Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Luca. Khi ấy, có một người thông luật đứng dậy hỏi thử Chúa Giêsu rằng: "Thưa Thầy, tôi phải làm gì để được sự sống đời đời". Người nói với ông: "Trong Lề luật đã chép như thế nào? Ông đọc thấy gì trong đó?" Ông trả lời: "Ngươi hãy yêu mến Chúa là Thiên Chúa ngươi hết lòng, hết linh hồn, hết sức và hết trí khôn ngươi, và hãy thương mến anh em như chính mình". Chúa Giêsu nói: "Ông đã trả lời đúng, hãy làm như vậy và ông sẽ được sống". Nhưng người đó muốn bào chữa mình, nên thưa cùng Chúa Giêsu rằng: "Nhưng ai là anh em của tôi?" Chúa Giêsu nói tiếp: "Một người đi từ Giêrusalem xuống Giêricô, và rơi vào tay bọn cướp; chúng bóc lột người ấy, đánh nhừ tử rồi bỏ đi, để người ấy nửa sống nửa chết. Tình cờ một tư tế cũng đi qua đường đó, trông thấy nạn nhân, ông liền đi qua. Cũng vậy, một trợ tế khi đi đến đó, trông thấy nạn nhân, cũng đi qua. Nhưng một người xứ Samaria đi đường đến gần người ấy, trông thấy và động lòng thương. Người đó lại gần, băng bó những vết thương, xức dầu và rượu, rồi đỡ nạn nhân lên lừa mình, đưa về quán trọ săn sóc. Hôm sau, lấy ra hai quan tiền, ông trao cho chủ quán mà bảo rằng: 'Ông hãy săn sóc người ấy và ngoài ra, còn tốn phí hơn bao nhiêu, khi trở về, tôi sẽ trả lại ông'. Theo ông nghĩ, ai trong ba người đó là anh em của người bị rơi vào tay bọn cướp?" Người thông luật trả lời: "Kẻ đã tỏ lòng thương xót với người ấy". Và Chúa Giêsu bảo ông: "Ông cũng hãy đi và làm như vậy". - Ðó là lời Chúa.
Tại một khúc đường vắng trên con đường từ Giê-ru-sa-lem đến Giê-ri-cô có một khách bộ hành TN 15-C201
Tại một khúc đường vắng trên con đường từ Giê-ru-sa-lem đến Giê-ri-cô có một khách bộ hành bị trọng thương đang nằm quằn quại rên siết. Khúc đường nầy xưa nay vẫn thường xảy ra những vụ cướp của giết người. Hẳn đây lại là một nạn nhân khác do bọn cướp gây ra.
Một hy vọng loé lên trong đầu óc nạn nhân khi anh ta thoáng thấy có một khách bộ hành đang tiến lại gần. Khi người bộ hành gần đến, niềm hy vọng càng dâng cao vì đây là một vị Tư Tế. Ngài vốn thông làu lề luật yêu thương, chắc chắn ngài sẽ đoái thương cứu chữa anh ta. Nhưng rồi vị Tư Tế cố tình rảo bước cho nhanh, lánh qua một bên mà đi thẳng, để mặc anh nằm đó.
Một lát sau, có một thầy Lê-vi đi qua, vị nầy đảo mắt nhìn nạn nhân rên siết, nhưng rồi cũng vội vàng rảo bước cho nhanh, có lẽ ông ta sợ rằng bọn cướp còn lảng vảng đâu đây, sẽ trấn lột hết những gì ông ta mang trên mình và sẽ đánh đập ông nhừ tử như người khốn khổ kia. Thôi, khôn hồn thì rảo bước cho nhanh, mau qua khỏi nơi nguy hiểm nầy.
Cuối cùng, có tiếng lừa lộp cộp đâu đây vọng lại, rồi vị khách đi đường thứ ba xuất hiện. Đây là người dân Sa-ma-ri. Chẳng hy vọng gì nơi hạng người như thế, hạng người xưa nay vẫn mang tiếng là quân lạc đạo chẳng ra gì.
Thế nhưng, người Sa-ma-ri nầy lại cho lừa dừng lại, bước xuống cúi mình trên nạn nhân, cảm thương cho con người xấu số. Ông mở hành trang lấy rượu rửa sạch vết thương, lấy dầu xoa bóp những nơi bầm tím, rồi vực nạn nhân lên lừa của mình, quay trở về quán trọ. Đến nơi, ông lo liệu cơm cháo thuốc men, săn sóc nạn nhân như lo cho người thân yêu của mình. Sáng hôm sau, vì công việc gấp rút đòi buộc, ông phải vội lên đường. Nhưng trước khi ra đi, ông trao tiền cho chủ quán và dặn dò: "Xin ông lo chăm sóc người nầy giùm tôi cho chu đáo, còn tốn phí thêm bao nhiêu, khi trở về tôi sẽ hoàn lại cho ông".
Điều tuyệt vời nơi con người nhân ái nầy là đức tính sẵn sàng phục vụ. Phục vụ tức thời không so đo tính toán. Phục vụ bất cứ lúc nào, trong bất cứ hoàn cảnh nào.
Đang lúc phải đi về Giê-ri-cô cho nhanh trước khi trời tối, mà phải dừng lại tại một nơi không ngờ trước, bày tỏ tình thương mến nạn nhân xa lạ bằng những chăm sóc hết sức ân cần chu đáo, bất chấp hiểm nguy cho tính mạng mình, chấp nhận mất mát thời giờ, tiền của, đành để cho vợ con chờ đợi sốt ruột ở nhà, gác bỏ qua bên bao nhiêu công việc cấp bách… thì đây quả là một con người hy sinh cao thượng hiếm có.
Bài dụ ngôn về người Sa-ma-ri nhân lành nầy đáng được xem là tinh hoa của lề luật, là cốt tuỷ của nền luân lý ki-tô giáo, là minh hoạ tốt nhất cho lề luật yêu thương, là tấm gương soi cho tất cả những người con cái Chúa.
Giữ luật yêu thương không chỉ là tâm niệm luật ấy trong lòng đêm ngày như những kinh sư và biệt phái. Giữ luật yêu thương không phải là lặp lại luật ấy trên môi, đeo câu luật yêu thương trên tay, trên trán hay dán lên khung cửa ra vào như những người Do-thái đạo đức thường làm.
Nhưng giữ luật yêu thương chủ yếu là cúi xuống trên những mảnh đời bất hạnh để ủi an chăm sóc, là chia cơm sẻ áo, là trở thành người tôi tớ phục vụ tha nhân bất cứ khi nào họ cần.
Chúa Giê-su là Bậc Thầy khôn ngoan lỗi lạc. Người không thích giảng thuyết viển vông trừu tượng cho bằng dạy dỗ dân chúng bằng phương pháp trực quan cụ thể. Qua bài Tin Mừng nầy, Chúa Giê-su dạy một bài học trực quan về yêu thương: yêu thương là cúi xuống chăm sóc người bất hạnh như người Sa-ma-ri đã làm. Thực hành quy luật yêu thương là “hãy đi và làm y như thế” tức là sẵn lòng phục vụ tha nhân bất cứ khi nào họ cần.
Có hai hạt lúa nọ được giữ lại để làm hạt giống cho vụ sau vì cả hai đều là những hạt lúa tốt TN 15-C202
Có hai hạt lúa nọ được giữ lại để làm hạt giống cho vụ sau vì cả hai đều là những hạt lúa tốt, đều to khỏe và chắc mẩy.
Một hôm, người chủ định đem chúng gieo trên cánh đồng gần đó. Hạt thứ nhất nhủ thầm: “Dại gì ta phải theo ông chủ ra đồng. Ta không muốn cả thân mình phải nát tan trong đất. Tốt nhất ta hãy giữ lại tất cả chất dinh dưỡng trong lớp vỏ này và tìm một nơi lý tưởng để trú ngụ.” Thế là nó chọn một góc khuất trong kho lúa để lăn vào đó.
Còn hạt lúa thứ hai thì ngày đêm mong được ông chủ mang gieo xuống đất. Nó thật sự sung sướng khi được bắt đầu một cuộc đời mới.
Thời gian trôi qua, hạt lúa thứ nhất bị héo khô nơi góc nhà bởi vì nó chẳng nhận được nước và ánh sáng. Lúc này chất dinh dưỡng chẳng giúp ích được gì- nó chết dần chết mòn. Trong khi đó, hạt lúa thứ hai dù nát tan trong đất nhưng từ thân nó lại mọc lên cây lúa vàng óng, trĩu hạt. Nó lại mang đến cho đời những hạt lúa mới...
Định lý chung vẫn là ‘cho để nhận lại”. “chết đi để được sống lại”. Mọi vật được sinh ra không phải để chôn chặt trong vỏ ích kỷ của mình mà để cống hiến cho mọi loài xung quanh. Càng cống hiến thì bản thân mới càng giá trị và cuộc sống mới tròn đầy ý nghĩa. Không cống hiến mà chỉ sống trong vỏ bọc của ích kỷ, thụ động thì sẽ dần héo khô và mất tác dụng với đời.
Ở đời ai cũng có những lúc tối lửa tắt đèn. Ai cũng có lúc lá rách cần lá lành, và có lúc chị ngã em nâng. Sống ở đời, ai ai mà không cần tới tình yêu, cần tới sự cảm thông, nâng đỡ của anh em. Nhưng đáng tiếc lại ít người thực hiện tình yêu. Có chăng chỉ vỏn vẹn trong một khung cảnh gia đình hay trong một lũy tre xanh chật hẹp. Cho nên cũng vì vậy mà trần gian mất đi nhiều nguồn vui đích thực.
Đời người ky-tô hữu cũng chỉ có ý nghĩa khi biết sống yêu thương. Tình yêu thương không dừng lại ở sự xót thương những mảnh đời bất hạnh mà còn phải làm điều gì đó để xoa dịu nỗi đau cho anh em. Người ky-tô hữu không được lẩn tránh trước những khổ đau của anh em nhưng luôn dấn thân xây dựng làm vơi đi những khổ đau cho nhân thế. Cuộc đời người ky-tô hữu không có yêu thương thì cũng như cây khô héo mà Chúa bảo sẽ mang chất thành củi khô mà đốt. Như muối đã lạt quăng ra đường cho đời dẫm nát.
Tình yêu thương, sự chia sẻ còn làm cho tình người thêm khăng khít với nhau hơn. Tình yêu sẽ làm cho nhau trở nên lân cận với nhau. Tình yêu sẽ phá vỡ mọi ngăn cách, kỳ thị bởi chính trị, tôn giáo, màu da sắc tộc. Tình yêu sẽ làm cho con người thêm gần gũi nhau và hợp nhất với nhau. Tình yêu mời gọi chúng ta dấn thân phục vụ nhau. Không phân biệt giai cấp. Không phân biệt tôn giáo như người Samaria năm xưa đã làm. Tình yêu giúp người ta dễ dàng cúi xuống phục vụ mà không so đo tính toán thiệt hơn.
Ky-tô giáo là đạo của yêu thương. Xin cho chúng ta luôn biết thể hiện niềm tin của mình bằng hành vi yêu thương người lân cận. Người lân cận được hiểu là người ta đang sống, đang gặp gỡ, đang mời gọi chúng ta cảm thông, nâng đỡ, yêu thương. Xin cho chúng ta đừng bao giờ tự khép mình trong lớp vỏ chắc chắn để cố giữ sự nguyên vẹn vô nghĩa của bản thân mà hãy can đảm bước đi, âm thầm chịu nát tan để góp cho cánh đồng cuộc đời một cây lúa nhỏ nặng trĩu bông lúa vàng. Amen.
Nếu câu hỏi thứ nhất của người luật sĩ là một câu hỏi rất hay: “Tôi phải làm gì để được sự sống TN 15-C203
Nếu câu hỏi thứ nhất của người luật sĩ là một câu hỏi rất hay: “Tôi phải làm gì để được sự sống đời đời làm gia nghiệp?”, thì câu hỏi thứ hai mà ông nêu ra: “Ai là người thân cận của tôi?”, phải chăng là một câu hỏi ngớ ngẩn? Vì người thân cận hiển nhiên là người bên cạnh, là người chung quanh, hàng xóm láng giềng!
Có lẽ không phải như vậy, vì người luật sĩ muốn cho thấy đây là một trong những vấn đề lớn ông đang thao thức, và chắc chắc cũng là vấn đề mà nhóm, cộng đoàn, thậm chí dân tộc của ông thao thức. Bởi vì, tuy là gần nhau, nhưng chưa chắc đã là thân cận, tuy ở chung, nhưng chưa chắc đã là anh em, chị em, bởi vì không chỉ có những ranh giới hữu hình, nhưng còn có cả nhiều ranh giới vô hình nữa, phân cách người với người:
Công chính và tội lỗi. Ô uế và thanh sạch. Người bệnh và người khỏe mạnh. Nhóm của mình và những nhóm khác. Khác biệt về tôn giáo, quan điểm, tính tình… Dân Do thái và dân ngoại, nam và nữ, tự do và nô lệ, chủ và tớ…
2. “Hãy đi, ông cũng hãy làm như thế”
Đức Giê-su sẽ giúp cho vị luật sĩ vượt qua cách suy nghĩ lối mòn của mình: thay vì tôi ngồi một chỗ tìm cách định nghĩa người thân cận của tôi là ai, rồi sau đó tôi mới đi thực hành lòng mến đối với họ, Đức Giê-su kể cho ông nghe một dụ ngôn, và sau đó, Người đặt câu hỏi:
Theo ông, ai trong ba người đã là người thân cận của người bị nạn? Người luật sĩ trả lời một cách dễ dàng: Đó là người tỏ lòng thương xót đối với anh ta. Và Đức Giê-su mời gọi ông: Hãy đi, ông cũng hãy làm như thế.
Nghĩa là hãy làm cho mình trở thành người thân cận của người khác, đặc biệt là người cần đến lòng thương xót. Dụ ngôn của Chúa không xác định một hành vi cụ thể phải cố thực hiện (bởi vì, mấy khi mà chúng ta gặp một tình huống như vậy để thực hành), nhưng diễn tả sức năng động của lòng yêu mến mà luật nói đến:
Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết sức lực, và hết trí khôn ngươi, và yêu mến người thân cận như chính mình.
Năng động tình yêu mà dụ ngôn của Đức Giê-su muốn diễn tả:
Không phổ quát giống như những định nghĩa mà những người làm luật cố đưa ra, để xác định ai là người thân cận. Vượt qua các rào cản của lề luật, và của những ranh giới hữu hình và vô hình phân cách người với người, nhóm với nhóm. Và diễn tả sức năng động, thúc đẩy chúng ta ra khỏi chính mình, để hướng về người khác, dù người này là ai.
3. Thiên Chúa trở nên “người thân cận” của chúng ta nơi Đức Ki-tô
Ngoài ra, dụ ngôn còn có một ý nghĩa khác, hình ảnh người Samari nhân hậu diễn tả cho chúng ta cách tuyệt vời chính cung cách Thiên Chúa yêu thương chúng ta nơi Đức Ki-tô chịu đóng đinh. Bởi vì, chúng ta cũng giống như người bị nạn bởi sự dữ, tội lỗi, bởi bạo lực, lòng ghen ghét. Lề luật miễn trừ cho thầy tư tế và thầy Lê-vi không hành động trong trường hợp này, để có thể tiếp tụ lo thánh vụ. Có thể nói, Lề Luật cũng miễn cho Ngôi Lời Thiên Chúa can thiệp; nhưng thay vì Người tránh xa một bên để đi qua, bỏ mặc loài người chúng ta dở sống dở chết, Người chạnh lòng thương, dừng lại để cứu vớt chúng ta; khi làm thế, Người đã vượt qua rất nhiều ranh giới:
Thiên Chúa và con người. Trên trời và dưới đất; vĩnh cửu và thời gian. Thánh thiện và tội lỗi. Thanh sạch và ô uế.
Hơn nữa còn hạ mình trở nên giống chúng ta, không chỉ trong thân phận con người, mà con tự đặt mình trong hoàn cảnh bị hại, bởi vì trong cuộc Thương Khó, ngài tự nguyện trở thành nạn nhân, và chịu đóng đinh trên Thánh Giá, để vừa cảm thông với mọi nỗi đau khổ của loài người chúng ta, kể cả cái chết (x. Dt 4, 14-16) và vừa mở đường cho chúng ta đi vào cõi hằng sống. Như lời Thánh Vịnh diễn tả:
Đường của Chúa băng qua biển rộng, lối của Ngài rẽ nước mênh mông, mà chẳng ai nhận thấy vết chân Ngài. (Tv 77, 20)
Xin cho chúng ta cảm nghiệm sâu xa Tình Yêu và lòng thương xót của Thiên Chúa Cha, được thể hiện nơi Đức Giê-su, để chúng ta sống Tình Yêu này một cách chủ động ngay trong gia đình, cộng đoàn, giáo xứ và trong môi trường sống của chúng ta, nghĩa là làm cho mình trở nên người thân cận của người khác, như Thiên Chúa đã làm cho mình trở nên người thân cận của chúng ta nơi Đức Giê-su Ki-tô.
Tin mừng hôm nay (Lc 10, 25-37) tường thuật cho chúng ta câu chuyện của người thông luật với TN 15-C204
Tin mừng hôm nay (Lc 10, 25-37) tường thuật cho chúng ta câu chuyện của người thông luật với Chúa Giêsu. Thánh Luca, anh ta đã đến với Chúa không có một chút thiện chí nào, vì anh muốn hỏi để thử Chúa: “Thưa Thầy, tôi phải làm gì để được sự sống đời đời?” Tại sao người này lại muốn hỏi thử Chúa? Phải chăng anh ta không biết về các điều luật? Không phải thế, vì là người thông luật, anh biết nhiều và biết rất rõ, anh có kiến thức uyên bác về luật và còn dạy dỗ hướng dẫn người khác nữa. Thế nhưng, điều đáng nói ở đây, biết nhưng không sống, không thực hành và làm theo những gì lề luật chỉ dạy. Tin mừng còn đi xa hơn khi tường thuật: Người thông luật muốn tự bào chữa cho thái độ và cách sống của mình nên anh tiếp tục hỏi Chúa: “Nhưng ai là anh em của tôi?”
Qua con người và cách sống của người thông luật, cho chúng ta ý thức để nhận ra rằng: Hiểu biết về Chúa với những kiến thức là điều tốt, thế nhưng chưa đủ. Thật ra, biết Chúa phải chính là mối tương quan sống với Ngài, mối tương quan sống này cần phải được minh chứng, biểu lộ qua cách sống chứng tá yêu thương phục vụ trong sứ vụ của chúng ta với Chúa và tha nhân trong mỗi ngày sống và trong mọi biến cố của cuộc đời.
Thật vậy, Chúa Giêsu đã minh chứng cách sống qua câu chuyện của người xứ Samaria. Ông là người dân ngoại, thế mà ông đã đối xử rất tốt với người đang gặp hoàn cảnh hoạn nạn. Tin chắc rằng, người xứ Samaria này đã không thông thạo, hay hiểu biết về luật lệ Chúa dạy, thế nhưng, ông đã hành xử với tấm lòng bao dung, thương xót khi chứng kiến người bị hoạn nạn đang cần được giúp đỡ. Chúng ta sẽ tự hỏi: Tại sao người xứ Samaria này lại làm được những việc phi thường như vậy? Trong khi đó, đáng lẽ ra, điều này cần phải được thực hiện bởi thầy tư tế hay thầy Lêvi, vì họ là người đồng hương Do Thái với người bị nạn, hơn thế nữa, họ phải là người thể hiện sứ vụ và phẩm giá của mình, thế nhưng, họ chỉ đi ngang qua, nhìn thấy và bỏ đi như không có chuyện gì xảy ra. Chúng ta không biết lý do tại sao hai vị này không làm gì để giúp cho người bị nạn, nhưng tin chắc rằng, lòng khoan dung thương xót của họ chưa đủ mạnh để họ có thể dấn thân trao ban tình yêu thương, cho dù họ thuộc và rất biết rõ lề luật là phải yêu thương và giúp đỡ ACE mình khi người khác gặp hoạn nạn.
Thưa ACE, nếu đứng trước những nỗi đau khổ hay những nhu cầu cấp thiết của ACE mình, chúng ta cần phải làm gì? Thực ra, nếu chúng ta cậy dựa vào khả năng hay tài sức của chúng ta, thì dường như chúng ta gặp phải sự bế tắc, hay không biết phải xử trí ra làm sao nhất là trong những tình huống rất nan giải. Bài đọc một trong sách Đệ Nhị Luật soi sáng cho chúng ta biết rằng, những lúc mà con người không biết phải làm sao thì chúng ta hãy tìm đến với sức mạnh của Lời Chúa, vì khi chúng ta có Lời Chúa soi dẫn và dạy dỗ, thì chúng ta mới đủ sức và đủ khả năng mà thực thi. Vì Chúa phán: “Lời ở sát bên các ngươi, nơi miệng các ngươi, trong lòng các ngươi, để các ngươi thực thi”. Vậy thì liệu rằng, chúng ta có tin để tìm đến với Lời Chúa để tìm được sự soi đường dẫn lối hay không?
Đây cũng chính là điều tuyệt vời mà Thánh vịnh 68 trong đáp ca hôm nay mời gọi chúng ta: “Các bạn khiêm cung, các bạn tìm kiếm Chúa, lòng các bạn hãy hồi sinh”.Thật vậy, khi con người đặt trọn niềm tín thác cậy trông vào Chúa để tìm kiếm Ngài, thì chính Chúa sẽ ban cho tâm hồn chúng ta bình an và hoan lạc. Mặc dầu nói rằng chúng ta tìm kiếm Thiên Chúa, nhưng thật ra chính Thiên Chúa luôn dủ lòng thương, đoái nhìn và tìm kiếm để ban ơn thánh cho chúng ta, thế nên, điều tùy thuộc còn lại là chúng ta có chấp nhận để cho Chúa tìm gặp và ban ơn cho chúng ta hay không?
Bài đọc hai Thánh Phao lô đã mời gọi chúng ta dù trong bất cứ hoàn cảnh nào hãy tìm kiếm thánh ý của Thiên Chúa, nghĩa là hãy sống kết hiệp với Đức Giêsu Kitô, Đấng đã vì chúng ta mà chịu chết. Thật vậy, qua Thánh Giá của Chúa, với giá máu châu báu mà Chúa đã đổ ra trên thập giá đã đem lại cho con người ơn cứu rỗi, ơn tha thứ, hòa giải và bình an đích thực.
Lạy Chúa, vì yêu thương, Chúa đã đặt để trong lòng chúng con, qua tiếng lương tâm để nhận biết điều lành, điều thiện để làm. Đồng thời, Chúa cũng mời gọi chúng con khiêm tốn và tín thác để tìm kiếm cùng thực thi thánh ý Chúa. Xin cho chúng con biết chân thành cộng tác với ơn thánh Chúa, để nhờ đời sống kết hiệp mật thiết với Chúa, chúng con được Chúa cho trở nên những chứng tá của tình thương và ơn thánh cho ACE mình qua đời sống yêu thương phục vụ của chúng con. Amen.
Ơn Ta đủ cho con” (2C 12, 9) là lời hứa Chúa dành cho thánh Phao-lô khi lãnh nhận sứ vụ TN 15-C205
“Ơn Ta đủ cho con” (2C 12, 9) là lời hứa Chúa dành cho thánh Phao-lô khi lãnh nhận sứ vụ tông đồ dân ngoại.
Lời Chúa hứa là niềm khích lệ, ủi an, là chỗ dựa vững vàng, là sức mạnh đỡ nâng, để kẻ được chọn lướt thắng mọi thử thách gian truân, trung tín mãi đến cùng trong niềm tín thác cậy trông.
Người môn đệ Giê-su, không chỉ chấp nhận thánh ý Chúa, hơn thế, phải yêu mến đón nhận như phần thưởng, như gia nghiệp cuộc đời.
ĐK: Thánh ý Ngài là gia nghiệp đời con, là tình yêu cho con ủ ấp, là ước mơ con thơ đi tìm, là niềm tin cho con luôn vững lòng chờ mong.
Pk1: Xin dạy con đường nẻo Ngài, xin dìu con từng bước đi, qua ngàn gian khổ có Chúa bên con, sợ chi. Vì tình thương Chúa luôn đổ tràn, dẫu muôn ngàn điều gian nan thì đời con vui bước trong bình an giữa những bao lầm than.
Vâng thưa anh chị em,
Khi sống giữa muôn vàn đau khổ, gian truân, thử thách, tưởng chừng quá sức chịu đựng, chúng ta có dám và có còn xác tín lời Chúa hứa: ơn Ta luôn đủ cho con không?
Phụng vụ Lời Chúa hôm nay gieo niềm hy vọng cho tất cả những ai đang lao đao vác gánh nặng cuộc đời, hãy thâm tín rằng: Chúa không bao giờ để ai phải chịu đựng sự gì quá sức của mình.
Bài đọc 1, trích sách Đệ Nhị Luật, ghi lại những phán quyết và huấn lệnh của Đức Chúa, để anh em thực hành mà được sống trong phần đất Chúa hứa ban.
Mô-sê quả quyết: những điều ghi chép trong sách luật, không vượt quá sức, hay ngoài tầm tay, khiến anh em không đủ sức thi hành.
Không, luật Chúa, không ở trên trời cao, hay dưới lòng vực thẳm, không ở nơi chân trời góc biển xa xăm, muôn trùng xa cách, nhưng rất gần, gần đến nỗi sững sờ, kinh ngạc: “Ngay trong miệng, trong lòng, để anh em đem ra thực hành” (Dnl 30, 14).
Mỗi người, từ khi mới sinh ra, thì Đức Chúa Trời đã in Mười Điều Răn trong lòng kẻ ấy, gọi là đạo tự nhiên, song le, bởi nhiều người hay quên chẳng cứ, thì Đức Chúa Trời lại thích trên hai bia đá mà truyền cho tổ tiên dân Giu-dêu xưa.
Không nghi ngờ gì nữa, luật Chúa chính là tiếng lương tâm, là Đức Giê-su, Ngôi Lời nhập thể. Những ai đón nhận Giê-su, lắng nghe, thực thi lời Người dạy, sống theo sự mách bảo của tiếng lương tâm ngay lành, người ấy đang ở trong Thiên Chúa và được Thiên Chúa ở cùng.
Bài Tin Mừng vừa tuyên đọc kết tinh toàn thể lề luật và các ngôn sứ trong giới răn độc nhất: mến Chúa - yêu người. Giê-su tuyên bố: cứ làm như vậy là sẽ được sống.
Thưa anh chị em,
Dụ ngôn người Sa-ma-ri-ta-nô nhân hậu, được đặt liền sau giới răn mến Chúa – yêu người, là cụ thể hóa điều trừu tượng khó hiểu, là bản mẫu cho việc tuân giữ luật Chúa.
Giê-su đã kéo giới răn mến Chúa – yêu người, từ chỗ mông lung trừu tượng, đặt nó ngay trên miệng, trong lòng để chúng ta đem ra thực hành.
Với Chúa Giê-su, lòng mến Chúa – yêu người phải được thấm vào máu thịt, phải trở thành nhân cách, nên lối sống của người môn đệ, nghĩa là: luôn biết chạnh lòng thương xót như Cha trên trời.
Thưa anh chị em,
Nếu hôm nay đặt Chúa Giê-su bên cạnh người Sa-ma-ri, chúng ta sẽ khó bề phân biệt ai là Chúa, ai là ông Sa-ma-ri, vì lối sống y hệt nhau: Giê-su, thấy đám đông khổ cực, đói khát, thì “chạnh lòng thương” và Người giảng dạy họ nhiều điều ; cũng vậy, người Sa-ma-ri thấy nạn nhân bên vệ đường, thì “chạnh lòng thương” và ông cũng làm nhiều điều cứu giúp nạn nhân.
Giê-su đã ban ơn, để ông Sa-ma-ri đủ sức thi hành ý Chúa: “Ơn Ta đủ cho con” (2C 12, 9) là có thật !
Chúng ta cần phải quan sát kỹ hơn cung cách hành xử của vị Sa-ma-ri này: cúi xuống trên nạn nhân, rửa vết thương, băng bó, bế người đó đặt lên lưng lừa của mình...
Chắc hẳn trong lúc sơ cứu người bị nạn, ông đã khóc rất nhiều. Nước mắt của lòng chạnh thương đã thúc đẩy ông đi đến cùng trong việc phục vụ lợi ích tha nhân.
Đức thánh cha Phan-xi-cô cầu xin cho mỗi người được “ơn nước mắt”, vì nước mắt sẽ dập tắt hận thù, bóc lột, chiến tranh. Nước mắt tạo nên tình hiệp thông liên đới, biết quan tâm, sẻ chia, nghe thấy và cảm được nỗi khốn cùng của anh chị em mình.
Xin Chúa làm tai con nghe rõ, tiếng tha nhân cầu khẩn lượng hải hà. Họ khổ đau, họ kêu gào thảm thiết. Đừng để con cứ giả điếc làm ngơ.
Ước gì mỗi người chúng ta luôn biết lắng nghe và thực hành Lời Chúa dạy, để nhờ ơn Chúa trợ giúp, chúng ta đủ sức, đủ nghị lực, chu toàn bổn phận và sứ vụ Chúa trao, kiến tạo “một trời mới và một đất mới”, góp phần làm cho Danh Cha vinh hiển, Nước Cha trị đến.
Có lẽ từ khi có con người, là lúc những rắc rối luôn xảy ra. Nếu Thiên Chúa không tác thành Adam TN 15-C206
Có lẽ từ khi có con người, là lúc những rắc rối luôn xảy ra. Nếu Thiên Chúa không tác thành Adam thì không có gì để nói, và nếu vườn địa đàng ngày ấy thiếu bóng Eva, chắc nhân loại bớt khổ đau hơn. Nhưng dẫu sao, nhân loại vẫn mang hình hài của một vị Thiên Chúa: Sáng Tạo và Quan phòng bằng chính tình yêu của Ngài. Ngài mời gọi con người đón nhận tình yêu và trao ban tình yêu. Giữa rất nhiều những lề luật của những người Do thái ( 613 luật, trong đó 248 điều phải làm, và 365 điều cấm). Đức Giêsu với tư cách là Con Thiên Chúa, Thầy thông luật, Ngài chỉ đưa ra có hai điều, hai mà một, một mà hai: Mến chúa, yêu người.
Thực ra hai giới răn này Đức Giêsu đã lấy lại từ trong cựu ước mà cụ thể là trong sách Đệ Nhị Luật có viết: “Ngươi sẽ yêu mến Giavê Thiên Chúa của ngươi hết lòng ngươi, hết linh hồn ngươi, và hết sức lực ngươi”(Đnl 6, 5), và trong sách Lêvi cũng nói: “Ngươi sẽ không báo oán, không cựu thù với con cái dân ngươi, nhưng ngươi sẽ yêu mến đồng loại ngươi như chính mình”(Lv 19,18). Chính lề luật đã làm cho nhiều người không giữ nổi, và cũng không biết điều nào chính yếu, điều nào tuỳ phụ. Đức Giêsu đã làm nhẹ bới gánh nặng mà các Luật sĩ, Biệt phái và những người thông luật đã chất chồng lên đôi vai của những người Do Thái. Ngài cho họ thấy cái cốt lõi của Lề luật là gì. Thánh Phaolô đã diễn tả bằng những từ ngữ như sau: "Ðức Mến thì nhẫn nhục, hiền hậu; không ghen tương, không vênh vang, không tự đắc, không làm điều bất chính, không tìm tư lợi, không nóng giận, không nuôi hận thù, không mừng vui khi thấy sự ác, nhưng vui khi thấy điều chân thật. Ðức mến tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, hy vọng tất cả, chịu đựng tất cả" (1Cr 13,4-7).
Tin mừng Chúa nhật 15 nằm trong một ngữ cảnh hết sức đặc biệt, có thể nói đây là những cuộc khủng bố Đức Giêsu, nhóm những người Sađốc đưa vấn đề kẻ chết sống lại để gài bẫy Chúa Giêsu, còn những người Biệt phái và Luật sĩ thì chất vấn Chúa về lề luật. Người Luật sĩ hỏi Chúa Giêsu: “Thưa Thầy, tôi phải làm gì để được sự sống đời đời làm gia nghiệp”(Lc10, 25). Và Đức Giê-sa đã chỉ ra cho anh, bằng giới luật yêu thương như khuôn vàng thước ngọc.
Giới răn trọng nhất
Nếu có ai đó hỏi tôi: “Đối với bạn điều gì quan trọng nhất”, câu trả lời có lẽ nhiều lắm. Sức khoẻ, vâng không có nó tôi sẽ không làm được gì, thiếu nó tôi sẽ không thể suy nghĩ, hoạt động và thực hiện những ước mơ của mình. Hãy hỏi những người vừa thoát qua những cơn bệnh hiểm nghèo, để thấy sức khỏe quý giá vô cùng. Tiền bạc, vâng quý lắm và cần thiết lắm. Không có nó tôi cũng như người cụt tay, những dự án chỉ trên sách vở chứ không mang ra thực hành. Danh vọng và lạc thú, nó có sức thu hút rất mạnh liệt, biết bao cảnh huynh đệ tương tàn, nồi da xáo thịt đã xảy ra chỉ vì hai anh này. Tình yêu, quan trọng vô cùng, nhưng chưa đủ khi không phải là tình yêu của Thiên Chúa. Giới răn trọng nhất mà Chúa Giêsu đã dạy cho con nguời là: “Ngươi phải yêu mến Chúa, Thiên Chúa ngươi, hết lòng ngươi, hết linh hồn ngươi và hết trí khôn ngươi. Thứ đến cũng giống như điều ấy: ngươi phải yêu mến đồng loại ngươi như chính mình ngươi”(Mt 22, 37-38). Sống là một lựa chọn, nếu mỗi người đã chọn Chúa thì cũng có nghiã là chấp nhận mọi thua thiệt vì Danh Chúa. Yêu mến Chúa cũng là yêu thương anh em như chính mình. Chúa Giêsu dùng lối so sánh cực cấp để cho thấy điều răn quan trọng nhất và lớn nhất. Là người Kitô hữu, cần có bổn phận thi hành giới răn của Chúa.
Mến Chúa có dễ không?
Câu trả lời có lẻ là dễ, vì ai cũng có thể làm được. Thánh Phêrô cũng đã từng nói: “Lạy chúa, Chúa biết mọi sự, Chúa biết con yêu mến Chúa”. Thế mà trong hồi thương khó, Phêrô lại chối Chúa. Nhiều người đến nhà thờ mỗi ngày, đọc kinh, rước lễ, hoạt động công tác Tông đồ, rất siêng năng, đạo đức thánh thiện. Những điều này chứng tỏ họ yêu mến Chúa. Khi đi đàng Thánh Giá, hay cử hành các nghi thức tưởng niệm cuộc thương khó của Chúa Giêsu, rất nhiều người khóc, khóc sướt mướt., những giọt lệ cảm thông và yêu mến Chúa. Yêu mến Chúa, rất dễ, vì Chúa ở trên cao, Chúa Giêsu tay chân Ngài bị cột chặt trên Thập Tự Giá, Ngài không làm gì mất lòng ai, nên yêu mến Ngài dễ, dễ lắm. Nếu không tin thì cứ thử, thử yêu Ngài rồi sẽ thấy dễ để yêu Chúa lắm.
Thương người thì sao?
Chúa Giêsu có lần Ngài đã bảo, không phải những kẻ lạy Chúa, lạy Chúa là được vào thiên đàng cả đâu, nhưng chỉ những ai nghe và giữ lời Chúa mới được vào Nước Trời. Thương người như thể thương thân, nói thì dễ mà làm mới khó. Theo lẽ tự nhiên, mỗi người chỉ thích yêu những người yêu mình, những người ủng hộ mình, giúp đỡ mình. Còn lại thì chúng ta sống thờ ơ, lãnh đạm với anh em. Còn Chúa, Ngài dạy yêu thương hết mọi người và bằng một cách quảng đại, ngay với cả kẻ thù mình: “Anh em đã nghe luật dạy rằng: Hãy yêu thương đồng loại và hãy ghét kẻ thù. Còn Thầy, Thầy bảo anh em: Hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em” (Mt 5, 43-44). Yêu người không phải chỉ là lý thuyết nhưng là hành động, cụ thẻ bằng những việc làm của mình. Dụ ngôn mà Tin mừng ghi nhận về người Samaria nhân hậu là một thí dụ điển hình cho cuộc sống của chúng ta. Yêu thương nhau như chính Chúa đã yêu thương chúng ta. Thương yêu cần sự đáp đền từ hai phía: người yêu và kẻ được yêu. Thánh Phaolô đã nhắc nhở chúng ta qua thư gửi cho tín hữu Do Thái: “Chúng ta hãy để ý đến nhau, làm sao cho người này thúc đẩy người kia sống yêu thương và làm việc tốt” (Dt 10,24).
Tình yêu là đề tài xưa như trái đất, thế nhưng nó là nguồn gợi hứng rất phong phú cho các nhà thơ, văn, kịch nghệ, và nhiều người tuôn tràn những cảm xúc, tự tận đáy lòng. Một em học sinh hy sinh mạng sống để cứu bạn, một nhóm tình nguyên viên lên đường đến nhũng nơi bị thiên tai, lũ lụt để giúp đỡ. Một Maximilia Kolbê đánh đổi mạng sống mình để cứu lấy bạn tù, một mẹ Têrêxa Calcuta luôn giúp đỡ những người nghèo bị bỏ rơi, một Đức cố Hồng y Fx: Nguyễn Văn Thuận, một Đức cố Giáo hoàng Gioan Phaolô II, luôn là những dáng dấp và chỗ đứng của Thiên Chúa, cho con người trong thế giới ngày hôm nay.
Hãy yêu nhau như Chúa đã yêu và đã dạy mỗi người:
Vì yêu, Thiên Chúa đã trao ban cho thế gian chính “Con Một” yêu quí của Ngài (Ga 3,16).
Vì yêu, Đức Giêsu đã tự cúi mình rửa chân cho các môn đệ (Ga 13,4-15).
Vì yêu, Đức Giêsu đã tuyệt đối vâng lời Chúa Cha, cho dù bản thân Ngài không muốn (Lc 22,42).
Vì yêu, Đức Giêsu đã tự hiến thân mình làm lương thực nuôi dưỡng con người (Mt 26, 26 - 28).
Và đỉnh cao của tình yêu mà Thiên Chúa dành cho loài người chính là cái chết trên Thập giá. Một tình yêu trao ban trọn vẹn. Một tình yêu tuyệt đối. “Không có tình yêu nào cao cả hơn tình yêu của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình” (Ga 15,13). Và câu trả lời mà Chúa Giê-su dành cho nhà thông luật, cũng dành để cho mỗi chúng ta: “Ông trả lời đúng lắm. Cứ làm như vậy và ông sẽ sống” (Lc 10, 28).
(Suy niệm của Jaime L. Waters - Nhóm Sao Biển chuyển ngữ từ America Magazine)
CHÚNG TA LÀ AI TRONG CÂU CHUYỆN NGƯỜI SAMARI TỐT LÀNH?
Trong bài Tin mừng Chúa nhật 15 Thường niên, chúng ta được nghe dụ ngôn người Samari tốt lành TN 15-C207
Trong bài Tin mừng Chúa nhật 15 Thường niên, chúng ta được nghe dụ ngôn người Samari tốt lành. Trình thuật phong phú này thúc đẩy chúng ta suy gẫm về cách thức đối xử với nhau. Khi kể câu chuyện, Chúa Giêsu nhấn mạnh sự cần thiết của việc quan tâm đến tất cả mọi người, đặc biệt là những người dễ bị tổn thương. Câu chuyện là một lời nhắc nhở hãy nên giống Thiên Chúa bằng cách bày tỏ lòng thương xót và trắc ẩn, cũng như nhắc lại sứ điệp Tin mừng về lòng mến liên kết mật thiết với hành động. Giống như sứ vụ của Chúa Giêsu tập trung vào việc chăm sóc và chữa lành, người Samari nhân hậu đã thể hiện lòng thương xót bằng cách chăm sóc một người đang gặp hoạn nạn.
“Người đó lại gần, băng bó những vết thương, xức dầu và rượu” (Lc 10, 34)
Ý hướng của câu chuyện đã rõ ràng, nhưng dụ ngôn này cung cấp thêm những cách thức khác để suy gẫm. Hãy xem xét tất cả các nhân vật trong câu chuyện. Một người vô danh bị ‘đánh nhừ tử’ và bỏ mặc ‘nửa sống nửa chết’. Một nhóm cướp xâm phạm quyền được sống của một con người, gây thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản và tâm lý. Có ba người đã gặp người đang trong cảnh hoạn nạn cùng cực. Hai nhà lãnh đạo tôn giáo không giúp đỡ, không tỏ ra thương xót nạn nhân và tiếp tục hành trình. Một người ngoài cộng đoàn bước vào và đề nghị hỗ trợ, nhờ chủ nhà trọ chăm sóc để nạn nhân hồi phục.
Các dụ ngôn của Chúa Giêsu mời gọi người nghe suy nghĩ về hành động của họ và so sánh chính họ với các nhân vật hoặc yếu tố trong câu chuyện để suy ngẫm và thăng tiến đời sống thiêng liêng rồi biến thành hành động trong thế giới. Mục tiêu là cố gắng trở nên giống như người Samari, tự nguyện giúp đỡ bất cứ ai đang cần, nhưng có lẽ điều đáng để chúng ta suy nghĩ là khi chúng ta có nhiều điểm chung với những kẻ gây tội ác hoặc người phải đau khổ vì tội ác đó.
Bọn cướp làm nhục, lột sạch, đánh đập và lấy hết mọi thứ của nạn nhân. Họ lấy đi những gì không phải của mình và xâm phạm nạn nhân vì lợi ích cá nhân. Có rất nhiều điểm tương đồng có thể được rút ra trong bối cảnh hiện nay của chúng ta về cách thức mà con người, công ty và quốc gia đã và đang kiếm lợi từ việc bóc lột người khác. Trong khi dụ ngôn tập trung vào cách thức phản ứng trước những gì vi phạm, chúng ta cũng phải lên tiếng và lên án những kẻ vi phạm và hành động để ngăn chặn đau khổ xảy ra.
Chúng ta cũng nên xem xét đầy đủ hơn những thiệt hại đã xảy ra làm con người đau khổ. Những nhóm dân dễ bị tổn thương và bị gạt ra bên lề cũng như các cộng đoàn thiếu khả năng tiếp cận nguồn lực tài chính và sự quan tâm của chính quyền thường là những người chịu nhiều thiệt hại nhất. Cũng giống như người Samari, chúng ta cần hành động bằng cách tích cực tỏ bày lòng thương xót qua việc phục vụ, bài Tin mừng hôm nay có thể truyền cảm hứng cho chúng ta để hỗ trợ và trao quyền cho các cộng đoàn còn đang gặp khốn khó như một cách thức khác để sống sự quan tâm và thương xót đối với tha nhân.
Tin Mừng Chúa Nhật này tập trung vào giới răn kép “Yêu Thiên Chúa hết lòng và yêu người thân TN 15-C208
Tin Mừng Chúa Nhật này tập trung vào giới răn kép “Yêu Thiên Chúa hết lòng và yêu người thân cận như chính mình để được sự sống đời đời làm gia nghiệp” (Lc 10,25-27). Tuy nhiên khác với Matthêu và Marcô, Đức Giêsu theo Luca khai triển giới răn trên bằng hai câu chuyện: câu chuyện người Samari về việc yêu mến người thân cận (Lc 10,30-37) – và câu chuyện Marta và Maria về việc yêu mến Thiên Chúa (Lc 10,38-42) để cho thấy chỉ có Đức Giêsu là mẫu mực để con người sống tình yêu đối với Thiên Chúa và tha nhân. Vì chính Ngài tự mặc khải mình là Thiên Chúa đích thực.
Câu chuyện thứ nhất được đặt trong khung cảnh một người vô danh bị rơi vào tay kẻ cướp khi đi từ Giêrusalem xuống Giêrikhô, chúng lột sạch, đánh nhừ tử rồi bỏ đi để mặc người đó nửa sống nửa chết (Lc 10,30). Người này hiện thực chính thân phận tội nhân của chúng ta đang bị tội lỗi thao túng và đau khổ hành hạ – Thầy tư tế và thầy Lêvi, tiêu biểu cho giới đạo đức của Cựu Ước vốn thi hành viêc yêu người ở bình diện lề luật và nhân bản đã trông thấy nạn nhân nhưng đều tránh sang bên kia đường mà đi (Lc 10,31-32) – Chỉ có người Samari đi tới đã động lòng thương, ông tiến lại gần, lấy dầu và rượu xức vết thương, băng bó rồi đặt người đó trên lưng lừa của mình và đưa về quán trọ mà chăm sóc (Lc 10,33-35). Người Samari vốn thuộc dân ngoại nhưng lại hiện thực cách hành xử có tính cứu độ của chính Đức Giêsu: công việc cứu chữa của Ngài được mô tả qua hành động xức dầu và rượu, băng bó vết thương; công việc giải thoát phải trả giá bằng cái chết của Ngài được nói đến qua sự kiện đặt người đó trên lưng lừa của mình xét như là vị thẩm phán thần linh; và lời mời đáp đền và cộng tác với ơn cứu sống dành cho người được chữa lành được mô tả qua hành vi người samari đem anh ta về quán trọ mà chăm sóc.
Không dừng lại ở đó, Đức Giêsu còn trao chúng ta cho nhau để chúng ta săn sóc lẫn nhau: sự việc người Samari lấy ra hai quan tiền trao cho chủ quán và nói: nhờ bác săn sóc cho người này và tốn kém bao nhiêu khi trở về tôi sẽ hoàn lại bác chứng minh chân lý này (x. Lc 10,35). Như thế công trình cứu độ có tính liên đới và tính liên đới này cũng không tìm đâu khác làm mẫu mực ngoài chính Đức Giêsu mà thôi.
Như thế câu chuyện về người Samari trở nên một dụ ngôn và từ đó ta rút ra ba bài học như sau:
– thứ nhất, chỉ có tình yêu thần linh mà Đức Giêsu sống và mặc khải mới cho người ta sự sống đời đời làm gia nghiệp. Bởi lẽ tình yêu này có tính chữa lành và liên đới cho mọi người, đòi trả giá bằng sự hiến tế của Thiên Chúa nơi/theo gương Đức Giêsu và mời gọi sự cộng tác của người được chữa lành với ơn Chúa.
– thứ hai, tình yêu này cho con người sống phẩm giá thần linh có tính phổ quát, vì biên giới của nó tự bản chất là vô biên giới. Lúc đó vấn đề người thông luật đặt ra cho Đức Giêsu ở bình diện nhân bản: “Ai là người thân cận của tôi” ở khởi đầu câu chuyện đã trở thành “Ai tỏ ra là người thân cận của kẻ đã bị rơi vào tay kẻ cướp” ở chiều kích siêu nhiên khi kết thúc. Bởi lẽ tâm điểm của tình yêu này không dừng lại ở chủ thể mà vươn đến tha nhân bất kể họ là ai, thuộc hạng người nào, cả đến kẻ thù (Mt 5,44).
– thứ ba, tình yêu này dễ bị loài người khinh bỉ, cụ thể giới đạo hạnh Do Thái coi thường người Samari. Thế nhưng thánh Luca đã khéo léo giới thiệu chủ đề “thay thế” vào câu chuyện: dân ngoại sẽ thay thế người Do Thái nếu họ không mở ra và sống tình yêu Đức Giêsu đã sống và mặc khải.
Vậy Tin Mừng tra vấn phẩm giá thần linh nơi chúng ta với tư cách là những kẻ tin theo Đức Giêsu và cũng chất vấn cách hiện thực phẩm giá ấy trong tương quan với tha nhân dưới ánh sáng của chủ đề “thay thế”.
Để trả lời câu Chúa Giêsu hỏi: “trong lề luật đã chép như thế nào?”, người luật sĩ trích dẫn đoạn TN 15-C209
1. Để trả lời câu Chúa Giêsu hỏi: “trong lề luật đã chép như thế nào?”, người luật sĩ trích dẫn đoạn đầu kinh Shéma hay lời tuyên xưng đức tin mà người Do thái mỗi ngày phải đọc hai lần: “Ngươi hãy yêu mến Chúa là Thiên Chúa ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết sức, và hết trí khôn ngươi” (Đnl 6,5). Và ông thêm: “và yêu thương cận nhân như chính mình” (Lv 19,18), là câu không có trong kinh Shéma cổ truyền. Cách chú giải này chắc chắn không có trái với lề luật, vì Cựu ước đã minh nhiên dạy phải yêu thương tha nhân, dù họ không phải là người Do thái (Lv 19,34; Đnl 10,9). Tuy nhiên, các thày Rabbi không theo lối chú giải đó, vì họ chỉ thương yêu anh em đồng chủng thôi. Thực ra, trong Cựu ước không có liên kết hai giới luật này, như người luật sĩ đã làm, và đây là một trong những nét đặc sắc của Chúa Giêsu, người đầu tiên đã liên kết hai giới đó, bằng cách đơn giản hóa khoản luật của Cựu ước. Vậy phải chăng nhà luật sĩ chất vấn Chúa Giêsu là một trong những người Do thái đạo đức đã trung thành sống tinh thần lề luật, thay vì sống theo lối ích kỷ hạn hẹp của các thày rabbi? Điều này không chắc vì nhà luật sĩ tra vấn Chúa Giêsu để “thử” Ngài (c.25) và tranh luận với Ngài. Có lẽ nên coi nhà luật sĩ là người đã nhiều lần nghe Chúa Giêsu dạy về tính cách bác ái huynh đệ, nên bây giờ khi trả lời Chúa Giêsu ông đã tạm thời nói theo quan điểm của Ngài. Và khi thấy câu trả lời của mình chấp nhận, ông đã muốn chất vấn và làm Chúa Giêsu lúng túng khi xin Ngài định nghĩa tha nhân là ai. Quả thực, câu hỏi này đã gây nhiều khó khăn và tranh luận trong giới rabbi. 2. Nhiều giáo phụ và các tác giả hiện đại đã hiểu dụ ngôn người Samaritano nhân lành theo hai cách khác nhau. Các giáo phụ xem đây là một dụ ngôn biểu trưng, nghĩa là một mạc khải các bí nhiệm của Nước Trời. Theo lối chú giải này, người Samaritano là hình ảnh Đức Kitô, người bị kẻ cướp bóc lột là biểu trưng cho giáo hội. Đối lại, tất cả các nhà chú giải hiện đại (trừ Hoskyns, Van den Eynde và có lẽ cả Daniélou nữa) đã hiểu dụ ngôn này theo nghĩa tự nguyện, như là một ví dụ cụ thể để giúp hiểu một chân lý tổng quát. Chúng ta đứng trước hai lối chú giải khác nhau, một có tính cách thần bí, một có tính cách luân lý. Vì thời gian và khuôn khổ hạn hẹp, chúng tôi không thể dứt khoát phê bình hai lối chú giải này, vì lối nào cũng có nhiều đặc điểm độc đáo riêng. Tuy nhiên chúng tôi theo lối chú giải hiện đại vì hai lý do. Trước hết, theo giáo huấn giáo hội thường dạy, kể từ thông điệp Divine Afflante Spiritu của Đức giáo hoàng Piô XII, các nhà chú giải trước hết phải cố công khám phá và xác định… Nghĩa tự nguyện (le sens littéral) (Ds 2293) của Thánh kinh. Trong trường hợp chúng ta đang gặp, dựa theo mạch văn của dụ ngôn, chắc chắn nghĩa tự nguyện là nghĩa luân lý mà khoa chú giải hiện đại đã khám phá. Thứ hai, dụ ngôn không có nghĩa thần bí, ít nhất là trong nghĩa nguyên thủy của nó. Thực vậy, dụ ngôn không đưa ra một chi tiết nào trích từ Cựu ước nói lên ý nghĩa biểu trưng cả. Bằng chứng là các giáo phụ đã chú giải rất khác nhau khía cạnh ẩn dụ của dụ ngôn. Tuy nhiên chớ kết luận là khi giảng dạy ta không thỉnh thoảng ẩn dụ hóa dụ ngôn trong một giới hạn nào đó. Nhưng giảng thuyết là một chuyện, chú giải là một chuyện khác: nếu khoa chú giải là cơ sở của giảng thuyết, thì giảng thuyết cũng có thể vượt lên trên khoa chú giải tùy trường hợp đặc biệt, cụ thể của phụng vụ. Mutatis mutandis, những nhận xét vừa nói có thể áp dụng cách tổng quát cho nhiều trang phúc âm, mà không cần xác định từng trường hợp một đâu là mối liên hệ giữa khoa chú giải hiện đại và lối chú giải của các giáo phụ. 3. Dụ ngôn có nhiều điểm đơn giản. Trên đường vắng vẻ, một người vô danh, không ai biết chức vụ địa vị, chủng tộc, quốc tịch, tôn giáo của y, bị rơi vào tay bọn cướp bóc lột và gây trọng thương. Thày tư tế và trợ tế Lêvi lần lượt đi qua nhưng đã không thèm ngó ngàng gì đến y. Tình cờ người Samaritanô đến, trông thấy y và động lòng thương săn sóc giúp đỡ y. Chúa Giêsu kết luận: “Theo ông nghĩ ai trong ba người đó là cận nhân của người bị rơi vào tay bọn cướp? ” (c.36) Thoạt nhìn, câu hỏi của Chúa Giêsu không đáp ứng câu người luật sĩ hỏi: “Ai là cận nhân của tôi?”. Qua đó ông muốn hiểu: “Ai là đối tượng của đức ái mà luật dạy: người đồng hương, đồng đạo, người lương dân, người ngoại kiều cư ngụ tại Israel? Tôi phải yêu ai mới gọi là giữ lề luật?” Dù Chúa Giêsu trả lời cách nào, người luật sĩ cũng có thể hoặc nhân danh lề luật hoặc một truyền thống đã có, bắt bẻ Ngài, vì người ta không thể lưu tâm hay giúp đỡ một người ô uế, thờ ngẫu tượng. Phần Chúa Giêsu không những không định nghĩa cận nhân là gì, nhưng dụ ngôn và câu hỏi cuối cùng đưa ra một vấn nạn mới: phải cư xử thế nào mới gọi là cư xử trong tình anh em? Ai trong ba người bộ hành đã xự thế trong tình anh em, ai đã thành người cận nhân (gegonenai) của kẻ vô danh. Nhiều nhà phê bình cho rằng cuộc đối thoại với nhà luật sĩ (cc.25-28) và dụ ngôn (cc.30-37) ngay từ đầu là 2 tài liệu độc lập. Có lẽ Lc đã dùng cuộc đối thoại với nhà luật sĩ như là lời dẫn nhập vào dụ ngôn, nối kết bằng câu 29 “ai là cận nhân của tôi” Nhiều nhà phê bình khác trả lời rằng dụ ngôn đã trả lời câu hỏi cách trung thực: cận nhân là mọi người đang trong cảnh túng thiếu. Nói như thế là đúng nhưng không phải là nghĩa câu hỏi cuối cùng của Chúa Giêsu: ai trong ba người bộ hành đã tỏ ra mình là cận nhân của người xấu số? Hình như điều mâu thuẫn ngoại tại này sẽ biến mất, nếu một đàng ta chú ý đến thực tại sống động hơn là mặt chữ, và đàng khác nếu ta bỏ qua lối lý luận khô khan của người Hy lạp và phương tây để hiểu não trạng tình tiết phương đông đầy bí ngữ, dụ ngôn và ngạn ngữ. Do đó, đừng quá chú ý đến ý nghĩa của một chữ hay một câu mà phải nhận ra điều hình ảnh gợi lên, và đoán ngay ra tư tưởng thầm kín của người đối thoại. Trước tiên cần ưu ý điểm này: “dụ ngôn” người Samatritanô không phải là một so sánh, một lý chứng nhằm giúp xác tín, nhưng là một ví dụ, nghĩa là một trường hợp cụ thể, cá biệt nhằm làm sáng tỏ học thuyết là ví dụ đưa ra làm kiểu mẫu cho đời sống tôn giáo hay luân lý ta phải bắt chước noi theo. Đúng ra, nhà luật sĩ, với thiện ý hay ác ý – đã đến hỏi điều các ông phải làm để sống đời đời. Mất mặt vì chính ông phải trả lời câu hỏi mình nêu lên, ông muốn tranh luận về lý thuyết, nhưng Chúa Giêsu đã lèo lái câu chuyện theo ý Ngài. Ngài đã chú ý đến câu hỏi của nhà luật sĩ, vì Ngài luôn quan tâm đến việc cứu rỗi các linh hồn. Giống như trường hợp tha tội cho người đàn bà tội lỗi, Ngài đã tìm cách đánh thức tâm hồn ông Simon trước giá trị của lòng biết ơn (7,36-50); ở đây cũng vậy, Ngài ban cho nhà luật sĩ ánh sáng sự sống, chứ không phải một câu định nghĩa chuyên môn. Vì điều cốt yếu không phải là biết ai là cận nhân, nhưng là bác ái hành động giúp kẻ khác, dù họ là ai mặc lòng (2 câu 37 và 36 đều nói đến động từ làm, hành động (pôieô). Vì thế, dụ ngôn và câu hỏi cuối cùng của Chúa Giêsu thực sự đã trả lời câu hỏi đầu tiên của nhà luật sĩ: “Tôi phải làm gì để sống đời đời?” Cũng không chắc câu hỏi tis estis mou plêsion (c.29) có nghĩa: “Ai là cận nhân của tôi?”. Vì plêsion là một trạng từ và không có mạo từ đi trước như ở câu 27. Sự khác biệt về hình thức tạo nên sự khác biệt về ý nghĩa. Nếu hiểu là “Ai là cận nhân của tôi” hoặc “đối với tôi cụ thể mà nói, ai là một cận nhân?”, phải thú nhận rằng dụ ngôn đã trả lời vấn nạn luân lý trên bình diện thực tiễn: người Samaritanô là người duy nhất đã cảm thấy và tỏ ra mình là cận nhân của kẻ xấu số; do đó, chính tình yêu làm ta thành cận nhân; nhờ tình yêu ta thành anh em của mọi người, dù họ gần hay xa ta, về phương diện máu mủ, quốc tịch, tôn giáo… Chúa Giêsu “không trả lời”, nhưng đã “lèo lái” cuộc đối thoại, theo ý hướng ban đầu: để sự sống đời đời, phải… yêu tha nhân như chính mình (c.27). Trong lúc nhà luật sĩ muốn hiểu rõ từ ngữ “tha nhân”, Chúa Giêsu xác định từ ngữ “yêu”, như Ngài đã làm trong dụ ngôn ở đồng bằng (chương 6). Là tiên tri của giao ước mới, Ngài xác định ý nghĩa âgâpê (tình yêu) mà Thiên Chúa đòi buộc. Chứng cớ cho thấy đó là thực tại đề cập đến, và tha nhân định nghĩa bằng các phạm trù pháp lý, chứng cớ ấy là: nhà luật sĩ đã chấp nhận giáo huấn của Chúa Giêsu (c.37), khi mà ông có thể bắt bẻ Ngài đã không trả lời đúng câu hỏi. Do đó, phải công nhân không những trình thuật này đồng nhất mà còn là một trong các giáo huấn cô đọng nhất của phúc âm về tình bác ái Chúa Giêsu mời ta suy nghĩ: “Theo ông, ai trong ba người đó là anh em của người bị rơi vào tay bọn cướp?” (c.36). Thực ra trong ba người, chỉ có người Samaritanô là có liên hệ. Thày tư tế và thày trợ tế Lêvi, đại diện hàng giáo phẩm Do thái, nhắc đến để nói lên sự đối nghịch giữa óc vị luật của Cựu ước với tinh thần của Tân ước. Họ có lý do tránh né người bị thương tích và biện minh việc họ từ chối giúp đỡ người vô danh đang gặp hiểm nguy. Là nạn nhân của bọn cướp, người này có thể bị Thiên Chúa phạt, nên phải vui lòng cam chịu (Giop 6,14.21; 7,8; 16,11); đến gần người đó có thể mắc tội ô uế theo lề luật và do đó không thể cử hành các nghi lễ tế tự (x.Ds 19,11.14). Dĩ nhiên, thái độ của hai nhà tư tế là một thái độ hờ hững, nhưng thật ngạc nhiên không thấy Chúa Giêsu chê trách phàn nàn họ gì cả. Chính Chúa Giêsu đã chấp hành tốt luật bác ái trước khi giảng về bác ái. 4. Thật có ý nghĩa, khi Chúa Giêsu chọn người Samaritanô trong dụ ngôn nói về tình bác ái huynh đệ. Dù là người lạc giáo, người ngoại quốc không biết gì về lề luật như nhà luật sĩ, không có phẩm cách tế tự như thày tư tế và trợ tế Lêvi, ông đã tỏ ra là người thật nhân bản và đạo đức. Đã chấp hành tốt hai giới luật lớn của Cựu ước và của Thiên Chúa sau này nói về tình bác ái. Trong ba khách bộ hành ông là khuôn mặt người Do thái đích thật. Hơn nữa, trong bài giảng ở đồng bằng, Chúa Giêsu đã đòi các môn đệ Ngài đừng hạn hẹp tình yêu của họ trong phạm vi bà con quen biết. Nhưng nhờ yêu thương tất cả mọi người, mà người Kitô hữu khác với “người tội lỗi” (Lc 6,32-34) và trở thành (hay tỏ ra) là Con Đấng tối cao. Và này, người Samaritanô khi giúp một kẻ vô danh trở thành kiểu mẫu của tình bác ái đích thực. Phải chăng ngoài tôn giáo chính thức, cũng có thể có người con đích thực của Thiên Chúa, mà Chúa Cứu thế đến tập họp lại (Gio 11,52)? Chính với một người nữ xứ Samaria, mà Chúa Giêsu đã mạc khải việc tế tự trong tinh thần và chân lý, gạt bỏ mọi phân biệt chủng tộc và nghi lễ (Gio 4,23-24). Phải chăng tình bác ái đã tạo nên việc thờ phượng đẹp lòng Chúa Cha? Quả thực, văn mạch dụ ngôn dạy rằng chính bác ái mới chiếm hữu sự sống vĩnh cửu (cc.25.28.37), và đó cũng là học thuyết mà thánh Phaolô và thánh Gioan hết sức nhấn mạnh. KẾT LUẬN Để thay thế một vấn nạn có thể gây ra nhiều tranh luận về các loại cận nhân khác nhau, Chúa Giêsu đã chất vấn về các thực tại sống động. Nhà luật sĩ không thể chạy trốn bài học trước mắt: ai lâm cảnh thiếu thốn đều có quyền đòi yêu thương, thể hiện bằng hành động. Họ là cận nhân của ta, và ngược lại ta là cận nhân của họ. Cũng như người Samaritanô nhân hậu đã cảm thông yêu thương người không thân thích, không có người đồng bào, đồng đạo; không gì có thể ngăn cản tình yêu của ông đối với tha nhân. Ý HƯỚNG BÀI GIẢNG 1. Cách cư xử của người Samaritanô nói lên một đức ái hoàn hảo bộc phát và nhanh nhẹn. Dù đã biết luật bác ái huynh đệ, người ký lục cũng hỏi Chúa Giêsu về trương độ của tình yêu. Ông chỉ yêu và vì trong giới hạn luật buộc. Còn người Samaritanô yêu, dù không biết khoản luật đó, cũng như không biết đối tượng tình yêu của mình. 2. Trong bài giảng trên núi, Chúa Giêsu đòi người ta đừng chỉ yêu vì đã yêu. Người Samaritanô, không là người đầu tiên yêu thương mà tình yêu của ông còn là một tình yêu vô vị lợi, một tình yêu hiến dâng trọn vẹn… Cho nên đừng phân biệt trong nhân loại ai là người ta có thể yêu mến, nhưng hãy bắt đầu yêu, với tình yêu phổ quát. 3. Đối nghịch với sự từ chối dấn thân của người đi trước lòng bác ái của người Samaritanô có tính cách cá vị, tích cực và thiết thực. Ông đã bỏ dở cuộc hành trình, để băng bó người bị thương và trang trải mọi phí tổn. Không những ông đã quảng đại đem tiền bạc ra giúp đỡ, mà chính ông đã dấn thân phục vụ người anh em. 4. Dụ ngôn còn nói lên điều này: đức ái bao hàm lòng cảm thông và thương xót. Người Samaritanô có thể đoán kẻ bị thương trên đường Giêrusalem về Giêricô là một người Do thái, nghĩa là một kẻ thù không đội trời chung. Thế mà này không ông đã giúp đỡ, mà còn cảm động khi thấy anh ta bị ngược đãi như vậy! Đó là điểm Chúa Giêsu nhấn mạnh hơn cả: liền sau khi thấy người bị thương, ông đã động lòng thương. Đây là tình cảm tinh tuyền, chân thật khiến ông đã “đối xử đẹp”, khác với thày tư tế và trợ tế Lêvi. 5. Yêu mến Thiên Chúa trong nhà thờ chưa đủ (thày tư tế và thày Lêvi trong dụ ngôn vừa rồi rời Giêrusalem, là nơi họ đã chu toàn bổn phận tế tự trong đền thờ, nhưng hình như họ chưa sống đạo), nếu không yêu mến Ngài trên đường đi và trong người anh em (thày tư tế, thày Lêvi, người công giáo ngoan đạo ngày hôm nay, đã làm ngơ tránh xa, trong khi người Samaritanô – người tin lành hay Phật tử – dừng lại chăm sóc người khốn khổ). Tế tự, mà không yêu tha nhân, đối với Thiên Chúa là một điều ghê tởm đáng ghét, như các tiên tri đã dạy. 6. Đức Kitô đã là người Samaritanô tốt lành đối với chúng ta. Ngài đã rời bỏ Giêrusalem thiên quốc để đến băng bó và chữa lành các vết thương mà tội lỗi và sự chết gây ra cho nhân loại. Đoạn Ngài ra đi, để nhân loại trong quán trọ là giáo hội Ngài. Bây giờ đến lượt chúng ta phải tiếp tục nhiệm vụ người Samaritanô nhân lành bên cạnh tất cả ai chúng ta gặp và chân tình giúp đỡ băng bó các vết thương của họ (nghèo nàn, chết chóc, đau yếu, cô đơn…) chính với chúng ta mà Chúa Giêsu ban huấn lệnh cấp bách này: “hãy đi và làm như thế”. Nếu luôn nghe tiếng Ngài, chúng ta “sẽ sự sống đời đời” (c. 25).