Suy Niệm Tin Mừng Lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời 15/8 ABC Bài 101-121

Chủ nhật - 11/08/2019 05:04
Suy Niệm Tin Mừng Lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời 15/8 ABC Bài 101-121
Suy Niệm Tin Mừng Lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời 15/8 ABC Bài 101-121
Suy Niệm Tin Mừng Lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời 15/8 ABC Bài 101-121
15/8-101: Lễ Ðức Maria Hồn Xác Lên Trời 1
15/8-102: Đặc ân hồn xác lên trời 5
15/8-103: Ðức Maria, Linh Hồn và Xác Lên Trời 7
15/8-104: Lời thưa xin vâng. 9
15/8-105: Mẹ là Mẹ của tôi 11
15/8-106: Sống Lời Chúa theo gương Mẹ. 14
15/8-107: Xin vâng. 18
15/8-108: Yêu thương phục vụ theo gương Mẹ Maria. 20
15/8-109: Ý nghĩa lễ Đức Mẹ Maria hồn xác lên trời 22
15/8-110: ĐỨC MẸ HỒN XÁC LÊN TRỜI 24
15/8-111: NGUỒN GỐC LỄ ĐỨC MẸ HỒN XÁC LÊN TRỜI 31
15/8-112: "Đức Mẹ hồn xác lên trời" trong hội họa. 34
15/8-113: Mừng lễ Đức Mẹ hồn xác lên trời 38
15/8-114: Lễ Đức Mẹ hồn xác lên trời 43
15/8-115: Linh hồn tôi ngợi khen Chúa. 45
15/8-116: Đức Mẹ Maria hồn xác lên trời 50
15/8-117: Đức Maria hồn xác lên trời (Assumpta) 52
15/8-118: ĐỨC MARIA HỒN XÁC LÊN TRỜI 55
15/8-119: Mẹ được Chúa cho hồn xác lên Trời 57
15/8-120: TRUYỀN THỐNG VÀ THÁNH KINH NÓI GÌ?. 63
15/8-121: ĐỨC MẸ HỒN XÁC VỀ TRỜI HIỂN VINH.. 66
 

15/8-101: Lễ Ðức Maria Hồn Xác Lên Trời

"Phúc thay Người Mẹ đã cưu mang Thầy và cho Thầy bú mớm"
§ +GM Phanxicô Xaviê Lê Văn Hồng

(Bài giảng lễ Vọng Mẹ Lên Trời)
Kính thưa cộng đoàn hành hương,

Chiều hôm nay, lễ Vọng kính Mẹ Lên Trời hồn xác, chúng ta qui tụ từ muôn phương về linh 15/8-101

Chiều hôm nay, lễ Vọng kính Mẹ Lên Trời hồn xác, chúng ta qui tụ từ muôn phương về linh địa La Vang, để cùng với Mẹ dâng lời cảm tạ và ca tụng tình thương của Thiên Chúa đã đoái nhìn đến phận Nữ tỳ hèn mọn và thực hiện những điều kỳ diệu cho Mẹ, đặc biệt đã ban cho Mẹ đặc ân được hưởng hạnh phúc trên trời cả hồn lẫn xác, làm Nữ Vương các thiên thần và các thánh.
Không phải đợi đến lúc kết thúc cuộc đời dương thế, Mẹ mới được hưởng hạnh phúc, mà ngay lúc còn tại thế, giữa những thử thách và thăng trầm của cuộc đời, Mẹ đã luôn cảm nếm được hạnh phúc đích thực, hạnh phúc vì được Chúa yêu và vì Mẹ đã yêu Chúa hết lòng. Hạnh phúc vì đã cưu mang và nuôi dưỡng Con Thiên Chúa, như lời một phụ nữ đã lớn tiếng ca tụng Mẹ khi nghe Lời Chúa giảng dạy: "Phúc thay Người Mẹ đã cưu mang Thầy và cho Thầy bú mớm."
Người phụ nữ nầy xem quả thì biết cây: Cây tốt sẽ sinh trái tốt. Hình ảnh người Mẹ được bộc lộ nơi người con. Một người con trọn lành thánh thiện như Chúa Giêsu, thì Mẹ của Ngài chắc chắn cũng muôn phần hoàn hảo và tốt lành. Mát lòng biết bao! hãnh diện và hạnh phúc biết bao cho đứa con khi người ta ca tụng mẹ của mình!
Chắc chắn Chúa Giêsu hài lòng về lời ca tụng của người phụ nữ kia. Chúa không chối bỏ công sinh thành dưỡng dục của Mẹ Maria, nhưng Ngài còn muốn lợi dụng cơ hội nầy để tuyên dương một hạnh phúc khác cao cả hơn, lớn lao hơn, Ngài nói: "Đúng hơn phải nói rằng: Phúc thay kẻ lắng nghe và tuân giữ Lời Thiên Chúa".
Chúa muốn đề cao Người Mẹ mà Ngài luôn yêu mến và kính trọng. Ngài tế nhị muốn nói: Mẹ tôi có phúc không chỉ vì đã cưu mang và nuôi dưỡng tôi, nhưng Mẹ tôi còn có phúc hơn vì dã biết lắng nghe và tuân giữ Lời của Thiên Chúa.
Lắng nghe và tuân giữ Lời của Thiên Chúa đó là hai điểm chúng ta cùng chiêm ngưỡng nơi Mẹ Maria trong giây phút nầy.

1- Mẹ có phúc vì đã lắng nghe Lời của Thiên Chúa.
Trong chương trình mạc khải của Thiên Chúa, Ngài thường tỏ bày thánh ý của Ngài cho những tâm hồn khiêm tốn nhỏ bé, như Chúa Giêsu đã nói: "Lạy Cha là Chúa tể trời đất, Con xin ngợi khen Cha vì Cha đã dấu không cho các bậc khôn ngoan, thông thái biết những điều nầy, nhưng lại mạc khải cho những người bé mọn"( Mt 11,25).
Thiên Chúa cũng chỉ nói với những ai có thành tâm thiện chí muốn lắng nghe như trường hợp của Samuel, chỉ khi cậu chắp tay thưa:" Lạy Chúa xin hãy phán vì tôi tớ Chúa đang lắng tai nghe", Ngài mới phán dạy.
Tâm hồn Mẹ Maria có cả đủ hai điều kiện đó. Mẹ khiêm tốn tột độ, tự hạ đóng vai trò một nữ tỳ để phục vụ và luôn sẵn sàng đón nhận thánh ý Thiên Chúa, như lời Mẹ đã thưa với thiên sứ lúc truyền tin "Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói" (Lc 1,38).
Thái độ lắng nghe còn đòi hỏi một tình yêu thúc bách đi tìm biết ý của người yêu: Mẹ khao khát ước mong tìm thánh ý Thiên Chúa trong mọi hoàn cảnh. Mẹ biết tiếng Chúa không ở trong sấm chớp, trong mưa gió nhưng âm thầm nhẹ nhàng trong ngọn gió hiu hiu, qua những biến cố tầm thường trong cuộc sống. Vì thế cần có một tâm hồn nhạy cảm, tế nhị biết lắng nghe.
Ý của Thiên Chúa không luôn trùng hợp với ý riêng của Mẹ mà nhiều lúc còn hoàn toàn trái ngược. Trong những trường hợp đó Mẹ không chống đối, phiền trách nhưng đã biết " khắc ghi và suy niệm mọi điều đó trong lòng" ( Lc 2,19).
Thái độ lắng nghe còn nói lên sự nhạy bén của con tim luôn tin tưởng vào người mình lắng nghe, không do dự đắn đo. Chỉ trong cùng một thứ ngôn ngữ của những con tim yêu nhau, họ mới dễ nhận ra và hiểu đúng ý của người mình yêu. Mẹ Maria luôn kết hiệp với Chúa, con tim Mẹ rất nhạy cảm trước những mặc khải của Thiên Chúa tình yêu. Đối với Mẹ, lắng nghe cũng là một đáp trả tình yêu của Thiên Chúa.

2- Mẹ có phúc vì đã tuân giữ Lời của Thiên Chúa.
Đây là bước thứ hai của tình yêu để đáp trả tình yêu. Một khi đã nhận ra ý của Thiên Chúa, thì cố gắng bằng mọi giá làm theo ý của Cha trên trời như là một dấu chứng tình yêu.
Có nhiều người đi được bước đầu: lắng nghe và nhận ra ý Thiên Chúa, nhưng không đủ can đảm đi tiếp bước thứ hai là làm theo lời Ngài, vì thiếu quảng đại, sợ hy sinh, ngại bỏ ý riêng.
Đức Maria, với một tâm hồn quảng đại, sẵn sàng hy sinh để đáp trả, Mẹ luôn thi hành Thánh ý Chúa. Hai chữ “Xin Vâng" trở thành điệp khúc bài ca tình yêu của Mẹ dâng lên Thiên Chúa. Mẹ xin vâng không chỉ trong những hoàn cảnh xuôi thuận may mắn mà còn trong những biến cố khó khăn và thử thách.
Thiên Chúa muốn Mẹ sinh con trong hang lừa máng cỏ nghèo nàn lạnh buốt. Ngài muốn Mẹ vất vả lao đông để đổi lấy bát cơm manh áo. Ngài muốn Mẹ chia sẻ những chống đối vô ơn của con mình trên bước đường thi hành thánh ý Chúa Cha. Ngài muốn Mẹ từng bước theo Con trên đường núi sọ. Ngài mời gọi Mẹ có mặt dưới chân thánh giá để chứng kiến cái chết đẫm máu và đau thương của Người Con yêu dấu.
Trong mọi trường hợp và cảnh huống, Mẹ luôn thưa xin vâng với tâm tình tuân phục và tin yêu, vì Mẹ luôn muốn thi hành thánh ý của Thiên Chúa.
Kính thưa anh chị em,
Trong hai ngày hành hương về La Vang để mừng lễ Mẹ Lên Trời hồn xác, Chúa muốn chỉ cho chúng ta một con đường về trời với Mẹ Maria: Đó là con đường biết lắng nghe và tuân giữ lời của Thiên Chúa. Hạnh phúc lắng nghe và tuân giữ Lời Thiên Chúa không chỉ dành riêng cho một mình Mẹ, nhưng Chúa đã muốn mời gọi tất cả chúng ta hưởng trọn niềm vui và hạnh phúc đó.
Chúa Giêsu đã xác nhận điều nầy khi quả quyết: "Phàm ai thi hành ý muốn của Cha tôi, Đấng ngự trên trời, người ấy là anh chị em tôi, là mẹ tôi" ( Mt 12,49).
Con đường lên trời là một con đường lên dốc, đòi hỏi nhiều cố gắng và hy sinh liên tục. Nhưng chúng ta an tâm vì đã có một người Mẹ đi trước và đang giang tay chờ đón để lôi kéo chúng ta lên theo.
Hãy bám víu vào Mẹ, hãy cầu xin mẹ giúp chúng ta noi gương Mẹ luôn biết lắng nghe tiếng Chúa qua lương tâm, qua giáo huấn của Giáo Hội, qua Lời Chúa và qua mọi biến cố vui buồn của cuộc sống, để rồi sau đó cố gắng tuân giữ và thi hành thánh ý của Cha trên trời. Đó là con đường ngắn nhất, là hạnh phúc Chúa dành cho những ai yêu mến Ngài ngay trên cõi đời nầy vì phúc thay cho nhưng ai nghe và tuân giữ Lời của Thiên Chúa.
Lạy Mẹ La Vang xin cầu cho chúng con biết lắng nghe và thi hành thánh ý của Thiên Chúa như Mẹ. Amen.
 

15/8-102: Đặc ân hồn xác lên trời

Lc 1, 39 – 56
Lm.Giuse Maria Nguyễn Hưng Lợi DCCT

Giáo Hội dành cho Mẹ Maria biết bao tước hiệu. Mọi danh xưng của Mẹ đều gói trọn ý nghĩa 15/8-102

Giáo Hội dành cho Mẹ Maria biết bao tước hiệu. Mọi danh xưng của Mẹ đều gói trọn ý nghĩa cao vời. Mẹ Maria là Mẹ Chúa Giêsu và cũng là Mẹ của mỗi người chúng ta.
Do đó, tên Maria gợi lên cho ta tình thương vô biên của một người Mẹ luôn sẵn sàng yêu ta, cảm thông, tha thứ cho ta mỗi khi ta lỗi lầm yếu đuối. Còn tên nào trìu mến cho bằng tên Maria. Con người trần gian không thể dùng bất cứ ngôn ngữ nào để diễn tả về Mẹ Thiên Chúa. Con người chỉ biết cúi đầu trước bao danh xưng ý nghĩa tuyệt vời. Vì là Mẹ Thiên Chúa, Maria đã được Thiên Chúa ban cho nhiều đặc ân cao trọng mà bất cứ người phụ nữ nào  trên trần gian cũng không có được. Ơn vô nhiễm nguyên tội, ơn hồn xác về trời là những đặc ân vô cùng quí giá. Chỉ mình Mẹ có được và chỉ mình Mẹ mới có thể hiểu thấu. Mừng lễ Đức Maria hồn xác lên trời, chúng ta cảm nghiệm sao về đặc ân vô cùng quí giá ấy.
MẸ MARIA: Có Mẹ có Cha là một hạnh phúc lớn lao đối với con người. Tiếng Mẹ tiếng Cha luôn cho con trẻ và ngay cả người lớn cái cảm giác êm đềm, dễ chịu. Chúa Giêsu khi đến trần gian, Ngài cũng không đi một con đường nào khác, Ngài không sinh ra như một Tiên Nga giáng trần hay như một vị thần thánh nào khác. Ngài đã chọn một gia đình: có Cha, có Mẹ. Ngài đã sinh ra một cách bình thường như bất cứ một trẻ nhỏ nào khác. Đọc lại Kinh Thánh và học Giáo Lý, chúng ta không khỏi ngạc nhiên và vô cùng sung sướng khi thấy sự lạ lùng của việc Chúa làm. Con đường của Chúa hết sức kỳ diệu và con đường của Người vô cùng lạ lùng. Maria đã được chuẩn bị từ trước. Mẹ đã được sinh ra trong cung lòng của bà thánh Anna vào lúc bàđã tuổi già. Thánh Gioakim cũng đã ngã chiều và ở vào cái tuổi hai ông bà không thể nào sinh con vì tuổi tác. Nhưng Thiên Chúa đã làm một việc hết sức kỳ diệu, bà thánh Anna đã sinh con duy nhất là Đức Trinh Nữ Maria. Thế rồi cuộc đời của Maria cứ lớn lên trong ơn nghĩa của Chúa. Thiên Chúa lại để ý và sủng ái Mẹ Maria. Nhân loại phản bội Thiên Chúa. Cái tội phản bội đáng lẽ bị Chúa loại trừ, tiêu diệt. Thiên Chúa vẫn một lòng yêu thương con người. Ngài đã cất nhắc và chọn Đức Trinh Nữ Maria làm Mẹ Đức Giêsu Kitô, Con một Thiên Chúa. Ơn cao quí làm Mẹ Thiên Chúa là một ơn nhưng không Thiên Chúa tặng ban cho Mẹ Maria. Chính vì thế, Thiên Chúa đã dành cho Mẹ ơn vô nhiễm nguyên tội, ơn trinh thai và ơn hồn xác lên trời. Đứng trước những ơn vô cùng quí báu, Maria chỉ biết chấp nhận với tất cả lòng tin thâm sâu và lời xin vâng tuyệt vời. “ Đấng toàn năng đã làm cho tôi những điều cao trọng, danh Người thật chí thánh chí tôn”( Lc 1, 49 ).

ƠN HỒN XÁC LÊN TRỜI LÀ ƠN HUỆ CAO QUÍ CHÚA TẶNG BAN CHO MẸ:
Hơn ai hết Mẹ Maria đã hiểu rõ cái giới hạn của kiếp sống phù du của kiếp người.
Evà đã phạm tội, nghe lời xúi giục của con rắn mà phản nghịch lại lời giao ước của Thiên Chúa. Evà phải chết. Thân xác của bà trở về cát bụi. Maria, Mẹ của Thiên Chúa đã luôn làm theo ý Chúa. Lời xin vâng của Mẹ đã nói lên tấm lòng thẩm sâu của Mẹ. Mẹ tin, phó thác tuyệt đối vào Thiên Chúa. Mẹ đã hoàn toàn đi vào đường lối của Thiên Chúa, đi vào chương trình yêu thương của Thiên Chúa, Mẹ đã bám chặt vào Thiên Chúa, đã tin vào lời của Chúa. Mẹ tin mọi sự, Chúa đều có thể thực hiện. Mẹ đã tin, nên Mẹ sau khi chết đã được Thiên Chúa đưa về trời cả hồn lẫn xác. Đặc ân cao quí này chỉ mình Mẹ có được, chỉ mình Mẹ được thừa hưởng. Mẹ đã về trời cả hồn lẫn xác ở cạnh ngai toà Thiên Chúa. Đặc ân hồn xác lên trời của Mẹ cũng là ân huệ tuyệt vời Thiên Chúa đang mời gọi từng người chúng ta. Mẹ mời gọi nhân loại hãy đi vào chương trình của Thiên Chúa, bám chặt, tin tưởng, phó thác, cậy trông vào Chúa. Hãy xin Mẹ hồn xác về trời cầu thay nguyện giúp cho chúng ta để chúng ta cũng được về trời như Mẹ.
“Lạy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, Chúa đã đưa lên trời cả hồn lẫn xác Đức Maria là trinh nữ vô nhiễm và là thánh mẫu của con Chúa. Xin cho chúng con hằng biết hướng lòng về phúc lộc quê trời để mai sau được cùng thánh mẫu chung hưởng vinh quang( Lời nguyện nhập lễ, Lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời ).
 

15/8-103: Ðức Maria, Linh Hồn và Xác Lên Trời

LM.Hồng Phúc, CSsR
"Bởi quyền năng của Chúa Giêsu Chúa chúng ta, của Hai Thánh Tông Ðồ Phêrô và Phaolô và của chính ta, ta tuyên bố, bày tỏ và xác định như một tín điều được Thiên Chúa mạc khải rằng Ðức Maria, Mẹ vô nhiễm của Thiên Chúa sau khi đã mãn cuộc đời ở trần thế đã được linh hồn và xác lên trời vinh hiển".

Bằng những lời long trọng ấy, Ðức Giáo Hoàng Piô XII, xử dụng quyền vô ngộ, đã tuyên bố ngày 15/8-103

Bằng những lời long trọng ấy, Ðức Giáo Hoàng Piô XII, xử dụng quyền vô ngộ, đã tuyên bố ngày mồng 1 tháng 11 năm 1950, tín điều Ðức Mẹ hồn xác lên trời như một giáo điều phải tin.

1. Lịch Sử, Thánh Lễ
Cũng như tín điều Ðức Mẹ Vô Nhiễm, Tín điều Ðức Mẹ Hồn Xác lên trời được quảng nghĩa bởi Thánh Lễ kính mầu nhiệm ấy. Thánh lễ mừng ngày sinh nhật của Mẹ trên trời - Dies natalis - đã được mừng bên Ðông Phương từ thế kỷ thứ V và mang nhiều tên gọi như Mông Triệu (Assomption), Yên Nghỉ (Dormition) hay về trời (Transitus).
Thánh Lễ được gia nhập Tây Phương giữa thế kỷ thứ VII. Tuy nhiên, có nhiều sự do dự vì ảnh hưởng của các sách ngụy thư gây nên. Dầu vậy, với thời gian, giáo huấn được khai triển, thấu triệt hơn và toàn thể dân Chúa đi đến một niềm tin phổ cập.
Và Ðức Giáo Hoàng Piô XII đã công bố thành Tín điều tháng 11 năm 1950.
Nên biết rằng, dưới thời Ðức Piô XI, đã có phong trào xin công bố giáo thuyết Ðức Mẹ là Ðấng trung gian. Nhưng giáo thuyết đó không phù hợp với lời của Thánh Phaolô dạy rằng chỉ có một Ðấng trung gian (1Tm 2,5), cũng như gặp phải một số vấn nạn khác.
Ðức Piô XII liền chọn giáo thuyết Mông Triệu vì không đặt ra nhiều vấn đề. Và ngài đã công bố bằng những danh từ cố ý không giải quyết một số vấn đề tranh chấp.
Ngài chỉ công bố ngắn ngủi như sau: "Khi đã mãn cuộc sống ở thế trần, Ðức Trinh Nữ, Vô Nhiễm, Mẹ Thiên Chúa được triệu hồi về Thiên Ðàng cả Hồn lẫn Xác".
Ðức Piô XII chỉ minh xác rằng hiện nay Ðức Mẹ hiện diện trong vinh quang của Chúa Kitô Phục Sinh. Chỉ có thế.
Vấn đề: ở đâu, khi nào, cách nào, không được giải quyết. Cả vấn đề Ðức Mẹ có phải trải qua sự chết hay không cũng không được đề cập đến. Thường người ta tin rằng Ðức Mẹ cũng đã chết như Chúa Giêsu Con Ngài đã lãnh nhận sự chết, nhưng cũng có người như Thánh Epiphane và một số người khác cho rằng Ðức Mẹ không phải chết, chỉ được trực tiếp triệu hồi về Thiên Ðàng.
Như vậy, tín điều được công bố bãi bỏ những hình ảnh do các sách ngụy thơ nói vẻ vời như một cuộc thăng thiên trực chỉ có các Thiên Thần theo hầu... Danh từ triệu hồi (assumpta) là một danh từ Thánh Kinh hay dùng để nói lên cuộc gặp gỡ Chúa sau khi chết như trường hợp ông Hénoch (Sáng thế 5,24) tiên tri Elia (II Vua 2,3-10) được Chúa cất về. Và đó cũng là ân huệ Chúa dành cho mọi người công chính.

2. Tình thương sung mãn của Thiên Chúa dành cho Ðức Mẹ
Hai Tín điều: Ðức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội và Ðức Mẹ Linh Hồn và Xác lên trời, mới được công bố trong khoảng cách một thế kỷ là những tín điều liên kết bổ sung cho nhau, nói lên tình thương sung mãn của Thiên Chúa dành cho Ðức Mẹ. Ðồng thời Ðức Mẹ là tiền ảnh của Giáo Hội và của mỗi tâm hồn tín hữu lúc khởi thủy và lúc tận cùng cuộc đời.
Công cuộc Chúa làm thật lớn lao cao cả. Ngài đã chọn Ðức Mẹ để Mẹ thông phần vào việc Cứu Chuộc nhân loại và từ khởi thủy đã đưa Mẹ lên một bức trọn lành vượt mức báo hiệu một ngày tận cùng trọn hảo, do tình thương bao la của Chúa. Giáo Hội và mỗi người chúng ta cũng được tham gia vào cuộc vinh thăng ấy, như Ðức Mẹ là Mẹ và là mẫu gương cho chúng ta.
Chúng ta cũng được thông chia sự sống của Thiên Chúa qua ơn sủng của phép Thánh Tẩy, trở nên con của Chúa thì chúng ta hy vọng một ngày kia cũng được thông phần vinh quang bên cạnh Mẹ.
 

15/8-104: Lời thưa xin vâng

Đ.Ô. Phêrô Nguyễn Văn Tài
Lc 1,39-56

Triết gia hiện sinh của Pháp, Albert Camert đã nói rằng: "Con người là tạo vật duy nhất không chấp 15/8-104

Triết gia hiện sinh của Pháp, Albert Camert đã nói rằng: "Con người là tạo vật duy nhất không chấp nhận chính mình. Con người đành phải chịu đựng chính mình và chính vì phải chịu đựng mình mà con người luôn phẫn nộ với những giới hạn của mình và tìm cách vượt qua chính mình".
Một trong những thể hiện của thái độ không chấp nhận chính mình là ước mơ bất tử trường sinh được nuôi dưỡng và bày tỏ bằng nhiều cách khác nhau. Từ các vua chúa của Ai Cập qua Tần Thủy Hoàng của Trung Hoa đến những lãnh tụ độc tài của các thời đại, và cuối cùng, những nhà khoa học của thời đại, con người vẫn tìm đủ mọi cách để trở thành bất tử. Các vua Ai Cập khi qua đời không những được ướp xác, mà người ta còn chôn sống cả những người thân tín của họ. Tần Thủy Hoàng cũng đã suốt một đời đi tìm thuốc trường sinh bất tử. Những cái xác ướp của thời đại hiện đang được trưng bày trong những lăng tẩm nguy nga, mà sự bảo trì đòi hỏi bao nhiêu tốn kém cũng là thể hiện của những giấc mơ được sống mãi, dù chỉ là sống mãi với một thứ hào quang giả tạo.
Giấc mơ được sống lại ấy, ngày nay cũng đang được những nhà khoa học muốn hiện thực hóa qua việc tạo sinh vô tính con người, hay sử dụng tế bào gốc của các phôi thai người để chữa trị những căn bệnh nan y, và như vậy vượt qua biên giới của sự chết. Trước khi chết, người ta chỉ cần để lại một tế bào sống của mình và từ đó các nhà phù thủy khoa học sẽ nối dài cuộc sống của người đó bằng cách tạo sinh vô tính một con người y hệt như người đó. Với tế bào gốc rút ra từ phôi thai người, những nhà phù thủy khoa học cũng sẽ đánh bại thần chết bằng cách chữa trị mọi căn bệnh nan y.
Nhưng viễn tượng mà những nhà khoa học đang vẽ ra vì một vài người trường sinh bất tử trên mặt đất này, không chỉ thỏa mãn ước mơ được sống mãi, nó còn gợi lên bao nhiêu hệ lụy mà một cái nhìn có trách nhiệm không thể làm ngơ. Những con người trường sinh bất tử ấy sẽ là những con người bình thường, hay là những quái thai? Có được phép sử dụng hay sản xuất phôi thai để dùng vào việc chữa trị các căn bệnh nan y và làm cho con người trường sinh bất tử không? Ðó là những câu hỏi mà tinh thần trách nhiệm không thể tránh né được.
Tựu trung, sống và cư xử có trách nhiệm là đòi hỏi tất yếu của con người. Ðã là người đương nhiên phải có trách nhiệm. Nhưng nói đến trách nhiệm cũng là nói đến thân phận giới hạn của con người. Chính vì tính giới hạn ấy của con người mà tự do cũng đương nhiên có tính giới hạn.
Ðây là chân lý mà lễ Ðức Mẹ hồn xác lên trời hôm nay có thể gợi lên cho chúng ta để cùng suy nghĩ. Mẹ Maria là mẫu mực của một con người có trách nhiệm. Trách nhiệm ấy trước tiên là thể hiện qua sự cộng tác của Mẹ trong mầu nhiệm nhập thể. Mẹ đã thưa "Xin Vâng" với tất cả tinh thần trách nhiệm. Thưa "Xin Vâng" là chấp nhận đi vào một chương trình của Thiên Chúa, trong đó sự cộng tác của con người phải là toàn diện. Thưa "Xin Vâng" là ý thức về thân phận bất toàn và giới hạn của con người, nhưng đồng thời cũng triệt để tin tưởng nơi quyền năng tuyệt đối của Thiên Chúa. Chính vì đã thưa xin vâng một cách triệt để mà Mẹ Maria đã là người đầu tiên trong nhân loại vượt qua được ranh giới của sự chết để trở thành trường sinh bất tử thật sự.
Chấp nhận thân phận giới hạn của kiếp người và tin tưởng ở quyền năng của Ðấng có thể làm được mọi sự. Mẹ Maria đã được cất nhắc về trời cả hồn lẫn xác. Mẹ đã trở thành đích điểm của cuộc lữ hành đức tin của chúng ta. Mẹ đã chỉ ra cho chúng ta con đường đích thực để đi, hầu đạt được cứu cánh vĩnh cửu của chúng ta. Nhìn lên Mẹ từ giữa bao nhiêu giới hạn bất toàn và khổ đau của kiếp người, chúng ta được mời gọi củng cố niềm hy vọng của chúng ta. Giữa cuộc đời khổ lụy và tăm tối, chúng ta vẫn nhận ra ánh sáng để tiến tới. Ước gì bài ca Ngợi Khen mà Mẹ và cộng đoàn tiên khởi đã hát vang cũng trở thành tâm tình của chúng ta.
 

15/8-105: Mẹ là Mẹ của tôi

GM JB Bùi Tuần

Cuộc đời là một chuyến đi. Dù đứng, dù ngồi, dù nằm, tôi vẫn trên đường đi. Tôi dđang đi về 15/8-105

Cuộc đời là một chuyến đi. Dù đứng, dù ngồi, dù nằm, tôi vẫn trên đường đi. Tôi dđang đi về cuối đời. Rồi sẽ tới sự chết. Từ sự chết, tôi bước vào cõi sau. Cõi sau là một huyền nhiệm. Hạnh phúc đời đời, khổ cực đời đời sẽ được định đoạt ở đó.
Vì thế, trong chuyến đi cuộc đời, tôi phải lo đi đúng đường. Đường đó tạm gọi là đường lành.
Đâu là đường lành, tôi đâu dễ thấy. Mà dù có thấy, tôi đâu dám nói là tôi đủ can đảm để chọn con đường đó. Và dù đã chọn, tôi đâu dám quả quyết là tôi đủ sức để luôn đi đúng con đường đã chọn.
Rất may là trong chuyến đi cuộc đời, tôi có Đức Mẹ Maria. Tôi gọi Mẹ là mẹ của tôi. Mẹ ở bên tôi. Mẹ cùng đi với tôi. Mẹ trên đường với tôi.
Hôm nay, nhân dịp mừng lễ Đức Mẹ về trời, tôi xin chia sẻ đôi điều về Mẹ.
Đường đời của tôi tới đây được kể là khá dài. Tôi đi trên đường đó với biết bao thăng trầm. Tôi luôn nhìn vào Mẹ. Và tôi đã đón nhận từ Mẹ những điều đơn sơ mà hết sức quan trọng. Dưới đây chỉ là vài kinh nghiệm của kẻ còn trên đường dương thế.

1/ Toàn cảnh trước mắt
Mẹ cho tôi biết toàn cảnh trước mắt gồm có:
Thế giới thiên đàng tràn ngập tình yêu sáng láng của Chúa. Những ai hiệp thông với tình yêu đó, sẽ được hạnh phúc đời đời bên Chúa là Cha.
Thế giới hoả ngục sôi bỏng khổ đau, cô đơn, tăm tối. Những ai bị quăng vào đó sẽ phải chịu cực hình đời đời với quỷ dữ.
Thế giới trần gian pha trộn lành dữ. Đây là nơi thử thách và phấn đấu. Ai đi đúng đường tới phút chót sẽ được về với Cha trên trời.
Để được thế, tôi phải luôn tỉnh thức đón nhận Chúa Giêsu. Người ngự vào tâm hồn tôi. Người ở lại trong tôi. Người dần dần cải đổi tôi nên con người mới. Con người mới này sẽ có những nét hơn kém giống Người. Nét đặc biệt nhất là luôn sống theo thánh ý Chúa Cha.

2/ Sống theo thánh ý Chúa Cha
Sống theo thánh ý Chúa là thao thức thường xuyên của người con Chúa đi về với Cha. Nếu không có Mẹ dạy dỗ nhắc nhở, tôi sẽ không quan tâm đủ đến đòi hỏi đó.
Mới rồi, tôi trao đổi với một người tương đối sùng đạo. Tôi thấy họ nghèo, phải vay mượn để sống. Nhưng khao khát của họ là sắm được xe sang, có đồng hồ vàng, di động loại tốt. Thao thức của họ là khẳng định mình không kém bè bạn, trong hưởng thụ và mua sắm.
Từ trường hợp đáng buồn đó, tôi lo cho những người khác và cho chính tôi. Nếu không cẩn thận, chúng ta sẽ để mình bị sai khiến bởi đam mê, bởi ý riêng, bởi những phong trào thế tục xấu, bởi bạn bè không tốt, bởi dư luận vô trách nhiệm, bởi số đông chạy theo thói đời.
Nhưng, khi tôi đến bên Mẹ, xin Mẹ giúp tôi biết chọn lựa những gì thực sự là thánh ý Chúa, tôi mới thấy phải tỉnh thức và cầu nguyện rất nhiều.
Cầu nguyện sẽ không là nói nhiều, mà là lắng nghe nhiều. Thánh Thần Chúa nói. Người nói nhỏ nhẹ tận thẳm sâu tâm hồn. Người cũng nói âm thầm qua Lời Chúa, qua những biến cố lặng lẽ của thế giới nội tâm và tình hình lịch sử.
Tiếng gọi đó là từ trên. Sứ điệp đó phát xuất từ thế giới khác. Thế giới khác ấy cho tôi nhìn thế giới này với bề dày của nó. Tôi khám phá ra chính cuộc sống thường ngày của người con Chúa. Nó có một hơi thở khác, toả ra một ánh sáng khác.
Tôi cũng thấy có nhiều cách sống đạo khác nhau. Nhưng tôi nhận ra không phải mọi cách sống đạo đều làm chứng cho Chúa.
Sự chọn lựa nào cũng đòi nhiều tỉnh thức để vâng phục Chúa Thánh Thần hướng dẫn. Mẹ sẽ giúp điều đó cho kẻ cậy trông Mẹ.

3/ Trái tim được mở rộng
Trên đường đời, tôi không đi một mình. Tôi đi với những người khác, tôi đi giữa đám đông. Tôi cảm thấy sự gần gũi, nhưng cũng cảm thấy sự khác biệt. Sự khác biệt dễ đưa tôi vào thái độ xa cách, nghi kỵ, loại trừ. Lòng tôi vì thế dễ khép lại, ẩn mình trong một ranh giới nhỏ hẹp.
Nhưng, Mẹ của kẻ đi đường dạy tôi về yêu thương. Không có yêu thương trừu tượng. Nhưng yêu thương là cụ thể hoá trên những con người cụ thể. Mẹ nhắc nhở tôi hãy bắt chước Mẹ, nhìn mọi người với tâm hồn bao dung kính trọng. Hãy thờ Chúa không phải chỉ trên núi này hay trong đền thờ nọ. Nhưng hãy thờ Chúa trong tinh thần và trong chân lý. Khi thờ Chúa như vậy, người ta sẽ thấy lòng mình mở ra, nhận ra Chúa trên những khuôn mặt nhiều người, nhất là những người đau khổ. Ánh mắt của những người đó sẽ như những cửa sổ chiếu xa về cõi đời đời. Nước Trời rộng hơn người ta tưởng.
Lúc nhận ra điều đó, tôi sẽ được tập quen biết coi thường những vẻ bề ngoài trên mỗi con người, nhưng sẽ nhìn tâm hồn họ và hoàn cảnh họ như Chúa nhìn.
Đây là một cuộc chiến đấu của tình yêu và cho tình yêu. Trong cuộc chiến đấu đó, tôi được đón nhận hơn là cho đi. Đó là đón nhận tình yêu của Chúa giấu ẩn nơi những kẻ khác, nhất là nơi những kẻ khốn cùng.

4/ Gắn chặt vào thân cây
Còn nhiều điều có thể nói về Mẹ của kẻ đi đường. Nhưng một điều vắn gọn có thể nói thay cho tất cả. Đó là Mẹ đưa những người con Mẹ vào sự sống mật thiết với Chúa Giêsu. Gắn bó mật thiết như cành cây với thân cây.
Để được như vậy, Mẹ luôn nâng đỡ, ủi an, cứu giúp. Người con Mẹ được Mẹ dạy về sự cầu nguyện, suy gẫm Lời Chúa, sự sám hối, sự đền tội, sự đứng lên sau khi vấp ngã, sự sống mầu nhiệm thánh giá và mầu nhiệm Giáo Hội.
Mẹ Maria ơi, Mẹ đã tới đích. Còn con vẫn trên đường. Mọi sự của con đều còn dang dở và rất mong manh, khó tránh được những bất ngờ. Xin Mẹ luôn ở bên con. Mẹ là nguồn đem lại cho con sức sống, chân lý, niềm tin cậy và sự bình an. Con thuộc về Mẹ. Con xin cùng với Mẹ khiêm tốn tập trung vào Đức Kitô, đi về với Chúa Cha giàu lòng thương xót.
 

15/8-106: Sống Lời Chúa theo gương Mẹ

+TGM Stephanô Nguyễn Như Thể
(Kh. 11,19a; 12,1-6a.10ab / 1 Cr. 15,20-27 / Lc. 1, 39-56)
1. Kính thưa cộng đoàn phụng vụ,

Chúng ta vừa nghe công bố Tin mừng thánh Luca 1, 39-56. Nội dung đoạn Tin mừng này đề 15/8-106

Chúng ta vừa nghe công bố Tin mừng thánh Luca 1, 39-56. Nội dung đoạn Tin mừng này đề cập đến một câu chuyện rất đời thường: đó là câu chuyện Đức Maria đang mang thai Chúa Giêsu, từ Nadarét đến thăm viếng và ở lại giúp người chị họ Elizabét, vợ của ông Giacaria, cũng đang cưu mang và sắp sinh đứa con đầu lòng là Gioan Tẩy Giả. Có thể nói những bước chân đon đả và chan chứa yêu thương của người em họ Maria trẻ trung đến giúp người chị họ Elizabét đã lớn tuổi mà đang mang thai và sắp sinh đứa con đầu lòng, đối với người Việt Nam chúng ta vẫn là bổn phận bình thường của tình chị em trong gia tộc…
Tuy nhiên, điều làm nên tính chất cao cả của sự việc đang diễn ra chính là động lực thúc đẩy bên trong. Thánh sử Luca ghi rõ tác động của Chúa Thánh Thần: “Bà Elizabét vừa nghe tiếng bà Maria chào, thì đứa con trong bụng nhảy lên và bà được đầy Thánh Thần. Bà Elizabét kêu lớn tiếng và nói: ‘Em được chúc phúc hơn mọi người phụ nữ và người con em đang cưu mang cũng được chúc phúc. Bởi đâu tôi được Thân mẫu Chúa tôi đến với tôi thế này!’ Quả thật, này tai tôi vừa nghe tiếng em chào, thì đứa con trong bụng đã nhảy lên vì sung sướng. Em thật có phúc, vì đã tin rằng Chúa sẽ thực hiện những gì Người đã nói với em”.
Niềm hân hoan bộc phát thành lời của người chị họ Elizabét đã hé lộ cho chúng ta thấy rằng điều làm nên sự chúc phúc và tính cao cả trong hành vi thăm viếng của Đức Maria chính là niềm tin vào Lời Chúa: “Em thật có phúc, vì đã tin rằng Chúa sẽ thực hiện những gì Người đã nói với em”.
Và sự nối kết xem ra huyền bí giữa vẻ cao sang và niềm đau sinh con trong đoạn sách Khải huyền giúp chúng ta hiểu rằng chính khả năng mang nặng đẻ đau tự nhiên của người phụ nữ đã đem lại cho Đức Maria vinh dự cao cả là làm mẹ Đấng Cứu Thế. Bởi vì, “điềm lạ một người nữ, mình mặc áo mặt trời, chân đạp mặt trăng, đầu đội triều thiên mười hai ngôi sao” cũng chính là hình ảnh “một thai phụ đang kêu la đau đớn và quằn quại vì sắp sinh con”.
Vâng! Để Ngôi Lời nhập thể đến được với nhân loại, Thiên Chúa đã chọn sự cộng tác tích cực và đầy trách nhiệm của một người nữ là Đức Maria: Lời “xin vâng” mà Đức Maria thưa với sứ thần lúc truyền tin không mang tính thụ động, nhưng đặt nền tảng trên thái độ tín thác hoàn toàn vào Thiên Chúa và được thể hiện cách thiết thực bằng nỗ lực kiên trì tìm kiếm Thánh ý Thiên Chúa và sẵn sàng cộng tác với Con của Ngài trong việc thực hiện chương trình cứu độ.

2. Kính thưa cộng đoàn Phụng vụ và đặc biệt chị em phụ nữ quí mến,
Mãi cho tới hôm nay, phong trào tranh đấu cho nữ quyền vẫn còn có lý do chính đáng để chống lại những định chế xã hội thiếu tôn trọng các giá trị của phụ nữ, vì tình trạng bất bình đẳng do não trạng trọng nam khinh nữ vẫn còn tồn tại trong nhiều nền văn hóa trên thế giới, khiến cho nhiều chị em vẫn bị đối xử bất công và không có đủ điều kiện để phát huy bản thân đúng với vai trò người phụ nữ. ¬ ¬
Với sự dung túng của nền kinh tế thị trường, chính xu hướng hưởng thụ ích kỷ và quá tôn vinh sự nghiệp đã đẩy nhiều người mẹ đến những hành vi thô bạo dã man chống lại sự sống con người, thiếu trách nhiệm trong đời sống hôn nhân và gia đình, khiến xã hội ngày càng tràn ngập các tệ nạn ly dị, phá thai. Thứ đến, xu hướng đề cao tự do cá nhân quá trớn cũng đang tiếp tay phá đổ các giá trị đạo đức của hôn nhân và gia đình, làm lung lay nền tảng của xã hội, khiến cho luân thường đạo lý bị đảo lộn và biến người phụ nữ thành nạn nhân hoặc của phóng túng và bê tha, hoặc của dịch vụ siêu lợi nhuận công nghệ sinh học.
Điều đau lòng là chúng ta đang chứng kiến thực trạng bi đát này trên chính quê hương chúng ta. Biết bao tệ nạn xã hội đang âm ỉ lan tràn đằng sau những thành tựu của nỗ lực công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước. Chắc anh chị em cũng theo dõi và biết rõ, suốt một thời gian dài vừa qua, Báo chí và Truyền thanh Truyền hình đã thường xuyên đưa tin về những trường hợp nạo thai, phá thai và những bà mẹ vừa sinh ccn đã đem vứt bỏ con mình nơi thùng rác hoặc trước cổng các bệnh viện. Và cũng thật xót xa biết bao khi nhìn thấy trên báo chí những tấm hình chụp những nghĩa trang mênh mông không bia mộ dành để chôn tập thể các thai nhi bị chính bố mẹ mình tước quyền chào đời và các sơ sinh bị cha mẹ chúng cam tâm bỏ rơi!...

3. Trong bối cảnh xã hội hôm nay, hơn bao giờ hết, chúng ta cần phải học “Sống Lời Chúa theo gương Đức Maria” để tái khám phá khuôn mặt cao sang của người phụ nữ trong sứ mạng làm mẹ.
Theo Đức Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, công trình tuyệt diệu mà Đấng Tạo Hóa đã thực hiện nơi Đức Maria có thể cung cấp cho chúng ta một cơ may khám phá phẩm giá đích thực và thiên chức làm mẹ cao quý của người phụ nữ nhằm có được một cái nhìn toàn diện và quân bình hơn về nữ giới, về gia đình và về xã hội. Theo ngài, hồng ân đặc biệt dành cho Thân mẫu Chúa Giêsu không những cho thấy điều mà chúng ta nói được là sự kính trọng Thiên Chúa dành cho phụ nữ, mà còn làm sáng tỏ vai trò không thể thay thế được của người phụ nữ trong lịch sử của nhân loại theo ý định của Thiên Chúa. Đó là vai trò làm mẹ, một vai trò cho phép người phụ nữ được cọng tác sáng tạo với Thiên Chúa, Đấng là Nguồn và là Chủ Sự Sống. Những chương đầu của sách Sáng thế cho chúng ta thấy rõ ý định của Thiên Chúa là tác tạo con người nam nữ bình đẳng về phẩm chức và giá trị, nhưng đồng thời Ngài cũng khẳng định cách rõ rệt về sự khác biệt và về đặc trưng của người nam và người nữ.
Trong những năm qua, chúng tôi rất vui mừng và tạ ơn Chúa khi chứng kiến nhiều sinh hoạt phong phú giúp củng cố ơn gọi sống bậc Hôn nhân và Gia đình. Chúng tôi ghi nhận và tin tưởng rằng các lớp chuẩn bị hôn nhân cũng như các sinh hoạt Gia Đình Cùng Theo Chúa, Thăng Tiến Hôn Nhân Gia Đình, Tân Dự Tòng, Gia Đình Trẻ v.v… đã và đang đem lại nhiều lợi ích thiêng liêng cho quý anh chị làm chồng làm vợ và làm cha làm mẹ… Đặc biệt đối với văn hóa Việt Nam, vai trò người mẹ, người vợ thật quan trọng, vì thế, khi giúp cho người mẹ, người vợ sống đảm đang, đạo đức, thánh thiện thì cả gia đình sẽ được hưởng nhờ.
Hơn nữa, hình ảnh con rắn, con mãng xà trong bài Khải huyền không cho phép chúng ta có cái nhìn quá ngây ngô về cuộc sống gia đình. Đối mặt với những nguy cơ và những thách đố lớn của xã hội hôm nay, dung mạo thánh thiện tuyệt vời của Đức Maria phải trở nên dấu chỉ khuyến khích hết mọi kitô-hữu biết tin nhận quyền năng thánh hóa của ơn Chúa. Cùng với Mẹ và noi gương Mẹ, chúng ta hãy xác tín rằng: “đối với Chúa, không có chi mà không thể làm được”, ngõ hầu, như Mẹ, chúng ta có thể sống hoàn toàn tín thác nơi Thiên Chúa toàn năng, là Đấng có thể tái tạo nơi chúng ta một lương tâm trong sáng và một con tim biết yêu thương như Thiên Chúa yêu thương.
Lạy Mẹ Maria La Vang, Mẹ Việt Nam,
Mẹ có phúc vì Mẹ đã tin.
Hôm nay, vầy quanh Mẹ trong chuyến hành hương này, chắc chắn Mẹ cũng nhìn thấy biết bao người cha người mẹ đang gặp khó khăn hay bất hạnh trong đời sống gia đình. Xin Mẹ cầu bàu cùng với Chúa giúp chúng con được kiên vững trong đức tin như Mẹ, để cuộc sống gia đình chúng con cũng được chúc phúc và vượt thắng mọi thử thách.
Xin Mẹ cho tất cả quý chị em phụ nữ ngày nay xác tín rằng: “làm mẹ” là một ân huệ Thiên Chúa ban tặng, để chị em luôn biết nỗ lực chu toàn sứ mạng làm mẹ cao cả và can đảm làm chứng cho Tin mừng Sự Sống nhằm góp phần xây đắp nền Văn minh Tình thương. Amen.
 

15/8-107: Xin vâng

Lc 1, 39-56
Anh chị em thân mến!

Ngày 15 tháng 8 năm 1999 tại Rôma, Đức Thánh Cha dâng thánh lễ kính “Mẹ Hồn Xác Lên Trời” 15/8-107

Ngày 15 tháng 8 năm 1999 tại Rôma, Đức Thánh Cha dâng thánh lễ kính “Mẹ Hồn Xác Lên Trời”. Đức Thánh Cha đã giải thích suy niệm câu “Linh hồn tôi ngợi khen Chúa” như sau:
“Giáo Hội lữ hành trong lịch sử ngày nay hiệp ý với bài ca vui mừng của Mẹ Maria Đồng Trinh. Giáo Hội nói lên niềm vui và chúc tụng Thiên Chúa, vì Mẹ của Chúa khải hoàn bước vào vinh quang trên trời. Trong mầu nhiệm Mẹ Hồn Xác Lên Trời xuất hiện cho chúng ta thấy ý nghĩa trọn vẹn và quyết định của những lời mà Mẹ Maria đã thốt lên khi Mẹ đáp lại lời chào của bà Elizabeth: “Đấng Toàn Năng đã làm cho tôi những điều cao cả”.
Nhờ vào việc chiến thắng của Chúa Kitô vượt qua sự chết, Đức Nữ Đồng Trinh Nazareth được kết hợp cách đặc biệt vào hiệu quả của ơn cứu rỗi. Với lời “Xin Vâng”, Mẹ đã đáp lại trọn vẹn Thánh ý Thiên Chúa. Mẹ đã tham dự cách sâu xa vào mầu nhiệm Chúa Kitô và đã bước vào vinh quang trước tiên, sau Chúa Kitô, với trọn cả hồn lẫn xác. Lời thưa “Xin Vâng” của Mẹ là niềm vui của biết bao người sống trong bóng tối và sự chết.
Thật vậy, nhờ Mẹ mà Chúa của sự sống bước vào thế gian. Các tín hữu vui mừng và tôn kính Mẹ như là Mẹ của nhiều người con đã được Chúa Kitô cứu chuộc, một cách đặc biệt trong ngày hôm nay, các tín hữu tôn kính Mẹ như là dấu chỉ của sự an ủi, của niềm vui cho mọi người, mọi dân tộc trên đường hành hương tiến về quê trời.
Chúng ta hãy đưa mắt nhìn lên Mẹ Đồng Trinh mà Phụng vụ khẩn cầu Mẹ như là “Đấng bẻ gẫy xiềng xích trói buộc cho những kẻ bị áp bức, trả lại ánh sáng cho kẻ bị mù, xua đuổi mọi sự dữ ra khỏi chúng ta và cầu xin cho chúng ta được mọi sự lành”.
“Linh hồn tôi chúc tụng Chúa”. Cộng đoàn Giáo Hội trong ngày lễ trọng thể kính Mẹ Maria hôm nay, lập lại bài ca tạ ơn của Mẹ và Giáo Hội làm công việc này với tư cách là dân Chúa, và xin mọi tín hữu hãy hiệp chung với nhau hát lại bài ca Magnificat dâng lên Chúa.
Ngay từ thế kỷ đầu, thánh Ambrôsiô đã khuyến khích: “Ước chi tâm hồn Mẹ Maria hiện diện nơi từng người để chúc tụng Thiên Chúa, và ước chi thần trí của Mẹ Maria hiện diện nơi mỗi người để hoan hỷ trong Chúa”.
Những lời của bài ca Magnificat là như chúc thư thiêng liêng của Mẹ Maria Đồng Trinh. Tuy nhiên, những lời này cũng là phần gia tài cho tất cả những ai nhìn nhận mình là con của Mẹ Maria, quyết định tiếp rước Mẹ Maria về nhà mình, như thánh Tông đồ Gioan đã làm khi xưa, và thánh nhân đã tiếp nhận Mẹ của mình trực tiếp từ Chúa Giêsu dưới chân Thập giá.
Đó là những lời khuyến khích của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II cho tất cả mọi người trong ngày lễ kính “Mẹ Hồn Xác Lên Trời” hôm nay 15 tháng 8. Qua đó, Đức Thánh Cha đã đề ra cho mọi người mẫu gương của Mẹ Maria như sau:
Khi đặt mình vào trường học của Mẹ một cách đặc biệt, các tín hữu được mời gọi thực hiện cuộc ăn năn trở lại cách sâu xa hơn, củng cố Đức Tin của họ, chăm chú lắng nghe Lời Chúa và sẵn sàng phục vụ anh chị em mình.
Đối với tất cả những đồ đệ của Chúa Kitô, Mẹ là mẫu gương tốt nhất cho đời sống Kitô, Mẹ chuẩn bị tâm hồn chúng ta đón nhận Chúa Kitô và trao cho chúng ta, giống như xưa kia Mẹ đã trao cho những người giúp việc tại tiệc cưới Cana một mệnh lệnh: “Hãy làm tất cả những gì Chúa truyền dạy”. Mẹ mời gọi chúng ta hãy ra đi đến với những ai đang cần sự nâng đỡ và trợ giúp của chúng ta, như chính Mẹ đã làm cho người chị họ Elizabeth. Như thế, chúng ta lãnh nhận từ Mẹ rất thân yêu này sự thích thú của cuộc gặp gỡ với Thiên Chúa và của sứ mạng sống đức ái phục vụ tha nhân.
Xin Chúa biến đổi tâm hồn mọi người luôn có những tâm tình hòa bình, huynh đệ và liên đới, ngõ hầu tất cả mọi người hiệp nhất với nhau mỗi ngày một hơn, để xây dựng một thế giới mới, trong đó mọi người được sống an vui, và thế giới ấy được xây trên những giá trị tinh thần và luân lý thiết yếu. Mỗi người có thể được nhìn nhận phẩm giá làm con cái Thiên Chúa, và được tự do hướng về Cha trên trời, Đấng giàu lòng thương xót với tình con thảo.
Đó là tâm tình của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II mong muốn cho mọi thành phần trong Giáo Hội, cho tất cả những ai đang tôn kính Mẹ. Trong tâm tình này mọi người hãy kết hiệp với nhau, như lời Đức Thánh Cha nói: “Mời Mẹ đến ở nhà chúng ta”. Mời Mẹ đến với chúng ta, để xin Mẹ giúp thực thi lời Chúa truyền dạy: “Hãy làm những gì Chúa truyền”.
Lạy Mẹ Maria, xin Mẹ cầu thay nguyện giúp cho chúng con có một tâm hồn luôn tươi trẻ, để biến đổi tình yêu chúng con. Xin Mẹ giúp chúng con ý thức rằng, chỉ có tình yêu thương mới biến đổi tâm hồn con người và giúp chúng con biến đổi thế giới. Xin Mẹ luôn hiện diện bên Chúa, gìn giữ chúng con trên con đường theo Chúa Kitô, và làm cho chúng con được trưởng thành trong Đức Tin.
 

15/8-108: Yêu thương phục vụ theo gương Mẹ Maria

+GM Phanxicô Xaviê Lê Văn Hồng

Đến với linh địa La Vang chiều hôm nay, thấp thoáng đó đây, chúng ta đọc thấy chủ đề của 15/8-108

Đến với linh địa La Vang chiều hôm nay, thấp thoáng đó đây, chúng ta đọc thấy chủ đề của những ngày hành hương thường niên mừng lễ Mẹ lên trời hồn xác, đó là Sống yêu thương và phục vụ theo gương Mẹ Maria.
Yêu thương phục vụ là giới răn trọng nhất của đạo công giáo chúng ta, vì nếu không có tình yêu thì tất cả sẽ biến thành con số không trước mặt ThiênChúa. Yeu thuong và phục vụ cũng là tiêu chuẩn mà Chúa Giêsu đã chọn để phân biệt chiên với dê, người lành bên hữu và kẻ dử bên tả, trong ngày phán xét chung:" Ta đói các ngươi đã cho ăn, Ta khát, các ngươi đã cho uống...”
Chủ đề của những ngày hành hương nầy cũng đưa chúng ta trở lại với thư mục vụ của HĐGM / VN năm 2007: "Sống đạo hôm nay", yêu thương và phục vụ.
Nếu phải tìm một thần tượng để nêu gương cho chúng ta bắt chước trong đời sống yêu thương và phục vụ, thì ngoài Chúa Giêsu, chỉ có một mình Đức Maria là một mẩu gương tuyệt vời nhất.
Thực vậy, ngay lúc còn thơ ấu, khi được cha mẹ dâng vào đền thánh, Đức Maria đã muốn hiến dâng cả cuộc đời để yêu mến và phục vụ một mình Thiên Chúa. Tiếng "Xin Vâng" mà Mẹ thưa lên trong ngày truyền tin chắc chắn đã được thành hình và nuôi dưỡng bằng tâm tình yêu thương và phục vụ nầy.
Mặc dầu biến cố truyền tin, một cách nào đó đã khiến Mẹ ngở ngàng vì ở ngoài ước mong và dự đoán của Mẹ, nhưng Mẹ đã khiêm tốn đón nhận trong tâm tình của một người tôi tớ luôn sẳn sàng để thánh ý Chúa luôn được thực hiện trong cuộc đời của Mẹ: "Nầy tôi là tôi tá Chúa, tôi xin vâng như lời thiên thần truyền".
Biến cố nổi bật nhất nêu cao tinh thần yêu thương và phục vụ đang nung nấu tâm hồn Me, đó là việc Mẹ lên đường đi thăm bà Isave. Mẹ hy sinh vượt qua mọi thử thách: dường sá xa xôi, lên đồi xuống dốc, thân nhi nữ đang bung mang dạ chửa, vội vã lên đường để mang Chúa đến cho gia đình ông Giacaria và để phục vụ bà chị họ trong những ngày sinh nở.
Tại tiệc cưới Cana, con tim nhạy cảm và tế nhị của Mẹ đã đi bước trước để giúp đở đôi tân hôn. Mẹ tự động tìm cách can thiệp với Chúa Giêsu ngay cả khi họ chưa dám cầu xin với Mẹ. Phó thác và tin tưởng vào quyền năng và lòng thương xót của con mìmh, Mẹ tin chắc phép lạ sẽ xảy ra vì Mẹ hiểu rằng Chúa Giêsu không thể phụ lòng yêu thương và phục vụ của Mẹ.
Và trên đồi Can vê, ngay cả khi lòng Mẹ đang tan nát vì chứng kiến cơn hấp hối quằn quại của Chúa Giêsu trên thập giá, lòng Mẹ vẫn rộng mở để yêu thương và đón nhận loài người làm con của Mẹ:" Thưa Bà nầy là con Bà".
Nói tóm lại cuộc đời của Mẹ từ khi còn thơ ấu cho đến lúc về trời, Mẹ chỉ ao ước một điều đó là kính mến, phục vu Thiên Chúa hết lòng và yêu thương nâng đở loài người mà mẹ đã đón nhận làm con.
Anh chị em thân mến,
Hơn ai hết, Đức Maria là người đầu tiên muốn nối gót con đường yêu thương và phục vụ mà Chúa Giêsu đã dày công dạy dỗ và nêu gương sáng cho các tông đồ và hôm nay cho những ai muốn bước theo Ngài: " Cũng như Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ và hiến mạng sống làm giá chuộc muôn người" (Mt. 20,28).
Khi vào đời, mặc lấy thân phận con người, Ngài đã thưa với Chúa Cha: "Này Con xin đến để thi hành thánh ý Cha". Nói cách khác, Ngài vui lòng chấp nhận thân phận một người tôi tớ để phục vụ chương trình của Cha Ngài, như Ngài đã xác nhận sau nầy:" Lương thực của Thầy là thi hành ý muốn của Đấng đã sai Thầy" (Ga. 4,34), hay ngay trong vườn cây dầu:" Xin dừng theo ý Con, mà xin theo ý Cha"(Mt. 26,39).
Với các tông đồ, Ngài vui lòng đóng vai trò một người bạn để gần gủi, để yêu thương, để chia sẻ:" Thầy gọi anh em là bạn hữu vì tất cả những gì Thầy nghe được nơi Cha Thầy, Thầy đã cho anh em biết"( Ga, 15,15). Trong bửa tiệc ly, Ngài đã cúi xuống rửa chân cho các tông đồ, một cộng viêc phục vụ thường chỉ dành cho ngươi tôi tớ nô lệ, ( X. Ga. 13,5-17).
Anh chị em thân mến,
Là người kitô hữu, chúng ta được mời gọi nên giống Chúa Giêsu mỗi ngày. Trường học tốt nhất và Thầy dạy tuyệt vời nhất để giúp chúng ta nên giống Chúa trong tinh thần yêu thương và phục vụ chính là Mẹ Maria. Noi gương Mẹ, chúng ta cố gắng tập sống tinh thần yêu thương và phục vụ không phải bằng lời nói suông, nhưng là bằng những việc làm cụ thể, trong cuộc sống hằng ngày.
Cúi xin Mẹ Maria, Mẹ La Vang đang ngự trên Trời cao, thương đoái nhìn đến chúng con đang hướng về Mẹ; Xin Mẹ nâng đở và dạy bảo chúng con biết noi gương Mẹ để sống đẹp lòng Chúa bằng cách thi hành giới răn yêu thương và phục vụ, để ngày sau được cùng Mẹ vui hưỡng hạnh phúc trên trời. Amen.
 

15/8-109: Ý nghĩa lễ Đức Mẹ Maria hồn xác lên trời

Lm.Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT

Nói về Mẹ, viết về Mẹ là một hạnh phúc lớn lao. Tiếng Mẹ sao dịu êm, sao mát dịu đến thế. Mẹ 15/8-109

Nói về Mẹ, viết về Mẹ là một hạnh phúc lớn lao. Tiếng Mẹ sao dịu êm, sao mát dịu đến thế. Mẹ trần thế đã là một tặng phẩm quí giá. Mẹ thiêng liêng lại càng cao quí hơn thế nữa. Mẹ có tên là Maria. Tiếng nói ngắn gọn, nhưng bao trùm, gói trọn tất cả. Giáo Hội mừng lễ Ðức Mẹ lên trời. Trong niềm hân hoan của ngày lễ Mẹ, ta thử suy nghĩ về:
-Tại sao Maria hồn xác lên trời ?
-Maria hồn xác lên trời có ý nghĩa gì cho ta ?

I. TẠI SAO MARIA HỒN XÁC LÊN TRỜI ?
Người nữ trong sách Khải Huyền trích đọc hôm nay, tiên trưng cho Mẹ Maria. Ðức trinh nữ Maria ngay từ giây phút ban đầu đã được Thiên Chúa bảo toàn, gìn giữ và tuyển chọn. Nên, tâm hồn và thể xác của Mẹ luôn thuộc về Thiên Chúa, không mang vết tỳ ố, không nhuốm tội lỗi, tâm hồn tinh trong, thánh thiện, tinh tuyền, xứng đáng là đền thờ cho Chúa Thánh Thần ngự trị. Thiên Chúa đã yêu thương Mẹ, đã tuyển chọn Mẹ làm Mẹ Thiên Chúa, làm Mẹ Ðấng cứu thế Giêsu. Hậu quả của tước vị làm Mẹ Thiên Chúa: Maria đã được chọn lựa riêng, được đặc ân vô nhiễm nguyên tội. Thân xác và tâm hồn của Mẹ đã được dành riêng cho Thiên Chúa. Con Mẹ cưu mang trong cung lòng là do bởi phép Chúa Thánh Thần. Mẹ sinh con mà vẫn còn tinh khiết vẹn tuyền. Ðó là đặc ân chỉ có một không ai trong lịch sử cứu rỗi, Thiên Chúa dành riêng cho Mẹ và chỉ có mình Mẹ được ơn cao quí ấy. Hình ảnh người nữ thánh Gioan diễn tả: mình mặc áo mặt trời, chân đạp vầng trăng, đầu đội triều thiên mười hai ngôi sao là hình ảnh của chính Mẹ Maria và Giáo Hội Chúa Kitô. Maria là hình ảnh vẹn toàn nhất của Giáo Hội ngày mai, là bình minh của Giáo Hội khải hoàn. Bài ca Magnificat mà Ðức Mẹ cất cao giọnng trong Tin Mừng Lc 1, 39-56 là lời cảm tạ viên mãn Thiên Chúa dành cho Maria. Chính niềm tin tuyệt đối vào Thiên Chúa đã khiến Maria trở nên vững mạnh và đáng được chúc tụng muôn đời. Sự tinh ròng của thể xác và tâm hồn khiến Maria được đặc ân riêng biệt. Maia đã biến phút giây tuyệt vời khi sứ thần Gabrien truyền tin cho Mẹ và lời xin vâng của Mẹ đã biến giây phút hiện tại ấy trở thành niềm vui vĩnh cửu, trở thành hạnh phúc trường tồn vì chính phút giây ấy đã thay đổi cuộc đời của Mẹ cách hoàn hảo nhất. Ðó là giờ của ơn cứu độ. Sự vô tì tích của tâm hồn và thể xác của Mẹ, đã được Thiên Chúa chúc phúc cho hồn xác Maria về trời hưởng vinh quang vĩnh cửu với Thiên Chúa Ba Ngôi và triều thần thánh trên trời.

II.MARIA HỒN XÁC LÊN TRỜI CÓ Ý NGHĨA GÌ CHO TA ?
Ngày ó/11/1950, Ðức Giáo Hoàng Piô XII đã long trọng tuyên bố tín điều Ðức Maria hồn xác về trời. Ðây là biến cố lịch sử trong lịch sử cứu độ và mặc nhiên xác nhận niềm tin Kitô giáo vào con người tinh trong, Vô Nhiễm Nguyên Tội của Mẹ Maria, niềm tin này đã bàng bạc trong Giáo Hội từ nhiều thế kỷ qua. Tín điều ấy có giá trị vĩnh viễn và tuyên bố cho mọi người rằng Maria có liên hệ mật thiết với nhân loại, với mọi người chúng ta. Nhờ sự tinh ròng, vô tì tích của tâm hồn và thể xác của Maria, mọi người có lòng tin được hưởng nhờ đặc ân cứu độ của Thiên Chúa và tin vào sự giải thoát tội lỗi, Thiên Chúa dành cho Mẹ Maria cũng chính là tin vào Ðức Kitô đã chết và sống lại cho phần rỗi mọi người.
Maria đã lên trời cả hồn lẫn xác.
Maria đã được diện đối diện với Thiên Chúa. Maria lên trời là hình ảnh của Giáo Hội khải hoàn và vinh quang của thập giá là vinh quang của Mẹ. Tin vào thập giá sẽ được ơn cứu độ. Vì thế, tin vào Ðức Kitô đã giải thoát Mẹ khỏi sự chết của tội lỗi, tức là tin vào sự bất diệt của tâm hồn và thể xác Thiên Chúa dành cho Maria, cũng như cho nhân loại và cho Giáo Hội khải hoàn.
Xin Chúa ban cho chúng con lòng tin sâu xa để chúng con tin mai ngày chúng con cũng được sống lại hiển vinh.
Xin Mẹ Maria hồn xác lên trời chuyển thay cầu giúp cho chúng con để chúng con biết xa lánh tội lỗi và sống kết hợp với Chúa luôn mãi .
Xin Mẹ ban cho chúng con biết mau mắn nói lời xin vâng tuân theo thánh ý Chúa trong đời sống của chúng con .
 

15/8-110: ĐỨC MẸ HỒN XÁC LÊN TRỜI

JM. Lam Thy ĐVD.

Niềm tin Đức Mẹ Maria được Thiên Chúa cho hồn xác lên trời đã có ngay từ thời Giáo Hội sơ 15/8-110

Niềm tin Đức Mẹ Maria được Thiên Chúa cho hồn xác lên trời đã có ngay từ thời Giáo Hội sơ khai. Có lẽ đó cũng là lý do sau khi Đức Giê-su Phục Sinh, Kinh Thánh Tân Ước không đề cập đến việc Đức Ki-tô đi gặp Mẹ Người, vì các tín hữu thời ấy đã tin là Mẹ Maria luôn luôn kết hợp với Con Mẹ, không có một giây phút nào Mẹ-Con xa nhau, ngay cả khi Con Người tử nạn trên thập giá (Ga 19, 25-27) thì Mẹ cũng đồng hành. Vậy thì không lý gì khi Mẹ từ giã cõi trần lại không được Người Con Chí Thánh Chí Nhân rước lên trời tiếp tục đồng hành để hướng dẫn Nhiệm Thể Đức Ki-tô (Giáo Hội) còn trên hành trình dương thế. Tuy nhiên, vẫn có không ít những phe phái đối nghịch (như Thệ Phản, Ly Giáo hay các bè rối) phủ nhận vấn đề Đức Maria Hồn Xác Lên Trời. Họ cho rằng đã có chuyện giấu xác Đức Mẹ (kiểu như cách nghĩ của Maria Mac-đa-la khi đi thăm mộ Chúa mà không thấy xác Đức Giê-su – Ga 20, 2), rồi phao lên Mẹ được lên trời cả hồn lẫn xác. Loài người tự cổ chí kim chẳng có ai được như vậy, vì thân xác chỉ là “cái vỏ bằng đất làm linh hồn ra nặng” (Kn 9, 15), và “Ngươi là bụi đất, và sẽ trở về với bụi đất.” (St 3, 19) mà thôi.
Đáng tiếc một điều là Giáo Hội cũng chưa hoàn toàn thống nhất trong niềm tin Đức Mẹ hồn xác lên trời, vẫn còn không ít người “bán tín bán nghi”. Phải chờ đến thế kỷ XX, Tín điều Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời mới được Đức Giáo hoàng Pi-ô XII long trọng công bố trong Tông hiến “Munificentissimus Deus” (ban hành vào ngày Lễ Các Thánh Nam Nữ 01/11/1950): “Để tôn vinh Thiên Chúa toàn năng là Đấng đã ban muôn vàn ơn lành đặc biệt của Ngài trên Trinh Nữ Maria, để tôn kính Con Ngài là Vua muôn đời, Đấng đã chiến thắng tội lỗi và sự chết, để Người Mẹ cao cả của Người được hiển vinh hơn, và để toàn thể Giáo Hội hân hoan phấn khởi; bằng quyền bính của Chúa Giê-su Ki-tô, của các thánh tông đồ Phê-rô và Phao-lô, và bằng thẩm quyền của mình, Tôi công bố, tuyên xưng và xác nhận như là một tín điều được Thiên Chúa mạc khải: Người Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội của Thiên Chúa, Đức Maria Trinh Nguyên, sau khi hoàn tất cuộc đời trần thế của mình, đã được mang lên hưởng vinh quang trên trời cả thân xác lẫn linh hồn”.
Sau đó là Công Đồng Chung Va-ti-ca-nô II, với Hiến chế “Tín Lý về Giáo Hội – Lumen Gentium”, tín điều Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời lại được nhắc lại: “Ngày nay, trên trời Mẹ Đức Giê-su đã được vinh hiển cả hồn và xác, là hình ảnh và khởi thủy của Hội Thánh phải hoàn thành đời sau; đồng thời, dưới đất này, cho tới ngày Chúa đến (2Pr 3,10). Ngài chiếu sáng như dấu chỉ lòng cậy trông vững vàng và niềm an ủi cho dân Chúa đang lữ hành” (Hc “Lumen Gentium”, số 68). Chính những sự kiện nêu trên khiến người tín hữu phải đi tìm những lý lẽ chứng minh. Có năm chứng lý rất xác thực và đầy thuyết phục minh họa mầu nhiệm Đức Mẹ Hồn Xác Về Trời:

1. Vì Đức Maria là Mẹ Đức Giê-su Thiên Chúa: Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa đã được tiền định ngay từ khi Nguyên tổ phạm tội (St 3, 1-24) và sau đó Cựu Ước đã tiên báo: “Này đây người thiếu nữ mang thai, sinh hạ con trai, và đặt tên là Em-ma-nu-en,nghĩa là Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta.” (Is 7, 14). Trải dài theo lịch sử Giáo Hội, tuy có những ngụy thuyết chống đối lại, nhưng Giáo Hội vẫn luôn xưng tụng Ân Sủng cao vời Thiên Chúa đã ban cho Đức Mẹ chính Con Một của Người. Và năm 431, Công Đồng Chung Ê-phê-sô đã tuyên tín: “Tuyệt thông cho những ai không tuyên xưng rằng Đấng Emmanuel thực sự là Thiên Chúa, và bởi thế, Đức Trinh Nữ là Mẹ của Thiên Chúa (theotokos) (vì Mẹ đã hạ sinh Ngôi Lời Thiên Chúa hóa thành nhục thể theo xác thịt)”. (“Densiger-Schonmetzer”, số 252). Mẹ Thiên Chúa sau khi từ trần được diễm phúc cả Hồn Xác lên Trời đoàn tụ cùng Con Thiên Chúa là điều tất nhiên.

2. Vì Đức Maria Trọn Đời Đồng Trinh: Năm 649, Công Đồng La-tê-ra-nô đã tuyên tín: “Khốn cho những ai không theo các vị Nghị Phụ thánh đức tuyên xưng một cách chân thực và xác đáng rằng Đức Maria, trinh nguyên và vô nhiễm, là Mẹ Thiên Chúa, vì Mẹ đã thực sự thụ thai chính Thiên Chúa Ngôi Lời, Đấng được Thiên Chúa Ngôi Cha hạ sinh trước các kỳ thời, bởi Chúa Thánh Thần mà không cần đến hạt giống loài người, và đã sinh ra Người hoàn toàn không bị hư hại gì, tình trạng đồng trinh của Mẹ sau khi sinh con cũng không hề bị sứt mẻ”. (“Densiger-Schonmetzer”, số 503). Mầu nhiệm Đức Maria thụ thai, sinh con mà vẫn trinh nguyên, được Thiên Chúa thực hiện thông qua Thánh Thần Ngôi Ba, biểu hiện cụ thể ý nghĩa thân xác Mẹ được Thiên Chúa bảo dưỡng tối đa; thì sau khi Mẹ qua đời, đương nhiên Người phải bảo tồn nguyên vẹn thân xác Đức Mẹ rồi đưa về Trời.

3. Vì Đức Maria luôn hợp tác mật thiết với Đức Giê-su Ki-tô Thiên Chúa: Ngay từ thế kỷ II, các Giáo Phụ đã trình bày Đức Maria như là một E-và Mới hợp tác chặt chẽ với A-đam Mới – A-đam sau cùng – là Chúa Ki-tô để chiến thắng tội lỗi và sự chết. Vì thế, cũng như Chúa Ki-tô chịu khổ hình, chịu chết vì tội lỗi nhân loại, chiến thắng sự chết và sống lại vinh hiển, thì Đức Mẹ Maria đã đồng công với Con chiến đấu cũng phải được cùng Con chiến thắng, nghĩa là Thân Xác Đồng Trinh của Đức Mẹ cũng phải được Lên Trời vinh hiển như Con Người. Thánh Kinh diễn tả rõ ràng Đức Maria hiệp thông mật thiết với Đức Giê-su Con Thiên Chúa và cũng là Con của Mẹ trong nhiệm cuộc cứu chuộc (bảy sự đau đớn của Mẹ gắn liền với cuộc Thương Khó của Con). Dù xét theo nhân sinh quan hay thiên lý tính, thì việc Mẹ và Con hòa hợp sum vầy với nhau là lẽ đương nhiên, vì cả hai đã thương mến nhau tha thiết, cho nên chắc chắn Chúa Ki-tô vì lòng hiếu thảo, đã ban cho Mẹ mình được hồn xác về Trời sau khi ly trần, là điều hợp tình hợp lý.

4. Vì Đức Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội: Trong sắc lệnh “Ineffabilis Deus” (ban hành ngày 8/12/1854), Đức Thánh Cha Pi-ô IX long trọng công bố: “Để vinh danh Ba Ngôi thánh thiện duy nhất, để tôn kính và hiển danh Trinh Nữ Mẹ Thiên Chúa, để phấn khởi đức tin Công Giáo và phát triển Ki-tô Giáo; bằng quyền bính của Chúa Giê-su Ki-tô, của các thánh tông đồ Phê-rô và Phao-lô, và bằng thẩm quyền của mình, Tôi tuyên xưng, công bố và xác nhận rằng: tín lý cho rằng rất Thánh Nữ Trinh Maria, ngay từ giây phút đầu thai của mình, nhờ ơn sủng cùng với đặc ân chuyên nhất của Thiên Chúa toàn năng, và dựa vào công nghiệp của Chúa Giê-su Ki-tô, Đấng Cứu Chuộc loài người, đã được gìn giữ vô nhiễm khỏi mọi tì vết của nguyên tội, là điều được Thiên Chúa mạc khải, vì thế, tất cả mọi tín hữu đều phải mạnh mẽ và liên lỉ tin tưởng”. (“Densiger-Schonmetzer”, số 280). Trong Tông hiến “Munificentissimus Deus”, Đức Thánh Cha Pi-ô XII cũng khẳng định: “Thân xác con người bị chết và bị tan rã ra tro đất là do hậu quả tội Nguyên Tổ. Mà Đức Mẹ Maria không hề mắc tội Nguyên Tổ, cũng không hề có tội riêng. Cho nên đương nhiên và rất hợp lý là Đức Mẹ Maria được Hồn Xác Về Trời.”

5. Chung quy thì vì Đức Maria là “Đức Bà Đầy Ơn Phúc”: Các thánh tiến sĩ đã coi việc Đức Mẹ Hồn Xác về Trời như là bổ túc cho việc Đức Mẹ được Đầy Ơn Phúc khi còn tại thế. Lời thiên sứ Gap-ri-en chúc mừng Đức Mẹ còn rành rành: “Mừng vui lên, hỡi Đấng đầy ân sủng, Đức Chúa ở cùng bà.” (Lc 1, 28). Từ lời thiên sứ, Giáo Hội đã tìm đến danh thánh Đức Mẹ: Ngoài những ý nghĩa Maria là “Người Soi Sáng”, “Sao Biển”, “Biển Cay Đắng”; thì Maria còn có nghĩa là “Lệnh Bà” (là Đức Bà của nhân loại). Vấn đề lên trời cả hồn lẫn xác đã được Thiên Chúa hứa ban cho nhân loại (tất nhiên chỉ những người công chính mới được hưởng) vào ngày cánh chung.Đức Mẹ là “Lệnh Bà của nhân loại”, được Thiên Chúa ở cùng, ở trong thân xác, vậy thì Thân Xác Mẹ được rước lên Trời hiệp cùng Con Thiên Chúa và cũng là Con của Mẹ (chỉ khác về thời gian so với các tín hữu lành thánh), là chuyện đương nhiên.
Ngoài ra, sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo có đề cập đến đặc sủng Hồn Xác Về Trời của Đức Maria như sau: “Đức Trinh Nữ Maria Vô Nhiễm, được Thiên Chúa gìn giữ khỏi nhiễm lây mọi tỳ vết Nguyên Tội, đã được đưa lên vinh quang Thiên quốc cả hồn lẫn xác, sau khi đã hoàn tất cuộc đời dương thế, và được Thiên Chúa tôn làm Nữ Vương Vũ Trụ, và như vậy Mẹ đã hoàn toàn phù hợp với Con Mình là Chúa của các chúa, đã chiến thắng tội lỗi và sự chết” (Hc “Lumen Gentium”, số 59). Việc Mẹ Maria được đưa lên Trời là dự phần đặc biệt vào sự Phục sinh của Con Mẹ và hưởng trước sự phục sinh của các tín hữu.” (Giáo Lý HTCG, số 966), “Chúng ta tin rằng Mẹ Rất Thánh của Thiên Chúa, E-và Mới, Mẹ của Giáo Hội, ở trên trời vẫn tiếp tục vai trò làm Mẹ đối với các Chi Thể Chúa Ki-tô” (ĐGH Phao-lô VI, CPG 15) (Giáo Lý HTCG, số 975).
Tóm lại, với con người bất toàn thì không chỉ mầu nhiệm Đức Maria Hồn Xác Lên Trời, mà mầu nhiệm Đức Mẹ Trinh Nguyên, Vô Nhiễm Nguyên Tội, kể cả mầu nhiệm Ngôi Lời Nhập Thể trong cung lòng Mẹ, đều không thể xảy ra được; nhưng “đối với Thiên Chúa thì không có gì là không thể làm được.” (Lc 1, 37). Vâng, “Đối với loài người thì điều đó không thể được, nhưng đối với Thiên Chúa, thì mọi sự đều có thể được.” (Mt 19, 26). Vấn đề đặt ra là anh có tin là thật sự có một Đấng Toàn Năng Hằng Hữu đã sáng tạo vũ trụ và con người, hay không. Nếu anh tin rằng con người được Thiên Chúa dựng nên từ bụi đất, thì tất cả mọi sự Thiên Chúa ban cho con người – ở đây là Lệnh Bà Maria, Mẹ Thiên Chúa, Mẹ nhân loại – đều là chuyện nhỏ, quá nhỏ đối với Người.
Chính vì thế, trong ngày đại lễ mừng kính “Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời”, người Ki-tô hữu đã vinh dự được Con Thiên Chúa và cũng là Con của Mẹ nhận làm bạn hữu (“Thầy không còn gọi anh em là tôi tớ nữa, vì tôi tớ không biết việc chủ làm. Nhưng Thầy gọi anh em là bạn hữu, vì tất cả những gì Thầy nghe được nơi Cha Thầy, Thầy đã cho anh em biết.” – Ga 15, 15); vậy thì còn đợi gì mà không tuyên tín: “Lạy Chúa! Con tin.” và dâng lời khẩn nguyện: “Lạy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, Chúa đã đưa lên trời cả hồn lẫn xác Ðức Ma-ri-a là trinh nữ vô nhiễm và là thánh mẫu của Con Chúa. Xin cho chúng con hằng biết hướng lòng về phúc lộc quê trời để mai sau được cùng thánh mẫu chung hưởng vinh quang. Chúng con cầu xin, nhờ Đức Ki-tô, Chúa chúng con. Amen.” (Lời nguyện nhập lễ lễ “Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời”). Đồng thời cất cao lời ngợi khen:
*************
MẸ LÊN TRỜI
E-va xưa đã nghe lời rắn độc,
Khiến loài người phải mang tội tông truyền,
Thiên Chúa ban một Người Nữ vẹn tuyền,
Eva Mới sẽ đạp đầu quỷ dữ (St 3, 15).
***
Chính là Mẹ hạ sinh một Trưởng Tử (Rm 8, 29),
Là Con Một Thiên Chúa xuống gian trần,
Đấng Thiên Sai – Đấng Cứu Độ phàm nhân,
Khỏi tội lỗi từ muôn đời muôn thủa.
***
Mẹ hiệp công cùng Ngôi Hai Thiên Chúa,
Đức Giê-su – Đấng cứu chuộc loài người,
Mẹ được ân ban hồn xác lên trời,
Ôi nhiệm tích đầy linh thiêng xán lạn!
***
Mẹ lên trời giữa một ngày rực sáng,
Áo mặt trời chói lọi ánh quang vinh,
Và mặt trăng dưới chân Mẹ uy linh,
Muôn thần thánh đón chào nơi Thiên quốc.
***
Mẹ lên trời hưởng muôn vàn ơn phước,
Hào quang ân sủng toả khắp nơi nơi,
Ôi triều thiên muôn tinh tú rạng ngời,
Và muôn điệu nhạc thần tiên diệu vợi.
***
Mẹ ơi Mẹ, xin cứu con về với,
Chốn Thiên đường nơi Mẹ được tôn vinh,
Nơi muôn đời chan chứa ánh bình minh,
Không hoàng hôn, cũng chẳng còn đêm tối.
***
Mẹ ơi Mẹ, xin cứu con thoát khỏi,
Cõi u minh – nơi vực tối thảm sầu,
Cõi lầm than – nơi tội lỗi ngập đầu,
Nơi xâu xé, tranh giành và chém giết.
***
Mẹ ơi Mẹ! Cõi trần đầy rên siết,
Và nghiến răng, và uất nghẹn tủi hờn,
Và máu đào, và nước mắt trào tuôn,
Như hồng thuỷ muốn nhận chìm trái đất.
***
Ôi, lạy Mẹ ! Nơi cõi trần chất ngất…
… những tang thương – Con quỳ gối nguyện cầu:
Thế giới này xin được Mẹ cầu bầu,
Cùng Thiên Chúa ban bình an mãi mãi.
***
Ôi, lạy Mẹ ! Con nghe lòng tê tái,
Nước mắt trào, con khẩn thiết nài van,
Cho chúng con – đoàn con cái tân toan,
Được mau chóng sum vầy bên gối Mẹ.
 

15/8-111: NGUỒN GỐC LỄ ĐỨC MẸ HỒN XÁC LÊN TRỜI

Sưu tầm

Lễ Mẹ hồn xác lên trời là lễ cổ xưa nhất trong các ngày lễ kính Đức Mẹ được cử hành trong 15/8-111

Lễ Mẹ hồn xác lên trời là lễ cổ xưa nhất trong các ngày lễ kính Đức Mẹ được cử hành trong toàn thể Giáo hội. Toàn thể ở đây được hiểu như là bao trùm cả Giáo hội Đông phương, Công giáo lẫn Chính Thống giáo. Theo truyền thống của Giáo hội Đông phương dành 15 ngày đầu tháng 8 để chuẩn bị cuộc lễ và 15 ngày cuối để tạ ơn.
Trong những thế kỷ đầu, lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời được gọi là lễ Đức Mẹ an giấc. Ngày lễ đã được mặc cho tất cả sự trang trọng kể từ năm 1950 khi Đức Cố Giáo Hoàng Piô XII định tín việc Đức Mẹ được cất nhắc về trời cả hồn lẫn xác. Với tín điều này, Giáo hội chỉ công bố long trọng một chân lý vốn đã được các tín hữu Kitô tin từ ngàn xưa tôn kính. Chân lý đó là : “Thân xác của Người phụ nữ đã trao ban thể xác cho Con Thiên Chúa đã không phải chịu định luật của sự thối rữa”.
Lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời không những là lễ cổ xưa nhất về Đức Mẹ. Nhưng ngày 15-8 hằng năm còn có một ý nghĩa rất đặc biệt. Đa số ngày tháng của các ngày lễ trong Kitô giáo đều bắt nguồn từ những ngày lễ ngoại giáo. Lễ Giáng sinh chẳng hạn, không gì khác hơn là lễ của thần mặt trời của đế quốc La-mã được rửa tội lại theo Kitô giáo mà thôi.
Đây không phải là trường hợp của Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời. Đế quốc La-mã  vốn dành ngày đầu tháng tám để tôn vinh hoàng đế. Trong khi đó lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời được cử hành vào ngày 15-8. Như vậy lý do chọn ngày 15-8 để cử hành lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời không bắt nguồn từ đế quốc La-mã, mà từ chính Giêrusalem cổ.
Trước thời hoàng đế Constantinope, trong ngày này đã diễn ra một cuộc lễ trong nhà thờ trên núi cây dầu tại Jerusalem. Truyền thống đã gọi lễ này là lễ Đức Mẹ an giấc.
Trong đế quốc La-mã ngoại đạo, không có bất cứ nguồn gốc nào về ngày lễ này đã đành, mà kể từ đó về sau cũng chẳng có đế quốc nào xóa bỏ hay thay thế được lễ này. Những cố gắng vô ích của một hoàng đế Napoléon của Pháp là một bằng chứng.
Ngày 15-6-1769 tại Ajaccio đảo Corse chào đời một đứa bé mà cha mẹ đã đặt tên cho một tên thánh hiếm có là Napoléon. Nếu ngày 15-8-1637 vua Louis XIII đã ban hành một sắc lệnh để đặt toàn nước Pháp dưới sự che chở của Mẹ Maria thì nawm1806 sau khi đã đăng quang làm hoàng đế của nước Pháp và khắp Âu Châu. Napoléon tước đoạt mọi danh dự dành cho Mẹ Thiên Chúa, để biến thành một ngày lễ dành riêng cho ông.
Sinh trùng vào ngày 15-8, Napoléon bắt toàn dân nhớ đến ngày sinh của ông là điều dễ hiểu, là ngày được cha mẹ đặt tên cho là Napoléon. Ông đã cố lục lọi trong danh sách các thánh trong Giáo hội tìm cho bằng được một vị thánh có tên là Napoléon.
Với sự đồng ý của một vị giám mục cung đình, ông đã tìm được mục danh sách các vị tử đạo Rôma, trong đó có một vị tên là Néopoli. Không rõ do những lèo lái như thế nào mà cuối cùng cả triều đình của ông đều đồng thanh nhận á thánh Néopoli với tên gọi Napoléon của ông. Vậy là ngày 15-8 không những là ngày sinh nhật của ông mà còn là ngày lễ bổn mạng của ông nữa.
Danh dự đã dành cho Mẹ Thiên Chúa được ông hoàng đế này đương nhiên chiếm đoạt. Tại Rooma, Đức Giáo Hoàng Piô VII tuyên bố rằng : “Việc quyền bính thế tục thay thế việc tôn kính Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời bằng việc tôn kính một vị thánh không có tên trong lịch Phụng vụ là điều không thể chấp nhận được”.
Đây là một hành động xen lấn không thể dung thứ và chấp nhận được, không thể lấy thế quyền thay cho thần quyền. Nhưng vì những hành động của bạo chúa Napoléon quá tàn nhẫn, cho nên bức kháng thư đã không được công bố. Tột cùng hành động ngang ngược của Napoléon là ra lệnh đưa Đức Giáo Hoàng về giam giữ tại Fontainebleau bên Pháp.
Dĩ nhiên, rồi cuối cùng Trái Tim Mẹ vẫn thắng, sự cáo chung của đế quốc do Napoléon dựng nên cũng chấm dứt việc chiếm đoạt danh dự dành cho Mẹ Maria. Vị thánh Napoléon được Napoléon tự phong cũng tự ý rút lui để trả ngày 15-8 lại cho Mẹ Thiên Chúa. Điều kỳ diệu mà Mẹ Maria đã thực hiện là việc tôn kính vị thánh Napoleon do những kẻ dua nịnh bịa đặt ra hơn là đòi hỏi của lịch sử đã để lại một hậu quả không lường được. Đó là kể từ ngày đó 15-8 hằng năm đã biến thành một ngày lễ buộc trên toàn nước Pháp.
Trên đây là một trong những vị dụ cho thấy những sự vụng về kỳ lạ của lịch sử, qua đó người ta thấy được sự hiện diện kín đáo nhưng vô cùng hữu hiệu của Mẹ Thiên Chúa. Kẻ quyền thế muốn tước đoạt danh dự của Mẹ Maria đã bị hạ xuống khỏi tòa cao, như Mẹ đã tiên báo trong kinh Magnificat.
Ngày nay sau bao nhiêu thăng trầm của lịch sử, nước Pháp vẫn tiếp tục đóng cửa nghỉ ngày 15-8 để tôn vinh Mẹ Maria. Danh vọng hão huyền mà một hoàng đế Napoléon đeo đuổi bằng cách hạ bệ Mẹ Thiên Chúa đã không kéo dài quá tám năm. Kể từ tháng 3-1814 sau khi hoàng đế Napoléon thoái vị và bị đày ra đảo Sante Hélène để sống những ngày còn lại của ông. Trong ăn năn sám hối, tên tuổi của ông vẫn được tiếp tục nhắc đến như một thiên tài cũng có, mà như một kẻ ngông cuồng thì nhiều hơn.
Trong khi đó Mẹ Maria vẫn tiếp tục ngự trị trong lòng người dân Âu châu, mặc dù họ có muốn tục hóa đến đâu đi nữa, thì trong lịch sử hàng năm của họ vẫn còn những dấu ấn không bao giờ tàn phai của Mẹ Thiên Chúa. Mãi mãi như Mẹ đã tiên báo trong kinh Magnificat : “Từ nay muôn thế hệ sẽ khen tôi là người có phúc”.
 

15/8-112: "Đức Mẹ hồn xác lên trời" trong hội họa

Lễ Ðức Maria Hồn Xác Lên Trời
Nguyên Hưng

Hình ảnh Đức Mẹ Maria trong hội họa nhiều vô số kể, tuy nhiên, hầu hết đều đi kèm với hình ảnh 15/8-112

Hình ảnh Đức Mẹ Maria trong hội họa nhiều vô số kể, tuy nhiên, hầu hết đều đi kèm với hình ảnh Chúa Hài Đồng hay với biểu tượng về Công cuộc Cứu chuộc của Chúa Giêsu, và thường xuất hiện như một biểu tượng của “lòng mẹ”, của “tình mẫu tử”. Dường như chỉ trong chủ đề "Truyền tin", chủ đề "Đức Mẹ hồn xác lên trời", và chủ đề "Đức Mẹ Vô nhiễm Nguyên tội" mới có những ngoại lệ, và mang những ý nghĩa đặc biệt.
Chủ đề "Truyền tin" xuất hiện trong hội họa khá sớm. Theo các sử gia nghệ thuật, Icon Byzantium đầu tiên thể hiện chủ đề này ra đời vào khoảng thế kỷ thứ IV. Còn chủ đề "Đức Mẹ hồn xác lên trời" và chủ đề "Đức Mẹ Vô nhiễm Nguyên tội" thì mãi đến thế kỷ XV mới xuất hiện. Lý do của sự muộn màng này, có lẽ, mọi người Công giáo đã biết rõ (ở đây tôi không nhắc lại).
Theo nhiều sử gia nghệ thuật, bức tranh đầu tiên có chủ đề "Đức Mẹ hồn xác lên trời" chính là một tác phẩm khổ nhỏ (30.3 x 45.7 cm) vẽ bằng tempera (bột màu pha lòng trắng trứng) trên nền gỗ dát vàng của Sano di Pietro (1406-1481) sáng tác trong khoảng thời gian từ 1447-1452, hiện đang được lưu giữ tại bảo tàng Lindenau, Altenburg. Dưới đây là ảnh tác phẩm:
** "Đức Mẹ hồn xác lên trời", tempera trên gỗ dát vàng, vẽ năm 1447-1452, của  Sano di Pietro
Tuy được xem là tác phẩm tiêu biểu của nghệ thuật Gothic phương Tây, gần với tự nhiên và giàu tính trang trí, nhưng tác phẩm này của Sano di Pietro vẫn còn mang đậm dấu ấn ảnh hưởng ngôn ngữ biểu tượng phương Đông của nghệ thuật Byzantium. Cần phải biết điều này mới có thể "giải mã" thông điệp của tác phẩm. Ngày nay, khi xem tác phẩm này, chúng ta dễ có cảm tưởng họa sĩ đang vẽ cảnh các thiên thần đang xuống đón Đức Mẹ về trời. Và, cái "vật thể" có hình ô-van mà Đức Mẹ đang ngồi trong đó, có vẻ như là một "phương tiện" di chuyển đặc biệt...! Thực ra, đây là một biểu tượng cách điệu từ hình ảnh trái hạnh nhân. Trong nền văn hóa Do Thái (ảnh hưởng sang văn hóa Ý) cây hạnh nhân là biểu tượng của sự sống, và trái hạnh nhân là biểu tượng của tình yêu, của sự kiên trinh. Liên hệ từ biểu tượng này, chúng ta dễ hiểu, không phải tác giả đang thể hiện hình ảnh Đức Mẹ lên trời, mà đang thể hiện tình cảm tôn vinh Đức Mẹ ở ý nghĩa gắn liền với sự sống trường tồn, với tình yêu cao cả và bất diệt...- một tình cảm vượt qua sự sống-chết và các giới hạn trần tục...
Từ thời Phục hưng, hình ảnh Đức Mẹ hồn xác lên trời đã trở thành nguồn cảm hứng lớn cho các nghệ sĩ, và từ đó, rất nhiều kiệt tác đã ra đời. Theo nhiều nhà phê bình nghệ thuật, và một số nhà thần học, sự lên ngôi của chủ đề "Đức Mẹ hồn xác lên trời" không thuần túy chỉ là sự lên ngôi của một niềm tin tôn giáo, mà còn đánh dấu sự chiến thắng của chủ nghĩa nhân văn Phục hưng - hình ảnh Đức Mẹ hồn xác lên trời trở thành nguồn an ủi và hy vọng lớn lao của con người...
** Trong rất nhiều kiệt tác thể hiện chủ đề "Đức Mẹ hồn xác lên trời", trước hết, có lẽ phải kể đến tác phẩm của Titian (1488/1490 – 1576) vẽ trong khoảng thời gian từ 1516-1518.
** "Đức Mẹ hồn xác lên trời", sơn dầu trên gỗ, khổ 690 x 360cm, vẽ năm 1516-1518, của Titian
Ngày 19 tháng 5 năm 1518, Titian lắp đặt tác phẩm "Đức Mẹ hồn xác lên trời" của mình lên tường chính gian Thánh Vương cung Thánh đường Santa Maria Gloriosa dei Frari, ở Venice, và ngày này đã được xem là một sự kiện trọng đại, đi vào sử sách của thành phố này. Bức tranh ngay tức khắc nhận được sự chú ý, tưởng thưởng của các tầng lớp công chúng. Đặc biệt, theo các sử gia nghệ thuật, sự hoành tráng và vẻ quyến rũ của nó, đã gần như ngay tức khắc xác lập niềm tin nơi mọi người về tín điều "Đức Mẹ hồn xác lên trời"- một chủ đề vẫn còn gây tranh cãi trong bản thân Giáo hội Công giáo đương thời...
** Vương cung Thánh đường  Santa Maria Gloriosa dei Frari, ở Venice với tác phẩm "Đức Mẹ hồn xác lên trời" của Titian
Đã có rất nhiều nhà phê bình viết về tác phẩm của Titian, chủ yếu xoay quanh vấn đề Titian đã xử lý bố cục và phối màu tác phẩm xuất sắc như thế nào để hòa nhập tác phẩm vào không gian kiến trúc Gothic của Vương cung Thánh đường Santa Maria Gloriosa dei Frari, và tạo nên cảm giác hoành tráng... Đây là một đề tài khá thú vị, nhưng sẽ rất dài dòng, nên tôi sẽ quay lại vào dịp khác. Ở đây, tôi chỉ dừng lại ở ghi chú: Trong lịch sử nghệ thuật Công giáo, tác phẩm này của Titian được xem là biểu tượng ngợi ca hồn nhiên về Đức Mẹ trong hình ảnh Người huy hoàng về trời dưới sự đón nhận của Thiên Chúa... Và, thành công của tác phẩm, đã được xem là nguồn khích lệ để bao nhiêu họa sĩ khác lao vào chủ đề "Đức Mẹ hồn xác lên trời"...
Sau tác phẩm của Titian, "Đức Mẹ hồn xác lên trời" của Rubens (1577 - 1640) vẽ năm 1620, hiện đang được đặt tại bảo tàng Kunsthistorisches, Vienna, cũng được xem là một tác phẩm bất hủ về chủ đề này…
** "Đức Mẹ hồn xác lên trời", 1620, sơn dầu trên vải, khổ 458 x 297 cm, của Rubens
** Tuy nhiên, nổi tiếng nhất, có lẽ là tác phẩm dưới đây của Murillo (1617-1682)
** "Đức Mẹ hồn xác lên trời", 1680, sơn dầu trên vải, khổ 195 x 145 cm, của Bartolomé Esteban Murillo (1617-1682), The Hermitage, St. Petersburg
Nổi tiếng nhất - hiểu theo nghĩa được công chúng đón nhận rộng rãi nhất – có lẽ do sự dung dị của tác phẩm và sự dịu dàng, thanh thoát nơi bản thân hình ảnh Đức Mẹ Maria...
Nhân thể, xin lưu ý, Murillo cũng là họa sĩ vẽ rất nhiều tranh về chủ đề “Đức Mẹ vô nhiễm nguyên tội”. Dưới đây là ba tác phẩm tiêu biểu của ông về chủ đề này:
** “Đức Mẹ vô nhiễm nguyên tội”, 1645-1655, sơn dầu trên vải, khổ 235 x 196 cm, The Hermitage, St. Petersburg
** “Đức Mẹ vô nhiễm nguyên tội”, 1665-1670, sơn dầu trên vải, khổ 206 x 144 cm, Museo del Prado, Madrid
** “Đức Mẹ vô nhiễm nguyên tội”, c. 1678, sơn dầu trên vải, khổ 274 x 190 cm, Museo del Prado, Madrid
Rất nhiều người, trong đó có tôi trước đây, đã nhầm lẫn những bức tranh này là tranh thể hiện chủ đề “Đức Mẹ hồn xác lên trời”! Chúng có vẻ giống nhau quá!
Để phân biệt, xin lưu ý vài chi tiết:
Thứ nhất, hình ảnh Đức Mẹ trong tranh “Đức Mẹ hồn xác lên trời”, thường có dáng dấp như vươn lên đón nhận hồng ân từ Thiên Chúa, còn trong tranh “Đức Mẹ Vô nhiễm Nguyên tội”, Người như thu mình lại trong dáng dấp một trinh nữ khiêm cung…
Thứ hai, trong tranh chủ đề “Đức Mẹ Vô nhiễm Nguyên tội”, dưới chân Đức Mẹ, thường, có hình ảnh một vầng trăng khuyết. Đây là hình ảnh nhằm minh họa lời trong sách “Khải huyền” của Thánh Gioan: “Rồi có một điềm lớn xuất hiện trên trời: một người phụ nữ mình khoác áo mặt trời, chân đạp mặt trăng và đầu đội triều thiên 12 ngôi sao." (Kh 12, 1)(*).
Nguyên Hưng
-----------------------------
(*) Theo các nhà Chú giải học (hermeneutics):
- “Áo mặt trời”: được bao bọc bởi Thiên Chúa (Thiên Chúa là ánh sáng).
- “Chân đạp mặt trăng”: “mặt trăng”, trong văn hóa Tây phương là biểu tượng cho người nữ (Tiếng Latinh phân biệt mặt trăng “Luna” giống cái; mặt trời “Sol” giống đực. Tiếng Pháp cũng có phân biệt tương tự: mặt trăng “la Lune”, giống cái; mặt trời “le Soleil“, giống đực.). Như vậy “Chân đạp mặt trăng” có ý nghĩa của một sự vượt qua, sự đứng bên trên thân phận người nữ bình thường (vốn mắc tội Tổ tông)…
- “Đầu đội triều thiên 12 sao”: Đức Mẹ được tôn vinh bởi Giáo hội (“đội triều thiên”: sự tôn vinh; “số 12” tượng trưng cho Giáo hội).
 

15/8-113: Mừng lễ Đức Mẹ hồn xác lên trời

Trần Văn Trí

Đối với Giáo Hội Công Giáo, từ 1950, Đức Mẹ hồn xác lên trời là một tín điều thuộc phạm vi 15/8-113

Đối với Giáo Hội Công Giáo, từ 1950, Đức Mẹ hồn xác lên trời là một tín điều thuộc phạm vi Đức Tin. Trong khi, từ những thế kỷ tiên khởi, việc Đức Mẹ hồn xác lên trời đã được các tín hữu vững tin dựa vào truyền thống, dù không có nền tảng trong Thánh Kinh. Giáo Hội nhìn nhận truyền thống như thế phù hợp với kho tàng Đức Tin được khai triển vào giữa thế kỷ 19 trong Tín điều “Đức Mẹ Vô nhiễm nguyên tội”, công bố theo thông điệp “Ineffabilis Deus” (Thiên Chúa bất khả ngộ) ngày 8-12-1854.
 Năm 373, Thánh Euphreim đã nêu lên quan niệm rằng, sau khi lìa đời, xác của Đức Maria vẫn nguyên vẹn vì Mẹ không nhuốm lấy dơ bẩn của sự chết. Ở Phương Tây, Grê-gô-riô de Tours đã dựa vào tài liệu “Transitus Mariae” (Đức Maria lìa đời), thế kỷ thứ 5 (495-496), nói về Đức Mẹ khi lìa đời (có các tông đồ hiện diện), được Chúa Giêsu đón rước linh hồn và cả xác, lên Thiên Quốc. Ở Phương Đông, Gioan Đa-mas-xê-nô thuật lại sự tích trong Giáo hội Giêrusalem: Vào Công đồng Cal-cê-đô-ni-a, năm 451, hoàng đế Marcianô và hoàng hậu Pulsêria yêu cầu Đức Giám mục Juvénal, thành Giêrusalem, tìm xác Đức Mẹ và tường trình cho Công Đồng. Sau khi tìm kiếm, Đức Cha Juvénal trình rằng:
 “Khi Đức Mẹ lìa đời thì các Tông đồ đều có mặt, trừ ông Tô-ma đi vắng. Vài ngày sau, khi trở về, Tôma đòi xem xác Đúc Mẹ. Các tông đồ ra phần mộ thì thấy mộ trống trơn, không còn có xác Đức Mẹ. Các tông đồ tin rằng Mẹ Maria đã được Chúa Giêsu đem lên Thiên Quốc hợp cùng linh hồn của Mẹ.”
 Ngoài ra, tuy trong Giáo Hội không có tài liệu Thánh Kinh nào về Đức Mẹ hồn xác lên trời, nhưng các tín hữu hằng vững tin về “Đức Mẹ mông triệu thăng thiên” như mầu nhiệm.thứ bốn của Năm Sự Mừng: Thứ bốn thì ngắm “Đức Chúa Trời cho Đức Bà lên trời, ta hãy xin ơn chết lành trong tay Đức Mẹ.”
 Theo Thánh Truyền, từ lời Chúa Giêsu trối trên thập giá: “Nầy là mẹ của anh” (Ga 19: 27), môn đệ Gioan lãnh phần chăm sóc Đức Mẹ, Năm 370, có tài liệu nói về Thánh Nữ Đồng Trinh đã sống tại Giêrusalem vào cuối cuộc đời của Mẹ và về phần mộ của Đức Mẹ tại Giết-sê-ma-ni, nơi thung lũng Gio-da-phát. Nơi đây, vào khoảng năm 431, có Vương Cung Thánh Đường Thánh Maria trong đó có phần mộ của Đức Mẹ, dù là mộ trống vì Đức Mẹ đã được Thiên Chúa đưa cả hồn và xác lên trời.
 Tất cả các trích thuật nầy, tuy không phải từ Thánh Kinh mà do Thánh Truyền, nhưng giáo hữu sốt sắng vững tin và sùng mộ. Hơn nữa, điều căn bản người tín hữu cần hiểu biết về Thánh Nữ Đồng Trinh Maria hồn xác lên trời là ý nghĩa Đức Mẹ được Thiên Chúa rước về Thiên Quốc cả hồn lẫn xác - Assumptio Beatae Mariae Virginis, khác với mầu nhiệm Chúa Giêsu Thăng Thiên – Ascensio Domini, vì Đức Giêsu Kitô về cùng Thiên Chúa Cha, hay tự lên trời do quyền phép của chính Ngài.
 Hai mầu nhiệm “Lên Trời” và “Mông Triệu Thăng Thiên” có trong Năm Sự Mừng Chuỗi Mân Côi.
 Cũng theo Thánh Truyền, từ thế kỷ thứ 4 trở đi, niềm tin vào “Thánh Nữ Đồng Trinh Maria hồn xác lên trời” được phổ biến trong cả Giáo Hội Đông Phương lẫn Tây Phương. Cụ thể, trong các Giáo Hội Đông và Tây Phương, có nhiều vị đạo đức hoặc các Giáo Phụ, về sau được phong thánh, đã nhiệt thành rao giảng về hồng ân Thánh Nữ Đồng Trinh Maria hồn xác lên trời, như Thánh Grêgôriô thành Tours, Thánh Mô-đét-tô, Th. Xô-phrô-ni-ô, Thượng phụ Giêrusalem, Th. Ger-ma-nô, Constantinople.
 
Tại sao hằng năm, Lễ Đức Mẹ lên trời vào ngày 15 tháng 8
 Vào đầu thế kỷ thứ 6, Thánh Tê-ô-đô-xi-ô (Theodosius) cho biết: Trước năm 500, hằng năm các thầy dòng Palestine mừng trọng thể Lễ Thánh Nữ Đồng Trinh Maria hồn xác lên trời vào ngày 15 tháng 8. Trong khi, theo Giáo Lý, tại Ai cập và A-ra-bi-a thì giáo hữu mừng lễ vào trung tuần Tháng Giêng. Đến thế kỷ 6, ngày lễ 15 tháng 8 lan rộng khắp Giáo Hội Đông Phương. Tại đế quốc Hy lạp, Hoàng đế Mô-rít (Mauritius) công bố ngày lễ 15 tháng 8 với danh xưng “Lễ Thánh Nữ Đồng Trinh Maria Ngủ – Dormitio Sanctae Mariae Virginis” theo tinh thần Phụng vụ By-giăng-tin (Giáo Lý GHCG, 966).
 Cũng vào thế kỷ 6, Giáo Hội Rôma lấy ngày 15-8 làm ngày mừng Lễ Thánh Nữ Đồng Trinh Maria – Festivitas Beatae Mariae Virginis và mừng tại đền thờ Đức Bà Cả (Santa Maria Maggiore).
 Từ năm 700, thời Đức GH. Sergius I (687-701), Lễ Mông Triệu mừng trọng thể, có rước kiệu Đức Mẹ.
 Từ nguyên thủy, trong Sách Lễ Rô-ma, ngày lễ có tên “Assumptio Beatae Mariae Virginis”, với từ La-tinh Assumptio do động từ “Adsumere – assumptus” có nghĩa “kết hợp”, nên ngày lễ gọi đúng tên là “Lễ Kết Hợp của Thánh Nữ Đồng Trinh Maria” (và phải thêm “với Chúa Giêsu Con Mẹ trên trời “).
 Như vậy, ý nghĩa ngày lễ không nằm trong tên gọi mà chính trong Đức Tin, nền tảng của Thánh Truyền, giúp người Kitô-hữu đồng ý về hồng ân “Đức Mẹ, sau khi viên mãn cuộc đời trần thế, được Thiên Chúa đón rước cả hồn xác lên trời kết hợp với Chúa Giêsu Con Mẹ”. Từ đó, ngày lễ có tên phổ thông là “Lễ Đức Mẹ.hồn và xác lên trời”, mà người Công Giáo Việt Nam gọi là Lễ Đức Bà Mông Triệu Thăng Thiên, hay Lễ Mông Triệu, lễ trọng, lễ buộc, có Lễ Vọng ngày 14 tháng 8. Ngày nay, Lễ Đức Mẹ hồn xác lên trời là lễ trọng, lễ buộc, vì được vào quy củ Phụng Vụ nhờ tín điều Đức Mẹ Hồn Xác lên trời và Hiến chế Tín Lý về Giáo Hội 21-11-1964 (Lumen Gentium 59, tr. 247) nhắc lại:  Sau khi hoàn tất cuộc đời dưới thế, Đức Trinh Nữ Vô Nhiễm đã được đưa lên hưởng vinh quang trên trời cả hồn lẫn xác, và được Thiên Chúa tôn vinh làm Nữ Vương vũ trụ để nên giống Con Ngài trọn vẹn.
 
Tín điều Đức Trinh Nữ Maria Hồn Xác Lên Trời
 Cần nhắc lại Tín Điều vì niềm tin thâm sâu và nhiệt tình vào “Đức Mẹ hồn xác lên trời” đã có từ lâu đời trong Giáo Hội Công Giáo, Chính Thống và Tin Lành, nhất là từ giữa thế kỷ 19, sau khi Đức GH. Piô IX (1846-78) công bố tín điều “Ineffabilis Deus” về “Đức Mẹ vô nhiễm nguyên tội” (8-12-1854).
 Đến giữa thế kỷ 20, Đức GH. Piô XII (1939-58) được Chúa Thánh Thần soi sáng, đã cho mở các cuộc điều tra rộng rãi và nhận thấy có nhiều thỉnh nguyện từ giáo hội hoàn vũ xác tín mầu nhiệm cao cả đó.
 Vào Lễ Các Thánh Nam Nữ 1-11-1950, Đức GH Pi-ô XII ban hành Tông hiến lấy hai từ đầu bằng tiếng La-tinh Munificentissimus Deus (MD) của văn kiện, có nghĩa “Thiên Chúa rộng rãi hải hà”, công bố Tín điều Thánh Nữ Đồng Trinh Maria Hồn Xác Lên Trời gồm các điểm căn bản như sau.
 Với 48 số mục, Tông hiến tuyên xưng:
 “Thiên Chúa rộng rãi hải hà, dưới các điều kiện và phương thức khác nhau, làm cho mọi sự cùng hoạt động đem lại thiện mỹ cho những ai yêu mến Ngài” (MD, 1). Đức Thánh Cha nói đến giáo triều của người có “biết bao ưu tư, lo âu, rối loạn, với tai ương rất trầm trọng, sự kiện làm xa vời chân lý và nhân đức”, thúc đẩy Giáo Hội gia tăng lòng sốt sắng chạy đến khẩn cầu Mẹ, tôn vinh Mẹ (MD, 2). Người đề cập đến lý do ban hành Tông hiến (MD, 3) dựa vào nền tảng mà Đức GH. Piô IX đã ban hành tông hiến Ineffabilis Deus (Thiên Chúa bất khả ngộ) ngày 8-12-1854, công bố tín điều Đức Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội (MD, 4); những thỉnh nguyện và truyền thống đạo đức tôn vinh mầu nhiệm “Đức Mẹ hồn xác lên trời” (MD 7-19); chứng nhân của các Giáo phụ, các nhà thần học, các tiến sĩ Hội Thánh, các diễn giải Thánh Kinh (MD 20-41), dẫn đến việc triều đại Piô XII công bố tông huấn (MD 42-48) với những điều khoản luật định theo đức tin (MD 45-47) và ngày-tháng-năm ban hành (MD 48). Công bố chính yếu (MD, 44) minh định mà người giáo hữu phải nắm vững khi tìm hiểu về nguồn gốc và ý nghĩa lễ nghi Phụng Vụ Thánh:
 “Với bao lời cầu xin dâng lên Thiên Chúa, cầu khẩn ánh sáng của Thần Chân Lý, vì sáng danh Chúa và lòng yêu mến Mẹ Maria, để tôn vinh Con Mẹ, là Vua hằng sống; vì niềm hân hoan của toàn thể Giáo Hội, vì quyền năng của Đức Giêsu Kitô, của hai Thánh Tông Đồ Phêrô-Phaolô, và uy quyền của chính Giáo hoàng, chúng tôi công bố tín điều được Thiên Chúa mạc khải, rằng:
“Mẹ Thiên Chúa, Đức Maria trọn đời Đồng Trinh, sau khi hoàn tất cuộc đời trần thế, được cả hồn và xác mông triệu thăng thiên vào vinh quang Thiên Cung.”
 Qua Tông hiến “Munificentissimus Deus”, ban hành ngày 1-11-1950, Đức GH. Piô XII công bố tín điều “Đức Mẹ hồn xác lên trời”. Từ đó, ngày lễ được mừng trọng thể khắp Giáo Hội hoàn vũ vào 15 th. 8.
 Hằng năm Lễ Đức Bà Mông Triệu Thăng Thiên là lễ lớn tổ chức rất trọng thể trên khắp thế giới, như ở Áo, Ba lan, Bỉ, Bồ-đào-nha, Ca-mê-run, Chi-lê, Côte d’Ivoire, Cro-a-xi-a, Đông Timor, Hy lạp. Ly-ban, Li-tu-a-ni-a, Man-ta, Mau-ri-ta-ni, Slo-va-nia, Tây ban nha và tại các quốc gia Mỹ Châu, như Mễ tây cơ và các nước Công giáo Nam Mỹ.
 Tại Pháp, ngày lễ khởi sự vào thế kỷ 17 theo lời khấn hứa của vua Louis XIII (1601-43). Năm 1637, nhà vua khấn xin Đức Mẹ cho có một đứa con trai nối nghiệp. Vua dâng nước Pháp cho Đức Mẹ và truyền cho dân chúng mừng Lễ Đức Mẹ 15 tháng 8 trọng thể có rước kiệu tại các giáo xứ. Năm sau 1638, hoàng tử Louis ra đời (sau là vua Louis XIV) càng làm tăng thêm sự mến mộ sùng kính Đức Mẹ. Cách riêng, tại thánh địa Lộ Đức, Lễ Đức Mẹ hồn xác lên trời là lễ hội tổ chức chu đáo trước và sau ngày 15 tháng 8. Việc kính viếng thánh địa Đức Mẹ Lộ Đức, từ thập niên 1870, do các Linh mục và tu sĩ Dòng Đức Bà Mông Triệu Thăng Thiên, cùng với các thiện nguyện viên “Assomption” đảm trách.
 
Lễ Đức Bà Mông Triệu Thăng Thiên tại Việt Nam
 Ngày lễ rất được giáo hữu Việt Nam sùng mộ, nhiều nơi có rước kiệu trọng thể, nhất là tại các giáo xứ chọn “Đức Bà Mông Triệu Thăng Thiên” làm bổn mạng. Tại Thánh địa Lavang có ngày hội trọng thể hầu giáo hữu tựu họp kính viếng Đức Mẹ vào tháng 8 với các sinh hoạt đạo đức gọi là Đại hội Lavang. Tại sao Tháng 8 là tháng đáng nhớ đối với người Công giáo Việt Nam, nói riêng, và đối với người Việt, nói chung? Con cái Đức Mẹ luôn luôn ghi nhớ thời vua Cảnh Thịnh (1792-1801) là thời có những mật lệnh bắt và giết tất cả các Linh mục và giáo dân. Ngày 7 tháng 8-1798, nhà vua ra lệnh tấn công các họ đạo từ Phú Xuân đến cả vùng Cổ Vưu, tỉnh Quảng Trị. Người Công giáo, với cả nhiều người ngoài Công giáo, chạy trốn giặc và quân giết người, tìm vào trú ẩn ở vùng rừng rú phường Lá Vằng, về sau gọi là Lavang. Ban đêm, khi họ tụ tập nhau đọc kinh cầu nguyện thì Đức Mẹ hiện ra an ủi họ. Sau các sắc dụ cấm đạo, giữa tháng 8-1798 là thời kỳ bắt đạo dữ dội, nên rất đông người Công giáo thuộc các giáo xứ Cồ vưu, Thạch hãn, Hạnh hoa, chạy vào rừng rú Lavang, phó thác vào Đức Mẹ được tôn vinh là “Nữ Vương các Thánh Tử Đạo” hoặc “Đức Bà phù hộ các giáo hữu”. Để tỏ lòng biết ơn Đức Mẹ Lavang, giáo hữu Địa phận Huế đã làm một nhà thờ tranh kính Mẹ Maria. Năm 1886, Đức Cha Gaspar Lộc, Giám mục Địa phận Huế, quyết định xây một nhà thờ ngói tại chính nơi Đức Mẹ  đã hiện ra năm 1798. Nhà thờ xây dựng trong vòng 15 năm, được khánh thành từ 6 đến 8 - 8 năm 1901.
 Sau 30-4-1975, phần lớn linh địa La-Vang do nhà nước quản lý, với số diện tích đất đai có phần nằm trong tay những kẻ có uy thế. Sau nhiều năm thương lượng, Tòa Tổng Giám mục Huế được nhà cầm quyền cho tái thiết linh địa La-Vang, hy vọng khởi công vào Lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời 15-8-2012.
---------------------------
 Tham Khảo: Catholic Encyclopedia – Assomption de la Sainte Vierge Marie
 

15/8-114: Lễ Đức Mẹ hồn xác lên trời

Lm. Giuse Nguyễn Văn Nghĩa

Tín điều Đức Maria hồn xác lên trời được Đức Piô XII long trọng tuyên tín trên ngai toà Phêrô 15/8-114

Tín điều Đức Maria hồn xác lên trời được Đức Piô XII long trọng tuyên tín trên ngai toà Phêrô. Không phải đợi đến nửa thế kỷ XX Mẹ Hội Thánh mới tin nhận điều này nhưng nó đã được sống, và tin nhận từ lâu dù rằng chưa trở thành tín điều buộc phải tin cách chính thức cho toàn thể Hội Thánh. Mẹ Maria được Chúa ân thưởng về trời cả hồn lẫn xác. Cái vấn nạn là ở chữ “xác”. Nếu tuyên bố rằng linh hồn Mẹ lên thiên đàng thì đâu có vấn đề và cũng chẳng ai bàn luận làm gì. Ở đây tín điều lại bao hàm cả cái “thân xác” của Mẹ.
Thân xác nhân loại chúng ta đã từng một thời gian rất dài bị hẩm hiu số phận dưới cái nhìn của nhị nguyên thuyết. Nói đến xác thịt là như nói đến cái gì đó xấu xa phải chê, phải ghét. Nghe đến hai chữ xác thịt là ta dễ liên tưởng đến xu hướng “hạ đẳng” luôn kéo ta đi xuống. Một ai đó khi được nhắc nhớ về lỗi lầm đã vấp phạm thì thường dễ biện minh: “Tính xác thịt mà”. Vậy ta phải nhìn thân xác như thế nào đây?
Con người là hữu thể xác hồn duy nhất. Tôi là hồn xác này. Xác hồn liên kết mật thiết không thể tách biệt mặc dù có thể phân biệt. Bất cứ hành vi nào của ta xét như là hành vi nhân linh đều có sự tham gia của hồn lẫn xác. Lập công thì cũng cả xác lẫn hồn và phạm tội cũng cả hồn lẫn xác.
Thân xác là cánh cửa giúp con người giao tiếp với giới tự nhiên, với tha nhân và với cả Thiên Chúa. Để thực thi công trình cứu độ, Ngôi lời đã mặc lấy xác phàm. Khi đi rao giảng Tin mừng, Người sử dụng thân xác mình để giáng phúc thi ân cho kẻ què đi được, người câm nói được, người mù được thấy, kẻ chết sống lại…. Và đỉnh cao của tình yêu mà Đức Kitô tỏ bày cho nhân loại là trao ban chính Máu Thịt của Người. Một thân xác trần trụi, chẳng còn hình tượng người ta nữa trên thập giá với Trái Tim bị đâm thâu là dấu chỉ tình yêu đến cùng của Đấng cứu độ. Và Hy tế cứu độ được hiện tại hoá trên bàn thờ mỗi ngày chính là Thân Mình Chúa Kitô trong Bí Tích Thánh Thể.
Tôn vinh Mẹ Maria qua mầu nhiệm Mẹ được Chúa ân thưởng về trời cả hồn lẫn xác, chúng ta không chỉ nói lên niềm tin vào tình yêu của Thiên Chúa, không chỉ nói lên tính quy luật của tình yêu là sự trọn vẹn, mà còn khẳng định phẩm tính cao trọng của thân xác do Thiên Chúa tạo dựng. Mọi sự Chúa dựng nên đều tốt đẹp. Đặc biệt cái thân xác con người, một “sản phẩm” mà Thiên Chúa xem ra phải tốn công mất sức nhiều như hình ảnh sách Sáng Thế mô tả: Thiên Chúa phải dùng tay để nặn và thổi hơi vào trong khi mọi thứ thì người chỉ phán một lời (x. St 1-2).
Tín điều Mẹ lên trời cả hồn lẫn xác mời gọi ta xác tín: Mẹ Maria đã cộng tác vào ơn cứu độ bằng trọn cả con người hồn xác. Mẹ đã đón nhận ơn cứu độ bằng cả xác hồn. Và việc Mẹ được ân thưởng cả xác hồn là hệ quả tất yếu.
Tình yêu đòi hỏi sự trọn vẹn và hài hoà cả xác lẫn hồn: Vị Cha chung của Hội Thánh, Đức Bênêđictô XVI nhận định trong thông điệp Thiên Chúa Là Tình Yêu: “Tình yêu giữa người nam và người nữ, trong đó hồn xác kết hợp bất khả phân ly mở ra cho con người một lời hứa hạnh phúc dường như không cưỡng lại được có lẽ là kiểu mẫu của tình yêu; bên cạnh tình yêu này thoạt nhìn một hình thức khác của tình yêu (phụ nữ, mẫu tử, bằng hữu,…) như mờ nhạt đi” (số 2). Chính vì thế khi yêu là yêu cả con người trọn vẹn.
Xin đừng quá chú trọng việc cứu rỗi linh hồn mà xao nhãng các nghĩa cử yêu thương cả về phần xác. Thánh Giacôbê tông đồ trách cứ những người chỉ biết chúc lành cho người nghèo mà không giúp họ chút gì về vật chất để lo cho thân xác họ. “Giả như có người anh em hay chị em không có áo che thân và không đủ của ăn hằng ngày mà anh em lại nói với họ: Hãy đi bình an… nhưng lại không cho họ những thứ thân xác họ đang cần, thì nào có ích lợi gì ?”(Gc 2,15-16 ). Ngược lại xin cũng chớ đề cao quá mức những chăm sóc về phần xác kiểu luận lý: “Có thực mới vực được đạo”.
Trong việc thờ phượng, yêu mến Chúa cũng tương tự. Hãy cẩn trọng với những lối biện minh cực đoan, một chiều như “đạo tại tâm”, “thờ phượng Chúa trong tinh thần và chân lý”. Để tham dự các cử hành Phụng vụ, lãnh nhận các Bí tích, Mẹ Hội Thánh nhắc nhớ chúng ta một trong các điều kiện bình thường đó là sự hiện diện bằng thân xác. Không thể xưng tội qua điện thoại hay tham dự Thánh lễ Chúa Nhật qua vô tuyến truyền hình cách thành sự. Và ngược lai, chúng ta khong thể không thận trọng trước lời khiển trách của Thiên Chúa với dân Người xưa rằng: dân này thờ kính Ta ngoài môi miệng, còn lòng chúng thì xa Ta.
Cần phải loại bỏ cái nhìn phiến diện và không tích cực về thân xác. Làm sao có thể tồn tại thái độ chê ghét thân xác, các thực hành đạo đức làm tổn hại sức khoẻ… trong khi chúng ta vẫn tuyên xưng: Tôi tin xác loài người ta sẽ sống lại? Phải biết tôn trọng vai trò, vị thế của thân xác. Chúng ta vốn quen với câu ngạn ngữ la tinh: “Một tinh thần tráng kiện trong một thân xác khỏe mạnh”. Hãy biết tận dụng những thế mạnh, những ưu điểm của thân xác chúng ta để yêu thương và phục vụ tha nhân thiết thực và hiệu quả hơn. Hãy tôn vinh Thiên Chúa nơi chính thân xác chúng ta. Hãy dùng chính thân xác cùng với các khả năng của nó để làm sáng danh Chúa. Biết tận dụng mọi tiến bộ khoa học để có được một thân xác khoẻ, đẹp, duyên dáng ở mức độ có thể, quả là điều nên làm và đáng làm. Dĩ nhiên đó phải là một thân xác được linh động bằng một linh hồn trong sáng, thánh thiện, đầy tràn tình yêu.
 

15/8-115: Linh hồn tôi ngợi khen Chúa

Lm Giuse Nguyễn Hữu An

Trong dịp hành hương Đất Thánh, chúng tôi có đến Nhà thờ Thăm Viếng, nơi có tượng Đức Mẹ 15/8-115

Trong dịp hành hương Đất Thánh, chúng tôi có đến Nhà thờ Thăm Viếng, nơi có tượng Đức Mẹ ngũ. Từ Nhà thờ kính Thánh Gioan Tẩy Giả tại En Kerem, đi bộ một đoạn đường khá xa, lên một dốc cao rồi bước thêm đúng 66 bậc thang mới đến Nhà thờ. Từ trên ngọn đồi nhìn xuống thung lũng xa xa, quê hương Thánh Gioan Tiền Hô đẹp như một bức tranh mờ trong sương sớm.

Nhà thờ dâng kính cuộc thăm viếng của Đức Mẹ. Khi nghe tin bà Isave mang thai, Đức Mẹ đã vượt đường sá xa xôi đến thăm và giúp đỡ. Từ Nazarét về tới En Kerem đường xa lắm, chừng 90 km và rất nhiều trắc trở hiểm nguy. Mẹ đã thể hiện tình yêu thương và sự quan tâm đặc biệt đến người chị họ Isave. Nơi đây bài Magnificat đã được viết trên tường bằng nhiều thứ tiếng, trong đó có cả tiếng Việt Nam.

Nhà thờ thăm viếng trên đỉnh đồi.

Sau kinh cầu nguyện trong Nhà thờ thăm viếng, chúng tôi đi xuống tầng hầm, mỗi người thành kính quỳ gối lần hạt trước tượng Đức Mẹ ngũ. Nhìn Đức Mẹ thánh thiện ngũ giấc bình an, ai cũng cảm động nguyện cầu khấn xin. Nhiều người thổn thức bên Mẹ.

Theo truyền thống xa xưa, Đức Mẹ không chết mà chỉ ngũ một giấc rồi Chúa đưa Mẹ lên trời cả hồn lẫn xác. Phụng vụ đã cử hành ngày qua đời của Mẹ dưới nhiều tên gọi: Dormitio (an giấc), Deposotio (an táng), Transitus (qua đời), Natalis (ngày sinh vào Nước Chúa). Tất cả những danh từ đó được dùng để nói tới cái chết của Đức Mẹ. Tiếng “assumptio” ( bởi động từ assumere; sumere: cất lấy; ad: kết hợp, đoàn tụ), lúc đầu ám chỉ việc linh hồn Mẹ được đưa vào vinh quang của Chúa (giống như các thánh); về sau từ ngữ này được dùng để chỉ việc Mẹ được cất về trời. Giáo hội phân biệt hai từ ngữ ”ascensio” áp dụng cho Chúa Giêsu vì Ngài lên trời do quyền năng riêng, còn “assumptio” áp dụng cho Mẹ để nói rằng Mẹ đựơc Chúa đưa về trời.

Tín điều Đức Maria Hồn Xác Lên Trời được Đức Giáo Hoàng Piô XII công bố vào ngày 1.11.1950: “Sau khi đã mãn cuộc đời dưới đất, Đức Maria được đem về trời cả xác hồn”. Vào thế kỷ 19, có một luồng thần học chủ trương rằng Đức Maria không phải chết và xin Đức Thánh Cha hãy định tín như vậy. Họ cho rằng Đức Maria không mắc tội nguyên tổ nên không phải chết bởi vì sự chết là hình phạt của tội nguyên tổ. Tuy nhiên đa số các nhà thần học cho rằng Đức Maria đã chết và sau đó được sống lại. Đức Piô XII không bàn tới vấn đề này, không nói rằng Mẹ không phải chết cũng chẳng nói Mẹ đã chết và đã sống lại; nhưng chỉ nói rằng: sau khi chấm dứt cuộc đời dương thế, Mẹ được cất về trời cả xác và hồn.

Nhìn Đức Mẹ ngũ, tôi thấy sáng lên vẻ đẹp thánh thiện cao quý. Mẹ tuyệt đẹp vì Mẹ đầy ơn Chúa. Mẹ đẹp thánh thiện vì ơn Vô Nhiễm Nguyên Tội. Mẹ đẹp cao quý vì làm Mẹ Đấng Cứu Thế. Mẹ tuyệt mỹ vì niềm tin đơn sơ và cuộc sống khiêm nhường. Nét đẹp ấy thoang thoảng như như một hương thơm hảo hạng toả ra lôi cuốn. Nét đẹp ấy mặn mà như thứ muối thiêng liêng. Nét đẹp ấy lung linh như ánh sáng dịu mát. Nét đẹp ấy huyền diệu như âm nhạc dịu êm mời gọi con người nâng tâm hồn lên tới Chúa.

Cầu nguyện trước tượng Đức Mẹ ngũ.

Hôm nay, Giáo hội mừng kính Đức Maria được khải hoàn bước vào quê hương Nước Trời.

Bầu khí phụng vụ đượm sắc thái vui tươi với những lời ngợi khen và chúc tụng Đức Trinh Nữ lên trời hiển vinh. Từ đây Đức Mẹ nắm giữ vai trò quan trọng nhất là Nữ Vương trời đất. Từ nay, Đức Mẹ đảm nhận một địa vị cao cả nhất và cũng thật gần bên Thiên Chúa. Kể từ nay, Đức Mẹ trổi vượt trên mọi tạo vật với địa vị làm Mẹ Thiên Chúa và làm Mẹ nhân loại.

Quyền năng và tình yêu Chúa tràn đầy trên Mẹ làm cho Mẹ được khỏi tội tổ tông và được đầy ơn ơn sủng ngay từ trong lòng mẹ. Quyền năng và tình yêu Chúa bao phủ suốt cả đời Mẹ trên từng ý nghĩ, từng tình cảm, từng mỗi hành động, từng mỗi bước đi... khiến cho tâm hồn Mẹ luôn hướng về Chúa mà tạ ơn và ngợi khen liên lỉ. Quyền năng và tình yêu Chúa đong đầy trọn vẹn nhất trong khoảnh khắc lịch sử, Mẹ lên trời cả hồn cả xác. Đặc ân cao trọng này chính là triều thiên sáng chói bao phủ lên Mẹ, vốn đã được “Thánh Thần ngự xuống trên bà, và quyền năng Đấng Tối Cao rợp bóng trên bà” (Lc 1,35).

Giáo hội cùng hiệp ý chung lời với Mẹ ngợi khen tạ ơn Thiên Chúa: “Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa, thần trí tôi hớn hở vui mừng vì Thiên Chúa Đấng cứu độ tôi. Phận nữ tỳ hèn mọn, Người đoái thương nhìn tới, từ nay, hết mọi đời sẽ khen tôi diễm phúc”.

Đó là những lời tán tụng ngợi ca Thiên Chúa phát xuất từ sâu thẳm lòng Mẹ trong ngày thăm viếng người chị họ Isave.

Những lời ngợi ca đó nói lên tất cả tâm hồn của Mẹ. Đó là toát lược cả cuộc đời Mẹ, cả chương trình sống của Mẹ, là con đường tu đức của Mẹ: mãi mãi là người nữ tỳ khiêm tốn, luôn phó thác hoàn toàn trong tay Chúa toàn năng và nhân hậu, hằng dâng lời ngợi khen tạ ơn Chúa trong mọi hoàn cảnh cuộc sống.

Những lời ca ngợi Magnificat nói lên hết ý nghĩa và tâm tình của Mẹ đối với Thiên Chúa toàn năng và yêu thương.

Mẹ cảm thấy thân phận tôi tớ hèn mọn nầy lại được cất nhắc cao trọng trong giây phút lên trời: “Phận nữ tỳ hèn mọn, Người đoái thương nhìn tới, từ nay, hết mọi đời sẽ khen tôi diễm phúc”.

Mẹ cảm nghiệm được quyền năng và tình yêu vô biên của Chúa trong giây phút Chúa hiển dương Mẹ về trời: “Đấng Toàn Năng đã làm cho tôi biết bao điều cao cả...Đời nọ tới đời kia, Chúa hằng thương xót những ai kính sợ Người”.

Đức Mẹ được lên trời hồn xác là do đặc ân Chúa ban cho Mẹ và đồng thời cũng là do cuộc sống thánh thiện của Mẹ hằng luôn hợp tác với ơn Chúa. Hồn xác lên trời là một hồng ân cao cả mà Thiên Chúa ban cho Mẹ. Mẹ là người diễm phúc nhất trong mọi người nữ. Mẹ có tên gọi đẹp nhất là ”Đấng đầy ơn phúc” vì “Thiên Chúa ở cùng bà”. Mẹ được hết mọi đời khen là diễm phúc chính vì “Đấng toàn năng đã làm cho Mẹ biết bao điều cao cả”. Điều cao cả nhất là làm Mẹ Chúa Cứu Thế. Mẹ là cây sinh quả phúc và nhờ quả phúc ấy mà Mẹ được biết đến và được ca tụng. Mẹ là cây trường sinh mang quả đầu mùa mà Thiên Chúa đã trồng trong vườn địa đàng mới hầu đem lại sự sống đời đời cho mọi thế hệ loài người. Chính vì thế mà Thiên Chúa muốn cho cây mang quả trường sinh ấy được nhân lên trong vườn địa đàng mà Người muốn mở rộng diện tích tới tận cùng trái đất.

Trong bài giảng tại Thánh địa La Vang ngày 15/8/2007, Đức TGM Huế đã suy niệm: Đức Mẹ lên trời sau khi đã đi qua hết mọi nẻo đường đời của một người bình thường nghèo khó: nẻo đường không nơi trú ngụ; phải sinh con trong hang đá Bêlem; nẻo đường lánh cư sang Ai Cập đầy tiếng khóc than của các bà mẹ mà những đứa con thơ vô tội bị vua Hêrôđê sát hại; đường vào tiệc cưới Cana có tiếng vui cười của thực khách và đôi tân hôn; đường lên núi Calvariô, có tiếng nguyền rủa, tiếng búa đóng đinh của các lý hình; đường loan Tin mừng Chúa Phục Sinh và đường thẳng lên trời hồn xác trong tiếng reo vui của đất trời, của thần thánh, của loài người. Đức Mẹ đã sống thánh giữa đời, đã nên thánh qua những chặng đường vui, đường sáng, đường thương, đường mừng.

Trong cuộc sống hôm nay, chúng ta cũng đang đi lại những chặng đường của Đức Mẹ: có cả vui, sáng, thương, mừng. Chúng ta lần hạt, tràng chuỗi nơi tay, miệng thầm thỉ, lòng kết hiệp với các mầu nhiệm vui mừng và đau thương của Đức Mẹ. Chúng ta cũng lần hạt một cách thiết thực nữa trong cuộc sống hằng ngày, mà tràng chuỗi và những hạt chuỗi giờ đây chính là những hạt mồ hôi, những giọt nước mắt, những khổ đau, những oan ức..., và cũng chính là những tiếng vui cười, những tia hy vọng, những niềm hân hoan... Đó là tràng chuỗi sống, đi đôi với việc đọc kinh lần hạt suy niệm của chúng ta.

Đức Mẹ được vinh hiển hồn xác trên trời là hình ảnh và là khởi đầu bảo đảm cho tương lai của chúng ta sau nầy cũng sẽ được như vậy, miễn là bây giờ chúng ta biết noi gương Mẹ mà sống thánh giữa đời, qua những chặng đường vui, sáng, thương, mừng của cuộc sống (x. LG 68).
 

15/8-116: Đức Mẹ Maria hồn xác lên trời

Lm. Đaminh Nguyễn ngọc Long

Mỗi khi đọc kinh mân côi chúng ta suy niệm mầu nhiệm: Thứ  bốn thì  ngắm:Đức Chúa Trời cho 15/8-116

Mỗi khi đọc kinh mân côi chúng ta suy niệm mầu nhiệm: Thứ  bốn thì  ngắm:Đức Chúa Trời cho Đức Bà lên trời. Ta hãy xin ơn chết lành trong tay Đức Mẹ."
Tin trong tâm hồn, nhưng trí khôn hiểu mầu nhiệm Đức Mẹ Maria lên trời như thế nào?

1. Trọn vẹn bên Chúa
Đức đương kim giáo hoàng Benedictô 16., khi còn là Hồng Y Bộ trưởng Bộ tín lý đức tin, đã tâm sự: „ Tín điều Đức Mẹ hồn xác lên trời đối với con người chúng ta thật khó hiểu. Vì chúng ta không mường tượng được trời như thế nào. Lại càng khó hiểu khó mường tượng được chỗ đứng của thân xác trên đó. Như thế, tín điều này đặt ra cho trí óc con người chúng ta một bài toán to lớn, vì phải hiểu trời và thân xác như thế nào, phải hiểu về chính con người và tương lai thân xác ra làm sao...
Theo suy tư thần học về bí tích rửa tội của Thánh Phaolô, tương lai chúng ta, những người đưọc Rửa tội đã có sẵn: „ Thiên Chúa  đã cho chúng ta cùng được sống lại và cùng ngự trị với Chúa Giêsu Kitô trên cõi trời." ( Epheso 2, 6).
Như thế tín điều Đức Mẹ về trời cả hồn lẫn xác nói cho chúng ta, điều ứng nghiệm xảy ra nơi Đức Mẹ Maria, qua hiệu qủa của bí tích Rửa tội đã lãnh nhận chúng ta được cùng sống ở trên trời với Chúa- Chúa là nước trời –
Điều khác biệt là nơi Đức Mẹ Maria đã trọn vẹn xảy ra. Không có gì thiếu sót nơi sự sống lại của Đức Mẹ Maria. Còn nơi con người chúng ta, dù đã chịu phép rửa tội trở nên Kitô tô hữu, sự sống lại vẫn chưa có khả năng  đầy đủ, vẫn còn mỏng manh dễ bị tan vỡ.
Đức Mẹ đã được thu nhận gia nhập trọn vẹn vào cộng đoàn với Chúa Giêsu Kitô. Nơi cộng đoàn đó bao gồm cả thân xác mới, mà trí óc con người chúng ta không có thể mường tượng ra được như thế nào.
Tóm lại, điều căn bản của tín điều này là Đức Mẹ Maria hoàn toàn ở bên Thiên Chúa, trọn vẹn bên Chúa Giêsu Kitô, trở nên một tín hữu Chúa Kitô với đầy đủ mọi ân sủng, mọi khả năng."  ( Joseph Ratzinger, Papst Benedickt XVI. , Gott und die Welt, Ein Gespräch mit Peter Seewald, München 2005, tr. 328-329).
Đức Mẹ Maria được đưa lên sống ở trên trời tựa như ngôi sao chiếu ánh sáng dẫn đường cho cho tương lai đời sống con người đang trên đường đi tìm Thiên Chúa, Đấng là nước trời cho con người.

2. Ngôi sao trên triều thiên
Trên bầu trời không gian vũ trụ hằng có những ngôi sao, những giải dài toàn những ngôi sao chiếu ánh sáng lấp lánh vào ban đêm.
Trên mặt đất con người cũng làm chế tạo những ngôi sao thông thường có năm cánh hoặc sơn mầu bạc trắng, hoặc mầu vàng , khi ánh sáng mặt trời hay đèn nến, đèn điện chiếu vào cũng tỏa tia sáng lấp lánh lung linh.
Chung quanh vòng tròn triều thiên của bức tượng ảnh Đức Mẹ Maria cũng có 12 ngôi sao mầu vàng.
Mầu vàng ngôi sao triều thiên Đức Mẹ Maria nói về hình ảnh sự bền vững. Theo sách Khải Huyền của Thánh Gioan, thành thánh Giêrusalem trên trời chiếu tỏa mầu vàng trong sáng ( Kh 21, 18).
Con số 12 ngôi sao ở vòng triều thiên Đức Mẹ có nguồn gốc nơi nền văn hóa con người. Con số 12 trong dân gian hiểu là số mang đến hạnh phúc. Một năm có 12 tháng, ban ngày có 12 tiếng đồng hồ, ban đêm cũng có 12 tiếng đồng hồ.
Kinh Thánh nói đến dân tộc Israel do 12 chi tộc tạo thành. Đi rao giảng tin mừng nước Thiên Chúa, Chúa Giêsu kêu gọi 12 Tông đồ. Đức Mẹ Maria như Thánh Gioan trong một thị kiến đã thuật lại hình ảnh như sau: Rồi có điềm lạ xuất hiện trên trời: một ngưòi Phụ nữ mình khoác áo mặt trời, chân đạp mặt trăng và đầu đội triều thiên 12 ngôi sao." ( KH 12, 1).
Ngôi sao trên triều thiên Đức Mẹ là dấu chỉ phương hướng cho con người. Đến với Đức Mẹ là điều tốt. Nhưng Đức Mẹ  không muốn con người dừng lại nơi ngài. Chúa Giêsu mới là đích điểm đi đến. Đức Mẹ chỉ hướng đến với Chúa Giêsu. Như trong tiệc cưới Cana, Đức Mẹ đã bảo : Hễ Ngài bảo gì, hãy làm theo!
Đức Mẹ Maria không là ngôi sao, nhưng Đức Mẹ trở thành ngôi sao ban mai dẫn đường cho những ai tin vào Chúa Giêsu.
Đức Mẹ Maria là người sinh hạ nuôi dưỡng Chúa Giêsu. Với con cái người mẹ là tất cả, là niềm cậy trông hy vọng.
Trước tòa ảnh tượng Đức Mẹ lên trời, chúng ta chiêm ngưỡng Đức Mẹ là người mẹ chúng ta trên trời. Đức Mẹ trở nên ngôi sao niềm hy vọng cậy trông cho tất cả mọi người, cho những người đang trong hoàn cảnh đau khổ gặp bước đường khó khăn thiếu thốn.
Và trong kinh cầu Đức Bà chúng ta ca ngợi khấn nguyện: "Đức Bà như ngôi sao sáng vậy!"
Cầu cho chúng con!
 

15/8-117: Đức Maria hồn xác lên trời (Assumpta)

Lm Hà Văn Minh

Giống như sự khởi đầu hiện hữu của Đức Maria trên trần thế, đoạn kết của đời sống thế trần của 15/8-117

Giống như sự khởi đầu hiện hữu của Đức Maria trên trần thế, đoạn kết của đời sống thế trần của Mẹ cũng được Thiên Chúa thánh hiến: Theo truyền thống Giáo huấn công giáo thì “Đức Maria sau khi hoàn tất cuộc sống trần thế đã được đưa về trời vinh quang cả hồn lẫn xác” (DH 3903).
Những sinh hoạt tôn kính Đức Maria vào thế kỷ thứ 6. đã nhắc đến việc thân xác Đức Maria được đưa về trời. Dĩ nhiên việc khẳng định nầy đã đưa lại nhiều vấn nạn, vì nó không dựa vào một chứng cứ lịch sử nào. Ở Đông phương vào thế kỷ thứ 6. và ở Tây phương vào thế kỷ thứ 7. và 8. ngươì ta nói đến lễ Đức Maria ngủ (koimesis / dormitio). Bên Tây phương lễ tưởng nhớ cái chết và việc quay trở về quê trời của Mẹ, nối kết với việc tưởng nhớ thân xác của Mẹ không bị mục nát, được coi như đánh dấu việc đưa Mẹ về trời (assumptio Mariae). Điều muốn trình bày là: Cái chết của Đức Maria có một ý nghĩa đức tin quan trọng, phát sinh bởi việc áp dụng về ý nghĩa (application = Nói về những hoa trái của sự cứu chuộc khách quan, do Chúa Kitô thủ đắc một lần là đủ trong lễ Vượt qua, rồi được thông ban cho từng người, tùy theo đức tin, đức mến và các Bí tích mà họ lãnh nhận [Thomas Aquin, Sth III, q. 49, a 3, ad 1] ) được trình bày cách tổng quát nơi thánh kinh về số phận những người chết (1 Thess 4, 14) trên Đức Maria. Sự đồng hình đồng dạng của người chịu Phép rửa với cái chết và sự Phục sinh của Đức Kitô (Phil 3, 12; Eph 2, 5; Col 3,3) và sự chiên ngắm dung nhan Thiên Chúa cách trọn hảo (1 Cor 13, 12; 1 Gia 3, 2) liên kết với tín điều Trọn Đời Đồng Trinh và Mẹ Thiên Chúa của Đức Maria trong mối tương quan sâu xa với công trình cứu chuộc của Chúa Giêsu Kitô đưa tới nhận thức: Đức Maria như là một con người ở bên Thiên Chúa một cách trọn hảo hoàn toàn, và số phận của từng người được Thiên Chúa phác hoạ lại trong số phận của Mẹ như là mẫu mực và điển hình (typologie).
Ngay từ đầu niềm xác tín về việc Đức Maria được đưa về trời cả hồn lẫn xác nối kết cách chặt chẽ với việc tín thác vào lời bầu cử của Đức Maria, như tất cả các Thánh tử đạo và các thánh, Mẹ ở bên Chúa Giêsu, và trong sự hoà hợp với sự trung gian của Đức Kitô, Mẹ nâng đỡ Giáo hội lữ hành trên con đường tiến tới hợp nhất với Đức Kitô, phu quân của mình. Vào thế kỷ thứ 7. và thứ 8. các nhà Thần học có thế giá ở Đông phương đều giảng dạy việc thân xác của Đức Maria được đưa về trời (Germanô thành Constantinopel, Gioan Damacus, Theodor Studion).
Ở Tây phương các nhà kinh viện thời hưng thịnh cũng xác tín rằng, Thân xác mang Ngôi lời của Đức Maria là đền thờ Chúa Thánh Thần, đã không bị hủy hoại bởi Nguyên tội (Thomas Aquin, Exp. Sal. Ang.). Có hai tác phẩm nghi ngờ về số phận của Đức Maria: trước tiên là “Adest nobis” (gỉa thuyết cho Ambrosiô Autpertô [† 784] biên soạn) cho rằng, ngươì ta không thể biết về số phận của Đức Maria, kế đến là “Cogitis me” (hình như được biên soạn bởi Paschasiô Radbertô [† 865]) nghi ngờ không biết thân xác của Đức Maria có lên trời vinh hiển hay không. Augustinô trong bộ biên khảo “Ad interrogata” đã xác tín niềm tin về việc thân xác Đức Maria được đưa về trời dựa trên nền tảng chứng cứ Kitô học.
Trong khuôn khổ của vấn đề linh hồn – thân xác nơi kinh viện xuất hiện câu hỏi: căn cứ vào phương thế nào mà sự chung hưởng trọn vẹn với phương tiện trần thế (tức thân xác) có thể lĩnh hội được? Câu hỏi hướng tới số phận của thi hài Đức Maria trong khuôn khổ nhân chủng học và cánh chung học. Vấn đề được đặt ra ở đây không nhắm đến sự hợp nhất thân xác trần thế và vinh hiển của Chúa Giêsu, vì nơi Chúa Giêsu nói đến biến cố mạc khải trực tiếp, qua đó Thiên Chúa Cha biểu lộ sự đồng nhất giữa Chúa Giêsu Phục sinh và trần thế qua “ttrạng thái thần khí” của Người biểu tỏ nơi biến cố hiện ra sau khi sống lại.
Trong quá trình tiến tới tín điều hóa đức tin về Assumpta, một vài giáo huấn của các Đức Giáo hoàng về việc xác Đức Maria được đưa về trời đóng vai trò quan trọng. Như bức thư “Ex litteris tuis” được Đức Alexander III biên soạn năm 1169: “Đức Maria thụ thai tinh tuyền, sinh nở không đau đớn, và vì thế sau khi chết Mẹ không bị hủy hoại” (“Maria concepit sine pudore, peperit sine dolore, et hinc migravit sine corruptione”) (DH 748), và bản văn nói về việc Đức Maria được đưa về trời cả hồn lẫn xác trong việc cải tổ giờ kinh phụng vụ ghi theo lịch, danh sách các thánh đã qua đời (Martyrologium) (1568) của Đức Pio V, đã có một ảnh hưởng rất lớn. Dựa vào lời thỉnh cầu của các tín hữu và sự nhất trí của toàn thể các Giám mục trong Giáo hội công giáo, Đức Piô XII. Đã ban hành tông sắc “Munificentissimus Deus” (1950) (DH 3900 – 3904) tuyên bố tín điều:
“Đây là chân lý đức tin được mặc khải bởi Thiên Chúa: Đức Maria vô nhiễm nguyên tội, Mẹ Thiên Chúa trọn đời đồng trinh, sau khi hoàn tất cuộc đời dương thế, đã được đưa về trời vinh hiển cả hồn lẫn xác” (DH 3903).
Về cái chết và về thân xác không hư nát của Đức Maria cũng đưa ra vấn nạn: có hay không Đức Maria là người duy nhất trong cộng đoàn các thánh nhân được đặc ân là: toàn thể con người của Mẹ (xác và hồn) được dự phần vào vinh quang của Đấng phục sinh, vinh quang được mặc khải trong biến cố quang lâm, bởi có thể các thánh khác cũng tham dự vào biến cố đó (x. Mt 27, 52)?
Theo một chiều kích khác, biến cố lạ thường về sự trọn hảo của Đức Maria có thể không nhìn đến trong một mối tương quan giữa hồn và xác của Mẹ sau khi chết, nhưng đúng hơn là nhìn đến trong mức độ kết hợp của Mẹ với Đức Giêsu Kitô và với ý muốn cứu độ phổ quát của Người đối với Giáo hội và với nhân loại. Qua cái chết mối tương quan cá nhân của con người đối với Thiên Chúa được biểu lộ trong Đức Kitô và trong Chúa Thánh Thần. Mối tương quan đó được thể hiện trong những mức độ khác nhau, cái mức độ đó liên quan đến sự kết hợp thâm sâu và sự nguyên vẹn của bản tính con người hiện hữu xác hồn. Công bố tín điều về Đức Maria được cả hồn lẫn xác về trời: vì chỉ có Đức Maria là người duy nhất được nối kết với hành vi cứu chuộc của Đức Kitô trong đức tin và trong ân sủng, Mẹ dự phần vào hình thức phục sinh của Đức Kitô như là người được cứu chuộc đầu tiên và được cứu chuộc cách trọn vẹn. Do đó Mẹ là nguyên mẫu (Typus) của tình trạng toàn vẹn của nhân loại đối với Thiên Chúa, Đấng tạo hoá và Đấng toàn hảo. Sự phân biệt giữa Mẹ và các thánh nằm ở chỗ: Đức Maria là nguyên mẫu và là biểu trưng của việc cứu chuộc qua sự kiện Mẹ nối kết một cách thâm sâu với chính công trình cứu chuộc và lời cầu bầu của Mẹ có một ý nghĩa đặc biệt, một chiều kích rộng lớn và một mức độ sâu đậm đối với sự trọn vẹn của toàn thể nhân loại trong ngày quang lâm của Đức Kitô.
Đức Maria là nguyên mẫu của Giáo hội và đồng thời, căn cứ vào chức vụ Mẹ Thiên Chúa, là chi thể mang nhiều ý nghĩa nhất đối với Thân thể Mầu Nhiệm Chúa Kitô. Bởi đó công đồng Vat. II một lần nữa lập lại xác tín của Giáo hội: “sau khi hoàn tất cuộc đời dương thế, Đức Trinh Nữ Vô Nhiễm đã được đưa lên trời hưởng phúc vinh quang cả hồn lẫn xác, và được Thiên Ch1ua tôn vinh làm Nữ Vương vũ trụ để nên giống Con Ngài trọn vẹn hơn, là Chúa các Chúa (x. Kh 19, 16), Đấng đã chiến thắng tội lỗi và sự chết” (LG 59).
Đức Maria không ngớt dấn thân trong nhiệm cục cứu chuộc, ngay cả khi về trời Mẹ vẫn tiếp tục bổn phận của Mẹ trong nơi “nhiệm cục ân sủng”: “Thực vậy, sau khi về trời, vai trò của Mẹ trong việc cứu độ không chấm dứt, nhưng Mẹ vẫn luôn tiếp tục cầu bầu để đem lại co chúng ta những ân huệ để đem lại chúng ta những ân huệ giúp chúng ta được phần rỗi đời đời. Với tình mẹ hiền, Mẹ chăm sóc những anh em của Con Mẹ đang lữ hành trên đường dương thế và đang gặp bao nguy hiểm thử thách, cho đến khi họ đạt tới hạnh phúc quê trời. Vì thế trong Giáo hội, Đức Trinh Nữ được kêu cầu qua các tước hiệu: Trạng sư, Vị Bảo trợ, Đấng Phù hộ và Đấng trung gian” (LG 62).
 

15/8-118: ĐỨC MARIA HỒN XÁC LÊN TRỜI

Lm John A. Hardon, S.J.
Đan Quang Tâm dịch

Đức Maria Hồn Xác Lên Trời nghĩa là sau cuộc đời tại thế, Đức Maria cả hồn lẫn xác được mang 15/8-118

Đức Maria Hồn Xác Lên Trời nghĩa là sau cuộc đời tại thế, Đức Maria cả hồn lẫn xác được mang lên Trời. Khác với những vị thánh khác, Đức Mẹ lên Trời không chỉ với linh hồn mà còn với thân xác vinh hiển. Vào ngày 1 tháng 11 năm 1950 Đức Giáo hoàng Piô XII đã định tín giáo thuyết này là "tín điều được Thiên Chúa mạc khải" .
Mẹ Thiên Chúa ngay từ giây hoài thai không vướng tội tổ tông. Do đó Mẹ không phải đợi chờ, như chúng ta, để được phục sinh vào ngày sau hết. Mẹ ở với Người Con Thần Linh của mình trong cùng thân xác – mặc dù nay ở trong vinh quang chói lọi – mà Mẹ đã ban cho Người tại Nagiarét. Người đã lên Trời trong thân xác bốn mươi ngày sau khi phục sinh. Mẹ được mông triệu với thân xác lên Trời sau khi Mẹ hoàn tất những ngày tại thế của Mẹ, vào khoảng mười lăm năm sau.
Trong khoảng một ngàn bốn trăm năm, Lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời được cử hành vào ngày 15 tháng 8. Nay ngày này là một trong những ngày lễ buộc đối với Hội Thánh hoàn vũ (Giáo luật Điều 1246), vào ngày này "tín hữu buộc phải tham dự thánh lễ, và hơn nữa, kiêng làm những công việc hay hoạt động làm ngăn trở sự thờ phượng Thiên Chúa, sự hưởng niềm vui riêng của ngày của Chúa, hoặc sự nghỉ ngơi cần thiết cho tâm trí và thân xác" (Giáo luật Điều 1247).

Mông Triệu và Fatima
Ta có thể rút ra một số bài học nào từ mầu nhiệm đức tin này? Đó chính là những bài học mà Đức Mẹ đã đưa ra cho ta khi Mẹ hiện ra tại Fatima. Phải cầu nguyện, hy sinh, và ăn năn đền tội cho các tội nhân đáng thương đang xúc phạm đến Thiên Chúa.
Đức Maria hồn xác lên trời là lời hứa ta sẽ được phục sinh vinh hiển từ mộ phần – với điều kiện chúng ta cầu nguyện. Không cầu nguyện, ta không thể trung thành phục vụ Thiên Chúa.
Đức Maria hồn xác lên trời là bằng chứng các hy sinh của ta mang lại lợi ích ra sao. Không có những hy sinh nhỏ nhất nào trong những hy sinh mà ta thực hiện để khước từ thú vui thân xác lại trái ý Thiên Chúa cả. Phần thưởng đời đời đáng với cái giá mà ta trả bằng sự tự chế ở đời này. Bằng cách giờ đây từ bỏ những gì ta ưa thích nhưng lại là tội lỗi, và chịu đựng những gì đau đớn cho ta nhưng làm hài lòng Thiên Chúa, ta sẽ hưởng phúc Thiên Đàng với Chúa Giêsu và Mẹ Maria – cả xác lẫn hồn – ở đời sau.
Thông điệp Đức Maria hồn xác lên trời là một mời gọi hãy ăn năn sám hối. Đức Giáo hoàng Piô XII bày tỏ niềm hy vọng rằng vinh quang mới này đối với Mẹ Maria sẽ mang lại "một tinh thần sám hối để thay thế cho thói ham mê khoái lạc đang lan tràn khắp nơi, và một sự đổi mới đời sống gia đình sẽ đem lại sự bình ổn tại những nơi tình trạng ly dị đang phổ biến, và sẽ sinh hoa trái tại những nơi đang thực hiện việc kiểm soát sinh sản".
Nếu ta hy vọng được ở đời đời với Chúa Giêsu thì bây giờ đây ta phải noi gương bắt chước các nhân đức của Mẹ Maria. Mẹ là mẫu gương hoàn thiện về nếp sống cho chúng ta: đơn sơ trong đức tin, vững vàng trong đức cậy và xả kỷ vị tha trong đức mến Chúa yêu người.
 

15/8-119: Mẹ được Chúa cho hồn xác lên Trời

Ngày trọng đại vinh hiển nhất của Mẹ Ma-ri-a cũng như của con cái Mẹ là được Chúa cho hồn 15/8-119

Ngày trọng đại vinh hiển nhất của Mẹ Ma-ri-a cũng như của con cái Mẹ là được Chúa cho hồn xác lên Trời. Ta hãy tìm hiểu:
- Lý do Mẹ được lên Trời.
- Địa vị của Mẹ Ma-ri-a.
- Nhân đức của Mẹ Ma-ri-a.
- Sứ mệnh của Mẹ Ma-ri-a.
- Vinh quang của Mẹ Ma-ri-a.
- Mẹ mời gọi con cái Mẹ cùng lên Trời.

1- Lý do Mẹ được Chúa cho hồn xác lên Trời.
Không phải mãi tới năm 1950, Đức Giáo hoàng Pio XII tuyên bố tín điều Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời, Chúa mới cho hồn xác Mẹ lên Thiên Đàng, mà niềm tin Mẹ Ma-ri-a được Chúa cho hồn xác lên Trời đã khai mào ngay từ thời Giáo Hội sơ khai. Đó cũng là lý do các tác giả Tin Mừng không ai ghi nhận sau khi Chúa Giê-su phục sinh, Ngài đi gặp Đức Mẹ, vì các Tông Đồ muốn xác định : Mẹ Ma-ri-a luôn luôn ở bên cạnh Con Mẹ, không có một giây phút nào Mẹ-Con xa nhau, nghĩa là khi Chúa Giê-su lên Trời ngay trên thập giá (x Lc 23,43) thì Mẹ cũng đồng hành. Chúa Giê-su Phục Sinh chỉ đến với những người chưa được lên Trời với Ngài. Và như vậy, ngày Đức Pio XII tuyên bố tín điều Hồn Xác Mẹ Lên Trời là ngài muốn cổ võ cho toàn thể loài người phải biết cùng với Mẹ Ma-ri-a cám ơn Chúa, vì Ngài đã cho Mẹ chúng ta hồn xác được lên Trời trước là dấu bảo chứng chắc chắn Mẹ đã ở đâu thì Mẹ cũng muốn cho chúng ta là con cái Mẹ được ở chung.
Ngay từ thời Giáo Hội sơ khai, các tín hữu đã tin hồn xác Mẹ lên Trời, như lời thánh Phao-lô viết cho giáo đoàn Cô-rin-tô : “Như mọi người vì liên đới với A-đam phải chết, thì mọi người nhờ liên đới với Đức Ki-tô (A-đam mới) cũng được Thiên Chúa cho sống. Nhưng mỗi người theo thứ tự của mình, mở đường là Đức Ki-tô, rồi đến những người thuộc về Đức Ki-tô (chắc chắn Mẹ Ma-ri-a là ưu tiên) vào buổi quang lâm của Ngài” (1Cr 15,22-23 : Bài đọc II).

2- Địa vị của Mẹ Ma-ri-a.
Trong tiệc cưới Ca-na, Mẹ nói với loài người : “Hãy đến với Giê-su, Ngài bảo gì cứ làm theo!” (Ga 2,5) Lời này Mẹ lặp lại nguyên văn lời vua Pha-ra-ôn nói với toàn thể loài người khi lâm cảnh đói khổ chạy đến với vua xin mua lương thực, thì vua lại nói : “Hãy đến cùng Giu-se, ông bảo gì cứ làm theo!” (St 41,35) Mà Giu-se là tiền thân của Đức Giê-su. Vào thời điểm ấy, vua Pha-ra-ôn là người giàu có nhất trên thế gian, vì nhờ tài năng và sự khôn ngoan của Giu-se, vua ra lệnh cho ông Giu-se bung tiền mua lại tất cả thóc lúa của dân trong bảy năm được mùa, để rồi sẽ bán lại cho dân vào thời bảy năm mất mùa tiếp theo đó, và như vậy cả thế giới, ai cũng cần chạy đến với vua Pha-ra-ôn, ai cũng phải tôn trọng vua. Địa vị và danh dự của vua Pha-ra-ôn đã báo trước địa vị và danh dự của Đức Mẹ, vì nhờ Giê-su Con Mẹ khôn ngoan hơn Giu-se đã tích trữ tất cả ơn của Chúa trong các Bí tích Ngài lập, rồi trao cho Mẹ cũng như Hội Thánh quản lý, để tùy Mẹ và Hội Thánh phân phát cho những ai cần chạy đến xin lương thực bất tử (x Ga 19,25-27).

3- Nhân đức của Mẹ Ma-ri-a.
Có hai nhân đức đặc biệt của Mẹ, Mẹ muốn chúng ta dõi theo :
a- Đoán ý muốn của người khác để phục vụ. Trong Tin Mừng ghi lại hai lần Đức Mẹ phục vụ tất cả đều ghi đậm nét, chưa ai đến cậy nhờ Mẹ giúp, vì ngay khi Mẹ biết tình hình người ta đang cần gì, thì Mẹ mau mắn giúp đỡ họ ngay. Cụ thể:
- Mẹ nghe tin bà Ê-ly-sa-bét, chị họ đã gần 100 tuổi mà đang mang thai được 6 tháng, Mẹ hiểu ngay thân phận phụ nữ vào hoàn cảnh như thế rất cần người đến giúp đỡ, thế là Mẹ mau mắn lên đường… (x Lc 1,57t).
- Trong tiệc cưới Ca-na, Mẹ thấy người ta đang lo lắng đi tìm rượu đủ cho thực khách, vì chủ tiệc không trù liệu đủ Thế là Mẹ đứng ngay lên đến nói với Giê-su Con Mẹ : “Họ hết rượu rồi”, và Đức Giê-su đã làm cho họ dư rượu mới ngon hơn (x Ga 2,1-11).
b- Việc cầu nguyện của Mẹ đứng hàng đầu, và liên kết các lời trong Sách Thánh thành bài ca tuyệt vời chúc tụng Chúa. Mẫu cầu nguyện này Hội Thánh đã muốn cho con cái Mẹ noi gương bắt chước như lời Hội Thánh dạy : “Việc cầu nguyện phải đi đôi với việc đọc Thánh Kinh” (Hiến Chế Mạc Khải số 25) :
Khi Mẹ lên đường tới nhà nhà bà Ê-ly-sa-bét, ai cũng nghĩ là tác giả Tin Mừng phải ghi lại rất nhiều việc Đức Mẹ giúp chị mình, nhưng Lu-ca không cho ai thấy Mẹ làm gì, chỉ thấy Mẹ cầu nguyện và làm mọi người rộn lên niềm vui, kể cả Gio-an còn trong bụng mẹ cũng nhảy mừng!

4- Sứ mệnh của Mẹ Ma-ri-a.
a- Đời phục vụ của Mẹ diễn tả và báo trước chương trình Thiên Chúa cứu độ loài người.
Đọc lại Tin Mừng Lu-ca, ai cũng nghĩ là Mẹ cần phải ở lại nhà chị họ để phục vụ khi người chị sinh con. Thế mà, tác giả Lu-ca cho biết : Ma-ri-a bắt đầu đến nhà bà Ê-ly-sa-bét, bà đã có thai được 6 tháng, phải ngoài 3 tháng nữa, bà mới sinh con. Vậy mà Mẹ Ma-ri-a chỉ đến nhà người chị có 3 tháng rồi trở về quê. Khi Mẹ về tới nhà thì Gio-an mới sinh ra ! (x Lc 1,56) Thánh sử Lu-ca có ý ghi như thế để xác quyết rằng : Mẹ đã báo trước chương trình cứu độ loài người của Con Mẹ : sau khi Con Mẹ phục vụ ba năm, bị giết và an táng trong mồ ba ngày, rồi phục sinh về Trời, lúc ấy các Tông Đồ ra đi rao giảng, và Hội Thánh được sinh ra.

b- Mẹ cộng tác với Chúa để hoàn tất cuộc sáng tạo loài người.
Tác giả Lu-ca và Gio-an ghi lại 6 lần Mẹ Ma-ri-a nói :
- Mẹ thưa với thiên thần trong ngày truyền tin : “Việc đó xảy đến thế nào vì tôi không biết đến người nam” (Lc 1,34).
- Mẹ đáp lại sau khi được sứ thần giải thích nguyên nhân Mẹ sinh Con Thiên Chúa : “Xin Chúa làm cho tôi điều Chúa nói” (Lc 1,38).
- Mẹ cầu nguyện dài nhất tại nhà chị họ Ê-ly-sa-bét (Lc 1,46-55).
- Mẹ trách Đức Giê-su trốn cha mẹ ở lại Đền Thờ dạy giáo lý : “Sao con làm thế, đây cha mẹ đã vất vả tìm con!” (Lc 2,48).
- Trong tiệc cưới Ca-na, Mẹ nói với Đức Giê-su : “Nhà này hết rượu” (Ga 2,3).
- Mẹ nói với loài người : “Chúa bảo gì con cứ làm theo!” (Ga 2,5)
Thuở ban đầu Thiên Chúa tạo dựng vũ trụ, Ngài nói 6 lần trong sáu ngày, vạn vật xuất hiện rất tốt đẹp. Ta lưu ý Thiên Chúa nói lần thứ 6 trong ngày thứ sáu : “Chúng ta hãy dựng nên loài người giống Chúng Ta” (St 1,26-27). Nhưng thực ra lúc ấy loài người chỉ là một sinh vật (x 1Cr 15,45 – bản dịch CGKPV). Loài người chỉ vượt kiếp sinh vật trở nên giống Thiên Chúa khi biết nghe và thực hành lời Mẹ Ma-ri-a dặn : “Giê-su bảo gì cứ làm theo!” (Ga 2,5)

5- Vinh quang của Mẹ.
Sách Khải huyền diễn tả vinh quang của Mẹ : “Một người phụ nữ, mình khoác mặt trời, chân đạp mặt trăng, và đầu đội triều thiên mười hai ngôi sao” (Kh 12,1) :
- “Mình khoác áo mặt trời” : Mặt trời ám chỉ Thiên Chúa (x Lc 1,78).
- “Trăng sao” : Người Do-thái hiểu là các thần minh ở trên trời, vị thần cao cả nhất trong các thần chính là mặt trăng.
Vậy người phụ nữ là Đức Trinh Nữ Ma-ri-a được vinh quang của Thiên Chúa bao bọc (mặc áo mặt trời), vị thần cao cả trên trời Chúa đặt làm bệ kê chân Mẹ, các thần minh khác diễn tả vinh quang của Mẹ (đầu đội triều thiên 12 ngôi sao).
Hình ảnh đó còn có ý diễn tả toàn thể Hội Thánh (12 ngôi sao) đều vây quanh Mẹ, vinh quang các phần tử trong Hội Thánh là nhận vinh quang Chúa đã ban cho Đức Mẹ. Nói cách khác, vinh quang của Đức Ma-ri-a là cộng lại vinh quang của toàn thể Hội Thánh.

6- Mẹ mời gọi con cái Mẹ cùng lên Trời.
Người ta hỏi Chúa Giê-su : “Nước Trời ở đâu?” Chúa trả lời ngay : “Nước Trời ở giữa các người” (Lc 17,21).
Để hiểu Nước Trời ở giữa loài người, tác giả Lu-ca diễn tả 3 lần Chúa Giê-su lên Trời :
- Ngài lên Trời ngay khi còn treo trên thập giá ở đồi Sọ, như Ngài nói với tên trộm lành : “Hôm nay, anh ở trên Thiên Đàng với Ta” (Lc 23,43).
- Chúa lên Trời trong đêm Chúa nhật Phục Sinh, tại Bê-ta-ni-a. Thánh sử Lu-ca ghi : “Chúa Giê-su dẫn môn đệ đến Bê-ta-ni-a, đoạn Ngài giơ tay chúc lành cho họ. Và xảy ra là đang khi Ngài chúc lành cho họ, thì Ngài đã từ biệt họ và được nhắc lên Trời” (Lc 24,50-51).
- Chúa lên Trời vào ngày thứ năm tại núi Cây Dầu. Tác giả Lu-ca ghi : “Sau cuộc thương khó, Chúa Giê-su đã cho môn đệ thấy mình vẫn sống, với nhiều tang chứng đành rành. Suốt 40 ngày (tức là ngày thứ năm sau Chúa nhật Phục Sinh) Ngài đã hiện ra với họ và nói về Nước Thiên Chúa. Rồi Ngài lên Trời xa cách các môn đệ … Bấy giờ các môn đệ trở về Giê-ru-sa-lem từ núi Cây Dầu, gần bên Giê-ru-sa-lem” (Cv 1,3.11-12)
Lên Trời lần thứ I tại đồi Sọ chính là lúc Chúa đang dâng lễ ; lên Trời lần thứ II vào đêm Chúa nhật, thời gian Giáo Hội sơ khai dâng lễ, tại địa điểm Bê-ta-ni-a, nhắc đến chị Ma-ri-a người mẫu mực nghe Lời Chúa (x Lc 10,38-42) ; lên Trời lần thứ III vào ngày thứ năm, nhằm ngày Chúa Giê-su lập Bí tích Thánh Thể, địa điểm ở núi Cây Dầu, nơi Chúa Giê-su cầu nguyện bắt đầu Hy-tế của Ngài (x Lc 22,39-46)
Vậy Thiên Đàng ở giữa loài người, chính là Thánh lễ Hội Thánh cử hành mà thánh sử Lu-ca đã nhấn mạnh ba lần, qua cách viết Chúa Giê-su lên Trời ba lần.
Tại tiệc cưới Ca-na báo trước hình ảnh tiệc Cưới Con Chiên, Hy-tế Chúa Giê-su, Đức Ma-ri-a căn dặn loài người : “Giê-su bảo gì, cứ làm theo!” (Ga 2,5) Cụ thể làm theo lời Chúa Giê-su dạy là “vác Thánh giá hằng ngày theo Ta”, là Mẹ muốn chúng ta đi dự lễ mỗi ngày để cùng với Mẹ bước chân vào Nước Trời.
Cầu nguyện : “Hoàng hậu – Maria - đứng bên hữu Đức Vua, mặc đồ trang điểm vàng ròng lộng lẫy. Lòng hoan hỷ đoàn người tiến bước, vẻ tưng bừng vào tận hoàng cung” (Tv 45/44,10.16 : Đáp ca).
-------------
THUỘC LÒNG.
Mẹ Ma-ri-a dạy loài người chỉ có một câu : “Giê-su bảo gì cứ làm theo!” (Ga 2,5).
 

15/8-120: TRUYỀN THỐNG VÀ THÁNH KINH NÓI GÌ?

LỄ ĐỨC MẸ HỒN XÁC LÊN TRỜI
Lm. VŨ XUÂN HẠNH

Ta không biết gì về việc Chúa rước Đức Mẹ hay Đức Mẹ rời cuộc sống trần gian bằng cách thức 15/8-120

Ta không biết gì về việc Chúa rước Đức Mẹ hay Đức Mẹ rời cuộc sống trần gian bằng cách thức nào. Chỉ có một văn bản ngụy thư “Đức Mẹ đi vào giấc ngủ” (Mary’s Dormition), thế kỷ thứ V, cho biết, những giây phút cuối đời của Đức Mẹ, khi các tông đồ vây quanh để cầu nguyện thì Chúa Kitô đến đưa Đức Mẹ về Thiên Đàng. Dù sao truyền thống của Hội Thánh và một vài hình ảnh mà nhiều bản văn Kinh Thánh gợi lên, củng cố cho cho đức tin của chúng ta trong việc nhìn nhận Người Mẹ Thật của chúng ta đã tiên phong hưởng hạnh phúc cả hồn lẫn xác.

I. Truyền thống đức tin của Hội Thánh.
Niềm tin Đức Mẹ được triệu hồi cả hồn lẫn xác về trời bắt nguồn từ truyền thống xa xưa của Hội Thánh. Đến thế kỷ VI, Hội Thánh phương đông Đã sớm cử hành lễ Đức Mẹ Đi Vào Giấc Ngủ vào khoảng giữa tháng giêng. Sau này, hoàng đế Maurice (582-602) xác định dứt khoát lễ nay cử hàng ngày 15 tháng 8. Với lòng sùng kính Đức Mẹ cách đặc biệt, Đức Giáo hoàng Theodore (642-649) đã muốn thiết lập lễ này cho nghi lễ Rôma ngay thế kỷ sau đó, thế kỷ thứ VII. Năm 813, Công Đồng Mayence truyền cho toàn Châu Âu cử hành lễ này với tên gọi là Lễ Mông Triệu (Thiên Chúa triệu hồi Đức Mẹ về trời), chính thức nhìn nhận cách mặc nhiên Đức Mẹ được triệu hồi về trời.
Đến năm 1854, sau khi đức Piô IX công bố tín điều Đức Mẹ Vô Nhiễm, thì phong trào sùng kính Đức Mẹ vốn đã mạnh mẽ từ lâu trong Hội Thánh, nay như được dịp khuấy động dữ dội hơn. Chỉ trong vòng chưa đầy một trăm năm sau, tính đến năm 1945, khắp thế giới có khoảng tám triệu thỉnh nguyện thư của các tín hữu và khoảng gần 100. 000 thỉnh nguyện thư khác đến từ các giám mục, linh mục, các tu sĩ, các nhà thần học xin Tòa Thánh chính thức xác định tín điều về Đức Bà Mông Triệu Thăng Thiên hay Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời. Trước những lời thỉnh cầu tha thiết ấy, để có thể quyết định một cách thận trọng nhất trước vấn đề đức tin quan trọng này, Đức Piô XII công bố Thông Điệp Deiparae Virginis để xin ý kiến Giám mục đoàn trên khắp thế giới. Thật lạ lùng, sau năm năm hỏi ý kiến, chỉ có sáu giám mục nghi ngờ về tính chất ‘mặc khải’ của việc Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời.
Dù niềm tin Đức Mẹ hồn xác về trời đã có từ rất lâu trong truyền thống Hội Thánh, nhưng mãi đến ngày 1.11.1950, tức vào ngày lễ các thánh Nam Nữ, bằng một phán quyết long trọng: “Chúng tôi khẳng định, chúng tôi tuyên bố và chúng tôi minh định như một tín điều được Thiên Chúa mặc khải rằng Đức Maria Vô Nhiễm trọn đời đồng trinh, Mẹ Thiên Chúa, sau khi hoàn tất cuộc sống trần gian, đã được cất nhắc về vinh quang trên trời cả xác lẫn hồn” (tông hiến Munificentissimus Deus).
Đức Giáo hoàng đã không chọn ngày nào, lại chọn ngày lễ các thánh Nam Nữ để công bố tín điều Đức Mẹ hồn xác lên trời. Tôi thấy có một ý nghĩa lớn: Giữa hàng ngũ các thánh của Chúa, Đức Maria trổi vượt trên tất cả về sự thánh thiện và lòng yêu mến Chúa. Sự thánh thiện tuyệt vời của Đức Mẹ đã mở đường cho Đức Mẹ đi tiên phong trước mọi thụ tạo, tiến về cùng Chúa, hưởng vinh quang nơi Chúa bằng toàn bộ con người, gồm cả xác lẫn hồn của Đức Mẹ.

II. Vài hình ảnh gợi ý trong các bản văn Thánh Kinh của ngày lễ.
 Ta chú ý lời của Đức Maria trong Tin Mừng: “Linh hồn tôi ngợi khen Chúa, lòng tôi hoan hỷ trong TYhiên CHúa, Đấng Cứu Độ tôi” (Lc 1, 46-47). Chính Đức Mẹ̣ – Đức Mẹ chứ không phải bất cứ tập thể hay cá nhân nào, dù là Hội Thánh hay chúng ta – đã ca ngợi Chúa, ca ngợi lòng thương xót của Chúa. Đức Mẹ đã tuyên xưng hành động cứu độ của Chúa, và gọi Chúa là “Đấng Cứu độ tôi”. Những chữ “Đấng Cứu độ tôi”, quả thật là lời quy hướng về Chúa. Đức Mẹ đã nhìn nhận, đã tin tưởng thực sự rằng: Chỉ có Chúa, chỉ trong Chúa, Đức Mẹ mới được vinh quang và hạnh phúc vô cùng như thế.
Lời ca ngợi quy hướng về Thiên Chúa của Đức Mẹ” “Linh hồn tôi ngợi khen Chúa, lòng tôi hoan hỷ trong Thiên Chúa, Đấng Cứu độ tôi”, còn được hỗ trợ bởi nhiều lời Kinh Thánh khác. Chẳng hạn, lời thánh Phaolô trong bài đọc II: : “Đức Kitô đã từ cõi chết sống lại, là hoa quả đầu mùa của nhữn kẻ yên giấc…Hoa quả đầu mùa là Đức Kitô, đoạn đến những kẻ thuộc về Đức Kitô, những kẻ đã tin Người xuống thế: rồi đến tận cùng, khi Người đã trao vương quốc lại cho Thiên Chúa Cha, và đã tiêu diệt mọi đầu mục, quyền năng và thế lực” (1Cr 15, 20tt). Đã từng có ai thuộc về Chúa Kitô như Đức Mẹ? Bởi thế, nếu Chúa Kitô là hoa quả đầu mùa, đã trở về trời cả hồn và xác, thì Đức Mẹ, người thuộc về hoa quả đầu mùa ấy một cách trọn vẹn, cũng được đưa về trời hồn xác, không có gì là điều khó hiểu. Bởi chính Đấng Cứu Độ đã thực thi ơn cứu độ trên khắp nhân loại, chắc chắn sẽ thực thi cách hoàn hảo nhất hành động cứu độ ấy trên chính người mẹ của mình.
Bài đọc I, trích sách Khải Huyền kết thúc: “Nay sự cứu độ, quyền năng, vương quyền của Thiên Chúa chúng ta và uy quyền của Chúa Kitô của Người đã được thực hiện” (Kh 12, 10). Đây là lời nhấn mạnh sự chiến thắng trong ơn cứu độ của Chúa Kitô. Chắc chắn như chúng ta, Đức Mẹ đã không thể làm gì ngoài sức mình. Nhưng Đức Mẹ biết dùng sức mình để chiến đấu trong ơn thánh Chúa. Đức Mẹ đã không sống hay làm một mình, nhưng phó thác đời mình cho Chúa, để nhờ Chúa mà Đức Mẹ chiến thắng. Bởi Đức Mẹ tin chắc rằng, dù phải sống trong đau thương đến đâu, thậm chí nỗi đau đớn đến cùng cực như người mang thai “kêu la chuyển bụng, và đau đớn sinh con”, hay sự dữ ập đến hãi hùng như “con rồng đỏ khổng lồ” đang đe dọa dữ dội, thì sự cứu độ của Chúa và vương quyền của Chúa Kitô đã được thực hiện. Mà sự cứu độ của Chúa đã được thực hiện, thì sự cứu độ ấy, chắc chắc bao trùm lên chính cuộc đời của Đức Mẹ. Đức Mẹ đã sống và chiến đấu với mọi thử thách trong Chúa. Ơn cứu độ dành cho tất cả những ai kiên trì chiến đầu và chiến thắng. Ơn cứu độ ấy thật xứng đáng trước tiên dành cho Mẹ của Chúa Kitô, người phụ nữ chiến thắng.
Điểm qua ba bài đọc, ta nhận ra: cùng đích của mọi ơn lành là chính Chúa Kitô. Bởi thế, dù là lễ Đức Mẹ hồn xác lên trời, nhưng Hội Thánh lại mời gọi ta hướng về Thiên Chúa, hướng về Chúa Kitô. Bởi chỉ nhờ ơn cứu độ do Chúa Kitô thực hiện trong cuộc phục sinh vinh hiển của Người, theo ý Thiên Chúa, Đức Meï môùi ñöôïc đưa ra khỏi trần gian, được trọng thưởng đặc biệt hồn xác lên trời. Bởi vậy, mừng lễ hôm nay là mừng sự nối kết gần gũi hết sức giữa niềm tin Mông Triệu của Đức Mẹ và niềm tin phục sinh của Chúa Kitô, người Con một yêu dấu của Đức Mẹ. Đó là sợi dây liên kết tất yếu giữa Mẹ và Con. Bởi như Chúa đã phục sinh thế nào, thì Mẹ của Chúa cũng là người trước hết hưởng vinh quang phục sinh của Con mình thế ấy. Chúa đã không để Đức Mẹ chịu cảnh hư nát, vì Đức Mẹ là Mẹ của Chúa, Đấng Vĩnh Cửu. Vì vậy, chúng ta tôn vinh Đức Maria hồn xác lên trời, cũng đồng thời là lúc chúng ta tôn vinh mầu nhiệm phục sinh cao cả của Chúa Kitô.
Đức Mẹ đã về trời, đó là dấu chỉ hữu hiệu cho đức tin của ta: Tương lai không còn là điều đáng ngại lo lắng, nhưng trở nên điều đáng quan tâm xây dựng, và cuộc sống này trở thành những ngày chuẩn bị cho tương lai ấy. Chúng ta chuẩn bị bằng cách bắt chước Đức Mẹ sống lành thánh trong tin yêu, sống niềm phó thác tuyệt đối trong tay Chúa, biết lắng nghe, thực thi Lời Chúa, sống tư cách làm con Chúa trong đời sống bác ái với anh em… Chúng ta hãy nhìn lên Đức Mẹ để thấy rằng, Đức Mẹ dù là người Nữ của chiến thắng, người Nữ vinh quang với triều thiên sao sáng, nhưng bị vây bủa đầy chông gai, thử thách. Nhìn lên Đức Mẹ như thế, để nhận ra chính mình mà vững niềm cậy trông. Bởi chúng ta cũng phải cam chịu nhiều thử thách. Vinh quang chỉ có thể lớn lên từ trong thử thách mà thôi.
Lạy Chúa Giêsu, nhờ công nghiệp của Đức Mẹ, xin thánh hóa toàn bộ cuộc đời chúng con, để chúng con cùng được như Đức Mẹ, xứng đáng lãnh lấy phần thưởng đời đời trên thiên quốc. Amen.
 

15/8-121: ĐỨC MẸ HỒN XÁC VỀ TRỜI HIỂN VINH

Nhân dịp mừng kính Lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời 15/8 Chúng tôi xin trích thuật lại mẫu truyện 15/8-121

Nhân dịp mừng kính Lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời 15/8 Chúng tôi xin trích thuật lại mẫu truyện kể về Đức Mẹ từ biệt trần gian như thế nào và Đức Mẹ Hồn Xác Về Trời hiển vinh ra sao ? Chúng ta cùng suy niệm và hãy luôn đến với Mẹ để tìm nguồn an ủi và bình yên.

Mẹ Từ Biệt Cõi Thế.
Ba ngày trước khi Mẹ từ trần, các Tông Đồ và Môn Đệ đã tụ họp đông đủ tại Jêrusalem trong mái ấm nhà Tiệc Ly. Thánh Phêrô đến trước nhất, đến Phaolô rồi đến các Tông Đồ khác. Mẹ tiếp đón các Ngài bằng một tình thương hiền ái, Mẹ xin các vị ban phép lành trong xúc động. Mẹ từ giã từng Môn Đệ, từng Tông Đồ và chung tất cả những người tham dự, rồi Mẹ đứng lên và nói với các Tông Đồ rằng :
“ Hỡi các con yêu dấu, các con là Thầy của Mẹ, Mẹ thiết tha yêu thương các con trong Con Chí Thánh của Mẹ. Theo ý Người, Mẹ sắp sửa về trời, nhưng ở đó, Mẹ hứa sẽ ấp ủ các con trong Trái Tim Mẹ như một người Mẹ. Xin các con hãy cố gắng làm vinh danh Chúa và truyền bá đức tin. Các con hãy giữ lời Con Chí Thánh Mẹ, hãy tưởng niệm cuộc sống và cái chết của Người, hãy thực hành giáo lý của Người, hãy yêu mến Giáo Hội. Các con hãy yêu thương nhau trong mối dây Đức Ai hòa thuận. Còn con, hỡi Phêrô, Mẹ xin trao phó cho con Gioan và tất cả mọi người.”
Lời đó như mũi tên lửa xuyên cắm vào tâm hồn mỗi người hiện diện. Ai cũng tê tái đau khổ trào lệ xuống tay Mẹ yêu dấu của mình. Một lúc sau Mẹ khuyên mọi người im lặng cầu nguyện với Mẹ. Nhà Tiệc Ly ngập đầy hương thơm thiên quốc. Một ánh sáng chói lọi từ nhà phát ra, ai ai cũng nhìn thấy. Mẹ cúi mình trên chiếc sạp gỗ nhỏ, chắp tay lại, mắt nhìm cắm vào Chúa Giêsu, Trái Tim Mẹ cháy bừng lên trong tình yêu mến Chúa. Các Thiên Thần hát lên những bản tình ca diễm lệ. Mẹ thốt lên lời cuối cùng của Chúa Giêsu trên cây Thánh Giá “Con phó Linh Hồn con trong tay Cha.”
Mẹ nhắm mắt, tắt thở. Mẹ đã tắt thở vì tình yêu Chúa mãnh liệt, không còn phép lạ nào ngăn cản nữa, nên đã phá vỡ những ràng buộc của thân xác, chứ không phải một suy nhược bệnh tật hay tai nạn nào. Mẹ sống nhờ phép lạ. Phép lạ ngừng, Mẹ đi vào cõi chết !
Linh Hồn nguyên tuyền của Mẹ từ giã Thân Xác Trinh Vẹn của Mẹ, và ngay lúc đó, Mẹ được tôn lên ngai trong một vinh quang khôn tả. Tại nhà Tiệc Ly, mọi người nghe được tiếng nhạc thiên quốc xa dần trong không gian. Đoàn Thần Thánh tháp tùng đã đi theo Chúa Giêsu và Mẹ lên trời.
Thân xác Mẹ là Cung Thánh của Thiên Chúa ngự trị, mặc một vẻ lộng lẫy chói ngời, và tỏa hương thơm thánh thoát. Các Tông Đồ buồn nhưng thanh thoát hân hoan trước những việc lạ lùng vô song ấy. Tất cả đều như ngây ngất một lúc dài, rồi mới bắt đầu hát lên được bài thánh ca mừng Mẹ.
Mẹ qua đời vào ngày thứ Sáu, lúc 3 giờ chiều, ngày 13 tháng 8 năm 55 sau Chúa Giáng Sinh. Năm ấy Mẹ được 70 tuổi kém 16 ngày.
Các Tông đồ lấy áo quan đem vào bên giường Mẹ, hai Ngài kính cẩn nương thi thể Mẹ đặt vào áo quan. Ánh ngời chói giảm đi mãi cho tới lúc mọi người nhìn thấy gương mặt Mẹ và đôi tay. Các Tông Đồ khiêng Xác Thánh Mẹ qua phố Jêrusalem đến mồ. Có hàng ngàn hàng vạn các Thiên Thần từ trời xuống đưa xác Mẹ. Thánh Phêrô và Gioan đặt xác Mẹ vào trong mồ, với niềm tin kính và dễ dàng như khi đặt vào áo quan. Các Ngài lăn tảng đá lớn lấp cửa mồ theo phong tục. Lễ an táng xong,
Các Thánh trở về trời, nhưng các Thiên Thần hầu cận vẫn còn ở lại tiếp tục tấu nhạc cho tới khi dân chúng giải tán hết.

Mẹ Vinh Quang Hồn Xác Về Trời
Linh hồn rất Thánh Mẹ đã hưởng phúc trên Thiên Đàng 3 ngày, Thiên Chúa tỏ cho các Thần Thánh biết quyết định hằng hữu của Ngài, là phục sinh cho Xác Thể đáng kính của Mẹ. Tới lúc đó, Chúa Giêsu từ trời đem linh hồn Mẹ xuống mồ thánh của Mẹ, giữa muôn vàn Thiên Thần, Các Thánh, các Tổ Phụ và các Tiên Tri. Đến mồ thánh, Chúa phán :
Mẹ của Cha đã được dựng thai Vô Nhiễm, Cha đã mặc lấy nhân tính từ nơi bản thể Vô Nhiễm ấy. Thể Xác Cha là Thể Xác của Mẹ. Mẹ cũng đã đồng công vào mọi công trình cứu chuộc của Cha, nên Cha phải phục sinh cho Mẹ để Mẹ nên giống Cha mọi sự .”
Toàn thể Các Thánh đều ca tụng, tán dương trước lời công bố của Chúa Giêsu. Tức thì linh hồn vinh hiển của Mẹ vào lại thân xác đồng trinh của Mẹ, trả lại sự sống và tất cả mỹ lệ cho thân xác ấy mà không hề chạm đến tảng đá che cửa mồ. Hôm đó là ngày Chúa Nhật 15 tháng 8, liền sau nửa đêm Xác Thánh Mẹ ở trong mồ 30 giờ, như Xác Thánh của Chúa.
Một cuộc cung nghinh trang trọng đầy hoan lạc không thể tả được, giữa các Thần Thánh rước Mẹ về Thiên Đàng cả hồn lẫn thể xác. Chúa Cha ra tiếp đón Mẹ với một cuộc tiếp đón thỏa lòng nhất. Chúa Cha phán “ Con yêu dấu, Con hãy lên hưởng vinh quang hơn hết các thụ tạo ” Mẹ chìm ngập trong đại dương vô cùng của Thần Tính Thiên Chúa. Chúa Cha lại phán : “Maria nữ tỳ của Chúng Ta, Con đã làm cho Chúng Ta thỏa lòng. Con có toàn quyền trên Vương Quốc Chúng Ta, và được tôn phong làm Chủ Mẫu, làm Nữ Vương độc nhất của Thiên Quốc
Ba Ngôi Thiên Chúa đặt trên đầu Mẹ một Vương Miện Vinh Quang cực kỳ lộng lẫy, rạng chiếu luồng sáng tuyệt kỳ. Cùng lúc ấy từ ngai Chúa phán ra : “Hỡi người Con chí ái, Vương Quốc của Ta là Vương Quốc của Con, Con là Chủ Mẫu, là Nữ Vương các loài thụ tạo. Từ ngai cao cả này Con sẽ thống trị toàn thể thụ tạo, hỏa ngục, trần gian và thiên đàng. Mọi loài đều phải phục tùng Con. Chúng Ta trao ủy cho Con quyền bính Thần Linh của Chúng Ta, để Con nâng đỡ, bảo trợ và làm Mẹ hết mọi người công chính và là Mẹ Giáo Hội chiến đấu trần gian .”
Trong lúc ở Thiên Đàng xẩy ra sự kiện vinh quang đó, thì ở trần gian, nơi phần mộ của Mẹ. Thánh Phêrô và Gioan nhận thấy tiếng nhạc Thần Trời đã ngưng, nhờ ánh sáng Thánh Linh soi dẫn, các Ngài kết luận :

 “ Mẹ đã phục sinh và lên trời cả hồn cả xác .”
Tảng đá che lấp cửa mồ được cất ra, mọi người chỉ còn thấy trong mồ chiếc áo còn nguyên trạng thái khi niệm. Thánh Phêrô nâng chiếc áo lên rồi quỳ xuống, tỏ lòng tôn kính tin phục Mẹ đã phục sinh và lên Trời.
Trích Truyện Cuộc Đời Của Đức Mẹ
do Tác giả : Thánh nữ Maria Agrêđa tường thuật
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây