Suy Niệm Tin Mừng Lễ Thánh Phêrô & Phaolô Bài 101-104 ngày 29-6

Thứ ba - 02/07/2019 05:05
Suy Niệm Tin Mừng Lễ Thánh Phêrô & Phaolô Bài 101-104 ngày 29-6
Suy Niệm Tin Mừng Lễ Thánh Phêrô & Phaolô Bài 101-104 ngày 29-6
Suy Niệm Tin Mừng Lễ Thánh Phêrô & Phaolô Bài 101-104 ngày 29-6
29/6-101: GÀ GÁY VÀ NGÃ NGỰA.. 1
29/6-102: LIÊN ĐỚI ĐỨC TIN.. 5
29/6-103: TẠI SAO HAI THÁNH TÔNG ĐỒ CẢ.. 9
29/6-104: HÃY LÀ MÔN ĐỆ ĐỨC KITÔ.. 12
------------------------------------
 

29/6-101: GÀ GÁY VÀ NGÃ NGỰA

Lm Giuse Nguyễn Hữu An
 

Gà gáy và ngã ngựa là hai sự kiện nổi bật trong cuộc đời hai thánh tông đồ Phêrô và Phaolô. 29/6-101

Gà gáy và ngã ngựa là hai sự kiện nổi bật trong cuộc đời hai thánh tông đồ Phêrô và Phaolô.
Tiếng gà gáy để phản tỉnh. Cú ngã ngựa để hết tự mãn. Phêrô và Phaolô, trước khi là thánh, hai vị cũng là người tội lỗi, yếu đuối, chập choạng trên con đường đức tin. Các ngài có một quá khứ lầm lỗi. Phêrô có lần bị Chúa quở là satan; ông đã ba lần chối Thầy. Phaolô đã năm lần bảy lượt đi lùng bắt và giết chết những ai mang danh kitô hữu; ông đã can dự vào việc ném đá Stêphanô, vị tử đạo đầu tiên của Giáo hội. Cả hai đều hăng say năng nổ, muốn dùng sức lực của mình và phương tiện thế gian để bảo vệ Chúa mình tôn thờ, và muốn tiêu diệt những kẻ không theo đạo giống mình. Chúa Giêsu đã cứu cả hai, mỗi người được cứu một cách. Tiếng gà gáy và cú ngã ngựa là hai dấu ấn không phai trên hành trình nên thánh.
 
  1. Tiếng gà gáy phản tỉnh
Sau khi chối Thầy lần thứ ba, từ trên pháp đình Chúa nhìn xuống Phêrô. Ánh mắt Thầy vẫn trìu mến thân thương như gởi đến ông sứ điệp: Phêrô, sao con lại chối Ta. Ơn nghĩa Thầy trò ba năm gắn bó chẳng lẽ không còn một chút vương vấn hay sao? Lại thêm tiếng gà gáy đêm khuya, nhắc nhở lương tâm ông tỉnh ngộ và nhớ lại lời Thầy đã tiên báo: “trước khi gà gáy, con đã chối Ta ba lần“. Phêrô lầm lũi ra khỏi pháp đình, nước mắt tuôn trào, tâm hồn trĩu nặng, cõi lòng xốn xang, mình chỉ là cát bụi, phận yếu hèn và quá dễ sa ngã! Phêrô thổn thức. Mới hôm nào ông còn tuyên bố: “dù mọi người bỏ Thầy, riêng con thì không bao giờ“. Thế mà, giờ đây ông lại nhát gan khi đối diện nguy nan nên đã chối Thầy đến ba lần. Và đêm hôm ấy, tiếng gà gáy đã thức tỉnh tâm hồn Phêrô. Xuất thân là ngư phủ với bản tính chất phác, chân thật, có sao nói vậy, nên khi lầm lỗi ngài chân thành sám hối và òa khóc như một đứa trẻ. Đó là hành trình của phàm nhân, những con người luôn mỏng dòn và yếu đuối, nhưng luôn được Thiên Chúa hải hà thương xót, thứ tha và thánh hóa. Đời ông là giằng co giữa yếu đuối và dũng mảnh, giữa trọn vẹn và dang dỡ. Trái tim ông có u tối đi tìm ánh sáng, có nuối tiếc đi tìm lý tưởng. Đời ông có tự tin gặp vấp ngã, có phấn đấu gặp thất bại. Tuy nhiên, thánh Phêrô có nhiều đức tính đáng nể phục. Chính những đức tính sáng chói này sẽ làm lu mờ đi những cái tầm thường nơi con người của ngài. Nhờ đó, ngài đã xứng đáng với sự tín nhiệm của Chúa. Thánh Phêrô có lòng quảng đại. Khi được Chúa gọi, ông nhanh nhẹn bỏ tất cả mọi sự rồi theo Chúa. Thánh Phêrô có một đức tin chân thành và lòng gắn bó keo sơn với Chúa: “Lạy thầy, bỏ Thầy chúng con biết theo ai vì Thầy có lời ban sự sống đời đời”. Đức tính đáng cảm phục nhất chính là lòng khiêm nhường. Đó là nhân đức nền tảng của mọi nhân đức. Khiêm nhường là mẹ các nhân đức. Rõ ràng, trong trái tim Phêrô lúc nào cũng yêu Chúa. Ngay cả khi Chúa bảo Phêrô là satan thì ngài cũng không giận Chúa. Chỉ vì sự sợ hãi yếu đuối mà chối Thầy, chứ trong tâm hồn lúc nào Phêrô cũng yêu mến Chúa. Không phải Phêrô yếu đuối vấp ngã mà Chúa bỏ rơi, chính tình yêu chân thành trong tâm hồn Phêrô mà Chúa đã yêu thương chọn làm Tảng Đá.
 
  1. Cú ngã ngựa để hết tự mãn
Saolô ở Tacxô, là người Do thái, trí thức, thông thạo nhiều thứ tiếng miền Do thái-Hy lạp, rất sùng đạo theo môn phái Gamaliên ở Giêrusalem. Là biệt phái nhiệt thành nên Saolô đi lùng sục bắt bớ Đạo Chúa, tham gia vào vụ giết Stêphanô và trên đường Đamat truy lùng các Kitô hữu. Oai phong trên yên ngựa đang phi nước đại, thình lình, một luồng ánh sáng từ trời loé rạng bao lấy ông, Saolô té nhào từ yên ngựa. Nằm sóng soài dưới chân ngựa, Saolô nghe được tiếng gọi trong luồng ánh sáng phát ra từ trời: “Saolô, Saolô, sao ngươi bắt bớ Ta?”  Saolô hỏi lại: “Thưa Ngài, Ngài là ai?” Tiếng từ trời đáp: “Ta là Giêsu Nadarét mà ngươi đang bắt bớ”. Không thể tin vào chính mình nữa, không ngờ ông Giêsu Nadarét, người đã bị đóng đinh vào thập giá như một tên tội phạm, lại chính là Thiên Chúa quyền năng đã quật ngã mình và đã tự đồng hóa với những Kitô hữu mà mình đang lùng bắt. Dưới ánh sáng của Đấng Phục Sinh, đôi mắt của Saolô bị mù loà, nhờ đó ngài biết rằng trước đây mình thật là mù quáng. Nhưng sau đó, qua trung gian của Khanania, đại diện của Giáo Hội, ngài đã được sáng mắt về phần xác và cả phần hồn để nhìn thấy con đường mình được mời gọi bước vào.
Hoàn toàn phó thác, ngài đã thưa với tất cả tâm tình phục thiện: “Lạy Chúa, Chúa muốn con làm gì?”. Con đường đức tin của Saolô đã hoàn toàn thay đổi kể từ lần gặp gỡ hi hữu ngoài sức tưởng tượng ấy. Sự sống của Chúa Phục Sinh đã làm thay đổi cuộc đời của ông. Được ơn trở lại từ cú ngã ngựa nhớ đời, Saolô được biến đổi để trở nên chứng nhân vĩ đại là Phaolô,Tông Đồ dân ngoại. Khi đã biết Chúa Kitô thì “những gì xưa kia tôi cho là có lợi,thì nay,vì Đức Kitô,tôi cho là thiệt thòi.Hơn nữa tôi còn coi tất cả mọi sự là thiệt thòi,so với mối lợi tuyệt vời là được biết Đức Giêsu Kitô,Chúa của tôi.Vì Ngài, tôi đành mất hết,và tôi coi tất cả như đồ bỏ,để được Đức Kitô và được kết hợp với Người.Được như vậy,không phải nhờ sự công chính của tôi, sự công chính do luật Môsê đem lại,nhưng nhờ sự công chính do lòng tin vào Đức Giêsu” (Pl 3,7-9). Phaolô hiên ngang được sống và được chết cho Chúa Kitô. Ngài trở thành một Tông đồ dân ngoại kiệt xuất, thành lập nhiều Giáo đoàn, mở mang phát triển Hội Thánh cách quang minh chính đại, khiến bản thân phải ra toà, tù tội, vất vả trăm đường. Các mối phúc thật được kết tinh nơi cuộc đời thánh nhân. Phaolô đã sung sướng tự hào cả khi ý thức những yếu đuối của mình “Ơn Ta đủ cho con vì chưng quyền năng trong yếu đuối mới viên thành” (2Cor 12,9).Không gì có thể làm nao núng lòng tin mãnh liệt ấy “Chúng tôi bị dồn ép tư bề nhưng không bị đè bẹp;hoang mang nhưng không tuyêt vọng;bị ngược đãi nhưng không bị bỏ rơi;bị quật ngã nhưng không bị tiêu diệt” (2Cor 4,8-9).Vị Tông đồ dân ngoại đã nhiệt thành loan truyền Chúa Kitô với tất cả thao thức “Khốn thân tôi,nếu tôi không rao giảng Tin mừng”(1Cor 5,14). Ngài luôn sống trong niềm tin tưởng yêu mến vào Đấng đã kêu gọi Ngài “Tôi sống trong niềm tin vào Con Thiên Chúa,là Đấng yêu mến tôi và thí mạng vì tôi”(Gal 2,20).Vì Đức Kitô và vì Tin mừng, thánh nhân đã sống và chết cho sứ vụ. Cuộc sống buôn ba vì Nước trời được điểm tô muôn ngàn vạn nét đẹp của Phaolô mãi mãi được hát lên như một bài ca khải hoàn “Ai có thể tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Đức Kitô ? Phải chăng là gian truân,bắt bớ,đói khát,trần truồng,nguy hiểm,gươm giáo? … Vì tôi thâm tín rằng sự chết hay sự sống,dù thiên thần hay thiên phủ,dù hiện tại hay tương lai,hay bất cứ sức mạnh nào,trời cao hay vực thẳm hay bất cứ tạo vật nào khác,không có gì có thể tách chúng ta ra khỏi tình yêu Thiên Chúa thể hiện cho chúng ta trong Đức Giêsu Kitô,Chúa chúng ta “ (Rm 8,35-39).
 
  1. Là người tội lỗi được Chúa nhìn đến.
Giáo hội mừng kính hai thánh Tông đồ cùng chung một ngày. Hai con ngưòi khác nhau từ cá tính đến thân thế nhưng cùng chung một ơn gọi từ Chúa Kitô, cùng chung một niềm tin vào Chúa Kitô, chung một sứ mạng Chúa Kitô trao phó và cuối đời cùng chịu tử đạo vì Chúa Kitô tại Roma. Cùng chia sẽ một niềm tin, cùng thi hành một sứ mạng, Chúa Kitô đã đưa hai ngài đến một cùng đích, một vinh quang đội triều thiên khải hoàn. Hai con người khác biệt ấy lại có những điểm tương đồng lạ lùng.Chúa Kitô đã nối những điểm tương đồng ấy để tất cả được nên một ở trong Người. Thánh Phêrô, trước đây hèn nhát, sợ hãi, chối Chúa, về sau yêu Chúa nồng nàn thiết tha.Thánh Phaolô, trước kia ghét Chúa thậm tệ, sau này yêu Chúa trên hết mọi sự. Chúa đã dùng hai sự kiện gà gáy và ngã ngựa để thanh tẩy các ngài.Trước kia hai vị rất khác biệt, bây giờ cả hai nên một trong tình yêu Chúa.
Sự nghiệp Tông đồ tiếp bước Chúa Kitô, hai vị hiệp nhất trong cùng một lòng chân thành tuyên xưng, hiệp nhất trong một tâm huyết nhiệt thành rao giảng để rồi mãi mãi hiệp nhất trong cùng một đức tin minh chứng. Mặc dù có nhiều khác biệt về thành phần bản thân, về ơn gọi theo Chúa về hướng truyền giáo, nhưng cả hai vị đã tạo nên sự hiệp nhất trong đa dạng. Cùng chịu tử đạo. Cùng trở thành nền móng xây toà nhà Giáo hội. Cùng trở nên biểu tượng hiên ngang của niềm tin Công Giáo. Hai Vì Sao Sáng được Giáo hội mừng chung vào một ngày lễ 29 tháng 6. Hai Tông Đồ cột trụ đã trở nên tượng đài của sự hiệp nhất trong Giáo hội. Hiệp nhất là một công trình được xây dựng với nhiều nổ lực của con người dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Linh. “Khác nhau trong điều phụ, hiệp nhất trong điều chính, yêu thương trong tất cả”, đó là khuôn vàng thước ngọc cho tinh thần hiệp nhất trong Giáo hội.
Đón nhận ánh sáng từ nơi Chúa Kitô, hoạt động truyền giáo theo sự dẫn dắt của Chúa Thánh Linh, hai Thánh Tông đồ trở nên nền tảng hiệp nhất. Hai ngài trở thành chói sáng như hai vì sao trong vòm trời Giáo Hội, đáng được các tín hữu chiêm ngắm noi theo. Hai ngài đã biết khiêm tốn, nhận mình là thấp hèn tội lỗi rồi mở tâm hồn ra đón nhận tình thương của Thiên Chúa. Khi trả lời câu phỏng vấn: “Jorge Bergoglio là ai?”, Đức Thánh cha Phanxicô đáp: “Tôi là người tội lỗi được Chúa nhìn đến”. Và ngài tuyên bố: “Chính tôi là người tội lỗi đây, có gì lạ đâu! Cái lạ là ở chỗ được Chúa nhìn đến, được Chúa xót thương. Và từ đó người ta tìm xem Chúa xót thương ở chỗ nào”.
Xin hai Thánh Tông Đồ giúp chúng con luôn biết tín thác vào tình thương của Chúa. luôn biết tiến bước theo các ngài trên con đường theo Chúa. Amen.

 

29/6-102: LIÊN ĐỚI ĐỨC TIN

Liên đới là sự ràng buộc lẫn nhau về vấn đề gì đó, đặc biệt là về trách nhiệm. Cái gì cũng có sự liên đới, 29/6-102

Liên đới là sự ràng buộc lẫn nhau về vấn đề gì đó, đặc biệt là về trách nhiệm. Cái gì cũng có sự liên đới, không chỉ điều tốt lành mà cả sự xấu xa cũng có tính liên đới – chẳng hạn “liên đới tội lỗi”. Trong Tông Thư “Sollicitudo rei Socialis” (nói về Mối Quan Tâm Xã Hội), ngày 30.12.1987, Thánh Gioan-Phaolô II xác định: “Tất cả chúng ta đều thực sự chịu trách nhiệm đối với tất cả mọi người” (số 38).
Có tội thì bị phạt, có công thì được thưởng, cũng như có khởi đầu thì có kết thúc, có sinh thì có tử, có nguyên nhân thì có kết quả hoặc hậu quả – gọi là quy luật nhân quả. Và còn nhiều dạng liên đới mang hệ lụy khác nhau trong cuộc sống – đời thường và tâm linh.
I. DƯỠNG ĐỨC TIN
Là Đấng giàu lòng thương xót (Ep 2, 4), Thiên Chúa luôn luôn chạnh lòng trắc ẩn đối với người khác, vì Ngài là tình yêu và là Chúa của sự sống, Ngài chỉ có những ước muốn thánh thiện, và trao ban những gì tốt lành cho mọi người: “Thiên Chúa không làm ra cái chết, chẳng vui gì khi sinh mạng tiêu vong” (Kn 1, 13). Tại sao? Câu trả lời có ngay: “Vì Ngài đã sáng tạo muôn loài cho chúng hiện hữu, mọi loài thọ tạo trên thế giới đều hữu ích cho sinh linh, chẳng loài nào mang độc chất huỷ hoại. Âm phủ không thống trị địa cầu” (Kn 1, 14).
Thật vậy, “đức công chính trường sinh bất tử” (Kn 1, 15). Thiên Chúa tạo dựng mọi thứ tốt lành, “chẳng loài nào mang độc chất huỷ hoại”, thế thì độc hại ở đâu ra nếu không bởi ác quỷ và ác nhân? Cụ thể cứ nhìn vào môi trường Việt Nam ngày nay thì biết rõ.
Thiên Chúa tốt lành nên Ngài cũng muốn chia sẻ những điều thiện hảo cho chúng ta: “Thiên Chúa đã sáng tạo con người cho họ được trường tồn bất diệt. Họ được Ngài dựng nên làm hình ảnh của bản tính Ngài” (Kn 2, 23). Tạo Vật và thụ tạo PHẢI có sự liên đới với nhau. Người ta tạo ra cái kia hay vật nọ, nhưng không ai làm ra cái gì giống mình. Vậy mà Thiên Chúa đã tạo nên chúng ta giống hình ảnh Ngài, và còn phú cho bản chất thiện hảo: Nhân chi sơ tính bổn thiện. Sinh ra ai cũng tốt lành, “nhưng chính vì quỷ dữ ganh tị mà cái chết đã xâm nhập thế gian” (Kn 2, 24a), và chắc chắn rằng “những ai về phe nó đều phải nếm mùi cái chết” (Kn 2, 24b).
Chúng ta đã lây nhiễm điều xấu, càng sống lâu càng tội nhiều, thế nên chúng ta luôn được “cảnh báo” bằng sự chết, vậy mà vẫn không ai sợ. Phàm nhân quá bướng bỉnh và ngang tàng. Chưa thấy quan tài chưa đổ lệ, quả thật là thế!
Mặc dù chúng ta ngang ngược hết nước hết cái, Thiên Chúa vẫn yêu thương và muốn chúng ta cải tà quy chánh, sớm trở nên những người thực sự tốt lành: “Hãy hoàn thiện như Cha trên Trời là Đấng hoàn thiện” (Mt 5, 48). Thế nhưng chúng ta vẫn cố chấp, ngang nhiên nghe lời xúi giục của ba thù (xác thịt, thế gian, ma quỷ) mà đi vào “con đường đen” với vẻ hào nhoáng của tội lỗi. Mỗi chúng ta đều là “đại thù đệ nhất” của chính mình. Đáng sợ nhất mà cũng khó trị nhất!
Vậy mà Thiên Chúa vẫn xót thương, không nỡ làm ngơ, nên Ngài lại sai Con Một Giêsu nhập thể và chịu chết để cứu độ chúng ta. Ôi, còn hạnh phúc nào hơn nữa? Vì thế, chúng ta phải “mở mắt Đức Tin” mà nhận diện chính mình và thành tâm thân thưa: “Lạy Chúa, con xin tán dương Ngài, vì đã thương cứu vớt, không để quân thù đắc chí nhạo cười con” (Tv 30, 2).
Đừng bao giờ thất vọng, vì Thiên Chúa đã hứa: “Núi có dời có đổi, đồi có chuyển có lay, tình nghĩa của Ta đối với ngươi vẫn không thay đổi, giao ước hoà bình của Ta cũng chẳng chuyển lay, Đức Chúa là Đấng thương xót ngươi phán như vậy” (Is 54, 10).
Tác giả Thánh Vịnh đã cảm nghiệm tâm linh: “Ngài đã kéo chúng ta lên từ âm phủ, tưởng đã xuống mồ mà Ngài thương cứu sống” (Tv 30, 4). Và rồi không thể nín thinh, tác giả Thánh Vịnh phải lên tiếng: “Hỡi những kẻ tín trung, hãy đàn ca mừng Chúa, cảm tạ thánh danh Ngài” (Tv 30, 5).
Không cảm tạ Ngài sao được, vì Ngài quá tốt lành, vượt ngoài tầm hiểu của phàm nhân chúng ta: “Ngài nổi giận, giận trong giây lát, nhưng yêu thương, thương suốt cả đời. Lệ có rơi khi màn đêm buông xuống, hừng đông về đã vọng tiếng hò reo” (Tv 30, 6). Đừng lý luận quanh co kẻo xa rời Thiên Chúa, và chớ ngu đần mà thử thách Ngài (x. Kn 1, 3a).
Không vì lòng thương xót của Thiên Chúa thì chúng ta đừng hòng nhận được chi cả. Vả lại, chính Chúa Giêsu đã dạy chúng ta tôn sùng Thánh Tâm Ngài van xin Lòng Thương Xót của Thiên Chúa. Ngài đã “bật đèn xanh”, thế nên chúng ta đừng cố chấp và cũng đừng ngần ngại cầu xin: “Lạy Chúa, xin lắng nghe và xót thương con, lạy Chúa, xin phù trì nâng đỡ” (Tv 30, 11). Khúc ai ca được Chúa đổi thành vũ điệu hoan ca, và cởi áo sô mà mặc cho chúng ta lễ phục huy hoàng. Vì thế, chúng ta không thể nín lặng mà không ca ngợi Ngài: “Lạy Chúa là Thiên Chúa con thờ, xin tạ ơn Ngài mãi mãi ngàn thu” (Tv 30, 13), đồng thời loan truyền hồng ân thương xót ấy cho mọi người cùng nhận biết.
Với kinh nghiệm bản thân từng trải, Thánh Phaolô đưa ra lời khuyên: “Cũng như anh em từng trổi vượt về mọi mặt: về Đức Tin, lời giảng, sự hiểu biết, lòng nhiệt thành trong mọi lãnh vực, và về lòng bác ái mà anh em đã học được nơi chúng tôi, anh em cũng PHẢI TRỔI VƯỢT VỀ LÒNG QUẢNG ĐẠI” (2Cr 8, 7).
Tốt về lĩnh vực này thì cũng cần tốt về lĩnh vực kia. Có “máu xấu” này cũng dễ “nhiễm” thói hư khác. Mắc bệnh này rồi sẽ dễ mắc bệnh khác. Đó là dạng liên-đới-xấu. Như một hệ lụy tất yếu, người tốt lại càng thêm tốt, người xấu lại càng thêm xấu. Cuộc sống đã và đang cho thấy ai mê đắm cái gì thì sẽ “chết” vì chính cái đó. Sinh nghề, tử nghiệp. Người ta cần có niềm đam mê, nhưng nó có thể tốt hoặc xấu là do chính mình.
Để cứu vãn khỏi sự mê muội, không gì hơn là phải tin theo Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, Đấng đã có lòng quảng đại vô cùng. Thật vậy, Thánh Phaolô giải thích: “Ngài vốn giàu sang phú quý nhưng đã tự ý trở nên nghèo khó vì anh em, để lấy cái nghèo của mình mà làm cho anh em trở nên giàu có” (2Cr 8, 9). Thật kỳ lạ! Nói cặn kẽ hơn, Thánh Phaolô cho biết: “Vấn đề không phải là bắt anh em sống eo hẹp để cho người khác bớt nghèo khổ. Điều cần thiết là phải có sự đồng đều. Trong hoàn cảnh hiện tại, anh em có được dư giả là để giúp đỡ những người đang lâm cảnh túng thiếu, để rồi khi được dư giả, họ cũng sẽ giúp đỡ anh em, lúc anh em lâm cảnh túng thiếu. Như thế, sẽ có sự đồng đều” (2Cr 8, 13-14). Đó là chia sẻ, là tương thân tương ái, là bác ái, y như lời đã chép: “Kẻ được nhiều thì không dư, mà người được ít thì không thiếu” (2Cr 8, 15).
Đó mới là yêu thương thực sự, yêu thương triệt để, không yêu thương bằng lời nói suông mà bằng cả hành động. Hành động mới đủ sức thuyết phục và “nói” to hơn ngôn ngữ. Thể hiện yêu thương để nuôi dưỡng Đức Tin. Thiên Chúa rất thực tế khi Ngài đặt vấn đề: “Có người nào trong anh em, khi con mình xin cái bánh, mà lại cho nó hòn đá?” (Mt 7, 9). Câu hỏi của Chúa khiến chúng ta “ái ngại” quá chừng!
II. SỐNG ĐỨC TIN
Yêu thương thì phải thực tế, không thể nói suông, ngay cả Đức Tin cũng cần cụ thể – đó là sống đức tin. Chúa Giêsu thực tế trong từng lời nói, cử chỉ và hành động. Thánh Máccô kể rất tỉ mỉ, rõ ràng, dễ tưởng tượng ra các diễn biến từng chi tiết:
Một lần nọ, Đức Giêsu xuống thuyền trở sang bờ bên kia Biển Hồ. Một đám rất đông tụ lại quanh Ngài. Chợt có một ông trưởng hội đường tên là Giaia đi tới. Vừa thấy Đức Giêsu, ông ta sụp xuống dưới chân Ngài và khẩn khoản nài xin: “Con bé nhà tôi gần chết rồi. Xin Ngài đến đặt tay lên cháu, để nó được cứu thoát và được sống” (Mc 5, 23). Chúa Giêsu đang vội, không rảnh, nhưng Ngài không do dự, không chần chừ, mà liền đi theo ông.
Thấy vậy, đám đông chen lấn đi theo xem sự thể ra sao. Trong đám đông đó có một phụ nữ bị băng huyết đã 12 năm, bao phen khổ sở vì chạy thầy chạy thuốc đã nhiều đến tán gia bại sản mà vẫn tiền mất tật mang, lại còn thêm nặng là khác. Nghe đồn về Đức Giêsu rất kỳ lạ, bà cố lách qua đám đông, tiến đến phía sau Ngài, và sờ vào áo của Ngài, vì bà tự nhủ: “Tôi mà sờ được vào áo Ngài thôi, là sẽ được cứu” (Mc 5, 28). Đức Tin lớn quá! Và rồi lạ lùng thay, máu cầm lại tức khắc, và bà cảm thấy trong mình đã được khỏi ngay chứng băng huyết. Lúc đó, Đức Giêsu thấy có một năng lực tự nơi mình phát ra, Ngài liền quay lại giữa đám đông mà hỏi: “Ai đã sờ vào áo tôi?” (Mc 5, 30). Sức mạnh vô hình rất mạnh mẽ. Phụ nữ kia có cách thể hiện Đức Tin cũng rất lạ lùng và mạnh mẽ.
Nghe Thầy mình hỏi ai sờ vào áo mình, chắc là các môn đệ nghĩ Thầy mình quá lẩm cẩm và ngây ngô hết sức, thảo nào họ hỏi lại Ngài: “Thầy coi, đám đông chen lấn Thầy như thế mà Thầy còn hỏi: Ai đã sờ vào tôi?” (Mc 5, 31). Hỏi thế thì… “bó tay”. Thế nhưng Đức Giêsu vẫn ngó quanh để nhìn người phụ nữ đã làm điều đó khiến bà này sợ phát run lên vì biết cái gì đã xảy đến cho mình. Biết không thể giấu được, bà đến phủ phục trước mặt Ngài và nói hết sự thật. Ngài nhẹ nhàng nói với bà: “Này bà, LÒNG TIN của bà đã CỨU CHỮA bà. Bà hãy về bình an và khỏi hẳn bệnh” (Mc 5, 34). Mắc chứng nan y mà được khỏi hẳn, thế thì còn gì bằng. Bà ta sướng rơn, sướng y như người về từ cõi chết vậy. Chính ĐỨC TIN mới là điều quan trọng!
Thật vậy, Chúa Giêsu luôn đề cao Đức Tin. Ngài không nói Ngài chữa lành, mà chính niềm tin của chúng ta khả dĩ chữa lành chúng ta – cả tâm bệnh và thể bệnh. Muốn cơ thể mạnh thì phải nuôi dưỡng nó, tinh thần cũng vậy, và Đức Tin cũng thế. Có cố gắng nuôi dưỡng Đức Tin thì chúng ta mới có đủ sức mạnh để mà sống Đức Tin.
Và cũng ngay lúc đó, có mấy người từ nhà ông trưởng hội đường đến bảo: “Con gái ông chết rồi, làm phiền Thầy chi nữa?” (Mc 5, 35). Nghe vậy, Đức Giêsu liền trấn an ông trưởng hội đường: “Ông ĐỪNG SỢ, chỉ cần TIN thôi” (Mc 5, 36). Một lần nữa, Chúa Giêsu lại nhấn mạnh về tầm quan trọng của Đức Tin. Rồi Ngài không cho ai đi theo mình trừ ông Phêrô, ông Giacôbê và em ông này là ông Gioan. Đến nhà ông trưởng hội đường, Đức Giêsu thấy người ta khóc lóc, kêu la ầm ĩ. Ngài bước vào nhà và bảo họ: “Sao lại náo động và khóc lóc như vậy? Đứa bé có chết đâu, nó ngủ đấy!” (Mc 5, 39). Chết mà bảo ngủ. Lạ thế nhỉ? Ông Giêsu này “tâm thần” chắc! Thế nên người ta xầm xì chế nhạo Ngài. Mà chẳng ai xa lạ, chính thân nhân của Ngài cũng có lần tìm bắt Ngài vì cho rằng Ngài bị mất trí (Mc 3, 21).
Mặc kệ, ai nói gì thì nói, việc Ngài thì Ngài làm. Lúc đó Ngài bắt họ ra ngoài hết, rồi dẫn cha mẹ đứa trẻ và những kẻ cùng đi với Ngài vào nơi nó đang nằm. Ngài cầm lấy tay nó và nói: “Talitha kum”, nghĩa là: “Này bé, Thầy truyền cho con: trỗi dậy đi!” (Mc 5, 41). Lập tức con bé đứng dậy và đi lại được. Ai nấy đều kinh ngạc sững sờ. Ai cũng câm như hến, chẳng dám xì xầm chi nữa. Đức Giêsu không trách họ mà chỉ nghiêm cấm họ không được để một ai biết việc ấy. Rồi Ngài còn bảo người nhà cho con bé ăn. Ôi, Thầy Giêsu rất thực tế, rất cụ thể!
Lạy Thiên Chúa, chúng con thật đắc tội với Ngài về lối suy nghĩ thiển cận hão huyền trong trí óc nông cạn của chúng con. Cúi xin Ngài thương xót mà đại lượng ân xá, và thắp Lửa Tin Yêu trong chúng con. Xin thương mở lòng trí chúng con để chúng con cũng biết sống thực tế như Ngài, sẵn sàng hành động cụ thể theo Tôn Ý Ngài, đồng thời cũng biết dứt khoát khước từ những gì trái với Tôn Ý Ngài. Chúng con cầu xin nhân Danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Đấng cứu độ nhân loại. Amen.
TRẦM THIÊN THU

 

29/6-103: TẠI SAO HAI THÁNH TÔNG ĐỒ CẢ

LẠI ĐƯỢC MỪNG LỄ̃ CHUNG VỚI NHAU?
 

Một số thánh nhân, vì là anh em với nhau, vì cùng tử đạo, vì là mẹ con, vì có những điểm chung nhất, 29/6-103

Một số thánh nhân, vì là anh em với nhau, vì cùng tử đạo, vì là mẹ con, vì có những điểm chung nhất, nên được mừng lễ trùng ngày với nhau hoặc sát gần nhau. Vậy Thánh Phêrô và Thánh Phaolô tương quan với nhau thế nào mà lại có ngày lễ kính cùng với nhau?
Đức Tổng Giám Mục Patrick Flores đã từng đặt câu hỏi này với Giáo Dân trong bài giảng của mình. Và rồi ngài tự trả lời cách hóm hỉnh: “bởi vì hai thánh nhân không thể sống chung với nhau được trên thế gian, nên Chúa bắt các ngài phải chung với nhau trên Thiên Đàng!”
Câu chuyện hài hước này rất có cơ sở. Thánh Kinh cho thấy hai ông thật sự khác biệt nhau về tính cách, chênh lệch nhau về đẳng cấp:
- Người kém văn hóa, kẻ trí thức cao
- Người đã có vợ, kẻ vẫn độc thân
- Người rút gươm bảo vệ Chúa, kẻ phóng ngựa truy giết những ai theo Chúa
- Người giảng dạy cho giới đã cắt bì, kẻ loan Tin Mừng cho dân ngoại.
Chính Thánh Phaolô trong thư gửi giáo đoàn Galata đã thừa nhận sự đụng độ với Thánh Phêrô ở Antiokia. Ông đã cự lại Thánh Phêrô vì đã không dám công khai dùng bữa với lương dân như trước khi nhóm cắt bì đến (từ cự lại là nguyên văn của Phaolô trong Gl 2, 11).
Điều rất dễ thương là, trong tất cả sự khác biệt cũng như cãi vã đó, Thánh Phaolô luôn nhìn nhận vị trí quan trọng của Thánh Phêrô với tư cách là người đầu tiên được Chúa Giêsu cho thấy Người đã phục sinh (1Cr 15, 5), một tư cách xứng đáng với cương vị thủ lĩnh. Một sự trân trọng rất tuyệt đến nỗi tính cách khác biệt không hề làm cản trở sứ mạng và lý tưởng của hai thánh nhân. Phần mình, Thánh Phêrô cũng không kém cao thượng khi bắt tay Phaolô để tỏ dấu hiệp thông (Gl 2,10). Điểm độc đáo này được Giáo Hội đưa vào kinh tiền tụng trong ngày lễ 29 tháng 6: “Các ngài đã dùng đường lối khác biệt để quy tụ một gia đình duy nhất cho Ðức Kitô”. Để rồi từ những khác biệt tính cách và mâu thuẫn đường lối đó, các ngài đã trở thành: "Hai người tiên phong, hai sao sáng đi đôi và hai tướng anh hùng".
Thế còn anh và em? Còn bạn và tôi thì sao?
Dĩ nhiên chúng ta thế nào cũng có các điểm khác biệt, và dĩ nhiên chúng ta đã từng cãi vã, giận hờn. Không ít lần chúng ta đặt câu hỏi tại sao và tại sao người mà mình trọn niềm tin tưởng lại cư xử như thế. Đã nhiều lần ta như muốn buông một bàn tay thân yêu, rời xa một bờ vai thân thiết, phớt lờ một ánh mắt thân thương. Chỉ vì những khác biệt, chỉ vì không hiểu nhau.
Khác biệt giữa Phêrô và Phaolô làm cho công cuộc loan báo Tin Mừng trở nên phong phú hơn. Các khác biệt của chúng ta lẽ ra là để bổ sung cho nhau và để làm cho đời ta thêm màu hương sắc, cũng như các giới hạn của cá nhân là để chúng ta cần đến nhau hơn trong cuộc trần này. Điều quan yếu là ta biết trân trọng người khác và chiến thắng cái tôi ích kỷ.
Phêrô và Phaolô, hai ngôi sao “chỏi” nhau cùng tỏa sáng trên bầu trời Thiên Quốc, hai con người Phêrô và Phaolô trở thành đồng trụ và bàn thạch cho tòa nhà Giáo Hội. Tình yêu đối với Chúa Giêsu làm nên điều kỳ diệu này. Chỉ có tình yêu đủ lớn mới có thể làm cho các bất đồng giữa vợ chồng, giữa bạn bè trở thành một liên kết phong nhiêu, một tương giao phong phú. Tất cả rồi sẽ qua đi, chỉ có tình yêu còn ở lại.
Anh và em, bạn và tôi đã giận hờn, tranh cãi, thậm chí căm thù nhau trong quá khứ. Có những điều cứ tái đi tái lại nhiều lần như một căn bệnh mãn tính, nan y. Chúng ta có quá nhiều khác biệt mà. Vẫn biết gương vỡ khó lành, vẫn biết ly nước đổ ra không thể lấy lại hết, nhưng tình yêu sẽ bù đắp tất cả và tình yêu sẽ làm cho tấm gương và ly nước lấy lại sau đó trở nên kỳ thú hơn, ngon lành hơn.
Có bao giờ chúng ta trân trọng nhau cho đúng mức không? Có bao giờ anh và em cầu nguyện cho nhau rồi nói với Chúa về những lỗi lầm, yếu đuối của nhau chưa? Có bao giờ bạn và tôi, chúng mình cùng cầu nguyện với nhau để chấp nhận các khác biệt của nhau mà mưu cầu công ích, mà lo cho đại cuộc không? Đã bao giờ tôi nhìn ra được khía cạnh tốt đẹp của sự khác biệt, để yêu mến những gì “bất thường” nơi anh em, và phát huy những gì “cá biệt” của tôi nhằm hướng tới những điều cao quý hơn chưa?
Xin hai Thánh Tông Đồ Phêrô và Phaolô giúp chúng con biết kết hợp các tính tình khác biệt để làm cho cuộc đời này thêm vui tươi và phong phú.
Lm. Phêrô NGUYỄN ĐỨC THẮNG

 

29/6-104: HÃY LÀ MÔN ĐỆ ĐỨC KITÔ

Thánh Phêrô và Thánh Phaolô luôn dạy tôi một lời vắn tắt sau đây: “Dù con là ai, ở địa vị nào, con hãy 29/6-104

1. Thánh Phêrô và Thánh Phaolô luôn dạy tôi một lời vắn tắt sau đây: “Dù con là ai, ở địa vị nào, con hãy sống đúng ơn gọi của con. Ơn gọi của con là môn đệ Đức KitôMôn đệ Đức Kitô, đó là ơn gọi căn bản của con, đó là ơn gọi cao quý nhất Chúa dành cho con”.
Nhận thức điều hai Thánh Tông Đồ dạy trên đây là quan trọng, tôi xin hai Thánh Tông Đồ dạy tôi thêm những gì tôi cần làm để sống ơn gọi người môn đệ Đức Kitô.
Hai Đấng đã dạy tôi…
2. Việc thứ nhất các ngài dạy là hãy cùng với Đức Kitô, mà cầu nguyện với Đức Chúa Cha: “Lạy Cha chúng con ở trên Trời” (Lc 11, 2- 4). Khi tôi cùng với Đức Kitô đọc kinh “Lạy Cha chúng con ở trên Trời”, tôi thấy lòng tôi bỗng mở ra, cho phép tôi có một cái nhìn mới rất lạ lùng.
Tôi sung sướng thấy mình có một người Cha ở trên Trời. Người Cha ấy xót thương tôi. Tôi thấy Cha trên Trời ôm mọi người vào lòng mình, vì Cha coi mọi người đều là những người con của Cha. Tôi cảm thấy tôi được gần lại với Cha, và đồng thời cũng được gần lại với mọi người, không kể họ là ai.
3. Tôi cảm thấy dung mạo của Cha trên Trời là yêu thương là khiêm nhường. Yêu thương hết sức và khiêm nhường tột độ. Với yêu thương và khiêm nhường như thế, để dẫn đưa tôi về thiên đàng. Với yêu thương và khiêm nhường, Cha trên Trời muốn tôi cũng hãy nên giống Cha, mà yêu thương và khiêm nhường không những đối với Cha, mà cũng đối với mọi người.
4. Hình ảnh mà hai Thánh Tông Đồ đã đưa ra để dạy tôi, để trở nên môn đệ Đức Kitô về yêu thương và khiêm nhường đối với người khác. Đó là hình ảnh người Samatinô tốt lành, mà Chúa Giêsu đã nêu lên (x. Lc 10, 25- 37). Người Samatinô đó đã xuống ngựa, đến bên người đau khổ, cúi mình xuống, chăm sóc họ, với yêu thương hết sức và khiêm nhường tột độ, môn đệ Đức Kitô là như thế đó.
Nếu môn đệ Đức Kitô thì phải như thế, thì thú thực đã nhiều lần tôi không phải là môn đệ Đức Kitô. Bởi vì tôi đã không yêu thương và khiêm nhường đủ trong việc phục vụ người khác.
5. Nhận thức mình còn nhiều thiếu sót về yêu thương và khiêm nhường đang là điều tôi phải sám hối. Sám hối của tôi là xin lỗi Chúa, nhất là quyết tâm sửa mình lại.
6. Thánh Phêrô và Thánh Phaolô là hai vị Thánh nổi bật về sám hối. Sám hối nơi hai người nhấn mạnh đến khiêm nhường.
7. Thánh Phêrô quả quyết: “Hãy lấy đức khiêm nhường mà đối xử với nhau, vì Thiên Chúa chống lại kẻ kiêu căng nhưng ban ơn cho kẻ khiêm nhường” (1Pr 5, 5).
8. Còn thánh Phaolô thì nói: “Đừng làm chi vì ganh tị hay vì hư danh, nhưng hãy lấy khiêm nhường mà coi người khác hơn mình” (Pl 2, 3).
9. Khiêm nhường cũng đã và đang là điều mà các Đức Giáo Tông Gioan-Phaolô II, Đức Bênêdictô XVI, và Đức Phanxicô đề cao, khi các ngài dùng nhiều cách khác nhau, để xin lỗi về những gì Hội Thánh trong quá khứ đã xúc phạm đến những người ngoài Công Giáo.
10. Khiêm nhường là một thứ cửa hẹp. Nhưng phải qua cửa hẹp đó, mới vào được Thiên Đàng.
Thế nhưng rất nhiều người đã không muốn đi qua cửa hẹp đó: “Cửa rộng và đường thênh thang thì đưa tới diệt vong, mà nhiều người lại đi qua đó, còn cửa hẹp và đường hẹp đưa tới sự sống, thì ít người tìm được lối ấy” (Mt 7, 13-14).
Lời Chúa Giêsu phán xưa đang là một sự thực xảy ra trong tình hình hiện nay.
11. Khiêm nhường là dấu chỉ những người môn đệ Chúa Giêsu. Kiêu ngạo là dấu chỉ những người môn đệ quỷ Xatan.
12. Đức Phanxicô, khi coi sự khiêm nhường là điều kiện cần thiết để đổi mới Hội Thánh hôm nay, thì ngài coi thời gian là một lãnh vực, mà chúng ta cần thực hiện sự khiêm nhường hơn. Nghĩa là:
13. Khiêm nhường là biết chờ đợi, đừng nóng vội. Hãy biết bắt đầu lại.
14. Khiêm nhường là biết đi từng bước nhỏ, đừng ham bước những bước dài, bước lớn.
15. Khiêm nhường là biết coi thời gian mỗi ngày là một kho tàng để khám phá ra những ơn lành của Chúa. Đừng coi mỗi ngày là một gánh nặng, để rồi than oán.
16. Khiêm nhường là đừng coi mình là Giám Mục, Linh Mục, hay là ai, nhưng chỉ là môn đệ Đức Kitô, đó là việc thứ hai và cũng là việc sau cùng, mà hai Thánh Tông Đồ đã dạy tôi lúc này.
17. Trên đây là đôi chút chia sẻ, để mừng lễ hai Thánh Tông Đồ Phêrô và Phaolô. Các ngài đúng thực là môn đệ Đức Kitô.
Xin hai Thánh làm phép lành cho chúng ta, để chúng ta biết tỉnh thức sống ơn gọi người môn đệ Đức Kitô một cách thiết thực trong tình hình phức tạp hiện nay.
+ Gm. Gioan B. BÙI TUẦN, Long Xuyên, 27.6.2018
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây