con, liên kết tâm hồn họ với Chúa Cha, kết hợp trái tim tội lỗi của chúng ta với Chúa Giêsu Đấng Cứu Thế. "Con đã ban lời Cha cho chúng, và thế gian đã ghét chúng, vì chúng không thuộc về thế gian, cũng như Con không thuộc về thế gian" (Ga 17, 14). Họ đã nhận được Lời, từ "Logos", Ngôi Lời của Thiên Chúa, đã trở thành nhục thể và ở giữa chúng ta (Ga 1, 14).

"Lời Cha là chân lý "(Ga 11, 14). Bản chất của Lời là ở với Chúa Cha, đó là chân lý. Kể từ khi Người cho họ tham dự vào sứ mạng của Chúa Con (x. Ga 10, 36 và Ga 17, 18), họ cũng phải tham gia vào sự thánh thiện của Thiên Chúa. Người đã chọn và cắt đặt họ để họ sinh nhiều hoa trái. Đức Giêsu được thánh hiến trong sự thật. Người cũng xin Chúa Cha thánh hiến họ "trong sự thật". Sự thánh hiến này không phải là bên ngoài nhưng nó là sự thật, sâu sắc, thực sự.

Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã cầu xin cho chúng con được hiệp nhất. Xin cho chúng con biết thể hiện tinh thần hiệp nhất giữa chúng con bằng sự biết cộng tác với nhau trong những việc làm chung, để xây dựng nhiệm thể cộng đoàn nhỏ bé, trong tình huynh đệ tương thân tương ái. Chúng con tin tưởng vào lời Chúa hứa mà chúng con đã đọc trước bài Tin Mừng, đó là được ở với Chúa đến muôn đời. Amen.
 Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

-------------------------------
 
 

PS7-C15. Yêu một người đã chết


- Lm Augustine, SJ

Đọc Tin Mừng Lc 24,46-53

(46) "Có lời Kinh Thánh chép rằng: Đấng Kitô phải chịu khổ hình, rồi ngày thứ ba, từ cõi chết sống lại, (47) và phải nhân danh Người mà rao giảng cho muôn dân, bắt đầu từ Giêrusalem, kêu gọi họ sám hối để được ơn tha tội. (48) Chính anh em là chứng nhân của những điều này.

(49) Và đây, chính Thầy sẽ gửi cho anh em điều Cha Thầy đã hứa. Còn anh em, hãy ở lại trong thành, cho đến khi nhận được quyền năng từ trời cao ban xuống.

(50) Sau đó, Người dẫn các ông tới gần Bêtania, rồi giơ tay chúc lành cho các ông. (51) Và đang khi chúc lành, thì Người rời khỏi các ông và được rước lên trời. (52) Bấy giờ các ông bái lạy người, rồi trở lại Giêrusalem, lòng đầy hoan hỷ, (53) và hằng ở trong Đền Thờ mà chúc tụng Thiên Chúa.
Gợi ý để sống và chia sẻ Tin Mừng
 
 

Cách đây mấy chục năm, một bộ phim được rất nhiều người Mỹ hâm mộ. Bộ phim ấy mang: PS7-C15


Cách đây mấy chục năm, một bộ phim được rất nhiều người Mỹ hâm mộ. Bộ phim ấy mang tựa đề Lệ Thu (Laura) là tên một thiếu nữ xinh đẹp bị sát hại. Truyện phim kể lại một loạt những bất ngờ xảy ra khi một thám tử trẻ được phái đến điều tra vụ ám sát nói trên.
Chàng thám tử này tỉ mỉ lục xét căn nhà của Lệ Thu. Chàng xem xét tất cả những điều liên hệ đến cô, những hình ảnh, sách vở, áo quần, thư từ, nhật ký riêng của cô.

Yêu một người đã chết

Một điều thật lạ lùng đã xảy ra. Chàng thám tử đã hoàn toàn bị hình ảnh xinh đẹp của Lệ Thu ám ảnh. Chàng cảm thấy xúc động và bỗng thấy mình say đắm trước hình ảnh đó, mặc dầu chàng quá biết mình đang yêu đương một con người đã chết.
Thế rồi một buổi tối kia, giữa lúc chàng đang có mặt trong căn nhà của Lệ Thu và đang cố gắng tìm lời giải đáp cho cuộc điều tra mà chàng đã đeo đuổi thì bỗng có tiếng chìa khoá tra vào ổ, rồi cánh cửa mở ra. Chàng thám tử hoàn toàn kinh ngạc: Lệ Thu hiện thân đứng đó trước mặt chàng!

Thì ra Lệ Thu đã đi về miền quê nghỉ ngơi ít bữa. Suốt thời gian vắng nhà, cô hoàn toàn cắt đứt với các phương tiện truyền thông đại chúng, như truyền thanh, truyền hình và báo chí nên không hề hay biết về vụ ám sát xảy ra ngay tại căn nhà của cô mà chính cô, theo báo chí, đã là nạn nhân của vụ thảm sát! Trong thực tế người phụ nữ bị giết không phải là cô nhưng là một người lạ mặt đã xâm nhập căn nhà của cô và đã bị sát hại.

Cuốn phim kết thúc với cảnh Lệ Thu va chàng thám tử yêu nhau, lấy nhau và sống hạnh phúc bên nhau suốt đời.

Cuốn phim lần lượt cho thấy ở phần I cảnh chàng thám tử lục xét căn nhà và nghiên cứu các di vật của Lệ Thu để rồi say mê nàng. Phần II diễn tả biến cố Lệ Thu xuất hiện trước mặt chàng thám tử và được chàng nhận ra nàng như thế nào. Phần III cho thấy cảnh hai người yêu nhau và kết hôn với nhau.

Người đó là ai? Tại sao bị giết

Bài Tin Mừng hôm nay cũng đặt chúng ta trước cuộc sát hại của một con người. Nhưng khác hẳn trường hợp nhân vật Lệ Thu trong bộ phim nói trên, con người bị giết chết một cách thê thảm chiều thứ sáu Tuần Thánh đã chỗi dậy khỏi mồ: người đó là ai? Tại sao bị giết chết? Sự kiện người đó chỗi dậy khỏi sự chết có liên hệ gì tới hạnh phúc của gia đình nhân loại?

Trước hết, con người bị đóng đinh và tắt thở trên khổ hình thập giá chiều thứ Sáu Tuần Thánh, cũng chính là con người hiện ra với các môn đệ ba ngày sau đó. Giữa cảnh kinh hồn bạt vía của các môn đệ, Đức Giêsu khi hiện ra đã phải trấn an các ông khi nói: "Sao anh em hoảng hốt? Sao còn ngờ vực trong lòng? Nhìn chân tay Thầy đây mà!" (Lc 24,38).

Đức Giêsu xuất xứ từ làng quê Nadarét miền Galilê thuộc xứ Pha-lệ-tinh dưới quyền đế quốc Roma. Tên khai sinh của Người là Giêsu, có nghĩa là Giavê Thiên Chúa cứu, sau được kèm thêm tên chức vụ là Kitô, nghĩa là Đấng được Thiên Chúa xức dầu tấn phong và sai đi rao giảng Tin Mừng cho người nghèo (Lc 4,18). Tuy được biết đến do các sử gia nổi tiếng, như Giuse (Flavius Joseph vào năm 37-100 sau CN), plinê năm 112, Taxít (Tacitus năm 116) và Suctonius năm 120, nhân vật lịch sử Giêsu chủ yếu là đối tượng của bốn sách Tin Mừng, trong đó có sách Tin Mừng thứ ba do tác giả Luca. Luca cho biết ông "đã cẩn thận tra cứu đầu đuôi mọi sự… và đã viết để độc giả được nhận thức rằng giáo huấn họ đã học hỏi thật là vững chắc" (Lc 1,3-4). Với tác giả Luca, toàn bộ Kinh Thánh Cựu Ước và Tân Ước đều làm nên một lịch sử cứu độ do Đức Giêsu mang lại. Tất cả những điều Giavê Thiên Chúa hứa ban cho dân Người đều được thể hiện nơi Đức Giêsu (Lc 24, 44). Tân Ước trích dẫn tới hơn 100 lần từ các thánh vịnh của Cựu Ước nói về Đức Giêsu và về Giáo Hội của Người (x. Lc 24,25-27; 4,4-46).

-Nhưng tại sao Đức Giêsu bị người ta đóng đinh trên khổ hình thập giá? Tại Nadarét, Đức Giêsu làm nghề thợ mộc cho tới chừng 30 tuổi, thì rút lui vào sa mạc xứ Giuđê và đã xin ông Gioan Tẩy Giả làm phép rửa cho mình. Kế đến Người trở về miền Galilê và rao giảng Tin Mừng về Nước Thiên Chúa: Người đã chữa nhiều người khỏi bệnh, đã trừ nhiều quỉ ra khỏi những người bị chúng ám.

Người dành mối quan tâm ưu ái đối với người "nghèo", trẻ nhỏ, phụ nữ, những thành phần yếu kém trong xã hội, những người bị giới lãnh đạo Do Thái Giáo khinh chê. Một đàng Người đả phá sự khắt khe và hẹp hòi của đa số người biệt phái, đàng khác Người vẫn từ chối không chiều theo những khát vọng cách mạng của phe chủ trương quá khích. Để trải rộng địa bàn ảnh hưởng, Người đã qui tụ những môn đệ và chọn ở giữa họ, nhóm Mười Hai người tượng trưng cho Mười Hai chi tộc của Dân Mới của Thiên Chúa. Nhưng Người không những đã gặp phải những đám đông không hiểu nổi giáo thuyết Người dạy, mà còn đụng độ với giới lãnh đạo Do Thái Giáo.

Người bỏ miền Galilê, khải hoàn vào thành Giêrusalem là nơi Người bện giây làm roi để đuổi con buôn ra khỏi khuôn viên Đền Thờ. Đó là điều mà giới lãnh đạo Do Thái Giáo không thể nào chấp nhận được. Ít ngày sau, Đức Giêsu đã bị bắt, bị điều tra, xét hỏi và bị giới lãnh đạo Do Thái Giáo lên án tử hình về tội phạm thượng. Tại sao? Vì Người dám tự xưng mình ngang hàng với Thiên Chúa. Người ta giao Đức Giêsu cho Tổng Trấn Philatô là người kết án Đức Giêsu về tội quấy rối an ninh trật tự khi tự xưng mình là vua dân Do Thái. Ông giao Đức Giêsu cho người Do Thái đem đi đóng đinh trên khổ hình thập giá sau khi đã cho lính đánh đòn Người. Người tắt thở trên thập giá và được chôn trong ngôi mộ đục sẵn trong núi đá. Đó là vào chiều thứ sáu. Sáng sớm Chúa Nhật, các môn đệ của Đức Giêsu đi viếng xác Người thì thấy ngôi mộ nơi chôn xác Người trống rỗng. Lịch sử của Đức Giêsu từ đó đã chuyển sang lịch sử của Giáo Hội Kitô với chính Đức Kitô được các môn đệ loan báo là đã chỗi dậy khỏi sự chết và đã hiện ra với nhiều môn đệ trước sự hốt hoảng của họ (Lc 24,38) như đã nói ở trên.

Toàn bộ những điều thuộc về Đức Giêsu đều chỗi dậy

Với biến cố Đức Giêsu chỗi dậy khỏi sự chết, toàn bộ những lời Người nói và những việc Người làm cũng như những mối tương quan nối kết Người với mọi người, hết thảy đều "chỗi dậy" mãnh liệt để thiết lập Nước Thiên Chúa nhờ Thánh Linh hiện xuống.

Với Đức Giêsu cũng như với tất cả những người Do Thái đạo đức đến chịu phép rửa của ông Gioan Tẩy Giả, thời gian đã điểm: Thiên Chúa sẽ can thiệp một cách quyết liệt; Nước Thiên Chúa quả thật đã kề bên. Vậy, phải sẵn sàng và tỉnh thức và phải sám hối để nghênh đón Chúa đến. Nhưng khác với người Do Thái luôn chờ đợi Chúa đến trong tương lai, Đức Giêsu cho biết Nước Thiên Chúa "đã ở giữa anh em". Người nói với người Do Thái: "Nếu tôi dùng ngón tay Thiên Chúa mà trừ quỉ, thì quả là Nước Thiên Chúa đã đến giữa các ông (Lc 11,20). Phải phát hiện ra kho báu và bán đi tất cả những gì mình có để mua lấy thửa ruộng có kho báu chôn vùi (Mt 13,44). Phải từ bỏ mọi sự để bước theo Chúa Giêsu (Mt 16,24-26).

Không phân biệt màu da, ranh giới.

Qua Đức Giêsu, Thiên Chúa muốn vạch cho loài người biết mọi người đều là con cái của Thiên Chúa, không phân biệt màu da, ranh giới và công phúc. Ai mà tôi gặp trên đường cũng là người gần gũi mà tôi phải giúp đỡ (Lc 10,29-37). Đức Giêsu không đến để phá hủy Lề Luật nhưng đến để kiện toàn Lề Luật (Mt 5,17). Người đến không phải để phân rẽ dân Thiên Chúa nhưng để thiết lập dân Chúa nhờ chính Người tự hiến làm của lễ hy sinh. Người dùng chính máu Người để ký kết giao ước giữa Thiên Chúa và loài người (Lc 22,20).

Đức Giêsu quả là Mục Tử nhân lành hy sinh mạng sống mình cho dân Chúa mà Người ưu ái gọi là đoàn chiên của Người. Người đến là để cho các chiên được sống và sống dồi dào (Ga 10,10).

Một số câu hỏi gợi ý

1. Con người bị giết chết chiều thứ Sáu Tuần Thánh và được các môn đệ loan báo là đã sống lại. Con người đó là ai? Có được một số sử gia Do Thái và ngoại đạo nào biết đến chăng? Người bị kết án tử hình về tội gì trước toà án đạo và đời?
2. Bạn hiểu thế nào về việc Đức Giêsu chỗi dậy từ cõi chết liên quan tới Nước Thiên Chúa? Chính bạn nhận được những ảnh hưởng tích cực nào từ việc Đức Giêsu sống lại, liên quan tới niềm tin và niềm trông cậy của bạn?
3. Bạn có biết vị thánh nào say mê khi học hỏi và sống Tin Mừng do Chúa Giêsu công bố chăng? Riêng trong số 117 vị thánh tử đạo Việt Nam, có ai tỏ rõ lòng yêu mến say mê đó không?

(Vietnamese Missionaries in Taiwan )
 
-------------------------------
 
 

PS7-C16. Trong cung lòng Thiên Chúa


 – ĐTGM  Ngô Quang Kiệt

 

Trong lịch sử Việt Nam, tôi thích nhất tướng Trần Hưng Đạo. Trần Hưng Đạo không những có: PS7-C16


Trong lịch sử Việt Nam, tôi thích nhất tướng Trần Hưng Đạo. Trần Hưng Đạo không những có tài thao lược mà lại có đức độ hơn người. Người ta gọi ngài là Đức Thánh Trần thật xứng đáng. Thời nhà Trần có hai tướng tài: Trần Hưng Đạo và Trần Quang Khải. Nhưng hai gia đình lại có mối thù không đội trời chung. Cha của Trần Hưng Đạo truớc khi tắt thở còn dặn Trần Hưng Đạo phải thay cha trả thù. Nhưng giặc Nguyên sang xâm lăng nước ta. Trần Hưng Đạo suy nghĩ: Giặc ngoại xâm đang đe doạ. Nếu trong nước các tướng tá không đoàn kết thì không phá nổi thế giặc đang rất mạnh. Nghĩ thế, Trần Hưng Đạo gạt bỏ mối thù nhà, đến làm hoà với Trần Quang Khải. Một hôm, Trần Hưng Đạo sang thăm Trần Quang Khải, tự tay nấu nước tắm cho Trần Quang Khải và nói: “Hôm nay được hân hạnh tắm cho Ngài quốc công”. Trần Quang Khải vui vẻ trả lời: “Hôm nay hân hạnh được tướng công tắm cho”. Từ đó hai người hoà thuận. Cùng chung vai sát cánh phục vụ đất nước. Nhờ sự đoàn kết của hai tướng tài, quân ta đã đánh thắng giặc Nguyên.

Sự đoàn kết của Trần Hưng Đạo và Trần Quang Khải rất phù hợp với bài Tin Mừng của Chúa Nhật 7 Phục Sinh. Hôm nay, Chúa tha thiết cầu nguyện cho cái Chúa hiệp nhất.

Chúa tha thiết với sự hiệp nhất vì Chúa biết rằng: Có hiệp nhất mới xây dựng được cộng đoàn vững mạnh. Tục ngữ Việt Nam có câu: “Thuận vợ thuận chồng, tát bể đông cũng cạn”. Có đoàn kết làm việc gì cũng xong. Chia rẽ làm suy yếu cộng đoàn. Làm cho công việc trì trệ. Và có khi làm tan rã cộng đoàn.

Chúa tha thiết với sự hiệp nhất vì Chúa biết rằng có hiệp nhất trong nội bộ mới có thể truyền giáo thành công. Hiệp nhất chính là dấu chỉ của môn đệ Chúa như Lời Chúa đã dạy: “Người ta cứ dấu này mà nhận biết các con là môn đệ của Thầy, là các con thương yêu nhau”. Qua dấu chỉ hiệp nhất, người ngoài mới nhận biết Chúa. Thời sơ khai, khi nhìn thấy các tín hữu đầu tiên sống đoàn kết yêu thương, người ngoại đạo đã bảo nhau: “Kìa xem họ yêu thương nhau biết bao”. Từ đó có nhiều người xin vào đạo để được sống trong cộng đoàn hiệp nhất yêu thương.

Sau cùng, Chúa tha thiết với sự hiệp nhất, vì Chúa muốn ta được hạnh phúc. Có hiệp nhất mới có hạnh phúc. Hạnh phúc của ta là được sống sự sống của Thiên Chúa. Sự sống bắt nguồn từ Thiên Chúa Ba Ngôi. Ba Ngôi hiệp nhất với nhau đến nỗi trở thành một. Như lời Chúa Giêsu nói: “Thầy ở trong Cha và Cha ở trong Thầy. Thầy và Cha Thầy là một”. Cho đến độ: “Ai thấy Thầy là thấy Cha”.

Sự hiệp nhất giữa Ba Ngôi là nguồn mạch sự sống, nguồn mạch hạnh phúc của ta. Tuy nhiên để được thông phần vào sự sống hạnh phúc đó, ta phải hiệp nhất yêu thương nhau. Thiên Chúa là Tình Yêu, là sự Hiệp Nhất. Muốn được hoà nhập vào nguồn mạch hạnh phúc đó, ta cũng phải đoàn kết yêu thương nhau. Chỉ những ai có tinh thần hiệp nhất yêu thương mới có thể gia nhập cộng đoàn hiệp nhất yêu thương của Ba Ngôi Thiên Chúa.

Hiệp nhất yêu thương không là một món hàng làm sẵn, nhưng là một tiến trình xây dựng dài lâu. Xây dựng bằng từ bỏ ý riêng. Xây dựng bằng nhịn nhục tha thứ. Xây dựng bằng hy sinh quên mình. Vì thế để đạt đến yêu thương đòi hỏi phải rất nhiều phấn đấu. Phấn đấu của bản thân. Phấn đấu của cả tập thể.

Nếu biết phấn đấu để hiệp nhất, ta sẽ xây dựng được cộng đoàn vững mạnh, ta sẽ truyền giáo thành công và nhất là ta sẽ được tham dự vào sự sống và hạnh phúc của Ba Ngôi Thiên Chúa.

Lạy Chúa, xin thương hiệp nhất chúng con. Amen.

KIỂM ĐIỂM ĐỜI SỐNG

1. Tại sao người ta luôn chia rẽ. Chia rẽ đem đến những thiệt hại nào?
2. Tại sao Chúa Giêsu tha thiết với sự hiệp nhất?
3. Ba Ngôi Thiên Chúa đã thể hiện sự hiệp nhất thế nào?
4. Bạn phải làm gì để xây dựng sự hiệp nhất?

---------------------------------
 
 

PS7-C17. Dấu ấn của Thiên Chúa


 - Achille Degeest

 

Người ta nói đến Phúc Âm về nhân tính, tức là ba Phúc Âm nhất lãm của các thánh chép sử: PS7-C17


Người ta nói đến Phúc Âm về nhân tính, tức là ba Phúc Âm nhất lãm của các thánh chép sử Matthêu, Marcô và Luca, trong đó mô tả, với một số chi tiết nhân tính, lịch sử Đức Giêsu trong hoàn cảnh sinh hoạt, giao tế, lao động, rao giảng của Người. Chúa được trình bày như một người rất cụ thể, rất “thực”, nhưng cũng là một Đấng Mêsia. Các thư thánh Phaolô và Phúc Âm theo thánh Gioan được xem như Phúc Âm về thần trí, vì hai ông nhấn mạnh vào những viễn ảnh vĩnh cửu do thân thế Đức Giêsu mở ra cho chúng ta. Tất cả những văn bản trên hợp thành một bức hoạ song bản, một bộ Phúc Âm duy nhất. Sự suy niệm của chúng ta không được tách rời hai tấm hoạ nhân tính và thần trí, tuy nhiên chúng ta có thể theo khuynh hướng của mình hoặc chỉ dẫn của phụng vụ mà tuỳ thích đọc Phúc Âm nhất lãm hoặc Phúc Âm về thần trí. Hôm nay phụng vụ mời gọi suy niệm về một trong những đoạn cao đẹp nhất trích Phúc Âm theo thánh Gioan. Chúng ta có thể nêu ra một trong những chức năng cơ bản của Giáo Hội, đó là chức năng trung gian và sự đòi hỏi hợp nhất do chức năng ấy.

1) Giáo Hội đóng vai trò trung gian của Đức Kitô bên cạnh thế gian.

Chúa Giêsu cầu nguyện cho các tông đồ của Người và cho tất cả những ai sau này nhờ hoạt động tông đồ sẽ tin vào Người. Chúa biết rằng các tông đồ thật sự thuộc về thế gian, Người cầu xin cho các ông cũng thuộc về Thiên Chúa. Làm trung gian là đứng giữa, được thiện cảm của cả hai bên, đóng vai gạch nối, tiếp xúc, hoà giải, giao liên. Các tông đồ tượng trưng cho Giáo Hội. Chúa cầu xin cho Giáo Hội của Người được thật sự thuộc về thế gian, đồng thời triệt để thuộc về Thiên Chúa. Thành phần Giáo Hội là những con người, cho nên Giáo Hội tham gia vào thực thể nhân loại, một hỗn hợp bí ẩn trong đó vụng về chậm chạp xen lẫn linh hoạt cao quý. Giáo Hội cần phải tham dự vào đời sống Thiên Chúa, mà bản chất là hợp nhất trong tình yêu. Sự tham dự ấy là đối tượng lời cầu nguyện của Đức Giêsu. Chúa muốn rằng phong trào đại kết (là nét độc đáo của sự tương giao giữa Ba Ngôi Thiên Chúa) phải tiếp nối trong Giáo Hội và trở nên dấu ấn sự hiện diện sống động của Thiên Chúa giữa nhân loại.

2) Vai trò trung gian của Giáo Hội phải mang dấu ấn đại kết.

Thiên Chúa không chia rẽ với chính Thiên Chúa. Khi những Kitô hữu chia rẽ với nhau, họ đi ngược yêu cầu chính của ơn gọi Kitô giáo. Bất hạnh lớn nhất của Giáo Hội là trong phạm vi yêu thương mà không vượt khỏi hạn chế của tâm trí và yếu hèn của tội lỗi. Ở điểm này, mỗi người chúng ta phải tự đặt những câu hỏi rất thực tiễn. Thật vậy, một Kitô hữu tất nhiên có thể nói rằng sự chia rẽ giữa những “Giáo Hội” (sự phân hoá này giống như một vết thương trong trái tim Chúa), là một vấn đề vượt quá sức mình, những dẫu sao phải ý thức về mức độ trách nhiệm của mình. Bằng cách nào? Bằng cách chiến đấu chống sự tội trong con người mình, vì chính sự tội gây chia rẽ –cầu nguyện cho phong trào đại kết- trong khung cảnh sinh hoạt của mình trở nên một cực đại kết chứ không đối đầu –và sau hết, noi gương Chúa, ăn ở hiền lành và khiêm nhượng trong lòng. Mỗi Kitô hữu phải lãnh trách nhiệm mang trong não trạng, trong ngôn ngữ, trong cách cư xử của mình dấu ấn của tình yêu hợp nhất và biểu hiện của Thiên Chúa.

 ---------------------------------

 

PS7-C18. Chờ mong Thần Khí


BÀI HỌC TỪ TÊPHANÔ
 
 

Thánh Têphanô là người môn đệ đầu tiên của Đức Giêsu chết vì đức tin. Têphanô là một thanh: PS7-C18


Thánh Têphanô là người môn đệ đầu tiên của Đức Giêsu chết vì đức tin. Têphanô là một thanh niên quảng đại và can đảm. Ông đã làm chứng cho Đức Giêsu bằng lời nói và việc làm, và đã trả bằng cái giá của sự chết.

Đặc tính nổi bật của cái chết ấy là nó giống với cái chết của Đức Giêsu. Giống như Đức Giêsu, Têphanô vô tội. Giống như Đức Giêsu, ông bị buộc tội phạm thượng, và bị xét xử trước Thượng Hội Đồng của người Do Thái. Giống như Đức Giêsu, ông chết chỉ vì một hành vi bạo lực bên ngoài thành, (trong cách này, cả hai bị đối xử như những người bị loại bỏ trong cái chết).

Giống như Đức Giêsu, Têphanô cũng đã cầu nguyện cho những người đã giết ông: “Lạy Chúa, xin đừng chấp họ tội này”. Sau cùng, như Đức Giêsu đã trao linh hồn của Người vào tay Thiên Chúa với lời cầu nguyện. “Lạy Cha, con xin phó linh hồn con trong tay Cha”. Têphanô cũng thế, khi chết, ông đã phó linh hồn ông trong tay Đức Giêsu với lời này: “Lạy Chúa Giêsu, xin nhận lấy hồn con”. Trong tất cả những sự kiện, Luca có một ý định rõ ràng. Cái chết của vị tử đạo phản chiếu cái chết của Đức Giêsu.

Sự tàn ác trong việc ném đá Têphanô khiến người ta phải suy nghĩ. Những người giết ông cởi hết quần áo của ông ra và đặt dưới chân thủ lãnh Sao lô là một người Pharisêu cuồng tín. Ông này nghĩ rằng mình đã làm sáng danh Thiên Chúa khi giết chết những người như Têphanô. Ngày nay, một số người cũng nhân danh Thiên Chúa giết người. Giết người khác để tôn vinh Thiên Chúa là một điều ghê tởm.

Sao lô như chúng ta biết không lâu sau đã hoán cải trong đức tin và trở thành một chiến sĩ vĩ đại nhất của đức tin. Chắc chắn, ông đã bị xúc động trước lòng can đảm và sự tha thứ mà Têphanô đã biểu lộ khi ông này chết. Sự hoán cải của Sao lô chứng tỏ rằng một người có thể thay đổi, và Thiên Chúa không bao giờ gạt bỏ một ai.

Nhưng Têphanô không chỉ bày tỏ những phẩm chất ấy lúc chết. Một người không trở thành một anh hùng lúc chết nếu người ấy không là một anh hùng khi sống. Thánh Têphanô đã chứng tỏ sự cam kết theo Đức Giêsu trong đời sống. Ông là một trong những Phó tế đầu tiên được các tông đồ chỉ định để phân phát lương thực cho các quả phụ. Nhưng ông cũng đã rao giảng Lời Chúa. Và chính sự rao giảng không chút sợ hãi của ông về Đức Giêsu đã làm cho các thủ lãnh đạo Do Thái nổi giận.

Têphanô đã đem lại loại làm chứng cao nhất cho Đức Kitô; ông làm chứng với cái chết của mình. Mức độ làm chứng này không được ban cho hoặc đòi buộc mọi người. Điều được đòi buộc nơi mỗi người chúng ta là phải làm chứng với đời sống của chúng ta. Đây không phải là một cách làm chứng êm ái mà là một cách thế gay go và đòi hỏi nhiều sức mạnh với lòng can đảm. Thế giới ngày nay đang kêu gọi sự làm chứng của những người không sợ trở nên một Kitô hữu chân chính.

Ngoài việc chỉ cho chúng ta phải làm chứng như thế nào, Têphanô còn chỉ cho chúng ta cách chết thế nào mà mỗi Kitô hữu phải ao ước đó là chết với lòng tha thứ mọi kẻ thù và trao phó mình cho lòng nhân hậu và thương xót của Chúa.

---------------------------------

 

PS7-C19. BÀI HỌC TỪ PHAOLÔ

 

Có một hậu cảnh, nhưng đóng vai trò quan trọng trong công việc ghê tởm ném đá Têphanô đó: PS7-C19


Có một hậu cảnh, nhưng đóng vai trò quan trọng trong công việc ghê tởm ném đá Têphanô đó là Sao lô. Ông giữ áo cho những người ném đá và là một thủ lãnh trong việc bách hại các Kitô hữu. Dù vậy, cũng chính ông ít lâu sau đã được đức tin hoán cải và trở thành một chiến sĩ vĩ đại nhất của đức tin. Khó mà tin được điều đó nơi cùng một con người.

Sự kiện Phaolô tham gia vào việc giết Têphanô không có nghĩa ông là một người hoàn toàn xấu xa. Đúng hơn đó là một sự mù quáng. Thái độ cuồng tín tôn giáo đã làm ông mù quáng. Tuy nhiên, có một khía cạnh khác tốt hơn nơi ông. Rõ ràng ông là một người có cam kết cao độ, có khả năng làm việc gian khổ và chịu hy sinh to lớn.

Khi một người trải qua một cuộc hoán cải, chúng ta thường nói: “Anh/chị ấy đã trở thành một con người hoàn toàn mới”. Nhưng đó không phải là toàn bộ sự thật. Trong mỗi cuộc hoán cải, vừa có sự liên tục và sự gián đoạn. Những yếu tố tiêu cực đã bị vượt qua, và những mục tiêu mới đã được thiết lập. Tài năng và thiên hướng của một người không bị chối bỏ, càng không bị mất đi; đúng hơn, chúng được định hướng lại.

Nếu chúng ta có mặt lúc Têphanô bị giết và thấy được vai trò của Phaolô trong vụ việc, hẳn là chúng ta đã loại bỏ ông mãi mãi. Chúng ta có xu hướng làm “đông cứng” người khác trong một giai đoạn đặc biệt của đời sống họ. Chúng ta mãi mãi xét đoán họ trên nền tảng của một kinh nghiệm xấu. Chúng ta có khuynh hướng chia người ta thành hai loại: thánh nhân và tội nhân.

Nhưng con người không dễ phân loại như thế vì con người vốn phức tạp. Một số người dường như không biết gì về bản tính chia cắt của mỗi con người. Ngay khi họ khám phá một sự yếu đuối nơi một người nào, họ liền loại bỏ người ấy mãi mãi. Đối với họ, cái chai luôn có mùi của chất lỏng mà chai đã chứa đựng. Nhưng điều đó có đúng đắn và khôn ngoan không? Chúng ta có nên cấm người ta thay đổi không?

Một nền văn hoá không không ích lợi gì cho chúng ta. Thái độ đối với tội phạm là giam chúng lại và vất chìa khoá phòng giam đi. Một nền văn hoá không tin vào sự tiến bộ hoặc cứu chuộc là một nền văn hoá không hy vọng. Phải chăng đức tin chúng ta quá nhỏ bé đến nỗi chúng ta không thể chấp nhận sự thay đổi và trưởng thành? Như thể ai giết người là đến từ một hành tinh khác, và không đáng có cơ may trở thành người, để sửa chữa và chuộc lại lỗi lầm.

Chúng ta phải học tập sự nhẫn nại và khoan dung mà trước tiên là với chính mình. Chúng ta phải biết rằng chiến đấu để dẹp bỏ. Và chúng ta cũng phải khoan dung đối với người khác. Một con người sẽ được xét xử, không phải bởi chỉ một hành động hoặc bởi chỉ một giai đoạn nào đó của đời mình mà là bởi toàn bộ cuộc đời của người ấy.

Câu chuyện của Phaolô cho thấy rằng một người có thể thay đổi, và Thiên Chúa không bao giờ gạt bỏ một ai ra ngoài ơn cứu chuộc. Một người có thể gây ra một lỗi lầm lớn, nhưng sẽ được cứu chuộc bởi ân sủng của Thiên Chúa như trường hợp của Phaolô. Đó là một bài học to lớn trong đời ông. Chắc chắn, một trong những yếu tố khiên Phaolô hoán cải là gương sáng của Têphanô, Têphanô là một Kitô hữu chân chính. Phaolô đã xúc động bởi lòng can đảm và sự tha thứ mà Têphanô đã bày tỏ khi ông chết.

TIẾP CẬN KHÁC: Hội đoàn của người yếu.

Làm một tín hữu trong thế giới ngày nay có thể là một công việc lẻ loi. Nhưng chính ở chỗ này mà cộng đoàn xuất hiện. Chúng ta cần có cộng đoàn để nâng đỡ đức tin của chúng ta. Trong bữa Tiệc Ly, Đức Giêsu đã cầu nguyện cho sự hiệp nhất của các môn đệ người: “Lạy Cha, xin cho họ được nên một như chúng ta là một”. Nhưng có phải đây là một lý tưởng không thể có sao? Phải chăng người ta không cần trở nên hoàn thiện và thuộc về một cộng đoàn như thế?

Ngày xưa, một thanh niên có lý tưởng được một cộng đoàn các thầy tu lôi cuốn. Ước muốn gia nhập cộng đoàn ấy là một điều không tránh khỏi đối với anh. Và khi gia nhập, anh trở thành một tập sinh. Ban đầu anh được huấn luyện để trở thành một thành viên của một cộng đoàn những người thánh thiện. Nhưng anh không ở lại đó lâu khi anh có một sự thức tỉnh đột ngột. Anh khám phá rằng những người mà anh xem như hoàn hảo cũng có đầy những thiếu sót và bất toàn. Thật vậy, họ cũng mỏng dòn, tội lỗi và vị kỷ như anh. Anh ta hoàn toàn vỡ mộng đến nỗi anh đã rời bỏ tu viện.

Một cộng đoàn Kitô hữu không gồm những người hoàn hảo. Cộng đoàn nhỏ các Tông đồ mà Đức Giêsu cầu nguyện cho họ gồm những người nhút nhát, yếu đuối và sợ hãi. Jean Vanier nói về “Hội đoàn của những người yếu” và nói rằng sự đoàn kết lớnhơn có thể là kết quả của việc chia sẻ sự yếu đuối so với việc chia sẻ sức mạnh.

Điều này xem ra mâu thuẫn. Nhưng hãy lấy một bó sậy làm ví dụ. Từng cây sậy thì yếu ớt và dễ bị bẻ gãy. Nhưng khi cột chung thành bó, chúng hầu như không thể bẻ gẫy được. Với con người cũng thế, sức mạnh to lớn là kết quả của việc quy tụ, đặc biệt quy tụ những người yếu đuối. Cộng đoàn dường như được liên kết với sự yếu đuối và dễ bị tổn thương. Khi người ta đang vui hưởng sự thành công, người ta tìm kiếm sự thán phục, nhưng khi người ta yếu đuối, người ta tìm kiếm sự hiệp thông. Nếu người ta tìm thấy sự hiệp thông, người ta biết rằng họ được yêu thương không phải vì những thành tựu của họ, nhưng vì họ là ai. Kết quả là họ đạt được sự tín nhiệm lẫn nhau.

Và tâm hồn của một người có khả năng và mạnh mẽ luôn mở ra và tiếp xúc với lời kêu gọi yêu thương đến từ một người yếu đuối hơn mình. Khi một người nào đó nói với bạn về sự thành công và năng lực khác thường của người ấy, bạn thán phục người ấy. Nhưng khi người ấy chia sẻ những thất bại và yếu đuối của người ấy với bạn, người ấy gợi lên lòng thương cảm. Sự thương cảm dẫn đưa và tạo ra sự hiệp thông.

Sức mạnh được giấu kín trong sự yếu đuối và cộng đoàn chân thật gồm những bạn bè yếu đuối. Hội những người Nghiện rượu Vô Danh là một ví dụ cho điều này. Điều kéo các thành viên đến với nhau không phải để được chia sẻ sức mạnh mà là chia sẻ sự yếu đuối là thừa nhận một cách trung thực sự yếu đuối và tính chất dễ tổn thương mà người nào cũng có. Không ai là một mối đe doạ cho người khác, và điều này làm họ sẵn sàng chia sẻ và đón nhận lẫn nhau. Không phải là người hoàn hảo mới được chia sẻ đời sống cộng đoàn.

Các Kitô hữu tiên khởi chịu đựng lẫn nhau bằng việc cầu nguyện và cùng nhau thờ phượng Thiên Chúa cũng như yêu thương phục vụ lẫn nhau. Chúng ta có thể làm được điều tương tự. Chúng ta có thể cùng nhau tiến bước, lắng nghe và học hỏi lẫn nhau. Chúng ta phải mở rộng sang những thành viên khác của cộng đoàn cùng loại hiểu biết và thương cảm mà chính chúng ta mong ước nhận được từ họ.

“Mầu nhiệm cứu độ của tình yêu Thiên Chúa được nhìn thấy không phải trong một cộng đoàn của các anh hùng tâm linh mà của anh chị em khuyến khích nhau trong cuộc hành trình về Vương quốc của niềm hy vọng và thương xót” (Timothy Radeliffe).

 ---------------------------------

 

PS7-C20. Chú giải của Noel Quesson

 

Hôm nay, chúng ta đọc phần cuối “Lời cầu nguyện cho linh mục” của Đức Giêsu. Đức Giêsu: PS7-C20


Hôm nay, chúng ta đọc phần cuối “Lời cầu nguyện cho linh mục” của Đức Giêsu.

Đức Giêsu ngước mắt lên trời và cầu nguyện rằng

Tôi thử mường tượng ra quang cảnh trên. Lúc đó là vào chiều thứ năm, Đức Giêsu sắp sửa ra đi chịu chết. Sau khi đã bầy tỏ những tâm sự cuối cùng khá lâu vó các bạn hữu mà Ngài sắp rời bỏ, Đức Giêsu bắt đầu ngỏ lời với Chúa Cha: Ngài cầu nguyện. Đây là lời cầu nguyện dài nhất của Đức Giêsu trong các Tin Mừng.

Con không chỉ cầu nguyện cho những người này, nhưng còn cho những ai nhờ lời họ mà tin vào con.

Một lần nữa, chúng ta được mời gọi tìm hiểu xem Đức Giêsu đã ý thức thế nào về Người. Người khoảng ba mươi tuổi sắp phải chết, chỉ dùng ba năm để đề xuất một công trình cần thực hiện. Một trong số mười hai môn đệ mà Người đã tuyển chọn, vừa mới ra ngoài để phản nộp Người Đức Giêsu còn biết rằng, mười một ông khác cũng sẽ bỏ Người. Trong tình huống đó, Đức Giêsu “cầu nguyện” cho những kẻ nhờ lời họ mà tin vào Người trong tương lai. Vâng, Đức Giêsu đã nhìn thấy trước toàn bộ công việc phát triển rộng lớn của công trình Người thực hiện. Người nhìn thấy từng đoàn lũ người sẽ tin vào Người. Người đã thấy trước Giáo hội.

Đức Giêsu đã cầu nguyện cho mọi người, trong những thời đại tiếp sau, sẽ tin vào Người: Người cầu nguyện cho tôi, ngay chiều hôm đó.

Đó là lời cầu nguyện được thực hiện vào một buổi chiều, lời cầu nguyện của một con người cụ thể. Thánh Phaolô quả quyết, lời cầu nguyện đó sẽ không khi nào chấm dứt, bởi vì giờ đây Người đang ngự bên hữu Thiên Chúa để cầu nguyện giúp cho chúng ta (Rm 8,34). “Ngài hằng sống để chuyển cầu cho họ”. (Dt 7,25).

Vậy nội dung của lời cầu nguyện đó là gì? Đức Giêsu có cầu xin Chúa Cha cho các tín hữu không?

Xin cho tất cả nên một...

Lời nguyện chúc cơ bản mà Đức Giêsu muốn dành cho Giáo hội của Người: đó là sự Hiệp nhất!

Một lần nữa, qua lời cầu nguyện này, Đức Giêsu xuất hiện trước chúng ta như một người sáng suốt phi thường. Người đã cảm thấy trước biết bao đám đông dân chúng, từng tỷ con người sẽ tin vào Người (điều đó đã trở nên hiện thực)! Người dũng cảm thấy rằng, thảm kịch to lớn của các tín hữu là sự “chia rẽ” (điều đó cúng đã xảy ra)!. Tư tưởng tôn giáo đúng nghĩa, vẫn thường mang trong mình nguy cơ ly giáo, vì những điều tuyệt đối mà nó chuyển tải, vì những thái độ cao thượng mà nó gợi lên: đáng buồn thay, các bè phái lại rất gần với sở thích kiếm tìm chân lý. Các ý thức hệ hiện đại, với đặc tính thường quá triệt để của chúng, luôn dẫn đến sự cuồng tín, và do đó đến những ly cách và sai lầm.

Vâng, sự hiệp nhất là một trong những đề tài bi thiết hiện đại. Biết bao sự hiệp nhất đã bị gẫy đổ, biết bao thái độ chống đối, biết bao mối hận thù trong thế giới, cũng như trong Giáo hội.

Lạy Cha, như Cha ở trong Con và Con ở trong Cha

Đó không chỉ là một sự thông cảm bình thường giữa hai người bạn. Còn có một điều gì khác hơn là một sự khoan nhượng chân thành với nhau. Đó không chỉ là “sự đồng hiện hữu,bình ổn” của các khối, mà trên thực tế họ tìm hết cách để kịch hệt tiêu diệt lẫn nhau.

Mô hình tiêu biểu được Đức Giêsu đưa ra cho các Kitô hữu, đó là Chúa Ba Ngôi. Dù là nhiều nhưng chỉ làm nên một. Thực sự, chúng ta luôn nghĩ đến một thứ hiệp nhất quá dễ dãi, đó là những người không suy tư như chúng ta; con phải liên kết lại với chúng ta! Khi hai người chia rẽ nhau vì sở thích, chọn lựa, tập quán, thì không phải là sự hiệp nhất đích thực. Khi đơn thuần, ta triệt hạ một trong hai người tương quan: lúc đó, sự hiệp nhất chỉ là loại bỏ một trong hai; một thứ đồng hóa mà thôi! Trái lại trong Thiên Chúa, các ngôi vị hoàn toàn tách biệt nhau, nhưng lại tôn trọng nhau, luôn sống trong mối hiệp thông trọn vẹn mà không lẫn lộn; đó là sự hiệp nhất của nhiều ngôi vị. Theo Thiên Chúa, sự hiệp nhất không ở chỗ chỉ nhằm tẩy xóa những tiềm năng khác nhau của mỗi nhóm người, mỗi cá nhân trong một thứ phối hợp mà không để ý đến nét nổi bật và thi vị. Giáo hội cần phải xây dựng một sự hiệp nhất trong thái độ tôn trọng những khác biệt chính đáng.

Tại sao mọi chủng tộc, mọi nền văn hóa lại phải làm mất đi nét độc sáng, đã được Thiên Chúa trao ban cho họ như một yếu tố của sự hòa hợp phổ quát? Tại sao một kiểu đạo đức lại có thể buộc những người cầu nguyện cách khác phải tuân theo? Cần phải chân thành thú nhận rằng, Giáo hội Công giáo từ lâu vẫn lẫn lộn “sự hiệp nhất” với “Âu Châu” hay “La tinh” của mình. Những nhà thần học có tầm cỡ của các xứ truyền giáo thường nghĩ rằng, những mầu nhiệm quan trọng của Kitô giáo (Chúa Ba Ngôi, Nhập thể, Cứu chuộc ...) chỉ thực sự bày tỏ tất cả sự phong phú thần học, khi chúng được chuyển dịch lại nhờ các bộ óc của những người An Độ, những người Châu Phi, chịu ảnh hưởng của Phật giáo hay thuyết Vật Linh; cũng như các mầu nhiệm đó đã bắt đầu bày tỏ ánh sáng đầu tiên qua tư tưởng Hi Lạp của Platon và Aristote.

Nhưng chúng ta sẵn sàng sống “sự hiệp nhất” thâm sâu đó giữa những “người khác biệt” không?

Ngày nay, mọi Người đều nói đến “tính đa dạng” và hiệp nhất”. Thực sự, chúng ta có hướng tới một thái độ chân thành lắng nghe những khác biệt, một trao đổi những khả năng riêng tư một chia sẻ văn hóa, “những hệ kín”, một sự tôn trọng kẻ khác không?

Để họ được hoàn toàn nên một, như vậy thế gian sẽ nhận biết là chính Cha đã sai con.

Đức Giêsu đã nói với chúng ta hãy “yêu thương như Người”. Ở đây, Người nói hãy trở nên “một” như Ba Ngôi Thiên Chúa! Nhưng trong câu này, Người còn thêm rằng, chính sự giống nhau đó làm nên Giáo hội mang tính “thừa sai”. Công đồng Vatican II, Công đồng đầu tiên trong lịch sử đề cập tín điều về Giáo hội một cách trực diện, trong Hiến chế tín lý quan trọng “Lumen Gentium” (Anh sáng muôn dân), đã đặt trọn vẹn suy tư'của mình trên một kiểu nói của thánh Xy-pri-anô, giám mục thành Các-ta-gô vào khoảng năm 250: “Giáo hội là một dân tộc rút ra sự hiệp nhất cho mình, từ sự hiệp nhất giữa Chúa Cha, Chúa Con và Thánh Thần”. Giáo hội là sự mở rộng cho nhân loại, kiểu tương quan liên vị hoạt động trong Thiên Chúa Giáo hội là “bí tích hữu hình” của Thiên Chúa, là “dấu chỉ” của Người: “Giáo hội, ở trong Đức Kitô, như là bí tích, nghĩa là dấu chỉ và phương tiện để kết hợp mật thiết với Thiên Chúa, và để hiệp nhất với toàn thể nhân loại” (LG số 1).

Thỉnh thoảng ta tiếp tục tìm kiếm xem đâu là những kỹ thuật những cách thức làm tông đồ tốt hơn, những công trình cần phải thiết lập hay nuôi dưỡng, để “Phúc âm hóa” thế giới, để thế gian tin; để trao lại đức tin cho người trẻ, những người trưởng thành đã đánh mất nó. Từ lâu, Đức Giêsu đã trả lời, đã đưa ra quan điểm của Người: chính sự “hiệp nhất” có sức loan báo Tin Mừng! “Hãy nhìn xem, họ yêu thương biết bao”, hẳn là người ta có thể nói về các Kitô hữu như thế, về những con người sống đức tin thế nào để đức tin có sức hấp dẫn kẻ khác. Lạy Chúa Cha, Chúa Con, Chúa Thánh Thần, xin làm cho chúng con nên một như Chúa.

“Phần con, con đã ban cho họ vinh quang mà Cha đã ban cho con, để họ được nên một như chúng ta là một: Con ở trong họ và Cha ở trong con, để họ được hoàn toàn nên một, như vậy, thế gian sẽ nhận biết là chính Cha đã sai con và đã yêu thương họ như đã yêu thương con”.

Đó là lời cầu nguyện của Đức Giêsu dâng lên Chúa Cha, dành cho chúng ta. Đó là cách Đức Giêsu thông truyền tất cả những gì Người đã sống trọn vẹn nhất. Người chia sẻ cho ta “bí quyết riêng” của Người, bí quyết giúp Người thành công vô song, giúp Người được vinh quang, phấn khởi, tươi vui: đó là sự kết hiệp mật thiết của Người với Chúa Cha, được bày tỏ trong hình ảnh thân mật “cư ngụ trong nhau”: Cha ở trong con. Đức Giêsu là con người hoàn toàn thoát khỏi cái tôi, để trọn vẹn “ở trong Chúa Cha”.

Lời nói của Người ư? Đó là những lời của Chúa Cha (Ga 3,2; 7,16; 8,26.38.40...): Yêu thương.

Ý muốn của Người ư? Đó là ý muốn của Chúa Cha (Ga 4, 34; 5,30; 6,38 ...): Yêu thương.

Hành động của Người ư? Đó là hành động của Chúa Cha (Ga 5,17. 20.30.36; 8,28 ...): Yêu thương.

Con người của Người ư? Đó là con người của Chúa Cha (Ga 10,30) “Cha và con, chúng ta là một”: yêu thương.

Hình tượng của Chúa Ba Ngôi đó là “mô hình” cho chúng ta, là chương trình hành động của chúng ta trong phạm vi gia đình, thành phố, nghề nghiệp, đoàn nhóm, Giáo hội và mọi tương quan yêu thương!

Lạy Cha, con muốn rằng con ở đâu, thì những người Cha đã ban cho con cứng ở đó với con, để họ chiêm ngưỡng vinh quang của con, vinh quang mà Cha đã ban cho con, vì Cha đã yêu thương con trước khi thế gian được tạo thành.

Lời nói “Con muốn” trên đây của Đức Giêsu là lời nói duy nhất trong toàn bộ Tin Mừng: một kiểu nói đòi hỏi ít gặp thấy trên môi miệng rất “tùng phục” của Người đối với Chúa Cha; thế nhưng lại mang đầy ý nghĩa. Vậy ý muốn duy nhất của Đức Giêsu là gì, khiến Người đã mạnh dạn nài xin Chúa Cha như thế? Biết bao người đã chia sẻ “số phận diệu kỳ của Người con yêu dấu, là thứ hạnh phúc mà chính Người đã cảm mến trước khi thế gian được tạo thành. Chúng ta không nên lướt nhanh trên những kiểu nói thực sự đã làm ta choáng váng: Thực sự đó là “bản tính Thiên Chúa”, hiện hữu trước khi thế giới lộ hình, mà Đức Giêsu muốn khai mở cho chúng ta thấy.

Lạy Cha là Đấng công chính, thế gian đã không biết Cha, nhưng Con, Con đã biết Cha, và những người này đã biết là chính Cha đã sai Con. Con đã cho họ biết danh Cha, và sẽ còn cho họ biết nữa.

Đó là thảm kịch của Đức Giêsu. Là cuộc thương khó là nỗi đau khổ luôn ám ảnh suốt đời Ngài. Đó là từ chối của con người trước “đề nghị” của Thiên Chúa. Là sự khước từ tình yêu Khước từ giao ước. “Bạn có muốn chung sống” với tôi không? - Không. Chúng ta có thuộc vào số những người mà Đức Giêsu nói đến, những người “nhận biết” món quà tặng phi thường được trao hiến cho họ không? Chúng ta có trở nên “Hiền thê” của sách Khải huyền hoàn toàn sung sướng không?

Để tình Cha đã yêu thương Con ở trong họ, và Con cũng ở trong họ nữa.

Lời nguyện của Đức Giêsu đã kết thúc bằng những lời trên đây. Sang câu kế tiếp, ta sẽ bước vào vườn Ôliu, để chứng kiến cuộc nộp bắt do Giuđa dẫn đầu.

Ta có thể nghĩ rằng, Đức Giêsu vẫn tiếp tục những tư tưởng cầu nguyện như thế, trong những giờ phút cuối cùng của đời Người. Ta cũng có thể nghĩ rằng, ở trên trời, Người vẫn tiếp tục chuyển cầu như trên. Chóp đỉnh thực sự quan trọng của Tin Mừng, “Tin vui” lớn lao: đó là chính Tình yêu của Thiên Chúa, Tình yêu Ba Ngôi, Tình yêu Chúa Cha đã yêu Chúa con, Tình yêu tuyệt đối và vô biên của Thiên Chúa, được chia sẻ cho mọi người muốn đón nhận.

Điều đang hoạt động giữa lòng nhân loại, trong những toan tính yêu thương bé nhỏ đáng thương của ta, cho dù có bất toàn đi nữa, thì thực sự đó là “mối tương quan hoàn hảo, kết hợp các ngôi vị trong Thiên Chúa Ba Ngôi tình yêu” mà một ngày nào đó, chúng ta sẽ được nối lại!

---------------------------------
 
 

PS7-C21. Ái mộ những sự trên trời


“Thứ Năm thì ngắm Đức Chúa Giêsu lên trời. Ta hãy xin cho được ái mộ những sự trên trời”.
 
 

Thế giới hôm nay, hơn bao giờ hết tràn đầy những sản phẩm phong phú về chất lượng và tiện ích: PS7-C21


Thế giới hôm nay, hơn bao giờ hết tràn đầy những sản phẩm phong phú về chất lượng và tiện ích cho nhu cầu cuộc sống. Những thứ này làm cho con người xem như không muốn lìa khỏi trái đất, và một cách nào đó, không còn mộ mến và cũng không muốn kiếm tìm kho tàng vĩnh cửu của đời sau. Nhưng những sự trên trời là gì? Và tại sao chúng ta cần phải tìm kiếm nó?

NHỮNG CÁI THUỘC VỀ TRẦN GIAN

Trước khi tìm kiếm những sự trên trời, chúng ta cũng cần rảo qua những thứ mà con người ngày nay đang khao khát và tìm kiếm ở trái đất. Nói một cách nôm na là “những sự thuộc về trái đất”.

Những điều mà con người ngày nay đang hăm hở tìm kiếm, và chiếm hữu đó là:

1. Sắc đẹp.
2. Tiền của.
3. Tình yêu.
4. Danh vọng.
5. Thành đạt.
6. Thú vui vật dục.

Sắc đẹp là gì? Tiền của là gì? Tình yêu là gì? Danh vọng là gì? Thành đạt là gì? Và Thú vui dục vọng là gì? Tất cả những thứ này ai cũng biết, vì chúng cũng rất dễ hiểu đối với một trí khôn thông mình vừa phải.

Con người với bản năng tự nhiên thật khó để chống lại sức quyến rũ và khuynh loát của những thứ này. Bằng một cái nhìn có tính cách luân lý, chúng ta gọi những thèm khát và ước muốn chiếm hữu ấy là những cơn cám dỗ, hay những chước cám dỗ. Chính Chúa Giêsu cũng bị lôi vào những cám dỗ này: “Tất cả những vinh quang thế gian này là của tôi. Tôi sẽ cho ông nếu ông sấp mình thờ lậy tôi” (Mt 4:9).

Trong thực tế, ngưòi ta tranh nhau, chống đối nhau, thù ghét nhau, và thanh toán nhau về những thứ ấy. Nhiều người đã dám đánh đổi cả linh hồn mình, cả danh dự mình cốt sao chiếm thủ được những thứ ấy. Nhiều anh Hồi Giáo quá khích, ôm bom tự sát cũng không ngoài sự ham thích là trên Thiên Đàng, sẽ được ôm 72 cô trinh nữ.

NHỮNG SỰ TRÊN TRỜI

Nếu trời và đất khác nhau, xa nhau như thế nào, thì những sự thuộc về trời cao và những sự thuộc về trái đất cũng khác nhau và xa nhau như vậy.

Tuy không mấy ai quay lưng lại những điều tốt đẹp và thiện hảo thuộc về trái đất, nhưng đối với những vẻ đẹp và sự thiện hảo thuộc về thế giới tâm linh thì hầu như không mấy ai màng tới.

Thật ra, không phải là con người không quan tâm và ưa thích những giá trị tinh thần, nhưng chỉ vì “vô tri bất mộ”. Và điều này chính là lý do khiến nhiều người đã quên hoặc thờ ơ với những vẻ đẹp và sự quyến rũ ấy. Nhưng vẻ đẹp tâm hồn, vẻ đẹp trên trời là gì? Đó là:

1. Vẻ đẹp của tâm hồn.
2. Tình yêu Thiên Chúa và tha nhân.
3. Nghèo khó Phúc Âm.
4. Khiêm nhường.
5. Đơn sơ.
6. Thanh tịnh.

Là vẻ đẹp và sự quyến rũ của nhân đức, một vẻ đẹp hoàn toàn khác với những vẻ đẹp và sự quyến rũ của những vẻ đẹp thuộc trái đất. Nhiều người đã bỏ ra hằng trăm, hàng ngàn, hàng vạn Mỹ kim để làm đẹp, để khoa trương sự giầu có và để được người khác ca tụng. Nhiều người không sợ trải qua những cuộc giải phẫu nguy hiểm, đau đớn cốt sao để thấy mình đẹp, mình hơn người là thoải mái, và hạnh phúc. Nhiều người đã sẵn sàng chấp nhận những thách đố lớn lao để chạy đua vào những chiếc ghế quyền lực. Nhưng ít ai bỏ ra một giờ, một ngày, một tuần, một tháng, hoặc một năm để lo tua sửa và chỉnh trang lại vẻ đẹp của tâm hồn.

Trên thực tế, tình yêu Thiên Chúa, tình yêu tha nhân, đức nghèo, đức đơn sơ, và đức trong sạch là những đòi hỏi rất cần thiết để đem lại hạnh phúc cho mỗi người, mỗi cộng đoàn, mỗi dân nước. Đó là những cái có thể giúp con người chiếm hữu được vĩnh hằng. Rất tiếc, đó cũng là những gì mà nhiều người từ khước, bởi vì chúng không phù hợp với nhãn quan và suy tư của con người.

Yêu mến và tìm kiếm. Giáo Hội đã thôi thúc và khuyến khích mỗi Kitô hữu hãy tìm kiếm và yếu mến những sự trên trời. Nếu như tự nhiên chúng ta không yêu mến nổi, không thích thì chúng ta phải cầu xin ơn trên khai mở tâm trí, và cõi lòng mình. Sự mù lòa của con mắt tâm linh và sự tăm tối của trí tuệ khiến nhiều người chối bỏ, hoặc coi thường những giá trị thuộc về thế giới tâm linh. Cầu xin cho được ơn ái mộ, là cầu xin Thánh Linh khai mở tâm hồn và trí tuệ chúng ta, để chúng ta có thể nhìn, và có thể hiểu được vẻ cao quí của những giá trị tinh thần ấy.

NHỮNG GÌ THUỘC VỀ THẦN LINH LÀ THẦN LINH

Nhận thức về thế giới tâm linh là một nhận thức ngoài tầm hiểu biết của trí tuệ tự nhiên con người. Thí dụ, nhận ra vẻ đẹp và giá trị của tinh thần nghèo khó, hoặc nhận ra được giá trị và vẻ đẹp của Đức Ái Kitô Giáo, một đức ái không chỉ dậy chúng ta yêu thương kẻ yêu mình, mà hơn thế, yêu thương cả những kẻ ghét bỏ mình, thù nghịch và hại mình.

Những gì thuộc về thần linh là thần linh. Thật vậy, con nguời tự nhiên dù có muốn kiếm tìm và học hỏi nó, những giá trị tinh thần kia vẫn ở xa hơn tầm hiểu biết và vì thế, cần được soi dọi và khai mở bởi sức mạnh huyền nhiệm mà ta gọi là sự khai mở của Thánh Thần. Chỉ khi nào trí óc ta, trái tim ta được ngài khai mở, lúc ấy chúng ta mới nhận ra, mới hiểu thấu thế nào là sự cao xa, dài rộng của vẻ đẹp tinh thần, của những giá trị đạo đức.

Và cũng chỉ khi nào tai ta, mắt ta, miệng lưỡi ta được khai mở, lúc ấy ta mới nghe rõ, mới nhìn rõ, và mới nói được, truyền thụ được điều mà trí khôn ta cảm nghiệm và trái tim ta yêu mến.

Nhiều khi chúng ta thấy thương cho những người vô thần, những người vật chất khi thấy họ bị trói buộc và xiềng xích bởi hận thù, ghen ghét, hoặc bị chôn bám vào những dục vọng thấp hèn. Chúng ta tự hỏi làm sao những người này có thể hạnh phúc và bình an được với những suy nghĩ và lối sống như thế. Nhưng vì trí khôn họ, trái tim họ, con mắt họ, lỗ tai họ, và miệng lưỡi họ đã bị xích xiềng và khống chế bởi sự mù lòa tâm linh, nên họ vẫn phải làm những điều mà nhiều khi họ không biết mình làm gì, hệt giống như những bệnh nhân tâm thần.

CHÚA VỀ TRỜI

Không phải chỉ để dọn chỗ cho chúng ta, mà còn là một hướng tới mà mỗi người chúng ta phải nhìn lên.

“Xin cho chúng con ái mộ những sự trên trời”, để chúng con không bị chôn bám vào thế gian chóng qua và phù du này. Và để chúng con biết tìm kiếm những giá trị cao quí của tinh thần, và để chúng con yêu mến và sống với cuộc sống ấy. Vì đó là những gì mà chúng con có thể tìm kiếm, mua sắm và đem vào được nơi vĩnh hằng. Nơi mà chúng con sẽ gặp được Chúa là nguồn mạch sự sống, hoan lạc, và hạnh phúc bất diệt của chúng con.
 T.s. Trần Quang Huy Khanh

 ---------------------------------

 

PS7-C22. Luyện được con mắt thứ ba

 

Người Ấn Độ thường chấm một điểm trên trán giữa hai con mắt để diễn tả con mắt thứ ba, la: PS7-C22


Người Ấn Độ thường chấm một điểm trên trán giữa hai con mắt để diễn tả con mắt thứ ba, là thần nhãn, thấy được những gì mà hai con mắt thịt vẫn nhìn mà không thấy.

Hồi còn là sinh viên, trong lớp tôi cũng có mấy anh bạn người Ấn. Có lần tôi đã trót dại đi nhạo báng mấy tên này vì cái trò ăn bằng tay có vẻ mất vệ sinh, nhất là khi ăn cà ri thì nhoe nhoét quá chừng. Tôi khơi mào bằng chuyện “bước tiến hóa tất yếu của lịch sử” văn minh loài người, rằng cứ xem cách ăn thì biết một sắc dân đã văn minh tới cỡ nào. Này nhé: ăn bằng cả mười ngón tay là thuộc thời còn trong hang hốc rừng rú; người da trắng văn minh hơn một tí thì đã biết mặc quần áo và ăn bằng xiên tức là bốn ngón; còn người Việt thì chỉ dùng có hai ngón mà thôi, tức là dùng đũa. Văn minh chưa?

Nghe tôi cười nhạo như vậy mà tên người Ấn không tỏ dấu tức giận gì, nhưng cứ bình tĩnh đợi cho tôi nói cho đã rồi mới từ từ nói lại: “Này bạn, khi ba mình trao cho mình một món quà, thì bạn lấy hai cái gậy mà khều hay lấy bốn cái que mà chọc? Tôi thì tôi chẳng dám thế. Tôi sẽ cung kính giơ hai bàn tay ra mà lãnh nhận với lòng biết ơn. Người Ấn chúng tôi thấy mọi sự đều là ơn Trời ban: từng hơi thở, từng miếng ăn, từng ngụm nước, từng hạt cơm. Ăn cũng là một nghi thức đấy.”

Đang hí hửng đắc thắng, tôi im bặt ngay, thấy thẹn trong người. Phục tên này quá sức. Đúng là họ có con mắt thứ ba vẽ tượng trưng ở trán. Chẳng lạ gì nhiều nhà khảo cứu đã từng nói tới hạch tuyến Pituitary và Pineal ở chính điểm trên.

CÁI THẤY CỦA CON KIẾN

Một con kiến đang bò trên mặt một tờ giấy, ra sức bò từ đầu này sang đầu kia. Một người đứng quan sát nó bò như vậy vừa tới đầu bên kia thì liền nẩy ra ý vui vui là gấp tờ giấy lại cho đầu và cuối trang giấy giáp vào nhau. Con kiến lấy làm lạ là nó bỗng gặp lại chỗ nó đã khởi hành mà không hiểu tại sao.

Đối với con kiến thì thế giới của nó là cái mặt phẳng hai chiều: chiều ngang và chiều dọc. Nó không thể hiểu và thấy được chiều kích thứ ba gọi là hình học không gian: chiều đứng. Đối với nó thì “thế gian” chỉ vỏn vẹn trong tầm mắt trên tờ giấy. Nếu có người bỏ một miếng mỡ nhỏ vào trên mặt giấy thì nó khoái trá mò đến kiếm ăn khen ngon rốt rít, nhưng nó không thể hiểu miếng mỡ từ đâu tới. Đối với nó, việc miếng mỡ “hiện ra” trên mặt giấy là một phép lạ. Hình ảnh này cũng giúp hiểu một điều xem ra rất mâu thuẫn trong đạo là việc tin Chúa ở khắp mọi nơi. Chúa hằng hữu, “Thầy ở cùng chúng con mọi ngày cho đến tận thế” và việc Chúa hiện ra. Chúa vẫn luôn ở đây chứ, nhưng chỉ thấy Chúa “hiện ra” thực khi nhìn với con mắt trong một chiều khích cao hơn mắt con kiến, vẫn được gọi là con mắt thứ ba, con mắt của tâm.

Chúng ta vẫn thường nói: Mặt trời mọc và mặt trời lặn. Sự thật có phải vậy đâu. Nói như thế cũng giống như con ếch ngồi đáy giếng bảo trời đất chỉ bằng cái vòng tròn trên miệng giếng kia. Cho đến thời Isaac Newton bỗng thấy một sự thật khác qua chuyện nhìn trái táo rụng mà “thấy” được, phát minh ra định luật về trọng lực.

Quả thực, Newton và Descartes đã ghi mốc cho một nền văn minh gọi là khoa học kỹ thuật từ Âu Châu tiến đến tột đỉnh ở Mỹ như ngày nay. Sự vật được nhìn như những “thực thể” hoàn toàn vật chất tách rời biệt lập, để được đo lường cân lượng, để trở thành những kết luận, những định luật, định lý.

Cái nhìn và cái thấy mới, được gọi là “văn minh” này, có thể diễn tã đơn giản là con kiến trước đây chỉ biết bò trên mặt phẳng, bây giờ biết bò trong một cái hộp vuông có chiều đứng. Nó bèn vênh mặt lên tự hào đã bá chủ được “vũ trụ.” Cho đến một hôm nó cố gắng mò mẫm bò lên được mặt trăng, chưa kịp gáy để khoe mẽ thì bỗng dưng cụt hứng khi nhìn về trái đất và thấy một sự thất khác: tất cả những đo lường, những dinh thự chọc trời, những bon chen ở dưới kia sao mà nhỏ bé li ti một cách tội nghiệp đến thế! Rồi nhìn ra chung quanh: vũ trụ bao la với triệu thái dương hệ, có những ngôi sao vừa ra đời, có những ngôi sao đang bay vào hố đen thăm thẳm gọi là “black hole.” Con người bằng ấy năm “văn minh” mà sao lệt bệt quá vậy? Cứ tưởng tượng xem: văn minh gì mà cứ phải bò lết trên mặt đường bằng những phương tiện mà loài người gọi là xe hơi, dù là xe láng hay xe sắp ra nghĩa địa. Và mọi đo lường, mọi giá trị vẫn tự hào xưa nay bỗng dưng thay đổi chiều kích.

Mà cả trái đất cũng là một phi thuyền đang bay vào khoảng trống vô biên. Một đời người sống hai chục năm hay tám mươi tuổi nhìn lại cũng chỉ là một koảnh khắc hết sức tương đối. Ôn lại lịch sử con người từ cái ngày còn ở trong hốc đá cho đến khi biết mặc quần jean, mấy ngàn năm tưởng như một nháy mắt. Con người đã bước vào một thiên niên kỷ mới, khởi đầu một vòng xoay của trái đất như một chấm nhỏ li ti trong giải ngân hà, những sinh vật gọi là loài người ngồi tính sổ, rốt cuộc rồi cũng thấy mọi thành quả đỉnh cao, mọi tiến bộ tất yếu chỉ là chuyện nhảm nhí. “Con kiến” mang mặt người như vừa thức tỉnh vượt lên khỏi cảnh “ếch ngồi đấy giếng” với một cái nhìn mới trong một chiều kích mới.

TIN VUI GỬI NGƯỜI ĐANG BỊ QUẨN

Nhiều người vẫn có cảm tưởng mình bị nhốt giam tù túng trong một cái bị thịt, con mắt không sao mà nhìn cao và xa hơn được. Ngay cả về thể lý,con mắt mình chắc chắn là không sáng bằng đôi mắt chim cú, không tinh và đầy quyền năng như con rắn nhìn chú gà con, không đơn thành trong sạch bằng đôi mắt bồ câu, không nhìn xa được bằng mắt chim phượng. Người ta đã từng khám phá ra mắt con ruồi có tới ba ngàn lăng kính, chính xác hơn ống kính nổi tiếng nhất thế giới ngày nay như Zeiss, Leica... Người ta vẫn đổ tội cho ông A-đam và E-và tham ăn tham uống mà con mắt thứ ba là hạch tuyến Pituitary và Pineal bị vít lại, nên hóa ra mù tối mất đi chất trong sáng nguyên thủy. Nhưng thực ra thì những chuyện lắng lo lẩm cẩm hằng ngày của mỗi người bây giờ càng ngày càng che lấp tầm mắt chẳng còn có thể nhìn thấy gì xa hơn nữa. Cộng thêm vào đó là những ham hố, những tham vọng, những bon chen, khiến cho con mắt càng bị che phủ mờ mịt đi. Nhìn lên chỉ thấy ganh tị chưa bằng người; nhìn xuống chỉ thấy những vênh mặt tự đắc tưởng rằng đỉnh cao; nhìn gần chỉ toàn thấy những giấy đòi nợ và những bon chen hơn thiệt triền miên, đau khổ vật vã với những giằng co đi vào đường cùng. Đúng là quẩn quá! Đến một khoảnh khắc sực tỉnh mình bỗng thấy tầm mắt mở rộng, thoát ra khỏi những chặn vít thường ngày:

Con mắt nhìn lên trời cao xanh ngát
Con mắt nhìn xuống biển rộng bao la
Con mắt nhìn gần quên điều nhỏ nhặt
Con mắt nhìn xa chợt thấy quê nhà.
(thơ Nguyễn Khánh Hòa, New Orleans)

PHÚT TỊNH TÂM

Hòa mình vào hình ảnh Chúa Giêsu lên Trời, mỗi người sực nhận ra một chiều kích mới: Con người có thể vượt lên khỏi cái bị thịt vốn giới hạn nhốt giam mình trong không gian và thời gian. Chúa Giêsu đã làm người, đã trở thành một A-đam mới, con người kiểu mẫu mới, và đã vươn tới vô hạn. Người tin đạo nhận được tin vui lớn là nhìn thấy được Ngài ngay bên cạnh đây lúc này. Trong 33 năm làm người ở Do Thái, Ngài cũng từng bị giới hạn bởi không gian và thời gian. Trong thời gian đó, nếu Ngài đang ở Giêrusalem thì không thể nào lại có thể có mặt tại Nagiarét, phương chi là ở New Orleans hay ở Sài gòn sau gần hai ngàn năm trước. Lên Trời là vượt lên khỏi tất cả những giới hạn đó để có mặt mọi nơi, mọi lúc. Đây đúng là một Tin Vui lớn. Sách Tông Đồ Công Vụ kể rõ: “Ngài được cất lên trước mắt các môn đệ, và một đám mây che phủ Ngài khuất mắt các ông.”
Cũng như trong một quán ăn trên đường Emmaus, Chúa Giêsu cũng biến đi như vậy: “Khi ngồi vào bàn ăn với hai môn đệ, Người cầm lấy bánh, đọc kinh cầu phúc, rồi bẻ bánh trao cho họ. Con mắt họ chợt bừng mở, nhưng khi họ vừa nhận ra Người thì Người đã biến mất dạng không còn thấy đâu nữa.” (Luca 24:30-31).

Mắt đây chính là hai con mắt thịt bị che đi để con mắt thứ ba, con mắt của niềm tin mở ra, thấy được Chúa vẫn luôn ở với mình và trong mình mọi nơi mọi lúc như Ngài đã phán: “Con ở trong chúng và Cha ở trong con. Và con yêu thương chúng như Cha đã yêu thương Con." "Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế”

Lên Trời hay biến đi không phải là chạy đâu xa, mà là hiển hiện vào trong tâm mỗi người, và chỉ nhìn thấy được bằng con mắt thứ ba. Chính vì thấy được như vậy mà các tông đồ đã trở về Giêrusalem lòng đầy vui mừng, rồi bung đi khắp thế giới loan báo Tin Vui cho thời đại mới.

Xin Chúa cho con cũng thấy được Chúa đang ở ngay đây. Phút giây lắng đọng này chính là lúc con được khai mở con mắt thứ ba mà tâm nguyện với Chúa qua thánh vịnh 139:

Lạy Chúa, Ngài dò xét con và Ngài biết rõ,
Biếtcả khi con đứng con ngồi.
Con nghĩ tưởng gì, Ngài thấu suốt từ xa.
Đi lại hay nghỉ ngơi, Chúa đều xem xét.
Mọi nẻo đường con đi, Ngài quen thuộc cả.
Miệng lưỡi con chưa thốt nên lời,
Thì lạy Chúa, Ngài đã am tường hết.
Ngài bao bọc con cả sau lẫn trước,
Bàn tay của Ngài, Ngài đặt lên con
Kỳ diệu thay, tri thức siêu phàm,
Quá cao vời, con chẳng vươn tới.
 Lm. Dũng Lạc Trần Cao Tường

------------------------------
 
 

PS7-C23. Để họ được nên một


(Suy niệm của Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu)
 
 

Bài Tin Mừng hôm nay là phần cuối của Lời Nguyện sau Tiệc Ly. Đức Giêsu cầu nguyện, không PS7-C23


Bài Tin Mừng hôm nay là phần cuối của Lời Nguyện sau Tiệc Ly.

Đức Giêsu cầu nguyện, không phải cho các môn đệ đang hiện diện, nhưng cho các môn đệ tương lai, là chính chúng ta, những người tin nhờ nghe lời giảng của các môn đệ đi trước (c.20).

Hôm nay Đức Giêsu là Thượng Tế trên trời, là Đấng Trung Gian duy nhất, vẫn dâng lên Chúa Cha lời nguyện tương tự.

Ngài nhìn thấy một phần ba dân số thế giới là Kitô hữu, hơn hai tỷ người. Ngài nhìn thấy những người theo Công Giáo gồm hơn một tỷ, theo Chính Thống giáo, Tin Lành, Anh giáo và bao giáo phái khác. Ngài xin Cha cho họ nên một, như Cha và Con là một (c. 22).

Đức Giêsu đã xin cho các môn đệ đang hiện diện bên Ngài được nên một “như chúng ta” (Ga 17, 11b).

Bây giờ Ngài xin cho các môn đệ tương lai cũng được nên một.

Sự hiệp nhất nên một giữa Cha và Con vừa là khuôn mẫu, vừa là nguồn mạch cho sự hiệp nhất giữa các Kitô hữu. “Để tất cả nên một, như Cha ở trong Con và Con ở trong Cha” (c. 21). Cha và Con ở trong nhau, đó là mẫu mực cho sự hiệp nhất.
Chúng ta được mời gọi ở trong nhau khắng khít như Cha và Con.

Điều này không thể thực hiện được, nếu chúng ta không được đưa vào trong mối tương quan thân thiết giữa Cha và Con: “để họ cũng ở trong Chúng Ta” (c. 21).

Các Kitô hữu chỉ hiệp nhất khi họ được sống trong nguồn hiệp nhất là sự ở trong nhau giữa Cha và Con.

Trong Lời Nguyện của Đức Giêsu, ta thấy có một tương quan ba chiều giữa Cha, Con và các môn đệ.

“Con ở trong họ và Cha ở trong Con…

Cha đã yêu thương họ như đã yêu thương Con” (c. 23).

“Tình Cha đã yêu thương Con ở trong họ, và Con cũng ở trong họ nữa” (c.26).

Tương quan này sâu lắng đến mức có sự ở lại trong nhau thật sự giữa Cha, Con và các môn đệ là chính chúng ta.

Tuy vậy ít khi chúng ta dám nghĩ mình có tương quan gần gũi đến thế với thế giới siêu việt của Cha và Con.

Nhưng Đức Giêsu còn nói đến tương quan giữa các môn đệ với thế gian.

Chỉ khi có sự hiệp nhất giữa các môn đệ, lúc đó mới hy vọng “Thế gian sẽ tin rằng Cha đã sai Con” (c. 21), “Thế gian sẽ nhận biết rằng Cha đã sai Con (c. 23).

Chúng ta cầu cho sự hiệp nhất yêu thương giữa các Kitô hữu trên thế giới.

Nếu một phần ba dân số thế giới sống nên một trong yêu thương, hai phần ba còn lại sẽ sống trong hạnh phúc bình an.

Cầu nguyện:

Lạy Thiên Chúa Ba Ngôi là Đấng con tôn thờ,
xin giúp con quên mình hoàn toàn
để ở lại trong Chúa.
lặng lẽ và an bình
như thể hồn con đã sống trong vĩnh cửu.

Lạy Đấng thường hằng bất biến,
mong sao không gì có thể khuấy động
sự bình an của con,
hay làm cho con ra khỏi Chúa;
nhưng ước chi mỗi phút lại đưa con
tiến xa hơn vào chiều sâu của mầu nhiệm Chúa!

Xin làm cho hồn con bình an thanh thản,
xin biến hồn con thành chốn trời cao,
thành nơi cư ngụ dấu yêu của Chúa,
nơi Chúa nghỉ ngơi.

Ước chi
con không bao giờ để Chúa ở đó một mình
nhưng con luôn có mặt, với trọn cả con người,
với thái độ nhạy bén trong đức tin,
cung kính tôn thờ
và phó mình cho Chúa sáng tạo.

(Lời nguyện của chân phước Elisabeth de Trinité)

---------------------------------
 
 

PS7-C24. Để chúng được hiệp nhất nên một như Chúng Ta


(Suy niệm của Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ)
 
 

Bước vào Chúa nhật thứ VII Phục Sinh, Phụng vụ Giáo hội chuẩn bị tâm hồn chúng ta mừng Đại PS7-C24


Bước vào Chúa nhật thứ VII Phục Sinh, Phụng vụ Giáo hội chuẩn bị tâm hồn chúng ta mừng Đại lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống. Trước khi về trời, Đức Giêsu đã hứa với các môn đệ trong bữa tiệc ly là không bỏ chúng ta mồ côi, Ngài sẽ gửi Chúa Thánh Thần là Đấng Bầu Chữa đến, để trong mọi sự con người tôn vinh Thiên Chúa nhờ Đức Giêsu Kitô. Các thánh Tông Đồ đã qui tụ bên Đức Maria để cầu nguyện, noi gương các ngài, chúng ta cũng hãy hăng hái chuẩn bị sẵn sàng, cầu nguyện và thực hành đức bác ái, đón Chúa Thánh Thần, Đấng từ Chúa Cha hiện xuống trên chúng ta, và thưa với Chúa: “Lạy Chúa, con kêu lên cùng Chúa, xin Ngài lắng nghe, alléluia; hồn con thưa cùng Chúa: mắt con tìm kiếm thánh nhan Ngài, lạy Chúa, con tìm kiếm Chúa, xin đừng ẩn mặt, alléluia, alléluia.

* Bài đọc Phụng vụ năm A

- Tđcv 1, 12-14: Sau khi Chúa lên Trời, các môn đệ họp nhau cầu nguyện
- Tv 27, 1: Vâng, chúng tôi sẽ được nhìn xem những ơn lành của Chúa trong cõi nhân sinh
- 1 Pr 4, 13-16: Nếu bị sỉ nhục vì Đức Kitô thì thật phúc cho anh em
- Ga 17, 1-11a: Lời cầu nguyện của Chúa Giêsu: "Lạy Cha, xin hãy làm vinh hiển Con Cha "

* Bài đọc Phụng vụ năm B

- Tđcv 1, 15-17; 20-26: Matthia được chọn là Tông Đồ thay thế Giuđa
- Tv 103, 1: Chúa ngự bên hưu Đức Chúa Cha, vinh danh Ngài, lạy Chúa
- 1 Ga 4, 11-16: Ai ở trong Tình Yêu, thì ở trong Thiên Chúa
- Ga 17, 11-19: Lời cầu nguyện của Đức Giêsu: "Xin Cha hãy thánh hiến họ trong Sự Thật "

* Bài đọc Phụng vụ năm C

- Tđcv 7, 55-60: Têphanô, trong lúc chụi tử đạo, ông đã thấy Chúa Giêsu
- Tv 97, 1: Đức Kitô là Chúa, được đưa lên Trời trong vinh quang!
- Kh 22, 12-14; 16-17; 20: "Lạy Chúa Giêsu, xin hãy ngự đến "
- Ga 17, 20-26: "Để chúng nên một như Chúng Ta là một"

Toàn bộ Phúc Âm thánh Gioan chương 17 là diễn từ ly biệt, được kết thúc bằng kinh nguyện vô cùng cảm động của Chúa Giêsu dâng lên Cha. Kinh nguyện mở đầu bằng lời khẩn cầu danh Cha, ca tụng Ngôi Cha và Ngôi Con (câu 1-5). Chúa Giêsu xin " Cha tôn vinh Con Cha để Con Cha tôn vinh Cha" (Ga 17, 1).

Tiếp theo là những lời Đức Giêsu xin cho các môn đệ: "Lạy Cha... xin hãy gìn giữ trong danh Cha những kẻ Cha đã ban cho Con". Và đây, Đức Giêsu cầu xin Cha cho chúng ta là những kẻ nhờ các Tông Đồ mà tin vào Ngài và xin cho chúng ta được hiệp nhất: "Con không cầu xin cho chúng mà thôi, nhưng còn cho tất cả những kẻ, nhờ chúng mà tin vào con, để mọi người nên một cũng như Cha ở trong Con và Con ở trong Cha, để cả chúng cũng nên một trong Ta, để thế gian tin rằng Cha đã sai Con"(Ga 17, 26)

Nhân dịp kỷ niệm 50 khai mạc Công Đồng Vaticanô II trong bối cảnh của năm Đức Tin, chúng ta cũng nên nhắc lại tư tưởng của Công Đồng, muốn thi hành ý muốn của Đức Giêsu khi nhấn mạnh đến việc phải làm để hiệp nhất: "Vì ngày nay ở nhiều nơi trên thế giới, nhờ ơn Chúa Thánh Thần thúc đẩy, rất nhiều cố gắng nhằm tiến tới hiệp nhất đầy đủ theo ý muốn của Chúa Giêsu Kitô đang được thực hiện bằng kinh nguyện, lời nói, việc làm, nên Thánh Công Ðồng này khuyến khích tất cả mọi người công giáo hãy nhận ra các dấu chỉ thời đại để khéo léo tham gia vào công cuộc hiệp nhất.

Phải hiểu danh từ "phong trào hiệp nhất" là những hoạt động và sáng kiên được phát động và tổ chức nhằm cổ võ sự hiệp nhất các Kitô hữu, tùy theo những nhu cầu khác nhau của Giáo Hội và những thời cơ thuận tiện. Trước hết như là mọi cố gắng loại bỏ những lời nói, phán đoàn và việc làm không đúng với hoàn cảnh của các anh em ly khai xét theo công bình và chân lý, vì nếu không sẽ gây thêm khó khăn trong việc giao tiếp với họ. Thứ đến là trong các buổi hội thảo với tinh thần tôn giáo giữa các Kitô hữu thuộc nhiều Giáo Hội hay Cộng Ðoàn khác nhau, có sự "đối thoại" giữa các nhà chuyên môn thấu triệt vấn đề, và mỗi người sẽ giải thích cặn kẽ giáo lý của Cộng Ðoàn mình và trình bày minh bạch những nét độc đáo của giáo lý ấy. Có đối thoại như thế mọi người mới hiểu biết đúng hơn và tôn trọng đúng mức giáo lý cũng như đời sống của mỗi Cộng Ðoàn; cũng nhờ đó mà các Cộng Ðoàn dần dần hợp tác được với nhau rộng rãi hơn trong mọi công cuộc mưu ích chung mà lương tâm Kitô hữu nào cũng đòi hỏi; lại cũng nhờ đó, họ hợp nhau cầu nguyện chung mỗi khi có cơ hội thuận tiện. Sau cùng mọi người hãy kiểm điểm coi mình có trung thành với ý muốn của Chúa Kitô về Giáo Hội không, để rồi hăng hái tiến hành việc canh tân và cải tổ đúng như bổn phận đòi hỏi.

Khi các tín hữu của Giáo Hội Công Giáo khôn ngoan và kiên nhẫn thực hiện tất cả các điều ấy dưới sự giám sát của các chủ chăn tức là họ đã đóng góp cho việc thực hiện công bình và chân lý, sự hòa thuận và hợp tác, tình huynh đệ và đoàn kết. Với đường hướng này, khi đã vượt được mọi trở ngại ngăn cản sự hiệp thông hoàn toàn của Giáo Hội, dần dần mọi Kitô hữu sẽ đoàn tụ qua việc cử hành Phép Thánh Thể duy nhất, hiệp nhất trong một Giáo Hội độc nhất; sự hiệp nhất mà Chúa Kitô từ ban đầu đã rộng ban cho Giáo Hội của Người. Chúng tôi tin rằng sự hiệp nhất ấy tồn tại mãi trong Giáo Hội Công Giáo và hy vọng rằng mỗi ngày sẽ bành trướng thêm cho đến tận thế". (Công Đồng Vaticanô II Sắc Lệnh về Hiệp Nhất, "Unitatis redintegratio" số 4)

Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã cầu xin cho chúng con được hiệp nhất. Xin cho chúng con biết thể hiện tinh thần hiệp nhất giữa chúng con bằng sự biết cộng tác với nhau trong những việc làm chung, để xây dựng nhiệm thể cộng đoàn nhỏ bé, trong tình huynh đệ tương thân tương ái. Chúng con tin tưởng vào lời Chúa hứa mà chúng con đã đọc trước bài Tin Mừng, đó là được ở với Chúa đến muôn đời. Amen.

---------------------------------
 
 

PS7-C25. Suy niệm của Lm. Nguyễn Hữu Thy


TẤT CẢ HÃY HIỆP NHẤT NÊN MỘT
 
 

Qua bài Tin Mừng của chúa nhật hôm nay, chúng ta đã nghe lời cầu nguyện của Đức Giêsu: “Lạy PS7-C25


Qua bài Tin Mừng của chúa nhật hôm nay, chúng ta đã nghe lời cầu nguyện của Đức Giêsu: “Lạy Cha, xin cho tất cả họ trở nên một; như Cha ở trong con và con ở trong Cha, tất cả họ cũng phải trở nên một!” Tiếp đến, Đức Giêsu cũng đã nêu lên lý do tại sao Người đã xin cùng Chúa Cha cho các môn đệ của Người biết hiệp nhất với nhau: “...để qua đó, thế gian tin rằng Cha đã sai con!”

Chúng ta biết rằng Đức Giêsu đã cầu nguyện cho sự hiệp nhất giữa những kẻ tin nhận Người như thế vào chính lúc Người và các môn đệ cử hành Bữa Tiệc Ly, bữa ăn sau cùng giữa Thầy trò, vào những giây phút cuối trước khi Người bước vào cuộc khổ nạn. Vâng, đó là những lời trăn trối cuối cùng, là bản di chúc, mà Đức Giêsu để lại cho các môn đệ của Người, những Kitô hữu chúng ta. Và bản di chúc của một người đã ra đi vào chốn thiên thu thì bao giờ cũng linh thiêng và có tính cách bó buộc, khiến những người còn sống bao giờ cũng phải kính trọng, bảo tồn và thực thi một cách nghiêm chỉnh. Nhưng nếu đó lại là bản di chúc của một Thiên Chúa làm người, thì giá trị của nó hoàn toàn mang tính cách tuyệt đối, và các môn đệ của Người cũng hoàn toàn bất khả lựa chọn một giải thích khác ngoài việc thực thi trọn vẹn nó, và theo đúng từng chấm phẩy!

Nhưng liệu những người kitô hữu chúng ta đã có được thái độ trân trọng như thế đối với bản di chúc, đối với những lời trăn trối đầy tâm huyết của Đức Giêsu, Đấng từng yêu thương và đã chịu chết để chúng ta được hưởng ơn cứu độ?
Những ai đã một lần kính viếng nhà thờ được xây dựng trên chính mộ Đức Giêsu ở Giê-ru-sa-lem và quan sát cảnh các kitô hữu thuộc các giáo phái luôn khích bác và tranh dành cãi vã lẫn nhau, sẽ không khỏi ngậm ngùi đau xót tự hỏi: Tại sao các môn đệ Đức Giêsu, lại khinh thường lời di chúc của Người như thế?

Dĩ nhiên, sự hiệp nhất ở đây không chỉ muốn nói đến sự hiệp nhất giữa các giáo phái thuộc Kitô giáo, nhưng còn là sự hiệp nhất giữa tất cả mọi kitô hữu nói chung và sự hiệp nhất giữa các kitô hữu trong một cộng đoàn. Mọi cãi cọ, tranh dành, hận thù, ghen ghét và kỳ thị, phải được loại bỏ hoàn toàn khỏi các cộng đoàn Kitô giáo, vì nó phản tinh thần và ý muốn của Đức Kitô!

Nếu ngày nay và khắp nơi, mọi thứ đều phải được thử, đều phải được trắc nghiệm trước, thí dụ: Đường hướng chính trị, hàng hóa, xe cộ, v.v..., thì phải chăng lời cầu nguyện của Đức Giêsu trước khi chết không phải là một trắc nghiệm về đời sống Kitô giáo của chúng ta, về thái độ đồng cảm và đồng tâm của chúng ta với Đức Kitô? Trước lời cầu nguyện tha thiết như thế của Đức Giêsu: Chúng ta vẫn dửng dưng coi thường hay chúng ta đã quan tâm lắng nghe? Chúng ta có cảm thấy đau xót là từ hằng bao thế kỷ qua và cả đến hôm nay nữa, chính những kitô hữu chúng ta vẫn khép cửa lòng mình lại trước lời cầu xin đó của Chúa Cứu Thế? Chúng ta có đau khổ trước cảnh chính những người kitô hữu chúng ta lại nhẫn tâm chống lại ý muốn của Vị Cha Chung của mình để xâu xé và chia rẽ nhau? Chúng ta không cảm nhận được vết thương đang hằn sâu lên thân mình Đức Kitô sao? Chỉ những người bất tỉnh và mất hết mọi cảm giác mới không cảm nhận được sự đau đớn đó!

Hoặc người ta có thể trắc nghiệm một cách khác, tức: Chúng ta có vui mừng là ngày nay, những người kitô hữu chúng ta đã thức tỉnh và thoát khỏi tình trạng bất cảm và đã biết đau đớn trước những vết thương nơi thân mình Đức Kitô? Chúng ta có vui mừng, là trước lời cầu xin của Đức Giêsu “Lạy Cha, xin cho tất cả nên một”, chúng ta đã biết cảm thấy đau xót và khao khát? Chúng ta có vui mừng là các kitô hữu khắp nơi trên thế giới đã biết nỗ lực vượt lên trên những chia rẽ và cùng quay trở về hiệp nhất với nhau như Đức Giêsu muốn không?

Trong tám ngày nữa, chúng ta sẽ mừng đại lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống, Đấng mà theo thánh Phaolô là Thần Khí của sự hiệp nhất (x. 1Cr 12,13). Dấu chỉ cho sự hiệp nhất đó, là vào ngày lễ Chúa Thánh Thần đầu tiên của Giáo Hội, mọi dân tộc đã họp nhau trước nhà các Tông đồ và tất cả đã nghe và đã hiểu được sứ điệp thánh Phêrô công bố, bởi vì đó lá sứ điệp tình yêu của Thiên Chúa. Nhưng trước ngày lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống, “tất cả các Tông đồ đều đồng tâm nhất trí, chuyên cần cầu nguyện cùng với mấy người phụ nữ, với Đức Maria thân mẫu Đức Giêsu, và mấy người anh em của Người” (Cv 1,14).

Đúng vậy, chúng ta không thể áp đặt hay ép buộc được phép lạ hiệp nhất được, nhưng chỉ cầu xin như Đức Giêsu đã cầu xin vậy. Vâng, phép lạ hiệp nhất chỉ có thể xảy ra nơi những cộng đoàn Kitô giáo có tinh thần cầu nguyện, biết mở rộng tâm hồn đón nhận sự hướng dẫn của Thiên Chúa và sống theo tinh thần Đức Giêsu.

Max Metzger, vị anh hùng tử đạo thời danh dưới chế độ độc tài Đức Quốc Xã, và là một trong những vị sáng lập phong trào Una-Sancta-Bewegung, bị xử tử 1944, đã viết trong cuốn Nhật ký của ngài trước khi chết: “Tâm hồn tôi hoàn toàn an bình. Tôi đã cống hiến đời tôi cho sự hiệp nhất của Giáo Hội. Và lòng tôi sẽ tràn đầy hoan lạc, nếu Thiên Chúa chấp nhận!” Những kitô hữu can trường và xác tín như thế đã khích lệ, đã động viên chúng ta, cùng hiệp nhất với nhau và hiệp nhất với Mẹ Giáo Hội! Nhưng nhất là lời cầu nguyện mà trước khi chết Đức Giêsu đã dâng lên Chúa Cha, đã động viên chúng ta một cách mạnh mẽ: “Lạy Cha, con đã ban cho họ sự vinh quang mà Cha đã ban cho con, để họ được nên một, như chúng ta là một. Vậy, họ phải hoàn toàn nên một; hầu qua đó, thế gian sẽ nhận biết là chính Cha đã sai con!” (Ga 17,22-23). Amen.

---------------------------------
 
 

PS7-C26: Xin cho tất cả nên một


(Suy niệm của Lm. Jos. Vinc. Ngọc Biển)
 
 

Chuyện xưa kể rằng: có một ông bố muốn giáo dục con cái về sự hiệp nhất, vì thế, ông đưa cho PS7-C26


Chuyện xưa kể rằng: có một ông bố muốn giáo dục con cái về sự hiệp nhất, vì thế, ông đưa cho các con một bó đũa đã cột lại làm một và bảo các con bẻ thử, mấy người con cố gắng cũng không thể nào bẻ gẫy bó đũa... Sau đó, ông lại bảo: hãy tháo bó đũa ra và bẻ từng cái và thế là bó đũa bị bẻ gẫy dễ dàng. Lúc đó, người cha liền bảo: "Như thế là các con đều thấy rằng chia lẻ ra thì yếu, hợp lại thì mạnh. Vậy các con phải biết thương yêu, đùm bọc lẫn nhau. Có đoàn kết thì mới có sức mạnh; đoàn kết thì sống, chia rẽ là chết".

Tin mừng hôm nay thuật lại lời cầu nguyện của Chúa Giêsu cho các môn đệ. Ngài cầu nguyện cho các ông được hiệp nhất và yêu thương nhau. Bởi vì nếu họ biết hiệp nhất, yêu thương thì sẽ cùng nhau vượt qua khó khăn, thử thách cách dễ dàng. Cùng chung tay xây dựng Giáo hội và cùng nhau làm chứng cho Chúa.

1. Hiệp nhất để xây dựng Giáo hội

Đức Giêsu là người hiểu tâm lý của các môn đệ hơn ai hết. Ngài đã đích thân gọi và chọn các ông làm môn đệ cho mình, là những người Ngài sẽ trao phó cách hữu hình công việc xây dựng Giáo hội mà Ngài thiết lập dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần. Chúa biết rõ sự xuất thân của các ông. Ngài thấu hiểu hoàn cảnh, tâm lý của từng người. Vì thế, lời cầu nguyện cho các môn đệ được hợp nhất là điều rất quan trọng và thực tế. Sự hiệp nhất là yếu tố quyết định sự hưng thịnh hay suy vong của công việc.

Quả thật, nếu không có sự hiệp nhất, thì việc xây dựng Giáo hội trở nên ảo tưởng và vô lý. Và, những lời rao giảng của các ông không ăn nhập gì với mục đích của lời rao giảng. Sự hiệp nhất đó được khởi đi từ khuôn mẫu Chúa Ba Ngôi: Chúa Cha và Chúa Con nên một nhờ Thần Khí (x. Ga, 15,26). Cũng nhờ Thần Khí ấy ngự trên các môn đệ và làm cho họ hiệp nhất với nhau. Các môn đệ phải là những người đi tiên phong trong sự hiệp nhất này. Trong lịch sử Cứu độ, chúng ta đã thấy rất rõ hậu quả của sự chia rẽ: A đam và E và đã không nghe lời Thiên Chúa nên đã tự mâu thuẫn nội tại khi giơ tay hái và ăn trái cấm. Cain giết Abel vì không hiểu và không thương yêu nhau. Tháp Babel xây không thành vì bất đồng về ngôn ngữ... Chúa Giêsu cầu nguyện cho các ông được hiệp nhất vì: có hiệp nhất, thì mới có mối tương quan, sự cảm thông; mới xây dựng được đời sống cộng đoàn; có sự hiệp nhất thì mới cùng nhau làm chứng về Chúa cách hùng hồn. Nếu không có sự hiệp nhất, thì lẽ tất nhiên, cộng đoàn tan rã và sứ mạng Chúa trao phó không thể chu toàn.

2. Hiệp nhất để truyền giáo

Chúa Giêsu cầu nguyện cho các môn đệ và cho cả những ai tin vào lời các ông rao giảng cũng được hiệp nhất với nhau. Đây quả là yêu tố quan trọng trong khi loan báo Tin mừng. Bởi lẽ, nếu không có sự hiệp nhất, lời rao giảng của các môn đệ trở nên phản chứng hơn bao giờ hết; và những ai đi theo lời các ông loan báo thì thật tệ hại cho cả một đời của họ.

Chúa sắp sửa trao cho các ông sứ mạng truyền giáo đến tận chân trời góc biển. Sứ mạng ấy là quy tụ muôn dân trên khắp mặt đất về một mối. Chỉ có một Chủ chiên và một đoàn chiên duy nhất. Chính vì điều đó, nên Chúa Giêsu khao khát cho các môn đệ phải là những người sống kiểu mẫu về sự hiệp nhất; đồng thời, những ai thuộc về Giáo hội mà các ngài rao giảng cũng đều có một mẫu số chung như các ngài.

Sứ mạng loan báo Tin Mừng ấy luôn đòi hỏi tinh thần hy sinh và từ bỏ của người môn đệ rất cao. Khó khăn ấy là: ốm đau, bệnh tật, cô đơn, hiểu lầm, bắt bớ và chịu chết để làm chứng cho lời rao giảng của mình... Nhưng nếu có sự hiệp nhất, yêu thương thì dù trong hoàn cảnh nào, các ông cũng đều làm chứng cho mọi người về một thực tại siêu việt vượt lên trên những thực tại chóng qua và vô bổ ở đời. Nếu người môn đệ Chúa Kitô rao giảng về một Tin mừng giải thoát, yêu thương mà chính bản thân các ngài lại không có những yếu tố hiệp nhất để chứng minh về lời rao giảng đó thì quả là một điều vô lý. Vì thế, trước khi truyền giáo, người môn đệ phải biết "yêu". Yêu thương là đoàn kết. Yêu thương là sống mầu nhiệm tự hủy để chỉ còn sống cho người khác. Yêu thương là muốn cho người khác cũng được yêu thương như mình. Yêu thương chính là điểm hội tụ của những tấm lòng khao khát tìm chân lý. Có yêu thương như Thầy, thì những lời chứng của người môn đệ mới đủ khả tín. Được như thế, người môn đệ của Chúa Giêsu có quyền hy vọng về một tương lai của Giáo hội mà trong đó người muôn nước sẽ về phủ phục trước Tôn Nhan và muôn dân sẽ thấy ơn cứu độ của Thiên Chúa.

3. Người Kitô hữu sống hiệp nhất theo tinh thần của Đức Giêsu

"Lạy Cha, xin cho mọi người nên một" (Ga 17,21) là lời cầu nguyện thể hiện mối ưu tư của Chúa Giêsu rất lớn. Lời cầu nguyện này phát xuất từ nỗi lòng của Ngài trong bữa tiệc ly trước khi chia tay các môn đệ.

Hôm nay, Lời Chúa mời gọi mỗi người chúng ta biết cùng nhau chung tay xây dựng tình hiệp nhất nơi môi trường, nơi hội đoàn của mình. Biết bỏ đi những kiêu ngạo, ích kỷ, tư lợi cá nhân để xây dựng công ích. Vợ chồng biết nhường nhịn nhau, con cái biết ngoan ngoãn vâng lời cha mẹ. Anh chị em biết đoàn kết với nhau, yêu thương và đùm bọc nhau. Biết ý thức được giới hạn của mình để cần đến người khác.

Tuy nhiên, không ai cho cái mình không có. Phải có mới cho. Vì thế, sự hiệp nhất phải bắt nguồn từ Chúa Giêsu. Hiệp nhất với Chúa Giêsu như ngành nho với thân nho; như cây cối cần ánh sáng của mặt trời; như cá trong nước... Có hiệp nhất với Chúa Giêsu và nên một với Ngài thì mới phát sinh sự hiệp nhất với nhau. Đây cũng chính là điều kiện để trổ sinh hoa trái. Hiệp nhất mang tính truyền giáo và truyền giáo nhằm mục đích hiệp nhất. Nếu ai hiệp nhất với Thiên Chúa thì phải sinh hoa kết trái dồi dào. Còn những ai không sinh hoa kết trái thì chính người ấy đã không sống trong sự hiệp nhất với Thiên Chúa.

Ước mong lời cầu nguyện của Chúa Giêsu khi xưa, nay được hiện tại hóa và sinh hoa kết trái dồi dào nơi những môn đệ của Ngài trong thế giới hôm nay.

Lạy Chúa, xin Chúa ban cho chúng con luôn được hiệp nhất với nhau, nhờ biết loại bỏ hận thù, kỳ thị, tranh chấp, kết án lẫn nhau... Xin cho chúng con luôn khiêm tốn trong lời nói và hành động, để không làm thương tổn đến sự hiệp nhất trong Giáo hội, trong xã hội và nơi gia đình. Amen.

---------------------------------
 
 

PS7-C27: Chúa Giêsu Hằng Cầu Thay Nguyện Giúp Cho Chúng Ta


 Suy niệm Chúa nhật VII Phục Sinh Năm – C

( Ga 17, 20-26 )
 
 

Toàn bộ Phúc Âm thánh Gioan chương 17 là diễn từ ly biệt, được kết thúc bằng kinh nguyện vô cùng PS7-C27


Toàn bộ Phúc Âm thánh Gioan chương 17 là diễn từ ly biệt, được kết thúc bằng kinh nguyện vô cùng cảm động của Chúa Giêsu dâng lên Cha. Kinh nguyện mở đầu bằng lời khẩn cầu danh Cha, ca tụng Ngôi Cha và Ngôi Con (câu 1-5). Chúa Giêsu xin "Cha tôn vinh Con Cha để Con Cha tôn vinh Cha" (Ga 17, 1).

Tiếp theo là những lời Đức Giêsu xin cho các môn đệ: "Lạy Cha…xin hãy gìn giữ trong danh Cha những kẻ Cha đã ban cho Con" (Ga 17, 11). Thứ đến là những kẻ nhờ các Tông đồ mà tin vào Chúa là chúng ta, được Chúa lưu tâm đặc biệt trong lời nguyện hiến tế hôm nay: "Con không cầu xin cho chúng mà thôi, nhưng còn cho tất cả những kẻ, nhờ chúng mà tin vào con, để mọi người nên một cũng như Cha ở trong Con và Con ở trong Cha, để cả chúng cũng nên một trong Ta, để thế gian tin rằng Cha đã sai Con" (Ga 17, 20-26 ).

Chúng ta là đối tượng trong "lời nguyện hiến tế của Chúa Giêsu". Người đặc biệt quan tâm đến sự hiệp nhất của chúng ta, vì hiệp nhất làm cho chúng ta nên "một": " Để cả chúng cũng nên một trong Ta" (Ga 17,22). Thánh Gioan Phaolô II, Giáo hoàng nói: "Vậy làm thế nào chúng ta có thể, nếu, không làm cho thế giới biết được Thiên Chúa là Tình Yêu? Chúng ta chia rẽ, thì làm sao chúng ta có thể là người đáng tin cậy được?" Lời chứng về Tình Yêu là một bằng chứng mạnh mẽ hùng hồn nhất để thuyết phục thế giới. Chia rẽ giữa các cộng đoàn kitô là gương mù gương xấu cần vượt thắng. Vì chia rẽ làm suy yếu sự đáng tin, và hiệu lực dấn thân rao giảng Tin Mừng của chúng ta và có nguy cơ làm trống rỗng quyền năng của Thập Giá Chúa.

Chúa Giêsu xin cùng Chúa Cha cho tất cả mọi người đã được rửa tội hiệp nhất theo ý muốn: "Xin Cha cho chúng nên một" (Ga 17,21). Thánh Phaolô đã từng cật vấn các tín hữu ở Corintô: "Thế ra Đức Ki-tô đã bị chia năm xẻ bảy rồi ư?" (1Cr 1,13). Đức Thánh Cha Phanxicô nói: "Chắc chắn Chúa Kitô không bị chia năm xẻ bảy. Nhưng với đau khổ, chúng ta phải thừa nhận cách thành thật rằng cộng đoàn của chúng ta đang tiếp tục sống chia rẽ, đó là những gương xấu".

Thiền Chúa là Tình Yêu. Tình yêu thì luôn luôn hiệp nhất, do đó, chia rẽ không phải là dấu chỉ của Tình Yêu. Trong hiên Chúa, nơi Ngài không có sự chia rẽ. Chúng ta chiêm ngắm thái độ của cộng đoàn Kitô hữu tiên khởi: Ngày Lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống, "Hết thảy họ đồng tâm nhất trí chuyên cần cầu nguyện, cùng với các phụ nữ, và Maria, mẹ Ðức Yêsu và các anh em Người" (Cv 1,14). Đó là bầu khí của Thánh Thần đã vang lên một tiếng động lớn và toàn thế giới đã kinh ngạc (x.Cv 2,6).

Trong lời nguyện hiến tế, Chúa Giêsu, Đấng Cứu Độ còn xin cùng Chúa Cha cho chúng ta nên một để Người ở đâu thì chúng ta cũng ở đó với Người hầu chiêm ngưỡng vinh quang của Người (Ga 17,24). Người yêu mến chúng ta như Chúa Cha đã yêu mến Người và Người muốn ban cho chúng ta tất cả những gì Chúa Cha đã ban cho Người. Vinh quang Người có được từ nơi Cha, đến lượt Người, Người muốn ban cho chúng ta, và làm cho chúng ta nên một. Người muốn rằng, chúng ta không phải là nhiều nhưng làm thành một, hiệp nhất với thần tính của Người trong vinh quang Nước Trời, không phải sát nhập thành một bản thể duy nhất, nhưng trong sự hoàn hảo, tột đỉnh của nhân Đức Tin, Cậy, Mến. Đây là những gì Chúa Kitô đã tuyên bố khi Người nói: "Để chúng được hoàn toàn nên một!" (Ga 17,22).

Theo cách này mà tất cả chúng ta sẽ trở nên một với Chúa Cha và Chúa Con. Vì Chúa Giêsu nói: "Ta và Cha, Chúng Ta là một" (Ga 10,30). Giống như Người cầu nguyện cho những ai bắt chước mình, chúng ta tham dự vào chính sự hiệp nhất… Không phải sự hiệp nhất về bản tính tự nhiên mà Người có với Chúa Cha, nhưng điều này: như Cha đã làm cho Người tham dự vào vinh quang của riêng mình, Người cũng vậy, theo gương Chúa Cha, sẽ hiệp nhất vinh quang của Người với những kẻ mà Người thương mến.

Sau khi Chúa Giêsu về Trời, Các thánh Tông Đồ đã qui tụ bên Đức Maria để cầu nguyện, noi gương các ngài, chúng ta cũng hãy hăng hái chuẩn bị sẵn sàng, cầu nguyện và thực hành đức bác ái, đón Chúa Thánh Thần, Đấng từ Chúa Cha hiện xuống trên chúng ta, và thưa với Chúa: « Lạy Chúa, con kêu lên cùng Chúa, xin Ngài lắng nghe, alléluia ; hồn con thưa cùng Chúa: mắt con tìm kiếm thánh nhan Ngài, lạy Chúa, con tìm kiếm Chúa, xin đừng ẩn mặt, alléluia, alléluia.

Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã cầu xin cho chúng con được hiệp nhất. Xin cho chúng con biết thể hiện tinh thần hiệp nhất giữa chúng con bằng sự biết cộng tác với nhau trong những việc làm chung, để xây dựng nhiệm thể cộng đoàn nhỏ bé, trong tình huynh đệ tương thân tương ái. Chúng con tin tưởng vào lời Chúa hứa mà chúng con đã đọc trước bài Tin Mừng, đó là được ở với Chúa đến muôn đời. Amen.

 Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

---------------------------------
 
 

 PS7-C28: ĐỨC GIÊSU CẦU NGUYỆN CHO GIÁO HỘI MỌI THỜI


 (Gioan 17,20-26 ­ CN VII PS - C)

 1.- Ngữ cảnh

a) Tính xác thực của ch.17
 
 

Hai diễn từ cáo biệt của Đức Giêsu kết thúc bằng lời cầu nguyện long trọng duy nhất này. Chúng ta có  PS7-C28


Hai diễn từ cáo biệt của Đức Giêsu kết thúc bằng lời cầu nguyện long trọng duy nhất này. Chúng ta có cảm tưởng một khi đã khẳng định: “Thầy đã thắng thế gian” (16,33), Đức Giêsu đã bước qua ngưỡng cửa của thế giới vĩnh cửu. Vậy phải đọc lời cầu nguyện này như một Bài Tiền Tụng phụng vụ, y như thể Đức Giêsu đã long trọng đọc hoặc hát lên vào ngay lúc Người đi vào trong vinh quang của Người. Tác giả cho thấy Đức Giêsu nói vừa y như thể Người còn đang còn ở trong thế gian (17,13.19), vừa y như thể Người đã rời khỏi thế gian (17,4.11.12.18). Trong tâm trí của tác giả, Chúa Con vừa trở về cung lòng Chúa Cha vừa hát bài hoan ca này (1,18; 13,1-3).

          Như thế, không thể cho rằng lời cầu nguyện này là một thánh ca đã được đọc trong phòng Tiệc Ly. Và cũng không thể cho rằng tác giả Ga hoặc một vị thầy nào trong Giáo Hội tiên khởi đã sáng tác ra lời cầu nguyện này rồi gán cho Đức Giêsu. Do cấu trúc cũng như do những yếu tố căn bản nhất của nó, lời cầu nguyện này được liên kết với biến cố lịch sử là Bữa Tiệc Ly, chẳng hạn: có những quy chiếu về “Giờ”, có những điểm gặp gỡ với diễn từ về Bánh trường sinh (ch.6), vị trí ranh giới giữa cuộc sống trong thế gian và cuộc sống bên Chúa Cha, mối bận tâm đến những người còn ở trong thế gian, lời gợi đến sự phản bội (17,12), sứ mạng của các môn đệ, sự từ bỏ cho đến chết. Tác giả Ga đã ghi nhận những cử chỉ, những lời nói của Đức Giêsu hôm ấy, để rồi cung cấp cho chúng ý nghĩa trọn vẹn và đúng đắn dưới ánh sáng của Thánh Thần.

          So với các TMNL và các Thư Phaolô, chúng ta biết là vào buổi chiều cuối cùng ấy, Đức Giêsu đã đưa vào nghi thức những thay đổi để mang lại cho cuộc cử hành lễ Vượt Qua năm ấy một ý nghĩa hoàn toàn mới. Chỉ có điều là chúng ta không nắm được đầy đủ các thay đổi này. Có lẽ bởi vì trong thực tế, các tông đồ khó có thể ghi nhớ được chi tiết những thay đổi ấy khi mà chúng được đưa vào bộc phát dọc theo Phụng vụ Tiệc Ly.
 
b) Tên của lời cầu nguyện này

          Tác giả phái Cải cách là David Chytraeus (1531-1600) đã đặt cho lời cầu nguyện này một tên: Lời kinh tư tế (la prière sacerdotale); tên này đã được truyền thống giữ lại.

Các nhà chú giải hiện đại thích gọi là: Lời cầu nguyện thánh hiến hoặc Lời nguyện truyền chức, tấn phong, bởi vì theo các vị ấy, trong lời cầu nguyện này, Đức Kitô đã tự hiến mình làm lễ vật dâng lên Chúa Cha và đã thánh hiến các môn đệ cho sứ mạng sau này. Trong thực tế, mặc dù việc hiến dâng mạng sống của Người là nền tảng của toàn diễn từ, nó lại chỉ được nhắc đến một lần mà thôi (17,19); việc thánh hóa các môn đệ cũng vậy (17,17-19).

Có những tác giả cho rằng chủ đề của bài là sự hợp nhất; nhưng trong thực tế, dù quan trọng, sự hợp nhất chỉ được nói đến trong ba câu (cc. 11.21-22).

Vậy nên giữ lấy kiểu gọi truyền thống. Trong tư cách là thượng tế duy nhất (Dt 5,1), nghĩa là đại diện toàn thể nhân loại có đức tin hiện tại và tương lai, Đức Giêsu quay trở về với Cha Người và cầu nguyện với Cha cho những kẻ mà Người đại diện. Vào dịp làm hành vi tư tế này, Người quay nhìn lại công việc đã làm (cc. 1-8), Người cầu nguyện cho những kẻ đã được giao phó cho Người, cầu nguyện cho nhóm nòng cốt đầu tiên (cc. 9-19) cũng như cho những thế hệ sẽ đến (cc. 20-23), để một ngày kia, tất cả được sum họp với Người trong vinh quang tương lai (cc. 24-26).
 
c) Bố cục tổng quát

Cc. 1-11a   : Đức Giêsu cầu nguyện cho chính mình và các môn đệ;
Cc. 11b-19          : cầu nguyện cho hợp nhất;
Cc. 20-26 : cầu nguyện cho Giáo Hội mọi thời.
 
Qua bản văn Ga 17,20-26, Đức Giêsu cầu nguyện cho Giáo Hội mọi thời.
 
2.- Bố cục

          Bản văn có thể chia thành hai phần:

          1) Lời thỉnh cầu thứ năm (17,20-23);
          2) Lời thỉnh cầu thứ sáu (17,24-26).
 
3.- Vài điểm chú giải

- những ai nhờ lời họ mà tin vào con (20): Công thức tôn pisteuontôn là một phân từ ở thì hiện tại, dùng cho nghĩa tương lai: “sẽ tin vào con”.

- để tất cả nên một như Cha ở trong con và con ở trong Cha (21): “Tất cả nên một”, sự hợp nhất của các môn đệ là sự tiếp xúc thường xuyên và trực tiếp với Chúa Giêsu và Chúa Cha: “Con ở trong họ và Cha ở trong con, để họ được hoàn toàn nên một” (c. 23). Sự hợp nhất này phản ánh sự hợp nhất giữa Chúa Cha và Chúa Con (x. 10,38; 14,10-11). Chúa Con chỉ thực sự là Con bao lâu Người vẫn liên hệ với Chúa Cha; cũng thế, người Kitô hữu chỉ thực sự là Kitô hữu khi họ được như các tông đồ ngày xưa gặp gỡ trực tiếp Đức Kitô trong lời rao giảng đức tin (1 Ga 1,1-3). 

- con đã ban cho họ vinh quang (22): “Vinh quang” theo ngữ cảnh, cũng là “danh” (cc. 6.11.12.26), “lời Cha” (cc. 6.8 ([2x].17; x. Lời Kinh Thánh: c. 12). 

- con muốn (24): Các môn đệ là của riêng của Đức Kitô mà Chúa Cha đã ban cho Người và Người sẵn sàng đổ máu ra để diễn tả rằng Người chấp nhận. Sự nghiệp của Người như thế liên hệ với sự nghiệp của chúng ta. Vì vậy Người đã diễn tả ý mình với một uy quyền khiến chúng ta ngạc nhiên vì ở trong một lời cầu nguyện dâng lên Chúa Cha. “Con muốn” đúng là một hành vi ý chí. Không nên giảm nhẹ nó đi khi coi đó chỉ là một nguyện ước. Dĩ nhiên Đức Giêsu chỉ luôn luôn muốn những gì Chúa Cha muốn (4,34; 5,30; 6,38-40). Nhưng ở đây, ý muốn nhân loại của Người hài hòa thật trọn vẹn – và Người biết – với ý muốn của Cha Người, nên Người đã không ngần ngại nói bằng một giọng chắc nịch như thế. Qua đó, chúng ta càng thấy rõ Đức Kitô gắn bó với chúng ta như thế nào. Điều Người muốn bây giờ, đó là chúng ta được kết hợp vào đời sống vinh quang của Người. Y như thể vinh quang và niềm vui của Người sẽ không được trọn vẹn nếu không có điều đó. Như thế Đức Kitô đã mạc khải về tình yêu của Người đối với chúng ta đến mức tột cùng.

- để họ chiêm ngưỡng vinh quang của con (24): Nhìn xa hơn số phận trần thế của các môn đệ, Đức Kitô xin cho họ được ơn theo Người về trời một ngày nào đó, để ở bên Chúa Cha. Người đã nói với họ về điều này (x. 13,37; 14,2-3). Vào lúc này, Người xin thẳng với Chúa Cha cho họ được ở với Người; thật ra, đây cũng là ý muốn của Chúa Cha (x. 6,39). Chỉ khi nào Đức Giêsu đã cho họ sống lại, thì Người mới vĩnh viễn đưa họ về sống với Người, cho họ được thấy không cùng vinh quang thần linh nơi Người. Ngay khi Người còn ở trên mặt đất, vinh quang này đã tỏa rạng nhiệm mầu trong các công trình của Người, trong các cử chỉ và trong toàn bản thân Người, khiến các môn đệ đã có thể chiêm ngưỡng Người dưới ánh sáng đức tin ít nhiều sắc bén của họ (1,14; 2,11). Nay Đức Giêsu đã sống lại, vinh quang này càng rạng rỡ hơn, các môn đệ nhận ra được rõ ràng hơn. Khi nào về trời, chúng ta sẽ nhận được trọn vẹn vinh quang mà Chúa Cha đã ban cho Đức Giêsu vì yêu thương Người từ muôn đời, trước khi tạo dựng thế gian. Như một tấm gương không vết nhơ, nhân tính chúng ta sẽ phản ánh vinh quang này cách hoàn hảo, đến độ nó được thấm nhiễm và biến đổi hoàn toàn nhờ vinh quang này (x. 2 Cr 3,18). Khi đó, các môn đệ sẽ được hưởng niềm vui không cùng (x. Ga 16,22).

          Vì Đức Kitô vinh hiển là hình ảnh hoàn hảo của Chúa Cha và phản ánh vinh quang của Chúa Cha (Cl 1,15; Dt 1,3), khi các môn đệ chiêm ngắm tấm gương Chúa Con là chiêm ngắm chính Chúa Cha vinh hiển, đúng như Đức Giêsu đã nói: “Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha ... Thầy ở trong Cha và Cha ở trong Thầy” (14,9-10).

- Lạy Cha là Đấng công chính (25): Đức Giêsu đã tôn vinh Chúa Cha khi làm cho các môn đệ biết Danh Cha (c. 4), và Người sẽ còn tiếp tục làm nữa. Các môn đệ đã mở ra với chân lý và Đức Giêsu đã cho họ biết rằng chính Chúa Cha đã sai Người đến, để tình yêu của Chúa Cha đối với Chúa Con ở trong họ và chính Chúa Con cũng được yêu thương bởi họ và trong họ. Nếu đó là thái độ của các tín hữu đang gắn bó với Đức Kitô, và nếu đó là ý hướng của Đức Kitô suốt đời Người, thì điều chính đáng là Chúa Cha nhận lời Chúa Con, khi Chúa Con xin Chúa Cha làm cho tất cả các tín hữu được hợp nhất với nhau trong tình bác ái.
 
4.- Ý nghĩa của bản văn

          Trong giờ từ biệt, Đức Giêsu không bận tâm đến số phận của riêng Người; tất cả các tư tưởng của Người đều hướng về các môn đệ và nhắm đến việc cứu độ họ. Đức Giêsu không coi chuyện gì là quan trọng hơn chuyện ký thác các môn đệ cho Thiên Chúa khi Người cầu nguyện với Thiên Chúa Cha; Người ký thác họ cho tình yêu và quyền lực của Chúa Cha. Người sắp bỏ các môn đệ ở lại trong thế gian; Người biết họ bị thế gian đe dọa, thế mà Người lại đã giao cho họ một sứ mạng. Vì thế, Người cầu nguyện với Chúa Cha cho họ.      

Bản văn đọc hôm nay gồm hai thỉnh cầu cuối cùng Đức Giêsu dâng lên Chúa Cha. Đây là những lời cầu nguyện cho Giáo Hội:
 
* Lời thỉnh cầu thứ năm (20-23)

          Đức Giêsu cho các môn đệ hiện tại và các môn đệ tương lai nữa, những người nhờ nghe lời các môn đệ hôm nay rao giảng mà tin vào Người (c. 21): Đức Giêsu đang nhìn đến hoa trái của sứ mạng các môn đệ đưa lại. Các môn đệ tương lai cũng thuộc về cộng đoàn được xây dựng trên chứng từ của các môn đệ đang ở với Đức Giêsu hôm nay. Hai lần Người xin cho tất cả nên một, như Chúa Cha và Chúa Con là một (c. 21). Rồi vẫn giữ lời thỉnh cầu này, Người xin cho các môn đệ nên hoàn thiện trong sự hợp nhất (= hoàn toàn nên một), sự hợp nhất mà Người muốn có theo điển hình là sự hợp nhất giữa Chúa Cha và Chúa Con; sự hợp nhất này chính là nguồn mạch và sức mạnh giúp các môn đệ sống sự hợp nhất: ở đây tình yêu là điểm quan trọng nhất (c. 23). Chỉ nhờ sự hợp nhất của các môn đệ, thế gian mới “tin rằng Cha đã sai con” (c. 21).

Như vậy, sự hợp nhất giữa Cha và Con không chỉ là điển hình, mà còn là nền tảng cho sự hợp nhất giữa các môn đệ Đức Giêsu. Họ chỉ có thể nên một, nếu họ được kết hợp chặt chẽ tối đa với Chúa Cha và Chúa Con (c. 21), nếu Đức Giêsu, Đấng có Chúa Cha trong mình, cũng ở trong họ (c. 23).

Nhờ lời rao giảng đức tin, luồng hợp nhất không đứt đoạn này đang liên kết trực tiếp mỗi thế hệ Kitô hữu với Chúa Kitô và Chúa Cha và được diễn tả ra bên ngoài bằng sự hợp nhất của các tín hữu trong tình huynh đệ, để rồi cũng có sự hợp nhất về đạo lý. Xuyên qua mọi thời đại, cộng đoàn Kitô hữu là một đại gia đình duy nhất đang uống tại một nguồn mạch duy nhất ban sự sống, sự sống của Đức Chúa hằng sống, nơi đây họ khám phá ra nguồn của mọi nguồn là Chúa Cha. Chính sự hợp nhất này trong đức tin duy nhất tinh trong, làm chứng cho Đấng Sáng lập của cộng đoàn: Người không thể đạt được kết quả này bằng uy tín loài người được, nhưng chỉ nhờ sứ mạng và chính bản thân Người bắt nguồn từ một thế giới siêu phàm thần linh (x. c. 20).

Nhờ cùng được thông dự vào “vinh quang” của Đức Kitô, các tín hữu sẽ hợp nhất với nhau. Khi nhập thể, Đức Giêsu đã có vinh quang, nhưng khi Người đã lên trời, nhân tính của Người được vinh quang của Thiên Chúa tràn ngập viên mãn. Khi kết hợp với Người bằng đức tin, các môn đệ được thông ban vinh quang ấy; mỗi người theo mức độ của mình, được tham dự vào bản tính Thiên Chúa, được Thần Khí sinh ra (Ga 1,14; 3,6; 2 Pr 1,4). Được chia sẻ vinh quang của Người và mọi điều thiện hảo của Thiên Chúa, họ nên một Thân Thể với Người và trong Người (x. Ep 4,4-7). Vậy giữa các Ngôi Vị Thiên Chúa và Giáo Hội, có một sự duy nhất thiêng liêng rất bền chặt (x. 1 Ga 1,3).
 
* Lời thỉnh cầu thứ sáu (24-26)  

          Trong lời thỉnh cầu thứ sáu, Đức Giêsu xin cho các môn đệ được thông dự vào vinh quang của Người, họ được ở với Người nơi Người ở. Đức Giêsu diễn tả lời thỉnh cầu này bằng một ý muốn: “Con muốn”. Người diễn tả nguyện vọng này với cường độ càng lúc càng gia tăng mạnh mẽ. Chúng ta biết ý muốn của Đức Giêsu kết hợp với ý muốn của Chúa Cha, nên ở đây không có sự đối lập hoặc chia rẽ. Ở trên mặt đất này, người ta chỉ có thể nhận ra bằng đức tin vinh quang của Đức Giêsu, tương quan hiếu tử của Người với Chúa Cha và sự hợp nhất hoàn toàn của Người với Chúa Cha. Lời cầu nguyện cuối cùng và nguyện vọng lớn lao nhất của Đức Giêsu là tất cả những ai tin vào Người đều có thể “thấy” vinh quang của Người, đều được ở với Người trên trời và được thông dự vào sự hiệp thông hoàn toàn của Người với Chúa Cha.    

          Sau khi đã nói xong thỉnh cầu này, Đức Giêsu còn nói lại những gì Người đã làm và sẽ còn làm nữa (c. 26; x. c. 22). Người như muốn diễn tả rằng sự hợp nhất này là dấu chỉ bắt buộc thế gian, đang ở trong thế đối nghịch với Thiên Chúa, phải đối diện với, khiến thế gian có thể mở lòng ra, và như thế đạt tới đức tin và được cứu độ. Sự hợp nhất này giả thiết có tình yêu và được thực hiện xuyên qua tình yêu. Một cách gián tiếp, chúng ta đang được hướng tới Chúa Thánh Thần bởi vì nhiệm vụ của Thánh Thần chính là chứng minh rằng thế gian sai lầm (x. 16,8-10). Chính Thánh Thần sẽ tiếp tục những gì Đức Giêsu đã đặt nền móng trong thời gian Người hoạt động tại trần gian: Thánh Thần sẽ còn làm cho người biết Chúa Cha và tình yêu của Ngài.
 
+ Kết luận

          Thế gian vừa là mối đe dọa vừa là sứ mạng đối với các môn đệ Đức Giêsu. Mối đe dọa, đó là họ trở nên xa lạ với Chúa Cha và bị kéo ra khỏi sự hợp nhất với Chúa Cha. Sứ mạng, đó là họ sẽ làm chứng và chinh phục nhân loại về sống hợp nhất với Chúa Cha. Lời cầu nguyện cuối cùng của Đức Giêsu vượt quá cuộc sống trần gian. Người xin cho các môn đệ được thông dự vào chính sự viên mãn thiên quốc của Người. Cuối cùng, Người đảm bảo rằng việc từ biệt đây không phải là sự buông rơi, bất động: Người sẽ tiếp tục làm cho người ta biết danh Chúa Cha.
 
5.- Gợi ý suy niệm

1. Các môn đệ mà Đức Giêsu gửi vào thế gian không được có gì chung với thế gian, hiểu “thế gian” theo nghĩa là một lực lượng tội lỗi và thù nghịch với Thiên Chúa. Chỉ như thế, họ mới có thể hoàn thành nhiệm vụ là đưa đến chỗ hiệp thông với Thiên Chúa. Chính vì thế, Đức Giêsu đã cầu xin Chúa Cha thánh hiến họ, tức là xin Chúa Cha giữ họ liên kết với Người, đón nhận họ trọn vẹn vào trong vùng tình yêu từ phụ của Người. Vì thế Đức Giêsu nói là Người đang làm gì để họ được thánh hiến. Tiền đề đầu tiên là họ phải thuộc trọn về Thiên Chúa và bám vững vào Ngài (x. cc. 17-19).

2. Cộng đoàn các môn đệ phải trở thành một sự hợp nhất hoàn toàn. Như thế, không những không được có bất cứ thứ đối kháng thù nghịch nào giữa họ với nhau, mà còn phải loại trừ cả những cãi cọ tranh chấp và từ chối người khác. Nếu chỉ có sự kiện người này ở bên cạnh người kia trong thế trung lập, để cho nhau yên, nhưng mỗi người đi theo đường mình, thì chưa đủ. Sự hợp nhất hoàn toàn có nghĩa là tình trạng ở với nhau hoàn toàn, được kết hợp trong tình yêu và trong sự tín nhiệm đối với nhau, hành động trong sự đoàn kết với nhau, cùng một tấm lòng. Sự hợp nhất này mô phỏng theo sự hợp nhất giữa Chúa Cha và Chúa Con. Chúa Cha và Chúa Con được liên kết với nhau bằng một tình yêu cảm ái, sự trao đổi trọn vẹn, hành động trong sự hiệp thông tâm hồn, có mọi sự chung với nhau.

3. Sự hợp nhất giữa các môn đệ không dựa trên một quy ước và một sự đồng ý giữa những con người với nhau, nhưng dựa trên việc họ gắn bó với Đức Giêsu. Họ càng tin vào Người và, nhờ Người làm trung gian, họ được thông dự vào sự hiệp thông của Chúa Cha và Chúa Con bằng cách đón nhận tình yêu của Chúa Cha và Chúa Con, họ càng được liên kết với nhau.
Lm FX Vũ Phan Long, ofm
 
---------------------------------
 
 

PS7-C29: Nguyện hiệp nhất


CHÚA NHẬT VII PHỤC SINH, C

(Gio-an 17: 20-26)
 
 

 Những đề tài về Giáo Hội đã được trình bày qua Phụng vụ Lời Chúa trong những Chúa PS7-C29


Những đề tài về Giáo Hội đã được trình bày qua Phụng vụ Lời Chúa trong những Chúa Nhật trước, như quan hệ giữa Mục Tử nhân lành với đoàn chiên, sống yêu thương giữa anh chị em tín hữu với nhau, sứ mệnh truyền giáo.  Bài Tin Mừng hôm nay đề cập tới một khía cạnh đặc biệt của Giáo Hội:  sự hiệp nhất.  Đề tài này khiến ta liên tưởng tới Tuần lễ cầu nguyện cho sự hiệp nhất Giáo Hội, từ ngày 18 đến 25 tháng 1.  Như thế, cả hai mùa phụng vụ, Giáng Sinh và Phục Sinh, đều có một thời gian để mời gọi ta suy niệm và cầu nguyện cho sự hiệp nhất.  Có lẽ Giáo Hội cố ý sắp đặt như vậy để ta nhận ra rằng việc Chúa giáng trần và chịu chết để cứu chuộc nhân loại đều nhắm đến mục đích cuối cùng là đưa người ta đến với nhau và đến với Thiên Chúa.
Đoạn Tin Mừng là phần cuối lời cầu nguyện của Chúa Giê-su trong Bữa Tiệc Ly, thường được mệnh danh là kinh Lạy Cha mẫu dài, gồm những nguyện ước Người dâng lên Chúa Cha để cầu xin hai điều:  cho những ai tin vào Người được hiệp nhất với nhau và cho họ được ở với Người.
 
 Lời nguyện hiệp nhất
 
          Hiệp nhất là mục đích của kế hoạch yêu thương Thiên Chúa đã tiền định và thực hiện trong Đức Giê-su Ki-tô để đưa ta về kết hiệp với Người.  “Đó là đưa thời gian tới hồi viên mãn, là quy tụ muôn loài trong trời đất dưới quyền một thủ lãnh là Đức Ki-tô” (Ep 1:10).  Từ sau khi phạm tội bất tuân, nguyên tổ nhân loại đã cắt đứt mối quan hệ với Thiên Chúa và hậu quả của tội ấy là con người hoàn toàn mất hết khả năng đến với Thiên Chúa và trở thành kẻ thù của Người.  Giữa Thiên Chúa và con người là một khoảng cách mà con người không thể vượt qua để đến với Thiên Chúa.  Nhưng do tình thương vô điều kiện dành cho nhân loại, Thiên Chúa đã có một kế hoạch để giúp con người được hòa giải với Người, nói khác đi là được trở về hiệp nhất với Người.  Lời hứa trong vườn Địa đàng, cũng gọi là Tin Mừng nguyên thủy (St 3:15), được lập lại qua các ngôn sứ trong lịch sử Dân Chúa.  Rồi thời gian thực hiện kế hoạch tới hồi viên mãn là khi Ngôi Hai xuống thế làm người và ở lại giữa nhân loại.  Nhờ cái chết trên thập giá, Chúa Giê-su đã phục hồi cho con người khả năng đến được với Thiên Chúa là khả năng đã bị tội nguyên tổ cướp đi.

          Đó là kế hoạch hiệp nhất do Thiên Chúa đề ra.  Tuy Người mời gọi toàn thể nhân loại tham dự vào kế hoạch ấy, nhưng vẫn tôn trọng tự do và ý muốn của mỗi người, để họ tùy ý muốn đáp lại hay không.  Do đó, đây là lý do Chúa Giê-su cầu nguyện:  để ta biết mở lòng đáp lại tình yêu vô điều kiện của Thiên Chúa.  Con đường hiệp nhất để trở về với Thiên Chúa khởi sự từ chính cộng đồng nhân loại nên trước tiên họ phải hiệp nhất với nhau (“để tất cả nên một”).  Không ai đi riêng rẽ một mình, nhưng liên đới với người khác, vì đó là ý định của Thiên Chúa khi Người muốn quy tụ “muôn loài trong trời đất”.  Từ Giáo Hội lữ hành ở trần gian và dưới quyền thủ lãnh của Đức Ki-tô, nhân loại hiệp nhất ấy mới có thể tiến bước về hiệp nhất với Cha trên trời.
 
  Để họ được nên một với nhau
 
          Sự hiệp nhất của Giáo Hội lữ hành phải có một khuôn mẫu để noi theo.  Khuôn mẫu này đã được Chúa Giê-su khẳng định thật đơn giản:  NHƯ Cha ở trong con và con ở trong Cha.  Những từ “ở trong” hoặc “ở lại” trong Tin Mừng Gio-an mang một ý nghĩa sống động.  Không phải là nơi chốn, nhưng là sự hòa nhập của hai ngôi vị, giữa Chúa Cha với Chúa Con, giữa Thiên Chúa với từng cá nhân con người.  Quan hệ yêu thương ràng buộc hai ngôi vị với nhau để trở thành động lực duy nhất thúc đẩy họ suy nghĩ và hành động.  Dù là đất trời xa nhau, nhưng Thiên Chúa vẫn “ở lại” trong con người.  Dù con người đông tây xa cách, nhưng con người vẫn có thể “ở lại” với nhau trong tình yêu Chúa Ki-tô.

          Kế hoạch của Thiên Chúa là như thế.  Nhưng khi thực hiện kế hoạch, Thiên Chúa vẫn không xóa đi những khác biệt giữa con người với nhau.  Bởi thế mới có những hàng rào ngăn cách, những trở ngại khiến con người khó hiệp nhất được với nhau.  Cả Ki-tô hữu cũng có những khó khăn ấy, vì Ki-tô hữu vẫn là con người.  Vậy Chúa Giê-su đã cầu nguyện xin cho họ thắng vượt được những trở ngại ấy.

          Mục đích của sự hiệp nhất Giáo Hội còn nhắm xa hơn tới toàn thể thế giới, nghĩa là giúp cho “thế gian sẽ nhận biết là chính Cha đã sai con và đã yêu thương họ như đã yêu thương con.”  Chỉ một người nói cho thế giới biết rằng Thiên Chúa yêu thương họ thì thế giới chẳng tin đâu, nhưng nếu toàn thể cộng đồng Giáo Hội dưới quyền thủ lãnh của Chúa Giê-su nói cho thế giới biết điều đó, thì thế giới phải biết, phải tin và không còn lý do bào chữa.  Sự hiệp nhất giữa các Ki-tô hữu càng chặt chẽ và rõ ràng thì sứ điệp họ gửi cho thế giới càng có ảnh hưởng mạnh, vì “ở điểm này, mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy:  là anh em có lòng yêu thương nhau” (Ga 14:35), hoặc anh em có sự hiệp nhất với nhau.
 
  Để họ nên một với Chúa Giê-su
 
          Ki-tô hữu không thể hiệp nhất với nhau nếu họ không hiệp nhất với Chúa Giê-su.  Chúa Giê-su là mắt xích nối người với người và nối người với Thiên Chúa.  Tội lỗi đã chia rẽ người với Thiên Chúa và chia rẽ người với người.  Nhưng Chúa Giê-su đã chiến thắng tội lỗi để nối kết lại tất cả nhân loại trong Người và nối kết nhân loại với Thiên Chúa.  Cho nên Chúa Giê-su mới mặc lấy bản tính nhân loại để trong Người có cả Thiên Chúa lẫn nhân loại.  Đó là cách Thiên Chúa “ở lại” với con người và trong Chúa Giê-su con người “ở lại” với Thiên Chúa.

          Tuy nhiên nên một với Chúa Giê-su lại mang một ý nghĩa hết sức phong phú.  Người cầu xin:  “Lạy Cha, con muốn rằng con ở đâu, thì những người Cha đã ban cho con cũng ở đó với con, để họ chiêm ngưỡng vinh quang của con.”  Vậy Chúa Giê-su muốn ta ở với Người bất cứ nơi nào Người đã, đang và sẽ ở.  Nơi ấy là Na-da-rét, là hoang địa, là con đường truyền giáo, là chỗ người nghèo, cùi hủi, lang thang...  đang sống, là con đường thập giá dẫn tới Can-vê, và cuối cùng là bên hữu Thiên Chúa Cha.  Để ta chia sẻ với Chúa Giê-su tất cả những gì Người có, nhất là vinh quang của Người.  Vinh quang ấy là sự sống lại và kết hiệp hoàn toàn với Thiên Chúa.
 
   Suy nghĩ và cầu nguyện
 
          Có bao giờ tôi thực sự ý thức mình là một chi thể trong Nhiệm Thể Chúa Ki-tô là Giáo Hội không?  Nếu không thì tại sao?

          Sự hiệp nhất của Giáo Hội phải được biểu lộ cách cụ thể ngay trong cộng đoàn nhỏ bé của tôi.  Tôi đã đóng góp gì cho sự hiệp nhất ấy?  Hoặc tôi có để cho óc bè phái, kéo bè kéo cánh lôi cuốn tôi vào những cuộc chống đối, gây khó khăn cho những người đang phục vụ cộng đoàn không?

          Tôi đang “ở lại” với Chúa và anh chị em bằng cách nào?

          Chúa Giê-su đang ở đâu với tôi bây giờ?  Hoặc nói khác đi, tôi đang ở đâu trong cuộc sống của mình và Chúa Giê-su có ở đó với tôi không?
 
Cầu nguyện:
 
          “Lạy Chúa Giê-su,
          xin thương nhìn đến Hội Thánh là đàn chiên của Chúa.
          Xin ban cho Hội Thánh sự hiệp nhất và yêu thương,
          để làm chứng cho Chúa giữa một thế giới đầy chia rẽ.
          Xin cho Hội Thánh không ngừng lớn lên như hạt lúa.
          Xin đừng để khó khăn làm chúng con chùn bước,
          đừng để dễ dãi làm chúng con ngủ quên.
          Ước gì Hội Thánh trở nên men được vùi sâu trong khối bột loài người
          để bột được dậy lên và trở nên tấm bánh.
          Ước gì Hội Thánh thành cây to bóng rợp
          để chim trời muôn phương rủ nhau đến làm tổ.
          Xin cho Hội Thánh trở nên bàn tiệc của mọi dân nước,
          nơi mọi người được hưởng niềm vui và tự do.
          Cuối cùng xin cho chúng con biết xây dựng một Hội Thánh tuyệt vời,
          nhưng vẫn chấp nhận cỏ lùng trong Hội Thánh.
          Ước gì khi thấy Hội Thánh ở trần gian,
          nhân loại nhận ra Nước Trời ở gần bên.  A-men.”
                                      (Trích RABBOUNI, lời nguyện 61)

 Đaminh Trần Đình Nhi

---------------------------------
 
 

PS7-C30: Câu truyện Tê-pha-nô tử đạo


Chúa Nhật 7 Phục Sinh

(27-5-01)

 Thánh ca và lời nguyện mở đầu
 
Kinh Thánh: Công Vụ Tông Đồ 7: 55-8: 1
 
 

 Sách Công Vụ Tông Đồ hôm nay đề cập tới một chủ đề đặc biệt, một khó khăn đối với sự PS7-C30


Sách Công Vụ Tông Đồ hôm nay đề cập tới một chủ đề đặc biệt, một khó khăn đối với sự phát triển của Giáo Hội, đó là việc tử đạo. Nhận thức việc tử đạo là điều không thể tránh, đồng thời cũng là vẻ đẹp oai hùng của Giáo Hội, thánh sử Lu-ca không thể bỏ qua đề tài này và đã quảng diễn với chi tiết đầy đủ qua câu truyện ông Tê-pha-nô bị bắt và bị ném đá chết. Đồng thời ngài còn ghi lại sự có mặt của một thanh niên tên là Sao-lô, để ngầm hiểu rằng giữa cái chết của Tê-pha-nô và việc trở lại sau này của chàng thanh niên ấy có một mối quan hệ mật thiết, đúng như Văn sĩ Tertulianô đã viết: "Máu các thánh tử đạo là hạt giống nảy sinh thêm tín hữu." Người tín hữu ưu việt, hoa trái do máu tử đạo tiên khởi Tê-pha-nô, chính là Sao-lô, cũng có tên Rô-ma là Phao-lô, vị tông đồ Dân ngoại và đứng bên cạnh Phê-rô như là hai cột trụ của Giáo Hội.

 Câu truyện Tê-pha-nô tử đạo mang thật nhiều ý nghĩa. Trước hết, nó mở đầu cho một lối sống của Ki-tô hữu. Người ta có thể định nghĩa Ki-tô hữu nhiều cách. Ở đây, chúng ta gọi Ki-tô hữu là người tử đạo. Đúng thế, bất cứ thời nào và bất cứ nơi đâu Ki-tô hữu cũng là những người tử đạo. Bởi vì tự bản chất, lối sống của Ki-tô hữu đã phải đi ngược với lối sống của thế gian rồi (xem Ga 15:18-25). Đức Ki-tô đã đi con đường ấy và Ki-tô hữu, "những người theo Thầy" (Mc 8:34; Lc 9:23; Mt 16:24), cũng phải đi cùng con đường ấy. Con đường Ki-tô dẫn Người đến Gôn-gô-tha thế nào thì cũng đưa Ki-tô hữu đến đấy như vậy, chỉ khác Gôn-gô-tha của mỗi Ki-tô hữu có những đặc điểm riêng. Suốt ba năm chuẩn bị gần cho Năm Thánh 2000, ngoài việc học hỏi và suy niệm về Ba Ngôi Thiên Chúa, Giáo Hội còn nhấn mạnh đến vai trò gương mẫu của Mẹ Ma-ri-a và các thánh Tử đạo. Đức Gio-an Phao-lô II muốn nhắc nhở tín hữu về lối sống tử đạo, hoặc lối sống làm chứng nhân, mà chúng ta thường ít khi để ý tới. Lối sống tử đạo hôm nay là can đảm cho người đời nhận thấy những giá trị Tin Mừng qua cuộc sống hằng ngày của chúng ta, mặc dù chúng ta phải chấp nhận những "thiệt thòi" khi không làm những gì người đời làm, hoặc làm những gì thế gian không muốn làm.

 Hình ảnh Tê-pha-nô còn nói lên một khía cạnh khác của hình ảnh Ki-tô hữu với những đặc điểm: "Đầy ơn Thánh Thần, đăm đăm nhìn trời, thấy vinh quang Thiên Chúa và Đức Giê-su." Làm sao Ki-tô hữu có thể chu toàn sứ mệnh làm chứng cho Đức Ki-tô nếu họ không có được những đức tính nói trên? Lúc này, Tê-pha-nô đâu cần phải giảng một bài giảng dài để làm chứng cho Chúa Ki-tô. Ông chỉ đứng đó, không thể tự vệ, tâm hồn thuộc về trời cao, hoàn toàn thuộc về Đức Giê-su. Vậy mà chứng từ thầm lặng ấy lại có sức mạnh vô cùng mãnh liệt, khiến cho những kẻ bách hại phải "kêu lớn tiếng, bịt tai lại." Tư thái làm chứng cho Đức Ki-tô cũng phải là mẫu mực cho Ki-tô hữu mọi thời, để không ai có thể bào chữa rằng mình không đủ khả năng làm chứng cho Chúa.

 Hình ảnh Tê-pha-nô cũng nói lên một điểm rất quan trọng và là căn tính của Ki-tô hữu: tha thứ. Những lời ông Tê-pha-nô kêu lên "Lạy Chúa, xin đừng chấp họ tội này" là bản sao của những lời Đức Ki-tô: "Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm" (Lc 23:34). Không tha thứ thì không phải là Ki-tô hữu. Để tha thứ được như ông Tê-pha-nô đã làm, chúng ta cần phải có tâm tình như ông. Vậy động lực để ông có thể tha thứ cho những kẻ đã ném từng hòn đá vào người ông, đã làm cho ông đau đớn không thể tả, đó là đầy ơn Thánh Thần và đầy lòng yêu mến Chúa Giê-su. Thánh Thần và tha thứ không thể tách biệt nhau, như Tin Mừng Gio-an nhắc đến: "Người (Chúa Giê-su) thổi hơi vào các ông (môn đệ) và bảo: ‘Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha’" (20:22-23a). Hoa trái của Thánh Thần là tha thứ, cho nên nếu không "đầy ơn Thánh Thần" thì không thể tha thứ cho người khác được. Cử chỉ ông Tê-pha-nô đăm đăm nhìn trời, chiêm ngưỡng Đức Giê-su cho thấy ông yêu mến Người đến mức độ nào, đó là mức độ có thể làm được điều con người bình thường không thể làm, tức là tha thứ cho kẻ thù.

 Chúng ta thử tưởng tượng nếu Giáo Hội có được những Tê-pha-nô hôm nay, thì Giáo Hội sẽ phát triển như thế nào. Đó không phải là một mơ tưởng viển vông, nhưng là một thực tại Giáo Hội cần phải đạt tới và sẽ đạt tới. Những Tê-pha-nô hôm nay chắc chắn không thiếu, nhưng chỉ vì âm thầm nên chúng ta không nhận ra thôi. Chúng ta có thể tiếp tục chiêm ngưỡng Giáo Hội trong chiều kích tử đạo này. Nhưng quan trọng hơn vẫn là tự hỏi: Tôi có là một Tê-pha-nô của Giáo Hội không?
 
Câu hỏi gợi ý chia sẻ

 Trước đây tôi đọc truyện Tê-pha-nô tử đạo với não trạng nào? So với bây giờ khác nhau thế nào?

 Câu truyện ông Tê-pha-nô có là một bản tự kiểm thảo về căn tính Ki-tô hữu của tôi không? Có đủ để người ta nhận ra tôi là Ki-tô hữu không? Tại sao?

 Tôi hãy chia sẻ chiều kích tử đạo đời Ki-tô hữu của tôi, qua những gì xảy ra hằng ngày, trong gia đình, nơi sở làm, ngoài xã hội.

 Tại sao Phụng vụ Lời Chúa lấy đề tài ông Tê-pha-nô tử đạo sử dụng cho Chúa Nhật VII Phục Sinh? Đề tài này chuẩn bị chúng ta mừng lễ Hiện Xuống như thế nào?
 
Cầu nguyện kết thúc

 Sau cầu nguyện bộc phát, nhóm cùng hát một bài thích hợp, hoặc đọc kinh sau đây: Kết hiệp với mầu nhiệm sự sống và sự chết của Chúa Giê-su

 Lạy Mẹ Ma-ri-a là Mẹ Chúa Giê-su và Mẹ chúng con, chúng con ở với Mẹ dưới chân thập giá Con Mẹ, cầu xin Mẹ giúp chúng con biết kết hiệp với mầu nhiệm sự sống và sự chết của Người; biết ở trong trái tim Người; biết ở lại dưới chân Người trong tư thái lắng nghe và chiêm niệm. Lạy Mẹ Ma-ri-a, xin khơi dậy nơi chúng con những tâm tình của Mẹ là tâm tình chia sẻ những đau khổ của Chúa Giê-su và của thế giới.

 Mẹ thấy lời lẽ chúng con bất toàn như thế nào và tư tưởng chúng con khác xa với chân lý Mẹ đã sống.Xin Mẹ giúp mỗi người chúng con; xin Mẹ giúp tất cả những ai đang cùng chúng con cầu nguyện và thờ lạy Chúa.

 Xin Mẹ ban cho chúng con niềm vui trong Con Mẹ nhờ ơn Chúa Thánh Thần là ơn chúng con đang tha thiết xin quyền năng Chúa Cha khứng ban. A-men.

 - ĐHY Carlo Maria Martini, S.J.

 Lm. Trần Đình Nhi

 ---------------------------------

 

PS7-C31: “Lạy Cha, xin cho họ nên một, xin thánh hiến họ trong sự thật”

 

Vài giờ trước khi chịu chết, Chúa Giêsu không thể không chia sẻ mối lo sợ của Người. Nhiệm vụ PS7-C31


Vài giờ trước khi chịu chết, Chúa Giêsu không thể không chia sẻ mối lo sợ của Người. Nhiệm vụ của Người sắp hoàn tất. Ngày mai, cuộc khổ nạn rồi cũng sẽ qua. Và Người cũng sắp trở về với Cha Người trong vinh quang của Đấng Phục Sinh.

Tuy nhiên, Người cũng sắp để lại trên trái đất này các tông đồ, là những kẻ tiếp tục công việc của Người. Người biết điều đang chờ đợi họ: thái độ không hiểu biết và địch thù của nhiều người, hành trình truyền giáo liên tục, mệt mỏi đủ loại và nhất là những cơn bách hại, tù đầy, đánh đòn và cái chết dữ dằn. Họ phải uống cùng một chén đắng như Người.

Trước khi bước vào đêm khổ nạn, trước hết Chúa Kitô nGiáo Hộiĩ  đến các môn đệ: những kẻ theo Người khi Người còn sống và tất cả những ai sau ngày vì yêu mến Người, dâng hiến cuộc đời mình để cứu độ thế giới. Người nGiáo Hộiĩ tới họ không phải là tìm cách làm cho họ được một cuộc sống yên ổn hoặc kéo họ ra khỏi thế giới này, cũng không phải là ban cho họ những quyền hành siêu nhiên để công kích những kẻ chống lại họ. Người biết rằng họ sẽ phải gặp nhiều hiểm nguy: hiểm nguy đến từ bên ngoài, vì chưng thế giới thường là chống đối họ; và hiểm nguy đến từ bên trong, đó chính là những yếu đuối của họ.

Trong giây phút đặc biệt này, Người hướng về Cha một kinh nguyện nồng cháy để cầu cho các tông đồ hôm nay cũng như tương lai. Kinh nguyện này gồm 2 phần quan trọng: xin cho họ nên một và xin thánh hiến họ nên thánh.

Người biết có 3 cơn cám dỗ rình chờ họ:

- Cám dỗ chạy trốn thập giá: Vào thời Chúa Giêsu, các tông đồ phải đương đầu với bách hại và sự chết . Các đấng kế vị họ cũng phải chung một số phận như vậy. Và trong thời kỳ bách hại đó, đã có một số tín hữu õ chối đạo.  Nhưng tử đạo không nhất thiết là phải đổ máu, biết bao linh mục, tu sỹ và giáo dân phải chăng đôi khi muốn trốn tránh vì thấy các nhà thờ trống vắng, trẻ em bỏ học giáo lý và giới trẻ xa lạc đức tin? Biết bao người giáo dân cảm thấy mệt mỏi vì công việc từ thiện hằng ngày của họ không thấy có kết quả? Vì thế mà Chúa Giêsu tích cực cầu nguyện cho họ!

- Cám dỗ làm méo mó sứ điệp: “Lạy Cha, con đã ban lời Cha cho chúng, vì lời Cha là chân lý”. Sứ mệnh mà Chúa Giêsu giao phó cho các tông đồ thật lớn lao: là phải trung thành chuyển giao lời giáo huấn của Người. Vì chưng, đối với các tông đồ cũng như con người thời đại hôm nay không phải dễ gì mà sống được những đòi hỏi của Tin mừng. Thời đại chúng ta hôm nay thường bị cám dỗ  tìm cách giải thích lời Chúa theo ý nGiáo Hộiĩ của người đời. Nhiều khi người ta còn nhân danh tôn giáo để mà chém giết lẫn nhau. Chúa Kitô đã cầu nguyện tích cực để các tông đồ đừng nhát đảm. Trải qua các thế kỷ, nhiều công đồng đã cho phép Giáo Hội vạch ra những hướng đi mới mà không đánh mất căn tính của mình và hướng đi của Thầy chí Thánh đã chỉ dạy.

- Cám dỗ không hiệp nhất: Chúa Giêsu biết rõ điều đó trong con người. Người biết rằng chủ trương Giáo Hội  cá nhân có thể phá huỷ nhóm người được xem là hiệp nhất. Người đã thấy trong các tông đồ cũng có sự Giáo Hội tương tự. Người thấy họ cố gắng bằng mọi giá để sau này chiếm được vị trí tốt nhất bên cạnh Người. Người cũng báo trước sự đổ vỡ lớn lao sẽ làm cho Giáo Hội bị chia rẽ qua nhiều thế kỷ: Đông Phương và Tây Phương, Tin Lành cải Cách, Anh Giáo…Người cũng đau lòng khi thấy các giáo xứ chia rẽ giữa các ban hành giáo và các hội đoàn. Người đã cầu nguyện để Giáo Hội hiệp nhất. Lời cầu nguyện của Người đã có hiệu quả: con thuyền của Giáo Hội vẫn luôn đướng vững trong con bão táp hiện đại của những ý thức hệ lầm lạc.

Xin thánh hiến họ nên thánh. Chúa Kitô biết điều này: Các tông đồ của Người chỉ đứng vững được trong cuộc chiến không cân sức đối với thế giới, nếu họ sống thánh thiện, hay đúng hơn, nếu họ để cho Chúa Thánh Thần thánh hoá họ. Thực vậy, chúng ta không thể nên thánh như thể trở nên một vận động viên nhờ vào sức mạnh của cơ bắp. Không thể nên thánh được đối với những ai hoàn toàn sống theo những tư tuởng của thế tục. Cần phải giữ mình khỏi sa chước thần dữ. Ngày nay, Thần dữ không cám dỗ chúng ta đừng tin có Thiên Chúa nữa. Nhưng Thần dữ cám dỗ chúng ta cứ sống theo tinh thần thế tục, rồi thế nào khi về già về hưu, Thiên Chúa cũng tha thứ cho chúng ta.

Tất cả chúng ta dù là linh mục, tu sỹ hay giáo dân vẫnõ luôn luôn ở trong tư thế giằng co giữa đức tin và tham muốn trần tục. Ở trong thế gian không phải là thuộc về thế gian, đó là một thách thức lớn đối với chúng ta. Nên thánh có nghĩa là phải dành riêng và tận hiến cho Thiên Chúa, hoàn toàn thuộc về Thiên Chúa.

Chúa Giêsu đã cầu nguyện để các tông đồ ý thức đầy đủ về việc dâng hiến mình cho chương trình cứu chuộc. Dâng hiến mình và trung thành với lời dạy của Chúa giúp người kitô hữu có một thái độ khôn ngoan đối với những bất toàn không thể tránh được.

Nên thánh cũng có nghĩa là lo lắng bắt chước sự Thánh Thiện của Chúa Cha. “Anh em hãy thánh thiện như Cha anh em ở trên trời”. Bắt chước Chúa Cha cũng là bắt chước Chúa Kitô. Tình yêu phải chăng không là muốn nên giống người mình yêu chăng? Vậy người tông đồ muốn yêu Chúa, đòi hỏi phải chiêm ngắm Chúa Kitô: người ta chỉ có thể trở nên giống người khác nhờ vào việc chiêm ngắm người đó và dõi theo người đó từng bước. Cha Ignace Potterie nói: “Thánh hiến người tông đồ trong sự thật, đó là làm cho người tông đồ luôn hướng về cuộc sống của Con Thiên Chúa trong tương quan đối với Chúa Cha”.

Trang phục không làm nên thầy tu! Cũng vậy, chúng ta không phải là tông đồ đích thực vì đeo cây thánh giá lớn trên cổ! Nên giống Chúa Kitô là làm cho cuộc sống chúng ta nên giống cuộc sống Chúa Kitô. Khi cầu nguyện cho các tông đồ, Chúa kitô không xin gì khác ngoài điều xin cho họ được nên thánh, có nghĩa là họ được Thánh Thần thánh hiến, để giống Chúa Kitô, trở nên biểu tượng sống động của Chúa Cha.

Thế giới luôn luôn có sự thiện và sự ác trà trộn lẫn nhau. Đôi khi chúng ta muốn tẩu thoát hoặc nhốt mình trong phòng thánh. Chúa không muốn như vậy. Người muốn chúng ta ở trong thế giới để làm cho thế giới sống tình người hơn, phúc âm hoá thế giới và làm cho thế giới này thành sân bay bằng phẳng chuẩn bị cho hàng không vĩnh viễn nước trời. “Hãy làm nở hoa mảnh đất mà chúng ta đã được gieo vào. Khi đó chúng ta sẽ tràn ngập niềm vui mà Chúa Kitô đã hứa và thế giới đó sẽ đẹp hơn”.
 Lm Gioa Đặng Văn Nghĩa

---------------------------------
 
 

PS7-C32: Hiệp nhất

 

Là người Việt Nam, hẳn ai trong chúng ta cũng đều biết câu chuyện cổ tích về những bó đũa. PS7-C32


Là người Việt Nam, hẳn ai trong chúng ta cũng đều biết câu chuyện cổ tích về những bó đũa. Câu chuyện ấy như sau:

Người cha trong cơn hấp hối, biết mình chẳng còn sống được bao lâu, ông đã gọi các con đến bên giường bệnh và trao cho mỗi người một chiếc đũa và bảo:

- Các con hãy thử bẻ xem sao ?

Với một chiếc đũa trong tay, ai cũng bẻ được một cách dễ dàng.

Sau đó, ông trao cho mỗi người một bó đũa và cũng bảo:

- Các con thử bẻ xem sao ?

Với cả một bó đũa trong tay, không ai có thể bẻ nổi, dù đã cố gắng hết sức mình. Dựa vào đó, ông đã trăn trối và khuyên bảo:

- Nếu các con biết hiệp nhất và đoàn kết với nhau, thì chẳng ai có thể làm hại các con được.

Từ câu chuyện này, chúng ta thấy sự hiệp nhất và đoàn kết là điều rất cần thiết để đem lại lợi ích cho cá nhân và xã hội.

Thực vậy, trên bình diện cá nhân, nhiều lúc gặp phải những hoàn cảnh khó khăn, tự sức riêng chúng ta không thể giải quyết nổi, thế nhưng nếu có người khác trợ giúp, chúng ta sẽ đón nhận được những ý kiến khách quan và sáng suốt, cũng như đón nhận được những nâng đờ cần thiết dể vượt qua những khó khăn ấy một cách dễ dàng, như tục ngữ đã bảo:

- Việc người thì sáng, việc mình thì quáng.

Hay như người Tây phương vốn thường nói:

- Hai cái đầu thì bao giờ cũng hơn một cái đầu.

Tiếp đến, trên bình diện xã hội, sự hiệp nhất và đoàn kết sẽ tạo dựng được những công trình lớn và sẽ đem lại những thành quả tốt đẹp, mà bình thường một người sẽ không thể nào thực hiện.

Chính vì thế, tục ngữ cũng đã nói:

- Một cây làm chẳng nên non,

Ba cây chụm lại nên hòn núi cao.

- Hợp quần gây sức mạnh.

Hay như người Tây phương cũng thường nói:

- Sự hiệp nhất chính là một pháo đài kiên vững.

- Nếu những con cừu biết đoàn kết, thì sư tử cũng sẽ phải ra về bụng đói.

- Nếu biết đoàn kết, thì đàn kiến cũng có thể thắng nổi sư tử.

Khi quân thù tấn công, nếu mọi người biết hiệp nhất và đoàn kết, chắc hẳn chiến thắng đã nằm trong tầm tay của mình. Đây cũng là một kinh nghiệm quí giá đã từng xảy ra trong lịch sử dân tộc. Hẳn chúng ta còn nhớ vào năm 1284, trước sự đe dọa của quân Nguyên, do thái tử Thoát hoan dẫn sang xâm chiếm nước ta, vua Trần Nhân Tông đã triệu tập đại hội các bô lão tại điện Diên Hồng. Với sự nhất trí của các bô lão, quân ta dù yếu kém, cũng đã chiến thắng vẻ vang.

Hơn thế nữa, ngày nay với xu hướng toàn cầu hóa, để nền kinh tế được phán triển thì mỗi cá nhân riêng biệt sẽ không thể làm gì được. Trái lại, nếu biết đoàn kết, tập trung mọi khả năng về nhân sự, về tài chánh, về chuyên môn…thì mới xây dựng được những công ty, những xí nghiệp lớn có một tầm hoạt động rộng, ảnh hưởng trên nhiều quốc gia.

Từ những sự việc kể trên, chúng ta đi vào đoạn Tin mừng hôm nay với bình diện thiêng liêng.

Thực vậy, trước khi ra đi chịu chết, chắc hẳn Chúa Giêsu đã nhìn thấy một tương lai đen tối đang chớ đón các môn đệ và những người tin theo Ngài. Chắc hẳn Ngài cũng biết rằng thế gian sẽ ghét bỏ và quyền lực sự dữ sẽ tấn công họ. Nếu chiến đấu một cách đơn độc, thì họ sẽ thất bại. Chính vì thế, Chúa Giêsu đã đặc biệt cầu xin Chúa Cha ban cho họ ơn hiệp nhất:

- …Để họ được nên một như chúng ta là một: Con ở trong họ và Cha ở trong Con, để họ được hoàn toàn nên một.

Trước hết, về phương diện cá nhân, sự hiệp nhất sẽ đem lại cho bản thân chúng ta những lơi ích thiêng liêng to lớn.

Thực vậy, sự hiệp nhất sẽ làm cho lời cầu nguyện của chúng ta có được một giá trị trước mặt Chúa, như lời Ngài đã phán:

- Nếu ở đâu có hai hay ba người hợp lời cầu xin, thì Ta sẽ ở giữa họ.

Hơn thế nữa, nhờ sự hiệp nhất với nhau và với Giáo Hội, chúng ta sẽ được hưởng nhờ những ơn ích và sự giúp đỡ của toàn thể cộng đoàn dân Chúa, nhờ đó chúng ta sẽ dễ dàng vượt thắng những cám dỗ và hiểm nguy trên đường đời. Đây cũng chính là điểm tín điều các thánh thông công đã dạy.

Tiếp đến, về phương diện Giáo Hội, sự hiệp nhất sẽ làm cho việc truyền bá Tin mừng của Giáo Hội gặt hái được những thành quả tốt đẹp, bởi vì sự hiệp nhất và đoàn kết sẽ biểu lộ cho người khác thấy một tình yêu thương chân thành, như lời thánh Gioan đã viết:

- Nếu ai nói mình kính mến Thiên Chúa mà lại ghét bỏ anh em, thì người ấy chỉ là kẻ nói dối, vì ai không yêu thương anh em là người họ trông tháy, thì chẳng thể kính mến Thiên Chúa là Đấng họ không trông thấy.

Đồng thời sự hiệp nhất và đoàn kết còn chứng tỏ chúng ta là người môn đệ đích thực của Đức Kitô và có được một đức tin trưởng thành, nhờ đó dễ lôi cuốn người khác để họ tin vào lời chứng của chúng ta như Đức Thánh Cha Phaolô VI đã viết:

- Lời di chúc thiêng liêng của Chúa Giêsu cho chúng ta hiểu rằng sự hiệp nhất giữa các môn đệ không những là bằng chứng chúng ta là môn đệ Ngài, nhưng còn là bằng chứng Ngài được Chúa Cha sai đến và đó cũng là trắc nghiệm về sự đáng tin của các Kitô hữu và của chính Đức Kitô.

---------------------------------
 
 

PS7-C33: Suy Niệm của Lm Phêrô Phan Văn Lợi


TÁC NHÂN VÀ CHỨNG NHÂN

 

Biến cố Lên trời là chóp đỉnh của Tin Mừng Luca: tất cả hành trình của Đức Giêsu và của môn PS7-C33


Biến cố Lên trời là chóp đỉnh của Tin Mừng Luca: tất cả hành trình của Đức Giêsu và của môn đệ bước đi cùng Người qua các con đường Palestina đều nhắm mục tiêu đó, đặt trên ngọn núi cao nhất Giêrusalem, núi Cây dầu. Thật thế, ta biết rằng khi Luca khai mở phần trung tâm cuốn Phúc âm của ông, nói về hành trình dài của Đức Giêsu tiến lên Giêrusalem, trình thuật bắt đầu với ghi chú: “Khi đã tới ngày Đức Giêsu được rước lên trời, Người nhất quyết đi lên Giêrusalem” (9,51). Nhưng ngay trong cuộc Hiển dung, Luca đã xác định nội dung cuộc đối thoại giữa Đức Giêsu, Môsê và Elia theo chiều hướng như thế rồi: “Họ nói về cuộc xuất hành Người sắp hoàn thành tại Giêrusalem” (9,31). Cuộc xuất hành vinh hiển này sẽ chính là việc Đức Kitô vào trong ánh sáng Chúa Cha và trong Giêrusalem thiên quốc hoàn hảo, sau khi đã giao sứ mệnh tác nhân và chứng nhân cho các môn đệ của Người.

1. Những tác nhân của Thăng Thiên

Do đó, Đức Giêsu đến Giêrusalem như đến một bến đỗ cuối cùng, bến đỗ của cái chết và sự sống lại. Và lên trời chính là dấu ấn mà thánh sử thứ ba áp trên biến cố Vượt qua: quả thế, đoạn làm nên bản văn Tin Mừng hôm nay đóng lại toàn thể phần thứ nhất của tác phẩm Luca, cuốn Tin Mừng. Đó là kết thúc khải hoàn cuộc sống trần thế của Đức Giêsu. Như một thượng tế, Người đưa tay chúc lành cho Giáo Hội của Người (c.50). Và trước mặt Người, cả cộng đoàn tín hữu ở trong tư thế phụng vụ thờ lạy, ngợi khen và hân hoan: “các ông bái lạy Người”. Đây không phải là giã từ song là khai mạc một thời đại hy vọng.

Chính vì thế, Luca khai mở phần hai tác phẩm của mình, sách Công vụ Tông đồ, cũng với một trình thuật thăng thiên khác: đó là bản văn làm nên bài đọc thứ nhất của lễ trọng hôm nay (1,1-11), mô tả cuộc đại hiển linh của Đức Kitô, Cứu Chúa sống lại. Giáo Hội quy tụ quanh Người để chiêm ngưỡng thực tại đích thực của nhân vật mà Giáo Hội đã sống các thời gian đầu của mình với: hôm nay -theo kiểu nói của thư Êphêsô, dựa trên ngôn ngữ Kinh Thánh truyền thống- “Người được đặt ngự bên hữu Thiên Chúa trên trời, trên mọi quyền lực thần thiêng” (1,20-21). Nhưng trong giây phút này, ngoài mầu nhiệm đích thực của người con Thiên Chúa, Giáo Hội còn khám phá mầu nhiệm và vận mệnh tối hậu của chính mình nữa: sau khi đã hoàn tất hành trình của mình trong lịch sử, qua việc gìn giữ và loan báo Tin Mừng, Giáo Hội sẽ đi vào trong vinh quang của Chúa mình.

Dĩ nhiên, đó không phải là một định mệnh tức thì và tầm thường, vì phải đạt tới qua con đường khổ nạn trong lịch sử, một con đường chầm chậm và gian nan. Thật ý nghĩa câu trả lời của các thiên sứ: “Hỡi những người Galilê, sao còn đứng nhìn lên trời?” (Cv 1,11). Thời của Giáo Hội không phải là hão huyền chờ mong một kẻ vắng mặt hay chạy trốn vào trong một bầu trời mộng tưởng, trái lại là trở về với Giêrusalem trần thế để trọn vẹn bước đi con đường sứ vụ của mình. Chỉ có như thế, cửa Giêrusalem trên trời mới mở ra cho người môn đệ.

Như thế, thay vì là lễ của những con người mơ mộng hay ngược lại kinh hoảng trước viễn ảnh một cuộc tận thế đến gần, Thăng thiên thực ra là sự trình bày cách hữu hình và biểu tượng mối liên kết giữa hiện tại và tương lai, giữa thực tế và hy vọng, “niềm hy vọng chúng ta đã nhận” và được Thiên Chúa soi lòng mở trí cho ta thấy (Ep 1,18).

Nhưng như sách Công vụ gợi ý (1,4.8), chúng ta chớ nên rời xa thành của mình, thành Giêrusalem hạ giới, vì ở đó và trong mọi vùng khác của trái đất, chúng ta sẽ phải làm tác nhân và chứng nhân cho Đức Kitô và cho lời Người. Thành ra, nếu quan niệm chính xác về cuộc Thăng thiên, dấu chỉ mục tiêu tối hậu của Đức Kitô và kitô hữu, ta sẽ đề phòng một vài trường phái tu đức cực đoan đang có trong Giáo Hội.

Một đàng, thật mạnh mẽ cơn cám dỗ -còn thấy được thời nay nơi những phong trào khải huyền như phong trào Chứng nhân Giêhôva và một vài phong trào đặc sủng (Thánh linh) quá cuồng nhiệt- cơn cám dỗ “đứng nhìn trời”, chuyên chú chiêm ngưỡng cái kéo ta khỏi mặt đất, khỏi những náo động thường nhật, khỏi các bổn phận cuộc sống nặng nề. Đàng khác, cũng hấp dẫn không kém cơn cám dỗ gọi là “duy thế tục” vốn khép chặt toàn bộ Kitô giáo trong một “hoạt động” cụ thể, ngụp lặn vào việc đời, như các nền thần học giải phóng một thời tại Nam Mỹ.

Do đó, có vấn đề tìm lại sự hòa hợp giữa con đường hiện tại và mục tiêu phải giữ cho sống động ở chân trời, giữa kiếp sống thường nhật tức thời và định mệnh tối hậu hoàn hảo. Công đồng Vatican II, trong hiến chế Vui mừng và Hy vọng (số 39), đã khẳng định rất rõ ràng: “Chúng ta đã được cảnh giác là lời lãi cả thế gian mà chính mình hư mất nào ích lợi gì. Nhưng niềm trông đợi đất mới không được làm suy giảm, trái lại phải kích thích nỗ lực phát triển trái đất này, nơi mà Thân Thể gia đình nhân loại mới đang tăng trưởng và tiên báo một vài hình ảnh của thời đại mới”. Kể từ khi Đức Kitô nhập thể, lịch sử và vĩnh cửu đã kết hợp không tách rời. Những gì chúng ta tuyên xưng trong kinh Tin Kính chẳng phải là sự bất tử của linh hồn cho bằng là “sự sống lại của thể xác”, nghĩa là việc tất cả hữu thể và tất cả tạo vật đi vào trong mầu nhiệm vinh quang của Thiên Chúa, có sự cộng tác của kitô hữu. Cuộc Thăng thiên tròn đầy và toàn diện là thế, ý nghĩa tối hậu cuộc Phục sinh của Chúa là thế.

2. Những chứng chân của Khổ nạn

Để giúp thể hiện ý nghĩa đó, Đức Giêsu đã mời gọi các Tông đồ và chúng ta trong giây phút hiện diện tối hậu trên trần gian: “Chính anh em là chứng nhân về những điều này: Đấng Kitô phải chịu khổ hình, rồi ngày thứ ba, từ cõi chết sống lại”, chính anh em “phải nhân danh Người mà rao giảng cho muôn dân, bắt đầu từ Giêrusalem, kêu gọi họ sám hối để được ơn tha tội”.

Xem ra ta thích thoát khỏi đoạn cuối Tin Mừng có vẻ ám ảnh đó: “Anh em sẽ là những chứng nhân của Thầy”. Ta đang ở trong niềm vui Phục sinh, đời đang tươi đẹp, Đức Giêsu đã chấm dứt một hành trình gian khổ mà ta muốn quên lãng. Thế nhưng Người lại bảo: anh em sẽ là chứng nhân về tất cả những gì đã xảy đến: các đau khổ của Thầy, cái chết tủi nhục của Thầy...

Nhưng Phục Sinh đâu phải là việc trở lại một cuộc sống trong đó chỉ cần nói thật nhiều tiếng Alleluia là đủ. Điệp khúc thật của Phục Sinh là: “Anh em sẽ là các chứng nhân của Thầy”, sẽ phải nói những gì anh em cảm nghiệm về mầu nhiệm Vượt qua. Tại sao ta vẫn thường dị ứng với sứ mệnh ấy? Tại sao ta cho rằng nói đến thập giá trong một thế giới đang nỗ lực thực hiện cái gọi là “chất lượng cuộc sống”, đang tìm cách đề cao những giá trị gọi là “nhân bản”, đang chú trọng đến thành tích, năng suất, hiệu quả, kitô hữu có vẻ như lạc lõng giữa cõi trần.

Sao ta lại nghĩ rằng: làm chứng nhân cho bác ái đã đủ: kitô hữu hãy góp phần cùng xã hội chăm sóc kẻ khốn khó, bệnh tật, neo đơn, hoạt động xóa đói giảm nghèo, mở lớp học tình thương, thanh toán nạn mù chữ... Ta quên rằng kitô hữu còn phải làm chứng nhân cho sự thật, như Đức Kitô đã coi đây là bổn phận chủ yếu của mình: sự thật về Thiên Chúa, sự thật về con người, một bổn phận đã khiến Người (cũng như bao ngôn sứ trước Người và bao môn đệ sau Người) phải trả giá, trả giá đắt.

Quả thế, làm chứng nhân cho tình thương dễ được vỗ tay, khen ngợi, công nhận, kể cả từ phía những kẻ chống tôn giáo, chống Thiên Chúa. Nhưng làm chứng nhân cho sự thật rất dễ gánh chịu những thiệt thòi, dễ lãnh những đòn thù của kẻ sống trong gian trá, chủ trương độc tài, sử dụng bạo lực. Nhưng có lẽ đó mới là khía cạnh chủ yếu trong vai trò chứng nhân của kitô hữu. Truyền thống Giáo Hội chẳng đồng hóa “chứng nhân” với “tử đạo” (martyr) đó sao? Làm chứng nhân tình thương chỉ cho con người cơm áo, sự sống. Làm chứng nhân sự thật mới đem lại cho con người lẽ sống, dẫn họ tới Nước Trời (ý nghĩa tối hậu của cuộc Thăng thiên). Và trong thế giới cũng như xã hội hiện thời của chúng ta, đó chính là chấp nhận mọi gian khổ vì đức tin, vì Tin Mừng, đó chính là can đảm lên tiếng bênh vực cho quyền làm con người và quyền làm con Chúa, như chứng từ sau đây của một giám mục Công giáo thầm lặng ở Trung Quốc trao cho một người bạn đến thăm và được thông tấn xã Fides của bộ Truyền giáo trích đăng tháng 11 năm 1999:

“Tại Trung Quốc, chúng tôi không thể cử hành thánh lễ khi chúng tôi muốn. Chúng tôi không thể quyết định một hoạt động nào, chẳng hạn truyền chức linh mục hoặc mở một chủng viện mới. Tự do của linh mục trong Giáo hội Công giáo công khai (tức thuộc Hội Công giáo yêu nước) còn bị thu hẹp hơn tự do của linh mục trong Giáo hội Công giáo thầm lặng. Linh mục công khai bị kiểm soát trong mọi di chuyển: mỗi khi ra ngoài nhà mình đều có người theo dõi; để thi hành bất kỳ hoạt động nào, linh mục công khai đều phải xin phép nhà nước. Một linh mục thầm lặng ít nhất còn có thể viếng thăm các tín hữu một cách âm thầm, bí mật. Về phần tôi, vì bị quản thúc tại gia, tôi không được tự do thăm viếng các tín hữu của tôi. Nhiều khi tôi thi hành một vài sứ vụ một cách bí mật, nhưng rất là khó khăn.

Trong dịp Hồng Kông được trả lại cho Trung Quốc, và trong những dịp lễ trọng của Giáo Hội, tôi luôn bị quản thúc tại gia. Công an khóa tôi trong nhà, và tôi không thể tiếp xúc với các tín hữu. Các linh mục hoặc nữ tu chỉ có thể đến gặp tôi hai người mỗi lần hoặc đến một mình, nhưng luôn luôn là lén lút. Nếu công an nhà nước khám phá được, thì họ sẽ bị trừng phạt hoặc bị tịch thu các đồ đạo hoặc tiền bạc. Và cho dẫu tôi khai rằng mình lên thành phố để khám bệnh, họ vẫn không tin và nói: Chắc chắn là ông đi thăm các tín hữu của ông. Các viên chức nhà nước nói với chúng tôi rằng: Các ông chỉ có thể cầu nguyện cho ĐGH nhưng không thể tùng phục ngài. Tôi trả lời họ: Các ông không theo đạo nào, còn Giáo Hội Công Giáo của chúng tôi là duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền. Quan hệ giữa chúng tôi với ĐGH như một ngành với thân cây nho! Các chủng viện của Hội Công giáo yêu nước có các giáo sư đến từ nước ngoài; chúng tôi hy vọng rằng các vị ấy cũng đến với chúng tôi. Chắc chắn là có khó khăn về vấn đề an ninh. Chúng tôi cũng gặp khó khăn về tài chánh, nhưng chúng tôi có thể giải quyết các khó khăn đó. Hiện nay trong giáo phận chúng tôi có 40 linh mục, 50 chủng sinh và 100 nữ tu. Như vậy, thứ tự do tôn giáo mà hiến pháp TQ bảo đảm chỉ là thứ tự do của chim trong lồng, của súc vật trong cũi. Và trong bối cảnh đó, chứng tá đức tin can trường và trung thành của các tín hữu Công giáo tại TQ càng đáng ngưỡng mộ hơn nữa vậy”.

 ---------------------------------

 

PS7-C34: Hiệp nhất

 

Mỗi người Kitô hữu chúng ta vì đã được rửa tội, nên ai cũng có trách nhiệm phải truyền giáo, nghĩa PS7-C34


Mỗi người Kitô hữu chúng ta vì đã được rửa tội, nên ai cũng có trách nhiệm phải truyền giáo, nghĩa là có bổn phận phải rao giảng về Thiên Chúa, về Chúa Kitô và nước trời cho những người khác. Trong việc thực thi bổn phận ấy, sống hiệp nhất có một sức mạnh rất đặc biệt. Vậy sự hiệp nhất đó, là sự hiệp nhất nào? Sự hiệp nhất ấy có giá trị đặc biệt như thế nào trong việc truyền giáo? Và người Kitô hữu chúng ta phải sống sự hiệp nhất ra sao, để góp phần vào công việc truyền giáo của Giáo Hội? Phụng vụ lời Chúa qua bài Tin Mừng hôm nay sẽ trả lời cho chúng ta những câu hỏi đó.

Trước khi từ biệt trần gian, Chúa Giêsu đã cầu nguyện một cách tha thiết với Chúa Cha cho các tông đồ và tất cả những ai nhờ lời họ mà tin vào Chúa Kitô, trong đó có chúng ta được ơn hiệp nhất: “Con không chỉ cầu xin cho những người này nhưng còn cho những ai nhờ lời họ mà tin vào Con để tất cả nên một”.
Sự hiệp nhất ở đây là một ân huệ của Chúa Cha mà Chúa Giêsu đã tha thiết cầu xin với Cha Ngài cho chúng ta. Do đó hiệp nhất ở đây không thể là giả tạo như sự hiệp nhất của hai cây gậy buộc lại với nhau thành một; cũng không như hai người bạn đi đường cùng nhau, cùng mục đích, cùng mối lợi, nhưng là nhắm lợi ích riêng của mình; càng không phải là sự hiệp nhất rẻ tiền: cố nhịn nói, cố tránh va chạm để người ngoài nhìn vào không biết chúng ta đang chia rẽ. Trái lại, đây là sự hiệp nhất trong tình yêu thương của Thiên Chúa. Sự hiệp nhất đó phải được như là sự hiệp nhất giữa Thiên Chúa Ba Ngôi: “Như Cha ở trong Con, như Con ở trong Cha”.

Như vậy, sự hiệp nhất ở đây không phải là bất cứ sự hiệp nhất nào, mà là sự hiệp nhất giữa Chúa Kitô và Cha trong Thánh Thần. Căn bản của sự hiệp nhất này là tình yêu phát xuất từ Cha và chính trong sự hiệp nhất này là sức mạnh có tính thuyết phục thế gian tin vào Chúa Giêsu là Đấng Cứu Thế và nhận ra tình yêu thương của Chúa Cha đối với nhân loại.

Chắc hẳn, Chúa Giêsu biết rất rõ sự hiệp nhất mà Ngài mong ước thiết tha cho chúng ta (như đã trình bày ở trên) có một sức mạnh truyền giáo rất đặc biệt. Sở dĩ như vậy, vì Thiên Chúa và nước trời là những mầu nhiệm, những thực tại vô hình không dễ gì tin, bởi mắt phàm không thấy. Trái lại, khi nhìn thấy đời sống yêu thương hiệp nhất của các tín hữu, người ta sẽ nhận ra có sự hiện diện của Thiên Chúa và nước trời.

Đức cố Giáo Hoàng Phaolô VI cũng đã diễn tả sâu sắc về giá trị tông đồ của sự hiệp nhất, ngài nói: “Lời di chúc thiêng liêng của Chúa Giêsu cho chúng ta hiểu rằng, sự hiệp nhất giữa chúng ta không những là bằng chứng chúng ta là môn đệ Ngài, nhưng còn là bằng chứng Ngài được Chúa Cha sai đến và đó cũng là trắc nghiệm về sự đáng tin của các Kitô hữu và của Chúa Kitô”.

Quả vậy, có hiệp nhất với nhau, các kẻ tin mới tỏ ra mình không phải là những con người bị chia rẽ bởi những tranh chấp, nhưng là những con người có đức tin trưởng thành, có khả năng đối thoại, gặp gỡ nhau nhờ việc cùng tìm kiếm chân lý cách chân thành vô vị lợi. Như vậy sự hiệp nhất minh chứng chúng ta là môn đệ Đức Kitô, là những con người có đức tin vững mạnh và đó là lý do hấp dẫn người ngoài để họ dễ tin vào lời chứng của chúng ta. Hơn nữa, một sự hiệp nhất đến từ Thiên Chúa liên kết chúng ta lại với nhau là biểu hiện sự hiện diện của Thiên Chúa và nước trời ở giữa thế gian, như lời Chúa Giêsu thân thưa cùng Chúa Cha:”Xin cho họ nên một, như vậy, thế gian có thể nhận biết rằng chính Cha đã sai Con và đã yêu thương họ như đã yêu thương Con”.

Sống hiệp nhất nên một cách thân mật như “Cha ở trong Con và Con ở trong Cha” có một sức mạnh rất đặc biệt cho việc loan báo Tin Mừng. Thế nhưng làm sao chúng ta có thể hiệp nhất nên một cách thân mật như Cha ở trong Con và Con ở trong Cha được? Quả thật, một sự hiệp nhất như thế nằm ngoài tầm tay của chúng ta và sự hiệp nhất này chỉ có thể thực hiện nơi chúng ta nếu chính Thiên Chúa thực hiện trong ta. Đó là điều mà Chúa Giêsu đã nói: “Con đã ban cho họ vinh quang mà Cha đã ban cho Con, để họ được nên một như Chúng Ta là một…” Vinh quang ở đây, chính là sự sống của Thiên Chúa. Việc chúng ta hiệp nhất vào chính sự sống của Thiên Chúa là cơ sở cho việc chúng ta hiệp nhất với nhau, cho nên phương thế hay nhất để thực hiện sự hiệp nhất giữa chúng ta là mức độ chúng ta thông hiệp vào vinh quang của Chúa Giêsu, vào cuộc sống Thần Linh của Ngài, nhờ việc kết hiệp với Chúa Giêsu trong Bí tích Thánh Thể, qua rước lễ, viếng Chúa Giêsu Thánh Thể; nhờ việc lắng nghe và thực thi lời Chúa trong cuộc sống; nhờ việc chân thành cầu nguyện cho sự hiệp nhất trong Giáo Hội, giữa các Kitô hữu với nhau và cho một thế giới tốt đẹp hơn. Một khi hiệp nhất với Chúa Giêsu như thế, chúng ta sẽ dễ dàng hiệp nhất và yêu thương nhau, tránh được mọi hận thù, chia rẽ, ghét ghen… Có như thế, chúng ta mới thực sự là dấu hiệu để người ngoại nhận ra Thiên Chúa là tình yêu và nhận ra Đức Giêsu là Đấng Cứu Thế được Chúa Cha sai đến để thực hiện chương trình yêu thương của Người, và lúc đó chúng ta sẽ thấy rằng sống hiệp nhất có một sức mạnh rất đặc biệt trong việc truyền giáo.

Ước chi phụng vụ lời Chúa hôm nay giúp chúng ta ý thức được sống hiệp nhất có một sức mạnh truyền giáo; ý thức rằng Chúa Giêsu đã tha thiết cầu nguyện cho chúng ta được hiệp nhất với nhau như Ngài trong Cha và Cha trong Ngài; ý thức rằng Chúa Giêsu đang cần đến sự cộng tác của chúng ta với ơn Chúa để làm triển nở sự hiệp nhất trong cộng đoàn xứ đạo, gia đình của chúng ta. Nhờ đó chúng ta sống gắn bó với Chúa Giêsu hơn qua việc năng dâng lễ, hiệp lễ, lãnh nhận các bí tích, lắng nghe lời Chúa, cầu nguyện cho sự hiệp nhất yêu thương trong gia đình cũng như trong xứ đạo của chúng ta. Hơn nữa, có Chúa Giêsu là giềng mối sự hiệp nhất trong chúng ta, chúng ta sẽ dễ dàng sống hiệp nhất yêu thương đối với anh chị em của chúng ta. Nguyện xin Chúa Giêsu tiếp tục tác tạo sự hiệp nhất nơi chúng ta.

-------------------------------

 

PS7-C35: THÁNH VỊNH 96


CHÚA NHẬT VII PHỤC SINH NĂM C

I. Bối Cảnh

 

Trong ngày mừng lễ Chúa Thăng Thiên, chúng ta đã cùng nhau suy niệm Thánh vịnh 46 với PS7-C35


Trong ngày mừng lễ Chúa Thăng Thiên, chúng ta đã cùng nhau suy niệm Thánh vịnh 46 với tâm tình tán tụng vương quyền của Đức Chúa. Hôm nay chúng ta chứng kiến vương quyền ấy được diễn tả nơi Thánh vịnh 96 mà chúng ta vừa nghe. Vương quyền của Chúa được diễn tả trong bối cảnh của một cuộc thần hiện khiến đất trời rung chuyển. Cuộc thần hiện này nhắc nhớ chúng ta về biến cố Chúa tỏ mình trên núi Sinai và lập giao ước với nhà Ít-ra-en. Chính nơi đó, con cái nhà Ít-ra-en đã chứng kiến “núi bốc lửa cao đến tận trời, trong bóng tối mây đen mù mịt” (Đnl 4,11). Sách ngôn sứ Mi-kha cũng khẳng định: “Quả thật, này Đức Chúa ra khỏi nơi thánh của Người, Người ngự xuống và chà đạp các nơi cao trên mặt đất. Dưới chân Người núi non tan chảy, các thung lũng rạn nứt như sáp ong gặp lửa, như nước đổ xuống từ dốc cao” (Mk 1,3-4). Trong khi tán tụng vường quyền của Đức Chúa, vịnh gia đồng thời nói lên tình yêu phổ quát của Chúa. Người tiếp tục can thiệp vào lịch sử của con người nhằm cứu độ tất cả mọi người.

2. Bố Cục

Thánh vịnh 96 gồm 12 câu được chia thành 3 phần:

Phần I: Diễn tả một cuộc thần hiện (cc. 1-5).

Phần II: Trình bày những phản hồi của toàn thể tạo vật trước biến cố Chúa tỏ mình (cc. 6-9).

Phần III: Phác hoạ một Thiên Chúa gần gũi với kẻ hiếu trung và công chính (cc. 10-12).

3. Ý Nghĩa

Như đã nói ở trên, toàn bộ Thánh vịnh 96 ca ngợi vương quyền của Đức Chúa. Thánh vịnh khởi đi với lời công bố long trọng: “Chúa là Vua hiển trị hỡi địa cầu, hãy nhảy mừng lên, vui đi nào, ngàn muôn hải đảo!” (c.1). Đây là một nghi lễ tôn vinh Thiên Chúa là Vua trên toàn vũ trụ và lịch sử nhân loại. Thiên Chúa tiến vào thế giới con người được diễn tả với một cuộc thần hiện thật kinh hoàng khủng khiếp (cc. 2-5):

Mây u ám bao phủ quanh Người, bệ ngai rồng là công minh chính trực.
Ngọn lửa hồng mở lối tiên phong, đốt tiêu tan địch thù tứ phía.
Ánh chớp của Người soi sáng thế gian, địa cầu trông thấy mà run sợ;
núi tan chảy như sáp, khi diện kiến Thánh Nhan vị Chúa Tể hoàn cầu.

Khi chứng kiến cảnh Thiên Chúa tỏ mình trong huy hoàng rực rỡ thì “trời xanh tuyên bố Người là Đấng chính trực, hết mọi dân được thấy vinh quang Người” (c. 6). Những kẻ thờ ngẫu tượng thì nhục nhã vì chẳng có thần nào khác ngoài Thiên Chúa(x. c. 7). Còn Xion và Giuđa thì tưng bừng hoan hỷ (x. c. 8), và kẻ hiếu trung tuyên xưng rằng: “Chính bởi vì Ngài, muôn lạy Chúa, là Đấng Cao Cả trên khắp địa cầu, Ngài trổi vượt chư thần hết thảy” (c. 9).

Thánh vịnh này khép lại với niềm vui của người hiếu trung được Chúa đoái thương. Đây là điểm đặc biệt của Thánh vịnh này. Tác giả không chỉ trình bày một Thiên Chúa uy quyền mà còn diễn tả một Thiên Chúa gần gũi với con người, với những ai mong đợi Chúa, yêu Chúa, hiếu trung với Chúa, sống công chính, ghét điều gian và giữ lòng ngay thẳng. Họ sẽ sống trong ánh sáng của sự hiện diện của Chúa. Họ sẽ ca tụng danh Chúa như ngôn sứ Ma-la-khi công bố: “Nhưng đối với các ngươi là những kẻ kính sợ Danh Ta, mặt trời công chính sẽ mọc lên, mang theo các tia sáng chữa lành bệnh. Các ngươi sẽ đi ra và nhảy chồm lên như bê xổng chuồng” (Ml 3,20). Quả thật, ánh sáng của Thiên Chúa luôn song hành với hạnh phúc của con người: “Ánh sáng bừng lên chiếu rọi người công chính, niềm vui làm rạng rỡ kẻ lòng ngay” (c. 11).

4. Truyền Thống Cầu Nguyện

Truyền thống Do-thái sử dụng Thánh vịnh 96 trong lễ tôn Đức Chúa là vua. Trước thời lưu đầy, nghi lễ này được cử hành để mừng vương quyền hiện hành của Đức Chúa. Sau thời lưu đầy, Ít-ra-en ở trong tình trạng khốn quẫn và hèn kém, nên khi mừng lễ này, người ta hướng về “Ngày của Chúa” trong tương lai. Khi Chúa đến trong vinh quang, Người sẽ thiết lập nền công lý đích thực trên toàn cõi địa cầu.

Truyền thống Kitô giáo đã nhận thấy tất cả những lời tiên báo về vương quyền của Chúa được hiện thực hóa nơi Đức Giêsu. Người chính là vương quyền của Thiên Chúa. Nơi Người, chính Thiên Chúa đã đến trên trần gian để thiết lập Nước Người. Thánh Athanasiô nói rằng Thánh vịnh 96 nói về ơn cứu độ của toàn thế giới, của những ai tin vào Đức Kitô. Khi chúng ta hát Thánh vịnh này, chúng ta mừng vui trong vương quyền của Đức Kitô. Đang khi mong đợi Người trở lại trong vinh quang, chúng ta không chỉ ca vang Thánh vịnh này trên môi miệng mà còn đem lời Thánh vịnh ra thực hành trong đời sống, đó là, yêu Chúa, sống công chính và ngay thẳng, ghét điều gian ác và một niềm hiếu trung với Chúa.

Lm. Antôn Trần Văn Phú

-------------------------------

 

PS7-C36: AN TÂM VÌ CHÚA CHA LUÔN GÌN GIỮ


SUY NIỆM CHÚA NHẬT VII PHỤC SINH – NĂM C

(Ga 17, 20-26)

 

Khi đến giờ rời bỏ thế gian mà về cùng Đức Chúa Cha, Chúa Giêsu đã xin cùng Đức Chúa Cha PS7-C36


Khi đến giờ rời bỏ thế gian mà về cùng Đức Chúa Cha, Chúa Giêsu đã xin cùng Đức Chúa Cha cho các môn đệ. Trước hết, Chúa Giêsu cầu cho danh Chúa Cha, ca tụng Ngôi Cha và Ngôi Con (Ga 17, 1-5). Thứ đến là xin “Cha tôn vinh Con Cha để Con Cha tôn vinh Cha” (Ga 17, 1). Và sau cùng cầu xin cho các môn đệ.

Chúa Giêsu đã cầu xin cùng Đức Chúa Cha cho các môn đệ điều gì? Thưa, Người xin Chúa Cha liên kết họ nên một, thánh hiến họ, nhất là gìn giữ họ sống trong thế gian khỏi mọi sự dữ.

Xin cho chúng nên một

“Xin cho chúng nên một”. Chúa Giêsu hằng muốn các môn đệ và cả chúng ta, những người vào Chúa được hợp nhất cùng nhau, liên đới trong tình yêu, trong sự sống của Ba Ngôi Thiên Chúa. Chúng ta thật yếu đuối và mong manh, rất dễ mỗi người mỗi ngả. Chúa Giêsu thấu hiểu điều đó, nên Người xin Chúa Cha gìn giữ chúng ta khỏi Ác Thần là tên chia rẽ, khỏi ‘tinh thần thế tục’ của thế gian vốn đang lôi kéo và mê hoặc con người. Bao lâu còn sống, chúng ta còn phải vật lộn, chiến đấu chống lại sức mạnh thế trần này, trước hết, trong chính bản thân mình. Tự sức chúng ta không thể chiến thắng. Để hiệp nhất như Chúa Giêsu muốn, chúng ta cậy dựa vào Chúa Giêsu và Thánh Thần Thiên Chúa, luôn sống trước mặt Chúa Cha.

Xin Cha thánh hiến họ

Vì Thiên Chúa là Cha chí thánh đối với Đức Giêsu (Ga 6, 11b), nên Chúa Giêsu xin Chúa Cha thánh hiến các môn đệ, làm cho các ông nên thánh. Thiên Chúa là Đấng Thánh. Thánh thiện là thuộc tính của Ba Ngôi Thiên Chúa. Chúa Cha là Đấng Ngàn Trùng Chí Thánh, Đấng Phù Trợ được gọi là Thánh Thần (Ga 14, 26), Chúa Con là Đấng Thánh của Thiên Chúa (Ga 6, 69).

Làm cho các môn đệ nên thánh là tách biệt họ ra khỏi thế gian, với lối suy nghĩ và hành động, với những giá trị riêng của nó. Thánh hóa môn đệ chính là làm cho họ không thuộc về thế gian nữa, để như Đức Giêsu, họ thuộc về Cha trọn vẹn (Ga 17, 16). Nhưng tách biệt khỏi thế gian lại không có nghĩa là cất họ khỏi đó (Ga 17, 15), và giữ họ an toàn trong tháp ngà bảo đảm. Đời người Kitô hữu chẳng an toàn, vì họ được sai vào thế gian (Ga 17, 18). Thế gian đầy bóng tối, dối trá, hận thù, chính là nơi họ phải đến, phải đằm mình vào, để biến đổi nó thành ánh sáng, sự thật, tình yêu.

Được thánh hóa, được tách khỏi thế gian, chính là để được sai vào đó. Vì họ “là muối của trái đất, là ánh sáng của thế gian” (Mt 5, 13). Nếu không được thánh hóa, không thuộc về Chúa, thì khi được sai vào, họ sẽ chẳng biến đổi được thế gian, và sẽ bị nó nuốt chửng. Để hoạt động trên thế gian và trong thế gian, mà không liên can đến thế gian, nghĩa là được miễn dịch khỏi thế gian, các môn đệ cần phải được hiến thánh (x. Ga 17-19).

Khi muốn bảo vệ các môn đệ khỏi Sự Dữ trong thế gian, Chúa Giêsu đã tự thánh hiến chính mình, Người nhấn mạnh đến tầm quan trọng là “viên mãn trong Thiên Chúa” khi “ở trong tình yêu”.

Xin Cha gìn giữ chúng

Chúa Giêsu cầu nguyện rằng: “Xin hãy gìn giữ trong danh Cha những kẻ Cha đã ban cho Con, để họ được nên một như Ta” (Ga 17,11); “Con không xin Cha đem chúng ra khỏi thế gian, nhưng xin gìn giữ chúng cho khỏi sự dữ” (Ga 17,15). Nghĩa là xin Chúa Cha gìn giữ các môn đệ cũng như những ai nhờ các ông mà tin vào Thiên Chúa, họ đang sống trong thế gian nhưng không thuộc về thế gian. Gìn giữ các môn đệ là việc Chúa Giêsu thường làm, Người đã không để ai trong họ phải hư mất, trừ ra con người hư hỏng là Giuđa.

“Xin gìn giữ chúng cho khỏi sự dữ!” Chúa Giêsu ý thức hơn khi nào hết quyền lực có thật của quỷ dữ đang tác động trên các môn đệ còn sống ở trần gian. Chính vì thế Người khẩn khoản nài xin Chúa Cha gìn giữ họ khỏi Sự Dữ (Ga 17,15). “Khi còn ở với họ, Con đã gìn giữ họ… Con đã canh giữ họ…” (Ga 17,12). Những sói dữ bao giờ vẫn có, chúng khuấy phá đàn chiên. Mục tử Giêsu đã không để ai cướp được chiên khỏi tay mình, và trong cuộc chiến đấu này, Người đã dám hy sinh mạng sống (Ga 10, 11). Bây giờ Ngài xin Cha tiếp tục gìn giữ đoàn chiên của Chúa Cha mà Chúa Cha đã ban cho Người chăm sóc.

Chúa Giêsu đã chẳng nói với Phêrô: “Simon, Simon, kìa Satan đã xin được sàng các con như người ta sàng gạo. Nhưng Thầy đã cầu nguyện cho con, để con khỏi mất đức tin” (Lc 22, 31-32). Với kinh nghiệm bản thân, Phêrô cũng hình dung ra tình cảnh của các môn đệ khi Thầy ra đi sẽ như thế nào nên nhắn nhủ: “Anh em hãy sống tiết độ và tỉnh thức, vì ma quỷ, thù địch của anh em, như sư tử gầm thét, rảo quanh tìm mồi cắn xé. Anh em hãy đứng vững trong đức tin mà chống cự” (1Pr 5, 8). Ngay cả Phaolô, vị Tông Đồ sinh non như Ngài nhận cũng ý thức được sự vắng mặt của Thủ Lãnh đoàn chiên, nên ông viết thư cho các kỳ mục lãnh đạo Hội Thánh và nói: “Phần tôi, tôi biết rằng, sau khi tôi đi rồi, sẽ có những sói dữ đột nhập giữa anh em, chúng không dung tha đoàn chiên; và ngay giữa anh em, cũng sẽ có những kẻ ăn nói xảo trá nổi dậy để lôi kéo các môn đồ theo họ” (Cv 20, 29). Như Chúa Giêsu, Phaolô biết, đức tin của các tín hữu ngài sẽ bị thử thách và bách hại.

Sự dữ vốn đang có mặt và hoành hành trong thế giới, nơi con cái Chúa phải đương đầu. Chúa Giêsu dạy các môn đệ, và cả chúng ta cầu nguyện: “Xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ, nhưng cứu chúng con khỏi sự dữ!”.

Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

-------------------------------

 

PS7-C37: Lòng vị tha


 – Chúa Nhật VII Thường niên – Năm C

 

Trong bối cảnh xã hội hôm nay, khi nói đến lòng vị tha, chúng ta giống như người nghệ sĩ vụng PS7-C37


Trong bối cảnh xã hội hôm nay, khi nói đến lòng vị tha, chúng ta giống như người nghệ sĩ vụng về chơi một cung đàn lạc điệu. Những tin tức hằng ngày tại xã hội Việt Nam mà chúng ta đọc thấy trên mạng truyền thông cho thấy con người ngày càng hung dữ đối với đồng loại, thậm chí ngay cả trong gia đình. Như một quán quân cần phải tập luyện gian khổ mới xứng nhận phần thưởng, Chúa Giê-su kêu gọi chúng ta phải vượt lên lối ứng xử của thời đại để trở nên những người vị tha nhân hậu. Nền tảng cho lòng vị tha của Ki-tô hữu là “vì Chúa là Đấng từ bi nhân hậu. Người chậm giận và giàu tình thương” (Thánh vịnh 102 trong phần Đáp ca). Con người được mời gọi sống nhân hậu, vì chính mỗi người cũng đã hơn một lần đón nhận lòng nhân hậu của Thiên Chúa, mặc dù có thể họ không nhận ra. Như người con chẳng mấy khi ý thức hoặc nhận ra lòng tốt của cha mẹ, trong khi tình thương cha mẹ thì luôn mênh mông tràn đầy.

Thiên Chúa là Đấng nhân hậu, và những ai tin vào Ngài cũng phải sống nhân hậu. Đó là thông điệp chính mà Lời Chúa hôm nay muốn chuyển đến chúng ta. Vua Đa-vít là một mẫu gương về lòng vị tha. Chính lúc đang bị Sa-un truy đuổi để sát hại, vì ghen tương, Đa-vít có cơ hội tiếp cận Sa-un trong một cái hang rộng lớn. Lúc này, ông có thể giết chết người đang truy đuổi mình một cách dễ dàng. Tuy vậy, Đa-vít không làm thế, vì ông là người trung nghĩa. Ông tôn trọng người đã được Thiên Chúa xức dầu, mặc dù người đó có lỗi lầm đến đâu chăng nữa. Vua Đa-vít để lại tiếng thơm cho các thế hệ người Do Thái và cho tất cả chúng ta. Ông được tôn vinh là “Thánh Vương” và là niềm tự hào của dân tộc Do Thái.

Chúa Giê-su là Con Thiên Chúa. Người được sai xuống trần gian để rao giảng về lòng từ bi nhân hậu của Chúa Cha. Trong giáo huấn của Người, Người luôn nhấn mạnh đến lòng thương xót bao la của Thiên Chúa, Đấng làm cho mặt trời mọc lên trên những người lành cũng như kẻ dữ, làm mưa xuống cho người công chính cũng như kẻ bất lương. Người đã chúc phúc cho những ai có lòng thương xót, vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương (x. Mt 5, 7). Những đề nghị của Người trong Tin Mừng hôm nay xem ra vô cùng khó khăn và đòi hỏi Ki-tô hữu phải có nhân đức tới mức anh hùng. Những đề nghị của Chúa trong Tin Mừng cũng đi ngược hoàn toàn với quan niệm đời thường. Bởi lẽ người đời tự nhiên có khuynh hướng hơn thua, ăn miếng trả miếng, chứ nhất định không chịu thiệt. Đó cũng là quan niệm của Kinh Thánh Cựu ước, theo giáo huấn của ông Môi-sen. Trong khi đó, Chúa Giê-su dạy chúng ta: hãy tha thứ và cầu nguyện cho kẻ làm hại mình. Đức bác ái Ki-tô giáo đạt tới mức siêu việt ở những điểm này. Đối với các môn đệ của Chúa Giê-su, không ai còn là kẻ thù, nhưng tất cả là huynh đệ trong cùng một gia đình có Chúa là Cha. Như trên đã nói, nền tảng của lòng vị tha Ki-tô giáo đặt để trên chính bản tính của Thiên Chúa. Điều đó có nghĩa, nếu chúng ta thực thi lòng nhân hậu, là vì Chúa là Đấng nhân hậu. Chính chúng ta cũng đã từng đón nhận lòng nhân hậu của Chúa, nên chúng ta hãy sống nhân từ như Chúa Cha. Thực thi lòng nhân hậu, đôi khi phải chịu thiệt thòi về danh dự hoặc những điều khác. Hãy nhìn lên thập giá, nơi Đức Giê-su chịu khổ hình. Người bị người đời sỉ vả khinh thường, nhưng cũng qua biến cố này, Chúa Giê-su trở nên nguyên nhân cứu rỗi và là gương mẫu cho chúng ta trong sự hy sinh và lòng quảng đại.

Dẫu đang sống trong cuộc đời dương thế, Ki-tô hữu là người thuộc về thượng giới. Thánh Phao-lô đã dùng hình ảnh ông A-đam để so sánh với Chúa Giê-su. A-đam tượng trưng cho những gì thuộc về đất (lưu ý, trong nguyên ngữ Do Thái, chữ “A-đam” có nguồn gốc từ chữ ADAMA có nghĩa là “đất”), và Chúa Giê-su tượng trưng cho những gì thuộc về trời. Nhờ tin vào Chúa Giê-su, chúng ta thuộc về trời, và đang tiến bước tiến về quê trời. “Hướng về trời”, đó là cách nói diễn tả những cố gắng nỗ lực để nên hoàn thiện trong chính hoàn cảnh cụ thể của mình, trong mối tương quan với Chúa và với anh chị em đồng loại.

Giữa bối cảnh xã hội còn nhiều xung đột và bạo lực, Ki-tô hữu được mời gọi trở nên dấu chỉ của lòng nhân hậu. Khi thực thi bác ái và tha thứ, sẽ có nhiều hệ lụy kèm theo, nhưng chắc chắn một điều, là khi tha thứ, chính bản thân chúng ta cảm nhận niềm vui và chính chúng ta cũng được Chúa thứ tha.

+TGM Giu-se Vũ Văn Thiên

--------------------------------

 

PS7-C38: Giải nghĩa và hát mẫu Thánh vịnh 102


 Chúa nhật VII thường niên C

I. DẪN NHẬP

 

Điệp ca chúng ta vừa nghe dẫn chúng ta đến với Tv 102 (103). Nếu như Thánh vịnh 101 là một lời PS7-C38


Điệp ca chúng ta vừa nghe dẫn chúng ta đến với Tv 102 (103). Nếu như Thánh vịnh 101 là một lời than van rên siết trong cảnh gian truân khốn khổ, thì 5 thánh vịnh tiếp đó là lời tán tụng tạ ơn Chúa. Thánh vịnh 102 mà chúng ta vừa nghe là khởi đầu của trường ca tán tụng và tạ ơn ấy. Thánh vịnh này chi phối và đụng chạm tới những vấn đề lớn của đời sống đức tin như: tội lỗi và ơn tha thứ, bệnh tật và sự chữa lành, áp bức và biện hộ, tính siêu phàm và lòng thương xót của Thiên Chúa, tính phải chết của phận người, tính bất tử thần linh, và vương quyền của Thiên Chúa.

II. NỘI DUNG

1. Bố cục

Thánh vịnh 102 gồm có 22 câu và được chia thành năm phần:

Phần nhập đề là lời kêu gọi chúc tụng Chúa (cc. 1-2).
Phần thứ hai diễn tả lòng từ bi nhân hậu của Thiên Chúa đối với cá nhân vịnh gia (cc. 3-8).

Phần thứ ba diễn tả lòng từ bi nhân hậu của Thiên Chúa đối với dân Ít-ra-en (cc. 9-16).

Phần thứ tư trình bày tình thương vô biên của Chúa đối với toàn thể nhân loại (cc. 17-19).

Phần kết khép lại cũng với lời kêu mời toàn thể vũ trụ chúc tụng Chúa (cc. 20-22).

2. Ý nghĩa

Với cùng một khởi đầu và kết thúc, Tv 102 diễn tả lòng từ bi nhân hậu của Chúa. Vịnh gia khởi đầu với một câu rất phổ biến trong toàn bộ sách Thánh vịnh: “Chúc tụng Chúa đi, hồn tôi hỡi!”. Từ sâu thẳm nội tâm, vịnh gia hướng về Chúa. Và từ kinh nghiệm bản thân được thứ tha và được chữa lành, vịnh gia diễn tả lòng từ bi của Chúa đối với Ít-ra-en. Lời của vịnh gia nhắc nhớ chúng ta về việc Chúa mặc khải chính mình khi nói với Mô-sê: “Đức Chúa! Đức Chúa! Thiên Chúa nhân hậu và từ bi, hay nén giận, giàu nhân nghĩa và thành tín” (Xh 34,6; Tv 102,8). Với ba hình ảnh, tác giả phác hoạ tình thương bao la tuyệt vời ấy (c.11-13):

“Như trời xanh trổi cao hơn mặt đất,
tình Chúa thương kẻ thờ Người cũng trổi cao.
Như đông đoài cách xa nhau ngàn dặm,
tội ta đã phạm, Chúa cũng ném thật xa ta.
Như người cha chạnh lòng thương con cái,
Chúa cũng chạnh lòng thương kẻ kính tôn.” (Tv 102,11-13)

Chúa thương xót con người vì con người thân phận mỏng manh yếu đuối như chiều tà bóng ngả, cỏ úa vàng khô (x. Tv 101,12; Tv 89,5-6; Is 40,6-8).

Kiếp phù sinh, tháng ngày vắn vỏi,
tươi thắm như cỏ nội hoa đồng,
một cơn gió thoảng là xong,
chốn xưa mình ở cũng không biết mình. (Tv 102,15-16)

Tiếp đến, toàn thể nhân loại được mời gọi dâng lên Chúa lời chúc tụng. Sau cùng, Tv 102 khép lại với lời mời gọi toàn thể vũ trụ muôn loài chúc tụng Chúa Đấng Tạo Hoá uy linh cao cả, “Đấng từ bi nhân hậu, Người chậm giận và giầu tình thương” (c. 8).

III. TRUYỀN THỐNG CẦU NGUYỆN

Trong truyền thống phụng vụ của Giáo hội, Thánh vịnh 102, được hoà tấu giữa cộng đoàn Ki-tô hữu trong ngày Chúa nhật VII thường niên. Khi cầu nguyện với Thánh vịnh này, chúng ta chiêm ngắm khuôn mặt tuyệt mỹ của lòng Chúa thương xót nơi Đức Giê-su Ki-tô, Đấng cứu độ. Nhờ Đức Ki-tô, mà chúng ta những con người tội lỗi và yếu hèn, cảm nhiệm sâu sắc ân sủng và ơn thứ tha mà Chúa dành cho chúng ta từng phút giây trong đời. Nếu không có Đức Giê-su, sự sống mới không bao giờ đến với chúng ta. Nếu không có những giọt máu đào hoà với những giọt nước tuôn chảy từ cạnh sườn Đức Giê-su trên cây thập giá thì thế gian là một sa mạc khô cằn với những bộ xương khô không có ngày hồi sinh. Thên nên, khi ngước nhìn Đức Giê-su trên cây thập giá, chúng ta hãy ca lên rằng:

“Chúc tụng Chúa đi, hồn tôi hỡi!”

Lm. An-tôn Trần Văn Phú

-------------------------------

 

PS7-C39: HÃY Ở NHÂN TỪ NHƯ CHÚA CHA


SUY NIỆM CHÚA NHẬT VII THƯỜNG NIÊN – C

(Lc 6, 27-38)

 

Nói đến lòng nhân từ là người ta nói đến điều quý giá nhất, giá trị cốt lõi bên trong con người. “Nhân PS7-C39


Nói đến lòng nhân từ là người ta nói đến điều quý giá nhất, giá trị cốt lõi bên trong con người. “Nhân” chính là cảnh giới cao thượng của con người trên đời, là đạo lý làm người mà bất kỳ ai cũng phải tu dưỡng. Lòng nhân từ được người đời coi trọng từ trước tới nay.

Nhân từ như Chúa Cha

Chúa Giêsu mời gọi các môn đệ: “Hãy ở nhân từ như Cha các con là Đấng nhân từ” (Lc 6,36). Lời mời gọi ấy hướng chúng ta về với Thiên Chúa là Cha nhân từ.

Nhìn vào lịch sử cứu độ, chúng ta khám phá ra rằng toàn bộ mạc khải của Thiên Chúa là một lịch sử tình yêu đối với con người. Thiên Chúa yêu thương hết mọi người không trừ một ai “Người cho mặt trời của Người mọc lên soi sáng kẻ xấu cũng như người tốt, và cho mưa xuống trên người công chính cũng như kẻ bất chính” (Mt 5,45). Lòng nhân từ của Thiên Chúa tỏ hiện cho dân Israel, và trải rộng ra tất cả những gì bàn tay Chúa tác tạo: “Chúa nhân ái đối với mọi người, tỏ lòng nhân hậu với muôn loài Chúa đã dựng nên” (Tv 145,9).

Chúa Giêsu, lòng nhân từ của Chúa Cha

Chúa Giêsu chính là hiện thân của Chúa Cha nhân từ, là quà tặng Thiên Chúa Cha ban cho con người. Chúng ta được mời gọi noi gương Chúa Cha và Chúa Giêsu là Con của Người sống nhân từ. Nhân từ thì không xét đoán, là cho đi, là thứ tha và không lên án. Chúng ta hãy ghi nhớ những lời của Chúa Giêsu khi Ngài bị đóng đinh vào thập giá, “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm” (Lc 23,34). Đây chính là lòng nhân từ của Chúa Cha được thể hiện trong một hoàn cảnh vô cùng đặc biệt. Chúng ta “Hãy tạ ơn Chúa, vì Chúa nhân từ. Muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương” (Tv 136, 1)

Hãy ở nhân từ

Chúa Giêsu mời gọi chúng ta “hãy ở nhân từ như Cha” (Lc 6,36) cho chúng ta thấy rằng, lòng nhân từ chính là nền tảng cho đời sống của người Kitô hữu. Chúng ta cần phải thể hiện lòng nhân từ như Chúa Cha. Vì nơi lòng nhân từ của Chúa Cha, chúng ta tìm thấy bằng chứng về cách thức Thiên Chúa yêu thương chúng ta. Ngài trao ban toàn bộ chính Ngài cho chúng ta, mà không cần hồi đáp. Ngài đến giúp chúng ta bất cứ khi nào chúng ta cầu khẩn Ngài” (x. PHANXICÔ, Tông sắc về năm Thánh lòng thương xót của Thiên Chúa, số 13).

Thời Giáo Hội sơ khai, lòng nhân từ được nhấn mạnh qua việc tha thứ cho nhau (x.Cl 3,13), chia sẻ của cải (x.Cv 4,34-35), và bố thí hay cứu trợ người nghèo khó (x.Cv 9,36; 10,2.4.31), lòng hiếu khách (x.1Tm 5,10), việc chôn tang người chết (x.Cv 8,2). Thánh Phêrô khuyên: “Anh chị em hãy đồng tâm nhất trí, thông cảm với nhau, hãy yêu thương nhau như anh em, hãy ăn ở nhân hậu và khiêm tốn. Đừng lấy ác báo ác, đừng lấy lời nguyền rủa đáp lại lời nguyền rủa, nhưng trái lại, hãy chúc phúc, vì anh chị em được Thiên Chúa kêu gọi chính là để thừa hưởng lời chúc phúc” (1P 3,8-9). Còn thánh Phaolô thì khuyên giáo đoàn Rôma sống bác ái thật: “Lòng bác ái không được giả hình giả bộ. Anh em hãy gớm ghét điều dữ, tha thiết với điều lành; thương mến nhau với tình huynh đệ, coi người khác trọng hơn mình; nhiệt thành, không trễ nải; lấy tinh thần sốt sắng mà phục vụ Chúa. Hãy vui mừng vì có niềm hy vọng, cứ kiên nhẫn lúc gặp gian truân, và chuyên cần cầu nguyện. Hãy chia sẻ với những người trong dân thánh đang lâm cảnh thiếu thốn, và ân cần tiếp đãi khách đến nhà. Hãy chúc lành cho những người bắt bớ anh em, chúc lành chứ đừng nguyền rủa: vui với người vui, khóc với người khóc. Hãy đồng tâm nhất trí với nhau, đừng tự cao tự đại, nhưng ham thích những gì hèn mọn. Anh em đừng cho mình là khôn ngoan, đừng lấy ác báo ác, hãy chú tâm vào những điều mọi người cho là tốt. Hãy làm tất cả những gì anh em có thể làm được, để sống hoà thuận với mọi người…kẻ thù ngươi có đói, hãy cho nó ăn; có khát, hãy cho nó uống; làm như vậy, ngươi sẽ chất than hồng lên đầu nó. Đừng để cho sự ác thắng được mình, nhưng hãy lấy thiện mà thắng ác” (Rm 12,9-21).

Tất cả những lời khuyên và hướng dẫn trong Lời Chúa làm nổi bật tầm quan trọng của thái độ cảm thông và lòng thương xót mà tín hữu của Chúa Ki-tô cần thấm nhuần và thực thi. Như thế, Giáo Hội của Chúa Ki-tô được xây dựng qua chính những cử chỉ tràn đầy tình thương xót này, mà mọi tín hữu cần ý thức và cố gắng sống qua nhiều hình thức khác nhau.

Giáo Phụ Hermas thành Roma giữa thế kỷ thứ II trong tác phẩm Người Mục Tử (Le Pasteur) đã nêu ra một bảng hướng dẫn tín hữu thực thi những việc tốt, để qua đó họ sống cho Thiên Chúa: “Nâng đỡ các quả phụ, thăm viếng các trẻ mồi côi và những người bất hạnh, chuộc những kẻ nô lệ là đầy tớ của Thiên Chúa, sẵn sàng đón tiếp khách tìm chỗ trọ, không gây thù hận, bình tĩnh và tự hạ mình trước mọi người, kính trọng những người già cả, thi hành công lý, gìn giữ tình huynh đệ, tương trợ những người bị bách hại, kiên nhẫn, không tức giận, an ủi những tâm hồn bị tổn thương, không bỏ rơi những người bị khủng hoảng về Đức Tin mà giúp đỡ họ, đưa họ về lại con đường chính lộ, đón nhận người tội lỗi trở lại, không chèn ép những người thiếu nợ và những người nghèo khổ…”

Người Á Đông thời xưa xem “nhân, lễ, nghĩa, trí, tín” là tiêu chuẩn quan trọng để đánh giá đạo đức của con người, cũng là năm đức để điều chỉnh các mối quan hệ giữa người với người trong xã hội. Trong năm đức ấy thì đức “Nhân” (lòng nhân từ, nhân ái) được xếp ở vị trí đứng đầu, đủ thấy tầm quan trọng vô cùng của nó.

Lạy Thiên Chúa là Cha nhân từ, xin giúp chúng con sống nhân từ như Chúa dạy. Amen.

Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

-------------------------------

 

PS7-C40: Trở nên phi thường trong cuộc sống đời thường


Chúa nhật VII thường niên – năm C

 

Bài Tin Mừng hôm nay khiến chúng ta cảm xúc ngỡ ngàng, thậm chí hoảng sợ. Nhiều người tín PS7-C40


Bài Tin Mừng hôm nay khiến chúng ta cảm xúc ngỡ ngàng, thậm chí hoảng sợ. Nhiều người tín hữu, nhất là người không cùng tôn giáo với chúng ta cho rằng những tiêu chí mà Chúa Giêsu đề nghị là những ảo tưởng, vì những thực hành Chúa muốn chúng ta thực hiện hoàn toàn đối nghịch với quan niệm thông thường, ví dụ như chúc lành cho người nguyền rủa mình, ai vả má bên này thì giơ má bên kia nữa, ai muốn chiếm đoạt áo ngoài thì cho người ấy cả áo trong. Chúng ta có lý khi ngạc nhiên trước lời khuyên của Chúa Giêsu. Tuy vậy, đó chính là điểm độc đáo của Kitô giáo. Những thực hành này làm cho chúng ta trở nên những người phi thường trong cuộc sống đời thường.

Thông điệp thứ nhất mà Lời Chúa muốn gửi đến chúng ta, đó là Tình yêu. Thông thường, chúng ta yêu những người quý mến mình. Đó cũng là điều bình thường và hợp lệ, theo lẽ công bằng. Người ta yêu mình thì mình quý mến người ta. Người ta làm điều tốt cho mình, thì mình làm điều tốt cho người ta. Tình yêu Chúa Giêsu rao giảng được gọi là “bác ái” tức là lòng yêu mến rộng rãi đối với hết thảy mọi người, không phân biệt người tốt hay người xấu. Theo quan niệm Kitô giáo, bác ái không phải chỉ là một cảm xúc hay tình trạng tâm lý nơi con người, mà đó còn là một nhân đức đối thần. Đức Ái được Chúa ban cho chúng ta khi lãnh nhận Bí tích Thanh tẩy. Nhờ Đức Ái, chúng ta yêu mến Chúa với tình yêu trọn vẹn và yêu mến tha nhân với lòng vị tha. Chính Đức Ái thúc đẩy chúng ta, nhờ đó mà chúng ta có những nghĩa cử cao cả mạnh mẽ tới mức anh hùng, như yêu mến kẻ thù, chúc phúc cho người nguyền rủa mình. Đức Ái cũng giúp chúng ta kiên nhẫn trước những vu khống, mưu mô của những người ghen ghét chúng ta.

Đương nhiên, chúng ta phải xác định rõ, giáo huấn của Chúa Giêsu hoặc Đức Ái Kitô giáo không nhằm ủng hộ một lối sống nhẫn nhịn cam chịu và hèn nhát. Chính Chúa Giêsu, khi một người lính vả vào mặt, Người đã vặn hỏi: “Nếu tôi nói sai, anh hãy chứng minh xem tôi sai ở chỗ nào; còn nếu tôi nói phải, sao anh lại đánh tôi?” (Ga 18,23). Chúa Giêsu và hôm nay là Giáo Hội của Người không cổ võ cho bất cứ hình thức bất công nào trong xã hội. Trái lại, Giáo Hội luôn bênh vực những người nghèo và là tiếng nói của những người không có tiếng nói trong cuộc sống.

Thông điệp thứ hai của Lời Chúa hôm nay, đó là lòng bao dung. Mọi mâu thuẫn đổ vỡ từ gia đình đến xã hội đều do tính ích kỷ và cố chấp của con người. Vì thiếu bao dung mà một người vốn hiền lành bỗng dưng trở thành kẻ sát nhân, rồi khi hối hận và phải vào tù thì đã quá muộn. Chúa Giêsu nói với chúng ta: hãy bao dung, vì mỗi người cũng có những lầm lỗi. Không ai là người hoàn hảo trong cuộc đời. Hơn nữ, theo nhãn quan Kitô giáo, những ai tha thứ, sẽ được Chúa thứ tha. Chúng ta thường đọc điều này trong kinh Lạy Cha.

Bài trích sách Samuen nói với chúng ta một gương mẫu của lòng bao dung, đó là vua Đavít (Bài đọc I). Ông đang bị vua Sa-un truy bắt, vì vua cho rằng Đavít có ý định chiếm ngôi vua. Trong cuộc truy bắt này, có một thời điểm mà Đavít có thể giết vua dễ dàng, nhưng ông không làm thế, vì ông tôn trọng vua là người được xức dầu. Đavít đã thể hiện lòng nhân hậu của mình, khi ông tuyên bố: “Hôm nay, Đức Chúa đã nộp vua vào tay tôi, nhưng tôi không muốn tra tay hại đấng Đức Chúa đã xức dầu tấn phong”.

Cuối cùng, Lời Chúa dạy chúng ta về tình liên đới. Không dừng lại ở tình yêu mến và sự bao dung, Đức Ái Kitô giáo còn thúc đẩy chúng ta chia sẻ với tha nhân về tinh thần và vật chất. Ai trong chúng ta cũng muốn người khác làm cho mình những điều tốt đẹp. Vậy thì mỗi chúng ta hãy làm những điều tốt đẹp cho người khác. Mỗi chúng ta hãy trở nên người thân cận đối với tha nhân. Chúa dạy chúng ta: đong đấu nào, sẽ nhận lại đấu ấy. Hơn thế, đấu nhận lại còn dồi dào phong phú hơn nhiều. Đấu mà chúng ta nhận lại, là chính phần thưởng Chúa ban cho chúng ta, vì Chúa là Đấng nhân hậu và quảng đại.

Hành trình Đức tin của người Kitô hữu cũng là hành trình nên hoàn thiện. Theo Thánh Phaolô, con người vừa mang hình ảnh ông Ađam từ đất mà ra, đồng thời cũng mang hình ảnh Đức Kitô từ trời mà đến. Nên hoàn thiện, chính là tiến trình luyện lọc mỗi ngày, để giảm thiểu điều bất xứng và làm tăng thêm những nhân đức, làm cho hình ảnh Đức Kitô sống động nơi hành vi cử chỉ và lời nói của mình.

Đức tin không bứng người tín hữu khỏi cuộc sống đời thường, nhưng thêm sức mạnh để họ tuân giữ giáo huấn của Chúa. Nhờ việc tuân giữ những điều Chúa dạy, Kitô hữu trở nên những người phi thường trong cuộc sống đời thường. Chúng ta có lý để xác tín điều đó, vì đối với Chúa, nhưng điều không có thể, sẽ trở thành những điều có thể.

“Người đầu tiên biết nói lời xin lỗi là người dũng cảm nhất. Người đầu tiên biết cách tha thứ là người mạnh mẽ nhất. Và người đầu tiên biết cách quên đi quá khứ đau buồn là người hạnh phúc nhất” (Sưu tầm).

+TGM Giuse Vũ Văn Thiên

-------------------------------

 

PS7-C41: Kẻ thù của Đức Giê-su là ai?


Chúa nhật VII Thường niên C

Lm. Giuse Lê Danh Tường

 

Câu chuyện của Lời Chúa trong Chúa nhật VII Thường niên năm C xoay quanh cặp phạm trù yêu PS7-C41


Câu chuyện của Lời Chúa trong Chúa nhật VII Thường niên năm C xoay quanh cặp phạm trù yêu thương và thù hận. Yêu thương thì ai cũng muốn và thù hận chẳng ai muốn vướng vào. Yêu đi với yêu, và thù đi với thù, đấy là lẽ thường ở đời. Đối với Chúa Giê-su, cái lẽ thường ấy ai mà chẳng làm được. Con đường của Giê-su mời gọi là “hãy yêu kẻ thù”. Lạ đấy và khó đấy, nhưng nó là con đường nên thánh, con đường tới Nước Trời mà Giê-su đã đi.

Tình yêu đơn phương

Ở đời, ai cũng muốn được sống trong yêu thương. Tôi yêu bạn và bạn yêu tôi. Tình yêu ấy hoàn hảo và đáng ước ao. Nhưng nhân gian chứng kiến bao cảnh đời éo le mang một tình yêu xuất phát từ một hướng và không được đáp lại. Nhiều cuộc tình tréo ngoe kiểu tôi yêu bạn nhưng bạn không yêu tôi. Còn người yêu tôi thì tôi lại không yêu họ.

Nếu đi tìm một nhân vật điển hình luôn đau khổ rằn vặt cả đời trong mối tình đơn phương, thì đó là Giê-su. Tâm hồn Giê-su buồn bã nhìn những người mà Ngài yêu mến quay mặt bỏ đi, nhìn họ bước vào con đường chết mà không khuyên can được. Ngài đã khóc vì họ chẳng nghe theo mình để được sống. Cái đau khổ tột cùng khi bị chính người mình yêu sỉ vả và xua đuổi, vung tay đóng đinh mình vào cây thập giá.

Lòng thù đơn hướng

Nếu tình yêu đối đáp là thứ hoàn hảo đáng ước ao, thì lòng thù qua lại luôn là điều bị lên án xưa nay. Nếu tình yêu đơn phương tha thiết không nhiều trong xã hội, thì lòng thù đơn hướng cũng hiếm hoi vậy. Người ta dễ dàng trả thù cho những người làm hại mình, ruồng bỏ những ai đối xử tệ với mình.

Tình yêu giúp tôi luôn có lòng tha thứ, sẵn sàng phục vụ vô vị lợi cho người tôi yêu; Lòng thù khiến tôi luôn tìm cách bắt lỗi, tìm cơ hội để làm hại người tôi thù ghét. Yêu thương hay thù hận sẽ thay đổi cách thế hành xử của tôi với tha nhân.

Vua Saole coi Đavit là kẻ thù nên nhà vua truy sát Đavit đến cùng. Vua nhìn những chiến công của Đavit chỉ là những mưu mô làm hại mình. Abisai, cận thần của Đavit coi vua Saole là kẻ thù nên muốn giết vua. Đứng trước cơ hội, Abisai chỉ tìm cách làm sao để hại nhà vua nhanh nhất. Nhưng với Đavit, ông nhìn nhận vua Saole là “người được Chúa xức dầu”, ông không coi vua Saole là kẻ thù nên ông không hạ sát nhà vua. Đavit tìm cách bảo vệ nhà vua, tìm cách thức tỉnh nhà vua cho dù vua Saole tìm cách giết hại ông.

Giê-su chẳng thù ghét ai nên Ngài chẳng tìm cách hại người, chẳng oán ghét hay sát phạt người nào. Giê-su yêu hết thảy mọi người, dù với nhiều người chỉ là mối tình đơn phương. Bởi thế Giê-su luôn tìm cách cứu người, giúp người, nâng đỡ con người cho dù họ chấp nhận hay không, cho dù họ phản bội hay hạ sát mình.

Herode thấy sự xuất hiện của Giê-su là mối hoạ cho ngai vàng của mình. Hêrode thù ghét Giê-su nên tìm hạ giết Giê-su. Người ta vẫn có thể tìm thấy đâu đó những người coi Giê-su là kẻ thù. Nhưng tất cả họ đều là những người mà Đức Giê-su yêu thương. Họ là những người mang trong mình lòng thù đơn hướng. Họ thù hận Giê-su nhưng Giê-su đâu có thù ghét họ. Ở nơi Đức Giê-su không có lòng hận thù nên chẳng người nào thù oán ngài mà bị Ngài đáp trả. Chẳng có ai trên cõi đời này là kẻ thù của Giê-su cả. Giê-su đã yêu cháy bỏng cả nhân loại, yêu từng con người, yêu cho đến cùng

Yêu đến cùng

Mệnh lệnh “hãy yêu kẻ thù” có vẻ là điều không tưởng, nhưng đối với Giê-su đó lại là điều tất yếu. “hãy làm ơn cho những kẻ ghét mình, hãy chúc phúc cho những kẻ nguyền rủa mình, hãy cầu nguyện cho những kẻ vu khống mình” – Những mệnh lệnh ấy làm sao ta làm được khi ta mang trong mình lòng thù hận. “Ai vả má con bên này, thì đưa cả má bên kia; ai lột áo ngoài của con, thì con cũng đừng cản nó lấy áo trong. Ai xin, thì con hãy cho và ai lấy gì của con, thì đừng đòi lại” – Làm sao ta có thể làm được những điều ấy khi lòng mình chẳng có tình yêu thương.

Yêu tha nhân đến cùng, yêu đến chết và sẵn sàng bị hao mòn, bị chết vì người mình yêu. Giê-su đã yêu con người như thế, và Ngài muốn con người cũng yêu nhau như thế. Giê-su khát khao biến đổi trái tim con người nên giống trái tim Ngài. Phúc cho ai trở nên ngoan nguỳ trước tình yêu của Giê-su.

Yêu thương tất cả và không thù hận ai là lời mời gọi bước tới trên con đường thiện hảo. “Hãy ở nhân từ như Cha các con là Đấng nhân từ” là lời mời gọi kèm theo bảo đảm cho những ai tiến bước. Thánh Phaolo đã biện giải trong bài đọc 2: nếu ta là người thuộc Adam, ta thuộc về đất mang trong mình thân phận mỏng manh và hậu quả của tội lỗi; thì khi ta theo Đức Ki-tô, ta thuộc về thiên giới mang trong mình ân sủng chứa chan và hưởng nhờ hiệu quả ơn Cứu Độ. Bước theo Đức Giê-su là bước đi trên đường trọn lành với sự bảo đảm của Ơn Chúa luôn ở cùng ta.

Lạy Chúa, xin kéo con về trong vòng tay ân ái của Ngài, cho con được gục đầu bên trái tim Ngài để con được cảm nếm tình yêu vĩnh cửu; xin uốn nắn trái tim con để con có thể yêu thương và mãi mãi yêu thương mà thôi.

Lm. Giuse Lê Danh Tường

-------------------------------

 

PS7-C42: Suy niệm chú giải Lời Chúa Chúa Nhật VII TN C


 – Lm. Inhaxiô Hồ Thông

 

Phụng Vụ Lời Chúa Chúa Nhật VII Thường Niên năm C mời gọi chúng ta phải thương yêu hết PS7-C42


Phụng Vụ Lời Chúa Chúa Nhật VII Thường Niên năm C mời gọi chúng ta phải thương yêu hết mọi người, ngay cả kẻ thù nữa.

1Sm 26: 2, 7, 9, 12-13, 22-23:

Đa-vít có cơ hội thuận tiện để giết vua Sa-un, kẻ đã truy sát mình, nhưng Đa-vít đã tha chết cho vua bởi vì ông tin làm như thế là chống lại với người được Thiên Chúa xức dầu tấn phong.

1Cr 15: 45-49:

Thánh Phao-lô so sánh A-đam với Đức Ki-tô. Nhờ A-đam, chúng ta được sự sống tự nhiên; nhờ Đức Ki-tô, chúng ta có được sự sống thần thiêng.

Lc 6: 27-38:

Đức Giê-su nhấn mạnh đến bổn phận yêu thương kẻ thù và những trách nhiệm của đức ái huynh đệ.

BÀI ĐỌC I (1Sm 26: 2, 7, 9, 12-13, 22-23)

Sách Sa-mu-en quyển một là một tác phẩm quan trọng đặc biệt vì sách ghi lại bước ngoặc “lịch sử” đã dẫn đưa dân Ít-ra-en lần từng bước từ “thể chế các thủ lãnh” sang “thể chế các vua”. Ba vĩ nhân thống trị tất cả mọi biến cố của giai đoạn lịch sử này là ngôn sứ Sa-mu-en, vua Sa-un và vua Đa-vít.

1. Đa-vít là nhân vật hấp dẫn nhất:

Đa-vít là nhân vật hấp dẫn nhất trong toàn bộ lịch sử Ít-ra-en. Ông có tất cả những nét quyến rũ của những anh hùng huyền thoại. Ông khôi ngô tuấn tú: “Cậu có mái tóc hung, đôi mắt đẹp và khuôn mặt xinh xắn” (1Sm 16: 12); nghệ sĩ đàn hạc (1Sm 16: 16, 23); dũng cảm đến độ liều lĩnh (1Sm 17: 34-36, 40t; 18: 6-9, 26-27); không biết mệt mõi, hiếu động, nhất là sau khi đã phải trốn chạy khỏi triều đình Sa-un, ông sống cuộc sống phiêu bạt rày đây mai đó (1Sm 21-30).

2. Đa-vít có tấm lòng khoan dung nhân từ:

Sách Sa-mu-en quyển một kể cho chúng ta một trong những câu chuyện Đa-vít phải rời bỏ triều đình vua Sa-un mà trốn chạy khỏi sự truy sát của vua Sa-un. Vua Sa-un dẫn một đạo quân đông tới ba ngàn người đi lùng bắt Đa-vít. Một đêm, vua Sa-un ngủ mê miệt trong trại thì Đa-vít đột nhập vào. Người tùy tùng của Đa-vít thấy đây là một dịp may hiếm có nên xúi Đa-vít giết chết vua Sa-un. Nhưng Đa-vít không nghe theo. Ông chỉ lấy cây giáo của Sa-un rồi sang phía bên kia hô lớn bảo vua Sa-un thức dậy cho người sang lấy lại ngọn giáo. Việc này khiến vua Sa-un cảm động và phải thừa nhận Đa-vít là người sau này sẽ hoàn thành nghiệp lớn.

BÀI ĐỌC II (1Cr 15: 45-49)

1. Nhờ A-đam, chúng ta có được sự sống tự nhiên:

Một lần nữa thánh Phao-lô chú ý đến A-đam (x. 15: 22-23). Cách thức chúng ta sống hiện nay, bản chất hiện nay, hình dáng, vẻ bên ngoài của chúng ta (“thân thể” của chúng ta) được tạo dựng theo khuôn mẫu của A-đam. Chúng ta được tạo nên hình thể từ đất nhưng chúng ta sống nhờ hơi thở mà Thiên Chúa thổi vào chúng ta. Chúng ta là một “sinh linh” (St 2: 7); chúng ta là một “thân thể có sinh khí” (1Cr 15: 44). Thân thể này có những đặc tính của một thân thể địa giới: kiếp sống phàm nhân phải chết, hèn hạ và yếu đuối (15: 42-43). Chúng ta ghi nhận rằng ở dây thánh Phao-lô trở lại quan điểm Kinh Thánh cựu trào hơn, khi nối kết cái chết với thân phận con người chứ không với tội lỗi.

2. Nhờ Đức Ki-tô, chúng ta có được sự sống thần thiêng:

Trái lại, nhờ Đức Ki-tô phục sinh, người Ki-tô hữu có được sự sống thần thiêng (15: 45). Thân thể của Ngài từ “trời mà đến” (15: 40), chứ không từ đất mà ra, vì thế là “thân thể có thần khí” (15: 44). Thân thể sống lại của chúng ta sẽ không là thân thể có sinh khí, nhưng thân thể có mối liên hệ với Thần Khí Thiên Chúa. Thân thể chúng ta sẽ không giống như mặt trời, mặt trăng và các tinh tú, nhưng giống như thân thể của Đức Ki-tô phục sinh (15: 49), vì chúng ta được thông phần sự sống của Ngài.

Khi gọi Đức Ki-tô là “A-đam cuối cùng” (15: 45), thánh Phao-lô công bố rằng Ngài là người đầu tiên khai mở mục đích tối hậu của lịch sử. Thánh nhân cũng công bố rằng A-đam đầu tiên dự kiến A-đam sau cùng: con người, như mục đích tự nhiên của mình, phải mang hình ảnh của Đức Ki-tô.

TIN MỪNG (Lc 6: 27-38)

Tin Mừng hôm nay áp dụng “Các Mối Phúc và các Mối Họa” của Tin Mừng tuần trước vào cuộc sống cụ thể của con người. Tin Mừng bắt đầu với lời của Đức Giê-su: “Thầy nói với anh em là những người đang nghe Thầy đây” (6: 27) nhắc nhớ đến đám thính giả vây quanh Đức Giê-su để nghe Người giảng dạy và để được chữa lành bệnh tật (6: 17-19).

1. Yêu thương kẻ thù (6: 27-35):

Sau các Mối Phúc ngỏ lời với những người bị đè bẹp trong cuộc sống và các Mối Họa được gởi đến cho những người chỉ coi sự giàu sang phú quý như cứu cánh cuộc đời mình, thì phần này mở ra và đóng lại với huấn lệnh “hãy yêu thương kẻ thù” (6: 27 và 6: 35). Những kẻ thù ở đây được nhận dạng qua những hành vi họ làm: “nguyền rủa anh em” và “vu khống anh em” (6: 28), đó là những kẻ bách hại các Ki-tô hữu đã được nói đến ở Mối Phúc thứ tư (6: 22).

Ở trung tâm của phân đoạn này là luật vàng: “Anh em muốn người ta làm gì cho mình, thì cũng hãy làm cho người ta như vậy” (6: 31). Luật này được giải thích bởi những huấn lệnh vây quanh, trước hết những huấn lệnh thuộc thể truyền lệnh ở ngôi thứ hai số ít: “Anh” (6: 29-30) và sau đó những mệnh lệnh thuộc thể điều kiện ở ngôi thứ hai số nhiều: “Anh em” (6: 32-34). Hình ảnh đưa cả má bên kia cho người ta tát và trao luôn cả áo trong cho kẻ khác, xin thì cho, lấy thì đừng đòi lại, đó là một thái độ bất bạo động không tìm cách chống cự lại kẻ ác. Để ý đến việc chuyển từ ngôi thứ hai số ít sang ngôi thứ hai số nhiều gợi lên sự vượt quá tương quan liên bản vị. Như thế luật vàng được trình bày một cách tích cực: tính hỗ tương mà luật này phải dựa vào: làm cho người khác điều thiện mà mình muốn người khác làm cho mình được xác định trong các câu 29-30, ngay cả vượt qua trong các câu 32-34. Thực vậy, ba câu hỏi nhắc lại rằng chỉ có việc không tính toán, không cho để được cho lại, hoàn toàn vô vị lợi mới phân biệt cách ăn nếp ở của người tín hữu với cách ăn nếp ở của những người tội lỗi, những người này cũng biết nhân ái đối với những ai đối xử với họ như vậy. Trong phân đoạn này, thính giả được mời gọi hằng ngày phải vượt qua chính mình, phải sáng tạo để “làm điều thiện” cho tha nhân, nhất là cho những kẻ không muốn làm điều thiện cho mình.

Tất cả những thực hành trên phải được hiểu theo quan điểm của cặp đóng khung (6: 27 và 35): lòng yêu thương đối với kẻ thù được đòi hỏi cách triệt để ở đây. Những thực hành như thế không mong được đền ơn đáp nghĩa nào trên bình diện con người; nếu có đó chỉ là phần được ban mà thôi. Người tín hữu chỉ trông chờ lời đáp của Thiên Chúa. Đáp lại ba hành vi phục vụ người khác (6: 35a) là phần thưởng đến từ Thiên Chúa (6: 35b). Ở đây cũng như Mt 5: 9, 45, chính trên cơ sở những tương quan liên vị mà người tín hữu được đồng hóa với Đấng là Con duy nhất của Thiên Chúa. “Ở nơi việc yêu thương kẻ thù chiếu sáng trong chúng ta họa ảnh của Thiên Chúa, Cha chúng ta, Ngài, qua cái chết của Con của Ngài, đã chuộc lại khỏi sự hư mất đời đời và hòa giải với Ngài nòi giống con người, trước đây vốn đã không thân thiện và thù ghét Ngài” (St Pius V Catechism, IV, 14, 19).

2. Phải có lòng nhân từ (6: 36-38)

Lời mời gọi của Đức Giê-su: “Anh em hãy có lòng nhân từ, như Cha anh em là Đấng nhân từ”, là câu then chốt của đoạn Tin Mừng này, tức lả “bắt chước Thiên Chúa”, như Fray Luis giải thích: “Phẩm chất đầu tiên của nhân đức này chính là nó làm cho con người nên giống Thiên Chúa và giống đức tính vinh quang nhất ở nơi Người, lòng từ bi nhận hậu của Ngài (Lc 6: 36). Vì chắc chắn sự hoàn thiện bậc nhất một thọ tạo có thể có là phải nên giống Đấng Tạo Hóa của mình; và càng nên giống Người, càng nên hoàn thiện” (Book of Prayer and Meditation, third part, third treatise).

Khuôn mẫu của lòng nhân từ mà Đức Giê-su phô bày trước chúng ta là chính Thiên Chúa, Đấng mà thánh Phao-lô nói về Người: “Chúc tụng Thiên Chúa là Thân Phụ Đức Giê-su Ki tô, Chúa chúng ta. Người là Cha giàu lòng từ bi lân ái, và là Thiên Chúa hằng sẵn sàng nâng đỡ ủi an. Người luôn năng đỡ ủi an chúng ta trong mọi cơn gian nan thử thách, để sau khi đã được Thiên Chúa nâng đỡ, chính chúng ta cũng biết an ủi những ai lâm cảnh gian nan khốn khó” (2Cr 1: 3-4). Đức Pi-ô X dạy rằng “Đây là luật mà một người Ki-tô hữu phải áp dụng: phải có lòng nhân từ đối với những ai lâm cảnh gian nan khốn khó như thử chính chúng ta, và cố gắng chữa trị họ. Giáo Hội công bố luật này khi cho chúng ta một loạt những công việc vật chất đầy lòng nhân ái như thăm viếng và săn sóc bệnh nhân, cho người đói khát của ăn thức uống… và những công việc tinh thần đầy lòng nhân ái như dạy những người thất học, sửa lỗi người bị lầm lạc, tha thứ những xúc phạm…”(Catechism, 944t.).

Như vậy, những câu 37-38 cũng minh họa điều mà lòng nhân ái phát sinh. Bằng bốn ý tưởng: hai câu phủ định: “Anh em đừng xét đoán, thì anh em sẽ không bị Thiên Chúa xét đoán. Anh em đừng lên án, thì sẽ không bị Thiên Chúa lên án”, và hai câu khẳng định: “Anh em hãy tha thứ, thì sẽ được Thiên Chúa tha thứ. Anh em hãy cho, thì sẽ được Thiên Chúa cho lại”, Chúa Giê-su kêu gọi đừng phê phán người khác, đừng giam hãm người ta mãi mãi theo cách đánh giá chắc chắn như đinh đóng cột. Người tín hữu không có thể thay thế Thiên Chúa để lên án người khác, cũng không muốn người khác đối xử với mình như vậy, đấy là công việc của một mình Thiên Chúa mà thôi: rốt cuộc chính Ngài sẽ xét xử, sẽ lên án hay tha thứ, sẽ ban ơn dư dật. Cách hành xử của tôi đối với người khác như thế nào thì Thiên Chúa cũng sẽ cư xử với tôi như vậy.

 Chúng ta đã đọc trong Kinh Thánh chuyện tích bà góa xứ Xa-rếp-ta, bà mà Thiên Chúa đã truyền nuôi ngôn sứ Ê-li-a thậm chí dù chỉ với một nắm bột còn lại trong hũ và chút dầu còn lại trong vò. Ấy vậy, Người đã thưởng cho tấm lòng quảng đại của bà với một hũ bột không vơi và vò dầu không cạn (1V 17: 9tt.). Sự việc cũng đã xảy ra như thế khi một cậu bé đã sẵn lòng dâng hiến năm chiếc lúa mạch và hai con cá cho Đức Giê-su mà Người hóa nhiều để nuôi một đám đông dân chúng (x. Ga 6: 9). Đây là hai ví dụ sống động về điều Thiên Chúa làm khi chúng ta cho Ngài điều chúng ta có, ngay cả nếu quà tặng của chúng ta chẳng là bao nhiêu. Thiên Chúa không để cho ai đó vượt qua mình về tấm lòng quảng đại: “Hãy đến với Người với lòng quảng đại và hỏi Người như trẻ thơ: Còn gì mà Chúa không cho con khi Chúa đã đòi con ‘điều này’?” (Bl. J. Escriva, Con Đường, 153). Chúng ta cho Thiên Chúa bao nhiêu trong cuộc đời này, Ngài sẽ cho chúng ta bấy nhiêu, thậm chí còn nhiều hơn trong cuộc đời mai sau.

3. Không thỏa hiệp với sự gian ác:

Tuy nhiên, việc từ chối xét đoán người khác không đồng nghĩa với thái độ dửng dưng với điều chân và thiện. Đôi khi, trong hoàn cảnh mà kẻ gian ác là người có thế lực và quyền hành, viện cứ yêu thương kẻ thù mà từ chối xét đoán lại trở nên đồng lõa với hành động của kẻ gian ác. Đó không là đức ái mà Đức Giê-su đã dạy, như lời dạy của Công Đồng Vatican II: “Thực ra, đức ái và lòng nhân hậu này không bao giờ cho phép chúng ta trở nên dửng dưng với điều chân và thiện. Hơn thế nữa, chính đức ái thúc bách các môn đệ Chúa Ki-tô loan báo cho mọi người chân lý cứu rỗi. Nhưng phải phân biệt lầm lỗi, điều luôn luôn phải loại bỏ, với người lầm lỗi vì người lầm lỗi vẫn còn giữ được nhân phẩm, ngay cả khi họ có những ý niệm sai lầm hoặc hơi lệch lạc về tôn giáo. Chỉ có mình Thiên Chúa là quan tòa và là Đấng thấu suốt mọi tâm hồn: bởi vậy Ngài ngăn cấm chúng ta xét đoán tội lỗi bên trong của bất cứ người nào” (Gaudium et spes, 28).

Lm. Inhaxiô Hồ Thông

-------------------------------

 

PS7-C43: Hãy có lòng nhân từ


 – Chúa nhật VII thường niên C

– Đức TGM Giuse Vũ Văn Thiên

(Lc 6, 27-38)

 

Từ ngày 8-12-2015 đến ngày 20-11-2016, Năm Thánh Lòng Thương Xót đã được cử hành trong PS7-C43


Từ ngày 8-12-2015 đến ngày 20-11-2016, Năm Thánh Lòng Thương Xót đã được cử hành trong Giáo Hội Công giáo. Đây là thời điểm đầy ý nghĩa giúp cho các tín hữu tái khám phá lòng nhân từ của Thiên Chúa đối với con người. Năm Thánh cũng là lời mời gọi con người hãy thực thi lòng thương xót đối với nhau, bởi lẽ lòng nhân từ hay đức bác ái là giáo huấn cốt lõi của Kitô giáo. Thiên Chúa nhân từ. Con người cũng phải sống nhân từ đối với nhau để xứng đáng được gọi là con Thiên Chúa. Người xưng mình là Kitô hữu mà không thực thi lòng nhân từ, thì đó sẽ là một thứ Kitô hữu giả mạo.

“Anh em hãy có lòng nhân từ…”. Lời mời gọi ấy trải dài qua mọi thế hệ, đến với mọi tầng lớp trong xã hội và còn vang lên giữa chúng ta hôm nay. Đoạn Tin Mừng được đọc trong thánh lễ Chúa nhật này là một trong những áng văn chương tuyệt vời của Tân Ước, bởi nó diễn tả lòng nhân từ Kitô giáo một cách đặc biệt. Nội dung bài Tin Mừng có thể chia ra làm ba phần.

– Yêu thương mọi người, kể cả kẻ thù. Đây là điểm đặc thù trong giáo huấn Kitô giáo. Trong Do Thái giáo, đức yêu thương chỉ được thực hiện giữa những người cùng chủng tộc. Trong quan niệm thông thường, người ta chỉ quý mến những người có liên hệ máu huyết, bạn bè, ân nghĩa. Đức Giêsu dạy chúng ta phải yêu thương cả kẻ thù. Thực ra, đối với người nhân từ, thì chẳng có ai là kẻ thù cả, bởi họ luôn tha thứ điều ác mà người khác đã làm cho mình.

– Làm phúc giúp đỡ. “Anh em muốn người ta làm gì cho mình, thì cũng hãy làm cho người ta như vậy”. Ai trong chúng ta mà chẳng muốn người khác làm điều tốt cho mình. Vậy, Chúa dạy chúng ta hãy làm những điều tốt đẹp cho tha nhân. Chính khi chúng ta làm những điều thiện hảo cho người khác, là chúng ta nhận lãnh niềm vui cho mình. Đó là phần thưởng và là công phúc Chúa ban cho chúng ta. Sự giúp đỡ Chúa Giêsu đề nghị là sự giúp đỡ vô tư, không nhằm lợi lộc hay lời vinh danh theo kiểu người đời.

– Đừng xét đoán. Thông thường trong các cuộc gặp gỡ, chúng ta có thói quen nói về người vắng mặt với những xét đoán đôi khi vừa không chính xác vừa hàm chứa nhiều ác ý. Chúa Giêsu dạy chúng ta, Thiên Chúa là Đấng duy nhất có quyền xét đoán. Bổn phận của chúng ta là hãy cố gắng sống trung thực, ngay lành và bác ái. Chúa là Đấng thấu hiểu và phán xét những hành vi cử chỉ của chúng ta, để rồi Ngài ban thưởng hay trừng phạt những hành vi ấy.

“Ai gieo gió, sẽ gặt bão”; “Gieo nhân nào, gặt quả nấy”, các bận Tiền nhân của chúng ta đã dạy như vậy. Chúa Giêsu cũng dùng lối nói bình dân của thời đại Người để nói với chúng ta: “Đong đấu nào, nhận đấu ấy”. Ai trong chúng ta cũng đã hơn một lần kinh nghiệm điều này. Vì thế, người Việt chúng ta mới khẳng định: “Ông Trời có mắt!”,  hoặc “Lưới trời lồng lộng, tuy thưa mà khó lọt”.

Phụng vụ hôm nay giới thiệu với chúng ta một gương sáng của lòng nhân hậu. Đó là vua Đavít (Bài đọc I). Ông đang bị vua Sa-un truy bắt, vì vua cho rằng Đavít có ý định chiếm ngôi vua. Trong cuộc truy bắt này, có một thời điểm mà Đavít có thể giết vua dễ dàng, nhưng ông không làm thế, vì ông tôn trọng vua là người được xức dầu. Đavít đã thể hiện lòng nhân hậu của mình, khi ông tuyên bố: “Hôm nay, Đức Chúa đã nộp vua vào tay tôi, nhưng tôi không muốn tra tay hại đấng Đức Chúa đã xức dầu tấn phong”.

Giữa một xã hội bon chen và đầy lường gạt toan tính, người tin Chúa được mời gọi sống nhân từ bao dung, coi mọi người là anh em huynh đệ và người thân kẻ nghĩa. Đây quả là một thách đố lớn lao, vì chấp nhận tha thứ đôi khi bị coi là “hèn”. Thánh Phaolô đã đặt song đối giữa ông Ađam và Chúa Giêsu. Ông Ađam thuộc về đất, Chúa Giêsu thuộc về trời (Bài đọc II). Trong chúng ta có hai con người, luôn cạnh tranh khốc liệt. Một bên muốn hướng về trọn lành, một phía muốn nghiêng về tội lỗi. Một bên mang sức mạnh của Thiên Chúa, bên kia mang sức mạnh của thế gian. Ân sủng của Chúa sẽ giúp chúng ta chiến thắng, nếu chúng ta cậy dựa vào sức mạnh siêu nhiên.

Hãy yêu mến cả kẻ thù. Điều này cũng có nghĩa là đừng trở thành kẻ thù của ai. Tha thứ luôn đòi phải can đảm, vượt lên chính cái tôi của bản thân. Trong tiếng Pháp, tha thứ (Pardonner) có nghĩa là “Cho đi một quà tặng – Par-un-don”. Điều này cũng  có chung một ý nghĩa trong tiếng Anh (forgive – For-a-gift). Quà tặng ở đây không phải là vật chất, nhưng là chính bản thân mình. Quả vậy, chấp nhận tha thứ là chấp nhận cho đi chính mình, chấp nhận mang lấy những lời thị phi và phê phán của người đời. Chính Chúa Giêsu đã chấp nhận những lời thị phi và thậm chí cái chết trên thánh giá, nhưng rồi Người đã trở nên nguyên nhân cứu rỗi và hạnh phúc đời đời cho những ai thành tâm thiện chí.

“Người đầu tiên biết nói lời xin lỗi là người dũng cảm nhất. Người đầu tiên biết cách tha thứ là người mạnh mẽ nhất. Và người đầu tiên biết cách quên đi quá khứ đau buồn là người hạnh phúc nhất” (Sưu tầm).

+TGM Giuse Vũ Văn Thiên

-------------------------------

 

PS7-C44: Yêu kẻ thù, lòng nhân ái từ bi


Chúa nhật VII thường niên C

Học viện Giáo Hoàng Pi-ô X Đà Lạt

(Lc 6,27-38)

 

Những người giàu có mà Chúa Giêsu đã chúc dữ trong đoản văn trước đây đã ra đi, nên bây giờ PS7-C44


1. Những người giàu có mà Chúa Giêsu đã chúc dữ trong đoản văn trước đây đã ra đi, nên bây giờ Chúa Giêsu quay lại nói với các môn đệ đang có mặt. Ngài phán bảo với họ cách uy quyền: “Nhưng Ta bảo các con”. Lời Ngài mói là lời đến từ Thiên Chúa. Ngài nói như kẻ có quyền, chứ không như các tiến sĩ luật và các người biệt phái (Mt 7,28). Chúa Giêsu đã thu tóm cả lề luật tức là việc chu toàn ý muốn Thiên Chúa vào giới luật tình yêu: “ngươi phải yêu mến Thiên Chúa, Thiên Chúa ngươi hết lòng, hết linh hồn, hết sức lực, và hết trí khôn ngươi; và yêu đồng loại như chính mình” (10,27). Được phần trước với những lời chúc phúc và chúc dữ, Chúa Giêsu đã cho biết cách thế để yêu mến Thiên Chúa hết lòng. Bây giờ Ngài đề cập đến vấn đề yêu thương tha nhân.

Cựu ước cũng nói đến giới luật yêu thương tha nhân: “Hãy yêu thương tha nhân như chính mình” (Lv 19,18). Chúa Giêsu tách riêng giới luật này và nâng nó lên trên mọi giới luật khác trong lề luật để nói lên tầm quan trọng to lớn của nó: Ngài cũng đem lại một lối giải thích mới. Tha nhân chính là mỗi người. Dù là kẻ thù ta. Từ lối giải thích căn bản về tình yêu, nghĩa là phải yêu cả kẻ thù. Trong Lc, toàn bộ luân lý trong diễn từ công bố trên đồng bằng dựa trên cơ sở lối chú giải căn bản về tình yêu kể cả việc yêu kẻ thù.

“Kẻ thù các con” (c.27) chính là những người thù nghịch với nhóm môn đệ, những kẻ vu khống, những người bách hại, những kẻ thù của mỗi một môn đệ. Chúa Giêsu buộc phải yêu thương họ. Tình yêu lòng thiện cảm, có thể bị ép buộc không? Người ta có thể dễ dàng chiếm được tình cảm, tình yêu chăng? Tình yêu mà Chúa Giêsu truyền dạy chính là làm điều thiện, là chúc phúc, là cầu bầu. Theo Chúa Giêsu, yêu không nhất thiết là cảm nghiệm một tình cảm nào đó (càng tốt nếu từ một tâm tình tiêu cực biến đổi thành một tâm tình tích cực, tuy nhiên, không phải luôn luôn như thế); yêu thích làm điều gì đó cho một ai, cho cả người ghét ta, nguyền rủa ta, bạc đãi ta.

Tình yêu tha nhân không chỉ hệ tại việc tha thứ những bất công mình phải chịu. Yêu thì không còn nói đến tha thứ, phải giả thiết là đã tha thứ trước rồi. Môn đệ Chúa Giêsu dĩ nhiên phải chu toàn tất cả những gì có lợi cho kẻ thù. Người môn đệ phải lấy ơn báo oán, chúc phúc cho những người chúc dữ, cầu nguyện cho những người bạc đãi mình. Ai yêu kẻ thù mình thì không chỉ tự mình dấn mình phục vụ kẻ thù bằng việc thiện mình làm cho họ, nhưng còn làm Thiên Chúa nhập cuộc giúp đỡ kẻ thù bằng cách cầu xin Ngài ban cho kẻ thù mình điều mình không có khả năng thực hiện. Đối với các môn đệ thì lòng yêu thương kẻ thù phải thâm nhập vào trong mọi lãnh vực của cuộc sống họ: trong hành động cụ thể bên ngoài, trong những ước muốn, trong lời nói, ngay cả trong tâm hồn.

2. Yêu kẻ thù thật khó, chúng ta phải tự vệ chống bất công, muốn trả thù khi người cư xử bất công với chúng ta. Một cách nào đó chúng ta muốn ngăn cản điều ác lan tràn bằng cách trả đũa, báo phục nghiêm khắc: “Ta làm cho ngươi điều mà ngươi đã làm cho ta: mắt đền mắt, răng đền răng” (x. Mt 5,38). Chúa Giêsu đòi buộc không được lấy ác báo ác, cũng như đừng nên làm gì chống lại điều ác. Ngài đòi buộc phải lấy thiện thắng ác. Những nguyên tắc này có giá trị đối với những bất công cá nhân chúng ta phải chịu: “Với người tát má con…” (c.29) chúng cũng có giá trị khi người ta vi phạm tư sản của chúng ta: “Với người lấy áo choàng con…” (c.29).

Người môn đệ của Chúa Giêsu phải vui mừng phân phát, ban tặng cách vô giới hạn. “Phàm ai xin, con hãy cho” (Lc 30), chứ đừng xét đến quốc tịch, tín ngưỡng, tư tưởng hay thái độ cá nhân, phẩm giá của người đó…” Chúa Giêsu còn đi xa hơn nữa: dù tài sản ta có bị cướp mất do bạo lực hay mưu mô, ta chớ đòi bồi hoàn. Ai phải chịu hoàn cảnh như thế, đừng tự vệ, đừng tìm cách lấy lại những gì đã mất. Sự bất công phải chăng phải trở nên công bình?

Chúng ta không thể bình thản nghe những yêu sách như thế của Chúa Giêsu? Không có gì trong chúng ta phản kháng lại các đòi buộc như thế? Phải chăng thâm tâm ta không có gì biện bác chống lại hay sao? Phải chăng như thế là đã chối bỏ nhân vị và quyền lợi cá nhân? Phải chăng như thế là mở ngõ cho sự ác hoành hành? Là khuyến khích cho những bản năng xấu xa đê hèn nhất của con người tăng triển ?

Những gì được đưa ra ở đây gây quá nhiều ngạc nhiên, chúng ta xem ra có vẻ nghịch lý, bởi vì thực tế con người cư xử với nhau theo những luật lệ hoàn toàn khác thế. Các ví dụ này cho thấy lối cư xử thường tình của con người trái ngược biết bao với ý muốn Thiên Chúa và cũng cho thấy Nước Thiên Chúa cần chiếm hữu họ để biến đổi họ. Chúng ta nghĩ sự ác sẽ bị tiêu diệt, nếu chúng ta chống lại sự ác, lấy ác báo ác. Nhưng Chúa Giêsu công bố: chỉ có điều thiện mới thắng điều ác. Ngài mang nước Thiên Chúa đến, và nhờ mọi thiện hảo trong Ngài lan tỏa, sự thiện sẽ chiến thắng sự ác.

Cách thức Chúa Giêsu diễn tả rất gợi hình, cụ thể, cứng rắn. Ngài muốn gieo rắc ưu tư lo lắng, muốn thức tỉnh lay động, hoán cải những tâm hồn xấu xa. Những thí dụ Ngài đưa ra đây minh giải cho một thái độ, một trạng thái tinh thần mà Ngài muốn phổ biến. Đây không phải là một bài học luân lý với những điều kiện này thì phạm tội, những tuân giữ kia thì không phạm tội. Ngài không có chủ ý ban hành một lề luật mới gồm bốn phần: phần thứ nhất: khi ai đánh con má này…Thứ hai: khi ai lấy áo con… Thứ ba: …Nếu hiểu như thế là chưa quán triệt lời Ngài. Những thí dụ này là những hình ảnh nói lên cách cụ thể một thái độ căn bản. Đó là thái độ mà chính Chúa Giêsu muốn có, và môn đệ là người thể hiện hành động trong muôn vàn hoàn cảnh của cuộc sống hiện tại cụ thể.

3. Làm thế nào để thể hiện lòng yêu thương kẻ thù bằng hành động cụ thể? Tôi phải làm gì cho tha nhân? Cho cả kẻ thù tôi? Các bậc khôn ngoan, các tiến sĩ luật Do thái và ngoại giáo đã nói về điều này qua “luật vàng”. Ông già Tobia đã truyền luật này lại cho con: “Điều chính con không thích, đừng làm cho kẻ khác” (Tob 4,15). Một tiến sĩ luật Do thái, ông Hillel, phát biểu một châm ngôn tương tự: “Đừng làm cho tha nhân điều ngươi không thích” (x. J.Bonsirven, Textes rabbiniques số 633). Học thuyết khôn ngoan của người Hy lạp cũng đã biết luật này từ lâu. Những người thuộc phái khắc kỷ đã diễn dịch luật này như sau: “Điều ngươi không muốn người ta làm cho chính ngươi, thì ngươi cũng đừng làm cho kẻ khác”. Con người mang sẵn trong mình sách Lề luật và qui tắc đích thực về thái độ phải có đối với những người đồng loại. Chính những hoài bão, nhu cầu con người muốn tạo cho họ dạy họ điều phải làm.

“Điều các con muốn… các con hãy làm cho người ta như vậy” (c.31). Các bậc khôn ngoan đưa ra một qui luật để con người đừng làm cho tha nhân điều gì có thể làm cho chính mình khó chịu. Hiển nhiên ở đây họ cũng trình bày “luật vàng” ấy cách tích cực, nhưng họ chú ý ngay đến cả những hậu quả tốt mà người thực thi luật đó được hưởng đến nỗi châm ngôn ấy một cách luẩn quẩn nói lên tính ích kỷ: tôi chỉ làm cho kẻ khác điều tôi mong chờ họ làm cho tôi, hay hơn nữa, tôi có thể làm cho họ điều tôi ước ao cho chính tôi. Chúa Giêsu đổi mới “luật vàng” này trong hai điểm: không phải làm điều thiện để được lại điều thiện, nhưng phải khai mào cho điều thiện mà không cần được đáp trả. Đàng khác (nhưng bản văn Lc không nói đến điểm này vì Lc viết phúc âm cho những Kitô hữu từ ngoại giáo trở lại) luật này được trình bày như là bảng tóm lược tư tưởng thánh kinh: lề luật và các tiên tri (Mt 5,12 và 22,40).

4. “Và nếu các con yêu mến những kẻ yêu mến các con, thì còn ân nghĩa gì?” (c.32). Các môn đệ Chúa Giêsu phải chu toàn ý muốn Thiên Chúa trong một mức độ toàn vẹn và triệt để hơn các người khác. Họ không thể sống như các người tội lỗi. Họ là muối đất, là ánh sáng, là thành xây trên núi (Mt 5,13tt). Chính vì thế họ phải yêu thương mà không cần đáp trả, tình yêu của họ không đặt nền tảng trên tính cách hỗ tương. Nếu chỉ yêu thương những kẻ yêu thương họ, thì họ không hơn gì người tội lỗi. Họ phải yêu thương ngay cả những kẻ mà họ không thể mong chờ đáp trả hay thưởng công. Phải yêu thương như vậy bởi vì đó là ý muốn của Thiên Chúa, bởi Thiên Chúa cũng hành động như thế. “Khi con bố thí, thì tay trái đừng biết việc tay phải làm, hầu việc con bố thí được giữ kín; và Cha là Đấng thấu suốt mọi bí ẩn sẽ hoàn trả lại cho các con” (Mt 6,3tt).

Tình yêu biểu lộ qua việc thiện ta làm, qua việc cho vay mà không hy vọng lấy lại (c.34). Kẻ biết yêu thương đều có mặt ở những nơi khốn khổ. Tình yêu mà Chúa Kitô muốn nói là một tình yêu sinh động. “Hỡi các con nhỏ, chúng ta đừng yêu thương bằng lời nói, bằng đầu lưỡi, nhưng bằng việc làm và chân lý” (1Gio 3,18). Vậy Chúa Giêsu có thể đòi buộc yêu thương, bởi vì đó là một tình yêu, biểu lộ qua hành động. Tình yêu đó có thể tỏ hiện trong người sẵn sàng cởi mở và cảm thông những nỗi cùng cực của tha nhân. Kẻ nào thực sự quan tâm đến tha nhân thì có năng lực yêu thương thật sự.

Chúa Giêsu hứa ban thưởng cho kẻ biết yêu thương như thế. Thì còn ân với nghĩa gì? Thiên Chúa biết rõ những hành động của con người. Ngài thi ân giáng phúc và ân cần săn sóc cho những ai hành động đẹp lòng Người.

5. “Không trông báo đền” (c.35), đó là dấu chỉ tình yêu nơi các môn đệ. Không được người ta biết ơn, tán tụng, đền đáp. Yêu thì không tính toán. Tình yêu phát xuất từ thâm sâu con người và lan rộng. Ngay cả khi cho vay, người môn đệ cũng đừng trông mong được bồi hoàn nhưng cho vay chỉ vì muốn giúp đỡ kẻ khác. Vì khi yêu thương kẻ thù phải loại bỏ hy vọng được yêu lại; chính vì thế yêu kẻ thù là tình yêu đích thực nhất của các môn đệ Chúa Giêsu. Điều thúc đẩy các môn đệ yêu thương chính là ý muốn của Thiên Chúa, quyền năng của Ngài, gương mẫu của Chúa Giêsu thày chúng ta, và lời Ngài.

Người môn đệ chu toàn giới luật yêu thương kẻ thù này sẽ được thưởng lớn, người đó sẽ được gọi là con Đấng tối cao. Đây chính là danh từ được gán cho Chúa Giêsu trong cảnh truyền tin: “người này sẽ được nên cao trọng và sẽ được gọi là Con Đấng Tối cao; Thiên Chúa sẽ ban cho người ngôi báu Đavit, tổ phụ Ngài” (1,31). Kẻ nào chu toàn giới luật yêu thương kẻ thù, sẽ được quyền làm con Thiên Chúa và như thế sẽ được tham dự vào quyền cai trị của chính Chúa Giêsu.

Làm con Thiên Chúa không chỉ là một thực thể đáng mong ước và chỉ xảy ra vào thời thế mạt; con người đã được làm con Thiên Chúa ngay từ lúc thực sự biết yêu thương kẻ thù. Do tình yêu không vụ lợi không đòi đáp trả người môn đệ trở nên giống Thiên Chúa; bởi Thiên Chúa cũng hoàn toàn tốt lành đối với kẻ vô ơn và ác đức. Người môn đệ trở nên con của Đấng tối cao, của Đấng tốt lành vượt trên mọi hành động của con người.

6. Người “xót thương” là người biết cảm xúc trước nỗi cùng cực của con người, biết mở lòng cảm thông nỗi khắc khoải và cùng cực của tha nhân, biết cứu giúp tất cả những ai thống khổ.

Chúa Giêsu công bố Thiên Chúa là một người Cha đầy thương xót. Nước Thiên Chúa được khởi đầu bằng việc loan báo ơn giải thoát cho kẻ bị giam cầm, bằng việc giãi chiếu ánh sáng cho người mù tối, giải phóng những kẻ bị áp bức. Chúa Giêsu được sai phái đến thế gian để loan báo thời cứu độ đã đến và mang ơn cứu độ đến. Ngài đã rảo khắp xứ để thực thi việc thiện. Ngài tha tội lo lắng cho tội nhân, nói đến niềm vui của Chúa Cha trên trời khi có tội nhân trở về với Ngài trong thời kỳ ân sủng này (5,11-32). Sứ mệnh của Chúa Giêsu được diễn tả một cách chủ yếu trong lời Ngài kêu mời vào giao tế với các tội nhân (Lc 15,4-10; 7,36-47; 18,10-14; 19,1-10).

Lòng thương xót của Chúa Cha dạy cho các môn đệ biết điều chính họ phải làm. Chúa Giêsu đòi hỏi người ta phải thực hiện điều mà người Do thái gọi là “bắt chước Thiên Chúa”. Cũng như Thiên Chúa đã cho con người trần truồng áo mặc. Cũng như Thiên Chúa đã viếng thăm những kẻ bệnh hoạn (Stk 18,1), ngươi cũng hãy thăm viếng bệnh nhân… Cũng như Thiên Chúa được gọi là Đấng đầy xót thương và tốt lành, ngươi cũng hãy cố gắng sống để được gọi là người biết xót thương và tốt lành, ngươi hãy bố thí mà không chờ phần thưởng… Cũng như Thiên Chúa được gọi là tốt lành… Cũng thế ngươi hãy sống tốt lành.

Vậy tình yêu có hai qui tắc nhờ đó con người có thể đo lường và cảm nghiệm được lối cư xử cụ thể của mình. Đó là ước muốn của chính tâm hồn mình: yêu tha nhân như chính mình – và lòng xót thương của Cha trên trời. Hai qui tắc đó trong thực tế chỉ là một; vì người môn đệ là con của Đấng tối cao, là hình ảnh của Thiên Chúa. Chúa Giêsu tái tạo hình ảnh của Thiên Chúa trong con người bởi vì Ngài đến loan báo quyền thống trị của Đấng tối cao, là Cha đầy thương xót của chúng ta.

7. Thương xót và yêu thương con người trước tiên là không xét đoán họ: “Đừng xét đoán…” (c.37). Kẻ nào tìm hiểu xem tha nhân có đáng được xót thương và yêu mến không, người đó đã vi phạm giới luật yêu thương; vì tình yêu là nhưng không, do lòng xót thương trước nỗi cùng cực của tha nhân. Xét đoán chỉ có hai giai đoạn: lượng giá và kết án. Chúa Giêsu không muốn lượng giá và xét đoán ai. Hẳn nhiên, ở đây không có vấn đề xử dụng quyền tư pháp như trong một xã hội nào đó (Chúa Giêsu đã không bao giờ lên án việc xử dụng quyền tư pháp trong các dụ ngôn của Ngài hay ở những nơi khác). Ở đây chỉ có những phán đoán được thể hiện qua tư tưởng hay lời nói. Những lời phán đoán đó không bỏ lượng giá luân lý về hành động, nhưng cấm tuyên bố người hành động như thế là có tội.

Chúa Giêsu đã đòi buộc phải yêu thương kẻ thù và phải có lòng thương xót: “Hãy yêu thương kẻ thù – hãy biết xót thương”. Chỉ có Thiên Chúa là Đấng xét đoán mới có thể đòi hỏi con người trả lẽ vào thời của Ngài. Kẻ nào đặt mình là người xét xử tha nhân, thì Thiên Chúa sẽ xét đoán người ấy. Cách thức tôi đối xử với tha nhân sẽ định rõ cách thức Thiên Chúa đối xử với tôi.

8. Tội phạm và lầm lỗi mà tha nhân đã có thể gây ra cho tôi, rất có thể ngăn cản tôi xót thương và yêu mến họ. Chúa Giêsu chỉ cho ta hai con đường để vượt qua trở ngại đó: là biết tha thứ và ban tặng chính mình. Nhờ tha thứ, hàng rào ngăn cách giữa tôi và tha nhân không còn nữa; nhờ trao ban chính mình, tôi được nối kết với tha nhân.

Đòi buộc phải tha thứ cũng như đừng kết án lại được đặt vào trong viễn tượng Ngày Thẩm phán cuối cùng đang đe dọa con người. “Các con sẽ được tha thứ” và “các con sẽ được người ta cho lại”, hai câu này qui chiếu về ngày thẩm phán sau hết. Bấy giờ, Thiên Chúa sẽ xét đoán chúng ta theo lối cư xử của chúng ta. Một cách nào đó, lời phán xét chung thẩm đang ở trong tầm tay ta. “Xin tha tội chúng con, như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con” (11,4).

Ngày thưởng công sẽ đến. Đó là một ngày thu hoạch rất phong phú cho những ai đã biết ban phát. Thiên Chúa giống như một nông gia trả lương rất hậu cho công nhân của Ngài (đồng lương ở đây được diễn tả qua hạt lúa). Một nông gia hà tiện đổ đầy đấy lúa, rồi gạt cho sát, hầu khỏi phải cho quá số lượng cần thiết. Một nông gia đại độ sẽ lấy đấu hảo hạng, đã dằn đã lắc, hầu có thể ban phát nhiều hơn số lượng cần thiết, ông đổ đầy, tràn đấu lúa. Thiên Chúa giống như nông gia đại độ ấy. Ngài rất đại lượng trong việc thưởng công. Đồng lương Ngài ban phát cho không phải là đồng lương người ta đáng được, nhưng là một món quà tặng do lòng rộng rãi của Ngài, Ước gì ý niệm thưởng công, trả lương, không làm cho chúng ta thu hẹp lối diễn tả tình yêu vô biên của Thiên Chúa nơi chúng ta. Điều mà Thiên Chúa ban, luôn là vô hạn nhiều hơn điều chúng ta đã phân phát. “các con hãy vui mừng và hoan lạc vì phần thưởng các con trên trời rất lớn lao”.

Dầu vậy, dù Thiên Chúa không hẹp hòi khi ban ân huệ, Ngài cũng chỉ ban phát cho những ai đã biết trao ban.

Diễn từ về lòng thương yêu kẻ thù được loan báo trong viễn tượng ngày chung thẩm cuối cùng. Nhưng nó không kết thúc sau lời đoán xét và án phạt của Thiên Chúa, mà lại kết thúc với lời mô tả lòng tốt vô biên của Ngài. Lối hành văn của các câu trước có một nhịp điệu như nhau, nhưng đến câu nói của lời Chúa ban ân huệ: “Và các con cũng sẽ được ban cho” lại có cung điệu trang trọng hơn. Như thế trọng tâm của vấn đề được dời từ sự nghiêm khắc qua lòng tốt của Thiên Chúa, từ xét đoán qua hạnh phúc, từ lời đe dọa qua lời hứa, từ sợ hãi qua hy vọng.

Phần kết luận (c.38b) là một lời canh chừng: đong đấu nào, trả đấu ấy. Kẻ nào cho ít, sẽ nhận được ít. Kẻ nào cho dư đầy – hình ảnh về Thiên Chúa đại độ hiểu ngầm dưới đây – sẽ nhận được dư đầy. Tuy nhiên lòng thương xót vượt quá mọi giới hạn, mọi điều công bình mà Thiên Chúa sẽ chứng tỏ trong ngày Ngài thẩm phán không phải là không có điều kiện. Kẻ nào biết trao ban và tha thứ cho con người, sẽ nhận được dư đầy ân huệ và được Thiên Chúa tha thứ. Kẻ nào không biết trao ban và tha thứ thì đừng có hy vọng được Thiên Chúa ban và tha thứ.

KẾT LUẬN

Điều Chúa Giêsu muốn dạy qua những câu nói thẳng thừng này, với một cung giọng đông phương và rất gần với não trạng của thính giả là: trong các tương giao xã hội của con cái Thiên Chúa, dù đối xử với nhau, dù đối xử với kẻ khác hay ngay cả với kẻ thù, thì họ phải dùng một thứ lề luật khác vì lề luật báo thù hay luật công bình giao hoán mà con người thời cổ thường dùng. Bởi thế, các mối tương giao ấy nhất thiết phải là có tính cách huynh đệ: chúng ta tất cả là con cùng một cha trên trời. Qui luật tối thượng trong các tương quan giữa con người không phải là công bình nhưng là tình yêu.

Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG

1. Kẻ thù mà đoạn sách phúc âm này nói đến là kẻ thù ở trong nhóm, hay trong quốc gia đang sống. Vấn đề không phải là thay đổi các tâm tình sâu xa đối với kẻ thù, vì những tâm tình này độc lập với ý muốn chúng ta cho con. Nhưng vấn đề được đặt ra lúc có dịp cụ thể chúng ta phải có những hành động cụ thể giúp đỡ kẻ thù: cho kẻ thù đói khát ăn, săn sóc nếu họ bị thương, chôn cất một tử thi… Điều này đôi lúc đòi ta phải anh hùng can đảm, không những chỉ để vượt lên trên mối ghê tởm tự nhiên đối với họ, nhưng để tỏ ra mình cũng có “thiện cảm” với kẻ thù dân tộc. Hẳn nhiên, ở đây không có vấn đề giúp đỡ về quân sự (vì như thế là chống lại huấn lệnh về tình yêu, bởi chưng giúp đỡ về quân sự chính là trở lại chống đối người thân cận mình). Nhưng vấn đề ở đây là khi có thể trả thù kẻ thù bị ta bắt giam, ta hãy đối xử cách nhân bản và theo đức ái Kitô giáo.

2. “Kẻ thù” mà chúng ta thường gặp trong cuộc sống hàng ngày là tất cả những ai lân cận hay quen biết chúng ta mà lại phỉnh gạt chúng ta dưới bất cứ hình thức nào, là tất cả những ai tự nhiên có ác cảm với chúng ta, tất cả những ai luôn chống đối lại chúng ta khi chúng ta lên tiếng. Tất cả những ai lợi dụng sự cộng tác của chúng ta, tất cả những ai không tôn trọng chúng ta, tất cả những ai nói xấu sau lưng chúng ta, tất cả những ai bóc lột, chà đạp, vô ơn với chúng ta… Những kẻ thù ấy luôn đi sát ta. Chính Chúa Giêsu đòi chúng ta phải yêu thương giúp đỡ họ khi gặp cơ hội thuận tiện, phải tha thứ họ tận đáy lòng. Hẳn nhiên một thái độ như thế không có gì là “tự nhiên” hay tự phát cả. Trong một vài trường hợp chúng ta có lẽ muốn chết đi hơn là làm hòa với một ai đó sống cạnh chúng ta mà đã phỉnh gạt chúng ta. Và đó chính là điều mà Chúa Giêsu đòi buộc nếu chúng ta muốn trở nên môn đệ Ngài: chết đi cho những cảm tình tự nhiên để mặc lấy một lần thay cho tất cả tâm hồn quảng đại của Đức Kitô, Đấng đã tha thứ cho kẻ thù khi hấp hối trên thập giá. Điều Chúa Giêsu đòi buộc chúng ta không thể thực hiện được nếu chúng ta chỉ cậy dựa vào bản tính con người. Nhưng Thiên Chúa sẽ ban ân sủng, sức lực siêu nhiên để giúp chúng ta vượt lên trên sự đối kháng nội tâm, và thực sự trở nên những con người mới phát sinh từ Chúa Thánh Thần, những con người đích thực của Đấng tối cao (c.35). Không thể trở nên môn đệ đích thực của Chúa Giêsu khi chưa chịu chết đi cho chính mình. Nhưng nếu bằng lòng chết đi cho chính mình, bấy giờ chúng ta sẽ khám phá ra một cuộc sống mới trong Chúa Kitô, vì chính Chúa Kitô sẽ biến đổi tâm hồn chúng ta và ban cho chúng ta tâm tình yêu thương tất cả mọi người như anh em. Bấy giờ, trong vui mừng và hoan lạc, chúng ta có thể nói với thánh Gioan: “Chúng tôi biết chúng tôi đã đi từ cõi chết đến sự sống bởi vì chúng tôi đã yêu mến anh em mình” (1Gio 3,14)

Học viện Giáo Hoàng Pi-ô X Đà Lạt

-------------------------------

 

PS7-C45: Hãy ở nhân từ như Chúa Cha


Chúa nhật VII thường niên C

Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

(Lc 6, 27-38)

 

Tiếp tục sứ vụ rao giảng Tin Mừng, đào luyện các môn đệ và dạy dỗ dân chúng. Lời Chúa Giêsu PS7-C45


Tiếp tục sứ vụ rao giảng Tin Mừng, đào luyện các môn đệ và dạy dỗ dân chúng. Lời Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ, những người đang nghe Chúa nói, cũng là lời dành cho mỗi chúng ta đang nghe chính Lời Chúa qua thừa tác viên của Giáo hội giờ này: “Thầy bảo các con đang nghe Thầy đây” (Lc 6, 27). Chúa bảo chúng ta điều gì? Thưa, Chúa bảo:  “Các con hãy yêu kẻ thù, hãy làm ơn cho những kẻ ghét mình, hãy chúc phúc cho những kẻ nguyền rủa mình, hãy cầu nguyện cho những kẻ vu khống mình” (Lc 6, 27-28). Yêu kẻ thù ư, làm điều tốt cho kẻ không thích ta ư, chúc phúc cho ai nói xấu ta, và cầu nguyện cho ai đối xử tệ với ta ư? Thật không dễ dàng chút nào hết. Nhưng đây là bốn chi tiết để sống đời Kitô hữu của chúng ta.

Ghét kẻ thù là lẽ thường tình, làm ơn hay chúc phúc cho kẻ thù và những người thuộc phe đối lập là chuyện ngược đời, nhưng Chúa Giêsu khuyên chúng phải lội ngược dòng và hành xử với tư cách là con cái Chúa, giống Cha trên Trời. Ý thức mình là con phải nên giống Cha, và học sống sao cho có lòng nhân từ như Chúa Cha: “Vậy các con hãy ở nhân từ như Cha các con là Đấng nhân từ” (Lc 6, 36). Đây không phải là một câu khẩu hiệu, mà là một sự dấn thân của đời sống người Kitô hữu. Chúa là Chân, Thiện, Mỹ, là Đấng toàn năng, toàn thiện. Sự hoàn hảo của Thiên Chúa khích lệ chúng ta trở nên giống như Ngài, đầy tràn tình yêu và lòng trắc ẩn. Trở nên giống Thiên Chúa là trở nên hoàn hảo, nghĩa là hãy ở nhận từ và biết xót thương anh em.

Có người hỏi: Liệu những lời của Chúa Giêsu có thực tế không? Chúng ta là những con người sống trong thế gian làm sao có con tim đầy ắp yêu thương để yêu thương người khác như Thiên Chúa yêu và sống nhân từ như Chúa sống?

Nhìn vào lịch sử cứu độ, chúng ta khám phá ra rằng toàn bộ mạc khải của Thiên Chúa là một lịch sử tình yêu đối với con người. Thiên Chúa giống như một người cha hay người mẹ yêu thương hết mọi loài, đặc biệt con người bằng một tình yêu cao với khôn ví. Thiên Chúa không nói suông, mà Ngài đã làm trước, bằng chứng là “không phải chúng ta đã yêu mến Thiên Chúa, nhưng chính Người đã yêu thương chúng ta, và sai Con của Người đến làm của lễ đền tội, vì tội lỗi chúng ta” (1Ga 4,10). Thánh Gioan còn viện lý: “Nếu Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta như thế, chúng ta cũng phải yêu thương nhau” (1Ga 4,11). Đavit đã không dám tra tay đụng đến Saolê, người đã được Chúa xức dầu, ông việc cớ: “Chớ giết ngài, vì có ai đưa tay phạm đến Đấng Chúa xức dầu mà vô tội đâu?” (1 Sm 26, 22-23).  Cái chết của Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa trên thập giá là đỉnh cao của lịch sử của tình yêu ấy. Thiên Chúa là Tình Yêu, còn chúng ta là kẻ có tình yêu, nên chúng ta có lúc yêu lúc ghét, nghĩa tình yêu của chúng ta sẽ luôn có khiếm khuyết. Khi Chúa Giêsu mời gọi chúng ta ở nhân từ như Chúa Cha, Chúa muốn chúng ta hãy trở thành dấu chỉ, và chứng nhân của lòng từ tâm Chúa giữa thế gian.

Thế còn Giáo hội, vì được cấu thành bởi những con người bất toàn như chúng ta, Giáo hội cũng khó có thể, nhưng Giáo hội trở thành bí tích của lòng nhân từ Chúa trong thế giới, chúng ta được mời gọi để trở thành chứng nhân của lòng Chúa từ tâm. Lòng từ tâm ấy được thể hiện bằng hai động từ: “Tha thứ” và “Cho đi” như Chúa bảo: “Đừng xét đoán, thì các con sẽ khỏi bị xét đoán; đừng kết án, thì các con khỏi bị kết án. Hãy tha thứ, thì các con sẽ được tha thứ” ( Lc 6, 37).

“Đứng xét đoán” (Lc 6,37) ở đây không phải là không phê phán ai cho dù người ấy gây gương mù gương xấu. Nếu hiểu chữ xét đoán như thế thì tại sao Chúa Giêsu lại lên án những kẻ gây gương mù.

Chữ “xét đoán” ở đây được hiểu là chỉ trích, phê bình, lên án người khác cách vô trách nhiệm. Chúng ta thường hay xét đoán không tốt cho người khác là điều mà Chúa cấm. Chúa Giêsu cũng đã từng so sánh thái độ của người con Chúa với thái độ của các luật sĩ, biệt phái… họ thường ra vẻ đạo đức, hay lên án người khác và cho rằng chỉ có mình mới tốt, còn tất cả mọi người anh em khác là không tốt bằng.

Tại sao Chúa dạy người con Chúa không được xét đoán và lên án? Thưa là vì con người nhân vô thập toàn không có quyền lên án, cũng không thể xét đoán đúng và công bằng được, chỉ có Chúa là Đấng công mình, cầm quyền sinh tử mới có quyền lên án, kết án con người. Ngài là Đấng nhân từ đã không lên án, vậy cớ sao ta lại lên án nhau. Tuy nhiên, Chúa cho phép con người nhận định về nhau, phê bình nhau với tình yêu thương xây dựng, và giúp nhau thăng tiến.

Còn câu Chúa nói: “Đừng lên án các người sẽ không bị lên án” (Lc 6, 37). Câu này không có nghĩa là nếu chúng ta không bao giờ lên án ai thì Chúa không lên án chúng ta dù chúng ta tội lỗi. Thưa không phải thế. Câu này chỉ muốn nói với chúng ta rằng, nếu chúng ta không muốn người khác khắt khe với mình thì trước hết chúng ta đừng đối xứ với họ như vậy, đó là cách xử từ tâm.

“Hãy tha thứ” Chúa bảo chúng ta phải tha thứ. Đơn giản vì chúng ta đã được Thiên Chúa thứ tha. 

“Hãy cho…Vì các con đong đấu nào, thì cũng sẽ được đong trả lại bằng đấu ấy” (Lc 6,38). Thiên Chúa đã cho chúng ta quá nhiều, vượt xa công trạng của chúng ta. Chúa Giêsu không nói điều gì sẽ xảy ra nếu người ta không cho đi, nhưng nếu chúng ta thấy rõ có một luận lý chắc chắn: theo cách mà người ta nhận lãnh từ Thiên Chúa, thì người ta hãy cho anh em mình như thế, và theo đúng cách mà người ta cho một người anh em, thì người ta sẽ nhận lãnh từ Thiên Chúa!

Lạy Chúa, xin ban ơn trợ giúp cho chúng con, để chúng con ngày một nên giống Chúa hơn. Amen.

Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

-------------------------------

 

PS7-C46: Yêu thương

 

Huyền thoại Hy lạp kể lại rằng: Narcisse là một vị thần rất đẹp trai, khiến cho nàng tiên Echo đem PS7-C46


Huyền thoại Hy lạp kể lại rằng: Narcisse là một vị thần rất đẹp trai, khiến cho nàng tiên Echo đem lòng yêu thương say đắm. Thế nhưng, Narcisse không những đã cự tuyệt mối tình say đắm ấy, mà còn biến nàng thành tượng đá.

Ngày kia, Narcisse đi lang thang, tình cờ chàng đến bên một giòng suối. Chàng nhìn ngắm bóng hình mình in trên mặt nước và cảm thấy ngất ngây vui sướng. Chàng cố sức nắm bắt bóng hình ấy, nhưng không tài nào nắm bắt được. Chính vì thế, chàng sinh ra buồn sầu, ủ rũ và qua đời. Sau khi chết, chàng hóa nên cây thủy tiên, mọc bên giòng suối.

Bởi đó trong tiếng Pháp, danh từ “narcisse” có nghĩa là kẻ hợm hĩnh về sắc đẹp của mình, còn danh từ “narcissisme” có nghĩa là lòng tự kiêu quá đáng.

Mỗi người chúng ta, không ít thì nhiều, cũng giống như chàng Narcisse đáng buồn ấy, bởi vì ai cũng yêu mình thái quá, ai cũng thích khoe rằng mình tài, mình giỏi, mình đẹp, mình hay… Ai cũng muốn mình là nhân vật số một, mình là “number one”, mình là trung tâm của thế gian, mình là cái rốn của vũ trụ. Ai cũng thường nghĩ rằng kẻ khác sinh ra là để phục vụ cho mình và rồi cuối cùng mình sống trong cô độc và chết trong quạnh hưu, còn bản thân cũng chẳng hóa kiếp thành cánh hoa thủy tiên mọc bên giòng suối hư vô.

Thế nhưng, Chúa Giêsu đã đến để giải thoát con người khỏi tình cảnh đáng thương ấy. Ngài chỉ cho chúng ta phương thức khai thông những bế tắc, bằng cách tận diệt cái tôi ích kỷ và kiêu căng để đến với tha nhân và yêu thương anh em đồng loại.

Cụ Phan bội Châu đã viết trong “Lưu cầu huyết lệ thư” như sau:

– Con chim sắp chết hót tiếng hót bi thương, con người sắp chết nói lời tâm huyết.

Lời tâm huyết của Chúa Giêsu trối lại cho các môn đệ trong phòng tiệc ly, trước khi Ngài ra đi chịu chết, đó là:

– Thày truyền cho các con một điều răn mới, là các con hãy yêu thương nhau.

Bản tính của Chúa chính là Tinh yêu và cốt lõi của đạo Chúa cũng chính là Tình yêu. Sở dĩ đạo Chúa được gọi là đạo Công giáo vì đã dạy một điều phổ quát, chung cho mọi người, đó là hãy yêu thương nhau.

Tất cả những ai yêu thương anh em, đều là người có đạo, đều là Kitô hữu, đều là môn đệ của Chúa. Thực vậy, Ngài đã truyền day:

– Người ta cứ dấu này mà nhận biết các con là môn đệ Thày, là các con hãy yêu thương nhau.

Trong ngày sau hết, chúng ta sẽ bị tra vấn về những hành động bác ái, và công hay tội của chúng ta được ấn định dựa trên một tiêu chuẩn duy nhất đó là tình yêu, như chúng ta đã thấy trong hoạt cảnh của ngày phán xét:

Ai cho người đói được ăn, người khát được uống, người trần trụi được mặc, ai thăm viếng người đau yếu, người bị giam cầm, ai nhường cơm sẻ áo va tiếp đón khách lạ… thì sẽ được ân thưởng hạnh phúc thiên đàng.

Vậy chúng ta phải yêu thương anh em như thế nào?

Chính Chúa đã dạy:

– Các con hãy yêu thương nhau như Thày đã yêu thương các con.

Đây là một tiêu chuẩn, một đòi hỏi rất cao, cũng cao như tiêu chuẩn và đòi hỏi:

– Các con hãy nên trọn lành như Cha các con ở trên trời là Đấng trọn lành.

Yêu thương anh em như Chúa đã yêu thương chúng ta. Về số lượng, Chúa đã yêu thương hết mọi người, kể cả những kẻ thù địch, bằng chứng là trên thập giá, Ngài đã cầu nguyện cho những kẻ làm khốn mình:

– Lạy Cha, xin tha cho chúng vì chúng lầm chẳng biết việc chúng làm.

Về phẩm chất, Chúa đã yêu thương chúng ta tới mức đã đổ hết máu mình ra để tầy xóa tội lỗi chúng ta như lời Ngài đá phán:

– Không ai yêu hơn người hiến mạng sống mình vì bạn hữu.

Trong cuộc sống, có những vị thánh, nhờ ơn Chúa, đã thực hiện được một ty cao cả như thế, chẳng hạn các thánh Tử đạo Việt Nam đã đổ máu đào để làm chứng cho Chúa, thánh Maximilianô Kolbê đã tình nguyện chết thay cho một bạn tù, Cha Đamiêng đã tình nguyện sống giữa những người phong cùi ở hải đảo Molokai để giúp đỡ họ, Mẹ Têrêxa thành Calcutta đã tận tình chăm sóc những người bất hạnh và nghèo khổ.

Còn chúng ta thì sao? Chúng ta đã thực thi giới luật yêu thương Chúa truyền dạy hay chưa? Nếu có, thì tình thương của chúng ta đã vượt khỏi những người thân quen, để tìm đến với những kẻ bất hạnh và khổ đau, nhất là đến với kẻ kẻ thù oán, ghét bỏ chúng ta hay chưa?

Chúng ta có giám hy sinh thời giờ, tiền bạc và công sức để giúp đỡ những kẻ chẳng may gặp phải tai ương hoạn nan, như người Samaria nhân từ đã làm cho kẻ gị cướp đánh dọc đường hay không?

Chúng ta có nhớ rằng số phận đời đời của chúng ta lệ thuộc vào những hành động bác ái yêu thương chúng ta đã làm hay đã không làm để giúp đỡ nhung người chung quanh hay không?

Dĩ nhiên, không phải mọi Kitô hữu đều có lòng bác ái yêu thương, nhưng chắc chắn rằng những người có lòng bác ái yêu thương đều là môn đệ của Chúa và như vậy họ đều là Kitô hữu, như lời Ngài đã xác quyết:

– Người ta cứ dấu này mà nhận biết các con là môn đệ Thày, là các con yêu thương nhau.

Nếu bây giờ tạm gác bỏ những việc bên ngoài như xưng tội rước lễ, tới nhà thờ đọc kinh cầu nguyện…để chỉ căn cứ vào những việc bác ái yêu thương, thì liệu người khác có còn nhận ra chúng ta là Kitô hữu, là môn đệ của Đức Kitô nữa hay không?

Cầu nguyện

Lạy Chúa, trong cuộc sống có lẽ chúng con đã nghe và đã nói quá nhiều về tình yêu, nhưng còn việc làm thì lại chẳng được bao nhiêu. Chúng con chỉ mới yêu bằng tai, thương bằng miệng, chứ chưa thực sự yêu thương bằng việc làm, bằng hành động. Xin Chúa giúp chúng con biết giúp đỡ những người chung quanh, nhất là những kẻ nghèo túng và khổ đau, để nhờ đó chúng ta trở nên người môn đệ đích thực của Chúa.

-------------------------------

 

PS7-C47: Bác ái vô biên


 – ViKiNi

(Trích trong ‘Xây Nhà Trên Đá’)

 

Tất cả các nền luân lý của nhân loại đều đề cập đến yêu người, nhưng yêu thương kẻ thù thì PS7-C47


Tất cả các nền luân lý của nhân loại đều đề cập đến yêu người, nhưng yêu thương kẻ thù thì đặc biệt chỉ có giáo lý Đức Giêsu đòi hỏi thôi. Kẻ thù được xác định rõ ràng là những kẻ oán ghét, nguyền rủa, nhục mạ mình, là những kẻ vả má đánh đập, làm hại bóc lột mình đến cả áo mặc nữa. Chứ không phải kẻ thù xa lạ của đoàn thể hay đất nước. Kẻ thù chính cá nhân ta mới rất khó tha thứ và yêu thương.

Sách Đông Châu Liệt Quốc có kể hai anh em Cựu Tử và Bạch Tử tranh nhau chiếm ngai vàng nước Tề. Quản Trọng phò Cựu Tử, bạn chí thân của ông là Bào Thúc Nha phò Bạch Tử. Quản Trọng mưu bắn giết Bạch Tử để tôn Cựu Tử làm Vua, Bạch Tử không chết. Nhưng Cựu Tử lại bị Lỗ Hầu giết chết. Bạch Tử sống sót trở về làm Vua nước Tề. Bạch Tử phong Bào Thúc làm tướng quốc. Bào Thúc không dám nhận, lại tiến cử Quản Trọng.Vua rất kinh ngạc hỏi sao ông dám tiến cử kẻ thù đã mưu giết ta?. Bào Thúc nói: Vua muốn giữ nước Tề thì không cần Quản Trọng, nhưng muốn làm Vua thiên hạ thì phải nhờ Quản Trọng. Vua đã quên thù để lập nghiệp lớn.

Có phải Bạch Tử yêu thương kẻ thù như Đức Giêsu dậy chăng? Bạch Tử tha cho Quản Trọng và phong cho làm tể tướng không phải vì yêu kẻ thù, mà chỉ vì yêu mình, muốn Quản Trọng giúp mình làm bá chủ thiên hạ.

Bài đọc I cũng kể David đã không giết Saolê là kẻ thù đang đem 3000 quân đi lùng bắt giết David. Có phải David yêu kẻ thù chăng? Chắc là phải, vì David đã kính trọng Vua Saolê, là người đã được Chúa xức dầu. Như vậy, David vì mến Chúa mà tha thứ cho kẻ thù. Lòng kính mến Thiên Chúa chính là nền tảng đức bác ái vô biên. Ai nhận biết Thiên Chúa là Cha mình, mới nhận ra mọi người là anh em thật của mình và không còn ai là kẻ thù.

Đức Giêsu là con Thiên Chúa, đã muốn cho tất cả mọi người là anh em của Ngài, nhờ đó mọi người được làm con Thiên Chúa, cho nên không còn ai là kẻ thù. Vì thế, dù biết Giuda là kẻ nội phản, dẫn quân dữ đến bắt Ngài, Ngài vẫn hiền từ thương yêu và gọi Giuda là bạn chí thiết. Tên đầy tớ bị Phêrô chém đứt tai, Ngài vẫn làm ơn chữa lành tai cho nó, không coi nó là kẻ thù. Nhất là khi hấp hối đau đớn cùng cực trên thập giá, Ngài vẫn tha thiết cầu khẩn Đức Chúa Cha tha tội những kẻ giết Ngài vì chúng lầm chẳng biết. Thánh Stêphannô thấm nhuần giáo lý yêu thương vô biên đó, nên khi bị những trận cuồng phong ném đá Ngài như mưa, Thánh nhân đã cầu xin rằng: “Lạy Chúa Giêsu, xin nhận lấy hồn con. Rồi ông qùi xuống, kêu lớn tiếng: Lạy Chúa xin đừng chấp họ tội này”. (Cvtđ. 7, 59-60).

Ngày 13/05/1981 cả thế giới đều sửng sốt kinh hoàng về tin Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II bị ám sát tại chính công trường Thánh Phêrô. Ali Agca, một thanh niên Thổ Nhĩ Kỳ, thủ phạm bắn Ngài, lại được Ngài đến thăm, nói chuyện và tha thứ cho anh. Tình yêu nào đã khiến Đức Giáo Hoàng thương yêu kẻ thù như bạn hữu của mình? Chỉ có tình yêu của Đức Giêsu đã thúc đẩy vị đại diện của Người dưới trần gian này đã có lòng bác ái vô biên như vậy. Chính tình yêu của Đức Giêsu cũng đã thúc đẩy ông Grandhi hết lòng thương yêu kẻ thù bằng dùng phương pháp bất bạo động để giải phóng dân tộc Ấn thoát ách nô lệ dân Anh và hòa giải dân Ấn với Hồi không còn coi nhau như kẻ thù truyền kiếp nữa. Họ đã tôn kính Grandhi như Cha già dân tộc và là vị đại ân nhân nhất của họ. Cả thế giới đều gọi ông là thánh Grandhi. Nhưng ngày 30/01/1948 đang lúc ông cầu nguyện tạ ơn vì bản hòa ước đã ký kết giữa hai dân Ấn-Hồi, thì ông bị chính người đồng bào bắn chết. Ông chỉ kêu lên được hai tiếng: Rama, Rama: Chúa ơi, Chúa ơi và giơ tay làm một cử chỉ tha thứ cho kẻ bắn ông.

Nhà văn Nguyễn Hiến Lê trong Gương Danh Nhân đã hỏi: Nhờ đâu, Grandhi lúc còn nhỏ là con người tầm thường, chơi bời, đàng điếm, ghen tương lại trở nên một thánh nhân vĩ đại của Ấn và của cả thế giới? (Tr. 81). Bách khoa tự đển của Punk đã trả lời: “Ông đã thấm nhuần giáo lý của Đức Kitô, như câu: “Ai vả anh em má bên phải, hãy giơ cho nó má bên kia nữa” “He acknowledged a debt to the teaching of Christ as expressed in …”whosoever shall smite thee on the right check, turn to him the other also”. (Punk, Encyclopedia, 9,11. P. 3896). Chính bài Tin Mừng hôm nay đã biến đổi Grandhi từ một con người hèn yếu, thành một thánh nhân vĩ đại của nhân loại.

Còn đối với mỗi người chúng ta, bài Tin Mừng này có biến đổi chúng ta thành con Chúa biết “thương yêu kẻ thù, làm ơn cho kẻ oán ghét mình, chúc lành cho kẻ nguyền rủa mình, và cầu nguyện cho kẻ nhục mạ mình” không?

Lạy Chúa, con đã xúc phạm đến Chúa biết chừng nào! Chúa vẫn tha thứ, hy sinh chịu chết cứu chuộc con và cho con được làm con yêu dấu của Chúa. Xin cho con nhận biết lòng từ bi nhân hậu của Chúa, cho con hết lòng yêu thương mọi người, dù họ thù ghét con mãi mãi.

-------------------------------

 

PS7-C48: Luật yêu thương

 

Lời Chúa hôm nay dễ hiểu nhưng khó thực hành... Luật yêu thương không phải thời Chúa Giêsu mới PS7-C48


a. Lời Chúa hôm nay dễ hiểu nhưng khó thực hành

Luật yêu thương không phải thời Chúa Giêsu mới có. Luật này đã được nói tới từ lâu nhưng nó mới chỉ có tính cách tiêu cực.

Hillel một trong những Rabbit nổi tiếng của Do Thái, đã trả lời cho người đến xin ông ta dạy cho mình biết tất cả luật pháp chỉ trong thời gian anh ta có thể đứng cò cò trên một chân, ông bảo:

“Điều gì đáng ghét cho ngươi thì ngươi đừng làm cho kẻ khác, đó là tất cả luật pháp, các sự khác chỉ là giải thích”.

Philô, một vĩ nhân Do Thái sống tại Alexandria đã nói: “Điều gì anh ghét thì đừng làm cho bất cứ ai”.

Socrates, một nhà hùng biện Hi lạp nói: “Những gì khiến anh bực bội do kẻ khác gây ra cho mình, thì anh cũng đừng làm những sự ấy cho kẻ khác”.

Các triết gia của phái khắc kỷ có một nguyên tắc căn bản hơn: “Điều gì anh không muốn kẻ khác làm cho anh thì anh đừng làm cho ai khác”.

Khi người ta hỏi đức Khổng Tử rằng: “Có lời nào có thể làm luật thực tiễn cho cả đời sống con người không?”. Cụ trả lời: “Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân”.

Tóm lại, tất cả các hình thức trên đều là tiêu cực. Dù không phải dễ để giữ mìnhđừng làm các điều đó, và cũng vô cùng khó khi chúng ta phải ép mình làm cho kẻ khác điều mà chúng ta muốn họ làm cho mình.

Nhưng tới thời Chúa Giêsu thì luật yêu thương đã có một khuôn mặt mới. Nó có tính cách tích cực hơn: “Hãy làm cho kẻ khác những điều như chúng ta muốn kẻ khác làm cho chúng ta.” (Lc 6,31)

Tại Newban (Châu Úc), mẹ Têrêsa có mở một nhà nội trú dành cho các thanh thiếu niên nghèo. Một lần kia, mẹ gặp thấy một thanh niên đang bị đánh đập tàn nhẫn, toàn thể mình mẩy anh ta bầm tím. Mẹ thấy cần phải gọi cảnh sát đến để điều tra và khi cảnh sát đến hỏi anh: “Ai đã đánh anh?” thì người thanh niên này nhất định không chịu trả lời các câu hỏi. Cuối cùng, cảnh sát phải chịu thua anh và bỏ ra về. Lúc đó, mẹ Têrêsa mới ôn tồn hỏi anh:

– Sao con không khai người đánh đập con với cảnh sát?

– Thưa mẹ, – cậu ta trả lời – nếu con khai ra thì người đó sẽ bị trừng phạt và rồi những đau khổ của người đó cũng sẽ không thể làm giảm đi nỗi đau khổ của chính con!

Có lẽ phải can đảm lắm mới có được cách ứng xử như vậy. Nào có ai muốn khổ cho mình đâu….Vậy thì đừng làm cho người khác. Ai mà lại không muốn cho mình được yên hàn bình an, hãy cố mà làm cho người khác như vậy. Đó là điều Chúa muốn.

b. “Anh em muốn người ta làm gì cho mình, thì cũng hãy làm cho người ta như vậy”. (Lc 6,31)

Lời Chúa chẳng có gì khó hiểu.

Ông chủ cửa hàng bán thú nuôi mang tấm biển “Tại đây bán chó con” đóng lên cửa ra vào.

Một cậu bé xuất hiện bên dưới tấm biển hỏi:

– Ông định bán những chú chó con này bao nhiêu ạ?

– Cũng tùy, từ 30 – 50 đô-la, cháu ạ.

Cậu bé thò tay vào túi móc ra một ít tiền lẻ:

– Cháu chỉ có 2 đô-la và 37 xu. Ông cho phép cháu ngắm chúng nhé.

Người chủ mỉm cười , huýt sáo ra hiệu. Năm chú chó lơn tơn chạy ra, có một con chậm chạp theo sau. Ngay lập tức cậu bé chỉ vào chú chó khập khiễng:

– Con chó nhỏ ấy làm sao thế ạ?

– Bác sĩ bảo rằng xương chậu nó bị khiếm khuyết nên phải khập khiễng, què quặt suốt đời.

– Đây chính là con chó cháu muốn mua – cậu bé tỏ vẻ rất thích thú.

– Không, ta nghĩ cháu không nên mua nó. Còn nếu cháu thật sự thích nó thì ta tặng cho cháu đó.

Cậu bé hơi bối rối, nhìn thẳng vào mắt ông chủ cửa hàng, rồi chìa tay đáp:

– Cháu không muốn được ông tặng. Nó cũng đáng giá như những con chó khác và cháu sẽ trả đủ tiền cho ông. Đây là 2 đô-la 37 xu và cháu sẽ đưa ông thêm 50 xu mỗi tháng đến khi nào đủ tiền.

– Cháu không nên mua con chó này. Nó không thể chạy nhảy vui đùa với cháu như những con chó khác – người chủ tỏ vẻ phản đối.

Cậu bé lặng lẽ đưa tay kéo ống quần lên, để lộ chiếc chân trái bị teo cơ đang được nâng giữ bằng một khung kim loại. Nhìn lên người chủ, nó dịu dàng nói:

– Cháu cũng đâu thể chạy nhảy vui đùa, và con chó này cần một ai đó thông cảm với nó ông ạ!

Nhìn lại cuộc đời của Chúa ta thấy Chúa đã không chỉ nói suông nhưng những điều Ngài dạy thì Ngài đã làm trước.

Lạy Chúa,
Xin cho chúng con
đừng hời hợt khi nghe Lời Chúa,
đừng để nỗi đam mê làm Lời Chúa trở nên xa lạ.
Ước gì ngôi nhà đời chúng con
được xây trên nền tảng vững chắc,
là Lời Chúa, Lời linh thiêng, Lời uy quyền, Lời hằng sống,
Lời chi phối toàn bộ cuộc sống chúng con. Amen.

-------------------------------

 

PS7-C49: Tiến mãi không ngừng


(Trích trong ‘Mỗi Ngày Một Tin Vui’)

 

Ghi lại kinh nghiệm sống của mình trong tập nhật ký có tựa đề là Những người bạn muôn thuở, bà PS7-C49


Ghi lại kinh nghiệm sống của mình trong tập nhật ký có tựa đề là Những người bạn muôn thuở, bà Ressa Marita, vợ của triết gia công giáo người Pháp Jack Maritain đã viết như sau:

“Trong cuộc sống thiêng liêng, chúng ta không nên so sánh mình với ai cả, mà chỉ so sánh mình với mẫu gương trọn lành của Chúa mà thôi. So sánh mình với kẻ khác, ta sẽ thấy mình dễ bị cám dỗ, thấy những điểm tiêu cực nơi anh chị em và trở nên tự kiêu, luôn cho mình là tốt hơn. Nhưng nếu nhìn vào mẫu gương trọn lành của Chúa, ta được mời gọi canh tân liên lỉ, tiến mãi không ngừng, vì Chúa là Ðấng trọn tốt trọn lành vô cùng”.

Những lời tâm sự của bà Ressa Marita hướng chúng ta đến những lời dạy của Chúa Giêsu cho các môn đệ mà tác giả Phúc Âm thánh Luca đã ghi lại nơi chương 6.

Mức độ đo lường của tình yêu thương chúng ta là không có mức độ nào cả, hay đúng hơn là chính mẫu gương trọn tốt trọn lành vô cùng của Thiên Chúa Cha. Bao lâu còn sống trên trần gian này, chúng ta còn cần tiến thêm mãi trên con đường yêu thương. Không ai dám tự phụ cho rằng mình đã thành toàn, đã đạt đến mức độ trọn lành như Thiên Chúa rồi. Những hành động yêu thương được Chúa Giêsu nhắc đến mà tác giả Phúc Âm theo thánh Luca ghi lại là những hành động yêu thương thiết thực, yêu thương kẻ thù, làm ơn cho kẻ ghét mình, chúc phúc cho kẻ nguyền rủa mình, cầu nguyện cho kẻ vu khống mình.

“Hãy ra đi mà không tính toán hơn thiệt, đừng xét đoán, hãy tha thứ”. Ðó là những chân trời mới, bao la, rộng mở tình yêu thương nơi tâm hồn người môn đệ Chúa. Chúng ta không thể nào chỉ nói ngoài môi miệng mà còn cần phải thực hiện tình yêu thương như Chúa đã nêu gương bằng những hành động cụ thể. Nếu không, ta sẽ bị xét xử như là những kẻ giả hình, nói mà không làm, không sống thật Lời Chúa dạy.

Một cô giáo nọ ra bài cho các học sinh như sau: “Chiều nay về nhà, mỗi em phải làm một việc tốt đối với người thân nào đó trong gia đình”.

Ngày hôm sau, một em học sinh đến trường than phiền với cô giáo như sau: “Thưa cô, con không thể tiếp tục làm công tác này được nữa”.

Trước sự ngạc nhiên của cô giáo, học sinh này giải thích như sau: Bữa cơm tối qua con đã khen mẹ nấu ngon. Thay vì vui mừng, mẹ con nổi giận nói con chọc tức và gián tiếp chê bữa ăn không ngon. Con giải thích với mẹ nhưng mẹ không tin, và nổi giận ra lệnh con phải rửa chén để chứng minh cụ thể bữa ăn ngon.

Tiếc thay, em bé thành tâm khen ngợi mẹ, nhưng người mẹ thì ngược lại không tin, cho rằng em giả vờ khen và có hậu ý nào khác. Thay vì yêu thương thật tình và cảm nhận tình thương của anh chị em đối với mình, thì nhiều lúc ta cũng hành động như người mẹ trong câu chuyện vui trên. Ta nghi ngờ tình thương của anh chị em vì có bao giờ ta yêu thương thật sự anh chị em đâu, có chăng chỉ là những lời nói xã giao bên ngoài cho qua lúc. Thật là, suy bụng ta ra bụng người.

Đọc lại đoạn Tin mừng trên, ta cần xét xem mình đã sống những lời dạy của Chúa Giêsu đến mức độ nào rồi? Thánh Luca đã nhấn mạnh đến tình yêu thương nhân từ, trong khi đó tác giả Mátthêu đã ghi lại nơi câu song song “các con hãy nên trọn lành như Cha các con trên trời là Đấng trọn lành”. Sự trọn lành của Thiên Chúa là sự trọn lành của tình yêu thương và lòng nhân từ, không phải tình yêu nhân từ có giới hạn của con người, nhưng là tình yêu thương vô giới hạn của con người, nhưng là tình yêu thương vô giới hạn của Thiên Chúa “Chúng con hãy nhân từ như Cha các con Đấng ngự trên trời là Đấng nhân từ”. Đây là điều mà chúng ta phải cầu xin hằng ngày để có thể sống như Chúa, yêu thương như Chúa và tha thứ như Chúa.

Lạy Chúa, xin hãy ban cho con quả tim của Chúa để con yêu thương như Chúa, nhờ sức mạnh của Chúa nâng đỡ con. Amen.

-------------------------------

 

PS7-C50: Sự tha thứ cho tất cả


(Trích trong ‘Mở Ra Những Kho Tàng’ của Charles E. Miller)

 

Hầu hết mọi người đều biết câu chuyện chiến đấu của Đavit, một thiếu niên đã chiến thắng Gôliat PS7-C50


Hầu hết mọi người đều biết câu chuyện chiến đấu của Đavit, một thiếu niên đã chiến thắng Gôliat, người khổng lồ. Bằng việc đó Đavit đã cứu thoát dân Israel khỏi một chiến tranh khủng khiếp với dân Philistines. Chiến thắng trên đã làm cho toàn dân yêu quý Đavit nhưng đã làm cho Saolô oán ghét. Saolô tự nhủ rằng Đavit là kẻ thù của mình và hắn đang cố gắng tranh đoạt ngai vàng. Vua đã cố gắng nhưng không thành công trong việc giết Đavit, trong bài đọc đầu tiên của ngày hôm nay, Đavit có cơ hội giết vua nhưng vì lòng kính trong đấng đã được Thiên Chúa xức dầu, ông đã từ chối làm việc đó. Ông đã thật sự tha thứ cho vua, người đã luôn luôn tìm cách giết ông.

Ngày hôm nay chúng ta có thể tìm thấy đâu một gương mẫu giống như Đavit? Chắc chắn không phải giữa những chính trị gia đang mạt sát nhau bằng lời nói trên Tivi trong suốt thời gian bầu cử. Chúng ta có một mẫu gương tuyệt hảo trong con người của Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II. Sau khi ngài đã được chữa lành khỏi một cuộc tấn công mưu sát, ngài bị bắn nơi quảng trường thánh Phêrô, một trong những việc đầu tiên ngài làm đó là thăm viếng người đã ám sát ngài trong tù và ban cho hắn sự tha thứ và giao hòa.

Một người đàn ông gian dối tố cáo Đức Hồng Y Bernardin, tổng giám mục của Chicago, đã xâm phạm tình dục hắn ta khi còn trẻ. Người đàn ông chẳng bao lâu đã rút lại câu chuyện lố bịch của mình. Thật dễ hiểu nếu Đức Hồng Y đã đưa ra những lời phản bác mạnh mẽ chống lại những lời gian dối kia. Nhưng đúng hơn là Đức Hồng Y đã tìm đến để ban sự tha thứ cho người đàn ông đó.

Đây là hai mẫu gương kỳ diệu của sự tha thứ. Nhưng chúng ta nhìn qua bên kia những mẫu gương của cn tới con người của Đức Giêsu. Chúa Giêsu đã rao giảng sự nhân từ, sự tha thứ và giao hòa như chúng ta đã nghe trong bài Phúc Âm ngày hôm nay. Giáo huấn của Ngài thì rất nhiều và đối nghịch với những gì chúng ta đã nghe và thấy trong xã hội của chúng ta. Chúa Giêsu cũng thực hành những gì Ngài đã rao giảng. Chúa Giêsu đã nhìn xuống những người đóng đinh Ngài và cầu nguyện: “Lạy Cha, xin tha cho chúng vì chúng không biết việc chúng làm”.

Chúng ta phải trở nên những người đi theo giáo huấn và gương mẫu của Chúa Giêsu. Chúng ta phải có lòng thương xót, tha thứ và có lòng kính trọng. Chúng ta phải đi con đường đó cách công khai riêng biệt. Thí dụ, một số người Công Giáo không đồng ý với Đức Giáo Hoàng và các Giám Mục Mỹ khi họ chống đối lại án tử hình. Đức Giáo Hoàng và các Giám Mục thấy rõ việc hành hình một con người sẽ làm giảm giá trị chúng ta xuống một tình trạng dã man thay vì giáo huấn của Chúa Giêsu đã nâng chúng ta lên. Đó là thời gian mà những người Công Giáo đã bỏ đi những giá trị của một xã hội có tính cách trả thù báo oán để trân trọng nguyên tắc của Đức Kitô. Chúng ta hãy để cho Thiên Chúa ra một hình phạt thích hợp cho những tội nhân tử hình.

Chúng ta được kêu gọi đi theo giáo huấn và gương mẫu của Chúa Giêsu trong những gì đã ảnh hưởng đến cá nhân chúng ta, các bạn không thể sống bao lâu có người nào đó làm tổn thương bạn cách sâu xa hoặc nói những điều xấu xa đằng sau lưng bạn hoặc thật sự làm một điều gì đó hại bạn một cách nghiêm trọng. Những điều tổn thương này chúng ta không được nuôi dưỡng, giữ lại. Chúng ta phải xóa bỏ chúng bằng cách hiến tặng sự tha thứ và giao hòa cho bất cứ ai làm hại mình.

Trong mỗi Thánh Lễ chúng ta nghe tiếng Đức Kitô vang lên: “Này là chén Máu Ta sẽ đổ… Máu này sẽ đổra cho các con và nhiều người được tha tội”. Hãy lãnh nhận Đức Kitô trong phép Thánh Thể, hãy dự phần vào Máu của Ngài đã đổ ra để tha thứ, ban cho chúng ta sức mạnh mà chúng ta cần để tha thứ và giao hòa với mọi người, không được oán ghét hay rắp tâm báo thù. Chúng ta có thể và phải trở nên giống như chính Chúa Kitô.

-------------------------------

Tác giả: Nguyễn Văn Mễn

Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá

Xếp hạng: 5 - 1 phiếu bầu
Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây