Suy Niệm Tin Mừng Lễ Đức Mẹ Mân Côi 7-10 Bài 151-173

Thứ tư - 02/10/2019 11:23

 
Suy Niệm Tin Mừng Lễ Đức Mẹ Mân Côi 7-10 Bài 151-173
Suy Niệm Tin Mừng Lễ Đức Mẹ Mân Côi 7-10 Bài 151-173

Suy Niệm Tin Mừng Lễ Đức Mẹ Mân Côi 7-10 Bài 151-173

07/10-151: KINH MAI KHÔI, BÀI CA CHIẾN THẮNG.. 1
07/10-152: HAI BÀ MẸ…... 3
07/10-153: "MẸ ƠI ! CON YÊU MẸ…". 8
07/10-154: MẸ FATIMA MẾN YÊU.. 10
07/10-155: KINH MAI KHÔI BẢO VỆ SỰ SốNG.. 16
07/10-156: SAO KHÔNG.. 17
07/10-157: THIÊN CHÚA Ở CÙNG MẸ.. 22
07/10-158: Kinh Mân Côi – Lời kinh cuộc đời 24
07/10-159: Mẹ đầy ơn phúc – ĐGM. Giuse Vũ Văn Thiên. 27
07/10-160: Bài giảng lễ Đức Mẹ Mân Côi năm 2013. 29
07/10-161: Sức mạnh của lời kinh Kính Mừng. 30
07/10-162: Mẹ tin cậy mến - AM Trần Bình An. 32
07/10-163: Đức Mẹ Mân Côi – Gm. Farrell 35
07/10-164: Niềm tin thương mại – Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền. 36
07/10-165: Kính Mừng Maria Đầy Ơn Phúc. 38
07/10-166: Chuỗi Mân Côi và Thánh Đaminh - Robert Feeney. 41
07/10-167: Chất Tin Mừng trong chuỗi Kinh Mân Côi 45
07/10-168: Kinh Mân Côi – Trần Mỹ Duyệt 48
07/10-169: Lễ Đức Mẹ Mân Côi – Antôn Lương Văn Liêm.. 54
07/10-170: Lễ Đức Mẹ Mân Côi – Lm. Ignatiô Hồ Thông. 57
07/10-171: Lễ Đức Mẹ Mân Côi – Lm. Fx. Hồ Văn Uyển. 64
07/10-172: Lễ Đức Mẹ Mân Côi 67
07/10-173: Lễ Mân Côi tại TàPao – 13/10/2012. 69

 

07/10-151: KINH MAI KHÔI, BÀI CA CHIẾN THẮNG

CỦA NGƯỜI KITÔ HỮU
 

Kính Mừng Maria Đầy Ơn Phúc”. Giai điệu thân quen ấy đã cất lên từ rất lâu, từ một ngôi nhà : 07/10-151

“Kính Mừng Maria Đầy Ơn Phúc”. Giai điệu thân quen ấy đã cất lên từ rất lâu, từ một ngôi nhà khiêm tốn của làng Nagiarét.
Hơn 20 thế kỷ qua, giai điệu ấy càng lúc càng vang dội khắp nơi trên hành tinh này. Từ những thành phố chan hòa ánh sáng văn minh, cho đến những vùng núi rừng hoang dã, đều có thể nghe dư âm bài ca Ave Maria. Bài ca ấy có một lịch sử kỳ diệu. Không phải do một nhạc sĩ phàm tục, nhưng do Đấng Nhạc Sĩ Tối Cao đã sáng tác. Không phải do môi miệng phàm tục, nhưng do môi miệng Thần Sứ Thiên Chúa cất lên.
Bài ca hy vọng cất lên giữa lúc nhân loại thất vọng cùng cực. Bài ca giải thoát cất lên giữa lúc con người bị chà đạp dưới ách đọa đày của tội lỗi. Bài ca vui mừng cất lên giữa lúc không còn nước mắt để khóc than, không còn hơi để gào thét vì uất hận.
Và đó là bài ca hân hoan vì đánh dấu một thành tựu của Chương Trình Cứu Độ, khi Đức Trinh Nữ Maria làng Nadarét cất lên lời “Xin Vâng”, lời ngọt ngào, nồng nàn, phá tan mọi nỗi âu lo, căng thẳng vì mong mỏi thái độ đáp ứng của Đức Mẹ trước lời mời gọi của Thiên Chúa. Giây phút chờ đợi ấy, vũ trụ vạn vật, và ngay cả thiên cung đều nín thở, run rẩy, như chờ đợi lời phán quyết tối hậu cho số phận:
Maria ! Linh hồn tôi ớn lạnh,
Run như run thần tử thấy long nhan,
Run như run hơi thở chạm tơ vàng,
Nhưng lòng vẫn thấm nhuần ơn trìu mến ! ( thơ Hàn Mạc Tử )
Ave Maria, vui lên, hỡi người Đầy Ơn Phúc ! Người phải vui mừng, vì người được nghĩa với Thiên Chúa. Nhưng làm sao vui nổi, khi người vẫn còn bị kềm kẹp trong gông cùm tội lỗi, khi người vẫn còn chìm ngập trong đêm tối thất vọng, u sầu ? Làm sao vui được khi người còn bị đày đọa trong kiếp sống phàm tục, gian trá ?
Nhưng tất cả đã qua rồi cái thời đen tối đáng sợ ấy ! Đây là lúc Tin Vui, đây là ngày Cứu Thoát: hãy ngẩng mặt lên ! Ngôi Lời Nhập Thể cứu độ chúng sinh, ánh sáng của Người xua hết đêm đen. “Anh em hãy vui luôn trong Chúa ! Tôi xin nhắc lại: anh em hãy vui luôn trong Chúa !”
Hãy chết đi với con người cũ, với bao tội lỗi, đam mê xấu xa, để sống con người mới, mặc lấy con người mới, mặc lấy Đức Kitô, sống như Đức Kitô, với những điều cao thượng, đẹp đẽ, thánh đức. Hãy biến cuộc đời chúng ta thành bài ca chúc tụng vinh quang Thiên Chúa ! Hãy chúc tụng tình thương vô biên của Người, Đấng đã cứu chúng ta ra khỏi tối tăm, mà đưa vào sự sáng vĩnh hằng ! Hãy vui lên, hỡi người được cứu thoát, được thánh hóa nhờ Máu Chiên Con, Đấng đã chiến thắng tội ác và tử thần !
Ave Maria ! Halleluia ! Bài ca chiến thắng của tất cả những ai được tắm sạch trong Máu Chiên Con. Bài ca của Đức Maria hôm qua, của bạn, của tôi, của tất cả chúng ta, tín hữu Đức Kitô hôm nay và mãi mãi.
Ave Maria ! Halleluia ! Giai điệu mở đầu của khúc khải hoàn trên Thiên Quốc. Khởi đầu ngay từ nỗi khổ đau, thử thách của cuộc sống bất toàn hôm nay. Khởi đầu từ những vầng trán nhiều nếp nhăn; từ những ánh mắt còn ngấn lệ; từ những cái miệng móm mém; từ những trái tim rướm máu; từ những tấm lòng rách nát; từ những thân xác tật nguyền, dị dạng, ốm yếu; từ những hẻm tối bùn lầy; từ những căn nhà ổ chuột; từ những bát cơm hẩm, mặn đắng mồ hôi và tủi nhục; từ những manh áo tả tơi... Vì tận cơ bản, Kitô hữu đã là những người chiến thắng nhờ ơn tái sinh của Đức Kitô Phục Sinh.
Lm. NGUYỄN VĂN NHỨT, Dòng Đa Minh

 

07/10-152: HAI BÀ MẸ…

Đã bắt đầu bước sang triền dốc bên kia cuộc đời, tôi cảm nghiệm rõ hành trình đã qua của mình, nhất: 07/10-152

Đã bắt đầu bước sang triền dốc bên kia cuộc đời, tôi cảm nghiệm rõ hành trình đã qua của mình, nhất là chuyện quyết định đi tu và sau đó là đời tu cũng đã được hơn 26 năm, tất cả đều đã được quyết định bởi… hai Bà Mẹ !
Nhưng sao lại có đến hai Bà Mẹ ? Ai vậy ? Xin thưa ngay, Bà Mẹ thứ nhất chính là mẹ tôi, bà Maria Angela Phạm Thị Ích của làng quê Giáp Bát xưa của Việt Nam, và Bà Mẹ thứ hai là Mẹ Maria làng quê Nagiarét nghèo của Palestina. Một Bà Mẹ, có thể nói, đã thúc ép tôi phải đi tu cho bằng được, còn một Bà Mẹ thì đón lấy tôi vào đời tu, giữ tôi còn tu cho đến hôm nay. Cả hai Bà Mẹ đều có tên là Maria.
Mẹ tôi, bà Maria…
Mẹ tôi là một người đàn bà bình thường như mọi người đàn bà bình thường đất Bắc. Học chỉ vừa hết Sơ Học Yếu Lược của ngày xửa ngày xưa ( 1926 ) ngang với lớp 5 bây giờ, thì phải nghỉ vì ông ngoại tôi mất sớm, mẹ phải phụ trông cửa hàng cho bà ngoại, lúc nào cũng có một cái hộp khâu bên cạnh, thêu thùa, may vá, đính hạt cườm luôn tay, dù chỉ mới hơn mười tuổi đầu, người bé bằng cái… kẹo, cho đến ngày lấy chồng thì thêm việc buôn bán tảo tần, sinh một loạt 7 người con mà tôi là út ít trong nhà.
Lắm lúc nghĩ lẩn thẩn cho vui, cứ như mẹ tôi mà sống thời buổi bây giờ, bị ảnh hưởng bởi cái kiểu tuyên truyền XHCN: "Dù gái hay trai, chỉ hai là đủ", thì đã chẳng có mặt tôi trên đời để ngồi đây mà kể chuyện về mẹ cho mọi người !
Mẹ tôi sống, cư xử đối đãi với mọi người thực tế và bình dị lắm, thế nhưng Chúa ban cho mẹ tôi có cái linh giác thế nào đấy mà không bao giờ sợ ma, ngược lại, cứ hay gặp được linh hồn những người đã qua đời và luôn luôn có những giấc mơ kỳ lạ ứng nghiệm chính xác trong đời. Một trong những điềm báo mộng mẹ tôi nhớ mãi và mang theo suốt đời cho đến chết, liên quan trực tiếp đời tôi, thay đổi hẳn hướng đi và vận mạng của tôi.
Sự tình đầu đuôi như thế này: Mẹ tôi vừa chợp mắt là mơ thấy cha GB. Cái Hồng Phúc mặc áo DCCT dắt tay một chú bé nhỏ xíu cũng mặc áo DCCT, đến trước chiếc giường nhà bảo sanh bà đang nằm, cha bảo: "Con lại chào mẹ con đi rồi theo cha vào Nhà Dòng !" Thằng bé buông chiếc vali con con xuống, lõn cõn chuyện đến ôm hôn mẹ và ngay lúc ấy mẹ tôi bừng tỉnh dậy trong đêm.
Bà lay bố tôi thật mạnh: "Ông ơi, lần này mình đậu thai rồi, sẽ sinh con trai và nó sẽ đi tu, mà là tu DCCT cơ !" Bố tôi có vẻ bực mình vì lỡ giấc ngủ sâu sau một ngày đi làm mệt mỏi, ông bảo: "Bà thì cứ giỏi mơ với mộng ! Tôi cũng đang mong con trai nhưng bây giờ tôi lại cầu nó ra con gái cho bà thua một keo !" Mẹ tôi khăng khăng tả lại: "Tôi thấy rõ mắt nó bên to bên bé, hai dái tai thì dài, đỉnh đầu thì xoáy ngược !" Bố tôi bèn ra bàn, bật đèn, lấy tờ giấy và mẩu bút chì ghi lại toàn bộ "biên bản", để sau này làm bằng chứng chế giễu cái khả năng "ngoại cảm huyền bí" của mẹ tôi…
Tôi sinh ra đúng ngày Phật Đản, rằm tháng 4 năm Kỷ Hợi, 22.5.1959. Bố tôi vào nhà bảo sanh, mẹ tôi chỉ vào thằng cu nằm sát bên nách: "Đấy ông xem, có đúng như tôi tả không, mắt to mắt bé nhá, tai to nhá, lại xoáy ngược nữa đây này ! Thế nào nó cũng phải đi tu, mà là đi tu DCCT cơ !"
Tôi lớn lên, giúp Lễ, hát ca đoàn, đọc Sách Thánh, dạy Giáo Lý ở Nhà Thờ Phanxicô Đakao. Tôi vừa đi học, rồi đi làm, mưu sinh nghề tay phải tay trái nuôi cả nhà, vừa tham gia các nhóm sinh hoạt, cũng yêu cô này rồi thương cô kia, những tưởng thời thế biến động, đất nước đã theo vô thần, người ta bắt bớ o ép các Dòng Tu, làm gì mà còn dám nghĩ đến chuyện đi tu !
Thế nhưng, cứ thỉnh thoảng trong bữa cơm, tôi lại nghe mẹ kể lại cho cả nhà nghe giai thoại này, nghe mãi đến mức thuộc lòng, có khi tôi còn "đón gió" kể nốt đoạn cuối, tha hồ thêm mắm thêm muối, nhưng dứt khoát kết thúc thế nào cũng phải là… "thế nào cũng đi tu, mà là đi tu DCCT cơ !"
Ấy thế mà cuối cùng, tôi… đi tu thật ! Nói đúng hơn, cả hai chúng tôi chia tay nhau và đều chọn đời tu. Người bạn gái của tôi sau một đợt Linh Thao đã tìm ra con đường phải đi, và cô ấy đã đi rất sâu và rất xa cho đến bây giờ trong Ơn Gọi Focolari. Sáu tháng sau, đến phiên tôi, nhờ một bài giảng ngày thường của một Linh Mục Dòng Đa Minh ở Nhà Thờ Mai Khôi Tú Xương, cũng ngộ ra được cái Đạo mình phải theo. Đó là tháng 7 năm 1987.
Tôi xin tìm hiểu dạng tu muộn ở Đại Chủng Viện Giuse Sàigòn. Về nhà báo tin, mẹ tôi mừng lắm khi thấy cuối cùng đứa con trai út không còn nằng nặc đòi lấy vợ nữa. Thế nhưng mẹ tôi vẫn cằn nhằn: "Tôi đã mơ cậu phải theo cha Hồng Phúc đi tu DCCT cơ mà !" Bố tôi phải nói át đi: "Thôi đi bà, bắt nó tu, bây giờ nó đã chịu tu, tu đâu cũng là tu, bà cứ ép hoài nó lại không chịu tu nữa thì đừng có trách nhá !"
Mấy năm sau, khi tôi đã chịu đi nghĩa vụ Thanh Niên Xung Phong rồi mà cũng không xong chuyện với Nhà Nước, tôi rời Chủng Viện xin qua DCCT. Lúc này, thương quá, bố tôi đã mất sau nửa năm trời lâm bạo bệnh. Mẹ tôi rươm rướm nước mắt: "Tôi đã bảo là thế nào cậu cũng đi tu, mà là đi tu DCCT, giá bố cậu còn sống thì…"
Hai năm theo Chủng Viện cũng được tính gộp vào giai đoạn tìm hiểu, nên tôi chỉ cần thêm hai năm nữa là hoàn tất Dự Tập. Cuối tháng 7 năm 1991, tôi bất ngờ được gọi vào Nhà Tập DCCT. Đúng lúc này gia đình tôi túng quẫn lắm. Mẹ goá con côi, anh trai lớn còn đi cải tạo, bản thân tôi đang phải cố gắng nhiều lắm để bươn trải kiếm tiền, Bây giờ rũ áo ra đi đột ngột thế này, ai sẽ thay mình lo cho cả nhà ?
Tôi còn nhớ như in, khi ấy, có một bà mẹ của một bạn trong Nhóm Mai Khôi, bác Chín, nhà ở Bình Triệu, hồi trc 75 từng là con cái cha Lucien Olivier DCCT, bác biết rõ chuyện đời tôi và chuyện nhà tôi, bà thân tình bảo: "Thầy Uy à, Chúa đã kiu theo Chúa thì Chúa có cách lo. Thầy Uy cứ đi tu đi, Chúa sẽ gởi một người khác đến lo mọi sự thay cho thầy mừ. Thầy biết ai hông ?" Tôi còn đang ngẩn người ra chưa đoán được là ai, bác Chín nói luôn: "Đức Maria chứ ai nữa ?" Tôi bàng hoàng ngộ ra tất cả, ứa nước mắt và vâng lời, buông tất cả để vào Nhà Tập…
Mẹ tôi, Mẹ Maria…
Lập hồ sơ đi tu, các cha Nhà Dòng mới phát hiện tên Thánh tôi dài lê thê, không chỉ là Giuse, mà còn là Maria và Antôn nữa. Ai cũng thắc mắc, bảo là sao mà rắc rối thế, một tên đủ rồi, làm gì mà phải đến ba tên Thánh ? Tôi phải gãi đầu gãi tai, khai ra sự thể đầu đuôi thế này:
Bố tôi tên Thánh Antôn, nên trong nhà hễ là con trai thì đều được lấy tên Antôn của bố cộng thêm một tên Thánh riêng nữa. Anh trai tôi tên là Alberto Antôn. Còn mẹ tôi tên Thánh Maria Angela nên trong nhà hễ là con gái thì được đều được lấy tên Maria của mẹ ghép vào một tên Thánh riêng, thế là các chị tôi có tên là Maria Christina, Maria Helena, Maria Cecilia, Maria Teresa. Riêng tôi là con trai út sinh trong tháng 5 nên có tên Thánh Giuse rồi, lấy thêm tên bố là Antôn, lấy luôn tên Mẹ nữa là Maria, ráp lại thành Giuse Maria Antôn, coi như được mừng Bổn Mạng quanh năm !
Có mấy anh lớp trên, đã khấn và lên Học Viện rồi, cứ bắt bẻ chuyện con trai mà tên Thánh là Maria, tôi bèn biện hộ: Cứ xem Thánh Tổ cũng có tên Thánh Maria đấy, có sao đâu !?! Còn thử hỏi ai lại có được tên và tên Thánh dài vô địch như ngài: Alfonso Maria Antonio Giovanni Francesco Cosma Damiano Michele Angelo Gaspare di Ligori ( ghi theo tiếng Tây Ban Nha ) ?
Mỗi tuần trong thời gian Nhà Tập DCCT, cha An Phong Phạm Gia Thuỵ lại cho 12 anh em chúng tôi ngồi lại vòng tròn chia sẻ chuyện này chuyện kia, vừa để thêm xác tín vào Ơn Gọi của mình, lại vừa lắng nghe nhau, hiểu nhau và thân nhau hơn trong đời tu cả lớp vừa tập tễnh bước vào.
Một lần, tôi kể chuyện bố tôi hồi sơ sinh đã đặt tên cho mình với dụng ý như thế nào. Bé quá chưa biết gì, nhưng sau biến cố 75, tôi được 16 tuổi, một hôm, bố bảo đi lấy tờ giấy và chiếc bút lông thỏ, lại mài mực tàu, rồi bố viết lên một chữ nho thật đẹp, rồi bảo: "Đây là chữ Uy, tên của con đấy. Nhìn kỹ thì thấy bên trong, ở giữa có chữ Nữ đây này. Vậy "Uy" có nghĩa là có khả năng để bảo vệ một người phụ nữ…" Nghe đến đây, anh em Nhà Tập phá lên cười, chọc ghẹo tôi ra cái điều đi tu rồi mà còn vớ vẩn chuyện đàn bà con gái !
Không ngờ cha Giáo Tập cười tủm tỉm: "Hay lắm, đúng lắm ! Thế kỷ 18, Hội Thánh gặp nhiều tư tưởng thần học bị lạc lối, rối beng, tìm mọi cách chống lại tín điều "Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội", vì thế, ai tu DCCT thì cha Thánh Tổ An Phong đều buộc phải khấn đến 4 lời khấn: Khó Nghèo – Vâng Lời – Khiết Tịnh, còn thêm lời khấn thứ tư là quyết tâm bênh vực tín điều "Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội". Vậy thì anh Uy của lớp An Phong chúng ta có uy là để bảo vệ Đức Maria đấy !"
Với tất cả những chứng cứ vừa vui vui vừa ý nghĩa như trên, tôi càng thêm xác tín mình đúng là "phải đi tu, mà là đi tu DCCT cơ !"
Ngày khấn lần đầu, 1.8.1992, chúng tôi phải khấn "chui" trong Nhà Nguyện của Tu Viện DCCT Sàigòn lúc 5g sáng. Mỗi anh em tân khấn chỉ được mời thân nhân đúng con số 7. May quá, "hộ" nhà tôi vừa đúng 7: mẹ, chị hai, chị ba, anh tư ( vừa đi tù về ), chị năm, chị sáu và cha sở Phanxicô Đakao, cha Irénée Nguyễn Thanh Minh ( đồng tế ).
Năm ấy mẹ tôi đã 76 tuổi, già yếu nhiều sau một cuộc đời quá nhiều vất vả cho chồng cho con, không làm được nhiều việc nặng nữa, nhưng gần như lúc nào trên tay bà cũng là tràng chuỗi Mai Khôi của Đức Maria. Mẹ tôi như nghiêng về phía Mẹ Maria, tìm một sự cậy trông phó thác cho đứa con trai út mình đang đeo đuổi đời tu. Còn Mẹ Maria thì như nới rộng thêm vòng tay từ mẫu, ôm cả hai mẹ con chúng tôi vào lòng mà trao cho Chúa Cứu Thế, Con yêu dấu của Mẹ.
Tôi nghiệm được ngay trong những lúc lao đao đường tu, chính hai Bà Mẹ của tôi vì thương tôi mà thành ra liên kết gắn bó với nhau để cùng lo liệu, cứu tôi, giúp tôi, bảo bọc tôi… Biết vậy nên tôi càng thêm vững tin để trỗi dậy bước tiếp, lòng tri ân cả hai Bà Mẹ.
Tội nghiệp, mẹ tôi không gượng được thêm, năm 1996, chỉ còn mấy chục ngày nữa là dự Lễ Khấn Trọn của tôi, những phiền não trong gia đình cộng thêm căn bệnh tiểu đường mức độ nặng đã quật ngã mẹ tôi. Vào bệnh viện cấp cứu, người ta thấy chỉ số đường huyết cao quá bèn chích cho một liều insulin rất mạnh, nó tụt nhanh, xuống thật thấp, mẹ tôi chỉ kịp được một cha DCCT xức dầu xong là rơi vào hôn mê sâu, hai ngày là đi, đúng ngày 13 tháng 5, trên tay vẫn không rời tràng chuỗi Mai Khôi…
Ngày Khấn Trọn Đời, không phải tổ chức "chui" như trước, sau Lễ ngoài Nhà Thờ, mỗi anh em Tu Sĩ được dành một bàn 12 người để ăn liên hoan nhẹ, vậy mà bàn của tôi chỉ còn vỏn vẹn mấy chị em trong gia đình và một vài Nữ Tu thân quen, các suất ăn dư tôi đem sang các bàn bên cạnh chia sẻ với các anh em có thân nhân đông quá con số quy định. Tôi phải lăng xăng chạy tới chạy lui cho nó khoả lấp nỗi buồn tủi thân không còn mẹ. Không ngờ, như thấu hiểu điều ấy, Sr. Marie Joseph Nguyễn Thị Thơm, Dòng Đức Bà, cô giáo già dạy tiếng Pháp mấy chục năm trước của tôi, đã bước lại thật gần và thì thầm: "Má thầy Uy mất rồi, nhưng vẫn còn Mẹ Maria là Má của các Tu Sĩ. Cô xin được thay mặt cùng lúc cả má thầy Uy lẫn Má Maria để ôm hôn thầy Uy nghen !" Và chúng tôi đã ôm nhau trong nước mắt nghẹn ngào của niềm vui…
Mẹ ơi, con cám ơn mẹ đã sinh con ra làm người, lại ước nguyện được sinh con ra làm một Linh Mục DCCT nữa. Mẹ khuất xa con cũng đã 17 năm, vậy mà gần như cứ mấy đêm thì con lại nằm mơ thấy mẹ một lần, ngửi thấy mùi da thịt của mẹ đến nỗi khi tỉnh dậy rồi, một mình trong đêm con vẫn nghe phảng phất đâu đây mùi của mẹ… Con rùng mình khi nghĩ hay là mình cũng bắt đầu được Chúa ban cho cái trực cảm, cái linh giác sao đó về các linh hồn như mẹ đã từng có lúc sinh thời.
Một lần gần đây, trong cơn mê hoảng giữa đêm, con mơ thấy mình nằm giường bên này, bị bóng đè, cứng hết cả tay chân, ú ớ kêu: "Mẹ ơi, cứu con !" Con lấy hết sức mình lăn xuống khỏi giường, bò lê trên nền gạch từng chút một sang chiếc giường bên kia để gặp mẹ, con mếu máo hờn trách: "Mẹ, con sợ quá, con gọi mẹ cứu con mà sao mẹ lại cứ ngồi yên bên này mà không sang bên ấy với con ?" Lúc ấy mẹ mới mỉm cười trả lời, tay trái giơ cao tràng chuỗi Mai Khôi: "Mẹ đang cầu nguyện cho con, mẹ đã xin Mẹ Maria Hằng Cứu Giúp cứu con đấy chứ !"
Và con choàng tỉnh dậy, con chợt nhớ ra, con chợt hiểu, con hạnh ngộ, con có hai Bà Mẹ…
Lm. LÊ QUANG UY, DCCT, thứ ba 24.9.2013

 

07/10-153: "MẸ ƠI ! CON YÊU MẸ…"

Chỉ qua một đêm yên lành, đến rạng sáng hôm sau biển trở mình, thuyền chúng tôi gặp bão. Bầu: 07/10-153

Chỉ qua một đêm yên lành, đến rạng sáng hôm sau biển trở mình, thuyền chúng tôi gặp bão. Bầu trời vần vũ mây đen, mới đầu chỉ là những gợn sóng lăn tăn, thú vị nhìn cá bơi đua mạn thuyền, chúng tôi ngồi đếm những lớp sóng biển xanh. Không lâu sau, biển trở mặt, sóng thành bạc đầu cuồn cuộn dâng cao, dồn nhanh phủ lớp, đếm không kịp. Sóng hận thù xây thành lũy cao chót vót dập mạnh xuống. Con thuyền như chiếc lá mong manh vút lên, hết đà buông gót chúi mũi đâm xuống vực đen.
Thuyền lên tới đỉnh cũng là lúc những lời kinh “Adiđà Phật”, “Giêsu – Maria – Giuse”… từ âm vực thành khẩn tôn kính biến thành tiếng rú kinh hoàng của những tội đồ đang hấp hối. Tình trạng chiếc thuyền ngập tràn tuyệt vọng không bút nào tả xiết, trôi dạt không biết đi đâu, hướng nào. Mọi người từ lớn đến nhỏ cứ nằm lênh đênh trên biển, giầu-nghèo, khỏe-yếu, trí tuệ-ngu dốt, dân đen-chức quyền… mặt tái mét hoảng loạn: tất cả đều bình đẳng trước Tử Thần. Sóng biển triền miên dập dềnh…
Trong đám hỗn độn ấy, tôi để ý đến một người ( sau này mới biết anh tên Đình Thu ), cổ đeo Tràng Hạt, quàng thêm Áo Đức Bà, dây Đạo Binh Xanh, một xâu đủ thứ ảnh tượng Maria: nhôm, kền, đồng, thép, chì, nhựa... sưu tầm vội vã trước ngày đi… mặt đầm đìa nước mắt, miệng không ngớt lẩm bẩm như lên đồng: "Lạy Mẹ là ngôi sao sáng, soi lối cho con lúc vượt biển thế gian… Con đã sống chẳng ra gì, nói dối như vẹm, cờ gian bạc lận, đàng điếm hút sách, nhậu nhẹt bê tha… toàn làm điều xấu, đại gian đại ác... Nếu thoát gian nguy, con nguyện sẽ sống trọn một đời thánh thiện, sẽ hy sinh cứu giúp muôn người trong cơn hoạn nạn…"
Mùa Hè năm 2012, sau gần một phần tư thế kỷ, trong quán cà-phê Cô Ba, dưới chân cầu trạm subway Field Corner ở Dorchester, Boston, tôi gặp lại Thu đang ngồi huyênh hoang tán gẫu với đám bạn vừa “hạ cánh an toàn” sau một phi vụ lừa đảo. Ôm chặt tôi vào lòng, Thu hớn hở ra mặt: "Sau anh lại nhận ra tôi ?" – "Trong chuyến tầu hôm ấy, duy chỉ anh cầu nguyện với lời hứa tha thiết nhất, làm sao tôi quên được !" Thật ra với chiếc mồm vẩu, tai bẹp, vết sẹo độc quyền chém ngang lông mày mắt trái của Thu dù đứng xen giữa hàng chục ngàn người xa lạ tôi vẫn nhận ra. Sau chầu nhậu, đứa bạn cuối cùng bước đi, chỉ còn tôi và Thu ngồi lại trong xó tối. Cởi mở tấm lòng tôi nhắc chuyện: "Nhớ hồi ấy anh khấn nguyện: Nếu thoát gian nguy, con nguyện sẽ sống trọn một đời thánh thiện, sẽ hy sinh cứu giúp muôn người trong cơn hoạn nạn… Sao bây giờ đến nỗi này ?"
Thu chậm chạp uống cạn ly bia cuối cùng, mặt đượm vẻ buồn vời vợi: "Tôi vẫn luôn nhớ lời hứa, ngặt một điều là Đức Mẹ đã quên phần mình." – "Sao lạ vậy ?" – "Những năm đầu đặt chân đến Mỹ tôi, cuộc đời tôi như một con chó đói, làm ăn cái gì cũng thất bại…" Tôi rất ngạc nhiên: "Ủa ! Tôi nhớ lúc đó anh chỉ cầu sao cho thoát nạn, đâu có khoản làm ăn !" Thu nhìn tôi e ngại, rít mạnh một hơi thuốc ba số 5, cẩn thận gạt tàn, cười giả lả: "Thì các Ngài phải hiểu ngầm chứ !"
“Phải hiểu ngầm chứ !” Đây là một khấn nguyện “qua cầu gió bay, qua sông quên đò”…
Một Linh Mục đến Boston giảng phòng. Sau bài Tin Mừng, rất chậm, từng thao tác bậc thiền sư, Linh Mục ấy gập sách, gỡ cặp kiếng, nhắm mắt… rồi cứ đứng yên lặng như vậy trong tư thế thiền. Một phút trong thinh lặng không chuẩn bị của cộng đoàn ngồi bên dưới lâu lắm: đầu lắc lư, người ngọ nguậy, chân khều dép, tay gãi sồn sột…
Chập sau cha mở mắt nhìn cộng đoàn rất tha thiết, bắt đầu bài giảng: "Trọn đời tôi, từ lúc trước khi làm Linh Mục, tôi đã lỡ quen biết và yêu một người phụ nữ. Thú thực với anh chị em là cho đến bây giờ tôi vẫn không quên được người ấy !" Nói đến đó, cha dừng lại trong yên lặng đo lòng người. Cộng đoàn chao người lay động, vài bà ngồi phía trước chép miệng: "Đã đi tu mà còn yêu với iếc !"
Vẫn làm chủ đám đông, vị Linh Mục giảng tiếp: "Người đó chính là Mẹ Maria !" Tất cả cộng đoàn tham dự Thánh Lễ hôm đó đều thở mạnh ra. Hài lòng…
Bạn mến,
Trời Boston lúc này đang vào thu, hơi se lạnh, vài chiếc lá vàng rơi trong gió sớm. Mùa thương khó những tháng đông về bắt đầu. Tôi ngồi uống trà một mình, tâm hồn như se lại, ngẫm về những giai đoạn đã qua trong đời mình, về mối tình của tôi với Mẹ Maria. Tình Mẹ-con của tôi có nhiều nhập nhằng trắc trở, lúc còn lúc mất. Khi đằm thắm, lúc úa tàn. Có những khi nước mắt đã khô, ráo hoảnh, chìm sâu trong cô đơn tuyệt cùng kiếp người, tôi cầu nguyện trong vô vọng. Có những tháng dài Mẹ-con không nhìn mặt khi tôi mất Đức Tin. Mẹ luôn đứng đó tư thế đợi chờ trong khi tôi nằng nặc dứt áo ra đi.
Nhưng xét lại những đoạn đời trồi-sụt mất-còn ấy tôi cảm nhận luôn có một sợi chỉ đỏ không bao giờ đứt đoạn, dẫu có lúc chìm sâu tưởng mất, là tôi vẫn luôn yêu Mẹ. Sợi chỉ tình yêu này xét cho kỹ, không phải có được từ sách vở, bằng cấp, lời giảng lôi cuốn hay số năm dài theo Đạo, nhưng là từ những tấm gương yêu mến Mẹ Maria của ông bà, cha mẹ, người khác để lại.
Làm sao quên được lời kinh đêm cả gia đình quây quần ấm cúng dâng lên Mẹ ? Có thể nào quên được nét mặt cụ già móm mém ngước trông lên Mẹ Sầu Bi dưới ánh sao đêm, những anh lính VNCH cổ đeo Tràng Hạt lao vào trận địa mười phần chết bẩy còn ba ? Lời kinh trong đêm, âm thầm lặng lẽ không ai biết, bao giờ cũng là những tấm chân tình không giả dối.
Để truyền cho thế hệ sau sợi chỉ đỏ ấy, đợi lúc vắng người, tôi thường dẫn cả gia đình ra Nhà Thờ gặp gỡ Chúa Giêsu và Đức Mẹ. Ngồi, nằm cũng được. Chả cần lâu, chỉ 5, 6 phút. Chẳng cần dài, chỉ vài Kinh Lạy Cha, Kính Mừng rồi yên lặng. Lúc đầu các cháu không thích, tôi phải dụ bằng cách trên đường từ Nhà Thờ về nhà bao giờ cũng dẫn đến tiệm McDonald, Burger King, Friendly… “cúng” cho mỗi đứa vài đồng quà vặt, lâu dần quen chân đến độ dù chán quà vặt nhưng các cháu vẫn thích đến “chơi” Nhà Thờ. Nhiều khi mải làm việc tôi quên, các cháu lại nhắc. Rồi một mai trong kiếp người, sẽ đến lúc các con tôi phải một mình đối diện nhân nghĩa tình đời, chông chênh áo cơm, nghiệt ngã cuộc sống… tôi muốn các cháu nhớ đến chốn này để biết đường về với Mẹ.
Tôi thích lời hát “Mẹ ơi, con yêu Mẹ, yêu từ hồi thơ bé, yêu mãi đến tuổi già, yêu tha thiết bao la…” Tôi thích lời kinh Lạy Cha và Kính Mừng… Những đêm dài mất ngủ, thay vì đếm những con nai, tôi chỉ hát thầm hoặc đọc những lời kinh này cho đến khi quá mệt mỏi để chìm sâu trong giấc ngủ.
Tôi yêu Đức Giêsu, tôi thích Mẹ Maria…
NGƯỜI TÔI TỚ VÔ DỤNG, Boston, 2013

 

07/10-154: MẸ FATIMA MẾN YÊU

Tháng Mười thắm sắc Mân Côi. Kính mừng Mẹ Đức Chúa Trời hiển vinh. Hoa lòng thắm sắc : 07/10-154

“Tháng Mười thắm sắc Mân Côi.
Kính mừng Mẹ Đức Chúa Trời hiển vinh.
Hoa lòng thắm sắc Đức tin.
Xin dâng kính Mẹ Đồng Trinh từng ngày”.
( Kính Đức Mẹ Mân Côi – Trầm Thiên Thu )
Đã qua gần nửa thế kỷ đời người, nhưng hình ảnh Mẹ Fatima thánh du Việt Nam vẫn in đậm trong hồn tôi. Khi Mẹ đến Xứ Đạo, tôi chỉ vừa đủ trí khôn, mới được rước lễ lần đầu. Thời gian vào khoảng năm 1965, không còn nhớ Mẹ đã đến tháng nào năm đó, nhưng nhiều chi tiết về cuộc cung nghinh Mẹ vẫn như từng thước phim đậm nét trong ký ức tôi, là những hồi ức tuyệt vời khi nhớ về kỷ niệm với Mẹ Maria.
Gia đình tôi gốc Địa Phận Bắc Ninh, một Địa Phận Dòng, được các cha người Tây Ban Nha, Dòng Đa Minh, đến truyền giáo. Việc sùng kính Mẹ Mân Côi và Thánh Đa Minh thành truyền thống gia đình, ảnh hưởng từ truyền thống Giáo Phận. Mẹ Mân Côi là bổn mạng Giáo Phận Mẹ ngoài Bắc, Giáo Xứ Bỉ Nội nơi cố hương, và Giáo Họ tôi sau ngày di cư về miền Nam đều nhận Lễ Mân Côi ( 7 tháng 10 ) là ngày Bổn Mạng. Điều đó phổ biến đến nỗi đa số những người phụ nữ trong họ đều mang tên Thánh Maria, còn cánh nam nhi đều nhận Thánh Đa Minh làm quan thầy. Khi còn nhỏ, tôi đã đem câu hỏi này thắc mắc hỏi bà, bà trả lời một cách đơn giản: chọn tên Thánh giống nhau mừng lễ cho long trọng, dễ nhớ và phần nào biết ơn các cha Dòng Đa Minh mang hạt giống Đức Tin đến quê hương.
Đại đa số gia đình trong làng tôi, bàn thờ ngoài tượng Chịu Nạn, hầu như nhà nào cũng có ảnh Đức Mẹ Mân Côi tay cầm tràng hạt trao cho Thánh Đa Minh. Từ khi còn nhỏ, tôi nhận thấy lòng sùng kính Đức Mẹ nơi các tín hữu nhiệt thành hơn bây giờ, đặc biệt nơi tín hữu gốc Bắc Ninh. Tôi thầm thán phục các bà, các mẹ, các cô… có người không biết chữ, nhưng kinh sách thuộc làu làu, nhiều kinh có những từ cổ, Hán tự rất khó nhớ, còn đổi theo Mùa Phụng Vụ, từ trong Nhà Thờ ra đến các đám rước, đám tang, vào mọi gia đình kinh hạt rất sốt sáng. Bọn trẻ như tôi, ông bà bắt buộc phải học kinh, bắt đọc thật to trong các buổi nguyện giỗ gia đình, nhưng hầu hết các kinh không có trong sách, tam sao thất bổn, mỗi đứa đọc mỗi kiểu chẳng biết đúng sai thế nào. Đi Nhà Thờ biết bao mùa Mân Côi Tháng Mười, nhưng vẫn không thể thuộc được phép ngắm Rôsa, chỉ nhớ loáng thoáng được mấy câu đầu:
“Phép ngắm Rôsa nguyên cội rễ.
Suy ơn chuộc tội loài người thế.
Tự sinh nhi tử, tư nhi sinh.
Công nghiệp vô cùng khôn xiết kể...
Lạy ơn Đức Mẹ nhân thay
Xin vị sự nhiệm mầu này rủ thương
Cho con lòng vững đá vàng
Vâng theo Ý Chúa mọi đàng chẳng sai...
( Văn Côi Thập Ngũ Sự Thi Ca )
Trong tháng Mân Côi, trước khi lần hạt năm chục, còn phải ngắm Rôsa, lũ trẻ con rất sốt ruột vì không thuộc kinh phải ngồi yên lặng nghe người lớn ngân nga. Vào tháng Mân Côi hay tháng Năm đi lễ lâu hơn, với những trẻ em lười biếng, cứ vào thứ bẩy hàng tuần lại đọc kinh “Dâng mình cho Trái Tim Cực Sạch Đức Mẹ”. Kinh này rất dài nhưng chẳng hiểu sao bọn trẻ lại thuộc lòng, có lẽ vì đây là kinh quan thầy, hay tại thời đó sống trong cảnh chiến tranh gia đình ly tán, chết chóc, đọc kinh này cảm thấy thật thấm thía và sốt sáng: “Lạy Nữ Vương rất thánh Mân Côi, hay cứu giúp bổn đạo, hay hộ vực loài người và hằng thắng các kẻ nghịch cùng Chúa… Lạy Nữ Vương hòa bình, xin cầu cho chúng con và cả thế giới khỏi giặc giã, được bình an là điều muôn dân mong ước, bình an trong sự thật, trong lẽ công chính, trong đức mến yêu Chúa Cứu Thế…”
Tháng Mân Côi lại về, nhắc đến Mẹ Mân Côi là nhắc đến Thánh Đa Minh, nhắc đến biến cố Mẹ hiện ra năm 1917 tại Fatima với ba trẻ Luxia, Giaxinta, Phanxicô lần cuối cùng vào ngày 17 tháng 10. Như bao tín hữu yêu mến Mẹ, ao ước ngày nào được đặt chân đến Fatima trực tiếp diện kiến nơi Mẹ hiện ra cách nay gần 100 năm, nhưng với hoàn cảnh đại đa số tín hữu Việt Nam chỉ là ước mơ cao vời !
 “Năm xưa trên cây sồi, làng Fatima xa xôi, có Đức Mẹ Chúa Trời hiện ra uy linh sáng chói. Mẹ nhắn nhủ người đời hãy mau ăn năn đền tội, hãy tôn sùng Mẫu Tâm, hãy năng lần hạt Mân Côi”.
Riêng tôi cũng tự an ủi mình, thật hạnh phúc trong cuộc đời hai lần được diện kiến Mẹ Thánh Du Fatima: vào năm 1965 và 1974. Lần đầu tiên năm 1965 ( xem ghi chú ) để lại nhiều ấn tượng trong tôi cũng như nuôi dưỡng Đức Tin thời thơ ấu. Năm đó, Mẹ đến Việt Nam trong hoàn cảnh đất nước đang xảy ra nội chiến, riêng miền Nam còn bị xâu xé bởi các phe phái đảo chánh, chỉnh lý… chia rẽ giữa Công Giáo và Phật Giáo. Xứ Đạo tôi được may mắn cung nghinh Mẹ nhờ cha quản hạt Phêrô Đoàn Cung Nhượng, thời gian Mẹ đến vắn vỏi không thể đi hết từng Giáo Xứ, nên Xứ tôi được đại diện thay cho cả Hạt vinh dự được Mẹ thăm viếng.
Cha Đoàn Cung Nhượng là cha xứ từ cố hương miền Bắc, Giáo Dân cũ di cư cùng với cha nên Giáo Họ tôi cha đặc biệt quý mến. Lần cung nghinh này, Giáo Họ được chỉ định làm kiệu Đức Mẹ, bắt đầu từ ngày làm kiệu, ngoài những người có bổn phận cưa đục những miếng gỗ, lúc nào bọn trẻ cũng tụ tập khi có thời gian rảnh rỗi xem xét những thay đổi hàng ngày. Từ những miếng ván, miếng gỗ thô sơ gần đến ngày cung nghinh Mẹ được sơn phết trở thành chiếc kiệu lộng lẫy như bốn con rồng đỏ uốn lượn chính giữa tạo thành ngôi tòa Mẹ ngự với những ngọn đèn lấp lánh, chiếc kiệu sơn son thiếp vàng chất đầy hoa, đăng-ten tuyệt đẹp để chuẩn bị tiếp đón Mẹ.
Những ngày đầu đến Việt Nam, Mẹ đã thăm Vương Cung Thánh Đường Đức Bà, thăm Dòng Carmêlô, Dòng Thánh Phaolô, Mẹ đến với những người đau khổ trong nhà tù Chí Hòa, với thương bệnh binh Tổng Y Viện Cộng Hòa, rồi đến với dân nghèo Giáo Hạt Xóm Mới.
Căn nhà tôi ngay cuối Nhà Thờ, từ những chuẩn bị ban đầu đến những rừng cờ xanh trắng vàng tung bay khắp sân, từ lúc bắt đầu làm kiệu, đến khi đón tiếp Mẹ về trong ngôi Nhà Thờ Giáo Xứ đại diện cho Giáo Hạt, bọn trẻ chúng tôi không lúc nào bỏ qua xem xét mọi chi tiết hằng ngày. Chiều hôm đón rước Mẹ, đại diện các Giáo Xứ tề tựu trước sân, cờ quạt rợp trời. Những người bán ảnh tượng đến thật sớm, họ trải những chiếc bạt bầy la liệt: sách kinh, ảnh tượng, tràng hạt… vất vả lắm, cứ lâu lâu lại bị giải tán, chỉ khi đoàn rước vào đầy đủ trong Nhà Thờ Họ mới được ngồi yên. Nhóm trẻ con không được tham dự đoàn rước, lúc này cứ đứng lấp ló chung quanh Nhà Thờ, lâu lâu lại phải chạy vì mấy ông quản giữ trật tự.
Trước cửa nhà, ngay từ chiều, bà nội đã múc sẵn hai chum nước mưa cho những người cần lấy nước mang vào Nhà Thờ làm phép. Cùng với mấy ấm nước nụ vối dành cho những người đi bộ đến từ xa. Từ phía nhà tôi nhìn về lễ đài, chung quanh Mẹ những hộp nến, chai nước các loại, hàng đống hoa huệ, lay-ơn… chất đầy chân Mẹ, chờ cha làm phép để mang về nhà, ngoài những lời cầu nguyện âm thầm, nhiều bài thánh ca được hát lên với lòng sùng kính:
“Kính mừng Nữ Vương, Nữ Vương hòa bình, Nữ Vương hòa bình.
Đây bao tâm hồn thao thức, con dân nước Việt nao nức.
Cất tiếng ca mừng vui, kính mừng Nữ Vương, Nữ Vương hòa bình”. ( Hải Linh )
Một sự kiện đáng nhớ, như phép lành của Mẹ dành cho những người con đến kính viếng hôm đó. Khi đoàn cung nghinh Mẹ về đến Giáo Xứ Bắc Dũng khoảng 15 phút, có một tiếng nổ lớn, ban đầu mọi người nghe thấy tưởng ai đó làm pháo bị phát nổ, Xóm Mới là vùng có nghề làm pháo nổi tiếng, khoảng 10 phút sau xe cảnh sát đến ngay sân Nhà Thờ giữ trật tự, người người rỉ tai nhau: một thanh niên chở một trái mìn định hướng đi chiếc xe đạp trên con đường đoàn rước vừa ngang qua cách Nhà Thờ Bắc Dũng khoảng mấy trăm thước, ngay trước cổng Nhà Thờ Trung Bắc, chẳng hiểu vì lý do gì mà phát nổ nơi đó, anh chàng khủng bố chết tan xác, bọn trẻ lúc này lại nhốn nháo rủ nhau đi xem, nhưng khu vực đó đã bị phong tỏa. Ai cũng bảo Đức Mẹ gìn giữ, nếu không biết bao người mắc nạn ngay hôm đó.
Đón Mẹ Thánh Du năm 1974, lần này Mẹ về Giáo Xứ Trung Bắc, vì cha Giuse Nguyễn Văn Tạ làm quản hạt. Giáo Xứ tôi được phân công đứng đoạn đường ngã ba ngay trước thành Cổ Loa, căn cứ chỉ huy pháo binh thiết giáp. Từ hai giờ chiều, các đoàn thể phải tập trung và đi bộ lên đó, giữa trời nắng chang chang, chờ đợi cả tiếng, đoàn rước đầu tiên đón Đức Mẹ từ Tổng Y Viện Cộng Hòa đi ra, qua đoạn đường chúng tôi đứng sẵn, thế là tuần tự đi theo, ban đầu còn trật tự hàng bốn, dần dần gần đến điểm cuối Giáo Xứ Trung Bắc, không còn phân biệt xứ nào, đoàn thể nào, mọi người dồn hết lên để mong được vào sân Nhà Thờ, nhóm bạn tôi đi chậm, khi đến cổng các ông trật tự đã dàn hàng ngang không cho vào, sau đó về nhà và sáng hôm sau tôi mới trở lại kính viếng Mẹ.
Lòng tôn sùng Đức Mẹ thật đặc biệt trong nhiệm kỳ Giáo Hoàng Phanxicô: “Giáo Triều của Đức Thánh Cha Phanxicô đã được dâng hiến cho Đức Mẹ Fatima tại Bồ Đào Nha ngày 13.5.2013, nhân ngày kỷ niệm lần thứ nhất Đức Mẹ hiện ra ( 13.5.1917 ) theo thỉnh cầu của Đức Thánh Cha. Kinh cầu dâng hiến, được Đức Hồng Y Policarpo viết, đã được đọc vào cuối Thánh Lễ quốc tế, tại Thánh Địa Fatima: “Lạy Đức Mẹ, chúng con xin dâng lên Mẹ, là Mẹ của Giáo Hội, sứ vụ của Đức Tân Giáo Hoàng: xin Mẹ đổ tràn đầy trong trái tim Ngài tình thương của Thiên Chúa, mà Mẹ đã cảm nghiệm rõ ràng hơn bất cứ một ai, để ngài có thể ôm lấy tất cả những người nam và nữ của thời đại này với tình yêu của Con Mẹ là Chúa Giêsu Kitô.” ( Le Monde Vu de Rome ).
Và gần đây theo tin tức mới nhất, Đức Thánh Cha đã chọn ngày 13 tháng 10 tới đây như một phần của lễ kỷ niệm Ngày Thánh Mẫu. Đức Giáo Hoàng Phanxicô sẽ dâng hiến thế giới cho Trái Tim Vẹn Sạch Đức Mẹ.
“Đức Giáo Hoàng mong ước mãnh liệt rằng Ngày Thánh Mẫu có thể giới thiệu, như một dấu chỉ đặc biệt, một trong những bức tượng có ý nghĩa nhất về Đức Maria cho các Kitô hữu trên toàn thế giới, và vì lý do đó, chúng tôi nghĩ đến bức tượng gốc của Đức Mẹ Fatima yêu quý” ( theo Đức Hồng Y Rino Fisichella ).
Vài năm gần đây Giáo Hội Việt Nam đang khởi sắc về việc xây Nhà Thờ, Đền Thánh, nở rộ các đoàn thể Công Giáo Tiến Hành, hoạt động bác ái, nhiều người cho rằng đã có tự do tôn giáo hay như vậy là đã khá hơn những năm trước, chưa hẳn đã như vậy ! Niềm vui trong sinh hoạt tôn giáo với những mặt nổi có phủ lấp được chăng những đau thương gần đây trên khắp mọi miền đất nước bất công lan tràn, xã hội băng hoại về đạo đức !?!
Không một tín hữu nào có lòng yêu Giáo Hội thực sự không khỏi buồn đau khi một phần chi thể của Giáo Hội đang bị bách hại, những người yêu chuộng đấu tranh cho tự do, công lý, hòa bình bị trù dập. Những cái tên Thái Hà, Tòa Khâm Sứ, Giáo Hoàng Học Viện, Tam Tòa, Loan Lý, Cầu Rầm, Mỹ Lộc, Đồng Chiêm, Con Cuông và gần đây nhất là Mỹ Yên… là những chứng tích về bách hại tôn giáo tại Việt Nam. Xin mọi người hãy lên tiếng bảo vệ quyền tự do tôn giáo đúng nghĩa vì “Tự do tôn giáo là quyền lợi, chứ không phải ân huệ xin-cho”, đúng như lời khẳng định của Đức Tổng Giám Mục Giuse Ngô Quang Kiệt.
Những biến cố xảy đến trong Giáo Hội vài năm gần đây là tiếng nói ngôn sứ thức tỉnh mọi người hãy cứu lấy Giáo Hội và quê hương Việt Nam. Trong tháng Mân Côi năm nay chúng ta cùng dâng lên Mẹ tràng hoa Mân Côi, cùng ăn năn đền tội, hy sinh, cầu nguyện cho Giáo Hội, quê hương thân yêu và hiệp thông với Giáo Hội hoàn vũ như lời vị Cha chung mong ước. Đó là tâm tình Mẹ đã nhắn nhủ trong những lần hiện ra tại Fatima, ước nguyện lần chuỗi Mân Côi Mẹ đã truyền cho Thánh Đa Minh như một phương thức cứu rỗi nhân loại.
Đức Thánh Cha Gioan XXIII đã có lần nói: “Người ta không thể làm người mà không có luân lý đạo đức. Người ta không thể làm Kitô hữu mà không có lòng ăn năn hoán cải và đền bù tội lỗi”.
Mẹ ơi, đoái thương xem nước Việt Nam !
Chú thích:
Đây là tác phẩm quý giá của một điêu khắc gia nổi tiếng Bồ Đào Nha, không phải là tượng chính thức đặt tại Đền Thánh Fatima với hình Mẹ chắp tay. Tượng được tạc bằng gỗ sồi, thực hiện ngay tại Fatima, dưới sự hướng dẫn Chị Lucia, người được diễm phúc xem thấy Đức Mẹ. Tượng cao 1m20, nét mặt dịu hiền, đầu đội triều thiên, tỏ trái tim nơi ngực, có vòng gai cuốn chung quanh trái tim; tay phải cầm tràng hạt rũ xuống, tay trái giơ ra như mời gọi mọi người hãy đến với Mẹ nhân lành. Đức Cố Giáo Hoàng Gioan 23 đã làm phép Thánh Tượng với mục đích đem đi thăm viếng ủi an các bệnh nhân trên khắp thế giới…
Đạo Binh Xanh cùng với các đoàn thể, đã tổ chức cuộc tiếp đón và cung nghinh Thánh Tượng Mẹ từ phi trường Tân Sơn Nhất về Công Trường Hòa Bình, trước Vương Cung Thánh Đường Sàigòn một cách hết sức trọng thể. Vị Khâm Sứ Tòa Thánh tại Việt Nam, Đức Cha Angelos Palmas, sau khi chủ sự nghi lễ cung nghinh chào mừng Thánh Tượng, sáng kiến phát động ngay chiến dịch "toàn quốc hiến dâng đau khổ" làm bó hoa thiêng dâng kính Trái Tim Mẹ, trong suốt thời gian Mẹ ở lại Việt Nam.
Khắp nơi khao khát được rước Thánh Tượng Mẹ đến an ủi viếng thăm, làm cho thời gian Thánh Du không còn là vài ba tháng, nhưng là dài tới 3 năm: 1965 – 1967. Thánh Tượng Mẹ đi tới đâu, mang ơn phúc cho con cái Mẹ, nhất là bằng an tâm hồn. Trong thời gian ở tại Việt Nam, Thánh Tượng Mẹ đã lần lượt được rước đi thăm viếng hết giải đất Việt Nam tự do, từ Bến Hải đến tận mũi Cà Mau: các tỉnh, Giáo Phận, Giáo Xứ, Chủng Viện, Dòng Tu, bệnh viện, trụ sở, căn cứ và cả tới những lao tù cũng được Thánh Tượng Mẹ tới thăm an ủi con cái đau thương của Mẹ. Những miền thiếu an ninh, đường xá nguy hiểm thì đã liệu cho trực thăng đem Thánh Tượng Mẹ tới tận nơi an toàn. Những năm gần đây, Thánh Tượng được tôn kính tại Trung Tâm Quốc Tế Đạo Binh Xanh Fatima.
HẠNH NGUYÊN, Boston, 7.10.2013

 

07/10-155: KINH MAI KHÔI BẢO VỆ SỰ SốNG

“Mỗi thai nhi không được sinh ra, bị phá thai nhẫn tâm, đều có khuôn mặt của Đức Giêsu Kitô, khuôn mặt của Chúa” ( Đức Giáo Hoàng Phanxicô ).
 

Tháng Mười là tháng Mai Khôi, và Chiến dịch 40 Ngày Bảo Vệ Sự Sống bắt đầu từ ngày 25 tháng 9: 07/10-155

Tháng Mười là tháng Mai Khôi, và Chiến dịch 40 Ngày Bảo Vệ Sự Sống bắt đầu từ ngày 25 tháng 9 ( Xin xem www.40daysforlife.com ). Tôi mời gọi mọi người Công Giáo lần Chuỗi Mai Khôi không chỉ để cầu xin chấm dứt sự phá thai mà còn xin ơn chữa lành và tha thứ cho những người đã phạm tội phá thai. Xin bạn cầu nguyện rằng cộng đồng Bảo Vệ Sự Sống sẽ thực hiện Ý Chúa để thay đổi những trái tim và những đầu óc qua tình yêu thương và lời cầu nguyện.
Tôi thường lần Chuỗi Mai Khôi xin ơn Bảo Vệ Sự Sống, đặc biệt trong Chiến dịch 40 Ngày Bảo Vệ Sự Sống. Tôi thường lần Chuỗi Mai Khôi Mùa Thương, có vẻ thích hợp hơn, nhưng mới đây tôi có linh cảm cầu nguyện bằng Chuỗi Mai Khôi Mùa Vui. Khi tôi suy niệm, tôi nghĩ về cách mà mỗi mầu nhiệm đều có sứ điệp Bảo Vệ Sự Sống.
Khi Sứ Thần truyền tin, Đức Maria là một cô gái trẻ, chưa kết hôn, và sẽ phải đối mặt với cái chết nếu người ta biết thôn nữ Maria có thai khi chưa chính thức tổ chức đám cưới. Nhưng Mẹ Maria vẫn vững tin vào Ý Chúa mặc dù cuộc đời sẽ hoàn toàn thay đổi. Có thai ngoài ý muốn là điều rất khủng khiếp. Chúng ta có thể cầu nguyện cho các phụ nữ ở vào tình trạng này sẽ mở lòng ra với kế hoạch của Thiên Chúa và tin tưởng vào sự trợ giúp của Ngài.
Khi đi thăm người chị họ Êlidabét, Mẹ Maria đã đem Chúa Giêsu vào thế giới. Dù ở trong lòng Mẹ, Chúa Giêsu vẫn tác động đến người khác, làm cho Thánh Nữ Êlidabét được tràn đầy Thánh Thần và thai nhi Gioan nhảy mừng. Chúng ta hãy cầu nguyện cho càng ngày càng có nhiều người nhận biết thai nhi là người duy nhất sẽ làm ảnh hưởng thế giới.
Lễ Giáng Sinh cho chúng ta niềm vui của sự sống mới. Chúa Giêsu sinh ra trong cảnh nghèo khó, nhưng xung quanh Ngài đầy tình yêu và niềm vui. Đức Mẹ và Đức Thánh Giuse, các mục đồng, các thiên thần, các súc vật và các đạo sĩ từ phương xa tới thờ lạy Hài Nhi là Đấng Cứu Thế. Thiên Chúa chọn cảnh nghèo khó, bơ vơ, và hèn mọn. Chúng ta hãy cầu nguyện cho các thai phụ nhận biết thai nhi là tặng phẩm của Thiên Chúa dù cho tình cảnh có khó khăn và thất vọng thế nào.
Khi Đức Mẹ và Đức Thánh Giuse đưa Con Trẻ Giêsu lên Đền Thờ Giêrusalem để dâng con theo luật dạy, trước tiên họ phải dâng lễ hy sinh. Nuôi dưỡng con cái liên quan nhiều sự hy sinh. Không may là trong thời đại chúng ta lại đề cao sự ích kỷ và tiện nghi, nhiều người không quen hy sinh và vị tha. Chúng ta hãy cầu nguyện cho các bậc cha mẹ sẵn sàng hy sinh cho con cái, không cho chúng mọi thứ mà chúng muốn, nhưng biết dạy chúng nhân đức điều độ, biết kiềm chế bản thân.
Khi cha mẹ tìm thấy Con Trẻ trong Đền Thờ, Chúa Giêsu là một thiếu niên với đầy tư tưởng và ước muốn riêng, nhưng Con Trẻ Giêsu vẫn vâng lời cha mẹ. Chúng ta hãy cầu nguyện cho các bậc cha mẹ biết khuyến khích những ước muốn và ước mơ của con cái khi giúp chúng nhận thức Ơn Gọi của chúng qua việc cầu nguyện thường xuyên.
PEGGY BOWES
TRẦM THIÊN THU dịch từ IntegratedCatholicLife.org,
Tháng Mai Khôi 2013

 

07/10-156: SAO KHÔNG

Đức Ông Thi sĩ Xuân Ly Băng viết bài thơ “Sao không”, rất tâm tình và thật lắng sâu vào lòng người. 07/10-156

Đức Ông Thi sĩ Xuân Ly Băng viết bài thơ “Sao không”, rất tâm tình và thật lắng sâu vào lòng người. Lời thơ mời gọi hãy siêng năng cầu nguyện với Đức Mẹ bằng kinh Mai Khôi. Nhạc sĩ Thông Vi Vu dệt thành ca khúc “Sao không”. Tam Ca Áo Trắng hát với cả tâm hồn mến yêu. Tháng Mai Khôi nghe ca khúc “Sao không”, thấy lòng lâng lâng tình thương của MẸ, nghe ơn thánh trải qua từng lời kinh.
Sao em không lần chuỗi ?
Những lúc trời gió mưa,
Khi đêm về tăm tối,
Khi lá rụng vườn trưa.
Sao em không lần chuỗi ?
Khi trời mới rạng đông,
Khi sương mai ngọt bùi,
Tỏa ngát trên ruộng đồng.
Sao em không lần chuỗi ?
Cảm tạ MẸ nhân lành
Ơn MẸ như mưa tưới,
Hồn em cánh đòng xanh.
Sao không lần chuỗi ?
Sao không lần chuỗi ?
Bước đường em đi tới,
Lần chuỗi nhé em ơi !
Sao em không lần chuỗi ?
Mái tóc thề chấm vai,
Bâng khâng ngày dong duổi
Nhung nhớ bóng hình ai.
Sao em không lần chuỗi ?
Khi lặng ngắm chiều buông,
Trong cô đơn ngậm ngùi,
Lệ đắng chảy vào hồn.
Sao em không lần chuỗi ?
Cảm tạ MẸ nhân lành
Ơn MẸ như mưa tưới,
Hồn em cánh đồng xanh.
Sao không lần chuỗi ?
Khi trái gió trở trời,
Em mong manh yếu đuối,
Đến cùng MẸ em ơi.
Mẹ Maria rất hài lòng khi con cái siêng năng lần chuỗi Mai Khôi cách sốt sắng. Đức Mẹ đã từng nói điều này với Bernađetta khi Đức Mẹ hiện ra với Thánh nữ tại Lộ Đức. Đức Mẹ cũng dạy cho ba trẻ  tại Fatima nhận biết năng lực của kinh Mai Khôi và Mẹ đã giới thiệu mình là Mẹ Mai Khôi rồi cùng lần hạt với ba trẻ như muốn giới thiệu Kinh Mai Khôi là “kinh kỳ diệu”.
Đức Giáo Hoàng Piô V thiết lập lễ Mẹ Mai Khôi để tạ ơn Đức Mẹ và ghi nhớ chiến thắng của Hải quân Kitô giáo với quân Thổ Nhĩ Kỳ tại trận Lepanto ngày 7 tháng 10 năm 1571. Chiến thắng là nhờ các tín hữu lần Chuỗi Mai Khôi dâng kính Đức Mẹ ở Rôma vào ngày giao chiến. Một phép lạ của Đức Mẹ trong Tháng Mai Khôi.
Đức Giáo Hoàng Leo XIII đã thiết lập Tháng Mười là Tháng Mai Khôi vào ngày 1 tháng 9 năm 1883 và đã công bố 11 Tông thư về Chuỗi Mai Khôi trong triều đại Giáo Hoàng của ngài.
Suốt tháng Mai Khôi, Hội Thánh khắp nơi hướng về Đức Mẹ một cách đặc biệt. Lòng sùng kính của dân Chúa đối với Đức Mẹ trong thời gian này là cầu nguyện bằng chuỗi Mai Khôi. Đây là một bộ kinh gồm 200 kinh Kính Mừng, vừa đọc vừa suy gẫm 20 sự kiện quan trọng xảy ra trong cuộc đời Đức Giêsu và Mẹ Maria. Cứ đọc 10 kinh Kính Mừng thì đồng thời suy gẫm một sự kiện. 20 sự kiện ấy được chia làm 4 nhóm:
- Năm sự vui: gồm 5 sự kiện trong cuộc đời thơ ấu của Đức Giêsu.
- Năm sự sáng: gồm 5 sự kiện trong cuộc đời công khai của Đức Giêsu.
- Năm sự thương: gồm 5 sự kiện trong cuộc thương khó của Đức Giêsu.
- Năm sự mừng: gồm 5 sự kiện vinh quang.
20 mầu nhiệm ấy là những sự kiện cốt yếu trong Tin Mừng. Lần chuỗi Mai Khôi là suy gẫm Tin Mừng, theo kiểu miệng đọc tâm suy. Miệng đọc các kinh Kính Mừng kính Mẹ Maria, tâm suy niệm những sự kiện quan trọng của cuộc đời Đức Giêsu. Đó chính là bản tóm tắt cuộc đời của Chúa Giêsu Kitô và cũng là của Đức Maria. Thánh Giáo Hoàng Phaolô VI trong Tông huấn “Marialis Cultus” đã gọi Kinh Mai Khôi là “Cuốn Phúc Âm rút gọn”. Hơn ai hết, Đức Mẹ đã cùng với Con bước các chặng đường Vui – Sáng – Thương – Mừng với tinh thần của lời “xin vâng” mà Mẹ đã tuyên xưng trước khi Ngôi Lời Thiên Chúa nhập thể làm người trong cung lòng Mẹ.
Chuỗi Mai Khôi mang hai đặc điểm nổi bật là chất Tin Mừng và tính Hội Thánh. Chuỗi Mai Khôi là một bản tóm tắt gọn gàng, dễ nhớ về những biến cố quan trọng trong cuộc đời Chúa Cứu Thế. Mai Khôi là những bông hồng đẹp được tượng trưng bằng các kinh Kính Mừng để tôn vinh Người. Đức Mẹ đã có mặt trong cuộc đời Chúa Cứu Thế từ những giây phút đầu cho đến những giây phút cuối.
Kinh Mai Khôi là lời kinh phổ cập, đó là kinh của mọi tín hữu. Ai cũng đọc được, từ người trẻ cho đến người già, người thông thái cũng như người ít học, người giàu hay người nghèo, người khỏe mạnh cũng như người đau yếu, khi vui cũng như lúc buồn, khi làm việc cũng như lúc nghỉ ngơi. Kinh Mai Khôi có thể đọc được ở bất cứ đâu hay trong hoàn cảnh nào, ở nhà thờ, ở nhà mình, ở ngoài đường, trong nơi yên lặng hay giữa chốn ồn ào náo động và nhất là đọc chung với nhau trong gia đình hay những khi có đông người công giáo họp nhau lại. Đọc Kinh Mai Khôi với ý thức là mình đang làm một công việc có chất Tin Mừng, được Hội Thánh công nhận và nhiệt tình khuyến khích, một công việc thu tóm lại tất cả cuộc đời Chúa Cứu Thế. Sau khi đã chiêm ngắm những mầu nhiệm ấy, người tín hữu còn cầu xin những điều hết sức đơn sơ như “xin ơn khiêm nhường, yêu người, khó nghèo”.
Mai Khôi chính là hoa hồng. Mai Khôi là bông hồng đẹp, viên ngọc quý. Như thế, bằng chuỗi Mai Khôi, Hội Thánh trở thành một vườn hồng mênh mông, hương thơm sắc đẹp, dâng lên Mẹ hiền.
Nói đến Mai Khôi là nói đến hoa. Những bông hoa muôn màu muôn sắc dâng trước tòa Mẹ. Những bông hoa kinh nguyện sốt sắng kết dệt nên những lời ca tụng Mẹ. Những bông hoa hy sinh, bác ái muốn tỏa hương dưới chân Mẹ.
Những bông hoa nói lên lòng yêu mến của con cái đối với Mẹ hiền. Những bông hoa cũng cố gắng diễn tả phần nào nét đẹp của Mẹ. Thật vậy, giữa ngàn hoa, Đức Maria nổi bật như bông hoa cao quý xinh đẹp nhất. Đẹp đến độ "đẹp lòng Thiên Chúa". Đức Maria là bông hoa thanh khiết diễn tả được nét đẹp của Thiên Chúa vì Mẹ là tác phẩm của Chúa Thánh Thần. Chúa Thánh Thần "rợp bóng trên Mẹ" nên Mẹ sống dưới sự che chở của Thánh Thần, theo ơn hướng dẫn của Thánh Thần và sống trong tình yêu của Thánh Thần.
Thiên Chúa muốn Con của Ngài vào đời làm người, nên đã chuẩn bị cho Con một người mẹ tuyệt hảo. Maria là người được Thiên Chúa đặc biệt mến thương. Thiên Thần gọi Mẹ là “Đấng đầy ân sủng”, là người được “Đức Chúa ở cùng”, là người “đẹp lòng Thiên Chúa” .

 Maria đã là một thụ tạo tuyệt vời ngay từ trước khi làm Mẹ Đức Giêsu. Nhưng Thiên Chúa vẫn tôn trọng tự do của Mẹ. Ngài cần sự ưng thuận của một thụ tạo nhỏ bé trước khi trao cho Maria chức vụ làm Mẹ Đấng Cứu Thế. Tiếng “xin vâng” khởi đầu cho một chuỗi xin vâng làm nên cuộc đời người nữ tỳ của Chúa.
Kinh Mai Khôi là một chuỗi “xin vâng” của người tín hữu dâng Thiên Chúa, theo mẫu gương đáp trả của Mẹ Maria.
Tràng chuỗi Mai Khôi là một phương thế giúp chúng ta gần gũi thiết thân với Mẹ Maria.
Đức Thánh Cha Piô X đã nhắn nhủ các gia đình Công giáo: “Khi gia đình được an vui hòa thuận, hãy lần chuỗi Mai Khôi để xin Mẹ ban cho sự an vui hòa thuận yêu thương. Khi gặp người chồng thiếu trách nhiệm, hãy chạy đến với Mẹ nhờ tràng chỗi Mai Khôi, để xin Mẹ cảm hóa mình. Khi vợ chồng xung khắc nhau, hãy lần chuỗi Mai Khôi, xin Mẹ tạo sự cảm thông “.
Thánh Gioan Phaolô II, ngay trong tuần lễ sau khi đắc cử Giáo Hoàng, đã nói với tất cả các tín hữu hiện diện tại quảng trường Thánh Phêrô khi đọc kinh Truyền Tin: “Chuỗi Mai Khôi là lời cầu nguyện mà tôi yêu thích nhất. Đó là lời kinh tuyệt vời. Tuyệt vời trong sự đơn giản và sâu sắc. Với lời kinh này chúng ta lập lại nhiều lần những lời mà Đức Trinh Nữ đã nghe sứ thần Gabriel và người chị họ Êlisabet nói với Mẹ. Toàn thể Giáo Hội cùng liên kết với những lời kinh ấy”.
Khi đọc sự tích về các cuộc Đức Mẹ hiện ra, dù ở Lộ Đức hay ở Fatima, dù ở Guadalupe hay ở Mễ Du, hay ở La Vang…. chúng ta đều thấy Đức Mẹ nhắn nhủ người tín hữu hãy canh tân đời sống và siêng năng lần hạt Mai Khôi để làm đẹp lòng Thiên Chúa: “Ta là Đức Mẹ Mai Khôi, ta đã đến để cảnh báo các tín hữu canh tân đời sống và xin ơn tha thứ tội lỗi của họ. Họ không được xúc phạm đến Thiên Chúa nữa, vì Ngài đã quá phiền muộn vì tội nhân loại. Loài người hãy lần chuỗi Mai Khôi. Họ hãy tiếp tục lần chuỗi hàng ngày. ” ( Thông điệp Đức Mẹ gởi cho chị Lucia 13.10.1917 ).
Thánh Đaminh là người có công rất lớn trong việc quảng bá việc đọc kinh Mai Khôi để cầu xin Chúa bảo vệ Hội Thánh trước sự tấn công của kẻ thù.
Thánh Piô Năm Dấu Thánh chia sẻ: “Vũ khí của tôi là tràng hạt Mai Khôi. Đức Mẹ không từ chối tôi điều gì khi tôi xin với Mẹ qua chuỗi Mai Khôi. Muốn làm Đức Mẹ vui lòng và muốn được Đức Mẹ thương yêu hãy lần chuỗi Mai Khôi”.
Còn cha Stefano Gobbi viết: “Chuỗi Mai Khôi mang lại hòa bình cho bạn. Với lời Kinh Mai Khôi, bạn sẽ có thể nhận được từ Thiên Chúa hồng ân vĩ đại nhất là canh tân đời sống, thu phục các linh hồn về với Chúa trong sự ăn năn tội, tình yêu và thánh ân”. Và “Chuỗi Mai Khôi là lời kinh của tôi. Những lời kinh này dù khiêm nhường và mong manh cũng sẽ nên như xích sắt để khóa lại quyền lực tối tăm của thế giới, kẻ thù của thế giới và của các tín hữu” .
Chuỗi hạt Mai Khôi nuôi dưỡng đời sống nội tâm phong phú. Chuỗi Mai Khôi làm lòng người lắng dịu, thanh thản bình an để chiêm ngắm cuộc đời Chúa Giêsu và ca ngợi Mẹ Maria. Cầm Chuỗi Mai Khôi trên tay, chúng ta sẽ thấy mình được tăng thêm nghị lực, sống vươn lên với niềm Tin, Cậy, Mến. Hãy tập thói quen đọc kinh Mai Khôi hàng ngày. Kinh Mai Khôi là hành trang gọn nhẹ giúp thánh hóa bản thân gia đình và xã hội. Nhớ mang theo một tràng chuỗi Mai Khôi trong túi áo, hay đeo chuỗi mười hạt ở tay, mình rất dễ tìm thời giờ mỗi ngày để đọc lời kinh phong phú này. Chuỗi hạt Mai Khôi mang đến vô vàn ơn phúc huyền diệu cho con người.
Chuỗi Mai Khôi diệu vời như thế, “sao em lại không lần chuỗi” ? Hãy siêng năng “lần chuỗi nhé em ơi” !
Lm. Giuse NGUYỄN HỮU AN

 

07/10-157: THIÊN CHÚA Ở CÙNG MẸ

Ngày 19.9.1846, khi các Tu Sĩ đang hát kinh tại Nhà Thờ, đến câu: “Ôi, lênh láng thay những dòng 07/10-157

Ngày 19.9.1846, khi các Tu Sĩ đang hát kinh tại Nhà Thờ, đến câu: “Ôi, lênh láng thay những dòng nước mắt của Mẹ…” thì trên đỉnh núi Salette nước Pháp, gần dãy núi Alpes, Đức Mẹ hiện ra với hai em chăn chiên Mélanie và Maximin. Đức Mẹ vừa nói vừa khóc: “Khốn cho nhân loại, Chúa sắp nổi cơn giận dữ, giáng xuống trần gian bao nhiêu tai họa. Chúa ruồng bỏ loài người và đổ hình phạt liên tiếp xuống trong 35 năm.” Mélanie đã tiết lộ trước khi qua đời rằng: “Từ khi hiện ra đến lúc biến đi, Đức Mẹ chỉ khóc nức nở. Những giọt lệ, từ trên gò má lăn xuống lấp lánh như những viên ngọc. Trong dịp này Đức Mẹ đầy tình âu yếm nhắn nhủ người ta biết sống cầu nguyện, năng lần chuỗi Mai Khôi, thánh hoá các ngày lễ trọng và Chủ Nhật.”
Ở vùng La Salette này, nằm giữa dãy Núi Alpes. Dân chúng nghèo nàn, làm nghề chăn nuôi bò cừu. Hai em thả đàn cừu đi uống nước dưới suối, rồi tìm ghế ngồi nghỉ. Khi trở về chỗ cũ, hai em thấy một bàu lửa sáng rực. Rồi hiện ra một bà xinh đẹp ngồi ngay trên ghế đá. Bà tì khuỷu tay lên đầu gối, hơi nghiêng mình về phía trước, có vẻ buồn sầu vô hạn. Các em sợ quá, định lùi lại. Nhưng bà đứng lên bảo các em: “Các con đừng sợ, hãy đến đây với Ta.” Bà nói:“Nếu người ta không chịu cải thiện đời sống. Ta không còn cách nào ngăn cản cánh tay công thẳng của Con ta được. Ta không bỏ các con. Nhưng trái lại chúng con không làm như vậy. Những kẻ đau thương cũng không biết đến Ta chỉ kêu ca nguyền rủa. Mùa màng hoa màu hư hỏng là tại các con. Hai con phải năng đọc kinh sáng tối lần chuỗi hạt Mai Khôi kính Ta.” Sau cùng, Đức Mẹ bảo các em truyền bá cho người ta những điều Đức Mẹ dạy… ( Đức Mẹ La Salette ).
Trong bài Tin Mừng của Lễ Mẹ Mai Khôi, các Tông Đồ thưa với Đức Giêsu rằng: "Xin Thầy ban thêm lòng tin cho chúng con." Chúng ta hiệp ý khấn xin Mẹ Mai Khôi nhân đức quan trọng bậc nhất này. May mắn thay, Mẹ Maria đã thương ban cho người Kitô hữu tràng chuỗi Mai Khôi. Mỗi khi lần chuỗi, là làm một cuộc hành trình đức tin với Mẹ Maria. Cuộc lữ hành trình đầy thử thách gian khổ, sầu bi, nhưng cũng tràn đầy vui mừng, hy vọng.
Thiên Chúa ở cùng Mẹ
Mẹ không chỉ tin, mà Mẹ còn hoàn toàn trông cậy, nồng nàn yêu mến, luôn sống đẹp lòng Chúa với tâm tình khiêm hạ, đơn sơ, trong sạch, nghèo khó. Sứ thần Gabriel đến kính chào Mẹ: "Mừng vui lên, hỡi Ðấng đầy ân sủng, Ðức Chúa ở cùng bà” ( Lc 1, 28 ).
Khi Thiên Chúa yêu thương, tuyển chọn và gọi một ai đó thi hành sứ vụ quan trọng, vượt khả năng, sức lực, trình độ của họ, Người thường hứa chắc chắn: “Ta sẽ ở với ngươi”, chẳng hạn, với Giacóp ( St 28,13-15 ); với Môsê ( Xh 3,12 ), với Giôsuê ( Gs 1, 5.9 ), với Đavít ( 2Sm 7, 3 ), với Giêrêmia ( Gr 1, 6-8 ), với Đức Maria ( Lc 1, 28 ), với Phaolô ( Cv 18, 10 )...
“Thiên Chúa ở cùng” là hồng ân vô cùng cao quý, là hạnh phúc tuyệt đỉnh vô song, nhưng kèm theo biết bao đau khổ, gian lao, thử thách, hòng tôi luyện bản thân cho xứng đáng. Từ khi thân thưa hai tiếng “Xin Vâng,” Mẹ Maria sẽ chịu bao khổ ải, bao bất hạnh. Chịu nghi ngờ, khốn khổ khi mang thai, phải trốn chạy khỏi bị vua Hêrôđê truy sát, chịu lâm bồn nơi chuồng bò lừa hôi hám. Hoảng hốt thấy mất Con. Long đong theo Con giảng dạy. Kinh hoàng cuộc khổ nạn. Tan nát cõi lòng dưới chân thập tự.
“Thiên Chúa ở cùng” với các chứng nhân Tử Vì Đạo, ban sức mạnh anh dũng cho các ngài hy sinh chịu nhục hình, cũng như sẵn sàng hiến mạng sống vì Đức Tin. “Thiên Chúa ở cùng” với toàn thể Kitô hữu trong Hội Thánh chiến đấu, để trở nên chứng nhân giữa đời.
Mẹ cưu mang Con Chúa
Bà chị Elidabet vui mừng thấy cô em Maria đến thăm, đã hớn hở chúc mừng Mẹ: "Em được chúc phúc hơn mọi người phụ nữ, và người con em đang cưu mang cũng được chúc phúc” ( Lc 1, 42 ). Không chỉ sứ thần Gabriel từ trời xuống chúc tụng Mẹ, mà cả đến người trần cũng cung kính tuyên dương hồng phúc của Mẹ Maria.
Nhưng Đức Giêsu còn làm hơn thế nữa, đi xa hơn nữa, khi công khai tuyên bố rằng, những ai nghe và thực hành Tin Mừng, cũng đều trở nên anh chị em và mẹ của Người.“Mẹ tôi và anh em tôi, chính là những ai nghe lời Thiên Chúa và đem ra thực hành” ( Lc 8, 21 ).
Vậy còn diễm phúc nào hơn, tất cả những ai tuân thủ Tin Mừng, đều có thể mang Chúa, có Chúa hiện diện trong tâm hồn. Không chỉ nghe và thực hành, mới được Chúa đến ở cùng, mà hơn nữa, qua mầu nhiệm Thánh Thể, chính Mình Thánh Chúa Giêsu còn yêu thương, từ bi, lân tuất, khiêm hạ, ngự vào trong lòng tín hữu.
Emmanuel
“Chỉ có một Thiên Chúa và là Cha mọi người hết thảy, Ðấng trên mọi người, giữa mọi người, và trong mọi người” ( Ep 4, 6 ). Thiên Chúa vẫn đang ở cùng nhân loại cho đến tận thế, tuy âm thầm, kín đáo và khiêm cung. Không chỉ ở trong Kitô hữu, mà còn ở trong tất cả mọi người, kể cả người không tin Chúa, từ chối Chúa. Vì ai cũng đều mang dấu ấn Đấng Tạo Hoá. “Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh mình, Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh Thiên Chúa, Thiên Chúa sáng tạo con người có nam có nữ” ( St 1, 27 ).
Ngài quảng đại, hiện hữu ngay trong những người bạc phận, bé nhỏ, khốn nghèo, bệnh hoạn, tù đầy, bị xua đuổi, ruồng rẫy ra khỏi cộng đồng, sống bên lề xã hội. “Vì xưa Ta đói, các ngươi đã cho ăn; Ta khát, các ngươi đã cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi đã tiếp rước; Ta mình trần, các ngươi đã cho mặc; Ta đau yếu, các ngươi đã viếng thăm; Ta bị tù đày, các ngươi đã đến với Ta" ( Mt 25, 35-36 ).
Mở đầu và kết thúc Tin Mừng, Thánh Matthêu cố tình làm nổi bật sứ vụ của Đức Giêsu, khi bắt đầu bằng Emmanuel, Thiên Chúa Ở Cùng, và kết thúc bằng lời hứa cam kết với các Tông đồ và với nhân loại: “Thầy ở với anh em mọi ngày cho đến tận thế" ( Mt 28, 20 ).
Lời chào của Thiên Thần: "Kính mừng Bà đầy ơn phước, Thiên Chúa ở cùng Bà..." và lời chào của Hội Thánh: "Chúa ở cùng anh chị em" có mang một ý nghĩa sâu xa, khả dĩ biến đổi cuộc đời con không ? ( Đường Hy Vọng, số 238 ).
“Lạy Chúa con chỉ là đầy tớ vô duyên, là đầy tớ vô duyên, vô duyên bất tài, con vô duyên bất tài. Nhưng con trung tín chân thành. Nhưng con trung tín chân thành. Con luôn trung tín chân thành.” ( Hải Linh và Lm. Vũ Đình Trác, Tình Chúa Yêu Tôi ).
Kính xin Mẹ cầu bầu cho chúng con ý thức sâu xa hai lời chào Mẹ, để chúng con biết Chúa luôn yêu thương ở cùng, giúp chúng con chiến thắng bản thân, vượt qua cám dỗ thử thách, nhân ái với tha nhân, mãi đồng hành cùng Mẹ trên đường hy vọng. Amen.
AM. TRẦN BÌNH AN

 

07/10-158: Kinh Mân Côi – Lời kinh cuộc đời

(Lễ Mân Côi 2016 – ĐGM. Giuse Vũ Văn Thiên)
 

Trình thuật về cuộc gặp gỡ giữa Sứ thần Gabrien với Trinh nữ Maria trong Tin Mừng Thánh Luca 07/10-158

Trình thuật về cuộc gặp gỡ giữa Sứ thần Gabrien với Trinh nữ Maria trong Tin Mừng Thánh Luca đã trở thành điểm khởi đầu cho một chuỗi 20 mầu nhiệm Mân Côi, được chia ra bốn phần: Mùa Vui, Mùa Sáng, Mùa Thương và Mùa Mừng.
Với lời thưa “Xin vâng” của Trinh nữ Maria, Ngôi Lời đã nhập thể làm người và cư ngụ giữa nhân loại. Đây là khởi đầu của một cuộc sáng tạo mới. Cuộc sáng tạo thứ nhất đã bị hoen màu tội lỗi do sự bất tuân của Ađam và mọi thế hệ kế tiếp. Trong Đức Giêsu, Thiên Chúa sẽ canh tân mọi vật mọi loài. Khởi đi từ mầu nhiệm Truyền tin, Kinh Mân Côi dẫn chúng ta từng bước theo Đấng Cứu thế, chiêm ngưỡng và suy tư từng biến cố của cuộc đời Người. Từ thời thơ ấu của Chúa ở làng quê Nagiarét, đến tuổi trưởng thành, lên đường thực thi sứ vụ loan báo Tin Mừng. Từ lời giảng dạy đơn sơ mà đầy khôn ngoan đến những phép lạ kỳ diệu chứng minh quyền năng Thiên Chúa. Từ cuộc khổ hình thập giá đến sự phục sinh và lên trời vinh quang. Mỗi mầu nhiệm đều mời gọi chúng ta đón nhận những thông điệp Chúa muốn truyền đạt. Qua Kinh Mân Côi, dung nhan Chúa Giêsu được phác họa, giáo huấn của Người được chuyển tải và tình thương của Thiên Chúa được thể hiện.
Một nhân vật luôn hiện diện trong suốt hai mươi mầu nhiệm Mân Côi, đó là Trinh nữ Maria thành Nagiarét. Qua lời Sứ thần truyền tin, Đức Maria được Chúa mời gọi cộng tác với Ngài trong chương trình nhập thể và cứu độ con người. Trong mọi biến cố của cuộc đời Chúa Giêsu, Mẹ luôn diện hiện một cách âm thầm, khiêm tốn. Đó không phải là sự hiện diện thụ động, cam chịu, nhưng là sự đồng hành, cảm thông, cộng tác với Chúa Giêsu. Nếu mọi hành động của Chúa Giêsu đều có giá trị cứu rỗi nhân loại, thì Đức Mẹ là người cộng tác thiết thân gần gũi vào những hành động ấy. Vì vậy, Đức Mẹ được tuyên xưng là Đấng Đồng công cứu chuộc. Từ mầu nhiệm thứ nhất là Truyền tin, cho đến mầu nhiệm cuối cùng là việc Đức Mẹ được Chúa thưởng triều thiên vinh quang, chúng ta thấy chân dung và cuộc đời Đức Mẹ được phác họa một cách đầy đủ và sâu sắc. Đức Mẹ từng bước chiêm ngắm những giai đoạn khác nhau của cuộc đời Đấng Cứu thế, cũng là con của Mẹ. Mẹ gắn bó mật thiết với Chúa Giêsu, đến nỗi ta có thể gọi Mẹ là người môn đệ đầu tiên và môn đệ trọn lành của Người. Thánh Luca đã viết: “Riêng mẹ Người thì hằng ghi nhớ tất cả những điều ấy trong lòng” (Lc 2,51). Đức Mẹ vui niềm vui của Chúa Giêsu, khi Người được người ta lắng nghe và ca ngợi tôn vinh. Đức Mẹ chia sẻ sự đau khổ của con mình, khi Người bị xúc phạm, sỉ nhục và nhất là khi Người chịu đóng đinh trên thập giá. Bốn giai đoạn Vui, Sáng, Thương, Mừng trong kinh Mân Côi, vừa phác họa cuộc đời Đấng Cứu thế, vừa diễn tả hành trình đức tin của Đức Mẹ. Hai mầu nhiệm cuối cùng, tức là sự chết lành của Đức Mẹ và việc Người được tôn vinh trên hết các triều thần thánh, là phần thưởng cho một đời trung kiên, đồng thời cộng tác với Chúa Giêsu để mang lại ơn cứu độ cho trần gian. Suy niệm mỗi mầu nhiệm Mân Côi, chúng ta đọc mười kinh “Kính Mừng”. Khi đọc kinh này, chúng ta cùng với Đức Mẹ chiêm ngưỡng và suy tư những biến cố được diễn tả trong Tin Mừng, đồng thời cầu xin cho chúng ta được những ơn cần thiết trong đời sống, để trở nên môn đệ đích thực của Chúa Giêsu.
Bốn mùa Vui-Sáng-Thương-Mừng của cuộc đời Chúa Cứu thế cũng phác họa những giai đoạn khác nhau của cuộc sống chúng ta. Lúc sinh ra khỏi lòng mẹ là ta khởi đầu cuộc sống trần gian. Thế rồi, từng bước ta lớn lên trưởng thành vào đời. Cuộc đời dạy ta những bài học sâu sắc. Có những lúc thành công, có những khi thất bại. Mỗi lần thất bại làm ta già dặn kinh nghiệm hơn. Chắng có ai sống trên đời này mà không gặp gian nan thử thách. Từ bậc quân vương vua chúa cho tới thảo dân nô lệ, ai ai cũng phải trải qua những thử thách đau thương để từng bước trưởng thành. Kinh Mân Côi giúp ta nhìn thấy chính hình ảnh mình qua cuộc đời Chúa Cứu thế. Kinh Mân Côi cũng khẳng định với chúng ta, Chúa Giêsu đang hiện diện trong cuộc đời này. Người chia vui sẻ buồn với chúng ta. Người nâng đỡ chúng ta trên mọi bước đường trần gian. Người lau khô giọt lệ nơi đôi mắt chúng ta và khích lệ chúng ta trỗi dậy kiên cường trước phong ba bão táp của cuộc đời. Nếu ngày xưa, Chúa đã chịu khổ hình để dạy chúng ta bài học khiêm nhường và để bày tỏ tình thương của Thiên Chúa, thì hôm nay, Người lại đang đau khổ nơi những mảnh đời bất hạnh. Người đồng hoá với những người bị bỏ rơi, bị gạt ra bên lề cuộc sống. Vì thế, khi giúp đỡ người nghèo là chúng ta giúp đỡ Chúa (x. Mt 25, 31-46).
Cỗ tràng hạt rất gần gũi thân thuộc với người tín hữu chúng ta. Tràng hạt không phải là một đơn vị đong đếm, nhưng là mối dây liên kết chúng ta với Đức Mẹ với anh chị em mình. Tràng hạt cũng là chuỗi hoa hồng thiêng liêng, kết lại để dâng kính Mẹ Thiên Chúa. Mỗi kinh Kính Mừng là một đoá hồng huyền nhiệm, thể hiện lòng yêu mến hiếu thảo và cậy trông của chúng ta. Truyền thống Giáo hội công nhận Thánh Đaminh là người đã cổ võ lần hạt Mân Côi theo lệnh truyền của Đức Mẹ để đem lại bình an hiệp nhất cho Giáo hội, trong bối cảnh có nhiều rạn nứt, chia rẽ. Thánh Đaminh cũng là người đầu tiên kết những bông hoa hồng làm thành tràng hạt dâng kính Đức Mẹ, vì thế, chuỗt hạt ngày nay chúng ta sử dụng, dù được làm bằng chất liệu gì, cũng được gọi là “Chuỗi Mân Côi”, có nghĩa là tràng hoa hồng.
Miệng đọc, trí suy, tay lần tràng hạt, Kinh Mân Côi đơn giản mà huyền diệu. Mỗi kinh Kính mừng, ta lần một hạt, như tiến một bước trên đường đời, giúp ta đến gần Chúa Giêsu hơn. Qua Kinh Mân Côi, chúng ta gửi gắm nơi Đức Mẹ niềm vui nỗi buồn của cuộc đời nhân thế. Những chuỗi hạt thiêng liêng nhân lên mãi trong cuộc đời chúng ta, kéo ơn từ trời xuống, giúp ta nên thánh. Ước chi mỗi người tín hữu cảm nhận dồi dào ân sủng Chúa ban qua Kinh Mân Côi, để cuộc đời chúng ta được biến đổi và nên hoàn thiện.

 

07/10-159: Mẹ đầy ơn phúc – ĐGM. Giuse Vũ Văn Thiên

Ave Maria là lời chào của thiên sứ Gabrien khi đến gặp Đức Mẹ trong ngày truyền tin. Thiên 07/10-159

Ave Maria là lời chào của thiên sứ Gabrien khi đến gặp Đức Mẹ trong ngày truyền tin. Thiên sứ từ trời cao, xuống trần để gặp một phụ nữ khiêm hạ. Ave Maria vừa là lời chào, vừa là lời mời gọi hãy vui lên vì “Đức Chúa ở cùng Bà”.
Nhờ nhạc phẩm “Ave Maria”, tên tuổi của nhà soạn nhạc người Áo Franz Schubert được cả thế giới biết đến. Tuyệt tác của ông đã được dịch ra nhiều thứ tiếng. Nhiều danh ca nhờ bài thánh ca này mà được nổi danh ở tầm mức quốc tế. Thật tuyệt vời khi thấy Đức Trinh nữ Maria được ca tụng tôn vinh qua bài ca này. Từ những đại nhạc hội hàng ngàn hàng vạn thính giả, đến những nghệ sĩ violon hát rong ngoài đường phố, tất cả đều ca lên lời chào Đức Trinh nữ Maria: Mẹ đầy ơn phúc. Từ những tín hữu đạo đức đến những người vô tín ngưỡng, tất cả đều chăm chú cảm nhận những lời ca và âm điệu ngọt ngào của bài thánh ca để tôn vinh Mẹ Chúa Trời.
Ave Maria là lời chào của thiên sứ Gabrien khi đến gặp Đức Mẹ trong ngày truyền tin. Thiên sứ từ trời cao, xuống trần để gặp một phụ nữ khiêm hạ. Ave Maria vừa là lời chào, vừa là lời mời gọi hãy vui lên vì “Đức Chúa ở cùng Bà”. Qua lời chào kính trọng ấy, thiên sứ tỏ bày sự cung kính trước người phụ nữ được Chúa chọn làm thân mẫu của Ngôi Lời nhập thể. Khi muốn cứu chuộc con người, Thiên Chúa mời gọi sự cộng tác của một người phụ nữ. Ngài đã chọn Đức Trinh nữ Maria như một “điểm đỗ” để Con của Ngài giáng trần. Thánh Luca đã diễn tả cuộc gặp gỡ kỳ diệu ấy, là một cuộc gặp gỡ giữa trời với đất, giữa Thiên Chúa cao cả và con người phàm trần. Trinh nữ Maria đã thưa lời “Xin vâng” để mở lòng đón nhận Ngôi Lời nhập thể. Với lời thưa “Xin vâng” của Mẹ, Con Thiên Chúa đã đến thế gian, khởi đầu công cuộc cứu độ loài người.
“Kính mừng Maria đầy ơn phúc”, trước hết là lời kinh ca ngợi. Chúng ta hợp lời với sứ thần chào kính và ca tụng thiên chức cao cả của Đức Mẹ. Mẹ là người được Thiên Chúa chọn lựa trong muôn người, để làm ngai tòa cho Đấng Cứu thế ngự khi đến trần gian, mặc lấy thân phận con người. Lời Mẹ nói tiên tri về chính mình nay đã được thực hiện: “Từ nay, hết mọi đời, sẽ khen tôi diễm phúc” (Lc 2,48). Qua cuộc đời của Mẹ, chúng ta ca tụng quyền năng vô biên của Thiên Chúa, đã thực hiện những việc lạ lùng. Mẹ được tôn vinh làm Nữ Vương trời đất, cùng với Đức Giêsu là Vua Vũ trụ để chúc phúc cho muôn loài.
“Kính mừng Maria đầy ơn phúc”, đó là lời kinh của niềm phó thác cậy trông. Khi lần hạt Mân Côi, chúng ta xin Đức Mẹ cầu bầu cho chúng ta được những ơn lành phần hồn phần xác, nhất là được ơn trung thành như Đức Mẹ. Lời kinh thấm nhập mỗi con tim, diễn tả tâm tư trìu mến của chúng ta dành cho Mẹ. Lời kinh đem lại sự ngọt ngào mỗi khi chúng ta âu sầu đau khổ; đem lại hy vọng mỗi khi chúng ta gặp khó khăn thất bại; đem lại niềm vui mỗi khi chúng ta buồn bã; đem lại sức mạnh mỗi khi chúng ta yếu đuối; đem lại sự đỡ nâng mỗi khi chúng ta có nguy cơ gục ngã trên đường đời. “Thánh Maria Đức Mẹ Chúa Trời”, đó là lời cầu nguyện của Giáo Hội, cũng là lời cầu nguyện của mỗi con tim, xin Đức Mẹ bầu cử cho chúng ta đang còn bước đi trong cuộc sống dương gian đầy gian nan thử thách. "Kinh Mân côi không những kéo ơn trên trời xuống cho tội nhân, khiến họ mau mắn về với Mẹ, nhưng còn làm cho họ đứng vững trên con đường sùng kính mến yêu Mẹ. Nơi nào đông người chuyên chăm lần hạt, nơi ấy giáo hữu tiến nhanh trên đường thánh thiện, trái lại nơi nào thờ ơ, giáo hữu sẽ lâm vào tình trạng hư hỏng” (Thánh Grignion de Monfort).
“Kính mừng Maria đầy ơn phúc”, đó là lời kinh của tâm tình hiếu thảo chúng ta dâng lên Mẹ Thiên Chúa. Có người thắc mắc tại sao phải lặp đi lặp lại nhiều lần kinh Kính mừng khi lần hạt Mân Côi. Điều đó thật dễ hiểu! Người con hiếu thảo nào cũng muốn nói ngàn lần lời yêu thương với cha mẹ mình mà vẫn chưa đủ. Ngôn ngữ diễn tả tình yêu giống như dòng sông tuôn chảy mãi không dừng, cũng thế, những lời chào kính Đức Mẹ dù có lặp đi lặp lại là bằng chứng của tình mến chúng ta dành cho Đức Mẹ. Kinh Mân Côi sẽ giúp khơi nguồn dòng chảy yêu thương từ nơi Đức Mẹ đến với chúng ta.
“Kính mừng Maria đầy ơn phúc”, mỗi lời kinh là một bước đường đời dẫn ta đến gần Chúa hơn, và giúp chúng ta nên giống Chúa. Bởi lẽ kinh Kính mừng được đọc trong tâm tình suy niệm, chiêm ngắm những mầu nhiệm của cuộc đời Chúa Cứu thế, từ ngày Truyền tin cho đến khi Người sống lại và lên trời vinh quang. Mỗi bước đường của chúng ta đều có Đức Mẹ đồng hành. Mỗi lối đi dương thế đều có Chúa dẫn đưa. Đó là giá trị của Kinh Mân Côi.
Kinh Mân Côi là hình thức cầu nguyện được chính Đức Mẹ khuyến khích. Quả vậy, khi hiện ra ở Lộ Đức cũng như ở Phatima, Đức Mẹ đã cùng lần hạt với các thị nhân, trong tình thân thương trìu mến. Vì thế, tượng Đức Mẹ được trình bày tại hai nơi thánh địa này đều có cỗ tràng hạt nơi tay của Đức Mẹ. “Hãy siêng năng lần hạt”, đó còn là lệnh truyền của Đức Mẹ khi hiện ra với ba trẻ chăn chiên ở Phatima năm 1917.
“Kính mừng Maria đầy ơn phúc”, ước chi lời kinh này luôn vang lên nơi môi miệng chúng ta, từ khi sinh ra cho đến lúc lìa đời, nhờ đó, chúng ta luôn được Đức Mẹ phù hộ độ trì. Nhờ Mẹ và qua Mẹ, chúng ta sẽ gặp Đức Giêsu, và đạt được sự sống đời đời.

 

07/10-160: Bài giảng lễ Đức Mẹ Mân Côi năm 2013

ĐGM. Giuse Vũ Văn Thiên
 

Kinh Mân Côi, một kinh nguyện giản đơn mà giá trị, quen thuộc mà đầy sức hấp dẫn. Lịch 07/10-160

Kinh Mân Côi, một kinh nguyện giản đơn mà giá trị, quen thuộc mà đầy sức hấp dẫn. Lịch sử Giáo Hội đã chứng minh thần lực huyền nhiệm của kinh Mân Côi. Mỗi dịp tháng 10 về, chúng ta lại được mời gọi cùng suy tư và khám phá giá trị thiêng liêng của kinh Mân Côi.
Kinh Mân Côi là hình thức đạo đức bình dân, nhưng lại được yêu mến và thực hành bởi các nhà khoa học và những triết gia công giáo. Trong số những nhân vật nổi tiếng, phải kể đến Louis Pasteur, nhà bác học người Pháp sống thế kỷ 19, cha đẻ của lý thuyết lên men, vi khuẩn và vắcxin trừ bệnh chó dại.Người ta kể rằng khi ngồi trên xe lửa, không bao giờ ông rời cỗ tràng hạt. Tiếp đến là Blaise Pascal, khoa học gia, đồng thời là triết gia người Pháp thế kỷ 17. Cũng nên nhắc đến André-Marie Ampère, nhà vật lý người Pháp thế kỷ 18-19, người đã sáng lập ra môn điện từ học, cũng là một tín hữu yêu mến kinh Mân Côi và thường xuyên lần hạt.
Trong suốt bề dày của lịch sử, nhiều vị Giáo Hoàng đã cổ võ việc đọc kinh Mân Côi và đã có những giáo huấn rất sâu sắc về hình thức cầu nguyện này.Đức Thánh Cha Lêô XIII đã dành tất cả 17 văn kiện để nói về phép lần hạt Mân Côi. Trong một văn kiện, Đức Giáo Hoàng đã viết: “Muốn được Thiên Chúa cứu chữa cho khỏi những cơn khó khăn của thời đại ngày nay, Ta nghĩ không có gì hiệu nghiệm hơn là việc tôn sùng Đức Trinh Nữ Maria, Mẹ Thiên Chúa. Vậy Ta khuyên các giáo hữu, hãy tập thói quen đạo đức lần hạt Mân Côi hoặc công khai hoặc trong gia đình”. Cũng chính vị Giáo Hoàng này vào năm 1887 đã nâng lễ Đức Mẹ Mân Côi lên bậc lễnhì với kinh lễ và kinh Phụng vụ theo phụng vụ dòng Đaminh. Đức Thánh Piô X ấn định mừng lễ Mẹ Mân Côi vào ngày mồng 7 tháng 10. Đức Giáo Hoàng Piô XI gọi kinh Mân côi thực là một triều thiên hoa hồng rực rỡ nhất mà tuổi thanh xuân có thể đội. Đó là những đoá hồng trinh khiết và đoá hồng tình mến, đoá hồng tình yêu huynh đệ, đoá hồng chí tông đồ tươi nở trong khung cảnh lộng lẫy của một gia đình thiêng liêng như đoàn Thanh niên Công giáo Tiến hành.
Tại sao tràng Mân Côi là có sức hấp dẫn kỳ diệu như thế? Thưa, bởi vì kinh Mân Côi chính là cuốn Tin Mừng thu gọn. Đọc kinh Mân Côi là chiêm ngắm và suy niệm cuộc đời của Chúa Giê-su để chúng ta đón nhận giáo huấn của Chúa và thực thi những gì người dạy. Những lời kinh “Ave Maria” gắn bó chúng ta với Đức Mẹ, để nhờ Mẹ mà chúng ta có thể nên môn đệ trọn lành của Chúa Giê-su. Vẻ đẹp của kinh Mân Côi được sánh ví như chuỗi hoa hồng. Mỗi kinh Kính Mừng là một đóa hoa tỏa ngát hương thơm, đem lại cho người cầu nguyện sự dịu ngọt trong tâm hồn. Tràng hạt Mân Côi gồm 50 hay 200 hạt nối liền với nhau, như lời gọi hiệp thông liên kết được gửi đến các tín hữu để làm nên một “cỗ tràng hạt” thiêng liêng là toàn thể cộng đoàn Giáo Hội. Kinh Mân Côi nhắc chúng ta nhớ mình thuộc về Giáo Hội của Chúa Ki-tô, có Đức Mẹ là Đấng phù hộ chở che nâng đỡ.
Có người hỏi tôi: “Tại sao phải lặp đi lặp lại những 50 lần kinh Kính Mừng. Đọc một lần là Chúa biết và Đức Mẹ biết rồi!”. Kinh Kính Mừng là lời chào tôn kính và lời tâm sự yêu thương của chúng ta đối với Đức Mẹ. Khi hai người yêu nhau, họ muốn lặp đi lặp lại mãi những lời yêu thương mà không thấy chán. Cũng vậy, người con hiếu thảo sà vào lòng mẹ để bầy tỏ tâm tình yêu mến, dốc bầu tâm sự với mẹ mình hàng giờ mà không cảm thấy nhàm. Khi lần hạt cũng vậy, chúng ta tâm sự với Đức Mẹ, nằn nì Mẹ cầu bầu cùng Chúa cho chúng ta được nên giống như Mẹ trong cử chỉ, lời nói và hành động. Đối với người yêu mến Chúa và yêu mến Đức Mẹ, việc đọc kinh cầu nguyện không bao giờ đơn điệu buồn chán, vì qua lời kinh, họ thực sự được gặp gỡ Chúa và tâm sự với Ngài.
Thánh Đaminh đã viết: “Sau thánh lễ và kinh Phụng vụ, không có sự tôn kính nào đẹp lòng Chúa Giêsu và Mẹ Thánh Người bằng sốt sắng đọc kinh Mân côi”.Ước chi mỗi người tín hữu chúng ta đều biết yêu mến kinh Mân Côi để trọn vẹn cuộc sống của chúng ta là một chuỗi hoa hồng huyền nhiệm, tỏa ngát hương thơm trong vườn đời.

 

07/10-161: Sức mạnh của lời kinh Kính Mừng

(Suy niệm Lễ Đức Mẹ Mân Côi của Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ)
 

Tháng Mười dẫn chúng ta về với Mẹ Mân Côi, một tay bồng Chúa Giêsu hài Ðồng, còn tay07/10-161

Tháng Mười dẫn chúng ta về với Mẹ Mân Côi, một tay bồng Chúa Giêsu hài Ðồng, còn tay kia thì trao tràng chuỗi Mân Côi cho thánh Ðaminh. Hình ảnh ý nghĩa này chứng tỏ rằng kinh Mân Côi là một phương thế được Ðức Mẹ ban cho nhân loại qua thánh Đaminh, để nhờ chiêm ngắm và suy niệm về cuộc đời của Chúa, mà yêu mến Chúa và theo Chúa mỗi ngày một trung thành hơn.
1. Kinh Kính Mừng
"Kính mừng Maria đầy ơn phúc"
Là câu đầu tiên trong Kinh Kính Mừng chúng ta vẫn thường đọc. Nguồn gốc của lời Kinh này phát xuất từ miệng sứ thần Gabriel chào kính Đức Maria lúc truyền tin: "Kính mừng Maria đầy ơn phúc (Lc 1,28), và lời xác nhận của bà Êlisabet: " Em thật có phúc hơn mọi người nữ, vì Đấng em cưu mang thật diễm phúc".
Những lời của sứ thần Gabriel và của bà Êlisabet trên đây đã được Giáo hội dùng để chúc tụng ngợi khen Đức Maria, Mẹ Thiên Chúa và là Mẹ chúng ta. Đồng thời, Giáo hội thêm vào lời cầu khẩn xin Mẹ thương nâng đỡ phù trì "Thánh Maria ĐứcMẹ Chúa Trời... và trong giờ lâm tử".
Phụng vụ mừng lễ Đức Mẹ Mân Côi hôm nay, dựa trên trang Tin Mừng (Lc 1,26-38) dìu ta về với "Đức Maria đầy ơn phúc". Mẹ có phúc trước hết là vì Mẹ đã đón nhận hồng phúc khi thưa “xin vâng”. Phúc tiếp theo của Mẹ là có Thiên Chúa ở cùng, Mẹ cưu mang, sinh hạ, nuôi dưỡng và làm Mẹ Đấng gồm phúc lạ. Phúc của Mẹ thật cao với khôn sánh, nên Giáo hội không ngớt lời lặp đi lặp lại danh xưng “đầy ơn phúc” này để tôn vinh Mẹ. Nếu yêu và được yêu là những điều hạnh phúc nhất trong đời, thì Đức Maria rất hạnh phúc khi được Thiên Chúa yêu thương tuyển chọn và chính Mẹ cũng đầu tư vốn liếng cuộc đời, biết dành trọn vẹn tình yêu thương của mình cho Thiên Chúa.
Mẹ được đầy ơn phúc, Mẹ cũng muốn cho con cái mình hạnh phúc, vì mẹ nào mẹ chẳng thương con. Nên khi con cái lầm đường lạc lối, sa lầy trong tội, Mẹ đã mở rộng vòng tay, dẫn lối chỉ đường cho con người đạt tới hạnh phúc với lời nhắn nhủ: "Hãy ăn năn đền tội, hãy năng lần hạt Mân Côi". Làm theo lời dặn dò của Mẹ, Hội Thánh đã thoát nhiều cơn giông tố hiểm nguy xác hồn, phá tan được bao bè rối, mang lại bình an trong tâm hồn. Chúng ta hãy đón nhận lời yêu cầu hiền mẫu của Mẹ siêng năng lần chuỗi Mân Côi.
Đời con một chuỗi Mân Côi.
Hạt thương hạt sáng hạt vui hạt mừng.
Ngày đêm nguyện gẫm không ngừng.
Như cây nến cháy nhỏ từng lời kinh.
2. Ơn phúc bởi đọc Kinh Kính Mừng
Sống trong thời văn minh điện toán toàn cầu hóa, biến con người thành những kẻ chạy đua với với thời cuộc. Kẻ làm, người học, có kẻ vừa học vừa làm, làm trong đi học… khiến người ta làm ngày không đủ, tranh thủ làm đêm, làm thêm cả ngày nghỉ. Thì hỡi ông bà anh chị em, dù bận đến đâu cũng đừng bỏ lễ Chúa nhật và lễ Trọng buộc. Dù mệt đến đâu cũng đừng bỏ đọc Kinh Kính Mừng. Vì "Mẹ Maria chúc phúc cho những ai đọc Kinh Kính Mừng" (St Bênađô).
Nhiều bạn trẻ cho rằng: Thời buổi khoa học, ai còn tụng niệm như mấy ông già bà cả nữa. Không, câu chuyện có thật của một nam sinh Pháp và Bác học Louis Pasteur, Giám Đốc Viện nghiên cứu vi trùng học quốc tế, Giáo sư chuyên khoa Đại Học hoá học và sinh vật học là bằng chứng. Người đời thường có quan niệm: hễ càng văn minh, người ta càng xa Chúa. Nhưng ngược lại Louis Pasteur Bác học trứ danh lại càng tin theo Chúa. Và sợi dây gắn kết niềm tin ấy, động lực để nghiên cứu khoa học lại là Kinh Kính Mừng. Ông lần hạt khi đi trên Métro trước mặt những nam sinh nữ tú mà chúng không hay biết ông là người thầy của mình.
Thế giới ngày hôm nay tục hóa, con người sống như thể không có Thiên Chúa, chân phước Alanô mách bảo chúng ta: "Bất cứ ai trung thành đọc Kinh Mân Côi và suy ngắm những Mầu Nhiệm sẽ được ân thưởng. Mẹ sẽ xin cho họ được tha mọi hình phạt và mọi tội lỗi trong giờ họ chết".
Nếu bị ma quỉ cám dỗ, sự xấu, người xấu lôi kéo, hãy đọc Kinh Kính Mừng, vì: "Kinh Kính Mừng làm cho Quỉ Dữ trốn chạy, Hỏa Ngục run sợ" (Lời thánh Anphongsô). Nếu con cái hư đốn, chồng không trung thủy, vợ bất trung thành, hãy đọc Kinh Kính Mừng: "Nhờ Kinh Kính Mừng, biết bao tội nhân bỏ đường tội lỗi, bao linh hồn đã tiến cao trên đường trọn lành. Biết bao người được ơn chết lành và hưởng phúc Thiên đàng".
3. Lời kinh cầu cho hòa bình
Chúng ta đang sống trong một tình hình quốc tế đầy những căng thẳng, khủng bố dưới mọi hình thức ngày càng man dợ, trộm cắp, giết người cách tinh vi, hủy hoại môi sinh, gây đau khổ cho đồng loại. Trước những thế lực mạnh hơn trên trái đất này định đoạt số phận của nhân loại, chúng ta cảm thấy bị giới hạn và bất lực, phải nại đến sức mạnh từ trời cao. Chúng ta chạy đến với Thiên Chúa, để khẩn xin ơn bình an cho thế giới. Việc làm trong tháng này là hãy lần hát Mân Côi, như Giáo hội vẫn thường làm trong các cơn túng cực. Vì chỉ có lời cầu nguyện mới vượt qua được các biên giới các quốc gia và các ngăn cách của thù ghét cũng như không hiểu nhau, mới đem lại bình an cho nhân loại.
Nữ Vương truyền phép Rất Thánh Mân Côi, cầu cho chúng con.
Nữ Vương bình an, cầu cho chúng con. Amen.

 

07/10-162: Mẹ tin cậy mến - AM Trần Bình An

Nghe tin con bị bắt cóc, chân tay tôi như rụng rời. Suốt 2 tiếng cháu bị khống chế, tôi chỉ 07/10-162

"Nghe tin con bị bắt cóc, chân tay tôi như rụng rời. Suốt 2 tiếng cháu bị khống chế, tôi chỉ biết đứng ngoài cầu nguyện", chia sẻ của người mẹ một nạn nhân bị khống chế làm con tin tại trường Mầm Non 10A, Tân Bình, Sài Gòn. Sau khi được giải cứu và đưa đến bệnh viện khâu vết thương, khoảng 12h ngày11/10/2012, bé Nguyễn Đắc Tài (3 tuổi) đã được bố mẹ đưa về nhà. Khoảng 8h30, đang đi mua thức ăn chị nhận được điện thoại của trường báo bé bị một kẻ lạ mặt xông vào lớp khống chế bắt làm con tin. Chị bấn loạn vội chạy đến trường, không biết số phận con trai thế nào.
"Trong đầu tôi cứ nghĩ kẻ bắt cóc đã mang cháu đi đâu rồi. Khi đến nơi biết cháu vẫn đang bị khống chế bên trong, tôi vừa lo vừa mừng vì còn có cơ hội cứu con. Suốt 2 giờ đồng hồ chờ công an giải cứu, tôi chỉ biết khóc và cầu nguyện", người mẹ trẻ kể.
Theo điều tra của Công an quận Tân Bình, khoảng 8h30 ngày 11/10/2012, Cao Quốc Huy (28 tuổi) mặc áo giáp tự chế, tay cầm 2 con dao đi vào khu vực trường Mầm non 10A. Cô hiệu trưởng Trần Thị Kim Thùy (52 tuổi,) đang đứng trước cửa văn phòng đã bị Huy nắm tóc uy hiếp. Cô la lớn làm gã bỏ chạy vào lớp mầm. Hắn khống chế, dọa giết 2 bé Tài và Khôi.
Hàng trăm cảnh sát được huy động đến trường nhưng Huy vẫn cố thủ trong lớp học và liên tục đưa ra yêu sách. Khoảng 10h30, nhiều chiến sĩ đã ập vào khống chế giải cứu an toàn 2 cháu nhỏ. Nghi can có tiền sử bệnh tâm thần, từng thoát án tù về tội Giết người. (VnExpress)
Tin Mừng thánh Luca Chúa Nhật 27 Thường Niên, thuật lại Đức Giêsu dạy về đức tin và thái độ phục vụ khiêm tốn. Hôm nay cũng là ngày lễ kính trọng thể Đức Mẹ Mân Côi. Thật là một sự trùng hợp lạ lùng và đầy ý nghĩa. Bởi vì Mẹ chính là tấm gương sống động của tin cậy mến và phục vụ.
Tin
Người mẹ kể trên chỉ biết khóc và cầu nguyện, vì đứa con thơ bị bắt làm con tin. Bà bất lực trước nghịch cảnh, chỉ còn biết đặt hết niềm tin cậy vào Chúa Quan Phòng, cứu giúp con bà khỏi sự dữ. 
Còn Mẹ Maria đã tin mãnh liệt, tin tuyệt đối, tin vô điều kiện ngay khi Sứ thần Gabriel loan báo Mẹ thụ thai Đấng Cứu Thế. Mẹ chỉ tỏ ra rất bối rối, một phản ứng rất tự nhiên, khi nhận được lời truyền tin quá sức cao cả và bất ngờ, chứ không hề chút đắn đo, dè dặt, hay ngần ngại, thắc mắc. Mẹ không như thầy tư tế Zacaria tỏ ra ngờ vực, hoài nghi, đòi dấu lạ, khi Sứ thần Chúa báo tin bà vợ Elizabet già cả, sẽ sanh con. 
“Đức tin là một hành vi cá nhân, là sự đáp trả tự nguyện của con người đối với sáng kiến của Thiên Chúa, là Đấng đã mạc khải chính mình.” (Giáo Lý của Hội Thánh Công Giáo, số 166)
Như thế, đức tin là một hồng ân Thiên Chúa ban tặng cho con người nhưng không, và con người đáp trả lại tấm thịnh tình của Thiên Chúa. Mẹ Maria đón nhận hồng ân vĩ đại, đã ân cần mau mắn đáp lại: “Xin vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời Sứ thần nói.” (Lc 1, 38)
Hơn nữa, Mẹ còn vui mừng cảm tạ, ngợi khen, tán tụng Thiên Chúa qua Kinh Magnificat.  Mẹ hát lên lời tri ân của Mẹ và của toàn thể dân Chúa, vì nay lời hứa Giao Ước mới được thực hiện.
Cậy
Mẹ Maria can đảm, toàn tâm toàn ý bước theo chân Tổ phụ Abraham, “Cha của các tín hữu,” Mẹ hoàn toàn đặt tin tưởng vào Thiên Chúa, khi chân thành khiêm hạ, tự khẳng định, nhận mình chỉ là nữ tỳ hèn mọn.
Khi thưa “Xin Vâng,” Mẹ đã hoàn toàn tin cậy, hoàn toàn phó thác, dâng hiến trọn vẹn cuộc đời vào tay Chúa Quan Phòng, sẵn sàng đón nhận mọi khó khăn, gian khổ khi đồng hành theo Chúa, đồng công cứu chuộc nhân loại.
Mẹ tin cậy vào Thánh Ý Chúa nhiệm mầu, khi vâng phục đi theo con đường chông gai, thách đố, vất vả, khổ sở, đau đớn, cùng với người bạn đời Giuse, vốn được Sứ thần linh ứng chỉ dẫn. Từ việc khai hoa nở nhụy thiếu thốn tứ bề ở Bê lem, đến chạy trốn sang Ai Cập, rồi trở về quê hương, Mẹ đều vui lòng chấp nhận, không hề oán than, cũng chẳng phiền muộn. Mẹ âm thầm bằng lòng chấp nhận những đau khổ tột cùng sắp đến, qua lời tiên tri của ông già Simêon: “Còn chính bà, thì một lưỡi gươm sẽ đâm thấu tâm hồn bà..” (Lc 2, 34)
Mến
Mẹ đau khổ biết bao khôn xiết, khi Con Trẻ Giêsu lạc mất ba ngày dài tại đền thờ Giêrusalem. Chắc hẳn không thiếu những giòng lệ nóng bỏng thương nhớ Con, hớt ha hớt hải tìm Con, như bà mẹ kể trên. Mẹ còn chịu thêm thử thách tình mẫu tử, khi nghe Con đáp lại lúc hạnh ngộ: “Cha mẹ tìm con làm gì? Cha mẹ không biết con phải lo việc cho Cha con ư?”
Tình yêu của Mẹ lại càng thêm phiền muộn, đớn đau, khi nghe Đức Giêsu, Con Mẹ, dõng dạc tuyên bố: “Kẻ nghe lời Cha ta và thực hành, người ấy là anh chị em và là Mẹ ta.” Không phải Đức Giêsu chối bỏ, phụ ân, phụ nghĩa, bất hiếu với người Mẹ thân thương, nhưng Người muốn xác định, phải dành ưu tiên cho tình yêu Thiên Chúa, trổi vượt trên tình nghĩa gia đình, tình phụ mẫu, tình huynh đệ huyết thống trần gian.
Nhưng thách đố cao nhất, đau khồ tận cùng, khi Mẹ đồng hành cùng Đức Giêsu trong suốt cuộc khổ nạn. Cao điểm tuyệt đỉnh khi Mẹ đứng dưới chân thập giá. “Một lưỡi gươm sẽ đâm thấu tâm hồn bà.”Thật đúng như lời ông già Simêon tiên báo.
Chuỗi Mân Côi là dây ràng buộc con với Mẹ, là cuốn phim kỷ niệm con đường hy vọng của Mẹ: Âu yếm như Bê Lem, khắc khoải như Ai Cập, trầm lặng như Nazareth, lao động như xưởng mộc, sốt sắng như đền thờ, cảm động lúc Chúa giảng, đau khổ bên thánh giá, vui mừng lúc Phục Sinh, tông đồ bên thánh Gioan.
Tóm tắt lại, Chúa sống trong Mẹ, Mẹ trong Chúa, hai cuộc đời chỉ là một. Đừng bỏ chuỗi Mân Côi Mẹ đã trao và nhắn nhủ con sống như Mẹ, với Mẹ, nhờ Mẹ, trong Mẹ. (Đường Hy Vọng, số 922)
Lạy Chúa Giêsu, xin ban cho chúng con nhân đức tin vững vàng, nhất là mỗi khi trước phong ba cuộc đời, trước thách đố khắc nghiệt. Xưa kia Người đã từng nói với Phêrô: “Thầy đã cầu nguyện cho anh để anh khỏi mất lòng tin” (Lc 22,32), vậy xin Chúa cũng nguyện cầu cho chúng con vững lòng tin.
Lạy Mẹ Maria, xưa kia Chúa Giêsu đã trăn trối tông đồ Gioan lại cho thân mẫu:“Thưa Mẹ, đây là con Mẹ!” Rồi Người nói với ông Gioan: “Đây là Mẹ con!” Cũng nhưNgười trao chúng con lại cho Mẹ săn sóc, che chở. Xin Mẹ đoái thương, cầu bầu cho chúng con theo Chúa luôn mãi, với niềm tin cậy mến sắt son, bền đỗ đến cùng. Amen.

 

07/10-163: Đức Mẹ Mân Côi – Gm. Farrell

(Gm. Farrell – Chuyển ngữ: Trầm Thiên Thu)
 

Hơn 100 năm qua, người Công giáo đã cử hành Tháng Mười là Tháng Mân Côi. Việc sùng 07/10-163

Hơn 100 năm qua, người Công giáo đã cử hành Tháng Mười là Tháng Mân Côi. Việc sùng kính này đã được ĐGH Leo XIII (1810-1903) thiết lập ngày 1-9-1883 và đã công bố con số kỷ lục là 11 Tông thư về Chuỗi Mân Côi trong triều đại giáo hoàng của ngài.
Việc dành riêng Tháng Mười là Tháng Mân Côi mời gọi chúng ta thêm siêng năng lần Chuỗi Mân Côi, không chỉ trong Tháng Mười mà suốt cả năm và suốt cả đời.
Ngày 7 tháng 10, chúng ta mừng lễ Đức Mẹ Mân Côi. Lễ này được Thánh GH Piô V thiết lập để ghi nhớ chiến thắng của Hải quân Kitô giáo đối với quân Thổ Nhĩ Kỳ tại trận Lepanto ngày 7-10-1571. Chiến thắng này nhờ người ta lần Chuỗi Mân Côi dâng kính Đức Mẹ ở Rôma vào ngày giao chiến.
Theo thời gian, không còn ai nhớ rõ nguồn gốc. Việc lần chuỗi hạt là thói quen xưa trước thời kỳ Kitô giáo, nhưng người Công giáo đã dùng Chuỗi Mân Côi hằng thế kỷ qua. Mới đầu, người ta gọi là “những hạt kinh Lạy Cha” vì người ta dùng để đếm 150 kinh Lạy Cha (Paternosters). Một số người cho rằng 150 kinh Lạy Cha được thay thế bằng việc ngâm 150 Thánh vịnh cho những ai không đọc.
Truyền thuyết đạo đức này được cho là nguồn gốc của Chuỗi Mân Côi như chúng ta biết là “công” của Thánh Đa Minh (Dominic), nhưng không có dữ liệu nào xác định truyền thuyết này. Tuy nhiên, đó là một tu sĩ Dòng của Thánh Đa Minh, người thiết lập 15 Lời Hứa Mân Côi từ thế kỷ XV, và một tu sĩ Dòng Carthusia là Đa Minh Prussia đã thêm phần suy niệm vào kinh Kính Mừng. 15 mầu nhiệm truyền thống được Thánh GH Piô V tiêu chuẩn hóa.
Kinh Mân Côi là lòng sùng kính Đức Mẹ, thể hiện truyền thống Công giáo tin Đức Mẹ là Đấng dẫn đường đến với Chúa Giêsu như câu chuyện tiệc cưới Cana (Ga 2:8), Đức Mẹ đã nói với gia nhân “làm theo lời Chúa Giêsu bảo”.
Vẻ đẹp của kinh Mân Côi gấp đôi. Thứ nhất là tính đơn giản, thứ nhì là dẫn chúng ta đến với Chúa Giêsu qua các mầu nhiệm của cuộc đời Ngài, cuộc khổ nạn và sự phục sinh của Ngài. Chuỗi Mân Côi đã và đang theo vô số người trên hành trình đến với Chúa Cha.

 

07/10-164: Niềm tin thương mại – Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền

Ca dao có câu: Công cha như núi Thái Sơn - Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra”. Câu 07/10-164

Ca dao có câu: Công cha như núi Thái Sơn - Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra”. Câu ca ngàn đời này ca ngợi công lao của cha mẹ lớn như trời biển, khi sinh thành và dưỡng dục con cái nên người. Và cũng từ đó giáo dục cho các thế hệ sau phải biết: “Một lòng thờ mẹ, kính cha - cho tròn chữ Hiếu mới là đạo con”.
Thế nhưng, cuộc sống bộn bề những gánh nặng chồng chất bởi cơm áo gạo tiền, bởi kiếm kế sinh nhai khiến con cái ngày nay xem ra thực dụng hơn. Họ toan tính thiệt hơn khi phải chăm sóc mẹ cha và đôi khi tàn nhẫn phủi tay trách nhiệm với cha mẹ. Có những người con coi khinh cha mẹ già yếu, thậm chí còn ngược đãi, hành hạ cha mẹ… .
Có một câu chuyện mang tựa đề “Ngày thứ 31” viết về một gia đình sinh ra được ba, bốn người con. Tuy điều kiện kinh tế khó khăn, nhưng đôi vợ chồng này vẫn cần mẫn nuôi con khôn lớn. Tới khi con cái trưởng thành, cũng là lúc ông bà kiệt sức bởi tuổi già và bệnh tật.
Việc chăm sóc nuôi dưỡng bố mẹ già dường như đã trở thành gánh nặng với các con, chúng đùn đẩy cho nhau. Không ai chịu ai nên chúng bổ đều mỗi người phải nuôi bố mẹ ba mươi ngày luân phiên, bi kịch đã xảy ra khi vào tháng có 31 ngày, không đứa con nào chịu nuôi bố mẹ cái ngày dôi ra ấy, ông bà đành chịu đói nằm chờ qua ngày để đến tháng tiếp theo.
Gần đây có biết bao chuyện đau lòng khi con cái bất hiếu với mẹ cha. Thí dụ như chuyện một đôi vợ chồng già do con cái tranh chấp nhà cửa mà bị đẩy ra sống vất vưởng ngoài đường. Rồi chuyện đứa con ngang ngược hành hạ mẹ già, chỉ vì không cấp đủ tiền cho chúng ăn chơi, hoặc đau lòng hơn, vì mâu thuẫn mà có những đứa con nhẫn tâm đoạt cả mạng sống của chính người đã sinh ra mình… Để lại vết thương lòng nhức nhối trong xã hội.
Đây là kiểu sống không có tình ; chỉ có tính thương mại. Đúng như người xưa nói: ‘Mẹ nuôi con như trời như bể, con nuôi mẹ con kể từng ngày’.
Đây cũng là lối sống đạo đầy toan tính của con người thời đại hôm nay. Theo đạo để tìm lợi lộc vật chất như có người vẫn mong cầu trúng số, trúng thưởng hay được trả công bội hậu. Và cũng không thiếu những người xa rời đạo vì theo đạo chẳng được lợi lộc gì! Có người còn toan tính thiệt hơn khi cho Chúa, cho Giáo Hội họ sẽ nhận lại điều gì?
Các tông đồ năm xưa cũng từng hỏi Chúa Giê-su, họ đã từ bỏ mọi sự mà theo Chúa, họ sẽ nhận lại điều gì? Họ vẫn toan tính thiệt hơn theo kiểu thế gian “có qua có lại cho vừa lòng nhau”. Đây là loại người đức tin còn non yếu. Một đức tin chưa đủ trưởng thành để có thể tin tưởng hoàn toàn vào sự quan phòng của Thiên Chúa. Một đức tin chưa đạt đến mức độ dấn thân để bước đi theo đường lối của Chúa.
Lời Chúa hôm nay nhắc nhở chúng ta: đức tin sẽ giúp chúng ta đạt được những điều ngoài sức tưởng tượng và ngoài khả năng của chúng ta. Một đức tin có thể chuyển núi dời non. Một đức tin có thể làm những chuyện phi thường. Niềm tin chân thành cũng đòi hỏi chúng ta dấn thân hoàn toàn cho Chúa. Một sự dấn thân phó thác mọi sự trong sự quan phòng của Chúa. Thiên Chúa quyền năng, Ngài có thể làm mọi sự theo ý Ngài, thế nên hãy để ý Chúa được hiển trị trong cuộc đời chúng ta khi chúng ta sống vâng theo thánh ý Chúa. Hãy để quyền năng Chúa hiển trị trên sự yếu hèn của chúng ta khi chúng ta tín thác nơi Chúa.
Điều quan yếu để đức tin mang lại hoa trái cho cuộc đời chúng ta chính là nhìn nhận sự nhỏ bé, bất toàn của mình để cậy trông vào Thiên Chúa. Nhìn nhận mình chỉ là một đầy tớ vô dụng nhưng được Thiên Chúa yêu thương ân ban biết bao ơn lành hồn xác. Sức khỏe, trí tuệ, sắc đẹp, công việc đều là ân ban của Thiên Chúa. Thử hỏi:
- Trí óc ta thông minh ư? Đó là nhờ Chúa sinh ra ta như thế. Nhiều người khác mới sinh ra đã đần độn.
- Sức khoẻ ta dồi dào ư? Cũng nhờ Chúa sinh ta ra sẵn như vậy. Nhiều kẻ sinh ra đã sẵn èo ọt.
- Ta có nhiều năng khiếu ư? Cũng do Chúa sinh ra ta như vậy.
- Ta đẹp ư?: cũng thế.
- Ta làm nhiều việc thành công ư? Đó là nhờ ta có sẵn thông minh, sức khoẻ, năng khiếu.
Bởi vậy dù ta làm được gì thì ta cũng là đầy tớ vô dụng thôi. Xin Chúa giúp chúng ta nhận ra sự yếu hèn của mình để biết trông cậy vào ơn Chúa và biết tạ ơn mỗi khi được nhận lãnh. Amen.

 

07/10-165: Kính Mừng Maria Đầy Ơn Phúc

(Suy niệm của Lm Px. Đào Trung Hiệu)
Kính mừng Maria đầy ơn phúc...
 

Lời kinh kính mừng ấy, tôi đã thuộc từ thuở mới lên năm. Nhưng ngày qua ngày, tôi có 07/10-165

Lời kinh kính mừng ấy, tôi đã thuộc từ thuở mới lên năm. Nhưng ngày qua ngày, tôi có nhiều cảm nghiệm mới khác nhau về kinh Mân Côi. Nay nhìn lại, tôi cảm thấy mình trải qua một quá trình sống các mầu nhiệm Mân côi trong đời.
Từ lời cầu nguyện đơn giản...
Xin cảm ơn Mẹ Giáo hội, vì ngay từ thuở ấy, khi chưa biết chữ để đọc thánh vịnh, khi chưa biết dâng những lời nguyện tự phát, thì nhờ kinh Mân Côi tôi đã có thể tích cực tham gia cầu nguyện với cộng đoàn.
Kinh Mân Côi với tôi khi đó, như những lời cầu khẩn, vì tôi quan tâm hơn đến vế thứ hai của kinh: “Thánh Maria Đức Mẹ Chúa Trời, cầu cho chúng con...”. Khi chúc tụng Mẹ Maria như một Vị trung gian thần thế, tôi thân thưa với Mẹ những nhu cầu của tôi, và gửi gắm cho Mẹ những người tôi thân yêu.
Và thông qua lời gợi ý mỗi mầu nhiệm trong mẫu kinh Mân Côi tiếng Việt, tôi xin cho mình các nhân đức liên hệ. “Ta hãy xin cho được” lòng khiêm nhường, được biết yêu người, biết sống khó nghèo, biết tuân theo Ý Cha, và biết giữ nghĩa cùng Chúa... Xin cho biết sám hối thật lòng, biết kiên nhẫn và hi sinh vác thập giá theo chân Chúa... Xin được sống lại với Chúa, biết ái mộ những sự trên trời để sống yêu thương, trên hành trình theo Mẹ về Thiên quốc. Đôi khi trong lúc đọc kinh như vậy, tôi có những quyết tâm thể hiện các đức tính ấy bằng một hành vi cụ thể.
Qua những nỗ lực suy niệm...
Dần dà lớn lên, được tiếp cận với Phúc Âm và các sách suy niệm kinh Mân Côi, tôi đã trải qua một giai đoạn mới, với khả năng giới hạn của mình để “suy niệm và ghi nhớ trong lòng” những ý tưởng và tâm tình đa dạng chung quanh từng mầu nhiệm.
Đến lúc này tôi hiểu ra Đức Kitô mới là nhân vật trung tâm của 15 mầu nhiệm Mân Côi. Vâng, chính ngài thể hiện thánh ý Chúa Cha trong công cuộc cứu độ: đã hoàn toàn trở nên người phàm, đã ban ơn cứu độ cho Gioan Tẩy Giả và là hiến lễ dâng trong đền thờ.
Cũng chính ngài, Chiên Thiên Chúa gánh tội trần gian, đã tình nguyện uống trọn chén đắng Cha trao, đón nhận mọi nhục hình và được giương cao trên thập giá để “kéo mọi sự lên với Người” (Ga 12,32). Chính Ngài là “sự sống lại và là sự sống” (Xc Ga 11,25) để những ai tin vào ngài sẽ được sống, Ngài về trời để dọn chỗ cho chúng ta (Ga 14,2), và cử Thánh Thần đến để đưa các chúng ta vào chân lý toàn vẹn (Ga 16,13). Chính ngài ngự bên hữu Chúa Cha để ân thưởng cho tất cả những ai thuộc về ngài.
Và trong hành trình cứu độ của đức Kitô, không chỉ có đức Maria, tôi đã gặp nhiều nhân vật khác, bình thường hơn, gần gũi hơn, nên dễ rút ra nhiều mẫu gương cho những ai muốn theo Chúa.
+ Khi đó tôi chiêm ngắm Gabriel kẻ loan báo tin vui, tìm gặp niềm hân hoan của bà Elisabeth, sống những tâm tình của ba vua, của các mục đồng, của các cụ Siméon và Anna tại đền thờ...
+ Trên bước đường Chúa đi rao giảng, tôi ước ao được thành Gioan tiền hô, là gia nhân trong tiệc cưới Cana, lẩn vào đám đông nghe tiếng Chúa, chiêm ngưỡng Ngài trên núi cao, hay được đồng bàn với Thày...
+ Trong cuộc khổ nạn, tôi có dịp suy niệm về những yếu đuối của những người theo Chúa, của Giuđa, của Phêrô, về thái độ trốn tránh trách nhiệm của Philatô hay bóng dáng kiên cường của Đức Maria dưới chân Thập Giá...
+ Tôi cũng có dịp để chung chia niềm vui của Mađalêna và 11 tông đồ khi Chúa sống lại, được nghe lời Đức Giêsu căn dặn trước khi lên trời, sai đi làm chứng tá cho Ngài đến tận cùng trái đất; được quây quần bên đức Maria trong ngày Ngũ tuần, và đồng hành với Mẹ trong cuộc lữ hành đức tin của Giáo hội hôm nay.
Đến lời nguyện cầu cho một thế giới mới
Càng ngày tôi càng hiểu hơn về tính hiện sinh của Tin Mừng. Đức Giêsu vẫn là một: hôm qua, hôm nay và mãi đến muôn đời. Kinh Mân Côi tạo nên cho chúng tôi một không gian cần thiết giúp chúng tôi chiêm niệm chân dung Đức Kitô vẫn đang hiện diện trong cuộc đời. Từ đó, tôi hiểu ra tại sao: Đức Gioan XXIII thường dành từng “chục kinh” trong chuỗi năm mươi, để cầu nguyện cho một trong năm lục địa trên địa cầu.
Và thế là mỗi chục kinh, tôi cầu nguyện đặc biệt cho một giới nào đó trong xã hội. Chẳng hạn
Mùa vui, cầu nguyện: 1. cho lương dân được đón nhận tin mừng khi suy niệm về lễ truyền tin; 2. cho các bà mẹ qua biến cố thăm viếng; 3. cho tuổi thơ qua biến cố giáng sinh, 4. cho người già khi suy niệm về hai cụ Simêon, Anna, và 5. cho các nhà giáo dục...
Mùa sáng, cầu nguyện cho: 1. những người đấu tranh cho công lý, 2. những gia đình gặp thử thách, 3. cho việc rao giảng tin mừng, 4. Xin ơn biến đổi canh tân mỗi ngày, và 5. được hiệp thông vào sự sống của Chúa.
Mùa thương, cầu nguyện cho 1. những người khô khan, 2. các tội nhân, 3. những nhà lãnh đạo, 4. những ai đang đau khổ, và 5. cho các linh mục.
Và mùa mừng, cầu nguyện: 1. cho các anh em vô thần, 2. cho Giáo hội, 3. cho các tu sĩ. Trong hai biến cố liên quan đến việc vinh thăng của đức Maria, tôi cầu nguyện cho 4. sự tiến bộ của nhân loại và 5. cho hòa bình thế giới.
Cho ý Cha được thể hiện
Cho đến một ngày, tôi bỗng như gặp được một luồng sáng mới, để thấy được rằng điều cần phải có khi đọc kinh Mân Côi, quan trọng hơn mọi suy niệm và ý nguyện, chính là một thái độ “xin vâng” của đức Maria và tâm tình tụng ca Tình yêu của Thiên Chúa qua công cuộc cứu độ.
Vâng đúng vậy, nếu Đức Maria, là đại diện của nhân loại mới để đón nhận lời chúc tụng “đầy ơn sủng”, để trở thành cung điện đầu tiên cho Ngôi Lời mặc lấy xác phàm và “ở cùng” nhân loại, thì lời kinh kính mừng hôm nay, vẫn mãi là lời chúc tụng Thiên Chúa vẫn đang ở cùng nhân loại “mọi ngày cho đến tận thế”, và là lời tán tụng ân sủng Chúa trong cuộc đời qua đức Kitô, đã được ban “dồi dào hơn biết mấy” (Rm 5,15).
Nếu nhân loại lầm than vì sự bất tuân của Adam, thì nay nhân loại mới được khai sinh nhờ Adam mới là đức Giêsu, đấng “hạ mình vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết” (Pl 2, 8). Cũng thế, nếu Eva là biểu tượng của bất tuân, thì lời Ave gửi đến Đức Maria, Đấng đã thưa “xin vâng”, sẽ là biểu tượng của những người Tin trong Tân ước. Đó là ý nghĩa của hai câu thánh thi quen thuộc được giáo hội sử dụng trong phụng vụ kinh chiều lễ kính Đức Mẹ:
“Chữ E-va Mẹ đảo vần,
Thành A-ve gửi bình an cho đời”.
Từ nay, lời kinh kính mừng “Ave Maria”, trở thành lời kinh của cả nhân loại và của từng con người, được cất lên từ cuộc sống hằng ngày của mình. Cùng với đức Maria, nhân loại đó đang hân hoan vì nhận ra tình thương cứu độ, vì khám phá ra lối thoát khỏi những nỗi tuyệt vọng để dám sống những mối phúc thật được công bố trong bài giảng trên núi.
Tâm tình “xin vâng” ấy sẽ thâu tóm tất cả mọi ý nguyện trong lời cầu xin cho “ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời”. Tâm tình ấy sẽ đem đến cho người tín hữu nguồn sinh lực mới để cùng với đức Maria bước đến tận bên chân khổ giá, để đón nhận mọi nỗi vui buồn, âu lo và hi vọng của con người thời đại. Lời kinh ấy trở thành lời kinh của những người tin tưởng, hy vọng và yêu mến, để đảm nhận những trách vụ theo ơn gọi của mình góp phần dựng xây đất mới đang khi mong chờ trời mới.
_________
NB. Bài này viết đã lâu,
nay được bổ sung thêm vài dòng về Mùa Sáng

 

07/10-166: Chuỗi Mân Côi và Thánh Đaminh - Robert Feeney

Bà Jane ở Aza thánh thiện đến nỗi chiếu sáng như những vì sao trên bầu trời ban đêm. Bà07/10-166

Bà Jane ở Aza thánh thiện đến nỗi chiếu sáng như những vì sao trên bầu trời ban đêm. Bà sinh năm 1140, sống ở một lâu đài tại Tây Ban Nha với chồng là Felix, một người được kính trọng với chức hiệp sĩ. Bà là một phụ nữ hay thương người, đầy lòng trắc ẩn với những người kém may mắn, và giúp đỡ vật chất cho người nghèo.
Bà Jane có 2 con trai là Mannes và Anthony, nhưng bà muốn con thêm nhiều con. Một hôm, bà tới tu viện Silos để cầu xin có thêm một con trai nữa, xin Dòng Silos cầu nguyện giúp bà. Một tu sĩ Dòng Đa Minh nói: “Này chị, lời cầu của chị đã được nghe và Thiên Chúa sẽ ban cho chị một người con trai. Người con đó sẽ là tôi tớ vĩ đại của Thiên Chúa và có thể làm nhiều điều phi thường cho Chúa Kitô và Giáo hội”.
Khi tạ ơn, bà Jane đặt tên cho con trai là Dominic (Đa Minh).
Trước khi sinh con, bà Jane đã có giấc mơ tiên tri linh cảm việc giảng thuyết mà thánh Đa Minh, trong hình con chó trắng đen, chạy đi với ngọn đuốc sáng ngậm ở miệng, thắp sáng khắp thế giới. Bà Jane sinh bé trai Đa Minh tại Calaroga, thuộc Old Castile, năm 1170. Khi Đa Minh được rửa tội tại nhà thờ xứ, mẹ đỡ đầu của ngài cũng thấy ánh sáng chói lọi, nhìn như ngôi sao, trên lông mày của bé Đa Minh. Lúc đó Đa Minh được tiền định là một luồng sáng, một người sẽ soi sáng những người ở trong bóng tối.
Thánh Đa Minh được trông mong nhiều, nhưng ngài không làm thất vọng. Ngài là một thanh niên thông minh, vui vẻ, có chiều cao trung bình, điển trai, diện mạo khá hồng hào, có tiếng nói ấm và vang. Ngài thừa hưởng ở người mẹ lòng súng kính Đức Mẹ, biết giá trị của việc kết hợp việc cầu nguyện bằng lời và bằng tâm linh, nghe biết những câu chuyện về cuộc đời Chúa Giêsu mà ngài biết đó là những mầu nhiệm, và ngài sẽ rao giảng.
Thánh Đa Minh tận hiến cho Thiên Chúa, trở thành linh mục và phục vụ 9 năm ở Osma, sống theo tu luật thánh Augustinô. Có lòng trắc ẩn trước nỗi đau khổ của người khác, ngài cầu nguyện và khóc thương những người tội lỗi và những người đau khổ. Ngài được nhiều người yêu mến và kính trọng.
Năm 1203, lúc 33 tuổi, ngài rời Osma đi thành phố Fanjeaux thuộc vùng Languedoc, miền Nam Pháp quốc, tại đây ngài giảng đạo gần 13 năm. Trong những hành trình tông đồ, ngài thường dừng lại để cầu nguyện ở Nguyện đường Maria ở Prouille, một làng nhỏ nằm giữa Fanjeaux và Montreal, không xa núi Pyrenees.
Công việc của ngài không hề dễ dàng. Lúc đó, Pháp quốc bị tà thuyết An-bi-gen đe dọa. Những người theo tà thuyết này cho rằng sự sống trên trái đất là công việc của ma quỷ. Niềm tin này sản sinh một nền văn hóa sự chết khủng khiếp. Những người theo tà thuyết này từ bỏ tính thánh thiện của hôn nhân và sự sinh sản con cái. Việc tự tử được khen ngợi vì nó chấm dứt vấn đề hiện hữu. Những người theo tà thuyết này hoàn toàn bác bỏ các giáo huấn của Giáo hội, kể cả mầu nhiệm Nhập thể.
Mọi thứ có vẻ không suôn sẻ, khi thánh Đa Minh cầu nguyện và khóc ở Nguyện đường Đức Maria năm 1208, ngài than thở với Đức Mẹ về việc thiếu kết quả của việc rao giảng cho những người theo tà thuyết An-bi-gen. Đang lúc đó thì Đức Mẹ hiện ra với ngài.
Đức Mẹ nói: “Đừng lo, đến nay con đã đạt được một ít kết quả như vậy nhờ sức lao động của con. Con phải dùng kết quả đó trên vùng đất khô cằn, chưa được tưới bằng sương hồng ân. Khi Thiên Chúa muốn canh tân bộ mặt trái đất, Ngài sẽ bắt đầu bằng cách cho mưa tuôn sự chào đón của thiên thần (rain of the Angelic Salutation). Hãy truyền bá Chuỗi Mân Côi gồm 150 câu chào của sứ thần và 15 kinh Lạy Cha, con sẽ bội thu”.
Thánh Đa Minh không có thời gian. Theo mệnh lệnh của Đức Mẹ, ngài bắt đầu truyền bá Chuỗi Mân Côi, bắt đầu từ Toulouse, một thành phố không xa Prouille. Theo ghi chép của thánh Louis Montfort, một nhà truyền giáo người Pháp hồi thế kỷ 18, thánh Đa Minh đã tới nhà thờ, nơi các thiên thần rung chuông mời gọi mọi người. Khi thánh Đa Minh rao giảng, Thiên Chúa đã hỗ trợ: Trái đất rung chuyển, mặt trời tối sầm, sấm chớp dữ dội. Hầu như cả dân thành Toulouse đều bỏ niềm tin lầm lạc và bắt đầu sống đời Kitô hữu.
Sau thành công tại Toulouse, thánh Đa Minh đi từ thành phố này tới thành phố khác ở Pháp quốc, Tây Ban Nha và Ý để truyền bá Kinh Mân Côi. Trên hành trình, ngài tỏ ra rất chịu đựng, đến nỗi những người đương thời diễn tả ngài là “vận động viên mạnh mẽ”. Sức chịu đựng của ngài gây ấn tượng. Bất cứ đi đâu ngài cũng rao giảng chân lý Phúc âm tập trung vào cuộc đời vui mừng, sầu thương, và vinh quang của Đức Kitô. Nói đến một mầu nhiệm và giảng một câu về đời sống của Chúa Giêsu, ngài mời người nghe lần một hạt trong chuỗi hạt – thường được dùng để đếm các lời cầu nguyện – rồi đọc kinh Lạy Cha và kinh Kính Mừng, các yếu tố của đức tin vẫn nhắm vào những người theo tà thuyết An-bi-gen. Chú ý những lời đầu tiên Đức Mẹ nói với ngài, và một lần Chúa Giêsu hiện ra hướng dẫn ngài khơi lòng người ta yêu mến cầu nguyện trước khi giảng thuyết chống lại tội lỗi, thánh Đa Minh và các linh mục khác đều đọc kinh Kính Mừng chung với giáo dân trước khi giảng thuyết để xin Ơn Chúa. Ngài giải thích rằng kinh Kính Mừng chứa đầy các ví dụ về cuộc sống hàng ngày.
Phương pháp đó tác dụng. Hầu như ở các thành phố ngài rao giảng, ngài đều thành lập Hội ái hữu Mân Côi (Confraternity of the Rosary). Thánh Montfort nói rằng các giáo huấn của thánh Đa Minh tạo sự nhiệt thành đến nỗi hoán cải được những người tội lỗi chai lỳ nhất. Thánh Montfort viết rằng một người đàn ông bị ma quỷ chiếm hữu đã kêu lớn tiếng rằng lời rao giảng của thánh Đa Minh đã làm hoảng sợ cả hỏa ngục. Chuỗi Mân Côi cũng được tin là tạo chiến thắng của đội quân Công giáo do Count Simon de Montfort dẫn đầu, trong trận Muret hồi tháng 9-1213 ở miền Nam Pháp quốc, gồm 800 binh sĩ chống lại vua Aragon và 40.000 quân của tà thuyết An-bi-gen.
Năm 1215, thánh Đa Minh thu hút 6 người bạn cùng làm việc tông đồ và cho họ mặc trang phục như ngài. Đó là một dòng tu đang hình thành với chương trình cầu nguyện, sống chung, và chương trình học tập với Alexander Stavensky, tiến sĩ thần học người Anh. Rao giảng, dạy dỗ, và làm việc để cứu các linh hồn là lý tưởng của thánh Đa Minh. Một người giàu có tên là Phêrô Siela đến xin theo thánh Đa Minh, giao cho ngài nhà cửa của mình ở gần Narbonne Gate tại Toulouse. Cũng trong năm 1215, thánh Đa Minh đi Rôma và quỳ trước mặt ĐGH Innocent III để xin phê chuẩn Dòng Anh Em Thuyết Giáo (OP – Order of Preachers). ĐGH hướng dẫn ngài dùng tu luật hiện có để sống theo. Thánh Đa Minh và các tu sĩ đồng ý chọn tu luật của thánh Augustinô. Ngày 22-12-1216 có tân giáo hoàng là ĐGH Honoriô III, ngài đã phê chuẩn và tuyên bố thánh Đa Minh là “ánh sáng thật của thế giới”.
Khi sinh thời, thánh Đa Minh đã chữa lành các bệnh nhân, phục sinh người chết, và biến lương thực ra nhiều (các phép lạ vẫn tiếp tục xảy ra cho đến sau khi ngài qua đời). Ngài khuyến khích người trẻ và trìu mến với những người mà ngài gặp. Dù ngài già theo thời gian, nhưng tâm hồn ngài vẫn trẻ trung và vui vẻ. Sau khi dòng được phê chuẩn 5 năm, thánh Đa Minh qua đời ngày 6-8-1221 tại Bologna, Ý. Ngay khi hấp hối, ngài vẫn an ủi người khác. Ngài nói: “Anh em đừng khóc. Tôi sẽ có ích hơn cho anh em dù tôi đi bất cứ nơi đâu, có ích hơn khi tôi sống trên đời này”.
Ước mơ từ lâu của chân phước Jane, mẹ của thánh Đa Minh, đã thành hiện thực: Con trai bà đã thắp lửa sáng khắp thế giới.
Thánh thi hay Chuỗi Mân Côi?
Trong thời thánh Đa Minh, Chuỗi Mân Côi được nhắc tới như “Thánh thi của Đức Maria”, và mãi tới thế kỷ 15 Chuỗi Mân Côi mới được sử dụng. Nhưng 100 năm sau khi thánh Đa Minh giới thiệu Chuỗi Mân Côi, người ta vẫn không hề nhớ tới.
Chữ ros có thể lấy từ tiếng Latin, nghĩa là “sương”, ám chỉ lời Đức Mẹ nói với thánh Đa Minh về “sương hồng ân” hoặc do tiếng Latin là rosarium, nghĩa là “triều thiên hoa hồng” – từ ngữ “Chuỗi Mân Côi” (Rosary) có sau khi Lm Alan de la Roche, Dòng Đa Minh, người Pháp, được thị kiến Chúa Giêsu, Mẹ Maria, và thánh Đa Minh khuyến khích ngài khôi phục Chuỗi Mân Côi.
Dạng Chuỗi Mân Côi như chúng ta thấy ngày nay cũng không có trong thời thánh Đa Minh. Việc thêm các mầu nhiệm đã mất nhiều thế kỷ để chỉnh sửa và xác định. Thánh GH Piô V, cũng là tu sĩ Dòng Đa Minh, đã làm điều này năm 1569. Ngày 16-10-2002, chân phước GH Gioan Phalô II đề nghị thêm 5 Mầu nhiệm Sự Sáng vào Chuỗi Mân Côi truyền thống. Gọi là “Mầu nhiệm Sự Sáng” vì gồm các mầu nhiệm trong sứ vụ công khai của Chúa Kitô từ khi chịu Phép Rửa tới Cuộc Khổ Nạn.
Tặng phẩm của scapular
Năm 1218, tại Rôma, Đức Mẹ hiện ra với một tu sĩ Dòng Đa Minh là Master Reginald, ở Orleans, là giáo sư nổi tiếng về giáo luật tại ĐH Paris trước khi gặp thánh Đa Minh và gia nhập dòng này. Các bài giảng thuyết của ngài đã thu hút nhiều người vào dòng. Lúc Đức Mẹ hiện ra, Reginald bị bệnh. Mỉm cười với ngài, Đức Mẹ xức dầu co ngài, chữa bệnh cho ngài, và giới thiệu với ngài một áo dòng trắng (scapular). Đức Mẹ nói: “Đây là áo dòng của con”.
Tại sao lần Chuỗi Mân Côi?
Thế kỷ 15, Lm Alan de la Roche, OP, bảo đảm Chuỗi Mân Côi là nguồn vô biên của các phúc lành:
1. Tội nhân được tha thứ.
2. Linh hồn nào khao khát sẽ được thỏa khát.
3. Ai khổ sầu sẽ tìm thấy hạnh phúc.
4. Ai bị cám dỗ sẽ được bình an.
5. Người nghèo được giúp đỡ.
6. Tu sĩ được canh tân.
7. Ai không hiểu biết sẽ được hướng dẫn.
Về Chuỗi Mân Côi, chân phước GH Gioan Phaolô II nói: “Lần Chuỗi Mân Côi là giao phó những gánh nặng cho Thánh Tâm Thương Xót của Chúa Kitô và Đức Mẹ”.
Robert Feeney - Chuyển ngữ: Trầm Thiên Thu

 

07/10-167: Chất Tin Mừng trong chuỗi Kinh Mân Côi

(Suy niệm của Lm. André Đỗ Xuân Quế)
 

Chuỗi kinh Mai Khôi chính là tràng hạt Mân Côi mà bình thường giáo dân nào cũng có và 07/10-167

Chuỗi kinh Mai Khôi chính là tràng hạt Mân Côi mà bình thường giáo dân nào cũng có và mang theo nơi mình, lại siêng năng đọc mỗi ngày nữa. Đó là thói quen rất tốt từ bao đời nay nơi nhiều người công giáo. Người ta đọc kinh lần hạt. Đây là hình thức cầu nguyện phổ thông và khá đơn giản, lại dễ thực hành. Rất ước mong hình thức này vẫn được duy trì trong khuôn khổ các việc đạo đức thông thường và lòng sùng kính cá nhân. Sau đây xin đề cập đến chất Tin Mừng và tính Giáo hội trong lòng sùng kính này cho phù hợp với Hiến chế Lumen gentium (Ánh sáng muôn dân) chương VIII, tông huấn Marialis cultus (Lòng sìng kính Đức Maria) của ĐGH Phao-lô VI và Rosarium Virginis Mariae (Chuỗi kinh Mai Khôi của Đúc Trinh Nữ Maria)) của ĐGH Gio-an Phao-lô II.
1. Nội dung hay chất Tin Mừng trong chuỗi kinh Mai Khôi.
Trước hết xin nói về nội dung hay chất Tin Mừng trong chuỗi kinh Mai Khôi. Thời đại này, Lời Chúa được nhấn mạnh và Tin Mừng được đề cao. Một nền đạo đức mới đặt nền tảng trên Lời Chúa đã ra đời để bổ túc cho nền đạo đức cũ vốn được xây dựng trên các thứ lòng sùng kính. Vào các giai đoạn lịch sử, Lời Chúa ít được biết đến và phụng vụ là một mảnh vườn khép kín đối với giáo dân thì người ta phải chạy đến các thứ lòng sùng kính để nuôi dưỡng lòng đạo đức của mình. Đó là điều tự nhiên và dễ hiểu. Nhưng bây giờ, tình thế đã thay đổi nên lòng đạo đức cũng phải có căn bản vững vàng hơn. Căn bản đó là Kinh thánh và Phụng vụ. Ngoài thánh lễ và các giờ kinh phụng vụ ra, chuỗi kinh Mai Khôi đáp ứng được đòi hỏi này, vì các kinh đọc trong đó lấy từ Kinh thánh, Phụng vu và các mầu nhiệm suy ngắm cũng là những mấu nhiệm về cuộc đời Chúa Cứu Thế rút ra từ các sách Tin Mừng.
Quả vậy. Kinh Kính Mừng là lời chào của thiên thần Gáp-ri-en đến báo tin cho Đức Mẹ, kinh Lạy Cha là kinh Chúa Giêsu dạy cho các Tông đồ và kinh Sáng danh là vinh tụng ca Giáo hội dùng để kết thúc mỗi thánh vịnh, khi đọc các giờ kinh phụng vụ. Còn các mầu nhiệm thì cũng là những biến cố vui mừng, sầu khổ, sáng láng trong cuộc đời Chúa Cứu Thế.
* Năm sự vui là gì, nếu không phải là cuộc đời Chúa Giêsu ở giai đoạn thơ ấu, từ lúc thiên thần truyền tin cho Đức Mẹ cho tới khi Người tìm được Con Mình trong đền thờ. Những biến cố này đều được ghi trong các sách Tin Mừng Nhất Lãm.
* Năm sự sáng là gì, nếu không phải là những biến cố đặc biệt liên quan đến Phép Rửa tại sông Gio-đan, đến phép lạ biến nước thành rượu ngon tại Ca-na, đến công cuộc rao giảng Tin Mừng và kêu gọi ăn năn sám hối, đến cuộc hiển dung trên núi Ta-bo và việc thành lập chức linh mục và bí tích Thánh Thể?
* Năm sự thương là gì, nếu không phải là giai đoạn cuối cùng trong cuộc đời Chúa Cứu Thế, khi Người lên Giê-ru-sa-lem, bị điệu đến dinh tổng trấn Phi-la-tô, bị hành hình rồi bị treo trên thập giá.
* Năm sự mừng là gì, nếu không phải là giai đoạn chót trong cuộc đời tại thế của Chúa Giêsu, từ khi Người sống lại, ban thần khí cho các Tông Đồ rồi lên trời, hẹn ngày lại đến trong vinh quang.
Như vậy chuỗi kinh Mai Khôi là một bản tóm tắt gọn gàng, dễ nhớ về những biến cố quan trọng trong cuộc đời Chúa Cứu Thế. Mỗi khi đọc một chục kinh Mai Khôi là chúng ta có dịp nhớ lại một mầu nhiệm và sống ý nghĩa của mầu nhiệm ấy. Lần chuỗi Mai Khôi là thực hành lời thánh Phao-lô khuyên tín hữu Phi-líp-phê: “Giữa anh em với nhau, anh em hãy có những tâm tình như chính Đức Kitô Giêsu. Đức Giêsu vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã làm cho mình hóa ra không, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế. Ngược lại, còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự. Chính vì thế, Thiên Chúa đã siêu tôn Người và tặng ban danh hiệu trổi vượt trên muôn ngàn danh hiệu.” (Pl 2,5-9)
Bốn câu trong chương 2 thư Phi-líp-phê tóm tắt được các mầu nhiệm vui mừng, sầu khổ trong cuộc đời Chúa Cứu Thế và khuyên nhủ tín hữu dựa vào đó mà có những tâm tình xứng hợp khi đối xử với nhau là từ bỏ độc quyền, hạ mình xuống, hy sinh, vâng phục để được vinh hiển trong ngày Chúa quang lâm.
Ngoài ra, chuỗi kinh Mai Khôi lại còn có nội dung Tin Mừng ở điểm này nữa là địa vị của Đức Mẹ mà chúng ta tôn kính, khi lần chuỗi Mai Khôi. Mai Khôi là những bông hồng đẹp được tượng trưng bằng các kinh Kính Mừng để tôn vinh Người. Đức Mẹ đã có mặt trong cuộc đời Chúa Cứu Thế từ những giây phút đầu cho đến những giây phút cuối. Sự có mặt của Người vừa kín đáo lại vừa bi thảm. Người có mặt đó nhưng lại hoàn toàn tùy thuộc vào Con của Mình, như trong tiệc cưới Ca-na hay trong cảnh cậu bé Giêsu ở lại trong đền thờ, nghe các bậc thầy Do thái và đặt ra các câu hỏi cho các ông, sau cuộc trẩy hội lên Giê-ru-sa-lem. Đức Mẹ là người đầu tiên đã suy nghĩ và họa lại những tâm tình của Chúa Giêsu trong đời sống của mình. Bây giờ Đức Mẹ lại giúp chúng ta chuyển hiện những tâm tình này vào đời sống. Vì vậy, ĐGH Lê-ô XIII trong thông điệp Adjutricem populi (Đấng Phù Trợ của dân) mới viết: “Một trong những lợi điểm chính của chuỗi Mai Khôi là tạo cho tín hữu một phương tiện đơn giản và dễ dàng để nuôi dưỡng lòng tin.”
2. Chuỗi kinh Mai Khôi mang tính Giáo Hội
Giáo Hội nhận chuỗi Mai Khôi là lời kinh của mình và không ngớt lời khen ngợi. Trong thông điệp Octobri mense (Tháng Mười), lại cũng ĐGH Lê-ô XIII viết: “Tất cả lòng sùng kính Đức Mẹ cô đọng lại trong chuỗi kinh Mai Khôi.”
Giáo Hội là một cộng đồng rộng lớn không biên giới bao gồm những người tin nhận Chúa Giêsu Kitô. Lời kinh nào muốn có tính Giáo Hội thì phải được Giáo Hội công nhận đã đành mà còn phải phổ cập nữa. Về điểm này, kinh Mai Khôi thật là phổ cập vì đó là kinh của mọi tín hữu, ai cũng đọc được, từ người trẻ cho đến người già, người thông thái cũng như người không có học hay ít học, người giầu hay người nghèo, người khỏe mạnh cũng như người đau yếu, khi vui cũng như lúc buồn, khi làm việc cũng như lúc nghỉ ngơi. Kinh này lại có thể đọc được ở bất cứ đâu hay trong hoàn cảnh nào, ở nhà thờ, ở nhà mình, ở ngoài đường, trong nơi yên lặng hay giữa chốn ồn ào náo động và nhất là đọc chung với nhau trong gia đình hay những khi có đông người công giáo họp nhau lại.
Tính Giáo Hội của kinh Mai Khôi lại càng tỏ hiện trong ba tổ chức được công nhận dưới đây;
# Hội Mai Khôi
Hội qui tụ những người tình nguyện suy ngắm các mầu nhiệm Mai Khôi mỗi tuần một lần.
Hội Mai Khôi vĩnh viễn
Hội này do linh mục Ricci thành lập năm 1629 và được linh mục Chardon sắp xếp, tổ chức lại ở Lyon năm 1858. Mục đích của Hội là dâng lời ca tụng liên lỉ, phân chia cho mỗi người mỗi tháng một lần suy ngắm toàn bộ chuỗi Mai Khôi vào ngày giờ được ấn định trước.
# Chuỗi Mai Khôi sống
Hội này được thành lập tại Lyon năm 1826 do cô Pauline Jaricot, chia cho mỗi người mỗi ngày đọc một chục kinh Mai Khôi và suy ngắm về một mầu nhiệm.
Kết luận
Trên đây là hai điểm đặc biệt về chuỗi Mai Khôi, tức chất Tin Mừng và tính Hội thánh được bao gồm trong đó. Chúng ta lần hạt với ý thức là mình đang làm một công việc có chất Tin Mừng, được Giáo Hội công nhận và nhiệt tình khuyến khích, một công việc thu tóm lại tất cả cuộc đời Chúa Cứu Thế.
Như vậy, lần chuỗi Mai Khôi theo thói quen, đọc mà không nghĩ đến các mầu nhiệm trong cuộc đời Chúa Cứu Thế, hoặc không đọc bao giờ hay đôi khi mới đọc đều là những điểm cần phải suy nghĩ lại để điều chỉnh cho phù họp với ý nghĩa và giá trị của chuỗi kinh Mai Khôi.

 

07/10-168: Kinh Mân Côi – Trần Mỹ Duyệt

Nếu Phanxicô muốn lên thiên đàng, thì phải siêng năng lần hạt”. Đọc và suy ngắm Kinh Mân 07/10-168

“Nếu Phanxicô muốn lên thiên đàng, thì phải siêng năng lần hạt”. Đọc và suy ngắm Kinh Mân Côi cách sốt sắng là cầu nguyện.
Ngày 13 tháng 7 năm 1917, tại Fatima, Đức Mẹ đã hiện ra lần thứ ba với Lucia, Giaxinta, và Phanxicô, cho ba em nhìn thấy hỏa ngục và những hình phạt mà các linh hồn phải chịu trong đó. Lucia đã hỏi Đức Mẹ về số phận của mình, của hai em Phanxicô và Giaxinta. Đức Mẹ đã cho biết đối với Phanxicô, nếu muốn lên thiên đàng thì em phải siêng năng lần hạt.
Không thấy Đức Mẹ nói lý do tại sao lại đòi Phanxicô phải lần hạt nhiều. Nhưng có thể hiểu một cách đơn sơ rằng, đối với Phanxicô lần hạt nhiều có nghĩa là cầu nguyện nhiều, bởi vì việc lần hạt Mân Côi không vượt quá khả năng một em nhỏ như Phanxicô.
Với mỗi Kitô hữu hôm nay, nếu có hỏi Đức Mẹ một câu tương tự về số phận đời đời của mình như Ba Trẻ Fatima xưa: “Còn số phận con thì sao?”, chắc chắn cũng sẽ được nghe Đức Mẹ trả lời: “Nếu muốn lên Thiên Đàng, con phải năng lần hạt”.
KINH NHẬT TỤNG NGƯỜI KITÔ HỮU
Như các linh mục và các thầy phó tế đã lãnh chức thánh, như các tu sĩ thuộc các dòng tu, thường ngày đọc kinh Nhật Tụng để đại diện cho Giáo Hội dâng lời ca ngợi Thiên Chúa, người tín hữu giáo dân mỗi ngày cũng dùng lời kinh nguyện của mình ca tụng Thiên Chúa. Kinh nguyện đó là Kinh Mân Côi.
Trong tinh thần kinh nguyện, Kinh Mân Côi trở thành Kinh Nhật Tụng của người tín hữu. Trong bộ kinh này, ta có dịp đọc lên những lời chúc tụng thánh ý Thiên Chúa, cầu xin một cách đẹp lòng Ngài trong Kinh Lạy Cha - kinh nguyện duy nhất mà Chúa Cứu Thế đã dậy khi còn tại thế. Chúc tụng Mẹ Maria thánh đức bằng những lời Tổng Thần Gabrien, Thiên sứ của Thiên Chúa đã chào mừng Đức Mẹ. Những lời ngợi khen của Thánh Isave, và lời cầu xin của ta dâng lên Mẹ với ý thức về sự yếu hèn của chính mình. Sau cùng là lời ca ngợi vinh quang Ba Ngôi Thiên Chúa từ muôn thuở và cho đến muôn đời.
Tóm lại, khi suy nguyện chuỗi Mân Côi với ý nghĩa của Kinh Lậy Cha, Kinh Kính Mừng, và Kinh Sáng Danh, ta không thể không cảm thấy ngợp trời ánh sáng, vinh quang và vui mừng vì được chúc tụng Thiên Chúa chí tôn, đầy tình thương. Ca ngợi Mẹ Maria, người Mẹ diễm phúc, luôn thương xót và cầu bầu cho ta. Trên tất cả, tình thương và phúc lộc đó qui về vinh quang một Thiên Chúa là Cha, và cho phần rỗi của con cái Ngài.
Một bộ kinh như thế, chắc chắn không còn bộ kinh nào đẹp đẽ hơn, xứng đáng hơn để ta dâng lên Thiên Chúa. Do đó, Kinh Mân Côi được coi là nhật tụng thần lương của mọi Kitô hữu. Những tâm hồn đạo đức, những thánh nhân kim cổ trong lịch sử Giáo Hội đều có lòng yêu mến Đức Mẹ, hoặc sùng mộ những Mầu Nhiệm ẩn chứa trong việc lần hạt Mân Côi.
Thánh Bênađô, vị thánh thời danh của Đức Mẹ có thói quen dùng lời chào của sứ thần Gabrien để chào mừng Đức Mẹ. Mỗi lần khi đi qua tượng ảnh Mẹ, Bênađô cúi đầu và nói: “Ave Maria” - kính chào Maria. Cảm khích về lời chào và tấm lòng yêu mến đó, một hôm sau khi Bênađô vừa chào mừng Đức Mẹ, liền được nghe Đức Mẹ chào lại: “Ave Benado” - chào Bênađô. Thánh nhân đã ghi lại tình thương yêu bao la và sự săn sóc của Đức Mẹ bằng những lời lẽ đầy tín thác như sau:
“Lạy Thánh Nữ Đồng Trinh Maria là Mẹ rất nhân từ. Xin hãy nhớ xưa nay chưa từng nghe có người nào chạy đến cùng Mẹ xin bầu chữa cứu giúp, mà Mẹ từ bỏ chẳng nhận lời”.
Thánh Anphongsô Giám Mục Tiến Sĩ và sáng lập Dòng Chúa Cứu Thế đã viết nhiều về Đức Mẹ, đặc biệt là bộ sách Vinh Quang Đức Mẹ, trong đó thánh nhân đã diễn tả cách rất đầy đủ về những vinh quang và nhân đức của Đức Mẹ.
Thánh Ludovico Maria Grignon a Monfort đã hô hào lòng sùng kính và tận hiến cho Đức Mẹ.
Thánh Đaminh, người tiên phong cổ võ việc lần hạt Mân Côi. Nhờ Ngài sốt sắng rao truyền việc lần hạt, đã chiến thắng được lạc giáo Albigense tung hoành và gieo rắc bao tai họa cho Giáo Hội tại nước Pháp thời của Ngài.
Trong khi rao giảng phép lần hạt Mân Côi tại tỉnh Carcasso, một hôm có một người đã đả kích Thánh Đaminh về việc đạo đức này. Anh ta đã bị quỉ nhập, và Thánh Đaminh đã cầu nguyện để trừ quỉ ra khỏi người anh. Trước khi ra khỏi, chính quỉ dữ đã phải thú nhận và thốt lên những lời này:
“Hỡi mọi người, hãy nghe đây: Đức Trinh Nữ Maria rất thánh là Mẹ Thiên Chúa. Người có đủ quyền năng gìn giữ mọi người khỏi lửa hỏa ngục. Ai có lòng sùng kính Người, sẽ thoát khỏi tay chúng ta. Nếu chẳng có Người, thì nhiều linh hồn đã phải trầm luân hỏa ngục. Người yêu thương và phù hộ cho những ai siêng năng lần hạt Mân Côi”.
Nhờ sự hô hào và lòng sốt sắng đối với Kinh Mân Côi của Thánh Giáo Hoàng Piô V, Giáo Hội dưới triều đại Ngài đã chiến thắng đạo quân Hồi Giáo tại vịnh Lépante.
Chân Phước Giáo Hoàng Gioan Phaolô II cũng đã làm gương về lòng yêu mến Đức Mẹ qua việc lần hạt Mân Côi. Ngài luôn luôn có tràng hạt trong người. Lần hạt riêng và lần hạt chung với con cái bốn phương. Lòng sùng mộ và yêu mến Mẹ Maria đã thôi thúc Ngài chạy lại bên Mẹ như một trẻ thơ.
Ngày 13 tháng 5 năm 1981, Ngài đã được cứu thoát một cách nhiệm mầu khi bị ám sát tại công trường Thánh Phêrô. Ngài thâm tín rằng trong biến cố đó, mạng sống Ngài được duy trì là do bàn tay của Đức Mẹ. Và Ngài đã bày tỏ lòng biết ơn Đức Mẹ bằng cuộc hành hương Fatima một năm sau, vào ngày 13 tháng 5 năm 1982. Trên mũ triều thiên của Đức Mẹ Fatima, giữa những viên kim cương lóng lánh, là một đầu đạn mà kẻ ám sát đã bắn vào vị Giáo Hoàng, như dấu chứng hùng hồn về sự săn sóc và yêu thương đặc biệt của Đức Mẹ dành cho Ngài. Ta hãy nghe lời của Ngài trong Tông Huấn Sứ Điệp Mục Vụ Các Gia Đình:
“Cha mời gọi tất cả hãy lần hạt Mân Côi, đường lối thiết yếu nuôi dưỡng sự tăng trưởng thiêng liêng cho cá nhân và sự thông hiệp yêu thương cho gia đình” (tr.28).
Ngày 16 tháng 10 năm 2002, bắt đầu năm thứ 25 Giáo Triều của Ngài, Chân Phước Gioan Phaolô II đã ban hành Tông Thư Kinh Mân Côi Trinh Nữ Maria, một tài liệu rất đặc biệt hô hào mọi người hãy yêu mến và sốt sắng lần hạt Mân Côi. Ngay trong phần nhập đề, Ngài đã viết:
“Kinh Mân Côi của Trinh Nữ Maria, một kinh đã từ từ thành hình trong thiên niên kỷ thứ hai theo sự hướng dẫn của Thần Linh Thiên Chúa, là một kinh được rất nhiều vị thánh mến chuộng cũng như được Giáo Quyền khuyến khích. Tuy đơn giản, nhưng sâu xa, kinh nguyện này vào đầu thiên niên kỷ thứ ba đây, vẫn là một kinh nguyện có tầm vóc quan trọng trong việc mang lại một mùa gặt thánh đức”.
Cũng trong phần mở đầu của Tông Thư, Ngài viết tiếp: “Mặc dù rõ ràng mang đặc tính Thánh Mẫu, Kinh Mân Côi tự bản chất là một kinh nguyện có trọng tâm là Chúa Kitô. Qua những yếu tố bình dị của nó, Kinh Mân Côi chất chứa tất cả những gì sâu xa của toàn thể sứ điệp Phúc Âm. Có thể nói rằng Kinh Mân Côi là một tổng hợp của Phúc Âm”.
Ngoài ra, qua Tông Thư này, Ngài đã thêm vào năm mầu nhiệm mới mà Ngài gọi là những Mầu Nhiệm Ánh Sáng, nhấn mạnh đến Chúa Kitô là ánh sáng của thế gian.
20 MẦU NHIỆM MÂN CÔI
Khi lần hạt, như đã trình bày trên, ngoài việc đọc và suy ngắm ý nghĩa của từng lời kinh, ta còn có dịp đi sâu vào những mầu nhiệm tình thương và sự thánh thiện của Ba Ngôi Thiên Chúa, cũng như vinh quang của Đức Trinh Nữ Maria.
Trước hết, qua Mầu Nhiệp Nhập Thể, ta hân hoan về Ơn Cứu Chuộc đã được ban cho nhân loại qua Đức Giêsu Kitô. Suy niệm về cuộc hành trình bác ái của Đức Maria, khi vượt đồi núi Giuđêa đến viếng thăm chị họ Isave. Cảm nghiệm tình thương bao la của Thiên Chúa Nhập Thể qua hình hài con trẻ nằm rét run trong hang bò lừa tại đồng quê Belem. Học hỏi đức khiêm nhường và tuân phục của Đức Maria và Thánh Giuse khi lên Giêrusalem dâng Đức Kitô cho Thiên Chúa. Sau đó, vui mừng với Hai Đấng khi tìm lại được Giêsu sau ba ngày lạc mất.
Chúa Giêsu là “ánh sáng thế gian” (Jn 8:12). Ánh Sáng đã xuất hiện như ngọn đuốc dẫn đàng cho nhân loại tìm về cõi phúc trường sinh giữa đêm trường trần gian mù mịt, khi Ngài xuất hiện lãnh nhận việc thanh tẩy từ tay Gioan Tẩy Giả trên sông Giođan. Khi Ngài tham dự tiệc cưới ở Canna với các môn đệ. Khi Ngài kêu gọi mọi người “xám hối” và “tin vào Tin Mừng”. Khi Ngài hiển lộ sáng láng trên núi Taborê. Và khi Ngài thiết lập bí tích Thánh Thể.
Nhưng khi con người bị đau khổ, bị thử thách mới biết tình Chúa thương yêu như thế nào. Mới hiểu tại sao Đức Kitô lại đau khổ, đổ mồ hôi hòa máu trong vườn Cây Dầu. Tại sao Ngài để người ta đánh đòn, xỉ vả Ngài. Tại sao Ngài cam tâm chịu nhục hình trước mặt bọn người tội lỗi. Tại sao Ngài vác thập giá. Và nhất là tại sao Ngài lại chịu chết treo trên thập giá.
Suy ngắm những chặng đường đau khổ của Đức Kitô từ vườn Cây Dầu đến núi Sọ, ta sẽ hiểu thế nào là tình thương yêu của Thiên Chúa. Thế nào là ác quả của tội lỗi. Thế nào là sự cao quí của linh hồn.
Sau khi cùng chia vui, xẻ sầu với Đức Kitô qua các ngả đường trần gian, trong ơn gọi và cuộc sống của mình, nhờ suy ngắm, mỗi Kitô hữu sẽ tìm được nguồn vui thiêng liêng khi nghĩ về cuộc phục sinh vinh quang của Ngài. Nhớ về Thiên Đàng khi nhìn ngắm Đức Kitô về trời, vì Ngài về trời là để dọn chỗ cho mỗi người chúng ta: “Thầy đi để dọn chỗ cho các con” (Jn 14:2). Ngày Mẹ Maria được Thiên Chúa rước về trời và phong làm Nữ Vương trời đất.
Tóm lại, 20 Mầu Nhiệm Mân Côi chính là 20 quãng đường của mọi người chúng ta phải đi, phải chấp nhận vì tình mến như Chúa Giêsu, như Mẹ Maria đã đi và đã chấp nhận. Một giờ cầu nguyện đơn sơ nhưng với ý nghĩa cao siêu như thế, không phải là một giờ suy nguyện đẹp lòng Thiên Chúa hay sao? Không phải là một giờ để mình tâm sự và nghe Chúa tâm sự với mình qua những mầu nhiệm đó sao? Vì khi suy ngắm những mầu nhiệm đó, ta sẽ được nghe Thiên Chúa nói với ta về cuộc đời của Đức Kitô, của Đức Maria và những gì Ngài muốn ta thực hiện trong đời sống theo gương Hai Đấng.
SIÊNG NĂNG LẦN HẠT
Cũng như Chân Phước Phanxicô, nếu ta muốn đạt tới đích của đời sống, muốn chiếm hữu được vĩnh cửu, thì chắc chắn phải siêng năng lần hạt. Lần hạt mỗi ngày. Lần hạt một mình. Lần hạt chung với nhau trong gia đình. Khi một mình trên xe bus. Một mình trên xe từ nhà tới sở, và từ sở về nhà. Lúc rảnh rỗi hay trên giường bệnh. Khi gặp những thử thách, đau khổ mà không biết than thở với ai. Nhờ suy ngắm những mầu nhiệm Mân Côi, ta sẽ biết hy sinh, khiêm nhường, nhẫn nại như Chúa Giêsu và Mẹ Maria. Ta sẽ hiểu Thiên Chúa muốn mình sống như thế nào.
“Hãy cầu nguyện để khỏi sa chước cám dỗ” (Mt 26:41). Lời Đức Kitô nói xưa không có luật trừ cho bất cứ ai. Nó không phải là một lời có tính cách cảnh giác hay đề phòng, nhưng là một mệnh lệnh, một điều kiện. Lời Ngài là lời hằng sống, như thánh Phêrô đã tuyên xưng: “Chúa có lời ban sự sống đời đời” (Jn 6:69). Lời đó nhắc nhở ta phải luôn tỉnh thức cầu nguyện.
Đời sống của con người trên dương thế không phải là một chuỗi ngày dài hạnh phúc, vui tươi, phấn khởi và thơ mộng như những giấc mơ thần tiên được thêu dệt do trí tưởng tượng trong các tiểu thuyết. Những câu chuyện như thế chỉ có tác dụng làm quên đi thực tế của cuộc đời, hơn là giúp ta biết chấp nhận, thánh hóa, và thăng tiến cuộc đời như Đức Kitô, như Mẹ Maria, như các thánh nhân đã sống, và đã thánh hóa.
Đời sống trần gian của con người, nếu được trình bày một cách trung thực phải là một tập hợp giữa vui và buồn, giữa hạnh phúc và bất hạnh, giữa yêu thương và ghen ghét, giữa bạn hữu và thù nghịch, giữa lương thiện và gian ác. Một cuộc sống mà không ai có thể nói mình hoàn toàn hạnh phúc, hoặc hoàn toàn bất hạnh. Một cuộc sống mà trong đó mọi người phải phấn đấu, chấp nhận, và vươn cao giữa những thử thách, những cám dỗ, và yếu đuối. Trong cuộc sống này, người Kitô hữu không thể không tìm gặp Thiên Chúa, không thể không cậy trông Ngài, và không thể không xin Ngài nâng đỡ. Bằng cách nào? Bằng việc sốt sắng suy ngắm và sống các mầu nhiệm Mân Côi.
Theo Đức Giáo Hoàng Piô XII, thì Kinh Mân Côi là một bản tóm lược toàn bộ Tin Mừng. Nhờ suy ngắm những mầu nhiệm này, Đức Tin của người Kitô hữu “được nẩy nở thêm” như Đức Giáo Hoàng Piô XI đã đề cập trong Thông Điệp In Crescentibus Malis (Trước Sự Dữ Gia Tăng), và Đức Giáo Hoàng Phaolô VI nhắc lại trong Thông Điệp Hòa Bình, ban hành ngày 15 tháng 9 năm 1966.
Lần hạt đối với Chân Phước Phanxicô là con đường dẫn lên cõi phúc. Đối với ta cũng thế, lần hạt sẽ giúp hiểu hơn về Đức Trinh Nữ Maria, và yêu mến Mẹ hơn. Nhờ tình mến này, Mẹ đưa ta tiến gần tới Chúa Giêsu Con Chí Thánh của Mẹ.
Lần hạt Mân Côi, theo linh mục Joanquim Maria Alonso, CMS, nhà biên khảo thời danh về biến cố Fatima, còn là việc chu toàn một trong ba điều kiện của Đức Mẹ, đó là: Cải thiện đời sống, tôn sùng Trái Tim Mẹ, và siêng năng lần hạt.
Linh mục Alonso còn quả quyết rằng Thánh Ý Thiên Chúa muốn dùng Đức Trinh Nữ Maria để tỏ lòng khoan nhân và công trình Cứu Chuộc vô giá của Đức Kitô cho nhân loại.
Việc cứu rỗi nhân loại dĩ nhiên thuộc về Đức Kitô, nhưng do lòng nhân lành vô biên của Ngài, Thiên Chúa muốn ban cho Mẹ Maria quyền ban phát ơn đó cho nhân loại. Giáo huấn của Giáo Hội về vai trò trung gian của Đức Trinh Nữ Maria, đã được Đức Giáo Hoàng Lêo XIII quảng diễn trong Thông Điệp Jucunda Semper ban hành ngày 8 tháng 9 năm 1894 như sau:
“Thiên Chúa, theo sự quan phòng rất nhân lành của Ngài đã ban cho nhân loại vị Nữ Trung Gian này, và đã ấn định rằng tất cả mọi phúc lộc phải qua tay Maria mới đến với chúng ta”.
(Trích từ tác phẩm “Sống Đạo Giữa Đời”, Tủ Sách Vào Đời, 2004. Chương 10, tr.119-129 của cùng tác giả.)

 

07/10-169: Lễ Đức Mẹ Mân Côi – Antôn Lương Văn Liêm

“Vâng! Tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời Sứ thần nói” (Lc 1,38)
 

Lễ Đức Mẹ Mân Côi hay còn gọi là Lễ Đức Mẹ Chiến Thắng. Thánh lễ được Đức Thánh Cha 07/10-169

Lễ Đức Mẹ Mân Côi hay còn gọi là Lễ Đức Mẹ Chiến Thắng. Thánh lễ được Đức Thánh Cha Piô V thiết lập để tạ ơn Chúa, tạ ơn Mẹ Maria đã giải thoát Giáo Hội bằng lời kinh Mân Côi, qua trận chiến oanh liệt nơi vịnh Lépante ngày 7-10-1571.
Mừng lễ Đức Mẹ Mân Côi, ngoài việc ta cùng với toàn thể Giáo Hội dâng lời cảm tạ Thiên Chúa đã đồng hành, che chở dân Người ngang qua Đức Trinh Nữ Maria; ta đồng cảm tạ Mẹ Maria đã luôn yêu thương, luôn cất lên lời khẩn nài Thiên Chúa cho con cái mình vượt qua những phong ba bão táp của cuộc sống, như xưa Mẹ đã thực hiện nơi tiệc cưới Cana; ta nhắc nhở nhau thực hiện ba mệnh lệnh mà Mẹ đã trao, khi Mẹ đến với con cái mình nơi Thánh địa Fatima. Cuối cùng, ta hướng về Mẹ với tước hiệu “Nữ Vương Rất Thánh Mân Côi”. Tước hiệu đã được chính Mẹ mặc khải cho ta vào ngày 13-10-1917 tại Fatima.
Qua những ý nghĩa trên, ta cũng được mời gọi chiêm ngắm Mẹ Maria với danh xưng thật kiêu hãnh. Đó là Mẹ Maria “Mẹ Chiến Thắng”. Vâng! Mẹ Maria chiến thắng không chỉ được biết đến qua biến cố lịch sử kiêu hùng nơi vịnh Lépante năm xưa. Nhưng, Mẹ đã được Chúa ban cho đặc ân chiến thắng. Trước tiên, đặc ân đó khởi đi từ lòng xót thương của Thiên Chúa, kế đến là qua đời sống đạo đức thánh thiện, đời sống khiêm nhu của Mẹ. Giờ ta lần giở Kinh Thánh để cùng nhau lược lại những gì đã từng xảy ra trong cuộc đời của Mẹ, giúp Mẹ trở thành “Mẹ Chiến Thắng”.
- Mẹ được Chúa ban cho đặc ân chiến thắng tội nguyên tổ. Tội mà mọi phàm nhân đều phải gánh lấy do hệ luỵ tội lỗi mà ông Adong và và Eva đã sai lầm gây nên nơi vườn Địa Đàng như trình thuật sách Sáng Thế đã miêu tả.
- Như bao thiếu nữ cùng trang lứa, Mẹ cũng có những ước mơ, dự tính, hoài bão cho bước đường tương lai. Theo lẽ thường, Mẹ cũng ước mơ trở thành cành hồng rực rỡ làm say lòng các bậc nam nhi. Nhưng, Mẹ đã chiến thắng khi Mẹ gạt những ước mơ, những dự tính đó sang một bên. Ngoài việc Mẹ phụ giúp song thân trong bổn phận của một người con, quỹ thời gian còn lại Mẹ dành cho Thiên Chúa qua việc cầu nguyện và học hỏi Kinh Thánh. (trích trong quyển Thần Đô Huyền Nhiệm)
- Bước vào tuổi thành thân, Mẹ đã được song thân gửi gắm cuộc đời cho một chàng trai tuấn tú, khôi ngô, đầy lòng đạo đức, đó là Thánh Cả Giuse. Mẹ rất vui, nhưng Mẹ đã chiến thắng khi Mẹ gác lại niềm vui riêng mình để cất lên hai tiếng “Xin Vâng”, từ bỏ ý riêng để thuận theo ý Chúa trong ngày Truyền Tin (x. Lc 1,26-38).
- Mẹ chiến thắng những lời dị nghị, những thắc mắc của dư luận xoay quanh việc Mẹ mang thai không theo cách của tự nhiên của con người. Vì chỉ một mình Mẹ biết sự thụ thai của mình là do Ý Chúa, qua quyền năng của Chúa Thánh Thần.
- Mẹ đã chiến thắng sự mệt nhọc của một người phụ nữ “bụng mang dạ chửa” thực thi việc bác ái qua việc Mẹ đi thăm viếng, săn sóc người chị em (x. Lc 1,39-59), cùng với người bạn đời lên đường về quê quán khai báo hộ khẩu theo luật truyền (x. Lc 2,1-5).
- Mẹ đã chiến thắng sự nghèo nàn, thiếu thốn, sự ruồng bỏ của người đời trong ngày Mẹ sinh hạ Đấng Cứu Thế (x. Lc 2,6-7). Mẹ chiến thắng sự sợ hãi, cái giá lạnh của trời đông qua việc Mẹ vội vã lên đường cùng với Thánh Cả Giuse đem con đi trốn (x. Mt 2,13-15).
- Mẹ chiến thắng sự cô quạnh, cô đơn khi Đức Giêsu từ giã Mẹ lên đường thi hành sứ vụ của Cha trên trời, khi Thánh Cả Giuse được Chúa gọi về trời.
- Mẹ chiến thắng những mệt nhọc của tuổi già, chiến thắng những gian lao vất vả để song hành với Con trên đường sứ vụ. Cuối cùng Mẹ chiến thắng những sợ hãi, những khinh khi, những lời đàm tiếu, những lời sỉ nhục khi Mẹ cất bước đi cùng Con yêu trên đường thập giá và kiên cường đứng dưới chân thập giá với Con yêu.
Bởi đâu Mẹ có sức mạnh chiến thắng tất cả những biến cố, những sự việc vui cũng như buồn xảy ra trong cuộc đời của Mẹ? Xin thưa, trước tiên là nhờ ơn Chúa. Vâng! Nhờ ơn Chúa, ơn đầu tiên mà Thiên Chúa ban tặng cho con cái mình là ơn tự do. Ngài cũng tôn trọng ơn tự do mà Ngài đã ban một cách tuyệt đối. Nhờ ơn tự do, con người muốn hoặc không muốn thực hiện tất cả những công việc lành thánh cũng như xấu xa. Nếu như ta chỉ dừng lại những gì mà Mẹ Maria đã thực hiện, đã trải nghiệm trong phạm trù ơn Chúa, thì Mẹ có công trạng gì, Mẹ có gì để ta học hỏi…!
Ngày Sứ thần truyền tin cho Mẹ, sau những giây phút bối rối, ngỡ ngàng trước lời Sứ thần chào: “Mừng vui lên, hỡi Đấng đầy ân sủng, Đức Chúa ở cùng bà” (Lc 1,28); sau những thắc mắc, đan xen nỗi lắng lo khi Sứ thần tiếp lời: “Thưa bà Maria, xin đừng sợ, vì bà đẹp lòng Thiên Chúa. Và này đây bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai, và đặt tên là Giêsu…” (Lc 1,30-31), với ơn tự do Chúa ban, Mẹ có thể nhận lời và cũng có thể từ chối lời mời gọi cộng tác của Thiên Chúa qua Sứ thần. Gác lại ơn tự do, khiêm hạ nghe lời giải thích của Sứ thần, Mẹ đã cất tiếng trả lời. Tiếng trả lời ấy như một bản tình ca, như một hồi chuông tràn ngập niềm vui và hy vọng được vọng tới Thiên Đình, lan toả ra khắp cõi nhân gian. Ta hãy nghe Mẹ trả lời: “Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói” (Lc 1,38).
Vâng! Tiếng “Xin Vâng” của Mẹ Maria trong ngày Truyền Tin không chỉ làm đẹp lòng Thiên Chúa, khơi dòng chảy Ơn Cứu Độ của Thiên Chúa xuống cõi trần. Tiếng “Xin Vâng” ấy là một bài học, là tấm gương cho ta trong hành trình sống Đức Tin, hành trình bước theo làm môn đệ của Đức Kitô.
Nhiều và rất nhiều lần trong đời ta cất lên tiếng xin vâng, xin vâng với cha mẹ, thầy cô, với anh chị, với người lãnh đạo, với bạn bè… Nhưng, đôi khi tiếng xin vâng của ta đan xen sự giả dối, đan xen những tiêu cực, xin vâng cho qua chuyện và xin vâng để có được tiếng khen của người đời, có được mối lợi nào đó… Riêng tiếng “Xin Vâng” của Mẹ Maria được cất lên với một tấm lòng đơn sơ và phó thác, lòng tin tưởng và cậy trông, “xin vâng” đồng nghĩa với việc Mẹ gánh lấy những hệ luỵ, khó khăn và cả khổ đau qua lời “xin vâng” ấy. Điều đặc biệt, Mẹ đặt cả cuộc đời vào bàn tay Quan Phòng của Thiên Chúa qua lời của Mẹ: “Xin Chúa cứ làm cho tôi như lời Sứ thần nói”.
Xin Chúa cứ làm, xin Chúa cứ thực hiện, xin Chúa vẽ cuộc đời con theo như Thánh ý của Ngài. Bức tranh đời con đẹp, tốt là do nơi Ngài, phận con xin được thuận theo, xin được cộng tác với Ngài bằng khả năng nhỏ bé, bằng niềm tin tưởng và phó thác tuyệt đối vào Thiên Chúa… Mẹ Maria đã chiến thắng khi thực hiện được điều đó trong cuộc đời của Mẹ. Đây chính là tấm gương, là những bài học cho ta trong từng ngày sống.
Trong đời sống cầu nguyện, ta thường xin với Chúa với Đức Mẹ ban cho ta ơn này, ơn nọ: mua may bán đắt, thành công trong công việc, học tập; ơn chữa lành thể xác, ơn cho con cái ngoan hiền, gia đình đầm ấm và tất cả những gì giúp ích cho ta nơi cuộc sống tạm bợ này. Nhiều khi ta còn vạch chương trình cho Thiên Chúa thực hiện khi ta cầu nguyện: “Lạy Chúa! Xin giúp con có việc làm, có đồng ra, đồng vô để con giúp xây nhà thờ, giúp cho người nghèo, để con trả nợ…”.
Thú thực, mấy khi ta xin Chúa và Đức Mẹ giúp ta vâng theo Thánh Ý, giúp ta nhận ra Thánh ý của Ngài để mau mắn thi hành. Chính đời sống Đức Tin, đời sống cầu nguyện đó không giúp ta chiến thắng, khó giúp ta đón nhận ân sủng của Thiên Chúa. Nếu không có ơn Chúa và sự cộng tác, cố gắng của ta, thì lẽ tất nhiên ta mãi là người thất bại. Thất bại trước những cám dỗ, thất bại trước những thử thách, gian truân trong cuộc sống, thất bại trên con đường trọn lành.
Mẹ Maria là tấm gương, là Người Mẹ, Người Thầy tuyệt vời nhất, luôn yêu thương ta. Mẹ sẽ giúp ta sống như Mẹ đã sống, với điều kiện ta năng chạy đến với Mẹ. Điều làm Mẹ vui lòng nhất, đó là ta dành thời gian học và lắng nghe tiếng Chúa nơi Tin Mừng, ta dành thời gian tâm sự với Mẹ qua tràng chuỗi Mân Côi, đặc biệt trong Tháng Mân Côi này. Mẹ Maria đã là người chiến thắng, ta tin chắc Mẹ sẽ giúp ta chiến thắng như Mẹ. Chiến thắng sự ươn lười của bản thân, chiến thắng những đam mê thấp hèn, chiến thắng những gian nan, thử thách luôn ở bên ta và với ta trên bước đường lữ hành.
Lạy Mẹ Maria! Nữ Vương Rất Thánh Mân Côi, Nữ Vương Chiến Thắng, xin cầu cùng Chúa cho con bây giờ và mãi mãi; xin giúp con có được nghị lực để chiến thắng tất cả như Mẹ đã chiến thắng; xin giúp con noi gương Mẹ phó thác cuộc đời cho Thiên Chúa với tấm lòng đơn sơ, nhỏ bé. Amen.

 

07/10-170: Lễ Đức Mẹ Mân Côi – Lm. Ignatiô Hồ Thông

Trong ngày lễ kính trọng thể Đức Mẹ Mân Côi, Phụng Vụ Lời Chúa nêu bật Tình Mẫu Tử 07/10-170

Trong ngày lễ kính trọng thể Đức Mẹ Mân Côi, Phụng Vụ Lời Chúa nêu bật Tình Mẫu Tử của Đức Maria. Chính ở nơi Tình Mẫu Tử của Đức Maria mà Chúa Cha đã trao phó “Con Một làm người” của Ngài cho Mẹ để Mẹ nuôi dưỡng và săn sóc. Và cũng chính nơi Tình Mẫu Tử nầy mà Đức Giêsu đã trao phó cho người mẹ tuyệt vời của Ngài ân cần săn sóc Thân Thể Mầu Nhiệm của Ngài, tức Giáo Hội mà Ngài đã mang nặng đẻ đau trên thập giá (Ga 19: 25-37).
Mỗi lần chúng ta lần tràng chuỗi Mân Côi là mỗi lần chúng ta chiêm ngắm Tình Mẫu Tử tuyệt vời nầy ở nơi niềm vui thầm lặng nhưng sâu thẩm của Mẹ khi đón nhận Người Con mà Thiên Chúa trao ban cho Mẹ (Năm Sự Vui), ở nơi sự kết hợp của tình Mẹ với Con trên con đường khổ nạn (Năm Sự Thương), và ở nơi niềm vui vỡ òa của Mẹ khi Mẹ gặp lại Con Mẹ phục sinh để từ nay sự sống đã chiến thắng sự chết, vận mệnh của con người đã sang trang (Năm Sự Mừng).
Cv 1: 12-14
Sau khi chứng kiến Đức Giêsu lên trời, các Tông Đồ theo lời căn dặn của Thầy trở về nhà ở Giê-ru-sa-lem: “Các ngài đã đồng tâm nhất trí chuyên cần cầu nguyện, cùng với các phụ nữ và Đức Maria thân mẫu của Đức Giêsu”. Ngay từ những bước khởi đầu của Giáo Hội tiên khởi, Đức Maria đã ở bên và che chở Giáo Hội với trọn tấm lòng từ mẫu.
Gl 4: 4-7
Khi viết: “Thiên Chúa đã sai Con mình tới, sinh làm con một người đàn bà”, thánh Phao-lô nhấn mạnh Con Thiên Chúa đã thực sự đảm nhận trọn vẹn thân phận con người. Lời nầy được đọc trong ánh sáng của Tin Mừng Truyền Tin hôm nay mặc khải rằng Con Thiên Chúa không sinh ra bởi bất kỳ một người đàn bà nào, nhưng là một người đàn bà được tuyển chọn, một Tình Mẫu Tử được viết hoa, kiệt tác của công trình sáng tạo người nữ.
Lc 1: 26-38
Tin Mừng là bài tường thuật biến cố Truyền Tin. Nơi Thiên Chúa chuẩn bị để Con của Ngài đến ở giữa dân Ngài là cung lòng thanh sạch và rạng ngời vinh hiển của Đức Trinh Nữ Maria, Đền Thờ đẹp nhất, được Thiên Chúa sủng ái nhất.
BÀI ĐỌC I Cv 1: 12-14
Đoạn trích sách Công Vụ Tông Đồ nầy được định vị trong bối cảnh các Tông Đồ, sau khi chứng kiến việc Đức Giêsu khuất dạng trong đám mây trời, liền trở về Giê-ru-sa-lem. Các ông tề tựu một nơi và chuyên tâm cầu nguyện trong khi chờ đợi Chúa Thánh Thần ngự đến như lời căn dặn của Thầy mình trước khi từ giả các ông: “Phần Thầy, Thầy sẽ gởi cho anh em điều Cha Thầy đã hứa. Còn anh em, hãy ở lại trong thành, cho đến khi nhận được quyền năng từ trời cao ban xuống” (Lc 24: 49).
1. Trở về nhà, các ông lên lầu trên.
Căn phòng được định vị ở lầu trên. Lầu trên thường là căn phòng chính trong nhà Do thái, chắc hẳn đây là phòng Tiệc Ly, nơi các ông đã dùng bữa ăn cuối cùng với Đức Giêsu. Như vậy nơi mà Đức Giêsu cử hành thánh lễ đầu tiên với các ông trước khi Ngài bước vào con đường Tử Nạn, cũng là nơi các ông chờ đợi để đón nhận Chúa Thánh Thần, Đấng đưa các ông vào trong sự thật công trình cứu độ của Thầy mình.
2. Tất cả mười một Tông Đồ đều hiện diện ở đó:
Việc kể tên mười một Tông Đồ dâng hiến một nét đặc thù đáng chú ý. Trong các sách Tin Mừng, thánh Phê-rô và thánh An-rê được nêu tên trước tiên. Ở đây lại là thánh Phê-rô và thánh Gioan. Sách Công Vụ giới thiệu hai vị Tông Đồ nầy như hai trụ cột của Giáo Hội tiên khởi, thường xuyên hoạt động cùng nhau.
3. Chuyên tâm cầu nguyện:
“Tất cả các ông đều đồng tâm nhất trí, siêng năng cầu nguyện”. Thánh Lu-ca thường nhấn mạnh các tín hữu tiên khởi đồng tâm nhất trí và siêng năng cầu nguyện. Các Tông Đồ làm Tuần Cửu Nhật giữa biến cố Thăng Thiên và biến cố Hiện Xuống.
4. Mấy người phụ nữ, và Đức Maria, Thân Mẫu của Đức Giêsu:
Trong số những người phụ nữ tề tựu với các Tông Đồ, chỉ một mình Đức Mẹ được nêu tên, trong mối liên hệ với Đức Giêsu: “Đức Maria, Thân Mẫu của Đức Giêsu”. Đây là lần cuối cùng trong Tân Ước kể ra Đức Trinh Nữ. Sau biến cố nầy, Mẹ sẽ không còn xuất hiện nữa, người ta không còn nói gì về Mẹ. Sự hiện diện của Mẹ ở đây, giữa các Tông Đồ, là một dấu chỉ mang một tầm mức vĩ đại. Mẹ đã ban cho nhân loại thân thể hữu hình của Đức Kitô dưới quyền năng của Chúa Thánh Thần vào lúc Truyền Tin; Mẹ cũng có mặt ở đây vào lúc sinh hạ thân thể mầu nhiệm của Đức Giêsu, tức Giáo Hội, cũng dưới tác động của Chúa Thánh Thần vào ngày lễ Hiện Xuống.
Chúng ta có thể phỏng đoán rằng những người phụ nữ ở bên cạnh Đức Maria cũng chính là những người phụ nữ đã ở bên cạnh Đức Mẹ gần bên Thập Giá. Sự hiện diện của những người phụ nữ nầy gợi nhớ hoạt cảnh trên thập giá ở đó Đức Giêsu đã trao gởi Giáo Hội của Ngài cho Mẹ Ngài làm Mẹ của Giáo Hội Ngài khi nói với Mẹ Ngài: “Thưa Bà, đây là con của Bà” và khi nói với người môn đệ Chúa yêu: “Đây là mẹ của con” (Ga 19: 26-27).
5. Anh em của Đức Giêsu.
Cùng có mặt với các Tông Đồ là “anh em” của Đức Giêsu, nghĩa là những anh em họ của Ngài. Ngôn ngữ Do thái cũng như ngôn ngữ Hy-lạp đều không có đặc ngữ để chỉ mức độ bà con thân thuộc nầy. Cựu Ước sử dụng cùng một từ “anh em” để chỉ mối liên hệ bà con họ hàng rộng lớn hơn: chú cháu (St 13: 8; 14: 14; 14: 16) hay bà con gần (G 19: 13-17) hoặc thậm chí bà con họ hàng xa (cf. Lv 10: 1). Trong Tin Mừng của mình, thánh Mác-cô kể ra bốn người anh em họ của Đức Giêsu: ông Gia-cô-bê, Giô-xết, Giu-đa và Si-môn (Mc 6: 3).
Sự hiện diện của những bà con thân thuộc của Đức Giêsu ở phòng Tiệc Ly vào lúc nầy chứng thực thái độ của họ đã thay đổi đối với Đức Giêsu. Trước đây, thánh Gioan nói “Anh em Người không tin vào Người” (Ga 7: 5); thậm chí họ không hiểu chút gì về sứ mạng của Ngài và cố tìm cách ngăn cản Ngài thi hành sứ mạng của mình nữa (x. Mt 12: 46; Mc 3: 31-35; Lc 8: 19-21).
Họ thay đổi thái độ lúc nào? Các bản văn Tân Ước không cho chúng ta bất kỳ một thông tin nào. Chắc chắn họ sắp lãnh nhận Chúa Thánh Thần như các Tông Đồ và họ sẽ cho thấy niềm tin tích cực của họ. Thánh Gia-cô-bê hậu sẽ là vị lãnh tụ của Giáo Hội Giê-ru-sa-lem và được phúc tử đạo vào năm 62. Người kế vị thánh nhân, một ông Si-môn hay Si-mê-on nào đó, bị đóng đinh vào thời Trajan, cũng là bà con họ hàng của Chúa. Như vậy, những người bà con nghi kỵ xưa kia đều đã là những chứng nhân bằng máu.
BÀI ĐỌC II Gl 4: 4-7
Các Kitô hữu Ga-lát bị những người Kitô hữu gốc Do thái làm lung lạc. Những người Kitô hữu gốc Do thái nầy muốn đưa vào trong Kitô giáo những nghi thức Do thái được cho là luôn luôn có giá trị, như phép cắt bì. Vì thế, thánh Phao-lô chứng minh cho thấy Luật Cũ là sự nô lệ, Luật mới là sự tự do. Thánh nhân sánh ví Luật Mô-sê với thời kỳ người thừa kế “phải ở dưới quyền những người giám hộ và quản lý, cho đến khi mãn hạn người cha đã định” (Gl 4: 2). Tuy nhiên, vai trò của Luật là tạm thời. Với Đức Giêsu, kế hoạch của Thiên Chúa đã đến hồi viên mãn, chúng ta không còn phải sống dưới chế độ của Lề Luật nữa, nhưng trong sự tự do của những người làm con cái Thiên Chúa, mà đã là con thì cũng đã là người thừa kế.
1. Con Thiên Chúa làm con của loài người (4: 4-5)
“Khi thời gian đến hồi viên mãn”: thánh Phao-lô so sánh sự bảo hộ của lề luật (Gl 4: 2) với thời điểm khi Thiên Chúa can thiệp vào trong lịch sử để thực hiện công trình cứu độ qua Con của Ngài là Đức Giêsu. Sự tự do của con người đã đạt được nhờ Đức Kitô. “Thiên Chúa đã sai Con mình tới”: động từ “sai” phát triển trong Giáo Hội tiên khởi một nét nghĩa tôn giáo đặc thù: sai ai vào việc phục vụ Nước Trời là ban cho người đó đầy đủ uy quyền ở nơi Thiên Chúa. Ở đây cuộc sống tiền hữu của Chúa Con không được nói đến một cách minh nhiên, nhưng mặc nhiên. “Sinh làm con một người đàn bà”: động từ “sinh” được dùng ở thể quá khứ để chỉ một “tình trạng hay một hành động đã xảy ra trong quá khứ và hoàn tất trong quá khứ”, nhằm nhấn mạnh rằng Đức Giêsu đã đảm nhận trọn vẹn thân phận làm người cho sứ mạng của Ngài. Cách nói nầy bắt nguồn từ Cựu Ước (G 14: 1; 15: 14; 25: 4). Được sinh ra như vậy, Đức Giêsu chịu phục tòng lề luật “để chuộc những ai sống dưới Lề Luật, hầu chúng ta nhận được ơn làm nghĩa tử”.
2. Để con người trở thành con Thiên Chúa (4: 6-7).
“Để chứng thực anh em là con cái”. Giới từ “hoti” bắt đầu với câu này có thể hiểu theo hai cách: “vì” (kết quả) hay "nên" (nguyên nhân). Nếu chúng ta hiểu “vì anh em là con cái”, điều này sẽ là nền tảng cho việc Thiên Chúa sai Thánh Thần đến với người Kitô hữu một cách nhưng không. Tuy nhiên, Rm 8: 14-17 xem ra gợi ý rằng ân ban Thánh Thần cấu thành chức năng làm con cái Thiên Chúa của người Kitô hữu; vì thế nhiều nhà chú giải thích hiểu giới từ nầy theo nghĩa "nên anh em là con cái" ("để chứng thực…") hơn.
Thánh Thần của Con”: Thánh Thần cũng là đối tượng sứ mạng từ Chúa Cha; ở nơi khác, Thánh Thần chính là ân ban của Chúa Con Phục Sinh. Thánh Thần của Chúa Con Phục Sinh là một nguyên lý năng động của chức năng làm con Thiên Chúa. Nhờ Ngài, người Kitô hữu mới có thể gọi Thiên Chúa “Áp-ba, Cha ơi!” với trọn niềm xác tín. Không có Thánh Thần người Kitô hữu sẽ không thể thốt lên tiếng kêu đầy trìu mến thân thương nầy. Vì thế, thánh Phao-lô kết luận: “Anh em không còn là nô lệ nữa, nhưng là con, mà đã là con thì cũng là người thừa kế, nhờ Thiên Chúa”.
TIN MỪNG Lc 1: 26-38.
Hoạt cảnh “truyền tin cho Đức Maria” nầy (1: 26-38) hình thành nên một bức tranh bộ đôi với hoạt cảnh “truyền tin cho ông Da-ca-ri-a” trước đó (1: 5-25). Nhờ kỷ thuật song đối nầy, thánh Lu-ca nêu bật hai thời kỳ: Cựu Ước và Tân Ước, hai nhân vật tinh hoa của hai thời kỳ: ông Da-ca-ri-a, vị tư tế ở Đền Thờ Giê-ru-sa-lem, và Đức Maria, cô thôn nữ ở miền quê hẻo lánh làng Na-da-rét, và đặc biệt hai hài nhi của họ: Gioan Tẩy giả và Đức Giêsu.
1. Khung cảnh truyền tin.
Câu mở đầu “Bà Ê-li-sa-bét có thai được sáu tháng” đóng chức năng như nhịp cầu nối của hai hoạt cảnh truyền tin, chúng ta rời bỏ đền thờ Giê-ru-sa-lem, thành đô của Do thái giáo, thuộc miền Giu-đê được xem là thuần chủng và thấy mình ở trong một ngôi nhà dân giả, thuộc làng quê Na-da-rét nhỏ bé, khiêm hạ, của miền Ga-li-lê, được gọi “miền đất của dân ngoại”. Thay vì một đôi vợ chồng tư tế đã cao tuổi, biểu tượng của những truyền thống Ít-ra-en cổ kính và trung tín, bây giờ chúng ta gặp cô Maria, đã đính hôn với chàng Giu-se, hướng đến cuộc sống hôn nhân của mình.
Hoạt cảnh truyền tin trước đó đã xảy ra trong Đền Thờ Giê-ru-sa-lem, nơi cực thánh nhất của việc Thiên Chúa hiện diện giữa dân Ngài. Chính ở nơi cực thánh nầy mà Thiên Chúa đã tỏ mình ra cho tư tế Da-ca-ri-a, nhưng cốt để hướng đến một nơi khác còn thánh thiêng hơn, nơi Thiên Chúa chọn để ở giữa dân Ngài, đó là cung lòng của Đức Trinh Nữ Maria.
Vì thế, ngay từ khởi đầu Tin Mừng của mình, thánh Lu-ca cho chúng ta thấy có một sự hoán chuyển vai trò: Đền Thờ Giê-ru-sa-lem, nơi Thiên Chúa ngự giữa dân Ngài sẽ được thay thế bởi cung lòng của Đức Trinh Nữ, nơi Thiên Chúa chọn cho Con của Ngài đến ở giữa dân Ngài.
2. Lời chào của sứ thần:
Sứ thần vào nhà và chào Đức Maria: “Hãy vui lên, hỡi bà đầy ân sủng, Thiên Chúa ở cùng bà”.
“Hãy vui lên” là cách thức chào hỏi thông thường của người Hy lạp, tuy nhiên, “Hãy vui lên” cũng thuộc về diễn ngữ của các ngôn sứ, đặc biệt trong viễn cảnh thời Mê-si-a: “Nào thiếu nữ Xi-on, hãy vui mừng hoan hỷ! Hỡi thiếu nữ Giê-ru-sa-lem, hãy vui sướng reo hò! Vì kìa Đức Vua của ngươi đang đến với Ngươi” (Dcr 9: 9); hay: “Reo vui lên, hỡi thiếu nữ Xi-on…Đức Vua của Ít-ra-en đang ngự giữa ngươi” (Xp3: 14-15). Niềm vui thời Mê-si-a nầy, chính là niềm vui mà “sứ thần Thiên Chúa” sẽ loan báo cho các mục đồng trong hoạt cảnh Giáng Sinh: “Anh em đừng sợ. Này tôi báo cho anh em một tin mừng trọng đại, cũng là tin mừng cho toàn dân…” (Lc 2: 10). Như vậy lời mời gọi “hãy vui lên” được ngỏ lời với Đức Maria là nhằm hướng lòng Đức Mẹ về thời đại Mê-si-a và chuẩn bị Đức Mẹ trước sứ điệp gây sửng sốt sau đó.
“Hỡi bà đầy ân sủng”. Đức Maria được gọi là người đầy ân sủng hay được Thiên Chúa yêu thương đặc biệt không chỉ vì Mẹ được Thiên Chúa chọn làm Mẹ của Đức Giêsu, Con của Ngài. Suy tư thần học còn thấy ở đây lòng sủng ái đặc biệt mà Thiên Chúa dành riêng cho Mẹ, “ơn vô nhiễm nguyên tội” (“được gìn giữ khỏi mọi vết nhơ tội lỗi, kể cả tội tông truyền”).
“Thiên Chúa ở cùng bà”. Lời nói trấn an nầy thường thường được gặp thấy trong Cựu Ước. Nó được ngỏ lời với những nhân vật run sợ và e ngại trước sứ mạng mà Thiên Chúa giao phó cho họ, như Thiên Chúa đã phán với ông Mô-sê như thế trong hoạt cảnh “bụi cây bốc cháy” (Xh 3: 12). Tổng quát hơn, xuyên suốt lịch sử, Đức Chúa lập lại lời nầy cho dân Ngài chọn. Lời nầy cũng chính là định nghĩa Giao Ước. Vào giây phút nầy, Đức Maria cô động mười tám thế kỷ của việc Thiên Chúa tuyển chọn ở nơi mình. Mẹ đưa vận mệnh của dân Chúa chọn vào vận mệnh của riêng Mẹ. Mẹ là “Thiếu Nữ Xi-on” tuyệt vời. Thiên Chúa ở với Mẹ.
3. Sứ điệp về Đức Giêsu.
Cũng như ông Da-ca-ri-a, nghe những lời chào ấy, Đức Maria hoảng sợ. Sứ thần trấn an Mẹ, đoạn xác định mặc khải của mình.
a. Mẹ của Đấng Kitô (Mê-si-a).
Tên của Hài Nhi, Giêsu, nghĩa là “Đức Chúa là Đấng Cứu Độ”. Ơn cứu độ được Thiên Chúa hứa từ ngàn xưa sẽ được thực hiện qua con trẻ của Đức Maria. Người sẽ được gọi là “Con Đấng Tối Cao” hay “Con Thiên Chúa”. Tước hiệu “Con Thiên Chúa” xảy ra chỉ ba lần trong Cựu Ước, mỗi lần đều quy chiếu đến vị vua thuộc dòng dõi Đa-vít (2Sm 7: 14; Tv 2: 7; Tv 89: 27-28). Vì thế, cũng như bà Ê-li-sa-bét, Đức Maria sẽ được thụ thai và sinh hạ một con trai, tuy nhiên, con trẻ của Đức Maria là Đấng Mê-si-a, Đấng mà ở nơi Ngài lời hứa cho vua Đa-vít được thành tựu. Trong bối cảnh nầy, tước hiệu “Con Thiên Chúa” không có nghĩa nào khác hơn là một tước hiệu dành cho một hậu duệ của vua Đa-vít, nhưng tước hiệu nầy chuẩn bị mặc khải tiếp theo sau.
b. Mẹ của Con Thiên Chúa.
Một vấn đề được đặt ra mà Đức Maria đã thẳng thắng nêu lên: “Làm sao có chuyện ấy được, vì tôi không biết đến chuyện vợ chồng?”. Lời thắc mắc nầy cho thấy rằng Mẹ ý thức Lời Thiên Chúa mà sứ thần truyền đạt cho Mẹ được ứng nghiệm ngay từ bây giờ. Vì thế, Mẹ tin vào Lời Chúa nhưng Mẹ muốn niềm tin của mình được soi sáng. “Biết” là động từ kinh thánh được dùng để chỉ chuyện vợ chồng như “ông A-đam biết bà E-và. Bà đã thụ thai và sinh hạ…” (St 4: 1). Đức Maria chưa chung sống với vị hôn phu của mình. Vấn nạn Đức Maria nêu lên trùng khớp với bản văn của thánh Mát-thêu: “Trước khi hai ông bà về chung sống, bà đã có thai…” (Mt 1: 18).
Vấn nạn nầy giúp sứ thần khai triển mặc khải của mình: “Thần Khí sẽ ngự xuống trên bà, và quyền năng Đấng Tối Cao sẽ phủ bóng trên bà, vì thế hài nhi sắp sinh ra sẽ được gọi là Đấng Thánh, là Con Thiên Chúa”. Sứ thần muốn Mẹ nhớ lại vai trò của Thần Khí theo Kinh Thánh: “Thần Khí là quyền năng Thiên Chúa ban sự sống”. Vào lúc bắt đầu công trình Tạo Dựng, “Thần Khí Thiên Chúa bay lượn trên mặt nước” (St 1: 2). Qua đó, sứ thần ngầm loan báo một công trình tạo dựng mới mà Đức Maria được mời gọi dự phần vào.
Để Đức Maria có thể thấu hiểu rằng đây là công trình của Thiên Chúa chứ không là công trình của phàm nhân, sứ thần nói thêm: “Quyền năng Đấng Tối Cao phủ bóng trên bà”. Động từ “phủ bóng” là động từ Kinh Thánh, như xưa kia, trong hoang địa “đám mây phủ bóng trên Lều Hội Ngộ, và vinh quang Đức Chúa đầy tràn Nhà Tạm” (Xh 40: 34). Thật ý nghĩa biết bao, cũng chính thánh Lu-ca sử dụng động từ nầy để mô tả biến cố Biến Hình: “Bỗng có một đám mây phủ bóng…và từ đám mây có tiếng nói rằng: Đây là Con Ta…” (Lc 9: 34). Do đó, sứ thần khẳng định: “Vì thế Hài Nhi sắp sinh ra sẽ được gọi là Đấng Thánh, là Con Thiên Chúa”. Ở đây, sứ thần xác định rõ ràng hơn mặc khải của mình:“Con Thiên Chúa” không là một tước hiệu được dành cho Đấng Mê-si-a thuộc dòng dõi Đa-vít, nhưng là chân tính thần linh của Hài Nhi, Con của Đức Maria.
4. Sứ điệp về Đức Maria.
Đức Maria không xin dấu lạ. Chính sứ thần tự mình đề nghị ban cho Mẹ một dấu lạ: “Kìa bà Ê-li-sa-bét, người họ hàng với bà, tuy già rồi mà cũng đã thụ thai: một người vẫn bị mang tiếng là hiếm hoi, mà nay đã có thai được sáu tháng”, điều mà về phương diện con người không thể được. Vì thế, sứ thần chấm dứt bởi cùng những lời mà Thiên Chúa đã ngỏ lời với tổ phụ Áp-ra-ham, trước sự ngạc nhiên của ông, vì vợ ông, bà lão Sa-ra có thể sinh cho ông một cậu con trai: “Vì đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được” (St 18: 14).
Đây là một trong số những chủ đề xuyên suốt Tin Mừng và sách Công Vụ: “Đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được”. Trong hoạt cảnh trước đó, dù bà Ê-li-sa-bét son sẽ, cũng không thể ngăn cản mục đích của Thiên Chúa. Cũng như vậy đối với bà Sa-ra (St 11: 30), bà Rê-bê-ca (St 25: 21), bà Ra-ken (St 29: 31) và mẹ của ông Sam-son (Tl 13: 2). Với Đức Maria, Mẹ của Đấng Kitô, Con Thiên Chúa, chúng ta gặp thấy điều gì đó thậm chí còn kỳ diệu hơn nữa. Chính Thánh Thần Thiên Chúa thực hiện một công trình sáng tạo mới nơi cung lòng của Đức Nữ Trinh.
“Phủ bóng trên bà” nhắc lại Lều Hội Ngộ, nơi vinh quang Thiên Chúa cư ngụ ở giữa dân Ngài. Đức Maria được vây phủ bởi vinh quang rạng ngời của Ngài, và Thần khí của tình yêu Thiên Chúa thổi hơi sự sống vào trong cung lòng Mẹ. Sự sống nầy là hoa trái của tình yêu Thiên Chúa đối với Đức Maria và lời đáp trả tròn đầy của Mẹ. Chính từ mối hiệp thông thánh thiện nầy mà hài nhi được thụ thai trong cung lòng Mẹ.
Không có gì có thể ngăn cản #kế hoạch yêu thương của Thiên Chúa. Tuy nhiên, tình yêu tự nó không thể nào bị ép buộc được. Thiên Chúa trao ban cho Mẹ tình yêu đặc biệt của Ngài. Tất cả những gì Thiên Chúa đòi hỏi ở nơi Mẹ, chính là tin vào tình yêu của Ngài. Đức Ma-ria tự nhận mình là “nữ tì của Thiên Chúa”. Mẹ mở rộng tấm lòng mình để đón nhận tình yêu nầy với lời“Xin Vâng” tròn đầy: "Vâng, tôi đây là nữ tì của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần truyền". Chính vì thế, qua Mẹ Thiên Chúa có thể thực hiện dự định yêu thương của Ngài cho nhân loại.
Nơi Thiên Chúa chọn để Con của Ngài đến với nhân loại là con người của Đức Maria, thanh sạch và rạng ngời vinh hiển của Chúa Thánh Thần, Đấng phủ bóng trên Mẹ. Vì thế, cung lòng của Đức Nữ Trinh là Lều Hội Ngộ, là Đền Thờ đẹp nhất, là nơi cực thánh của Thiên Chúa làm người và ở cùng chúng ta.

 

07/10-171: Lễ Đức Mẹ Mân Côi – Lm. Fx. Hồ Văn Uyển

Cv 1,12-14; Gl 4,4-7; Lc 1,26-38
“Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa,
xin Người thực hiện cho tôi như lời sứ thần nói”.
Kính thưa cộng đoàn phụng vụ,
 

Ngày xưa, ông bà chúng ta thường nói rằng: “Lấy vợ xem tông; Lấy chồng xem giống.” Việc 07/10-171

Ngày xưa, ông bà chúng ta thường nói rằng: “Lấy vợ xem tông; Lấy chồng xem giống.” Việc dựng vợ gã chồng đối với con người rất hệ trọng. Vì đó là yếu tố quyết định sự tồn vong của một dòng tộc. Cho nên các bậc cha mẹ xem xét rất kỹ trước khi quyết định cho con cái mình nên vợ nên chồng với người của dòng tộc kia. Ở đây thật là khập khiễn, nếu so sánh cách hành xử của con người như vừa nói với việc Thiên Chúa tuyển chọn cho Con mình một người Mẹ. Song một khía cạnh nào đó, chúng ta thấy việc “chọn mặt gửi vàng” của Thiên Chúa cũng như nơi con người chúng ta rất quan trọng. Vì thế, khi cho Con Một của mình nhập thể trong trần thế, Thiên Chúa đã tuyển chọn cho Người một người Mẹ thật xứng đáng. Và dĩ nhiên, người Mẹ ấy không phải là một pho tượng đã được nắn đúc, gọt dũa sẵn sàng như chúng ta ca tụng sau nầy, mà người mẹ ấy là một con người như bao nhiều người khác, trừ tội nguyên tổ. Song Mẹ đã vượt qua chính mình khi thưa hai tiếng “Xin Vâng”, để nhập cuộc vào trong công trình cứu độ của Con mình ngay từ giây phút đó. Kể từ ngày đó, Đức Maria đã sống hành trình đức tin của mình. Xin vâng rồi không phải để đó mà phải Sống, phải bỏ ý riêng của mình để sống cho sứ mạng mình xin vâng. Đây chính là bài học cho đời sống đạo của chúng ta hôm nay.
Kính thưa anh chị em, kể từ ngày Mẹ nói xin vâng, bao biến cố đã xảy đến trong cuộc đời Mẹ, những biến cố đi ngược lại ý muốn và sức chịu đựng của một con người bình thường. Mẹ đã đón nhận tất cả với tin yêu và phó thác.
Trước hết là với thánh Giuse, người thân, người bạn đời trăm năm của Mẹ. Khi biết Đức Maria mang thai trước khi hai người về chung sống, Giuse đau khổ lắm, chắc cũng nhiều đêm trằn trọc không ngủ. Dẫu không muốn tố giác Đức Maria, vì Giuse vẫn yêu Mẹ và ngài lại là người công chính, song Giuse đã định tâm chia tay với Đức Maria cách kín đáo và nhẹ nhàn. Đức Maria cũng đau khổ lắm khi nhìn thái độ của Giuse, nhưng Mẹ không thể giải thích được. Mẹ đành phó thác cho Chúa.
Đến việc sinh con, tâm lý chung của người nữ lần đầu làm mẹ là: hạnh phúc, vui mừng và lo sợ lẫn lộn. Hạnh phúc vì được làm mẹ; vui mừng vì gia đình có thêm một thành viên mới; lo lắng chuẩn bị chu đáo những thứ cần thiết nhất cho bản thân và đặc biệt cho người con sắp chào đời; sợ vì không biết người con sẽ ra đời hình hài thế nào đây… Còn đối với Đức Maria thật đau khổ, sinh con ra trong một cái hang súc vật bò lừa, không một mãnh áo che thân, không một cục than sưởi ấm giữa đêm đông băng giá. Có người mẹ, người cha nào mà không tủi cho thân phận mình trong hoàn cảnh đó! Mẹ đã đón nhận với tất cả.
Vẫn chưa yên, kẻ sát nhân và khát máu, vua Hêrôđê, đang tìm hại con trẻ Giêsu. Mới có mấy ngày, không than không lửa, mẹ yếu con non, vậy mà phải vất vả vượt dặm đường xa trong sa mạc, lưu lạc ở đất khách quê người để bảo vệ sự an toàn cho con. Đó, Mẹ đang ôm trong tay mình Con Thiên Chúa. Mẹ nghĩ sao khi phải lao đao như vậy? Đau khổ lắm. Mẹ vẫn chịu.
Con đến tuổi hoa niên, tuổi 12, tuổi năng động, tuổi đuổi bướm bắt chim, gia đình được trở về nguyên quán. Mọi người mừng mừng tủi tủi gặp lại nhau, tay bắt mặt mừng sau những năm tháng nghìn trùng xa cách. Rồi ai cũng phải lo bổn phận của mình trong cuộc sống đời thường, đặc biệt trong bổn phận tôn giáo. Chắc mẹ vui mừng và hãnh diện lắm vì lần đầu tiên con trai của mình đi làm bổn phận: hành hương về thành thánh theo luật Mô-sê. Nhưng điều trớ triêu đã xảy ra: mẹ con lạc mất nhau. Hỏi còn gì đau khổ hơn đối với người mẹ cho bằng việc lạc mất con. Sau ba ngày mới tìm gặp lại con. Ba ngày sống trong tâm trạng đau khổ và lo lắng chắc chúng ta cũng đã hiểu nỗi lòng của Mẹ. Mẹ vẫn tin vào Thiên Chúa.
Rồi những ngày Con bước vào đời, lên đường thi hành sứ mạng của mình: loan báo Tin Vui Cứu Độ cho mọi người. Kinh Thánh không cho chúng ta biết rõ Mẹ có theo Chúa Giêsu khi Ngài đi rao giảng hay không, nhưng có điều chắc chắn: Mẹ luôn theo dõi từng nhịp bước Con đi, luôn lắng nghe những điều Con nói và biết những việc Con mình làm. Mẹ biết sứ mạng của Con mình. Phần dân chúng kẻ thì khen, người thì chê, phần thì theo, nhóm thì chống, đặc biệt, lòng Mẹ rối bời và đau khổ vô ngần khi người ta bảo với Mẹ: Con Mẹ bị điên, phải đi tìm đưa về. Mẹ phải nói sao để cho người ta hiểu được sứ vụ mà Con Mẹ đang thi hành đây. Mẹ cũng dâng cho Thiên Chúa.
Và chuyện gì đến đã đến, trong hành trình rao giảng của Chúa Giêsu, chắc Mẹ cũng biết và hiểu rất rõ những thế lực đã chống đối Con mình rất mãnh liệt. Mẹ vẫn biết có những kẻ muốn thủ tiêu Con mình vì Con mình dám nói sự thật. Đó là sứ mạng của Ngài mà, Mẹ nói làm sao được. Và khi sự chống đối đã lên đến cực độ, người ta đã tìm cách và bắt Con Mẹ. Mẹ đã chứng kiến thân hình tiều tuỵ của con: bị đánh đập rách nát bầm tím tả tơi. Còn đâu thân hình cân đối vạm vỡ của con ngày trước nữa! Rồi Mẹ lại lê từng bước chân tiều tuỵ của mình để theo con lên đỉnh Núi Sọ. Ở đây Mẹ lại phải chứng kiến cảnh Con bị đóng đinh một cách tàn nhẫn vào cây thập giá rồi treo cao lơ lửng giữa trời và đất. Con Mẹ có làm gì nên tội đâu mà phải chết một cách tủi nhục như tên tử tội! Rồi Mẹ chứng kiến những giây phút trút hơi thở của con mình. Mẹ Maria cũng giống như bao người mẹ trần gian nào, nhưng thử hỏi có người mẹ trần gian nào đã phải chịu đựng nỗi đau như Ngài không? Mẹ của Con Thiên Chúa đó.
Và đó chính là nguyên nhân của những nét đẹp nơi Mẹ, mà ngày nay chúng ta ca tụng. Nhờ chấp nhận thánh ý Thiên Chúa và sống trọn vẹn hai tiếng “Xin vâng” mà Đức Mẹ được Thiên Chúa chúc phúc.
Mừng lễ Mẹ Mân côi là dịp nhắc chúng ta nhớ lại lời thưa xin vâng của Mẹ để giúp chúng ta vừa ca tụng Mẹ, vừa học nơi Mẹ hành trình đức tin cho đời sống đạo của chúng ta. Thiên Chúa cũng chọn mỗi chúng ta và trao cho chúng ta sứ vụ loan báo Tin mừng trong bối cảnh xã hội nầy. Ước gì mỗi chúng ta cũng thưa xin vâng như Mẹ và sống trọn vẹn như Mẹ để ThiênChúa cũng chúc lành và thưởng cho chúng ta được hưởng hạnh phúc Nước trời. Amen.

 

07/10-172: Lễ Đức Mẹ Mân Côi

(Suy niệm của Lm Giuse Phan Văn Quyền)
 

Vào thời cổ đại, giải thưởng cho các cuộc thi đấu thể thao, không phải là huy chương vàng, bạc 07/10-172

Vào thời cổ đại, giải thưởng cho các cuộc thi đấu thể thao, không phải là huy chương vàng, bạc, đồng như hiện nay, mà là một vòng nguyệt quế, hay một vòng hoa tươi, được choàng vào cổ người chiến thắng.
Trong lịch sử Hội Thánh, tràng chuỗi Mân côi, vừa là khí cụ để chiến đấu, vừa là vòng hoa dành cho người chiến thắng.
Lịch sử cho thấy nhiều người đã dựa vào chuỗi Mân côi như một nguồn sức mạnh cậy trông.
+ Năm 1571, vua Thổ nhỉ kỳ theo Hồi giáo là Salim II (1566-1574) xướng xuất một cuộc thánh chiến với tham vọng bình địa giáo đô Rôma. Trước tình hình ấy, Đức Thánh Cha Pi-ô V đã khẩn thiết kêu gọi người tín hữu hãy cầu nguyện bằng chuỗi Mân côi, với hy vọng Chúa sẽ cứu, nhờ sự cầu bầu của Đức Mẹ. Đồng thời Ngài cũng lập một đội chiến thuyền, mà mỗi chiến sĩ được trang bị thêm một vũ khí tinh thần là tràng chuỗi Mân côi. Chính nhờ sức mạnh của niềm tin, với sự hỗ trợ nâng đỡ chở che của Đức Mẹ, Chúa đã cho đoàn quân công giáo chi?n thắng thủy binh thiện chiến của người Thổ nhỉ kỳ tại vịnh Lepante, vào ngày 7.10.1571, xóa tan cuồng vọng của những kẻ hiếu chiến.
Khi được tin chiến thắng vua Salim II, ĐTC Piô V tuyên bố: Không phải vũ lực, không phải võ khí, không phải vua tướng giúp chúng ta thắng trận, mà chính Đức Mẹ và tràng chuỗi Mân côi đã giúp chúng ta chiến thắng vẻ vang.
Chiến thắng này là cơ sở để Đức Thánh Cha thiết lập lễ Đức Mẹ Mân côi, đề cao chuỗi Mân côi như một nguồn hy vọng: Thiên Chúa và Mẹ Maria luôn bên cạnh chúng ta.
+ Năm 1629, trước cơn dịch tả nguy hiểm lan rộng trên nước Ý, tu sĩ Timoteo Ricci đã lập ra Chuỗi Mân côi liên tiếp. Thầy tính rằng mỗi năm có 8.760 giờ. Căn cứ vào đó, thầy làm ra 8.760 tấm vé; mỗi vé ghi tháng, ngày, giờ; rồi cho rút thăm. Ai được vé nào thì cam kết đọc chuỗi Mân côi vào tháng, ngày, giờ đó. Mục đích có ý xin ơn chết lành cho người hấp hối, xin ơn trở lại cho người tội lỗi, xin ơn bình an cho các dân tộc.
Từ sáng kiến đó, phong trào Chuỗi Mân côi liên tiếp được thành lập và lan rộng. Năm 1657, Đức Thánh Cha Alexandre VII chấp nhận phong trào đạo đức này và ban cho nhiều ân xá.
Nói chung, khi gặp những khó khăn nguy hiểm, cả trong đạo lẫn ngoài đời, người ta đã chạy lại với Đức Mẹ. Họ khẩn cầu Mẹ bằng chuỗi Mân côi, và chuỗi Mân côi đã đem lại cho các tâm hồn những hy vọng lành thánh.
Hiện nay cuộc sống đang đặt ra nhiều vấn đề nan giải, đang đối diện với những thách đố mới, tại sao một lần nữa chúng ta không chạy đến Kinh Mân côi, với cùng một đức tin như những người đã đi trước?
Thánh Pi-ô năm dấu viết: Vũ khí của tôi là tràng chuỗi Mân côi. Đức Mẹ không từ chối tôi điều gì, khi tôi xin Mẹ qua chuỗi Mân côi. Muốn làm vui lòng Đức Mẹ, muốn được Đức Mẹ thương yêu, hãy lần chuỗi Mân côi.
Kính thưa quý ông bà và anh chị em! Điều kiện để được hưởng trọn vẹn tình thương của Đức Mẹ là: ăn năn đền tội và cải thiện đời sống, tôn sùng yêu mến trái tim Mẹ, siêng năng lần chuỗi Mân côi.
Trong tháng Mân Côi này mỗi người chúng ta đáp lại lời mời gọi của Mẹ siêng năng lần hạt Mân Côi. Vì tràng chuỗi mân côi là như sợi dây tơ hồng, mối dây tình ái, kết chặt chúng ta gắn bó keo sơn với Đức Mẹ, giúp chúng ta noi gương Đức Mẹ mà sống đẹp lòng Chúa và phục vụ tha nhân, giúp chúng ta yêu mến Chúa và mọi người bằng trái tim của Đức Mẹ.
Đức Mẹ nói với Bernadette tại Lộ Đức: " Mẹ không hứa cho con hạnh phúc đời này, nhưng hạnh phúc đời sau ". Tuy nhiên những ai lần chuỗi Mân côi, cũng sẽ được Đức Mẹ thương ban ơn, cách này hay cách khác. Ơn phúc đủ loại, nhất là ơn sám hối, ơn trở về với Chúa, ơn đổi mới cuộc đời, ơn đi sâu vào Tin mừng, ơn biết đón nhận thánh ý Chúa để trở thành cộng tác viên đắc lực của Đức Mẹ.
Qua tràng chuỗi Mân Côi Mẹ luôn hiện diện với chúng ta như xưa Mẹ đã từng hiện diện:
Sự hiện diện của Đức Mẹ nơi gia đình Gia-ca-ri-a đã khiến bà I-sa-ve tràn trào ơn Chúa Thánh thần, đem lại niềm hoan lạc vô bờ cho thai nhi Gioan tẩy giả.
Sự hiện diện của Đức Mẹ tại tiệc cưới Ca-na đã làm đôi tân hôn và mọi người dự tiệc được trọn vẹn niềm vui, và khiến Chúa Giê-su ra tay làm phép lạ đầu tiên.
Sự hiện diện của Đức mẹ dưới chân thập giá đã làm ấm lòng chúa Giê-su để an tâm về với Chúa Cha, sau khi trối phó thánh Gioan là Giáo hội cho Đức Mẹ.
Sự hiện diện của đức Mẹ tại nhà Tiệc ly, đã giúp các Tông đồ lấy lại tinh thần, sinh khí và sốt sắng cầu nguyện để lãnh nhận Chúa Thánh Thần.
Hôm nay Đức Mẹ tiếp tục hiện diện giữa chúng ta và trong mỗi người chúng ta.
Những lúc rệu rã một mõi vì cuộc sống lam lũ bon chen trần thế, những khi tối tăm thử thách bao phủ ánh tương lai, những lúc nặng trĩu u buồn quá khứ, những lúc mất mát hụt hẫng không biết cậy dựa vào ai …
Hãy chạy đến với Đức mẹ, hãy cầm lấy tràng chuỗi mân Côi và cầu nguyện, hãy thầm thỉ thì thầm lời kinh Kính mừng Maria....
Với tấm lòng từ bi nhân hậu của một hiền mẫu, chắc chắn Đức Mẹ sẽ là nguồn an ủi, nâng đỡ, khích lệ và niềm vui sống cho chúng ta.
Lạy Mẹ, khi con yếu đuối lỡ lầm va vấp, xin Mẹ thương giơ tay nâng đỡ dìu dắt; khi con cô đơn lạc lỏng, xin mẹ đồng hành bên con và che chở giữ gìn; khi con khổ đau bất hạnh, xin mẹ thương ra tay cứu giúp; vì Mẹ là niềm an ủi và hạnh phúc của con.
Lạy Đức Mẹ Maria, con xin nhắc lại lời mà triệu triệu trái tim hằng ấp ủ, lời mà triệu triệu đôi môi hằng tung hô hằng ngày trên khắp thế giới: Thánh Maria Đức Mẹ Chúa Trời, cầu cho chúng con là ke #có tội, khi này và trong giờ lâm tử. Amen.

 

07/10-173: Lễ Mân Côi tại TàPao – 13/10/2012

(Lm GB. Hoàng Văn Khanh - Tổng đại diện GP Phan Thiết. Thứ bảy 13/10/2012)
LỄ MÂN CÔI TẠI TRUNG TÂM THÁNH MẪU TÀPAO - Dịp Khai mạc Năm Đức Tin 2012-2013
Dẫn nhập:
 

Thế kỷ 13, lạc giáo Albigeois với thuyết định mệnh lan tràn khắp Tây phương, gây suy đồi 07/10-173

Thế kỷ 13, lạc giáo Albigeois với thuyết định mệnh lan tràn khắp Tây phương, gây suy đồi trầm trọng về luân lý và tôn giáo. Để chống phá lạc thuyết, Đức Mẹ đã truyền cho thánh Đaminh cổ vũ toàn thể Giáo hội cầu nguyện bằng chuỗi Mân côi. Thế kỷ 16, quân đội Hồi giáo xâm lăng thành đô Vatican của Giáo hội Công giáo. Đức Giáo Hoàng kêu gọi mọi tín hữu lần chuỗi Mân Côi xin Đức Mẹ cứu giúp. Tại vịnh Lépante, Hồi giáo thất trận vào ngày 7.10.1571. Để bày tỏ lòng biết ơn Đức Maria, Hội thánh thiết lập lễ Mân Côi hằng năm trên toàn thể Giáo hội. Những lần hiện ra ở Lộ Đức với Bernadetta, nhất là với ba trẻ tại Fatima, Đức Maria đều kêu gọi lần chuỗi Mân côi cầu nguyện cho hòa bình thế giới. Chuỗi Mân côi trở thành phương thế cầu nguyện đơn sơ nhưng thật tuyệt hảo mà Giáo hội, qua các triều đại Giáo hoàng, đều nhiệt tình cổ vũ như phương thế kết hợp với CG và nối kết với Mẹ Maria trong đời Kitô hữu. Chuỗi Mân côi quả là kinh nguyện nuôi dưỡng lòng tin Kitô hữu qua mọi thời.
Hôm nay, tại trung tâm thánh mẫu Tàpao, chúng ta long trọng mừng lễ Mẹ Mân côi trong ngày khai mạc Năm Đức Tin. Chúng ta dâng năm đức tin cho Đức Mẹ, xin Mẹ giúp chúng ta hưởng ứng lời kêu gọi của Đức Thánh Cha để trong năm đức tin này, nhờ Mẹ chuyển cầu, chúng ta biết duyệt lại đức tin của mình, đào sâu đức tin, tuyên xưng đức tin cách trọn vẹn cùng với toàn thể Hội thánh và ra sức làm chứng cho đức tin bằng việc loan báo Tin mừng mà Đức Giêsu và Giáo hội gửi gắm cho chúng ta.
Chia sẻ Tin mừng Lc 1, 26-38
Trang Tin mừng thuật lại việc sứ thần Gabriel truyền tin cho Đức Maria việc Thiên Chúa đề nghị Đức Maria cưu mang và sinh hạ Đấng Thiên sai cứu thế mà các ngôn sứ, cụ thể Sophonia đã từng loan báo. Với tất cả niềm tin và phó thác, khiêm nhường và vâng phục, Đức Maria đã thưa lời Xin Vâng. Từ phút giây lịch sử đó, Ngôi Lời Thiên Chúa đã nhập thể trong cung lòng Mẹ và làm người để thực hiện chương trình cứu độ nhân loại. Trang Tin mừng giới thiệu cho chúng ta những dáng đứng tuyệt hảo của Đức Maria như mẫu gương đức tin của Kitô hữu: Maria cầu nguyện – Maria lắng nghe và đáp lại Lời Chúa – Maria làm mẹ sinh Chúa Giêsu cho nhân loại – Maria toàn hiến trọn vẹn cho Thiên Chúa. Trong lễ khai mạc Năm Đức Tin tại Trung tâm Thánh Mẫu Tà pao hôm nay, xin phép chia sẻ với quý khách hành hương đôi tâm tình nhỏ bé về Đức Maria, thầy dạy và mẫu gương của đức tin Kitô hữu.
1. Liên kết mật thiết với Chúa Giêsu.
Kitô giáo không phải một học thuyết hay một triết lý tôn giáo, nhưng là Đạo mạc khải, tức đạo bởi trời, do chính Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa, nhập thể làm người truyền rao cho Giáo hội do Người thiết lập. Đức tin Kitô giáo không phải tri thức suông, nhưng là ân huệ Chúa ban, đồng thời là hành vi đáp trả của con người đón nhận mọi chân lý Người mạc khải. Vì thế, niềm tin Kitô giáo không dừng lại ở những hình thức bên ngoài như kinh lễ, thuộc giáo lý, tuân giữ những luật căn bản…, nhưng hệ tại việc liên kết gắn bó với Đức Giêsu Kitô và dấn bước theo Người. Cốt lõi đức tin là sự gặp gỡ Đức Kitô, nhờ đó điều chỉnh và định hướng cuộc sống cho phù hợp với ý Chúa, từ đó có thể thi hành cách hữu hiệu sứ mệnh loan báo Tin mừng mà Đức Kitô trao phó.
Hơn ai hết, Đức Maria luôn gắn bó mật thiết với Chúa Giêsu từ khi cưu mang Người trong cung lòng do quyền phép Chúa Thánh Thần, sinh hạ, bảo bọc, dưỡng nuôi, giáo dục trong suốt quảng đời thơ ấu và ẩn dật của Chúa Giêsu nơi làng quê Nadarét. Sau đó, Mẹ hằng theo sát con trên hành trình rao giảng, nhất là trên con đường thập giá và cuối cùng đứng kề bên thập giá hiệp thông sự khổ nạn của con và đón nhận lời trăn trối của Đức Giêsu làm mẹ của toàn nhân loại, của Giáo hội và của riêng mỗi người chúng ta. Mẹ liên kết với Đức Kitô phục sinh bằng sự cầu nguyện và giúp các tông đồ đón nhận Chúa Thánh Thần hiện xuống. Liên kết bằng niềm tin trọn vẹn, lòng yêu mến thiết tha và sự hiệp thông tròn đầy. Đức Giêsu đã từng dạy các môn đệ hãy ở lại trong tình yêu của Thầy… Thầy là cây nho, chúng con là nhành. Nhành nào kết hiệp cùng cây sẽ sinh hoa trái. Mẹ là thầy dạy và là mẫu gương cho sự liên kết gắn bó ấy.
Chuỗi Mân côi giúp tín hữu thực hiện sự liên kết mật thiết với Chúa Giêsu theo gương của Mẹ. Thật vậy, những chân lý mầu nhiệm cuộc đời của Chúa Giêsu được ghi lại trong các sách Tin mừng mà chuỗi Mân côi là bản tóm gọn. Năm Sự Vui diễn lại mầu nhiệm Nhập thể. Năm Sự Sáng nói lên cuộc đời công khai rao giảng. Năm Sự Thương đưa ta vào cuộc thương khó tử nạn và Năm Sự Mừng suy niệm về sự phục sinh vinh hiển của Đức Kitô. Mỗi khi lần chuỗi, ta được mời gọi suy niệm các mầu nhiệm cuộc đời Chúa Giêsu, đưa ta vào hiệp thông với Người, ở lại trong tình yêu của Người, được nên một với Người để đón nhận hồng ân cứu độ Người trao ban qua sự chuyển cầu của Đức Maria.
2. Trổ sinh hoa trái thần khí
Sứ điệp đầu tiên của Đức Giêsu được các Tin mừng ghi lại: Hãy hoán cải. Trong suốt hành trình rao giảng, Chúa Giêsu luôn nhắc lại lời mời gọi này. Hoán cải là quá trình thay đổi tận căn từ tư tưởng, ước muốn, đến hành động và bản thân để canh tân đời sống dưới tác động của Chúa Thánh Thần, như thánh Phaolô đã từng dặn dò trong thư Rôma: Những ai sống theo xác thịt thì hướng về những gì là xác thịt…còn những ai sống theo Thần Khí thì hướng về những gì thuộc Thần Khí. Mà những sự do xác thịt gây ra là sự chết…, còn những gì thuộc Thần Khí sẽ sinh hoa trái Thần Khí. Đời sống Kitô hữu phải luôn hoán cải, canh tân, tăng triển dưới tác động của Chúa Thánh Thần để trổ sinh hoa trái Thần khí là các nhân đức. Những nhân đức chính yếu là Tin Cậy Mến cùng với sự vâng lời, khiêm nhường, công bằng và tiết độ. Đức Maria là mẫu mực các nhân đức ấy. Nơi Mẹ toát ra cách tuyệt hảo lòng tin cậy mến, sự khiêm nhường, khó nghèo, vâng phục, trinh khiết. Mẹ hằng gắn kết mật thiết với Chúa bằng tin yêu phó thác và luôn bước đi trong đường lối của Người, do đó Mẹ có một tương quan tốt đẹp hoàn hảo đối với mọi người từ lời nói, cách cư xử, hành động…Mẹ thật đáng yêu và Mẹ yêu thương hết tình và hết mình. Kinh Mân côi không những là sách Tin mừng tóm gọn, mà còn giới thiệu cho ta các nhân đức của người làm con Chúa, mà Đức Maria là mẫu mực. Kinh Mân côi vì thế còn được gọi là bản tóm lược nền luân lý Kitô giáo. Lần chuỗi Mân côi, ta vừa nối kết với cuộc đời của Đức Giêsu, ta vừa chiêm ngưỡng Đức Maria, vừa học tập với Mẹ các nhân đức, nhờ đó thêm lòng yêu Chúa, yêu Mẹ và tạo mối tương quan thân tình hiệp thông với mọi người.
3. Cầu nguyện với Mẹ và như Mẹ.
Đức tin mời gọi cầu nguyện: lex orandi lex credendi. Cầu nguyện là phương thế kết hiệp với Chúa và tìm biết thánh ý Người. Tin mừng thuật lại Chúa Giêsu luôn cầu nguyện với Chúa Cha, từ sáng sớm tinh mơ đến lúc chiều tà… Người dạy các môn đệ siêng năng và bền tâm cầu nguyện. Đức Mẹ hằng chuyên chăm cầu nguyện từ khi còn bé thơ, cho đến khi trưởng thành, khi thiên thần truyền tin, khi thăm viếng chị họ Elisabét, khi các mục đồng và ba đạo sĩ đến kính thờ Hài nhi…khi đem Con trốn sang Aicập…khi sống dưới mái nhà Nadarét …khi theo dõi con trên đường rao giảng…khi theo sát vết chân con vác thập giá, khi đứng bên con giờ khổ nạn…cũng như khi Đức Kitô đã phục sinh lên trời… Mẹ cầu nguyện trong từng giây phút cuộc đời, vui buồn, hoan lạc hay gian khổ… Chính nhờ cầu nguyện mà Mẹ đáp lời Xin vâng…, nhờ cầu nguyện mà Mẹ luôn dâng hiến cuộc đời cho Chúa và hiệp thông với con trong công trình cứu độ…. Mẹ đã từng dạy trẻ Giêsu cầu nguyện, Mẹ cũng đã dạy và cùng với các Tông đồ cầu nguyện để đón nhận Thánh Thần. Mẹ làm gương và dạy ta cầu nguyện bằng kinh Mân côi để liên kết với Chúa Giêsu, tín thác vào quyền năng và tình thương của Chúa. Kinh Mân côi là cách cầu nguyện bình dân, phổ thông, ai cũng làm được …từ người trí thức địa vị đến người ít học bình dân…từ trẻ em đến người lớn, già cả, người bệnh cũng như khỏe mạnh… lại mang đến nhiều hiệu quả tốt lành cho đời sống đức tin nhờ sự chuyển cầu của Đức Mẹ. Chính vì thế mà Giáo hội, qua các triều đại Giáo hoàng, kêu gọi tín hữu hãy siêng năng cầu nguyện bằng lần chuỗi Mân côi, như phương thế nên thánh, và như khí giới giúp chiến thắng ba thù.
Kết luận: “Hãy siêng năng lần chuỗi mân Côi”. Lời Mẹ vẫn luôn vang vọng như mời gọi tha thiết. Chuỗi Mân côi là phương thế thánh hóa bản thân, vũ khí chống lại các cám dỗ của ma quỷ và quyến rủ bất chính của thế gian, và là lời kinh ngọt ngào đưa ta vào vòng tay che chở của từ mẫu Maria. Cha ông ta từ bao đời trước đây đã hết lòng sống niềm tin vững vàng đến dám hiến mạng sống bảo vệ đức tin nhờ vào tràng chuỗi Mân côi. Xin cho tất cả chúng ta biết thực hành sứ điệp Mẹ truyền: Hoán cải đời sống, yêu mến Mẫu tâm và siêng năng lần chuỗi Mân côi.

 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây