Suy Niệm Tin Mừng Lễ Các thánh tử đạo Việt Nam 24-11 Bài 151-196

Thứ bảy - 17/11/2018 04:33
Suy Niệm Tin Mừng Lễ Các thánh tử đạo Việt Nam 24-11 Bài 151-196
Suy Niệm Tin Mừng Lễ Các thánh tử đạo Việt Nam 24-11 Bài 151-196
Suy Niệm Tin Mừng Lễ Các Thánh Tử Đạo Việt Nam 24-11 Bài 151-196
24/11-151 : Sống đạo tốt – Lm Phạm Văn Phượng. 2
24/11-152 : Những tên lý hình thời đại 4
24/11-153 : Giữ Đạo ngày hôm nay quá “Phẻ”. 7
24/11-154 : Tử đạo trong thế kỷ 21. 11
24/11-155 : Tử đạo hôm nay – Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền. 14
24/11-156 : Tri ân và mừng kính các Thánh Tổ Tiên. 16
24/11-157 :  LÀM CHỨNG CHO CHÚA HÔM NAY.. 19
24/11-158 : Các Thánh Tử đạo Việt Nam liều chết vì Chúa. 26
24/11-159 : Các Thánh Tử Đạo Việt Nam.. 28
24/11-160 : Làm chứng cho Tình yêu. 29
24/11-161 : Con người thích thỏa hiệp. 32
24/11-162 : Anh hùng tử đạo. 34
24/11-163 : Sức mạnh của đức tin. 35
24/11-164 : Các Thánh Tử Đạo Việt Nam.. 40
24/11-165 : Các chứng nhân Kitô giáo. 45
24/11-166 : Thiên Chúa là Tình Yêu. 49
24/11-167 : Dùng thời gian để yêu thương. 50
24/11-168 : Nếu hạt lúa mì rơi xuống. 50
24/11-169 : Cuộc bách hại đạo hôm nay. 52
24/11-170 : CHỌN ĐẤNG CHỊU ĐÓNG ĐINH.. 54
24/11-171: Đi làm chứng cho Thầy. 56
24/11-172: Tử đạo trong đời sống thường ngày – Huệ Minh. 57
24/11-173: Tử đạo, một chọn lựa của lòng tin. 60
24/11-174: Tử đạo. 63
24/11-175: Suy niệm của Lm. Giacôbê Tạ Chúc. 64
24/11-176: Vạn tuế các Thánh Tử Đạo Việt Nam.. 66
24/11-177: LỄ CÁC TỬ ĐẠO VIỆT NAM... 68
24/11-178: Lòng Mến Hoàn Thành Mọi Sự. 70
24/11-179: CHẾT LÀ HẠNH PHÚC.. 76
24/11-180: NHỮNG CON NGƯỜI BẤT TỬ.. 77
24/11-181: TỬ ĐẠO THỜI CÔNG NGHỆ 4.0. 79
24/11-182: CHỨNG NHÂN.. 81
24/11-183: HY SINH MẠNG SỐNG ĐẾN CÙNG VÌ ĐỨC TIN.. 86
24/11-184: TIN THEO GIÊSU.. 88
24/11-185: NGÀY ẤY.. 90
24/11-186: THUỘC VỀ THIÊN CHÚA.. 91
24/11-187: SUY NIỆM CHÚ GIẢI LỜI CHÚA.. 92
24/11-188: CHẾT YÊU.. 99
24/11-189: BỊ BÁCH HẠI VÌ SỐNG CÔNG CHÍNH.. 100
24/11-190: SỐNG LÀ CHẾT.. 103
24/11-191: AI LIỀU MẤT SỰ SỐNG MÌNH VÌ TÔI 105
24/11-192: CHẾT VÌ YÊU.. 107
24/11-193: TỬ ĐẠO GIỮA ĐỜI THƯỜNG.. 110
24/11-194: DŨNG CẢM LÀM CHỨNG CHO CHÚA HÔM NAY.. 113
24/11-195: LÀM CHỨNG CHO CHÚA.. 116
24/11-196: TUYÊN XƯNG, SỐNG VÀ LÀM CHỨNG CHO ĐỨC TIN.. 119

 

24/11-151 : Sống đạo tốt – Lm Phạm Văn Phượng

Có lẽ chúng ta đều thuộc lòng hay ít nhất cũng đã nghe nói nhiều lần một câu nói nổi tiếng của Tetulianô 24/11-151 

Có lẽ chúng ta đều thuộc lòng hay ít nhất cũng đã nghe nói nhiều lần một câu nói nổi tiếng của Tetulianô: “Máu các thánh tử đạo là hạt giống tốt sinh ra người Công giáo”. Nếu vậy chúng ta cứ xin Chúa làm cho nhiều quyền lực thế gian ra tay bắt bớ đạo, thẳng tay cấm cách đạo, hầu tạo điều kiện cho có nhiều vị tử đạo, và hy vọng khi máu tử đạo tăng lên thì số hạt giống đức tin càng tăng lên, sinh ra nhiều người Công giáo và mở rộng cánh đồng đức tin.
Chúng ta nói như vậy là để nói mà thôi, chứ chẳng ai trong chúng ta lại xin Chúa điều đó, vì lời xin như vậy không hợp lý. Chúng ta phải nhìn nhận rằng: thực đúng là máu các thánh tử đạo có khả năng làm hạt giống sinh ra người tín hữu. Nhưng theo Kinh Thánh, thực chất làm cho một người, một việc trở thành hạt giống đức tin, đó là Lời Chúa và những kẻ sống lời Chúa, vâng theo lời Chúa như Chúa đã phán: “Lời Ta là lời ban sự sống”. Nếu máu các thánh tử đạo có hạt giống tốt sinh ra người Công giáo, thì chính vì những giọt máu ấy đã đổ ra do những người sống lời Chúa. Lời Chúa mới là hạt giống tốt sinh ra người Công giáo.
Ngoài ra, việc bách hại đạo Chúa là một việc xấu, mà việc xấu thì chẳng bao giờ Chúa khuyến khích, và cầu xin như thế cũng chẳng đẹp ý Chúa. Nếu chúng ta nhận định như thế thì chúng ta sẽ thấy rằng: trong ngày lễ kính các thánh tử đạo Việt Nam, ngoài việc chúng ta phải cảm tạ Chúa, vì đã ban ơn tử đạo cho các bậc tổ tiên của chúng ta và ban các thánh Việt Nam cho Giáo Hội chúng ta, chúng ta còn cần phải xin Chúa, vì công nghiệp các thánh ban cho chúng ta, cho mọi người Công giáo chúng ta, cho Giáo Hội Việt Nam chúng ta, biết cách nào thích hợp nhất, có hiệu quả nhất, để diễn tả đức tin, để truyền bá đức tin trong thời buổi hôm nay.
Bởi vì mỗi thời có cách diễn tả đức tin và truyền bá đức tin theo thời của nó. Nội dung đức tin trước sau vẫn là một nhưng cách diễn tả đức tin, cách truyền bá đức tin, phải thay đổi tùy nơi, tùy thời, hợp với tâm lý của con người, hợp với trình độ tiến hoá của từng nơi. Có nơi, nhất là những nơi bị bách hại, thì cách tốt nhất để diễn tả đức tin và truyền bá đức tin là chấp nhận đổ máu mình ra, chết cho đức tin. Có nơi, có thời không bị bách hại, có nhiều tự do, thì cách tốt nhất để diễn tả đức tin, để truyền bá đức tin là sống đạo cho tốt. Mình sống đạo cho tốt, con cái mình sẽ bắt chước. Mình sống đạo cho tốt, người ngoại giáo thấy sẽ có cảm tình với đạo.
Thế nào là sống đạo tốt? Đó là thực thi bác ái. Đức ái là điều kiện căn bản của giáo lý Phúc âm. Chúa Giêsu đã nói: “Giới răn thứ hai cũng giống như giới răn thứ nhất, đó là yêu thương kẻ khác như chính mình”. Chúng ta ai cũng yêu mình, ai cũng muốn điều hay, điều tốt cho mình, ai cũng thích được người khác thông cảm, dễ dãi, nhân từ với mình. Chúng ta yêu mình như thế, nên Chúa bảo chúng ta hãy yêu thương người khác như vậy. Nhưng thực tế ít người thực hành đúng như vậy. Yêu mình hơn người thì có, yêu người như mình thì ít, và yêu người thua mình thì nhiều. Như thế là chúng ta chưa sống đạo tốt rồi, và chưa sống đạo tốt thì cũng là chưa diễn tả đức tin và truyền bá đức tin. Tóm lại, để sống đạo tốt trong thời buổi này, mỗi người chúng ta cần phải có chất lượng. Chất lượng đó là bác ái đối với tha nhân.
Đây là cách làm chứng tốt nhất cho Chúa, cho đạo, đây cũng là cách tốt nhất để sống đạo và truyền đạo. Chung quanh chúng ta, những đồng bào không Công giáo cũng đã quan tâm rất nhiều đến sự bác ái yêu thương đối với nhau và đối với kẻ khác: những việc làm xoá đói giảm nghèo, những ngôi nhà tình nghĩa, những lớp học tình thương, những chia sẻ cho những anh em bị bão lụt, những người bệnh tật, neo đơn… Chúng ta có quan tâm đến những việc đó hay những việc tương tự khác không? Chúng ta cũng nên tự hỏi: cách sống đạo của chúng ta có thực sự tuyên xưng Chúa, tuyên xưng đức tin không? Ngoài việc tuyên xưng Chúa, tuyên xưng đức tin trong những nghi lễ của chúng ta, trong nhà thờ của chúng ta, chúng ta còn phải tuyên xưng bằng những việc từ thiện bác ái, bằng cách sống chân thành, cởi mở, yêu thương với những người chung quanh nữa. Nói tóm lại, chúng ta cần phải thuyết phục những người chưa có đạo, những người không hiểu về chính nghĩa của đạo chúng ta bằng sự chúng ta sống trọn vẹn, quyết liệt, dứt khoát tinh thần bác ái yêu thương đối với nhau và đối với những người chung quanh.
Xin Chúa Thánh Thần là tình yêu Thiên Chúa ban ơn thêm sức cho chúng ta, đặc biệt là ban ơn bác ái yêu thương, để chúng ta thêm tình mến Chúa yêu người một cách đơn sơ trung thành, một cách bền vững và một cách quảng đại, bởi vì chỉ có tình yêu là cách sống đạo tốt nhất và làm chứng cho Chúa, cho đạo hữu hiệu nhất.
 
 
 

24/11-152 : Những tên lý hình thời đại

(Suy niệm của Pm. Cao Huy Hoàng)
 

Mừng kính lễ các Thánh Tử Đạo Việt Nam, chúng ta không chỉ tự hào về đức tin kiên cường của Cha 24/11-152 

Mừng kính lễ các Thánh Tử Đạo Việt Nam, chúng ta không chỉ tự hào về đức tin kiên cường của Cha ông chúng ta, không chỉ tự hào sống trong đất nước của các thánh tử đạo, không chỉ hãnh diện vì được là con cháu của các Thánh Tử Đạo, không chỉ tri ân những giọt máu trổ sinh mầm sống mới Đức Tin nơi chúng ta, mà thiết thực hơn, chúng ta cần noi gương các Ngài: tử đạo hằng ngày.
Nếu thời Cha ông ta đã sống trong một thời kỳ bách đạo cách tàn bạo, từ việc cấm cản, khủng bố đến việc bắt bớ, bỏ tù tra tấn dã man, cho đến những án tử hình ghê rợn nhất: xử giảo, lăng trì, bá đao, thiêu sống, xử trảm, rũ tù…thì thời chúng ta, những tên lý hình thời đại với cách bức bách còn kinh khủng hơn: làm cho con người không còn yêu mến Chúa Giêsu và Thập giá của Ngài.
Những tên lý hình thời đại: Ngoài ta
Những người chủ trương không có Thiên Chúa đang cầm quyền sinh tử nơi đất nước của các Thánh Tử đạo, đưa Giáo Hội Việt Nam vào một thách đố mới, vào cuộc tử đạo mới: Truyền giáo cho người không tin có Thiên Chúa hay là để cho người không tin có Thiên Chúa truyền chủ thuyết của họ?
Tư tưởng “Tôn giáo là liều thuốc phiện” vẫn đã thấm trong máu thịt của họ và đã chỉ đạo cả cuộc đời họ, cả việc họ làm, đến nỗi khi con người gần đất xa trời, chờ phút “qui tiên” cũng chẳng chấp nhận một cõi nào linh thánh. Một cuộc đời bồng bềnh theo năm tháng lơ lững không định hướng, vì chỉ tin được cái hiện hữu của thân xác mà không tin có linh hồn bất tử. Một cuộc đời không có chuẩn mực Chân, Thiện, Mỹ, nào hơn là theo cái chuẩn mực mà mình tự đặt định. Đạo đức xã hội là làm sao đem lại lợi ích trần thế nhiều nhất cho xã hội mà chính mình là trước tiên!
Họ không đặt Thánh Giá trước mặt chúng ta, và yêu cầu chúng ta bước qua, nhưng họ đã gieo vào lòng tín hữu bề bộn những chủ thuyết vật chất, và cuộc tử đạo mới, tử đạo hằng ngày, đã bắt đầu bằng việc không đồng thuận với những chủ trương không Thiên Chúa:
- Các em học sinh ở nhà trường phải tử đạo khi không chấp nhận bài học nguồn gốc con người bởi khỉ, bài học không có Chúa nào tạo hóa tác sinh…
- Các em thanh niên vào đời phải tử đạo khi không theo cách sống thử tự nhiên được xã hội mặc nhiên cổ xúy, để giữ vững đức khiết tịnh vì biết rằng: sống thử - sinh con thật - giết người thật.
- Các gia đình công giáo phải tử đạo khi lao vào cuộc sống kinh tế. Biết rằng có thực mới vực được đạo, và để ổn định phát triển kinh tế, phải giảm sinh, nhưng cương quyết không giảm sinh theo kế hoạch không tự nhiên – vì chẳng khác nào giết con người từ trong trứng nước, và tự tẩy chay nhân phẩm quí giá của mình.
- Giá trị hôn nhân đặt trên căn bản là kinh tế, là của cải vật chất, là hưởng thụ…tạo điều kiện cho trào lưu ly thân ly dị cách dễ dàng, và tạo nên một sự hỗn độn về đời sống các gia đình không đáng có: chồng trước, vợ sau, con chung, con riêng, con bỏ, con nuôi… hỗn độn…. Biết như thế, các gia đình công giáo phải tử đạo khi không bị cuốn vào trào lưu tục hóa giá trị hôn nhân.
- Khi có của ăn của để, thì việc hành đạo hầu như không cần thiết hơn việc giải trí tiêu khiển, và việc giữ lễ Chúa nhật có thể trở thành việc chiếu lệ, nhưng người công giáo đã tử đạo khi vẫn một lòng yêu mến Chúa Giêsu, khao khát kết hiệp cùng Chúa Giêsu Thánh Thể qua việc tham dự Thánh lễ và việc rước lễ hằng ngày.
- Người ta muốn giam các tín hữu trong trại giam mới là chính cái biệt thự sang trọng, hay ít là căn phòng đầy đủ tiện nghi vật chất thơm phức nệm êm chăn ấm máy lạnh máy nóng …để mà hưởng thụ cuộc đời nầy, mà quên đi cái đời sau ảo tưởng… nhưng không, họ đã lầm, khi các tín hữu Việt Nam vẫn quí mến một cuộc vượt qua, và sẵn sàng cho cuộc vượt qua của chính mình…..
- Giữa những suy đồi, các tông đồ của Chúa không đành lòng bó tay, nhưng tích cực gia tăng đời sống đạo đức gương mẫu, đời sống cầu nguyện, có sáng kiến phong phú để khắc phục, chận đứng, những trào lưu suy đồi của những tên lý hình thời đại làm tha hóa các phần tử trong giáo hội. Họ thiết thực trở nên những con người hướng dẫn thời đại đi vào đúng đường lối của Chúa. Họ thực sự đang ôm lấy Thánh Giá Chúa Giêsu với lòng quí mến thiết tha nhất. Họ đang tử đạo trên đất nước của các Thánh Tử đạo, cùng với đoàn chiên tử đạo..
Chúng ta tin rằng các Thánh Tử Đạo Việt nam vẫn luôn phù hộ, tiếp sức cho các tín hữu Việt Nam chiến đấu trong cuộc bức bách mới của những tên lý hình thời đại mới đầy mưu ma chước quỉ của Satan luôn chủ trương chống lại Thiên Chúa.
Tên lý hình thời đại: Trong ta
Truyện rất ngắn “Lòi Cái Tôi Ra” của tác giả Anh-em-của-mọi-người, viết:
- Thưa cha khi chủng viện xây xong, người ta chặt cây cho lòi nhà ra nên chủng sinh phải chịu nắng nóng mấy năm nay. Bây giờ giáo xứ xây xong nhà gíao lý, lại chặt cây cho nhà giáo lý lòi ra làm thiếu nhi phải chịu nắng nóng!
- Không phải lòi nhà ra đâu mà lòi cái tôi ra đấy! Để lòi cái tôi ra nguời ta dám chặt bất cứ thứ gì kể cả cây thập giá nữa chứ cây xanh, bóng mát cho giáo dân là cái gì … “Tôi đến để chiên được sống và sống dồi dào” (Ga 10,10)
Chiến đấu với những tên lý hình thời đại ngoài ta có thể không khó khăn lắm, nhưng chiến đấu và chiến thắng với tên lý hình trong ta, có vẻ không dễ dàng tí nào!
Phải khiêm tốn mà nhận ra rằng, có nhiều người, trong đó có thể có tôi, có bạn, đã không bước qua thập giá, nhưng đã chặt và quăng cây thánh giá đi rồi. Khi đã chặt và quăng đi, thì còn đâu mà bước qua! Khi đề cao cái tôi một cách quá đáng, người ta chối bỏ Đức Giêsu Kitô và khổ đau của Ngài một cách không thương tiếc, và cũng không hay biết!
Sự nhàn hạ, thanh thản, phương tiện tiện nghi, hưởng thụ… đã “lấn sân” tâm linh, tạo cho người ta cái hạnh phúc thật êm dịu, không còn cảm giác khổ đau của cây thập giá nữa. Và vì thế, khó mà chấp nhận sự khốn khó gian nan. Sướng quen rồi. Đây mới thực sự là trại giam mới, trại giam của của danh vọng, của quyền lực, của sự an thân an vị an nhàn và … rồi an nghĩ trong trại giam ấy.
Bỗng dưng, chính ta, đã trở nên những tên lý hình thời đại. Ta xử trảm chính ta và xử trảm mọi người khi cách sống “không Kitô”, “không Thập Giá” trở thành gương xấu cứ lan nhanh lan nhanh đến nhiều người.
Vâng, không ai bắt ta làm nô lệ, chỉ vì ta bằng lòng để mất tự do. Không ai làm ta mất tự do, chỉ vì ta bằng lòng làm nô lệ! Nô lệ cho chính cái tôi của mình.
Yêu mến Chúa Giêsu và Thập Giá Chúa Giêsu
Thiết tưởng lòng yêu mến Chúa Giêsu và thập giá của Ngài, sẽ giúp tôi, giúp bạn vượt qua những cuộc bức bách ngoài ta, trong ta, sẽ giúp chúng ta vượt qua, giúp chúng ta được hồng phúc tử đạo hằng ngày, với Chúa.
Xin chia sẻ một phần câu chuyện về Thánh Tử Đạo Anrê Nguyễn Kim Thông (Anrê Năm Thuông) lý trưởng, thầy giảng; sanh 1790 tại Gò Thị, Bình Định; chết 15 tháng Bẩy, 1855, tại Mỹ Tho. Ngài chết rũ tù vì kiệt sức và đói khát trên đường di tán tại Mỹ-Tho
“Bị điệu ra trước tòa quan tỉnh tra vấn về các điều tố cáo. Ông Trùm khiêm tốn, bình tĩnh ung dung trả lời bằng lời lẽ đanh thép: “Trong nhà tôi không có đạo trưởng. Còn việc tậu thuyền, mãi mã, sắm ghe, tích trữ lương thực, tôi chẳng hề có, xin quan cho đi khám xét. Tôi chỉ chuyên cần lo việc nông gia. Tôi không biết Tây Dương, không đem đường chỉ nẻo cho họ. Tôi cũng chẳng hề đi đâu mà mở đường sơn thủy, vận lương, chuyển binh cho giặc”. Không tìm ra chứng cớ về các điều cáo giác trên, bọn quan lại bèn truyền cho Ông Trùm “quá khóa”, tức là bước qua Thánh Giá, thì sẽ được tha về. Ông nhất quyết không tuân.
Quan bảo: “Kín đáo đạp lên thập giá đi, rồi về xưng tội”.
Ông Trùm đáp: “Thạch tín là thuốc độc, uống vô là chết, nhưng cũng có thuốc giải. Thế nhưng có ai liều mình uống thạch tín bao giờ? Việc xúc phạm Thánh Giá cũng vậy”.
(http://www.vncatholic.org/thanhtudaovn/070.htm)
Lạy Chúa, xin cho chúng con biết yêu mến Chúa Giêsu và yêu mến Thập Giá của Ngài, để được hồng phúc tử đạo với Chúa mỗi phút giây trong cuộc đời chúng con. A men.

 

24/11-153 : Giữ Đạo ngày hôm nay quá “Phẻ”

(Suy niệm của Lm Giuse Trương Đình Hiền)
 

Dưới ánh sáng của Lời Chúa, và qua chứng từ cuộc sống thánh thiện của bao vị thánh nhân trong 24/11-153 

Dưới ánh sáng của Lời Chúa, và qua chứng từ cuộc sống thánh thiện của bao vị thánh nhân trong suốt gần 2000 năm lịch sử lử hành của Giáo Hội, chúng ta có thể khẳng quyết rằng: cuộc hành trình nên thánh của mọi người đều phải đi qua con đường “tử đạo”, con đường mà trích sách Khải huyền đã định nghĩa là: “từ đau khổ lớn lao mà đến và đã giặt áo mình trong Máu Con Chiên”; cũng là con đường mà Sách Khôn Ngoan hôm nay nói tới: “Người đã tinh luyện họ như người ta luyện vàng trong lò lửa, và đón nhận họ như của lễ toàn thiêu” (BĐ1); và cũng chính là con đường yêu thương đến độ như thư gởi giáo đoàn Rôma trong Bài đọc 2 hôm nay nhắc đến: “Ai có thể tách chúng ta ra khỏi tình yêu Chúa Kitô? Phải chăng là gian truân, khốn khổ, đói rách, hiểm nguy, bắt bớ, gươm giáo? Như có lời chép: Chính vì Ngài mà mỗi ngày chúng con bị giết, bị coi như bầy cừu để sát sinh”.
Và như thế, chúng ta cũng có thể nói được rằng: Tử Đạo chính là thái độ, là hành vi, là cung cách ứng xử của những ai quyết chọn Đức Kitô và bước theo Ngài cách quyết liệt như chính Đức Kitô tuyên bố trong trích đoạn Tin Mừng Luca: “Ai không vác thập giá mình mà đi theo tôi, thì không thể làm môn đệ tôi được” (Lc 14,27)
Và điều đó đã được cụ thể hoá nơi chứng từ cuộc sống và cuộc tử đạo của 117 Chứng Nhân anh hùng tử đạo Việt nam mà chúng ta có thể đọc thấy qua một số chứng từ cụ thể:
- Thánh Phêrô Cao đã tâm nguyện: “Xin cho con chịu đau khổ vì danh Đức Kitô, được đón nhận ngành lá tử đạo về tới bến thiên đàng”
- Thánh Phêrô Quí với những dòng thơ gởi cho mẹ hiền:
“Dù trăng trói, gông cùm tù rạc
Chén ngục hình xiềng tỏa chi nề
Miễn vui lòng cam chịu một bề
Cho trọn đạo trung thần hiếu tử”
- Thánh Phaolô Tịnh can đảm thưa với quan án: “Thân xác tôi ở trong tay quan, quan muốn làm khổ thế nào tùy ý. Nhưng linh hồn là của Chúa, không có gì khiến tôi hy sinh nó được”
- Thánh Phaolô Khoan đã hát lên lời nguyện hiến tế cuộc đời: “Vinh danh chúc tụng ngợi khen Thiên Chúa là Chúa Cả trời đất, chúng con xin dâng mạng sống cho Ngài”
- Thánh Anrê Kim Thông: “Thà tôi bị lưu đày và phải chết vì Chúa, chứ tôi không chối đạo”…
Tất cả những lời chứng can đảm và trung thành với tình yêu Chúa Kitô đó không bao giờ là một sự “bột phát hờn căm khi chạm phải bước đường cùng” như tiếng hô của một Nguyễn Văn Trỗi, trước khi bị xử bắn: “đã đảo đế quốc Mỹ...”, hay là tiếng kêu thất vọng oán thán rũa đời, cất lên khi đã đến gần cửa chết như lời chửi đổng mang chất thơ của thi sĩ Cao Bá Quát:
Ba hồi trống giục mồ cha kiếp
Một nhát gươm đưa bỏ mẹ đời
Khi tìm về lịch sử của các vị Chứng Nhân Tử Đạo Việt Nam, chúng ta nhận thấy rằng: Họ khác nhau về giới lớp, về thân phận xã hội, về trình độ tri thức, về chức vụ giữa cộng đoàn...nhưng họ đều giống nhau: thuộc trọn về Chúa Kitô và coi cái chết nhẹ như lông hồng, bởi chưng họ đều xác tín về cuộc phục sinh vinh thắng ở bên kia ngưỡng cửa sự chết như chứng từ sau đây:
Thầy Mậu đại diện cho anh em nói với quan: "Thưa quan, chúng tôi mong ước tìm về bên Chúa như nai mong tìm thấy suối vậy". Ông Án Khảm vui vẻ nói với mọi người: "Cha con chúng tôi hôm nay vào nước Thiên Đàng đây". Linh mục Hạnh cũng tươi tĩnh đi chào mọi người: "Anh em ở lại nhé! Chúng tôi đi về Thiên Đàng đây". Ông Cỏn thấy người anh em sụi sùi nước mắt, ông nói: "Sao anh lại khóc, lẽ ra phải mừng cho tôi chứ?".
Vâng, Tử đạo là thế đó. Chứng Nhân là thế đó. Tình yêu đến cùng dành cho Đức Kitô là thế đó. Và dĩ nhiên, sự thánh thiện Kitô giáo là thế đó.
Trông người lại nghĩ đến ta. Ngày nay, chuyện “Bách Hại” tàn khốc như một pháp lệnh, một chủ trương công khai của thời Tự Đức Minh Mạng đã qua rồi. Những gông cùm, trăng trói, lửa đốt, voi dày; những tùng xẻo bá đao, treo cổ, đâm chém, lưu đày biệt xứ, phân sáp, giam cầm…cũng không còn thể hiện đường hoàng như án phạt đứng đắn dành cho những ai xưng mình là Kitô hữu, là thuộc trọn về Giáo Hội… Mà đâu đâu, trên đất nước chúng ta cũng thấy đông vui lễ lạc, các nhà thờ luôn chật kín giáo dân trong những ngày Chúa Nhật-lễ trọng. Trong khi đó, hiến pháp của nhà nước xã hội chủ nghĩa Việt nam lại rành rành điều khoản “tôn trọng tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng” của đồng bào…
Và như thế, giữ đạo ngày hôm nay quá “phẻ”.
Vì có ai, có thế lực nào bắt buộc tôi đạp lên Thánh Giá Đức Kitô đâu?
Vì có chính quyền nào ra sắc lệnh buộc tôi phải bỏ đạo Chúa Kitô đâu?
Vì có chủ trương nào áp lực tôi khước từ những giá trị của Phúc Âm, những lời dạy của Kinh Thánh, những tín điều của Giáo Hội đâu?...
Xin đừng vội chủ quan. Có thể chúng ta đang bị ru ngủ trước cái vẻ hào nhoáng của lễ lạc bên ngoài, của những ngôi nhà thờ to lớn, của những Trung Tâm Mục vụ tiện nghi... mà chúng ta không nhận ra một cuộc “Bách Hại Mới” đầy nguy hiểm và độc địa đang tác động, đang gặm nhắm niềm tin của Dân Chúa Việt Nam hôm nay.
Đó là cuộc bách hại của sự ham mê tiền bạc và sự giàu sang.
Đó là cuộc bách hại của sự kiếm tìm hưởng thụ tiện nghi và sung sướng vật chất.
Đó là cuộc bách hại của sự lười biếng làm việc lành phúc đức và hy sinh hãm mình.
Đó là cuộc bách hại của sự hèn nhát tuyên xưng đức tin và thể hiện vai trò ngôn sứ.
Đó là sự bách hại của nảo trạng chủ nghĩa cá nhân và tự do phóng túng.
Đó là sự bách hại của những thoả hiệp đen tối với các thế lực chính trị và đương quyền để mong sống an nhàn thư thái.
Đó là sự bách hại của chủ trương tương đối hoá các nghiêm lệnh luân lý ngàn đời của Thiên Chúa và Giáo Hội trong các lãnh vưc hôn nhân-gia đình hay công bằng xã hội…
Đứng trước những cuộc “bách hại mới” đó, phải chăng rất nhiều người trong chúng ta đã “chối đạo”, đã “đạp lên thánh giá Chúa Kitô”, đã “vứt bỏ Tin Mừng”… bằng cách:
- Khi chúng ta sống ích kỷ nhỏ nhen không bao giờ biết cho đi và phục vụ.
- Khi chúng ta tìm kiếm bạc tiền và chức quyền danh vọng bằng mọi thủ đoạn bất lương.
- Khi chúng ta yếu nhược trước những bất công và lãnh đạm thờ ơ trước những khổ đau nghèo đói của anh chị em đồng loại.
- Khi chúng ta vứt bỏ lời thề ước của hôn nhân để tự do luyến ái ngoại tình.
- Khi những người mẹ giết con bằng hành vi phá thai, nạo thai.
- Khi những thanh niên nam nữ Công Giáo vứt bỏ các nguyên tắc luân lý của hôn nhân, tính dục, vứt bỏ đức trong sạch, nết na, để yêu cuồng sống vội, đam mê buông thả.
- Khi chúng ta coi trọng những cuộc nhậu nhẹt say sưa, những mánh mung lợi nhuận hơn là những cuộc họp mừng Chúa Nhật.
- Khi chúng ta chia rẽ, hận thù và phá đỗ mối giây hiệp nhất, hiệp thông trong cộng đoàn.
- Khi chúng ta hèn nhát tìm kiếm sự thoả hiệp và đầu hàng với các thế lực độc tài, đen tối vì không dám đứng lên tranh đấu cho sự thật, tự do, lẽ công bằng và những quyền căn bản của con người…
Trong tinh thần của Năm Thánh Giáo Hội Việt Nam khi “nhìn lại quá khứ để tạ ơn Chúa và lắng nghe bài học lịch sử…tri ân các bậc tiền nhân, các ân nhân và chứng nhân đã gieo vãi và vun trồng hạt giống đức tin trên quê hương đất nước nầy, đồng thời ý thức giá trị cao quý của hồng ân đức tin để sống và làm chứng cho Tin Mừng, tích cực xây dựng Giáo Hội Chúa Kitô trong môi trường Chúa sai chúng ta đến…”. (Thư HĐGMVN gởi cộng đồng Dân Chúa công bố Năm Thánh), thì việc mừng kính các Thánh Tử Đạo hôm nay phải là một lời đoan hứa mới, một quyết tâm mới trước Anh Linh Tiên Tổ: quyết tâm thành một Kitô hữu sẵn sàng thuộc về Đức Kitô và Tin Mừng trên mọi nẽo đường cuộc sống; một kitô hữu can đảm thực thi những lời dạy Phúc Âm, những việc đạo đức hằng ngày, những bổn phận trong gia đình, những ứng xử khoan dung, yêu thương và tha thứ, như quyết tâm đơn sơ, chân chất của người nông dân Nam Bộ, thánh Tử đạo Phaolô Hạnh: “Làm Kitô Hữu cho đến chết”. Amen.

 

24/11-154 : Tử đạo trong thế kỷ 21

(Suy niệm của Jos. Vinc. Ngọc Biển)
 

Hôm nay, chúng ta hân hoan mừng kính trọng thể lễ các thánh Tử Đạo Việt Nam. Các ngài là cha ông, 24/11-154 

Hôm nay, chúng ta hân hoan mừng kính trọng thể lễ các thánh Tử Đạo Việt Nam. Các ngài là cha ông, tổ tiên của chúng ta.
Khi mừng lễ các thánh tử đạo Việt Nam, chúng ta được mời gọi noi gương các ngài để can đảm sống chứng nhân đức tin giữa lòng đời trong bối cảnh hôm nay.
Như vậy, cùng một lời mời gọi nên thánh, chung một lý tưởng hoàn thiện, nhưng mỗi thời đại, chúng ta được thúc đẩy thể hiện niềm tin của mình bằng một cung cách khác.
Nhưng trước tiên, chúng ta cần tìm hiểu các thánh tử đạo Việt Nam đã sống đời chứng nhân như thế nào?
1. Đời sống chứng nhân nơi các thánh tử đạo Việt Nam
Mỗi lần nhắc đến các thánh tử đạo Việt Nam, ấy là mỗi lần chúng ta nhắc đến tấm gương anh dũng, can đảm, kiên trì, trung thành vì đức tin; tính trung thực, lòng yêu mến quê hương, tính liên đới, tấm lòng bác ái, vị tha nơi các ngài. Nhất là tấm gương anh dũng hy sinh chấp nhận cả cái chết để bảo vệ niềm tin vào Đức Kitô.
Điểm nổi bật nơi các thánh tử đạo là: các ngài không chấp nhận bất cứ hình thức nào theo kiểu: thuốc đắng bọc đường để bỏ Chúa. Khi dụ dỗ không được, vua quan thường hay tức giận và vu khống đủ điều xấu xa cho các ngài.
Một trong những tội mà các vua quan thời bấy giờ thường hay gán cho các ngài cũng rất giống tội danh mà các nhà lãnh đạo Dothái đã kết án Đức Giêsu, đó là tội chống chính quyền, sách động dân chúng, phản lại dân tộc. Khi bị ghép cho tội tầy trời như thế, thì chỉ còn nước chết và chết mà thôi!!!
Tuy nhiên, đây là một sự hồ đồ, ngộ nhận nơi vua quan, vì thế các ngài đã không chấp nhận và lại là dịp để chứng tỏ lòng yêu nước cũng như trách nhiệm xây dựng đất nước ngày càng tốt đẹp hơn. Điều này đã được thánh linh mục Khuông từng tuyên bố: "Đạo Giatô không những cấm tín hữu chống lại triều đình, mà còn khuyến khích để họ cầu nguyện và góp phần giúp quê hương an ninh thịnh vượng".
Các ngài đã phân biệt được đâu là ranh giới của lãnh vực này. Thánh binh sĩ Trần Văn Trung đã chấp nhận cái chết để nói cho vua quan biết lập trường của người Công Giáo: “Tôi là Kitô hữu, tôi sẵn sàng đi đánh kẻ thù của đất nước, nhưng bỏ đạo thì không bao giờ". Thua keo này họ bày keo khác, sự gán ghép với ý đồ thâm độc cho rằng tổ tiên chúng ta là những người theo đạo Tây, nên đây là tà đạo! Thánh linh mục niên trưởng Vũ Bá Loan đã khẳng khái tuyên bố: "Tôi chẳng theo đạo của nước nào cả, tôi chỉ thờ Chúa Trời Đất, Chúa của muôn dân thôi".
Khi nói về mẫu gương nổi bật nơi các ngài, chúng ta không thể quên được lòng trung thực được thể hiện qua cung cách lựa chọn của các thánh.
Các ngài đã noi gương Đức Giêsu, Thầy Chí Thánh của mình, yêu thương thật lòng không giả dối, ngụy biện... Chính thánh quan Hồ Đình Hy đã nói: "Đừng làm việc thiện cách máy móc qua lần chiếu lệ, mà phải làm với thiện ý". Khi nói về tình yêu thương, sự bao dung, tha thứ, thánh Cai Tả nói: "Mình quên nợ người, Chúa quên tội mình".
Khi được các quan tinh vi gợi ý giả vờ bước qua Thánh Giá để có cớ mà tha cho tội chết. Đây là một cám dỗ khá xảo quyệt và hấp dẫn, có vẻ được lợi cả hai, đời này và đời sau. Nhưng cha ông chúng ta đã không bị vướng vào cạm bẫy này, nên khi bị dụ dỗ và khuyên dụ nhắm mắt bước qua Thánh Giá, thày giảng Nguyễn Cần nói: "Thưa quan, mắt thì nhắm được, chứ lòng và trí khôn không thể nhắm được, nên tôi chẳng làm".
Nói chung, gương mẫu của các thánh tử đạo Việt Nam là rất nhiều, tuy nhiên, hôm nay, chúng ta chỉ đưa ra hai đặc tính nơi các ngài là:
- Không chấp nhận sự vu khống cho rằng người Công Giáo là người phản quốc, chống lại dân tộc. Cần phân biệt được đâu là người yêu nước thực sự, đâu là kẻ giả hình...
- Không chấp nhận sống hai mặt, hai lòng, giả dối để được lợi cho phần xác mà mất linh hồn.
Thiết nghĩ, hai đặc tính trên chính là sức hút và khơi nguồn cảm hứng cho mỗi chúng ta nên thánh trong thời đại hôm nay.
2. Tử đạo trong thế kỷ 21
Ngày nay, cảnh tượng kinh hoàng như thời các thánh tử đạo của chúng ta phải chịu như máu đổ, đầu rơi; đòn roi tra tấn; hay nhục hình ghê rợn..., không còn diễn ra trên diện rộng nữa, có chăng chỉ là những nơi xa xôi hẻo lánh, hay những người nắm chính quyền thiếu hiểu biết, ấu trĩ, bảo thủ hoặc ngu dốt, nên mới gây ra những hậu quả đáng tiếc, tạo nên sự mâu thuẫn giữa luật và người thi hành luật! Hay khi thi hành đã hành pháp sai mục đích chủ trương chính sách của dân tộc, hoặc đôi khi biết sai nhưng vẫn cứ nhắm mắt thi hành chỉ vì muốn trục lợi cá nhân... dung dưỡng cái bụng của mình mà làm cho cái đầu bị ngắn trí và trái tim bị teo lại nên không còn biết đúng - sai. Những người như vậy, họ thuộc hạng người bị mù lương tâm!
Còn trên bình diện thế giới, hình khổ theo kiểu cổ điển mà các chính quyền đưa ra để đàn áp những người Công Giáo cũng không thể diễn ra, bởi vì: hiến pháp của bất cứ quốc gia nào cũng tôn trọng tự do tín ngưỡng và các quyền cơ bản của con người. Có chăng, chỉ có phiến quân nhà nước Hồi Giáo (IS) cực đoan mà thôi!
Vì thế, khi nói đến tử đạo ngày nay, vẫn khái niệm duy nhất là chết vì bảo vệ đức tin. Tuy nhiên, cần mở rộng lối suy nghĩ để hiểu khái niệm này cách rộng rãi hơn, phù hợp với môi trường cũng như thách đố của chúng ta hiện nay.
Người chứng nhân của thời đại hôm nay chính là dám chấp nhận ngược dòng để sống căn tính, cốt lõi của Tin Mừng, đó là: chấp nhận đứng về phía người thấp cổ bé họng, những người không có tiếng nói, những người cô thế, cô thân, bị loại ra bên lề nhằm bênh vực và lên tiếng thay cho họ khi quyền chính đáng của họ bị cướp đoạt. Khi đứng về phía họ như vậy, chúng ta sẵn sàng bảo vệ công lý, chống lại bất công.
Tử đạo ngày nay còn là lựa chọn và khước từ trước những cám dỗ, lôi cuốn, hấp dẫn để trục lợi cá nhân, an thân, ăn trên ngồi trước, ham quyền cố vị..., hay chạy đua những dục vọng, dâm ô, khát vọng bất chính, sống trác táng, phóng đãng... Khi khước từ những thứ đó, chúng ta được mời gọi để sống một cuộc sống công minh chính đại, sống tinh thần phục vụ vô vị lợi theo lời mời gọi của Chúa và Tin Mừng của Ngài.
Trong thời đại này, một hiện tượng cũng khá phổ biến đang lưu hành trong xã hội và nó chi phối sự lựa chọn của rất nhiều người, làm cho chúng ta đáng quan ngại, đó là: sự dửng dưng, vô cảm trước nỗi đói khổ, hoạn nạn của anh chị em. Bên cạnh đó, lập trường sống theo kiểu hạt nhân, đèn ai nấy rạng, nên không cần quan tâm đến nhau cũng là điều đáng để chúng ta suy nghĩ!
Giữa một xã hội như thế, người Kitô hữu được mời gọi sống tinh thần nghèo khó, liên đới, trách nhiệm, loại bỏ những thứ như: hưởng thụ, khoái lạc, quyền lực, vụ lợi hay những thái độ dửng dưng, vô cảm... để chấp nhận nghịch lý của Tin Mừng khi lội ngược dòng với những hấp dẫn bất chính của con người và xã hội thời nay nhằm truyền tải cho xã hội và con người hôm nay một thông điệp rằng:
Đạo Công Giáo là Đạo Yêu Thương. Yêu con người và yêu dân tộc. Sẵn sàng đóng góp và xây dựng tổ quốc này ngày càng tốt đẹp hơn, nhân bản hơn, yêu thương, liên đới, cảm thông với nhau hơn. Tuy nhiên, khi thấy cảnh trái luân thường đạo lý, người nghèo bị áp bức, bóc lột... sự thật bị bóp méo... thì chúng ta không thể an thân, bình chân như vại. Ngược lại, bằng khả năng, cách thế của mình, chúng ta phải lên tiếng trong sự ôn hòa, yêu thương và trách nhiệm, để làm cho cuộc sống này tràn đầy tình thương và nhân ái hơn.
Khi sống chứng nhân như thế, hẳn chúng ta đã làm cho khái niệm tử đạo ngày nay được phong phú hơn, rộng rãi hơn và thiết thực hơn. Tuy nhiên, đây cũng là một thách đố mang tính trường kỳ nói lên tính tử đạo liên lỷ ngang qua những lựa chọn mà chúng ta phải đối diện hằng ngày.
Lạy Chúa, chúng con tạ ơn Chúa đã ban cho Giáo Hội Việt Nam các thánh Tử đạo là mẫu gương cho chúng con noi theo. Xin nhận lời các ngài chuyển cầu mà ban cho chúng con ơn trung thành, can đảm để sống chứng nhân cho Chúa trong thời đại hôm nay. Amen.

 

24/11-155 : Tử đạo hôm nay – Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền

Con người đều có quyền được đối xử bình đẳng như nhau. Không phân biệt chủng tộc, không được 24/11-155

Con người đều có quyền được đối xử bình đẳng như nhau. Không phân biệt chủng tộc, không được kỳ thị tôn giáo dưới bất cứ hình thức nào. Nếu thể chế chính trị hay tổ chức nào cố tình kỳ thị tôn giáo hay chủng tộc đều là nhà độc tài đáng sợ của nhân loại. Nhất là tôn giáo cần phải được tôn trọng. Đây là đời sống tâm linh hoàn toàn là sự tự nguyện chứ không phải ép buộc hay đe dọa dưới bất kỳ phương tiện nào. Thế nhưng, dầu đang sống ở thế kỷ 21 vẫn còn đó sự bách hại và cưỡng bức từ nhóm ISIS Hồi giáo quá khích. Họ đã và đang ép buộc, cưỡng bức, giết hại những người Công Giáo, cũng như các tôn giáo khác tại Iraq. Họ buộc các tín hữu ky-tô giáo phải bỏ đạo mà quy phục đạo Hồi nếu không phải rời quê hương ra đi hoặc phải chết dã man...
Trong mấy tháng qua những hình ảnh đau xót vô cùng của sự "ác độc dã man" đã cho chúng ta thấy rằng: Một cháu bé gái Công Giáo mới 2 tuổi mà chúng cũng không tha. Chúng lôi em ra chặt đầu trước mặt mẹ và những người thân của cháu, gần bên cạnh một thánh đường và bắt mọi người Kitô giáo phải đổi sang Hồi giáo, nếu không số phận cũng sẽ là như em bé gái này tất cả!.
Phiến quân ISIS Hồi giáo còn công bố một clip đã đập nát tượng Đức Mẹ trong một Thánh đường bị phá hủy tan hoang. Tượng chúa Giêsu thì bị chúng chặt đầu nằm trên nền nhà thờ.
Ước tính cho rằng, có khoảng 200.000 Kitô hữu sống trong khu vực Ninive. Những người Kitô Giáo đã bị sát hại chưa thể kiểm chứng chính xác được. Người ta chỉ có thể phỏng đoán căn cứ theo sự mất tích là 10.000 - 50.000 (từ mười ngàn đến năm mươi ngàn người)
Nhân quyền ở đâu? Sự liên đới của Liên Hiệp Quốc ở đâu? Tại sao lại để sự dữ tung hoành ngay trong thời đại tưởng chừng như nhờ văn minh con người đang xích lại gần nhau hơn? Hiểu hết, thấy hết những khốn khổ của người Công giáo ở Irak, ở Syria,... sao không thấy các nước can thiệp mạnh mẽ hơn để đẩy lùi sự dữ cho anh em của mình.
Ngượi dòng lịch sử Việt Nam, cha ông của  chúng ta cũng từng là nạn nhân của sự kỳ thị tôn giáo và chủng tộc. Chỉ vì là người Công Giáo mà bị kết tội chết, có khi nhẹ hơn là khắc lên trên trán hai chữ “tà đạo”...
Trải qua sáu triều Vua: Trịnh, Nguyễn, Tây Sơn, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, người Công Giáo bị coi là Tà đạo còn lại là “Lương dân”. Thật đắng lòng khi gọi người khác tôn giáo là lương dân còn mình thì bị tước khỏi danh hiệu ấy! Quyền được tôn trọng bị khước từ. Quyền tự do bị chối từ. Các tín hữu Việt Nam cũng từng trải qua những ngày tháng khắc nghiệt để giữ vững lòng tin. Một là bước qua Thập Giá để về nhà, hai là chịu án phạt của cái chết vô cùng dã man với các hình phạt: Bị gông cùm, bị xiềng xích, bị nhốt trong cũi, bị đánh đòn, bị bỏ đói, bị voi giầy, bị trói ném xuống sông, bị đổ dầu vào rốn rồi cho bấc vào mà đốt, bị đóng đinh vào ván rồi đem phơi nắng, bị chặt đầu, bị thắt cổ, bị thiêu sống, bị phân thây ra từng mảnh… Có 79 vị bị trảm quyết (bị chặt đầu); 18 vị bị xử giảo (bị thắt cổ); 8 vị chết rũ tù; 6 bị thiêu sinh; 4 bị lăng trì (phân thây ra từng mảnh); 1 bị tử thương và 1 bị bá đao.
Thật hạnh phúc cho Giáo hội Việt Nam vì trong số 300 ngàn vị tử đạo đã có đến 117 vị đã được Giáo hội tôn phong Hiển Thánh. Một con số cho thấy đời sống đức tin tuyệt vời của cha ông chúng ta. Các ngài đã nên thánh trong chính đời sống thường ngày của mình. Các ngài giữ đạo mến thương để mọi người ngoại đạo đều yêu mến kính trọng đời sống đức tin của các ngài. Và cái chết tử đạo chỉ là một đỉnh cao cho đời sống trung thành với đức  tin của mình mà thôi! Tử đạo là nét son trổi vượt cho một đời sống son sắt trung kiên với Tin mừng. Tử đạo chỉ có giá trị từ đời sống hằng ngày biết mến Chúa trên hết mọi sự và yêu mến tha nhân như chính mình.
Hôm nay mừng các thánh Tử Đạo Việt Nam, chúng ta tạ ơn Chúa đã cho quê hương chúng ta có nhiều mẫu gương  tuyệt vời về đời sống đức tin, về lòng mến Chúa yêu người. Chúng ta tạ ơn Chúa vì nhờ những gương sáng tuyệt vời ấy đã giúp Giáo Hội Việt Nam vượt qua những phong ba để trưởng thành và thăng tiến. Tạ ơn Chúa, tạ ơn các tiền nhân cũng là dịp để nhắc nhở chúng ta phải duy trì tinh thần sống đạo mến Chúa yêu người như cha ông chúng ta. Mừng kính các ngài không chỉ để ca tụng các ngài, mà quan yếu là dịp học hỏi gương sống đạo của cha ông để sống cho thời đại hôm nay. Một thời đại rất khoa học nên việc bách hại cũng rất tinh vi. Một thời đại rất văn minh nhưng lại quá nhiều lo sợ, bất an bởi an ninh, bởi nhiều cám dỗ, bởi đời sống thác loạn của môi trường.
Nguyện xin các thánh Tử Đạo Việt Nam giúp cho chúng con là con cháu được trung kiên giữ vững đức tin. Dẫu xã hội có nhiều cám dỗ, cạm bẫy, xin cho chúng con đừng vì danh lợi thú mà xa rời Chúa, xa rời Giáo hội. Xin Chúa giúp chúng con can trường giữ đạo trong mọi thử thách như cha ông chúng con xưa. Amen.

 

24/11-156 : Tri ân và mừng kính các Thánh Tổ Tiên

Suy niệm lễ các Thánh Tử Đạo Việt Nam
 

Hàng năm cứ đến ngày này, những người con dân Việt từ khắp muôn phương cùng với Giáo hội24/11-156

Hàng năm cứ đến ngày này, những người con dân Việt từ khắp muôn phương cùng với Giáo hội hoàn vũ hướng tâm hồn lên một cách đặc biệt để mừng kính Các Thánh Tử Đạo tại Việt Nam. Trong hân hoan vui sướng và hãnh diện, chúng ta tôn vinh, tri ân các ngài đồng thời hô vang : « Vạn vạn tuế các Thánh Tử Đạo Việt Nam, vạn vạn tuế các Thánh Tử Đạo anh hùng ».
Hôm nay chúng ta cùng nhau hướng tâm hồn lên một cách đặc biệt để mừng kính các ngài. Nói là đặc biệt về các ngài, nên chúng ta tạm đặt ra mấy câu hỏi cho là cơ bản, để nhờ đó chúng ta lần lượt đưa ra những gì đã hiểu biết về các ngài, mặc dù đây chỉ là những điều nhiều người đã biết.
Trước hết chúng ta cần xác nhận:
Hỏi : Các ngài là ai vậy?
Thưa : Các ngài là Các Thánh Tử Đạo tại Việt Nam, chết vì Đạo tại Việt Nam. Ở đây, từ ngữ Đạo được hiểu theo nghĩa chặt : Đạo Công Giáo Lamã, mà ai cũng biết rõ. Ngày nay thì Đạo Công Giáo Lamã hiện diện khắp nơi.
Hỏi : Các ngài là bao nhiêu?
Con số các ngài chính thức là 117 vị thánh và 1 á thánh. Đó là những vị đã được Tòa Thánh tuyên phong rõ ràng ngày 19.6.1988. Thế nhưng, đối với chúng ta hiểu, còn có biết bao nhiêu vị cũng đã « tử vì Đạo » tại Việt Nam mà chưa được tuyên phong. Dù vậy, các vị cũng phải được Giáo hội Việt Nam mừng kính. Thời gian bắt đầu vào năm 1580 và chỉ kết thúc hoàn toàn vào năm 1888, có khoảng 400.000 người bị lưu đầy và phát lưu. 130.000 người đã chết vì đạo.
Hỏi : Các ngài thuộc những thành phần nào?
Các ngài đã là các Kitô hữu thuộc đủ mọi thành phần, cấp bậc trong Giáo hội Công Giáo. Có 8 vị Giám mục, 50 linh mục, 59 giáo dân (gồm 1 chủng sinh, 16 giáo lý viên, 10 vị dòng ba Đa Minh và 1 phụ nữ) ... thuộc đủ mọi tuổi tác, hoàn cảnh sống : công chức, thương gia, công nhân, quân nhân, y sĩ, ngư phủ, trùm họ v.v. Trong số đó, bao gồm cả một số nhà truyền giáo (ngoại quốc) như Pháp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Ý... đã đến Việt Nam truyền Đạo và chết vì Đạo. Nói chung, cũng nhờ các vị truyền giáo này mà nhiều người Việt Nam biết Đạo, theo Đạo, sống Đạo và chết vì Đạo nữa, lại được nhập đoàn Các Thánh Tử Đạo tại Việt Nammà chúng ta đang kính nhớ.
Nói tóm lại, đây là những chứng nhân của Thiên Chúa, đã anh dũng hy sinh cả mạng sống tại Việt Nam để thi hành sứ vụ Thiên Chúa trao.
Nói mạnh hơn : các ngài là những tổ tiên anh dũng của chúng ta. Dĩ nhiên phải quả quyết : chính nhờ các ngài mà có chúng ta và ngày nay chúng ta luôn rất hãnh diện tuyên nhận các ngài là tổ tiên trước mặt cả thế giới.
Hôm nay, Giáo hội Việt Nam hân hoan và hãnh diện mừng kính các ngài như hướng về tổ tiên yêu quý.Ðọc lại tiểu sử các ngài, ta không khỏi cảm phục đức tin kiên cường của các ngài. Vì trung thành với Chúa, các ngài đã cam chịu thiệt thòi trong đời sống, mất hết chức quyền danh vọng, nhất là phải chịu muôn ngàn khổ hình, chịu mất mạng sống vì Đức tin.
Có những vị như thánh Hồ đình Hy, làm quan lớn trong triều đình. Quan án Phạm trọng Khảm, là những vị có chức có quyền trong xã hội đã thà mất chức quyền, mất danh vọng hơn mất Đức tin. Vì Chúa, các ngài không những đã sẵn sàng từ bỏ mọi quyền lợi trong xã hội mà còn sẵn sàng chịu mất mạng sống.
Có những vị như thánh Lê thị Thành, thân phận phụ nữ yếu ớt, gánh nặng gia đình, nhưng cũng đã sẵn sàng chịu mọi cực hình để minh chứng tình yêu đối với Ðức Giêsu Kitô.
Có những vị đầu xanh tuổi trẻ như Tôma Thiện, Phaolô Bột, mười mấy tuổi đầu, tương lai còn dài, đường đời còn nhiều hứa hẹn. Nhưng các ngài đã cương quyết khước từ tất cả, dâng hiến tuổi thanh xuân cho Đức tin chân chính.
Hỏi : Tại sao các ngài chết vì đạo ?
Thưa : Giết thì chết chứ còn sao nữa. Đây phải được coi là cơ bản của vấn đề. Kể ra, nếu nhìn bên ngoài thôi thì đã có câu trả lời rồi : chết vì Đạo mà ! Lúc đó một số các vua chúa ghét Đạo và cấm Đạo nên họ giết những người có Đạo mà không chịu bỏ Đạo. Bị họ giết thì chết, dù là người Việt hay ngoại quốc...thế nhưng, nhận xét cho đàng hoàng thì vấn đề chết vì Đạo ở đây có ý nghĩa rất phong phú. Có thể nói tóm gọn bằng 2 từ Tin Yêu. Nhưng hai từ này bao gồm ý nghĩa rất cao siêu mà Kitô Giáo gọi là « Thần Đức » : Đức Tin kéo theo Đức Cậy và Đức Mến. Ba nhân đức siêu việt hơn các nhân đức khác mà ta phải quả quyết : chỉ « người có Đạo » mới có .
Hỏi : Các ngài đã chết tử Đạo như thế nào ?
Về các hình khổ: Các ngài đã phải chịu mọi thứ cực hình mà người ta có thể nghĩ ra được như:
- Gông cùm, xiềng xích, nhốt trong cũi, đánh đòn, bỏ đói.
- Bị voi giầy, bị trói ném xuống sông, bị đổ dầu vào rốn rồi cho bấc vào mà đốt, bị đóng đinh vào ván rồi đem phơi nắng v.v.
- Quyết liệt hơn thì bị trảm quyết, tức là bị chặt đầu,bị xử giảo, tức là bị thắt cổ, hay bị thiêu sống.
- Vô cùng man rợ và hiểm độc như bị xử lăng trì, tức là phân thây ra từng mảnh hay là xứ bá đao.
Theo loại hình phạt 79 vị bị trảm quyết tức là bị chặt đầu. Như vậy là con số bị trảm quyết nhiều nhất. 18 vị bị xử giảo tức là bị thắt cổ. 8 vị chết rũ tù. 6 bị thiêu sinh. 4 bị lăng trì - tức là phân thây ra từng mảnh. 1 bị tử thương và. 1 bị bá đao.
Là người Công Giáo Việt Nam, chắc chắn mỗi khi đọc lại tiểu sử các ngài, ta cảm thấy một dòng máu hào hùng trào dâng trong huyết quản. Bị cuốn hút bởi cuộc sống và cái chết cao đẹp, anh dũng của các ngài, có lẽ ta cũng có đôi lần ao ước được như các ngài : Sống cao đẹp, chết anh dũng.
Kính lạy Các Thánh Tử Đạo Việt Nam, làm sao chúng con có thể có được cái chết cao đẹp như các ngài. Ngày nay đâu còn cảnh cấm Đạo, bắt Đạo, giết người có Đạo như thời vua quan ngày xưa nữa, nên chúng con không còn hy vọng chết vì Đạo. Xin cho chúng con biết học đòi, bắt chước các ngài trung thành với Đức tin và sống đạo cho đến trọn đời. Amen.
Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

 

24/11-157 :  LÀM CHỨNG CHO CHÚA HÔM NAY

CN 33 TN A - LỄ CÁC THÁNH TỬ ĐẠO VIỆT NAM (24/11)
2 Mcb 7,1.20-23.27b-29; Rm 8,31b-39; Ga 12,20-32
I. HỌC LỜI CHÚA
1.TIN MỪNG: Ga 12,20-32
(20) Trong số những người lên Giê-ru-sa-lem thờ phượng Thiên Chúa, có mấy người Hy Lạp. (21) Họ đến gặp ông Phi-lip-phê, người Bết-xai-đa miền Ga-li-lê và xin rằng: ”Thưa ông, chúng tôi muốn được gặp ông Giê-su”. (22) Ông Phi-lip-phê đi nói với ông An-rê. Ông An-rê cùng với ông Phi-lip-phê đến thưa với Đức Giê-su. (23) Đức Giê-su trả lời: ”Đã đến giờ Con Người được tôn vinh ! (24) Thật, Thầy bảo thật anh em: Nếu hạt lúa gieo vào lòng đất không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình. còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác. (25) Ai yêu quý mạng sống mình, thì sẽ mất. còn ai coi thường mạng sống mình ở đời này, thì sẽ giữ lại được cho sự sống đời đời. (26) Ai phục vụ Thầy, thì hãy theo Thầy, và Thầy ở đâu, kẻ phục vụ Thầy cũng sẽ ở đó. Ai phục vụ Thầy, Cha của Thầy sẽ quý trọng người ấy. (27) Bây giờ, tâm hồn Thầy xao xuyến ! Thầy biết nói gì đây ? Lạy Cha, xin cứu con khỏi giờ này. nhưng chính vì giờ này mà Con đã đến. (28) Lạy Cha, xin tôn vinh danh Cha”. Bấy giờ có tiếng từ trời vọng xuống: ”Ta đã tôn vinh danh Ta. Ta sẽ còn tôn vinh nữa !” (29) Dân chúng đứng ở đó nghe vậy liền nói: ”Đó là tiếng sấm !” Người khác lại bảo: ”Tiếng một thiên thần nói với ông ta đấy !” (30) Đức Giê-su đáp: ”Tiếng ấy đã vọng xuống không phải vì Tôi, mà vì các người. (31) Giờ đây đang diễn ra cuộc phán xét thế gian này. Giờ đây thủ lãnh thế gian này sắp bị tống ra ngòai ! (32) Phần Tôi, một khi được giương cao lên khỏi mặt đất, Tôi sẽ kéo mọi người lên với Tôi”.  (33) Đức Giê-su nói thế để ám chỉ người sẽ phải chết cách nào.
2. Ý CHÍNH:
 

Khi mấy người Hy-lạp đang ở Giê-ru-sa-lem yêu cầu các môn đệ cho được gặp Đức Giê-su, thì Người 24/11-157

Khi mấy người Hy-lạp đang ở Giê-ru-sa-lem yêu cầu các môn đệ cho được gặp Đức Giê-su, thì Người tuyên bố rằng: “Đã đến giờ Con Người được tôn vinh !” Sau đó, Người dùng hình ảnh một hạt lúa mì chỉ phát sinh thêm nhiều bông hạt khác nếu nó tự hủy đi. Cũng vậy, Người cũng sẽ phải trải qua sự chết rồi mới được vào trong vinh quang phục sinh. Về phần các môn đệ, các ông cũng cần phải đi con đường của Người: Ai coi thường mạng sống mình ở đời này, sẵn sàng thí mạng sống mình vì Đức Giê-su, thì sẽ có sự sống vĩnh cửu ở đời sau như Người đã hứa: “Thầy ở đâu, kẻ phục vụ Thầy cũng sẽ ở đó”.
II. SỐNG LỜI CHÚA:
1.LỜI CHÚA:  ”Đã đến giờ Con Người được tôn vinh ! Thật, Thầy bảo thật anh em: Nếu hạt lúa gieo vào lòng đất không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình. còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác”. (Ga 12,23-24).
2.CÂU CHUYỆN:
1) LOÀI NGƯỜI AI CŨNG SỢ CHẾT:
Một bác tiều phu đi đốn củi. Đốn được một bó to sắp mang về thì bác bỗng chợt nghĩ thấy đời mình sao khổ quá, tuổi đời cứ tăng lên, sức khoẻ thì sút đi, mà gánh nặng gia đình vẫn không đổi thay, lại thấy nhiều người chẳng phải lo đến chuyện cơm áo gạo tiền. Bác mới kêu lớn lên: "Ước gì tôi được gặp Thần Chết!"
Bác vừa nói xong thì thấy Thần Chết đứng ngay trước mặt, tay cầm lưỡi hái, miệng hỏi: "Ông lão muốn điều gì?" Bác lập cập trả lời: "Bó củi to nặng quá! Nhờ ngài đưa giùm lên vai tôi".
Thế đó, dù khổ đến đâu, sự sống vẫn luôn được yêu quý hơn mọi giá. Nhưng dù có quý trọng và giữ gìn đến đâu, cái chết vẫn là một sự thực không ai có thể phủ nhận được: "Mạng người dù giá cao mấy nữa, thì rồi ra cũng chấm dứt đời đời. Nào phàm nhân sống mãi được sao mà chẳng phải đến ngày tận số?" (Tv 49,9-10)
2) CUỘC TỬ ĐẠO CỦA THÁNH AN-RÊ TRẦN AN DŨNG LẠC
Trần An Dũng Lạc sinh năm 1795, gia đình ngoại giáo nghèo khó ở Bắc Ninh. Lớn lên, cậu theo cha mẹ đến xứ Kẻ Chợ sinh sống. Tại đây, cậu được một thầy giảng nhận làm con nuôi và cho ăn học. Cậu được chịu phép rửa tội và nhận tên thánh là An-rê. Sau đó cậu đáp lại ơn gọi dâng mình cho Chúa và theo học tại chủng viện Vĩnh Trị. Thầy An-rê được thụ phong linh mục vào năm 1823 khi được 28 tuổi. Từ khi thụ phong linh mục, cha An-rê được sai đi giúp xứ. Ở đâu cha cũng nêu gương sáng đạo đức qua cuộc sống khổ hạnh. Ngoài những ngày giữ chay theo luật định, cha còn tự nguyện giữ chay thêm suốt cả Mùa Chay và các ngày Thứ Sáu Thứ Bảy hàng tuần. Nhờ đời sống đơn sơ khiêm hạ và khắc khổ như vậy, nên cha đã gây được thiện cảm của những người chung quanh và thành công trên bước đường tông đồ: qua cha, nhiều tội nhân đã được ơn giao hòa với Chúa và nhiều người lương đã tin vào Chúa và xin gia nhập đạo.
Khi đạo Công giáo bị bách hại gắt gao thời vua Minh Mạng, cha An-rê Dũng đã phải trốn lánh ở nhiều nơi. Một lần kia ở Kẻ Roi, khi vừa dâng lễ xong thì bị quan quân vây bắt và được giáo dân chuộc về. Sau đó cha đã đổi tên Trần An Dũng thành Trần An Lạc. Lần thứ hai cha bị bắt ở xứ Kẻ Sông khi đang xưng tội với cha Phê-rô Thi. Hai cha bị quan quân đòi tiền chuộc tới 200 quan tiền. Nhưng giáo dân chỉ quyên góp được một nửa số tiền nói trên, nên chỉ mình cha Lạc được thả. Rồi cha lại bị đám lính khác bắt mang về huyện giam chung với cha Phê-rô Thi và cả hai được áp giải về Hà Nội.
Hôm sau, quan án cho điệu hai cha ra công đường tra xét và bắt phải bước qua Thánh Giá để tỏ ý bỏ đạo. Nhưng thay vì làm theo lệnh quan, hai cha lại cùng quì xuống hôn kính Thánh Giá và nói: “Không bao giờ chúng tôi chối Chúa và bỏ đạo cả. Chúng tôi đã suốt đời hy sinh vất vả đem Chúa đến cho người khác, thì lẽ nào bây giờ lại hèn nhát chối bỏ Chúa !”. Trước sự bất tuân của hai cha, quan tức giận sai lính đem nhốt các ngài vào ngục thất và làm thành án gửi về kinh. Suốt thời gian ở trong tù, hai cha luôn cầu nguyện và ăn chay hãm mình, xin Chúa cho được ơn bền đỗ đến cùng. Tuy giáo dân được phép thăm nuôi hằng ngày, nhưng hai cha yêu cầu họ đừng đem đồ ăn ngon đến, và nếu bữa nào có thịt cá thì các ngài lại cho các bạn tù hoặc cho lính canh.
Ngày 21 tháng 12 năm 1839, hai cha đã chính thức nghe án lệnh xử trảm của nhà vua. Rồi hai cha bị điệu ra pháp trường Cầu Giấy ở Hà Nội. Đến nơi, các ngài cầu nguyện ít phút, rồi cúi đầu cho lý hình dễ dàng thi hành phận sự. Đức Thánh Cha Lê-ô 13 đã tôn phong các ngài lên hàng chân phước tử đạo vào ngày 27 tháng 05 năm 1900. Và ngày 19 tháng 06 năm 1988, Đức Thánh Cha Gio-an Phao-lô II lại nâng các ngài lên bậc hiển thánh. Hội Thánh cũng chọn làm lễ kính “Thánh An-rê Trần An Dũng Lạc Và Các Bạn Tử Đạo” hay lễ kính “Các Thánh Tử Đạo Tại Việt Nam”.
3) THÀY GIẢNG AN-RÊ PHÚ YÊN SẴN SÀNG CHẾT VÌ DANH CHÚA:
Một thanh niên 19 tuổi bị tuyên án tử hình mà không được nói một lời để bào chữa mình. Người tuyên án là quan trấn tỉnh Phú Yên. Vào tháng 7 năm 1644 vị quan này từ triều đình nhà vua về, đem theo sắc lệnh cấm đạo và bắt đầu giam một ông già tên rửa tội là Anrê, rồi sai một toán lính đến nhà vị thừa sai Đắc Lộc để bắt thầy giảng số một là Inbaxu. Khi toán lính xông vào nhà tìm thầy Inbaxu thì chỉ gặp người thanh niên Phú Yên là người mà Cha Đắc Lộ đã rửa tội được ba năm và đã từng cho đi theo để giúp dạy giáo lý. Người thanh niên này đã can đảm nhận hết các tội chúng gán cho thầy Inbaxu và các thầy giảng, nên bị chúng trói lại và điệu đi. Anrê Phú Yên vui vẻ theo toán lính và trong suốt quảng đường không ngừng giảng cho những kẻ dẫn mình vào ngục biết đường tránh hỏa ngục hầu hưởng phúc Thiên Đàng.
Nhờ sự can thiệp của cha Đắc Lộ và một số thương gia người Bồ Đào Nha, ông già Anrê được tha bổng, còn Anrê Phú Yên thì không. Người thanh niên cường tráng này dám cương quyết thà chết chẳng thà bỏ đạo nên sẽ phải chết để nêu gương cho mọi người biết vâng lệnh nhà vua. Vậy lính dẫn Anrê Phú Yên tới thửa ruộng cách thành phố chừng nửa dặm. Mặc dầu đeo gông nặng, Anrê đi rất nhanh đến nỗi cha Đắc Lộ theo không kịp. Tới nơi hành quyết, thầy giảng trẻ tuổi Anrê quỳ xuống để chiến đấu cho can đảm hơn. Lính gác chung quanh không cho ai vào phía trong cả, nhưng viên đội trưởng cho phép cha Đắc Lộ được đứng cạnh thầy. Cha thấy rõ mắt thầy Anrê nhìn trời cao, miệng luôn hé mở và kêu danh thánh Giê-su.
Một người lính lấy giáo đâm thầy từ phía lưng, thâu qua ngực chừng hai bàn tay. Khi ấy thầy nhìn cha Đắc Lộ như để vĩnh biệt và cha khuyên thầy nhìn lên trời là nơi thầy sắp được Chúa Giê-su đón vào cõi phúc. Từ giây phút đó thầy chăm chút nhìn lên và không còn nhìn xuống nữa. Người lính rút lưỡi giáo ra đâm phát thứ hai, rồi đến phát thứ ba, hắn cố ý đâm trúng tim anh nhưng vẫn chưa chết. Thấy thế, một người lính khác lấy mã tấu chặt vào cổ anh, anh vẫn chưa xong, phải thêm một nhát thứ hai đầu anh mới lìa khỏi cổ, máu chảy tràn lai làng. Hành quyết xong, toán lính kéo nhau ra bờ sông để rửa các vết máu. Cha Đắc Lộ nhặt đầu anh gói lại kỹ càng như một báu vật, còn xác anh ngài tẩm liệm gởi xuống tàu buôn đưa về Macao chôn cất. Ngài biết đây là một thánh nhân, cần tôn trọng thi thể để ngàn đời lưu danh.
3. SUY NIỆM:
1) TỬ ĐẠO LÀ CHẤP NHẬN CON ĐƯỜNG “QUA ĐAU KHỔ VÀO TRONG VINH QUANG”:
Đức Giê-su đã tiên báo: “Con Người phải chịu đau khổ nhiều, bị các kỳ mục, thượng tế cùng kinh sư loại bỏ, bị giết chết, và ngày thứ ba sẽ trỗi dậy”. Rồi Người kêu gọi : “Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo” (Lc 9,22-23).Người tiên báo : “Tôi tớ không lớn hơn chủ nhà. Nếu họ đã bắt bớ Thầy họ cũng sẽ bắt bớ anh em” (Ga 15,20). Lời tiên báo này đã được ứng nghiệm trong Hội Thánh như sau:
- Ứng nghiệm nơi Đức Giê-su: Vào năm ba mươi tuổi, Đức Giê-su đã thi hành sứ vụ đi rao giảng Tin Mừng Nước Trời. Các đầu mục Do thái do không tin Đức Giê-su là Đấng Cứu Thế, nên tìm mọi cách để chống lại Người: Họ tố cáo Người lộng ngôn phạm thượng khi dám gọi Thiên Chúa là Cha “Ab-ba” (Cha ơi), và con xưng mình là Con Thiên Chúa; tố Người đã nhờ tay Quỷ Vương mà trừ quỷ; Tố Người phạm luật “hưu lễ” khi hành nghề chữa bệnh trong ngày Sabat; Tố Người đã xách động quần chúng không nôp thuế cho chính quyền Rô-ma... Cuối cùng họ đã bắt Người và kết án tử hình cho Người trong Thượng Hội Đồng Do Thái, rồi nộp Người cho quan Tổng Trấn Phi-la-tô và làm áp lực để ông này phải kết án tử hình thập giá cho Người.
- Ứng nghiệm nơi các Tông đồ: Sau lễ Ngũ Tuần, Các Tông đồ được đầy ơn Thánh Thần đã bắt đâu chu toàn sứ mệnh rao giảng Tin Mừng cho muôn dân, bắt đầu từ Giê-ru-sa-lem đến tận cùng thế giới là thủ đô Rô-ma. Các ông đã bị bắt bớ dánh đòn và bị kết án tử hình. Trong số 12 tông đồ thì ngoài Gioan bị chết già, còn các vị khác đều bị giết chết vì danh Chúa Giê-su. Tông đồ Phê-rô bị đóng đinh ngược và tông đồ Phao-lô bị chém đầu tại thủ đô Rô-ma.
- Ứng nghiệm nơi Hội Thánh Sơ Khai: Giáo Hội Chúa Ki-tô đã trải qua gần 300 năm bị bách hại do người Do Thái và do các hoàng đế Rô-ma. Đến triều hoàng đế Công-tăng-tanh đạo mới được sắc chỉ tha và sau đó còn trở thành quốc giáo. Trong suốt thời gian ấy,  các tín hữu đã phải trốn tránh dưới các hang hố đào trong lòng đất, gọi là các hang toại đạo tại thủ đô Rô-ma. Rất nhiều Tông đồ và giáo dân đã bị bắt bớ, xử tử, nhất là dưới triều hoàng đế Nê-rông.
- Ừng nghiệm nơi Hội Thánh Việt Nam: Ngay từ thế kỷ 16, các vị thừa sai ngoại quốc đã đi theo các đoàn thương thuyền vượt biển từ các nước Âu châu đến Việt Nam giảng đạo theo lệnh Chúa truyền. Nhưng vua quan nước ta thời đó do thiếu khôn ngoan và hiểu biết, đã đồng hóa đạo với đế quốc xâm lược, và ra nhiều sắc chỉ cấm đạo. Phong trào Cần Vương, Văn Thân thời đó đã khích động dân chúng đi phá các làng theo đạo, đốt cháy nhiều nhà thờ và bắt bớ các vị thừa sai, các đạo trưởng và những người có uy tín trong đạo… Rất nhiều tín hữu phải bỏ lại nhà cửa, ruộng vườn và sản nghiệp để chạy trốn vào những nơi rừng thiêng nước độc để bảo toàn mạng sống và để giữ vững đức tin. Đã có hàng trăm ngàn tín hữu bị bách hại trong thời kỳ này: Họ bị phân sáp thành vài ba người và phải vào ở giữa làng người lương. Nhiều làng công giáo bị đốt phá, nhiều nhà thờ bị triệt hạ. Trong số các tín hữu bị giết hại ấy, Hội Thánh sau khi điều tra đã tôn phong một số vị có đầy đủ hồ sơ chứng tích vào hàng ngũ các thánh Tử Đạo Việt Nam.
2) TỬ ĐẠO LÀ SẴN SÀNG CHỊU CHẾT VÌ ĐỨC TIN ĐỂ BIỂU LỘ LÒNG YÊU MẾN CHÚA:
- Một trong những thử thách mà vua quan ngày xưa áp dụng là đặt một cây thánh giá dưới đất rồi truyền cho các tín hữu bị bắt phải bước qua. Ai bước qua thánh giá là dấu công khai bỏ đạo thì sẽ được tha. Ai kiên quyết không bước qua thì bị coi là ngoan cố nên sẽ bị hành hình đến chết. Nhưng chính thái độ sẵn sàng chịu chết này lại là bằng chứng của lòng mến Chúa tột đỉnh.
- Trong số 117 vị thánh Tử Đạo Việt Nam có 8 Giám Mục, 50 Linh Mục, 59 Giáo Dân, một phụ nữ là bà Anê Lê Thị Thành, mẹ của sáu người con. Các ngài thuộc đủ mọi thành phần xã hội, lứa tuổi, ngành nghề như: công chức, thương gia, công nhân, quân nhân, y sĩ, ngư phủ, trùm họ v.v. Trong số đó, có một số nhà truyền giáo “ngoại quốc” như người Pháp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Ý… đã đến Việt nam truyền đạo và đã được phúc tử vì đạo.
- Các ngài đã phải chịu mọi cực hình như: gông cùm xiềng xích trong cũi, bị voi giầy, bị trảm quyết (chặt đầu), xử giảo (thắt cổ), bị thiêu sinh (bị đốt cháy trong lửa đến chết), bị lăng trì (phân thây ra từng mảnh), bị bá đao (bị chém bằng trăm nhát đao), bị chết rũ tù (Chết bệnh trong thời gian đang ở tù)… để biểu lộ lòng mến tột đỉnh như lời Chúa phán:Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình” (Ga 15,13).
3) MUỐN ĐƯỢC TỬ ĐẠO PHẢI CHẾT CHO TỘI LỖI VÀ SÔNG LẠI TRONG ƠN CHÚA:
- Không phải chỉ có việc chịu chết là trở thành thánh tử đạo: Thực vậy, trước khi can đảm chịu chém đầu tại pháp trường hay trung thành chịu chết trong chốn ngục tù, các thánh tử đạo đã phải là những người chồng người vợ chu toàn bổn phận đối với gia đình và xã hội; Đã phải là những người con hiếu thảo với cha mẹ; Đã phải là những người lính dũng cảm sẵn sàng bảo vệ quê hương; Đã phải là những thầy thuốc và lý trưởng có tinh thần phục vụ cao… Vì người ta sẽ không thể là công dân của Nước Trời, nếu không là công dân tốt ở trần gian.
- Mừng kính các thánh Tử đạo Việt Nam là dịp nhắc nhở chúng ta sống niềm tin yêu trung kiên trong mọi tình huống gặp phải. Đừng vì gặp chút khó khăn mà đã chán nản bỏ đạo. Đừng thất vọng khi nhìn thấy gương xấu của một vài vị mục tử. Vì “Con người nhân vô thập toàn”: Trong thửa ruộng Hội Thánh trần gian vẫn luôn có cỏ lùng mọc chen với lúa tốt. Ngay trong hàng ngũ mười hai Tông Đồ do chính Đức Giê-su tuyển chọn và huấn luyện cũng vẫn có một Giu-đa phản bội bán nộp Thầy cho kẻ thù với giá ba mươi quan tiền.
4) LÀM CHỨNG BẰNG LỐI SỐNG VỊ THA NHÂN ÁI VÀ KHIÊM NHƯỜNG PHỤC VỤ:
- Làm chứng cho Chúa bằng sự thực thi giới răn yêu thương theo Lời Chúa dạy:
Không phải một sớm một chiều mà từ một con quỷ xấu xa có thể biến thành một vị thánh từ bi nhân ái, mà người ta chỉ có thể nên thánh với thời gian tập luyện: “Cây xiêu theo chiều nào thì sẽ đổ theo chiều ấy”. Kinh nghiệm cho thấy thực trạng người ta để có thể thay đổi: Khi xã hội và thời thế thay đổi, thì nhiều tín hữu cũng lập tức chối bỏ đức tin chỉ vì miếng cơm manh áo, vì muốn có địa vị cao trong xã hội, hay muốn được tự do hưởng thụ những lạc thú thấp hèn. Nguyên nhân chính yếu là do các tín hữu đó đã không tin cậy vào ơn Chúa giúp, và không học sống theo Lời Chúa dạy. Ngôi nhà Đức tin của họ mới chỉ được xây trên nền cát, nên dễ bị lún sụt khi hoàn cảnh khó khăn như mưa bão lũ lụt xảy ra.
- Ngày nay chúng ta cần làm chứng cho Chúa và tránh thành kẻ phản chứng thế nào? :
+ Trong môi trường xã hội hôm nay, chúng ta chỉ chiếu sáng đức tin hay làm chứng cho Chúa cách hữu hiệu bằng lối sống yêu thương, luôn tha thứ và khiêm nhường phục vụ tha nhân.
Trong gia đình, vợ chồng sẽ làm chứng cho Chúa bằng cách vun sới tình yêu bằng sự tôn trọng lẫn nhau, cha mẹ quan tâm nuôi dạy con cái nên người. Con cái hiếu thảo vâng lời cha mẹ. Học trò làm chứng cho Chúa bằng việc chăm chỉ học hành, đạt thành tích cao. Các cầu thủ bóng đá hay các môn thi đấu chỉ làm chứng cho Chúa khi đạt thành tích cao được tuyên dương thăng thưởng.
+ Trái lại, chúng ta sẽ “chối đạo”, sẽ “đạp lên thánh giá ” và trở thành kẻ phản chứng:
Khi ta quá ích kỷ, chỉ nghĩ đến mình, mà không biết quảng đại cho đi và khiêm nhường phục vụ.
Khi ta chỉ lo tìm kiếm tiền bạc và chức quyền bất cứ giá nào, dù phải vi phạm giới răn của Chúa.
Khi ta thụ động trước những bất công và thờ ơ trước những người khổ đau bất hạnh bên cạnh.
Khi ta không giữ lời thề chung thủy vợ chồng, để chiều theo đam mê hưởng thụ lạc thú bất chính.
Khi cha mẹ nhẫn tâm giết con bằng các phương pháp ngừa thai nhân tạo hoặc nạo phá thai.
Khi ta sa đà vào bàn nhậu say xỉn để bàn chuyện làm ăn bất chính, hơn là đi dự lễ Chúa Nhật.
Khi ta nuôi lòng hận thù tha nhân, và không chịu làm hòa và tha thứ theo lời Chúa dạy.
Khi ta thoả hiệp với thế gian, cố tình bịt tai nhắm mắt không dám lên tiếng bênh vực công lý.
4. THẢO LUẬN:
1)Tại sao đạo Công Giáo luôn bị người đời thù ghét bách hại ?
2)Tử đạo là sẵn sàng chịu chết để làm chứng cho Chúa (x. Cv 1,8). Mỗi người chúng ta phải làm chứng cho Chúa thế nào trước mặt anh em lương dân ? 
5.NGUYỆN CẦU:
- LẠY CHÚA GIÊ-SU VỊ TỬ ĐẠO TIÊN KHỞI. Xin cho chúng con luôn giữ đức tin của mình, giữ được vị mặn của muối, tác động của men… để đem đến cho trần gian một sức sống mới và một tinh thần mới của Thánh Thần, để cộng tác với Chúa thánh hóa trần gian nên Trời Mới Đất Mới.
- LẠY CHÚA. Xưa Chúa đã dạy các môn đệ : “Anh em sống giữa thế gian, nhưng không thuộc về trần gian”. Xin cho chúng con hôm nay đừng bao giờ bỏ Chúa để chạy theo những cám dỗ của thế gian, ma quỉ và xác thịt. Xin cho chúng con luôn ý thức rằng: “Con nhà tông không giống lông, cũng giống cánh” để chúng con luôn sống xứng đáng là những con cháu của các anh hùng Tử Đạo Việt Nam. Xin cho chúng con luôn chiếu ánh sáng tin yêu trước mặt người đời: Biết nở nụ cười thân ái mỗi khi tiếp xúc với tha nhân; Luôn cởi mở đi bước trước làm quen với những người mới gặp; Động viên an ủi những ai đang bị rủi ro ; Khiêm nhường phục vụ những người đau yếu bất hạnh, để chúng con nên chứng nhân Tình Thương của Chúa và giúp đưa nhiều người về làm con Chúa trong Hội Thánh.
          X) HIỆP CÙNG MẸ MA-RI-A.- Đ) XIN CHÚA NHẬM LỜI CHÚNG CON.
LM ĐAN VINH -  HHTM

 

24/11-158 : Các Thánh Tử đạo Việt Nam liều chết vì Chúa

 CHÚA NHẬT 33 THƯỜNG NIÊN
 

 Mở các trang sử của Giáo Hội khắp nơi, chắc chắn không đâu có nhiều tín hữu đã phải chết để làm 24/11-158 

Lắng nghe sứ điệp của bài Tin Mừng  (Lu-ca 9:23-26)
Mở các trang sử của Giáo Hội khắp nơi, chắc chắn không đâu có nhiều tín hữu đã phải chết để làm chứng cho đức tin vào Chúa Ki-tô như ở Việt Nam.  Ngay trong đế quốc Rô-ma, con số các vị tử đạo suốt ba trăm năm có lẽ vẫn còn ít hơn số Ki-tô hữu Việt Nam đã chịu chết để làm chứng cho Chúa Ki-tô trong khoảng ba thế kỷ.  Để nói lên lịch sử tử đạo tại Việt Nam, không lời nào thích hợp hơn bằng lời của thánh Phao-lô:  “Ai có thể tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Đức Ki-tô?  Phải chăng là gian truân, khốn khổ, đói rách, hiểm nguy, bắt bớ, gươm giáo?  Như có lời chép:  Chính vì Ngài mà mỗi ngày chúng con bị giết, bị coi như bày cừu để sát sinh” (Rô-ma 8:35-36).  Vậy đâu là những lý do khiến các thánh Tử đạo Việt Nam đã liều mất mạng sống mình vì Chúa Ki-tô?
          Lý do mạnh nhất khiến các vị Tử đạo Việt Nam liều chết là vì các ngài muốn theo Chúa.  Đáp lời Chúa kêu gọi “Ai muốn theo Tôi…”, các ngài không những sẵn sàng từ bỏ mình, vác thập giá, mà còn “liều mất mạng sống mình” nữa.  Phải nói rằng các thánh Tử đạo Việt Nam đã sống từng lời từng chữ điều Chúa Giê-su nhắn nhủ những ai muốn làm môn đệ Người, như trong bài Tin Mừng thánh Lu-ca hôm nay.  Các ngài noi gương Chúa Giê-su để cứu lấy mạng sống mình bằng cách liều chết vì Chúa.  Phải, chính Chúa Giê-su đã liều chết trên thập giá để cứu lấy mạng sống của Người nhờ sự Phục Sinh.  Người đã liều mạng để thi hành thánh ý Chúa Cha, nên mạng sống của Người đã được cứu khi Thánh Thần cho Người sống lại vinh hiển.
          Lý do thứ hai khiến các thánh Tử đạo Việt Nam sẵn sàng thà chết là bởi các ngài không muốn xấu hổ vì Chúa và những lời của Chúa.  Bước qua thánh giá để được sống thêm ít năm trên trần gian hoặc được vua quan thưởng tiền, đó là điều phản bội làm cho Chúa Giê-su bị xấu hổ!  Vì thế, các thánh Tử đạo đã can đảm thà chịu cực hình và chịu chết, chứ không bao giờ làm cho danh Chúa phải nhuốc nhơ vì hành vi tham sống của mình.  Đọc lại truyện các thánh Tử đạo Việt Nam, chúng ta không khỏi rùng mình khi thấy các ngài phải chịu những cực hình làm đau đớn thể xác.  Vua quan tha hồ nghĩ ra những cách dã man nhất để làm cho Ki-tô hữu phải sợ hãi mà chối đạo.  Nhưng lòng trung thành của các ngài đã giúp các ngài chỉ sợ hãi duy có một điều, là phản bội Chúa Giê-su, Đấng sẽ “ngự đến trong vinh quang của mình, của Chúa Cha và các thánh thiên thần”.
          Lý do thứ ba và cũng là lý do quan trọng nhất, đó là vì các thánh Tử đạo Việt Nam đã muốn đáp lại tình yêu của Chúa Ki-tô, nên không để cho bất cứ điều gì tách các ngài ra khỏi Chúa, dù cho có bị bách hại và chịu chết.  Cũng như thánh Phao-lô Tông đồ ngày xưa, các thánh Tử đạo Việt Nam đã cảm nhận thật sâu xa tình yêu của Chúa Ki-tô, nên trong mọi thử thách ấy, các ngài đã toàn thắng nhờ Đấng đã yêu mến các ngài (Rô-ma 8:37).  Tình yêu đích thực loại trừ mọi phản bội.  Các ngài lý giải:  Nếu Chúa Giê-su đã liều chết để chứng mình tình yêu của Thiên Chúa dành cho chúng ta, thì tại sao chúng ta lại không sẵn sàng chịu đau khổ và chịu chết để minh chứng chúng ta yêu mến Thiên Chúa?  Đúng là không có tình yêu nào vĩ đại hơn tình yêu của người hy sinh mạng sống vì bạn hữu!
Sống sứ điệp Tin Mừng
          Hôm nay chúng ta có ít nhất 118 vị với danh tính rõ ràng, đã làm gương liều mất mạng sống vì Chúa, chưa kể hàng trăm ngàn vị tử đạo vô danh khác của giáo hội Việt Nam.  Trong số các vị Tử đạo đã được tôn phong hiển thánh, gồm đủ mọi thành phần.  Có các giám mục, linh mục, tu sĩ, chủng sinh và giáo dân.  Có những vị quan triều đình, thầy thuốc, binh lính, lý trưởng trong làng xã, trùm trưởng thuộc giáo xứ giáo họ.  Tất cả các ngài đều chung một lý tưởng:  quyết tâm liều mất mạng sống mình để làm chứng cho đức tin và lòng yêu mến Chúa Ki-tô.
          Linh đạo của Ki-tô hữu là chết vì đạo hằng ngày.  Chúng ta không phải chịu cuộc tử đạo đỏ (đổ máu) như các thánh Tử đạo của giáo hội Việt Nam chúng ta, nhưng là cuộc tử đạo trắng, tức là chấp nhận mọi hy sinh vì đức tin và lòng yêu mến Chúa.
          Lm. Đa-minh Trần đình Nhi        

 

24/11-159 : Các Thánh Tử Đạo Việt Nam

- Ga 12,20-32
 

Nhìn vào lịch sử, chúng ta thấy ở mọi nơi và trong mọi lúc, người môn đệ của Chúa vẫn phải chịu 24/11-159 Luong

Nhìn vào lịch sử, chúng ta thấy ở mọi nơi và trong mọi lúc, người môn đệ của Chúa vẫn phải chịu chung một số phận với Thầy mình, nghĩa là bị bắt bớ và bị cấm cách, bị ghét bỏ và bị giết chết. Thời nào cũng có những vị tử đạo.
Hôm nay là ngày giỗ tổ, ngày Giáo Hội Việt Nam chúng ta long trọng mừng kính các Thánh Tử Đạo, những vị anh hùng đã bỏ mình vì Chúa, đã đổ máu đào để làm chứng cho đức tin, cũng như để xây dựng Giáo Hội.
Lịch sử cho biết: Ngày 19.3.1615, hai vị thừa sai đầu tiên đã lén lút chèo một chiếc thuyền vào cửa Bạng ngoài Thanh Hóa, để bắt đầu công việc giảng đạo. Hai đấng thấy trên một mỏm đá ở giữa giòng sông hình cây thánh giá, được vẽ bằng vôi. Các đấng ấy hiểu ra rằng: Đây là dấu Chúa cho hay sẽ có bắt bớ và cấm cách. Mà thực vậy, ba trăm năm rao giảng Tin Mừng cũng là ba trăm năm máu chảy đầu rơi. Sau Giáo Hội Rôma, thì có lẽ Giáo Hội Việt Nam đã dâng cho Thiên Chúa nhiều vị thánh tử đạo hơn cả. Trên một trăm ngàn người đã chết vì đức tin, trong đó có 117 vị đã được tôn phong lên hàng hiển thánh. Vậy các ngài là những ai?
Có khi các ngài là những người giáo dân không tên tuổi, mà lịch sử chỉ ghi lại bằng những cử chỉ anh hùng. Có vị bị bắt, rồi bị lính lấy dùi nung đỏ khắc lên hai gò má bốn chữ “Giatô tả đạo”, rồi tống vào ngục. Trong ngục, ông đã tự thẹn cho rằng mình thiếu can đảm, không dám tỏ thái độ. Giatô đâu phải là tả đạo, mà là chánh đạo. Vì thế, ngay đêm hôm đó, ông đã xin bạn tù lấy dao rạch và bỏ đi hai chữ tả đạo, chỉ để lại hai chữ Giatô, thánh danh Đức Kitô mà thôi. Các chị em phụ nữ cũ không kém phần anh hùng. Có một thiếu phụ bị bắt và bị kết án voi giày. Gần tới ngày ra pháp trường, bà xin người nhà gửi vào cho bà một bộ áo cưới hợp thời trang nhất vì bà nghĩ rằng ngày bà chết là ngày bà được gặp gỡ Đức Kitô.
Phải. Các ngài là những người thuộc đủ mọi thành phần, mọi tuổi tác, mọi nghề nghiệp. Thế nhưng, các ngài đã làm gì? Các ngài là cha ông của chúng ta, đã sống trên đất nước mình, đã yêu mến quê hương mình, đã chia sẻ số phận với đồng bào của mình. Và cách riêng, các ngài đã chia sẻ niềm tin với chúng ta. Các ngài đã hiên ngang sống và làm chứng cho niềm tin, thà chết chứ chẳng thà chối bỏ Chúa: Ai tuyên xưng Ta trước mặt người đời, thì Ta sẽ tuyên xưng nó trước mặt Cha Ta, Đấng ngự ở trên trời.
Một ngày kia, các ngài đã phải chọn lựa: giữa mất và còn, giữa trung thành và phản bội, giữa sống và chết. Cuối cùng, các ngài đã chọn Đức Kitô và đã lấy máu đào làm chứng cho Tin Mừng của Ngài. Tử đạo chính là chọn Chúa và làm chứng cho Chúa. Tử đạo chính là sống đạo một cách tích cực và làm tông đồ một cách nhiệt thành. Tử đạo chính là trở nên men trong bột, muối trong đồ ăn và ánh sáng trong đêm tối.
Trong ngày giỗ tổ hôm nay, chúng ta hãy ôn cố tri tân, ôn lại chuyện cũ của các ngài, đề tìm lấy một cách sống mới, phụ hợp với tinh thần Phúc âm, để rồi chúng ta cũng sẽ trở nên là những chứng nhân cho Chúa giữa lòng cuộc đời.

 

24/11-160 : Làm chứng cho Tình yêu

(Suy niệm của Lm. GB. Trần Văn Hào SDB)
 

Một lãnh tụ vô thần đã tuyên bố: “Chúng ta hãy triệt phá Giáo hội, nhưng đừng tạo ra những vị 24/11-160 

Một lãnh tụ vô thần đã tuyên bố: “Chúng ta hãy triệt phá Giáo hội, nhưng đừng tạo ra những vị tử đạo”. Khi tuyên bố như thế, một cách mặc nhiên ông ta công nhận điều mà Thánh giáo phụ Tertulianô đã nói là đúng: “Máu các Thánh tử đạo là hạt giống nảy sinh các Kitô hữu”. Hôm nay, chúng ta mừng kính các Thánh Tử đạo tại Việt Nam. Máu các Ngài đã đổ ra năm xưa, dệt nên những trang sử oai hùng giữa lòng dân tộc. Chúng ta kính cẩn nghiêng mình tưởng nhớ cái chết của các bậc tiền bối cha ông và mở lòng đón nhận sứ điệp về ơn gọi tử đạo mà các Ngài chuyển giao cho con cháu là chúng ta ngày hôm nay.
Lược sử Giáo hội Việt Nam qua dòng thời gian
Hạt giống đức tin đã được gieo vào mảnh đất quê hương Việt Nam từ hơn 500 năm trước. Trong suốt chiều dài lịch sử, Giáo hội Việt Nam đã trải qua hơn 100 năm sống trong bách hại. Sắc dụ cấm đạo đầu tiên được ban hành năm 1625, kéo dài đến hết thời Văn Thân năm 1886. Hàng vạn con người đã ngã xuống do sự thù ghét. Thế gian ghét đạo, ghét Đức Giêsu và ghét luôn những môn đệ của Ngài. Đây chính là điều mà Chúa Giêsu đã cảnh báo từ 2000 năm trước (Mt 5, 11; 10, 22). Trong số các anh hùng Tử đạo, đã có 118 vị được ghi tên trong sổ bộ các thánh, gồm 117 Hiển thánh và một Chân phước. Có 97 vị là người Việt Nam, 11 vị Tây Ban Nha, và 10 vị người Pháp. Họ thuộc đủ các giai tầng xã hội, gồm 8 Giám mục, 50 linh mục, 15 thầy giảng, 1 chủng sinh và 44 giáo dân. Trong số giáo dân, có cả những vị làm quan trong triều đình, có vị làm nghề thu thuế, làm binh lính, y sĩ hoặc chỉ là nông dân quèn. Dù là người Việt Nam hay ngoại quốc, các Thánh Tử đạo đều nói lên một chứng từ duy nhất, đó là các Ngài làm chứng về Đức Giêsu chịu hiến tế, như Thánh Phaolô đã khẳng quyết: “ Chúng tôi rao giảng một Đức Kitô bị đóng đinh vào Thập giá”. Cái chết của các Ngài là bài giảng sống động nhất và thâm thúy nhất. Họ rao giảng không phải trên lý thuyết, nhưng bằng chứng tá cụ thể, những chứng tá sống động và rất sâu xa. Có 6 loại án được thực hiện để hành quyết các vị tử đạo: Bá đao (cắt thân thể thành trăm mảnh) có 1 vị;  Lăng trì (chặt chân tay, mổ bụng và vất xuống sông)  có 4 vị ; Thiêu sinh (đốt sống) có 6 vị;  Xử giảo (xiết cổ bằng dây) có 2 vị ; Xử trảm (chém đầu) có 75 vị và chết rũ tù có 9 vị. Vị Tử đạo lớn tuổi nhất là linh mục Vũ Bá Loan 84 tuổi và trẻ nhất là chủng sinh Tôma Thiện 18 tuổi. Trong thời Trịnh Nguyễn  từ năm 1745 đến năm 1774 có 4 vị. Thời vua Cảnh Thịnh (1788 - 1801 ) có 2 vị. Dưới thời Minh mạng (1820 – 1840) có 58 vị tử đạo. Trong thời Thiệu Trị từ năm 1841 đến 1847 có 3 vị và thời Tự Đức  từ năm 1847 đến 1883 có 50 vị. Đó là phác lược tổng quát các mốc điểm thời gian và bối cảnh dẫn đến cái chết của các Thánh Tử đạo. Nhìn lại một cách thoáng chung lịch sử của Giáo hội Việt Nam, chúng ta tạ ơn Chúa vì gia sản đức tin mà cha ông đã để lại. Gia sản đó được đan dệt bằng máu và nước mắt, đúng như lời quả quyết của thánh Tertulianô: “ Máu các vị tử đạo là hạt giống nảy sinh các Kitô hữu.”(Sanguis Martyrorum semens Christianorum est)
Ý nghĩa của việc tử đạo
Triết gia Jean Guitton, bạn thân của Đức Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô đệ nhị có kể lại một giai thoại. Hồi còn rất nhỏ, ban đêm ông ngủ với mẹ. Nhà hàng xóm bên cạnh có người chết. Giữa đêm khuya vắng bỗng có tiếng khóc ai oán vang lên nghe thật não nuột. Đứa bé sợ, ôm chầm lấy mẹ và hỏi: “ Mẹ ơi, chết là gì hả mẹ?” Bà mẹ trẻ lúng túng không biết trả lời thằng bé thế nào. Bà ngồi bật dậy mở Kinh thánh ra đọc. Trong Tin mừng Gioan, bà đọc thấy đoạn sau: “ Trước lễ vượt qua, Đức Giêsu biết giờ của Người đã đến, giờ phải bỏ thế gian mà về với Chúa Cha. Người vẫn yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở thế gian, và Người yêu thương họ đến cùng (Ga 13,1)”. Gấp sách lại, bà nói với đứa con: “Con ơi, chết là trở về với Chúa Cha và yêu thương đến cùng. Đây là hai chiều kích đặc thù nơi cái chết của Đức Giêsu, vị tử đạo đầu tiên, và cũng được lập lại nơi cái chết của các Thánh tử đạo tại Việt nam. Các Ngài đã chết để trở về nhà Cha và hoàn tất cuộc hành trình yêu thương của mình nơi trần thế. Họ ý thức Lời Chúa dạy: “Ai muốn cứu mạng sống mình thì sẽ mất, còn ai liều mất mạng sống mình vì tôi và vì Tin mừng thì sẽ cứu được mạng sống ấy. Nếu được lời lãi cả thế gian mà thiệt mất linh hồn, nào có ích gì?” (Mc 8, 35-36)” . Thánh Phaolô Đạm nói trước tòa án Nam Định: “ Nếu tôi có hai linh hồn, tôi sẽ bán một cái cho ma quỷ để cho các ông vui lòng, nhưng tiếc quá tôi chỉ có một linh hồn, nên tôi không thể bỏ mất”.
Nhưng trên hết, hành vi Tử đạo luôn hàm ngậm ý nghĩa của việc làm chứng. Hạn từ Marturion theo nguyên ngữ Hi Lạp cũng mang chở ý nghĩa này. Các Ngài chết để làm chứng, nhưng không phải làm chứng cho một chế độ, một chủ nghĩa, mà là làm chứng cho một con người. Con người đó chính là Đức Giêsu, một Thiên Chúa làm người đã can đảm đón nhận cái chết khủng khiếp giống một tên cướp, để khai mở cho chúng ta chân trời ơn cứu độ. Các Thánh Tử đạo đã dùng máu của mình để làm chứng cho Đấng mà các Ngài tin theo.
Sống ơn gọi tử đạo ngày hôm nay.
Trong đại hội tu sĩ trẻ thế giới tổ chức tại Rôma đầu tháng Chín năm 2015. Ban tổ chức đã dành một tiếng đồng hồ để các tu sĩ đặt câu hỏi và Đức Thánh Cha trực tiếp trả lời. Có một anh em tu sĩ dòng DonBosco đến từ Syria đứng lên phát biểu và hỏi Ngài vài điều. Đức Thánh Cha sau khi trả lời đã hỏi ngược lại: “Con từ đâu đến đây?”. Vị tu sĩ trẻ nói là Ngài đến từ Syria. Đức Thánh Cha mở to đôi mắt nhìn vị linh mục và nói với cử tọa: “Chúng con hãy cầu nguyện cho các vị tử đạo hiện nay tại Iraq và Syria”. Cả hội trường xúc động vì tình hình chiến sự đang xảy ra rất khốc liệt tại Trung Đông, khiến bao nhiêu Kitô hữu bị giết, nhiều gia đình ly tán, các nhà thờ bị đốt phá, cả trăm ngàn người dân vô tội phải trốn tránh hoặc đi tị nạn.
Như vậy, ngày hôm nay vẫn còn các vị tử đạo, những con người bị thù ghét vì lý tưởng và niềm tin của mình. Nhưng hiểu theo nghĩa rộng hơn, sống mầu nhiệm tử đạo không phải là chuyện viễn tưởng xa vời. Đó chính là bản chất ơn gọi gắn liền với căn tính Kitô hữu chúng ta. Chúa Giêsu đã nói “Ai muốn theo tôi phải bỏ mình vác thập giá hằng ngày mà theo tôi” (Mc 8,34).
Hầu hết các quốc gia trên thế giới ngày nay đã bãi bỏ án tử hình, và cũng tôn trọng tự do tôn giáo, ít nhất là trên lý thuyết. Việc đàn áp tôn giáo với những màn tra tấn, tống ngục hay giết chết đang dần bị con người ngày hôm nay đào thải, vì nó đi ngược với khái niệm về nhân quyền mà xã hội luôn đề cao. Tuy nhiên lời mời gọi của Đức Giêsu đi vào mầu nhiệm tự hủy để sống ơn gọi tử đạo vẫn luôn mang tính thời sự cho tất cả mọi người thuộc mọi thời đại, vì nó là thuộc tính nơi cuộc sống của những học trò Đức Giêsu. Ơn gọi Kitô hữu luôn hàm ngậm cái chết. Cái chết trên Thập giá theo gương Đức Giêsu là đích điểm mà tất cả mọi người chúng ta phải vươn tới. Văn hào Goethe đã viết: “ Làm một việc hy sinh to lớn trong khoảnh khắc thì dễ, chỉ cần chút can đảm nhất thời, nhưng thể hiện những hy sinh nho nhỏ và liên tục trong suốt cuộc đời thì khó hơn nhiều”. Đó là cái chết tiệm tiến, từ từ trong cuộc sống đức tin để sao chép lại chính cái chết của Đức Giêsu. Mô thức ơn gọi tử đạo của tất cả chúng ta hôm nay là như thế. Chúng ta phải đi sâu vào cái chết không đổ máu, không  xích xiềng hay tù ngục qua cuộc sống hằng ngày và một cuộc sống như vậy chính là để làm chứng cho tình yêu.
Kết luận
Để kết luận, xin trích mượn tư tưởng của thánh Charles de Faucauld. Ngài nói: “Ở đời này chúng ta chỉ có thể ôm lấy Chúa Giêsu bằng cách ôm trọn Thập giá của Ngài. Ta không thể yêu mến Thập giá mà lại không có Chúa Giêsu bị đóng đinh nằm ở trên. Đồng thời chúng ta cũng không thể ôm lấy Chúa Giêsu mà lại vắng bóng Thập giá”. Hoa hồng là biểu tượng của tình yêu. Cánh hoa hồng càng rực rỡ càng có nhiều gai nhọn ẩn sâu bên dưới. Cũng vậy tình yêu đến thật nhiều xuyên qua đau khổ. Con đường đau khổ dẫn đến Thập giá, chính là con đường của ơn gọi tử đạo, con đường của tình yêu. Cũng như thánh Têrêsa hài đồng Giêsu đã viết: “Sống bằng tình yêu không phải là định cư mãi với Chúa Giêsu trên đỉnh núi Tabor giữa những vinh quang sáng chói, nhưng là còn phải trèo lên đỉnh Calvê để ôm nhận Thập giá như một kho tàng”. Sống ơn gọi tử đạo là như thế.

 

24/11-161 : Con người thích thỏa hiệp

(Suy niệm của Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền)
 

Cuộc sống con người luôn đầy rẫy sự thỏa hiệp. Thỏa hiệp trong giao tế, trong chính trị, trong 24/11-161 

Cuộc sống con người luôn đầy rẫy sự thỏa hiệp. Thỏa hiệp trong giao tế, trong chính trị, trong làm ăn. Thỏa hiệp đòi hỏi sự nhượng bộ, sự nhân nhượng, nhường bước. Sự thỏa hiệp đòi hỏi phải từ bỏ một phần quan điểm của mình để nhượng bộ cho đối phương. Cách riêng, trong đời sống luân lý thì không có sự thỏa hiệp. Con người không bao giờ được thỏa hiệp với sự dữ, nghĩa là không bao giờ thỏa hiệp với Satan và bộ hạ của nó. Thỏa hiệp với ma quỷ là con người tự làm cho mình ra nô lệ tội lội.
Adam – Eva đã tự tìm đến cái chết khi thỏa hiệp với ma quỷ. Thỏa hiệp luôn là thất bại trong cay đắng. Thỏa hiệp là tự tìm đến cái chết thay vì được sống trong tự do. Biết bao người đã thỏa hiệp để bắt tay làm ăn bất chính, để làm ngơ trước sự xấu hoành hành. Họ có tiền, có quyền nhưng không bao giờ có niềm vui tâm hồn bình an.
Tuy nhiên, cuộc đời vẫn còn đó những con người từ chối thỏa hiệp. Họ là những con người thà nghèo đói để được bình an tâm hồn hơn là kiếm tiền bằng việc phi nhân thất đức mà lòng chẳng chút bình an. Họ chấp nhận vâng lời Thiên Chúa hơn là vâng lời vua chúa trần gian, cho dù phải tù đầy, gian truân khốn khó. Họ chấp nhận đánh mất mùa xuân hạn hẹp trần gian để đổi lấy mùa xuân bất diệt thiên đàng.
Hôm nay chúng ta mừng kính 117 thánh tử đạo Việt Nam, là con số tượng trưng cho hơn 130 ngàn vị tiền nhân đã chết trong các đợt cấm đạo tại Việt Nam. Họ đã chết không phải vì chống lại triều đình. Họ đã chết không phải vì lỗi công bình bác ái với tha nhân. Họ đã chết vì không chịu thoả hiệp với thế gian. Giữa sự sống và sự chết chỉ cách nhau một lằn ranh. Lằn ranh đó chính là cây thập giá. Bước qua thì được thoát khỏi cực hình trần gian. Bước qua thì được trở về với vợ con, với xóm làng. Đôi khi còn được hưởng chức tước vua ban. Nhưng các thánh tử đạo Việt Nam đã không vì thế mà chối Chúa, bỏ đạo. Không vì ham sống sợ chết mà chà đạp lên thập giá. Các ngài cam lòng chịu đòn roi, chịu án tử hình như cơ hội để lãnh phúc triều thiên vinh quang. Như trường hợp ông đội Bường đã thẳng thắn trả lời với quan quân: "Bên đạo chúng tôi ai chết trẻ là đi đường tắt, ai chết già là đi đường trường. Song đàng nào cũng tới quê thật là nước thiên đàng vậy". Thế nên, thánh nhân đã khuyên nhủ các đồng đạo rằng: “Chúng ta hãy vui lòng chịu mọi sự khốn khó để giữ nghĩa cùng Chúa cho đến khi nào thánh ý Chúa định thể khác. Nếu quan có hành hạ thì hãy can đảm chịu đựng. Hễ xác chết rồi thì hồn chúng ta bay thẳng về trời, không sợ gì roi đòn. Chịu sự khó như vậy là vác thánh giá theo Chúa Giêsu. Nếu có đau đớn quá thì hãy xin Ðức Mẹ phù trợ cho được bền lòng đến cùng".
Là con cháu các thánh tử đạo Việt Nam, chúng ta luôn tự hào vì có các vị tiền nhân đã dám chết để minh chứng niềm tin. Đây là gương sáng mà các ngài để lại cho hậu thế. Hãy sống trung thành với Chúa, với Giáo hội. Hãy can đảm từ chối mọi thỏa hiệp bất chính. Nhưng xem ra cuộc đời vẫn còn đó những con người vì chút bổng lộc trần gian đã bỏ đạo, đã chống đối đạo. Vẫn còn đó những con người vì miếng cơm manh áo đã chẳng giữ đạo hay chỉ giữ một cách hời hợt. Họ giữ đạo hình thức đôi khi có cũng như không. Vẫn còn đó những con người vì tiền mà bán mình, bán con để kiếm đồng tiền bất chính. Họ thà rằng lỗi luật Chúa còn hơn là bỏ lỡ cơ hội lấy tiền, lấy bạc. Vẫn còn đó những con người bỏ Chúa chứ không bỏ tiền, bỏ Chúa chứ không bỏ tình, bỏ Giáo Hội chứ không bỏ danh vọng trần gian.  
Lạy các thánh Tử Đạo Việt Nam là cha ông của chúng con, xưa các ngài đã dùng máu đào để bảo vệ đức tin xin gìn giữ chúng con luôn trung kiên theo Chúa, dám khước từ danh lợi thú trần gian để nên chứng nhân cho Nước Trời trong cuộc sống hôm nay.
 
 
 

24/11-162 : Anh hùng tử đạo

Vào một ngày mùa hè năm 1839, vua Minh Mạng “vi hành” đi quan sát dân tình thế thái tại kinh 24/11-162 

Vào một ngày mùa hè năm 1839, vua Minh Mạng “vi hành” đi quan sát dân tình thế thái tại kinh đô Huế. Mọi sinh hoat nơi phố phường đều phải ngưng lại. Ai nấy đều phải tránh sang một bên để xa giá của nhà vua đi qua, rồi sau đó mới được phép tiếp tục công việc.
Nhưng rồi bỗng từ đâu xuất hiện hai quân nhân không thuộc đội cận vệ của nhà vua. Họ quì rạp xuống. Hai tay nên cao lên trán một tờ sớ viết bằng chữ Hán. Quan hầu cận nhận tờ sớ và trình lên nhà vua. Tờ sớ mang chữ ký của ba người, đó là Phan Viết Huy, Bùi Đức Thể và Đinh Đạt. Riêng ông Đạt, vì bận việc nên vắng mặt.
Nội dung tờ sớ ấy như sau:
- Cha ông chúng tôi theo đạo Gia Tô. Năm ngoái các quan tra tấn, ép buộc chúng tôi phải bước qua thánh giá. Chúng tôi đã miễn cưỡng làm theo, chứ thực tâm chẳng hề muốn một chút nào cả. Nay chúng tôi xin được tiếp tục giữ đạo để làm trọn chữ hiếu với cha ông chúng tôi.
Tờ sớ mang lại một kết quả, đó là các ngài đã được diễm phúc tử đạo. Thánh Augustinô Huy và thánh Nicola Thể thì bị chém đầu và thân xác bị ném xuống biển làm mồi cho cá ở cửa Thuận An ngày 13.6.1839. Còn thánh Đa Minh Đạt thì bị xử giảo tại pháp trường Bảy Mẫu thuộc tỉnh Nam Định ngày 18.7.1839.
Tờ sớ này có một nội dung giống như lời cha Phêrô Tự đã nói với quan tòa:
- Tôi kính Thiên Chúa, như thượng phụ, kính nhà vua như trung phụ và kính song thân như hạ phụ. Nếu tôi không thể nghe theo cha mẹ ruột mà làm hại đến nhà vua, thì tôi cũng không thể vì nhà vua mà phạm đến thượng phụ của tôi là Thiên Chúa.
Hai mẩu chuyện nói trên tiêu biểu cho niềm tin của 117 vị thánh Tử đạo Việt Nam. Các ngài đã được Đức Thánh Cha Gioan-Phaolô II tôn lên bậc hiển thánh ngày 19.6.1988 tại Rôma. Và Hội Đồng Giám Mục Việt Nam đã ấn định mừng kính các ngài cách trọng thể vào Chúa nhận thứ 33 thường niên, Chúa nhật trước lễ Đức Kitô Vua, kết thúc năm phụng vụ, đồng thời cũng để mừng kỹ niệm ngày thiết lập hàng giáo phẩm Việt Nam.
Trong số 117 vị, thì gồm có: 8 giám mục, 50 linh mục, 14 thầy giảng, 01 chủng sinh và 44 giáo dân. Những cực hình dã man các ngài đã phải chịu gồm nhiều loại khác nhau, chẳng hạn như bá đao nghĩa là bị cắt ra cho đủ 100 miếng, lăng trì nghĩa là bị chặt tay chân trước rồi mới chém đầu sau, xử trảm nghĩa là bị chém đầu, xử giảo nghĩa là bị treo cổ, thiêu sinh nghĩa là bị đốt sống và rũ tù nghĩa là bị chết trong tù.
Các chết anh dũng của các thánh Tử đạo Việt Nam một lần nữa cho chúng ta thấy được rằng sự thù ghét đối với niềm tin không phải chỉ là một hiện tượng thoáng qua, mà còn là một sự kiện thuộc về bản chất của người đời, của thế gian.
Thực vậy, kẻ đau mắt nhức nhối trước ánh sáng thế nào, thì người đời và thế gian cũng nhức nhối trước tinh thần của Đức Kitô như vậy. Tinh thần của thế gian đối nghịch với tinh thần của Đức Kitô như bóng tối và ánh sáng, như lửa và nước.
Nếu như ngày hôm nay, chúng ta vẫn còn bị thế gian ghét bõ, thì đó cũng chỉ là một chuyện thường tình mà thôi, bởi vì chính Đức Kitô, trong suốt quãng đời công khai cũng đã gặp phải rất nhiều những chống đối và thù ghét, để rồi cuối cùng, mặc dù chẳng có tội lỗi gì, thế mà Ngài cũng đã phải lãnh nhận cái chết tủi nhục trên thập giá, một hình phạt chỉ được dành cho hạng nô lệ và phản loạn mà thôi.
Tuy nhiên, điều cần thiết đó là chúng ta phải giữ vững niềm tin của mình giữa những phong ba bão táp và những gian nan thử thách trong cuộc đời, như các thánh Tử đạo Việt Nam, là những bậc cha ông chúng ta thuở trước, bởi vì ai bền đỗ đến cùng, người ấy sẽ được cứu thoát.

 

24/11-163 : Sức mạnh của đức tin

– Lm Giuse Nguyễn Hữu An
 

Nói đến sức mạnh, chúng ta tự nhiên sẽ nghĩ đến những chàng trai võ sĩ thân hình lực lưỡng, cân 24/11-163 

Nói đến sức mạnh, chúng ta tự nhiên sẽ nghĩ đến những chàng trai võ sĩ thân hình lực lưỡng, cân đối rắn chắc,với những bắp thịt vạm vỡ, với những quả đấm thôi sơn ngàn cân. Nói đến sức mạnh, chúng ta cũng nghĩ đến những trận cuồng phong, những cơn lũ lụt phá đổ cây cối nhà cửa làng mạc, đê điều, đường sá, cầu cống. Nói đến sức mạnh, chúng ta cũng thường nghĩ tới những đám cháy lớn thiêu rụi cả một khu rừng, thiêu huỷ các tầng lầu.
Nói đến sức mạnh, chúng ta nghĩ đến những trận động đất san bằng nhiều thành phố, giết hại hàng triệu người trong vài giây đồng hồ. Nói đến sức mạnh, chúng ta cũng liên tưởng đến những cuộc chiến tranh đã giết hại bao sinh mạng, tàn phá bình địa nhiều thành phố làng mạc nhà cửa dinh thự đền đài.
Nhưng còn có một sức mạnh vạn năng khác, mãnh liệt hơn cả, quyết thắng tất cả mà lại luôn luôn ở trong tầm tay con người. Đó chính là sức mạnh niềm tin tôn giáo.
Niềm tin tôn giáo không bao giờ bị bóp nghẹt do bất cứ quyền lực nào. Không có quyền lực nào có thể xoá bỏ được niềm tin tôn giáo. Lịch sử Giáo Hội đã chứng minh xác tín đó.
1. Sức mạnh đức tin vượt thắng những thách đố.
Trong chuyến hành hương Rôma, tôi có dịp đi viếng những hang toại đạo. Đi trong hang như là tìm về cội nguồn đức tin. Nơi đây biểu lộ sức mạnh đức tin của bao thế hệ tiền nhân. Giáo hội giữ vững niềm tin trên nền tảng tử đạo của biết bao con người nằm dưới hang này trong 300 năm đầu bị bách hại. Hang toại đạo là hệ thống đường hầm đào sâu dưới lòng đất tại các khu nghĩa trang ngoại thành Rôma. Những hang hầm dài nhiều cây số. Không phải chỉ một tầng mà đến 3, 4 tầng sâu dưới lòng đất. Không khí trong hang rất lạnh lẽo. Mùi tử khí vẫn còn thoang thoảng đâu đây. Đi trong hầm mộ lạnh lùng, hoang vắng, lối ngõ ngoằn ngoèo, tôi cảm nghiệm được ranh giới mong manh giữa sự sống và cái chết. Sự chết luôn luôn đe dọa rình rập cướp lấy mạng sống con người. Bước đi trong lòng tin và lòng cảm phục nên người hành hương lại cảm nhận sự ấm áp, thân tình gần gũi với các thế hệ tiền bối. Gia sản của Giáo Hội là đây.Tại nơi này, các tín hữu sơ khai đã ẩn trốn những cơn bách hại liên tiếp trong ba thế kỷ. Sức mạnh đức tin thật là kỳ diệu.
Suốt ba trăm năm bắt Đạo, trải qua sáu triều Vua: Trịnh, Nguyễn, Tây Sơn, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, Giáo Hội Việt Nam đã có hơn trăm ngàn Vị Tử Đạo được ghi nhận trong sổ sách. Trong số này, có 58 Giám mục và Linh mục ngoại quốc thuộc nhiều nước như Pháp, Tây Ban Nha, Bồ đào Nha, Hà Lan, Italia, 15 Linh mục Việt Nam, 340 Thầy Giảng, 270 Nữ tu Mến Thánh Giá, 99.182 Giáo dân.
Trải qua ba trăm năm, với 53 sắc dụ cấm đạo dữ dội, Giáo Hội Việt Nam đã chịu bách hại và đã biểu lộ hào hùng sức mạnh đức tin qua dọc dài lịch sử.
Các Thánh Tử Đạo đã chịu đủ mọi cực hình: bị xiềng xích, lao tù, bị tra tấn, bị bỏ đói, bị chém đầu, bị thắt cổ, bị bá đao, phanh thây, bị kìm kẹp, bị voi dày, bị thiêu sống, bị buộc đá thả trôi sông, bị tống cổ ra khỏi nhà cửa, làng mạc, sống vất vưởng trong rừng sâu nước độc. Các ngài đã bị chết đói, chết khát, chết bịnh và bị dã thú ăn thịt…Với sức mạnh đức tin, các ngài đã chiến thắng mọi thứ cực hình dã man. Cho dù là gông cùm, xiềng xích, nhốt trong cũi, đánh đòn, bỏ đói, voi giầy, trói ném xuống sông, đổ dầu vào rốn rồi cho bấc vào mà đốt, đóng đinh vào ván rồi đem phơi nắng, chặt đầu, thắt cổ, thiêu sống, phân thây ra từng mảnh…các ngài chấp nhận tất cả nhờ đức tin mạnh mẽ. Trong 117 Thánh Tử Đạo được tuyên phong, có 79 vị bị trảm quyết (bị chặt đầu); 18 vị bị xử giảo (bị thắt cổ); 8 vị chết rũ tù; 6 bị thiêu sinh; 4 bị lăng trì (phân thây ra từng mảnh); 1 bị tử thương và 1 bị bá đao.
Người ta nghĩ ra mọi thứ hình phạt tàn ác để buộc các tín hữu chối bỏ đức tin.
- Thật kinh hoàng sởn tóc gáy khi nghe kể về cái chết của Cha Cố Du theo kiểu bị xử bá đao: “Ngày 30.11.1835, họ chọn Thợ Đức làm pháp trường để xử ngài.Sáng sớm hôm đó, họ điệu ngài đến nơi hành hình. Bên một lò than đang cháy đỏ rực có 5 tên lính cầm 5 chiếc kìm sắt đã được nung đỏ.Nghe lệnh, cùng một lúc cả 5 tên kẹp kìm nung đỏ vào mình ngài kéo ra những miếng thịt khét lẹt.Họ vu cho ngài móc mắt trẻ con khi rửa tội. Làm điều ám muội khi cử hành lễ cưới và cho ăn thịt người khi rước lễ. Sau đó họ tiếp tục gây thêm những thương tích nữa cho đến khi ngài bất tỉnh thì họ mới hành quyết. Họ cột chân tay ngài vào cây cột. Hai bên lính cầm kìm chờ sẵn. Cha Du ngửa mặt lên trời cầu nguyện dâng mạng sống mình cho Chúa. Sau hồi trống báo hiệu, hai tên lính cầm kìm kẹp vào ngực ngài kéo ra 2 miếng thịt nơi vú liệng xuống đất, một tên lính khác cầm dao xẻo thịt phía sau hông, rồi đến bắp đùi thì chúng lấy kìm kéo ra rồi lấy dao xẻo đứt từng miếng… làm cha rất đau đớn. Không được bao lâu thì ngài ngất đi, đầu rũ xuống và ngài về chầu Chúa lúc 17g ngày 30.11.1835. Cha Du chết rồi bọn lính còn chặt đầu ngài cho vào một chiếc thùng đầy vôi, cởi trói lật xác úp xuống rồi phân thây ra từng khúc bỏ tất cả vào thùng vôi. Đầu ngài họ đem treo 3 ngày ở giữa chợ rồi xay nát, bỏ chung với thùng vôi đựng xác ngài đoạn quăng cả xuống biển cho mất tích".
- Thánh Giám mục Xuyên, chân tay bị trói vào bốn cọc. Năm lý hình cầm 5 cái rìu, sẵn sàng nghe lệnh quan án sát. Vừa nghe lệnh, hai lý hình chặt hai chân, hai lý hình chặt hai tay, đến lượt lý hình thứ năm chặt đầu. Rồi họ mổ bụng ngài cắt lấy ruột gan.
- Cha Điểm và Cha Khoa bị trói chân tay vào cột, lý hình tròng dây vào cổ. Nghe hiệu lệnh, lý hình cầm hai đầu dây xiết mạnh cho đến khi hai vị nghẹt thở và lịm dần.
Dù chịu mọi cực hình tàn bạo, bị hành hạ tra tấn khủng bố, các ngài vẫn không chối bỏ đức tin. Vua chúa, quan quyền, binh lính phải sững sờ kinh ngạc và kính phục lòng tin sắt son của các ngài.
Thánh Hồ Đình Hy làm quan lớn trong triều đình. Quan Án Phạm Trọng Khảm. Nhờ sức mạnh đức tin, các ngài chấp nhận mất chức quyền, mất danh vọng thế gian và sẵn sàng hiến dâng mạng sống.
Thánh Lê Thị Thành, thân phận phụ nữ yếu ớt, gánh nặng gia đình, nhờ sức mạnh đức tin nên ngài đã sẵn sàng chịu mọi cực hình để minh chứng tình yêu đối với Đức Giêsu Kitô.
Thánh Tôma Thiện, Phaolô Bột, đầu xanh tuổi trẻ, tương lai còn dài, nhiều hứa hẹn. Các ngài đã dâng hiến tuổi thanh xuân cho Chúa nhờ sức mạnh đức tin.
Các Thánh Tử Đạo vui lòng đón chịu mọi cực hình đau đớn, chấp nhận mọi thua thiệt, vui lòng mất hết địa vị bổng bộc và hiên ngang tiến ra pháp trường đón nhận cái chết như một mối phúc, minh chứng lòng trung thành của mình đối với Đức Kitô. Cái chết của các ngài làm sáng lên sức mạnh đức tin.
2. Những thách đố Đức Tin thời nay.
Làm sao chúng ta có thể sống đức tin mạnh mẽ như các Thánh Tử Đạo. Ngày nay đâu còn cảnh cấm đạo, bắt đạo, giết người có đạo như thời xưa.
Nhưng ngày nay có rất nhiều thách đố đức tin với tín hữu Việt Nam.
- Vô thần duy vật
Thách đố trước hết đối với Đức Tin chính là môi trường mà chúng ta đang sống và “hít thở, đó là một xã hội vô thần duy vật. Đây một xã hội tự bản chất chối bỏ Thiên Chúa, đề cao vật chất và quyền lực. Sự chối bỏ Thiên Chúa sẽ là nguyên nhân đưa tới sự sa đọa của con người và xã hội. Khi một xã hội vắng bóng Thiên Chúa, người ta sẽ tạo ra những “thiên chúa khác” nơi một con người hoặc nơi vật chất như người Do Thái trong Cựu Ước đã đúc ‘bò vàng” để thờ như thờ Thiên Chúa. Xã hội chạy theo sức hấp dẫn của đồng tiền. Của cải và quyền lực lên ngôi. Thang giá trị đạo đức bị đảo lộn. Người ta tìm mọi cách kiếm tiền để có quyền. Khi có chức quyền thì càng kiếm được nhiều tiền. Đồng tiền đang trở thành một quyền lực chi phối toàn bộ đời sống con người. Ai cũng muốn có nhiều tiền. Để có nhiều tiền, nhiều người đã không từ chối một phương cách nào: lường gạt, lừa đảo, làm hàng gỉa, buôn bán ma túy, tham nhũng, hối lộ Tiền bạc qủa là một cơn cám dỗ đang làm chao đảo thế giới, tàn phá những gía trị, biến chất con người. Trong xã hội đó, nhiều người Công Giáo cũng bị cuốn hút vào ma lực của đồng tiền, nên dễ đánh mất Niềm Tin, xa rời Giáo Hội.
- Gian dối và lừa lọc lên ngôi
Thách đố thứ hai của Đức Tin, đó là xã hội Việt Nam đang báo động bởi đầy dẫy những bất công, lạm quyền và giả dối lan tràn. Đạo đức suy thoái, lương tâm và nhân phẩm bị xúc phạm. Mấy câu thơ sau đây có thể tóm tắt thực trạng xã hội:
“Nhân phẩm ngày nay giảm giá rồi,
Chỉ còn thực phẩm tăng giá thôi,
Lương tâm bán rẻ hơn lương thực,
Chân lý chân giò một giá thôi.”
Sống trong môi trường như thế, nhiều người lập luận: người ta gian dối mà mình trung thực là mình thua thiệt! Có những người Công Giáo cũng hành xử như người không tin, cũng lừa lọc, gian lận đủ cách để làm sao mình có lợi.
- Sự đề cao hưởng thụ cá nhân
Chúng ta đang phải đối diện với một nền văn hóa bị thống trị bởi lối sống hưởng thụ ích kỷ. Trong đó, con người chạy theo lối sống hưởng thụ cá nhân, biến người khác thành một món hàng để chiếm đoạt và mua bán. Tương quan yêu thương và nhân bản bị xếp sau tương quan trao đổi và lợi ích kinh tế. Xã hội này đã sinh ra những đứa con “quái thai” trong cách sống: bằng mọi cách để kiếm tiền và hì hục hưởng thụ! Khi sống theo lối sống này, con người trở nên ích kỷ, quy ngã, hời hợt, và ít quan tâm đến người khác, thiếu khả năng liên vị, không biết tôn trọng và yêu thương người khác. Quan sát cách hành xử của người Việt Nam ở nơi công cộng và nhất là khi tham gia giao thông, sẽ thấy người ta tranh giành nhau, chụp giật và manh mún theo kiểu mạnh ai người ấy thắng, cá lớn nuốt cá bé. Cách sống nói lên não trạng và tâm tính con người. Đó là một tình trạng đáng buồn cho xã hội Việt Nam hôm nay!
- Chủ trương duy tương đối
Còn có một thách đố lớn hơn đối với Đức Tin mà Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI luôn cảnh báo, đó là chủ trương duy tương đối. Chủ trương này khiến cho con người hôm nay không còn muốn chấp nhận các chân lý tuyệt đối nữa, không quy chiếu và sống theo một chuẩn mực luân lý hay giá trị đạo đức khách quan nào nữa. Tất cả là tương đối và mỗi người có thể thay đổi các chân lý và sống theo những chọn lựa và chuẩn mực cá nhân. Đây là sai lầm căn bản dẫn đến những sai lầm khác của con người hôm nay. (x. Những thách đố đối với Đức Tin trong xã hội hôm nay; lamhong.org).
Những lối sống và não trạng trên đã và đang len lỏi vào các ngõ xóm, các xứ đạo của chúng ta.
3. Hãy bén rễ sâu trong Đức Kitô
Năm Đức Tin là thời gian và cơ hội quý báu giúp mọi Kitô hữu “tái khám phá hành trình Đức Tin để luôn làm nổi bật niềm vui và lòng hăng say mới của việc gặp gỡ Đức Kitô” đồng thời, “khơi dậy nơi mỗi tín hữu khát vọng tuyên xưng Đức Tin trong sự toàn vẹn và với niềm xác tín được đổi mới, trong niềm tín thác và hy vọng” (Tự sắc Porta Fidei, số 2 và 9).
Đức Giáo Hoàng Biển Đức dạy: “Năm Đức Tin sẽ là một cơ hội thuận tiện để tăng cường việc cử hành Đức Tin”. Cử hành đức tin là tuyên xưng, sống và làm chứng cho Đức Tin. Tuyên xưng Đức Tin như Kinh Tin Kính dạy và như Hội Thánh công bố. Tuyên xưng Đức Tin trong mọi hoàn cảnh sống khi an vui, hạnh phúc và thành công, cũng như khi đau khổ, bệnh tật, thất bại hay khủng hoảng. Cử hành Đức Tin bằng việc nhiệt thành dấn thân thực hiện công cuộc truyền giáo với cách thức mới mẻ và hiệu năng hơn. Cử hành Đức Tin bằng sự chuyên cần cử hành và lãnh nhận các bí tích. Cử hành các bí tích là cử hành mầu nhiệm các đức tin, nhất là bí tích Thánh Thể và Hòa Giải.
Đức Tin là hồng ân vô giá mà Thiên Chúa đã ban tặng. Đức Tin là “cửa” mở ra, đưa chúng ta đi vào đời sống kết hiệp thân tình với Thiên Chúa và bước vào Hội Thánh của Người. Đức Tin là bảo chứng mang lại ơn cứu độ đời đời cho chúng ta.
Đức Tin bừng lên mãnh liệt trong mầu nhiệm tự huỷ và hiến dâng. Mừng lễ các Thánh Tử Đạo Việt Nam là dịp để học hỏi nơi cuộc đời chứng nhân của các ngài. Chúng ta được tiếp thêm sức mạnh Đức Tin để sống đạo giữa biết bao thách đố của thời đại hôm nay. “Hãy bén rễ sâu trong Đức Kitô, xây dựng trên nền tảng Đức Kitô và được củng cố trong đức tin” (Cl 2, 7), chúng ta sẽ được tràn đầy sức mạnh Đức Tin.

 

24/11-164 : Các Thánh Tử Đạo Việt Nam

(Suy niệm của Lm. Gioan M. Nguyễn Đức Hùng, CRM)
Bạn thân mến!
 

Không biết các bạn có thấy ngộ ngộ bật cười không, mỗi khi mừng lễ các Anh Hùng Tử Đạo 24/11-164 

Không biết các bạn có thấy ngộ ngộ bật cười không, mỗi khi mừng lễ các Anh Hùng Tử Đạo Việt Nam? Tại sao máu đổ mà lại cứ vui nhỉ? Nếu như thế, thì không biết có hợp thời và hợp lý không đấy, thưa các bạn?
Vâng, có lý do chính đáng và còn thật là phải đạo nữa đấy, các bạn ạ!
Hôm nay, cùng với toàn thể Hội thánh, cách riêng Giáo hội Việt Nam, chúng ta hân hoan vui sướng, có khi cả nhảy nhót nữa là khác, để reo mừng các bậc Cha Anh của chúng ta đã đoạt giải chiến thắng trong trận chiến oanh liệt giữ vững Đức Tin Kitô giáo. Chúng ta vui là phải thôi, vì chúng ta đang vui cái niềm vui của Thập giá Chúa Kitô, Ông tổ sáng lập đạo Công Giáo. Vì nhờ có thập giá Chúa Kitô, mà loài người chúng ta mới có niềm vui ơn cứu độ. Cũng thế, nhờ máu các Thánh Tử Đạo đổ ra mà mùa gặt truyền giáo của Giáo hội Việt Nam đã, đang, và sẽ tiếp tục còn nở rộ trong các thế hệ mai sau.
Vậy thì, mừng lễ các Thánh Tử Đạo Việt Nam hôm nay, chúng ta phải mừng thế nào cho đúng với ý của Giáo hội Mẹ?
Thưa, chúng ta cũng phải theo gương các Ngài để có cái nhìn tươi sáng trước mọi đau khổ thử thách trong ngoài hồn xác. Dù Tình yêu có đòi hỏi yêu sách chúng ta, chúng ta vẫn kiên trung theo Chúa đến cùng, và cho dẫu yêu sách có mang mặc nhiều hy sinh, nhiều từ bỏ, nhiều khước từ trong cuộc sống, ta vẫn cứ can đảm tiến lên theo lời hiệu triệu của Đấng đã nói: Cứ tin tưởng, Ta đã thắng thế gian rồi!  Vì mừng lễ đổ máu mà! Vì có đau khổ mới có vinh quang mà! Và vì không đổ máu không có ơn cứu chuộc cho mình và cho người khác.
Các Thánh Tử Đạo đã hiểu rất sâu điều đó và đã làm gương rất chói sáng cho chúng ta trong việc đặt Chúa trên hết và trước hết. Với ánh nhìn đầy đức tin, các ngài đã coi các khổ hình chịu vì Chúa là một niềm vui, niềm hạnh phúc, nên các ngài hiên ngang, hiên ngang đến khó hiểu, giữa những khổ hình đủ loại do lòng độc ác con người có thể nghĩ ra. Thật đúng các ngài đã nói với con cháu là chúng ta hôm nay lời Thánh Phaolô: Không ai, không gì, không hình khổ nào có thể tách các ngài ra khỏi Tình yêu Thiên Chúa. Cái nhìn đức tin đã khiến các ngài coi khổ hình như là ân huệ của niềm vui Chúa trao tặng cho mình mà  trường hợp của Thánh Nữ Anê Lê Thị Thành sau đây là một bằng chứng:
Trong 117 Thánh Tử Đạo, chỉ có một vị là Thánh Nữ, ngài là một người mẹ của sáu người con. Đó là Thánh Anê Lê Thị Thành, tục gọi là Bà Đê.
Thánh Anê Lê Thị Thành sinh năm 1781 tại Bái Điển, tỉnh Thanh Hóa. Lên 17 tuổi, bà kết hôn với ông Nguyễn Văn Nhất, sinh hạ được sáu người con. Suốt đời bà âm thầm kiên nhẫn xây dựng tổ ấm yêu thương gia đình và biến gia đình thành nguồn suối tình thương. Bà sống đạo đức gương mẫu, hy sinh giúp chồng con, đặc biệt nuôi dạy con chu đáo theo tình thần giáo dục công giáo. Dù khi con cái đã lớn khôn lập gia đình, bà vẫn luôn theo dõi lòng đạo của các con, thúc giục con cái năng tham dự Thánh Lễ và nhận lãnh các bí tích. Bản thân bà rất siêng năng xưng tội rước lễ.
Ông bà Đê có lòng bác ái hay thương giúp đỡ người khác, nhất là trọng kính và giúp đỡ các linh mục gặp khó khăn trong thời cấm đạo. Ông bà dành một khu nhà đặc biệt để các linh mục đến trú ẩn. Chính đức bác ái cùng lòng kính yêu các linh mục và tha thiết với việc truyền giáo ấy, đã đưa bà Thánh Đê đến phúc tử vì đạo.
Số là khi quan Tổng đốc Trịnh Quang Khanh kéo lính đến vây làng Phúc Nhạc vào sáng lễ Phục Sinh 14.4.1841, bà Đê cùng với ông trùm Cơ vội vàng đưa linh mục Lý trốn dưới một cái rãnh sau vườn nhà bà. Nhưng sau một hồi lục soát gắt gao từ trong nhà ra tới ngoài vườn, quân của Trịnh Quang Khanh bắt được Cha Lý. Bà Thành và ông trùm Cơ cũng bị bắt làm một với Cha.
Trong lao tù, Anê Lê Thị Thành bi đánh đập, tra khảo nhiều lần. Lần kia quan quyền đánh bà bằng roi, nhưng thấy bà vẫn gan dạ chịu đựng một cách vui vẻ, nên lại cho dùng thanh củi lớn mà quất vào chân bà, bà vẫn không thối chí. Khi chồng vào thăm trong tù, bà nói với chồng lời đầy đức tin như sau: “Họ đánh đập tôi vô cùng hung dữ, đến đàn ông chưa chắc chịu nổi, nhưng tôi được ơn Đức Mẹ giúp sức, nên không cảm thấy đau đớn gì” Lần khác nữa, quan dùng trò dã man hơn, buộc hai ống quần của bà lại, rồi bỏ rắn độc vào bên trong. Bà hoảng sợ, nhưng bà cầu nguyện tha thiết khiến Chúa nhận lời ban cho bà sức mạnh phi thường để chịu đựng những thử thách vượt quá sức người của bà. Thế là bà vẫn giữ được bình tĩnh một cách lạ lùng. Bà đứng yên không nhúc nhích. Rắn không cắn bà và tìm cách chui ra ngoài. Quan thấy thế, điên tiết lên, càng ra lệnh đánh bà dữ dằn hơn trước.
Một nhân chứng tên là Đang về sau cho biết: “Bà Anê Đê đã bị đánh đập tàn bạo đến nỗi thân hình bà đầy máu mủ. Vậy mà bà vẫn vui vẻ và còn muốn chịu khó hơn nữa”. Con cái đến thăm bà, thấy mẹ thương tích vì đòn vọt, khóc lóc thương mẹ, bà âu yếm vỗ về các con, khuyên chúng về kiên tâm cầu nguyện cho mẹ. Chẳng hạn cô Lucia Nụ, con gái út của bà đến thăm mẹ trong ngục, thấy áo quần mẹ loang lổ máu, đã òa lên khóc nức nở. Bà an ủi con: “Con đừng khóc, mẹ  mặc áo hoa hồng đấy con ạ! Mẹ vui lòng chịu khổ vì Chúa Giêsu, sao con lại khóc”. Bà còn nhắn nhủ cô Nụ: “Con hãy về chuyển lời mẹ bảo với anh chị con coi sóc việc nhà, giữ đạo sốt sắng, sáng tối đọc kinh xem lễ, cầu nguyện cho mẹ vác Thánh Giá Chúa Giêsu cho đến cùng. Rồi chẳng bao lâu nữa, mẹ con ta sẽ đoàn tụ trên nước Thiên Đàng”. Chồng bà cũng đến khuyên giục bà nên nghĩ đến con cháu mà về với chúng. Bà trả lời: “Anh hãy về lo cho con, hãy trông cậy Chúa phù hộ cho anh đủ sức nuôi dưỡng chúng, còn phần tôi, tôi sẽ phó thác và theo Chúa đến cùng…”
Vì chịu quá nhiều cực hình, thân thể đầy máu mủ, lại do điều kiện vệ sinh trong tù quá tồi tệ và không đủ thuốc thang, bà Anê Đê Lê Thị Thành kiệt sức vì đòn vọt và bị bệnh kiết lỵ, nên đã chết trong tù ngày 12.7.1841 tại Nam Định, thọ 60 tuổi, sau khi dâng lời kinh cuối cùng: “Giêsu, Maria, Giuse, con xin phó thác linh hồn và xác con trong tay Chúa”.
Đức Piô X phong chân phước cho Bà ngày 2.5.1909. Và Đức Gioan Phaolô II suy tôn Bà lên bậc Hiển Thánh ngày 19.6.1988,cùng với 116 vị Thánh khác.
Các bạn ơi, các Thánh tử đạo là thế đó đấy, các bạn ạ. Các Ngài chấp nhận mọi hình khổ khác nhau, nhưng các Ngài cùng sống chết chung cho cùng một Niềm Tin, một Lý Tưởng Giêsu, với sự vui tươi hớn hở hiên ngang hãnh diện, khiến chúng ta vô cùng cảm phục và cả đến thèm khát số phận may mắn của các Ngài nữa.
Thật ra, nếu bạn và tôi để ý một chút thì sẽ nhận ra rằng: hoàn cảnh của tôi cũng như của bạn, Chúa vẫn đang cho có rất nhiều cơ hội để chúng ta thể hiện việc sống chết cho niềm tin vào Chúa Kitô Tử Nạn và Phục Sinh, có khi cũng chẳng kém anh hùng và hiển hách so với các bậc Cha Anh chúng ta xưa đâu, các bạn!
Xin phép đan cử một vài trong muôn ngàn, bạn nhé:
 * Khi các bạn đi đường mà gặp một người hành khất đáng thương lắm, dù đang vội, các bạn cũng cố gắng dừng lại để chia sẻ một chút gọi là tấm lòng với người anh chị em con cùng Cha trên trời đó, nhưng lại rơi hoàn cảnh khó khăn, để ta có dịp thể hiện lòng bác ái, để từ trời Thiên Chúa nhìn xuống thấy: anh chị em chúng nó biết thương yêu, nâng đỡ, đùm bọc lấy nhau trong cuộc sống… Phải chăng đó cũng là một cuộc tử đạo nho nhỏ đấy, bạn nhỉ?
 * Khi các bạn gặp một người mà bạn chẳng ưa, chẳng thích chút nào, nhất là họ mới xúc phạm đến mình, làm cho mình đau khổ nữa, tính tự nhiên bạn chỉ muốn quay mặt đi không nhìn, không tiếp, nhưng nghĩ tới họ cũng là anh chị em con cùng Cha Mẹ trên trời với mình, và bạn đã vì Chúa để làm ngược với tính tự nhiên đó, để sau bao nhiêu cám dỗ, giằng co, cuối cùng bạn đã chiến thắng được chính mình, để trao cho họ một nụ cười thân ái, cảm thông, tha thứ…, thì quả là bạn vừa mới thực trải qua một cuộc tử vì đạo không phải bằng gươm giáo, nhưng bằng dẹp bỏ tự ái,  ý riêng để làm theo điều răn mới Chúa truyền dạy trước khi Ngài chịu chết.
 * Khi đang mạnh khỏe, bỗng nhiên một cơn bệnh hiểm nghèo ập tới, và bạn đã hết sức tìm thầy chạy thuốc nhưng chẳng thuyên giảm; trái lại, bệnh càng nặng thêm. Lúc đó, nếu bạn cố gắng để dần dần vui vẻ vâng theo Thánh ý Chúa định hoàn toàn, thì bạn ơi, bạn đang là vị anh hùng tử đạo rồi đấy!
 * Mỗi khi bạn cảm thấy chán ngại đi tham dự Thánh lễ Chủ nhật, rồi sau đó vì lòng mến Chúa, bạn lại tiếp tục đi; mỗi khi bạn cảm thấy khó chịu không muốn làm điều tốt lành cha mẹ dạy bảo mà mình không thích, sau đó vì lòng kính mến Chúa, vì đức Hiếu thảo, bạn lại ép mình để vâng lời; mỗi khi ai đó làm bạn khó chịu, tính tự nhiên chỉ muốn giận, muốn sùng lên la cho bõ ghét, nhưng nghĩ tới Chúa luôn xử nhân từ với mình là kẻ có tội, bạn dịu xuống và nhẹ nhàng bỏ qua; mỗi khi ai đó nói xấu vu khống cho bạn điều bạn chẳng có, lúc đấy chỉ muốn chơi lại cho họ bẽ mặt để trả thù, nhưng vì nghĩ tới thân phận con người, cả mình nữa, ai chả yếu đuối, nên vì mến Chúa yêu người như Chúa truyền dạy, bạn sẵn lòng tha thứ cho qua phà, thì phải nói thật với bạn là bạn đang tiến vào Thiên Đàng như các Thánh tử đạo Cha Ông chúng ta đấy! *Và nếu bạn được bác sĩ cho biết là bệnh của bạn các bác sĩ bó tay, bạn chỉ còn sống tối đa có sáu tháng nữa thôi. Lúc đầu thật buồn, nhưng sau bạn lấy lại bình tĩnh chấp nhận Thánh Ý Chúa để sẵn sàng vui vẻ ra đi, ai đến thăm bạn cũng thấy bạn tươi cười, thì bạn đang là vị thánh tử đạo vì Thánh ý Chúa rồi đấy!
 Mừng các Thánh Anh Hùng Tử Đạo Việt Nam trong khuôn khổ Năm Đức Tin của Giáo Hội hôm nay, Mẹ Giáo hội cũng đang thiết tha mời gọi mỗi người hãy là những chứng nhân sống động của Đức Tin trong đời sống hằng ngày hơn, bằng việc luôn sống và làm việc dưới ánh nhìn yêu thương Hiền Phụ của Thiên Chúa là Cha Toàn Năng, Đấng tạo dựng trời đất muôn vật hữu hình và vô hình; đồng thời, can đảm mạnh bạo dấn thân hy sinh làm theo lời Chúa truyền dậy qua Giáo hội, qua các Bề trên, qua các biến cố to nhỏ trong ngoài hồn xác… Có như vậy, mới thật đúng là chúng ta đang bỏ mình vác thập giá hằng ngày mà theo Chúa; có như vậy, chúng ta mới đang là những môn đệ đích danh của Chúa giữa lòng thế giới hôm nay.
 
 
 

24/11-165 : Các chứng nhân Kitô giáo

(Suy niệm của Lm Giuse Nguyễn Văn Nghĩa)
 

Hằng năm cứ vào dịp đại lễ kính nhớ Tổ tiên ông bà Tử Đạo Việt Nam, đoàn tín hữu, con dân 24/11-165 

Hằng năm cứ vào dịp đại lễ kính nhớ Tổ tiên ông bà Tử Đạo Việt Nam, đoàn tín hữu, con dân đất Việt lại thêm một lần được củng cố niềm tin. Ít ra, “con nhà tông không giống lông cũng giống cánh”. Để sống xứng danh là cháu con các anh hùng tử đạo, Kitô hữu Việt Nam cần hiên ngang, anh dũng một cách nào đó trong niềm tin, trong cách sống đạo của mình. Trong tâm tình ấy, xin phác họa đôi nét về chân dung các Thánh Tử đạo Việt Nam như là những chứng nhân Kitô giáo.
1. Chứng từ khả tín của các chứng nhân: Xin được gọi các Ngài bằng nghĩa gốc của từ “tử đạo” là “chứng nhân” (martyr). Thiết tưởng cần trở về với nghĩa gốc là chứng nhân hơn là tử đạo, cho dù hai từ tử đạo đã quá phổ biến trong cách dùng. Bởi vì hai từ tử đạo có vẻ như đang bị méo mó ý nghĩa một cách nào đó khi mà vô tuyến truyền hình tường thuật những người ôm bom tự sát để giết hại nhiều người, trong đó có cả thường dân vô tội, và họ cũng tự cho là tử vì đạo. Hơn nữa một thánh tử đạo trong tôn giáo này chưa chắc được kính trọng bởi người của tôn giáo khác cho bằng các thánh hiển tu hay các thánh xả thân vì tình yêu đồng loại.
Nói đến chứng nhân là nói đến những người dùng chính cuộc sống của mình, dùng cả sự sống và sự chết của mình để làm chứng cho một lý tưởng cao đẹp như nền hòa bình của nhân loại hay sự độc lập tự do của dân tộc… hoặc cho một niềm tin tôn giáo. Khi có ai, có một tập thể nào hiến dâng cả cuộc sống, hiến dâng cả mạng sống để làm chứng về một chân lý nào đó thì chứng từ ấy có tính khả tín nghĩa là chân lý có tính thuyết phục và đáng tin theo. Tuy nhiên mức độ khả tín của các chứng từ còn tùy thuộc vào cách thế làm chứng của các chứng nhân.
Qua cuộc sống, nhất là sự hiến dâng mạng sống của các chứng nhân Kitô giáo, của cha ông anh hùng hy sinh vì đức tin, chúng ta nhận ra mức độ trỗi vượt của tính thuyết phục nơi cách làm chứng của các Ngài. Nếu xét về hình thức chịu cực hình cho đến chết như bị “rũ tù” (bị tra tấn và giam tù cho đến chết), “xữ giảo” (bị thắt cổ cho chết),”xữ trảm” (bị chém đầu), “lăng trì” (bị ném cho voi chà đạp, xé xác), hay “bá đao” (bị róc từng mãnh thịt cho đến chết), thì các bậc cha ông chúng ta tuy có bị khổ hình ghê rợn, thế nhưng các anh hùng dân tộc nhiều khi cũng đã can đảm đón nhận các cực hình tương tự không kém.
Nét trổi vượt và cũng là nét khác biệt nơi chứng từ của cha ông chúng ta đó là cách thế đón nhận khổ hình. Không một ai tự mình quyên sinh và nhất là khi bị khổ hình, không một ai căm phẩn, hận thù hay hô đả đảo những người bắt bớ, giết hại mình. Các Ngài khoan thai, an bình, có khi tỏ vẻ hân hoan và cầu nguyện cho cả người giết hại mình đến độ nhiều “đao phủ đã phải thành khẩn xin tha thứ trước khi hành hình các Ngài. Một thái độ làm chứng nhân khó thấy, hiếm thấy và có thể nói là không thấy có nơi các anh hùng dân tộc khi chịu cực hình, chịu chết vì lý tưởng. Và đây chính là nét khả tín tuyệt vời của nhứng chứng nhân bỏ mình vì “danh Đức Kitô”.
2. Nội hàm chứng từ của các chứng nhân Kitô giáo: Nghĩa là các chứng nhân Kitô giáo, cách riêng tổ tiên anh hùng Việt Nam chúng ta đã hiến dâng cả cuộc sống, cả mạng sống để làm chứng về những điều gì? Xin thưa đó là về “chân lý đức tin” và “Tin Mừng cứu độ.
- Chân lý đức tin: Chân lý đức tin Kitô giáo thì nhiều, nhưng có thể nói một chân lý nền tảng mà tổ tiên ta đã anh dũng làm chứng đó là: Thiên Chúa chúng ta là Thiên Chúa duy nhất, ta phải tôn thờ và yêu mến Người hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức lực ta, vì ngoài Người ra thì không có đấng nào khác (x.Dnl 6,4-7; Mc 12,28-34).
Tôn thờ một ai đó, một Đấng nào đó là nói lên sự thần phục, sự lệ thuộc của mình với Đấng ấy, với người ấy. Môt trong những hình thức biểu lộ sự thần phục hay thờ phượng đó là sự phủ phục. Ta phủ phục trước một Đấng nào đó là ta nhìn nhận những gì ta đang là, ta đang có đều do Đấng ấy ban tặng. Kitô hữu chỉ dâng tâm tình thần phục, phượng thờ này lên một mình Thiên Chúa mà thôi. Và dĩ nhiên tâm tình, thái độ ấy kéo theo hệ quả tất yếu là xem các loài khác như mặt trời, mặt trăng, sông núi…chỉ là loài thọ tạo do Chúa dựng nên. Ngay cả loài thọ tạo cao trọng nhất trong các loài hữu hình là loài người thì dù là kẻ quyền thế, nhiều tiền, cao đức, trọng vịcũng chỉ là loài phàm hèn không hơn không kém. Có thể có người, có vị đáng trọng, đáng kính vì tài đức cao dầy, nhưng không phải là người để ta phải lệ thuộc hay thần phục, nghĩa là bày tỏ sự tôn thờ.
Sự thường một ai đó, khi đã ở ngôi cao, khi đã nắm trong tay quyền lớn thì rất dễ bị cám dỗ muốn tuyệt đối hóa uy quyền của mình. Và một trong những cách thế để tuyệt đối hóa quyền lực và danh phận của mình thì phải tự phong thần, phong thánh cho mình bằng cách này cách khác. Các vua chúa ngày xưa đã từng tự xưng là thiên tử (con trời) và thế là bắt mọi người thần phục mình cách tuyệt đối. Nếu sống và hành xử như “con của trời” thì vẫn tốt, đằng này họ lại hành xử như là những“ông trời con”. Xưa vua Nabunôcônôdo của đế quốc Ba Tư ngày xưa đã cho tạc tượng mình để bắt thần dân thờ lạy. Và nay vẫn có người, có tập thể muốn kẻ khác lệ thuộc mình bằng việc “thần thánh” hóa bản thân hay luật pháp hóa cái thể chế, cái tổ chức, cơ cấu của mình.
Ngày nay người ta khi đã có quyền, có thế cũng có thể bắt kẻ khác suy tôn mình, suy tôn tập thể của mình…là muôn năm, là bất diệt… Và thế là hễ có ai không chịu thần phục, không chịu lệ thuộc thì tức khắc sẽ bị bắt bớ, đàn áp, thậm chí là loại trừ. Vác thập giá là thân phận của Kitô hữu mọi thời, mọi nơi. Tuy nhiên đó là niềm vinh dự cho đoàn con cái Chúa, vì là cách thế tôn thờ một Thiên Chúa duy nhất hùng hồn và rõ nét.
- Tin Mừng cứu độ: Đây cũng là một điều chính yếu nữa mà các anh hùng “tử đạo” đã làm chứng bằng giá máu của mình. Tin mừng cứu độ là tình yêu của Thiên Chúa đuợc thể hiện cách hoàn hảo, trọn vẹn nơi Đức Giêsu Kitô. Đức Kitô chính là Tin Vui, Tin bình an cho nhân loại và cho mọi loại. Cuộc đời, các hoạt động và lời giảng dạy của Đức Kitô là Tin vui, tin an bình cho con người. “Không ai có tình thương lớn hơn tình thương của người hy sinh mạng sống mình cho bạn hữu” (Ga 15,13). “Đây là điều răn của Thầy: anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 15,12).
Không phải chỉ yêu thương những người dễ yêu, yêu những người thân cận, người làm ơn làm phúc cho mình…mà còn yêu cả những người bé mọn, cô thế, cô thân, bất phân màu da, sắc tộc, ngôn ngữ hay chính kiến và yêu cả những người thù ghét mình, làm hại mình (x.Lc 6,27-35).
Tổ tiên ông bà “tử đạo” chúng ta đã mình chứng cho Tin vui cứu độ ấy bằng cuộc sống của mình cho dù phải bị hiểu lầm là bỏ ông, bỏ bà, bỏ tổ tiên, cho dù phải bị gán ghép là phản quốc, bán dân hại nước. Quả thật với một tình yêu không biên giới ấy, xưa kia Đức Giêsu đã từng bị nhiều người đồng hương Nagiarét căm phẩn tìm cách xô xuống vực thẳm (x.Lc 4,28-29). Người cũng đã từng bị nhiều người tự cho mình là công chính tố cáo là hay lui tới và cùng ăn uống với “quân thu thuế và phường tội lỗi” (x.Lc 15,1-2).
Trò không thể hơn thầy. Nếu người ta đã đối xử với Thầy Giêsu ra sao thì các môn đệ cũng sẽ chung số phận ấy nếu họ sống chứng nhân cho Chân lý đức tin và cho Tin Mừng tình thương (x.Ga 15,18-27). Chân dung các chứng nhân đã được một tác giả vô danh khoảng đầu thế kỷ thứ II mô tả cách sống động như sau:“ Họ sống trong xác thịt, nhưng không theo xác thịt. Họ sống ở trần gian, nhưng là công dân Nước Trời. Họ tuân hành luật pháp, nhưng cách sống của họ vượt lên trên những đòi hỏi của luật pháp. Họ yêu thương mọi người, nhưng mọi người lại ngược đãi họ. Họ không được nhìn nhận, nhưng lại còn bị kết án. Họ bị giết mà vẫn được sống. Họ là những người hành khất, nhưng lại làm cho nhiều người nên giàu. Họ thiếu thốn mọi sự, nhưng lạ dư dật mọi sự. Họ bị sỉ nhục, nhưng giữa những sỉ nhục họ lại được vinh quang. Danh thơm của họ bị chà đạp nhưng bằng chứng về đời sống công chính của họ lại được phô bày. Bị nguyền rủa, họ chúc lành; bị đối xử nhục nhã, họ tỏ lòng kính trọng. Khi làm điều thiên, họ lại bị trừng phạt như những kẻ bất lương. Khi bị trừng phạt, họ làm như được sống. Người Do Thái giao chiến với họ như những kẻ ngoại bang, còn dân ngoại thì ngược đãi họ, còn những kẻ ghét họ thì không thể nói lý do tại sao lại căm thù họ (Trích thư gửi ông Điônhêtô – Bài đọc 2 – Kinh Sách Mùa Phục Sinh – Thứ Tư – Tuần V).
 
 
 

24/11-166 : Thiên Chúa là Tình Yêu

Thiên Chúa là Alpha và Omega. Thánh Gioan còn định nghĩa Thiên Chúa là Tình Yêu (1 Ga 4, 16). Thiên 24/11-166 

Thiên Chúa là Alpha và Omega. Thánh Gioan còn định nghĩa Thiên Chúa là Tình Yêu (1 Ga 4, 16). Thiên Chúa là thời gian và cũng là tình yêu. Như thế thời gian và tình yêu song hành là một.
Tôi sống trong Thiên Chúa là sống để yêu và sống trong thời gian là yêu để sống. Thời gian không có tình yêu sẽ trở thành lạnh lùng buồn tẻ. Tình yêu ý nghĩa hóa và thắp hồn cho thời gian. Bởi đó những người đang yêu là những người đang sống trong thời gian với đầy ắp niếm vui hạnh phúc. Những người biết yêu là biết nhìn thời gian như vàng ngọc. Ai sống trong Thiên Chúa là người phải biết yêu quí thời gian Chúa ban.
Các bài đọc Chúa Nhật hôm nay mời mời chúng ta suy niệm về giá trị của thời gian và lao động.
Sách Châm Ngôn mô tả người đàn bà lý tưởng. Bà ăn ở được lòng chồng con, xây dựng gia đình bằng đôi tay cần mẫn, tháo vát và chăm chỉ.
Thánh Phaolô trong thư gởi giáo đoàn Thêxalônica đã đề cập đến giá trị của thời giờ. Trong giáo đoàn có người lo sợ là ngày tận thế sắp đến, họ sợ hãi đến độ không muốn làm gì cả. Thánh nhân đã cảnh tỉnh: Hãy làm việc, đừng ngũ mê. Hãy biết trân trọng thời gian Chúa ban.
Với bài phúc âm, Chúa Giêsu nói đến giá trị của thời giờ, công việc và tài năng. Thiên Chúa khi ban sự sống thì đồng thời cũng ban phương tiện sinh sống như thời giờ, tài năng, như "nén bạc Chúa trao".
Thiên Chúa ban tài năng thì chúng ta có trách nhiệm phải biết dùng tài năng ấy để sinh lợi cho mình và cho người khác. Kẻ lười biếng sẽ được gọi là tôi tớ bất hảo; còn người tôi tớ chăm chỉ làm việc, sinh lợi các nén bạc thì được gọi là lương hảo. Tiêu chuẩn căn bản mà Chúa xét xử đó là tình yêu. Dấu chỉ chúng ta yêu mến Chúa đó là tình yêu chúng ta thực thi đối với anh chị em mình.

 

24/11-167 : Dùng thời gian để yêu thương

Thiên Chúa là thời gian và là tình yêu. Chúng ta quý trọng thời gian, dùng thời gian để làm việc trong 24/11-167 

Thiên Chúa là thời gian và là tình yêu. Chúng ta quý trọng thời gian, dùng thời gian để làm việc trong tình yêu, yêu Chúa và yêu người. Ai yêu thương là kẻ được Thiên Chúa sinh ra và người ấy biết Thiên Chúa.
Thời gian quý giá như vàng ngọc. Bởi vậy:
Dùng thời gian để suy nghĩ, đó là nguồn sức mạnh.
Dùng thời gian để đọc, đó là nền tảng sự khôn ngoan.
Dùng thời gian để tìm hiểu, đó là cơ hội để giúp người khác.
Dùng thời gian để cười, đó là âm nhạc của tâm hồn.
Dùng thời gian để ước mơ, đó là kiến tạo những gì thuộc về tương lai
Dùng thời gian để thinh lặng, đó là cơ hội để gặp Chúa.
Dùng thời gian để yêu và được yêu, đó là món quà vĩ đại nhất của Thiên Chúa.
Dùng thời gian để cầu nguyện, đó là sức mạnh vĩ đại nhất trên trái đất này.
Giá trị đời người không được tính bằng thời gian ngắn hay dài, nhưng ở chỗ mình đã sử dụng nén bạc thời gian, sức khỏe, trí tuệ Chúa ban để phục vụ cuộc sống ra sao. Giá trị ở chỗ mình đã sử dụng thời gian như thế nào, có sinh nhiều ích lợi cho mình, cho tha nhân và cho thế giới hay không.Thời gian qua đi thật mau và chẳng chờ đợi ai. Sống có ý nghĩa là làm cho thời gian hiện tại trở thành yêu thương.
Nguyện xin Thiên Chúa là Chúa của Thời Gian, là Vua của Tình Yêu giúp chúng con biết dùng thời gian để dấn thân phục vụ trong tình yêu. Amen.

 

24/11-168 : Nếu hạt lúa mì rơi xuống

“Nếu hạt lúa mì rơi xuống đất mà không thối đi, thì nó chỉ trơ trọi một mình”.
 

Hôm nay chúng ta mừng trọng thể 117 vị thánh tử đạo tại Việt nam đã viết lên những trang sử 24/11-168 

Hôm nay chúng ta mừng trọng thể 117 vị thánh tử đạo tại Việt nam đã viết lên những trang sử hào hùng cho quê hương.. Hôm nay cũng sắp kết thúc thời gian Thánh kỷ niệm 30 năm các ngài được tôn phong hiển thánh và cũng sắp kết thúc một năm Phụng vụ. Chúng ta hãy nhìn gương các Ngài, để sống một năm Phụng vụ mới cho tốt hơn.
Các ngài là ai? Các ngài là 117 hạt lúa đã thối đi, các ngài đã hy sinh mạng sống, các ngài đã đổ máu đào để sinh ra cho chúng ta hôm nay Các Ngài đã chấp nhận một quá khứ đau khổ và bị quên lãng, nhưng đã được hưởng một hiện tại vinh quang vĩnh cửu không ai có thể cướp đi và làm phai nhoà được: “Ai muốn cứu mạng sống mình thì sẽ mất. Ai liều mạng sống mình vì Thày, thì sẽ được sống”. Thật vậy, dù các ngài đã chết, nhưng các ngài đang sống và giúp chúng ta cùng sống với các ngài. Các ngài còn là ai? Phải chăng, khi còn sống các ngài là những vị anh hùng của dân tộc, là những siêu sao, là những nhà tư sản, là những người bằng cấp đầy mình?
Không! Không phải vậy. Điều rất đơn giản là các ngài là những người theo Chúa Kitô như chúng ta không hơn không kém. Các Ngài đã theo sát Chúa Ki-to, theo Chúa Ki-tô một cách dứt khoát: “Ai muốn theo Thầy, thì hãy bỏ mình đi, vác thập giá mình hằng ngày mà theo Thầy”. Chúa Kitô đã nói và đã làm như vậy. Các Ngài đã nghe và cũng làm như thế, không thể chọn con đường nào tốt hơn: “Tôi tớ không lớn hơn chủ nhà. Nếu người ta bắt bớ Thầy, thì người ta cũng bắt bớ anh em”. Bị bắt bớ vì Thầy đó là một con đường, con đường tất yếu để về nhà Cha: “Thâỳ là đường, là sự thật và là sự sống. Không ai đến được với Cha mà không qua Thầy”.
Các thánh tử đạo tại Việt Nam mà hôm nay chúng ta mừng lễ đã chọn con đường này, con đường chịu bắt bớ, con đường vác thập giá. Thập giá mà các ngài vác không phải là khi sinh ra các ngài đã chọn sẵn, nhưng là Chúa Kitô đã chọn cho các Ngài và các ngài sãn sàng vác theo với tâm hồn quảng đại.
Thập giá, nói đúng ra, là biểu tượng đau khổ, hình phạt và hận thù đối với những người không tin. Nhưng đối với người tin, thì thập giá đã trở nên dấu chỉ của tình yêu, vì Chúa Giêsu đã sử dụng thập giá để chết và đã cứu chuộc nhân loại.
Và từ đó thập giá đã thay hình đổi dạng. Thập giá đã trở nên dấu chỉ cứu độ. Thập giá đó đã trở nên dấu chỉ tình yêu. Tình yêu cạn kiệt. Tình yêu dốc hết cho đến không còn giọt máu nào trong tim. Thiên Chúa không keo kiệt. Ngài yêu thương chúng ta đến kỳ cùng và cho bằng được. Tình yêu đó đã thể hiện qua thập giá. Các thánh tử đạo cũng đi vào con đường thập giá đó.
Nhìn lên thập giá Chúa Giêsu và liên tưởng đến cái chết của các thánh tử đạo, người ta tưởng chừng thế lực của sự dữ đã chiến thắng. Nhưng ngược lại, sự dữ đã thất bại vì nó xuất phát từ hận thù: “Ai dùng gươm sẽ chết vì gươm”. Thập giá mà Chúa Giêsu và các thánh tử đạo đã vác là sự chiến thắng của tình yêu. Tình yêu mà từ đó Thiên Chúa biến đổi sự yếu đuối thành sức mạnh siêu việt.  Thánh Phaolô đã cảm nghiệm: “Chúa Kitô đã nói với tôi: ơn Ta đủ cho con, vì sức mạnh của Ta biểu lộ trọn vẹn trong sự yếu đuối. Thế nên, tôi rất vui mừng và tự hào vì những yếu đuối của tôi, để sức mạnh của Đức Kitô ở mãi trong tôi”.
Thập giá mà các thánh tử đạo Việt Nam chấp nhận đã góp phần vào Thập giá Chúa Kitô trong công cuộc cứu độ nhân loại. Thập giá mà các ngài vác là thử thách lớn nhất của Tình yêu gửi tới chúng ta và tất cả những ai yêu mến Chúa. Thập giá mà các ngài đã vác, không những biểu lộ yêu thương và tha thứ, mà còn mang tính truyền giáo, trao ban sự sống vì hạnh phúc của toàn thể nhân loại.
Kính thưa cộng đoàn,
Chỉ còn 1 tuần lễ nữa, Giáo Hội tại Việt Nam kết thúc thời gian Thánh kỷ niệm 30 năm các thánh tử đạo tại Việt Nam được tôn vinh hiển thánh. Suôt thời gian thánh chúng ta chúng ta đã sống như thế nào để noi gương các ngài?
Các ngài là những hạt lúa mì thối đi để ngày nay hằng triệu triệu hạt lúa khác mọc lên trong đó có chúng ta. Chúng ta đang sống trong một thế giới hưởng thụ. Chúng ta có sẵn sàng phải chết đi không? Hay là chúng ta lợi dụng quyền chức của mình, bóp nghẹt những hạt lúa khác để tôn vinh cái tôi của mình, muốn làm gì thì làm mà không tham khảo ý kiến tốt của người khác. Tình trạng này cũng len lỏi vào cả hàng giáo sỹ và tu sỹ mà Đức Giáo Hoàng Phanxico cảnh báo, đó là “giáo sỹ trị”.
Tử đạo không phải là công việc của quá khứ,cũng không phải chỉ là đi hành hương để lĩnh ơn toàn xá, mà còn phải sống như các ngài. Biết bao lần Tin Mừng dường như bị bóp nghẹt khi người ta sử dụng quyền hành gây đau khổ cho nhau trong cuộc sống. Đối với chúng ta, nên thánh có nghĩa là chúng ta cậy nhờ sức mạnh phi thường của Lời Chúa và thể hiện lòng từ bi thương xót và tha thứ, mới có thể chiến thắng những tình trạng như vậy.
 

Lm. Gioan Đặng Văn Nghĩa

 

24/11-169 : Cuộc bách hại đạo hôm nay

Việc bách hại đạo không phải chỉ là việc của ngày xưa nhưng thời nào thì những người con Chúa 24/11-169 

Việc bách hại đạo không phải chỉ là việc của ngày xưa nhưng thời nào thì những người con Chúa cũng bị thôi thúc, bị lôi kéo, bị ép buộc bỏ đạo.
Hôm xưa, các thánh tử đạo tại Việt Nam đã bị vua quan bắt bớ, xiềng xích, tống giam vào tù ngục… buộc phải bỏ đạo. Dầu vậy, các ngài vẫn kiên trung, anh dũng chấp nhận tù đày, chết chóc chứ không bỏ đạo, không bỏ Chúa.
Chúng ta hôm nay cũng bị những quyền lực mạnh mẽ thúc đẩy từ bên trong, xô đẩy chúng ta chối bỏ Đạo yêu thương.
Trước hết, cần nhớ rằng Đạo Chúa là Đạo yêu thương.
Đạo Chúa là Đạo yêu thương vì yêu thương là cốt lõi của Đạo Chúa.
Đạo Chúa là Đạo yêu thương vì yêu thương là điều luật quan trọng nhất, là quy luật trung tâm của mọi lề luật, như Thánh Phao-lô dạy: “Ai yêu thương là chu toàn mọi điều luật dạy” (Rô-ma 13,9-10).
Đạo Chúa là Đạo yêu thương vì mục tiêu hàng đầu của Đạo Chúa là xây dựng thế giới này trở thành thế giới yêu thương, huynh đệ, mọi người yêu thương đùm bọc nhau như anh chị em một nhà.
Và hơn hết, Đạo Chúa là Đạo yêu thương vì chỉ có ai có lòng yêu thương mới là con cái Chúa, là môn đệ Chúa; Ai không yêu thương thì tự loại trừ mình ra khỏi hàng ngũ những người môn đệ Chúa, như lời Chúa Giê-su dạy: “Người ta cứ dấu này mà nhận biết anh em là môn đệ Thầy, đó là anh em yêu thương nhau” (Gioan 13,35).
Như chúng ta vừa đề cập trên đây, hiện nay có nhiều quyền lực hết sức mãnh liệt lôi cuốn, xô đẩy chúng ta từ bỏ Đạo yêu thương. Vậy đó là những quyền lực nào?
Đó là những sức mạnh nằm ngay trong lòng ta, thống trị tâm hồn và cuộc sống của ta, hằng thôi thúc ta bỏ Đạo yêu thương: Chủ yếu là lòng tham, lòng giận ghét, hạn thù, ích kỷ, vô cảm vô tâm…
1. Lòng tham: Lòng tham đang thống trị tâm hồn rất nhiều người. Lòng tham xui khiến người ta làm nhiều điều gian ác, bất công, làm thiệt hại cho bao người để thu lợi về cho mình.
Một trường hợp cụ thể đang xảy ra và rất nóng bỏng, đó là việc nhiều người sản xuất các loại thực phẩm độc hại, những loại thực phẩm bẩn, có nhiều độc tố tiềm ẩn, gây hại cho đồng bào mình, cho dân tộc mình… gây ra bệnh hoạn cho vô số người, để cho người ta chết dần chết mòn vì bệnh tật, nhất là bệnh ung thư… miễn sao mình thu lợi thật nhiều cho bản thân là được, còn ai chết mặc ai.
Ai giết người bằng những cách thế như vậy là trắng trợn từ bỏ Đạo yêu thương.
 
2. Lòng giận ghét, oán thù: Lòng giận ghét sôi sục trong lòng ta, xui khiến ta chửi mắng, đánh đập, gây ra nhiều buồn khổ, đau thương cho người khác…
Khi ta để cho lòng giận ghét oán thù xui khiến mình xúc phạm người khác, chà đạp danh dự, nhân phẩm của người khác… là ta chối bỏ Đạo yêu thương.
 
3. Lòng ích kỷ: Ích kỷ có cội rễ sâu xa trong lòng người. Nó thống trị người ta, xui khiến người ta chỉ nghĩ đến mình, đến gia đình con cái mình thôi; ai đói mặc ai, ai rét mặc ai, ai đau bệnh khốn khổ mặc ai…
Khi ta không thương xót, không cứu giúp người hoạn nạn, đau khổ… là ta đã từ bỏ điều cốt lõi của Đạo yêu thương…
Ngoài ra, còn rất nhiều quyền lực khác, tuy vô hình, nhưng có sức mạnh lớn lao, đã hoặc đang xâm chiếm tâm hồn ta, làm chủ cuộc sống ta, luôn tìm cách lôi kéo, xô đẩy ta ra khỏi Đạo yêu thương của Chúa.
Đây là những cơn bách hại lâu dài và sẽ còn tiếp tục kéo dài suốt cả cuộc đời, nếu ta không chiến đấu chống lại chúng, chúng ta phải thua trận và trở thành người bỏ Đạo lúc nào không hay biết.
 
Hậu quả tai hại mà người bỏ Đạo yêu thương phải gánh lấy, là đến ngày phán xét, người ấy sẽ bị Chúa Giê-su lên án: “Hỡi quân bị nguyền rủa kia, đi đi cho khuất mắt Ta mà vào lửa đời đời, nơi dành sẵn cho tên Ác Quỷ và các sứ thần của nó”… vì ngươi không có lòng yêu thương (Mt 25, 34. 41).
 
Lạy các thánh tử đạo Việt Nam,
Các ngài thà chết chứ không thà dẫm đạp lên Thập tự giá và không chối bỏ đạo Chúa, thì xin cầu bầu cho chúng con hôm nay, can đảm chấp nhận thua thiệt và đau khổ chứ không vì tham lam, ghen ghét, oán thù, ích kỷ… mà chà đạp lên tình người, lên danh dự, nhân phẩm của người khác, vì làm như thế là chúng con đã chối bỏ Đạo yêu thương và phải mang lấy án phạt đời đời. 

Linh mục Inhaxiô Trần Ngà

 

24/11-170 : CHỌN ĐẤNG CHỊU ĐÓNG ĐINH

Năm 1837, vua Minh Mạng triệu tổng đốc Nam Định Trịnh Quang Khanh về kinh và trao cho 24/11-170 

Năm 1837, vua Minh Mạng triệu tổng đốc Nam Định Trịnh Quang Khanh về kinh và trao cho 40 cây Thánh Giá, rồi ra lệnh phải áp dụng gắt gao chiếu chỉ cấm đạo. Từ đó, tổng đốc Khanh trở thành “Hùm xám Nam định”.
40 cây Thánh Giá trở thành dụng cụ để thử thách niềm tin của người tín hữu. Người có đạo khi bị bắt, buộc phải “quá khoá” phải bước qua Thánh Giá. Nếu bước qua sẽ được sống, được trả lại tất cả những gì đã mất, và còn được tặng thêm phú qúi vinh hoa. Không bước qua phải bị tù đày, gông cùm đòn vọt và mất cả mạng sống.
Thánh Giá chính là cột mốc để phân định giữa sống và chết, giữa Thiên Chúa và thế gian. Khi đối diện với Đấng Chịu Đóng Đinh, người tín hữu luôn phải thực hiện một sự chọn lựa có tính quyết định.Chỉ cần một bước chân thôi là mọi sự thay đổi. Đã có người bước qua, và cũng có người không.
Có người bị khiêng qua thánh giá nhưng đã co chân lên, như thánh Antôn Nguyễn Đích. Có người bước qua, nhưng sau lại hối hận. Đó là trường hợp của ba vị thánh quân nhân: Âutinh Huy, Nicôla Thể và Đaminh Đạt. Cũng có những vị được quan quân khuyến dụ hãy giả vờ bước qua thập giá để cho quan có cớ mà tha, còn sau đó về nhà thì muốn sao tuỳ ý; nhưng các thánh tử đạo vẫn không chấp nhận một thoả hiệp như thế. Các ngài vẫn khẳng khái nói không. Không bước qua thập giá, không bỏ đạo, không chối Chúa.
Đứng trước thập giá là đứng trước một lựa chọn. Tôi chọn Chúa hay tôi chọn tôi? Không có giải pháp dung hoà hay lấp lửng.Giây phút đứng trước thập giá là giây phút quan trọng.Quyết định không bước qua thập giá là kết tinh của những đêm dài cầu nguyện, của việc chiến thắng những mời mọc khéo léo, của việc thắng vượt những sợ hãi, giằng co nội tâm, của những Vườn Dầu trong ngục thất...
Các Thánh Tử Đạo có chung một chọn lựa dứt khoát: theo Đức Kitô hay theo vua quan? Theo Đức Kitô là vác thập giá, sống trong gông cùm và chết trong đau thương. Theo vua quan là thừa hưởng vinh hoa phú quý nơi trần gian. Các Ngài có chung một quyết định tối hậu là theo Đức Kitô. Giây phút quyết định ấy chỉ có các Ngài với Thiên Chúa, chỉ có linh hồn với cõi phúc vô biên. Giây phút ấy không bị ảnh hưởng bởi gia đình, tổ quốc, nhân sinh. Người chết trong máu tử đạo đã coi nhẹ nghĩa phu thê, đã xem thường đường phụ tử. Họ khao khát một tình yêu vô biên mỹ lệ như giải ngân hà sao sa vời vợi, như vầng nhật nguyệt huy hoàng khôn tả. Các Ngài đã hoan hỉ chấp nhận chết để được sống một cuộc đời mà không mỹ từ nào diễn tả nổi, không bút hoạ nào vẽ thành và không hùng biện nào tuyên dương cho trọn. Người chết trong gông cùm mòn mỏi đã đặt tổ quốc đàng sau những giá trị vĩnh cửu. Ước vọng của họ không phải là được người đời tưởng niệm, được hậu thế tôn phong. Họ chết là vì đức tin thúc đẩy. Họ chỉ muốn thực hiện điều đã từng nghe biết: “Ai tuyên xưng danh Ta trước mặt trần gian, Ta sẽ tuyên danh nó trước mặt Cha Ta trên trời” (Mt 10,32). (x.Thiên Hùng Sử trang 4).
Trải qua sáu triều Vua: Trịnh, Nguyễn, Tây Sơn, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, Giáo Hội Việt Nam đã có hơn 100 ngàn Đấng Tử Đạo được ghi nhận trong sổ sách. Trong đó, có 58 Giám mục và Linh mục ngoại quốc thuộc nhiều nước như Pháp, Tây Ban Nha, Bồ đào Nha, Hà Lan, Italia, 15 Linh mục Việt Nam, 340 Thầy Giảng, 270 Nữ tu Mến Thánh Giá, 99.182 Giáo dân. Đó là chưa kể con số rất đông các tín hữu bị chết mất tích trong các đợt bắt Đạo vì lưu đày, vì phải trốn tránh vào những nơi hẻo lánh.Đó là chưa kể rất nhiều tín hữu phải chết do cuộc Phân Sáp 400 ngàn người Công Giáo dưới triều Vua Tự Đức.Đó còn là chưa kể con số hơn mười mấy vạn người Công Giáo bị chết khi có Phong trào Văn Thân nổi lên tàn sát người Công Giáo...Như thế, con số Tử Đạo phải tính lên đến 300 ngàn người trong vòng 300 năm. Nếu tính theo tỷ lệ, 100 năm thì có 100 ngàn Vị Tử Đạo. Và theo tỷ lệ này, cứ một năm, có một ngàn Vị Tử Đạo; và đổ đồng, cứ một ngày, có hơn hai Vị Tử Đạo!
Thánh Giá luôn là điểm hẹn tình yêu,là nơi gặp gỡ của những người sống cho tình yêu và chết cho tình yêu. Nếu thập giá là biểu tượng của đau khổ thì Đấng Chịu Đóng Đinh đã chiến thắng đau khổ. Chúa Kitô đã tạo ra sự khác biệt hoàn toàn giữa thập giá và kẻ bị đóng đinh. Khi nhận lấy thập giá, Chúa Kitô đã dùng tình yêu biến đau khổ thành niềm vui. Tình yêu làm cho thập giá trở thành Thánh Giá.
Thánh Giá biểu tượng cho cuộc chiến đấu của Chúa Giêsu và cũng là biểu tượng cho tình yêu mạnh hơn sự chết và cho sự Thiện sẽ giành chiến thắng cuối cùng trên sự Ác.Thánh Giá là cánh cổng dẫn vào sự sống, thất bại chuyển thành chiến thắng, sự sống bị tước đoạt trở thành sự sống viên mãn. Ai đánh mất mạng sống mình sẽ tìm gặp lại sự sống. Ai can đảm chết cho Chúa Kitô sẽ được sống muôn đời. Thánh Giá là sự khôn ngoan và quyền năng của Thiên Chúa, bởi lẽ “Sự điên rồ nơi Thiên Chúa thì khôn ngoan hơn loài người, và sự yếu đuối nơi Thiên Chúa thì mạnh sức hơn loài người” (1Cr 1, 24 -25).Thánh Giá đã trở thành dấu chỉ của tình yêu hy vọng và sự sống. Thánh Phaolô có một ước muốn: “Ước chi tôi chẳng hãnh diện về điều gì, ngoài thập giá Đức Giêsu Kitô” (Gl 6,14).
Đức Cha Lambert de la Motte sáng lập Dòng Mến Thánh Giá. Đây là Hội Dòng chọn Đức Kitô chịu đóng đinh là đối tượng duy nhất của tình yêu của lòng trí. Không chọn cái gì nhẹ nhàng mà lại chọn Đấng chịu đóng đinh trên Thánh Giá. Chọn con đường theo Chúa là đi vào con đường hẹp. Một chọn lựa khôn ngoan vì đã chọn chính Đấng Cứu Độ. Thánh Giá là đỉnh cao ơn cứu độ.
Thánh Giá đã in sâu và gắn chặt với Chúa Giêsu Kitô. Ngay cả sau khi Chúa sống lại vinh quang, các vết thương khổ nạn thập giá vẫn hiển hiện vẫn không bị xóa nhòa. Thánh Giá Chúa Kitô xuyên qua thời gian và hiện diện trong mỗi giây phút cuộc đời chúng ta. Sự hiện diện ấy làm thay đổi tất cả.
Chúa Giêsu ở giữa nhân loại trong Bí tích Thánh Thể. Để trở nên nguồn sống tâm linh trong Thánh Thể, Chúa Giêsu đã đi qua Tử nạn và Thập giá.
Thánh Thể là Mình Chúa hy sinh bị nộp, bị giết vì chúng ta: “Đây là Mình Thầy hy sinh vì anh em”. Chén Máu của Chúa là Máu giao ước đổ ra, Máu của Đấng Cứu thế bị giết chết trên thập giá. Bởi đó Thánh Thể và Thánh Giá là hai mầu nhiệm của một tình yêu tự hiến của Chúa Kitô. Không có Thánh Giá, Thánh Thể không có ý nghĩa. Không có Thánh Thể, Thánh Giá chỉ là thất bại.Từ Thánh Giá đến Thánh Thể là hành trình của con đường tình yêu tự hiến. Thánh lễ là cử hành hy tế cứu độ của Chúa Giêsu từ mầu nhiệm Thánh Giá đến tình yêu Thánh Thể.
Các Thánh Tử Đạo Việt Nam nhờ sức mạnh của Thánh Thể nên đã chọn Thánh Giá cách tuyệt đối và quyết liệt, dám liều mất cả mạng sống cho sự lựa chọn của mình. Các ngài thật khôn ngoan. Là con cháu của các Ngài, xin cho chúng con luôn khôn ngoan trong những chọn lựa của đời sống hàng ngày. Amen.
 

Lm Giuse Nguyễn Hữu An

 

24/11-171: Đi làm chứng cho Thầy

 Kn 3,1-9;1Cr 1,17-25; Mt 10,17-22
 

Thầy Giêsu sai các môn đệ ra đi làm chứng cho Thầy và dặn trước rằng:“Hãy coi chừng người đời. 24/11-171

Thầy Giêsu sai các môn đệ ra đi làm chứng cho Thầy và dặn trước rằng:“Hãy coi chừng người đời. Họ sẽ nộp anh em cho các hội đồng, và sẽ đánh đập anh em trong các hội đường của họ. Và anh em sẽ bị điệu ra trước mặt vua chúa quan quyền vì Thầy, để làm chứng cho họ và cho dân ngoại.”Nghe những lời này ai cũng cảm thấy sợ hãi muốn chùn bước chân. Chính Thầy Giêsu là lá cờ đầu tiên phong, là vị Tử Đạo đầu tiên đã bị nộp, đánh đập và bị đóng đinh chết nhục nhã đau thương. Kế đến các tông đồ, theo sau là các thánh Tử Đạo cũng đã bị điệu ra trước mặt vua chúa quan quyền. Các ngài đã trải qua bao nhiêu cấm cách, bắt bớ, đánh đập giết chóc đau thương với nhiều cách ghê sợ. Những hình ảnh đó thật đúng là chiên đi vào giữa “bầy sói”.
Nhưng ngày nay Thầy sai chúng con đi vào thế gian, giữa thời đại @, không có sói, chẳng bị cấm cách gì hết. Nhiều khi mạnh ai nấy sống, người ta mải mê kiếm tìm lợi nhuận hưởng thụ, của cải, danh vọng, tìm cách vươn lên làm giàu, chứ chẳng tìm bắt bớ, bách hại lẫn nhau. Không thấy ai nộp chúng con cho hội đồng, không bị đánh đập trong hội đường hay điệu ra trước nhà chức trách vì Chúa. Nhưng cũng chính trong thời đại bon chen xô bồ này, chúng con bị thách thức, bắt bớ bởi những cám dỗ đam mê, tiền, vàng, đôla, nhà đất… Chúng làm lé mắt, lôi kéo trói buộc, chúng con   thật khó để chiến đấu mà giải thoát gỡ mình ra khỏi.Vì bản năng con người lại thích “sự êm dịu” của nó. Cũng chính vì những lợi lộc trần gian này, vì tiền của, nhà đất, ruộng vườn mà người ta bon chen giành giật, vu oan kiện cáo đưa nhau ra tòa không phân biệt thân sơ. Từ đây có cảnh “Anh sẽ nộp em, em sẽ nộp anh cho người ta giết; cha sẽ nộp con, con cái sẽ đứng lên chống lại cha mẹ và làm cho cha mẹ phải chết.” Báo chí cập nhật đăng tải bao cảnh bê bối tang thương ngay từ giữa gia đình.
Phải đối xử làm sao, chiến đấu ra sao với những thử thách gian truân nơi đường trường dương thế này? Lúc ấy “không phải chính anh em nói, mà là Thần Khí của Cha anh em nói trong anh em.” Chính Thầy Giêsu đã đi bước trước và thực hiện trong các vị Tử Đạo. Mọi khó khăn đau khổ sẽ được trả lại bằng vinh quang. Nhưng với điều kiện phải trung thành trong mọi hoàn cảnh khó khăn, cho đến giây phút cuối cuộc đời:“kẻ nào bền chí đến cùng, kẻ ấy sẽ được cứu thoát.”
Lạy Chúa! Chúa sai con đi vào giữa cuộc đời đầy khó khăn thử thách và đủ thứ cám dỗ gọi mời. Xin ban cho con sự khôn ngoan cần thiết, để con nói năng, hành động theo Thần Khí Chúa. Được đồng hình đồng dạng, nên một trong Chúa, con được trở nên thụ tạo mới. Nếu được như vậy, con luôn vững tâm, can đảm khi đối diện với những khó khăn. Bởi vì “không phải chính anh em nói, mà là Thần Khí của Cha anh em nói trong anh em.” Có thể con sẽ lãnh phần thua thiệt trong cuộc sống, nhưng nhờ “bền chí đến cùng” con sẽ được hưởng hạnh phúc Chúa hứa ban. Amen. 

Én Nhỏ

 

24/11-172: Tử đạo trong đời sống thường ngày – Huệ Minh

Thánh lễ hôm nay nhuốm đỏ màu của máu. Máu của hơn 100 ngàn anh hùng tử đạo. Máu của24/11-172

Thánh lễ hôm nay nhuốm đỏ màu của máu. Máu của hơn 100 ngàn anh hùng tử đạo. Máu của 117 vị đã được tôn phong lên hàng hiển thánh. Máu ngập tràn chảy suốt hơn 3 thế kỷ truyền giáo tại Việt Nam
Các thánh Tử Đạo Việt Nam có lòng tin mạnh mẽ. Lòng tin của các ngài không biểu lộ trong những hành vi cuồng tín, nhưng diễn tả trong thái độ chan chứa yêu thương. Đã nhận biết Chúa, các ngài yêu mến Chúa tha thiết. Đã cảm nhận được tình yêu của Chúa các ngài mong muốn được đáp đền tình yêu đó.
Chúa Giêsu nói trong tin mừng theo thánh Luca: “Ai muốn theo Ta, phải bỏ mình, vác thập giá hằng ngày mà theo Ta”. Theo Đức Yêsu, là một thái độ sống liên lỉ chứ không chỉ là một hành vi riêng lẻ một lần cho tất cả. Để có thể có hành vi dám chết cho tình yêu, các anh hùng tử đạo đã luôn chết cho chính mình trong cuộc sống hằng ngày để sống cho Chúa trong từng hành vi sống của mình.
“Được lời lãi cả thế gian, mà phải mất mạng sống mình, thì ích gì?” Điều quan trọng là phải sống. Nhưng nếu chỉ sống một trăm năm, mà phải khổ nhục vĩnh viễn thì ích lợi gì? Sự khôn ngoan đi kèm với hành vi anh hùng nơi các thánh tử đạo. Các thánh tử đạo, là những người khôn ngoan, anh hùng và đức hạnh. Các ngài là những người dám sống và dám chết cho tình yêu. Các ngài chọn đời sống vĩnh cửu hơn đời sống chóng qua này.
Niềm tin Kitô là một nghịch lý trước mọi suy nghĩ, tính toán của thế gian, ngay từ lời mời gọi của Đức Kitô: “Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo. Quả vậy, ai muốn cứu mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì tôi, thì sẽ cứu được mạng sống ấy” (Lc 9,23-24).
Nhưng ai đi theo Đức Kitô, bỏ mình vì yêu, người ấy nghiệm được nơi mình một kho báu vượt trên tất cả và không bao giờ bị mất.
Các vị tử đạo Việt Nam đều có kinh nghiệm sống từng lời của đoạn Tin Mừng hôm nay: bị nộp, bị đánh đập, bị điệu ra trước vua quan, bị tra hỏi, bị thù ghét và cuối cùng là bị giết. Tất cả những gì các ngài phải chịu đều vì Đức Giêsu (c.18), vì Danh Đức Giêsu (c.22).
Các vị tử đạo thường bị đặt trước thánh giá. Bước qua là được tiếp tục sống sung sướng an nhàn. Không bước qua là phải chịu tù đày, đòn vọt, mất tất cả và mất chính mạng sống. Chỉ cần một bước chân, là mọi sự thay đổi. Các bậc cha ông tử đạo của chúng ta ngày trước đã can đảm khước từ tất cả những hứa hẹn hấp dẫn đó, và đã kiên quyết nói không: Không bước qua thập giá, không bỏ đạo, không chối Chúa, không từ bỏ niềm tin.
Đã có người bước qua, và cũng có người không. Có người bị khiêng qua thánh giá, nhưng đã co chân lên, như thánh Antôn Nguyễn Đích. Có người bước qua, nhưng sau lại hối hận. Đó là trường hợp của ba vị thánh quân nhân: Âutinh Huy, Nicôla Thể và Đaminh Đạt. Có người được mời giả vờ bước qua thánh giá để quan có cớ mà tha, như thánh Micae Hồ Đình Hy, nhưng họ đã thắng được cơn cám dỗ tinh vi ấy.
Đứng trước thánh giá là đứng trước một lựa chọn. Tôi chọn Ngài hay tôi chọn tôi? Không có giải pháp dung hoà hay lấp lửng. Giây phút đứng trước thánh giá là giây phút quan trọng. Quyết định không bước qua thánh giá là kết tinh của những đêm dài cầu nguyện, của việc chiến thắng những mời mọc khéo léo, của việc thắng vượt những sợ hãi, giằng co nội tâm, của những Vườn Dầu trong ngục thất...
Thời nào chúng ta cũng được đặt trước thánh giá, dấu hiệu của sự từ bỏ để phục vụ. Lúc nào chúng ta cũng có nguy cơ bước qua thánh giá, bằng đời sống hưởng thụ và ích kỷ của mình.
Giữa sự sống và sự chết chỉ cách nhau một lằn ranh. Lằn ranh đó chính là cây thập giá. Bước qua thì được thoát khỏi cực hình trần gian. Bước qua thì được trở về với vợ con, với xóm làng, với chức tước vua ban và bổng lột trần gian, nhưng các thánh tử đạo Việt Nam đã không vì thế mà chối Chúa, bỏ đạo.
Không thể vì ham sống sợ chết mà phải chà đạp lên thập giá là bỏ cơ hội sống đời đời để đổi lấy cuộc sống lây lất tạm thời trần gian. Các ngài thà chịu đòn roi, thà chịu án tử hình để trung kiên theo Chúa, để lãnh phúc triều thiên vinh quang bất diệt trên quê trời còn hơn là làm tôi mọi cho ma qủy. Như trường hợp ông đội Bường đã thẳng thắn trả lời với quan quân: “Bên đạo chúng tôi ai chết trẻ là đi đường tắt, ai chết già là đi đường trường. Song đàng nào cũng tới quê thật là nước thiên đàng vậy”.
Thế nên, thánh nhân đã khuyên nhủ các đồng đạo rằng: “Chúng ta hãy vui lòng chịu mọi sự khốn khó để giữ nghĩa cùng Chúa cho đến khi nào thánh ý Chúa định thể khác. Nếu quan có hành hạ thì hãy can đảm chịu đựng. Hễ xác chết rồi thì hồn chúng ta bay thẳng về trời, không sợ gì roi đòn. Chịu sự khó như vậy là vác thánh giá theo Chúa Giêsu. Nếu có đau đớn quá thì hãy xin Đức Mẹ phù trợ cho được bền lòng đến cùng”.
Khi nâng 117 vị tử đạo Việt Nam lên bậc hiển thánh, Giáo Hội muốn đưa ra những mẫu gương cho chúng ta bắt chước. Qua cái chết khổ nhục, các ngài đã làm chứng cho Đức Kitô trong những hoàn cảnh giới hạn của mình. Noi gương cái ngài, chúng ta cũng hãy sống làm chứng cho Đức Kitô trong hoàn cảnh riêng của chúng ta.
Ta mừng kính 117 thánh tử đạo Việt Nam, là con số tượng trưng cho hơn 130 ngàn vị tiền nhân đã chết trong các đợt cấm đạo tại Việt Nam từ cuối thế kỷ 17 đến cuối thế kỷ 19. Họ đã chết không phải vì chống lại triều đình. Họ đã chết không phải vì lỗi công bình bác ái với tha nhân. Họ đã chết vì không chịu thoả hiệp với thế gian.
Đứng trước nhu cầu và ham mê tiền bạc, người Công Giáo muốn trung thành với Tin Mừng, muốn sống trọn vẹn đức tin, bắt buộc phải có sự lựa chọn. Thà cam chịu nghèo khổ còn hơn nhận những đồng tiền phi nhân bất nghĩa. Thà cam chịu thiếu thốn còn hơn đánh mất đức tin. Thà lao động cực khổ để kiếm miếng cơm manh áo chân chính hơn là chạy theo những đồng tiền dễ dãi để chối từ Tin Mừng và Luật Chúa.
Ngày nay, khái niệm về tử đạo hiểu rộng rãi hơn. Người tử đạo là người dám chết cho công lý, cho hòa bình, chết cho quyền sống của con người, nhất là những người nghèo khổ, bị áp bức. Nói chung là chết vì Chính Đạo, chết vì muốn sống theo con đường Tin Mừng của Chúa Giêsu.
Ta hiểu tử đạo theo một nghĩa rộng, đó là làm chứng cho Chúa. Chúng ta có thể làm chứng cho Chúa bằng hành động, bằng việc làm, bằng chính cuộc sống đạo đức và thánh thiện, bác ái và yêu thương của chúng ta. Đó chính là cái nền tảng vũng chắc để xây dựng tòa nhà đức tin. Chính trong ý nghĩa này mà Mẹ Maria đã được gọi là Nữ vương các thánh tử đạo, mặc dù Mẹ đã không đổ máu để làm chứng cho đức tin của mình.
Ta phải noi gương bắt chước các ngài, bởi vì con nhà tông không giống lông cũng giống cánh. Đừng vì một con sâu mà làm rầu nồi canh, đừng vì cuộc sống tội lỗi của chúng ta mà làm nhơ bẩn khuôn mặt Giáo Hội Việt Nam. Hãy sống thế nào để xứng đáng là con cháu của những bậc anh hùng tử đạo.

 

24/11-173: Tử đạo, một chọn lựa của lòng tin

Hôm nay, chúng ta hân hoan cùng với toàn thể Giáo Hội Việt Nam mừng kính trọng thể lễ 24/11-173

Hôm nay, chúng ta hân hoan cùng với toàn thể Giáo Hội Việt Nam mừng kính trọng thể lễ các thánh Tử Đạo tại Việt Nam. Đây là một ngày vui mừng chung của tất cả chúng ta, những kitô hữu mang trong mình dòng máu con Rồng, cháu Tiên. Cách đây gần 400 năm, hay đúng hơn từ lễ Phục sinh năm 1615, khi cha Bugiơmi, dòng Tên, người Ý dâng thánh lễ đầu tiên tại Hội An, Đà Nẵng bây giơ, đạo Công giáo đã được chính thức khai nguyên và lập cơ sở ở Việt Nam. Hạt giống Tin mừng đã được gieo vãi trên mảnh đất hình chữ “S” thân yêu này. Cha ông chúng ta những con người có tâm hồn hiền hậu, chất phác đã đón nhận và sẵn sàng dùng chính mạng sống mình để làm chứng cho Tin mừng đó.
Thật vậy, “Tử Đạo” theo nguyên ngữ là “Martyr” có nghĩa là “làm chứng”. Vậy thì việc cha ông chúng ta, từng lớp lớp người sẵn sàng bỏ tất cả vinh hoa, phú quý, vợ con để chết đi làm chứng điều gì? Chắc chắn việc các ngài sẵn sàng chết không phải vì các ngài không muốn sống, nhưng là để làm chứng rằng, sự sống nơi trần thế này không phải là tuyệt đối, và mọi vinh dự ở đời này không phải là vĩnh cửu. Với cái chết của mình, cha ông chúng ta đã cho thấy rằng: chết chưa phải là hết, nhưng là cửa ngõ để đi vào một đời sống vĩnh cửu đúng như tâm thức từ bao đời nay trong lòng người dân Việt: “sống gởi, thác về”. Và chính dòng máu nóng của các ngài đổ ra trên mảnh đất này, đã làm phát sinh một Giáo Hội Việt Nam hôm nay, như lời Đức Kitô: “Nếu hạt lúa gieo vào lòng đất không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình, còn nếu nó chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác”.
1. Chọn lựa của dân Do thái:
Tuy nhiên, để có thể sẵn sàng đổ máu để làm chứng cho Tin mừng, cha ông chúng ta đã phải làm một cuộc chọn lựa thật quyết liệt trong tâm hồn. Bởi vì, trong thực tế, hạnh phúc đời sau thì bây giờ chúng ta không thấy, còn tiền của, danh vọng cùng với những vinh hoa phú quý của nó, thì lại nằm ngay trước mắt. Chính dân Do Thái khi bước vào được Đất Hứa, sau cuộc hành trình 40 năm trong sa mạc, cũng đã phải làm một cuộc chọn lựa cơ bản này. Ông Môisê đã nói với họ: “Coi đây, hôm nay tôi đưa ra cho anh em chọn: hoặc là được sống, được hạnh phúc, hoặc là bị chết, bị tai hoạ”. Khi dân Do thái chọn lựa “yêu mến Đức Chúa,… và gắn bó với Người”, thì không phải vì trước mắt họ nhận được một cuộc sống sung sướng, dễ dãi. Họ chọn lựa Thiên Chúa chỉ vì họ tin tưởng vào tình yêu của Giavê Thiên Chúa, Đấng đã từng giải thoát họ thoát ách nô lệ Ai Cập, kết ước với họ, để họ được làm dân của Ngài. Đồng thời, còn ban cho họ Đất Hứa làm gia nghiệp.
2. Chọn lựa của cha ông chúng ta:
“Trung thành với Thiên Chúa” cũng chính là chọn lựa, mà cha ông chúng ta ngay từ những ngày đầu đón nhận Tin mừng đã quyết định. Một cuộc chọn lựa nhìn bên ngoài có vẻ đơn giản: đó là bước qua thập giá hay không bước qua. Bước qua thì có ngay tiền bạc, vinh hoa phú quý, còn như không bước qua thì có thể lập tức lãnh lấy cái chết. Đứng trước thập giá, đã có người bước qua, nhưng cũng đã có nhiều người không bước qua, không quá khoá. Đã có người được khiêng qua thánh giá, nhưng đã co chân lên như thánh Antôn Nguyễn Đích. Đã có người bước qua thánh giá, nhưng sau lại hối hận: đó là trường hợp của ba vị thánh Augustin Phan Viết Huy, Nicôla Bùi Đức Thể, và Đaminh Đinh Đạt. Vua quan đã bày ra trước mặt các ông mười nén vàng, một tượng Chịu Nạn và một thanh gươm rồi nói: “Cho bay tự ý chọn, bước qua tượng thì được vàng, bằng không thì gươm sẽ chặt đôi người bay ra, xác sẽ bị bỏ trôi ngoài biển.”
Đúng đây là một chọn lựa nghiêm chỉnh, chọn lựa này đụng đến tương lai và sinh mạng của chính mình. Chọn lựa này bày tỏ thái độ của bản thân tôi đối với Đức Giêsu. Tôi chọn Ngài hay tôi chọn tôi. Thánh Anrê Kim Thông nói với quan tỉnh: “Thánh giá tôi kính thờ, tôi giẫm lên sao được”. Còn Thánh Têphanô Ven, một linh mục trẻ, chỉ mới 31 tuổi, thuộc Hội Thừa Sai Paris đã bày tỏ chọn lựa của mình một cách thật dứt khoát, khi trả lời cho viên quan bảo ngài bước qua Thánh giá: “Tôi đã suốt đời thuyết giảng về đạo thập giá, nay tôi lại đạp lên thập giá thế nào được? Tôi thiết nghĩ sự sống đời này đâu quí hoá đến độ tôi phải bỏ đạo mà mua!”. Một chọn lựa có thể nói là đầy bấp bênh theo cái nhìn tự nhiên của con người. Chính vì bấp bênh như thế mà những chọn lựa này trở nên có giá trị, vì nó đúng là một chọn lựa của lòng tin.
Vâng, mỗi người chúng ta chỉ nhờ có lòng tin chứ không phải nhờ bất cứ điều gì khác, mới có thể giúp mỗi người chúng ta lãnh nhận ơn cứu độ. Ý thức điều đó, thánh Phaolô mời gọi tín hữu thành Côlôsê và cũng là lời nhắc nhở từng người chúng ta: “Anh em chỉ cần giữ vững đức tin, cần được xây dựng vững chắc kiên quyết, và đừng vì nao núng mà lìa bỏ niềm hy vọng anh em đã nhận được khi nghe loan báo Tin mừng”. Đức tin này mỗi người chúng ta đã được lãnh nhận khi chịu phép Rửa, nhưng như thế thì chưa đủ. Đức tin đó còn phải được minh chứng bằng chính cuộc sống hàng ngày của mỗi người chúng ta. Nhiều vị tử đạo đã được mời giả vờ bước qua thánh giá, để quan có cớ mà tha, còn đức tin bên trong thì quan không đụng đến. Đây là một cám dỗ khá tinh vi và hấp dẫn, có vẻ như được cả hai, đời này và đời sau. Nhưng liệu tôi có thể bên ngoài chà đạp một Đấng mà bên trong tôi tôn thờ không? Đứng trước thánh giá là đứng trước một chọn lựa dứt khoát, không có giải pháp dung hoà hay lập lờ. Không ai có thể làm tôi hai chủ (x. Mt 6, 24), điều này vẫn đúng cho những chọn lựa mỗi ngày của các Kitô hữu chúng ta qua mọi thời đại.
3. Chọn lựa của chúng ta hôm nay:
Mừng lễ các thánh Tử Đạo tại Việt Nam hôm nay, lời Chúa một lần nữa mời gọi mỗi người chúng ta xét lại chọn lựa của mình. Chọn lựa này không phải chỉ một lần là xong, nhưng cần đựơc lập lại mỗi ngày. Tôi đang chọn Chúa hay tôi chọn tôi? Và nếu tôi chọn Chúa, tôi đã làm gì để chứng minh cho lựa chọn của mình? Chọn lựa của chúng ta hôm nay, có thể không đòi chúng ta phải đổ máu để làm chứng cho Chúa, nhưng tôi thiết nghĩ, cũng không kém phần gian khó. Đứng trước những bất công, tôi có dám bênh vực, hay tôi sợ phiền hà rồi im lặng? Trước một trận bóng đá, một bộ phim hay, một giấc ngủ ngon, một lời rủ đi chơi của bạn bè và tiếng mời gọi của Chúa nơi ngôi Thánh đường này, tôi chọn điều gì?
Chớ gì, nhờ lời cầu bầu của các thánh Tử Đạo tại Việt Nam và nhất là sức mạnh của Thánh Thể, quý ông bà anh chị em và tôi đủ sức thực hiện những chọn lựa của mình. Nhờ đó, vào ngày sau hết, tất cả chúng ta sẽ cùng được đoàn tụ với cha ông chúng ta như lời hứa của Đức Giêsu: “Ai phục vụ Thầy, thì hãy theo Thầy, và Thầy ở đâu, kẻ phục vụ Thầy cũng sẽ ở đó”. Amen.

 

24/11-174: Tử đạo

“Tôi thấy một số đông người không thể đếm được thuộc đủ mọi dân tộc, mọi quốc gia và mọi ngôn ngữ. Họ đứng trước tòa Thiên Chúa và trước Chiên Con, mình mặc áo trắng và trên tay cầm cành lá chiến thắng”.
 

Đó là lời thánh Gioan diễn tả cảm tưởng đoàn người chiến thắng đứng trước Ngai Thiên Chúa trên 24/11-174

Đó là lời thánh Gioan diễn tả cảm tưởng đoàn người chiến thắng đứng trước Ngai Thiên Chúa trên trời mà thánh nhân được Chúa cho thị kiến. Tiếp theo thánh Gioan viết trong sách Khải Huyền như sau:
“Những người mặc áo trắng ấy là ai và họ từ đâu tới? Chính vị trưởng lão cho biết, đó là những người đã qua cơn đại họa, đã giặt áo họ trong Máu Chiên Con và nay trở về. Vì thế họ được hân hạnh đứng trước tòa Thiên Chúa và phụng thờ Ngài ngày đêm trong đền thờ. Đấng ngự trên tòa sẽ chở che và phù trợ họ, họ sẽ không còn phải đói khát nữa, không còn bị mặt trời và nóng bức làm khổ nữa. Vì Chiên Con đứng ở giữa tòa sẽ chăn dắt họ, sẽ đưa họ đến suối nước thiêng và Thiên Chúa sẽ lau khô nước mắt họ”.
Qua ngày lễ kính các thánh Tử Đạo Việt Nam được toàn thể anh chị em Công giáo khắp Năm Châu mừng hôm nay, Giáo Hội muốn khẳng định cho chúng ta và toàn thể Giáo Hội hoàn vũ. Trong số đoàn người đông đảo đứng trước ngai Thiên Chúa có cả những người thuộc dân tộc Việt Nam, có cả con cháu dòng giống lạc hồng, các ngài đã trải qua những cơn thử thách gian truân, lấy mạng sống của mình để minh chứng cho niềm tin và nay được trở về với Thiên Chúa.
Các vị tử đạo Việt Nam là ai? Các ngài là những nhà truyền giáo đến từ các nước, là các giám mục, các linh mục người Pháp, Tây Ban Nha, nhưng đa số là những người Việt Nam gồm 37 linh mục, 16 thầy giảng, một chủng sinh và đặc biệt là rất nhiều giáo dân. Số đông đảo giáo dân Việt Nam đã đổ máu đào minh chứng cho niềm tin là điểm son thứ nhất tôi muốn nêu bật trong bài chia sẻ hôm nay.
Điểm son thứ hai tôi muốn lưu ý với anh chị em hôm nay, các thánh Tử Đạo là những công dân hiền hòa, sống đời gương mẫu, nêu gương lý tưởng trung kiên với Thượng đế, không phò vua bách hại, nhưng một lòng tùng phục quốc gia. Họ bị bắt bớ, tra tấn, ngục tù nhưng không một người nào có ý định cầm khí giới để phòng thân. Trái lại, họ chỉ cam chịu, chỉ cầu nguyện cho tất cả mọi người, cầu cho quốc thái dân an, cầu cho các quan đã ký sắc lệnh tử hình và thật lòng tha thứ cho những kẻ hành quyết mình. Cử chỉ này không phải là hèn nhát, nhưng xứng đáng đối với những bậc thượng nhân như câu: “Đấng thượng phu đừng thù mới đáng. Đấng anh hùng đừng hoảng mới hay”.
Cuối cùng điểm son thứ ba tôi muốn nêu bật, là những thành tích vẻ vang để chứng tỏ niềm tin sắt đá các thánh Tử Đạo Việt Nam đã ghi vào những trang sử của Giáo Hội, là lòng tôn kính của các ngài đối với thập giá. Đối với các thánh Tử Đạo Việt Nam, chết tang thương, chết treo trên thập tự để minh chứng tình yêu tột đỉnh của mình đối với Thiên Chúa và đối với nhân loại, vì thế không một khổ hình nào có thể di chuyển đôi chân của các ngài tự ý bước qua thập giá. Không bước qua thập giá để không chối bỏ đạo dù phải đòn vọt, tra tấn, dù phải chịu tử hình, các vị Tử Đạo Việt Nam đã nêu gương yêu mến thập giá để đáp lại tình yêu của Đấng đã chết treo trên ấy bằng chính mạng sống của các ngài.
Cùng với anh chị em Công giáo khắp năm châu mừng kính lễ các thánh Tử Đạo Việt Nam hôm nay, chúng ta phải một lần nữa ý thức rằng, cuộc sống và cái chết của các ngài có thể nói được là những dòng chữ đầu trong các trang sử của Giáo Hội Việt Nam mà mỗi người chúng ta được kêu mời và thách đố. Hãy noi gương các vị tiền nhân anh dũng để chúng ta cùng nhau viết lên thành tích của lòng trung thành và can đảm sống đạo, sống cuộc sống chứng nhân cho tình yêu qua những hành động cụ thể, để tha thứ, hòa giải và chung tay xây dựng đất nước cũng như chứng nhân cho ý nghĩa thập giá qua nếp sống hằng ngày của mình, mỗi người trong địa vị, mỗi người trong môi trường sống của mình.
Nguyện xin các thánh Tử Đạo Việt Nam cầu bầu cho quê hương đất nước được quốc thái dân an, xin cầu bầu cho Giáo Hội Việt Nam được luôn trung thành với niềm tin, đức cậy và lòng mến trung thành.

 

24/11-175: Suy niệm của Lm. Giacôbê Tạ Chúc

117 vị Thánh Tử Đạo và chân phước An-rê Phú Yên, cùng với hơn 130 ngàn các Kitô hữu khác 24/11-175

117 vị Thánh Tử Đạo và chân phước An-rê Phú Yên, cùng với hơn 130 ngàn các Kitô hữu khác đã lấy mạng sống mình để làm chứng cho đức tin. Con số không phải là trọng điểm mà chính tình yêu đối với Đức Giê-su, đã khơi nguồn và là nền tảng cho cái chết trung kiên và can trường của các Ngài. Mừng kính ngày lễ của các bậc tiền bối, là dịp để con cháu nhớ ơn và tự hào về những tấm gương cao cả mà các Ngài đã để lại cho hậu thế. Như lời Đức Giê-su đã tiên báo: “Nếu thế gian ghét các con thì phải biết rằng họ đã ghét Thầy trước” (Ga 15,18).
Tử đạo theo nguyên nghĩa là: làm chứng cho Đức Ki-tô. Martus, Martyr có nghĩa là người chứng, người làm chứng. Các Thánh làm chứng về cuộc khổ nạn và Phục sinh của Ngài. Sống giữa một xã hội và môi trường của mình, các chứng nhân của niềm tin vào Danh Giê-su đã hoàn thiện đời mình bằng con đường Thập Giá của Đức Giê-su. Các Ngài đã tô thắm cuộc đời mình bằng niềm tin, tình yêu và lòng chung thủy sắt son với Đấng mà các Ngài tôn thờ. Trong một bối cảnh hết sức đa phức của xã hội trong những thế kỷ 16,17, 18, 19 và 20. Dưới các triều đại của các Vua chúa, sự bách hại tàn khốc và đẫm màu hòa trong nước mắt cuộn cuộn chảy. Các anh hùng Tử đạo không hề nao núng trước những cuộc truy lùng, tàn sát với những hình phạt ghê rợn của các bạo chúa thời bấy giờ. Chúng ta hãy xem một số hình phạt man rợ và bất công đó:
- Bá đao: bị lý hình dùng dao cắt xẻo từng miếng thịt trên thân thể cho dù 100 miếng. Cách chết này có một vị.
- Lăng trì: chặt chân chặt tay trước khi bị chém đầu. Cách chết này có 4 vị.
- Thiêu sinh: bị thiêu sống. Chết cách này có 6 vị.
- Xử trảm: bị chém đầu. Chết cách này có 75 vị.
- Xử giảo: bị tròng dây vào cổ và bị lý hình kéo hai đầu dây cho đến chết. Cách chết này có 22 vị.
- Chết rũ tù: bị tra tấn, hành hạ đủ cách đủ kiểu, rồi bị bỏ đói cho tới khi kiệt sức và chết gục trong tù. Chết cách này có 9 vị. (Lm Giuse Đinh Lập Liễm).
Mặc dù bi ai là thế, nhưng các Ngài vẫn không sờn lòng và nản chí. Trái lại, trong những cơn cùng cực và có vẻ tối tăm, các Ngài đã làm rạng rỡ cho trang sử của Giáo hội và như lời của một sử gia: “Máu các thánh tử đạo là hạt giống sinh ra các tín hữu” (Tertullianô).
Cuộc làm chứng cho Chúa Giê-su và Tin mừng mà Ngài, đã rao giảng vẫn luôn là lời mời gọi mang tính thời sự cho mọi Ki-tô hữu trong cuộc sống ngày hôm nay. Máu vẫn đổ, nước mắt vẫn tuôn rơi khi xoáy trong dòng đời nghiệt ngã, trước những cạm bẫy của cuộc sống tục hóa, hưởng thụ và đánh mất niềm tin, niềm cảm thức tôn giáo, đức tin đang bị lung lay và xói mòn trước những thay đổi của xã hội. Người Ki-tô hữu theo nguyên ngữ tử đạo là tiếp tục thực thi lời dạy của Chúa Giê-su, mang yêu thương và bình an của Chúa đến với mọi người trong cuộc sống hằng ngày.
Nếu hạt lúa mì rơi xuống đất mà không thối đi thì nó sẽ trơ trọi một mình. Còn nếu nó thối đi, nó sẽ sinh nhiều bông hạt luôn là chân lý mà các Thánh Tử đạo đã trải nghiệm bằng cả cuộc sống, mạng sống mình, vì ai yêu sự sống mình thì sẽ mất còn ai đành mất mạng sống mình thì sẽ được.

 

24/11-176: Vạn tuế các Thánh Tử Đạo Việt Nam

(Suy niệm của Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ)
 

Cách đây hơn 25 năm, Chúa nhật ngày 19/6/1988, Thánh Gioan Phaolô II, Giáo hoàng đã nâng 24/11-176

Cách đây hơn 25 năm, Chúa nhật ngày 19/6/1988, Thánh Gioan Phaolô II, Giáo hoàng đã nâng 117 vị chân phước lên hàng hiển thánh. Dịp khai mạc Năm Thánh 2010, Đức nguyên Giáo hoàng Bênêđictô XVI, trong sứ điệp của mình gửi các Giám mục Việt Nam, ngài viết: “Việc cử hành Năm Thánh trùng với ngày lễ kính 117 vị thánh Tử đạo hiển vinh của đất nước Đức Cha. Việc nhớ lại chứng từ cao quý của các ngài sẽ giúp toàn thể dân Chúa tại Viêt Nam kích động đức mến, gia tăng đức cậy và củng cố đức tin mà đôi lúc bị thử thách bởi chính đời sống thường ngày.” (Trích Sứ điệp gửi các Giám mục Việt Nam dịp Năm Thánh 2010). Thư của Đức Cha Phêrô Nguyễn Văn Nhơn, Tổng Giám Mục Hà Nội, nguyên Chủ Tịch HĐGMVN gửi cộng đoàn Dân Chúa nhân dịp kỷ niệm 25 năm ngày tôn phong 117 Hiển Thánh Tử đạo Việt Nam có viết: “Đây là cơ hội giúp Dân Chúa Củng cố đức Tin qua đức Cậy nhờ đức Ái (số 1); Giúp cho Giáo hội Việt Nam sống chan hòa trong tình hiệp thông và hiệp nhất (số 2); Thúc đẩy chúng ta hăng say hơn trong sứ vụ loan báo Tin Mừng (số 3); và là dịp để cháu con noi gương các Ngài để sống xứng đáng là những người con thảo của Cha trên Trời (số 4)”. Những gợi ý sống trên làm chúng ta nhớ lại bài giảng của Chân phước Gioan Phaolô II, ngày 19/6/1988 như sau: “Tôi biết rằng anh em đang ôm nặng ước nguyện tôn vinh các vị Tử Đạo đồng hương, nhưng trong thâm tâm còn tự cảm thấy nhu cầu đứng chung quanh các vị Thánh, để xe kết tình huynh đệ kết nghĩa, mến thương...”.
Đọc lại lịch sử Giáo Hội Việt Nam, khởi đi từ những bước chân thừa sai của các nhà truyền giáo. Sử liệu ghi lại sự đặt chân của giáo sĩ Inikhu vào năm 1533 trên đất Việt, tiếp theo là Gaspar da Cruz, Alexandre de Rhodes, Pedro Marques v.v. Ba trăm năm loan báo Tin Mừng, một trang sử truyền giáo hào hùng, nhưng đầy đau thương và đẫm nước mắt. Từng ngàn giáo dân tử Đạo, từng trăm số người đã chết lưu lạc trên núi, trong rừng sâu nước độc! Tuy nhiên, một trang sử mới đã mở ra nhờ sự hy sinh tuyệt vời của các thừa sai, cũng như hàng hàng lớp lớp người vì tử đạo đã nằm xuống với muôn cực hình cay đắng, khốn khổ. Dòng máu của các ngài đã đổ ra, tuôn trào, tưới gội Hội Thánh Việt Nam, làm cho Hội Thánh lớn lên và phát triển, không ngừng sinh hoa kết quả tươi tốt, đúng như lời Tertullien đã viết: “Máu tử đạo là hạt giống trổ sinh người tín hữu”.
Hôm nay đây, chúng ta cùng nhau hướng tâm hồn lên một cách đặc biệt để mừng kính các thánh tử đạo tại Việt nam, trong hân hoan vui sướng và hãnh diện. Chúng ta tôn vinh, tri ân các Ngài và cùng nhau hô vang: “Vạn vạn tuế các Thánh Tử Đạo Việt Nam, vạn vạn tuế các Thánh Tử Đạo anh hùng.”
Làm sao kể lại cho hết tất cả là 117 vị Tử Đạo, 1 vị á thánh, trong số đó có 8 vị Giám Mục, 50 Linh Mục, 59 Giáo Dân, một phụ nữ, Thánh Anê Lê Thị Thành, mẹ sáu người con đã được Tòa Thánh tuyên phong rõ ràng ngày 19/6/1988. Còn có biết bao nhiêu vị cũng đã “tử vì Đạo” tại Việt nam mà chưa được tuyên phong, cũng phải được Giáo hội Việt Nam mừng kính. Các Ngài thuộc đủ mọi thành phần, tuổi tác, hoàn cảnh sống: công chức, thương gia, công nhân, quân nhân, y sĩ, ngư phủ, trùm họ v.v. đã chết vì Đạo tại Việt Nam. Trong số đó, bao gồm cả một số những nhà truyền giáo “ngoại quốc” Pháp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Ý... đã đến Việt nam truyền đạo và chết vì Đạo.
Thánh Vinh Sơn Liêm, Dòng Đaminh là người Việt Nam tử đạo đầu tiên năm 1733. Rồi tới Cha thánh Anrê Trần An Dũng Lạc bị trảm quyết năm 1838. Các ngài đã phải chịu mọi thứ cực hình mà người ta có thể nghĩ ra được như: Gông cùm, xiềng xích, nhốt trong cũi, đánh đòn, bỏ đói, bị voi giầy, bị trói ném xuống sông, bị đổ dầu vào rốn rồi cho bấc vào mà đốt, bị đóng đinh vào ván rồi đem phơi nắng v.v. Quyết liệt hơn thì bị trảm quyết, tức là bị chặt đầu, bị xử giảo, tức là bị thắt cổ, hay bị thiêu sống. Bị xử lăng trì, phân thây ra từng mảnh hay là xử bá đao là những hình phạt man rợ và hiểm độc nhất. Tổng số 79 vị bị chặt đầu. 18 vị bị thắt cổ. 8 vị chết rũ tù. 6 bị thiêu sinh. 4 bị phân thây ra từng mảnh. 1 bị tử thương và 1 bị bá đao.
Lời Chúa trích sách Khôn Ngoan: “Linh hồn những người công chính ở trong tay Thiên Chúa và đau khổ sự chết không làm gì được các ngài” (Kn 3, 1). Quả quyết như trên có vẻ là không chính xác với thực tế lịch sử: thực ra đau khổ đã va chạm thân xác các Ngài, và va chạm ghê sợ như tùng xẻo, lăng trì, chặt đầu. Tuy nhiên, tác giả Kinh Thánh tiếp tục quảng diễn tư tưởng: “Đối với mắt người không hiểu biết, thì hình như các ngài đã chết và việc các ngài từ biệt chúng ta, là như đi vào cõi tiêu diệt. Nhưng thực ra các ngài sống trong bình an. Và trước mặt người đời, dầu các ngài có chịu khổ hình, lòng cậy trông của các nài cũng không chết.” (Kn 3, 2 – 4)
Đúng là: “Ai khôn mới biết hiến mình cho chân lý, để chiếm hữu phần gia nghiệp muôn đời.” (Thánh Phêrô Truật); “Thân xác tôi ở trong tay quan... nhưng linh hồn tôi là của Chúa, không có gì khiến tôi hy sinh nó được” (Thánh Phaolô Tịnh)
Các Thánh Tử Đạo Việt Nam là chứng nhân cho Chúa Kitô đã toàn thắng sự chết. Thay vì hình khổ ngắn ngủi, các Ngài được nhiều ơn vĩ đại, vì Thiên Chúa đã luyện lọc các Ngài và thấy các Ngài xứng đáng, Chúa đã thử thách các Ngài như thử vàng trên lửa và đã chấp nhận các Ngài như của lễ toàn thiêu. Trong Chúa Kitô các Ngài được Thiên Chúa cứu rỗi.
Chúng ta, dòng giống các vị Tử Đạo, dòng giống những người được kêu gọi. Ngày hôm nay, hãy nghe hết lời sách Khôn Ngoan: Trong ngày phán xét, người công chính sẽ chói sáng và chiếu tỏ ra như ánh lửa chiếu qua bụi lau.” (Kn 3, 7) Những tia sáng, những ánh đèn phản chiếu nguồn quang minh rữc rỡ. Và đây là câu sau cùng trong sách Khôn Ngoan: “Các ngài sẽ xét sử các dân tộc, sẽ thống trị các quốc gia, và Thiên Chúa sẽ ngự trị trong các ngài đến muôn đời.” (Kn 3, 17).
Xin các Thánh Tử Đạo Việt Nam giúp chúng con biết chân thành chọn lựa đi theo Chúa, trung thành làm chứng cho đức tin và nhiệt thành yêu mến Giáo hội bằng tinh thần cộng tác, hiệp thông và đồng trách nhiệm trong sứ mạng loan báo Tin Mừng trên quê hương, đất nước chúng con. Amen.

 

24/11-177: LỄ CÁC TỬ ĐẠO VIỆT NAM

Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi  DCCT
Mlk 3, 19-20a   2Tx 3, 7-12    Lc 21, 5-19
 

Hôm nay Giáo Hội Việt Nam long trọng mừng kính các Thánh Tử Đạo Việt Nam, kính nhớ những 24/11-177

Hôm nay Giáo Hội Việt Nam long trọng mừng kính các Thánh Tử Đạo Việt Nam, kính nhớ những anh hùng, những con cưng của Giáo Hội đã vì Chúa, vì Giáo Hội đổ máu đào ra để xây dựng Hội Thánh Việt Nam ngày nay. Các Thánh Tử Đạo Việt Nam đã cảm nghiệm sâu xa lời của Chúa Giêsu :” Không có tình yêu nào cao vời, bằng tình yêu của người hiến mạng sống vì người mình yêu “ ( Ga 15, 13 ). Các Ngài đã hy sinh, can đảm, mạnh mẽ để làm chứng cho Chúa và để minh chứng các ngài yêu mến Chúa.
Chúa Giêsu đã nói trước :” Các con hãy coi chừng người đời, vì họ sẽ nộp các con cho công nghị, và sẽ đánh đập các con nơi hội đường của họ. Các con sẽ bị điệu đến nhà cầm quyền và vua Chúa vì Thầy …”. Lời của Chúa quả thực đã ứng nghiệm nơi cuộc đời của biết bao vị Thánh Tử Đạo. Giáo Hội Việt Nam đã khai sinh do dòng máu của các vị tử đạo đúng như nhà sử học Tertullien đã viết :” Máu tử đạo làm nẩy sinh các Kitô hữu “. Ngày 19.3.1615, khi hai vị thừa sai đầu tiên chèo một con thuyền lén lút ngoài cơn cửa Bạng Thanh Hóa để bắt đầu công cuộc truyền giáo, các ngài đã thấy một mỏm đá ở ngoài khơi mà không biết ai đã vẽ một cây thánh giá bằng vôi, các ngài nghiệm ra rằng đây là dấu hiệu Chúa cho thấy việc truyền giáo sẽ gặp khó khăn, sẽ có nhiều người bị chết vì đạo. Thực tế, đọc lại lịch sử hơn 400 năm loan báo Tin Mừng ở Việt Nam, Hội Thánh Việt Nam đã phải hy sinh rất nhiều, hơn 130.000 tín hữu đã đổ máu đào để tuyên xưng danh Chúa. Máu của các vị tử đạo đã đổ ra để làm chứng cho Chúa Giêsu phục sinh. Trong số đó chúng ta có thể liệt kê được : 58 vị vừa là Giám mục, vừa Linh mục thừa sai, 340 Thầy giảng, 270 nữ tu Mến Thánh Giá. Liệt kê ra như thế nhưng chắc chắn vẫn chưa đủ bởi vì Đức Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã tuyên thánh cho 117 vị tử đạo ngày 19.6.1998, và sau đó phong Chân phước cho Thầy giảng Anrê Phú Yên. Các Thánh đã được đưa lên bàn thánh để Hội Thánh mừng kính, nhưng còn biết bao người đã hy sinh một cách âm thầm, các ngài xứng đáng được mọi người kính nhớ, và tôn vinh. Các Thánh Tử Đạo Việt Nam là những ông bà tổ tiên, những vị tiền bối đi trước đã dám hy sinh ngay cả mạng sống để làm vinh danh Chúa.
Vâng, các Thánh Tử Đạo Việt Nam bị bách hại là điều tất yêu khi các ngài nhất quyết đi theo Chúa. Các ngài không hề sợ sệt không hề hoang mang nao núng trước những lời đe dọa của vua quan. Trước những đe dọa, trước những cực hình, các ngài luôn vinh dự hãnh diện vì chính Đức Kitô mà các ngài bị bách hại, đồng thời trước bách hại của các người có quyền hành, các ngài biểu lộ sự trung tín với Chúa và làm cho những kẻ bách hại hiểu rõ sự biểu lộ hùng hốn, can đảm của chính các ngài đối với Chúa Giêsu. Gương của các anh em đã liều mình chịu chết vì Chúa, không ăn thịt heo trong Sách Maccabê đã nói lên sự kiên trung của các anh em đối với Chúa.Do đó, các Thánh Tử Đạo Việt Nam đã xây nền móng vững chắc cho Giáo Hội Việt Nam phát triển, lớn lên và đứng vững. Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã nói với các Đức Giám Mục Việt Nam và Cộng đoàn tín hữu Việt Nam tại Roma chiều ngày 22 tháng 6 năm 1980 :” Giáo Hội Việt Nam đã phát sinh các nhân chứng, đặc biệt là các Vị Tử Đạo.Lời tiền nhân nói rất đúng : Máu đào là hạt giống phát sinh Kitô hữu. Vì do máu các Đấng Tử Đạo của Dân tộc và Giáo Hội Việt Nam mà Đức tin trong thế hệ trước đã mọc lên, và Đức tin của thế hệ hiện tại được bảo toàn, và hy vọng Đức tin của thế hệ mai sau được gìn giữ “.
Hiện nay, có thể chúng ta không còn gặp khó khăn, bách hại như những tín hữu : cha ông, tổ tiên, cha mẹ, anh chị em của chúng ta xưa, nhưng giữa một thế giới chạy theo tiền của, tục hóa, ham lợi nhuận, hưởng thụ, chúng ta phải luôn tỉnh thức, lắng nghe lời Chúa và thực hiện lời Chúa nhờ sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần. Gương của các Thánh Tử Đạo phải là kim chỉ nam để chúng ta dõi bước đi theo.Chúng ta phải kiên trì, can đảm, hy sinh và vững tin vào Chúa bởi Chúa là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống.
Mừng lễ các Thánh Tử  Đạo Việt Nam, chúng ta hãnh diện và được an ủi lớn trong đời sống đức tin vì chính dòng máu của các ngài đa làm nên Hội Thánh Việt Nam và giúp chúng ta kiên cường đi theo Chúa.
Lạy các Thánh Tử Đạo Việt Nam, xin giúp chúng con biết noi gương bắt chước các ngài, luôn sẵn sàng làm chứng cho Chúa dù có bị thiệt thòi so với những người khác.Amen.

GỢI Ý ĐỂ CHIA SẺ :

1.Các Thánh Tử Đạo Việt Nam là ai ?
2.Ai đã phong thánh cho 117 Thánh Tử Đạo Việt Nam ?
3.Chúng ta phải làm gì đối với các Thánh Tử Đạo Việt Nam ?

 

24/11-178: Lòng Mến Hoàn Thành Mọi Sự

(Sách Khôn Ngoan 3,1-9; Thư Rôma 8,31b-39; Tin Mừng Gioan 12,24-26)
Phúc Âm: Lc 20, 27-38
Ai coi thường mạng sống mình ở đời này, thì sẽ giữ lại được cho sự sống đời đời.
(24) Chúa Giêsu bảo các môn đệ rằng: "Thật, Thầy bảo thật anh em, nếu hạt lúa gieo vào lòng đất không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác.
(25) Ai yêu quý mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai coi thường mạng sống mình ở đời này, thì sẽ giữ lại được cho sự sống đời đời.
(26) Ai phục vụ Thầy, thì hãy theo Thầy; và Thầy ở đâu, kẻ phục vụ Thầy cũng sẽ ở đó. Ai phục vụ Thầy, Cha của Thầy sẽ quý trọng người ấy".

Suy Niệm:Ngày 24 Tháng 11 Lễ Các Thánh Tử Ðạo Việt Nam
(Sách Khôn Ngoan 3,1-9; Thư Rôma 8,31b-39; Tin Mừng Gioan 12,24-26)
 

Ngày lễ các Thánh Tử đạo Việt Nam, chúng ta vừa phải nghĩ đến đạo vừa phải nghĩ đến quê hương 24/11-178

Ngày lễ các Thánh Tử đạo Việt Nam, chúng ta vừa phải nghĩ đến đạo vừa phải nghĩ đến quê hương dân tộc. Chúng ta phải ao ước cho đạo được tốt đẹp trên đất nước no ấm hạnh phúc. Vì thế chúng ta phải đến với các tử đạo Việt Nam, bày tỏ nguyện vọng và ưu tư thao thức của chúng ta muốn tốt đời đẹp đạo, không phải chỉ để các ngài cầu bầu cho chúng ta, mà còn xin các ngài giúp đỡ để chúng ta luôn biết làm tốt các nghĩa vụ đạo đời. Và trước hết, chúng ta xin các ngài hướng dẫn để xem các bài đọc trong Kinh Thánh hôm nay muốn nói gì với chúng ta.

1. Số Phận Người Nhân Nghĩa
Muốn hiểu bài sách Khôn Ngoan, chúng ta hãy nhớ lại lịch sử dân Chúa sau lưu đày, tức là các thế kỷ ngay trước Chúa Giêsu giáng sinh. Con cái Israel ngày càng thấy không thể xây dựng lại một quốc gia Do Thái nề nếp nữa. Ngược lại chủ quyền càng ngày càng ở chặt trong tay ngoại bang. Dân tộc chỉ còn thống nhất về mặt tôn giáo, cho dù con cái Israel bị phân tán đi các nơi. Ở chỗ nào hội đường cũng mọc lên và trở thành trung tâm duy trì truyền thống. Tuy nhiên gia sản tinh thần của cha ông để lại cũng không hoàn toàn thoát khỏi những cuộc tấn công dọa dẫm của các luồng tư tưởng ngoại giáo. Ðã có nhiều người tử đạo để bênh vực đức tin của cha ông. Nhưng kết quả thế nào? Những cái chết ấy dường như vô ích, tôn giáo vẫn gặp khó khăn; và các luồng tư tưởng ngoại giáo có vẻ càng đắc thắng. Sự kiện này làm cho nhiều người suy nghĩ. Hơn nữa, nó trở thành một khủng hoảng tinh thần: có nên tiếp tục sống theo tôn giáo của cha ông không?
Sách Khôn Ngoan ra đời vào chính lúc có nhiều người đang tự hỏi như thế. Riêng trong đoạn trích đọc hôm nay, tác giả muốn trực tiếp nói với những kẻ đang nghi ngờ. Ông bàn về cái chết của các tử đạo; nói đúng hơn, về số phận những người sống theo nhân nghĩa.
Trước mặt người đời, những người công chính có vẻ thua thiệt. Vì khi còn sống họ bị kẻ dữ ăn hiếp; và khi qua đời, họ chẳng thấy tương lai. Ðặc biệt có những người còn bị chính kẻ vô đạo sát hại mà công lý dường như làm ngơ. Nơi mắt phường ngu xuẩn, tức là theo tâm tư những kẻ không tin tưởng, thì chính những người kia như đã chết tận tuyệt, vô ích và thiệt thân.
Nhưng tác giả nói, đó chỉ là bề ngoài, đúng theo lẽ thế gian. Chứ thật ra, hồn những người nhân nghĩa đang ở trong tay Chúa và đang hưởng phúc an bình. Khổ hình đã không đụng tới họ. Ðó chỉ là lò luyện cho vàng sáng thêm. Và sự chết chỉ đưa họ sang nơi tràn đầy bất tử. Hơn nữa, vào buổi Chúa viếng thăm chung thẩm, họ sẽ sáng rực, cùng Chúa xét xử chư quốc và cầm quyền trên các dân. Ðó mới thực sự là số phận Chúa dành cho những người được chọn.
Dĩ nhiên lý luận này không có ý nghĩa gì cả đối với người không có đức tin. Nhưng tác giả sách Khôn Ngoan hy vọng gợi lên được nhiều suy nghĩ cho mọi người. Ðối với chúng ta hôm nay mừng lễ các Thánh Tử đạo Việt Nam, chúng ta không cần áp dụng những lời chân thật kia vào đời sống và sự chết của các ngài. Chúng ta đã công nhận giá trị và vinh quang của cuộc đời phấn đấu nơi các tử đạo. Cần thiết và hữu ích hơn, nếu chúng ta nghe những lời kia như tiếng nói của các tử đạo thúc giục và khuyến khích chúng ta đang sống hoàn cảnh hiện nay của Hội Thánh và của Dân Tộc.
Thời nào cũng vậy, muốn làm tốt đời đẹp đạo, mọi tín hữu của Chúa đều phải phấn đấu can đảm và quảng đại. Chính trong những hoàn cảnh khó khăn và thử thách, người ta mới dễ phân biệt ai đạo đức và cao thượng thật. Tư lợi trước mắt không lôi cuốn được người công chính đi vào những hành động bất xứng. Và gian khổ đớn đau không làm họ bớt cương quyết, chu toàn các nghĩa vụ của mình. Theo nhãn giới người phàm, cư xử như vậy là thiệt thòi; nhưng trước mắt tinh thần đó là những tấm gương sáng ngời.
Tuy nhiên nói thì dễ, làm thì khó. Xác thịt con người rất yếu đuối và các cám dỗ ở đời này cũng rất mạnh. Ðể giữ vững đức tin và lý tưởng của mình, để sống đạo và ăn ở nhân nghĩa, ý chí con người nhiều khi không đủ. Phải vận dụng niềm tin như tác giả sách Khôn Ngoan hôm nay.
Hơn nữa phải cầu xin ơn giúp đỡ. Các Thánh Tử đạo Việt Nam hiểu hoàn cảnh và tâm tư của những người muốn làm tốt đời đẹp đạo ở đất nước này hơn ai hết. Chúng ta chạy đến với các ngài; xin các ngài phù trợ; dùng chính gương sáng trong cuộc đời phấn đấu gian khổ của các ngài để thúc giục và nâng đỡ mình. Chúng ta sẽ cố gắng như các ngài, sẽ đi vào đường lối các ngài đã đi, sẽ thành công rực rỡ như chính các ngài ngày hôm nay ở trước mặt Chúa.
Thật ra mỗi khi thấy chúng ta đến với mình, các ngài sẽ không chấp nhận giữ chúng ta ở lại mãi với mình và chỉ nhìn vào mình. Các ngài sẽ đưa chúng ta đến với Chúa và nhìn vào Chúa. Thiên Chúa mới thật là ánh sáng và là sự sống của hết mọi người công chính. Nơi Người mới thật sự có nguồn trợ lực mạnh mẽ và hiệu nghiệm để sống nhân nghĩa ở đời. Hôm nay chính Người cũng muốn gặp và nói với chúng ta nơi Con Một yêu quý của Người qua bài Tin Mừng.

2. Tương Lai Người Công Chính
Tác giả Gioan thuật rằng: Hôm ấy Chúa Giêsu khải hoàn vào thành Giêrusalem. Thiên hạ nô nức đón chào Người. Có nhiều người Hy Lạp, tức là lương dân cũng tìm cách gặp Người. Chúa Giêsu biết đã đến lúc cứu cả dân Do Thái lẫn Hy Lạp. Người thấy cuộc khổ nạn đã gần. Người không nhắc tới bài sách Khôn Ngoan đọc hôm nay. Người nhìn thử thách đau thương và sự chết sắp đến một cách khác hẳn. Người nói: Như hạt lúa gieo xuống đất không chết đi, thì nó trơ trọi một mình; nhưng nếu nó chết đi, nó mới sai hoa lắm quả.
Lối nhìn của Người vượt xa hẳn niềm tin của nhà hiền triết Do Thái. Nó tích cực và phong phú. Nó không nghĩ đến bản thân nhưng mưu tìm hạnh phúc cho nhiều người. Nó không chờ đợi được Thiên Chúa ân thưởng; mà muốn cùng Người đưa lịch sử đi xa hơn.
Hơn nữa, có thể nói rằng, ở đây Chúa Giêsu còn có vẻ mạnh mẽ khước từ mọi quan niệm lo cho bản thân. Người nói: "Ai yêu sự sống mình thì sẽ mất; ai ghét sự sống mình nơi thế gian này thì sẽ giữ nó cho sự sống đời đời".
Thú thật các Thánh Tử đạo Việt Nam đã chú trọng đến lời của Chúa Giêsu hơn là lời của tác giả sách Khôn Ngoan. Niềm tin đời sau và phần thưởng dành cho người công chính, dĩ nhiên cũng đã giúp các ngài chịu chết vì đạo. Nhưng có thể nói đó chưa phải là động lực mạnh mẽ. Lời Chúa Giêsu nói hôm nay đã có ảnh hưởng mạnh hơn nhiều.
Các Thánh Tử đạo Việt Nam đã can đảm chịu đựng gian khổ và phấn đấu cho đến cùng không phải chỉ vì tin tưởng có đời sau và hạnh phúc đang chờ mình. Các ngài còn hy sinh một cách quảng đại và phấn khởi, khi nghĩ rằng máu tử đạo là hạt giống đức tin. Các ngài nghĩ đến chúng ta, những kẻ sẽ được đức tin nhờ việc tuyên đạo của các ngài. Cái nhìn đó làm phấn khởi lòng các ngài, khiến các ngài không những không sợ cho Hội Thánh đang bị bắt bớ bấy giờ mà còn mừng rỡ vì Hội Thánh còn được phát triển hơn.
Ngay đối với xã hội trần gian, các ngài cũng chỉ thấy những hy sinh và sự chết của mình đem lại hoa trái dồi dào. Nhiều bậc cha mẹ có cả đàn con nheo nhóc biết rằng chỉ một lời nói, hoặc một cử chỉ bỏ đạo, là lập tức đã đủ để đưa họ ra khỏi tù mà về săn sóc đàn con. Nhưng họ đã làm nức lòng con cái khi can đảm và quảng đại xưng đạo, biết rằng sự chết của họ chỉ là hạt giống gieo xuống đất để sinh hoa kết quả. Hết mọi tu sĩ, linh mục tử đạo thời bấy giờ cũng tin vào Lời Chúa nói hôm nay như thế. Họ không sợ mình chết đi sẽ hết người làm tông đồ. Ngược lại, họ chắc chắn việc mình xưng đạo sẽ tưới máu cứu chuộc cho cây nho Nhà Chúa. Và sẽ có nhiều tông đồ khác, tốt hơn mình nữa sẽ đến và sẽ xây dựng Hội Thánh rực rỡ hơn. Cả những người đang làm hành chánh và quân sự khi ấy cũng đã phấn khởi chấp nhận bản án trừng phạt kẻ có đạo, cho dù nhiều đồng nghiệp và đồng bạn khuyên nên giữ mạng sống mình để phục vụ. Những người ấy nghĩ rằng phục vụ tốt hơn cả là thí ban mạng sống mình cho người mình yêu thương.]
Chúng ta hôm nay không thể không nghĩ đến những điều ấy để cảm mến chí hy sinh quảng đại của các tử đạo; và nhất là để học với các ngài tinh thần và gương sáng dám hy sinh tất cả để phục vụ mưu tìm hạnh phúc cho người khác. Hằng ngày chúng ta có rất nhiều cơ hội để hy sinh cho người khác và cho dân tộc. Không cần phải nghĩ đến đời sau như tác giả sách Khôn Ngoan nói, cứ tin lời Chúa Giêsu và nhớ rằng mọi hạt giống hy sinh đều sai hoa kết quả.
Tuy nhiên chúng ta vẫn dám nói rằng cho dù các lý lẽ trên rất đẹp và rất mạnh, chúng vẫn chưa có sức mạnh đẩy các tử đạo ra pháp trường nếu không có những lời sau đây của Chúa Giêsu. Người nói: "Ai hầu hạ Ta, thì hãy theo Ta; và Ta ở đâu, kẻ hầu hạ Ta cũng sẽ ở đó. Mà ai hầu hạ Ta, thì Cha Ta sẽ tôn trọng nó". Người nói đang khi thấy rõ Người sẽ đi đâu. Con đường khổ nạn thập giá đang chờ Người bước vào. Người đã dứt khoát chọn đi con đường ấy.
Và Người gọi kẻ thờ phượng Người cũng phải đi theo đến nơi Người sẽ đến. Người buộc mọi môn đệ phải vác thập giá của mình mà đi theo. Người đã vác thập giá đi trước để môn đệ không hơn Thầy và để đầu đã đến đâu thì thân thể cũng đến đó.
Các Tử đạo là những tín hữu mang danh Chúa. Họ là môn đệ Người. Họ hiểu rằng Người đã yêu thương họ nên đã vác thập giá đến núi Sọ để chịu đóng đinh. Sự chết của Người nói lên Tình yêu vô vàn của Thiên Chúa. Họ muốn đáp trả tình yêu ấy thì khi phải chết, họ không ngại chết. Họ chết để đi theo Thầy; để giống như Thầy và để được như Thầy. Họ còn chết một cách hân hoan sung sướng vì tình yêu mạnh hơn sự chết. Họ chết vì yêu Chúa. Và mọi cuộc tử đạo đều được gọi là việc tuyên đạo hay là xưng đạo, tuyên xưng đức tin dĩ nhiên rồi, nhưng nhất là tuyên xưng lòng mến và tình yêu đối với Chúa Giêsu.
Lời tuyên xưng ấy chỉ làm được trong bầu khí tử đạo, nếu người ta sẵn sàng làm mọi lúc trong đời sống.
Thế nên chúng ta cần thâm tín về tình yêu của Chúa để chính lòng mến Người ban sức mạnh cho chúng ta khi gặp khó khăn thử thách. Và để làm công việc ấy chúng ta hãy nghe lời thư Phaolô.

3. Lòng Mến Hoàn Thành Mọi Sự
Thánh tông đồ suy nghĩ về ơn công chính hóa, tức là ơn được tha thứ tội lỗi để trở nên công chính, ơn được chịu phép rửa tội và trở nên Kitô hữu. Chúng ta đang có ơn ấy, nên hãy lắng nghe lời thánh tông đồ nhắn nhủ.
Người phân tích và thấy rằng khi công chính hóa chúng ta, Thiên Chúa đã tỏ ra lòng thương vô ngần.
Ðây là tình thương quyết liệt, không thay đổi nữa, không phải chỉ vì Thiên Chúa là Ðấng Trung tín, luôn giữ lời giao ước, nhưng nhất là vì đã thương ta lần này như vậy và đã phò ta đến như thế, thì không ai và không sức mạnh nào có thể khiến Người bớt lòng thương mà bỏ rơi chúng ta, Người phải thí ban Con Một của Người chịu chết cho ta và chết đau khổ như thế trên thập giá. Người đã không tiếc với chúng ta Người Con yêu quý của Người, thì sao Người không gia ân vạn sự cho chúng ta làm một với Người! Thiên Chúa đã thương chúng ta đến như thế thì Người không thể tiếc với chúng ta một điều gì kém hơn.
Còn Ðức Kitô, Ðấng đã chết cho chúng ta và bây giờ trở thành Ðấng cầu bầu cho chúng ta nơi Thiên Chúa. Người có thể hất hủi bỏ rơi chúng ta sao? Hẳn là không. Luôn luôn Ðức Kitô muốn yêu thương và gìn giữ chúng ta trong tình yêu của Người.
Vậy nếu Thiên Chúa và Ðức Kitô yêu thương chúng ta như thế, thì hỏi ai và sức mạnh nào có thể rứt chúng ta ra khỏi tình yêu ấy? Thật, chúng ta phải thâm tín rằng dù sự chết hay sự sống, dù thiên thần hay thiên phủ... dù bất cứ tạo vật nào, không gì có thể tách chúng ta ra khỏi lòng mến của Thiên Chúa. Thế thì đáp lại, chúng ta cũng phải nói rằng: dù gian truân bĩ cực hay bắt bớ và đói khát... không gì sẽ làm chúng ta bỏ Chúa. Vì Người mà chúng ta sẵn sàng sát phạt suốt ngày kể như chiên lò sát, bởi lẽ trên tất cả những sự ấy chúng ta sẽ toàn thắng nhờ Ðấng đã yêu mến chúng ta.
Cuộc đời và sự chết của các Tử đạo Việt Nam là một bằng chứng cho những lời Phaolô. Thánh Minh, thánh Quý, thánh Tịnh, thánh Hy... hết mọi thánh chúng ta mừng lễ hôm nay đã có thể trở thành tử đạo là nhờ ở lòng mến Chúa. Ðến như cậu thánh Bột mới trên dưới mười tuổi cũng biết xưng đạo, là vì biết Chúa thương mình. Lòng mên Chúa đã ban sức mạnh và vinh quang đến cho các ngài.
Hôm nay chắc chắn các ngài đang muốn cho chúng ta được lòng mến đó. Ðặc biệt trong giờ thánh lễ này. Các ngài như đang muốn khuyên nhủ và thúc giục chúng ta tin vào mầu nhiệm Bàn thờ để thấy Thiên Chúa yêu thương chúng ta thế nào trong việc Con Chúa chịu chết và sống lại vì chúng ta.
Lời thư Phaolô phải làm chúng ta cử hành thánh lễ này tốt hơn mọi khi. Và thấm tình yêu Chúa rồi, chúng ta hãy lấy đời sống làm chứng tình yêu mạnh hơn sự chết. Không có gì khiến chúng ta từ khước hy sinh cho Chúa và vì Chúa.
Các Tử đạo Việt Nam sẽ giúp chúng ta trong công việc này. Các ngài sẽ tiếp sức cho chúng ta khi hoàn thành mọi nghĩa vụ đạo đời. Những khó khăn trước mắt, và ngay cả những thiệt thòi ở đời này, cũng không làm chúng ta nản chí sống nhân nghĩa và đạo đức. Không phải chỉ vì chúng ta tin tưởng ở đời sau và tin ở kết quả lâu dài, nhưng nhất là chúng ta đã cảm mến tình yêu thương của Chúa thì chúng ta sẽ chẳng tiếc gì với Người, kể cả sự sống. Chỉ một tinh thần như vậy mới xứng đáng là các con cháu của các Tử đạo Việt Nam, và mới làm chứng hôm nay chúng ta đã nhận được ơn phù trợ của các ngài.
(Trích dẫn từ tập sách Giải Nghĩa Lời Chúa của Ðức cố Giám Mục Bartôlômêô Nguyễn Sơn Lâm)

 

24/11-179: CHẾT LÀ HẠNH PHÚC

Tử đạo vẫn là động từ được mến chuộng nơi các tôn giáo và đặc biệt nơi những người theo Chúa 24/11-179

Tử đạo vẫn là động từ được mến chuộng nơi các tôn giáo và đặc biệt nơi những người theo Chúa Kitô. Bởi vì, tử đạo chỉ là làm chứng cho Đấng là Đường, là sự Thật và là sự Sống. Đành rằng có những thời, những lúc, những nơi tử đạo xem ra bị lạm dụng, nhưng đúng nghĩa tử đạo vẫn là cái gì cao quí nhất của những con người có lòng tin đúng như ca nhập lễ, lễ các thánh tử đạo đã viết:” Các thánh đã theo chân Đức Kitô,được vui mừng trên thiên quốc.Các ngài đã đổ máu mình ra, vì lòng yêu mến Đức Kitô, nên luôn được hoan hỷ với Người”.
CHẾT LÀ MỘT MỐI LỢI : Thực tế, ai cũng muốn sống và sống lâu dài, sống vĩnh cửu. Chẳng ai muốn chết và chết là một việc bắt buộc phải chết. Quả thế, nếu chưa tới giờ Chúa gọi, Chúa gõ cửa, chắc chắn chẳng ai muốn chết, chẳng ai muốn bỏ thế trần sớm để đi vào một cõi xa xôi mà nếu không có đức tin, con người chẳng sao ngộ ra được. Nhạc sĩ tài hoa Trịnh Công Sơn có nhiều suy tư về kiếp sống, về cõi hư vô, nhưng ông chỉ mới suy nghĩ, đặt vấn đề chứ chưa đưa ra kết luận cho một cõi khác với thế trần hôm nay.” Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi để một mai tôi thành hạt cát bụi…một kiếp rong chơi “. Những vị tử đạo chẳng bao giờ nghĩ xa xôi về một kiếp rong chơi, mà có trở về cát bụi là trở về với thân phận nguyên thủy của con người:” Ngươi là bụi đất, hãy trở về với bụi đất “.Mà những vị tử đạo là những vị đã thấm nhuần đạo lý của Chúa :” Ai muốn theo Thầy,phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo. Quả vậy, ai muốn lấy mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ cứu được mạng sống ấy”(Lc 9, 23-24 ). Chúa Giêsu mời gọi mọi người theo Chúa làm chứng cho Chúa, có người được hạnh phúc đổ máu cách công khai, thực tế, có những người đổ máu hy sinh bằng những đau khổ hằng ngày. Tựu trung, ai cũng phải hy sinh, ai cũng phải từ bỏ, ai cũng phải phấn đấu. Tuy nhiên, vẫn có những người được diễm phúc chết công khai vì chết là hạnh phúc:” Ai xấu hổ vì Thầy và những lời của Thầy, thì Con Người cũng sẽ xấu hổ vì kẻ ấy…” ( Lc 9, 26 ). Chúa vẫn mời con con người và mọi người trung thành với Người và bác ái với mọi người, kể cả những kẻ thù nghịch vv…Và khi đã trung thành làm chứng cho Chúa thì Người sẽ ban mũ triều thiên cho con người:” Anh em vẫn một lòng gắn bó với Thầy, giữa những lúc Thầy gặp gian nan thử thách. Vì thế Thầy sẽ ban quyền cai trị cho anh em, để anh em được NHỮNG VỊ TỬ ĐẠO: NHỮNG CHA ÔNG, NHỮNG NGƯỜI QUEN BIẾT, NHỮNG NGƯỜI KHÔNG QUEN ĐÃ MỘT LÒNG TRUNG KIÊN, TÍN THÁC VÀO THIÊN CHÚA : Chiêu bài của những người cấm đạo là dùng những sự đe dọa, những hình phạt kinh khủng để dọa nạt, để tách cha ông, những người tin vào Chúa sợ mà chối Chúa. Họ cũng dùng những chiêu bài khác là dùng những lời đường mật, danh vọng, địa vị để dụ dỗ cha ông khuất phục để bỏ Chúa. Nhưng họ đã lầm, cha ông chúng ta là những người tuyệt vời, khôn ngoan, sáng suốt một lòng trung tín và phó thác vào Chúa Giêsu. Các Ngài đã xác tín sâu xa vào Chúa và hoàn toàn không sợ :” Những kẻ chỉ giết được thân xác mà không giết được linh hồn”. Đọc sách Macabêô : gương của bà mẹ và bảy anh em không sợ vua chúa quan quyền, không sợ hình phạt, không sợ chết mà chỉ một lòng tin vào Thiên Chúa như lời Thánh vịnh 33, 20-21 viết :” Người công chính gặp nhiều nỗi gian truân, nhưng Chúa giúp họ luôn thoát khỏi.Xương cốt họ đều được Chúa giữ gìn, dầu một khúc cũng không dập gẫy”. Và như thánh Phaolô viết:” Ai có thể tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Đức Kitô? Phải chăng là gian truân, khốn khổ, đói rách, hiểm nguy, bắt bớ, gươm giáo ?Như có lời chép : Chính vì Ngài mà mỗi ngày chúng con bị giết, bị coi như bầy cừu để sát sinh “ ( Rm 8, 35-36 ). Tuy nhiên, thánh Phaolô viết tiếp:” Nhưng trong mọi thử thách ấy, chúng ta toàn thắng nhờ Đấng đã yêu mến chúng ta “( Rm 8, 37 ). Vâng, hàng hàng lớp lớp những người mặc áo trắng, tay cầm cành vạn tuế chiến thắng vào dự tiệc cưới trong Vương Quốc Thiên Chúa. Các thánh tử đạo đã kiên cường hiên ngang vì “Người công chính được Chúa thương cứu độ và bảo vệ che chở trong cơn ngặt nghèo “( Tv 36,39 ). Các Ngài đã hoàn toàn trung thành và hiên ngang với tình yêu cứu độ của Chúa như lời thánh Phaolô tông đồ nói:” …không có gì tách được chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa thể hiện nơi Đức Kitô Giêsu, Chúa chúng ta”( Rm 8, 39 ).
Lạy Chúa Giêsu, xin ban thêm lòng tin cho chúng con để chúng con không bao giờ chùn bước và đầu hàng trước những thử thách cam go.
Linh Mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi  DCCT

 

24/11-180: NHỮNG CON NGƯỜI BẤT TỬ

Hôm nay Hội Thánh Việt Nam long trọng mừng kính các thánh tử đạo, những vị anh hùng đã 24/11-180

Hôm nay Hội Thánh Việt Nam long trọng mừng kính các thánh tử đạo, những vị anh hùng đã đổ máu đào minh chứng cho bộ mặt đầy yêu thương của Chúa Giêsu. Các thánh tử đạo Việt Nam là ai ? Lễ các thánh tử đạo Việt Nam nói gì cho chúng ta ?

CÁC THÁNH TỬ ĐẠO LÀ AI ?
Đọc lại lịch sử của Giáo Hội Việt Nam chúng ta không khỏi ngạc nhiên vì tinh thần bất khuất của các thánh tử đạo. Các Ngài là những bậc tổ tiên, cha ông của chúng ta. Có những vị là bà con thân thích, là người đồng hương, là người cùng giáo xứ, giáo họ, làng thôn của chúng ta. Các thánh tử đạo Việt Nam đã sống tinh thần tám mối phúc thật. Các Ngài là những người đã dám sống đức tin, đã liều mình hy sinh, đổ máu đào để chứng minh cho Chúa Giêsu, để giới thiệu cho mọi người về con người đích thực của Chúa Giêsu. Lịch sử Giáo Hội Việt Nam thuật lại rằng:”  Ngày 19/3/1615 khi hai vị thừa sai đầu tiên là Alexandre de Rhodes và Marquès tới cử Bạng, ngoài Thanh Hóa, các Ngài đã thấy trên một mỏm đá ở giữa dòng sông, hình một cây thánh giá vẽ bằng vôi, không biết từ bao giờ và không biết ai đạ vẽ”. Các Đấng hiểu đây là dấu chỉ Hội Thánh của Chúa sẽ gặp nhiều thử thách, khó khăn. Trong suốt lịch sử loan báo Tin Mừng đã hơn 300 năm thì 300 rao giảng Đức Kitô với nhiều thăng trầm, với nhiều biến động, nhiều người Kitô hữu nam, nữ, già, trẻ, lớn, bé đã phải đổ máu đào minh chứng cho bộ mặt đầy yêu thương là Đức Giêsu Kitô.  Hơn mười vạn người đã ra đi vĩnh viễn. Tuy nhiên, sử gia Tertullien đã viết một câu rất chí lý:” Máu tử đạo là hạt giống nẩy sinh người tín hữu”. Câu nói này phù hợp với lịch sử Hội Thánh Việt Nam. Bởi vì, Giáo Hội La Mã xưa cũng đã cống hiến rất nhiều vị tử đạo, nhưng Hội Thánh Việt Nam sau Hội Thánh La Mã, đã dâng hiến cho Thiên Chúa nhiều thánh tử đạo hơn cả. Hơn mười vạn Kitô hữu đã ra đi vĩnh viễn: Trong số ấy 117 vị đã được tôn phong hiển thánh và một vị nữa là Anrê Phú Yên đã được nâng lên hàng chân phước.

CÁC THÁNH TỬ ĐẠO ĐÃ LÀM GÌ CHO GIÁO HỘI ?
Các thánh tử đạo Việt Nam là những chứng nhân cho Chúa Giêsu. Các Ngài đã sống cuộc đời như chúng ta, đã chia sẻ đức tin với chúng ta. Họ là tổ tiên, cha ông, mẹ cha và anh chị em, những người làng xóm của chúng ta. Họ đã sống niềm tin thật son sắt. Họ đã đổ máu đào, hy sinh cả mạng sống để làm chứng cho Chúa Giêsu Kitô hầu họa lại con người của Chúa Giêsu  đã từ bỏ thân mình để  đem lại hạnh phúc cho nhân loại:” Không có tình yêu nào cao vời cho bằng tình yêu của người hiến mạng sống mình vì người mình yêu”( Ga 15, 13 ). Các thánh tử đạo đã lựa chọn làm chứng tá cho Chúa Giêsu. Các Ngài đã làm môn đệ, đã loan truyền Chân Lý cho Chúa Giêsu. Họ là muối, là men cho đời. Sự hy sinh của các Ngài đã xây dựng Giáo Hội Chúa Kitô cách vững bền.
Các Ngài là những Giám Mục, Linh Mục, Nữ Tu, Thầy giảng, các Kitô hữu đã hiên ngang, kiên cường tuyên xưng đạo Chúa và chết vì Chúa. Chính vì thế, Giáo Hội Việt Nam càng ngày càng sinh hoa tươi tốt và phát triển không ngừng.

CON ĐƯỜNG CỦA CÁC THÁNH TỬ ĐẠO LÀ CON ĐƯỜNG THẬP GIÁ NHƯNG ĐẦY VINH QUANG:
Các thánh tử đạo đã đi con đường của Chúa đã đi. Các Ngài đã kê vai vác thập giá để theo chân Chúa Giêsu. Trong cuộc đời theo Chúa, các thánh tử đạo đã hết lòng vì đạo, đã lắng nghe lời Chúa, thực thi lời Chúa và đem lời Chúa ra thực hành trong đời  sống của mình. Các Ngài dù gặp bất cứ hoàn cảnh nào: lúc thuận hay lúc nghịch cũng luôn trung kiên với Đạo Chúa, cũng luôn kiên vững với con đường Chúa đã vạch ra.
Là con cháu các thánh tử đạo, chúng ta noi gương bắt chước các Ngài:” Hạt lúa mì rơi vào lòng đất có chết đi, có thúi đi, mới trổ sinh bông trái”. Các thánh tử đạo Việt Nam đã thà chết chứ không thà chối bỏ đứctin. Con cháu của các Ngài há lại quên những tấm gương anh hùng của tổ tiên, cha ông trong việc tuyên xưng đức tin sao ?

TỬ ĐẠO LÀ SỐNG TÌNH YÊU:
Chính vì yêu thương loài người, yêu thương con người, Chúa đã chết nhuốc hổ trên thập giá để cứu độ nhân loại, cứu rỗi con người. Vì thương Chúa, yêu con người, các thánh tử đạo đã coi thường mạng sống không hề bỏ Chúa, không hề chối đạo. Các thánh tử đạo là những con người chết vì yêu và sống vĩnh cửu vì yêu. Thập giá là cây đẹp nhất đối Chúa và đối với những người có lòng tin. Các thánh tử đạo là những chứng nhân sáng ngời về niềm tin. Các Ngài đã thắp sáng đức tin, các Ngài mong cho con cháu của các Ngài cũng hiên ngang đốt sáng đức tin mãi mãi để Hội Thánh Việt Nam càng ngày càng tươi xinh. Mừng lễ các thánh tử đạo Việt Nam, chúng ta cảm tạ tri ân Chúa vì Ngài đã ban cho Giáo Hội Việt Nam nhiều thánh tử đạo tốt lành và quí giá.
Lạy các thánh tử đạo Việt Nam, xin cầu cho Hội Thánh Việt Nam và Quê hương thân yêu Việt Nam. Amen.
Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi, DCCT

 

24/11-181: TỬ ĐẠO THỜI CÔNG NGHỆ 4.0

Lm. Jos Tạ Duy Tuyền
 

ĐứcThánh Cha Phanxico đã từng nói: “Một Giáo hội không có các vị tử đạo là một Giáo hội không 24/11-181

ĐứcThánh Cha Phanxico đã từng nói: “Một Giáo hội không có các vị tử đạo là một Giáo hội không có Chúa Giêsu”. Đức Thánh Cha cũngmời gọi cầu nguyện “cho các vị tử đạo của chúng ta đang đau khổ rất nhiều,” “cho các Giáo hội không được tự do để diễn tả chính mình”: “họ chính là niềm hy vọng của chúng ta.” Ngài nhắc lại lời của giáophụ Tertullienxưa đã viết: “Máu của các vị tử đạo, là hạt giống của các Kitô hữu.” Thếnên, Đức thánh Cha cám ơn Chúa đã hiện diện với sức mạnh của Chúa Thánh Thần nơi các anh chị em đang chịubách hại bằng nhiều cách.
Quả thực, ngày nay vẫn còn đó những cuộc bách hại bằng khủng bố đánh bom nhà thờ, và sát hại các linh mục tu sĩ, vẫn còn đó những cuộc cấm đoán biểu lộ niềm tin như giáo hội hầm trú Trung Quốc,haytại các nước đang phát triển mà Đức Thánh Cha đãnói: “Tôi không thể quên chứng tá của Linh mục và nữ tu ở nhà thờ chánh tòa Tirana: năm này qua năm khác ở trong tù, bị lao động khổ sai, hạ nhục,”, đối với họ nhân quyền không tồn tại.
Ngày hôm nay còn có một hình thức bách hại mới mà Giáo hội Việt Nam cũng đang phải đối diện. Đó chính là sự bách hại bởi truyền thông xã hội. Chúng ta cũng thấy nhiều linh mục, Giám mục đã trở thành “các vị tử đạo” bởi truyền thông xã hội khi các ngài mạnh dạn lên tiếng nói cho sự thật và bảo vệ công lý.Cónhững linh mục giúp cho dân mình khởi kiện sự tàn phá môi trường của Fomasa liền bị quy chụp bởi nhiều tội danh chẳng liên quan đến việc đòi lại công lý. Có những giám mục chỉ nói lên tiếng nói của sự thật liền bị truyền thông cắt xén, bóp méo và tìm cách loại trừ. Có những Giám mục bảo vệ công lý thì bị quy chụp  là xem thường pháp luật, bị các thế lực thù địch xúi giục, bao che tội phạm… mà trong nhiều hệ thống báo chí, đài phát thanh và truyền hình đãtừng đăng tải. . .
Cónhững linh mục còn bị những truyền thông giấu mặt mà người ta hay nói là đội quân DLV luôn chửi bẩn, nói bậy khi các linh mục này dám lên tiếng nói kêu gọi tôn trọng sự sống và phẩm giá con người. Đội quân DLV đa số là thành phần thất học, chỉ cần tiền nên không biết lý lẽ, phải trái . . . và sẵn sàng lao vào người ngay chính rủa xả và dừơng như họ luôn coi các lãnh đạo tôn giáo  như kẻ thù và là mục tiêu của thách thức chế diễu, lăng mạ . . .
Thời nào cũng có những cuộc bách hại, nhưng Giáo hội lại càng cần những chứng nhân trong những cuộc bách hại như thế. Vì càng bị bách hại người tín hữu càng được tôi luyện mình nên tốt hơn, và là dịp thuận lợi để làm chứng cho niềm tin của mình.
Chúng ta đang sống trong một thế giới mà người ta sống ảo nhiều hơn sống thực. Thế giới ảo phải chăng chính  là môi trường cần thiết để chứng tá tin mừng được ghi dấu nơi ấy?  Thế giới ảo phải chăng là lời mời gọi cuộc cách mạng tin mừng hãy dùng chính thế giới ảo ấy lan truyền tin mừng của Chúa đến cho mọi người? Đây cũng là một thế giới công bằng và cộng đồng mạng là những người thực thi công lý. Bởi vì rất nhiều những án oan, nhưng bất công đã được cộng đồng mạng đồng tâm chia sẻ và đòi lại công bằng đã thành công.
Tại sao người Công giáo chúng ta còn ngần ngại tuyên xưng niềm tin bằng việc loan tải những sứ điệp đầy yêu thương của Chúa đến cho mọi người? Tại sao chúng ta không tận dụng truyền thông để đẩy lùi sự dữ ra khỏi xã hội loài người? Phải chăng còn rất ít người dám tuyên xưng niềm tin? Phải chăng chúng ta đã cố tình bịt mắt, bịt tai, bịt miệng để tìm an toàn cho bản thân?
Cha ông chúng ta dám đổ máu đào để bảo vệ đức tin và làm chứng cho tin mừng trong điều kiện đầy khó khăn và gian khổ. Máu của các ngài đã đổ ra để bảo vệ và truyền lại đức tin cho con cháu là chúng ta. Chắc chắn các thánh TĐVN cũng mong muốn con cháu mình phải tiếp tục bảo vệ đức tin trong thế giới hiện đại. Nhất là trong truyền thông giáo hội đang bị xuyên tạc và khủng bố, nên rất cần người tín hữu công khai bảo vệ niềm tin của mình. Như cuối năm 2017 người ta dựng nên một Đạo thánh Đức Chúa Trời với một phong trào rầm rộ cả nước Việt Nam, rõ ràng đây là một âm mưu nhằm xuyên tạc tín lý giáo hội Công giáo, và khủng bố niềm tin nơi giáo dân. Rồi người ta lăng mạ các linh mục tu sĩ trong hình dạng ma quái ghê sợ trong ngày halloween, người ta cho biểu diễn game showvới hình nữ tu ăn mặc hở hang . . .  Thế giới truyền thông cũng tiềm ẩn rất nhiều sự dữ nên cần người tín hữu phải mạnh dạn lên tiếng bênh vực công lý và đẩy lùi sự dữ cho dầu có chịu nhiều lăng nhục hay bách hại. . .
Chắc chắn khi chúng ta dám làm chứng cho sự thật, dầu ở môi trường nào cũng là đối kháng lại với thế gian nên sẽ gặp những chống đối, quy chụp, bách hại, . . . Chúng ta hãy mạnh dạn tuyên xưng niềm tin của mình vì “phần thưởng chúng ta rất lớn trên quê trời, vì Chúa Giê-su đã từng nói :phàm ai tuyên “xưng Thầy trước mặt thiên hạ, thì Con Người cũng sẽ tuyên nhận người ấy trước mặt các thiên thần của Thiên Chúa”(Lc 12,8)
Nguyện xin các thánh TĐVN giúp sức để chúng ta can đảm tiếp nối các tiền nhân dám làm chứng cho tin mừng, cho công lý và sự thật giữa thế giới văn mình nhưng thiếu tình yêu hôm nay. Amen

 

24/11-182: CHỨNG NHÂN

Jorathe Nắng Tím 
 

Theo nguyên ngữ Hy Lạp, Tử Đạo  có nghiã là Người Làm Chứng. Làm chứng một điều gì, làm 24/11-182

Theo nguyên ngữ Hy Lạp, Tử Đạo  có nghiã là Người Làm Chứng. Làm chứng một điều gì, làm chứng về một người nào là thuyết phục người nghe tin điều mình nói về sự việc ấy, về con người ấy là thật, là đúng. Và để thuyết phục người nghe, người làm chứng có khi phải lấy chính mạng sống mình để minh chứng, và bảo đảm điều mình nói. Các thánh Tử Đạo là những người làm chứng Đức Giêsu Kitô là Thiên Chúa thật, vì yêu con người đã xuống thế làm người thật, đã chết để cứu độ nhân loại, và đã sống lại để mọi người được sống. Các ngài còn làm chứng  Giáo Hội Đức Giêsu  lập ra là Đạo thật, Đạo yêu thương, con đường đưa toàn thể nhân loại  về yêu thương.
    Cũng chính vì làm chứng  Thiên Chúa và công trình cứu độ của Ngài, mà các chứng nhân của Thiên Chúa gặp nhiều chống đối giữa anh em mình, bởi thế gian không đón nhận « Ngôi Lời là ánh sáng thật, ánh sáng đến thế gian và soi chiếu mọi người. Người ở giữa thế gian, và thế gian đã nhờ Người mà có, nhưng lại không nhận biết Người. Người đã đến nhà mình, nhưng người nhà chẳng chịu đón nhận » (Ga 1,9-11).
     Thế gian không nhận Đức Giêsu là  Ngôi Lời của Thiên Chúa,  chỉ vì thế gian « không nhận biết và chẳng chịu đón nhận ».  Lý do thật đơn giản và vô tình !
     Vì thế gian không nhận biết, mà chứng nhân phải làm chứng để thế gian nhận ra Đức Giêsu là Thiên Chúa Cứu Độ duy nhất; vì thế gian chẳng chịu đón nhận, mà chứng nhân phải thuyết phục bằng chứng cớ đời sống,  với chứng từ có giá trị để thế gian đón nhân Đức Giêsu là Đấng đã chuộc lại quyền làm con Thiên Chúa và  ban sự sống đời đời cho mọi người bằng sự chết và phục sinh của Ngài.
   Được sai đến với các dân tộc, ở mọi thời để  làm chứng Đức Giêsu, Đấng Cứu Độ duy nhất, Thiên Chúa làm người, đã chết như con người và sống lại với quyền năng Thiên Chúa, các chứng nhân nhận một sứ vụ thánh thiêng, nhưng không thiếu cam go, thử thách, đe dọa giữa lòng thế giới muôn hình vạn trạng. Đức Giêsu đã không giấu diếm các môn đệ sự thật nguy hiểm về thế gian, nơi các vị sẽ phải đến làm chứng về Ngài :
  «  Thầy sai anh em vào thế gian, như chiên đi giữa bầy sói” (Mt 10,16). “ Nếu thế gian ghét anh em, anh em hãy biết rằng nó đã ghét Thầy trước. Giả như anh em thuộc về thế gian, thì thế gian đã yêu thích cái gì là của nó. Nhưng vì anh em không thuộc về thế gian, và Thầy đã chọn, đã tách anh em khỏi thế gian, nên thế gian ghét anh em” (Ga 15, 18-19).
     Không những chứng nhân bị thế gian ghét, vì  thuộc về Thiên Chúa, nhưng còn bị thế gian bách hại:
   « Người ta sẽ tra tay bắt và ngược đãi anh em, nộp anh em cho các hội đường và bỏ tù, điệu anh em đến trước mặt vua chúa quan quyền vì danh Thầy. Đó là cơ hội để anh em làm chứng cho Thầy “ (Lc 21,12-13).
    Tệ hơn thế nữa, các vị còn bị chính người nhà, bạn hữu, thân thuộc của mình truy lùng, ghét bỏ, ruồng rẫy : « Anh em sẽ bị chính cha mẹ, anh chị em, bà con, và bạn hữu bắt nộp. Họ sẽ giết một số người trong anh em. Vì danh Thầy, anh em sẽ bị mọi người thù ghét » (Lc 21,16-17).
    Qủa thật, con đường trước mặt của chứng nhận là con đường đầy chông gai, cạm bẫy và hứa hẹn tù đầy, đổ máu, mất mạng. Con đường chứng nhân phải đi làm chứng không đẹp như mơ, không huy hoàng, hoành tráng, không thênh thang như đường về làng ngày « vinh quy bái tổ ».
     Những đe dọa, hiểm nguy do lòng « ganh ghét vô cớ » của thế gian thì vô số kể (Ga 15,25). Vô cớ nghiã là chẳng có lý do gì, chẳng có nguyên nhân nào hợp lý . Vô cớ đến độ :  « Thế gian ghét Thầy, thì cũng ghét Cha Thầy » (Ga 15, 23), và tất nhiên « ghét cả anh em » (Ga 15,18), mặc dù thế gian đã thấy những việc tốt lành Thầy đã làm cho họ (x. Ga 15,24).
    Trước bao nhiêu gian truân, thử thách giăng mắc, đe dọa,  làm  sao các chứng nhân đã  có thể mạnh dạn lên đường và kiên cường làm chứng ?
   Thánh Phaolô, Tông Đồ dân ngoại đã thay mặt các chứng nhân trả lời: « Vì Tình Yêu Đức Kitô thôi thúc chúng tôi » (2Cr 5,14), và sở dĩ chúng tôi đứng vững là  « do quyền năng phi thường của Thiên Chúa, chứ không phải từ chúng tôi », nên « chúng tôi bị dồn ép tư bề, nhưng không bị đè bẹp ; hoang mang, nhưng không tuyệt vọng ; bị ngược đãi, nhưng không bị bỏ rơi ; bị quật ngã, nhưng không bị tiêu diệt », bởi «  chúng tôi luôn mang nơi thân mình cuộc thương khó của Đức Giêsu, để sự sống của Đức Giêsu cũng được biểu lộ nơi thân mình chúng tôi » (2Cr 4,7-10).
    Thực vậy, các chứng nhân của Đức Giêsu từ giáo đoàn đầu tiên Giêrusalem đến tận cùng thời gian được tình yêu Đức Kitô thúc bách đã lên đường làm chứng Tin Mừng với những căn dặn của Đức Giêsu như hành trang không thể thiếu giữa thế gian luôn thù ghét.
Thầy để lại Bình An cho anh em, Thầy ban cho anh em Bình An của Thầy, Bình An mà thế gian không ban được. Anh em đừng xao xuyến cũng đừng sợ hãi (Ga 14,27).
     a. Bình An là dấu chỉ Thiên Chúa ở với người được sai đi:
« Anh em biết rằng Thầy ở trong Cha Thầy, anh em ở trong Thầy, và Thầy ở trong anh em » (Ga 14,20).
Chính Đức Giêsu đã bộc lộ ý muốn ở với người được sai đi  trong lời cầu  xin với Chúa Cha : Lậy Cha, con muốn rằng con ở đâu, thì những người Cha đã ban cho con cũng ở đó với con « (Ga 17,24).
     b. Bình An là sức mạnh của Chúa Thánh Thần liên lỉ hoạt động nơi người làm chứng:
« Thầy sẽ xin Chúa Cha, và Người sẽ ban cho anh em một Đấng Bảo Trợ đến ở với anh em luôn mãi. Đó là Thần Khí sự thật, Đấng mà thế gian không thể đón nhận, vì thế gian không thấy và cũng chẳng biết Người. Còn anh em biết Người, vì Người luôn ở giữa anh em và trong anh em “ (Ga 14,16-17).
Có Chúa Thánh Thần, chứng nhân sẽ không  sợ hãi, hay lo nghĩ phải bào chữa, biện bạch thế nào trước mặt quan quân và những kẻ chống đối, nhưng Thánh Thần sẽ chỉ bảo phải nói gì, « khiến tất cả địch thù không tài nào chống chọi hay cãi lại được » (Mc 21,15).
     c. Bình An là bảo chứng quyền năng Thiên Chúa nơi người được sai đi làm chứng:
« Thầy bảo thật anh em, ai tin vào Thầy, thì người đó cũng sẽ làm được những việc Thầy làm. Người đó cón làm những việc lớn hơn nữa, bởi vì Thầy đến cùng Chúa Cha. Và bất cứ điều gì anh em nhân danh Thầy mà xin, thì Thầy sẽ làm, để Chúa Cha được tôn vinh nơi người Con (Ga 14,12-13).
   Như thế, người làm chứng Đức Giêsu tiên vàn phải nhận  từ Đức Giêsu, Đấng sai họ, Bình An của Ngài. Không có Bình An của Đức Giêsu, không  chứng nhân nào có thể làm chứng chính xác, đầy đủ về Đức Giêsu ; không mang Bình An của Đấng đã chết và Sống Lại, người làm chứng sẽ không thể  làm chứng bằng « loan truyền Chúa chịu chết và tuyên xưng Chúa sống lại », là sứ điệp Tin Mừng mà người được sai đi phải làm chứng.
    Bình An của Đức Giêsu, vì thế, sẽ không thể thiếu trong tâm hồn chứng nhân, bởi chỉ với Bình An của Đức Giêsu sống lại, chứng nhân mới có thể kiên cường đi đến cùng hành trình làm chứng của mình  giữa phong ba bão táp của thế gian.
« Thầy truyền cho anh em điều răn của Thầy: « Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em » (Ga 15,12) :
     Nếu Bình An của Đức Giêsu là bửu bối không thể thiếu trên đường làm chứng, thì giới răn « Anh em hãy yêu thương nhau » là chià khóa để lời chứng của chứng nhân có giá trị và thuyết phục.
      Đức Giêsu hơn ai hết biết rõ nguy cơ và sức công phá kinh khủng của hận thù, ghen ghét, bạo lực. Cũng chính vì muốn tiêu diệt hận thù, bẻ tan ghen ghét, đẩy lui bạo lực trong thế giới, mà Ngài đã đến để ban Bình An, Yêu Thương, nên  sẽ không có lý do những người thuộc về Ngài lại không yêu thương nhau ; không có thể những chứng nhân làm chứng Thiên Chúa là Tình Yêu, Đức Giêsu là Đấng Cứu Độ hiến mạng sống vì yêu nhân loại đến cùng lại xa lạ với tình huynh đệ ; và sẽ hoàn toàn vô ích, nếu không nói là nguy hiểm, nếu người làm chứngTin Mừng là Lòng Thương Xót lại bôi nhọ, vu khống, hiềm khích, đấu đá, ăn thua đủ với nhau.
     Không chỉ Đức Giêsu hay những người thuộc về Giáo Hội, mà tất cả mọi người, bất kể họ là ai, đều « dị ứng », kinh ngạc, sợ hãi trước cảnh môn đệ cùng sư phụ ẩu đả, lên án, cắn xé nhau. Thực vậy, sẽ không còn chứng nhân, nếu không có đức ái ; không còn lời chứng, nếu ganh ghét, hận thù thống trị ; không còn người được sai đi, nếu đường đi không còn là đường lên núi Bát Phúc, nhưng sẽ chỉ còn lại những « người chứng nói dối », « lời chứng mâu thuẫn, phi lý, không thuyết phục », và danh xưng « người làm chứng  qủa cảm, hào hùng » bắt buộc phải đổi lại thành « người phản chứng lố bịch, dị hợm ».
     « Yêu thương nhau » không còn là đồ phụ tùng,  chuyện nhỏ, phụ thuộc, nhưng là chính yếu, dấu chỉ duy nhất của môn đệ Đức Giêsu,  của người được sai đi làm chứng, nên không yêu thương nhau,  căn cước tính của người làm chứng tự động biến mất trước mặt Thiên Chúa, và dưới mắt con người, bởi cả Thiên Chúa và con người đều không thể chấp nhận người chứng của Tình Yêu lại không biết yêu thương.
    Mừng kính các thánh Tử Đạo cha ông , chúng con không chỉ cảm phục các Đấng đã can đảm chấp nhận chịu đánh đòn, bá đao, voi dầy , chém đầu, thiêu sống, chết rũ tù, nhưng trên hết, chúng con ngưỡng mộ lòng yêu mến nơi các Đấng. Các Đấng đã yêu mến Thiên Chúa và được Tình Yêu Đức Kitô thúc bách, khi Bình An lên đường làm chứng, Bình An đổ máu làm chứng, Bình An dâng hiến mạng sống làm chứng. Với Bình An của Đức Giêsu phục sinh, các Đấng đã không than thở, trách móc, hận thù  vua quan, dân tộc, đồng bào đã làm khổ, bách hại, giết chết mình, nhưng luôn Bình An tha thứ, Bình An hoà giải, Bình An  cầu xin ơn phúc cho quê hương, dân tộc, vì các Đấng  luôn ở trong Thiên Chúa là Tình Yêu tuyệt đối và nguồn Bình An viên mãn. Bên cạnh đó là đời sống bác ái, huynh đệ, phục vụ của các Đấng  đã đánh động, cảm hóa anh em đồng bào, để Danh Đức Giêsu ngày càng được vinh hiển trên quê hương, và trong lòng người dân Việt.
    Mừng kính các thánh Tử Đạo cha ông cũng là dịp chúng con ý thức ơn gọi và sứ vụ làm chứng  của mình, để luôn biết rằng hành trình làm chứng « Đức Giêsu chịu đóng đinh » luôn là đường Thánh Giá, và bất kể ở thời nào, người làm chứng vẫn được mời gọi vác Thánh Giá và chết với Đức Giêsu cho anh em mình.
    Tạ ơn Chúa đã ban cho chúng con các Thánh Tử Đạo là cha ông anh dũng  trong huyết thống và Đức Tin.  Cúi xin các Thánh ban cho chúng con biết đón nhận Bình An của Đức Giêsu và sống điều răn « Yêu Thương nhau » trên hành trình Làm Chứng, như các thánh Cha Ông Tử Đạo  đã  làm chứng bằng chính  đời sống  và mạng sống  mình.

 

24/11-183: HY SINH MẠNG SỐNG ĐẾN CÙNG VÌ ĐỨC TIN

Lm. Phêrô Lê văn Chính
 

Vào ngày 19 thánh 6 năm 1988 tại Rôma, Đức Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II, đã long trọng 24/11-183

Vào ngày 19 thánh 6 năm 1988 tại Rôma, Đức Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II, đã long trọng tôn phong 117 vị thánh anh hùng tử đạo tại Việt Nam. Trong số các ngàI có 96 vị người Việt nam và 21 vị thừa sai Nước ngoài. Thực là một biến cố trọng đại và đầy niềm vui, vì đây là lần đầu tiên Giáo hội tôn phong một số rất đông các thánh tử đạo, và nêu lên cho toàn thể Giáo hội những con người đã không ngần ngại hy sinh mạng sống mình để làm chứng cho Thiên Chúa và Đức Giêsu, làm chứng cho Đức tin mà các ngài đã lãnh nhận với một lòng trung kiên bất khuất. Con số 117 vị tử đạo chỉ là con số nhỏ của hơn 100 000 vị tử đạo tại Việt nam trong gần 300 năm dưới thời những vua quan Triều Nguyễn từ các thế kỷ 17, 18, và 19. Thực không có bút mực nào tả xiết những đau khổ và cực hình các ngài đã chịu vì danh Chúa. Trong số các vị tử đạo, chúng ta phải kể đến những giám mục, linh mục, tu sĩ nước ngoài và cả các vị Việt nam, ngoài ra còn phải kể đến số đông những người giáo dân thuộc đủ mọi thành phần, từ những người như trùm họ, chánh trương cho đến những giáo dân, những người trong hàng ngủ quan triều đình hay binh lính.
          Những tâm tình của các thánh tử đạo là những tâm tình cao cả, của những con người có trái tim hòa nhập với trái tim của Con Thiên Chúa làm người, đó là những con người biết coi thường mạng sống, coi thường những danh lợi trần gian, và khi đối diện với cái chết, các ngài không ngần ngại chọn lựa dứt khóat thuộc về Thiên Chúa hơn là chút vinh quang trần thế. Thầy giảng Anrê Phú Yên 19 tuổi, đã chịu tử đạo rất sớm vào năm 1644, với sự chứng kiến của cha Đắc Lộ. Cái chết của thầy Anrê là một cái chết can đảm, thầy bị lính dùng đòng đâm ba nhát thấu ngực, nhưng vẫn chưa chết. Sau đó lính dùng mã tấu chém vào cổ đến hai nhát, đầu mới lìa khỏi cổ. Cha Đắc Lộ, dòng tên đã gói chiếc đầu của thầy giữ lại cẩn thận, và liệm xác thầy để gửi về Macau cất giữ như một báu vật của vị thánh tử đạo. Phần 117 vị thánh tử đạo, bắt đầu là hai vị tử đạo đầu tiên vào năm 1745 tại Thăng Long miền Bắc, đó là hai cha thừa sai dòng Đaminh là các cha Phanxicô Tế và Matthêu Dậu. Vị tử đạo cuối cùng là thánh Phêrô Đa, một giáo dân làm nghề thợ mộc, chịu tử đạo ở Qua Linh. miền Bắc năm 1862. Vào năm 1862, cuộc bách hại bùng lên ở miền Nam, hai nơi bị bách hại dữ dội là Biên Hòa và Bà Rịa với số người bị thiêu sống lên tới 846 vị.
          Các vị tử đạo cảm nếm niềm vui chịu chết vì danh Chúa, nên trong thời gian bị gông cùm tù tội, các ngài đã biết chuẩn bị tinh thần sẵn sàng để đối diện với cái  chết. Thời gian tù tội khắc khổ không làm các ngài sợ hãi hay khiếp nhược, nhưng càng làm cho tinh thần các ngài mãnh mẽ hơn. Thánh Anrê Dũng Lạc bình thản chờ đợi để đến ngày được phúc tử đạo, ngài vui vẻ thốt lên những lời đầy hạnh phúc: “Đông qua tiết lại thời xuân tới. Khổ tạm mai sau hưởng phúc an. Làm kẻ anh hùng chi quản khó. Nguyện xin cùng gặp chốn thanh nhàn”. Trong số các vị tử đạo có những người làm quan lớn trong triều đình như thánh Micae Hồ đình Hy, hơn ba mươi năm phục vụ dưới ba triều vua, nhưng ngài đã không vì chút danh lợi trần gian mà chối bỏ đức tin, quyết một lòng trung thành với Thiên Chúa cho dù phải chịu chết. Trước những lời mềm mỏng và chiêu dụ của nhà vua, ngài vẫn một lòng khẳng khái cương trực, từ bỏ mọi vinh hoa phú quí bổng lộc của triều đình vì muốn trung thành và nên giống Chúa Kitô: “Tâu bệ hạ, đã 30 năm phục vụ dưới ba triều vua, lúc nào hạ thần cũng là người hết lòng yêu nước. Nay hạ thần cam chịu mọi cực hình để nên giống Đức Kitô.”
          Có những vị rất trẻ tuổi như chủng sinh Tôma Thiện, tuy trẻ tuổi nhưng đã bắt đầu cảm nếm niềm vui của phúc tử đạo, và đã có những chọn lựa rất can đảm và sáng suốt. Quan lớn, vì thấy thầy còn quá trẻ và khôi ngô tuấn tú, nên đã đưa ra những lời dụ dỗ và hứa hẹn nhiều phần thưởng thế gian, nhưng Tôma Thiện vẫn cương quyết một lòng, không chút sờn lòng trước những cám dỗ đường mật, thầy thẳng thắn trả lời với quan: “Đạo dạy tôi thờ Thiên Chúa là đạo thật, tôi sẵn sàng chịu chết chứ không bỏ đạo… Tôi chỉ mong chức quyền trên trời, chứ không màng đến quyền chức trần thế”. Có những vị linh mục truyền giáo cũng rất trẻ tuổi, vừa mới được bề trên sai đến và đặt chân đến nước Việt nam xa lạ thì bị bắt như cha thánh Theôphan Vena. Khi bị bắt và xét xử, quan chỉ xin ngài bước qua thập giá thì được tha bổng. Nhưng bước qua thập giá dù là một hành vi rất nhẹ nhàng để được bảo vệ mạng sống thì ngài đã cương quyết từ chối tất cả mọi mưu mô khôn khéo của vua quan. Thánh Thêôphan Vena đã cương quyết trả lời: “Tôi đã suốt đời thuyết giảng về đạo thập giá, nay tôi lại đạp lên thập giá thế nào được? Tôi thiết nghĩ sự sống đời này đâu quí hoá đến độ tôi phải bỏ đạo mà mua!”. Có những trường hợp lương tâm tế nhị và nan giải khi vua quan kết tội các ngài là theo Tây và phản bội lại tổ quốc, nhưng các ngài đã chân thành giải thích biện phân cách mạch lạc cho mọi người biết các ngài không hề phản bội tổ quốc, cũng như không hề phản bội lại vua gì cả mà các ngài luôn nhìn thấy sự thẳng thắn trong lòng tin trung kiên của mình. Các ngài vẫn một lòng trung thành với tổ quốc khi các ngài yêu mến phụng sự Thiên Chúa là Cha cao cả trên trời. Không hề bao giờ có thể vì trung thành với trung phụ là vua trần thế mà phản bội lại với Thượng phụ là Cha trên trời: “Tôi kính Thiên Chúa như Thượng Phụ, kính vua như trung phụ, và kính song thân như hạ phụ. Không thể nghe cha ruột để hại vua, tôi cũng không thể vì vua mà phạm đến Thượng Phụ là Thiên Chúa được”. Ngay cả có những vị là lính của triều đình như thánh Trần văn Trung, ngài phân biệt rất rõ bổn phận vâng phục triều đình trong những điều đúng đắn như chiến đấu chống quân thù và bổn phận vâng phục tuyệt đối với Thiên Chúa mà ngài hằng yêu mến : “Tôi là Kitô hữu, tôi sẵn sàng đi đánh kẻ thù của đất nước, nhưng bỏ đạo thì không bao giờ”.
          Mừng lễ các thánh tử đạo tại Việt Nam chúng ta tự hào là con cháu các vị tử đạo. Chúng ta vui vì các bậc tổ tiên của mình đã sống thực là xứng đáng và đã kéo nhiều ơn lành của Thiên Chúa cho các con cháu. Thiên Chúa chúc phúc cho các con cháu là chúng ta vì biết bao công đức của tổ tiên ông bà chúng ta là các vị thánh tử đạo trung kiên bất khuất. Ngay cả dù không chết ở pháp trường, các ngài cũng đã sống một đời sống xứng đáng theo những mối phúc của Tin mừng. Ngày nay chúng ta không phải đối diện với cái chết tử đạo, nhưng  là con cháu các vị tử đạo, chúng ta muốn tiếp bước và được mời gọi tiếp bước các bậc tổ tiên ông bà của chúng ta trong đời sống chọn lựa trung tín với Thiên Chúa của mình. Việc tử đạo của chúng ta ngày nay là đời sống theo Tin mừng mà Chúa Giêsu đã công bố. Đây cũng là việc tử đạo vì được kết hợp nên giống với Chúa Giêsu trong những hy sinh bé nhỏ của đời sống hằng ngày.

 

24/11-184: TIN THEO GIÊSU

Lm. Jos. DĐH.
 

Cuộc sống cho ta thấy một sự thật: nước mắt ai cũng mặn, máu ai cũng đỏ ; muốn chia sẻ tình 24/11-184

Cuộc sống cho ta thấy một sự thật: nước mắt ai cũng mặn, máu ai cũng đỏ ; muốn chia sẻ tình yêu thương cho gia đình, người thân, còn thấy khó, mở cửa lòng mình ra với anh chị em xa lạ, bao giờ chẳng là điều phức tạp hơn ? Dù người ta mạnh miệng xó bếp hay nhút nhát nơi công đường, chưa ai xếp đối tượng như thế là anh hùng. Dù đi gần hay đi xa, ai cũng phải cất bước mới tới đích, muốn gặt may mắn, nhất định phải gieo duyên lành. Tính bất ngờ khó hiểu, hàng ngày vẫn đang cho ta thấy sự phong phú đáng nể: có những thứ tình cảm được gọi là tình yêu, có những thứ nước được gọi là rượu mạnh. Hoàn cảnh xã hội xưa kia và hôm nay tuy khác nhau, nhưng mỗi người đều được tự do chọn lựa bước trên con đường dẫn tới hạnh phúc.
Sống nghề “ruộng nương”, mọi người đều hiểu quy luật: “hạt lúa gieo vào lòng đất phải thối đi mới sinh bông hạt”. Tất cả những ai là kitô hữu, đều được mời gọi sống niềm tin Đức Giêsu là Thầy, là Chúa, là Đấng cứu độ trần gian. Tiền nhân chúng ta trải qua cuộc bách hại đức tin dài hơn ba thế kỷ, các ngài dâng mạng sống mình, kết hiệp với tình yêu Giêsu như hạt giống thối đi, chết đi, luôn thao thức được trổ sinh hương hoa cho thế hệ con cháu. Đồng ý rằng, đường đời thênh thang, lối ngang lối rẽ không phải là ít, nhưng đường đưa tới sự sống thật, hạnh phúc thật, nhất định phải ở trong tình yêu Giêsu, ở nơi Ngài mới có nở hoa kết trái.
Nước mắt chảy xuôi, hay máu chảy về tim, đó là quy luật muôn đời, còn tình yêu lại không có quy tắc ngược xuôi, cha ông chúng ta đã làm sống động truyền thống tin yêu nơi Đức Giêsu, tưới máu đào trên khắp quê hương. Tin theo Giêsu không chỉ có vì dấu thánh giá, đọc kinh nhiều lần trong ngày, cũng không phải là đi hàng ngang hàng dọc cho thiên hạ thấy hình thập giá, hoặc liều mình liều mạng hầu được gọi là gan dạ lì đòn. Tin theo Đức Giêsu là tin giáo huấn của Ngài là sự thật, và bằng tình yêu, tự do, mỗi người ý thức sống ơn gọi của mình: “ai phụng sự Ta, hãy theo Ta, và Ta ở đâu thì kẻ phụng sự Ta cũng ở đó”. Theo Đức Giêsu vì yêu, vì tin, là khi chúng ta cảm nhận được sức mạnh Thiên Chúa đang ở trong con người giới hạn của mình, và sống đức tin chính là chúng ta sẽ được biến đổi nên giống Chúa.
Với lối diễn tả về tình yêu đôi lứa rất chân thật: chẳng tham nhà ngói ba toà, tham vì một nỗi mẹ cha anh hiền. Chẳng tham nhà ngói xinh xinh, tham vì một nỗi anh xinh miệng cười. Các đấng bậc muốn nói đến sự khôn ngoan cần thiết nơi con người hệ tại ở tâm tính, ở nét đẹp sâu thẳm trong cõi lòng. Bằng một phong cách sống tin yêu, tiền nhân chúng ta theo Đức Giêsu không phải hướng tới bổng lộc, hay được vinh quang ở đời này, nhưng là được sống mãi trong yêu thương, hạnh phúc trước ơn gọi nên giống Chúa vẹn toàn. Tin theo Đức Giêsu để xác tín hơn: dù máu chảy đầu rơi, cũng không làm ta sờn lòng nản chí, dù tài cao trí rộng hơn người, ta cũng vui vẻ khiêm tốn sống hài hoà với mọi người.
Sống niềm tin kitô giáo hôm nay không còn giới hạn bởi “ngăn sông cấm chợ”, ấy vậy mà nỗi ưu tư giáo dục con cái của bậc làm cha mẹ không phải là đã bình tâm. Xã hội không ban tặng danh hiệu anh hùng liệt sĩ cho tất cả những ai tài giỏi đức độ, bao lâu chưa xác minh được tính chất cao đẹp mà họ đã dũng cảm hy sinh. Giáo hội không “phong thánh” cho tất cả những ai hàng ngày có mặt ở nhà thờ, để lại nhiều tài sản vật chất tiền của, nếu chưa thấy được tính chuẩn mực mà con đường tin theo Chúa của họ là gì ! “Ai yêu mạng sống mình thì sẽ mất, ai ghét mạng sống mình ở đời này, thì sẽ giữ được nó trong cuộc sống đời đời”. Sống chết vì yêu, khác với sống chết vì buồn chán thất vọng, sống chết vì đức tin kitô giáo, khác với sống chết vì phạm pháp mà xã hội xử tử.
Đường đời dài rộng, cơ hội gặt hái hạnh phúc, ai cũng giống nhau, có hay không, được hay mất, tuỳ tự do mỗi người đã sống và đang sống như thế nào ? Những người khoẻ mạnh, sống thọ, chưa chắc là do họ thông thái, hay lắm mưu nhiều kế. Người nghèo khổ, không có tiếng nói trong xã hội, chết yểu, cũng chẳng phải do họ ngu ngốc hay lạc hướng lạc đường. Điều quan trọng là mỗi chúng ta có thấy tình yêu, bình an, khi đi tới điểm đích của sống chết hay không ? Cha ông chúng ta cũng không phải là mình đồng da sắt, các ngài chết vì già bệnh, chết vì tai nạn nghề nghiệp, chết vì tình yêu Đức Kitô, cũng là một nhắc nhớ mỗi người đã tin theo Đức Giêsu như thế nào ? May mắn khi chúng ta có cha mẹ tài đức, các ngài sẽ dạy cho con cháu biết thưa chuyện với Chúa, biết nói về Chúa cho anh chị em. Hạnh phúc biết bao khi tin theo Đức Giêsu, chúng ta sẽ rõ hơn Ngài là Vị Thầy chuẩn mực, biết minh hoạ, truyền cảm hứng cho ta sống thánh ý của Chúa và sống trọn vẹn ơn gọi làm môn đệ Đức Giêsu. Amen.

 

24/11-185: NGÀY ẤY

Anna Cỏ May
 

Thời gian cứ thấm thoát trôi đi. Cuộc sống của mỗi người cũng dần thay đổi theo thời gian. Ngày 24/11-185

Thời gian cứ thấm thoát trôi đi. Cuộc sống của mỗi người cũng dần thay đổi theo thời gian. Ngày xưa, những đám ruộng được cày bởi những con trâu, con bò. Ngày nay, thay vì những con trâu, con bò là những chiếc máy cày chạy nhanh, giúp mọi người đỡ vất vả hơn. Thời trước, trẻ em đâu biết điện thoại, laptop là gì? Ngày nay, trẻ em có thể qua chiếc điên thoại thông minh biết được cả thế giới. Cuộc sống con người được nâng cao và mọi thứ có thể đạt được trong tầm tay. Thế nhưng, thời đại lỹ thuật số là thời đại có giới hạn, không có cái gì là bền vững. Tất cả đều hư vô. Chỉ duy nhất một điều không bao giờ thay đổi là lời yêu thương của Chúa Giê-su.
Những ai sống lời yêu thương của Chúa thì đến ngày sau hết sẽ được thoát khỏi việc xét xử (x.Gc 2,13). Ngày sau hết không ai biết trước được, ngay cả các thiên sứ trên trời hay Con Người cũng không biết, chỉ có Chúa Cha biết mà thôi (x.Mc 13,32). Vậy, dấu hiệu nào để nhận ra ngày ấy?
Trong Tin Mừng Mác cô, Chúa Giê-su đã nói với các môn đệ về ngày quang lâm của Ngài rằng: “Trong những ngày ấy, sau cơn gian nan lớn lao, thì mặt trời sẽ ra tối tăm, mặt trăng không còn chiếu sáng. Các ngôi sao từ trời sa xuống, và các quyền lực trên trời sẽ bị lay chuyển” (Mc 13,24-25). Ngày ấy, tất cả mọi thứ trên trái đất không hiện hữu nữa. Ngày ấy, Thiên Chúa sẽ xuất hiện đầy quyền năng, vinh quang ngự trong đám mây mà đến xét xử kẻ lành người dữ (x.Mc 13,26). Lúc ấy, những lời Thiên Chúa nói tới là sự yêu thương và bác ái của con người với nhau mà thôi. Thế ai sẽ là người tốt lành, là người sẽ hưởng hạnh phúc trên Nước Trời? Thật không ai biết rõ ai đáng được hạnh phúc trên Nước Trời ngoại trừ chính Thiên Chúa và bản thân mỗi người. Cuộc sống trần gian là thời gian, là cơ hội cho mỗi người mua lấy hạnh phúc Nước Trời. Trong các vị Tử Đạo, có những người mang thân phận là thị vệ, là Giáo dân, là quân lính,…nhưng vẫn trung thành với Chúa trong tất cả mọi nghịch cảnh, dù là gông cùm, bá đao, xử giảo,… các vị đã từ giã gia đình và động viên những người thân hãy vững tin vào Chúa luôn. Đi tới đâu, ở đâu, lúc nào, các vị đều đem niềm tin đến cho mọi người. Nhất là những giây phút đứng trước bản án, các vị vẫn luôn xác tín niềm tin vào Chúa. Thánh Phaolô Tống Viết Bường là thị vệ đã nói với quan lớn rằng: “Quan lớn có lòng thương thì tôi đội ơn quan lớn nhưng xin quan lớn để tôi được giữ trọn chữ trung với Đức Chúa Trời là Thiên Chúa tôi thờ”.
Ngày nay, tuy không có cuộc bách đạo hiên ngang, nhưng có những cuộc chiến âm thầm làm cho niềm tin của mọi người nơi Thiên Chúa bị lung lay. Mọi người dễ rời vào niềm tin ở sức mình hơn mà thiếu niềm tin vào Thiên Chúa quyền năng. Từ đó, mọi người bị lôi cuốn vào cuộc sống tinh thần thế gian. Cuộc sống theo tinh thần thế gian là cuộc sống vị kỷ, hưởng thụ, mặc kệ người khác, không còn biết ai ngoài chính mình,… Ngoài ra, mỗi người dễ có suy nghĩ rằng tự do là một cuộc sống không có bó buộc dưới một quyền bính của ai. Và từ đó khiến cho mọi người sống cuộc sống dễ dãi, chìm ngập trong bóng tối mà không biết lối thoát ra để rồi phải chịu xét xử trước mặt Thiên Chúa trong ngày Chúa quang lâm. Còn Thiên Chúa, Ngài đâu có đòi hỏi mỗi người điều gì khác ngoài việc kính sợ Đức Chúa, đi theo đường lối của Ngài, yêu mến và phụng thờ Thiên Chúa hết lòng hết dạ (x.Đnl 10,12) và yêu người thân cận như chính mình.
Lạy Chúa, như lời Ngài đã nói: “Trời đất sẽ qua đi, nhưng những lời Thầy nói sẽ chẳng qua đâu”. Xin cho mỗi người chúng con biết phân định cuộc sống đích thực bền vững khi và chỉ khi thực hiện điều Chúa dạy. Xin cho chúng con luôn chuẩn bị tâm hồn sẵn sàng để khi Chúa đến hân hoan bước theo Chúa về hưởng phúc cùng với các Thánh trên Nước Trời. Amen.

 

24/11-186: THUỘC VỀ THIÊN CHÚA

Bông hồng nhỏ
 

Cuộc sống con người cần những tương quan. Ai cũng thuộc về một nơi nào đó, và ở đấy họ tìm 24/11-186

Cuộc sống con người cần những tương quan. Ai cũng thuộc về một nơi nào đó, và ở đấy họ tìm thấy vị trí của mình, tìm thấy hạnh phúc cho cuộc đời. Niềm hạnh phúc nhất của con người là khi họ biết mình được thuộc trọn về Thiên Chúa và được Thiên Chúa yêu thương.
Thầy Giê-su đã nói về cuộc tuyển chọn đặc biệt trong ngày Con Người quang lâm. Khi những điềm lạ xảy ra: “Mặt trời sẽ ra tối tăm, mặt trăng không còn chiếu sáng, các ngôi sao từ trời sa xuống, và các quyền lực trên trời bị lay chuyển, bấy giờ thiên hạ sẽ thấy Con Người đầy quyền năng và vinh quang ngự trong đám mây mà đến” (x.Mc 13,24-26). Ai sẽ được Người tuyển chọn? Thầy Giê-su đã từng tuyển chọn các môn đệ, đặc biệt là Thầy tuyển chọn các Tông đồ không theo tiêu chuẩn của người đời nhưng vì lòng thương xót của Thiên Chúa, để các ông trở thành những trợ tá đắc lực, trở thành những chứng nhân của Chúa Phục Sinh. Nhưng trong ngày Con Người quang lâm, Thiên Chúa sẽ tuyển chọn những ai đã can đảm sống và làm chứng cho Chúa. Thiên Chúa mời gọi con người cộng tác vào chương trình cứu độ của Ngài. Thiên Chúa vẫn cho mưa xuống trên cả người công chính lẫn người bất chính và Ngài kiên nhẫn chờ đợi họ đón nhận lòng thương xót của Ngài. Đón nhận tình thương vô bờ bến của Thiên Chúa cũng đồng nghĩa với việc ta sẵn sàng yêu thương người thân cận (x.Lc 10,29-37). Nếu ta thật sự yêu Chúa, gắn bó với Chúa và đặt trọn niềm hy vọng nơi Chúa thì chính Chúa sẽ dẫn đưa ta vào chung hưởng hạnh phúc với Chúa ở đời sau, mà ngay ở đời này ta đã có sự an bình trong tâm hồn. Như đứa con thơ chạy đến bên cha hiền và níu chặt lấy tay cha, cha sẽ dắt nó đi và khi nó mệt mỏi, cha sẽ bế nó trên tay hay cõng nó trên lưng, Thiên Chúa cũng yêu ta rất cụ thể như thế. Bởi vì đứa con biết nó là con yêu của cha và nó thuộc về cha. Ở bên cha, đứa con chẳng phải sợ gì. Thiên Chúa còn hơn thế nữa. Ngài đã cứu chuộc ta bằng chính giá máu châu báu của Con yêu dấu và chẳng muốn một ai phải hư mất (x.Ga 17,120. Ta được sinh ra là để thuộc về Thiên Chúa, được ở trong Thiên Chúa, được nên một như lời cầu nguyện của Thầy Giê-su: “Con không chỉ cầu nguyện cho những người này nhưng còn cho những ai nhờ lời họ mà tin vào con, để tất cả nên một như Cha ở trong con và con ở trong Cha để họ cũng ở trong chúng ta” (x.Ga 17,20-21). Như vậy, ta không chỉ được cứu độ một mình nhưng cùng với anh chị em mình. Nghĩa là ơn gọi nên thánh vừa dành riêng cho mỗi người và mỗi người lại giúp nhau nên thánh bằng lời cầu nguyện và gương sáng.
Lạy Chúa! Cảm tạ Chúa đã cho con biết con được Chúa yêu. Chúa lại ban cho con những tấm gương sáng ngời là các Thánh Tử Đạo, đặc biệt là các Thánh Tử Đạo Việt Nam để nhờ lời chuyển cầu và gương sáng của các ngài, con vững lòng trông cậy Chúa. Xin cho con nhớ rằng “mọi sự sẽ qua đi nhưng Thiên Chúa còn mãi” như lời Thánh Têrêsa Avila đã nhắn nhủ. Chính Chúa cũng hằng dạy dỗ con, nuôi dưỡng con luôn. Xin cho Đức tin của con nên hành động cụ thể để cho Danh Chúa được cả sáng. Amen.

 

24/11-187: SUY NIỆM CHÚ GIẢI LỜI CHÚA

Lm. Inhaxiô Hồ Thông
Kn 3: 1-9
 

Lửa thử vàng, gian nan thử đức”. Các thánh tử đạo là những người công chính đã được Thiên Chúa 24/11-187

“Lửa thử vàng, gian nan thử đức”. Các thánh tử đạo là những người công chính đã được Thiên Chúa tôi luyện như vàng trong lò lửa và “thấy họ xứng đáng với Ngài”. Họ là những người làm chứng cho lòng tin ở Chúa. Lòng tin ấy sẽ “rực sáng như tia lửa bén nhanh giữa rừng sậy”.
1Cr 1: 17-25
Giáo Hội Việt Nam hôm nay hân hoan mừng Các Thánh Tử Đạo Việt Nam. Trong hàng ngũ các ngài, ngoài các vị là giám mục, linh mục, đa số là giáo dân. Các ngài không phải là những bậc khôn ngoan thông thái, nhưng các ngài là những chứng nhân cho “Đức Ki-tô bị đóng đinh vào Thập Giá”. Vì thế, Thiên Chúa đã chọn các ngài, những người mà thế gian coi như điên rồ, được hưởng phúc trên Nước Trời.
Mt 10: 17-22
Các Thánh Tử Đạo Việt Nam đã lần lượt bị điệu đến quan quyền để làm chứng cho đức tin. Đa số các ngài là những dân quê hiền lành chất phát, nhưng ơn Chúa đã giúp các ngài đối diện với vua quan, đã dạy các ngài phải nói gì, và cuối cùng các ngài đã bền vững trong lòng tin vào Chúa, nên gương sáng cho cháu con hôm nay. Quả thật, như lời của thánh Âu-gút-tin: “Trên mảnh đất đã gieo nhiều hạt giống đẫm máu, mảnh đất đó càng phát sinh nhiều vị tử đạo, và rồi hạt giống đó sẽ kết thành mùa lúa vàng của Giáo Hội. Các thánh tử đạo chết đi càng là chứng nhân cho Chúa Ki-tô hơn là lúc còn bình sinh. Ngày nay các ngài vẫn còn đang nói, vẫn còn đang giảng thuyết. Miệng lưỡi tuy im bặt, nhưng bao nhiêu sự việc còn vang dội sâu xa”.
BÀI ĐỌC I (Kn 3: 1-9)
Những khẳng định của sách Khôn Ngoan đánh dấu một khúc quanh quan trọng về cuộc sống mai sau của con người. Chúng kết thúc thời gian dài các nhà tư tưởng Do thái do dự về số phận của những người công chính ở bên kia nấm mồ. Vấn đề thưởng phạt thường được nêu lên suốt nhiều thế kỷ mà không có giải pháp thỏa đáng nào.
Quan niệm Cựu Ước về sự sống lại
Trong lịch sử dài này, tư tưởng chiếm ưu thế đó là “nhân quả”: “ở hiền gặp lành”, “gieo gió gặp bảo” ngay trong cuộc đời tại thế. Người công chính vui hưởng những hoa quả công đức của mình như phúc, lộc, thọ, trong khi bọn ác nhân không sớm thì muộn sẽ phải đón nhận những tai ương hoạn nạn: lưới trời lồng lộng, không ai có thể thoát được. Quan niệm về thưởng phạt ngay từ cõi đờinàyphát xuất từ một niềm tin quá bi quan và yếm thế về cuộc sống mai hậu. Tất cả mọi người, dù thiện hay ác, khi từ giã cõi đời này đều cùng chung một số phận, bị giam cầm trong cõi Âm Ty, ở đó không còn gì ngoài bóng tối âm u.
Nhưng kinh nghiệm thường ngày: “những đều trong thấy mà đau đớn lòng”, cực lực phản bác viễn cảnh thưởng phạt ngay từ cuộc đời trần thế này. Sách Gióp (khoảng thế kỷ thứ 6-5 Tcn) xao xuyến nêu lên vấn đề “họa vô đơn chí” giáng xuống trên người công chính. Quả thật, các ngôn sứ đã tuyên xưng rằng số phận của người công chính khác với bọn ác nhân ở bên kia nấm mồ. Các thánh vịnh gia công bố rằng người công chính sẽ được hưởng hạnh phúc vinh hiển trước Nhan Thiên Chúa muôn đời (Tv 16, 17, 49, 73).
Tiếp đó, niềm tin vào kẻ chết sống lại vào ngày chung thẩm xuất hiện. Vào thời vua An-ti-ô-khô Ê-pi-pha-nê bách hại dân Do thái thật khủng khiếp, những người tử đạo chết trong khi tuyên xưng niềm tin của mình vào một cuộc sống mai hậu (2Mcb 7: 1-38).
Tác giả sách Khôn Ngoan còn đi xa hơn nữa. Ông thấy niềm tin của người Hy lạp vào sự bất tử của linh hồn như một sự củng cố cho niềm hy vọng vào sự sống lại mai hậu của dân Do thái, dù vẫn còn tiềm tàng hay rụt rè. Nhưng ông cũng nhận ra rằng tư tường Hy lạp này không hoàn toàn tương xứng với tư tưởng Kinh Thánh. Quả thật, người Hy lạp đề cao linh hồn đến mức xem thường thân xác được ví như một thứ hình hài tạm bợ, đáng khinh bĩ, mãi mãi sẽ bị vứt bỏ sau khi chết.
Quan niệm sai lầm về con người
Trong đoạn văn trước đó (ch. 2), tác giả sách Khôn Ngoan đã phản bác quan niệm duy vật sai lầm về con người: sinh ra là một sự ngẫu nhiên, sống chỉ là cho qua ngày đoạn tháng. Khi hơi thở biến mất, cuộc sống tan biến như mây khói; tư tưởng như ngọn lửa bên trong vụt tắt, thân xác chỉ còn tro bụi. Theo quan niệm duy vật này, không có chỗ nào được dành cho Đấng Tạo Hóa và Quan Phòng của Ngài.
Sách Khôn Ngoan được viết vào giữa thế kỷ thứ nhất trước Công Nguyên ở A-lê-xan-ri-a cho những đồng bào của mình, họ đang bị những sức hấp dẫn của nền văn minh ngoại giáo chung quanh cám dỗ. Số lượng người bội giáo (tác giả gọi “quân vô đạo”) đáng lo ngại. Theo tác giả, uy thế của triết học và các tôn giáo khác, dù hệ thống học thuyết có mê hoặc lòng người đến đâu đi nữa, cũng không thể nào biết được sự hiện hữu của một Thiên Chúa ngôi vị, Đấng có một kế hoạch riêng biệt cho con người và là một Thiên Chúa tình yêu. Đối lập với quan niệm vô tri và duy vật nầy, tác giả mô tả quan niệm đích thật về con người mà Thiên Chúa đã mặc khải.
Quan niệm đích thật về con người
Ở trung tâm tiến trình lập luận của mình, tác giả đã đặt Mặc Khải thiết yếu nhất liên quan đến con người: “Họ được Người dựng nên làm hình ảnh của bản tính Người” (2: 23) như chúng ta đọc thấy trong sách Sáng Thế: “Thiên Chúa làm ra con người theo hình ảnh Ngài, giống như Ngài” (St 1: 26). Vì thế, Thiên Chúa đã sáng tạo con người cho họ được trường tồn bất tử. Từ đó, tác giả khai triển những viễn cảnh vinh quang đang chờ đợi những người đức hạnh vẹn toàn, sống một đời thánh thiện: “Linh hồn người công chính ở trong tay Thiên Chúa; họ đang hưởng an bình”.
Tất cả những khai triển này mang đậm nét Kinh Thánh, đặc biệt được gợi hứng từ các chương đầu tiên của sách Sáng Thế, không liên hệ gì đến triết học nhị nguyên của Platon. Lập luận chủ yếu của tác giả căn cứ trên Mặc Khải. “Linh hồn” mà tác giả nói đến ở đây không là linh hồn bất tử ở trong một thân xác hủy hoại theo Nhị Nguyên triết thuyết Hy lạp, nhưng là nephesh, “sinh khí của Thiên Chúa” (St 2: 7).
Từ nay, vấn đề sự chết và đau khổ được soi sáng. Cái chết không còn là án phạt nữa nhưng là ngưỡng cửa bước vào cõi trường sinh bất tử. Đau khổ là một sự thử thách như “lửa thử vàng, gian nan thử đức” nhằm tôi luyện cuộc đời của các tôi trung của Thiên Chúa thành “của lễ toàn thiêu” .
Vinh quang chung cục
“Khi đến giờ được Thiên Chúa viếng thăm, họ sẽ rực sáng như tia lửa bén nhanh khắp rừng sậy”. “Thiên Chúa viếng thăm” là diễn ngữ kinh thánh, tức là một sự can thiệp chứa chan ân tình của Thiên Chúa như trong những lời trăn trối sau cùng của tổ phụ Giu-se cho các anh em mình: “Thế nào Thiên Chúa cũng viếng thăm anh em” (St 50: 24), nghĩa là Ngài sẽ ban cho anh em muôn vàn ân phúc của Ngài. Tác giả sách Khôn Ngoan nhắm đến việc Thiên Chúa sẽ tỏ mình ra vào thời cánh chung. Những người công chính sẽ rực sáng vinh quang, Thiên Chúa sẽ đặt họ “xét xử muôn dân và thống trị muôn nước”, nghĩa là đức hạnh của người công chính sẽ chiến thắng ác tâm quỷ quyệt của quân vô đạo. Chính trong chiều hướng này mà thánh Phao-lô viết cho các tín hữu Cô-rin-tô: “Nào anh em chẳng biết rằng dân thánh sẽ xét xử thế gian sao?” (1Cr 6: 2) và sách Khải Huyền viết:“Ai thắng và giữ cho đến cùng các việc Ta truyền, Ta sẽ ban cho người ấy quyền cai trị các dân” (Kh 2: 26). Đức Giê-su sẽ sử dụng diễn ngữ tương tự để xác định vị thế các môn đệ Ngài trong Nước Trời: “Khi Con Người ngự trên ngai vinh hiển của Ngài, các anh cũng vậy, những người đã theo Thầy, ngự trên mười hai ngai tòa để xét xử mười hai chi tộc Ít-ra-en”.
Thiên Chúa là tình yêu, ân phúc và từ tâm
Niềm hy vọng lớn laonàyđược đặt để vào tình yêu, ân phúc và từ tâm của Thiên Chúa. Chính ở nơi tình yêu, ân phúc và từ tâmnàymà những người công chính sống. “Những ai trông cậy vào Chúa sẽ am tường sự thật, và những ai trung thành thì được Chúa yêu thương và cho ở gần Người, vì Người ban ân huệ, và thương xót những ai được Người tuyển chọn”. Lời kết thúc của Bài Đọc Inàyđược viết trước các sách Tin Mừng một thế kỷ, loan báo sứ điệp rất gần với sứ điệp Tin Mừng. Có một tiến trình liên tục từ Mặc Khải Cựu Ước đến Mặc Khải Tân Ước.
BÀI ĐỌC II (1Cr 1: 17-25)
Bài Đọc II, trích từ thư thứ nhất của thánh Phao-lô gởi cho các tín hữu Cô-rin-tô vào Lễ Các Thánh Tử Đạo Việt Nam, được cấu trúc rất chặc chẽ. Tuy nhiên, cần phải đặt nó vào trong văn mạch để hiểu rõ hơn tư tưởng của thánh nhân.
Xin nhắc lại ngắn gọn: cộng đoàn tín hữu Cô-rin-tô chia rẽ nhau về các vị rao giảng của họ, tạo nên các bè phái ở giữa họ. Cực lực chống lại việc chia năm xẻ bảy nầy, thánh Phao-lô lớn tiếng chỉ trích cách hành xửnàykhông phù hợp với tinh thần Tin Mừng.
Sự khôn ngoan của thế gian (1: 17-21)
Đáp lại những kẻ tự phụ mình “thông thái”, thánh nhân nhắc nhở rằng ngài đã rao giảng cho họ không phải bằng lời lẽ khôn khéo, nhưng sự điên rồ của thập giá trái với đòi hỏi điềm thiêng dấu lạ của người Do thái và tìm kiếm lẽ khôn ngoan của người Hy lạp.
Dân Do thái chờ đợi một Đấng Mê-si-a thực hiện những điềm thiêng dấu lạ, một Đấng Mê-si-a quyền năng và chiến thắng. Dân Hy lạp tìm kiếm lẽ khôn ngoan, tức là một cuộc sống quân bình, mực thước và điều độ, không có nó không một xã hội nào có thể bền vững được. Đó là điều mà tất cả mọi hệ thống triết học đều đề cao.
Hai quan niệm, Do thái và Hy lạp, rất khác biệt nhau, nhưng không có quan niệm nào phù hợp với hình ảnh Thập Giá được.
Trong hoạt động truyền giáo của mình, thánh Phao-lô đã gặp phải hai chướng ngại này. Biết bao người Do thái đã không thể chấp nhận Đấng Mê-si-a chịu khổ nhục trên thập giá. Ở An-ti-ô-ki-a, ở Thê-xa-lô-ni-ca và những nơi khác, thánh Phao-lô đã bị những người Do tháinàybách hại.
Còn đối với dân Hy lạp và sự khôn ngoan của họ, thánh Phao-lô đã chạm trán với họ ở A-thê-na. Thánh nhân cố gắng thuyết phục họ nhưng vô ích. Họ mong chờ những bài diễn từ lời hay ý đẹp, trong khi thánh nhân rao giảng một con người thập toàn bị đóng đinh trên thập giá. Quả thật, bản văn cho thấy rằng việc rao giảng Thập Giá khó lòng mà thuyết phục con người. Đối với người Hy lạp, ưu phẩm hàng đầu của một vị thần chính là Mỹ, vì thế Đấng chịu đóng đinh không ra hình tượng con người không thể nào sánh ví với hình ảnh của một vị thần linh.
Sự khôn ngoan của Thiên Chúa (1: 22-25)
Nhưng Thập Giá không là một bài diễn từ lời hay ý đẹp, nhưng là một sự kiện, một sự kiện lạ thường, ở đó ẩn dấu sự khôn ngoan của Thiên Chúa, hoàn toàn khác với những kỳ vọng của con người.
Trong thư thứ nhất gởi cho các tín hữu Cô-rin-tô, một trong những bài học lớn lao đó là: “dạy mầu nhiệm đau khổ như một yếu tố cốt yếu của Tin Mừng”. Chung chung, thần học của thánh Phao-lô không bao giờ tách rời biến cố Tử Nạn ra khỏi mầu nhiệm Phục Sinh. Tuy nhiên, đây là trường hợp ngoại lệ và có chủ đích. Đối mặt với sự tự mãn của con người, thánh nhân nhấn mạnh hình ảnh độc nhất về “Đức Ki-tô chịu đóng đinh”.
TIN MỪNG (Mt 10: 17-22)
Mặc dù đoạn Tin Mừng dành cho ngày đại lễ Các Thánh Tử Đạo Việt Nam được trích từ Mt 10: 17-22, nhưng để hiểu sâu xa đoạn Tin Mừng này chúng ta sẽ đặt nó vào trong toàn bộ phân đoạn của nó, nghĩa là từ 10: 17-25. Đây là phân đoạn thứ hai về những huấn thị bách hại (10: 17-25) được phân biệt rõ nét với phân đoạn thứ nhất về những huấn thị truyền giáo (10: 1-16).
Phân đoạn thứ nhất nêu bật chủ đề uy quyền hay quyền năng phi thường mà Đức Giê-su ban cho những ai mà Ngài sai đi loan báo Nước Trời. Trong phân đoạn nầy, không có bất kỳ ám chỉ chính xác nào về đau khổ. Thật ra, đoạn văn 10: 13b-16 ám chỉ đến việc người đời có thể không tiếp đón các môn đệ (10: 13b-15) và cảnh báo rồi những hiểm nguy đang rình rập chờ đón họ: “Thầy sai anh em đi như chiên vào giữa bầy sói” (10: 16). Tuy nhiên, những đối kháng này vẫn mơ hồ và một bầu khí chiến thắng xem ra phải ngự trị trên hoạt động truyền giáo.
Khởi đi từ 10: 17, những huấn thị được đặt trên một dấu nhấn hoàn toàn khác: những cuộc bách hại sắp đến. Các môn đệ không chỉ bị thù ghét, nhưng những thử thách sắp tới của họ được mô tả một cách chính xác đến nỗi chúng ta có thể định vị môi trường của chúng nữa. Chúng ta có thể phân chia phân đoạn thứ hainàythành: cuộc bách hại ngoài xã hội (10: 17-20), cuộc bách hại trong gia đình (10: 21-22), thái độ cần phải có trong hoàn cảnh bách hại (10: 23) và phần kết luận (10: 24-25) cho toàn bộ phân đoạn thứ hai này (10: 17-25).
Cuộc bách hại ngoài xã hội (10: 17-21):
Phần mở đầu của câu 17: “Hãy coi chừng người đời” lập lại chủ đề về sự cẩn trọng của câu 16 nhưng với những thuật ngữ hoàn toàn khác. Động từ “coi chừng” mặc lấy hai nét nghĩa: hoặc bác bỏ, từ chối điều gì đó (như 7: 15; 16: 6) hay đề phòng cảnh giác trong hoàn cảnh khó khăn nào đó (như 6: 1). Văn mạch nhấn mạnh đến nét nghĩa thứ hai: Đức Giê-su không khuyên các môn đệ của Ngài nên trốn chạy khỏi “người đời” nhưng trong những gặp gỡ của họ với người đời, nên giữ mình khỏi mọi ảo tưởng. Họ đừng quên rằng Thầy của họ đã bị những người đời này tìm cách khai trừ, loại bỏ. Phần tiếp theo của câu 17 cho thấy rằng “người đời” này không ai khác là người Do thái: “Họ sẽ nộp anh em cho các hội đường và sẽ đánh đập anh em trong các hội đường của họ”.
Tuy nhiên, câu 18 cho thấy bối cảnh của cuộc bách hại có thể vừa ở trong xứ Pa-lét-tin nhưng cũng vừa ở bên ngoài xứ Pa-lét-tin. Nhưng dù trong hoàn cảnh nào, các Ki tô hữu đừng quên rằng những cách hành xử đầy bạo lực này có một ‎ ý nghĩa, đó là dịp là cơ hội “làm chứng cho họ và các dân ngoại được biết” về Đức Ki-tô và Nước Thiên Chúa. Lời chứng này nêu bật tính chất vừa công chúng vừa chính trị nữa. Các vua chúa và dân chúng có dịp nghe nói về Đức Giê-su và Nước Trời.
Câu 19-20 là lời hứa của Đức Giê-su cho các môn đệ trong hoàn cảnh bị bách hại. Chính vì làm chứng cho Thầy mình mà họ không cần lo nghĩ phải nói gì, vì trong giờ đó Thiên Chúa sẽ ban cho họ Thần Khí để giúp họ như Thiên Chúa đã phán với ông Mô-sê: “Chính Ta sẽ ngự nơi miệng ngươi, và Ta sẽ chỉ cho ngươi phải nói gì” (Xh 4: 12).
Câu 20: “Thật vậy, không phải chính anh em nói, mà là Thần Khí của Cha anh em nói trong anh em”, mới nhìn thoáng qua, khiến nghĩ đến một sự gợi hứng máy móc loại bỏ tất cả sự dự phần của chứng nhân. Nhưng không phải như thế; trái lại hai cụm từ “anh em” và “trong anh em” nhấn mạnh rằng ân huệ này được ban cho các chứng nhân không như những khí cụ thụ động nhưng còn ở trong họ và bởi họ nữa.
Cuộc bách hại ngay trong gia đình (10: 21-22)
Song đối với 10: 17-20 ở trên, các câu 10: 21-22 bao gồm một lời cảnh báo về cuộc bách hại và một lời hứa. Câu 21 cảnh báo rằng ngay cả những người thân thuộc trong gia đình cũng sẽ tố cáo họ vì họ dám chấp nhận cái chết để tin vào Đức Giê-su. Còn câu 22 đề cập đến việc họ sẽ bị mọi người thù ghét vì Ngài nhưng hứa rằng những ai bền đỗ đến cùng sẽ được cứu độ.
Thái độ phải có trong hoàn cảnh bách hại (23)
Câu 23 diễn tả thái độ phải có trong hoàn cảnh bị bách hại. Người Ki tô hữu không phải đưa thân mình ra cho những kẻ bách hại mình, nhưng “khi người ta bách hại anh em trong thành nầy, thì hãy trốn chạy sang thành khác”, bởi vì nếu thành này xua đuổi họ đi thì có thành khác để loan báo Tin Mừng. Như vậy, sứ mạng loan báo Tin Mừng vẫn phải là bổn phận cho đến cùng.
Phần kết luận (10: 24-25)
Hai câu 24-25 là phần kết luận của phân đoạn này. Các môn đệ của Đức Giê-su không mong đợi một vận mệnh nào khác ngoài vận mệnh của Thầy mình, Đấng bị khinh bỉ, bị ruồng bỏ, bị khai trừ và cuối cùng bị án tử trên thập giá. Thầy và trò, chủ và tớ được đặt vào trong cùng một số phận: “Trò được như Thầy, tớ được như chủ”. Tuy nhiên, diễn ngữ này không giới thiệu một sự so sánh nhưng là căn tính về vận mệnh trần thế giữa Thầy và trò. Nếu cả hai đều chia sẽ cùng một vận mệnh: đau khổ, bị bách hại và bị án tử, điều đó không muốn nói rằng Thầy khai mở cho môn đệ của mình sống lại cuộc mạo hiểm mà chính Thầy đã kinh qua. Cả hai giống nhau trong những diễn biến bên ngoài nhưng lại khác nhau trong ý nghĩa và tầm mức. Đau khổ của Đức Giê-su là đau khổ của Đấng ở nơi Ngài Nước Thiên Chúa đã đến gần (10: 7) trong khi đau khổ của người môn đệ là đau khổ của một chứng nhân về Nước Thiên Chúa này (10: 18).

 

24/11-188: CHẾT YÊU

Lm. Thái Sơn
 

Gần đây, đám trẻ choai choai sồn sồn, quần mặc chỗ rách chỗ lành, tóc nhuộm nửa đỏ nửa xanh 24/11-188

Gần đây, đám trẻ choai choai sồn sồn, quần mặc chỗ rách chỗ lành, tóc nhuộm nửa đỏ nửa xanh… đã khao tin các kiểu chết. Bần đạo góp nhặt được và xin chia sẻ với các bạn nhé.
Chết vì “riệu” là cái chết “sành điệu”.
Chết vì “yêu” là cái chết “liêu xiêu”.
Chết vì “gái” là chết rất “thoải mái”.
Chết vì “tình” là cái chết bất “thình lình”.
Chết vì “lười” là cái chết rất “buồn cười”.
Chết vì “học” là cái chết rất “vàng ngọc”.
Chết vì “sầu” là cái chết rất “ngầu”.
Chết vì “ghen” là cái chết “nhỏ nhen”.
Chết vì “chơi” là cái chết “thảnh thơi”.
Chết vì “bệnh” là cái chết “bực mình”.
Chết vì “hận” là cái chết “lận đận”.
Chết vì “nợ” là cái chết “đáng sợ”…
Thưa các bạn!
Chết là chuyện bình thường và đương nhiên sẽ xảy đến với bất kỳ ai. Có sinh ra thì có chết đi, không ai chối cãi hay tránh né được.
Chết thế nào, chết ra sao, chết vì lý tưởng nào, chết vì mục đích nào?… Chết mà vẫn sướng (sướng chết), chứ không phải tức mà chết (tức chết)…
Chết sao cho có ý nghĩa, đúng mục đích, và trong thương mến: “Khi ta sinh ra, mọi người cười còn ta thì khóc. Khi ta chết đi rồi, mọi người khóc còn ta thì cười!”.
Chết vì những chuyện “không nên”, “không phải”, “không đáng”… là những cái chết “hư không” thì không nên chết, không phải chết, không đáng chết…
Bài đọc 2, lễ các thánh Tử Đạo, thánh Phaolô dạy, chỉ có kết hợp với tình yêu Chúa mà thôi: “Dù sự chết hay sự sống cũng không tách chúng ta khỏi tình yêu của Thiên Chúa” (Rm 8,38-39).
Trong Tin Mừng Chúa Nhật 33 Thường Niên B, Đức Giêsu nói với các môn đệ về ngày “quang lâm” của Người (Mc 13,24).
Phải chăng, ngày quang lâm là ngày Chúa đến phán xét mỗi người, và cũng là ngày chết của từng người? Ngày và giờ đó thì không ai biết được (Mc 13,32).
Thưa các bạn!
Nếu không biết “ngày & giờ” Chúa đến, thì tốt nhất nên thức tỉnh chuẩn bị, như canh giữ nhà cửa luôn luôn, không để kẻ trộm đào ngạch khoét vách chui vào lấy đồ.
Nhà cửa có lẽ là tâm hồn và cõi lòng của “bạn & tôi”, cần được canh giữ và trong tư thế chuẩn bị hay thái độ sẵn sàng, như đèn có dầu đầy đủ, hầu thắp sáng lên để đón chàng rể đến bất cứ lúc nào…
Có thể nói, “nhà cửa & dầu đèn” của các thánh Tử Đạo Việt Nam luôn luôn sẵn sàng, bất cứ “ngày & giờ” nào Chúa mời gọi, để ra đi & làm chứng cho Chúa, bằng chính mạng sống của mình.
Xác tín, chết vì yêu Chúa là cái chết mang lại sự sống, sự sống chân thật, sự sống vĩnh cửu, sự sống đời đời… “Không có tình yêu nào lớn hơn tình yêu của người thí mạng vì bạn hữu mình” (Ga 15,13).
Ước gì, “bạn & tôi” biết noi gương các thánh Tử Đạo, không tham sống sợ chết, chẳng ngại “ngày & giờ” nào, cách chết nào, kiểu chết nào… vẫn can đảm chết vì yêu Chúa. Nếu chết vì yêu Chúa, thì sẽ được Chúa yêu. Tạm gọi là “chết yêu”, không phải là cái chết “liêu xiêu”, mà là của lễ “toàn thiêu” dâng lên Thiên Chúa. Amen

 

24/11-189: BỊ BÁCH HẠI VÌ SỐNG CÔNG CHÍNH

Lm. Gioan Nguyễn Văn Ty
 

Bài Tin Mừng được chọn để đọc trong ngày lễ kính Các Thánh Tử Đạo được trích từ bài giảng 24/11-189

Bài Tin Mừng được chọn để đọc trong ngày lễ kính Các Thánh Tử Đạo được trích từ bài giảng trên núi chương 05 Phúc Âm Mát-thêu, mà chúng ta vẫn quen gọi là ‘Tám Mối Phúc’; mối phúc cuối cùng trong danh sách đó là: “Phúc thay ai bị bách hại vì sống công chính, vì Nước Trời là của họ’. Trong sách Tin Mừng Lu-ca chương 06, dù chỉ đề cập tới có 04 mối phúc, nhưng mối phúc sau chót cũng vẫn nói tới cùng một điều này là: “Phúc cho anh em khi vì Con Người mà bị người ta oán ghét, khai trừ, sỉ vả và bị xóa tên như người xấu xa. Ngày đó anh em hãy vui mừng nhảy múa vì này đây phần thưởng dành cho anh em ở trên trời thật lớn lao.” (Lc 6:22) Phải chăng đó là lý do tại sao các Ki-tô hữu từ thời xa xưa đã dành cho các vị anh hùng tử đạo một sự mừng kính đặc biệt trân trọng; họ gán cho các ngài danh hiệu cao quý là Chứng Nhân Tin Mừng (Martyrs). Ngày nay trong tư cách con cháu của các Anh Hùng Tử Đạo, chúng ta muốn thực sự tìm hiểu các vị tử đạo nói chung, và Các Thánh Tử Đạo Việt Nam nói riêng, đã là các chứng nhân Tin Mừng như thế nào? Ta cần biết: khi tiến ra pháp trường để bị trảm quyết các ngài đã thật sự trung kiên bảo vệ điều gì; và ở điểm nào các ngài thực sự liên quan tới người Công Giáo Việt Nam chúng ta đang sống trong xã hội hôm nay?
Trong tiếng Việt, chữ ‘đạo’ thường được chúng ta sử dụng để nói tới một đạo giáo, một tôn giáo, như Đạo Phật, Đạo Hồi, Đạo Lão, Đạo Ông Bà, Đạo Thiên Chúa… Thế nhưng theo nguyên ngữ hán-nôm, ‘đạo’ là con đường, là lẽ sống, là học thuyết… dẫn tới mục đích tối hậu của cuộc sống, chẳng hạn đạo Khổng, đạo hiếu, đạo làm người. Đức Giê-su đã tự giới thiệu mình “là đường, là sự thật và là sự sống”; nếu nói theo từ vựng hán nôm Người sẽ phải tuyên bố: Người chính là ‘đạo, chân, sinh’. Vậy thì, trong cả phúc âm Mát-thêu lẫn Lu-ca, khi đề cập tới mối phúc chót này, Đức Giê-su chắc chắn không hề có ý muốn tuyên bố ‘phúc thay’ những ai dám chết cho một đạo giáo hay tôn giáo, nhất là hiểu dưới khía cạnh cơ cấu tổ chức của tôn giáo đó. Điều mà Đức Giê-su muốn biểu dương là: tất cả mọi hình thức ‘bị bách hại’, ‘bị người ta oán ghét, khai trừ, sỉ vả và bị xóa tên như người xấu xa…’ đều là ‘phúc’ vì một yếu tố duy nhất, đó là ‘vì sống công chính’, hay rõ hơn: ‘vì Con Người’.
Tới đây tôi gợi nhớ lại tư tưởng bài suy niệm về đoạn Tin Mừng Lc 18:9-14 của Chúa Nhật XXX thường niên năm C: ‘Đối với Đức Giê-su, ai mới là công chính?’ Nếu đã có một nền công chính của Cựu Ước tóm gọn trong luật Mô-sê để bẩy anh em nhà Ma-ca-bê, vị bô lão Ê-lê-a-da, và Gio-an Tiền Hô vì trung thành với nó, đã buộc phải gánh lấy cái chết…; ‘các ngôn sứ là những người đi trước anh em cũng bị người ta bách hại như thế’, thì riêng với Ki-tô hữu sẽ có một thứ công chính mới được chính Đức Giê-su công bố. Nói đúng ra: chính Người là hiện thân của nền công chính đó, sự công chính của Thiên Chúa từ nhân, công chính của tình yêu tha thứ và cứu độ. Ai đón nhận và sống Tin Mừng này, tức là ‘Vì Con Người’ như Người khảng định, để rồi ‘bị bách hại’ hay chịu thua thiệt dưới bất cứ hình thức nào, đều là những người được Đức Giê-su biểu dương; những ai bị giết chết vì nền công chính mới này thì phải được chính Đức Ki-tô và toàn Nhiệm Thể Người tuyên phong ‘chứng nhân’ (martyr). Chính vì thế mà Hội Thánh ngay từ buổi sơ khai và qua mọi thời đại, đã có thói quen phong thánh cho các vị anh hùng ‘tử vì đạo’; qua việc đó Giáo Hội muốn tuyên bố rằng: các anh chị em tín hữu này là chứng nhân cho Tin Mừng tình yêu vì đã dám chấp nhận thua thiệt lớn hơn hết là mất cả mạng sống mình. Với việc phong thánh như thế Giáo Hội đồng thời cũng muốn khảng định bất cứ thua thiệt nào các Ki-tô hữu phải hứng chịu trong cuộc sống thường ngày vì ‘sống công chính mới’ đều có giá trị vô song và đáng biểu dương.
Suy nghĩ như thế tôi mới thấy rằng: có một liên hệ mật thiết giữa các chứng nhân ‘tử vì đạo’ với mỗi Ki-tô hữu chúng ta. Các ngài không phải là những trường hợp biệt lệ để các tín hữu có ‘may mắn’ được sống trong thời đại an bình nhìn vào mà thán phục mà ca ngợi, mà mơ ước rằng: nếu chẳng may lâm vào cơn cấm cách, mình cũng sẽ trung thành như các ngài. Đức Giê-su đã chẳng gọi tất cả mọi Ki-tô hữu là ‘ánh sáng’, là ‘muối men’ của trần gian, là chứng nhân Tin Mừng là gì? Có thể Người hàm ý: chứng nhân tích cực rao giảng Tin Mừng thì ít, nhưng chứng nhân vì buộc phải chấp nhận các thua thiệt, khó khăn vì nền công chính Tin Mừng trong đời sống thường ngày thì nhiều. Vì thế thật là chí lý: các ‘Thánh Tử Đạo’ được coi như tấm gương, như cột sống của Ki-tô hữu qua mọi thời đại, thời buổi bị bắt bớ thử thách cũng như khi được sống an bình sung túc.
Là người Công Giáo Việt Nam, chúng ta luôn tự hào vì Giáo Hội Việt Nam đã có hàng trăm ngàn các chứng nhân Tin Mừng như thế, trong số đó 117 vị đã được toàn Nhiệm Thể Đức Ki-tô phong thánh. Vấn đề được đặt ra là: phải chăng các ngài đơn thuần chỉ tạo nên nơi chúng ta một niềm kiêu hãnh mang tính lịch sử, hay đã trở thành cột sống, thành cơ bắp thúc đẩy chúng ta sống công chính Tin Mừng cách cụ thể trong đời sống thường ngày? Thua thiệt vì Tin Mừng thì thời đại nào cũng có, kể cả trong các xã hội được coi là phồn vinh dễ dãi và tự do; thế thì các ‘Thánh Tử Đạo Việt Nam’ đóng góp được gì cho người Công Giáo Việt Nam chúng ta trong xã hội được cho là ‘dễ dãi thuận lợi’ hơn hôm nay? Phải chăng chỉ là một khích lệ trung kiên nào đó sẵn sàng chiến đấu chống lại mọi thế lực thù nghịch khi cần, hay để kiên trì ‘sống công chính’ khi ‘bị người ta oán ghét, khai trừ, sỉ vả và bị xóa tên như người xấu xa…’ ngay trong đời sống xã hội thường ngày?
Ngày mừng kính các Thánh Tử Đạo Việt Nam hôm nay sẽ không mấy ý nghĩa, nếu mỗi người không tìm ra được câu trả lời cho vấn nạn này!
Lạy các Thánh Tử Đạo Việt Nam, các ngài đã chịu bách hại vì dám chấp nhận ‘sống công chính’ để phải chấp nhận những từ bỏ tới độ anh hùng. Nếu Hội Thánh đã tuyên phong cái chết anh hùng của các ngài thì đồng thời cũng tuyên phong vô vàn những tủi hổ, thiệt thòi của biết bao tín hữu anh hùng vô danh khác. Tất cả các điều này không nằm ngoài mục đích thôi thúc mỗi người Công Giáo Việt Nam chúng con sẵn sàng hơn trong việc, cùng với Đức Ki-tô thập giá tha thứ và yêu thương ngay giữa lòng xã hội hôm nay, chấp nhận mọi thử thách gian nan. Xin các ngài tiếp tục trở nên chứng nhân Tin Mừng cho chúng con về một tình yêu tha thứ tuyệt đối. A-men.

 

24/11-190: SỐNG LÀ CHẾT

Lm. Jos. DĐH
 

Tục ngữ có câu : chết vinh hơn sống nhục, nếu lập lại câu đó trên môi miệng, không khó đối 24/11-190

Tục ngữ có câu : chết vinh hơn sống nhục, nếu lập lại câu đó trên môi miệng, không khó đối với con người ở mọi lứa tuổi. Sống, chết, xưa nay ai mà chẳng coi đó là qui luật, còn chết anh hùng hay sống hèn nhát, thì tùy tự do chọn lựa của mỗi cá nhân. Đồng ý rằng chết già cũng gọi là chết, chết trẻ cũng gọi là chết, tuy không có kinh nghiệm nhưng ai chẳng sợ chết ! Thực ra, sống là chết, hiểu theo nghĩa đen hay nghĩa bóng, thì sống xa hoa hay sống nhiệm nhặt rồi cũng chết. Sống mỗi năm, mỗi tháng mỗi ngày, ai cũng phải già đi, phải tiến tới cái chết theo qui luật : sinh lão bệnh tử.
Con người tự nhiên, ai cũng ngại nói tới chết, có chăng nghĩ tới sự chết là dịp tốt để người ta sống nghiêm túc, sống để không phải hối tiếc khi nhắm mắt xuôi tay. Với người tin Đức Kitô, yêu mến Đức Kitô, nếu được phúc chết vì bảo vệ đức tin gọi là tử đạo, vinh dự đó quá lớn, nên khổ đau thập giá không hề nhẹ. Khi không đặt tình yêu nơi Thầy Giêsu, người ta sẽ cho rằng Ông Giêsu thật vớ vẩn, tại sao Ông lại nói : “ai yêu mạng sống mình thì sẽ mất, còn ai ghét mạng sống mình ở đời này, sẽ giữ được nó trong cuộc sống đời đời” ?
Làm sao chúng ta có thể tìm ra những người không sợ chết, không sợ đau khổ ? nếu không có niềm tin Kitô giáo, sẽ không có chuyện bảo vệ hay trân trọng truyền thống đức tin cho hậu thế. Và mãi mãi, chúng ta không thể hiểu, vì sao lại có những con người bất thường, dám từ chối bổng lộc, mạng sống, để nhận lấy cái chết vì tình yêu Đức Kitô. Sống đức tin Kitô giáo đâu phải tự tìm lấy cái chết như con “thiêu thân”. Cũng không phải là tìm cách ẩn náu để bảo toàn mạng sống, mà là theo Chúa Kitô, sẵn lòng trở nên mục nát như hạt lúa gieo vào lòng đất.
Nếu không có tin yêu, hay thiếu ơn Chúa, cha ông ta đã chối bỏ Đức Kitô, các ngài sẽ nói, chúng tôi đâu có dại khờ đến độ chấp nhận bản án chết, vừa đau khổ thân xác vừa uổng phí cuộc đời ? Có thể cảnh máu chảy đầu rơi vẫn đáng sợ đối với con người mọi thời đại, nhất là tội nhân. Tuy nhiên, người vô tội, người có tình yêu thương, người có Đức Kitô, hẳn sẽ không sợ, vì ở trong Đức Kitô mọi người là “bất tử”. Niềm tin và tình yêu đã ghi dấu Đức Kitô trong tâm hồn người Kitô hữu, sống chứng nhân Tin mừng và sống đức yêu thương chính là ơn gọi nên giống Chúa Kitô.
Khi đưa ra lý chứng về hạt lúa được gieo vào lòng đất, Chúa Giêsu đã cho chúng ta một qui luật về “được, mất”, về một sự tự do : yêu hoặc ghét, mà mỗi chúng ta đang chọn lựa. Thực tế, ai trong chúng ta cũng muốn mình thành công, hạnh phúc, nên ước mơ, lời nói, người ta đều giống nhau, duy có việc làm là khác nhau. Nếu người Kitô hữu chỉ tìm sống cho cái tôi ích kỷ của mình, hẳn người ấy đang mất đi tình hiệp thông của Đức Kitô, sẽ chết vì cô đơn, vì thiếu tình yêu thương.
Người Kitô hữu chúng ta dành tháng 11 hàng năm để hiệp thông cầu nguyện cho người đã khuất. Xã hội hôm nay dành chúa nhật tuần thứ ba của tháng 11 để cầu nguyện, tưởng nhớ đến những người chết vì tai nạn giao thông. Thật ra thì, dù tin hay không, người sống cũng vẫn nhớ tới người chết, và kẻ chết có biết hay không, người sống vẫn bày tỏ hoa nến nhang đèn như câu tục ngữ : sống khôn chết thiêng. Là con cháu của các thánh tử đạo, hẳn chúng ta có quyền tự hào về tính anh hùng của các ngài trước sự chết, có thể lịch sử giai đoạn đó khác với chúng ta hôm nay, nhưng sống niềm tin vẫn là ơn gọi căn bản của người Kitô hữu chúng ta.
Sống là chết, liệu có mâu thuẫn đối với chúng ta không ? Sống lười biếng, sống hưởng thụ có phải là đang tiến tới cái chết thật phí phạm không ? Người xưa nói rằng : anh hùng chỉ chết một lần, kẻ hèn nhát lại chết vô số lần. (Shakespeare). Cái chết anh hùng là cái chết khôn ngoan, vì niềm tin, vì tình yêu Đức Kitô, đúng hơn họ không chết mà là đang sống. Ngày hôm nay, người đời vẫn kính phục những vị anh hùng, dám hy sinh xương máu để bảo vệ đất nước quê hương. Và đến mọi thế hệ, không ai lại kính trọng người hèn nhát, người chỉ lo tìm hưởng thụ cho lợi ích cá nhân.
Khi mạng sống bị đe dọa, bằng bất cứ giá nào, người ta cũng tìm cách để khỏi chết và bảo toàn được mạng sống của mình. Người không có niềm tin cho rằng sống chết là do số mệnh; kẻ bi quan nói rằng, đằng nào cũng chết, vì thế hãy hưởng thụ, kiêng khem tử tế rồi cũng đem chôn. Kitô giáo chúng ta tin rằng : Thiên Chúa là chủ sự sống; Chúa Giêsu thì nói : “ai phụng sự Ta, hãy theo Ta, và Ta ở đâu, kẻ phụng sự Ta cũng sẽ ở đó”. Tin theo Chúa, dù không phải chết tử đạo như cha ông chúng ta, nhưng mỗi người đều được trở nên giống Đức Kitô, nghĩa là phải chết đi trong tính hư nết xấu của mình. Là con cháu, không phải chúng ta chỉ ăn quả nhớ kẻ trồng cây, hay uống nước nhớ nguồn, mà mỗi người phải ý thức di sản đức tin chúng ta đang có là do tiền nhân đã sống, đã chết vì yêu Chúa, yêu hậu thế chúng ta hôm nay. Nhớ đến các ngài, cũng là lời nhắc nhớ sống đức tin, và hiệp thông với các ngài tiếp tục sống đức yêu thương. Amen.

 

24/11-191: AI LIỀU MẤT SỰ SỐNG MÌNH VÌ TÔI

Lm. Giuse Nguyễn Văn Lộc
 

Cùng với toàn thể Giáo Hội, trong Thánh Lễ này, chúng ta mừng kính trọng thể Các Thánh Tử 24/11-191

Cùng với toàn thể Giáo Hội, trong Thánh Lễ này, chúng ta mừng kính trọng thể Các Thánh Tử Đạo Việt Năm. Cụ thể, có tất cả 96 vị thánh tử đạo: 37 thánh tử đạo linh mục và 59 thánh tử đạo giáo dân, nam và nữ. Các vị đã được Đức Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô phong thánh vào ngày 19 tháng 6 năm 1988.
Như chúng ta vừa nghe, đa số các thánh tử đạo là giáo dân nam và nữ. Vậy chúng ta hãy cầu xin cho Giáo Hội và nhất là cho tất cả các Ki-tô hữu, là chính chúng ta, có được niềm xác tín tuyệt đối nơi tình yêu muôn ngàn đời bền vững của Thiên Chúa dành cho chúng ta, bất chấp mọi sự, theo gương của các thánh tử đạo. Như lời thánh Phao-lô nói:
Cho dầu là sự chết hay sự sống, thiên thần hay ma vương quỷ lực, hiện tại hay tương lai, hoặc bất cứ sức mạnh nào, trời cao hay vực thẳm hay bất cứ một loài thọ tạo nào khác, không có gì tách được chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa thể hiện nơi Đức Ki-tô Giê-su, Chúa chúng ta.
“Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo”
Hôm nay, trong Thánh Lễ này, Đức Giê-su mời gọi một lần nữa với từng người trong chúng ta một cách đặc biệt. Một cách đặc biệt, đó là bởi vì, chúng ta là nòi giống, là con cháu, là hoa trái của máu các vị thánh Tử Đạo, mà chúng ta mừng kính hôm nay. Vì thế, chúng ta được mời gọi sống và làm chứng cho Tin Mừng đến mức độ anh hùng, theo gương của các Thánh Tử Đạo của chúng ta.
Tuy nhiên, tất cả chúng ta, sống ơn gọi gia đình hay ơn gọi tu trì, đều cảm thấy lời mời gọi này của Đức Giê-su thật khó hiểu: tại sao lại phải từ bỏ chính mình? Tại sao lại phải vác thập giá hằng ngày? Và không chỉ khó hiểu, nhưng còn khó sống nữa. Khó hiểu và khó sống, nhất là trong bối cảnh của thời đại chúng ta; bởi lẽ, thời này, người ta, và có khi là chính chúng ta nữa, ưa chuộng và tìm cách tôn vinh bản thân mình, hơn là từ bỏ chính mình, ưa chuộng và tìm cách hưởng thụ những lạc thú, hơn là vác thập giá của mình hằng ngày vì lòng mến Đức Ki-tô và để đi theo Đức Ki-tô.
Nhưng kinh nghiệm sống của các Thánh Tử Đạo, của các bậc cha anh, của cha mẹ chúng ta, và của chính chúng ta nữa, cho thấy rằng lời gọi này của Đức Giê-su chỉ có thể hiểu được và sống được trong tương quan giao ước mà thôi, giao ước của chúng ta với Chúa và giao ước của chúng ta với nhau. Giao Ước hiểu theo nhiều cấp độ khác nhau, đó là hôn phối, lời khấn, cam kết, tuyên hứa, hay đơn giản là bổn phận hay tình bạn. Trong khi đó, con người thời nay, lại không thích sống theo giao ước, nhưng chuộng sống theo cảm xúc, vui thì ở, còn buồn thì đi, thì đoạn tuyệt.
Thật vậy, để sống với nhau và sống cho nhau, trong gia đình hay trong cộng đoàn tu trì theo giao ước, chúng ta luôn phải ra khỏi mình để hướng về người khác, phải quên đi chính mình để lo cho người khác, phải mang vào mình những khó khăn và khổ đau, phải trung thành với nhau và với ơn gọi khi thịnh vượng cũng như lúc gian nan, khi thành công cũng như lúc thất bại, khi vui cũng như lúc buồn, khi thấy nhau dễ thương cũng như lúc thấy nhau khó thương.
Cách sống này có vẻ khắc khổ, sầu bi, đầy vất vả và đau khổ, nhưng nếu được sống bằng tình yêu, sự trung tín, lòng mến, tình thương, tình bạn, thì một cách sống như thế sẽ biến thành niềm vui và hạnh phúc sâu xa và bền vững. Như thánh Au-gus-ti-nô nói, trong tình yêu thì không có đau khổ; và nếu có đau khổ, thì đau khổ này đã được yêu rồi.
“Còn ai liều mất mạng sống mình vì tôi, thì sẽ cứu được mạng sống ấy”
Nhưng lời của Đức Giê-su còn đi xa hơn nữa: “Còn ai liều mất mạng sống mình vì tôi, thì sẽ cứu được mạng sống ấy”. Chúa mời gọi chúng ta đi theo con đường của Chúa, và chúng ta có thể tự do ưng thuận hay không. Nhưng hậu quả rất là nghiêm trọng và không thể đảo ngược được, đó là mất đi sự sống hay cứu được sự sống mãi mãi. Sự sống của chúng ta, dù có cố giữ lấy hay cho đi, thì rốt cục cũng sẽ qua đi. Và Đức Giê-su mời gọi chúng ta lựa chọn con đường cho đi vì Chúa và theo gương của Chúa, để có thể nhận lại sự sống.
Cho đi sự sống để nhận lại sự sống, điều này vừa khó hiểu và vừa vừa khó sống. Tuy nhiên, đó lại là qui luật muôn đời của chính sự sống và ai trong chúng ta cũng biết và thậm chí có kinh nghiệm về qui luật này của sự sống.
– Đó là hạt lúa mì, vốn phải chịu chôn vùi và nát tan, để nẩy mầm, lớn lên và trổ sinh nhiều hạt khác.
– Đó là sự cho đi chính bản thân mình của cha mẹ, để sự sống được lưu truyền nơi những người con. Điều này đặc biệt đúng nơi những người mẹ: người mẹ phải cho đi chính máu thịt, chính sự sống của mình khi cưu mang sự sống mới, là đứa con; và nhất là khi có những người mẹ, phải hy sinh sự sống của mình để sinh con.
– Đó là đời dâng hiến, là sự hy sinh cuộc đời của các linh mục, tu sĩ nam nữ, để chính Thiên Chúa làm phát sinh ra hoa trái sự sống gấp trăm nơi nhiều người.
Qui luật muôn đời của sự sống
Để cho sự sống được tiếp tục, được sinh sôi, để phục vụ cho sự sống, phải chia sẻ, trao ban, cho đi và hi sinh chính sự sống của mình. Đó chính là qui luật muôn đời của sự sống. Đức Giê-su Ki-tô, Con Thiên Chúa cũng không đi con đường lạ lùng nào khác ngoài con đường muôn đời của sự sống, nghĩa là con đường của hạt lúa mì: “Con Người phải chịu đau khổ nhiều…, bị giết chết và sau ba ngày sẽ sống lại”; và Ngài vẫn trao ban sự sống của mình cho chúng ta hằng ngày trong Thánh Lễ, dù chúng ta có như thế nào.
Như thế, lời của Đức Giêsu không chỉ là một thách đố tận cùng, nhưng còn là Tin Mừng tận cùng; vì Ngài hứa với chúng ta rằng con đường của hạt lúa mì, qui luật muôn đời của sự sống, chính là con đường đạt tới sự sống mới, phong phú và viên mãn, con đường nhận lại sự sống từ chính Nguồn Sự Sống là Thiên Chúa hằng sống.
* * *
Và đó cũng là niềm xác tín của các Thánh Tử Đạo Việt Nam, mà chúng ta mừng kính hôm này. “
Ai liều mất mạng sống mình vì tôi,
thì sẽ cứu được mạng sống ấy.
Đó hiển nhiên là lời hứa ban lại sự sống ở đời sau. Nhưng sức mạnh và niềm vui của Sự Sống mới mai sau, đã được chúng ta cảm nghiệm một cách vừa cụ thể vừa sâu xa ngay hôm nay rồi, và ngay trong hành vi cho đi vì lòng mến Đức Ki-tô.

 

24/11-192: CHẾT VÌ YÊU

Huệ Minh
 

Lửa thử vàng, gian nan thử sức !” Ông bà ta vẫn thường nói như thế trong cuộc sống thực tại 24/11-192

“Lửa thử vàng, gian nan thử sức !” Ông bà ta vẫn thường nói như thế trong cuộc sống thực tại. Đó thực tại trong cuộc sống và đúng với thực tại của cuộc sống. Còn đó, bên cạnh thực tại của đời sống con người chính là đời sống, sức sống của niềm tin. Để chứng minh niềm tin của mình, có khi người ta không phải chỉ minh chứng bằng lời nhưng có khi còn phải trả bằng một cái giá rất đắc đó chính là máu của mình, là mạng sống của mình nữa.
Trang sách Maccabêô quyển thứ hai khá quen thuộc với người Kitô hữu chúng ta, nhất là khi chúng ta kính nhớ đến các anh hùng tử đạo. Câu chuyện trong sách thuật chuyện một người đáng kính, từ chối không ăn thịt heo cho dù phải chết. Ông được nhiều người quý mến nên đổi thịt heo thành thịt mà luật cho phép ăn, rồi đề nghị ông giả vờ ăn thịt heo để thoát chết. Êlêazarô từ chối mánh khóe để được sống này, vì khi làm như vậy gây gương xấu cho thế hệ tương lai. Thế hệ trẻ đâu biết đó không phải là thịt heo, nên tưởng rằng Êlêazarô tham sống sợ chết mà vi phạm luật Chúa.
Thái độ sống của Êlêazarô rất trong sáng, rất tự do ngay cả đối với cái chết. Ông cũng là người cho thấy tình yêu và trách nhiệm đối với thế hệ tương lai. Nơi con người mỏng dòn, Thiên Chúa đã và đang làm những điều tuyệt vời.
Và, ta thấy không chỉ mình Êlêazarô mà còn nhiều nữa những người đã minh chứng niềm tin và tình yêu của mình với Thiên Chúa.
Có lẽ, vị tử đạo anh hùng nhất trong lịch sử Kitô giáo có lẽ là Đức Giêsu. Đức Giêsu đã minh chứng tình yêu, niềm tin của mình với Cha bằng cái chết và cái chết nhục hình trên thập giá.
Máu của Chúa Giêsu đổ ra trên thập giá đã nảy sinh thêm nhiều hạt giống tử đạo khác nữa. Người được phúc tử đạo tiên khởi sau cái chết của Chúa Giêsu đó chính là anh chàng Stêphanô. Trong việc đổ máu của người vô tội này, có sự góp công của chàng trai trẻ là Phaolô.
Ta lại đi tiếp và ta thấy sau khi ngộ ra được Đấng Cứu Độ trần gian, chính Phaolô đã quay trở lại và đã hy sinh cả cuộc đời mình để minh chứng cho tình yêu Giêsu.
Và dần dần, dòng máu tử đạo cứ lan tràn để rồi hạt mầm của đức tin đã nảy nở khắp thế gian.
Hạt giống đức tin cũng đã được đưa vào đất nước Việt Nam. Và rồi, sự dữ, sức mạnh của thế gian muốn bóp nghẹt hạt giống đức tin để rồi có nhiều cuộc bách hại về đức tin. Thế nhưng, ta lại thấy các bậc cha ông của chúng ta đã can đảm chấp nhận chết để minh chứng cho niềm tin và tình yêu vào Thiên  Chúa.
Cái chết của các ngài, làm rạng danh gia tộc, giúp cho những người con người chồng người vợ nhìn lên tấm gương của những bậc cha anh thân yêu mà phấn đấu sống cho nên người và nên người con ngoan của Chúa. Các thánh tử đạo là những người ảnh hưởng rất lớn trên thế hệ tương lai mà nhiều người không thấy rõ điều này, khi cho rằng các ngài chết thì đâu có dạy dỗ hoặc ảnh hưởng gì được trên ai. Nơi các anh hùng tử đạo, lời dạy không bằng ngôn từ nhưng bằng chính cuộc sống. Và chúng ta biết, lời bằng hành động hay cuộc sống thì có sức thuyết phục hơn lời nói nhiều.
Niềm tin vào Chúa, đặc biệt ta thấy mãnh liệt nơi cuộc đời của Thánh Phaolô. Tâm tình của Thánh Phaolô trong trang thư của Ngài gửi tín hữu Roma ta thấy quá tuyệt vời. Dòng thư ấy cho ta thấy xác tín của thánh Phaolô. Thiên Chúa yêu thương chúng ta vô cùng, và không có gì có thể tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa trong Đức GiIêsu. Bằng cớ cho thấy Thiên Chúa yêu thương chúng ta vô cùng, đó là Ngài đã ban chính Con Một Ngài cho chúng ta. Nếu Thiên Chúa ban chính Con Một Ngài cho chúng ta, thì Ngài còn tiếc gì với chúng ta nữa?
Không có gì tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa. Không phải vì chúng ta yêu Thiên Chúa đến độ không có gì tách chúng ta khỏi tình yêu của Thiên Chúa, nhưng vì Thiên Chúa yêu thương chúng ta, Thiên Chúa giữ chúng ta trong tình yêu của Ngài. Nếu chính Thiên Chúa giữ, thì ai giựt chúng ta ra khỏi tay Thiên Chúa được? Nếu chỉ là bản thân con người ghì chặt Thiên Chúa, thì người mạnh hơn có thể giựt họ ra được, nhưng đây chính Thiên Chúa giữ. “Không ai có thể tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa trong Đức Yêsu Kitô”. Không ai, cho dù đó là thiên thần hay quỷ dữ, bất cứ quyền lực nào cũng không thể làm điều này, vì Thiên Chúa là Đấng vô cùng mạnh.
Vì tin vào Thiên Chúa yêu thương tôi, nên tôi vững dạ an tâm, nên tôi ung dung thư thái bất chấp tất cả. “Nguồn ánh sáng và ơn cứu độ của tôi, chính là Chúa”. “Đức Chúa là ánh sáng và Đấng cứu độ tôi, tôi còn sợ chi ai, tôi còn kinh khiếp chi ai”! Chính Thiên Chúa làm cho các thánh tử đạo trung thành với Ngài, cho dù “kiếm sắc, đầu rơi, gươm đao, xá gì”. Thiên Chúa là Đấng trung thành, Ngài sẽ hoàn tất những gì Ngài đã khởi sự nơi chúng ta.
Và, ta vẫn nghe đâu đó phảng phất trong Tin Mừng, Chúa Giêsu nói trong tin mừng theo thánh Luca: “ai muốn theo Ta, phải bỏ mình, vác thập giá hằng ngày mà theo Ta”. Theo Đức gIêsu, là một thái độ sống liên lỉ chứ không chỉ là một hành vi riêng lẻ một lần cho tất cả. Để có thể có hành vi dám chết cho tình yêu, các anh hùng tử đạo đã luôn chết cho chính mình trong cuộc sống hằng ngày để sống cho Chúa trong từng hành vi sống của mình.
“Được lời lãi cả thế gian, mà phải mất mạng sống mình, thì ích gì?” Điều quan trọng là phải sống. Nhưng nếu chỉ sống một trăm năm, mà phải khổ nhục vĩnh viễn thì ích lợi gì? Sự khôn ngoan đi kèm với hành vi anh hùng nơi các thánh tử đạo. Các thánh tử đạo, là những người khôn ngoan, anh hùng và đức hạnh. Các ngài là những người dám sống và dám chết cho tình yêu. Các ngài chọn đời sống vĩnh cửu hơn đời sống chóng qua này.
Lời mời gọi tử đạo vẫn còn vang vọng trên cuộc đời, trong cuộc đời của chúng ta. Không còn đổ máu đào như xưa nhưng chúng ta đổ máu cho những hy sinh, cho những từ bỏ của chúng ta để minh chứng tình yêu, niềm tin của chúng ta vào Chúa.
Nói như Thánh Phaolô : “Không có gì tách tôi ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa” xem ra rất dễ nhưng để sống tâm tình cũng như xác tín đó hoàn toàn không dễ. Ta lại chạy đến để xin Chúa thêm ơn cho ta để ngày mỗi ngày ta sống gần Chúa hơn, bám vào Chúa hơn, theo sát Chúa hơn để rồi tình yêu của ta và Chúa ngày mỗi ngày gắn kết hơn. Có như thế, ta mới mong được hưởng triều thiên tử đạo như các bậc tiền nhân của chúng ta.

 

 24/11-193: TỬ ĐẠO GIỮA ĐỜI THƯỜNG

Dã Quỳ
 

Chúng ta đang sống trong một thế giới mà con người đề cao chủ nghĩa cá nhân, một thời đại mà 24/11-193

Chúng ta đang sống trong một thế giới mà con người đề cao chủ nghĩa cá nhân, một thời đại mà người ta cạnh tranh nhau quyền cao chức trọng ở mọi lãnh vực, một xã hội mà quyền lợi cá nhân, hưởng thụ và  sở hữu được ưa chuộng. Hôm nay, Chúa Giê-su mời gọi chúng ta “Từ bỏ chính mình, liều mất mạng sống…” để theo Chúa, điều này nghe ra thật phi lý và ngược đời! Thế nhưng, sẽ thật có lý và hợp với đời của một Kitô hữu vì đó là điều kiện tiên quyết để bước theo Chúa. Lời Chúa và mẫu gương của chính Chúa đã hy sinh mạng sống cho nhân loại, và của các Thánh Tử Đạo Việt Nam sẽ là một bảo đảm minh chứng cho chúng ta.
Đường Trần Gian – Đường Thập Giá.
Cuộc đời được ví như một hành trình. Hành trình  này chẳng thẳng ngay và không hề nhẹ nhàng êm ái. Lớn hay nhỏ đang sống trong trần gian, chúng ta đều cảm nhận trần gian đầy đau khổ và nước mắt, chẳng thế mà nhạc sĩ nào đó đã viết” Đường nhân gian đày ải chông gai, ai chưa qua chưa phải là người!” Giàu cũng khổ mà nghèo thì khốn khổ hơn! Tiền bạc, chức vị cũng không làm cho người ta hạnh phúc  và cũng không mua được bình an. Đau khổ như là một  thập giá gắn liền với đời người dù người đó có là môn đệ Chúa Kitô hay không.  Thập giá đến với mỗi người mỗi cách khác nhau. Thập giá ấy có thể là từ trong những bất toàn của bản thân, trong bệnh tật, trong khó khăn của cuộc sống. Thập giá cũng có thể là từ những nghịch cảnh  thông thường của cuộc đời…
    Với người Kitô hữu, chúng ta sẽ gặp thập giá trong cuộc đời khi sống trung thành với giáo huấn của Chúa và Hội Thánh. Thập giá đến khi ta sống ngay thẳng trong buôn bán, thật thà và công bằng trong kinh doanh hay trong giao tiếp. Người ta có thể cho là ta điên rồ, ngược đời hay ngu xuẩn thậm chí bị loại trừ. Thập giá đến với ta trong những chọn lựa từ bỏ mình để yêu thương đón nhận tha nhân ngay cả khi họ vu oan, ghen ghét, làm hại ta…Và thập giá cũng sẽ được ta đón nhận khi ta biết cố gắng sống theo Lời Chúa dạy, biết sửa mình, ăn năn sám hối về những tính hư, nết xấu và tội lỗi của ta để xứng đáng là con cái Chúa.

Đường Thập Giá – Đường Tử Đạo.
Khi thập giá đến, chắc hẳn chẳng ai trong chúng ta sẵn sàng đón nhận hay dễ dàng để ôm lấy. Đã là thập giá, thường ta luôn cảm thấy nặng nề, khó vác. Đôi khi ta không dám nghĩ tới và muốn tránh bởi không ai thích đau khổ, thất bại, bị loại trừ, nghịch cảnh, thất vọng chán nản…Và hơn thế nữa, Satan cũng tìm đủ cách lôi chúng ta xa thập giá, vì nó không muốn ta đi vào con đường của Chúa.
    Lời Chúa tha thiết mời gọi ta:” Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo” (Lc 9,23). Từ bỏ chính mình, không đơn giản chút nào! Từ những cái rất nhỏ trong cuộc sống: người mắng ta một câu, ta muốn đáp lại hai, ba câu. Nhưng từ bỏ mình là bỏ qua, là chấp nhận lời nói không tốt đó và đáp lại bằng lời yêu thương, lời hòa giải. Khó lắm, nó đau ở trong lòng và như nuốt cục phèn vậy, nhưng nếu ta làm được, ta sẽ cảm nhận ngọt ngào trong tâm hồn. Từ bỏ mình trong những chọn lựa theo Tin Mừng, sống yêu thương, tha thứ sẽ như là những cuộc tử đạo âm ỉ từng ngày chứ không chỉ một lần. Trong cuộc sống với những bôn ba cho cơm áo gạo tiền, nhiều khi đặt ta trước những chọn lựa theo công bằng, bác ái đòi ta phải hy sinh mối lợi, mất miếng ăn để chu toàn luật Chúa. Ta sẽ đau lắm và dằn vặt nhưng  với ơn Chúa, ta chọn lựa tử đạo khi mất lợi danh và có khi mất cả mạng sống. Tôi nghĩ đến một người đàn ông Công Giáo, đã làm việc thật tốt trong một công ty sản xuất. Thế rồi, vì sống ngay thật, không theo những mánh khóe gian dối với đồng nghiệp nên anh đã lãnh nhận hậu quả là bị hại chết ngay trong chuyến công tác xa, sau bữa ăn cùng nhóm đồng nghiệp ấy. Ta có thể đi vào đường tử đạo khi sống trung thành với Chúa Kitô để bảo vệ sự sống, như một chị y tá nọ sau nhiều năm học tập, chị được chọn vào làm trong một bệnh viện lớn. Thế nhưng, ngay ngày thứ hai đi làm, người ta yêu cầu chị tham gia vào ca phá thai. Chị từ chối, lập tức người ta sa thải chị. Chị mất việc mà chị đã tốn nhiều công sức tiền của để có được. Chị đã vác  thập giá cùng với Chúa Kitô! Để chọn lựa vác thập giá hàng ngày, chọn lựa tử đạo suốt đời, ta không thể thực hiện với sức riêng nhưng phải cậy nhờ ơn Thánh và nếu ta tin tưởng cậy dựa vào Chúa, Ngài sẽ luôn giúp ta vì: ” Người luôn nâng đỡ ủi an chúng ta trong mọi cơn gian nan thử thách”(1Cr 1,4).

Đường Tử Đạo – Đường Tới Vinh Quang.
Ngày nay, trên quê hương chúng ta ít có những cuộc cấm hay bách hại đạo như xưa cha ông ta đã trải qua. Nhưng lại xuất hiện nhiều hơn những dịp thử thách về đức tin tinh vi mà nếu không tỉnh thức, ý thức và có một tâm hồn bén nhạy thì ta sẽ dễ đi vào việc chối đạo, phản đạo và bỏ Chúa qua chính cách sống, lời nói và việc làm của ta. Các Thánh Tử đạo Cha ông chúng ta đã kiên trung thực thi Lời Chúa dạy:” Ai liều mất mạng sống mình vì tôi thì sẽ cứu được mạng sống ấy”(Lc 9, 24). Các ngài yêu Chúa hơn yêu mạng sống mình như lời nói và máu đổ ra của Thánh Phaolo Khoan  “Vinh danh chúc tụng ngợi khen Thiên Chúa và Chúa Cả Trời đất, con xin dâng mạng sống cho Ngài”. Có vị thánh đã từ bỏ chức quyền để giữ vững đức tin và linh hồn như thánh Hồ Đình Hy là quan lớn, thánh Phạm Trọng Tả là chánh tổng nhưng các Ngài chọn Chúa hơn là địa vị ở trần gian. Các ngài chọn gia nghiệp Nước Trời hơn là sản nghiệp trần thế nay còn mai mất“Ai khôn mới biết hiến mình cho chân lý để chiếm hữu phần gia nghiệp muôn đời”(Thánh Phêrô Truật). Các ngài không dẫm lên Thập giá Chúa Kitô nhưng anh dũng bước đi trên đường Thập giá vì các ngài  xác tín chỉ qua Thập giá mới tới Vinh quang và cuối đường, chính Chúa Kitô đón các ngài vào hưởng vinh quang hạnh phúc với Người trong Nước Trời, như sách Khôn Ngoan nói:”Người đời nghĩ rằng họ bị trừng phạt, nhưng họ vẫn chan chứa niềm hy vọng được trường sinh bất tử. Và Đức Chúa sẽ là vua của họ đến muôn đời”(Kn 3,4.8)
Trải qua suốt ba thế kỷ bách hại, đã có cả trăm ngàn anh em Kitô hữu chết vì đạo. Gương chứng nhân Đức Tin và lòng hy sinh mạng sống vì Chúa Kit-tô và vì Tin Mừng của Các Thánh Tử Đạo Việt Nam cha ông ta, sẽ là mẫu gương và niềm hãnh diện lôi cuốn chúng ta can trường sống chứng nhân giữa đời thường và dám chọn sống, chết vì đạo. Từ dòng máu anh hùng của cha ông, từ những khổ đau, những đắng cay của các ngài, ta có được hạt giống đức tin hôm nay. Vậy thập giá là một phần quan trọng của đời Kitô hữu và chính Chúa Giê-su đã không khước từ thập giá vì đường thập giá-đường tử đạo mới là đường dẫn tới vinh phúc: “…Người vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự. Chính vì thế, Thiên Chúa đã siêu tôn Người…”(Pl 2,6-11). Lao nhọc, đau khổ, nghịch cảnh, hy sinh, chiến đấu và tử đạo…cần thiết để trở thành một phần của đời người môn đệ Chúa Kitô. Ước gì khi sống giữa đời, mỗi Kitô hữu chúng ta cũng tin tưởng thưa lên như thánh Phaolô “Ai có thể tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Đức Kitô? Phải chăng là gian truân, khốn khổ, đói rách, hiểm nguy…Trong mọi thử thách ấy, chúng ta toàn thắng nhờ Đấng đã yêu mến chúng ta”(Rm 8,35-37). Để rồi chúng ta dám sống vì Chúa, chọn lựa theo Chúa, trung thành với Chúa trong mọi hoàn cảnh và can trường chết vì Chúa trong những dịp tử đạo giữa đời thường. Vì ” Ai liều mất mạng sống vì Ta và vì Tin Mừng, thì sẽ cứu được mạng sống ấy.”(Mc 8,35).
Nguyện xin Thần Khí Chúa ban ơn khôn ngoan và sức mạnh giúp chúng con biết chọn lựa sống vì Chúa, vì Tin Mừng. Và xin dạy chúng con biết yêu thập giá là dấu chỉ của chiến thắng, của vâng phục, của tình yêu và của con đường dẫn đến ơn cứu độ. Amen.

 

24/11-194: DŨNG CẢM LÀM CHỨNG CHO CHÚA HÔM NAY

Lm. Đan Vinh
LỜI CHÚA: Chúa phán: “Phàm ai tuyên bố nhận Thầy trước mặt thiên hạ, thì Thầy cũng sẽ tuyên bố nhận người ấy trước mặt Cha Thầy, Đấng ngự trên trời. Còn ai chối Thầy trước mặt thiên hạ, thì Thầy cũng sẽ chối người ấy trước mặt Cha Thầy, Đấng ngự trên trời” (Mt 10,32-33).
CÂU CHUYỆN: CUỘC TỬ ĐẠO CỦA THÁNH ANRÊ TRẦN AN DŨNG LẠC
 

TRẦN AN DŨNG LẠC sinh năm 1795, gia đình ngoại giáo nghèo khó ở Bắc Ninh. Lớn lên, cậu 24/11-194

TRẦN AN DŨNG LẠC sinh năm 1795, gia đình ngoại giáo nghèo khó ở Bắc Ninh. Lớn lên, cậu theo cha mẹ đến xứ Kẻ Chợ sinh sống. Tại đây, cậu được một Thầy giảng nhận làm con nuôi và cho ăn học. Cậu được chịu phép rửa tội và nhận tên thánh là Anrê. Sau đó cậu đáp lại ơn gọi dâng mình cho Chúa và theo học tại chủng viện Vĩnh Trị. Thầy Anrê Dũng được thụ phong linh mục vào năm 1823 khi mới có 28 tuổi. Từ khi thụ phong linh mục, cha Anrê được sai đi giúp xứ. Ở đâu cha cũng nêu gương sáng đạo đức qua cuộc sống khổ hạnh. Ngoài những ngày ăn chay theo luật định, Cha còn tự nguyện giữ chay thêm suốt cả Mùa Chay và các ngày thứ Sáu thứ Bảy hàng tuần. Nhờ đời sống đơn sơ khiêm hạ và khắc khổ như vậy, nên cha đã gây được thiện cảm của những người chung quanh và thành công trên bước đường tông đồ: Qua cha, nhiều tội nhân đã được ơn giao hòa với Chúa và nhiều người lương đã tin theo Chúa và xin gia nhập đạo Công giáo.
Trong thời gian đạo Công giáo bị bách hại gắt gao thời vua Minh Mạng, cha Anrê Dũng đã phải trốn lánh nhiều nơi. Một lần kia ở Kẻ Roi, khi vừa dâng lễ xong thì bị quan quân vây bắt và được giáo dân chuộc về. Sau đó cha đã đổi tên Trần An Dũng thành Trần An Lạc. Lần thứ hai cha bị bắt ở xứ Kẻ Sông khi đang xưng tội với cha Phêrô Thi. Hai cha bị quan quân đòi tiền chuộc tới 200 quan tiền. Nhưng giáo dân chỉ quyên góp được một nửa số tiền nói trên, nên chỉ mình cha Lạc được thả. Rồi sau đó cha lại bị đám quân lính khác bắt mang về huyện giam chung với cha Phêrô Thi và cả hai được áp giải về Hà Nội.
Hôm sau, quan án cho điệu hai cha ra công đường tra xét và bắt phải bước qua Thánh Giá để bày tỏ ý định bỏ đạo. Nhưng thay vì làm theo lệnh quan, hai cha lại cùng quì xuống hôn kính Thánh Giá và nói: “Không bao giờ chúng tôi chối Chúa và bỏ đạo cả. Chúng tôi đã suốt đời hy sinh vất vả đem Chúa đến cho người khác, thì lẽ nào bây giờ lại hèn nhát chối bỏ Chúa!”. Trước sự bất tuân của hai cha, quan tức giận sai lính đem nhốt các ngài vào ngục thất và làm thành án gửi về Kinh. Suốt thời gian ở trong tù, hai cha luôn cầu nguyện và ăn chay hãm mình, xin Chúa cho được ơn bền đỗ đến cùng. Tuy giáo dân được phép thăm nuôi hằng ngày, nhưng hai cha yêu cầu họ đừng đem đồ ăn ngon đến, và nếu bữa nào có thịt cá thì các ngài lại cho các bạn tù hoặc lính canh.
Ngày 21 tháng 12 năm 1839, hai cha đã chính thức nghe án lệnh xử trảm của nhà vua. Rồi các ngài bị điệu ra pháp trường Cầu Giấy ở Hà Nội. Đến nơi, các ngài cầu nguyện ít phút, rồi cúi đầu cho lý hình dễ dàng thi hành phận sự. Đức Thánh Cha Lêô 13 đã tôn phong các ngài lên hàng Chân Phước tử đạo vào ngày 27 tháng 05 năm 1900. Và ngày 19 tháng 06 năm 1988, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã suy tôn hai ngài lên bậc hiển thánh.
THẢO LUẬN:
1) Tại sao đạo Công giáo thường hay bị người đời thù ghét bách hại?
2) Tử đạo là sẵn sàng hy sinh chịu chết để làm chứng cho Chúa (x. Cv 1,8). Vậy các tín hữu chúng ta sẽ phải dũng cảm làm chứng cho Chúa thế nào trong xã hội Việt Nam hôm nay ?

SUY NIỆM:
1) SỐ LIỆU CÁC ANH HÙNG TỬ ĐẠO VIỆT NAM: Ngay từ thời Giáo Hội Sơ Khai, các tín hữu đã phải chịu chung số phận với Thầy Giê-su là bị cấm cách, bắt bớ và giết hại. Thời nào và nơi nào đạo được truyền tới cũng đều có các vị anh hùng tử đạo. Tại Việt Nam, theo sử liệu, đạo Chúa đã được truyền giảng từ thế kỷ thứ 16. Và suốt thời gian gần 300 năm sau đó, luôn bị đàn áp bách hại với những cảnh đầu rơi máu chảy! Sau Hội Thánh Rô-ma thì có lẽ Hội Thánh Việt Nam đã dâng cho Chúa được nhiều thánh tử đạo hơn cả! Người ta ước tính có tới hằng trăm ngàn người Công giáo đã bị giết hại vì đức tin dưới các triều đại nhà Nguyễn: Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức và bị các phong trào Cần Vương Văn Thân đàn áp bách hại. Trong số đó, 117 vị đã được Đức Thánh Cha Gio-an Phao-lô II tôn phong lên bậc hiển thánh và được mừng chung trong niên lịch toàn thể Hội Thánh. Trong số này có: 8 Giám mục, 50 Linh mục, 16 Thầy giảng, 1 Chủng sinh và 42 Giáo dân. Các ngài đã chịu nhiều cực hình như: 79 vị bị trảm quyết (chém đầu): 16 vị bị xử giảo (treo cổ); 8 vị bị chết rũ rù do đói khát bệnh tật khi bị giam trong ngục; 6 vị bị thiêu sinh (chết thiêu trong hỏa lò).

2) LÝ DO CÁC NGÀI BỊ VUA QUAN BÁCH HẠI:
Các thánh Tử Đạo bị vua quan và dân chúng thời đó thù ghét đàn áp giết hại không phải vì các ngài là những kẻ xấu làm điều gian ác, nhưng chỉ vì các ngài đã tin vào danh Đức Giê-su và đã dũng cảm tuyên xưng đức tin ấy, thể hiện qua thái độ bất khuất, không chịu bước qua thập giá theo lệnh vua quan, hầu ứng nghiệm lời Đức Giê-su đã tiên báo: “Vì danh Thầy, anh em sẽ bị mọi người thù ghét. Nhưng kẻ nào bền chí đến cùng, kẻ ấy sẽ được cứu thóat” (Mt 10,22).
Đàng khác, vua quan và dân chúng thù ghét và ra tay bách hại các tín hữu là do hiểu lầm về giáo lý của đạo khi cho rằng theo đạo là vọng ngọai, là bất hiếu vì phải bỏ việc thờ cúng ông bà tổ tiên, đang khi thực ra không phải như vậy: điều răn thứ tư trong mười điều răn của đạo Chúa đã truyền dạy: con cái phải “thảo kính cha mẹ” và người tín hữu vừa phải chu tòan bổn phận thờ phượng một Thiên Chúa duy nhất lại vừa phải tôn kính và tưởng nhớ cầu nguyện và tỏ lòng biết ơn ông bà cha mẹ khi các ngài còn sống cũng như khi đã qua đời.
Nhưng lý do chính yếu khiến vua quan và các phong trào Cần Vương Văn Thân thời đó thù ghét bách hại các tín hữu là do tự ái dân tộc và hiểu lầm về lòng yêu nước của các tín hữu: Họ sợ người theo đạo sẽ bị các thừa sai ngọai quốc xúi giục làm lọan, trong khi các vị thừa sai ngọai quốc đã dám bỏ quê hương và từ giã người thân đến vùng đất xa xôi và chấp nhận hy sinh ngay cả mạng sống là do đức tin và lòng mến Chúa thôi thúc. Các ngài chỉ muốn chu tòan sứ vụ loan báo Tin Mừng của Đức Giê-su: “Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em.” (Mt 28,19-20); “Anh em sẽ là chứng nhân của Thầy tại Giê-ru-sa-lem, trong khắp các miền Giu-đê, Sa-ma-ri và cho đến tận cùng trái đất” (Cv 1,8b). Và quả thật, lịch sử đã ghi nhận: các thánh Tử Đạo Việt Nam đã bị vua quan kết án chỉ vì đức tin mà thôi chứ không do tội phản lọan theo giặc làm loạn chống phá triều đình.

3) SỐNG CHỨNG NHÂN GIỮA ĐỜI THƯỜNG:
Bí quyết khiến các anh hùng Tử Đạo vượt qua gian nan thử thách là do các ngài biết “sống sự sống của Chúa Giê-su trong thân xác yếu hèn của mình”. Đức Giê-su đã hứa sẽ ban Thánh Thần giúp các môn đệ phải nói gì và nói thế nào khi bị điệu ra trước quan quyền (x Mt 10,19-20). Để được như vậy, các ngải đã phải mỗi ngày “chết đi cho bản thân”, và sống trong ơn nghĩa của Đức Giê-su.
Ngày nay có lẽ chúng ta không có cơ hội làm chứng cho Chúa như các thánh Tử Đạo cha ông, nhưng chúng ta vẫn có thể trở thành chứng nhân của Chúa ngay giữa cuộc sống đời thường hằng ngày trong gia đình và ngoài xã hội:
– Để có thể sẵn sàng hy sinh mạng sống vì đức tin khi cần, ngay từ bây giờ chúng ta đã phải quyết tâm sống đức công bình bác ái trong các giao tiếp với hàng xóm và làm ăn buôn bán nơi phố chợ.
– Để có thể dũng cảm làm chứng cho Chúa trước mặt người đời khi có dịp, ngay từ bây giờ chúng ta đã phải là những người chồng người vợ tốt lành, luôn chu tòan trách nhiệm lo cho gia đình, là những người con cháu có lòng hiếu thảo đối với các bậc tiền nhân ông bà;
– Để sau này có thể trở thành công dân của Nước Trời, thì ngay từ bây giờ chúng ta đã phải là những người công dân tốt, sẵn sàng chu tòan nghĩa vụ đối với quê hương và trở thành khí cụ bình an của Chúa bằng cách sống theo tinh thần của Kinh Hòa Bình… Nhờ đó chúng ta sẽ gây được thiện cảm đối với đồng bào lương dân cùng khu xóm với chúng ta.

LỜI CẦU:
– Lạy Chúa, xưa Chúa đã dạy các môn đệ rằng: “Anh em sống giữa thế gian, nhưng không được theo thói thế gian”. Xin cho chúng con đừng bao giờ bỏ Chúa để chạy theo cám dỗ của thế gian, ma quỉ và chiều theo các đam mê xác thịt. Xin cho chúng con luôn ý thức rằng: “Con nhà tông không giống lông, cũng giống cánh”, để chúng con luôn xứng đáng là con cháu của các Anh Hùng Tử Đạo Việt Nam. Xin cho chúng con luôn chiếu ánh sáng tin yêu trước mặt người đời: Biết nở nụ cười khi tiếp xúc, sẵn sàng cởi mở đi bước trước để làm quen với những người mới gặp, mở miệng an ủi những ai đang gặp tai nạn rủi ro; biết khiêm hạ phục vụ tha nhân, đặc biệt phục vụ những người đau khổ bất hạnh đang cần được cảm thông trợ giúp.
– Hát chung Kinh Hòa Bình của thánh Phanxicô: “Lạy Chúa từ nhân, xin cho con biết mến yêu và phụng sự Chúa trong mọi người… “
X. HIỆP CÙNG MẸ MARIA.
Đ. XIN CHÚA NHẬM LỜI CHÚNG CON.

 

24/11-195: LÀM CHỨNG CHO CHÚA

Lm. Gioan M. Nguyễn Thiên Khải
Thưa anh chị em,
 

Trang Tin mừng chúng ta vừa nghe, Đức Giêsu báo cho các môn đệ biết trước tương lai các 24/11-195

Trang Tin mừng chúng ta vừa nghe, Đức Giêsu báo cho các môn đệ biết trước tương lai các ông sẽ bị các vua chúa quan quyền bắt bớ, đánh đập, hành hạ sỉ nhục. Thế nhưng, tất cả những đau khổ đó Đức Giêsu sẽ trải qua trước. Chẳng hạn như Chúa nói: “Các con hãy coi chừng người đời, họ sẽ bắt nộp các con cho các hội đồng, và sẽ đánh đập các con nơi hội đường của họ” (Mt 10, 17).
Người Do thái đã bắt nộp Đức Giêsu cho hội đồng, người đứng đầu hội đồng là thượng tế Caipha năm ấy. Ông đã nói một câu ám chỉ về cái chết của Đức Giêsu: “Thà một người chết thay cho dân được nhờ”. Sau đó, họ điệu Đức Giêsu đến quan Philatô xét xử, quan trao cho lý hình đánh đập Đức Giêsu tả tơi đến nổi chẳng còn hình tượng người ta nữa.
Tiếp đến: “Các con sẽ bị điệu ra trước mặt vua Chúa quan quyền để làm chứng cho họ….” (Mt 10, 18). Đức Giêsu đã bị các thượng tế điệu ra trước mặt vua chúa quan quyền. Trước mặt quan Philatô, Ngài đã làm chứng: “Tôi là vua, Tôi đến thế gian này là để làm chứng cho sự thật, ai hâm mộ sự thật thì nghe Tôi” (Ga 18,37).
Rồi Chúa nói tiếp: “Anh sẽ nộp em, em sẽ nộp anh…..vì danh Thầy, các con sẽ bị mọi người ghen ghét, nhưng ai bền đổ đến cùng, kẻ ấy sẽ được cứu độ” (Mt 10, 21-22).
Chính Đức Giêsu đã  bị Giuđa dùng nụ hôn là dấu chỉ của tình yêu, trở thành nụ hôn phản bội, nộp Thầy mình với giá 30 đồng bạc. Cho nên, khi chúng ta nhìn vào cuộc thương khó của Đức Giêsu, chúng ta mới biết thế nào là tử đạo.
Anh chị em thân mến,
Theo sử liệu để lại, thì Giáo Hội Việt Nam có khoảng 130.000 tín hữu can đảm đổ máu ra làm chứng cho Chúa Kitô trên quê hương đất nước chúng ta. Trong số đó có 118 vị đã được thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II tôn phong lên bậc hiển thánh ngày 19/6/1988, mà năm nay, Giáo hội Việt nam mừng năm thánh tròn 30 năm.
Thế thì, do động lực nào mà các vị tử đạo dám đổ máu mình ra như thế?. Thưa, chính là tình yêu. Tình yêu này khởi đi từ Đức Kitô, khi Ngài nói: “Các con hãy yêu thương kẻ thù, hãy cầu nguyện cho những kẻ làm hại mình, hãy tha thứ cho những kẻ bắt bớ mình, và chúc phúc cho những kẻ làm khổ mình” (Mt 6,44).
Tình yêu ấy được thể hiện khi Đức Giêsu cầu nguyện trên cây thánh giá “Lạy Cha, xin Cha cho họ vì họ lầm chẳng biết” (Lc 23,34). Có thể nói đây là lời cầu nguyện hay nhất, khi Đức Giêsu nói lời tha thứ cho những kẻ hành hạ mình cho đến chết.
Noi theo gương Đức Kitô, các vị tử đạo đã sẵn sàng tha thứ cho những kẻ hành hạ mình. Cầu nguyện cho những kẻ bắt bớ mình. Nhờ Chúa ban ơn trợ giúp, những con người vốn mỏng dòn yếu đuối đã trở nên can đảm phi thường. Chính khi các ngài chịu trăm bề đau khổ, các ngài làm chứng cho đạo Chúa là đạo của tình thương và tha thứ.
Thiên Chúa đã yêu thương thế gian, đến nổi đã hiến ban Con Một của Ngài cho thế gian. Ngay cả khi thế gian loại trừ Con của mình, Thiên Chúa vẫn một lòng yêu thương. Cả khi thế gian đóng đinh người Con của mình vào cây thập giá, Thiên Chúa vẫn một lòng yêu thương tha thứ.
Để làm chứng cho đạo yêu thương, nên các vị tử đạo đã yêu thương dân tộc Việt nam hơn ai hết. Các Ngài xác tín rằng: nhờ Tin mừng của Chúa mà đất nước này được tốt đẹp hơn. Tình Chúa tình người ắp đầy bình an hạnh phúc. Và vì thế, các ngài đã chấp nhận hiến dâng mạng sống không chỉ vì lòng yêu mến Đức Kitô mà cả vì lòng yêu mến quê hương đất nước này nữa. Cho nên, dù vua Chúa quan quyền có hành hạ các ngài cho đến chết, các Ngài vẫn một lòng yêu thương tha thứ.
Thật vậy, chỉ vì tin Đức Giêsu là Đấng Cứu Độ trần gian treo trên thánh giá, mà thánh Matthêu Gẫm can đảm không bước qua Thánh giá. Ngài trả lời với ông quan tỉnh rằng: “Thánh giá tôi tôn thờ, tôi giẫm lên sao được?”.
Chỉ vì tin có sự sống lại ở đời sau, tin có hạnh phúc Nước trời, mà thánh Mỹ vui lòng chịu trăm bề đau khổ, để bước theo chân Chúa đến cùng. Ngài nói với quan tổng đốc rằng: “Tôi đã suy xét kỹ, và tin nhận đạo Thiên Chúa là đạo thật, nên tôi không chối bỏ đạo này bao giờ”.
Ngày nay, Giáo Hội cần có những người dám sống, dám làm chứng cho Chúa trước mặt người đời. Cuộc sống làm chứng cho Chúa ngày nay là một hình thức tử đạo tuy không đổ máu, không đòi hy sinh mạng sống, nhưng đòi chúng ta làm chứng cho Chúa về đạo yêu thương của mình.
 Cuộc sống tử đạo ngày nay không vua chúa quan quyền nào bắt bớ hành hạ chúng ta cho đến chết, nhưng đòi chúng ta biết can đảm chết đi cho những đam mê tật xấu. Và vì lòng yêu mến Chúa, chúng ta sẵn sàng bao dung, tha thứ và cầu chuyện cho những người xúc phạm đến chúng ta.
Anh chị em thân mến,
Giáo hội Việt nam tưới thắm không biết bao nhiêu máu của các thánh tử đạo, đó là các bậc tiền nhân đi trước chúng ta. Các ngài đã dầy công vun xới để cho hạt giống đức tin trổ sinh hoa trái dồi dào trên quê hương đất nước, mà ngày nay chúng ta được thừa hưởng.
Mừng kính các Thánh Tử Đạo Việt Nam, chúng ta chung lời tạ ơn Thiên Chúa đã ban cho Giáo hội có những hạt giống đức tin, được gieo vãi trên quê hương Việt Nam. Tạ ơn Chúa, vì đức tin chúng ta được lớn lên trong dòng máu tử đạo của các chứng nhân tình thương.
Chúng ta hết lòng ngưỡng mộ, vì các Ngài đã anh dũng trong đức tin, kiên trì trong đức cậy và bền đỗ trong đức mến dưới bất cứ hình khổ nào.
Khi cử hành lễ các thánh tử đạo Việt nam, là cơ hội chúng ta nhớ về quá khứ để tỏ lòng tri ân, vì cha ông tổ tiên để lại cho chúng ta một gia sản cao quí đó là đức tin vững mạnh vào Chúa.
Đồng thời, mừng lễ hôm nay, hướng về tương lai, noi gương các thánh tử đạo, chúng ta tiếp tục sống làm chứng cho Chúa bằng đời sống bác ái yêu thương, vui lòng đón nhận những đau khổ dưới bất cứ hình thức nào, để danh Chúa được rạng rỡ vinh quang.
Ước gì ngọn lửa đức tin mà các bậc tiền nhân đã thắp lên bằng cái chết đẫm máu, để làm chứng cho Chúa, sẽ được bừng sáng lên mãi trên tổ quốc Việt Nam thân yêu này. Nhờ đó làm cho công cuộc loan báo Tin mừng sinh nhiều hoa trái hơn nữa. Amen

 

24/11-196: TUYÊN XƯNG, SỐNG VÀ LÀM CHỨNG CHO ĐỨC TIN

+ ĐTGM Giuse Nguyễn Năng
 

Không một tôn giáo nào có một lịch sử kỳ lạ như Kitô giáo. Quả vậy, không một tôn giáo nào 24/11-196

1- Không một tôn giáo nào có một lịch sử kỳ lạ như Kitô giáo. Quả vậy, không một tôn giáo nào bị bách hại nhiều, lâu dài và đau thương như Kitô giáo; và cho dù bị bách hại nhiều, lâu dài và đau thương, Kitô giáo không hề bị tiêu diệt, trái lại vẫn không ngừng tăng trưởng cả về phẩm chất lẫn số lượng. Đó là những bí ẩn của lịch sử không thể lý giải bằng lý lẽ tự nhiên, nhưng chỉ có thể hiểu được trong ánh sáng của niềm tin.
Quả vậy, ngay từ những năm tháng đầu tiên loan báo Tin Mừng, Hội Thánh đã trải qua 300 năm bị bách hại dưới thời các hoàng đế Roma. Rồi từ đó, Phúc Âm được rao giảng ở đâu, thì ở đó không sớm thì muộn, các Kitô hữu cũng bị bắt bớ và giết chết, Hội Thánh bị bách hại và loại trừ. Lịch sử Hội Thánh là một lịch sử đầy những cuộc tử đạo, ở khắp mọi miền trên thế giới, vào hết mọi thời kỳ trong lịch sử.
Ngay trong thời đại chúng ta, trong thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI này, nếu tính tổng cộng tất cả các Kitô hữu, gồm Công giáo, Chính thống, Anh giáo và Tin lành, thì hằng năm có khoảng 170.000 người tử đạo, 200.000.000 người chịu bách hại vì đức tin Kitô giáo.
Trên mảnh đất Việt Nam thân yêu này, 117 vị thánh đã được phúc tử đạo trong một giai đoạn bách hại kéo dài đúng 117 năm, tính từ hai vị tử đạo tiên khởi vào năm 1745 đến vị cuối cùng vào năm 1862, qua các triều đại vua Lê chúa Trịnh, Tây Sơn và các triều nhà Nguyễn. Đó là chưa kể chân phước Anrê Phú Yên tử đạo vào năm 1644, và hằng trăm ngàn tín hữu chết vì đức tin nhưng chưa được phong thánh.
Bức tranh trên đây là một thực tế, và đó cũng là một điều bí ẩn của lịch sử Hội Thánh. Các Kitô hữu bị ghét, vì trước hết, chính Chúa Giêsu đã bị ghét và đã chịu tử hình trên thánh giá. Chúa Giêsu chính là vị tử đạo đầu tiên vì Tin Mừng mà Ngài rao giảng. Ngài là con đường dẫn đến sự sống đích thực, nhưng thế gian lại yêu sự tối tăm hơn ánh sáng.
Chúa nói: “Vì anh em không thuộc về thế gian, và Thầy đã chọn, đã tách anh em khỏi thế gian, nên thế gian ghét anh em… Nếu họ đã bắt bớ Thầy, họ cũng sẽ bắt bớ anh em… Họ chống lại anh em, vì anh em mang danh Thầy, bởi họ không biết Đấng đã sai Thầy” (Ga 15, 19-21). Đơn giản chỉ là thế. Sâu xa là như vậy.
Tuy nhiên, Chúa đã hứa ở cùng Hội Thánh mọi ngày cho đến tận thế, và Chúa đã tuyên bố không quyền năng nào có thể tiêu diệt Hội Thánh. “Trong thế gian, anh em sẽ phải gian nan khốn khó. Nhưng can đảm lên, Thầy đã thắng thế gian” (Ga 16, 33).
2- Ngày lễ các thánh tử đạo tại Việt Nam hôm nay, chúng ta hãy cùng nhau ôn lại đời sống đức tin của các thánh tử đạo Việt Nam để xem các ngài đã tuyên xưng, đã sống và làm chứng cho đức tin thế nào.
Tại sao các Kitô hữu bị ghét bỏ, bị bắt bớ và giết chết? Các thánh tử đạo đã làm gì?
Các thánh tử đạo bị giết chỉ vì tuyên xưng lòng tin vào Chúa Giêsu. Lòng tin ấy biểu lộ qua việc tôn thờ thánh giá Chúa. Thánh Anrê Kim Thông nói với quan tỉnh: “Thánh giá tôi kính thờ, tôi giẫm lên sao được!” Thánh Têôphan Ven nói: “Tôi đã suốt đời thuyết giảng về đạo thập giá, nay tôi lại đạp lên thập giá thế nào được? Tôi thiết nghĩ sự sống đời này đâu quí hoá đến độ tôi phải bỏ đạo mà mua!”
Chắc chắn không phải vì các ngài đã theo đạo Tây mà phản bội tổ quốc và dân tộc. Các ngài tôn trọng vua quan và hết lòng vì quê hương. Thánh linh mục Tự đối đáp với quan tòa: “Tôi kính Thiên Chúa như Thượng Phụ, kính vua như trung phụ, và kính song thân như hạ phụ. Không thể nghe cha ruột để hại vua, tôi cũng không thể vì vua mà phạm đến Thượng Phụ là Thiên Chúa được”.
Nhiều vị thánh đã ở trong hàng ngũ quân đội bảo vệ đất nước. Thánh Trần Văn Trung là một binh sĩ, đã bị giết vì khẳng khái tuyên bố: “Tôi là Kitô hữu, tôi sẵn sàng đi đánh kẻ thù của đất nước, nhưng bỏ đạo thì không bao giờ”. Thánh linh mục Khuông từng tuyên bố: “Đạo Giatô không những cấm tín hữu chống lại triều đình, mà còn khuyến khích để họ cầu nguyện và góp phần giúp quê hương an ninh thịnh vượng”.
Yêu nước không có nghĩa là phải thù ghét loại trừ các Kitô hữu và chống lại Kitô giáo.
3- Lời tuyên xưng của các thánh tử đạo không chỉ là lời tuyên bố trong một khoảnh khắc nhất thời trước khi chết, nhưng đó là hoa trái kết tinh từ một đời sống thấm nhuần Lời Chúa. Các ngài đã sống đức tin, đã thể hiện Tin Mừng yêu thương trong chính đời sống của mình.
Trước hết, đời sống đức tin của các thánh tử đạo được biểu lộ ngay trong bổn phận hằng ngày của đời sống gia đình.
Dù thời đó, chế độ đa thê vẫn đang thịnh hành trong xã hội Việt Nam, nhưng các thánh tử đạo đã trung thành với giáo huấn một vợ một chồng của Phúc Âm. Dĩ nhiên có những vị lúc đầu đã không trung thành với lời cam kết hôn nhân, như các thánh Gẫm, binh sĩ Huy, Cai Thìn, quan Hồ Đình Hy… đã có thời gian sa ngã, thế nhưng sau đó tất cả đều biết trở về để vun đắp lại mái ấm gia đình của mình.
Các thánh chu toàn bổn phận nuôi dạy con cái theo tinh thần đức tin. Thánh Thọ căn dặn các con vào thăm trong tù: “Các con thân mến, cha không còn làm gì giúp các con ở thế gian này được nữa, cha chỉ còn lo chuẩn bị tâm hồn đón nhận những thử thách cuối cùng. Ý Chúa đã muốn cha xa lìa các con mãi mãi, nhưng các con còn có mẹ, hãy cố gắng vâng lời mẹ. Các con lớn hãy nhớ quan tâm săn sóc em mình. Các con nhỏ phải biết kính trọng vâng lời anh chị. Hãy thương yêu nhau, siêng năng làm việc đỡ đần mẹ. Hãy nhớ đọc kinh tối sáng và lần chuỗi Mân Côi hằng ngày. Chúa trao cho mỗi người một thánh giá riêng, hãy vui vẻ vác theo chân Chúa và kiên trung giữ đạo”.
Về phần thánh Anê Lê Thị Thành, vị thánh nữ duy nhất trong số các vị tử đạo, người con gái thứ hai của ngài là cô Anna Năm xác nhận: “Bố mẹ chúng tôi chỉ gả các con gái cho những người thanh niên đạo hạnh. Sau khi tôi kết hôn, mẹ tôi thường đến thăm chúng tôi và khuyên bảo những lời tốt lành. Có lần mẹ dạy tôi: “Tuân theo Ý Chúa, con lập gia đình là gánh rất nặng. Con phải ăn ở khôn ngoan, đừng cãi lời cha mẹ chồng. Hãy vui lòng nhận thánh giá Chúa gửi cho”. Người cũng thường khuyên vợ chồng tôi: “Hai con hãy sống hoà hợp, vui vẻ, đừng để ai nghe chúng con cãi nhau bao giờ”.”
Kế đến, sống đức tin là sống Tin Mừng yêu thương.
Thánh y sĩ Phan Đắc Hòa rộng tay giúp người nghèo khổ, riêng bệnh nhân túng thiếu, không những ông chữa bệnh miễn phí, lại còn giúp tiền giúp lúa. Thánh Martinô Thọ nói: “Công bằng chưa đủ, phải có bác ái nữa, mà muốn thực thi bác ái phải có điều kiện”, nên ngài trồng thêm vườn dâu kiếm tiền giúp người thiếu thốn. Người cùng tử đạo với ngài là Gioan Cỏn từng mạnh dạn đấu tranh cho người nghèo chống lại chính sách đòi sưu cao thuế nặng. Thánh Năm Thuông là ân nhân của viện cô nhi trong vùng. Còn thánh Trùm Đích thường xuyên thăm viếng trại cùi và sẵn sàng nuôi người mắc bệnh dịch tại nhà mình.
Điều quan trọng trong đời sống đức tin của các thánh tử đạo là lòng tha thứ.
Nếu lòng anh dũng giúp các vị tử đạo bình thản đón nhận cái chết không run sợ, không quỵ lụy khóc than, thì chính lòng bao dung thứ tha mới là đặc tính phân biệt vị tử đạo với những vị anh hùng vì lý do khác.
Các tín hữu chỉ thực sự chết vì đạo nếu biểu lộ được tình yêu, lòng nhân ái, sự bao dung của Tin Mừng. Các vị chắc chắn không đồng ý với bản án bất công của triều đình, nhưng như Đức Giêsu trên thánh giá vẫn cầu nguyện cho quân lính giết hại mình, các chứng nhân tử đạo vẫn tiếp tục yêu thương vua quan và những người hành xử mình.
Khi viên quan nói: “Tôi phải theo lệnh vua, đừng giận tôi nhé”, linh mục Théophane Ven đáp: “Tôi chẳng ghét gì ai cả, tôi sẽ cầu nguyện nhiều cho quan”. Thánh Hoàng Lương Cảnh làm cho quan quân phá lên cười khi ngài đọc: “Cầu Chúa Giêsu, xin cho các quan trị nước cho yên càng ngày càng thịnh”.
4- Lời tuyên xưng và đời sống đức tin của các thánh tử đạo đã làm trổ sinh hoa trái phong phú trên quê hương Việt Nam thân yêu này.
Chính đời sống của các thánh tử đạo đã cảm hóa và chiếm được tình cảm của bà con hàng xóm. Dù triều đình nhà Nguyễn ra chiếu chỉ bách hại, bà con hàng xóm vẫn tỏ dấu hiệu thân ái với người công giáo.
Thánh linh mục Vũ Bá Loan là niên trưởng 84 tuổi, được mọi người kính trọng gọi bằng “cụ”, ngài không bị đánh đòn; và trong ngày xử, mười lý hình chạy trốn, đến người thứ mười một, đã lịch sự xin phép: “Việc vua truyền cháu phải làm, xin cụ xá lỗi cho. Cháu sẽ cố giúp cụ chết êm ái. Khi về trời cụ nhớ đến cháu nhé”.
Trong vụ án thánh linh mục Gioan Đạt, viên cai ngục nói: “Tôi thấy cụ khôn ngoan, đạo đức, thì muốn kết nghĩa huynh đệ lắm, ngặt vì cụ sắp bị án tử rồi. Tôi xin hứa biếu cụ một cổ quan tài để biểu lộ lòng tôi quí cụ.”
Hơn nữa, ngay trong lúc bị giam tù, các ngài đã đưa hằng trăm người đến với Chúa. Và từ đó đến nay, hạt giống Tin Mừng không ngừng lớn lên trong đất nước này. Tin Mừng như men đang thấm vào mọi sinh hoạt xã hội để đưa thế gian đi theo con đường của chân lý Phúc Âm.
Là con cháu các thánh tử đạo, chúng ta hãy phát huy gia sản đức tin mà cha ông đã để lại cho chúng ta. Đức tin ấy đã lớn lên trong máu và nước mắt, trong hy sinh và gian khổ. Bao nhiêu thế hệ đã nằm xuống để chúng ta được trung kiên với đức tin tông truyền.
Ngày nay, tuy không còn phải chịu những đau thương dữ dằn như trong quá khứ, nhưng chúng ta đang phải đối diện với một cuộc tấn công khác có thể còn nguy hiểm gấp bội, đó là sức mạnh của tiền bạc, địa vị, khoái lạc, tự do buông thả. Những sức mạnh này đã làm cho bao nhiêu tín hữu gục ngã, đã lôi kéo bao nhiêu Kitô hữu rời xa Hội Thánh, đã làm cho biết bao người quên Thiên Chúa.
Chúng ta hãy bắt chước các thánh tử đạo tuyên xưng đức tin một cách xác tín, ý thức. Chúng ta có thể nói như thánh Phaolô không: “Tôi biết tôi đã tin vào ai?” (2 Tm 1,12). Hãy để cho lòng tin vào Chúa thấm nhuần và biến đổi cuộc sống chúng ta, để tất cả mọi hành vi, ứng xử, chọn lựa, thái độ, của chúng ta luôn tỏa chiếu sức mạnh của Tin Mừng và tạo nên một sức hấp dẫn đối với những người chung quanh để đưa họ đến với Chúa Giêsu Cứu Thế.
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây