Suy Niệm Tin Mừng Lễ thánh Giuse 19/3 Bài 51-99 Bạn TrinhNữ Maria

Thứ tư - 21/03/2018 03:57
Suy Niệm Tin Mừng Lễ thánh Giuse 19/3 Bài 51-99 Bạn Đức Trinh Nữ Maria
Suy Niệm Tin Mừng Lễ thánh Giuse 19/3 Bài 51-99 Bạn Đức Trinh Nữ Maria
Suy Niệm Tin Mừng Lễ thánh Giuse 19/3 Bài 51-99 Bạn Đức Trinh Nữ Maria
19/03-51: CẦU THANG CỦA THÁNH GIUSE Ở LORETTO.. 2
19/03-52: “HÃY ĐẾN CÙNG GIUSE”. 15
19/03-53: THÁNH GIUSE: NGƯỜI CÔNG CHÍNH.. 17
19/03-54: Thánh Giuse gương mẫu cho người trưởng gia. 20
19/03-55: SUY NIỆM LỄ THÁNH GIUSE - Tgm. Giuse Ngô Quang Kiệt 23
19/03-56: TÌM SỐNG Ý CHÚA.. 28
19/03-57: THÁNH GIUSE - § Frère Trần An Phong. 29
19/03-58: Tình Yêu Thanh Khiết 30
19/03-59: ÐỨC THÁNH CHA NÓI VỀ GƯƠNG THÁNH GIUSE.. 33
19/03-60: CÁC THÁNH DÀNH CHO BẠN TRẺ.. 34
19/03-61: NGƯỜI THỢ MỘC.. 35
19/03-62: Thánh Giuse. 36
19/03-63: Thánh cả Giuse là vị thánh rất đặc biệt. 36
19/03-64: THÁNH GIUSE, NGƯỜI CHA TUYỆT VỜI 40
19/03-65: THÁNH GIUSE - MẪU GƯƠNG CHO GIA TRƯỞNG.. 43
19/03-66: Cầu Nguyện Với Thánh Giuse. 46
19/03-67: CÔNG CHÍNH VÀ KHIÊM NHU.. 48
19/03-68: NHỮNG NẺO ĐƯỜNG KHÔNG BAO GIỜ NGHĨ TỚI 52
19/03-69: THÁNH GIUSE LÀ GƯƠNG MẪU CHO CÁC GIA TRƯỞNG.. 54
19/03-70: NIỀM TIN CỦA THÁNH GIUSE.. 58
19/03-71: Thánh Giuse khó khăn – Lm. Giuse Phạm Bá Lãm RW... 59
19/03-72: THÁNH GIUSE MẪU GƯƠNG CHO CÁC NGƯỜI CHA.. 62
19/03-73: Thánh Giuse, người đi trong đêm tối 64
19/03-74: BẢO VỆ CÔNG TRÌNH CỦA THIÊN CHÚA.. 66
19/03-75: TRẢ LẠI CHO THIÊN CHÚA.. 68
19/03-76: Những khuôn mặt Giuse. 71
19/03-77: BÀI 1: LÝ LỊCH CỦA THÁNH YUSE.. 76
19/03-78: SUY NIỆM VỀ THÁNH YUSE.. 79
19/03-79: Lễ kính thánh Giu-se, Bạn Trăm Năm Đức Ma-ri-a. 80
19/03-80: THÁNH GIUSE BẠN TRĂM NĂM ĐỨC TRINH NỮ MARIA.. 82
19/03-81: Suy Niệm về thánh Giuse. 86
19/03-82: SÁU SUY NIỆM VỀ THÁNH GIUSE.. 90
19/03-83: Lễ Thánh Giuse. 98
19/03-84: THÁNH GIUSE NGƯỜI GIA TRƯỞNG TRUNG THÀNH.. 102
19/03-85: THÁNH GIUSE MẪU GƯƠNG CỦA THINH LẶNG.. 105
19/03-86: GIUSE, CON NGƯỜI CỦA NIỀM TIN.. 108
19/03-87: ĐẤNG BẢO TRỢ XÃ HỘI VÀ NHỮNG TÂM HỒN DÂNG HIẾN.. 110
19/03-88: NOI GƯƠNG NHÂN ĐỨC THÁNH GIUSE.. 113
19/03-89: GIUSE KHIẾT TỊNH.. 117
19/03-90: THÁNH GIUSE; NGƯỜI CÔNG CHÍNH.. 119
19/03-91: THÁNH GIUSE; MẪU GƯƠNG CỦA ĐỜI SỐNG THÁNH HIẾN.. 122
19/03-92: NGÀI LÀ ĐẤNG CÔNG CHÍNH.. 126
19/03-93: LỄ KÍNH THÁNH CẢ GIUSE.. 130
19/03-94: THÁNH GIUSE.. 132
19/03-95: THÁNH GIUSE – GƯƠNG SỐNG ĐỨC TIN.. 134
19/03-96: THÁNH GIUSE – ĐẤNG CÔNG CHÍNH.. 137
19/03-97: ÂM THẦM NHƯNG SÁNG NGỜI NHÂN ĐỨC.. 139
19/03-98: HUYỀN NHIỆM MỘT NGƯỜI CHA.. 142
19/03-99: NÊN THÁNH THEO GƯƠNG THÁNH GIUSE
19/03-100:  HÃY DỪNG LẠI.. 145


 

19/03-51: CẦU THANG CỦA THÁNH GIUSE Ở LORETTO

– NEW MEXICO  (2 tác giả viết)
Bài 1: Hoà Tâm
 

Ở thành phố Santa Fe, tiểu bang New Mexico, có nguyện đường Loretto. Đã từ lâu nhiều người: 19/03-51

Ở thành phố Santa Fe, tiểu bang New Mexico, có nguyện đường Loretto. Đã từ lâu nhiều người nói nhiều về chiếc cầu thang kỳ lạ, được cho là chính Thánh Giuse kiến tạo, nay có dịp thuận tiện tôi quyết định tới chứng kiến tận mắt và sờ tận tay chiếc cầu thang có một không hai bên Tây bán cầu này.
Nguyện đường Loretto tọa lạc tại số 207 Old Santa Fe Trail, khởi công xây dựng năm 1873 và tới năm 1878 mới hoàn thành, chiều dài 30 mét 5, chiều ngang 8 mét, chiều cao 21 mét 3. Với kích thước này, cách đây 134 năm, nguyện đường Loretto được coi là một nguyện đường lớn nhất tại Santa Fe, thủ đô tiểu bang New Mexico.
Đức Cha Jean Baptiste Lamy, người Pháp, đã mời kiến trúc sư Antoine Monly và con trai là Projectus Monly từ Paris sang vẽ kiểu và xây Nhà thờ chính tòa St Francis, đồng thời khuyến khích các nữ tu nhờ hai cha con ông Monly xây nguyện đường Loretto theo mô hình nhà thờ Sainte Chapelle tại Paris mà họ đã tham gia trong công tác trùng tu vào đầu thập niên 1800. Theo mô hình phổ thông các nhà thờ bên Âu châu thời đó thì không có cầu thang lên gác lửng dành cho ca đoàn vì cầu thang sẽ chiếm nhiều chỗ trong lòng nhà thờ. Vả lại, vào thế kỷ thứ 19, chỉ có phái nam được hát trong ca đoàn nên họ dùng thang gỗ để leo lên gác ca đoàn mà không cần cầu thang.
Khi mới làm chưa có cầu thang
Cầu thang hiện nay Cầu thang khi mới làm, không có tay vịn và song chắn
Sau khi khánh thành nguyện đường và cha con ông Monly đã rời khỏi thành phố thì thực tế đem lại một vấn đề hết sức nan giải: ca đoàn gồm toàn các nữ tu và nữ sinh với tu phục và váy đầm dài tới gót chân, không thể leo lên gác ca đoàn bằng thang gỗ. Các nữ tu đã mời nhiều tay thợ chuyên nghiệp đến làm cầu thang nhưng sau khi quan sát, đo đạc, tính toán, tất cả đều lắc đầu nói không thể thực hiện được vì gác ca đoàn thì cao, lòng nhà nguyện lại hẹp, cầu thang sẽ chiếm qúa nhiều chỗ kê ghế. Giải pháp còn lại là hoặc vẫn phải dùng thang leo lên gác ca đoàn, hoặc nới rộng nguyện đường dành chỗ làm cầu thang. Và dĩ nhiên, giảp pháp này cũng không thể chấp nhận. Sau cùng, Mẹ Bề Trên Magdalen đưa ra quyết định: khi khởi công xây dựng nguyện đường, công trình được đặt dưới sự bảo trợ của Thánh Giuse, quan thầy nghề thợ mộc, thì nay khi gặp khó khăn, công việc cũng phải được giao cho Thánh Giuse lo liệu. Trong cuốn niên giám của Dòng còn ghi lời phát biểu của Bà: “Chúng ta tôn kính Thánh Giuse mỗi ngày thứ tư hàng tuần để xin Người trợ giúp, và đã nhiều lần, chúng ta chứng kiến sự can thiệp đầy quyền thế của Thánh Giuse”.
Ngay hôm đó, các nữ tu bắt đầu làm tuần 9 ngày xin Thánh Giuse. Sau 8 ngày liên tục cầu nguyện với đầy lòng tin tưởng và phó thác nơi Thánh Giuse thì đột nhiên vào ngày thứ 9, xuất hiện một ông già râu tóc bạc dắt theo một con lừa tới xin làm cầu thang lên gác ca đoàn. Ông thợ mộc chỉ mang theo một ít đồ nghề đơn giản: 1 cái cưa, 1 thước đo hình chữ T và 1 cái búa. Ông cũng không đòi tiền công trước hoặc tiền ứng mua vật liệu. Với tinh thần đơn sơ, các nữ tu nghĩ rằng sẽ thanh toán tiền công và tiền vật liệu sau khi công việc hoàn tất nên không cần hỏi tên tuổi ông thợ. Sau khi giao công việc, vì đức khiết tịnh, các nữ tu không tiện liên lạc với ông và để mặc ông thợ tiến hành công tác, đồng thời tạm dùng một phòng học để cầu nguyện và cử hành phụng vụ.
Sau thời gian 7-8 tháng, các nữ tu được thông báo cầu thang đã hoàn tất nhưng không tìm thấy ông thợ đâu cả: ông thợ đã đột nhiên bỏ đi mà không đòi tiền công và tiền vật liệu, cũng không để lại tên tuổi hoặc điạ chỉ. Các nữ tu đã nhờ tìm kiếm khắp nơi và còn nhắn tin trên các báo địa phương, tuy nhiên, không ai nghe biết về ‘ông thợ kỳ lạ’ này. Sau cùng, Mẹ Bề Trên đã phải đến xưởng gỗ để thanh toán tiền vật liệu, nhưng mọi người làm việc tại đây cho biết không có ai đến mua gỗ làm cầu thang cho nguyện đường. Do không tìm ra tông tích ông thợ ‘huyền bí’ này nên người đương thời đều kết luận đó chính là Thánh Giuse đã đáp lời cầu xin của các nữ tu. Hiện nay, tại Nhà Mẹ các nữ tu Loretto ở tiểu bang Kentucky, trong sách kinh hàng ngày, có hình vẽ ông thợ mộc đầu tóc bạc phơ dắt theo con lừa với túi đồ nghề gồm 1 cái cưa, 1 cây thước và 1 cái búa.

Năm 1971, một trận hỏa hoạn lớn thiêu hủy nhiều ngôi nhà của học viện và khu vực chung quanh. Tuy nhiên, như một phép lạ, nguyện đường Loretto vẫn đứng y nguyên, không hề hấn gì.
Khi tới nguyện đường Loretto tôi thấy lối kiến trúc theo kiểu Gothic và tôi cũng gặp nhiều đoàn người đến từ mọi nơi như Canada, Pháp, Đức, Ý…. Điều này cho thấy ‘Cầu thang Thánh Giuse’ đã được biết đến khắp nơi, mỗi năm có khoảng 250 ngàn khách hành hương đến nguyện đường Loretto để xem cầu thang, và đúng như nữ tu Januarius, Giám đốc học viện Loretto năm 1960, cho biết du khách từ khắp nơi trên thế giới đến chiêm ngưỡng cầu thang lạ lùng này, trong số đó, có cả kỹ sư, kiến trúc sư, khoa học gia đến tìm hiểu, nghiên cứu và nói rằng họ không thể hiểu làm thế nào một chiếc cầu thang như vậy có thể tồn tại sau gần 1 thế kỷ sử dụng. Quả thực, cầu thang đã thách đố những phân tích khoa học cũng như khoa kiến trúc và ngành thủ công nghệ.

Bước qua cửa vào cuối nguyện đường, du khách sẽ lập tức bị thu hút bởi những tác phẩm nghệ thuật:
Bàn thờ gỗ được làm từ bên Ý, chạm trổ bằng tay theo kiểu Gothic, rồi sơn cho giống màu đá cẩm thạch. Bàn thờ nguyên thuỷ này được đặt trong nguyện đường từ năm 1910 đến nay, hơn 100 năm vẫn không thay đổi. Phía dưới bàn thờ có khắc nổi hình Bữa Tiệc Ly của Leonardo da Vinci.
Trong gian cung thánh, phía bên phải gần bao lơn, có tượng Thánh Giuse tay trái cầm cây gậy, tay phải ẵm Chúa Hài Đồng. Cũng trong gian cung thánh, phía bên trái gần bao lơn, có tượng Đức Mẹ ban ơn đứng trên qủa cầu, chân trái đạp đầu con rắn, chân phải có chuỗi Mân Côi và dưới đó là các ngôi sao. Cả hai bức tượng đều có kích thước lớn hơn người bình thường.

Hai tượng thiên thần bổn mạng đứng 2 bên phía trên bàn thờ và tượng thiên thần ngồi bưng bình nước thánh lớn là công trình nghệ thuật của nhóm nghệ nhân M.M. K. Brokaw nổi tiếng đương thời.
Tượng Trái Tim Chúa Giêsu, đặt trên tường phía bên trái, tay trái chỉ Trái Tim Cực Thánh, tay phải xuôi xuống với bàn tay mở rộng như ban ơn cho những ai đến với Người.

Chặng đường Thánh gía hai bên tường biểu lộ nét sinh động của nghệ nhân khi diễn tả được nỗi bi thương của Chúa và Đức Mẹ cũng như sự tàn ác của ‘quân dữ’. Thực ra, chặng đường Thánh gía là do sáng kiến của thánh Phan-xi-cô từ thế kỷ 13 nhằm giúp tín hữu, trong ngày thứ Sáu Tuần Thánh, sốt sắng nhớ lại hành trình khổ nạn của Chúa khi vác Thập gía lên đồi Can-vê, nhờ đó những người không biết đọc cũng có thể trải nghiệm cuộc thương khó của Người. Khởi đầu, người ta dựng những cây thánh giá nhỏ bằng gỗ ở những khoảng cách khác nhau và tín hữu dừng lại mỗi chặng trong khi suy tưởng về quãng đường thập gía Chúa đã đi qua. Sau cùng, các họa sĩ và các nhà điêu khắc đã vẽ hoặc tạc nên những cảnh sống động về chặng đường khỗ nhục cuả Chúa vác Thánh gía lên đồi để chịu đóng đinh. Phải chính mắt trông thấy những chặng đường Thánh gía tại nguyện đường Loretto, chúng ta mới thấy tài nghệ tuyệt vời của các nhà đúc tượng khi thực hiện những tác phẩm nghệ thuật này. Chặng đường Thánh gía Loretto hiện nay là một kho tàng nghệ thuật vô gía mặc dù được thực hiện từ năm 1800. Tất cả những bức tượng và chặng đường Thánh gía đều bằng đá cẩm thạch nghiền nát, rồi đổ vào khuôn, nung trong lò như kỹ thuật làm đồ gốm, sau đó các nghệ nhân tô vẽ bằng tay.

Kỹ thuật sơn kính màu tại nguyện đường Loretto đã đạt tới mức hết sức tinh vi, không thua gì các thánh đường nổi danh bên Âu châu như nhà thờ Fatima Bồ Đào Nha, nhà thờ Thánh An-tôn Lisbon, nhà thờ chính tòa Burgos, đại thánh đường Thánh I-nha-xi-ô Loyola Tây Ban Nha, nhà thờ Sacré Coeur, nhà thờ Notre Dame Paris ở Pháp, những nơi mà tôi có dịp viếng thăm trong những chuyến hành hương Fatima-Lộ Đức. Kính màu trên vòm cửa cuối nguyện đường vẽ biểu tượng của Chúa Giêsu bằng 2 cây Thánh gía đặt chéo lên nhau với ánh hào quang màu xanh dương. Hai bên phía dưới là chữ Hi-lạp Alpha và Omega, nói lên Chúa Ki-Tô là khởi đầu và là sau hết. Cửa kính tròn sau gác ca đoàn có hình bông hồng lớn, được gọi là ‘Rose window’, vẽ chữ M, lồng trên chữ A (Ave Maria), lời chào kính Đức Mẹ Maria vì khi thành lập Hội Dòng Loretto ngày 25/4/1812 tại Kentucky, các nữ tu đã chọn Đức Mẹ làm bổn mạng. Ngoài ra, còn 2 kính màu lớn, một vẽ ảnh Thánh Stanislas ẵm Chúa Hài Nhi, bổn mạng của các tập sinh và các thiếu nữ, một vẽ ảnh Thánh Catherine thành Alexandra tay ôm cành thiên tuế, bổn mạng các trinh nữ và các nữ sinh.
Tuy nhiên, đích điểm của khách hành hương chính là ‘CẦU THANG THÁNH GIUSE’. Thật vậy, suốt thời gian ở trong nguyện đường, lúc nào tôi cũng thấy khách hành hương, hết lớp này đến lớp khác, chăm chú quan sát cầu thang từ trên xuống dưới, rồi lại từ dưới lên trên, không bỏ qua một
chi tiết nhỏ nhặt nào, rồi bàn tán, thảo luận, và đi từ ngạc nhiên đến trầm trồ không tiếc lời khen ngợi. Sau đó, nhiều người đến qùy dưới chân tượng Thánh Giuse cầu nguyện trước khi quyến luyến ra về sau khi đã chụp hàng chục tấm ảnh, hoặc quay phim làm kỷ niệm.

Cầu thang nằm sát tường bên phải, phía cuối nguyện đường, có hình xoắn ốc, vòng 2 lần, mỗi vòng 360 độ, không có cột chịu lực ở giữa. Toàn bộ sức nặng tựa trên chân cầu thang và phần nối với gác ca đoàn.Điều này trái hẳn với nguyên lý về trọng lực (law of gravity) khiến các khoa học gia không sao giải thích được. Kiến trúc sư Urban C. Weidner cũng là chuyên gia nghiên cứu gỗ cho biết ông chưa bao giờ thấy cầu thang hình xoắn ốc bằng gỗ mà không có cột chịu lực ở giữa. Theo ông, nó sẽ sụp đổ ngay khi có người đặt chân bước lên. Thế mà các nữ tu và nữ sinh phải lên xuống cầu thang mỗi ngày một hay nhiều lần để hát phụng vụ. Năm 1959, cả ca đoàn học viện Loretto đứng hát trên các bậc thang mà nó vẫn vững chắc như làm bằng xi-măng côt sắt.

Cầu thang có 33 bậc cùng một kích thước, tượng trưng cho 33 năm Chúa sống ở trần gian, 2 bên các bậc thang không có song chắn an toàn khi lên xuống, cũng không có tay vịn. Một nữ sinh thời gian làm cầu thang mới 13 tuổi, sau vào tu dòng Loretto lấy tên Mary, kể lại rằng chính cô và các bạn là những người đầu tiên bứơc lên cầu thang, nhưng vì sợ qúa nên phải bò lên từng bậc, rồi khi xuống, phải cho hai chân xuống trước, rồi bám bậc phía trên,từ từ trụt xuống. Chính vì thế, sau 7 năm các nữ tu và nữ sinh phải ‘bò lên bò xuống’ các bậc thang để lên gác ca đoàn, Phillip August Hesch, chuyên viên bảo trì nhà thờ chính tòa St. Francis, được mời tới làm tay vịn và song chắn 2 bên cầu thang cũng như quanh gác ca đoàn. Điều đặc biệt là cầu thang không có dù 1 chiếc đinh, hoặc keo dán để liên kết các vật liệu với nhau. Ông thợ ‘bí mật’ đó chỉ dùng các chốt gỗ hình vuông để liên kết một cách tài tình, chính xác và hết sức mỹ thuật.

Cầu thang được ráp nối bằng 93 tấm gỗ, dài từ 0.9 đến 1.5 mét, gồm 10 tấm dùng làm sườn phía ngoài (nên có 9 đường nối), 8 tấm làm sườn phía trong (7 đường nối), 33 tấm làm bậc thang, 33 tấm kê giữa 2 bậc thang, phần còn lại dùng làm đoạn vòng dưới chân cầu thang. Kỹ thuật ráp nối thật lạ lùng và tinh xảo, và như trên đã nói, ông thợ không dùng đinh, cũng không dùng keo dán, chỉ nối kết bằng những chốt gỗ hình vuông mà thôi. Kiến trúc sư kiêm chuyên gia nghiên cứu gỗ Urban Weidner đã có nhận xét: một trong những điều làm sửng sốt các kỹ sư và các nhà kiến trúc là những tấm gỗ được ghép nối thành sườn cầu thang với độ cong tuyệt hảo, mỗi tấm gỗ có độ cong thật chính xác, đường ghép nối lại hết sức tinh vi, không tìm thấy một khuyết điểm nào. Ông Weidner vẫn băn khoăn suy nghĩ là một kỹ thuật tinh vi như thế mà vào thập niên 1870, một mình ông thợ mộc với những dụng cụ rất thô sơ, làm thế nào có thể thực hiện được.

Về gỗ làm cầu thang, nhiều chuyên gia đã phân tích, tìm hiểu loại gỗ và xem loại đó xuất xứ từ đâu. Tuy nhiên, không một ai có thể khẳng định là loại gỗ nào để tìm ra xuất xứ của nó. Mặt các bậc thang liên tục bị giẵm lên từ khi hoàn thành cách đây hơn 100 năm, nhưng chỉ mép bậc thang bị mòn đi một chút. Có nhà nghiên cứu cho đây là một loại thông mà thớ gỗ nằm gần vỏ, người khác thì cho là loại thông vàng lá dài. Urban Weidner lại khẳng định loại gỗ ít bị mòn này không hề có tại New Mexico. Việc ông thợ lấy gỗ từ đâu mang về làm cầu thang vẫn còn là một bí ẩn.

Chuyên gia Forrest N. Easley, sinh quán New Mexico, tốt nghiệp ưu hạng tại Đại học Colorado ngành Lâm học và Mộc học, đã từng làm việc cho các cơ quan chính phủ và Hải quân Hoa Kỳ trong 40 năm, đặc trách nghiên cứu và quản trị ngành gỗ. Với thành quả và công trình nhiều năm nghiên cứu, ông là chuyên gia về gỗ nổi tiếng, có uy tín và được mọi người kính nể. Năm 1996, Forrest Easley đã bỏ ra 15 tháng nghiên cứu và phân tích gỗ làm cầu thang Loretto. Ông lấy một mẩu gỗ cầu thang đem vào phòng thí nghiệm và dùng kính hiển vi, kính khuếch đại để quan sát, phân tích tế bào cấu tạo của gỗ. Ông cho biết gỗ có tế bào cấu trúc hình vuông, không giống bất cứ loại gỗ nào hiện có, và cũng không biết rõ nguồn gốc từ đâu. Đây là loại gỗ vân sam (spruce) ‘có một không hai’, vì tất cả các loại gỗ vân sam khác không bao giờ có cấu trúc tế bào hình vuông. Như vậy, chỉ có thể phân loại gỗ này vào giữa nhóm Picea sitchensis và Picea engelmanni. Forrest đề nghị đặt tên khoa học là Pinacae Picea josefìi Easley, còn tên phổ thông nên gọi là gỗ vân sam Loretto.

Giáo Hội luôn luôn thận trọng khi đề cập đến những hiện tượng siêu nhiên mà con người không giải thích được. Cũng trong tinh thần đó, các nữ tu và Giáo quyền tại Santa Fe không muốn đưa ra một tuyên bố khẳng định nào về chiếc cầu thang lạ lùng này, chỉ cho đó là sự đáp ứng của Thánh Giuse đối với lời cầu nguyện và sự phó thác của các nữ tu nơi Thánh Giuse. Tuy nhiên, nhiều người vẫn nghĩ Thánh Giuse chính là ông thợ đã làm chiếc cầu thang lạ lùng đó.
Truyền thống tôn kính Thánh Giuse đã có từ lâu đời trong Giáo Hội, từ những thế kỷ đầu, thời các thánh Giáo phụ. Rồi qua các thế kỷ, chúng ta thấy rất nhiều nơi tôn kính Thánh Cả Giuse một cách đặc biệt mà nhà thờ Loretta là nơi đáng cho chúng ta đến hiệp cùng thánh Giuse dâng lên Thiên Chúa lời tạ ơn và khẩn cầu.
Hoà Tâm
Bài 2: Trần văn Huyến
CẦU THANG THÁNH GIUSE
Tác Giả: Trần văn Huyến (Tháng Thánh Giuse 2012)
Tôi theo nhóm người trượt tuyết ngày 31/12/2011 từ Dallas trực chỉ hướng tây bắc tới thành phố Santa Fe, tiểu bang New Mexico, với chủ đích là kiểm chứng ‘Cầu thang Thánh Giuse’ tại nguyện đường Loretta.
Đã từ lâu tôi đã nghe nói nhiều về chiếc cầu thang kỳ lạ này, được cho là chính Thánh Giuse kiến tạo, nay có dịp thuận tiện nên mặc dù mùa đông giá lạnh với đường xá nguy hiểm vì băng tuyết, tôi quyết định phải theo nhóm người, vượt ngàn dặm hiểm nguy để có thể tới chứng kiến tận mắt và sờ tận tay chiếc cầu thang có một không hai bên Tây bán cầu này.
Nguyện đường Loretta tọa lạc tại số 207 Old Santa Fe Trail, khởi công xây dựng năm 1873 và tới năm 1878 mới hoàn thành, chiều dài 30 mét 5, chiều ngang 8 mét, chiều cao 21 mét 3. Với kích thước này, cách đây 134 năm, nguyện đường Loretta được coi là một nguyện đường lớn nhất tại Santa Fe, thủ đô tiểu bang New Mexico.
Đức Cha Jean Baptiste Lamy, người Pháp, đã mời kiến trúc sư Antoine Monly và con trai là Projectus Monly từ Paris sang vẽ kiểu và xây Nhà thờ chính tòa St Francis, đồng thời khuyến khích các nữ tu nhờ hai cha con ông Monly xây nguyện đường Loretta theo mô hình nhà thờ Sainte Chapelle tại Paris mà họ đã tham gia trong công tác trùng tu vào đầu thập niên 1800. Theo mô hình phổ thông các nhà thờ bên Âu châu thời đó thì không có cầu thang lên gác lửng dành cho ca đoàn vì cầu thang sẽ chiếm nhiều chỗ trong lòng nhà thờ. Vả lại, vào thế kỷ thứ 19, chỉ có phái nam được hát trong ca đoàn nên họ dùng thang gỗ để leo lên gác ca đoàn mà không cần cầu thang.
Sau khi khánh thành nguyện đường và cha con ông Monly đã rời khỏi thành phố thì thực tế đem lại một vấn đề hết sức nan giải: ca đoàn gồm toàn các nữ tu và nữ sinh với tu phục và váy đầm dài tới gót chân, không thể leo lên gác ca đoàn bằng thang gỗ. Các nữ tu đã mời nhiều tay thợ chuyên nghiệp đến làm cầu thang nhưng sau khi quan sát, đo đạc, tính toán, tất cả đều lắc đầu nói không thể thực hiện được vì gác ca đoàn thì cao, lòng nhà nguyện lại hẹp, cầu thang sẽ chiếm qúa nhiều chỗ kê ghế. Giải pháp còn lại là hoặc vẫn phải dùng thang leo lên gác ca đoàn, hoặc nới rộng nguyện đường dành chỗ làm cầu thang. Và dĩ nhiên, giảp pháp này cũng không thể chấp nhận. Sau cùng, Mẹ Bề Trên Magdalenđưa ra quyết định: khi khởi công xây dựng nguyện đường, công trình được đặt dưới sự bảo trợ của Thánh Giuse, quan thầy nghề thợ mộc, thì nay khi gặp khó khăn, công việc cũng phải được giao cho Thánh Giuse lo liệu.
Trong cuốn niên giám của Dòng còn ghi lời phát biểu của Bà: “Chúng ta tôn kính Thánh Giuse mỗi ngày thứ tư hàng tuần để xin Người trợ giúp, và đã nhiều lần, chúng ta chứng kiến sự can thiệp đầy quyền thế của Thánh Giuse”. Ngay hôm đó, các nữ tu bắt đầu làm tuần 9 ngày xin Thánh Giuse. Sau 8 ngày liên tục cầu nguyện với đầy lòng tin tưởng và phó thác nơi Thánh Giuse thì đột nhiên vào ngày thứ 9, xuất hiện một ông già râu tóc bạc dắt theo một con lừa tới xin làm cầu thang lên gác ca đoàn. Ông thợ mộc chỉ mang theo một ít đồ nghề đơn giản: 1 cái cưa, 1 thước đo hình chữ T và 1 cái búa. Ông cũng không đòi tiền công trước hoặc tiền ứng mua vật liệu. Với tinh thần đơn sơ, các nữ tu nghĩ rằng sẽ thanh toán tiền công và tiền vật liệu sau khi công việc hoàn tất nên không cần hỏi tên tuổi ông thợ. Sau khi giao công việc, vì đức khiết tịnh, các nữ tu không tiện liên lạc với ông và để mặc ông thợ tiến hành công tác, đồng thời tạm dùng một phòng học để cầu nguyện và cử hành phụng vụ.
Sau thời gian 7-8 tháng, các nữ tu được thông báo cầu thang đã hoàn tất nhưng không tìm thấy ông thợ đâu cả: ông thợ đã đột nhiên bỏ đi mà không đòi tiền công và tiền vật liệu, cũng không để lại tên tuổi hoặc điạ chỉ. Các nữ tu đã nhờ tìm kiếm khắp nơi và còn nhắn tin trên các báo địa phương, tuy nhiên, không ai nghe biết về ‘ông thợ kỳ lạ’ này. Sau cùng, Mẹ Bề Trên đã phải đến xưởng gỗ để thanh toán tiền vật liệu, nhưng mọi người làm việc tại đây cho biết không có ai đến mua gỗ làm cầu thang cho nguyện đường. Do không tìm ra tông tích ông thợ ‘huyền bí’ này nên người đương thời đều kết luận đó chính là Thánh Giuse đã đáp lời cầu xin của các nữ tu. Hiện nay, tại Nhà Mẹ các nữ tu Loretta ở tiểu bang Kentucky, trong sách kinh hàng ngày, có hình vẽ ông thợ mộc đầu tóc bạc phơ dắt theo con lừa với túi đồ nghề gồm 1 cái cưa, 1 cây thước và 1 cái búa.
Năm 1971, một trận hỏa hoạn lớn thiêu hủy nhiều ngôi nhà của học viện và khu vực chung quanh. Tuy nhiên, như một phép lạ, nguyện đường Loretto vẫn đứng y nguyên, không hề hấn gì.
Sau hơn 8 giờ lái xe trong đêm với tốc độ trung bình 120 cây số/giờ, chúng tôi tới ranh giới Texas và New Mexico khi trời hừng sáng. Và kìa, trước mặt chúng tôi và hai bên xa lộ 40, trải dài những cánh đồng tuyết chạy mút tới chân trời. Thảm tuyết bao la phản chiếu ánh mặt trời tạo nên một phong cảnh kỳ ảo khiến chúng tôi có cảm tưởng như đang đi trên một hành tinh nào khác trong giải ngân hà. Quả thực, chúng tôi thật may mắn vì mặc dù vào mùa đông, bầu trời New Mexico lúc này trong sáng với mặt trời trên cao tỏa ánh sáng dịu hiền, làm ấm lòng khách viễn du, nhưng không đủ sức nóng để làm tan chảy những cánh đồng tuyết trải dài từ ranh giới Texas tới thành phố Santa Fe.
Chúng tôi tới nguyện đường Loretto kiến trúc theo kiểu Gothic lúc 4 giờ 30 chiều, đúng vào ngày đầu năm dương lịch và phải đợi khá lâu mới đến lượt vào bên trong nguyện đường vì nhiều đoàn hành hương đã tới trước. Có những đoàn từ các tiểu bang miền Bắc như Minnesota, Michigan, từ miền Đông như New York, Pennsylvania. Chúng tôi cũng gặp 1 đoàn người Việt từ California. Đặc biệt có 2 đoàn, 1 từ Canada và 1 từ Pháp. Điều này cho thấy ‘Cầu thang Thánh Giuse’ đã được biết đến khắp nơi, mỗi năm có khoảng 250 ngàn khách hành hương đến nguyện đường Loretta để xem cầu thang, và đúng như nữ tu Januarius, Giám đốc học viện Loretto năm 1960, cho biết du khách từ khắp nơi trên thế giới đến chiêm ngưỡng cầu thang lạ lùng này, trong số đó, có cả kỹ sư, kiến trúc sư, khoa học gia đến tìm hiểu, nghiên cứu và nói rằng họ không thể hiểu làm thế nào một chiếc cầu thang như vậy có thể tồn tại sau gần 1 thế kỷ sử dụng. Quả thực, cầu thang đã thách đố những phân tích khoa học cũng như khoa kiến trúc và ngành thủ công nghệ.
Bước qua cửa vào cuối nguyện đường, du khách sẽ lập tức bị thu hút bởi những tác phẩm nghệ thuật:
-Bàn thờ gỗ được làm từ bên Ý, chạm trổ bằng tay theo kiểu Gothic, rồi sơn cho giống màu đá cẩm thạch. Bàn thờ nguyên thuỷ này được đặt trong nguyện đường từ năm 1910 đến nay, hơn 100 năm vẫn không thay đổi. Phía dưới bàn thờ có khắc nổi hình Bữa Tiệc Ly của Leonardo da Vinci.
-Trong gian cung thánh, phía bên phải gần bao lơn, có tượng Thánh Giuse tay trái cầm cây gậy, tay phải ẵm Chúa Hài Đồng. Cũng trong gian cung thánh, phía bên trái gần bao lơn, có tượng Đức Mẹ ban ơn đứng trên qủa cầu, chân trái đạp đầu con rắn, chân phải có chuỗi Mân Côi và dưới đó là các ngôi sao. Cả hai bức tượng đều có kích thước lớn hơn người bình thường.
-Hai tượng thiên thần bổn mạng đứng 2 bên phía trên bàn thờ và tượng thiên thần ngồi bưng bình nước thánh lớn là công trình nghệ thuật của nhóm nghệ nhân M.M. K. Brokaw nổi tiếng đương thời.
-Tượng Trái Tim Chúa Giêsu, đặt trên tường phía bên trái, tay trái chỉ Trái Tim Cực Thánh, tay phải xuôi xuống với bàn tay mở rộng như ban ơn cho những ai đến với Người.
-Chặng đường Thánh gía hai bên tường biểu lộ nét sinh động của nghệ nhân khi diễn tả được nỗi bi thương của Chúa và Đức Mẹ cũng như sự tàn ác của ‘quân dữ’. Thực ra, chặng đường Thánh gía là do sáng kiến của thánh Phan-xi-cô từ thế kỷ 13 nhằm giúp tín hữu, trong ngày thứ Sáu Tuần Thánh, sốt sắng nhớ lại hành trình khổ nạn của Chúa khi vác Thập gía lên đồi Can-vê, nhờ đó những người không biết đọc cũng có thể trải nghiệm cuộc thương khó của Người. Khởi đầu, người ta dựng những cây thánh giá nhỏ bằng gỗ ở những khoảng cách khác nhau và tín hữu dừng lại mỗi chặng trong khi suy tưởng về quãng đường thập gía Chúa đã đi qua. Sau cùng, các họa sĩ và các nhà điêu khắc đã vẽ hoặc tạc nên những cảnh sống động về chặng đường khỗ nhục cuả Chúa vác Thánh gía lên đồi để chịu đóng đinh. Phải chính mắt trông thấy những chặng đường Thánh gía tại nguyện đường Loretta, chúng ta mới thấy tài nghệ tuyệt vời của các nhà đúc tượng khi thực hiện những tác phẩm nghệ thuật này. Chặng đường Thánh gía Loretta hiện nay là một kho tàng nghệ thuật vô gía mặc dù được thực hiện từ năm 1800. Tất cả những bức tượng và chặng đường Thánh gía đều bằng đá cẩm thạch nghiền nát, rồi đổ vào khuôn, nung trong lò như kỹ thuật làm đồ gốm, sau đó các nghệ nhân tô vẽ bằng tay.
-Kỹ thuật sơn kính màu tại nguyện đường Loretta đã đạt tới mức hết sức tinh vi, không thua gì các thánh đường nổi danh bên Âu châu như nhà thờ Fatima Bồ Đào Nha, nhà thờ Thánh An-tôn Lisbon, nhà thờ chính tòa Burgos, đại thánh đường Thánh I-nha-xi-ô Loyola Tây Ban Nha, nhà thờ Sacré Coeur, nhà thờ Notre Dame Paris ở Pháp, những nơi mà tôi có dịp viếng thăm trong chuyến hành hương Fatima-Lộ Đức tháng 10 năm 2011. Kính màu trên vòm cửa cuối nguyện đường vẽ biểu tượng của Chúa Giêsu bằng 2 cây Thánh gía đặt chéo lên nhau với ánh hào quang màu xanh dương. Hai bên phía dưới là chữ Hi-lạp Alpha và Omega, nói lên Chúa Ki-Tô là khởi đầu và là sau hết. Cửa kính tròn sau gác ca đoàn có hình bông hồng lớn, được gọi là ‘Rose window’, vẽ chữ M, lồng trên chữ A (Ave Maria), lời chào kính Đức Mẹ Maria vì khi thành lập Hội Dòng Loretto ngày 25/4/1812 tại Kentucky, các nữ tu đã chọn Đức Mẹ làm bổn mạng. Ngoài ra, còn 2 kính màu lớn, một vẽ ảnh Thánh Stanislas ẵm Chúa Hài Nhi, bổn mạng của các tập sinh và các thiếu nữ, một vẽ ảnh Thánh Catherine thành Alexandra tay ôm cành thiên tuế, bổn mạng các trinh nữ và các nữ sinh.
Tuy nhiên, đích điểm của khách hành hương chính là ‘CẦU THANG THÁNH GIUSE’. Thật vậy, suốt thời gian ở trong nguyện đường, lúc nào tôi cũng thấy khách hành hương, hết lớp này đến lớp khác, chăm chú quan sát cầu thang từ trên xuống dưới, rồi lại từ dưới lên trên, không bỏ qua một chi tiết nhỏ nhặt nào, rồi bàn tán, thảo luận, và đi từ ngạc nhiên đến trầm trồ không tiếc lời khen ngợi. Sau đó, nhiều người đến qùy dưới chân tượng Thánh Giuse cầu nguyện trước khi quyến luyến ra về sau khi đã chụp hàng chục tấm ảnh, hoặc quay phim làm kỷ niệm.
Cầu thang nằm sát tường bên phải, phía cuối nguyện đường, có hình xoắn ốc, vòng 2 lần, mỗi vòng 360 độ, không có cột chịu lực ở giữa. Toàn bộ sức nặng tựa trên chân cầu thang và phần nối với gác ca đoàn.Điều này trái hẳn với nguyên lý về trọng lực (law of gravity) khiến các khoa học gia không sao giải thích được. Kiến trúc sư Urban C. Weidner cũng là chuyên gia nghiên cứu gỗ cho biết ông chưa bao giờ thấy cầu thang hình xoắn ốc bằng gỗ mà không có cột chịu lực ở giữa. Theo ông, nó sẽ sụp đổ ngay khi có người đặt chân bước lên. Thế mà các nữ tu và nữ sinh phải lên xuống cầu thang mỗi ngày một hay nhiều lần để hát phụng vụ. Năm 1959, cả ca đoàn học viện Loretto đứng hát trên các bậc thang mà nó vẫn vững chắc như làm bằng xi-măng côt sắt.
Cầu thang có 33 bậc cùng một kích thước, tượng trưng cho 33 năm Chúa sống ở trần gian, 2 bên các bậc thang không có song chắn an toàn khi lên xuống, cũng không có tay vịn. Một nữ sinh thời gian làm cầu thang mới 13 tuổi, sau vào tu dòng Loretto lấy tên Mary, kể lại rằng chính cô và các bạn là những người đầu tiên bứơc lên cầu thang, nhưng vì sợ qúa nên phải bò lên từng bậc, rồi khi xuống, phải cho hai chân xuống trước, rồi bám bậc phía trên,từ từ trụt xuống. Chính vì thế, sau 7 năm các nữ tu và nữ sinh phải ‘bò lên bò xuống’ các bậc thang để lên gác ca đoàn, Phillip August Hesch, chuyên viên bảo trì nhà thờ chính tòa St. Francis, được mời tới làm tay vịn và song chắn 2 bên cầu thang cũng như quanh gác ca đoàn. Điều đặc biệt là cầu thang không có dù 1 chiếc đinh, hoặc keo dán để liên kết các vật liệu với nhau. Ông thợ ‘bí mật’ đó chỉ dùng các chốt gỗ hình vuông để liên kết một cách tài tình, chính xác và hết sức mỹ thuật.
Cầu thang được ráp nối bằng 93 tấm gỗ, dài từ 0.9 đến 1.5 m, gồm 10 tấm dùng làm sườn phía ngoài (nên có 9 đường nối), 8 tấm làm sườn phía trong (7 đường nối), 33 tấm làm bậc thang, 33 tấm kê giữa 2 bậc thang, phần còn lại dùng làm đoạn vòng dưới chân cầu thang. Kỹ thuật ráp nối thật lạ lùng và tinh xảo, và như trên đã nói, ông thợ không dùng đinh, cũng không dùng keo dán, chỉ nối kết bằng những chốt gỗ hình vuông mà thôi. Kiến trúc sư kiêm chuyên gia nghiên cứu gỗ Urban Weidner đã có nhận xét: một trong những điều làm sửng sốt các kỹ sư và các nhà kiến trúc là những tấm gỗ được ghép nối thành sườn cầu thang với độ cong tuyệt hảo, mỗi tấm gỗ có độ cong thật chính xác, đường ghép nối lại hết sức tinh vi, không tìm thấy một khuyết điểm nào. Ông Weidner vẫn băn khoăn suy nghĩ là một kỹ thuật tinh vi như thế mà vào thập niên 1870, một mình ông thợ mộc với những dụng cụ rất thô sơ, làm thế nào có thể thực hiện được.
Về gỗ làm cầu thang, nhiều chuyên gia đã phân tích, tìm hiểu loại gỗ và xem loại đó xuất xứ từ đâu. Tuy nhiên, không một ai có thể khẳng định là loại gỗ nào để tìm ra xuất xứ của nó. Mặt các bậc thang liên tục bị giẵm lên từ khi hoàn thành cách đây hơn 100 năm, nhưng chỉ mép bậc thang bị mòn đi một chút. Có nhà nghiên cứu cho đây là một loại thông mà thớ gỗ nằm gần vỏ, người khác thì cho là loại thông vàng lá dài. Urban Weidner lại khẳng định loại gỗ ít bị mòn này không hề có tại New Mexico. Việc ông thợ lấy gỗ từ đâu mang về làm cầu thang vẫn còn là một bí ẩn.
Chuyên gia Forrest N. Easley, sinh quán New Mexico, tốt nghiệp ưu hạng tại Đại học Colorado ngành Lâm học và Mộc học, đã từng làm việc cho các cơ quan chính phủ và Hải quân Hoa Kỳ trong 40 năm, đặc trách nghiên cứu và quản trị ngành gỗ. Với thành quả và công trình nhiều năm nghiên cứu, ông là chuyên gia về gỗ nổi tiếng, có uy tín và được mọi người kính nể. Năm 1996, Forrest Easley đã bỏ ra 15 tháng nghiên cứu và phân tích gỗ làm cầu thang Loretto. Ông lấy một mẩu gỗ cầu thang đem vào phòng thí nghiệm và dùng kính hiển vi, kính khuếch đại để quan sát, phân tích tế bào cấu tạo của gỗ. Ông cho biết gỗ có tế bào cấu trúc hình vuông, không giống bất cứ loại gỗ nào hiện có, và cũng không biết rõ nguồn gốc từ đâu. Đây là loại gỗ vân sam (spruce) ‘có một không hai’, vì tất cả các loại gỗ vân sam khác không bao giờ có cấu trúc tế bào hình vuông. Như vậy, chỉ có thể phân loại gỗ này vào giữa nhóm Picea sitchensis và Picea engelmanni. Forrest đề nghị đặt tên khoa học là Pinacae Picea josefìi Easley, còn tên phổ thông nên gọi là gỗ vân sam Loretto.
Giáo Hội luôn luôn thận trọng khi đề cập đến những hiện tượng siêu nhiên mà con người không giải thích được. Cũng trong tinh thần đó, các nữ tu và Giáo quyền tại Santa Fe không muốn đưa ra một tuyên bố khẳng định nào về chiếc cầu thang lạ lùng này, chỉ cho đó là sự đáp ứng của Thánh Giuse đối với lời cầu nguyện và sự phó thác của các nữ tu nơi Thánh Giuse. Tuy nhiên, nhiều người vẫn nghĩ Thánh Giuse chính là ông thợ đã làm chiếc cầu thang lạ lùng đó.
Truyền thống tôn kính Thánh Giuse đã có từ lâu đời trong Giáo Hội, từ những thế kỷ đầu, thời các thánh Giáo phụ. Rồi qua các thế kỷ, chúng ta thấy rất nhiều vị thánh đã tỏ ra lòng sùng kính Thánh Cả Giuse cách đặc biệt.
Tiêu biểu nhất, thế kỷ 13 có thánh Margaret Cortona, thế kỷ 14 các thánh Bridget Thụy Điển, thánh Vincent Ferrer, thánh Bernardine Siena. Đặc biệt thế kỷ 16 có thánh Teresa Avila, nữ tiến sĩ đầu tiên của Hội Thánh, là tông đồ nhiệt thành với lòng phó thác tuyệt đối vào Thánh Cả Giuse. Bà đã thành lập 17 tu viện và dâng kính 13 tu viện cho thánh Giuse. Qua kinh nghiệm bản thân của bà về những ơn đã nhận được từ Thánh Giuse, thánh Teresa quả quyết:”Tôi thấy không lần nào xin gì cùng Thánh Giuse mà không được. Dường như Thiên Chúa ban cho các Thánh giúp ta việc này việc nọ. Nhưng kinh nghiệm cho tôi biết Thánh Giuse giúp chúng ta trong mọi trường hợp. Những ai không tin lời tôi, hãy thử mà xem”.
Sang thế kỷ 17, Mẹ Đáng Kính Maria Agreda, nữ tu Dòng Thánh Phan-xi-cô, trong mọi khó khăn cũng như nghịch cảnh, lúc nào bà cũng tín thác nơi Thánh Giuse. Trong cuốn sách Thành Trì Thiên Chúa (La mistica ciudad de Dios), bà viết: “Sự cầu bầu của Thánh Giuse thực là mạnh thế, để giúp chúng ta giữ đức trong sạch, gỡ mình khỏi tội lỗi, thêm lòng kính mến Đức Mẹ, được ơn chết lành, khỏi quỷ ma cám dỗ, được sức khỏe phần xác cùng sự cứu trợ trong mọi hoàn cảnh khó khăn”.
Trong thời cận đại, chúng ta có 2 vị Thánh được coi là Tông đồ nhiệt thành hơn cả của Thánh Cả Giuse: Thánh Daniele Comboni và Thánh Andre Bessette. Cả hai có chung đặc điểm là cùng sinh vào thế kỷ 19 và được phong hiển thánh vào thế kỷ 21, nhưng thánh Daniele qua đời vào thế kỷ 19 và thánh Andre qua đời thế kỷ 20.
1. Thánh Daniele Comboni là một linh mục truyền giáo tại Phi châu, sau làm Giám mục, được phong thánh ngày 5/10/2003. Ngài đã sáng lập Dòng Thừa Sai gồm cả hai ngành nam tu sĩ và nữ tu. Ngay khi khởi đầu việc truuyền giáo tại Sudan, Cha Daniele đã phó thác sứ mạng này cho Đức Mẹ và Thánh Giuse. Trong một cuộc hành trình bằng lạc đà phải xuyên qua những cánh rừng rậm Phi Châu, Cha bị té gẫy nát cả bàn tay và cánh tay. Mặc dù vô cùng đau đớn, Cha Daniele vẫn phải leo lên lưng lạc đà, băng rừng tới bờ sông Nile để được đưa bằng thuyền tới tụ điểm truyền giáo. Sau 82 ngày nằm liệt trên giường điều trị vết thương, Cha trở lại công việc, và ngay lập tức, Cha viết hóa đơn gởi Thánh Giuse, yêu cầu Ngài phải lấy tiền từ ‘ngân hàng Thiên quốc’ bồi thường cho Cha tám mươi hai ngàn quan, nghĩa là mỗi ngày Cha nằm trên giường trị thương và không dâng Thánh lễ được, Thánh Giuse phải trả cho Cha một ngàn quan. Rốt cuộc, Thánh Giuse ‘đành’ phải chi ra số tiền ‘khổng lồ’ đó. Tiếp theo, không biết từ đâu đến, Cha Daniele nhận được những số tiền lớn, chẳng những Cha có thể trả hết những chi phí chuyên chở, chi phí điều hành 2 nhà ở Cairo, 2 học viện ở Verona và Bắc Ý, thanh toán lương bổng cho nhân viên địa phương và hoàn tất công việc xây cất ngôi nhà dành cho các nữ tu, gồm nhà ở, trường học và vườn trẻ. Đúng là Thánh Giuse quá rộng lượng, đã trả cho Cha Daniele cả vốn lẫn ‘4 lời’.
2. Thánh Andre Bassette là Thày trợ sĩ Dòng Thánh Gía. Ngài sinh ngày 9/8/1845 trong một gia đình lao động gồm 10 anh chị em (2 người mất sớm), mồ côi cha năm lên 9 và mồ côi mẹ năm lên 12. Thuở nhỏ Ngài ít được đi học, chỉ biết đọc biết viết, và để mưu sinh, cậu bé Andre suốt 13 năm phải làm nhiều nghề khác nhau: thợ thiếc, thợ rèn, thợ sửa giầy, thợ làm bánh, v.v. và có thời gian phải sang Hoa Kỳ kiếm sống. Tuy nhiên, cậu Andre rất có tâm hồn đạo đức. Khi nào có chút giờ rảnh, cậu đều qùy gối cầu nguyện trước Thánh Gía, và khi có cơ hội, cậu đem Thánh kinh nói chuyện với bạn bè. Ngoài ra, cậu có lòng kính mến Thánh Giuse đặc biệt.
Năm 25 tuổi, nhờ sự giới thiệu của cha xứ và nhất là sự can thiệp của Đức Cha Ignace Bourget, thanh niên Andre được nhận vào Nhà Tập. Thày Andre khấn trọn đời ngày 2/2/1874 khi 28 tuổi. Trong suốt 40 năm, công việc chính của Thày là gác cổng trường College de Notre Dame Montreal. Thày thường nói đùa:“khi tôi đến, người ta chỉ cho tôi cái cổng và tôi ở đó suốt 40 năm”. Ngoài công việc chính, Thày Andre còn làm những việc không tên như lau nhà, lau đèn nhà nguyện, lau cửa kính, vác củi, chạy thơ, v.v. Thày cũng được giao nhiệm vụ đi thăm các học sinh bị bệnh, và cũng nhờ công việc này, không bao lâu, Thày nổi tiếng là ‘người làm phép lạ Montreal’, có khả năng chữa bệnh nhờ lời xin của Thày với Thánh Giuse. Khi đến thăm bệnh nhân tại nhà, Thày bảo họ cầu cùng Thánh Giuse rồi xức dầu Thánh Giuse cho họ (dầu lấy từ cây đèn luôn luôn thắp sáng trước bàn thờ Thánh Giuse trong nhà nguyện). Thế rồi càng ngày tiếng tăm Thày Andre, ‘người làm phép lạ’, càng loan truyền khắp nơi khiến hàng ngàn người từ xa kéo đến, và rất nhiều người được khỏi bệnh nhờ Thầy cầu nguyện với Thánh Giuse. Chỉ riêng năm 1916 đã có 435 trường hợp được báo cáo khỏi bệnh mà y giới không giải thích được.
Thường ngày Thày Andre phải tiếp khách hành hương từ 8 đến 10 giờ và mỗi năm Thày nhận khoảng 80 ngàn thơ từ khắp nơi gởi đến xin khấn hoặc xin những lời chỉ dạy của Thày. Thày Andre luôn luôn nói với những người đến xin chữa bệnh: “Tôi chỉ là kẻ quê mùa. Nếu có ai ngu dốt hơn tôi, chắc chắn Chúa sẽ chọn người đó thay tôi”. Câu nói này làm chúng ta nhớ tới câu nói của Thánh Bernadette được Đức Mẹ hiện ra ở Lộ-Đức: tôi là kẻ ngu dốt nhất trong các người ngu dốt. Nếu có ai ngu dốt hơn tôi thì Đức Mẹđã chọn người đó rồi. Các Thánh sao mà khiêm nhường đến thế, chẳng bù cho chúng ta, có người còn cho mình ‘thay trời’ (thế thiên) hành đạo. Quả đúng như lời Chúa dạy: ai đưa mình lên sẽ bị hạ xuống và ai hạ mình xuống sẽ được nâng lên. Khi có người được khỏi bệnh đến cám ơn, Thày Andre trả lời: “Đó là Thánh Giuse chữa. Tôi chỉ là con chó nhỏ của Ngài mà thôi”.
Giấc mơ của Thánh Andre là xây một đại thánh đường kính Thánh Giuse. Khởi đầu, Thày Andre quyên góp được số tiền 200 Gia kim và mỗi học sinh trả cho Thày 5 xu tiền hớt tóc. Năm 1904, Thày làm được một nhà nguyện bằng gỗ dài 5,49m, rộng 4.57m gần địa điểm Vương cung thánh đường Thánh Giuse hiện nay. Giấc mơ của Thày Andre đã trở thành hiện thực năm 1924 khi thánh đường Thánh Giuse được xây trên sườn đồi Mount Royal bên cạnh nhà nguyện nhỏ bé của Thày. Năm 1955 thánh đường hoàn thành, cao 263 thước, cao nhất thành phố Montreal và được thánh hiến. Mỗi năm có trên 2 triệu người đến viếng Vương Cung Thánh Đường Thánh Giuse, và nhiều người đến xin ơn đã được như ý nguyện.
Thày Andre qua đời năm 1937 lúc 91 tuổi. Hơn một triệu người từ khắp nơi đến kính viếng và đi qua quan tài của Thày để được nhìn Thầy và vĩnh biệt Thày lần cuối. Thi hài Thày Andre được an táng trong Vương Cung Thánh Đường mà Thày đã có công khởi xướng. Thày Andre được ĐGH Gioan-Phaolô đệ nhị phong chân phước ngày 23/5/1982 sau phép lạ ông Carlo Audino khỏi bệnh ung thư năm 1958 nhờ lời cầu bầu của Thày. Ngày 17/10/2010 Chân phước Andre được ĐGH Bê-nê-đic-tô thứ 16 tôn phong hiển thánh sau khi phép lạ thứ 2 được công nhận.
Nhân nói đến thời cận đại, không thể không đề cập đến biến cố vĩ đại ngày 13/10/1917 khi Đức Mẹ hiện ra lần thứ 6 với ba trẻ tại Fatima và trên bầu trời có Thánh Giuse, Chúa Hài Đồng và Đức Mẹ cùng xuất hiện bên cạnh mặt trời. Liền sau đó, chị Lucia la lên: trông mặt trời kìa! (Regardez le soleil), và trước sự chứng kiến của khoảng 70 ngàn người, mặt trời nhảy múa. Từ xưa đến này, ít khi nghe nói đến việc Thánh Giuse hiện ra, nhưng trong thời cận đại, sự kiện Thánh Giuse xuất hiện trên bầu trời cùng với Chúa Giêsu và Đức Mẹ có lẽ nhắc nhở chúng ta rằng Người vẫn luôn luôn quan tâm đến nhu cầu, nguyện vọng của mỗi người chúng ta, và sẵn lòngcầu bầu cho chúng ta trước Tòa Chúa Giêsu và Đức Mẹ.
Trên đây là truyện các Thánh tôn vinh Thánh Cả Giuse. Đến đây xin độc gỉa lượng thứ cho vì chỉ muốn chứng minh rằng trong cuộc sống đời thường, nếu chúng ta thành tâm cầu khẩn Thánh Giuse, Người sẽ nhận lời. Xin được kể hầu qúy vị một kinh nghiệm mới xảy ra trong gia đình như sau: Tôi có người con gái thứ 3 tên là Trần-Nguyễn Thiên Hương Lan, gọi bằng tên Mỹ là Mary cho tiện và vắn tắt. Mary tốt nghiệp Đại học Dược khoa với cấp bằng Doctor of Pharmacy và đã hành nghề dược sĩ hơn 10 năm. Mới đây một bệnh viện trong vùng cần tuyển một dược sĩ có kinh nghiệm để bào chữa thuốc trị bệnh cho các trẻ em khuyết tật hoặc mắc những bệnh nan y. Mary muốn nộp đơn xin làm nhưng xem ra tiêu chuẩn rất khó. Tôi đã khuyến khích Mary và khuyên Mary cầu nguyện cùng Thánh Giuse.
Một tuần sau khi phỏng vấn, Mary nhận được thư từ chối. Mary buồn rầu thông báo cho tôi và nghĩ là chuyện đã rồi nên tôi không quan tâm nữa. Bất ngờ tuần sau Mary gọi điện thoại báo tin vừa được bệnh viện cho hẹn đến làm thủ tục nhận việc. Mary cho biết ngay khi nhận thư từ chối, trong lòng không vui, lại thắc mắc vì sao đã cầu xin Thánh Giuse mà Người không nhận lời, nên theo đúng lời Mary kể, Mary hỏi Thánh Giuse TẠI SAO, sau đó ‘email’ cho bà Giám đốc phòng nhân viên của bệnh viện. Ngay chiều hôm đó, Mary nhận được hồi báo cho biết đã có sự lầm lẫn, và trong số những ứng viên đủ tiêu chuẩn, người được chọn chính là Mary. Mary tin rằng chính Thánh Giuse đã nhận lời cầu xin của mình mà chỉ cho họ nhận ra sự lầm lẫn.
Để kết thúc bài viết, xin trích dẫn bài suy ngẫm ngày thứ sáu trong cuốn Tuần cửu nhật kính Thánh Giuse do nhà sách Trái Tim Đức Mẹ tái bản năm 1993 mà không thấy tên tác gỉa:
“Muốn biết thế lực Thánh Cả trên Thiên Đàng ngày nay, không gì bằng nhớ lại công việc Người đã làm xưa trong Nhà Nazarét. Nơi đây, vì phận sự gia trưởng, Người đã xếp đặt mọi công việc cho Đức Mẹ và Chúa Con. Ngót ba mươi năm trường, hai Đấng đã lấy làm hạnh phúc được vâng lời Người trọn vẹn, chẳng lấy chi làm sung sướng cho bằng làm vừa lòng đẹp ý Người luôn. Ấy là thế lực Người ở trần gian, huống chi trên Thiên Đàng, quyền uy Người còn lớn gấp bội. Có lẽ nào trên chốn vinh quang, Chúa Giêsu và Đức Mẹ lại phai lạt lòng yêu mến đối với Người? Tất nhiên lời cầu nguyện của Người phải mạnh thế dường nào! Đấng Cứu Thế vừa thấy đôi tay, suốt ba mươi năm, đã làm lụng vất vả để nuôi Mình, rày chắp lại van xin, thì cầm lòng sao được mà chẳng mau kíp ban ơn?”

 

19/03-52: “HÃY ĐẾN CÙNG GIUSE”

Hãy đến cùng Giuse” là một lời khuyên nổi tiếng, chúng ta thường hiểu về việc Hội Thánh: 19/03-52

“Hãy đến cùng Giuse” là một lời khuyên nổi tiếng, chúng ta thường hiểu về việc Hội Thánh dạy chúng ta hãy đến cùng Thánh Cả Giuse mỗi khi chúng ta có nhu cầu cần xin ơn Chúa. Quả thật Thánh Cả Giuse, đấng đã được đặt làm Cha nuôi Chúa Giêsu, ngài có một lòng tin mạnh mẽ, lòng cậy trông vững bền, lòng mến yêu tha thiết, ngài lắng nghe và vâng lời Thiên Chúa tuyệt đối, ngài trở nên Thánh Cả của Thiên Quốc vì những nhân đức tuyệt vời của ngài. Lời khuyên dạy “Hãy đến cùng Giuse” thật không sai.
“Hãy đến cùng Giuse” có nguồn gốc từ trong Cựu Ước, câu nói này là câu nói của Pharaô vua Ai Cập, Pharaô đã khuyên mọi người dân Ai Cập: “Hãy đến cùng Giuse” để được phân phát lương thực ( St 41, 55 ).
Giuse trở nên Tể Tướng của Ai Cập trong một câu truyện đầy tính bi hài của một con người, một gia đình, một dân tộc. Câu truyện được kể ở phần IV, Sự tích ông Giuse trong sách Sáng Thế các chương từ chương 37 trở đi.
Sinh ra trong một gia đình có 12 anh em, cha của Giuse, ông Giacóp, một con người sống tình cảm, tình yêu của mình rất mực thủy chung, đó là lý do vì sao ông thương Giuse hơn các con trai khác. Giuse là con của Rakhen, người vợ ông đã thương ngay từ thuở vừa gặp gỡ, nhưng có khá nhiều trở ngại trên con đường hai người đến với nhau, ngay cả khi đã đến với nhau rồi thì việc mang thai và hạ sinh Giuse lại khá muộn màng.
Giuse là một con người giàu cảm xúc, trí tưởng tượng của ông rất phong phú, Kinh Thánh nói ông có tài đoán mộng, vì ông tiếp nhận những câu truyện trong giấc mơ của người khác một cách sống động, ông trân trọng những câu truyện đó vì nó là một phần của cuộc sống, ông không chối bỏ, ông đón nhận cảm xúc từ câu truyện như là một câu truyện có thật của ông, ông sống cảm xúc đó, nhập vào bối cảnh đó một cách nhẹ nhàng như chính ông trong giấc mơ, ông để cho những diễn biến xuôi chảy tự nhiên, ông đem câu truyện ra khỏi giấc mơ mà thấm vào hiện tại cuộc sống, ông diễn tả cảm xúc cho người khác hiểu, ông truyền cảm xúc đó đến cho người khác, ông làm cho người khác cùng sống cảm xúc của ông.
Đó là tiến trình quan sát, chuyển biến tâm hồn và khả năng diễn tả của bậc nghệ sĩ. Có thể nói Giuse là một nghệ sĩ. “Tác phẩm” của ông vào lúc thuận lợi đã làm biến đổi cuộc sống của tha nhân, không chỉ một người mà là nhiều người, mà cũng không chỉ là cứu một số người nhưng còn là cứu cả gia đình và dân tộc của ông nữa.
Có lẽ vì là người giàu cảm xúc nên khi bị loại bỏ, bị thù ghét vì lòng ganh tỵ của anh em mình, Giuse đau đớn hơn người khác nhiều. Chúng ta có hiểu được nỗi tuyệt vọng của Giuse khi bị anh em thả xuống giếng sâu để mặc cho cái chết dần đến, sự thanh vắng của hoang mạc, nỗi cô đơn tuyệt vọng, dưới lòng giếng sâu âm u, Giuse đã nghĩ gì, đã sống ra sao ? Khi được anh em kéo lên, rồi bị bán cho đoàn thương lái, rong ruổi theo người lạ đến xứ sở xa xôi, Giuse đã nghĩ gì ? Khi long đong lận đận nơi xứ người, khi bị giam mình trong chốn tù đày, Giuse đã nghĩ gì ? Giuse đã bật khóc khi gặp lại anh em mình trên đất Ai Cập, Giuse đã không ngăn được những dòng nước mắt khi bỗng một ngày anh em ruột thịt mình tìm đến.
Nhiều khi tôi tự hỏi, Đức Hồng Y Phanxicô đã sống ra sao trong những ngày ở lao tù, Đức Hồng Y đã cảm xúc thế nào khi bước ra khỏi điện Vatican đón những người nhiều năm trước đã “tống cổ” mình ra khỏi Giáo Phận, bán mình cho kẻ thù hại mình, để mặc cho người ta hành hạ, không một hành vi can thiệp hoặc lên tiếng bênh vực ? Giuse đã không ngăn được cảm xúc, lao xuống đỡ lấy anh em đang sấp mình run rẩy ngay dưới chân ông, Giuse đã nói một câu tuyệt vời: “Đừng sợ, chính vì để cứu gia đình mình, Chúa đã sai em sang Ai Cập trước các anh”. Tôi đã chứng kiến vị Hồng Y khả kính mỉm cười khoan dung đón kẻ từng hại mình vào điện Vatican, tiếp đón họ như những thượng khách và dành cho họ những đặc ân mà họ không xứng đáng được hưởng !
Để có biến cố Xuất Hành, cuộc đoàn tụ bên Ai Cập đã là nguyên nhân của sự xuất hành, trong đó Giuse là nhân vật trung tâm. Tháng ba, tháng kính Thánh Giuse, cũng là một cơ hội để chiêm ngắm những con người mang tên Giuse và cũng mang tên Công Chính. Hình ảnh vị Tôi Tớ Chúa của thế kỷ chúng ta đang sống giúp ta chiêm nghiệm tình yêu và sự tha thứ. Xin cho Mùa Chay Thánh giúp chúng ta hiểu và sống tận tình hơn với Chúa và với nhau.
Lm. VĨNH SANG, DCCT, Lễ Thánh Giuse, 19.3.2012

 

19/03-53: THÁNH GIUSE: NGƯỜI CÔNG CHÍNH

Lm. GB. Trần Văn Hào
 

Nói về Thánh Giuse, chúng ta dễ có nguy cơ ngụy tạo ra một Thánh Giuse theo trí tưởng tượng hay 19/03-53

Nói về Thánh Giuse, chúng ta dễ có nguy cơ ngụy tạo ra một Thánh Giuse theo trí tưởng tượng hay theo cảm tính đạo đức, hơn là chiêm ngắm hình ảnh Thánh Giuse được Kinh thánh nói đến. Thực ra, chúng ta biết rất ít về Ngài, ngoài trừ một vài chi tiết được Thánh sử Matthêu và Luca ghi lại, liên quan đến thời thơ ấu của Đức Giêsu. Tuy nhiên, thánh Matthêu đã quy tóm sự thánh thiện của Thánh Giuse vào một tước hiệu rất đơn giản: ‘Người Công chính’ (Mt 1,19).
Dưới góc độ sử học, chắc chắn chúng ta không thể biết nhiều về Thánh Giuse, ngoại trừ chi tiết cho biết Ngài là con của Giacóp và là chồng của bà Maria, Mẹ Chúa Giêsu cũng gọi là Đấng Kitô (x.Mt chương 1). Ngoài ra, những điều khác được viết ra nói về Ngài đều gắn kết với cuộc đời của Chúa Giêsu tại Nazareth thủở thiếu thời. Chúng ta không biết Thánh Giuse sinh năm nào, sống được bao nhiêu tuổi và qua đời ở đâu. Vả lại, lúc sinh thời, Thánh Giuse cũng không để lại một trước tác nào để các học giả có thể nghiên cứu linh đạo của Ngài. Các trang Tin mừng tuyệt đối không ghi lại bất cứ câu nói nào của Thánh nhân. Thánh Giuse ít nói, nhưng chắc chắn không phải Ngài bị câm điếc hay mắc chứng trầm cảm. Cũng chẳng phải Ngài là một con người lầm lì hoặc ít giao tế xã hội. Trên hết, sự thinh lặng của Thánh Giuse gắn liền với tước hiệu ‘Người Công chính’ diễn bày một tư thế nội tâm sâu xa, và Giáo hội vẫn sánh ví Ngài như một ‘Người tôi tớ trung thành’. Xin chia sẻ một vài suy tư để chúng ta chiêm ngắm sự thánh thiện của Thánh nhân như một mẫu gương sống nội tâm cách sâu xa.
Thinh lặng để nghe: Nhận ra tiếng Chúa nói.
Thánh Matthêu trình thuật 2 sự kiện: Thần sứ nói với Giuse trong giấc mộng để đón Đức Maria về nhà, sau đó thần sứ cũng báo mộng cho Giuse hãy đưa dẫn cả gia đình trốn sang Ai Cập để lánh nạn (x Mt chương 1 và 2; x Lc chương 2). Giữa đêm khuya thanh vắng, Giuse đã nghe được tiếng Chúa ngỏ trao. Văn phong thời xưa khi diễn tả ‘Thiên Thần báo mộng’, chính là diễn bày sự kiện Thiên Chúa đang nói với con người. Ngày xưa, ngôn sứ Elia đã nghe tiếng Chúa nói trên núi Khô-rép không phải trong tiếng ầm ầm của gió bão, động đất hay những tiếng gầm rú của núi lửa phun trào, nhưng Chúa chỉ nói trong tiếng gió hiu hiu nhè nhẹ (1 Vua 19,11-13). Cậu bé Samuel cũng nghe tiếng Chúa gọi giữa đêm khuya thanh vắng khi cậu ngủ trong đền thờ với thầy cả E-li. Cũng thế, trong đêm trường tĩnh lặng, Thánh Giuse đã nghe được tiếng Chúa nói và mau mắn thi hành. Đây là thái độ nội tâm mà thánh Giuse đã thể hiện: Thinh lặng để nghe Chúa nói với chính mình. Thánh Biển Đức cũng dạy các con cái Ngài: “Chúng con hãy năng lắng nghe Lời Chúa, nhưng không phải nghe bằng đôi tai của thân xác, mà nghe với đôi tai của cõi lòng”. Trong cuộc sống hôm nay, chúng ta đang bị vây kín bởi quá nhiều tiếng động ồn ào, đan xen giữa những sinh hoạt đời thường. Những âm thanh hỗn độn đó cản che đôi tai và làm nhiễu sóng những sứ điệp mà Chúa đang muốn gửi đến. Đây không phải là âm thanh của những loa nhạc mở hết công suất, hay của những tiếng xe máy gầm rú chạy ngoài đường phố. Trên hết, đó là những tiếng động xào xạc của tiền bạc, những ồn ào của lạc thú hay những bon chen kiếm tìm danh vọng. Những tiếng động ấy như một thứ ngáng trở mà ma quỷ giăng ra để che chắn lỗ tai chúng ta trước tiếng mời gọi của Thiên Chúa. Chúa dựng nên con người chỉ có một cái miệng để nói nhưng có hai cái tai để nghe. Chúng ta hãy bắt chước Thánh Giuse, tập sống thinh lặng nội tâm để nhận ra những tín hiệu mà Lời Chúa đang vang vọng lại nơi tâm hồn chúng ta mỗi ngày.
Thinh lặng để nói: Đối thoại với Chúa.
Nếu chúng ta hiểu rằng cầu nguyện là đối thoại với Chúa, thì Thánh Guise đã nêu bật cho chúng ta mẫu gương về phẩm chất cao đẹp này. Ngài thinh lặng để nói với Chúa. Nơi gia đình Nazareth, Chúa Giêsu trở thành tâm điểm mà Thánh Giuse cũng như Đức Maria luôn quy hướng về. Ngài thinh lặng để nghe Chúa nói và cũng thinh lặng để nói với Chúa. Cha Luke Oysinger, tu sỹ dòng Biển đức, đã phân định việc cầu nguyện với 4 bước cơ bản. Bước thứ nhất, chúng ta đến gặp Chúa, tôi nói và Chúa nghe. Bước thứ hai quan trọng hơn, là Chúa nói còn tôi lắng nghe. Giai đoạn thứ ba,việc cầu nguyện trở nên sâu xa hơn, là chúng ta đến với Chúa, cả hai đều thinh lặng và cùng lắng nghe. Cuối cùng, sự viên mãn của tiến trình cầu nguyện là chúng ta đến với Chúa, không ai nói, chẳng ai nghe, cả hai đi vào sự thinh lặng trong hiệp thông cách trọn vẹn. Sự viên mãn này chỉ đạt đến khi chúng ta trở về với Chúa và an hưởng vinh quang vĩnh cửu trên quê trời, lúc đó chúng ta sẽ gặp Chúa ‘diện đối diện’ như thánh Phaolô đã từng diễn tả. Trong đời sống thiêng liêng, chúng ta cần tập thinh lặng để nghe Chúa nói, hơn là chúng ta chỉ độc thoại và nói một mình. Thánh Giuse đã thể hiện tư thế nội tâm này và nêu gương cho chúng ta. Ngày xưa, Chúa Giêsu cũng mời gọi các học trò hãy rút lui vào nơi thanh vắng để nghỉ ngơi một chút (Mc 6,31). Đây không phải là sự nghỉ ngơi của thân xác, nhưng trên hết là sự nghỉ ngơi với tư thế nội tâm để nhìn lại những biến cố đã qua, nói với Chúa và lắng nghe những gì Chúa nói với chúng ta.
Trong cuộc sống thường ngày, người ta vẫn dùng hai loại hình ngôn ngữ để giao tiếp, đó là ngôn ngữ bằng lời (verbal words) và ngôn ngữ không lời (non-verbal words). Khi hai người yêu nhau say đắm, những ngôn từ trên môi miệng sẽ trở nên thừa thãi. Trong tình yêu, ngôn ngữ của trái tim và đôi tai của cõi lòng vẫn là những phương thế tuyệt hảo nhất. Thánh Giuse đã sử dùng loại hình ngôn ngữ này để nói, để đối thoại với Chúa.
Thinh lặng để phục vụ: Như một đầy tớ trung thành
Thánh ký Matthêu ghi lại rằng, sau khi được Thiên sứ mách bảo, Giuse đã đón Đức Maria về nhà mình (Mt1,24). Cũng vậy, sau khi nghe Thiên sứ truyền lệnh, Thánh Giuse liền trỗi dậy, đang đêm đem Hài nhi và mẹ người trốn sang Ai Cập (Mt 2, 24). Thánh Giuse luôn sẵn sàng lên đường để thực thi điều Thiên Chúa muốn. Ngài không quản ngại nhọc nhằn hay gian nan. Cũng vậy, trong cuộc sống âm thầm tại Nazareth, Thánh nhân cũng đã phải bươn chải mưu sinh với nghề thợ mộc. Điểm mấu chốt, không phải Ngài làm việc để kiếm cơm áo gạo tiền, nhưng để phục vụ Chúa Giêsu và Đức Maria. Vì thế, Giáo hội vẫn sánh ví Thánh Giuse như một người tôi tớ trung thành. Người đầy tớ trong xã hội khi xưa là  người luôn biết làm theo ý chủ, lúc nào cũng xắn tay áo lên, thắt lưng cho gọnđể làm việc không mỏi mệt, và chẳng bao giờ đòi chấm công hay nhận thù lao. Chúa Giêsu cũng đã từng nói về người Pharisêu: “Họ nói mà không làm”. Còn thánh Giuse thì ngược lại, Ngài làm nhưng không nói.Trong thư thứ hai gửi giáo đoàn Thessalonica, thánh Phaolô cũng đưa ra lời trách móc: “Chúng tôi nghe nói trong anh em có một số người sống vô kỷ luật, chẳng làm việc gì, mà việc gì cũng xen vào” (2Thes2,11). Hiện trạng đó vẫn thường hay xảy ra trong các cộng đoàn giáo xứ hay ngay cả nơi các cộng đoàn tu sỹ. Đức Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II cũng đã từng nhắc nhở: “Ngày nay,Giáo hội cần những chứng nhân hơn là những thầy dạy”,nghĩa là Giáo hội cần có những con người xả thân làm việc cách cụ thể để phục vụ hơn là chỉ đứng trên bục giảng để nói bằng lý thuyết. Chúa Giêsuđã từng cảnh báo: “Không phải cứ mở miệng kêu lạy Chúa lạy Chúa là được vào nước trời cả đâu, nhưng chỉ những ai thi hành ý Chúa mà thôi” (Mt 7,21).
Giáo hội chiêm ngắm hình ảnh thánh Giuse lao động không phải nhằm đề cao những giọt mồ hôi nhễ nhại nơi xưởng mộc. Giáo hội muốn chúng ta học hỏi gương mẫu cần cù và miệt mài của Thánh nhân trong việc  phục vụ Chúa Giêsu và Đức Maria tại Nazareth.
Kết luận
Linh đạo mà thánh Giuse thể hiện không phải được viết lại trên một vài trang giấy vô hồn, nhưng linh đạo thánh thiện ấy đã hiển thị rõ nét nơi cuộc sống của Thánh nhân ở Nazareth mà các sách Tin mừng thuật lại. Một cuộc sống rất bình dị và lặng lẽ nhưng ngập tràn tình yêu nồng nàn dành cho Chúa Giêsu và Đức Maria. Thánh Giuse tuy không nói một câu nào trên đầu môi cửa miệng, nhưng Ngài vẫn đang nói với chúng ta rất nhiều qua mẫu gương thánh thiện của Ngài. Ngài là ‘Người Công chính’ không phải theo nghĩa hẹp, tức là chỉ tuân giữ lề luật cách nghiêm túc, nhưng Thánh nhân đã hoàn thiện lề luật một cách trọn hảo qua tình yêu nồng cháy dành cho Chúa Giêsu và Đức Maria.
Lạy Thánh Giuse Đấng Công chính, xin cầu cho chúng con.

 

19/03-54: Thánh Giuse gương mẫu cho người trưởng gia

 - Suy niệm lễ Thánh Giuse Bạn Trăm Năm Đức Maria
 

Ngày 19 tháng 3, Hội Thánh hoàn vũ hân hoan mừng kính thánh Giuse, bạn trăm năm của Ðức: 19/03-54

Ngày 19 tháng 3, Hội Thánh hoàn vũ hân hoan mừng kính thánh Giuse, bạn trăm năm của Ðức Trinh Nữ Maria, cha nuôi Chúa Giêsu, vị quan thầy khả kính của mình cách trọng thể. Truyền thống bình dân Kitô giáo dành trọn tháng Ba cho thánh Giuse người của Thiên Chúa và đem lòng sùng kính ngài cách đặc biệt.

Trong chương trình của Thiên Chúa tình thương, thánh Giuse đã được mời gọi trở nên người cha trên trần gian của Ngôi Lời Nhập Thể, (nơi ngài) được phản chiếu một cách đặc biệt tình phụ tử của Thiên Chúa. Nên khi chúng ta tôn kính thánh nhân là chúng ta ca khen chúc tụng Thiên Chúa: “Trong ngày lễ kính thánh Giuse chúng con cùng tung hô, chúc tụng và ca ngợi Cha” (Kinh Tiền Tụng Thánh Giuse). Đây là điều đẹp lòng Thiên Chúa, lời nguyện khác có đoạn “ Vào lúc bình minh của thời đại mới, Chúa đã trao cho thánh Giuse bảo vệ các Mầu Nhiệm Cứu Độ, xin cho Hội Thánh Chúa luôn luôn nhớ lời cầu bầu của thánh nhân …”. Chính Đức Giáo Hoàng Pio IX đã công bố sắc lệnh Quemadmodum Deus (08.12.1870), nhận thánh Giuse làm quan thầy cả Hội Thánh, hàng năm dành riêng hai lễ kính ngài vào ngày 19 tháng 3 và mùng 01 tháng 5.

1. Bạn hiền Trinh Nữ

Tin Mừng ghi lại: “ Giuse bạn của bà là người công chính, không muốn tố cáo bà, nên định tâm lìa bỏ bà cách kính đáo” (Mt 1, 19). Ðây là câu chuyện duy nhất trong Tân Ước diễn tả trực tiếp về con người của thánh Giuse, một vị hôn phu không những là người đã giữ đức công bình mà còn trung thành chu toàn mọi bổn phận của một người chồng, người chủ gia đình.

Lần giở lại những trang Tin Mừng có liên quan đến Thánh Giuse, chúng ta có thể khám phá ngay tính cao thượng trượng phu của ngài. Khi hay tin Maria mang thai, Thánh Giuse không bối rối cũng không ẩn trốn. Nhưng ngài chỉ mới toan tính bỏ bà Maria cách kín đáo. Tuy nhiên, ngài không thực hiện ý định đó. Bởi sau khi được sứ thần Thiên Chúa đến mặc khải cho ngài qua giấc mộng: “Mẹ Maria mang thai là bởi quyền năng của Chúa Thánh Thần”(Mt 1,20), ngài đã không còn “bán tín bán nghi” nữa. Trái lại, tín thác hoàn toàn vào lời của sứ thần, sẵn sàng đón Đức Maria về nhà làm bạn mình và phục vụ với lòng kính trọng, mến yêu.

Những biến cố xảy ra trong cuộc đời thánh Giuse như: Mầu Nhiệm Nhập thể, cuộc trốn chạy sang Ai Cập trước ý định tìm giết Chúa Giêsu của vua Hêrôđê, việc lạc mất Chúa Giêsu, cũng như những tháng năm sống đời ẩn dật tại Nazaret, Giuse, bậc trượng phu đã đứng mũi chịu sào trong mọi tình huốn: cùng bạn mình “đem Hài nhi lên Giêrusalem tiến dâng cho Chúa” (Lc 2, 22) ; “đem Hài nhi và mẹ Ngài ban đêm mà trốn qua Ai Cập” (Mt 2,14 ) ; “đem Hài Nhi và Mẹ Ngài mà về đất Israel” (Mt 2, 20 ) ; cùng với bạn đời sống âm thầm nơi thôn làng Nazaret, hàng năm cùng với Đức Maria đưa Chúa Giêsu lên Đền thờ chầu lễ (x. Lc 2, 41- 43). Ngài thật xứng đáng là bạn hiền của Đức Nữ Trinh.

Như thế, từ khi kết hôn với Mẹ Maria cho đến biến cố Chúa Giêsu 12 tuổi tại Ðền thờ Giêrusalem, ngài ân cần yêu thương đồng hành trong mọi lúc. Ngài ở cạnh Maria Hiền thê của ngài trong những lúc thanh thản cũng như trong những lúc khó khăn của cuộc sống, trong hành trình đi Bêlem để kiểm tra dân số, và trong những giờ hồi hộp và vui mừng của cuộc sinh hạ; trong lúc bi thảm tị nạn sang Ai Cập và trong cuộc vất vả tìm con tại Ðền Thờ; và rồi trong cuộc sống hằng ngày tại nhà Nazaret, trong phòng làm việc nơi thánh nhân đã dạy nghề cho Chúa Giêsu.

Thánh Giuse đã sống ơn gọi làm chồng của Đức Maria trong thinh lặng, kiên trì và trung tín hoàn toàn, cả khi ngài không hiểu. Ngài biết lắng nghe Thiên Chúa, để cho thánh ý Chúa hướng dẫn, và chính vì thế thánh nhân trở thành người chồng mẫu mực của Đức Maria và người cha tận tụy đối với Chúa Giêsu, như Chân phước Gioan Phaolô II đã nhấn mạnh: “Thánh Giuse, vì yêu thương chăm sóc Mẹ Maria và vui mừng tận tụy giáo dục Ðức Giêsu Kitô, như thế Ngài cũng giữ gìn và bảo vệ nhiệm thể của Ngài là Giáo Hội, mà Ðức Thánh Trinh Nữ là hình ảnh và gương mẫu” (Trích Tông Huấn Redemptoris Custos, 1).

2. Cha nuôi Hài Đồng Giêsu

Thánh Giuse là vị hôn phu của Ðức Maria, đấng đã cưu mang Chúa Giêsu, mà vẫn còn đồng trinh, do bởi quyền năng của Chúa Thánh Thần. Nhưng con trẻ Giêsu cũng là con của thánh Giuse, vị hôn phu hợp pháp của Mẹ Maria. Vì thế, trong Tin Mừng, cả hai đều được gọi là song thân của Chúa Giêsu (x. Lc 2, 27.41).

Cuộc đối thoại giữa Chúa Giêsu và Mẹ Người mà thánh Luca mô tả: Đức Maria nói “Này cha con và mẹ phải đau khổ tìm con! ” Nhưng Ngài đáp lại: “ Thì tại sao tìm con? Lại còn không biết là con phải ở lại nơi nhà Cha con sao? ” (Lc 2 , 48 - 49 ). Những lời của Chúa Giêsu giúp chúng ta hiểu được thiên chức “ làm cha ” của thánh Giuse. Khi gợi lên cho cha mẹ trần gian về việc của Đấng mà Ngài gọi là “Cha con”, Chúa Giêsu tiết lộ sự thật về vai trò của Đức Maria và Thánh Giuse. Thánh Giuse thực sự là “chồng” của Đức Maria và là “cha” của Chúa Giêsu, như Đức Maria nói: “Cha con và mẹ phải đau khổ tìm con”. Nhưng thánh Giuse là chồng và là cha theo ý Thiên Chúa, vì chính Thiên Chúa mời gọi Giuse cống hiến đời mình phục vụ người Con duy nhất của Chúa Cha và Đức Trinh Nữ Maria. Thánh nhân đã đảm nhận thánh ý Chúa với lòng trung thành và ngưỡng mộ.

3. Gưỡng mẫu cho người trưởng gia

Ngày hôm nay có biết bao người đang vui mừng làm ông nội, ông ngoại, làm bố, và đang hồi hộp chờ đợi đứa con đầu lòng, tức là sắp được làm bố, với bao trách nhiệm gia đình phải gánh vác. Họ không biết làm ông, làm bố thế nào cho phải cho nên. Xem ra họ phải chấp nhận mọi hy sinh vì điều thiện hảo cho gia đình của họ. Họ mong ước được người vợ và con cái chia sẻ tình thương để bù lại cho những mệt nhọc phải chịu. Thì thánh Giuse là mẫu gương sống động cho chính họ học đòi bắt chước, trong vai trò làm chồng cách quảng đại, làm cha gương mẫu và làm chủ gia đình cách tận tụy sáng suốt.

Kính xin thánh Giuse từ trời cao phù hộ cho tất cả các người cha và bảo vệ những người làm cha trong gia đình. Ước chi mỗi người trong họ có thể phản chiếu tình thương dự phòng và trung tín của Thiên Chúa trong khi thi hành những trách nhiệm là chồng, làm cha và làm chủ gia đình.

Nguyện xin thánh Giuse và Mẹ Maria rất thánh, Nữ Vương các gia đình và là Mẹ của Giáo Hội, (nguyện xin hai Ðấng) cầu cùng Chúa cho chúng con được hồng ân chúng con xin. Amen.

Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ


 

19/03-55: SUY NIỆM LỄ THÁNH GIUSE - Tgm. Giuse Ngô Quang Kiệt

a. Thánh Giuse, người công chính
 

Khi mừng lễ thánh Giuse, tôi thường tự hỏi. Không biết thánh Giuse, người sống cách đây 2000 năm 19/03-55

Khi mừng lễ thánh Giuse, tôi thường tự hỏi. Không biết thánh Giuse, người sống cách đây 2000 năm có còn thích hợp với thời đại chúng ta không? Không biết thánh Giuse, Đấng đã coi sóc một gia đình gồm toàn những đấng thánh có thể làm gương mẫu cho gia đình chúng ta, những gia đình gồm toàn những con người phàm trần không?
Tin Mừng hôm nay nói thánh Giuse là người công chính. Nhìn vào cuộc đời thánh Giuse, ta có thể hiểu được nội dung tính từ công chính. Công chính trước hết là trả lại cho người khác những gì thuộc về họ. Nói khác đi công chính là không dám nhận những gì không phải của mình. Thánh Giuse định trốn đi khi biết Đức Maria mang thai. Theo lối giải thích xưa kia thì thánh Giuse trốn đi vì nghi ngờ Đức Maria. Nhưng theo các nhà chú giải thời mới thì thánh Giuse định bỏ trốn vì thấy mình không xứng đáng với danh hiệu làm cha nuôi Đấng Cứu Thế. Chức vị làm cha Đấng Cứu Thế là một chức vị quá cao trọng, thánh Giuse thấy mình không phải là Cha Đấng Cứu Thế, không xứng đáng làm Cha Đấng Cứu Thế, nên Ngài bỏ trốn.
Công chính là chu toàn nhiệm vụ của mình. Nhiệm vụ của thánh Giuse là gìn giữ Đức Giêsu và Đức Maria. Chúa đã trao cho Ngài nhiệm vụ đó và Ngài đã hết sức chu toàn. Chu toàn với tinh thần trách nhiệm cao, không để xảy ra chuyện gì đáng tiếc. Chu toàn với sự tế nhị, kính cẩn, nâng niu, hãy nhìn cảnh Thánh Gia trốn sang Ai cập, Đức Maria bế Đức Giêsu ngồi trên lưng lừa. Thánh Giuse dắt lừa đi trong đêm tối. Không còn cảnh tượng nào đẹp đẽ hơn. Thánh Giuse trân trọng kho tàng Chúa trao cho Ngài gìn giữ. Thánh Giuse kính cẩn nâng niu Đức Maria và Đức Giêsu, ngài chu toàn nhiệm vụ với tinh thần dấn thân hy sinh không ngại gian khổ. Đang đêm mà Chúa bảo thức dậy trốn sang Ai cập, ngài cũng thức dậy lên đường ngay tức khắc.
Những nhiệm vụ của thánh Giuse xem ra tăm tối, không có gì vinh quang. Nhưng thánh Giuse vẫn chăm chỉ chu toàn, và không đòi cho mình nhiệm vụ nào khác. Chẳng hạn sau này các Tông đồ được mọi người kính phục, thánh Giuse vẫn không ghen tị và đòi cho mình quyền đó. Ngài thật là người công chính.
Sau cùng, công chính là trung tín với nhiệm vụ. Thánh Giuse được Chúa trao cho nhiệm vụ gìn giữ Đức Maria và Đức Giêsu, gìn giữ gia đình, ngài đã hết sức chu toàn trong hoàn cảnh thuận lợi cũng như trong hoàn cảnh khó khăn. Vì trung tín với nhiệm vụ mà thánh Giuse phải lao động vất vả để nuôi sống gia đình. Vì trung tín với nhiệm vụ mà thánh Giuse phải chung sống với súc vật trong ngày Đức Maria hạ sinh Đức Giêsu. Vì trung tín với nhiệm vụ mà thánh Giuse phải vất vả bồng bề Đức Giêsu chạy trốn sang Ai cập. Vì trung tín với nhiệm vụ mà thánh Giuse kiên trì tìm kiếm khi Đức Giêsu đi lạc 3 ngày trong Đền thờ. Trung tín không hề xao nhãng, không hề lẩn tránh, không hề lùi bước trước nhiệm vụ khó khăn, thánh Giuse thật là người công chính.
Ngày nay thánh Giuse vẫn hợp thời, vẫn là gương mẫu cho con người, vẫn là niềm mơ ước của con người. Vì thế giới ngày nay đang thiếu vắng sự công chính. Người ta gian tham nhận những gì không phải của mình. Không phải chỉ gian tham tiền bạc mà còn gian tham chức quyền, danh vọng. Vì thiếu công chính mà người ta hãm hại người khác, chiếm đoạt tiền của, danh dự của người khác. Vì thiếu công chính mà người ta sống giả dối, làm hàng giả, nói dối, mượn bằng giả. Vì thiếu công chính nên người ta trốn tránh nhiệm vụ. Chỉ thích những việc nhàn tản, phô trương, trốn tránh những việc nặng nhọc, hèn kém.
Các gia trưởng nhiều khi lười biếng, ham vui mà thiếu trách nhiệm với gia đình, với vợ con. Sự trung tín ngày nay đang là một vấn đề lớn, người ta bất tín, lừa đảo, gian dối trong đời sống xã hội, trong kinh doanh buôn bán, người ta thiếu trung tín cả trong gia đình. Chỉ một vài thử thách, thiếu thốn, người ta sẵn sàng từ bỏ nhiệm vụ, từ bỏ người thân.
Nên thánh Giuse vẫn còn là gương mẫu cần thiết cho người thời nay. Những đức tính của ngài, sự công chính của Ngài rất hữu ích để chấn chỉnh, xây dựng xã hội hôm nay.
b. Thánh Giuse, người đi trong đêm đen
Trong các bức tranh vẽ thánh Giuse, tôi thích nhất bức tranh vẽ thánh Giuse đưa Đức Mẹ và Đức Giêsu trốn sang Ai cập. Bầu trời đen thẫm. Một vài tia chớp loé lên ở cuối chân trời vừa soi đường cho Thánh gia, vừa báo hiệu cơn giông bão sắp tới. Đức Maria bồng Đức Giêsu ngồi trên lưng lừa. Thánh Giuse dắt lừa. Cả người cả lừa như lẩn vào màn đêm. Bức tranh không chỉ đẹp ở nét vẽ gợi cảm, mà còn đẹp về ý nghĩa, Ngắm bức tranh, tôi thấy hiện lên cả cuộc đời thánh Giuse: một đời bước đi trong đêm tối.
Thánh Giuse đã đi trong đêm tối đức tin. Ngài đã sống chung với Đức Maria và Đức Giêsu, những con người của huyền nhiệm. Một người bình thường đã là một thế giới huyền bí. Một con người của huyền nhiệm lại càng sâu xa bí ẩn hơn bội phần. Đi bên những huyền nhiệm cũng như đi trong đêm tối. Thánh Giuse không hiểu gì hết. Không hiểu mà vẫn phải đón nhận. Không hiểu mà vẫn phải tin, phải yêu. Không hiểu mà vẫn phải đống hành cho đến mãn đời. Thánh Giuse giống như người lính canh được cấp trên trao cho một chiếc hộp đóng kín. Người lính canh chỉ có nhiệm vụ canh giữ mà không được phép mở ra. Trong hộp có gì? Có thể là một kho tàng quý giá. Nhưng cũng có thể là chiếc hộp rỗng không. Không biết. Nhưng vẫn phải canh giữ.
Thánh Giuse đã đi trong đêm tối im lặng. Ngài đi trong sự im lặng của Đức Maria, người bạn yêu quý. Trước những mầu nhiệm cao cả, Đức Maria đã lặng thinh không nói. Ngài đi trong sự im lặng của Đức Giêsu. Thiên Chúa làm người vẫn là một mầu nhiệm ẩn dấu và Đức Giêsu không hề hé lộ thân phận. Ngài đi trong sự im lặng của Thiên Chúa. Thiên Chúa không bao giờ trực tiếp nói với Ngài. Chỉ có vài lần. Mà chỉ là những tiếng vọng mô hồ, giữa đêm khuya, trong giấc ngủ. Vẫn là ngôn ngữ của im lặng. Im lặng đáng sợ. Nhất là khi phải đối đầu với nguy hiểm, với nghi ngờ, với những vấn đề hệ trọng của đời sống. Im lặng khó hiểu khi những gì thân thiết nhất trong đời lại trở nên bí ẩn, cách xa. Im lặng nguy hiểm. Nó có thể đốn ngã thân cổ thụ, làm chao đảo những niềm tin vững mạnh nhất. Ngài đi trong im lặng của chính mình. Trong cả bốn Phúc Âm, không thấy ghi lại lời nói nào của thánh Giuse. Ngài bước đi trong âm thầm lặng lẽ.
Thánh Giuse đã đi trong đêm tối lãng quên. Ngài bị lãng quên trong làng quê nhỏ bé, trong thân phận nghèo hèn của bác thợ mộc. Người ta không bao giờ nhắc đến Ngài. Nếu có nhắc đến, cũng chỉ để chê bai, dè bỉu, để hạ thấp thân phận của Đức Giêsu: “Giêsu con của bác Giuse thợ mộc tầm thường ấy mà. Có làm gì nên chuyện”. Ngài bị lãng quên vì luôn luôn ở phía sau, luôn luôn chìm trong bóng tối.
Phúc Âm kể về Đức Maria. Sách Tông Đồ Công Vụ kể về Đức Maria. Nhưng từ khi Đức Giêsu khôn lớn không ai nói gì về Thánh Giuse nữa. Ngài chìm vào đêm tối quên lãng. Ngài luôn luôn đóng vai phụ, như hình ảnh dắt lừa đi trong đêm tối.
Thánh Giuse đã đi trong đêm tối thử thách. Thân phận nghèo hèn. Sống trong im lặng và lãng quên, nhưng những thử thách Ngài phải đương đầu lại rất cam go. Rất hiền lành, nhưng phải đương đầu với Hêrôđê hung hãn. Mình giữ mình chưa xong, lại phải che chở cho một hài nhi sơ sinh và một sản phụ yếâu ớt. Nhưng những thử thách, khốn khó về thể lý dù cam go thế nào cũng còn chịu được. Những thử thách đức tin mới thật là khủng khiếp. Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa ư? Đức Giêsu là Con Thiên Chúa ư? Thật khó mà chấp nhận được. Sao này? Sao Vua Trời vinh hiển lại phải trốn chạy một ông vua trần thế. Các thử thách làm cho đêm tối càng đen hơn, càng dầy hơn, càng sâu hơn.
Tuy đêm có đen, tuy chân có mỏi, tuy lòng có xao xuyến nhưng Thánh Giuse vẫn bước đi. Tuy thử thách có nặng nề, Thánh Giuse vẫn chiến đấu. Cha Teilhard de Chardin nói: người chiến đấu giống như người bơi lội ngoài biển ban đêm: “Ban đêm, người bơi lội vùng vẫy trong làn nước biển có chất lân tinh, làm ánh sáng loé lên chung quanh mình”.
Thánh Giuse đã chiến đấu. Những chiến đấu mạnh mẽ cũng làm loé lên chung quanh Ngài những làn ánh sáng soi bước chân Ngài đi.
Đi trong đêm tối đức tin, Ngài có ngọn lửa đức mến soi đường. Đêm đen lắm, nhưng Ngài cứ yêu mến Chúa, cứ gắn bó với Chúa, và cứ bước đi với Chúa.
Trong đêm tối im lặng. Ngài đốt lên trong tâm hồn ngọn đèn thao thức, lắng nghe, đón chờ. Niềm thao thức khiến tâm hồn Ngài nhạy bén như một phím đàn mỏng. Lời Chúa chỉ thoáng nhẹ như làn gió thoảng, phím đàn đã rung lên. Ý Chúa chỉ mờ ảo trong giấc mơ, Ngài đã đọc được và mau mắn thi hành.
Trong đêm tối lãng quên, Ngài có đèn khiêm nhường dẫn lối. Khiêm nhường chìm vào quên lãng. Khiêm nhường phục vụ, khiêm nhường sâu thẳm. Ngài có cùng tâm tình như Thánh Gioan Tẩy Giả: “Ngài phải lớn lên, còn tôi phải nhỏ đi”.
Trong đêm tối thử thách, Ngài thắp lên ngọn đèn tin yêu phó thác. Tin vững vàng vào Lời Chúa. Hoàn toàn phó thác cho Chúa. Để Chúa dẫn đường qua đêm đen mù mịt.
Lạy Thánh Giuse, con cũng đang đi trong đêm đen. Xin hãy thắp lên trong con những ngọn đèn của Thánh Cả, soi đường cho con đi đến nơi bình an.
c. Thánh Giuse, gương mẫu thời đại
Khi chọn một vị thánh bảo trợ, ta đặt mình dưới sự chở che cứu giúp của Người và cũng mong noi gương bắt chước đời sống đức hạnh của Người. Tất cả những ai xin thánh cả Giuse bảo trợ chắc chắn sẽ được Người chở che gìn giữ, như xưa Người đã gìn giữ Đức Giêsu và Đức Maria trong cuộc đời dương thế. Nhưng ít có ai noi gương được đời sống của Người. Đó là một đời sống thánh đức chiếu toả ra những nét đẹp cao quý mà ta khó bắt chước.
Nét đẹp thứ nhất ở nơi thánh Giuse mà ta khó bắt chước, đó là đức tính ít nói. Lần giở những trang Tin Mừng, ta thấy diễn tả nhiều hành động của thánh cả Giuse, nhưng không thấy trích dẫn lời nói nào của Người. Người làm nhiều nhưng nói ít. Còn ta, ta thương nói nhiều và làm ít. Tục ngữ Việt nam có câu: Đa ngôn đa quá. Ai nói nhiều sai lỗi nhiều. Thực vậy trong đời sống có biết bao hiểu lầm phát sinh từ những lời nói thiếu trung thực. Biết bao đổ vỡ do những lời nói thiếu trách nhiệm gây nên. Biết bao lời nói trống rỗng không chứa đựng nội dung xây dựng. Biết bao lời nói làm vẩn đục tâm hồn, vẩn đục môi trường đạo đức, làm ô nhiễm bầu khí bác ái. Thánh Giacôbê thật chí lý khi nói: “Ai không sai lỗi trong lời nói thì đó là người hoàn hảo. Người ấy có khả năng kiềm chế toàn thân” (Gc 3,2). Thánh Cả Giuse đã kiềm chế được lời nói, chứng tỏ Người hoàn toàn làm chủ được bản thân. Sự im lặng của Người là sự im lặng của kẻ mạnh. Sự im lặng của Người là sự im lặng của một đời sống nội tâm phong phú. Sự im lặng của Người là sự im lặng hoạt động đem lại những kết quả tốt đẹp.
Nét đẹp thứ hai ở nơi thánh Cả Giuse mà ta khó bắt chước, đó là sự vâng lời tuyệt đối. Người luôn vâng lời Chúa, dù lệnh Chúa truyền chỉ mơ hồ trong cơn mê ngủ, dù lệnh Chúa truyền nhiều khi rất khó chấp nhận. Làm sao chấp nhận được một phụ nữ đã có thai làm bạn? Không bao giờ Người thắc mắc, chối từ. Không bao giờ Người tỏ ý ngần ngại trước những mệnh lệnh khó khăn. Trong mọi nơi mọi lúc, Người luôn vâng lệnh Chúa một cách mau chóng, tức khắc, vui tươi. Thấy Đức Maria đã mang thai, Người muốn trốn đi, nhưng khi Chúa tỏ ý muốn Người ở lại nhận Đức Maria làm bạn, Người vâng lệnh ngay tức khắc. Khi Chúa muốn Người đưa Đức Giêsu và Đức Maria trốn sang Ai cập, Người đã thức dậy và tức khắc lên đường giữa đêm khuya. Thật là một sự vâng lời tuyệt đối. Còn ta, trước những lệnh truyền của Chúa, ta có thái độ nào? Nếu ta không chối từ thì cũng uốn nắn theo ý riêng. Ít nhất cũng thắc mắc, giảm nhẹ. Nếu có vâng lời thì cũng ngần ngại, chậm trễ thi hành. Sự vâng lời tuyệt đối nói lên đức tin mãnh liệt vào Chúa. Vì hoàn toàn tin tưởng nên hoàn toàn phó thác. Vì hoàn toàn phó thác nên hoàn toàn vâng phục. Dù không hiểu, nhưng cứ dấn bước lên đường. Sự vâng lời tuyệt đối nói lên một lòng mến yêu tha thiết. Vì mến yêu tha thiết nên sẵn sàng làm bất cứ điều gì, cho dù không hiểu, cho dù khó khăn. Thánh Cả Giuse có lòng tin tưởng tuyệt đối và lòng yêu mến tha thiết đối với Chúa, nên đã vâng lời Chúa một cách tuyệt đối.
Nét đẹp thứ ba ở nơi thánh Cả Giuse mà ta khó bắt chước, đó là sự khiêm nhường quên mình. Đọc trong Tin Mừng, ta không bao giờ thấy Người xuất hiện ở những nơi công khai được nhiều người biết đến, trái lại Người luôn có mặt ở những nơi tối tăm âm thầm. Người không làm những việc lớn lao trọng đại, nhưng chỉ chu toàn những bổn phận nhỏ bé thông thường. Một hình ảnh quen gặp là bức vẽ hoạ cảnh Thánh gia trốn sang Ai cập. Đức Mẹ bế Đức Giêsu ngồi trên lưng lừa. Thánh Giuse đi bộ, dắt lừa âm thầm trong đêm tối. Tôi có cảm tưởng Người đã tự nguyện hạ mình xuống để Chúa được tôn vinh. Người đã tự nguyện sống âm thầm để Chúa được nhận biết. Người đã tự nguyện lùi vào bóng tối để Chúa được xuất hiện trong ánh sáng. Người đã chấp nhận bị quên lãng để Chúa được yêu mến. Còn chúng ta, chúng ta thường làm ngược lại. Ta luôn muốn nâng mình lên, nên Chúa thường bị hạ xuống. Ta luôn muốn phô trương bản thân, nên Chúa bị chìm trong âm thầm. Ta luôn muốn xuất hiện trong ánh sáng, nên Chúa bị đẩy lùi vào bóng tối. Ta luôn tìm cho mình được yêu mến, nên Chúa bị chôn vùi trong quên lãng.
Những nhân đức của thánh Cả Giuse thật khó bắt chước, nhưng đó là những đức tính rất cần cho thời đại chúng ta. Thế giới ngày nay quá ồn ào, cần có những con người hành động. Thế giới ngày nay đã chán ngán những lý thuyết, cho dù rất hay, rất đẹp, nên cần có những con người thực hành, làm chứng nhân. Thế giới ngày nay đang đánh mất niềm tin yêu phó thác, cần có thánh Cả Giuse như mẫu gương trung tín và khôn ngoan. Thế giới càng ngày càng tiến đến hưởng thụ, cá nhân chủ nghĩa, đang cần những con người khiêm nhường, phục vụ, quên mình. Nếu ta biết noi gương những nhân đức của thánh Cả Giuse, ta sẽ có thể thánh hoá bản thân, củng cố gia đình và góp phần cải tạo xã hội.
Lạy thánh Cả Giuse, xin hãy chở che gìn giữ giáo phận chúng con. Amen.

 

19/03-56: TÌM SỐNG Ý CHÚA

Lm. Jos. DĐH
 

Cuộc sống quanh ta, biết bao người đang tìm tiền tài địa vị, cũng không thiếu những người vẫn hướng 19/03-56

Cuộc sống quanh ta, biết bao người đang tìm tiền tài địa vị, cũng không thiếu những người vẫn hướng tới mục tiêu hạnh phúc; còn gặp gỡ, thỏa mãn được mơ ước hay không, tùy mỗi người. Sống có tình có nghĩa, hoặc kiếm tìm giá trị thật của hạnh phúc, luôn là chọn lựa mà người ta phải giữ vững lập trường của mình. Dù ngóng chờ, dù trông đợi thành quả vật chất hay tinh thần, người ta vẫn có quyền hy vọng vào những nỗ lực riêng họ đầu tư.
Có hai thứ trên đời rất đáng trân trọng đó là danh dự và lẽ phải, nếu không nhẫn nại khi gặp điều trái ý, hoặc không đủ bình tĩnh sáng suốt lúc gặp gian truân, hẳn là sẽ “lớn chuyện”. Để có một quyết định đúng, không gây tổn thương đến người bạn trăm năm, ông Giuse muốn biết sự thật về việc Maria mang thai, không phải là sai ! Nhưng ông Giuse không tìm kiếm sự thật theo kiểu điều tra, hạch hỏi, hờn dỗi bực tức, nói một cách tích cực, ông đúng là người thật bình tĩnh. Ông tìm thánh ý Chúa, thay vì tìm cho ra lý lẽ Maria có phải là kẻ phản bội hay không ?
Để nhận ra thánh ý Chúa và sống đạo làm người, chúng ta không cần phải nhìn trước ngó sau xem có ai chê cười ta, đúng hơn là nên bảo vệ danh dự cho anh chị em mình bao nhiêu có thể. Xưa kia, để giáo dục và truyền được kinh nghiệm quí báu cho con cháu, cha ông chúng ta có câu: gọi vâng bảo dạ con ơi, vâng lời sau trước con thời chớ quên. Nhìn vào cách tìm ý Chúa để sống, nơi Giuse, ngài đã vâng phục đức tin thật tuyệt vời, dù qua giấc mơ Ông vẫn biết đón nhận Maria về làm bạn là điều cần thiết.
Có thể chỉ Kitô giáo mới đặt vấn đề đâu là ý ta và đâu là ý Chúa, nhưng đạo làm người cũng có câu đáng để ta suy xét: hữu tâm tất thành sự, hữu đức phúc tự lai. Nơi Giuse, ông vừa có tâm vừa có đức, nên cả cuộc đời của ngài là tìm biết ý Chúa và sống đức tin, cho dù khó khăn đau khổ không buông tha bất cứ ai. Tại sao Giuse không phải là vị “thông minh uyên bác”, mà Giáo Hội vẫn gọi ngài là Thánh Cả, dù thời nào cũng chủ trương người toàn diện phải là vừa tài vừa đức.
Ngày hôm nay, yếu tố làm nên “người hùng” không phải là văn võ song toàn, đâu phải cứ “vung tiền” khắp tứ phương mới gọi là đại gia, cũng không phải “cứ bằng cấp” đầy nhà sẽ được gọi là thầy thiên hạ. Giới răn trọng nhất là mến Chúa yêu người, không hệ tại giầu hay nghèo, lớn tuổi hay nhỏ tuổi, nhưng tùy thuộc mỗi người có hiểu và sống thánh ý Chúa đến đâu rồi ?  Con đường nên thánh đâu phải là làm những việc to lớn; để được gọi là công chính, nhất định phải hiểu và hành động đức tin không chậm trễ.
Xã hội thời nào cũng sợ kẻ: nhất lý nhì lì, nhưng còn khiếp hơn nữa khi nói: chín thằng lì vẫn thua thằng liều. Thánh Giuse xưa kia không phải là người lý sự, không kiên trì đến độ “lì lợm”, cũng chẳng hiền lành dễ dãi như người “uống thuốc liều”, mặc kệ cho số phận. Cuộc đời hôm nay vẫn rất cần đến người cha tài đức, khiêm tốn, biết tìm ý Chúa và mạnh dạn sống yêu thương hơn là lý sự nguyên tắc. Xin Cha Thánh trợ giúp cho những ai thành tâm thiện chí biết thinh thặng cầu nguyện, gặp và hiểu được ý Chúa trong yêu mến phục vụ, xứng hợp với tình yêu xây dựng người công chính. Amen.

 

19/03-57: THÁNH GIUSE - § Frère Trần An Phong

Hôm nay, 19-3, lễ thánh Giu-se. Xin được phép chia sẻ chút suy niệm về Ngài thay vì kể chuyện: 19/03-57

Hôm nay, 19-3, lễ thánh Giu-se. Xin được phép chia sẻ chút suy niệm về Ngài thay vì kể chuyện như thường lệ
"Sau đây là gốc tích Ðức Giê-su Ki-tô: bà Ma-ri-a, mẹ Người đã đính hôn với ông Giu-se. Nhưng trước khi hai ông bà về chung sống, bà đã có thai do quyền năng Chúa Thánh Thần. Ông Giu-se, chồng bà, là người công chính và không muốn tố giác bà, nên mới định tâm bỏ bà cách kín đáo.
Ông đang toan tính như vậy, thì kìa sứ thần Chúa hiện đến báo mộng cho ông rằng: 'Này ông Giu-se, là con cháu Ða-vít, đừng ngại đón bà Ma-ri-a vợ ông về, vì người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần. Bà sẽ sinh con trai và ông phải đặt tên cho con trẻ là Giê-su, vì Người sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ' ...
Khi tỉnh giấc, ông Giu-se làm như sứ thần Chúa dạy và đón vợ về nhà" (Mát-thêu 1: 18-25).
Mình là hôn phu, là chồng, chưa hề ăn ở với người yêu, thế mà bụng nàng cứ từ từ phát triển. Có phải là đau không?
Không ghen sao được!
Nếu không ghen đi nữa, thì cũng phải tủi thân chứ!
Nàng lại chẳng giải thích gì cho mình. Ðau!
Tố cáo nàng ư? Nàng sẽ bị ném đá chết theo đúng Luật Mô-sê.
Tha thứ cho nàng, chấp nàng lẫn thai nhi? Ðể rồi phải bế con, mà trong lòng biết chắc đây không phải là con mình! Ðau lắm!
Chịu không nổi!
Thôi hay đành mang tiếng "Sở Khanh", "làm cho con gái mang bầu, rồi quất ngựa truy phong"! Mặc cho thiên hạ cười chê mình!
Còn gì là thể diện trong cái xã hội nhỏ bé Na-da-rét!
Mất mặt mình, nhưng người yêu mình khỏi mất mạng, thai nhi khỏi mất quyền sống.
Bao là dằn vặt trong tim.
Và Giu-se đã liều lĩnh chấp nhận giải pháp "bỏ chạy" để cứu người yêu và con trẻ.
Chính lúc này, Thiên Chúa mới can thiệp, và cho Giu-se một thị kiến. Lúc ấy Giu-se mới hiểu được kế hoạch của Thiên Chúa.
Tình yêu đòi buộc chúng ta phải liều lĩnh.
Và nếu chúng ta chấp nhận liều lĩnh vì yêu thương, Thiên Chúa sẽ cho chúng ta vinh phúc cộng tác vào công cuộc cứu độ của Ngài.
Lạy Chúa, xin cho con một trái tim gan dạ, biết liều lĩnh dấn thân, dám yêu dám sống trọn tình cho con trẻ.


 

19/03-58: Tình Yêu Thanh Khiết

Thánh Giuse Trong Thánh Kinh

Tình Yêu Thanh Khiết

"Ông không ăn ở với bà, cho đến khi bà sinh một con trai,
và ông đặt tên cho con trẻ là Giêsu" (Mt 1, 25)

 

Thánh Giuse chăm sóc Đức Maria cho đến ngày Đức Maria sinh con mà "không ăn ở với bà". Trong: 19/03-58

Thánh Giuse chăm sóc Đức Maria cho đến ngày Đức Maria sinh con mà "không ăn ở với bà". Trong suốt cuộc đời, chính một tình yêu thanh khiết đã giúp thánh Giuse can đảm chu toàn những nhiệm vụ khó khăn của mình đối với Đức Maria.

Chính nhờ tình yêu thanh khiết đó, Thiên Chúa đã có thể thực hiện công trình cứu độ trần gian. Chính nhờ tình yêu thanh khiết của thánh Giuse, Thánh Thần đã có thể làm cho cuộc hôn nhân đó nảy sinh những hoa trái siêu nhiên, biến tình yêu giữa hai người thành một mẫu mực của tình yêu vợ chồng, nghĩa là một tình yêu có Thiên Chúa ở giữa, có Thiên Chúa hiện diện để làm cho tất cả những gì còn chưa trọn vẹn của tình yêu nhân loại sẽ trở nên toàn hảo, để làm cho tất cả giới hạn của một gia đình nhân loại bình thường, sinh con rồi qua đi...trở thành trường tồn, trở thành nguồn ơn ích cho những người khác nữa.

Tình yêu nhân loại, tự nó, không đủ sức mang lại thỏa mãn cho niềm mong ước tuyệt đối của con người. Tình yêu đó dễ bị bao vây do tội lỗi, nên thường hay đóng kín trong chính mình, trong gia đình của mình, và dễ bị héo úa, khô cằn, mất đất sống. Thiên Chúa muốn can thiệp vào tình yêu nhân loại để làm cho tình yêu đó trổ sinh hoa trái thiêng liêng. Để được như vậy, con người cần để cho Thiên Chúa tham dự vào trong tình yêu của mình, cần để cho Thiên Chúa hoạt động hướng dẫn, và thông ban sức sống Thần linh của Ngài. Điều đó chỉ có thể có được nhờ một tình yêu thanh khiết, nghĩa là một tình yêu có sự tiết độ, từ bỏ, một tình yêu tôn trọng nhau, tôn trọng Thiên Chúa và hiểu rằng chính Thiên Chúa vẫn hiện diện trong tình yêu vợ chồng; một tình yêu luôn tin tưởng vào Thiên Chúa là Đấng chúc lành cho tình yêu vợ chồng, luôn tuân phục Thánh Ý Ngài để Ngài làm cho tình yêu nhân loại trở thành dụng cụ rao truyền tình yêu của Thiên Chúa đối với con người.

Về phương diện tự nhiên, tất cả mọi thành tựu con người đều cần có một thứ khổ chế, một thứ kiêng cữ, hãm mìmh, từ bỏ nào đó.

Trong tình yêu vợ chồng, một thứ tình yêu cao quí nhưng cũng khá dòn mỏng, thì lại càng cần sự từ bỏ hãm mình hơn hết để tình yêu được vững mạnh. Sự từ bỏ đó, tỏ cho thấy sự tôn trọng lẫn nhau, kính trọng những hoàn cảnh, tâm lý cũng như những ước muốn của nhau. Nhưng hơn hết, sự từ bỏ đó còn có ý nghĩa là con người biết dành cho Thiên Chúa một khoảng trống để Ngài thực hiện chương trình của Ngài. Khi con người muốn làm tất cả, thành quả của con người sẽ chỉ quanh quẩn trong mức độ nhân loại. Nhưng, với tình yêu thanh khiết, tôn trọng nhau và tôn trọng những qui luật của đời sống hôn nhân, con người tin tưởng rằng chính Thiên Chúa cùng cộng tác với con người.

Trong Tông Huấn về đời sống gia đình, Đức Gioan Phaolô II nói: "Hội Thánh xác tín sâu xa rằng chỉ khi nào biết chấp nhận Tin Mừng người ta mới có thể bảo đảm thực hiện được trọn vẹn tất cả những gì mà con người đang hy vọng một cách chính đáng nơi hôn nhân và gia đình" (s.3). Trong số 32, tông huấn đó lại viết: "Khi đôi bạn, bằng cách thuận theo những thời kỳ không thụ thai, tôn trọng mối dây bất khả phân ly giữa hai mặt kết hợp và truyền sinh cho tính dục con người, họ đã coi mình là những "người thừa hành" ý định của Thiên Chúa".

Như vậy, chỉ có Thiên Chúa mới có thể bảo đảm cho tình yêu con người; và chỉ có một tình yêu thanh khiết trong đời sống vợ chồng mới có thể mở rộng tâm hồn con người cho Thiên Chúa hoạt động.

Lời nguyện

Lạy Chúa,
Chúa đã muốn sinh ra làm con của nhân loại.
Sự hạ mình của Chúa là một tình yêu không điều kiện,
bởi vì Thiên Chúa yêu thương con người
ngay khi con người là tội nhân.
Nhưng để đón nhận tình yêu Chúa,
chúng con cần phải biết sống một tình yêu thanh khiết,
để cho Chúa hoạt động trong cuộc sống hôn nhân
cũng như trong mọi tình yêu nhân loại.

Chúng con thường tự hào
mình có thể xây dựng cuộc sống tốt đẹp,
tự mình có thể xây dựng tình yêu trọn vẹn.
Nhưng đã bao lần chúng con thất bại ê chề.
Rồi cũng có khi, trong lúc thất bại, buồn sầu,
chúng con lại tưởng rằng
trong nhân loại chẳng thể có một tình yêu thực sự được,
rằng người ta chỉ nói với nhau những lời giả trá,
trong lúc ngẫu hứng mà thôi.

Lạy Chúa,

Những thứ tình yêu như vậy
nhuốm đầy tính tự nhiên ích kỷ của chúng con,
nó không phải là một tình yêu thanh khiết,
nó đóng kín mình lại
và không còn chỗ nào cho Chúa hiện diện cả.

Xin Chúa hướng dẫn tình yêu của chúng con,
xin Chúa thâm nhập vào tình yêu của chúng con.
Xin Chúa biến tình yêu nhân loại chúng con thành tình yêu của Chúa.
Xin Chúa hãy sử dụng tình yêu của chúng con
để bày tỏ tình yêu cao vời và ơn cứu độ của Chúa. Amen.


 

19/03-59: ÐỨC THÁNH CHA NÓI VỀ GƯƠNG THÁNH GIUSE

Anh chị em rất thân mến,
 

Ngày 19 tháng 3, chúng ta cử hành Lễ Thánh Giuse. Vào trung tâm của Mùa Chay, Phụng vụ trình: 19/03-59

Ngày 19 tháng 3, chúng ta cử hành Lễ Thánh Giuse. Vào trung tâm của Mùa Chay, Phụng vụ trình bày cho chúng ta vị thánh vĩ đại này như là gương mẫu để noi theo, và như là Ðấng bảo vệ để chúng ta cầu khẩn.

Trước hết, thánh Giuse là mẫu gương sống Ðức Tin cho chúng ta. Như Tổ Phụ Abraham, thánh Giuse đã luôn sống trong thái độ hoàn toàn phó thác cho sự quan phòng của Thiên Chúa; vì thế Ngài là mẫu gương khích lệ, nhất là khi chúng ta được mời gọi tin tưởng vào Chúa, dựa trên "Lời Ngài" đã phán, mà không nhìn thấy được rõ ràng Ý Ðịnh của Chúa.

Hơn nữa, chúng ta được mời gọi noi gương Ngài, trong việc khiêm tốn thực thi sự vâng phục, một nhân đức chiếu sáng nơi Ngài trong nếp sống thinh lặng và trong việc làm ẩn khuất. Trường học Nazareth quý giá biết bao cho con người thời nay, bị bao vây bởi một nền văn hóa rất thường đề cao vẻ bề ngoài và sự thành công, đề cao sự độc lập và một quan niệm sai lầm về tự do cá nhân. Ngược lại, thật là cần thiết biết bao, việc phục hồi lại giá trị của sự đơn sơ và vâng phục, sự tôn trọng và yêu mến đi tìm thánh ý của Thiên Chúa.

Thánh Giuse đã sống phục vụ cho vị hôn thê của mình và cho Con Thiên Chúa; và như thế, đối với các tín hữu, thánh Giuse trở thành chứng tá hùng hồn cho biết phải cai trị hay phục vụ như thế nào. Ðặc biệt, tất cả những ai, trong gia đình, trong trường học và trong giáo hội, có trách vụ sống làm cha, làm người hướng dẫn, đều có thể nhìn về thánh Giuse, để được huấn luyện sống tốt lành. Nhất là tôi nghĩ đến những người cha, mừng lễ của họ vào đúng ngày lễ dành cho thánh Giuse. Tôi cũng nghĩ đến tất cả những ai mà Thiên Chúa đã thiết lập trong giáo hội để thực hiện "tình cha thiêng liêng".

Nguyện xin thánh Giuse, vị thánh mà dân Kitô tin tưởng khẩn cầu, luôn hướng dẫn những bước tiến của đại gia đình Thiên Chúa. Xin thánh nhân hãy đặc biệt trợ giúp cho những ai đang chu toàn vai trò làm cha tự nhiên hoặc thiêng liêng. Xin thánh Giuse hãy cùng đồng hành với những lời khẩn cầu của chúng ta và xin Mẹ Maria khẩn cầu cùng Chúa cho chúng ta, Mẹ là vị hôn thê đồng trinh của thánh Giuse và là Mẹ của Ðấng Cứu Chuộc.

Lời Nguyện:

Lạy Thánh Cả Giuse, nhiều khi con ham nói mà ít chịu lắng nghe tiếng Thiên Chúa, ham suy luận mà ít chịu vâng phục cách triệt để thánh ý Thiên Chúa. Xin thánh nhân dạy con biết noi gương Người, biết tìm kiếm thánh ý Thiên Chúa trong thinh lặng và biết sống đức tin bằng hành động. Xin thánh nhân nâng đỡ những người cha trong gia đình để họ sống trọn sứ mạng làm chồng, làm cha. Xin thánh nhân phù trợ Giáo Hội Việt Nam trong vai trò hướng dẫn những người Kitô và làm chứng cho đức tin Kitô giữa lòng dân tộc.


 

19/03-60: CÁC THÁNH DÀNH CHO BẠN TRẺ

Ngày 19 tháng 3

Thánh Giuse

 

Giuse là một vị thánh rất đặc biệt. Ngài là cha đồng trinh của Đức Chúa Giêsu và là vị hôn phu của Đức: 19/03-60

Giuse là một vị thánh rất đặc biệt. Ngài là cha đồng trinh của Đức Chúa Giêsu và là vị hôn phu của Đức Maria. Thánh Giuse được ban tặng đặc ân thật lớn lao là chăm sóc Đức Chúa Giêsu, Con Một Thiên Chúa và Đức Maria, Mẹ yêu dấu của Người. Suốt cả một đời, thánh Giuse sống thật khó nghèo. Thánh Giuse phải làm việc rất vất vả trong xưởng mộc của ngài nhưng thánh nhân chẳng bận tâm lo lắng điều gì. Ngài sung sướng khi được làm việc phục vụ gia đình nhỏ bé của ngài. Thánh Giuse rất yêu mến Đức Chúa Giêsu và Đức Mẹ Maria. Bất cứ điều gì Thiên Chúa muốn thánh Giuse thực hiện, thì thánh nhân liền thi hành ngay dù cho công việc ấy có khó khăn thế nào! Thánh Giuse sống thật khiêm tốn, trong sạch, hiền từ và khôn ngoan. Đức Chúa Giêsu và Đức Mẹ Maria đã hết lòng yêu mến và vâng phục thánh Giuse vì Thiên Chúa đã đặt ngài làm gia trưởng. Đối với thánh Giuse, niềm vui sướng hạnh phúc là được sống với chính Con Thiên Chúa. Đức Chúa Giêsu cũng đã vâng lời, giúp đỡ và yêu mến Ngài.

Chúng ta khẩn cầu cùng thánh Giuse như đấng che chở khi lâm cơn hấp hối là có lý do đặc biệt. Người ta tin rằng thánh Giuse đã được chết an bình trong tay Đức Chúa Giêsu và Đức Maria.

Thánh nữ Têrêsa Avila cũng chọn thánh Giuse làm đấng bảo trợ các chị em dòng Cátminh của ngài. Thánh nữ tin tưởng đặc biệt vào lời khẩn cầu vạn năng của thánh Giuse. Thánh nữ nói: “Mỗi khi tôi cầu xin thánh Giuse điều gì, thì tôi đều nhận được!”

Đức thánh cha Piô IX đã tôn phong thánh Giuse làm quan thầy của Giáo hội hoàn cầu.

Như Đức Chúa Giêsu đã vâng lời và giúp đỡ thánh Giuse trong công việc khiêm tốn và vất vả của ngài, chúng ta cũng hãy sẵn lòng giúp đỡ cha mẹ chúng ta làm những công việc nhỏ bé trong gia đình


 

19/03-61: NGƯỜI THỢ MỘC

Người thợ mộc trong xóm nghèo thưở ấy Nghĩ làm sao khi nghe thấy người yêu: 19/03-61

Người thợ mộc trong xóm nghèo thưở ấy
Nghĩ làm sao khi nghe thấy người yêu
Thượng Đế thương đã gởi gấm trăm điều
Lòng trinh nữ, ôi những điều bất khả
Anh thợ mộc vững lòng tin dấu lạ
Đưa người yêu về nhà nhỏ tình thương
Tình thăng hoa, tình ấy thật phi thường
Lo săn sóc, vỗ về Mẹ Ngôi Thánh
Rồi luật định, chàng và nàng mùa lạnh
Đã chuyển di về xứ sở quê hương
Chuyến về quê nàng sinh nở dọc đường
Nơi hang đá chiên cừu thường trú ẩn
Anh thợ mộc cuộc đời thật lận đận
Phải tản cư trốn lệnh giết vua ban
Vợ vừa sinh, tình thương mến vô vàn
Hài nhi nhỏ, con chiên hiền bé bỏng
Sang Ai Cập thật vội vàng nhanh chóng
Vì bảo an tính mệnh của Thiên Nhi
Thượng Đế thương, Thượng Đế thử lạ kỳ
Ngôi cực thánh mà sao khổ nhọc thế!...
Giu-Se đó trải qua nhiều thế hệ
Người ngợi khen vị Cha cả thánh gia
Lo dưỡng nuôi, giáo dục trẻ trong nhà
Lùi vào tối khi Con ra ánh sáng
Gương thánh cả muôn đời còn rạng sáng
Cho mọi người nhìn thấy để trông theo
Những người cha, dù đói khổ khó nghèo
Cũng nhận thấy gương xưa người thợ mộc
Vững lòng tin, cậy, mến Chúa làm gốc
Hy sinh nhiều, dù sống khổ, khó khăn
Có khổ tâm, người cũng chẳng cằn nhằn
Giữ hạnh phúc trong thánh gia bền đẹp


 

19/03-62: Thánh Giuse

Thánh Giuse khong được các thánh sử cho “phát biểu” một câu nào trong cả bốn Tin Mừng, chỉ: 19/03-62

Thánh Giuse khong được các thánh sử cho “phát biểu” một câu nào trong cả bốn Tin Mừng, chỉ thấy Ngài làm theo những gì được truyền: nào là bỏ ý định toan tính trốn; nào là dắt Đức Maria và Hài Nhi Giêsu đi “tị nạn” bên Ai-cập… nhất nhất cái gì cũng làm theo lời chỉ dạy của Thiên Chúa. Sự vâng phục của thánh Giuse không phải là thứ vâng lời tối mặt, mù quáng. Để thực hiện sứ mạng, ngài không được Chúa ban cho sự can thiệp đặc biệt nào ngoài những lời báo tin của thiên thần. Thế nên phải thật khôn ngoan mưu lược, thánh Giuse mới hoàn thành sứ mạng đưa Hài Nhi và Mẹ Ngài thoát khỏi vòng vây trùng điệp của binh lính Hêrôđê để sang tới Ai Cập. Sự khôn ngoan của thánh Giuse càng thể hiện rõ khi hồi hương từ Ai Cập, ngài đã đưa thánh gia về Nadarét thay vì Bêlem. Thánh Giuse vâng phục thánh ý Chúa cách tuyệt đối, không máy móc mà đầy khôn ngoan và sáng tạo.
Mời Bạn: Thánh Giuse được Thiên Chúa tuyển chọn làm cha nuôi Đức Giêsu, nhưng cũng vẫn phải trải qua những long đong của cuộc sống thường nhật. Ngài không “nói” lời nào nhưng luôn lắng nghe và vâng phục thi hành trọn vẹn thánh ý Chúa.
Sống Lời Chúa: Bạn đọc lại câu Phúc Âm trên đây cách chậm rãi và suy niệm về việc vâng phục ý Chúa từ những kinh nghiệm sống của mình.
Cầu nguyện: Lạy thánh Giuse, Ngài đã lang nghe và thực hành lời Chúa trong sự khiêm nhường tột bậc. Xin giúp chúng con cũng biết lắng nghe và vâng phục ý Chúa trong mọi biến cố của cuộc sống hằng ngày. Amen.


 

19/03-63: Thánh cả Giuse là vị thánh rất đặc biệt.

Thánh Cả GIUSE
 

Trong tất cả các vị thánh, ngoại trừ Đức Trinh Nữ Maria là Nữ Vương các thánh, thì không có: 19/03-63

Trong tất cả các vị thánh, ngoại trừ Đức Trinh Nữ Maria là Nữ Vương các thánh, thì không có thánh nào sánh kịp với Thánh cả Giuse.

Thánh cả Giuse được sống bên cạnh Chúa Giêsu, Con của Thiên Chúa; được sống bên cạnh Đức Maria, Mẹ của Con Đức Chúa Trời, trong gia đình thánh thất Nadarét, là thiên đàng trên trần gian nầy.

Thánh cả Giuse được chết trong tay Hai Đấng cao trọng: trong tay của Con của Thiên Chúa và trong tay của Mẹ Thiên Chúa.

Thánh cả Giuse là vị thánh rất cao sang vì Ngài được làm cha nuôi của Chúa Giêsu.

Các thánh tổ phụ, các thánh tiên tri, các thánh nam nữ xưa và nay đều sấp mình thờ lạy Chúa Giêsu, còn Thánh cả Giuse thì nuôi dưỡng Chúa Giêsu, nâng đỡ Chúa Giêsu, lo lắng cho Chúa Giêsu, bồng Chúa Giêsu trên tay, hôn kính Chúa Giêsu, nói chuyện với Chúa Giêsu, cho Chúa Giêsu ăn, cho Chúa Giêsu mặc, bảo vệ Chúa Giêsu khỏi muôn vàn nguy hiểm.

Ý Thiên Chúa quan phòng để cho Thánh cả Giuse làm Cha của Đấng Cứu Thế ở trước mặt người đời. Để thực hiện ý định nầy của Thiên Chúa Cha, Chúa Giêsu luôn vâng lời thánh cả Giuse từng li từng tí, tôn kính Ngài như một người con hết sức hiếu thảo.

Bởi thế, trừ ra chức làm Mẹ Thiên Chúa vô cùng cao sang của Đức Trinh Nữ Maria, thì trên trời dưới đất nầy, không có chức nào cao trọng cho bằng chức làm Cha nuôi của Thánh cả Giuse đối với Chúa Giêsu

Vì Chúa Giêsu chỉ có một mình Đức Mẹ Maria là Mẹ thật, nên Thánh cả Giuse được Thiên Chúa Cha giao cho toàn quyền lo lắng mọi sự cho Con Một mình trên trần gian nầy.

Thánh Giuse rất cao sang vì Ngài được làm bạn rất thanh sạch của Đức Trinh Nữ Maria.

Đối với Đức Trinh Nữ Maria, chức làm Mẹ Thiên Chúa là chức cao trọng vô cùng, thế mà Thánh cả Giuse lại được liên kết mật thiết với Đức Mẹ bằng giây liên lạc hôn nhân theo phép đạo.

Khi ban thánh cả Giuse làm bạn rất thanh sạch của Đức Trinh Nữ Maria, Thiên Chúa ban cho Thánh cả Giuse ba điều cao quý: một là, làm người bạn đường lo lắng, giúp đỡ Đức Trinh Nữ Maria; hai là, làm người chứng nhận sự trinh khiết tuyệt vời của Đức Trinh Nữ Maria; ba là, ban cho Thánh cả Giuse ơn trọng đại tham gia vào phẩm chức cao cả làm Mẹ Đức Chúa Trời của Đức Trinh Nữ Maria.

Thánh cả Giuse là vị thánh được Giáo Hội tôn kính hết sức đặc biệt

Giáo Hội dành một tháng trong năm, tháng ba, để kính Thánh cả Giuse.

Giáo Hội đặt hai lễ trọng trong năm kính Thánh cả Giuse: Lễ Thánh Giuse, Bạn Trăm Năm của Đức Maria (ngày 19.3 ) và Lễ Thánh Giuse Thợ (ngày 01.5).

Giáo Hội dành ngày thứ tư trong tuần để kính Thánh cả Giuse.

Giáo Hội soạn nhiều kinh đặc biết để cầu nguyện và ca ngợi Thánh cả Giuse như Kinh cầu Ông Thánh Giuse, kinh Thân lạy Ông Thánh Giuse.

Giáo Hội chọn thánh cả Giuse làm Quan Thầy bàu chữa của mình. Khi chọn thánh cả Giuse làm Quan Thầy bảo vệ, Gíao Hội quả quyết rằng: “Ngoài Đức Mẹ ra, thì trên trời dưới đất nầy không tìm được một vị thánh nào có thần thế để bênh vực Giáo Hội cho bằng Thánh cả Giuse.” (ĐGH Piô IX, 08.12.1870).

Thánh Cả Giuse treo cao gương sống thánh thiện cho tất cả chúng ta: Ngài là đấng gồm no mọi nhân đức.

Gương yêu mến Chúa Giêsu trên hết mọi sự: Thánh Cả Giuse là Đấng dưỡng nuôi Con Đức Chúa Trời, là Đấng ân cần gìn giữ Chúa Kitô.

Gương hết sức quý chuộng Đức Trinh Nữ Maria: Thánh Cả Giuse là Bạn Đức Mẹ Chúa Chúa Trời, là Đấng thanh sạch giữ gìn Đức Nữ Đồng Trinh.

Guơng trong sạch: Thánh Cả Giuse luôn cầm nhành huệ trắng nơi tay; Ngài là đấng cực thanh cực tịnh; ngài là đấng che chở kẻ giữ mình đồng trinh.

Gương khôn ngoan theo Lời Chúa dạy: Thánh Cả Giuse cực khôn cực ngoan, được Thiên Chúa dùng để huớng dẫn Con của Ngài và Mẹ của Con Ngài.

Gương đức tin mạnh: Thánh Cả Giuse là Đấng vững vàng mạnh mẽ. Ngài tin tất cả những Lời Chúa do thiên thần truyền, dầu những Lời nầy được truyền ra trong những hoàn cảnh rất khó khăn: “Khi tỉnh giấc, ông Giuse làm như sứ thần Chúa dạy” (Mátthêu 1,24) ; “Ông Giuse liền chỗi dậy, và đang đêm, đưa Hài Nhi và mẹ Người trốn sang Ai Cập” (Mátthêu 2,14) ; “Ông liền chỗi dậy, đưa Hài Nhi và mẹ Người về đất Ixraen” (Mátthêu 2,21).

Gương vâng lời chóng vánh: Thánh Cả Giuse luôn nhanh chóng tuân theo lệnh Chúa truyền. Ngài là đấng vâng lời mọi đàng, chịu lụy mọi đàng.

Gương thành thật: Thánh Cả Giuse là đấng rất ngay chính thật thà.

Gương sống đời hiền lành, nhịn nhục: Thánh Cả Giuse là gương nhơn đức nhịn nhục.

Gương sống khó nghèo theo tinh thần Tám Mối Phước Thật: Thánh Cả Giuse là đấng yêu chuộng sự khó khăn.

Gương siêng năng làm việc: Thánh Cả Giuse là kiểu thức các tài công noi theo.

Gương điều khiển gia đình một cách thánh thiện: Thánh Cả Giuse là đấng cai quản Thánh Gia Thất xưa ; ngài là Đấng làm cho sáng danh gia đạo.

Gương sống đời nội tâm, thinh lặng: Thánh Cả Giuse không bao giờ nói ra một lời vô ích, một lời ta thán; ngài nêu cao gương cho các linh hồn sống đời nội tâm sâu xa.

Gương hy sinh tận tụy: Thánh Cả Giuse lo từng miếng cơm manh áo cho Đức Mẹ và Chúa Giêsu, tuy không giàu sang lòe loẹt gì, nhưng cũng luôn luôn đầy đủ. Ngài bao bọc nuôi dưỡng gia đình bằng mồ hôi nước mắt của mình. Ngài thức khuya dậy sớm lo cho kịp công kịp việc để có tiền nuôi sống gia đình.

Thánh Cả Giuse là đấng đầy quyền thế trước mặt Thiên Chúa.

Ngài che chở kẻ giữ mình đồng trinh, nâng đỡ gia thất chúng ta, an ủi kẻ mắc gian nan. Ngài là nơi trông cậy cho kẻ đau ốm liệt lào. Ngài là bổn mạng kẻ mong sinh thì, kẻ hấp hối, sắp lìa đời. Ngài chiến thắng ma quỷ, làm cho quỷ thần kinh khiếp.Ngài là Quan Thầy bàu chữa Giáo Hội.

Thánh cả Giuse thật là một vị thánh siêu phàm, không thiên thần nào sánh kịp, không vị thánh nào so nổi.

Chúng ta hãy nghe những lời đầy trông cậy sau đây của thánh nữ Têrêxa Avila:

“Tôi không thể nào quên được rằng cho đến ngày hôm nay, tôi xin Thánh cả Giuse điều gì thì được điều đó, và tôi không thể không lấy làm bỡ ngỡ khi thấy rằng, nhờ Thánh cả Giuse cầu bàu mà Chúa đã ban cho tôi nhiều ơn và đã cứu tôi khỏi những nguy hiểm phần hồn phần xác. Các thánh khác thì được Chúa ban ơn giúp chúng ta trong một vài trường hợp cần thiết, còn kinh nghiệm cho tôi biết rằng Thánh cả Giuse giúp chúng ta trong tất cả mọi trường hợp, như thể Chúa muốn cho chúng ta hiểu rằng: khi ở dưới thế nầy, Ngài đã vâng lời Thánh cả Giuse vì Thánh Cả Giuse là Cha nuôi mình, thì nay trên trời, Ngài cùng không từ chối Thánh cả Giuse điều gì.”

Linh mục Nguyễn Hài Đồng


 

19/03-64: THÁNH GIUSE, NGƯỜI CHA TUYỆT VỜI

Trong toàn bộ Tin Mừng, chúng ta thấy chỉ nhắc đến tên và một số đặc tính của thánh Giuse, chứ: 19/03-64

Trong toàn bộ Tin Mừng, chúng ta thấy chỉ nhắc đến tên và một số đặc tính của thánh Giuse, chứ tuyệt nhiên không hề có chỗ nào ghi lại lời nói của ngài. Tuy nhiên, chỉ nhắc tới ngài thôi, thì cũng đủ để cho chúng ta thấy được vai trò ưu tuyển của ngài trong lịch sử cứu độ và nơi truyền thống của Giáo Hội.
Thật vậy, từ lâu, Giáo Hội đã tuyên xưng ngài là “đấng công chính”; “cha nuôi Con Đức Chúa Trời”; là “bạn trăm năm của Đức Nữ Trinh”; là “đấng bầu chữa cho cả Giáo Hội”; là “mẫu gương sống động cho những người cha nơi các gia đình”.
Vậy do đâu và tại sao ngài lại được ân thưởng những đặc ân cao quý như vậy?
1. Thánh Giuse là đấng công chính
Có lẽ xét về góc độ bề ngoài, thánh Giuse không có gì trổi vượt, thậm chí là một người bình thường như mọi người đàn ông nông dân khác thời bấy giờ. Nhưng xét về góc độ niềm tin, chúng ta dễ dàng nhận ra ngài là một anh hùng vì can đảm và tín trung.
Khi gọi ngài là “đấng công chính”, Giáo Hội muốn nói với con cái mình rằng: thánh Giuse là người thuộc về Thiên Chúa trọn vẹn, vì đã gắn bó và trung thành tuân giữ lời của Thiên Chúa cách tuyệt đối trong mọi hoàn cảnh.
Lần giở lại Kinh Thánh, chúng ta thấy việc Thiên Chúa sai sứ thần mộng báo cho thánh Giuse luôn mang tính đột ngột. Nhưng thái độ đáp ứng của thánh nhân cũng mau mắn đến độ đột ngột không kém.
Trong lần báo mộng đầu tiên, ý Thiên Chúa muốn thánh Giuse đón nhận Mẹ Maria về chung sống, để Con Thiên Chúa có một mái ấm gia đình bình thường như mọi gia đình khác trên trần gian. Nhưng đặt mình trong hoàn cảnh của thánh nhân lúc bấy giờ, thì việc đón nhận thánh ý Thiên Chúa thật không dễ, vì thai nhi Giêsu đang lớn dần trong cung lòng Mẹ Maria không phải của ngài, mà do quyền năng Chúa Thánh Thần. Xét theo góc độ con người thì việc đón nhận này không dễ. Tuy nhiên, thánh nhân đã không ngần ngại khi được giả thích, nên sẵn lòng đón Đức Mẹ về sống chung để cùng nhau xây dựng một gia đình thánh.
Tiếp theo là lần báo mộng thứ hai, ý Thiên Chúa mặc khải cho biết bạo chúa Hêrôđê đang tìm cách giết Con Trẻ, vì thế phải trốn sang Aicập ngay trong đêm; thánh nhân cũng mau mắn thi hành cách vội vã vì sự an toàn của tính mạng Con Thiên Chúa.
Lần cuối cùng, thánh nhân được báo mộng là đem Hài Nhi và Mẹ Người trở lại Nazareth, vì hòa bình đã lập lại; thánh Giuse không ngần ngại đem Hài Nhi và Mẹ Người trở lạ quê hương xứ sở của mình cách an toàn.
Thêm vào đó, sau khi đi lễ đền thờ, lúc trở về, ngài phát hiện được Hài Nhi Giêsu không về chung với mọi người thân thuộc, nên đã cùng với Đức Maria tức tốc trở lại đền thờ để tìm con.
Và, mặc dù không nói, nhưng chắc chắn rằng: suốt cuộc đời sống âm thầm nơi làng quê Nazareth... thánh Giuse luôn gắn bó mật thiết với Thiên Chúa qua mọi biến cố thăng trần của cuộc sống được thể hiện qua vai trò người chồng và người cha trong gia đình. Thật vậy, thánh nhân là người rất nhạy bén với thánh ý của Thiên Chúa và mau mắn thi hành. Chính sự cộng tác cách tuyệt đối này của thánh Giuse mà lịch sử cứu độ chuyển sang trang sử mới.
Bởi vậy, thánh Giuse xứng đáng được gọi là “đấng công chính” và là “cha nuôi Con Đức Chúa Trời”.
Khi trở thành dưỡng phụ của Đức Giêsu, lẽ đương nhiên, ngài trở thành “bạn trăm năm của Đức Maria”. Ngài là người chồng chung thủy và hết lòng yêu mến Mẹ Maria.
2. Thánh Giuse là đấng bầu chữa cho Giáo Hội
Thánh Giuse còn được gọi là đấng bầu chữa cho cả Giáo Hội:
Thật thế, trải qua dòng lịch sử, ai trong chúng ta cũng có thể nhận ra sự bầu chữa của thánh nhân. Ngài luôn nâng đỡ những người nghèo khổ, kém may măn trong cuộc đời và nơi cuộc sống. Hình ảnh thánh Giuse hay làm phép lạ được truyền tai nhau khắp nơi. Đến nỗi người ta có thể nói rằng: ngài không quên ai chạy đến để cầu cứu ngài. Thánh nữ tiến sĩ Têrêsa Avila đã viết: “Tôi nhớ rõ, chưa bao giờ tôi cầu xin sự gì cùng thánh Cả Giuse mà không được như ý. Kỳ diệu thay, những ơn đặc biệt mà Thiên Chúa đã ban đầy tràn cho tôi, và đã giải thoát tôi khỏi mọi nguy hiểm phần hồn cũng như phần xác, do lời cầu bầu của Vị Thánh vinh phúc này”; thánh Têrêsa Avila viết tiếp: “Dường như Đấng Tối Cao ban ơn cho các thánh giúp chúng ta việc này, việc nọ, nhưng kinh nghiệm cho tôi biết thì Thánh Giuse vinh hiển có quyền năng rộng rãi giúp chúng ta trong mọi việc. Như thế là Chúa muốn cho chúng ta hiểu rằng, như xưa Chúa đã vâng phục Thánh Cả dưới thế, đã nhìn nhận Ngài với quyền làm Cha và làm Giám Quản, thì nay ở trên trời, Chúa cũng sẵn lòng chiều theo ý muốn của Ngài, mà nhận mọi lời Ngài cầu xin. Những người khác mà tôi khuyên chạy đến cùng Vị Bảo Hộ này, cũng nhận thấy điều ấy như tôi, do kinh nghiệm”.
Ý thức được tầm quan trọng của thánh nhân trong đời sống đức tin của Giáo Hội, và hết lòng tôn kính Ngài, vì thế, ngày 01.01.2013, Giáo Hội không ngần ngại khi đưa tên của thánh nhân vào trong Kinh Nguyện Thánh Thể với sắc lệnh số 215/11/L của Bộ Phụng Tự Thánh và Kỷ Luật Các Bí Tích. Vì thế, các Kinh Nguyện Thánh Thể đã nhắc tới danh xưng “Thánh Giuse, bạn trăm năm Đức Trinh Nữ” như một niềm tôn vinh và cũng như một lòng trông cậy.
Như vậy, thánh nhân thật xứng đáng trở nên Vị Bảo Trợ cho cả và Giáo Hội. Bên cạnh đó, ngài còn là mẫu gương các gia trưởng nơi các gia đình. Bởi vì, ngài là người chồng, người cha mẫu mực khôn ngoan.
3. Bài học rút ra từ cuộc đời thánh Giuse
Mừng lễ thánh Giuse, Giáo Hội mời gọi mỗi chúng ta hãy hướng nhìn lên thánh nhân như một mẫu gương về lòng trung tín với Thiên Chúa, chung thủy với Đức Maria, luôn chu toàn trách vụ của người cha trong gia đình.

Thật vậy, thánh nhân là một con người thinh lặng, trầm tư, cầu nguyện... nên ngài dễ dàng nhận ra Thiên Ý và sẵn sàng mau mắn thi hành ý của Thiên Chúa trong cuộc đời. Sự thinh lặng của thánh nhân đã biến cuộc đời của ngài trở nên cuộc đời sống vì yêu. Yêu Chúa để thi hành mệnh lệnh. Yêu Mẹ Maria để sống chung thủy. Yêu mến Đức Giêsu để hết mực chăm lo. Yêu mến Giáo Hội để luôn bầu cử, trợ giúp... điều này thật đúng với tác giả Philippon, OP. đã nhận định về sự thinh lặng: “Ai yêu mến sự thinh lặng, sẽ được dẫn tới sự thinh lặng của mến yêu”.

Đối với Giáo Hội Việt Nam, giáo dân đất Việt có lòng yêu mến ngài đặc biệt. Nhiều gia đình, dòng tu, chủng viện, học viện đã tôn nhận ngài là Đấng Bảo Trợ. Nhiều nhà thờ lấy tước hiệu của ngài. Nhiều đền đài được dựng lên tỏ lòng tôn kính. Nhiều cụ ông, và anh em đã chọn ngài làm bổn mạng. Khi gặp bất trắc gì trong cuộc sống, chúng ta đều chạy đến với Ngài.

Tuy nhiên, nhiều khi chúng ta cũng chưa tôn kính ngài cho đủ, và cũng nhiều khi chúng ta chưa noi gương ngài thực sự. Vì thế, mừng lễ thánh Giuse, nhất là năm nay, là năm “Phúc Âm hóa đời sống gia đình”, chúng ta hãy xin thánh nhân bầu cử cho các gia đình chúng ta, luôn giữ được lòng yêu mến Chúa và Giáo Hội như ngài; mặt khác, khi Giáo Hội dành trọn tháng 3 để tôn kính thánh nhân, mà theo niên lịch phụng vụ thì thường rơi vào Mùa Chay, mà Mùa Chay là mùa sám hối, vì thế, cách này, cáh khác, Giáo Hội muốn mời gọi mỗi chúng ta hãy trở về với sự thinh lặng, để gắn bó với Chúa, nhận ra thánh ý Chúa trên cuộc đời và mau mắn thi hành mệnh lệnh của Chúa như thánh Giuse.

Lạy Thiên Chúa toàn năng, chúng con tạ ơn Chúa đã ban cho chúng con mẫu gương tuyệt vời là thánh Giuse. Xin Chúa đón nhận lời bầu cử của thánh nhân mà ban cho chúng con được can đảm, trung thành và yêu mến luật Chúa; đồng thời đem ra thi hành trong cuộc sống hiện tại. Amen.

Jos. Vinc. Ngọc Biển


 

19/03-65: THÁNH GIUSE - MẪU GƯƠNG CHO GIA TRƯỞNG

Tin Mừng hôm nay đề cập đến câu chuyện Truyền tin cho Giuse. Maria đã đính hôn với Giuse (Mt 1,18): 19/03-65

Tin Mừng hôm nay đề cập đến câu chuyện Truyền tin cho Giuse.

Maria đã đính hôn với Giuse (Mt 1,18).Từ ngày hai bên nội ngoại làm lễ đính hôn cho Giuse và Maria, ai ai cũng vui mừng, chúc phúc cho đôi hôn nhân lý tưởng. Họ thương nhau không vì trai tài gái sắc, mà thương nhau vì cả hai đều nết na đức hạnh, cùng có một đức tin tinh tuyền từ gia đình đạo đức. Giuse là Người Công Chính. Maria là Đấng Đầy Ơn Phúc. Đó là tổ ấm cao sang nhất trong lịch sử nhân loại.

Sau ngày làm lễ đính hôn, chỉ chờ lễ cưới.Maria và Giuse vẫn chỉ biết hướng về tương lai, chuẩn bị cho gia đình mới sắp thiết lập.

Điều bất ngờ xảy đến với cuộc tình duyên êm đẹp. Thiên Chúa đã can thiệp vào dự án tương lai của Maria và Giuse. Thiên Chúa muốn cả hai thành Đấng Bậc Đồng Trinh để Ngài trao gửi Con Một dấu yêu của mình. Cả hai trở nên cha mẹ của con trẻ Giêsu về pháp lý và Maria ban tặng bản tính nhân loại cho Đấng Cứu Thế.

Thiên Chúa đi từng bước một. Truyền tin cho Đức Maria rồi truyền tin cho Giuse. Giữa hai biến cố trọng đại là cuộc khủng hoảng đối với Giuse.

Thấy Maria có thai, Giuse phải đau khổ lắm. Người hôn thê đạo hạnh mà ngài rất mực yêu thương lại mang thai trước khi về nhà chồng. Bối rối và khó xử nhưng ngài vẫn tiếp tục tin tưởng Maria trong sạch vẹn tuyền. Không một lời phàn nàn, ca thán, trách móc, Giuse không hề hạch sách hay tra hỏi Maria một lời nào, ngài âm thầm ôm lấy nổi đau riêng mình với một quyết định: “Đào vi thượng sách”. Giuse không còn chọn lựa nào khác: “vì là Người Công Chính và không muốn tố giác bà nên mới định tâm bỏ bà cách kín đáo” (1,19). Thế rồi, Thiên Thần đã hiện ra với Giuse trong giấc mộng giải thích cho ngài biết: “Người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần” (1,20); Thai nhi ấy không chỉ là một con người mà còn là Người Con của Thiên Chúa. Ngài là Thiên Chúa bởi Thiên Chúa, được sinh ra, không phải được tạo thành, vì Ngài đã có từ trước muôn thuở. Ngài là Con của Chúa Cha ở trên trời; đã từ trời xuống thế nhập thể trong lòng trinh nữ Maria, và đã làm Người. Và Người Con sẽ sinh ra ấy được Thánh Giuse đặt tên là Giêsu, vì chính Người sẽ cứu Dân của Người khỏi tội. Thiên Thần khuyên Giuse “Chớ sợ rước Maria về nhà mình” (1,20). Nhận ra Thánh Ý Thiên Chúa “Giuse đã làm như lời Thiên Thần Chúa truyền và ông đã rước bà về” (1,24).

Thiên Chúa đã đưa Thánh Giuse vào chương trình cứu độ của Ngài. Thánh Giuse đã tích cực góp phần thực hiện chương trình ấy. Ngài được Thiên Chúa chọn, trở thành người cha nuôi của Chúa Giêsu ở trần gian. Vì vai trò làm cha của Chúa Giêsu và làm bạn đời của Mẹ Maria, sống bên cạnh một người nữ trẻ tuổi xinh đẹp là Mẹ Maria, mà theo dự định của Thiên Chúa, sẽ trọn đời đồng trinh, nên các nghệ nhân thường có khuynh hướng hình dung Thánh Giuse như một cụ già. Điều đó không đúng! Thánh Giuse là một thanh niên trẻ trung và đầy sinh lực, có lẽ chỉ lớn hơn Mẹ Maria chừng năm bảy tuổi! Nhưng ngài là một người rất nhân đức, được Thiên Chúa chọn để đồng hành với Mẹ Maria đồng trinh trong cuộc đời dâng hiến của Mẹ. Mẹ đã hoàn toàn thuộc về Thiên Chúa, không thuộc về người trần gian (ĐTGM Phaolô Bùi Văn Đọc).

Thánh Giuse còn được sách Tin mừng gọi là “Người Công Chính”. Mà người công chính, theo lời Kinh thánh, là người sống bằng đức tin, hoàn toàn tin tưởng vào Thiên Chúa như tổ phụ Abraham. Người Công Chính, nói đơn giản, là người tốt, ngay thẳng, trung tín. Là tôi tớ trung thành của Thiên Chúa, luôn thực thi trọn vẹn thánh ý của Thiên Chúa. Là con người luôn biết kính trọng và yêu thương tha nhân.

Thánh Giuse là một con người bình thường như mọi người, được Thiên Chúa giao phó thực hiện “những điều cao trọng” trong cuộc đời thường, như làm “cha nuôi của Chúa Giêsu”, làm “bạn đời của Đức Trinh Nữ Maria”. Ngài đã thực hiện đúng như ý muốn của Thiên Chúa trong mọi biến cố. Thiên Chúa bảo ngài cưới Mẹ Maria, đưa Mẹ về nhà mình, đưa Mẹ Maria sắp sinh nở về nguyên quán Bêlem để khai lý lịch, đưa Mẹ và hài nhi Giêsu chạy trốn sang Aicập, sau đó đưa gia đình về Nazarét vùng Galilê, Thánh Giuse luôn xin vâng theo Ý Chúa.

Thánh Giuse mạnh dạn đối diện với các vấn đề, đương đầu với các khó khăn, mà không bao giờ trách móc Thiên Chúa hay quy tội cho người khác. Ngài là một con người “đầy tinh thần trách nhiệm”, một con người nhiều sáng kiến trong bất cứ công việc gì được trao phó. Trước Thánh Ý Thiên Chúa, Giuse vâng phục và chu toàn. Từ Nazarét qua Bêlem, từ Bêlem đi Aicập, từ Aicập về Israel, Chúa bảo ngài đi là ngài đi, bảo ngài về là ngài về, bảo ngài làm thế nào là ngài làm thế ấy, đúng thời gian, đúng địa điểm mà không thắc mắc, không hoài nghi, không cự nự.Tất cả mọi lần Giuse đều thưa như Đức Maria “Này tôi là tôi tớ Chúa, tôi xin vâng như lời Thiên Thần truyền”(Lc1,38).

Để luôn hướng về Ý Chúa, Thánh Giuse đã âm thầm đi sâu vào đời sống nội tâm. Trong nội tâm thinh lặng, ngài lắng nghe Chúa. Thiên Chúa mà Giuse gắn bó là Đấng đã gọi ngài. Ngài hiểu tiếng gọi đó là một tình thương đặc biệt. Ngài trả lời như một giao ước, một gắn bó tín trung bền vững. Chúa gọi và chỉ dẫn ở từng chặng đường, ngài nghe và vâng theo. Cho dù gặp khó khăn trắc trở, ngài luôn vững tin ở Đấng đã gọi mình. Vì thế, nơi Thánh Giuse, con đường sống đạo là con đường tin cậy khiêm cung và tuyệt đối vào Thiên Chúa. Tin với tâm hồn thờ phượng, tạ ơn, với lòng phó thác và nguyện cầu tha thiết.

Ngày nay, Thánh Giuse vẫn đồng hành với chúng ta và che chở chúng ta, như đã đồng hành và che chở Mẹ Maria và Chúa Giêsu. Với kinh nghiệm của mình, ngài xứng đáng là thầy dạy đời sống nội tâm cho mỗi người chúng ta: dạy cho ta biết Chúa Giêsu, gần gũi với Chúa, chia sẻ cuộc đời của Chúa. Ngài giúp ta ý thức mình là người nhà của Chúa, là thành viên của Giáo hội, Gia đình của Thiên Chúa tại trần gian.

Anh em Gia trưởng thân mến,

Thánh Giuse là một bài học khiết tịnh cho anh em. Không cần chờ tới tuổi già mới sống đời thanh tịnh. Sự thanh khiết của đôi bạn Giuse và Maria là do tình yêu. Sức mạnh và sự vui tươi của tuổi trẻ không là ngăn trở cho một tình yêu cao thượng. Khi cưới Mẹ Maria về, Thánh Giuse có một “trái tim trẻ trung” trong một thân xác trẻ trung. Khi được thiên thần báo mộng cho biết mầu nhiệm “Đức Maria là Mẹ Chúa Trời”, người đã sẵn sàng đón nhận Mẹ Maria, đồng hành với Mẹ, chăm sóc Mẹ, mà vẫn tôn trọng sự trinh nguyên của Mẹ. Mẹ Maria trở thành một niềm vui, một hồng ân cho Thánh Giuse.

Anh em là người cha người chồng trong gia đình. Anh em đừng bao giờ coi mình là ông chủ đầy quyền lực trong gia đình, muốn làm gì thì làm. Anh em phải biết tuân theo ý Chúa, phải bình tĩnh, biết quảng đại, hy sinh trong mọi khó khăn của gia đình theo gương Thánh Giuse.

Đứng trước những bối rối, đối diện với nghịch cảnh, gặp những thử thách, Thánh Giuse luôn chia sẽ nổi lòng với Đức Mẹ, ngài trăn trở những âu lo của Đức Mẹ, ngài chỉ muốn tìm giải pháp ưu việt cho nhất cho gia đình. Anh em gia trưởng cần có lòng tôn kính Thánh Giuse, thường xuyên xin ngài cố vấn cho các hoàn cảnh khó xử của mình. Ngài đã kinh qua tất cả nên ngài hiểu rõ hơn ai hết những nổi niềm của người Gia trưởng. Thánh Cả như một địa chỉ cần thiết, thân quen, anh em cần lui tới chuyện trò với ngài.

Hôn nhân là tổ ấm. Gia đình là chiếc nôi. Con cái đón nhận đời sống thể chất và tinh thần. Mỗi đứa con đều mang hình ảnh Thiên Chúa. Giáo dục để chúng lớn lên trong ơn gọi làm người, ơn gọi làm con Thiên Chúa. Nhiệm vụ giáo dục con cái thật thiêng liêng và cao cả. Thiên Chúa trao cho các Gia trưởng.

Thánh Giuse làm cha. Con của ngài vừa là con người vừa là Con Thiên Chúa -Đấng Cứu Độ. Con cái của anh em được làm con Thiên Chúa. Cho nên nhiệm vụ nuôi nấng dưỡng dục con cái là sứ vụ cao cả và là hồng ân quý giá Thiên Chúa ban cho anh em.

Anh em cần phải biết yêu thương và tôn trọng con cái mình. Hãy trở nên gương mẫu đạo đức thánh thiện cho con cái. Hãy tránh mọi thứ gương mù gương xấu. Từ lời nói đến thái độ sống xấu sẽ là đại họa cho con cái. Tuổi thơ các em đơn sơ như tờ giấy trắng, mỗi lời nói, mỗi cử chỉ của cha mẹ đều ghi đậm nét trên tờ giấy trắng tâm hồn và in dấu suốt cuộc đời các em. Bởi đó, trách nhiệm của người Gia trưởng đối với các em vô cùng quan trọng. Các em là thánh hay là quỷ tùy vào sự giáo dục và cách ăn nết ở của cha mẹ. Con cái là hoa trái của tình yêu và là niềm hy vọng của cha mẹ. Nguyện xin Thánh Giuse phù trợ cho anh em được trở nên những Gia trưởng thánh thiện, gương mẫu để đem hạnh phúc đến cho gia đình và cho cả xã hội tương lai.

Thánh Giuse mãi mãi là tấm gương cho anh em Gia trưởng soi. Tấm gương của một con người luôn thao thức lắng nghe tiếng Chúa và khi đã nghe thì mau mắn đáp lại không thắc mắc cho dù phải trả giá.Tấm gương của một con người luôn hướng tâm hồn về Chúa, xin vâng trước Thiên Ý, luôn phó thác để Chúa thực hiện chương trình cứu rỗi của Người.Tấm gương về người quản gia trung tín chăm sóc hai kho tàng quý giá nhất trần gian là Hài Nhi Giêsu và Mẹ Maria.

Thánh Giuse là con người thầm lặng, ít nói, khiêm tốn. Gioan Tẩy Giả chân thành “Người phải lớn lên, còn tôi phải nhỏ bé lại”. Giuse đã sống điều đó mà không nói một lời. Chính cuộc sống ấy đã biến Thánh nhân thành một vị Đại Thánh. Thánh Cả đã đem cuộc đời mình biến thành một Lời Chúa sống động.

Lm Giuse Nguyễn Hữu An


 

19/03-66: Cầu Nguyện Với Thánh Giuse

Chúng ta chỉ biết một chút ít về Giuse khi các tác giả Tin Mừng thuật lại những biến cố xảy ra trước: 19/03-66

Chúng ta chỉ biết một chút ít về Giuse khi các tác giả Tin Mừng thuật lại những biến cố xảy ra trước và sau khi Đức Giêsu giáng lâm. Ta biết về gốc gác của Giuse, về hôn ước giữa ông và Maria, về những trằn trọc trăm mối tơ vò để tìm ra giải pháp tối ưu cho chuyện vị hôn thê sắp cưới của mình có mang, rồi chuyện truyền tin trong giấc mơ và những chuyến hành trình lắm chông gai và mệt mỏi. Qua những tình tiết nhỏ nhặt đó, ta thấy Giuse hẳn phải là một người có tinh thần trách nhiệm như thế nào. Giuse đã không hành xử theo cảm tính hay chỉ làm mọi chuyện cho qua. Đã có lúc Giuse phân vân không biết rời bỏ Maria hay tiếp tục cuộc hôn nhân này. Nhưng khi nhận được lệnh của Chúa là hãy rước Maria về, ông đã thực thi mệnh lệnh ấy như thể đó là sứ mạng của mình, như là chọn lựa của mình, không một lời oán than hay một đòi hỏi xin giải thích.

Khi Maria lâm bồn, hẳn là ông đã phải chạy vạy khắp nơi để tìm kiếm chỗ cho tươm tất. Khi không tìm thấy một nơi ấm êm và đường hoàng, hẳn là ông cũng buồn phiền lo lắng biết bao cho sức khỏe của vợ và hài nhi vừa mới sinh.

Giữa đêm khuya giá lạnh, đang tựa đầu để mong nghỉ ngơi một chút thì đã phải vội vàng thức giấc để đưa vợ và con băng đường dài, trốn đi tị nạn ở nơi xa.

Khi được lệnh trở về, ông cũng nghe ngóng tình hình, để quyết định xem nên cư trú ở đâu để vợ con có thể được an toàn, không bị những ganh ghét của thế lực trần gian làm hại. Và khi đã tìm được chỗ tốt nhất, ông tiếp tục hành nghề thợ mộc để kiếm cơm nuôi sống gia đình.

Giuse đã hoàn toàn dành hết tâm huyết để chăm lo cho gia đình nhỏ bé, cùng với vợ giáo dưỡng Giêsu, cả thể chất lẫn tinh thần, với hết tất cả tình yêu và trách nhiệm của một người đàn ông cột trụ nơi tổ ấm.

Giêsu càng lớn lên, bình an và khỏe mạnh thì hình ảnh của Giuse cũng dần dần mờ nhạt đi. Đến một lúc, ta chẳng còn thấy Tin Mừng nhắc gì đến ông nữa. Ông qua đời khi nào, khi bao nhiêu tuổi… ta cũng chẳng hay biết. Giuse đã hoàn toàn để cho Chúa lớn lên, bằng cách để mình nhỏ bé đi. Những gì làm cho Chúa, ông kể như chẳng là gì to tát. Có chăng là trọn một niềm hạnh phúc vì cảm thấy vinh dự được Chúa cho cộng tác vào chương trình cứu độ của Ngài mà thôi.

Chỉ cần nghĩ đến chuyện Giuse đã hy sinh thế nào cho Thiên Chúa và cho gia đình nhỏ bé của mình, cũng đủ để chúng ta mường tượng được công trạng của ngài to lớn trong công trình cứu độ của Thiên Chúa. Vậy cớ gì ngài không hô hào lên tiếng cho người ta biết về những hy sinh của mình? Làm như thế cũng đáng chứ, cũng là điều hợp tình hợp ý mà bấy lâu nay chúng ta vẫn hay làm đấy thôi. Nhưng dường như đối với Giuse, được phục vụ Chúa là một niềm vinh hạnh, được hy sinh cho người khác điều ta nên làm. Nó hiển nhiên như ta hít thở, chứ chẳng phải là điều gì đó ghê gớm đến độ đáng được nêu danh. Chính cái tính cách khoan khai, khiêm nhường và lặng lẽ ấy của Giuse đã giúp cho thánh nhân sống trọn một đời mà không đau khổ dằn dặt chi, không hụt hẫng, nhưng lúc nào cũng bình an, hạnh phúc.
Giuse không cần chi người ta biết đến và ca tụng, có lẽ bởi vì Giuse đã có được phần thường cho chính mình rồi. Ông là một trong những người đầu tiên thấy được tận mắt, sờ được bằng tay hình hài của Con Thiên Chúa. Một quãng thời gian dài, ông có Chúa kề bên, được tập cho Chúa nói, được mớm cho Chúa ăn, được vui cười với Chúa. Rồi bỗng một ngày, niềm hạnh phúc như ngập tràn khóe mắt khi tai ông nghe chính Thiên Chúa gọi mình hai chữ “bố ơi” thật ngọt ngào và êm ái. Ông là ai mà được diễm phúc trở thành người được Con Thiên Chúa gọi là cha? Cả một huyền nhiệm cao vời đang hiển lộ trước mặt ông: một Thiên Chúa làm người mà ông đang ẵm bồng đây, đang gặp gỡ từng giây phút đây, được ôm lấy từng ngày đây. Có Giêsu rồi, ông đâu cần tìm kiếm điều gì nữa. Có nguồn hạnh phúc ở đây rồi, cần gì phải theo đuổi điều gì nữa.

Giuse có lẽ đã tạ thế trước khi Đức Giêsu bắt đầu sứ vụ công khai. Ông không được nghe những lời giáo huấn vàng ngọc của người con yêu của mình dành cho dân chúng. Nhưng biết đâu, khi căn dặn các môn đệ hãy biết phó thác mọi sự cho Chúa Cha, hãy vác thập giá hằng ngày, hãy sống sống khiêm nhường nhỏ bé, Đức Giêsu đã nghĩ đến vị dưỡng phụ yêu quý của mình. Giuse đã biến cuộc đời mình thành một lời nguyện ca tuyệt vời dâng lên Chúa.

Hôm nay, chúng ta hãy dành ít phút cầu nguyện với Thánh Giuse. Chúng ta hãy xin ngài chuyển cầu cùng Đức Giêsu, con ngài, cho chúng ta cũng biết sống khiêm nhu, âm thầm và lặng lẽ, suốt cuộc đời chỉ đi tìm một mình Chúa mà thôi, và dám can đảm để Chúa lớn lên, để mình nhỏ lại. Ước gì đó là niềm vui lớn nhất của cuộc đời Kitô hữu của chúng ta.

Pr. Lê Hoàng Nam, SJ


 

19/03-67: CÔNG CHÍNH VÀ KHIÊM NHU

Trầm Thiên Thu
 

Giuse theo tiếng Do Thái là יוֹסֵף [Yosef], tiếng Hy Lạp là Ἰωσήφ [Ioseph]. Giuse nghĩa là “thêm vào”. 19/03-67

Giuse theo tiếng Do Thái là יוֹסֵף [Yosef], tiếng Hy Lạp là ωσήφ [Ioseph]. Giuse nghĩa là “thêm vào”. Có lẽ là thú vị đối với ý nghĩa này về Đức Thánh Giuse, con ông Gia-cóp, dòng dõi Thánh vương Đa-vít, Hôn phu của Đức Trinh Nữ Maria và người nhận lãnh trọng trách làm Dưỡng phụ của Chúa Giêsu trên trần gian.
Đức Thánh Giuse là người chồng và người cha gương mẫu, nhưng lại sống rất khiêm nhường, trầm tĩnh, quên mình vì vợ con, vì người khác, nêu cao tinh thần phục vụ, âm thầm tan biến như muối hòa tan để làm ngon mọi thứ, và ngài được tôn xưng là Đấng Công Chính.
Ngài là Phu quân của Đức Maria, Mẹ Thiên Chúa, và Dưỡng phụ của Chúa Giêsu, vai vế lắm, trách nhiệm nặng nề và công cán to lắm, thế nhưng chẳng ai nghe thấy ngài nói gì, có lẽ ngài chỉ cười thôi. Quả thật, cuộc đời ngài hoàn toàn “nhỏ bé”, trầm lặng tuyệt đối, hầu như không có tài liệu nào ghi lại lời nói nào của ngài. Đúng như Chúa Giêsu nói: “Ai là người nhỏ nhất trong tất cả anh em, kẻ ấy là người lớn nhất” (Lc 9:48). Giáo hội Công giáo tôn xưng ngài là Thánh Cả, và là bổn mạng của Giáo hội.
Đức công chính rất cần, vì Chúa Giêsu dạy: “Trước hết hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Người” (Mt 6:33). Thật vậy, “một khi nên công chính thì con người được bảo đảm ơn cứu độ” (Rm 5:1-2). Với Đức Thánh Giuse, chúng ta có nhiều điều để nói, mà rồi cũng chẳng có gì để nói. Kỳ lạ thật! Đó là hai thái cực KHÔN – NGU.
Có vẻ chúng ta “rát tai” khi sách Huấn Ca nói: “Kẻ ngu đần chửi thẳng vào mặt; quà tặng của con người tham lam làm rơi nước mắt. Học trước đã rồi hãy nói sau; để ngừa bệnh, con hãy uống thuốc” (Hc 18:18-19). Thế nhưng lại hợp lý lắm. Cách so sánh rất thực tế: “Uống thuốc để ngừa bệnh”. Như vậy, “học trước, nói sau” là đúng. Người Việt cũng nói: “Biết thì thưa thốt, không biết thì dựa cột mà nghe”. Không biết mà “tài lanh” thì quả là dại dột, đúng ra phải nói là “ngu xuẩn”. Ngu dốt sinh ra độc đoán. Đầu bã đậu nên không thể hiểu nổi ý tưởng cao xa. La Rochefoucauld nói rõ: “Những kẻ có trí tuệ tầm thường thì hay lên án những gì vượt quá tầm hiểu biết của họ”.
Im lặng là điều không dễ thực hiện. Chỉ vài người ngồi chung bàn mà ai cũng giành nói, tự cho mình biết nhiều, chữ nghĩa đầy bụng, muốn mình nổi bật, đôi khi nói mà không suy nghĩ, không uốn lưỡi bảy lần. Nói nhiều sai nhiều, nói ít sai ít. Không nói như Đức Thánh Giuse là OK nhất. Tuyệt cú mèo! Vả lại, nói đâu là chuyện dễ. Trước khi nói thì phải suy nghĩ, đắn đo, nói sao cho ngắn gọn mà đầy đủ. Nói dai, nói dài là dại. Nghĩ là điều khó, nói ra càng khó hơn, nhưng làm thì khó lắm. Đúng như Lachausser phân tích: “Nghĩ đúng, nói đúng, vậy cũng chưa đúng, mà còn phải làm đúng”.
Về tâm linh, sách Huấn Ca căn dặn: “Trước khi xét đoán, hãy tự kiểm điểm, thì trong giờ Chúa đến viếng thăm, con sẽ được khoan hồng” (Hc 18:20). Tính toán không hề đơn giản, dù chỉ suy nghĩ về điều nhỏ. Xem chừng “đơn giản” nhưng chỉ là… “đang giỡn” thôi. Việt ngữ ngộ vậy mà chí lý lắm!
Chúng ta thường nói tới “ba thù” – bộ ba: Ma quỷ, Thế gian, Xác thịt. Ham nói mà không ham làm là “dính líu” tới “thằng quỷ” Xác Thịt, vừa ích kỷ vừa kiêu ngạo. Thế mới “ham nói”. Ai thích “chỉ tay năm ngón” đều… nói nhiều. Thực tế minh nhiên như vậy. Vì thế, như đã nói, không dễ gì mà “im lặng” đâu! Có thể nói im lặng là một nhân đức, vì sự im lặng liên quan lòng khiêm nhường. Đức Thánh Giuse im lặng vì ngài rất khiêm nhường.
Mưu ma chước quỷ như lưới giăng bắt chim, phải cảnh giác cao độ. Tác giả Thánh Vịnh nói: “Lưới kẻ thù giăng, xin gỡ con ra khỏi, vì nơi con trú ẩn, chính là Ngài. Trong tay Ngài, con xin phó thác hồn con, Ngài đã cứu chuộc con, lạy Chúa Trời thành tín” (Tv 31:5-6). Không gì khôn ngoan hơn là hoàn toàn phó thác cho Thiên Chúa quan phòng. Chắc chắn Đức Thánh Giuse có đức tin lớn lao và mạnh mẽ, nên ngài “thoải mái” giữ im lặng và hoàn toàn tín thác nơi Lòng Chúa Xót Thương.
Trình thuật 2 Sm 7:4-5, 12-16 cho biết: Ngày ấy, Thiên Chúa phán với ông Na-than: “Khi ngày đời của ngươi đã mãn và ngươi đã nằm xuống với cha ông, Ta sẽ cho dòng dõi ngươi đứng lên kế vị ngươi, một người do chính ngươi sinh ra, và Ta sẽ làm cho vương quyền của nó được vững bền. Chính nó sẽ xây một nhà để tôn kính danh Ta, và Ta sẽ làm cho ngai vàng của nó vững bền mãi mãi. Đối với nó, Ta sẽ là cha, đối với Ta, nó sẽ là con. Nhà của ngươi và vương quyền của ngươi sẽ tồn tại mãi mãi trước mặt Ta; ngai vàng của ngươi sẽ vững bền mãi mãi”.
Trình thuật ngắn gọn nhưng cho thấy Thánh Ý Thiên Chúa đã tiền định. Ở đây chúng ta hiểu về Đức Thánh Giuse, một người đầy quyền thế nhưng không thích dùng quyền đó. Thật vậy, ngài tự hạ như hạt muối hòa tan vào mọi thứ, đến nỗi không còn ai nhận ra muối. Ngài không nói nhưng hành động cụ thể. Thánh Teresa Ávila (Teresa Sánchez de Cepeda y Ahumada, 1515-1582), Tiến sĩ Giáo hội, quả quyết: “Không có điều gì tôi xin với Đức Thánh Giuse mà không được. Nếu không tin tôi nói, bạn hãy thử mà xem!”.
Đức tin của Đức Thánh Giuse quá lớn, đến nỗi ngài chìm đắm trong Dòng Thác Thương Xót nên không còn biết nói gì nữa, chỉ biết xưng tụng: “Tình thương Chúa, đời đời con ca tụng, qua muôn ngàn thế hệ miệng con rao giảng lòng thành tín của Ngài. Vâng con nói: Tình thương ấy được xây dựng tới thiên thu, lòng thành tín Chúa được thiết lập trên trời” (Tv 89:2-3). Mọi điều đã ứng nghiệm như xưa Thiên Chúa tuyên phán: “Ta đã giao ước với người Ta tuyển chọn, đã thề cùng Đa-vít, nghĩa bộc Ta, rằng: Dòng dõi ngươi, Ta thiết lập cho đến ngàn đời, ngai vàng ngươi, Ta xây dựng qua muôn thế hệ” (Tv 89:4-5).
Thánh Phaolô nói: “Không phải chiếu theo Lề Luật mà Thiên Chúa đã hứa cho ông Áp-ra-ham và dòng dõi ông được thế gian làm gia nghiệp, nhưng ông được lời hứa đó vì đã trở nên công chính nhờ lòng tin” (Rm 4:13). Vì tin mà Tổ phụ Áp-ra-ham được công chính hóa. Đức Thánh Giuse cũng vì tin mà được công chính hóa. Đó là hệ quả tất yếu theo lời hứa của Thiên Chúa.
Thánh Phaolô cho biết thêm: “Vì tin mà người ta được thừa hưởng lời Thiên Chúa hứa; như thế lời hứa là ân huệ Thiên Chúa ban không, và có giá trị cho toàn thể dòng dõi ông Áp-ra-ham, nghĩa là không phải chỉ cho những ai giữ Lề Luật, mà còn cho những ai có lòng tin như ông. Ông là tổ phụ chúng ta hết thảy, như có lời chép: Ta đã đặt ngươi làm tổ phụ nhiều dân tộc. Ông là tổ phụ chúng ta trước mặt Thiên Chúa, Đấng ông tin tưởng, Đấng làm cho kẻ chết được sống và khiến những gì không có hoá có. Mặc dầu không còn gì để trông cậy, ông vẫn trông cậy và vững tin, do đó ông đã trở thành tổ phụ nhiều dân tộc, như lời Thiên Chúa phán: Dòng dõi ngươi sẽ đông đảo như thế” (Rm 4:16-18). Lời giao ước của Thiên Chúa là tặng phẩm hoàn toàn miễn phí, nhưng lại hiệu quả và ích lợi cho những ai thực sự tin tưởng.
Đức tin của Tổ phụ Áp-ra-ham vô cùng vĩ đại: Sẵn sàng ra đi theo lệnh Chúa truyền, và cũng không ngại hạ sát đứa con trai duy nhất của mình làm hy lễ dâng Thiên Chúa. Dù khó khăn cỡ nào, có lúc như tuyệt vọng, nhưng Tổ phụ Áp-ra-ham vẫn tín trung: “Ông Áp-ra-ham đã chẳng mất niềm tin, chẳng chút nghi ngờ lời Thiên Chúa hứa; trái lại, nhờ niềm tin, ông đã nên vững mạnh và tôn vinh Thiên Chúa, vì ông hoàn toàn xác tín rằng: điều gì Thiên Chúa đã hứa thì Người cũng có đủ quyền năng thực hiện. Bởi thế, ông được kể là người công chính” (Rm 4:20-22).
Dù “muộn màng” cũng xin mượn lời Thánh Vịnh để chúc mừng Tổ phụ Áp-ra-ham và Đức Thánh Giuse: “Phúc thay người ở trong thánh điện, họ luôn luôn được hát mừng Ngài” (Tv 84:5). Ước gì chúng ta cũng mau trưởng thành tâm linh để khả dĩ được công chính hóa, nhất là trong Mùa Thương Khó này, vì đây là cơ hội ngàn vàng!
Trình thuật Mt 1:16. 18-21. 24a, Thánh sử Mát-thêu kể: Gia-cóp sinh Giuse, chồng của bà Maria, bà là mẹ Đức Giêsu cũng gọi là Đấng Kitô. Sau đây là gốc tích Đức Giêsu Kitô: bà Maria, mẹ Người, đã thành hôn với ông Giuse. Nhưng trước khi hai ông bà về chung sống, bà đã có thai do quyền năng Chúa Thánh Thần. Ông Giuse, chồng bà, là người công chính và không muốn tố giác bà, nên mới định tâm bỏ bà cách kín đáo. Ông đang toan tính như vậy, thì kìa sứ thần Chúa hiện đến báo mộng: “Này ông Giuse, con cháu Đa-vít, đừng ngại đón bà Maria vợ ông về, vì người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần. Bà sẽ sinh con trai và ông phải đặt tên cho con trẻ là Giêsu, vì chính Người sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ”.
Chuyện kể ngắn gọn, nhưng chúng ta thấy trong đó là một hành trình dài đằng đẵng, đầy gian khó, hẳn là Đức Thánh Giuse bị giằng co dữ dằn lắm. Chả thế mà “Chàng định ngấm ngầm bỏ đi khi thấy Nàng bụng to”. Chết chắc! Thời đó bị ném đá cho chết đấy. Đau thí mồ! Ý định “bỏ của chạy lấy người” cũng là lẽ thường của con người, thế nhưng sứ thần cấp báo cho ngài biết rằng chuyện không đơn giản như vậy, vì đó là “quyền phép của Chúa Thánh Thần” í mà. Chi mà nhát gan rứa hỉ? Chắc là Đức Thánh Giuse lúc ấy… gãi đầu. Ngại ghê!
Và rồi khi tỉnh giấc, biết rõ “hai năm rõ mười”, Đức Thánh Giuse liền làm y như sứ thần Chúa dạy và vui vẻ “đưa nàng về dinh”. Chả có vấn đề gì ráo trọi. Thế là an tâm và vô tư. Và Đức Thánh Giuse tiếp tục hành nghề thợ mộc để sinh sống, chuẩn bị cho mái ấm tương lai. Hay quá chừng luôn!
Lạy Thiên Chúa toàn năng, xin cảm tạ Ngài luôn quan phòng và tiền định mọi điều, dù có những lúc chúng con cảm thấy trái ý. Chúng con chân thành xin lỗi Ngài. Xin biến đổi chúng con, giúp chúng con biết noi gương thầm lặng của Đức Thánh Giuse, biết quên mình mà dấn thân sống tích cực vì tuân phục Thánh Ý Chúa và hết lòng vì tha nhân. Xin Đức Thánh Giuse đồng hành với chúng con và luôn cầu giúp nguyện thay. Chúng con cầu xin nhân Danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Thiên Chúa Cứu Độ của chúng con. Amen.

 

19/03-68: NHỮNG NẺO ĐƯỜNG KHÔNG BAO GIỜ NGHĨ TỚI

Lm. Giuse Ngô Mạnh Điệp
 

Đấy là những nẻo đường trong đời của Giu-se … Đấy là những nẻo đường trong đời của mỗi con người …19/03-68

Đấy là những nẻo đường trong đời của Giu-se …
Đấy là những nẻo đường trong đời của mỗi con người …
Cái anh chàng thanh niên làng quê Nazareth ấy – có lẽ khoảng 17 , 18 tuổi –  có những dự định cho riêng mình …
Những dự định của anh ta “ ngẫu nhiên ” lại ăn khớp với dự định của cô bạn gái Maria – có lẽ khoảng 14 , 15 tuổi …
Và dự định của cả đôi bên lại không giống những bạn bè đồng trang đồng lứa ở thời đó: thời mà Dân Chúa mong đợi đến độ khát khao sự xuất hiện của Vị Vua Cứu Thế như lời hứa trong Kinh Thánh và âm thầm nhưng mãnh liệt không kém là nỗi ước mơ thầm kín được có Đấng Cứu Thế trong nhà mình , trong gia đình mình … Con làm vua thì phụ mẫu đương nhiên là vinh vang lắm rồi …
Vậy là “ ngẫu nhiên ”  này đã nối kết  với “ ngẫu nhiên” kia để  rồi  những dự định riêng tư trở thành một quyết định chung: yêu nhau và sẽ là bạn của nhau mãi mãi …
Thế nhưng Thiên Chúa lại thích cái “ ngẫu nhiên ” khác đời  và khác  người của cả hai …
Cái thích của Thiên Chúa  thì không phải là thích tính cách “ khác đời và khác người ” của dự định , nhưng là thích thú nhìn thấy tình trạng “ nguyên thủy” của  giây phút đầu tiên ngay sau tạo dựng khi tất cả còn vô cùng trong sáng , vô cùng pha lê , vô cùng thánh thiện , bởi vì như vừa xuất từ lò Tình Yêu…Thiên Chúa nhìn thấy điều ấy nơi dự định … và Người tận dụng ngay những “ngẫu nhiên” của cả đôi bên …
Những “ ngẫu nhiên” … làm nên NHỮNG NẺO  ĐƯỜNG KHÔNG BAO  GIỜ  NGHĨ TỚI…
NHỮNG  NẺO  ĐƯỜNG  KHÔNG  BAO  GIỜ  NGHĨ TỚI trong cuộc đời  của Giu-se…
NHỮNG NẺO  ĐƯỜNG  KHÔNG  BAO  GIỜ  NGHĨ  TỚI trong cuộc đời một con người…
Nhớ lại lời tâm sự của một vị Giám Mục nọ trong ngày tấn phong và nhận Giáo Phận: Chúa đã giúp con và đặt để trên khắp các ngã ba đường đời của con những bàn tay trợ lực … Con đi tới đâu thì đều có những bàn tay đưa ra nắm lấy tay con … Một cách khác để diễn tả những “ ngẫu nhiên” trong một cuộc đời … mà – chỉ khi nhìn lại thật kỹ – mới thấy những “ ngẫu nhiên”  ấy nằm trong  “ quan phòng”  … Mà “ quan phòng”  thì không còn là  “ ngẫu nhiên”  nữa , nhưng là  “ trong kế hoạch ” … Chỉ có điều  “ kế hoạch”  đây là “ kế hoạch”  của  Thượng Trí được thể hiện qua những “ ngẫu nhiên” nơi thụ sinh , và , với thụ sinh thì là “ ngẫu nhiên” , nhưng nơi Thượng Trí thì là  “ quan phòng”  …
Truyền thông Hàn Quốc  vừa qua  mới tường thuật về   cuộc đấu cờ vây đầu trong ba , bốn trận gì đó  giữa phần mềm “trí tuệ nhân tạo” máy tính AlphaGo của Google và kỳ thủ người Hàn Lee Se-dol diễn ra tại khách sạn Four Season ở Seoul … Lee Se-dol đã thua trong trận đấu đầu tiên  …
Mình hoàn  toàn mù tịt  về cờ vây …
Mình không biết gì nhiều về máy tính , ngoài chuyện gõ và gửi e-mail …
Thế nhưng có một chuyện vui vẫn hay được kể: ấy là có một cụ sở thích cờ tướng nhưng không được hay lắm …Đến chơi với cụ thì phải dè chừng nếu muốn được cùng ăn trưa …Năm ván thì thắng hai thua ba …Đặc biệt là ván cuối trước giờ ăn thì người thắng phải là cụ … Bữa trưa sẽ rất vui vẻ và hoành tráng …
Nhà hưu cũng có hai tay biết chơi cờ tướng: một tay khá thì còn trẻ và một tay tàm tạm đã chạm bát tuần … Cả hai chơi với nhau một thời gian thì xếp bàn: lý do tay trẻ , khá hơn , liên tục thắng và vị bát tuần liên tục thua …Giả như tay nọ nhường tay kia , thấy rõ con đường chiếu của mình nhưng vẫn lơ mơ , loạng choạng vài ba nước để “ được”  thua … thì cuộc cờ có lẽ dài lâu và vui thú …
Suy ngĩ một chút về cuộc đấu cờ vây trên đây – dĩ nhiên chỉ là suy nghĩ của một lão già thất tuần ngốc nghếch về máy tính và kỹ thuật máy tính – nhưng chắc chắn một điều: máy tính là do con người và thông minh của máy tính là kết quả óc thông mình của con người …Chép phần mềm “trí tuệ nhân tạo” thì đương nhiên là DeepMind phải chép cả một “ kho”  những thế cờ của các kỳ thủ thế giới … Vấn đề là làm sao để “ bộ óc nhân tạo” tung ra được thế cờ cần thiết đứng trước thế cờ của đối tượng con người … Đấy là chuyện của cảm ứng điện tử qua những những làn sóng điện tử của óc , của mắt , của môi , thậm chí của cả hơi thở …Cho nên chuyện đương đầu giữa một bộ óc chứa cả kho thế cờ có sẵn và bộ óc con người thì …
Suy nghĩ lẩn thẩn và nói mò nói mẫm vậy thôi …Tuy nhiên một sự thật là: bộ óc máy móc của một tập thể những bộ óc con người có thể làm được những điều lạ lùng trong thế giới của con người , và , nếu tập thể con người tốt lành thì những việc lạ lùng hướng đến sự thiện , còn , nếu tập thể con người không tốt , những việc lạ lùng sẽ gây hại …Hình như đấy cũng là nỗi sợ của nhân loại …đứng trước tốc độ phát triển thần kỳ của máy tính …Có lẽ người ta không sợ máy tính nhưng người ta sợ tham vọng bá chủ của con người … Và thứ tham vọng này thì có thật và ở mọi thời …
Gì thì gì chứ tự tạo những thế cờ lơ mơ, loạng choạng để có được bữa trưa hoành tráng và vui vẻ, có được những cuộc cờ thân hữu lâu dài … thì  “ trí tuệ nhân  tạo”  không thể linh hoạt được đâu…Lúc ấy nó là thế cờ phối hợp của cả bộ óc và con tim: điều mà “ trí tuệ nhân tạo” chưa làm được … Chưa làm được hay không biết có làm được không …
Nhưng Đấng là Thượng Trí thì Người làm được tất cả …
Những “ ngẫu nhiên”  của một đời người phải chăng cũng là những thế cờ sống biến hóa khôn lường …
Thiên Chúa vốn là “ chuyên gia” trong việc tận dụng những “ ngẫu nhiên”  trong thế giới con người  để hoàn thành chương trình của Người: một chương trình phần mềm được viết bằng những con người có tư duy và có hành động và có trái tim  , phần mềm sẽ phân định thắng / thua trong cuộc cờ đời mà những người chơi bó tay , không thể xoay sở gì ở giây phút tận chung: vòng vây kết thúc …
Xin tạ ơn Cha về những nẻo đường không bao giờ nghĩ tới nơi cuộc đời thánh Giuse …
Xin cám ơn Cha về những nẻo đường không bao giờ nghĩ tới nơi cuộc đời mỗi chúng con …

 

19/03-69: THÁNH GIUSE LÀ GƯƠNG MẪU CHO CÁC GIA TRƯỞNG

Lm. Anthony Trung Thành
 

Hôm nay, cùng với Giáo hội chúng ta mừng trọng thể lễ kính Thánh Giuse, bạn trăm năm Đức 19/03-69

Hôm nay, cùng với Giáo hội chúng ta mừng trọng thể lễ kính Thánh Giuse, bạn trăm năm Đức Trinh Nữ Maria. Ngài là bổn mạng Giáo Hội Việt Nam, đồng thời cũng là bổn mạng nhiều tập thể và cá nhân khác, đặc biệt là của giới gia trưởng trong giáo họ chúng ta. Chúng ta xin Ngài bầu cử cho Giáo hội Việt Nam, cho mỗi người chúng ta, đồng thời đây cũng là dịp để các gia trưởng suy niệm các nhân đức của Ngài để noi gương bắt chước.
Thật vậy, Thánh Giuse là người công chính, Ngài luôn luôn tuân theo thánh ý Chúa. Khi Mẹ Maria mang thai, Thánh Giuse không hiểu bào thai trong bụng Mẹ do đâu. Theo luật Do Thái, Ngài có quyền tố cáo Mẹ. Nhưng thay vì tố cáo, Ngài định âm thầm bỏ đi. Đang khi tính toán như vậy, thì trong giấc chiêm bao, sứ thần bảo Ngài: “Này ông Giu-se, con cháu Đa-vít, đừng ngại đón bà Ma-ri-a vợ ông về, vì người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần. Bà sẽ sinh con trai và ông phải đặt tên cho con trẻ là Giê-su, vì chính Người sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ”(Mt 1, 20-21). Khi tỉnh dậy, Thánh Giuse hiểu được ý Chúa, nên đã mau mắn đón nhận Mẹ về nhà mình. Thế là mọi nghi vấn trong lòng của Thánh Nhân lâu nay đã được giải toả. Chắc chắn Mẹ Maria vui lắm. Vui vì người bạn đời đã hiểu được những gì mà Mẹ không tiện nói ra.  Vui vì từ đây Mẹ có một chỗ dựa vững chắc và đáng tin cậy. Con Thiên Chúa sẽ có một người cha bảo vệ chở che.
Thế là cuộc sống của gia đình Thánh Gia được bắt đầu. Cũng như bao gia đình khác, gia đình Thánh Gia chăm chỉ lao động, giữ các luật lệ đạo đời. Thánh Gia cũng gặp nhiều niềm vui và chắc chắn không thể tránh khỏi những nỗi buồn. Nhưng nhờ sự khôn ngoan và tài đức của người cha, nên gia đình đã vượt qua tất cả.
Cuộc sống đang bình yên thì Sứ thần báo mộng cho Thánh Giuse biết, Hài Nhi đang bị Hêrôđê lùng bắt. Thánh Giuse đã vội vã đưa Hài Nhi và Mẹ Ngài trốn sang Ai Cập(x. Mt 2,14). Đường xa hiểm trở, cuộc sống mờ mịt không biết đến ngày mai ở nơi đất khách quê người. Chúng ta hình dung một đôi vợ chồng trẻ với một đứa con thơ phải trốn chạy vì một một thế lực hùng mạnh đang tìm cách khử trừ, sẽ thấy được sự vất vả hy sinh của Thánh Giuse như thế nào. Nhưng vì muốn bảo vệ Hài Nhi, Thánh Nhân đã bất chấp tất cả. Hình ảnh Đức Mẹ và Hài Nhi ngồi trên lưng lừa, Thánh Giuse đi bộ dắt lừa là hình ảnh đầy tinh thần hy sinh và sự quan tâm của một người gia trưởng đối với vợ con.
Sau một thời gian vất vả sống nơi đất khách quê người, cuộc sống bắt đầu tạm ổn. Bổng dưng, Thiên Thần lại báo mộng cho Giuse đưa Mẹ Con trở về. Thánh Giuse chổi dậy, sẵn sàng đem Hài Nhi và Mẹ Maria về quê quán là Israel (x. Mt 2,21).
Khi trẻ Giêsu lên 12 tuổi, cả gia đình trẩy hội lên đền Giêrusalem mừng lễ Vượt Qua. Xong kỳ lễ, hai ông bà trở về, còn trẻ Giêsu ở lại Giêrusalem mà hai ông bà không hay biết. Ông bà cứ tưởng là cậu về chung với đoàn lữ hành, nên sau một ngày đường, mới đi tìm kiếm giữa đám bà con và người quen thuộc. Không thấy con đâu, hai ông bà trở lại Giêrusalem mà tìm. Sau ba ngày, hai ông bà mới tìm thấy con trong Đền Thờ (x. Lc 2,41-46). Trẻ Giêsu lạc mất, Thánh Giuse và Mẹ Maria chia nhau đi tìm, là thể hiện sự quan tâm lo lắng của các Ngài đối với con cái.
Ngày hôm nay có nhiều bậc gia trưởng vẫn để con cái mình đi lạc mất nhưng không đi tìm. Trẻ Giêsu lạc mất trong Đền Thờ, “Đang ngồi giữa các thầy dạy, vừa nghe họ, vừa đặt câu hỏi”, tức là đang làm việc của Cha Ngài như chính Ngài đã nói: “Cha mẹ không biết là con có bổn phận ở nhà Cha của con sao?” (Lc 2,49). Còn rất nhiều con em của chúng ta ngày hôm nay không phải lạc mất trong Đền Thờ, mà lạc mất ở quán bar, quán net, khách sạn, bãi biển, những nơi ăn chơi trác táng…Thậm chí chúng đang sống trong gia đình với cha mẹ, nhưng hằng ngày chúng làm gì, bạn bè chúng là ai mà cha mẹ cũng chẳng hay biết. 
Sau biến cố tìm lại được trẻ Giêsu trong đền thờ, Phúc Âm không nói gì về mối liên hệ giữa Thánh Giuse và Chúa Giêsu. Nhưng nhờ vào Tin mừng của Thánh Luca, chúng ta đoán được sự quan tâm hướng dẫn của Thánh Giuse đối với Chúa Giêsu như thế nào. Thánh Luca diễn tả: “Con trẻ dần dần đã lớn lên đầy khôn ngoan và ân sủng, đẹp lòng Chúa và được người ta thương mến” (Lc 2,52).
Con trẻ của chúng ta ngày hôm nay cũng cần được lớn lên trong sự khôn ngoan và ân sủng, đẹp lòng Chúa và được mọi người thương mến. Vì vậy, cần sự quan tâm giáo dục của các bậc cha mẹ. Giáo dục về mọi mặt, nhất là về đức tin và nhân bản. Giáo dục phải bắt đầu từ khi con cái còn thơ bé. Người Đức có câu “Đừng nên bứng cây già đem trồng chỗ khác”. Thật phù hợp với quan niệm và cũng là chân lý ngàn đời của người Á Đông chúng ta: “Uốn cây từ lúc còn non, dạy con từ thuở con còn ấu thơ”. Bởi vì, cây non mới dễ uốn, cũng như trẻ thơ mới dễ dạy.
Công đồng Vatican II cho biết tầm quan trọng của việc giáo dục con cái khi nói: “Cùng với lúc lãnh nhận sứ mệnh cộng tác tạo dựng với Thiên Chúa, cha mẹ đương nhiên lãnh nhận trách nhiệm giáo dục con cái, nhất là về phương diện tôn giáo” (x. GS 48). Tại sao vậy ? Vì đứa con mà cha mẹ sinh ra là một nhân vị, có quyền sinh trưởng cả về thể xác lẫn tinh thần xứng đáng với phẩm vị thiêng liêng của con người. Khi cha mẹ đem con đến nhà thờ để được cha xứ rửa tội, là như khai trương máng thông ơn thánh vào tâm hồn trẻ. Con mới bập bẹ tập nói thì dạy cho nó gọi tên cha, tên Chúa, dạy cho chúng biết đọc Kinh Lạy Cha, Kinh Kính Mừng. Dạy cho chúng nhận biết Chúa qua các hình ảnh mặt trời, mặt trăng và muôn vàn tinh tú. Từ đó, theo từng lứa tuổi, cha mẹ phải lo cho con cái lãnh nhận các Bí tích: Giải tội, Thánh Thể, Thêm Sức…Cha mẹ phải cộng tác với cha xứ, với thầy cô giáo lý viên để giúp con cái học giáo lý đầy đủ. Trọng trách của cha mẹ thật lớn lao: Cha mẹ luôn là nhà giáo dục đầu tiên và chính yếu không ai thay thế được. Bỏ bê con cái là trọng tội trước mặt Thiên Chúa. Cha ông ta đã nói:
Nuôi con chẳng dạy chẳng răn,
Thà rằng nuôi lợn mà ăn lấy lòng.
Có nhiều phương pháp để giáo dục con cái, nhưng hai yếu tố chủ đạo là tình thương và gương sáng. Chính cha mẹ có nhiệm vụ tạo cho gia đình một bầu khí thấm nhuần tình yêu thương. Phải bộc lộ được tình mẫu tử và phụ tử với con cái, là mực thức hướng dẫn mỗi bước vào đời của con cái. Khi trẻ chưa đủ lý trí để đón nhận những lời dạy bảo của cha mẹ, thì chúng dùng con tim để đón nhận những ánh mắt và những cử chỉ đầy yêu thương của cha mẹ. Vì thế, lời dạy bảo của cha mẹ luôn phải đầy tình yêu thương và rất cần sự âu yếm và ngọt ngào:
Con ơi, muốn nên thân người,
Lắng tai nghe lấy những lời mẹ cha.
Để con cái nghe lời thì cha mẹ phải làm gương sáng. Gia đình là một môi trường của tình thương, công bằng và công lý vì “Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng”. Làm sao con cái vâng lời cha mẹ, khi thấy cha mẹ nói một đàng làm một nẻo: Dạy con cái sống thật thà, nhưng cha mẹ lại gian dối; dạy con cái yêu thương, nhưng cha mẹ lại ghen ghét nhau và căm thù người khác; dạy con cái làm việc bác ái, nhưng cha mẹ lại không bao giờ giúp đỡ ai; dạy con cái thảo hiếu với mình, nhưng cha mẹ lại đối xử tệ với ông bà; dạy con cái xưng tội, rước lễ, nhưng cha mẹ lại bỏ Mùa Phục sinh; dạy con cái đi lễ đi nhà thờ, nhưng cha mẹ lại ngồi xem phim không muốn đến nhà thờ.
Nhìn vào các gia đình hôm nay, chúng ta thấy có nhiều gia trưởng biết chăm lo cho con cái về mọi mặt, nhưng vẫn không thiếu những gia trưởng sống vô trách nhiệm, không quan tâm giáo dục con cái, không làm gương sáng cho con cái. Thậm chí, lời nói và hành động của họ lại làm cớ cho con cái vấp phạm. Vì thế, một số giới trẻ vẫn bị những “Hêrôđê thời đại” như cờ bạc, xì ke, ma tuý, và các trào lưu xấu lùng bắt và giết chết. Vậy, nhân ngày lễ hôm nay, mỗi người chúng ta hãy cầu nguyện cho các gia trưởng luôn biết nhìn lên Thánh Giuse để noi gương bắt chước các nhân đức của Ngài. Đồng thời, xin Thánh Nhân bầu cử để các gia trưởng luôn biết chu toàn bổn phận làm chồng làm cha. Nhờ đó, tất cả gia đình chúng ta luôn được đầm ấm và hạnh phúc. Amen.

 

19/03-70: NIỀM TIN CỦA THÁNH GIUSE

 MỘT NIỀM TIN KHÔNG TÍNH TOÁN
 

Thánh Giuse, cha nuôi của Đức Giêsu là một nhân vật đặc biệt trong sứ mạng Thiên Sai của Đấng: 19/03-70

Thánh Giuse, cha nuôi của Đức Giêsu là một nhân vật đặc biệt trong sứ mạng Thiên Sai của Đấng Cứu Thế. Kinh Thánh không nhắc nhiều đến Ngài. Nếu như Tin Mừng còn ghi lại một vài câu nói của Mẹ Maria, thì tuyệt nhiên hoàn toàn thinh lặng về những lời phát biểu của thánh Giuse. Nhưng chúng ta biết được một chi tiết rất quan trọng trong Mt 1,19: thánh nhân là người công chính. Tức là một người hết mực tin tưởng nơi Chúa và tuân giữ, thi hành mọi điều thánh ý Thiên Chúa bày tỏ.
Ngay giữa lúc được thiên thần hiện đến trong giấc mộng để báo tin về việc Mẹ Maria cưu mang Ngôi Hai Thiên Chúa, thánh Giuse xem chừng cũng không nói một lời nào. Tuy nhiên, tất cả những gì Thiên Chúa muốn nơi Ngài, Ngài đều thực hiện một cách mau chóng và hoàn trọn. So sánh một chút với ơn gọi và sứ mạng của một số nhân vật trong Kinh Thánh, chúng ta có thể nhận xét rằng: niềm tin của thánh Giuse là một niềm tin không tính toán.
Với tổ phụ Abraham, mặc dù được gọi là tổ phụ của những ai tin, bởi niềm tin tuyệt đối vào Thiên Chúa, nhưng Thiên Chúa vẫn luôn phải nhắc đi nhắc lại lời hứa sẽ trở thành tổ phụ một dân đông đảo như sao trên bầu trời, như cát ngoài bãi biển (Dn 3,36) và không ngừng bày tỏ lời chúc phúc ấy ra trong cuộc sống thường nhật nơi gia đình tổ phụ.
Với Môsê, người tôi trung đã được Chúa sử dụng để dẫn đưa dân của Người từ Ai Cập trở về, Thiên Chúa cũng phải “vất vả” để thuyết phục ông. Ngay từ cuộc thần hiện trên núi Khorep trong bụi gai bốc cháy cho đến khi đưa dân về gần đất hứa, biết bao phen ông đã trách móc Thiên Chúa hay tự trách mình, biết bao lần Thiên Chúa đã phải “tạm ứng trước” lời hứa của mình bằng các phép lạ đi kèm và bằng cả vật bảo đảm là cây gậy thần. Sau cùng thì Môsê mới chấp nhận ngoan ngoãn tuân theo ý Chúa.
Với các ngôn sứ, ý muốn của Thiên Chúa không phải lúc nào cũng được thi hành mau chóng và hoàn trọn. Có vị đã “trả treo” với Chúa và có vị còn cả gan “chống lại” ý Người. Ngôn sứ Giêrêmia chẳng hạn, ý muốn của Thiên Chúa ngay từ ban đầu đã không được hăng hái đón nhận. Từ việc từ chối khéo: “Ôi, lạy Đức Chúa, con đây còn quá trẻ, con chẳng biết ăn nói” cho đến buông xuôi, chán nản: “Tôi sẽ không nghĩ đến Người, cũng chẳng nhân danh Người mà nói nữa” . Trường hợp ngôn sứ Giôna, ông luôn tìm cách “tránh nhan Đức Chúa” và làm ngược lại ý muốn của Người. Người sai ông đi Ninivê thì ông lại đáp thuyền đi Tác-sít, Người không giáng phạt dân như lời ông tuyên sấm thì ông bực tức bỏ ra ngoài thành. Để rồi, cuối cùng, bằng tình thương hải hà của mình, Chúa đã chinh phục được ông.
Với Phêrô, người môn đệ thân tín của Đức Giêsu, cũng không ít lần ta thấy ông yếu kém lòng tin nơi thầy mình, hay cản bước trên hành trình lên Giêrusalem của thầy, và tệ hơn nữa là đã chối thầy cách công khai. Để rồi sau lễ ngũ tuần, sau cái chết bi thảm của thầy mình, ông mới thực sự trở lại và tin vào Đức Giêsu Kitô, là thầy mình và là Thiên Chúa.
Còn đối với thánh Giuse, chúng ta không được chứng kiến nhiều ý định của Thiên Chúa nơi cuộc đời Ngài, nhưng nơi các biến cố chỉ được tỏ bày qua giấc mộng, chúng ta thấy chân dung một người tin không tính toán, so đo.
Đang ngủ, thánh Giuse được lệnh nhấp nhận Đức Maria, Ngài thức dậy và Tin Mừng bảo rằng Ngài đã đón Maria về nhà của mình . Rồi khi Chúa Giêsu mới được sinh ra, cũng lại ban đêm thánh nhân nhận được lệnh phải đem Đức Chúa và Mẹ Maria trốn sang Ai cập, thế là đang đêm Ngài cất bước lên đường . Rồi đang yên ổn ở Ai cập, thánh Giuse lại được báo mộng. Ngài cũng lại thức dậy và lại lên đường . Cứ như thế, cuộc đời của thánh Giuse chỉ biết làm mà không cần biết đến lý do. Ngài chỉ biết làm mà không cần biết hậu quả sẽ ra sao. Ngài chỉ biết làm mà không cần ai biết tới. Tất cả là vì niềm tin nơi Thiên Chúa.
Nhìn lại đời sống đạo của các tín hữu ngày hôm nay, chúng ta sẽ dễ dàng nhận ra một điều: những gì chúng ta nói với Chúa chỉ là những đòi hỏi, yêu sách theo ý chúng ta hơn là phục vụ theo ý muốn của Chúa. Chúng ta đang tính toán quá nhiều đối với Chúa trong niềm tin của mình. Chúng ta hãy học nơi thánh cả Giuse, lắng nghe tiếng Chúa, tìm ra thánh ý Chúa và chỉ biết im lặng thi hành như một người đầy tớ trung thành, thì mới mong sẽ có ngày được hợp đoàn với các thánh trên quê trời.

Hvđm (Học viện Đa Minh)

 

19/03-71: Thánh Giuse khó khăn – Lm. Giuse Phạm Bá Lãm RW

Vị thánh quê ở Assisi được mệnh danh là thánh Phanxicô khó khăn, tại sao ông thánh ở Nagiarét lại: 19/03-71

Vị thánh quê ở Assisi được mệnh danh là thánh Phanxicô khó khăn, tại sao ông thánh ở Nagiarét lại không được danh hiệu ấy? Kinh cầu đã xác định “Ông thánh Giuse yêu chuộng sự khó khăn”. Hoá ra khi nhận làm bạn với Đức Maria và làm cha nuôi Chúa Giêsu, ngài đã tiên thiên cam nhận cái số phận lận đận hẩm hiu ấy. Chàng trai Giuse thuộc dạng “Nơi đâu cần thanh niên có, nơi đâu khó có thanh niên”. Tất cả vì sự an toàn của gia đình Nagiarét.

Thánh Giuse là người cha pháp lý, thực chất chỉ là cha nuôi của Chúa Giêsu: có phải vì đó mà mất giá chăng? Để hiểu được dưỡng phụ hay cha nuôi cao quý như thế nào, chúng ta hãy nghe câu chuyện liên quan đến nước Đức và Việt Nam. Ông Uwe Rosler người Đức vào cuối năm 1973 đã đến Cô nhi viện của các sơ Dòng Chúa Quan Phòng Portieux tại Sóc Trăng, nhận nuôi một trẻ em mồ côi Việt Nam, đã được sơ Marie Marthe Đỗ Thị Suốn chăm sóc trong 9 tháng (sinh ngày 24.02.1973 tại Khánh Hưng, Sóc Trăng). Ông đã đưa cháu về Đức dưỡng nuôi như con ruột và đặt tên là Philipp Rosler. Điều kỳ diệu đã đến: 36 năm sau cậu trở thành Bộ trưởng Y tế (tháng 10/2009), rồi Phó Thủ tướng nước Đức (13.05.2011). Ông Uwe Rosler nghiễm nhiên được làm bố của Bộ trưởng và làm cha của Phó Thủ tướng. Khoảnh khắc cảm động được ghi lại: ông Uwe và cậu Philipp lúc đó 5 tuổi cùng soi gương chung với nhau: “Hãy nhìn con, rồi nhìn ba – con với ba khác nhau. Nhưng dù cho điều gì xảy ra hay người ta nói cái gì thì ba vẫn là ba của con”!

Thánh Giuse còn vinh dự hơn nhiều, vì được làm cha Đấng Cứu Thế, dù ai nghĩ sao nhưng vẫn được bé Giêsu gọi: Abba! Cha ơi! Người ta nói “cha sinh mẹ đẻ”, nên cha ruột hay cha nuôi, chẳng có cha nào biết đẻ, mà mỗi người nhận phần việc của mình thật hoàn hảo. Người ta có thể chứng minh điều đó qua một giai thoại: hai vợ chồng không có con, nhận nuôi một trẻ sơ sinh nặng 3 ký, chăm sóc như con ruột. Hơn một năm sau cháu lớn lên và cân nặng 10 ký. Lúc đó người cha ẵm lấy đứa con và nói với vợ: trước đây là 3 ký của huyết nhục, còn đây là 7 ký của tình thương. Chẳng biết bên nào hơn bên nào? Câu chuyện nhỏ ấy muốn nói: công dưỡng dục có giá trị lớn lao, chẳng kém gì công sinh thành.

Theo như dấu vết của Khăn liệm thành Torino, Chúa Giêsu cao 1m78 và có lẽ nặng 73 ký. Vâng, 70 ký tình thương của thánh Giuse không phải là nhỏ: vì nó đủ cho Chúa Giêsu sức khoẻ để đi giảng đạo suốt 3 năm, đủ lực để vác thập giá lên đồi Golgotha và dù tàn lực vẫn kêu lên một tiếng lớn rồi mới tắt thở (Mt 27,50; Mc 16,27).

Cha nào con nấy: Chúa Giêsu chịu khổ nạn, thì cũng giống cha Giuse khổ thân suốt đời, vì “đã mang cái nghiệp vào thân”. Một cuộc đời vô thường như lời thánh Phaolô trong thư Corintô (1Cr 7,29): “Thưa anh em, tôi xin nói với anh em điều này: thời gian chẳng còn bao lâu. Vậy từ nay, những người có vợ hãy sống như không có; ai khóc lóc, hãy làm như không khóc; ai vui mừng, như chẳng mừng vui; kẻ hưởng dùng của cải đời này, hãy làm như chẳng hưởng - vì bộ mặt thế gian này đang biến đi”. Thánh Giuse đã cam chịu thiệt thòi như thế đó: không hưởng gì, có chăng là hưởng dương! Dung mạo của ngài cũng bị bóp méo: các hoạ sĩ thường vẽ các thánh trẻ trung đẹp đẽ, còn thánh Giuse tuổi đôi mươi mà mang hình dạng một lão gia bên người vợ trẻ đẹp, như bố với con! Và bao thiệt thòi khác: tình duyên không giống ai, không tự quyết đời mình, lận đận như người bôn tẩu, bóng mờ và im tiếng trong gia đình. Đúng như nhận định của nhân gian:

“Đi khắp thế gian không ai tốt bằng mẹ
Gánh nặng cuộc đời không ai khổ bằng cha”.

Với thánh Giuse, gánh và ách đã biến thành êm ái nhẹ nhàng nhờ tình yêu nhiệm mầu. Có ai được lặng nghe tiếng nói dịu êm của Mẹ Maria và trẻ Giêsu mỗi ngày? Có ai được thưởng món ăn mẹ hiền Maria dọn cho? Có ai được bồng ẵm hài nhi Giêsu, được làm ngựa cho bé Giêsu cưỡi? Có ai được phó linh hồn và chết lành trong vòng tay của Chúa Giêsu và Mẹ Maria?

Thiên Chúa vẫn áp dụng luật bù trừ “Ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên” (Mt 23,12; Lc 14,11 và 18,14): Bác phó mộc thành Nagiarét lên trời được chức Thánh Cả, ở dưới đất được làm Bổn Mạng của Giáo Hội. Thánh Giuse thật xứng đáng: ngài đã “gắn bó và chịu bao gian nan thử thách vì Chúa, nên sẽ được trao Vương Quốc, để được đồng bàn ăn uống với Chúa và ngự toà xét xử mười hai chi tộc Israel” (Lc 22,28-30).

Ngày xưa bên Ai Cập, người ta kêu gọi “Ite ad Joseph”: Hãy đến với Joseph! Với Giáo Hội Việt Nam thì ngược lại: Thánh Giuse hãy đến với Việt Nam! Dẫn chứng sau đây:

Chính ngày lễ thánh Giuse 19.03.1627, giáo sĩ Đắc Lộ bị bão đã dạt tàu vào Cửa Bạng Thanh Hoá, khởi đầu cho công cuộc truyền giáo ở Đàng Ngoài. Nhận ra sự bảo trợ lạ lùng, Công đồng Đàng Ngoài ngày 14.02.1670 đã tôn vinh thánh Giuse làm Bổn Mạng địa phận Đàng Ngoài và đã được ĐGH Clêmentê X châu phê 3 năm sau vào ngày 23.12.1673. Giáo Hội Việt Nam đã được đi trước thời đại, mở đường cho các cuộc tôn vinh khác:

-  Sắc chỉ của ĐGH Innocentê XI ngày 17.08.1678 tuyên nhận Thánh Giuse làm Bổn Mạng các nước truyền giáo Đông Phương.
- Sắc chỉ ĐGH Piô IX ngày 08.12.1870 tôn Thánh Giuse làm Bổn Mạng của Giáo Hội toàn cầu.
- Năm 1889 ĐGH Lêô XIII ra thông điệp Pluries Quamquam chọn tháng 3 kính Thánh Giuse.
- Năm 1955 ĐGH Piô XII đã thánh hoá ngày Quốc tế Lao động 1/5 thành ngày lễ thánh Giuse Thợ.
- Hội nghị thường niên của HĐGMVN tại Hà Nội ngày 06.10.1997 đã tái xác nhận tôn vinh Thánh Giuse làm Bổn Mạng của Giáo hội Công giáo Việt Nam.

Trở lại việc Thánh Giuse làm Bổn Mạng của Giáo Hội toàn cầu có giai thoại như sau. Một hoạ sĩ trình bày một bức tranh mô tả cảnh sống trên thiên đàng. ĐGH Piô IX ngắm nhìn thấy nhân vật nào cũng tuyệt vời: Chúa Ba Ngôi, Đức Mẹ, các thiên thần, các thánh… Bất chợt ngài chau mày hỏi: Thế còn Thánh Giuse ở đâu? – Dạ thưa, được đặt vào góc nhỏ này. ĐGH ra lệnh: Phải đặt Thánh Giuse ngay bên cạnh Đức Mẹ! Sau đó ngài đã ban sắc chỉ 08.12.1870 đặt Thánh Giuse làm Bổn Mạng Giáo Hội hoàn vũ.

Ngày nay cũng vậy: Kinh nguyện Thánh Thể 2-3-4 xướng danh Đức Mẹ, nhưng thánh Giuse ở đâu? Thế là Bộ Phụng tự và Kỷ luật các bí tích đã ra Sắc chỉ ngày 11.05.2013 quyết định phải đọc tên Thánh Giuse ngay sau tên Đức Mẹ trong tất cả các Kinh Nguyện Thánh Thể. Thật xứng đáng là một “cặp đôi hoàn hảo”, sẽ hợp đồng công tác phù giúp con cái Chúa.

Thánh Giuse không những yêu chuộng sự khó khăn, mà còn là quan thầy của kẻ khó khăn. Hơn ai hết con dân đất Việt đang gặp khó khăn gian nan về lãnh địa và lãnh hải. Cần phải có những “Cửa Bạng” để thánh quan thầy vững lái con thuyền đến bến bình an.         

Lm. Giuse Phạm Bá Lãm, Chính xứ Hoà Hưng

 

19/03-72: THÁNH GIUSE MẪU GƯƠNG CHO CÁC NGƯỜI CHA

– Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ
 

Ngày 19 tháng 3, toàn thể Hội Thánh hân hoan mừng kính thánh Giuse, bạn trăm năm của Ðức Trinh 19/03-72

Ngày 19 tháng 3, toàn thể Hội Thánh hân hoan mừng kính thánh Giuse, bạn trăm năm của Ðức Trinh Nữ Maria, cha nuôi Chúa Giêsu, vị quan thầy khả kính dễ mến, dễ thương, là gương tốt lành cho các bậc làm cha làm chủ trong gia đình.
Trong khung cảnh của Mùa Chay Thánh. Giuse, vị thánh vĩ đại được Giáo hội đề cao như là mẫu gương cho người thế noi gương, bắt chước, học đòi. Ngài là mẫu mực sáng láng về cách ăn nết ở trong nhà, là vị gia trưởng thánh thiện, vâng phục, khiêm cung trong gia đình Nagiarét.
Tin mừng gọi thánh Giuse là người công chính. Công chính trước hết có nghĩa là tuân giữ luật Chúa (Rm 4,2; Gl 3,6). Công chính còn được hiểu là nhân hậu, và trắc ẩn (St 12,19; Tv 37,21; Tv 112,4). Đức công chính của thánh Giuse xem ra nổi bật hơn cả. Chẳng thế, Giuse đính hôn với Maria như bao thanh nam nữ tú thời bấy giờ. Theo phong tục Do thái, khi hai người nam nữ đính hôn, trước luật pháp đã thành vợ chồng, nhưng chưa chung sống; một năm sau đính hôn, chồng rước vợ về sống chung. Thời gian đính hôn, muốn bỏ nhau phải ra toà xin ly dị. Nếu vợ ngoại tình, phải bị xử ném đá theo luật.
Thế mà Maria đã có thai trước khi về chung sống. Giuse thật khó xử. Tin mừng viết: “Giuse, chồng bà là người công chính và không muốn tố giác bà, nên định tâm bỏ bà cách kín đáo”. Vì công chính, Giuse không tố cáo Maria, hay làm nhục người mà ông thương mến yêu; ông không muốn Maria bị xử phạt theo luật, nên quyết định âm thầm ra đi. Vì công chính, nên Giuse hành động theo ý Chúa, sau lời giải thích của Thiên thần, Giuse tín thác hoàn toàn, sẵn sàng đón Đức Maria về nhà làm bạn mình và phục vụ với lòng kính trọng, mến yêu.
Vốn là người vâng nghe ý Chúa, Giuse đã sống ơn gọi làm chồng cách trung thành. Vì thế, thánh nhân trở nên người chồng mẫu mực của Đức Maria và người cha tận tụy đối với Chúa Giêsu, như Chân phước Gioan Phaolô II đã nhấn mạnh: “Thánh Giuse, vì yêu thương chăm sóc Mẹ Maria và vui mừng tận tụy giáo dục Ðức Giêsu Kitô, như thế Ngài cũng giữ gìn và bảo vệ nhiệm thể của Ngài là Giáo Hội, mà Ðức Thánh Trinh Nữ là hình ảnh và gương mẫu”  (Trích Tông Huấn Redemptoris Custos, 1).
Nếu như Đức Thánh Cha Phanxicô nói, gia đình nhân loại hôm nay cần đến lòng thương xót và sự tha thứ của Thiên Chúa biết bao. Chúng ta có thể nói mà không sợ sai lầm rằng, các gia đình hôm nay đang rất cần có những người chồng, người cha công chính và có lòng bác ái như thánh cả Giuse.
“Hãy cứu lấy các gia đình hỡi những người cha” là lời kêu gọi của Đức nguyên Giáo hoàng Bênêđitô, ngài tiếp: “Các gia trưởng sẽ bớt bài bạc, bớt những chén rượu, bớt đi những cuộc vui vô bổ, để làm gương sáng cho con cái về lòng tin ; để con cái siêng năng cầu nguyện và đến với Chúa khi nhìn vào cha mẹ của mình…”. Thánh Giuse đã làm điều đó, đem Con Trẻ và Mẹ Người trốn sang Ai Cập, dẫn về thành Nagiaréth vui sống bình an.
“Tình yêu là sứ mạng của chúng ta” là chủ đề của ĐHGĐTG tại Philadelphia năm 2015. Tình yêu là cốt lõi làm nên ý nghĩa cho đời sống gia đình. Nếu Thiên Chúa không yêu thương thì không tạo dựng gia đình, không có mầu nhiệm nhập thể, và không có chết trên Thánh giá. Cũng vậy, không có tình yêu, chẳng ai dại gì mà kết hôn với nhau cho nó nặng nề. Có tình yêu, người ta mới sống với nhau trong tình nghĩa vợ chồng, hy sinh, quên mình để sống cho người khác. Vì Thiên Chúa là Tình Yêu, nên Thiên Chúa gieo mầm tình yêu đó nơi mỗi người chúng ta. Chúa Giêsu đến để trao cho chúng ta sống và biểu lộ tình yêu ấy cho đồng loại.
Yêu là luôn nghĩ tốt, nỗ lực làm tốt, nói tốt, muốn điều tốt nhất cho người mình yêu. Tình yêu là sứ mạng, thì các gia đình Công Giáo phải thay đổi cách nhìn về gia đình, vì hôm nay ly dị quá nhiều, gia đình bị tan nát, gia đình hai người nam, hoặc nữ kết hôn với nhau. Một bức tranh tăm tối, ảm đạm phủ trên gia đình. Giáo hội phải có sứ mạng tình yêu đó, nhóm lên một ngọn lửa nhỏ để gieo niềm và hy vọng trong đời sống gia đình.
Thánh Giuse là người biết nhìn lên, luôn cố gắng đáp lại kế hoạch của Thiên Chúa. Thánh Giuse cũng là người biết nhìn xuống Đức Maria và Chúa Giêsu, đồng thời cố gắng giải thích những hành động của họ cách thiện ý nhất. Nhìn thánh Giuse bồng Chúa Giêsu trên tay, hai cha con nhìn nhau làm chúng ta nhớ tới anh Đinh Văn Manh cõng vợ là Lương Thị Hà “đi khắp thế gian” (phát sóng ngày 9/5 trên VTV3, Đài truyền hình Việt Nam). Hay là ông Lê Xuân Hồng cõng con là Lê Xuân Bách (xã Tiên Kiên, huyện Lâm Thao, Phú Thọ) suốt 20 năm trời đến trường, theo đuổi giấc mơ đỗ Đại học phát sóng trong chương trình Điều ước thứ 7 ngày 24/10 thật là cảm động. Sau những thành công mà hai cha con vất vả đạt được luôn có hình bóng người mẹ động viên, an ủi. 3 con người, ba trái tim giàu tình yêu thương, họ sống bên nhau, nương tựa vào nhau trong khó khăn, hoạn nạn nhưng lại chưa bao giờ kể cho nhau nghe những tâm tình từ đáy lòng. Chưa hết, ngày con nhập trường cũng là ngày ông cùng con lên trường xin làm bảo vệ để tiếp tục cõng con. Người vợ nói rằng, ông Hồng là người đàn ông tuyệt nhất thế gian.
Vợ chồng, hay bố mẹ cõng nhau xem ra ruột thịt, nhưng Báo Dân Trí có đăng em Nguyễn Văn Phong cõng bạn là Lê Xuân Tú (cùng sinh năm 1998, chung lớp 11C5) đến trường suốt 5 năm trời vì thương bạn quá. Tình bạn không vơi, Tốt nghiệp THCS, Tú và Phong lại may mắn thi đậu vào trường THPT Nguyễn Đức Mậu (huyện Quỳnh Lưu, Nghệ An) và được xếp vào học cùng một lớp.
Đó không phải là thực hành sứ mạng tình yêu và lòng bác ái trong gia đình noi gương Chúa Giêsu, Đức Mẹ và Thánh Giuse như Chúa dạy đó hay sao.
Kính xin thánh Giuse từ Trời cao trợ giúp các gia đình chúng ta, đặc biệt là những người cha. Amen.

 

19/03-73: Thánh Giuse, người đi trong đêm tối

Tgm Ngô Quang Kiệt
 

Trong các bức vẽ thánh Giuse, tôi thích nhất bức tranh vẽ Thánh Giuse đưa Đức Mẹ và Chúa Giêsu: 19/03-73

Trong các bức vẽ thánh Giuse, tôi thích nhất bức tranh vẽ Thánh Giuse đưa Đức Mẹ và Chúa Giêsu trốn sang Ai Cập. Bầu trời đen thẫm, một vài tia chớp lóe lên ở cuối chân trời vừa soi đường cho Thánh Giuse, vừa báo hiệu cơn giông bão sắp tới. Đức Maria bồng Chúa Giêsu ngồi trên lưng lừa. Thánh Giuse dắt lừa. Cả người, cả lừa như lẩn vào màn đêm. Bức tranh không chỉ đẹp ở nét vẽ gợi cảm mà còn đẹp về ý nghĩa. Ngắm nhìn bức tranh, tôi thấy hiện lên cả cuộc đời Thánh Giuse, một đời bước đi trong đêm tối.
Thánh Giuse đã đi trong đêm tối đức tin, Ngài đã sống chung với Đức Maria và Chúa Giêsu, những con người của huyền nhiệm. Một người bình thường đã là một thế giới huyền bí. Một con người của huyền nhiệm lại càng sâu xa bí ẩn hơn bội phần. Đi bên những huyền nhiệm cũng như đi trong đêm tối, Thánh Giuse không hiểu gì hết. Không hiểu mà vẫn phải đón nhận. Không hiểu mà vẫn phải tin, phải yêu. Không hiểu mà vẫn phải đồng hành hết suốt cuộc đời. Thánh Giuse giống như một người lính canh, được cấp trên giao cho một chiếc hộp đóng kín. Người lính canh chỉ có nhiệm vụ canh giữ mà không được phép mở ra. Trong hộp có gì? Có thể là một kho tàng quí giá. Nhưng cũng có thể chỉ là một chiếc hộp rỗng không. Không biết, nhưng vẫn phải canh giữ.
Thánh Giuse đã đi trong đêm tối im lặng. Ngài đi trong sự im lặng của Đức Maria người bạn yêu quí. Trước những mầu nhiệm cao cả, Đức Maria đã lặng thinh không nói. Ngài đi trong sự im lặng của Đức Giêsu. Thiên Chúa làm người là một mầu nhiệm ẩn giấu vì Đức Giêsu không hề hé lộ thân phận. Ngài đi trong sự im lặng của Thiên Chúa. Thiên Chúa không bao giờ trực tiếp nói với Ngài. Chỉ có vài lần mà chỉ là những tiếng vọng mơ hồ giữa đêm khuya trong giấc ngủ, vẫn là ngôn ngữ của im lặng. Ngài đi trong im lặng của chính mình. Im lặng đáng sợ nhất là khi phải đối đầu với nguy hiểm, với nghi ngờ, với những vấn đề hệ trọng của đời sống. Im lặng khó hiểu. Khi những gì thân thiết nhất trong đời trở nên bí ẩn, cách xa. Im lặng nguy hiểm. Nó có thể đốn ngã cây cổ thụ, làm chao đảo những niềm tin vững mạnh nhất.
Trong cả 4 Phúc Âm không thấy ghi lại lời nào của Thánh Giuse. Ngài bước đi trong âm thầm lặng lẽ. Thánh Giuse đã đi trong đêm tối lãng quên. Ngài bị lãng quên trong một làng quê nhỏ bé, trong thân phận nghèo hèn của bác thợ mộc. Người ta không bao giờ nhắc đến Ngài. Nếu có nhắc đến cũng chỉ để chê bác ái, dè bĩu, hạ thấp thân phận của Đức Giêsu: "Giêsu con của bác Giuse thợ mộc tầm thường ấy mà. Có làm gì nên chuyện". Ngài bị lãng quên luôn luôn ở phía sau, luôn luôn chìm trong bóng tối.
Phúc Âm kể về Đức Maria, sách Tông đồ Công vụ kể về Đức Maria. Nhưng từ khi Đức Giêsu khôn lớn không ai nói gì về Thánh Giuse nữa. Ngài chìm vào đêm tối quên lãng. Ngài luôn luôn đóng vai phụ, như hình ảnh người dắt lừa đi trong đêm tối.
Thánh Giuse đã đi trong đêm tối thử thách thân phận nghèo hèn. Sống trong im lặng và lãng quên, nhưng những thử thách Ngài phải đương đầu lại rất cam go. Rất hiền lành, nhưng phải đương đầu với Hêrôđê hung hãn. Mình giữ mình chưa xong, lại còn phải che chở cho một hài nhi sơ sinh và một sản phụ yếu ớt. Nhưng những thử thách khốn khó về thể lý, dù cam go thế nào cũng còn chịu được, những thử thách đức tin mới thật là khủng khiếp. Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa ư? Đức Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa ư? Thật khó mà tin được. Sao Con Thiên Chúa quyền uy dường ấy lại bé nhỏ yếu ớt nghèo hèn thế này? Sao Vua Trời vinh hiển lại phải trốn chạy một ông vua trần thế. Các thử thách làm cho đêm tối càng đen hơn, càng dày hơn, càng sâu hơn.
Tuy đêm có đen, tuy chân có mỏi, tuy lòng có xao xuyến nhưng Thánh Giuse vẫn bước đi. Tuy thử thách còn nặng nề nhưng Thánh Giuse vẫn chiến đấu. Cha Teilhard de Chardis nói "Người chiến đấu giống như người bơi lội ngoài biển ban đêm. Ban đêm người bơi lội vùng vẫy làm dao động mặt nước biển có ánh sáng lóe lên chung quanh mình".
Thánh Giuse đã chiến đấu. Những chiến đấu mạnh mẽ cũng làm lóe lên ánh sáng soi bước cho chân Ngài đi.
Đi trong đêm tối đức tin. Ngài có ngọn lửa đức mến soi đường. Đêm đen lắm nhưng Ngài cứ yêu mến Chúa, cứ gắn bó với Chúa và cứ bước đi với Chúa.
Trong đêm tối im lặng, Ngài đốt lên trong tâm hồn ngọn đèn thao thức, lắng nghe đón chờ. Niềm thao thức khiến tâm hồn Ngài nhạy bén như một phần mỏng. Lời Chúa chỉ thoáng nhẹ như làn gió thoảng phím đàn đã rung lên. Ý Chúa chỉ mờ ảo trong giấc mơ Ngài đã đọc được và mau mắn thi hành.
Trong đêm tối lãng quên, Ngài có đèn khiêm nhường dẫn lối. Khiêm nhường chìm vào quên lãng, khiêm nhường phục vụ. Khiêm nhường sâu thẳm. Ngài cũng có tâm tình như thánh Gioan Tẩy Giả: "Ngài phải lớn lên, còn tôi phải nhỏ đi".
Trong đêm tối thử thách, Ngài thắp lên ngọn đèn tin yêu phó thác. Tin vững vàng vào lời Chúa, hoàn toàn phó thác cho Chúa, để Chúa dẫn đường qua đêm đen mù mịt.
Lạy Thánh Giuse, con cũng đang đi trong đêm đen. Xin hãy thắp lên trong con những ngọn đèn của Thánh Cả, soi đường cho con đi đến nơi bình an.

 

19/03-74: BẢO VỆ CÔNG TRÌNH CỦA THIÊN CHÚA 

Thứ Năm, ngày 20 tháng 3 năm 2014
 

Từ tạo thiên lập địa Thiên Chúa có chương trình tốt đẹp cho thế giới và đặc biệt cho con người: 19/03-74

Từ tạo thiên lập địa Thiên Chúa có chương trình tốt đẹp cho thế giới và đặc biệt cho con người. Thiên Chúa sáng tạo mọi sự và thấy hài lòng vì mọi sự tốt đẹp. Nhưng chẳng bao lâu ma quỉ gieo sự xấu vào thế giới. Con người hư hỏng vì nghe lời ma quỉ chống lại Thiên Chúa. Vì thế lâm vào cảnh khốn cùng. Nhưng Thiên Chúa không từ bỏ ý định yêu thương nên quyết định sai Con Một xuống cứu độ trần gian. Và Thiên Chúa chọn thánh Giuse làm người bảo vệ Đấng Cứu Thế và bảo vệ công trình của Thiên Chúa. Thánh Giuse đã hoàn thành nhiệm vụ bảo vệ, đưa công trình cứu chuộc của Thiên Chúa đến thành công. 
Ngài bảo vệ chính mình khi sống công chính. Công chính là công bình và chính trực. Chính trực là thẳng ngay. Công bình là của ai trả cho người ấy. Chỉ nhận những gì thuộc về mình. Tin mừng hôm nay xưng tụng thánh Giuse là công chính vì đã không dám nhận Đức Mẹ làm bạn và nhận Chúa Giêsu làm con. Vì thánh nhân biết đây là công trình của Thiên Chúa. Chỉ khi Thiên Chúa truyền ban ngài mới dám lãnh nhận. Từ đó ngài quan tâm bảo vệ Đức Mẹ và Chúa Giêsu. 
Ngài bảo vệ sự sống của Chúa Giêsu và Đức Mẹ. Nếu không có thánh Giuse, Đức Mẹ có thể bị kết án tử hình, bị ném đá theo luật Do thái. Và Chúa Giêsu khó thoát khỏi bàn tay khát máu của Hêrôđê bạo chúa. 
Ngài bảo vệ công trình cứu chuộc khi phát triển sự sống của Chúa Giêsu. Dưới mái nhà đơn sơ Nagiarét, Chúa Giêsu càng khôn lớn càng khỏe mạnh, càng thông minh và càng giầu ân nghĩa trước mặt Thiên Chúa. Để có thể trưởng thành, hoàn thành công cuộc cứu chuộc nhân loại.  
Ngài tiếp tục bảo vệ công trình của Thiên Chúa. Nhiệm vụ của thánh nhân chưa kết thúc. Vì công trình của Thiên Chúa vẫn đang tạo dựng một thế giới tốt đẹp. Nhưng ma quỉ vẫn luôn gieo rắc sự xấu, tàn phá công trình của Thiên Chúa. Vũ trụ bị tàn phá. Thiên nhiên bị tàn phá. Sinh vật bị tàn phá. Nhưng trầm trọng nhất là con người bị tàn phá. Tàn phá từ thể chất đến tinh thần. Nguy hiểm nhất là tàn phá về đạo đức. Con người được Thiên Chúa yêu thương tạo dựng nên giống hình ảnh Thiên Chúa. Nhưng con người đang bị tàn phá đến độ biến dạng không còn phản ánh vinh quang của Thiên Chúa nữa. Đáng sợ nhất khi con người không còn lương tâm, không còn phân biệt được phải-trái, thiện-ác, tốt-xấu. Vì thế hôm nay  chúng ta cần đến sự bảo vệ của thánh Giuse. 
Và chúng ta cần phải noi gương Thánh Cả, tiếp tay với ngài trong công cuộc bảo vệ công trình của Thiên Chúa.
Trước hết là bảo vệ chính mình khỏi ô nhiễm thói đời để sống công chính.Ngày nay người ta dễ dàng nhận những gì không phải của mình. Vì nhận những gì không phải của mình nên người ta sẵn sàng chiếm đoạt của người khác. Từ của cải đến chức quyền. Từ danh dự đến uy tín. Thậm chí chiếm đoạt cả quyền tự do và quyền sống nữa. Trong một bầu khí như thế, cần rất nhiều đời sống công chính. Chỉ nhận những gì của mình. Và trả lại cho tha nhân những gì của họ. 
Không những bảo vệ chính mình, ta còn phải bảo vệ công trình của Thiên Chúa. Thế giới hôm nay bắt đầu ý thức bảo vệ thiên nhiên, bảo vệ môi trường. Nhưng ít có ai bảo vệ con người là trọng tâm của công trình của Thiên Chúa. Trong sứ điệp mùa chay năm 2014 này, Đức Thánh Cha Phanxicô mời gọi chúng ta hãy noi gương Chúa Giêsu, tự trở nên nghèo để anh em được trở nên giầu có. 
Đức Thánh Cha nói thế giới hôm nay còn rất nhiều người nghèo. Tuy nhiên nghèo chưa đáng sợ bằng lầm than khốn khổ. Lầm than khốn khổ là nghèo mà bị bỏ rơi, không được ai quan tâm đoái hoài. Ngài phân biệt ba loại lầm than khốn khổ. Lầm than khốn khổ về vật chất là nghèo mà không được ai quan tâm giúp đỡ, bị bỏ rơi, bị gạt ra ngoài lề xã hội. Lầm than khốn khổ về tinh thần. Là những người bị áp bức, bất công, bị bóc lột, bị chà đạp. Mà cũng bị bỏ rơi, không có ai bênh vực, không có ai khích lệ, an ủi. Lầm than khốn khổ về luân lý. Là những người rơi vào tội lỗi, tệ nạn. Nhưng cũng không được ai quan tâm giúp đỡ. 
Ngài kêu gọi chúng ta hãy noi gương Chúa Giêsu, trở nên nghèo khi đến với những anh chị em lầm than khốn khổ. Có lẽ ta đã nghĩ đến giúp người nghèo khổ vật chất. Nhưng ta ít nghĩ đến giúp những người đang bị áp bức bất công, bị bóc lột, bị tước mất những quyền cơ bản của con người như quyền được sống, quyền được tự do, tự do tôn giáo, tự do tư tưởng, tự do phát biểu. Và cả những người vì bênh vực quyền lợi chính đáng mà bị tù tội, bị ám hại, và bị mọi người sợ hãi xa tránh. 
Công trình của Thiên Chúa mọi sự đều tốt đẹp. Tất cả nhằm mục đích đem sự sống và hạnh phúc cho con người. Nhưng công trình của Thiên Chúa cần được bảo vệ. Mừng lễ thánh Giuse, ta hãy cầu xin ngài tiếp tục bảo vệ công trình của Thiên Chúa. Và chúng ta hãy tiếp tay với ngài bảo vệ công trình của Thiên Chúa. Bảo vệ vũ trụ. Bảo vệ thiên nhiên. Bảo vệ súc vật. Bảo vệ môi trường sống. Và quan trọng nhất bảo vệ chính sự sống. Bảo vệ con người. Bảo vệ hạnh phúc của con người. Chính khi bảo vệ công trình của Thiên Chúa ta xây dựng một xã hội tốt đẹp. Và đem hạnh phúc cho mọi người. 
Lạy thánh Giuse xin bảo vệ con người, bảo vệ Giáo hội và bảo vệ thế giới. Amen.
Bài giảng Lễ thánh Giuse tại Đan Viện Châu Sơn 19.03.2014.
Đức Tổng Giám Mục Giuse Ngô Quang Kiệt.

 

19/03-75: TRẢ LẠI CHO THIÊN CHÚA

Lễ thánh Giuse 2
2S 7, 4-5a.12-14a.16; Rm 4, 13.16-18.22; Mt1, 16-18.21-24a
Lễ Tạ ơn của Chị Maria Nguyễn thị Hóa
Khấn trọn đời trong Tu hội Điểm Tim (01-03-2014)
 

Chúng ta vừa hát đáp ca: Dòng dõi Người sẽ trường tồn vạn kỷ. Thiên Chúa đã tạo dựng vũ trụ tốt đẹp: 19/03-75

Chúng ta vừa hát đáp ca: Dòng dõi Người sẽ trường tồn vạn kỷ. Thiên Chúa đã tạo dựng vũ trụ tốt đẹp. Con người đã phạm tội làm cho công trình của Thiên Chúa bị hư hại. Nhưng Thiên Chúa không từ bỏ chương trình yêu thương của Người. Người sửa chữa bằng chọn một con người mới để lập nên một dòng dõi mới. Đó là tổ phụ Abraham, người công chính sống với đức tin mãnh liệt. Tin cả khi không còn gì để tin.
Đức tin được thể hiện khi tổ phụ Abraham nghe lời  Thiên Chúa từ bỏ quê hương, ruộng vườn, và người thân, lên đường đến miền đất Chúa hứa. Đức tin càng mãnh liệt hơn khi ngài sát tế con trai duy nhất. Thiên Chúa hứa cho ngài một dòng dõi đông như sao trên trời như cát dưới biển. Vậy mà khi Isaac được 12 tuổi, Chúa  truyền cho ngài sát tế dâng cho Chúa. Ngài vẫn tin tưởng thi hành. Do đó ngài được xưng tụng là người công chính.
Công chính là người sống công bình chính trực. Chính trực là thẳng ngay không gian dối. Công bình là trả cho người khác những gì thuộc về họ. Chỉ nhận và giữ những gì của mình. Trong đời sống trả cho người khác những gì thuộc về họ đã là khó. Nhưng sống công chính trước mặt Thiên Chúa, trả cho Thiên Chúa những gì thuộc về Thiên Chúa còn khó hơn.
Sống công chính trước mặt Thiên Chúa đòi hỏi một đức tin lớn lao. Trả cho Thiên Chúa những gì thuộc về Thiên Chúa là sống đúng thân phận của mình. Thiên Chúa là tất cả. Ta không là gì hết. Thiên Chúa có tất cả. Ta không có gì hết. Thiên Chúa là Đấng Sáng Tạo. Ta là thụ tạo. Ta nhận được tất cả từ nơi Chúa. Vì thế sống công chính là tin nhận Thiên Chúa là chủ đời ta. Là nguồn sự sống của ta. Là nguồn hạnh phúc của ta. Tin nhận như thế ta sẽ không làm gì khác hơn là làm theo ý Thiên Chúa.
Tổ phụ Abraham công chính đã sống theo đức tin, nên đã trở thành tổ phụ của một dân mới. Adam Eva thiếu đức tin vào Chúa nên đã tin lời ma quỉ. Abraham tuyệt đối tin tưởng vào Chúa. Adam Eva thiếu đức tin nên chỉ nhìn thấy những lợi lộc đời này. Abraham đầy đức tin nên sống bằng lời hứa ở đời sau. Adam Eva thiếu đức tin nên gắn bó với mặt đất và những giá trị trần gian. Abraham tràn đầy đức tin nên dứt bỏ những cám dỗ của trần gian, chỉ gắn bó với dòng dõi và đất đai của lời Chúa hứa. Adam Eva chỉ gắn bó với mặt đất mau qua nên dòng dõi họ sinh ra rơi vào kiếp hư vong tàn tạ. Abraham gắn bó với quê hương trên trời nên dòng dõi ông sinh ra sẽ trường tồn vạn kỷ. Muốn chiếm đoạt của Thiên Chúa con người phải hư vong. Trả lại mọi sự cho Thiên Chúa con người mới trường tồn.
Thánh Cả Giuse hôm nay cũng được Tin mừng xưng tụng là người công chính. Và thánh Phaolô so sánh ngài với tổ phụ Abraham. Quả thật thánh cả Giuse có một đức tin lớn lao. Tin cả khi không có gì để tin. Tin rằng Đức Mẹ sinh con mà vẫn đồng trinh. Tin rằng Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa dù sống như loài người. Niềm tin tuyệt đối nên thánh Giuse mau mắn thực hành lời Chúa dậy. Dù lời Chúa nói với ngài chỉ mơ hồ trong giấc ngủ giữa đêm khuya. Dù lời Chúa khiến ngài phải gian nan vất vả. Ngài quả là dòng dõi nhân loại mới sống công chính với đức tin sâu xa.
Đến Chúa Giêsu mới thật là Adam mới sinh ra nhân loại mới. Chúa Giêsu chứng tỏ một đức tin tuyệt đối khi hoàn toàn phó thác cuộc đời dương thế trong tay Chúa Cha. Chúa Giêsu sống công chính khi hoàn toàn vâng phục Chúa Cha trong mọi sự, cho đến nỗi chịu chết trên thánh giá. (x. Phil 6, 2-11). Trong sứ điệp mùa chay năm 2014 này, Đức Thánh Cha Phanxicô đã nêu gương Chúa Giêsu: “Người vốn giầu sang, nhưng đã tự nguyện trở nên nghèo vì anh chị em. Để anh chị em được nhờ cái nghèo của Người, mà trở nên giầu sang” (2Cr 8, 9). Và Đức Thánh Cha mời gọi chúng ta sống mùa chay bằng noi gương Chúa Giêsu, chia sẻ thân phận nghèo hèn với anh chị em nghèo.
Theo Đức Thánh Cha, nghèo khác với lầm than khốn khổ. Vì lầm than khốn khổ là nghèo mà bị bỏ rơi. Lầm than khốn khổ có 3 loại. Lầm than khốn khổ về vật chất là những người thiếu thốn vật chất nhưng không có thân nhân, không ai quan tâm giúp đõ. Lầm than khốn khổ về tinh thần là những người bị áp bức bất công, bị đàn áp khủng bố, bị bóc lột, bị oan ức, bị chà đạp mà không có ai quan tâm giúp đỡ, động viên.  Lầm than khốn khổ về luân lý là những người tội lỗi, rơi vào tệ nạn xã hội nhưng cũng không có ai quan tâm giúp đõ, đưa họ về con đường ngay chính.
Con người không ai muốn sống nghèo. Người ta luôn muốn chiếm đoạt. Chiếm đoạt của người khác. Và chiếm đoạt cả quyền lợi của Thiên Chúa. Các linh mục tu sĩ là những người muốn noi gương Chúa Giêsu, không chiếm đoạt nhưng trả tất cả về cho Thiên Chúa. Khi sống 3 lời khuyên Phúc âm, các linh mục tu sĩ tự nguyện trở nên nghèo. Nếu người đời tìm mọi cách để có thêm nhiều của cải, linh mục tu sĩ khấn giữ đức khó nghèo, không tìm cách chiếm hữu tài sản, không có tài sản riêng. Nếu người đời hạnh phúc khi có con cháu vây quanh, linh mục tu sĩ khấn giữ độc thân để trở nên nghèo không có con cháu. Nếu người đời phấn đấu để thăng quan tiến chức, chỉ huy người khác, thì linh mục tu sĩ khấn giữ vâng lời, trở nên nghèo về quyền lực, tự đặt mình dưới quyền người khác để vâng lời bề trên.
Chúng ta vui mừng tạ ơn Chúa vì các linh mục tu sĩ trở nên nghèo để ta được trở nên giầu có. Chúng ta đặc biệt tạ ơn Chúa với chị Maria Nguyễn thị Hóa đã khấn trọn đời trong Tu hội Điểm Tim. Tu hội Điểm Tim được thành lập bên Pháp, để làm bạn với nhừng người trẻ nghèo hèn trong xã hội. Những người trẻ lang thang không nhà cửa, không có nghề nghiệp, không có ai quan tâm chăm sóc. Để làm bạn với những người nghèo, thành viên của Tu hội Điểm Tim phải trở nên nghèo. Nghèo vì không có tu phục. Chỉ ăn mặc đơn sơ như những người dân bình thường. Nghèo vì sống giữa người nghèo. Ở trong những mái nhà bình dân, trong những khu phố ổ chuột. Nghèo vì cuộc sống bấp bênh trong những khu phố phức tạp như thế. Khấn trọn đời phục vụ những anh chị em nghèo trong những nơi nghèo nàn như thế là một thách thức lớn, là một can đảm lớn. Khấn như thế là hoàn toàn sống đức tin. Là tin tưởng vào Thiên Chúa. Nghèo như thế để anh chị em được trở nên giầu có. Giầu vì được yêu thương. Giầu vì được kính trọng. Giầu nhất là được làm con Thiên Chúa. Giầu vì cuộc sống phó thác vào Thiên Chúa. Người sống nghèo trong Thiên Chúa không có gì cả, nhưng lại có tất cả. Vì “mọi sự của Cha là của Con”.
Cầu chúc cho chị Maria Nguyễn thị Hóa được trung tín với ơn gọi, sống nghèo như Chúa Giêsu, để thế giới này trở nên giầu có. Xin thánh Giuse Đấng bảo vệ Thiên Chúa, bảo vệ công trình của Thiên Chúa sẽ luôn bảo vệ chị Hóa, người phục vụ công trình của Thiên Chúa.
Lạy Chúa, con xin tạ ơn Chúa vì muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương.
TGM. Gs. Ngô Quang Kiệt
Châu sơn 19-03-2014

 

19/03-76: Những khuôn mặt Giuse

Nghiên cứu khảo xét trong Kinh Thánh về gia phả nguồn gốc gia đình Chúa Giêsu trong ý nghĩa: 19/03-76

Nghiên cứu khảo xét trong Kinh Thánh về gia phả nguồn gốc gia đình Chúa Giêsu trong ý nghĩa thần học, cùng trong liên hệ bản tính loài người, người ta thấy hai Vị Giuse giữ vai trò quan trọng then chốt.
Vị Giuse con Ông Giacop bị anh em bán sang Ai Cập. Ở nơi đó Ông đã làm Tể Tướng và có công cứu dân không chỉ ở Ai Cập, mà còn toàn vùng Trung Đông, trong có có nước Do Thái gia đình Ông thoát khỏi nạn mất mùa đói kém hoành hành.

Giuse con Tổ phụ Giacop và Bà Rahel thời cựu ước hay Giuse Ai Cập

Và Vị Giuse, người bạn đường trăm năm của Đức mẹ Maria, là cha nuôi Chúa Giêsu trên phương diện xã hội ở trần gian.

Giuse người Nazareth thời tân ước.

1. Tên của hai người Giuse là biểu tượng cho sự may mắn hạnh phúc.

Khi sinh thành Giuse Ai Cập, là con Ông Giacop, bà Rahel mẹ của Giuse đã nói: Thiên Chúa ban cho bà thêm người con nữa (St 30, 24.)

Giuse thành Nazareth cũng là người mang hạnh phúc niềm vui đến. Vì Ông giữ vai trò xã hội là cha nuôi dưỡng Chúa Giêsu

2. Hai vị Giuse đều là những vị có những giấc mơ.

Những giấc mơ của Giuse Ai Cập phản ảnh thực tại và là người của điều may mắn: Thiên Chúa ở cùng Giuse và ban cho ông được may mắn hạnh phúc (St 39,2.)

Giuse Ai Cập đi tìm anh em của mình và cứu sống 12 chi tộc Israel, dù vì giấc mơ của Ông mà bị anh em bán sang Ai Cập. ( St 37,16.)

Giuse thành Nazareth cha nuôi Chúa Giêsu theo lời Thiên Thần trong giấc mơ đặt tên cho con trẻ là Giêsu: Con trẻ Giêsu sẽ cứu thoát dân khỏi tội lỗi. (Mt 1,21) và ngài là Thiên Chúa ở cùng chúng ta. ( Mt 1,23)

3. Có những giấc mơ. Nhưng cả hai Giuse đều phải theo đuổi trải qua con đường gian nan chông gai đi sang đất nước Ai Cập. Giuse Ai Cập bị anh em bán cho lái buôn người Ismael sang Ai Cập ( St 37,28-36). Còn Giuse thành Nazareth cha nuôi Chúa Giêsu (Mt 2,13-15) phải đi tỵ nạn sang Ai Cập vì vua Herode tìm lùng bắt các trẻ con mới sinh, trong đó có hài nhi Giêsu.

4. Ý định đen tối trong đời hai Giuse đều được Thiên Chúa biến đổi cứu sang chúc lành.

Anh em Giuse thời Cựu ước bán Giuse sang Ai Cập, khiến Ông phải sống đời lưu vong bơ vơ. Nhưng đó là „ để bảo vệ giữ gìn sự sống, mà Thiên Chúa đã gửi tôi sang đây trước các anh em.(St 45,5.) „ Các anh em đã có ý định đen tối hại tôi, nhưng Thiên Chúa đã biến thành sự tốt lành. (St 50,20.)

Tương tự như vậy, Thiên Thần Chúa trong giấc mơ đã thúc dục Giuse thành Nazareth phải đem hài nhi Giêsu sang Ai Cập, vì vua Herode đang tìm lùng bắt con trẻ. (Mt 2,13.)

Cả hai Giuse phải ra đi trong sự đe dọa bị ám hại. Nhưng Thiên Chúa đã biến đổi sự đe doạ thành cứu rỗi.

5. Giuse thời cựu ước và Giuse thời tân ước đều có tấm lòng tha thứ rộng lượng.

Giuse Ai Cập thời cựu ước khi gặp lại anh em bên Ai Cập đã tha thứ cho họ. Ông không trả thù vì ngày xưa họ đã tìm cách ám hại sau cùng bán ông sang xứ xa lạ. Vì đó ông lâm cảnh bơ vơ mồ côi xa cha mẹ. (St 45,1-5).

Còn Giuse thành Nazareth thời tân ước đau khổ, khi hay tin Maria người bạn đường đã đính hôn đang có thai. Nhưng Ông không muốn để Maria một mình bị nguyền rủa khinh khi (Mt 1,19). Ông đã chấp nhận Maria như Thiên Thần Chúa truyền dạy.

Cả hai Giuse tỏ ra là người có đời sống công chính theo đúng luật lệ của Chúa. Và là người có lòng nhân ái quảng đại.

6. Cả hai Giuse đóng vai trò chiến lược là nhịp cầu nối kết.

Giuse Ai Cập thời cựu ước như nhân vật bản lề của cánh cửa lịch sử thời các Tổ phụ, tổ tiên một bên, và cảnh tượng bi thảm của cuộc giải thoát xuất hành khỏi Ai Cập trở về đất Chúa hứa một bên khác. Vị Giuse này đã mang đến làn gío đổi mới cắt nghĩa tại sao dân Israel có mặt ở Ai Cập.

Còn Giuse thành Nazareth cũng đứng nơi vị trí bản lề giữa lịch sử Israel và sự nối tiếp lạ lùng ngạc nhiên của lịch sử trong cộng đoàn mới thành hình cho dân Do Thái và dân ngoại chung hợp với nhau. Vị Giuse này là bảo chứng về dòng dõi vua David được nối tiếp trong lịch sử dân Do Thái. Vì Ông có nguồn gốc gia phả từ dòng dõi vua David (Mt 1,1.20 2,6). Và như thế Chúa Giêsu cũng là miêu duệ thuộc dòng dõi vua David, người đã thành lập nước Israel.

7. Cả hai Giuse cùng có thời gian sinh sống bên Ai Cập, tuy Giuse thành Nazareth ở ngắn thời gian hơn. Con đường sang sinh sống bên Ai Cập của cả hai không chỉ là sự sống còn của riêng bản thân họ, nhưng còn cho cả gia đình , phải cho sự cứu độ dân Israel và toàn nhân loại.

Giuse Ai Cập cứu đói cho dòng tộc gia đình con Tổ phụ Giacop

Giuse thành Nazareth cứu trẻ Giêsu bị tìm lùng bắt.

8. Cả hai lịch sử đời sống của Giuse đều có vua đóng vai trò chủ chốt. Một bên vua Pharo Ai Cập là hình nảnh tích cực tốt đẹp với Giuse Ai cập. Vua đã tin tưởng phong cho Giuse làm quan Tể Tướng về phương diện chính trị cai trị nước Ai Cập.

Đối diện là Vua Herode là một hình ảnh tiêu cực đen tối. Vua vì ghen tức, lo sợ cho uy quyền ngai vàng của mình, mà truy lùng bắt giết trẻ Giêsu cùng các trẻ con cùng thời tuổi với trẻ Giêsu. Và vị vua trẻ Pharo của Ai Cập thời hậu Giuse Ai cập cũng là một hình ảnh tiêu cực đen tối. Chính vị vua trẻ Pharao này đã kỳ thị hành hạ người Israel sinh sống bên Ai Cập. Và do đó dẫn đến lịch sử xuất hành của dân Do Thái từ Ai Cập trở về quê hương Do Thái.

9. Giuse thành Nazareth thời tân ước theo lời Thiên Thần truyền đã đặt tên cho con trẻ sinh bởi mẹ Maria là Giesu. Tên Giêsu có sự phù hợp với tên Josua. Theo văn hóa Do Thái tiếng Hylạp không phải là sự tương tự giống nhau, nhưng là cùng một tên.

Theo bản dịch Kinh Thánh Septuaginta - bản Bảy mươi - tên Josua quan trọng. Tên Iesous và sách Josua cũng gọi phù hợp như vậy. Josua trong lịch sử của Giuse Ai Cập đóng vai trò lớn. Josua là người đã chôn cất Giuse Ai Cập ở Sichem (Sách Josua 24,32), sau khi dân Israel đã đưa hài cốt Giuse từ Ai Cập trở về quê hương Israel.

Ngôi mộ Giuse Ai Cập hiện ở vùng Samaria bên dưới ngọn núi Garizim, gần giếng nước Giacop, nơi Chúa Giêsu gặp gỡ nói chuyện với một chị phụ nữ người Samaria. Giếng nước Giacop hiện nằm trong đền thờ Chính Thống giáo, được gìn giữ bảo quản cẩn thận. Khách hành hương có thể lấy nước từ dưới lòng giếng lên theo cách trục kéo cuốn giây kiểu cổ nhà quê, nhưng lại đượm nét bình dân thi vị thân mật.

Giacop con của Tổ phụ Isaak được Thiên Chúa đổi tên thành Israel (St 33,29). 12 con Ông Israel , trong đó có Giuse Ai Cập, là 12 chi tộc của dân tộc Israel

Và như vậy Giuse và Giosua có mối liên hệ tương quan với nhau chặt chẽ.

10. Sau khi các anh em bán Giuse cho người lái buôn Ismael sang Ai Cập, họ lấy chiếc áo chùng dài tay của Giuse nhúng thấm máu con dê rồi đem về cho Tổ phụ Giacop và nói là Giuse đã bi thú dữ ăn thịt. Họ chỉ còn tìm thấy chiếc áo dính máu của Giuse mang về đây. (St 37, 28-33).

Sau khi Chúa Giêsu bị đóng định trên thập gía, những người lính có nhiệm vụ canh gác nơi đó cũng lấy chiếc áo dài chùng của Chúa Giêsu bắt thăm chia nhau. (Ga 19, 23-24).

Áo của Giuse Ai Cập dính máu chiên dê đã đưa Ông sang sinh sống bên Ai Cập và sau đó cứu dân Ai Cập và gia tộc Giacop khỏi cảnh chết đói.

Áo của Chúa Giêsu con Giuse thành Nazareth thấm dính máu của Người trên con đường vác thập gía bị hành hạ và đã chết trên thập gía. Nhưng Ngài không dừng ở lại mãi trong sự chết. Sau ba ngày Ngài đã sống lại từ cõi chết mang lại sự sống mới cho toàn thể con người khỏi hình phạt tội lỗi.

Như thế có thể suy ra rằng đó là những chiếc áo cứu độ.

12. Ngoài hai vị Giuse trên, còn một nhân vật Giuse nữa không chỉ trong Kinh Thánh, mà còn liên hệ mật thiết với Chúa Giêsu vào giờ phút cuối đời của Chúa Giêsu: Giuse thành Arimathia.

Theo Kinh thánh thuật lại, nhân vật Giuse này là một môn đệ của Chúa Giêsu, nhưng không lộ diện ra mặt công khai, vì sợ người Do Thái. Ông là người Do Thái, một người gầu có, là một trong những Thành Viên của thượng Hội Đồng Do Thái. Nhưng cũng là người có đời sống tốt lành công chính cùng rộng lượng.

Vị Giuse thành Aromathia là người tin Chúa Giêsu là con Thiên Chúa. Và từ xa xa theo dõi vụ án xử Chúa Giêsu, Ông không bằng lòng với phán quyết của Thượng Hội đồng đòi giết Chúa Giêsu.

Không làm sao hơn được, Ông âm thầm chuẩn bị cho cuộc mai táng Chúa Giêsu. Ông đã cho đào sẵn một huyệt mộ gần nơi Chúa Giêsu bị đóng đinh. Khi hay biết Chúa Giesu đã chết, Ông can đảm mạnh dạn đến xin quan Philato cho được tháo xác Chúa Giesu xuống, và tẩm liệm trong tấm khăn vải mới, rồi cùng với Ông Nicodemo xức dầu thơm mai táng thân xác Chúa Giêsu trong huyệt mộ còn mới sẵn có của chính ông (Mt 27,57-60).

Giuse Ai Cập thời cựu ước là người có đời sống công công chính đã có công cứu dân Ai Cập và gia đình dòng tộc Israel khỏi cảnh chết đói.

Giuse Ai cập làm quan chức vị lớn, nhưng đã mang niềm hy vọng cho đời sống ấm no của dân chúng toàn vùng, toàn nước.

Phải chăng đây là hình ảnh báo trước ơn cứu độ sau này vào thời Tân ước Chúa Giêsu mang đến cho con người?

Giuse thành Nazareth là cha nuôi Chúa Giêsu là người có đời sống công chính âm thầm lặng lẽ. Vị Giuse này không để lại một mảy may lời nào. Nhưng Ông lắng nghe những gì Thiên Chúa nói qua ThiênThần, và cứ thế âm thầm làm cho Chúa Giêsu, Đấng cứu thế cứu toàn nhân loại khỏi hình phạt tội lỗi.

Giuse thành Nazareth góp phần tích cực cho niềm hy vọng, cho chương trình ơn cứu độ của Thiên Chúa nơi mẹ Maria, nơi nhân loại được thể hiện qua việc Ông đảm nhận vai trò là cha nuôi Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa, trên trần gian. Ông đến cùng làm việc âm thầm. Và Ông ra đi cũng lặng lẽ. Nhưng trên trời và dưới trần gian thời nào cũng nhắc nhớ đến Ông với lòng cung kính cảm phục biết ơn.

Giuse thành Nazareth đã đóng góp thiết yếu vào việc Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa nhập thể làm người trên trần gian mang ơn cứu độ cho nhân loại

Giuse thành Arimathia là người vị vọng chức quyền trong xã hội, cũng là người có đời sống công chính, âm thầm lặng lẽ, và có lòng kính sợ Thiên Chúa. Ông đã ra tay tháo gỡ xác Chúa Giêsu từ trên thập gía xuống và an táng với hết lòng thành kính, như lễ an táng một vị Vua, trong huyệt mộ mới của chính Ông đã có sẵn.

Phải chăng Ông Giuse Arimathia đã tẩm liệm Chúa Giesu trong tấm khăn vải mới, rồi mai táng Chúa Giêsu trong ngôi mộ mới là dấu hiệu nói lên, sự sống mới của Chúa Giêu sống lại bừng lên mang lại niềm hy vọng mới cho con người cũng được cứu rỗi?

Lễ kính Thánh Giuse, 19.03.2015
Lm.Daminh Nguyễn ngọc Long

 

19/03-77: BÀI 1: LÝ LỊCH CỦA THÁNH YUSE

Lý lịch Thánh Yuse: Tên Ngài là Yuse, có nghĩa là “Xin Chúa ban thêm nữa”, tên Yuse thường: 19/03-77

1/ Lý lịch Thánh Yuse: Tên Ngài là Yuse, có nghĩa là “Xin Chúa ban thêm nữa”, tên Yuse thường gặp trong Kinh Thánh: Cựu Ước có 7 người, Tân Ước là  8 người, thân phụ Ngài là Yacob. Trong gia phả Chúa Yesus, Mattheu có viết: Yacob sinh ra Yuse là chồng của bà Maria, Thánh Yuse thuộc dòng dõi Đa-vít, nơi sinh trưởng: Nazaret miền Galilê, tại đây Yuse kết hôn với Maria và nhận mẹ Maria về nhà mình.
2/ Do ý Thiên Chúa quan phòng nên Yuse trở thành phu quân của Đức Maria: Kinh Thánh không nói Yuse lập gia đình vào độ tuổi nào nhưng theo ý kiến chung thì lúc đó Ngài còn trẻ chứ không phải là một ông già râu tóc bạc phơ, lúc đó ông ở độ tuổi khoảng dưới 30 vì khi Thánh Yuse chết thì Chúa Yesus chưa đi giảng đạo, Thánh Yuse chết ở tuổi  khoảng 60 /
3/ Thánh Yuse không phải là cha thật của Chúa Yesus: Điều này đã được xác định trong Kinh Tin Kính, hàm chứa ý nghĩa Đức Mẹ thụ thai bởi phép Chúa Thánh Thần nên Mẹ vẫn còn đồng trinh. Thánh Yuse là cha nuôi vì ông lo cho Chúa con đời sống vật chất.
4/ Như vậy trong gia đình Nazaret, Thánh Yuse có đầy đủ uy tín của một vị gia trưởng: Có đủ quyền lợi và bổn phận với Đức Mẹ và Chúa Yesus như một người chồng, một người cha trong gia đình.
5/Trong những tháng năm sống ở trần gian, Thánh Yuse đã sống rất thánh thiện. Kinh Thánh đã gọi Ngài là Đấng công chính, theo Kinh Thánh Cựu Ước thì công chính là chu toàn mọi lề luật không có lỗi phạm gì và tràn đầy nhân đức.
6/ Thánh Yuse thực hành nhiều nhân đức tới mức anh hùng: Ngài rất mau mắn chu toàn Thánh Ý Chúa khi biết Thánh ý Ngài, Ngài tin theo Thiên Thần trong một lần bị nan giải khó hiểu => Đó là việc Mẹ Maria thụ thai bởi phép Chúa Thánh Thần.
7/ Thánh Yuse đã đối xử rất bác ái, tế nhị với Đức Mẹ: Ngài đã dùng đôi tay lao động để lo liệu mọi nhu cầu trong gia đình, Ngài đã cùng cam cộng khổ với Mẹ Maria tại Bê-lem, Ai-cập, cũng như khổ đau khi lạc mất Chúa ở đền thờ.
8/ Các giáo phụ suy diễn sự thánh thiện của Thánh Yuse trên lĩnh vực siêu nhiên nhờ 2 nguồn lực: Yuse càng gần nguồn thánh thiện, người càng thánh thiện, Chúa Yesus là nguồn ân sủng, Thánh Yuse lại là cha nuôi thanh khiết của Chúa Yesus, Ngài gần nguồn thánh thiện hơn mọi người nên được thông phần thánh thiện nhiều hơn.
9/ Thiên Chúa ban ơn sủng cho mỗi người tỷ lệ tương xứng với sứ mạng và nhiệm vụ mà người đó phải chu toàn. Chúa Yesus tràn đầy ơn phúc, Mẹ Maria lại là Mẹ Thiên Chúa, Mẹ lại dư đầy ơn sủng hơn các Thiên Thần và các Thánh.
10/ Thánh Yuse cũng được ơn phúc hơn mọi người vì Ngài phải chu toàn một sứ mạng đặc biệt: Là bạn đời để gìn giữ Đức Mẹ, là Cha khiết trinh của Chúa Yesus, Ngài phải lo lắng vật chất và bảo vệ Chúa Yesus khỏi mọi hiểm nguy.
11/ Chúng ta có thể kết luận: Thánh Yuse thánh thiện hơn các Thánh, chỉ kém có Đức Mẹ. Vì thế khi ở trên trời, Thánh Yuse cũng vinh hiển hơn các Thánh khác. Trong giáo hội, phụng vụ cũng dành cho Ngài đứng tiếp sau Đức Mẹ trước cả các Thánh Tông đồ => Vì thế Thánh Yuse phải được tôn kính khác hơn với các Thánh khác.
12/ Từ một đời sống thánh thiện như thế nên Thánh Yuse đã trở nên gương mẫu cho tất cả chúng ta về mọi phương diện, Ngài có quá nhiều nhơn đức, như khi chúng ta thấy giáo hội tuyên xưng trong Kinh cầu, nhân đức nào của Ngài cũng ở mức cao độ.
13/ Tóm lại: Thánh Yuse đã thực hiện trọn vẹn Lời Chúa Yesus khuyên dạy “Các con hãy nên hoàn thiện như Cha các con ở trên trời….”, và đây cũng là điều mà Thiên Chúa đòi hỏi tất cả những ai đang tin theo Chúa.
14/ Chúng ta đừng kể Thánh Yuse: Chỉ nhìn lên các Thánh nam nữ, những người đi trước chúng ta, họ thuộc đủ mọi thành phần mọi tầng lớp, cùng tuổi hay khác tuổi. Họ cũng ở trong môi trường sống như chúng ta, các Ngài đã nên Thánh , đã đạt được đến mức trọn lành mà Thiên Chúa đòi hỏi.
15/ Chúng ta đừng nên hiểu lầm các Thánh mới sinh ra đã là Thánh: Không! Các Ngài khi sinh ra cũng mang vết tích tội tổ tông trong huyết quản, cũng có xu hướng ngang trái, gai góc trong tính nết, cũng có đầy tình dục nơi cõi lòng.
16/ Nết xét theo khía cạnh loài người, khía cạnh tự nhiên: Các vị đó cũng có rất nhiều yếu tố như chúng ta, các Ngài cũng có thể trở thành những kẻ tiểu nhân, đầu trộm đuôi cướp, man trá ,đê hèn ,xấu xa, nghĩa là các vị Thánh cũng chẳng được ưu thế nào hơn chúng ta trong việc tự thánh hóa bản thân.
17/ Nói theo ngôn ngữ Tin Mừng thì có những vị cũng chỉ nhận được một nén hay hai nén bạc làm vốn mà thôi. Có khi còn được ít hơn chúng ta.
18/ Các Ngài nên Thánh nhờ phấn đấu, nhờ cố gắng thực hiện những lời khuyên Phúc Âm. Các Ngài đã không nhượng bộ những khuynh hướng xấu, các Ngài luôn có thái độ cương quyết và các Ngài biết mình yếu đuối nên cầu nguyện liên lỉ , thiết tha.
19/ Bí quyết thành công của các Thánh là cái Ngài biết lãnh nhận ơn Chúa vô điều kiện. Cho nên các Ngài sẵn sàng để ơn Chúa hoán cải, ngăn cản tội lỗi, nâng đỡ khuyến khích /các Ngài đã nhiệt tình cộng tác với ơn Chúa để xây dựng đời mình.
20/ Có 2 yếu tố quan trọng để nên Thánh là: phấn đấu tối đa sức lực cá nhân, và nhận lãnh sự trợ giúp của ơn Thánh Chúa.
21/ Thánh Yuse là vị Thánh Cả đã cộng tác vào chương trình cứu độ của Thiên Chúa. Ngài sống rất thánh thiện, đã chu toàn mọi bổn phận Chúa trao phó. Vì thế Thánh Yuse là gương mẫu rất tốt lành thánh thiện, mọi người chúng ta cần noi theo.
22/ Xin Chúa: Qua lời cầu bầu của Thánh Yuse giúp cho tất cả chúng con biết cộng tác với ơn Chúa để hoàn thành sứ mạng Ki-tô hữu ở đời này trong bậc sống giáo dân, làm chồng làm cha trong gia đình, để chúng con xứng đáng là một gia trưởng như Cha Thánh Yuse. Amen.

 

19/03-78: SUY NIỆM VỀ THÁNH YUSE

Thánh Yuse, một con người im lặng, kín tiếng: Kinh Thánh không kể lại lời nói nào của Thánh Yuse. 19/03-78s

1/ Thánh Yuse, một con người im lặng, kín tiếng: Kinh Thánh không kể lại lời nói nào của Thánh Yuse. Đây là điều chúng ta cần lưu ý, thế giới hôm nay quá ồn ào với các loại âm thanh, người ta ai cũng muốn nói nhiều, nói to nói mạnh mồm, muốn dùng lời nói lấn át kẻ khác. Thích quảng cáo , thích tuyên bố nóng bỏng, nhưng ai nói nhiều thì càng sai lỗi nhiều và có thể vấp phạm bất kỳ lúc nào. Đó là tội nói xấu, nói hành người khác, nói nhiều thì dễ nói bậy nói sai ,nói dai, nói ẩu, khiến cho tình cảm bị sứt mẻ. Người xưa có câu: “Nhất ngôn xuất khẩu, tứ mã nan truy/ Lời nói chẳng mất tiền mua, lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau”.
2/ Chúng ta hãy học cùng Thánh Yuse bài học yên lặng. Hãy biết yên lặng trong những giây phút căng thẳng, sóng gió. Bởi vì nếu biết yên lặng đúng lúc ta có thể ngăn chặn được 90% nguy cơ đỗ vỡ đáng tiếc, cho nên “Yên lặng là vàng”, là thái độ khôn ngoan nhất của con người, là phương thuốc  có thể chữa lành mọi tội lỗi xấu xa.
3/ Thánh Yuse, con người cần cù lao động: Kinh Thánh cũng không kể lại chi tiết về việc này nhưng chắc rằng Thánh Yuse phải là một bác thợ mộc siêng năng và nổi tiếng. Khi Chúa Yesus bắt đầu cuộc rao giảng công khai, người cùng quê với Chúa đã quá ngạc nhiên trước sự khôn ngoan của Chúa Yesu khi họ tự hỏi “Ngài chẳng phải là con bác thợ mộc đó sao?”, Thánh Yuse đã dùng đôi bàn tay lao động để phục vụ cho Chúa Yesus và Đức Mẹ.
4/ Với Thế giới chúng ta hôm nay, lao động là ngôn từ được sử dụng và được nghe nói đến nhiều nhất.Chứng tỏ rằng: Lao động có một chỗ đứng thật quan trọng trong đời sống con người, con người sinh ra để lao động, con chim được sinh ra để bay, nhờ đó con người có thể biến đổi bộ mặt trái đất đem lại cho đời một ý nghĩa đáng sống như muối làm mặn cho đời.
5/ Cần nói ra cụ thể hơn: Nhờ làm việc mà chúng ta có miếng cơm manh áo, hạnh phúc ấm no. Chúng ta cảm thấy nhột khi nghe lời Thánh Phaolo nói “Ai không làm thì đừng có ăn”.
6/ Chúng ta cần suy nghĩ về câu chuyện: Con ve và con kiến. Con ve ca hát suốt mùa hè nên đã chết đói về mùa đông, con kiến thì cần cù tích trữ từng hột gạo cho nên dù gió bấc có thổi thì con kiến cũng không sợ túng thiếu.
7/ Sự nghèo túng đi gõ cửa nhà những con người siêng năng làm việc, nhưng nó không bao giờ dám bước vào. Ca dao Việt Nam có câu:
“Có làm thì mới có ăn, tự dưng ai dễ mang phần đến cho/Tay làm hàm nhai, tay quai miệng trễ”
8/ Với xã hội chúng ta đang sống: Lao động là một cách để chúng ta trả nợ cho đời, cũng là cách chúng ta góp phần xây dựng xã hội. Sống trong xã hội, chúng ta cần nương tựa vào nhau để mà trao đổi, để mà sống.
9/ Chúng ta thường hưởng dùng những thứ do người khác mang lại như xăng dầu, đường sữa, nước mắm, hạt gạo,…do công của người khác. Thì hôm nay khi đến lượt , chúng ta phải đóng góp cho đời bằng những sản phẩm do công sức lao động của chúng ta mang lại.****
10/ Đối với Chúa: Lao động là cách thức chúng ta cộng tác với Ngài trong công cuộc sáng tạo, đúng như lệnh truyền của Ngài với tổ tiên chúng ta: “Hãy làm chủ cá biển chim trời và muôn loài trong vũ trụ”.
11/ Thánh Yuse là con người vâng phục ý Thiên Chúa:  Phúc Âm đã kể lại 3 lần Thiên Thần hiện ra trong giấc mộng để báo cho Thánh cả biết ý định của Thiên Chúa. Và lần nào Thánh cả cũng cuối đầu “Xin vâng” mà không hề có chút ý kiến phản dối. Lần thứ nhất, Thánh cả xin vâng để đón nhận Maria về nhà mình dù trong lòng đang phân vân nghi ngờ, lần thứ hai Thánh cả xin vâng khi đưa hài nhi và mẹ Ngài trốn sang Ai Cập, lần thứ ba Thánh cả xin vâng để trở về Palestine ở Nazaret => Cả 3 lần Thánh Yuse đều vâng lời mau mắn không hỏi tại sao?
12/ Chúng ta thì khác: Chúng ta thường tìm ý mình hơn ý Chúa và mỗi khi gặp phải tai ươn họan nạn chúng ta thường kêu trách, xúc phạm đến Chúa.Vì chúng ta cho rằng: Chúa bất công thiên vị, và luôn cho rằng:vâng lời chỉ là thái độ của kẻ hèn nhác, mất tự do, mất nhân phẩm.
13/ Noi gương Thánh Yuse: Chúng ta hãy sống yên lặng, làm việc và vâng phục Thánh ý Thiên Chúa để chúng ta trở nên những tôi tớ trung thành của Thiên Chúa như Thánh Yuse ngày xưa cũng như ngày hôm nay trên Thiên Đàng.****
Bài viết của: Yuse Luca (ditimchanly.org)

 

19/03-79: Lễ kính thánh Giu-se, Bạn Trăm Năm Đức Ma-ri-a

Này ông Giu-se, con cháu Đa-vít, đừng sợ.  (Mát-thêu 1:20)
 

Thử nghĩ bạn đang đối diện với một quyết định lớn, thí dụ kết hôn hoặc nhận một đứa con nuôi, đi tu, 19/03-79

Thử nghĩ bạn đang đối diện với một quyết định lớn, thí dụ kết hôn hoặc nhận một đứa con nuôi, đi tu, thay đổi nghề nghiệp hoặc di chuyển.  Hay bạn đang vật lộn với một mối quan hệ, thí dụ phải đối xử làm sao với một người bạn hữu có lối sống đi ngược lại giới răn của Chúa.  Bạn làm gì đây?  Phải, bạn sẽ lý giải.  Bạn tìm những lời khuyên:  trong Kinh Thánh, từ giáo huấn của Giáo Hội và từ những người cố vấn kinh nghiệm.  Bạn cầu nguyện xin ơn soi sáng.  Nhiều lắm.  Có lẽ bạn cũng xin những người khác cầu nguyện cho bạn.  Cuối cùng bạn đưa ra một kế hoạch hành động.
          Nhưng nếu như sau khi bạn đã kỹ lưỡng cân nhắc và quyết định, Chúa lại bảo bạn phải thay đổi hoàn toàn thì sao?  Liệu bạn có thể bỏ đi quyết định của bạn không?  Đó chính là cuộc chọn lựa khó khăn mà thánh Giu-se, “người công chính”, đã phải đối diện.
          Kinh Thánh không viết nhiều về thánh Giu-se, nhưng từ “người công chính” đã nói lên thật nhiều về con người của Ngài.  Từ ấy có nghĩa là Ngài đã một lòng tìm kiếm Chúa và thi hành thánh ý Người.  Rõ ràng Ngài đã hướng tất cả cuộc sống vào hai điều răn trọng nhất:  “Hãy yêu mến Đức Chúa là Thiên Chúa ngươi” bằng tất cả con người của Ngài, và “Hãy yêu thương tha nhân như chính mình ngươi” (Đệ Nhị Luật 6:5; Lê-vi 19:18).  Cho nên khi phải đối diện với một tình thế tiến thoái lưỡng nan – chấp nhận một vị hôn thê không hề có gì phải chê trách nhưng lại đã mang thai – thánh Giu-se đã vật lộn với một giải pháp vừa không thích hợp cho Đức Ma-ri-a lại vừa không đúng theo luật Mô-sê.  Cho nên xem ra không còn con đường nào khác ngoài một cuộc ly dị âm thầm.
          Phải can đảm biết mấy khi chọn lựa lại quyết định này và chấp nhận một kế hoạch không lường trước được!  Cho nên không lạ gì khi thấy những lời đầu tiên sứ thần nói với thánh Giu-se là “Đừng sợ”!  Đừng để tâm tới những lời ong tiếng ve về việc Đức Ma-ri-a mang thai.  Hãy chấp nhận sự kiện này, là ông không thể thấu suốt được đường lối của Thiên Chúa.  Đừng lo lắng về công việc quá lớn lao đối với ông.  Thánh Giu-se đã đáp lại với đầy lòng tin.  Ngài đã phó thác tất cả cuộc đời cho việc tiếp nhận Con Một Thiên Chúa đến với nhà mình.  Còn Thiên Chúa là Đấng không khi nào thiếu lòng quảng đại, đã ân thưởng cho Ngài cảm nghiệm được thế nào là biết được Đấng Em-ma-nu-en, “Thiên Chúa ở cùng chúng tôi” (Mát-thêu 1:23).
          Bạn có muốn biết Thiên Chúa ở cùng bạn không?  Vậy bạn hãy theo gương thánh cả Giu-se.  Bạn hãy đặt Chúa lên trên hết và tìm kiếm Người bằng tất cả tâm hồn bạn.  Bạn hãy đem đến cho Người những quyết định và khó khăn của bạn;  hãy lắng nghe sự dẫn dắt của Người.  Rồi bạn đừng sợ!  Chắc chắn Chúa đã ở với thánh Giu-se thế nào, Người cũng ở với bạn như vậy.
          “Lạy Chúa, con có thật nhiều chương trình và ước mong cho cuộc đời mình.  Con đem tất cả đến cho Chúa.  Lạy Chúa, xin cho con thấy đường lối Chúa.  Con sẵn sàng nghe và vâng phục”.

 

19/03-80: THÁNH GIUSE BẠN TRĂM NĂM ĐỨC TRINH NỮ MARIA

 Lm Giuse Nguyễn Hữu An
 

Ngày 19.06.2013, Bộ Phụng tự và Kỷ luật các Bí tích công bố một Sắc lệnh đã được Đức hồng y Bộ 19/03-80

Ngày 19.06.2013, Bộ Phụng tự và Kỷ luật các Bí tích công bố một Sắc lệnh đã được Đức hồng y Bộ trưởng Antonius Cañizares Llovera và Đức Tổng giám mục Thư ký Arturus Roche ký vào ngày lễ Thánh Giuse Thợ 01.05.2013. Sắc lệnh quyết định đưa tên Thánh Giuse vào các Kinh nguyện Thánh Thể II, III và IV, sau tên của Đức Trinh Nữ Maria.
Trước đây, tên Thánh Giuse chỉ được đọc trong Kinh nguyện Thánh Thể I (Lễ quy Rôma).
Sắc lệnh viết: “Qua việc làm cha chăm sóc Chúa Giêsu, Thánh Giuse làng Nazareth, khi được đặt lên trông coi gia đình của Chúa, đã hoàn thành nhiệm vụ đã nhận được nhờ ân sủng. Do gắn bó chặt chẽ với các mầu nhiệm khởi đầu trong chương trình cứu độ của Thiên Chúa, Ngài trở nên mẫu gương về lòng khiêm nhường và nhân ái, những điều làm cho đức tin Kitô giáo có được những phẩm giá cao cả; và thể hiện những nhân đức nhân bản và đơn sơ, cần cho con người trở nên môn đệ tốt lành và đích thực của Chúa Kitô. Nhờ các nhân đức đó, Người Công Chính này, sau khi đã hết sức trìu mến chăm sóc Mẹ Thiên Chúa và vui vẻ tận tình dạy dỗ Chúa Giêsu Kitô, đã trở nên người quản lý kho tàng quý giá của Thiên Chúa Cha và qua các thế hệ được Dân Thiên Chúa không ngừng tôn kính như đấng bảo trợ thân thể mầu nhiệm của Chúa Kitô, nghĩa là Hội Thánh” (Lm. Phêrô Lê Tấn Bảo dịch).
Sắc lệnh ghi nhận rằng các tín hữu trong Hội thánh Công giáo luôn tỏ lòng sùng mộ Thánh Giuse và không ngừng tôn kính Ngài là Bạn rất thanh khiết của Mẹ Thiên Chúa và là Đấng bảo trợ trên trời của Giáo hội hoàn vũ. Vì lý do này mà Chân phước Giáo hoàng Gioan XXIII đã truyền đưa thêm tên Thánh Giuse vào Lễ quy Rôma, sau tên của Mẹ Maria (Thánh bộ Lễ nghi, Sắc lệnh Novis hisce temporibus, 13.11.1962).
Sắc lệnh nhắc lại rằng Đức giáo hoàng Bênêđictô XVI đã nhận được nhiều lời thỉnh cầu đạo đức từ khắp nơi trên thế giới và ngài đã vui lòng chấp thuận, nay lại được Đức giáo hoàng Phanxicô tái xác nhận. Điều này diễn tả sự hiệp thông trọn vẹn với các Thánh, là những người đồng hành với chúng ta trong cuộc lữ hành trần thế và dẫn chúng ta đến với Chúa Kitô để liên kết chúng ta với Người.
Nội dung Sắc lệnh cũng ghi rõ các phần Kinh nguyện Thánh Thể (II, III và IV) bằng tiếng Latinh với tên Thánh Giuse đã được thêm vào, chẳng hạn như  trong Kinh nguyện Thánh Thể II: “ut cum beata Dei Genetrice Virgine Maria, beato Ioseph, eius Sponso, beatis Apostolis”. Ngoài ra còn có thêm phần phụ lục cho các ngôn ngữ Anh, Tây Ban Nha, Ý, Bồ Đào Nha, Pháp, Đức và Ba Lan.Đối với các ngôn ngữ khác, bản dịch sẽ do các Hội đồng Giám mục soạn thảo, theo quy định của luật và được Tòa Thánh phê chuẩn thông qua Bộ Phụng tự (trích: “Phải đọc tên Thánh Giuse trong Kinh Nguyện Thánh Thể II, III và IV”, ‘WHĐ 19.06.2013’).
“Maria đã đính hôn với Giuse” (Mt 1,18). Từ ngày đó, Thánh Giuse đã trở nên Bạn Trăm Năm của Đức Trinh Nữ Maria. Vui buồn sướng khổ, gian truân thử thách, Thánh Giuse đều đã trải qua. Ngài chính là mẫu gương cho anh em Gia trưởng trong đời sống gia đình.
Kể từ khi hai bên nội ngoại làm lễ đính hôn cho Giuse và Maria, ai ai cũng vui mừng, chúc phúc cho đôi hôn nhân lý tưởng. Họ thương nhau không vì trai tài gái sắc, mà thương nhau vì cả hai đều nết na đức hạnh, cùng có một đức tin tinh tuyền từ gia đình đạo đức. Giuse là Người Công Chính. Maria là Đấng Đầy Ơn Phúc. Đó là tổ ấm cao sang nhất trong lịch sử nhân loại. Sau ngày làm lễ đính hôn, chỉ chờ lễ cưới.Maria và Giuse vẫn chỉ biết hướng về tương lai, chuẩn bị cho gia đình mới sắp thiết lập.
Thế rồi điều bất ngờ xảy đến với cuộc tình duyên êm đẹp. Thiên Chúa đã can thiệp vào dự án tương lai của Maria và Giuse. Thiên Chúa muốn cả hai thành Đấng Bậc Đồng Trinh để Ngài trao gửi Con Một dấu yêu của mình. Cả hai trở nên cha mẹ của con trẻ Giêsu về pháp lý và Maria ban tặng bản tính nhân loại cho Đấng Cứu Thế.
Thiên Chúa đi từng bước một. Truyền tin cho Đức Maria rồi truyền tin cho Giuse. Giữa hai biến cố trọng đại là cuộc khủng hoảng đối với Giuse.
Thấy Maria có thai, Giuse phải đau khổ lắm. Người hôn thê đạo hạnh mà ngài rất mực yêu thương lại mang thai trước khi về nhà chồng. Bối rối và khó xử nhưng ngài vẫn tiếp tục tin tưởng Maria trong sạch vẹn tuyền. Không một lời phàn nàn, ca thán, trách móc, Giuse không hề hạch sách hay tra hỏi Maria một lời nào, ngài âm thầm ôm lấy nổi đau riêng mình với một quyết định: “Đào vi thượng sách”. Giuse không còn chọn lựa nào khác: “vì là Người Công Chính và không muốn tố giác bà nên mới định tâm bỏ bà cách kín đáo” (Mt 1,19). Thế rồi, Thiên Thần đã hiện ra với Giuse trong giấc mộng giải thích cho ngài biết: “Người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần” (Mt 1,20); Thai nhi ấy không chỉ là một con người mà còn là Người Con của Thiên Chúa. Ngài là Thiên Chúa bởi Thiên Chúa, được sinh ra, không phải được tạo thành, vì Ngài đã có từ trước muôn thuở. Ngài là Con của Chúa Cha ở trên trời; đã từ trời xuống thế nhập thể trong lòng trinh nữ Maria, và đã làm Người. Và Người Con sẽ sinh ra ấy được Thánh Giuse đặt tên là Giêsu, vì chính Người sẽ cứu Dân của Người khỏi tội. Thiên Thần khuyên Giuse “Chớ sợ rước Maria về nhà mình” (Mt 1,20). Nhận ra Thánh Ý Thiên Chúa “Giuse đã làm như lời Thiên Thần Chúa truyền và ông đã rước bà về” (Mt 1,24).
Thiên Chúa đã đưa Thánh Giuse vào chương trình cứu độ của Ngài. Thánh Giuse đã tích cực góp phần thực hiện chương trình ấy. Ngài được Thiên Chúa chọn, trở thành người cha nuôi của Chúa Giêsu ở trần gian. Vì vai trò làm cha của Chúa Giêsu và làm bạn đời của Mẹ Maria, sống bên cạnh một người nữ trẻ tuổi xinh đẹp là Mẹ Maria, mà theo dự định của Thiên Chúa, sẽ trọn đời đồng trinh, nên các nghệ nhân thường có khuynh hướng hình dung Thánh Giuse như một cụ già. Điều đó không đúng! Thánh Giuse là một thanh niên trẻ trung và đầy sinh lực, có lẽ chỉ lớn hơn Mẹ Maria chừng năm đến bảy tuổi! Nhưng ngài là một người rất nhân đức, được Thiên Chúa chọn để đồng hành với Mẹ Maria đồng trinh trong cuộc đời dâng hiến của Mẹ. Mẹ đã hoàn toàn thuộc về Thiên Chúa, không thuộc về người trần gian (ĐTGM Phaolô Bùi Văn Đọc).
Thánh Giuse còn được sách Tin mừng gọi là “Người Công Chính”. Mà người công chính, theo lời Kinh thánh, là người sống bằng đức tin, hoàn toàn tin tưởng vào Thiên Chúa như tổ phụ Abraham. Người Công Chính, nói đơn giản, là người tốt, ngay thẳng, trung tín. Là tôi tớ trung thành của Thiên Chúa, luôn thực thi trọn vẹn thánh ý của Thiên Chúa. Là con người luôn biết kính trọng và yêu thương tha nhân.
Thánh Giuse là một con người bình thường như mọi người, được Thiên Chúa giao phó thực hiện “những điều cao trọng” trong cuộc đời thường, như làm “cha nuôi của Chúa Giêsu”, làm “bạn trăm năm của Đức Trinh Nữ Maria”. Ngài đã thực hiện đúng như ý muốn của Thiên Chúa trong mọi biến cố. Thiên Chúa bảo ngài cưới Mẹ Maria, đưa Mẹ về nhà mình, đưa Mẹ Maria sắp sinh nở về nguyên quán Bêlem để khai lý lịch, đưa Mẹ và hài nhi Giêsu chạy trốn sang Aicập, sau đó đưa gia đình về Nazarét vùng Galilê, Thánh Giuse luôn xin vâng theo Ý Chúa.
Thánh Giuse mạnh dạn đối diện với các vấn đề, đương đầu với các khó khăn, mà không bao giờ trách móc Thiên Chúa hay quy tội cho người khác. Ngài là một con người “đầy tinh thần trách nhiệm”, một con người nhiều sáng kiến trong bất cứ công việc gì được trao phó. Trước Thánh Ý Thiên Chúa, Giuse vâng phục và chu toàn. Từ Nazarét qua Bêlem, từ Bêlem đi Aicập, từ Aicập về Israel, Chúa bảo ngài đi là ngài đi, bảo ngài về là ngài về, bảo ngài làm thế nào là ngài làm thế ấy, đúng thời gian, đúng địa điểm mà không thắc mắc, không hoài nghi, không cự nự.Tất cả mọi lần Giuse đều thưa như Đức Maria “Này tôi là tôi tớ Chúa, tôi xin vâng như lời Thiên Thần truyền”(Lc1,38).
Để luôn hướng về Ý Chúa, Thánh Giuse đã âm thầm đi sâu vào đời sống nội tâm. Trong nội tâm thinh lặng, ngài lắng nghe Chúa. Ngài hiểu tiếng gọi đó là một tình thương đặc biệt. Ngài trả lời như một giao ước, một gắn bó tín trung bền vững. Chúa gọi và chỉ dẫn ở từng chặng đường, ngài nghe và vâng theo. Cho dù gặp khó khăn trắc trở, ngài luôn vững tin ở Đấng đã gọi mình. Vì thế, nơi Thánh Giuse, con đường sống đạo là con đường tin cậy khiêm cung và tuyệt đối vào Thiên Chúa. Tin với tâm hồn thờ phượng, tạ ơn, với lòng phó thác và nguyện cầu tha thiết.
Ngày nay, Thánh Giuse vẫn đồng hành với chúng ta và che chở chúng ta, như đã đồng hành và che chở Mẹ Maria và Chúa Giêsu. Với kinh nghiệm của mình, ngài xứng đáng là thầy dạy đời sống nội tâm cho mỗi người chúng ta: dạy cho ta biết Chúa Giêsu, gần gũi với Chúa, chia sẻ cuộc đời của Chúa. Ngài giúp ta ý thức mình là người nhà của Chúa, là thành viên của Giáo hội, Gia đình của Thiên Chúa tại trần gian.
Anh em Gia trưởng thân mến,
Thánh Giuse – Bạn Trăm Năm Đức Trinh Nữ là gương sáng khiết tịnh cho anh em. Không cần chờ tới tuổi già mới sống đời thanh tịnh. Sự thanh khiết của đôi bạn Giuse và Maria là do tình yêu. Sức mạnh và sự vui tươi của tuổi trẻ không là ngăn trở cho một tình yêu cao thượng. Khi cưới Mẹ Maria về, Thánh Giuse có một “trái tim trẻ trung” trong một thân xác trẻ trung. Khi được thiên thần báo mộng cho biết mầu nhiệm “Đức Maria là Mẹ Chúa Trời”, người đã sẵn sàng đón nhận Mẹ Maria, đồng hành với Mẹ, chăm sóc Mẹ, mà vẫn tôn trọng sự trinh nguyên của Mẹ. Mẹ Maria trở thành một niềm vui, một hồng ân cho Thánh Giuse.
Anh em là người cha người chồng trong gia đình. Anh em đừng bao giờ coi mình là ông chủ đầy quyền lực trong gia đình, muốn làm gì thì làm. Anh em phải biết tuân theo ý Chúa, phải bình tĩnh, biết quảng đại, hy sinh trong mọi khó khăn của gia đình theo gương Thánh Giuse.
Đứng trước những bối rối, đối diện với nghịch cảnh, gặp những thử thách, Thánh Giuse luôn chia sẻ nỗi lòng với Đức Mẹ, ngài trăn trở những âu lo của Đức Mẹ, ngài chỉ muốn tìm giải pháp ưu việt cho nhất cho gia đình. Anh em gia trưởng cần có lòng tôn kính Thánh Giuse, thường xuyên xin ngài cố vấn cho các hoàn cảnh khó xử của mình. Ngài đã kinh qua tất cả nên ngài hiểu rõ hơn ai hết những nổi niềm của người Gia trưởng. Thánh Cả như một địa chỉ cần thiết, thân quen, anh em cần lui tới chuyện trò với ngài.
Hôn nhân là tổ ấm. Gia đình là chiếc nôi. Con cái đón nhận đời sống thể chất và tinh thần. Mỗi đứa con đều mang hình ảnh Thiên Chúa. Giáo dục để chúng lớn lên trong ơn gọi làm người, ơn gọi làm con Thiên Chúa. Nhiệm vụ giáo dục con cái thật thiêng liêng và cao cả. Thiên Chúa trao cho các Gia trưởng.
Thánh Giuse làm cha. Con của ngài vừa là con người vừa là Con Thiên Chúa – Đấng Cứu Độ. Con cái của anh em được làm con Thiên Chúa. Cho nên nhiệm vụ nuôi nấng dưỡng dục con cái là sứ vụ cao cả và là hồng ân quý giá Thiên Chúa ban cho anh em. Anh em cần phải biết yêu thương và tôn trọng con cái mình. Hãy trở nên gương mẫu đạo đức thánh thiện cho con cái. Hãy tránh mọi thứ gương mù gương xấu. Từ lời nói đến thái độ sống xấu sẽ là đại họa cho con cái. Tuổi thơ các em đơn sơ như tờ giấy trắng, mỗi lời nói, mỗi cử chỉ của cha mẹ đều ghi đậm nét trên tờ giấy trắng tâm hồn và in dấu suốt cuộc đời các em. Bởi đó, trách nhiệm của người Gia trưởng đối với các em vô cùng quan trọng. Các em là thánh hay là quỷ tùy vào sự giáo dục và cách ăn nết ở của cha mẹ. Con cái là hoa trái của tình yêu và là niềm hy vọng của cha mẹ. Nguyện xin Thánh Giuse phù trợ cho anh em được trở nên những Gia trưởng thánh thiện, gương mẫu để đem hạnh phúc đến cho gia đình và cho cả xã hội tương lai.
Thánh Giuse mãi mãi là tấm gương cho anh em Gia trưởng soi. Tấm gương của một con người luôn thao thức lắng nghe tiếng Chúa và khi đã nghe thì mau mắn đáp lại không thắc mắc cho dù phải trả giá.Tấm gương của một con người luôn hướng tâm hồn về Chúa, xin vâng trước Thiên Ý, luôn phó thác để Chúa thực hiện chương trình cứu rỗi của Người.Tấm gương về người quản gia trung tín chăm sóc hai kho tàng quý giá nhất trần gian là Hài Nhi Giêsu và Mẹ Maria.
Thánh Giuse là con người thầm lặng, ít nói, khiêm tốn. Gioan Tẩy Giả chân thành “Người phải lớn lên, còn tôi phải nhỏ bé lại”. Giuse đã sống điều đó mà không nói một lời. Chính cuộc sống ấy đã biến Thánh nhân thành một vị Đại Thánh. Thánh Cả đã đem cuộc đời mình biến thành một Lời Chúa sống động, ngài xứng đáng là Bạn Trăm Năm Đức Trinh Nữ.

 

19/03-81: Suy Niệm về thánh Giuse

Ơn xin: Xin cho tôi biết để cho Chúa sử dụng đời mình hầu phục vụ cho kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa. 19/03-81

Ơn xin: Xin cho tôi biết để cho Chúa sử dụng đời mình hầu phục vụ cho kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa.

1. Thành Giuse là người có đức tin lớn lao.
 Ngài đã đón nhận những biến cố độc nhất vô nhị do Thiên Chúa gửi đến cho đời mình. Ngài đã uốn đời mình theo ý Chúa: ngài chấp nhận chung sống như một người bạn bên cạnh người mà ngài yêu mến và muốn lấy làm vợ là Đức Maria. Đúng là ngài đã chấp nhận đổi tình cầm sắt hóa ra cầm kỳ. Ngài đã chấp nhận thai nhi mà ngài không phải là cha, vì tin vào quyền năng của Thần Khí đang tác động.
 Thánh Giuse không xa lạ với cái bất ngờ của đường lối Chúa, cái bất ngờ hẳn đã làm ngài khắc khoải, chới với đến nỗi định âm thầm ly dị Maria (Mt 1,19). Rồi từ đó ngài đạt được bình an trong đức tin. Tuy nhiên, đức tin của thánh Giuse – cũng như của chúng ta – tuy lớn lao nhưng vẫn là một đức tin không ngừng lớn lên và là một đức tin liên tục kéo dài. Thánh Giuse bị vây bọc bởi mầu nhiệm: mầu nhiệm về Đức Maria mang thai bởi Thánh Thần và mầu nhiệm về thai nhi Giêsu. Bề ngoài, dưới mắt người đời, thì Thánh Gia là một gia đình bình thường như mọi gia đình khác. Nhưng bên trong Giuse thấy mình sống trong một thế giới thần linh, liên tục đằm mình trong thế giới đó và vẫn không sao hiểu hết được (Lc 2, 33; 2, 48.50). Mầu nhiệm luôn vẫy gọi Giuse bước sâu thêm. Cùng với nghề thợ mộc vất vả, thánh Giuse hẳn đã sống đời chiêm niệm thâm trầm. Đức Giêsu vẫn lớn lên trước mắt Giuse, lớn lên một cách bình thường. Maria vẫn là người được Giuse yêu mến kính trọng. Bà vẫn chu toàn bổn phận làm mẹ một cách bình thường. Nhưng Giuse vẫn khám phá thấy trong cái bình thường đó một mầu nhiệm đang hé lộ. Tin là một hành trình tìm kiếm mãi.
 Thánh Giuse chấp nhận cái nghịch thường của ý định Thiên Chúa. Giuse muốn lập gia đình với Cô Maria, người ông đã đính hôn nhưng chưa về chung sống như vợ chồng (Mt 1, 18). Giuse chỉ mong làm một người chồng, một người cha bình thường, nhưng Thiên Chúa lại không muốn ngài là chồng, là cha bình thường như những người khác. Ngài không phải là cha đẻ của Đức Giêsu. Matthêu đã không viết là “ông Giuse sinh Giêsu” ở Mt 1,16, nhưng đã viết: “Ông Giacóp sinh ông Giuse, chồng của bà Maria, từ bà Đức Giêsu được sinh ra, Đấng được gọi là Kitô”. Giuse đã sống như một người bạn, người trợ giúp bên cạnh Đức Mẹ. Đức Maria vẫn là người mà thánh Giuse chỉ “biết” trong đức tin. Thế nhưng cái nghịch thường mà thánh nhân phải đảm nhận đó là: bề ngoài ngài vẫn được mọi người coi như chồng của Maria, như cha của Giêsu, và ngài phải gánh mọi trách nhiệm trong tư cách đó. Nhưng thực tế thì lại khác. Thánh Giuse đã chấp nhận điều đó trong âm thầm suốt đời. Đúng là ngài phải trở thành nhà chiêm niệm. Chính đời ngài cũng là một mầu nhiệm mà người ngoài không biết rõ được. Người ta chỉ coi ông Giêsu là con của ông thợ mộc Giuse và bà Maria thôi. Người ngoài không biết rõ căn tính của tôi được, và tôi cũng không được nói với ai.
 Giuse sống mầu nhiệm đời mình trước mặt Thiên Chúa. Chính cái âm thầm làm nên mầu nhiệm. Chúng ta không thích âm thầm và ẩn danh. Chúng ta thích quyền lợi và nghĩa vụ phải tương xứng. Nhưng khi phá vỡ cái âm thầm riêng tư, chúng ta cũng có nguy cơ phá vỡ cả mầu nhiệm và đời sống chúng ta sẽ mất đi một điều rất quý, điều mà chỉ riêng Thiên Chúa và ta mới hiểu được, cái thế giới thần linh riêng tư giữa Thiên Chúa và ta mà người khác chỉ đứng ngoài. Không cần thiết người ngoài phải biết hết, phải hiểu được hết mọi sự trong đời ta. Ta cũng không cần chia sẻ mọi sự mình có, để mãn nguyện vì được thông cảm, được biện minh. Phải duy trì khoảng cách với thụ tạo (đó là từ bỏ) để có thể nói được rằng Thiên Chúa là Đấng duy nhất hiểu mình thật là gì. Chúng ta thường cảm thấy mình là điều người khác nghĩ (thậm chí sống theo điều người khác nghĩ về mình). Chúng ta dễ quên rằng “Thiên Chúa nghĩ về ta như thế nào thì ta là thế ấy” (thánh Têrêsa Nhỏ).

 2. Thánh Giuse là một người đã thánh hiến đời mình cho sứ mạng của Thiên Chúa.
 Giuse phải sống đức khiết tịnh trong một tình cảnh đặc biệt. Đúng là ngài đã chọn sống như thế, tuy ngài có quyền sống như người chồng thật của Đức Maria. Đức khiết tịnh nào cũng là một lựa chọn, một từ khước cái quyền tự nhiên mình có thể có. Không cần thiết thánh Giuse phải là một cụ già để bảo đảm điều đó. Nếu ngài là một thanh niên, chúng ta mới hiểu được rằng với ơn Chúa, người ta làm được cả những điều vượt quá sức con người. Chắc chắn thánh Giuse đã giữ được khiết tịnh suốt đời nhờ có cảm nghiệm sâu xa về việc mình đang tiếp cận với một mầu nhiệm linh thánh. Maria bây giờ không còn là một đối tượng để mê đắm và chiếm hữu. Cô là hiện thân của một mầu nhiệm khôn dò, mầu nhiệm khiến Giuse phải kính ngưỡng. Giữ khiết tịnh chính là nhìn nhận Maria là người của Thiên Chúa, được Ngài tuyển chọn cách riêng. Người thiếu nữ mà tôi vốn yêu quý ấy nay đã là đối tượng cho tình thương đặc biệt của Thiên Chúa và là nơi diễn ra mầu nhiệm cứu độ. Giữ khiết tịnh chính là nhìn nhận trong đức tin rằng mình không còn quyền làm chủ trên đời Maria nữa, vì Maria đã thuộc trọn về Thiên Chúa, cả xác lẫn hồn. Sống khiết tịnh là sống trong một mầu nhiệm. Trước một  mầu nhiệm ta chỉ có thể đáp lại bằng cách sống một mầu nhiệm khác. Chẳng mấy chốc Giuse cũng thấy đời mình là một mầu nhiệm, với những điều chỉ có thể hiểu được nhờ đức tin. Cuối cùng Giuse thấy mình được kêu gọi để thuộc trọn về Thiên Chúa như Maria, để cùng nhau cộng tác cho kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa.
 Giuse sống đức khó nghèo qua lao động chân tay. “Ông ấy không phải là con bác thợ sao?” (Mt 13, 55), người làng Nadarét đã nói với nhau như thế về Đức Giêsu. Chính Ngài đã theo nghề của Giuse theo kiểu cha truyền con nối (Mc 6, 3). Nghề thợ mộc không phải là một nghề được trọng vọng vào thời đó. Lao động để nuôi gia đình và giúp cậu Giêsu đi vào lao động. Lao động trở thành một thời gian kết hiệp với Thiên Chúa trong âm thầm. Trong các Phúc âm, ta không thấy thánh Giuse nói một lời nào. Ngài là con người hành động. Chúng ta không nên quên những cuộc hành trình vất vả của ngài. Ngài không đi một mình. Ngài luôn đi với Maria và Giêsu. Đi từ Nadarét lên Belem và lúng túng trước cảnh Maria sinh con đầu lòng trong thiếu thốn, sợ hãi đem Con đi trốn qua Ai-cập rồi lại đưa về, đem Con tiến dâng cho Thiên Chúa tại Đền Thờ để nghe lời tiên tri không vui của cụ Simêon, và bồn chồn lo âu ba ngày đi tìm con bị lạc. Việc lao động chính của Giuse không phải chỉ là lao động chân tay, nhưng còn là đứng mũi chịu sào để bảo vệ Đức Giêsu và Mẹ Ngài. Như những gia đình khác trên mặt đất, Thánh Gia cũng không được miễn trừ khỏi những sóng gió và lo âu.
 Giuse sống triệt để sự vâng phục đối với ý định của Thiên Chúa. Trong Tin Mừng Matthêu, ý định này được chuyển đạt qua việc sứ thần Chúa nói trong mộng (Mt 1, 24; 2, 13.19.22). Giuse chấp nhận hình thức chuyển đạt này. Trong Tin Mừng Luca, sứ thần nói với Maria lúc thức, nên có cuộc đối thoại thực sự, và Maria đã nói tiếng Xin Vâng. Trong Tin Mừng Mátthêu, sứ thần đã nói với thánh Giuse lúc ngủ. Thánh nhân đã không nói tiếng Xin Vâng thành lời, nhưng ngài đã nói bằng hành động vâng phục khi tỉnh dậy. Chúng ta cũng phải chấp nhận những hình thức khác, những hình thức quen thuộc mà Chúa thường dùng với riêng từng người. Giuse luôn vâng phục mau mắn mọi lệnh truyền. Ông luôn bị đánh thức vào lúc đang an nghỉ. Thiên thần Chúa luôn bảo ông “chỗi dậy” để làm điều này điều khác cách khẩn trương. Và ông đã chỗi dậy ngay để thực hiện (Mt 2, 13-14; 2, 20-21). Bỏ dở giấc ngủ và lên đường giữa đêm khuya, Giuse lúc nào cũng thấy mình có trách nhiệm với những kho báu của Thiên Chúa, đó là gìn giữ Hài Nhi và Mẹ Ngài. Vâng phục mà không đặt vấn đề, đó là đức tính của Giuse.

 3. Thánh Giuse người chấp nhận đóng một vai trò khiêm tốn nhưng hết sức cần thiết trong chương trình cứu độ.
 Giuse là con vua Đavít (x. Mt 1, 20), và như thế khi được Giuse nhận là con mình về mặt pháp lý, Đức Giêsu cũng thuộc về dòng tộc vua Đavít. Lời hứa xưa của Thiên Chúa với Đavít qua miệng ngôn sứ Nathan đã được ứng nghiệm: “Khi ngày đời của ngươi đã mãn, Ta sẽ cho dòng dõi ngươi đứng lên kế vị ngươi, và Ta sẽ làm cho vương quyền của nó được vững bền…Ta sẽ làm cho ngai vàng của nó vững bền mãi mãi.” (2Sm 7, 12-13). Đó cũng là lời của sứ thần Gabrien nói với Đức Maria về người Con mà Bà sắp cưu mang: “Thiên Chúa sẽ ban cho Người ngai vàng vua Đavít… Người sẽ trị vì nhà Gia cóp đến muôn đời, và triều đại của Người sẽ vô cùng vô tận.” (Lc 1, 32-33).
 Hành động có tính quyết định và nền tảng là hành động nhận Maria đang mang thai về làm vợ chính thức. Chính hành động đó đủ để thánh Giuse có một chỗ đứng độc đáo trong lịch sử cứu độ. Người ta không thể đoán được điều gì sẽ xảy ra nếu như Giuse cương quyết ly dị Đức Maria, hay lớn tiếng tố cáo vị hôn thê của mình. Theo sách Đệ Nhị Luật thì Bà có thể bị ném đá  (Đnl 22, 23-27), và Con Thiên Chúa có thể chết trước khi chào đời. Ơn cứu độ sẽ bị đổ vỡ từ trong trứng nước. Hành vi đón nhận Maria về làm vợ cũng bao hàm việc đón nhận cả thai nhi mà ngài tin là do Thánh Thần. Như thế, Giuse đã là điểm tựa sống còn của ơn cứu độ, là chỗ nương thân nhờ cậy của Maria và Hài Nhi. Nhờ Giuse, Đức Maria không bị mang tiếng ngoại tình, và Đức Giêsu không phải là con hoang. Đức Giêsu có thể công nhiên và tự tin mà đến với Dân Ngài. Vai trò của Giuse thật hết sức quan trọng, nhưng cũng thật khiêm hạ. Chắc Giuse chẳng có gì để  khoe về vị thế quan trọng của mình. Chúa mới là người điều động mọi chuyện. Giuse chỉ xin được là người giúp việc cho Thiên Chúa thôi.
 Mừng lễ Thánh Giuse, chúng ta được mời gọi để đứng đúng chỗ Chúa chọn cho mình trong chương trình cứu độ nhân loại, và làm đúng việc Chúa trao phó một cách tận tụy hy sinh. Xin được có lòng tin khiêm hạ và đời sống nội tâm sâu xa của thánh nhân.
 Lm. Anthony Nguyễn Cao Siêu, S.J.

 

19/03-82: SÁU SUY NIỆM VỀ THÁNH GIUSE

DÀNH CHO NHỮNG NGƯỜI LÀM CHA
§ Anthony Lê
A. Sáu Suy Niệm về Thánh Giuse
 

Như chúng ta đều biết, tất cả những vị linh mục mà chúng ta vẫn thường hay gọi là "Cha," và tất cả 19/03-82

Như chúng ta đều biết, tất cả những vị linh mục mà chúng ta vẫn thường hay gọi là "Cha," và tất cả những người làm cha, làm bố trong các gia đình, tất cả đều được gọi mời để nên thánh. Việc được Thiên Chúa mời gọi để trở nên thánh không chỉ dành riêng cho các vị linh mục lẫn các nam/nữ tu sĩ, mà còn cho tất cả mọi thành viên trong Giáo Hội - tất cả đều được gọi mời để nên thánh, và rằng mỗi người đều có một ơn gọi riêng - thế nhưng, ơn gọi chung và phổ quát hơn hết vẫn là ơn gọi để nên thánh.
Có bao giờ chúng ta tự hỏi với chính mình rằng: "Liệu có phải tôi đang đáp trả lại lời gọi mời để trở nên thánh không? Liệu tôi có biết kiếm tìm và cố giống như Chúa Kitô mỗi ngày không? Phải chăng là tôi đang theo đuổi gương của Thánh Giuse không? vân vân..."
Để tìm ra những lời giải đáp cho những câu hỏi chất vấn lương tâm kể trên, chúng ta hãy cùng nhau suy niệm và tìm hiểu thêm về cuộc sống và gương của Thánh Giuse, vị Thánh bổn mạng và cũng là mẫu gương cho tất cả những người làm chồng, và những người làm linh mục.
Chữ JOSEPH = Just + Obedient + Silence + Example + Patron + Helper = Công Chính + Vâng Phục + Thinh Lặng + Gương Mẫu + Bảo Trợ + Người Giúp Đỡ
Thánh Cả Giuse
1. J = St. Joseph the Just Man = Thánh Giuse Người Công Chính
Trong Thánh Kinh và trong Tông Huấn "Người Giám Hộ Đấng Cứu Thế" (The Guardian of the Redeemer) của Đức Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô Đệ Nhị, Thánh Giuse được gọi là "Người Công Chính."
Vậy điều đó có nghĩa là gì?
Thưa, có nghĩa là Thánh Giuse chính là một người đàng ông thánh thiện, một người đàn ông ngay thẳng đạo đức, thật thà, và chính trực. Thánh Giuse là vị Thánh cao cả nhất và thánh thiện nhất chỉ sau Đức Trinh Nữ Maria mà thôi. Thành thực mà nói, một số vị Tiến Sĩ của Hội Thánh đã từng lên tiếng nói rằng: chưa có một ơn huệ nào được ban cho bất kỳ một vị Thánh nào trong số những vị Thánh của Giáo Hội mà không được ban trao cho Thánh Giuse cả. Hay nói cách, Thánh Giuse chính là vị Thánh có được đầy đủ tất cả mọi ơn huệ của bất kỳ một vị Thánh nào trong Giáo Hội có được.
Thánh Thomas Aquinas đã từng nói rằng: Thiên Chúa ban xuống cho chúng ta các ơn huệ tùy và tương xứng theo địa vị và mỗi giai đoạn trong cuộc sống của chúng ta. Chính vì thế, nếu Quý Vị chính là một người làm chồng, hay một người làm Linh Mục, thì Quý Vị được Thiên Chúa trao ban cho ơn huệ để trở nên một người chồng và một người Linh Mục thánh thiện. Nếu một nam tu sĩ được phong chức Linh Mục, thì vị ấy sẽ được trao ban cho ân huệ để trở thành một vị Linh Mục thánh thiện, và cũng tương tự như vậy với người làm chồng, làm cha trong một gia đình. Do đó, hãy nghĩ xem là Thánh Giuse đã nhận được biết bao nhiêu ơn huệ để trở thành một người cha nuôi của Người Con Một của Thiên Chúa, và một người làm chồng khiết tịnh của Đức Trinh Nữ Maria, Đấng Vô Nhiễm Nguyên Tội.
Do đó, chẳng có gì là hoa mỹ hay tâng bốc khi phải nói rằng Thánh Giuse chính là vị Thánh cao cả nhất của tất cả các vị Thánh bởi vì Ngài là người gần gũi nhất với Chúa Giêsu và Đức Trinh Nữ Maria.
Ý thức được sự công chính hóa của Thánh Giuse, chúng ta hãy cùng nghiệm suy và chất vất tâm thức cùng lòng-trí của chúng ra rằng:
Liệu tôi có phải là người công chính thật sự không - hay tôi chỉ giả vờ để bịp lừa thiên hạ và đồng loại của mình? Liệu tôi có hoàn toàn ngay thẳng, và liêm chính trong tất cả những gì tôi nói và làm mỗi ngày không? Liệu tôi có biết sử dụng đúng mọi ơn huệ của Thiên Chúa ban xuống cho tôi mỗi ngày không? Liệu tôi có phải là một người chồng gương mẫu cho các con của tôi, hay là một vị Linh Mục gương mẫu cho đoàn dân của Thiên Chúa không?... ..

2. O = St. Joseph the Obedient One = Thánh Giuse Người Vâng Phục
Thánh Giuse thật sự là người biết vâng phục vào ý chỉ của Thiên Chúa đã tiền định sẳn trong cuộc sống của vị Thánh. Sứ thần hiện ra với Giuse và nói: "Đừng sợ khi phải đón Maria làm vợ mình." Và một khi biết được ý chỉ của Thiên Chúa dành cho cuộc đời mình, Thánh Giuse đã vâng phục. Khi thiên thần báo cho Giuse biết là vua Hêrôđê (Herod) đang lên kế hoạch để hủy diệt đứa trẻ, thì Giuse lật đật thức dậy và bắt đầu dẫn gia đình bé nhỏ của mình trốn thoát khỏi Ai Cập.
Thánh Giuse là một người biết vâng phục. Bất cứ khi nào Thiên Chúa cảnh báo cho Giuse trong giấc ngủ, Giuse lúc nào cũng vâng phục ngay tức khắc mọi ý chỉ của Thiên Chúa, mà không hề chất vấn lại bao giờ. Thậm chí ngay cả khi Maria đã mang thai được hơn 8 tháng, thế nhưng Giuse vẫn tin rằng việc Maria và Giuse phải rời Nazareth để xuống Bethlehem, cũng là do ý chỉ của Thiên Chúa. Điều này phù hợp với lời tiên báo của tiên tri Micah rằng: Đấng Cứu Thế sẽ được sinh hạ tại Bêlêm. Giuse đã biết từ bỏ lấy chính bản thân của mình để tuân theo ý chỉ của Thiên Chúa
Vậy chúng ta hãy tự hỏi chính chúng ta những câu hỏi sau:
Liệu tôi có biết vâng phục ý chỉ của Thiên Chúa không? Liêu tôi có vâng phục 10 Điều Răn của Thiên Chúa không? Liệu tôi có biết vâng phục những giảng dạy của Chúa Kitô và của Giáo Hội về đời sống hôn nhân và gia đình không?... ..
Chúng ta hãy mau mắn đến với Thánh Giuse để trở nên những người con biết vâng phục của Giáo Hội!

3. S = St. Joseph the Silent One = Thánh Giuse Người Thinh Lặng
Không có một ngôn từ nào được ghi chép lại về Thánh Giuse trong Kinh Thánh. Trong Sách Cựu Ước, có một vài từ được đề cập đến vị giáo trưởng vĩ đại vốn có thể được áp dụng vào Thánh Giuse, thế nhưng không có những từ ngữ nào do chính Thánh Giuse nói ra, vốn được tìm thấy trong Tân Ước. Dẫu thế, nhưng Thánh Giuse vẫn có mặt tại đó, nhưng với một sự hiện diện trong thinh lặng. Thậm chí ngay cả cái chết của vị Thánh cũng được giữ trong thinh lặng.
Thánh Giuse là một người thinh lặng, một người đàn ông có sức mạnh, một người đàn ông có đời sống nội tâm sâu sắc. Sự thinh lặng trong cuộc sống có thể giúp chúng ta phát triển đời sống cầu nguyện. Thánh Giuse là người có đời sống cầu nguyện sâu sắc trong sự thinh lặng, và vì thinh lặng, nên Thánh Giuse mới có thể lắng nghe được tiếng nói của Thiên Chúa trong chính cõi lòng thẳm sâu của mình. Những thứ ngoại cảnh không hề chi phối được Thánh Giuse, vì rằng Thánh Giuse chính là người có đời sống nội tâm sâu sắc.
Vì sao vậy?
Thưa, vì Thánh Giuse sống trông sự hiện diện của một Thiên Chúa Nhập Thể.
Chúng ta hãy hình dung ra Thánh Giuse như là một người thợ miệt mài trong thinh lặng. Ngài không hề than phiền, hay ai oán, và cũng chẳng bao giờ trở nên giận dữ với Thiên Chúa và lớn tiếng nói rằng, "Lạy Chúa, tại sao Ngài làm như thế này, tại sao Ngài bắt buộc chúng con phải trốn thoát sang Ai Cập?" Thánh Giuse chính là người biết chấp nhận những mệnh lệnh như thế của Thiên Chúa trong sự thinh lặng.
Chúng ta hãy nên tự hỏi chính bản thân của chúng ta rằng:
Liệu tôi có dành đủ thời gian thinh lặng trong cuộc sống bận rộn, ngược xuôi và bôn ba của tôi không? Đâu chính là những khoảnh khắc sa mạc mà tôi dành cho Thiên Chúa mỗi ngày? Liệu tôi có dành đủ thời giờ để ngày đêm nguyện cầu trong sự thinh lặng với Chúa Giêsu không? Liệu tôi có biết lắng nghe Chúa Giêsu khi Ngài nói với tôi qua các bài đọc Chủ Nhật không? Liệu tôi có bỏ ra đủ thời gian để một mình thinh lặng, ngắm nhìn, và lắng nghe Chúa Giêsu trong Phép Thánh Thể uy nghi, nhiệm mầu không? Liệu tôi có hoang phí lời nói của tôi với những lời hứa trống rỗng, vẽ vời, thêu hoa dệt mộng, để nói xấu, để lừa bịp và để gây hại cho người khác không? Liệu tôi có biết theo Thánh Giuse bằng việc trở thành một người đàn ông biết thinh lặng và sống có đức hạnh không?... .

4. E = St. Joseph the Example = Thánh Giuse Mẫu Gương
Hãy tưởng tượng Thánh Giuse là một kiểu người đàn ông như thế nào. Thiên Chúa, Đấng là Cha ngự trên trời, đã chọn Giuse trong số biết bao nhiêu người nam của nhân loại để trở thành người nuôi dạy cho chính Người Con Một dấu yêu nhất của Ngài là Chúa Giêsu Kitô.
Khi bạn chọn một người bảo mẩu cho đứa trẻ của mình, không lẽ ai bạn cũng chọn sao? Không, bạn sẽ lựa chọn thật kỹ càng, dẫu bạn chỉ cần người đó chăm sóc cho đứa con của bạn trong một ít giờ mà thôi. Hãy tưởng tượng đến việc phải phó thác đứa con của mình cho một người lạ nào đó chăm sóc. Cũng tương tự như thế, các tổ chức xin/cho con nuôi thường xét và điều tra rất cẩn thận những ai mà họ tin tưởng rằng có khả năng để chăm sóc cho những đứa con của những người khác. Thì Thiên Chúa cũng vậy, Ngài đã chọn lựa rất cẩn thận và rất kỹ càng. Và Ngài đã chọn Giuse để trở thành một mẫu gương cho Người Con Một của Người.
Thánh Giuse là một mẫu gương cho Chúa Giêsu qua cả lời nói và cả những hành động. Thánh Giuse đã từng được gọi là Người Cha Vĩ Đại Nhất của Thế Giới. Giuse thật sự là một người cha gương mẫu cho Chúa Giêsu theo đúng mọi cách, xét về mặt thể lý. Vì rằng Thánh Giuse chính là người đã dạy cho Chúa Giêsu cách đọc, cách nói, và cách làm ra những cánh cửa và những cái cày (plows). Chúng ta hãy nhớ lại câu nói rằng: "Gương sáng thì to tiếng và rõ ràng hơn là lời nói" hay "Hành động thì có sức thuyết phục hơn là lời nói."
Chẳng phải đó là cách mà các con trẻ nghĩ suy về cha-mẹ của chúng sao? Đâu là mẫu gương mà Thánh Giuse nêu ra cho đứa trẻ Giêsu của mình? Thánh Giuse chính là một mẫu gương hoàn hảo, một người cha vĩ đại nhất thế giới, một người thầy dạy của Chúa Giêsu, một thứ khuôn đúc cho mọi người nam, một mẫu gương đầy nam tính cho Chúa Giêsu.
Giuse dạy dỗ bé Giêsu ở nhà, và cũng tự dạy lấy chính bản thân của mình luôn. Mặc dầu Chúa Giêsu chính là Người Con Một của Thiên Chúa, và Người làm theo ý hướng của Chúa Cha, thế nhưng Chúa Giêsu phải lớn lên trong sự hiểu biết, và phải trưởng thành lên, và đứa trẻ Giêsu phải nhìn và bám tựa vào Thánh Giuse, người cha nuôi của mình, thậm chí cả việc bắt chước luôn những kiểu cách riêng (mannerisms) của Thánh Giuse.

Để suy niệm về điều này, chúng ta hãy cùng nhau tự hỏi:
Thế đâu là mẫu gương mà chúng ta đưa ra cho con cái của chúng ta, cho cộng đồng tín hữu của chúng ta? Đâu là những mẫu gương mà bạn đưa ra cho vợ và con cái của mình? Chúng ta có dạy cho con cái của chúng ta về Đức Tin Công Giáo không? Chúng ta có từng bao giờ tự học hỏi và tìm hiểu thêm về Đức Tin của mình bằng việc đọc qua Sách Thánh ít nhất là 10 đến 20 phút mỗi ngày không? Chúng ta có biết cách biến cho thời gian du lịch của chúng ta được trở nên hữu ích hơn bằng việc lắng nghe các băng dạy về Đức Tin Công Giáo, hòng để đào sâu hơn về Đức Tin Công Giáo của chúng ta không? Chúng ta có sống đúng với ơn gọi của chúng ta như là những người lãnh đạo về mặt tâm linh cho cộng đồng xứ đạo của chúng ta không?... ..

5. P = St. Joseph the Patron = Thánh Giuse Bảo Trợ
Thánh Giuse chính là người bảo trợ và cầu nguyện thay cho chúng ta. Thánh Giuse chính là vị Thánh Bổn Mạng của những người làm chồng, những người mang thừa tác vụ Linh Mục, và những người thợ. Chúng ta luôn nguyện cầu rằng nếu mai này phải chết đi, phải giã từ cõi thế trần này, thì chúng ta cũng muốn có được cái chết như là Thánh Giuse đã từng trải qua, nghĩa là chết trong những cánh tay của Chúa Giêsu và Đức Trinh Nữ Maria, và qua sự cầu bầu của Giáo Hội. Hãy nguyện cầu đến Thánh Giuse để chúng ta có được ơn huệ qua một cái chết hồng phúc.
Thánh Giuse cũng là vị Thánh bổn mạng của cả Giáo Hội hoàn vũ, vì tất cả những gì mà Thánh Giuse đã từng làm cho Chúa Giêsu thì nay Thánh Giuse cũng làm tương tự những điều này cho cả Giáo Hội.

Vì sao vậy?
Thưa, là bởi vì Giáo Hội Công Giáo chính là Thân Thể Nhiệm Mầu của Chúa Kitô (Mystical Body of Christ). Đức Trinh Nữ Maria chính là vị Hiền Mẫu của Giáo Hội, và Thánh Giuse chính là người cha nuôi và người Giám Hộ (guardian) của Giáo Hội.
Câu hỏi đặt ra cho chúng ta lúc này là:
Liệu chúng ta có luôn biết quy hướng về Thánh Giuse mỗi ngày để nhờ Thánh Giuse chuyển cầu và trợ lực cho chúng ta trong việc thi hành trọn vẹn mọi nghĩa vụ của chúng ta như là những người làm chồng, và làm Linh Mục trong Giáo Hội của Thiên Chúa không? Những lúc chúng ta mệt nhoài, vất vã, và khó nhọc, vì nghĩa vụ với gia đình, vì trách nhiệm luân lý với cộng đồng, liệu chúng ta có biết phải cư xử như Thánh Giuse không?... .

6. H = St. Joseph the Helper of the Blessed
Mother = Thánh Giuse Người Giúp Đỡ Đức Trinh Nữ Maria
Thánh Giuse chính là vị Hôn Phu của Đức Trinh Nữ Maria. Trong công cuộc cứu chuộc của Thiên Chúa, Thánh Giuse chính là một người Chồng biết yêu thương Vợ mình vì Thánh Giuse tử tế, nhạy cảm, sẳn sàng hy sinh và biết biểu lộ sự trìu mến với vị Hiền Thê của mình, là Đức Trinh Nữ Maria. Ngoài ra, Thánh Giuse cũng chịu trách nhiệm về mặt tâm linh cho cả gia đình của mình. Sứ điệp của Thiên Chúa qua thiên thần đã được tiết lộ cho chính Giuse mặc dầu Đức Trinh Nữ Maria thánh thiện hơn nhiều vì được ơn Vô Nhiễm Nguyên Tội của Thiên Chúa. Thánh Giuse đã được Thiên Chúa chọn lựa bởi vì Thánh Giuse chính là người chủ của gia đình đó, cũng giống như bất kỳ ai trong chúng ta, là người lãnh đạo về mặt tâm linh cho cả gia đình.
Thánh Giuse và Đức Maria cùng làm việc nhịp nhàng với nhau, và bao giờ cũng vậy, nếu Vợ-Chồng cùng nhau hợp tác trong tình yêu thương và tôn trọng lẫn nhau, thì sẽ đạt được rất nhiều điều phi thường cho gia đình và cả cho con cái nữa.

Thế có bao giờ:
Tôi biết kết hiệp và hòa điệu cùng với vợ tôi trong tất cả mọi nổ lực, lời nói lẫn hành động để biết qui hướng gia đình của riêng tôi về với Thiên Chúa không? Liệu tôi có hay thường giúp đỡ vợ tôi không, hay tôi phũ phàng và bỏ mặc Cô ấy một mình, trong mọi trách nhiệm, nuôi nấng và giáo dục con cái? Liệu tôi có biết san sẽ và dìu dắt vợ tôi trên con đường để trở nên Thánh không?... ..
Thì đó chính là ơn gọi của chúng ta, những người nam, những người làm chồng và làm Linh Mục, vì rằng ơn gọi thật sự của chúng ta, chính là việc biết cộng tác với ơn huệ của Thiên Chúa, để hướng chính bản thân của chúng ta, của vợ và con cái, cũng như của cả cộng đoàn xứ đạo của chúng ta đến Nước Thiêng Đàng. Thì đó mới chính là cùng đích tối hậu về ơn gọi của chúng ta trong cuộc sống.
Nguyện cho mọi người làm Chồng, cùng với tất cả những vị lãnh đạo tinh thần và tâm linh của chúng ta, là các vị Linh Mục, luôn biết ý thức, luôn biết nghiệm suy sâu sắc, và luôn biết dùng Thánh Giuse như là một mẫu gương tuyệt hảo và trọn vẹn nhất cho mình, trong những nghĩa vụ cao cả được Thiên Chúa trao phó, để dìu dắt và cứu vớt nhân loại yếu đuối và lỡ lầm!

B. Lời Nguyện Cầu Đến Thánh Cả Giuse
Ôi, lạy Thánh Giuse Sáng Láng, đã được Thiên Chúa chọn để trở nên người Cha Nuôi của Chúa Giêsu, vị Hôn Phu khiết tịnh của Đức Trinh Nữ Maria, vị đứng đầu của Gia Đình Thánh Gia, vị Thánh bổn mạng và vị Thánh bảo vệ Giáo Hội, vốn do Chúa Giêsu thành lập nên, bằng lòng xác tín tin tưởng tuyệt đối, trong giờ phút này, con nài xin vị Thánh hãy mạnh mẽ hổ trợ cho tất cả những chiến sĩ của Giáo Hội nơi trần gian.
Xin vị Thánh hãy đặc biệt chở che bằng chính tình yêu phụ tử dành cho Đức Thánh Cha, cho tất cả các Đức Giám Mục và các Linh Mục, những người hiệp nhất với nhau trong Tòa Thánh Phêrô. Xin Thánh Giuse hãy là người bảo vệ cho tất cả những ai đang phải hái gặt các linh hồn, mặc cho những thách thử và khổ đau của dòng đời; và là động cơ để cho tất cả mọi dân tộc trên trái đất biết tự quy phục vào một ơn nghĩa duy nhất mà Giáo Hội chính là nguồn cứu rỗi cho tất cả mọi người.
Cũng xin lạy Thánh Giuse thân thương, hãy chấp nhận sự hiến dâng của chính bản thân con mà giờ đây con quyết dâng cho Ngài. Con nguyện sẽ luôn xem vị Thánh như là người cha của con, người đỡ đầu và hướng dẫn con trên con đường cứu rỗi. Hãy cho con có được sự thuần khiết nhất của trái tim và một đời sống nội tâm sâu sắc, nhiệt thành. Con xin nguyện khấn điều này, qua mẫu gương của vị Thánh, cùng với Trái Tim Cực Thánh Chúa Giêsu, và Trái Tim Vẹn Sạch Đức Mẹ, để biết hướng tất cả mọi hành động của con hòng làm sáng danh cho Thiên Chúa hơn.
Và sau cùng, xin hãy cầu nguyện cho con để con trở thành một người biết chung phần vào việc kiến tạo hòa bình và niềm vui, vốn cũng là điều con mong muốn như trong giờ lâm tử thánh thiên của Ngài. Amen.

Prayer to Saint Joseph
O Glorious Saint Joseph, chosen by God to be the foster-father of Jesus, the chaste spouse of Mary ever Virgin, and the head of the holy family and then appointed by the Vicar of Christ to be the heavenly patron and defender of the Church founded by Jesus, most confidently do I implore at this moment thy powerful aid for all the Church militant on earth.
Do thou shield with thy truly paternal love especially the Supreme pontiff and all the Bishops and priests who are in union with the Holy See of Peter. Be the defender of all who labor for souls, amidst the trials and tribulations of this life, and cause all the peoples of the earth to submit themselves in a docile spirit to that Church which is the ark of salvation for all men.
Be pleased also, dear Saint Joseph, to accept this dedication of myself which I now make unto thee. I dedicate myself wholly to thee, that thou mayest ever be my father, my patron and my guide in the way of salvation. Obtain for me great purity of heart and a fervent devotion to the interior life. Grant that, following thine example, I may direct all my actions to the greater glory of God, in union with the Sacred Heart of Jesus and the Immaculate Heart of Mary and in union with thee.
Finally pray for me that I may be a partaker in the peace and joy which were thine at the hour of thy holy death. Amen.

C. Tâm Tình Kết Đoạn
Và cuối cùng, trước khi chấm dứt Bài Viết ngắn này, trong tâm tình sâu lắng khi chúng ta chính thức bước vào Tuần Thứ 4 của Mùa Chay Thánh 2007 này, mời Quý Vị độc giả cùng tôi - chúng ta cùng suy lắng tâm tình và nội dung của bài hát có nhan đề "Hosea" của Gregory Norbet, OSB - một cựu tu sĩ Dòng Biển Đức thuộc Tu Viện Weston như sau:
Come back to me with all your heart. Don't let fear keep us apart. Trees do bend, though straight and tall; so must we to others' call. Long have I waited for your coming home to me and living deeply our new life.
Hãy trở lại với Ta bằng chính cả tim con. Đừng để cho nổi sợ hãi ngăn cách chúng ta. Cây có lúc bẻ cong, mặc dầu vẫn thẳng đứng và hiên ngang; vì thế chúng ta cũng phải hành động tương tự như vậy với lời kêu gọi của những người khác. Lâu rồi, Ta cứ mãi đợi chờ sự trở về của con, để con được sống trong đời sống mới một cách sắc sâu vẹn toàn.
The wilderness will lead you to your heart where I will speak. Integrity and justice with tenderness, you shall know. Long have I waited for your coming home to me and living deeply our new life.
------------
Sa mạc sẽ dẫn con đến cõi lòng của chính mình và cũng là nơi mà Ta sẽ nói với con. Sự liêm chính và công lý, rồi con sẽ nhạy cảm biết được. Lâu rồi, Ta cứ mãi đợi chờ sự trở về của con, để con được sống trong đời sống mới một cách sắc sâu vẹn toàn.
You shall sleep secure with peace, faithfulness will be your joy. Long have I waited for your coming home to me and living deeply our new life.
Con sẽ yên giấc ngủ trong bình yên, lòng thành mến sẽ là niềm vui của con. Lâu rồi, Ta cứ mãi đợi chờ sự trở về của con, để con được sống trong đời sống mới một cách sắc sâu vẹn toàn.
Peace!

 

19/03-83: Lễ Thánh Giuse

Lời Chúa: Mt 1,16.18-21.24a
 

Hôm nay, Giáo hội kính nhớ thánh cả Giuse là bạn trăm năm Đức Mẹ. Ngài được tôn vinh chỉ vì 19/03-83

Hôm nay, Giáo hội kính nhớ thánh cả Giuse là bạn trăm năm Đức Mẹ. Ngài được tôn vinh chỉ vì là bạn trăm năm của Đức Mẹ. Tại sao thế? Vì Ngài là một người chủ gia đình gương mẫu, và là một người chồng lý tưởng, xứng đáng là gương mẫu của mọi gia trưởng. Chúng ta hãy chiêm ngắm khuôn mặt của Ngài để thấy tại sao Giáo hội tôn kính Ngài như thế.

Thánh Giuse là ai?
Là một anh thợ mộc nhà quê, thuộc dòng tộc Đavít, nhưng là một anh thợ mộc nghèo. Chúng ta đừng quá tô điểm hình ảnh của Ngài, chỉ cần nhìn Ngài trong sự thật của Ngài thôi. Ngài được tôn vinh không phải vì đã làm những việc lạ lùng, xuất chúng mà chỉ là một con người tầm thường. Nhưng cái tầm thường của Ngài mới là cái đáng chúng ta ngưỡng mộ.
Không ai nói đến cha mẹ của Ngài, chỉ biết Ngài thuộc dòng tộc vua Đavít mà thôi. Người ta chỉ nói đến Ngài khi Ngài được đính hôn với Maria. Thời bấy giờ, không có vấn đề nam nữ thương nhau, chọn nhau, và cha mẹ chấp nhận tình yêu của đôi trẻ rồi sắp xếp việc hôn nhân, mà do quyết định của các bô lão trong dòng tộc, nghĩa là đặt đâu ngồi đó, xét theo vai vế bà con. Thời bấy giờ người ta cũng không nghĩ đến việc độc thân. Lớn lên là phải lập gia đình. Giuse không ở ngoài tục lệ đó.
Giuse được đính hôn với Maria. Đính hôn nghĩa là sẽ trở thành vợ chồng. Thời gian đính hôn là một năm, và trong thời gian đó hai người có thể ăn ở với nhau như vợ chồng trước khi có đám cưới, nhưng thường người ta không dễ chấp nhận như thế.
Giuse có yêu Maria, và Maria có yêu Giuse không? Điều này cũng cần xét lại. Trong những thế kỷ trước, theo ý kiến của một số nhà đạo đức thì người ta xem Giuse như một cụ già quá lục tuần, được chọn để che chở cho Maria sau này, chứ không là một người yêu thực sự. Quan niệm này quá lỗi thời, phát xuất từ một lòng đạo đức méo mó, không thích hợp.
Hiểu như thế thì quá thiệt thòi cho Maria, một cô gái quê mùa thật nhưng cũng đáng giá. Nếu đính hôn với một cụ già thì còn gì là giá trị của Maria? Làm sao Maria có thể chường mặt ra với chị em bạn bè?
Không, Giuse là một chàng thanh niên nghèo, nhưng đạo đức. Chàng đẹp trai, tuấn tú và khi đính hôn, ai cũng trầm trồ: Thật xứng đôi vừa lứa!
Tình yêu của Giuse thật trong sáng, thâm sâu và chân thành. Và có lẽ Ngài đã mong ước lập một gia đình tốt lành và đạo đức. Tình yêu càng chân thành thì càng gặp nhiều đau khổ thử thách.
Đính hôn xong, Maria được thiên thần viếng thăm và báo tin nàng sẽ thụ thai và sinh con trai do quyền năng của Chúa Thánh Thần, và đồng thời báo tin bà Êlisabet cũng đã thụ thai trong tuổi già. Maria tức tốc lên đường đi thăm  người chị yêu quí. Và đây bắt đầu những thử thách và đau khổ của Giuse, một bi kịch nội tâm không thể hiểu nổi.
Sau khi giúp chị Êlisabet ba tháng trở về, Maria hoàn toàn thay đổi làm cho Giuse choáng váng. Nàng đã có thai! Giuse bàng hoàng không thể tưởng được. Nàng! Một người con gái trong trắng tốt đẹp mà chàng đã yêu, sao có thể như thế được? Đau khổ đến tột cùng, nhưng Giuse vẫn khôn ngoan đắn đo, suy nghĩ. Chúng ta có thể tưởng tượng Giuse đau đớn như thế nào. Thánh Matthêu ghi lại: Giuse là một người công chính. Người công chính không hành động theo ý của mình, và trong mọi hoàn cảnh luôn tìm hiểu xem Chúa muốn thế nào. Giuse không hấp tấp hay giận dữ, mặc dù chàng đau khổ đến tột đỉnh. Chàng không hiểu chuyện gì đã xảy ra, chàng tìm một giải pháp êm đẹp nhất: biến tan khỏi cuộc đời Maria, không đôi chối, không lồng lộn, không để ai biết điều gì. Một chàng thanh niên mà có thể tự chủ như thế là một điều lạ thường. Có thể Giuse có linh tính là chuyện này không thể hiểu được. Phải có một cái gì đó vượt xa tầm hiểu của chàng. Chàng vẫn tin vào người yêu của mình. Nàng không thể làm chuyện ngu xuẩn như thế được! Chàng suy nghĩ mãi vẫn không tìm ra đáp số. Nhưng chính Chúa can thiệp. Và Giuse yên lòng.
Thiên Chúa đôi khi cũng thử thách chúng ta, nếu chúng ta biết hành động theo ý Chúa thì sẽ không bao giờ xảy ra điều đáng tiếc.
Mọi việc trở lại bình thường, nhưng Giuse chưa yên thân. Maria gần ngày. Một lệnh của hoàng đế buộc mọi người phải về quê mình khai sổ kiểm tra. Giuse buộc phải đưa vợ mình về Bêlem. Con đường Nadaret đến Bêlem dài hơn một trăm cây số, núi đồi hiểm trở, sa mạc nắng thiêu. Đi bộ dắt lừa suốt con đường dài như thế không là một việc dễ dàng. Khi đến Bêlem, không tìm được một nơi trú nhờ qua đêm, lại phải đem Maria ra một hang đá, và nàng sinh con trong những hoàn cảnh hết sức bi đát. Lo cho đứa bé có chỗ ở xong thì không bao lâu lại phải chạy đi lánh nạn sang Ai Cập vì vua Hêrôđê đang tìm giết em bé. Nơi đất khách quê người, Giuse phải tảo tần lo nuôi sống gia đình. Cũng không bao lâu lại được lệnh trở về xứ và sau cùng, tái định cư tại Nadaret. Cuộc sống của Giuse không khác gì cuộc sống chúng ta, và có lẽ điêu đứng hơn. Giuse đã làm tròn bổn phận của mình, Đã che chở dưỡng nuôi Con Thiên Chúa với tất cả tình yêu. Sự cao cả của Giuse chính là sự nghèo khó đa đoan làm tròn bổn phận một người chủ gia đình dù trong hoàn cảnh nào.
Một vấn đề làm nhiều người thắc mắc là làm sao Giuse có thể sống cùng với Maria như thế suốt bao nhiêu năm? Vì thế có nhiều người tưởng rằng Maria sau này đã có nhiều con với Giuse khi họ đọc thấy trong Tin Mừng có nói đến anh em Chúa Giêsu.
Anh em của Chúa Giêsu phải hiểu theo nghĩa Á đông, nghĩa là anh em bà con.
Thánh Matthêu đã nói: Giuse là người công chính, tức là người kính sợ  Thiên Chúa, theo nghĩa Do Thái. Điều này là điều thiết yếu. Giuse sống theo lời Chúa, tuân hành mọi lệnh truyền của Chúa. Giuse tôn trọng Maria vì Maria thuộc về Thiên Chúa. Chúng ta không có tâm thức về sự cao cả của Thiên Chúa như người Do Thái, chúng ta không thánh thiện, và hiểu theo thói đời. Giuse hoàn toàn là của Chúa. Đó là sự thánh thiện. Các thánh đã sống như thế. Dù trong hoàn cảnh nào, các ngài không thể làm gì nghịch lại với Chúa, dù trong một việc rất nhỏ, nghĩa là không thể phạm tội. Đó là sự thánh thiện của Giuse.
Hơn nữa Giuse yêu Maria chân thành. Tình yêu của Giuse là một tình yêu chân thật và sáng suốt. Chàng chỉ biết lo cho Maria hết tình mà không đòi hỏi lại. Trong cuộc sống hôm nay, biết bao nhiêu người nam chỉ biết lo cho vợ mà không bao giờ nghĩ đến bản thân mình. Biết bao nhiêu người đã sống một tình yêu cao đẹp đến nỗi không còn một ước mơ nào ngoài ước mơ làm đẹp lòng Thiên Chúa! Chúng ta nghĩ đến thánh Phanxicô Assisi và thánh Clara, thánh Phanxicô đệ Salê với thánh Gioanna Chantal. Tình yêu của họ đã được thăng hoa đến tột đỉnh. Tình yêu của Giuse cũng siêu thoát như thế. Con người không chỉ sống bằng cảm tính mà có thể vượt xa hơn đến miền đất của hy sinh. Tình yêu Chúa nơi họ đã vượt thắng tất cả.
Hơn nữa Giuse xem Maria như một tác phẩm của Thiên Chúa, một quà tặng quí báu đến nỗi chàng chỉ lo giữ gìn mà không bao giờ nghĩ đến điều gì khác. Sự thánh thiện của Giuse là như thế. Tình yêu của chàng được lồng khung vào niềm tin đến nỗi niềm tin bao trùm tất cả, điều khiển tất cả. Chúng ta chỉ nghĩ đến bản thân mình, chúng ta không biết yêu. Tình yêu đích thực chỉ biết cho đi và quên mình. Thánh Giuse là con người như chúng ta, sống đơn thường như chúng ta nhưng cái đơn thường của ngài chính là sự đơn thường mạnh mẽ, âm thầm nhưng liên tục. Hạnh phúc của ngài chính là cho đi mà không đòi hỏi lại. Đó chính là anh hùng.
Một yếu tố khác rất quan trọng trong cuộc đời của thánh Giuse là Chúa Giêsu. Maria là một quà tặng cao quí, Giêsu lại cao quí hơn bội phần. Hạnh phúc của ngài là Đứa bé thần linh đó. Ngài biết nó là ai và Ngài phải bảo vệ đứa bé mỏng manh đó như thế nào. Tất cả tâm hồn Ngài chỉ chú trọng đến đứa trẻ đã được trao cho Ngài. Hạnh phúc biết bao khi bồng bế đứa con thần linh đó trong tay, lo cho con được ấm no, dạy con giữ luật Chúa. Tất cả được thực hiện trong âm thầm, không ai biết, không ai hay. Giuse ra đi cũng không ai nói đến. Ngài chìm trong im lặng. Ngài đã làm xong bổn phận theo chương trình của Chúa thế thôi. Đức khiêm nhượng là như thế.
Thánh Giuse chính là một mẫu người có đạo tuyệt hảo. Tuân hành ý Chúa đến trọn hảo. Âm thầm phục vụ mà không cần ai biết. Yêu mến Chúa Giêsu, tận tụy lo cho Con Thiên Chúa thôi và lẳng lặng ra đi.
Xin thánh Cả Giuse hướng dẫn chúng ta đến một cuộc sống bỏ mình, khiêm hạ như thế. Yêu mến Chúa Giêsu như Ngài.
Hôm nay, chúng ta nhìn về thánh Cả để thấy rằng chúng ta cũng được như Ngài, hơn Ngài, vì chúng ta chẳng những chỉ bồng ẳm Chúa mà được ăn Chúa nữa, thế mà chúng ta có yêu mến Chúa đâu! Chúng ta sẽ làm sao đây?
Lm Trầm Phúc

 

19/03-84: THÁNH GIUSE NGƯỜI GIA TRƯỞNG TRUNG THÀNH

 Để đảm bảo hạnh phúc gia đình, hơn lúc nào hết các đôi vợ chồng ngày hôm nay cần phải ý thức và can 19/03-84

Để đảm bảo hạnh phúc gia đình, hơn lúc nào hết các đôi vợ chồng ngày hôm nay cần phải ý thức và can đảm sống nhân đức trung thành theo mẫu gương của Thánh Giuse.

 1. Thánh Giuse trung thành bảo trợ gia đình
 Sau khi nhận được thánh ý Thiên Chúa, Thánh Giuse đã sẵn sàng đứng ra để bảo trợ Thánh gia.
 Thánh Kinh thuật lại: khi biết được Đức Maria mang thai là do quyền năng Chúa Thánh Thần, Thánh Giuse đã không ngần ngại nhận Đức Maria về nhà mình để chở che và nuôi dưỡng. Nhận lãnh hay bảo lãnh Đức Maria về nhà cũng đồng nghĩa Thánh Giuse giải cứu Đức Maria khỏi búa rìu dư luận và thoát khỏi án tử.
 Việc bảo trợ Đức Maria cũng có nghĩa là đồng bảo trợ Hài Nhi đang được cưu mang trong cung lòng Đức Maria. Việc nhận Đức Giêsu làm con cũng đồng nghĩa với việc bảo trợ cho Đức Giêsu sinh ra cách hợp pháp và đưa Đức Giêsu vào trong dòng tộc vua Đavít.
 Không chỉ bảo trợ cho Hài nhi Giêsu sinh ra hợp pháp mà thánh Giuse còn bảo toàn mạng sống của Đức Giêsu khỏi nanh vuốt của vua Hêrôđê. Để bảo toàn mạng sống của Đức Giêsu, thánh Giuse phải vượt đường xa hiểm trở gần 500 cây số xuyên qua sa mạc dài hơn 200 km không một bóng cây, không một ngọn cỏ, không một giọt nước, rất gian khổ để đến Ai-cập tị nạn.
 Ngoài việc bảo vệ sự sống, bảo vệ mạng sống, Thánh Giuse còn phải bảo vệ cho Đức Maria và Hài Nhi Giêsu được sống nữa. Ngài đã phải lao động vất vả tại xưởng mộc bé nhỏ tại làng Nazarét để mưu tìm miếng cơm, manh áo, tiền nong để nuôi sống gia đình.
 Cuộc đời thánh Giuse quả không phải sung sướng, an nhàn, trái lại ngài phải trãi qua trăm chiều thử thách và đau khổ. Ý Chúa quan phòng để ngài nêu gương cho ta khi gặp gian lao, thử thách cũng biết vui lòng hy sinh như ngài để bảo vệ sự sống, mạng sống và tạo điều kiện cho gia đình mình được sống an bình.
 Là người cha phải hết lòng bảo vệ con cái mình khỏi tay kẻ dữ, khỏi bầu khí hận thù và bất công. Đó là nhiệm vụ vô cùng to lớn của người gia trưởng.
 Hằng ngày có biết bao hài nhi bị hủy diệt trong bào thai. Chúng ta cũng đã từng chứng kiến không ít những hài nhi vừa cất tiếng khóc chào đời lại bị chính cha mẹ chúng bỏ rơi, thật đau lòng!
 Cách bảo vệ hài nhi an toàn nhất là chúng ta phải biết tỉnh thức để nghe tiếng Chúa nói trong lương tri như Thánh Giuse, dù khi ngủ, ngài vẫn thức tỉnh nhận ra tiếng Chúa nói trong giấc mộng.

 2. Thánh Giuse trung thành trong nhiệm vụ giáo dục con cái
 Tin mừng thánh Luca đề cao nền giáo dục tuyệt vời của Thánh gia qua câu: “Hài nhi lớn lên càng mạnh khỏe, khôn ngoan và đầy ân sủng trước mặt Chúa và người ta” (Lc 2,40-52). Chỉ một lời ngắn ngủi của thánh sử Luca nhưng đã diễn tả hầu như trọn vẹn cách thế giáo dục của thánh Giuse và Đức Maria đối với con mình. Các ngài đã để ý và giáo dục con mình về mọi phương diện: Thể dục, trí dục, đức dục …
 - Thể dục: Trẻ Giêsu càng lớn lên càng mạnh mẻ, đầy sức lực nhờ vào lao động nơi xưởng mộc Nazarét mà thánh Giuse đã dày công tạo dựng. Lên 12 tuổi trẻ Giêsu đã đi bộ suốt bốn năm ngày đàng lên Giêrusalem dự lễ, vậy mà không thấy Thánh kinh nói trẻ Giêsu mệt mỏi. Sau này giảng đạo, Đức Giêsu đã đi khắp cùng làng mạc, thành phố và cả những vùng lân cận nữa.
 - Trí dục: Càng tuyệt vời hơn khi mới 12 tuổi, cậu bé Giêsu của làng Nazarét quê mùa, vô danh, ở tít vùng sâu, vùng xa đã đàng hoàng vào đền thờ ở thủ đô Giêrusalem, ngồi giữa các thầy tiến sĩ vừa nghe vừa hỏi. Ai cũng ngạc nhiên về trí thông minh và những lời đối đáp khôn ngoan của cậu. Nếu gia đình Thánh Giuse không quan tâm đến việc hướng dẫn con mình học hỏi và trao dồi Thánh kinh thì làm gì có sự hiểu biết như thế?
 Mỗi ngày Sabát là dịp tốt để tìm hiểu Thánh kinh và nghiên cứu Luật Chúa. Như trở thành thói quen mà cha mẹ để lại. Sau này khi rao giảng Chúa Giêsu thường xuyên vào Hội Đường đọc Lời Chúa, giảng dạy và chữa bệnh. Có lẽ nhờ việc quan tâm đến giáo dục tri thức cho con mình nên Đức Giêsu đã thuộc lòng các khoản Luật và Lời Chúa.
 - Đức dục: Ngoài đức công chính gắn liền với tên tuổi Thánh Giuse, chúng ta còn nhận thấy một nhân đức khác nổi bậc nơi ngài nữa đó là đức vâng lời. Vâng lời thánh ý Thiên Chúa, ngài đã bỏ ý riêng mình để đón nhận Đức Maria về nhà mình. Vâng lời Thiên Chúa, ngài đã mau mắn đem Đức Maria và Hài Nhi trốn sang Aicập.
 Chính nhờ ảnh hưởng của một nền đạo đức như vậy mà Đức Giêsu trở nên người con hằng “đẹp lòng Chúa Cha”. Cuộc đời Chúa Giêsu cũng tiếp nối bằng hai chữ “xin vâng” theo thánh ý Chúa Cha như thánh Giuse và Đức Maria:
 Vâng lời Chúa Cha từ trời cao Người xuống thế, từ Vị Thiên Chúa trở nên người phàm, từ Đấng Thánh Thiện lại gánh lấy tội nhân. Người vốn là giàu sang lại trở nên nghèo khó…; và Ngài đã vâng lời cho đến chết và chết trên thập giá. Vì thế nên Người hằng xác quyết: “lương thực của Ta là làm theo Đấng đã sai Ta” (Ga 4,34). Ngoài việc vâng lời Chúa Cha, Đức Giêsu còn luôn vâng lời thánh Giuse và Đức Maria: “Người đi xuống cùng với cha mẹ, trở về Nazarét và hằng vâng phục các ngài” (Lc 2,51).
 Vậy những bậc cha mẹ cũng hãy noi gương thánh Giuse, quan tâm giáo dục con mình phát triển toàn diện. Trung thành giáo dục như thế mới hy vọng con chúng ta trở nên tốt.
 Cùng với Giáo Hội, chúng ta cũng đang sống trong tâm tình của mùa chay thánh. Nếu mùa chay Giáo Hội mời gọi chúng ta trở về, thì trước hết, chúng ta hãy bắt đầu trở về với chính mình, với những bổn phận của người chồng-vợ, người cha-mẹ, người gia trưởng-hiền mẫu trong gia đình mình, bằng việc noi gương thánh Giuse trung thành trong vai trò bảo trợ gia đình, trung thành trong trách nhiệm làm cha-mẹ và nhất là trung thành trong việc giáo dục con mình trở thành người và thành người con Chúa.
 Vì sự sống và hạnh phúc gia đình, xin cho các gia trưởng-hiền mẫu quyết sống với HAI CHỮ TRUNG THÀNH theo gương thánh Giuse Bổn mạng gia trưởng. Amen.

 

19/03-85: THÁNH GIUSE MẪU GƯƠNG CỦA THINH LẶNG

 Dẫn nhập
 

Nếu mùa chay là mùa sám hối, trở về, thì có lẽ việc trở về sâu xa nhất là trở về cõi lòng mình trong 19/03-85

Nếu mùa chay là mùa sám hối, trở về, thì có lẽ việc trở về sâu xa nhất là trở về cõi lòng mình trong thinh lặng để nhận ra Thiên Chúa là Cha đầy yêu thương, nhận ra tha nhân là anh em mình, nhất là nhận ra con người thật của mình. Nhờ đó mà ta có những điều chỉnh cho đúng đắn phù hợp với ý Chúa hơn.
 Nếu Giáo Hội đặt tháng kính Thánh Giuse vào Mùa Chay, thì mục đích đã rõ, bởi vì ngài là khuôn mẫu của con người nội tâm, thinh lặng.
 Xin Chúa cho chúng ta biết trân trọng và yêu quý đời sống thinh lặng, nhất là biết học nơi thánh Giuse bài học về “đức thinh lặng”.
 Chia sẻ
 Có truyện kể về 3 pho tượng: Xưa một nhà vua Ấn Độ, muốn thử nhân tài của một nước Chư hầu liền gửi tới nước này ba pho tượng vàng, giống hệt nhau. Nhà vua Ấn Độ yêu cầu nhà vua Chư hầu cho biết trong ba pho tượng vàng này, đâu là pho tượng quí giá nhất.
 Nhà vua nước Chư hầu cho triệu tập các nhà thông thái tới để đánh giá ba pho tượng vàng này, tìm ra xem pho tượng nào quí giá nhất. Các nhà thông thái nghĩ ngay tới giá trị của mỗi pho tượng sẽ căn cứ vào cân nặng nhẹ, hoặc vào tuổi vàng tốt xấu, hoặc căn cứ vào nghệ thuật tìm thấy trên ba pho tượng vàng! Nhưng rồi các nhà thông thái đành phải bó tay, vì ba pho tượng này giống hệt nhau về nghệ thuật, khối lượng và tuổi vàng.
 Nhà vua nước Chư hầu rất buồn, vì không biết được giá trị hơn kém của ba pho tượng. Vua liền cho loan báo khắp nước: Ai tìm được bí mật giá trị của mỗi pho tượng sẽ được trọng thưởng.
 Có một người tù, biết chuyện xin được xem ba pho tượng và nếu anh ta tìm ra giá trị hơn kém của ba pho tượng này thì anh chỉ xin một điều kiện là cho anh được tự do. Lập tức nhà vua cho anh xem ba pho tượng. Vừa ngó xong ba pho tượng, anh ta xin một cọng rơm. Chỉ trong ít phút, anh đã khám phá ra giá trị hơn kém của ba pho tượng vàng.
 Anh lấy cọng rơm chọc vào lỗ tai pho tượng thứ nhất, thì thấy cọng rơm xuyên từ lỗ tai này sang lỗ tai kia, anh bảo: “đây là pho tượng ít giá trị nhất, vì nó tượng trưng cho hạng người nghe điều gì, vừa vào tai nọ, đã ra tai kia, không biết ghi nhớ, không để tâm gì suy nghĩ điều đã nghe”.
 Anh ta lại lấy cọng rơm chọc vào lỗ tai pho tượng thứ hai, thì thấy cọng rơm đi từ lỗ tai chạy xuống miệng pho tượng. Anh bảo: “pho tượng này hơn pho tượng trước là vì nó tượng trưng cho hạng người biết nghe, biết nhớ nhưng mắc khuyết điểm là: vừa nghe được gì đã vội nói ngay, không suy nghĩ xem điều mình nghe đúng hay sai, nói ra có lợi hay có hại”.
 Anh lại lấy cọng rơm chọc vào lỗ tai pho tượng thứ ba, thì thấy cọng rơm đi từ lỗ tai chạy xuống bụng. Anh nói: “pho tượng này quý giá nhất, vì nó tượng trưng cho hạng người biết nghe, biết nhớ, biết để lòng suy nghĩ, biết ghi vào tâm dạ mình”.
 Vua nước lớn nghe được lời giải đáp của thần dân nước nhỏ thì vô cùng kính nể. Ông về nói với các quan trong triều: “Nước họ có người thông minh tài giỏi như vậy, hẳn nước họ là nước mạnh mẽ, hưng thịnh, ta nên giao hoà với họ chứ không nên giao chiến”.
 Trong các sách Tin Mừng dù có nhắc tên Thánh Giuse đôi lần, nhưng không hề thuật lại bất cứ lời nào của thánh Giuse. Có lẽ không phải vì vô tình mà Thánh Kinh không ghi nhận một lời nào của Thánh Giuse, nhưng muốn đề cao giá trị của sự thinh lặng.
 Thinh lặng giúp ta cảm nhận được vẽ đẹp.
 “…Ai hãy làm thinh chớ nói nhiều
Để nghe dưới đáy nước hồ reo
Để nghe tơ liễu run trong gió
Và để xem trời giải nghĩa yêu…”

 Trong bài thơ “Đà Lạt Trăng Mờ”, nhà thơ Hàn Mặc Tử kêu mời ta hãy lắng đọng tâm hồn trong cỏi riêng tư để cảm nhận sâu xa vẻ đẹp thiên nhiên mà Thượng Đế yêu thương ban tặng cho. Chỉ có thinh lặng, ta mới chìm sâu vào tận đáy lòng mình để nhận ra đáy nước hồ reo, nghe thấy nhịp rung của liễu tơ và nhận ra tình yêu của đất trời.
 Chính đời sống thinh lặng, Thánh Giuse mới có khả năng nhìn thấu được phía bên kia của những biến động làm xáo trộn cuộc sống của ngài. Chính trong thinh lặng ngài mới thấu suốt và tin tưởng vào những vẽ đẹp của ơn Chúa ban trước những biến cố đầy sóng gió xảy đến cho gia đình mình.
 
Thinh lặng là chọn cho mình lối sống khôn ngoan
 Người đời thường nói: “Lời nói là bạc, im lặng là vàng”. Thinh lặng hơn nói, vì nói chỉ là bạc mà im lặng mới là vàng, là vàng thì bao giờ cũng quí hơn bạc. Như thế thinh lặng được ví như một chuẩn mực của đạo đức, một tiêu chí của khôn ngoan thông thái.
 Ông bà ta vẫn nói “Ngôn giả bất tri, tri giả bất ngôn” (Người không biết thì lại lắm mồm vì tưởng người khác không biết như mình, người biết thì lại không nói vì nghĩ rằng mọi người đều biết”.).
 Trong thinh lặng đầy khôn ngoan, Thánh Giuse đã âm thầm bảo vệ che chở Đức Maria và nuôi dưỡng Hài Nhi Giêsu trong bầu khí ấm êm của một gia đình hợp pháp. Cho nên Heidegger mới khuyên chúng ta thực tập thinh lặng, bớt nói, bớt phát biểu, bớt bàn tán….không phải để ta nên ngu muội, vô tri, nhưng để cho tâm khảm suy nghĩ hoà quyện với sinh linh vạn vật, và chỉ khi đó chúng ta mới có thể thấu đạt hết mọi ngóc ngách, thông tường mọi thế thái, biến chuyển trong sự biểu đạt khôn cùng của nhân sinh, của nhiên giới.
 
Thinh lặng giúp ta nhận ra giới hạn của mình
 Thinh lặng để thấu đạt được cái vô thường, cái bất biến, cái trường cửu của đất trời. Thinh lặng để thấu triệt được nội quan cũng như ngoại giới. Thinh lặng đễ thấy ta là nhỏ bé, là mong manh, là hạn hữu trong mênh mông, bao la, vô hạn giới của đất trời, của vũ trụ thường hằng và vô biên. Thinh lặng để chuyển tải nhiều hơn, thinh lặng để nói nhiều hơn, để nghe nhiều hơn, để thấu đạt nhiều hơn, có lẽ cũng đáng giá lắm thay sự thinh lặng ấy!
 Trong chính sự thinh lặng của đêm vắng, Thánh Giuse đã nhận ra được ý muốn của Chúa, lắng nghe được Lời Chúa nói. Phân biệt được điều gì đúng, điều gì sai và chọn lựa cách thế thực hiện như thế nào đẹp ý Chúa nhất. Vì thế ngài được gọi là “người công chính”: làm theo ý Chúa.
 Giữa bao triết lý và lắm luồng tư tưởng trong xã hội này, ta phải chọn lựa như thế nào? Giữa những nền văn hóa đa dạng và những nền văn minh phức tạp, ta biết đâu là đúng, đâu là sai? Có lẽ ta hãy học thinh lặng như thánh Giuse, để lắng đọng tâm hồn, bình tĩnh lắng nghe tiếng Chúa nói. Khi nghe được tiếng Chúa, ta phải cương quyết chọn lấy cho mình con đường. Đó là sống cho nền văn minh tình thương và văn hoá của sự sống theo gương Thánh Giuse.
(trích từ trang Lamhong.org)

 

19/03-86: GIUSE, CON NGƯỜI CỦA NIỀM TIN

ĐGM Giuse Vũ Duy Thống
 

 Trong Phúc Âm, Thánh Giuse được giới thiệu là “người công chính” gắn liền với đời sống âm thầm. 19/03-86

Trong Phúc Âm, Thánh Giuse được giới thiệu là “người công chính” gắn liền với đời sống âm thầm. Không một lời nào của ngài được ghi nhận. Nhưng giữa những biến cố bên cạnh Chúa Giêsu và Mẹ Maria, thánh Giuse lại xuất hiện trong một diện mạo khác, vừa năng động mau mắn vừa xác quyết tin yêu. Nếu đức tin là một sự lên đường liên tục thì thông qua những đáp ứng lên đường mau mắn của Giuse trong những lần được mộng báo, ta có thể gọi ngài là “con người của niềm tin”.

 1. Lên đường ra khỏi ý riêng để tìm theo thánh ý
 Cũng như bao người ngoan đạo thời bấy giờ, thánh Giuse thể hiện niềm tin tôn giáo qua việc tuân hành lề luật được ban hành dưới thời Môsê. Luật là kim chỉ nam đời sống, luật cao trọng hơn cả bạc vàng, luật quý giá hơn những lời tinh hoa, luật nên như ánh sáng soi đường công chính. Sự công chính của một người được đánh giá xếp hạng tuỳ vào sự tuân giữ lề luật này. Luật lệ với những quy định rạch ròi, càng tuân thủ khít khao bao nhiêu, càng được đánh giá ở mức độ cao trên đàng công chính bấy nhiêu. Nhưng bước vào chương trình của Thiên Chúa, Giuse được mời gọi phải lên đường ra khỏi ý riêng vốn được luật lệ khuôn định để đến với thánh ý Chúa, đón nhận và tuân hành.
 Giấc mộng báo thứ nhất đã nói lên tất cả. Nếu theo luật lệ, Giuse vốn là người công chính, chẳng những không được đón Maria đang mang thai lạ về nhà, mà còn phải nhân danh sự công chính để tố giác Maria trước cộng đồng nữa. Nhưng theo thánh ý thể hiện qua lời sứ thần trong mộng báo, Giuse đã đón nhận Maria trọn vẹn trong tình yêu, để trở nên công chính bằng cách ra khỏi lựa chọn theo tiêu chuẩn của thói quen luật lệ mà gắn bó với lời gọi đầy mạo hiểm của Thiên Chúa. Ý Chúa thật đáng ngại, làm đảo lộn tất cả khuôn sáo ngày trước để mở ra nẻo lối yêu thương. Giuse đã sẵn lòng từ bỏ sự công chính theo tiêu chuẩn của luật lệ để bước theo sự công chính theo chuẩn mực của tình yêu. Chính đây là việc lên đường đầu tiên của niềm tin.
 
2. Lên đường ra khỏi sự yên ả để lao đầu vào sóng gió
 Đón nhận Maria về chung sống, tưởng rằng từ nay đời có Chúa êm trôi êm trôi, Chúa dắt dìu đi không ngơi không ngơi, nào ngờ tình yêu tuyệt vời chưa kịp thấy, Giuse đã gặp đường đi đơn côi và vất vả chừng như gia tăng gấp bội. Nào là phải lên đường trở về nguyên quán Belem đăng ký hộ khẩu khi Maria đang ở những ngày cuối thai kỳ, nào là phải gạt lệ chịu để Chúa Giêsu được sinh ra trong hang đá nơi trú ẩn của bò lừa, và đỉnh cao là giấc mộng báo thứ hai: “Hãy đem trẻ Giêsu và mẹ Người trốn sang Ai Cập”. Quả là trách nhiệm một thân với đôi vai gánh gồng. Niềm tin là như thế đó, không phải là chọn lấy cuộc sống yên ả êm đềm, mà ngược lại luôn bị đẩy đưa ra giữa biển khơi sóng gió để chèo chống mà lớn lên trong lòng tin cậy mến.
 Tin chính là một gặp gỡ cá vị với Thiên Chúa để sống gắn bó bền lòng bất kể những thử luyện để mà lớn lên, những khổ đau để mà minh chứng, những cùng cực để mà thêm tín thác cậy trông. Thánh Giuse đã trải qua những biến cố thăng trầm ấy để trở nên tượng đài của lòng tin kiên cường. “Ai muốn theo Ta, hãy bỏ mình, vác thập giá hằng ngày mà đi theo”. Chúa Giêsu đã ra tiêu chuẩn như vậy. Kitô hữu, thuộc về Chúa Kitô và cũng bước đi theo Người, theo gương thánh Giuse và trong tinh thần Mùa Chay giữa lòng Năm Đức Tin, ta cũng sẵn sàng đón nhận thập giá bổn phận của bậc sống để vác lấy hằng ngày qua việc to việc nhỏ, được nhiều người biết đến hay chỉ trong âm thầm, mà bước đi theo Chúa bền bỉ trong cuộc đời mình.
 
3. Lên đường ra khỏi vòng hạn hẹp để sống chan hoà
 Nếu giấc mộng thứ ba báo tin bạo chúa Hêrôđê băng hà là tin buồn cho người thuộc phe cánh ông thì lại là tin vui cho gia đình thánh: chấm dứt nỗi lo canh cánh bao ngày canh giữ và bảo toàn sinh mạng cho Đấng Cứu Thế, đồng thời cũng chấm dứt cảnh tha hương trốn chạy. Giấc mộng hồi hương tưởng xa biền biệt giờ đây đã đến. Quê hương vấn vương ngày nào giờ đây đã thân thương tỏ hiện. Nhưng trong chính cảm xúc rất đỗi tự nhiên ấy, thánh Giuse lại được thúc đẩy để không xuôi về Giuđêa miền nam mà ngược lên sinh sống tại Galilêa miền bắc để Chúa Giêsu sau này được người ta nhìn nhận như người Nazarét. Quả là tình tiết nhiệm mầu. Nếu Giuse trở lại miền nam co cụm bên ít gia đình quen biết kẻ mất người còn thì có lẽ mối quan hệ sẽ không tránh khỏi bị hạn chế, đàng này ngài đi xa hơn, mạo hiểm hơn, nhưng cũng đầy tính tiên liệu để trẻ Giêsu sau này lớn lên sẽ có môi trường rộng rãi hơn để thi thố ơn gọi đời mình. Đây không chỉ là việc tính toán mang mầu xã hội mà còn là thể hiện một sứ mạng tôn giáo. Niềm tin không dừng lại trong vòng tròn hạn hẹp địa lý tình thân sở thích, nhưng nhất thiết phải mở ra cho hết mọi người trong sự chan hoà lan toả.
 Đành rằng tin là gặp gỡ gắn bó với Chúa, nhưng tin cũng lại là cánh cửa mở ra cho tình hiệp thông liên đới với mọi người đồng thời, cả về mặt Giáo Hội cũng như xã hội. Quả như một định luật dễ thương: ai càng gắn bó với Chúa, lại càng nhanh chóng được Chúa gửi đến với anh chị em chung quanh, để dấn thân lên đường phục vụ.
 Tóm lại, chia sẻ về thánh Giuse như “con người của lòng tin” biết lên đường ra khỏi ý mình để tuân hành ý Chúa, ra khỏi sự yên ổn để dấn bước xông pha và ra khỏi vòng cục bộ để sống chan hoà, mong rằng đã trao đến cộng đoàn một chân dung khác của thánh Giuse, đầy nhiệt huyết, nhiều năng động và giầu tính Tin Mừng. Xin cho chúng ta đang sống trong Năm Đức Tin gặp được nơi thánh Giuse hình mẫu sống động để vững bước theo Chúa giữa cuộc sống hôm nay, vốn đầy dẫy thử thách cám dỗ khó khăn của nếp sống cá nhân, gia đình, xóm đạo, giáo xứ, giáo phận. Nếu thánh Giuse đã vượt lên tất cả để khẳng định niềm tin, xin nhờ lời chuyển cầu của Ngài, cho mọi tín hữu hôm nay không chỉ bằng lòng tuyên xưng mà còn nỗ lực làm chứng cho đức tin nữa.
 Mùa Chay cũng là mùa hồng ân, mùa cứu rỗi, mùa tìm về với tình thương của Thiên Chúa, xin cho gia đình giáo phận chúng ta theo gương thánh Giuse biết tìm hiểu và quyết tuân theo thánh ý, dẫu biết rằng sống theo thánh ý cũng chính là phải bước đi trên đường thánh giá, bởi lẽ ý Chúa thường ngược lại với ý riêng con người.
 Chúc mừng những người mang bổn mạng Giuse và xin nhờ lời chuyển cầu của Ngài cho mọi người biết sống niềm tin mật thiết đầy đủ hơn và tươi tắn hạnh phúc hơn, đồng thời cũng biết chan hoà cưu mang những người khác, cách riêng những anh chị em cùng khốn chung quanh mình trong sứ vụ truyền giáo của Hội Thánh. “Hôm nay ngày lễ quan thầy, Giuse thánh Cả tràn đầy ơn thiêng. Dâng câu hát, ngọt lời kinh, Khang an hạnh phúc, nguyện xin chúc mừng”.

 

19/03-87: ĐẤNG BẢO TRỢ XÃ HỘI VÀ NHỮNG TÂM HỒN DÂNG HIẾN

Lm. Petrus Tá Đương, OP
 

Trong Giáo Hội, sau Đức Mẹ, Thánh Giuse là vị thánh cả trong Giáo Hội, được mọi người tôn kính 19/03-87

Trong Giáo Hội, sau Đức Mẹ, Thánh Giuse là vị thánh cả trong Giáo Hội, được mọi người tôn kính mến yêu cách đặc biệt. Trong Kinh Thánh, thánh Giuse được gọi là người công chính. Thánh Giuse được Giáo Hội tôn vinh với nhiều tước hiệu cao quý. Một trong những tước hiệu đó là: “Thánh Giuse - Đấng bảo trợ Giáo Hội và những tâm hồn dâng hiến.”
Đức Thánh Cha Piô IX, một vị Giáo hoàng có lòng sùng kính thánh Giuse đặc biệt, đã viết về thánh Giuse như sau: “Ngoài Đức Mẹ ra, thì trên trời dưới đất không tìm được vị thánh nào có thần thế để bênh vực Giáo Hội cho bằng thánh cả Giuse”.
Chính vì thế, ngày 8-12-1870, Ngài đã long trọng tuyên bố đặt Thánh Giuse làm quan thầy Giáo Hội hoàn vũ, ký thác Giáo Hội cho sự che chở phù trì của Thánh Cả Giuse.

Thánh Giuse, bổn mạng Giáo hội
Riêng đối với Giáo Hội Việt Nam, thánh Giuse đã trở nên gần gũi và thân thương. không chỉ vì Ngài là bạn thanh sạch của đức Maria và là cha nuôi của Đấng Cứu Thế, nhưng còn là Đấng bảo trợ luôn đồng hành với Giáo Hội Việt Nam suốt chặng đường dài lịch sử, từ lúc mới phôi thai cho tới trưởng thành.
Việc nhận thánh Giuse làm Đấng bảo trợ bắt nguồn từ một biến cố lịch sử trọng đại. Đó là sự kiện cha Alexandre de Rhodes và cha Marquez, sau những ngày vượt trùng dương nguy hiểm, nhờ lời khấn thánh Giuse hai cha đã cập bến an toàn, tại cửa Bạng – Thanh Hóa, đúng vào ngày 19-3-1627, ngày lễ kính thánh Giuse.
Hôm ấy, hai cha đã dâng thánh lễ cảm tạ thánh Giuse và phó thác Miền này cho Ngài gìn giữ.
Mừng lễ thánh Giuse hôm nay, chúng ta không chỉ dừng lại ở một vài nét lịch sử liên quan giữa Ngài với Giáo Hội, nhưng còn là dịp để chúng ta tìm hiểu và noi gương các nhân đức của Ngài.
Quả thực, Thánh nhân là con người của niềm tin và phó thác, một người được chia sẻ để hiểu biết Mầu Nhiệm của Thiên Chúa. Thánh nhân là con người thinh lặng. Nhưng được Thiên Chúa chọn làm Bạn Trăm Năm của Đức Trinh Nữ và được trao phó việc chăm sóc con Thiên Chúa, như một người cha.
Cuộc sống của thánh nhân là cả một cuộc đời âm thầm, khiêm nhượng. Ngài đã tận tụy gìn giữ gia đình Nagiarét mà Chúa trao phó cho Ngài coi sóc, trông nom. Sự tận tụy hy sinh của Ngài còn được thể hiện qua việc lo lắng cho Đức Mẹ lúc nở nhuỵ khai hoa, khi trốn sang Ai Cập, lúc trở về Nagiaret... Ở đâu và trong hoàn cảnh nào, Ngài cũng lấy đức tin để soi chiếu vào mọi suy nghĩ, hành động và việc làm của mình.
Một niềm tin được cắm rễ sâu trong việc lắng nghe vâng phục ý Chúa, đã không chỉ làm sáng danh gia đạo, nhưng còn góp phần rất nhiều vào việc hình thành nhân cách của Chúa Giêsu, và giúp Chúa Giêsu thực hiện và hoàn tất sứ mạng cứu thế, đem lại ơn cứu độ cho toàn thể nhân loại. Ngài đã hoàn thành sứ mạng Chúa trao với tất cả lòng tin, sự hiền lành và khiêm nhượng.
Suốt cuộc đời dương thế, thánh Giuse đã tận tâm tận lực bảo vệ Đấng Cứu Thế. Ngày nay, được chung hưởng vinh quang trên trời, thánh Giuse vẫn đang tiếp tục sứ mạng của Ngài là bảo vệ thân thể nhiệm mầu của Chúa Cứu Thế là Giáo Hội.

Thánh Giuse, Đấng bảo trợ những tâm hồn dâng hiến
Giáo Hội coi Thánh Giuse là “Đấng giữ gìn các kẻ đồng trinh”. Ngài đã giữ gìn Đức Maria. Ngài cũng sẵn sàng giữ gìn những người tận hiến đời mình cho Chúa.
Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã nói: “Chính phải góp phần vào mầu nhiệm của Ngôi Lời Nhập Thể mà ông Giuse và bà Maria đã lãnh nhận ơn thánh để họ vừa sống đặc sủng trinh khiết vừa sống hồng ân hôn nhân đích thực.”
Và để giải thích việc đính hôn này, các giáo phụ cho rằng lý do có cuộc đính hôn giữa Đức Maria và Thánh Giuse như là để tránh sự phiền phức do phong tục tập quán gây nên đối với những người chưa lập gia đình. Và rất có thể, trước khi kết hôn, hai người đã thỏa thuận với nhau sống trinh khiết trọn đời mà vẫn sống đời hôn nhân.
Như vậy, Thánh Giuse không những giữ mình trinh khiết mà còn giúp Đức Maria thực hiện lời thề hứa sống đồng trinh trọn đời. Cả hai được mọi người ví như những cành huệ trinh khiết thơm ngát hương hoa. Do đó, từ lâu Giáo Hội đã ca tụng Thánh Giuse là gương mẫu và là đấng gìn giữ các kẻ đồng trinh.
Mừng kính Thánh Cả Giuse, cũng là dịp để chúng ta tuyên xưng lòng nhân lành Chúa đã tuyển chọn và ưu ái đặt thánh Giuse là cha nuôi Chúa Giêsu, và là Đấng bảo trợ cho Giáo Hội, cho những tâm hồn dâng hiến và cho mỗi chúng ta.
Trên toà Chúa, giờ này, Ngài đang hướng nhìn xuống đoàn con cái với tình yêu thương nồng thắm, nhất là khi thấy chúng ta, hằng ngày phải vất vả chèo chống với bao sóng gió khó khăn để bảo vệ con thuyền gia đình, bảo vệ đời sống dâng hiến, bảo vệ những tâm hồn trong trắng khỏi bị dập vùi và tan nát trước bao cơn sóng của vật chất, kiêu ngạo, dục vọng, đam mệ, ích kỷ, khoái lạc...

Hãy đến cùng Thánh Giuse
Trong mọi tình huống của cuộc đời, chúng ta hãy chạy đến cùng thánh cả Giuse để van xin Ngài cứu giúp, nâng đỡ, chở che và bảo vệ, giúp chúng ta vượt mọi gian nguy của cuộc đời, thoát khỏi những cảm bẫy của thời đại.
Trong sách Sáng Thế có kể chuyện Tổ Phụ Giuse trong hoàn cảnh đói khổ mất mùa của toàn dân, nhà vua Ai-cập đã bảo với thần dân của mình: ”Hãy đến với ông Giuse, người dạy sao, hãy làm như vậy”. Và từ đó, “hằng ngày ông Giuse đã mở công lẫm để phân phát thực phẩm cho dân”.[1]
Hôm nay, chúng ta cũng nhìn nhận hình ảnh Tổ Phụ ấy nơi Thánh Cả Giuse để đến với Ngài. Thiên Chúa như thể muốn nhắc bảo chúng ta: ”Hãy đến với Thánh Giuse, Người dạy sao hãy làm như vậy”.
Thánh Têrêxa thành Avila đã tâm sự: “Chưa bao giờ tôi cầu xin sự gì cùng Thánh Cả Giuse mà không được như ý. Kỳ diệu thay, những ơn đặc biệt mà Thiên Chúa đã ban đầy tràn cho tôi, và đã giải thoát tôi khỏi mọi nguy hiểm phần hồn cũng như phần xác, do lời cầu bầu của Vị Thánh Cả vinh phúc này”.
Thánh nữ tha thiết mời gọi tất cả những ai không tin hoặc chưa tin, hãy thử mà cậy nhờ, hãy thử cầu khẩn Thánh Cả Giuse vinh hiển, thì đoan chắc không có ơn nào mà ngài lại từ chối !
Lạy Chúa, vì công nghiệp và lời chuyển cầu của thánh cả Giuse, xin Chúa luôn gìn giữ Giáo Hội được bình an và thoát khỏi mọi gian nguy trần gian. Xin Chúa luôn nâng đỡ và bảo vệ những tâm hồn sống đời thánh hiến, xin cho họ biết nhìn lên mẫu gương khiêm tốn và trung thành của thánh Giuse để trọn niềm dấn thân trong niềm tín thác, quảng đại phụng sự Chúa và cứu rỗi các linh hồn. Xin Chúa luôn bảo vệ và gìn giữ họ giữa thế giới tục hoá này.
Lạy thánh cả Giuse là Đấng bảo vệ Giáo Hội và những tâm hồn dâng hiến xin cầu cho chúng con. Amen.
Lm. Petrus Tá Đương, OP

 

19/03-88: NOI GƯƠNG NHÂN ĐỨC THÁNH GIUSE

Pm. Phạm Huy Hoàng
 

Tháng 3 về, chúng ta cùng tạ ơn Thánh Giuse là Đấng bảo trợ mỗi gia trưởng chúng ta trong thời gian qua, 19/03-88

 Tháng 3 về, chúng ta cùng tạ ơn Thánh Giuse là Đấng bảo trợ mỗi gia trưởng chúng ta trong thời gian qua, và còn sẽ bảo trợ chúng ta trong suốt cuộc đời làm chồng, làm cha, làm ông nội, ông ngoại.
Tỏ lòng tri ân ấy, Chúa không muốn chúng ta chỉ nói lên bằng lời, mà còn phải nói lên bằng cuộc sống gia trưởng theo mẫu gương gia trưởng nhân đức của Ngài. Vì thế, suy niệm về những ngày đời thánh thiện của Thánh Giuse, làm bài học quí giá cho mỗi gia trưởng là thật cần thiết.

Đón nhận nhau trong đức tin
Thiên Chúa đã chọn Thánh Giuse cộng tác vào chương trình cứu chuộc, chương trình mạc khải tình yêu Thiên Chúa cho nhân loại, nên có thể nói, người được Thiên Chúa chọn hẳn phải là một người đủ phẩm cách đẹp lòng Thiên Chúa. Và điều đẹp lòng Chúa nhất là Tin vào quyền năng vô biên của Thiên Chúa.
Quả thật, nếu đức tin của Mẹ Maria được thể hiện bằng sự khiêm tốn và vâng phục để Thiên Chúa thực hiện mầu nhiệm nhập thể: “Nầy tôi là tôi tớ Chúa, tôi xin vâng như Lời sứ thần truyền. Xin hãy thành sự trong tôi, như Lời Ngài đã phán”,  thì Thánh Giuse âm thầm không nói gì, không trả lời gì, mà Ngài chỉ làm như sứ thần Chúa dạy và đón vợ về nhà: ‘Đừng ngại đón bà Maria vợ ông về, vì người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần’. Điều Thánh Giuse đã làm là một câu trả lời  “vâng phục” bằng “đức tin” hùng hồn nhất (x. Rm 1,5; 16,26; 2Cr 10,5-6).
Thế thì, Lời chúc của Elizabet dành cho Mẹ Maria “Em thật có phúc, vì đã tin rằng Chúa sẽ thực hiện những gì Người đã nói với em” (Lc 1,45) cũng chính là lời mà mọi miệng lưỡi  phải chúc tụng Thánh Giuse như vậy.
Thánh Giuse và Mẹ Maria đã đón nhận và thực hiện thánh ý của Thiên Chúa là đón nhận nhau, và cả hai cùng đón nhận Phôi Thai Đấng Cứu Thế bằng một đức tin. Từ đó, làm thành một cộng đoàn mới của Thiên Chúa, trong kế hoạch của Thiên Chúa.
Việc thánh Giuse đón Đức Maria về làm vợ trong lúc Maria đang cưu mang Đấng Cứu Thế, quả là một gương đức tin hùng hồn vào Thiên Chúa quyền năng: Thiên Chúa chọn cho Giuse một người vợ. Thiên Chúa chọn cho Maria một người chồng. Thiên Chúa chọn cho Đấng Cứu Thế những người làm Cha Mẹ. Vì quả thực, nếu để tự Giuse chọn, có lẽ Giuse không chọn Maria, vì ngại những tiếng đời dị nghị. Nhưng việc ấy không xảy ra theo ý của Giuse, mà đã xảy ra ngược lại theo ý của Thiên Chúa.
Còn chúng ta, có tin rằng Thiên Chúa đã tham gia vào việc chọn lựa của mình không? Có nhiều người đã sống với nhau bao nhiêu năm rồi, mới ngộ ra là có bàn tay Thiên Chúa định liệu cho việc của Chúa nơi gia đình mình. Có nhiều người cho là chuyện ông trời xe định, nồi nào vung nấy. Nhưng thiết tưởng đức tin công giáo đòi hỏi chúng ta phải xác tín ngay từ buổi đầu của cuộc hôn nhân rằng Thiên Chúa tham dự vào việc tuyển chọn cho mình một người bạn đời theo ý Chúa. Và từ ấy, cuộc sống của vợ chồng trải ra trong sự quan phòng của Thiên Chúa, để tiếp tục công cuộc sáng tạo của Thiên Chúa và tiếp tục thực hiện chương trình cứu rỗi của Ngài. Chỉ trong đức tin, cuộc sống của hôn nhân mới có đủ nghị lực để vượt qua những thử thách và bền vững cho đến cùng.
Như vậy, việc đón nhận nhau trong đức tin là bài học trước tiên của đời sống gia đình công giáo. Đón nhận một người bạn đời về chung sống với nhau nên nghĩa vợ chồng, đón nhận con cái Chúa ban trong ánh sáng đức tin, có thể nói là đón nhận tình yêu Thiên Chúa, hồng ân của Thiên Chúa nhằm đến việc thực hiện chương trình mạc khải của Thiên Chúa nơi gia đình là: Tình yêu và cứu độ.
Nhìn lại đời sống gia đình chúng ta, mỗi người có thể suy xét lại và trả lời trước mặt Chúa, rằng ngày ấy con yêu nàng, con cưới nàng làm vợ, có phải vì Đức Tin là để có một gia đình nhằm thực hiện chương trình của Chúa, hay có một gia đình thực hiện chương trình của chúng ta. Chúng ta đã đón nhận nhau vì Chúa hay vì ta? để sống cho Thiên Chúa hay cho chúng ta?

Thánh thiện trong đức cậy
Mẹ Maria đã tin tưởng và ký thác toàn thân mình cho Thiên Chúa để Ngài thực hiện ơn cứu độ, thì thánh Giuse cũng cậy trông hoàn toàn vào sức mạnh của Thiên Chúa để vượt thắng những nguy cơ làm mất đi vẻ đẹp tinh tuyền thánh thiện của gia đình Con Thiên Chúa. Việc giữ đức khiết tịnh cho mình và cho người bạn đời, thiết tưởng phải việc ưu tiên hơn cả. Bởi vì thánh ý của Thiên Chúa đã khởi đầu bằng việc Con Thiên Chúa làm người trong lòng một trinh nữ. Và trinh nữ ấy đã khấn nguyện giữ mình đồng trinh đến trọn đời. Như thế, đời sống gia đình của Thánh Giuse, Mẹ Maria và Con Thiên Chúa phải là một đời sống tinh tuyền tuyệt đối nơi cả ba con người.
Với loài người, thì không thể, nhưng với Thiên Chúa thì việc gì cũng có thể. Và chúng ta tin rằng, đức cậy trông nơi Thánh Giuse phải là tuyệt hảo. Chính vì đức trông cậy và nhờ vào sức mạnh của Thiên Chúa, mà Thánh Giuse vượt thắng những yếu hèn của đời người, gìn giữ được đức công chính, vẻ đẹp nguyên tuyền của mình trong trắng thanh cao như nhành huệ, đồng thời bảo bọc được sự đồng trinh trọn đời của người bạn đời chí thiết.
Hình ảnh người con mà đức tin cho biết là “Con Thiên Chúa” trong gia đình, có thể nói là yếu tố quan trọng vào bậc nhất trong việc hình thành đức cậy trông nơi Thánh Giuse. Người “con làm việc của Cha trên trời” và “càng thêm tuổi càng thêm khôn ngoan” là hoa trái của đức cậy trông mà Thánh Giuse đã miệt mài ký thác.
Gia đình chúng ta hôm nay quên nhắm đến hạnh phúc do sự công chính, thánh thiện mang lại, mà chỉ nhắm đến hạnh phúc do những giá trị trần thế ban phát cho. Thật đáng trách cho mỗi gia trưởng chúng ta, khi không hướng gia đình đến đời sống thánh thiện thuần khiết, lại còn vướng vào những trào lưu tục hóa làm mất đi vẻ thánh thiện nguyên tuyền của hôn nhân công giáo. Thêm vào đó, lại không hướng niềm cậy trông vào Chúa mà lại đặt hy vọng nơi những thực tại hão huyền.

Chu toàn trách nhiệm trong đức mến
Hoa trái của Đức tin là đức mến. Đức Mến thôi thúc thánh Giuse chu toàn vai trò làm chồng làm cha trong gia đình. Từ việc đưa vợ về làm sổ bộ, lo cho vợ sinh nở, đưa vợ con trốn sang Ai cập, hồi cư, cắt bì và đặt tên cho con, dâng con vào đền thờ, tìm con khi lạc mất, cùng vợ con kiếm có cái ăn cái mặc… tất cả đều được thể hiện với tình yêu mến.
Chúa Giêsu lớn lên và trưởng thành mặt nhân tính trong cung lòng Mẹ Maria, thực ra trong trái tim yêu thương của Mẹ Maria và trong tấm lòng từ ái của Cha Thánh Giuse. Cả hai đầy tình yêu thương và tính trách nhiệm.
Tình thương đích thực bắt nguồn từ Thiên Chúa, và cụ thể nơi vợ chồng Maria, Giuse: Tình thương đó là hy sinh cho người mình yêu được hạnh phúc. Sự hy sinh ấy bao gồm cả tự do, ý chí, sự sống, thời gian và tất cả những gì tưởng như mình phải được, cũng bằng lòng mất đi. Sự hy sinh ấy được thể hiện với lòng khiêm cung, lịch sự, khoan dung, nhẫn nại. Và sự hy sinh ấy chính là nét họa bản tính của Thiên Chúa trong tâm hồn mỗi con người có lòng yêu mến Ngài.
Cả Thánh Giuse và Đức Mẹ Maria đều đã thắm đẫm tình yêu của Thiên Chúa. Vì yêu nhau bằng tình yêu của Thiên Chúa, nên việc chu toàn trách nhiệm với đứa con được sinh ra cũng chính là chu toàn trách nhiệm mà Thiên Chúa giao phó trong nhiệm cuộc của Ngài.
Tình mến không vị kỷ. Tình mến không huênh hoang. Tình mến không nóng nảy…. là tình mến của Thánh Giuse. Tình mến chứa chan sự công chính thánh thiện, tràn đầy niềm hân hoan, vẻ dịu dàng, nét khiêm tốn là tình mến của Thánh Giuse. Tình mến ấy phải là tình mến chuẩn mực cho các gia trưởng hôm nay.
Nghĩ về mình, có thể có đôi người trong chúng ta đang được niềm vui mừng vì đã theo gương nhân đức của Thánh Giuse trong đời sống gia đình, nhưng thiết tưởng, đa số trong chúng ta chưa chọn lấy tình mến chuẩn mực của Ngài làm tiêu chí sống đời vợ chồng gia đình. Thật đáng tiếc.
Tháng 3 lại về, tháng kính Thánh Giuse, cho chúng ta một cơ hội nhìn vào gương sống của thánh quan thầy các gia trưởng mà suy nghĩ về:
-      mầu nhiệm gia đình, trước tiên, phải xác tín gia đình là một mầu nhiệm trong nhiệm cuộc sáng tạo và cứu rỗi nhân loại.
-      đức tin của chúng ta, Đức tin vào Thiên Chúa yêu thương và quan phòng, đã chọn lựa và chỉ định cho chúng ta người bạn đời, để  sống với nhau mà thực hiện thánh ý Chúa.
-      đức trông cậy của chúng ta, đức trông cậy duy nhất nơi sức mạnh của Thiên Chúa mới giúp chúng ta sống công chính thánh thiện và bình an hạnh phúc.
-      đức mến của chúng ta, đức mến phải được mặc lấy lòng khoan dung từ bi nhân hậu của Thiên Chúa mà chu toàn bổn phận Chúa giao phó trong sứ mệnh sáng tạo và cứu rỗi ngay trong chính gia đình mình.
Nguyện xin Thánh Giuse cầu thay nguyện giúp cho mỗi gia trưởng chúng con biết noi gương nhân đức Ngài, mà thăng hoa cuộc lữ hành trần thế của chúng con trên đường công chính.
Pm. Phạm Huy Hoàng

 

19/03-89: GIUSE KHIẾT TỊNH

Lm. Vinh Sơn Đinh Minh Thoả
 

Con số 7 tượng trưng cho sự hoàn hảo. Kinh Lạy Cha có 7 lời cầu xin; phép lạ hóa bánh ra nhiều 19/03-89

Con số 7 tượng trưng cho sự hoàn hảo. Kinh Lạy Cha có 7 lời cầu xin; phép lạ hóa bánh ra nhiều còn dư 7 thúng, Chúa Thánh Thần ban bảy ơn. Trong Tin Mừng Mátthêu, tên Giuse xuất hiện 7 lần, cho thấy vai trò của ngài rất quan trọng; nhưng lối sống âm thầm của ngài lại cho chúng ta sự chú ý.
Thánh Giuse làm chủ trong lời ăn tiếng nói. Ta không hề thấy một lời nào của ngài. Trong Tin Mừng, ngài rất thinh lặng. Vì vậy, nếu ngài im lặng, thì đây không phải là tình trạng lặng thinh, cũng không phải là hờn dỗi, cũng không phải vì ngài ít nói. Ngài thinh lặng để lắng nghe.
Trước tiên vì ngài là mẫu mực cho sự vâng phục của đức tin.
Ngài biết rằng vâng phục để lắng nghe cho tỏ tường. Từ đó, sự thinh lặng, việc giữ gìn ý tứ và những lời ăn tiếng nói hiếm thấy nơi ngài: ngài phải thế để lắng nghe, đó là mở tai lòng mình ra. Khi Thiên Chúa gọi, ngài trả lời ngay, nhưng theo cách của ngài. Khi ngài nghe Thiên Chúa nói: Giuse, đừng sợ đón nhận... Chúa Thánh Thần, Phúc Âm không hề nói gì đến lời của ngài nhưng nói đến thái độ: Giuse làm như Thiên Thần Chúa dạy.
Suốt cả đời sống của ngài diễn ra như thế: chỉ cần Thiên Chúa bảo “đứng dậy” và ngài đứng dậy, không một lời nói. Giuse là người không chậm trễ, thẳng thừng, không nhiều lời, làm theo ý Chúa. Ôi! mong sao thế giới được tốt đẹp nếu tất cả mọi người (hay ít ra là các Kitô hữu) đáp lại ý Chúa như Giuse đã làm...

THÁNH GIUSE LÀM CHỦ THÂN XÁC
.... đặc biệt là về tính dục.
Vì ngài đã tin vào Thiên Chúa, ngài đón Maria về nhà. Ngài đón nhận cô vì cô là người nữ trinh khiết và đang có thai.
Vì ngài đã nghe Thiên Chúa, ngài hiến dâng ơn gọi của mình với tư cách là một con người hoàn toàn là hợp pháp.
Ngài chấp nhận tránh nhiệm và gáng nặng của một gia đình, nhưng từ chối tình yêu hôn nhân tự nhiên. Tình yêu này làm sinh sôi và làm cho gia đình lớn lên.
Giuse là bậc thầy về đức khiết tịnh, một đức tính cao đẹp mở ra một tình yêu chân thật, dù sống đời hôn nhân hay độc thân, sống tu trì hay gia đình.
Hậu quả đầu tiên của tội nguyên tổ là đánh mất sự tự chủ thiêng liêng, không làm chủ được thân xác chúng ta nữa. Tinh thần thì mạnh mẽ, nhưng thân xác thì yếu đuối.....
Vì vậy, khi thân xác chỉ sống cho mình, thân thể bị trao nộp cho chính nó, nó sẽ bằng lòng đi theo những qui luật của thú vật.
Khi lắng nghe Thiên Chúa, thánh Giuse đã tìm thấy con đường duy nhất cho sự sống trong sự khiết tịnh và khiêm tốn. Trong xưởng mộc Nadarét, khi làm việc trong thinh lặng, ngài đã hợp nhất con người của ngài cách sâu xa. Đời sống của ngài sẽ mặn mà hơn muối, hơn vẻ đẹp và niềm vui mà ngài muốn đạt được theo ý của mình.
Tên bạo chúa kiêu căng nói: “Ta làm chủ bản thân cũng như làm chủ vũ trụ”. Còn Thánh Giuse thì nói: “Tôi làm chủ bản thân bởi vì Thiên Chúa là vị thầy duy nhất của tôi”.
Lm. Vinh Sơn Đinh Minh Thoả

 

19/03-90: THÁNH GIUSE; NGƯỜI CÔNG CHÍNH

Lm. Giuse Hoàn Kim Toan
 

Người công chính, là  người cần thiết để xây dựng công bằng và  chân lý, tình yêu trên thế giới. 19/03-90

Người công chính, là  người cần thiết để xây dựng công bằng và  chân lý, tình yêu trên thế giới. Những đức tính của người công chính không những điểm tô nhân cách của mình còn là một bảo đảm cho hậu duệ  và thành trì vững chắc bảo vệ an bình, đồng thời là nền móng cho thế giới không bị lay chuyển.
Thánh Giuse được giới thiệu là Đấng Công Chính, dựa trên những nét tiêu biểu. Công bằng, vị tha, tình yêu.

Công bằng:
Công bằng không chỉ là trả cho mỗi người những gì thuộc về người đó, theo cách hiểu của cụm từ “dare cuique suum” mà còn là thái độ trách nhiệm sống tình yêu với người khác.
Đối với Thánh Giuse, được Thánh Kinh giới thiệu là bác thợ mộc. Thời đó gọi là thợ mộc bao gồm cả những người sửa chữa vặt những đồ dùng trong gia đình bị hư gãy. Thánh Giuse chấp nhận là một người thợ sửa chữa vụn vặt ấy. Vấn đề không thuộc về tay nghề cao thấp, xứng với đồng lương lãnh. Vấn đề nghề nghiệp của Thánh Giuse lựa chọn là phục vụ những con người nghèo trong xã hội, chính họ chứ không ai khác phải sửa chữa những gì vặt vãnh, nếu giàu có họ đã thay thế cái hư thành cái tốt hơn. Xã hội của những người nghèo chỉ đủ trả cho những người thợ chấp nhận nghèo như họ để làm những công việc nhiều hơn đồng lương được lãnh. Sống nghèo với người nghèo là tái lập sự công bằng giữa những người nghèo đang chịu sự bóc lột bởi giới giàu có. Đó là lối sống lên tiếng mời gọi trả lại công bằng cho mọi người được sống, không phải để hưởng những gì mình có mà trả lại đúng nghĩa công bằng cho mọi phẩm giá của con người được tôn trọng. Không giống như những trào lưu của những cao bồi nghĩa hiệp được người ta ca tụng, chiếm lấy của người giàu để chia cho người nghèo. Sống công bằng theo Thánh Giuse là cách lựa chọn sống nghèo để thông chia với người nghèo trong những khả năng đã được nhận lãnh, thể hiện đời sống Tin Mừng một cách trung thành: “Anh em đã nhận một cách nhưng không hãy cho đi một cách nhưng không” (Mt 10, 8).
Thánh Giuse trong cách sống công bằng, chấp nhận cuộc sống đơn nghèo của mình để sẻ chia. Có thể thấy trong đời sống tự nguyện nghèo khó, một tâm hồn đã tôi luyện khỏi những ích kỷ, cái tôi, biện luận cho lối sống gây bất công. Cội rễ của bất công nằm trong tâm khảm của mỗi người khi “muốn ở trên và đối kháng với người khác” (Sứ Điệp Mùa Chay 2010, Benedicto XVI). Đón nhận tự nguyện đời sống nghèo khó để cùng với người nghèo khó xây dựng đời sống bảo vệ cho phẩm giá cao quý của con người, đó là chứng nhân cho công bằng giữa những bất công.

Vị tha:
Ra khỏi cái tôi để hướng về người khác vì họ là “hình ảnh và họa ảnh của Thiên Chúa” (St 1, 27). Trước hết để tách mình ra khỏi cái tôi “ích kỷ”, là hướng về Thiên Chúa, chỉ khi quy hướng về Thiên Chúa mới có thể thắng được cái tôi của mình. Ra khỏi là biến cố xuất hành của từng cá nhân, nghe Lời của Thiên Chúa ra khỏi chính mình và để thực hiện đời mình theo ý Chúa.
Thánh Giuse cho thấy điểm quan trọng đó trong đời sống ra khỏi chính mình mà Thánh Kinh thuật lại: “Ông Giu-se, chồng bà, là người công chính và không muốn tố giác bà, nên mới định tâm bỏ bà cách kín đáo. Ông đang toan tính như vậy, thì kìa sứ thần Chúa hiện đến báo mộng cho ông rằng: "Này ông Giu-se, con cháu Đa-vít, đừng ngại đón bà Ma-ri-a vợ ông về, vì người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần. Bà sẽ sinh con trai và ông phải đặt tên cho con trẻ là Giê-su, vì chính Người sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ." (Mt 1, 19 – 21). Quy chiếu cuộc đời của mình với ý muốn của Thiên Chúa, dẹp bỏ những dự định ước mơ của mình để ý muốn Thiên Chúa thực hiện. Ý muốn của Thiên Chúa bao giờ cũng là ý muốn hoàn hảo, không những cho cá nhân mà còn cho toàn thể nhân loại. Được xưng tụng là công chính, bởi vì Thánh Giuse đã thực hiện lời mời gọi “nên hoàn hảo như Cha trên trời là Đâng hoàn hảo” (Mt 5, 48), bằng cách thi hành ý muốn của Thiên Chúa.
Có ra khỏi chính mình quy hướng về Thiên Chúa mới có thể là tác nhân xây dựng công bằng trên trái đất được. Cụ thể ý muốn của Thiên Chúa được mạc khải trong Chúa Giêsu Kitô. Nghe Lời Chúa và đem ra thực hành là ra khỏi chính mình, để có được đặt ở trên người khác thì cũng có cách thi hành: “trở thành người phục vụ” (Mt 23, 11), loại trừ được tính đối kháng mà sống với nhau như anh chị em con một Cha trên trời.
Thánh Giuse, trong đời sống phục vụ chẳng thấy một lời lẽ nào được ghi lại. Phục vụ không phải là để tên tuổi mình được rạng danh mà để Danh Thiên Chúa hiển trị. Đó là mẫu gương đích thực cho đời sống phục vụ trong khiêm tốn và trong tình yêu.

Tình Yêu:
Đón nhận ý muốn của Thiên Chúa để thực hiện trong cuộc đời mình là thực hiện đời sống trong Tình Yêu.
Thánh Giuse, đón nhận ý muốn Thiên Chúa nhờ mặc khải về con trẻ sẽ được đặt tên là Giêsu, nghĩa là Thiên Chúa cứu độ dân Người. Đón nhận nên như khí cụ Thiên Chúa dùng thực thi công trình cứu độ. Thánh Giuse cũng như những người Do Thái mộ mến Thiên Chúa khác đã hiểu cụ thể rằng: Thiên Chúa yêu thương là Thiên Chúa giải thoát. Điều đó Chúa đã thực hiện với dân của Người khi đưa họ ra khỏi tình trạng nô lệ tại Ai Cập. Từ minh chứng cụ thể đó, dân Do Thái hiểu thêm, Thiên Chúa yêu thương cũng là Thiên Chúa đã giải thoát nhân loại khỏi hư vô mà tạo dựng nên con người. Giải thoát vượt xa tầm hiểu biết của con người “từ không đến có” và từ “tội lỗi đến chỗ tinh tuyền”. Nhờ vào đời sống kinh nghiệm về lòng yêu thương của Thiên Chúa, Thánh Giuse đã tự nguyện hiến dâng của lể chính cuộc đời của Ngài trở thành công cụ cho Giải Thoát.
Thánh Giuse, người công chính cũng chính trong điểm son này. Sống cuộc đời trở thành của lễ hiến dâng, cho Thiên Chúa và cho nhiều người. Cuộc sống không còn sống cho chính mình nữa mà là sống trong Thiên Chúa. Tình yêu không còn mang tính cá nhân nữa mà mang chiều kích Toàn Thể. Chỉ trong Đấng là cội nguồn mọi sự, cá nhân mỗi người mới được thực hiện trong Chúa Giêsu “trở nên tất cả cho mọi người, để cứu sống nhiều người” (1 Cor 9, 22).
Sống tình yêu là cách sống đưa nhiều người về với Thiên Chúa, để chính Thiên Chúa giải thoát họ, đó là cách sống công bình trong Tình Yêu. Trả lại lẽ đúng cho con người, mọi người đều được Thiên Chúa yêu thương.
Xin Thánh Giuse cầu bầu cho chúng con trong cuộc đời trần thế này, theo gương Ngài sống đáp lại Lời Chúa mời gọi: “Nên hoàn hảo”, thực thi đời sống trong kinh nghiệm giải thoát để ra khỏi chính mình và sống kết hiệp với Tình Yêu Chúa để nên mọi sự cho mọi người.
Lm. Giuse Hoàn Kim Toan

 

19/03-91: THÁNH GIUSE; MẪU GƯƠNG CỦA ĐỜI SỐNG THÁNH HIẾN

Quang Huyền, ofm
 

Hằng năm Giáo hội dành riêng tháng 3 để tôn kính Thánh Giuse và mời gọi các Kitô hữu chiêm 19/03-91

Hằng năm Giáo hội dành riêng tháng 3 để tôn kính Thánh Giuse và mời gọi các Kitô hữu chiêm ngưỡng và học hỏi gương thánh nhân. Chúng ta đang sống trong tâm tình của Năm Thánh Linh Mục, việc tôn kính này lại mang nhiều ý nghĩa hơn, hầu giúp cho mọi người noi gương thánh nhân để sống sứ mạng làm con cái Chúa và anh chị em với nhau và với thụ tạo ngày một hoàn thiện hơn.
Các trang sách Tin Mừng ít ỏi đề cập đến thánh Giuse không hề thuật lại cho chúng ta một lời nào của thánh nhân. Cuộc đời của thánh Giuse là một tình yêu thầm lặng. Nhưng những gì ngài đã sống, đã thực hiện trong vai trò một “người tôi trung” của Thiên Chúa, một người cha, một người chồng trong Gia đình Nazarét, cũng đủ toát lên một mẫu gương thánh thiện và công chính nơi ngài. Trong bài suy niệm này, ch1ung ta cùng chiêm ngưỡng thánh Giuse như là “mẫu gương của đời sống thánh hiến”.
Theo quan điểm thần học hiện đại, thì đời sống tu trì hay thánh hiến là bước theo dấu chân của Đức Kitô sát hơn, hầu sống Giao Ước tình yêu với Thiên Chúa. Việc dấn thân quyết liệt của người tu sĩ được diễn tả trong lời tuyên khấn quen thuộc: “Tôi tuyên khấn cùng Thiên Chúa, giữ đức Vâng phục, Khó nghèo và Khiết tịnh”. Nghóa laø yeâu meán Thieân Chuùa vaø con ngöôøi: heát loøng “Khieát tònh”, heát linh hoàn “Vaâng phuïc”, heát söùc mình “Ngheøo khoù”. (x. J.C. Garcia Paredes, Đời tu, các lời khuyên Phúc Âm, Đỗ Ngọc Bảo chuyển ngữ, 2007, tr 53). Đây cũng chính là những gì mà thánh Giuse đã sống một cách sung mãn trước khi đời sống thánh hiến xuất hiện trong Giáo hội.

Thánh Giuse sống vâng phục
Trong Tin Mừng Matthêu 1,19-20, thánh Giuse được trình bày như một người “công chính”. Theo ý hướng của Tin Mừng thứ nhất thì từ “công chính” ở đây được hiểu là lòng đạo đức được xây trên việc hoàn toàn trung thành với Lề luật. Thực vậy, khi đọc lại các trình thuật về thời thơ ấu của Chúa Giêsu, chúng ta nhận thấy thánh Giuse là người luôn luôn lắng nghe và luôn luôn đáp trả thánh ý Thiên Chúa, dù cho đó là những điều mà Ngài không mong đợi. Chẳng hạn trong việc thánh nhân, đang thắc mắc về sự mang thai của Maria, và ngài đã định tâm lìa bỏ Maria cách kín đáo. Nhưng ngay sau đó, thánh Giuse đã nghe lời sứ thần báo tin và mau mắn đón Maria về nhà mình. Rồi trong việc đem Chúa Giêsu và Mẹ Maria trốn sang Ai Cập và trở về Nazarét, ngài cũng cùng một sự vâng phục mau mắn như thế. Có lẽ hơn 30 năm trong mái nhà Nazarét ngài cũng luôn lắng nghe thánh ý Chúa và đáp trả một cách trung thành qua việc gìn giữ và bảo vệ Đức Maria và Chúa Giêsu, nhất là trong việc nuôi dưỡng và giáo dục Hài Nhi Giêsu.
Sự vâng phục của thánh Giuse trước thánh ý nhiệm mầu của Thiên Chúa cũng như lời thưa “fiát” của Đức Maria đã phần nào thấm nhập vào đời sống kinh nguyện và lời rao giảng của Đức Giêsu sau này. Chúa Giêsu đã từng có một quyết định thể hiện sự vâng phục triệt để thánh ý Chúa Cha trong lúc Ngài đau khổ, cảm thấy bị xao xuyến, bị bỏ rơi trong Vườn dầu: "Lạy Cha, nếu có thể được, xin cho con khỏi phải uống chén này. Tuy vậy, xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha."(Mt 26,40). Thư Do thái cũng đã diễn tả rất hay sự vâng phục của Chúa Giêsu: “Dẫu là Con Thiên Chúa, Ngài cũng đã phải trải qua nhiều đau khổ, mới học được thế nào là vâng phục” (Dt 6,8).
Tinh thần vâng phục của thánh Giuse, đươc thể hiện trong lời khấn vâng phục của người tu sĩ hôm nay. Điều này Công đồng Vaticanô II tái khẳng định: “Nhờ khấn giữ đức vâng lời, các tu sĩ tận hiến ý muốn của mình như của lễ bản thân dâng lên Thiên Chúa, nhờ đó họ được kết hợp với ý muốn cứu rỗi của Ngài cách kiên trì và chắc chắn hơn” (Perfectae Caritatis, số 14).
Tóm lại, Đời sống vâng phục của Thánh Giuse là sống cho Thiên Chúa, và hiến dâng cuộc đời cho tình yêu và đức ái trọn hảo mà không so đo hơn thiệt. Ngài đã chấp nhận kế hoạch của Thiên Chúa và đặt niềm tin nơi một mình Thiên Chúa. Chính nhờ sự tuân phục này mà kế hoạch cứu độ của Thiên Chúa được thực hiện và hậu quả của nó hẳn sẽ làm cho đời sống của thánh Giuse thêm phong phú và hoàn thiện hơn, đồng thời nó cũng mở ra với những chiều kích khác của cuộc sống tròn đầy.

Thánh Giuse sống khó nghèo
Nhìn vào cuộc sống của gia đình Nazarét, chúng ta thấy thánh Giuse đã sống một cuộc sống khó nghèo về vật chất và tinh thần cùng với Mẹ Maria và Chúa Giêsu.
Thực vậy, Chúa Giêsu không chọn cho mình một người cha giàu có, nhưng Ngài đã chọn thánh Giuse một người thợ mộc nghèo, dân dã. Cảnh nghèo này được thánh Luca mô tả qua trình thuật Giáng Sinh. Ở Bêlem thánh Giuse không có đủ tiền để thuê phòng trọ cho Đức Maria, khi Mẹ đến giờ mãn nguyệt khai hoa. Vì thế, Chúa Giêsu đã phải sinh ra ở một nơi nào đó, bên vệ đường, nơi máng cỏ, trong gió sương vào mùa đông năm ấy. Và có lẽ những năm tháng nơi ngôi làng Nazarét, gia đình Thánh gia đã sống một cuộc sống thanh bần và lam lũ như bao người dân bình dân khác. Ơ đó, thánh Giuse đã phải hy sinh lao nhọc để đủ lương thực cho mẹ Maria và Chúa Giêsu. Là một người công chính, chắc ngài cùng với Mẹ Maria cũng đã chia sẻ một cách quãng đại cho những người nghèo khổ hơn mình. Điều mà sau này Chúa Giêsu nói: “Cho thì có phúc hơn là nhận”. Một cuộc sống thành bần “đói cho sạch, rách cho thơn” này đã ăn sâu vào trong lối sống của Đức Giêsu: “Con chim có tổ, con chồn có hang, nhưng con người không có chỗ gối đầu” (Lc 9, 58).
Nhưng điều đáng bàn hơn vẫn là cuộc sống khó nghèo tinh thần của thánh Giuse. Ngài đã chấp nhận từ bỏ tất cả những kế hoạch riêng tư của cuộc đời, để đi theo tiếng gọi của Thiên Chúa, hiến thân phục vụ chương trình cứu độ của Ngài. Giá trị của khó nghèo nơi cuộc đời thánh Giuse là vâng Ý Chúa, sẵn sàng quên mình vì Chúa và người khác qua sự sẻ chia cuộc sốngi, những ưu tư, những vui buồn với Mẹ Maria và Chúa Giêsu. Nhờ thế, Ngài trở nên người giàu có về niềm vui, niềm hạnh phúc. Đời sống khó nghèo của thánh Giuse thể hiện một đời sống khó nghèo triệt để của Tin Mừng mà Chúa Giêsu sẽ rao giảng: “Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó, vì nước trời là của họ” (Mt 5,3).
Sư khó nghèo tuyệt thánh mà thánh Giuse đã sống được thể hiện nơi lối sống của Đức Kitô từ hơn hai nghìn năm trước, nay lại được đông đảo Kitô hữu bắt chước và noi theo. Điều đó thể hiện rõ trong giáo huấn của Công đồng Vaticanô II: “Nghèo khó tuyên xưng rằng Thiên Chúa là tài sản duy nhất và chân thật của con người. Được sống theo gương Đức Kitô, Đấng vốn “giàu sang phú quý đã tự trở nên nghèo khó” (2Cr 8,9), lời khấn thánh bần trở thành biểu tượng của sự trao ban bản thân trọn vẹn mà Ba Ngôi đã trao ban cho nhau” ((Perfectae Caritatis, số 13). Thánh Phanxicô Assisi thời Trung cổ là người chọn sống khó nghèo triệt để theo tin Mừng, ngõ hầu trả lời cho thách đố rao giảng Đức Kitô khó nghèo trong một Giáo hội giàu sang và trần tục. Ngài là hiện thân của khó nghèo vui tươi và đã biến khó nghèo thành trung tâm của linh đạo. Tài liệu Chung kết của Tổng Tu nghị Dòng Phanxicô, năm 2009 cũng mời gọi các tu sĩ Phan sinh trở về nguồn để sống tinh thần khó nghèo triệt để này: “Chúng ta đừng quên rằng sự hèn mọn của chúng ta, lấy sự hèn mọm của Đức Kitô làm gương mẫu […], phải được diễn ra thành những chọn lựa can đảm: những chọn lựa đó đưa chúng ta đến chỗ “từ bỏ những địa vị trong xã hội và Giáo hội, để với sự quyết tâm hơn, chúng ta chọn sống chiều kích bờ biên của đời sống tu trì, và trãi nghiệm tình trạng bên lề xã hội như cốt lõi của căn tính Phan sinh chúng ta” (Những người mang quà tặng Tin Mừng, số 23).
Đời sống khó nghèo của thánh Giuse được thể hiện qua Giáo huấn và cuộc đời của Chúa Giêsu và đến lượt những giá trị này trở thành gương mẫu cho người tu sĩ hôm nay. Đó là tiêu chuẩn giúp chúng ta có được đời sống nghèo khó thanh thoát và vui tươi, thoát ra khỏi những bịn rịn về tiền bạc vật chất, nhưng biết quãng đại sẻ chia cho người nghèo khổ. Hơn nữa, sống nghèo trong xã hội hôm nay là biết sống trung thực với những giá trị Tin Mừng và can đảm đi ngược dòng với những tiêu chuẩn, những mức thang giá trị của xã hội tiêu thụ (x. Nguyễn Thái Hợp, Bước theo Đức Kitô, tr 181).

Thánh Giuse sống khiết tịnh
Nhìn vào các tượng thánh Giuse, chúng ta thấy ngài được phác hoạ như cụ già, râu tóc bạc phơ, một tay bế Chúa Giêsu, tay kia cầm một nhành huệ trắng. Có lẽ người ta muốn diễm tả sự đồng trinh của thánh Giuse như một bông huệ trắng trong, thuần khiết. Hơn nữa, qua đó người ta cũng muốn bênh vực cho sự đồng trinh của Đức Maria. Đây là một truyền thống đạo đức tốt đẹp, chúng ta không muốn phủ nhận nó. Nhưng trong thực tế chúng ta có thể tưởng tượng thánh Giuse là một thanh niên đẹp trai, đạo đức và khoẻ mạnh. Một người như thế mới có thể chăm lo cho đời sống của gia đình Nazarét, nhất là trong việc bảo vệ và giáo dục Chúa Giêsu. Vậy, chúng ta lý giải thế nào về đời sống khiết tịnh của thánh Giuse trong khi ngài vẫn sống trong môi trường gia đình với vợ hiền và con ngoan như thế?
Thánh Inhatiô thành Antiôkia cho rằng: “Ma quỷ không hề biết về sự trinh khiết, sự sinh con của của Đức Maria, cũng như về sự chết của Chúa, ba mầu nhiệm này hoàn toàn nằm trong bí mật của Thiên Chúa”. Cũng thể, ta có thể thêm một điều “Ma quỷ không hề biết về sự đồng trinh của thánh Giuse. Đây cũng là bí mật của Thiên Chúa”. Nhưng theo niềm tin truyền thống chúng ta biết được thánh Giuse có đời sống trinh khiết.
Thánh Tôma Aqiunô đã lập luận rằng: Thánh Giuse được khỏi tội tổ tông từ lòng mẹ. Còn thánh Têrêxa tiến sĩ thì nối:"Thánh Giuse trong trắng tựa Thiên Thần, nên thiên Thần năng hiện đến cùng ông". Trong kinh cầu thánh Giuse, giáo hội vẫn tuyên xưng ngài là “Quan thầy của các kẻ đồng trinh”.
Thực tế, Giáo hội cũng chưa bao giờ định tín về sự đồng trinh của thánh Giuse, nhưng nếu chúng ta xét xem một vị tiền hô của Chúa là Gioan Tẩy giả với vinh dự giới thiệu Chúa Giêsu mà còn được Thiên Chúa chuẩn bị từ lâu trong chương trình của Ngài, để cho thánh nhân không vướng vấn tội lỗi, phương chi thánh Giuse là Cha nuôi Chúa Giêsu, người sẽ được bồng bế, che chở, nuôi dưỡng Chúa Cứu Thế và Mẹ thánh của Ngài? Chắc rằng Thiên Chúa đã chọn lựa cho con của mình một người cha tốt lành thánh thiện và trinh sạch.
Theo quan niệm của một số tác giả ngày nay thì: Qua các biến cố Giáng sinh của Chúa Giêsu, các thiên thần ca hát, các Đạo sĩ đến thờ lạy, rồi khi dâng Chúa trong đền thờ, các ngôn sứ đã nói tiên tri về Ngài…hẳn Đức Maria và thánh Giuse đã hiểu ra rằng trong Chúa Giêsu sự phong phú của tình yêu hôn ước của các ngài đã tròn đầy vượt quá mọi niềm mơ ước nhân loại. Hơn nữa, chúng ta cũng phải cúi đầu trước quyền năng của Thiên Chúa, vì ngài đã thực hiện một cách kỳ diệu nơi tình yêu của thánh Giuse và Đức Maria. Để hôm nay, chúng ta luôn tin tưởng rằng “Đức Maria là Đấng trọn đời đồng trinh”, và chúng ta cũng có thể nói và tin như thế với trường hợp thánh Giuse, Cha nuôi Con Thiên Chúa. (x. Lucien Deiss, Giuse Maria Giêsu, tr 54-55).
Với những ý kiến này, chúngg ta có thể nói tình yêu của thánh Giuse dành cho Đức Maria là một tình yêu trinh sạch, vẹn toàn và vượt lên trên mọi ham muốn của trần gian.. Và như thế nó trở nên lời tiên tri về tình yêu vĩnh cửu tồn tại trong vương quốc Phục Sinh. Một tình yêu không bao giờ biết đến nhục dục, nhưng chỉ biết đến những nụ hôn của ân sủng. Một tình yêu không bao giờ chiếm hữu người yêu cho riêng mình, nhưng chỉ là một sự hiến thân thuần tuý. Một tình yêu canh giữ mọi phong phú của khác biệt giới tính và biến đổi chúng thành những tặng ân của ân sủng.
Thực vậy, đời sống khiết tịnh của thánh Giuse là mẫu mực của tình yêu cho đời sống thánh hiến hôm nay. Điều mà Chúa Giêsu đã nói “Ai hiểu được thì hiểu”. Một tình yêu hiến thân cho Thiên Chúa “bằng một con tim không chia sẻ”, để làm chứng cho Nước trời ở trần gian.
Tóm lại, thánh Giuse mãi là gương mẫu của đời sống thánh hiến, ngài đã sống và tiên báo trước một lối sống theo các giá trị Tin Mừng, điều mà về sau Chúa Giêsu đã sống, đã rao giảng và mời gọi các môn đệ bước theo Ngài, để đạt đến sự trọn lành Phúc Âm. Chúng ta cũng là những môn đệ của Đức Kitô, chúng ta tin rằng Ngài cũng đã yêu thương và chọn gọi chúng ta làm môn đệ của Ngài. Và như thế, chúng ta cũng đang mang trên cuộc đời chúng ta sứ mạng trở thành dấu chỉ Nước Trời, dấu chỉ về niềm hy vọng Kitô giáo cho một thế giới trần tục hóa và con người đang chìm trong sự vô vọng và bế tắc.
Nhờ lời chuyển cầu của thánh Giuse, xin Chúa ban ơn, giúp sức cho mỗi người trong chúng ta biết không ngừng noi gương thánh Giuse và sống trung thành với những gì chúng ta đã cam kết trong bí tích Thánh tẩy và trong lời khấn hứa với Thiên Chúa, hầu làm cho đời sống của chúng ta luôn trổ sinh những bông hoa thánh thiện và lừng ngát hương thơn cho Chúa và anh chị em xung quang chúng ta.
Quang Huyền, ofm

 

19/03-92: NGÀI LÀ ĐẤNG CÔNG CHÍNH

lm. Giuse Đinh Lập Liễm
I. GIUSE, VỊ THÁNH CẢ TRONG GIÁO HỘI
 

Hôm nay chúng ta hợp cùng toàn thể Giáo hội long trọng mừng lễ thánh cả Giuse. Chúng ta gọi Ngài 19/03-92

Hôm nay chúng ta hợp cùng toàn thể Giáo hội long trọng mừng lễ thánh cả Giuse. Chúng ta gọi Ngài là thánh cả vì chức vị cao cả của Ngài: Cha nuôi của Đức Giêsu, Đấng Cứu Thế.
Tuy là vị thánh cao cả nhưng Ngài lại sống hết sức khiêm tốn, âm  thầm và lặng lẽ. Tất cả Phúc âm chỉ thu gọn 12 câu viết về thánh Giuse, nhưng đều là những câu nói gián tiếp về Ngài.
Tất cả những gì chúng ta biết về Ngài đều ở Tin mừng theo thánh Matthêu và thánh Luca.  Tin mừng theo thánh Marcô chỉ có một câu ám chỉ. Còn Tin mừng theo thánh Gioan tuyệt nhiên không có câu nào nhắc đến Ngài.
Thánh Kinh không ghi lại một lời nói trực tiếp nào của thánh nhân. Ngài chỉ xuất hiện một vài lần cách mờ nhạt. Ngài sống ra sao, chết cách nào chẳng có bút tích nào ghi lại.  Cả đời Ngài chỉ sống âm thầm, khiêm tốn, cầu nguyện và lao động.  Hoàn toàn lo lắng phục vụ Chúa Giêsu và Đức Maria.  Có thể nói lẽ sống của Ngài, vinh dự của Ngài, niềm vui và hạnh phúc của Ngài  chính là chu toàn bổn phận Chúa Cha đã giao phó cho.
Giáo hội Phương Tây chính thức tôn kính thánh Giuse vào thế kỷ, 14,15.  Năm 1870, theo lời thỉnh cầu của hàng Giám mục thế giới đang tham dự công đồng Vatican I, Đức Giáo hoàng Piô IX đã long trọng công bố tôn phong thánh Giuse  làm quan thầy toàn thể Hội thánh vào ngày 19 tháng 3. Và từ đó, ngày 19/3 dương lịch  hàng năm trở thành lể  kính thánh Giuse, Bạn thanh sạch Đức Maria và quan thầy của Hội thánh. Đồng thời hôm nay cũng là lễ quan thầy của Giáo hội Việt nam chúng ta.

II. GIUSE, NGÀI LÀ ĐẤNG CÔNG CHÍNH.
Kinh Thánh đã xác nhận thánh Giuse “là người công chính và không muốn tố giác bà, nên định tâm lìa bỏ bà cách kín đáo”(Mt 1,19). Khi gọi Giuse là người công chính, và nhìn vào cuộc sống của Ngài, chúng ta có thể hiểu được nội dung của từ công chính ấy.

1. Theo nghĩa thông thường.
Từ “công chính” có nghìa là “công bình”, nghĩa là trả lại cho người khác những gì thuộc về họ.  Nói khác đi, công chính là không dám nhận những gì không phải là của mình. Thánh Giuse định trốn đi khi biết Đức Maria đã mang thai.
Theo lời giải thích xưa kia thì thánh Giuse trốn đi vì nghi ngờ Đức Maria bất trung . Nhưng theo các nhà chú giải mới thì thánh Giuse định bỏ trốn vì thấy mình không xứng đáng với danh hiệu làm Cha Đấng Cứu Thế.  Chức vị làm Cha Đấng Cứu Thế là một chức vị quá cao trọng, thánh Giuse thấy mình không phải là Cha Đấng Cứu Thế, không xứng đáng làm Cha Đấng Cứu Thế, nên Ngài bỏ trốn.

2. Theo nghĩa đạo đức.
Trước sự kiện Đức Maria thụ thai bởi quyền năng Chúa Thánh Thần, mặc dù không hiểu và định tâm rút lui trong âm thầm, để thực hiện kế “đào vi thượng sách” khôn ngoan, nhưng một khi đã được mạc khải cho biết sứ mạng “Cha nuôi” của mình thì Giuse đã mau mắn  rước mẹ con Đức Maria về nhà mình.
Nhiệm vụ của thánh Giuse là gìn giữ Đức Giêsu và Đức Maria. Chúa đã trao cho Ngài nhiệm vụ đó và Ngài đã hết sức chu toàn.Chu toàn với tinh thần trách nhiệm cao, không để xẩy ra  chuyện gì đáng tiếc.  Chu toàn với sự tinh tế, kính cẩn, nâng niu. Hãy nhìn cảnh Thánh gia trốn sang Ai cập, Đức Maria bế Đức Giêsu ngồi trên lưng lừa.  Thánh Giuse dắt lừa đi trong đêm tối. Không còn cảnh tượng nào đẹp hơn. Thánh Giuse trân trọng kho tàng Chúa trao cho Ngài gìn giữ. Thánh Giuse kính cẩn nâng niu Đức Maria và Đức Giêsu. Ngài chu toàn nhiệm vụ với tinh thần dấn thân hy sinh không ngại gian khổ. Đang đêm mà Chúa báo thức dậy trốn sang Ai cập, Ngài cũng thức dậy lên đường tức khắc.

III. VAI TRÒ CỦA THÁNH GIUSE
1. Ngài là một gia trưởng
Thánh Giuse được Chúa trao cho nhiệm vụ coi sóc Đức Giêsu và Đức Maria, gìn giữ gia đình, Ngài đã hết sức chu toàn trong mọi hoàn cảnh trong lúc thuận tiện cũng như trong hoàn cảnh khó khăn.
Theo pháp lý, thánh Giuse là Bạn trăm năm của Đức Maria, Ngài là chồng thực sự mặc dầu không ăn ở với nhau. Ngài cũng phải là Cha của Đức Giêsu mặc dù chỉ là cha nuôi.  Cả Ba vị đã làm thành một gia đình thực thụ.  Người ta thường nói:”Kim chỉ phải có đầu” (Tục ngữ), như vậy trong gia đình Nazareth thì đương nhiên thánh Giuse phải là gia trưởng, và Đức Maria và Đức Giêsu phải vâng lời Ngài với tư cách Ngài là gia trưởng.
Việt nam chúng ta có câu:
Đi khắp thế gian không ai tốt bằng mẹ,
Gian khổ cuộc đời không ai sánh bằng cha.

Người cha là mái hiên che chắn cho gia đình trước bao giông tố của cuộc đời.  Người cha chấp nhận những gian khổ cuộc đời để nuôi dưỡng gia đình. Chỗ đứng của người cha trong gia đình thật là cần thiết đến nỗi người ta bảo:
Còn cha gót đỏ như son,
Mất cha, gọt mẹ gót con đen sì.


2. Ngài là Đấng Đấng Đồng Công
Trong công cuộc cứu chuộc nhân loại, vai trò của thánh Giuse thật là mờ nhạt. Kinh Thánh chỉ nhắc đến Ngài với tư cách là một bác thợ mộc ở Nazareth và là cha của ông Giêsu, thế thôi, rồi Ngài rút vào bóng tối không ai biết đến nữa.
Chúng ta có thể lý luận răng: Nếu Đức Maria có công sinh thành thì thánh Giuse cũng có công dưỡng dục, nghĩa là nuôi dạy Chúa Cứu Thế. Nếu Đức Maria được gọi là Đấng Đồng công cứu chuộc thì thánh Giuse cũng đóng góp một phần không nhỏ trong công cuộc cứu thế của Chúa Giêsu.
Tuy Hội thánh chưa bao giờ tuyên phong thánh Giuse là Đấng Đồng công cứu chuộc như Đức Maria, nhưng qua sự cộng tác của Ngài, chúng ta có thể tôn phong Ngài là Đấng Đồng công cứu chuộc sau Đức Maria.
Vì thế, thánh tiến sĩ Bênađô mới nói:”Thiên Chúa Cha chọn thánh Giuse không những để làm người an ủi Đức Maria khi gặp gian truân và để làm Cha nuôi Chúa Con mà còn để thánh nhân cộng tác vào công trình của Chúa Cứu Thế là công việc chung cả Ba Ngôi Thiên Chúa”.

3. Ngài là đầy tớ trung thành
Nếu ơn gọi phát xuất từ sáng kiến của Thiên Chúa và nỗ lực của bản thân để đáp trả lời mời gọi, thì qua bài Tin mừng hôm nay,  chiêm ngưỡng thánh Giuse trong dáng dấp “người công chính” cũng cho thấy Thánh Giuse là tôi tớ trung tín một đời, sẵn sàng vâng nghe tiếng gọi và mau mắn thi hành.
Thánh Giuse biết mình chỉ là đầy tớ vô dụng, tất cả đều cậy nhờ vào Thiên Chúa (Lc 17,10). Ngài đặt mình trước Thiên Chúa như bông huệ ngoài đồng để Thiên Chúa nuôi dưỡng mặc đẹp cho Ngài (Lc 12,27), và để Thánh Thần Thiên Chúa qua Ngài dẫn dắt Hài nhi Giêsu và Đức Trinh nữ Maria theo ý của Thiên Chúa.
Bác thợ mộc Giuse, người đầy tớ vô dụng của Thiên Chúa, đã được Thiên Chúa yêu mến:”Giuse là người công chính” (Mt 1,19). Thánh Giuse là người bình thường như bao gia trưởng khác, nhưng luôn vâng ý Chúa, chấp nhận cộng tác vào công trình cứu độ của Thiên Chúa.
Như Đức Mẹ đã thưa  “XIN VÂNG” với Thiên Chúa, lời thưa “xin vâng” của thánh Giuse  được thể hiện qua  những biến cố chúng ta đọc thấy trong Tin mừng thời thơ ấu Chúa Giêsu.  Ngài luôn sẵn sàng bỏ ý riêng mình để làm theo ý muốn của Thiên Chúa qua những lần Thiên Chúa báo mộng. Qua đó, thánh nhân đã chu toàn vai trò của mình như một người làm cha làm chồng gương mẫu trong gia đình Nazareth.

4. Ngài có thần thế trước tòa Chúa
Ngày xưa, khi bên Ai cập xẩy ra nạn đói, dân chúng không có gì ăn, đã chạy đến cùng vua Pharaon xin cứu giúp. Nhà vua đã trả lời cho dân chúng:”Ite ad Joseph”: hãy đến cùng Giuse”, vì lúc đó ông Giuse đang giữ kho lương thực của nhà nước. Qua lời xin, ông đã ban phát lương thực cho dân chúng.
Ông Giuse ở bên Ai cập xưa chỉ là hình bóng thánh Giuse ngày nay.  Chúng ta đến xin Chúa điều gì, Ngài cũng bảo chúng ta:”Hãy đến cùng thánh Giuse”. Chúa sẽ dùng thánh Giuse mà ban phát cho chúng ta muôn vàn ơn.
Thánh Giuse có thần thế trước mặt Chúa như vậy không phải tự con người của Ngài nhưng là vì ngày xưa, tuy là Cha nuôi của Chúa Giêsu mà Ngài đã vâng theo thánh ý Chúa như một tôi tớ trung thành, thì nay Chúa vẫn ban cho Ngài quyền thế cao cả như vậy.
Cảm nghiệm điều đó, thánh nữ Têrêsa Avila đã nói:”Tôi thấy không lần nào xin sự gì cùng thánh Giuse mà không được như ý. Dường như Thiên Chúa ban ơn cho các thánh giúp ta việc nọ việc kia. Nhưng kinh nghiệm cho tôi biết rằng thánh Giuse giúp chúng ta trong mọi trường hợp. Tôi lấy danh Chúa mà xin nhưng ai không tin lời tôi thì hãy cứ thử mà xem”.
lm. Giuse Đinh Lập Liễm

 

19/03-93: LỄ KÍNH THÁNH CẢ GIUSE

Giuse Tú Nạc, NMS
 

Những điều mà chúng ta biết về hiền phu của Maria và dưỡng phụ của Chúa Giê-su bắt nguồn từ 19/03-93

Những điều mà chúng ta biết về hiền phu của Maria và dưỡng phụ của Chúa Giê-su bắt nguồn từ Thánh Kinh và điều đó dường như đã quá khiêm tốn đối với những ai đã khắc họa những truyền thuyết về Ngài.
Chúng ta chỉ biết Ngài là một thợ mộc, một người lao động, để rồi những người Nazareth hoài nghi hỏi tin về Chúa Giê-su, “Đây có phải là con của người thợ mộc không?” (Matthew 13: 55). Ngài chẳng phú quí gì vì khi Ngài dẫn Chúa Giê-su lên đền thờ để chịu phép cắt bì và Maria được thanh tẩy, Ngài đã dâng vật hiến tế đôi chim gáy hoặc một cặp bồ câu, duy chỉ cho phép những ai không có khả năng tiền bạc mua một con chiên. (Luke 2: 24).
Mặc dù với công việc và phương tiện hèn mọn của Ngài, Thánh Giu-se đã xuất thân từ dòng dõi hoàng gia. Lu-ca và Mat-thêu đã bất đồng một vài chi tiết về dòng dõi của Thánh Giu-se, nhưng cả hai họ đều ghi nguồn gốc của Ngài từ dòng dõi David, vị hoàng đế vĩ đại của Israel (Matthew 1: 1-16 và Luke 3: 23-38). Thật vậy, vị thiên sứ đầu tiên nói với Giu-se về Chúa Giê-su gặp gỡ Ngài với tư cách “con của David,” một danh hiệu hoàng gia cũng được dùng cho Chúa Giê-su.
Chúng ta biết Thánh Giu-se là một người nhẫn nại và giàu lòng nhân ái. Khi Ngài biết được Maria đã thụ thai sau khi họ đính hôn, Ngài biết đứa trẻ ấy không phải là con mình, nhưng chỉ vì không ngờ rằng hài nhi mà Maria đang mang thai là Con của Thiên Chúa. Ngài đã định ly hôn Maria theo luật, nhưng Ngài đã quan tâm lo lắng cho sự đau khổ và an toàn của Maria. Ngài biết rằng những phụ nữ bị kết tội ngoại tình có thể bị ném đá cho đến chết, nên Ngài quyết định lặng lẽ chia tay và không tiết lộ cho Maria biết vì hổ thẹn và tàn nhẫn (Matthew 1: 19-25).
Chúng ta biết Chúa Giê-su là người của đức tin, vâng phục trước bất cứ điều gì mà Thiên Chúa yêu cầu ở Ngài mà không cần biết hậu quả như thế nào. Khi thiên sứ đến với Thánh Giu-se trong giấc mơ và nói với Ngài sự thật về đứa trẻ mà Maria đang cưu mang, Thánh Giu-se lập tức không thắc mắc và để ý nhưng tin đồn nhảm, đã chấp nhận Maria là vợ mình. Khi thiên sứ một lần nữa trở lại nói với Ngài rằng gia đình Ngài găp nguy hiểm, tức khắc Ngài từ bỏ mọi thứ của riêng mình, tất cả gia đình và bè bạn, rồi chạy trốn đến một quê hương xa lạ cùng người vợ trẻ và con thơ dại. Ngài đã chờ đợi ở Ai cập mà không một than vấn cho đến khi thiên sứ nói với Ngài đã đến lúc an toàn để trở về (Matthew 2: 13-23).
Chúng ta biết Thánh Giu-se đã yêu thương Chúa Giê-su như thế nào. Mối quan tâm duy nhất của Ngài là dành sự an toàn cho hài nhi này mà Ngài đã được ủy thác. Không chỉ Ngài đã từ bỏ quê nhà để bảo bọc Chúa Giê-su, mà trên lần trở về của ngài được an cư ở thị trấn tối tăm Nazareth không còn sự sợ hãi đối với cuộc đời của Ngài. Khi Chúa Giê-su ở lại trong Đền Thờ chúng ta được nghe kể rằng Thánh Giu-se (cùng Mẹ Maria) đa tìm kiếm lo âu ba ngày ròng rã (Luke 2: 48). Chúng ta cũng biết rằng Thánh Giu-se đã đối xử với Chúa Giê-su như con ruột của mình mà không biết bao lần người dân Nazareth hỏi về Chúa Chúa Giê-su, “Đây không phải là con của Giu-se sao?” (Luke 4: 22).
Chúng ta biết Thánh Giu-se hết mực tôn kính Thiên Chúa. Ngài đã bước theo những yêu cầu của Thiên Chúa trong danh nghĩa tình huống với Maria và sẽ đi đến Jerusalem để Chúa Giê-su chịu phép cắt bì và Maria thanh tẩy sau khi hạ sinh chúa Giê-su. Chúng ta cũng được nghe rằng Ngài đa dẫn gia đình tới Jerusalem mỗi năm để dự Lễ Vượt Qua, điều gì đó mà không thể có một cách dễ dàng đối với một người lao động.
Từ khi Thánh Giu-se không xuất hiện trong cuộc đời công khai của Chúa Giê-su, như lúc sinh thì trên thập giá cũng như lúc phục sinh, nhiều thánh sử gia tin rằng Thánh Giu-se có thể đã qua đời trước khi Chúa Giê-su bước vào sứ vụ rao giảng công khai.
Thánh Giu-se là người bảo trợ lúc lâm chung bởi vì, giả định Ngài đã qua đời trước lúc cuộc đời công khai của chúa Giê-su, Ngài đã chết với Chúa Giê-su và Mẹ Maria gần gũi với Ngài, con đường mà chúng ta ai nấy đều được mời gọi để từ giã thế gian này.
Thánh Giu-se là người bảo trợ của toàn Giáo Hội, những người cha trong gia đình, những người thợ mộc, và công bằng xã hội.
Chúng ta dành cho Thánh Giu-se hai ngày lễ kính nhớ: 19 tháng Ba – Thánh Giu-se Bạn Thanh Sạch của Đức Nữ Đồng Trinh Maria và 1 tháng Năm – Thánh Giu-se của những người thợ.
Còn nhiều điều mà chúng ta ước ao muốn biết về Thánh Giu-se – Ngài sinh ra khi nào, ở đâu, Ngài đã dành những thời gian của ngài như thế nào, Ngài qua đời khi nào và như thế nào. Nhưng Thánh Kinh đã để lại cho chúng ta một nhận thức quan trọng nhất: Ngài là ai – “Một người công chính.” (Matthew 1: 18).
Lạy Thánh Giu-se, xin hãy bảo trơ toàn Giáo Hội, chiu trách nhiệm trông coi Giáo Hội, thận trọng như Ngài đã trông coi Chúa Giê-su, giúp đỡ, bảo vệ và dẫn dắt như Ngài đã thực hiện với dưỡng tử của Ngài. Amen.
Giuse Tú Nạc, NMS

 

19/03-94: THÁNH GIUSE

lm. Vũ Đình Tường
 

Thánh Giuse là người công chính. Công chính ở điểm nào? Kinh Thánh ghi: ‘ ông không chịu tố cáo 19/03-94

Thánh Giuse là người công chính. Công chính ở điểm nào? Kinh Thánh ghi: ‘ ông không chịu tố cáo bà Maria đã có thai trước khi hai ông bà về sống chung. Không chịu tố cáo để trở nên công chính. Như vậy, công chính ở đây bắt đầu ở cẩn ngôn khi phán đoán. Cẩn trọng trong lời ăn, tiếng nói. Người trưởng gia đình cần phải cẩn trọng trong lời ăn tiếng nói, nhất là khi cần phải bình phẩm về người khác. Cẩn trọng trong lời ăn tiếng nói là bằng chứng cho biết người đó công chính. Thánh Giuse không nói cũng không có nghĩa là ông bỏ qua, không nói gì hết. Thánh nhân đã nói rất nhiều. Khi nào? Thưa nói trong lúc cầu nguyện cùng Thiên Chúa, xin Chúa soi sáng cho biết việc phải làm. Chính việc cầu nguyện này biến thánh Giuse trở thành người công chính. Như thế công chính không phải do lời nói, cẩn ngôn, cũng không phải do hành động mà chính là lòng tin. Thánh Giuse không thể tự làm cho mình nên công chính. Thánh Giuse trở nên công chính là do Lời Chúa, ân sủng Chúa giúp thánh Giuse trở nên công chính. Lời Chúa là lời công chính và ai tin vào Lời đó sẽ được Lời làm cho ra công chính. Có lẽ tư tưởng bài hát Lời Ngài dậy con trong đêm tối. Lời Ngài dậy con lúc lẻ loi lấy từ tư tưởng này của thánh Giuse.
Thánh Giuse cầu nguyện rất nhiều, nhất là về đêm vì thánh thần linh ứng cho ông vào ban đêm, trong giấc mơ, giấc mộng. Không phải một lần mà là nhiều lần với những sứ vụ khác nhau. Nghe tiếng nói trong mơ, mộng có thể rất thật mà cũng có thể rất mơ hồ. Không thể xác định thánh Giuse có nghi ngờ gì về điều nghe biết trong giấc chiêm bao. Có hai trường hợp có thể xảy ra. Thứ nhất thánh Giuse không tin tuyệt đối vào những gì nghe biết trong giấc chiêm bao. Nếu giả thuyết này đúng thì thánh Giuse đặt trọn niềm tin vào Người Con mà Thiên Chúa trao cho ông coi sóc là một người hết sức đặc biệt. Giả như suy đoán này đúng thì thánh Giuse có thể nghi ngờ vào giấc chiêm bao nhưng lại tin vào Người Con. Mà tin vào Người Con là tin vào Chính Thiên Chúa vì Người Con này là Thiên Chúa giáng trần. Rất có thể Giuse không hiểu như chúng ta hiểu ngày nay. Ông chỉ hiểu là Người Con này có một sứ mạng rất đặc biệt. Bởi đây là Người Con với sứ mạng hết sức đặc biệt nên dù trong cuộc lữ hành có nguy hiểm, khó khăn đến mấy kết quả cũng hoàn thành tốt đẹp vì đây là Người Con Chúa đặc biệt lưu tâm, để ý. Tin tưởng vào lí luận đó mà Thánh giuse vượt qua mọi gian nan, thử thách. Khó khăn mấy cũng cố hoàn thành, thử thách nào cũng gắng vượt qua. Đau khổ nào cũng chấp nhận.
Thánh Giuse không hề than phiền hay đặt nghi vấn về sứ mạng thần linh linh ứng khi ông gặp khó khăn, hoàn cảnh hoạn nạn. Nếu nghi ngờ ông đã bỏ cuộc. Rất dễ chỉ cần quay ngược lại, làm theo ý riêng, suy nghĩ riêng là Giuse tránh khỏi biết bao phiền toái, lo lắng, đau khổ. Bị xua đuổi, bị nằm ngủ nơi chuồng bò, đồng hoang nhưng thánh nhân vẫn một mực trung kiên, tuyệt đối tin tưởng phó thác vào Chúa. Khó khăn, nguy hiểm, khổ sở, rét mướt, đói khát không làm cho thánh Giuse mất lòng tin, hay than van, kêu cầu Chúa thay đổi ý định hay hoàn cảnh. Trái lại thánh nhân quyết tâm tin tưởng, phó thác. Có lẽ thánh Giuse cảm thấy bình an, tự tin trong việc mang gia đình ra đi. Điều này cho thấy thánh Giuse rất tin tưởng vào sức mạnh của cầu nguyện. Chính sự tin tưởng, phó thác tuyệt đối vào Thiên Chúa khiến thánh Giuse trở thành người công chính.
lm. Vũ Đình Tường

 

19/03-95: THÁNH GIUSE – GƯƠNG SỐNG ĐỨC TIN

Tác giả Thánh vịnh 116 đã tuyên xưng niềm tin vào Thiên Chúa: “Tôi đã tin cả khi mình đã nói: Ôi nhục 19/03-95

Tác giả Thánh vịnh 116 đã tuyên xưng niềm tin vào Thiên Chúa: “Tôi đã tin cả khi mình đã nói: Ôi nhục nhã ê chề, đã thốt lên trong cơn hoảng hốt: mọi người đều giả dối”. Có thể nói tác giả đã tuyên xưng niềm tin của mình trong một hoàn cảnh hết sức cay đắng, thậm chí bị nhục nhã vì mang danh là dân của Chúa, mà giờ dây dường như Chúa để cho dân của Ngài bị tủi hổ bời dân ngoại đàn áp, bị người đời khinh miệt, bị bạn bè bỏ rơi.
Thưa quý OBACE, tin vào Thiên Chúa khi thành công, khi vui mừng có vẻ dễ dàng, nhưng để tuyên xưng niềm tin vào Thiên Chúa khi gặp thất bại hay khó khăn thử thách, quả là không dễ, và để nói lên lòng trung thành vơi Thiên Chúa khi bị nhục nhã, khi khi bị Thiên Chúa dày vò, thì càng khó hơn nữa. Hôm nay, chúng ta đang chiêm ngắm một con người dường như chỉ biết tin và nhắm mắt bước đi trong niềm tin của mình, và không thiếu những lúc Ngài phải cắn răng chịu đựng vì những thử thách liên tục ập xuống trên cuộc đời của ông và gia đình ông, người đó chính là Thánh Giuse.
Những tửơng rằng, kết hôn với một người con gái đạo đức, và bản thân của Ngài sống một cuộc sống công minh chính trực trước mặt Thiên Chúa và mọi người, chu toàn giời răn và lề luật một cách vuông tròn, thì Thiên chúa cũng sẽ phải bù đắp lại cho Ngài một cuộc sống gia đình tốt đẹp! Thế nhưng lại hoàn toàn ngược lại, Thiên Chúa dường như cứ muốn thử thách đức tin của Giuse để thẩm định lòng tín trung của ông: Niềm vui trong cuộc kết hôn với Maria đã chưa được trọn vẹn, thì một tin sét đánh đến với Giuse, Maria bạn của Ngài đã có thai mà không biết từ đâu. Trước hoàn cảnh khó xử này, Giuse không thể hiểu hết được, nên ông đã chọn giải pháp rút lui để cho Thiên Chúa định liệu theo kế hoạch của Ngài, vì ông vẫn hoàn toàn tin tưởng mọi việc đều do Thiên Chúa và tin vào sự thánh thiện đạo đức của Maria, và không dám hồ nghi điều xấu cho người bạn của mình. Đức tin của Giuse đã thể hiện qua cách xử sự này, thay vì giải quyết theo phương án của con người, đó là tố cáo và công khai điều này trước mặt mọi người, và nếu như thế, thì Maria và gia đình sẽ vô cùng nhục nhã, và phải mang bản án ném đá, nhưng Giuse đã không làm như vậy, ông đã chọn giải pháp cầu nguyện để nhận ra thánh ý Thiên Chúa. Chắc chắn Giuse đã phải cầu nguyện rất nhiều, và vì muốn tìm kiếm thánh ý của Thiên Chúa, nên chỉ cần một điềm báo mộng, thì Giuse đã sẵn sàng đón nhận Maria về làm vợ mình, và hết lòng tôn trọng người vợ của mình không nghi nan, không thắc mắc nữa.
Việc chấp nhận Maria và thai nhi đã đòi Giuse phải có một cái nhìn hết sức siêu thoát, và việc tin hài nhi trong lòng Maria là Con Đấng Tối Cao, Đấng là Thiên Chúa mà ông lại được quyền đặt tên cho Ngài là Giêsu, tin như thế đã là một bước dài, vậy mà Thiên Chúa vẫn không cho ông và gia đình được hưởng một ưu tiên nào, trái lại ông vẫn phải đối diện với thử thách khác: phải đem vợ mình đang mang thai trở về quê qua một hành trình dài. Tại quê hương là Bethlehem, ông không được ai đón nhận, cả hai vợ chồng bị chơ vơ lạc lõng trong giá lạnh đêm khuya, rồi Maria đã đến lúc sinh con mà không tìm được nơi nương tựa, trong hoàn cảnh đó, một mình Giuse lại phải xoay sở để tìm được một chỗ trú chân qua đêm cho cả hai người và nhất là cho một hài nhi bé bỏng. Tin vào Thiên Chúa những lúc bị người đời hắt hủi, cô đơn buồn tủi như thế, không dễ dàng chút nào, nhất là giờ đây, Giuse lại phải tin hài nhi bè nhỏ yếu ớt kia là chính Thiên Chúa của mình, và là Con Đấng Tồi Cao…
Không chỉ là một con người có một đức tin sâu xa tín thác vào Thiên Chúa, Giuse còn là người đã thể hiện đức tin của mình qua việc trung thành chu toàn việc thờ phượng Thiên Chúa qua các lễ nghi lề luật truyền dạy. Chúng ta có thể thấy điều đó khi ông bà chu toàn việc dâng con trai đầu lòng cho Thiên Chúa như luật dạy. Giuse đem con trẻ Giêsu và người vợ lên Giêrusalem để vừa làm lễ thanh tẩy cho Maria, vừa để hiến dâng con cho Thiên Chúa.  Của lễ của gia đình dâng cho Thiên Chúa chỉ là một của lễ đơn sơ chân thành theo hoàn cảnh nghèo của minh, họ dâng chúa một đôi chim bồ câu. Ngày nay chúng ta thường thấy nhiều người nhân danh sự nghèo khó vất vả của mình để bỏ qua việc thờ phượng Thiên Chúa, thế nhưng Giuse đã không như thế, ông đã tin với một đức tin chân thành đơn sơ phó thác cả gia đình, công việc cho sự quan phòng của Thiên Chúa, không tính toán so đo, trái lại cả hai vợ chống đến với Chúa với một tâm tình tạ ơn và yêu mến.
Cũng thế, mặc dù sau những sóng gió liên tục, gia đình của Giuse về định cư tại Nazaret, với một cuộc sống bình dị đạm bạc, Giuse cũng phải vất vả với công việc để nuôi sống vợ con, vậy mà, không khi nào Giuse lên tiếng than van hay trách móc, cũng không vì sự vất vả khó khăn của cuộc sống mà Giuse cho phép mình lơ là trong việc bổn phận thờ phượng Thiên Chúa. Chính vì thế, Thánh Kinh đã ghi lại rằng: hàng năm cha mẹ chúa Giêsu có thói quen trẩy hội đi lễ đền thờ Giêrusalem. Thói quen hàng năm ấy chỉ có được nơi những con người chuyên chăm siêng năng dám phó thác đời sống và công việc cho Chúa, đã dám gác lại những lo lắng riêng tư đế có thời gian đến với Chúa, và chính từ sự chuyên chăm này, Giuse đã hình thành nên nếp sống đạo và đời sống đức tin cho vợ và người con là Giêsu.
Lược qua một vài biến cố như thế trong cuộc đời của Thánh Giuse, để thấy rằng Thánh Giuse quả thật là con người có một đức tin sâu xa vào Thiên chúa, sống đức tin một cách cụ thể qua các biến cố của cuộc sống gia đình và còn là người thể hiện đức tin qua việc chu toàn lề luật và việc phụng thờ Thiên Chúa. Chính vì có một đời sống đức tin như thế nên Thánh Thánh Giuse trở thành tấm gương sống đức tin cho mỗi người chúng ta, và cuộc sống của Ngài còn được sánh như đức tin của tổ phụ Apbraham và của Thánh vương Đavít.
Apbraham ngày xưa cũng đã có một đức tin mạnh mẽ, ông đã tin và đã bước theo tiếng mời gọi của Thiên Chúa để lên đường, dù phía trước mặt ông tương lai thật mờ mịt, Thánh Kinh diễn tả rằng: ông ra đi mà không biết mình đi dâu. Apbraham đã tin và đã hoàn toàn trao phó cuộc đời, tương lai và hy vọng của ông cho lời hứa của Thiên Chúa, ông không chút hồ nghi, không tính toán, không oán trách Thiên Chúa, cho dù có nhiều lúc đau khổ tan nát cõi lòng. Cũng thế Thánh vương Đavít, cũng đã sống trọn vẹn đức tin vào thiên Chúa, cả những khi vô cùng nhục nhã, lên voi xuống chó, sống chui sống nhủi, bị những kẻ vô lại khạc nhổ chửi bới, vậy mà ông vẫn tin và không hề mở niệng than trách Thiên chúa và ông  nhận ra rằng: tất cả là vì lỗi của tôi, nên Thiên chúa đã xử với tôi như thế.
Thưa quý OBACE, Thiên Chúa sẽ trả lại cho những kẻ tin trung bằng tình yêu thương trung tín của Ngài, vì tin, nên Apbraham được trở thành cha của những kẻ có lòng tin, ông được trở nên như bạn hữu của Thiên Chúa; Đavít, nhờ tin mà trở thành kẻ Chúa yêu thương và còn hứa sẽ lập cho ông một triều đại trường tồn mại mãi; và cũng thế, vì trung thành với đức tin mà Giuse được Thiên Chúa tín nhiệm trao phó con của Ngài cho ông chăm sóc, cho Giuse được cộng tác một cách hết sưc chặt chẽ với chương trình cứu độ của Thiên Chúa.
Chúng ta đang sống trong Năm Đức Tin, mỗi người được mời gọi làm mới lại đức tin của mình, củng cố và làm cho đức tin của mình nên vững chắc trước những sóng gió và sự tấn công của con người và của thế giới, của khoa học và của các trào lưu tư tương hiện nay, bằng việc siêng năng học hỏi suy gẫm Lời Chúa và Giáo lý của Hội Thánh. Các bậc làm cha mẹ hãy noi gương thánh Giuse: không chỉ củng cố đức tin của mình để có thể vượt qua những thử thách sóng gió của cuộc sống gia đình, mà còn phải trở nên thày dạy đức tin cho con cái trong gia đình, biết giải quyết các khó khăn trong cuộc sống gia đình trong cái nhìn đức tin và theo giáo huấn của giáo hội. Mỗi người hãy củng cố đức tin của mình bằng việc tham dự một cách thường xuyên các cử hành phụng vụ của giáo Hội, siêng năng lãnh nhận các bí tích nhất là bí tích Giải tội và Thánh Thể, vì các cử hành phụng vụ của Giáo Hội là cách thế bày tỏ đức tin của Giáo Hội và của mỗi cá nhân trong sự gắn bó với Giáo hội, và cũng là cách thế để nuôi dưỡng và củng cố đức tin của mỗi người chúng ta.
Qua lời bầu cử của Thánh Giuse, xin Chúa thêm đức tin cho mỗi người để chúng ta có thể nên giống như thánh nhân trở thành những con người thực hành đức tin trong xã hội hôm nay. Amen.
Lm. Giuse Đỗ Đức Trí

 

19/03-96: THÁNH GIUSE – ĐẤNG CÔNG CHÍNH

Cùng toàn thể Giáo Hội, hôm nay chúng ta hân hoan mừng lễ Thánh Giuse – bạn trăm năm của 19/03-96

Cùng toàn thể Giáo Hội, hôm nay chúng ta hân hoan mừng lễ Thánh Giuse – bạn trăm năm của Đức Maria và là dưỡng phụ của Chúa Giêsu.
Thánh Giuse thuộc dòng dõi Vua Đavít, một triều đại được xem là tột đỉnh vinh quang của dân tộc Do Thái. Đúng như lời các ngôn sứ đã loan báo: Chúa Cứu Thế sẽ được sinh ra từ vọng tộc này. Được tôn vinh là « Đấng Công Chính » vì Thánh Giuse có đức tin vững vàng và đức vâng phục thẳm sâu, luôn khiêm tốn thi hành ý muốn của Thiên Chúa trong mọi hoàn cảnh, trong mọi hành động và ước muốn.
Trong biến cố truyền tin, thánh sử Matthêu viết: "Ông Giuse, chồng bà là người công chính và không muốn tố giác bà, nên đã đã định tâm bỏ bà cách kín đáo"(Mt 1, 19). Ðây là câu chuyện duy nhất trong Tân Ước diễn tả trực tiếp về con người của Thánh Giuse. Theo ý nghĩa của Kinh Thánh, "người công chính" là người được Thiên Chúa yêu thương và được tham dự vào sự thánh thiện của Thiên Chúa. Thánh Gioan Kim khẩu giải thích thêm: tiếng “Công chính” nơi Thánh Giuse nghĩa là “no đầy ơn phước”.Thuộc dòng dõi Vua Đavít, Thánh Giuse cũng có những dự tính riêng cho cuộc đời mình. Nhưng sau khi nghe lời Sứ Thần giải thích về kế hoạch của Thiên Chúa, Thánh nhân đã tin tưởng đón nhận Mẹ Maria về nhà và trở thành cha nuôi của Chúa Giêsu.
Thánh Giuse đã sống một cuộc đời âm thầm và khiêm tốn nơi làng quê Nagiaret nhỏ bé. Ngài tận tụy ân cần chăm sóc Mẹ Maria và dưỡng dục Chúa Giêsu.Đức công chính cao vời đó là một kho tàng ẩn giấu trong một nếp sống hết sức bình dị. Ngài thu giữ thánh hạnh một cách kín đáo, khéo léo đến nỗi mắt phàm khó nhận ra và sử sách không ghi chép lại được. Dưới lớp áo xanh lao động bạc màu là cả dòng máu trâm anh với một tâm hồn cao khiết. Tại ngôi làng Nagiaret nhỏ bé, người ta chỉ biết có bác thợ mộc với đôi tay chăm chỉ cần mẫn lao động và một trái tim trung thành bất chấp mọi gian lao.Thánh nhân không đòi hỏi gì cho riêng mình: không tiền bạc, không danh vọng, chỉ vui sướng được hy sinh chăm sóc cho Mẹ Maria và Chúa Giêsu.
Cuộc sống đang yên bình thì Giuse nhận được tin báo phải đưa gia đình sang Ai Cập lánh khỏi cơn thịnh nộ của Hêrôđê. Ngay trong đêm khuya, Thánh nhân đã trỗi dậy đem Con Trẻ và Mẹ Người ra đi rồi lại trở về theo kế hoạch của Thiên Chúa. Kỷ niệm lần đầu tiên lên đền thờ Giêrusalem năm mười hai tuổi còn ghi đậm trong tâm khảm Chúa Giêsu. Sau khi tìm thấy trẻ Giêsu, Thánh Giuse không một lời quở trách nhưng vui mừng dẫn con trẻ trở về. Hình ảnh ấy làm cho Chúa Giêsu càng thấu hiểu hơn về lòng nhân hậu bao la của Thiên Chúa Cha.Thánh Giuse không nói một lờinhưng Ngài đã hùng hồn nói trong hành động, khiêm tốn, can đảm và kiên trì thực hiện ý muốn của Thiên Chúa.
Thánh Giuse còn là người sáng ngời về đời sống cầu nguyện. Ngài không để lại một cuốn sách hay linh đạo về cầu nguyện nhưng cả cuộc đời Thánh nhân là những giây phút trầm mặc, cầu nguyện liên lỉ với Thiên Chúa,cầu nguyện cả trong giấc mộng.Từng biến cố xảy ra đều là bài học chiêm niệm đối với thánh nhân.Khi phải chọn lựa giữa kế hoạch của Thiên Chúa và ý riêng mình, Thánh Giuse đã trải qua cuộc chiến đấu về lòng cậy trông với Đức Maria và Chúa Giêsu. Ngài đã đối diện với mầu nhiệm lớnlao của Thiên Chúa và tự hỏi: tôi là một người thợ thấp kém, làm sao được chọn cho một sứ mệnh đặc biệt như thế? Trải qua đau khổ trong nghi nan và đêm tối,Thánh Giuse đã hiểu rằng: ngài được chọn để làm cho lòng cậy trông của dân Thiên Chúa được thành toàn viên mãn. Ngài đã vượt qua tất cả nhờ cầu nguyện.
Như nhành huệ trắng tinh tỏa hương thơm ngát,Thánh Giuse không những trổi vượtvềđức tin và vâng phục mà còn cao trọng hơn vì cómột tâm hồn thanh khiết và khó nghèo. Thánh nhân hằng dâng lên Thiên Chúa mỗi tình cảm, mỗi ý nghĩ và mỗi việc làm của mình, luôn giữ gìn thân xác và con tim không chút tì ố.Thánh nhân đã dùng đức khiết tịnh của mình để bảo vệ Mẹ Maria đồng trinh trọn vẹn và để Ngôi Hai Thiên Chúa có đủ điều kiện giáng thế làm người.
Thánh Giuse là Đấng bảo trợ, Ngài không đồng hành với Chúa Giêsu trên đường khổ nạn, không đứng dưới chân thập giá, không chứng kiến những giây phút vinh quang khi Chúa phục sinh, nhưng thánh nhân đã xuất hiện ở buổi đầu của thời Tân Ước như một khúc dạo đầu nhẹ nhàng êm ái trong bản tình ca cứu thế. Thánh nhân cũng trải qua bao nhiêu vất vả, thử thách, trải qua một chọn lựa đầy tính sống còn mà vẫn tín trung trong ý định cứu chuộc của Thiên Chúa.Vì thế Thánh Giuse xứng đáng được gọi là “Thánh Cả” để chúng ta tôn kính.
Chính Chúa Giêsu là thầy dạy đầu tiên và mẫu gương về lòng sùng kính Thánh Cả Giuse. Ngoài Chúa Giêsu, Mẹ Maria cũng tôn kính Thánh Cả một cách đặc biệt. Bởi đó là người bạn trăm năm thanh tịnh của Mẹ. Trong bộ Tổng luận thần học, Thánh tiến sĩ Tôma Aquinô đã viết: “Khi Thiên Chúa trao sứ mạng đặc biệt cho người nào thì Chúa cũng ban cho người ấy tất cả tài năng và ân sủng để hoàn thành sứ mạng ấy”. Cũng thế,với tước hiệu là phu quân của Đức Mẹ và là dưỡng phụ Chúa Giêsu,Thiên Chúa đã đặt Thánh Giuse sát bên Đức Mẹ và trên hết hàng các thánh. Giáo hội cũng thiết tha tôn sùng thánh cả như “Đấng bảo trợ thiêng liêng”. Thánh Anphonsô cũng nhận rằng:“Thiên Chúa suy tôn Thánh Giuse hơn cả các thánh tổ tông, các thánh tiên tri và các thánh hiển tu vì các đấng ấy chỉ là tôi tớ Chúa còn thánh Giuse là Cha của Con Thiên Chúa”.
Năm 1870, trước những ưu tư của thời đại, Đức Giáo Hoàng Piô thứ IX đã phó dâng các tín hữu trong tay thánh Cả hộ phù hộ, đã tôn Người là quan thầy toàn thể Giáo hội và truyền dạy hàng năm phải mừng lễ trọng thể kính Người. Càng ngày ta càng thấy rõ vinh quang Người chiếu tỏ, nhân đức Người sáng ngời như những vì sao, lời cầu bầu của Người vạn năng, sự can thiệp của Người mạnh thế. Mọi thành phần dân Chúa trong Giáo hội đều tỏ lòng sùng mộ và quy hướng về thánh Cả như một vị cha già vô cùng phúc hậu.
Gần 30 năm trường, Mẹ Maria và Chúa Giêsu đã lấy làm hạnh phúc được vâng lời Thánh Giuse một cách trọn vẹn.Vì thế, trong mối thân tình ấy, điều gì Thánh Giuse xin cùng Thiên Chúa cũng sẽ được chấp nhận.Dưới sự bảo trợ rất âm thầm của Thánh Giuse, Giáo hội luôn vững tin trước tòa Chúa. Chính thánh nữ Têrêsa Avila đã quả quyết: “Tôi thấy không lần nào khấn xin cùng thánh Giuse mà không được như ý. Dường như Thiên Chúa ban ơn cho các thánh giúp ta việc này việc nọ nhưng kinh nghiệm cho tôi biết Thánh Giuse giúp chúng ta trong mọi trường hợp. Tôi lấy danh Chúa mà xin những ai không tin lời tôi hãy thử mà xem”.
Lạy Thiên Chúa là Cha yêu thương, Chúa đã cho Con Một Chúa xuống thế làm người để chia sẻ thân phận con người như chúng con, Chúa còn quan phòngchọn Thánh Giuse bảo vệ và dưỡng dục Chúa Giêsu những ngày còn niên thiếu, xin Thánh nhân cũng thương bảo vệ, dạy dỗ, nâng đỡ và yên ủi chúng con trong cuộc sống này. Ngày xưa Thánh Giuse đã bảo vệ và dìu dắt Chúa Giêsu thế nào, thì ngày nay chúng con khấn xin Người thương bảo vệ dìu dắt Giáo Hội và từng người chúng con biết trung thành với ơn đã lãnh nhận và đi trọn con đường Chúa mời gọi. Amen.
Nt. Maria Anh Thư,OP

 

19/03-97: ÂM THẦM NHƯNG SÁNG NGỜI NHÂN ĐỨC

(2 Sm 7, 4-5a. 12-14. 16; Rm 4, 13. 16-18. 22; Mt 1, 16. 18-21. 24a)
 

Hôm nay, chúng ta cùng với toàn thể Giáo Hội mừng kính trọng thể lễ thánh Giuse, bạn trăm năm 19/03-97

Hôm nay, chúng ta cùng với toàn thể Giáo Hội mừng kính trọng thể lễ thánh Giuse, bạn trăm năm Mẹ Maria và là Cha Nuôi Đức Giêsu.
Riêng tại Việt Nam, chúng ta mừng lễ cách đặc biệt hơn, bởi vì ngài còn là bổn mạng của Giáo Hội Việt Nam.
Nhân dịp này, chúng ta cùng nhau tìm hiểu cuộc đời và gương sáng của thánh Giuse, để qua đó, mỗi người biết noi gương bắt chước thánh nhân để sống xứng đáng là người con của Chúa.

Âm thầm để thi hành ý Chúa
Nếu mới chỉ nghe đọc qua bậc lễ trong niên lịch phụng vụ của Giáo Hội, chúng ta thấy lễ của ngài được nâng lên bậc I. Vì thế, nhiều người sẽ nghĩ ngay đến sự cao trọng của thánh nhân trong chương trình cứu chuộc của Thiên Chúa. Tuy nhiên, điều làm cho nhiều người không khỏi ngạc nhiên, đó là sự âm thầm nơi một con người vĩ đại này!
Đọc Kinh Thánh, chúng ta nhận ra đời sống của thánh nhân rất đỗi âm thầm. Âm thầm đến độ trong toàn bộ Kinh Thánh, không có một chỗ nào kể việc phát ngôn của thánh Giuse!
Nhưng nơi thánh Giuse, chúng ta khám phá ra ngài là một con người của hành động trong khiêm tốn và âm thầm.
Thật vậy, ngài âm thầm đón nhận lời sứ thần truyền tin trong mộng. Âm thầm thi hành cách triệt để. Làm gia trưởng một gia đình nghèo khó. Nghề nghiệp chẳng có gì nổi nang. Xuất hiện trên trần gian chẳng ai nói tới. Ngày ngài chết cũng chẳng được sử sách lưu truyền!
Tuy mang trong mình dòng máu hoàng tộc Đavít, nhưng thời đại huy hoàng của đế vương không còn. Phải chăng, giờ đây, người ta chỉ còn biết đến dòng dõi chứ ít còn ai nghĩ đến vẻ uy nghi của thời hoàng kim… Vì thế, Giuse bây giờ hoàn toàn là người bình dân với cái nghề rất đỗi bình thường để kiếm miếng cơm manh áo cho mình và gia đình của ngài.
Như đã chia sẻ, tuy toàn bộ Tin Mừng, chúng ta không thấy thánh Giuse có một lời nói nào để lại cho hậu thế, nhưng cả cuộc đời, không một lúc nào, ngài rời xa gia đình cũng như vơi cạn tình yêu thương với Mẹ Maria và Đức Giêsu. Bí quyết của thánh Giuse trong việc giữ gìn hạnh phúc gia đình chính là niềm tin và lòng mến của ngài đặt để nơi Thiên Chúa thật tuyệt đối sắt son. Điều này đã làm cho ngài trở nên phi thường ngay trong thân phận bình thường là một bác thợ mộc làng quê Nazareth.
2.       Tầm thường trở nên phi thường nhờ lòng mến
Quả thật, đức tin của thánh Giuse phải liệt vào hạng sáng ngời: theo lẽ thường, ít ai có thể tin nổi một chuyện lớn lao liên quan đến cả cuộc đời của bản thân và gia đình mà lại diễn ra trong một giấc mơ? Ấy vậy mà Giuse, ngài đã tin! Chính vì niềm tin tuyệt đối này mà thánh nhân đã trở nên vĩ đại khi sẵn sàng để cho Thánh ý Thiên Chúa được thể hiện nơi mình.
Biến cố đón nhận Đức Maria về nhà của ngài và sự kiện chạy trốn sang Aicập cũng như từ Aicập trở về cho ta thấy rõ đặc tính tuyệt vời này của thánh Giuse.
Đức tính thứ hai cũng rất cao thượng, đó là: đức ái tuyệt hảo nơi ngài. Khi nghe biết Mẹ Maria mang thai, thánh Giuse rất trăn trở và áy náy??? Không biết thai nhi mà người vợ mình hết mực yêu thương, tin tưởng này là của ai, vì cả hai người chưa về chung sống với nhau???. Như vậy, xét theo con mắt người đời, Đức Maria đã ngoại tình. Chiếu theo luật Môsê, khi người phụ nữ bị phạm tội ngoại tình và bị tố cáo, người phụ nữ ấy chắc chắn bị ném đá cho tới chết. Nhưng thánh Giuse đã không nỡ để cho một phụ nữ liễu yếu đào tơ bị chết cách đau đớn, thê thảm. Vì thế, ngài đã lựa chọn giải pháp êm xuôi để cho Đức Mẹ được có cơ hội sống. Phương án mà thánh nhân dự định, đó là sẽ bỏ đi cách âm thầm, không oán trách, không than van… Tuy nhiên, ý định của thánh Giuse đã được Thiên Chúa can thiệp khi mạc khải cho biết việc Đức Maria mang thai là do quyền năng Chúa Thánh Thần, và ngài sẽ được chọn để trở thành cha nuôi Con Thiên Chúa về mặt pháp lý nhằm phục vụ chương trình cứu chuộc của Thiên Chúa trên nhân loại. Chính khi nghe được lời trấn an cũng như kế hoạch của Thiên Chúa, thánh Giuse đã sẵn sàng thể hiện đức ái trọn hảo với Đức Maria qua việc sẵn sàng đón nhận ngài về để chăm sóc.
Sau này, khi Mẹ Maria sinh hạ Đức Giêsu, rồi suốt thời gian làm gia trưởng của gia đình, thánh Giuse đã âm thầm và rất lo lắng, quan tâm đến Mẹ Maria và trẻ nhỏ Giêsu trong lòng mến.
Đây chính là điểm sáng thứ hai xây dựng nên nhân cách tuyệt vời của thánh Giuse.
Như vậy, thánh Giuse là một con người bình thường, âm thầm, kín đáo, khiêm nhường, nhưng nơi ngài đã toát lên những đức tính anh hùng sáng ngời, xứng đáng để cho mọi người noi theo, đó là đức tin son sắt và đức mến nồng nàn.
3.       Bài học cho mỗi chúng ta
Mỗi khi mừng lễ thánh Giuse, chúng ta hãy ngước nhìn lên ngài và khám phá ra những nhân đức quý giá nơi thánh nhân, để như một bài học sống động cho đời sống đạo của chúng ta.
Bài học đầu tiên chúng ta cần có, đó là: đừng bao giờ thất vọng vì mình sinh ra, lớn lên hay lãnh đạo một gia đình nghèo nàn khốn khó. Cũng đừng bao giờ bi quan vì nghề nghiệp của mình chẳng bằng ai. Lẽ tất nhiên là ta phải cố gắng nhằm có cơ hội tốt hơn để lo cho gia đình và cuộc sống hôm nay. Nhưng điều muốn nói ở đây, đó là hãy đón nhận những gì mình đang có như một hồng ân của Chúa, để từ đó biết dâng lời cảm tạ và tri ân ngài. Bên cạnh đó, hãy làm những công việc bình thường một cách phi thường bằng lòng mến. Mặt khác, đừng bao giờ có thái độ kỳ thị hay khinh bỉ những người bình dân, nghèo khó. Có thể về mặt kinh tế, người ta không bằng ai, nhưng về đời sống đạo đức, họ lại là con người tốt lành thánh thiện hơn nhiều người.                                                                                                                
Bài học thứ hai, đó là tấm gương cho các gia trưởng trong gia đình: thánh Giuse dù nghèo khó, vất vả làm việc để nuôi sống gia đình. Tuy nhiên, ngài không than van kêu trách, lớn tiếng nạt nộ… Ngược lại, ngài rất âm thầm và chu toàn bổn phận của một người cha, người chồng trong gia đình. Sẵn sàng đón nhận cuộc sống hiện tại và tìm cách làm cho tốt hơn một cách trong sáng, lành mạnh.
Vì thế, mỗi người chúng ta là những người cha, người chồng trong gia đình, những lúc khó khăn hay không được như ý muốn, chúng ta hãy noi gương thánh Giuse, đó là âm thầm dâng cho Chúa và thi hành đúng bổn phận của mình cách chu đáo. Luôn nhận phần khó khăn về mình, và làm mọi việc vì lòng mến.
Bài học cuối cùng, chính là bài học về sự tin tưởng, phó thác tuyệt đối nơi Thiên Chúa: nếu cuộc đời của thánh Giuse đã tin tưởng tuyệt đối vào Thiên Chúa, và mau mắn thi hành những gì đã tin, thì đến lượt chúng ta, hãy nhạy bén với ơn Chúa và các dấu chỉ thời đại, nhằm khám phá và tìm ra thánh ý Thiên Chúa để thi hành trong đức ái cũng như lòng mến theo gương thánh Giuse.
Lạy Thiên Chúa toàn năng, chúng con tạ ơn Chúa đã ban cho chúng con một mẫu gương âm thầm là thánh Giuse. Ngài là mẫu gương tuyệt vời cho các bậc gia trưởng trong gia đình cũng như cho mỗi người chúng con. Xin Chúa ban cho chúng con biết noi gương bắt chước nhân đức của ngài và thi hành, để mai ngày chúng con được hạnh phúc chiêm ngưỡng thánh nhan Chúa muôn đời trên Thiên Quốc. Amen.  

Jos. Vinc. Ngọc Biển

 

19/03-98: HUYỀN NHIỆM MỘT NGƯỜI CHA

-  Trích Logos A
 

Tại ngôi làng chuyên nghề săn bắn kia có tục lệ : khi người thanh niên trong làng bước vào tuổi 20, 19/03-98

Tại ngôi làng chuyên nghề săn bắn kia có tục lệ : khi người thanh niên trong làng bước vào tuổi 20, để được coi là người đàn ông trưởng thành, anh ta được dẫn vào một khu rừng và phải ở đó một mình suốt 3 ngày với con dao găm, chiếc cung và một bó tên.
Sau 3 ngày, nếu anh ta trở về bình yên với một con thú nhỏ, anh sẽ được công nhận là đã trưởng thành. Nếu anh trở về với một con thú dữ, anh được coi là người đàn ông lý tưởng.
Năm ấy, có cậu trai làng kia được dẫn vào khu rừng để thi hành nghĩa vụ. Cậu rất sợ hãi giữa khu rừng âm u đầy hiểm nguy. Qua ngày thứ 3, lúc đang đi tìm thức ăn, cậu bỗng nghe một tiếng gầm lớn phát xuất từ một bụi rậm. Một con sư tử xuất hiện. Cậu run rẩy giương cung lên, con sư tử chồm tới, mũi tên tẩm thuốc độc lao vút đi. Con sư tử gục xuống với mũi tên cắm vào tim.
Cậu trai làng hoàn hồn tiến lại gần con sư tử và rút mũi tên ra. Cậu sửng sốt vì đó không phải là mũi tên của cậu. Qua vết khắc trên mũi tên, cậu nhận ra ngay đây chính là mũi tên của cha cậu. Thật ra, cậu bắn hụt và đã thoát chết trong đường tơ kẽ tóc ! Thì ra, người cha đã âm thầm lặng lẽ đi theo từng bước chân của người con để bảo vệ con mình. Nấp trong bụi cây, chính ông đã bắn mũi tên hạ sát con sư tử để cứu sống con mình.
Cậu trai làng trở về giữa bao lời tung hô chúc tụng của dân làng. Cậu mang danh hiệu là người đàn ông lý tưởng. Nhưng trong lòng cậu, cậu nghĩ : cha cậu mới chính là người đàn ông tuyệt vời nhất, người cha lý tưởng nhất !
Thánh Giuse cũng chính là người cha lý tưởng qua mọi thời đại, một người cha huyền nhiệm trong lịch sử ơn cứu độ. Sự huyền nhiệm trong vai trò làm cha được thể hiện trong ơn gọi kỳ lạ của thánh Giuse.

Ơn gọi làm cha từ một giấc mơ.
Tin Mừng theo thánh Matthêu kể lại : thánh Giuse đính hôn với Đức Maria. Theo tục lệ của người Do Thái, khi đôi nam nữ đính hôn với nhau, họ được coi như đã thuộc về nhau. Vì thế, trước khi về chung sống sau cuộc đính hôn, thánh Giuse phát hiện ra Đức Maria có thai. Vì chưa hiểu ý định nhiệm mầu của Thiên Chúa, thánh Giuse rất đau khổ trước sự kiện này. Theo luật Môisen, nếu thánh Giuse tố cáo, Đức Maria sẽ bị ném đá đến chết. Nhưng vì là người công chính, không muốn Đức Maria bị trừng phạt, thánh Giuse đã định âm thầm bỏ đi một cách kín đáo.
Đang khi định tâm như vậy, thiên thần Chúa hiện ra trong giấc mơ và mạc khải cho thánh Giuse biết : Maria mang thai là bởi quyền năng Chúa Thánh Thần. Nàng sẽ hạ sinh Đấng chuộc tội trần gian.
Khi tỉnh dậy, vâng theo lệnh truyền của Thiên Chúa, thánh Giuse đã đón nhận Đức Maria về nhà mình. Thánh Giuse trở thành cha nuôi của Đấng Cứu Thế.
Cuộc đời thánh Giuse luôn gắn liền với những giấc mơ. Những giấc mơ đan dệt nên sự huyền nhiệm trong cuộc đời của Người. Vì những giấc mơ ấy như những cánh cửa nhiệm mầu mở ra cho thánh Giuse nhìn thấy ánh sáng của thánh ý Thiên Chúa. Khi nhận ra ý Chúa, thánh Giuse đã triệt để tuân phục. Người đã biến những giấc mơ thành hiện thực, đã đem huyền nhiệm vào cuộc sống mình.

Người cha đầy tinh thần trách nhiệm.
Khi đón nhận vai trò làm cha nuôi Chúa Giêsu, thánh Giuse đã đón nhận biết bao thử thách gian nan. Nhưng trong mọi nghịch cảnh, Người vượt qua tất cả để chu toàn trách nhiệm một người cha.
Trên đường về quê quán khai sổ nhân danh, đúng vào lúc Mẹ Maria đến ngày sinh Chúa Giêsu, thánh Giuse phải âm thầm đưa Mẹ Maria ra cánh đồng Bêlem để sinh nở, vì không tìm được chỗ trọ đêm.
Thử thách chưa hết, khi bạo chúa Hêrôđê tìm cách giết các hài nhi, được thiên thần báo tin trong giấc mơ, giữa đêm khuya, thánh Giuse lại đưa Chúa Giêsu và Mẹ Maria đi lánh nạn bên Ai Cập.
Gian truân tiếp nối gian truân, khi vua Hêrôđê qua đời, thánh Giuse lại được thiên thần báo mộng đưa Hài Nhi và Mẹ Ngài trở về Nazareth. Thánh Giuse lại tiếp tục cuộc hành trình trong gian nan thử thách. Người tuân phục ý Chúa mà không cần đắn đo suy nghĩ.
Quả thật, thánh Giuse là người cha và người chồng đầy tinh thần trách nhiệm khi bảo vệ Chúa Giêsu và Mẹ Maria với tất cả nỗ lực của mình. Người xứng đáng là vị gia trưởng gương mẫu cho mọi thế hệ. Sự cao cả và vẻ huyền nhiệm trong cuộc đời thánh Giuse hệ tại Người có quyền từ khước những công việc nặng nề và khó khăn, vì Người chỉ là cha nuôi của Chúa. Tuy nhiên, qua mọi gian truân, Người luôn chu toàn trách nhiệm một cách chu đáo và nhiệt thành.

Người cha thánh đức.
– Sự thánh thiện của thánh Giuse thể hiện qua việc Người trung thành với lề luật. Mặc dù là cha nuôi của Đấng Cứu Thế, thánh Giuse có quyền từ chối thi hành lề luật. Tuy vậy, hằng năm Người vẫn đưa Chúa Giêsu và Mẹ Maria lên Giêrusalem để dự lễ Vượt Qua. Thái độ tôn trọng và tuân giữ lề luật đã nói lên tinh thần đạo đức và sự thánh thiện của Người. Người đã biến gia đình mình thành một gia đình thánh, xứng đáng nên gương mẫu cho mọi gia đình trần thế.
– Sự thánh thiện của thánh Giuse còn thể hiện qua tinh thần vâng phục thánh ý Thiên Chúa. Biết lắng nghe và thực thi ý Chúa không chỉ là nét huyền nhiệm cao cả trong cuộc đời thánh Giuse, nhưng đó còn thước đo sự thánh thiện của Người. Đó cũng là vẻ đẹp trong cuộc sống của Người, khiến Người được gọi là Người Công Chính.
Sự huyền nhiệm và cao cả nơi thánh Giuse đã biến cuộc đời của Người thành một bài ca kỳ diệu, nhưng là “một bài ca không lời”, bài ca vút cao từ cuộc sống thầm lặng của niềm tin. Bài ca ấy được dệt nên bằng những việc làm hơn là những lời nói. Bài ca ấy xuất phát từ một trái tim đầy tin yêu. Bài ca ấy không thể nghe bằng tai, nhưng chỉ có thể gẫm suy trong lòng. Bài ca ấy đang được trao gửi đến những người cha trong cuộc sống hôm nay như một thông điệp yêu thương.
Thánh Giuse được chọn làm bổn mạng của Hội Thánh Việt Nam, của các Gia Trưởng, vì thánh Giuse chính là vị thuyền trưởng tài ba, đã lèo lái con thuyền của Hội Thánh và con thuyền Thánh Gia vượt qua những cơn sóng dữ cuộc đời.
Giữa phong ba bão táp của cuộc sống trần gian, chúng ta hãy trao phó tất cả định mệnh đời mình vào bàn tay Người, chúng ta sẽ an tâm vững chí, vì Người luôn che chở và bảo vệ chúng ta.
Một chiếc tàu đang lênh đênh trên biển cả. Bỗng nhiên sóng gió nổi lên dữ dội. Chiếc tàu chao đảo lắc lư như muốn chìm giữa sóng cả ba đào. Mọi người trên tàu nhốn nháo, xôn xao đầy lo sợ. Người thì cầu nguyện, kẻ thì khóc lóc, người khác lại kêu la thảm thiết. Mọi người chạy xô đi tìm phao cứu nạn và xuồng cấp cứu. Riêng chỉ có một bé gái 6 tuổi vẫn bình thản ngồi chơi trên boong tàu như không có chuyện gì xảy ra! Một người dừng lại hỏi em : “Đến nước này mà em còn ngồi chơi được sao ? Em không sợ hả ?”. Em bé trả lời một cách ngây thơ : “Em không sợ, vì ba em là thuyền trưởng mà!”.
Em bé luôn tin tưởng vào cha mình, người đang lái con tàu. Em hoàn toàn yên tâm. Cũng thế, chúng ta hãy để cho thánh Giuse lèo lái con thuyền gia đình chúng ta vượt qua bão tố cuộc đời, để đến bến bờ bình an.

 

19/03-99: NÊN THÁNH THEO GƯƠNG THÁNH GIUSE

- Lm. Giuse Nguyễn Hữu An
 

Trong các loài hoa, có một loài không những thân luôn mọc về phía ánh sáng mà hoa còn luôn quay 19/03-99

Trong các loài hoa, có một loài không những thân luôn mọc về phía ánh sáng mà hoa còn luôn quay về phía mặt trời. Đó là Hoa hướng dương.Hoa hướng dương luôn hướng về phía mặt trời với cánh hoa mở rộng đón nhận ánh sáng và sức sống để toả hương khoe sắc.
Thánh Giuse như hoa hướng dương luôn hướng về Thánh Ý Thiên Chúa.Ngài hằng hướng mắt, hướng lòng về Thiên Chúa để nhận ra và làm tròn Thiên Ý.Thánh Giuse được sách Tin mừng gọi là “người công chính”. Theo Kinh thánh, “Người công chính sống bởi đức tin” (Hab 2,4; Rm 1,17; Gal 3,11). Sống đức tin là sống công chính, là hoàn toàn tin tưởng vào Thiên Chúa như tổ phụ Abraham. Người công chính, nói đơn giản là người tốt, ngay thẳng, trung tín, có trách nhiệm. Là tôi tớ trung thành của Thiên Chúa, luôn thực thi trọn vẹn thánh ý của Thiên Chúa. Là con người luôn biết kính trọng và yêu thương tha nhân.
Thánh Giuse tuyệt đối tin tưởng vào lời Thiên Chúa. Ngài đã luôn sống trong thái độ hoàn toàn phó thác cho tình yêu quan phòng của Thiên Chúa. Trong bất cứ hoàn cảnh nào, hễ biết là Ý Chúa, Thánh Giuse vui lòng lãnh nhận và mau mắn thi hành.
-Thấy Maria có thai,Giuse phải đau khổ lắm.Người Hôn thê đạo hạnh mà Ngài rất mực yêu thương lại mang thai trước khi về nhà chồng. Bối rối và khó xử nhưng Ngài vẫn tiếp tục tin tưởng Maria trong sạch vẹn tuyền. Không một lời phàn nàn, ca thán, trách móc, Giuse không hề hạch sách hay tra hỏi Maria một lời nào, Ngài âm thầm ôm lấy nỗi đau riêng mình với một quyết định: “Đào vi thượng sách”. Giuse không còn chọn lựa nào khác “vì là người công chính và không muốn tố giác bà nên mới định tâm bỏ bà cách kín đáo” (Mt 1,19).Thế nhưng, Thiên Thần đã hiện ra với Giuse trong giấc mộng giải thích cho Ngài biết “Người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần” (Mt 1,20); rồi Thiên Thần khuyên Giuse “Chớ sợ rước Maria về nhà mình”(Mt 1,20). Nhận ra Thánh Ý Thiên Chúa “Giuse đã làm như lời Thiên Thần Chúa truyền và ông đã rước bà về” (Mt 1,24).
– Cuộc sống đang bình yên tại Bêlem thì chính lúc đó Chúa lại bảo ông chỗi dậy đi ngay giữa đêm khuya, không hành trang, không tiền bạc sang Aicập sống kiếp lưu đày.Trước mắt là gian truân vất vả,đường dài vạn dặm mà vợ yếu con thơ, nhưng Giuse luôn tín thác vâng phục “Chỗi dậy, ông đem Hài Nhi và Mẹ Người trốn sang Aicập ngay giữa đêm khuya” (Mt 2,14).
– Khi đã ổn định cuộc sống nơi xứ lạ quê người với một cơ ngơi bé nhỏ mà Giuse đã gầy dựng từ hai bàn tay trắng.Vậy mà một lần nữa Chúa lại bảo ông phải bỏ lại tất cả để ra đi.Thật mau mắn trước Thiên Ý “Giuse chỗi dậy đem Hài Nhi và Mẹ Người về đất Israel”(Mt 2,21).
Trước Thánh Ý Thiên Chúa, Giuse vâng phục và chu toàn.Từ Nazareth qua Bêlem, từ Bêlem đi Aicập, từ Aicập về Israel, Chúa bảo ông đi là ông đi, bảo ông về là ông về, bảo ông làm thế nào là ông làm thế ấy,đúng thời gian,đúng địa điểm mà không thắc mắc,không hoài nghi, không cự nự.Tất cả mọi lần Giuse đều thưa như Đức Maria “Này tôi là tôi tớ Chúa, tôi xin vâng như lời Thiên Thần truyền”(Lc 1,38).
Thánh Ý Thiên Chúa bao giờ cũng hoàn hảo, không những cho cá nhân mà còn cho toàn thể nhân loại. Thánh Giuse người công chính đã thực hiện lời mời gọi “nên hoàn hảo như Cha trên trời là Đấng hoàn hảo” (Mt 5, 48) bằng cách thi hành ý muốn của Thiên Chúa.
Công đồng Vatican II dạy: “Mọi Kitô hữu, dù ở địa vị nào, bậc sống nào, đều được Chúa kêu gọi đạt tới sự trọn lành thánh thiện như Chúa Cha trọn lành, tuỳ theo con đường của mỗi người” (GH 11,3). Nên thánh theo con đường của Thánh Giuse là một con đường cho nhiều người. Không quan trọng mình là ai, địa vị nào trong xã hội, làm việc cao quý hay tầm thường.Trước nhan Thiên Chúa, mọi địa vị và công việc đều có giá trị. Điều quan trọng là hãy thực thi thánh ý Chúa, đáp lại tiếng Người mời gọi trong cuộc sống. Địa vị và công việc lao động chân tay của Thánh Giuse chỉ ở mức tầm thường; thế nhưng, ngài vẫn có khả năng biến đổi nó trở thành phi thường. Thánh Giuse nên thánh trong nghề nghiệp của mình nên ngài là Thánh bổn mạng của những người lao động.

Anh em Gia trưởng thân mến.
Thánh Giuse làm cha. Con của ngài vừa là con người vừa là Con Thiên Chúa – Đấng Cứu Độ. Con cái của anh em được làm con Thiên Chúa. Cho nên nhiệm vụ nuôi nấng dưỡng dục con cái là sứ vụ cao cả và là hồng ân quý giá Thiên Chúa ban cho bậc cha mẹ. Anh em hãy yêu thương và tôn trọng con cái mình. Hãy trở nên gương mẫu đạo đức thánh thiện cho con cháu. Hãy tránh mọi thứ gương mù gương xấu. Từ lời nói đến thái độ sống xấu sẽ là đại họa cho con cháu. Tuổi thơ các em đơn sơ như tờ giấy trắng, mỗi lời nói, mỗi cử chỉ của cha mẹ đều ghi đậm nét trên tờ giấy trắng tâm hồn và in dấu suốt cuộc đời các em. Người cha lãnh trách nhiệm che chắn cho mọi thành viên trong gia đình, với tư cách gia trưởng, anh em quyết định về tổ chức, sinh hoạt và kỷ cương trong gia đình. Do đó, anh em có vai trò thật quan trọng trong việc dưỡng dục con cái: thúc đẩy việc học hành và phát huy năng khiếu, chỗ dựa tinh thần, giúp con cái định hướng tương lai, cũng như tự tin hơn khi dấn thân vào đời.
Làm Gia trưởng, anh em là “cây cao bóng mát” cho con cái, không chỉ trong lãnh vực vật chất, tinh thần, mà còn trong lãnh vực tâm linh và nên thánh giữa đời. Chắc chắn con cái chịu ảnh hưởng nơi người cha, chúng giống cha từ tính tình, ngôn ngữ, đến quan điểm và lý tưởng sống. Vì thế, người gia trưởng phải là mẫu gương cho con cái noi theo.
Hãy truyền lại cho con cái tình yêu với gia đình, những kinh nghiệm cuộc sống, những giá trị nhân bản và đạo đức. Hãy dạy con biết mến Chúa yêu người, sống công bằng bác ái. Và vì “lời nói lung lay, gương bày lôi kéo”, đừng hành động ngược với giáo huấn của mình, đừng để xảy ra cảnh “nhà dột từ nóc”. Noi gương thánh Giuse xưa đã cứu gia đình khỏi thảm họa vua Hêrôđê, hãy giúp con cái tránh xa các tệ nạn xã hội, cũng như những quyết định nông nổi nhất thời.
“Trong gia đình mồ côi, vắng bóng người cha”. Đó là ngôn ngữ Đức Phanxicô sử dụng trong huấn từ ngày 28.1.2015. Theo ngài, cần tránh hai thái cực về người cha. Đừng là người cha kiểu gia trưởng, độc đoán, mệnh lệnh và kiểm soát con cái như những đầy tớ; cũng đừng trốn trách nhiệm làm cha, để mặc con cái bị lôi cuốn theo hoàn cảnh. Ngài nói “Giới trẻ ngày nay mồ côi ngay trong gia đình, vì các người cha thường vắng nhà, hoặc khi ở nhà, lại không hành xử như là cha, không chu toàn nhiệm vụ giáo dục, không trao ban cho con cái các nguyên tắc, các giá trị, các luật sống mà chúng cần như cơm bánh, với gương sống đi kèm lời nói của mình … Gương mặt và sự hiện diện của người cha trong gia đình rất quan trọng đối với sự quân bình của con cái”. Hãy dành thời gian cho con cái, tôn trọng sự trưởng thành của chúng; trợ giúp con cái bước đi với tinh thần tự do và trách nhiệm về tương lai của chính chúng và của xã hội.(x.daminh.net, thư tháng 3).
Thánh Giuse, mẫu mực của đường nên thánh giữa đời, luôn hướng tâm hồn về Chúa như hóa hướng dương hướng về phía mặt trời.
Thánh Giuse là con người thầm lặng, ít nói, khiêm tốn, sống theo Ý Chúa trong cuộc sống hàng ngày. Gioan Tẩy Giả chân thành “Người phải lớn lên, còn tôi phải nhỏ bé lại”. Giuse đã sống điều đó mà không nói một lời. Chính cuộc sống ấy đã làm nên một con đường tu đức hướng đến trọn lành. Thánh Giuse là bậc thầy dạy con người sống an vui và nên thánh trong địa vị của mình. Thánh Giuse là mẫu gương cho mọi người, đặc biệt là anh em gia trưởng nên thánh trong cuộc sống thường ngày.
**************

19/03-100:  HÃY DỪNG LẠI

Mừng lễ thánh Giuse thời covid19
Với Sứ Điệp
 (Tgm Ngô Quang Kiệt)
2S 7,4-5a.12-14a.16; Rm 4,13.16-18.22; Mt 1,16.18-21.24a

Mấy tháng nay tâm trí mọi người đều bị Covid19 xâm chiếm.  Trong tình hình dịch bệnh như thế 19/03-100

Mấy tháng nay tâm trí mọi người đều bị Covid19 xâm chiếm.  Trong tình hình dịch bệnh như thế, chúng ta mừng lễ thánh cả Giuse thế nào?  Lời Chúa trong lễ thánh Giuse nói với ta điều gì giữa thời đảo điên do dịch Covid19 gây ra? Có thể thấy 4 sứ điệp.
1. Hãy dừng lại. David có toan tính xây đền thờ. Nhưng Chúa bảo ông: hãy dừng lại. Abraham nôn nóng mong lời Chúa hứa thực  hiện. Chúa bảo ông: hãy dừng lại. Thánh Giuse cũng đang có toan tính bỏ đi. Chúa bảo ngài: hãy dừng lại.
Với đại dịch Covid19, tất cả phải dừng lại. Từ những chương trình lớn như giải đua xe, giải bóng đá, hành hương Toà Thánh, Đất Thánh. Cho đến những chương trình nhỏ như tuần chầu, cưới hỏi, khánh thành, tập huấn nhà tập. Thậm chí cả những chương trình riêng tư như đi thăm thân nhân, khám bệnh thường kỳ. Tất cả đều phải dừng lại.
Tổng phụ Lepori trích dẫn Thánh vịnh 46 mời gọi: Hãy dừng lại. Dừng lại trước Nhan Thánh. Chỉ có Chúa mới làm ta no thoả. Cyril, một linh mục của Vũ hán suy niệm: Trung quốc vốn ồn ào vội vã bỗng trở nên trầm lặng. Làm việc không biết mệt giờ cũng bình thản lại. Còn cha Ríchard Henrick, một linh mục châu Âu suy niệm: Trên khắp thế giời người ta đang sống chậm lại, dừng lại và suy tư. Dừng lại để quay về.
2. Hãy về nhà. Đối với các vị thánh về nhà là về với Thiên Chúa. Khi thức dậy, thánh Giuse đã trở về như lời Chúa truyền. Ra đi chỉ là cơn mê. Trở về là tỉnh thức. Mê ngủ là xác thịt. Tỉnh thức là Thần Khí. Đối với Đavid và nhất là với Abraham, quê hương là nơi Chúa hứa. Là về với lời hứa. Với đúng vị trí do Thiên Chúa đặt để.
Đại dịch Covid19 khiến mọi người trở về nhà. Trẻ em không đi học sẽ ở nhà. Người lớn không đi công tác sẽ ở nhà. Không còn những địa vị ngoài xã hội. Không còn những giao tiếp xã giao, con người về sống thật với mình. Quan trọng nhất là trở về căn nhà tâm hồn mình. Về tìm lại chính mình. Vì những công việc thế gian, con người phải ra khỏi mình nhiều. Đã đánh mất chính mình. Đã tha hoá.
Cha Henrick mời gọi: Hãy thức tỉnh những lựa chọn của bạn. Để biết sống hôm nay. Cha Cyril phát hiện: Có những cha mẹ trước kia chẳng bao giờ giao tiếp với con cái. Có những cặp vợ chồng chẳng hề tâm sự. Nay bắt đầu đối thoại chuyện trò. Cha Tổng phụ suy tư: Sống hiện tại là sống sự thực về chính mình. Trở về thẳm sâu tâm hồn là sống với Chúa.
3. Hãy sống với Chúa. Để Chúa làm chủ đời mình. Khi David dừng lại và kính cẩn lắng nghe, Chúa đã cho ông biết kế hoạch lâu dài dành cho gia tộc của ông. Abraham tuyệt vọng nhưng vẫn để Chúa làm chủ cuộc đời. Nên Chúa đã cho ông trở thành tổ phụ nhiều dân tộc. Thánh Giuse dừng lại ý riêng. Để lắng nghe Lời Chúa. Bỏ chương trình riêng. Để đi vào chương trình của Chúa. Và Chúa đã phong ngài làm cha nuôi Chúa Cứu Thế.
Giữa lúc dịch Covid19 hoành hành lại có một hiện tượng đáng vui mừng. Số người đi lễ tăng lên. Số người xưng tội tăng lên. Các lời cầu nguyện tha thiết sốt sắng hơn. Các cha xứ cho biết nhờ được giải tội tập thể nên nhiều người bỏ xưng tội lâu nay có cơ hội được hiệp thông thánh lễ. Tại Ba Lan các nhà thờ tăng thêm thánh lễ để đáp ứng nhu cầu cầu nguyện của người dân trong cơn đại dịch.
Cha Cyril suy niệm: (Nhờ đại dịch) Cuối cùng nhân loại một lần nữa cảm nhận được Quyền lực của Thiên Chúa. Cha Henrick cho thấy: Virus nhắc nhở ta có Đấng Toàn Năng. Và con người chỉ là những tạo vật hèn yếu của Người. Tổng phụ Lepori gợi lại hình ảnh các tông đồ ở trên thuyền với Chúa trong cơn bão tố: Như các tông đồ trên thuyền trong cơn sóng dữ. Đừng quay lại quá khứ để mơ tưởng ước gì mình chưa lên thuyền. Vì quá khứ đã qua không trở lại. Đừng mơ mộng tương lai ước gì thuyền đã vào bến. Vì tương lai không thuộc quyền ta. Hãy sống hiện tại. Đó là Chúa đang ở trong thuyền với ta. Hãy sống với Chúa. Hãy để Chúa làm chủ. Sống với Chúa mời gọi  ta sống cho tha nhân.
4.Hãy sống cho tha nhân. Vâng lời Chúa, Đavid thu tích vật liệu nhưng để dành cho con là Salomon sẽ xây dựng đền thờ. Ông tích đức để dành cho con cháu. Và vì thế Chúa hứa cho dòng dõi ông trường tồn. Abraham chịu khổ cực suốt đời lang thang không có nhà cửa đất đai, không con cháu. Nhưng vì đức tin của ông, Chúa ban cho ông Đất Hứa và con cháu ông sẽ đông như sao trên trời. Thánh Giuse cũng vâng lời Chúa, không sống cho toan tính bản thân. Ngài về nhận lấy Đức Mẹ và Chúa Giêsu. Đó là một trách nhiệm khó khăn.  Ngài quên bản thân để lo cho Đức Mẹ và Chúa Giêsu. Điều đó làm cho cuộc đời ngài có ý nghĩa.
Thật lạ lùng. Trong cơn đại dịch con người lại biết quay về với nhau. Vietcatholic đưa hình ảnh người dân ở các thành phố Siena Tuscan, Napoli và Turino đứng trên ban công cùng nhau hát vang những bài dân ca. Tại Vũ hán có những người mang bữa ăn đến cho những người bị cách ly. Và ta đã thấy khắp nơi trên thế giới người ta họp nhau lại múa bài Vũ điệu rửa tay của Khắc Hưng và Quang Đăng.
Tổng phụ Lepori mời gọi chúng ta trong thời đại dịch hãy biết sống cho tha nhân. Hãy biết nghĩ đến các y bác sĩ đang xả thân phục vụ bất chấp hiểm nguy. Hãy nghĩ đến dân Phi châu đang bị dịch cào cào châu chấu. Cha Cyril thì nhận thấy: Virus dạy ta biết thế nào là “những khoảnh khắc đáng nhớ”. Virus cho ta cảm nhận tình yêu chân thật có trên trái đất này. Còn cha Henrick ghi nhận: Một khách sạn tại Ai len phục vụ bữa ăn miễn phí giao tận nhà. Có những thiếu nữ trẻ cho các nhà hàng xóm số điện thoại, để những ai cần, có thể gọi họ đến giúp. Trong đại hoạ con người lại đến với nhau.
Lễ trọng kính thánh Giuse giữa mùa chay như một ánh sáng giúp ta sống mùa chay tốt đẹp. Lời Chúa hôm nay cũng soi sáng cho ta biết sống thế nào giữa thời đại dịch Covid19 cho đúng thánh ý Chúa, xứng đáng là người Kitô.
Hãy dừng lại. Hãy trở về. Hãy sống với Chúa. Hãy sống cho tha nhân. Dịch Covid19 đã khiến ta tỉnh ngộ để trở về với những gì quan trọng nhất đời. Tổng phụ Lepori trích dẫn Tu luật Biển đức để gợi lại cho ta ý nghĩa của mùa chay là: ý thức thân phận mỏng dòn. Khi phải từ bỏ những gì thừa thãi, ta sẽ biết giữ lại những gì cốt lõi. Và khi biết thân phận mỏng manh ta sẽ biết Chúa mới làm chủ cuộc đời. Đó chính là tâm tình phải có trong mùa chay.
Và như thế mùa chay thật ý nghĩa. Ta sẽ được tái sinh trong tình yêu. Như cha Henrick cảm nhận: Vâng có đó nỗi sợ nhưng không phải oán hờn. Có cuộc cách ly nhưng không phải cô đơn. Có mua sắm hoảng loạn nhưng không phải bủn xỉn. Thậm chí có cả chết chóc nhưng luôn có tái sinh tình yêu. 
Lạy thánh cả Giuse xin cho chúng con biết noi gương thánh cả, biết lắng nghe và thực hành Lời Chúa dạy.
+ Giuse Ngô Quang Kiệt
Đan Viện Châu Sơn (Nho Quan) 19-03-2020



 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây