Suy niệm Tin Mừng Lễ các đẳng linh hồn 2/11 Bài 1-50 Cầu nguyện c

Thứ ba - 31/10/2017 10:45
Suy niệm Tin Mừng Lễ các đẳng linh hồn 2/11 Bài 1-50 Cầu nguyện cho ông bà cha mẹ qua đời
Suy niệm Tin Mừng Lễ các đẳng linh hồn 2/11 Bài 1-50 Cầu nguyện cho ông bà cha mẹ qua đời

Suy niệm Tin Mừng Lễ các đẳng linh hồn 2/11 Bài 1-50 Cầu nguyện cho ông bà cha mẹ qua đời

2/11-1: Ý NGHĨA CỦA VIỆC CÚNG TẾ : 2
2/11-2: CẦU NGUYỆN CHO NHỮNG NGƯỜI 8
2/11-3: SỐNG LẠI 10
2/11-4: CÁC LINH HỒN.. 11
2/11-5: CHẾT LÀ THAY ĐỔI NHÀ Ở – ĐC Giuse Tiếu LX.. 12
2/11-6: NGƯỜI SẼ CHẾT TƯỞNG NIỆM NGƯỜI ĐÃ CHẾT.. 15
2/11-7: VIỆC ĐỘ VONG TRONG KITÔ GIÁO VÀ PHẬT GIÁO.. 18
2/11-8: THẮP MỘT NÉN HƯƠNG LÒNG.. 27
2/11-9: SỨ ĐIỆP TỪ NHỮNG NẤM MỒ.. 28
2/11-10: LỄ CẦU CHO CÁC LINH HỒN.. 30
2/11-11: NGÀY VỀ CỦA.. 31
2/11-12: BÀN VỀ LINH HỒN/ (hỏi đáp giáo lý) 34
2/11-13: NGƯỜI CÔNG GIÁO VÀ SỰ CHẾT.. 39
2/11-14: Ý NGHĨA VIỆC CẦU NGUYỆN.. 42
2/11-15: BÁT HƯƠNG - NÉN NHANG.. 44
2/11-16: TÔN KÍNH TỔ TIÊN HAY ĐẠO ÔNG BÀ.. 45
2/11-17: Bóng câu cửa sổ. 53
2/11-18: Chuyện/ BÊN KIA SỰ CHẾT.. 58
2/11-19: Chuyện: CHIẾC QUAN TÀI CON / suy nghĩ về cái chết 59
2/11-20: THỜI ĐIỂM TẬP CHẾT.. 60
2/11-21: Tôn Kính Ông Bà Tổ Tiên. 68
2/11-22: HỌ SẼ ĐƯỢC NHÌN THẤY THIÊN CHÚA.. 70
2/11-23: CÁC TÍN HỮU ĐÃ QUA ĐỜI. 71
2/11-24: Vài cảm nghĩ về cái chết - Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi 73
2/11-25: SAO NGÀI BỎ RƠI CON.. 75
2/11-26: Không Ai Không Trong Sạch Được Hưởng Mặt Chúa. 77
2/11-27: CÁC TÍN HỮU ĐÃ QUA ĐỜI 79
2/11-28: XIN CHO CÁC LINH HỒN ĐƯỢC NGHỈ YÊN MUÔN ĐỜI 81
2/11-29: SẴN SÀNG CHẤP NHẬN ĐAU KHỔ VÌ TÌNH YÊU.. 83
2/11-30: Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi 86
2/11-31: LỊCH SỬ / Các tín hữu đã qua đời : 88
2/11-32: NGHĨ VỀ SỰ CHẾT - G.B. BÙI TUẦN.. 90
2/11-33: ĐỜI SỐNG VÀ CẦU NGUYỆN - G.B. BÙI TUẦN.. 93
2/11-34: NGUỒN NƯỚC MẮT – Gm Bùi Tuần. 96
2/11-35: CẦU CHO CÁC LINH HỒN.. 99
2/11-36: LỄ CÁC LINH HỒN.. 101
2/11-37: TỪ GẶP GỠ CÁC HỒN KẺ CHẾT-  GB. BÙI TUẦN.. 102
2/11-38: Mọi người sẽ được đem đến sự sống. 105
2/11-39: Chết không phải là mất mát 109
2/11-40: MỘT DÂN TỈNH THỨC CHỚ ĐỢI CHÚA TRỞ LẠI. 112
2/11-41: Luyện ngục. 113
2/11-42: Hy vọng sống muôn đời 115
2/11-43: TƯỞNG NHỚ NGƯỜI RA ĐI VỀ ĐỜI SAU.. 117
2/11-44: Cảnh đời này và cảnh đời sau. 119
2/11-45: Người chết nối linh thiêng vào. 122
2/11-46: NIỀM TIN VÀO SỰ SỐNG LẠI CỦA NGƯỜI KITÔ HỮU.. 123
2/11-47: SỰ THANH LUYỆN CẦN THIẾT.. 126
2/11-48: NẾU NGÀY MAI KHÔNG BAO GIỜ ĐẾN... 130
2/11-49: NHỮNG LỜI YÊU THƯƠNG CUỐI CÙNG.. 131
2/11-50: LUYỆN NGỤC.. 134

------------------



 

2/11-1: Ý NGHĨA CỦA VIỆC CÚNG TẾ :


Lm Augustinô Hồ Văn Quý

NHẬP ĐỀ: Cúng tế không phải là hành vi đơn thuần cung kính.

 

Trong Thư Chung của các Giám mục Việt Nam ngày 14-11-1974, việc: 2/11-1


Trong Thư Chung của các Giám mục Việt Nam ngày 14-11-1974, việc cúng giỗ với lễ vật có "ý nghĩa thành kính, biết ơn, hiếu kính trình diện ông bà" (số 3), cũng như việc bái lạy trước thi hài người quá cố, đốt hương... là "để tỏ lòng cung kính người đã khuất" (số 5). Những hành vi vừa kể được xem là cùng loại "thành kính, cung kính".

Để nêu rõ tính cách thành kính nói trên, Thư Chung dẫn chứng việc "Giáo Hội cho đốt đèn nến, xông hương, nghiêng mình trước thi hài người quá cố" (số 5).

Đây là vấn đề: trong phụng vụ Công giáo cũng như trong lễ nghi Á đông, người ta vẫn xông hương hay đốt hương không những trước thi hài người quá cố, mà cả trước người còn sống nữa. Trong Thánh lễ, chủ tế, các thừa tác viên, lễ sinh và cộng đoàn đều được xông hương. Người xưa khi nghe đọc sắc chỉ của vua thì bày hương án, đốt hương và quỳ mà nghe sứ giả đọc. Nhưng không bao giờ cúng người sống.

Như vậy, có sự khác biệt giữa hai việc: đốt hương là tỏ lòng cung kính, còn cúng tế là việc thờ tự đối với thế giới siêu hình: vong hồn, thần minh, Trời Phật... Đó là hành vi tôn giáo.

Ta có thể gặp thấy ý nghĩa tôn giáo của việc cúng tế dưới những dạng nào?

I. NHỮNG Ý NGHĨA (CÓ THỂ GẶP THẤY) CỦA VIỆC CÚNG TẾ.

1- Việc cúng tế đã hoàn toàn mất hết ý nghĩa.

Trường hợp thấy tận mắt: Bà chủ xe khách mỗi sáng bắc ghế, vói tay lên am lấy mấy cây hương tàn quăng xuống đống rác dưới am, hất ly nước lạnh vào đống rác (giẻ rách, vỏ chuối, tàn thuốc...), đặt lên am ly nước khác, thắp nén hương khác, thế là xong. Nhận xét: Ở đây, việc cúng tế hằng ngày (ly nước) đã mất hết ý nghĩa, vì đáng lẽ bà chủ phải uống ly nước đó. Chỉ còn là một nghi thức máy móc mà thôi.

2- Người chết hưởng hơi.

Trường hợp thường thấy: Trước quan tài, bày chén cơm quả trứng. Sau đó đem quăng (có thể đổ cho heo). Nhận xét: Đây là việc mê tín: tin rằng người chết hưởng của ăn vật chất. Nghịch đức tin.

3- Tỏ lòng hiếu kính.

Bày tỏ lòng mình muốn phụng dưỡng ông bà như khi còn sống, tiếc rằng ông bà không còn để hưởng của ăn ngon béo đang bày ra. Thí dụ: Vua Minh Mạng vi hành ban đêm, nghe tiếng khóc than trong gia đình nọ. Vua vào, thấy thầy thư lại ngồi trước bàn thờ tổ tiên mà khóc. Vua hỏi duyên cớ, thầy kể: lương tiền ít quá, ngày giỗ ông bà không sắm được mâm cỗ để cúng ông bà. Nhận xét: Đây là quan niệm quá vật chất về hạnh phúc: phải có của ăn ngon béo mới tỏ lòng hiếu kính xứng đáng và đúng mức. Nghịch với đức cậy Phúc Âm: Tiên vàn hãy tìm Nước Thiên Chúa và sự công chính của Người (x. Mt 6,32t).

4- Trình tổ tiên thức ăn từ sản phẩm.

Do mình làm ra hoặc do ông bà để lại và mình đã làm cho phát triển. Thí dụ: Sau khi thống nhất sơn hà, vua Gia Long làm lễ tế cáo tại nhà Thái miếu: trình tổ tiên nhà Nguyễn sản phẩm tượng trưng của giang sơn mà các tiên vương đã gầy dựng, và mình đã giành lại rồi mở mang thêm(Đàng Trong và Đàng Ngoài). Vua nước Ngô là Phù Sai bại trận về tay vua nước Việt là Câu Tiễn. Phù Sai xin tha, Câu Tiễn thương tình cấp cho một ấp 100 hộ để hưởng hoa lợi tại đất Việt. Phù Sai xin chết. Lý do: không còn gì để cúng tế tổ tiên, có cúng thì cúng vua nước Việt mà thôi, như lời nhắn với Câu Tiễn: "Tôi già rồi, không thờ đức vua được nữa".

Nhận xét: Đây là quan niệm coi vật chất là giá trị cao nhất: chỉ có sản phẩm vật chất mới làm cho tổ tiên được vẻ vang. Nghịch Phúc Âm vì: a/ giá trị con người không phải ở nơi vật chất, mà nơi đời sống công chính. Dụ ngôn người giàu khờ dại: "Làm giàu cho mình thay vì làm giàu trước mặt Thiên Chúa" (Lc 12,15tt). b/ trường hợp sản phẩm đó là do ông bà hoặc chính mình làm nghề bất lương mà gầy dựng nên: của cải vật chất trở thành bằng chứng ô nhục, không phải vinh dự cho cả ông bà lẫn con cháu.

5- Trình tổ tiên sản phẩm nhờ ơn tổ tiên mà có.

Đây là quan niệm cho rằng chính ông bà đã ban cho mình sản phẩm mình có ngày nay. Quan niệm này hiển nhiên nghịch với đức thờ phượng: đức thờ phượng dạy ta phải nhìn nhận mọi sự mình có là bởi Thiên Chúa mà ra. Đó là "đạo" Ông bà, thờ ông bà như Tạo Hóa.

Kết luận phần này: những ý nghĩa có thể gặp thấy trong dân gian không thể chấp nhận được, vì nghịch với giáo lý Kitô giáo.

II. THỬ TÌM Ý NGHĨA ĐÍCH THỰC CỦA VIỆC CÚNG TẾ.

Cúng tế là việc phổ biến trong hầu hết các tôn giáo (trong các tôn giáo lớn, chỉ Hồi giáo là không có cúng tế). Vì vậy, phải xem đó là hành vi tôn giáo sơ khai, mà ý nghĩa đích thực đã bị lệch lạc theo thời gian.

1- Tiêu chuẩn làm nên ý nghĩa đích thực của cúng tế.

Ý nghĩa đích thực phải đạt được tiêu chuẩn: a/ giải thích được việc cúng tế đối với mọi đối tượng cúng tế trong các tôn giáo: Trời, Phật, thần minh, ông bà... b/ giải thích được việc tế lễ trong Do thái giáo Cựu Ước và thánh lễ Kitô giáo.

2- Trình bày ý nghĩa đích thực của việc cúng tế.

a/ Con người là sinh vật có ý thức tôn giáo. Nhờ lý trí con người nhận thức rằng trong vũ trụ có một trật tự chung: vật lý, sinh lý, luân lý; muôn loài đều cùng một nguồn gốc và đều tuân theo trật tự chung tùy theo cấp bậc của mình: vật chất tuân theo trật tự vật lý, thảo mộc và cầm thú tuân theo trật tự sinh lý, con người tuân theo trật tự luân lý. Đây không đặt vấn đề: độc thần và đa thần, cái nào có trước? Ý thức trật tự chung có trước, và dù là đa thần đi nữa, thì các thần minh đều nằm trong trật tự đó.

b/ Do trật tự đó, thế giới hữu hình được ràng buộc (religare, religio) với thế giới vô hình. Con người nhận của cải vật chất để sinh sống; nhờ sự sống đó, con người mới hòa mình theo trật tự luân lý. Nói cách khác, con người tiếp thu sự sống sinh lý để từ đó phát sinh ra đời sống luân lý xã hội. Mọi sinh hoạt xã hội (quan hôn tang tế) chỉ có thể có nhờ sự sống sinh lý nhận được từ của cải vật chất.

c/ Chính trong khi ăn uống, con người thực hiện nhịp cầu (pontifex) từ trật tự sinh lý sang trật tự luân lý. Mọi sinh vật đều có một sinh hoạt chính yếu: ăn và dự trữ thức ăn. Nhưng nơi con người, cái sinh hoạt xem ra hèn hạ đó lại cung cấp cho con người sức sống để hòa mình theo trật tự trời đất. Như vậy, khi ăn uống và dự trữ thức ăn thức uống, con người làm một việc thiêng thánh: từ vật chất đi vào thế giới thần linh, thế giới của trật tự luân lý.

d/ Đó là ý nghĩa việc cúng tế: ăn uống với ý thức rằng mình nhờ thức ăn thức uống mà hòa mình vào trật tự thiêng thánh của trời đất. Ăn uống với ý thức đó là làm một việc thiêng thánh: sacrificium (cúng tế) là sacrum facere, làm sự thiêng thánh.

e/ Như vậy, cúng tế không phải là dâng cho thần minh (hay ông bà) lương thực, mà trái lại, là trình với thần minh phẩm vật đã nhận được từ thần minh, và ăn (hay để dành sau sẽ ăn) với ý muốn lấy từ đó sức sống để thực hiện trật tự luân lý, thực hiện đạo tự nhiên, đạo Trời đất.

III. ÁP DỤNG VÀO VIỆC CÚNG TẾ TRONG CÁC TÔN GIÁO

1- Trong đạo thờ Trời

Trong một nước, vua là người chịu trách nhiệm tế Trời. Sau đây là vài trường hợp điển hình:

a/ Nhà Chu (thế kỷ 12-3 trước CKT) phân chia thiên hạ cho chư hầu cai trị. Vua nhà Chu chỉ giữ một phần đất nhỏ trên sông Hoàng Hà, hàng năm tế trời thay mặt thiên hạ (tế giao). Ý nghĩa của việc cúng tế này là: Trời đã giao thiên hạ cho nhà Chu, vua nhà Chu nhận thực phẩm Trời ban, nhờ đó vua sống để tiếp tục duy trì trật tự thiên hạ theo ý Trời.

b/ Với chế độ thiên tử và chư hầu như trên, vua nhà Chu dần dần mất hết thực quyền. Chư hầu thôn tính lẫn nhau, thiên hạ loạn lạc. Thỉnh thoảng có một chư hầu nổi lên, như Việt Câu Tiễn (thế kỷ 5 trước CKT) lập trật tự trong vùng hạ lưu sông Dương Tử, các nước chư hầu trong vùng đều phục và tôn làm bá vương. Vua nhà Chu tế giao, gởi phần thịt cho Câu Tiễn, với ý nghĩa là Câu Tiễn nhận lấy thức ăn để tiếp lấy sức sống mà phụ lực với thiên tử duy trì trật tự theo ý Trời.

c/ Cuối thời Chiến quốc (thế kỷ 3 trước CKT), nước Tần diệt nhà Chu và mưu toan diệt luôn 6 nước chư hầu còn lại. Thái tử Đan nước Yên sai Kinh Kha đi giết vua Tần (sau này là Tần Thủy Hoàng), bày bàn thờ tế trên sông Dịch để tiễn Kinh Kha, ý nghĩa là: Kinh Kha nhận thức ăn để tiếp lấy sức sống mà thi hành kế hoạch của thái tử Đan, kế hoạch trừ bạo chúa để tái lập trật tự thiên hạ theo ý Trời.

2- Trong đạo Phật và đạo Ông bà.

a/ Cúng Phật có nghĩa là: trình những thức ăn (hoa quả) mà thiện nam tín nữ và nhất là sư sãi sẽ dùng để sống theo giáo lý nhà Phật, giáo lý từ bi hỉ xả, diệt khổ, giác ngộ chúng sinh v.v...

b/ Cúng Ông bà theo đúng ý nghĩa là: trình phẩm vật mà mình sẽ dùng làm thức ăn, nhờ đó nhận được sức lực để tiếp tục cuộc sống theo trật tự trời đất mà Ông bà đã nhận rồi truyền lại cho con cháu.

3- Ý nghĩa biến dạng.

a/ Ý nghĩa đích thực đã trình bày ở trên (phần II) bắt đầu biến dạng khi có quan niệm: không phải thần minh (hay Trời, Ông bà) cho con người, mà con người cho thần minh thức ăn. Quan niệm lệch lạc tiếp theo sau đó là: con người có thể dùng của ăn mà mua chuộc thần minh, rồi: tai ương xảy đến là vì thiếu sót trong việc dâng cúng cho thần minh. Từ đó dẫn đến các ý nghĩa (sai lạc) đã trình bày ở phần I.

b/ Khi cúng tế loài động vật thì phải giết con vật. Từ đó nảy sinh ra quan niệm: thần minh khát máu, thần minh hài lòng khi thấy con vật đau đớn. Thí dụ: một dân tộc vùng cao có tục lệ khi tế thần thì cột con trâu nằm bẹp trên mặt đất, rồi lấy dao mà chặt lần từ mông lên, khiến con trâu phải đau đớn trăm lần mới được chết; làm thế, mới hả lòng thần.

c/ Biến dạng tồi tệ và ghê tởm nhất: tế người, có thể là tù binh nhưng cũng có thể là con ruột của vua quan; có khi quý tộc tranh giành nhau vinh dự được cúng con của mình. Thí dụ: dân Aztec (Mêhicô trước thế kỷ 15) ra trận cố bắt sống địch chứ không đả thương, để có thể trói sống trên bàn thờ, rồi rạch ngực, móc tim (còn đập) dâng lên thần. (Nhờ đó quân Tây Ban Nha liều chết, lấy ít thắng nhiều, tiêu diệt đế quốc Aztec).

IV. Ý NGHĨA ĐƯỢC HOÀN THIỆN TRONG ĐẠO DO THÁI VÀ KITÔ.

1. Trong đạo Môisen.

Thiên Chúa đã chọn Israel làm dân riêng. Đó là Giao ước: Israel tuân giữ lề luật Chúa ban, Chúa sẽ cho Israel làm chủ Đất hứa. Việc tuyển chọn đó diễn ra trong thời gian; Giao ước được thi hành và cải tiến trong giòng lịch sử.

a/ Ý nghĩa của việc tế lễ được nâng cấp: Con người trình trước Thiên Chúa sản phẩm của Đất hứa mà Chúa cho mình dùng để tiếp nhận sức sống giúp con người hòa mình theo giòng lịch sử tuyển chọn: phấn đấu thực thi Lề luật để sống lâu dài trên Đất mà Chúa đã hứa cho tổ phụ.

b/ Ý nghĩa đích thực không ngừng được bảo vệ cho khỏi lệch lạc: - Abraham tế Isaac (St 22): cấm tế người; không phải con người dâng cho Thiên Chúa, mà trái lại nhận của Thiên Chúa: Abraham không mang theo của lễ, Chúa chỉ cho ông con cừu mắc sừng trong bụi gai để làm của lễ. - Giao ước Sinai: Môisen đọc các điều khoản luật cho dân nghe, dân đáp chấp nhận, sau đó tế lễ ăn uống. - Các ngôn sứ không ngừng nhắc: Thiên Chúa đâu thèm thịt chiên bò, của lễ đẹp lòng Chúa là đời sống công chính, là bước đi trong đường lối Chúa.

c/ Sau thời lưu đày, dần dần người Do thái chú ý đến các bữa ăn gia đình như là một cuộc tế lễ thật sự. Nghi thức bữa ăn bắt đầu bằng lời tạ ơn chúc tụng vì hồng ân Đất hứa: ăn để tiếp tục sống trên Đất hứa theo kế hoạch của Thiên Chúa. Chính Chúa Giêsu đã giữ những nghi thức này: khi hóa bánh ra nhiều, trong bữa Tiệc ly...

2. Thánh lễ Kitô.

a/ Chúa Kitô hoàn tất lịch sử tuyển chọn: trong bữa ăn cuối cùng, Người tiếp nhận lấy thức ăn bánh và rượu, làm cho nó trở thành thịt và máu (tức là thân xác sống động) để với sức sống đó nộp mình thực hiện chương trình cứu rỗi loài người bằng sự chết và sống lại.

b/ Khi dâng Thánh lễ và rước lễ, người Kitô hữu tiếp nhận thức ăn trần thế (bánh với rượu) đã trở thành Mình Máu Chúa Kitô; nhờ đó, kitô hữu nhận được sức sống cả phần xác lẫn phần hồn, để hòa mình vào Nhiệm Thể Chúa Kitô, xây dựng Nước Chúa ở trần gian.

c/ Đây không có ý vượt quá khuôn khổ của bài này, chỉ xin nêu lên những yếu tố của Thánh lễ mà ý nghĩa của việc tế lễ (như đã trình bày) làm sáng tỏ một cách đặc biệt:

- Lời Chúa dẫn đến Mình Chúa.
- Tưởng niệm công trình Thiên Chúa (kinh Tiền tụng).
- Thánh hiến = làm sự thiêng thánh (sacri-ficium).
- Nhớ đến người chết và các thánh.
- Hiệp lễ: hòa mình vào mầu nhiệm, với Thiên Chúa.

KẾT LUẬN

Việc tham dự lễ nghi cúng bái Ông Bà Tổ Tiên chỉ có thể là chính đáng khi nắm vững được ý nghĩa đích thực của việc cúng tế. Hơn thế nữa, nếu ý nghĩa đó là đúng đắn, có thể tiếp nhận việc cúng bái vào trong phụng vụ Kitô giáo với kết quả phong phú. Đó là đề tài của một bài sau, nếu được phép và thuận tiện.


 

2/11-2: CẦU NGUYỆN CHO NHỮNG NGƯỜI


ĐÃ QUA ĐỜI/ LUYỆN NGỤC

 

Vấn đề chúng ta tìm hiểu hôm nay, đó là có những sự gì xảy ra cho các linh hồn nơi: 2/11-2


Vấn đề chúng ta tìm hiểu hôm nay, đó là có những sự gì xảy ra cho các linh hồn nơi luyện ngục ?

Hai chữ luyện ngục mà thôi cũng đã đủ cho chúng ta thấy đó là nơi đau khổ, đền bù và thanh luyện.

Vào ngày phán xét, chúng ta sẽ thấy mình còn xa cách với lý tưởng mà Chúa đã ấn định. Mặc dù linh hồn ra đi trong tình trạng ơn thánh, nhưng còn biết bao nhiêu những sau lỗi, biết bao nhiêu những tỳ vết khiến chúng ta phải kêu lên :

- Lạy Chúa, con không thể nào trở về cùng Chúa khi chưa xóa bỏ hết những hoen ố của biết bao nhiêu lần vấp phạm.

Có lẽ ngay trong lúc này, chúng ta cũng cảm thấy :

- Chưa bao giờ tôi đã lên tới đỉnh trọn lành, chưa bao giờ tôi  được thỏa mãn với chính bản thân  mình ?

Làm sao chúng ta có thể hoàn toàn vâng phục thánh ý Chúa trong cuộc sống hiện tại như Đức Kitô  ngày xưa ?

Thì đây, luyện ngục sẽ là nơi để chúng ta kết thúc những công trình còn dang dở. Lửa thanh luyện càng bừng cháy để thiêu đốt những bụi bậm, những rác rưởi, những cặn bã, thì hình ảnh Chúa càng rực sáng trong tâm hồn chúng ta.

Và khi hình ảnh ấy đã trở nên chói lòa, rực rỡ và huy hoàng, thì luyện ngục sẽ chấm dứt và chúng ta sẽ được bước vào niềm hạnh phúc thiên đàng.

Nếu quan niệm như thế, chúng ta sẽ cảm thấy nông cạn và hời hột khi cho rằng :

- Hình phạt luyện ngục thì không xứng đáng với lòng nhân từ và thương xót của Chúa. Ngài sẽ tha thứ cho chúng ta một cách nhưng không, mà chẳng cần phải đều bù thanh luyện chi cả.

Nếu suy nghĩ một chút, chúng ta sẽ thấy không thể nào chấp nhận được quan niệm ấy, bởi vì nó đi ngược lại với sự thánh thiện và công thẳng tuyệt đối của Chúa.
Thánh vịnh 118 đã bảo :

- Thiên Chúa thật công bằng và phán quyết của Ngài thật ngay thẳng.

Chính Chúa Giêsu cũng đả xác quyết :

- Ngươi sẽ không ra khỏi đó cho đến khi trả xong đồng xu cuối cùng.

Lòng thương xót và sự công bằng của Thiên Chúa thoạt xem ra như tương phản lẫn nhau, nhưng lại vô cùng hòa hợp với nhau qua tín điều về luyện ngục.

Thực vậy, trong khi sự công bằng đòi phải đền bù và thanh luyện, thì lòng thương xót lại đưa ra những phương tiện, những cách thức giúp đỡ để được rút ngắn thời gian đau khổ.

Từ đó, chúng ta thấy được hai khía cạnh của luyện ngục, đó là đau khổ và an ủi. Bởi vì hình phạt ở luyện ngục cũng giống như hình phạt ở hỏa ngục, nhưng chỉ khác một điều, đó là ở luyện ngục thì chỉ tạm thời, còn ở hỏa ngục thì vĩnh viễn.

Và hình phạt đau khổ nhất chính là phải xa lìa Thiên Chúa vào giữa lúc chúng ta nhận biết Ngài là ai và đang cố gắng tiến đến với Ngài.

Tuy nhiên, không phải chỉ có thế.

Mặc dù là một nơi đau khổ và thanh luyện, nhưng luyện ngục không phải  là hỏa ngục, trái lại luyện ngục chính là lối dẫn vào thiên đàng.

Những linh hồn nơi luyện ngục chắc chắn không phải rơi vào tay ma quỉ, nhưng sẽ được nghỉ yên trong Chúa. Ơn cứu rỗi của họ đã được bảo đảm và họ sẽ không bị kết án. Đó là khía cảnh đầy vui mừng và an ủi của luyện ngục.

Vậy luyện ngục là gì ?

Tôi xin thưa :

- Luyện ngục là hỏa ngục, nhưng ở đó có niềm vui.

Hay nói một các khác :

- Luyện ngục là thiên đàng, nhưng ở đó có đau khổ.

Họ đau khổ vì hiện tại còn đang phải tạm thời xa cách Chúa. Nhưng đồng thời họ vui mừng vì một ngày kia sẽ được nhìn ngắm tôn nhan Chúa, mặt đối mặt.

Niềm tin vào luyện ngục sẽ đem lại một sự an ủi và khích lệ, khiến chúng ta không bao giờ phải tuyệt vọng. Thế nhưng tín điều này còn là một lời cảnh cáo gửi đến mổi người chúng ta đang sống trong cuộc sống này :

- Đừng bình thản trong tội lỗi.

Đồng thời cũng là một thôi thúc :

- Đừng thất vọng trước những sai lỗi vấp phạm của mình.

Sau cùng, hãy thêm lời cầu nguyện cho các linh hồn nơi luyện ngục, bởi vì như sách Macabêô đã xác quyết :

Cầu nguyện cho những người đã chết để họ được giải thoát khỏi mọi tội lỗi là một việc làm thánh thiện và có giá trị cứu rỗi.


 

2/11-3: SỐNG LẠI

 

Trong tháng 11 là tháng dành riêng để cầu nguyện cho người chết, chúng ta cũng được mời: 2/11-3


Trong tháng 11 là tháng dành riêng để cầu nguyện cho người chết, chúng ta cũng được mời gọi để suy niệm về sự chết.

Tác giả Elizabeth Khoctheoros, một chuyện gia tâm lý về cái chết đã phát biểu trong buổi khải giảng tại một trường học ở Mỹ như sau : “Ở cuối đời chỉ có một điều thực sự đáng kể là phải tự hỏi rằng mình đã có can đảm để sống không ?”.
Phải tự hỏi mình có can đảm để sống không ? Bởi vì phần đông trong chúng ta ai cũng sợ sự chết và nhất là sợ chết. Quả thực, chết là một thực tại đáng sợ nhất trong cuộc đời, chết là một hành động phản tự nhiên nhất là ta phải trải qua trong cuộc sống. Chính vì thế về mặt luân lý người ta không ngừng đi tìm đủ mọi cách để tránh nghĩ về sự chết hay phủ nhận cái chết sẽ không đến với chúng ta.

Trong ngôn ngữ thông thường dường như chúng ta cũng tránh nói đến cái chết, người chết được gọi là người quá cố, người khuất núi, người đã yên giấ nghìn thu hay người đã ra đi trước chúng ta. Nhưng muốn hay không cái chế vẫn là người bạn đồng hành mỗi ngày với chúng ta, chúng ta chứng kiến không biết bao nhiêu người thân thương ruột thịt chết, chúng ta chứng kiến cái chết qua các qua cái phương tiện truyền thông mỗi ngày. Đối với những người không có niềm tin, cái chết quả là một phi lý nhất trong cuộc sống, nhưng đối với những ai có niềm tin thì chính cái chết mang lại ý nghĩa cho cuộc sống, đó là thái độ mà mỗi Kitô hữu vẫn thể hiện khi đứng trước cái chết. Cái chết mang lại ý nghĩa cho cuộc sống, bởi chúng ta vẫn tin rằng bên kia cái chết cuộc sống vẫn tiếp tục, đó là cuộc sống trong cõi phúc trường sinh. Đây là niềm tin, niềm hy vọng mà chúng ta được mời gọi để nuôi dưỡng mỗi ngày.

Tin Mừng hôm nay mời gọi chúng ta củng cố niềm tin và hy vọng. Chúa Giêsu không những rao giảng về sự sống lại, chính Ngài là sự sống lại, sự Phục sinh của Ngài là bảo chứng của cuộc sống và làm chứng cho lời rao giảng của Ngài. Chính sự Phục sinh của Ngài mà niềm của chúng ta được xây dựng. Thật thế, như lời thánh Phaolô khẳng định trong thư gởi giáo đoàn Côrintô : “Nếu Chúa Giêsu không sống lại thì Đức tin của chúng ta thật là hão huyền”. Niềm tin vào sự Phục sinh mang lại ý nghĩa cho cuộc sống chúng ta, với niềm tin Phục sinh chúng ta tìm được can đảm để sống, mặc dù có trải qua nghịch cảnh thử thách, khổ đau ; với niềm tin Phục sinh chúng ta vẫn tiếp tục tìm thấy ý nghĩa cuộc sống.

Tháng 11 chúng ta không khỏi ngậm ngùi nhớ lại người thân thương đã chết, chia ly cách biệt vẫn là nỗi đau nhất trong cuộc sống. Nhưng với niềm tin Phục sinh, chết như được dẹp bỏ, người chết như vẫn hiện diện gần gũi với chúng ta. Đây chính là nguồn diễm phúc của những ai có niềm tin vào sự sống lại.


 

2/11-4: CÁC LINH HỒN

 

Tục ngữ Việt Nam có câu : Con người có cố có ông, như cây có cội như sông có nguồn. Hay: 2/11-4


Tục ngữ Việt Nam có câu : Con người có cố có ông, như cây có cội như sông có nguồn. Hay : con ai chẳng là con cha, cháu ai là chẳng cháu bà cháu ông. Hai cữ cội nguồn đã mang lại toàn bộ ý nghĩa của đạo làm con đối với  các bậc sinh thành mà bất cứ ai sinh ra trong cuộc đời đều có bổn phận phải ghi nhớ và gìn giữ. Theo tháng năm, từ đông sang tây, từ bắc chí nam, đâu đâu cũng vang lên giai điệu về chữ hiếu như là lời báo đáp và ghi ơn tổ tiên mình.

Chính vì thế, hàng năm Giáo Hội công giáo đã dành trọn tháng 11 để tưởng nhớ những người quá cố, để sống lại đạo làm con. Người công giáo vẫn có thói quen tốt lành xin lễ cho ông bà tổ tiên, viếng nghĩa trang cùng với việc tảo mộ. Ngoài ra, trong ba ngày đầu năm, Giáo Hội Việt Nam đã dành ngày mồng hai tết để kính nhớ tổ tiên ông bà cha mẹ. Hòa lẫn với chủ đề kính nhớ tổ tiên, Giáo Hội cũng đã nhắn gửi tới từng người con phải biết yêu chuộng ý nghĩa thiêng liêng cao cả : con ơi giữ lấy lời cha, chớ quên lời mẹ nhớ mà ghi tâm.

Cũng thế, anh em Phật giáo hàng năm vào ngày rằm tháng bảy âm lịch cũng có mùa vu lan để báo hiếu. Vào dịp này, mỗi người đều xướng lên tám lòng biết ơn của mình. Có người không quen ăn chay trường, song vào thời điểm này, người ta thể hiện lòng hiếu đó bằng việc ăn chay trọn tháng bảy âm lịch, hay có những người bận rộn công việc đời thường vào dịp này họ cố gắng thu xếp  thời gian để đến một ngôi chùa quen thuộc dự lễ cầu siêu cho linh hồn ông bà cha mẹ đã qua đời. Họ tin rằng nhờ đó, bổn phận của họ được chu toàn. Với truyền thống lâu đời của người phật tử là cầu mong để được đáp đền ơn tam bảo, báo hiếu cha mẹ sinh thành dưỡng dục…

Còn ở Tây phương, người ta không có tục thờ cúng tổ tiên bởi vì chữ hiếu nơi họ không được nâng lên thành đạo. Thế nhưng họ có những ngày mà người Việt Nam chúng ta chưa có. Họ đã chọn ra hai ngày trong năm để tưởng nhớ công ơn sinh thành của cha mẹ. Đó là ngày của mẹ (mother’s. day) vào ngày chúa nhật thứ hai trong tháng năm và ngày của cha (father’s. day) vào ngày chúa nhật thứ ba trong tháng sáu.

Quả là đã mang trong mình dòng máu linh thiêng của tổ  tiên, dù là người công giáo, phật giáo hay bất cứ ai cũng đều thể hiện lòng biết ơn một cách trân trọng đối với các bậc sinh thành. Trở về cội nguồn tổ tiên, chúng ta một lần nữa nói lên lòng biết ơn sâu sắc, đối với cácbậc tiền nhân.

Vì thế, chúng ta cùng nhau thắp lên một nén nhang để cùng nhớ ơn, ca ngợi công ơn tổ tiên và cầu nguyện cho tất cả những ai đã từng một lần chắp cánh cho chúng ta buớc vào cuộc đời và sống trọn vẹn ý nghĩa của con người.


 

2/11-5: CHẾT LÀ THAY ĐỔI NHÀ Ở – ĐC Giuse Tiếu LX

 

Hôm qua, chúng ta đã mừng lễ Các Thánh Nam Nữ. Chúng ta đều biết Giáo Hội thiết lập lễ: 2/11-5


Hôm qua, chúng ta đã mừng lễ Các Thánh Nam Nữ. Chúng ta  đều biết Giáo Hội thiết lập lễ Các Thánh, không phải chỉ để chúng ta tôn vinh các Ngài mà thôi, nhưng còn là dịp để nhắc nhở mọi con cái trong Giáo Hội hiểu rằng con đường nên thánh là con đường dành cho mọi người, không trừ một ai; rằng chúng ta được hiệp thông với các thánh trên trời, và chúng ta được mời gọi nuôi dưỡng niềm hy vọng sẽ được sum họp với các thánh trên thiên đàng.

Còn hôm nay, lễ Các Đẳng Linh Hồn. Một đàng, Giáo Hội kêu gọi chúng ta nhớ đến những người đã qua đời, trong đó có tổ tiên, ông bà, cha mẹ, anh em, bạn bè, thân thuộc để cầu nguyện cho các Ngài sớm được hưởng phúc trường sinh. Nhưng đàng khác, Giáo Hội cũng nhân dịp này, muốn nhắc bảo chúng ta, những người còn đang sống trên dương gian này, hãy nhìn thẳng vào cái chết, không sợ hãi, không tránh né, để có một cái nhìn đúng đắn, lạc quan về cái chết. Vì chỉ khi nào ta biết nhìn vào cái chết, năng suy nghĩ về cái chết, thì ta mới có thể sống tốt, sống cho ra sống, sống đúng như ý Thiên Chúa muốn, và chết đẹp lòng Chúa.

Thưa...

Chúng ta đã được nghe nói rất nhiều lần rằng chết là một cuộc giải thoát, chết là được về với Chúa, chết là cái cửa đưa vào cõi phúc trường sinh bất tử. Quan niệm như thế là rất đúng với giáo lý của đạo công giáo. Hôm nay, tôi muốn diễn tả cái chết bằng một hình ảnh rất thân quen với đời sống con người chúng ta. Chết là đi từ nhà này sang nhà khác.

Quả vậy, thưa anh chị em. Người Kitô hữu chúng ta có bốn nhà. Nhà thứ nhất là căn nhà nơi cha mẹ sinh ra ta. Nơi đó, ta được sinh ra và được sống với ông bà, cha mẹ, anh chị em cùng những người thân. Chính nơi này ta đã chào đời và được lớn lên, được yêu thương chăm sóc.

Nhà thứ hai là Nhà Thờ giáo xứ. Nơi đây, ta được cha mẹ đem đến để lãnh bí tích Rửa tội, để chính thức gia nhập Hội Thánh Chúa. Cũng tại nhà thờ, ta đến gặp gỡ với Chúa, với anh em, với cộng đoàn. Ta thờ phượng Chúa, ta được nghe Lời Chúa, được lãnh nhận các bí tích; được  rước Chúa Giêsu Thánh Thể vào lòng, được hoà giải với Chúa trong bí tích giải tội, được Chúa Thánh Thần ban sức mạnh trong bí tích Thêm sức, được Chúa chúc lành cho tình yêu vợ chồng trong bí tích Hôn Nhân. Và khi ta nhắm mắt lìa đời thân xác ta lại được đem đến nhà thờ lần cuối để giã biệt mọi người.

Nhà thứ ba là nhà mồ, là chiếc quan tài chứa đựng thân xác ta và bị chôn vùi xuống lòng đất. Chính Thánh vịnh 48 đã xác nhận rằng đối với con người thì: “ba tấc đất mới thật là nhà”. Như vậy, chết là đi từ nhà sinh, qua nhà thờ đến nhà mộ. Nhưng cả ba nhà này đều là tạm bợ, đều chỉ có tính cách nhất thời. Chúng chỉ là những quán trọ dọc đường.

Ngôi nhà thứ tư mới là ngôi nhà vĩnh cửu. Ngôi nhà mà mọi Kitô hữu phải nhắm tới chính là nhà Cha trên trời. Chính thánh Phaolô đã có lần khích lệ giáo dân Corintô: “Nếu ngôi nhà của chúng ta ở dưới đất bị phá huỷ đi, thì chúng ta có một nơi ở do Thiên Chúa dựng lên, một ngôi nhà vĩnh cửu trên trời, không do người thế làm ra” (2 Cor 5,1). Ngôi nhà đó là nhà Cha chúng ta trên quê hương vĩnh cửu, nơi không còn khóc lóc than van, không còn khổ đau, không còn chiến tranh. Ở đó, chỉ có tình yêu, niềm vui, chỉ có bình an, thuận hoà, chỉ có hạnh phúc miên trường, không bao giờ vơi, không bao giờ tàn lụi.

Tuy nhiên, không phải ai cũng có thể đến được ngôi nhà thứ tư này. Nếu ba ngôi nhà trên ai cũng phải qua, thì ngôi nhà thứ tư, là nhà Cha trên trời chỉ dành cho những ai có đủ điều kiện. Vậy điều kiện đó là gì?

Thưa đó là luôn chu toàn bổn phận trong những ngôi nhà mình sống. Trong ngôi nhà thứ nhất nhà gia đình chúng ta, chúng ta có bổn phận phải sống ơn gọi làm người. Trước khi là Kitô hữu, chúng ta phải là con người lương thiện, con người tốt, có những mối liên hệ tốt trong gia đình và trong xã hội. Là người sống trong gia đình ta có bổn phận làm con cái đối với ông bà cha mẹ, ta có bổn phận làm cha mẹ đối với con cái cháu chắt, ta có bổn phận liên đới đối với anh chị em. Những bổn phận này không được phép lơ là, mà phải chu toàn một cách nghiêm túc. Việc giữ chữ hiếu là luật buộc, ai không thi hành thì mắc tội đối với Thiên Chúa. Trái lại  theo sách Huấn Ca: “Ai yêu mến cha mình thì đền bù được tội lỗi, ai thảo kính mẹ mình thì như người thu được kho tàng. Ai thảo kính cha mình sẽ được vui mừng trong con cái. Ai thảo kính cha mẹ mình sẽ được sống lâu dài” (Hc 3,3). Như vậy Lời Chúa hứa rõ ràng ai giữ chữ hiếu, sẽ được Chúa thưởng công để có thể vào nhà Cha trên trời hưởng phúc vĩnh cửu.

Trong ngôi nhà thứ hai là nhà thờ, chúng ta có bổn phận sống ơn gọi làm con Chúa, ơn gọi làm người Kitô hữu. Nhà thờ ở dưới đất cũng được gọi là Nhà Chúa, nhưng đây chỉ là hình ảnh tiền trưng, là hình bóng của nhà Cha trên trời. Cho nên muốn tiến đến nhà Cha trên trời, người Kitô hữu phải chu toàn nhiệm vụ đối với Nhà Chúa ở dưới đất. Đó là phải năng đến gặp Chúa, cầu nguyện với Chúa, đó là phải siêng năng lắng nghe Lời Chúa, siêng  năng lãnh các phép bí tích, siêng năng hiệp thông với cộng đoàn trong việc chúc tụng ngợi khen Chúa, tạ ơn Chúa, nhất là hiệp thông với cộng đoàn trong tình bác ái yêu thương nhau, giúp đỡ nhau.

Dĩ nhiên, trong nhiều hoàn cảnh không có nhà thờ, người ta vẫn có thể sống đạo được, bằng sự hiệp thông với Hội Thánh trong sự thờ phượng Thiên Chúa. Nhưng thường tình, nhà thờ vẫn là nơi người ta dễ dàng gặp Chúa và chu toàn bổn phận người Kitô hữu hơn. Vì thế, ai coi thường không chu toàn bổn phận người Kitô hữu trong nhà thờ, thì tự mình tách ra khỏi sự hiệp thông của cộng đoàn. Người đó làm sao có thể tiến về nhà Cha trên trời được?

Sau cùng, trong ngôi nhà thứ ba, nhà mộ, chỉ có ý nghĩa, khi còn sống, ta đã chu toàn nhiệm vụ trong hai nhà kia, đó là nhà gia đình và nhà thờ. Khi thân xác ta nằm trong nhà mộ của mình, thì linh hồn chúng ta ra trước toà Chúa để chịu phán xét riêng. Lúc đó Chúa Giêsu sẽ nhận ra chúng ta là một con người tốt hay xấu, là con cái trung tín của Chúa hay con cái bất trung. Ta sẽ được vào nhà Cha trên trời hưởng hạnh phúc đời đời hay phải xa cách Chúa, bị trầm luân trong hoả ngục vĩnh viễn ngàn thu, là do ta có chu toàn nhiệm vụ Chúa đã trao cho ta trong thân phận làm người, trong thân phận là Kitô hữu hay không?

Kính thưa...

Hôm nay, trong khi kính nhớ tổ tiên, ông bà, cha mẹ, và những người thân đã qua đời, chúng ta có dịp nhìn vào chính cái chết của ta. Chết không phải là hết, mà chết là một cuộc hành trình đi từ nhà này sang nhà kia, từ nhà sinh, qua nhà thờ, đến nhà mộ, rồi cuối cùng tới nhà Cha trên trời. Cuộc hành trình này không dễ dàng gì. Nó đòi hỏi ta phải phấn đấu và cầu nguyện rất nhiều. Chúa đòi chúng ta phải chu toàn bổn phận trong mỗi giây phút ta sống, dù sống trong gia đình, dù nơi nhà thờ, ta luôn sống hiệp thông với Chúa, với anh em trong tình thương mến. Rồi một ngày kia chúng ta sẽ cùng với ông bà, tổ tiên, cha mẹ, và các người thân sum họp trong nhà Cha trên trời để chúc tụng ngợi khen Chúa đời đời kiếp kiếp. Amen.

ĐC. Giuse Trần Xuân Tiếu
Ngày 02 tháng 11 năm 2001
Tại Nhà thờ Chánh Toà Long Xuyên



 

2/11-6: NGƯỜI SẼ CHẾT TƯỞNG NIỆM NGƯỜI ĐÃ CHẾT

 

Tháng 11 hàng năm, Giáo Hội Công giáo dành riêng để cầu nguyện cho các tín hữu đã qua đời.: 2/11-6


Tháng 11 hàng năm, Giáo Hội Công giáo dành riêng để cầu nguyện cho các tín hữu đã qua đời. Chúng ta hãy dừng chân ít phút để suy niệm về mầu nhiệm sự chết và tìm cho mình một cách sống xứng đáng làm môn đệ của Chúa Ki-tô.

SỰ CHẾT LÀ MỘT MẦU NHIỆM:

Bao nhiêu nhà khoa học lừng danh nhất, tài giỏi nhất, đã chế ra được nhiều loại thuốc trị bệnh cho loài người. Thế nhưng, sự chết vẫn luôn đắc thắng, vì chưa ai có đủ tài ba, mà làm cho một người, hoặc cho chính bản thân mình, khỏi phải chết ! Những bậc danh y sư như Hải Thượng Lãn Ông, những nhà bác học đại tài như Pasteur, cũng đều đã chết. Bao nhiêu người đã bỏ ra cả đời, để đi tìm cho nhân loại một bài thuốc trường sinh bất tử, nhưng tất cả đều thất bại.

Thế giới ngày nay hiếm có ai có thể sống đến trăm tuổi. Tất cả điều này, chứng tỏ rằng cái chết là một định luật tự nhiên, mà Thiên Chúa đã an bài, và không có ai vượt ra ngoài caùi quy luật tất yếu ấy. Do vậy, tất cả những ai đang sống hôm nay, đều được mời gọi nhìn nhận rằng: Tôi đã được sinh ra để sống, thì chắc chắn cũng sẽ có ngày tôi phải chết.

Hơn nữa, cái chết còn có thể đến với mỗi người một cách hết sức bất ngờ, không cứ gì tuổi tác, không cứ gì địa vị xã hội, không cứ gì màu da tiếng nói... Không ai có thể tự chọn cho chính mình giờ chết và cách chết, cho dù đó là kẻ quyên sinh tự tử. Cách chết cũng thật lắm bi ai: chết bệnh, chết tai nạn, chết do ngộ sát, chết do chiến tranh, chết do thiên tai. Dù có muốn hết sức tránh né thế nào đi nữa, mỗi người chúng ta cũng đều có một kiểu chết, đang từ từ đến với mình. Chết cách nào, chết lúc nào, tất cả đều là bí mật, mà chỉ khi chúng ta chết rồi, những người khác chưa chết mới thấy, mới hiểu, mới biết.

 ĐÀNG SAU SỰ CHẾT:

Mỗi người chúng ta đang sống hôm nay, tuy không nói ra, đều biết chắc chắn mình sẽ chết. Nhưng nhìn lại quá khứ, chúng ta sẽ thấy, có bao nhiêu đã ra đi trước chúng ta, họ thuộc đủ mọi tầng lớp trong xã hội và trong Giáo Hội. Họ là ông bà cme của chúng ta, họ là thầy dạy, là ân nhân, là những người đã có công chế tác cho chúng ta những tiện nghi mà chúng ta đang hưởng dùng hiện tại... Hiểu như thế, chúng ta phải biết ơn họ. Có ông bà tổ tiên, mới có chúng ta hôm nay. Có người xây nhà dựng cửa, mới có cái cho chúng ta trú ngụ bây giờ.

Tháng 11 giúp chúng ta tưởng nhớ đến công ơn của tất cả những người đã ra đi trước chúng ta bằng cách cầu nguyện cho họ. Cuộc sống mỗi người dù vắn hay dài, dù ở địa vị nào, môi trường nào, cũng đều có những khó khăn riêng để vượt qua mà khả năng của bản thân lại chỉ có giới hạn, do vậy không ai sống trọn đời toàn thiện vô tỳ tích, nhưng đều có những yếu đuối, những sai sót lỡ lầm. Chính ở chỗ nhạy cảm ấy mà con người cần đến lời cầu nguyện của nhau trước mặt Thiên Chúa.

Theo Giáo Lý của Giáo Hội Công giáo, khi con người vừa nhắm mắt lìa đời, linh hồn rời bỏ thể xác và ra trước Tòa Chúa phán xét, sẽ được lên Thiên Đàng hoặc phải xuống Hỏa Ngục, là tùy theo tội phúc của từng người. Nhưng thử hỏi có mấy ai được tràn đầy ân phúc mà vào thẳng Nước Trời như Đức Ma-ri-a ? Tất cả chúng ta đều cần phải đi qua nơi thanh luyện – quen gọi một cách khá ghê rơn là Luyện Ngục – cho được tinh sạch khỏi mọi thứ tỳ ố của tội lỗi, rồi mới xứng đáng hưởng hạnh phúc muôn đời bên Chúa.

 BỔN PHẬN CỦA NGƯỜI CÒN SỐNG:

Là những người còn đang sống, chúng ta còn có thời gian để thi hành Lời Chúa truyền dạy – người xưa quen nghĩ đó là lập công phúc – thì chúng ta hãy dùng tất cả mọi việc tốt lành dễ thương nhất mình đã và đang cố gắng làm để chuyển cho các bậc tiền nhân, nhất là thân nhân, ân nhân xa gần của chúng ta, và mở rộng hơn nữa cho các linh hồn thân hay sơ, biết hay chưa bao giờ gặp, để xin Chúa thương ban cho họ sớm được vào hưởng Nhan Thánh Chúa.

Cầu cho những người quá cố chính là một thực hành Đức Bác Ái, một hành vi của Lòng Mến, thể hiện Mối Tình tuyệt vời mà Đức Giê-su đã truyền dạy: “Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” ( Ga 13, 34 ). Cầu nguyện như thế cũng là một hành vi bày tỏ sự đền ơn đáp nghĩa, vì chắc chắn không ít thì nhiều, họ đều là các ân nhân của chúng ta.

Chúng ta cũng nhớ đến Lời Chúa dạy: “Anh em đong bằng đấu nào, thì Thiên Chúa sẽ đong lại cho anh em bằng đấu ấy" ( Lc 6, 38 ). Điều này cho thấy: Cầu nguyện cho người quá cố chính là cách chúng ta ký thác cho đời sau, chúng ta đều là những tội nhân, do vậy những gì chúng ta làm cho các linh hồn nơi Luyện Ngục đều được Thiên Chúa trả lại cho chúng ta một cách sòng phẳng công bằng khi chính chúng ta phải ra trước Tòa Chúa mai này.

Và chính khi chúng ta tưởng niệm những người đã khuất, chúng ta như thể được dịp may để học hỏi nơi họ những gương sáng để nỗ lực noi theo, nghiệm sinh được cả nơi những khiếm khuyết lỗi lầm của họ để tránh không đi vào vết xe cũ... Có nhớ lại việc làm của người xưa, chúng ta mới nhận ra cái hay cái đẹp của bậc tiền nhân mà suy gẫm. Có những nét rất đặc sắc trong thời đại của họ thì nay không còn nữa. Ngược lại, có những chuyện giờ đây hết sức thịnh hành mà thời xưa chưa hề có. Hồi ôn cái cũ để rồi sáng tạo và vận dụng những cái mới một cách thích đáng sao cho đạt được thành quả như lòng Chúa mong muốn: “Thầy đến là để anh em được sống và sống dồi dào” ( Ga 10, 10 )

Tóm lại, tất cả những gì chúng ta đang làm đang sống hôm nay cũng chính là những cái sẽ cùng chúng ta đi vào cuộc sống vĩnh hằng mai hậu. Nếu đời này chúng ta đang cùng Chúa đồng hành dấn thân cho hạnh phúc của tha nhân, thì đời sau, chính niềm hạnh phúc ấy lại được đổ đầy cho chúng ta trên Nước Trời.

Nguyện xin Chúa giúp chúng con luôn yêu mến các linh hồn, tưởng niệm và không quên cầu nguyện cho họ. Xin cho chúng con biết cùng với các linh hồn chúc tụng ngợi khen sự công minh chính trực của Thiên Chúa đối với tội phúc của từng người trong chúng con, và của toàn nhân loại. Amen.

PHẠM VĂN LƯỢNG,
Huynh Đoàn Ki-tô Bệnh Nhân và Người Khuyết Tật Sài-gòn


 

2/11-7: VIỆC ĐỘ VONG TRONG KITÔ GIÁO VÀ PHẬT GIÁO


 - Nguyễn Chính Kết

 

Người Công giáo coi tháng 11 dương lịch hàng năm là tháng cầu nguyện cho những nguời quá: 2/11-7


Người Công giáo coi tháng 11 dương lịch hàng năm là tháng cầu nguyện cho những nguời quá cố, còn gọi là tháng các Linh Hồn,mà cao điểm là ngày 2-11, là ngày Lễ Cầu Hồn.Nhưng người Phật tử và người theo “Đạo tổ tiên” lại coi tháng 7 âm lịch hàng năm mới là tháng để tưởng nhớ,cúng kiếng và chú nguyện cho những người đã khuất,mà cao điểm là lễ Vu Lan, ngày Rằm tháng 7,hay cũng gọi là ngày Xá Tội Vong nhân.

Phật tử cũng như Kitô hữu đều tin rằng sau khi chết còn có một đời sống khác,và những người còn sống ở trần gian có thể giúp đỡ người đã chết –hiện đang sống trong một đời sống khác –thoát khỏi canh khổ của họ, hay giảm bớt đau khổ cho họ.Tuy nhiên quan niệm về số phận của các vong nhân và về việc Độ Vong của hai tôn giáo này (độ vong: cứu những linh hồn đã quá cố đang đau khổ vì hình phạt) có nhiều điểm khác biệt.

Trong chiều hướng Hội Nhập Văn Hoá và tìm hiểu các Tôn giáo,chúng ta thử so sánh hai quan niệm ấy,đồng thời rút ra những điểm đồng dị.

QUAN NIỆM CỦA KITÔ GIÁO: SỐ PHẬN ĐỜI SAU

Người Kitô hữu tin rằng con người chỉ có hai đời sống :đời này và đời sau.
Đời này ngắn ngủi,hữu hạn,còn đời sau vĩnh cửu,vô hạn. Nhưng số phận của đời sau –hạnh phúc hay đau khổ- lại hoàn toàn tuỳ thuộc vào cách sống của con người trong cuộc đời ngắn ngủi này,nhất là vào tình trạng tâm hồn trong giây phút cuối cùng của cuộc đời.Người nào khi chết vẫn có ân nghĩa với Thiên Chúa sẽ được hưởng hạnh phúc vĩnh cửu bên Ngài. Người nào chết trong tình trạng thù nghịch với Ngài,tức mắc tội trọng,thì bị phạt đời đời xa cách Ngài là nguồn hạnh phúc của mình.

SỰ THANH LUYỆN

Tuy nhiên,để xứng đáng thấy Thiên Chúa,xứng đáng kết hiệp với Ngài, Đấng tuyệt đối hoàn hảo,và để hưởng hạnh phúc đời đời,con người cũng phải trở nên hoàn hảo,trong trắng như Chúa Giêsu đã nói :”Các con hãy nên hoàn hảo như Cha các con trên Trời là Đấng hoàn hảo “(Mt 5,48). “Nếu sự công chính của các con không vượt hơn những người Pharisiêu,các con không được vào Nước Trời” (Mt 5,20). “Phúc cho những tâm hồn trong sạch,vì họ sẽ thấy Thiên Chúa” (Mt 5,8). Hạnh phúc vĩnh cửu đòi hỏi gắt gao như thế thì dù những người thánh thiện nhất cũng không đạt được vì nhân vô thập toàn”. Do đó,để xứng đáng vào Nước Trời, để đạt được tình trạng hoàn hảo trên,con người cần phải được thanh luyệ6n một thời gian trước khi vào …

Sự thanh luyện đó đã được Giáo Hội định tín trong công đồng chung thứ 14,năm 1274 tại Lyon :”Linh hồn kẻ chết chưa đền tội hoàn toàn sẽ được thanh luyện sau khi chết với những hình phạt được gọi là thanh luyện” (Ds 856/464). Tín điều đó đã được lặp lại trong nhiều công đồng sau đó (xem DS 1580/840 ; 1620/983 ; 1867/998….)

Mục đích của việc thanh luyện làm cho linh hồn trở nên hoàn hảo,hoàn toàn vị tha,đầy tình thương,không còn một chút tâm địa ích kỷ,độc ác,tham lam nào nữa.Thiên Đàng đòi hỏi một sự hoàn hảo như thế,thật là hợp lý,vì đó là một “nơi” (Tạm gọi như thế. Thật ra ,Thiên Đàng,Luyện ngục hay Hỏa ngục không phải là những nơi hiểu theo nghĩa không gian vật lý cho bằng là những tình trạng tâm linh hoặc tâm lý.Chẳng hạn Thiên Đàng là tình trạng tạm linh hoàn toàn hạnh phúc,không còn một chút đau khổ,của những tâm hồn hoàn hảo,thánh thiện,còn Hỏa ngục là tình trạng tâm linh hết sức đau khổ của những tâm hồn độc ác, xấu xa,ích kỷ…), hoàn toàn hạnh phúc,hoàn toàn thánh thiện,là “nơi” chúng ta sẽ trở về để hưởng hạnh phúc muôn đời.Không cần phải xét về phía Thiên Chúa,mà ngay chính chúng ta cũng đòi hỏi điều đó.

Thật vậy,thử hỏi: khi trở về nơi lý tưởng đó để hưởng hạnh phúc,ta có thể hoàn toàn hạnh phúc khi phải sống chung với thân nhân,bạn bè với những tính nết xấu như họ đang có bây giờ không ?Nếu họ còn ích kỷ, còn ác ý,còn lãnh đạm,còn hẹp hòi,còn hay nghĩ xấu cho người khác,dù chỉ một chút xíu,thì họ có thể hoàn toàn hạnh phúc và làm cho ta và những người chung quanh họ cũng hoàn toàn hạnh phúc cho đến đời đời,khôbng hề gây ra một chút đau khổ náo không ? Bản thân ta cũng vậy,ta sẽ còn đau khổ và còn làm người khác đau khổ nếu ta còn một chút xấu xa,ích kỷ,độc ác…chưa hoàn hảo mà đã sống ở Thiên Đàng thì ta sẽ làm ô nhiễm cái hạnh phúc tinh tuyền –không vương chút đau khổ- của Thiên Đàng rồi,và biến Thiên Đàng trở thành một cái gì không còn là Thiên Đàng nữa.Do đó,Thiên Đàng đòi hỏi những người bước vào phải hoàn toàn trong sạch,tốt lành,nếu còn chút gì xấu xa,thì phải thanh luyện cho hết.

Sự thanh luyện đó được gọi là Luyện Ngục.

Chữ NGỤC khiến người ta liên tưởng tới mo965t nơi chốn,một cảnh tù đầy.Thực ra không nên hiểu cụ thể như thế.Nên hiểu đó là một tgình trạng của tâm hồn được thanh luyện,được thánh hoá bằng những đau khổ nội tại cũng như ngoại tại.

-Đau khổ nội tại là đau khổ vì khát khao được ở gần Thiên Chúa,kết hợp với Thiên Chúa là nguồn hạnh phúc của mình mà không đựơc.Sau khi chết,linh hồn hết sức sáng suốt để nhận ra Thiên Chúalà nhu cầu khẩn thiết nhất,là nguồn hạnh phúc đích thực của mình,nên lòng khao khát Thiên Chúa lúc đó hết sức lớn lao.Tương tự như người rất đói,rất thèm ăn,và có ngay trước mặt một mâm cơm thịnh soạn,đầy hấp dẫn với đủ thứ cao lương mỹ vị,mà lại bị trói chân,trói tay không ăn được.Hay như hai tình nhân yêu nhau tha thiết mà phải sống xa nhau.

- Còn đau khổ ngoại tại cũng được thần học bàn tới,nhưng không được định tín.Giáo Hội Hy lạp phủ nhận loại đau khổ này.Khổ hình này được thần học truyền thống gọi là “Lửa”. Một vài Giáo hoàng diễn tả Luyện ngục có lửa.(Đức Innocentiô IV(1243-1254) và Đức Clêmentê VI (1342-1352) Lửa ở đời này là lửa mầu nhiệm,vừa là vật chất vừa là tinh thần,vì có thể vừa đốt được tyhân xác mà vừa đốt được các linh hồn). Sắc lệnh của công đồng chung Firence (1438-1445) không còn dùng từ ngữ “lửa” để diễn tả hình phạt nữa, vì các nghị phụ Hy lạp không chấp nhận,.Các nhà thần học hiện nay cũng không thích lý thuyết nói về lửa đó nữa.

Trong tình trạng thanh luyện,ngườio ta thường chỉ nghĩ tới đau khổ các linh hồn đang trông chờ ngày gặp mặt Chúa mà không lưu tâm tới tình trạng tích cực của họ.Chắc chắn các linh hồn ấy có một hạnh phúc rất lớn,rất căn bản là biết chắc chắn mình được cưu rỗi,được Thiên Chúa yêu thương,(xem Ds 1488/778.), đồng thời họ mến Chúa hết sức vì không còn gì trỏ ngại lòng yêu mến ây nữa, và họ cũng ý thức được sự cần thiết của việc thanh luyện này,nên họ sẵn sàng và ước ao chịu mọi khổ hình để sớm gặp Chúa.Lúc đó,khổ hìnbh đối với họ không còn là “khổ” nữa.Cũng như một thí sinh sẵn sàng chấp nhận mọi cực nhọc mệt mỏi của việc học để chuẩn bị một kỳ thi với hy vọng sẽ có một tương lai huy hoàng.Việc thanh luyện vì thế trỏ thành tự nguyện. Họ sung sướng vì được thanh luyện,đựoc khổ vì Chúa,vì tình yêu.

VIỆC ĐỘ VONG

Thời gian thanh luyện lâu hay mau chắc chắn tùy thuộc vào tình trạng hay mức độ hoàn hảo của mỗi linh hồn và vao 2 tình thương can thiệp của Chúa.Các tín hữu còn sống có thể giúp các linh hồn được thanh luyện theo những điều kiện nhất định,đó là một tín điều.

Công đồng Trentê định tín Lễ Misa có thể được dâng lên để cầu nguyện cho ngườisống và kẻ chết,cho họ được tha tội,tha hình phạt,cho việc đền tội và cho những nhu cầu khác, (xem Ds 1753/950)đặc biệt cho những người chết trong Đức Kitô được tinh luyện (xem Ds 1743/940). Ngoài lễ Misa,các tín hữu còn có những hình thức độ vong khác (Ds 1820/693) như cầu nguyện, bố thí, và làm các việc đạo đức (xem Ds 856/464).Người còn sống có thể đền tộiu thay cho họ bằng những hy sinh hãm mình,chấp nhận những đau khổ Thiên Chúa gửi đến một cách vui vẻ , vì một chi thể có thể đền tội thay cho một chi thể khác trong cùng một thân thể,và lại,tội không chỉ có tính cách cá nhân,mà còn có tính xã hội: sự liên đới chịu trách nhiệm.Đương nhiên,tín hữu còn sống càng trong sạch thánh thiện bao nhiêu thì khả năng độ vong càng hữu hiệu bấy nhiêu.: Một chi thể chết” không thể giúp cho một chi thể khác”sống” được.

Mọi việc độ vong đều phải qua tay Thiên Chúa chú không trực tiếp ảnh hưởng tới các linh hồn.Tuiy nhiên,Thiên Chúa vẫn luôn luôn tự do.Sự độ vong của chúng ta không phải là một pháp thuật có sức ép buộc Thiên Chúa phải tha cho các linh hờn theo ý ta,hay ảnh hưởng tới Thiên Chúa một cách máy móc,tự động theo những định luật.

Việc độ vong trong Giáo Hội bắt nguồn từ việc làm của Juda Macchabêô (2 Mcb 12,40-60).Thời đó,sau một trận đánh,có một số binh sĩ do thái tử trận.Khi lục soát các tử thi,người ta tìm ra dưới áo họ ẩn dấu các đồ vật để cúng tế các thần ngoại lai mà luật cấm.Người do thái tin rằng tuy họ chết đi,khi mang tội đó,nhưng họ vẩn được cưu rỗi.Họ cầu nguyện để xin Chúa tha tội cho những người ấy.Rồi họ quyên góp 2000 quan tiền nhờ Juda gửi lên Jerusalem để tế lễ chuộc tội.Bản văn khen ông:”Đó là việc làm rất tốt lànhvà có giá trị cao quí do tin vào việc sống lại,vì nếu không tin vào sự sống lại thì cầu nguyện cho những người chết là uổng công vô ích. Nếu ông nghĩ tới phần thưởng dành cho họ thì quả là tư tưởng lành thánh và đạo đức. Vì thế,ông đã dâng lễ xá tội để người quá cố được tha thứ tội lỗi.”

QUAN NIỆM CỦAPHẬT GIÁO LUẬT LUÂN HỒI VÀ NHÂN QUẢ.

Trước hết,người Phật tử quan niệm cuộc đời hiện tại không phải là kiếp sống duy nhất của mình mà chỉ là một trong hàng trăm ngàn kiếp sống kết tục nhau như những mắc xích trong cả một cuỗi xích dài vô tận.Kiếp hiện tại là quả của kiếp quá khứ mà cũng là nhân cho kiếp tương lai. Nghĩa là nếu kiếp này mình làm lành thì kiếp sqau gặp hiền,làm ác thì kiếp sau gặp dữ. Bất cứ một động tĩnh nào trong tư tưởng,lời nói,hay việc làm xảy ra nơi con người,đều có nguyên nhân trong quá khú và đều gây ra hậu quả trong tương lai.Đó là luật nhân quả. Chuỗi nhân qủa không bao giờ chấm dứt.Vì thế,con người chết đi để bắt đầu một cuộc sống mới,một kiếp khác.Và cuộc sống mới này mang hình thức nào tùy thuộc cái nghioệp đã gây ra trong kiếp trước.Đó là luật luân hồi.

LỤC ĐẠO

Luân hồi có 6 nẻo,gọi là Lục Đạo ,tức 6 cảnh giới, sau khi chết,con người sẽ phải đầu thai vào một cảnh giới trong đó tuỳ theo nghiệp lực đã tạo trong quá khứ.Lục Đạo gồm có : Thiên, Nhân, Atula, Ngạ qủy, súc sinh, địa ngục (xếp theo mức độ từ sướng tới khổ).
Thiên : cảnh giới của loài “thiên thần” tốt lành, vô hình đối với con người,vì mang thân xác vi tế hơn con người,sống trong những điều kiện dễ dàng hạnh phúc hơn,đời sống cũng lâu dài hơn con người rất nhiều.

Nhân : cảnh giới của con người, điều kiện sống khó khăn hơn,nhưng lại là cảnh giới thuận tiện nhất để tu giải thoát,nhờ có sự quân bình tương đối giữa sướng và khổ.

Atula : cảnh giới của một loài “thiên thần “ (cũng vô hình dưới mắt con người tương tự những sinh linh trong cảnh thiên, nhưng họ phải chịu nhiều đau khổ.) xấu,
Là những sinh linh nhiều tham vọng,ham quyền lực, kiêu căng,ghen ghét, ganh tị…nên thường xuyên có chiến tranh,và những đau khổ thiên về thiên thần.

Ngạ Quỷ: (nghĩa là qủy đói) cảnh giới của những sinh linh tham lam vật chất,của cải,tiền bạc,lạc thú vật chất như ăn uống, nhục dục …(cũng vô hình dưới mắt con người). Lúc nào họ cũng khao khát những thứ đó mà không bao giờ được thỏa mãn,khiến họ luôn khổ đau.

Súc sinh : cảnh giới của loài vật mà chúng ta vẫn thấy :thú vật ,chim chóc,cá…
Ít hiểu biết,kém ý thức. Đời sống thấp kém,hầu như không có đời sống tinh thần.Thường xuyên sống trong sợ hãi có thể bị thúi khác hoặc bị người giết ăn thịt,hoặc có thể bị thúc đẩy đi giết các thú khác.Tất cả đều sợ đói.

Địa ngục : cảnh giới của những sinh linh độc ác, (cũng vô hình dưới mắt con người) hận thù, ích kỷ, ghen ghét,hay giận dữ,hay gây đau khổ cho người khác.Họ phải chịu những cực hình rất đau đớn,khắc nghiệt.Đời sống trong các địa ngục dài hay ngắn tuỳ theo từng địa n gục khác nhau,tuỳ theo sự trầm trọng của điều xấu họ đã làm.

Tất cả các cảnh giới trên đều bị chi phối bởi luật vô thường,nên không có ai cứ được hay phải ở mãi trong một cảnh giới nào,vì không có một điều phúc đức nào vô cùng để đáng thưởng đời đời,mà cũng không có một tội ác nào vô cùng để đáng bị phạt đời đời cả. Do đó,sinh linh cứ tái sinh,cứ bị trôi lăn trong lục đạo đó mãi. Chỉ có những con người biết tu tập trí tuệ để giác ngộ được con đường giải thoát mới ra khỏi cái vòng lẩn quẩn đó.

Trong Lục Đạo,chỉ có hai cảnh giới được coi là sướng,là cảnh giới Thiên vàNhân ,nhưng cảnh giới Nhân là qúy hơn cả.Xét về hạnh phúc thì cảnh giới Thiên có nhiều điều kiện thuận lợi hơn,nhưng chính vì thế,mà họ bị ru ngủ không muốn đi tìm sự giải thoát thật sự,để rồi khi họ hưởng hết phúc lành,họ lại rơi vào một cảnh giới khổ hơn. Các Atula thì tâm trí bị thu hút vào việc tranh cãi và hơn thua.Các Ngạ qủy thì quan tâm đến những thèm khát không được thỏa mãn. Súc sinh thì u mê chỉ nghĩ đến thức ăn và thoả mãn tính dục,.Còn sinh linh ở địa ngục thì bị hình khổ đủ cách,nên không có đầu óc đâu mà nghĩ đến Đạo giải thoát. Chỉ có con người sướng khổ tương đối quân bình,nên có nhiều điều kiện thuận lợi để phát tâm đi tìm con đường giải thoát.Chỉ có con người là có nhiều tự do quyết định hơn cả,có đầu óc sáng suốt hơn cả,để có thể đạt tới trí tuệ giải thoát. Nên trong Lục Đạo, chỉ có con người là có nhiều cơ may,nhiều khả năng để thành Phật nhất. Do đó theo Đức Phật,được làm người là cả một cơ hội qýy báu không nên uổng phí (kinh Duy Ma Cật, Phẩm Phật Đạo,Phẩm 8 nói rõ điều đó).

VIỆC ĐỘ VONG

Trong Phật giáo,không có quan niệm về một Đấng Sáng Tạo,điều khiển và chi phối mọi sự.Tất cả đều xảy ra theo quy luật của vũ trụ.Một người bị rơi vào địa ngục hay đầu thai vào cảnh giới nào hoàn toàn không do một Đấng Tối Cao nào phán xét và định đoạt cả.Cũng y như một người xử dụng dao không khéo bị đứt tay,hay một người ích kỷ bị mọi người ghét,một người vui vẻ được nhiều người thương.Đó là luật Nhân Quả tác động một cáchj khách quan như bao định luật khác.Việc độ vong cũng chỉ dựa vào luật nhân quả mà cứu,chứ không cầu khẩn aui được cả.Cũng như muốn cứu một người bị điện giật,bị bệnh ung thư,…điều quan trọng là có biết cách cứu hay không,có biết những định luật về điện hay về bệnh tật hay không.Định luật có nhiều thứ,vật lý,tâm lý,siêu vật lý,siêu tâm lý…

Quan niệm của người Phật tử về việc độ vong căn cứ trên câu chuyện trong kinh Vu Lan: Mục Kiều Liên được Đức Phật chỉ dạy cách cứu mẹ mình –là bà Thanh Đề- thoát khỏi kiếp Ngạ qủy.Phật dạy ông mới những vị cao tăng vừa “an cư kiết hạ” (An cư kiết hạ :là thời gian Phật quy định cho chư tăng ở mỗi địa phương phải hội về một nơi thuận tiện để chuyên tu mỗi năm,từ 16.4 đến 15.7 âm lịch.Tương tự như tĩnh tâm,cấm phòng hay linh thao bên Kitô giáo.). Suốt ba tháng xong,tới chú nguyện để vong linh mẹ ông chuyển tâm địa độc ác thành tâm địa lành,nhờ đó mà thoát khỏi kiếp Ngạ quỷ,sinh vào cảnh giới hạnh phúc hơn.

Trong việc cứu bà Thanh Đề,mẹ của Mục Kiều Liên,Phật đã áp dụng tới sức mạnh của sự chú nguyện (chú nguyện : chú là chú ý, tập trung tư tưởng,hay năng lực tinh thần vàoi việc gì; nguyện là cầu mong,ước muốn) khác với cầu nguyện bên Kitô giáo,chú nguyện là tập trung hết năng lực tinh thần của mình để ước muốn điều gì,năng lực được tập trung lại đó nếu dù có thể làm biến chuyển,thay đổi tình thế.Đây là vấn đề sức mạnh của tư tưởng mà các nhà tâm lý học hiện đại đều công nhận).,của rất nhiều nguời có năng lực tinh thần rất mạnh (các cao tăng sau thời gian tinh tấn tu hành –ba tháng “linh thao” ) để tác động vào bản thân của bà Thanh Đề khiến bà thay đổi tâm địa (từ tâm ích kỷ bủn xỉn độc ác,thành tâm vị tha quảng đại từ bi). Tâm thay đổi thì sướng khổ cũng thay đổi theo như câu :”Tội tuỳ tâm sinh,tội tùng tâm diệt” hay “khô tuỳ tâm sinh,khổ tùng tâm diệt”. Nhờ vậy bà thoát khỏi cảnh giới ngạ quỷ,sinh vào cảnh giới lành,không có sự can thiệp của thần linh nào vào đây cả.

Lễ Vu Lan cũng như tháng 7 âm lịch là dịp để cho người Phật tử đặc biệt làm công việc cứu độ ấy bằng sự chú nguyện,không những cho cha mẹ ông bà tổ tiên mình mà còn cho nhiều người khác nữa.

SỰ ĐỒNG DỊ GIỮA HAI QUAN NIỆM

NHỮNG ĐIỂM TƯƠNG ĐỒNG:

-Điểm căn bản nhất là cả hai tôn giáo đều cho rằng các tín đồ còn sống đều có thể cứu độ những vong linh quá cố.

-Những đau khổ sau khi chết đều là kết quả của những việc làm sai trái,không hoàn hảo của đương sự khi còn sống.Vì điều thiện sinh quả lành là hạnh phúc,điều dữ sinh quả dữ là đau khổ.

-Mỗi năm,cả hai tôn giáo đều có một ngày lễ đặc biệt để tưởng nhớ và cưu độ người quá cố,thậm chí dành ra cả tháng để làm công việc này.Việc cầu nguyện của Kitô hữu hay việc chú nguyện của Phật tử để độ vong có hữu hiệu hay không thì tuỳ thuộc vào lòng thành tâm,sự trong sạch,thánh thiện hay mức độ tu luyện tâm linh của tín hữu còn sống.Và nhiều người cùng hợp nhau cầu nguyện hay chú nguyện thì việc độ vong có kết quả hơn.

-Việc độ vong trong cả hai tôn giáo đều được coi là bổn phâ5n của những người còn sống,để tỏ lòng thảo hiếu đối với ông bà cha mẹ cũng như cửu huyền thất tổ,để tỏ lòng biết ơn đối với các ân nhân,và lòng tư b I bác ái đối với những vong linh khác,nhất là những vong linh không nơi nương tựa.

NHỮNG ĐIỂM DỊ BIỆT.

-Theo Phật giáo,mọi việc lành dữ của con người đều gây ra những hậu quả tốt xấu theo quy luật nhân quả,không có ai xét xử hay luận phạt cả.Còn theo Kitô giáo,Thiên Chúa là Đấng xét xử mọi việc làm và thưởng phạt công bằng.Như thế,một đằng chỉ có quy luật nhân-duyên-quả tác động một cách thích hợp,một đằng là có Đấng cầm cân nảy mực.

-Kitô giáo quan niệm chỉ có hai “đời “ :đời này và đời đời (vĩnh cửu). Đối với những người tốt lành nhưng chưa hoàn hảo thì còn một giai đoạn trung gian để chịu những đau khổ thanh luyện.Việc độ vong chỉ nhằm đối tượng là những người này,chứ không độ vong cho những người đã hưởng mặt Chúa,hay vĩnh viễn phải xa lìa Chúa.

Còn Phật giáo quan niệm có vô số kiếp liên tục tiếp theo nhau,có giai đoạn trung gian thân trung ấm.Trừ những người tu giải thoát hay thành Phật,tất cả mọi người đều phải đầu thai lại vào một trong 6 nẻo của Lục Đạo. Việc độ vong chỉ nhắm tới những người đang đau khổ từ kiếp người trở xuống.Không có một sinh linh nào đáng thất vọng vì bị hư mất đời đời đến nỗi không độ vong được.

- Việc độ vong của Phật giáo là dùng sức mạnh tinh thần của việc chú nguyêỵ để ảnh hưởng trực tiếp tới tâm địa của những người đang bị đau khổ trong kiếp sau của họ,hầu trợ thêm sức lực tâm linh cho họ dể họ thay đổi tâm địa từ xấu thành tốt.Nhờ vậy họ thay đổi được số phận như vậy cũng là áp dụng những định luật tâm linh vốn tác động một cách phù hợp để đạt mục đích.Người sống cũng có thể nhớ những người khác có nhiều năng lực tinh thần hơn –càng đông càn tốt- để chú nguyện thay cho mình.Những người khác đó có thể là những người đang cùng sống với mình,mà cũng có thể là những vị Phật hay Bồ Tát hoặc đang ở một cõi nào đó hoặc đang hiện thân làm người đồng thời với mình.Việc cầu siêu chính là nhờ những thể lực chú nguyện của các bậc chân chính tu hành cùng sự hộ niệm của tín đồ thành tâm cầu xin chư Phật,Bồ Tát gia hộ.

- Còn người Kitô hữu dùng lời cầu nguyện ,những việc đạo đức,những việc thiện,sụ hy sinh hãm mình và nhất là dâng thánh lễ hay xin lễ để cầu xin Thiên Chúa (hoặc gián tiếp nhờ các Thánh cầu bầu cùng Chúa).Thiên Chúa sẽ tác động tới các linh hồn đang thanh luyện cách nào đó để họ vẫn trở nên hoàn hảo xứng đáng hưởng hạnh phúc bên Thiên Chúa,nhưng được giảm phần đau khổ do thanh luyện.Mọi sự đều hoàn toàn tuỳ thuộc vào tinh thương của Thiên Chúa,chứ không theo định luật tự nhiên nào tác động cách máy móc cả. Người sống không thể tác động trực tiếp tới các linh hồn được.

ÁP DỤNG MỤC VỤ

Lễ Vu Lan của Phật gíáo đã ảnh hưởng sâu rộng trong quần chúng (kể cả ngoài Phật gíao),đã đi sâu vào tâm thức của dân tộc góp phần tài bồi văn hóa VN.Vì thế,người Kitô hữu VN nên coi lễ Vu Lan như một nét văn hóa,một phong tục tập quán tốt đẹp của dân tộc,và nên áp dụng tinh thần tốt đẹp của phong tục này.Chúng ta vừa là người trong Giáo Hội,vừa là thành phần của dân tộc VN,nếu đã sentire cum Ecclesia(cảm thông cùng Giào Hội) thì cũng nên sentire cum Patria (cảm thông cùbng dân tộc mình).Xin gợi ra một vài điểm sau đây để cùng suy nghĩ:

1. Đang khi đa số dân tộc ta dành ra tháng 7 âm lịch mỗi năm để tưởng nhớ tới ông bà tổ tiên và những người đã quá cố,chúng ta cũng nên cùng làm điều đó với họ theo cách thức của người Kitô hữu chúng ta.Thực ra,Giáo Hội cũng dành ra cả tháng 11 để mọi người Kitô hữu trên thế giới làm việc đó.Nhưng rất tiếc hai thời gian đó không trùng với nhau.Vì thế,trong tinh thần hoà mình với dân tộc chúng ta nên làm việc đó hai lần trong năm:một lần cùng với Giáo Hội,một lần cùng với dân tộc mình. Những người thân đã quá cố của chúng ta hẳn sẽ ủng hộ điều này.

2. Để hoà mình hơn nữa với dân tộc,chúng ta có thể làm bàn thờ gia tiên trong nhà của mình.Hình thức thế nào thì tuỳ theo sáng kiến của từng gia đình.Có thể làm bàn thờ gia tiên ngay dưới bàn thờ Chúa,để khi hướng về bàn thờ cầu nguyện thì cũng nhìn thấy những biểu tượng (như hình ảnh,kỷ vật…)của người quá cố để tưởng nhớ và cầu nguyện cho họ.Miễn sao đừng để bàn thờ gia tiên nổi bật hơn bàn thờ Chúa.Luôn luôn phải nhớ nguyên tắc: Chúa thì thờ,tổ tiên thì kính nhớ.Có thể dùng nhang,bông hoa,trái cây,đèn làm biểu tượng cụ thể của lòng thành kính (đương nhiên không phải để vong linh người chết ngửi hương hay ăn uống gì,đó chỉ là hình thức văn hóa để tỏ lòng kính nhớ.Thời Cựu ước,dân do thái sát tế chiên bò đâu phải để cho Thiên Chúa ăn,đó chỉ là hình thức tôn giáo để biểu lộ sự thuần phục đối với chủ tể tối cao của mình.)

3. Mỗi gia đình đều có tổ tiên để kính nhớ,thì cả dân tộc cũng thế.Tổ tiên của dân tộc VN là các vua Hùng Vương,được cả nước làm giỗ vào ngày 10.3 âm lịch mỗi năm,bằng một lễ hội trọng thể tại các đình.Thiết tưởng chúng ta cũng nên tưởng nhớ và cầu nguyện cho tổ tiên của cả dân tộc mình trong ngày đó,cụ thể trong thánh lễ đúng ngày.Chẳng lẽ chúng ta chỉ dành việc cúng giỗ tổ tiên dân tộc cho những anh em tôn giáo khác làm thế mình.

4. Nếu mỗi gia đình đều nên có một bàn thờ gia tiên,thì tại một số nhà thờ lớn mang tính cách quốc gia hay thành phố lớn,nên có một bàn thờ kính nhớ tổ tiên của cả dân tộc mình ở một chỗ nào đó thuận tiện và thích hợp.Cần phải khuyến khích tin h thần thảo kính đối với tổ tiên của cả nước,có như thế mới tạo nên tinh thần dân tộc,gợi lên lòng yêu nuớc thương nòi,bày tỏ lòng biết ơn tiền nhânĐiều đó chẳng hợp với tinh thần thư chung 1980 của HĐGMVN sao?

5. Trong tâm tình tri ân đối với tổ quốc,chúng ta cũng không nên quên những vị anh hùng dân tộc trong quá khứ đã viết nên trang sử oai hùng cho đất nước,và biết bao chiến sĩ khác đã đổ máu ra để bảo vệ quê hương xứ sở này,cho ta được sống yên vui,ấm no, hạnh phúc.Chúng ta có bổn phận nhớ ơn và cầu nguyện cho họ,đặc biệt trong tháng các linh hồn mỗi năm.


Nguyễn Chính Kết


 

2/11-8: THẮP MỘT NÉN HƯƠNG LÒNG

 

Hàng năm tháng mười một về nhắc nhớ chúng ta mùa báo hiếu, nhớ về tổ tiên, những người: 2/11-8


Hàng năm tháng mười một về nhắc nhớ chúng ta mùa báo hiếu, nhớ về tổ tiên, những người tuy đã vắng bóng trong cuộc sống của chúng ta. Dù những người thân yêu ấy không còn hiện diện thể lý, trò chuyện, làm việc hay giải trí chung với chúng ta; nhưng tâm tình yêu thương, lòng tự trọng và công đức các ngài vẫn luôn âm hưởng trong tâm tưởng, thấm nhuần và ảnh hưởng tới tâm tình và lối sống của chúng ta. Chúng ta cầu nguyện cho các ngài. Sống như thế chúng ta đang báo hiếu cho những bậc sinh thành cha ông và thể hiện cùng đáp ứng những nguyện vọng mong chờ của những người quá cố!

Mẹ thánh Mônica suốt một cuộc đời khổ đau dằn vặt vì đứa con đi hoang, mẹ không ngừng cầu nguyện cho con để xin Chúa đổi đời cho con. Người con đó đã đổi đời giã từ những đi hoang để sống niềm tin vào Chúa và sống hiền thảo cùng mẹ. Người thanh niên ấy không chỉ đổi đời mà còn trở thành một linh mục, một giám mục thánh đức và một nhà thần học uyên bác, bá chủ nền thần học Kitô giáo suốt sáu thế kỷ và tư tưởng của Ngài vẫn còn được khảo cứu ngày nay. Người thanh niên đó chính là Augustino, một vị thánh lừng danh với tác phẩm “Tự Thú” (Confessions), đã cống hiến cho người người qua các thời đại nhận chân được nỗi chiến chinh xung khắc của ân sủng và tội lỗi trong cuộc sống tâm linh. Ngài cũng giã bày cho nhân thế con đường trở về từ bùn nhơ ngụp nặn mà ngoi lên tín thác vào tình Chúa, cảm nghiệm tình yêu bao la của lòng nhân ái Chúa!

Trên giường chết mẹ Mônica đã không trăn trối điều chi, ngoài một lời khẩn khoản xin con “hãy nhớ cầu kinh cho mẹ hàng ngày”.

Tôi không được diễm phúc nghe mẹ trăn trối điều chi khi mẹ tôi qua đời, vì lúc đó tôi đang ở đệ tử viện. Khi mẹ bất tỉnh sắp sinh thì, tôi mới được tin về quỳ bên giường mẹ, nắm tay mẹ trước khi mẹ thở hơi thở cuối đời. Tôi cũng bất hạnh không được ở bên giường lúc ba tôi qua đời, để được ban bí tích xức dầu cho ba trong chức linh mục! Những tôi cũng còn may mắn được gặp ba tôi, dù một cách vã vội và ngắn ngủi, ba tuần trước khi ông cụ qua đời. Tôi không nhớ chi ngoài hình ảnh ba tôi nhợt nhạt gầy ốm, cố nén cơn đau của cơn bệnh hiểm nghèo ung thư trong giai đoạn cuối và thều thào nói với tôi “con nhớ cầu nguyện cho ba hàng ngày!”

Bây giờ ngồi nhớ lại tôi khám phá ra tâm tình và nỗi khát mong của hầu hết những người ra đi vào cõi sống vĩnh hằng là lời xin cầu nguyện! Tôi đã và đang cố gắng thể hiện điều đó trong ngày sống của tôi. Tháng các đẳng về có lẽ thúc đẩy tôi nỗ lực sống đạo hiếu, siêng năng cầu nguyện nhiều hơn cho những người thân yêu cũng như các linh hồn mồ côi và chắc chắn các ngài sẽ không thua lòng quảng đại của chúng ta để bang trợ chúng ta trong cuộc sống hôm nay.

Tháng này cũng nhắc nhớ chúng ta tới lễ các thánh tử đạo Việt Nam. Các ngài đang vinh hưởng trên quê trời, nêu gương hào hùng chiếu soi cho chúng ta trong cuộc đấu tranh giữ vững đức tin dù có phải đánh đổi mạng sống! Những tấm gương soi đó đang thúc bách chúng ta trung thành hơn với Tin Mừng Chúa Kitô trong dòng đời của chúng ta tại hải ngoại cũng như nâng đỡ chia sẻ Thập Giá với những thương đau của anh chị em tại quê nhà. Một điều làm tôi hết sức khâm phục là lòng quảng đại chia cơm sẻ áo không biết mệt mỏi của người Việt hải ngoại trước những thảm họa như không ngừng đổ xuống dân tộc Việt kém may lành trên xứ nghèo quê hương chúng ta! Một lòng quảng đại đáng khâm phục.


Lm Anthony Nguyễn Hữu Quảng


 

2/11-9: SỨ ĐIỆP TỪ NHỮNG NẤM MỒ

 

Khi còn sống với nhau trên trần gian,chúng ta chia sẻ với nhau những lo âu,những hy vọng: 2/11-9


Khi còn sống với nhau trên trần gian,chúng ta chia sẻ với nhau những lo âu,những hy vọng,những kỷ niệm buồn vui,những thành công,thất bại,những lời chê trách hay những vỗ về,an ủi,phấn chấn nhau… nhưng khi một bên đã quá cố,sợi dây liên lạc đó không còn cụ thể hữu hình như khi xưa nữa.Người còn sống và người quá cố liên lạc với nhau qu tâm tình nhớ nhung thương mến.Đó đây như vong linh người quá cố vẫn luôn vảng vất trong cuộc sống người còbn đang sống.

SỢI DÂY LIÊN LẠC

Người đã đi về thế giới bên kia nằm sâu dưới lòng đất hay đã tiêu tan ra tro bụi.Người còn sống trên mặt đất buồn sầu tưởng nhớ người đã vĩnh viễn ra đi không có ngày trở lại cuộc sống trên trần gian nữa.

Người còn sống lần giở lại những hình ảnh kỷ niệm xa xưa,những giờ phút năm tháng chung sống cùng nhau đã trải qua để nhớ về người đã quá cố.Những kỷ niệm này làm sống lại đời sống năm xưa hy vọng phần nào củng cố tinh thần nghị lực tiếp tục cuộc anh phải sống trên trần gian.

Tâm tình này rất nhân bản và cần thiết cho đời sống mỗi người.Tâm tình này nói lên lòng trung thành và lòng biếty ơn với nhau:khi còn chung sống với nhau hay đã ra người thiên cổ,chúng ta vẫn có nhau!
Tâm tình này sống động trong mọi dân tộc vào mọi thời gian.Đâu đâu những nghĩa trang cũng được chăm sóc cẩn thận.

Người Công giáo hằng năm vào ngày 2-11 có tập tục đạo đức hiếu thảo tốt lành thăm viếng phần mộ người thân thuộc đọc kinh cầu nguyện cho họ. Ở các xứ đạo sau thánh lễ ngày 1 - 11 hoặc những ngày kế tiếp,cha xứ và giáo dân trong xứ tụ tập ở nghĩa trang đọc kinh và làm phép mồ mả.Vào ngày này thân nhân người quá cố dọn dẹp trang hoàng mồ mả với hoa nến,để nói lên lòng thành kính thương mến với người quá cố và cũng để nói lên niềm tin : tôi tin xác loài người ngày sau sống lại và sự sống đời sau !

SỨ ĐIỆP NẤM MỒ.

Trên những phần mộ thường có cây Thánh giá.Cây Thánh giá nói lên niềm tin: Chúa Giêsu đã hy sinh chịu chết trên đó để cứu chuộc con người khỏi vòng liên lụy của tội lỗi. Thánh giá Chúa Giêsu là ơn cứu độ niềm hy vọng cho con người.

Trên đó cũng thường có tấm bia có khắc ghi di ảnh người quá cố với ngày tháng năm cùng nơi sinh ra và ngày tháng qua đời.Cũng trên tấm bia có khắc 3 chữ : R.I.P.Đây là 3 chữ tắt của câu bằng Latinh : requiescat in pace - Ong,bà,anh,chị,em…an giấc ngàn thu !

Có những tấm bia trên phần mộ ghi lại câu kinh thánh hay những lời từ biệt lời cám ơn.Phải chăng chết đi về thế giới bên kia là hết,là chấm dứt mọi liên đới ?

Chúa Giêsu trong bữa Tiệc ly với các tông đồ đã nói với họ lời từ giã trước khi tự nguyện hy sinh chịu chết : Thày đi về cùng Cha Thày ! (Ga 14,1-14). Lời từ biệt này nói lên mối dây ràng buộc niềm tin và tình yêu vào Thiên Chúa.

Người thân yêu đã ra đi,theo niềm tin của người Công giáo chúng ta,cũng như Chúa Giêsu : về cùng Thiên Chúa Cha.Như thế họ cũng để lại di chúc lời từ giã như sau :

Tôi ra đi bây giờ nằm sâu dưới lòng đất,nhưng tôi tin rằng tôi trở về cùng Thiên Chúa,Đấng sinh thành ra tôi.
Tôi nằm sâu trong lòng nấm mồ này,nhưng tôi vẫn hằng hy vọng trông mong Thiên Chúa sẽ cứu độ tôi và sẽ cho tôi sống lại được hưởng đời sống bất diệt như Ngài đã cho Chúa Giêsu sống lại từ cõi chết.

Tôi bây giờ nằm chôn kín trong nấm mồ xây kín bằng ximăng cát đá,nhưng tôi hằng có tâm tình yêu mến Thiên Chúa của tôi,vì Ngài là Cha đời tôi.Và tôi biết Ngài hằng yêu mến tôi.

Đứng trước nấm mồ người quá cố,tâm tình buồn thương nhớ tiếc làm sống lại những hình ảnh kỷ niệm buồn vui năm xưa.Thánh Giá Chúa Giêsu và cây nến cháy sáng trên phần mộ tựa như những lời nhắn nhủ của người quá cố nói với người thân còn sống : Tôi đi về cùng Thiên Chúa Cha,về cùng Đấng là nguồn sự sống và nguồn tình yêu.

Lm Nguyễn Ngọc Long - Cộng Hoà Liên Bang Đức



 

2/11-10: LỄ CẦU CHO CÁC LINH HỒN

 

Ngay từ thời tiên khởi, Giáo Hội đã khuyến khích chúng ta cầu cầu nguyện cho người chết như: 2/11-10


Ngay từ thời tiên khởi, Giáo Hội đã khuyến khích chúng ta cầu nguyện cho người chết như một nghĩa cử bác ái. Thánh Augustine viết, "Nếu chúng ta không lưu tâm gì đến người chết, thì chúng ta sẽ không có thói quen cầu nguyện cho họ." Tuy nhiên, các nghi thức cầu cho người chết có tính cách dị đoan thời tiền-Kitô Giáo đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến nỗi mãi cho đến đầu thời Trung Cổ, nhờ các dòng ẩn tu có thói quen cầu nguyện cho các tu sĩ đã qua đời hàng năm thì một nghi thức phụng vụ cầu cho người chết mới được thiết lập.

Vào giữa thế kỷ 11, Thánh Odilo, Tu Viện Trưởng dòng Cluny, ra lệnh rằng mọi tu viện dòng Cluny phải cầu nguyện đặc biệt và hát kinh Nhật Tụng cầu cho người chết vào ngày 2 tháng Mười Một, ngay sau lễ Các Thánh. Truyền thống này được lan rộng và sau cùng được Giáo Hội chấp nhận đưa vào niên lịch Công Giáo La Mã.

Ý nghĩa thần học làm nền tảng cho ngày lễ này là sự thừa nhận bản tính yếu đuối của con người. Vì ít có ai đạt được một đời sống trọn hảo, mà hầu hết đã chết đi với vết tích tội lỗi, do đó cần có thời gian thanh tẩy trước khi linh hồn ấy được đối diện với Thiên Chúa. Công Đồng Triđentinô xác nhận có luyện tội và nhấn mạnh rằng lời cầu nguyện của người sống có thể rút bớt thời gian thanh luyện của linh hồn người chết.

Sự dị đoan vẫn còn dính dấp đến ngày lễ này. Thời trung cổ người ta tin rằng các linh hồn trong luyện tội có thể xuất hiện vào ngày lễ này dưới hình thức các phù thủy, các con cóc hay ma trơi. Và họ đem thức ăn ra ngoài mộ để yên ủi người chết.

Tuy nhiên việc cử hành lễ với tính cách tôn giáo vẫn trổi vượt. Người ta tổ chức đọc kinh cầu nguyện ở nghĩa trang hay đi thăm mộ người thân yêu đã qua đời và quét dọn, trang hoàng với nến và hoa.

Lời Bàn

Có nên cầu nguyện cho người chết hay không là một tranh luận lớn khiến chia cắt Kitô Giáo. Vì sự lạm dụng ơn xá trong Giáo Hội thời ấy nên Luther đã tẩy chay quan niệm luyên tội. Tuy nhiên, đối với chúng ta, cầu cho người thân yêu là một phương cách cắt bỏ sự chia lìa với người chết. Qua lời cầu nguyện, chúng ta cùng đứng với những người thân yêu, dù còn sống hay đã ra đi trước chúng ta, để dâng lời cầu xin lên Thiên Chúa.

Lời Trích

"Chúng ta không thể coi luyện tội là một nhà tù đầy lửa cận kề với hỏa ngục - hoặc ngay cả 'một thời gian ngắn của hỏa ngục.' Thật phạm thượng khi nghĩ rằng đó là một nơi chốn mà Thiên Chúa bủn xỉn đang bòn rút từng chút thân xác... Thánh Catherine ở Genoa, vị huyền nhiệm của thế kỷ 15, viết rằng 'lửa' luyện tội là tình yêu Thiên Chúa 'nung nấu' trong linh hồn đến nỗi, sau cùng, toàn thể linh hồn ấy bừng cháy lên. Đó là sự đau khổ của lòng khao khát muốn được xứng đáng với Đấng được coi là đáng yêu quý vô cùng, họ đau khổ vì sự mơ ước được kết hợp đã cầm chắc trong tay, nhưng lại chưa được hưởng thật trọn vẹn" (Leonard Foley, O.F.M., Tin Chúa Giêsu).


Lm Nguyễn Phước


 

2/11-11: NGÀY VỀ CỦA

 

Nếu một ngày kia thế giới không có mẹ, cuộc sống sẽ khô cằn và trở nên trống vắng. Đã: 2/11-11


Nếu một ngày kia thế giới không có mẹ, cuộc sống sẽ khô cằn và trở nên trống vắng. Đã sinh ra đời ai là người không có mẹ, mẹ không sống đủ đời nhưng cho con dư dả tiếng cười cùng tiếng khóc. Tuột khỏi vòng tay mẹ, con trượt ngã tuổi thơ. Mẹ cho con tiếng nói,cho con sự sống, tình yêu. Dòng đời cứ lan mãi, một ngày kia con hoảng sợ nhận ra sắp mất mẹ. Con muốn níu thời gian chậm lại những ngày, để kịp trả nghĩa, nhưng dường như đã muộn màng, tuổi già đến mau và tuổi đời con vội vã. Cuộc sống cuốn hút con từng ngày, mải mê với lo lắng chắt chiu, ồn ào và buồn vui.

Ngày mẹ về, nỗi nhớ mong của những người con thổn thức, căn phòng xưa rộn tiếng cười câu nói, nay bỗng im lặng và trĩu nặng. Những ánh mắt nhìn nhau rồi ứa lệ, giờ đây mới nhận ra rằng, từ nay côi cút mỗi người một góc.

"Đâu rồi vòng tay âu yếm hôm nào
Tiếng cười giòn dã ôm vào gối mẹ"

Mẹ ! tiếng gọi đầu tiên con bập bẹ, tiếng nói lần đầu và suốt đời con thao thức. Những khi chơi vơi ngọt ngào, tiếng Mẹ an ủi vỗ về, những khi vui cười, tiếng Mẹ khích lệ, hoan hô. Tiếng nói của Mẹ như tiếng sóng ngàn trùng kêu gọi con ra khơi với cuộc đời, đưa con đi lướt qua những cơn sóng dữ, tiếng nói ấy từ nay thôi không còn ngăn con khỏi khóc.
Như chiếc lá thu mau trở về cội, Mẹ không còn cho tiếng cưòi, câu nói, bước chân vòng tay âu yếm, nụ hôn thắm hồng, vội vã một mình Mẹ ra đi, không chờ con dìu bước.

" Sao người đi sâu vào không gian trong,
Bức tường vô hình nên bức tường dầy mênh mông,
Vì sao lòng tôi không là vô tận
Cho gặp gỡ những đường tàu đi song song "
( Nguyên Sa)

Ngày mẹ về là lúc con biết ghen với những ai còn Mẹ, con đâu còn được bàn tay Mẹ âu yếm vuốt ve, con muốn sống lại những ngày còn có Mẹ, khi tuổi thơ hay khi đã trưởng thành, khi thất bại cũng như khi thành công, mẹ bao giờ cũng là ngưòi con yêu.

" Dẫu biết đường đi có chừng
Gió chiều sao vẫn ớn trên lưng
Trái tim bỗng dội niềm xao xuyến
Tàu rẽ vào ga, chặng cuối cùng ".
( Hồ Dếnh )

Chuyến tàu đời, từ đây mình con lặng lẽ, đời kém hẳn niềm vui, vắng nhiều tiếng cười, nỗi bơ vơ lấy gì lấp đầy, còn ai chia sẻ những khi thành công hay khi thất bại. Một mình một bóng những đêm buồn lạnh, cơi trầu bỏ quên, nhiều khi con tự hỏi quê mẹ không còn mẹ, có còn được gọi là quê cha đất mẹ nữa hay không ? Mẹ về con ở, mẹ ở con đi, quê mẹ không còn mẹ bao giờ con lại về. Mẹ như dấu chấm buông xuống đời con. Con xa mẹ như ngày không nắng, mẹ xa con như nắng mây che, buồn cũng xót xa mà vui cũng không trọn.

Ngày mẹ về, con chợt tỉnh dưới những bon chen tất bật của đời thường. Giật mình hoảng hốt trước thời gian vụt đến, con chợt nhớ lời của đứa bạn tâm sự : "Tao đi gần hết vòng trái đất, nếm bao niềm vui, mùi vị cuộc đời, mới nghiệm ra một điều : Hơn ba mươi tuổi còn được kêu ba ơi hay mẹ ơi, thì không hạnh phúc nào bằng ".

Và hôm nay con tin điều ấy là thật, khi không còn được gọi tiếng mẹ thân thương nữa.

Cuộc sống bên ngoài và nghề nghiệp hôm nay đòi hỏi quá nhiều thời gian, cần nhiều nỗ lực, đôi khi còn bị lạc hướng quên mất điều chính yếu trong cuộc đời, quên đi nghĩa vụ của ngưòi con là giữ trọn chữ hiếu. Nhiều lúc chính vì sự ơ hờ của con mà tóc mẹ mỗi ngày bạc hơn, tuổi mẹ đã ngắn lại càng ngắn hơn, dường như mẹ buồn hơn khi con cứ chạy theo công việc, chạy theo sự cạnh tranh. Cuộc cạnh tranh nào không phải trả giá, nhưng giá đắt con phải trả cách vô ích là quên mất mẹ cha.


Nhiều muộn màng lỡ đi nhiều cơ hội, những gì là chính yếu thường lại dễ bỏ qua, cho nên cuộc đời chất nhiều nuối tiếc, những nuối tiếc khó có khi lấy lại được, nên cũng nhiều nước mắt. Cho dẫu có muộn màng, cho dẫu có nhiều nuối tiếc, nhưng không bao giờ là quá muộn đối với những ai có tấm lòng, bởi vì con tin rằng chết không phải là hết, đối với những ai tin tưởng.

Nhờ niềm tin con hy vọng vào sự sống vĩnh cửu, nơi đó mọi người sẽ gặp lại nhau trong ngày sau hết. Tất cả những gì chưa thành tựu tại thế sẽ viên tròn trong ngày ấy.

Sẽ là ngày về của mẹ, khi con biết sống những ngày đang sống, là khi con biết vĩnh cửu hoá giây phút hiện tại bằng cách làm tận lực với tất cả tình yêu. Sẽ là ngày về của mẹ, khi con biết nhận ra những giá trị thật trong đời hiện tại ở việc từ bỏ, con tin rằng sự nghiệp đời con sẽ theo con suốt đời, chính vì vậy mà con sẽ kiến tạo trần thế này nên một nơi đáng sống, phẩm giá con người được tôn trọng.

Ngày mẹ về, con không thể tránh được nỗi buồn khi cảm thấy từ đây vắng mẹ, điều ấy con nghĩ rằng tự nhiên thôi, bởi vì con chưa bao giờ sống tâm trạng này là chia ly, mẹ xa con, con xa mẹ. Song qua đó con mới nhận biết yêu cuộc đời, nên con cũng yêu sự chết vì chết là khởi đầu sự sống mới. Chết không là từ bỏ sự sống, nhưng chết là từ bỏ ích kỷ, đam mê bất chính.


Con xin cám ơn mẹ đã cho con cuộc sống, đã cho con góp tiếng nói vào trong cuộc đời, cho con có là có tất cả. Vinh phúc cùng nỗi buồn, nhưng vượt trên hết là được tham dự vào sự sống đời đời.

"Tôi đã được mời dự đại hội trần thế, đời tôi thật là diễm phúc. Đến đây tôi được nhìn và được nghe. Tại hội vui này phần tôi là mang đàn dạo khúc và tôi đã làm hết sức mình. Bây giờ xin thưa, đã đến giờ chưa nhỉ để tôi được phép bước vào nhìn mặt Người và dâng lời kinh lặng thầm." (R.Tagore).


Linh Mục Hoàng Kim Đoan


 

2/11-12: BÀN VỀ LINH HỒN/ (hỏi đáp giáo lý)

Linh Hồn (Soul)

1. Chúng ta có thể nói là con người có linh hồn không?


 

Có thể nói như vậy. Tuy nhiên, nói cho đúng, con người là một tổng hợp gồm thể xác và linh: 2/11-12


Có thể nói như vậy. Tuy nhiên, nói cho đúng, con người là một tổng hợp gồm thể xác và linh hồn, dĩ nhiên, linh hồn là phần cao quý hơn cả.

2. Xin ông chứng minh là con người có linh hồn.

Một người sống thì khác với một người chết. Sự khác biệt giữa xác chết và người sống là linh hồn. Một xác chết thì không thể ăn uống, không thể cử động, không thể biểu lộ cảm xúc. Nó tan rữa và trở về tro bụi. Nhưng có một điều gì đó ngăn chặn thể xác bạn khỏi bị tan rã, đó là linh hồn. Vì trong mỗi một hoạt động bạn đều tìm thấy một nguyên lý hậu thuẫn. Nguyên lý trong con người mà nhờ đó chúng ta biết suy nghĩ và yêu thương, biết vui buồn, là một điều rất thực. Nó không phải là hư không, không có giá trị bằng cái thể xác mà nó làm cho sinh động. Nó cũng không phải là một hoá chất. Vì không một bác sĩ nào, khi khám nghiệm thân xác, có thể nói cho bạn biết là một hoá chất nào đó đã bị mất khiến thân xác đó không sống được. Nếu chỉ là hoá chất thì các bác sĩ và khoa học gia đã có thể tổng hợp thành chất đó, và chỉ cần một tiếng hô biến của họ là thân xác sống lại. Nhưng thực sự họ không thể làm gì được. Có một điều gì đó mà hoá chất không thê đạt tới được; đó là linh hồn hoặc thần khí. Hãy nhìn vào khuôn mặt của một con người, và đằng sau những nét sống động được biểu lộ qua đôi mắt của họ, bạn sẽ nhìn thấy linh hồn.

3. Nếu linh hồn là sự khác biệt giữa một vật thể sống động và một thân xác, thì con vật, hoặc ngay cả cây cỏ cũng phải có một linh hồn.

Đúng như vậy. Một triết thuyết lành mạnh phải công nhận thực vật có sinh hồn (vegetative soul), động vật có giác hồn (sensitive animal soul), và linh hồn bất diệt, thiêng liêng và thông suốt của con người.

4. Chữ thần khí và linh hồn có cùng một nghĩa?

Chữ thần khí (tinh thần) có nghĩa rất rộng. Nó xuất phát từ tiếng Latinh "spiritus", có nghĩa là hơi thở. Như vậy, đối với con mắt của thể xác thì linh hồn con người vô hình như hơi thở, và hơi thở chứng minh sự hiện diện của linh hồn trong một thân xác, do đó chữ thần khí (tinh thần) có ý nghĩa hoán chuyển, nó thay thế cho chữ linh hồn. Vậy nếu chúng ta coi thần khí là nguyên lý sự sống trong một con người, nguyên lý đó giúp họ sống động, hiểu biết và yêu thương, biết vui buồn, thì thần khí là linh hồn.Và trong một ý nghĩa rộng hơn, vì những ý định của một người là tùy thuộc linh hồn của họ, nên chúng ta dùng chữ thần khí để nói lên cá tính, và như thế là nói về tinh thần của họ. Nhưng đây chỉ là linh hồn, được thể hiện qua hành động bên ngoài của một người. Do đó, linh hồn là nguyên lý sống động giúp tạo thành sự khác biệt giữa một người sống và một xác chết, trong ý nghĩa này, thần khí và linh hồn thì giống nhau.

5. Không phải linh hồn là hơi thở của Thiên Chúa hay sao?

Không, vì Thiên Chúa là thần khí, một thực thể thuần tuý thiêng liêng, nên không có hơi thở. Sự diễn tả đó là theo lối nói của loài người. Linh hồn là một thần khí, và được gọi là hơi thở của Thiên Chúa chỉ vì nó được tạo dựng bởi Thiên Chúa trong bản chất thiêng liêng hoặc giống như hơi thở.

6. Linh hồn có trước khi được thụ thai?

Không. Thiên Chúa dựng nên linh hồn cho mỗi một thân xác đang được tạo thành. Thật khó để biết chính xác là lúc nào, nhưng quan điểm chung cho rằng ngay khi bào thai bắt đầu xuất hiện.

7. Có phải linh hồn thì bất tử?

Phải. Theo lẽ tự nhiên thân xác sẽ chết; nhưng bản chất của linh hồn thì bất tử.

8. Ông có những bằng cớ nào để biết linh hồn bất tử?

Sự kiện linh hồn bất tử có thể giải thích bởi nhiều điểm.

Thứ nhất, bản chất cấu tạo của nó khiến cái chết không làm gì được. Chết là sự phân hủy các bộ phận. Chỉ một hợp chất mới có thể bị phân tán và hủy diệt. Tuy nhiên linh hồn không phải là một hợp chất. Bản chất vô hình của nó chứng tỏ nó không lệ thuộc vật chất. Nó được ban cho các khả năng tinh thần, và nó thiêng liêng giống như các khả năng mà nó đã lãnh nhận, giúp nó sống và hoạt động khi tách rời khỏi thân xác. Vì không phải là vật chất, nó không bao giờ bị tiêu hủy hay phân rã như vật chất. Thiên Chúa cũng không ban cho nó một bản chất chỉ thích hợp để sống trong một giai đoạn, và sau cùng thì bị hủy diệt.

Thứ hai, mọi người đều cảm thấy có một bó buộc về luân lý, và mỗi một ràng buộc đòi hỏi phải có sự hy sinh. Thí dụ nhà nước nói, "Đây là luật," và tôi trả lời, "Nếu tôi không tuân theo luật thì sao?" Nếu nhà nước trả lời, "Ồ, thì đâu có sao. Tôi chỉ nói đó là luật thôi. Bạn muốn vi phạm thì vi phạm," điều đó thật lố bịch, thật khôi hài chứ không phải là luật. Tôi biết, một ngày nào đó tôi sẽ phải trả lời về thái độ của tôi đối với ý thức luân lý. Tôi có thể sống qua đời này mà không ai có quyền phán xét tôi về những gì tôi làm. Nhưng thực sự thì linh hồn tôi sẽ phải trả lời trước ngai Đấng Chí Công. Điều đó có nghĩa, linh hồn phải còn sống.

Thứ ba, quan điểm tổng quát về đời sống con người cho chúng ta thấy có nhiều bất công đi ngược với ý thức công bằng. Chúng ta biết một ngày nào đó sự công bằng sẽ được thể hiện, nhưng không ở đời này mà ở đời sau. Điều đó có nghĩa phải có sự hiện diện của chúng ta, do đó, chúng ta vẫn sống sau khi chết. Thứ tư, mỗi một linh hồn đều có sự khao khát không thể thỏa mãn được về hạnh phúc, hạnh phúc lâu dài. Không một điều gì trên trái đất này có thể thoả mãn được sự khát khao ấy. Tuy nhiên, khuynh hướng tự nhiên bẩm sinh này phải có mục đích chính đáng của nó. Cũng giống như đôi mắt của con người, nếu được dựng nên mà không có ánh sáng thì cũng vô ích.Như vậy, khi suy tư về cấu tạo đơn thuần của linh hồn, về sự thưởng phạt tương lai có liên hệ đến ý thức luân lý, về việc chấn chỉnh sự bất công của thế giới, và về khuynh hướng nhắm đến cùng đích tối hảo và cuối cùng, thì từ chối sự hiện hữu của linh hồn là điều không hợp lý.

9. Quy tắc luân lý của chúng ta phải dựa trên cuộc sống mà chúng ta nhận biết - đó là cuộc sống đời này.

Không chỉ có cuộc sống đời này mà chúng ta có sự hiểu biết. Chúng ta hiểu biết qua hai cách, hiểu biết nhờ thực nghiệm, hoặc hiểu biết dựa trên lý lẽ và uy thế. Tôi có sự hiểu biết thực nghiệm về nước Hoa Kỳ là vì tôi đang sống ở Hoa Kỳ, nhưng tôi không có sự hiểu biết thực nghiệm về Phi Châu. Tuy nhiên bạn không thể nói là tôi không biết gì về Phi Châu. Chắc chắn là tôi biết nó hiện diện. Hiện giờ chúng ta có cảm nghiệm về đời này. Nhưng qua các quy tắc về lý lẽ và qua uy thế của Thiên Chúa chúng ta biết sau khi cuộc đời trần thế chấm dứt chúng ta vẫn tiếp tục hiện diện. Chúng ta không thể mong được hiểu biết thực nghiệm về một trạng thái mà bản chất của nó thuộc về tương lai. Ngoài ra, quy tắc luân lý phải giúp điều hòa cá tính của bạn trong toàn thể cuộc đời, giúp xây dựng một nền tảng luân lý tuyệt hảo như một đức tính thường xuyên của bạn cho đến chết. Nếu quy tắc luân lý bao trùm toàn thể sự sống của bạn, thì nó không thể bị giới hạn vào một giai đoạn ngắn ngủi.

10. Nếu mọi sự bất công sẽ được chấn chỉnh và bù đắp trong thế giới đời sau thì tại sao lại đề cập đến sự công bằng ngay tự bây giờ?

Có lẽ bạn quên một nguyên tắc, chúng ta phải luôn luôn làm điều ngay thẳng vì đúng là đúng. Nếu không, chúng ta sẽ bị Thiên Chúa trừng phạt chỉ vì điều đó đúng mà chúng ta không làm. Việc chấn chỉnh những bất công thì tùy thuộc Thiên Chúa ở thế giới đời sau, nhưng điều đó không có nghĩa miễn thứ cho con người nhiệm vụ phải thi hành ở đời này.Con người phải thú nhận có những ơn huệ mà họ lãnh nhận từ Thiên Chúa, và hoàn tất các bổn phận đối với Thiên Chúa, ngay cả khi họ chu toàn bổn phận đối với người khác. Trên thực tế, không phải tất cả mọi người đều chu toàn bổn phận này, và không sớm thì muộn Thiên Chúa sẽ xét xử họ, bù đắp cho những người bị thiệt hại bởi sự bất công của đồng loại.

11. Sự bất công của đời này đòi hỏi phải có đời sau, nhưng tôi tin vào sự đầu thai.

Sự công bằng cho thấy không phải đời này là tất cả. Nhưng ý tưởng của bạn về sự đầu thai đã dựa trên điều bạn tin tưởng sai lầm rằng, ngoài trái đất này ra không thể có sự sống nào khác. Nói cho cùng trái đất này không cần đến một đời sống khác, vì nếu có, nó cũng chỉ thêm những bất công. Có một đời sống khác tốt đẹp hơn đời này, ở đời sau và một chỗ nào đó. Đầu thai là chuyện hoang đường.

12. Học thuyết về sự bất tử của ông cho rằng sau khi chết vẫn có sự nhận thức. Tôi không tin điều ấy, nếu không linh hồn sẽ có ý thức dù người ta mê man, hoặc khi thân xác bị tai nạn và trở nên bất động.

Điều ông nói không làm mất hiệu lực những gì đã trình bầy ở trên, và cũng dễ giải thích. Khi linh hồn kết hợp với thân xác thì nó hoạt động qua các cơ năng của thân xác. Nếu cơ năng bị tê liệt, linh hồn không thể hoạt động cách trọn vẹn trong khi còn kết hợp với thân xác. Nhưng một khi hồn lìa khỏi xác, ngay lập tức nó có sự hiểu biết và ý chí cũng như sức mạnh yêu thương của chính nó. Giống như khí "hydro" và "oxy" tạo thành một giọt nước. Chỉ khi kết hợp với nhau chúng mới có tác dụng như nước. Khí "hydro" có ở đó nhưng nó không thể tác dụng như chất "hydro" cho đến khi tách khỏi sự kết hợp với "oxy". Linh hồn và xác làm thành một con người. Và cả hai yếu tố phải cộng tác với nhau trong các sinh hoạt của một con người. Linh hồn không thể hoạt động một cách biệt lập như đơn vị riêng biệt một khi nó vẫn còn kết hợp. Nhưng khi tách biệt, nó có thể tác dụng một cách độc lập cũng như khí "hydro" khi được tách biệt với "oxy".

13. Giác hồn động vật có bất tử không?

Không bất tử. Động vật không thể sống, không thể hoạt động mà không dựa vào điều kiện vật chất. Động vật không thể vượt trên tri giác để đạt đến mức khả tri. Ngoài ra chúng không có trực giác về luân lý. Do đó giác hồn động vật tùy thuộc vào vật chất vừa để sống và để hiện hữu, và chết là hết.

14. Tại sao một khi được sinh ra, chúng ta lại có quyền hiện hữu đời đời?

Không chỉ có sự kiện được sinh ra mà thôi, nhưng được sinh ra với một bản tính như vậy. Linh hồn thì rất thích hợp với bản tính tồn tại đời đời, vì một thực thể thiêng liêng không thể tàn lụi và chết được. Tại sao chúng ta được ban cho bản tính ấy? Vì Đấng dựng nên chúng ta muốn như vậy. Chúng ta không tự tạo nên chính mình nên chúng ta không thể ban cho chính mình quyền gì cả. Quyền là do Đấng đã sinh ra chúng ta. Nếu một nghệ nhân vẽ hình một cô gái trên tấm vải, và giả như tấm hình ấy có thể nói được, thì rất có thể cô ấy hỏi, "Ông có quyền gì vẽ tóc tôi màu nâu?" Nghệ nhân có thể trả lời, "Vì tôi tạo nên cô, tôi có quyền cho tóc cô bất cứ mầu gì tôi muốn." Thiên Chúa có quyền tạo nên các linh hồn bất tử nếu Ngài muốn. Và chúng ta có quyền sống đời đời là vì Ngài muốn ban cho chúng ta bản tính bất tử.

15. Con người không làm chủ linh hồn.

Chính họ là linh hồn. Phúc Âm viết Thiên Chúa thổi hơi sự sống vào thân xác, và nó trở nên một linh hồn sống động.Hơi sự sống hoặc là một điều gì đó có thực, hoặc không là gì cả. Nhưng không thể nào một điều không là gì cả có thể làm cho thân xác sống động. Chắc chắn phải là điều gì đó, và điều gì đó đã tạo nên trí hồn (intelligent soul) của con người. Nếu con người không có linh hồn, thì thay vì là một tổng thể của xác và hồn, nó chỉ là thể xác. Và nếu thể xác đó là linh hồn, không lẽ linh hồn lại mang giầy! Tuy nhiên vì bạn tin vào Phúc Âm, bạn sẽ thấy rằng Đức Kitô rõ ràng đề cập đến sự khác biệt giữa thân xác vật chất và linh hồn khi Ngài nói, "Hãy sờ mà xem, vì linh hồn đâu có xương thịt, như anh em thấy Thầy có đây" (Luca 24:39 [sau khi Chúa Giêsu sống lại và gặp các tông đồ]). Một thân xác, bởi xương thịt, không thể nào trở thành một linh hồn sống động.

16. Tôi luôn được dạy rằng linh hồn và tinh thần của con người thì giống nhau, nhưng trong một vài đoạn, dường như Thánh Phaolô phân biệt hai điều này. Phải hiểu như thế nào?

Chữ "linh hồn" và "thần khí" (tinh thần) được dùng trong Phúc Âm với nhiều nghĩa khác nhau (Giáo Lý Công Giáo 363). Sách Sáng Thế 2:7 nói rằng Thiên Chúa tạo nên thân xác con người từ đất, thổi vào con người hơi (thần khí) sự sống, và bởi đó "con người trở nên một linh hồn sống động" (dịch theo nghĩa đen). Ở đây chữ "linh hồn" được dùng để chỉ toàn thể con người, gồm thân xác và linh hồn. Trong Khải Huyền 6:9 và 20:4 lại được dùng khác đi, khi Thánh Gioan trông thấy các linh hồn của những người đã chết vì phúc âm. Chữ "linh hồn" ở đây không chỉ về toàn thể con người, bao gồm thân xác, nhưng để chỉ phần phi vật chất, là thần khí, không bị chết.Trong hai câu Phúc Âm (1. Thess. 5:23 và Heb. 4:12) "linh hồn" và "thần khí" dường như được dùng với hai nghĩa khác nhau, nhưng điều này không chứng minh là có hai thực thể phi vật chất trong một con người. Các tác giả dùng hai chữ này song song với nhau vì tác dụng thi văn; họ không nói đến các phần tử của một con người.Giáo Lý Công Giáo soi sáng vấn đề này: "Đôi khi linh hồn được phân biệt với thần khí? Giáo Hội dạy rằng sự phân biệt ấy không dẫn đến tính cách nhị nguyên của linh hồn. 'Thần khí' có nghĩa là qua sự tạo dựng con người được mệnh lệnh phải đạt đến cùng đích siêu nhiên và nhờ ơn sủng linh hồn có thể được nâng lên trên tất cả để hiệp thông với Thiên Chúa" (GLCG 367).


Lm Thiên Lâm


 

2/11-13: NGƯỜI CÔNG GIÁO VÀ SỰ CHẾT

 

Mỗi người công giáo chúng ta có ba nhà : nhà thứ nhất, là nhà sinh, nhà cha mẹ sinh chúng : 2/11-13


Mỗi người công giáo chúng ta có ba nhà : nhà thứ nhất, là nhà sinh, nhà cha mẹ sinh chúng ta ra, nơi đây, chúng ta sống và lớn lên, gọi là nhà ở; nhà thứ hai, là nhà thờ, nhà thờ của giáo xứ chúng ta, nơi chúng ta thờ phượng Chúa, nơi chúng ta được chịu phép Rửa Tội để làm con Chúa, chịu các phép bí tích khác, nơi chúng ta được gặp Chúa Giêsu trong Nhà Chầu, được nghe Lời Hằng Sống của Chúa, được rước Chúa Giêsu Thánh Thể vào lòng; nhà thứ ba, là nhà chết, tức là ngôi mộ chôn vùi chúng ta sau khi chúng ta tắt thở lìa đời.

Nhà chết, ngôi mộ của chúng ta, chỉ có ý nghĩa khi còn sống, chúng ta năng đến nhà thờ để gặp Chúa Giêsu, bởi vì, khi thân xác chúng ta nằm trong nhà chết của mình, nằm trong ngôi mộ của mình, thì linh hồn chúng ta trước tòa của Chúa Giêsu để chịu phán xét riêng, và Chúa Giêsu sẽ nhận ra ngay chúng ta là con của Chúa, khi đó, linh hồn chúng ta sẽ được thưởng vào nước thiên đàng, còn thân xác sẽ được sống lại sáng láng sau nầy trong ngày tân thế.

Đạo chúng ta là đạo suy tưởng và thẳng thắn nhìn vào sự chết không khiếp sợ, tránh né. Ngày nào, Giáo Hội cũng dạy con cái mình lặp đi lặp lại lời cầu nguyện xa xưa nhất, do từ cửa miệng các bổn đạo đầu tiên trong Giáo Hội : " Xin cho các linh hồn được nghỉ ngơi bằng an ". Ngày nào chúng ta cũng âu yếm nhìn lên Tháng Giá để thấy Chúa chết. Ngày nào chúng ta cũng nhiều lần sốt sắng làm Dấu Thánh Giá trên thân xác chúng ta để kính nhớ sự Chúa chết, để in cái chết của Chúa Giêsu trên thân xác mình. Sáng nào, khi vừa thức dậy, cũng như môỵi tối trước khi đi ngủ, đôi môi chúng ta luôn mấp máy lời cầu nguyện tha thiết : " Lạy Chúa Giêsu, vì yêu thương con, Chúa đã chết, xin cho con được chết như Chúa và được chết giống Chúa. Xin cho con ngày hôm nay, xin cho con tối nay, biết luôn luôn ăn năn tội để khỏi phải chết tươi khốn nạ đời đời". Và ngày nào, từ sáng đến tối, thế nào môi miệng chúng ta cũng nhiều lần lặp đi lặp lại lời cầu nguyện với Mẹ Maria trong Kinh Kính Mừng : " Cầu cho con là kẻ có tội khi nầy và trong giờ lâm tử. Amen ! ".

Đạo chúng ta là đạo hiệp thông với người chết. Khi biết được trái tim người chết của chúng ta vừa thôi đánh, Giáo Hội dạy đánh chuông nhà thờ để tiếng chuông vang lên báo tin cho mọi người biết linh hồn người nầy đã được Chúa gọi về. Khi nghe tiếng chuông báo tin nầy, mọi thành phần Dân Chúa trong giáo xứ đến nhà người chết, đọc kinh, cầu nguyện, tẩm liệm cung kính theo nghi thức của Giáo Hội. Và kìa đây, xác người chết được rước đến Nhà Thờ, được đặt ngay trước Nhà Chầu của Chúa Giêsu, được đặt gần quả tim của Người. Cây nến Phục Sinh, tượng trưng cho sự sống lại của Chúa Giêsu và của những ai theo ngài, được thắp sáng lên, đặt cạnh quan tài người chết. Rồi thánh lễ được cử hành để cầu nguyện cho người chết, nói lên việc Giáo Hội cung kính xác người chết , như thánh nữ Mađalêna cung kính Xác Thánh của Chúa Giêsu. Đại diện cho Giáo Hội, linh mục lên đường đi tống táng, từ Nhà Thờ ra đến Đất Thánh, nơi đây, linh mục làm phép huyệt để thánh hóa nơi người chết an nghỉ, và nói lên cho mọi người nghe những lời hy vọng tuyệt vời: chúng ta hãy gởi xác người thân yêu ở lại đây, đợi ngày sống lại, sẽ gặp nhau trên nước thiên đàng .

Trên trần gian nầy, Giáo Hội dạy người có đạo phải kính trọng và săn sóc hai nơi đặc biệt, một nơi để thờ phượng Chúa, là Nhà Thờ; một nơi để kính các người có đạo đã qua đời, mà Giáo Hội tin thế nào cũng sẽ về trời để làm những vị thánh, đó là Đất Thánh.

Bởi vậy, Đạo chúng ta là đạo của người sống và của người chết. Người chết, tuy là người đã hết sống đời nầy, nhưng họ đang sống ở đời sau, trong tình yêu của Chúa, và họ đang đợi gặp chúng ta lại. Người sống là người sẽ chết và sẽ gặp lại những người thân yêu của mình sau nầy.

Như thế, đối với người sống, người chết vẫn còn sống để gặp nhau lại, và đối với người chết, người sống một ngày kia sẽ gặp lại họ trên nước thiên đàng. Thế là kẻ chết người sống không mất nhau: người chết không mất người sống, và người sống cũng không mất kẻ chết. Kẻ chết, người sống, không ai mất ai hết : họ chỉ tạm biệt nhau nơi bờ đau khỗ dưới trần gian, để gặp nhau lại vĩnh viễn nơi bến hạnh phúc trên thiên đàng.

Cùng với thời gian, Chúa ban cho chúng ta đang sống trên trần gian nầy được ý thức rằng mình không phải sống trong một gia đình, mà sống trong hai gia đình rõ rệt : một gia đình với những người đang còn sống với mình, và một gia đình với những người đã chết trước mình. Và tâm hồn chúng ta luôn luôn đi từ gia đình nầy đến gia đình kia, trong niềm yêu thương vui sướng.

Trong thinh lặng của đêm khuya, chúng ta nhớ đến cha mẹ, vợ chồng, con cái, anh chị em, bà con, bạn bè, ân nhân của chúng ta đã qua đời. Bao nhiêu khuôn mặt hiện ra trước mắt chúng ta : đó là cha, mẹ ta, đó là anh, chị, em ta, đó là bạn bè ân nhân của ta. Những người nầy luôn luôn hiện diện trong tâm trí của chúng ta. Chúng ta nhớ tên từng người một. Chúng ta thấy rõ họ hơn và thấy họ luôn mới mẽ. Chúng ta nghe rõ giọng đặc biệt của họ, nghe rõ tiếng họ nói, thấy rõ những cử chỉ thân mật của họ, thấy rõ cặp mắt trong sáng của họ, và nụ cười thân ái của họ. Chúng ta nhìn họ và nói chuyện với họ. Chúng ta thấy giờ đây, họ đã thoát khỏi vật chất, thoát khỏi lầm lạc, thoát khỏi xa cách. Chúng ta thấy họ hiểu rõ chúng ta hơn chúng ta hiểu rõ mình, và họ thấy rõ chúng ta hơn là chúng ta thấy rõ chúng ta. Vì những người chết, mặc dù chúng ta không thấy họ, không nghe họ, không đụng chạm đến họ nữa, nhưng tâm hồn họ vẫn luôn bao phủ lấy chúng ta, luôn luôn hiện diện với chúng ta : những người chết không phải là những kẻ vắng mặt, họ chỉ là những kẻ chúng ta không trông thấy mà thôi, nhưng họ vẫn luôn luôn ở bên cạnh chúng ta.

Chúa Giêsu của chúng ta là Đấng đã thắng cái chết của kẻ khác một cách lạ lùng : em bé kia nằm chết trên giường, ngài được mời đến, cầm tay em, lôi dậy, cho em sống lại; thanh niên con trai bà góa thành Naim nọ đã bị bó lại, đem đi chôn, ngài phán một lời, anh ta sống lại ngay; Ladarô đã chôn trong mộ bốn ngày, không ai dám mở nắp mộ ra kẻo thúi, Chúa truyền cho mở nắp mộ, phán một lời, ông ta sống lại, ra khỏi mổ, không còn thúi tha gì nữa.

Chúa Giêsu đã thắng cái chết của kẻ khác một cách lạ lùng, nhưng ngài cũng đã thắng cái chết của chính mình một cách lạ lùng hơn nữa. Khi còn sống, ngài nói rõ : " Tôi có quyền trên sự sống của tôi", và ngài đưa ra một lời tiên tri táo bạo về sự sống lại của ngài : " Tôi chết, nhưng ba ngày sau, tôi sống lại". Trên núi Canvariô, quân nghịch của Chúa nhạo cười ngài đang hấp hối trên thập giá : "Nếu ngươi là Con của Thiên Chúa, hãy xuống thập giá để chúng ta tin." Chúa Giêsu im lặng, không trả lời. Đối với Chúa Giêsu lúc đó, xuống khỏi thập giá cũng dễ dàng như khi ngài ra lệnh cho bão táp im lặng, cho người bất toại đi được, cho kẻ chết sống lại. Nhưng Chúa Giêsu muốn dành cho loài người chúng ta một sự lạ lùng vĩ đại hơn nhiều: ngài muốn chết như mọi người chúng ta, bị đem chôn chặt trong mổ, để từ trong ngôi mộ, - ngôi mộ mà từ xưa đến nay, và từ nay cho đến tận thế, đè bẹp tất cả những ai nằm trong đó, không cho ai chỗi dậy, - thì Chúa Giêsu của chúng ta sau khi chết chôn ba ngày nằm trong đó, đã tung mồ sống lại.

Giáo Hội reo mừng chiến thắng khi thấy Thầy mình sống lại. Giáo Hội ca lên lời ca bất hủ ngày Chúa Phục Sinh : " Sự sống và sự chết giao tranh ác liệt, nhưng sự sống đã toàn thắng sự chết và ngự trị muôn đời." Và kể từ đó, những ai tin vào Chúa Giêsu Kitô phục sinh, đều bước theo dấu vết của ngài trên con đường sống lại. Thánh Atanasiô dạy chúng ta : " Từ khi Đấng Cứu Thế sống lại thì sự chết không còn đáng sợ nữa. Tất cả những ai tin vào Chúa Kitô đều biết rằng khi chết, mình không hết, nhưng vẫn sống, và sự sống lại sẽ làm cho thân xác mình được sáng láng."

Chúng ta phải chết để đền tội chúng ta, như Chúa Giêsu đã chết để đền tội nhân lọai.

Nhưng chúng ta chết, còn là để được sống lại, để được sống muôn đời bên cạnh Thiên Chúa Ba Ngôi, bên cạnh Chúa Giêsu đã cứu chuộc chúng ta, bên cạnh Đức Mẹ Maria đã sinh Chúa Cứu Thế ra cho chúng ta, bên cạnh những người thân yêu đã ra đi trước chúng ta.

Vậy chúng ta hãy sống thánh, để được chết lành vì chỉ khi nào chết lành, chúng ta mới được gặp lại những người thân yêu của chúng ta trên nước thiên đàng. Chúng ta hằng ngày luôn nhớ cầu nguyện cho những người thân yêu của chúng ta đã ra đi trước chúng ta, nhất là cầu nguyện cho họ trong Thánh Lễ và xin dâng Thánh Lễ cầu nguyện cho họ.Amen.


Linh mục Emmanuen Nguyễn-Vinh-Gioang


 

2/11-14: Ý NGHĨA VIỆC CẦU NGUYỆN


CHO NHỮNG NGƯỜI THÂN YÊU

 

Qua sự cầu nguyện, Chúa Cha đã kêu gọi chúng ta hợp tác với các ý định của Người. Người: 2/11-14


Qua sự cầu nguyện, Chúa Cha đã kêu gọi chúng ta hợp tác với các ý định của Người. Người cho phép chúng ta đóng góp vào những ân ban và những trợ giúp Người dành cho nhân loại. Thật vậy, qua sự cầu nguyện chúng ta có thể xin được cho tất cả những kẻ thân quen và thương yêu những của cải thiêng liêng và vật chất. Chúng ta biết rằng, một lời cầu nguyện, dù thế nào đi nữa, cũng không bao giờ mất hiệu nghiệm, và kẻ nào chúng ta cầu nguyện cho, nhất thiết đều nhận được những ơn lành và những lợi ích qua những lời cầu xin chúng ta gởi lên Trời. Quyền năng Thiên Chúa, nếu không ban cho như mình xin, thì cũng ban cái gì đó tốt hơn cho người liên quan, và một cái gì đó thực sự đáp ứng những ước muốn thầm kín của người cầu xin. Không có lời kinh nào mà không được nhậm lời: đó là một sự thật cho phép chúng ta hiểu giá trị mà Chúa Cha gán cho những điều ước mong mà chúng ta bày tỏ với Người.

Đối với những người đã qua đời, vai trò của sự cầu nguyện cũng đáng ngạc nhiên lắm, và nó biểu lộ tầm quan trọng của sự hợp tác chúng ta với quyền năng của Thiên Chúa. Chúa Cha muốn ban hạnh phúc của Người cho con cái Người đã chết bình an trong tình bằng hữu với Người. Nhưng, một số người không thể vào ngay cõi phúc thiên đàng, do những thiếu sót chuẩn bị cá nhân lúc họ bước vào cõi bên kia. Họ phải trải qua một cuộc tinh luyện; chúng ta biết cuộc tinh luyện này rất đau khổ, nhưng chúng ta không thể diễn tả nó được. Điều huyền diệu của ý định Thiên Chúa, là qua những lời kinh và những lễ vật của chúng ta, chúng ta có khả năng xin cho họ được giảm bớt đau khổ và rút ngắn thời gian đau khổ thử thách. Cho nên, vì lòng nhân lành của người Cha luôn sẵn sàng chấp nhận lời cầu khẩn chúng ta, chúng ta có thể làm cho người đã qua đời tiến nhanh đến thời điểm họ được hưởng hạnh phúc cuối cùng. Mặc dù chỉ có quyền tối cao của Chúa Cha quản trị những số phận con người bên kia cũng như trên mặt đất, nhưng chúng ta có quyền can thiệp hữu hiệu giúp những người chúng ta thương yêu và có quyền mở cửa nơi cư trú thiên đàng cho họ.

Như vậy, người ta hiểu được rằng: Giáo Hội cử hành ngày Các Linh Hồn bằng một cố gắng mãnh liệt hơn về sự cầu nguyện. Tập quán trang hoàng các bông hoa trên ngôi mộ là một biểu thị rất đẹp của những mối thân tình vẫn tiếp tục tồn tại với người qua đời. Nó chứng tỏ rằng tình yêu đối với người thân tiếp tục sống sau sự chia ly do cái chết. Nhưng quan trọng hơn, đó là dấu chứng tình yêu qua sự cầu nguyện. Sự cầu nguyện, thật vậy, không những là một sự tỏ bày lòng kính trọng với những người chúng ta đã yêu thương và còn tiếp tục yêu thương, mà còn nhắm xin Trời cải thiện số phận những kẻ qua đời: nhờ sự cầu nguyện, chúng ta mang đến sự trợ giúp hữu hiệu nhất, cho những kẻ đau khổ đang khao khát hạnh phúc chiếm hữu Thiên Chúa.

Chỉ cần chúng ta tự hỏi các linh hồn mong muốn chúng ta làm điều gì cho họ, là chúng ta hiểu được tầm quan trọng của sự cầu nguyện. Chắc chắn chúng ta không biết được có phải những người chúng ta yêu thương còn ở trong thời kỳ đau khổ trước khi vào thiên đàng? Chúng ta không có chỉ dẫn nào về vấn đề này, và thời điểm vào thiên đàng lại nằm trong bí mật của những quyết định của Thiên Chúa. Nhưng những lời kinh chúng ta dâng cầu cho các kẻ qua đời, không bao giờ là vô ích; nếu những lời kinh đó không còn ích lợi gì cho những kẻ chúng ta cầu xin cho, vì họ đã vào cửa hạnh phúc, thì những lời kinh đó lại sinh ích lợi cho những kẻ khác, những kẻ cần đến sự can thiệp giúp này, để đạt tới cùng đích số phận của mình. Vả lại, đức bác ái nhiều khi thúc giục những người Kitô hữu phải cầu nguyện cho các linh hồn ở thế giới bên kia đang bị đau khổ tột cùng hoặc bị mọi người lãng quên.

Chúng ta cảm tạ Chúa Cha cho phép chúng ta giúp đỡ cách hiệu nghiệm như vậy, trong mầu nhiệm của thế giới bên kia, những người thương yêu đã từ biệt chúng ta.


Lm Phêrô Nguyễn Quang Sách chuyển ngữ


 

2/11-15: BÁT HƯƠNG - NÉN NHANG

 

Bát hương là một vật linh thiêng nhất trong gia đình của người Việt. Bát hương tự nó không: 2/11-15


Bát hương là một vật linh thiêng nhất trong gia đình của người Việt. Bát hương tự nó không là gì, nhưng trở nên ý nghĩa khi nó là vật thể qua đó người Việt tỏ lòng tri ân với tổ tiên.

Tín ngưỡng thờ kính tổ tiên, có khi được thu gọn rất nhỏ, mà gia đình nghèo đến cỡ nào cũng có thể có. Một chiếc chén ăn cơm còn nguyên lành, chứa trong đó lưng bát gạo, và có thể trở thành bát hương, để rồi trầm tư cắm trên đó vài nén nhang tỏ lòng thành kính.

Bát hương là chiếc bát đẹp nhất trong gia đình nghèo có được để bày tỏ lòng tri ân tổ tiên. Hành vi này cao đẹp biết bao, nó diễn tả bao điều suy tư trầm mặc trong cuộc sống: Chẳng phải vì nghèo mà oán trách tổ tiên, chẳng vì nghèo mà quên tiên tổ. Đã không trách cứ, đã không bao giờ để bát hương nguội lạnh, họ còn thành kính trước bát hương ấy để tri ân tổ tiên. Có hình ảnh nào đẹp hơn thế, cái bát hương không đẹp về hình thể, bởi vì thậm chì không có cái bát hương vẫn có thể lầy một mẩu bẹ chuối, vẫn có thể lấy một ống tre thay thế cho bát hương ấy. Nó đẹp bởi vì tấm lòng của con cháu đối với tiên tổ, nó đẹp bởi vì dẫu cho nghèo vẫn giữ được sạch, dẫu rách vẫn giữ cho thơm cho nét gia phong mà tiên tổ để lại.

Bát hương một vật thể tầm thường nhưng không bao giờ tầm thường đối với con người có tấm lòng mà tiên tổ để lại cho họ là “sống trên đời cần có một tấm lòng”. Bao nhiêu giá trị của cuộc sống này có tấm lòng đã hoá vàng, trở nên những điều cao quý. Có tấm lòng nên yêu thương hết mọi sự kể cả những lúc nghèo túng nhất, gian khổ nhất. Họ được nung nấu bằng tinh thần yêu thương của cha ông, có yêu thương mới có hy sinh. Hy sinh như một hiến lễ mà truyền cho con cháu họ cái đức của đời thanh sạch, cái phúc của lòng thanh.

Cần có một tấm lòng nên không màu mè rực rỡ, chân thật và đơn sơ như hình ảnh người chân quê, mộc mạc và chất phác như cuộc đời chân lấm tay bùn. Chiếc bát hương bình dị mà cả tấm lòng thành kính, chỉ cần một bát hương mà có khi biểu hiện cả một chiều sâu tín ngưỡng. Họ không cách xa tiên tổ với hai cõi âm dương, như trong thực và như huyền ảo của bát hương và hương khói hoà quyện cõi tâm linh, “Đêm đêm con thắp đèn trời, cầu cho cha mẹ ở đời với con”.

Thắp nén nhang lên, con người lúc ấy là lúc sống thành thực nhất, đắm chìm nhất trong lòng hoài nhớ công phúc của tiên tổ. Nén hương nói lên lòng thanh, biểu hiện ý hướng muốn sống trong sạch, bày tỏ được đạo lý của cuộc đời thanh cao giữa đục trong: “Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”. Nó không là bản văn nhưng nó lại là bài học thiết thực nhất để dạy những bài học luân lý cao siêu.

Ta có thể quên bát hương - nén hương ấy khi ta giàu có, nhưng bao giờ tình cờ gặp vẫn nao nao một tình tự, vẫn gợi nhớ biết bao điều ngày xưa ông, bà, cha, mẹ dạy bảo. Rồi lại trở về với nguồn cội của mình thắp lên một nén hương và cắm vào trong bát để hâm nóng lòng trí không nguôi nhớ về tiên tổ. Nhớ bao lời khuyên dạy, nhớ bao ngày ấu thơ được nghe chuyện cổ tích bắt đầu bằng câu: “ngày xưa có mẹ”, “ngày xưa có ba”. Nhớ những lời dạy bảo thì không hết nhưng khi thắp nén nhang lòng như dịu lại giữa những bon chen.

Chiếc bát hương của một thời đang được thay thế bằng những chiếc lư đồng, bằng những bình lắc xông hương trong nghi thức phụng tự, nhưng dù sao vẫn không thể xoá nhoà chiếc bát hương của lòng thành kính thưở nào.

Thương lắm những hình ảnh quê hương mộc mạc!

 LM Giuse Hoàng Kim Toan


 

2/11-16: TÔN KÍNH TỔ TIÊN HAY ĐẠO ÔNG BÀ

 

Cây có gốc mới nở ngành sanh ngọn.  Nước có nguồn mới bể rộng sông sâu. Người ta có gốc từ : 2/11-16


"Cây có gốc mới nở ngành sanh ngọn.
Nước có nguồn mới bể rộng sông sâu.
Người ta có gốc từ đâu?
Có cha có mẹ rồi sau có mình."


Đúng vậy, lòng hiếu thảo và biết ơn của con cháu đối với ông bà, cha mẹ rất quan trọng đối với người dân Việt. Tình cảm này không những được thể hiện qua cách đền ơn đáp nghĩa của con cháu đối với ông bà cha mẹ khi còn sống; mà cả khi các ngài đã qua đời, con cháu vẫn phải thực hiện việc cúng giỗ để báo hiếu, ghi nhớ công ơn những người đã gầy dựng nên cuộc đời mình. Việc cúng giỗ này mang một sắc thái đặc biệt trong tín ngưỡng ngàn đời của dân tộc Việt Nam, nên gọi là tín ngưỡng tôn kính tổ tiên hay Đạo Ông Bà.

Có thể nói là tất cả các tôn giáo hiện hành ở Việt Nam nếu không do người Trung Hoa mang sang, thì cũng do người Tây phương truyền đạt, không có tôn giáo nào là thuần túy của Việt Nam cả, chỉ duy có tín ngưỡng tôn kính tổ tiên là có nguồn gốc từ lâu đời của người dân Việt.

I- Những yếu tố cấu thành Tín ngưỡng Tôn Kính Tổ Tiên:

1/ Lòng tin về sự sống đời sau.

Cách chung người Việt nam tin rằng: con người có hồn có xác và chết chưa phải là hết hẳn, thể xác chết nhưng linh hồn vẫn còn tồn tại và lui tới với người thân trong gia đình. Hồn mới thật là cao quí, là tinh anh của con người: "thác là thể phách, còn là tinh anh." Và "chín suối" mới thật là nơi ăn chốn ở đích thực của con người vì "sinh ký tử qui".

2/ Tinh thần gia đình dòng họ.

"Con người có cố có ông.
Như cây có cội như sông có nguồn."

Mọi người sinh ra trên đời đều có cha, có mẹ, có ông bà, có tổ tiên, có dòng họ cùng một huyết tộc. Tổ Tiên sinh ra ông bà, ông bà sinh ra cha mẹ, cha mẹ sinh ra mình. Người con hiếu thảo phải biết ơn nghĩa sinh thành của cha mẹ ông bà tổ tiên, tức là nguồn gốc của mình.

Hơn nữa, gia đình dòng tộc người việt không chỉ bao gồm những người đang sống mà còn cả những người đã chết: Đó là mối dây liên hệ mật thiết giữa ông bà tổ tiên với con cháu. Người Việt Nam luôn quan tâm đến dòng họ, luôn tôn kính tổ tiên, luôn gìn giữ những gia sản truyền thống tinh thần của tiền nhân.

Tình cảm đối với tổ tiên ông bà rất sâu xa thắm thiết, nó là biểu hiệu lòng thành, lòng hiếu của người sống thế hệ sau đối với người chết thế hệ trước bằng việc lập bàn thờ tại nhà và cúng bái trong những ngày sắm vọng giỗ Tết

Việc cúng giỗ là thể hiện mối thân tình giữa người sống và kẻ chết, là điểm gặp gỡ giữa thế giới hữu hình và thế giới vô hình, và còn là thể hiện tinh thần hiếu thảo: "uống nước nhớ nguồn", ghi nhớ công ơn ông bà tổ tiên.

Người Việt rất trọng lễ, và trọng lễ thì ân nghĩa giữ vai trò quan trọng. Người con hiếu thảo phải biết ơn nghĩa sinh thành dưỡng dục của cha mẹ; đã hiếu với cha mẹ thì tất nhiên phải hiếu với ông bà tổ tiên tức là nguồn gốc của mình.

Từ đó việc báo hiếu dần dần trở thành tín ngưỡng tôn kính Tổ Tiên hay đạo Ông Bà.

Ở đây không thể hiểu danh từ đạo theo kiểu tây phương, vì đối với người tây phương đạo là một tổng thể bao gồm giáo lý, giáo điều, phẩm trật giáo hội và giáo đường. Nhưng gọi là đạo vì đây là một thực tại để sống, một con đường để đi, một "đạo"để sống theo, một cách đối xử giữa con người với nhau theo "tôn ti trật tự" trong gia đình, để báo hiếu cùng các đấng có công sanh thành dưỡng dục; cũng là một bản sắc văn hóa của dòng giống Tiên Rồng được phát sinh, cắm rễ và phát triển trong môi trường đặc thù là gia đình, dòng họ thị tộc Việt Nam.

Trong việc giáo dục, chữ hiếu đã được truyền dạy trong gia đình. Cuốn truyện "Nhị thập tứ hiếu" thuật lại tích truyện của 24 người con có hiếu với cha mẹ, hay câu ca dao: "Tu đâu bằng tu tại gia; Thờ cha kính mẹ mới là chân tu" là một bằng chứng hiển nhiên nhất.

Tóm lại, tín ngưỡng tôn kính Tổ Tiên là Đạo hiếu do lòng thành kính và biết ơn của con cháu đối với cha mẹ, ông bà, tổ tiên đã khuất; và đó cũng là đức tính cột trụ của gia đình dòng tộc người Việt Nam.

Gia đình là tế bào đầu tiên cần thiết để hình thành nên mọi tổ chức xã hội con người. Gia đình là tiền mẫu cho cho sự giáo huấn, sự sống chung đụng hài hòa giữa các phần tử với nhau. Mối giây liên kết tình thân gia đình giữa người còn sống và những người đã chết được biểu hiện qua việc tưởng niệm người quá cố trong gia đình, nhất là cha mẹ ông bà tổ tiên.

Qua nhiều thế hệ, các gia đình cùng một huyết thống hợp thành một nghành để trở thành dòng họ thị tộc.
Dòng họ thị tộc được xây dựng và củng cố trên cơ sở huyết thống: ý thức nầy làm nảy sinh ý thức đến "cột trụ" của dòng họ là cha mẹ ông bà tổ tiên. Mỗi Họ có một ông tổ chung. Ngày giỗ ông Tổ được gọi là giỗ họ hay là giỗ Tổ.

Tất cả các con cháu cùng dòng dõi, cùng một Họ lập chung một nhà thờ vị Thủy Tổ, gọi là Từ đường của họ chẳng hạn như: Nguyễn tộc từ đường, Lê tộc từ đường, Trần tộc từ đường... Ngoài việc lập bàn thờ để thờ riêng ông Thủy Tổ dòng họ cùng với bài vị của Thủy Tổ; người ta còn có thể xây một bàn lộ thiên, dựng một bia đá ghi tên thủy hiệu các Tổ Tiên; hay làm bàn thờ cho chi trưởng nam giữ hương hỏa; hay con cháu luân lưu thờ cúng Tổ Tiên ở nhà riêng của mình.

Tế Thủy Tổ là tế tổ vào ngày húy nhật, cả họ họp mặt làm lễ tế và ăn uống vui vẻ với nhau. Đắp mả tổ ngày lễ Thanh minh, và vào những dịp lễ quan trọng trong năm, cũng như các biến cố quan trọng của gia đình: Tết Nguyên đán, các lễ tiết, lễ cưới hỏi trong gia đình... Vào những dịp lễ này luôn luôn có nghi lễ thờ cúng Ông Bà Tổ Tiên.

Bàn thờ Tổ Tiên được lập ra để cúng giỗ và được đặt ở giữa ngôi nhà chính, có nhiều gia đình chỉ lập tủ thờ, hoặc cái trang trên tường để cúng giỗ. Cũng nên phân biệt bàn thờ họ hay bàn thờ gia đình.

Đồ thờ phượng gồm một bộ đèn nến, lư hương, bình hoa, mâm quì, mâm bồng, cổ đài rượu, hộp dầu, đài nước... Thường có treo hoành biễn, đôi liễn ghi tụng công đức Tổ Tiên.

Hương hỏa hay ruộng kỵ là của cải tổ tiên để lại, và người thừa tự lấy hoa lợi lo trang trải việc tế tự thờ cúng Tổ Tiên.

Sổ gia phả là quyển sổ của mỗi dòng họ ghi chép danh tánh, tên hiệu, tên tộc, tên hèm, chức tước; sinh quán, nguyên quán, trú quán, ngày sinh, ngày tử của người trong gia đình; ghi chép lại các công trạng, những biến cố trong dòng tộc, cả sự ưa thích. Có thể nói đây là cuốn sử ký của gia đình, dòng tộc.

II-Tín ngưỡng tôn kính Tổ Tiên đối với các tôn giáo khác.

Tín ngưỡng tôn kính Tổ Tiên hay Đạo thờ Ông Bà chung sống hài hòa và được củng cố bởi các tôn giáo ở Việt Nam: Phật giáo, Khổng giáo, Lão giáo. Có thể quả quyết mà không sợ sai lầm rằng: tất cả người Việt Nam dù là theo phật giáo, theo Khổng giáo, hay theo Lão giáo đều theo tín ngưỡng tôn kính Tổ Tiên.

Phật giáo có tính cách thích nghi và hòa hợp với nền văn hóa đang chung sống: những câu chuyện về Phật tác phúc cho những người con hiếu thảo, và có những người hiếu thảo trở thành Phật. (xem "Việt Nam truyện cổ triết lý và tình thương". Bùi Văn Nguyên). Lễ báo hiếu Tổ Tiên được thực hiện.

Bằng những nghi lễ cầu siêu nhà Phật, nhất là trong "thời gian định kiếp" là thời gian (49 ngày) trước khi hóa kiếp. Lễ Vu lan là ngày Phật đại xá qua việc làm từ thiện của con cháu mà ông bà cha mẹ được hưởng nhờ.

Nho giáo vốn có tính cách nhập thế rất mạnh, đi vào đời sống xã hội, củng cố mối tương quan giữa con người với nhau theo lối chính danh qua các đức tính: nhân, lễ, nghĩa, trí, tín. Chính Nho giáo đã nâng việc thờ cúng Tổ Tiên bằng những qui phạm luật lệ trong nghi lễ thờ cúng Tổ Tiên và mặc cho tín ngưỡng nầy chiếc áo triết lý xã hội.

Lão giáo cổ võ việc tôn kính các Tiên thánh, các anh hùng dân tộc có công dựng nước dựng làng, các ân nhân của làng nước. Ông bà Tổ Tiên thuộc về thế giới thần thiêng cũng có quyền độ trì cho con cháu. Lão giáo chấp nhận và khuyến khích việc thờ cúng Tổ Tiên trong đời sống sinh hoạt tín ngưỡng dân chúng.

Điểm gặp gỡ chung nơi người Việt Nam bất cứ theo tôn giáo nào là yếu tố báo hiếu tổ tiên và nhận thức tầm quan trọng của Tổ Tiên đối với con cháu.

III-Tín ngưỡng tôn kính Tổ Tiên đối với Thiên Chúa giáo.

Một thắc mắc in sâu vào tâm thức người việt "bên lương" là cộng đồng Thiên Chúa giáo Việt Nam, một cộng đồng vẫn được xem như không có truyền thống thờ cúng Tổ Tiên. Nặng nề hơn nữa là còn có quan niệm cho rằng: theo đạo Thiên Chúa giáo là bỏ ông bà tổ tiên, là bất hiếu!

Nhưng thực tế như thế nào? Người theo đạo Thiên Chúa có tôn kính ông bà của họ hay không? Cũng nên tìm hiểu kỹ về vấn đề này.

Tôn kính Tổ Tiên theo giáo lý của Thiên Chúa giáo.

Thập giới minh định thái độ của mỗi tín hữu phải có đối với Thiên Chúa và đối với con người.

Giới răn thứ tư buộc tín hữu phải thảo kính cha mẹ (Xh 20,12) : việc thảo kính ông bà cha mẹ là một luật buộc phải làm, nếu không làm thì mắc tội với Thiên Chúa. Chữ Hiếu rất quan trọng vì đó là luật của Thiên Chúa. Và hơn nữa, báo hiếu là việc bổn phận của con cái. Việc báo hiếu ông bà cha mẹ không những khi còn sống mà lúc đã qua đời nữa.

Sự hiếu thảo với ông bà cha mẹ được diễn giải rất nhiều trong Kinh Thánh:

Sách Đức huấn ca 3,3-7,14-17. (ngày lễ Thánh Gia).

"Ai yêu mến cha mình thì đền bù được tội lỗi; ai thảo kính mẹ mình thì như người thu được kho tàng. Ai thảo kính cha mình sẽ được vui mừng trong con cái. Ai thảo kính cha mình sẽ được sống lâu dài.'

"Hởi kẻ làm con hãy săn sóc lúc tuổi già của cha con, lúc sinh thời chớ làm cho người buồn tủi".

Trong Tân Ước, Đức Kitô cũng nhắc lại việc thảo kính cha mẹ là tiêu chỉ để nên trọn lành: "Ngươi phải thờ cha kính mẹ". (Mt 19,19).

Trong thơ Êphêsô, thánh Phaolô dạy: "Con cái hãy vâng phục cha mẹ, vì đó là điều phải lẽ. Hãy thảo kính cha mẹ, đó là lệnh truyền thứ nhất kèm theo lời hứa: ngõ hầu con được chúc phúc và được trường thọ." (Eph. 6,1-3).

Giáo lý dạy rằng: "con người có hồn và xác. Sau khi chết, hồn tạm lìa khỏi xác chờ ngày sống lại cả xác hồn và không bao giờ chết nữa; tin có sự sống đời sau, có Thiên đàng, Luyện ngục, tin các thánh thông công, có nghĩa là các người lành thánh ở trên Thiên đàng, các đẳng trong luyện ngục và con người đang sống tại thế có mối liên hệ mật thiết giúp đỡ nhau: các thánh cầu bầu cùng Chúa cho người đang sống, người đang sống có thể cầu hồn xin lễ lập công cho các linh hồn trong luyện tội (2Mcb 12,38-46). Với niềm tin nầy, con cháu có phương thế báo hiếu cho ông bà cha mẹ qua việc cầu hồn xin lễ và làm các việc lành phước đức.

Nhưng tại sao các tín đồ Thiên Chúa giáo bị mang tiếng là không có tôn kính cha mẹ ông bà tổ tiên; còn tai hại hơn nữa là mang tiếng "theo Thiên Chúa giáo là bỏ ông bà tổ tiên, là bất hiếu"?

Chúng ta thử tìm hiểu lý do tại sao?

Trong quá trình du nhập Thiên Chúa giáo vào Việt Nam, các vị thừa sai chưa hiểu đúng về tín ngưỡng bản địa... cho nên có nhiều hiểu lầm đáng tiếc và kéo theo hậu quả bi thương cho đời sống các tín hữu Thiên Chúa giáo qua vấn đề tranh luận về nghi lễ trung hoa kéo dài gần 200 năm (1742-1939).

Thực ra, giáo lý Thiên Chúa giáo dạy thảo kính cha mẹ ông bà Tổ tiên như đã được tóm trình, các vị truyền giáo rất bất đồng ý kiến về cách giải thích cũng như ý nghĩa những hình thức bày tỏ sự hiếu thảo, lòng tôn kính của người Việt trong các nghi lễ tôn kính Tổ Tiên.

Các cha dòng Tên, trước khi sang Việt Nam, đã truyền giáo tại Trung hoa, nên họ hiểu được bản sắc ý nghĩa của nền văn hóa lâu đời của Trung hoa lẫn Việt Nam. Vì thế, các vị nầy nhận thấy việc cúng giỗ Tổ Tiên rất quan trọng đối dân tộc Việt Nam; hơn nữa, dưới chế độ phong kiến, triều đình mang ảnh hưởng Nho giáo rất đậm nên việc thờ kính tổ tiên được đặc biệt coi trọng. Hiểu rõ được văn hóa bản địa, nên các vị thừa sai dòng Tên xem các nghi lễ cúng giỗ Tổ Tiên chỉ mang tính cách dân sự không mang ý nghĩa tôn giáo, nên đã cho phép các tín đồ Thiên Chúa giáo thi hành các nghi lễ tôn kính Tổ Tiên với vài hạn chế tránh những hành động có tính cách mê tín dị đoan (cúng cơm, đốt giấy tiền vàng ma...).

Trái lại, các vị thừa sai dòng Đa Minh, các vị thừa sai Paris cấm những người Việt Nam, một khi đã trở thành tín hữu Thiên Chúa giáo, không được thi hành các nghi thức cúng giỗ để tỏ lòng tôn kính Ông Bà Tổ Tiên, vì cho rằng nghi lễ cúng giỗ ông bà tổ tiên mang ý nghĩa tôn thờ của tôn giáo, và mang sự mê tín dị đoan. Tôn thờ Tổ tiên như thế là trái giáo lý Thiên Chúa giáo, là thờ "Tà thần": coi Ông Bà Tổ Tiên như những vị Thần có quyền chi phối đời sống sinh hoạt con cháu và mang nhiều mê tín dị đoan.

Sự tranh chấp nầy rất sôi nổi giữa hai phe và đôi bên trình sang Tòa thánh Rôma với quan điểm của mình và chờ sự quyết định của Tòa thánh.

Năm 1633, cuộc tranh luận về "Nghi lễ Trung Hoa" (Querelles des Rites) bắt đầu và trải qua nhiều triều đại của các Giáo hoàng với nhiều Tông thư, Sắc lệnh cấm đoán việc thi hành nghi lễ Trung Hoa, hoặc cho phép với điều kiện về việc tôn kính Đức Khổng tử và Tổ Tiên.

Ngày 11/7/1742, Đức Giáo hoàng Bênêditô XIV công bố hiến chế "Ex quo singulari" nhắc lại sự bắt buộc phải tuân hành các chỉ thị của Tòa thánh từ năm 1645. Và từ đây phải chấm dứt cuộc tranh luận về "nghi lễ Trung Hoa".

Thực ra, sự bất đồng ý kiến về việc cho phép và không cho phép tín đồ Thiên Chúa giáo cúng giỗ Tổ Tiên xảy ra bên Trung Hoa, nhưng vì ảnh hưởng văn hóa Trung Hoa, cho nên Giáo hội Việt Nam cùng chung số phận bị cấm thi hành nghi lễ cúng giỗ Tổ Tiên với lý do chính là: sợ các tín đồ mê tín dị đoan.

Xét lại vấn đề...

Gần 200 năm sau, vấn đề nghi lễ Trung Hoa được Tòa thánh Roma xét lại cách nghiêm túc và nhận thấy rằng: các nghi lễ cúng giỗ chỉ nói lên lòng tôn kính biết ơn, tỏ lòng hiếu thảo với Ông Bà Tổ Tiên.

Vào ngày 8/12/1939, Thánh bộ Truyền giáo ra huấn dụ Plane compertum est cho phép cử hành nghi lễ "tôn kính Tổ Tiên".
Ngày 20/10/1964, Tòa Thánh Rôma chấp nhận thơ thỉnh cầu của Hội đồng Giám mục Việt Nam về việc tôn kính Tổ Tiên theo tinh thần huấn dụ Plane compertum est.

Ngày 14/6/1965 tại Đalạt, Hội đồng Giám mục Việt Nam chính thức ra "Thông cáo về việc tôn kính Tổ Tiên và Anh hùng liệt sĩ."

Một vấn đề cần tìm hiểu thêm là tại sao huấn thị Plane compertum est của Bộ Truyền giáo ra đời từ năm 1939, nhưng phải đợi đến năm 1965 mới chính thức được ứng dụng tại Việt Nam?

Xin nêu lên vài lý do để hiểu tại sao:

Vấn đề về nghi lễ Trung Hoa: ở Việt Nam vấn đề này không là đề tài tranh luận sôi nổi như ở Trung Hoa; hơn nữa, vì cho rằng việc tôn kính Tổ Tiên mang tính cách mê tín dị đoan, nên các vị thừa sai Paris đã hướng dẫn, và dạy dỗ các tín hữu việt nam tuân hành ngoan ngoan các chỉ thị của Rôma đã ban hành trước kia. Cho nên tín hữu Thiên Chúa giáo Việt Nam không đặt thành vấn đề quan trọng trong việc sống đạo.

Vả lại, bản tính người Việt dễ chấp nhận, không đặt vấn đề, ít để tâm đến việc suy nghĩ tranh luận, nên tín hữu Việt Nam sau nhiều thế kỷ quen sống với việc không cử hành cúng giỗ Tổ Tiên cũng không sao; hơn nữa cũng có những phương thức cử hành nghi lễ phụng vụ cầu cho ông bà Tổ tiên theo phép đạo rồi, âu cũng là một cách để phân biệt người tín hữu với người bên lương.

Giáo hội Việt Nam do Hội thừa sai Paris, các cha dòng Đaminh hướng dẫn và dạy dỗ nhiều, nhưng các vị này lại chưa cảm thấy tầm quan trọng trong việc hội nhập văn hóa dân tộc trong đời sống đức tin. Hơn nữa, Hàng giáo phẩm Việt Nam chỉ được thành lập bởi Đức Giáo hoàng Gioan XXIII vào dịp lễ Đức Mẹ vô nhiễm 8/12/1960 qua sắc lệnh "Venerabilium Nostrorum" ban ngày 24/11/1960.

VI-Sống đức tin trong lòng dân tộc...

Những thập niên gần đây, ý thức tầm mức quan trọng vấn đề hội nhập văn hóa trong việc truyền giáo, Hội đồng Giám mục Việt Nam cổ võ phát triển "những giá trị luân lý trong các phong tục và các thực hành mà chúng ta tìm được trong những lời dạy dỗ của các đại hiền triết Á châu; những lời dạy dỗ của các Ngài cổ võ phát triển những nhân đức tự nhiên và lòng tôn kính đạo đức đối với Ông Bà Tổ Tiên". (Trích sứ điệp của Hội đồng Giám mục Á châu năm 1998)

Hội đồng Giám mục Việt Nam xúc tiến "nhìn thẳng vào vấn đề, để cho Tín lý công giáo và Đạo đức dân tộc được hài hòa, để cho coi lòng người công giáo Việt Nam hoàn toàn mở rộng hiệp thông với Thiên Chúa, với Tổ Tiên và mọi giới đồng bào" (Lời Đức Tổng Giám mục Huế trong Thánh lễ khai mạc cuộc tọa đàm về vấn đề Tôn kính Tổ Tiên tại Huế ngày 26/10/1999).

Thay lời kết...

Chúng ta nghe lại lời huấn dụ của Bộ Truyền giáo từ 340 năm về trước (10/11/1659) nhắn nhủ hai vị Giám mục tiên khởi Đàng trong và Đàng ngoài (Lambert de la Motte và Francois Pallu) trước khi sang Việt Nam:

"Các vị đừng có tìm cách, tìm lý lẽ để thuyết phục các dân tộc thay đổi nghi thức, tập tục và phong hóa của họ, trừ ra khi thấy rõ ràng là trái ngược với tôn giáo và luân lý. Không có gì vô lý cho bằng đem nước Pháp, nước Tây Ban Nha, nước Italia hay một nước Âu châu nào khác vào Trung quốc. Không nên đem đến dân tộc khác sứ sở của quí vị mà chỉ đem đến đức tin, một đức tin không từ chối cũng không làm tổn thương các nghi thức, các tập tục của bất cứ một dân tộc nào miễn là tất cả đó không có gì là xấu, mà trái lại, đức tin của chúng ta muốn người ta cứ giữ và bảo vệ các thứ đó. Có thể nói rằng bản chất của con người là quý trọng, yêu mến và coi các tập tục của xứ sở mình là hơn hết. Vậy nguyên nhân gây nên xa cách và hận thù là tìm cách thay đổi tập tục riêng của một dân tộc, nhất là những tập tục đã có từ lâu đời. Vậy việc gì sẽ xảy ra nếu các vị xóa bỏ các tập tục đó để thay vào tập tục xứ sở của các vị đưa từ nước ngoài vào? Đừng bao giờ so sánh các tập tục đó với các tập tục của các nước Âu châu. Trái lại, các vị hãy tìm cách làm quen với các tập tục đó. Hãy chiêm ngắm và ca tụng những gì đáng ca tụng. Những gì không đáng ca ngợi, nếu không ca ngợi om xòm như kẻ nịnh bợ, thì cũng khôn ngoan đừng phê phán và đừng bao giờ kết án một cách thiếu suy xét hoặc quá đáng."


Lm Paul Đào


 

2/11-17: Bóng câu cửa sổ

 

Kiếp phù-sinh, tháng ngày vắn-vỏi, Tươi thắm như cỏ nội hoa đồng, Một cơn gió thoảng là xong : 2/11-17


Kiếp phù-sinh, tháng ngày vắn-vỏi,
Tươi thắm như cỏ nội hoa đồng,
Một cơn gió thoảng là xong,
Chốn xưa mình ở cũng không biết mình.
(Tv 103, 15-16)

Vào ngày 31 tháng giêng năm 2000, một hung tín được loan ra: chuyến bay 261 của hãng Alaska với 83 hành khách và 5 nhân-viên phi-hành-đoàn, cất cánh từ Mễ Tây Cơ để đi Seattle, tiểu bang Washington, đã rớt xuống Thái-Bình-Dương, cách Los Angeles chừng 20 dặm đường chim bay. Khoảng 10 xác chết đã được vớt lên, số còn lại đã bị tan nát trong lòng biển cả. Trong số nạn-nhân nầy, có một bé gái thiên-thần mới được bốn tháng. Vì thân-mẫu là người gốc Mễ-Tây-Cơ, cha mẹ đã đưa em về quê ngoại để được rửa tội.

Chỉ trong năm 1999, ba cánh chim sắt đã lao xuống biển cả. Đêm 16 tháng bảy năm 1999, máy bay do Kennedy, 38 tuổi, con trai duy-nhất của cố Tổng Thống John Kennedy, chở vợ là Carolyn Bessette và chị vợ là Lauren Bessette, đi dự lễ cưới cháu mình, đã bị rớt xuống Đại Tây Dương. Một tuần sau, đoàn cấp cứu đã vớt được các thi-hài.

Mấy tháng sau, chiếc máy bay của Ai-Cập với trên 200 hành-khách, đã rớt xuống Đại-Tây-Dương và không một xác nào được tìm thấy.

Vào sáng thứ ba (11-09-2001). một đại-họa khủng-khiếp đã làm chấn-động thế-giới: nhóm khủng-bố Osama Bin Laden đã cướp giựt bốn máy bay và chỉ trong một giờ đồng-hồ đã làm nổ tung hai ngọn tháp chọc trời của Trung-Tâm Thương-Mại Thế-Giới ở Nữu-Ước và sau đó đánh sập một cánh của Ngũ-Giác-Đài ở Hoa-Thịnh-Đốn. Tổng số thương-vong khoảng trên ba ngàn người, trong số đó không thiếu những chuyên-gia lỗi -lạc về kinh-tế, tài-chánh, ngân-hàng, kỹ-thuật và quân-sự...

Trong huấn-từ nhân cuộc triều-yết chung vào sáng thứ tư (ngày 12-09-2001), Đức Thánh Cha Gioan-Phaolồ Đệ-Nhị đã mô tả đại-họa đó là "một ngày đen tối nhất trong lịch-sử loài người, một xúc phạm ghê-gớm cho phẩm-giá con người."

Tôi mới có dịp nói chuyện với một người bạn rất khỏe mạnh, nhưng ba hôm sau, người bạn đó đã được khâm-liệm vì bị ngã gục dưới họng súng tấn-công của một địch-thủ.

Ngay cả hôm nay đây, biết bao người đang nối tiếp nhau lìa đời bằng sự chết chóc để đi vào nơi vĩnh-cữu. Những trường-hợp ra đi vĩnh-viễn được nêu ra đây quả rất thông thường, nhưng cũng đủ cho chúng ta hiểu rằng tử-thần sẽ đến viếng chúng ta một cách bất ngờ không một lời báo trước.

Khi quan-sát một số người đang cuồng-nhiệt theo đuổi danh-vọng, thú vui hay của-cải vật-chất thì chúng ta sẽ hết sức ngạc-nhiên với ý-nghĩ là họ đang sống mà không chút ưu-tư về cuộc sống đời đời. Con người trong thời-đại văn-minh tiến-bộ nầy dường như đang sống theo lý-tưởng quá ư trần-tục của một tư-tưởng-gia thời xưa: "Chúng ta đừng quan-tâm đến sự chết, nhưng hãy nghĩ đến sự sống thiên-đàng mà chúng ta tìm kiếm không phải là những đường phố bằng vàng nhưng là những túi vàng vậy. Những khát vọng của chúng ta chỉ thuộc về cõi tạm nầy chứ không phải thuộc về cõi đời đời, và thiên-đàng mà chúng ta suy tưởng phải là một cõi phong-phú về tiền bạc và đủ các tiện-nghi cho chúng ta hưởng-thụ. Quả thật, chúng ta không cần phải lo nghĩ đến sự chết." Tuy-nhiên, sách Giảng-Viên đã nói rõ ràng: "Có thời để sinh ra, có thời để lìa đời." (Gv 3, 2).

Kinh Thánh cũng cho biết ông A-Dong sống đến chín trăm tuổi rồi mới qua đời. Ông Sết hưởng thọ chín trăm mười hai tuổi rồi từ trần. Ông Hê-nóc sống chín trăm lẻ năm tuổi rồi cũng phải từ giả cõi đời. Hơn sáu tỷ người đang sống trên mặt đất hiện nay rồi cũng sẽ ra đi trong vòng một trăm năm nữa, không ai sẽ thấy ánh mặt trời của thế-kỷ hai mươi hai. Trong thư gởi tín-hữu Do-Thái, Thánh Phaolồ đã viết: "Thân phận con người là phải chết một lần, rồi sau đó chịu phán xét." (Dt 9, 27).

Mặc dầu khoa-học đã tiến-bộ, sau khi vượt qua giới-hạn của không-gian địa-cầu và đang tiến sâu vào không trung, nhưng trên cương-vị con người, chúng ta luôn luôn bị ràng buộc bởi cuộc sống trên mặt đất. Có rất ít bài giảng-luận về sự chết, thiên-đàng, hỏa-ngục. Tuy-nhiên, chân-lý bất-biến là tất cả mọi người trên mặt đất đều phải kết-thúc bằng sự chết và vấn-đề chuẩn-bị cho cuộc sống trong đời sau rất là hệ-trọng, như lời Thánh-Kinh: "Nếu con luôn luôn suy gẫm về sự chết, sự phán xét, thiên-đàng, hỏa-ngục thì con sẽ không bao-giờ phạm tội."

Ở Âu-Mỹ, có một thành-ngữ như sau: "Ở đời nầy, chỉ có hai việc chắc-chắn không ai thoát khỏi là sự chết và nộp thuế." Chúng ta thường lo lắng dành tiền dể nộp thuế mà quên mất vấn-đề quan-hệ hơn là sự chết. Ta cần phải ý-thức hơn về việc tử-thần đang tiến gần mỗi người chúng ta một cách nhanh chóng. Lời Chúa đã căn dặn: "Thế thì của Xê-da, trả về Xê-da; của Thiên-Chúa, trả về Thiên-Chúa." (Mt 22, 21).

Người giàu không thể nhờ tiền bạc xin sửa đổi hình phạt đang chờ đợi mình thành một án treo; người nghèo cũng không thể nói với sự chết cho mình sống thêm một ngày nữa vì nó đã chiếm-hữu con người từ lúc mới lọt lòng mẹ cho tới khi đi vào mồ-mả. Sẽ có lúc sau khi mọi người đông-đảo họp nhau cầu-nguyện thì đã ra về và "còn lại một mình tôi" trong nơi hoang vắng...!

Thánh Giacôbê đã viết: "Anh em không biết cuộc đời mình ngày mai sẽ ra sao. Thật vậy, anh em chỉ là hơi nước xuất hiện trong giây lát, rồi lại tan biến đi." (Gc 4, 14). Như đám sương mù buổi sáng, rất mong manh, bốc thành hơi nước dưới ánh triêu-dương rồi biến mất giữa ban ngày, đời người cũng giống như giọt sương mai hiện ra chốc lát rồi lại tan ngay.

Thật vậy, sự sống chẳng khác gì cái thoi dệt cửi: "Ngày đời tôi thấm thoát hơn cả thoi đưa và chấm dứt, không một tia hy-vọng." (Gióp 7, 6). Một văn-sĩ đã viết: "Chỉ khi nào thời gian, với một bàn tay không biết chán, xé hết phân nửa số trang sách của đời mình để nung đốt lò dục-vọng, lúc ấy con người mới bắt đầu nhận thấy những trang còn lại của đời sống mình không còn bao nhiêu nữa". Tiên-tri I-Sai-A đã suy ngắm: "Lạy Chúa, con như người thợ dệt, đang mãi dệt đời mình, bỗng nhiên bị tay Chúa cắt đứt ngay hàng chỉ." (Is 38, 12). Sách Biên-Niên-Sử quyển I cũng viết: "Ngày đời của chúng con trên mặt đất như bóng câu cửa sổ, không để lại dấu vết." (1 Sb 29, 15).

Khi William Russel lên đoạn đầu đài, ông đã lấy đồng hồ trong túi áo ra rồi trao cho vị y-sĩ săn-sóc ông và nói: "Xin ông làm ơn giữ hộ cái đồng-hồ nầy vì tôi không cần đến nó nữa. Bây giờ tôi sắp bước vào cõi đời đời."

Thánh Gióp cũng đã từng than-thở: "Vì tuổi con người đã được Ngài ấn-định, sống được bao năm tháng là tùy thuộc ở Ngài. Ngài định giới-hạn rồi, sao có thể vượt qua." (G 14, 5). Tác-giả Thánh-Vịnh cũng đã nói: "Kiếp phù-sinh, tháng ngày vắn-vỏi, tươi thắm như cỏ nội hoa đồng, một cơn gió thoảng là xong, chốn xưa mình ở cũng không biết mình." (Tv 103: 15,16).

Ngày nầy nối tiếp ngày khác, trôi qua với một tốc-độ tăng dần mãi dường như theo nhịp tiến của chúng ta tới tuổi già. Những ngày của chúng ta trên mặt đất nầy giống hệt kiếp hoa: "Người phàm nào cũng đều là cỏ, mọi vẻ đẹp của nó như hoa đồng nội. Cỏ héo, hoa tàn khi thần khí Đức Chúa thổi qua." (Is 40, 6-7).

Trong những giờ phút cuối cùng đời mình, Cesar Bergia đã nói: "Trong suốt đời sống của tôi, tôi đã tiên-liệu mọi sự, trừ sự chết, và bây giờ, ôi, thật khốn nạn cho tôi, tôi phải chết mà không chuẩn-bị được gì trước cho sự chết của tôi."

Một thanh-niên mới hai mươi bốn xuân xanh, suốt đời mạnh khỏe, nhưng bất thình-lình lâm trọng bệnh. Trước khi sắp từ-giả cõi đời, anh đã rên-rỉ, than-van và quằn-quại trên giường bệnh với những lời gào thét sau đây: "Ôi, tôi đã phung-phí những ngày xanh của tôi, tôi đã làm khánh-tận đời tôi. Tôi sẽ thưa gì với Đức Chúa, khi tôi phải ứng hầu trước mặt Ngài?" Thánh Phaolồ. trong thư gởi tín-hữu Do-Thái, đã cảnh-cáo: "Và nếu mọi vi-phạm cũng như bất tuân đều bị phạt đích đáng, thì làm sao chúng ta thoát khỏi, nếu chúng ta thờ-ơ với ơn cứu-độ cao-quý như thế?" (Dt 2, 3).

Một văn thi-sĩ khuyết-danh đã viết những câu sau đây, trong bài thơ 'Sách Sự Sống':

"Tôi quì cầu-nguyện, nhưng chẳng lâu được; tôi có nhiều việc phải làm. Tôi phải cấp-tốc đi làm vì hóa-đơn đòi tiền chồng chất.

Vì vậy, tôi quì gối, đọc vội một kinh và nhảy đứng dậy. Việc bổn-phận Kitô-hữu của tôi đã làm xong và tâm-hồn tôi thanh-thản, bình-an.

Suốt ngày tôi không có thời-giờ để buông một lời chào hỏi vui-vẻ hoặc nói về Chúa Kitô với bạn-bè vì sợ họ cười nhạo tôi.

Tôi luôn miệng la lớn: Không có thời-giờ, không có thời-giờ, nhiều chuyện phải làm quá! Không có thời-giờ để lo cho việc rỗi linh-hồn, nhưng cuối cùng giờ chết đã đến.

Tôi trình-diện trước mặt Đức Chúa; tôi đứng với đôi mắt cúi xuống, vì Đức Chúa đang cầm trong tay một quyển sách, sách sự sống.

Đức Chúa nhìn vào trong sách và nói: 'Cha không tìm thấy tên con, vì có lần Cha dự-tính viết xuống, nhưng Cha chẳng lúc nào có thời-giờ.' "

Khi thể xác của chúng ta chết và sự sống của chúng ta ở trên mặt đất nầy chấm dứt, phần linh-hồn của chúng ta vẫn tiếp-tục sống động trong cõi đời đời. Victor Hugo, một đại văn-hào Pháp đã nói: "Tôi cảm biết có sự sống tương-lai trong tôi." Cyrus cũng đồng ý-kiến: "Tôi không thể nghĩ rằng linh-hồn chỉ sống khi còn ở trong một thân-thể hay chết." Chính Emerson cũng nói: "Bằng chứng hiển-nhiên về sự bất-diệt của linh-hồn là chính nơi sự bất mãn của chúng ta đối với mọi kết-luận trái ngược." Mark Twain đã viết: "Tôi không bao giờ tìm thấy mảy-may sự thật có thể chứng-minh về đời sống tương-lai, nhưng tôi có khuynh-hướng chờ-đợi nó."

Xưa kia Đức Chúa đã phán với vua Hezekiah: "Hãy lo thu xếp việc nhà, vì ngươi chết, chứ không sống nổi đâu." (2 V 20, 1). Do môi miệng của tiên-tri A-mốt, Đức Chúa cũng tuyên phán cho mọi người: "Ngươi hãy chuẩn-bị đi gặp Thiên-Chúa của ngươi." (Am 4,12).

John Bunyan, tác-giả cuốn "Thiên-lộ lịch-trình", đã nói lúc ông gần qua đời: "Các bạn đừng than khóc cho tôi, nhưng hãy than khóc cho chính các bạn. Tôi sẽ về nhà đời đời nơi có Đức Chúa Trời là Cha Đức Giêsu Kitô: Ngài sẽ tiếp rước tôi dù tôi là một tội-nhân bởi công-lao cứu chuộc của con Ngài. Tôi tin rằng chúng ta chẳng bao lâu nữa sẽ gặp nhau trên nước sáng láng của Chúa để hát bài ca mới và sống sung-sướng trong cõi đời đời."

Chúng ta hãy lợi-dụng những giây phút chóng qua của đời người để chuẩn-bị cho cuộc sống đời đời: "Thiên-Chúa yêu thương thế-gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời." (Ga 3,16).

"Sinh ký tử qui" (sống gởi thác về). Người có Đức Tin đặt niềm tín-thác trọn-vẹn nơi Chúa Quan-Phòng trong cuộc sống cũng như giờ phút lâm-chung, như lời Thánh Phao-Lồ đã nói: "Vì đối với tôi, sống là Đức Kitô và chết là một mối lợi." (Pl. 1,21).

Trong tinh thần phó-thác tuyệt-đối đó, các Anh Chị trong dòng Tiểu-Muội và Tiểu-Đệ, mỗi ngày đã đọc kinh "Dâng Mình" của Cha Charles de Foucauld như sau:

"Lạy Cha, con phó-thác mình con cho Cha. Xin hãy làm nơi con mọi sự đẹp ý Cha. Cha làm cho mặc lòng, con cũng cám ơn Cha. Con sẵn-sàng luôn luôn, con nhận lãnh tất cả, miễn ý Cha được trọn-vẹn trong con, trong tất cả loài Cha tạo-dựng. Con chẳng ước muốn chi khác nữa. Lạy Cha là Chúa Trời con, con phó-thác linh-hồn con trong tay Cha. Con dâng linh-hồn con cho Cha. Lạy Cha, với tất cả tình yêu của lòng con, vì con mến Cha và vì mến Cha nên con thấy cần phải hiến-thân con, phó trót mình con trong tay Cha, không do-dự đắn-đo song vô-cùng tin cậy, vì Cha là Cha của con. Amen."


 

2/11-18: Chuyện/ BÊN KIA SỰ CHẾT

 

Trên giường hấp hối, thánh Monica đã nhắn nhủ con ngài là Augustino như sau: "Mẹ chỉ xin: 2/11-18


Trên giường hấp hối, thánh Monica đã nhắn nhủ con ngài là Augustino như sau: "Mẹ chỉ xin con một điều là hãy nhớ đến mẹ khi tới bàn tiệc thánh".

Có lẽ nhiều người trong chúng ta cũng đã được nghe nhiều lời van xin tương tự phát ra từ môi miệng của những người thân của chúng ta, trước khi từ giã cõi đời... Nhưng xa mặt cách lòng, nhiều người trong chúng ta lãng quên những lời van xin thống thiết ấy.

Cần được thương, cần được nhớ: đó là khát vọng tự nhiên của con người. Không ai muốn là một hoang đảo cô đơn. Dưới cái nhìn Đức Tin, lời van xin kẻ khác cầu nguyện cho, còn chứng tỏ một lòng khiêm tốn, một thái độ chấp nhận cái giới hạn mỏng manh bất lực của mình.

Để giúp chúng ta có dịp đáp lại thỉnh cầu của những người đã đi vào thế giới bên kia và để thể hiện mối tình thông hiệp "các thánh thông công", Giáo Hội ngay từ buổi đầu kỷ nguyên Kitô đã cổ động việc tưởng nhớ cầu nguyện cho những người quá cố. Những thế kỷ gần đây đã dành tháng 11 hằng năm cho việc đạo đức ấy. Hai ngày lễ mừng kính các thánh và cầu cho các linh hồn được ấn định vào hai ngày mùng một và mùng hai đầu tháng với những kinh nguyện rất ý nghĩa, nhắc chúng ta về sự hiệp thông trong Giáo Hội. Công đồng Vatican II trong hiến chế về Mầu Nhiệm Giáo Hội đã viết như sau: "Giáo Hội lữ hành hết lòng kính nhớ, dâng lời cầu cho những người đã chết, vì cầu nguyện cho họ được giải thoát khỏi tội lỗi là một việc lành thánh...".

Nói về sự bầu cử của các đẳng linh hồn, Công Đồng viết như sau: "Khi được về quê Trời và hiện diện trước nhan Chúa, nhờ Người, với Người và trong Người, các thánh lại không ngừng cầu bàu cho chúng ta bên Chúa Cha...". Sự trao đi nhận lại đó vừa là một việc bác ái vừa là một bổn phận thảo hiếu đáp đền, đã thực sự củng cố Giáo Hội thêm vững bền trong sự thánh thiện.

Quỳ cầu nguyện một mình trong nhà thờ, hay ngậm ngùi đốt lên một ngọn bạch lạp tại một nghĩa trang nào, có lẽ ai trong chúng ta cũng cảm thấy bùi ngùi xúc động khi nghĩ đến những người chết và chính cái chết. Chúng ta đang đứng giữa biên giới vô hình của sự sống và sự chết. Và một cách vô cùng huyền nhiệm và sống động, những người chết đang hiện diện với chúng ta bằng một sợi dây liên kết thâm sâu, thắm thiết... Cái chết không còn là một chấm hết cuối cùng đối với chúng ta nữa. Tình yêu mạnh hơn sự chết. Chính Tình Yêu đã làm cho những người đã chết được sống và cũng chính Tình Yêu liên kết chúng tư với những người chết. Vâng, chỉ có Tình Yêu mới làm cho con người được bất tử. Chỉ có Tình Yêu mới làm cho con người liên kết với những người đã chết. Chỉ có Tình Yêu mới mặc cho những nghĩa cử của con người sự bất diệt.

Mỗi lần chúng ta hy sinh cho một người nào đó, mỗi lần chúng ta săn sóc một người đau yếu, an ủi một người đau khổ, bênh vực một người cô thế, hay cùng với những người khác dấn thân để canh tân cuộc sống... Chúng ta đang tiến dần đến sự bất tử.

Yêu thương chính là tái sinh, là sự thông dự vào sự sung mãn của cuộc sống. Đó phải là niềm tin của chúng ta trong ngày hôm nay khi chúng ta tưởng nhớ và cầu nguyện cho người quá cố. Xin Chúa nâng đỡ Đức Tin yếu kém của chúng ta, xin Ngài ban thêm niềm hy vọng cho chúng ta.


Sách Lẽ Sống Ban Việt Ngữ Đài Chân Lý Á Châu


 

2/11-19: Chuyện: CHIẾC QUAN TÀI CON / suy nghĩ về cái chết

 

Tại chùa Tô Châu bên Tàu có một nhà sư tên gọi là Viên Thủ Trung, nổi tiếng là tu hành :2/11-19


Tại chùa Tô Châu bên Tàu có một nhà sư tên gọi là Viên Thủ Trung, nổi tiếng là tu hành đắc đạo.

Nhà sư thường bày trên án thư, trước chỗ ngồi, một cái quan tài con bằng gỗ bạch đàn, dài độ 3 tấc, có một cái nắp đậy, mở được. Khách đến chơi trông thấy thường tò mò tra hỏi, nhà sư trả lời: "Người ta sống tất có chết, mà chết thì vào ngay cái này. Tôi thực lấy làm lạ, người đời ai cũng chỉ biết có phú quý, công danh, tài sắc thị hiếu, lo buồn, vất vả suốt đời, chẳng biết đến cái chết là gì... Mỗi khi có việc không được như ý, tôi cầm lấy cái quan tài mà ngắm, tức khắc tôi cảm thấy được yên ổn trong tâm hồn ngay".

Con người sở dĩ chạy theo tiền tài danh vọng đến độ chà đạp trên người khác là bởi vì con người không nghĩ đến cái chết đang rình rập sau lưng. Khi tử thần xuất hiện, thì con người không kịp mang theo bất cứ một tài sản nào. Cái chết chỉ trở thành đáng sợ khi con người còn quá nhiều dính bén đối với trần thế này. Trái lại, được ôm ấp suy gẫm mỗi ngày, cái chết sẽ trở thành một người bạn đồng hành giúp con người vượt qua được mọi chán chường, bận tâm thái quá... Trong tất cả mọi sự, người không ngoan đích thực luôn nghĩ đến cùng đích.

Sách Lẽ Sống Ban Việt Ngữ Đài Chân Lý Á Châu


 

2/11-20: THỜI ĐIỂM TẬP CHẾT


"Các người thường nói: "Ráng chiều ửng hồng, rạng đông sẽ đẹp"; hoặc: "Trời kia màu đỏ pha thâm, hôm nay giông gió không nhầm đâu ai". Các người đã biết nhìn điềm trời mà luận thời tiết, cớ sao không biết xem dấu chỉ mà luận thời kỳ?" (Mt 16:1-3).

CÕI ĐÓ

 

Giữa tháng tám năm 1999, tôi có dịp tham dự và góp phần trong khóa học về đề tài "Sự Chết: 2/11-20


Giữa tháng tám năm 1999, tôi có dịp tham dự và góp phần trong khóa học về đề tài "Sự Chết và Đời Sống Vĩnh Cửu" do Viện Triết Thần tổ chức tại California. Đang lúc ai cũng ham sống, tìm cách sống lâu thêm cho được hưởng đời mà Viện Triết Thần lại đi bàn chuyện chết, liệu có gì hấp dẫn?! Vậy mà khóa đã thật sống động, nhiều điều mới lạ và thích thú được mở ra. Cái chết là đề tài cũ rích đáng sợ nhất không ngờ lại là điều luôn hiện đại. Có người bảo chỉ khi nào biết chết thì mới bắt đầu biết sống.

Thì mỗi ngày đều đầy những tin tức chết chóc trên báo hay Tivi đó. Kìa vụ động đất vừa xảy ra bên Thổ Nhĩ Kỳ chết bộn người, nhà cửa đổ nát, máu me và nước mắt tràn ngập. Kìa trên Chicago trời nóng quá, nhiều nhà nghèo không có máy lạnh nên đã biếu tử thần mấy trăm mạng rồi...

Xem ra tôi vẫn đọc tin như vậy một cách bình thản, dù đôi khi cũng vương một chút thương tâm, nhưng thực sự tất cả vẫn ở ngoài tôi, vẫn ở xa tôi, chẳng liên hệ gì cả. Lý do dễ hiểu là vì ai chết ấy chứ có phải tôi đâu, hay ít ra cũng có phải những người thân yêu của tôi đâu! Mình hơi buồn vì họ chết mà trong bụng thì mừng vì thấy được mình vẫn còn sống!

THỜI ĐIỂM TẬP CHẾT TRONG KHÓA TRIẾT THẦN

Thú thực, trong suốt khóa học, tôi được nghe nhiều tư tưởng hấp dẫn, nhiều khám phá mới mẻ của nhiều nhà thông thái lỗi lạc, nhưng tôi lại bị, hay được một đoạn thật ngắn gây xúc động bất ngờ. Hình ảnh cứ lảng vảng bên trong suốt mấy ngày. Đó là khi giáo sư Nguyễn Thái Hợp nhắc tới câu chuyện nhà thơ Du Tử Lê ngồi đối diện với quan tài của người mẹ thân yêu đã suốt đời khổ nhục mà nay sắp tan vào bụi đất. Ông đã trăn trở với vấn nạn thẳm sâu nhất của một đời người:

Chưa bao giờ tôi thấy,

tại sao kiếp người lại có thể vô nghĩa đến thế.

thầy M.G. nói, chết là về nhà

ông quên chỉ, ngôi nhà nào đây?

trên mặt đất hay sâu lòng địa ngục?

Tôi hình dung ra cảnh chính mình một ngày nào đó cũng đóng vai trò Du Tử Lê phải từ biệt người mẹ thân yêu nhất đời, vĩnh viễn hay có ngày gặp lại? Đúng vậy, chỉ khi nào đụng chạm tới những gì thân thiết nhất, mình mới nhận ra rằng những điều suy nghĩ trước đây dù sao vẫn chỉ là những cái ở ngoài, còn bây giờ "cái đó" đã trở thành "cái này" rồi. Hơn nữa, cứ tưởng tượng mà coi, chiếc quan tài kia lại đang chứa thi hài của chính mình, nằm bất động giữa bao nghi lễ và thủ tục đang diễn ra... rồi cũng được di chuyển tới nghĩa trang. Cõi đó, riêng tôi. Một mình...

Vũ Khắc Khoan trong "Đọc Kinh" đã khắc khoải nói lên: "Cái đó, cái mà cho đến hôm nay, chưa một vị thiện-trí-thức, chưa một vị bồ tát nào mô tả được hình tượng, xác định được thể chất, cái đó có thể giản dị như mưa và nắng, hiện hữu rất tự nhiên -mặt trời lại mọc lúc đêm tàn- nhưng cũng lại có thể vô cùng phức tạp, ẩn hiện vô lường, vô lượng danh hiệu... Những nửa khuya tỉnh giấc, cái đó - chính nó- đôi khi vẫn thấp thoáng trong tôi, hóa trang thành những lời tra vấn trớ trêu, những tại sao ray rứt, lãng đãng quanh tôi, tưởng như dễ dàng nắm bắt, bỗng lại xa vời, nhòa dần, biến hẳn tuyệt mù."

Và Vũ Khắc Khoan đã khơi dậy câu hỏi ngàn đời nay trở thành câu hỏi chính mình: "Cõi đó, lạ lạ quen quen. Cõi đó hằng đêm. Cõi đó, riêng tôi. Một mình." (Đọc Kinh, An Tiêm xuất bản, trang 40)

ĐI VÀO CÕI LỚN

Muốn lý luận gì thì lý luận, nhưng đứng trước quan tài của một người thương yêu, mình mới thấy thấm thía. Thân xác đẹp đẽ có quấn quít mấy rồi cũng thối rữa. Cái gì còn lại? Câu nói từ thực chứng não nề của Du Tử Lê có uy lực lay động con tim, thay đổi nhãn quan của cả một đời người: "Chưa bao giờ tôi thấy, tại sao kiếp người lại có thể vô nghĩa đến thế." Vợ chồng dù có trở thành một xương một thịt, rồi cũng đến một lúc thấy chẳng phải vậy khi một trong hai phải bước đi lên xe hoa là chiếc quan tài mà bay vào cõi đó. Một mình.

Cùng trong thời gian này, nữ ca sĩ Thái Hằng là hiền thê của nhạc sĩ Phạm Duy đã ra đi sau sáu tháng vật lộn với con bệnh ung thư. Trước đây mấy năm nhạc sĩ Phạm Duy đã sửa soạn cho khúc tạ từ này rồi trong Rong Khúc Hát Cho Năm 2000:

Anh dẫn Em vươn tới miền an tĩnh
Cho bớt mông mênh cõi sinh mệnh buồn
Ở nhịp trần gian, quay cuồng...
Anh đã nghe vang tiếng gọi càn khôn
Nhưng nếu Em yêu muốn vào cõi lớn...
Anh dắt tay Em đi vào Ngàn Mai
Anh khoác vai Em bước về Ngàn Xưa

Ai mà chả có một lần ra đi. Sinh ký tử qui: sống gửi thác về. Nhưng về đâu, quê nào, nhà nào, thì vẫn là một câu hỏi khúc mắc nhất. Cõi lớn nào, Ngàn Mai nào, Ngàn Xưa nào? Đó là một niềm tin hay một ảo tưởng? Có lần tôi đã tâm sự với nhạc sĩ Phạm Duy như vậy trong Đêm Hàn Mặc Tử ở New Orleans, khi thấy Hàn Mặc Tử đã cảm nghiệm được cõi đó là cõi sáng của tình yêu rung động lớp hào quang:

Sáng vô cùng, sáng láng cả mọi miền
Không u ám như cõi lòng ma quỉ
Vì có Đấng Hằng Sống hằng ngự trị
Nhạc thiêng liêng dồn trổi khắp hư linh.

Đúng là đứng trước cái chết, con người mới thấy niềm tin quan trọng tới cỡ nào. Niềm tin sống gửi thác về gắn liền với sinh mệnh người mình. Vì thế mà nhiều người lớn tuổi thản nhiên mua trước cỗ quan tài để sẵn trong nhà, như sắm sẵn một chiếc xe để đi về quê mẹ sau những chiều chiều ra đứng ngõ sau vọng nhìn canh cánh ruột đau chín chiều.

TIN VUI NẮM BẮT ĐƯỢC CHÌA KHÓA

Khóa Triết Thần vừa qua cũng nhằm trả lời cho câu hỏi ngàn đời trên. Giáo sư Như Hạnh Nguyễn Tự Cường, nhà Phật học có thế giá vào bậc nhất hiện nay, cũng góp phần diễn tả niềm tin vào Cuộc Sống Vĩnh Cửu là cõi Tịnh Độ, cõi Niết Bàn, theo quan niệm Phật giáo. Thần học gia Phan Đình Cho thì thao thao về một Đức Kitô là thân mình vũ trụ (Cosmic Christ) theo hướng "Bài Ca Vũ Trụ" (Hymn of the Universe) của Teihard de Chardin. Cái nhìn rất hiện đại này đã được thi sĩ William Blake hé mở từ lâu:

Thấy được cả đất trời trong một hạt cát nhỏ
Và thấy cả thiên đàng trong một bông hoa dại.
Hãy chứa đựng cõi vô biên trong lòng bàn tay
Và nắm bắt được vĩnh cửu trong một tiếng đồng hồ.

Như vậy, Quê Mẹ, Cõi Lớn, Ngàn Xưa, Ngàn Mai... đã bắt đầu từ giây phút hiện tại trong cuộc sống đời thường; đồng thời cũng vượt qua không gian và thời gian mà đi vào vĩnh cửu. Bởi vì chính Chúa Trời là cõi đó, là ngôi nhà hằng thể, là bến đậu vĩnh hằng, là nguyên thủy và là cùng đích, là Alpha và là Omega: Chúa là gia nghiệp đời con, như thánh vịnh từng diễn lên.

Chân lý của Chúa thì trường tồn, nhưng cần được diễn đạt cho hợp với văn hóa mỗi dân tộc cũng như cảm quan thời đại; vì thế mà cần đến suy tư thần học. Mỗi khía cạnh về Đức Kitô cũng được nhấn mạnh theo cảm quan đó. Tuy nhiên tất cả cũng chỉ là những suy tư để mở rộng nhãn giới, để hội nhập môi trường. Điều quan trọng vẫn là có gặp gỡ được chính Chúa trong tương giao thân tình hay không. Vì thế mà trong Tin Vui tuần này, Chúa Giêsu đã hỏi cho rõ: "Người ta bảo Con Người là ai?"

Người thì bảo là Gioan Tẩy giả, là Êlia, là Giêrêmia hay một vị ngôn sứ nào đó. Người thì bảo là Đấng Giải Phóng mang công bằng xã hội, là Thân Mình trời đất v.v. Nhưng Chúa muốn biết liên hệ tình nghĩa của từng người. Chúa muốn mỗi người nhận ra Chúa không do một mớ lý thuyết hay ý niệm nào cả, mà như một người thân thương có con tim biết rung động: "Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai?" (Mt 16:15). Đây là lúc người tin Đạo nhìn sâu vào con mắt rưng rưng cảm động của Chúa mà trả lời như thánh Phêrô, và đó cũng là nắm bắt được then chốt của triết thần. Nhìn được như vậy là được trao chìa khóa Nước Trời (Mt 16:19) mà mở cửa bước vào quê nhà ấm êm gặp gỡ chính Chúa vẫn luôn sống động hiện hữu đây: "Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống." (Mt 16:16).

PHÚT CHỜ BÃO EL NINO

Nhà thơ Du Tử Lê sau nhiều trăn trở đã bước tới cảm nghiệm thật lạ trong thi tập Hoa Nào Tin Quả Đắng Đến Không Ngờ. Trong lúc chờ cơn bão El Nino chụp xuống, mọi vật mọi loài đều biết tìm cách trú núp, phương chi là con người.

thì ra, không chỉ em và, tôi
ngay thời gian / chim muông / mây, gió / ... /
cũng cần một nơi
để treo / móc /
những đồ lỉnh kỉnh
cuối đời chúng.

Mong ước của cả một đời người là tìm được "một chỗ cất dấu rất an toàn" nơi tình yêu, nơi mái tóc, nơi trái tim, nơi nụ cười. Đúng vậy, tình yêu tinh ròng thì đi vào vĩnh cửu, vì Thượng Đế chính là tình yêu, như Thánh Kinh đã tỏ lộ. Bến đậu vĩnh hằng nơi quê trời đây không còn như một khối lực vô vị tẻ lạnh đến rợn người như kiểu tượng muối hòa tan trong biển cả mênh mông, mà là một Thượng Đế Tình Yêu trong tương giao ấm áp cõi lòng với rung động con tim như Du Tử Lê cảm nghiệm:

tất cả những nơi cất dấu nọ
(ngay linh hồn tôi)
lại được cất dấu an toàn:
-trong bàn tay Thượng Đế.


Thời điểm tập chết

"Các người thường nói: "Ráng chiều ửng hồng, rạng đông sẽ đẹp"; hoặc: "Trời kia màu đỏ pha thâm, hôm nay giông gió không nhầm đâu ai". Các người đã biết nhìn điềm trời mà luận thời tiết, cớ sao không biết xem dấu chỉ mà luận thời kỳ?" (Mt 16:1-3).

CÕI ĐÓ

Giữa tháng tám năm 1999, tôi có dịp tham dự và góp phần trong khóa học về đề tài "Sự Chết và Đời Sống Vĩnh Cửu" do Viện Triết Thần tổ chức tại California. Đang lúc ai cũng ham sống, tìm cách sống lâu thêm cho được hưởng đời mà Viện Triết Thần lại đi bàn chuyện chết, liệu có gì hấp dẫn?! Vậy mà khóa đã thật sống động, nhiều điều mới lạ và thích thú được mở ra. Cái chết là đề tài cũ rích đáng sợ nhất không ngờ lại là điều luôn hiện đại. Có người bảo chỉ khi nào biết chết thì mới bắt đầu biết sống.

Thì mỗi ngày đều đầy những tin tức chết chóc trên báo hay Tivi đó. Kìa vụ động đất vừa xảy ra bên Thổ Nhĩ Kỳ chết bộn người, nhà cửa đổ nát, máu me và nước mắt tràn ngập. Kìa trên Chicago trời nóng quá, nhiều nhà nghèo không có máy lạnh nên đã biếu tử thần mấy trăm mạng rồi...

Xem ra tôi vẫn đọc tin như vậy một cách bình thản, dù đôi khi cũng vương một chút thương tâm, nhưng thực sự tất cả vẫn ở ngoài tôi, vẫn ở xa tôi, chẳng liên hệ gì cả. Lý do dễ hiểu là vì ai chết ấy chứ có phải tôi đâu, hay ít ra cũng có phải những người thân yêu của tôi đâu! Mình hơi buồn vì họ chết mà trong bụng thì mừng vì thấy được mình vẫn còn sống!

THỜI ĐIỂM TẬP CHẾT TRONG KHÓA TRIẾT THẦN

Thú thực, trong suốt khóa học, tôi được nghe nhiều tư tưởng hấp dẫn, nhiều khám phá mới mẻ của nhiều nhà thông thái lỗi lạc, nhưng tôi lại bị, hay được một đoạn thật ngắn gây xúc động bất ngờ. Hình ảnh cứ lảng vảng bên trong suốt mấy ngày. Đó là khi giáo sư Nguyễn Thái Hợp nhắc tới câu chuyện nhà thơ Du Tử Lê ngồi đối diện với quan tài của người mẹ thân yêu đã suốt đời khổ nhục mà nay sắp tan vào bụi đất. Ông đã trăn trở với vấn nạn thẳm sâu nhất của một đời người:

Chưa bao giờ tôi thấy,
tại sao kiếp người lại có thể vô nghĩa đến thế.
thầy M.G. nói, chết là về nhà
ông quên chỉ, ngôi nhà nào đây?
trên mặt đất hay sâu lòng địa ngục?

Tôi hình dung ra cảnh chính mình một ngày nào đó cũng đóng vai trò Du Tử Lê phải từ biệt người mẹ thân yêu nhất đời, vĩnh viễn hay có ngày gặp lại? Đúng vậy, chỉ khi nào đụng chạm tới những gì thân thiết nhất, mình mới nhận ra rằng những điều suy nghĩ trước đây dù sao vẫn chỉ là những cái ở ngoài, còn bây giờ "cái đó" đã trở thành "cái này" rồi. Hơn nữa, cứ tưởng tượng mà coi, chiếc quan tài kia lại đang chứa thi hài của chính mình, nằm bất động giữa bao nghi lễ và thủ tục đang diễn ra... rồi cũng được di chuyển tới nghĩa trang. Cõi đó, riêng tôi. Một mình...

Vũ Khắc Khoan trong "Đọc Kinh" đã khắc khoải nói lên: "Cái đó, cái mà cho đến hôm nay, chưa một vị thiện-trí-thức, chưa một vị bồ tát nào mô tả được hình tượng, xác định được thể chất, cái đó có thể giản dị như mưa và nắng, hiện hữu rất tự nhiên -mặt trời lại mọc lúc đêm tàn- nhưng cũng lại có thể vô cùng phức tạp, ẩn hiện vô lường, vô lượng danh hiệu... Những nửa khuya tỉnh giấc, cái đó - chính nó- đôi khi vẫn thấp thoáng trong tôi, hóa trang thành những lời tra vấn trớ trêu, những tại sao ray rứt, lãng đãng quanh tôi, tưởng như dễ dàng nắm bắt, bỗng lại xa vời, nhòa dần, biến hẳn tuyệt mù."

Và Vũ Khắc Khoan đã khơi dậy câu hỏi ngàn đời nay trở thành câu hỏi chính mình: "Cõi đó, lạ lạ quen quen. Cõi đó hằng đêm. Cõi đó, riêng tôi. Một mình." (Đọc Kinh, An Tiêm xuất bản, trang 40)

ĐI VÀO CÕI LỚN

Muốn lý luận gì thì lý luận, nhưng đứng trước quan tài của một người thương yêu, mình mới thấy thấm thía. Thân xác đẹp đẽ có quấn quít mấy rồi cũng thối rữa. Cái gì còn lại? Câu nói từ thực chứng não nề của Du Tử Lê có uy lực lay động con tim, thay đổi nhãn quan của cả một đời người: "Chưa bao giờ tôi thấy, tại sao kiếp người lại có thể vô nghĩa đến thế." Vợ chồng dù có trở thành một xương một thịt, rồi cũng đến một lúc thấy chẳng phải vậy khi một trong hai phải bước đi lên xe hoa là chiếc quan tài mà bay vào cõi đó. Một mình.

Cùng trong thời gian này, nữ ca sĩ Thái Hằng là hiền thê của nhạc sĩ Phạm Duy đã ra đi sau sáu tháng vật lộn với con bệnh ung thư. Trước đây mấy năm nhạc sĩ Phạm Duy đã sửa soạn cho khúc tạ từ này rồi trong Rong Khúc Hát Cho Năm 2000:

Anh dẫn Em vươn tới miền an tĩnh
Cho bớt mông mênh cõi sinh mệnh buồn
Ở nhịp trần gian, quay cuồng...
Anh đã nghe vang tiếng gọi càn khôn
Nhưng nếu Em yêu muốn vào cõi lớn...
Anh dắt tay Em đi vào Ngàn Mai
Anh khoác vai Em bước về Ngàn Xưa

Ai mà chả có một lần ra đi. Sinh ký tử qui: sống gửi thác về. Nhưng về đâu, quê nào, nhà nào, thì vẫn là một câu hỏi khúc mắc nhất. Cõi lớn nào, Ngàn Mai nào, Ngàn Xưa nào? Đó là một niềm tin hay một ảo tưởng? Có lần tôi đã tâm sự với nhạc sĩ Phạm Duy như vậy trong Đêm Hàn Mặc Tử ở New Orleans, khi thấy Hàn Mặc Tử đã cảm nghiệm được cõi đó là cõi sáng của tình yêu rung động lớp hào quang:

Sáng vô cùng, sáng láng cả mọi miền
Không u ám như cõi lòng ma quỉ
Vì có Đấng Hằng Sống hằng ngự trị
Nhạc thiêng liêng dồn trổi khắp hư linh.

Đúng là đứng trước cái chết, con người mới thấy niềm tin quan trọng tới cỡ nào. Niềm tin sống gửi thác về gắn liền với sinh mệnh người mình. Vì thế mà nhiều người lớn tuổi thản nhiên mua trước cỗ quan tài để sẵn trong nhà, như sắm sẵn một chiếc xe để đi về quê mẹ sau những chiều chiều ra đứng ngõ sau vọng nhìn canh cánh ruột đau chín chiều.

TIN VUI NẮM BẮT ĐƯỢC CHÌA KHÓA

Khóa Triết Thần vừa qua cũng nhằm trả lời cho câu hỏi ngàn đời trên. Giáo sư Như Hạnh Nguyễn Tự Cường, nhà Phật học có thế giá vào bậc nhất hiện nay, cũng góp phần diễn tả niềm tin vào Cuộc Sống Vĩnh Cửu là cõi Tịnh Độ, cõi Niết Bàn, theo quan niệm Phật giáo. Thần học gia Phan Đình Cho thì thao thao về một Đức Kitô là thân mình vũ trụ (Cosmic Christ) theo hướng "Bài Ca Vũ Trụ" (Hymn of the Universe) của Teihard de Chardin. Cái nhìn rất hiện đại này đã được thi sĩ William Blake hé mở từ lâu:

Thấy được cả đất trời trong một hạt cát nhỏ
Và thấy cả thiên đàng trong một bông hoa dại.
Hãy chứa đựng cõi vô biên trong lòng bàn tay
Và nắm bắt được vĩnh cửu trong một tiếng đồng hồ.

Như vậy, Quê Mẹ, Cõi Lớn, Ngàn Xưa, Ngàn Mai... đã bắt đầu từ giây phút hiện tại trong cuộc sống đời thường; đồng thời cũng vượt qua không gian và thời gian mà đi vào vĩnh cửu. Bởi vì chính Chúa Trời là cõi đó, là ngôi nhà hằng thể, là bến đậu vĩnh hằng, là nguyên thủy và là cùng đích, là Alpha và là Omega: Chúa là gia nghiệp đời con, như thánh vịnh từng diễn lên.

Chân lý của Chúa thì trường tồn, nhưng cần được diễn đạt cho hợp với văn hóa mỗi dân tộc cũng như cảm quan thời đại; vì thế mà cần đến suy tư thần học. Mỗi khía cạnh về Đức Kitô cũng được nhấn mạnh theo cảm quan đó. Tuy nhiên tất cả cũng chỉ là những suy tư để mở rộng nhãn giới, để hội nhập môi trường. Điều quan trọng vẫn là có gặp gỡ được chính Chúa trong tương giao thân tình hay không. Vì thế mà trong Tin Vui tuần này, Chúa Giêsu đã hỏi cho rõ: "Người ta bảo Con Người là ai?"

Người thì bảo là Gioan Tẩy giả, là Êlia, là Giêrêmia hay một vị ngôn sứ nào đó. Người thì bảo là Đấng Giải Phóng mang công bằng xã hội, là Thân Mình trời đất v.v. Nhưng Chúa muốn biết liên hệ tình nghĩa của từng người. Chúa muốn mỗi người nhận ra Chúa không do một mớ lý thuyết hay ý niệm nào cả, mà như một người thân thương có con tim biết rung động: "Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai?" (Mt 16:15). Đây là lúc người tin Đạo nhìn sâu vào con mắt rưng rưng cảm động của Chúa mà trả lời như thánh Phêrô, và đó cũng là nắm bắt được then chốt của triết thần. Nhìn được như vậy là được trao chìa khóa Nước Trời (Mt 16:19) mà mở cửa bước vào quê nhà ấm êm gặp gỡ chính Chúa vẫn luôn sống động hiện hữu đây: "Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống." (Mt 16:16).

PHÚT CHỜ BÃO EL NINO

Nhà thơ Du Tử Lê sau nhiều trăn trở đã bước tới cảm nghiệm thật lạ trong thi tập Hoa Nào Tin Quả Đắng Đến Không Ngờ. Trong lúc chờ cơn bão El Nino chụp xuống, mọi vật mọi loài đều biết tìm cách trú núp, phương chi là con người.

thì ra, không chỉ em và, tôi
ngay thời gian / chim muông / mây, gió / ... /
cũng cần một nơi
để treo / móc /
những đồ lỉnh kỉnh
cuối đời chúng.

Mong ước của cả một đời người là tìm được "một chỗ cất dấu rất an toàn" nơi tình yêu, nơi mái tóc, nơi trái tim, nơi nụ cười. Đúng vậy, tình yêu tinh ròng thì đi vào vĩnh cửu, vì Thượng Đế chính là tình yêu, như Thánh Kinh đã tỏ lộ. Bến đậu vĩnh hằng nơi quê trời đây không còn như một khối lực vô vị tẻ lạnh đến rợn người như kiểu tượng muối hòa tan trong biển cả mênh mông, mà là một Thượng Đế Tình Yêu trong tương giao ấm áp cõi lòng với rung động con tim như Du Tử Lê cảm nghiệm:

tất cả những nơi cất dấu nọ
(ngay linh hồn tôi)
lại được cất dấu an toàn:
-trong bàn tay Thượng Đế.


Lm Anrê Dũng Lạc Trần Cao Tường


 

2/11-21: Tôn Kính Ông Bà Tổ Tiên


Giới răn thứ 4: THẢO KÍNH CHA Mẹ

 

Mỗi năm cứ độ Thu về, khi lá vàng rơi rụng, nhắc nhớ con người về thân phận: 2/11-21


Mỗi năm cứ độ Thu về, khi lá vàng rơi rụng, nhắc nhớ con người về thân phận dòn mỏng của mình, về cõi đời mau qua chóng hết, như "hoa sớm nở tối tàn", Giáo Hội Công Giáo dành tháng 11 để đặc biệt tưởng niệm và cầu nguyện cho tất cả các linh hồn Tổ Tiên, Ông Bà, Cha Mẹ, Bà Con thân thuộc, Bạn bè và tất cả những người đã qua đời.

Trong tháng này, Giáo Hội mời gọi con cái của mình suy nghĩ đến bốn sự sau: sự chết, thiên đàng, luyện ngục và hỏa ngục. Các tín hữu nên đi thăm nghĩa các phần mộ Ông Bà Tổ Tiên, sửa sang phần mộ, thắp nến, đốt hương để tưởng nhớ Ông Bà.

Trong tháng các Linh Hồn và đặc biệt những ngày giỗ, mỗi gia đình Công Giáo có thói quen xin Lễ cầu nguyện cho các linh hồn tiên nhân và các linh hồn mồ côi. Đặc biệt trong năm Toàn Xá 2000, mỗi ngày chúng ta có thể lãnh nhận một ân toàn xá, nhường lại cho các linh hồn.

Đây là truyền thống tín ngưỡng ngàn đời và tinh thần "Đạo hiếu" của Nho giáo đã khắc đậm trong tâm hồn dân Việt, không những không xung khắc mà còn phù hợp với Giới Luật Thứ 4 của Thiên Chúa: "Thảo kính Cha Mẹ". Đáng tiếc, cuộc tranh luận bắt đầu từ năm 1631 về nghi lễ Trung Hoa (xem trang 28) giữa những các nhà truyền kéo dài cả 300 năm, gây ra những hậu quả và hiểu lầm tai hại mãi cho tới ngày nay.

Trong thực tế, vẫn còn có nhiều thiên kiến và hiểu lầm về "Đạo Ông Bà, Tôn Kính Tổ Tiên" và có rất nhiều những hiểu biết sai lạc, những cách hành xử không đúng với đường hướng và quy luật của Giáo Hội về việc "Tôn Kính Tổ Tiên Ông Bà" của chính những người Công Giáo, khiến cho nhiều anh em lương giáo hiểu sai (chẳng hạn: "theo đạo là bỏ Tổ Tiên, Ông Bà"), do đó kết án hoặc xa tránh đức tin Kitô giáo. Vì thế, nguyệt san Dân Chúa Âu Châu xin gửi đến quý độc giả bốn phương chủ đề "Đạo Ông Bà, Tôn Kính Tổ Tiên" để mỗi người chúng ta học hiểu lại cho đúng tinh thần cốt lõi của Đạo Ông Bà.

Chúng tôi cũng cho đăng lại Thông cáo của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam họp tại Đà Lạt, ngày 14 tháng 6 năm 1965 về việc tôn kính Tổ Tiên (xem trang 24) và những quyết nghị của Ủy Ban Giám mục nhân khóa hội thảo VII về Truyền Bá Phúc Âm toàn quốc, tại Nha Trang ngày 12-14 tháng 11 năm 1974 về các lễ nghi tôn kính Ông Bà tổ tiên (xem trang 22) để chúng ta biết hành xử cho đúng đắn trong mọi hoàn cảnh của cuộc sống.

Dân Chúa xin đặc biệt nhấn mạnh đến các quyết nghị nhân sau đây:

1. Bàn thờ gia tiên để kính nhớ Ông Bà Tổ tiên được đặt dưới bàn thờ Chúa trong gia đình, miễn là trên bàn thờ không bày biện điều gì mê tín dị đoan, như hồn bạch.
2. Việc đốt nhang hương, đèn nến trên bàn thờ gia tiên và vái lạy trước bàn thờ, giường thờ Tổ tiên, là những cử chỉ thái độ hiếu thảo tôn kính, được phép làm.

3. Ngày giỗ cũng là ngày "kỵ nhật" được "cúng giỗ" trong gia đình theo phong tục địa phương miễn là loại bỏ những gì là dị đoạn mê tín, như đốt vàng mã, và giảm thiểu cùng canh cải những lễ vật biểu dương đúng ý nghĩa thành kính biết ơn Ông Bà, như dâng hoa trái, hương đèn.

4. Trong hôn lễ, dâu rể được làm "Lễ Tổ, Lễ Gia Tiên" trước bàn thờ, giường thờ Tổ tiên, vì đó là nghi lễ tỏ lòng biết ơn, hiếu kính trình diện với Ông Bà.

5. Trong tang lễ được vái lạy trước thi hài người quá cố, đốt hương vái theo phong tục địa phương để tỏ lòng cung kính người đã khuất cũng như Giáo Hội cho đốt nến, xông hương nghiêng mình trước thi hài người quá cố.

6. Được tham dự nghi lễ tôn kính vị thành hoàng quen gọi là phúc thần tại đình làng, để tỏ lòng cung kính biết ơn những vị mà theo lịch sử đã có công với dân tộc hoặc là ân nhân của dân làng, chứ không phải là mê tín như đối với các "yêu thần, tà thần".

Ước mong, tại Quê Nhà hay ở hải ngoại, nên có một ủy ban nghiên cứu để đào sâu tinh thần của "Đạo Ông Bà" và thống nhất các lễ nghi "tôn kính tổ tiên" chẳng hạn như "Lễ Gia Tiên" trong dịp cưới hỏi.. để càng ngày Giáo Hội Công Giáo Việt Nam càng làm thăng hoa những giá trị truyền thống phong phú về tôn giáo và đạo đức của dân tộc.

Lm. Stêphanô Bùi Thượng Lưu
Chủ Nhiệm Dân Chúa Âu Châu



 

2/11-22: HỌ SẼ ĐƯỢC NHÌN THẤY THIÊN CHÚA

 

Một linh mục đang chuẩn bị cho trẻ em lãnh bí tích thêm sức, Ngài kiểm tra những điều các em: 2/11-22


Một linh mục đang chuẩn bị cho trẻ em lãnh bí tích thêm sức, Ngài kiểm tra những điều các em học hỏi. Ngài hỏi một em trai: “Thiên Chúa sẽ nói gì trong ngày phán xét chung với những người đã sống cuộc đời rất tốt lành ?” Không do dự, chú bé đáp: “Hãy lên trời sống với Ta”.

Rồi linh mục hõi một em bé gái: “Còn những người sống cuộc đời rất xấu xa thì sao ? Thiên Chúa sẽ nói gì với họ ?”. Cô bé đáp: “Các người không được lên trời. Các người phải đi nơi khác”.

Linh mục nói tiếp: “Vậy Thiên Chúa sẽ nói gì với những người chưa tốt lành đủ để lên trời và cũng không xấu đến nỗi phải vào hỏa ngục ?” Một em bé nhanh nhảu giơ tay và trả lời theo kiểu mới bằng những lời rất đúng: “Thiên Chúa sẽ nói: “Ta sẽ nhìn các con”.

Câu chuyện này làm nổi bật hai trong nhiều chân lý mà chúng ta cần nhắc lại trong ngày lễ các linh hồn hôm nay và trong cả trong tháng 11 này được dành riêng để kính nhớ các linh hồn còn trong luyện hgục. Chân lý thứ nhất là: một số linh hồn chưa đủ tốt lành để lên trời và không xấu đến nỗi phải vào hỏa ngục. Vậy những người đó đi đâu khi họ qua đời ? Chỉ Giáo hội công giáo có câu trả lời, là họ vào luyện ngục. Chân lý khác được em bé gái diễn tả là: đau khổ lớn nhất của luyện ngục là các linh hồn ở đó không được nhìn thấy Thiên Chúa, vì Thiên Chúa sẽ nhìn xem họ sau này, cho nên họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa về sau.

Bạn không tìm thấy từ “luyện ngục” trong Thánh Kinh, nhưng bạn có thể tìm được ý tưởng về nó. Chính Chúa chúng ta muốn nói rằng: một số tội được đền chuộc lại ở đời sau khi Ngài nói về tội không thể tha thứ vì từ chối kêu xin sự tha thứ (Mt 12,32)

Chúa Giêsu cũng nói về một ngục tù nơi  linh hồn sẽ bị tống vào đó vì một số tôi. Họ sẽ chẳng được ra khỏi đó cho đến khi trả hết đồng xu cuối cùng (Mt 5,26), thánh Phaolô nói về những người sống ở thế gian này không hoàn thiện, tuy nhiên họ sẽ được cứu độ như bằng lửa thử luyện (ICor 3,13).

Cựu ước cũng chỉ cho thấy luyện ngục. Giuda Macabê, nhà lãnh đạo Do thái, đã dâng lễ tế đền tội cho người đã chết: “Cầu nguyện cho người đã chết là một ý tưởng lành thánh và đạo đức, để họ được tha thứ tội lỗi” (Amac 12,46).

Các linh hồn lành thánh không được lập công được nữa vì họ cũng không thể phạm tội nữa. Họ không thể giúp mình nhưng có thể giúp chúng ta. Họ đau khổ chính là vì họ không có thể ở cùng Thiên Chúa và nhìn xem Thiên Chúa. Họ chịu thứ đau khổ thanh tẩy có thể so sánh với đau khổ vì lửa. Nhưng họ vẫn vui mừng: họ nắm chắc là họ sẽ được lên trời.
Nhiêu linh hồn lành thánh này là những người thân yêu của chúng ta. Chúng ta có thể giúp đỡ họ bằng cầu nguyện, bằng việc lành và đặc biệt nhờ thánh lễ mà chúng ta cầu nguyện: “Xin Chúa nhớ đến tổ tiên, thân thuộc chúng con và anh chị em tín hữu đang an nghỉ chờ ngày sống lại, xin cho tất cả được hưởng ánh sáng tôn nhan Chúa”.

Xin Chúa chúc lành cho các bạn.


 

2/11-23: CÁC TÍN HỮU ĐÃ QUA ĐỜI.

 

Trong thánh lễ cầu cho những người đã qua đời, chúng ta thường hát : - Lạy Chúa, xin cho các: 2/11-23


Trong thánh lễ cầu cho những người đã qua đời, chúng ta thường hát :

- Lạy Chúa, xin cho các linh hồn được nghỉ yên muôn đời và cho ánh sáng ngàn thu chiếu soi trên các linh hồn ấy.

Khi cầu xin với Chúa như vậy, chúng ta phải giả thiết các linh hồn ấy chưa đến được nơi hạnh phúc vĩnh cửu, nhưng đồng thời cũng không bị đày đọa trong hỏa ngục. Và dựa vào giáo lý, chúng ta đã biết luyện ngục là nơi đau khổ, trong đó linh hồn những người công chính sẽ phải thanh tẩy tội lỗi trước khi bước vào Nước Trời.

 Các linh hồn ấy không bị ném vào chốn cực hình muôn kiếp, nhưng cũng chưa được vào thiên đàng. Sở dĩ như vậy vì Thiên Chúa là Đấng thánh thiện và trong sạch vẹn toàn. Ngài không bao giờ chấp nhận chút bùn nhơ tội lỗi, dù là nhỏ bé tầm thường. Linh hồn vấp phạm đã được tha thứ, nhưng còn phải đền bù và thanh luyện về những sai lỗi ấy. Và thật là may mắn, chúng ta có thể giúp đỡ bằng những lời kinh, những hy sinh và những thánh lễ dâng lên cho Thiên Chúa, để xin Ngài xóa bỏ tội lỗi, giảm bớt hình phạt và mau giải phóng các linh hồn ấy.

Sau đây chúng ta hãy lắng nghe một tiếng nói từ thế giới bên kia vọng về. Vào mùa chay năm 1922, nữ tu Joséfa xin với Chúa cho mình được liên hệ với thế giới của luyện ngục, và nữ tu đã ghi nhận :

- Rất nhiều linh hồn đã xin ngài hy sinh và cầu nguyện cho.

Một linh hồn nói :

- Tôi đã sống trong tình trạng tội lỗi suốt bảy năm. Sau đó tôi bị đau ốm ba năm. Tôi từ chối không muốn xưng tội. Tự tay tôi đã xây lấy hỏa ngục cho tôi. Nhưng nhờ lời kinh và hy sinh của người mẹ, mà tôi ăn năn thống hối trở về với Chúa và sống trong tình trạng ơn thánh. Bây giờ tôi đang bị giam cầm trong luyện ngục. Tôi van xin ngài hãy cứu giúp tôi, để mau mau chóng ra khỏi tù ngục này.

Hãy giúp đỡ các linh hồn nơi luyện ngục vì đó là một bổn phận bác ái. Nỡ lòng nào mà chúng ta không ra tay trợ giúp kẻ kêu cầu chúng ta. Nỡ lòng nào mà chúng ta lại lãnh đạm trước một người bạn đang chới với giữa dòng nước mà không tìm cách cứu vớt.

Hãy giúp đỡ các linh hồn nơi luyện ngục vì đó là một bổn phận công bằng, vì tất cả chúng ta đều liên đới với nhau trong sự thiện cũng như trong sự ác, trong sự tốt cũng như trong sự xấu. Những người bị đền bù, rất có thể vì đời sống tầm thường, vì gương mù gương xấu của chúng ta mà vấp ngã, rất có thể vì yêu thương chúng ta mà các ngài đã sai lỗi điều nọ điều kia. Dù ít hay nhiều, chúng ta cũng liên đới chịu trách nhiệm về những hình phạt của các ngài và phải chia sẻ về những hình phạt ấy.

Sau cùng, hãy giúp đỡ các linh hồn nơi luyện ngục vì đó là việc làm có lợi cho chúng ta. Cầu nguyện cho các ngài, thì các ngài cũng sẽ bầu cử cho chúng ta vì các ngài đã là những bạn hữu nghĩa thiết của Chúa. Tưởng nhớ đến các ngài, thì chắc hẳn mai ngày khi ở trong hoàn cảnh khổ đau như thế, Chúa cũng sẽ không để chúng ta chìm vào quên lãng.

Cách đây không lâu cha sở vùng Bretagne là một mục tử tận tâm chăm sóc đoàn chiên của mình. Chẳng may ngài bị chết bất ngờ, và có tới hơn hai trăm linh mục khác đến đồng tế trong thánh lễ an táng của ngài.

Ngài đã nói với các em nhỏ trong giờ giáo lý cuối cùng như sau :

- Hãy cầu nguyện cho các linh mục. Nếu cha bị chết bất ngờ, chắc hẳn cha sẽ phải vào trong luyện ngục. Các em hãy hứa là sẽ cầu nguyện và cầu nguyện nhiều cho cha nhé.

Và để kết luận, tôi xin đưa ra nơi đây ý kiến của một tờ báo Công giáo :

- Bạn nhớ cầu nguyện cho các linh hồn nơi luyện ngục và cũng thường xuyên nghĩ tới cái chết, sự phán xét, thiên đàng và hỏa ngục. Bạn còn có thể chuẩn bị cho ngày gặp gỡ mặt đối mặt với Thiên Chúa. Trong ngày đó, chỉ có hai con đường : hoặc là đau khổ vĩnh viễn, hoặc là hạnh phúc muôn đời. Vậy chúng ta chọn con đường nào đây ?


 

2/11-24: Vài cảm nghĩ về cái chết - Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi


Ga 11, 25-26

 

Ngay từ buổi đầu của Kitô giáo, Hội Thánh lữ hành đã hết lòng kính nhớ, dâng lời cầu cho những: 2/11-24


Ngay từ buổi đầu của Kitô giáo, Hội Thánh lữ hành đã hết lòng kính nhớ, dâng lời cầu cho những người đã qua đời, vì cầu nguyện để họ được giải thoát khỏi tội lỗi là một ý nghĩ lành thánh (2Mcb 12, 45). Hãy dâng thánh lễ và các việc lành để cầu nguyện cho các tín hữu đã qua đời (lời nhắn nhủ của GH đầu tháng 11). Nghĩ về cái chết, đề cập đến người ra đi để mọi người chúng ta cùng hiệp thông một cách huyền nhiệm vì giữa người sống và kẻ chết trong lòng tin như có một mối giây liên lạc không thể rời xa, không thể tách biệt... Giữa người sống và người chết có một sự kết hợp thật thâm sâu, thật thắm thiết...

Như thế, cái chết không còn là một ngõ cụt, không còn là một chấm hết cuối cùng của con người.Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II trong “Gẫm về sự chết” đã viết: “Lạy Chúa, con có điên rồ, hẳn Chúa biết rõ (Cv 68, 69). Đời sống bần tiện, lao đao, bủn xỉn, hẹp hòi, rất cần phải nhẫn nại, phải tu bổ, phải được vô cùng thương xót. Con luôn luôn coi cuộc đời của thánh Augutinh như một tổng hợp tuyệt vời: sự khốn nạn và lòng từ bi, sự khốn nạn của con và lòng từ bi của Chúa. Chớ gì, ít ra bây giờ, con có thể tôn vinh Chúa là Thiên chúa tốt lành vô cùng bằng cách kêu cầu chấp nhận và tán tụng lòng từ bi dịu hiền của Chúa...” (Osservatore Romano 34, ngày 21/8/1979). Đức Thánh Cha đã gẫm suy về cái chết như một tôn vinh của cuộc đời vì Thiên Chúa thật nhân lành, dịu hiền và hay thương xót. Còn Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII khi biết rõ thực tế bệnh tình của mình đã nói lên một cách bình thản: “Tôi đã dọn sẵn hành trang”. Chính vì xác tín mạnh mẽ về sự chết, Đức Thánh Cha Gioan 23 đã rất an bình và bình tĩnh đón nhận cái chết. Tình yêu mạnh hơn sự chết, tình yêu nối kết con ngừơi còn sống với người đã chết. Và trong sức mạnh của tình yêu, cái chết của Chúa Giêsu trên thập giá gây chú ý cho mọi người vì nhờ cái chết của Ngài, mọi người đều được lôi kéo đến với Ngài, Ngài đã qui tụ mọi người không phân biệt bất cứ một ai. Ngài đã tha thứ cho cả những kẻ hành hạ, ám hại, lên án và hành hạ Ngài. Sức mạnh tình yêu của Chúa Giêsu trên thập giá là sức mạnh cứu độ. Nhờ sức mạnh ấy, con người, loài người và mọi người được cứu độ: “Ơn cứu độ nơi Người chan chứa”. Chính trong giờ phút tối tăm của cuộc đời, trong giờ hấp hối, Chúa Giêsu đã minh chứng: “Tình yêu mạnh hơn sự chết”. Tình yêu nối kết con người, tình yêu tha thứ và tình yêu từ bỏ. Chúa Giêsu đã nói: “Không tình yêu nào cao vời bằng tình yêu của người hiến mạng sống vì người mình yêu” (Ga 15, 13).

Đức Giêsu đã yêu nhân loại cho tới cùng, Ngài vẫn tiếp tục yêu con người và từng người không ngừng. Trong cái chết của Chúa Giêsu, nhân loại giao hòa với Thiên Chúa, với Ngài và với mọi người. Hiệp với cái chết của Chúa, nhân loại có nghĩa vụ và trách nhiệm đối với nhau, cầu nguyện và tưởng nhớ tới những người đã chết. Không ai tránh khỏi cái chết: ai cũng phải một lần ra đi ai cũng phải một lần từ giã cõi đời, từ biệt những người thân thương để trở về với Đấng đã dựng nên mình, trở về với Đấng đã yêu thương mình. Người quá cố có thể là ông bà, cha mẹ, con cái, anh chị em và những người thân thương của ta hay những người mà ta chưa bao giờ quen biết, những kẻ đã từng làm hại ta vv...Trong cái chết của Chúa Giêsu, mọi người sẽ thông cảm và tha thứ cho nhau. Vì cái chết của Chúa Giêsu là nguồn ơn an bình và tha thứ...

Cầu nguyện cho những người đã chết để họ được giải thoát là một ý nghĩ lành thánh (2 Mcb 12, 46; GH 50). Lời cầu nguyện của mọi người còn sống có sức mạnh giải thoát tội lỗi của những người quá cố, nhưng đồng thời chúng ta cũng được thừa hưởng lời chuyển cầu của các Ngài (Giáo Lý Công Giáo).

Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con luôn biết yêu thương cầu nguyện cho những người đã chết vì người sống và kẻ chết có một mối giây liên kết vững bền, thâm sâu và không tách rời.

GỢI Ý CHIA SẺ:

1. Bạn cảm nghiệm thế nào về cái chết ?
2. Cái chết của Chúa Giêsu nói gì cho ta ?
3. Tại sao mọi người đều phải chết ?



 

2/11-25: SAO NGÀI BỎ RƠI CON


Suy Niệm

 

Đoạn Tin Mừng trên đây kể lại cho ta cuộc đời Đức Giêsu vào những giây phút cuối. Ngài đã: 2/11-25


Đoạn Tin Mừng trên đây kể lại cho ta cuộc đời Đức Giêsu vào những giây phút cuối.

Ngài đã đón nhận cái chết một cách không dễ dàng sau nhiều giờ hấp hối trên thập giá. Đau đớn đến tột cùng, nhục nhã và cô đơn kinh khủng. Có vẻ lúc đó Cha lại vắng mặt và làm thinh. "Lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?" Đức Giêsu có cảm tưởng như Cha bỏ rơi mình vào chính lúc Ngài vâng phục Cha, chấp nhận cái chết.

Chúng ta cần nghe được tiếng kêu xé ruột của Đức Giêsu. Ngài kêu bằng tất cả sức lực còn lại của mình. Ngài kêu một tiếng lớn, rồi tắt lịm.

Chúng ta thích thấy Đức Giêsu chết bình an hơn, chết anh hùng hơn và chết lành hơn. Nhưng Đấng vô tội, chết thay cho cả nhân loại, đã chẳng được hưởng chút êm đềm nào từ Thiên Chúa.

Lời cuối của Ngài là một tiếng gọi: Lạy Thiên Chúa của con, một câu hỏi tại sao mà Ngài không rõ câu trả lời.

Đức Giêsu đã nhắm mắt trong niềm tin trần trụi.

Tháng 11 được dành để nhớ đến những người đã khuất.

Đã có thời người ta cho rằng theo đạo là bất hiếu, vì không lo giỗ chạp, cúng vái, nhang đèn... Nhưng trong niềm tin của Kitô giáo, điều người chết cần không phải là đồ ăn hay vàng mã, mà là cầu nguyện, hy sinh, việc lành và thánh lễ.

Ngọn lửa luyện ngục tuy gây nhiều đau đớn không nguôi, nhưng có sức tẩy luyện, biến đổi và thánh hóa.

Có thể nói các linh hồn ở luyện ngục có phúc hơn ta, vì họ biết chắc chắn sớm muộn gì cũng vào thiên đàng. Chính vì thế họ vui lòng để cho tình yêu Chúa thanh lọc, và càng lúc càng trở nên hoàn hảo hơn để đến gần bên Chúa.

Chúng ta cần sống mầu nhiệm các thánh thông công. Các thánh trên trời chuyển cầu cho Hội Thánh dưới thế. Hội Thánh dưới thế chuyển cầu cho các linh hồn đau khổ. Tất cả liên đới với nhau như các chi thể của một thân thể.

Trong tháng này Hội Thánh mời chúng ta đi viếng nghĩa trang để cầu nguyện cho các người thân yêu đã lìa đời.

Những hàng mộ nói với ta về cái chết không sao tránh được. Dù già hay trẻ, dù khỏe hay đau, dù giàu hay nghèo, nhưng cuối cùng cái chết vẫn là điểm hẹn.

Cái chết được chia đều cho mọi người.
Nghĩa trang có phải là nơi an nghỉ cuối cùng không?
Con người còn gì khi thân xác nát tan trong lòng đất?
Nhờ Đức Giêsu phục sinh mà mầu nhiệm cái chết được vén mở.
Cái chết chỉ là nhịp cầu đưa ta vào cõi sống.
Con người sống là để chết, và chết là để sống mãi, sống một cuộc sống hạnh phúc tuyệt vời hơn nhiều.

Cùng với thánh Phanxicô, xin gọi cái chết là chị - Chị Chết.

Ước gì người Kitô hữu học được nghệ thuật sống nhờ biết đón lấy cái chết trong niềm hy vọng tin yêu.

Gợi Ý Chia Sẻ

Bạn có kinh nghiệm gì về cái chết của một người thân, một người bạn? Cái chết nói gì với bạn? Có khi nào bạn dám nghĩ đến ngày chết của bạn không?

Nhiều bạn trẻ tự tìm đến với cái chết qua ma túy, tình dục bừa bãi, rượu chè, đua xe... Theo bạn, còn có những con đường nào khác dẫn đến cái chết, tuy chậm hơn nhưng lại không kém phần nguy hiểm?

Cầu Nguyện

Lạy Chúa Giêsu, nếu người ta cứ phải sống mãi trên cõi đời này thì thật là phiền toái.

Nhưng cái chết vẫn làm chúng con đau đớn vì phải chia tay với những người thân yêu, vì bao mộng mơ, dự tính còn dang dở.

Xin cho chúng con đừng nhìn cái chết như một định mệnh nghiệt ngã và phi lý nhưng như một hành trình trở về nguồn cội yêu thương.

Lạy Chúa Giêsu, trước cái chết thập giá, Chúa đã run sợ, nhưng không tháo lui, và Chúa đã chết trong niềm vâng phục tín thác, để trở nên người đầu tiên bước vào cõi sống viên mãn.

Xin cho chúng con nghe được lời dạy dỗ của cái chết.
Cái chết cho thấy cuộc sống mong manh, ngắn ngủi, chính vì thế từng giây phút trôi qua thật quý báu.
Cái chết bất ngờ mời gọi chúng con luôn tỉnh thức.
Cái chết nhắc nhở chúng con là khách lữ hành đang trên đường về quê hương vĩnh cửu. Sống một đời và chết một lần.
Lạy Chúa, đó là thân phận làm người của chúng con.
Xin dạy chúng con biết cách chết nhờ biết cách sống. Amen.


 

2/11-26: Không Ai Không Trong Sạch Được Hưởng Mặt Chúa

 

Tháng 11 là tháng để chúng ta tưởng nhớ tới những người đã ra đi trước chúng ta, tới sự chết: 2/11-26


Tháng 11 là tháng để chúng ta tưởng nhớ tới những người đã ra đi trước chúng ta, tới sự chết và sự sống đời đời. Sau đây là câu chuyện vui mà nó diễn tả phần nào sự kiện của con người sau khi chết.

Một ông kia giầu có nhưng có tính giữ của. Vì muốn giữ lại gia tài mà ông hiện có sau khi chết nên ông đã chia gia tài cho bà vợ và các con với lời dặn: Khi đến trước quan tài của ông, mỗi người phải bỏ tiền vào hòm của ông. Khi ông chết, người ta mở quan tài cho người nhà đến viếng. Đến trước quan tài với lòng trọng kính, người con trai đã bỏ tiền vào hòm cho ông như ông đã dặn và cả cô con gái cũng làm như thế. Nhưng đến lượt bà vợ, bà mỉm cười và chỉ bỏ vào đó một tấm chi phiếu!

Thật ra, những người đã chết mong nơi những người thân không phải là tiền giấy hay vàng bạc nhưng là những của thiêng liêng, những hy sinh, những lời cầu nguyện, những Thánh Lễ. Chính vì thế mà Giáo Hội có ngày Lễ Cầu Hồn hôm nay.

Lễ Cầu Hồn nhắc chúng ta điều gì? Chúng ta có thể tóm tắt trong hai chữ Hy Vọng và Cầu Nguyện. Hai chữ này đặt nền tảng trên Đức Tin, tin vào Chúa Giêsu Kitô từ cõi chết sống lại. Thánh Phaolô nói trong thư gửi cho Thesalônica, "Anh em thân mến, tôi không muốn để anh em không hay biết về số phận những người đã an nghỉ, ngõ hầu anh em khỏi phải phiền sầu như những người khác, những kẻ không có hy vọng. Vì nếu chúng ta tin thật rằng Đức Giêsu đã chết và đã sống lại, thì cũng vậy: Những kẻ đã an nghỉ trong Đức Giêsu, Thiên Chúa sẽ đem họ đi làm một với Ngài" 1 Thes 4:13-14). Vì thế, trong ngày Lễ Cầu Hồn, chúng ta khơi lại niềm tin. Trước tiên và trên hết, chúng ta tin Đức Giêsu Kitô và những gì Ngài đã làm cho chúng ta qua sự thương khó, cái chết và sự phục sinh của Ngài. Chúa Giêsu đã cứu chuộc chúng ta. Do đó, chúng ta hy vọng rằng những người thân và cả chúng ta được chết trong ơn nghĩa Chúa, được cứu chuộc. Điều đó cũng dẫn chúng ta đến sự cầu nguyện. Chúng ta cầu nguyện để mỗi người được ơn thanh tẩy khi ra trước tòa Chúa. Sách Khải Huyền nói cho chúng ta, "không ai không trong sạch được vào Nước Chúa" (Rev 21:27). Nghĩa là không ai có thể đến trước nhan Chúa sau khi chết trừ khi họ được hoàn toàn thanh tẩy khỏi mọi tội và mọi quyến luyến tội lỗi. Khi một linh hồn chết trong tình trạng ân sủng, nghĩa là không có tội nặng, họ có thể còn có những điều sai lỗi, hay họ có thể phải đền tội, những tội nặng hay tội nhẹ mà đã được tha. Vì thế, chúng ta cần giúp đỡ họ, cầu nguyện cho họ. Chúng ta gọi tiến trình, mà các linh hồn có ân sủng còn phải thanh tẩy trước khi hưởng nhan thánh Chúa, là Luyện Ngục. Trong thư I gửi Côrintô, Thánh Phaolô nói về những người đã liên kết với Đức Kitô mà chết. Ngài nói những người này được cứu chuộc nhưng chỉ phải qua lửa, tức là lửa thanh tẩy của luyện ngục.

Thánh Lễ, lời cầu nguyện và hy sinh của chúng ta giúp chúng ta và các linh hồn trải qua tiến trình thanh tẩy này mau lẹ hơn. Trong bài trích sách thứ hai Macabê, chúng ta nghe: "Họ (Judas và những người đạo đức) đã cúi đầu khẩn nguyện, xin cho tội phạm được hoàn toàn tẩy xóa... Đoạn ông quyên tiền nơi các quân nhân của ông và đã gửi về Giêrusalem lối hai ngàn quan tiền để dâng lễ tế đền tội. Ông làm việc rất tốt lành và cao quí bởi nghĩ đến sự sống lại; vì nếu ông không trông rằng những người bị thiệt mạng sẽ sống lại, thì cầu nguyện cho người chết là việc thừa và ngớ ngẩn; còn nếu ông nhìn đến phần thưởng tuyệt hảo dành cho những người đã an nghỉ cách đạo đức, thì quả là ý nghĩ lành thánh và đạo đức; do đó, ông đã xin dâng lễ tế xá tội cho những người đã chết, để họ được ơn tha thứ tội lỗi (2Macabê 12:42).

Judas Macabê hẳn đã làm điều tuyệt vời, khi ông xin dâng của lễ hy sinh lên Giêrusalem. Là một Kitô hữu Công Giáo, chúng ta có thể làm một việc tuyệt vời hơn thế khi chúng ta dâng lễ cầu cho thân nhân, bạn bè của chúng ta, vì Thánh Lễ là lời cầu nguyện có thần thế nhất. Chúng ta hãy cầu nguyện cho thân nhân, bạn bè chúng ta lướt qua luyện ngục một cách nhanh chóng, đó là điều mọi người mong muốn, nhưng nếu một linh hồn phải thanh tẩy, chúng ta nhớ cầu nguyện và dâng lễ cho họ để họ mau được giải thoát.


 

2/11-27: CÁC TÍN HỮU ĐÃ QUA ĐỜI

 

Bước vào tháng mười một, Giáo hội muốn hướng cái nhìn của chúng ta vào những vùng trời: 2/11-27


Bước vào tháng mười một, Giáo hội muốn hướng cái nhìn của chúng ta vào những vùng trời khác của nước Chúa bằng cách thiết lập mối liên hệ mật thiết giữa chúng ta, những lữ khách nơi trần gian, với những bậc đàn anh đã đi trước chúng ta.

Với ngày lễ các thánh, chúng ta vui mừng trước hạnh phúc vinh quang của những bậc cha ông. Chúng ta không phải chỉ mừng kính những vị thánh được Giáo hội tuyên phong, có tên trong danh bộ, nhưng chúng ta còn mừng kính những vị thánh vô danh, đã trung thành với Chúa và giờ đây cũng đang ca tụng Chúa trên nước trời.

Tiếp đến, với ngày lễ các linh hồn, chúng ta hướng tới những người đã qua đời mà chúng ta luôn cầu xin Chúa cho các ngài được nghỉ yên muôn đời.

Hai ngày tưởng nhớ. Ngày tưởng nhớ các thánh và ngày tưởng nhớ các linh hồn được liên kết với nhau một cách chặt chẽ. Niềm vui và ánh sáng của ngày lễ các thánh sẽ xâm nhập và chiếu dõi vào ngày lễ các linh hồn.

Ngay từ trưa ngày lễ các thánh, chúng ta bắt đầu viếng nhà thờ để cầu nguyện cho các linh hồn, cũng như viếng nghĩa địa, để tưởng nhớ đến những người đã khuất, mà sự hiện diện và mối giây tình cảm đã có một thời gắn bó với chúng ta.

Mặc dù đã nghỉ yên nơi lòng đất lạnh, nhưng các ngài dường như sống lại trong tâm trí chúng ta, vì những kỷ niệm dĩ vãng được gợi lên. Thế nhưng, chúng ta không được phép buồn phiền như những người khác không tin tưởng vào Thiên Chúa và nói rằng chết là hết.

Trái lại, là người tín hữu chúng ta luôn tuyên xưng :

- Tôi trông đợi kẻ chết sống lại và sự sống đời sau.

Ngày lễ các linh hồn gửi đến cho chúng ta  sứ điệp về sự sống lại và về sự sống đời sau, như lời Kinh Tiền Tụng chúng ta vốn nghe đọc :

- Lạy Chúa, đối với các tín hữu Chúa, sự sống thay đổi chứ không mất đi và khi nơi nương tựa ở trần gian bị hủy diệt tiêu tan thì họ lại được một nơi cư ngụ vĩnh viễn dọn sẵn ở trên trời.

Giáo lý đã đem lại niềm vui mừng và hy vọng, vì loan báo cho chúng ta hay tin mừng Phục sinh. Đức Kitô đã chiến thắng sự chết vì chính Ngài đã xác quyết :

- Ta là sự sống lại và là sự sống, ai tin Ta sẽ không bao giờ chết nhưng được sống muôn đời.

Cùng với thánh Phaolô chúng ta có thể kêu lên :

- Hỡi thần chết sự chiến thắng của ngươi ở đâu và nọc độc của ngươi ở đâu.

Thánh Charles Borromée ngày kia giao cho một họa sĩ vẽ bức tranh diễn tả về cái chết. Ông ta liền vẽ một bộ xương tay cầm lưỡi hái. Thánh nhân thấy vậy bèn hỏi :

- Tại sao lại vẽ như thế ? Hãy vẽ một thiên thần cầm trong tay chiếc chìa khóa vàng.

Đó là hình ảnh tượng trưng về cái chết của người Kitô hữu.

Đối với chúng ta, cái chết không phải là một cái gì ghê sợ, vì chúng ta biết rằng đó là một khung cửa tăm tối, chúng ta phải vượt qua để bước vào quê hương nước trời, ở đó Thiên Chúa sẽ lau sạch nước mắt, sẽ không còn tang tóc và đau khổ.

Nếu tin tưởng như vậy, chúng ta sẽ chỉ đau khổ trong giây lát, nhưng vinh quang sẽ muôn đời bất tận. Hay như lời thánh Phaolô đã viết :

- Những đau khổ đời này làm sao sánh ví được với vinh quang mà Chúa dành cho chúng ta.

Cái chết chính là một sứ thần do Chúa Cha sai đến để dẫn chúng ta vào quê trời. Vì thế chúng ta không ngạc nhiên khi thấy các tín hữu sơ khai đã mong chờ cái chết, và trên các mộ bia người ta thường vẽ cành vạn tuế để chỉ sự chiến thắng với những hàng chữ :

- Sống mãi với Đức Kitô.

- Nơi đây là sự sống.

- Nhờ niềm tin vào Đức Kitô mà được sống muôn đời.

Thánh Phanxicô Assie thường gọi cái chết là người chị. Thánh Louis Gonzaga thường nói trong cơn hấp hối :

- Tôi sẽ ra đi trong vui mừng.

Lacordaire, một nhà giảng thuyết lừng danh, trên giường bệnh cũng đã kêu lên :

- Lạy Chúa, xin hãy mở cửa nước trời cho con.

Trái lại những kẻ chối bỏ Thiên Chúa và cho rằng chết là hết sẽ phải băn khoăn lo lắng, vì ngôi mộ nhỏ với ba thước đất sẽ chôn vùi và hủy diệt tất cả.

- Trăm năm nào có gì đâu,

  Chẳng qua một nắm cỏ khâu xanh rì.

Còn đối với chúng ta, chúng ta sống là sống trong Chúa, và chúng ta chết là chúng ta chết trong Chúa, như lời kinh ban tối chúng ta hằng kêu xin :

- Lạy Chúa, con xin phó thác hồn con ở trong tay Chúa.
Để kết luận, trong tháng này cũng như trong suốt cả cuộc đời, chúng ta hãy dâng lên Chúa những lời kinh, những hy sinh và những thánh lễ để cầu cho những anh chị em đã qua đời, để các ngài được Chúa đón nhận vào quê hương nước trời.


 

2/11-28: XIN CHO CÁC LINH HỒN ĐƯỢC NGHỈ YÊN MUÔN ĐỜI


 - Lm. Trần Bình Trọng

 

Phụng vụ lời Chúa lễ các linh hồn nhắc nhở cho ta là những người lữ hành đi về nhà Chúa, ta: 2/11-28


Phụng vụ lời Chúa lễ các linh hồn nhắc nhở cho ta là những người lữ hành đi về nhà Chúa, ta không đi một mình, mà đồng hành cùng với toàn thể dân Chúa: với Mẹ Maria và các thánh và mọi người tín hữu. Như vậy cái đời sống đức tin của người công giáo được hỗ trợ một cách tối đa bằng việc bàu cử của mẹ Maria và các thánh, bằng việc cầu nguyện và thúc đẩy của người này lẫn cho người kia. Và ngay cả khi nằm xuống vĩnh viễn, ta vẫn còn được hỗ trợ. Truyền thống công giáo nhắc nhở ta cầu nguyện cho các linh hồn nơi luyện ngục. Ta tin có luyện ngục là nơi thanh tẩy linh hồn người tín hữu. Thánh kinh cũng dạy trong sách Ma-ca-bê: Thật quả là một ý nghĩa đạo đức và thánh thiện. Đó là việc xin dâng hy lễ đền tội cho những người đã chết, để họ được giải thoát khỏi tội lỗi (2Mcb 12:45).

Đối với những người không tin tưởng vào sự sống đời sau thì chết là hết, chết là một thất bại, ngoài ra không còn gì khác nữa. Còn đối với người tín hữu tin tưởng, thì chết không phải là hết, cũng không phải là thất bại. Chết chỉ là một sự biến đổi từ đời này qua đời khác. Chết không phải là một thất bại vì Chúa Ki-tô qua cái chết, đã toàn thắng sự chết nhờ cuộc phục sinh vinh hiển. Như vậy chết không phải là hết, nhưng chỉ là kết thúc đời sống tại thế như kinh tiền tụng lễ các linh hồn ghi lại : Đời sống biến đổi chứ không bị huỷ diệt.

Trước Công đồng Va-ti-ca-nô II, người ta hay nói đến hỏa ngục. Sau Công đồng, người ta lại ít nói về hỏa ngục, và cũng ít nói đến luyện ngục. Luyện ngục nói lên cái lòng từ bi thương xót của Chúa. Thật vậy nếu không có luyện ngục thì Thiên Chúa quả là khắt khe độc dữ. Nếu không có luyện lục mà chỉ có thiên đàng và hỏa ngục, thì quả là điều đáng sợ vì khi chết, nếu không lên thiên đàng thì phải xuống hoả ngục, không có nơi ỡ giữa để luyện lọc thanh tây linh hồn. Nếu không có luyện ngục thì ta không cần cầu nguyện cho người quá cố, không cần xin lễ cho linh hồn nọ, linh hồn kia làm gì.

Trên cuộc hành trình đi về nhà Chúa, ta không đi một mình, nhưng đi cùng với toàn thể dân Chúa: đi cùng với Mẹ Maria và các thánh trên trời, đi cùng với người tín hữu tại thế, và đi cùng với các linh hồn nơi luyện ngục. Theo tín điều Các Thánh cùng thông công thì các thánh ở trên trời, người tín hữu tại thế và các linh hồn nơi luyện ngục được hiệp thông trong hy lễ và lời cầu nguyện. Nói như vậy có nghĩa là Mẹ Maria và các thánh trên trời có thể bàu cử cho ta trước toà Chúa, người tín hữu tại thế có thể cầu nguyện cho nhau và cầu nguyện cho các linh hồn nơi luyện ngục. Như vậy cái đức tin của người tín hữu được hỗ trợ một cách tối đa. Và ngay cả khi nằm xuống vĩnh viễn, ta cũng không đi một mình. Người quá cố vẫn được nhớ đến bằng hình ảnh, bằng công việc người quá khứ để lại, bằng kỷ niệm và nhất là bằng lời cầu nguyện. Biết được sau khi chết, ta vẫn còn có sự nâng đỡ và hỗ trợ sẽ làm sưởi ấm lòng ta biết bao !

Hôm nay nhằm ngày Lễ Các Linh hồn, ta cùng dâng lời cầu nguyện cho các linh hồn tiên nhân, các linh hồn thân nhân, bạn hữu, các linh hồn đã qua đời nhất là những linh hồn mồ côi. Nếu ta nhớ ơn người sống, ta cũng cần nhớ ơn người đã quá cố bằng việc dâng lễ cầu nguyện cho các linh hồn nơi luyện ngục để xin Chúa vì lòng xót thương mà tha thứ tội lỗi cho người quá cố và dẫn đưa các linh hồn về hưởng ơn nghĩa trong Nước Chúa hằng sống.


 

2/11-29: SẴN SÀNG CHẤP NHẬN ĐAU KHỔ VÌ TÌNH YÊU


LÀ CÁCH VƯỢT THẮNG ĐAU KHỔ ĐỂ HẠNH PHÚC-JKN
Câu hỏi gợi ý

 

Thiên Chúa không muốn con người đau khổ, tại sao Ngài lại bắt linh hồn người chết phải thanh: 2/11-29


1. Thiên Chúa không muốn con người đau khổ, tại sao Ngài lại bắt linh hồn người chết phải thanh luyện cho hoàn hảo mới được vào thiên đàng?

2. Chịu thanh luyện để nên hoàn hảo, Bản chất của sự hoàn hảo này là gì? Là tình yêu? đức tin? sự trong sạch? hay sự tôn trọng lề luật? hay sự gì khác?

3. Người gian phi đầy tội lỗi trong bài Tin Mừng, tại sao lại được Đức Giêsu cho vào thiên đàng ngay? Vậy yếu tố cốt yếu nhất để vào thiên đàng là gì? Đọc kinh? cầu nguyện? dâng lễ? bố thí? giữ luật? hay tình yêu? lòng vị tha?

CHIA SẺ

1. Niềm tin của người Công giáo về luyện ngục

Hôm nay và suốt tháng 11 này, người Công giáo chúng ta đặc biệt quan tâm cầu nguyện cho những người quá cố. Chúng ta thường nghĩ họ đang phải chịu thanh luyện bằng đau khổ để trở nên hoàn hảo. Sự thanh luyện đó được Giáo Hội định tín: «Linh hồn kẻ chết chưa đền tội hoàn toàn sẽ được thanh luyện sau khi chết với những hình phạt được gọi là “Thanh Luyện”» (DS 856/464).

Mục đích của việc thanh luyện là làm cho linh hồn trở nên hoàn hảo, hoàn toàn vị tha, đầy tình thương, không còn một chút tâm địa ích kỷ, độc ác, tham lam nào nữa. Thiên Đàng đòi hỏi một sự hoàn hảo như thế thật là hợp lý, vì đó là một «nơi» hoàn toàn hạnh phúc, hoàn toàn thánh thiện, là «nơi» chúng ta sẽ trở về để hưởng hạnh phúc muôn đời. (Gọi là «nơi» thì chỉ là tạm gọi, vì thật ra, Thiên đàng, luyện ngục hay hỏa ngục không phải là nơi chốn, là không gian vật lý cho bằng là những tình trạng tâm linh hoặc tâm lý. Chẳng hạn: Thiên Đàng là tình trạng tâm linh hoàn toàn hạnh phúc, không còn một chút đau khổ, của những tâm hồn hoàn hảo, thánh thiện. Còn Hỏa Ngục là tình trạng tâm linh hết sức đau khổ của những tâm hồn độc ác, xấu xa, ích kỷ...)

2. Thiên đàng đòi hỏi người trong đó phải thật hoàn thiện

Không cần phải xét về phía Thiên Chúa, mà ngay chính chúng ta cũng đòi hỏi rằng: để vào Thiên Đàng thì phải thật trọn hảo. Thật vậy, thử hỏi, khi trở về «nơi» lý tưởng đó để hưởng hạnh phúc, ta có thể hoàn toàn hạnh phúc khi phải sống chung với thân nhân, bạn bè với những tính nết xấu như họ đang có bây giờ không? Nếu người ở thiên đàng mà còn ích kỷ, còn ác ý, còn lãnh đạm, còn hẹp hòi, còn hay nghĩ xấu cho người khác, dù chỉ một chút xíu, thì chính bản thân họ sẽ đau khổ, đồng thời còn gây nên đau khổ cho người khác nữa. Chưa hoàn hảo mà đã sống ở Thiên Đàng thì ta sẽ làm ô nhiễm cái hạnh phúc tinh tuyền của Thiên Đàng, và biến Thiên Đàng trở thành một cái gì không còn là Thiên Đàng nữa. Do đó, Thiên Đàng đòi hỏi những người bước vào phải hoàn toàn trong sạch, tốt lành, nếu còn chút gì xấu xa thì phải thanh luyện cho hết. Tình trạng thanh luyện ấy được gọi là «luyện ngục».

3. Tội lỗi hay tính vị kỷ là đầu mối gây đau khổ

Chắc chắn Thiên Chúa không bao giờ muốn con người phải đau khổ. Việc Ngài sai Con Một mình xuống chịu chết một cách thảm thương để cứu nhân loại chứng tỏ điều ấy. Nhưng Ngài không thể trực tiếp cứu chúng ta khỏi đau khổ, mà chỉ có thể cứu chúng ta khỏi những nguyên nhân gây nên đau khổ là tội lỗi. Trong sách Khải Huyền, thánh Gioan viết: «Người đã yêu mến chúng ta và lấy máu mình rửa sạch tội lỗi chúng ta» (Kh 1,5). Đau khổ chỉ là ngọn, còn tội lỗi mới là gốc. Muốn tránh khổ thì phải tránh tội lỗi. Diệt khổ thì chỉ là diệt ngọn, khổ vẫn có thể tiếp tục phát sinh. Diệt tội lỗi mới là diệt khổ tận gốc. Nhưng con người vì còn u mê nên thường sợ khổ chứ không sợ nguồn gốc phát sinh ra đau khổ là tội lỗi, là tính ích kỷ. Họ vẫn cứ tiếp tục phạm tội, sống ích kỷ. Vì thế, dù tìm đủ mọi cách để tránh khổ, con người vẫn cứ rơi vào đau khổ, hết khổ này đến khổ khác. Trong việc cứu khổ cho người khác, cho các linh hồn được thanh luyện, con người cũng chỉ nghĩ tới việc cứu họ khỏi đau khổ, chứ không nghĩ tới việc cứu họ khỏi những nguyên nhân gây đau khổ.

Nguồn gốc của tội lỗi chính là tính ích kỷ, chỉ biết nghĩ tới đau khổ và hạnh phúc của mình, mà không quan tâm hay biết đến đau khổ và hạnh phúc của người khác. Vì thế, nguyên nhân sâu xa hơn của đau khổ chính là tính ích kỷ.

4. Tình yêu hóa giải đau khổ và đem lại hạnh phúc

Nếu ích kỷ là nguồn gốc phát sinh đau khổ, thì ngược lại, tính vị tha hay tình yêu chính là nguồn tạo nên hạnh phúc. Do đó, người ta chỉ có thể vào được thiên đàng khi họ có đầy tràn tình yêu và không còn chút tính ích kỷ nào nữa. Nắm vững điều này, ta mới hiểu được ý nghĩa sâu xa câu nói Đức Giêsu, khi có người - vốn đã giữ rất chu đáo các lề luật - hỏi Ngài về cách đạt được sự sống đời đời: «Anh chỉ thiếu có một điều, là hãy đi bán những gì anh có mà cho người nghèo, anh sẽ được một kho tàng trên trời. Rồi hãy đến theo tôi» (Mc 10,21). Điều đó có nghĩa là phải biết yêu thương và thật sự thể hiện tình yêu ấy thì mới được sự sống đời đời, tức được hạnh phúc đích thực. Kho tàng ở trên trời mà mọi người muốn lên đó phải sắm cho mình chính là kho tàng tình yêu.

Người trộm lành trong bài Tin Mừng hôm nay đã thể hiện được tinh thần vị tha và tình yêu ấy. Trong cảnh khổ như thế mà anh không hề nghĩ tới đau khổ của bản thân mình, mà chỉ nghĩ tới đau khổ của Đức Giêsu, thương cho Ngài bị hàm oan: «Chúng ta chịu như thế này là đích đáng, vì xứng với việc đã làm. Chứ ông này đâu có làm điều gì trái!». Chính vì thế, anh đã được Đức Giêsu nói: «Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng». Người trộm lành tuy đầy tội lỗi, nhưng cuối cùng anh đã phát tâm yêu thương, và tình yêu đã biến anh thành người tốt lành, xứng đáng với hạnh phúc thiên đàng. Đúng như câu nói của thánh Phaolô: «Tình yêu che phủ muôn vàn tội lỗi» (1Pr 4,8).

5. Chấp nhận đau khổ vì tình yêu là bí quyết của hạnh phúc

Câu chuyện về người trộm lành trên làm tôi nghĩ đến một câu chuyện của Đức Phật. Trong một tiền kiếp nọ của ngài, ngài đã phạm một trọng tội khiến ngài bị đọa vào địa ngục. Tại đó, ngài cùng nhiều người khác bị đau khổ ghê gớm. Khi nhìn thấy những người trong đó đang quằn quại với những cực hình vô cùng đau đớn như mình, ngài thương họ vô cùng. Tình thương ấy khiến ngài phát tâm nguyện rằng: Tôi nguyện sẵn sàng chịu thay cho mọi người trong địa ngục này tất cả những đau khổ mà họ đang phải chịu, để họ thoát khỏi những cực hình ghê gớm này! Vừa nguyện như thế xong thì lập tức ngài tự nhiên thoát khỏi cảnh đau khổ ấy. Còn những người kia thì vẫn tiếp tục ở lại đấy chịu đau khổ.

Tôi chỉ coi chuyện trên như một dụ ngôn. Tuy không có thực, nhưng nó nói lên một chân lý mà chính tôi đã thực nghiệm thấy rất đúng. Khi tôi chỉ quan tâm chú ý tới những đau khổ tôi đang phải chịu, thì tôi thấy đau khổ ấy - một cách chủ quan - tăng lên gấp bội. Nhưng khi tôi quan tâm tới những đau khổ của người khác đang phải chịu, khi tôi muốn làm giảm bớt đau khổ cho họ, khi tôi chấp nhận chịu đau khổ thay cho họ, hay chịu khổ nhiều hơn nữa để họ bớt khổ hay để họ được hạnh phúc, thì lập tức tôi cảm thấy tâm hồn mình mạnh mẽ lên. Lúc ấy những đau khổ tôi đang chịu - tuy dù một cách khách quan không hề thay đổi, mà có thể còn tăng lên - bỗng nhiên mất đi tính dữ dội hay thảm khốc của chúng đối với tôi. Chúng không còn làm tôi đau khổ được như trước.

Áp dụng kinh nghiệm này vào đời sống gia đình, tôi nhận thấy: khi tôi sẵn sàng chấp nhận mọi vất vả, mọi đau khổ, mọi buồn phiền để làm những người thân yêu của tôi bớt khổ và được hạnh phúc, thì điều lạ lùng tôi cảm nghiệm được là tôi không hề đau khổ mà lại thấy hạnh phúc hơn. Tôi hạnh phúc hơn vì tôi thấy nhờ hành động ấy của tôi mà những người tôi yêu thương được hạnh phúc hơn. Điều làm họ hạnh phúc nhất là thấy tôi yêu thương họ, hết mình với họ. Và chính vì thế, họ cũng chẳng để tôi phải vất vả hay chịu đau khổ thay cho họ, ngược lại họ lại sẵn sàng chịu đau khổ thay cho tôi. Và thế là cả gia đình tôi - trong đó có tôi - đều cảm thấy hạnh phúc trong bầu khí đầm ấm yêu thương. Thế là chỉ vì tôi sẵn sàng chấp nhận mọi vất vả, cực nhọc, đau khổ thay cho những người thân yêu, mà tôi biến gia đình tôi thành một gia đình hạnh phúc. So với nhiều người chủ gia đình khác, tôi thấy mình hạnh phúc hơn họ nhiều, xét cả mặt khách quan lẫn chủ quan. Tôi nhận thấy: không phải khi mình sẵn sàng chịu đau khổ thay cho người khác thì tất nhiên mình sẽ phải chịu đau khổ nhiều hơn đâu! Mà ngược lại, thái độ quên mình ấy lại đem lại hạnh phúc cho cả tôi lẫn những người chung quanh tôi. Đó là kinh nghiệm của tôi trong gia đình. Và tôi đang áp dụng kinh nghiệm này ra ngoài gia đình, trong xã hội… và tôi vẫn thấy nó đúng. Xin chia sẻ với mọi người kinh nghiệm có thật này để may ra hữu ích cho ai đó!

CẦU NGUYỆN

Lạy Cha, thánh Gioan nói: «Tình yêu không biết đến sợ hãi; trái lại, tình yêu hoàn hảo loại trừ sợ hãi, vì sợ hãi gắn liền với hình phạt và ai sợ hãi thì không đạt tới tình yêu hoàn hảo» (1Ga 4,18). Con cảm thấy chính khi con thật sự có tình yêu thì con không sợ đau khổ, mà sẵn sàng đón nhận đau khổ để người khác được hạnh phúc. Và khi con không sợ đau khổ, thì đau khổ không còn tác oai tác quái trên con nữa. Nó không còn khả năng làm con mất bình an hạnh phúc được nữa. Và con cảm thấy bình an và hạnh phúc do tình yêu đem lại chính là thiên đàng. Một thiên đàng mà con có thể cảm nghiệm trước ở ngay trần gian này.


 

2/11-30: Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi

 

Tôi mới cử hành lễ an táng cho một bà cụ, đã sống tròn 88 tuổi ở trần gian. Bà cụ mới được: 2/11-30


Tôi mới cử hành lễ an táng cho một bà cụ, đã sống tròn 88 tuổi ở trần gian. Bà cụ mới được rửa tội hơn bốn năm qua. Một cụ già xem ra rất bình thường như mọi người Kitô hữu khác, nhưng tấm lòng của cụ bà Catarina quả thực vĩ đại, bao la.

Theo Chúa vào lúc tuổi đã già, cụ bà Catarina luôn sống những điều Chúa dậy cách tốt đẹp và hoàn hảo. Cụ luôn nhắc nhở con cái cháu chắt sống hợp lẽ đạo, tốt với đời…Trong đám táng này, tôi may mắn gặp những người nhà của nhà tang và rất vui khi được nghe kể lại ông cố nội của bà Catarina hồi đó cũng theo đạo và đã chịu phép rửa, nhưng các con của cụ cố gồm 5 trai và 3 gái không theo đạo, trước khi cụ cố Giuse qua đời, cụ cho vời tất cả các con trai, con gái tới trước mặt cụ, trong tay cụ cầm một cây thánh giá và dí thánh giá vào từng người con. Sau khi cụ cố Giuse qua đời, các con của cụ trai và gái cứ từ từ theo Chúa và xin lãnh nhận bí tích Rửa tội. Nghe câu chuyện ấy trong hoàn cảnh lễ tang, tôi rất xúc động và vui vì con đường của Chúa quả rất huyền diệu: Chúa có cách của Chúa và con người lãnh nhận ơn Chúa tùy theo cõi lòng, tùy tác động của Chúa Thánh Thần.

Tôi vẫn suy nghĩ miên man về đám tang bà cụ cố Catarina, Chúa nói: "Có kẻ trước sẽ nên sau hết và có kẻ sau hết sẽ nên trước nhất". Lời Chúa thực kỳ diệu. Chúa chọn ai là tùy ý định nhưng không của Chúa. Ngài không dựa trên vóc dáng, danh tiếng hay học vấn của con người, nhưng tất cả đều do tình thương hải hà vô biên của Chúa. Bà cụ cố Catarina mới theo Chúa có vài năm trong lúc tuổi đã xế chiều, nhưng đời sống của bà cụ cố thì tuyệt diệu. Bà vẫn cầu nguyện, gắn bó với Chúa, bà luôn nhắc nhở con cái, cháu chắt phải cầu nguyện, phải sống bác ái, phải lắng nghe và tuân hành luật Chúa. Bà cụ cố Catarina một cách nào đó đã sống đời sống của Chúa, đã làm việc của Chúa. Bà đã lắng nghe tiếng Chúa nói rất âm thầm, nhưng đầy tác dụng. Bà đã nghe thấy cả những tiếng âm thầm nhất của tiếng Chúa như triệu triệu hạt giống đang rất nhẹ nhàng cố chui đầu lên từ lòng đất. Điều này làm cho tôi nhớ tới lời của Đức Hồng y Etchegaray nói:”Người ta dễ nghe thấy tiếng cây ngã đổ mà không biết còn có hàng triệu triệu hạt giống đã cố ngoi đầu lên khỏi mặt đất".

Tôi càng suy nghĩ nhân cử hành thánh lễ an táng cho cụ bà Catarina, thì ra còn biết bao linh hồn cũng đã qua đi, tiếng của họ vẫn vang lên, dù rất âm thầm, họ rất cần lời cầu nguyện, hy sinh và rất cần những thánh lễ cầu nguyện cho họ.Tôi lại nhớ tới lời giáo huấn của Hội Thánh:"Ngay từ buổi đầu của Kitô giáo. Hội Thánh lữ hành hết lòng kính nhớ,dâng lời cầu nguyện cho những người đã chết để họ được giải thoát là một ý nghĩ lành thánh (2Mcb 12,46; GH 50).

Như thế, lời cầu nguyện, thánh lễ của những người đang sống dành cho các người đã chết là một điều quan trọng và mang tính hiệp thông, liên đới giữa kẻ sống và người chết. Lời cầu nguyện và thánh lễ nguyện cầu cho những người chết giúp họ được giải thoát khỏi tội lỗi, nhưng chính những người còn sống cũng được hưởng nhờ lời chuyển cầu của các ngài. Đây là mầu nhiệm hiệp thông trong Hội Thánh: Mầu nhiệm tình thương, mầu nhiệm đức tin (Mysterium fidei).

Lạy Chúa, Con Một Chúa từ cõi chết sống lại, đã tăng cường niềm tin của chúng con. Giờ đây, xin Chúa thương nhận lời con Chúa khẩn nguyện mà làm cho lòng chúng con luôn trông cậy vững vàng: chính Đức Giêsu sẽ cho các tín hữu đã lìa cõi thế được phục sinh vinh hiển" (Lời nguyện lễ cầu cho các tín hữu đã qua đời, I).


 

2/11-31: LỊCH SỬ / Các tín hữu đã qua đời :


Ga 6,51-59

* lịch sử

 

Lễ cầu cho các tín hữu đã qua đời được cử hành vào ngày 2 tháng 11 hằng năm, được thánh đan: 2/11-31


Lễ cầu cho các tín hữu đã qua đời được cử hành vào ngày 2 tháng 11 hằng năm, được thánh đan viện phụ Odilô của tu viện Cluny (994-1048) khai sáng.

Trong ngày đó, ngài ra lệnh các linh mục thuộc dòng Cluny phải dâng thánh lễ để cầu nguyện cho tất cả những người trong dòng và các ân nhân của dòng đã qua đời. Ngài ra lệnh cho các đan viện trực thuộc Cluny cũng thực hành như thế. Chúng ta còn giữ được văn kiện của thánh Odilô ghi vào năm 998.

Sau đó, lễ cầu cho các linh hồn phát triển rất nhanh và bung ra khỏi dòng tu. Từ thế kỷ XIV chúng ta đã gặp thánh lễ này trong phụng vụ Rôma. (Lm Nguyễn văn Trinh, Phụng vụ chư thánh)

A. Hạt giống...

1. Cựu Ước mô tả sự gặp gỡ giữa Thiên Chúa với con người bằng hình ảnh bữa tiệc (Cn 9,1-5). Trong đoạn Tin Mừng này Chúa Giêsu cũng dùng ngôn ngữ của bữa tiệc như  "ăn" và "uống". Tuy nhiên bữa tiệc này rất đặc biệt vì thức ăn thức uống không phải là thực phẩm thông thường cho dù là cao lương mỹ vị đi nữa, mà là chính thịt máu Chúa Giêsu. Bởi đó hiệu quả của bữa tiệc này không phải chỉ là bồi dưỡng sức khoẻ tạm thời cho thể xác mà là cho con người được sống thật, sống muôn đời.

2. Các ngôn sứ Cựu Ước diễn tả ơn gọi của họ bằng hình ảnh "nuốt" lấy Lời Chúa (x. Gr 15,15-21 ; Êd 3). Nghĩa là các vị ấy rất thèm khát Lời Chúa, muốn tiêu hóa Lời Chúa, cho Lời ấy thấm nhập vào thân thể mình. Hiểu theo bối cảnh ấy, "Ăn" thịt Chúa Giêsu và "uống" máu Ngài nghĩa là khao khát được kết hợp rất thân thiết với Chúa đến nỗi có thể nói là đã trở nên một thịt một máu với Ngài.

3. Khi ghi lại những dòng này, thánh Gioan cũng nghĩ đến Bí tích Thánh Thể. Đó chính là bữa tiệc thịnh soạn mà Thiên Chúa dọn cho loài người, và đó cũng chính là nguồn sức sống cho loài người.

B. ... nẩy mầm.

1. Hôm qua lễ Các Thánh, chúng ta nhớ đến những tín hữu ở thiên đàng. Hôm nay lễ các linh hồn, chúng ta nhớ đến các tín hữu trong luyện ngục. Còn chúng ta là những tín hữu hiện còn tại thế. Bài Tin Mừng Gioan về bữa tiệc sum họp cho chúng ta biết hạnh phúc tuyệt vời và tối hậu sau một đời sống ở trần gian là được kết hợp thân thiết với Chúa trong bữa tiệc vĩnh cửu trên thiên đàng. Ngoài thứ hạnh phúc đó ra, không có gì là hạnh phúc thật cả.

2. Thánh Lễ là dịp chúng ta nếm trước hạnh phúc sum họp ấy. Trong thánh lễ chúng ta kết hợp với Chúa, chúng ta kết hợp với các thánh trên trời và những tín hữu trong luyện ngục, chúng ta cầu nguyện để cuối cùng chúng ta và tất cả những người thân của chúng ta đều được sum họp với Chúa và các thánh trong bàn tiệc vĩnh cửu.

3. Hãy hỏi các linh hồn. Họ sẽ cho chúng ta biết đâu là những giá trị thật của cuộc đời mà ta cần theo đuổi.

4. Khi Mẹ Têrêxa Calcutta sang Liên Xô xin lập một chi nhánh của Dòng bà, bà đã kiên trì xin cho bằng được có một Linh mục để mỗi ngày dâng Thánh lễ cho các nữ tu. Bà giải thích lý do : sở dĩ các nữ tu có đủ tinh thần và nghị lực để mỗi ngày đem đến cho những người nghèo khổ sự an ủi, phục vụ và yêu thương, đó là nhờ Mình Thánh Chúa mà họ rước mỗi ngày. "Thịt ta thật là của ăn và máu ta thật là của uống".

5. "Thịt ta thật là của ăn và máu ta thật là của uống".

Hằng đêm, mỗi khi thành phố lên đèn, mọi người hối hả trở về công sở, trường học...

Những bước chân hối hả qua lại...
Bên vệ đường, một bà lão khô quắt, nằm cong queo như cố thu mình trốn cái không khí se lạnh. Bà kiệt sức vì đói. Những bước chân vẫn đi qua, đi qua...
Và rồi, đôi chân con bước tới, ngập ngừng... rồi lại bước đi
Trên ti vi, người ta nói đến lũ lụt. Cảm động, con dự định... rồi lại thôi !
Con là thế ! Từ thuở lọt lòng mẹ, đã biết nắm tay lại.
Lạy Chúa, trên thánh giá Ngài đã giang rộng đôi tay và khi phục sinh, Ngài đã trở nên tấm bánh bẻ ra cho nhân loại được sống.
Xin cho con luôn biết cho đi, cho đi mãi
không chỉ vật chất, nhưng cho cả bản thân. (Epphata)

6. Đoạn kết của câu truyện người phú hộ giàu có và kẻ ăn xin nghèo khổ Ladarô khiến tôi phải suy nghĩ. Hai con người, hai cách sống, hai kết cuộc khác nhau : người được ân thưởng, kẻ bị luận phạt. Thiên Chúa đã tách biệt họ ra như tách biệt người lành khỏi kẻ dữ, như mục tử tách chiên ra khỏi dê. Là chiên hay dê, tôi có quyền chọn lựa. Hôm nay tôi sống thế nào thì ngày đó tôi sẽ bị xét xử như vậy. Thiên Chúa là vị thẩm phán uy quyền nhưng cũng đầy tình thương. Ngài cho tôi thời gian để sống, để chọn lựa, để thực hiện vận mệnh đời mình. Để khỏi bị kết án như người phú hộ, tôi phải sống cho Chúa và cho anh em tôi.

Lạy Chúa, xin cho con biết sống mỗi ngày như là ngày cuối đời con, để con luôn biết yêu thương giúp đỡ mọi người với những gì con có thể. (Hosanna)


 

2/11-32: NGHĨ VỀ SỰ CHẾT - G.B. BÙI TUẦN

 

Tôi biết là có ngày tôi sẽ chết. Mặc dầu tôi không biết sẽ chết ngày giờ nào, nơi nào, cách nào: 2/11-32


Tôi biết là có ngày tôi sẽ chết. Mặc dầu tôi không biết sẽ chết ngày giờ nào, nơi nào, cách nào.

Chắc chắn tôi phải chết. Đó là một chân lý hết sức rõ ràng và chắc chắn. Chân lý này, không ai đã dạy tôi. Nó nằm ngay trong con người của tôi.

Cái chết cũng là một biến cố đụng tới mọi người. Nó là một vấn đề chung. Vấn đề này được coi là hết sức quan trọng. Bởi vì nó đặt ra câu hỏi: Đâu là ý nghĩa cuộc sống? Cuộc đời đi về đâu? Bên kia sự chết có gì không?

Câu trả lời theo lý thuyết có thể tìm được trong nhiều sách, nhất là sách đạo. Nhưng câu trả lời theo cảm nghiệm sẽ thường chỉ hiện lên một cách sống động, khi ta ở bên cạnh những người sắp chết, hoặc chính ta đã có lần thập tử nhất sinh.

Những lúc đó, câu trả lời sẽ không phải là một kết luận lạnh lùng của triết học hay của giáo lý. Nhưng sẽ là cái gì linh thiêng thăm thẳm chứa trong những cảm tình, cảm xúc, cảm động, cảm thương, khi hiện tượng sự chết rập rình sát tới.

Những hiện tượng khác thường nơi người sắp chết rất đa dạng. Có thể là những lo âu sợ hãi, những khắc khoải đợi chờ, những nắm bắt bâng khuâng, những ngóng trông mệt mỏi, những cái nhìn xa xăm. Cũng có thể là những bất bình tức giận, những chán nản phiền muộn, những buông xuôi tiếc nuối, những phấn đấu tuyệt vọng. Cũng có thể lại là những ăn năn đầy bình an toả sáng, mang dấu ấn của một nghị lực thiêng liêng và một tin tưởng đến từ cõi đời đời.

Tất cả những hiện tượng như thế phản ánh những trực cảm nội tâm: Đã tới lúc vĩnh biệt. Đã tới lúc ra đi. Đã tới lúc phải bỏ lại tất cả. Đã tới lúc phải trực diện với lương tâm. Lương tâm hỏi về trách nhiệm: Trách nhiệm làm người nói chung và trách nhiệm làm con Chúa nói riêng.

Trước đây, có nhiều điều về trách nhiệm đã lẩn trốn lương tâm. Nhưng lúc con người sắp chết, những điều lẩn trốn đó sẽ trở về trình diện rất nghiêm túc.
Tôi có cảm tưởng là người sắp chết lúc đó sẽ nhận ra: Sự sống của mình là một quà tặng Chúa ban. Ơn gọi được làm con Chúa càng là một ân huệ quí báu Chúa trao cho nhưng không. Chúa ban sự sống và ơn làm con Chúa, để mình phát triển mình và những người xung quanh trong những chặng đường lịch sử nhất định. Sự phát triển sẽ tuỳ ở ơn Chúa, nhưng cũng tuỳ thuộc vào sự tự do và tinh thần trách nhiệm của mỗi người.

Thực tế cho thấy là đã có những phát triển đạo đức, và trái lại cũng có những phát triển tội lỗi. Với những phát triển tốt, người sắp chết cảm thấy được an ủi, coi như nhiệm vụ được trao đã phần nào hoàn thành.

Trái lại nếu thấy những phát triển của mình là xấu, nhiệm vụ được trao đã không hoàn thành, họ sẽ không thể không sợ hãi. Bởi lẽ hậu quả sẽ vô cùng quan trọng. Vì chết là bước sang cõi đời sau với hai ngả: thiên dàng và hoả ngục. Mà hai ngả này đều rất rõ ràng công minh.

Vì thế, nói cho đúng, vấn đề đặt ra cho ta về cái chết sẽ không phải là sợ chết, mà là sợ chết dữ, chết mà sau đó không được lên thiên đàng, nhưng phải xuống hoả ngục.

Những tư tưởng trên đây thường nhắc nhủ tôi về ba chọn lựa này:

1/ Hãy tiến về sự chết của mình như tiến tới một quãng đường phải vượt qua, để về với Cha trên trời.

Một khi nhìn sự chết của mình như thế, thì cuộc sống của mình cũng được hiểu theo hướng đó.

Để đi đúng hướng về Cha trên trời, tôi chỉ có một đường phải chọn, đó là Chúa Giêsu Kitô. Người là đường, là sự thực và là sự sống (Ga 14,6). Đón nhận Người, lắng nghe Người, đi theo Người, bắt chước Người. Người là gương mẫu cho ơn gọi làm người và ơn gọi làm con Thiên Chúa. Điều quan trọng tôi sẽ hết sức quan tâm trong việc theo Chúa Giêsu sống ơn gọi, là phải phấn đấu thanh luyện mình, phải biết khiêm tốn quên mình, dấn thân sống theo ý Chúa, để được trở thành tạo vật mới. Nếp sống kiêu căng cần phải bị loại tận gốc. Nếp sống cầu nguyện khiêm nhường cần được thường xuyên phát huy.

2/ Hãy tiến về sự chết của mình như người được sai đi truyền giáo, mong trở về với Đấng sai mình.

Sống như người truyền giáo và chết như người truyền giáo. Truyền giáo một cách cụ thể ở địa phương này, ở thời điểm này. Nghĩa là một địa phương và thời điểm có nhiều khác biệt. Vì thế, tôi phải tỉnh thức lắng nghe hướng dẫn của Thánh Thần Đức Kitô. Ngài đang dẫn người truyền giáo vào chiều sâu. Ngài đang giúp người truyền giáo mở rộng nhiều liên đới. Ngài đang tạo ra cho nhà truyền giáo nhiều dịp để loan báo Tin Mừng. Tôi có luôn khiêm tốn cầu nguyện hồi tâm, để trở thành dụng cụ ngoan ngoãn trong tay Ngài không?

3/ Hãy tiến về sự chết của mình như người khắc khoải trở về với Đấng đã trao cho mình điều răn mới.

Điều răn mới này, tôi nhận được từ Lời Chúa: "Thầy ban cho chúng con một điều răn mới là chúng con hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương các con" (Ga 13,34).

Để hiểu thấm thía hành trình tình yêu, tôi nên hằng ngày gẫm suy đoạn văn sau đây của thư thánh Gioan:

 "Chúng ta biết rằng: chúng ta đã từ cõi chết bước vào cõi sống, vì chúng ta yêu thương anh em. Kẻ không yêu thương, thì ở lại trong sự chết. Phàm ai ghét anh em mình, ấy là kẻ sát nhân. Và anh em biết: không kẻ sát nhân nào có sự sống đời đời ở lại trong nó. Căn cứ vào điều này, chúng ta biết được tình yêu là gì: đó là Đức Ki-tô đã thí mạng vì chúng ta. Như vậy, cả chúng ta nữa, chúng ta cũng phải thí mạng vì anh em. Nếu ai có của cải thế gian và thấy anh em mình lâm cảnh túng thiếu, mà chẳng động lòng thương, thì làm sao tình yêu Thiên Chúa ở lại trong người ấy được? Hỡi anh em là những người con bé nhỏ, chúng ta đừng yêu thương nơi đầu môi chót lưỡi, nhưng phải yêu thương cách chân thật và bằng việc làm. Căn cứ vào điều đó, chúng ta sẽ biết rằng chúng ta đứng về phía sự thật, và chúng ta sẽ được an lòng trước mặt Thiên Chúa" (1Ga 3,14-19).

"Phần chúng ta, chúng ta hãy yêu thương, vì Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta trước. Nếu ai nói: "Tôi yêu mến Thiên Chúa" mà lại ghét anh em mình, người ấy là kẻ nói dối; vì ai không yêu thương người anh em mà họ trông thấy, thì không thể yêu mến Thiên Chúa mà họ không trông thấy. Đây là điều răn mà chúng ta đã nhận được từ Người: ai yêu mến Thiên Chúa, thì cũng yêu thương anh em mình" (1 Ga 4,19-21)

Khi tôi sống với những hướng kể trên, tôi sẽ coi sự chết như là một điểm chấm dứt nhiệm vụ.

Nhiệm vụ được chấm dứt. Nhưng nhiệm vụ có được hoàn thành hay không, đó là chuyện khác và đó mới là điều quan trọng. Chúa sẽ phán xét công minh điều đó. Ở đây, tôi có lý do để lo, bởi vì tôi biết tôi đã lỗi phạm nhiều.

Biết lo là điều tốt. Không phải lúc gần chết mới lo, mà phải lo ngay bây giờ. Biết lo ở đây là tìm cách sửa mình, đổi mới mình nên tốt hơn. Coi như bắt đầu lại.

Khởi sự từ quyết tâm tận dụng ngày giờ còn lại và những phương tiện trong tầm tay để chu toàn các nhiệm vụ được trao một cách tốt đẹp nhất. Nhất là tỉnh thức ưu tiên đón nhận Nước Trời vào bản thân mình bằng sám hối và tin mến khiêm cung.

Những nỗi lo như thế là chính đáng. Khi chúng ta làm hết sức mình, thì những nỗi lo đó sẽ đem lại những tiến triển và hân hoan. Với hân hoan và tin tưởng nơi Chúa giàu tình yêu thương xót, chúng ta bình tĩnh đi về sự chết. Sự chết lúc đó chỉ là bước sang sự sống mới vô cùng tốt đẹp hơn trước. Và như thế, sau cùng, chỉ có thần chết là phải chết thôi.


 

2/11-33: ĐỜI SỐNG VÀ CẦU NGUYỆN - G.B. BÙI TUẦN

 

Đời sống của tôi là một chuyến đi. Tôi vẫn mong chuyến đi này sẽ gặp nhiều niềm vui, nhiều: 2/11-33


Đời sống của tôi là một chuyến đi. Tôi vẫn mong chuyến đi này sẽ gặp nhiều niềm vui, nhiều bình an, nhiều hạnh phúc. Nhất là tôi mong: Sống sao cho có ý nghĩa, phục vụ tối đa Lời Chúa, đề cao lý tưởng tình Chúa xót thương, tới được Nước Trời, được về với Cha.

Nhưng chuyến đi này không dễ chút nào. Đã có nhiều điều xảy ra ngoài ý muốn. Đã có nhiều trở ngại cản trở những ước mơ chính đáng. Đã có nhiều nguy cơ cố ý đẩy tôi xuống vực thẳm thất bại.

Những kinh nghiệm như thế thúc giục tôi phải hết sức coi chừng. Một trong những việc coi chừng tôi quan tâm nhất, chính là việc cầu nguyện. Cầu nguyện trong mọi nơi, trong mọi việc. Cầu nguyện liên lỉ.

Càng trung thành với việc cầu nguyện, tôi càng thấy ứng nghiệm trong đời tôi những lời Chúa Giêsu đã phán xưa. Chỉ xin nêu lên vài trường hợp.

Có lần các môn đệ Chúa cố gắng trừ quỉ cho một người nó ám, nhưng quỉ nhất định không chịu ra. Được tin đó, Chúa Giêsu phán: "Thứ quỉ này không chịu ra khỏi người ta, nếu anh em không đuổi nó bằng ăn chay và cầu nguyện" (Mt 17,21). Đúng như vậy, trong cuộc sống, tôi đã gặp nhiều tình hình sự ác tung hoành, như dưới quyền thống trị của quỉ dữ Satan. Nhưng nhờ việc cầu nguyện và ăn chay của những người  thiện chí, tình hình đã được sáng sủa trong tình thương của Chúa.

Có lần cảnh báo về những tai hoạ có thể xảy ra bất ngờ, Chúa Giêsu phán: "Anh em phải đề phòng, chớ để mình ra nặng nề vì chè chén say sưa, lo lắng sự đời, kẻo ngày ấy như một chiếc lưới bất thần chụp xuống đầu anh em... Vậy anh em hãy cầu nguyện luôn, hầu đủ sức thoát khỏi mọi điều xảy đến và đứng vững trước mặt Con Người" (Lc 21,34-36). Đúng như vậy, trong cuộc sống, tôi đã gặp nhiều bất ngờ ác độc khủng khiếp. Nhưng chính nhờ lời cầu nguyện của cộng đoàn đức tin, mà giữa những thử thách đó, cộng đoàn và tôi vẫn trung thành bước đi dưới sự che chở của Chúa.

Đêm cuối cùng, ở vườn Cây Dầu, khi sắp bước vào cuộc tử nạn, Chúa Giêsu đã nhắc bảo ba môn đệ: "Sao anh em lại ngủ. Hãy thức dậy mà cầu nguyện, kẻo sa chước cám dỗ" (Lc 22, 46). Đúng như vậy, trong cuộc sống, tôi đã phải đối đầu với biết bao cơn cám dỗ. Nhiều lúc quá mệt mỏi, muốn trao mình vào giấc ngủ. Nhưng chính nhờ lời Chúa đánh thức lương tâm, tôi chỗi dậy cầu nguyện cùng với Hội Thánh, nên cơn cám dỗ đã trở thành dịp đưa tôi và cộng đoàn tiến lại gần Chúa hơn.

Các ơn tôi nhận được nhờ cầu nguyện không phải chỉ có thế. Thành thực mà nói: Đối với tôi, cuộc sống là một chuỗi dài những ơn Chúa ban. Đang khi đó, cầu nguyện được coi là một vấn đề sống còn của cuộc sống. Cuộc sống gắn liền với cầu nguyện. Cầu nguyện đi theo mọi tình huống cuộc sống. Lúc nào cũng cầu nguyện. Sống là cầu nguyện. Cầu nguyện là hơi thở của cuộc sống.

Thực vậy, nếu hiện tại của tôi là một chuỗi dài những việc bình thường, tôi sẽ cầu nguyện theo lời thánh Phaolô khuyên dạy: "Dù ăn, dù uống, dù làm bất cứ việc gì, anh em hãy làm tất cả để tôn vinh Thiên Chúa" (1Cor 10,31). Nghĩa là để tôn vinh Thiên Chúa, tôi cầu nguyện, để ngay trong đời thường và với các việc bình thường, tôi biết sống có chất lượng hơn,  luôn biết có những lựa chọn đem lại nhiều ích lợi hơn cho Hội Thánh và đồng bào, gây được nhiều kết quả hơn cho cánh đồng truyền giáo.

Nếu hiện tại của tôi là những giờ phút nặng nề, những ngày tháng đau đớn, tôi sẽ cầu nguyện như Đức Kitô xưa: "Bây giờ, tâm hồn con xao xuyến. Con biết nói gì đây. Lạy Cha, xin cứu con khỏi giờ này. Nhưng chính vì giờ này mà con đã đến" (Ga 12,27). "Lạy Cha, nếu Cha muốn, xin cất chén đắng này xa con. Tuy vậy, con xin đừng làm theo ý con, nhưng xin làm theo ý Cha" (Lc 22,42). Nghĩa là tôi sẽ rất thành thực nói với Chúa về những yếu đuối của tôi, những nguyện vọng tự nhiên của tôi. Nhưng tôi vẫn xin Chúa cho tôi được ơn vâng theo thánh ý Chúa.

Nếu hiện tại của tôi là tâm trạng chứa đầy tội lỗi, tính mê nết xấu, tôi sẽ cầu nguyện theo gợi ý của lời Chúa xưa: "Người khoẻ mạnh không cần thầy thuốc, người đau yếu mới cần. Ta không đến để kêu gọi người công chính, nhưng để kêu gọi người tội lỗi sám hối ăn năn" (Lc 5,31-32). Nghĩa là tôi sẽ cầu nguyện với lòng tin tưởng vào lòng thương xót Chúa. Tôi tin Chúa yêu thương tôi, chính vì tôi là kẻ tội lỗi. Tôi tin Ngài yêu tôi, trước khi tôi trở lại với Ngài. Ơn trở lại chính là ơn biết đón nhận tình yêu của Ngài và ở lại trong tình yêu ấy.

Nếu hiện tại của tôi là tiếp cận với những người nghèo khổ, tôi sẽ cầu nguyện theo tinh thần lời Chúa về ngày phán xét chung: "Hỡi những kẻ Cha Ta chúc phúc, hãy đến thừa hưởng vương quốc đã dọn sẵn cho chúng con từ thuở tạo thiên lập địa. Vì xưa Ta đói, các con đã cho ăn. Ta khát, các con đã cho uống. Ta là khách lạ, các con đã tiếp rước. Ta trần truồng, các con đã cho mặc. Ta đau yếu, các con đã viếng thăm... Ta bảo thật các con, mỗi lần các con làm ơn cho những người anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, thì Ta kể như các con làm ơn cho chính Ta" (Mt 25,34-40).

Nghĩa là, tôi sẽ nhìn những người nghèo khổ như một thứ bí tích, một dấu chỉ về sự hiện diện của Chúa. Tôi sẽ cầu nguyện với Chúa, để biết mang lại cho những người nghèo khổ sự kính trọng và yêu thương cần thiết.

Trên đây là  một vài chi tiết của cuộc sống cầu nguyện. Thiết tưởng cũng đã đủ để cho thấy: Tình huống nào của cuộc sống cũng nên cầu nguyện và cần cầu nguyện.

Kinh nghiệm đời sống cầu nguyện cho tôi thấy hai điều sau đây:

1/ Nếu chúng ta cầu nguyện thực khiêm nhường, chân thành, sốt sắng, Chúa sẽ làm cho những gì người ta coi như xấu nhất trở thành những vật liệu rất tốt có khả năng góp phần vào việc xây dựng con đường đạo đức, thánh thiện dẫn về Nước Trời.

2/ Nếu chúng ta đừng mất thời giờ theo đuổi những chương trình làm sáng danh Chúa kiểu phô trương chiến thắng, thống kê thành tích, áp đặt đức tin, mà chỉ hết sức quan tâm cầu nguyện để tình yêu cứu độ của Chúa toả sáng qua cuộc sống của ta, cho dù cách kín đáo, âm thầm, khiêm tốn, thì sự cộng tác của chúng ta vào kế hoạch cứu độ  của Chúa sẽ dẫn được nhiều đồng bào Việt Nam hôm nay đi vào con đường đưa tới Nước Trời.

Ai không tin những gì tôi chia sẻ trên đây, xin hãy hỏi những người đã chết. Hãy nghe tiếng các linh hồn người chết. Họ đang kêu gọi chúng ta hãy cầu nguyện. Họ đang nhắc nhủ chúng ta hãy cầu nguyện thực nhiều. Với tinh thần  cầu nguyện, con người sẽ biết nghĩ đúng, chọn đúng, làm đúng, để tới được Nước Trời, gặp được Thiên Chúa là Cha giàu tình thương xót và được ở lại bên Cha muôn kiếp muôn đời.


 

2/11-34: NGUỒN NƯỚC MẮT – Gm Bùi Tuần


Nhân tháng cầu cho những người đã qua đời

 

Trí nhớ của tôi lưu giữ nhiều hình ảnh. Trong số đó, có một thứ hình ảnh rất thầm lặng, nhưng thường: 2/11-34


Trí nhớ của tôi lưu giữ nhiều hình ảnh. Trong số đó, có một thứ hình ảnh rất thầm lặng, nhưng thường gây trong tôi nhiều cảm xúc và suy nghĩ. Thứ hình ảnh đó là các nghĩa trang.

Tôi đã viếng nhiều nghĩa trang. Tại Việt Nam, tại Ý, tại Đức, tại Pháp, tại Nga, tại Vaticăng.

Tôi đến viếng các nghĩa trang, chủ ý để suy gẫm, cầu nguyện, và cũng để tìm cảm nghiệm. Có thứ cảm nghiệm chỉ tìm được ở nghĩa trang. Tôi đã nghĩ như vậy và đã làm như vậy, khi tôi viết luận án: “Đau khổ của tình yêu”.

Đã có những cảm nghiệm độc đáo in rất sâu vào lòng tôi từ các nghĩa trang. Đặc biệt là từ những dòng nước mắt ở nghĩa trang.

Có những nước mắt của tình yêu dạt dào.
Có những nước mắt của nỗi buồn, nhung nhớ.
Có những nước mắt của lòng hối hận khôn nguôi.
Có những nước mắt của tấm lòng tha thứ muộn màng.
Có những nước mắt của ân tình, hiếu nghĩa.
Có những nước mắt của niềm tin sâu sắc mong chờ.

Khi đi sâu hơn một chút giữa các dòng nước mắt, tôi có thể cảm nghiệm được một số khám phá quan trọng:

Khám phá ra những chân lý nhân sinh.
Khám phá ra những hy vọng cứu độ.
Khám phá ra chính mình.
Khám phá ra chân lý.

Những nước mắt ở nghĩa trang là những tiễn biệt thân thiết. Tiễn biệt người đã chết, người vĩnh viễn ra đi. Sự chết là một sự thật không cần bàn tới. Nhưng đó lại là một chân lý cực kỳ quan trọng.

Bất cứ ai, rồi cũng phải chết. Cái chết đáng sợ. Nhưng đáng sợ hơn lại là cái gì đàng sau cái chết. Đáng sợ, vì nó quá bất ngờ. Biết đâu, trong số mồ mả, cũng có những hồn vì thế mà đang khóc ròng rã đêm ngày.

Ở đây, tôi chỉ xin trích dẫn một đoạn Phúc Âm: “Có một ông nhà giàu nọ, mặc toàn lụa là gấm vóc, ngày ngày yến tiệc linh đình. Lại có một người nghèo khó tên là Ladarô, mụn nhọt đầy mình, nằm trước cổng ông nhà giàu đó. Anh thèm được những thứ trên bàn ăn của ông ấy rơi xuống mà ăn cho đỡ đói. Lại thêm mấy con chó cứ đến liếm ghẻ chốc anh ta.

Thế rồi, người nghèo này chết, và được thiên thần đem vào lòng ông Apraham.

Ông nhà giàu cũng chết, và người ta đem chôn. Dưới địa ngục, đang khi chịu cực hình, ông ta ngước mắt lên, thấy tổ phụ Apraham ở trên đàng xa, và thấy Ladarô trong lòng tổ phụ. Bấy giờ ông ta kêu lên: Lạy tổ phụ Apraham, xin thương xót con, xin sai anh Ladarô nhúng đầu ngón tay vào nước, nhỏ trên lưỡi con cho mát, vì ở đây con bị lửa thiêu đốt khổ lắm.

Ông Apraham đáp: Con ơi, hãy nhớ lại: suốt đời con đã nhận phần phước của con rồi. Còn Ladarô suốt một đời chịu toàn những bất hạnh. Bây giờ Ladarô được an ủi  nơi đây, còn con thì phải chịu khốn khổ. Hơn nữa, giữa chúng ta đây và con đã có một vực thẳm quá lớn, đến nỗi bên này muốn qua bên con cũng không được, mà bên đó có qua bên chúng ta đây cũng không được” (Lc 16,19-26).

Với dụ ngôn trên, Chúa dạy ta những chân lý quan trọng. Ai cũng phải chết. Nhưng sự Chúa đánh giá từng người sau khi chết thường vượt quá sự con người suy nghĩ. Người phú hộ đó sống đời này được đầy đủ, sung sướng, an nhàn, xét mình chẳng thấy gì là xúc phạm Chúa, chẳng thấy gì là làm hại ai. Nhưng người phú hộ đó đã bị rơi vào hoả ngục. Chỉ vì sống thiếu thương cảm, thiếu liên đới, thiếu chia sẻ, thiếu xót thương. Trái lại, người ăn mày kia đã được lên thiên đàng. Vì dù bị chìm trong cảnh khổ, anh đã sống nêu gương về đức khiêm nhường, hiền lành và chân thật. Không được người dư dật chia sẻ, anh phải sống đói khổ, nhưng anh vẫn chia sẻ với mấy con chó đói ăn.

Nhờ ơn Chúa, những sự thực như trên đã được nhiều người nhận ra một cách sâu sắc trong những dòng nước mắt tại nghĩa trang. Những chân lý đó đã thay đổi đời họ.

Ngoài ra, biết bao người nằm trong nghĩa trang và khóc tại nghĩa trang cũng đã tìm được hy vọng cuộc đời qua một ngả khác.

Khám phá ra hy vọng.

Không thiếu trường hợp, tôi đã chứng kiến những cuộc trở về. Họ đã trở về từ những dòng nước mắt của một người nào đó. Người đó cầu nguyện cho họ. Người đó khóc với họ thay vì nói với họ.

Một lúc bất ngờ, lời Chúa Giêsu phán xưa trở thành chuyện đời họ. Chúa an ủi  họ rằng: “Người khoẻ mạnh không cần thầy thuốc. Người đau ốm mới cần. Hãy về học biết ý nghĩa của câu này: Cha muốn lòng nhân, chứ đâu cần của lễ. Vì Cha đến, không để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi” (Mt 9,12-13).

Những lời dịu dàng đó đã đi sâu vào lòng họ. Cõi lòng vốn đóng kín, khoá chặt, chất chứa những u uất, thất vọng, nay mở ra để hy vọng tràn vào.

Họ cảm thấy mình được xót thương, được yêu thương. Họ sám hối. Họ cảm thấy mình được tha thứ. Và chính họ cũng dễ dàng tha thứ. Một sự bình an lạ lùng trùm phủ tâm hồn họ. Họ ra đi bình an trong sự tin tưởng phó thác tuyệt đối ở Chúa giàu lòng thương xót. Họ khóc vì xúc động, đây là những dòng nước mắt đầy tình cảm tạ.

Những người chứng kiến cũng không cầm được nước mắt. Những dòng nước mắt ấy không nói nên lời, nhưng ngọt ngào niềm hy vọng cứu độ.

Khám phá ra chính mình.

Tại những nghĩa trang, thấy người ta khóc, nhất là khi chính mình khóc, tôi như nghe được tiếng Chúa Giêsu nói: Cha thương con, Cha thương mọi người. Cùng với lời Chúa trao ban tình yêu, tôi khám phá ra chính mình tôi, với những vết thương, với những tang tóc đau buồn. Khám phá ra chính mình trong sự thực trần trụi.

Khám phá để giúp trút bỏ những cái nhìn ảo. Nhìn ảo về mình. Nhìn ảo về những công việc của mình. Nhìn ảo về người khác. Nhìn ảo về cuộc đời.

Để cũng nhận ra rằng: dù với những yếu đuối, tội lỗi, mong manh, tôi vẫn được Chúa gọi với tình xót thương:

Gọi hãy cảm thương.
Gọi hãy chia sẻ.
Gọi hãy trở về.
Gọi hãy hiến dâng.
Gọi hãy cầu nguyện và đền tạ.
Gọi hãy sám hối và tín thác.
Gọi hãy vượt qua sự chết và mọi nghĩa trang, để bay vào cõi phúc đời đời.


Ơn gọi đó sẽ thực hiện được, miễn là tôi biết nhờ ơn Chúa, ở lại trong tình Chúa yêu thương. Như lời Chúa kêu gọi: “Hãy ở lại trong Cha, như Cha ở lại trong các con” (Ga 15,4).


 

2/11-35: CẦU CHO CÁC LINH HỒN


Lc 23,33-34.39-43

 

Giáo Hội Công Giáo dành trọn tháng Mười Một để cầu nguyện cho các linh hồn nơi luyện ngục: 2/11-35


Giáo Hội Công Giáo dành trọn tháng Mười Một để cầu nguyện cho các linh hồn nơi luyện ngục. Họ là những người thân của chúng ta, hoặc cũng có thể là những người mà chúng ta không biết. Nhưng mọi người đều có chung bổn phận là cầu nguyện cho những người đã qua đời. Những linh hồn nơi Luyện Ngục là những linh hồn thánh thiện, nhưng để được vào Thiên Đàng, họ còn cần phải thanh tẩy cho trong sạch vẹn tuyền.

1.Các linh hồn cần phải thanh luyện

Thiên Chúa là Đấng Thánh (Tv99,5), nên những người đến với Chúa cũng phải thánh thiện cách trọn vẹn. Những linh hồn mà chúng ta cầu nguyện hôm nay là những người sống trong ơn nghĩa Chúa và chết trong ơn nghĩa Chúa. Nhưng vì là con người yếu đuối nên không tránh khỏi những khiếm khuyết, cho nên các ngài cần phải tẩy rửa trước khi vào hưởng Tôn Nhan Chúa. Sau khi lìa khỏi xác, linh hồn không còn lập công được nữa, mà chỉ còn cách trông chờ những người trên trần gian cầu nguyện cho mà thôi.

Nhờ việc lành phúc đức của Giáo Hội tại thế, các linh hồn “nơi” luyện ngục mới mau chóng nên tinh tuyền để diện kiến Tôn Nhan( Ga 5,37 ). Tức là các ngài đã mặc áo cưới (Mt 22, 12) để dự tiệc cưới Con Chiên (Kh 19,8-9).Về việc phải thanh luyện nơi luyện ngục, có lẽ không ai tránh khỏi - trừ Đức Mẹ Maria Vô Nhiễm. Nói như thế có người thắc mắc: trong bài Tin Mừng vừa nghe, Chúa Giêsu hứa với anh trộm lành : Ngay hôm nay, anh sẽ ở trên Thiên Đàng với tôi (c.43).

Vậy ta phải hiểu câu này như thế nào? Theo quan niệm của người Do Thái thời Chúa Giêsu thì Thiên Đàng là nơi những người công chính chờ ngày phục sinh. Tương tự như La-da-rô sau khi chết được các thiên thần đem vào lòng Áp-ra-ham (Lc 16,22). Phải chăng Thiên Đàng theo quan niệm của người Do Thái tương tự như “Luyện Ngục” mà những người công chính cần phải thanh luyện? Dù thế nào chăng nữa, linh hồn nào chưa xứng đáng thì cần phải thanh tẩy. Vì cần phải thanh tẩy, nên các linh hồn cần những lời cầu nguyện của Hội Thánh.

2. Hội Thánh cùng thông công

Đây là điều mà chúng ta hằng tuyên xưng trong Kinh Tin Kính. Có nghĩa là các thành phần của Hội Thánh: những người Tại Thế, những người trong Luyện Ngục, các thánh ở trên Thiên Quốc, đều liên đới với nhau. Liên đới trong hạnh phúc cũng như trong đau khổ. Quan trọng là ta có cảm nhận được hay không!

Những linh hồn trong Luyện Ngục ngày đêm họ đang trông chờ lời cầu nguyện của chúng ta. Chúng ta có luôn ý thức điều này không? Những việc lành chúng ta làm sẽ giúp họ đền tội, thanh tẩy tâm hồn để chóng vào hưởng Tôn Nhan Chúa. Khi đã được vào Thiên Đàng, các ngài lại cầu bầu cho chúng ta.Việc cầu nguyện cho các linh hồn nơi Luyện Ngục là một việc thánh thiện, như Công Đồng Vaticanô trong hiến chế Mầu Nhiệm Giáo Hội đã viết: “Giáo Hội Lữ Hành hết lòng kính nhớ, dâng lời cầu nguyện cho những người đã chết, và cầu nguyện cho họ được giải thoát khỏi tội lỗi là một việc lành thánh...” Với Mầu nhiệm Hội Thánh Cùng Thông Công, việc cầu nguyện cho các linh hồn nơi Luyện Ngục là một bổn phận của mỗi người chúng ta. Hơn nữa, đối với người Công Giáo Việt Nam nói riêng, và với người Công Giáo Á Châu nói chung, còn là việc thi hành chữ “Hiếu” với ông bà tổ tiên.

3. Tháng 11 là tháng hiếu thảo

Trong một lớp Dự Tòng, có một anh bạn học viên theo đạo Ông Bà tỏ ra rất băn khoăn, lo lắng. Hỏi ra mới biết. Anh ta sợ rằng, khi theo đạo Công Giáo thì bất hiếu với tổ tiên. Vì người Công Giáo không cúng cho tổ tiên, nên ở dưới Suối Vàng ông bà tổ tiên bị bỏ đói! Phải chăng người Công Giáo bất hiếu với những người đã qua đời?

Ta có thể trả lời ngay rằng, người Công Giáo không những không bất hiếu với tổ tiên, mà trái lại còn rất có hiếu với những người đã qua đời. Nhưng cách hiếu thảo của người Công Giáo thì khác. Trong một năm, Giáo Hội dành hẳn một tháng để cầu cho những người quá cố. Rồi hằng ngày người Công Giáo đều cầu nguyện cho những người đã khuất.

Ta cứ thử làm một phép tính xem, trên Thế giới mỗi ngày có bao nhiêu Thánh Lễ được cử hành. Mà trong mỗi thánh lễ đều cầu nguyện cho những linh hồn nơi Luyện Ngục! Ngoài Thánh Lễ ra, còn bao nhiêu việc Phụng Vụ và các việc đạo đức khác. Những việc này đều thông công với các linh hồn nơi Luyện Ngục. Không còn nghi ngờ gì nữa, người Công Giáo rất có hiếu với những người đã khuất.

Đặc biệt trong ngày lễ cầu cho các linh hồn, chúng ta càng ý thức hơn về việc cầu nguyện cho các linh hồn trong Luyện Ngục, trong đó có thể có cả người thân của chúng ta. Xin Chúa, nhờ công nghiệp của Chúa Giêsu, cùng với lời bầu cử của Đức Mẹ và các thánh, giúp cho các linh hồn nơi Luyện Ngục được tinh tuyền để các ngài mặc áo cưới mà vào dự tiệc cưới của Con Chiên. Amen.

Têphanô


 

2/11-36: LỄ CÁC LINH HỒN


Anh chị em thân mến,

 

Hôm qua chúng ta đã mừng lễ kính các thánh nam nữ, các ngài là những người tôi trung của Thiên: 2/11-36


Hôm qua chúng ta đã mừng lễ kính các thánh nam nữ, các ngài là những người tôi trung của Thiên Chúa, hôm nay chúng ta dâng lễ cầu cho các linh hồn trong luyện ngục, các ngài là những người đã sống và tuân giữ các giới răn của Thiên Chúa, nhưng chưa trọn vẹn, do đó các ngài phải tạm thời chưa được diện kiến Thiên Chúa, và phải đền tội trong luyện ngục cho đến khi đền tội xong...

Giáo lí công giáo dạy chúng ta rằng: có thiên đàng để thưởng người lành, có hoả ngục để phạt kẻ dữ, và có luyện ngục để thanh tẩy các linh hồn còn vướng mắc các tội nhẹ chưa đền hết.

Các linh hồn trong luyện ngục tự mình không thể làm gì được để được Chúa tha tội, ở đó họ chỉ trông mong có một điều là hình phạt mau qua đi để chóng được hưởng nhan thánh Chúa, do đó họ rất cần đến lời cầu nguyện của chúng ta, cần đến những việc lành phúc đức và những hi sinh của chúng ta là những người đang còn sống ở thế gian,

Tin tưởng vào lòng thương xót của Thiên Chúa, Giáo Hội đã dành hẳn tháng mười một trong năm để cầu nguyện cho các linh hồn trong luyện ngục, một tháng với biết bao nhiêu là việc lành mà chúng ta làm, với biết bao nhiêu là thánh lễ mà chúng ta tham dự cách sốt sắng, với biết bao hi sinh mà chúng ta đã thực hiện, thì chắc chắn có rất nhiều linh hồn trong luyện ngục được thoát khỏi hình phạt luyện ngục mà về thiên đàng hưởng hạnh phúc với Thiên Chúa.

Tín điều các thánh thông công được thấy rõ nhất trong tháng này, nhờ bí tích Rửa Tội, chúng ta được hiệp thông với các thánh khải hoàn trên trời, chúng ta góp phần giải thoát các linh hồn trong luyện ngục bằng các lời kinh nguyện và việc lành của chúng ta, và nhờ bí tích Rửa Tội mà chúng ta -những tín hữu chiến đấu ở trần gian- được hiệp nhất với nhau trong tình yêu của Chúa Giêsu.

Anh chị em thân mến,

Ai trong chúng ta cũng đều có người thân qua đời, nếu họ đã được hưởng hạnh phúc thiên đàng, thì họ sẽ cầu bàu cho chúng ta trước toà Thiên Chúa, nếu họ đang bị giam cầm trong luyện ngục thì họ đang rất cần đến lời cầu nguyện và những hi sinh của chúng ta, mỗi lời nguyện, mỗi việc lành của chúng ta làm, thì như những giọt nước mát mẻ làm nguôi cơn giận của Thiên Chúa và thâu ngắn thời gian đền tội của họ trong luyện ngục.

Tháng Mười Một cũng là tháng báo hiếu của con cái đối với ông bà cha mẹ đã qua đời. Xin lễ cầu nguyện, lần chuổi Mân Côi, làm việc lành phúc đức.v.v... là những cách báo hiếu của chúng ta vậy...

Chúng con cậy vì danh Chúa nhân từ cho các linh hồn được lên chốn nghỉ ngơi, hằng xem thấy mặt Ịức Chúa Trời sáng láng vui vẻ vô cùng- Amen.

Xin Chúa chúc lành cho tất cả chúng ta.

Bài giảng lễ Các Linh Hồn tại nhà thờ Chúa Thánh Thần-Taiwan - Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb.


 

 2/11-37: TỪ GẶP GỠ CÁC HỒN KẺ CHẾT-  GB. BÙI TUẦN

 

Trong năm, nhất là trong tháng 11, tháng kêu gọi nhớ về những người đã qua đời, tôi hay đi: 2/11-37


Trong năm, nhất là trong tháng 11, tháng kêu gọi nhớ về những người đã qua đời, tôi hay đi viếng các mồ mả. Khi sức khoẻ không cho phép đi, tôi đành ở nhà. Nhưng dành nhiều thời giờ cho những người bên kia thế giới.

Khi gặp họ trong cầu nguyện, tôi thường hỏi thăm họ: Ở bên đó, họ có được  hạnh phúc không?

Một trả lời.

Một cách nào đó tôi nghe được một câu trả lời trống. Câu trả lời đó chính là lời Chúa Giêsu phán xưa: “Nếu người ta được cả thế gian này, mà phải thiệt mất mạng sống, thì nào có lợi gì” (Mt, 16,26).

Câu mà các hồn trong thế giới bên kia trả lời trên đây đã càng giúp tôi xác tín: Được lên thiên đàng mới là giữ được mạng sống, mới thực là hạnh phúc, mới thực là tới đích.

Còn nếu không được lên thiên đàng, thì kể như mất mạng sống, hơn nữa phải kể như mất hết, cho dù trên đời này, mình được đủ mọi giàu sang, của cải, sung sướng, được cả thế giới tung hô chúc tụng.

Tôi có cảm tưởng là: Khi tôi hiểu như vậy, thì có một bầu khí thiêng liêng xuất hiện, gây nên một sự thông hiệp giữa các linh hồn những người quá cố và tôi. Thông hiệp trong chân lý, thông hiệp trong liên đới, thông hiệp trong Chúa cứu độ.

Bầu khí này thôi thúc tôi hãy có một chọn lựa kịp thời, đúng đắn và dứt khoát. Chọn lựa đó là phải sống tốt ở đời này để được sống hạnh phúc thiên đàng đời sau.

Từ đó, vấn đề đặt ra cho tôi là phải sống tốt ở đời này thế nào? Thế nào là sống tốt?

Thiết tưởng sẽ có nhiều quan điểm.

Một chọn lựa.

Riêng tôi, tôi chọn quan điểm đơn sơ này: Sống tốt ở đời này là sống vâng phục thánh ý Chúa, trong mọi ngày, trong mọi sự, trong mọi hoàn cảnh, suốt cuộc đời tôi.

Vâng phục thánh ý Chúa sẽ là lương thực cuộc sống tôi. Tôi nói thế theo tinh thần lời Chúa Giêsu phán xưa: “Lương thực của Thầy là thi hành ý muốn của Đấng đã sai Thầy và hoàn tất công trình của Người” (Ga 4,34).

Vâng phục thánh ý Chúa sẽ là hướng đi của đời tôi. Tôi nói thế theo gương Đức Mẹ xưa đã thưa với thiên sứ Gabrie: “Con là tôi tớ Chúa, con xin vâng ý Chúa” (Lc 1,38).

Khi đi vào cụ thể, tôi nhận ra rằng: Sống vâng phục thánh ý Chúa là sống bác ái yêu thương.

“Mến Chúa yêu người” là hai điều răn trọng nhất (Mt 22,34-40).

Yêu nhau là dấu chỉ mến Chúa, và là giới răn mới Chúa Giêsu trối lại trước khi tự nạp mình chịu chết để cứu độ nhân loại:

“Thầy ban cho các con một điều răn mới là các con hãy yêu thương nhau, như Thầy đã yêu thương các con.

“Ở điểm này, mọi người sẽ nhận biết các con là môn đệ Thầy là các con yêu thương nhau” (Ga 13,34-35).

Càng được Chúa dẫn vào con đường vâng phục thánh ý Chúa tập trung vào tình yêu, tôi càng thấy mỗi người sống như thế sẽ viết nên bản nhạc tình yêu của riêng đời mình.

Một bản nhạc.

Tình yêu trong tinh thần vâng phục ý Chúa là một hành trình phục sinh. Nghĩa là:

Một tình yêu ca tụng tạ ơn. Bởi vì tinh thần vâng phục thánh ý Chúa sẽ cho ta nhìn thấy: Tất cả đều là hồng ân.

Một tình yêu phục vụ khiêm tốn. Bởi vì tinh thần vâng phục thánh ý Chúa sẽ cho ta niềm vui, khi được phục vụ như người đầy tớ theo gương Đức Mẹ, hoặc như người mang thân phận nô lệ, theo gương Chúa Giêsu (Pl 2,7).

Một tình yêu hy sinh cho người khác. Bởi vì tinh thần vâng phục thánh ý Chúa sẽ cho ta sáng kiến bắt chước Chúa Giêsu, trở nên như hạt lúa chịu thối đi, để nảy sinh hoa trái (Ga 12,24).

Kinh nghiệm cho thấy: Sống tình yêu trong tinh thần vâng phục thánh ý Chúa đòi phải chiến đấu rất nhiều. Chủ yếu là phấn đấu với chính mình. Có phấn đấu kiên trì mạnh mẽ với chính mình, thì mới làm cho tình yêu được đẹp đẽ, sáng ngời, quí giá, như bài ca sau đây của thánh Phaolô:

“Đức ái thì nhẫn nhục, hiền hận,
không ghen tương, không vênh vang, không tự đắc.
Không làm điều bất chính,
không tìm tư lợi.
Không nóng giận, không nuôi hận thù.
Không mừng khi thấy sự gian ác.
Nhưng vui khi thấy điều chân thật.
Đức ái tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả,
hy vọng tất cả, chịu đựng tất cả” (1 Cor 13,4-7).

Sống tình yêu như vừa phác hoạ, sẽ là sống vâng phục thánh ý Chúa. Sống vâng phục thánh ý Chúa như vậy sẽ gặp được Chúa.

“Thiên Chúa là tình yêu” (1 Ga 4,8). Được gặp Người, được sống với Người, được ở lại trong Người, chính là sống hạnh phúc thiên đàng.

Một thiên đàng.

Vì thế, tôi tin tưởng và tôi cũng cảm nghiệm rằng: Sống tình yêu trong tinh thần vâng phục thánh ý Chúa đem lại cho tôi bình an, hạnh phúc, cho dù giữa bao nghịch cảnh trong ngoài.

Tôi nhìn Chúa Giêsu chịu đóng đinh trên thánh giá. Người sống tình yêu với Chúa Cha: “Lạy Cha, con xin phó linh hồn con trong tay Cha” (Lc 23,46). Người sống tình yêu với kẻ ghen ghét làm khổ nhục Người: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ lầm không biết” (Lc 23,34).

Chúa Giêsu sống cho tình yêu và chết cho tình yêu, trong tinh thần vâng phục thánh ý Chúa Cha. Cho nên, dù trong cảnh đau đớn nhất, Người vẫn là chính thiên đàng cho những ai theo Người.

Chúa Giêsu đã là thiên đàng cho tôi ngay ở trần gian này.

Thiên đàng ở trần gian này là sống tình yêu trong Chúa Giêsu, Đấng cứu độ giàu lòng thương xót.

Thiên đàng ở trên trời là sống tình yêu trong Thiên Chúa Ba Ngôi, nguồn tình yêu vĩnh cửu vô tận của mọi tình yêu trong sáng.

Tôi hy vọng vững vàng: Mặc dù tôi rất bất xứng, tôi vẫn được Chúa nhân lành thương xót, Người sẽ rộng tình ban ơn. Từ thiên đàng ở trần gian, tôi sẽ được Người đưa lên thiên đàng ở trên trời. Nơi đó, tôi sẽ vui mừng gặp lại những hồn đã lên đó trước tôi. Chúng tôi sẽ cùng nhau ca ngợi tạ ơn Đấng đã cứu mạng sống chúng tôi, đến muôn thuở muôn đời.


 

2/11-38: Mọi người sẽ được đem đến sự sống


Suy niệm Lế Các Linh hồn - Ga 6, 37-40

Thưa quý vị,

 

Hôm nay là lễ các linh hồn, sau bài đọc một, chúng ta sẽ được nghe hoặc hát thánh vịnh 23: 2/11-38


Hôm nay là lễ các linh hồn, sau bài đọc một, chúng ta sẽ được nghe hoặc hát thánh vịnh 23. Đây là thánh vịnh quen thuộc nhất trong 150 thánh vịnh của Cựu Ước. Phần vì nó thường được sử dụng trong thánh lễ an táng, cầu hồn, phần vì nhiều nhạc sĩ, nghệ nhân ưa sáng tác dựa trên ý tưởng hoặc lời văn của nó. Kể ra đã có vô số bài ca, tranh vẽ, điêu khắc, nói về nó, gồm cả những sáng tác dành cho trẻ em. Chúng được giáo dục rất sớm về thánh vịnh này. Đó là điều đáng mừng vì đúng hướng. Giữa những khó khăn của cuộc sống, thánh vịnh nói lên những lời an ủi cậy tin vào lượng từ bi hải hà của Thiên Chúa, hằng săn sóc những nhu cầu của chúng ta: “Chúa là mục tử chăn dắt tôi, tôi chẳng thiếu thốn gì”. Đúng thế những nhọc nhằn, sợ hãi, nhất là cái chết đã được thánh vịnh xua tan bằng giọng điệu ngọt ngào, bảo đảm sự hiện diện của Thiên Chúa tối cao trong cuộc sống mỗi người. Kinh sư Harold Kushner của Do Thái giáo vừa xuất bản một cuốn sách có tựa đề là: “Đức Chúa là mục tử tôi, sự khôn ngoan chữa lành của thánh vịnh 23”. Lập tức nó trở thành sách tôn giáo bán chạy nhất nước Mỹ. Tác giả phân tích tỉ mỉ từng câu, từng ý của thánh vịnh. Nữ phê bình gia Kristin E. Hohmes viết trên tạp chí Knight Ridder về cuốn sách như sau: “Dầu là kẻ tin kính hay không thì thánh vịnh đã là một phần của văn hoá chúng ta. Nó là lời cầu nguyện của mọi linh hồn.”

Tác giả Kushner mô tả thánh vịnh như một vở kịch ba hồi của cuộc sống mỗi người. Hồi thứ nhất: phẳng lặng và bình an. Hồi thứ hai: tối tăm và sầu khổ. Hồi thứ ba: tương quan mới với Thiên Chúa, nguồn sức mạnh trong những lúc gian truân. Ông cũng có lý do cá nhân để mô tả như thế và đã tìm thấy nguồn ủi an cho gia đình ông. Số là con ông chết lúc còn rất trẻ vì bệnh Progeria, một căn bệnh hiểm nghèo, không chữa được, nó làm cho bệnh nhân kiệt sức rất nhanh, cuối cùng là chết. Đối với tác giả, sự qua đời của con ông là: “thung lũng âm u của thần chết”- Ông nói, vì thế ông phải đối mặt và từ bỏ quan niệm cũ về Thượng Đế. Quan niệm rằng Ngài là Đấng toàn năng, toàn ý, gây nên mọi biến cố trong cuộc đời chúng ta. Ông cho rằng Thiên Chúa không phải là nguyên nhân của sự dữ. Sự dữ xảy ra là vì chúng ta lạm dụng tự do Ngài ban. Chính chúng ta làm hại lẫn nhau chứ không phải Thiên Chúa tốt lành. Nguyên nhân thứ hai là các định luật thiên nhiên mà con người liên tục vi phạm, vận xui cũng góp phần làm nên đau khổ. Tác giả Kushner đã thuật lại căn bệnh và cái chết của con ông trong cuốn: “Khi sự dữ xảy đến cho con người lành thánh” cũng là một cuốn sách “Best Seller” khác.

Ông đã tìm được nguồn an ủi to lớn trong thánh vịnh 23 để nâng đỡ con đường tin kính của mình. Tuy thánh vịnh không nói chúng ta chẳng nên sợ điều xấu, bởi lẽ nó chỉ xảy đến cho những con người dữ tợn, mà thánh vịnh chỉ nhắc nhớ phải hành xử ra sao khi gặp khốn khó. Bởi vì Thiên Chúa luôn nâng đỡ chúng ta, Ngài về phe với những linh hồn lành thánh. Hình ảnh “chén rượu đầy tràn” mang lại thật nhiều bảo đảm, an lành, biết ơn, chỉ dẫn,vững dạ, can đảm cho mỗi linh hồn, bởi lẽ nó là dấu chỉ cụ thể Thiên Chúa chăm lo cho chúng ta, dẫn từng người đến đồng cỏ xanh tươi và suối nước trong lành. Các thánh vịnh đều là những bài thơ, chứa đựng đầy âm thanh và nhạc điệu, vì vậy chúng mời gọi độc giả tự đồng hoá với hoàn cảnh chúng mô tả và áp dụng vào cuộc sống mình. Sau biến cố 11/9/2001 Kushner nhận được nhiều cú điện thoại hỏi xem tại sao người ta lại thực hiện điều khủng khiếp đến thế nhân danh Thượng Đế? Ông rất lúng túng chẳng biết trả lời ra sao, cho đến khi mở Thánh Kinh đọc. Thiên Chúa không hề ban lời hứa là cuộc đời dương thế này luôn luôn công bằng, tốt đẹp. Ngài chỉ nói luôn ở với chúng ta khi chúng ta phải đối mặt với các bất công, sự dữ và đau khổ. Rõ ràng những hình ảnh này đã được thánh vịnh 23 đề cập đến một cách trọn hảo. Không chỗ nào trong Kinh Thánh đã cho thấy một giọng điệu an ủi như vậy.

Nếu như quý vị kinh nghiệm về một sự mất mát đau đớn nào đó trong gia đình, quý vị sẽ cảm thấy thấm thía về ngày lễ hôm nay, ngày cầu cho các linh hồn đã khuất: Ông bà, cha mẹ, những bậc sinh thành, dưỡng nuôi chúng ta hay bà con hàng xóm láng giềng, bạn bè thân thiết, những người đã chia sẻ ngọt bùi thân thương lâu dài năm tháng. Ý nghĩa của ngày lễ thật sâu đậm. Hãy lắng đọng tâm tư để nhớ đến họ, nghĩ về họ. Ông nội tôi chết lúc 96 tuổi, đầu năm 2003. Chúng tôi đau khổ, buồn nản, nhớ thương. Nhưng cũng cảm thấy khía cạnh tròn đầy nào đó, vì cụ sống cao tuổi, tốt lành. Còn như có nhiều linh hồn không được dài lâu như thế. Chúa gọi họ về rất sớm, có khi còn đang trong tuổi thanh xuân, ước mộng tràn trề, vì những cơn bệnh hiểm nghèo, hoặc tai nạn. Những sự mất mát ấy mới thật là đau xót cho bà con thân thuộc còn sống. Nhiều cha mẹ sẵn sàng thế chỗ cho các con nhỏ của mình khi Chúa gọi chúng về vì các lý lo không lường trước được: ốm đau, bệnh tật, chết đuối,& Hàng ngày các phương tiện truyền thông công cộng phơi bày trước mắt chúng ta bao nhiêu là cái chết bi thảm, chiến tranh, đói khát, khủng bố, bức tử, ôm bom tự sát. Họ qua đi để lại cho những người còn sống bàng hoàng, sợ hãi, buồn đau, nghi nan, bối rối. Tóm lại trăm ngàn cảnh sầu thương.

Cho nên tiên tri Isaia ở bài đọc 2 đã mô tả sự chết như chiếc khăn tang, như chiếc lưới vĩ đại chụp xuống muôn dân: “Trên núi này, Người sẽ xé bỏ chiếc khăn che phủ mọi dân, và tấm màn chùm lên muôn nước. Người sẽ vĩnh viễn tiêu diệt tử thần”. (25,7). Như vậy cũng các bài đọc khác của ngày lễ hôm nay, nhà tiên tri kêu gọi chúng ta hy vọng một cách cụ thể vào quyền phép Thiên Chúa: “Người sẽ vĩnh viễn tiêu diệt tử thần”, chứ không phải hy vọng viển vông. Mọi linh hồn sinh vào thế gian này đều phải vật lộn với sự chết và chẳng khi nào mong thắng được. Nanh vuốt tử thần bấu chặt vào số phận mỗi người. Chúng ta than khóc các thân nhân qua đời, những linh hồn còn bị nó giam giữ trong luyện ngục và hằng hà sa số các linh hồn khác đang chung số kiếp với họ hàng giờ, hàng ngày, hàng tháng, hàng năm. Chỉ có Đức Kitô mới có khả năng vật lộn với thần chết và giải phóng chúng ta. Xin nghe rõ Lời Chúa hôm nay. Ngài đã chiến thắng sự chết bằng chính cái chết của mình và sẵn sàng ban chiến thắng đó cho những ai liên kết với Ngài. Do đó tử thần đã bị đánh bại, chiến thắng đã được Ngài giành giật cho nhân loại, chỉ còn đợi chúng ta chiếm lấy bằng cuộc sống thánh thiện của mình. Thánh Phaolô mô tả Đức Kitô như trưởng tử của những kẻ đã an giấc và cam đoan rằng: “Trong Đức Kitô mọi người sẽ được đem đến sự sống.” Đức tin vào lời hứa này là bảo đảm cho kiếp sống vĩnh hằng, không phải vĩnh hằng sau này mà trước tiên là hiện tại. Cứ như thánh sử Gioan thì lời hứa về đời sống vĩnh cửu phải được hiểu “hic et nunc”, “here and now”, lúc này và tại đây, trong cuộc sống dương gian. Tử thần không có tiếng nói sau cùng trên số phận nhân loại, mà là Đức Kitô. Vậy thì khi nghe công bố Lời Chúa trong thánh lễ này, chúng ta tin chắc cuộc đời vĩnh cửu đã được ban cho mỗi tín hữu, bất chấp bằng chứng ngược lại của kinh nghiệm hằng ngày. Thần chết đã bị Đức Kitô đánh bại và vĩnh viễn xoá sổ khỏi cuộc sống của mỗi người. Chúng ta phải vững tin như vậy vào Lời Chúa hôm nay và củng cố lòng tin đó nơi mỗi tín hữu trong giáo xứ, gia đình, thôn xóm.

Thánh Thể là bữa tiệc chúng ta tham dự trong thời gian “đợi chờ”, khi mà một thành viên nữa trong cộng đồng nằm xuống, vĩnh viễn ra đi, khi mà tin tức về những cái chết hàng loạt xuất hiện trên báo chí, Tv, Radio. Mình Máu Thánh Chúa sẽ cung cấp sức mạnh để chúng ta tin tưởng và đứng vững. Mình Máu Chúa sẽ liên kết mọi người trong lòng tin vào quyền phép của Thiên Chúa, gồm cả những người mà khi còn sống đã cùng chia sẻ bàn tiệc này, nhưng bây giờ đã được hưởng trọn vẹn nơi Đức Kitô. Đời sống của họ khích lệ các linh hồn còn sống và nêu gương cho hết thảy mọi người. Họ đã phải trải qua sóng gió, bão táp trong cuộc đời và đức tin đã bảo vệ họ trung thành với ơn gọi Kitô hữu. Chúng ta cũng chia sẻ đức tin ấy, vậy xin hãy cầu nguyện để chúng ta cũng bền tâm trong các khó khăn hiện tại.

Phụng Vụ hôm nay có rất nhiều lời cầu nguyện cho các linh hồn đã qua đời, chúng nhắc nhở chúng ta về cái chết của mình, một sự tận cùng không tài nào tránh khỏi. Và như câu tục ngữ: “Tắt đèn thì nhà ngói cũng như nhà tranh. Ở cuối ván bài, con vua và con tốt đều nằm trong một cái hộp (at the end of the game, the kind end the pawn are put away in the same box). Thì rồi đây mọi người sang, hèn, giàu nghèo, ngu dốt, tài khéo, trẻ già, dân đen cũng như chức quyền, đều bình đẳng trước mặt Thiên Chúa. Khi cầu nguyện cho các thân nhân, xin nhớ rằng mọi người đều cần đến Thiên Chúa hiện diện và tha thứ, rằng chúng ta khao khát được sum họp với họ dưới cánh tay yêu thương và săn sóc của Ngài. Sự chết thay đổi đời sống nhân loại chứ không mất đi, vậy khi cử hành bí tích Thánh Thể, chúng ta công bố đức tin của mình vào sự sống lại và cuộc đời vĩnh hằng.

Xin luôn ghi tạc vào lòng: Qua Đức Kitô biết bao linh hồn đã được đưa về an nghỉ trong Thiên Chúa yêu thương và nhân từ. Chúng ta không thể quên họ, mặc dầu theo tiêu chuẩn thế gian, chết là hết, không còn hiện diện trên thế gian nữa. Có chăng chỉ còn là nấm mồ vô chủ, một đám cỏ “nửa vàng nửa xanh” bên vệ đường, bất cứ ai đi qua cũng có thể giẫm lên. Tuy nhiên trước mặt Thiên Chúa, tất cả đều được ghi nhớ và trân trọng. Cuộc sống của họ đã in dấu không phai nhoà được trong trái tim Ngài. Thiên Chúa không cho phép một ai tan biến và không hiện hữu nữa. Ngài hằng nhớ đến và xót thương mọi người. Khi còn sống có lẽ chúng ta đã coi thường, chà đạp họ. Nhưng hôm nay, khi nhớ đến họ trong lời nguyện cầu, xin đổi mới tương quan, liên kết với họ trong niềm tin sống lại. Ước chi trong phụng vụ chúng ta thể hiện được thật đầy đủ tín điều các thánh cùng thông công, thông công với nhau và với Thiên Chúa hằng sống. Amen.

* Lời cầu nguyện của một người không tôn giáo: “Lạy Thượng Đế, tôi sống trên cõi đời này chỉ một lần, vậy những chi là tốt lành, thân thiện tôi có thể thực hiện cho đồng loại, thì xin cho tôi làm ngay bây giờ, không trì hoãn, không bỏ quên. Bởi tôi không đi qua con đường này lần nữa đâu. Amen”.


Lm. Jude Siciliano, OP.

 

2/11-39: Chết không phải là mất mát


VietCatholic News (04/01/2004 )

 

Người Tín hữu đã đọc Kinh Thánh và Trưởng thành không thể nói chết là mất mát to lớn, hay vô: 2/11-39


Người Tín hữu đã đọc Kinh Thánh và Trưởng thành không thể nói chết là mất mát to lớn, hay vô cùng đau đớn..mà nên nói là Ngày Trở về Nhà Cha, ngày Sinh nhật, ngày Sống trong Chúa, ngày Biến đổi...

1- NGÀY CHẾT LÀ NGÀY SINH NHẬT CỦA TÍN HỮU: ( Suy niệm kỹ thư Phl.3 )

Hội thánh xem cuộc đời Tín hữu như là thời Thai Nghén và gọi ngày mỗi người ra đi là Ngày Sinh Nhật (Dei Natalis.)

Hội thánh là đoàn người vô số, kẻ trước người sau cùng nhau chuẩn bị đưa nhau qua đời trong, với và cùng Chúa Kitô.

Tôi cũng được thông phần đau khổ của Người, nhờ nên đồng hình đồng dạng.. và sống lại như Người. (Phl.3:10-12)

2- NGÀY CHẾT LÀ NGÀY ĐƯỢC TRỞ VỀ NHÀ CHA: ( Đào sâu thêm Gioan 17 )

Theo danh từ Á Đông: chết là Thục = Chín như trái cây; là Quy= Trở về, hoặc nói khác: Sống để Chết, Chết để Sống. Đức Giêsu nói: “..Con muốn rằng con ở đâu thì những người Cha ban cho con cũng ở đó với con…..” (Ga 17, 24)

…Căn nhà(thể xác) dưới đất bị hủy đi, ta có căn nhà trên tròi bởi Thiên Chúa làm ra;..vĩnh cửu trên trời. (2Cor,5:1-5)

3- NGÀY CHẾT LÀ NGÀY BIẾN ĐỔI CỦA TÍN HỮU: ( Cảm Nghiệm nhiều 1 Cor. 15 )

Đối với Đức Kitô, chết không phải là hết nhưng là Biến đổi.Thánh Phaolô trong thư gởi Corinto viết: “Đây tôi nói cho anh em biết mầu nhiệm này: không phải tất cả chúng ta sẽ chết, nhưng tất cả chúng ta sẽ được biến đổi….. “ Quả vậy, cái thân phai hư nát này sẽ mặc lấy sụ bất diệt; và cái thân phải chết này sẽ mặc lấy sự bất tử.” (1Cor. 15, 51-51)

4- NGÀY CHẾT LÀ NGÀY BƯỚC VÀO CÕI SỐNG: ( Đọc thật kỹ Khải Huyền 21)

Trước khi qua đời thánh Têrêsa hài đồng yên ủi chị em rằng: “Chị em đừng khóc như kẻ không có niềm tin cậy, tôi không chết, tôi vào cõi sống.” Sách Khải Huyền của thánh Gioan viết: “Bây giờ tôi thấy trời mới đất mới, vì trời cũ đất cũ đã biến đi.. không còn sự chết, cũng chẳng còn tang tóc, kêu than và đau khổ nữa. (Kh.21, 1- 4)

5- NGÀY CHẾT LÀ NGÀY HY VỌNG LÊN THIÊN ĐÀNG: ( Suy niêm thêm Luca 24 )

Luca 23: 39-43 đưa hai hình ảnh: một tên trộm biết sám hối ăn năn và một tên không nhận tội, còn kêu trách Chúa. Anh trộm lành nói: chúng ta chịu thế này là đích đáng vì xứng với việc đã làm.. Rồi anh thưa với Đức Giêsu: “Ong Giêsu ơi! Khi nào về nước ông, xin nhớ đến tôi với! Đức Giêsu liền nói: “Ngay hôm nay anh sẽ ở trên Thiên Đàng với tôi.”

6- NGÀY CHẾT LÀ NGÀY ĐƯỢC GIẢI PHÓNG: ( Cảm nghiệm thêm Rôma 6 )

Vì tội chúng ta đều phải chết, nhưng không lâm cảnh tuyệt vọng, vì Đức Kitô đã mỡ đường giải phóng. Thánh Phaolô viết: Nhưng bây giờ anh em đã được giải phóng khỏi ách tội lỗi mà trở thành nô lệ của Thiên Chúa; anh em thu được kết quả là trở nên thánh thiện, và rốt cuộc được sống đời đời. Thật vậy, lương bổng của tội là sự chết.. (Rom.6,22-23)

7- NGÀY CHẾT LÀ NGÀY ĐƯỢC SỐNG LAI VỚI CHÚA: ( Đọc kỹ Gioan 11: La-da-rô)

Đức Giêsu nói với Mác-ta: Em chị sẽ sống lại. Mác- ta thưa: Con biết em con sẽ sống lại trong ngày sau hết. Đức Giêsu nói: chính Thầy là sự sống lại và là sự sống; ai tin vào Thầy thì dù đã chết cũng sẽ được Sống. (Gioan 11, 24-25)

Ta không phải chết khi tắt hơi, hằng ngày ta hằng chết, khi ta chết cho tội lỗi là ta đang sống cho Đức ChúaTrời.(Phaolô)

8- NGÀY CHẾT LÀ NGÀY ĐƯỢC SỐNG VUI MỪNG NHẤT: ( Suy niêm thêm 2 Cor. 5 )

Người ta cho chúng tôi là người buồn khổ, nhưng thật ra chúng tôi luôn vui mừng. Người ta cho chúng tôi là hạng nghèo nàn, nhưng thật ra chúng tôi làm cho bao người nên giầu có. ( 2 Cor.6: 9- 10) Phần Ta, Ta đến để cho chiên Ta được sống và Sống dồi dào. (Ga. 10, 10). Anh em hãy vui luôn trong niềm vui của Chúa. Tôi nhắc lại: Vui lên ! ( Phl. 4, 4)

9- NGÀY CHẾT LÀ NGÀY ĐƯỢC SỐNG TRONG CHÚA: ( Cảm nghiệm nhiều Côloxê 2 )

Thánh Phaolô nói: Sống là sống cho Chúa, chết là chết cho Chúa, vậy Sống hay chết tôi đều thuộc về Chúa. (Phaolô)

Anh em hãy coi mình như đã chết với tội lỗi, lại sống cho Thiên Chúa trong Đức Giêsu Kitô (Rom.6, 5 -11)

Anh em đã cùng được mai táng với Đức Kitô khi chịu phép Rửa tội và cùng được sống lại với Người. (Col. 2, 12 )

Mọi người liên đới với Adam mà phải chết thì mọi người nhờ.. . với Đức Kitô cũng được Chúa cho sống lại. (1Cor.15,22)

* Có thể dùng 1trong 9 Đề tài này để chia sẻ trong các lễ nghi Phát tang, làm Phép xác tại Nhà quàn, tại Đám tang...

* Nên nói thêm Cảm Nghiệm Sống Lời Chúa của mình qua nhiều hình thức khác nhau trong gợi ý Nội dung trên.

* Không nên dùng những danh từ bóng bảy, xa vời..; có thể nhắc lại những công phúc, gương sáng họ đã làm. (5phút)

* Tuy nhiên ta không thể quên cầu cho Ông Bà, Cha Mẹ và các linh hồn vì lòng hiếu thảo, nhớ ơn và yêu mến !


Pt. Định Nguyễn


 

2/11-40: MỘT DÂN TỈNH THỨC CHỚ ĐỢI CHÚA TRỞ LẠI.


LỄ CÁC LINH HỒN  (Lc12,36-38.40).

VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI.

1. Trong y phục của người tôi tới đang đợi chủ...

 

Đức Giêsu đng trên đường lên Giêrusalem, Nơi Người sẽ ra đi Lu ca 9,32 (tức là cuộc khổ nạn, sống: 2/11-40


Đức Giêsu đng trên đường lên Giêrusalem, Nơi Người sẽ ra đi Lu ca 9,32 (tức là cuộc khổ nạn, sống lại và lên ngự bên hữu Chúa Cha). Người chuẩn bị cho các bạn hữu đón nhận hoàn cảnh mà họ sắp phải đương đầu: Chúa không còn hiện diện thể lý với các ông; các không phải chờ đợi Chúa trong vinh quang. Người chuẩn bị tâm hồn các ông bằng những dụ ngôn, trong đó có dụ ngôn người đầy tớ đợi chủ về mà ta đọc hôm nay.

Theo gương các người đầy tớ đang đợi chủ, các môn đệ được mời gọi phải mặc đồ của kẻ hầu hạ. Nói nôm na là "phải thắt lưng" nghĩa là kéo vạt áo dài giắt vào lưng quần để đi lại cho dễ. Cũng phải "cầm đèn cháy sáng", bởi vì chủ có thể trở về vào lúc nửa đêm hoặc muộn hơn.

Đó cũng là những điều gợi nhớ Lễ Vượt Qua, như cuộc ra đi vội vã ra khỏi Aicập, bữa cơm ăn vội vã trong trang phục lữ hành, khởi hành trong đêm tối. F.Bovon nhận xét: "Ở đây, rõ ràng Thánh sử khơi gợi lại biểu tượng của Lễ Vượt Qua. Người ta tin rằng Lễ Vượt Qua cũng như những biến cố trong lịch sử cứu độ đều diễn ra ban đêm. Người Do thái mong đợi Đấng Messia đến vào nửa đêm. Thính giả của Đức Giêsu cũng vậy. Họ là những tín hữu trông đợi Đấng Messia đến vào ban đêm vì họ sống trong một môi trường thù nghịch, nên sẵn sàng hành động trong lúc mọi người ngủ yên.

(...) Thắt lưng và cầm đèn cháy sáng, tức là biết thời giờ ta đang sống, chăm chú vào điều cốt yếu, cởi bỏ những gì cồng kềnh, quên bản thân mình, sẵn sàng đón nhận Lời Chúa" ("L'Evangile selon saint Lu ca 9,51-14,35", Labor fides, Genève 1996, trang 291).

2. Ông chủ trong trang phục người hầu hạ.

Những môn đệ của Đức Giêsu, noi gương các đầy tớ trong dụ ngôn, chuẩn bị sẵn sàng đón Chúa trở lại, sẽ hết sứ ngạc nhiên khi thấy Đấng mà họ đón chờ , lại mặc y phục của người hầu hạ, mời họ ngồi vào bàn và đi lại hầu hạ từng người một. Họ thật sung sướng biết bao!

F.Bovon viết tiếp: "Chúng ta kinh ngạc chứng kiến một cuộc đảo ngược vai trò: Đức Kitô, giống như kinh Magnificat đã nói, từ vai chủ, bây giờ đóng vai đầy tớ. Thánh Phaolô và Thánh Gioan nối kết sự đảo ngược này với sự sống và sự chết của Đức Kitô ngự đến. Trong bữa tiệc vương quốc, chính Thiên Chúa sẽ đảm nhận việc hầu bàn.

Nhiệm vụ hầu bàn này được trình bày bằng 3 cử chỉ: sẵn sàng phục vụ "thắt lưng"(...) tiếp đón và xếp chỗ cho khách dự tiệc(...) và hầu bàn" (Sđd, trang 293-294).


 

2/11-41: Luyện ngục

 

Niềm tin vào luyện ngục sẽ đem lại cho chúng ta những hậu quả nào ? Hậu quả mà chúng ta: 2/11-41


Niềm tin vào luyện ngục sẽ đem lại cho chúng ta những hậu quả nào ?

Hậu quả mà chúng ta bàn đến trong một vài phút ngắn ngủi này, đó là :

- Niềm tin vao luyện ngục sẽ giúp chúng ta xa lìa hỏa ngục và tiến lại gần thiên đàng.

Trước hết, niềm tin vào luyện ngục sẽ giúp chúng ta xa lìa hỏa ngục. Thực vậy, ý tưởng về một hỏa ngục vĩnh viễn đã làm cho nhiều người kinh hoàng đến nỗi chối bỏ đức tin. Họ nghĩ rằng :

- Nếu Thiên Chúa là một người cha nhân từ và giàu lòng thương xót, vậy tại sao Ngài lại dựng nên hỏa ngục ?

Chắc hẵn hỏa ngục là một tín điều khó hiểu và làm cho chúng ta ngao ngán nhất. Nhưng nó sẽ trở nên khả dĩ  chấp nhận được, khi chúng ta biết rằng còn có một luyện ngục, còn có một cơ may để đền bù những sai lỗi đã vấp phạm. Hay nói một cách vắn gọn : hỏa ngục có thể dễ dàng chấp nhận được vì có một luyện ngục.

Ngoài ra, niềm tin tưởng có luyện  ngục còn giúp chúng ta tiến lại gần thiên đàng. Thực vậy, những điều kiện ắt có và đủ để được vào thiên đàng hẳn là sẽ nghiêm khắc và khó khăn lắm. Chúng ta còn quá cách xa với lý tưởng thánh thiện, thì làm sao có thể vào được thiên đàng. Làm sao chúng ta hội đủ được những điều kiện nghiêm khắc và khó khăn ấy ?

Niềm tin tưởng vào luyện ngục sẽ giúp chúng ta dễ dàng thực hiện được điều đó. Nơi luyện ngục, chúng ta sẽ tìm thấy một hình ảnh tuyệt vời nhất về Thiên Chúa. Đúng thế, với luyện ngục, Thiên Chúa không phải chỉ là một Đấng tốt lành và nhân hậu như các thánh trên trời cảm  thấy. Đồng thời, Ngài cũng không phải chỉ là một Đấng công bằng và ngay thẳng như những kẻ ở trong hỏa ngục nghiệm ra. Luyện ngục chính là nơi dung hòa tốt đẹp hai đặc tính trên.

Ngoài ra, luyện ngục còn trả lời cho những kẻ nghĩ rằng :

- Luân lý của Công giáo thì nghiêm khắc, không cho phép sai lỗi đến cả một dấu phẩy, không kể đến những yếu đuối của số kiếp con người.

Câu trả lời sẽ như thế này :

- Dĩ nhiên chúng ta khó có thể lên tới đỉnh trọn lành và thánh thiện. Nhưng một người nào đó, dù có sa ngã vấp phạm, nhưng với thành tâm thiện chí quay trở về cùng Thiên Chúa, thì luyện ngục sẽ là con đường dẫn họ tới quê trời, sẽ là khung cửa qua đó họ được bước vào nhà Cha.

Hơn thế nữa, với tín điều về luyện ngục, Giáo hội còn hiểu thấu những khát vọng thầm kín của con người. Thực là một niềm an ủi cho chúng ta, mặc dầu đã cố gắng chiến đấu, mặc dù đã ra sức ăn ngay ở lành và chu toàn thánh ý Thiên Chúa giữa lòng cuộc đời, nhưng vì bản tính con người vốn yếu đuối và giòn mỏng, có thể sai lỗi vấp phạm bất kỳ lúc nào và bất kỳ ở đâu. Thế nhưng, một ngày kia khi đến trước ngai tòa Chúa, chúng ta có thể kêu lên với Ngài :

- Lạy Chúa, mặc dù con không đủ những tiêu chuẩn tốt lành và thánh thiện để được bước thẳng vào Nước trời, nhưng con cũng không quá tội lỗi và xấu xa để bị đày xuống hỏa ngục. Xin hãy thanh luyện con.  Như người ta thường có thói quen phân cách cỏ dại với lúa tốt trước khi đổ lúa vào kho lẫm, thì xin Chúa hãy thanh luyện con trước, để con được xứng đáng trở về cùng Chúa trên quê hương Nước trời.

Trong ngày tưởng nhớ đến những tín hữu đã qua đời, chúng ta hãy cầu nguyện cho ông bà cha mẹ và những bậc ân nhân đã góp phần xây dựng cuộc sống của chúng ta, cũng như cho những linh hồn mô côi cô độc. Xin Chúa hãy tha thứ mọi tội lỗi, xóa bỏ mọi hình phạt, để những linh hồn ấy chóng được Chúa đón nhận trong vòng tay yêu thương.

Đồng thời xin cho chúng ta biết uốn nắn sửa đổi lại những khuyết điểm, để tấm áo đã lãnh nhận ngày chịu phép Rửa tội luôn giữ mãi được màu trắng tinh nguyên cho tới khi chúng ta xuất hiện trước tôn nhan Chúa.


 

2/11-42: Hy vọng sống muôn đời

 

Theo chu kỳ Phụng Vụ, Giáo Hội lập ra tháng các linh hồn với mục đích nhắc nhớ chúng ta một: 2/11-42


Theo chu kỳ Phụng Vụ, Giáo Hội lập ra tháng các linh hồn với mục đích nhắc nhớ chúng ta một nghĩa vụ, là phải cứu các linh hồn còn đang phải thanh luyện nơi ngục hình, đang khát khao mong đợi ngày được giải thoát để về hưởng Chúa trong hạnh phúc vĩnh cửu mà Chúa đã hứa cho những tôi trung con thảo của Chúa; đồng thời, Giáo Hội hướng lòng chúng ta lên tưởng nhớ, khát mong hạnh phúc vĩnh củu đời sau, là cùng đích và cứu cánh của cuộc sống con người.

I. NIỀM TIN VÀO SỰ SỐNG ĐỜI SAU

Người Hy Lạp cũng như người Á Đông chúng ta lại rất coi trọng và tin tưởng rằng, chết chưa phải là hết. Lòng hiếu thảo đối với tổ tiên, ông bà, cha mẹ đã qua đời làm cho họ phải băn khoăn lo lắng không ít.

Các Tín Hữu hồi Giáo Hội sơ khai và nhất à các Tín Hữu của Giáo Đoàn Thessalonica rất xao xuyến, thắc mắc về số phận của thân nhân mình đã qua đời.

Trước tâm thức công cộng đó, xưa cũng như nay, Đông Phương cũng như Tây Phương, Thánh Phaolô đã viết bức thư gởi cho Giáo Đoàn Thessalonica như chúng ta vừa nghe, để giải thích cho họ biết về số phận của những người đã ra đi, mặc khải cho chúng ta một giáo lý vững chắc về cuộc sống đời sau, làm cho chúng ta được phấn khởi với niềm xác tín vào tín điều: "Xác loài người ngày sau sống lại". Giáo lý đó nâng đỡ tinh thần chúng ta trong lúc phải đau buồn vì mất người thân yêu, nó còn bảo đảm cho chúng ta rằng: Người thân yêu của chúng ta đã ra đi và cả chúng ta nữa, sẽ đạt hạnh phúc Chúa hứa ban, qua chính việc Chúa Kitô đã sống lại từ cõi chết, như lời Thánh Phaolô viết: "Đức Kitô đã chết và đã sống lại; thì cũng vậy, những người đã chết trong Đức Kitô, Thiên Chúa sẽ đem họ đến làm một với Người" (I Thess 4:14). Chúng ta cũng cần lưu ý, chỉ những kẻ đã sống và chết cho Chúa Kitô, những kẻ thuộc về Chúa Kitô nhờ ơn thánh thì mới được đem đến làm một với Người và cùng được đồng hưởng hạnh phúc với Chúa. Trái lại, những ai không sống và chết cho Chúa Kitô, không thuộc về Chúa nhờ ơn thánh, thì cũng chẳng được đem đến với Người và được đồng hạnh phúc với Người. 

Cũng một Đức Tin dạy chúng ta rằng: Các người thân yêu của chúng ta đã ra đi, nếu chưa thanh sạch đủ để xứng đáng hưởng Chúa trong hạnh phúc vĩnh cửu, thì phải chịu thanh luyện trong ngục hình bằng nhiều thứ hình khổ giác quan, vì thân xác đã đồng lõa với linh hồn xúc phạm đến Chúa, nhưng nhất là hình khổ khát mong gặp Chúa mà chưa được. Đó là một khổ hình  làm ray rứt tâm can, thiêu đốt trí lòng các linh hồn nơi luyện ngục hơn hết.

Chúng ta có nhiệm vụ cứu vớt các ngài bằng cách dâng lời cầu nguyện, hy sinh, hãm mình, ăn chay, bố thí và dâng Thánh Lễ cầu cho các ngài. Các ngài không còn có thể lập công trạng để cứu mình được, vì đã hết thời lập công; các ngài trông nhờ ở chúng ta, mong đợi nơi những người thân yêu còn đang sống nơi dương thế. Các ngài rất thần thế trước tôn nhan Chúa, được Chúa thương yêu trìu mến, các ngài không thua lòng quảng đại của chúng ta, sẽ cầu bầu cho chúng ta, đền đáp cân xứng cách bội hậu, cho những ơn phúc chúng ta đã làm để cứu giúp các ngài. Nên chúng ta hãy năng tưởng nhớ và cầu nguyện cho các linh hồn luyện tội; ngày mai đây khi chúng ta qua đi, chúng ta cũng sẽ được đền đáp và được các người thân yêu còn lại nơi trần gian nhớ đến và cầu cho chúng ta; trái lại, chúng ta bỏ qua hay quên lãng hoặc không quan tâm gì tới việc cứu giúp các linh hồn trong luyện hình, thì Chúa công bằng vô cùng cũng để người ta quên chúng ta như vậy, hoặc Chúa sẽ lấy công phúc việc lành của người thân yêu cầu cho chúng ta, để ban cho các linh hồn khác xứng đáng lãnh nhận hơn chúng ta.

II. ĐỂ ĐƯỌC VUI SỐNG MUÔN ĐỜI

Khi tưởng nhớ và cầu nguyện cho các linh hồn nơi ngục hình, những người thân yêu của chúng ta đã ra đi, cũng là lúc cần nhắc lại cho chúng ta một chân lý bất di dịch là ai trong chúng ta cũng phải lìa khỏi cõi đời này, để đi sang thế giới bên kia bằng cái chết. Vì chết không phải là hết như những người vô thân chủ trương, nhưng chết đi là tiến tới cõi sống muôn đời.

Không kể những người vô thần, những người không tin tưởng ở cuộc sống vĩnh cửu, họ chỉ bám riết lấy cuộc sống đời này, với mọi mánh lới cho dù là quỉ quyệt giam ngoa, để cố tìm thỏa mãn nơi cuộc sống tam bợ đời này; ngay cả những người mệnh danh là Tín Hửu, là con cái Thiên Chúa, nhiều người cũng sống dường như không tin tưởng gì; sống phản lại với niềm tin, không màng tưởng gì đến đời sau, đến những sự vĩnh cửu và hạnh phúc mai hậu.

Trái lại, các Thánh hằng xác tín và chân nhận giá trị đích thực, những sự thật siêu nhiên vĩnh cửu của đời sống mai hậu và hạnh phúc bất diệt, nên các ngài hằng khát khao tìm kiếm Chúa, tha thiết ước mong gặp được Chúa, để được hưởng kiến Chúa, chiếm hữu được Chúa là chính hạnh phúc chân thật các ngài hằng mơ tưởng ngày đêm, từng phút từng giây, các ngài lấy làm sung sướng được thoát ly khỏi cái xác hay chết và đời tạm gửi này, để có thể chiếm hửu được điều các ngài hằng tin tưởng, vì xác tín rằng: "Chính lúc chết đi là khi vui sống muôn đời".

Đức Tin Công Giáo dạy: Chết chưa phải là hết, nhưng là bước sang một cuộc sống mới, cuộc sống vĩnh cửu và hạnh phúc của con cái Thiên Chúa. Hạnh phúc mà chính Chúa đã hứa ban cho các con cái ngoan thảo trung thành của Người.

Kết Luận

Vậy chúng ta làm thế nào để đạt được hạnh phúc vĩnh cửu, chiếm hửu được Chúa là chính nguồn hạnh phúc chân thật, là cùng đích của chúng ta, như các Thánh và các linh hồn tuyển phúc, những người thân yêu đã ra đi trước chúng ta?

Chúng ta cần phải sống niềm tin, trung thành với niềm tin đến cùng, khát khao mong đợi tìm kiếm Chúa cho tới khi gặp được Người, chiếm hữu được Người như các Thánh và như tổ tiên, ông bà, cha mẹ, những người thân yêu của chúng ta đã ra đi trước chúng ta, khi lià bỏ cõi đời để về với Chúa.


 

2/11-43: TƯỞNG NHỚ NGƯỜI RA ĐI VỀ ĐỜI SAU

 

Gia đình nào cũng có người thân đã ra đi khỏi cuộc sống trần gian. Họ đã ra đi. Nhưng họ vẫn: 2/11-43

Gia đình nào cũng có người thân đã ra
đi khỏi cuộc sống trần gian. Họ đã ra đi. Nhưng họ vẫn còn hiện diện trong tâm tư tưởng nhớ của người còn đang sống.Tâm tình buồn thương nhớ nhung và lòng biết ơn nhau là sợi dây vô hình ràng buộc giữa hai thế giới người còn đang sống trên trần gian và thế giới người đã ra đi về bên kia, lại với nhau.

1. Tâm tình nhớ đến Ông Bà, Cha Mẹ, những người đã sinh thành, nuôi dưỡng giáo dục, lo lắng săn sóc cùng uốn nắn niềm tin và tình yêu chúng ta, là tâm tình lòng hiếu thảo. Các ngài, sau quãng đời trên trần gian, đã đi về thế giới bên kia. Các ngài được chôn cất sâu trong lòng đất mẹ của thiên nhiên hay đã được thiêu đốt ra thành tro bụi.Và giờ đây các ngài chỉ còn sống trong trái tim tình yêu, lòng nhớ nhung của con cái cháu chắt. Con cháu cám ơn ông bà đã để lại thịnh đức lòng thương yêu cho con cháu. Con cháu cám ơn cha mẹ đã trao tặng con tình yêu và dẫn dắt con lớn lên thành người trong đời sống. Ân đức đó hằng ghi khắc theo sát trong tâm hồn đời sống con mãi mãi. Thân xác con, trái tim con là một phần thân xác, trái tim máu mủ đời sống của cha mẹ tạo thành. Nhớ đến các ngài là sống lòng biết ơn, như Thiên Chúa nhắn nhủ: Con phải thảo kính cha mẹ, đấng sinh thành ra con!

2. Vợ chồng sống tâm tình nhớ đến nhau, khi một bên đã sớm ra đi khỏi cuộc sống chung trên trần gian. Họ nhớ đến nhau là muốn sống lại những kỷ niệm tình yêu thương mà họ đã trao tặng nhau. Họ nhớ đến nhau là muốn ôn lại hạnh phúc niềm vui, kết qủa tình yêu giữa họ đã nảy sinh mang đến chung cho đời hai người ngày trước. Và họ cũng không quên những hy sinh, đau khổ cùng những khó khăn lo lắng chờ đợi mà hai người ngày trước đã cùng nhau sống trải qua. Họ nhớ đến nhau là muốn nói lên tâm tình lòng cám ơn nhau. Đời sống của vợ là của chồng và ngược lại đời sống của chồng cũng là của vợ. Sự dấn thân cùng nhau xây dựng chịu đựng và lòng chung thủy với nhau đã liên kết tạo nên đời sống của họ.

3. Cha mẹ nhớ đến con cái đã vội từ gĩa đời sống đang còn trong giai đoạn xuân xanh phát triển, đi về đời sau. Con cái là ân đức phúc lộc hoa qủa Trời cao ban cho tình yêu của cha mẹ. Con cái là tương lai hạnh phúc niềm vui cho gia đình, xã hội và Hội Thánh. Cha mẹ nhớ đến người con đã sớm vội ra đi với tâm tình buồn thương luyến tiếc. Nhưng cũng với tâm tình cảm mến cùng tin tưởng vào ân đức Thiên Chúa: Chúa đã ban cho con cái là hoa trái của tình yêu. Chúng con cám ơn Chúa. Nhưng Chúa lại sớm cất hoa trái đó đi về với Chúa. Chúng con đau buồn. Xin Chúa nâng đỡ an ủi chúng con và đem con chúng con về thiên đàng bên Chúa!

4. Anh chị em nhớ đến nhau, khi có người giữa họ đã ra người thiên cổ. Anh chị em như thể tay chân. Ngày trước lúc còn bé, còn tuổi thanh thiếu niên đã cùng nhau được ông bà, cha mẹ yêu thương chiều chuộng, cùng ăn cùng ngủ, cùng chơi chung vui đùa với nhau, hay cả khi đã trưởng thành họ vẫn thường có dịp đoàn tụ chung quanh cha mẹ... Bỗng dưng một hay hai người anh chị em đã ra đi khỏi cuộc sống chung giữa họ về đời sau. Họ buồn thương nhớ mến nhau. Nước mắt và lời than vãn không làm cho anh hay chị hay em sống trở lại như ngày trước được. Mối dây tình liên đới giữa anh chị em ruột thịt in sâu đậm nơi con người không chỉ lúc còn sống, mà cả khi đã qua đời. Họ nhớ đến nhau là muốn cám ơn nhau. Anh hay chị hay em, dù không còn sống giữa nhau, nhưng vẫn hiện diện trong trái tim của nhau. Đó là đạo đức làm người.

5. Bạn bè ngày trước đã có thời cùng nhau sống trải qua lớn lên chung một nơi ở, cùng sinh hoạt chung trong một hội đoàn, cùng học chung một mái trường, một môn học, sống cùng một lý tưởng con đường sống, làm cùng một nghề nghiệp sở làm, theo đuổi cùng một ý thích, cùng thông cảm hiểu hoàn cảnh của nhau... Tình nghĩa đó tạo nên niềm vui hạnh phúc cho họ và nâng đỡ đời họ rất nhiều. Bây giờ một hay hai người trong họ đã về đời sau, không còn sống trên trần gian nữa! Người còn lại buồn thương nhớ tiếc người bạn cũ. Những kỷ niệm ngày xưa đã cùng chung nhau trải qua, sống trở lại trong tâm hồn, và hun đúc mối dây tình tình bạn thân ái đó. Bạn bè nhớ đến nhau cũng muốn nói lên lời cám ơn những gì ngày xưa bạn mình đã làm cho mình. Và hẹn cùng được gặp lại nhau ở trên khu vườn sáng tạo mới của Thiên Chúa.

6. Rồi trong cuộc đời ai cũng đều đã nhận được sự giúp đỡ từ nhiều người xa hay gần, quen biết cũng như không quen biết. Họ là những ân nhân đời ta. Họ sống lòng quảng đại bác ái tình người. Cuộc đời họ cũng như bao người khác có ngày khởi đầu mở mắt chào đời. Và rồi cũng có ngày cùng tận trở về với Đấng đã sinh thành ra họ. Họ đã trở về nằm sâu dưới lòng đất mẹ. Chúng ta ngậm ngùi nhớ đến họ.Nhớ đến họ là muốn nói lên lời cám ơn phát xuất từ đáy tâm hồn. Thân xác họ tiêu tan dưới lòng đất. Nhưng tình yêu lòng bác ái tình người của họ vẫn hằng in dấu đậm nét nơi tâm hồn người đã được họ ngày xưa giúp đỡ.Trước nấm mồ hay di ảnh người qúa cố, xin thắp lên ngọn nến tình yêu thương. Ngọn nến mà ngày xưa người qúa cố đã lãnh nhận ngày chịu phép rửa tội. Ngọn nến ánh sáng niềm tin được thắp lên từ cây nến Chúa Giêsu phục sinh.Ngọn lửa từ cây nến tình yêu thương của Chúa không thiêu hủy tàn phá. Nhưng chiếu tỏa ánh sáng cho tâm hồn con người trên đường về với Ngài. Như Ngài đã tâm tình: Thầy là ánh sáng trần gian (Ga 8,12).

LM Nguyễn ngọc Long  02.11.2004


 

2/11-44: Cảnh đời này và cảnh đời sau


VietCatholic News (01/11/2004 )

 

Trong Phụng vụ, tháng 11 quen được gọi là tháng cầu cho những người đã qua đời. Khi nghĩ về: 2/11-44


Trong Phụng vụ, tháng 11 quen được gọi là tháng cầu cho những người đã qua đời.

Khi nghĩ về những người đã qua đời, tự nhiên tôi nghĩ tới chính tôi. Tới lúc nào đó, tôi cũng sẽ từ giã đời này, để sang đời sau.

Cảnh đời sau rất khác cảnh đời này. Thiết tưởng chúng ta cần biết sự khác biệt đó. Sự hiểu biết này, tuy vắn gọn, cũng sẽ là chân lý quan trọng. Quan trọng cho những người ta chăm sóc, nhưng nhất là quan trọng cho chính bản thân ta.

Chúng ta hãy tìm hiểu chân lý này trong Phúc Âm. Phúc Âm có nhiều chỗ nhắc tới chân lý này.

Ở đây, tôi chỉ xin đưa ra Phúc Âm thánh Mátthêu và thánh Luca. Trong hai Phúc Âm này, tôi chỉ chọn mấy dụ ngôn, Chúa Giêsu đề cập đến cảnh đời này và cảnh đời sau.

1/ Cảnh đời này không phân biệt rõ cái tốt cái xấu.

a) Dụ ngôn thứ nhất là dụ ngôn về khu đất gieo trồng (x. Mt 13,18-23).

Khu đất này có chỗ cỏ mọc kín,

có chỗ đầy sỏi đá,

có chỗ um tùm gai góc,

có chỗ bằng phẳng, mịn màng.

Người gieo giống gieo vãi hạt giống trên khắp khu đất ấy. Nhưng, khi phát triển, các chỗ khác nhau của khu đất phát triển khác nhau. Không đồng đều. Rất lộn xộn. Cảnh đó không đẹp. Nhưng người chủ đất cứ để vậy. Sau mới tính.

b) Dụ ngôn thứ hai là dụ ngôn ruộng lúa có cỏ lùng (x. Mt 13,24-30).

Chủ nhà gieo toàn lúa tốt trong ruộng. Nhưng ban đêm, kẻ xấu lẻn vào rắc các loại cỏ xấu. Lúa cũng mọc lên. Các loại cỏ xấu cũng mọc lên. Hơn nữa, các loại cỏ này cũng được thừa hưởng phân bón nước non dành cho lúa.

Thế là lúa tốt sống chung với cỏ xấu. Cả hai cùng tươi tốt. Cảnh đó không hay. Nhưng người chủ cứ để vậy. Sau mới tính.

c) Dụ ngôn thứ ba là dụ ngôn chiếc lưới (x. Mt 13,47-50).

Chủ sai người đi chài cá. Chài bằng lưới. Lưới này bắt được nhiều thứ cá. Có cá tốt. Có cá không tốt. Cá tốt sống chung với cá xấu, thậm chí cá tốt cũng sống chung với rắn, ốc, đỉa. Cảnh đó lộn xộn. Nhưng chủ bảo người chài cứ để vậy mà chài. Sau mới tính.

d) Dụ ngôn thứ bốn là dụ ngôn ông phú hộ và người hành khất Ladarô (x. Lc 16,19-31).

Ông phú hộ sống quá sung sướng. Người hành khất sống quá nghèo khổ. Hai người không xa nhau về địa lý, nhưng rất xa nhau về bậc thang xã hội. Có thể nhiều người tưởng ông phú hộ được Chúa thương đặc biệt. Biết đâu chính ông cũng nghĩ thế.

Cảnh phân hoá đó thực ra rất khó coi. Nhưng rồi cũng quen. Chẳng mấy ai đặt vấn đề. Chúa cứ để vậy. Sau mới tính.

Qua 4 dụ ngôn trên đây, chúng ta thấy cảnh đời này là rất đa dạng. Dạng tốt có. Dạng xấu có. Chúng xen lẫn vào nhau. Nhiều khi khó phân biệt. Thậm chí, nhiều cái tốt bị đánh giá là xấu. Và ngược lại.

Nhưng sự xáo trộn sẽ không kéo dài mãi mãi. Đời sau sẽ phân biệt rõ ràng công minh.

2/ Cảnh đời sau sẽ có sự phân biệt rõ ràng công minh.

Trong dụ ngôn khu đất gieo trồng, đời sau Chúa sẽ phân biệt rõ cho mọi người thấy: Chỗ nào là đất tốt, chỗ nào là đất xấu. Chúa còn phân biệt đến từng chi tiết. Có chỗ một hạt sinh thêm được 100, có chỗ một hạt sinh thêm được 60, có chỗ một hạt sinh thêm được 30 (x. Mt 13,23).

Trong dụ ngôn cỏ lùng, đời sau Chúa phân biệt với giọng tuyên án: Cỏ lùng bị gom lại, bó thành bó và đem đốt đi. Còn lúa thì thu lại, đem vào lẫm (x. Mt 13,30).

Trong dụ ngôn chiếc lưới, đời sau Chúa phân biệt rất kỹ: Cá tốt thì giữ lại, cá xấu thì bỏ đi (x. Mt 13,48-50).

Trong dụ ngôn người phú hộ và người hành khất, đời sau Chúa cho thấy một sự phân biệt rất bất ngờ: Người phú hộ phải ném xuống biển lửa. Còn người hành khất lại được hạnh phúc bên các tổ phụ dân Chúa trên cõi trường sinh (x. Lc 16,23).

Một cái nhìn sơ qua về những gì Chúa dạy trong 4 dụ ngôn trên cho tôi thấy:

1. Tôi phải khiêm nhường chấp nhận thực tế của cảnh đời này, mà Chúa muốn để vậy. Cảnh đời này ở trong Giáo Hội ta, trong địa phương ta, trong gia đình ta, trong chính bản thân ta. Thực tế đó luôn pha trộn ánh sáng và bóng tối, cái tốt và cái xấu. Khiêm nhường chấp nhận thực tế đó không có nghĩa là cứ để vậy, tới đâu thì tới, nhưng là luôn kiên trì phấn đấu làm tròn bổn phận Chúa trao giữa những thăng trầm và xáo trộn. Đời này là nơi thử thách, là chiến trường giữa thiện và ác.

2. Tôi nên khiêm nhường đặt niềm tin vào sự phán đoán sau cùng của Chúa về thực tế của cảnh đời hôm nay. Tốt hay xấu thực sự thì chỉ Chúa có quyền phân biệt rõ. Biết đâu có những người, mà thế gian coi thường như người hành khất Ladarô, bà goá nghèo (x. Mc 12,41-44), lại được Chúa khen thưởng, vì họ tốt. Còn người mà thế gian trọng vọng lại có thể bị Chúa loại bỏ, vì họ ham hưởng thụ, thiếu tình liên đới.

3. Tôi phải khiêm nhường biết trước sự phân định của Chúa ở đời sau là dứt khoát. Không có sơ thẩm, phúc thẩm. Không có thay đổi. Vì thế, tôi phải hết sức tỉnh thức và khiêm nhường, sống thực hành Lời Chúa ở đời này. Chứ lúc ra trước toà Chúa, tôi muốn chữa mình, sẽ quá muộn.

4. Tôi phải khiêm nhường biết trước là sự phân định của Chúa ở đời sau sẽ có nhiều bất ngờ. Có người bé nhỏ âm thầm chỉ là chút muối, sẽ được Chúa thưởng, vì góp phần đổi mới lòng người. Có người lớn lao như cây vả um tùm, nhưng sẽ bị loại, vì không sinh trái (x. Mt 21,18-22), hoặc nhận được nhiều nén bạc nhưng không sinh lời (x. Mt 25,14-30).

Xin Chúa nhân lành thương dẫn đưa chúng ta đến những sự thực cứu rỗi, và gắn bó với Đấng Cứu độ.

Đấng Cứu độ là chính Chúa Giêsu. “Người là đường, là sự thực và là sự sống” (Ga 14,6).


ĐGM Gioan Baotixita Bùi Tuần


 

2/11-45: Người chết nối linh thiêng vào


VietCatholic News (03/11/2004 )

 

Ngày cầu cho các tín hữu đã khuất, chợt nhớ khúc hát để đời của ông Trịnh mà nghiệm vòng tử sinh.: 2/11-45


Ngày cầu cho các tín hữu đã khuất, chợt nhớ khúc hát để đời của ông Trịnh mà nghiệm vòng tử sinh. Linh hồn và nhân sinh cứ mãi là nỗi lo chẳng cùng của người sống đã đành lại còn nhiễu sự dùng dằng cho kẻ chết mới lo. Cứ ngẫm Tin Mừng Luca (16: 19- 31) để xem cảnh đôi bề trái khoáy của giàu nghèo sinh tử.

Dụ ngôn về một ông giàu có chẳng thiếu sự gì khi một lão nghèo khó nằm ngay thềm nhà ngó mãi cũng chẳng có để ăn. Người giàu trong nhà thiếu nhậy cảm chẳng màng đến kẻ nghèo ngoài sân đang bất lực bị lũ chó lăm le liếm láp. Đoán chừng đôi đàng chỉ cách biệt vừa tầm mắt nhìn mà sao trái khoáy tách bạch trắng đen dị biệt đến vô chừng lẫn trên cõi sống đến tận kiếp lâm chung. Cuộc sống vốn thảm thương cho kẻ nghèo lại càng thảm hại cho người giàu.

Ở chốn lâm chung, lão nghèo khó bỗng lột xác oai phong đường bệ trong lòng tổ phụ Áp-ra-ham còn ông giàu có lại bị thảm hại nóng bỏng đoạ đày. Đành đoạn lắm, ông nhà giàu phải ngước mắt trông lên đẫm lệ van nài để thân sinh quyến thuộc còn trên thế trần được gặp chứng nhân từ cõi chết cảnh báo răn đe mà tránh nẻo gian tà cho ngày sau kịp thoát trầm luân khổ ải khắc khoải tội đày. Tổ phụ bảo: Ngôn Sứ mà họ còn chẳng chịu nghe, thì người chết có sống lại, họ cũng chẳng chịu tin.

Thế đó, lẽ sống và sự chết nối vòng như quá khứ và hiện tại, lầm lỗi và tội đày, nguyên nhân và hệ quả. Thế nhưng, với một lòng mến sắt son và niềm tin vững vàng vào Thiên Chúa từ nhân thì vòng nối sống- chết không phải là vòng quanh luẩn quẩn đi mãi chẳng thoát lần mãi chẳng ra mà được vòng gai thập giá của Đấng Cứu Độ ban phát hy vọng. Hy vọng đó cho ta sống hôm nay trong tâm cảm tri ân những đoạn đời xa khuất của tổ tiên quyến thuộc thân bằng bạn hưũ đã kết thúc đoạn đường gian trần trong bền vững đức tin trung kiên đức cậy thành tín đức mến không ngừng cầu thay nguyện giúp cho ta sống cuộc đời thành tín trên nẻo đường lữ thứ.

Tưởng nhớ đến tín hữu đã khuất trong câu nguyện kinh cầu bằng cảm mến tri ân cũng là dịp cho tín hữu đang sống ngẫm lại đường đời mà gượng dậy gắng lên cố hoàn thiện cuộc sống hôm nay cho ngày sau đắm mình trong thiện hảo của Đấng Hằng Sống. Mỗi bước hoàn thiện trong từng ngày sống như thế phải chăng cũng sẽ là gạch nối hiệp thông giữa hai bờ sự sống của hôm nay và mai này để khi sống cũng yên vui mà lúc chết cũng an bình. Gạch nối hiệp thông đó sẽ xóa tan những lão nghèo nhọc thân lam lũ lê lết như La-da-rô trong dụ ngôn và tẩy sạch những thảm hại nóng bỏng đoạ đày trong ẩn dụ của Tin Mừng Luca.

Đêm kiểm phiếu sôi động chọn tân Tổng thống trên đất Mỹ vẫn sâu lắng khúc hát đang sống của một danh nhân nước Việt đã khuất: người chết nối linh thiêng vào đời và nụ cười nối trên môi.


Vũ, SJ


 

2/11-46: NIỀM TIN VÀO SỰ SỐNG LẠI CỦA NGƯỜI KITÔ HỮU


- Giao Duyên

1.      Mọi Kitô hữu đều tin vào sự sống lại

 

Nói chung, hầu hết các tôn giáo trên thế giới đều tin rằng con người còn có một đời sống khác ngoài: 2/11-46


Nói chung, hầu hết các tôn giáo trên thế giới đều tin rằng con người còn có một đời sống khác ngoài cuộc sống ở đời này. Nói cách khác, sự hiện hữu của mỗi con người thì rất lâu dài, còn đời sống tại thế này chỉ là một giai đoạn hết sức ngắn ngủi của sự hiện hữu ấy. Và cách thức con người sống trong đời sống tại thế này là một yếu tố quan trọng quyết định tình trạng của đời sống hậu thế.

Kitô giáo cũng chủ trương như thế. Nhưng niềm tin vào cuộc sống mai hậu của Kitô hữu còn có những nét đặc thù riêng. Người Kitô hữu tin rằng không chỉ có linh hồn tham dự vào cuộc sống mai hậu, mà cả thân xác cũng sẽ sống lại sau khi hư nát một thời gian, để tham dự vào sự sống thần linh và vĩnh cửu đời sau. Thân xác ấy sẽ được biến đổi để phù hợp  với cách hiện hữu mới ấy. Niềm tin vào sự sống lại được xây dựng trên nền tảng sự sống lại của Đức Giêsu, mà các tông đồ là những người đã thấy tận mắt, đã sẵn sàng chịu đau khổ và chết để làm chứng. «Chính Đức Giêsu đó, Thiên Chúa đã làm cho sống lại; về điều này, tất cả chúng tôi xin làm chứng» (Cv 2,32; x. Cv 10,41). Đây là một trong những niềm tin căn bản nhất của người Kitô hữu, đến nỗi có thể nói ai không tin vào sự sống lại thì không phải là người Kitô hữu.

2.      Đời sống mai hậu là một thực tại siêu nghiệm

Trong bài Tin Mừng Đức Giêsu nói về sự sống lại (x. Lc 20,27-38), nhóm Xađốc đã đưa ra một vấn nạn về cuộc sống mai hậu dựa trên ý nghĩ cho rằng cuộc sống ấy cũng có vợ có chồng, và vợ chồng cũng sống chung với nhau như ở trần gian. Mà theo quan niệm đầy tính gia trưởng của người Do Thái, thì không thể chấp nhận được chuyện một bà cùng lúc sống với bảy người chồng. Nếu như thế thì vấn nạn họ đặt ra thật khó giải quyết: «trong ngày sống lại, người đàn bà ấy sẽ là vợ ai, vì cả bảy đều đã lấy nàng làm vợ?» Nhưng câu trả lời của Đức Giêsu cho ta biết trật tự, cách tổ chức, sinh hoạt, cách thế hiện hữu trong cuộc sống mai hậu không giống như cuộc sống đời này. Không thể lấy kinh nghiệm hiện hữu của cuộc sống này để áp dụng vào việc suy đoán cách hiện hữu của cuộc sống mai hậu. Đối với cuộc sống mai hậu, con người không hề có một kinh nghiệm nào và cũng không có một từ ngữ nào tương xứng để diễn tả. Thánh Phaolô có nói về sự siêu nghiệm ấy như sau: «Điều mà Thiên Chúa đã dọn sẵn cho những ai mến yêu Người là điều mà mắt chẳng hề thấy, tai chẳng hề nghe, lòng người không hề nghĩ được» (1 Cr 2, 9)

Tương tự như một anh chàng bị mù từ bẩm sinh, chưa hề có một kinh nghiệm gì về màu sắc. Đối với anh, không thể có cách giải thích nào giúp anh hiểu được màu sắc như người sáng mắt cả. Nếu anh hỏi màu sắc có phải tương tự như một cái gì đấy mà anh đã từng kinh nghiệm không, thì ta phải trả lời rằng không. Vì kinh nghiệm về màu sắc là một kinh nghiệm độc đáo của thị giác, mà những giác quan khác dù có tinh nhuệ đến đâu cũng không thể nào có được. Dùng những kinh nghiệm của các giác quan khác để diễn tả về màu sắc thì cũng giống như việc lấy giấy để làm nhà, hay lấy thước bằng gỗ để đo độ lớn sự khôn ngoan của một người vậy.

3.      Những gì xảy ra trong cuộc đời này có thể có liên hệ và ảnh hưởng đến đời sống mai hậu

Cuộc đời này tuy ngắn ngủi, nhưng lại rất quan trọng: nó ảnh hưởng một cách quyết định đến cách thế hiện hữu của ta trong cuộc sống mai hậu. Một người sống đầy tình người, đầy yêu thương ở đời này chắc chắn tình trạng đời sau sẽ khác hẳn với người đời này sống ích kỷ, chỉ biết nghĩ đến mình. Đời này là nhân, đời sau là quả: nhân nào sinh quả nấy, cây nào sinh trái nấy, «cây tốt thì sinh quả tốt, cây xấu thì sinh quả xấu. Cây tốt không thể sinh quả xấu, cũng như cây xấu không thể sinh quả tốt» (Mt 7,1718). Người làm tốt sẽ được thưởng, người làm điều xấu sẽ bị phạt như thư Rôma và sách Khải huyền viết: «Thiên Chúa sẽ thưởng phạt mỗi người tùy theo việc họ làm» (Rm 2,6; Kh 2,23).

Cuộc sống ở đời này có nhiều điều xảy đến hết sức phi lý đến nỗi không thể hiểu hay cắt nghĩa được. Nhưng nếu có đời sống mai hậu, thì ta có thể an tâm chấp nhận sự «không thể hiểu hay cắt nghĩa được» ấy. Cuộc sống này so với cuộc sống mai hậu cũng phần nào tương tự như cuộc sống của ta trong bụng mẹ so với cuộc sống của ta ở ngoài đời. Khi ở trong bụng mẹ, nếu ta biết suy nghĩ và lý sự như hiện nay, chắc chắn ta sẽ nhận ra nhiều điều thật phi lý hoặc không thể cắt nghĩa được. Lúc đó ta sẽ không thể nào hiểu được Trời sinh ra đôi tai, cặp mắt, đôi tay, đôi chân là để làm gì, vì chúng hoàn toàn vô dụng trong cuộc sống bào thai. Chỉ khi ra khỏi bào thai, sống cuộc đời trần thế, ta mới thấy được sự hết sức hợp lý và dễ hiểu của những điều ta cho là hết sức phi lý kia. Cũng vậy, nhiều điều mà ta không thể hiểu nổi hiện nay – những đau khổ, những bất công, những phi lý trong cuộc đời hiện tại – sẽ trở thành hết sức hợp lý và dễ hiểu khi chúng ta bước vào đời sống mai hậu.

4.      Đời sống mai hậu sẽ ra sao?

Đời sống mai hậu hoàn toàn vượt khỏi khả năng tưởng tượng và suy đoán của con người. Dù biết như thế, nhưng vì Thiên Chúa ban cho con người khả năng tưởng tượng và suy đoán, nên tôi vẫn thử sử dụng khả năng ấy một chút để mình có một hướng suy nghĩ hay hành động cho mình trong cuộc đời này. Những suy nghĩ sau đây là của riêng tôi, hoàn toàn mang tính cá nhân, nhưng tôi cảm thấy nó có ích ít là cho riêng tôi.

Tôi tưởng tượng rằng sau khi chết, con người sẽ có một đời sống vĩnh cửu khác hẳn với đời sống hiện tại. Con người sẽ làm gì trong cái vĩnh cửu ấy? Chắc hẳn con người sẽ không ngồi một chỗ để nhìn ngắm Thiên Chúa, để ca tụng ngợi khen Ngài mãi mãi. Thiên Chúa của chúng ta là một Thiên Chúa luôn luôn làm việc: «Cho đến nay, Cha tôi vẫn luôn luôn làm việc, thì tôi cũng làm việc» (Ga 5,17), nên chắc chắn là dù có ở thiên đàng thì ta cũng vẫn làm việc. Thiên Chúa sẽ mời gọi chúng ta tiếp tục cộng tác vào công việc sáng tạo mới của Ngài, với những công trình hoàn toàn mới. Từ xưa đến nay, Ngài vẫn luôn luôn mời gọi mọi người cộng tác vào công việc của Ngài. Có điều khác là sự làm việc ở trên thiên đàng không phát sinh mệt nhọc và đau khổ như ở dưới thế, mà là nguồn phát sinh cảm hứng và hạnh phúc. Và chắc chắn không phải mọi người đều cùng làm một việc như nhau, nếu thế thì thiên đàng chán ngắt, mà trái lại công việc sẽ rất đa dạng.

Nhưng làm sao ta có thể làm được những công việc ấy nếu chúng ta không được huấn luyện trước hay không có một kinh nghiệm gì? Tôi có cảm tưởng rằng cuộc đời này chính là một trường đào tạo «tay nghề» cho những công việc của đời sống mai hậu. Chính vì thế, ở đời này, Thiên Chúa đã để cho biết bao việc xảy đến để chúng ta tập đối phó, để luyện những đức tính cần thiết, để rút kinh nghiệm, để rèn đúc sự khôn ngoan, v.v…

Rất có thể Thiên Chúa sẽ tạo lập những thế giới mới và cho chúng ta cai quản, như Đức Giêsu đã từng hé mở điều ấy qua dụ ngôn mười nén bạc (Lc 19,11-27). Nhà vua nói với người nhận một nén và đã làm lợi thành mười nén: «Khá lắm, hỡi đầy tớ tài giỏi ! Vì anh đã trung thành trong việc rất nhỏ, thì hãy cầm quyền cai trị mười thành». Ngài nói với người làm lợi được năm nén: «Anh cũng vậy, anh hãy cai trị năm thành». Còn với kẻ chôn cất nén bạc và không làm lợi gì, nhà vua nói: «Hãy lấy lại nén bạc nó giữ mà đưa cho người đã có mười nén». So với người được cai trị năm thành, chắc chắn người được cai trị mười thành trước đó phải chịu khó nhọc vất vả hơn, nhờ đó học hỏi được nhiều kinh nghiệm hơn, và vì thế xứng đáng cai trị nhiều thành hơn.

Vì tưởng tượng và suy nghĩ như thế, nên tôi tin rằng tất cả mọi phi lý bất công xảy đến cho tôi trong cuộc đời này đều có ý nghĩa của nó. Tất cả đều do Thiên Chúa đầy khôn ngoan gửi đến cho tôi để tôi tập luyện bản lĩnh của mình, hầu trở nên một người cộng tác đắc lực với Ngài trong công trình sáng tạo mới của Ngài mai sau. Viễn cảnh tưởng tượng ấy cho dẫu không đúng, thì nó cũng giúp tôi rất nhiều trong việc làm cho cuộc đời tôi có ý nghĩa và có đích hướng tới, đồng thời giúp tôi có hướng giải thích nhiều chuyện xảy ra trong cuộc đời mà trí khôn bình thường cho là phi lý và không thể chấp nhận được.


 

2/11-47: SỰ THANH LUYỆN CẦN THIẾT


VietCatholic News (29/10/2004 )

LỄ NGÀY 2.11


 

Hôm qua ngày lễ Các Thánh, Giáo hội vui mừng với những con cái của mình đã được hưởng vinh quang thiên quốc: 2/11-47


Hôm qua ngày lễ Các Thánh, Giáo hội vui mừng với những con cái của mình đã được hưởng vinh quang thiên quốc. Hôm nay trong tinh thần hiệp thông, Giáo hội tưởng niệm và cầu nguyện cho mọi tín hữu đã qua đời hiện đang còn thanh luyện trước khi hưởng hạnh phúc vĩnh cửu. Các linh hồn cần được thanh luyện.

Những tín hữu đã chết trong ơn nghĩa Chúa nhưng chưa sạch hết mọi tội và chưa đền tội bằng những hình phạt tạm thời này thì không thể vào thẳng thiên đàng được, chưa xứng đáng hưởng nhan thánh Chúa nên họ phải chờ đợi thanh luyện xong mới vào thiên đàng. Thời gian đó là thời gian xa cách Chúa. Công đồng Floren đã định tín : có luyện ngục để thanh luyện các linh hồn. Các linh hồn ra khỏi trần gian không còn có thể làm được việc gì lành để cứu mình nên chỉ trông cậy vào những người còn sống lập công cầu nguyện cho mình để rút ngắn thời gian thanh luyện. Vì thế mà Giáo hội kêu gọi tín hữu cầu nguyện cho các linh hồn nơi luyện tội. Đặc biệt là việc dâng thánh lễ, dành tháng 11 cầu nguyện cho họ. Giáo hội còn mở kho tàng ân xá là công nghiệp của các Thánh để nhường cho các linh hồn nơi luyện tội. Giáo hội khuyến khích việc đi viếng các nghĩa địa, sửa sang mồ mả và cầu nguyện cho các linh hồn theo câu tục ngữ : mồ thật chôn các người chết là trái tim người sống.

Công đồng Vatican II đã xác tín lại tín điều Giáo hội cùng thông công giữa ba thành phần : lữ hành, thanh luyện và vinh thắng. Cả ba thành phần đều hiệp thông với nhau trong đức mến và truyền thông cho nhau những của cải thiêng liêng :Trong số những môn đệ của Chúa, có những kẻ tiếp tục cuộc hành trình nơi dương thế, có những kẻ hoàn tất cuộc sống này nhưng đang được thanh luyện, và có những người đang được chiêm ngưỡng “rõ ràng Thiên Chúa duy nhất trong Ba Ngôi như Ngài hằng có”…Sự hiệp nhất giữa những người còn sống trên dương thế với các anh em đã yên nghĩ trong bình an Chúa Kitô không hề bị gián đoạn. Nhưng trái lại, Giáo hội xưa nay luôn tin rằng sự hiệp nhất đó còn được vững mạnh hơn nhờ việc truyền thông cho nhau những của cải thiêng liêng. Quả thực, nhờ kết hiệp mật với Chúa Kitô hơn, các người ở trên trời cũng cố toàn thể Giáo hội vững bền hơn trong sự thánh thiện, làm cho việc thờ phượng mà hiện nay Giáo hội tại thế dâng lên Thiên Chúa được cao cả hơn, và họ góp phần phát triển Giáo hội rộng rãi hơn bằng nhiều cách (Lumen Gentium, chương 7, số 49).

Trong số 50, Hiến Chế Lumen Gentium viết : nhận biết sự đúng đắn sự hiệp thông này trong toàn Nhiệm Thể Chúa Giêsu Kitô, ngay từ buổi đầu của Kitô giáo, Giáo hội lữ hành hết lòng kính nhớ, dâng lời cầu nguyện cho những người đã chết vì “cầu nguyện cho những người đã chết để họ được giải thoát khỏi tội lỗi là một việc lành thánh tốt đẹp” ( 2 Mac 12,46).

Việc lành thánh tốt đẹp ấy được nói đến trong Thánh kinh và giáo huấn của Giáo hội.

A. Thánh kinh : Hai đoạn văn thường được nhắc đến là 2Macabê12,39-46 và 1Côrintô 3,10-15. Một bản văn thuộc Cựu ước và một thuộc Tân ước.

Sách Macabê II : sách được viết vào khoảng năm 124 trước công nguyên, đánh dấu nhiều bước tiến trong mạc khải cánh chung. Ở chuơng 7, chúng ta gặp thấy chứng tích về niềm tin vào sự sống lại dành cho các vị tử đạo. Chương 11, chúng ta lại thấy chứng tích về việc cầu nguyện cho người đã qua đời được thúc đẩy bởi niềm tin vào sự phục sinh.

Thư thứ nhất Côrintô : bản văn nói đến sự thanh luyện. Đoạn văn đã được sử dụng để nói tới sự phân biệt ba hạng ngưởi sau khi chết : những người lành được lên thiên đàng, những người xấu phải xuống hoả ngục, hạng người thứ ba được cứu rỗi nhưng cũng cần được thanh luyện bằng lửa, tức là lửa thanh luyện.Trong bối cảnh tổng quát của mạc khải, có thể biện minh sự hiện hữu của việc thanh luyện tội lỗi sau khi chết với ba lý chứng sau đây : sự thanh sạch cần thiết để được đến gần Chúa ( x.Xh 29,4; Lêvi 11; Tv 24,3-4; Is 35,8.52,1; Mt 5,8.48; Kh 21,27); trách nhiệm cá nhân trong việc đền tội (x. 2Sm 12,13-15); và giá trị của sự cầu nguyện cho người qua đời (x. 2Macabê 12,40; 1Cor 15,29; 2 Tim 1,16-18).

B. Giáo huấn giáo hội :

Công đồng Vatican II bàn đến tình trạng thanh luyện sau khi chết ở chương VII của hiên chế Lumen Gentium. Số 49, Công đồng nhìn nhận rằng “có những tín hữu đã qua đời và đang được thanh luyện”. Số 50, đạo lý về sự thông hiệp giữa hết mọi phần tử Giáo hội được dựa trên thói tục bắt nguồn từ thưở ban đầu Kitô giáo về sự tưởng niệm người chết và cầu nguyện cho họ. Phần kết chương VII trình bày về đường hướng mục vụ, Công đồng tái khẳng định đạo lý cổ truyền của Giáo hội : “ Thánh Công Đồng kính cẩn đón nhận niềm tin cao trọng của tiền nhân chúng ta trong việc hiệp thông sống động với các anh em được vinh hiển trên trời hay còn phải thanh luyện sau khi chết, và lấy lại các sắc lệnh của thánh Công đồng Nicêa II, Firence, Trento ( số 51 a)”

C. Sách giáo lý Giáo hội Công giáo

Các số 1030 -1032 bàn đến sự thanh luyện. Có thể tóm lại trong các điểm sau :Các linh hồn cần được thanh luyện để hoàn tất sự thánh thiện cần thiết để được vào thiên đàng (sô1030). Lưu ý là sự thanh luyện được hiểu về trạng thái hơn là một ‘nơi chốn’, lại càng không thể nói “thời gian” bao lâu.Các linh hồn có thể được chúng ta giúp đỡ bằng lời càu nguyện (số 1032)

Luyện ngục không phải là một hoả ngục ngắn hạn (số 1031), luyện ngục hoàn toàn khác xa hoả ngục.Sách giáo lý có trích dẫn cụm từ ‘lửa thanh luyện” (x. 1Cor 3,15; 1Pr 1,7) nhưng không nói là phải hiểu theo nghĩa đen hay nghĩa bóng ( số 1032)

Các linh hồn được thanh luyện bằng cách nào ?

Truyền thống Giáo hội nói rằng: các linh hồn được thanh tẩy bằng lửa, lửa tình yêu (x. Dc 8,7), lòng khát khao thấy Thiên Chúa. Sự đau khổ trong day dứt hối hận tột độ. Các linh hồn mong hưởng nhan thánh Chúa nhưng lại chưa được vì mình chưa trong sạch xứng đáng nên phải thanh luyện bằng sự hối hận đầy lòng mến. Thánh Tôma cho rằng nguyên sự nôn nao muốn về thiên đàng cũng đã đủ tạo nên cực hình rồi (x. IV Sent, d.21, q.1 de Purgatorio,a.3). Thực vậy, nếu các tội nhân hoả ngục đau đớn vì mãi mãi lìa xa Chúa, thì các linh hồn đang thanh luyện phải trải qua một thứ cực hình khác : họ mong mỏi mau đựoc về với Chúa. Sự náo nức vì chờ đợi kẻ thân yêu cũng đã đủ “thiêu đốt tâm can” rồi ! Dù sao, một khi họ biết được lý do vì sao họ chưa được vào thiên đàng, họ sẽ đau buồn vì trước kia họ chưa mến Chúa cho đủ, họ đã coi nhẹ việc thống hối đền tội.

Do đó có thể hiểu rằng nổi thống khổ của các linh hồn thanh luyện tuy cực độ nhưng đượm màu hân hoan và tràn trể hy vọng. Đức Cha Tihaner quan niệm rằng :luyện ngục là một hoả ngục đầy hân hoan, là một thiên đàng đầy đau khổ. Chính linh hồn ý thức tình trạng bất xứng của mình trước sự thánh thiện của Thiên Chúa, vì thế tự nguyện được thanh tẩy. Giống như khi ta vào nhà nào lát gạch men bóng loáng, thì tự nhiên để dép ở ngoài. Nếu chân ta dính nhiều bùn đất mà muốn vào phải rửa chân cho sạch. Chính linh hồn muốn trở nên thanh khiết hơn, trưởng thành hơn, trong sáng hơn để được hiệp nhất với Thiên Chúa nên đón nhận những đau khổ do việc thanh luyện như là một phương thế cần thiết. Bởi đó trong luyện ngục hạnh phúc đã bắt đầu chớm nở. Đây là một thứ đau đớn làm sung sướng hay một thứ hạnh phùc pha lẫn đau khổ. Nhìn dưới lăng kính tình yêu, các linh hồn đau đớn do hình phạt đền tội, do sự khắc khoải vì chưa được lên thiên đàng. Nhưng họ vui sướng bởi vì chính tình yêu Chúa đang thanh luyện họ, họ đang tập “yêu mến” cách trọn hảo hơn, cắt đứt những ràng buộc với thọ tạo. Họ cũng vui sướng vì họ đã được đảm bảo về phần rỗi, bởi vì họ chắc chắn rằng mình sống trong ân sủng và đức ái.Sự thanh luyện nói lên lòng lân tuất của Thiên Chúa : Ngài muốn chúng ta nên hoàn thiện, thanh sạch ngõ hầu xứng đáng chiêm ngắm nhan Ngài. Sự thanh luyện cũng nói lên tình yêu của Thiên Chúa : Ngài muốn cho chúng ta dành trọn cả mối tình cho Ngài chứ không quyến luyến với thọ tạo nào.

Cần phải cầu nguyện cho các linh hồn

Sự thanh luyện thuộc về “cánh chung trung thời” bởi vì nó sẽ không tồn tại sau ngày tận thệ thế nữa. Luyện ngục chỉ là thời gian tạm trú. Không ai có hộ khẩu thường trú ở đó cả. Luyện ngục chỉ là một chuyến đò ngang. Thiên Chúa mới là bến bờ. Đời sống vĩnh cửu mới là cùng đích, là phần thưởng Thiên Chúa hứa ban.

Đạo lý về sự thanh luyện thúc giục chúng ta cầu nguyện cho các linh hồn đã qua đời. Tập tục này đã có từ cuối thời Cựu ước và trong suốt lịch sử Giáo hội (x. GLCG số 1032; 958; 1371; 1689). Ngoài những hình thức cầu nguyện riêng tư, phụng vụ Giáo hội khuyến khích tục lệ này. Khởi đầu từ Thánh lễ, nơi đó Giáo hội hiệp thông với Các Thánh trên trời cũng như với các linh hồn còn đang chịu thanh luyện. Hằng năm, ngày 2 tháng 11 được dành để cầu nguyện cho tất cả các linh hồn đã qua đời tiếp sau lễ kính Các Thánh. Giáo hội còn dành cả tháng 11 nhớ đến các linh hồn và mời gọi con cái mình cầu nguyện, hy sinh hãm mình, làm việc bác ái như là nghĩa cử biểu lộ lòng yêu thương đối với họ cũng như tình hiệp thông trong nhiệm thể Chúa Kitô.

Lm Giuse Nguyễn Hữu An



 

2/11-48: NẾU NGÀY MAI KHÔNG BAO GIỜ ĐẾN...


 - Maranatha dịch

 

Nếu tôi biết hôm nay là lần cuối Tôi được nhìn anh ra khỏi nhà mình Tôi sẽ đến hôn anh ma: 2/11-48


Nếu tôi biết hôm nay là lần cuối
Tôi được nhìn anh ra khỏi nhà mình
Tôi sẽ đến hôn anh mà tiếc nuối
Và bồi hồi, tôi lại gọi tên anh...

Nếu tôi biết hôm nay là lần cuối
Tôi nghe anh lên tiếng tặng khen tôi
Tôi sẽ thu mỗi hình ảnh, mỗi lời
Để nghe lại, nghe hoài và nghe mãi...

Nếu tôi biết hôm nay là lần cuối
Mà tôi còn vài phút được thảnh thơi
Tôi sẽ nói: tôi thương anh hết sức
Thay vì im, để anh tự hiểu thôi.

Nếu tôi biết hôm nay là ngày cuối
Mà ta còn cùng chia sẻ bên nhau...
Nhưng tôi biết anh còn nhiều ngày nữa
Nên thì giờ lãng phí đã qua mau.

Vì thế nào cũng còn có ngày mai
Để quyết định cho một lần gặp gỡ.
Và cũng còn một vận hội thứ hai
Để hoàn tất những gì đang bỏ dở.

Vì thế nào cũng còn một ngày khác
Để nói rằng: tôi hết sức yêu anh
Và chắc chắn cũng còn cơ hội khác
Để bảo rằng: tôi giúp được gì chăng?

Nhưng nếu lỡ chẳng may không phải thế
Thì dù sao tôi vẫn có hôm nay.
Tôi muốn nói: “Tôi yêu anh lắm nhé!
Anh đừng quên điều đó”. Nếu chẳng may...

Không phải ai cũng có được ngày mai
Dù người ấy già nua hay son trẻ.
Và biết đâu còn chỉ có hôm nay
Để bạn siết vào lòng người bạn quý?

Hiểu như thế, thì chờ chi, hỡi bạn?
Và vì sao lại không phải hôm nay?
Nếu ngày mai không bao giờ ló dạng,
Thì bạn không ân hận lỡ một ngày...

Mà mình không dành thì giờ rỗi rảnh
Để mỉm cười âu yếm với người thân
Mình quá bận nên không buồn trao tặng
Điều cuối cùng người ấy vẫn cầu mong...

Bởi vì thế, ngay hôm nay, bạn hãy
Ôm người thân và thủ thỉ bên tai
Nói với họ bạn yêu thương biết mấy
Và yêu thương mãi mãi, mến thương hoài.


Bạn nói đi, hãy nói: “Mình ân hận,
“Mình cám ơn”, “Sáng kiến đó thật hay!”
Và ngày mai, nếu không bao giờ đến
Bạn không hề nuối tiếc sống hôm nay...



 

2/11-49: NHỮNG LỜI YÊU THƯƠNG CUỐI CÙNG

 

M.Rivas, 29 tuổi, một đầu bếp tại “Cửa sổ ra thế giới”, một nhà hàng tiếng tăm trên đỉnh tòa tháp: 2/11-49


M.Rivas, 29 tuổi, một đầu bếp tại “Cửa sổ ra thế giới”, một nhà hàng tiếng tăm trên đỉnh tòa tháp Bắc, đã lập tức gọi điện ra ngoài ngay sau khi máy bay đâm vào. Con gái của Rivas bắt máy và anh nói rằng đừng lo lắng, anh vẫn không sao, đồng thời nhắn con gái nói với mẹ rằng : “Bố yêu mẹ cho dù có xảy ra bất cứ chuyện gì”. Sau đó, Rivas không bao giờ gọi nữa…

M.Hughes, một nhân viên tư vấn thương mại quốc tế 31 tuổi cũng bị kẹt trong tòa tháp Bắc, đã gọi điện cho cha mình 9 phút sau khi chiếc máy bay đầu tiên đâm vào. Theo lời người cha thì Hughes có phần hơi hoảng loạn và ông đã cố trấn an con gái để cô tìm lối thoát ra. Tuy hoảng sợ, nhưng Hughes không quên nói lời thương cha và nhờ ông báo cho chồng cô biết cô đang ở đâu và rằng cô yêu anh ấy. 12 phút sau, Hughes gọi cú điện thoại thứ hai cho Sean, chồng mới cưới của mình, vẫn còn đang ngủ tại San Francisco và để lại một tin nhắn : “Sean, em đây. Em chỉ muốn cho anh biết rằng : em yêu anh và em đang bị kẹt trong tòa nhà này ở New York. Ở đây có rất nhiều khói và em chỉ muốn nói với anh rằng : em mãi yêu anh”.

B.Olson, 45 tuổi, một hành khách trên chuyến bay American Airlines 77 đâm xuống Lầu Năm Góc đã dùng điện thoại cầm tay gọi cho chồng. Hai vợ chồng an ủi nhau và lời cuối cùng, Olson nói với chồng cũng là : “Em yêu anh”.

Trên chuyến bay 93 của United Airlines, M.Bingham, 31 tuổi, một trong số những hành khách cố khống chế bọn không tặc đã gọi điện cho mẹ nói lời tạm biệt : “Con muốn mẹ biết rằng con yêu mẹ nhiều lắm, và con đang gọi mẹ từ máy bay. Máy bay đã bị cướp. Có 3 người đàn ông nói rằng chúng có một quả bom”. 15 phút sau, máy bay đâm xuống một cánh đồng ở Pennsylvania…

Bạn sẽ làm gì khi chỉ có một cơ hội nói lời tạm biệt lập tức với một người thân trước khi bạn chết ? Bạn sẽ biết nói cái gì không ? Bạn có đủ can đảm để nói những lời cuối cùng ấy không ? Vào ngày 11.9.2001, nhiều người trong số hơn 2.800 người thiệt mạng trong vụ tấn công vào tòa tháp đôi ở new York đã đối mặt với những câu hỏi như vậy. Vụ tấn công xảy ra khi hàng ngàn người chỉ đang mới bắt đầu một ngày làm việc.

Xuân Anh

=========
Trong thực tế cuộc sống có những ngừơi chết không kịp ngáp thì hỏi có nói gì được lời cuối đâu. Còn những người chết vì bệnh tật thì thân xác hao mòn dần rồi đi vào cái chết chẳng có gì để nói. Có người chết đang lúc đau đớn khổ sở rên la thét gào ầm ĩ… tắt thở. Có ít người nằm trên giường chờ chết nhưng rất bình tĩnh vui vẻ gặp gỡ con cái cháu chắt và có những lời động viên khuyên nhủ….


Có người nói rằng sinh ra không được chọn (không có ý kiến), chết không được chọn, chỉ có lấy vợ là được chọn nên chọn cho thật kỹ… cho đến chết mà !
Đức Giêsu biết trước cái chết và từ từ bước đến cái chết. Ba lần Ngài tiên báo. Lần thứ nhất Mt 16,21 ; Lần thứ hai Mt 17,22 và lần thứ ba Mt 20,17 nên đã có nhiều lời cuối dành cho những người chung quanh liên đới với Ngài.

Lời cuối với các môn đệ : “anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 13,34)

Lời cuối với Mẹ của Ngài : “Khi thấy thân mẫu và môn đệ mình thương mến đứng bên cạnh, Đức Giêsu nói với thân mẫu rằng : “Thưa Bà, đây là con của Bà” (Ga 19,26)

Lời cuối với chú gian phi : “Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng” (Lc 23,43)

Lời cuối cho cả nhân loại : “Tôi khát !” (Ga 19,28)

A/ Đức Giêsu tình nguyện bước vào cái chết để thực thi Thánh Ý Cha, chương trình cứu độ nhân loại, Thiên Chúa tỏ bày lòng yêu thương con người “không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình” (Ga 15,13). Ngài hoàn toàn tự do thanh thản, đôi lần cũng xao xuyến bởi Ngài sống trọn vẹn thân phận con người, nhưng tình yêu thương của Cha đã giúp Ngài vượt qua tất cả. Thiên Chúa là Tình Yêu nên Người luôn khát khao tình yêu con người. Con người nhận biết tình yêu của Người và con người chan hòa tình yêu cho nhau. Còn những lời cuối của ngày 11-9 để bước vào cõi chết là những cái chết chẳng đặng đừng, cái chết chẳng ai muốn bởi những chú khủng bố, những anh không tặc đưa đến cái chết kinh hoàng làm chấn động thế giới loài người. Sự thù oán, sự chà đạp, sự giết hại khủng bố làm suy sụp tinh thần và tan nát mạng sống con người chứ chả có thứ tình yêu nào như vậy. Những “ông to đùng” xử bất công với những “chú nhóc con” nên những “chú nhóc con” bằng những phương thế mưu mô loài người rình chờ cơ hội là ngóc đầu lên tát trộm vào mặt “ông to đầu” làm cho “ông to đầu” giật mình, đau điếng và điên tiết lên. Những chú không tặc bất kể một số mạng sống con người trên những chuyến bay để cảnh báo nước Mỹ và nhân loại trên thế giới về sự bất công, về sự chèn ép, về sự khống chế, về sự cách biệt giàu nghèo… nhưng những cách thức như thế có giải quyết được cho nhân loại tốt đẹp hơn không ? Xin nhân loại nhìn lên Cây Thập Giá (hôm nay 14/9 lễ Suy Tôn Thánh Giá) để học bài học yêu thương đích thực và đúng đắn hơn. Hình như cách thức của Đức Kitô chẳng mấy hấp dẫn, chẳng mấy ăn khách sao ý, nhân loại nhỉ ? Mãi mãi “Tôi khát”.

B/ Đức Kitô không nói những lời tạm biệt dễ thương giống như những người sắp bước vào cái chết của ngày 11/9. Như : các tông đồ ơi, Thầy thương yêu các tông đồ lắm ! Hoặc : Mẹ Maria quý yêu ơi, con thương Mẹ nhiều nhiều vô cùng ! Hoặc : nhân loại đồng bao ơi, tôi yêu thương nhân loại kể sao cho xiết !… Không, vì chính Ngài là Tình Yêu, trước sau như một, từ khởi thủy cho đến tận cùng. Cái chết của Ngài không làm cho Ngài tiêu tùng luôn. Cái chết của Ngài không dập tắt được tình yêu nhưng “Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28,20). Thầy hiện diện rộng khắp, Thầy yêu thương và khơi nguồn sức sống liên lỉ hằng ngày. Mỗi người trong niềm tin của mình gặp gỡ được Thầy, yêu như Thầy yêu, sống như Thầy sống, khiêm nhường và hiền hòa như Thầy hiền hòa và khiêm nhường trong lòng, tha thứ như Thầy thứ tha… “thì người đó cũng sẽ làm được những việc Thầy làm. Người đó còn làm những việc lớn hơn nữa, bởi vì Thầy đến cùng Chúa Cha” (Ga 14,12)

Nếu mỗi phút giây sống trong ngày sống của tôi coi như là giây phút cuối cùng thì tôi sẽ luôn nói những lời yêu thương giống như một lời từ biệt; thì tôi sẽ sống thái độ cung cách phục vụ như một người sắp ra đi…

Thế nhưng “cái tôi” to đùng mạnh hơn cả cái chết, hơn cả chuyện sắp ra đi nên cứ sức tôi thì tôi chẳng có thể sống được như là giây phút cuối cùng. Chỉ khi nào tôi cảm nhận được không phải tôi sống mà là Đức Kitô sống trong tôi thì tôi mới có thể nói lời yêu thương từng ngày với mọi người mà không cần phải chờ… cuối cùng trong ngày 11-9.

Mong Manh


 

2/11-50: LUYỆN NGỤC


* 02.11-Tưởng nhớ và cầu nguyện cho các tín hữu đã qua đời.
Lm Tụy Hiền

 

Chết không phải là hết, cũng không phải là trở về với hư vô cát bụi, nhưng là bắt đầu một: 2/11-50


          Chết không phải là hết, cũng không phải là trở về với hư vô cát bụi, nhưng là bắt đầu một cuộc sống mới không bao giờ tàn úa.Trong cuộc sống ấy, một là chúng ta sẽ được hạnh phúc vĩnh cửu trên Thiên đàng. Hai là chúng ta sẽ bị đau khổ mãi mãi trong hỏa ngục.
Tuy nhiên, đức tin Công giáo còn dạy chúng ta về một tình trạng thứ ba, có tính cách tạm bợ ở thế giới bên kia, đó là luyện ngục, nơi đền bù và thanh tẩy những lầm lỗi đã vấp phạm, để được hoàn toàn trong sạch trước khi trở về cùng Chúa trên quê hương Nước Trời.

Tin tưởng vào luyện ngục sẽ đem lại cho chúng ta niềm an ủi vì nó đáp ứng cho khát vọng sâu xa nhất của con người là muốn vươn lên, vươn lên mãi.

Chúng ta sẽ như thế nào nếu chỉ có thiên đàng và hỏa ngục? Ai trong chúng ta có thể xác quyết được rằng mình hoàn toàn vô tội và không cần phải đền bù chi cả trước sự công thẳng tuyệt đối của Thiên Chúa để rồi sẽ được đưa về lập tức ngay sau khi chết?

Nếu không có luyện ngục hẳn chúng ta sẽ tuyệt vọng vì chúng ta không đủ tốt lành để được Chúa đón nhận, đồng thời chúng ta cũng không quá xấu xa để đáng bị trừng phạt trong hỏa ngục muôn đời. Vậy dựa vào đâu chúng ta xác quyết được rằng có luyện ngục?

Trước hết dựa vào Kinh thánh, chúng ta thấy có một nơi vừa đau khổ, nhưng cũng vừa tràn đầy hy vọng được dành cho các linh hồn.Trong sách Macabeô quyển thứ 2 có viết: Giuđa Macabêô, đã đi quyên và gửi 12.000 quan tiền về Giêrusalem để dâng của lễ xá tội cho những người đã chết. Và tác giả Kinh thánh đã kết luận: “Cầu cho những người đã chết để họ được giải thoát khỏi tội lỗi là một việc làm thánh thiện và có giá trị cứu rỗi ” (x 2Mcb 12,45-46). Từ đó chúng ta thấy rằng có một nơi để sau khi chết người ta đền bù và lãnh nhận ơn tha thứ, đồng thời những người còn sống có thể giúp đỡ và cầu nguyện cho họ.

Còn thánh Phaolô thì xác quyết: “Có những người mà sự công chính của họ được chứng minh bằng lửa và họ được rỗi dường như qua lửa vậy” (x 1Cr 3,15).

Trải qua dòng thời gian, Giáo hội luôn tin tưởng như thế. Lời kinh “Memento Mortuorum”, tưởng nhớ đến những người đã chết bao giờ cũng chiếm một địa vị quan trọng trong nghi thức phục vụ xa xưa nhất. Nếu không có luyện nguc thì những lời kinh này chỉ là một điều thừa thãi và vô ích mà thôi.

Rồi trên các mộ bia vào những thế kỷ đầu người ta thường khắc ghi: “Xin hãy cầu cho tôi”. Như muốn nói lên khát vọng sâu xa của những người đã chết. Thế nhưng chúng ta cầu cho ai? Các thánh ở trên trời và các kẻ ở dưới hỏa ngục chắc là không cần đến. Vậy chỉ còn các linh hồn nơi luyện ngục mà thôi.

Tertulianô ngay từ thế kỷ II đã kể lại rằng: Vào những ngày giỗ của ông bà cha mẹ, các tín hữu thường dâng lễ cầu nguyện cho các linh hồn ấy.  Như vậy, Giáo hội luôn tin rằng có một luyện ngục và chúng ta có thể giúp đỡ các linh hồn ở trong đó.

Ngoài ra, như chúng ta cũng đã biết: Những người đã chết, nếu không vướng mắc tội trọng, không xa lìa Thiên Chúa, thì cần phải có một nơi để được đền bù và thanh luyện. Bởi vì tất cả mọi tội lỗi đều phải được đền bù, và tất cả mọi vết nhơ cần phải được thanh luyện. Thiên Chúa là Cha nhân từ, nhưng đồng thời cũng lại là một thẩm phán rất công bằng. Ngài không nhắm mắt bỏ qua những tội lỗi, nhưng trao ban cho chúng ta những phương tiện để đền bù và sửa chữa. Nếu đền bù ở đời này chưa đủ, thì sẽ phải đền bù ở đời sau trong luyện ngục.

 Để kết luận, chúng ta nên ghi nhớ và thực hiện lời sách Macabêô:- Cầu nguyện cho những người đã chết để họ được giải thoát,  là một việc làm thánh thiện và có giá trị cứu rỗi.
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây