Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật Chúa Giêsu Chịu Phép Rửa TN 1-A Bài 151-180: Này là Con yêu dấu của Ta, Con đẹp lòng Ta

Chủ nhật - 08/01/2023 21:10
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật Chúa Giêsu Chịu Phép Rửa TN 1-A Bài 151-180: Này là Con yêu dấu của Ta, Con đẹp lòng Ta
Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật Chúa Giêsu Chịu Phép Rửa TN 1-A Bài 151-180: Này là Con yêu dấu của Ta, Con đẹp lòng Ta

Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật Chúa Giêsu Chịu Phép Rửa TN 1-A Bài 151-180: Này là Con yêu dấu của Ta, Con đẹp lòng Ta

------------------------------------------

Mục Lục:

 

Phúc Âm: Mt 3, 13-17: "Khi chịu phép rửa, Chúa Giêsu thấy Thánh Thần Chúa ngự xuống trên mình Người". 2

TN 1-A151: Con yêu dấu của Cha. 2

TN 1-A152: Vì loài người chúng ta. 6

TN 1-A153: Con Yêu Dấu. 8

TN 1-A154: Lễ Chúa Giêsu Chịu Phép Rửa. 11

TN 1-A155: Con cái Chúa. 12

TN 1-A156: Phép Rửa và Ơn Cứu Chuộc. 14

TN 1-A157: Cuộc gặp gỡ sâu xa với Đức Giêsu Kitô. 15

TN 1-A158: Ơn gọi người Kitô hữu. 16

TN 1-A159: NGƯỜI KITÔ HỮU TRONG CƠN THỬ THÁCH.. 18

TN 1-A160: Biết mình để hạ mình. 20

TN 1-A161: Trời mở ra. 22

TN 1-A162: Phép rửa. 25

TN 1-A163: Chu toàn sứ mạng Chúa Cha trao. 27

TN 1-A164: Suy Niệm của Lm Trần Bình Trọng. 28

TN 1-A165: Ngày hội lớn cho nhân loại 30

TN 1-A166: Này là con Ta yêu dấu. 32

TN 1-A167: Đây con Cha yêu dấu. 33

TN 1-A168: Quí tử thiên đường. 36

TN 1-A169: Trở nên giống Chúa để loan báo tin mừng cứu độ. 39

TN 1-A170: THẦN KHÍ ĐẾN NGỰ TRÊN NGƯỜI. 42

TN 1-A171: Dòng nước tái sinh. 43

TN 1-A172: Chúa Giêsu Chịu Phép Rửa. 45

TN 1-A173: Chúa Giêsu chịu phép rửa. 48

TN 1-A174: Đức Yêsu Chịu Phép Rửa. 51

TN 1-A175: Chúa Giêsu chịu phép rửa. 53

TN 1-A176: Chúa Giêsu chịu phép rửa. 57

TN 1-A177: Này Là Con Ta Yêu Dấu. 67

TN 1-A178: Dòng sông sám hối 77

TN 1-A179: Bí tích Rửa Tội 79

TN 1-A180: Tái tạo thế giới 82

 

---------------------------------

 

Phúc Âm: Mt 3, 13-17: "Khi chịu phép rửa, Chúa Giêsu thấy Thánh Thần Chúa ngự xuống trên mình Người".

 

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.

Khi ấy, Chúa Giêsu bỏ xứ Galilêa mà đến với Gioan ở sông Giođan, để ông làm phép rửa cho. Nhưng Gioan can Người rằng: "Chính tôi phải được Ngài rửa, thế mà Ngài lại đến với tôi sao?" Chúa Giêsu liền đáp lại: "Không sao, vì chúng ta cần chu toàn bổn phận như thế". Và bấy giờ ông Gioan chiều ý Người. Chúa Giêsu chịu phép rửa, rồi bước lên khỏi nước. Này đây các tầng trời mở ra, và Người thấy Thánh Thần Chúa ngự xuống như một bồ câu và đậu trên Người. Và ngay lúc ấy, có tiếng từ trời phán: "Này là Con yêu dấu của Ta, Con đẹp lòng Ta". - Ðó là lời Chúa.

 

-------------------------------

 

TN 1-A151: Con yêu dấu của Cha

 

 – AM Trần Bình An

 

Đức Giám mục Thomas Msusa, thuộc  giáo phận Blantyre, miền Nam Malawi. Sinh ra là đạo TN 1-A151

 

Đức Giám mục Thomas Msusa, thuộc giáo phận Blantyre, miền Nam Malawi. Sinh ra là đạo Hồi giáo, ngài đã trở lại đạo Công giáo. Năm nay ngài 53 tuổi là phó Giám đốc hiệp hội tám nước thành viên Hội đồng Giám mục Phi châu Đông phương. Ngài được thụ phong linh mục ở Dòng Truyền giáo Mẹ Maria, Dòng còn có tên là Dòng Truyền giáo Montfortains. Ngài chia sẻ câu chuyện trở lại đạo Công giáo của mình và của cha mình:

 

 “Tôi làm việc ở địa phận Zomba trong mười năm. Mỗi năm có 100 đến 150 người rửa tội ở nhà thờ chính tòa và còn có nhiều người khác được rửa tội ở các giáo xứ. Tôi hỏi họ vì sao họ trở lại. Họ cho biết nhờ nghe đài phát thanh Radio Maria, một đài rất quan trọng ở đất nước tôi và lúc nào đài cũng có mặt ở những lễ lớn. Trước khi nghe được đài Radio Maria thì họ chỉ nghe toàn tuyên truyền chống đạo Công giáo. Khi biết được sự thật về Giáo hội, họ quyết định theo đạo Công giáo. Đây không phải là vấn đề ở đất nước tôi. Trong làng tôi có đến 99,9 % dân số là người theo Hồi giáo. Cha tôi là một tu sĩ Hồi giáo.

 

Tôi rời nhà lúc lên 7 vì tôi muốn đi học. Tôi ở lại giáo xứ. Đến năm 12 tuổi, tôi xin được rửa tội. Tôi muốn làm linh mục. Và thế là tôi được gởi vào chủng viện. Khi tôi học xong, gia đình không nhận tôi, tôi ở lại giáo xứ. Tôi được thụ phong linh mục và để tạ ơn Chúa, tôi muốn dâng thánh lễ tại nhà. Tôi xin những người trưởng lão trong Giáo hội và xin bác tôi, người đã trở lại Công Giáo, tổ chức cho tôi một thánh lễ ở ngoài trời. Nhiều người trong gia đình tôi và cha tôi đến dự. Cha tôi nói với tôi: «Hồi đó cha không muốn con vào đạo Công giáo nhưng bây giờ cha tin, nhờ con mà có thể tất cả chúng ta sẽ được lên Thiên Đàng».

 

Khi đã làm Giám mục, tôi về nhà và mời bà con đến nhà.  Lúc đó cha tôi quỳ xuống và nói: «Cha xin được rửa tội». Tôi tươi cười nói với cha tôi: «Cha ơi, bao nhiêu năm qua cha nói con sẽ xuống hỏa ngục. Cha muốn xuống theo với con không?» Tôi nói thêm: «Nếu cha muốn theo đạo, cha phải học giáo lý ba năm». Cha tôi chấp nhận và tôi đã rửa tội cho cha tôi năm 2006. Ngày 29 tháng 10 tôi sẽ về Malawi để mang bình an đến cho gia đình tôi. Cha tôi bây giờ đã lớn tuổi và bị bệnh, cha phải tuyên bố trước mặt tất cả mọi người là cha muốn theo đạo, để tránh tất cả mọi vấn đề khi ông chết. Đó là trách nhiệm của tôi, trách nhiệm của một Kitô hữu là cho cha tôi một mộ phần theo đạo Công giáo.

 

Một ví dụ khác, hồi mới đầu cha tôi nói với tôi: «Con sẽ xa văn hóa của chúng ta». Bây giờ ngay cả người tộc trưởng cũng cho tôi một ngôi làng và mời tôi làm trưởng làng. Tôi chăm lo cho 62 gia đình. Là Giám mục, tôi còn nhiều trách nhiệm khác, bây giờ chị tôi là trưởng ngôi làng này. Đó là ngôi làng vừa Công giáo lẫn Hồi giáo. Sau Thượng Hội đồng Phi châu năm 2006, tôi đã mời cả người Công giáo và người Hồi giáo. Chúng tôi bắt đầu bằng dâng thánh lễ và sau đó chúng tôi cùng ăn với nhau. Tôi nói với họ: «Anh chị em hãy quên vấn đề của mình, hôm nay là ngày lễ chung vui». Người công giáo nhận Mình Thánh Chúa trước sự hiện diện của người Hồi giáo. Từ đó, ai cũng sốt ruột mong chờ đến ngày này. (Nguyễn Tùng Lâm dịch, Một giám mục Công giáo rửa tội cho người cha theo đạo Hồi giáo của mình, Phanxicovn)

 

Bí Tích Thanh Tẩy luôn là niềm vui, bình an và hạnh phúc. Tin Mừng Luca hôm nay tường thuật Đức Giêsu chịu Phép Rửa từ tay ông Gioan Tẩy Giả, nêu bật lên tấm gương chói lọi khiêm hạ, cầu nguyện và hiệp nhất của “Chiên Thiên Chúa, Đấng xoá tội trần gian.”

 

Khiêm hạ

 

Trong đời phàm, bản năng con người luôn có xu thế hướng thượng, ước muốn thăng tiến bản thân, mưu tìm vị trí cao hơn thiên hạ để tồn tại và tiến thân, thoả mãn lòng vị kỷ hẹp hòi, tánh kiêu ngạo cố hữu, thói đam mê quyền lực, tật háo danh.

 

Thế nhưng vị ngôn sứ cuối cùng của Cựu Ước là ông Gioan Tẩy Giả, lại chân thật lại hạ mình trước muôn dân, đang lũ lượt kéo đến, sám hối, ăn năn, chờ đợi được lãnh nhận Phép Rửa: “”Phần tôi, tôi rửa anh em trong nước, nhưng Đấng cao trọng hơn tôi đang đến, và tôi không xứng đáng cởi dây giày cho Người, chính Người sẽ rửa anh em trong Chúa Thánh Thần và trong lửa!” Sự khiêm hạ của Gioan thật đáng cho người Kitô hữu khâm phục và noi theo. Tuy thế, tấm gương tự hạ của Đức Giêsu còn sáng chói hơn thế nữa.

 

Khi Đức Giêsu cùng hoà mình vào đám đông, đến xin lãnh nhận Phép Rửa, ông Gioan thấy Người, liền từ chối ngay, vì e rằng làm như thế là quá phạm thượng, bất kính. Nhưng Đức Giêsu thuyết phục Gioan chấp hành. Một sự khiêm hạ vô tiền khoáng hậu. Đấng Thánh Chiên Thiên Chúa tự hạ, dìm mình xuống sông Giocđan, để cho thụ tạo là ông Gioan làm nghi thức thanh tẩy. Trong khi, “Đức Giêsu Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế.” ( Pl 2, 6-7 )

 

Đức Giêsu trong trắng vô ngần, đã tự nguyện hạ mình nhập thể, còn gánh lên vai tất cả tội lỗi nhân loại, trở nên Con Chiên hiến tế hoàn hảo, khấn xin Thiên Chúa Cha thương xót tha thứ.

 

“Con chỉ hiểu được đức khiêm nhượng, khi suy nghiệm cả cuộc đời Chúa Giêsu, con Thiên Chúa hạ mình, chịu mọi sự ngớ ngẩn, dốt nát, hiểu lầm sâu độc suốt 33 năm, vì yêu chúng ta.” ( Đường Hy Vọng, số 510 )

 

Cầu nguyện

 

Để luôn lắng nghe, tâm sự và vâng phục Thánh Ý Thiên Chúa Cha, Đức Giêsu luôn luôn kết hợp mật thiết với Ngài qua những buổi cầu nguyện liên lỉ.“Lúc Chúa Giêsu cũng đã chịu phép rửa xong, Người đang cầu nguyện, thì trời mở ra..”

 

Người cầu nguyện sáng tối hằng ngày, trước và sau khi rao giảng, trước khi quyết định tuyển chọn các môn đệ, cũng như trước cuộc thương khó kinh hoàng.

 

Trước khi chính thức bước vào sứ vụ cao cả, đem Tin Mừng rao giảng đến muôn dân, Đức Giêsu đã vào hoang mạc tĩnh tâm, chay tịnh, cầu nguyện ròng rã suốt 40 ngày đêm. Người cũng luôn mời gọi tín hữu chuyên tâm tỉnh thức và cầu nguyện, hầu xứng đáng lãnh nhận Lòng Thương Xót Chúa. “Hãy tỉnh thức luôn, cầu nguyện luôn, hầu đủ sức thoát khỏi mọi điều sắp xảy đến và đứng vững trước mặt Con người.” ( Lc 21, 36 )

 

“Con hãy cầu nguyện luôn  luôn bất cứ ở đâu. Chúa Giêsu đã nói: “Hãy cầu nguyện không ngừng..” ( Đường Hy Vọng, số 123 )

 

Hiệp nhất

 

Hoà mình vào dòng thác người tỉnh ngộ, ăn năn, sám hối, đến xin ông Gioan Tẩy Giả ban Phép Rửa, Đức Giêsu cùng kề vai, sát cánh, gần gũi, thân thiết đến với những thân phận tội lỗi, mặc dù Người hoàn toàn vô tội. “Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta.” ( Ga 1, 14 ) Bởi vì “Người đến để tìm và cứu những gì đã mất.” ( Lc 19, 10 ), như Người luôn công khai tuyên bố mục đích nhập thể: ”Tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi.” ( Mc 2, 17 ) Như vậy, Đức Giêsu đã tự nguyện trở nên Con Chiên Hiến Tế, lãnh nhận toàn thể tội lỗi con người, chịu hy sinh đền tội thay cho nhân loại.

 

Đức Giêsu còn luôn bộc lộ cho mọi người biết Người đến  trần gian, để thực thi Thánh Ý Cha, cứu chuộc nhân loại khỏi vòng tội lỗi và sự chết: ”Này con đến để thực thi ý Cha.“ ( Dt 10, 7 ) Như thế qua cầu nguyện, Người luôn kết hợp mật thiết, hiệp nhất cùng Thiên Chúa Cha và Chúa Thánh Thần, luôn làm đẹp lòng Thiên Chúa:“Người đang cầu nguyện, thì trời mở ra và Thánh Thần Chúa ngự xuống trên Người dưới hình chim bồ câu, và có tiếng từ trời phán: “Con là Con yêu dấu của Cha, Con đẹp lòng Cha.” Ba Ngôi Thiên Chúa hiệp nhất cùng hiện diện, thật vô cùng kỳ diệu!

 

Qua mầu nhiệm nhập thể, Đức Giêsu đã kiến tạo nên sự kết hiệp mật thiết, hiệp nhất đất với Trời, Thiên Chúa với nhân loại, con người hài hoà với nhau và con người với mọi loài thụ tạo.“Anh  em hãy thiết tha duy trì sự hiệp nhất mà Thần Khí đem lại, bằng cách ăn ở thuận hoà gắn bó với nhau. Chỉ có một Chúa, một niềm tin, một Phép Rửa. Chỉ có một Thiên Chúa, Cha của mọi người, Đấng ngự trên mọi người, qua mọi người và trong mọi người.” ( Ep 4, 3-6 )

 

“Tôi tin có Hội Thánh, duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền.” Một niềm tin, một hạnh phúc, một quyết tâm.” ( Đường Hy Vọng, số 250 )

 

Lạy Chúa Giêsu, qua trình thuật Tin Mừng hôm nay Chúa muốn dạy bảo chúng con biết sống khiêm nhường, cầu nguyện và hiệp nhất với Chúa và tha nhân, để có thể xứng đáng lãnh nhận ơn cứu rỗi, còn được vinh dự làm “con yêu dấu”, nhờ Lòng Thương Xót Chúa vô cùng.

 

Lạy Mẹ Maria, Nữ Vương Đồng Trinh đã khiêm hạ, chỉ dám tự nhận làm Nữ tỳ Thiên Chúa, luôn vâng phục Thánh Ý Chúa. Mẹ đã được hồng ân hiệp nhất với Con Mẹ trong thân xác lẫn linh hồn. Khấn xin Mẹ chỉ bảo và cầu bầu chúng con biết hạ mình, cầu nguyện noi theo Mẹ và Con Mẹ, để luôn có Chúa ở cùng. Amen.

 

-------------------------------

 

TN 1-A152: Vì loài người chúng ta

 

Cha Zundel có một nhận định như sau: “sự khiêm nhường nhất của Thiên Chúa là khi Ngài chấp TN 1-A152

 

nhận cho con người dùng ngôn ngữ của mình để nói về Ngài”. Bởi lẽ, ngôn ngữ của con người chúng ta không thể làm diễn tả hết sự thật về Thiên Chúa, đôi khi còn làm méo mó khuôn mặt thật của Ngài nữa. Hôm nay, mừng lễ Chúa Giêsu chịu phép Rửa, chắc chắn khi người ta thấy Đức Giêsu đứng sắp hàng cùng với đám tội nhân, thì họ sẽ nghĩ rằng Ngài cũng là một tội nhân. Đây cũng là một sự khiêm nhường của Thiên Chúa. Ngài chấp nhận cho người khác nghĩ sai về Ngài. Nhưng chúng ta thử hỏi: Tại sao Thiên Chúa lại làm như thế? Thưa vì Ngài yêu thương con người và Ngài muốn làm bạn với hết mọi người. Đây chắc hẳn là mầu nhiệm của tình yêu mà chúng ta chưa hiểu thấu hết được.

 

Có một câu chuyện kể như sau: Có một vị quan lớn mở tiệc mời nhiều người đến dự. Tất cả các người được mời đều ăn mặc sang trọng và dùng xe đi đến. Trong số ấy có một người khách già. Rủi thay, vì già yếu nên ông cụ này khi xuống xe đã trượt chân té vào vũng bùn. Khách đến dự tiệc được mộp phen cười thoả thích. Vị khách già này xấu hổ và cảm thấy mình không xứng đáng vào dự tiệc nữa, ông quyết định quay về nhà của mình. Gia nhân của vị quan nài nỉ cách mấy ông cũng không chịu ở lại dự tiệc. Rồi bất ngờ, vị quan chủ tiệc bước ra sân, đi tới chỗ vũng nước đó, rồi cố tình té ngã vào vũng nước mà ông cụ đã té trước đó. Thế là áo quần của ông quan cũng dơ dáy y như cụ già kia. Mọi người chung quanh chẳng ai dám cười nhạo nữa! Sau đó, vị quan lớn đến cầm lấy tay ông cụ đưa vào phòng tiệc. Ông cụ chẳng còn lý do nào để chối từ. Chỉ có hành động cố tình té ngã của vị quan lớn kia, mới có thể đưa ông cụ vào bàn tiệc.

 

Hình ảnh và hành động của vị quan lớn trong câu chuyện trên đã minh hoạ cho chúng ta thấy được phần nào về hình ảnh của Chúa Giêsu. Ngài là Đấng cực thánh mà đã tự “té vào” thế gian để dẫn đưa con cháu Ađam bước vào dự tiệc cưới Thiên đàng.

 

Khi sinh xuống làm người trong hình dáng của một trẻ thơ yếu ớt, nghèo khổ, thiếu thốn mọi bề, Chúa Giêsu đã trở thành trung gian nối kết trời với đất. Ngài đã từ trời cao bước chân xuống đất thấp đến với con người để con người từ đất thấp bước chân lên trời cao. “Đất với trời giao duyên, Thiên Chúa đến ở với con người”. Rồi hôm nay, khi sắp hàng trong đám tội nhân, Chúa Giêsu đã cất khỏi mọi rào cản, mọi khoảng cách để con người được tự do đến với Thiên Chúa và được Ngài mở rộng vòng tay ôm lấy tất cả.

 

Thánh Gioan tông đồ đã định nghĩa: “Thiên Chúa là Tình Yêu”, nhưng không ai thấy được tình yêu cả. Người ta chỉ có thể thấy được những bằng chứng của tình yêu mà thôi. Và Chúa Giêsu của chúng ta đã để lại cho chúng ta rất nhiều bằng chứng của tình yêu: Xuống trần vì yêu, sống vì tình yêu, làm mọi việc tốt lành vì tình yêu, chết vì yêu và sống lại cũng vì tình yêu. Làm sao kể hết được những việc Chúa Giêsu đã làm để minh chứng cho tình yêu mà Ngài thực hiện trong suốt cuộc đời dương thế của Ngài. Ngài yêu thương con người bằng chính tình yêu của Thiên Chúa Cha yêu thương Ngài: “Đây là Con Ta rất yêu dấu, đẹp lòng Ta mọi đàng”.

 

Chúa Giêsu làm đẹp lòng Chúa Cha mọi đàng nhờ biết Ngài biết ý của Cha mình và Ngài luôn chu toàn mọi sự đúng theo ý Chúa Cha dù mình có “tan nát tấm thân” đi chăng nữa. Ngài đã từng nói với các tông đồ rằng: “lương thực nuôi sống Thầy là làm theo ý của Cha Thầy”. Và trong lúc cô đơn nhất, đau khổ nhất, Ngài vẫn thân thương với Cha: “Xin đừng theo ý Con, nhưng xin làm theo ý Cha”. Đó là tư cách làm Con của Chúa Giêsu đối với Chúa Cha dù Ngài vẫn là Thiên Chúa, đồng bản tính với Chúa Cha của mình.

 

Để biết được Thánh ý Chúa Cha trong cuộc đời này, ta phải làm gì? Làm sao biết ta biết được Thánh ý Chúa? Ý Chúa Cha trong cuộc đời chúng ta được thể qua lương tâm ngay lành của chúng ta, qua Lời Chúa trong Kinh Thánh đặc biệt là Giới Luật Yêu thương, qua 10 Giới răn của Chúa cũng như qua những Giáo huấn chính thức của Hội thánh dạy chúng ta. Khi ra sức thực hành những điều ấy, chắc chắn chúng ta sẽ được Chúa Cha nói với chúng ta rằng: “Con là con yêu dấu của Cha”.

 

Hãy trở thành những người con yêu dấu của Cha trên trời. Hãy nhiệt tâm sống niềm tin của mình trong mọi hoàn cảnh của cuộc sống theo gương của chính Chúa Giêsu để lại cho chúng ta. Hãy để cho “Tình yêu Đức Kitô thúc bách chúng ta” để chúng ta dám ra khỏi con người của mình, sống liên đới trách nhiệm với mọi người hầu ý Chúa Cha được thể hiện trong trần gian này. Khi hoàn tất sứ mạng cao quý này với lòng nhiệt tâm và yêu mến, chúng ta sẽ được theo chân Chúa Giêsu bước vào trời cao hưởng hạnh phúc muôn đời.

 

------------------------------

 

TN 1-A153: Con Yêu Dấu 

 

– AM Trần Bình An

 

Anh Sanjay Kumar, một thợ điện 42 tuổi đã gánh cha và mẹ trên vai đi suốt quãng đường 216km, từ TN 1-A153

 

Anh Sanjay Kumar, một thợ điện 42 tuổi đã gánh cha và mẹ trên vai đi suốt quãng đường 216km, từ Uttar Pradesh đến thủ đô Delhi, Ấn Độ, để giúp hai vị phụ huynh thực hiện ước nguyện, được tắm nước thánh sông Hằng ở Haridwar.

 

“Rất nhiều bạn trẻ không hiểu được niềm hạnh phúc được phục vụ cha mẹ. Tôi gánh cha mẹ trên vai để thể hiện sự kính trọng và biết ơn vì họ đã cho tôi được sống trên thế giới này. Đối với tôi, họ chính là những vị thần.” Kumar nói.  Cha mẹ của Kumar là ông Lala Ram, 95 tuổi và bà vợ, 80 tuổi đã rất cảm động trước hành động của con trai mình.

 

“Chúng tôi đã cản nó đừng nên làm việc này, nhưng nó không chịu nghe, lại còn quỳ xuống xin phép.” Mẹ anh cho biết. Bất chấp trời mưa to, đường lầy lội, Kumar vẫn gánh cả cha và mẹ cùng lúc trên vai đi một quãng đường khoảng 25-30km mỗi ngày. Họ chỉ dừng lại giữa đường để rửa ráy và ăn uống. Mỗi lần dừng lại, Kumar đều quỳ xuống chân cha mẹ và nhận lời chúc phúc của họ. Câu chuyện này lan đi rất nhanh từ làng này sang làng khác. Hàng ngàn người dân đã đến gặp họ để nhận lời chúc phúc của cha mẹ Kumar.  (theo Hindusantimes 3/8/2010)

 

 Bài trích thuật Tin Mừng thánh Luca hôm nay còn giới thiệu một người con hiếu thảo vô cùng hơn nữa. Không ai có thể mường tượng nổi rằng, con một bậc đại vương lại sinh hạ nơi hang bò lừa hôi hám, trong đêm đông giá rét, trong sự ghẻ lạnh của thôn xóm. Không ai có thể tin rằng, người con đó hoàn toàn tự nguyện, rời bỏ chốn cao sang, xuống lám thân phận người nghèo nàn, cùng đinh. Thực tế, Cha Người còn uy danh gấp bội vua chúa thế gian. Thế mà Người đã vâng lời nhập thể, để thi hành sứ mạng cứu nhân độ thế.

 

Vâng lời nhập thể

 

Thiên Chúa là Tình Yêu. Ngài đã tác tạo muôn vật, muôn loài, và nhất là dựng nên con người. Nhưng con người sớm vong ân bội nghĩa, phạm tội, chống báng lại Đại Ân Nhân. Nhưng Tình Yêu Chúa không hề suy giảm, đã cho Con Một xuống thế ở giữa loài người, để cứu thoát khỏi ách phạt muôn đời. Người Con vâng phục và khiêm nhường nhập thế trong cảnh cơ hàn. Thái độ này mới có thề xóa nhòa đi tội bất tuân và kiêu ngạo của tổ tông loài người. Nên ngày Chúa Giêsu giáng sinh trở nên ngày hồng phúc cho toàn thể nhân loại.

 

Con người thì thường trái lại: “Con vua thì được làm vua, con của sãi chùa thì quét lá đa.” Mặc nhiên công nhận cái tôn ti trật tự đó, hầu như đúng đắn và hợp tình hợp lý, dù rất phi nhân bản và bất công. Nhưng Thiên Chúa không chấp nhận thói đời đó. Ngay bản thân mỗi người, cũng khó thoát ra khỏi tháp ngà của cái tôi bền vững và độc đoán. Khó thoát khỏi những đam mê hưởng thụ, để quan tâm, giúp đỡ, an ủi và chia sẻ với tha nhân

 

 Vâng lời gánh tội trần gian

 

Người Con tinh tuyền, chẳng hề nhuốm tội tình nào, nhưng Người cũng sánh vai với dân chúng tội lỗi, xin ông Gioan Tẩy Giả làm Phép Rửa: “Khi toàn dân chịu phép rửa, Đức Giê su cũng chịu phép rửa.” (Lc 3, 21)

 

Khi xin ông Gioan làm phép rửa, Người đồng hành cùng dân Người trên đường sám hối. Người khiêm nhường tự hạ, bên cạnh những kẻ gian manh, dâm ô, độc ác. Đồng thời, Người cũng chính thức gánh nhận tội lỗi loài người, để rồi hóa giải bằng chính cuộc Khổ Nạn sau này. Người chính là con chiên hy tế chuộc tội với Chúa Cha.

 

Con người thì lại chọn thái độ mackeno của quan Philatô: Rửa tay vô trách nhiệm. Dửng dưng, vô cảm với tội ác, với gian manh, với thói xấu và với cả sự đau khổ của đồng loại. Cơn cám dỗ này như chứng bịnh hay lây, đang lan tràn như vũ bão trong xã hội thực dụng, khiến cho lương tâm dần trở nên băng giá với đồng loại. Xa nhau, dần coi nhau như thù địch cần loại bỏ.

 

 Gắn bó mật thiết với Chúa Cha

 

Người luôn cầu nguyện liên lỷ với Thiên Chúa hằng ngày, tỏ ra mối liên kết gắn bó chặt chẽ với Chúa Cha. Ngay khi đi rao giảng sau này, dù mệt nhọc, dù mải mê chăm lo đoàn dân bơ vơ không người yên ủi, Chúa Giêsu vẫn không hề sao nhãng, dành thì giờ chiều tối, để thiết tha cầu nguyện.

 

Do vậy, vừa lãnh nhận phép rửa xong, Người liền sốt sáng “cầu nguyện, thì trời mở ra, và Thánh Thần ngự xuống trên Người, dưới hình dáng như chim bồ câu.”(Lc 3, 22) Mặc khải cho toàn dân thấy Người chính là Đấng Messia, chính là Ngôi Hai nhập thể. Đấng mà dân Chúa hằng mong đợi bao lâu.

 

Con người trái lại thường kiêu ngạo, tự mãn, vô ơn, khg hề nhìn nhận Tất cả đều là hồng ân. Nên không cần cầu nguyện, không cần tạ ơn và ngợi khen Thiên Chúa. Vẫn cậy vào sức mình, cậy vào tài năng và may mắn, con ngưới thường hợm hĩnh hãnh diện về bản thân mình, mà không cần biết ân huệ từ đâu ban cho mình..

 

 Con dấu yêu

 

Với tấm lòng vâng phục, khiêm nhường và câu nguyện, Chúa Giêsu được nhìn nhận xứng đáng là Người Con dấu yêu. “Lại có tiếng từ trời phán rằng: Con là con yêu dâu của Cha; Cha hài lòng về con.” (Lc 3, 22)

 

Người con hiếu thảo là luôn biết vâng phục theo ý cha. Chúa Giêsu luôn làm theo Thánh Ý Cha. Như khi mới 12 tuổi, Người ở lại rao giàng trong Đến Thờ. Người đặt mối tương quan với Thiên Chúa, bên trên tương quan huyết thống. Luôn luôn dành ưu tiên cho Chúa.

 

Người con yêu dấu luôn làm đẹp lòng cha. Chúa Giêsu chấp nhận cuộc sống bần hàn, chấp nhận bị xua đuổi, bị đố kỵ, ganh ghét, thù địch, vì không hề sống theo ý riêng, không theo bản năng con người, vốn ham sống sợ chết, ham hưởng thụ, ăn ngon, mặc đẹp, vinh thân phì gia. Hơn nữa, Người còn chấp nhận cuộc đời sóng gió, kết thúc bằng cái chết khổ nhục, để thực hiện hoàn hảo công cuộc cứu rổi loài người khỏi chết lầm than.

 

Người con yêu dấu luôn biết phụng dưỡng cha, hầu chuyện, gặp gỡ, thăm hỏi, tâm sự với cha. Bằng những buổi cầu nguyện liên lỷ và sốt sắng, Chúa Giêsu luôn hiện hữu bên cạnh Chúa Cha.

 

Chúa Cứu Thế đã cách mạng, muôn triệu người hưởng ứng, khẩu hiệu cùa Ngài: “Vâng lời đến chết!” ( Đường Hy Vọng, 395)

 

Con chỉ hiểu được đức khiêm nhượng, khi suy nghiệm cả cuộc đời Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa hạ mình chịu mọi sự, ngớ ngẩn, dốt nát, hiểu lầm sâu độc, suốt 33 năm vì yêu chúng ta.”(Đường Hy Vọng, 510)

 

Lạy Chúa Giêsu, Người bắt đầu sứ vụ bằng khiêm tốn nhận phép rửa, xin dạy cho con biết khiêm nhường hối lỗi, để nhận được sự thứ tha của Thiên Chúa.

 

Lạy Mẹ Maria, xin giúp con biết vâng lời và khiêm nhường như Mẹ, để xứng đáng lãnh nhận ơn Đức Chúa Thánh Thần, hầu con thêm sức mạnh chống trả các cơn cám dỗ, mà trung thành đi theo Chúa mãi. Amen.

 

-------------------------------

 

TN 1-A154: Lễ Chúa Giêsu Chịu Phép Rửa

 

“Đức Giêsu cũng chịu phép rửa” (Lc 3,21)

 

Đức Giêsu chuẩn bị thi hành sứ mạng của mình bằng hai việc quan trọng, thứ nhất là đời sống TN 1-A154

 

Đức Giêsu chuẩn bị thi hành sứ mạng của mình bằng hai việc quan trọng, thứ nhất là đời sống nội tâm với việc ăn chay và cầu nguyện trong sa mạc suốt 40 ngày đêm, thời gian đủ dài để suy nghĩ, tìm kiếm thánh ý Thiên Chúa và nền tảng bước vào sứ mạng quan trọng. Thứ hai, Ngài chịu phép rửa sám hối của Gioan như bao nhiêu người dân thường khác.

 

Biến cố Giáng Sinh, Thiên Chúa đã chấp nhận hoàn toàn sống thân phận con người như chúng ta. Kể từ đây Chúa Giêsu sống như con người chia sẻ và đón nhận kiếp người. Cụ thể là Ngài “cũng chịu phép rửa” như những con ngươi đồng thời với mình chuẩn bị tâm hồn chờ đợi Đấng cứu thế. Nhưng khác biệt ở đây Ngài chính là Đấng cứu thế.

 

Sự kiện Chúa Giêsu chịu phép rửa là lúc ý định của Chúa Cha muốn giới thiệu Ngài cho nhân loại, Ngài chính là Con Thiên Chúa, là Đấng cứu độ và cũng như Ngài thực sự bắt đầu đời sống công khai rao giảng Tin Mừng cứu độ, Ngài cũng chính là Đấng cứu độ. Ai nghe, tin và sống như Ngài thì được cứu độ.

 

Dân chúng vẫn còn mơ hồ về Đấng cứu thế, họ lẫn lộn giữa Gioan và Đức Giêsu, lẫn lộn giữa phép rửa của Gioan và Đức Giêsu. Giờ đây Thiên Chúa Cha khẳng định chính thức và công khai giới thiệu cho họ biết Chúa Giêsu mới là Đấng cứu độ. Chỉ nơi Ngài và lãnh nhận phép rửa của Ngài bởi “Thánh Thần và lửa” sẽ mang đến cho chúng ta ơn cứu độ.

 

Với việc Chúa Giêsu chịu phép rửa và sự giới thiệu của Chúa Cha, chúng ta thấy Chúa Giêsu đã hành động như bao con người thiện chí, muốn sám hối quay về với Thiên Chúa. Ngài noi gương cho chúng ta trong cuộc sống hằng ngày, sống hoà đồng, chia sẻ, thông cảm và đón nhận giới hạn của nhau. Ngài không phân biệt, khoảng cách hay vạch rõ ranh giới với con ngươi dù Ngài vẫn là Thiên Chúa. Ngài yêu thương và cứu độ chúng ta. Nhìn lên Chúa Giêsu chúng ta hãnh diện vì mình tôn thờ một Đấng đích thực trong đời sống đức tin và hành trình đời người.

 

Ước gì mỗi ngày chúng ta càng ngày tin mạnh mẽ vào Chúa, luôn tuyên xưng niềm ra bên ngoài cho mọi người xung quanh và làm cho mọi nhận ra rõ ràng rằng Đức Giêsu là Đấng cứu độ, Đấng mang lại bình an và hạnh phúc cho mọi người.

 

Lạy Chúa, qua bí tích Rửa tội chúng ta được phúc làm con Chúa, xin con luôn biết noi gương Chúa đem ơn cứu độ, bình an và hạnh phúc cho mọi người bằng cách sống giống như Chúa.

 

-------------------------

 

TN 1-A155: Con cái Chúa.

 

Như chúng ta đã biết: Geoge Wasinhton là vị tướng tài ba và là vị tổng thống đầu tiên của Hoa TN 1-A155

 

Như chúng ta đã biết: Geoge Wasinhton là vị tướng tài ba và là vị tổng thống đầu tiên của Hoa Kỳ. Thế nhưng, rất ít người biết ông còn là một tấm gương sống động về lòng hiếu thảo đối với người mẹ của mình.

 

Sau những trận chiến cam go nhất, cũng như giữa những công việc bề bộn và nặng nề nhất của một vị nguyên thủ quốc gia, ông vẫn dành thời giờ về thăm hỏi và trò chuyện lâu giờ với người mẹ già. Một hôm mẹ đã hỏi ông như sau: Tại sao con dành nhiều thời giờ thăm nom mẹ như vậy? Ông liền trả lời: Thưa mẹ, ngồi bên mẹ để lắng nghe mẹ nói thực không phải là việc mất giờ. Chính sự bình thản và lòng tốt của mẹ dạy con muốn tiếp tục sống.

 

Đoạn Tin Mừng hôm nay, cho chúng ta thấy mối liên hệ giữa Đức Kitô với Chúa Cha, cũng như giữa chúng ta với Thiên Chúa. Trước hết là mối liên hệ giữa Đức Kitô và Chúa Cha.

 

Như chúng ta đã biết Đức Kitô chính là người con duy nhất của Chúa Cha. Vì vâng phục Ngài đã xuống thế làm người để cứu độ chúng ta. Ở mọi nơi và trong mọi lúc, nỗi ưu tư số một của Ngài là chu toàn thánh ý Chúa Cha, đến nỗi thánh Phaolô đã phải viết: Ngài đã vâng phục cho đến chết và chết trên thập giá.

 

Chính vì thái độ vâng phục vô điều kiện này, mà hôm nay bên bờ sông Giođan, cũng như mấy năm sau trên đỉnh Taborê, chính Chúa Cha đã tuyên phong Ngài: Này là con Ta yêu dấu. Ta hài lòng về con. Hãy vâng lời Ngài.

 

Còn mối liên hệ giữa chúng ta và Thiên Chúa thì sao? Như chúng ta đã biết nhờ công nghiệp tử nạn của Đức Kitô qua dòng nước của bí tích Rửa Tội, chúng ta được tẩy xoá khỏi mọi dấu vết tội lỗi, lấy lại được địa vị làm con cái Thiên Chúa. Thế nhưng để xứng đáng làm con cái Ngài, thì chúng ta cần phải vâng phục, cần phải chu toàn thánh ý Ngài trong lòng cuộc đời chúng ta.

 

Thực vậy, một người con ngoan sẽ không phải là một người con vùng vằng cãi trả mỗi khi cha mẹ sai bảo điều gì. Trái lại phải là một người con mau mắn vui vẻ tuân giữ những điều cha mẹ chỉ dạy. Đối với Thiên Chúa cũng vậy. Để xứng đáng làm con cái Chúa, chúng ta cũng phải vui vẻ và mau mắn thực thi thánh ý Ngài. Thánh ý ấy được biểu lộ qua tiếng nói lương tâm, qua mười điều răn Ngài truyền cho Maisen trên núi Sinai, qua những điều Ngài truyền dạy trong Kinh Thánh, nhất là qua giới luật yêu thương của Phúc Âm. Cũng như qua những điều Giáo Hội, thay quyền Chúa mà chỉ dạy cho chúng ta.

 

Thế nhưng, nếu như lúc này Ngài nhìn mỗi người chúng ta, liệu Ngài có thể nói lên như xưa Ngài đã nói với Đức Giêsu bên bờ sông Giođan: Này là con Ta yêu dấu, đẹp lòng Ta mọi đàng hay không?

 

-------------------------

 

TN 1-A156: Phép Rửa và Ơn Cứu Chuộc

 

Ơn cứu chuộc đã được Thiên Chúa hứa ban cho loài người và được các Tiên tri nhắc lại nhiều TN 1-A156

 

Ơn cứu chuộc đã được Thiên Chúa hứa ban cho loài người và được các Tiên tri nhắc lại nhiều lần trong thời Cựu ước, đặc biệt là Tiên tri Isaia trong Bài đọc I: Khi Đấng Cứu Thế đến, Người sẽ xét xử các dân cách công bình và đặt công lý trên địa cầu. Muôn dân trông đợi lề luật Người; Người đối xử nhân từ với nhân lọai, mở mắt người mù, giải phóng nhân loại khỏi ách nô lệ của tội lỗi và sự chết.

 

Lời hứa đó đã được ứng nghiệm rõ ràng nơi Chúa Giêsu. Ngài đã đến trong trần gian. Và việc Ngài chịu phép rửa tại sông Giođan hôm nay tiên báo trước cái chết của Ngài trên thánh giá: Ngài sẽ dùng máu mình mà rửa sạch tội lỗi thế nhân.

 

Chính đức Giêsu, Con Chiên Vô Tỳ Tích đã đến dòng sông Giođan cùng với những tội nhân. Ngài tự đồng hóa mình với tội nhân và gánh lấy mọi tội lỗi nhân loại đã xúc phạm đến Thiên Chúa quyền uy vô cùng. Ngài là một con người, với tư cách một người đại diện cho nhân loại, đồng thời Ngài cũng là Thiên Chúa đã dâng mình làm của lễ lên Thiên Chúa Cha mà chuộc lại lỗi lầm của nhân loại. Vì thương chúng ta, Ngài đã không quản việc hóa thân làm người, bỏ đi khoảng cách vốn có giữa vị Thiên Chúa là Tạo Hóa với loài thụ tạo thấp hèn là nhân loại tội lỗi. Ngài làm người để đồng cảm với những nỗi khổ của con người, chia sẻ thân phận mỏng dòn của con người, ngay cả cái chết Ngài cũng không từ nan.

 

Trong bài Phúc âm hôm nay, chúng ta thấy rõ: Ý định cứu chuộc lỗi lầm cho con người của Chúa Giêsu được Chúa Cha ưng nhận. Khi để Gioan Tẩy Giả làm phép rửa cho mình, Chúa Giêsu đã khẳng định vai trò gánh tội thay cho nhân loại và Chúa Cha lúc đó đã phán lời ưu ái với một con người: Đây là Con Yêu Dấu của Ta, Con đẹp lòng Cha. Chúa Giêsu là một con người như chúng ta nhưng luôn làm theo ý Chúa Cha và được Chúa Cha ưu ái đặc biệt. Đến lượt chúng ta, những kẻ tin theo Chúa Giêsu rồi cũng sẽ được Chúa Cha gọi tên vào Nước Trời với lời thân ái: hỡi con yêu dấu của ta, các con đã nghe lời Con Chí Ái của Ta, hãy vào hưởng phúc Thiên Đàng đời đời với Chúng Ta.

 

Vấn đề là loài người có nhận ra tình thương của Chúa Giêsu hôm nay hay chưa, có nhận biết sự cao trọng và cần thiết của Ơn Cứu Chuộc hay chưa? Ơn Cứu Chuộc cần thiết đến độ Ngôi Hai Thiên Chúa thấy cần phải rời bỏ trời cao đến ở với loài người, trở nên bé nhỏ như loài người để giải thóat con người khỏi sự chết đời đời. Thiên Chúa yêu thương chúng ta, Ngài thấy rõ điều gì cần thiết và ích lợi cho chúng ta nhất. Còn loài người chúng ta có khi lại đáp trả lại tấm lòng ưu ái đó bằng sự thờ ơ, từ chối, phủ nhận sự hiện diện của Ngài bằng nhiều hình thức khác nhau! Nhiều người kitô hữu chỉ giữ đạo hình thức, vì luật buộc thôi, chưa tương xứng gì với tình thương hy sinh của Ngôi Hai cứu chuộc! Ngày hôm nay, trong việc đầu tư buôn bán, người ta hay tính toán so đo sao cho: làm ít, lời nhiều. Trong việc giữ đạo, chúng ta không nên so đo tính tóan với Chúa. Chúng ta giữ đạo, đọc kinh, đi lễ không thể chỉ vì cái lợi vật chất, mong ăn nên làm ra, mau giàu có hoặc để khỏi bệnh hoạn yếu đau nhưng phải nhắm mục tiêu xa hơn, chính đáng hơn là phần rỗi linh hồn và hạnh phúc đời đời. Những mục tiêu như sức khỏe, học hành, làm ăn khá tuy cũng cần nhưng chỉ là thứ yếu so với hạnh phúc đời đời. Vì vậy, tuy chúng ta có thể cầu xin cho mình tất cả những thứ đó, nhưng lời cuối cùng khi cầu nguyện là: con sẵn sàng đánh đổi tất cả để được hạnh phúc đời đời bên Chúa. Vì Chúa Giêsu cũng đã sẵn sàng đánh đổi mạng sống mình trên thập giá cho hạnh phúc của chúng ta. Chúa yêu thương chúng ta vô cùng, thì chúng ta cũng phải đáp trả lại tương xứng với tình yêu ấy.

 

Xin Chúa cho chúng con biết nhận ra tầm quan trọng của hạnh phúc đời đời để mọi hoạt động, mọi ước mơ trong cuộc đời này đều nhắm tới gia tài đời sau là hạnh phúc Thiên đàng, nơi Chúa hiển trị.

 

-----------------------------

 

TN 1-A157: Cuộc gặp gỡ sâu xa với Đức Giêsu Kitô.

 

(Trích trong ‘Lương Thực Ngày Chúa Nhật’ – Achille Degeest)

 

Sự ăn năn sám hối thánh Gioan Tẩy Giả rao giảng là âm vang của truyền thống Do Thái. Chúng ta TN 1-A157

 

Sự ăn năn sám hối thánh Gioan Tẩy Giả rao giảng là âm vang của truyền thống Do Thái. Chúng ta trích dẫn đoạn văn tuyệt tác Ezêkiel sẽ đọc trong phụng vụ Phục Sinh (thật vậy, việc Chúa chịu phép Rửa tiên báo mầu nhiệm Vượt Qua): “Trên các ngươi Ta sẽ rảy nước trong sạch và các ngươi sẽ được trong sạch… Ta sẽ ban cho các ngươi một tâm hồn mới, một tinh thần mới”. Sự thanh tẩy bằng nước là một chủ đề dễ hiểu, nhưng dẫu sao nguồn mạch phải trong sạch để cung cấp một thứ nước trong sạch. Nguồn thanh tẩy thiêng liêng là Thiên Chúa. Mà tác động của Người không chỉ ít hay nhiều nhắm vào bề ngoài con người. Sự thanh tẩy không chỉ là một sự dội nước đơn giản, nó thấm sâu tâm hồn và thần trí như lửa vào sâu trong vật bị nung đốt để loại bỏ tất cả những gì là cặn bã dơ bẩn. Phép Rửa của thánh Gioan khuyên giục dân chúng cải thiện nếp sống, chuẩn bị tâm hồn để gặp gỡ Chúa Giêsu. Phép Rửa của Đức Giêsu thấm sâu nội tâm, cho chúng ta một tâm hồn đổi mới nhờ ơn Chúa Thánh Linh. Chúng ta có được hai kết luật:

 

1) Nhờ dấu chỉ nào để trong thế giới ngày nay, nhận biết ai là tiền hô đích thật? Người ta nói rất nhiều về thế giới đang đột biến, đang chuyển mình, từ mọi phía nổi lên những tiếng nói tiên đoán về ngày mai của Giáo Hội. Trên bình diện đức tin, người ta không lầm khi tự hỏi: những “tiên tri” ấy có hướng dẫn đến với Đức Giêsu Kitô không? Tiếng nói của Gioan Tiền Hô hướng dẫn thính gỉa đến với Đức Giêsu. Những “tiên tri” ngày nay hô hào thay đổi thái độ, thay đổi điều kiện sinh hoạt, thay đổi cơ cấu xã hội, v.v… nhưng không hướng dẫn người ta đến với Đức Kitô, nghĩa là không hô hào thay đổi tâm hồn nhờ tác động Chúa Thánh Linh. Xét về bình diện Giáo Hội, tiếng nói của họ chẳng có giá trị loan báo Tin Mừng. Những tiền hô đích thật thì hướng dẫn đến cuộc gặp gỡ thật sự và thân thiết với Đức Kitô.

 

2) Con là Con chí ái của Ta, được Ta hết lòng sủng mộ. Chúng ta đồng quan điểm với thánh Luca rằng: Tiếng phán của Thiên Chúa trên con người của Đức Giêsu là một biến cố. Trong bối cảnh chung là sự thanh tẩy dân chúng và bối cảnh riêng là lời cầu nguyện của Đức Giêsu, thánh chép sử đặt lời phán của Thiên Chúa như một đoạn kết thúc. Đây là một biến cố có hai diện. Trước hết là một sự tiên báo rõ ràng về mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi. Tiếng phán từ trời cao vọng xuống chính là tiếng nói của Đức Chúa Cha chỉ định Đức Giêsu là Con và Chúa Thánh Linh ngự xuống người ấy mà sau này đức tin sẽ nhận ra là Người –Chúa. Kế tiếp, biến cố cho thấy Đức Giêsu được hưởng trọn vẹn niềm sủng ái của Thiên Chúa. Điều này có nghĩa chúng ta làm đẹp lòng Thiên Chúa nhiều hay ít tuỳ theo mức độ hiệp thông nhiều hay ít với Người –Chúa là Đấng duy nhất được Thiên Chúa hết lòng sủng ái.

 

-------------------------

 

TN 1-A158: Ơn gọi người Kitô hữu 

 

– McCarthy.

 

ƠN GỌI CỦA NGƯỜI KITÔ HỮU

 

Hiện nay, Giáo Hội rất bận tâm với những ơn gọi. Nhưng ở đây, ơn gọi được hiểu theo một cách TN 1-A158

 

Hiện nay, Giáo Hội rất bận tâm với những ơn gọi. Nhưng ở đây, ơn gọi được hiểu theo một cách rất giới hạn. Một cách cơ bản, chúng ta đang nói về ơn gọi trở thành linh mục. Đây là một ơn gọi quan trọng, nhưng không phải là ơn gọi quan trọng nhất trong Giáo Hội.

 

Ơn gọi đầu tiên và quan trọng nhất, phổ biến đối với tất cả những người đã được rửa tội, đó là ơn gọi trở thành người Kitô hữu, hoặc ơn gọi làm người môn đệ của Đức Giêsu. Đây là ơn gọi cốt lõi. Tất cả những ơn gọi khác trong Giáo Hội đều phải được coi như liên hệ với ơn gọi của Đức Giêsu “Hãy đến, hãy đi theo Ta”. Nói cách khác, chúng ta tiếp nhận ơn gọi trở nên người môn đệ của Đức Giêsu.

 

Tuy nhiên, điều đáng buồn là có nhiều người được rửa tội đã sống không khác biệt gì, so với người không được rửa tội. Nếu họ thực hành lòng tin của họ, thì đó lại thường là một lòng tin không trưởng thành, dựa trên cách thực hành thường lệ, không dứt khoát. Điều cần thiết là tin tưởng với sự hiểu biết; và đi theo Đức Kitô bằng lòng tin của cá nhân mình.

 

Lần kia, Đức Hồng Y Newman đã hỏi cộng đoàn của ngài “Việc trở thành một người Kitô hữu tạo ra sự khác biệt gì trong lối sống hằng ngày của chúng ta?”. Câu kết luận là “Tôi e rằng hầu hết chúng ta cứ tiếp tục làm những gì chúng ta đã làm, nếu chúng ta cho rằng đạo Công giáo không hơn gì một câu chuyện ngụ ngôn”.

 

Ơn gọi làm người Kitô hữu bao gồm cái gì? Theo những lời trong Tin Mừng, thì ơn gọi làm người Kitô hữu là một tiếng gọi trở nên “muối đất, ánh sáng thế gian”. Đạo Công giáo nói về lối sống như thế nào, chứ không chỉ nói về lòng tin vào điều gì. Không nên có sự phân biệt giữa sinh hoạt tôn giáo và những hoạt động thường ngày. Lòng tin phải được chuyển thành hành động. “Đừng ngại loan báo điều mà bạn tin tưởng, trừ phi bạn hành động một cách phù hợp” (Catherine de Hueck Doberty).

 

Với tư cách là người Kitô hữu, chúng ta đóng một vai trò rất tích cực trong thế giới. Chúng ta có những thứ để hiến tặng, những thứ mà thế gian cần đến một cách tuyệt vọng, mặc dù không nên e ngại hoặc biện hộ về vai trò của chúng ta. Điều này cần đến một lòng can đảm và sự gan dạ nào đó.

 

Việc đi theo Đức Kitô nghĩa là gì đối với người bình thường? Điều này có nghĩa là trở nên một người Kitô hữu ngay tại nơi bạn sinh sống, và ngay trong nghề nghiệp mà bạn chọn lựa. Có nhiều cách thức để phục vụ Đức Kitô và Tin Mừng của Người. Lời mời gọi trong trường hợp đầu tiên không phải dành cho vai trò làm Tông đồ, mà là vai trò làm người môn đệ của Chúa.

 

Chắc hẳn là nếu không bao giờ nghe được tiếng gọi của Đức Giêsu, thì chúng ta sẽ có một cuộc sống dễ dãi hơn. Nhưng liệu chúng ta có được một cuộc sống hạnh phúc hơn và liệu chúng ta có được sống nhiều hơn thế nữa chăng? Đức Giêsu nói “Thầy đến để anh em được sống và sống dồi dào”. Tin Mừng đưa ra cho chúng ta một lối sống chính đáng hơn và sâu xa hơn cho cuộc sống của chúng ta. Và Tin Mừng gieo vào trong tâm hồn chúng ta những hạt giống của sự sống đời đời.

 

Ơn gọi là người Kitô hữu tạo ra viễn tượng về một cuộc sống cao cả hơn và trong sạch hơn trước mặt chúng ta. Đồng thời, ơn gọi này còn thông truyền cho chúng ta sự hy sinh và phục vụ người khác. Ơn gọi này mở rộng những khả năng yêu thương và can đảm của con người. Đó không phải là công việc chỉ dành cho cá nhân người Kitô hữu, mà còn dành cho toàn thể cộng đoàn Kitô hữu nữa. Khi lãnh nhận phép Rửa tội, chúng ta được đón nhận vào một cộng đoàn những kẻ tin.

 

Ngày lễ Chúa Giêsu chịu phép rửa nhắc nhở chúng ta về ngày chúng ta được lãnh nhận phép Rửa tội. Mỗi khi vào nhà thờ, và lấy nước thánh làm dấu, là chúng ta đang tự nhắc nhở mình về phép Rửa tội của chúng ta, và tự cam kết sống trọn vẹn với ơn gọi của phép Rửa tội ấy.

 

---------------------------------

 

TN 1-A159: NGƯỜI KITÔ HỮU TRONG CƠN THỬ THÁCH 

 

– McCarthy

 

Trong một số quốc gia, là một người Công giáo tức là mắc một trọng tội. Ông bà Moran bị kết TN 1-A159

 

Trong một số quốc gia, là một người Công giáo tức là mắc một trọng tội. Ông bà Moran bị kết án là người Công giáo. Thay vì từ chối trách nhiệm, cả hai ông bà đều thừa nhận điều này một cách cởi mở, và họ chuẩn bị đương đầu với những hậu quả. Họ bị đưa ra toà, để bị xét xử trước một bồi thẩm đoàn. Vốn đã bỏ đạo, nên tất cả những người trong họ hàng của hai ông bà đều mong muốn cứu thoát họ khỏi bị tù tội hoặc tệ hơn thế nữa. Vì thế, họ thuê một luật sư, để biện hộ cho hai ông bà khỏi phải chịu trách nhiệm. Lời bào chữa của ông ta ngắn gọn như sau.

 

“Hai thân chủ của tôi bị cáo buộc là người Công giáo. Mục đích của tôi là muốn chứng tỏ rằng trên thực tế, hai ông bà không phải là như vậy, mặc dù họ có thể cứ khăng khăng tự nhận một cách can đảm rằng mình là người Công giáo. Các sự kiện đều đi ngược lại hai người. Và tôi cần phải nói rằng, trường hợp này sẽ cần phải xét xử dựa trên các sự kiện.

 

“Tôi xin nói rằng: Hai ông bà Moran đều có lối sống tốt đẹp, chăm chỉ làm việc. Tôi biết chắc chắn rằng cả hai người chưa bao giờ bị lôi cuốn vào bất cứ việc làm nào phi pháp. Họ là những người đáng kính, theo bất cứ tiêu chuẩn nào.

 

Người ta có thể thán phục nhiều điểm trong cuộc sống của họ. Họ là những con người chân thành. Và người ta có thể thán phục sự trung thành của họ, về việc tuân giữ các lễ nghi bên ngoài trong tôn giáo của họ, như tham dự Thánh Lễ và các phép Bí tích. Trên thực tế, tôi cho rằng họ là những người Công giáo chỉ trên danh nghĩa. Họ tham dự Thánh Lễ vào sáng Chúa Nhật, và là những người rất sốt sắng về mặt này. Nhưng điều này vẫn chưa đủ.

 

“Ông Giêsu đã nói trong Tin Mừng, và tôi xin trích dẫn “Cứ xem họ sinh quả thế nào, thì biết họ là ai (Mt 7,6). Rõ ràng từ bối cảnh này, ông Giêsu ý muốn nói “hoa quả” là “những hành động tốt đẹp”. Tôi e rằng trong trường hợp của ông bà Moran, hoa quả không đơn giản là điều đó.

 

“Tôi không tìm được chứng cứ nào trong cuộc sống của họ, hoặc trong thái độ của họ, rằng họ sống theo những lời rao giảng của ông Giêsu một cách nghiêm túc. Chẳng hạn, liệu có bất cứ người nào có thể nghiêm khắc buộc tội hai thân chủ của tôi về bất cứ mối quan tâm đặc biệt nào đối với người nghèo khổ, đau yếu, kém may mắn hoặc bị khinh miệt chăng? Tôi cho rằng không hề có một chút chứng cứ nào xác nhận cho một lời buộc tội như vậy. Họ đã không hề làm điều gì hơn bất cứ một người nào trong chúng ta. Trên thực tế, họ lại còn làm ít hơn, so với một số người nào không bao giờ mơ tưởng đến việc tự nhận mình là người Công giáo.

 

“Tuy nhiên, đây đúng là mẫu người, mà chính ông Giêsu đã thực hiện theo cách thức của ông ta, để giúp đỡ mọi người, khi ông ta còn tại thế. Và ông ta còn tuyên bố dứt khoát rằng những kẻ đi theo ông ta sẽ bị xét xử, không phải vì số lần họ cầu nguyện, hoặc những hành động thờ phượng mà họ tham dự, nhưng là do cách họ đáp ứng những nhu cầu của những người như vậy.

 

“Các môn đệ đầu tiên của ông Giêsu đều là những Tông đồ nồng nhiệt, mà ông ta sai đi để biến đổi thế giới. Họ sẽ không thừa nhận rằng hai ông bà Moran thuộc về cùng nhóm của họ đâu”.

 

(Đến đây, ông Moran nhảy dựng và la lên: “Nhưng chúng tôi đều là người Công giáo”).

 

“Thưa ông Moran, tôi chưa nói xong. Tôi xin đưa ra để quý toà xem xét rằng hai thân chủ của tôi không phải là người Công giáo theo ý nghĩa thực sự –theo ý nghĩa dành cho những người mà đối với họ, người hàng xóm của họ phải được thương mến như chính bản thân họ vậy. Tất cả lỗi mà họ phạm phải, đó là họ đã tự lừa dối mình, và đó không phải là một tội nặng. Do đó, tôi yêu cầu bãi bỏ lời cáo buộc chống lại hai thân chủ của tôi, bởi vì thiếu chứng cứ rõ rệt”.

 

Sau đó, thẩm phán tuyên bố “Bồi thẩm đoàn sẽ rút lui, để xem xét lời phán quyết”.

 

Ngày lễ Chúa Giêsu chịu phép rửa nhắc nhở chúng ta về ngày chúng ta được lãnh nhận phép Rửa tội. Khi lãnh nhận phép Rửa tội, chúng ta được đón nhận lời mời gọi trở nên những môn đệ của Đức Giêsu. Do đó, câu hỏi mà chúng ta đều có thể hỏi là: Nếu trở thành người Công giáo là một trọng tội, thì liệu đã có đủ chứng cứ trong cuộc sống của tôi, để đảm bảo cho một niềm tin chưa?

 

----------------------------

 

TN 1-A160: Biết mình để hạ mình

 

Đến ngày lễ “Chúa Giêsu chịu phép rửa” có rất nhiều thắc mắc được đặt ra. Thắc mắc vì tư TN 1-A160

 

Đến ngày lễ “Chúa Giêsu chịu phép rửa” có rất nhiều thắc mắc được đặt ra. Thắc mắc vì tư tưởng của họ không thể chấp nhận được: Tai sao Chúa Giêsu lại phải chịu phép rửa của Gioan? Chúa là Đấng vô tội là con chiên tinh tuyền, thì lẽ gì cần phải sám hối, cần phải ăn năn. Có rất nhiều ý kiến khác nhau nói về điều này, nhưng hầu như không làm thõa đáng, hoặc chỉ làm hài lòng ở một khía cạnh nào đó thôi. Ở đây không nhằm tìm kiếm xem thế nào? Và vì sao? Nhưng điều quan trọng là chúng ta nhận ra tình yêu Thiên Chúa qua việc Ngài chấp nhận chịu phép rửa và sứ điệp Ngài muốn gởi đến. Qua bài Tin Mừng chúng ta dễ dàng nhận ra hai hành động cho chúng ta noi theo. Hai hành động không “chỏi” nhau mà lại bổ túc cho nhau cách hoàn hảo; một là biết mình nơi Gioan, hai là hành động hạ mình nơi Đức Giêsu.

 

Biết mình

 

Khi Đức Giêsu bắt đầu rao giảng thì Gioan đã là người rất nổi tiếng, dân chúng lũ lượt kéo đến với Ngài, họ coi ông như Đấng Messia, Nhưng ông “biết mình” nên đã từ chối và nói: “Không phải ta đâu mà là Đấng khác”, Ông hướng họ tới Đức Kitô. Ta thử suy nghĩ xem, nếu ngài không biết mình chấp nhận mình thì ngài đã xưng mình là Đấng Messia, vì đây là cơ hội và là dịp thuận tiện để lấy lòng tin nơi dân chúng. Nhưng không ! Bổn phận của ngài là đưa tha nhân về với Chúa. Vì giữa Đấng Messia và ngài có một cách biệt qúa lớn “như người đầy tớ không đáng cởi giày cho Chủ”. Hơn nữa, ông còn cho biết: “Phép rửa của ông trong nước, sẽ có Đấng quyền năng hơn tôi, Người sẽ rửa các ông trong thánh Thần và lửa”. Phép rửa của Gioan chỉ là bên ngoài, như nước chảy trên thân xác, còn phép rửa của Chúa Giêsu bên trong như lửa thiêu hủy tất cả. Nhờ có Thánh Thần mà sức nóng của Ngài ăn sâu tận đáy lòng và biến đổi tất cả. Gioan nhờ “biết mình” mà ông tự biết “lu mờ” đế Đức Giêsu “Sáng lên”. Chính khi biết mình thì ông lại thấy mình nhỏ bé để lại càng sống phó thác hơn. Cũng chính vì biết mình để nhận ra mình yếu đuối chỉ là không trước mặt Chúa thì ông mới biết quên mình để nhiệt tình rao giảng phúc âm. Cũng chính vì “biết mình” mà ông đã trở thành những ngộn sứ vĩ đại nhất trong lịch sử nhân loại, và cũng là mẫu gương cho các ngôn sứ ngày nay. Nếu chúng ta biết mình thì sẽ dễ dàng nhận ra mình nhỏ bé để mà chấp nhận người khác. Hơn nữa, chúng ta sẽ dễ dàng chấp nhận thánh ý Chúa, và để Thiên Chúa lớn lên trong ta mỗi ngày trên con đường phục vụ.

 

Hạ mình

 

Hầu như rất nhiếu người thắc mắc: Tại sao Đức Giêsu là Chúa mà lại chịu phép rửa của Gioan. Điều này chỉ có thể giài thích được khi biết lý luận dưa trên tình yêu. Chúng ta không thể hạ mình xuống với một người nhỏ hơn, vì chúng ta chưa đủ yêu họ, vì khi yêu thật thì phải “hy sinh cho người mình yêu”. Hơn nữa Chúa là Chúa cả trời đất, có nơi nào được coi là xứng đáng, có hành động nào được gọi là công bằng, có hành động là phải được. Vì chúng ta chỉ là những thụ tạo, những “con nợ” có gì mà so sánh với tình yêu Chúa được. Nhưng không như ta nghĩ, Đức Giêsu đã hạ mình xuống như người tội lỗi, và yêu thương họ. Vì thế mà Thánh Phaolô đã thốt lên: “Thiên Chúa giống ta mọi đàng chỉ trừ tội lỗi”.

 

Qua hành động của Đức Giêsu khom người xuống để chịu phép rửa của Gioan, là hành động hạ mình xuống thấp như những người tội lỗi khác. Tuy Ngài vô tội nhưng Ngài đã hòa mình như những người có tội. Ngài không đứng trên họ như người phán xét, mà chấp nhận liên đới để kéo họ lên. Chỉ khi nào mình là người trong cuộc mới hiểu thấu được nỗi thống khổ hoàn cảnh người đó chịu. Chính sự hạ mình đó đã làm cho cả nhân loại thấy được tình yêu cao siêu và vô biên Thiên Chúa đã dành cho con người. Đức Giêsu cũng có thể hoàn toàn đứng hiên ngang như người vô tội, hoặc dùng lời nói hay một quyền phép để cứu ca nhân loại. Nhưng Ngài không làm thế, vì cách đó chỉ như một ân huệ dư thừa ban phát, như một trò chơi chủ tớ. Điều đó hoàn toàn không thể hiện tình yêu mà chỉ khi hành động tự hạ như một người tội lỗi và tột đỉnh là cái chết mới thể hiện được tình yêu vô biên của Ngài dành cho nhân loại, đó mới chính là tình yêu được thể hiện cách sống động và cụ thể. Vì thế, cảm nghiệm được tình yêu Chúa đòi hỏi ta phải biết sống khiêm hạ. Vì mỗi lần khiêm hạ là một lần hy sinh. Mà hy sinh là chấp nhận đau đớn. Vì cuộc thanh tẩy nào cũng có mất mát và đổ máu.

 

Lạy Chúa xin cho con biết con, xin cho con biết Chúa để con biết khiêm tôn, biết phó thác, biết chấp nhận hy sinh và cho đi chính con người của mình. Amen.

 

------------------------------

 

TN 1-A161: Trời mở ra

 

 – Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu

 

(Trích trong ‘Manna’)

 

Suy Niệm

 

Các Kitô hữu ở thế kỷ đầu thật hết sức bối rối trước sự kiện Đức Giêsu lãnh phép rửa của Gioan TN 1-A161

 

Các Kitô hữu ở thế kỷ đầu thật hết sức bối rối trước sự kiện Đức Giêsu lãnh phép rửa của Gioan.

 

Tại sao Ngài lại đến với Gioan như một môn đệ để chịu phép rửa, nhằm bày tỏ lòng sám hối? Ngài có cần sám hối không nếu thật sự Ngài vô tội?

 

Đã có bao câu trả lời cho vấn nạn này.

 

Chúng ta chỉ cần nhìn ngắm Đức Giêsu bên bờ sông Giođan. Ngài đứng xếp hàng cùng với dân tộc của Ngài. Ngài trà trộn với những tội nhân muốn sám hối. Ngài chấp nhận dìm mình xuống cùng một dòng sông. Có ai nhận ra Ngài là Chiên Thiên Chúa, là Đấng xóa tội trần gian không?

 

Đấng thánh thiện lại khiêm nhu đứng bên kẻ tội lỗi. Đấng sẽ làm phép Rửa trong Thánh Thần nay lại xin được chịu phép rửa sám hối trong nước.

 

Hành vi đầu tiên công khai của Đức Giêsu lại là một hành vi khiêm hạ, dìm mình, mất hút…

 

Ngài chỉ là một kẻ vô danh bên cạnh một Gioan tăm tiếng.

 

Nhìn Đấng Cứu Độ cúi mình chịu phép rửa, chúng ta hiểu được thế nào là đồng hành và liên đới.

 

Đồng hành với người khác đòi tôi phải đi chậm lại.

 

Liên đới với người khác đòi tôi nhỏ bé đi.

 

Đồng hành đòi tôi có chung một tâm tình với người khác.

 

Đấng vô tội nếm được cái ray rứt của tội nhân và cảm được nỗi khát khao đổi đời của họ. Đức Giêsu đã đồng hành với con người cho đến chết. Ngài đã chia sẻ thân phận của người nghèo, người khổ đau, người bị bỏ rơi, bị thất bại, bị kết án và cả thân phận khắc khoải của tội nhân.

 

Mầu nhiệm Nhập Thể là mầu nhiệm đồng hành.

 

Thiên Chúa tập làm người để hiểu được con người. Ngài cúi xuống để nâng con người lên.

 

Sau khi chịu phép rửa, Đức Giêsu cầu nguyện với Thiên Chúa. Ngài muốn gặp gỡ Cha trong tư cách là Con. Chính trong giây phút hiệp thông sâu đậm này mà Ngài cảm thấy được Thánh Thần tràn ngập, và tự thâm tâm, Ngài nghe rõ tiếng của Cha. Cha âu yếm gọi Ngài là Con và phong Ngài làm Mêsia:

 

“Con là Con của Cha. Hôm nay, Cha đã sinh ra Con.”

 

Từ hôm nay, Đức Giêsu hiểu rằng giờ lên đường đã điểm. Thời gian ẩn dật ở Nadarét đã kết thúc.

 

Cha ban Thánh Thần để ủy thác cho Ngài một sứ mạng.

 

Đức Giêsu đã trải qua một kinh nghiệm tuyệt vời…

 

Sông Giođan, nơi Ngài gắn bó với tội nhân, với dân tộc, đã trở nên nơi Ngài gắn bó với Cha trong Thánh Thần.

 

Nơi đi xuống cũng là nơi đi lên.

 

Nơi Ngài được sai đến cũng là nơi Ngài đang hiện diện.

 

Chúng ta đã chịu phép Rửa của Đức Giêsu trong Thánh Thần. Phép Rửa này có đưa chúng ta lên đường phục vụ không?

 

Mỗi ngày, ta có lại thấy mình được Cha sinh ra không?

 

Gợi Ý Chia Sẻ

 

Càng lúc con người càng cảm thấy mình không thể sống lẻ loi. Sống là đồng hành, liên đới với người khác. Bạn nghĩ gì về khả năng sống với và sống cho người khác của bạn?

 

Khi Đức Giêsu cầu nguyện thì Thánh Thần ngự xuống và Cha ngỏ lời với Ngài. Có khi nào bạn được một kinh nghiệm tương tự như Đức Giêsu không?

 

Cầu Nguyện

 

Lạy Chúa Giêsu, khi đến với chúng con Chúa thường đến như một người hành khất. Chúa cần chút nước của người phụ nữ Samari. Chúa cần năm chiếc bánh và hai con cá. Chúa cần nhà ông Giakêu để nghỉ chân.

 

Chúa khiêm tốn cúi xuống xin chúng con, để rồi tuôn đổ trên chúng con nhiều gấp bội.

 

Xin dạy chúng con biết cách đến với mọi người, và khám phá ra đốm lửa nhỏ của sự thiện vẫn cháy sáng nơi lòng người tội lỗi. Ước gì chúng con nhìn tha nhân bằng ánh mắt của Chúa, dám hy vọng không ngơi vào lòng tốt của mỗi người, và can đảm tin tưởng vào sự quảng đại của họ, nhờ đó thế giới của chúng con trở nên nhân bản hơn và thần linh hơn.

 

--------------------------------

 

TN 1-A162: Phép rửa.

 

Trong sinh hoạt của Giáo Hội, lễ Chúa Giêsu chịu phép rửa vừa là một kết thúc, vừa là một TN 1-A162

 

Trong sinh hoạt của Giáo Hội, lễ Chúa Giêsu chịu phép rửa vừa là một kết thúc, vừa là một mở đầu. Kết thúc trong Mùa Giáng sinh và bắt đầu Mùa thường niên. Hôm nay với lễ Chúa Giêsu chịu phép rửa, Giáo Hội bắt đầu tuần thứ nhất Mùa thường niên.

 

Trong cuộc đời của Chúa Giêsu thì biến cố Chúa Giêsu đến lãnh phép rửa của Gioan tẩy giả nơi sông Giócđan cũng là một kết thúc và là một mở đầu. Kết thúc cho quãng đời sống ẩn dật âm thầm và bắt đầu cuộc đời công khai rao giảng Tin Mừng, thực hiện chương trình mà Chúa Cha đã trao phó cho.

 

Biến cố Chúa Giêsu chịu phép rửa là một biến cố mạc khải quan trọng và ta có thể nói đây là mạc khải đầu tiên công khai không những về thực thể, về sứ mạng của Chúa Giêsu, nhưng còn là một mạc khải về Thiên Chúa Ba Ngôi.

 

Một người đứng xếp hàng giữa bao tội nhân thống hối đến lãnh phép rửa thống hối của Gioan để chuẩn bị đón nhận ơn cứu rỗi không phải chỉ là một người phàm trần đơn thuần, nhưng lại là Con Thiên Chúa, Con Thiên Chúa nhập thể làm người: “Đây là Con Ta rất yêu dấu, đẹp lòng Ta mọi đàng”. Đó là lời mạc khải của Thiên Chúa Cha về Chúa Giêsu Kitô, lời mạc khải long trọng và công khai cho nhiều người trong lúc đó nghe được, đồng thời cũng chính lúc đó Chúa Thánh Thần ngự xuống trên Chúa Giêsu dưới hình chim bồ câu như bài Tin Mừng tường thuật lại.

 

Mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi được vén mở cho con người, để rồi sau này chính Chúa Giêsu sẽ giảng dạy thêm cho các đồ đệ trong nhiều dịp khác nhau, mà dịp kết thúc cuối cùng cũng liên quan đến phép rửa là phép rửa trọn hảo của Chúa Giêsu, đó là phép rửa trong Chúa Thánh Thần khi Chúa Phục sinh ra lệnh cho các tông đồ: “Chúng con hãy đi khắp nơi rao giảng Tin Mừng cho mọi tạo vật, dạy dỗ họ tuân giữ những gì Thầy đã truyền cho anh em và rửa tội cho họ nhân danh Cha và Con và Thánh Thần”.

 

Nơi phép rửa chuẩn bị của Gioan, Chúa Giêsu đã vén mở cho dân chúng nhìn thấy trước phép rửa trong Thánh Thần mà Ngài sẽ thiết lập và truyền cho các môn đệ thi hành. Chúa Giêsu lãnh nhận phép rửa bằng nước nơi sông Giócđan của Gioan tẩy giả, Ngài bước lên và tràn đầy Chúa Thánh Thần, nhưng Chúa Thánh Thần và Thiên Chúa Ba Ngôi được mạc khải trong biến cố khởi đầu này.

 

Nhìn vào bài tường thuật chúng ta vừa đọc trên, chúng ta có thể lưu ý đến một chi tiết đầy ý nghĩa khác nữa, đó là chi tiết được tác giả Phúc âm diễn tả bằng từ ngữ “Trời mở ra”. Từ ngữ này nhắc nhớ đến hình ảnh Kinh Thánh Cựu ước nơi thánh vịnh, chúng ta đọc thấy lời nguyện cầu tha thiết sau đây: “Lạy Chúa, xin hãy xé trời ra mà ngự xuống trên trần gian này”. Nơi sách tiên tri Isaia, ngài đã cầu nguyện như sau: “Lạy Chúa, tại sao Ngài không xé trời mà ngự xuống với chúng con trên trần gian này. Dân Israel cũng như mọi thành phần trong dân chúng chắc chắn đều biết lời cầu nguyện này của tiên tri Isaia và đã cầu nguyện như vậy, qua đó nói lên tâm hồn khao khát ơn cứu rỗi, khao khát Đấng Thiên sai, Đấng Thiên Chúa Cha sai xuống để cứu rỗi con người.

 

Lời cầu nguyện trên nói lên nỗi khát vọng của con người muốn gặp được Thiên Chúa, của một con người cảm thấy thân phận mình yếu hèn cần đến sự trợ lực của Thiên Chúa. Người Việt Nam chúng ta trong cơn khốn cùng cũng thường kêu lên: “Trời ơi, hãy xuống mà xem”. Như thế, chi tiết trời mở ra trong biến cố Chúa Giêsu chịu phép rửa là một chi tiết mạc khải quan trọng, đó là đã đến lúc Thiên Chúa nhận lời cầu xin của Con Người: “Đây là Con Ta, đẹp lòng Ta mọi đàng”. Thiên Chúa trọn vẹn Ba Ngôi: Cha, Con và Thánh Thần đã đáp lại khát vọng của con người, Ngài sai Con Một Ngài xuống trần làm người để thực hiện chương trình cứu rỗi, dẫn đưa nhân loại trở về cùng Ngài, trở về trời.

 

Biến cố Chúa Giêsu chịu phép rửa nhắc lại cho con người nhớ rằng, con người khao khát cần đến Thiên Chúa, khao khát được cứu rỗi và Thiên Chúa đáp lại khao khát này trong Chúa Giêsu Kitô Con Ngài, nơi một con người không phải là con người tầm thường đã đến nhận phép rửa của Gioan nơi sông Giócđan, mà nơi một con người vừa là Con Thiên Chúa: “Đây là Con Ta yêu dấu, Con là con của Cha, ngày hôm nay Cha đã sinh ra Con”.

 

Yếu tố thứ hai của biến cố Chúa Giêsu chịu phép rửa, đó là Chúa Thánh Thần ngự xuống cũng mang một ý nghĩa sâu xa. Khởi đầu sách Sáng Thế khi bắt đầu công cuộc tạo dựng, Thánh Thần Chúa đã bay lượn là là trên mặt nước, và trong biến cố Chúa Giêsu chịu phép rửa, Thánh Thần Chúa ngự xuống trên Chúa Giêsu dưới hình chim bồ câu. Dĩ nhiên, bay lượn xuống trên Chúa Giêsu, chi tiết này nói lên sự tạo dựng mới mà Chúa Giêsu thực hiện và phép rửa là điểm khởi đầu của công cuộc tái tạo nên mới trong Chúa Thánh Thần.

 

Mừng lễ Chúa Giêsu chịu phép rửa hôm nay, chúng ta hãy xin Chúa ban cho ta được ơn biết lắng nghe Lời Chúa, sống vâng phục với ơn soi sáng của Chúa Thánh Thần.

 

---------------------------------

 

TN 1-A163: Chu toàn sứ mạng Chúa Cha trao

 

Một nhà thần học nọ đã nói: “Mỗi con người khi được sinh ra là người nhưng chưa trở thành người TN 1-A163

 

Một nhà thần học nọ đã nói: “Mỗi con người khi được sinh ra là người nhưng chưa trở thành người đúng nghĩa. Vì thế, để được trở thành người đúng nghĩa con người ấy cần phải nổ lực tự đào luyện mỗi ngày “.

 

Với tư tưởng này chúng ta cũng có thể nói khi lãnh nhận Bí tích Rửa tội người kitô hữu chúng ta được là con Thiên Chúa nhưng chưa trở thành con Thiên Chúa đúng nghĩa. Do đó, chúng ta cần phải mỗi ngày cùng với ơn Chúa giúp tự đào luyện mỗi ngày để xứng đáng với tư cách làm con Thiên Chúa nhiều hơn. Nói cách khác người kitô hữu chúng ta cần chu toàn tốt sứ mạng được Chúa Cha trao phó.

 

Hôm nay, cùng với Giáo Hội chúng ta mừng lễ Chúa Giêsu chịu phép rửa. Ðây là biến cố quan trọng trong cuộc đời của Chúa Giêsu nơi trần gian này. Qua biến cố này Chúa Giêsu chính thức công khai ra đi rao giảng Tin mừng sau 30 năm sống ẩn dật.

 

Chúng ta còn nhớ đoạn Tin mừng nói về Chúa Giêsu vào Hội đường Nagiaret để đọc đoạn sách tiên tri Isaia: “Thần Khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn. Người đã sai tôi đi công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức, công bố một năm hồng ân của Chúa ” (Lc 4, 18 – 19). Khi đọc xong Người nói thêm: “Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh quý vị vừa nghe.” (Lc 4, 21). Do đó, Tin mừng mà Chúa Giêsu đem đến cho toàn thể nhân loại là sự giải thoát. Giải thoát cho con người khỏi nô lệ của tội lỗi và của sự chết đời đời. Ðó là sứ mạng Người đã nhận từ nơi Chúa Cha. Sứ mạng ấy đã được Người chu toàn hết sức tốt đẹp. Cho nên, hôm nay Chúa Cha chính thức tuyên bố: “Con là Con yêu dấu của Cha; Cha hài lòng về Con” . (Lc 3, 22b)

 

Chúng ta thử tưởng tượng một gia đình ở vườn muốn đi ra đường lớn phải nhờ qua đất của gia đình phía trước. Ngày nọ, những người trong gia đình đem xây hàng rào tự cô lập mình. Người chủ của gia đình phía trước mới vô năn nỉ xin những ngưỡi trong gia đình này cho phá hàng rào để gia những người trong gia đình này không còn bị cô lập nữa.

 

Với tình huống này, chắc chắn chúng ta sẽ cho rằng không thể nào có thể xảy ra được. Thế nhưng, đây là hình ảnh minh họa cho Thiên Chúa của chúng ta. Mặc dầu chúng ta từ chối nguồn sống từ Chúa nhưng Chúa vẫn không bỏ chúng ta. Người tìm mọi cách để cứu chúng ta. Ðó chính là sứ mạng của Chúa Giêsu được Chúa Cha trao cho.

 

Mỗi người chúng ta dù ở chức phận nào cũng có chung sứ mạng làm sáng danh Chúa trong môi trường sống của mình. Nguyện xin Chúa cho chúng ta biết chu toàn tốt sứ mạng Chúa trao. Nhờ đó, mỗi ngày chúng ta sẽ trở thành người và người kitô hữu đúng nghĩa hơn.

 

-----------------------------

 

TN 1-A164: Suy Niệm của Lm Trần Bình Trọng

 

TẦM QUAN TRỌNG CỦA BÍ TÍCH RỬA TỘI

 

Đời sống công khai của Chúa Giêsu bắt đầu bằng việc Người chịu phép rửa (Lc 3:21). Mặc dầu TN 1-A164

 

Đời sống công khai của Chúa Giêsu bắt đầu bằng việc Người chịu phép rửa (Lc 3:21). Mặc dầu phép rửa mà Chúa lãnh nhận không phải là bí tích rửa tội, nghĩa là không để được tha tội vì Người không có tội, phép rửa đó cũng đánh dấu quyết liệt trong đời sống của Người. Phép rửa đánh dấu cái sứ mệnh công khai của Người trong việc rao giảng và chữa lành. Còn đời sống người Ki-tô giáo cũng bắt đầu bằng Phép Rửa tội. Trong nước Rửa tội, ta trở nên người mới với đời sống mới. Bí tích Rửa tội vừa là việc kết thúc vừa là việc khởi đầu. Bí tích Rửa tội kết thúc đời sống trong bóng tối tội lỗi và bắt đầu đời sống mới trong ơn nghĩa với Chúa. Bí tích Rửa tội là việc tham dự vào cái chết và phục sinh của Chúa, nghĩa là nhờ Bí tích Rửa tội, người tín hữu chết đi cho tội lỗi, để được sống lại với Chúa trong ơn thánh. Đó là ý nghĩa của lời Chúa nói với Ni-cô-đê-mô: Thật, tôi bảo thật ông: không ai có thể thấy nước Nước Thiên Chúa, nếu không được sinh ra bởi nước và Thánh thần (Ga 3:5). Và rồi Chúa thiết lập bí Tích Rửa tội: Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ, nhân danh Cha và Con và Thánh thần (Mt 28:19).

 

Bí tích Rửa tội là một biến cố lớn trong đời sống người tín hữu, bất kể khi rửa tội, người ta đã khôn lớn hoặc còn nhỏ dại. Hoặc là ta được rửa tội khi còn tuổi măng sữa, hay khi đã lớn khôn lớn, ta cần đem ý nghĩa vào việc rửa tội. Nếu được rửa tội khi đã khôn lớn, ta phải có xác tín về đức tin và về đạo. Nếu được rửa tội lúc còn nhỏ dại, ta phải phê chuẩn cái đức tin mà ta đã lãnh nhận khi chịu phép Rửa tội. Ta không thể cậy dựa và tuỳ thuộc vào đức tin của cha mẹ mãi mãi. Ta phải tập đi tập đứng trong đức tin. Nhiều người tưởng được rửa tội là là đã đi tới cuối đường và đã đạt đích. Thực sự không phải thế. Khi mà hạt giống đức tin được vun trồng trong đời sống, ta phải nuôi dưỡng, chăm sóc, nếu muốn cho đức tin được tăng trưởng, và sinh hoa kết quả thiêng liêng. Phép rửa tội mới chỉ gieo vãi hạt giống đức tin. Các bí tích kế tiếp mới làm cho người ta trưởng thành và mang lại kết quả.

 

Bí tích Rửa tội không phải là cái giấy thông hành để được vào Nước trời. Người ta có thể chứng minh có tất cả các giấy chứng chỉ: chứng chỉ rửa tội, rước lễ lần đầu, thêm sức, cưới hỏi.. Tuy nhiên chưa chắc người ta đã sống đức tin và trưởng thành trong đức tin. Ta có thể chịu Phép rửa tội lâu năm, nhưng đời sống vẫn không có gì thay đổi, vẫn khô khan, nguội lạnh và làm biếng việc lành. Tại sao lại như vậy? Có lẽ tại vì người ta làm việc đạo một cách máy móc cho qua lần chiếu lệ, hay mặc cả với Chúa để được hưởng giá rẻ trong việc giữ đạo.

 

Cái tiến trình đức tin của ta được đi tuần tự như sau: Người tín hữu chấp nhận đức tin khi chịu phéo Rửa tội. Họ phê chuẩn đức tin khi chịu phép Thêm sức. Họ làm mới lại đức tin khi đến tòa Cáo giải. Họ lặp lại lời cam kết đức tin khi đi dự thánh lễ. Nếu đức tin của ta là cái gì có tính cách chân thật, ta phải giữ lời cam kết khi chịu phép Rửa tội một cách vững chắc bằng việc thực hành. Đó là cái tiến trình của đức tin luôn được đổi mới. Lời cam kết đức tin khi chịu phép Rửa tội không phải là một lần. Mỗi ngày đòi ta phải làm mới lại lời đáp trả đức tin. Và mỗi lời đáp trả không phải là một việc tách biệt riêng rẽ, nhưng là một phần trong toàn bộ cái tiến trình đổi mới đức tin.

 

-----------------------------

 

TN 1-A165: Ngày hội lớn cho nhân loại

 

 – Phaolô Ngô Suốt

 

Sau ba mươi năm sống ở Nazareth -một nơi không có gì đáng nói cả-, hôm nay thế giới được diễm TN 1-A165

 

Sau ba mươi năm sống ở Nazareth -một nơi không có gì đáng nói cả-, hôm nay thế giới được diễm phúc nhìn thấy Đấng Thiên Sai bắt đầu cuộc đời rao giảng ngắn ngủi của mình. Cũng như tất cả các biến cố trong chương trình cứu độ, hôm nay Thiên Chúa đã chuẩn bị hết sức tinh vi, độc đáo khi Chúa Giêsu chịu phép rửa tại sông Jordan. Hãy cùng tìm hiểu bối cảnh, ý nghĩa và hệ lụy của nó đối với từng người chúng ta.

 

Theo luật thời bấy giờ: không ai được giảng thuyết trước công chúng nếu chưa đủ ba mươi tuổi. Vài tháng trước, Gioan Tẩy Giả đã xuất hiện kêu gọi mọi người ăn năn thống hối, và phép rửa được xem như là dấu chỉ đầu tiên cho sự thay đổi đời sống luân lý của mỗi người. Hôm nay Chúa Giêsu -sau vài tháng (vì Chúa sinh sau Gioan 6 tháng)- cũng đến để nhận phép rửa từ Gioan, như bao nhiêu người Do Thái tốt lành khác, dù Ngài là con người y như chúng ta ngoại trừ tội lỗi. Ngài không hề có tội nên không cần phải ăn năn thống hối, nhưng Ngài đã thể hiện lòng khiêm tốn, và yêu thương chúng ta tột độ; vì lợi ích cho chúng ta. Bởi thế khi Ngài tự hạ mình để chịu phép rửa, Ngài chấp nhận toàn bộ tội lỗi của nhân loại, Ngài đại diện cho tất cả tội nhân trên thế giới này, để mọi người được trở nên công chính. Ngài là Đấng trung gian để hòa giải giửa nhân loại phạm tội và Thiên Chúa cao cả.

 

Dù là anh em họ, nhưng Gioan Tẩy Giả không biết Chúa Giêsu là Đấng Thiên Sai (Gioan một lần vui sướng khi còn ở trong bụng mẹ, lúc Bà Maria đến thăm, và Gioan đã được Chúa xoá cho tội nguyên tổ). Mãi cho đến khi được Thánh Linh báo cho biết Gioan mới nhận ra Đấng Cứu Thế. Lạ lùng hơn cả là: bỗng nhiên các tầng trời mở ra, và có Thần Khí như chim bồ câu đậu xuống trên mình Ngài. Có tiếng phán rằng:”Này là con Ta yêu dấu, đẹp lòng Ta mọi đàng”. Một quang cảnh sống động chưa từng thấy! Hơn cả quang cảnh ngày một vị đại Hoàng đế đăng quang. Mà còn hơn thế, hôm nay là ngày hội lớn cho toàn nhân loại. Ngày Đấng Cứu Thế chính thức, công khai rao giảng nước Thiên Chúa. Có ba điểm cần nhấn mạnh đến trong biến cố lịch sử trọng đại hôm nay.

 

Thứ nhất, như Gioan Tẩy Giả tuyên bố:”Tôi làm phép rửa cho anh em trong nước, còn Người, Người sẽ làm phép rửa cho anh em trong Thánh Thần”. Như vậy, khi dìm mình xuống nước Ngài đã thánh hóa nước, biến nó trở thành phương tiện, để nhờ đó (qua Bí Tích Thanh Tẩy mà Chúa thiết lập sau này) con người có thể trở về với cội nguồn của mình, vết tì ố của tội tổ tông được xóa bỏ, con người được trở thành một tạo vật mới, được quyền làm con Thiên Chúa và thừa hưởng gia nghiệp vĩnh cữu của Ngài.

 

Thứ hai, Ngài đến để kiện toàn lề luật, do đo, ngoại trừ những luật lệ Ngài muốn điều chỉnh, còn lại Ngài luôn luôn tôn trọng lề luật, Ngài tuân giữ nghiêm chỉnh như bất kỳ một người Do Thái đạo đức nào -dù Ngài không nhất thiết phải làm như thế-. Điều này đáng làm cho chúng ta lưu ý về những giới luật của Hội Thánh Công Giáo. Thường thì chúng ta chỉ tập chú vào mười điều răn, và nghĩ rằng giữ mười điều răn là tốt rồi. Điều này rất đúng, nhưng chưa đủ. Vì Giáo Hội muốn chúng ta hoàn hảo, nên nhắc nhở những điều hệ trọng cần thiết, nếu Giáo Hội không nhắc nhở, giải thích, không bao giờ chúng ta tự hiểu cho đúng được cả. Vì ngày xưa Chúa ban lề luật (mười điều răn) qua Maisen. Nhưng Chúa Kitô đến để ban ân sủng và chân lý. Do đo, Ngài đã thiết lập những Bí Tích để chuyển thông ơn Thánh; cũng như để giải thích, dạy dỗ chân lý: Ngài dùng Hội Thánh Công Giáo vừa là công cụ, vừa là phương tiện, vừa là phương thế. Bởi vậy chúng ta chớ coi thường những điều răn, những giáo huấn của Hội Thánh. Nếu ngày xưa Chúa Cứu Thế còn phải tôn trọng lề luật, thì hôm nay chúng ta cũng phải tuân giữ giới luật của Giáo Hội một cách đàng hoàng.

 

Thứ ba, Đấng Cứu Thế tinh tuyền, vô tội đã tự đồng hoá mình với người tội lỗi, để cứu chuộc nhân loại. Còn những con người yếu đuối, tội lỗi như chúng ta? Bản tính nhân loại của Con Thiên Chúa được nối dài xuyên qua yếu tố con người trong các Bí Tích. Do đó chúng ta không cần phải tìm đâu xa xôi, vì chính Thiên Chúa đã hiện diện ngay trong Giáo Hội của Ngài, cụ thể nhất là trong các Bí Tích. Có điều chúng ta có đủ can đảm, khôn ngoan nhận ra mình là người có tội hay không! Có dám ăn năn thống hối để tìm đến với các Bí Tích hay không!

 

Tóm lại, trong ngày Chúa chịu phép rửa ở sông Jordan hôm nay, đúng là ngày hội lớn cho toàn thể nhân loại, ngày Chúa công khai rao giảng về ơn cứu độ, hé mở cánh cửa Thiên đàng. Ngài muốn nhắc nhở chúng ta một điều: hãy giảm bớt tính vô ơn, bù vào đó bằng sự cảm kích đối với những việc Ngài đã làm cho chúng ta. Ngài muốn chúng ta nhận thức rõ về cuộc đời: chỉ là một khoảnh khắc chuyển tiếp; là một cuộc hành trình ngắn ngủi -như cuộc đời rao giảng ngắn ngủi của Ngài- tiến về tương lai vinh quang mà Ngài đã dành được cho chúng ta. Nếu thật sự nhắm đến đích điểm của sự sống vĩnh cửu đó, chúng ta thấy rằng Chúa đã chịu muôn vàn đau khổ để nhân loại được vui sướng. Từ đó chúng ta sẽ cảm thấy những gian truân ở đời này, những khổ đau mà chúng ta đang gánh chịu, sẽ không nặng nề lắm; nếu so với hạnh phúc chung cuộc -mà Chúa đang chờ đón chúng ta- chỉ là những chuyện tầm thường.

 

---------------------------------

 

TN 1-A166: Này là con Ta yêu dấu

 

 – Lm. Thu Băng

 

Ngôi nhà thờ Đức Bà Cả tại một tỉnh nhỏ đã xây xong, chỉ còn cây Thánh Giá trên chóp đỉnh ngọn TN 1-A166

 

Ngôi nhà thờ Đức Bà Cả tại một tỉnh nhỏ đã xây xong, chỉ còn cây Thánh Giá trên chóp đỉnh ngọn tháp chưa hoàn tất. Nhưng dàn ráo không cao đủ. Thấy vậy, một người thợ to lớn vạn vỡ tình nguyện kiệu người thợ hàn trên vai để anh cho thể hàn cây Thánh Giá lên ngọn tháp. Mọi người nín thở đứng dưới nhìn và cuối cùng công việc đã hoàn tất tốt đẹp. Người thợ hàn nhảy xuống khỏi vai người kiệu mình. Rồi người thợ ấy cũng trèo xuống một cách chậm chạp. Khi xuống tới mặt đất, anh cởi áo ra và ôi chao hai vai cũng như cánh tay anh bị phỏng đỏ lừ. Tại vị khi gắn cây Thập Giá thì cây thiếc hàn chảy ra và rớt xuống từng giọt trên vai và hai cánh tay anh thợ cõng. Dù bị phỏng đau đớn, anh cũng không nhúc nhích vì khi nhúc nhích có thể làm anh thợ hàn bị té chết. Phải mất hai tuần lễ sau những vết phỏng trên cánh tay anh mới lành lặn hẳn.

 

Hôm nay chúng ta cũng gặp một người can đảm và hy sinh không kém anh thợ vạm vỡ là thánh Gioan Tiền Hô. Vì Chúa Cứu Thế mà thánh Gioan mặc áo lông cừu, ăn châu chấu rừng, ra trước công chúng và tuyên bố: “Này Con chiên Thiên Chúa, Đấng xóa tội trần gian” và đã không ngớt chỉ trích vua Herode đã phá luật công chính. Ngài thẳng thắn phản đối đến bị lụy vào thân và cuối cùng đã bị chặt đầu vì công lý. Sứ mạng của Ngài là loan báo Đấng Thiên Sai, là làm cho Chúa Giêsu được mọi người biết đến, và tôn nhận Ngài là Đấng Cứu Thế muôn dân mong đợi.

 

Chúng ta cũng được mời gọi làm chứng về Chúa như thế trước một xã hội không sống theo công lý, không sống công bình: Loạn luân, loạn tình loạn ý, giết hại con trẻ, đồng tình luyến ai, giết êm…

 

Bài Phúc Âm hôm nay thuật lại việc Chúa Giêsu bắt đầu cuộc đời công khai. Ngài truyền cho Gioan làm phép rửa cho Ngài. Đây là một phép thống hối giúp ta nhớ đến Phép Rửa tội được Chúa Kitô mời gọi gia nhập Giáo Hội Chúa, mời gọi ta trở thành tông đồ loan truyền Chúa Kitô cho muôn dân nhận biết. Ngài là Đấng Cứu Độ bằng cây Thập Giá, bằng cách sống đạo đức thánh thiện, bằng cách sống đúng tinh thần Chúa, bằng cách chia sẻ tình thân…… Lòng bác ái của chính cuộc sống Chúa cho người khác và cầu nguyện cho chính Chúa được mọi người nhận biết. Đây chính là lúc mà Chúa Giêsu đã chờ đợi cho mọi người nhận biết sự yếu đuối của mình và cần đến sức mạnh của trời cao. Chúa Giêsu không thể đi vào cuộc sống của chúng ta để biến đổi, nhưng cho tới khi chúng tá biết lỗi của mình và cần đến Thiên Chúa. Chúng ta hãy cầu nguyện để có thể nhận biết và chấp nhận Chúa Giêsu. Chúng ta hãy cầu xin Chúa giúp để biến đổi cuộc sống này trở thành một cuộc sống hạnh phúc và bình an.

 

------------------------------

 

TN 1-A167: Đây con Cha yêu dấu

 

- Lm. Minh Vận

 

Hồi thế kỷ IV, Ariô, một ông vua đã dám lợi dụng uy thế của ông trong suốt triều đại trên ngôi TN 1-A167

 

Hồi thế kỷ IV, Ariô, một ông vua đã dám lợi dụng uy thế của ông trong suốt triều đại trên ngôi vị Hoàng Đế, để truyền bá một lạc thuyết độc hại này là: “Đức Giêsu Kitô không phải là Con Thật của Thiên Chúa”. Sau khi băng hà, Thái Tử Theodosiô lên ngôi thế vị vua cha, cũng lại nỗ lực cổ võ và thổi phồng cái tà thuyết lầm lạc của Ariô… Thế rồi, vào dịp Hoàng Đế Theodosiô truyền mở cuộc tiếp tân rất long trọng mừng sinh nhật thứ 16 của Thái Tử Acadiô, Hoàng Đế Theodosiô rất cưng Thái Tử của ông, đến nỗi ông đã đặt Thái Tử ngự trị trên ngai vàng, như một vị Tân Vương, đồng trị nước với ông, và coi Thái Tử như một người bạn đồng hàng.

 

Trong các thượng khách dự tiệc, có một vị Giám Mục rất thời danh, đó là Đức Cha Anphilocô, sau khi dâng đôi lời chúc mừng, ngài sửa soạn ra về; thì lập tức Hoàng Đế Theodosiô bầng bầng nổi cơn lôi đình, giận dữ quát lớn tiếng với Đức Giám Mục: “Người không chú trọng gì đến Thái Tử cưng yêu của trẫm sao? Ngươi không biết rằng, trẫm đã đặt Thái Tử lên, như người bạn ngang hàng đồng trị nước với trẫm sao?”

 

Đức Giám Mục đã anh dũng đáp lại: “Tâu Hoàng Đế, ngài tỏ ra phẫn nộ về sự thiếu sót bên ngoài của tôi đối với Thái Tử quí yêu của ngài; bởi tôi đã tỏ ra không tôn trọng Thái Tử như tôi đã kính trọng ngài. Vậy thưa ngài, Thiên Chúa Đấng vĩnh cửu và toàn năng sẽ phải có thái độ nào đối với ngài, khi ngài đã dám hạ bệ, dám thóa mạ phẩm giá Đức Giêsu Kitô, là Con Một Yêu Dấu, đồng hằng hữu, đồng quyền năng, đồng cấp bậc với Thiên Chúa và cũng là Thiên Chúa chân thật?”

 

CHÚA CHA TUYÊN DƯƠNG CON MỘT NGƯỜI

Hôm nay, nhân ngày mừng kính Mầu Nhiệm Chúa Kitô chịu Phép Rửa, Giáo Hội trưng lại bài sách tiên tri Isaia, lời Thiên Chúa Cha tuyên xưng Con Một Yêu Dấu của Người: “Này là Tôi Tớ mà Ta nâng đỡ, là Người Ta tuyển chọn, Ta hài lòng về Người. Ta ban thần trí Ta trên Người…” Và sau khi ca ngợi lòng nhân từ dịu hiền và trung thành của Chúa Con, Chúa Cha đã tiếp lời tuyên dương: “Ta đặt Con làm giao ước của dân và nên ánh sáng của muôn dân, để Con mở mắt cho người mù, đưa ra khỏi tù những người bị xiềng xích, đưa ra khỏi ngục những người ngồi trong bóng tối tăm!” (xem Is 42:1-4, 6-7)

 

Thánh Phaolô cũng đã cao lời tuyên xưng: “Chúa Giêsu thành Nazareth, là Đấng Thiên Chúa đã dùng Thánh Thần và quyền năng của Ngài mà xức dầu tấn phong cho Người. Người đi qua mọi nơi, ban bố ơn lành và chữa mọi người bị quỉ ám, bởi vì Thiên Chúa hiển ngự nơi Người” (xem Act 10:38).

 

Mầu Nhiệm Chúa chịu Phép Rửa nêu cho chúng ta thấy tấm gương vô cùng khiêm nhu của Chúa Cứu Thế, Đấng là Ngôi Hai Thiên Chúa cao cả, là Con Một Duy Nhất, Chúa Cha sai đến cứu chuộc trần gian, đã không nệ nhập thể, mặc lấy thân phận tôi đòi, đến chịu Phép Rửa bởi Gioan tại sông Jordan như một tội nhân.

 

Người càng hạ mình xuống, thì Chúa Cha càng tôn vinh Người, nên khi Người vừa ra khỏi nước, các tầng trời liền mở ra và Thánh Thần như hình Chim Bồ Câu ngự xuống trên Người, tấn phong cho Người và tiếng Chúa Cha từ trời tuyên phán: “Con là Con Yêu Dấu của Cha, Con hằng đẹp lòng Cha” (xem Mc 1:11).

 

SỨ MẠNG CỦA CHÚNG TA LÀ GÌ

 

Hiện trạng của thế giới hôm nay, một chủ thuyết độc hại và nham hiểm nhất là thuyết vô thần, họ chủ trương chối bỏ sự hiện hữu của Thiên Chúa, chối bỏ Đức Giêsu là Con Một Thiên Chúa, Đấng Cứu Độ trần gian và còn biết bao triết thuyết độc hại khác nữa cùng toa rập, trực tiếp hoặc gián tiếp xóa bỏ niềm tin, chối từ tôn giáo; đặt khoa học, đặt tự do và vật chất lên hàng đầu, vượt trên hết tất cả, không khác gì Ariô và Theodosiô, bọn họ đã nỗ lực cổ võ dùng mọi mánh khóe xảo quyệt cách khoa học, để chối bỏ Thiên Chúa, loại bỏ Ngài ra khỏi đời sống con người, tạo nên biết bao đồi phong bại tục như ly dị, phá thai, đồng tính luyến ái, hôn nhân bất hợp pháp; thêm vào đó, còn biết bao sách báo, phim ảnh, màn kịch vô luân, tục hóa tôn giáo: Nào bộ phim the Last Temptation, nhằm xóa nhòa thiên tính Chúa Kitô và kết tội Ngài vô luân, bộ phim Hail Mary nhằm thóa mạ Đức Trinh Nữ Maria, Mẹ Thiên Chúa, bộ phim Monsignors, nhằm bôi xấu Giáo Hội Công Giáo…

 

Mừng Lễ Chúa chịu Phép Rửa, chúng ta cùng nhau dâng lời cảm tạ Chúa vì muôn ơn lành Chúa đã ban chúng ta, nhất là đặc ân chúng ta đã được trở nên con cái Chúa do việc lãnh nhận Nhiệm Tích Thánh Tẩy.

 

Với danh hiệu là Kitô Hữu, là con cái Thiên Chúa, là người mang Chúa Kitô trong bản thân, người thuộc về Chúa Kitô, chúng ta hãy tự hồi tâm kiểm điểm, chúng ta đã sống thế nào để cân xứng với danh hiệu diễm phúc ấy? Tha nhân đã thực sự thấy hình ảnh Chúa Kitô, tinh thần Chúa Kitô, giáo lý Chúa Kitô hiển hiện nơi cuộc sống và cách cư xử của chúng ta, khiến tha nhân sinh lòng cảm phục và noi theo bắt chước chúng ta chưa?

 

Kết Luận

 

Gioan khi chu toàn sứ mạng là Tiền Hô của Chúa Cứu Thế, đã khiêm tốn tuyên xưng trước mọi người: “Có Đấng đến sau tôi, nhưng quyền năng hơn tôi, tôi không xứng đáng quì xuống cổi giây giầy cho Người!” (Mt 3:11) Trong mọi dịp, ngài luôn đề cao Đấng đã sai ngài, còn ngài thì, luôn ẩn mình đi, che dấu mình đi, trong một châm ngôn bất hủ: “Người cần phải được trổi lên, còn tôi phải hạ xuống!” (Jn 3:30)

 

Còn chúng ta, chúng ta đã làm thế nào khi chúng ta thi hành Sứ Mạng Tông Đồ, rao giảng và trao ban Chúa Kitô cho các linh hồn?

 

------------------------------

 

TN 1-A168: Quí tử thiên đường

 

- Br. B.M. Thiện Mỹ

 

Ở Hoa Kỳ, ông Bim là chủ một nông trại nuôi bò rất lớn. Ông được mọi người gọi ông là “Ông TN 1-A168

 

Ở Hoa Kỳ, ông Bim là chủ một nông trại nuôi bò rất lớn. Ông được mọi người gọi ông là “Ông Bim quảng đại” vì ông rất thương người, sẵn sàng giúp đỡ mọi người, nhất là những người nghèo khó bệnh tật.

 

Ông chỉ có đứa con trai duy nhất. Rủi thay trong chuyến đi nghỉ cuối tuần bị tai nạn xe hơi, làm cho vợ và đứa con một của ông thiệt mạng!

 

Trong những ngày đau buồn, ông đi lang thang trong nông trại, bỗng ông gặp một đứa bé ăn mặc rách rưới bơ vơ. Ông gọi nó đến hỏi thăm gia cảnh của nó, mới biết nó là đứa trẻ mồ côi, tên là Jimi sống nay đây mai đó nhờ lòng hảo tâm của mọi người. Ông thương đem nó về nuôi và làm chúc thư cho nó:

 

“Nếu ngày nào tôi chết, tất cả tài sản của tôi sẽ để lại cho Jimi, đứa con nuôi của tôi”. Bạn hữu ông nghe biết thế thì ngạc nhiên hỏi:

 

-Sao bạn làm thế!

 

-Vì tôi thương nó. Nó giống con tôi. Tôi nhìn thấy con tôi trong nó.

 

Chúng ta là con cháu Adong Eva, chúng ta bị mất ơn Chúa do tội nguyên tổ và sống tất tưởi như đứa trẻ mồ côi. Nhưng dù sao chúng ta cũng là hình ảnh đẹp đẽ của Thiên Chúa theo chương trình sáng tạo của Ngài. Rồi qua lời hứa Chúa Cứu Thế nhờ phép rửa tội, chúng ta lại được trở thành nghĩa tử của Thiên Chúa và được làm gia nghiệp khi lãnh nhận muôn vàn ân sủng để rồi chúng ta được sống lại với Đức Kitô trong vinh quang Thiên Quốc. Vì thế vinh dự trọng đại nhất là muôn đời được làm con Thiên Chúa như thứ nhất của Thánh Gioan có chép: “Anh em hãy xem Chúa Cha yêu thương chúng ta dường nào: Người yêu đến nỗi cho chúng ta được gọi là con Thiên Chúa” (1Jn.3,1).

 

Qua đó, bí tích Thánh Tẩy là căn nguyên cho tất cả đời sống Kitô hữu, của mọi bí tích, mọi ân sủng mà chúng ta sẽ lãnh nhận cho đến khi lìa cõi thế. Trong Tin Mừng hôm nay có ba dạng phép rửa khác nhau:

 

Phép rửa của Gioan Tẩy Giả là phép rửa sám hối, giúp người ta ăn năn tội lỗi. Đó là bước đầu của hành trình Đức Tin, như lời Người chứng minh: “Tôi làm phép rửa cho các anh trong nước để thúc giục lòng các anh sám hối. Còn Đấng đến sau tôi thì quyền hơn tôi, tôi không đáng xách dép cho Người. Người sẽ làm phép rửa cho các anh trong Thánh Thần và lửa” (Mt. 3,11).

 

Phép rửa của Chúa Giêsu là phép rửa tái sinh, ban cho người lãnh nhận một đời sống mới hoàn toàn, như Thánh Phaolo xác quyết: “Anh em đã cùng được mai táng với Đức Kitô khi chịu phép rửa… nay Thiên Chúa đã cho anh em được cùng sống với Đức Kitô” (Cl. 2,12).

 

Còn phép rửa Thánh Gioan Tẩy Giả làm cho Chúa Giêsu mà Tin Mừng thuật lại hôm nay là phép rửa mặc khải, vì sự việc bày tỏ cho chúng ta biết: Thiên Chúa đã từ trời xuống thế gian, Chúa Thánh Thần bắt đầu cuộc tạo dựng mới, Chúa Cha xác nhận Chúa Giêsu là Adong mới trong công cuộc tái tạo thế giới.

 

Từ xưa tới nay trong Giáo Hội có một số người hay thắc mắc rằng: “Tại sao Chúa Giêsu lại đến với Thánh Gioan để chịu phép rửa? Vì chúng ta tin rằng Chúa Giêsu là Đấng vô tội.” Có phải vì lý do lời kêu mời rao giảng thống hối của Thánh Gioan mà Chúa Giêsu cảm nhận tội lỗi và giục lòng sám hối ăn năn không?

 

-Thánh Luca nói việc Chúa Giêsu chịu phép rửa thống hối như dân chúng không phải là nói Ngài thống hối cho mình, vì Người hoàn toàn vô tội, nhưng là để Ngài đền bù thay cho nhân loại. Việc Chúa Giêsu chịu phép rửa cũng là báo trước việc Chúa chịu phép rửa cuối cùng của Người trên Thập Giá (Lc. 12,50) để đền tội thay cho nhân loại. Các Đấng Giáo Phụ nói: Có nhiều lẽ khiến Chúa Giêsu làm như thế. Ngài chịu phép rửa để nêu gương khiêm nhượng cho dân chúng và để khuyến khích họ chịu phép rửa của Thánh Gioan, đồng thời để tỏ sự ưng thuận việc Đấng Tiền Hô đã làm. Sau nữa Ngài xuống nước chịu rửa để thông cho nước sức thiêng liêng mà tắm rửa linh hồn người ta trong phép thanh tẩy Ngài sẽ lập sau này. Cho nên không có kết cấu giữa nghi thức tẩy rửa và sự hiển linh của Ngài. Nghi thức tẩy rửa biểu lộ sự liên đới hoàn toàn giữa Chúa Giêsu và dân chúng. Còn sự hiển linh xảy ra đang khi cầu nguyện.

 

Sau đây chúng ta cùng nhau suy niệm về sự hiển linh của Chúa Giêsu:

 

“Trời mở ra”: Theo truyền thống Do Thái, từ thời các ngôn sứ cuối cùng thì các tầng trời nơi Thiên Chúa đã khép lại rồi. Ngôn sứ không còn nói nữa, nên mối liên lạc giữa Thiên Chúa và loài người cũng bị cắt đứt. Bởi thế hôm nay là một thời đại mới đã bắt đầu mở màn, mối liên lạc giữa Thiên Chúa và loài người được tái lập.

 

“Thánh Thần ngự xuống trên Người”: Trước khi Đức Giêsu đến, Thần Khí như đã bị dập tắt: Người không còn ngự xuống để tác động thêm những ngôn sứ mới. Việc Chúa Giêsu vừa lên khỏi nước sông Giodan liền thấy Thần Khí ngự xuống trên mình, chỉ định người làm vị ngôn sứ của thời đại mới.

 

“Con yêu dấu của Cha”: Thiên Chúa chứng thực cho sứ mạng của Đức Chúa Giêsu: Người không chỉ là một ngôn sứ như bao ngôn sứ khác. Nhưng Thiên Chúa Cha giới thiệu cho nhân loại về Thiên Tính của Chúa Giêsu, con Thiên Chúa, khởi sự sứ mệnh cứu chuộc nhân loại.

 

Như vậy qua bài Phúc Âm hôm nay chúng ta hiểu rõ được giá trị của bí tích rửa tội, chúng ta phải ý thức sống những điều đã được đoan hứa thay cho mình trong lúc chịu Thanh Tẩy, nghĩa là phải thực thi những thỉnh cầu, những lời thề hứa, những đoan nguyền từ bỏ Satan. Chiếc áo trắng Giáo Hội trao cho, chúng ta hiểu rằng mình phải luôn giữ tâm hồn tinh tuyền cho tới ngày Chúa phán xét. Từ sự quí trọng bí tích rửa tội chúng ta phải biết sống xứng đáng với ơn Chúa, đồng thời tích cực tham gia vào việc rửa tội cho người khác bằng lời cầu nguyện, nhất là học biết rửa tội cần thiết cho các linh hồn trong khi nguy tử.

 

Xin Mẹ Maria luôn trợ giúp cho tính mỏng giòn yếu đuối của con người và che chở trong tà áo Vô Nhiễm của Mẹ để chúng con luôn được thanh tẩy khỏi tội lỗi và những đam mê tật xấu, hầu xứng đáng là nghĩa tử yêu dấu của Nước Trời.

 

----------------------------------

 

TN 1-A169: Trở nên giống Chúa để loan báo tin mừng cứu độ

 

Suy niệm của Jos. Vinc. Ngọc Biển

 

Người ta có kể một câu chuyện đầy cảm động rằng: có một linh mục nọ, được Tòa Thánh bổ nhiệm TN 1-A169

 

Người ta có kể một câu chuyện đầy cảm động rằng: có một linh mục nọ, được Tòa Thánh bổ nhiệm làm giám mục của một Giáo phận truyền giáo với số giáo dân vỏn vẹn có vài ngàn người. Toàn Giáo phận duy chỉ còn một linh mục già trên dưới 100 tuổi và một nữ tu cũng gần đất xa trời. Giáo lý viên thì không có; các hội đoàn đã tan rã; nhà thờ không còn đáng là bao, hoặc có còn thì cũng chỉ đếm trên đầu ngón tay, nhưng có lẽ giống như nhà hoang thì đúng hơn, vì không có người chăm nom! Giáo dân gần như không được tham dự thánh lễ vì lý do không có linh mục. Cuộc sống cứ thế trôi đi, khiến số tín hữu thưa thớt này cũng không còn tha thiết với việc đi lễ, nhà thờ hay kinh hạt nữa…!

 

Đón nhận Giáo phận trong tình trạng xuống cấp trầm trọng như thế, vị Giám mục này đã bắt tay vào việc:

 

Ưu tiên của ngài trước tiên là đào tạo nhân sự, thiết lập các hội đoàn, khơi gợi lại tinh thần sống đạo. Tuy nhiên, điều mà ngài phải làm ngay, đó là: chính ngài phải kinh qua tất cả những những vai trò như: làm ca trưởng, giáo lý viên, ông từ kéo chuông, mở cửa nhà thờ và cất kinh, làm các chú lễ sinh dọn lễ, người phu quét dọn nhà thờ…

 

Khi nghe thấy tin mong manh ở đâu có người Công giáo, dù xa xôi hàng trăm kilômét, ngài cũng lặn lội tới thăm cho bằng được, để an ủi, động viên, khích lệ và khơi gợi lên trong họ ngọn lửa của niềm tin…

 

Chính vì lối sống của ngài như vậy, mà chẳng mấy chốc, giáo dân đến nhà thờ đông lên, đời sống đạo có phần khởi sắc, chương trình giáo lý được gây dựng lại, các hội đoàn được tái lập, nhiều nhà thờ mới mọc lên, có các bạn trẻ xin đi tu… tại vì họ thấy: “Ông này chơi được, vì ông ý giống Đức Giêsu”. Đây là lối nói thể hiện lòng kính trọng, quý mến của người dân địa phương nơi đây.

 

Nhiều người đặt vấn đề: liệu có cần phải làm như thế trong tư cách là một giám mục không? Câu trả lời là không! Nhưng vì lòng mến Chúa, yêu quý các linh hồn và tha thiết với sứ vụ, nhất là ngài đã lựa chọn con đường tự hủy, khiêm hạ, liên đới và cảm thông với con chiên của mình, nên vì họ, mà ngài đành mất tất cả, chỉ cần được mối lợi tuyệt vời là Đức Kitô và miễn sao Ngài được rao giảng (x. Pl 1,18)

 

Đời sống của vị giám mục trong câu chuyện trên đã phản ánh phần nào đời sống của Đức Giêsu, nhất là làm sống lại tinh thần của biến cố Đức Giêsu chịu phép rửa tại sông Giorđan khi xưa.

 

Ý nghĩa của việc Đức Giêsu chịu phép rửa

Thánh sử Luca trình thuật: để đánh dấu đời sống công khai thi hành sứ vụ rao giảng Tin Mừng cứu độ, Đức Giêsu đã đến xin ông Gioan Tẩy giả làm phép rửa tại sông Giorđan.

 

Trước tiên, Ngài xin Gioan làm phép rửa cho mình không phải là Ngài có tội như mọi phàm nhân, nhưng Ngài đến xin Gioan làm phép rửa là nhằm thánh hóa dòng nước để thanh tẩy trong Bí tích Rửa Tội mà Ngài sẽ thiết lập sau này.

 

Thứ đến, sự kiện này cho thấy: Đức Giêsu tiếp nối giữa Giao ước cũ và Giao ước mới; tiếp nối giữa lời rao giảng của vị tiên tri cuối cùng với lời loan báo của chính Ngài để thiết lập một triều đại mới, triều đại của những người được cứu chuộc bằng chính giá máu của Đấng thiết lập nên mình.

 

Mặt khác, Đức Giêsu hòa mình trong đoàn người đó để nêu gương khiêm hạ cho mọi người. Vì thế, việc Ngài chịu phép rửa, không phải cho Ngài, mà là cho chúng ta, vì chúng ta. Hình ảnh Ngài sáp nhập cùng dòng người đến xin Gioan ban phép rửa cho thấy: từ nay, Đức Giêsu đứng về phía người tội lỗi không phải để cổ võ họ phạm tội, mà là tìm cách đưa họ ra khỏi con đường tội lỗi, tiến đi trên con đường thánh thiện, công chính để được cứu chuộc.

 

Hơn nữa, hành vi của việc lãnh nhận phép rửa nơi Đức Giêsu loan báo chính cái chết và sự phục sinh của Ngài: dìm mình xuống nước là biểu hiệu cái chết, trồi lên khỏi nước là loan báo sự sống lại.

 

Cuối cùng, Thiên Chúa mặc khải cho ta biết một cuộc phong vương của Thiên Chúa Cha cho con Chí Ái của mình, để Ngài ra đi thiết lập một vương quốc mới với thần dân là những người thuộc về Vị Vua hiền lành, khiêm nhường, yêu thương và tha thứ…

 

Sống sứ điệp Lời Chúa

Phụng vụ Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta ý thức hồng ân lớn lao mà Thiên Chúa đã trao ban cho chúng ta cách nhưng không, đó là hồng ân của Bí tích Rửa Tội.

 

Qua Bí tích này, chúng ta được trở nên con Thiên Chúa, được thanh tẩy mọi tội lỗi, từ tội nguyên tổ cho đến những tội riêng của chính mình. Do đó, chúng ta được dìm mình vào trong một khuôn đúc mới, để xuất hiện một hình ảnh mới, hình ảnh của Đức Kitô phục sinh. Kể từ đó, chúng ta được gọi là Kitô hữu, trở nên “một tạo vật mới” (2Cr 5,17), nghĩa tử của Thiên Chúa (x. Gl 4,5-7), được thông phần vào sự sống thần linh (x. 2Pr 1,4), trở nên người thừa kế của Đức Kitô (x. Rm 8,17) và được gọi là đền thờ của Chúa Thánh Thần (x. 1Cr 6,19).

 

Qua đó, chúng ta được mời gọi trở nên đồng hình đồng dạng với Đức Kitô cách sống động khi sẵn sàng khước từ những điều không phù hợp với giá trị Tin Mừng như thánh Phaolô khuyên dạy: “Anh em hãy mặc lấy Đức Kitô, và đừng chiều theo tính xác thịt mà thỏa mãn các dục vọng”(Rm 13,14). Mặc lấy Đức Kitô là từ bỏ ý riêng, sống tinh thần tự hủy, chết đi cho tội lỗi, để trở nên chính Ngài: “Tôi sống, nhưng không phải là tôi sống, mà chính Đức Kitô sống trong tôi” (Gl 2,20). Vì thế: “Những người tin theo Đức Kitô được mệnh danh là Kitô hữu, nghĩa là thuộc về Đức Kitô, nên họ đã và phải có một tâm tình như Đức Kitô. Họ không sợ chết. Họ không sợ hình khổ. Họ không sợ bách hại. Bởi vì họ đã đi cùng một đường với Chúa” (Tertullianô).

 

Như vậy, mỗi người Kitô hữu chúng ta khi đã được gia nhập Giáo Hội, trở thành đoàn dân của những người tin Chúa, chúng ta có trách nhiệm phản ánh chân thực bản chất của người Công Giáo là yêu thương, không lấy oán báo ơn; không thù hằn ghen ghét, không phân biệt giai cấp, không coi rẻ người nghèo, không khinh khi người có tội… sống công bằng không tham lam, bóc lột, hối lộ, nêu cao gương bác ái, liên đới, sẻ chia, và nhất là sống và làm chứng cho sự thật, bởi vì chúng ta thuộc về nước của Sự Thật.

 

Lạy Chúa Giêsu, xin Chúa ban cho chúng con biết mặc lấy sự khiêm nhường, liên đới của Chúa, để chúng con sống xứng đáng là con của Cha trên trời, và là anh chị em với nhau nhờ được liên kết với Chúa là đầu của Giáo Hội. Amen.

 

------------------------------------------

 

TN 1-A170: THẦN KHÍ ĐẾN NGỰ TRÊN NGƯỜI

 

(LỄ CHÚA GIÊSU CHỊU PHÉP RỬA NĂM A) 

 

Qua Lời Tổng Nguyện của Lễ Chúa Giêsu Chịu Phép Rửa, Năm A hôm nay, các nhà phụng vụ TN 1-A170

 

Qua Lời Tổng Nguyện của Lễ Chúa Giêsu Chịu Phép Rửa, Năm A hôm nay, các nhà phụng vụ muốn ta ý thức rằng: Khi Đức Kitô chịu phép rửa tại sông Giođan và Thánh Thần ngự xuống trên Người, Chúa đã long trọng tuyên bố Người là Con chí ái, xin Chúa cho chúng ta là đoàn nghĩa tử được tái sinh bởi nước và Thánh Thần, hằng bền vững thi hành ý Chúa. 

 

Đoàn nghĩa tử được tái sinh bởi nước và Thánh Thần, cùng chịu đau khổ và cùng chịu chết với Người Tôi Trung của Thiên Chúa, như trong bài đọc một của giờ Kinh Sách, trích sách ngôn sứ Isaia: Như các sách Tin Mừng cho ta thấy: đối với các Kitô hữu ngay từ thế hệ đầu tiên, người Tôi Trung của sách ngôn sứ Isaia xuất hiện như một nhân vật huyền bí với những nét hết sức đặc biệt, đưa chúng ta vào mầu nhiệm Đức Kitô. Thiên Chúa gọi người Tôi Trung là người được tuyển chọn. Chính Thiên Chúa lặp lại những từ đó khi Đức Kitô chịu phép rửa. Người Tôi Trung luôn là ánh sáng muôn dân, là người quy tụ dân riêng của Chúa, giúp chúng ta chịu đau khổ, chịu chết với Người... Hôm nay, trong sông Giođan, khi Chúa chịu phép rửa, các tầng trời mở ra, Thánh Thần đáp xuống như chim bồ câu và ngự trên Người. Rồi có tiếng Chúa Cha vọng xuống: Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người. Thánh Thần hiện hình trông giống như chim bồ câu, ngự xuống trên Người. 

 

Đoàn nghĩa tử được tái sinh bởi nước và Thánh Thần, cùng chịu dìm xuống và cùng chỗi dậy với Đức Kitô, như trong bài đọc hai của giờ Kinh Sách, trích bài giảng của thánh Ghêgôriô Nadien: Đức Kitô chịu phép rửa... Hôm nay trời rộng mở, biển cả nên hiền hoà, đất mừng vui hớn hở, núi đồi cũng hoan ca. Vì Đức Kitô đến bên bờ sông Giođan xin ông Gioan làm phép rửa. Biển kia ơi, việc gì mà trốn chạy? Giođan hỡi, cớ chi chảy ngược dòng?

 

Đoàn nghĩa tử được tái sinh bởi nước và Thánh Thần, cùng với Người Tôi Trung được Chúa Cha tuyên dương: Đây là con Ta yêu dấu vì đã thi hành ý muốn của Ta, như trong bài đọc một của Thánh Lễ, trích sách ngôn sứ Isaia: Đây là Người Tôi Trung, Ta hết lòng quý mến. Trong bài Đáp Ca, Thánh Vịnh 28: Xin Chúa tuôn đổ phúc lành cho dân hưởng bình an. Hãy dâng Chúa, hỡi chư thần chư thánh, Hãy dâng Chúa vinh quang xứng danh Người, và thờ lạy Chúa uy nghiêm thánh thiện. Trong bài đọc hai của Thánh Lễ, trích sách Công Vụ Tông Đồ: Thiên Chúa đã dùng Thánh Thần mà xức dầu tấn phong Người.

 

Câu Tung Hô Tin Mừng, mà các nhà phụng vụ đã chọn cho ngày lễ hôm nay là: Các tầng trời mở ra, và có tiếng Chúa Cha phán dạy: Đây là Con Ta yêu dấu, hãy vâng nghe lời Người. Trong bài Tin Mừng, thánh Mátthêu tường thuật: Chịu phép rửa xong, Đức Giêsu thấy Thần Khí Thiên Chúa đến ngự trên Người. Đấng mà ông Gioan đã thấy và làm chứng rằng: Người là Con Thiên Chúa, thì Chúa đã dùng Thánh Thần và quyền năng mà xức dầu tấn phong Người. Đi tới đâu là Người thi ân giáng phúc tới đó, và chữa lành mọi kẻ bị ma quỷ kiềm chế. Tiếng Chúa rền vang trên sóng nước, Chúa ngự trên nước lũ mênh mông, Chúa ngự trị trên cơn hồng thủy: Chúa tuôn đổ phúc lành cho dân hưởng bình an. Người Tôi Trung được Thiên Chúa tuyển chọn và hết lòng quý mến, Thần Khí ngự trên Người, Người sẽ làm sáng tỏ công lý trước muôn dân, để mở mắt cho những ai mù lòa, đưa ra khỏi tù những người bị giam giữ, dẫn ra khỏi ngục những kẻ ngồi trong chốn tối tăm. Đức Kitô tỏa sáng, ta hãy tỏa sáng cùng với Người. Đức Kitô được dìm xuống nước, ta hãy cùng xuống để rồi cùng lên với Người. Như những tia sáng bên cạnh Nguồn Sáng, ta hãy để mình được thấm nhuần ánh huy hoàng của ánh sáng đó. Khi Đức Kitô chịu phép rửa, Thánh Thần ngự xuống trên Người, Chúa Cha đã long trọng tuyên bố Người là Con chí ái, ước gì ta là đoàn nghĩa tử được tái sinh bởi nước và Thánh Thần, hằng bền vững thi hành ý Chúa. Ước gì được như thế!

 

-------------------------------

 

TN 1-A171: Dòng nước tái sinh

 

(Suy niệm của ĐTGM. Giuse Vũ Văn Thiên)

 

Khởi đầu mùa Thường niên, Phụng vụ giới thiệu với chúng ta vị Ngôn sứ thành Nagiarét, tức là TN 1-A171

 

Khởi đầu mùa Thường niên, Phụng vụ giới thiệu với chúng ta vị Ngôn sứ thành Nagiarét, tức là Đức Giêsu. Với việc lãnh nhận phép rửa từ tay ông Gioan, Đức Giêsu đã khai mở sứ vụ thiên sai của Người. Thân thế và sứ mạng của Đức Giêsu, được giới thiệu long trọng, không chỉ do lời chứng của Gioan Tẩy giả, mà do chính Chúa Cha và Chúa Thánh Thần, thể hiện qua lời nói của Chúa Cha từ trời cao: “Con là Con yêu dấu của Cha, Con đẹp lòng Cha”, và hình chim bồ câu là tượng trưng cho Chúa Thánh Thần.

 

Nghi thức thanh tẩy bằng nước thường thấy ở nhiều dân tộc và tôn giáo. Bởi nước là sự sống và nước cũng có chức năng tẩy rửa. Ông Gioan Tẩy giả là thành viên của phong trào những người theo chủ chương “thanh tẩy”. Nghi thức của ông mang tính sám hối. Lời giảng của ông đã nói lên mục đích ấy. Ông đã làm phép rửa ở sông Giordan, là dòng sông hiếm hoi ở Do Thái, một đất nước đa số là sa mạc. Những người tuốn đến với ông đủ mọi thành phần: quân nhân, nông dân, thương gia, quan chức. Họ thành tâm sám hối, nhận mình là những tội nhân để xin ơn tha tội đến từ Thiên Chúa.

 

Tại sao Chúa Giêsu là Thiên Chúa, Đấng vô tội, lại lãnh nhận phép Rửa của ông Gioan?  Chúng ta thường đặt ra câu hỏi ấy. Việc Chúa lãnh nhận phép Rửa không phải vì Chúa mang tội, nhưng thể hiện sự khiêm tốn hạ mình, như Thánh Phaolô viết: “Đức Giêsu Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa, mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế” (Pl 2,6-7). Đức Giêsu hoà mình vào dòng người đang bị lên án gay gắt là những tội nhân và cúi mình xin được nhận lãnh phép rửa. Chính ông Gioan cũng ngạc nhiên và do dự khi thấy Người đến với ông. Trước sự chần chừ của ông Gioan, Chúa Giêsu nói: “Chúng ta làm như vậy để giữ trọn đức công chính” (Mt 3,15). Khi bước xuống dòng sông Giordan, Chúa Giêsu muốn chứng minh: Người muốn liên đới với con người tội lỗi. Sau này, Chúa khẳng định: “Tôi không đến vì người mạnh khoẻ, nhưng vì những người đau yếu”. Qua việc lãnh nhận phép rửa, Chúa cũng cho thấy ước vọng của Người là cứu chữa hết mọi người, kể cả những tội nhân, và khẳng định với họ: mọi người đều có quyền hy vọng vào lòng thương xót của Thiên Chúa, vì Ngài là Cha yêu thương.

 

Theo Giáo lý của Giáo Hội Công giáo, qua việc Chúa Giêsu lãnh nhận phép rửa ở sông Giordan, Người đã thiết lập Bí tích Rửa tội, hay còn gọi là Bí tích Thanh tẩy. Nghi thức tẩy rửa của ông Gioan và Bí tích Thanh tẩy của người Kitô hữu hoàn toàn khác nhau. Trong khi nghi thức tẩy rửa chỉ là hành vi sám hối, thì Bí tích Thanh tẩy lại tha thứ các tội, đồng thời làm cho người thụ tẩy trở thành tạo vật mới và là nghĩa tử của Thiên Chúa. Nhờ Bí tích Thanh tẩy, người thụ tẩy cũng được gia nhập Giáo Hội là cộng đoàn tín hữu đang hiện diện khắp nơi trên trái đất này.

 

Thông thường, khi chúng ta hỏi một người tín hữu về ngày họ được rửa tội, hầu hết đều nói rằng họ không biết. Trong khi đó, ngày chúng ta được rửa tội mang một ý nghĩa rất quan trọng, bởi đó là ngày chúng ta trở nên con Thiên Chúa. Nhờ dòng nước tái sinh, Thiên Chúa muốn giải phóng chúng ta hoàn toàn khỏi quyền lực của sự dữ, để chúng ta sống lại với Đức Kitô và như thế, chúng ta là con Thiên Chúa. Nếu Đức Giêsu đã khai mở sứ vụ thiên sai với việc lãnh nhận phép rửa từ ông Gioan, thì nhờ Bí tích Thanh tẩy, người Kitô hữu cũng khởi đầu một hành trình mới. Đây là hành trình của sứ mạng theo Chúa Giêsu, sống theo giáo huấn và lời răn dạy của Người. Vì mang danh Kitô hữu, người đã lãnh nhận Bí tích Thanh tẩy cũng có sứ mạng giống như sứ mạng của Đức Kitô: đó là trở nên ánh sáng trần gian, soi chiếu vào những góc khuất của cuộc đời và làm cho cuộc sống này thấm nhuần chân lý Phúc âm.

 

“Con là Con yêu dấu của Cha, Con đẹp lòng Cha”. Hôm nay, Chúa Cha đang nói với mỗi người chúng ta như vậy, bởi nhờ Chúa Giêsu và trong Chúa Giêsu, chúng ta được trở nên những người con yêu dấu của Ngài. Nhờ tình yêu của Chúa cư ngụ trong chúng ta, chúng ta có thể trở nên chứng nhân của Chúa và chứng nhân về niềm hy vọng nơi cuộc sống vĩnh cửu.

 

-------------------------------

 

TN 1-A172: Chúa Giêsu Chịu Phép Rửa

 

(Suy niệm của Lm. Anthony Trung Thành)

 

Tin mừng Chúa Nhật hôm nay nói về sứ mạng của Thánh Gioan Tẩy Giả là giới thiệu và làm TN 1-A172

 

Tin mừng Chúa Nhật hôm nay nói về sứ mạng của Thánh Gioan Tẩy Giả là giới thiệu và làm chứng cho Đấng Cứu Thế. Qua đó, mời gọi mỗi người Kitô hữu chúng ta phải là những Gioan Tẩy Giả của thời đại, đó là luôn biết giới thiệu và làm chứng cho Đức Giêsu ở mọi nơi mọi lúc.

 

1. Thánh Gioan Tẩy Giả có biết Đức Giêsu không?

 

Thánh Gioan Tẩy Giả còn được gọi là Thánh Gioan Tiền Hô vì Ngài có sứ mạng đi trước để dọn đường cho Đấng Cứu Thế đến. Ngài là con ông Gioakim và Bà Isave, có họ hàng với Đức Giêsu. Vì những liên hệ đó, nên trước khi Đức Giêsu chịu phép rửa, chắc chắn Gioan đã biết về Người nhưng có lẽ Ngài chỉ biết về con người của Đức Giêsu chứ chưa biết về Thần tính của Người, nghĩa là Ngài biết chưa đầy đủ. Vì thế, Ngài không dám nhận bừa là đã biết, cho nên Ngài mới nói rằng “Tôi không biết Người.”(x. Ga 1,31).

 

Nhưng sau khi Thánh Gioan làm phép rửa cho Đức Giêsu, thì Thánh Nhân đã biết Người một cách đầy đủ, tường tận: “Ngươi thấy Thánh Thần ngự xuống trên ai, thì đó chính là Ðấng làm phép rửa trong Chúa Thánh Thần.”(x. Ga 1,33). Vì thế, Ngài đã khẳng định rằng: “Tôi đã thấy và tôi làm chứng: chính Ngài là Con Thiên Chúa.” (x. Ga 1,34).

 

2. Thánh Gioan Tẩy Giả làm chứng về Đức Giêsu như thế nào?

 

Với nhiệm vụ dọn đường cho Đấng Cứu Thế đến, Thánh Gioan Tẩy Giả đã dùng lời nói và việc làm của mình để làm chứng cho Đức Kitô. Nhưng đáng kể nhất là những lời chứng sau đây:

 

Lời chứng thứ nhất: “Đây Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xóa tội trần gian.” (x. Ga 1,29).

 

Theo lẽ thường tình, ai phạm tội, kẻ đó cần phải trả giá bằng chính sinh mạng của mình, nhưng vì tình thương nên Thiên Chúa đã chấp nhận để cho con chiên đền tội thay cho con người. Vì thế, theo sách Xuất Hành, vào sáng sớm và chiều tối mỗi ngày, các tư tế trong đền thờ phải sát tế mỗi buổi một con chiên làm của lễ toàn thiêu để đền tội thay cho dân chúng. Như vậy, tội lỗi của cả dân chúng mỗi buổi đều đổ hết lên đầu con chiên, và con chiên gánh tội ấy phải chết để đền tội thay cho dân chúng, hầu dân chúng được khỏi tội trước mặt Thiên Chúa (x. Xh 29,38-42).

 

Khi Gioan giới thiệu Đức Giêsu “Đây Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xóa tội trần gian,” thì Ngài muốn nói rằng Đức Giêsu đã trở thành Chiên Hy Sinh để xóa bỏ tội trần gian. Sau này, chính Thánh Phaolô cũng khẳng định điều đó khi nói rằng: “Đức Kitô đã chịu hiến tế làm chiên lễ Vượt Qua của chúng ta” (x. 1Cr 5,7)

 

Lời chứng thứ hai: “Một người đến sau tôi, nhưng đã có trước tôi, vì Ngài cao trọng hơn tôi.” (x. Ga 1,30).

 

Uy tín của Gioan Tẩy Giả càng ngày càng nâng cao nhờ vào đời sống và lời giảng dạy của Ngài. Vì vậy, người đương thời tưởng Ngài là Đấng Cứu Thế. Nhưng Ngài phủ nhận điều đó và khiêm nhường nhận mình “chỉ là tiếng kêu trong hoang địa.” Rồi Ngài khẳng định: “Người đến sau tôi, cao trọng hơn tôi, tôi không đáng để cởi quai dép cho Người.” (x. Ga 1, 19-28).

 

Lời chứng thứ ba: “Tôi làm phép rửa trong nước còn Người đến sau tôi làm phép rửa trong Thánh Thần.” (x. Ga 1, 26.33).

 

Đây là sự khác nhau giữa Phép Rửa của Thánh Gioan và Phép Rửa của Đức Giêsu. Phép Rửa của Gioan bằng nước, còn Phép Rửa của Đức Giêsu bằng Thánh Thần. Phép Rửa của Thánh Gioan chỉ kêu gọi người ta thống hối ăn năn tội chứ không tha tội, còn Phép Rửa của Đức Giêsu tha thứ tội lỗi: tội Tổ Tông và tội riêng (nếu có). Phép Rửa của Gioan chỉ dừng lại ở lòng thống hối, Phép Rửa của Đức Giêsu là cửa ngõ để dẫn vào các Bí tích khác, nhất là cửa ngõ để dẫn con người vào Nước trời “Không ai có thể vào Nước Thiên Chúa, nếu không sinh ra bởi nước và Thánh Thần”(x. Ga 3,5).

 

Lời Chứng thứ tư: “Chính Ngài là Con Thiên Chúa.” (x. Ga 1,34).

 

Chúng ta biết được Đức Giêsu là Thiên Chúa nhờ chính mạc khải của Kinh Thánh: Khi Đức Giêsu sinh ra tại Bêlem, chính sứ thần Chúa đã hiện ra báo tin cho các mục đồng biết rằng: “Hôm nay, một Đấng Cứu Độ đã sinh ra cho anh em trong thành vua Đa-vít, Người là Đấng Ki-tô Đức Chúa.” (x. Lc 2, 8-14); khi Hài Nhi được tiến dâng cho Thiên Chúa trong Đền Thờ, ông Simêon và bà Anna nhận ra Hài Nhi là Đấng Cứu Thế và cả hai nói tiên tri về Người (x. Lc 2,33-38); chính bà Isave cũng nhận ra Đức Maria đang cưu mang Đấng Cứu Thế (x. Lc 1,43); và hôm nay Thánh Gioan nhận ra Đức Giêsu là Thiên Chúa nhờ có tiếng Chúa Cha phán từ trời và nhờ Chúa Thánh Thần lấy hình chim bồ câu đậu trên đầu Đức Giêsu: "Ngươi thấy Thánh Thần ngự xuống trên ai, thì đó chính là Ðấng làm phép rửa trong Chúa Thánh Thần.” (Ga 1,33).

 

3. Để làm chứng cho Đức Giêsu, chúng ta phải làm gì?

 

Cũng như Gioan, để làm chứng cho Đức Giêsu, chúng ta cũng phải biết về Người.

 

Trước hết, đó là cái biết vì tri thức. Thánh Giêrônimô nói: “Không biết Kinh Thánh là không biết Đức Kitô.” Vì vậy, để biết Đức Kitô chúng ta cần phải đọc, học hỏi Kinh Thánh, học hỏi giáo lý của Người. Điều này, nhắc nhở sự quan tâm của những người có trách nhiệm trong việc dạy giáo lý: Cha xứ đối với giáo dân; thầy cô giáo lý viên đối với học sinh; cha mẹ đối với con cái; người có đạo đối với những người lương dân, nhất là những người có trách nhiệm dạy đạo cho các dự tòng và tân tòng.

 

Thứ đến, đó là cái biết về tương quan thần linh với Thiên Chúa. Hay nói như Thánh Phaolô: “Tôi sống nhưng không còn là tôi sống mà Đức Kitô sống trong tôi.” (Gl 2,20) Điều này được thể hiện qua đời sống đạo. Người biết Thiên Chúa về điểm này thường có đời sống đạo tốt, siêng năng cầu nguyện và lãnh nhận các Bí tích. Lời nói và đời sống đạo của họ đi đôi với nhau. Nghĩa là họ đã xác tín điều họ nói. Cho nên, lời nói của họ rất có tính thuyết phục. Vì “con người thời đại thích chứng nhân hơn thầy dạy.” (Đức Phaolô VI). Đó là những con người “mang Tin Mừng, mang sức mạnh của Thiên Chúa.”

 

Cuối cùng, để làm chứng về Đức Giêsu, chúng ta phải “nên thánh”, trở nên Con Chiên của Ngài. Con chiên thì hiền lành. Con chiên thì khiêm nhường. Con chiên thì chấp nhận ghánh tội thay cho người khác. Tin mừng Thánh Mathêu cho chúng ta biết những ai thuộc thành phần Chiên, đó là những người: “Vì xưa Ta đói, các ngươi đã cho ăn; Ta khát, các ngươi đã cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi đã tiếp rước; Ta trần truồng, các ngươi đã cho mặc; Ta đau yếu, các ngươi đã thăm nom; Ta ngồi tù, các ngươi đã đến thăm.” (x. Mt 25,35-36).

 

Lạy Chúa, xin cho mỗi người chúng con biết chăm chỉ học hỏi giáo lý và thực hành những gì giáo lý đòi hỏi để khi chúng con làm chứng cho Chúa thì lời chứng của chúng con có sức thuyết phục đối với mọi người. Amen.

 

-------------------------------

 

TN 1-A173: Chúa Giêsu chịu phép rửa

 

(Suy niệm của Lm. Giuse Lê Danh Tường)

 

ĐẤNG TOÀN THÁNH ĐỒNG HÀNH VỚI NGƯỜI TỘI LỖI

 

Ngày lễ Đức Giêsu Chịu Phép Rửa là ngày Đức Giêsu khởi đầu cuộc sống công khai của Ngài TN 1-A173

 

Ngày lễ Đức Giêsu Chịu Phép Rửa là ngày Đức Giêsu khởi đầu cuộc sống công khai của Ngài. Đức Giêsu đã được giới thiệu trước muôn dân trong dung nhan Ngài là Con Thiên Chúa. Biến cố Đức Giêsu chịu phép rửa của ông Gioan trong trình thuật Tin mừng vén mở cho chúng ta thấy: Đức Giêsu không chỉ là một con người nhưng còn là Thiên Chúa, Một Thiên Chúa là Cha và Con và Thánh Thần đã thân hành đến với con người.

 

Đức Giêsu là một con người lịch sử

 

Trong bài Tin Mừng hôm nay, Đức Giêsu được giới thiệu trong một khung cảnh lịch sử cụ thể. “Chúa Giêsu bỏ xứ Galilêa mà đến với Gioan ở sông Giođan” (Mt 3,13) Đức Giêsu đến từ miền Galilea, một miền đất mạn Bắc của Palestin thời đó. Đức Giêsu xuất hiện tại sông Giodan, một con sông chạy dọc từ chân núi Hermon tới Biển Chết gắn bó bao vui buồn với dân tộc Do Thái. Lúc đó ông Gioan, một ngôn sứ nổi danh trong lịch sử dân tộc Do thái sinh sống vào lúc giao thời giữa trước và sau Công Nguyên, đang làm phép rửa tỏ lòng sám hối cho rất nhiều người. Với một khung cảnh lịch sử được trình bày rõ ràng về không gian và thời gian như vậy, Đức Giêsu thực sự là một con người lịch sử. Đức Giêsu đã sinh ra và lớn lên tại Palestine cùng dân tộc Do thái cách đây 2020 năm.

 

Nhưng nếu Đức Giêsu chỉ là một con người lịch sử mà thôi thì Ngài cũng chỉ như bao các vĩ nhân khác trong lịch sử nhân loại. Ở đây, chúng ta thấy Đức Giêsu còn là Thiên Chúa.

 

Đức Giêsu là Thiên Chúa

 

Điểm chính yếu của bài Tin Mừng hôm nay không phải là lúc Gioan dìm Đức Giêsu dưới dòng nước sông Giodan, nhưng là lúc Đức Giêsu vừa lên khỏi nước.

 

“Này là Con yêu dấu của Ta, Con đẹp lòng Ta” (Mt 3,17) lời của Thiên Chúa Cha vang vọng từ Trời cao để khẳng định, để giới thiệu với muôn dân rằng Đức Giêsu là Thiên Chúa. Nếu như năm xưa nguyên tổ phạm tội chống lại Trời để rồi cánh cửa Địa đàng khép lại; con người không còn được giao hảo với Thiên Chúa nữa. Người Do thái đã lấy hình ảnh cửa trời bị đóng lại để diễn tả điều ấy. Thì nay “các tầng trời mở ra” (Mt 3,16) phá tan sự ngăn cách con người với Thiên Chúa.

 

Chính trong giây phút trang trọng này, Ta thấy được sự hiệp thông trong một của Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. “Thánh Thần Chúa ngự xuống như một bồ câu và đậu trên Người” (Mt 3,16). Chúa Thánh Thần dưới hình chim bồ câu đậu xuống trên Đức Giêsu. Chúa Cha công khai xác nhận sự ưu ái với Đức Giêsu khi lên tiếng: “Này là Con yêu dấu của Ta”. Đức Giêsu là Con Thiên Chúa. Đây không phải là một danh xưng, một tước vị, nhưng là một liên hệ sâu xa mật thiết: Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần liên kết trong một tình yêu hiệp thông: Đức Giêsu hoạt động dưới tác động của Chúa Thánh Thần để thi hành Thánh Ý Chúa Cha.

 

Thực vậy, Thiên Chúa đã xuống thế với con người. Một Thiên Chúa là Cha và Con và Thánh Thần đã trao ban tất cả cho con người, đã ngụp lặn xuống tận đáy của dòng đời để có thể gặp gỡ con người.

 

Thiên Chúa tự hạ mình đến với con người

 

Con người, một tạo vật đã phản bội với Đấng Tạo Hoá, đã muốn vươn lên làm chủ tất cả, gạt bỏ Trời ra khỏi đời mình. Chính khi con người kiêu ngạo như vậy, nó đã tự mình rời xa Thiên Chúa và không còn khả năng gặp gỡ Thiên Chúa nữa. Trái lại, Thiên Chúa, Đấng tạo dựng nên con người lại luôn tìm cách để gặp gỡ con người, sẵn sàng hạ mình xuống để có thể tìm lại được con người mà chính Ngài đã dựng nên.

 

Nhìn vào hình ảnh Đức Giêsu cùng đi với dòng người tội lỗi xuống dìm mình dưới dòng sông Giodan, ta thấu hiểu được nỗi lòng của Đấng Tạo Hóa. Thiên Chúa là Đấng toàn thánh, thế nhưng Thiên Chúa đã chấp nhận hạ mình xuống để sống với loài người tội lỗi. Và giờ đây, Người chấp nhận đi cùng dòng người tội lỗi để dìm mình tỏ lòng thống hối. Người không có tội nhưng Người muốn cúi xuống gánh lấy tội lỗi nhân gian. Trong khi loài người tội lỗi luôn kiêu ngạo tìm phương thế nâng mình lên thì Thiên Chúa thánh thiện lại tìm phương thế hạ mình xuống; Trong khi loài người tội lỗi luôn che dấu, chối không nhận tội thì Thiên Chúa vô tội lại công khai nhận tội thay cho con người; Trong khi loài người tội lỗi tìm lối tránh hình phạt do tội lỗi họ gây nên thì Thiên Chúa lại ghé vai gánh lấy hết tội lỗi và mọi hình phạt mà loài người đáng phải chịu. Một Thiên Chúa toàn thánh nay hạ mình xuống đồng hành với loài người tội lỗi.

 

Giờ phút khai mạc cho đời sống công khai của một Thiên Chúa làm người thật đặc biệt. Lẽ ra với thân phận như Đức Giêsu thì giờ phút ấy phải hoành tráng, ở một nơi sang trọng, với những vị thượng khách hào hoa và bao nghi thức long trọng. Nhưng ở đây, Thiên Chúa đã chọn nơi dòng sông làm địa điểm; chọn những người tội lỗi làm thượng khách; chọn bầu không khí sám hối u buồn để cử hành nghi thức. Chỉ có một Thiên Chúa tận tình và hết mình với con người mới làm như vậy; Chỉ có một Thiên Chúa tha thiết yêu con người mới nghĩ ra được cách thức như thế.

 

Hãy đến với Giêsu. Ngài thấu hiểu mọi tâm tư, tình cảm, ước nguyện của bạn bởi Ngài đã là người trong thân phận nghèo hèn bé nhỏ; Ngài kéo bạn lên, chữa lành các vết thương trong tâm hồn bạn, đưa bạn đến nguồn hạnh phúc vĩnh cửu bởi Ngài là Thiên Chúa.

 

Lạy Chúa, xin hằng khơi dậy trong con nguồn cảm hứng Lời Ngài, để con luôn cảm nhận được sự tự hạ đầy lòng yêu thương của Ngài, để con biết cúi xuống chạm tới những tâm hồn đang ngấp ngoái giữa dòng xã hội hôm nay, để con biết cảm tạ Ngài đã đoái thương con; để con được yên vui sống trong niềm hy vọng vào sự giải thoát của Ngài, Đấng cứu độ con.

 

-------------------------------

 

TN 1-A174: Đức Yêsu Chịu Phép Rửa

 

(Suy niệm của Lm. Giuse Phạm Thanh Liêm, SJ.)

 

Đức Yêsu không phải là người duy nhất đến với Yoan để được ông thanh tẩy cho, tuy nhiên biến TN 1-A174

 

Đức Yêsu không phải là người duy nhất đến với Yoan để được ông thanh tẩy cho, tuy nhiên biến cố Đức Yêsu chịu phép rửa lại là một biến cố đặc biệt đối với những ai tin vào Ngài. Qua Ngài, Thiên Chúa đang thực hiện công trình yêu thương và cứu độ con người.

 

1. Dòng sông được thánh hoá

 

Dòng nước chỉ thanh tẩy được những gì là dơ bẩn bên ngoài, làm sao làn nước có thể làm sạch vết bẩn trong tâm hồn một người! Làm sao dòng nước sông Yordan biến đổi được một người! Dòng sông Yordan làm sao thanh tẩy được Đức Yêsu, vì Ngài đâu có gì nhơ uế! Phép rửa Yoan thanh tẩy con người ở sông Yordan, là biểu tượng Thiên Chúa thanh tẩy những tâm hồn sám hối được Thiên Chúa tha thứ lỗi lầm.

 

Không phải dòng sông Yordan thanh tẩy Đức Yêsu, nhưng chính Ngài thánh hoá dòng sông Yordan. Đức Yêsu là Đấng thánh, những gì được Ngài đụng chạm đến, điều đó là thánh. Qua biến cố Thiên Chúa nhập thể, tạo thành đã trở nên khác. Vật chất nơi thân xác Đức Yêsu đã trở thành “thân xác” Thiên Chúa! Xương thịt con người Đức Yêsu đã trở thành “xương thịt” Thiên Chúa. Lịch sử con người đã trở thành lịch sử Thiên Chúa. Bánh rượu trong Thánh Lễ trở thành Mình Máu Thiên Chúa nhập thể.

 

Bí tích Thánh Thể thánh hoá con người. Khi con người lãnh nhận bí tích Thánh Thể, Chúa Yêsu Thánh Thể thánh hoá người lãnh nhận Ngài. Khi một người muốn rước Thánh Thể mà có tội trọng chưa xưng được vì một lý do nào đó, Hội Thánh vẫn cho người đó rước lễ, vì lúc đó họ có lòng sám hối thực sự và Thiên Chúa đã tha tội (nghĩa là đã thánh hoá) họ rồi; hơn nữa khi rước Thánh Thể, Chúa Yêsu Thánh Thể thánh hoá người đó. Chính Thiên Chúa làm con người nên thánh, chứ tạo vật không làm con người nên thánh.

 

2. Trung gian nên thánh

 

Thuộc về Thiên Chúa, là thánh. Thánh, là người có suy nghĩ và rung cảm giống Thiên Chúa. Chẳng hạn yêu người, thương xót người đau khổ và tìm cách giúp đỡ họ, là hành xử giống như Thiên Chúa. Ngài cũng thương xót con người và tìm mọi cách để giúp con người được hạnh phúc với Ngài.

 

Qua Đức Yêsu, Thiên Chúa tỏ mình cho con người. Đặc biệt trong biến cố Đức Yêsu chịu phép rửa, Thiên Chúa dạy con người biết giá trị của những gì mà con người thường cho là tầm thường thì cũng có thể làm con người nên thánh. Dòng nước sông Yordan là trung gian giúp bao người nhận biết chính mình và trở về cùng Thiên Chúa; cũng tương tự vậy với dòng nước mỗi người chúng ta được rửa tội, giúp chúng ta được thánh hoá và trở nên con Thiên Chúa.

 

Yoan không làm Đức Yêsu là thánh, nhưng chính Đức Yêsu làm Yoan thành thánh, người được rửa làm người rửa mình là thánh. Vị linh mục đọc lời truyền phép trong Thánh Lễ, và sau đó vị linh mục thờ lạy Thánh Thể. Trong cuộc sống, những chuyện tương tự như vậy vẫn đang xảy ra. Không chỉ qua trung gian các linh mục mà giáo dân nên thánh, nhưng còn qua giáo dân mà linh mục nên thánh. Không chỉ nhờ nhà truyền giáo mà dân bản xứ được thánh hoá, nhưng nhờ dân bản xứ mà các vị thừa sai triển nở và nên thánh. Những trung gian nên thánh hiện diện xung quanh chúng ta. Không nhất thiết phải là những người có chức tước hoặc nhiệm vụ quan trọng, nhưng có thể là những người rất tầm thường khiêm tốn mà chúng ta phục vụ.

 

3. Thiên Chúa làm người

 

Làm sao dòng nước có thể thánh hoá người được rửa tội? Làm sao một người có thể ban lời xá giải tha tội khi họ chỉ là con người? Không ai có thể làm mình hoặc người khác nên thánh, nếu không phải chính Thiên Chúa là tác nhân nên thánh.

Khi một người làm phép rửa, là chính Thiên Chúa làm phép rửa. Khi linh mục đọc lời xá giải trong bí tích giải tội, thì chính Thiên Chúa tha tội. Thiên Chúa hiện diện nơi Đức Yêsu, Ngôi Lời nhập thể. Thiên Chúa còn hiện diện qua trung gian của những thừa tác viên các bí tích một cách đặc biệt. Ngoài thừa tác viên của các bí tích, Thiên Chúa cũng hiện diện và thánh hoá con người qua trung gian những người khác và ngay cả các tạo vật vô tri vô giác.

 

Chính nhờ Thiên Chúa nhập thể mà con người thấy rõ tình yêu cụ thể của Thiên Chúa đối với con người. Qua biến cố Đức Yêsu, con người thấy giá trị của vật chất và thực tại trần thế. Con người và ngay cả vật chất cũng được thánh hoá. Đức Yêsu là biểu tượng và bằng chứng tình yêu Thiên Chúa cho con người. Và tới lượt mỗi người chúng ta cũng được vinh dự trở thành trung gian, dụng cụ, dấu chỉ tình yêu của Thiên Chúa cho người đồng thời với mình.

 

Câu hỏi gợi ý chia sẻ:

 

1. “Nên thánh” là gì?

2. Cốt lõi Tin Mừng Đức Yêsu rao giảng là gì?

3. Tin vào Đức Yêsu, bạn được gì cụ thể trong cuộc sống?

 

-------------------------------

 

TN 1-A175: Chúa Giêsu chịu phép rửa

 

(Trích trong ‘Suy Niệm Tin Mừng Chúa Nhật’)

 

"Khi chịu phép rửa, Chúa Giêsu thấy Thánh Thần Chúa đến trên mình Người"

 

I. Ý CHÍNH:

 

Bài Tin Mừng hôm nay kể lại biến cố Chúa Giêsu chịu phép rửa để giới thiệu Chúa Giêsu là Thiên TN 1-A175

 

Bài Tin Mừng hôm nay kể lại biến cố Chúa Giêsu chịu phép rửa để giới thiệu Chúa Giêsu là Thiên Chúa Ngôi Hai, xuống thế làm người để cứu chuộc loài người.

 

II. SUY NIỆM:

 

1) "Chúa Giêsu bỏ xứ Galilê mà đến với Gioan...":

 

Chúa Giêsu từ Galilê đến sông Giođan tìm gặp Gioan Tẩy giả để xin Gioan làm phép rửa cho.

 

+ Chúa Giêsu đến với Gioan: diễn tả một sự đích thân và tự nguyện để nói lên việc Chúa Giêsu chịu phép rửa của Gioan là một sự tự hiến chứ không phải một sự đòi buộc do tội lỗi vì Người là Đấng vô tội.

 

+ Để Gioan làm phép rửa cho: đây là phép rửa thống hối, Chúa Giêsu xin chịu phép rửa thống hối là vì Ngài muốn tự đồng hoá mình với thân phận kẻ tội lỗi, mặc dầu Ngài vô tội. Và đồng thời ở đây cũng nói lên mục đích rõ ràng của Chúa Giêsu: đến " để ông làm phép rửa cho".

 

2) Nhưng Gioan can Người rằng:

 

+ "Chính tôi phải được Ngài rửa": nghĩa là việc Chúa Giêsu chịu phép rửa làm cho vai trò của Gioan đối với Chúa Giêsu xem ra có vẻ đảo ngược, trái với điều chính Gioan loan báo mình không đáng cởi dây giầy cho Đấng Thiên Sai.

 

+ "Thế mà Ngài lại đến với tôi sao?": phép rửa của Gioan có việc thú tội kèm theo ( Mt3, 6 ) được các tội nhân đón nhận, vậy Đức Giêsu  khi cúi mình chịu phép rửa, phải chăng cũng có thức là tội nhân sao?

 

3) "Không sao, vì chúng ta cần chu toàn bổn phận":

 

"Chu toàn" có nghĩa là làm cho trọn nghĩa. Sở dĩ Đức Kitô khi chịu phép rửa bởi Gioan, để làm cho tròn bổn phận, đó là vì Người vừa cúi mình vừa siêu hoá và bầy tỏ ý nghĩa tròn đầy của phép rửa ấy. Ý nghĩa này được bầy tỏ qua biến cố Chúa Giêsu chịu phép rửa: Trời mở ra, Thánh Thần Chúa ngự xuống và có tiếng từ trời phán.

 

4) "Chúa Giêsu chịu phép rửa rồi bước lên khỏi nước":

 

+ "Chịu phép rửa": phép rửa của Gioan là phép rửa thống hối, Chúa Giêsu chịu phép rửa thống hối để bầy tỏ ý nghĩa mặc dầu Ngài chẳng phạm tội, nhưng Ngài cũng phải cúi chịu phép rửa thống hối vì Ngài muốn liên đới với mọi tội nhân ( 2Cr 5, 21 ; Dt2, 14 - 17 ).

 

+ "Bước lên khỏi nước": người chịu thanh tẩy bước lên khỏi nước " Sự chết" vì thế, qua phép rửa, Chúa Kitô kéo hết thẩy những kẻ có lòng tin đi với mình và trong mìnhvề tùng phục lại Chúa Cha, lòng tùng phục hiếu thảo này Người sẽ bày tỏ cách đặc biệt trong cuộc tử nạn, vì thế phép rửa ở đây của Đức Kitô là dấu chỉ sự chấp nhận trước cuộc tử nạn của Người ( Mt26, 39 ).

 

5) " Này đây các tầng trời mỏ ra...":

 

+ Mátthêô lấy lại lời của Isaia 63,19: "Ước gì Ngài xé trời Ngài xuống". Lời Tiên tri này được thực hiện nơi Đức Kitô, Đấng từ trời xuống, nghĩa là Thiên Chúa đã đến với nhân loại qua Chúa Giêsu Kitô trong mầu nhiệm nhập thể.

 

+ "Người thấy Thánh Thần như chim bồ câu ngự xuống trên mình": việc Chúa Cha chấp nhận sự tùng phục của Chúa Con, được biểu lộ rõ ràng qua việc Chúa Thánh Thần đáp xuống và nhất là qua tiếng nói từ trời. Như vậy phép rửa nàu có vẻ như một cuộc tấn phong Đức Giêsu  làm Vua và Cứu Thế. Chính Isaia ( 11, 2 ) đã từng tiên báo như thế về Đấng Cứu Thế: " Sẽ đậu trên Người Thần khí Giavê, thần trí khôn ngoan và trí tuệ...". Việc tiếp nhận Thánh Thần Chúa của Đức Kitô, được bắt đầu từ sông Gio - đan, nhưng sẽ đạt đến mức độ viên mãn, tràn đầy trong ngày lễ hiện xuống.

 

"Như một bồ câu và đậu trên Người": trong Do thái giáo, chim bồ câu không được coi là hình ảnh của Thánh Thần Chúa, nhưng có ý so sánh chuyển động của Thánh Thần Chúa với cử chỉ của một con bồ câu mẹ bay chập chờn trên đàn con mà không đụng tới chúng, Thánh Thần Chúa cũng bay là là trên nước nguyên thủy như vậy ( St 1, 2 ).

 

Máthêô không có ý gợi lên hình dáng cho bằng cách thức mà Thánh Thần Chúa đột hiện và tác động trên Chúa Giêsu.

 

6 ) "Con là Con yêu dấu của Ta, Con đẹp lòng Ta":

 

+ Tiếng phán ra từ trời là tiếng của Chúa Cha, tiếng ấy lấy lại lời khẳng quyết của Thánh vịnh 2, 7 " Con là Con của Ta, hôm nay Ta đã sinh Con", cũng lấy lại lời Giavê ngỏ cùng người tôi tớ đau khổ sẽ thể hiện ơn cứu độ cho thân thuộc mình: " Này đây Tôi tớ của Ta mà Ta nâng đỡ, Tuyển nhân của Ta mà Ta sùng mộ, Ta đã ban Thánh Thần Ta trên Người..." ( Is42, 1 ).

 

+ Công thức này được lập lại từng chữ trong trình thuật biến hình ( Mt17, 5 ) để nói lên sự tương đồng, có tính cách thần học giữa hai biến cố. Thật vậy, cũng như việc biến hình là thể hiệnỉtước việc tôn vinh Đức Kitô khi Người sống lại thì sự phê chuẩn của Chúa Cha và việc đổ đầy Thánh Thần Chúa cũng loan báo việc tôn vinh Đức Kitô(Tôn vinh sẽ là kết quả không những của cuộc tử nạn mà còn của cả đời sống tự hạ, bắt đầu từ việc hạ mình trong ngày phép rửa).

 

+ Những sự kiện trên đây xảy ra trong biến cố phép rửa của Chúa Giêsu cho thấy rằng cảnh phép rửa thật là một cuộc thần hiện, như cuộc biến hình, hơn là một cuộc thị kiến của riêng Đức Kitô. Cuộc thầnhiện này nhắm tới các độc giả Tin Mừng  để trở thành Môn đồ Đức Giêsu, y như cuộc biến hình chỉ dành riêng cho 3 môn đệ Phêrô - Giacôbê - Gioan vậy.

 

III. ÁP DỤNG:

 

A. Áp dụng theo Tin Mừng:

 

Qua bài Tin Mừng hôm nay, Giáo Hội muốn chúng ta nhìn ngắm việc Chúa Giêsu chịu phép rửa để nhớ lại và ý thức về phép rửa của mình đã chịu: từ bỏ mà quỷ để tin theo Chúa, từ bỏ con người tội lỗi để sống con người mới, con người đã được tái sinh bởi Thánh Thần Chúa, để làm con cái Chúa.

 

B. Áp dụng thực hành:

 

1/ Nhìn vào Chúa Giêsu:

 

+ Chúa Giêsu đã đích thân nhận thân phận một tội nhân, mặc dầu Người vô tội, để xin Gioan làm phép rửa. noi gương Chúa mặc dầu không do khuyết điểm, thiếu sót, lỗi lầm của mình, chúng ta sẵn sàng đón nhận những hậu quả như một người thiếu sót, lỗi lầm, khuyết điểm,... do tha nhân hay hoàn cảnh gây ra để làm chứng cho cuộc tử nạn và phục sinh của Chúa Kitô.

 

+ Phép rửa của Đức Kitô cho ta thấy rằng: Người đứng về phía các tội nhân mà Người đến tha thứ và cứu vớt, Người mong biến đổi nhân loại, từ bên trong bằng cách chia sẻ thân phận nghèo nàn và khốn khó của họ hơn là từ bên ngoài, bằng cách xét xử phán đoán, Người từ chối thống trị chinh phục bằng cách tự huỷ Mình cho đến chết trên Thập giá.

 

Chúng ta muốn dự định thực hiện cuộc giải phóng con người, cũng phải chấp nhận các phương pháp như trên của Chúa Giêsu.

 

2/ Nhìn vào Gioan:

 

+ Chúa Giêsu dùng Gioan làm phép rửa cho mình để " Người chu toàn bổn phận". Mỗi người chúng ta cũng được Chúa dùng theo những gì mình đang có, để thực hiện công trình của Chúa trong công cuộc cứu chuộc nhân loại.

 

+ Gioan chiều ý Chúa, chúng ta cũng phải bỏ ý riêng để thực thi ý Chúa, nhờ đó công việc của Chúa mới được bày tỏ.

 

-------------------------------

 

TN 1-A176: Chúa Giêsu chịu phép rửa

 

(Suy niệm chú giải Lời Chúa của Lm. Inhaxio Hồ Thông)

 

Theo chu trình năm Phụng Vụ, Chúa Nhật I Thường Niên tưởng niệm sự kiện Đức Giê-su chịu phép TN 1-A176

 

Theo chu trình năm Phụng Vụ, Chúa Nhật I Thường Niên tưởng niệm sự kiện Đức Giê-su chịu phép rửa. Phép rửa này được liên kết với cuộc tấn phong diễn ra trong một cuộc Thần Hiển. Đó là lý do tại sao các Giáo Hội Đông Phương cử hành việc Chúa Giê-su chịu phép rửa như một trong ba cuộc Thần Hiển: lễ Hiễn Linh, lễ Đức Giê-su chịu phép rửa và lễ Chúa Giê-su Biến Hình.

 

Is 42: 1-4, 6-7

 

Trước hết, bài đọc thứ nhất, được trích từ sấm ngôn I-sai-a, loan báo cuộc tấn phong “người Chúa tuyển chọn” mà “Ngài hết lòng quí mến” và cho Thần Khí của Ngài ngự trên người ấy. Đây là một nhân vật mầu nhiệm mà vị ngôn sứ gọi là “Người Tôi Trung của Đức Chúa”.

 

Cv 10: 34-38

 

Tiếp đó, bài đọc thứ hai, được trích từ sách Công Vụ Tông Đồ, thuật lại bài giảng của thánh Phê-rô ngỏ lời với ông Cô-nê-li-ô, viên bách quản Rô-ma, và toàn thể gia quyến của ông, họ là những lương dân đầu tiên gia nhập vào cộng đoàn Ki-tô hữu qua phép Rửa. Nhờ mầu nhiệm Tử Nạn và Phục Sinh của Đức Giê-su Ki-tô, mọi người, bất kỳ ai, thuộc dân tộc nào, đều được mời gọi gia nhập vào dân Thiên Chúa.

 

Mt 3: 13-17

 

Sau cùng, thánh Mát-thêu tường thuật biến cố Chúa Giê-su chịu phép rửa, để giới thiệu Ngài là “Người Tôi Trung” mà sấm ngôn I-sai-a đã loan báo.

 

BÀI ĐỌC I (Is 42: 1-4, 6-7)

 

Bản văn này gợi lên một nhân vật mà Thiên Chúa gọi là “Người Tôi Trung của Ngài”, Ngài hết lòng quí mến và đổ tràn đầy Thần Trí của Ngài trên người ấy. Nơi nhân vật này, Thiên Chúa trao gửi một sứ mạng là thực thi công lý, bày tỏ tấm lòng nhân ái và đức khiêm nhu, nhờ đó nhân vật ấy trở thành ánh sáng chiếu soi muôn dân.

 

Đây là bài ca đầu tiên trong bốn bài ca về “Người Tôi Trung chịu đau khổ” trong tác phẩm của ngôn sứ I-sai-a thời lưu đày (550-540 BC), được gọi I-sai-a đệ nhị (Is 40-55).

 

Bài ca này gồm có hai phần: phần thứ nhất, Thiên Chúa giới thiệu “Người Tôi Trung” của Ngài; phần thứ hai, Thiên Chúa ngỏ lời trực tiếp với nhân vật này.

 

1. Người Tôi Trung của Đức Chúa là ai?

 

Danh xưng “Người Tôi Trung” xuất hiện nhiều lần trong Kinh Thánh. Đây là danh hiệu cao quí mà Đức Chúa tặng ban cho những ai Ngài trao phó nhiệm vụ hướng dẫn dân Ngài, hay trao gửi một sứ mạng: Áp-ra-ham, I-sa-ác, Gia-cóp, Mô-sê, Đa-vít, vân vân. Danh hiệu này cũng chỉ toàn dân Ít-ra-en.

 

Nhân vật này là ai? Thật ra, nhân vật bí ẩn này trong suốt nhiều thời đại đã được giải thích theo nhiều cách khác nhau: một nhân vật lịch sử là vua Ba tư tên là Ky-rô; hoặc dân Ít-ra-en, dân Chúa chọn; hay Đấng Mê-si-a. Đây là nét đặc trưng của các sấm ngôn vừa phát xuất từ những hoàn cảnh lịch sử chính xác vừa vượt qua những viễn cảnh đương thời.

 

2. Vua Ky-rô, vị thẩm phán chí công và nhân hậu

 

 “Người Tôi Trung” này vừa là một vị thẩm phán vừa là nhà giải phóng: “Đây là người tôi trung Ta nâng đỡ; đây là người Ta tuyển chọn, Ta hết lòng quý mến. Ta cho Thần Khí Ta ngự trên Người; Người sẽ làm sáng tỏ công lý trước muôn dân”. Người Tôi Trung này được Thiên Chúa ban nhiều đặc ân, nhờ đó ông có thể phân xử muôn dân, sửa sai những lỗi lầm, vực dậy những kẻ bị áp bức, phóng thích những tù nhân, phục hưng Giao Ước giữa Thiên Chúa và dân Ngài và làm sáng tỏ công lý trước mặt muôn dân.

 

Hoàn cảnh lịch sử chính xác là cảnh tù đày ở Ba-by-lon. Vị ngôn sứ ngỏ lời với những người lưu đày này, họ phải chịu một cuộc thử thách dài lâu và mòn mỏi đợi chờ cuộc giải phóng. Ông hứa với họ một nhà giải phóng. Tất cả mạch văn hướng về vị vua Ba tư tên là Ky-rô, mà quyền lực của vua mỗi ngày mỗi lớn mạnh trên thế cuộc vùng Trung Đông.

 

Chương 41 trước đó ám chỉ rõ nét những chiến công lẫy lừng của vua Ky-rô:

 

“Từ Phương Đông, ai đã cho xuất hiện người hùng

đi mở đường cho nền công chính?

Đao kiếm của ông làm chúng hóa ra như tro bụi,

cung nỏ của ông khiến chúng tán loạn tựa cọng rơm.

Ông đuổi bắt thù địch, ông tiến bước an toàn

….

Điều đó, ai đã thực hiện, ai đã làm nên?

Chính là Ta. Ta là Đức Chúa, Ta là khởi nguyên,

và giữa những người của thời sau hết, Ta vẫn là Ta” (Is 41: 2-4).

 

Chương 45 còn nêu bật rõ ràng hơn:

 

“Đức Chúa phán với kẻ Người xức dầu, với vua Ky-rô

– Ta đã cầm lấy tay phải nó,

để bắt các dân tộc suy phục nó,

Ta tước khí giới của các vua,

mở toang các cửa thành trước mặt nó,

khiến các cổng không còn đóng kín nữa

….

Vì lợi ích của tôi tớ Ta là Gia-cóp,

và của người Ta đã chọn là Ít-ra-en

….

Dù ngươi không biết Ta, Ta đã trang bị cho ngươi đầy đủ,

để từ Đông sang Tây, thiên hạ biết rằng

chẳng có thần nào khác, ngoại trừ Ta.

Ta là Đức Chúa, không còn chúa nào khác” (Is 45: 1-6).

 

Các biến cố sắp đến sẽ khẳng định dự đoán thời cuộc của vị ngôn sứ. Không bao lâu sau, vua Ba tư chiếm kinh thành Ba-by-lon mà không phải gặp bất cứ một kháng cự nào, và cũng không gây bất kỳ thiệt hại nào cho kinh thành. Vua thi hành chính sách “thu phục dân tâm”. Vua Ky-rô và những người kế vị vua không bao giờ sử dụng bạo lực. Xót thương đối với những người Ít-ra-en bị lưu đày như “cây sậy bị dập nát” và “tim đèn leo lét”, vua Ba tư tạo điều kiện thuận tiện cho họ trở về cố hương là Giê-ru-sa-lem.

 

3. Dân Chúa chọn

 

Sau này, khi quá khứ mờ nhạt trong tâm trí, bản văn được đọc lại theo cách khác. Vị ngôn sứ chủ ý tặng ban danh hiệu “Người Tôi Trung” cho toàn dân Ít-ra-en với tư cách là dân Chúa chọn để là chứng nhân của Ngài. Dung mạo Người Tôi Trung được xem như cá nhân hóa dân Chúa chọn mà Đức Chúa nâng đỡ, sủng ái và ban Thần Trí của Ngài. Dân nhỏ bé này, Ngài đã “nắn nên” họ bằng chính bàn tay của mình. Ở giữa muôn dân, họ phải chu toàn sứ mạng của mình là trở nên ánh sáng muôn dân qua việc khẳng định niềm tin của mình vào Đức Chúa, Thiên Chúa chân thật.

 

4. Đấng Mê-si-a

 

Danh hiệu “Người Tôi Trung” này được nhận dạng chỉ ở nơi vua Ky-rô không tát cạn sự giàu có của bản văn, hay được cá nhân hóa ở nơi dân Chúa chọn cũng không hoàn toàn thỏa mãn. Quan trọng là đặt sứ điệp này vào trong những giờ phút nghiêm trọng vào lúc lời sấm được công bố.

 

Vào giữa thế kỷ thứ tư trước Công Nguyên, kinh thành Giê-ru-sa-lem bị đánh chiếm và trở thành hoang phế; Đền Thờ bị phá hủy; một phần lớn dân cư bị lưu đày; vương quyền của nhà Đa-vít đã bị vùi dập trong phong ba bão táp; niềm hy vọng vào Đấng Mê-si-a (Đấng được Thiên Chúa xức dầu) được đặt vào vương quyền nhà Đa-vít đã bị sụp đổ. Đây là thời điểm thuận tiện để nâng mặc khải lên đến một giai đoạn mới. Thiên Chúa sẽ can thiệp một cách bất ngờ: Ngài sẽ sai phái “Người Tôi Trung” đầy tràn Thần Khí của Ngài. Nhân vật này sẽ thực hiện sứ mạng công lý với tấm lòng khiêm nhu nhân hậu, dù bên ngoài có vẻ thất bại, chịu nhiều đau khổ (bài ca thứ tư). Qua trực giác của vị ngôn sứ, khoa sư phạm của Thiên Chúa bước một bước tiến nhảy vọt. Những sấm ngôn xưa liên quan đến một hậu duệ của nhà Đa-vít không bị bãi bỏ một chút nào, nhưng những viễn cảnh mới mà sấm ngôn này hé mở, thì không còn một quyền lực trần thế nhưng một vương quốc tâm linh:

 

“Nó không yếu hèn, không chịu nhục,

 

cho đến khi thiết lập công lý trên địa cầu.

 

Dân các hải đảo xa xăm đều mong được nó chỉ bảo” (Is 42: 4).

 

Trong sách Tin Mừng của mình ở 12: 18-21, thánh Mát-thêu trích dẫn một đoạn văn dài sấm ngôn I-sai-a này để chứng minh rằng lời sấm được ứng nghiệm ở nơi con người của Đức Giê-su, sứ mạng của Ngài tuy được thực hiện một cách kín đáo nhưng “sẽ đưa công lý đến toàn thắng, và muôn dân đặt niềm hy vọng nơi danh Ngài”.

 

Khi chịu phép rửa của thánh Gioan, Đức Giê-su thấy các tầng trời mở ra, Thần Khí ngự xuống trên mình và có tiếng từ trời phán: “Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người”. Việc mô tả này mặc nhiên quy chiếu đến sấm ngôn I-sai-a. Đức Giê-su bắt đầu sứ mạng của “Người Tôi Trung”. Ngài sẽ chu toàn sứ mạng này khi thể hiện dung mạo “Người Tôi Trung chịu đau khổ” trong cuộc Khổ Nạn của mình.

 

BÀI ĐỌC II (Cv 10: 34-38)

 

Đoạn trích sách Công Vụ Tông Đồ này tường thuật một biến cố đánh dấu một khúc quanh quyết định trong lịch sử của Giáo Hội tiên khởi: lần đầu tiên, một lương dân và toàn thể gia quyến của ông được chấp nhận gia nhập vào cộng đoàn Ki-tô hữu nhờ phép Rửa.

 

1. Hoàn cảnh Giáo Hội vào lúc đó

 

Cho đến lúc đó, các Tông Đồ ngỏ lời với dân Do thái nhằm chứng minh cho họ nhận biết rằng Đức Giê-su là Đấng Cứu Độ, ở nơi Ngài mọi lời Kinh Thánh được ứng nghiệm. Ki-tô giáo tiên khởi được định vị ở nơi sự nối dài của Do thái giáo. Chiều kích phổ quát đã được mặc khải qua các thị kiến ngôn sứ: rồi sẽ đến một ngày, muôn dân sẽ lên Đền Thờ Giê-ru-sa-lem mừng kính Đức Chúa đích thật. Nhưng các Tông Đồ đã không nghĩ đến một tiến trình đảo ngược: chính họ phải đi đến với muôn dân loan báo Tin Mừng cho họ.

 

Ấy vậy, vị lãnh tụ Giáo Hội, thánh Phê-rô, phải nói là bị Chúa Thánh Thần ép buộc đến nhà một người ngoại giáo. Một viên Bách Quản Rô-ma, đồn trú ở thành Xê-da-rê, sai người đến mời thánh nhân đến nhà mình. Lúc đó, thánh Phê-rô đang ở Gia-phô, cách thành Xe-da-rê khoảng năm mươi cây số. Thánh nhân đang thực hiện cuộc kinh lý. Sau cuộc bách hại dữ dội đã giáng xuống cộng đoàn Giê-ru-sa-lem non trẻ vào mùa hè năm 36 hay mùa xuân năm 37 (thánh Tê-pha-nô, vị tử đạo đầu tiên vào thời gian này), một thời gian yên bình xảy đến. Thánh Phê-rô lợi dụng thời kỳ yên bình này để thăm viếng các cộng đoàn Ki-tô hữu non trẻ này.

 

2. Một khúc quanh của Giáo Hội

 

Thánh Phê-rô đến nhà viên Bách Quản. Đây là lần đầu tiên thánh nhân bước qua ngưỡng cửa của một người chưa cắt bì, bất chấp những cấm kỵ lâu đời. Lệnh cấm không được tiếp xúc với những người chưa cắt bì không được diễn tả trong Lề Luật, nhưng từ tập quán và lời giải thích của các kinh sư, nhằm tránh tất cả mọi hình thức lây nhiễm ngoại giáo. Đây là lần đầu tiên thánh nhân đem sứ điệp Tin Mừng đến một người ngoại giáo và toàn thể gia quyến của ông. Đối với thánh nhân, đây thật sự là một kinh nghiệm cảm động và đáng nhớ. Thánh nhân đã hiểu được ý định của Thiên Chúa là muốn cứu độ hết mọi người. Ngay tức khắc, thánh nhân mặc lấy cho hành động của mình một ý nghĩa thần học. Đây là phần mở đầu bài thuyết giáo của thánh nhân mà Phụng Vụ Lời Chúa đề nghị cho chúng ta suy niệm vào ngày lễ Chúa Giê-su chịu phép rửa của Gioan Tẩy giả hôm nay.

 

3. Chiều kích phổ quát của ơn cứu độ

 

“Quả thật, tôi biết rõ Thiên Chúa không thiên vị người nào. Nhưng hễ ai kính sợ Thiên Chúa và ăn ngay ở lành, thì bất cứ họ thuộc dân tộc nào, cũng đều được Chúa tiếp nhận”. Lời khẳng định về sự bình đẳng giữa dân ngoại và dân Do thái này hình thành nên một thay đổi lớn lao. Quả thật, trước đây, thánh Phê-rô, vốn là một người Do thái, quen nghĩ đến những đặc quyền đặc lợi dành riêng cho dân Chúa chọn. Vị lãnh tụ Giáo Hội, được Thánh Thần thúc đẩy, chấp nhận và công bố sự thay đổi khôn sánh này.

 

Ông Cô-nê-li-ô, viên Bách Quản Rô-ma, là một “cảm tình viên của Do thái giáo”, cũng được gọi “người kính sợ Chúa”. Đây là một người “ăn ngay ở lành” như bản văn xác nhận.

 

Chắc chắn Thiên Chúa đã gửi “lời loan báo Tin Mừng trước tiên cho dân Ít-ra-en”. Thánh nhân muốn giải thích cho gia chủ và đồng thời muốn thanh minh quyền ưu tiên này: dân Ít-ra-en đã lãnh nhận một sứ mạng, sứ mạng chuẩn bị bình an, bình an giữa muôn dân, bình an giữa dân Do thái và lương dân. Bình an này trở nên có thể nhờ trung gian của Đức Giê-su Ki-tô, “Ngài là Chúa Tể muôn dân”.

 

4. Quyền năng của Phép Rửa Ki-tô giáo

 

Tiếp đó, thánh Phê-rô tóm tắt các chặng đường đời Chúa Giê-su, khởi đi từ việc Ngài được Thánh Thần xức dầu tấn phong khi lãnh nhận phép rửa trên dòng sông Gio-đan. Thánh Tông Đồ mở ra một viễn cảnh, đó sẽ mãi mãi là viễn cảnh của Giáo Hội: ân ban Thánh Thần không đơn giản là một sự thủ đắc, nhưng thật sự là một sức mạnh bùng nổ, một năng lực giúp hoàn thành sứ mạng: “làm chứng”, “thi ân giáng phúc” và “chữa lành mọi kẻ bị ma quỉ kiềm chế”.

 

TIN MỪNG (Mt 3: 13-17)

 

Như thánh Mác-cô và thánh Lu-ca, thánh Mát-thêu khai mạc cuộc đời công khai của Chúa Giê-su với việc Chúa Giê-su chịu phép rửa của Gioan Tẩy Giả. Ngoài ra, chúng ta nên lưu ý rằng thánh Mát-thêu hoàn tất tác phẩm của mình với lời căn dặn của Đấng Phục Sinh về giáo huấn tối hậu của phép rửa: “Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần” (Mt 28: 19).

 

Tại thánh Mát-thêu, như tại hai sách Tin Mừng Nhất Lãm khác, câu chuyện Chúa Giê-su chịu phép rửa bao gồm hai hoạt cảnh biệt phân: một hoạt cảnh về sự khiêm hạ: Đức Giê-su tự nguyện để thánh Gioan làm phép rửa cho mình; và một hoạt cảnh vĩ đại khác: Ngài được Chúa Thánh Thần tấn phong và được Chúa Cha chứng nhận. Nhưng thánh Mát-thêu là vị thánh ký duy nhất tường thuật cuộc đối thoại giữa Chúa Giê-su và thánh Gioan Tẩy Giả (3: 14-15), cuộc đối thoại mang đậm nét Kinh Thánh. Đây là nét đặc trưng của Tin Mừng Mát-thêu.

 

1. Chúa Giê-su chịu phép rửa của thánh Gioan Tẩy Giả (3: 13)

 

Đức Giê-su đến từ miền Ga-li-lê. Ngài đã rời bỏ gia đình và nghề nghiệp của mình để bắt tay vào sứ mạng của mình. Cử chỉ đầu tiên của Ngài là xin chịu phép rửa của Gioan, như bao người muốn thực hiện hành vi sám hối. Dáng điệu này là yếu tố đầu tiên của công trình Cứu Độ. Kể từ lúc đó, Chúa Giê-su muốn đặt mình liên đới với nhân loại tội lỗi. Đây là bước đi đầu tiên sẽ dẫn Ngài đến đồi Can-vê, để chịu một phép rửa khác, phép rửa bằng máu, mà chính Chúa Giê-su đã sánh ví với cuộc Tử Nạn của Ngài: “Thầy còn một phép rửa phải chịu, và lòng Thầy khắc khoải biết bao cho đến khi việc này hoàn tất” (Lc 12: 50). Cũng như Ngài tuyên bố với thánh Gia-cô-bê và thánh Gioan: “Các anh có uống nổi chén Thầy sắp uống, hay chịu được phép rửa Thầy sắp chịu không?” (Mc 10: 38). Qua động từ Hy ngữ, “chịu phép rửa” có nghĩa “nhấn chìm”, Chúa Giê-su muốn nói rằng Ngài sẽ bị nhấn chìm vào trong vực thẳm của muôn vàn đau khổ. Quả thật, từ phép rửa trong nước đến phép rửa trong máu, chính là tiến trình cuộc sống của Chúa Ki-tô. Trong hoạt cảnh phép rửa trong sông Gio-đan có một hậu cảnh bi thảm của cuộc Tử Nạn.

 

Nước được liên kết với những hình ảnh của cuộc sinh ra và cuộc tái sinh: những tiên trưng của phép rửa được gợi ý rất nhiều trong Cựu Ước: từ nước của trận đại hồng thủy xuất hiện một nhân loại mới với ông No-ê và gia đình của ông; từ nước của Biển Đỏ xuất hiện một dân mới, dân được giải thoát. Cũng vậy, khi bước ra khỏi dòng sông, Chúa Giê-su khai mạc một nhân loại mới, nhân loại được tái sinh. Thánh Gioan Kim Khẩu nói rằng khi bước vào sông Gio-đan, Chúa Giê-su đã chuẩn bị, một cách nào đó, tác động thần linh của nước trên người rửa tội.

 

Việc dìm mình vào trong nước tượng trưng cho cái chết và việc trồi mình lên khỏi mặt nước biểu tượng cho một cuộc sống mới. Phép Rửa Ki-tô giáo sẽ đón nhận ý nghĩa tròn đầy sau biến cố Phục Sinh. Thánh Phao-lô nhấn rất mạnh tính cách vượt qua của phép Rửa (x. Rm 6: 4; Cl 2: 12; vân vân). Ngay từ thời kỳ đầu Ki-tô giáo, các tân tòng lãnh nhận phép Rửa vào Đêm Vọng Phục Sinh. Điều này thật có ý nghĩa biết bao.

 

2. Cuộc đối thoại của Đức Giê-su với thánh Gioan Tẩy Giả (3: 14-15)

 

Cuộc đối thoại của Đức Giê-su với thánh Gioan (3: 14-15) chỉ có trong Tin Mừng Mát-thêu, phản ảnh một chiều hướng biện giáo. Sự kiện Đức Giê-su được thánh Gioan ban phép rửa đã sớm tạo ra những khó khăn cho các Ki-tô hữu (x. Lc 3: 21t; Ga 1: 29-34): trước hết, những gì thánh Gioan trước đây đã loan báo về sự cao cả của Đấng Mê-si-a, thì ở nơi hoạt cảnh phép rửa, vai trò của hai người dường như đảo lộn. Thứ nữa, phép rửa của thánh Gioan là dấu chỉ bên ngoài bày tỏ lòng sám hối vì tội lỗi của mình, vậy khi đến xin chịu phép rửa, dường như Đức Giê-su ý thức mình có tội. Cuộc đối thoại cung cấp câu trả lời cho vấn nạn thứ nhất, còn cuộc Thần Hiển tiếp đó (3: 16-17) thì giải đáp cho vấn nạn thứ hai.

 

Trong cuộc đối thoại, việc thánh Gioan ngần ngại làm phép rửa cho Đức Giê-su không làm cho chúng ta ngạc nhiên, vì chúng ta biết chính thánh nhân đã làm chứng về sự cao cả của Chúa Giê-su trước đó. Tuy nhiên, chính nội dung của cuộc đối thoại đã xua tan các nhận định ởm ờ đó: thánh Gioan đã tuyên bố Đức Giê-su cao trọng hơn ông, cũng như phép rửa của ông chỉ trong nước để tỏ lòng ăn năn sám hối; trái lại, phép rửa của Chúa Giê-su trong Thánh Thần và lửa mới có quyền năng tha thứ tội lỗi (3: 11). Dù vậy, Chúa Giê-su vẫn cứ xin chịu phép rửa: chính việc đảo ngược vị thế của hai người như vậy, “cả hai mới làm trọn nghĩa công chính” (3: 15).

 

 “Đức công chính” mang đậm ý nghĩa Kinh Thánh; nó quy chiếu đến chương trình mà Thiên Chúa, với lòng nhân hậu và khôn ngoan vô lượng của Ngài, đã hoạch định cứu độ con người. Vì thế, “giữ trọn đức công chính” phải được hiểu là “chu toàn ý muốn và kế hoạch của Thiên Chúa”. Quả thật, chúng ta có thể dịch “giữ trọn đức công chính” là “chu toàn mọi điều Thiên Chúa đã hoạch định”. Đức Giê-su đến để đón nhận phép rửa của thánh Gioan và vì thế Ngài nhận ra nó như là một giai đoạn trong lịch sử cứu độ, một giai đoạn mà Thiên Chúa đã thấy trước như là một sự chuẩn bị sau cùng và cần thiết cho kỷ nguyên thời Thiên Sai. Thực thi bất kỳ một trong những giai đoạn này có thể được gọi là hành vi công chính. Vì đến để thực thi ý muốn của Cha Ngài (Ga 4: 34) nên Chúa Giê-su cẩn trọng thực thi chương trình cứu độ đó trong mọi khía cạnh. Thánh Gioan Tẩy Giả và Chúa Giê-su là một nhịp cầu nối kết Cựu Ước với Tân Ước. Chúng ta ghi nhận rằng Chúa Giê-su nói: “Chúng ta nên làm như vậy để giữ trọn đức công chính”, vì thế, không là đoạn tuyệt nhưng là nên trọn. Đây chính là tuyến phát triển của Tin Mừng Mát-thêu.

 

3. Cuộc Thần Hiển (3: 16-17)

 

“Khi Đức Giê-su chịu phép rửa xong, vừa ở dưới nước lên, thì các tầng trời mở ra”: Thánh Mát-thêu sử dụng cùng một động từ “mở ra” với Is 63: 19 của bản Bảy Mươi chứ không “xé ra” của bản Híp-ri (“Phải chi Người xé trời mà ngự xuống”), nhưng ý nghĩa vẫn như nhau: niềm hy vọng cánh chung được ngôn sứ I-sai-a loan báo, nay đã được thực hiện.

 

– “Thần Khi Thiên Chúa đáp xuống như chim bồ câu”: Cụm từ “như chim bồ câu” bổ nghĩa cho động từ “đáp xuống” chứ không phải cho danh từ “Thần Khí”. Trong Do thái giáo, con chim bồ câu không bao giờ được coi là hình ảnh của “thần khí” cả, nhưng có vài bản văn so sánh chuyển động của “thần khí” với chuyển động của một con chim, như St 1: 2: “Thần khí bay lượn trên nước”. Hình ảnh của thánh Mát-thêu muốn nói rằng trước hết, Thần Khí không phải là một sức mạnh phát xuất từ thiên nhiên hay con người, mà là một hữu thể siêu việt; thứ nữa, Thần Khí ngự xuống trên Đức Giê-su một cách vừa dịu dàng vừa thân thiết. Bản văn của thánh Mát-thêu cũng như của thánh Mác-cô không muốn nói đến dáng vẻ bên ngoài như của thánh Lu-ca: “Thánh Thần ngự xuống trên Người dưới hình dáng chim bồ câu” (Lc 3: 22), nhưng cách thức Thần Khí âm thầm đến và tác động trên Đức Giê-su một cách dịu dàng mật thiết.

 

Đức Giê-su đã đầy tràn Chúa Thánh Thần ngay từ giây phút thụ thai trong lòng mẹ, do bởi việc hiệp nhất thiên tính và nhân tính trong cuộc Nhập Thể của Ngôi Lời (tín lý về ngôi hiệp). Giáo Huấn Công Giáo dạy rằng ở nơi Đức Ki-tô chỉ có một ngôi vị (ngôi vị Thiên Chúa) nhưng hai bản tính (thiên tính và nhân tính). Việc Chúa Thánh Thần hiện xuống như được nói trong bản văn bày tỏ rằng ngay khi Chúa Giê-su long trọng bắt tay vào việc cứu thế của Ngài, Chúa Thánh Thần cũng bắt đầu công việc của mình qua Chúa Giê-su. Có rất nhiều bản văn Cựu Ước nói về việc Chúa Thánh Thần tỏ mình ra ở nơi Đấng Cứu Thế tương lai. Dấu hiệu của Chúa Thánh Thần này đã cung cấp cho thánh Gioan Tẩy Giả một bằng chứng bất khả ngộ về tính chân thật mà thánh nhân làm chứng liên quan đến Chúa Ki-tô (x. Ga 1: 29-34).

 

Mầu nhiệm Ba Ngôi Thiên Chúa được mặc khải trong phép rửa của Chúa Giê-su: Chúa Con chịu phép rửa, Chúa Thánh Thần hiện xuống trên Ngài như chim bồ câu, và tiếng của Chúa Cha chứng thực Đức Giê-su là Người Con Một của Ngài. Người Ki-tô cũng sẽ lãnh nhận phép Rửa nhân danh Ba Ngôi Thiên Chúa. Địa vị làm con này sẽ được Giáo Hội công bố trên mỗi người lãnh nhận phép Rửa, họ trở thành con cái của Thiên Chúa, nghĩa tử của Chúa Cha, ở nơi Người Con Một của Ngài là Chúa Ki-tô, như lời dạy của thánh Giáo Phụ Xi-ri-lô thành Giê-ru-sa-lem: “Nếu bạn có lòng mộ đạo, Chúa Thánh Thần cũng sẽ ngự xuống trên bạn và bạn sẽ nghe tiếng Chúa Cha từ trời phán với bạn: ‘Trước đây nó đã không là con Ta, nhưng giờ đây sau phép Rửa nó được trở thành con Ta’” (St Cyril of Jerusalem, De Baptismo, 14). Phụng vụ Đông Phương không lầm lẫn khi cử hành biến cố Chúa Ki-tô chịu phép rửa như “ngày lễ Ba Ngôi”. Chính dưới dấu chỉ Ba Ngôi mà phép Rửa Ki-tô giáo được ban cho, đúng như lời căn dặn của chính Chúa Giê-su: “Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần” (Mt 28: 19).

 

4. “Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người” (3: 17)

 

Lời mặc khải của Chúa Cha từ trời gồm hai vế: “Đây là Con yêu dấu của Ta” và “Ta hài lòng về Con”.

 

 – Vế thứ nhất: “Đây là Con yêu dấu của Ta”, thường quy chiếu đến đứa con trai một (x. St 16; Gr 6: 26; Am 8: 10; Dcr 12: 10). Như vậy, thật rõ rằng Đức Giê-su không là một trong số những nghĩa tử của Thiên Chúa, cũng không là Trưởng Tử trong số các nghĩa tử. Đúng hơn, diễn ngữ này tuyên bố mạnh mẽ và cụ thể rằng Đức Giê-su là Con Một của Thiên Chúa được sinh ra hoàn toàn khác với những con người khác vì thiên tính của Ngài (x. Mt 7: 21; 11: 27; 17: 5; Ga 3: 35; 5: 20; 20: 17; vân vân).

 

– Vế thứ hai:“Ta hài lòng về Người”, được mượn từ bài ca về Người Tôi Trung của Đức Chúa (Is 42: 1). Đức Giê-su là Người Tôi Trung đã sẵn sàng đến chia sẻ thân phận khốn cùng của kẻ tội lỗi. Khi xếp hàng chờ chịu phép rửa bên dòng sông Gio-đan, Chúa Giê-su đảm nhận những yếu đuối của loài người, như thánh Mát-thêu nói sau này (8: 17: I s 53: 4). Như thế, thánh ký đã kín đáo gợi nhớ cuộc Thương Khó và Tử Nạn của Ngài (x. 27: 45-56).

 

Mạc khải từ trời được lập lại y nguyên trong bài tường thuật Chúa Giê-su Biến Hình (x. 17: 5). Hẳn là thánh Mát-thêu muốn tạo một tương quan thần học giữa hai biến cố. Cũng như biến cố Biến Hình báo trước việc Đức Giê-su được tôn vinh khi sống lại: sự tôn vinh này là hoa trái của sự tự hạ trong cuộc Thương Khó và Tử Nạn của Ngài, thì biến cố chịu phép rửa cũng loan báo Đức Giê-su được tôn vinh: sự tôn vinh không chỉ là hoa trái của cuộc Khổ Nạn mà còn của cả cuộc đời tự hạ của Đức Giê-su, khởi đầu với sự tự hạ trong phép rửa của thánh Gioan. Tất cả những điều này xác nhận rằng câu chuyện phép rửa đúng là một cuộc Thần Hiển, như cuộc Biến Hình, chứ không phải là một thị kiến chỉ dành riêng cho một mình Đức Giê-su. Cuộc Thần Hiển này được ngỏ với các độc giả Tin Mừng, nay đã là môn đệ Đức Giê-su (bởi vì thánh Mát-thêu không nhắc tới đám đông dân chúng nào cả), cũng như cuộc Biến Hình chỉ được ngỏ với ba Tông Đồ: thánh Phê-rô, thánh Gia-cô-bê và thánh Gioan.

 

-------------------------------

 

TN 1-A177: Này Là Con Ta Yêu Dấu

 

(Suy niệm của Lm. Giuse Đinh Lập Liễm)

 

A. DẪN NHẬP.

 

Các bài đọc Thánh lễ hôm nay cho chúng ta biết: Đức Giêsu Kitô được tiên tri Isaia gọi là Người TN 1-A177

 

Các bài đọc Thánh lễ hôm nay cho chúng ta biết: Đức Giêsu Kitô được tiên tri Isaia gọi là Người Tôi Tớ, đã đến chịu phép rửa ở sông Giorđan và được Thiên Chúa tấn phong và nhận làm  Con Yêu Dấu của Ngài. Người Tôi Tớ này có sứ mạng đem Tin mừng cho tất cả mọi người, cho mọi dân tộc trên thế giới.

 

Đức Giêsu là Đấng Cứu Thế hòan tòan vô tì tích, thế mà lại đến xin Gioan làm phép rửa cho, tự coi mình như một tội nhân. Việc làm của Ngài nhắc nhở cho chúng ta phải ý thức về tội lỗi của mình mà ăn năn sám hối. Nước sông Giorđan không thánh hóa được Ngài, nhưng ngược lại, Ngài thánh hóa nuớc sống ấy, và từ đó lập nên bí tích rửa tội để tha tội cho chúng ta và làm cho chúng trở nên con Thiên Chúa.

 

Sách có chữ rằng:”Thùy năng xuất tất do hộ”: ai ra vào cũng đều phải qua cửa. Giáo hội là một tòa nhà tạm trú để đợi ngày về trời, nghĩa là trước ngày về trời, ai nấy phải qua cửa Giáo hội. Cửa ấy Đức Giêsu đã mở cho chúng ta thấy khi Ngài chịu phép rửa mà Giáo hội kính lễ hôm nay. Chính Đức Giêsu đã nói với ông Nicôđêmô:”Không ai có thể vào Nước Thiên Chúa, nếu không sinh ra bởi nước và Thần Khí”(Ga 3,5). Vì vậy, mọi người phải được rửa tội để được vào Nước Trời. Bí tích rửa tội sẽ xóa bỏ tội tổ tông và tội riêng, ban ơn thánh hóa và làm cho chúng ta trở nên con Thiên Chúa và được thừa hưởng Nước Trời.

 

Trong phép rửa của Gioan, Đức Giêsu đã được Chúa Cha tuyên phong và nhận làm Con Yêu Dấu của Ngài. Cũng thế, qua bí tích rửa tội, chúng ta sẽ được nhận làm con Thiên Chúa và là thành viên của Hội thánh. Đây là một vinh dự quá lớn lao mà Thiên Chúa dành cho con người phàm hèn của chúng ta. Để đáp lại lòng thương yêu vô biên của Chúa, chúng ta phải tỏ lòng hiếu thảo đối với Chúa bằng cách tỏ lòng tri ân, yêu mến, làm sáng danh Chúa, sống khiêm tốn và phục vụ để làm vẻ vang cho Cha chúng ta ở trên trời. 

 

 B. TÌM HIỂU LỜI CHÚA.

 

+ Bài đọc 1: Is 42,1-4.6-7.

 

Tiên tri Isaia là một tiên tri vĩ đại trong Cựu ước đã được Thiên Chúa hé mở cho biết về người Tôi Tớ mà ông đã mô tả trong bài thơ. Hôm nay phụng vụ trích đọc một đọan nằm trong bài thơ thứ nhất, có mấy ý như sau:

 

- Người tôi tớ này được Thiên Chúa tuyển chọn, qúi mến và hài lòng.

 

- Người tôi tớ này rất hiền từ dịu dàng, âm thầm  lặng lẽ nhưng rất mạnh mẽ bảo vệ và làm sáng tỏ chân lý.

 

- Người tôi tớ này có sứ mạng soi sáng cho muôn nước, làm việc bác ái và giải thóat những người còn ở trong chốn tối tăm.

 

+ Bài đọc 2: Cv 10,34-38.

 

Thánh Phêrô cho biết: Thiên Chúa không thiên vị ai, hễ ai kính sợ Chúa và ăn ở ngay lành thì được Thiên Chúa chấp nhận, khắc hẳn với tư tưởng hẹp hòi của người Do thái, họ tưởng rằng ơn cứu độ chỉ dành riêng cho dân tộc họ.

 

Thánh Phêrô cho biết thêm: Chúa Giêsu sau khi chịu phép rửa bởi ông Gioan ở sông Giorđan và sau khi đã được xức dầu tấn phong, sẽ đi rao giảng Tin mừng cho muôn dân, thi ân giáng phúc cho họ bởi vì Thiên Chúa vẫn ở với Người.

 

+ Bài Tin mừng: Mt 3,13-17.

 

Đức Giêsu mà tiên tri gọi là Tôi Tớ đã đến xin ông Gioan làm phép rửa cho mình ở sông Giorđan. Ông Gioan đã can gián Đức Giêsu vì Ngài không có tội gì, không cần rửa tội, chính mình mới cần chịu phép rửa. Nhưng Đức Giêsu xin Gioan rửa cho mình lấy lý do rằng: phải làm như vậy thì mới phù hợp với thánh ý Chúa.  Lúc đó, Gioan mới chịu chiều theo ý Ngài.

 

Gioan đã dìm Đức Giêsu xuống nước và khi kéo Ngài ra khỏi nước thì trời mở ra và thấy Thần Khí Thiên Chúa đáp xuống trên Người dưới hình chim bồ câu và có tiếng từ trời phán:”Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người”. Hôm nay Thiên Chúa Cha đã tấn phong và công khai công nhận Đức Giêsu là Con của Ngài.

 

C. THỰC HÀNH LỜI CHÚA.

 

«Này là Con Ta yêu dấu.»

 

I. VIỆC ĐỨC GIÊSU CHỊU PHÉP RỬA.

 

1. Nghi thức thanh tẩy nơi nhiều dân tộc.

 

Sau một thời gian sống chay tịnh khắc khổ trong hoang địa để chuẩn bị cho sứ mạng tiền hô của mình, ông Gioan đã đi rao giảng phép rửa sám hối để dọn lòng chờ đón Đấng Cứu thế. Có nhiều người đến thú tội  và chịu phép rửa do tay ông Gioan tại sông Giorđan.

 

Thực ra, bất cứ một dân tộc nào, tuy không theo tôn giáo nào, cũng có cảm thức sâu xa về thân phận tội lụy của mình và muốn thần linh tha thứ bằng một hình thức nào đó. Ví dụ ở Aán độ, những người theo Aán giáo đến trầm mình trong nước sống Hằng để được thần linh tha thứ. Ở Ai cập, người ta đến tắm gội trong dòng sông Nil để được thần linh thông cảm và tha thứ. Nơi nhiều dân tộc cổ sơ cũng có những kiểu tắm gội dìm mình tương tự hay được rảy nước trên mình.  Đối với người Do thái, ngay từ thời Cựu ước, đã có những nghi thức thanh tẩy, nhưng ít chú trọng về phương diện luân lý. Sau này, nhất là gần thời Đức Giêsu, họ cũng tin những nghi thức thanh tẩy đó tượng trưng cho sự trong sạch tâm hồn, mặc dầu nó không phát sinh ra điều đó.

 

2. Nghi thức thanh tẩy của Gioan.

 

Gioan Tẩy giảû cũng làm phép rửa cho dân chúng tại sông Giorđan. Ông dìm họ xuống nước rồi kéo họ lên. Hình thức này khác với hình thức của các dân ngọai, họ tự dìm mình xuống nước, còn trong phép rửa của Gioan thì phải có người khác rửa cho. Và còn một điều khác quan trọng hơn, theo Tin mừng cho biết: họ phải có một thái độ nội tâm cũng như bên ngòai, như phải tin vào sứ điệp của Gioan, phải trở lại thực lòng, nghĩa là phải quay về với Thiên Chúa.

 

Tuy nhiên, phép rửa của Gioan chỉ có tính cách tượng trưng, tự nó không có sức xóa bỏ được tội lỗi mà chỉ là nghi thức  nhắc nhở cho mọi người phải ăn năn sám hối và cải thiện đời sống. Chính thánh Gioan đã khẳng định điều đó:”Phần tôi, tôi rửa anh em trong nước để anh em được sám hối. Nhưng Đấng cao trọng hơn tôi đang đến, Ngài quyền phép hơn tôi, chính Ngài sẽ rửa anh em trong Thánh Thần và bằng lửa”(Mt 3,11).

 

3. Gioan làm phép rửa cho Đức Giêsu.

 

Đức Giêsu từ Galilê đến sống Giordan tìm gặp Gioan Tẩy giả để xin ông làm phép rửa cho. Đức Giêsu đã đích thân và tự nguyện xin Gioan làm phép rửa cho, đó là một việc làm và một thái độ khiêm nhường thẳm sâu. Phép rửa của Gioan là phép rửa thống hối mà Đức Giêsu lại chịu phép rửa thống hối. Việc Đức Giêsu chịu phép rửa là một điều khó hiểu. Phép rửa của Gioan là để kêu gọi người ta ăn năn sám hối và mở đường đến sự tha tội. Nhưng nếu Đức Giêsu mà chúng ta tin là Đấng Cứu Thế, thì Ngài không đứng ở cương vị cần phải ăn năn và cũng không cần đến sự tha tội. Phép rửa của Gioan là để tội nhân  nhận thức tội lỗi mình phạm, nên không thể áp dụng cho Đức Giêsu được.

 

Thực ra, đây là cơ hội thuận tiện để Ngài tự đồng hóa mình với những người Ngài đến cứu, đúng lúc họ nhận thức được tội lỗi của mình và tìm kiếm Thiên Chúa. Khi chịu phép rửa của Gioan, Đức Giêsu đã bằng lòng nhận số phận của Ngài liên hiệp với dân Ngài và với nhân lọai, Ngài mang lấy tội lỗi của họ: khi chịu phép rửa Ngài xua đuổi tội lỗi ấy, đồng thời Ngài dâng mình cho Thiên Chúa của Ngài.

 

Khi Đức Giêsu bước ra khỏi nước thì Thánh Thần hiện xuống trên Ngài với hình con bồ câu và có tiếng phán ra từ trời:”Con là Con yêu dấu của Ta, Con đẹp lòng Ta”. Tiếng nói mà Đức Giêsu nghe sau khi chịu phép rửa vô cùng quan trọng. Câu này bao hàm hai lời trích dẫn:

 

- “Này là Con Ta yêu dấu”  được trích trong Thánh vịnh 2,7. Mọi người đều hiểu thánh vịnh này mô tả Đấng Cứu Thế, Vua quyền năng của Thiên Chúa, Đấng sẽ đến.

 

- “Con đẹp lòng Ta” trích ra từ Isaia 42,1 mô tả về người Đầy Tớ Đau Khổ mà cao điểm là Isaia 53. Tại đây, đấng tiên tri nói về một đầy tớ lý tưởng của Thiên Chúa, hòan tòan theo ý muốn của Ngài, đang theo con đường vâng lời và phục vụ.

 

Như vậy, Đức Giêsu được tuyên xưng là Con yêu dấu của Thiên Chúa, là Đấng mà nơi Ngài lời tiên tri này được ứng nghiệm hòan tòan. Và trong phép rửa của Đức Giêsu có hai điều được xác quyết:

 

 - Một là Ngài là Đấng lựa chọn của Thiên Chúa.

- Hai là con đường trước mặt Ngài phải đi là con đường thập tự.

 

II. HIỆU QUẢ CỦA PHÉP RỬA.

 

1. Bí tích rửa tội của chúng ta.

 

Phép rửa của Gioan bằng nước chỉ là nghi thức tượng trưng nhằm thúc đẩy và diễn tả tâm tình thống hối. Còn phép rửa của Đức Giêsu được Gioan mô tả là bằng lửa và trong Thánh Thần, nghĩa là phép rửa của Đức Giêsu là một bí tích tuôn tràn Chúa Thánh Thần, mặc dầu cũng dùng nước, nhưng nước chỉ là điều kiện, là nghi thức bên ngòai, còn thực sự ta được rửa bằng lửa. Lửa ở đây ám chỉ sức mạnh của Chúa Thánh Thần biến đổi con người tội lỗi nên con Thiên Chúa, và đáng được hưởng gia nghiệp vĩnh cửu Nước Trời. Vì thế, phép rửa tội của chúng ta có mục đích xóa tội tổ tông và các tội riêng, ban ân sủng siêu nhiên, đời sống ơn thánh, làm cho ta trở nên con Thiên Chúa, làm công dân Nước Trời và thành viên của Hội thánh.

 

Mỗi người chịu phép rửa tội, theo thánh Phaolô, được gọi là Kitô hữu. Kitô hữu là người được xức dầu và được tham dự vào ba chức năng của Chúa Kitô là tư tế, tiên tri và vương giả. Kitô hữu được gọi là người mang danh Chúa Kitô và được thuộc về Ngài. Kitô hữu là một danh hiệu thật cao quí.

 

2. Mỗi người phải sinh lại.

 

Ông Nicôđêmô đã được gặp Đức Giêsu vào ban đêm, trong câu chuyện trao đổi, Ngài đã nói với ông:”Thật, tôi bảo thật ông: không ai có thể vào Nước Thiên Chúa, nếu không được sinh ra một lần nữa bởi ơn trên”(Ga 3,3). Ngài còn nói rõ thêm:”Không ai có thể vào Nước Thiên Chúa, nếu không sinh ra bởi nước và Thánh Thần”(Ga 3,5).

 

Thực vậy, bí tích rửa tội mang lại cho chúng ta một hiệu quả vô cùng cao quí, đó là sự tái sinh. Mỗi Kitô hữu là một người đã được tái sinh, nghĩa là chúng ta đã sinh ra lần thứ nhất với sự sống tự nhiên do cha mẹ, lần thứ hai với sự sống siêu nhiên do bí tích rửa tội. Nói rõ hơn, mỗi người chúng ta sinh ra hai lần: lần thứ nhất do cha mẹ, các ngài đã truyền cho chúng ta sự sống tự nhiên. Lần thứ hai do Thiên Chúa qua bí tích Rửa tội, Ngài ban cho chúng ta sự sống siêu nhiên.

 

Thánh Phaolô viết cho một nhóm Kitô hữu mới chịu phép rửa tội như sau:”Khi chịu phép rửa, anh chị em đã được mai táng cùng với Đức Giêsu trong phép rửa, và anh chị em cũng sẽ được sống lại cùng với Chúa Kitô… Trước kia anh chị em đã chết về mặt thiêng liêng vì tội lỗi của anh chị em… Nhưng giờ đây, Thiên Chúa đã đưa anh chị em đến nguồn sống cùng với Chúa Kitô”(Cl 2,12-13).

 

Ngày 01.06.1930 dịp lễ giáp năm ngày chịu phép rửa tội, Đức Giáo hòang Piô XI đã sung sướng nói với 1500 thanh niên ở Rôma:”Ngày Cha chịu phép rửa tội là ngày cao quí nhất của đời Cha, cũng như ngày các con  chịu phép rửa tội là ngày cao quí nhất của đời chúng con". Chúng ta hãy nhớ: ngày chúng ta chịu phép rửa tội là ngày chúng ta tái sinh trở nên con Chúa, ngày đáng ghi nhớ của chúng ta.

 

3. Sinh lại để làm con Chúa.

 

Nhờ bí tích Rửa tội, chúng ta trở nên con Thiên Chúa. Không phải chỉ là có danh, nhưng thực sự như thế, chúng ta là con Thiên Chúa và Thiên Chúa là Cha chúng ta, một người Cha yêu thương chúng ta vô cùng. Trong Kinh Lạy Cha, Đức Giêsu đã dạy các Tông đồ cầu nguyện và mở đầu bằng câu:”Lạy Cha chúng con ở trên trời”. Như thế, Đức Giêsu tiết lộ cho chúng ta  biết chúng ta được làm con một Cha trên trời.

 

Tìm về nguồn gốc, ngày xưa Thiên Chúa đã tạo dựng nên con người đầu tiên là Adong và Evà. Thiên Chúa đã cho họ gọi Ngài là Cha. Nhưng vì phạm tội ăn trái cấm không vâng phục Ngài nên bị phạt mất quyền làm con, không được gọi Thiên Chúa là Cha nữa, mà phải sống dưới quyền lực của ma qủi và tội lỗi. Nhưng vì thương yêu nhân lọai, Thiên Chúa sai Con Một xuống thế làm người, chịu chết chuộc tội cho thiên hạ, để lấy lại quyền làm con mà nhân lọai đã bị đánh mất. Nhờ bí tích Rửa tội mà Đức Giêsu đã trả lại cho chúng ta  quyền được làm con Thiên Chúa để có thể gọi Thiên Chúa là Cha:”Abba, cha ơi”!

 

Trên đời không ai có thể thiếâu được người cha vì cha là yếu tố cần thiết cho người con để cho người con có chỗ nương tựa vì:

 

Con có cha như nhà có nóc,

Con không cha như nòng nọc đứt đuôi.

 

Trong đời sống thiêng liêng, chúng ta không thể thiếu được Thiên Chúa là Cha. Ngài đã dựng nên chúng ta lại còn nuôi dưỡng bằng ân sủng của Ngài. Chúng ta hãy vui sướng và hãnh diện có Thiên Chúa là Cha, chúng ta sẽ không phải là đứa con mồ côi. Còn gì quí bằng danh hiệu được làm con Thiên Chúa mà đã là con thì được gọi là Cha: Lạy Cha chúng con ở trên trời.

 

Một khi đã được gọi Thiên Chúa là Cha, chúng ta phải tin cậy phó thác vào Ngài. Ngài phải chiếm chỗ cao nhất trong đời chúng ta và chúng ta phải qui hướng mọi sự vào Ngài, coi Ngài như trung tâm điểm của đời sống. Ngài phải là “Number One”.  Ngài là Number one, còn chúng ta là Zéro, là số không. Nếu chúng ta để số 1 đứng trươc số không (0) thì số không ấy có ý nghĩa, càng nhiều số không thì số ấy càng to, ví dụ 1.000.000. Nếu để số 1 đàng sau số không thì con số càng nhỏ, càng nhiều số không thì càng nhỏ, ví dụ: 000.000.1. Cho nên, Thiên Chúa phải chiếm chỗ cao nhất trrong đời ta. Ngài phải là “Number One” trong đời ta.

 

III. BỔN PHẬN NGƯỜI CHỊU PHÉP RỬA TỘI.

 

1. Cảm tạ hồng ân Thiên Chúa.

 

Trong thánh vịnh 50 tác giả đã nói:”Mẹ con đã hòai thai trong tội”, khi sinh ra chúng ta vẫn là tội nhân, làm nô lệ cho tội lỗi và ma quỉ. Nhưng Thiên Chúa đã yêu thương lòai người, xuống thế làm người, chịu chết chuộc tội cho thiên hạ. Đức Giêsu lại còn cứu chuộc chúng ta  một lần nữa qua bí tích rửa tội và làm cho chúng ta trở thành con Thiên Chúa. Đây là một vinh dự vô cùng lớn lao vì “Con vua thì lại làm vua”.

 

Tước vị làm con Thiên Chúa thật là lớn lao. Tuy tước vị này, nhất là linh hồn chúng ta, bị che phủ bằng một thân xác phàm hèn, không ai xem thấy, không ai biết giá trị của nó, nhưng tự bản chất nó thực là cao quí. Trường hợp này giống như ở Miến điện, có nhiều bức tượng bằng vàng ròng, vì sợ bị ngọai xâm cướp mất, có vị sư đã lấy một lớp đất sét trét lên các bức tượng ấy để giấu đi cái cốt lõi thật của các bức tượng… nhưng dưới cái lớp vỏ đất sét ấy là cả một khối vàng ròng quí giá.

 

Hồng ân của bí tích rửa tội  cũng thật lớn lao và cao quí. Có thể qúi như những viên ngọc trai mà nhiều người chưa biết giá trị của nó. Đúng là “vật khinh nhưng hình trọng”.

 

Truyện: Hạt ngọc trai.

 

Ngày 19. 03.1627, Cha Đắc Lộ đến Cửa Bạng Thanh hóa. Lời đầu tiên ngài nói với cha ông chúng ta:”Hiện giờ tầu của chúng tôi có chở một thứ hạt trai tuyệt đẹp và quí giá, ai mua thì cả đời được giầu có hạnh phúc muôn thuở. Không nên sợ giá cao, vì chẳng ai nghèo đến nỗi không đủ tiền mua hạt trai ấy”. Tổ tiên chúng ta khấp khởi vui mừng, xin ngài ít là cho xem đôi ba hạt. Ngài trả ời:”Hạt ấy mắt xác thịt không thể xem thấy được, chỉ có trí khôn hiểu được mà thôi. Hạt trai ấy chính là lề luật Thiên Chúa, một cái gì qúi trọng hơn trân châu và hàng hóa Aán độ. Chúng tôi sẵn sàng giảng dạy luật đó cho anh chị em, nên không ngần ngại vượt biển băng ngàn đến đây” (Lm Hồng Phúc, Suy nịem Lời Chua, năm A, tr 22-23).

 

2. Hiếu thảo với Cha trên trời.

Người Á đông đề cao chữ “HIẾU”, nhất là trong luân lý đạo Khổng. Đời sống con người phải lấy chữ hiếu làm đầu mà bất hiếu là một tội nặng nhất trong các tội. Người ta đã nâng chữ hiếu lên thành “ĐẠO’ nên mới có “HIẾU ĐẠO”. Phận làm con cũng được nâng lên thành đạo nên mới có “ĐẠO CON”. Như vậy, muốn trọn đạo làm con thì phải chu tòan “đạo hiếu”. Tư tưởng này được đúc kết thành câu ca dao để nhắc nhở cho mọi người phải thi hành:

 

Công cha như núi Thái sơn,

Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.

Một lòng thờ mẹ kính cha,

Cho tròn chữ hiếu mới là “đạo con”.

 

Trong phép rửa của Gioan, Đức Giêu được gọi là “Con yêu dấu của Thiên Chúa”.  Vậy thế nào là một người “con yêu dấu”? 

 

Thưa đó là:

 

- biết ý của cha mình: Đức Giêsu luôn cầu nguyện để biết ý của Chúa Cha.

 

- và luôn theo ý cha mình: Đức Giêsu nói: ”Lương thực của Ta là làm theo ý của Cha”. Cũng thế, nếu chúng ta muốn trở thành con yêu dấu của Thiên Chúa thì chúng ta hãy bắt chước Đức Giêsu: luôn cầu nguyện, khi đã thấy được ý Chúa thì sẵn sàng bỏ ý riêng để làm theo ý Chúa.

 

Ngòai ra, chúng ta đã có Chúa là Cha, chúng ta cũng phải làm tròn “đạo hiếu” đối với Ngài để trọn đạo làm con của chúng ta. Tỏ lòng hiếu đối với Ngài, trước tiên là hãy yêu mến Ngài trên hết và trước hết như Chúa dạy:”Hãy yêu mến Thiên Chúa là Thiên Chúa ngươi hết linh hôn hết trí khôn…”(x. Mt 22,37; Mc 12,30; Lc 10,27).

 

Nhưng yêu mến Ngài thì phải thực hiện bằng những việc cụ thể bên ngòai vì thánh Giacôbê nói:”Đức tin không có việc làm là đức tin chết”. Nếu không thì người ta sẽ chê cười:

 

Thương miệng thương môi, thương miếng xôi miếng thịt.

 

Chúa bảo chúng ta là ánh sáng thế gian. Nếu là ánh sáng mà không chiếu sáng thì không còn là ánh sáng nữa mà là bóng tối. Nhiệm vụ của chúng ta là phải soi sáng cho người khác bằng những việc làm cụ thể như Chúa nói:”Aùnh sáng của các con phải chiếu giãi trước mặt thiên hạ, để họ thấy những công việc tốt đẹp các con làm, mà tôn vinh Cha các con, Đấng ngự trên trời”(Mt 5,16). Cuộc sống của chúng ta phải làm vinh Cha chúng ta ở trên trời khi chúng ta nguyện: ”Chúng con nguyện danh Cha cả sáng, nước Cha trị đến…”

 

Cuộc sống của chúng ta phải biểu lộ cho người khác biết chúng ta là con Thiên Chúa. Đã là con thì phải sống thế nào để người ta phải nói:”Cha nào con ấy”(Qualis pater, talis filius). Chúng ta hãy bắt chước Boleslas, vua nước Ba lan, luôn đeo ở ngực mẫu ảnh vua cha, và khi toan làm một việc gì quan trọng, vua nhìn vào mẫu ảnh đó và nói:”Con sẽ chẳng hề làm gì bất xứng người con thảo của cha”.

 

Hôm nay Đức Giêsu cũng khuyên nhủ chúng ta là những Klitô hữu, những người được mang tên Ngài, những người được thuộc về Ngài, hãy sống xứng đáng với danh hiệu cao qúi ấy giống như hòang tử của vua Ménedem, mỗi khi được bạn bè mời đi chơi, thì đến xin phép vua cha, vua ban phép lành và chỉ dặn có một điều là:”Dầu ở đâu, hãy nhớ mình là con vua”.

 

3. Biết khiêm tốn và phục vụ.

 

Đọc bài Tin mừng hôm nay, chúng ta thấy cả Gioan tẩy giả và dân chúng Do thái đều không hiểu nổi Đấng Messia lại là một Người Tôi Tớ khiêm tốn hiến thân phục vụ nhân lọai cho đến chết. Hai ngàn năm đã trôi qua, thế mà ngày nay chúng ta cũng vẫn thế. Chúng ta giới thiệu Đức Giêsu cho người ta như một Đấng quyền phép hay một quan tòa xét xử. Chúng ta bỏ sót một phương diện rất quan trọng của Ngài: Ngài trước hết là một Người Tôi Tớ hiến thân phục vụ. Đạo của Đức Giêsu là một đạo hiến thân phục vụ, người môn đệ của Đức Giêsu cũng pải là người hiến thân phục vụ như thế.

 

Cả hai vai chính trong chuyện này đều khiêm tốn: Gioan khiêm tốn tự hạ mình để đề cao Đức Giêsu; còn Đức Giêsu khiêm tốn xin Gioan làm phép rửa cho mình. Người klhiêm tốn là người chỉ nhĩ đến việc chu tòan nhiệm vụ chứ không quan tâm đến vinh dự cá nhân.

 

Truyện: Hòang đế cầy ruộng.

 

Tại một thành phố bên Tiệp khắc, giữa những di tích cổ người ta thấy có một chiếc cầy từ thế kỷ 18. Người ta truyền tụng câu truyện như sau: Một hôm, hòang đế Joseph II cùng đòan tùy tùng  đến viếng thăm một ngôi làng trong vùng. Đi qua một cánh đồng, Hòang đế thấy một nông dân  đang ngồi nghỉ mệt bên một gốc cây. Ông đến trò truyện với người nông dân và xin được cầy thử một luống.

 

Người nông dân rất đỗi ngạc nhiên vì có một người sang trọng lại xin tra tay vào cầy, và ông ta phá lên cười khi thấy những luống cầy vụng về. Với tất cả thành thực, người nông dân lắc đầu và nói:”Xin lỗi ông, hạng người như ông thì làm sao có thể tra tay vào cầy  để kiếm sống được”. Nghe thế, một người trong đòan tùy tùng mới nói nhỏ cho người nông dân biết người đang cầm chiếc cầy của ông chính là Hòang đế. Lập tức, người nông dân như muốn độn thổ, ông không thể tưởng tượng được một vị Hòang đế lại có thể tra tay vào cầy của ông.

 

Thánh Phaolo dâng lời ca tụng:”Đức Giêsu Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hòan tòan trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế. Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự”(Pl 2,6-8).

 

Đức Giêsu đã tự coi mình như “Con người đến để hầu hạ và hiến mạng sống mình làm giá cứu chuộc muôn người”. Ngài muốn tham dự vào cuộc sống của con người, muốn nói rằng Con Thiên Chúa đã thực sự đến trần gian và đã hạ mình xuống lãnh nhận phép rửa từ một người. Những thái độ khiêm tốn của vị Hòang đế trần gian và Hòang đế Nước Trời đã làm dân chúng cảm phục và ngưỡng mộ khi họ nhận ra đó là một người có uy quyền trong một nước và một Vua cao trọng hơn hết các vua chúa trần gian này.

 

Người ta nói:”Thượng hành hạ hiệu”: người trên làm kẻ duới theo. Chúa Giêu đã làm gương trước, một tấm gương sán lạn đáng mọi người chúng ta bắt chước để chúng ta sống xứng đáng với danh hiệu là con cái Cha trên trời.

 

-------------------------------

 

TN 1-A178: Dòng sông sám hối

 

Có vị sư nọ gặp ở giữa đường một viên ngọc quý. Vì nghĩ rằng mình là người tu hành không cần chi thứ đó, nên ông đem giấu viên ngọc này ở một gốc cây.

 

Ngày nọ có người hành khất đến ăn xin, ông không có gì cho anh. Bỗng nhớ ]ại viên ngọc, nhà sư chỉ cho anh chỗ giấu. Người ăn xin đến gốc cây và tìm thấy viên ngọc. Cầm ngọc quý trong tay, người ăn xin rất đỗi vui mừng, nhưng anh ta suy nghĩ: Tại sao vì sư lại chấp nhận sống nghèo khó trong khi có một viên ngọc quý giá thế này? Sau một thời gian suy nghĩ, anh cầm ngọc quý trả lại cho nhà sư và nói:

 

“Bạch thày, con thấy trong lòng thày có một sự giàu có to lớn, đến nỗi thày không thiếu đến viên ngọc này. Vậy con chỉ xtn thày cho con sự giàu có trong lòng thày mà thôi”

 

Câu chuyện tới đây là kết thúc, nên chúng ta không biết nhà sư có chỉ cho người ăn xin "sụ giàu có bên trong" của ông không, nhưng Tin Mừng hôm nay đã trả lời cho chúng ta câu hỏi ấy.

 

Giữa dòng người chen lấn nhau xuống sông Giođan để xin Gioan làm phép, rửa cho, tại sao chẳng một ai nhận ra Đức Giêsu, duy chỉ mình Gioan nói: “Chính tôi mớí cần Ngài làm phép rửa, thế mà Ngài lại đến với tôi !”. Phải Chăng Gioan đã nhận ra “sự giàu có bên trong" của một con người rất đỗi bình thướng ấy? Và chúng ta đã không phải đợi chờ lâu. Khi Gioan từ chối làm phép rửa cho Đức Giêsu, thì Người đã trả lời: “Bây giờ cứ thế đã vì chúng ta nên làm như vậy để giữ trọn đức công chính” (Mt 3,15). Giữ trọn đức công chính cũng có nghĩa là chu toàn thánh ý Chúa. Chính vì thế, khi Đức Giêsu vừa chịu phép rửa, Chúa Cha đã tuyên phán: “Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng  về Người" (Mt 3, 17) .

 

Như vậy, sự giàu có đích thực không phải là thu tích cho nhiều của cải châu báu, mà là luôn giữ trọn đức công chính, là tuân hành thánh ý Chúa, là trở nên con yêu dấu của Cha.   

 

Chính để sống đẹp lòng Cha, mà ngưới Con đã từ trời xuống thế, mặc kiếp phàm nhân để cứu độ  muôn ngưới. Hôm nay, Người kết thúc giai đoạn ẩn dật ở Nadarét, để khởi đầu sứ vụ công khai rao giảng. Ngưới đi xuống Giođan, để dìm mình trong dòng sông sám hối. Tiếng Giođan trong ngôn ngữ Do Thái có nghĩa là "người đi xuống”. Vì Sông Giođan quá thấp, thấp hơn rnặt biển gần 400 mét. "Người đi xuống" ấy không phải ai khác: chính là Con Chúa, Đức Glêsu Kitô. Người không chỉ xếp hàng chung với tội nhân, mà còn đồng hóa mình với tội nhân, để chết thay cho tội nhân. Chính nơi bờ sông, người ta mới có được sự yên tĩnh nghỉ ngơi, xa phố thị ồn ào.

 

Nhìn dòng sông lững lờ trôi, lắng nghe dòng sông nhiều điều mách bảo.

 

Nếu Con Thiên Chúa đã chấp nhận hòa mình trong dòng người tội lỗi, có lẽ nào chúng ta lại dám nghĩ mình nhân đức thánh thiện hơn anh em. 

 

Nếu Đấng Thánh vô cùng đã tự nguyện dìm mình xuống dòng sông sám hối, có lẽ nào chúng ta lại ngần ngại cúi mình lãnh nhận ơn thứ tha.

 

Lớp da cũ sau một lần tắm gội đã biến thành bùn đất. Con người cũ sau một lần đổi mới đã trở nên con người mới. Hãy ngẩng cao đầu đi giữa nhân sinh.

 

Lạy Chúa Giêsu, canh tân người khác luôn luôn dễ hơn hoán cải chính mình. Xin cho chúng con biết để cho Tin Mừng tra vấn chúng con, để chúng con không ngừng sám hối ăn năn, và hoán cải mỗi ngày suốt đời chúng con. Amen.

 

-------------------------------

 

TN 1-A179: Bí tích Rửa Tội

 

(Suy niệm của Lm. Mark Link, SJ.)

 

Vào giữa thập niên 1800 bệnh dịch cùi bùng nổ khắp các đảo Hạ Uy Di. Vào lúc đó y học vẫn TN 1-A179

 

Vào giữa thập niên 1800 bệnh dịch cùi bùng nổ khắp các đảo Hạ Uy Di.

 

Vào lúc đó y học vẫn còn trong thời kỳ sơ khai, hậu quả là nhà cầm quyền không cách chi có thể chữa được căn bệnh truyền nhiễm này.

 

Để ngăn chặn sự lây lan họ phải thi hành một điều dù họ không thích, nhưng phải làm.

 

Họ thiết lập một trung tâm người cùi trên hòn đảo Molokai xa xôi. Diễn tả về tình trạng do sự kiện này tạo nên, Robert Ellsburg viết:

 

Người Hạ Uy Di… đau khổ vì căn bệnh này bị bắt đi ra khỏi gia đình và cộng đoàn và gửi tới đảo này…

 

Có thể nói bệnh nhân bị quăng vào sóng biển và để họ tự bơi vào bờ, tìm chỗ tạm trú trong các hang hoặc căn lều bẩn thỉu và bám víu lấy sự sống mà họ có thể.

 

Một linh mục trẻ tuổi người Bỉ, Cha Damien, thật bàng hoàng khi biết về số phận của các nạn nhân đáng thương này. Do đó, cha đã tình nguyện đến Molokai để giúp đỡ họ.

 

Khi đến đảo, người tổ chức họ thành một cộng đồng. Sau đó người dựng một nhà thờ và bắt đầu giúp đỡ họ theo bất cứ phương cách nào có thể.

 

Khi thi hành điều này, người hoàn toàn đồng hoá với họ.

 

Người làm việc với họ, đi lại với họ, và ăn uống với họ. Người trở nên giống họ về mọi phương cách – để chia sẻ căn bệnh thảm thương của họ.

 

Sau năm năm chăm sóc người cùi, Cha Damien cũng bị nhiễm căn bệnh đáng sợ này.

 

Người tiếp tục chăm sóc họ thêm bốn năm nữa, trước khi căn bệnh này lấy đi sự sống của cha vào năm 1889. Gần một trăm năm sau, vào năm 1995, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã tuyên phong chân phước cho người, chuẩn bị để tuyên xưng là thánh.

 

Câu chuyện cảm động của Cha Damien thích hợp với ngày lễ hôm nay, lễ Đức Giêsu chịu Thanh Tẩy.

 

Để thấy sự thích hợp đó, chúng ta hãy bắt đầu bằng việc nhớ lại điều dân chúng thường hỏi: “Tại sao Đức Giêsu lại xin được thanh tẩy?”

 

Nói cho cùng, Thánh Phaolô nói, “Phép rửa của Gioan là cho những người xa lánh tội lỗi.” CVTĐ 19:4

 

Nếu Đức Giêsu không có tội, tại sao Người lại xin chịu phép rửa? Ông Gioan cũng tự hỏi như thế. Khi Đức Giêsu xin được thanh tẩy, ngay lập tức ông Gioan từ chối, nói rằng:

 

“Lẽ ra tôi phải được Ngài thanh tẩy, nhưng Ngài lại đến với tôi.” … Đức Giêsu trả lời ông, “Bây giờ hãy để xảy ra như vậy. Vì chúng ta phải thi hành những gì Thiên Chúa đòi hỏi theo phương cách này.”

 

Chính tại đây sự thanh tẩy của Đức Giêsu có liên hệ đến câu chuyện của Cha Damien.

 

Cha Damien đến đảo Molokai không phải vì bị bệnh cùi. Người đến đây chỉ vì muốn giúp đỡ người cùi bằng mọi phương cách có thể.

 

Và để giúp đỡ họ bằng mọi phương cách có thể, người đã chọn đồng hoá với họ theo mọi phương cách người có thể.

 

Người ăn uống với họ, làm việc với họ, cầu nguyện với họ, và người chịu đau khổ với họ.

 

Theo một cách tương tự, Đức Giêsu đến thế gian không bởi vì Người là một tội nhân. Người đến để giúp các tội nhân theo mọi phương cách mà Người có thể.

 

Và vì thế Người đồng hoá với họ theo mọi phương cách có thể - ngoại trừ tội lỗi. Đức Giêsu sống với họ, cầu nguyện với họ, ăn uống với họ, và ngay cả tự để mình chịu cám dỗ giống như họ.

 

Do đó, thật tự nhiên khi Đức Giêsu nới rộng sự đồng hoá với con người bằng cách chịu thanh tẩy như họ.

Giống như Cha Damien, Đức Giêsu đồng hoá với loài người đến độ hy sinh mạng sống mình vì họ.

 

Điều này đưa chúng ta đến với bí tích rửa tội của chính chúng ta. Qua bí tích đó, chúng ta được tháp nhập vào Thân Thể Đức Kitô. Qua đó, chúng ta trở nên các chi thể của thân thể Đức Kitô và chia sẻ sứ vụ cứu chuộc thế gian của Người.

 

Nói cách khác, qua bí tích rửa tội, chúng ta được mời gọi hãy sử dụng các khả năng độc đáo Chúa ban để hoạt động với Đức Kitô trong việc cứu chuộc nhân loại.

 

Và như vậy, bí tích rửa tội là bước đầu tiên trong hành trình lớn lên trong Đức Kitô và học cách sử dụng khả năng của mình để làm việc với Người trong sự cứu độ - cũng như Cha Đamien đã sử dụng tài năng của mình cho mục đích này.

 

Điều này nêu lên một câu hỏi quan trọng. Chúng ta lớn lên trong Đức Kitô như thế nào? Chúng ta phải chuẩn bị chính minh như thế nào để chia sẻ công việc cứu độ của Người?

 

Thánh Phaolô trả lời câu hỏi này trong Thư gửi tín hữu Côlótsê:

 

Vì anh chị em đã chấp nhận Đức Giêsu Kitô là Chúa, hãy sống hiệp nhất với Người. Hãy bám rễ sâu vào Người, xây dựng cuộc đời anh chị em trên Người… Vậy, anh chị em hãy mặc lấy tâm tình từ bi, nhân hậu, khiêm cung, ôn hoà, và nhẫn nại. Col 2:6-7; 3:12-14

 

Nói cách khác, chúng ta thi hành điều này bằng cách bắt chước Đức Kitô.

 

Chúng ta cố gắng đối xử từ bi với người khác, như Đức Kitô đã đối xử với chúng ta.

 

Chúng ta cố gắng đối xử nhẫn nại với người khác, như Đức Kitô đã đối xử với chúng ta.

 

Nói tóm, chúng ta cố noi gương Đức Kitô là Người đã ban sức cho chúng ta để giúp thi hành điều này bằng cách chia sẻ chính sự sống thánh thiêng của Người cho chúng ta trong bí tích rửa tội.

 

Hãy kết thúc với một lời nguyện, xin Chúa Giêsu giúp chúng ta sống bí tích rửa tội của mình, như Người đã sống:

 

Xin cánh tay Chúa Giêsu hãy nâng con lên khi ngã quỵ.

Xin tiếng nói của Chúa Giêsu hãy dẫn đưa chúng con về nhà khi lạc lối.

Xin máu Chúa Giêsu rửa chúng con sạch khi chúng con hoen ố.

Xin thân thể Chúa Giêsu nuôi dưỡng chúng con khi chúng con đói khát.

Xin thánh tâm Chúa Giêsu giúp chúng con kết hợp với Ngài,

vì tâm hồn của chúng con được dựng nên cho Ngài,

và nó sẽ không an nghỉ cho đến khi an nghỉ trong Ngài.

 

-------------------------------

 

TN 1-A180: Tái tạo thế giới

 

(Suy niệm của Lm. Mark Link)

 

Chúng ta phải hoàn tất sự tái tạo thế giới mà Chúa Cha đã khởi sự kể từ lúc Chúa Giêsu chịu phép TN 1-A180

 

“Chúng ta phải hoàn tất sự tái tạo thế giới mà Chúa Cha đã khởi sự kể từ lúc Chúa Giêsu chịu phép rửa”

 

Người xưa có một quan niệm về vũ trụ rất ngộ nghĩnh. Họ chia nó thành 3 tầng thế giới chồng lên nhau giống như 3 tầng bánh “ga tô”. Tầng trên cùng là nơi Chúa ngự được gọi là Trời hay Thiên đường. Tầng giữa nơi có loài người sinh sống được gọi là thế giới sinh vật, còn tầng chót là nơi con người sẽ đến sau khi chết, được gọi là âm phủ hay thế giới người chết.

 

Từ khi Adam, Eva phạm tội, tầng giữa tức thế giới sinh vật càng ngày càng trở nên tồi tệ. Vì thế, các thánh nhân đã cầu xin Chúa từ Trời ngự đến cứu giúp trần thế hỗn loạn của họ. Chẳng hạn, Tiên tri Isaia đã nài xin Chúa: “Sao Ngài không xé bầu trời xuống với chúng con?” (Is 64,1); và tác giả Thánh vịnh cũng kêu cầu: “Lay Chúa, xin hãy xé bầu trời ra và xuống với chúng con” (Tv 144,5).

 

Chúng ta phải đọc Bài Phúc Âm lễ Chúa Giêsu chịu phép rửa trong bối cảnh này. Bài Phúc Âm mô tả 3 biến cố xảy ra ngay sau khi Chúa Giêsu chịu phép rửa. Trước hết là bầu trời mở ra trên Chúa Giêsu; tiếp đến là một con chim bồ câu từ trời xuống bay lượn trên Chúa Giêsu và trên nước; và cuối cùng là tiếng nói từ trời thốt ra: “Con là Con Ta rất yêu dấu”. Bây giờ chúng ta hãy xét kỹ hơn từng biến cố một.

 

Trước hết là biến cố bầu trời mở ra trên Chúa Giêsu. Theo những điều đã nói ở phần trên, chúng ta có thể hiểu rõ ý nghĩ của biến cố này. Lời cầu xin của các thánh nhân đang được đáp trả. Chúa đã xé bầu trời đến trần gian để chỉnh đốn sự hỗn loạn nơi đây. Nói cách khác, việc Chúa Giêsu xuất hiện và chịu phép rửa nơi sông Giođan đánh dấu bình minh của một kỷ nguyên mới trong lịch sử nhân loại.

 

Từ đó, chúng ta bước sang xem xét biến cố kế tiếp cũng xảy ra ngay sau khi Chúa Giêsu chịu phép rửa. Thần Khí Chúa dưới hình một con chim bồ câu từ tầng trời mở toang bay xuống lượn vòng trên Chúa Giêsu và trên mặt nước. Sự kiện này nhắc ta nhớ lại lúc bắt đầu tạo dựng thế giới Thần Khí cũng bay là là trên nước giống như vậy. Sách Sáng Thế đã mô tả giây phút oai nghi ấy như sau: “Từ nguyên thuỷ… Thần lực Chúa chuyển động trên mặt nước. Đoạn Chúa truyền lệnh: ‘Hãy có ánh sáng, lập tức ánh sáng liền xuất hiện.’” (St 1,1-3) Như thế, sách Sáng Thế là nền tảng giúp ta hiểu ý nghĩa biến cố thứ hai này. Chim bồ câu bay lượn trên Chúa Giêsu và trên nước là hình ảnh muốn báo cho chúng ta biết sắp có một cuộc tạo dựng mới xảy ra. Chúa sắp sửa tái tạo và canh tân thế giới chúng ta. Ngài sắp sửa thực hiện lời hứa qua môi miệng Tiên tri Isaia: “Ta sắp tạo dựng một trái đất mới, những sự việc đã qua sẽ không còn được nhắc nhở nữa… Trên trái đất mới này chỉ toàn là sự vui mừng và hạnh phúc.” (Is 65,17-16)

 

Chúng ta hãy tiếp tục xét đến biến cố thứ ba cũng là biến cố sau cùng xảy ra ngay sau khi Chúa Giêsu chịu phép rửa. Bầu trời vừa mở ra thì có chim bồ câu lượn là là trên mặt nước và có tiếng nói từ trơi vọng xuống: “Con là Con Ta yêu dấu”. Ý nghĩa của biến cố thứ ba này thật rõ ràng: Chúa Giêsu được xác nhận là Con Thiên Chúa, là “Adam mới”, là trưởng tử của công cuộc tạo dựng mới. Khi bình luận về vai trò của Chúa Giêsu được ví như Adam mới trong cuộc tân tạo, Thánh Phaolô đã viết cho các tín hữu Côrintô: “Người thứ nhất – tức Adam – từ đất mà ra và thuộc về đất, người thứ hai – tức Đức Giêsu – từ trời mà đến… Chúng ta đã mang trong mình hình ảnh con người bởi đất – tức Adam cũ – thế nào, thì chúng ta cũng mang hình ảnh con người bởi trời – tức Adam mới – như thế.” (1 Cr 15,47-49)

 

Tóm lại, 3 biến cố xảy ra ngay khi Chúa Giêsu chịu phép rửa mặc khải cho ta biết 3 điều:

 

* Trước hết, bầu trời mở ra nói lên việc Chúa từ trời ngự xuống cõi trần chúng ta.

 

* Thứ đến, hình chim bồ câu bay lượn trên nước và trên Chúa Giêsu diễn tả việc Chúa đang bắt đầu một cuộc tạo dựng mới.

 

* Và cuối cùng, tiếng nói vọng ra từ trời nhằm mục đích xác nhận Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa, là “Adam mới” trong cuộc tái tạo này.

 

Từ đó, chúng ta rút ra kết luận thực tiễn sau đây: Chúng ta là công dân của hai thế giới, nghĩa là chúng ta mang trong mình hình ảnh của Adam thứ nhất lẫn Adam thứ hai, nên chúng ta chia sẻ sự sống với cả hai vị này. Chúng ta từng cảm nghiệm được sức lôi cuốn về mặt xác thịt của Adam thứ nhất và sự thôi thúc tinh thần của Adam thứ hai. Điều này cắt nghĩa được lý do chúng ta thường bị xâu xé về mặt tâm linh; vì chúng ta vừa bị lôi cuốn làm điều tốt, đồng thời bị lôi cuốn làm điều xấu. Trong thư gởi tín hữu Rôma, chính Thánh Phaolô đã nhắc lại sự xâu xé tâm linh này: “Tôi không làm điều tôi muốn, mà lại làm điều tôi ghét.” (Rm 7,15)

 

Và như thế, bài Phúc Âm hôm nay làm nổi bật 2 sự kiện. Sự kiện thứ nhất cách đây hơn 2.000 năm, Thiên Chúa đã xuống trần gian, nơi con người Chúa Giêsu, để bắt đầu công cuộc tái tạo. Sự kiện thứ hai mà bài Phúc Âm cho biết là mỗi người chúng ta là một phần trong cuộc tái tạo này. Chúa tái tạo chúng ta khi chúng ta chịu phép rửa tội bằng cách tháp nhập chúng ta vào thân thể Đức Giêsu, Con Ngài. Tuy nhiên, Chúa giao cho chúng ta trách nhiệm hoàn tất việc tái tạo của riêng chúng ta bằng cách chúng ta cầu nguyện và nhận lãnh các bí tích, đặc biệt là Bí tích Thánh Thể. Và cuối cùng, chúng ta nên nhớ rằng, chỉ khi nào chúng ta kết hiệp với Chúa Giêsu, chúng ta mới có thể gọi Chúa là Cha, và đồng thời chỉ khi nào Thiên Chúa là Cha thực sự của chúng ta, thì chúng ta mới được chia sẻ sự sống vĩnh cửu với Ngài.

 

Để kết thúc, chúng ta hãy đọc lại lời Thánh Phalô nhắn gởi chúng ta: “Bất kỳ ai trong bất cứ dân tộc nào, ai kính sợ Thiên Chúa và thực thi công chính đều được Ngài đón nhận. Thiên Chúa đã sai Lời Ngài đến cùng con cái Israel loan tin bình an qua con người Đức Giêsu là Chúa cả muôn loài.”

 

-------------------------------

 

Tác giả: Nguyễn Văn Mễn

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây