Suy niệm Tin Mừng Lễ Đức Mẹ Mân Côi 7/10 Bài 151-188 Kinh Mân côi

Thứ tư - 02/10/2019 11:23

 
Suy niệm Tin Mừng Lễ Đức Mẹ Mân Côi 7/10 Bài 151-188 Kinh Mân côi là bản tóm lược Tin Mừng
Suy niệm Tin Mừng Lễ Đức Mẹ Mân Côi 7/10 Bài 151-188 Kinh Mân côi là bản tóm lược Tin Mừng

Suy niệm Tin Mừng Lễ Đức Mẹ Mân Côi 7/10 Bài 151-188 Kinh Mân côi là bản tóm lược Tin Mừng


07/10-151: KINH MAI KHÔI, BÀI CA CHIẾN THẮNG.. 2
07/10-152: HAI BÀ MẸ…... 3
07/10-153: "MẸ ƠI ! CON YÊU MẸ…". 8
07/10-154: MẸ FATIMA MẾN YÊU.. 11
07/10-155: KINH MAI KHÔI BẢO VỆ SỰ SốNG.. 16
07/10-156: SAO KHÔNG.. 18
07/10-157: THIÊN CHÚA Ở CÙNG MẸ.. 22
07/10-158: Kinh Mân Côi – Lời kinh cuộc đời 25
07/10-159: Mẹ đầy ơn phúc – ĐGM. Giuse Vũ Văn Thiên. 27
07/10-160: Bài giảng lễ Đức Mẹ Mân Côi năm 2013. 29
07/10-161: Sức mạnh của lời kinh Kính Mừng. 30
07/10-162: Mẹ tin cậy mến - AM Trần Bình An. 33
07/10-163: Đức Mẹ Mân Côi – Gm. Farrell 36
07/10-164: Niềm tin thương mại – Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền. 37
07/10-165: Kính Mừng Maria Đầy Ơn Phúc. 39
07/10-166: Chuỗi Mân Côi và Thánh Đaminh - Robert Feeney. 42
07/10-167: Chất Tin Mừng trong chuỗi Kinh Mân Côi 46
07/10-168: Kinh Mân Côi – Trần Mỹ Duyệt 50
07/10-169: Lễ Đức Mẹ Mân Côi – Antôn Lương Văn Liêm.. 55
07/10-170: Lễ Đức Mẹ Mân Côi – Lm. Ignatiô Hồ Thông. 59
07/10-171: Lễ Đức Mẹ Mân Côi – Lm. Fx. Hồ Văn Uyển. 66
07/10-172: Lễ Đức Mẹ Mân Côi 69
07/10-173: Lễ Mân Côi tại TàPao – 13/10/2012. 71
07/10-174: Sống lời kinh Mân Côi - Huệ Minh. 75
07/10-175: Nhiệm mầu của lời kinh Mân Côi - Huệ Minh. 77
07/10-176: Kinh Mân Côi – Lm. JB. Lê Ngọc Dũng. 82
07/10-177: Suy niệm của Lm. Giuse Nguyễn Quốc Quang. 84
07/10-178: Suy niệm của Lm. Trầm Phúc. 87
07/10-179: Bài ca chiến thắng của người nghèo khó. 90
07/10-180: Suy niệm của Lm. Đaminh Hương Quất 94
07/10-181: Suy niệm của Đức Cha GB. Bùi Tuần. 97
07/10-182: Nhớ lời Đức Mẹ nhắn nhủ. 99
07/10-183: Năm đóa hồng xanh dâng Mẹ - AM Trần Bình An. 102
07/10-184: Năm đóa hồng đỏ dâng Mẹ - AM Trần Bình An. 106
07/10-185: Năm đóa hồng vàng dâng Mẹ - AM Trần Bình An. 109
07/10-186: Năm đóa hồng trắng dâng Mẹ - AM Trần Bình An. 112
07/10-187: Trên con đường về quê - AM Trần Bình An. 115
07/10-188: BÀI GIẢNG LỄ MẸ MÂN CÔI 117
 

07/10-151: KINH MAI KHÔI, BÀI CA CHIẾN THẮNG


CỦA NGƯỜI KITÔ HỮU
 

Kính Mừng Maria Đầy Ơn Phúc”. Giai điệu thân quen ấy đã cất lên từ rất lâu, từ một ngôi nhà : 07/10-151


“Kính Mừng Maria Đầy Ơn Phúc”. Giai điệu thân quen ấy đã cất lên từ rất lâu, từ một ngôi nhà khiêm tốn của làng Nagiarét.

Hơn 20 thế kỷ qua, giai điệu ấy càng lúc càng vang dội khắp nơi trên hành tinh này. Từ những thành phố chan hòa ánh sáng văn minh, cho đến những vùng núi rừng hoang dã, đều có thể nghe dư âm bài ca Ave Maria. Bài ca ấy có một lịch sử kỳ diệu. Không phải do một nhạc sĩ phàm tục, nhưng do Đấng Nhạc Sĩ Tối Cao đã sáng tác. Không phải do môi miệng phàm tục, nhưng do môi miệng Thần Sứ Thiên Chúa cất lên.

Bài ca hy vọng cất lên giữa lúc nhân loại thất vọng cùng cực. Bài ca giải thoát cất lên giữa lúc con người bị chà đạp dưới ách đọa đày của tội lỗi. Bài ca vui mừng cất lên giữa lúc không còn nước mắt để khóc than, không còn hơi để gào thét vì uất hận.

Và đó là bài ca hân hoan vì đánh dấu một thành tựu của Chương Trình Cứu Độ, khi Đức Trinh Nữ Maria làng Nadarét cất lên lời “Xin Vâng”, lời ngọt ngào, nồng nàn, phá tan mọi nỗi âu lo, căng thẳng vì mong mỏi thái độ đáp ứng của Đức Mẹ trước lời mời gọi của Thiên Chúa. Giây phút chờ đợi ấy, vũ trụ vạn vật, và ngay cả thiên cung đều nín thở, run rẩy, như chờ đợi lời phán quyết tối hậu cho số phận:

Maria ! Linh hồn tôi ớn lạnh,
Run như run thần tử thấy long nhan,
Run như run hơi thở chạm tơ vàng,
Nhưng lòng vẫn thấm nhuần ơn trìu mến ! ( thơ Hàn Mạc Tử )

Ave Maria, vui lên, hỡi người Đầy Ơn Phúc ! Người phải vui mừng, vì người được nghĩa với Thiên Chúa. Nhưng làm sao vui nổi, khi người vẫn còn bị kềm kẹp trong gông cùm tội lỗi, khi người vẫn còn chìm ngập trong đêm tối thất vọng, u sầu ? Làm sao vui được khi người còn bị đày đọa trong kiếp sống phàm tục, gian trá ?

Nhưng tất cả đã qua rồi cái thời đen tối đáng sợ ấy ! Đây là lúc Tin Vui, đây là ngày Cứu Thoát: hãy ngẩng mặt lên ! Ngôi Lời Nhập Thể cứu độ chúng sinh, ánh sáng của Người xua hết đêm đen. “Anh em hãy vui luôn trong Chúa ! Tôi xin nhắc lại: anh em hãy vui luôn trong Chúa !”

Hãy chết đi với con người cũ, với bao tội lỗi, đam mê xấu xa, để sống con người mới, mặc lấy con người mới, mặc lấy Đức Kitô, sống như Đức Kitô, với những điều cao thượng, đẹp đẽ, thánh đức. Hãy biến cuộc đời chúng ta thành bài ca chúc tụng vinh quang Thiên Chúa ! Hãy chúc tụng tình thương vô biên của Người, Đấng đã cứu chúng ta ra khỏi tối tăm, mà đưa vào sự sáng vĩnh hằng ! Hãy vui lên, hỡi người được cứu thoát, được thánh hóa nhờ Máu Chiên Con, Đấng đã chiến thắng tội ác và tử thần !

Ave Maria ! Halleluia ! Bài ca chiến thắng của tất cả những ai được tắm sạch trong Máu Chiên Con. Bài ca của Đức Maria hôm qua, của bạn, của tôi, của tất cả chúng ta, tín hữu Đức Kitô hôm nay và mãi mãi.

Ave Maria ! Halleluia ! Giai điệu mở đầu của khúc khải hoàn trên Thiên Quốc. Khởi đầu ngay từ nỗi khổ đau, thử thách của cuộc sống bất toàn hôm nay. Khởi đầu từ những vầng trán nhiều nếp nhăn; từ những ánh mắt còn ngấn lệ; từ những cái miệng móm mém; từ những trái tim rướm máu; từ những tấm lòng rách nát; từ những thân xác tật nguyền, dị dạng, ốm yếu; từ những hẻm tối bùn lầy; từ những căn nhà ổ chuột; từ những bát cơm hẩm, mặn đắng mồ hôi và tủi nhục; từ những manh áo tả tơi... Vì tận cơ bản, Kitô hữu đã là những người chiến thắng nhờ ơn tái sinh của Đức Kitô Phục Sinh.

Lm. NGUYỄN VĂN NHỨT, Dòng Đa Minh

 

07/10-152: HAI BÀ MẸ…

 

Đã bắt đầu bước sang triền dốc bên kia cuộc đời, tôi cảm nghiệm rõ hành trình đã qua của mình, nhất: 07/10-152


Đã bắt đầu bước sang triền dốc bên kia cuộc đời, tôi cảm nghiệm rõ hành trình đã qua của mình, nhất là chuyện quyết định đi tu và sau đó là đời tu cũng đã được hơn 26 năm, tất cả đều đã được quyết định bởi… hai Bà Mẹ !

Nhưng sao lại có đến hai Bà Mẹ ? Ai vậy ? Xin thưa ngay, Bà Mẹ thứ nhất chính là mẹ tôi, bà Maria Angela Phạm Thị Ích của làng quê Giáp Bát xưa của Việt Nam, và Bà Mẹ thứ hai là Mẹ Maria làng quê Nagiarét nghèo của Palestina. Một Bà Mẹ, có thể nói, đã thúc ép tôi phải đi tu cho bằng được, còn một Bà Mẹ thì đón lấy tôi vào đời tu, giữ tôi còn tu cho đến hôm nay. Cả hai Bà Mẹ đều có tên là Maria.

Mẹ tôi, bà Maria…

Mẹ tôi là một người đàn bà bình thường như mọi người đàn bà bình thường đất Bắc. Học chỉ vừa hết Sơ Học Yếu Lược của ngày xửa ngày xưa ( 1926 ) ngang với lớp 5 bây giờ, thì phải nghỉ vì ông ngoại tôi mất sớm, mẹ phải phụ trông cửa hàng cho bà ngoại, lúc nào cũng có một cái hộp khâu bên cạnh, thêu thùa, may vá, đính hạt cườm luôn tay, dù chỉ mới hơn mười tuổi đầu, người bé bằng cái… kẹo, cho đến ngày lấy chồng thì thêm việc buôn bán tảo tần, sinh một loạt 7 người con mà tôi là út ít trong nhà.

Lắm lúc nghĩ lẩn thẩn cho vui, cứ như mẹ tôi mà sống thời buổi bây giờ, bị ảnh hưởng bởi cái kiểu tuyên truyền XHCN: "Dù gái hay trai, chỉ hai là đủ", thì đã chẳng có mặt tôi trên đời để ngồi đây mà kể chuyện về mẹ cho mọi người !

Mẹ tôi sống, cư xử đối đãi với mọi người thực tế và bình dị lắm, thế nhưng Chúa ban cho mẹ tôi có cái linh giác thế nào đấy mà không bao giờ sợ ma, ngược lại, cứ hay gặp được linh hồn những người đã qua đời và luôn luôn có những giấc mơ kỳ lạ ứng nghiệm chính xác trong đời. Một trong những điềm báo mộng mẹ tôi nhớ mãi và mang theo suốt đời cho đến chết, liên quan trực tiếp đời tôi, thay đổi hẳn hướng đi và vận mạng của tôi.

Sự tình đầu đuôi như thế này: Mẹ tôi vừa chợp mắt là mơ thấy cha GB. Cái Hồng Phúc mặc áo DCCT dắt tay một chú bé nhỏ xíu cũng mặc áo DCCT, đến trước chiếc giường nhà bảo sanh bà đang nằm, cha bảo: "Con lại chào mẹ con đi rồi theo cha vào Nhà Dòng !" Thằng bé buông chiếc vali con con xuống, lõn cõn chuyện đến ôm hôn mẹ và ngay lúc ấy mẹ tôi bừng tỉnh dậy trong đêm.

Bà lay bố tôi thật mạnh: "Ông ơi, lần này mình đậu thai rồi, sẽ sinh con trai và nó sẽ đi tu, mà là tu DCCT cơ !" Bố tôi có vẻ bực mình vì lỡ giấc ngủ sâu sau một ngày đi làm mệt mỏi, ông bảo: "Bà thì cứ giỏi mơ với mộng ! Tôi cũng đang mong con trai nhưng bây giờ tôi lại cầu nó ra con gái cho bà thua một keo !" Mẹ tôi khăng khăng tả lại: "Tôi thấy rõ mắt nó bên to bên bé, hai dái tai thì dài, đỉnh đầu thì xoáy ngược !" Bố tôi bèn ra bàn, bật đèn, lấy tờ giấy và mẩu bút chì ghi lại toàn bộ "biên bản", để sau này làm bằng chứng chế giễu cái khả năng "ngoại cảm huyền bí" của mẹ tôi…

Tôi sinh ra đúng ngày Phật Đản, rằm tháng 4 năm Kỷ Hợi, 22.5.1959. Bố tôi vào nhà bảo sanh, mẹ tôi chỉ vào thằng cu nằm sát bên nách: "Đấy ông xem, có đúng như tôi tả không, mắt to mắt bé nhá, tai to nhá, lại xoáy ngược nữa đây này ! Thế nào nó cũng phải đi tu, mà là đi tu DCCT cơ !"

Tôi lớn lên, giúp Lễ, hát ca đoàn, đọc Sách Thánh, dạy Giáo Lý ở Nhà Thờ Phanxicô Đakao. Tôi vừa đi học, rồi đi làm, mưu sinh nghề tay phải tay trái nuôi cả nhà, vừa tham gia các nhóm sinh hoạt, cũng yêu cô này rồi thương cô kia, những tưởng thời thế biến động, đất nước đã theo vô thần, người ta bắt bớ o ép các Dòng Tu, làm gì mà còn dám nghĩ đến chuyện đi tu !

Thế nhưng, cứ thỉnh thoảng trong bữa cơm, tôi lại nghe mẹ kể lại cho cả nhà nghe giai thoại này, nghe mãi đến mức thuộc lòng, có khi tôi còn "đón gió" kể nốt đoạn cuối, tha hồ thêm mắm thêm muối, nhưng dứt khoát kết thúc thế nào cũng phải là… "thế nào cũng đi tu, mà là đi tu DCCT cơ !"

Ấy thế mà cuối cùng, tôi… đi tu thật ! Nói đúng hơn, cả hai chúng tôi chia tay nhau và đều chọn đời tu. Người bạn gái của tôi sau một đợt Linh Thao đã tìm ra con đường phải đi, và cô ấy đã đi rất sâu và rất xa cho đến bây giờ trong Ơn Gọi Focolari. Sáu tháng sau, đến phiên tôi, nhờ một bài giảng ngày thường của một Linh Mục Dòng Đa Minh ở Nhà Thờ Mai Khôi Tú Xương, cũng ngộ ra được cái Đạo mình phải theo. Đó là tháng 7 năm 1987.

Tôi xin tìm hiểu dạng tu muộn ở Đại Chủng Viện Giuse Sàigòn. Về nhà báo tin, mẹ tôi mừng lắm khi thấy cuối cùng đứa con trai út không còn nằng nặc đòi lấy vợ nữa. Thế nhưng mẹ tôi vẫn cằn nhằn: "Tôi đã mơ cậu phải theo cha Hồng Phúc đi tu DCCT cơ mà !" Bố tôi phải nói át đi: "Thôi đi bà, bắt nó tu, bây giờ nó đã chịu tu, tu đâu cũng là tu, bà cứ ép hoài nó lại không chịu tu nữa thì đừng có trách nhá !"

Mấy năm sau, khi tôi đã chịu đi nghĩa vụ Thanh Niên Xung Phong rồi mà cũng không xong chuyện với Nhà Nước, tôi rời Chủng Viện xin qua DCCT. Lúc này, thương quá, bố tôi đã mất sau nửa năm trời lâm bạo bệnh. Mẹ tôi rươm rướm nước mắt: "Tôi đã bảo là thế nào cậu cũng đi tu, mà là đi tu DCCT, giá bố cậu còn sống thì…"

Hai năm theo Chủng Viện cũng được tính gộp vào giai đoạn tìm hiểu, nên tôi chỉ cần thêm hai năm nữa là hoàn tất Dự Tập. Cuối tháng 7 năm 1991, tôi bất ngờ được gọi vào Nhà Tập DCCT. Đúng lúc này gia đình tôi túng quẫn lắm. Mẹ goá con côi, anh trai lớn còn đi cải tạo, bản thân tôi đang phải cố gắng nhiều lắm để bươn trải kiếm tiền, Bây giờ rũ áo ra đi đột ngột thế này, ai sẽ thay mình lo cho cả nhà ?

Tôi còn nhớ như in, khi ấy, có một bà mẹ của một bạn trong Nhóm Mai Khôi, bác Chín, nhà ở Bình Triệu, hồi trc 75 từng là con cái cha Lucien Olivier DCCT, bác biết rõ chuyện đời tôi và chuyện nhà tôi, bà thân tình bảo: "Thầy Uy à, Chúa đã kiu theo Chúa thì Chúa có cách lo. Thầy Uy cứ đi tu đi, Chúa sẽ gởi một người khác đến lo mọi sự thay cho thầy mừ. Thầy biết ai hông ?" Tôi còn đang ngẩn người ra chưa đoán được là ai, bác Chín nói luôn: "Đức Maria chứ ai nữa ?" Tôi bàng hoàng ngộ ra tất cả, ứa nước mắt và vâng lời, buông tất cả để vào Nhà Tập…

Mẹ tôi, Mẹ Maria…

Lập hồ sơ đi tu, các cha Nhà Dòng mới phát hiện tên Thánh tôi dài lê thê, không chỉ là Giuse, mà còn là Maria và Antôn nữa. Ai cũng thắc mắc, bảo là sao mà rắc rối thế, một tên đủ rồi, làm gì mà phải đến ba tên Thánh ? Tôi phải gãi đầu gãi tai, khai ra sự thể đầu đuôi thế này:

Bố tôi tên Thánh Antôn, nên trong nhà hễ là con trai thì đều được lấy tên Antôn của bố cộng thêm một tên Thánh riêng nữa. Anh trai tôi tên là Alberto Antôn. Còn mẹ tôi tên Thánh Maria Angela nên trong nhà hễ là con gái thì được đều được lấy tên Maria của mẹ ghép vào một tên Thánh riêng, thế là các chị tôi có tên là Maria Christina, Maria Helena, Maria Cecilia, Maria Teresa. Riêng tôi là con trai út sinh trong tháng 5 nên có tên Thánh Giuse rồi, lấy thêm tên bố là Antôn, lấy luôn tên Mẹ nữa là Maria, ráp lại thành Giuse Maria Antôn, coi như được mừng Bổn Mạng quanh năm !

Có mấy anh lớp trên, đã khấn và lên Học Viện rồi, cứ bắt bẻ chuyện con trai mà tên Thánh là Maria, tôi bèn biện hộ: Cứ xem Thánh Tổ cũng có tên Thánh Maria đấy, có sao đâu !?! Còn thử hỏi ai lại có được tên và tên Thánh dài vô địch như ngài: Alfonso Maria Antonio Giovanni Francesco Cosma Damiano Michele Angelo Gaspare di Ligori ( ghi theo tiếng Tây Ban Nha ) ?

Mỗi tuần trong thời gian Nhà Tập DCCT, cha An Phong Phạm Gia Thuỵ lại cho 12 anh em chúng tôi ngồi lại vòng tròn chia sẻ chuyện này chuyện kia, vừa để thêm xác tín vào Ơn Gọi của mình, lại vừa lắng nghe nhau, hiểu nhau và thân nhau hơn trong đời tu cả lớp vừa tập tễnh bước vào.

Một lần, tôi kể chuyện bố tôi hồi sơ sinh đã đặt tên cho mình với dụng ý như thế nào. Bé quá chưa biết gì, nhưng sau biến cố 75, tôi được 16 tuổi, một hôm, bố bảo đi lấy tờ giấy và chiếc bút lông thỏ, lại mài mực tàu, rồi bố viết lên một chữ nho thật đẹp, rồi bảo: "Đây là chữ Uy, tên của con đấy. Nhìn kỹ thì thấy bên trong, ở giữa có chữ Nữ đây này. Vậy "Uy" có nghĩa là có khả năng để bảo vệ một người phụ nữ…" Nghe đến đây, anh em Nhà Tập phá lên cười, chọc ghẹo tôi ra cái điều đi tu rồi mà còn vớ vẩn chuyện đàn bà con gái !

Không ngờ cha Giáo Tập cười tủm tỉm: "Hay lắm, đúng lắm ! Thế kỷ 18, Hội Thánh gặp nhiều tư tưởng thần học bị lạc lối, rối beng, tìm mọi cách chống lại tín điều "Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội", vì thế, ai tu DCCT thì cha Thánh Tổ An Phong đều buộc phải khấn đến 4 lời khấn: Khó Nghèo – Vâng Lời – Khiết Tịnh, còn thêm lời khấn thứ tư là quyết tâm bênh vực tín điều "Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội". Vậy thì anh Uy của lớp An Phong chúng ta có uy là để bảo vệ Đức Maria đấy !"

Với tất cả những chứng cứ vừa vui vui vừa ý nghĩa như trên, tôi càng thêm xác tín mình đúng là "phải đi tu, mà là đi tu DCCT cơ !"

Ngày khấn lần đầu, 1.8.1992, chúng tôi phải khấn "chui" trong Nhà Nguyện của Tu Viện DCCT Sàigòn lúc 5g sáng. Mỗi anh em tân khấn chỉ được mời thân nhân đúng con số 7. May quá, "hộ" nhà tôi vừa đúng 7: mẹ, chị hai, chị ba, anh tư ( vừa đi tù về ), chị năm, chị sáu và cha sở Phanxicô Đakao, cha Irénée Nguyễn Thanh Minh ( đồng tế ).

Năm ấy mẹ tôi đã 76 tuổi, già yếu nhiều sau một cuộc đời quá nhiều vất vả cho chồng cho con, không làm được nhiều việc nặng nữa, nhưng gần như lúc nào trên tay bà cũng là tràng chuỗi Mai Khôi của Đức Maria. Mẹ tôi như nghiêng về phía Mẹ Maria, tìm một sự cậy trông phó thác cho đứa con trai út mình đang đeo đuổi đời tu. Còn Mẹ Maria thì như nới rộng thêm vòng tay từ mẫu, ôm cả hai mẹ con chúng tôi vào lòng mà trao cho Chúa Cứu Thế, Con yêu dấu của Mẹ.

Tôi nghiệm được ngay trong những lúc lao đao đường tu, chính hai Bà Mẹ của tôi vì thương tôi mà thành ra liên kết gắn bó với nhau để cùng lo liệu, cứu tôi, giúp tôi, bảo bọc tôi… Biết vậy nên tôi càng thêm vững tin để trỗi dậy bước tiếp, lòng tri ân cả hai Bà Mẹ.

Tội nghiệp, mẹ tôi không gượng được thêm, năm 1996, chỉ còn mấy chục ngày nữa là dự Lễ Khấn Trọn của tôi, những phiền não trong gia đình cộng thêm căn bệnh tiểu đường mức độ nặng đã quật ngã mẹ tôi. Vào bệnh viện cấp cứu, người ta thấy chỉ số đường huyết cao quá bèn chích cho một liều insulin rất mạnh, nó tụt nhanh, xuống thật thấp, mẹ tôi chỉ kịp được một cha DCCT xức dầu xong là rơi vào hôn mê sâu, hai ngày là đi, đúng ngày 13 tháng 5, trên tay vẫn không rời tràng chuỗi Mai Khôi…

Ngày Khấn Trọn Đời, không phải tổ chức "chui" như trước, sau Lễ ngoài Nhà Thờ, mỗi anh em Tu Sĩ được dành một bàn 12 người để ăn liên hoan nhẹ, vậy mà bàn của tôi chỉ còn vỏn vẹn mấy chị em trong gia đình và một vài Nữ Tu thân quen, các suất ăn dư tôi đem sang các bàn bên cạnh chia sẻ với các anh em có thân nhân đông quá con số quy định. Tôi phải lăng xăng chạy tới chạy lui cho nó khoả lấp nỗi buồn tủi thân không còn mẹ. Không ngờ, như thấu hiểu điều ấy, Sr. Marie Joseph Nguyễn Thị Thơm, Dòng Đức Bà, cô giáo già dạy tiếng Pháp mấy chục năm trước của tôi, đã bước lại thật gần và thì thầm: "Má thầy Uy mất rồi, nhưng vẫn còn Mẹ Maria là Má của các Tu Sĩ. Cô xin được thay mặt cùng lúc cả má thầy Uy lẫn Má Maria để ôm hôn thầy Uy nghen !" Và chúng tôi đã ôm nhau trong nước mắt nghẹn ngào của niềm vui…

Mẹ ơi, con cám ơn mẹ đã sinh con ra làm người, lại ước nguyện được sinh con ra làm một Linh Mục DCCT nữa. Mẹ khuất xa con cũng đã 17 năm, vậy mà gần như cứ mấy đêm thì con lại nằm mơ thấy mẹ một lần, ngửi thấy mùi da thịt của mẹ đến nỗi khi tỉnh dậy rồi, một mình trong đêm con vẫn nghe phảng phất đâu đây mùi của mẹ… Con rùng mình khi nghĩ hay là mình cũng bắt đầu được Chúa ban cho cái trực cảm, cái linh giác sao đó về các linh hồn như mẹ đã từng có lúc sinh thời.

Một lần gần đây, trong cơn mê hoảng giữa đêm, con mơ thấy mình nằm giường bên này, bị bóng đè, cứng hết cả tay chân, ú ớ kêu: "Mẹ ơi, cứu con !" Con lấy hết sức mình lăn xuống khỏi giường, bò lê trên nền gạch từng chút một sang chiếc giường bên kia để gặp mẹ, con mếu máo hờn trách: "Mẹ, con sợ quá, con gọi mẹ cứu con mà sao mẹ lại cứ ngồi yên bên này mà không sang bên ấy với con ?" Lúc ấy mẹ mới mỉm cười trả lời, tay trái giơ cao tràng chuỗi Mai Khôi: "Mẹ đang cầu nguyện cho con, mẹ đã xin Mẹ Maria Hằng Cứu Giúp cứu con đấy chứ !"

Và con choàng tỉnh dậy, con chợt nhớ ra, con chợt hiểu, con hạnh ngộ, con có hai Bà Mẹ…

Lm. LÊ QUANG UY, DCCT, thứ ba 24.9.2013

 

07/10-153: "MẸ ƠI ! CON YÊU MẸ…"

 

Chỉ qua một đêm yên lành, đến rạng sáng hôm sau biển trở mình, thuyền chúng tôi gặp bão. Bầu: 07/10-153


Chỉ qua một đêm yên lành, đến rạng sáng hôm sau biển trở mình, thuyền chúng tôi gặp bão. Bầu trời vần vũ mây đen, mới đầu chỉ là những gợn sóng lăn tăn, thú vị nhìn cá bơi đua mạn thuyền, chúng tôi ngồi đếm những lớp sóng biển xanh. Không lâu sau, biển trở mặt, sóng thành bạc đầu cuồn cuộn dâng cao, dồn nhanh phủ lớp, đếm không kịp. Sóng hận thù xây thành lũy cao chót vót dập mạnh xuống. Con thuyền như chiếc lá mong manh vút lên, hết đà buông gót chúi mũi đâm xuống vực đen.

Thuyền lên tới đỉnh cũng là lúc những lời kinh “Adiđà Phật”, “Giêsu – Maria – Giuse”… từ âm vực thành khẩn tôn kính biến thành tiếng rú kinh hoàng của những tội đồ đang hấp hối. Tình trạng chiếc thuyền ngập tràn tuyệt vọng không bút nào tả xiết, trôi dạt không biết đi đâu, hướng nào. Mọi người từ lớn đến nhỏ cứ nằm lênh đênh trên biển, giầu-nghèo, khỏe-yếu, trí tuệ-ngu dốt, dân đen-chức quyền… mặt tái mét hoảng loạn: tất cả đều bình đẳng trước Tử Thần. Sóng biển triền miên dập dềnh…

Trong đám hỗn độn ấy, tôi để ý đến một người ( sau này mới biết anh tên Đình Thu ), cổ đeo Tràng Hạt, quàng thêm Áo Đức Bà, dây Đạo Binh Xanh, một xâu đủ thứ ảnh tượng Maria: nhôm, kền, đồng, thép, chì, nhựa... sưu tầm vội vã trước ngày đi… mặt đầm đìa nước mắt, miệng không ngớt lẩm bẩm như lên đồng: "Lạy Mẹ là ngôi sao sáng, soi lối cho con lúc vượt biển thế gian… Con đã sống chẳng ra gì, nói dối như vẹm, cờ gian bạc lận, đàng điếm hút sách, nhậu nhẹt bê tha… toàn làm điều xấu, đại gian đại ác... Nếu thoát gian nguy, con nguyện sẽ sống trọn một đời thánh thiện, sẽ hy sinh cứu giúp muôn người trong cơn hoạn nạn…"

Mùa Hè năm 2012, sau gần một phần tư thế kỷ, trong quán cà-phê Cô Ba, dưới chân cầu trạm subway Field Corner ở Dorchester, Boston, tôi gặp lại Thu đang ngồi huyênh hoang tán gẫu với đám bạn vừa “hạ cánh an toàn” sau một phi vụ lừa đảo. Ôm chặt tôi vào lòng, Thu hớn hở ra mặt: "Sau anh lại nhận ra tôi ?" – "Trong chuyến tầu hôm ấy, duy chỉ anh cầu nguyện với lời hứa tha thiết nhất, làm sao tôi quên được !" Thật ra với chiếc mồm vẩu, tai bẹp, vết sẹo độc quyền chém ngang lông mày mắt trái của Thu dù đứng xen giữa hàng chục ngàn người xa lạ tôi vẫn nhận ra. Sau chầu nhậu, đứa bạn cuối cùng bước đi, chỉ còn tôi và Thu ngồi lại trong xó tối. Cởi mở tấm lòng tôi nhắc chuyện: "Nhớ hồi ấy anh khấn nguyện: Nếu thoát gian nguy, con nguyện sẽ sống trọn một đời thánh thiện, sẽ hy sinh cứu giúp muôn người trong cơn hoạn nạn… Sao bây giờ đến nỗi này ?"

Thu chậm chạp uống cạn ly bia cuối cùng, mặt đượm vẻ buồn vời vợi: "Tôi vẫn luôn nhớ lời hứa, ngặt một điều là Đức Mẹ đã quên phần mình." – "Sao lạ vậy ?" – "Những năm đầu đặt chân đến Mỹ tôi, cuộc đời tôi như một con chó đói, làm ăn cái gì cũng thất bại…" Tôi rất ngạc nhiên: "Ủa ! Tôi nhớ lúc đó anh chỉ cầu sao cho thoát nạn, đâu có khoản làm ăn !" Thu nhìn tôi e ngại, rít mạnh một hơi thuốc ba số 5, cẩn thận gạt tàn, cười giả lả: "Thì các Ngài phải hiểu ngầm chứ !"

“Phải hiểu ngầm chứ !” Đây là một khấn nguyện “qua cầu gió bay, qua sông quên đò”…

Một Linh Mục đến Boston giảng phòng. Sau bài Tin Mừng, rất chậm, từng thao tác bậc thiền sư, Linh Mục ấy gập sách, gỡ cặp kiếng, nhắm mắt… rồi cứ đứng yên lặng như vậy trong tư thế thiền. Một phút trong thinh lặng không chuẩn bị của cộng đoàn ngồi bên dưới lâu lắm: đầu lắc lư, người ngọ nguậy, chân khều dép, tay gãi sồn sột…

Chập sau cha mở mắt nhìn cộng đoàn rất tha thiết, bắt đầu bài giảng: "Trọn đời tôi, từ lúc trước khi làm Linh Mục, tôi đã lỡ quen biết và yêu một người phụ nữ. Thú thực với anh chị em là cho đến bây giờ tôi vẫn không quên được người ấy !" Nói đến đó, cha dừng lại trong yên lặng đo lòng người. Cộng đoàn chao người lay động, vài bà ngồi phía trước chép miệng: "Đã đi tu mà còn yêu với iếc !"

Vẫn làm chủ đám đông, vị Linh Mục giảng tiếp: "Người đó chính là Mẹ Maria !" Tất cả cộng đoàn tham dự Thánh Lễ hôm đó đều thở mạnh ra. Hài lòng…

Bạn mến,

Trời Boston lúc này đang vào thu, hơi se lạnh, vài chiếc lá vàng rơi trong gió sớm. Mùa thương khó những tháng đông về bắt đầu. Tôi ngồi uống trà một mình, tâm hồn như se lại, ngẫm về những giai đoạn đã qua trong đời mình, về mối tình của tôi với Mẹ Maria. Tình Mẹ-con của tôi có nhiều nhập nhằng trắc trở, lúc còn lúc mất. Khi đằm thắm, lúc úa tàn. Có những khi nước mắt đã khô, ráo hoảnh, chìm sâu trong cô đơn tuyệt cùng kiếp người, tôi cầu nguyện trong vô vọng. Có những tháng dài Mẹ-con không nhìn mặt khi tôi mất Đức Tin. Mẹ luôn đứng đó tư thế đợi chờ trong khi tôi nằng nặc dứt áo ra đi.

Nhưng xét lại những đoạn đời trồi-sụt mất-còn ấy tôi cảm nhận luôn có một sợi chỉ đỏ không bao giờ đứt đoạn, dẫu có lúc chìm sâu tưởng mất, là tôi vẫn luôn yêu Mẹ. Sợi chỉ tình yêu này xét cho kỹ, không phải có được từ sách vở, bằng cấp, lời giảng lôi cuốn hay số năm dài theo Đạo, nhưng là từ những tấm gương yêu mến Mẹ Maria của ông bà, cha mẹ, người khác để lại.

Làm sao quên được lời kinh đêm cả gia đình quây quần ấm cúng dâng lên Mẹ ? Có thể nào quên được nét mặt cụ già móm mém ngước trông lên Mẹ Sầu Bi dưới ánh sao đêm, những anh lính VNCH cổ đeo Tràng Hạt lao vào trận địa mười phần chết bẩy còn ba ? Lời kinh trong đêm, âm thầm lặng lẽ không ai biết, bao giờ cũng là những tấm chân tình không giả dối.

Để truyền cho thế hệ sau sợi chỉ đỏ ấy, đợi lúc vắng người, tôi thường dẫn cả gia đình ra Nhà Thờ gặp gỡ Chúa Giêsu và Đức Mẹ. Ngồi, nằm cũng được. Chả cần lâu, chỉ 5, 6 phút. Chẳng cần dài, chỉ vài Kinh Lạy Cha, Kính Mừng rồi yên lặng. Lúc đầu các cháu không thích, tôi phải dụ bằng cách trên đường từ Nhà Thờ về nhà bao giờ cũng dẫn đến tiệm McDonald, Burger King, Friendly… “cúng” cho mỗi đứa vài đồng quà vặt, lâu dần quen chân đến độ dù chán quà vặt nhưng các cháu vẫn thích đến “chơi” Nhà Thờ. Nhiều khi mải làm việc tôi quên, các cháu lại nhắc. Rồi một mai trong kiếp người, sẽ đến lúc các con tôi phải một mình đối diện nhân nghĩa tình đời, chông chênh áo cơm, nghiệt ngã cuộc sống… tôi muốn các cháu nhớ đến chốn này để biết đường về với Mẹ.

Tôi thích lời hát “Mẹ ơi, con yêu Mẹ, yêu từ hồi thơ bé, yêu mãi đến tuổi già, yêu tha thiết bao la…” Tôi thích lời kinh Lạy Cha và Kính Mừng… Những đêm dài mất ngủ, thay vì đếm những con nai, tôi chỉ hát thầm hoặc đọc những lời kinh này cho đến khi quá mệt mỏi để chìm sâu trong giấc ngủ.

Tôi yêu Đức Giêsu, tôi thích Mẹ Maria…

NGƯỜI TÔI TỚ VÔ DỤNG, Boston, 2013

 

07/10-154: MẸ FATIMA MẾN YÊU

 

Tháng Mười thắm sắc Mân Côi. Kính mừng Mẹ Đức Chúa Trời hiển vinh. Hoa lòng thắm sắc : 07/10-154


“Tháng Mười thắm sắc Mân Côi.
Kính mừng Mẹ Đức Chúa Trời hiển vinh.
Hoa lòng thắm sắc Đức tin.
Xin dâng kính Mẹ Đồng Trinh từng ngày”.
( Kính Đức Mẹ Mân Côi – Trầm Thiên Thu )

Đã qua gần nửa thế kỷ đời người, nhưng hình ảnh Mẹ Fatima thánh du Việt Nam vẫn in đậm trong hồn tôi. Khi Mẹ đến Xứ Đạo, tôi chỉ vừa đủ trí khôn, mới được rước lễ lần đầu. Thời gian vào khoảng năm 1965, không còn nhớ Mẹ đã đến tháng nào năm đó, nhưng nhiều chi tiết về cuộc cung nghinh Mẹ vẫn như từng thước phim đậm nét trong ký ức tôi, là những hồi ức tuyệt vời khi nhớ về kỷ niệm với Mẹ Maria.

Gia đình tôi gốc Địa Phận Bắc Ninh, một Địa Phận Dòng, được các cha người Tây Ban Nha, Dòng Đa Minh, đến truyền giáo. Việc sùng kính Mẹ Mân Côi và Thánh Đa Minh thành truyền thống gia đình, ảnh hưởng từ truyền thống Giáo Phận. Mẹ Mân Côi là bổn mạng Giáo Phận Mẹ ngoài Bắc, Giáo Xứ Bỉ Nội nơi cố hương, và Giáo Họ tôi sau ngày di cư về miền Nam đều nhận Lễ Mân Côi ( 7 tháng 10 ) là ngày Bổn Mạng. Điều đó phổ biến đến nỗi đa số những người phụ nữ trong họ đều mang tên Thánh Maria, còn cánh nam nhi đều nhận Thánh Đa Minh làm quan thầy. Khi còn nhỏ, tôi đã đem câu hỏi này thắc mắc hỏi bà, bà trả lời một cách đơn giản: chọn tên Thánh giống nhau mừng lễ cho long trọng, dễ nhớ và phần nào biết ơn các cha Dòng Đa Minh mang hạt giống Đức Tin đến quê hương.

Đại đa số gia đình trong làng tôi, bàn thờ ngoài tượng Chịu Nạn, hầu như nhà nào cũng có ảnh Đức Mẹ Mân Côi tay cầm tràng hạt trao cho Thánh Đa Minh. Từ khi còn nhỏ, tôi nhận thấy lòng sùng kính Đức Mẹ nơi các tín hữu nhiệt thành hơn bây giờ, đặc biệt nơi tín hữu gốc Bắc Ninh. Tôi thầm thán phục các bà, các mẹ, các cô… có người không biết chữ, nhưng kinh sách thuộc làu làu, nhiều kinh có những từ cổ, Hán tự rất khó nhớ, còn đổi theo Mùa Phụng Vụ, từ trong Nhà Thờ ra đến các đám rước, đám tang, vào mọi gia đình kinh hạt rất sốt sáng. Bọn trẻ như tôi, ông bà bắt buộc phải học kinh, bắt đọc thật to trong các buổi nguyện giỗ gia đình, nhưng hầu hết các kinh không có trong sách, tam sao thất bổn, mỗi đứa đọc mỗi kiểu chẳng biết đúng sai thế nào. Đi Nhà Thờ biết bao mùa Mân Côi Tháng Mười, nhưng vẫn không thể thuộc được phép ngắm Rôsa, chỉ nhớ loáng thoáng được mấy câu đầu:

“Phép ngắm Rôsa nguyên cội rễ.
Suy ơn chuộc tội loài người thế.
Tự sinh nhi tử, tư nhi sinh.
Công nghiệp vô cùng khôn xiết kể...
Lạy ơn Đức Mẹ nhân thay
Xin vị sự nhiệm mầu này rủ thương
Cho con lòng vững đá vàng
Vâng theo Ý Chúa mọi đàng chẳng sai...
( Văn Côi Thập Ngũ Sự Thi Ca )

Trong tháng Mân Côi, trước khi lần hạt năm chục, còn phải ngắm Rôsa, lũ trẻ con rất sốt ruột vì không thuộc kinh phải ngồi yên lặng nghe người lớn ngân nga. Vào tháng Mân Côi hay tháng Năm đi lễ lâu hơn, với những trẻ em lười biếng, cứ vào thứ bẩy hàng tuần lại đọc kinh “Dâng mình cho Trái Tim Cực Sạch Đức Mẹ”. Kinh này rất dài nhưng chẳng hiểu sao bọn trẻ lại thuộc lòng, có lẽ vì đây là kinh quan thầy, hay tại thời đó sống trong cảnh chiến tranh gia đình ly tán, chết chóc, đọc kinh này cảm thấy thật thấm thía và sốt sáng: “Lạy Nữ Vương rất thánh Mân Côi, hay cứu giúp bổn đạo, hay hộ vực loài người và hằng thắng các kẻ nghịch cùng Chúa… Lạy Nữ Vương hòa bình, xin cầu cho chúng con và cả thế giới khỏi giặc giã, được bình an là điều muôn dân mong ước, bình an trong sự thật, trong lẽ công chính, trong đức mến yêu Chúa Cứu Thế…”

Tháng Mân Côi lại về, nhắc đến Mẹ Mân Côi là nhắc đến Thánh Đa Minh, nhắc đến biến cố Mẹ hiện ra năm 1917 tại Fatima với ba trẻ Luxia, Giaxinta, Phanxicô lần cuối cùng vào ngày 17 tháng 10. Như bao tín hữu yêu mến Mẹ, ao ước ngày nào được đặt chân đến Fatima trực tiếp diện kiến nơi Mẹ hiện ra cách nay gần 100 năm, nhưng với hoàn cảnh đại đa số tín hữu Việt Nam chỉ là ước mơ cao vời !

 “Năm xưa trên cây sồi, làng Fatima xa xôi, có Đức Mẹ Chúa Trời hiện ra uy linh sáng chói. Mẹ nhắn nhủ người đời hãy mau ăn năn đền tội, hãy tôn sùng Mẫu Tâm, hãy năng lần hạt Mân Côi”.

Riêng tôi cũng tự an ủi mình, thật hạnh phúc trong cuộc đời hai lần được diện kiến Mẹ Thánh Du Fatima: vào năm 1965 và 1974. Lần đầu tiên năm 1965 ( xem ghi chú ) để lại nhiều ấn tượng trong tôi cũng như nuôi dưỡng Đức Tin thời thơ ấu. Năm đó, Mẹ đến Việt Nam trong hoàn cảnh đất nước đang xảy ra nội chiến, riêng miền Nam còn bị xâu xé bởi các phe phái đảo chánh, chỉnh lý… chia rẽ giữa Công Giáo và Phật Giáo. Xứ Đạo tôi được may mắn cung nghinh Mẹ nhờ cha quản hạt Phêrô Đoàn Cung Nhượng, thời gian Mẹ đến vắn vỏi không thể đi hết từng Giáo Xứ, nên Xứ tôi được đại diện thay cho cả Hạt vinh dự được Mẹ thăm viếng.

Cha Đoàn Cung Nhượng là cha xứ từ cố hương miền Bắc, Giáo Dân cũ di cư cùng với cha nên Giáo Họ tôi cha đặc biệt quý mến. Lần cung nghinh này, Giáo Họ được chỉ định làm kiệu Đức Mẹ, bắt đầu từ ngày làm kiệu, ngoài những người có bổn phận cưa đục những miếng gỗ, lúc nào bọn trẻ cũng tụ tập khi có thời gian rảnh rỗi xem xét những thay đổi hàng ngày. Từ những miếng ván, miếng gỗ thô sơ gần đến ngày cung nghinh Mẹ được sơn phết trở thành chiếc kiệu lộng lẫy như bốn con rồng đỏ uốn lượn chính giữa tạo thành ngôi tòa Mẹ ngự với những ngọn đèn lấp lánh, chiếc kiệu sơn son thiếp vàng chất đầy hoa, đăng-ten tuyệt đẹp để chuẩn bị tiếp đón Mẹ.

Những ngày đầu đến Việt Nam, Mẹ đã thăm Vương Cung Thánh Đường Đức Bà, thăm Dòng Carmêlô, Dòng Thánh Phaolô, Mẹ đến với những người đau khổ trong nhà tù Chí Hòa, với thương bệnh binh Tổng Y Viện Cộng Hòa, rồi đến với dân nghèo Giáo Hạt Xóm Mới.

Căn nhà tôi ngay cuối Nhà Thờ, từ những chuẩn bị ban đầu đến những rừng cờ xanh trắng vàng tung bay khắp sân, từ lúc bắt đầu làm kiệu, đến khi đón tiếp Mẹ về trong ngôi Nhà Thờ Giáo Xứ đại diện cho Giáo Hạt, bọn trẻ chúng tôi không lúc nào bỏ qua xem xét mọi chi tiết hằng ngày. Chiều hôm đón rước Mẹ, đại diện các Giáo Xứ tề tựu trước sân, cờ quạt rợp trời. Những người bán ảnh tượng đến thật sớm, họ trải những chiếc bạt bầy la liệt: sách kinh, ảnh tượng, tràng hạt… vất vả lắm, cứ lâu lâu lại bị giải tán, chỉ khi đoàn rước vào đầy đủ trong Nhà Thờ Họ mới được ngồi yên. Nhóm trẻ con không được tham dự đoàn rước, lúc này cứ đứng lấp ló chung quanh Nhà Thờ, lâu lâu lại phải chạy vì mấy ông quản giữ trật tự.

Trước cửa nhà, ngay từ chiều, bà nội đã múc sẵn hai chum nước mưa cho những người cần lấy nước mang vào Nhà Thờ làm phép. Cùng với mấy ấm nước nụ vối dành cho những người đi bộ đến từ xa. Từ phía nhà tôi nhìn về lễ đài, chung quanh Mẹ những hộp nến, chai nước các loại, hàng đống hoa huệ, lay-ơn… chất đầy chân Mẹ, chờ cha làm phép để mang về nhà, ngoài những lời cầu nguyện âm thầm, nhiều bài thánh ca được hát lên với lòng sùng kính:

“Kính mừng Nữ Vương, Nữ Vương hòa bình, Nữ Vương hòa bình.

Đây bao tâm hồn thao thức, con dân nước Việt nao nức.

Cất tiếng ca mừng vui, kính mừng Nữ Vương, Nữ Vương hòa bình”. ( Hải Linh )

Một sự kiện đáng nhớ, như phép lành của Mẹ dành cho những người con đến kính viếng hôm đó. Khi đoàn cung nghinh Mẹ về đến Giáo Xứ Bắc Dũng khoảng 15 phút, có một tiếng nổ lớn, ban đầu mọi người nghe thấy tưởng ai đó làm pháo bị phát nổ, Xóm Mới là vùng có nghề làm pháo nổi tiếng, khoảng 10 phút sau xe cảnh sát đến ngay sân Nhà Thờ giữ trật tự, người người rỉ tai nhau: một thanh niên chở một trái mìn định hướng đi chiếc xe đạp trên con đường đoàn rước vừa ngang qua cách Nhà Thờ Bắc Dũng khoảng mấy trăm thước, ngay trước cổng Nhà Thờ Trung Bắc, chẳng hiểu vì lý do gì mà phát nổ nơi đó, anh chàng khủng bố chết tan xác, bọn trẻ lúc này lại nhốn nháo rủ nhau đi xem, nhưng khu vực đó đã bị phong tỏa. Ai cũng bảo Đức Mẹ gìn giữ, nếu không biết bao người mắc nạn ngay hôm đó.

Đón Mẹ Thánh Du năm 1974, lần này Mẹ về Giáo Xứ Trung Bắc, vì cha Giuse Nguyễn Văn Tạ làm quản hạt. Giáo Xứ tôi được phân công đứng đoạn đường ngã ba ngay trước thành Cổ Loa, căn cứ chỉ huy pháo binh thiết giáp. Từ hai giờ chiều, các đoàn thể phải tập trung và đi bộ lên đó, giữa trời nắng chang chang, chờ đợi cả tiếng, đoàn rước đầu tiên đón Đức Mẹ từ Tổng Y Viện Cộng Hòa đi ra, qua đoạn đường chúng tôi đứng sẵn, thế là tuần tự đi theo, ban đầu còn trật tự hàng bốn, dần dần gần đến điểm cuối Giáo Xứ Trung Bắc, không còn phân biệt xứ nào, đoàn thể nào, mọi người dồn hết lên để mong được vào sân Nhà Thờ, nhóm bạn tôi đi chậm, khi đến cổng các ông trật tự đã dàn hàng ngang không cho vào, sau đó về nhà và sáng hôm sau tôi mới trở lại kính viếng Mẹ.

Lòng tôn sùng Đức Mẹ thật đặc biệt trong nhiệm kỳ Giáo Hoàng Phanxicô: “Giáo Triều của Đức Thánh Cha Phanxicô đã được dâng hiến cho Đức Mẹ Fatima tại Bồ Đào Nha ngày 13.5.2013, nhân ngày kỷ niệm lần thứ nhất Đức Mẹ hiện ra ( 13.5.1917 ) theo thỉnh cầu của Đức Thánh Cha. Kinh cầu dâng hiến, được Đức Hồng Y Policarpo viết, đã được đọc vào cuối Thánh Lễ quốc tế, tại Thánh Địa Fatima: “Lạy Đức Mẹ, chúng con xin dâng lên Mẹ, là Mẹ của Giáo Hội, sứ vụ của Đức Tân Giáo Hoàng: xin Mẹ đổ tràn đầy trong trái tim Ngài tình thương của Thiên Chúa, mà Mẹ đã cảm nghiệm rõ ràng hơn bất cứ một ai, để ngài có thể ôm lấy tất cả những người nam và nữ của thời đại này với tình yêu của Con Mẹ là Chúa Giêsu Kitô.” ( Le Monde Vu de Rome ).

Và gần đây theo tin tức mới nhất, Đức Thánh Cha đã chọn ngày 13 tháng 10 tới đây như một phần của lễ kỷ niệm Ngày Thánh Mẫu. Đức Giáo Hoàng Phanxicô sẽ dâng hiến thế giới cho Trái Tim Vẹn Sạch Đức Mẹ.

“Đức Giáo Hoàng mong ước mãnh liệt rằng Ngày Thánh Mẫu có thể giới thiệu, như một dấu chỉ đặc biệt, một trong những bức tượng có ý nghĩa nhất về Đức Maria cho các Kitô hữu trên toàn thế giới, và vì lý do đó, chúng tôi nghĩ đến bức tượng gốc của Đức Mẹ Fatima yêu quý” ( theo Đức Hồng Y Rino Fisichella ).

Vài năm gần đây Giáo Hội Việt Nam đang khởi sắc về việc xây Nhà Thờ, Đền Thánh, nở rộ các đoàn thể Công Giáo Tiến Hành, hoạt động bác ái, nhiều người cho rằng đã có tự do tôn giáo hay như vậy là đã khá hơn những năm trước, chưa hẳn đã như vậy ! Niềm vui trong sinh hoạt tôn giáo với những mặt nổi có phủ lấp được chăng những đau thương gần đây trên khắp mọi miền đất nước bất công lan tràn, xã hội băng hoại về đạo đức !?!

Không một tín hữu nào có lòng yêu Giáo Hội thực sự không khỏi buồn đau khi một phần chi thể của Giáo Hội đang bị bách hại, những người yêu chuộng đấu tranh cho tự do, công lý, hòa bình bị trù dập. Những cái tên Thái Hà, Tòa Khâm Sứ, Giáo Hoàng Học Viện, Tam Tòa, Loan Lý, Cầu Rầm, Mỹ Lộc, Đồng Chiêm, Con Cuông và gần đây nhất là Mỹ Yên… là những chứng tích về bách hại tôn giáo tại Việt Nam. Xin mọi người hãy lên tiếng bảo vệ quyền tự do tôn giáo đúng nghĩa vì “Tự do tôn giáo là quyền lợi, chứ không phải ân huệ xin-cho”, đúng như lời khẳng định của Đức Tổng Giám Mục Giuse Ngô Quang Kiệt.

Những biến cố xảy đến trong Giáo Hội vài năm gần đây là tiếng nói ngôn sứ thức tỉnh mọi người hãy cứu lấy Giáo Hội và quê hương Việt Nam. Trong tháng Mân Côi năm nay chúng ta cùng dâng lên Mẹ tràng hoa Mân Côi, cùng ăn năn đền tội, hy sinh, cầu nguyện cho Giáo Hội, quê hương thân yêu và hiệp thông với Giáo Hội hoàn vũ như lời vị Cha chung mong ước. Đó là tâm tình Mẹ đã nhắn nhủ trong những lần hiện ra tại Fatima, ước nguyện lần chuỗi Mân Côi Mẹ đã truyền cho Thánh Đa Minh như một phương thức cứu rỗi nhân loại.

Đức Thánh Cha Gioan XXIII đã có lần nói:
“Người ta không thể làm người mà không có luân lý đạo đức. Người ta không thể làm Kitô hữu mà không có lòng ăn năn hoán cải và đền bù tội lỗi”.

Mẹ ơi, đoái thương xem nước Việt Nam !

Chú thích:

Đây là tác phẩm quý giá của một điêu khắc gia nổi tiếng Bồ Đào Nha, không phải là tượng chính thức đặt tại Đền Thánh Fatima với hình Mẹ chắp tay. Tượng được tạc bằng gỗ sồi, thực hiện ngay tại Fatima, dưới sự hướng dẫn Chị Lucia, người được diễm phúc xem thấy Đức Mẹ. Tượng cao 1m20, nét mặt dịu hiền, đầu đội triều thiên, tỏ trái tim nơi ngực, có vòng gai cuốn chung quanh trái tim; tay phải cầm tràng hạt rũ xuống, tay trái giơ ra như mời gọi mọi người hãy đến với Mẹ nhân lành. Đức Cố Giáo Hoàng Gioan 23 đã làm phép Thánh Tượng với mục đích đem đi thăm viếng ủi an các bệnh nhân trên khắp thế giới…

Đạo Binh Xanh cùng với các đoàn thể, đã tổ chức cuộc tiếp đón và cung nghinh Thánh Tượng Mẹ từ phi trường Tân Sơn Nhất về Công Trường Hòa Bình, trước Vương Cung Thánh Đường Sàigòn một cách hết sức trọng thể. Vị Khâm Sứ Tòa Thánh tại Việt Nam, Đức Cha Angelos Palmas, sau khi chủ sự nghi lễ cung nghinh chào mừng Thánh Tượng, sáng kiến phát động ngay chiến dịch "toàn quốc hiến dâng đau khổ" làm bó hoa thiêng dâng kính Trái Tim Mẹ, trong suốt thời gian Mẹ ở lại Việt Nam.

Khắp nơi khao khát được rước Thánh Tượng Mẹ đến an ủi viếng thăm, làm cho thời gian Thánh Du không còn là vài ba tháng, nhưng là dài tới 3 năm: 1965 – 1967. Thánh Tượng Mẹ đi tới đâu, mang ơn phúc cho con cái Mẹ, nhất là bằng an tâm hồn. Trong thời gian ở tại Việt Nam, Thánh Tượng Mẹ đã lần lượt được rước đi thăm viếng hết giải đất Việt Nam tự do, từ Bến Hải đến tận mũi Cà Mau: các tỉnh, Giáo Phận, Giáo Xứ, Chủng Viện, Dòng Tu, bệnh viện, trụ sở, căn cứ và cả tới những lao tù cũng được Thánh Tượng Mẹ tới thăm an ủi con cái đau thương của Mẹ. Những miền thiếu an ninh, đường xá nguy hiểm thì đã liệu cho trực thăng đem Thánh Tượng Mẹ tới tận nơi an toàn. Những năm gần đây, Thánh Tượng được tôn kính tại Trung Tâm Quốc Tế Đạo Binh Xanh Fatima.

HẠNH NGUYÊN, Boston, 7.10.2013

 

07/10-155: KINH MAI KHÔI BẢO VỆ SỰ SốNG


“Mỗi thai nhi không được sinh ra, bị phá thai nhẫn tâm, đều có khuôn mặt của Đức Giêsu Kitô, khuôn mặt của Chúa” ( Đức Giáo Hoàng Phanxicô ).
 

Tháng Mười là tháng Mai Khôi, và Chiến dịch 40 Ngày Bảo Vệ Sự Sống bắt đầu từ ngày 25 tháng 9: 07/10-155


Tháng Mười là tháng Mai Khôi, và Chiến dịch 40 Ngày Bảo Vệ Sự Sống bắt đầu từ ngày 25 tháng 9 ( Xin xem www.40daysforlife.com ). Tôi mời gọi mọi người Công Giáo lần Chuỗi Mai Khôi không chỉ để cầu xin chấm dứt sự phá thai mà còn xin ơn chữa lành và tha thứ cho những người đã phạm tội phá thai. Xin bạn cầu nguyện rằng cộng đồng Bảo Vệ Sự Sống sẽ thực hiện Ý Chúa để thay đổi những trái tim và những đầu óc qua tình yêu thương và lời cầu nguyện.

Tôi thường lần Chuỗi Mai Khôi xin ơn Bảo Vệ Sự Sống, đặc biệt trong Chiến dịch 40 Ngày Bảo Vệ Sự Sống. Tôi thường lần Chuỗi Mai Khôi Mùa Thương, có vẻ thích hợp hơn, nhưng mới đây tôi có linh cảm cầu nguyện bằng Chuỗi Mai Khôi Mùa Vui. Khi tôi suy niệm, tôi nghĩ về cách mà mỗi mầu nhiệm đều có sứ điệp Bảo Vệ Sự Sống.

Khi Sứ Thần truyền tin, Đức Maria là một cô gái trẻ, chưa kết hôn, và sẽ phải đối mặt với cái chết nếu người ta biết thôn nữ Maria có thai khi chưa chính thức tổ chức đám cưới. Nhưng Mẹ Maria vẫn vững tin vào Ý Chúa mặc dù cuộc đời sẽ hoàn toàn thay đổi. Có thai ngoài ý muốn là điều rất khủng khiếp. Chúng ta có thể cầu nguyện cho các phụ nữ ở vào tình trạng này sẽ mở lòng ra với kế hoạch của Thiên Chúa và tin tưởng vào sự trợ giúp của Ngài.

Khi đi thăm người chị họ Êlidabét, Mẹ Maria đã đem Chúa Giêsu vào thế giới. Dù ở trong lòng Mẹ, Chúa Giêsu vẫn tác động đến người khác, làm cho Thánh Nữ Êlidabét được tràn đầy Thánh Thần và thai nhi Gioan nhảy mừng. Chúng ta hãy cầu nguyện cho càng ngày càng có nhiều người nhận biết thai nhi là người duy nhất sẽ làm ảnh hưởng thế giới.

Lễ Giáng Sinh cho chúng ta niềm vui của sự sống mới. Chúa Giêsu sinh ra trong cảnh nghèo khó, nhưng xung quanh Ngài đầy tình yêu và niềm vui. Đức Mẹ và Đức Thánh Giuse, các mục đồng, các thiên thần, các súc vật và các đạo sĩ từ phương xa tới thờ lạy Hài Nhi là Đấng Cứu Thế. Thiên Chúa chọn cảnh nghèo khó, bơ vơ, và hèn mọn. Chúng ta hãy cầu nguyện cho các thai phụ nhận biết thai nhi là tặng phẩm của Thiên Chúa dù cho tình cảnh có khó khăn và thất vọng thế nào.

Khi Đức Mẹ và Đức Thánh Giuse đưa Con Trẻ Giêsu lên Đền Thờ Giêrusalem để dâng con theo luật dạy, trước tiên họ phải dâng lễ hy sinh. Nuôi dưỡng con cái liên quan nhiều sự hy sinh. Không may là trong thời đại chúng ta lại đề cao sự ích kỷ và tiện nghi, nhiều người không quen hy sinh và vị tha. Chúng ta hãy cầu nguyện cho các bậc cha mẹ sẵn sàng hy sinh cho con cái, không cho chúng mọi thứ mà chúng muốn, nhưng biết dạy chúng nhân đức điều độ, biết kiềm chế bản thân.

Khi cha mẹ tìm thấy Con Trẻ trong Đền Thờ, Chúa Giêsu là một thiếu niên với đầy tư tưởng và ước muốn riêng, nhưng Con Trẻ Giêsu vẫn vâng lời cha mẹ. Chúng ta hãy cầu nguyện cho các bậc cha mẹ biết khuyến khích những ước muốn và ước mơ của con cái khi giúp chúng nhận thức Ơn Gọi của chúng qua việc cầu nguyện thường xuyên.

PEGGY BOWES

TRẦM THIÊN THU dịch từ IntegratedCatholicLife.org,

Tháng Mai Khôi 2013

 

07/10-156: SAO KHÔNG

 

Đức Ông Thi sĩ Xuân Ly Băng viết bài thơ “Sao không”, rất tâm tình và thật lắng sâu vào lòng người. 07/10-156


Đức Ông Thi sĩ Xuân Ly Băng viết bài thơ “Sao không”, rất tâm tình và thật lắng sâu vào lòng người. Lời thơ mời gọi hãy siêng năng cầu nguyện với Đức Mẹ bằng kinh Mai Khôi. Nhạc sĩ Thông Vi Vu dệt thành ca khúc “Sao không”. Tam Ca Áo Trắng hát với cả tâm hồn mến yêu. Tháng Mai Khôi nghe ca khúc “Sao không”, thấy lòng lâng lâng tình thương của MẸ, nghe ơn thánh trải qua từng lời kinh.

Sao em không lần chuỗi ?
Những lúc trời gió mưa,
Khi đêm về tăm tối,
Khi lá rụng vườn trưa.
Sao em không lần chuỗi ?
Khi trời mới rạng đông,
Khi sương mai ngọt bùi,
Tỏa ngát trên ruộng đồng.
Sao em không lần chuỗi ?
Cảm tạ MẸ nhân lành
Ơn MẸ như mưa tưới,
Hồn em cánh đòng xanh.
Sao không lần chuỗi ?
Sao không lần chuỗi ?
Bước đường em đi tới,
Lần chuỗi nhé em ơi !
Sao em không lần chuỗi ?
Mái tóc thề chấm vai,
Bâng khâng ngày dong duổi
Nhung nhớ bóng hình ai.
Sao em không lần chuỗi ?
Khi lặng ngắm chiều buông,
Trong cô đơn ngậm ngùi,
Lệ đắng chảy vào hồn.
Sao em không lần chuỗi ?
Cảm tạ MẸ nhân lành
Ơn MẸ như mưa tưới,
Hồn em cánh đồng xanh.
Sao không lần chuỗi ?
Khi trái gió trở trời,
Em mong manh yếu đuối,
Đến cùng MẸ em ơi.

Mẹ Maria rất hài lòng khi con cái siêng năng lần chuỗi Mai Khôi cách sốt sắng. Đức Mẹ đã từng nói điều này với Bernađetta khi Đức Mẹ hiện ra với Thánh nữ tại Lộ Đức. Đức Mẹ cũng dạy cho ba trẻ  tại Fatima nhận biết năng lực của kinh Mai Khôi và Mẹ đã giới thiệu mình là Mẹ Mai Khôi rồi cùng lần hạt với ba trẻ như muốn giới thiệu Kinh Mai Khôi là “kinh kỳ diệu”.

Đức Giáo Hoàng Piô V thiết lập lễ Mẹ Mai Khôi để tạ ơn Đức Mẹ và ghi nhớ chiến thắng của Hải quân Kitô giáo với quân Thổ Nhĩ Kỳ tại trận Lepanto ngày 7 tháng 10 năm 1571. Chiến thắng là nhờ các tín hữu lần Chuỗi Mai Khôi dâng kính Đức Mẹ ở Rôma vào ngày giao chiến. Một phép lạ của Đức Mẹ trong Tháng Mai Khôi.

Đức Giáo Hoàng Leo XIII đã thiết lập Tháng Mười là Tháng Mai Khôi vào ngày 1 tháng 9 năm 1883 và đã công bố 11 Tông thư về Chuỗi Mai Khôi trong triều đại Giáo Hoàng của ngài.

Suốt tháng Mai Khôi, Hội Thánh khắp nơi hướng về Đức Mẹ một cách đặc biệt. Lòng sùng kính của dân Chúa đối với Đức Mẹ trong thời gian này là cầu nguyện bằng chuỗi Mai Khôi. Đây là một bộ kinh gồm 200 kinh Kính Mừng, vừa đọc vừa suy gẫm 20 sự kiện quan trọng xảy ra trong cuộc đời Đức Giêsu và Mẹ Maria. Cứ đọc 10 kinh Kính Mừng thì đồng thời suy gẫm một sự kiện. 20 sự kiện ấy được chia làm 4 nhóm:

- Năm sự vui: gồm 5 sự kiện trong cuộc đời thơ ấu của Đức Giêsu.
- Năm sự sáng: gồm 5 sự kiện trong cuộc đời công khai của Đức Giêsu.
- Năm sự thương: gồm 5 sự kiện trong cuộc thương khó của Đức Giêsu.
- Năm sự mừng: gồm 5 sự kiện vinh quang.

20 mầu nhiệm ấy là những sự kiện cốt yếu trong Tin Mừng. Lần chuỗi Mai Khôi là suy gẫm Tin Mừng, theo kiểu miệng đọc tâm suy. Miệng đọc các kinh Kính Mừng kính Mẹ Maria, tâm suy niệm những sự kiện quan trọng của cuộc đời Đức Giêsu. Đó chính là bản tóm tắt cuộc đời của Chúa Giêsu Kitô và cũng là của Đức Maria. Thánh Giáo Hoàng Phaolô VI trong Tông huấn “Marialis Cultus” đã gọi Kinh Mai Khôi là “Cuốn Phúc Âm rút gọn”. Hơn ai hết, Đức Mẹ đã cùng với Con bước các chặng đường Vui – Sáng – Thương – Mừng với tinh thần của lời “xin vâng” mà Mẹ đã tuyên xưng trước khi Ngôi Lời Thiên Chúa nhập thể làm người trong cung lòng Mẹ.

Chuỗi Mai Khôi mang hai đặc điểm nổi bật là chất Tin Mừng và tính Hội Thánh. Chuỗi Mai Khôi là một bản tóm tắt gọn gàng, dễ nhớ về những biến cố quan trọng trong cuộc đời Chúa Cứu Thế. Mai Khôi là những bông hồng đẹp được tượng trưng bằng các kinh Kính Mừng để tôn vinh Người. Đức Mẹ đã có mặt trong cuộc đời Chúa Cứu Thế từ những giây phút đầu cho đến những giây phút cuối.

Kinh Mai Khôi là lời kinh phổ cập, đó là kinh của mọi tín hữu. Ai cũng đọc được, từ người trẻ cho đến người già, người thông thái cũng như người ít học, người giàu hay người nghèo, người khỏe mạnh cũng như người đau yếu, khi vui cũng như lúc buồn, khi làm việc cũng như lúc nghỉ ngơi. Kinh Mai Khôi có thể đọc được ở bất cứ đâu hay trong hoàn cảnh nào, ở nhà thờ, ở nhà mình, ở ngoài đường, trong nơi yên lặng hay giữa chốn ồn ào náo động và nhất là đọc chung với nhau trong gia đình hay những khi có đông người công giáo họp nhau lại. Đọc Kinh Mai Khôi với ý thức là mình đang làm một công việc có chất Tin Mừng, được Hội Thánh công nhận và nhiệt tình khuyến khích, một công việc thu tóm lại tất cả cuộc đời Chúa Cứu Thế. Sau khi đã chiêm ngắm những mầu nhiệm ấy, người tín hữu còn cầu xin những điều hết sức đơn sơ như “xin ơn khiêm nhường, yêu người, khó nghèo”.

Mai Khôi chính là hoa hồng. Mai Khôi là bông hồng đẹp, viên ngọc quý. Như thế, bằng chuỗi Mai Khôi, Hội Thánh trở thành một vườn hồng mênh mông, hương thơm sắc đẹp, dâng lên Mẹ hiền.

Nói đến Mai Khôi là nói đến hoa. Những bông hoa muôn màu muôn sắc dâng trước tòa Mẹ. Những bông hoa kinh nguyện sốt sắng kết dệt nên những lời ca tụng Mẹ. Những bông hoa hy sinh, bác ái muốn tỏa hương dưới chân Mẹ.

Những bông hoa nói lên lòng yêu mến của con cái đối với Mẹ hiền. Những bông hoa cũng cố gắng diễn tả phần nào nét đẹp của Mẹ. Thật vậy, giữa ngàn hoa, Đức Maria nổi bật như bông hoa cao quý xinh đẹp nhất. Đẹp đến độ "đẹp lòng Thiên Chúa". Đức Maria là bông hoa thanh khiết diễn tả được nét đẹp của Thiên Chúa vì Mẹ là tác phẩm của Chúa Thánh Thần. Chúa Thánh Thần "rợp bóng trên Mẹ" nên Mẹ sống dưới sự che chở của Thánh Thần, theo ơn hướng dẫn của Thánh Thần và sống trong tình yêu của Thánh Thần.

Thiên Chúa muốn Con của Ngài vào đời làm người, nên đã chuẩn bị cho Con một người mẹ tuyệt hảo. Maria là người được Thiên Chúa đặc biệt mến thương. Thiên Thần gọi Mẹ là “Đấng đầy ân sủng”, là người được “Đức Chúa ở cùng”, là người “đẹp lòng Thiên Chúa” .

 Maria đã là một thụ tạo tuyệt vời ngay từ trước khi làm Mẹ Đức Giêsu. Nhưng Thiên Chúa vẫn tôn trọng tự do của Mẹ. Ngài cần sự ưng thuận của một thụ tạo nhỏ bé trước khi trao cho Maria chức vụ làm Mẹ Đấng Cứu Thế. Tiếng “xin vâng” khởi đầu cho một chuỗi xin vâng làm nên cuộc đời người nữ tỳ của Chúa.

Kinh Mai Khôi là một chuỗi “xin vâng” của người tín hữu dâng Thiên Chúa, theo mẫu gương đáp trả của Mẹ Maria.

Tràng chuỗi Mai Khôi là một phương thế giúp chúng ta gần gũi thiết thân với Mẹ Maria.

Đức Thánh Cha Piô X đã nhắn nhủ các gia đình Công giáo: “Khi gia đình được an vui hòa thuận, hãy lần chuỗi Mai Khôi để xin Mẹ ban cho sự an vui hòa thuận yêu thương. Khi gặp người chồng thiếu trách nhiệm, hãy chạy đến với Mẹ nhờ tràng chỗi Mai Khôi, để xin Mẹ cảm hóa mình. Khi vợ chồng xung khắc nhau, hãy lần chuỗi Mai Khôi, xin Mẹ tạo sự cảm thông “.

Thánh Gioan Phaolô II, ngay trong tuần lễ sau khi đắc cử Giáo Hoàng, đã nói với tất cả các tín hữu hiện diện tại quảng trường Thánh Phêrô khi đọc kinh Truyền Tin: “Chuỗi Mai Khôi là lời cầu nguyện mà tôi yêu thích nhất. Đó là lời kinh tuyệt vời. Tuyệt vời trong sự đơn giản và sâu sắc. Với lời kinh này chúng ta lập lại nhiều lần những lời mà Đức Trinh Nữ đã nghe sứ thần Gabriel và người chị họ Êlisabet nói với Mẹ. Toàn thể Giáo Hội cùng liên kết với những lời kinh ấy”.

Khi đọc sự tích về các cuộc Đức Mẹ hiện ra, dù ở Lộ Đức hay ở Fatima, dù ở Guadalupe hay ở Mễ Du, hay ở La Vang…. chúng ta đều thấy Đức Mẹ nhắn nhủ người tín hữu hãy canh tân đời sống và siêng năng lần hạt Mai Khôi để làm đẹp lòng Thiên Chúa: “Ta là Đức Mẹ Mai Khôi, ta đã đến để cảnh báo các tín hữu canh tân đời sống và xin ơn tha thứ tội lỗi của họ. Họ không được xúc phạm đến Thiên Chúa nữa, vì Ngài đã quá phiền muộn vì tội nhân loại. Loài người hãy lần chuỗi Mai Khôi. Họ hãy tiếp tục lần chuỗi hàng ngày. ” ( Thông điệp Đức Mẹ gởi cho chị Lucia 13.10.1917 ).

Thánh Đaminh là người có công rất lớn trong việc quảng bá việc đọc kinh Mai Khôi để cầu xin Chúa bảo vệ Hội Thánh trước sự tấn công của kẻ thù.

Thánh Piô Năm Dấu Thánh chia sẻ: “Vũ khí của tôi là tràng hạt Mai Khôi. Đức Mẹ không từ chối tôi điều gì khi tôi xin với Mẹ qua chuỗi Mai Khôi. Muốn làm Đức Mẹ vui lòng và muốn được Đức Mẹ thương yêu hãy lần chuỗi Mai Khôi”.

Còn cha Stefano Gobbi viết: “Chuỗi Mai Khôi mang lại hòa bình cho bạn. Với lời Kinh Mai Khôi, bạn sẽ có thể nhận được từ Thiên Chúa hồng ân vĩ đại nhất là canh tân đời sống, thu phục các linh hồn về với Chúa trong sự ăn năn tội, tình yêu và thánh ân”. Và “Chuỗi Mai Khôi là lời kinh của tôi. Những lời kinh này dù khiêm nhường và mong manh cũng sẽ nên như xích sắt để khóa lại quyền lực tối tăm của thế giới, kẻ thù của thế giới và của các tín hữu” .

Chuỗi hạt Mai Khôi nuôi dưỡng đời sống nội tâm phong phú. Chuỗi Mai Khôi làm lòng người lắng dịu, thanh thản bình an để chiêm ngắm cuộc đời Chúa Giêsu và ca ngợi Mẹ Maria. Cầm Chuỗi Mai Khôi trên tay, chúng ta sẽ thấy mình được tăng thêm nghị lực, sống vươn lên với niềm Tin, Cậy, Mến. Hãy tập thói quen đọc kinh Mai Khôi hàng ngày. Kinh Mai Khôi là hành trang gọn nhẹ giúp thánh hóa bản thân gia đình và xã hội. Nhớ mang theo một tràng chuỗi Mai Khôi trong túi áo, hay đeo chuỗi mười hạt ở tay, mình rất dễ tìm thời giờ mỗi ngày để đọc lời kinh phong phú này. Chuỗi hạt Mai Khôi mang đến vô vàn ơn phúc huyền diệu cho con người.

Chuỗi Mai Khôi diệu vời như thế, “sao em lại không lần chuỗi” ? Hãy siêng năng “lần chuỗi nhé em ơi” !

Lm. Giuse NGUYỄN HỮU AN

 

07/10-157: THIÊN CHÚA Ở CÙNG MẸ

 

Ngày 19.9.1846, khi các Tu Sĩ đang hát kinh tại Nhà Thờ, đến câu: “Ôi, lênh láng thay những dòng 07/10-157


Ngày 19.9.1846, khi các Tu Sĩ đang hát kinh tại Nhà Thờ, đến câu: “Ôi, lênh láng thay những dòng nước mắt của Mẹ…” thì trên đỉnh núi Salette nước Pháp, gần dãy núi Alpes, Đức Mẹ hiện ra với hai em chăn chiên Mélanie và Maximin. Đức Mẹ vừa nói vừa khóc: “Khốn cho nhân loại, Chúa sắp nổi cơn giận dữ, giáng xuống trần gian bao nhiêu tai họa. Chúa ruồng bỏ loài người và đổ hình phạt liên tiếp xuống trong 35 năm.” Mélanie đã tiết lộ trước khi qua đời rằng: “Từ khi hiện ra đến lúc biến đi, Đức Mẹ chỉ khóc nức nở. Những giọt lệ, từ trên gò má lăn xuống lấp lánh như những viên ngọc. Trong dịp này Đức Mẹ đầy tình âu yếm nhắn nhủ người ta biết sống cầu nguyện, năng lần chuỗi Mai Khôi, thánh hoá các ngày lễ trọng và Chủ Nhật.”

Ở vùng La Salette này, nằm giữa dãy Núi Alpes. Dân chúng nghèo nàn, làm nghề chăn nuôi bò cừu. Hai em thả đàn cừu đi uống nước dưới suối, rồi tìm ghế ngồi nghỉ. Khi trở về chỗ cũ, hai em thấy một bàu lửa sáng rực. Rồi hiện ra một bà xinh đẹp ngồi ngay trên ghế đá. Bà tì khuỷu tay lên đầu gối, hơi nghiêng mình về phía trước, có vẻ buồn sầu vô hạn. Các em sợ quá, định lùi lại. Nhưng bà đứng lên bảo các em: “Các con đừng sợ, hãy đến đây với Ta.” Bà nói:“Nếu người ta không chịu cải thiện đời sống. Ta không còn cách nào ngăn cản cánh tay công thẳng của Con ta được. Ta không bỏ các con. Nhưng trái lại chúng con không làm như vậy. Những kẻ đau thương cũng không biết đến Ta chỉ kêu ca nguyền rủa. Mùa màng hoa màu hư hỏng là tại các con. Hai con phải năng đọc kinh sáng tối lần chuỗi hạt Mai Khôi kính Ta.” Sau cùng, Đức Mẹ bảo các em truyền bá cho người ta những điều Đức Mẹ dạy… ( Đức Mẹ La Salette ).

Trong bài Tin Mừng của Lễ Mẹ Mai Khôi, các Tông Đồ thưa với Đức Giêsu rằng: "Xin Thầy ban thêm lòng tin cho chúng con." Chúng ta hiệp ý khấn xin Mẹ Mai Khôi nhân đức quan trọng bậc nhất này. May mắn thay, Mẹ Maria đã thương ban cho người Kitô hữu tràng chuỗi Mai Khôi. Mỗi khi lần chuỗi, là làm một cuộc hành trình đức tin với Mẹ Maria. Cuộc lữ hành trình đầy thử thách gian khổ, sầu bi, nhưng cũng tràn đầy vui mừng, hy vọng.

Thiên Chúa ở cùng Mẹ

Mẹ không chỉ tin, mà Mẹ còn hoàn toàn trông cậy, nồng nàn yêu mến, luôn sống đẹp lòng Chúa với tâm tình khiêm hạ, đơn sơ, trong sạch, nghèo khó. Sứ thần Gabriel đến kính chào Mẹ: "Mừng vui lên, hỡi Ðấng đầy ân sủng, Ðức Chúa ở cùng bà” ( Lc 1, 28 ).

Khi Thiên Chúa yêu thương, tuyển chọn và gọi một ai đó thi hành sứ vụ quan trọng, vượt khả năng, sức lực, trình độ của họ, Người thường hứa chắc chắn: “Ta sẽ ở với ngươi”, chẳng hạn, với Giacóp ( St 28,13-15 ); với Môsê ( Xh 3,12 ), với Giôsuê ( Gs 1, 5.9 ), với Đavít ( 2Sm 7, 3 ), với Giêrêmia ( Gr 1, 6-8 ), với Đức Maria ( Lc 1, 28 ), với Phaolô ( Cv 18, 10 )...

“Thiên Chúa ở cùng” là hồng ân vô cùng cao quý, là hạnh phúc tuyệt đỉnh vô song, nhưng kèm theo biết bao đau khổ, gian lao, thử thách, hòng tôi luyện bản thân cho xứng đáng. Từ khi thân thưa hai tiếng “Xin Vâng,” Mẹ Maria sẽ chịu bao khổ ải, bao bất hạnh. Chịu nghi ngờ, khốn khổ khi mang thai, phải trốn chạy khỏi bị vua Hêrôđê truy sát, chịu lâm bồn nơi chuồng bò lừa hôi hám. Hoảng hốt thấy mất Con. Long đong theo Con giảng dạy. Kinh hoàng cuộc khổ nạn. Tan nát cõi lòng dưới chân thập tự.

“Thiên Chúa ở cùng” với các chứng nhân Tử Vì Đạo, ban sức mạnh anh dũng cho các ngài hy sinh chịu nhục hình, cũng như sẵn sàng hiến mạng sống vì Đức Tin. “Thiên Chúa ở cùng” với toàn thể Kitô hữu trong Hội Thánh chiến đấu, để trở nên chứng nhân giữa đời.

Mẹ cưu mang Con Chúa

Bà chị Elidabet vui mừng thấy cô em Maria đến thăm, đã hớn hở chúc mừng Mẹ: "Em được chúc phúc hơn mọi người phụ nữ, và người con em đang cưu mang cũng được chúc phúc” ( Lc 1, 42 ). Không chỉ sứ thần Gabriel từ trời xuống chúc tụng Mẹ, mà cả đến người trần cũng cung kính tuyên dương hồng phúc của Mẹ Maria.

Nhưng Đức Giêsu còn làm hơn thế nữa, đi xa hơn nữa, khi công khai tuyên bố rằng, những ai nghe và thực hành Tin Mừng, cũng đều trở nên anh chị em và mẹ của Người.“Mẹ tôi và anh em tôi, chính là những ai nghe lời Thiên Chúa và đem ra thực hành” ( Lc 8, 21 ).

Vậy còn diễm phúc nào hơn, tất cả những ai tuân thủ Tin Mừng, đều có thể mang Chúa, có Chúa hiện diện trong tâm hồn. Không chỉ nghe và thực hành, mới được Chúa đến ở cùng, mà hơn nữa, qua mầu nhiệm Thánh Thể, chính Mình Thánh Chúa Giêsu còn yêu thương, từ bi, lân tuất, khiêm hạ, ngự vào trong lòng tín hữu.

Emmanuel

“Chỉ có một Thiên Chúa và là Cha mọi người hết thảy, Ðấng trên mọi người, giữa mọi người, và trong mọi người” ( Ep 4, 6 ). Thiên Chúa vẫn đang ở cùng nhân loại cho đến tận thế, tuy âm thầm, kín đáo và khiêm cung. Không chỉ ở trong Kitô hữu, mà còn ở trong tất cả mọi người, kể cả người không tin Chúa, từ chối Chúa. Vì ai cũng đều mang dấu ấn Đấng Tạo Hoá. “Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh mình, Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh Thiên Chúa, Thiên Chúa sáng tạo con người có nam có nữ” ( St 1, 27 ).

Ngài quảng đại, hiện hữu ngay trong những người bạc phận, bé nhỏ, khốn nghèo, bệnh hoạn, tù đầy, bị xua đuổi, ruồng rẫy ra khỏi cộng đồng, sống bên lề xã hội. “Vì xưa Ta đói, các ngươi đã cho ăn; Ta khát, các ngươi đã cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi đã tiếp rước; Ta mình trần, các ngươi đã cho mặc; Ta đau yếu, các ngươi đã viếng thăm; Ta bị tù đày, các ngươi đã đến với Ta" ( Mt 25, 35-36 ).

Mở đầu và kết thúc Tin Mừng, Thánh Matthêu cố tình làm nổi bật sứ vụ của Đức Giêsu, khi bắt đầu bằng Emmanuel, Thiên Chúa Ở Cùng, và kết thúc bằng lời hứa cam kết với các Tông đồ và với nhân loại: “Thầy ở với anh em mọi ngày cho đến tận thế" ( Mt 28, 20 ).

Lời chào của Thiên Thần: "Kính mừng Bà đầy ơn phước, Thiên Chúa ở cùng Bà..." và lời chào của Hội Thánh: "Chúa ở cùng anh chị em" có mang một ý nghĩa sâu xa, khả dĩ biến đổi cuộc đời con không ? ( Đường Hy Vọng, số 238 ).

“Lạy Chúa con chỉ là đầy tớ vô duyên, là đầy tớ vô duyên, vô duyên bất tài, con vô duyên bất tài. Nhưng con trung tín chân thành. Nhưng con trung tín chân thành. Con luôn trung tín chân thành.” ( Hải Linh và Lm. Vũ Đình Trác, Tình Chúa Yêu Tôi ).

Kính xin Mẹ cầu bầu cho chúng con ý thức sâu xa hai lời chào Mẹ, để chúng con biết Chúa luôn yêu thương ở cùng, giúp chúng con chiến thắng bản thân, vượt qua cám dỗ thử thách, nhân ái với tha nhân, mãi đồng hành cùng Mẹ trên đường hy vọng. Amen.

AM. TRẦN BÌNH AN

 

07/10-158: Kinh Mân Côi – Lời kinh cuộc đời


(Lễ Mân Côi 2016 – ĐGM. Giuse Vũ Văn Thiên)
 

Trình thuật về cuộc gặp gỡ giữa Sứ thần Gabrien với Trinh nữ Maria trong Tin Mừng Thánh Luca 07/10-158


Trình thuật về cuộc gặp gỡ giữa Sứ thần Gabrien với Trinh nữ Maria trong Tin Mừng Thánh Luca đã trở thành điểm khởi đầu cho một chuỗi 20 mầu nhiệm Mân Côi, được chia ra bốn phần: Mùa Vui, Mùa Sáng, Mùa Thương và Mùa Mừng.

Với lời thưa “Xin vâng” của Trinh nữ Maria, Ngôi Lời đã nhập thể làm người và cư ngụ giữa nhân loại. Đây là khởi đầu của một cuộc sáng tạo mới. Cuộc sáng tạo thứ nhất đã bị hoen màu tội lỗi do sự bất tuân của Ađam và mọi thế hệ kế tiếp. Trong Đức Giêsu, Thiên Chúa sẽ canh tân mọi vật mọi loài. Khởi đi từ mầu nhiệm Truyền tin, Kinh Mân Côi dẫn chúng ta từng bước theo Đấng Cứu thế, chiêm ngưỡng và suy tư từng biến cố của cuộc đời Người. Từ thời thơ ấu của Chúa ở làng quê Nagiarét, đến tuổi trưởng thành, lên đường thực thi sứ vụ loan báo Tin Mừng. Từ lời giảng dạy đơn sơ mà đầy khôn ngoan đến những phép lạ kỳ diệu chứng minh quyền năng Thiên Chúa. Từ cuộc khổ hình thập giá đến sự phục sinh và lên trời vinh quang. Mỗi mầu nhiệm đều mời gọi chúng ta đón nhận những thông điệp Chúa muốn truyền đạt. Qua Kinh Mân Côi, dung nhan Chúa Giêsu được phác họa, giáo huấn của Người được chuyển tải và tình thương của Thiên Chúa được thể hiện.

Một nhân vật luôn hiện diện trong suốt hai mươi mầu nhiệm Mân Côi, đó là Trinh nữ Maria thành Nagiarét. Qua lời Sứ thần truyền tin, Đức Maria được Chúa mời gọi cộng tác với Ngài trong chương trình nhập thể và cứu độ con người. Trong mọi biến cố của cuộc đời Chúa Giêsu, Mẹ luôn diện hiện một cách âm thầm, khiêm tốn. Đó không phải là sự hiện diện thụ động, cam chịu, nhưng là sự đồng hành, cảm thông, cộng tác với Chúa Giêsu. Nếu mọi hành động của Chúa Giêsu đều có giá trị cứu rỗi nhân loại, thì Đức Mẹ là người cộng tác thiết thân gần gũi vào những hành động ấy. Vì vậy, Đức Mẹ được tuyên xưng là Đấng Đồng công cứu chuộc. Từ mầu nhiệm thứ nhất là Truyền tin, cho đến mầu nhiệm cuối cùng là việc Đức Mẹ được Chúa thưởng triều thiên vinh quang, chúng ta thấy chân dung và cuộc đời Đức Mẹ được phác họa một cách đầy đủ và sâu sắc. Đức Mẹ từng bước chiêm ngắm những giai đoạn khác nhau của cuộc đời Đấng Cứu thế, cũng là con của Mẹ. Mẹ gắn bó mật thiết với Chúa Giêsu, đến nỗi ta có thể gọi Mẹ là người môn đệ đầu tiên và môn đệ trọn lành của Người. Thánh Luca đã viết: “Riêng mẹ Người thì hằng ghi nhớ tất cả những điều ấy trong lòng” (Lc 2,51). Đức Mẹ vui niềm vui của Chúa Giêsu, khi Người được người ta lắng nghe và ca ngợi tôn vinh. Đức Mẹ chia sẻ sự đau khổ của con mình, khi Người bị xúc phạm, sỉ nhục và nhất là khi Người chịu đóng đinh trên thập giá. Bốn giai đoạn Vui, Sáng, Thương, Mừng trong kinh Mân Côi, vừa phác họa cuộc đời Đấng Cứu thế, vừa diễn tả hành trình đức tin của Đức Mẹ. Hai mầu nhiệm cuối cùng, tức là sự chết lành của Đức Mẹ và việc Người được tôn vinh trên hết các triều thần thánh, là phần thưởng cho một đời trung kiên, đồng thời cộng tác với Chúa Giêsu để mang lại ơn cứu độ cho trần gian. Suy niệm mỗi mầu nhiệm Mân Côi, chúng ta đọc mười kinh “Kính Mừng”. Khi đọc kinh này, chúng ta cùng với Đức Mẹ chiêm ngưỡng và suy tư những biến cố được diễn tả trong Tin Mừng, đồng thời cầu xin cho chúng ta được những ơn cần thiết trong đời sống, để trở nên môn đệ đích thực của Chúa Giêsu.

Bốn mùa Vui-Sáng-Thương-Mừng của cuộc đời Chúa Cứu thế cũng phác họa những giai đoạn khác nhau của cuộc sống chúng ta. Lúc sinh ra khỏi lòng mẹ là ta khởi đầu cuộc sống trần gian. Thế rồi, từng bước ta lớn lên trưởng thành vào đời. Cuộc đời dạy ta những bài học sâu sắc. Có những lúc thành công, có những khi thất bại. Mỗi lần thất bại làm ta già dặn kinh nghiệm hơn. Chắng có ai sống trên đời này mà không gặp gian nan thử thách. Từ bậc quân vương vua chúa cho tới thảo dân nô lệ, ai ai cũng phải trải qua những thử thách đau thương để từng bước trưởng thành. Kinh Mân Côi giúp ta nhìn thấy chính hình ảnh mình qua cuộc đời Chúa Cứu thế. Kinh Mân Côi cũng khẳng định với chúng ta, Chúa Giêsu đang hiện diện trong cuộc đời này. Người chia vui sẻ buồn với chúng ta. Người nâng đỡ chúng ta trên mọi bước đường trần gian. Người lau khô giọt lệ nơi đôi mắt chúng ta và khích lệ chúng ta trỗi dậy kiên cường trước phong ba bão táp của cuộc đời. Nếu ngày xưa, Chúa đã chịu khổ hình để dạy chúng ta bài học khiêm nhường và để bày tỏ tình thương của Thiên Chúa, thì hôm nay, Người lại đang đau khổ nơi những mảnh đời bất hạnh. Người đồng hoá với những người bị bỏ rơi, bị gạt ra bên lề cuộc sống. Vì thế, khi giúp đỡ người nghèo là chúng ta giúp đỡ Chúa (x. Mt 25, 31-46).

Cỗ tràng hạt rất gần gũi thân thuộc với người tín hữu chúng ta. Tràng hạt không phải là một đơn vị đong đếm, nhưng là mối dây liên kết chúng ta với Đức Mẹ với anh chị em mình. Tràng hạt cũng là chuỗi hoa hồng thiêng liêng, kết lại để dâng kính Mẹ Thiên Chúa. Mỗi kinh Kính Mừng là một đoá hồng huyền nhiệm, thể hiện lòng yêu mến hiếu thảo và cậy trông của chúng ta. Truyền thống Giáo hội công nhận Thánh Đaminh là người đã cổ võ lần hạt Mân Côi theo lệnh truyền của Đức Mẹ để đem lại bình an hiệp nhất cho Giáo hội, trong bối cảnh có nhiều rạn nứt, chia rẽ. Thánh Đaminh cũng là người đầu tiên kết những bông hoa hồng làm thành tràng hạt dâng kính Đức Mẹ, vì thế, chuỗt hạt ngày nay chúng ta sử dụng, dù được làm bằng chất liệu gì, cũng được gọi là “Chuỗi Mân Côi”, có nghĩa là tràng hoa hồng.

Miệng đọc, trí suy, tay lần tràng hạt, Kinh Mân Côi đơn giản mà huyền diệu. Mỗi kinh Kính mừng, ta lần một hạt, như tiến một bước trên đường đời, giúp ta đến gần Chúa Giêsu hơn. Qua Kinh Mân Côi, chúng ta gửi gắm nơi Đức Mẹ niềm vui nỗi buồn của cuộc đời nhân thế. Những chuỗi hạt thiêng liêng nhân lên mãi trong cuộc đời chúng ta, kéo ơn từ trời xuống, giúp ta nên thánh. Ước chi mỗi người tín hữu cảm nhận dồi dào ân sủng Chúa ban qua Kinh Mân Côi, để cuộc đời chúng ta được biến đổi và nên hoàn thiện.

 

07/10-159: Mẹ đầy ơn phúc – ĐGM. Giuse Vũ Văn Thiên

 

Ave Maria là lời chào của thiên sứ Gabrien khi đến gặp Đức Mẹ trong ngày truyền tin. Thiên 07/10-159


Ave Maria là lời chào của thiên sứ Gabrien khi đến gặp Đức Mẹ trong ngày truyền tin. Thiên sứ từ trời cao, xuống trần để gặp một phụ nữ khiêm hạ. Ave Maria vừa là lời chào, vừa là lời mời gọi hãy vui lên vì “Đức Chúa ở cùng Bà”.

Nhờ nhạc phẩm “Ave Maria”, tên tuổi của nhà soạn nhạc người Áo Franz Schubert được cả thế giới biết đến. Tuyệt tác của ông đã được dịch ra nhiều thứ tiếng. Nhiều danh ca nhờ bài thánh ca này mà được nổi danh ở tầm mức quốc tế. Thật tuyệt vời khi thấy Đức Trinh nữ Maria được ca tụng tôn vinh qua bài ca này. Từ những đại nhạc hội hàng ngàn hàng vạn thính giả, đến những nghệ sĩ violon hát rong ngoài đường phố, tất cả đều ca lên lời chào Đức Trinh nữ Maria: Mẹ đầy ơn phúc. Từ những tín hữu đạo đức đến những người vô tín ngưỡng, tất cả đều chăm chú cảm nhận những lời ca và âm điệu ngọt ngào của bài thánh ca để tôn vinh Mẹ Chúa Trời.

Ave Maria là lời chào của thiên sứ Gabrien khi đến gặp Đức Mẹ trong ngày truyền tin. Thiên sứ từ trời cao, xuống trần để gặp một phụ nữ khiêm hạ. Ave Maria vừa là lời chào, vừa là lời mời gọi hãy vui lên vì “Đức Chúa ở cùng Bà”. Qua lời chào kính trọng ấy, thiên sứ tỏ bày sự cung kính trước người phụ nữ được Chúa chọn làm thân mẫu của Ngôi Lời nhập thể. Khi muốn cứu chuộc con người, Thiên Chúa mời gọi sự cộng tác của một người phụ nữ. Ngài đã chọn Đức Trinh nữ Maria như một “điểm đỗ” để Con của Ngài giáng trần. Thánh Luca đã diễn tả cuộc gặp gỡ kỳ diệu ấy, là một cuộc gặp gỡ giữa trời với đất, giữa Thiên Chúa cao cả và con người phàm trần. Trinh nữ Maria đã thưa lời “Xin vâng” để mở lòng đón nhận Ngôi Lời nhập thể. Với lời thưa “Xin vâng” của Mẹ, Con Thiên Chúa đã đến thế gian, khởi đầu công cuộc cứu độ loài người.

“Kính mừng Maria đầy ơn phúc”, trước hết là lời kinh ca ngợi. Chúng ta hợp lời với sứ thần chào kính và ca tụng thiên chức cao cả của Đức Mẹ. Mẹ là người được Thiên Chúa chọn lựa trong muôn người, để làm ngai tòa cho Đấng Cứu thế ngự khi đến trần gian, mặc lấy thân phận con người. Lời Mẹ nói tiên tri về chính mình nay đã được thực hiện: “Từ nay, hết mọi đời, sẽ khen tôi diễm phúc” (Lc 2,48). Qua cuộc đời của Mẹ, chúng ta ca tụng quyền năng vô biên của Thiên Chúa, đã thực hiện những việc lạ lùng. Mẹ được tôn vinh làm Nữ Vương trời đất, cùng với Đức Giêsu là Vua Vũ trụ để chúc phúc cho muôn loài.
“Kính mừng Maria đầy ơn phúc”, đó là lời kinh của niềm phó thác cậy trông. Khi lần hạt Mân Côi, chúng ta xin Đức Mẹ cầu bầu cho chúng ta được những ơn lành phần hồn phần xác, nhất là được ơn trung thành như Đức Mẹ. Lời kinh thấm nhập mỗi con tim, diễn tả tâm tư trìu mến của chúng ta dành cho Mẹ. Lời kinh đem lại sự ngọt ngào mỗi khi chúng ta âu sầu đau khổ; đem lại hy vọng mỗi khi chúng ta gặp khó khăn thất bại; đem lại niềm vui mỗi khi chúng ta buồn bã; đem lại sức mạnh mỗi khi chúng ta yếu đuối; đem lại sự đỡ nâng mỗi khi chúng ta có nguy cơ gục ngã trên đường đời. “Thánh Maria Đức Mẹ Chúa Trời”, đó là lời cầu nguyện của Giáo Hội, cũng là lời cầu nguyện của mỗi con tim, xin Đức Mẹ bầu cử cho chúng ta đang còn bước đi trong cuộc sống dương gian đầy gian nan thử thách. "Kinh Mân côi không những kéo ơn trên trời xuống cho tội nhân, khiến họ mau mắn về với Mẹ, nhưng còn làm cho họ đứng vững trên con đường sùng kính mến yêu Mẹ. Nơi nào đông người chuyên chăm lần hạt, nơi ấy giáo hữu tiến nhanh trên đường thánh thiện, trái lại nơi nào thờ ơ, giáo hữu sẽ lâm vào tình trạng hư hỏng” (Thánh Grignion de Monfort).

“Kính mừng Maria đầy ơn phúc”, đó là lời kinh của tâm tình hiếu thảo chúng ta dâng lên Mẹ Thiên Chúa. Có người thắc mắc tại sao phải lặp đi lặp lại nhiều lần kinh Kính mừng khi lần hạt Mân Côi. Điều đó thật dễ hiểu! Người con hiếu thảo nào cũng muốn nói ngàn lần lời yêu thương với cha mẹ mình mà vẫn chưa đủ. Ngôn ngữ diễn tả tình yêu giống như dòng sông tuôn chảy mãi không dừng, cũng thế, những lời chào kính Đức Mẹ dù có lặp đi lặp lại là bằng chứng của tình mến chúng ta dành cho Đức Mẹ. Kinh Mân Côi sẽ giúp khơi nguồn dòng chảy yêu thương từ nơi Đức Mẹ đến với chúng ta.

“Kính mừng Maria đầy ơn phúc”, mỗi lời kinh là một bước đường đời dẫn ta đến gần Chúa hơn, và giúp chúng ta nên giống Chúa. Bởi lẽ kinh Kính mừng được đọc trong tâm tình suy niệm, chiêm ngắm những mầu nhiệm của cuộc đời Chúa Cứu thế, từ ngày Truyền tin cho đến khi Người sống lại và lên trời vinh quang. Mỗi bước đường của chúng ta đều có Đức Mẹ đồng hành. Mỗi lối đi dương thế đều có Chúa dẫn đưa. Đó là giá trị của Kinh Mân Côi.

Kinh Mân Côi là hình thức cầu nguyện được chính Đức Mẹ khuyến khích. Quả vậy, khi hiện ra ở Lộ Đức cũng như ở Phatima, Đức Mẹ đã cùng lần hạt với các thị nhân, trong tình thân thương trìu mến. Vì thế, tượng Đức Mẹ được trình bày tại hai nơi thánh địa này đều có cỗ tràng hạt nơi tay của Đức Mẹ. “Hãy siêng năng lần hạt”, đó còn là lệnh truyền của Đức Mẹ khi hiện ra với ba trẻ chăn chiên ở Phatima năm 1917.

“Kính mừng Maria đầy ơn phúc”, ước chi lời kinh này luôn vang lên nơi môi miệng chúng ta, từ khi sinh ra cho đến lúc lìa đời, nhờ đó, chúng ta luôn được Đức Mẹ phù hộ độ trì. Nhờ Mẹ và qua Mẹ, chúng ta sẽ gặp Đức Giêsu, và đạt được sự sống đời đời.

 

07/10-160: Bài giảng lễ Đức Mẹ Mân Côi năm 2013


ĐGM. Giuse Vũ Văn Thiên
 

Kinh Mân Côi, một kinh nguyện giản đơn mà giá trị, quen thuộc mà đầy sức hấp dẫn. Lịch 07/10-160


Kinh Mân Côi, một kinh nguyện giản đơn mà giá trị, quen thuộc mà đầy sức hấp dẫn. Lịch sử Giáo Hội đã chứng minh thần lực huyền nhiệm của kinh Mân Côi. Mỗi dịp tháng 10 về, chúng ta lại được mời gọi cùng suy tư và khám phá giá trị thiêng liêng của kinh Mân Côi.

Kinh Mân Côi là hình thức đạo đức bình dân, nhưng lại được yêu mến và thực hành bởi các nhà khoa học và những triết gia công giáo. Trong số những nhân vật nổi tiếng, phải kể đến Louis Pasteur, nhà bác học người Pháp sống thế kỷ 19, cha đẻ của lý thuyết lên men, vi khuẩn và vắcxin trừ bệnh chó dại.Người ta kể rằng khi ngồi trên xe lửa, không bao giờ ông rời cỗ tràng hạt. Tiếp đến là Blaise Pascal, khoa học gia, đồng thời là triết gia người Pháp thế kỷ 17. Cũng nên nhắc đến André-Marie Ampère, nhà vật lý người Pháp thế kỷ 18-19, người đã sáng lập ra môn điện từ học, cũng là một tín hữu yêu mến kinh Mân Côi và thường xuyên lần hạt.

Trong suốt bề dày của lịch sử, nhiều vị Giáo Hoàng đã cổ võ việc đọc kinh Mân Côi và đã có những giáo huấn rất sâu sắc về hình thức cầu nguyện này.Đức Thánh Cha Lêô XIII đã dành tất cả 17 văn kiện để nói về phép lần hạt Mân Côi. Trong một văn kiện, Đức Giáo Hoàng đã viết: “Muốn được Thiên Chúa cứu chữa cho khỏi những cơn khó khăn của thời đại ngày nay, Ta nghĩ không có gì hiệu nghiệm hơn là việc tôn sùng Đức Trinh Nữ Maria, Mẹ Thiên Chúa. Vậy Ta khuyên các giáo hữu, hãy tập thói quen đạo đức lần hạt Mân Côi hoặc công khai hoặc trong gia đình”. Cũng chính vị Giáo Hoàng này vào năm 1887 đã nâng lễ Đức Mẹ Mân Côi lên bậc lễnhì với kinh lễ và kinh Phụng vụ theo phụng vụ dòng Đaminh. Đức Thánh Piô X ấn định mừng lễ Mẹ Mân Côi vào ngày mồng 7 tháng 10. Đức Giáo Hoàng Piô XI gọi kinh Mân côi thực là một triều thiên hoa hồng rực rỡ nhất mà tuổi thanh xuân có thể đội. Đó là những đoá hồng trinh khiết và đoá hồng tình mến, đoá hồng tình yêu huynh đệ, đoá hồng chí tông đồ tươi nở trong khung cảnh lộng lẫy của một gia đình thiêng liêng như đoàn Thanh niên Công giáo Tiến hành.

Tại sao tràng Mân Côi là có sức hấp dẫn kỳ diệu như thế? Thưa, bởi vì kinh Mân Côi chính là cuốn Tin Mừng thu gọn. Đọc kinh Mân Côi là chiêm ngắm và suy niệm cuộc đời của Chúa Giê-su để chúng ta đón nhận giáo huấn của Chúa và thực thi những gì người dạy. Những lời kinh “Ave Maria” gắn bó chúng ta với Đức Mẹ, để nhờ Mẹ mà chúng ta có thể nên môn đệ trọn lành của Chúa Giê-su. Vẻ đẹp của kinh Mân Côi được sánh ví như chuỗi hoa hồng. Mỗi kinh Kính Mừng là một đóa hoa tỏa ngát hương thơm, đem lại cho người cầu nguyện sự dịu ngọt trong tâm hồn. Tràng hạt Mân Côi gồm 50 hay 200 hạt nối liền với nhau, như lời gọi hiệp thông liên kết được gửi đến các tín hữu để làm nên một “cỗ tràng hạt” thiêng liêng là toàn thể cộng đoàn Giáo Hội. Kinh Mân Côi nhắc chúng ta nhớ mình thuộc về Giáo Hội của Chúa Ki-tô, có Đức Mẹ là Đấng phù hộ chở che nâng đỡ.

Có người hỏi tôi: “Tại sao phải lặp đi lặp lại những 50 lần kinh Kính Mừng. Đọc một lần là Chúa biết và Đức Mẹ biết rồi!”. Kinh Kính Mừng là lời chào tôn kính và lời tâm sự yêu thương của chúng ta đối với Đức Mẹ. Khi hai người yêu nhau, họ muốn lặp đi lặp lại mãi những lời yêu thương mà không thấy chán. Cũng vậy, người con hiếu thảo sà vào lòng mẹ để bầy tỏ tâm tình yêu mến, dốc bầu tâm sự với mẹ mình hàng giờ mà không cảm thấy nhàm. Khi lần hạt cũng vậy, chúng ta tâm sự với Đức Mẹ, nằn nì Mẹ cầu bầu cùng Chúa cho chúng ta được nên giống như Mẹ trong cử chỉ, lời nói và hành động. Đối với người yêu mến Chúa và yêu mến Đức Mẹ, việc đọc kinh cầu nguyện không bao giờ đơn điệu buồn chán, vì qua lời kinh, họ thực sự được gặp gỡ Chúa và tâm sự với Ngài.

Thánh Đaminh đã viết: “Sau thánh lễ và kinh Phụng vụ, không có sự tôn kính nào đẹp lòng Chúa Giêsu và Mẹ Thánh Người bằng sốt sắng đọc kinh Mân côi”.Ước chi mỗi người tín hữu chúng ta đều biết yêu mến kinh Mân Côi để trọn vẹn cuộc sống của chúng ta là một chuỗi hoa hồng huyền nhiệm, tỏa ngát hương thơm trong vườn đời.

 

07/10-161: Sức mạnh của lời kinh Kính Mừng


(Suy niệm Lễ Đức Mẹ Mân Côi của Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ)
 

Tháng Mười dẫn chúng ta về với Mẹ Mân Côi, một tay bồng Chúa Giêsu hài Ðồng, còn tay07/10-161


Tháng Mười dẫn chúng ta về với Mẹ Mân Côi, một tay bồng Chúa Giêsu hài Ðồng, còn tay kia thì trao tràng chuỗi Mân Côi cho thánh Ðaminh. Hình ảnh ý nghĩa này chứng tỏ rằng kinh Mân Côi là một phương thế được Ðức Mẹ ban cho nhân loại qua thánh Đaminh, để nhờ chiêm ngắm và suy niệm về cuộc đời của Chúa, mà yêu mến Chúa và theo Chúa mỗi ngày một trung thành hơn.

1. Kinh Kính Mừng

"Kính mừng Maria đầy ơn phúc"

Là câu đầu tiên trong Kinh Kính Mừng chúng ta vẫn thường đọc. Nguồn gốc của lời Kinh này phát xuất từ miệng sứ thần Gabriel chào kính Đức Maria lúc truyền tin: "Kính mừng Maria đầy ơn phúc (Lc 1,28), và lời xác nhận của bà Êlisabet: " Em thật có phúc hơn mọi người nữ, vì Đấng em cưu mang thật diễm phúc".

Những lời của sứ thần Gabriel và của bà Êlisabet trên đây đã được Giáo hội dùng để chúc tụng ngợi khen Đức Maria, Mẹ Thiên Chúa và là Mẹ chúng ta. Đồng thời, Giáo hội thêm vào lời cầu khẩn xin Mẹ thương nâng đỡ phù trì "Thánh Maria ĐứcMẹ Chúa Trời... và trong giờ lâm tử".

Phụng vụ mừng lễ Đức Mẹ Mân Côi hôm nay, dựa trên trang Tin Mừng (Lc 1,26-38) dìu ta về với "Đức Maria đầy ơn phúc". Mẹ có phúc trước hết là vì Mẹ đã đón nhận hồng phúc khi thưa “xin vâng”. Phúc tiếp theo của Mẹ là có Thiên Chúa ở cùng, Mẹ cưu mang, sinh hạ, nuôi dưỡng và làm Mẹ Đấng gồm phúc lạ. Phúc của Mẹ thật cao với khôn sánh, nên Giáo hội không ngớt lời lặp đi lặp lại danh xưng “đầy ơn phúc” này để tôn vinh Mẹ. Nếu yêu và được yêu là những điều hạnh phúc nhất trong đời, thì Đức Maria rất hạnh phúc khi được Thiên Chúa yêu thương tuyển chọn và chính Mẹ cũng đầu tư vốn liếng cuộc đời, biết dành trọn vẹn tình yêu thương của mình cho Thiên Chúa.

Mẹ được đầy ơn phúc, Mẹ cũng muốn cho con cái mình hạnh phúc, vì mẹ nào mẹ chẳng thương con. Nên khi con cái lầm đường lạc lối, sa lầy trong tội, Mẹ đã mở rộng vòng tay, dẫn lối chỉ đường cho con người đạt tới hạnh phúc với lời nhắn nhủ: "Hãy ăn năn đền tội, hãy năng lần hạt Mân Côi". Làm theo lời dặn dò của Mẹ, Hội Thánh đã thoát nhiều cơn giông tố hiểm nguy xác hồn, phá tan được bao bè rối, mang lại bình an trong tâm hồn. Chúng ta hãy đón nhận lời yêu cầu hiền mẫu của Mẹ siêng năng lần chuỗi Mân Côi.

Đời con một chuỗi Mân Côi.
Hạt thương hạt sáng hạt vui hạt mừng.
Ngày đêm nguyện gẫm không ngừng.
Như cây nến cháy nhỏ từng lời kinh.

2. Ơn phúc bởi đọc Kinh Kính Mừng
Sống trong thời văn minh điện toán toàn cầu hóa, biến con người thành những kẻ chạy đua với với thời cuộc. Kẻ làm, người học, có kẻ vừa học vừa làm, làm trong đi học… khiến người ta làm ngày không đủ, tranh thủ làm đêm, làm thêm cả ngày nghỉ. Thì hỡi ông bà anh chị em, dù bận đến đâu cũng đừng bỏ lễ Chúa nhật và lễ Trọng buộc. Dù mệt đến đâu cũng đừng bỏ đọc Kinh Kính Mừng. Vì "Mẹ Maria chúc phúc cho những ai đọc Kinh Kính Mừng" (St Bênađô).

Nhiều bạn trẻ cho rằng: Thời buổi khoa học, ai còn tụng niệm như mấy ông già bà cả nữa. Không, câu chuyện có thật của một nam sinh Pháp và Bác học Louis Pasteur, Giám Đốc Viện nghiên cứu vi trùng học quốc tế, Giáo sư chuyên khoa Đại Học hoá học và sinh vật học là bằng chứng. Người đời thường có quan niệm: hễ càng văn minh, người ta càng xa Chúa. Nhưng ngược lại Louis Pasteur Bác học trứ danh lại càng tin theo Chúa. Và sợi dây gắn kết niềm tin ấy, động lực để nghiên cứu khoa học lại là Kinh Kính Mừng. Ông lần hạt khi đi trên Métro trước mặt những nam sinh nữ tú mà chúng không hay biết ông là người thầy của mình.

Thế giới ngày hôm nay tục hóa, con người sống như thể không có Thiên Chúa, chân phước Alanô mách bảo chúng ta: "Bất cứ ai trung thành đọc Kinh Mân Côi và suy ngắm những Mầu Nhiệm sẽ được ân thưởng. Mẹ sẽ xin cho họ được tha mọi hình phạt và mọi tội lỗi trong giờ họ chết".

Nếu bị ma quỉ cám dỗ, sự xấu, người xấu lôi kéo, hãy đọc Kinh Kính Mừng, vì: "Kinh Kính Mừng làm cho Quỉ Dữ trốn chạy, Hỏa Ngục run sợ" (Lời thánh Anphongsô). Nếu con cái hư đốn, chồng không trung thủy, vợ bất trung thành, hãy đọc Kinh Kính Mừng: "Nhờ Kinh Kính Mừng, biết bao tội nhân bỏ đường tội lỗi, bao linh hồn đã tiến cao trên đường trọn lành. Biết bao người được ơn chết lành và hưởng phúc Thiên đàng".

3. Lời kinh cầu cho hòa bình

Chúng ta đang sống trong một tình hình quốc tế đầy những căng thẳng, khủng bố dưới mọi hình thức ngày càng man dợ, trộm cắp, giết người cách tinh vi, hủy hoại môi sinh, gây đau khổ cho đồng loại. Trước những thế lực mạnh hơn trên trái đất này định đoạt số phận của nhân loại, chúng ta cảm thấy bị giới hạn và bất lực, phải nại đến sức mạnh từ trời cao. Chúng ta chạy đến với Thiên Chúa, để khẩn xin ơn bình an cho thế giới. Việc làm trong tháng này là hãy lần hát Mân Côi, như Giáo hội vẫn thường làm trong các cơn túng cực. Vì chỉ có lời cầu nguyện mới vượt qua được các biên giới các quốc gia và các ngăn cách của thù ghét cũng như không hiểu nhau, mới đem lại bình an cho nhân loại.
Nữ Vương truyền phép Rất Thánh Mân Côi, cầu cho chúng con.
Nữ Vương bình an, cầu cho chúng con. Amen.

 

07/10-162: Mẹ tin cậy mến - AM Trần Bình An

 

Nghe tin con bị bắt cóc, chân tay tôi như rụng rời. Suốt 2 tiếng cháu bị khống chế, tôi chỉ 07/10-162


"Nghe tin con bị bắt cóc, chân tay tôi như rụng rời. Suốt 2 tiếng cháu bị khống chế, tôi chỉ biết đứng ngoài cầu nguyện", chia sẻ của người mẹ một nạn nhân bị khống chế làm con tin tại trường Mầm Non 10A, Tân Bình, Sài Gòn. Sau khi được giải cứu và đưa đến bệnh viện khâu vết thương, khoảng 12h ngày11/10/2012, bé Nguyễn Đắc Tài (3 tuổi) đã được bố mẹ đưa về nhà. Khoảng 8h30, đang đi mua thức ăn chị nhận được điện thoại của trường báo bé bị một kẻ lạ mặt xông vào lớp khống chế bắt làm con tin. Chị bấn loạn vội chạy đến trường, không biết số phận con trai thế nào.

"Trong đầu tôi cứ nghĩ kẻ bắt cóc đã mang cháu đi đâu rồi. Khi đến nơi biết cháu vẫn đang bị khống chế bên trong, tôi vừa lo vừa mừng vì còn có cơ hội cứu con. Suốt 2 giờ đồng hồ chờ công an giải cứu, tôi chỉ biết khóc và cầu nguyện", người mẹ trẻ kể.

Theo điều tra của Công an quận Tân Bình, khoảng 8h30 ngày 11/10/2012, Cao Quốc Huy (28 tuổi) mặc áo giáp tự chế, tay cầm 2 con dao đi vào khu vực trường Mầm non 10A. Cô hiệu trưởng Trần Thị Kim Thùy (52 tuổi,) đang đứng trước cửa văn phòng đã bị Huy nắm tóc uy hiếp. Cô la lớn làm gã bỏ chạy vào lớp mầm. Hắn khống chế, dọa giết 2 bé Tài và Khôi.

Hàng trăm cảnh sát được huy động đến trường nhưng Huy vẫn cố thủ trong lớp học và liên tục đưa ra yêu sách. Khoảng 10h30, nhiều chiến sĩ đã ập vào khống chế giải cứu an toàn 2 cháu nhỏ. Nghi can có tiền sử bệnh tâm thần, từng thoát án tù về tội Giết người. (VnExpress)

Tin Mừng thánh Luca Chúa Nhật 27 Thường Niên, thuật lại Đức Giêsu dạy về đức tin và thái độ phục vụ khiêm tốn. Hôm nay cũng là ngày lễ kính trọng thể Đức Mẹ Mân Côi. Thật là một sự trùng hợp lạ lùng và đầy ý nghĩa. Bởi vì Mẹ chính là tấm gương sống động của tin cậy mến và phục vụ.

Tin

Người mẹ kể trên chỉ biết khóc và cầu nguyện, vì đứa con thơ bị bắt làm con tin. Bà bất lực trước nghịch cảnh, chỉ còn biết đặt hết niềm tin cậy vào Chúa Quan Phòng, cứu giúp con bà khỏi sự dữ. 

Còn Mẹ Maria đã tin mãnh liệt, tin tuyệt đối, tin vô điều kiện ngay khi Sứ thần Gabriel loan báo Mẹ thụ thai Đấng Cứu Thế. Mẹ chỉ tỏ ra rất bối rối, một phản ứng rất tự nhiên, khi nhận được lời truyền tin quá sức cao cả và bất ngờ, chứ không hề chút đắn đo, dè dặt, hay ngần ngại, thắc mắc. Mẹ không như thầy tư tế Zacaria tỏ ra ngờ vực, hoài nghi, đòi dấu lạ, khi Sứ thần Chúa báo tin bà vợ Elizabet già cả, sẽ sanh con. 

“Đức tin là một hành vi cá nhân, là sự đáp trả tự nguyện của con người đối với sáng kiến của Thiên Chúa, là Đấng đã mạc khải chính mình.” (Giáo Lý của Hội Thánh Công Giáo, số 166)

Như thế, đức tin là một hồng ân Thiên Chúa ban tặng cho con người nhưng không, và con người đáp trả lại tấm thịnh tình của Thiên Chúa. Mẹ Maria đón nhận hồng ân vĩ đại, đã ân cần mau mắn đáp lại: “Xin vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời Sứ thần nói.” (Lc 1, 38)
Hơn nữa, Mẹ còn vui mừng cảm tạ, ngợi khen, tán tụng Thiên Chúa qua Kinh Magnificat.  Mẹ hát lên lời tri ân của Mẹ và của toàn thể dân Chúa, vì nay lời hứa Giao Ước mới được thực hiện.

Cậy

Mẹ Maria can đảm, toàn tâm toàn ý bước theo chân Tổ phụ Abraham, “Cha của các tín hữu,” Mẹ hoàn toàn đặt tin tưởng vào Thiên Chúa, khi chân thành khiêm hạ, tự khẳng định, nhận mình chỉ là nữ tỳ hèn mọn.

Khi thưa “Xin Vâng,” Mẹ đã hoàn toàn tin cậy, hoàn toàn phó thác, dâng hiến trọn vẹn cuộc đời vào tay Chúa Quan Phòng, sẵn sàng đón nhận mọi khó khăn, gian khổ khi đồng hành theo Chúa, đồng công cứu chuộc nhân loại.

Mẹ tin cậy vào Thánh Ý Chúa nhiệm mầu, khi vâng phục đi theo con đường chông gai, thách đố, vất vả, khổ sở, đau đớn, cùng với người bạn đời Giuse, vốn được Sứ thần linh ứng chỉ dẫn. Từ việc khai hoa nở nhụy thiếu thốn tứ bề ở Bê lem, đến chạy trốn sang Ai Cập, rồi trở về quê hương, Mẹ đều vui lòng chấp nhận, không hề oán than, cũng chẳng phiền muộn. Mẹ âm thầm bằng lòng chấp nhận những đau khổ tột cùng sắp đến, qua lời tiên tri của ông già Simêon: “Còn chính bà, thì một lưỡi gươm sẽ đâm thấu tâm hồn bà..” (Lc 2, 34)

Mến

Mẹ đau khổ biết bao khôn xiết, khi Con Trẻ Giêsu lạc mất ba ngày dài tại đền thờ Giêrusalem. Chắc hẳn không thiếu những giòng lệ nóng bỏng thương nhớ Con, hớt ha hớt hải tìm Con, như bà mẹ kể trên. Mẹ còn chịu thêm thử thách tình mẫu tử, khi nghe Con đáp lại lúc hạnh ngộ: “Cha mẹ tìm con làm gì? Cha mẹ không biết con phải lo việc cho Cha con ư?”

Tình yêu của Mẹ lại càng thêm phiền muộn, đớn đau, khi nghe Đức Giêsu, Con Mẹ, dõng dạc tuyên bố: “Kẻ nghe lời Cha ta và thực hành, người ấy là anh chị em và là Mẹ ta.” Không phải Đức Giêsu chối bỏ, phụ ân, phụ nghĩa, bất hiếu với người Mẹ thân thương, nhưng Người muốn xác định, phải dành ưu tiên cho tình yêu Thiên Chúa, trổi vượt trên tình nghĩa gia đình, tình phụ mẫu, tình huynh đệ huyết thống trần gian.

Nhưng thách đố cao nhất, đau khồ tận cùng, khi Mẹ đồng hành cùng Đức Giêsu trong suốt cuộc khổ nạn. Cao điểm tuyệt đỉnh khi Mẹ đứng dưới chân thập giá. “Một lưỡi gươm sẽ đâm thấu tâm hồn bà.”Thật đúng như lời ông già Simêon tiên báo.

Chuỗi Mân Côi là dây ràng buộc con với Mẹ, là cuốn phim kỷ niệm con đường hy vọng của Mẹ: Âu yếm như Bê Lem, khắc khoải như Ai Cập, trầm lặng như Nazareth, lao động như xưởng mộc, sốt sắng như đền thờ, cảm động lúc Chúa giảng, đau khổ bên thánh giá, vui mừng lúc Phục Sinh, tông đồ bên thánh Gioan.

Tóm tắt lại, Chúa sống trong Mẹ, Mẹ trong Chúa, hai cuộc đời chỉ là một. Đừng bỏ chuỗi Mân Côi Mẹ đã trao và nhắn nhủ con sống như Mẹ, với Mẹ, nhờ Mẹ, trong Mẹ. (Đường Hy Vọng, số 922)

Lạy Chúa Giêsu, xin ban cho chúng con nhân đức tin vững vàng, nhất là mỗi khi trước phong ba cuộc đời, trước thách đố khắc nghiệt. Xưa kia Người đã từng nói với Phêrô: “Thầy đã cầu nguyện cho anh để anh khỏi mất lòng tin” (Lc 22,32), vậy xin Chúa cũng nguyện cầu cho chúng con vững lòng tin.

Lạy Mẹ Maria, xưa kia Chúa Giêsu đã trăn trối tông đồ Gioan lại cho thân mẫu:“Thưa Mẹ, đây là con Mẹ!” Rồi Người nói với ông Gioan: “Đây là Mẹ con!” Cũng nhưNgười trao chúng con lại cho Mẹ săn sóc, che chở. Xin Mẹ đoái thương, cầu bầu cho chúng con theo Chúa luôn mãi, với niềm tin cậy mến sắt son, bền đỗ đến cùng. Amen.

 

07/10-163: Đức Mẹ Mân Côi – Gm. Farrell


(Gm. Farrell – Chuyển ngữ: Trầm Thiên Thu)
 

Hơn 100 năm qua, người Công giáo đã cử hành Tháng Mười là Tháng Mân Côi. Việc sùng 07/10-163


Hơn 100 năm qua, người Công giáo đã cử hành Tháng Mười là Tháng Mân Côi. Việc sùng kính này đã được ĐGH Leo XIII (1810-1903) thiết lập ngày 1-9-1883 và đã công bố con số kỷ lục là 11 Tông thư về Chuỗi Mân Côi trong triều đại giáo hoàng của ngài.

Việc dành riêng Tháng Mười là Tháng Mân Côi mời gọi chúng ta thêm siêng năng lần Chuỗi Mân Côi, không chỉ trong Tháng Mười mà suốt cả năm và suốt cả đời.

Ngày 7 tháng 10, chúng ta mừng lễ Đức Mẹ Mân Côi. Lễ này được Thánh GH Piô V thiết lập để ghi nhớ chiến thắng của Hải quân Kitô giáo đối với quân Thổ Nhĩ Kỳ tại trận Lepanto ngày 7-10-1571. Chiến thắng này nhờ người ta lần Chuỗi Mân Côi dâng kính Đức Mẹ ở Rôma vào ngày giao chiến.

Theo thời gian, không còn ai nhớ rõ nguồn gốc. Việc lần chuỗi hạt là thói quen xưa trước thời kỳ Kitô giáo, nhưng người Công giáo đã dùng Chuỗi Mân Côi hằng thế kỷ qua. Mới đầu, người ta gọi là “những hạt kinh Lạy Cha” vì người ta dùng để đếm 150 kinh Lạy Cha (Paternosters). Một số người cho rằng 150 kinh Lạy Cha được thay thế bằng việc ngâm 150 Thánh vịnh cho những ai không đọc.

Truyền thuyết đạo đức này được cho là nguồn gốc của Chuỗi Mân Côi như chúng ta biết là “công” của Thánh Đa Minh (Dominic), nhưng không có dữ liệu nào xác định truyền thuyết này. Tuy nhiên, đó là một tu sĩ Dòng của Thánh Đa Minh, người thiết lập 15 Lời Hứa Mân Côi từ thế kỷ XV, và một tu sĩ Dòng Carthusia là Đa Minh Prussia đã thêm phần suy niệm vào kinh Kính Mừng. 15 mầu nhiệm truyền thống được Thánh GH Piô V tiêu chuẩn hóa.

Kinh Mân Côi là lòng sùng kính Đức Mẹ, thể hiện truyền thống Công giáo tin Đức Mẹ là Đấng dẫn đường đến với Chúa Giêsu như câu chuyện tiệc cưới Cana (Ga 2:8), Đức Mẹ đã nói với gia nhân “làm theo lời Chúa Giêsu bảo”.

Vẻ đẹp của kinh Mân Côi gấp đôi. Thứ nhất là tính đơn giản, thứ nhì là dẫn chúng ta đến với Chúa Giêsu qua các mầu nhiệm của cuộc đời Ngài, cuộc khổ nạn và sự phục sinh của Ngài. Chuỗi Mân Côi đã và đang theo vô số người trên hành trình đến với Chúa Cha.

 

07/10-164: Niềm tin thương mại – Lm. Giuse Tạ Duy Tuyền

 

Ca dao có câu: Công cha như núi Thái Sơn - Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra”. Câu 07/10-164


Ca dao có câu: Công cha như núi Thái Sơn - Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra”. Câu ca ngàn đời này ca ngợi công lao của cha mẹ lớn như trời biển, khi sinh thành và dưỡng dục con cái nên người. Và cũng từ đó giáo dục cho các thế hệ sau phải biết: “Một lòng thờ mẹ, kính cha - cho tròn chữ Hiếu mới là đạo con”.

Thế nhưng, cuộc sống bộn bề những gánh nặng chồng chất bởi cơm áo gạo tiền, bởi kiếm kế sinh nhai khiến con cái ngày nay xem ra thực dụng hơn. Họ toan tính thiệt hơn khi phải chăm sóc mẹ cha và đôi khi tàn nhẫn phủi tay trách nhiệm với cha mẹ. Có những người con coi khinh cha mẹ già yếu, thậm chí còn ngược đãi, hành hạ cha mẹ… .

Có một câu chuyện mang tựa đề “Ngày thứ 31” viết về một gia đình sinh ra được ba, bốn người con. Tuy điều kiện kinh tế khó khăn, nhưng đôi vợ chồng này vẫn cần mẫn nuôi con khôn lớn. Tới khi con cái trưởng thành, cũng là lúc ông bà kiệt sức bởi tuổi già và bệnh tật.

Việc chăm sóc nuôi dưỡng bố mẹ già dường như đã trở thành gánh nặng với các con, chúng đùn đẩy cho nhau. Không ai chịu ai nên chúng bổ đều mỗi người phải nuôi bố mẹ ba mươi ngày luân phiên, bi kịch đã xảy ra khi vào tháng có 31 ngày, không đứa con nào chịu nuôi bố mẹ cái ngày dôi ra ấy, ông bà đành chịu đói nằm chờ qua ngày để đến tháng tiếp theo.

Gần đây có biết bao chuyện đau lòng khi con cái bất hiếu với mẹ cha. Thí dụ như chuyện một đôi vợ chồng già do con cái tranh chấp nhà cửa mà bị đẩy ra sống vất vưởng ngoài đường. Rồi chuyện đứa con ngang ngược hành hạ mẹ già, chỉ vì không cấp đủ tiền cho chúng ăn chơi, hoặc đau lòng hơn, vì mâu thuẫn mà có những đứa con nhẫn tâm đoạt cả mạng sống của chính người đã sinh ra mình… Để lại vết thương lòng nhức nhối trong xã hội.

Đây là kiểu sống không có tình ; chỉ có tính thương mại. Đúng như người xưa nói: ‘Mẹ nuôi con như trời như bể, con nuôi mẹ con kể từng ngày’.

Đây cũng là lối sống đạo đầy toan tính của con người thời đại hôm nay. Theo đạo để tìm lợi lộc vật chất như có người vẫn mong cầu trúng số, trúng thưởng hay được trả công bội hậu. Và cũng không thiếu những người xa rời đạo vì theo đạo chẳng được lợi lộc gì! Có người còn toan tính thiệt hơn khi cho Chúa, cho Giáo Hội họ sẽ nhận lại điều gì?

Các tông đồ năm xưa cũng từng hỏi Chúa Giê-su, họ đã từ bỏ mọi sự mà theo Chúa, họ sẽ nhận lại điều gì? Họ vẫn toan tính thiệt hơn theo kiểu thế gian “có qua có lại cho vừa lòng nhau”. Đây là loại người đức tin còn non yếu. Một đức tin chưa đủ trưởng thành để có thể tin tưởng hoàn toàn vào sự quan phòng của Thiên Chúa. Một đức tin chưa đạt đến mức độ dấn thân để bước đi theo đường lối của Chúa.

Lời Chúa hôm nay nhắc nhở chúng ta: đức tin sẽ giúp chúng ta đạt được những điều ngoài sức tưởng tượng và ngoài khả năng của chúng ta. Một đức tin có thể chuyển núi dời non. Một đức tin có thể làm những chuyện phi thường. Niềm tin chân thành cũng đòi hỏi chúng ta dấn thân hoàn toàn cho Chúa. Một sự dấn thân phó thác mọi sự trong sự quan phòng của Chúa. Thiên Chúa quyền năng, Ngài có thể làm mọi sự theo ý Ngài, thế nên hãy để ý Chúa được hiển trị trong cuộc đời chúng ta khi chúng ta sống vâng theo thánh ý Chúa. Hãy để quyền năng Chúa hiển trị trên sự yếu hèn của chúng ta khi chúng ta tín thác nơi Chúa.

Điều quan yếu để đức tin mang lại hoa trái cho cuộc đời chúng ta chính là nhìn nhận sự nhỏ bé, bất toàn của mình để cậy trông vào Thiên Chúa. Nhìn nhận mình chỉ là một đầy tớ vô dụng nhưng được Thiên Chúa yêu thương ân ban biết bao ơn lành hồn xác. Sức khỏe, trí tuệ, sắc đẹp, công việc đều là ân ban của Thiên Chúa. Thử hỏi:

- Trí óc ta thông minh ư?
Đó là nhờ Chúa sinh ra ta như thế. Nhiều người khác mới sinh ra đã đần độn.

- Sức khoẻ ta dồi dào ư?
Cũng nhờ Chúa sinh ta ra sẵn như vậy. Nhiều kẻ sinh ra đã sẵn èo ọt.

- Ta có nhiều năng khiếu ư?
Cũng do Chúa sinh ra ta như vậy.
- Ta đẹp ư?: cũng thế.

- Ta làm nhiều việc thành công ư?
Đó là nhờ ta có sẵn thông minh, sức khoẻ, năng khiếu.

Bởi vậy dù ta làm được gì thì ta cũng là đầy tớ vô dụng thôi. Xin Chúa giúp chúng ta nhận ra sự yếu hèn của mình để biết trông cậy vào ơn Chúa và biết tạ ơn mỗi khi được nhận lãnh. Amen.

 

07/10-165: Kính Mừng Maria Đầy Ơn Phúc


(Suy niệm của Lm Px. Đào Trung Hiệu)

Kính mừng Maria đầy ơn phúc...
 

Lời kinh kính mừng ấy, tôi đã thuộc từ thuở mới lên năm. Nhưng ngày qua ngày, tôi có 07/10-165


Lời kinh kính mừng ấy, tôi đã thuộc từ thuở mới lên năm. Nhưng ngày qua ngày, tôi có nhiều cảm nghiệm mới khác nhau về kinh Mân Côi. Nay nhìn lại, tôi cảm thấy mình trải qua một quá trình sống các mầu nhiệm Mân côi trong đời.

Từ lời cầu nguyện đơn giản...

Xin cảm ơn Mẹ Giáo hội, vì ngay từ thuở ấy, khi chưa biết chữ để đọc thánh vịnh, khi chưa biết dâng những lời nguyện tự phát, thì nhờ kinh Mân Côi tôi đã có thể tích cực tham gia cầu nguyện với cộng đoàn.

Kinh Mân Côi với tôi khi đó, như những lời cầu khẩn, vì tôi quan tâm hơn đến vế thứ hai của kinh: “Thánh Maria Đức Mẹ Chúa Trời, cầu cho chúng con...”. Khi chúc tụng Mẹ Maria như một Vị trung gian thần thế, tôi thân thưa với Mẹ những nhu cầu của tôi, và gửi gắm cho Mẹ những người tôi thân yêu.

Và thông qua lời gợi ý mỗi mầu nhiệm trong mẫu kinh Mân Côi tiếng Việt, tôi xin cho mình các nhân đức liên hệ. “Ta hãy xin cho được” lòng khiêm nhường, được biết yêu người, biết sống khó nghèo, biết tuân theo Ý Cha, và biết giữ nghĩa cùng Chúa... Xin cho biết sám hối thật lòng, biết kiên nhẫn và hi sinh vác thập giá theo chân Chúa... Xin được sống lại với Chúa, biết ái mộ những sự trên trời để sống yêu thương, trên hành trình theo Mẹ về Thiên quốc. Đôi khi trong lúc đọc kinh như vậy, tôi có những quyết tâm thể hiện các đức tính ấy bằng một hành vi cụ thể.

Qua những nỗ lực suy niệm...

Dần dà lớn lên, được tiếp cận với Phúc Âm và các sách suy niệm kinh Mân Côi, tôi đã trải qua một giai đoạn mới, với khả năng giới hạn của mình để “suy niệm và ghi nhớ trong lòng” những ý tưởng và tâm tình đa dạng chung quanh từng mầu nhiệm.

Đến lúc này tôi hiểu ra Đức Kitô mới là nhân vật trung tâm của 15 mầu nhiệm Mân Côi. Vâng, chính ngài thể hiện thánh ý Chúa Cha trong công cuộc cứu độ: đã hoàn toàn trở nên người phàm, đã ban ơn cứu độ cho Gioan Tẩy Giả và là hiến lễ dâng trong đền thờ.

Cũng chính ngài, Chiên Thiên Chúa gánh tội trần gian, đã tình nguyện uống trọn chén đắng Cha trao, đón nhận mọi nhục hình và được giương cao trên thập giá để “kéo mọi sự lên với Người” (Ga 12,32). Chính Ngài là “sự sống lại và là sự sống” (Xc Ga 11,25) để những ai tin vào ngài sẽ được sống, Ngài về trời để dọn chỗ cho chúng ta (Ga 14,2), và cử Thánh Thần đến để đưa các chúng ta vào chân lý toàn vẹn (Ga 16,13). Chính ngài ngự bên hữu Chúa Cha để ân thưởng cho tất cả những ai thuộc về ngài.

Và trong hành trình cứu độ của đức Kitô, không chỉ có đức Maria, tôi đã gặp nhiều nhân vật khác, bình thường hơn, gần gũi hơn, nên dễ rút ra nhiều mẫu gương cho những ai muốn theo Chúa.

+ Khi đó tôi chiêm ngắm Gabriel kẻ loan báo tin vui, tìm gặp niềm hân hoan của bà Elisabeth, sống những tâm tình của ba vua, của các mục đồng, của các cụ Siméon và Anna tại đền thờ...

+ Trên bước đường Chúa đi rao giảng, tôi ước ao được thành Gioan tiền hô, là gia nhân trong tiệc cưới Cana, lẩn vào đám đông nghe tiếng Chúa, chiêm ngưỡng Ngài trên núi cao, hay được đồng bàn với Thày...

+ Trong cuộc khổ nạn, tôi có dịp suy niệm về những yếu đuối của những người theo Chúa, của Giuđa, của Phêrô, về thái độ trốn tránh trách nhiệm của Philatô hay bóng dáng kiên cường của Đức Maria dưới chân Thập Giá...

+ Tôi cũng có dịp để chung chia niềm vui của Mađalêna và 11 tông đồ khi Chúa sống lại, được nghe lời Đức Giêsu căn dặn trước khi lên trời, sai đi làm chứng tá cho Ngài đến tận cùng trái đất; được quây quần bên đức Maria trong ngày Ngũ tuần, và đồng hành với Mẹ trong cuộc lữ hành đức tin của Giáo hội hôm nay.

Đến lời nguyện cầu cho một thế giới mới

Càng ngày tôi càng hiểu hơn về tính hiện sinh của Tin Mừng. Đức Giêsu vẫn là một: hôm qua, hôm nay và mãi đến muôn đời. Kinh Mân Côi tạo nên cho chúng tôi một không gian cần thiết giúp chúng tôi chiêm niệm chân dung Đức Kitô vẫn đang hiện diện trong cuộc đời. Từ đó, tôi hiểu ra tại sao: Đức Gioan XXIII thường dành từng “chục kinh” trong chuỗi năm mươi, để cầu nguyện cho một trong năm lục địa trên địa cầu.

Và thế là mỗi chục kinh, tôi cầu nguyện đặc biệt cho một giới nào đó trong xã hội. Chẳng hạn

Mùa vui, cầu nguyện:
1. cho lương dân được đón nhận tin mừng khi suy niệm về lễ truyền tin;
2. cho các bà mẹ qua biến cố thăm viếng;
3. cho tuổi thơ qua biến cố giáng sinh,
4. cho người già khi suy niệm về hai cụ Simêon, Anna, và
5. cho các nhà giáo dục...

Mùa sáng, cầu nguyện cho:
1. những người đấu tranh cho công lý,
2. những gia đình gặp thử thách,
3. cho việc rao giảng tin mừng,
4. Xin ơn biến đổi canh tân mỗi ngày, và
5. được hiệp thông vào sự sống của Chúa.

Mùa thương, cầu nguyện cho
1. những người khô khan,
2. các tội nhân,
3. những nhà lãnh đạo,
4. những ai đang đau khổ, và
5. cho các linh mục.

Và mùa mừng, cầu nguyện:
1. cho các anh em vô thần,
2. cho Giáo hội,
3. cho các tu sĩ. Trong hai biến cố liên quan đến việc vinh thăng của đức Maria, tôi cầu nguyện cho
4. sự tiến bộ của nhân loại và
5. cho hòa bình thế giới.

Cho ý Cha được thể hiện

Cho đến một ngày, tôi bỗng như gặp được một luồng sáng mới, để thấy được rằng điều cần phải có khi đọc kinh Mân Côi, quan trọng hơn mọi suy niệm và ý nguyện, chính là một thái độ “xin vâng” của đức Maria và tâm tình tụng ca Tình yêu của Thiên Chúa qua công cuộc cứu độ.

Vâng đúng vậy, nếu Đức Maria, là đại diện của nhân loại mới để đón nhận lời chúc tụng “đầy ơn sủng”, để trở thành cung điện đầu tiên cho Ngôi Lời mặc lấy xác phàm và “ở cùng” nhân loại, thì lời kinh kính mừng hôm nay, vẫn mãi là lời chúc tụng Thiên Chúa vẫn đang ở cùng nhân loại “mọi ngày cho đến tận thế”, và là lời tán tụng ân sủng Chúa trong cuộc đời qua đức Kitô, đã được ban “dồi dào hơn biết mấy” (Rm 5,15).

Nếu nhân loại lầm than vì sự bất tuân của Adam, thì nay nhân loại mới được khai sinh nhờ Adam mới là đức Giêsu, đấng “hạ mình vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết” (Pl 2, 8). Cũng thế, nếu Eva là biểu tượng của bất tuân, thì lời Ave gửi đến Đức Maria, Đấng đã thưa “xin vâng”, sẽ là biểu tượng của những người Tin trong Tân ước. Đó là ý nghĩa của hai câu thánh thi quen thuộc được giáo hội sử dụng trong phụng vụ kinh chiều lễ kính Đức Mẹ:

“Chữ E-va Mẹ đảo vần,

Thành A-ve gửi bình an cho đời”.

Từ nay, lời kinh kính mừng “Ave Maria”, trở thành lời kinh của cả nhân loại và của từng con người, được cất lên từ cuộc sống hằng ngày của mình. Cùng với đức Maria, nhân loại đó đang hân hoan vì nhận ra tình thương cứu độ, vì khám phá ra lối thoát khỏi những nỗi tuyệt vọng để dám sống những mối phúc thật được công bố trong bài giảng trên núi.

Tâm tình “xin vâng” ấy sẽ thâu tóm tất cả mọi ý nguyện trong lời cầu xin cho “ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời”. Tâm tình ấy sẽ đem đến cho người tín hữu nguồn sinh lực mới để cùng với đức Maria bước đến tận bên chân khổ giá, để đón nhận mọi nỗi vui buồn, âu lo và hi vọng của con người thời đại. Lời kinh ấy trở thành lời kinh của những người tin tưởng, hy vọng và yêu mến, để đảm nhận những trách vụ theo ơn gọi của mình góp phần dựng xây đất mới đang khi mong chờ trời mới.
_________
NB. Bài này viết đã lâu,
nay được bổ sung thêm vài dòng về Mùa Sáng

 

07/10-166: Chuỗi Mân Côi và Thánh Đaminh - Robert Feeney

 

Bà Jane ở Aza thánh thiện đến nỗi chiếu sáng như những vì sao trên bầu trời ban đêm. Bà07/10-166


Bà Jane ở Aza thánh thiện đến nỗi chiếu sáng như những vì sao trên bầu trời ban đêm. Bà sinh năm 1140, sống ở một lâu đài tại Tây Ban Nha với chồng là Felix, một người được kính trọng với chức hiệp sĩ. Bà là một phụ nữ hay thương người, đầy lòng trắc ẩn với những người kém may mắn, và giúp đỡ vật chất cho người nghèo.

Bà Jane có 2 con trai là Mannes và Anthony, nhưng bà muốn con thêm nhiều con. Một hôm, bà tới tu viện Silos để cầu xin có thêm một con trai nữa, xin Dòng Silos cầu nguyện giúp bà. Một tu sĩ Dòng Đa Minh nói: “Này chị, lời cầu của chị đã được nghe và Thiên Chúa sẽ ban cho chị một người con trai. Người con đó sẽ là tôi tớ vĩ đại của Thiên Chúa và có thể làm nhiều điều phi thường cho Chúa Kitô và Giáo hội”.

Khi tạ ơn, bà Jane đặt tên cho con trai là Dominic (Đa Minh).

Trước khi sinh con, bà Jane đã có giấc mơ tiên tri linh cảm việc giảng thuyết mà thánh Đa Minh, trong hình con chó trắng đen, chạy đi với ngọn đuốc sáng ngậm ở miệng, thắp sáng khắp thế giới. Bà Jane sinh bé trai Đa Minh tại Calaroga, thuộc Old Castile, năm 1170. Khi Đa Minh được rửa tội tại nhà thờ xứ, mẹ đỡ đầu của ngài cũng thấy ánh sáng chói lọi, nhìn như ngôi sao, trên lông mày của bé Đa Minh. Lúc đó Đa Minh được tiền định là một luồng sáng, một người sẽ soi sáng những người ở trong bóng tối.

Thánh Đa Minh được trông mong nhiều, nhưng ngài không làm thất vọng. Ngài là một thanh niên thông minh, vui vẻ, có chiều cao trung bình, điển trai, diện mạo khá hồng hào, có tiếng nói ấm và vang. Ngài thừa hưởng ở người mẹ lòng súng kính Đức Mẹ, biết giá trị của việc kết hợp việc cầu nguyện bằng lời và bằng tâm linh, nghe biết những câu chuyện về cuộc đời Chúa Giêsu mà ngài biết đó là những mầu nhiệm, và ngài sẽ rao giảng.

Thánh Đa Minh tận hiến cho Thiên Chúa, trở thành linh mục và phục vụ 9 năm ở Osma, sống theo tu luật thánh Augustinô. Có lòng trắc ẩn trước nỗi đau khổ của người khác, ngài cầu nguyện và khóc thương những người tội lỗi và những người đau khổ. Ngài được nhiều người yêu mến và kính trọng.

Năm 1203, lúc 33 tuổi, ngài rời Osma đi thành phố Fanjeaux thuộc vùng Languedoc, miền Nam Pháp quốc, tại đây ngài giảng đạo gần 13 năm. Trong những hành trình tông đồ, ngài thường dừng lại để cầu nguyện ở Nguyện đường Maria ở Prouille, một làng nhỏ nằm giữa Fanjeaux và Montreal, không xa núi Pyrenees.

Công việc của ngài không hề dễ dàng. Lúc đó, Pháp quốc bị tà thuyết An-bi-gen đe dọa. Những người theo tà thuyết này cho rằng sự sống trên trái đất là công việc của ma quỷ. Niềm tin này sản sinh một nền văn hóa sự chết khủng khiếp. Những người theo tà thuyết này từ bỏ tính thánh thiện của hôn nhân và sự sinh sản con cái. Việc tự tử được khen ngợi vì nó chấm dứt vấn đề hiện hữu. Những người theo tà thuyết này hoàn toàn bác bỏ các giáo huấn của Giáo hội, kể cả mầu nhiệm Nhập thể.

Mọi thứ có vẻ không suôn sẻ, khi thánh Đa Minh cầu nguyện và khóc ở Nguyện đường Đức Maria năm 1208, ngài than thở với Đức Mẹ về việc thiếu kết quả của việc rao giảng cho những người theo tà thuyết An-bi-gen. Đang lúc đó thì Đức Mẹ hiện ra với ngài.

Đức Mẹ nói: “Đừng lo, đến nay con đã đạt được một ít kết quả như vậy nhờ sức lao động của con. Con phải dùng kết quả đó trên vùng đất khô cằn, chưa được tưới bằng sương hồng ân. Khi Thiên Chúa muốn canh tân bộ mặt trái đất, Ngài sẽ bắt đầu bằng cách cho mưa tuôn sự chào đón của thiên thần (rain of the Angelic Salutation). Hãy truyền bá Chuỗi Mân Côi gồm 150 câu chào của sứ thần và 15 kinh Lạy Cha, con sẽ bội thu”.

Thánh Đa Minh không có thời gian. Theo mệnh lệnh của Đức Mẹ, ngài bắt đầu truyền bá Chuỗi Mân Côi, bắt đầu từ Toulouse, một thành phố không xa Prouille. Theo ghi chép của thánh Louis Montfort, một nhà truyền giáo người Pháp hồi thế kỷ 18, thánh Đa Minh đã tới nhà thờ, nơi các thiên thần rung chuông mời gọi mọi người. Khi thánh Đa Minh rao giảng, Thiên Chúa đã hỗ trợ: Trái đất rung chuyển, mặt trời tối sầm, sấm chớp dữ dội. Hầu như cả dân thành Toulouse đều bỏ niềm tin lầm lạc và bắt đầu sống đời Kitô hữu.

Sau thành công tại Toulouse, thánh Đa Minh đi từ thành phố này tới thành phố khác ở Pháp quốc, Tây Ban Nha và Ý để truyền bá Kinh Mân Côi. Trên hành trình, ngài tỏ ra rất chịu đựng, đến nỗi những người đương thời diễn tả ngài là “vận động viên mạnh mẽ”. Sức chịu đựng của ngài gây ấn tượng. Bất cứ đi đâu ngài cũng rao giảng chân lý Phúc âm tập trung vào cuộc đời vui mừng, sầu thương, và vinh quang của Đức Kitô. Nói đến một mầu nhiệm và giảng một câu về đời sống của Chúa Giêsu, ngài mời người nghe lần một hạt trong chuỗi hạt – thường được dùng để đếm các lời cầu nguyện – rồi đọc kinh Lạy Cha và kinh Kính Mừng, các yếu tố của đức tin vẫn nhắm vào những người theo tà thuyết An-bi-gen. Chú ý những lời đầu tiên Đức Mẹ nói với ngài, và một lần Chúa Giêsu hiện ra hướng dẫn ngài khơi lòng người ta yêu mến cầu nguyện trước khi giảng thuyết chống lại tội lỗi, thánh Đa Minh và các linh mục khác đều đọc kinh Kính Mừng chung với giáo dân trước khi giảng thuyết để xin Ơn Chúa. Ngài giải thích rằng kinh Kính Mừng chứa đầy các ví dụ về cuộc sống hàng ngày.

Phương pháp đó tác dụng. Hầu như ở các thành phố ngài rao giảng, ngài đều thành lập Hội ái hữu Mân Côi (Confraternity of the Rosary). Thánh Montfort nói rằng các giáo huấn của thánh Đa Minh tạo sự nhiệt thành đến nỗi hoán cải được những người tội lỗi chai lỳ nhất. Thánh Montfort viết rằng một người đàn ông bị ma quỷ chiếm hữu đã kêu lớn tiếng rằng lời rao giảng của thánh Đa Minh đã làm hoảng sợ cả hỏa ngục. Chuỗi Mân Côi cũng được tin là tạo chiến thắng của đội quân Công giáo do Count Simon de Montfort dẫn đầu, trong trận Muret hồi tháng 9-1213 ở miền Nam Pháp quốc, gồm 800 binh sĩ chống lại vua Aragon và 40.000 quân của tà thuyết An-bi-gen.

Năm 1215, thánh Đa Minh thu hút 6 người bạn cùng làm việc tông đồ và cho họ mặc trang phục như ngài. Đó là một dòng tu đang hình thành với chương trình cầu nguyện, sống chung, và chương trình học tập với Alexander Stavensky, tiến sĩ thần học người Anh. Rao giảng, dạy dỗ, và làm việc để cứu các linh hồn là lý tưởng của thánh Đa Minh. Một người giàu có tên là Phêrô Siela đến xin theo thánh Đa Minh, giao cho ngài nhà cửa của mình ở gần Narbonne Gate tại Toulouse. Cũng trong năm 1215, thánh Đa Minh đi Rôma và quỳ trước mặt ĐGH Innocent III để xin phê chuẩn Dòng Anh Em Thuyết Giáo (OP – Order of Preachers). ĐGH hướng dẫn ngài dùng tu luật hiện có để sống theo. Thánh Đa Minh và các tu sĩ đồng ý chọn tu luật của thánh Augustinô. Ngày 22-12-1216 có tân giáo hoàng là ĐGH Honoriô III, ngài đã phê chuẩn và tuyên bố thánh Đa Minh là “ánh sáng thật của thế giới”.

Khi sinh thời, thánh Đa Minh đã chữa lành các bệnh nhân, phục sinh người chết, và biến lương thực ra nhiều (các phép lạ vẫn tiếp tục xảy ra cho đến sau khi ngài qua đời). Ngài khuyến khích người trẻ và trìu mến với những người mà ngài gặp. Dù ngài già theo thời gian, nhưng tâm hồn ngài vẫn trẻ trung và vui vẻ. Sau khi dòng được phê chuẩn 5 năm, thánh Đa Minh qua đời ngày 6-8-1221 tại Bologna, Ý. Ngay khi hấp hối, ngài vẫn an ủi người khác. Ngài nói: “Anh em đừng khóc. Tôi sẽ có ích hơn cho anh em dù tôi đi bất cứ nơi đâu, có ích hơn khi tôi sống trên đời này”.

Ước mơ từ lâu của chân phước Jane, mẹ của thánh Đa Minh, đã thành hiện thực: Con trai bà đã thắp lửa sáng khắp thế giới.

Thánh thi hay Chuỗi Mân Côi?

Trong thời thánh Đa Minh, Chuỗi Mân Côi được nhắc tới như “Thánh thi của Đức Maria”, và mãi tới thế kỷ 15 Chuỗi Mân Côi mới được sử dụng. Nhưng 100 năm sau khi thánh Đa Minh giới thiệu Chuỗi Mân Côi, người ta vẫn không hề nhớ tới.

Chữ ros có thể lấy từ tiếng Latin, nghĩa là “sương”, ám chỉ lời Đức Mẹ nói với thánh Đa Minh về “sương hồng ân” hoặc do tiếng Latin là rosarium, nghĩa là “triều thiên hoa hồng” – từ ngữ “Chuỗi Mân Côi” (Rosary) có sau khi Lm Alan de la Roche, Dòng Đa Minh, người Pháp, được thị kiến Chúa Giêsu, Mẹ Maria, và thánh Đa Minh khuyến khích ngài khôi phục Chuỗi Mân Côi.

Dạng Chuỗi Mân Côi như chúng ta thấy ngày nay cũng không có trong thời thánh Đa Minh. Việc thêm các mầu nhiệm đã mất nhiều thế kỷ để chỉnh sửa và xác định. Thánh GH Piô V, cũng là tu sĩ Dòng Đa Minh, đã làm điều này năm 1569. Ngày 16-10-2002, chân phước GH Gioan Phalô II đề nghị thêm 5 Mầu nhiệm Sự Sáng vào Chuỗi Mân Côi truyền thống. Gọi là “Mầu nhiệm Sự Sáng” vì gồm các mầu nhiệm trong sứ vụ công khai của Chúa Kitô từ khi chịu Phép Rửa tới Cuộc Khổ Nạn.

Tặng phẩm của scapular

Năm 1218, tại Rôma, Đức Mẹ hiện ra với một tu sĩ Dòng Đa Minh là Master Reginald, ở Orleans, là giáo sư nổi tiếng về giáo luật tại ĐH Paris trước khi gặp thánh Đa Minh và gia nhập dòng này. Các bài giảng thuyết của ngài đã thu hút nhiều người vào dòng. Lúc Đức Mẹ hiện ra, Reginald bị bệnh. Mỉm cười với ngài, Đức Mẹ xức dầu co ngài, chữa bệnh cho ngài, và giới thiệu với ngài một áo dòng trắng (scapular). Đức Mẹ nói: “Đây là áo dòng của con”.

Tại sao lần Chuỗi Mân Côi?

Thế kỷ 15, Lm Alan de la Roche, OP, bảo đảm Chuỗi Mân Côi là nguồn vô biên của các phúc lành:

1. Tội nhân được tha thứ.
2. Linh hồn nào khao khát sẽ được thỏa khát.
3. Ai khổ sầu sẽ tìm thấy hạnh phúc.
4. Ai bị cám dỗ sẽ được bình an.
5. Người nghèo được giúp đỡ.
6. Tu sĩ được canh tân.
7. Ai không hiểu biết sẽ được hướng dẫn.

Về Chuỗi Mân Côi, chân phước GH Gioan Phaolô II nói: “Lần Chuỗi Mân Côi là giao phó những gánh nặng cho Thánh Tâm Thương Xót của Chúa Kitô và Đức Mẹ”.

Robert Feeney - Chuyển ngữ: Trầm Thiên Thu

 

07/10-167: Chất Tin Mừng trong chuỗi Kinh Mân Côi


(Suy niệm của Lm. André Đỗ Xuân Quế)
 

Chuỗi kinh Mai Khôi chính là tràng hạt Mân Côi mà bình thường giáo dân nào cũng có và 07/10-167


Chuỗi kinh Mai Khôi chính là tràng hạt Mân Côi mà bình thường giáo dân nào cũng có và mang theo nơi mình, lại siêng năng đọc mỗi ngày nữa. Đó là thói quen rất tốt từ bao đời nay nơi nhiều người công giáo. Người ta đọc kinh lần hạt. Đây là hình thức cầu nguyện phổ thông và khá đơn giản, lại dễ thực hành. Rất ước mong hình thức này vẫn được duy trì trong khuôn khổ các việc đạo đức thông thường và lòng sùng kính cá nhân. Sau đây xin đề cập đến chất Tin Mừng và tính Giáo hội trong lòng sùng kính này cho phù hợp với Hiến chế Lumen gentium (Ánh sáng muôn dân) chương VIII, tông huấn Marialis cultus (Lòng sìng kính Đức Maria) của ĐGH Phao-lô VI và Rosarium Virginis Mariae (Chuỗi kinh Mai Khôi của Đúc Trinh Nữ Maria)) của ĐGH Gio-an Phao-lô II.

1. Nội dung hay chất Tin Mừng trong chuỗi kinh Mai Khôi.

Trước hết xin nói về nội dung hay chất Tin Mừng trong chuỗi kinh Mai Khôi. Thời đại này, Lời Chúa được nhấn mạnh và Tin Mừng được đề cao. Một nền đạo đức mới đặt nền tảng trên Lời Chúa đã ra đời để bổ túc cho nền đạo đức cũ vốn được xây dựng trên các thứ lòng sùng kính. Vào các giai đoạn lịch sử, Lời Chúa ít được biết đến và phụng vụ là một mảnh vườn khép kín đối với giáo dân thì người ta phải chạy đến các thứ lòng sùng kính để nuôi dưỡng lòng đạo đức của mình. Đó là điều tự nhiên và dễ hiểu. Nhưng bây giờ, tình thế đã thay đổi nên lòng đạo đức cũng phải có căn bản vững vàng hơn. Căn bản đó là Kinh thánh và Phụng vụ. Ngoài thánh lễ và các giờ kinh phụng vụ ra, chuỗi kinh Mai Khôi đáp ứng được đòi hỏi này, vì các kinh đọc trong đó lấy từ Kinh thánh, Phụng vu và các mầu nhiệm suy ngắm cũng là những mấu nhiệm về cuộc đời Chúa Cứu Thế rút ra từ các sách Tin Mừng.

Quả vậy. Kinh Kính Mừng là lời chào của thiên thần Gáp-ri-en đến báo tin cho Đức Mẹ, kinh Lạy Cha là kinh Chúa Giêsu dạy cho các Tông đồ và kinh Sáng danh là vinh tụng ca Giáo hội dùng để kết thúc mỗi thánh vịnh, khi đọc các giờ kinh phụng vụ. Còn các mầu nhiệm thì cũng là những biến cố vui mừng, sầu khổ, sáng láng trong cuộc đời Chúa Cứu Thế.

* Năm sự vui là gì, nếu không phải là cuộc đời Chúa Giêsu ở giai đoạn thơ ấu, từ lúc thiên thần truyền tin cho Đức Mẹ cho tới khi Người tìm được Con Mình trong đền thờ. Những biến cố này đều được ghi trong các sách Tin Mừng Nhất Lãm.

* Năm sự sáng là gì, nếu không phải là những biến cố đặc biệt liên quan đến Phép Rửa tại sông Gio-đan, đến phép lạ biến nước thành rượu ngon tại Ca-na, đến công cuộc rao giảng Tin Mừng và kêu gọi ăn năn sám hối, đến cuộc hiển dung trên núi Ta-bo và việc thành lập chức linh mục và bí tích Thánh Thể?

* Năm sự thương là gì, nếu không phải là giai đoạn cuối cùng trong cuộc đời Chúa Cứu Thế, khi Người lên Giê-ru-sa-lem, bị điệu đến dinh tổng trấn Phi-la-tô, bị hành hình rồi bị treo trên thập giá.

* Năm sự mừng là gì, nếu không phải là giai đoạn chót trong cuộc đời tại thế của Chúa Giêsu, từ khi Người sống lại, ban thần khí cho các Tông Đồ rồi lên trời, hẹn ngày lại đến trong vinh quang.

Như vậy chuỗi kinh Mai Khôi là một bản tóm tắt gọn gàng, dễ nhớ về những biến cố quan trọng trong cuộc đời Chúa Cứu Thế. Mỗi khi đọc một chục kinh Mai Khôi là chúng ta có dịp nhớ lại một mầu nhiệm và sống ý nghĩa của mầu nhiệm ấy. Lần chuỗi Mai Khôi là thực hành lời thánh Phao-lô khuyên tín hữu Phi-líp-phê: “Giữa anh em với nhau, anh em hãy có những tâm tình như chính Đức Kitô Giêsu. Đức Giêsu vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã làm cho mình hóa ra không, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế. Ngược lại, còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự. Chính vì thế, Thiên Chúa đã siêu tôn Người và tặng ban danh hiệu trổi vượt trên muôn ngàn danh hiệu.” (Pl 2,5-9)

Bốn câu trong chương 2 thư Phi-líp-phê tóm tắt được các mầu nhiệm vui mừng, sầu khổ trong cuộc đời Chúa Cứu Thế và khuyên nhủ tín hữu dựa vào đó mà có những tâm tình xứng hợp khi đối xử với nhau là từ bỏ độc quyền, hạ mình xuống, hy sinh, vâng phục để được vinh hiển trong ngày Chúa quang lâm.

Ngoài ra, chuỗi kinh Mai Khôi lại còn có nội dung Tin Mừng ở điểm này nữa là địa vị của Đức Mẹ mà chúng ta tôn kính, khi lần chuỗi Mai Khôi. Mai Khôi là những bông hồng đẹp được tượng trưng bằng các kinh Kính Mừng để tôn vinh Người. Đức Mẹ đã có mặt trong cuộc đời Chúa Cứu Thế từ những giây phút đầu cho đến những giây phút cuối. Sự có mặt của Người vừa kín đáo lại vừa bi thảm. Người có mặt đó nhưng lại hoàn toàn tùy thuộc vào Con của Mình, như trong tiệc cưới Ca-na hay trong cảnh cậu bé Giêsu ở lại trong đền thờ, nghe các bậc thầy Do thái và đặt ra các câu hỏi cho các ông, sau cuộc trẩy hội lên Giê-ru-sa-lem. Đức Mẹ là người đầu tiên đã suy nghĩ và họa lại những tâm tình của Chúa Giêsu trong đời sống của mình. Bây giờ Đức Mẹ lại giúp chúng ta chuyển hiện những tâm tình này vào đời sống. Vì vậy, ĐGH Lê-ô XIII trong thông điệp Adjutricem populi (Đấng Phù Trợ của dân) mới viết: “Một trong những lợi điểm chính của chuỗi Mai Khôi là tạo cho tín hữu một phương tiện đơn giản và dễ dàng để nuôi dưỡng lòng tin.”

2. Chuỗi kinh Mai Khôi mang tính Giáo Hội

Giáo Hội nhận chuỗi Mai Khôi là lời kinh của mình và không ngớt lời khen ngợi. Trong thông điệp Octobri mense (Tháng Mười), lại cũng ĐGH Lê-ô XIII viết: “Tất cả lòng sùng kính Đức Mẹ cô đọng lại trong chuỗi kinh Mai Khôi.”

Giáo Hội là một cộng đồng rộng lớn không biên giới bao gồm những người tin nhận Chúa Giêsu Kitô. Lời kinh nào muốn có tính Giáo Hội thì phải được Giáo Hội công nhận đã đành mà còn phải phổ cập nữa. Về điểm này, kinh Mai Khôi thật là phổ cập vì đó là kinh của mọi tín hữu, ai cũng đọc được, từ người trẻ cho đến người già, người thông thái cũng như người không có học hay ít học, người giầu hay người nghèo, người khỏe mạnh cũng như người đau yếu, khi vui cũng như lúc buồn, khi làm việc cũng như lúc nghỉ ngơi. Kinh này lại có thể đọc được ở bất cứ đâu hay trong hoàn cảnh nào, ở nhà thờ, ở nhà mình, ở ngoài đường, trong nơi yên lặng hay giữa chốn ồn ào náo động và nhất là đọc chung với nhau trong gia đình hay những khi có đông người công giáo họp nhau lại.

Tính Giáo Hội của kinh Mai Khôi lại càng tỏ hiện trong ba tổ chức được công nhận dưới đây;

# Hội Mai Khôi
Hội qui tụ những người tình nguyện suy ngắm các mầu nhiệm Mai Khôi mỗi tuần một lần.
Hội Mai Khôi vĩnh viễn
Hội này do linh mục Ricci thành lập năm 1629 và được linh mục Chardon sắp xếp, tổ chức lại ở Lyon năm 1858. Mục đích của Hội là dâng lời ca tụng liên lỉ, phân chia cho mỗi người mỗi tháng một lần suy ngắm toàn bộ chuỗi Mai Khôi vào ngày giờ được ấn định trước.

# Chuỗi Mai Khôi sống
Hội này được thành lập tại Lyon năm 1826 do cô Pauline Jaricot, chia cho mỗi người mỗi ngày đọc một chục kinh Mai Khôi và suy ngắm về một mầu nhiệm.

Kết luận

Trên đây là hai điểm đặc biệt về chuỗi Mai Khôi, tức chất Tin Mừng và tính Hội thánh được bao gồm trong đó. Chúng ta lần hạt với ý thức là mình đang làm một công việc có chất Tin Mừng, được Giáo Hội công nhận và nhiệt tình khuyến khích, một công việc thu tóm lại tất cả cuộc đời Chúa Cứu Thế.

Như vậy, lần chuỗi Mai Khôi theo thói quen, đọc mà không nghĩ đến các mầu nhiệm trong cuộc đời Chúa Cứu Thế, hoặc không đọc bao giờ hay đôi khi mới đọc đều là những điểm cần phải suy nghĩ lại để điều chỉnh cho phù họp với ý nghĩa và giá trị của chuỗi kinh Mai Khôi.

 

07/10-168: Kinh Mân Côi – Trần Mỹ Duyệt

 

Nếu Phanxicô muốn lên thiên đàng, thì phải siêng năng lần hạt”. Đọc và suy ngắm Kinh Mân 07/10-168


“Nếu Phanxicô muốn lên thiên đàng, thì phải siêng năng lần hạt”. Đọc và suy ngắm Kinh Mân Côi cách sốt sắng là cầu nguyện.

Ngày 13 tháng 7 năm 1917, tại Fatima, Đức Mẹ đã hiện ra lần thứ ba với Lucia, Giaxinta, và Phanxicô, cho ba em nhìn thấy hỏa ngục và những hình phạt mà các linh hồn phải chịu trong đó. Lucia đã hỏi Đức Mẹ về số phận của mình, của hai em Phanxicô và Giaxinta. Đức Mẹ đã cho biết đối với Phanxicô, nếu muốn lên thiên đàng thì em phải siêng năng lần hạt.

Không thấy Đức Mẹ nói lý do tại sao lại đòi Phanxicô phải lần hạt nhiều. Nhưng có thể hiểu một cách đơn sơ rằng, đối với Phanxicô lần hạt nhiều có nghĩa là cầu nguyện nhiều, bởi vì việc lần hạt Mân Côi không vượt quá khả năng một em nhỏ như Phanxicô.

Với mỗi Kitô hữu hôm nay, nếu có hỏi Đức Mẹ một câu tương tự về số phận đời đời của mình như Ba Trẻ Fatima xưa: “Còn số phận con thì sao?”, chắc chắn cũng sẽ được nghe Đức Mẹ trả lời: “Nếu muốn lên Thiên Đàng, con phải năng lần hạt”.

KINH NHẬT TỤNG NGƯỜI KITÔ HỮU

Như các linh mục và các thầy phó tế đã lãnh chức thánh, như các tu sĩ thuộc các dòng tu, thường ngày đọc kinh Nhật Tụng để đại diện cho Giáo Hội dâng lời ca ngợi Thiên Chúa, người tín hữu giáo dân mỗi ngày cũng dùng lời kinh nguyện của mình ca tụng Thiên Chúa. Kinh nguyện đó là Kinh Mân Côi.

Trong tinh thần kinh nguyện, Kinh Mân Côi trở thành Kinh Nhật Tụng của người tín hữu. Trong bộ kinh này, ta có dịp đọc lên những lời chúc tụng thánh ý Thiên Chúa, cầu xin một cách đẹp lòng Ngài trong Kinh Lạy Cha - kinh nguyện duy nhất mà Chúa Cứu Thế đã dậy khi còn tại thế. Chúc tụng Mẹ Maria thánh đức bằng những lời Tổng Thần Gabrien, Thiên sứ của Thiên Chúa đã chào mừng Đức Mẹ. Những lời ngợi khen của Thánh Isave, và lời cầu xin của ta dâng lên Mẹ với ý thức về sự yếu hèn của chính mình. Sau cùng là lời ca ngợi vinh quang Ba Ngôi Thiên Chúa từ muôn thuở và cho đến muôn đời.

Tóm lại, khi suy nguyện chuỗi Mân Côi với ý nghĩa của Kinh Lậy Cha, Kinh Kính Mừng, và Kinh Sáng Danh, ta không thể không cảm thấy ngợp trời ánh sáng, vinh quang và vui mừng vì được chúc tụng Thiên Chúa chí tôn, đầy tình thương. Ca ngợi Mẹ Maria, người Mẹ diễm phúc, luôn thương xót và cầu bầu cho ta. Trên tất cả, tình thương và phúc lộc đó qui về vinh quang một Thiên Chúa là Cha, và cho phần rỗi của con cái Ngài.

Một bộ kinh như thế, chắc chắn không còn bộ kinh nào đẹp đẽ hơn, xứng đáng hơn để ta dâng lên Thiên Chúa. Do đó, Kinh Mân Côi được coi là nhật tụng thần lương của mọi Kitô hữu. Những tâm hồn đạo đức, những thánh nhân kim cổ trong lịch sử Giáo Hội đều có lòng yêu mến Đức Mẹ, hoặc sùng mộ những Mầu Nhiệm ẩn chứa trong việc lần hạt Mân Côi.

Thánh Bênađô, vị thánh thời danh của Đức Mẹ có thói quen dùng lời chào của sứ thần Gabrien để chào mừng Đức Mẹ. Mỗi lần khi đi qua tượng ảnh Mẹ, Bênađô cúi đầu và nói: “Ave Maria” - kính chào Maria. Cảm khích về lời chào và tấm lòng yêu mến đó, một hôm sau khi Bênađô vừa chào mừng Đức Mẹ, liền được nghe Đức Mẹ chào lại: “Ave Benado” - chào Bênađô. Thánh nhân đã ghi lại tình thương yêu bao la và sự săn sóc của Đức Mẹ bằng những lời lẽ đầy tín thác như sau:

“Lạy Thánh Nữ Đồng Trinh Maria là Mẹ rất nhân từ. Xin hãy nhớ xưa nay chưa từng nghe có người nào chạy đến cùng Mẹ xin bầu chữa cứu giúp, mà Mẹ từ bỏ chẳng nhận lời”.

Thánh Anphongsô Giám Mục Tiến Sĩ và sáng lập Dòng Chúa Cứu Thế đã viết nhiều về Đức Mẹ, đặc biệt là bộ sách Vinh Quang Đức Mẹ, trong đó thánh nhân đã diễn tả cách rất đầy đủ về những vinh quang và nhân đức của Đức Mẹ.

Thánh Ludovico Maria Grignon a Monfort đã hô hào lòng sùng kính và tận hiến cho Đức Mẹ.

Thánh Đaminh, người tiên phong cổ võ việc lần hạt Mân Côi. Nhờ Ngài sốt sắng rao truyền việc lần hạt, đã chiến thắng được lạc giáo Albigense tung hoành và gieo rắc bao tai họa cho Giáo Hội tại nước Pháp thời của Ngài.

Trong khi rao giảng phép lần hạt Mân Côi tại tỉnh Carcasso, một hôm có một người đã đả kích Thánh Đaminh về việc đạo đức này. Anh ta đã bị quỉ nhập, và Thánh Đaminh đã cầu nguyện để trừ quỉ ra khỏi người anh. Trước khi ra khỏi, chính quỉ dữ đã phải thú nhận và thốt lên những lời này:

“Hỡi mọi người, hãy nghe đây: Đức Trinh Nữ Maria rất thánh là Mẹ Thiên Chúa. Người có đủ quyền năng gìn giữ mọi người khỏi lửa hỏa ngục. Ai có lòng sùng kính Người, sẽ thoát khỏi tay chúng ta. Nếu chẳng có Người, thì nhiều linh hồn đã phải trầm luân hỏa ngục. Người yêu thương và phù hộ cho những ai siêng năng lần hạt Mân Côi”.

Nhờ sự hô hào và lòng sốt sắng đối với Kinh Mân Côi của Thánh Giáo Hoàng Piô V, Giáo Hội dưới triều đại Ngài đã chiến thắng đạo quân Hồi Giáo tại vịnh Lépante.

Chân Phước Giáo Hoàng Gioan Phaolô II cũng đã làm gương về lòng yêu mến Đức Mẹ qua việc lần hạt Mân Côi. Ngài luôn luôn có tràng hạt trong người. Lần hạt riêng và lần hạt chung với con cái bốn phương. Lòng sùng mộ và yêu mến Mẹ Maria đã thôi thúc Ngài chạy lại bên Mẹ như một trẻ thơ.

Ngày 13 tháng 5 năm 1981, Ngài đã được cứu thoát một cách nhiệm mầu khi bị ám sát tại công trường Thánh Phêrô. Ngài thâm tín rằng trong biến cố đó, mạng sống Ngài được duy trì là do bàn tay của Đức Mẹ. Và Ngài đã bày tỏ lòng biết ơn Đức Mẹ bằng cuộc hành hương Fatima một năm sau, vào ngày 13 tháng 5 năm 1982. Trên mũ triều thiên của Đức Mẹ Fatima, giữa những viên kim cương lóng lánh, là một đầu đạn mà kẻ ám sát đã bắn vào vị Giáo Hoàng, như dấu chứng hùng hồn về sự săn sóc và yêu thương đặc biệt của Đức Mẹ dành cho Ngài. Ta hãy nghe lời của Ngài trong Tông Huấn Sứ Điệp Mục Vụ Các Gia Đình:

“Cha mời gọi tất cả hãy lần hạt Mân Côi, đường lối thiết yếu nuôi dưỡng sự tăng trưởng thiêng liêng cho cá nhân và sự thông hiệp yêu thương cho gia đình” (tr.28).

Ngày 16 tháng 10 năm 2002, bắt đầu năm thứ 25 Giáo Triều của Ngài, Chân Phước Gioan Phaolô II đã ban hành Tông Thư Kinh Mân Côi Trinh Nữ Maria, một tài liệu rất đặc biệt hô hào mọi người hãy yêu mến và sốt sắng lần hạt Mân Côi. Ngay trong phần nhập đề, Ngài đã viết:

“Kinh Mân Côi của Trinh Nữ Maria, một kinh đã từ từ thành hình trong thiên niên kỷ thứ hai theo sự hướng dẫn của Thần Linh Thiên Chúa, là một kinh được rất nhiều vị thánh mến chuộng cũng như được Giáo Quyền khuyến khích. Tuy đơn giản, nhưng sâu xa, kinh nguyện này vào đầu thiên niên kỷ thứ ba đây, vẫn là một kinh nguyện có tầm vóc quan trọng trong việc mang lại một mùa gặt thánh đức”.

Cũng trong phần mở đầu của Tông Thư, Ngài viết tiếp: “Mặc dù rõ ràng mang đặc tính Thánh Mẫu, Kinh Mân Côi tự bản chất là một kinh nguyện có trọng tâm là Chúa Kitô. Qua những yếu tố bình dị của nó, Kinh Mân Côi chất chứa tất cả những gì sâu xa của toàn thể sứ điệp Phúc Âm. Có thể nói rằng Kinh Mân Côi là một tổng hợp của Phúc Âm”.

Ngoài ra, qua Tông Thư này, Ngài đã thêm vào năm mầu nhiệm mới mà Ngài gọi là những Mầu Nhiệm Ánh Sáng, nhấn mạnh đến Chúa Kitô là ánh sáng của thế gian.

20 MẦU NHIỆM MÂN CÔI
Khi lần hạt, như đã trình bày trên, ngoài việc đọc và suy ngắm ý nghĩa của từng lời kinh, ta còn có dịp đi sâu vào những mầu nhiệm tình thương và sự thánh thiện của Ba Ngôi Thiên Chúa, cũng như vinh quang của Đức Trinh Nữ Maria.

Trước hết, qua Mầu Nhiệp Nhập Thể, ta hân hoan về Ơn Cứu Chuộc đã được ban cho nhân loại qua Đức Giêsu Kitô. Suy niệm về cuộc hành trình bác ái của Đức Maria, khi vượt đồi núi Giuđêa đến viếng thăm chị họ Isave. Cảm nghiệm tình thương bao la của Thiên Chúa Nhập Thể qua hình hài con trẻ nằm rét run trong hang bò lừa tại đồng quê Belem. Học hỏi đức khiêm nhường và tuân phục của Đức Maria và Thánh Giuse khi lên Giêrusalem dâng Đức Kitô cho Thiên Chúa. Sau đó, vui mừng với Hai Đấng khi tìm lại được Giêsu sau ba ngày lạc mất
.
Chúa Giêsu là “ánh sáng thế gian” (Jn 8:12). Ánh Sáng đã xuất hiện như ngọn đuốc dẫn đàng cho nhân loại tìm về cõi phúc trường sinh giữa đêm trường trần gian mù mịt, khi Ngài xuất hiện lãnh nhận việc thanh tẩy từ tay Gioan Tẩy Giả trên sông Giođan. Khi Ngài tham dự tiệc cưới ở Canna với các môn đệ. Khi Ngài kêu gọi mọi người “xám hối” và “tin vào Tin Mừng”. Khi Ngài hiển lộ sáng láng trên núi Taborê. Và khi Ngài thiết lập bí tích Thánh Thể.

Nhưng khi con người bị đau khổ, bị thử thách mới biết tình Chúa thương yêu như thế nào. Mới hiểu tại sao Đức Kitô lại đau khổ, đổ mồ hôi hòa máu trong vườn Cây Dầu. Tại sao Ngài để người ta đánh đòn, xỉ vả Ngài. Tại sao Ngài cam tâm chịu nhục hình trước mặt bọn người tội lỗi. Tại sao Ngài vác thập giá. Và nhất là tại sao Ngài lại chịu chết treo trên thập giá.

Suy ngắm những chặng đường đau khổ của Đức Kitô từ vườn Cây Dầu đến núi Sọ, ta sẽ hiểu thế nào là tình thương yêu của Thiên Chúa. Thế nào là ác quả của tội lỗi. Thế nào là sự cao quí của linh hồn.

Sau khi cùng chia vui, xẻ sầu với Đức Kitô qua các ngả đường trần gian, trong ơn gọi và cuộc sống của mình, nhờ suy ngắm, mỗi Kitô hữu sẽ tìm được nguồn vui thiêng liêng khi nghĩ về cuộc phục sinh vinh quang của Ngài. Nhớ về Thiên Đàng khi nhìn ngắm Đức Kitô về trời, vì Ngài về trời là để dọn chỗ cho mỗi người chúng ta: “Thầy đi để dọn chỗ cho các con” (Jn 14:2). Ngày Mẹ Maria được Thiên Chúa rước về trời và phong làm Nữ Vương trời đất.

Tóm lại, 20 Mầu Nhiệm Mân Côi chính là 20 quãng đường của mọi người chúng ta phải đi, phải chấp nhận vì tình mến như Chúa Giêsu, như Mẹ Maria đã đi và đã chấp nhận. Một giờ cầu nguyện đơn sơ nhưng với ý nghĩa cao siêu như thế, không phải là một giờ suy nguyện đẹp lòng Thiên Chúa hay sao? Không phải là một giờ để mình tâm sự và nghe Chúa tâm sự với mình qua những mầu nhiệm đó sao? Vì khi suy ngắm những mầu nhiệm đó, ta sẽ được nghe Thiên Chúa nói với ta về cuộc đời của Đức Kitô, của Đức Maria và những gì Ngài muốn ta thực hiện trong đời sống theo gương Hai Đấng.

SIÊNG NĂNG LẦN HẠT

Cũng như Chân Phước Phanxicô, nếu ta muốn đạt tới đích của đời sống, muốn chiếm hữu được vĩnh cửu, thì chắc chắn phải siêng năng lần hạt. Lần hạt mỗi ngày. Lần hạt một mình. Lần hạt chung với nhau trong gia đình. Khi một mình trên xe bus. Một mình trên xe từ nhà tới sở, và từ sở về nhà. Lúc rảnh rỗi hay trên giường bệnh. Khi gặp những thử thách, đau khổ mà không biết than thở với ai. Nhờ suy ngắm những mầu nhiệm Mân Côi, ta sẽ biết hy sinh, khiêm nhường, nhẫn nại như Chúa Giêsu và Mẹ Maria. Ta sẽ hiểu Thiên Chúa muốn mình sống như thế nào.

“Hãy cầu nguyện để khỏi sa chước cám dỗ” (Mt 26:41). Lời Đức Kitô nói xưa không có luật trừ cho bất cứ ai. Nó không phải là một lời có tính cách cảnh giác hay đề phòng, nhưng là một mệnh lệnh, một điều kiện. Lời Ngài là lời hằng sống, như thánh Phêrô đã tuyên xưng: “Chúa có lời ban sự sống đời đời” (Jn 6:69). Lời đó nhắc nhở ta phải luôn tỉnh thức cầu nguyện.

Đời sống của con người trên dương thế không phải là một chuỗi ngày dài hạnh phúc, vui tươi, phấn khởi và thơ mộng như những giấc mơ thần tiên được thêu dệt do trí tưởng tượng trong các tiểu thuyết. Những câu chuyện như thế chỉ có tác dụng làm quên đi thực tế của cuộc đời, hơn là giúp ta biết chấp nhận, thánh hóa, và thăng tiến cuộc đời như Đức Kitô, như Mẹ Maria, như các thánh nhân đã sống, và đã thánh hóa.

Đời sống trần gian của con người, nếu được trình bày một cách trung thực phải là một tập hợp giữa vui và buồn, giữa hạnh phúc và bất hạnh, giữa yêu thương và ghen ghét, giữa bạn hữu và thù nghịch, giữa lương thiện và gian ác. Một cuộc sống mà không ai có thể nói mình hoàn toàn hạnh phúc, hoặc hoàn toàn bất hạnh. Một cuộc sống mà trong đó mọi người phải phấn đấu, chấp nhận, và vươn cao giữa những thử thách, những cám dỗ, và yếu đuối. Trong cuộc sống này, người Kitô hữu không thể không tìm gặp Thiên Chúa, không thể không cậy trông Ngài, và không thể không xin Ngài nâng đỡ. Bằng cách nào? Bằng việc sốt sắng suy ngắm và sống các mầu nhiệm Mân Côi.

Theo Đức Giáo Hoàng Piô XII, thì Kinh Mân Côi là một bản tóm lược toàn bộ Tin Mừng. Nhờ suy ngắm những mầu nhiệm này, Đức Tin của người Kitô hữu “được nẩy nở thêm” như Đức Giáo Hoàng Piô XI đã đề cập trong Thông Điệp In Crescentibus Malis (Trước Sự Dữ Gia Tăng), và Đức Giáo Hoàng Phaolô VI nhắc lại trong Thông Điệp Hòa Bình, ban hành ngày 15 tháng 9 năm 1966.

Lần hạt đối với Chân Phước Phanxicô là con đường dẫn lên cõi phúc. Đối với ta cũng thế, lần hạt sẽ giúp hiểu hơn về Đức Trinh Nữ Maria, và yêu mến Mẹ hơn. Nhờ tình mến này, Mẹ đưa ta tiến gần tới Chúa Giêsu Con Chí Thánh của Mẹ.
Lần hạt Mân Côi, theo linh mục Joanquim Maria Alonso, CMS, nhà biên khảo thời danh về biến cố Fatima, còn là việc chu toàn một trong ba điều kiện của Đức Mẹ, đó là: Cải thiện đời sống, tôn sùng Trái Tim Mẹ, và siêng năng lần hạt.

Linh mục Alonso còn quả quyết rằng Thánh Ý Thiên Chúa muốn dùng Đức Trinh Nữ Maria để tỏ lòng khoan nhân và công trình Cứu Chuộc vô giá của Đức Kitô cho nhân loại.

Việc cứu rỗi nhân loại dĩ nhiên thuộc về Đức Kitô, nhưng do lòng nhân lành vô biên của Ngài, Thiên Chúa muốn ban cho Mẹ Maria quyền ban phát ơn đó cho nhân loại. Giáo huấn của Giáo Hội về vai trò trung gian của Đức Trinh Nữ Maria, đã được Đức Giáo Hoàng Lêo XIII quảng diễn trong Thông Điệp Jucunda Semper ban hành ngày 8 tháng 9 năm 1894 như sau:

“Thiên Chúa, theo sự quan phòng rất nhân lành của Ngài đã ban cho nhân loại vị Nữ Trung Gian này, và đã ấn định rằng tất cả mọi phúc lộc phải qua tay Maria mới đến với chúng ta”.

(Trích từ tác phẩm “Sống Đạo Giữa Đời”, Tủ Sách Vào Đời, 2004. Chương 10, tr.119-129 của cùng tác giả.)

 

07/10-169: Lễ Đức Mẹ Mân Côi – Antôn Lương Văn Liêm


“Vâng! Tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời Sứ thần nói” (Lc 1,38)
 

Lễ Đức Mẹ Mân Côi hay còn gọi là Lễ Đức Mẹ Chiến Thắng. Thánh lễ được Đức Thánh Cha 07/10-169


Lễ Đức Mẹ Mân Côi hay còn gọi là Lễ Đức Mẹ Chiến Thắng. Thánh lễ được Đức Thánh Cha Piô V thiết lập để tạ ơn Chúa, tạ ơn Mẹ Maria đã giải thoát Giáo Hội bằng lời kinh Mân Côi, qua trận chiến oanh liệt nơi vịnh Lépante ngày 7-10-1571.

Mừng lễ Đức Mẹ Mân Côi, ngoài việc ta cùng với toàn thể Giáo Hội dâng lời cảm tạ Thiên Chúa đã đồng hành, che chở dân Người ngang qua Đức Trinh Nữ Maria; ta đồng cảm tạ Mẹ Maria đã luôn yêu thương, luôn cất lên lời khẩn nài Thiên Chúa cho con cái mình vượt qua những phong ba bão táp của cuộc sống, như xưa Mẹ đã thực hiện nơi tiệc cưới Cana; ta nhắc nhở nhau thực hiện ba mệnh lệnh mà Mẹ đã trao, khi Mẹ đến với con cái mình nơi Thánh địa Fatima. Cuối cùng, ta hướng về Mẹ với tước hiệu “Nữ Vương Rất Thánh Mân Côi”. Tước hiệu đã được chính Mẹ mặc khải cho ta vào ngày 13-10-1917 tại Fatima.

Qua những ý nghĩa trên, ta cũng được mời gọi chiêm ngắm Mẹ Maria với danh xưng thật kiêu hãnh. Đó là Mẹ Maria “Mẹ Chiến Thắng”. Vâng! Mẹ Maria chiến thắng không chỉ được biết đến qua biến cố lịch sử kiêu hùng nơi vịnh Lépante năm xưa. Nhưng, Mẹ đã được Chúa ban cho đặc ân chiến thắng. Trước tiên, đặc ân đó khởi đi từ lòng xót thương của Thiên Chúa, kế đến là qua đời sống đạo đức thánh thiện, đời sống khiêm nhu của Mẹ. Giờ ta lần giở Kinh Thánh để cùng nhau lược lại những gì đã từng xảy ra trong cuộc đời của Mẹ, giúp Mẹ trở thành “Mẹ Chiến Thắng”.

- Mẹ được Chúa ban cho đặc ân chiến thắng tội nguyên tổ. Tội mà mọi phàm nhân đều phải gánh lấy do hệ luỵ tội lỗi mà ông Adong và và Eva đã sai lầm gây nên nơi vườn Địa Đàng như trình thuật sách Sáng Thế đã miêu tả.

- Như bao thiếu nữ cùng trang lứa, Mẹ cũng có những ước mơ, dự tính, hoài bão cho bước đường tương lai. Theo lẽ thường, Mẹ cũng ước mơ trở thành cành hồng rực rỡ làm say lòng các bậc nam nhi. Nhưng, Mẹ đã chiến thắng khi Mẹ gạt những ước mơ, những dự tính đó sang một bên. Ngoài việc Mẹ phụ giúp song thân trong bổn phận của một người con, quỹ thời gian còn lại Mẹ dành cho Thiên Chúa qua việc cầu nguyện và học hỏi Kinh Thánh. (trích trong quyển Thần Đô Huyền Nhiệm)

- Bước vào tuổi thành thân, Mẹ đã được song thân gửi gắm cuộc đời cho một chàng trai tuấn tú, khôi ngô, đầy lòng đạo đức, đó là Thánh Cả Giuse. Mẹ rất vui, nhưng Mẹ đã chiến thắng khi Mẹ gác lại niềm vui riêng mình để cất lên hai tiếng “Xin Vâng”, từ bỏ ý riêng để thuận theo ý Chúa trong ngày Truyền Tin (x. Lc 1,26-38).
- Mẹ chiến thắng những lời dị nghị, những thắc mắc của dư luận xoay quanh việc Mẹ mang thai không theo cách của tự nhiên của con người. Vì chỉ một mình Mẹ biết sự thụ thai của mình là do Ý Chúa, qua quyền năng của Chúa Thánh Thần.

- Mẹ đã chiến thắng sự mệt nhọc của một người phụ nữ “bụng mang dạ chửa” thực thi việc bác ái qua việc Mẹ đi thăm viếng, săn sóc người chị em (x. Lc 1,39-59), cùng với người bạn đời lên đường về quê quán khai báo hộ khẩu theo luật truyền (x. Lc 2,1-5).

- Mẹ đã chiến thắng sự nghèo nàn, thiếu thốn, sự ruồng bỏ của người đời trong ngày Mẹ sinh hạ Đấng Cứu Thế (x. Lc 2,6-7). Mẹ chiến thắng sự sợ hãi, cái giá lạnh của trời đông qua việc Mẹ vội vã lên đường cùng với Thánh Cả Giuse đem con đi trốn (x. Mt 2,13-15).

- Mẹ chiến thắng sự cô quạnh, cô đơn khi Đức Giêsu từ giã Mẹ lên đường thi hành sứ vụ của Cha trên trời, khi Thánh Cả Giuse được Chúa gọi về trời.

- Mẹ chiến thắng những mệt nhọc của tuổi già, chiến thắng những gian lao vất vả để song hành với Con trên đường sứ vụ. Cuối cùng Mẹ chiến thắng những sợ hãi, những khinh khi, những lời đàm tiếu, những lời sỉ nhục khi Mẹ cất bước đi cùng Con yêu trên đường thập giá và kiên cường đứng dưới chân thập giá với Con yêu.

Bởi đâu Mẹ có sức mạnh chiến thắng tất cả những biến cố, những sự việc vui cũng như buồn xảy ra trong cuộc đời của Mẹ? Xin thưa, trước tiên là nhờ ơn Chúa. Vâng! Nhờ ơn Chúa, ơn đầu tiên mà Thiên Chúa ban tặng cho con cái mình là ơn tự do. Ngài cũng tôn trọng ơn tự do mà Ngài đã ban một cách tuyệt đối. Nhờ ơn tự do, con người muốn hoặc không muốn thực hiện tất cả những công việc lành thánh cũng như xấu xa. Nếu như ta chỉ dừng lại những gì mà Mẹ Maria đã thực hiện, đã trải nghiệm trong phạm trù ơn Chúa, thì Mẹ có công trạng gì, Mẹ có gì để ta học hỏi…!

Ngày Sứ thần truyền tin cho Mẹ, sau những giây phút bối rối, ngỡ ngàng trước lời Sứ thần chào: “Mừng vui lên, hỡi Đấng đầy ân sủng, Đức Chúa ở cùng bà” (Lc 1,28); sau những thắc mắc, đan xen nỗi lắng lo khi Sứ thần tiếp lời: “Thưa bà Maria, xin đừng sợ, vì bà đẹp lòng Thiên Chúa. Và này đây bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai, và đặt tên là Giêsu…” (Lc 1,30-31), với ơn tự do Chúa ban, Mẹ có thể nhận lời và cũng có thể từ chối lời mời gọi cộng tác của Thiên Chúa qua Sứ thần. Gác lại ơn tự do, khiêm hạ nghe lời giải thích của Sứ thần, Mẹ đã cất tiếng trả lời. Tiếng trả lời ấy như một bản tình ca, như một hồi chuông tràn ngập niềm vui và hy vọng được vọng tới Thiên Đình, lan toả ra khắp cõi nhân gian. Ta hãy nghe Mẹ trả lời: “Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói” (Lc 1,38).

Vâng! Tiếng “Xin Vâng” của Mẹ Maria trong ngày Truyền Tin không chỉ làm đẹp lòng Thiên Chúa, khơi dòng chảy Ơn Cứu Độ của Thiên Chúa xuống cõi trần. Tiếng “Xin Vâng” ấy là một bài học, là tấm gương cho ta trong hành trình sống Đức Tin, hành trình bước theo làm môn đệ của Đức Kitô.

Nhiều và rất nhiều lần trong đời ta cất lên tiếng xin vâng, xin vâng với cha mẹ, thầy cô, với anh chị, với người lãnh đạo, với bạn bè… Nhưng, đôi khi tiếng xin vâng của ta đan xen sự giả dối, đan xen những tiêu cực, xin vâng cho qua chuyện và xin vâng để có được tiếng khen của người đời, có được mối lợi nào đó… Riêng tiếng “Xin Vâng” của Mẹ Maria được cất lên với một tấm lòng đơn sơ và phó thác, lòng tin tưởng và cậy trông, “xin vâng” đồng nghĩa với việc Mẹ gánh lấy những hệ luỵ, khó khăn và cả khổ đau qua lời “xin vâng” ấy. Điều đặc biệt, Mẹ đặt cả cuộc đời vào bàn tay Quan Phòng của Thiên Chúa qua lời của Mẹ: “Xin Chúa cứ làm cho tôi như lời Sứ thần nói”.

Xin Chúa cứ làm, xin Chúa cứ thực hiện, xin Chúa vẽ cuộc đời con theo như Thánh ý của Ngài. Bức tranh đời con đẹp, tốt là do nơi Ngài, phận con xin được thuận theo, xin được cộng tác với Ngài bằng khả năng nhỏ bé, bằng niềm tin tưởng và phó thác tuyệt đối vào Thiên Chúa… Mẹ Maria đã chiến thắng khi thực hiện được điều đó trong cuộc đời của Mẹ. Đây chính là tấm gương, là những bài học cho ta trong từng ngày sống.

Trong đời sống cầu nguyện, ta thường xin với Chúa với Đức Mẹ ban cho ta ơn này, ơn nọ: mua may bán đắt, thành công trong công việc, học tập; ơn chữa lành thể xác, ơn cho con cái ngoan hiền, gia đình đầm ấm và tất cả những gì giúp ích cho ta nơi cuộc sống tạm bợ này. Nhiều khi ta còn vạch chương trình cho Thiên Chúa thực hiện khi ta cầu nguyện: “Lạy Chúa! Xin giúp con có việc làm, có đồng ra, đồng vô để con giúp xây nhà thờ, giúp cho người nghèo, để con trả nợ…”.

Thú thực, mấy khi ta xin Chúa và Đức Mẹ giúp ta vâng theo Thánh Ý, giúp ta nhận ra Thánh ý của Ngài để mau mắn thi hành. Chính đời sống Đức Tin, đời sống cầu nguyện đó không giúp ta chiến thắng, khó giúp ta đón nhận ân sủng của Thiên Chúa. Nếu không có ơn Chúa và sự cộng tác, cố gắng của ta, thì lẽ tất nhiên ta mãi là người thất bại. Thất bại trước những cám dỗ, thất bại trước những thử thách, gian truân trong cuộc sống, thất bại trên con đường trọn lành.

Mẹ Maria là tấm gương, là Người Mẹ, Người Thầy tuyệt vời nhất, luôn yêu thương ta. Mẹ sẽ giúp ta sống như Mẹ đã sống, với điều kiện ta năng chạy đến với Mẹ. Điều làm Mẹ vui lòng nhất, đó là ta dành thời gian học và lắng nghe tiếng Chúa nơi Tin Mừng, ta dành thời gian tâm sự với Mẹ qua tràng chuỗi Mân Côi, đặc biệt trong Tháng Mân Côi này. Mẹ Maria đã là người chiến thắng, ta tin chắc Mẹ sẽ giúp ta chiến thắng như Mẹ. Chiến thắng sự ươn lười của bản thân, chiến thắng những đam mê thấp hèn, chiến thắng những gian nan, thử thách luôn ở bên ta và với ta trên bước đường lữ hành.

Lạy Mẹ Maria! Nữ Vương Rất Thánh Mân Côi, Nữ Vương Chiến Thắng, xin cầu cùng Chúa cho con bây giờ và mãi mãi; xin giúp con có được nghị lực để chiến thắng tất cả như Mẹ đã chiến thắng; xin giúp con noi gương Mẹ phó thác cuộc đời cho Thiên Chúa với tấm lòng đơn sơ, nhỏ bé. Amen.

 

07/10-170: Lễ Đức Mẹ Mân Côi – Lm. Ignatiô Hồ Thông

 

Trong ngày lễ kính trọng thể Đức Mẹ Mân Côi, Phụng Vụ Lời Chúa nêu bật Tình Mẫu Tử 07/10-170


Trong ngày lễ kính trọng thể Đức Mẹ Mân Côi, Phụng Vụ Lời Chúa nêu bật Tình Mẫu Tử của Đức Maria. Chính ở nơi Tình Mẫu Tử của Đức Maria mà Chúa Cha đã trao phó “Con Một làm người” của Ngài cho Mẹ để Mẹ nuôi dưỡng và săn sóc. Và cũng chính nơi Tình Mẫu Tử nầy mà Đức Giêsu đã trao phó cho người mẹ tuyệt vời của Ngài ân cần săn sóc Thân Thể Mầu Nhiệm của Ngài, tức Giáo Hội mà Ngài đã mang nặng đẻ đau trên thập giá (Ga 19: 25-37).

Mỗi lần chúng ta lần tràng chuỗi Mân Côi là mỗi lần chúng ta chiêm ngắm Tình Mẫu Tử tuyệt vời nầy ở nơi niềm vui thầm lặng nhưng sâu thẩm của Mẹ khi đón nhận Người Con mà Thiên Chúa trao ban cho Mẹ (Năm Sự Vui), ở nơi sự kết hợp của tình Mẹ với Con trên con đường khổ nạn (Năm Sự Thương), và ở nơi niềm vui vỡ òa của Mẹ khi Mẹ gặp lại Con Mẹ phục sinh để từ nay sự sống đã chiến thắng sự chết, vận mệnh của con người đã sang trang (Năm Sự Mừng).

Cv 1: 12-14
Sau khi chứng kiến Đức Giêsu lên trời, các Tông Đồ theo lời căn dặn của Thầy trở về nhà ở Giê-ru-sa-lem: “Các ngài đã đồng tâm nhất trí chuyên cần cầu nguyện, cùng với các phụ nữ và Đức Maria thân mẫu của Đức Giêsu”. Ngay từ những bước khởi đầu của Giáo Hội tiên khởi, Đức Maria đã ở bên và che chở Giáo Hội với trọn tấm lòng từ mẫu.

Gl 4: 4-7
Khi viết: “Thiên Chúa đã sai Con mình tới, sinh làm con một người đàn bà”, thánh Phao-lô nhấn mạnh Con Thiên Chúa đã thực sự đảm nhận trọn vẹn thân phận con người. Lời nầy được đọc trong ánh sáng của Tin Mừng Truyền Tin hôm nay mặc khải rằng Con Thiên Chúa không sinh ra bởi bất kỳ một người đàn bà nào, nhưng là một người đàn bà được tuyển chọn, một Tình Mẫu Tử được viết hoa, kiệt tác của công trình sáng tạo người nữ.

Lc 1: 26-38
Tin Mừng là bài tường thuật biến cố Truyền Tin. Nơi Thiên Chúa chuẩn bị để Con của Ngài đến ở giữa dân Ngài là cung lòng thanh sạch và rạng ngời vinh hiển của Đức Trinh Nữ Maria, Đền Thờ đẹp nhất, được Thiên Chúa sủng ái nhất.

BÀI ĐỌC I Cv 1: 12-14

Đoạn trích sách Công Vụ Tông Đồ nầy được định vị trong bối cảnh các Tông Đồ, sau khi chứng kiến việc Đức Giêsu khuất dạng trong đám mây trời, liền trở về Giê-ru-sa-lem. Các ông tề tựu một nơi và chuyên tâm cầu nguyện trong khi chờ đợi Chúa Thánh Thần ngự đến như lời căn dặn của Thầy mình trước khi từ giả các ông: “Phần Thầy, Thầy sẽ gởi cho anh em điều Cha Thầy đã hứa. Còn anh em, hãy ở lại trong thành, cho đến khi nhận được quyền năng từ trời cao ban xuống” (Lc 24: 49).

1. Trở về nhà, các ông lên lầu trên.

Căn phòng được định vị ở lầu trên. Lầu trên thường là căn phòng chính trong nhà Do thái, chắc hẳn đây là phòng Tiệc Ly, nơi các ông đã dùng bữa ăn cuối cùng với Đức Giêsu. Như vậy nơi mà Đức Giêsu cử hành thánh lễ đầu tiên với các ông trước khi Ngài bước vào con đường Tử Nạn, cũng là nơi các ông chờ đợi để đón nhận Chúa Thánh Thần, Đấng đưa các ông vào trong sự thật công trình cứu độ của Thầy mình.

2. Tất cả mười một Tông Đồ đều hiện diện ở đó:

Việc kể tên mười một Tông Đồ dâng hiến một nét đặc thù đáng chú ý. Trong các sách Tin Mừng, thánh Phê-rô và thánh An-rê được nêu tên trước tiên. Ở đây lại là thánh Phê-rô và thánh Gioan. Sách Công Vụ giới thiệu hai vị Tông Đồ nầy như hai trụ cột của Giáo Hội tiên khởi, thường xuyên hoạt động cùng nhau.

3. Chuyên tâm cầu nguyện:

“Tất cả các ông đều đồng tâm nhất trí, siêng năng cầu nguyện”. Thánh Lu-ca thường nhấn mạnh các tín hữu tiên khởi đồng tâm nhất trí và siêng năng cầu nguyện. Các Tông Đồ làm Tuần Cửu Nhật giữa biến cố Thăng Thiên và biến cố Hiện Xuống.

4. Mấy người phụ nữ, và Đức Maria, Thân Mẫu của Đức Giêsu:

Trong số những người phụ nữ tề tựu với các Tông Đồ, chỉ một mình Đức Mẹ được nêu tên, trong mối liên hệ với Đức Giêsu: “Đức Maria, Thân Mẫu của Đức Giêsu”. Đây là lần cuối cùng trong Tân Ước kể ra Đức Trinh Nữ. Sau biến cố nầy, Mẹ sẽ không còn xuất hiện nữa, người ta không còn nói gì về Mẹ. Sự hiện diện của Mẹ ở đây, giữa các Tông Đồ, là một dấu chỉ mang một tầm mức vĩ đại. Mẹ đã ban cho nhân loại thân thể hữu hình của Đức Kitô dưới quyền năng của Chúa Thánh Thần vào lúc Truyền Tin; Mẹ cũng có mặt ở đây vào lúc sinh hạ thân thể mầu nhiệm của Đức Giêsu, tức Giáo Hội, cũng dưới tác động của Chúa Thánh Thần vào ngày lễ Hiện Xuống.

Chúng ta có thể phỏng đoán rằng những người phụ nữ ở bên cạnh Đức Maria cũng chính là những người phụ nữ đã ở bên cạnh Đức Mẹ gần bên Thập Giá. Sự hiện diện của những người phụ nữ nầy gợi nhớ hoạt cảnh trên thập giá ở đó Đức Giêsu đã trao gởi Giáo Hội của Ngài cho Mẹ Ngài làm Mẹ của Giáo Hội Ngài khi nói với Mẹ Ngài: “Thưa Bà, đây là con của Bà” và khi nói với người môn đệ Chúa yêu: “Đây là mẹ của con” (Ga 19: 26-27).

5. Anh em của Đức Giêsu.

Cùng có mặt với các Tông Đồ là “anh em” của Đức Giêsu, nghĩa là những anh em họ của Ngài. Ngôn ngữ Do thái cũng như ngôn ngữ Hy-lạp đều không có đặc ngữ để chỉ mức độ bà con thân thuộc nầy. Cựu Ước sử dụng cùng một từ “anh em” để chỉ mối liên hệ bà con họ hàng rộng lớn hơn: chú cháu (St 13: 8; 14: 14; 14: 16) hay bà con gần (G 19: 13-17) hoặc thậm chí bà con họ hàng xa (cf. Lv 10: 1). Trong Tin Mừng của mình, thánh Mác-cô kể ra bốn người anh em họ của Đức Giêsu: ông Gia-cô-bê, Giô-xết, Giu-đa và Si-môn (Mc 6: 3).

Sự hiện diện của những bà con thân thuộc của Đức Giêsu ở phòng Tiệc Ly vào lúc nầy chứng thực thái độ của họ đã thay đổi đối với Đức Giêsu. Trước đây, thánh Gioan nói “Anh em Người không tin vào Người” (Ga 7: 5); thậm chí họ không hiểu chút gì về sứ mạng của Ngài và cố tìm cách ngăn cản Ngài thi hành sứ mạng của mình nữa (x. Mt 12: 46; Mc 3: 31-35; Lc 8: 19-21).

Họ thay đổi thái độ lúc nào? Các bản văn Tân Ước không cho chúng ta bất kỳ một thông tin nào. Chắc chắn họ sắp lãnh nhận Chúa Thánh Thần như các Tông Đồ và họ sẽ cho thấy niềm tin tích cực của họ. Thánh Gia-cô-bê hậu sẽ là vị lãnh tụ của Giáo Hội Giê-ru-sa-lem và được phúc tử đạo vào năm 62. Người kế vị thánh nhân, một ông Si-môn hay Si-mê-on nào đó, bị đóng đinh vào thời Trajan, cũng là bà con họ hàng của Chúa. Như vậy, những người bà con nghi kỵ xưa kia đều đã là những chứng nhân bằng máu.

BÀI ĐỌC II Gl 4: 4-7

Các Kitô hữu Ga-lát bị những người Kitô hữu gốc Do thái làm lung lạc. Những người Kitô hữu gốc Do thái nầy muốn đưa vào trong Kitô giáo những nghi thức Do thái được cho là luôn luôn có giá trị, như phép cắt bì. Vì thế, thánh Phao-lô chứng minh cho thấy Luật Cũ là sự nô lệ, Luật mới là sự tự do. Thánh nhân sánh ví Luật Mô-sê với thời kỳ người thừa kế “phải ở dưới quyền những người giám hộ và quản lý, cho đến khi mãn hạn người cha đã định” (Gl 4: 2). Tuy nhiên, vai trò của Luật là tạm thời. Với Đức Giêsu, kế hoạch của Thiên Chúa đã đến hồi viên mãn, chúng ta không còn phải sống dưới chế độ của Lề Luật nữa, nhưng trong sự tự do của những người làm con cái Thiên Chúa, mà đã là con thì cũng đã là người thừa kế.

1. Con Thiên Chúa làm con của loài người (4: 4-5)

“Khi thời gian đến hồi viên mãn”: thánh Phao-lô so sánh sự bảo hộ của lề luật (Gl 4: 2) với thời điểm khi Thiên Chúa can thiệp vào trong lịch sử để thực hiện công trình cứu độ qua Con của Ngài là Đức Giêsu. Sự tự do của con người đã đạt được nhờ Đức Kitô. “Thiên Chúa đã sai Con mình tới”: động từ “sai” phát triển trong Giáo Hội tiên khởi một nét nghĩa tôn giáo đặc thù: sai ai vào việc phục vụ Nước Trời là ban cho người đó đầy đủ uy quyền ở nơi Thiên Chúa. Ở đây cuộc sống tiền hữu của Chúa Con không được nói đến một cách minh nhiên, nhưng mặc nhiên. “Sinh làm con một người đàn bà”: động từ “sinh” được dùng ở thể quá khứ để chỉ một “tình trạng hay một hành động đã xảy ra trong quá khứ và hoàn tất trong quá khứ”, nhằm nhấn mạnh rằng Đức Giêsu đã đảm nhận trọn vẹn thân phận làm người cho sứ mạng của Ngài. Cách nói nầy bắt nguồn từ Cựu Ước (G 14: 1; 15: 14; 25: 4). Được sinh ra như vậy, Đức Giêsu chịu phục tòng lề luật “để chuộc những ai sống dưới Lề Luật, hầu chúng ta nhận được ơn làm nghĩa tử”.

2. Để con người trở thành con Thiên Chúa (4: 6-7).

“Để chứng thực anh em là con cái”. Giới từ “hoti” bắt đầu với câu này có thể hiểu theo hai cách: “vì” (kết quả) hay "nên" (nguyên nhân). Nếu chúng ta hiểu “vì anh em là con cái”, điều này sẽ là nền tảng cho việc Thiên Chúa sai Thánh Thần đến với người Kitô hữu một cách nhưng không. Tuy nhiên, Rm 8: 14-17 xem ra gợi ý rằng ân ban Thánh Thần cấu thành chức năng làm con cái Thiên Chúa của người Kitô hữu; vì thế nhiều nhà chú giải thích hiểu giới từ nầy theo nghĩa "nên anh em là con cái" ("để chứng thực…") hơn.

Thánh Thần của Con”: Thánh Thần cũng là đối tượng sứ mạng từ Chúa Cha; ở nơi khác, Thánh Thần chính là ân ban của Chúa Con Phục Sinh. Thánh Thần của Chúa Con Phục Sinh là một nguyên lý năng động của chức năng làm con Thiên Chúa. Nhờ Ngài, người Kitô hữu mới có thể gọi Thiên Chúa “Áp-ba, Cha ơi!” với trọn niềm xác tín. Không có Thánh Thần người Kitô hữu sẽ không thể thốt lên tiếng kêu đầy trìu mến thân thương nầy. Vì thế, thánh Phao-lô kết luận: “Anh em không còn là nô lệ nữa, nhưng là con, mà đã là con thì cũng là người thừa kế, nhờ Thiên Chúa”.

TIN MỪNG Lc 1: 26-38.

Hoạt cảnh “truyền tin cho Đức Maria” nầy (1: 26-38) hình thành nên một bức tranh bộ đôi với hoạt cảnh “truyền tin cho ông Da-ca-ri-a” trước đó (1: 5-25). Nhờ kỷ thuật song đối nầy, thánh Lu-ca nêu bật hai thời kỳ: Cựu Ước và Tân Ước, hai nhân vật tinh hoa của hai thời kỳ: ông Da-ca-ri-a, vị tư tế ở Đền Thờ Giê-ru-sa-lem, và Đức Maria, cô thôn nữ ở miền quê hẻo lánh làng Na-da-rét, và đặc biệt hai hài nhi của họ: Gioan Tẩy giả và Đức Giêsu.

1. Khung cảnh truyền tin.

Câu mở đầu “Bà Ê-li-sa-bét có thai được sáu tháng” đóng chức năng như nhịp cầu nối của hai hoạt cảnh truyền tin, chúng ta rời bỏ đền thờ Giê-ru-sa-lem, thành đô của Do thái giáo, thuộc miền Giu-đê được xem là thuần chủng và thấy mình ở trong một ngôi nhà dân giả, thuộc làng quê Na-da-rét nhỏ bé, khiêm hạ, của miền Ga-li-lê, được gọi “miền đất của dân ngoại”. Thay vì một đôi vợ chồng tư tế đã cao tuổi, biểu tượng của những truyền thống Ít-ra-en cổ kính và trung tín, bây giờ chúng ta gặp cô Maria, đã đính hôn với chàng Giu-se, hướng đến cuộc sống hôn nhân của mình.

Hoạt cảnh truyền tin trước đó đã xảy ra trong Đền Thờ Giê-ru-sa-lem, nơi cực thánh nhất của việc Thiên Chúa hiện diện giữa dân Ngài. Chính ở nơi cực thánh nầy mà Thiên Chúa đã tỏ mình ra cho tư tế Da-ca-ri-a, nhưng cốt để hướng đến một nơi khác còn thánh thiêng hơn, nơi Thiên Chúa chọn để ở giữa dân Ngài, đó là cung lòng của Đức Trinh Nữ Maria.

Vì thế, ngay từ khởi đầu Tin Mừng của mình, thánh Lu-ca cho chúng ta thấy có một sự hoán chuyển vai trò: Đền Thờ Giê-ru-sa-lem, nơi Thiên Chúa ngự giữa dân Ngài sẽ được thay thế bởi cung lòng của Đức Trinh Nữ, nơi Thiên Chúa chọn cho Con của Ngài đến ở giữa dân Ngài.

2. Lời chào của sứ thần:

Sứ thần vào nhà và chào Đức Maria: “Hãy vui lên, hỡi bà đầy ân sủng, Thiên Chúa ở cùng bà”.

“Hãy vui lên” là cách thức chào hỏi thông thường của người Hy lạp, tuy nhiên, “Hãy vui lên” cũng thuộc về diễn ngữ của các ngôn sứ, đặc biệt trong viễn cảnh thời Mê-si-a: “Nào thiếu nữ Xi-on, hãy vui mừng hoan hỷ! Hỡi thiếu nữ Giê-ru-sa-lem, hãy vui sướng reo hò! Vì kìa Đức Vua của ngươi đang đến với Ngươi” (Dcr 9: 9); hay: “Reo vui lên, hỡi thiếu nữ Xi-on…Đức Vua của Ít-ra-en đang ngự giữa ngươi” (Xp3: 14-15). Niềm vui thời Mê-si-a nầy, chính là niềm vui mà “sứ thần Thiên Chúa” sẽ loan báo cho các mục đồng trong hoạt cảnh Giáng Sinh: “Anh em đừng sợ. Này tôi báo cho anh em một tin mừng trọng đại, cũng là tin mừng cho toàn dân…” (Lc 2: 10). Như vậy lời mời gọi “hãy vui lên” được ngỏ lời với Đức Maria là nhằm hướng lòng Đức Mẹ về thời đại Mê-si-a và chuẩn bị Đức Mẹ trước sứ điệp gây sửng sốt sau đó.

“Hỡi bà đầy ân sủng”. Đức Maria được gọi là người đầy ân sủng hay được Thiên Chúa yêu thương đặc biệt không chỉ vì Mẹ được Thiên Chúa chọn làm Mẹ của Đức Giêsu, Con của Ngài. Suy tư thần học còn thấy ở đây lòng sủng ái đặc biệt mà Thiên Chúa dành riêng cho Mẹ, “ơn vô nhiễm nguyên tội” (“được gìn giữ khỏi mọi vết nhơ tội lỗi, kể cả tội tông truyền”).

“Thiên Chúa ở cùng bà”. Lời nói trấn an nầy thường thường được gặp thấy trong Cựu Ước. Nó được ngỏ lời với những nhân vật run sợ và e ngại trước sứ mạng mà Thiên Chúa giao phó cho họ, như Thiên Chúa đã phán với ông Mô-sê như thế trong hoạt cảnh “bụi cây bốc cháy” (Xh 3: 12). Tổng quát hơn, xuyên suốt lịch sử, Đức Chúa lập lại lời nầy cho dân Ngài chọn. Lời nầy cũng chính là định nghĩa Giao Ước. Vào giây phút nầy, Đức Maria cô động mười tám thế kỷ của việc Thiên Chúa tuyển chọn ở nơi mình. Mẹ đưa vận mệnh của dân Chúa chọn vào vận mệnh của riêng Mẹ. Mẹ là “Thiếu Nữ Xi-on” tuyệt vời. Thiên Chúa ở với Mẹ.

3. Sứ điệp về Đức Giêsu.

Cũng như ông Da-ca-ri-a, nghe những lời chào ấy, Đức Maria hoảng sợ. Sứ thần trấn an Mẹ, đoạn xác định mặc khải của mình.

a. Mẹ của Đấng Kitô (Mê-si-a).

Tên của Hài Nhi, Giêsu, nghĩa là “Đức Chúa là Đấng Cứu Độ”. Ơn cứu độ được Thiên Chúa hứa từ ngàn xưa sẽ được thực hiện qua con trẻ của Đức Maria. Người sẽ được gọi là “Con Đấng Tối Cao” hay “Con Thiên Chúa”. Tước hiệu “Con Thiên Chúa” xảy ra chỉ ba lần trong Cựu Ước, mỗi lần đều quy chiếu đến vị vua thuộc dòng dõi Đa-vít (2Sm 7: 14; Tv 2: 7; Tv 89: 27-28). Vì thế, cũng như bà Ê-li-sa-bét, Đức Maria sẽ được thụ thai và sinh hạ một con trai, tuy nhiên, con trẻ của Đức Maria là Đấng Mê-si-a, Đấng mà ở nơi Ngài lời hứa cho vua Đa-vít được thành tựu. Trong bối cảnh nầy, tước hiệu “Con Thiên Chúa” không có nghĩa nào khác hơn là một tước hiệu dành cho một hậu duệ của vua Đa-vít, nhưng tước hiệu nầy chuẩn bị mặc khải tiếp theo sau.

b. Mẹ của Con Thiên Chúa.

Một vấn đề được đặt ra mà Đức Maria đã thẳng thắng nêu lên: “Làm sao có chuyện ấy được, vì tôi không biết đến chuyện vợ chồng?”. Lời thắc mắc nầy cho thấy rằng Mẹ ý thức Lời Thiên Chúa mà sứ thần truyền đạt cho Mẹ được ứng nghiệm ngay từ bây giờ. Vì thế, Mẹ tin vào Lời Chúa nhưng Mẹ muốn niềm tin của mình được soi sáng. “Biết” là động từ kinh thánh được dùng để chỉ chuyện vợ chồng như “ông A-đam biết bà E-và. Bà đã thụ thai và sinh hạ…” (St 4: 1). Đức Maria chưa chung sống với vị hôn phu của mình. Vấn nạn Đức Maria nêu lên trùng khớp với bản văn của thánh Mát-thêu: “Trước khi hai ông bà về chung sống, bà đã có thai…” (Mt 1: 18).

Vấn nạn nầy giúp sứ thần khai triển mặc khải của mình: “Thần Khí sẽ ngự xuống trên bà, và quyền năng Đấng Tối Cao sẽ phủ bóng trên bà, vì thế hài nhi sắp sinh ra sẽ được gọi là Đấng Thánh, là Con Thiên Chúa”. Sứ thần muốn Mẹ nhớ lại vai trò của Thần Khí theo Kinh Thánh: “Thần Khí là quyền năng Thiên Chúa ban sự sống”. Vào lúc bắt đầu công trình Tạo Dựng, “Thần Khí Thiên Chúa bay lượn trên mặt nước” (St 1: 2). Qua đó, sứ thần ngầm loan báo một công trình tạo dựng mới mà Đức Maria được mời gọi dự phần vào.

Để Đức Maria có thể thấu hiểu rằng đây là công trình của Thiên Chúa chứ không là công trình của phàm nhân, sứ thần nói thêm: “Quyền năng Đấng Tối Cao phủ bóng trên bà”. Động từ “phủ bóng” là động từ Kinh Thánh, như xưa kia, trong hoang địa “đám mây phủ bóng trên Lều Hội Ngộ, và vinh quang Đức Chúa đầy tràn Nhà Tạm” (Xh 40: 34). Thật ý nghĩa biết bao, cũng chính thánh Lu-ca sử dụng động từ nầy để mô tả biến cố Biến Hình: “Bỗng có một đám mây phủ bóng…và từ đám mây có tiếng nói rằng: Đây là Con Ta…” (Lc 9: 34). Do đó, sứ thần khẳng định: “Vì thế Hài Nhi sắp sinh ra sẽ được gọi là Đấng Thánh, là Con Thiên Chúa”. Ở đây, sứ thần xác định rõ ràng hơn mặc khải của mình:“Con Thiên Chúa” không là một tước hiệu được dành cho Đấng Mê-si-a thuộc dòng dõi Đa-vít, nhưng là chân tính thần linh của Hài Nhi, Con của Đức Maria.

4. Sứ điệp về Đức Maria.

Đức Maria không xin dấu lạ. Chính sứ thần tự mình đề nghị ban cho Mẹ một dấu lạ: “Kìa bà Ê-li-sa-bét, người họ hàng với bà, tuy già rồi mà cũng đã thụ thai: một người vẫn bị mang tiếng là hiếm hoi, mà nay đã có thai được sáu tháng”, điều mà về phương diện con người không thể được. Vì thế, sứ thần chấm dứt bởi cùng những lời mà Thiên Chúa đã ngỏ lời với tổ phụ Áp-ra-ham, trước sự ngạc nhiên của ông, vì vợ ông, bà lão Sa-ra có thể sinh cho ông một cậu con trai: “Vì đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được” (St 18: 14).

Đây là một trong số những chủ đề xuyên suốt Tin Mừng và sách Công Vụ: “Đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được”. Trong hoạt cảnh trước đó, dù bà Ê-li-sa-bét son sẽ, cũng không thể ngăn cản mục đích của Thiên Chúa. Cũng như vậy đối với bà Sa-ra (St 11: 30), bà Rê-bê-ca (St 25: 21), bà Ra-ken (St 29: 31) và mẹ của ông Sam-son (Tl 13: 2). Với Đức Maria, Mẹ của Đấng Kitô, Con Thiên Chúa, chúng ta gặp thấy điều gì đó thậm chí còn kỳ diệu hơn nữa. Chính Thánh Thần Thiên Chúa thực hiện một công trình sáng tạo mới nơi cung lòng của Đức Nữ Trinh.

“Phủ bóng trên bà” nhắc lại Lều Hội Ngộ, nơi vinh quang Thiên Chúa cư ngụ ở giữa dân Ngài. Đức Maria được vây phủ bởi vinh quang rạng ngời của Ngài, và Thần khí của tình yêu Thiên Chúa thổi hơi sự sống vào trong cung lòng Mẹ. Sự sống nầy là hoa trái của tình yêu Thiên Chúa đối với Đức Maria và lời đáp trả tròn đầy của Mẹ. Chính từ mối hiệp thông thánh thiện nầy mà hài nhi được thụ thai trong cung lòng Mẹ.

Không có gì có thể ngăn cản #kế hoạch yêu thương của Thiên Chúa. Tuy nhiên, tình yêu tự nó không thể nào bị ép buộc được. Thiên Chúa trao ban cho Mẹ tình yêu đặc biệt của Ngài. Tất cả những gì Thiên Chúa đòi hỏi ở nơi Mẹ, chính là tin vào tình yêu của Ngài. Đức Ma-ria tự nhận mình là “nữ tì của Thiên Chúa”. Mẹ mở rộng tấm lòng mình để đón nhận tình yêu nầy với lời“Xin Vâng” tròn đầy: "Vâng, tôi đây là nữ tì của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần truyền". Chính vì thế, qua Mẹ Thiên Chúa có thể thực hiện dự định yêu thương của Ngài cho nhân loại.

Nơi Thiên Chúa chọn để Con của Ngài đến với nhân loại là con người của Đức Maria, thanh sạch và rạng ngời vinh hiển của Chúa Thánh Thần, Đấng phủ bóng trên Mẹ. Vì thế, cung lòng của Đức Nữ Trinh là Lều Hội Ngộ, là Đền Thờ đẹp nhất, là nơi cực thánh của Thiên Chúa làm người và ở cùng chúng ta.

 

07/10-171: Lễ Đức Mẹ Mân Côi – Lm. Fx. Hồ Văn Uyển


Cv 1,12-14; Gl 4,4-7; Lc 1,26-38

“Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa,

xin Người thực hiện cho tôi như lời sứ thần nói”.

Kính thưa cộng đoàn phụng vụ,
 

Ngày xưa, ông bà chúng ta thường nói rằng: “Lấy vợ xem tông; Lấy chồng xem giống.” Việc 07/10-171


Ngày xưa, ông bà chúng ta thường nói rằng: “Lấy vợ xem tông; Lấy chồng xem giống.” Việc dựng vợ gã chồng đối với con người rất hệ trọng. Vì đó là yếu tố quyết định sự tồn vong của một dòng tộc. Cho nên các bậc cha mẹ xem xét rất kỹ trước khi quyết định cho con cái mình nên vợ nên chồng với người của dòng tộc kia. Ở đây thật là khập khiễn, nếu so sánh cách hành xử của con người như vừa nói với việc Thiên Chúa tuyển chọn cho Con mình một người Mẹ. Song một khía cạnh nào đó, chúng ta thấy việc “chọn mặt gửi vàng” của Thiên Chúa cũng như nơi con người chúng ta rất quan trọng. Vì thế, khi cho Con Một của mình nhập thể trong trần thế, Thiên Chúa đã tuyển chọn cho Người một người Mẹ thật xứng đáng. Và dĩ nhiên, người Mẹ ấy không phải là một pho tượng đã được nắn đúc, gọt dũa sẵn sàng như chúng ta ca tụng sau nầy, mà người mẹ ấy là một con người như bao nhiều người khác, trừ tội nguyên tổ. Song Mẹ đã vượt qua chính mình khi thưa hai tiếng “Xin Vâng”, để nhập cuộc vào trong công trình cứu độ của Con mình ngay từ giây phút đó. Kể từ ngày đó, Đức Maria đã sống hành trình đức tin của mình. Xin vâng rồi không phải để đó mà phải Sống, phải bỏ ý riêng của mình để sống cho sứ mạng mình xin vâng. Đây chính là bài học cho đời sống đạo của chúng ta hôm nay.

Kính thưa anh chị em, kể từ ngày Mẹ nói xin vâng, bao biến cố đã xảy đến trong cuộc đời Mẹ, những biến cố đi ngược lại ý muốn và sức chịu đựng của một con người bình thường. Mẹ đã đón nhận tất cả với tin yêu và phó thác.

Trước hết là với thánh Giuse, người thân, người bạn đời trăm năm của Mẹ. Khi biết Đức Maria mang thai trước khi hai người về chung sống, Giuse đau khổ lắm, chắc cũng nhiều đêm trằn trọc không ngủ. Dẫu không muốn tố giác Đức Maria, vì Giuse vẫn yêu Mẹ và ngài lại là người công chính, song Giuse đã định tâm chia tay với Đức Maria cách kín đáo và nhẹ nhàn. Đức Maria cũng đau khổ lắm khi nhìn thái độ của Giuse, nhưng Mẹ không thể giải thích được. Mẹ đành phó thác cho Chúa.

Đến việc sinh con, tâm lý chung của người nữ lần đầu làm mẹ là: hạnh phúc, vui mừng và lo sợ lẫn lộn. Hạnh phúc vì được làm mẹ; vui mừng vì gia đình có thêm một thành viên mới; lo lắng chuẩn bị chu đáo những thứ cần thiết nhất cho bản thân và đặc biệt cho người con sắp chào đời; sợ vì không biết người con sẽ ra đời hình hài thế nào đây… Còn đối với Đức Maria thật đau khổ, sinh con ra trong một cái hang súc vật bò lừa, không một mãnh áo che thân, không một cục than sưởi ấm giữa đêm đông băng giá. Có người mẹ, người cha nào mà không tủi cho thân phận mình trong hoàn cảnh đó! Mẹ đã đón nhận với tất cả.
Vẫn chưa yên, kẻ sát nhân và khát máu, vua Hêrôđê, đang tìm hại con trẻ Giêsu. Mới có mấy ngày, không than không lửa, mẹ yếu con non, vậy mà phải vất vả vượt dặm đường xa trong sa mạc, lưu lạc ở đất khách quê người để bảo vệ sự an toàn cho con. Đó, Mẹ đang ôm trong tay mình Con Thiên Chúa. Mẹ nghĩ sao khi phải lao đao như vậy? Đau khổ lắm. Mẹ vẫn chịu.

Con đến tuổi hoa niên, tuổi 12, tuổi năng động, tuổi đuổi bướm bắt chim, gia đình được trở về nguyên quán. Mọi người mừng mừng tủi tủi gặp lại nhau, tay bắt mặt mừng sau những năm tháng nghìn trùng xa cách. Rồi ai cũng phải lo bổn phận của mình trong cuộc sống đời thường, đặc biệt trong bổn phận tôn giáo. Chắc mẹ vui mừng và hãnh diện lắm vì lần đầu tiên con trai của mình đi làm bổn phận: hành hương về thành thánh theo luật Mô-sê. Nhưng điều trớ triêu đã xảy ra: mẹ con lạc mất nhau. Hỏi còn gì đau khổ hơn đối với người mẹ cho bằng việc lạc mất con. Sau ba ngày mới tìm gặp lại con. Ba ngày sống trong tâm trạng đau khổ và lo lắng chắc chúng ta cũng đã hiểu nỗi lòng của Mẹ. Mẹ vẫn tin vào Thiên Chúa.

Rồi những ngày Con bước vào đời, lên đường thi hành sứ mạng của mình: loan báo Tin Vui Cứu Độ cho mọi người. Kinh Thánh không cho chúng ta biết rõ Mẹ có theo Chúa Giêsu khi Ngài đi rao giảng hay không, nhưng có điều chắc chắn: Mẹ luôn theo dõi từng nhịp bước Con đi, luôn lắng nghe những điều Con nói và biết những việc Con mình làm. Mẹ biết sứ mạng của Con mình. Phần dân chúng kẻ thì khen, người thì chê, phần thì theo, nhóm thì chống, đặc biệt, lòng Mẹ rối bời và đau khổ vô ngần khi người ta bảo với Mẹ: Con Mẹ bị điên, phải đi tìm đưa về. Mẹ phải nói sao để cho người ta hiểu được sứ vụ mà Con Mẹ đang thi hành đây. Mẹ cũng dâng cho Thiên Chúa.

Và chuyện gì đến đã đến, trong hành trình rao giảng của Chúa Giêsu, chắc Mẹ cũng biết và hiểu rất rõ những thế lực đã chống đối Con mình rất mãnh liệt. Mẹ vẫn biết có những kẻ muốn thủ tiêu Con mình vì Con mình dám nói sự thật. Đó là sứ mạng của Ngài mà, Mẹ nói làm sao được. Và khi sự chống đối đã lên đến cực độ, người ta đã tìm cách và bắt Con Mẹ. Mẹ đã chứng kiến thân hình tiều tuỵ của con: bị đánh đập rách nát bầm tím tả tơi. Còn đâu thân hình cân đối vạm vỡ của con ngày trước nữa! Rồi Mẹ lại lê từng bước chân tiều tuỵ của mình để theo con lên đỉnh Núi Sọ. Ở đây Mẹ lại phải chứng kiến cảnh Con bị đóng đinh một cách tàn nhẫn vào cây thập giá rồi treo cao lơ lửng giữa trời và đất. Con Mẹ có làm gì nên tội đâu mà phải chết một cách tủi nhục như tên tử tội! Rồi Mẹ chứng kiến những giây phút trút hơi thở của con mình. Mẹ Maria cũng giống như bao người mẹ trần gian nào, nhưng thử hỏi có người mẹ trần gian nào đã phải chịu đựng nỗi đau như Ngài không? Mẹ của Con Thiên Chúa đó.

Và đó chính là nguyên nhân của những nét đẹp nơi Mẹ, mà ngày nay chúng ta ca tụng. Nhờ chấp nhận thánh ý Thiên Chúa và sống trọn vẹn hai tiếng “Xin vâng” mà Đức Mẹ được Thiên Chúa chúc phúc.

Mừng lễ Mẹ Mân côi là dịp nhắc chúng ta nhớ lại lời thưa xin vâng của Mẹ để giúp chúng ta vừa ca tụng Mẹ, vừa học nơi Mẹ hành trình đức tin cho đời sống đạo của chúng ta. Thiên Chúa cũng chọn mỗi chúng ta và trao cho chúng ta sứ vụ loan báo Tin mừng trong bối cảnh xã hội nầy. Ước gì mỗi chúng ta cũng thưa xin vâng như Mẹ và sống trọn vẹn như Mẹ để ThiênChúa cũng chúc lành và thưởng cho chúng ta được hưởng hạnh phúc Nước trời. Amen.

 

07/10-172: Lễ Đức Mẹ Mân Côi


(Suy niệm của Lm Giuse Phan Văn Quyền)
 

Vào thời cổ đại, giải thưởng cho các cuộc thi đấu thể thao, không phải là huy chương vàng, bạc 07/10-172


Vào thời cổ đại, giải thưởng cho các cuộc thi đấu thể thao, không phải là huy chương vàng, bạc, đồng như hiện nay, mà là một vòng nguyệt quế, hay một vòng hoa tươi, được choàng vào cổ người chiến thắng.

Trong lịch sử Hội Thánh, tràng chuỗi Mân côi, vừa là khí cụ để chiến đấu, vừa là vòng hoa dành cho người chiến thắng.

Lịch sử cho thấy nhiều người đã dựa vào chuỗi Mân côi như một nguồn sức mạnh cậy trông.

+ Năm 1571, vua Thổ nhỉ kỳ theo Hồi giáo là Salim II (1566-1574) xướng xuất một cuộc thánh chiến với tham vọng bình địa giáo đô Rôma. Trước tình hình ấy, Đức Thánh Cha Pi-ô V đã khẩn thiết kêu gọi người tín hữu hãy cầu nguyện bằng chuỗi Mân côi, với hy vọng Chúa sẽ cứu, nhờ sự cầu bầu của Đức Mẹ. Đồng thời Ngài cũng lập một đội chiến thuyền, mà mỗi chiến sĩ được trang bị thêm một vũ khí tinh thần là tràng chuỗi Mân côi. Chính nhờ sức mạnh của niềm tin, với sự hỗ trợ nâng đỡ chở che của Đức Mẹ, Chúa đã cho đoàn quân công giáo chi?n thắng thủy binh thiện chiến của người Thổ nhỉ kỳ tại vịnh Lepante, vào ngày 7.10.1571, xóa tan cuồng vọng của những kẻ hiếu chiến.

Khi được tin chiến thắng vua Salim II, ĐTC Piô V tuyên bố: Không phải vũ lực, không phải võ khí, không phải vua tướng giúp chúng ta thắng trận, mà chính Đức Mẹ và tràng chuỗi Mân côi đã giúp chúng ta chiến thắng vẻ vang.

Chiến thắng này là cơ sở để Đức Thánh Cha thiết lập lễ Đức Mẹ Mân côi, đề cao chuỗi Mân côi như một nguồn hy vọng: Thiên Chúa và Mẹ Maria luôn bên cạnh chúng ta.

+ Năm 1629, trước cơn dịch tả nguy hiểm lan rộng trên nước Ý, tu sĩ Timoteo Ricci đã lập ra Chuỗi Mân côi liên tiếp. Thầy tính rằng mỗi năm có 8.760 giờ. Căn cứ vào đó, thầy làm ra 8.760 tấm vé; mỗi vé ghi tháng, ngày, giờ; rồi cho rút thăm. Ai được vé nào thì cam kết đọc chuỗi Mân côi vào tháng, ngày, giờ đó. Mục đích có ý xin ơn chết lành cho người hấp hối, xin ơn trở lại cho người tội lỗi, xin ơn bình an cho các dân tộc.

Từ sáng kiến đó, phong trào Chuỗi Mân côi liên tiếp được thành lập và lan rộng. Năm 1657, Đức Thánh Cha Alexandre VII chấp nhận phong trào đạo đức này và ban cho nhiều ân xá.

Nói chung, khi gặp những khó khăn nguy hiểm, cả trong đạo lẫn ngoài đời, người ta đã chạy lại với Đức Mẹ. Họ khẩn cầu Mẹ bằng chuỗi Mân côi, và chuỗi Mân côi đã đem lại cho các tâm hồn những hy vọng lành thánh.

Hiện nay cuộc sống đang đặt ra nhiều vấn đề nan giải, đang đối diện với những thách đố mới, tại sao một lần nữa chúng ta không chạy đến Kinh Mân côi, với cùng một đức tin như những người đã đi trước?

Thánh Pi-ô năm dấu viết: Vũ khí của tôi là tràng chuỗi Mân côi. Đức Mẹ không từ chối tôi điều gì, khi tôi xin Mẹ qua chuỗi Mân côi. Muốn làm vui lòng Đức Mẹ, muốn được Đức Mẹ thương yêu, hãy lần chuỗi Mân côi.

Kính thưa quý ông bà và anh chị em! Điều kiện để được hưởng trọn vẹn tình thương của Đức Mẹ là: ăn năn đền tội và cải thiện đời sống, tôn sùng yêu mến trái tim Mẹ, siêng năng lần chuỗi Mân côi.

Trong tháng Mân Côi này mỗi người chúng ta đáp lại lời mời gọi của Mẹ siêng năng lần hạt Mân Côi. Vì tràng chuỗi mân côi là như sợi dây tơ hồng, mối dây tình ái, kết chặt chúng ta gắn bó keo sơn với Đức Mẹ, giúp chúng ta noi gương Đức Mẹ mà sống đẹp lòng Chúa và phục vụ tha nhân, giúp chúng ta yêu mến Chúa và mọi người bằng trái tim của Đức Mẹ.

Đức Mẹ nói với Bernadette tại Lộ Đức: " Mẹ không hứa cho con hạnh phúc đời này, nhưng hạnh phúc đời sau ". Tuy nhiên những ai lần chuỗi Mân côi, cũng sẽ được Đức Mẹ thương ban ơn, cách này hay cách khác. Ơn phúc đủ loại, nhất là ơn sám hối, ơn trở về với Chúa, ơn đổi mới cuộc đời, ơn đi sâu vào Tin mừng, ơn biết đón nhận thánh ý Chúa để trở thành cộng tác viên đắc lực của Đức Mẹ.

Qua tràng chuỗi Mân Côi Mẹ luôn hiện diện với chúng ta như xưa Mẹ đã từng hiện diện:

Sự hiện diện của Đức Mẹ nơi gia đình Gia-ca-ri-a đã khiến bà I-sa-ve tràn trào ơn Chúa Thánh thần, đem lại niềm hoan lạc vô bờ cho thai nhi Gioan tẩy giả.
Sự hiện diện của Đức Mẹ tại tiệc cưới Ca-na đã làm đôi tân hôn và mọi người dự tiệc được trọn vẹn niềm vui, và khiến Chúa Giê-su ra tay làm phép lạ đầu tiên.

Sự hiện diện của Đức mẹ dưới chân thập giá đã làm ấm lòng chúa Giê-su để an tâm về với Chúa Cha, sau khi trối phó thánh Gioan là Giáo hội cho Đức Mẹ.

Sự hiện diện của đức Mẹ tại nhà Tiệc ly, đã giúp các Tông đồ lấy lại tinh thần, sinh khí và sốt sắng cầu nguyện để lãnh nhận Chúa Thánh Thần.

Hôm nay Đức Mẹ tiếp tục hiện diện giữa chúng ta và trong mỗi người chúng ta.

Những lúc rệu rã một mõi vì cuộc sống lam lũ bon chen trần thế, những khi tối tăm thử thách bao phủ ánh tương lai, những lúc nặng trĩu u buồn quá khứ, những lúc mất mát hụt hẫng không biết cậy dựa vào ai …

Hãy chạy đến với Đức mẹ, hãy cầm lấy tràng chuỗi mân Côi và cầu nguyện, hãy thầm thỉ thì thầm lời kinh Kính mừng Maria....

Với tấm lòng từ bi nhân hậu của một hiền mẫu, chắc chắn Đức Mẹ sẽ là nguồn an ủi, nâng đỡ, khích lệ và niềm vui sống cho chúng ta.

Lạy Mẹ, khi con yếu đuối lỡ lầm va vấp, xin Mẹ thương giơ tay nâng đỡ dìu dắt; khi con cô đơn lạc lỏng, xin mẹ đồng hành bên con và che chở giữ gìn; khi con khổ đau bất hạnh, xin mẹ thương ra tay cứu giúp; vì Mẹ là niềm an ủi và hạnh phúc của con.

Lạy Đức Mẹ Maria, con xin nhắc lại lời mà triệu triệu trái tim hằng ấp ủ, lời mà triệu triệu đôi môi hằng tung hô hằng ngày trên khắp thế giới: Thánh Maria Đức Mẹ Chúa Trời, cầu cho chúng con là ke #có tội, khi này và trong giờ lâm tử. Amen.

 

07/10-173: Lễ Mân Côi tại TàPao – 13/10/2012


(Lm GB. Hoàng Văn Khanh - Tổng đại diện GP Phan Thiết. Thứ bảy 13/10/2012)

LỄ MÂN CÔI TẠI TRUNG TÂM THÁNH MẪU TÀPAO - Dịp Khai mạc Năm Đức Tin 2012-2013

Dẫn nhập:
 

Thế kỷ 13, lạc giáo Albigeois với thuyết định mệnh lan tràn khắp Tây phương, gây suy đồi 07/10-173


Thế kỷ 13, lạc giáo Albigeois với thuyết định mệnh lan tràn khắp Tây phương, gây suy đồi trầm trọng về luân lý và tôn giáo. Để chống phá lạc thuyết, Đức Mẹ đã truyền cho thánh Đaminh cổ vũ toàn thể Giáo hội cầu nguyện bằng chuỗi Mân côi. Thế kỷ 16, quân đội Hồi giáo xâm lăng thành đô Vatican của Giáo hội Công giáo. Đức Giáo Hoàng kêu gọi mọi tín hữu lần chuỗi Mân Côi xin Đức Mẹ cứu giúp. Tại vịnh Lépante, Hồi giáo thất trận vào ngày 7.10.1571. Để bày tỏ lòng biết ơn Đức Maria, Hội thánh thiết lập lễ Mân Côi hằng năm trên toàn thể Giáo hội. Những lần hiện ra ở Lộ Đức với Bernadetta, nhất là với ba trẻ tại Fatima, Đức Maria đều kêu gọi lần chuỗi Mân côi cầu nguyện cho hòa bình thế giới. Chuỗi Mân côi trở thành phương thế cầu nguyện đơn sơ nhưng thật tuyệt hảo mà Giáo hội, qua các triều đại Giáo hoàng, đều nhiệt tình cổ vũ như phương thế kết hợp với CG và nối kết với Mẹ Maria trong đời Kitô hữu. Chuỗi Mân côi quả là kinh nguyện nuôi dưỡng lòng tin Kitô hữu qua mọi thời.

Hôm nay, tại trung tâm thánh mẫu Tàpao, chúng ta long trọng mừng lễ Mẹ Mân côi trong ngày khai mạc Năm Đức Tin. Chúng ta dâng năm đức tin cho Đức Mẹ, xin Mẹ giúp chúng ta hưởng ứng lời kêu gọi của Đức Thánh Cha để trong năm đức tin này, nhờ Mẹ chuyển cầu, chúng ta biết duyệt lại đức tin của mình, đào sâu đức tin, tuyên xưng đức tin cách trọn vẹn cùng với toàn thể Hội thánh và ra sức làm chứng cho đức tin bằng việc loan báo Tin mừng mà Đức Giêsu và Giáo hội gửi gắm cho chúng ta.

Chia sẻ Tin mừng Lc 1, 26-38

Trang Tin mừng thuật lại việc sứ thần Gabriel truyền tin cho Đức Maria việc Thiên Chúa đề nghị Đức Maria cưu mang và sinh hạ Đấng Thiên sai cứu thế mà các ngôn sứ, cụ thể Sophonia đã từng loan báo. Với tất cả niềm tin và phó thác, khiêm nhường và vâng phục, Đức Maria đã thưa lời Xin Vâng. Từ phút giây lịch sử đó, Ngôi Lời Thiên Chúa đã nhập thể trong cung lòng Mẹ và làm người để thực hiện chương trình cứu độ nhân loại. Trang Tin mừng giới thiệu cho chúng ta những dáng đứng tuyệt hảo của Đức Maria như mẫu gương đức tin của Kitô hữu: Maria cầu nguyện – Maria lắng nghe và đáp lại Lời Chúa – Maria làm mẹ sinh Chúa Giêsu cho nhân loại – Maria toàn hiến trọn vẹn cho Thiên Chúa. Trong lễ khai mạc Năm Đức Tin tại Trung tâm Thánh Mẫu Tà pao hôm nay, xin phép chia sẻ với quý khách hành hương đôi tâm tình nhỏ bé về Đức Maria, thầy dạy và mẫu gương của đức tin Kitô hữu.

1. Liên kết mật thiết với Chúa Giêsu.

Kitô giáo không phải một học thuyết hay một triết lý tôn giáo, nhưng là Đạo mạc khải, tức đạo bởi trời, do chính Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa, nhập thể làm người truyền rao cho Giáo hội do Người thiết lập. Đức tin Kitô giáo không phải tri thức suông, nhưng là ân huệ Chúa ban, đồng thời là hành vi đáp trả của con người đón nhận mọi chân lý Người mạc khải. Vì thế, niềm tin Kitô giáo không dừng lại ở những hình thức bên ngoài như kinh lễ, thuộc giáo lý, tuân giữ những luật căn bản…, nhưng hệ tại việc liên kết gắn bó với Đức Giêsu Kitô và dấn bước theo Người. Cốt lõi đức tin là sự gặp gỡ Đức Kitô, nhờ đó điều chỉnh và định hướng cuộc sống cho phù hợp với ý Chúa, từ đó có thể thi hành cách hữu hiệu sứ mệnh loan báo Tin mừng mà Đức Kitô trao phó.

Hơn ai hết, Đức Maria luôn gắn bó mật thiết với Chúa Giêsu từ khi cưu mang Người trong cung lòng do quyền phép Chúa Thánh Thần, sinh hạ, bảo bọc, dưỡng nuôi, giáo dục trong suốt quảng đời thơ ấu và ẩn dật của Chúa Giêsu nơi làng quê Nadarét. Sau đó, Mẹ hằng theo sát con trên hành trình rao giảng, nhất là trên con đường thập giá và cuối cùng đứng kề bên thập giá hiệp thông sự khổ nạn của con và đón nhận lời trăn trối của Đức Giêsu làm mẹ của toàn nhân loại, của Giáo hội và của riêng mỗi người chúng ta. Mẹ liên kết với Đức Kitô phục sinh bằng sự cầu nguyện và giúp các tông đồ đón nhận Chúa Thánh Thần hiện xuống. Liên kết bằng niềm tin trọn vẹn, lòng yêu mến thiết tha và sự hiệp thông tròn đầy. Đức Giêsu đã từng dạy các môn đệ hãy ở lại trong tình yêu của Thầy… Thầy là cây nho, chúng con là nhành. Nhành nào kết hiệp cùng cây sẽ sinh hoa trái. Mẹ là thầy dạy và là mẫu gương cho sự liên kết gắn bó ấy.

Chuỗi Mân côi giúp tín hữu thực hiện sự liên kết mật thiết với Chúa Giêsu theo gương của Mẹ. Thật vậy, những chân lý mầu nhiệm cuộc đời của Chúa Giêsu được ghi lại trong các sách Tin mừng mà chuỗi Mân côi là bản tóm gọn. Năm Sự Vui diễn lại mầu nhiệm Nhập thể. Năm Sự Sáng nói lên cuộc đời công khai rao giảng. Năm Sự Thương đưa ta vào cuộc thương khó tử nạn và Năm Sự Mừng suy niệm về sự phục sinh vinh hiển của Đức Kitô. Mỗi khi lần chuỗi, ta được mời gọi suy niệm các mầu nhiệm cuộc đời Chúa Giêsu, đưa ta vào hiệp thông với Người, ở lại trong tình yêu của Người, được nên một với Người để đón nhận hồng ân cứu độ Người trao ban qua sự chuyển cầu của Đức Maria.

2. Trổ sinh hoa trái thần khí

Sứ điệp đầu tiên của Đức Giêsu được các Tin mừng ghi lại: Hãy hoán cải. Trong suốt hành trình rao giảng, Chúa Giêsu luôn nhắc lại lời mời gọi này. Hoán cải là quá trình thay đổi tận căn từ tư tưởng, ước muốn, đến hành động và bản thân để canh tân đời sống dưới tác động của Chúa Thánh Thần, như thánh Phaolô đã từng dặn dò trong thư Rôma: Những ai sống theo xác thịt thì hướng về những gì là xác thịt…còn những ai sống theo Thần Khí thì hướng về những gì thuộc Thần Khí. Mà những sự do xác thịt gây ra là sự chết…, còn những gì thuộc Thần Khí sẽ sinh hoa trái Thần Khí. Đời sống Kitô hữu phải luôn hoán cải, canh tân, tăng triển dưới tác động của Chúa Thánh Thần để trổ sinh hoa trái Thần khí là các nhân đức. Những nhân đức chính yếu là Tin Cậy Mến cùng với sự vâng lời, khiêm nhường, công bằng và tiết độ. Đức Maria là mẫu mực các nhân đức ấy. Nơi Mẹ toát ra cách tuyệt hảo lòng tin cậy mến, sự khiêm nhường, khó nghèo, vâng phục, trinh khiết. Mẹ hằng gắn kết mật thiết với Chúa bằng tin yêu phó thác và luôn bước đi trong đường lối của Người, do đó Mẹ có một tương quan tốt đẹp hoàn hảo đối với mọi người từ lời nói, cách cư xử, hành động…Mẹ thật đáng yêu và Mẹ yêu thương hết tình và hết mình. Kinh Mân côi không những là sách Tin mừng tóm gọn, mà còn giới thiệu cho ta các nhân đức của người làm con Chúa, mà Đức Maria là mẫu mực. Kinh Mân côi vì thế còn được gọi là bản tóm lược nền luân lý Kitô giáo. Lần chuỗi Mân côi, ta vừa nối kết với cuộc đời của Đức Giêsu, ta vừa chiêm ngưỡng Đức Maria, vừa học tập với Mẹ các nhân đức, nhờ đó thêm lòng yêu Chúa, yêu Mẹ và tạo mối tương quan thân tình hiệp thông với mọi người.

3. Cầu nguyện với Mẹ và như Mẹ.

Đức tin mời gọi cầu nguyện: lex orandi lex credendi. Cầu nguyện là phương thế kết hiệp với Chúa và tìm biết thánh ý Người. Tin mừng thuật lại Chúa Giêsu luôn cầu nguyện với Chúa Cha, từ sáng sớm tinh mơ đến lúc chiều tà… Người dạy các môn đệ siêng năng và bền tâm cầu nguyện. Đức Mẹ hằng chuyên chăm cầu nguyện từ khi còn bé thơ, cho đến khi trưởng thành, khi thiên thần truyền tin, khi thăm viếng chị họ Elisabét, khi các mục đồng và ba đạo sĩ đến kính thờ Hài nhi…khi đem Con trốn sang Aicập…khi sống dưới mái nhà Nadarét …khi theo dõi con trên đường rao giảng…khi theo sát vết chân con vác thập giá, khi đứng bên con giờ khổ nạn…cũng như khi Đức Kitô đã phục sinh lên trời… Mẹ cầu nguyện trong từng giây phút cuộc đời, vui buồn, hoan lạc hay gian khổ… Chính nhờ cầu nguyện mà Mẹ đáp lời Xin vâng…, nhờ cầu nguyện mà Mẹ luôn dâng hiến cuộc đời cho Chúa và hiệp thông với con trong công trình cứu độ…. Mẹ đã từng dạy trẻ Giêsu cầu nguyện, Mẹ cũng đã dạy và cùng với các Tông đồ cầu nguyện để đón nhận Thánh Thần. Mẹ làm gương và dạy ta cầu nguyện bằng kinh Mân côi để liên kết với Chúa Giêsu, tín thác vào quyền năng và tình thương của Chúa. Kinh Mân côi là cách cầu nguyện bình dân, phổ thông, ai cũng làm được …từ người trí thức địa vị đến người ít học bình dân…từ trẻ em đến người lớn, già cả, người bệnh cũng như khỏe mạnh… lại mang đến nhiều hiệu quả tốt lành cho đời sống đức tin nhờ sự chuyển cầu của Đức Mẹ. Chính vì thế mà Giáo hội, qua các triều đại Giáo hoàng, kêu gọi tín hữu hãy siêng năng cầu nguyện bằng lần chuỗi Mân côi, như phương thế nên thánh, và như khí giới giúp chiến thắng ba thù.

Kết luận: “Hãy siêng năng lần chuỗi mân Côi”. Lời Mẹ vẫn luôn vang vọng như mời gọi tha thiết. Chuỗi Mân côi là phương thế thánh hóa bản thân, vũ khí chống lại các cám dỗ của ma quỷ và quyến rủ bất chính của thế gian, và là lời kinh ngọt ngào đưa ta vào vòng tay che chở của từ mẫu Maria. Cha ông ta từ bao đời trước đây đã hết lòng sống niềm tin vững vàng đến dám hiến mạng sống bảo vệ đức tin nhờ vào tràng chuỗi Mân côi. Xin cho tất cả chúng ta biết thực hành sứ điệp Mẹ truyền: Hoán cải đời sống, yêu mến Mẫu tâm và siêng năng lần chuỗi Mân côi.

 

07/10-174: Sống lời kinh Mân Côi - Huệ Minh

 

Vào những năm đầu của thế kỷ XIII, khi đặt chân lên đất Pháp, thánh Đaminh đã phải chứng07/10-174


Vào những năm đầu của thế kỷ XIII, khi đặt chân lên đất Pháp, thánh Đaminh đã phải chứng kiến cảnh hoang tàn của Giáo Hội ở miền Languedoc do bè rối Albigeois gây ra. Bị ảnh hưởng nặng nề bởi thuyết nhị nguyên, bè rối này coi tất cả những gì thuộc về thể xác hay trần thế đều do ma quỷ làm ra và thống trị, do đó bản chất nó là xấu. Lúc đó khắp vùng này bị ảnh hưởng tinh thần bi quan, yếm thế. Người ta chỉ lo hãm mình phạt xác, và thấy cuộc đời chỉ còn là một màu đen tăm tối. Liều thuốc thần diệu chữa trị căn bệnh bi quan do bè rối Albigeois gây ra đó chính là kinh Mân Côi.

Kinh Mân Côi bắt nguồn tại các vùng tây bắc Châu Âu từ phong tục kết những vòng triều thiên hoa hồng để đội lên đầu Đức Mẹ trong những buổi hành hương, hay trong những nghi thức ngoài phụng vụ, rồi người ta nhảy múa, ca hát bằng tiếng bản xứ. Dần dần khi hoàn cảnh không cho phép, người ta đọc phần đầu kinh Kính Mừng thay thế cho những bông hoa hồng để trở thành kinh Mân Côi, với những hình thức rất phong phú, linh động.

Ta thấy phần đầu của kinh Kính Mừng chính là lời sứ thần Kính chào Đức Mẹ. Như vậy, Kinh Mân Côi chính là khởi điểm của chương trình cứu độ loài người bởi Thiên Chúa. Mà như vậy, ai là người được nhận sứ mạng mở đầu, khởi điểm công trình cao cả là cứu chuộc loài người, há chẳng phải là Đức Maria sao? Vâng, Đức Maria, một người của muôn người, vì Đức Mẹ đã thể hiện xứng đáng với niềm tin của mình vào Thiên Chúa. Vâng, không còn lý lẽ nào, cũng không còn tâm tình nào cao hơn tiếng “XIN VÂNG“ của Đức Mẹ để đáp lời sứ thần.

Lời “XIN VÂNG” của Đức Mẹ là sự đáp trả tuyệt vời nhất sự kêu mời, sự mạc khải của Thiên Chúa cho nhân loại, mà Mẹ là Đấng đai diện xứng hợp nhất.

Sau khi thưa "Xin Vâng", Mẹ vội và lên đường đi viếng bà thánh Elizabeth. Đây chính là cuộc rước kiệu Thánh Thể đầu tiên. Cuộc rước kiệu thật đơn sơ, không kèn trống, không đông đảo, nhưng đầy sốt sắng, đầy cung kính nên đã đem lại lợi ích phi thường: đem ơn cứu độ đến cho ông thánh Gioan Baotixita còn trong lòng mẹ, làm cho mọi người tràn đầy niềm vui. Như thế Mẹ nhắn nhủ ta kiệu Thánh Thể sốt sắng sẽ đem lại nhiều ơn ích thiêng liêng.

Theo đó, Kinh Mân Côi không phải là phương thức mê hoặc hay dụ dẫn, mà là Lời của Tin Mừng, Lời của Thiên Chúa nói với con người. Đoạn Tin Mừng hôm nay là đoạn khởi đầu cho hai mươi mầu nhiệm của Tin Mừng cứu độ loài người bởi Thiên Chúa. Mầu Nhiệm Truyền Tin là khởi điểm của Mầu Nhiệm Cứu Chuộc bởi Con Thiên Chúa, mà đứng đầu là Đức Trinh Nữ Maria.

Đức Mẹ đã cộng tác với Thiên Chúa, nhưng sự cộng tác của Đức Mẹ khác với chúng ta. Sự cộng tác của Đức Mẹ là tích cực, vì Mẹ đã tin tuyệt đối, đã bỏ ngỏ đời mình cho Thiên Chúa tái tạo bằng quyền năng và lòng thương xót của Ngài chứ không phải bằng sự cố gắng đạo đức lập công nghiệp của Mẹ. “Xin hãy thành sự cho tôi theo Lời Ngài”, đó là lời thưa của Đức Mẹ. Còn Thiên Chúa, qua lời bà Isave đã nói với Đức Maria rằng: “Phúc cho Bà, là kẻ đã tin” (Lc 1,45).

Lời “Xin Vâng” đã thay đổi phận đời Đức Maria. Và ở đây, xin được gọi đó là một chiến thắng: chiến thắng của thánh ý Chúa trên cuộc đời Đức Maria đã trở nên chiến thắng của Đức Maria trên chính số phận đời thường của mình.

Vì thế, hôm nay, nếu đọc lên kinh “Kính mừng Maria đầy ơn phúc”, thì hãy vui mừng thêm nữa để nhận ra rằng ơn phúc của Thiên Chúa dẫu đã tiềm ẩn nơi Đức Maria, nhưng chỉ thực sự tỏ hiện qua tiếng “Xin Vâng”, để nhớ mãi hình ảnh Đức Mẹ chiến thắng trên chính phận mình.

Với hai tiếng "Xin Vâng", không những Mẹ vâng lời Thiên Chúa hoàn toàn, mà còn dạy mọi người biết vâng lời Chúa. Nên tại tiệc cưới Cana, Mẹ khuyên nhủ gia nhân: “Người bảo gì các con hãy cứ làm theo” (Ga 2,5). Thái độ hoàn toàn vâng phục đã được Chúa thưởng công bằng phép lạ “nước lã hóa thành rượu ngon”. Hôm nay Mẹ cũng nhắc nhủ ta: Nếu Chúa đã dặn dò: “Các con hãy làm việc này mà nhớ đến Thày” (Lc 22-19), thì hãy vâng lời Chúa, siêng năng tham dự thánh lễ, chầu MTC, chịu lễ, chắc chắn Chúa sẽ làm phép lạ đổi mới đời các con như biến nước lã thành rượu ngon.

Kinh MÂN CÔI là phương thức cầu nguyện theo Tin Mừng, bằng Tin Mừng, nhờ Tin Mừng. Vì vậy, giá trị cầu nguyện bằng Kinh Mân Côi là rất lớn, có sức chuyển cầu rất hiệu quả, không phải chỉ nhờ Đức Mẹ mà thôi, mà còn cùng với Đức Mẹ đón nhận Mầu Nhiệm Cứu Độ bởi Thiên Chúa qua Mầu Nhiệm Truyền Tin, và tiếng “XIN VÂNG“ của Mẹ, như Mẹ, với Mẹ vậy.

Sống kinh Mân Côi là làm cho những lời kinh đó trở thành một phương tiện loan báo Tin Mừng chứ không chỉ là một hình thức sùng kính Đức Mẹ. Kinh Mân Côi sống chính là phương tiện bồi dưỡng đức tin chứ không chỉ còn là một sinh hoạt đạo đức có tính cách tình cảm nhất thời. Trọng tâm của việc lần chuỗi đó phải là một cách thế để gặp gỡ, kết hợp với chính Đức Kitô, Đấng “là đường, là sự thật, và là sự sống” (Ga 14,6), và nhờ đó mà con người được thoát khỏi mọi sự lầm lạc, và không để người khác lợi dụng sự thiếu hiểu biết của họ mà gieo rắc hoang mang hay trục lợi (Ga 8,32).

Ước chi mỗi lần đọc Kinh Mân Côi, chúng ta biết nhìn ngắm tấm gương khiêm nhường sâu thẳm của Chúa Giêsu, học sống khiêm nhường như Chúa để nhờ đó, chúng ta triệt bỏ được tính kiêu căng và làm cho đời sống mình trở nên cao đẹp và giống Chúa hơn.

 

07/10-175: Nhiệm mầu của lời kinh Mân Côi - Huệ Minh


Kính thưa cộng đoàn,
 

Chẳng hiểu sao cái bài hát Ave Maria rất là nổi tiếng, kể cả những người không phải là Công 07/10-175


Chẳng hiểu sao cái bài hát Ave Maria rất là nổi tiếng, kể cả những người không phải là Công giáo khi nghe lên cái nhạc nền đều nhận ra cái bài hát rất thân quen.

Có một thời, đài truyền hình trung ương, lấy cái đoạn nhạc đó để mà dẫn vào chương trình: Ave Maria, gracia plena Ave, ave dominus tecum Benedicta tu in. Kính mừng Maria đầy ơn phúc!

Và chắc có lẽ những người nào mà Xem Thúy Nga Paris thì không thể nào mà quên được ca sĩ Ngọc Hạ

Trình bày cái bài hát “Ave Maria, Con Dâng Lời” của linh mục nhạc sĩ Huyền Linh ở Gloria II, năm 2014.

Phải nói rằng bài hát này nhiều người hát lắm, nhiều ca sĩ hát lắm! Nhưng mà hôm đó chẳng hiểu sao Ngọc Hạ trình bày rất rất thành công. Cái giọng của cô cũng như cái diễn cảm của cô đi vào lòng người, đã để cho cái dấu ấn bài hát đó! Đến giờ này mà mỗi khi ai mở lại nghe, đều cảm thấy nó đi vào lòng người và rất hay!

Ave Maria con dâng lời chào Mẹ, Ave Maria con dâng lời chào Mẹ. Khi chiều tàn nắng hồng, và khi an vui trời đông. Con say sưa lời ca chào, Ave Maria
Phải nói rằng bây giờ con có hát, con cũng không có là gì, cũng chả được như cô Ngọc Hạ. Bởi vì, cô Ngọc Hạ hát tuyệt vời! Phải nói rằng cô thành công trong bài đó!

Và chính cái bài hát “Ave Maria, con dâng lời chào Mẹ” đó! Dệt lên cái ngày hôm nay, ngày 7 tháng 10, ngày mà lịch sử Giáo hội ghi dấu ấn bằng Lễ Mân Côi.

Kinh Mân Côi nguyên tiếng Latinh là Rosarium, tiếng Anh, tiếng Pháp là Rose là hoa hồng tượng trương kinh Kính mừng kết thành vòng hoa thiêng dâng kính Đức Mẹ như cổ thời Hylạp, và một số nước hiện nay, người ta làm vòng hoa tươi treo vào cổ trao tặng nhau. Trước kia người ta đếm kinh bằng hạt sỏi, dần dần người ta kết những hạt khác thành chuỗi Mân côi gọi là Rosary.

Thế kỷ XII, 150 Thánh vịnh David dài quá đối với nhiều người không thể đọc được, nên người ta đọc 150 kinh Lạy Cha thay thế. Dần dần người ta đọc 150 kinh Kính Mừng thay 150 kinh Lạy Cha. Do đó Thánh Đaminh gọi là "Thánh vịnh Đức Mẹ". Sau này Đức Sixtô IV gọi tắt là "Thánh vịnh".

Bắt đầu kinh Kính mừng chỉ gồm có lời chào của thiên sứ Gabrie: "Kính mừng Maria đầy ơn phúc. Thiên Chúa ở cùng Bà" (Lc 1:28), rồi được thêm lời chào của bà Thánh Elizabeth: "Bà có phúc lạ hơn mọi người nữ. Và Con lòng Bà gồm phúc lạ" (Lc 1:42). Cũng trong thế kỷ XII, Đức Mẹ hiện ra trao truyền tràng hạt Mân côi cho Thánh Đaminh để cải hoá bè rối Albigensê đang tung hoành ở phía nam nước Pháp. Sang thế kỷ XIII, đời Đức Urbanô IV, Thánh Danh "Giêsu" được thêm vào.

Thời đó người ta đọc 150 kinh Kính mừng cùng với 150 kinh Lạy Cha, nghĩa là mỗi kinh Kính mừng một kinh Lạy Cha. Đến thế kỷ XIV, thầy Henry Kalkar (1328-1408), dòng Carthusian do Thánh Brunô sáng lập, chia 150 kinh Kính mừng thành từng chục (10) mỗi chục một kinh Lạy Cha.

Thế kỷ XV, Cha Đaminh Prussia (1384-1460) cũng dòng Carthusian chia 150 Kinh Kính mừng thành 3 chuỗi 50. Cũng trong thế kỷ này, Chân phúc Alanô de la Roche hay là De Rupe thêm phần suy niệm các mầu nhiệm trong khi lần chuỗi. Từ nay tràng chuỗi Mân Côi gọi là "Vòng hoa hồng". Chân phúc Alanô nhiệt thành phổ biến kinh Mân Côi mà Đức Mẹ đã trao truyền cho Thánh Đaminh. Chân phúc Alanô thành lập Hội Mân côi năm 1480 và được Đức Mẹ hứa ban ơn cho những ai trung thành đọc kinh Mân côi.

Năm 1521, cha Albertô da Castello, O.P., sửa lại mỗi kinh Lạy Cha với một mầu nhiệm. Năm 1569, Đức Thánh Piô V thêm phần thứ hai kinh Kính Mừng: "Thánh Maria, Đức Mẹ Chúa Trời, cầu cho chúng con..." như chúng ta đọc hiện nay và với kinh Sáng Danh, và ấn định kinh Mân Côi như chúng ta thấy, ta quen đọc ngày nay.

Kinh Mẹ Mân Côi, là một sáng kiến mà Đức Mẹ đã truyền dạy cho thánh Đaminh vào thế kỷ 13. Và rồi bước sang thế kỷ thứ 16, khi mà đoàn quân Công Giáo, với một lực lượng rất là mỏng manh ra chiến trường tại vịnh La-pan. Đối với quân Hồi giáo thì quân Hồi giáo đi từ Trung Đông sang Á châu, sang Ấn Độ, sang Âu châu. Và đi đâu thắng đến đó. Và đi Âu châu với một đoàn quân thiện chiến. Nếu như quân Hồi giáo thành công thì coi như Rôma mất hết! Và Công Giáo biến mất, không còn trên trần gian này nữa.

Và rồi, đứng trước một thế lực mạnh như vậy, Đức Piô V đã kêu gọi mọi người cầu nguyện bằng Kinh Kính Mừng. Và lạ thay, quân Hồi giáo đã bị thua quân Công Giáo. Quân Công Giáo chiến thắng quân Hồi giáo không phải bằng thế lực quân sự, mà là nhờ Đức Mẹ, nhờ vào lời Kinh Mân Côi. Mà do đó, Đức Giáo Hoàng đặt lễ Đức Bà này gọi là lễ Đức Bà Chiến Thắng hay còn gọi là Đức Bà Mân Côi. Nếu như mà lễ Đức Bà Mân Côi, mà nói về chiến thắng này thì, có lẽ chúng ta lại liên tưởng đến chiến thắng về quân sự, về kinh tế, về chính trị.

Thế nhưng Chúa Giêsu không muốn đến thế gian này, cũng như không muốn con cái của mình chiến thắng về quân sự về kinh tế về chính trị. Hẳn chúng ta còn nhớ, đối diện với Philatô, Chúa Giêsu nói với ông như thế nào?

Tôi nói cho ông biết: Nước của tôi không thuộc về thế gian này! Nếu mà nước tôi thuộc về thế gian này, thì tôi sẽ cho lính của tôi giải thoát tôi khỏi tay người Do Thái.

Nước tôi không thuộc về thế gian này đâu!

Ông đừng có tưởng bở. Và rồi chúng ta thấy, Chúa Giêsu không dạy chúng ta chiến thắng về quân sự, về kinh tế, về chính trị. Nhưng rồi, nếu mà chúng ta suy nghĩ qua các chiến thắng Kinh Mân Côi để chúng ta chiến thắng người khác. Thì e rằng, rất là căng thẳng.

Bởi vì ngày hôm nay hơn bao giờ hết rất nhiều tôn giáo vẫn nghi kị nhau, vẫn giận hờn nhau, vẫn chưa hiệp nhất. Và rồi mỗi người chúng ta tất cả các tôn giáo phải ngồi lại với nhau để mà gắng bó với nhau để xây dựng một thế giới hòa bình.

Đức Giáo Hoàng Phaolô II đã mời các lãnh đạo tôn giáo lên thành phố Assisi, để cầu nguyện cho hòa bình và cứ như thế truyền thống các nhà lãnh đạo tôn giáo giận đến thành phố Assisi để cầu nguyện. Nhưng mà, cái chiến thắng của Kinh Mân Côi chiến thắng quân Hồi Giáo, nó chỉ là một cái để cho chúng ta nhìn lại về cuộc đời của chúng ta. Mỗi người chúng ta cũng cần chiến đấu những người chúng ta cũng cần Chiến Thắng Mà không phải là chiến thắng quân sự chiến thắng tiền bạc, chiến thắng danh vọng, chiến thắng quyền lực.

Nhưng chúng ta cần là: chúng ta chiến thắng bản thân của chúng ta.Người ta vẫn thường nói với nhau quan trọng nhất là chúng ta chiến thắng chính bản thân của mình.

Có một vị tướng trong lịch sử nói: Không có một cuộc chiến thắng nào lớn bằng, các cuộc chiến thắng nội tâm của mỗi người chúng ta: “ Tề gia, trị quốc, bình thiên hạ “.

Vấn đề lớn là ở chỗ chúng ta phải chiến thắng mỗi người chúng ta. Và khi mà chúng ta lần chuỗi Mân Côi chúng ta sẽ thấy rằng: Chính tràng chuỗi Mân Côi giúp chúng ta chiến thắng bản thân của mình.

Người Đông phương của chúng ta vẫn thường hay nói rằng: Thân, Trí, Tâm. Nếu mà phân tích triết học thì con người chúng ta là con người như thế nào?

Là một động vật có lý trí, có tình cảm, có ý chí. Và chúng ta thấy, mỗi khi lần chuỗi thì chúng ta vận dụng cả ba cơ năng:Thân, tâm, trí. Cả con người chúng ta, chúng ta cầm cái tràng chuỗi Mân Côi. Khi chúng ta lần, thì nó ảnh hưởng tới cái Thân, cả cái Trí và cả cái Tâm của chúng ta.

***

Có một lần kia thì khi con vào cái chùa chơi với một ông thầy học cùng, thì con mới hỏi thầy là: Thầy lần cái chuỗi Nam Mô A Di Đà Phật 108 hạt đó, để làm cái gì? Thì Thầy mới nói rằng là: Chúng tôi lần để cho bớt căng thẳng. Bớt suy nghĩ vào cái khác.
Và rồi thầy có nói rằng: nếu mà cha lần chuỗi mà trong tay cha có một cái chuỗi, cha tập chú, cha đọc Kinh và suy nghĩ sâu hơn và sẽ khám phá ra cái điều mà mình suy nghĩ là cái gì? Cái điều mà mình tập trung là cái gì?

Và quả thật, cái điều mà chúng ta lần chuỗi, chúng ta suy nghĩ, chúng ta cầu nguyện đó! trong Kinh Mân Côi sẽ gợi lại cho chúng ta về cuộc đời, về cả cuộc đời của Chúa Giêsu.

Cả cuộc đời của Chúa Giêsu, từ khi sinh ra, sống công khai, đi loan báo Tin Mừng, chịu chết, rồi chịu đóng đinh trên thập giá, rồi lên trời. Rồi ban Thánh Thần. Cả cuộc đời của Chúa Giêsu đựơc thu gọn trong tràng chuỗi Mân Côi.

Thật sự ra, tràng chuỗi Mân Côi, nếu chúng ta đọc chậm và chúng ta suy niệm rất hay. Nhưng mà với những người không thích Kinh Mân Côi thì bảo là cứ bao nhiêu kinh đó đọc hoài chán quá! mất thời gian quá! Bởi vì họ không khám phá ra được cái hiệu nghiệm của lời Kinh Mân Côi.

Nếu như chúng ta đọc Kinh Mân Côi trong thinh lặng chúng ta sẽ thấy cuộc đời chúng ta kết hợp với Chúa và cuộc đời chúng ta rất là bình an. Bởi vì trong cái lời Kinh Mân Côi đó chúng ta sẽ giải quyết được ba mối tương quan cơ bản của con người.

Mỗi một con người chúng ta, sống trong trần gian này, tương quan với Thiên Chúa, tương quan với tha nhân, và tương quan với vũ trụ.

Chúng ta để ý trong cái Năm Sự Mừng:

- Chúa Giêsu lên trời. Xin cho lòng chúng ta hướng về sự lên trời.

- Chúa Giêsu cho Đức Mẹ lên trời. Xin cho chúng ta cùng Đức Mẹ lên nước thiên đàng.

Đó là mối tương quan với Thiên Chúa đó! Chúng ta ước ao để mà chúng ta lên trời với Chúa, sau cái cõi trần này!

Năm Sự Vui: thứ nhất Đức Bà đi viếng bà Elizabeth, xin cho chúng ta được lòng yêu người.

Xin cho chúng ta khi mà nhìn về hành động của Mẹ Maria khi đi viếng bà Elizabeth. Xin cho chúng ta yêu thương tha nhân bằng tình yêu đích thực, bằng tình yêu sẽ chia.
Và mầu nhiệm Thương: Chúa Giêsu Chúa Giêsu chịu đóng đinh vào thánh giá. Xin cho chúng ta đóng đinh tính xác thịt mình vào thánh giá Chúa.

Cũng xin cho chúng ta bớt đi những cái Tham, Sân, Si. Xác thịt, lòng dục của chúng ta, để chúng ta đừng dính bén vào những cái tội lỗi trong trần gian này.

Chuỗi Mân Côi này, giúp chúng ta chiến thắng bản thân mình và làm cho cuộc đời của mình tốt đẹp hơn!

***

Có một anh bạn rất dễ thương! Phải nói rằng anh là một thương gia, mà có thể nói là giang hồ. Anh ta đã một thời lăn lộn ở khu Huỳnh Thúc Kháng. Anh ta cày, nay lưng ra cày nhưng một ngày nào đó, anh cảm thấy cuộc đời anh vô nghĩa và anh thu mình lại trong gia đình của anh, bằng lần Tràng chuỗi Mân Côi.

Khi quen anh ban đầu, anh nói với con rằng: Cha biết không, một ngày con lần 30 chuỗi, 20 chuỗi. Có bữa anh nói: Hôm nay con mệt quá, con lần có 10 chuỗi!

Thì con mới nói với ảnh và con phân tích: Anh ơi! Không phải là 30, 20 hay là 10 chuỗi gì đâu! Nhưng mà từ cái tràng chuỗi Mân Côi đó, anh suy niệm cuộc đời anh với Chúa.

Nói với anh, cũng như nhắc nhở chính bản thân của mình. Nhiều khi cuộc đời mình gặp khó khăn mình đi tìm cái gì đó để mà an ủi mà mình quên tìm đến tràng chuỗi Mân Côi.

Và thật lạ lùng, trên cuộc đời của anh, bản thân của anh.

Nếu như trước đây anh cảm thấy khó chịu khi anh thấy bất công trong cuộc đời cũng như bất công trong Giáo Hội anh lên tiếng. Nhưng mà rồi, từ những ngày anh đọc Kinh Mân Côi, chậm rãi suy niệm anh thấy cuộc đời của anh được biến đổi. Chính con cũng thấy anh được biến đổi.

Từ ngày đó anh không còn khoe rằng: cha ơi, hôm nay con đọc được 10 chuỗi, 20 chuỗi, 30 chuỗi nữa. Mà thấy sự biến đổi sâu xa nơi cuộc đời của anh. Anh bớt nói, anh bớt bực dọc, anh bớt bực mình, anh bớt nói người này kia! Và cuối cùng anh chỉ suy nghĩ về bản thân anh, cuộc đời của anh mà thôi.

Phải nói rằng đó là một tấm gương. Đó là một cái một mẫu gương và hoa quả của lời Kinh Mân Côi, mà con xin chia sẻ với cộng đoàn và chính bản thân con.

Để rồi ngày mỗi ngày, chúng ta cố gắng đọc Kinh Mân Côi. Dẫu rằng, với ánh mắt của người khác: đọc Kinh Mân Côi là lãi nhãi, đọc Kinh Mân Côi là nhàm chán. Nhưng chính là lời Kinh Mân Côi là sức mạnh, là những bậc thang đưa chúng ta vào thiên đàng.

Xin Chúa thêm ơn cho mỗi người chúng ta. Nhân dịp chúng ta mừng lễ Mân Côi, không phải chúng ta nghĩ đến một cái chiến thắng quân sự, chiến thắng chính trị, chiến thắng về kinh tế. Nhưng chúng ta đọc Kinh Mân Côi, cùng với Mẹ Maria chiêm nghiệm lại cuộc đời của Chúa Giêsu và kết hiệp mật thiết với cuộc đời của CHÚA Giêsu, để chúng ta vượt qua những đau khổ và những thử thách trần gian này. Amen.

 

07/10-176: Kinh Mân Côi – Lm. JB. Lê Ngọc Dũng

 

Trong mối liên hệ mẹ con, không gì quý hơn tâm lòng người mẹ đối với con cái, là yêu07/10-176


Trong mối liên hệ mẹ con, không gì quý hơn tâm lòng người mẹ đối với con cái, là yêu thương sẵn sàng làm mọi việc, hy sinh vì con cái. Và ngược lại, không gì quý hơn, người con tỏ lòng biết ơn và hiếu thảo với cha mẹ.

Mỗi người chúng ta đều có người mẹ, và chắc hẳn chúng ta đã cảm nghiệm được lòng mẹ đối với chúng ta như thế nào. Và cũng chắc rằng người mẹ trần gian chỉ giúp đở chúng ta có hạn. Chúng ta có Mẹ Maria, Mẹ Thiên Chúa, giúp đở chúng ta vượt mức người mẹ trần thế, là giúp chúng ta nhận lãnh ơn Chúa để tiến vào sự sống hạnh phúc viên mãn với Chúa.

Để giúp chúng ta, Mẹ đã dạy chúng ta lần hạt Mân Côi.

Cầu nguyên bằng kinh Mân Côi rất hiệu lực là vì là Kinh xuất phát từ Lời Chúa. Kinh Lạy Cha là lời của Chính Chúa Giêsu dạy bảo cầu nguyện. Kinh Kính Mừng là một phần của  lời của sứ thần Thiên Chúa và bà Isave, rồi cộng thêm lời xin cả cộng đồng dân Chúa, của cả Giáo Hội cầu xin.

Đức Mẹ rất ưa thích kinh này. Chính Mẹ đã nhiều lần nhắc nhở con cái lần hạt. Hãy dùng tràng hạt như một phương thế mang nhiều hiệu năng phi thường.

Tương truyền rằng thánh Đaminh đã vất vả chinh phục người ly giáo Albigois ở miền Nam nước Pháp. Thánh nhân đã hy sinh làm việc lành, như hầu như vô hiệu quả và bè ly giáo càng ngày càng bành trướng làm hư hoại bao nhiêu linh hồn. Thánh Đaminh chạy đến nhờ Mẹ, van xin hết lời, thánh nhân được Đức Mẹ ban cho một phương thế hiệu nghiệm là kinh Mân côi. Và nhờ đó bè lạc giáo đã bị tiêu trừ.

Năm 1511, một lần vinh  thắng nữa là kinh Mân côi giúp Giáo Hội chiến thắng quân Hồi giáo ở vịnh Lépante, để kỷ niệm chiến thắng này, Giáo Hội đã lập ra lễ Mân Côi vào ngày 7 tháng 10, vào tháng Mân Côi hàng năm.

Trong hai thế kỷ 19-20, Đức Mẹ đến với con cái Mẹ nhiều lần. Ở Lộ Đức, Mẹ hiện ra với Bernadette.  Lần nào Mẹ cũng lần hạt với thánh nữ và nhắn nhủ hãy lần hạt như thế để cầu nguyện cho nhân loại và kẻ có tội. Chúng ta thấy các tượng Lộ Đức  đều đeo tràng hạt. Năm 1917, vào những lần Mẹ hiện ra ở Fatima, lần nào Mẹ cũng khuyên lần hạt và Mẹ đã đặt tràng hạt là một trong ba điều kiện để cứu rỗi nhân loại, để Chúa khỏi phải đoán phạt một cách  công thẳng. Mẹ coi tràng hạt như là một điều kiện để được cứu rỗi. Ở Fatima cậu bé Phanxicô hỏi "Con có được lên trời không ?" Mẹ đáp: "Có, miễn là phải lần hạt nhiều".

Ngày 10-12-1925 rồi ngày 15-2-1926, Mẹ muốn các tín hữu  xưng tội chịu lễ trong 5 thứ bảy đầu tháng liên tiếp và suy gẫm lần hạt Mân côi trong 15 phút đồng hồ để đền tạ Trái Tim Mẹ, thì Mẹ sẽ ban ơn cần thiết cho phần rỗi lúc lâm chung. Đối với Mẹ, tràng hạt trở nên 1 trong 3 điều kiện để được cứu rỗi, để kẻ có tội ăn năn trở lại, để mưu hạnh phúc cho mọi người.

Năm 1601, chuyện kể rằng, ở Bỉ có hai chàng thanh niên bê bối, tội lỗi. Sau khi đã phạm tội nặng, một anh ở  lại nơi phạm tội, một anh trở về nhà mình. Vừa về đến nhà đặt mình xuống, vì quá khuy nên rất buồn ngũ… nhưng anh nhớ lại lời mẹ dạy nên quỳ xuống đọc ba kinh Kính Mừng. Đọc xong anh gục đầu ngũ thiếp đi ngay dưới đất. Lúc ấy có tiếng gõ cửa. Đẩy cửa vào là một chàng thanh niên mặt mũi đen thui ghê tởm xấu xa có lửa bốc cháy: “Anh ơi tôi đã bị luận phạt ngay sau khi anh ra về bằng một tai nạn. Xác tôi còn đang nằm ngoài đường kia. Chính Đức Maria đã gìn giữ anh vì ba kinh kính mừng”. Chàng thanh niên này đẫm lệ ăn năn, quỳ gối trước tòa Mẹ và sau này trở thành một tu sĩ và được phúc tử đạo tại Nhật bản. Còn cái chết của anh tội lỗi kia được một vị chân phước tên là Ham Suo Huere chứng kiến và kể lại.

Đó là một trong những muôn ngàn câu chuyện về hiệu lực của Kinh Mân Côi. Kinh Mân Côi đã từng chứng minh cho sự hiệu lực của mình trong từng gia đình, cho từng dân tộc và cho cả nhân loại qua các thế kỷ.

Vậy chúng ta hãy siêng năng dâng lên cho Mẹ những món quà là lời kinh Mân Côi. Món quà dễ dàng mua sắm vì kinh Mân Côi dễ đọc dễ gẫm suy, dễ thực hiện bất kỳ ở đâu lúc nào. Chúng ta đừng bỏ mất cơ hội mà Thiên Chúa tình yêu luôn mở ra để chúng ta được những ân sủng quý giá cho cuộc đời này cho đời sau.

 

07/10-177: Suy niệm của Lm. Giuse Nguyễn Quốc Quang


LỢI ÍCH - LẦN CHUỖI MÂN CÔI
 

Đức Thánh Cha Phanxicô của chúng ta rất yêu mến Đức Mẹ qua việc lần chuỗi Mân Côi. Cụ 07/10-177


Đức Thánh Cha Phanxicô của chúng ta rất yêu mến Đức Mẹ qua việc lần chuỗi Mân Côi. Cụ thể, ngày 13-3-2013 Ngài được bầu làm Giáo Hoàng, thì sáng ngày 14-3, Ngài đến tượng ảnh Đức Mẹ Che Chở Dân Rôma để lần chuỗi Mân Côi và cầu nguyện để dâng cả triều đại giáo hoàng của Ngài cho Đức Mẹ. Năm 2015, Đức Thánh Cha Phanxicô đã chọn ngay ngày lễ Đức Mẹ Mân Côi ngày khai mạc thượng Hội Đồng Thế Giới về gia đình, dĩ nhiên trước đó, Ngài kêu gọi mọi thành phần dân Chúa hãy đọc kinh Mân Côi. Và rồi mới đây, 12-5-2017, Đức Thánh Cha Phanxicô đã đến hành hương tại Đền thánh Đức Mẹ Fatima, Bồ đào nha, nhân dịp kỷ niệm 100 năm Đức Mẹ hiện ra với 3 mục đồng tại đây: Lucia, Phanxicô và Giacinta. Đây là chuyến viếng thăm thứ 19 của Đức Thánh Cha tại nước ngoài. Nhưng đây là lần đầu tiên, chuyến viếng thăm của ngài hoàn toàn là một cuộc hành hương không có những hoạt động gì khác, chỉ có cầu nguyện với Đức Mẹ Fatima qua việc lần hạt  Mân Côi và dâng Thánh Lễ. Hôm đó, Ngài đã đến trước tượng Đức Mẹ Fatima tại Nhà nguyện Hiện Ra, Đức Thánh Cha quỳ cầu nguyện rằng: “Lạy Nữ Vương, là Đức Trinh Nữ Fatima, là Mẹ Khiết Tâm, là nơi nương náu và là đường dẫn đến Thiên Chúa! Như người lữ hành theo Ánh sáng tỏa lan từ bàn tay Mẹ, con cảm tạ Chúa Cha, Đấng qua mọi nơi và mọi thời, vẫn hoạt động trong lịch sử nhân loại; Như người lữ hành của nền hòa bình mà Mẹ đã loan báo tại nơi này, con chúc tụng Chúa Kitô, là an bình của chúng con, và con cầu xin ơn hòa hợp giữa mọi dân nước trong thế giới này; như người lữ hành của niềm hy vọng mà Chúa Thánh Linh khích lệ, con muốn là một ngôn sứ và là sứ giả rửa chân cho mọi người, tại bàn ăn liên kết tất cả chúng con nên một”.

Ai trong chúng ta cũng yêu mến và quí trọng người Đức Mẹ, vì tình mẫu tử của Đức Mẹ Maria Mân côi dành cho mỗi người chúng ta dạt dào và êm ái biết là ngần nào? Cụ thể, trong Tin Mừng hôm nay, Mẹ Maria thưa “Xin Vâng” với Chúa, có nghĩa rằng Mẹ phó thác cuộc đời của Mẹ vào lòng thương xót của Chúa. Với hai tiếng xin vâng, Mẹ sẵn sàng cưu mang, sinh hạ, chăm sóc con Mẹ là Chúa Giêsu và đồng lao cộng khổ với Con Mẹ để đàn con Mẹ là chúng ta nhờ Chúa Giêsu mà được cứu độ. Nhờ Chúa Giêsu mà chúng ta gọi Thiên Chúa là Cha, và Chúa Giêsu Kitô là Anh Hai của chúng ta, và những đứa em của Chúa Giêsu là chúng ta cũng được thừa kế gia nghiệp trên thiên quốc vĩnh hằng mà Thiên Chúa dành sẵn cho chúng ta (Gl 4,7).

Trên trần gian Đức Mẹ đã chăm sóc Chúa Giêsu thế nào, thì ngày nay trên Thiên đàng, Mẹ Maria cũng chăm sóc chúng ta như thế. Đức Mẹ chăm sóc chúng ta bằng nhiều cách trong đó có việc Lần Hạt Mân Côi. Vì vậy, qua việc đọc kinh Hạt Mân Côi, trước hết, Mẹ sẽ cầu bầu và che chở chúng ta trong mọi hoàn cảnh của cuộc đời. Qủa thế, ai ai trong chúng ta cũng đều cảm nghiệm được tình Mẹ Maria dành cho chúng ta khi ốm đau cũng như khi mạnh khỏe, khi thịnh vượng cũng như lúc gian nan, khi thành công cũng như thất bại, khi yêu cũng khi cô đơn, khi có gia đình cũng như khi đi tu. Cho nên, đã là người Công Giáo dù ở đâu, đi xe hay đi tàu, đi chợ hay đi học, ở bệnh viện hay ở nhà…., bất cứ lúc nào người ta cũng đọc Kinh Mân Côi. Vì bất cứ khi nào đọc Kinh Mân Côi, chúng ta cảm thấy có một sự ủi an và sức mạnh siêu nhiên làm cho tinh thần mình phấn khởi, không còn lo lắng sợ sệt… và nguồn đó chính là sự cầu bầu và chở che của Mẹ Maria. Vâng, chính tôi đã kinh qua và cảm nghiệm được điều này. Cụ thể, năm 2010, tôi bị tai nạn và bệnh rất nặng, khi nhập viện, bác sĩ bắt phải chụp MR 2 hai tiếng đồng hồ. Trong lúc nằm trong phòng chụp MR một mình, hai bên toàn là điện và máy móc cứ chạy phà phà, tôi nghĩ bụng nếu có chập điện hay sự cố gì thì mình chết tươi vì phòng này cắt ly hoàn toàn với bên ngoài, tôi bắt đầu lo sợ. Nhưng khi nằm lên gường và máy bắt đầu chạy thì tôi cũng bắt đầu đọc Kinh Mân Côi suốt hai tiếng đồng hồ. Điều đáng ngạc nhiên đối với bác sĩ rằng hầu như ít có người nào chụp MR lâu như tôi, mà nếu có thì ra là họ điều xỉu, yếu ớt cả nhưng tôi thì không vẫn bình thường vui vẻ cười nói tỉnh khô. Từ đó tôi cảm nghiệm rằng lợi ích của việc đọc Kinh Mân Côi không chỉ để yêu mến mà còn để cùng Mẹ thưa xin vâng theo thánh ý Chúa trong mọi hoàn cảnh và cùng với Mẹ cầu nguyện có Chúa đỡ nâng, an ủi và giúp sức cho chúng ta chịu đựng tất cả trong bình an.

Lợi ích thứ hai của việc đọc kinh Mân Côi, Đức Mẹ sẽ giúp chúng ta học và hành bài học yêu thương và tha thứ của Mẹ. Vâng, sau khi thưa hai tiếng xin vâng, Mẹ chịu nhiều đau khổ, chịu người ta sỉ vả, chửi bới… ấy thế Mẹ không một lời oán trách, căm thù, ngược lại, Mẹ yêu thương và tha thứ tất cả, cho nên, gẫm thứ hai trong Kinh mân Côi Mùa Vui, chúng ta đọc: thứ ba thì gẫm, Đức Bà đi viếng bà Thánh Isave, ta hãy xin cho được lòng yêu người như Đức Mẹ là vậy. Năm nay là năm mà các Đức Giám Mục mời gọi các bạn trẻ chuẩn bị bước vào đời sống hôn nhân gia đình, đặc biệt là các gia đình Công giáo hãy thể hiện ơn gọi yêu thương và sứ vụ thương xót ngay trong gia đình của mình. Vì vậy, học gương Mẹ Maria Mân Côi, chúng ta hãy thực hiện điều này ngay trong gia đình của mình vì gia đình là nơi những thành viên liên kết với nhau trong tình yêu máu mủ. Nói đến máu mủ là nói đến sự sống, sự sống tồn tại được là nhờ tình yêu và thương xót nhau. Nhưng trong thực tế, ngày nay đời sống vợ chồng còn gặp khó khăn trong tình yêu, mọi thành viên trong gia đình xào xáo nhau, hạnh phúc gia đình bất ổn... Hôm nay, chúng ta học gương Mẹ và nghe lời Mẹ dặn rằng: HÃY SIÊNG NĂN LẦN HẠT MÂN CÔI để sống tình yêu thương, tha thứ và chung thủy với nhau vì có Mẹ ở với gia đình chúng ta sẽ giúp gia đình chúng ta vượt qua tất cả như lời kinh Lạy Nữ Vương gia đình chúng ta thường đọc mỗi tối: Lạy Nữ Vương gia đình, Mẹ ở đây với chúng con, vui buồn sướng khổ, Mẹ con cùng nhau chia sẻ. Xa Mẹ chúng con biết cậy trông ai. Đời chúng con gian nan khổ sở lắm, gia đình chúng con long đong tối ngày, nhưng có Mẹ ở bên chúng con, chúng con thấy quên hết ưu phiền, vui sống qua kiếp lưu đày, mong ngày sau sung sướng cùng Mẹ muôn đời trên thiên đàng. Amen.

Cuối cùng, lần hạt Mân Côi sẽ giúp chúng ta cùng với Mẹ đón nhận đau khổ hay khó khăn trong tinh thần đức tin. Vâng, chúng ta đọc “Năm Sự Vui” thứ 3 thì gẫm: “Đức  Bà sinh Đức Chúa Giêsu nơi hang đá, ta hãy xin cho được lòng khó khăn”. Qủa thế, cuộc đời Đức Mẹ không thiếu những khó khăn và đầy ấp những đau khổ, đặc biệt khi đứng dưới chân thập giá nhìn Con chết tức tưởi nhưng Mẹ đón nhận trong tinh thần phó dâng và tín thác. Cuộc đời của chúng ta, có ai mà không có đau khổ, nước mắt nhiều hơn nụ cười và phiền muộn nhiều hơn hạnh phúc. Không gia đình nào trong chúng ta mà không có đau khổ, khó khăn, mỗi nhà một cách mỗi người một vẻ. Chúa không muốn chúng ta hay gia đình chúng ta phải đau khổ, khó khăn, Chúa muốn chúng ta hạnh phúc. Nhưng những đau khổ hay khó khăn nó đến là vì giới hạn của con người: sinh lão bệnh tử hay có thất bại có thành công. Cho nên, Chúa ban cho chúng ta nhiều phương thế để vượt qua những thử thách đó trong đó có Kinh Mân Côi, nhờ Đức Mẹ cầu thay nguyện giúp chúng ta. Nếu chúng ta vượt qua được thì tạ ơn Chúa. Nếu chưa qua được, Mẹ sẽ giúp chúng ta đón nhận đau khổ trong tinh thần đức tin để cầu nguyện cho cho gia đình, cho con cái, cho Giáo xứ, cho Giáo phận của mình biết trung tín và tín thác vào lòng Chúa xót thương.

Ước gì, qua Thánh lễ này, suốt trong tháng Mân Côi này, xin mỗi gia đình hãy siêng năng lần hạt Mân Côi để cùng vời Mẹ dâng lên Chúa những hạt kinh của các ngày sống qua từng thời kỳ của mùa Vui, Thương, Mừng để ơn Chúa tuôn đổ xuống từng người trong gia đình đồng thời mưu ích cho các linh hồn và sáng danh Chúa. Amen.

 

07/10-178: Suy niệm của Lm. Trầm Phúc

 

Ai yêu mến Đức Mẹ như Mẹ của mình đều yêu thích lần chuỗi Mân Côi. Giáo Hội khuyến khích 07/10-178


Ai yêu mến Đức Mẹ như Mẹ của mình đều yêu thích lần chuỗi Mân Côi.

Giáo Hội khuyến khích lần chuỗi Mân Côi. Đức Giáo Hoàng Phao-lô VI với Tông Huấn: Việc sùng kính Đức Maria; Đức Giáo Hoàng Gioan-Phao-lô II, với Tông Thư: Chuỗi Mân Côi của Đức Trinh Nữ Maria là những người cổ võ mạnh mẽ nhất việc sùng kính Đức Mẹ và lần chuỗi Mân Côi.

Ai yêu mến Đức Mẹ thì cũng thích nói lên lời chào của Thiên Sứ chào mừng Mẹ mình!

Chúng ta được một bà Mẹ “đầy ơn phước”, một bà Mẹ “có phước hơn mọi người nữ”, chúng ta không vui sao? Chúng ta không hãnh diện vì được làm con một người Mẹ như thế sao?

Hơn nữa, Đức Mẹ là Mẹ của Chúa Giêsu, chúng ta không cảm thấy hạnh phúc khi được Mẹ Thiên Chúa là Mẹ chúng ta sao?

Bà thánh Ysave khi được Đức Mẹ đến viếng thăm đã vui mừng la lên: “Bởi đâu tôi được Mẹ Thiên Chúa đến viếng thăm?” Khi ấy, Thánh Gioan trong dạ mẹ đã nhảy mừng.

Lời Kinh Mân Côi là hồng ân cao quí Chúa tặng ban cho chúng ta. Lời kinh này nhắc cho chúng ta nhớ đến niềm hạnh phúc vô biên, mà Chúa đã ban cho chúng ta là được làm con của Đức Mẹ.

Chúng ta thật hạnh phúc! Thế nhưng còn rất nhiều người chưa biết hạnh phúc của mình, chưa biết yêu mến Đức Mẹ. Họ không biết Đức Mẹ yêu thương họ như thế nào! Thật đáng tiếc!

Hãy yêu mến Đức Mẹ và giúp anh em chúng ta yêu mến Đức Mẹ, để nhờ Đức Mẹ, chúng ta cũng được tràn đầy ơn phúc trong Chúa Giêsu, Con Đức Mẹ, “Con lòng Bà gồm phước lạ”.

Lần chuỗi Mân Côi là nhìn về Đức Mẹ, chiêm ngắm Đức Mẹ là tuyệt tác tình yêu của Thiên Chúa đối với chúng ta.

Đức Mẹ là Đấng Vô Nhiễm Nguyên Tội. Đó là nét đẹp cao quí của Đức Mẹ, là ân huệ độc nhất vô nhị Chúa bancho Đức Mẹ. Ơn Chúa đến với chúng ta bằng muôn vạn nguồn suối. Đức Mẹ chính là nguồn suối hồng ân tuôn trào từ Giêsu, Con Đức Mẹ. Đức Mẹ Vô Nhiễm nguyên tội là dấu hiệu của nguồn sống mới Chúa ban nhưng không cho nhân lọai. Nhìn về Đức Mẹ để tạ ơn Chúa, cùng với Đức Mẹ hát lên lời tạ ơn: “Linh hồn tôi ngợi khen Chúa…”

Khi môi miệng chúng ta lặp lại lời chào của Thiên Thần: “Kính mừng Maria đầy ơn phước”, phải chăng là nhắc nhớ ân huệ đầu tiên vô nhiễm đó? Miệng chúng ta đọc, nhưng con tim chúng ta hát. Đức Mẹ là “người nữ, đã được phục hồi” (Claudel) trong vẻ đẹp trinh nguyên vô tội của E-và khi mới được tạo thành.

Lời kinh êm đềm làm sao! Lời chào chứa chan niềm vui!

Hãy vui lên khi lặp lại lời chào của Thiên Sứ. Hãy quên đi tất cả những vũng lầy nhơ bẩn của chúng ta! Hướng về Đức Mẹ là hướng về niềm vui triền miên, chứa đựng trong hồng ân vĩnh viễn Chúa ban nơi Đức Mẹ.

Nhiều người đã đánh mất kho tàng an ủi này, họ không thấy ánh sáng đang mời gọi họ. Họ đánh mất sự êm đềm âu yếm họ đang cần đến. Họ đánh mất tình yêu của một người Mẹ mà họ đang khao khát.

Phải, Đức Mẹ là kho tàng tình yêu vô tận, nhưng kinh Mân Côi đưa chúng ta vào khung trời bao la hơn: Khung trời của ơn cứu độ.

Mẹ Maria được tôn sùng không phải vì cá nhân của Mẹ mà vì Chúa Giêsu. Nhiều người lầm tưởng rằng sự sùng kính Đức Mẹ sẽ làm phương hại đến vai trò duy nhất của Chúa Giêsu. Nhưng cũng có những người lại tôn sùng Đức Mẹ quá đáng, xem Đức Mẹ như ngang hàng với Chúa Giêsu Ki-tô.

Giáo Hội luôn xem Đức Mẹ như con đường dẫn đến Chúa Giêsu mà thôi. Trong kinh Mân côi, Đức Mẹ được xem như chiếm chỗ ưu tiên, nhưng trọng tâm vẫn là Chúa Giêsu. Trong Tông thư về chuỗi Mân Côi, Đức Gioan-Phao-lô II mời gọi mọi người đến với Đức Mẹ để cùng Đức Mẹ chiêm ngưỡng, tưởng nhớ, học hỏi để nên đồng hình đồng dạng với Chúa Giêsu, Con Đức Mẹ; cùng với Đức Mẹ cầu khẩn và loan báo Chúa Ki-tô. Đó chính là con đường hành hương mà chúng ta cùng đi với Đức Mẹ, cuộc hành hương bất tận đến với Chúa Giêsu Ki-tô qua mọi biến cố của cuộc đời Ngài, từ mầu nhiệm nhập thể đến Phục sinh…

Khi miệng chúng ta đọc lên: “Kính mừng Maria, đầy ơn phước”, chúng ta nhìn thấy tình thương của Chúa Cha, đấng đã yêu trần gian đến nỗi ban Con Một mình cho trần gian; chúng ta nhìn ngắm Chúa Giêsu trở thành xác thịt trong Đức Mẹ. Đó là bước đầu của cuộc đối thoại liên lỉ giữa Thiên Chúa và con người. Chúng ta nhìn thấy Chúa Giêsu yêu thương chúng ta, đã đến tận trần gian này để nối lại mối dây tình thương đã đứt đoạn trong sự phản bội của Ađam.

“Kính mừng Maria,… bà có phước lạ hơn mọi người nữ …”, phước lạ đó đã phát xuất từ tiếng “Xin Vâng” của Đức Mẹ. Đức Mẹ đã đáp lại trong tự nguyện, tiếng nói yêu thương của Chúa Cha. Tiếng “Xin vâng” ở Na-da-rét được tiếp nối bằng một chuỗi xin vâng suốt cả đời Mẹ; kể cả tiếng xin vâng cuối cùng dưới chân thập giá. Học thưa “Xin vâng” như Mẹ, và cùng với Chúa Giêsu, chúng ta cũng xin vâng mỗi ngày qua cuộc đời gian khổ và bận rộn của chúng ta.

Đức Mẹ là mẫu gương vâng phục, cũng như Chúa Giêsu là mẫu gương vâng phục: “Nầy Con xin đến để thực thi ý Cha”, “Xin đừng theo ý Con mà theo ý Cha”.

Kinh Mân Côi dẫn chúng ta đến sự vâng phục toàn vẹn thánh ý của Chúa Cha.

Chúng ta sợ vâng phục, tưởng rằng đó là nô lệ. Vâng phục loài người thường dẫn đến nô lệ nhưng vâng phục Thiên Chúa lại là một giải thoát. Chúa Giêsu đã vâng phục đến chết trên thập giá, vì thế, “Thiên chúa đã siêu tôn Ngài và ban cho Ngài một danh hiệu vượt trên mọi danh hiệu…” Vâng phục Thiên Chúa không phải là một mất mát mà là một vinh quang.

Mẹ Maria đã vâng phục thánh ý Chúa, và Đức Mẹ đã nên “đầy ơn phước”, đã đem Chúa Giêsu đến cho chúng ta.

Giáo Hội dạy chúng ta cầu khẩn với Đức Mẹ với tính cách là Mẹ Thiên Chúa, như bà Ysave. Đức Mẹ viếng thăm chúng ta, đem Chúa Giêsu đến với chúng ta, chuyển thôngơn Chúa cho chúng ta.

Kính mừng Maria, lời kinh của những đứa con bé nhỏ không tin vào tài năng và sức lực của mình, mà chỉ tin vào quyền năng của Thiên chúa.
Cuộc đời trần thế này nhiều gian nan. Có những lúc chúng ta phải rên siết, có những ngày chúng ta tìm một tia hy vọng mà vẫn không tìm được. Có những ngày con tim chúng ta nổi loạn vì thất vọng… Hãy về với Đức Mẹ.

Bà Mẹ hiền của chúng ta đã can đảm nhìn Con mình chết đau thương trên thập giá, thì cũng cảm thông nỗi khổ của chúng ta. Đức Mẹ sẽ giúp chúng ta can đảm vác thập giá mà không rên siết. Đức Mẹ sẽ dạy chúng ta nhìn Con Đức Mẹ trên thập giá, để chúng ta được bình an, dù gánh nặng vẫn còn. Chúng ta sẽ không chạy trốn, chúng ta sẽ cùng với Đức Mẹ chấp nhận đau khổ như một hồng ân. Chúng ta vẫn còn hy vọng vì Chúa Giêsu, Con Đức Mẹ, đã “thắng thế gian”, thắng cả sự chết và vẫn hiển trị.

Ai yêu mến Đức Mẹ sẽ nhìn thấy đời mình tràn đầy niềm vui, ngay cả trong gian nan thử thách. Có Đức Mẹ, tin vào Đức Mẹ, chúng ta sẽ không bao giờ thất vọng; nhưng vắng Đức Mẹ… cuộc đời sẽ mất vui, vắng Đức Mẹ, ánh sáng sẽ lụn tàn và bóng tối sẽ bao trùm lên đời bạn.

Mầu nhiệm Mân Côi là niềm hy vọng không úa tàn, vì trong Đức Mẹ, chúng ta khám phá ra khuôn mặt yêu thương của Chúa Giêsu, khuôn mặt mà các thế hệ đang mong chờ.

Mừng Đức Mẹ Mân Côi, chúng ta cùng với Đức Mẹ chiêm ngắm Chúa Giêsu nơi bàn thờ. Ngài đến với chúng ta nhẹ nhàng, khiêm tốn, để ở lại với chúng ta. Cùng với Đức Mẹ, chúng ta tạ ơn Ngài bằng cách đem Ngài vào cuộc sống bận rộn và khổ nhọc của chúng ta. Chúng ta sẽ cùng Ngài, đến với anh chị em của chúng ta, đem lại cho họ quả tim của chúng ta, quả tim đã được gột sạch mọi vết nhơ, đã được thánh hóa bằng chính Thịt Máu Chúa Giêsu trên thập và trên bàn thờ.

 

07/10-179: Bài ca chiến thắng của người nghèo khó


(Suy niệm của PM. Cao Huy Hoàng)
 

Giáo Xứ tôi, được xây dựng vào tháng 10 năm 1973, khi cha Stephano đưa đoàn di dân07/10-179


vào khu khẩn hoang lập ấp. Rừng thiêng nước độc. Nhà Thờ bằng cây rừng, mái tôn, vách ván thô sơ.

Sau tháng 4 năm 1975, Nhà Xứ, Nhà Thờ, trống trước trống sau, và đoàn Giáo Dân nghèo vẫn còn đó, mà chủ chiên thì vắng bóng vì thời cuộc quá nhiễu nhương.

Mỗi Chúa Nhật, bà con đến Nhà Thờ đọc dăm bảy kinh rồi về. Gọi "dăm bảy kinh" là vì bà con không dám ngồi lâu hơn trong Nhà Thờ nằm ngay bên cạnh Ủy Ban Nhân Dân Xã mới được xây dựng ngay trên đất đã qui hoạch cho Nhà Thờ!

Cha GB. Trương Văn Hiếu, chánh xứ Giáo Xứ Hòa Vinh, cách Giáo Xứ tôi 4 cây số, thường xuyên kín đáo thăm bà con và thỉnh thoảng thăm Nhà Thờ, ban Bí Tích Giải Tội tập thể. Rồi dần quen, cha thỉnh thoảng đến dâng Thánh Lễ công khai luôn. Tháng 10 năm ấy, lễ Đức Mẹ Mân Côi, cha tha thiết bảo bà con siêng năng lần hạt Mân Côi với niềm tin rằng Mẹ sẽ ban cho anh em một chủ chiên mới.

Cũng ngày ấy, ngài chính thức đặt tên cho ca đoàn Giáo Xứ gồm những anh chị em nông dân nghèo khổ cái tên gọi thân thương "Ca Đoàn Mân Côi". Ngài nói: "Kinh Mân Côi là bài ca chiến thắng của những người nghèo khổ của Thiên Chúa". Ngài giải thích: "Người nghèo khổ của Thiên Chúa là người có lòng khiêm nhượng, khao khát Thiên Chúa với niềm tín thác mạnh mẻ, và nhất là, người biết mình còn có đời sau và cần có đời sau".

Cả Giáo Xứ ra sức đọc kinh Mân Côi, nhà nhà Mân Côi, người người Mân Côi. Bảy năm đọc kinh Mân Côi. Bà con hiệp lòng ký vào một đơn xin Linh Mục đặt dưới chân Đức Mẹ. Hai ông trong Hội Đồng Giáo Xứ đi ở tù. Nhiều ông khác "được" thăm hỏi, "được" canh phòng cẩn mật...

Tháng 9 năm 1982, Cha PX. Lê Quang Diễn nhận bài sai của Đức Giám Mục Nicolas, từ trại cải tạo về làm quản xứ. Có thể nói, đây là bài sai đổi xứ đầu tiên trong Giáo Phận sau năm 1975, và cũng là trường hợp đổi xứ đặc biệt nhất: từ trại cải tạo ra ngay làm quản xứ, không có thời gian quản thúc, quản chế... Cả Giáo Xứ tạ ơn Mẹ Maria và nhận ra đây là phép lạ của chuỗi Mân Côi mà cha GB. Trương Văn Hiếu đã khuyến khích trong suốt 7 năm ròng.

Cha GB. đã về với Chúa ngày 21.5.2011, nhưng "Bài Ca Chiến Thắng Của Người Nghèo Khổ" từ ngài vẫn luôn là lời nhắn gửi sống động:

- Kinh Mân Côi của người có lòng khiêm nhượng

- Kinh Mân Côi của người có lòng khao khát Thiên Chúa với niềm tín thác mạnh mẻ.

- Kinh Mân Côi của người biết mình còn có đời sau và cần có đời sau.

Thiết tưởng bài ca của người nghèo và phép lạ Mân Côi không chỉ là bài ca và phép lạ của bà con Giáo Xứ tôi, nhưng còn là của mọi tín hữu khắp nơi trên thế giới.

Vâng, trong lịch sử Giáo Hội, bài ca của người nghèo là lời kinh Mân Côi đã từng chiến thắng bè rối Albigeois nổi lên ở miền Nam nước Pháp vào thế kỷ 13, chiến thắng sự bành trướng của ly giáo Cải Cách ở Luxembourg, chiến thắng quân Thổ Nhĩ Kỳ thế kỷ 16, và đầu thế kỷ 20, chiến thắng phái Tam Điểm phân hóa và chống phá Giáo Hội tại Bồ Đào Nha...

Và ngay đến hôm nay, lời kinh Mân Côi vẫn còn ghi thêm những chiến công lẫy lừng.

- Những chứng từ sống động về lời kinh Mân Côi của những người phụ nữ Công Giáo Nga, ít học, quê mùa đã hết lòng khiêm nhường, tín thác, không chỉ 7 năm Mân Côi mà là gần 70 năm Mân Côi dưới chế độ vô thần cộng sản để niềm tin vào Chúa Giêsu Kitô vẫn mãnh liệt, sức sống của Chúa Giêsu Kitô vẫn trẻ trung, và Giáo Hội Chúa Kitô vẫn tồn tại và sống động.

- Những chứng từ sống động về lời kinh Mân Côi của những Giáo Hội hầm trú bên Trung Quốc đã khẳng định sức mạnh chiến thắng diệu kỳ của chuỗi Mân Côi trước bao bức bách, cường bạo.

- Những chứng từ sống động gần gũi nhất nơi mỗi biến cố thắp nến cầu nguyện cho Công Lý tại Việt Nam, bài ca chiến thắng của những người nghèo lại cất lên, và phép lạ của kinh Mân Côi phải thấy được bằng con mắt Đức Tin mới nhận ra mình đang được hơn là mất, đang thắng chứ không phải thua, đang bình an và hiệp nhất giữa sóng gió tưởng có thể chòng chành, chao đảo.

Vâng, có thể là không còn tượng Đức Mẹ ở công viên, nhưng sáng sáng chiều chiều ở "công viên mới" vẫn còn lời kinh kính mừng của những người yêu mến Mẹ. Tượng Đức Mẹ người ta đã dẹp đi rồi. Nhưng Mẹ vẫn ở đó. Ai dám nói những người nghèo khổ của Mẹ đang thua? Vẫn những kinh Mân Côi hướng lòng lên Đồi Thánh Giá. Có thể là không còn cây Thánh Giá trên đồi xưa đầy kỷ niệm, nhưng, cây Thánh Giá trên cao quá, ở xa quá, bây giờ người ta đã hạ cây Thánh Giá ấy xuống mà đặt vào ngay trong lòng mỗi tín hữu để tôn kính, để ôm hôn, để làm nhịp cầu cứu rỗi. Ai dám nói những người nghèo khổ của Mẹ đang thua?

Có những chiến công không chỉ thấy bằng con mắt Đức Tin, mà con mắt trần cũng có thể thấy được. Có thể bạn và tôi còn nhớ "bài ca chiến thắng của người nghèo khổ" bởi muôn tấm lòng cất lên rập ràng phía sau trường tiểu học cuối xóm Trúc Lâm nhìn về núi Tàpao nơi Mẹ đang ở đó, bị bắn vỡ đầu, bị đập gãy tay... Vâng, lời kinh Mân Côi ấy đã hiển linh thành Trung Tâm Thánh Mẫu Tàpao cho muôn con cái Mẹ, cho muôn người nghèo khổ thêm niềm xác tín chiến thắng.

- Những chứng từ về kinh Mân Côi, chuỗi Mân Côi, bài ca chiến thắng của người nghèo khổ còn sống động ở nơi mỗi gia đình Công Giáo. Một vòng thăm dò cho thấy những gia đình có giờ kinh chung, lần chuỗi chung sáng hoặc tối, một chục hay đủ năm chục... được nhiều ơn bình an gia đình hơn là những gia đình thiếu giờ kinh chung, vắng kinh Mân Côi chung và riêng, hoặc còn tệ hơn nữa là các thành viên trong gia đình không hề biết... lần chuỗi!

Thực ra, để đọc kinh chung và lần chuỗi chung trong gia đình không phải dễ nếu không có một quyết tâm cùng với những khiêm tốn, từ bỏ. Việc lần chuỗi riêng cũng thế, nếu không có lòng yêu mến Mẹ, tin thác cậy trông nơi Mẹ để vượt qua sóng gió cuộc đời, nhất là vượt qua cám dỗ để nên hoàn thiện thì khó lòng mà thực hiện được. Xin nghe mấy tâm sự:

"Thưa cha, nhà con không đọc kinh chung được, vì khoảng 8 đến 9 giờ là nhà con xỉn rồi! Mấy mẹ con đọc kinh thì ổng nói là... quân Pha-ri-siêu!"

"Mỗi lần lần chuỗi, con phải cất cái chuỗi đi, vừa làm việc vừa lần chuỗi cha ạ! Có chục thiếu, có chục dư! Nhưng chắc Đức Mẹ bỏ qua cho. Ổng thấy con cầm cái chuỗi là ổng chửi: "Đồ đạo đức giả!"

"Đã mấy lần cầm đến chuỗi Mân côi, mà con không thể nào lần chuỗi được, nhớ đến nó, phát ghét!"... "Nó nào?"... "Thằng chồng con!"

Bởi vậy, khi cả nhà thuận tình đọc kinh và lần chuỗi chung với nhau, thiết tưởng, đã là một chiến thắng.

- Chứng từ Mân Côi còn là bài ca chiến thắng của người có niềm tin vào đời sau, còn có đời sau và cần có đời sau. Một lời khẩn khoản thiết tha vì tin yêu Mẹ Maria là Mẹ của mình trong Nước Trời. Mẹ là trạng sư cho những tội nhân cần đến lượng khoan hồng, lòng thương xót. Không chỉ đợi đến lúc lâm chung mới tỉnh ngộ, mà ngay khi các tín hữu đọc kinh Mân Côi sốt sắng, cũng đã mặc lấy tâm tình của "tội nhân sẽ đến giờ lâm tử" nói lên niềm tin vào đời sống vĩnh cửu trong Thiên Chúa, nhờ Mẹ Maria trong tình mẫu tử thiêng liêng.

"Nếu "nải chuối buồng cau, đường mía lau xôi nếp một" là ca dao tình mẹ ngọt ngào trong văn học dân gian Việt Nam, thì Kinh Kính Mừng quả là lời kinh tuyệt diệu ngọt ngào tình mẫu tử thiêng liêng giúp ta gặp được Đức Maria cao xa là Mẹ Chúa Trời nhưng vẫn cứ luôn gần gũi với người dương thế cho dẫu phận người hôm nay không đẹp đẽ gì, vì xét cho cùng chỉ là kẻ có tội "khi nay và trong giờ lâm tử". Chính vì thế Kinh Kính Mừng đã trở thành lời nguyện tắt mọi lúc mọi nơi. (Đức Cha Giuse Vũ Duy Thống)

Mừng lễ Mẹ Maria Mân Côi và vào tháng Mân Côi, chúng con tạ ơn Chúa đã ban cho chúng con người Mẹ mẫu gương nhân đức tuyệt vời, ban cho chúng con Chuỗi Mân Côi phương thế chiến thắng cám dỗ, thế gian, ba thù và phương thế nên thánh. Xin cho chúng con yêu mến, tin tưởng Mẹ, mà siêng năng lần hạt riêng và lần hạt chung với gia đình.

Xin cho linh hồn cha cố GB. hưởng nhan Chúa. Amen.

 

07/10-180: Suy niệm của Lm. Đaminh Hương Quất


DÙNG CHUỖI MÂN CÔI ĐỂ CHIẾN THẮNG SỰ DỮ, GÓP PHẦN XÂY DỰNG NÊN HÒA BÌNH THẾ GIỚI
 

Từ năm 1570, vua Hồi giáo gọi là Selim đã chiến thắng nhiều nơi cướp được nhiều thành, đã 07/10-180


Từ năm 1570, vua Hồi giáo gọi là Selim đã chiến thắng nhiều nơi cướp được nhiều thành, đã dự tính đem quân sang chiếm nước Ý và các nước Tây phương. ĐTC Grêgôriô XIII thấy nguy cơ Hồi giáo đe dọa phương Tậy, liền đứng lên kêu gọi các nước Tây phương đoàn kết để chống địch quân, song kết quả không khả quan, chỉ có Vua Tây Ban Nha hưởng ứng. Mặc dầu quân ít, Ðức Thánh Cha cũng đặt hết niềm tin vào Ðức Mẹ, truyền cho giáo dân siêng năng lần hạt nài xin Mẹ cứu chữa, và đặt tướng Joan là người đạo đức chỉ huy mặt trận. Theo lệnh Ðức Thánh Cha, binh sĩ xưng tội rước lễ trước khi trẩy tàu sang giao chiến, bê bối về tình và về tiền đều bị loại. Ngài còn trao cho tướng quân một lá cờ lớn đã làm phép, thêu hình Thánh Giá, và ảnh Mẹ bế Chúa Con; và phái thêm hai linh mục dòng Phanxicô để khuyên bảo binh sĩ, giải tội, làm các phép bí tích lúc cần.

Tầu chiến của Công Giáo đến vịnh Lê-pan nhằm ngày 7/10/1571, thì gặp tàu địch hãm giữ. Tướng Joan liền kéo cờ Thánh giá lên cao, binh sĩ Công Giáo vừa trông thấy cờ liền đồng loạt cúi đầu kính lạy, kêu tên cực trọng Chúa và Mẹ, nài xin ơn phù giúp rồi đeo tràng hạt vào cổ mà giao chiến. Bên địch có 300 tàu, quân đông nghẹt, lại được xuôi gió, nên cầm chắc chiến thắng trong tay

Nhờ ơn Đức Mẹ Hạm đội Công giáo chiến thắng quân Thổ Nhĩ Kỳ ở Lépante lạ kỳ, vì so với quân lực, sự hung hãn- hiếu chiến, tính quá khích chiến sĩ Kitô giáo thua xa quân Hồi Giáo.

Ðể tạ ơn Mẹ đã cho chiến thắng vịnh Lê-pan, Ðức Thánh Cha Grêgôriô XIII đã truyền cho vào kinh cầu Ðức Bà câu " Ðức Bà phù hộ kẻ có đạo, cầu cho chúng tôi", và lập ra lễ Mân Côi ngày 7/10 hàng năm để ghi nhớ ơn Ðức Mẹ. Kỷ niệm Biến cố này Đức Thánh Cha Piô V đã cho phổ biến lễ Mân côi một cách rộng rãi trong Hội Thánh toàn cầu (sưu tầm)

Đấy là một phần nguồn gốc của Lễ Mân Côi. Mân là tên của một loại ngọc, Côi là một thứ ngọc tốt, ngọc quí lạ. Kinh Mân Côi là “Kinh Ngọc”, là ”chuỗi ngọc Mân và ngọc quí lạ”.

Ngày nay, tại Trung Đông (Irac, Syrya), nhân loại đang trực diện nhóm Hồi giáo Issis qua khích tự xưng Nhà Nước Hồi giáo lộng hành. Ai theo dõi truyền thông sẽ hết sức phẫn nộ trước việc giết người hết sức dã man của nhóm Hồi giáo quá khích này. Họ nhân dân Thiên Chúa- Đấng Alla mà giết người hàng loạt, đó là điều xúc phạm nặng nề đến Chúa; điều cho thấy rõ họ đang lạm dụng danh Thiên Chúa để làm tay sai sự dữ. LHQ đã thống nhất 100% việc nên án nhóm Nhà nước Hồi giáo này. Liên quân gồm nhiều chục nước, đứng đầu là Mỹ đang chiến đấu loại trừ sự dã man của nhóm Hồi giáo quá khích này.

(giữa hai diều xấu không thể tránh, ta có quyền được chon lựa chon cái xấu ít hơn).

Như vịnh Lephan ở thế kỷ 16, vũ khí để chiến thắng nhóm Hồi giáo Isis chính là Chuỗi Mân Côi. Mỗi người chúng ta trong Giáo hội hiệp thông và sứ vụ, hiệp công cùng với mọi người thiện chí trên thế giới hãy dung chuỗi Mân côi để chiến thắng sự dữ, không chỉ nhóm Hồi giáo quá khích Isiss, mà còn ở khắp nơi trên thế giới, bởi ở đâu cũng có sự dữ hiện diện, bất công tồn tại, công lý và sự thật bị chà đạp, nhất là ở những nơi dộc tài chuyên chế, sự sống không được tôn trọng, nhân phẩm con người bị hạ xuống ngan hàng với xúc vật, tệ hơn xúc vật.

Và không nói đâu xa, trong mỗi chúng ta cũng thường xuyên trực diện với cám dỗ sự dữ, và chắc chắn ta cũng đã nhiều lần bị sự dữ đánh gục và nhờ ơn Chúa biết trỗi dậy vì còn tín thác vào lòng Thương xót của Thiên Chúa.

Chuỗi Mân Côi được Mẹ Thiên Chúa trao cho Thánh Đaminh lưu truyền như là phương dược tuyệt vời để chũa lành vết thương tâm hồn; sóng gió gia đình, nhất là chiến thắng sự dữ mà kẻ cầm đầu là ma quỷ. Đức Mẹ đảm bảo chắc chắn phần thưởng Thiên đàng cho những ai biết siêng năng lần chuỗi Mân côi, để cùng Mẹ Maria đến với Thiên Chúa.

Năm 1917, nhiều lần Mẹ Thiên Chúa đã hiện ra với ba trẻ nhỏ làng Fatima: Luxia, Phanxico và Giaxinta và trao cho ba trẻ sứ điệp từ trời: ăn năn đền tội, đổi mới cuộc sống- tôn sùng Mẫu Tâm- năng lần hạt Mân Côi.

Hàng ngày, khi lần chuỗi Mân Côi, chúng ta cùng Mẹ Maria sống lại những biến cố quan trọng cuộc đời của Chúa Giêsu từ Nhập thể- Nhập thế và chết trên cây Thánh giá, sống lại và lên trời.

Tin Mừng hôm nay, biến cố Truyền tin đưa ta chiêm ngắm- sống lại biến cố đầu tiên trong hành trình Thiên Chúa làm người: Ngôi Lời Nhập Thể.

Trong biến cố Truyền tin này, ta thấy nổi bật Đức Vâng Lời theo ý Chúa của Chúa Giêsu và Mẹ Maria.

Chúa Giêsu vâng lời Chúa Cha nên đã Nhập Thể làm người, bước vào một bước ngoặc mới, như thánh Phaolô nóiThánh Phaolô quả quyết ‘Đức Giêsu Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hành với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn chút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế’ (Pl 2,6-7).

Đức trinh nữ Maria “này tôi là tôi tá Chúa, xin Vâng như lời Sứ Thần truyền”. Tiếng ‘xin vâng’ đưa Mẹ đên một bước ngoạc mới: Từ một thôn nữ đạo đức, quyết sống đời tận hiến cho Chúa giờ trở nên làm Mẹ Chúa Giêsu.

‘Xin vâng’ đấy là phương cách sống chứng nhân Tin Mừng ta học nơi Chúa Giêsu và Mẹ Maria để nên thánh.

Ơn gọi chung của mọi Kitô hữu là nên Thánh trong những bậc sống của mình. Cuộc sống con người được dựng nên theo Hình ảnh Thiên Chúa, nhất là người môn đệ theo Chúa Giêsu chỉ có ý nghĩa giá trị khi ta biết nên Thánh. Chỉ tìm được bình an- phúc thật khi ta biết nên Thánh.

Và như vậy, nhờ nên Thánh, hành trình vác thập giá theo Chúa Giêsu là hành trình Tin Mừng chứ không phải tin buồn; nhờ nên Thánh không phải đợi đên đời sau, mà ngay ở đời này ta đã được nêm phúc Thiên đàng.

Lạy Mẹ Maria, trong tháng Mân côi, xin cho chúng con, gia đình chúng con biết lần chuỗi Mân Côi. Chúng con xin trao dâng Mẹ Năm Thánh Giáo phận, Thượng Hội động thế giới về gia đình đang diễn họp.
Xin Mẹ chúc lành và giúp chúng con. Amen.

 

07/10-181: Suy niệm của Đức Cha GB. Bùi Tuần


Tháng Mân Côi và NHỮNG BÔNG HỒNG NGOẠI
 

Hằng năm, tháng 10 là thời gian Hội Thánh dành riêng để tôn kính Đức Mẹ. Cách tôn kính 07/10-181


Hằng năm, tháng 10 là thời gian Hội Thánh dành riêng để tôn kính Đức Mẹ. Cách tôn kính truyền thống trong tháng này là cầu nguyện theo kinh Mân Côi.

Năm nay, thời cuộc gợi ý cho tôi tôn kính Đức Mẹ trong tháng Mân Côi này một cách hơi độc đáo. Đó là dâng lên Mẹ những bông hồng thiêng hái từ vùng đất ngoài công giáo.

Xưa, nhiều người ngoại đạo đã được Chúa Giêsu khen ngợi vì họ ngoại đạo mà sống đạo rất tốt. Thực là phải lẽ, nếu coi những người ấy là những bông hồng ngoại trong Nhà Chúa.

Nay, nhiều người ngoại đạo cũng rất đáng được khen ngợi, vì họ sống Phúc Âm còn tốt hơn người công giáo. Chúng ta nên coi họ là những bông hồng ngoại trong Nước Trời.

Ở đây, tôi chỉ nêu lên vài trường hợp người ngoại, mà Chúa Giêsu đã khen, và tôi gọi là bông hồng ngoại. Từ đó mỗi người chúng ta sẽ nhận ra những người ngoại giống như họ đang sống xung quanh ta. Tìm ra rồi, ta sẽ cùng Đức Mẹ dâng những bông hồng thiêng đó lên Chúa với lòng cảm tạ ngợi khen.

1/ Bông hồng ngoại toả hương thơm đức tin

Phúc Âm thánh Matthêu kể: “Khi Đức Giêsu vào thành Caphácnaum, có một viên đại đội trưởng đến gặp Ngài và nài xin: 'Thưa Ngài, tên đầy tớ của tôi bị tê bại nằm liệt ở nhà, đau đớn lắm'. Chúa Giêsu nói: 'Chính tôi sẽ đến chữa nó'. Viên đại đội trưởng đáp: 'Thưa Ngài, tôi chẳng đáng Ngài vào nhà tôi, nhưng xin Ngài chỉ nói một lời là đầy tớ tôi sẽ được khỏi bệnh. Vì tôi đây, tuy dưới quyền kẻ khác, tôi cũng có lính tráng dưới quyền tôi. Tôi bảo người này: Đi, là nó đi, bảo người kia: Đến, là nó đến, bảo người nô lệ của tôi: Làm cái này, là nó làm'. Nghe vậy, Đức Giêsu ngạc nhiên và nói với những kẻ theo Ngài rằng: 'Tôi bảo thật các ông, tôi không thấy một người Ítraen nào có lòng tin như thế. Tôi nói cho các ông hay: Từ phương đông phương tây, nhiều người sẽ đến dự tiệc cùng các tổ phụ Ápraham, Ixaác và Giacóp trong Nước Trời. Còn con cái Nước Trời thì sẽ bị quăng vào chỗ tối tăm bên ngoài. Ở đó, chúng sẽ phải khóc lóc nghiến răng'. Rồi Đức Giêsu nói với viên đại đội trưởng rằng: 'Ông cứ về đi. Ông tin thế nào thì được như vậy'. Và ngay giờ đó, người đầy tớ ông được khỏi bệnh” (Mt 8,5-13).

Trong câu chuyện trên đây, chính Chúa Giêsu đã tôn vinh đức tin viên sĩ quan ngoại giáo. Một đức tin khiêm tốn, một đức tin đơn sơ, một đức tin mạnh mẽ vững bền.

Đức tin như thế vẫn nhận thấy hiện nay nơi nhiều người ngoài công giáo. Họ có thể là những người quyền quý. Nhưng phần đông họ sống cảnh nghèo, bệnh tật. Có người như chìm sâu dưới đáy vực thẳm thất vọng hoặc trong đường hầm tăm tối. Nhưng một số người trong họ vẫn can đảm phấn đấu. Sau cùng họ đã tìm được lối thoát. Nhờ niềm tin vào Đức Mẹ.

Họ biết rất sơ sài về Đức Mẹ. Nhưng họ tin tuyệt đối vào Đức Mẹ. Tôi nghĩ là chính Đức Mẹ đã ban cho họ niềm tin. Niềm tin ấy ví tựa cây hoa hồng, mà Đức Mẹ gieo trồng và chăm sóc. Chúng ta hãy đứng bên họ, để cùng họ ca ngợi tình Mẹ xót thương.

2/ Bông hồng ngoại toả hương thơm đức ái

Trong Phúc Âm thánh Luca, khi nêu gương sáng về bác ái, Chúa Giêsu đã chọn một người ngoại giáo. Người đưa ra dụ ngôn với những chi tiết cụ thể.

Một người bị bọn cướp trấn lột, bị trọng thương, nằm bất động bên vệ đường. Mấy vị chức sắc tôn giáo đi qua, nhìn thấy cảnh đó, nhưng bỏ đi. Sau cùng, một người ngoại đạo cỡi ngựa đi qua, thấy vậy, đã xuống ngựa, và chăm sóc cho nạn nhân một cách rất chu đáo (x. Lc 10,30-35).

Hồi đó, dụ ngôn trên đây có lẽ đã làm buồn lòng những người theo đạo Chúa, vì Chúa Giêsu không tìm gương bác ái nơi họ, mà lại đưa một người ngoại để làm gương.

Thời nay, tình hình có khác. Người có đạo vốn coi việc thực thi bác ái là bổn phận căn bản của đạo. Nhưng không vì thế, mà khẳng định được rằng: Trên thực tế, mọi người công giáo, mọi miền công giáo, đều nêu gương sáng về bác ái.

Phải thành thực mà nhận rằng: Hương thơm bác ái đã và đang toả ra một cách rõ ràng và hấp dẫn từ nhiều cá nhân, nhiều nhóm, nhiều tổ chức ngoài công giáo.

Không thiếu người kể cả người công giáo, tại Việt Nam hôm nay, dám làm chứng rằng: Trong nhiều trường hợp khó khăn, họ đã nhận được tình yêu thương giúp đỡ từ những người ngoài công giáo. Họ tưởng mình đã bị loại trừ, nhưng họ đã gặp được những cái nhìn, những bàn tay, những tình nghĩa chân thành cứu họ từ một thế giới không phải là công giáo.

Riêng tôi, tôi nhìn những chứng nhân bác ái đó là những bông hồng thơm đẹp. Thời nay việc bác ái là cách sống đạo có sức thuyết phục. Chúng ta hãy cùng Đức Mẹ mà dâng họ lên Chúa là nguồn tình yêu.

3/ Bông hồng ngoại toả hương thơm biết ơn

Phúc Âm thánh Luca thuật lại rằng: “Lúc Chúa Giêsu vào một làng kia, thì có mười người phong hủi đón gặp Người. Họ dừng lại đằng xa và kêu lớn tiếng: 'Lạy Thầy Giêsu, xin dủ lòng thương chúng tôi!' Thấy vậy, Đức Giêsu bảo họ: 'Hãy đi trình diện với các tư tế'. Đang khi đi thì họ được sạch. Một người trong bọn, thấy mình được khỏi, liền quay trở lại và lớn tiếng tôn vinh Thiên Chúa. Anh ta sấp mình dưới chân Đức Giêsu mà tạ ơn. Anh ta lại là người Samari. Đức Giêsu mới nói: 'Không phải cả mười người đều được sạch sao? Thế thì chín người kia đâu? Sao không thấy họ trở lại tôn vinh Thiên Chúa, mà chỉ có người ngoại bang này?” (Lc 17,12-18).

Biết ơn là một đức tính nhân bản rất được tôn trọng khắp nơi. Riêng tại Việt Nam, lòng biết ơn được coi như một yếu tố tôn giáo truyền thống.

Biết ơn phải được thực hiện bằng những việc cụ thể, với những nhân tố cụ thể.

Mọi người công giáo Việt Nam hôm nay đều ý thức điều đó và cố gắng thực thi điều đó. Nhưng, biết đâu lời Chúa Giêsu phiền trách xưa vẫn còn đúng một cách nào đó nơi này người nọ tại Hội Thánh ta.

Trái lại, lòng biết ơn lại là một thứ bông hồng thơm đẹp dễ gặp được ở nhiều người ngoại đạo. Chính vì thế, mà chúng ta sát lại bên họ, để hiệp thông, và để cùng Đức Mẹ cảm tạ Thiên Chúa là Cha chung mọi người.

Tới đây, chắc mọi người đã hiểu được ý hướng của tôi về tháng Mân Côi năm nay. Hình thức vẫn như cũ. Nhưng tinh thần thì mở rộng ra. Mục đích để chúng ta gần lại các người ngoài công giáo với tinh thần trân trọng khiêm tốn. Thời sự hiện nay mời gọi chúng ta thực thi điều đó.

 

07/10-182: Nhớ lời Đức Mẹ nhắn nhủ


(Suy niệm của Lm. Jos Tạ Duy Tuyền)
 

Quan sát những gì đang xảy ra trong thế giới hôm nay, chúng ta nhận thấy điều gì? Tội ác07/10-182


Quan sát những gì đang xảy ra trong thế giới hôm nay, chúng ta nhận thấy điều gì? Tội ác gia tăng. Cá nhân cũng nhiều và tập thể cũng không ít. Đạo đức ngày một suy thoái dẫn đến một đời sống của giới trẻ suy đồi trầm trọng. Khoa học tiến bộ thực sự nhưng dường như lại tiếp tay cho sự ác hoành hành. Nguy cơ giết người hàng loạt luôn ở mức báo động cao. Con người hôm nay đang tự hủy chính mình và hủy hoại cuộc đời nhau bằng nhiều phương tiện rất tối tân và hiện đại. Trong suốt thời gian qua, công an đã tịch thu hàng ngàn, hàng triệu viên thuốc lắc tổng hợp đang được giới trẻ buôn bán, chuyền tay nhau. Kẻ có tiền thì tìm đến để rửa tiền, để sống thác loạn, nhằm thỏa mãn thú tính của mình. Kẻ không có tiền thì buôn bán trao đổi nhằm vun quén những đồng tiền bất chính. Nhiều gia đình đang có nguy cơ tan rã vì chẳng ai tin tưởng nhau, chẳng ai chịu nhường nhịn nhau. Quyền uy của cha mẹ trong gia đình đang lu mờ dần. Câu phong dao “chồng xướng vợ tùy” dường như đã không còn. Sự ác xem ra đã thắng sự thiện. Người ta vì tiền, vì tình và vì danh vọng mà sẵn sàng làm tay sai cho ma quỷ, bán linh hồn mình cho quỷ dữ sai khiến, miễn sao mình có được những danh lợi thú trần gian.

Trước viễn cảnh bi đát của thế giới, những ai có đạo đức không khỏi những lo âu trăn trở. Làm sao cứu được thế giới khỏi sự diệt vong bởi suy đồi đạo đức? Làm sao đẩy lùi sự ác ra khỏi thế gian?

Phải chăng lịch sử của những năm đầu thế kỷ 20 đang được lặp lại nơi những năm đầu thế kỷ 21 này? Nếu đúng vậy thì những thị kiến mà Đức Mẹ Fatima đã cho ba 3 trẻ nhỏ được xem thấy cũng đang lập lại trong thế giới hôm nay! Thị kiến đó đã được chị nữ tu Lucia kể lại như sau:

“Đức Mẹ cho chúng con thấy một biển lửa lớn lao xem ra như là nằm dưới lòng đất. Nhào lặn trong biển lửa này là các quỉ dữ và các linh hồn mang hình dạng con người, giống như những cục than hồng đang cháy trong suốt, tất cả đều đen đủi hay mầu đồng đánh bóng, đang vật vờ trôi nổi giữa vùng hỏa hoạn, lúc thì bị tung lên không trung do những ngọn lửa hồng phát ra tự chính bản thân họ cùng với những đám khói khổng lồ, lúc thì té xuống tứ phía như những đốm lửa trong một biển lửa vĩ đại, không trọng lượng cũng chẳng thăng bằng, và giữa những tiếng la hét và rên siết của đau đớn và tuyệt vọng làm chúng con kinh hoàng và khiến chúng con run rẩy vì sợ hãi.

Rồi chúng con nhìn lên Đức Mẹ, Ngài đã nói với chúng con bằng một giọng rất êm đềm và buồn bã:

“ Chúng con đã nhìn thấy hỏa ngục nơi các linh hồn của những tội nhân khốn nạn phải tới. Để cứu vớt họ, Thiên Chúa muốn thiết lập trên thế giới việc tôn sùng Trái-tim Vô-nhiễm Nguyên-tội của Mẹ.

Thực vậy, những lần Đức Mẹ hiện ra tại Lộ Đức, hay tại Fatima, Đức Mẹ đều báo trước những tai hoạ khủng khiếp sẽ xảy ra do tội lỗi chồng chất của thế giới gây nên. Và để làm nhẹ đi những tai hoạ này, Đức Mẹ nhắn bảo các con cái Mẹ hai điều:

Một là hãy siêng năng cầu nguyện bằng kinh Mân Côi

Hai là hãy ăn năn sám hối.

Nhưng xem ra nhiều người vẫn coi thường lời cảnh báo. Họ không những chẳng cầu nguyện mà còn coi thường việc cầu nguyện. Có những người cầu nguyện nhưng lại đòi Thiên Chúa làm theo ý mình chứ không phải là cầu nguyện để tìm ra ý Chúa. Có những người cầu nguyện nhưng lại không cải thiện đời sống. Họ cầu nguyện nhưng vẫn chất chứa trong lòng biết bao mối tội đầu như: dâm ô, ghen ghét, gian dối và kiêu căng tự mãn.

Cầu nguyện thường đưa đến sự cải thiện đời sống. Vì cầu nguyện là đỉnh cao của đời sống đức tin. Tin vào Thiên Chúa. Người có đức tin tất sẽ ăn ngay ở lành. Họ sống và làm việc dưới cái nhìn của Thiên Chúa. Họ không thể sống phật ý Thiên Chúa hay đi ngược với giới răn và giáo huấn của Chúa.

Hệ quả của cầu nguyện không chỉ giúp ta biết ăn năn sám hối mà còn khơi dậy trong ta tinh thần đền tội. Chính nhờ nhận ra sự gớm ghê của tội lỗi là xúc phạm đến Chúa, là hủy diệt mình trong cõi trầm luân, sẽ giúp chúng ta gia tăng việc hy sinh hãm mình, tránh xa mọi thói hư tật xấu, những ước muốn tội lỗi. Như thế, cầu nguyện sẽ giúp chúng ta đứng vững trước những cám dỗ và cải thiện đời sống theo tinh thần phúc âm.

Người ta kể rằng: “Một hôm Satan đem bày bán những dụng cụ làm việc của hắn. Có rất nhiều món, được dán nhãn hiệu rõ ràng: nào là giận hờn, ganh ghét, dâm dục, nào là kiêu ngạo, nói dối, tham lam v.v. Và món nào cũng có ghi giá. Nhưng có một món được để riêng một bên, không dán nhãn nhưng giá lại cao nhất. Một người hỏi:

- Đó là cái gì mà cao giá dữ vậy?
- Đó là sự ngã lòng.
- Tại sao nó cao giá thế?

- Vì nó hữu hiệu hơn tất cả những dụng cụ khác: khi tôi không thể dùng những dụng cụ kia để đến gần người ta thì tôi dùng nó để xâm nhập tận cõi lòng người ta. Một khi tôi đã đặt nó vào lòng người ta rồi thì tôi có thể xúi người ta làm bất cứ điều gì tôi muốn. Mà đặt nó vào lòng ta rất dễ, bởi vì ít ai biết dụng cụ đó là của tôi”.

Trong tháng Mân côi, giáo hội mời gọi chúng ta hãy siêng năng cầm lấy Tràng chuỗi Mân Côi là khí giới, là thuẫn đỡ trong đời sống. Khi đọc kinh Mân côi chúng ta cậy nhờ lời bầu cử của Mẹ, xin Chúa ban cho những kẻ tội lỗi được ơn trở lại, xin cho chúng ta ơn can đảm để chống lại những cám dỗ của ma quỉ, và theo gương Mẹ sống gắn bó và tuân hành thánh ý Chúa.

Ước gì mỗi người trong chúng ta biết dâng những hy sinh, những lời kinh Mân côi để đền bù lại những tội lỗi của con người hôm nay. Amen.

 

07/10-183: Năm đóa hồng xanh dâng Mẹ - AM Trần Bình An

 

Trong cuốn Niên Sử của Bộ Truyền Bá Đức Tin, người ta đọc câu chuyện sau đây xảy ra 07/10-183


Trong cuốn Niên Sử của Bộ Truyền Bá Đức Tin, người ta đọc câu chuyện sau đây xảy ra tại nước Somalia thuộc đại lục Phi Châu. Hôm ấy, các Thừa Sai cùng với nhóm Giáo Lý Viên trực chỉ Abal, một làng nhỏ thuộc tỉnh Bakool bên nước Somalia, để rao giảng Tin Mừng của Đức Chúa GIÊSU KITÔ.

Khi đến một ngã rẽ, đoàn truyền giáo bỗng phân vân không biết phải chọn con đường bên trái hay rẽ sang bên phải? Sau cùng, mọi người đồng ý để rơi xuống đất Ảnh Vảy Phép Lạ (Ảnh Đức Mẹ Ban Ơn). Khi rơi xuống, Ảnh Vảy Phép Lạ chỉ về hướng bên trái. Mọi người vui vẻ tiếp tục cuộc hành trình.

Tuy nhiên khi đến nơi, mới biết đây là Ulfunga, một làng nhỏ nằm đối ngược với làng Abal mà đoàn thừa sai muốn đi tới. Khi biết như vậy thì đã quá trễ vì trời đã tối. Vã lại, thật nguy hiểm khi quay trở lại đàng sau. Các vị truyền giáo quyết định dừng lại qua đêm tại làng Ulfunga.

Nơi làng, chỉ tìm thấy duy nhất một cụ bà ngoại giáo cùng với mấy đứa trẻ đang quây quần sưởi ấm chung quanh đám lửa cháy. Sau bữa ăn tối sơ sài, đoàn thừa sai đạo đức bắt đầu lần hạt Mân Côi chung. Buổi lần hạt chấm dứt, cụ bà Somalia tiến lại gần vị Linh Mục thừa sai và hỏi:- “Ông đọc “Ave MARIA - Kính Mừng MARIA” phải không?” Vị thừa sai đáp:- “Đúng thế! Cụ biết “Lời Kinh” này phải không? Phải chăng cụ là tín hữu Công Giáo?” Cụ bà liền giơ cho vị Linh Mục xem Ảnh Vảy Phép Lạ đang mang nơi cổ và nói:

- “Cách đúng 20 năm, đứa con trai duy nhất của tôi trở về làng sau một chuyến đi lâu thật lâu. Rồi con trai tôi ngã bệnh nặng. Trước khi chết, con nói với tôi: “Má à, con ra đi về một xứ sở mà Má không biết. Nhưng con mong muốn rằng một ngày kia Má cũng đến xứ sở này với con. Nơi đó, chúng ta cùng chung hưởng hạnh phúc. Ngay bây giờ, con không thể dạy cho Má biết điều phải làm để đến được xứ sở đó, như con từng học biết nơi xứ sở của người da trắng. Nhưng Má hãy lấy Ảnh Vảy con đang mang nơi cổ và hàng ngày Má luôn luôn đọc: “Ave MARIA”. Nói xong, con trai tôi tắt thở. Kể từ ngày đó, tôi luôn luôn đọc “Kính Mừng MARIA”. Nhưng MARIA là Ai vậy?” Vị Linh Mục thừa sai vui mừng nói cho cụ bà Phi Châu biết MARIA là thánh danh của Đức Nữ Trinh Rất Thánh MARIA.

Rồi Cha dạy cho cụ bà biết các điều căn bản phải TIN theo giáo lý đạo Công Giáo. Tối hôm sau, vị Thừa Sai rửa tội cho bà cụ với tên thánh là MARIA. Suốt đêm ấy, các thừa sai nghe bà cụ liên tục lập đi lập lại “Ave MARIA”. Ngày tiếp theo, cụ bà êm ái trút hơi thở cuối cùng, trên đôi môi, điểm nụ cười hạnh phúc và đôi tay đặt trên ngục trong đó siết chặt Ảnh Vảy Đức Mẹ Ban Ơn. Cụ bà Maria hân hoan ra đi gặp lại đứa con trai thân yêu trên thiên quốc, dưới áo choàng của Đức Nữ Trinh Rất Thánh MARIA. Đó là danh thánh cụ hằng kêu cầu và chào kính mà không hề biết rằng ngài chính là Hiền Mẫu MARIA! (Sr. Jean Berchmans Minh Nguyệt, Ave Maria ban ơn cứu rỗi, La Mia Messa, Volume II, Marzo Aprile, Maggio/2009, Anno III, Anno B, Casa Mariana Editrice)

Mẹ luôn là nguồn hy vọng cho bất cứ ai trông cậy vào Mẹ, kể cả những người chưa nhận biết Chúa. Tại các linh địa Đức Mẹ, như La Vang, TàPao, không hiếm những người khác tôn giáo đến khấn xin Mẹ những ơn lành.

Năm đóa hoa xanh hôm nay kính dâng lên Mẹ trong niềm hy vọng chan chứa, trong niềm cậy trông vô bờ, vì Mẹ như Sao Biển sáng chói giữa đêm đen sóng gió bão bùng.

Đóa hồng Tái sinh

Ðức Chúa Giêsu sống lại. Ta hãy xin cho được sống lại thật về phần linh hồn.

Đức Chúa Giêsu đã sống lại như lời Người đã phán.Alleluia. Người mời gọi mọi người hãy tái sinh với Người, bằng cuộc đời mới là sám hối và tin vào Tin Mừng, như khi Người bắt đầu Người rao giảng ba năm trước đó.

Thánh Phaolô mời gọi tín hữu Êphêsô tái sinh: “Anh em phải cởi bỏ con người cũ với nếp sống xưa, là con người phải hư nát, vì bị những ham muốn lừa dối, anh em phải để Thần Khí đổi mới tâm trí anh em, và phải mặc lấy con người mới, là con người đã được sáng tạo theo hình ảnh Thiên Chúa để thật sự sống công chính và thánh thiện. (Ep 4, 22-24)

“Con phải canh tân tâm hồn quảng đại, đơn sơ đối với Chúa: “Chúa muốn gì con cũng cho hết,” và đừng quên điều thứ hai: “Chúa cho con gì con cũng nhận hết.” (Đường Hy Vọng, số 642)

Đóa hồng Quy Thiên

Ðức Chúa Giêsu lên trời. Ta hãy xin cho được ái mộ những sự trên trời.

Trước cuộc khổ nạn, Đức Giêsu nói lời cáo biệt với các tông đồ: “Anh em đừng xao xuyến! Trong nhà Cha của Thầy, có nhiều chỗ ở; nếu không, Thầy đã nói với anh em rồi, vì Thầy đi dọn chỗ cho anh em. Nếu Thầy đi dọn chỗ cho anh em, thì Thầy sẽ trở lại và đem anh em về với Thầy, để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó. Và Thầy đi đâu, thì anh em biết đường rồi.” (Ga 14, 2-4)

Đức Mẹ đã biết bao lần khuyên nhủ con cái ăn năn, sám hối để được hưởng phúc Thiên Đàng, đoàn tụ với Người Cha Nhân Từ, hằng thương yêu con cái trần thế, nên đã cho Con Một xuống cứu chuộc.

“Con hãy sẵn sàng cầm đèn sáng đợi chờ giờ Chúa trở lại, như Chúa muốn, nơi Chúa muốn, lúc Chúa muốn. (Đường Hy Vọng, số 670)

Đóa hồng Ân sủng

Ðức Chúa Thánh Thần hiện xuống. Ta hãy xin cho được lòng đầy dẫy mọi ơn Ðức Chúa Thánh Thần.

Đức Chúa Thánh Thần hiện xuống khai mở lòng trí các tông đồ, để các ngài nhớ lại những gì mà Chúa Giêsu đã dạy các ông, và từ đó các tông đồ đã mạnh dạn ra đi rao truyền Phúc Âm cho mọi người. Đức Mẹ Maria cũng đã hiện diện giữa các tông đồ trong ngày Chúa Thánh Thần hiện xuống. Mẹ cũng được diễm phúc đón nhận Chúa Thánh Thần ngay từ khi Mẹ thưa hai tiếng “Xin Vâng.” Từ nay Đức Mẹ Maria có một vị thế rất quan trọng trong Giáo Hội của Chúa Kitô ở trần gian. Mẹ đã trở nên Đấng cầu bàu cho toàn thể Kitô hữu

“Động lực và tác giả mọi cuộc canh tân trong Hội Thánh là Chúa Thánh Thần, Đấng canh tân mặt đất. Mỗi cuộc canh tân là một lễ Hiện Xuống mới và không thể có lễ Hiện Xuống mới, ngoài Chúa Thánh Thần. Con không thể canh tân ngoài Chúa Thánh Thần.” (Đường Hy Vọng, số 660)

Đóa hồng Lâm chung

Ðức Chúa Trời cho Ðức Mẹ lên trời. Ta hãy xin ơn chết lành trong tay Ðức Mẹ.

Đức Giáo Hoàng Piô XII tuyên bố trong ngày lễ Các Thánh Nam Nữ 01/11/1950: “Ta tuyên xưng, công bố và xác nhận tín điều được Thiên Chúa mạc khải là Mẹ Thiên Chúa Vô Nhiễm Nguyên Tội, Đức Maria Trinh Nguyên, khi thời gian sống tại thế hoàn tất, cả hồn lẫn xác của Người đã được đưa về trời trong vinh quang thiên quốc.” (TCF, 207)

Khấn xin Mẹ ban ơn chết lành cho những ai đặt hết niềm cậy trông nơi Mẹ hiền. Một cái chết nhẹ nhàng như người ngủ say, không phiền muộn đến người thân chung quanh. Một cuộc ra đi về quê Trời với đầy đủ hành trang là những hồng phúc từ các bí tích sau cùng.

“Con nhìn thấy những giọt nước lã chã rơi trong một chiều đông. Mỗi ngày bao nhiêu người cùng vào cõi đời đời, như hạt nước kia không ai để ý, mà một giây phút nào đó, một hạt nước rơi ây chính là con.” (Đường Hy Vọng, số 666)
Đóa hồng Hy vọng

Ðức Chúa Trời thưởng Ðức Mẹ trên trời. Ta hãy xin Ðức Mẹ phù hộ cho ta được thưởng cùng Ðức Mẹ trên nước Thiên đàng.

Đức Mẹ Maria là kho tàng ân sủng của Thiên Chúa, có nghĩa là Mẹ cũng được Thiên Chúa cho phép được chia sẻ một phần nhỏ vào vinh quang và quyền năng của Ngài, để qua Mẹ mà nhân loại dễ dàng đến với Chúa hơn.

“Không có Mẹ, dù mọi người lo lắng bảo đảm đến đâu, em bé cũng không đi theo. Nhưng đi với Mẹ, băng rừng, vượt suối, đói rét, em vẫn đi. Trong cuộc chiến, bao nhiêu bà mẹ chết rồi, con vẫn la lết nằm một bên. Trên đường hy vọng, con nắm tay Mẹ Maria; có Mẹ, con không cô đơn. Mẹ là nguồn sống, là an vui, là hy vọng của chúng con.” (Đường Hy Vọng, số 910)

Lạy Chúa Giêsu phục sinh, chúng con đặt hết niềm hy vọng vào Chúa trong cuộc lữ hành trần thế. Kính xin Chúa ban muôn phúc lành an ủi, khuyến khích và nâng đỡ chúng con thoát khỏi cám dỗ của ba thù, để mai này được về cùng Chúa.

Lạy Mẹ Maria, Mẹ đã đồng hành cùng Con Mẹ suốt 33 năm. Khấn xin Mẹ cầm tay dẫn dắt chúng con theo Mẹ, để luôn được gần gũi với Chúa, trong niềm hy vọng được sống viên mãn với Mẹ và Con Chúa đến muôn đời. Amen.

 

07/10-184: Năm đóa hồng đỏ dâng Mẹ - AM Trần Bình An

 

Đức Gioan Phaolô II chỉ bị trọng thương qua vụ ám sát. Và việc ngài sống sót là cà một 07/10-184


Đức Gioan Phaolô II chỉ bị trọng thương qua vụ ám sát. Và việc ngài sống sót là cà một phép lạ. Dĩ nhiên, sức khỏe vốn cường tráng trước kia của ngài đã bị ảnh hưởng rất nặng bởi vụ ám sát, khiến ngài phải chịu đau đớn thường xuyên, kéo dài mãi cho tới lúc ngài băng hà năm 2005. Hai năm sau vụ ám sát, vào ngày 23.12.1983, Đức Gioan Phaolô II đã đích thân vào phòng giam thăm tên khủng bố Ali Agca, nói chuyện với y và nhất là ngài đã tha thứ cho y.

ĐHY Stanislaw Dziwisz tường thuật lại là trong cuộc gặp gỡ và nói chuyện này tại nhà tù, Ali Agca chỉ lặp đi lặp lại với Đức Thánh Cha một câu hỏi duy nhất: “Tại sao Ngài lại không chết? Tôi biết chắc chắn là tôi đã nhắm rất trúng đích. Tôi cũng biết rằng phát đạn tôi bắn ra có hiệu quả tàn phá và gây tử thương một cách chắc chắn. Nhưng tại sao Ngài lại không bị tử thương?”

Về phần Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II thì hoàn toàn xác tín rằng chính nhờ bàn tay hiền mẫu của Đức Mẹ Fatima che chở nên ngài mới có thể thoát chết một cách lạ lùng như thế. Bởi vì, ngày ngài bị ám sát tại Rôma, ngày 13 tháng 5 (1981) chính là ngày Đức Mẹ đã hiện ra với ba trẻ chăn chiên năm xưa tại Fatima, ngày 13 tháng 5 (1917). Hơn nữa, theo Đức Gioan Phaolô II, thì vị Giám Mục mặc áo trắng phải chịu đau khổ nhiều mà Đức Mẹ đã cho ba trẻ trông thấy trong một thị kiến khi hiện ra với ba trẻ tại Fatima, chính là ngài. Do đó, đúng một năm sau vụ ám sát (1982), Đức Gioan Phaolô II đã đích thân đi hành hương Fatima để tạ ơn cứu sống của Đức Mẹ và trong dịp này ngài cũng mang theo một trong các đầu đạn mà Mehmet Ali Agca đã bắn vào ngài để dâng kính Đức Mẹ. Và kìa một sự lạ lùng đã làm chính Đức Gioan Phaolô II và tất những người chứng kiến không khỏi sửng sốt và kinh ngạc, là đầu viên đạn mà ngài mang theo kia khi được gắn vào một lỗ hổng duy nhất còn sót lại ở mão triều thiên trên đầu tượng Đức Mẹ Fatima, mà các đoàn thể phụ nữ Bồ Đào Nha đã dâng cúng cho Đức Mẹ vào năm 1946, thì hoàn toàn vừa vặn như thể người ta đã cốt ý làm cái lỗ hổng đó sẵn cho viên đạn vậy. (Lm Nguyễn Hữu Thy, Nhắc lại vụ ám sát Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolo II)

Năm đóa hoa đỏ bi thương nhuộm máu đào Con Chúa kính dâng lên Mẹ Sầu Bi. Toàn thể Kitô xin hữu hiệp thông cùng Mẹ với tấm lòng sám hối, ăn năn, để xoa dịu nỗi đau tột cùng của Mẹ.

Đóa hồng Sám hối

Ðức Chúa Giêsu lo buồn đổ mồ hôi máu. Ta hãy xin cho được ăn năn tội nên.

Trong bao lần Mẹ hiện ra tại Fatima với ba trẻ Lucia, Jacinta và Phanxicô, và tại Lộ Đức với chị Bernadette, Mẹ đã luôn nhắc nhở loài người hãy ăn năn, sám hối đền tội, canh tân đời sống, để làm dịu đi những đau khổ mà Chúa Giêsu vẫn đang phải chịu đựng vì tội lỗi loài người.

Đừng vô cảm như các tông đồ hồn nhiên ngủ say ngay bên Đức Giêsu đang đổ mồ hôi máu sợ hãi cuộc khổ nạn, vâng theo Thánh Ý Chúa. Kitô hữu sống là luôn khiêm nhường sám hối như Hội Thánh đã răn dạy”Đời sống của người Kitô-hữu phải là một cuộc ăn năn đền tội suốt đời” (CĐ Triđentinô)

“Sự ăn năn hối cải của con không phải là “hát bội,” khóc lóc não nùng xong rồi hết tuồng, hạ màn, và đâu lại vào đó.” (Đường Hy Vọng, số 893).

Đóa hồng Xả kỷ

Ðức Chúa Giêsu chịu đánh đòn. Ta hãy xin cho được hãm mình chịu khó bằng lòng.

Chịu hành hạ đòn roi, khổ hình và nhục hình, Đức Giêsu hoàn toàn im lặng bỏ mình, không một lời than thở, trách móc hay phản đối. Một sự bỏ mình trọn vẹn bình thản và bằng lòng, toàn tâm toàn ý, như lời mời gọi Người từng rao giảng, như lời tiên báo của ngôn sứ Isaia đã nói về Người: “Tôi đã đưa lưng cho người ta đánh đòn, giơ má cho người ta giật râu.Tôi đã không che mặt khi bị mắng nhiếc phỉ nhổ.” (Is 50, 6)

“Con có uống nổi chén đắng của Thầy không?” Con hãy thưa: “Con tình nguyện uống chén đắng đến giọt cuối cùng, vì là chén đắng của Thầy, vì Thầy đã uống trước con!” Chén càng đắng, càng đầy, chứng tích tình yêu của con càng rõ rệt. Chứng tích tình thương của Chúa muốn cho con chia sẻ, Chúa tín nhiệm con càng thắm thiết.” (Đường Hy Vọng, số 716)

Đóa hồng Nhẫn nhục

Ðức Chúa Giêsu chịu đội mão gai. Ta hãy xin cho được chịu mọi sự sỉ nhục bằng lòng.

“Ecce homo!” Đây là Người! Quan Tổng trấn Philatô đã giới thiệu với dân chúng Đức Giêsu đầu đội vương miện bằng gai, mình khoác áo choàng đỏ. Trước đó, trong ngục tù, Người đã chịu lính La Mã đánh đập, chê giễu là Vua Do Thái. (Ga 19, 1-5) Đức Giêsu vẫn im lặng kiên trì nhẫn nhục chịu đựng.

“Nếu con hiểu biết hạnh phúc được làm con Chúa, thì những điều sỉ nhục không thấm gì con và những lời hoan hô cũng chẳng thêm gì cho con.”(Đường Hy Vọng, số 506)

Đóa hồng Đền tội

Ðức Chúa Giêsu vác cây Thánh giá. Ta hãy xin được vác Thánh giá theo chân Chúa.

Nếu chỉ dừng lại việc ăn năn, sám hối tội lỗi mà thôi, thì Kitô hữu mới chỉ đi được phân nửa chặng đường trở về với Chúa. Chặng kế tiếp là đền tội qua việc vác Thánh giá hằng ngày theo Chúa.

“Thử thách gian khổ là “giấy phép theo Chúa”để hưởng hạnh phúc hân hoan với Chúa: “Ai muốn theo Ta, hãy bỏ mình, vác thánh giá…” (Đường Hy Vọng số 714)

Đóa hồng Hiến tế

Ðức Chúa Giêsu chịu chết trên cây thánh giá. Ta hãy xin đóng đinh tính xác thịt vào thánh giá Chúa.

Vào giờ thứ chín, Đức Giêsu kêu lớn tiếng: “Êli, Êli, lêma xabácthani”, nghĩa là: “Lạy Thiên Chúa, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con... Đức Giêsu lại kêu một tiếng lớn, rồi trút linh hồn.” (Mt 27, 45-50)

Đức Giêsu mời gọi tín hữu hãy đóng đinh bản thân Kitô hữu vào thánh giá, đóng đinh những đam mê xác thịt, đóng đinh tính kiêu ngạo, tham sân si, chịu chết đi làm hạt lúa mục nát để góp phần vào Ơn Cứu độ, tái sinh muôn hạt lúa giống cho Nước Trời.

“Vì Chúa yêu thương môn đệ, Ngài đã yêu thương đến tận cùng!” Tận cùng ấy là Thánh giá. Hy sinh của con phải trọn vẹn, phải là lễ toàn thiêu, nếu “con yêu tận cùng.” (Đường Hy vọng, số 161)

Lạy Chúa Giêsu, Năm Sự Thương Khó là chặng đường cuối cùng của Tình Yêu Cứu Độ, mà Chúa muốn chúng con bước theo. Xin Chúa ban cho chúng con lòng trung tín, sự can đảm và tình yêu nồng cháy để trọn vẹn theo Chúa.

Lạy Mẹ Maria, Mẹ đã gắn bó đồng hành cùng Con Mẹ trên mọi nẻo đường dẫn đến núi Can vê. Kính xin Mẹ cầu bầu cho chúng con đủ tin cậy mến để luôn theo Mẹ mãi. Amen.

 

07/10-185: Năm đóa hồng vàng dâng Mẹ - AM Trần Bình An

 

Ngày 10-10-1945, Đài Phát Thanh truyền đi bản tin: một trong các chủ tịch đảng cộng sản 07/10-185


Ngày 10-10-1945, Đài Phát Thanh truyền đi bản tin: một trong các chủ tịch đảng cộng sản tại Mỹ Châu, sau 30 năm lầm đường lạc lối, đã trở về với Giáo Hội Công Giáo. Đó là chủ tịch Luis Francesco Bundez. Chính ông cũng công khai tuyên bố: “ Với niềm vui sâu xa, tôi muốn loan báo cho mọi người biết rằng, nhờ ơn THIÊN CHÚA, tôi đã quay về với Đức Tin Công Giáo, Đức Tin cha ông tôi truyền lại cho tôi.”

Cuộc đời ông Luis Francesco Bundez quả là chuỗi dây xích lầm lạc và ảo tưởng. Năm 1935, ông chính thức ghi tên vào đảng Cộng Sản tại New York. Từ đó, cuộc đời ông ngày càng xuống dốc và chìm vào đêm đen. Nhưng trong bóng tối, ông vẫn cảm nhận ơn thánh hằng theo ông, đánh động ông và thúc đẩy ông trở về với THIÊN CHÚA. Ngài chờ đợi ông.

Được thế là vì, nơi mái ấm gia đình, trong vòng ròng rã 30 năm trời, toàn thể gia đình ông, mỗi ngày lần hạt Mân Côi cầu cho đứa con hoang đàng, sớm trở về đường ngay nẻo chính.

Cha mẹ và anh chị em ông, sốt sắng kêu xin Đức Nữ Trinh Rất Thánh MARIA - Đức Bà bầu chữa kẻ có tội - chuyển cầu cho ông. Vì thế, mặc dầu sống xa gia đình, ông Luis Francesco Bundez vẫn như nghe vang vọng lời kinh Mân Côi tha thiết dành cho ông. Sau 30 năm lang thang mất hướng, đứa con trai... đi theo chủ nghĩa cộng sản vô thần, quyết định quay trở về Nhà Cha.

Cuộc hoán cải của ông Luis Francesco Bundez gây tiếng vang lớn tại Mỹ Châu lúc bấy giờ. Mọi người hiểu rằng, việc ông thoát khỏi... là nhờ lời kinh Mân Côi toàn gia đình ông dâng lên Hiền Mẫu MARIA Thiên Quốc mỗi ngày. (Sr JB Minh Nguyệt, Quyền lực cứu rỗi của Kinh Mân Côi, Evaristo Cardarelli,”Il Santo Rosario”, Edizioni Cantagalli - Siena, 1987)

Để chuẩn bị Năm thánh Mẫu, bắt đầu từ lễ Hiện Xuống năm 1987 và bế mạc vào ngày lễ Mông Triệu năm 1988, ĐGH Gioan Phaolô II gửi đến Dân Chúa Thông điệp “Mẹ Đấng Cứu Độ,” công bố ngày 25.3.1987. Nhân dịp Năm Mân Côi từ tháng 10. 2002 đến tháng 10. 2003, ngài gửi tiếp Tông thư “Kinh Rất Thánh Mân Côi,”công bố ngày 16.3.2002. Chính ngài đã thêm Năm Mầu Nhiệm Sự Sáng vào chuỗi Kinh Mân Côi tựa năm đóa hoa hồng vàng rực rỡ, huy hoàng, vương giả kính dâng lên Mẹ.

Đóa hồng Khiêm hạ

Đức Chúa Giêsu chịu phép rửa tại sông Giodan.Ta hãy xin cho được sống xứng đáng là con Thiên Chúa.

Trước sự kiện Đức Chúa Giêsu xin ông Gioan Tẩy Giả làm phép rửa, Thánh Phaolô giải thích Đức Chúa Giêsu khiêm hạ biết dường nào: “Đức Giêsu vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nhất quyết giữ lấy địa vị ngang hàng với Thiên Chúa mà lại trút bỏ vinh quang của Thiên Chúa, lại còn mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống người phàm như chúng ta. Hơn nữa, Ngài còn hạ mình vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết và còn muốn nhận lấy cái chết ô nhục trên thập giá” (Pl 2, 6-11)

Chỉ có thái độ và lòng khiêm nhường là con đường duy nhất dẫn tìn hữu Kitô đến với Chúa và tha nhân.

“Hồn tông đồ khiêm tốn và tạ ơn Chúa như Phaolô: “Tôi là kẻ rốt hèn trong các tông đồ và tôi không đáng được gọi là tông đồ…Nhờ ơn Chúa mà tôi được như ngày nay.” (Đường Hy Vọng, số 508)

Đóa hồng Tín thác

Đức Chúa Giêsu làm phép lạ tại tiệc cưới Cana. Ta hãy xin cho được noi gương Đức Mẹ mà vững tin vào Chúa.

Mẹ chỉ nói với Con Mẹ vắn tắt: “Họ hết rượu rồi!” (Ga 2, 3). Bấy nhiêu thôi đủ bộc lộ Mẹ quan tâm sâu sắc đến đôi tân hôn, chủ hôn và toàn thể khách mời. Chẳng muốn cặp uyên ương buồn vì hết rượu chiêu đãi, chẳng muốn chủ hôn lo lắng xấu hổ, chẳng muốn thực khách bất bình dang dở chén chú chén anh. Mẹ hoàn toàn tín thác vào quyền năng của Thiên Chúa. Chẳng bao giờ Ngài nỡ cất đi niềm vui, hạnh phúc của con người, khi biết phó thác, trông cậy hoàn toàn vào Chúa Quan Phỏng.

“Hãy nhờ Đức Mẹ đưa con đến với Chúa Giêsu, con sẽ quen sống bên Chúa.” (Đường Hy Vọng, số 240)

Đóa hồng Giao hòa

Đức Chúa Giêsu rao giảng Nước Trời và kêu gọi sám hối. Ta hãy xin cho được tin vào lòng Chúa thương xót, và năng lãnh nhận bí tích Giao hoà.

Đức Giêsu khởi đầu rao giảng muôn dân bằng lời kêu gọi tha thiết: “Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng.” (Mc 1, 14-15) Để tái lập lại mối giao hòa với Thiên Chúa, thỉ hai điều kiện tiên quyết là ăn năn, sám hối từ bỏ nếp sống cũ tội lỗi, sa đọa, để tin vào Tin Mừng, là đón nhận và sống theo Lời Chúa. Đến cùng Mẹ Maria, bất cứ ai cũng được Mẹ nâng đỡ, an ủi, cảm hóa, để biết xét mình hối lỗi, làm lại cuộc đời mới. Bởi vì Mẹ chính là Đấng Trung Gian giữa phàm nhân với Thiên Chúa.

“Điều khiến Chúa hiện diện trong con vui lòng, sung sướng nhất, là con năng nói chuyện với Mẹ Maria, Mẹ yêu dấu của Chúa.” (Đường Hy Vọng, số 243)

Đóa hồng Canh tân

Đức Chúa Giêsu biến hình trên núi. Ta hãy xin cho được biến đổi nhờ Chúa Thánh Thần.

Trước việc Đức Giêsu biến hình sáng láng trên núi, cùng hiện diện ông Môsê và ngôn sứ Êlia, ba tông đồ Phêrô, Giacôbê và Gioan vinh dự chung hưởng một thoáng Thiên Đàng. Nhân dịp này, Đức Giêsu mong muốn các tông đồ biến đổi quan niệm, tâm trí và cuộc sống, trở nên những chứng nhân nhiệt thành của Nước Chúa. Đó cũng là yêu cầu mà Đức Giêsu đặt ra cho từng Kitô hữu muốn theo Người.

“Canh tân là trở về nguồn. Công thức canh tân: Làm cho người Công giáo trở lại đạo Công giáo. Làm cho người Kitô hữu trở lại với Chúa Kitô. Mới nghe, con ngạc nhiên, nhưng ngẫm nghĩ lại, con sẽ thấy đúng như vậy. Một câu nói của thánh Gandhi nhiều lần khiến ta suy nghĩ: “Tôi mến Chú Kitô, nhưng tôi không yêu người Kitô hữu, vì họ không giống Chúa Kitô.” (Đường Hy Vọng, số 634)

Đóa hồng Chí ái

Đức Chúa Giêsu lập bí tích Thánh Thể. Ta hãy xin cho được sốt sắng tham dự Thánh lễ và rước Mình Máu Thánh Ngài.

Món quà vô giá Mẹ tặng cho nhân loại chính là Con Mẹ, Đức Giêsu Kitô Cứu Thế. Rồi chính Đức Giêsu chí ái lại tặng cho nhân loại Mình và Máu Người, đễ dưỡng nuôi Kitô hữu trên đường lữ hành tìm vê Quê Trời. Còn món quà nào cao quý hơn Thánh Thể nhiệm mầu?

Đèn không sáng nếu hết dầu, xe không chạy nếu cạn xăng, hồn tông đồ sẽ suy mạt nếu không đến với Thánh Thể: “Ai không ăn thịt Ta và uống máu Ta, chẳng được sống đời đời.” (Đường Hy Vọng, số 360)

Lạy Chúa Giêsu, Năm Sự Sáng là những vầng sáng chói lọi hướng dẫn chúng con dấn thân trên đường về Nước Chúa. Xin Chúa luôn nhắc nhở chúng lòng ghi lòng tạc dạ và thực hành, khi đã quyết tâm theo Chúa.

Lạy Mẹ Maria, chúng con kính dâng lên Mẹ năm đóa hoa vàng rực rỡ ánh sáng. Kính xin Mẹ cho những đóa hoa vàng ấy nở rộ mãi trong hồn chúng con. Amen.

 

07/10-186: Năm đóa hồng trắng dâng Mẹ - AM Trần Bình An

 

Cho đến một hôm có một chị ở nhà thờ thấy chị Maria Nguyễn Thị Mai yếu quá, liền mời 07/10-186


Cho đến một hôm có một chị ở nhà thờ thấy chị Maria Nguyễn Thị Mai yếu quá, liền mời Cha tới xức dầu và cho chị xưng tội. Cha hỏi chị:

- Con có một nguyện ước gì không? Hội đoàn sẽ giúp cho, người nhà con đâu, con đưa địa chỉ đây để cha nhờ người kêu về.

Chị lắc đầu thều thào nói qua hơi thở, chị em con từ chối trách nhiệm, nên bây giờ con chỉ còn có Chúa và Đức Mẹ. Nguyện ước cuối cùng của con là muốn viếng thăm Đức Mẹ Tàpao lần cuối.

Sáng sớm, có người tới rước chị tới điểm hẹn. Nhìn thấy chị ai cũng lo ngại cho sức khỏe của chị và khi đoàn hành hương lên xe, chị Trưởng đoàn xướng kinh kinh cầu nguyện cho chị. Đi tới Tàpao mọi người tìm phòng trọ nghỉ ngơi ăn uống, rồi chuẩn bị lên núi. Nhờ đoàn hành hương cùng hiệp ý cầu nguyện, nên trông chị Mai có vẻ tỉnh táo hơn. Chị Trưởng đoàn khuyên:

- Chị nghĩ ngơi đi rồi sáng mai dưới chân núi có Thánh lễ đồng tế, chị tham dự cho tiện, đường lên núi cao lắm! Có tới 429 bậc thang chị đang bệnh làm sao leo lên được.

-Tôi đi lên núi được mà, bây giờ tôi khoẻ rồi, cô đừng lo.

Chị Mai không chịu ở lại, vì chị mơ ước đi Tàpao lâu rồi, mà chỉ muốn lên núi nhìn được thấy Mẹ một lần, chị mới mãn nguyện. Thế rồi chị choàng chiếc khăn màu trắng hôm Rửa Tội choàng lên cổ. Tay cầm Chuỗi lần hạt đọc kinh. Mọi người đều ái ngại, khi nhìn chị lên núi với một cái bụng rất to của một người ung thư giai đoạn cuối. Mọi người ai cũng nể chị có một nghị lực phi thường. Trong thân hình mỏng manh gầy gò ấy, tiềm tàng một khát vọng sống mãnh liệt.

Mọi người trong đoàn bắt đầu dõi bước theo, lỡ chị có ngất xỉu thì cõng chị về. Mọi người bắt đầu ồ lên vì ngạc nhiên, khi chị đi rất nhanh, không có một người nào đi kịp theo chị, vì tất cả khách hành hương hay thanh niên khoẻ mạnh, ai cũng phải ngừng nghỉ một lúc rồi mới đi tiếp.Còn bây giờ, chị không hề nghỉ đoạn nào hết. Chị đã bỏ lại đoàn người khá xa và đã tới nơi linh địa Đức Mẹ Tàpao.

Sau khi tham dự Thánh Lễ xong ai cũng thấy gương mặt chị rạng rỡ và chị nhanh chóng đi như bay xuống núi. Mọi người lần lượt đi thật nhanh xuống chân núi và vây chung quanh chị hỏi chuyện. Chị kể rằng sau khi chị bước chưa tới 10 bậc thang, chân tay chị rã rời chị xay xẩm mặt mày. Chị biết không thể nào đi được nữa mới cầu nguyện: “Mẹ ơi! Mẹ hãy dắt con lên núi đi Mẹ con không đi nổi nữa Mẹ ơi! Mẹ giúp con với Mẹ. Vừa cầu nguyện xong Đức Mẹ hiện ra mỉm cười, rồi dắt tôi lên núi.” (Đỗ Hải Oanh, Chuỗi Mân Côi chữa lành bệnh ung thư, DucMeFatimaMancoi.org)

Hôm nay mừng kính lễ Mẹ Mân Côi, con cái Mẹ đồng tâm trìu mến hướng về Mẹ. Cùng ngợi khen, chúc tụng, cảm tạ Mẹ đã và đang đoái thương ban mưa hoa hồng ân phúc xuống con cái trông cậy Mẹ. Hiệp ý cùng triều thần Thiên Quốc, chúng con kính dâng lên Mẹ năm đóa bạch hồng trong vườn hoa Màu Nhiệm Vui

Đóa hồng Khiêm nhu

Thiên Thần truyền tin cho Đức Mẹ chịu thai. Ta hãy xin cho được ở khiêm nhượng. Trước vinh dự cao cả cực đại, mà không phàm nhân nào dám ước mơ, được làm Mẹ Con Thiên Chúa, linh hồn Mẹ ngợi khen Thiên Chúa, thần trí Mẹ hớn hở vui mừng. “Phận nữ tỳ hèn mọn, Người đoái thương nhìn tới. Từ nay, hết mọi đời, sẽ khen tôi diễm phúc.”(Lc 1, 48) Mẹ sấp mình khiêm tốn nhận mình chỉ là nữ tỳ hèn mọn, cảm tạ Thiên Chúa đoái thương.

“Mẹ làm gương ẩn dật khiêm cung, nhưng đồng thời Mẹ luôn luôn hiện diện phục vụ; Mẹ không ra mặt, không lên tiếng, nhưng Mẹ hằng ở gần bên Chúa Giêsu, sống trọn vẹn cho Chúa và Chúa trong con.” (Đường Hy Vọng, số 926)

Đóa hồng Bác ái

Đức Mẹ đi viếng bà Thánh Isave. Ta hãy xin cho được lòng yêu người. Dù được chịu thai bởi Đức Chúa Thánh Thần, được vinh dự cưu mang Đức Chúa Giêsu, Mẹ vẫn khiêm tốn nghĩ đến tha nhân, thân thiết đến thăm hỏi bà chị họ Elizabeth, cũng đang mang thai Thánh Gioan Tiền Hô được sáu tháng. Chẳng lo thủ thân, chẳng nề quản mệt nhọc, xa xôi, hiểm trở đường xá, Mẹ hăng hái ra đi dấn thân vì lòng bác ái, yêu người, mong muốn chia sẻ niềm vui, lẫn nỗi lo với thai phụ tuổi đã xế bóng, được ơn thánh huyền diệu.

“Mẹ Maria không chỉ nhìn Chúa Giêsu, Mẹ nhìn bà Isave, nhìn Gioan, nhìn đôi tâm hồn ở Cana…Con hãy có cái nhìn của Mẹ: Nhìn Chúa, nhìn người.” (Đường Hy Vọng, số 948)

Đóa hồng Khó nghèo

Đức Mẹ sinh Đức Chúa Giêsu nơi hang đá. Ta hãy xin cho được lòng khó khăn. Ai mà chẳng chạnh lòng, khi thấy một thai phụ bụng mang dạ chửa, nặng nề lê gót cùng chồng đi tìm quán trọ tại Bêlem vào chiều đông giá buốt. Thế mà, bao quán trọ từ chối, vì họ không đủ tiền thuê phòng, vì luộm thuộm nghèo túng, vì bộ dạng lam lũ thấp kém. Mặc dù người chồng cố gắng nài nỉ hết quán này đến quán khác, đều chỉ gặp cái lắc đầu lạnh lùng, vô cảm, tàn nhẫn xua đuổi.

“Mẹ Maria nghèo khó, không tiền, không bạc, có lúc không nhà cửa, không ghế bàn, Mẹ không biết giảng, nhưng Mẹ có món quà quý nhất để cho Mục tử Bê lem, ba đạo sĩ phương Đông, Simêon và Anna nơi Đền Thánh. Mẹ đã thinh lặng cho họ Chúa Giêsu, món quà mà chỉ Mẹ có, món quà ấy giảng thay Mẹ, vì đó Ngôi Lời.” (Đường Hy Vọng, số 932)

Đóa hồng Vâng phục

Đức Mẹ dâng Chúa Giêsu trong Đền Thánh. Ta hãy xin được vâng lời chịu lụy. Mẹ đã hết lòng thành khẩn vâng theo Thánh Ý Thiên Chúa mầu nhiệm: “Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa. Xin Chúa cứ làm cho tôi như sứ thần nói.” (Lc 1, 38) Mẹ đã “Xin vâng” cho đến tận cuối đời, đã chịu lưỡi gươm đâm thấu tim khi Con Chúa chịu tử nạn, như lời ông Simêon, người công chính, đã tiên tri. (Lc 2, 38).

“Mấy lời vắn tắt diễn tả cuộc đời Mẹ con; với tâm tình thánh thiện, hãy ghi vào lòng mà suy niệm và bắt chước:

“Này con là tôi tá”: Ecce.

“Con xin vâng”: Fiat

“Linh hồn con ngợi khen Chúa”: Magnificat. (Đường Hy Vọng, số 920)

Đóa hồng Khiết tịnh

Đức Mẹ tìm được Đức Chúa Giêsu trong Đền Thánh. Ta hãy xin cho được giữ nghĩa cùng Chúa luôn. Mẹ Maria chính là trinh nữ đáng cung kính đã được ngôn sứ Isaia loan báo cho nhân loại.”Này đây một trinh nữ sẽ thụ thai, hạ sinh một con trai, và tên con trẻ sẽ gọi là Emmanuel, nghĩa là Thiên Chúa ở cùng chúng ta.” (Is 7, 14) Mẹ khiết tịnh từ thân xác đến tâm hồn, Mẹ vô nhiễm không hề vướng tội tổ tông truyền, vì Mẹ luôn có Chúa ở cùng, luộn trọn tình, trọn nghĩa với Chúa.

“Sự hy sinh toàn hiến của Mẹ càng cao quý, khi Mẹ phó thác cho Chúa trọn vẹn; đi ngược lại ước nguyện của các thiếu nữ thời ấy. Mẹ đã quyết sống đồng trinh. Chúa đã ban cho Mẹ cả hai: Vừa đồng trinh, vừa làm Mẹ Thiên Chúa, Mẹ nhân loại.” (Đường Hy Vọng, số 933)

Lạy Chúa Giêsu, năm đóa hồng trắng là năm nhân đức mà chính Chúa hằng dạy bảo đòan chiên, đã được Mẹ Maria thấm nhuần tuân giữ. Xin Chúa giúp chúng con noi gương Mẹ để được sống gần gũi Chúa luôn.

Lạy Mẹ Maria, chúng con kính dâng lên Mẹ năm đóa hồng trắng tinh tựa tâm hồn thánh thiện của Mẹ. Kính xin Mẹ giúp chúng con biết ý thức và cố gắng rèn luyện theo những nhân đức của Mẹ, mỗi khi lần chuỗi Mân Côi. Amen.

 

07/10-187: Trên con đường về quê - AM Trần Bình An

 

Trên con đường về quê mà có bóng Mẹ, con vững một niềm tin, vững niềm cậy trông. Trên con 07/10-187


Trên con đường về quê mà có bóng Mẹ, con vững một niềm tin, vững niềm cậy trông. Trên con đường về quê mà có bóng Mẹ, con vững một niềm tin, tiến lên bình an.

Chẳng biết bài thánh ca Trên Con Đường Về Quê cải biên, qua giọng ca đầm ấm, chân tình và thành kính của ca sĩ Nguyễn Hồng Ân (*), được cố nhạc sĩ Nguyễn Khắc Xuyên (1923-2005) chấp thuận hay chưa? Nhưng có lẽ thính giả đều chẳng phàn nàn lời nhạc được sửa đổi. Thay vì “Trên con đường về quê mà vắng bóng Mẹ, Trên con đường về quê mà vắng bóng Mẹ. Con biết cậy vào ai biết nương nhờ ai?” vừa chưa đúng tín lý, vừa sơ sót, thì nay cải lại thành: “Trên con đường về quê mà có bóng Mẹ,..”

Từ thể phủ định, nghi vấn trở thành thể khẳng định, xác tín, ai cũng cảm nhận được niềm tin tích cực hơn, nồng nàn hơn và cậy trông, phó thác hơn vào Mẹ.

Khẳng định cũng là một phương pháp tự kỷ ám thị, tin tưởng và hân hoan, dễ dàng phấn đấu, tiến thân trên đường thành công trong đời, mặc bao gian khó, trở ngại và hiểm nguy. Vậy áp dụng phác đồ điều trị tâm lý phục vụ tâm linh, chẳng hề sai trái, hay phù phiếm, mê tín dị đoan, mà trái lại còn hữu ích và đáng khuyến khích áp dụng.

Sự thật, niềm tin vào Mẹ đã được khẳng định qua hơn 20 thế kỷ. Biết bao người đã và đang chạỵ đến cùng Mẹ, đã không phải thất vọng ra về. Ở những linh địa Lộ Đức, Fatima, La Salette, Mễ Du, hay La Vang, Trà Kiệu, Tà Pao, Măng Đen,…chẳng bao giờ thiếu vắng người đến xin khẩn cầu Mẹ, không phân biệt tôn giáo, giàu nghèo hay sang hèn.

Đường xa vắng sao, sương mờ, đường xa thăm thẳm khuất bóng quê, con bâng khuâng đưa mắt trông tìm đây đó, có ai bạn đường cùng đi khỏi lo. Mẹ ơi bóng đêm rợn rùng, vực sâu đang gầm dưới lá rung, con lao đao sắp ngã trên đường nguy khố, đoái thương con cùng, Mẹ Đấng Chí Tôn.

Bơ vơ, cô đơn, lạc lõng, lo sợ, khiếp đảm giữa chốn ba đào, nhiều khi tín hữu cảm thấy bị bỏ rơi, bị chạm trán sự dữ, bị cạm bẫy đón chờ, thế mà chẳng có ai đồng hành, an ủi, cứu giúp! Thân nhân đâu rồi? Bạn bè, người thương, kẻ mến đâu cả rồi? Không còn ai nương tựa. Chẳng một lời đáp lại. Chỉ còn biết kêu xin Mẹ và Con Mẹ đoái thương cứu vớt.

Mẹ Maria ân tình, Mẹ như ánh trăng chiếu bóng đêm, con lo chi vấp ngã khi Mẹ dìu dắt chúng con trên đường dù muôn khó nguy. Mẹ ơi hãy đưa con về, về quê dấu yêu, chốn ước mơ, con tin yêu dõi mắt theo Mẹ nhân ái, hãy thương con cùng, Mẹ Chúa Chí Nhân.

Mẹ tỏa sáng hơn ánh trăng rằm, đến nắm tay tín hữu, ân cần dìu qua thung lũng đầy nước mắt. Con há sợ chi nữa, khi được Mẹ đồng hành trên đường về quê Trời. Kính dâng lên Mẹ những đoa hồng đủ sắc màu. Cầu xin Mẹ luôn hiện diện cùng con trong lời nguyện cầu với Thiên Chúa, luôn phù hộ con đến với tha nhân, cũng như chăm sóc con luôn vững Tin Cậy Mến trong từng giây phút hiện tại.

Trên con đường về quê mà có bóng Mẹ, con vững một niềm tin, vững niềm cậy trông. Trên con đường về quê mà có bóng Mẹ, con vững một niềm tin, tiến lên bình an.

Hòa vào những hợp âm sâu lắng, nhẹ nhàng, du dương, kết hợp kỹ thuật phối khí nhuần nhuyễn của nhạc sĩ Minh Thụy, nhóm bè Tú Uyên - Cadillac cất lên điệp khúc thiệt da diết, thành khẩn, kết thúc lời cầu nguyện thiết tha khẩn cầu. Xin hiệp thông cùng.

(*)Trên Con Đường Về Quê, St Nguyễn Khắc Xuyên, Album Nguyễn Hồng Ân 10 Năm cùng Mẹ Hành Hương.

 

07/10-188: BÀI GIẢNG LỄ MẸ MÂN CÔI


Thiếu nhi chúng con yêu quí.
 

Hôm nay chúng ta bắt đầu bước vào tháng 10. Cha đố chúng con tháng 10 có cái gì đặc 07/10-188


Hôm nay chúng ta bắt đầu bước vào tháng 10. Cha đố chúng con tháng 10 có cái gì đặc biệt nào ?

- Là tháng Mân côi Đức Mẹ.

+ Rất đúng! Chúng con giỏi lắm.

Thế tháng Mân côi Giáo Hội thường nhắc chúng ta làm gì nào ?

- Thưa cha lần chuỗi Mân côi.

+ Thế chúng con có biết lần chuỗi Mân côi không ?

- Thưa cha biết.

+ Cha cũng lần chuỗi Mân côi mỗi ngày….Cha nhớ là cha đã biết lần chuỗi Mân côi từ lâu lắm rồi và không ngày nào cha bỏ. Mỗi tối trước khi đi ngủ cha thường vào nhà chầu Thánh Thể và lần một chuỗi kinh Mân côi.

Nếu chúng con hỏi cha tại sao cha yêu mến kinh Mân Côi như thế thì cha trả lời ngay cho chúng con. Cha yêu mến kinh Mân côi như thế bởi vì đây là một lời kinh thật kỳ diệu đối với cha.

Cha yêu mến kinh Mân côi vì đây là lời kinh Đức Mẹ thích nhất.

Cha nhớ khi Đức Mẹ hiện ra tại Fatima, lần nào Đức Mẹ cũng dạy các em Lucia, Phanxicô và Jacinta: “Các con hãy lần chuỗi Mân Côi hằng ngày!”

Tại Fatima Đức Mẹ đã hiện ra với ba em: Lucia, Phanxicô và Jacinta, tất cả 6 lần. Lần nào Đức Mẹ cũng nói với các em: “Các con hãy lần chuỗi Mân Côi hằng ngày!”

Tại sao tất cả 6 lần hiện ra với 3 em tại Fatima lần nào Đức Mẹ cũng dạy các em hãy lần chuỗi Mân Côi hằng ngày như thế ?

Thưa vì lần chuỗi Mân Côi là một phương thế linh nghiệm nhất trong việc đập tan các bè rối và đưa người ta đến chỗ ăn năn hối cải.

Thánh Louis de Montfort với kinh nghiệm là một tông đồ vĩ đại của kinh Mân Côi đã nhắn nhủ những ai đang sống trong tình trạng bi thảm của tội lỗi như thế này:

“Bạn đang sống trong tình trạng tội lỗi đáng thương ư ? Bạn hãy kêu cầu Mẹ Maria! Hãy cầu xin Mẹ bằng kinh Mân Côi”

Kinh Mân Côi có sức linh nghiệm, giúp người ta ăn năn hối cải, giúp những người tội lỗi đã bỏ Chúa nhiều năm được ơn thống hối trở về với ơn nghĩa Chúa.

Trong tập hồi ký của mình, chị Lucia đã ghi lại chi tiết những lời Đức Mẹ nói với chị lần hiện ra đầu tiên, ngày 13 tháng 5 năm 1917, như sau:

- Bà muốn con làm gì ?

- Mẹ muốn các con đến đây sáu tháng liền vào ngày 13, cũng giờ này. Sau này, Mẹ sẽ nói cho con hay Mẹ là ai và Mẹ muốn gì.

- Con có được về trời không ? Được con sẽ về.

- Còn em Jacinta ?

- Jacinta cũng được về.

- Còn em Phanxicô ?

- Phanxicô cũng sẽ được về, nhưng em phải đọc nhiều kinh Mân Côi đã.

Một lúc sau Đức Mẹ bảo:

“Các con hãy lần chuỗi Mân Côi hằng ngày để cầu xin cho hòa bình thế giới và chấm dứt chiến tranh. “

Kinh Mân Côi, lời kinh đơn sơ

Vâng, Kinh Mân Côi thật đơn sơ vì ta có thể đọc một cách dễ dàng mọi nơi, mọi lúc, chẳng cần đến sách vở hay tài liệu gì phức tạp. Cả những người bình dân ít học cũng có thể đọc một cách thoải mái. Những người già nua, đau yếu cũng đọc Kinh Mân Côi được. Những người mới tìm hiểu đạo cũng có thể tìm gặp được niềm vui nhẹ nhàng khi đọc Kinh Mân Côi. Thậm chí, cả những người ngoại đạo cũng đón nhận được sự bình an, thanh thản cho tâm hồn khi thử đọc kinh này.

Kinh Mân Côi lời kinh được yêu mến.

Thánh nữ Têrêsa Hài Đồng Giêsu (1873-1897) quả quyết: “Với Kinh Mân Côi, tín hữu Công giáo xin gì cùng Thiên Chúa, Ngài cũng nhận lời”.

Thánh Vinhsơn Phaolô (1581-1660) gọi Kinh Mân Côi là Kinh Nhật Tụng của tín hữu giáo dân.

Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã bày tỏ: “Từ thuở niên thiếu, lời kinh này đã có một chỗ đứng quan trọng trong đời sống thiêng liêng của tôi. Nơi lời kinh ấy tôi đã luôn tìm được sự nâng đỡ”

Chúng con hãy nghe câu chuyện đặc biệt này:

Một nhà tư vấn doanh nghiệp tên Jim Castle 45 tuổi, mệt mỏi trở về sau một tuần họp hành và hội thảo. Trên chuyến bay từ Ohio trở về nhà ở Kansas City, Miami, ông đang ngồi thoải mái trong ghế của mình thì đột nhiên bỗng thấy tiếng ồn ào của hành khách im bặt. Quay lại nhìn ông kinh ngạc nhận ra hai nữ tu trong bộ áo sari viền xanh đơn sơ đang đi đến chỗ ngồi. Và ông nhận ra ngay một khuôn mặt quen thuộc đã xuất hiện trên bìa tạp chí Time. Khuôn mặt nhăn nheo và đôi mắt tinh anh ấm áp của Mẹ Têrêsa. Hai nữ tu dừng lại nơi hàng ghế của ông và ngồi ngay cạnh ông trong chuyến bay.

Khi mọi người đã ổn định chỗ ngồi thì hai nữ tu rút xâu chuỗi ra lần hạt. Jim để ý thấy là mỗi chục hạt lại có một màu khác nhau. Sau này Mẹ Têrêsa đã giải thích cho Jim hiểu rằng mỗi một chục tượng trưng cho một vùng của thế giới. Mẹ còn nói thêm “Tôi cầu nguyện cho những người nghèo và hấp hối trên mỗi lục địa”.

Trong lúc họ lần chuỗi thì Jim nhận mình tuy là người Công giáo không sốt sắng mấy chỉ giữ đạo theo thói quen không hiểu sao cũng hiệp ý với họ. Khi họ đã đọc kinh xong. Mẹ quay sang phía Jim. Lần đầu tiên trong đời Jim hiểu được thế nào là một người có “hào quang” thánh thiện. Mẹ nhìn ông và ông cảm thấy tràn đầy sự bình an, rồi Mẹ hỏi:

- Này, người bạn trẻ, anh có bao giờ lần chuỗi không ?

- Dạ không, quả thật là không!

Mẹ cầm lấy tay anh, nhìn vào mắt anh rồi Mẹ mỉm cười:

- Vậy thì bây giờ anh sẽ làm. Và Mẹ đặt vào tay anh xâu chuỗi của Mẹ.

Một giờ sau, Jim xuống phi trường Kansas City và gặp Ruth vợ ông ra đón. Bà ngạc nhiên khi nhìn thấy xâu chuỗi trên tay chồng mình và thốt lên:

- Cái gì lạ lùng thế này ?

Jim đã kể cho vợ nghe chuyện diễn ra trên máy bay. Trên đường lái xe về nhà ông đã thú nhận: “Anh cảm thấy dường như mình đã gặp người em gái thật sự của Chúa”.

Chín tháng sau, hai vợ chồng đến thăm một người bạn nhiều năm qua tên là Connie. Chị đang bị ung thư buồng trứng. Chị thổ lộ:

- Bác sĩ nói trường hợp này khó lắm nhưng tôi sẽ chiến đấu và sẽ không bỏ cuộc.

Jim lấy từ trong túi xâu chuỗi của Mẹ Têrêsa choàng vào tay Connie và kể cho chị nghe câu chuyện của mình rồi nói:

- Chị giữ lấy xâu chuỗi này. Nó sẽ giúp chị.

Dù Connie không phải là người Công giáo nhưng chị cũng rất sẵn sàng nhận xâu chuỗi và nói:

- Cám ơn. Hy vọng tôi sẽ trả lại anh.

Một năm sau, Jim gặp lại Connie. Khuôn mặt chị hồng hào rạng rỡ. Chị ào tới phía anh, chìa xâu chuỗi và nói:

- Tôi giữ nó bên người suốt cả năm qua. Tôi đã được giải phẫu và hoá trị. Tháng trước bác sĩ làm xét nghiệm lần thứ hai và tuyên bố khối u đã hết. Hết hoàn toàn

Chị nhìn Jim và nói:

- Tôi biết đã đến lúc trả lại xâu chuỗi này cho anh.

Cuộc đời của Jim Castle đã thay đổi từ cuộc gặp gỡ kỳ diệu ấy.

Đây không phải là chuyện phù phép, ma thuật mà là một lời nhắn gửi cho những ai cần tìm đến với Mẹ, tỏ bày lòng yêu mến Mẹ bằng những Kinh Mân Côi. Chắc chắn họ sẽ nhận được nhiều điều diệu kỳ hơn nữa.

Hãy cầm lấy xâu chuỗi Mân Côi với lòng tin tưởng. Hãy tái khám phá Kinh Mân Côi dưới ánh sáng của Kinh Thánh, trong sự hài hoà với Phụng Vụ và trong bối cảnh của đời sống hằng ngày (Tông thư Rosarium Virginis Mariae, 43).

Lạy Mẹ Maria con yêu mến Mẹ. Amen.

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây