Suy Niệm Tin Mừng Lễ thánh Phêrô và Phaolô 29-6 Bài 1-50 Cột trụ

Thứ năm - 22/06/2017 23:17
Suy Niệm Tin Mừng Lễ thánh Phêrô và Phaolô 29-6 Bài 1-50 Cột trụ Giáo Hội
Suy Niệm Tin Mừng Lễ thánh Phêrô và Phaolô 29-6 Bài 1-50 Cột trụ Giáo Hội

Suy Niệm Tin Mừng Lễ thánh Phêrô và Phaolô 29-6 Bài 1-50 Cột trụ Giáo Hội

29/6-1: LẠY THẦY, THẦY BIẾT RÕ, CON YÊU MẾN THẦY.. 2
29/6-2: Thánh Phaolô. 4
29/6-3: Thánh PHAOLÔ TÔNG ĐỒ.. 7
29/6-4: Phêrô và Phaolô. 9
29/6-5: THÁNH PHÊ-RÔ VÀ PHAO-LO TÔNG ĐỒ/ Tiểu sử. 12
29/6-6: ANH LÀ PHÊRÔ…... 15
29/6-7: GIÁO HỘI PHỤC VỤ - JM... 18
29/6-8: LỊCH SỬ  THÁNH PHÊRÔ VÀ PHAOLÔ - Lm Trọng Hương. 19
29/6-9: NHỮNG CON NGƯỜI BÌNH THƯỜNG.. 22
29/6-10: PHÊRÔ: NGAI TÒA.. 24
29/6-11: BÀI GIẢNG CỦA ĐỨC THÁNH CHA dip lễ thánh Phêrô và Phaolô. 25
29/6-12: PHÊRÔ: KẺ LƯỚI NGƯỜI 28
29/6-13: Thánh Phêrô và Thánh Phaolô Tông Đồ. 31
29/6-14: PHAOLÔ: NGƯỜI LÀM CHỨNG.. 31
29/6-15: MỖI MỘT NGƯỜI LÀM NÊN HỘI THÁNH.. 33
29/6-16: THÁNH PHÊRÔ VÀ THÁNH PHAOLÔ, TÔNG ĐỒ.. 35
29/6-17: Hội Thánh của Chúa  Đức Cha Giuse Ngô Quang Kiệt 37
29/6-18: Phêrô Tông đồ. 38
29/6-19: TRANH CÃI THẾ NÀO.. 45
29/6-20: Thánh PHÊRÔ TÔNG ĐỒ.. 47
29/6-21: MẾN CHÚA.. 51
29/6-22: Phần các con, các con nghĩ Thầy là ai? ĐC Phêrô (Đà Lạt) 54
29/6-23: ĐỨC  TIN.. 56
29/6-24: Anh Là Tảng Đá. 58
29/6-25: ÔNG PHÊRÔ TUYÊN XƯNG ĐỨC GIÊSU.. 60
29/6-26: Hai cột trụ của Hội Thánh - Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi 64
29/6-27: THẦY LÀ ĐẤNG KITÔ, CON THIÊN CHÚA HẰNG SỐNG.. 66
29/6-28: Lòng tin yêu son sắt với Giáo hội – Gier Nguyễn Văn Nội 69
29/6-29: Giáo Hội Và Cộng Đồng. 71
29/6-30: PHÊRÔ VÀ PHAOLÔ - HAI CON NGƯỜI, MỘT CON ĐƯỜNG.. 73
29/6-31: VINH QUANG QUA THẬP GIÁ.. 75
29/6-32: Hai vì sao sáng - Lm. Giuse Nguyễn Hữu An. 77
29/6-33: Phêrô nền móng của Giáo hội - Huyền Đồng. 81
29/6-34: Hai kho tàng một chủ nhân- Phaolô Ngô Suốt 83
29/6-35: Thầy là Đấng Kitô Con Thiên Chúa Hằng sống - Lm Đan Vinh. 85
29/6-36: Phêrô nền móng của Giáo hội - Huyền Đồng. 92
29/6-37: HÃY LÀ MÔN ĐỆ ĐỨC KITÔ.. 95
29/6-38: ĐỐI VỚI TÔI, ĐỨC KI-TÔ LÀ MỘT NGƯỜI ANH.. 97
29/6-39: GIÁO HỘI 98
29/6-40: NTGT/352- MỘT ĐỨC TIN.. 100
29/6-41: LỄ KÍNH HAI THÁNH TÔNG ĐỒ PHÊ-RÔ VÀ PHAO-LÔ.. 103
29/6-42: Hãy theo Ta. 106
29/6-43: LỄ THÁNH PHÊ-RÔ VÀ THÁNH PHAO-LÔ.. 108
29/6-44: PHÊRÔ VÀ PHAOLÔ: HAI VIÊN ĐÁ TẢNG DIỆU KỲ.. 111
29/6-45: LINH MỤC: Tên gọi và cuộc đời 114
29/6-46: Ngài Là Cha Tôi 116
29/6-47: Hủy bỏ con người cũ để mặc lấy con người mới 117
29/6-48: Thánh Phêrô và Thánh Phaolô Tông Đồ. 122
29/6-49: Phêrô. 123
29/6-50: Suy Niệm Lễ Thánh Phêrô Và Phaolô. 125



 

29/6-1: LẠY THẦY, THẦY BIẾT RÕ, CON YÊU MẾN THẦY

HỘI CỦA NHỮNG NGƯỜI NGHÈO HÈN TỘI LỖI
 

Cũng như hai môn đệ Phê-rô và Phao-lô, toàn thể Hội Thánh và từng: 29/6- 1


Cũng như hai môn đệ Phê-rô và Phao-lô, toàn thể Hội Thánh và từng người môn đệ của Thầy Giê-su đều chỉ có chung một trái tim. Trái tim này không phải bằng đá, cũng không phải bằng thịt, nhưng là trái tim bằng Lửa, Lửa Thánh Linh, Lửa Mạc Khải từ Cha. Đó là Ngọn Lửa khiến Hội Thánh và người môn đệ luôn dám yêu, dám tin, dám tuyên xưng, dám loan báo rằng Thầy mình là Đức Ki-tô, Con Thiên Chúa Hằng Sống. Sở dĩ người môn đệ thực sự trở nên môn đệ của Thầy Giê-su, Hội Thánh thực sự là Hội Thánh của Thầy Giê-su, ấy là do niềm xác tín thần linh, do tình yêu thiết tha và huyền nhiệm, do lời loan báo bền bỉ chân thành trong Thánh Linh, rằng Đức Giê-su là Cứu Chúa của Hội Thánh, là lẽ sống của Hội Thánh, là tình yêu của Hội Thánh, là tất cả Niềm Vui Ơn Cứu Độ của Hội Thánh. Niềm tin đó, Tình yêu đó, lời Tuyên xưng và Loan báo đó, làm nên bản chất của Hội Thánh, là “lý do hiện hữu” cho Hội Thánh, là Đá Tảng để đặt nền toàn bộ “cuộc đời” của Hội Thánh.

Hội Thánh và người môn đệ không chỉ tin vào Thiên Chúa cao cả cách “chung chung”. Anh em Phật Giáo, Nho Giáo, Lão Giáo, Hồi Giáo… và biết bao nhiêu con người cao qúi khác vẫn tin vào một Thiên Chúa, và tin một cách rất sâu xa, rất tha thiết, rất quyết liệt. Hội Thánh của Thầy Giê-su thì khác. Hội Thánh đến với Thiên Chúa qua một “anh” con người. Hội Thánh giao tiếp với Thiên Chúa qua sự giao tiếp đầy thân tình bằng hữu với một “anh” con người. Hội Thánh tin và yêu một “anh” con người, bằng một tình yêu và một niềm tin, trước hết, cũng rất theo thể cách con người, qua tất cả dáng vẻ tầm thường “phàm phu” của anh ta và của Hội Thánh. Hội Thánh mở lòng ra, chìm lặn vào trong nội tâm “anh” con người ấy, nên một với “anh” con người ấy, và qua đó, Hội Thánh dám gọi “anh” con người ấy, bác thợ mộc làng Na-da-rét ấy, tên tử tội khốn khổ ấy, là Đường Đi, là Sự Thật, là Sự Sống của mình. Và cũng từ “anh” con người ấy, Hội Thánh gặp được Thiên Chúa và dám gọi Thiên Chúa bằng “Cha”.

HỘI CỦA NHỮNG NGƯỜI CÓ TỘI

Phải, “anh” con người ấy đã mang tất cả sự tầm thường gần gụi như mọi con người nghèo hèn trần trụi. Anh ta không mang dáng vẻ tiên phong đạo cốt của nhà đạo sĩ. Anh cũng chẳng có vẻ bát ngát thênh thang và uy dũng ngất trời của bậc thiền sư. Anh càng không ung dung thư thái và nết na nề nếp của nhà hiền triết chính nhân quân tử. Anh cô đơn, anh đau đớn, anh lúi húi lom thom đi trong cuộc đời. Hội Thánh cảm thấy anh ấy gần mình lắm, vì Hội Thánh cũng tầm thường và nhỏ bé nghèo hèn như vậy. Môn đệ Phê-rô chỉ là bác “hai lúa”, “bác hai vạn chài”, chân chất và nông nổi. Môn đệ Phao-lô tuy là ông trí thức, là nhà đạo đức, nhưng lại có tất cả tính hiếu thắng đến gần như điên cuồng. Vâng, Hội Thánh là hội của những người có tội, nghèo hèn, khốn khổ, lơ láo, xơ xác. Đó là Hội của đám dân đen, Hội của những tên buôn thúng bán mẹt, Hội của những phường trộm cướp đĩ điếm, Hội của những con người trôi sông dạt chợ. Nhưng, Hội của những người có tội ấy, vẫn mãi mãi là Hội Thánh, phổ quát, thánh thiện, duy nhất, tông truyền, vì Hội Thánh luôn dám tuyên xưng, không phải chỉ ba lần, nhưng xin được thưa mãi mãi cùng Thầy rằng: “Bỏ Thầy, con biết theo ai, vì Thầy có Lời Ban Sự Sống”, và “Lạy Thầy, Thầy biết rõ, con yêu mến Thầy”.

Ngay lời tuyên xưng ấy cũng chẳng phải là lời “tự nhiên” phát ra từ trái tim “tự nhiên” của người môn đệ. Người môn đệ, đã từng bắt bớ Thầy, đã từng ngơ ngác nghi ngờ Thầy, đã từng sợ hãi chối bỏ Thầy, đã từng nuôi những tham vọng và ảo tưởng khi đi theo Thầy. Họ cũng tranh cãi và bất hòa với nhau nữa. Nhưng có sao đâu ! Người môn đệ vẫn lê lết thân phận nghèo hèn khốn khổ của mình như vậy, cho đến khi, Thầy chịu Khổ Nạn và Phục Sinh. Và trong lòng huyệt mộ hoá ra không của đời Thầy, trong Anh Tịnh Quang bất diệt của Quyền Năng Tình Yêu Phục Sinh của Thầy, họ mới biết thực sự Thầy là ai. Và cũng chỉ khi ấy, hơi thở Thần Linh Bình An của Thầy mới khiến họ thấm thía thấu hiểu và xác tín hơn gấp triệu lần nữa về lời tuyên xưng rằng: “Thầy là Đức Ki-tô, Con Chúa Trời hằng sống”. Đó là lời tuyên xưng không do máu huyết xác thịt phàm nhân, nhưng do Cha của Thầy, Đấng ngự trên trời.

ĐỨC KI-TÔ NGHÈO, HỘI THÁNH NGHÈO, CHO ĐÁM DÂN NGHÈO.

Như Thầy Giê-su, Hội Thánh vẫn bước đi trong cuộc đời, lom thom, nghèo hèn, yếu đuối. Hội Thánh, mang trong trái tim mình Sự Sống Thần Linh của Đấng mình yêu thương, vẫn tiếp tục đi vào lịch sử, vì Thiên Chúa và Người yêu của Hội Thánh luôn là Thiên Chúa đồng hành trong lịch sử. Và trong giòng lịch sử ấy, có hằng triệu, hàng tỉ những con người nghèo hèn, kém cỏi, tầm thường, yếu đưối, lom thom. Vì thế mà Hội Thánh càng xác tín vào Tình Yêu, vào Niềm Tin, vào Niềm Hy Vọng của mình. Hội Thánh biết, mình đã được trao cho “chìa khóa Nước Trời”. Hội Thánh cầm chìa khóa Nước Trời bởi vì Hội Thánh sẽ không bao giờ có quyền hành, không bao giờ có vinh vang, không bao giờ trở nên bề thế giàu sang chức tước, kể cả những quyền hành vinh vang về sự đạo đức và thánh thiện theo nghĩa tự sức gò lưng nỗ lực vươn lên. Hội Thánh, cũng như xiết bao kẻ trôi sông dạt chợ kia, biết rõ “thân phận” của mình, dù xiết bao nỗ lực, nhưng tự sức của mình, thì vẫn thất bại, vẫn chẳng bao giờ trở nên công chính, chẳng bao giờ trở nên vẹn toàn, chẳng bao giờ “tu thân tích đức” cho đàng hoàng được. Hội Thánh chỉ biết trông cậy hết mình vào Đấng do Thiên Chúa sai đến, Đức Giê-su, Người Thầy, Người Yêu, Người Bạn và Đấng Cứu Độ của Hội Thánh.

Và như vậy, niềm tin ấy, tình yêu ấy, lời loan báo ấy, chính là chìa khóa Nước Trời cho những kẻ nghèo hèn bé mọn. Cầm chìa khóa Nước Trời, không phải là Hội Thánh muốn làm gì thì làm, muốn cho ai điều gì thì cho, muốn cầm buộc ai theo “ý riêng” mình thì cầm buộc. Đó là chìa khóa Yêu Thương, chìa khóa Tôn Trọng và Nâng Niu con người cho đến tối đa, đồng hành và đồng phận với con người cho đến tối đa, hiến mạng sống mình cho nhân loại đến tối đa. Như Thầy Giê-su và từ Thầy Giê-su, Hội Thánh “cầm chìa khóa Nước Trời” bằng cách Hội Thánh đặt vào trong Trái Tim Thập Giá của mình tất cả những đau thương của kiếp người, tất cả những buồn khổ, tội lỗi, nỗi cô đơn, sự chia phôi, nỗi sinh ly tử biệt của kiếp người. Trung tín với Thầy Giê-su, Hội Thánh mãi loan báo Tình Yêu Tràn Đầy Trời Đất đó, thể hiện Tình Yêu vô điều kiện đó, vì Hội Thánh quá biết, và quá kinh nghiệm rằng: Thân phận con người, tự nó, là nghèo hèn, là thất bại. Con người nghèo hèn và thất bại ngay cả trong sự nỗ lực vươn lên tới Thiên Chúa Đích Bình an và Hạnh phúc của cuộc đời.

“Tôi sống, nhưng không phải tôi sống, mà Đức Ki-tô đang sống trong tôi”. Lời tuyên xưhg ấy của môn đệ Phao-lô cũng luôn là ý thức và lời tuyên xưng của toàn thể Hội Thánh, để Hội Thánh cũng chỉ có một hành trang duy nhất ấy, một Trái Tim duy nhất ấy, như người nữ tỳ Ma-ri-a, để đem lại niềm Vui Mừng và Hy Vọng cho cuộc đời tang thương này.


 

29/6-2: Thánh Phaolô

Hôm nay tôi chỉ xin được nói ít lời về Phaolô một con người đối với tôi: 29/6-2


Hôm nay tôi chỉ xin được nói ít lời về Phaolô một con người đối với tôi thật là vĩ đại và kỳ diêu.

Thú thực tôi rất sợ phải nói về những con người như thế này vì tôi cảm thấy mình quá thấp kém. Nhưng thái độ tránh né hoàn toàn thì  tôi  tưởng sẽ không phải là tốt nhất…nhất là đối với một người ở trong một cương vị như tôi. Tôi sẽ cố gắng để nói một chút về con ngưởi đặc biệt này.

Phaolô ! Ông là ai  vậy?

+ Thật khó mà có được một bài trình bày đầy đủ và vắn tắt về con người đặc biệt này. Vì ở nơi con ngưởi này có quá nhiều vấn đề và quá nhiều điều phải nói. Ở đây tôi chỉ xin được nói về một ít đểm nổi bật trong cuộc đời của Ông:  trước - sau khi được Chúa gọi và cuộc đời truyền giáo của Ông.

1. Trước khi được Chúa kêu gọi.

Chúng ta chỉ được biết về ông sau khi Chúa Giêsu đã về trời.

+ Ông là người say mê với niềm tin vào Giavê Thiên Chúa và Đạo của Người

+ Ông là một con người có học thức. Ông đã từng học Kinh Thánh với Gíáo sư Gamaliel, một vị giáo sư về Kinh Thánh nổi tiếng thời đó.

+ Ông hiểu biết nhiều về thần thoại và hệ thống triết học rất thịnh hành thời đó.

+ Chắc chắn ông đã từng nghe nói về Chúa Giêsu, một con người theo Ông là một người có kiến thức và hiểu sâu biết rộng nhưng ông không thể nào  có thế khoan nhượng đối với một số sự việc Chúa Giêsu đã làm như là dám vi phạm đến những luật lệ của Thiên Chúa và những tập tục  của tiền nhân như: phạm đấn ngày hưu lễ, tự cho mình có quyền tha tội, làm loạn trong đền thờ và nhất là dám tự xưng mình là Con Thiên Chúa.

Xét về con người của ông thì chúng ta thấy ông có nhiều ưu điểm hơn hẳn Phêrô
Gia đình ông thuọc loại khá giả

Đặc biệt ông là người có tước hiệu Công dân La mã

Ông không thuộc nhóm 12. Ông là một tông đồ sinh sau đẻ muộn nhưng là một tông đồ đặc biệt.

Ông xuất hiện không như một người về phe với Chúa, nhưng như một kẻ đối đầu. Tệ hơn, như một kẻ thù: Chúng ta còn nhớ thật rõ câu truyện ông tình nguyện đi Đamas để lùng bắt và tiêu diệt những người mang danh Kitô hữu

Thế nhưng  cũng chính từ cuộc lùng bắt những người Kitô hữu này Chúa đã chinh phục ông. Cuộc chinh phục rất bất ngờ và đột ngột làm cho nhiều người cảm thấy như không thể tin được. Thế nhưng đó lại là công việc của Chúa.

Chúa chọn ông để sai ông đi rao giảng TM cho dân ngoại.

Muốn hiểu cuộc đời theo Chúa của Ông như thế nào chúng ta hãy đọc lại Sách Tông đồ công vụ và nhất là những bức thư nổi tiếng ông còn để lại.

II. Bài học

1.Uy quyền của Chúa.

- Chúa muốn làm gì làm.

+ Xét về nhiều phương diện thì Phêrô thiếu hẳn những  đức tính của một người lãnh đạo thế nhưng Chúa đã chọn ông, đặt  ông làm thủ lãnh của Giáo Hội. Đó là công việc của Chúa.

+ Phaolô cũng thế:

Từ một kẻ thù Chúa đã biến ông thành một người bạn, một người tình.

Từ một người đi lùng bắt những người theo Chúa mà giết đi. Chúa đã biến ông trở thành người rao giảng về Người và sãn sàng chết vì Người. Về phương diện trần thế chẳng khi nào chúng ta thấy được như thế.

2. Bài học về lòng yêu mến Chúa

+ Phaolô đã viết những lời thật cảm động sau đây: "Không có gì có thể tách tôi ra khỏi lòng yêu mến của Đức Kitô. Dù là gian truân, bĩ cực, đói khát trần truồng, hiểm nguy, gươm giáo….Tôi thâm tín rằng sự chết hay sự sống, dù thiên thần hay thiên phủ, dù hiện tại hay tương lai, dù quyền năng, dù chiều cao hay ciều sâu hay bất cứ tạo vật nào khác, không có gì có thể tách chúng ta ra khỏi lòng yêu mến Thiên Chúa được thể hiện  cho chúng ta trong Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta" (Xem 2 Tm 4,6-8  Rm 8,18-19.32.33.38.39)

3. Bài học về sự gắn bó và  lòng trung thành đối với Chúa.

+ Phaolô: "Còn tôi, tôi sắp phải đỗ máu ra làm lễ tế. Đã đến giờ tôi phải ra đi. Tôi đã chiến đấu trong một trận chiến cao đẹp, đã chạy đến cùng đường và đã giữ vững được đức tin. Giờ đây tôi chỉ còn đợi trông vòng hoa dành cho người công chính. Chúa là vị Thẩm phán chí công sẽ trao phần thưởng đó cho tôi trong ngày ấy và không phải chỉ cho tôi mà còn cho tất cả những ai hết tình mong đợi Người xuất hiện.”


 

29/6-3: Thánh PHAOLÔ TÔNG ĐỒ

Phaolô thành Tarsê không phải là vị thánh của hết mọi người. Nhiều Kitô hữu: 29/6-3


Phaolô thành Tarsê không phải là vị thánh của hết mọi người. Nhiều Kitô hữu tốt cảm thấy đối nghịch với Ngài vì thấy Ngài cứng cỏi, khô khan, thiếu hòa giải. Những người đương thời với Ngài cũng cảm nghĩ về Ngài như  vậy. Không kể chi đến các bạn đồng liêu của Ngài. Ngay đến các thánh trong Giáo hội như Phêrô, Marcô và Barnaba đếu có lần xích mích với Ngài. Dịu dàng như Giacôbê mà cũng phải khuyên thánh nhân phải biết khéo léo hơn. Nhưng rồi cuối cùng, tất cả đều phải nhìn nhận Ngài với niềm kính phục và tình thương mến. Đó là kinh nghiệm chung đối với những ai lúc đầu cảm thấy đối nghịch với Phaolô, rồi sau đó ngỡ ngàng khi biết rõ Ngài trong các thư tín và sách công vụ sứ đồ. Ngài thật là một con người bất khuất, trung tín và rất thân tình với anh em. Sớm hay muộn, sau khi cởi bỏ lớp vỏ sần sùi bên ngoài đi người ta thấy rõ tính chất nhân bản và sự thánh thiện hàm ẩn của Ngài.

Thánh Phaolô sinh tại thành Tarse một thành phố trù phú miền nam Tiểu Á. Cha mẹ Ngài là những người thế giá, có quyền công dân Rôma. Ngài được giáo dục để trở thành một người biệt phái đúng nghĩa. Ngài được thày Gamaliel dạy dỗ thần học. Người người đều kỳ vọng ở người than niên thông minh này khi anh về Giêrusalem khoảng một năm sau khi Chúa Giêsu bị đonh đinh. Kỳ vọng ấy đã thành sự, nhưng theo một đường lối không lường trước được. Mọi người đều biết là anh Phaolô đã có mặt trong cuôc tử đạo thánh Stephanô và đã nghe Ngài cầu nguyện cho những kẻ sát hại mình. Chẳng bao lâu sau trên đường về Damas, Saolê (tên cũ của Phoalô) đã được thấy Chúa Giêsu phục sinh. Người biến đổi Phaolô từ một kẻ bách hại thành một lãnh tụ Kitô giáo.

Ngay sau khi lãnh nhận bí tích thanh tẩy, Phaolô, lui vào sa mạc để suy nghĩ cầu nguyện trong hai năm. Sau đó Ngài trở lại Damas. Như vậy phải đợi ba năm sau, Phaolô mớilên Giêrusalem bàn luận với các tông dồ. Và thánh nhân lại trở về Tarsê. Trong khoảng 10 năm (34 - 44). Chúng ta không thấy Phaolô xuất hiện. Đây phải là khoảng thời gian mà với sự trợ lực của Thiên Chúa, trí khôn của thánh nhân xây dựng cây cầu nối giữa Do thái giáo với Kitô giáo, giữa dân Do thái với dân ngoại. Việc nối kết này là món quà lớn lao nhất thánh nhân đã trao tặng cho thế giới.

Dĩ nhiên thánh Phaolô không phải là người đầu tiên rửa tội cho một lương dân. Thánh Phêrô đã rửa tội cho Cornêliô. Thánh Philipphê đã rao giảng Tin Mừng ở Samaria và rửa tội cho hoạn quan người Ethiôpia. Nhưng việc rao giảng có hệ thống cho những người không phải là Do thái chỉ bắt đầu ở Antyiôkia vào đầu thập niên 40. Thánh Barnaba được các tông đồ sai đi xem xét tình hình. Nhưng thánh nhân đã đi xa hơn. Ngài nghĩ tới Phaolô còn đang sống âm thầm ở Rarse và đến tìm ông. Thánh Phaolô trở về Antiôkia với thánh Barbnaba. Từ đó thánh nhân hiến trọn đời cho công cuộc truyền giáo. Ngài bỏ vai trò của Maria và lãnh lấy vai trò của Mattha. Nhà học giả và chiêm niệm trở thành thầy dạy và nhà giảng thuyết.

Hết cuộc hành trình này tiếp đến cuộc hành trình khác, thánh Phaolô không ngừng bước chân đi rao giảng Tin Mừng. Ngài đã đi truyền giáo ở Chypre, Tiểu Á và Maceđonia, Hy Lạp. Mỗi khi Ngài đi đến đâu là ở đó nổi lên cơn giông tố nhiệt tình một bên và ghen ghét bên kia, nhốt tù, bị ném đá, đánh đập, bị đắm tàu và yếu đau và cả đến thất vọng nữa, nhưng Ngài vẫn tiếp tục công việc. Mỗi khi đến nói chuyện ở hội đường, Ngài trích thánh kinh, ở công trường, Ngài trích thơ văn cổ và từ nơi đó phát sinh một trung tâm Kitô giáo. Trong 12 năm trời, Ngài đã biến đổi cộng đoàn Do thái nhỏ bằng thành bào thai của một tôn giáo hoàn cầu.

Năm 57, thánh Phaolô trở về Giêrusalem. Bạn bè xin Ngài đừng đi. Họ biết rằng: hội đồng công tọa ghét Ngài, ghét cây ghét đắng mà Giáo hội nhỏ bé không đủ sức bảo vệ cho Ngài, Ngài vẫn bất khuất ra đi và trong vòng một tuần lễ, mọi sự xem ra đều ổn thỏa, nhưng rồi lộn xộn xảy ra, Phaolô lại được cứu thoát khỏi bọn đấu tố, nhờ sự can thiệp của đội lính canh người Rôma. Tiếp sau đó là hai năm tù tội (bất công vì nhà cầm quyền Rôma muốn được qùa hối lộ). Trong thời gian này, Phaolô vẫn dùng cơ hội thuận tiện để rao giảng Tin Mừng.

Bị áp bức bởi Festô, Phaolô nại đến sự che chở của hoàng đế (đối với công dân Rôma) và được gởi về Rôma. Con tàu bị bão đánh và bể nát ở bờ biển Malta. Dip này cho thấy tài điều khiển bẩm sinh của Phaolô trong trường hợp khẩn trương. Tới mùa Xuân năm 60  (hay 61 ) đoàn người tới thủ đô. Thánh Phêrô đã có mặt ở đây và Phaolô lui vào bóng tối. Về những chuyến du hành của Phaolô đi Tây Ban Nha và về cận Đông, chúng ta không  có đủ tài liệu. Truyền thống nói tới việc Ngài bị tù tội lần thứ hai dưới thời Nêrô và cho biết Ngài bị chém đầu khoảng năm 66 ở Tre Fontane.

Khi Phaolô tới Roma, Phêrô đã có mặt, Tin Mừng đã được rao giảng, bí tích đã được cử hành, cólẽ Phúc âm đã được Marcô khởi soạn. Vậy đâu là phần đóng góp của Phaolô như là cột trụ Chúa Giáo hội ?

Trước hết phải kể đến nhiệt tâm và gương mẫu cuộc sống của thánh nhân. Nhưng phần chính yếu thánh nhân mang lạị là nền tảng vững chắc về tri thức của Giáo hội giúp con thuyền của ngư phủ đương đầu với bão tố. Ngài không thích mơ hồ, nhưng quan tâm tới từng hệ luận tàng ẩn bên trong giáo thuyết. Thực ra nói “giáo thuyết của Phaolô” thì không chính xác lắm, Ngài không sáng nghĩ ra giáo thuyết. Nhưng Ngài khai sáng ra những gì đã lãnh nhận được. Chẳng hạn khi nói “ Chúa Giêsu là đức Kitô” Ngài dựa ra một giải thích hoàn toàn mới mẻ về Cựu ước, với những ý niệm: Giáo hội là Israel mới, ơn thánh thay thế luật Môisê. Đức Kitô là Adam mới, là “hình ảnh” hoàn hảo của Thiên Chúa. Từ  lời gọi “Saolê, Saolê, sao ngươi tìm bắt TA ?” Ngài đã khai triển giáo thuyết về nhiệm thể: “đức Kitô là tất cả mọi sự trong mọi người” (Cl 3,11). Từ dụ ngôn những người làm vườn nho, Ngài diễn nghĩa cho thấy Israel cũ và Giêrusalem cũ bị thay thế bởi Giêrusalem mới “nơi không còn lương dân hay Do thái, man rợ hay Scythia, nô lệ hay tự do”
Có lẽ giáo thuyết về công giáo tính của Giáo hội là phần đóng góp tiêu biểu nhất của Phaolô,  khiến Ngài được mệnh danh là tông đồ dân ngoại. Thánh Phêrô còn ngập ngừng chứ như thánh Phaolô thì không chịu thỏa hiệp. Chính Ngài cho thấy rõ thế nào và tại sao Giáo hội phải là công giáo phổ quát và công giáo tính bao hàm những gì.


 

29/6-4: Phêrô và Phaolô

Hôm nay tôi xin có ít lời về Thánh Phêrô một vị thánh mà tôi hết lòng kính: 29/6-4 (hay)


Hôm nay tôi xin có ít lời về Thánh Phêrô một vị thánh mà tôi hết lòng kính trọng.
Chẳng cần phải nói dài anh chị em cũng có thể thấy được rằng Phêrô là 1 trong ba môn đệ , nói đúng hơn trong ba tông đồ được Chúa ưu ái một cách đặc biệt hơn những tông đồ khác. Ông được Chúa cho tham dự vào hầu hết những biến cố quan trọng trong cuộc đời công khai của Chúa.

Tính tình ông nóng bỏng, bộc trực và đôi lúc hơi liều lĩnh

Nói về ông người ta không thể không nhắc đến  cái vết thật đen trong cuộc đời của Ông. Đó là việc ông đã chối  Chúa. Alain một nhà tư tưởng lớn của Pháp đã viết những lời như thế  thật chua cay về cái biến cố này: "Tôi hình dung  ra ông ta đang ở trên Thiên đàng, đầu đội triều thiên hào quang sáng chói nhưng mỗi khi nhớ đến 'dzụ' ấy, chắc ông còn phải đỏ mặt" Lý do, ông viết tiếp: "Tông đồ Phêrô trong hoàn cảnh lúc đó đã lẩn trốn như thỏ hay như  chuột" Lời nhận định hơi chua chát một chút nhưng nó cho chúng ta thấy tính cách nghiêm trọng của vấn đề. Vì Phêrô là Thủ lãnh các tông đồ, thủ lãnh nhóm 12 và nhất là trước đó Chúa đã cảnh cáo ông.

Tuy nhiên bên cạnh những cái không tốt đó chúng ta lại thấy nơi Phêrô có nhiều đức tính đáng nể phục. Chính những đức tính sáng chói này sẽ làm lu mờ đi những cái tấm thường nơi con người của ông để rồi qua đó ông đã xứng đáng với sự tín nhiệm của Chúa khi Chúa đã đặt ông làm nền tảng Giáo Hội.

Đầu tiên chúng ta phải nói về lòng quảng đại. PA ghi thật rõ, vừa khi được Chúa gọi ông nhanh nhẹn bỏ điều mà sau này ông 'kể công' với Chúa là tất cả mọi sự.  

Bên cạnh lòng quảng đại chúng ta còn thấy ở nơi Ông một đức tin chân thành.

Đàng khác trên con đường theo Chúa ông còn có một đức tính hiếm hoi này mà những người khác ít ai có được đó là lòng gắn bó keo sơn với Chúa. Sau Phép lạ bánh hóa nhiều, Chúa có giảng một bài giảng về bánh hằng sống. Bài giảng đó đã đánh  dấu một khúc quặt mới trong cuộc đời công khai của Chúa.

"Lạy thầy, bỏ thầy chúng con biết theo ai vì Thầy có lời ban sự sống đời đời ».

Nhưng đức tính mà tôi cảm phục nhất trong cuộc đời của Ông đó là lòng khiêm nhường. Sách Tu đức gọi đức Khiêm nhường là nền tảng mọi nhân đức. Đôi khi người ta cũng còn gọi đức khiêm nhường là mẹ các nhân đức. Đọc trong Kinh Thánh tôi thấy ít nhất có ba lần ông đã biểu lộ sự khiêm nhường rất cụ thể như thế này.

Lần thứ nhất đá là khi Chúa cho các ông bắt được một mẻ cá lạ. Trong khi các môn đệ khác chỉ có thái độ cầm chừng thì Phêrô đã đến quì trước mặt Chúa và thưa vó Người: "Lạy Thầy, xin tránh xa con ra vì con là một người tội lỗi" Ông ý thức được cái thân phận yếu đuối của mình trước sự hiện diên của Chúa.

Lần thứ hai là khi Chúa quở mắng ông một cách thật nặng lời…….

Lần thứ ba được ghi ở trong sách Tông đồ công vụ. (xem Ngài đã gọi họ)

Còn Phaolô

Tin Mừng không nói một câu nào về Ông.

Chúng ta chỉ được biết về ông sau khi Chúa Giêsu đã về trời.

Xét về con người của ông thì chúng ta thấy ông có nhiều  điểm hơn hẳn Phêrô.

Ông là một con người có học thức - Là học trò của Giáo sư  Kinh Thánh nổi  tiếng Gamaliel.

Gia đình ông thuọc loại khác giả

Đặc biệt ông là người có tước Công dân La mã

Ông không thuộc nhóm 12. Ông là một tông đồ sinh sau đẻ muộn nhưng là một tông đồ đặc biệt.

Ông xuất hiện không như một người về phe với Chúa, nhưng như một kẻ đối đầu. Tệ hơn, như một kẻ thù: Chúng ta còn nhớ thật rõ câu truyện ông tình nguyện đi Đamas để lùng bắt và tiêu diệt những người mang danh Kitô hữu

Thế nhưng  cũng chính từ cuộc lùng bắt những người Kitô hữu này Chúa đã chinh phục ông. Cuộc chinh phục rất đột xuất làm cho nhiều người cảm thấy như không thể tin được. Thế nhưng đó lại là công việc của Chúa.

Chúa chọn ông để sai ông đi rao giảng TM cho dân ngoại.

Muốn hiểu cuộc đời theo Chúa của Ông như thế nào chúng ta hãy đọc lại Sách Tông đồ công vụ và nhất là những bức thư nổi tiếng ông còn để lại.

II. Bài học

1.Uy quyền của Chúa.

- Chúa muốn làm gì làm.

+ Xét về nhiều phương diện thì Phêrô thiếu hẳn những  đức tính của một người lãnh đạo thế nhưng Chúa đã chọn ông, đặt  ông làm thủ lãnh của Giáo Hội. Đó là công việc của Chúa.

+ Phaolô cũng thế: Từ một kẻ thù Chúa đã biến ông thành một người bạn, một người tình. Từ một người đi lùng bắt những người theo Chúa mà giết đi. Chúa đã biến ông trở thành người rao giảng về người và s8ãn sàng chết vì người. Về phương diện trần thế chẳng khi nào chúng ta thấy được như thế.

2. Bài học về lòng yêu mến Chúa

+ Câu truyện tại bờ biển Galilêa sau khi Chúa sống lại. Phêrô đạ tuyên xưng không phải đức tin, nhưng là lòng yêu mến của Ông.

+ Phaolô đã viết những lời thật cảm động sau đây: "Không có gì có thể tách tôi ra khỏi lòng yêu mến của Đức Kitô. Dù là gian truân, bĩ cực, đói khát trần truồng, hiểm nguy, gươm giáo….Tôi thâm tín rằng sự chết hay sự sống, dù thiên thần hay thiên phủ, dù hiện tại hay tương lai, dù quyền năng, dù chiều cao hay ciều sâu hay bất cứ tạo vật nào khác, không có gì có thể tách chúng ta ra khỏi lòng yêu mến Thiên Chúa được thể hiện  cho chúng ta trong Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta" (Xem 2 Tm 4,6-8  Rm 8,18-19.32.33.38.39)

3. Bài học vềsự gắm bó và  lòng trung thành đối với Chúa.

+ Phêrô trên con đường ra khỏi thành Roma. Quo vadis?

+ Phaolô: "Còn tôi, tôi sắp phải đỗ máu ra làm lễ tế. Đã đến giờ tôi phải ra đi. Tôi đã chiến đấu trong một trận chiến cao đẹp, đã chạy đến cùng đường và đã giữ vững được đức tin. Giờ đây tôi chỉ còn đợi trông vòng hoa dành cho người công chính. Chúa là vị Thẩm phán chí công sẽ trao phần thưởng đó cho tôi trong ngày ấy và không phải chỉ cho tôi mà còn cho ta61t cả những ai hết tình mong đợi Người xuất hiện."


 

29/6-5: THÁNH PHÊ-RÔ VÀ PHAO-LO TÔNG ĐỒ/ Tiểu sử

TIỂU SỬ:
Thánh Phê-rô
 

Thánh sử Mác-cô chấm dứt phần thứ nhất của Phúc Âm với một tuyệt đỉnh: 29/6-5


Thánh sử Mác-cô chấm dứt phần thứ nhất của Phúc Âm với một tuyệt đỉnh thắng lợi. Sau khi ghi lại nhiều sự hồ nghi, hiểu lầm và chống đối Đức Giê-su, giờ đây Phê-rô tuyên xưng đức tin: "Thầy là Đấng Thiên Sai" ( Mc 8, 29b ). Đó là một trong những giây phút huy hoàng của cuộc đời Thánh Phê-rô, kể từ ngày ngài được kêu gọi ở Biển Ga-li-lê để trở thành kẻ lưới người.

Tân Ước rõ ràng cho thấy Phê-rô là vị lãnh đạo các Tông Đồ, được Đức Giê-su chọn với một tương giao đặc biệt. Cùng với Gia-cô-bê và Gio-an, Phê-rô được đặc ân chứng kiến sự Biến Hình, sự sống lại của một đứa trẻ đã chết và sự thống khổ trong vườn Cây Dầu. Bà mẹ vợ của Phê-rô bị Đức Giê-su quở trách. Ngài được sai đi với Gio-an để chuẩn bị cho lễ Vượt Qua trước khi Đức Giê-su từ trần. Tên của ngài luôn luôn đứng đầu các vị Tông Đồ.

Và Phê-rô là người duy nhất được Đức Giê-su nói, "Này Si-mon con ông Giô-na, anh thật là người có phúc, vì không phải phàm nhân mặc khải cho anh điều ấy, nhưng là Cha của Thầy, Đấng ngự trên trời. Bởi thế, Thầy bảo với anh: anh là Phê-rô, nghĩa là Tảng Đá, trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi. Thầy sẽ trao cho anh chìa khoá Nước Trời. Anh cầm buộc gì dưới đất, trên trời cũng sẽ cầm buộc như vậy; anh tháo cởi điều gì dưới đất, trên trời cũng sẽ tháo cởi như vậy" ( Mt 16,17b – 19 ).

Nhưng các chi tiết xác thực của Phúc Âm cho thấy các thánh sử không xu nịnh Phê-rô. Hiển nhiên ngài là một người không biết giao tế. Và đó là sự an ủi lớn lao cho chúng ta khi thấy Phê-rô cũng có những yếu đuối con người, ngay cả trước mặt Đức Giê-su.

Phê-rô đã độ lượng hy sinh mọi sự, tuy nhiên ngài vẫn có thể hỏi một câu thật nông cạn như trẻ con, "Chúng con đã bỏ mọi sự mà theo Thầy, vậy chúng con sẽ được gì ?" ( x. Mt 19, 27 ). Ngài phải chịu sự tức giận vô cùng của Đức Ki-tô khi chống đối ý tưởng của một Đấng Thiên Sai đau khổ: "Satan, hãy lui ra sau Ta! Anh cản lối Ta. Tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài người" ( Mt 16, 23b ).

Phê-rô sẵn sàng chấp nhận lý thuyết về sự tha thứ của Đức Giê-su, nhưng dường như chỉ trong giới hạn bảy lần. Ngài đi trên mặt nước khi vững tin, nhưng bị chìm khi hồ nghi. Ngài không để Đức Giê-su rửa chân cho mình, nhưng lại muốn toàn thân được sạch. Ngài thề không khi nào chối Chúa trong bữa Tiệc Ly, và sau đó lại thề với người tớ gái là ngài không biết người ấy. Ngài trung thành chống lại sự bắt giữ Đức Giê-su bằng cách chém đứt tai tên Man-khô, nhưng sau cùng ngài lẩn trốn với các Tông Đồ khác. Trong sự phiền muộn vô cùng, Đức Giê-su đã nhìn đến ngài và tha thứ cho ngài, và Phê-rô đi ra ngoài khóc lóc thảm thiết.

Thánh Phao-lô

Nếu giả như có nhà truyền giáo Hoa Kỳ kêu gọi phải chấp nhận chủ nghĩa Mác-xít chứ đừng tôn trọng Hiến Pháp, thì phản ứng tức giận sẽ giúp chúng ta hiểu cuộc đời Thánh Phao-lô hơn khi ngài bắt đầu rao giảng là chỉ có Đức Ki-tô mới cứu chuộc được chúng ta. Ngài từng là người Pharixiêu hơn ai hết, trung thành với luật Môisen hơn ai hết. Nhưng bây giờ bỗng dưng ngài xuất hiện trước các người Do Thái như một người lạc giáo của Dân Ngoại, một kẻ phản bội và chối đạo.

Tâm điểm đức tin của Phao-lô thật đơn giản và tuyệt đối: chỉ Thiên Chúa mới có thể cứu chuộc nhân loại. Không một nỗ lực nào của con người – ngay cả việc tuân giữ lề luật cặn kẽ nhất – có thể tạo nên công trạng để chúng ta có thể dâng lên Thiên Chúa như của lễ đền tội và đền đáp các ơn sủng. Để được cứu chuộc khỏi tội lỗi, khỏi sự dữ và cái chết, nhân loại phải triệt để mở lòng cho quyền năng cứu độ của Đức Giê-su Ki-tô.

Phao-lô không bao giờ mất sự yêu quý dòng dõi Do Thái của ngài, mặc dù ngài tranh luận nhiều với họ về sự vô dụng của Luật mà không có Đức Ki-tô. Ngài nhắc nhở cho Dân Ngoại biết rằng họ được tháp nhập vào tổ tiên của người Do Thái, là những người được Chúa chọn, là con cái của lời đã hứa.

Vào ngày 29.6, chúng ta tưởng nhớ sự tử đạo của hai vị Tông Đồ. Ngày tháng này có từ năm 258, dưới thời bách hại của Valerian, khi các tín hữu tìm cách lấy xác của hai ngài để khỏi rơi vào tay các kẻ bách hại.

Kinh Thánh không ghi lại cái chết của Thánh Phê-rô và Phao-lô, hoặc bất cứ vị Tông Đồ nào, ngoại trừ Thánh Gia-cô-bê con ông Giê-bê-đê ( Cv 12, 2 ), nhưng qua các bài đọc và truyền thuyết có từ thời Giáo Hội tiên khởi, các ngài đã tử đạo ở Rôma dưới thời Hoàng Đế Nê-rô, và được chôn cất ở đây. Là một công dân Rô-ma, có lẽ Thánh Phao-lô bị chặt đầu. Còn Thánh Phê-rô, được biết ngài bị treo ngược đầu trên thập giá.

* LỊCH SỬ

Lễ hôm nay không phải là ngày tử đạo của hai vị thánh Tông Đồ, nhưng có lẽ là ngày di chuyển hài cốt của hai vị vào hang toại đạo trên đường Vua Appia, gần nhà thờ San Sebastianô ngày hôm nay. Người ta gặp thánh lễ này lần đầu tiên trong lịch của thành phố Rô-ma vào năm 354.

Simon, anh (hay em ?) của Anrê, xuất thân từ Betsaida miền Ga-li-lê, làm nghề đánh cá, có gia đình. Tất cả đều bình thường cho đến ngày Đức Giêsu thành Nadarét gọi để theo và phục vụ Người. Đức Giêsu đã ban cho ông tên mới là Kê-phát, theo nghĩa Do Thái là Đá (từ đó dịch sang Ngữ là Petrus: Phê-rô). Tên mới này nói lên sứ vụ trong tương lai của ông (so Mt 16.13-20). Phê-rô luôn đứng đầu trong danh sách Mười Hai Tông Đồ.

Sau khi Chúa Giêsu về trời, Phê-rô lãnh đạo cộng đoàn tại Giêrusalem. Ông đón nhận những người ngoại giáo đầu tiên gia nhập vào Hội Thánh (Cv 10,11). Lịch sử minh chứng ngài đã dừng chân tại Rô-ma và tử đạo dưới thời hoàng đế Nê-rô (khoảng năm 64-67).

Thánh Phao-lô tử đạo vào năm 67. Xưa hội thánh lấy ngày 30.6, sau ngày kính trọng thể Phêrô-Phaolô, để kính nhớ đặc biệt thánh Phaolô, nhưng lịch mới 1970 không còn nữa, ngược lại Hội Thánh nâng lễ “Thánh Phaolô trở lại” tháng Giêng lên bực cao hơn. (Lm Nguyễn văn Trinh, Phụng vụ chư thánh)


 

29/6-6: ANH LÀ PHÊRÔ…


TRÊN TẢNG ĐÁ NÀY THẦY SẼ XÂY HỘI THÁNH CỦA THẦY".
VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI.

1. Từ việc phêrô tuyên xưng đức tin...
 

Đức Giêsu thường tìm dịp xa trách những đối phương hay sách nhiễu: 29/6-6


Đức Giêsu thường tìm dịp xa trách những đối phương hay sách nhiễu Người. Lợi dụng dịp xa cách này, Đức Giêsu muốn đưa các môn đệ mình vào một nhịp sống lần lượt có những giai đoạn rút vào thanh vắng cả về mặt thiêng liêng lẫn mặt địa lý; những giai đoạn ấy là những cột mốc đánh dấu chặng đường các môn đệ khám phá ra chân tính đích thực của Đức Giêsu.

Sau buổi tranh luận mới với các người Pharisêu muốn đòi hỏi Chúa "cho họ xem một dấu lạ", lúc này Thầy trò Đức Giêsu đang ở giữa miền đất dân ngoại, vùng đầu nguồn sông Giocđan. Các Ngài đang lưu trú tại Xêdarê-Philipphê là một Thành phố mới, do quận vương Philipphê, con của Hêrôđê cả, xây để kính nhớ hoàng đế Rôma, bởi đó Thành phố mới có tên là Xêdarê-Philipphê. C.Tassin ghi nhận: "Cư dân của Thành phố là người Xiri gốc Hylạp, và việc lo tôn thờ thần Pan cùng nữ thần sông biển tạo nên bức tranh khác giống với môi trường Giáo hội của thánh Mátthêu" ("L'Evangile de Matthieu", Centurion, trang 173).

Chính ở đó, trước khi lên đường đi Giêrusalem lần cuối, Đức Giêsu đã đặt ra cho những ai đến nay vẫn đi theo Người, một câu hỏi quyết định mà Tin Mừng Chúa Nhật nàyđề cập tới.

Trước tiên Chúa hỏi các môn đệ: "Người ta nói: Con người là ai?".

+"Con người là một hình ảnh bí nhiệm (cf. Danien 7,13) được Tin Mừng sử dụng tới 30 lần. Chính Đức Giêsu dùng thành ngữ đó để mặc khải về chính mình và sứ mệnh của mình. Người là một con người thật. Tương quan của Người với Thiên Chúa Cứu độ, Đấng Người gọi là Cha là tình phụ tử có một không hai.

+ Trả lời câu hỏi của Đức Giêsu, các môn đệ đưa ra ý kiến nói rộng rãi về Người.

Nói chung ai ấy đều dành cho Người một địa vị và vai trò quan trọng: kẻ thì nói Người là Gioan Tẩy Giả sống lại từ cõi chết (x. 14,1-2; Hêrôđê cũng có y kiến như vậy); người khác thì cho là Êlia mà người ta đang trông đợi quay trở lại loan báo Đấng thiên sai đến; còn những người khác lại bảo là Giêrêmia, vị ngôn sứ nổi tiếng là hay chống đối và bị người ta chống đối; sau cùng có người cho Người là một tiên tri nào đó.

Lần này Chúa Giêsu hỏi thẳng như tra vấn các môn đệ: "Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai?"- "Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống". Ông Phêrô đáp lời theo kiểu tuyên xưng lòng tin, và tỏ ra không những là người phát ngôn cho các môn đệ, mà còn làm gương cho các ông về một lòng tin Kitô giáo chính truyền.

C.Tassin gợi ý thêm: "Câu trả lời của Phêrô chắc hẳn là được lấy lại từ một bản "kinh Tin" dùng trong phục vụ của cộng đoàn Matthêu". Lời đó nói lên đầy đủ niềm tin Kitô giáo.

+"Thầy là Đấng Messia" (tiếng Hylạp là Christos) nghĩa là Đấng được Thiên Chúa xức dầu và được các ngôn sứ loan báo; Người đến hoàn tất mọi lời Thiên Chúa hứa với dân Người, làm thỏa lòng mong đợi trường kỳ của Israel.

+ "...Con" nghĩa là quan hệ của Người với Thiên Chúa là tình phụ tử, mối tương quan có một không hai.

+ "...Thiên Chúa hằng sống" nghĩa là về mặt mặc khải: Thiên Chúa là Đấng ban sự sống, còn đối với các Kitô hữu thì Thiên Chúa là Đấng đã cho Đức Giêsu chỗi dậy từ cõi chết.

"Anh thật là có phước". Đức Giêsu tiếp ngay lời tuyên xưng của Phêrô, và chọn kiểu nói của Kinh Thánh về "mối phúc" để chào "con ông Giona", kẻ vừa mới xưng tụng mình là Đấng Kitô, COn Thiên Chúa hằng sống". Bởi lẽ, lời tuyên xưng này Phêrô đã không tự mình nói ra được, theo tư cách người phàm, nghĩa là theo nguồn gốc của loài người hoàn toàn yếu đuối mỏng giòn, nhưng chỉ do Thiên Chúa mặc khải cho ông. C.Tassin chú giải thêm: "bản văn không cho là Phêrô có công trạng gì; ông không được tôn danh hiệu là anh hùng đức tin, điều mà thánh sử đã mianh chứng ở đây và sau này còn chứng tỏ nữa. Trình thuật còn muốn chứng tỏ một điều là: niềm tin của Phêrô là chính xác, vì niềm tin ấy do Thiên Chúa mặc khải". (O.C trang 175).

2. Đến vai trò làm đá nền...

Những lời long trọng của Đức Giêsu nói với Simon-Phêrô là phần riêng của Tin Mừng Mátthêu.

"Anh là Phêrô, nghĩa là tảng đá, trên tảng đá này..."
Trong Kinh Thánh, việc đổi tên tỏ ra rằng sứ mệnh Chúa trao cho ai, thì biến đổi người ấy thành một người khác. Vì thế khi Ápram được đổi tên thành Ápraham có nghĩa là ông coi như được trao sứ mệnh làm "tảng đá duy nhất" làm cội nguồn cho cả dân tộc (Is 51,1-2).

Trong tiếng Do thái bình dân, từ "Kêpha" -"Tảng đá" không phải là một biệt danh, mà chỉ là một danh từ chỉ đồ vật. Khi đặt cho Phêrô tên mới này mà từ đây sẽ thay cho tên Simon trước đây, Đức Giêsu muốn cho thấy sứ mệnh Ngài sắp trao cho Phêrô: ông sẽ là tảng đá làm nền, tảng đá đảm bảo cho sự vững chắc cho tòa nhà người sắp xây dựng.

"...Thầy sẽ xây Hội thánh của Thầy..."

+ Trong Kinh Thánh, Từ "Hội thánh" có ý chỉ buổi họp tôn giáo, hội họp của những kẻ Thiên Chúa đã kêu gọi, để giữa lòng nhân loại, họ trở thành dân tộc của giao ước, dân có dấu chỉ tình yêu và lòng thương xót của Người.

+ Lần đấu tiên trong Tin Mừng Mátthêu từ "Hội thánh" được sử dụng ngay trên phần đất dân ngoại, nên ám chỉ sự tụ họp của tất cả những ai Đức Giêsu sẽ quy tụ lại từ bên kia mọi biên giới, để giữa nhân loại họ làm thành dân của giao ước mới, dân của dấu chỉ ơn cứu độ được ban cho con người.

Nếu Hội thánh được xây dựng trên nền tảng là Phêrô thì các quyền lực tử thần sẽ không có thể làm gì chống lại được Hội thánh ấy.

"...Thầy sẽ trao cho anh chìa khóa Nước Trời".

+ Ta không nên nghĩ là những chìa khóa như thời nay, mà là chìa khóc của các thành cổ và đền đài vua Chúa thời xưa. Những chìa khóa này như những then cửa lớn phải váv trên vai. Trao chìa khóa cho một người nào mang ý nghĩa là trao chức vụ cai quản điều hành cho người ấy.

+ Khi trao cho Phêrô những chìa khóc Nước Trời, Đức Giêsu có ý đặt vị tông đồ này là người đứng đầu, trao phó cho ông quyền hành trong tay Người, như sách Khải huyền 3,7 đã viết: "Đây là lời của Đấng Thánh, Đấng Chân Thật, nắm giữ chìa khóa nhà Đavít. Người mở ra thì không ai đóng lại được, Người đóng lại thì không ai mở ra được". (Bài đọc 1, tham chiếu Isaia 22).

Địa vị dành cho Phêrô ở đây hẳn là thuộc trần thế; Phêrô không phải là "Người giữ cửa thiêng đàng" (C.Tassin): Ông sẽ là người diễn giải và giữ cho sứ điệp của Đức Giêsu, Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống, được quyền trọn vẹn.

"Dưới đất anh cầm buộc điều gì trên trời cũng sẽ cầm buộc như vậy".

+ "Cầm buộc/tháo cởi" đều là những kiểu nói chuyên biện mượn của Do thái giáo, để nói lên quyền hành trọn vẹn của Phêrô, đó là quyền ấn định những quy luật, quyền nhận vào hay loại khỏi cộng đoàn.

+ Nơi Mátthêu 18,18 cũng quyền cầm buộc và tháo cởi này không chỉ hứa riêng cho Phêrô, mà cho cả các môn đệ. Vì thế Phêrô phải chia sẽ quyền hành đó với những người khác có trách nhiệm.


 

29/6-7: GIÁO HỘI PHỤC VỤ - JM

Tin Mừng nói Giáo Hội phục vụ thế giới mới này, phục vụ nước trời: “Thầy: 29/6-7

Tin Mừng nói Giáo Hội phục vụ thế giới mới này, phục vụ nước trời: “Thầy sẽ trao cho anh chìa khóa nước trời...”

Để làm gì ?

Giáo Hội không phải mình là mục đích cho riêng mình, không phải để mình cai trị trần thế mặt đất, cũng không chinh phục tất cả loài người, Giáo Hội phục vụ mục đích cao cả hơn mình, vượt tầm mức của mình, phục vụ kế hoạch của Thiên Chúa nơi thế giới, xây dựng nước Thiên Chúa.

Giáo Hội phục vụ gì ? Giáo Hội phục vụ để đào tạo thế giới lên nước Thiên Chúa. Giáo Hội có bổn phận chuẩn bị thế giới ngay từ bây giờ, để thế giới lớn lên hằng ngày trong tương quan giữa người với người và với xã hội.

Giáo Hội đã làm đầy đủ sứ mạng của mình thế nào ?

Theo chân Đức Giê-su, Giáo Hội mời gọi chúng ta đổi mới não trạng trong tương quan giữa cá nhân. Trong xã hội, kinh tế, chính trị và trong đời sống gia đình. Đó là việc thực sự không thể nào, không ngược lại với đời sống xã hội, kinh tế hay chính trị. Thế giới mới được Đức Giê-su đến phục hưng, đó là một thế giới được thấm nhuần tinh thần của Đức Giê-su, sinh hoạt theo tâm trí của Người và được soi sáng bằng ánh sáng của Tin Mừng.

Là Giáo Hội, là Kitô hữu không phải chỉ lo bảo vệ đời sống cho chính mình mà chính là cùng một lúc biết chịu trách nhiệm làm cho nước Thiên Chúa lan rộng khắp chung quanh mình, chúng ta cần phải cho chính mình thấm nhuần tinh thần Đức Giê-su và não trạng của Người, đề tinh thần Đức Giê-su soi chiếu ra chung quanh chúng ta, biến đổi dần dần não trạng của những người gần bên chúng ta.

Điều thiết yếu của Giáo Hội, là chính các Kitô hữu phải tin vững chắc vào Đức Giê-su Ki-tô, sống theo não trạng của Người. Khi hoạt động thay đổi não trạng con người chính là lúc chúng ta biến đổi thế giới thành nước Thiên Chúa.

 J.M


 

29/6-8: LỊCH SỬ  THÁNH PHÊRÔ VÀ PHAOLÔ - Lm Trọng Hương

* LỊCH SỬ

 

Lễ hôm nay không phải là ngày tử đạo của hai vị thánh Tông Đồ, nhưng có: 29/6-8


Lễ hôm nay không phải là ngày tử đạo của hai vị thánh Tông Đồ, nhưng có lẽ là ngày di chuyển hài cốt của hai vị vào hang toại đạo trên đường Vua Appia, gần nhà thờ San Sebastianô ngày hôm nay. Người ta gặp thánh lễ này lần đầu tiên trong lịch của thành phố Rô-ma vào năm 354.

Simon, anh (hay em ?) của Anrê, xuất thân từ Betsaida miền Ga-li-lê, làm nghề đánh cá, có gia đình. Tất cả đều bình thường cho đến ngày Đức Giêsu thành Nadarét gọi để theo và phục vụ Người. Đức Giêsu đã ban cho ông tên mới là Kê-phát, theo nghĩa Do Thái là Đá (từ đó dịch sang Ngữ là Petrus: Phê-rô). Tên mới này nói lên sứ vụ trong tương lai của ông (so Mt 16.13-20). Phê-rô luôn đứng đầu trong danh sách Mười  Hai Tông Đồ.

Sau khi Chúa Giêsu về trời, Phê-rô lãnh đạo cộng đoàn tại Giêrusalem. Ông đón nhận những người ngoại giáo đầu tiên gia nhập vào Hội Thánh (Cv 10,11). Lịch sử minh chứng ngài đã dừng chân tại Rô-ma và tử đạo dưới thời hoàng đế Nê-rô (khoảng năm 64-67).

Thánh Phao-lô tử đạo vào năm 67. Xưa hội thánh lấy ngày 30.6, sau ngày kính trọng thể Phêrô-Phaolô, để kính nhớ đặc biệt thánh Phaolô, nhưng lịch mới 1970 không còn nữa, ngược lại Hội Thánh nâng lễ “Thánh Phaolô trở lại” tháng Giêng lên bực cao hơn. (Lm Nguyễn văn Trinh, Phụng vụ chư thánh)

SUY NIỆM

A. Hạt giống...

Đoạn này cho thấy 3 mức độ hiểu biết về Chúa Giêsu:

1. Mức độ của dân chúng: nếu chỉ thấy những việc Chúa Giêsu làm và nghe những lời Ngài dạy mà không suy nghĩ thêm thì người ta chỉ biết Ngài là một ngôn sứ thôi.

2. Mức độ của Phêrô: được ơn Chúa soi sáng, Phêrô hiểu Chúa Giêsu là Đức Kitô Con Thiên Chúa. Nhưng nếu ơn soi sáng của Thiên Chúa không có sự hợp tác là sự “đi theo” của con người thì dù có hiểu biết Chúa Giêsu, con người vẫn có thể phản đối và cản bước Thiên Chúa (x. Các câu phía sau: cc 21-23)

3. Mức độ Chúa Giêsu đòi hỏi nơi người môn đệ: hiểu biết Chúa Giêsu cộng thêm sự từ bỏ và vác thập giá đi theo Ngài.

B. ... nẩy mầm.


1. Tôi hiểu biết Chúa Giêsu tới mức độ nào:
- Coi Ngài là một ngôn sứ. Do đó tôi chỉ liên hệ với Ngài để xin ơn ?
- Coi Ngài là Đức Kitô Con Thiên Chúa, là lẽ sống đời tôi, nhưng lại sợ khó, ngại khổ ?
- Sẵn sàng bỏ tất cả và vác thập giá đi theo Ngài ?

2. “Con là đá, trên đá này Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy”: cầu nguyện cho Đức Giáo Hoàng và cho Giáo Hội.

3. Chúng ta có nhiều cách để khước từ thập giá: khi không tiếp nhận cuộc sống như một ơn ban, khi chỉ bị quay nhìn về các biến cố và con người, khi bán đứng lương tâm vì chút lợi lộc vật chất, khi đóng kín niềm tin trong các buổi phụng vụ mà quên rằng sống đạo là sống niềm tin kitô trong từng phút giây cuộc sống. ("Mỗi ngày một tin vui")

4. Ngày kia, hoàng đế của một vương quốc lớn đã mời gọi các nghệ sĩ từ nhiều nước đến dự cuộc thi “mô tả chân dung hoàng đế”. Các nghệ sĩ Ấn Độ đến với đầy đủ dụng cụ và các thứ đá hoa kim cương quí nhất. Các nghệ sĩ Ai cập thì mang đến đủ thứ đồ nghề và một khối cẩm thạch hảo hạng. Sau cùng người ta rất nhạc nhiên khi thấy phái đoàn Hy Lạp chỉ mang vỏn vẹn một gói thuốc đánh bóng.

hết, Đức vua cho trưng bày các tác phẩm tranh giải. Ông hết sức khen các bức chân dung của chính mình do các nghệ sĩ Ấn Độ và Ai cập tạc nên. Sau cùng đến phòng trưng bày của người Hy Lạp, hoàng đế chỉ thấy duy nhất một bức tường đã được đánh bóng đến độ khi hoàng đế nhìn vào ông thấy khuôn mặt của mình hiện ra từng nét. Và phái đoàn Hy Lạp đã đoạt giải nhất trong cuộc thi đó.

Sứ mệnh căn bản của mỗi kitô hữu là hoạ lại dung nhan của Đức Kitô nơi cuộc sống và tâm hồn của mình. Để đạt được điều đó, chúng ta phải đục đẽo, phải loại bỏ tất cả những gì là gồ ghề, thô nháp, những thói hư tật xấu và phải cầu xin để có một đức tin vững mạnh.

Lạy Chúa, xin cho con biết kiên nhẫn đục đẽo tâm hồn và cuộc sống con để dung nhan Ngài giãi sáng qua mọi hành vi của đời sống con. (Hosanna)

5. Ông Simon Phêrô thưa: “Thầy là Đấng Kitô Con Thiên Chúa hằng sống” (Mt 16,16)

Hằng ngày tôi phải đối mặt với biết bao vấn đề, biết bao chuyện mà Thiên Chúa đòi tôi phải làm chứng cho Ngài. Trước bao vấn đề cần sự can thiệp của tôi: kỷ luật trong lớp học, dàn hoà một cuộc cãi nhau hay một xích mích, giúp đỡ kẻ nghèo... Tôi chỉ biết suy nghĩ cách giải quyết này đến cách giải quyết khác. Tất cả chỉ là những lý tưởng. vì chúng chỉ lẩn quẩn trong đầu tôi mà không thể đi tới hành động.
 Ông Phêrô đã tuyên xưng Chúa Giêsu là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa Hằng Sống,
nhưng khi chối Chúa 3 lần, ông đã không dám dấn thân đến cùng cho niềm tin. Và đức tin không có việc làm là đức tin chết !

Lạy Chúa, xin ban Thần Khí của Người, để con mạnh dạn tuyên xưng Chúa bằng chính hành động của con. (Hosanna)

6. “Thầy bảo cho anh biết: anh là Phêrô, nghĩa là Tảng Đá. Trên tảng đá này Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi” (Mt 16,18)

Khi xưa Chúa nói với Phêrô “Anh là Tảng Đá”. Hôm nay nghe lại đoạn Tin Mừng này tôi cảm thấy như Chúa nói với tôi.

Mỗi viên đá đều góp phần tạo nên nền móng cho ngôi nhà.

Bé nhỏ, yếu hèn và bất lực, tôi lo sợ viên đá của mình có lúc sẽ vỡ tan. Đó là lúc tôi đánh mất chính mình trong bổn phận hằng ngày.

Lạy Chúa, xin cho con được vững vàng và can đảm hơn, để con thực sự là viên đá hữu dụng trong tay Chúa (Hosanna)


 

29/6-9: NHỮNG CON NGƯỜI BÌNH THƯỜNG

Hôm nay mừng kính hai thánh Phêrô và Phaolô tông đồ, chúng ta cùng nhau: 29/6-9


Hôm nay, mừng kính hai thánh Phêrô và Phaolô tông đồ, chúng ta cùng nhau nhìn vào những điểm thấp và kém nhất trong cuộc sống của các ngài, để rồi rút ra một bài học cần thiết cho mỗi người chúng ta.

Trước hết, thánh Phêrô chỉ là một con người tầm thường, cũng chất đầy những khuyết điểm như chúng ta. Vậy những khuyết điểm ấy là gì ?

Tiên vàn, ngài là một con người yếu nhân đức tin. Hẳn chúng ta còn nhớ câu chuyện Chúa Giêsu đi trên mặt biển:

Bấy giờ là đêm tối. Thấy  Chúa Giêsu đi trên mặt biển và tiến lại gần thuyền, các môn đệ đã hoảng sợ vì tưởng là ma. Thế nhưng, Chúa đã phán:

- Thày đây.
Nghe lời ấy, Phêrô liền nhảy ra khỏi thuyền mà đến cùng Chúa Giêsu, nhưng rồi sau đó, ngài đã nghi ngờ và lập tức bị chìm xuống đáy nước. Sau khi lên thuyền, Chúa Giêsu đã trách:

- Hỡi kẻ thiếu lòng tin, tại sao con sợ ?
Thứ đến, ngài  là một con người nóng nảy và nhiều lúc đã không kìm hãm nổi sự nóng nảy của mình. Chẳng hạn buổi tối ngày thứ năm tuần thánh tại vườn Cây dầu, ngài  đã rút gươm chém đứt tai tên đầy tớ thày cả thượng phẩm, để rồi đã bị Chúa Giêsu cảnh cáo:

- Hãy xỏ gươm vào vỏ, kẻ nào dùng gươm thì sẽ phải chết vì gươm.
Sau cùng, ngài  còn là một con người hèn nhát đã chối bỏ Chúa ba lần trước mặt bọn lính canh trong sân nhà thày cả thượng phẩm Caipha, khi Chúa Giêsu bị điệu tới để xét hỏi, đúng như lời Chúa đã báo:

- Trước khi gà gáy, con đã chốt Thày ba lần.

Còn Phaolô thì sao ? Ngài là một kẻ thù không đội trời chung, một kẻ thù lợi hại  và khát máu đối với những tín hữu sơ khai.  Chính tham dự buổi hành quyết Stêphanô và chính ngài xin trát để đi bắt bớ những người tin theo Chúa. Sách Tông đồ công vụ đã kể lại:

- Ngài thừa lệnh thày cả thượng phẩm truy lùng và tróc nã các tin hữu, rồi giải về Giêrusalem…
Nhìn vào những điểm tầm thường ấy, chúng ta thấy rằng các ngài rất gần gũi với chúng ta, bởi vì các ngài cũng tội lỗi, cũng sa ngã và cũng yếu đuối như chúng ta và còn hơn chúng ta nữa.

Tuy nhiên, điều khác biệt giữa các ngài và chúng ta và chính điều khác biệt này đã biến các ngài trở thành những vị thánh, những đấng anh hùng, đó là các ngài đã ăn năn sám hối, đã hoán cải đời sống và làm lại đời mình.

Đây cũng phải là một bước chân đầu tiên và cần thiềt cho chúng ta, rồi sau đó tình yêu của Thiên Chúa sẽ tác động và biến đổi chúng ta.

Một Phêrô hèn nhát đã trờ nên đá tảng  kiên vững làm nến móng cho Giáo Hội suốt giòng thời gian qua mọi thăng trầm của lịch sử.

Một Phaolô đầy sát khí, thế nhưng, sau khi bị quật ngã trên đường đến Đamas, đã biết thưa lên:

- Lạy Chúa, Chúa muốn con làm gì ?

Kể từ sau câu hỏi này, với ơn Chúa trợ giúp Phaolô đã trở thành một vị tông đồ dân ngoại, đầy nhiệt thành và hăng say đem Tin mừng đến cho muôn dân, để rồi sau cùng, cả hai đã lấy mạng sống của mình mà tuyên xưng đức tin, hầu trở nên những chứng nhân bất khuất cho Đức Kitô.

Đọc lại Cựu ước, chúng ta cũng thấy được những trường hợp tương tự như thế:

Adong Eva, mặc dù đã phản bội cùng Thiên Chúa, nhưng sau đó có lẽ đã ăn năn khóc lóc, vì thế Thiên Chúa đã biến tội ghê tởm của thuở ban đầu ấy trở nên tội hồng phúc, vì nhờ đó, Con Thiên Chúa mới xuống thế làm người và cứu chuộc chúng ta.

Đavít vừa phạm tội ngoại tình, lại vừa phạm tội sát nhân, thế những ông đã biết đấm ngực ăn năm, chính vì thế Thiên Chúa đã chúc phúc cho ông và dòng dõi ông.
Với chúng ta thì sao ?

Có lẽ chúng ta phải thành thật thú nhận:

- Tội lỗi, sa ngã dường như là một cái gì gắn liền với thân phận mỏng dòn của chúng ta.

Thực vậy, đã là người thì ai cũng hơn một lần vấp phạm, như lời thánh vịnh diễn tả:

- Từ trong lòng mẹ, tôi đã là tội nhân. Thoạt sinh ra, tôi đã mắc tội rồi.

Sai lỗi chỉ là chuyện thường tình, không mấy ngạc nhiên. Điều đáng cho chúng ta phải ngạc nhiên, đó là với thân xác yếu đưối mà chúng ta vẫn đứng vững với thời gian, vẫn trung thành cùng Chúa mà chưa một lần vấp ngã. Sở dĩ như vậy là do sự trợ giúp của ơn Chúa, như lời Ngài cũng đã phán:

- Không có Thày, các con không thể làm được gì.

Tuy nhiên, điều quan trọng đó là mỗi lần vấp phạm phải là một lẩn chỗi dậy, mỗi lần sa ngã phải là một lần đứng lên.

Hãy sống tinh thần sám hối bằng cách dốc quyết uốn nắn sửa đổi những sai lỗi, làm lại cuộc đời. Hãy dứt khoát với dĩ vãng để trở về nhà cha, như chàng trai hoang đàng trong Phúc âm.

Lúc bấy giờ, tình thương của Chúa sẽ biến đổi để chúng ta trở nên những người tốt lành và thánh thiện,  những chứng nhân giữa lòng cuộc đời, những tông đồ nhiệt thành của Chúa như hai thánh Phêrô và Phaolô chúng ta mừng kính hôm nay.


 

29/6-10: PHÊRÔ: NGAI TÒA

Hôm nay chúng ta tưởng nhớ việc Đức Kitô chọn Phêrô là người thay thế: 29/6-10


Hôm nay chúng ta tưởng nhớ việc Đức Kitô chọn Phêrô là người thay thế Ngài trong việc cai quản Giáo Hội. Sau một "cuối tuần mất mát" đầy đau khổ, hồ nghi và dằn vặt sau khi Đức Kitô bị đóng đinh và đem đi chôn, Phêrô đã được nghe Tin Mừng. Thiên thần ở ngôi mộ nói với bà Maria Mađalêna, "Chúa đã sống lại! Hãy đi nói với các môn đệ và Phêrô." Gioan kể lại khi ngài và Phêrô chạy đến mộ, vị tông đồ trẻ đi nhanh hơn tông đồ lớn tuổi kia, nhưng ngài đứng đợi ở ngoài. Khi Phêrô bước vào, thấy các khăn liệm ở dưới đất, khăn che mặt được gói lại để ở đúng vị trí của nó. Gioan trông thấy và tin. Nhưng ngài viết thêm: "... Họ không hiểu rằng theo kinh thánh, Ngài phải sống lại từ cõi chết" Họ về nhà. Đầu óc họ như nổ tung với một khám phá mới, điều bất khả đã trở thành hiện thực. Chúa Giêsu đã hiện ra với họ trong căn nhà khóa kín. Ngài nói, "Bình an cho anh em," và họ quá đỗi vui mừng.Và biến cố trong ngày Ngũ Tuần đã giúp Phêrô cảm nhận được Đức Kitô phục sinh một cách trọn vẹn. "... Tất cả đều tràn đầy Thánh Thần, và họ bắt đầu rao giảng bằng các thứ tiếng khác nhau tùy theo Thánh Thần ban cho. Chỉ khi ấy Phêrô mới chu toàn nhiệm vụ mà Chúa đã trao cho ngài: "... Một khi anh trở lại, hãy củng cố các anh em". Từ lúc đó, ngài trở nên phát ngôn viên cho nhóm Mười Hai về những gì họ được cảm nghiệm qua Thánh Thần -- trước nhà cầm quyền muốn chặn đứng sự rao giảng, trước thượng hội đồng Giêrusalem, trước cộng đoàn về vấn đề của Ananias và Sapphira. Ngài là người đầu tiên rao giảng Tin Mừng cho Dân Ngoại. Sức mạnh chữa lành của Đức Kitô ở trong Phêrô được chứng tỏ: cho kẻ chết sống lại, chữa người ăn xin tàn tật. Dân chúng khiêng bệnh nhân ra đường phố để khi Phêrô đi ngang qua, bóng của ngài có thể chữa họ lành. Ngay cả một vị thánh cũng gặp khó khăn của cuộc đời Kitô Hữu. Khi Phêrô không còn ăn uống với Dân Ngoại tòng giáo vì ngài tế nhị không muốn tổn thương đến người Kitô gốc Do Thái, Phaolô viết, "... Tôi chống đối ông ấy ra mặt vì rõ ràng là ông ấy sai... Các ông ấy không đi đúng với chân lý của phúc âm..." Trong đoạn cuối Phúc Âm Thánh Gioan, Chúa Giêsu nói với Phêrô, "Thật, Thầy bảo thật cho anh biết, khi anh còn trẻ, anh muốn mặc quần áo nào và muốn đi đâu tùy ý; nhưng khi anh lớn tuổi, anh sẽ phải giang tay ra, và người khác sẽ mặc áo cho anh và dẫn anh đến nơi anh không muốn. Chúa Giêsu tiên đoán về cái chết mà Phêrô phải chịu để vinh danh Thiên Chúa. Trong thời gian cai trị của Nero, trên Đồi Vatican ở Rôma, Phêrô đã vinh danh Chúa Giêsu với sự tử đạo, có lẽ cùng với nhiều Kitô Hữu khác.


 

29/6-11: BÀI GIẢNG CỦA ĐỨC THÁNH CHA dip lễ thánh Phêrô và Phaolô

Khoác áo choàng vào và đi theo ta. ”(Cv. 12:8) Đó là lời chính thiên thần: 9/6-11


1. “Khoác áo choàng vào và đi theo ta. ”(Cv. 12:8)

Đó là lời chính thiên thần nói với Phêrô, đang bị cầm tù tại Jerusalem. Và, theo tường thuật trong bản văn thánh, Phêrô “liền theo ra. “(Cv. 12:9)

Với sự can thiệp lạ lùng này, Thiên Chúa đã đến giúp tông đồ của Người, để ông có thể tiếp tục sứ vụ mình. Không phải là một sứ vụ dễ dàng, một sứ vụ kéo theo một cuộc hành trình phức tạp và làm kiệt sức. Một sứ vụ phải kết thúc với sự tử đạo của người, ở đây tại Rome, nơi thậm chí ngày nay ngôi mộ Phêrô là đối tượng của những cuộc hành hương liên tục từ khắp thế giới.

2. “Saun, Saun, tại sao ngươi bắt bớ Ta?…Nhưng người hãy đứng dậy vào thành, và người ta sẽ nói cho ngươi biết ngươi phải làm gì. “(Cv. 9:4, 6)

Phaolô bị quáng mắt do ân sủng Chúa trên đường đi Đamascus, và sau khi làm kẻ bắt bớ các Kitô hữu, ngài trở nên vị Tông đồ Dân ngoại. Đã gặp Chúa Kitô trên đường đi, ngài đã hứa ủng hộ không giới hạn sự nghiệp Tin Mừng.

Đối với Phaolô cũng vậy, Rome thủ đô của nước thượng vị, được giữ như là một mục tiêu xa, nơi cùng với thánh Phêrô, ngài phải giảng về Chúa Kitô, Chúa và Đấng Cứu thế duy nhất của thế giới. Một ngày kia ngài cũng sẽ đổ máu mình vì đức tin, chính nơi đây, liên kết mãi mãi tên tuổi mình với tên tuổi thánh Phêrô trong lịch sử của Rome Kitô hữu.

3. Ngày nay Giáo hội vui mừng cử hành việc kính nhớ cả hai cùng một lúc. “Viên đá” và “Khí cụ được chọn” sau cùng gặp nhau ở đây, tại Rome, hoàn thành sứ vụ tông đồ của mình, đóng ấn nó với sự đổ máu.

Cuộc hành trình mầu nhiệm của đức tin và tình yêu, dẫn đưa Phêrô và Phaolô từ vùng đất nơi sinh ra mình cho tới Jerusalem, và sau đó cho tới những phần khác trong thế giới và sau cùng tới Rome, nói được là mẫu mực cuộc hành trình mà mổi người Kitô hữu được kêu gọi thực hiện để làm chứng cho Chúa Kitô trên thế giới.

“Tôi đã tìm kiếm Chúa, và Người đáp lại, giải thoát cho khỏi mọi nỗi kinh hoàng. “(Tv. 33[34]:5) Tại sao người ta có thể không thấy trong kinh nghiệm của hai vị thánh này mà chúng ta kính nhớ hôm nay, sự hiện thực những lời của tác giả thánh vịnh này? Giáo hội luôn luôn bị thử thách.

Sứ điệp luôn luôn đến với Giáo hội từ hai thánh Tông đồ Phêrô và Phaolô, sứ điệp đó sáng tỏ và hủng hồn. Qua ân sủng của Chúa, trong mọi hoàn cảnh con người có thể trở nên dấu chỉ quyền năng chiến thắng của Thiên Chúa. Do đo, con người không nên sợ. Bất cứ ai tin vào Chúa, thoát khỏi mọi sự sợ, cũng kinh nghiệm sự hiện diện an ủi của Chúa Thánh Thần, và cách riêng trong những lúc bị thử thách và đau khổ.

4. Hỡi các anh em yêu quí và đáng kính trong chức giám mục ! Gương thánh Phêrô và Phaolô hơn hết thách đố chúng ta, những người có chức giám mục, những kẻ kế vị các tông đồ. Như các ngài, chúng ta được kêu gọi thực hiện một cuộc hành trình cải thiện và tình yêu Chúa kitô. Có lẽ, không phải Người đã kêu gọi chúng ta hay sao? Không phải Người là Đấng luôn luôn chúng ta phải loan báo một cách nhất quán và trung thành hay sao?

Cách riêng tôi ngõ lời với chư huynh, những giám mục giáo tỉnh thân mến, chư huynh đến từ nhiều xứ trong thế giới để nhận pallium do người Kế vị Phêrô ban. Tôi chào chư huynh cách chân tình cùng với tất cả nhưng ai cùng đi với chư huynh. Giây liên lạc riêng với Tòa Tông đồ mà dấu chỉ phụng vụ này diễn tả, là một sự thúc giục phải dấn thân mãnh liệt hơn nhận lấy sự hiệp thông vì lợi ích người tín hữu, cổ võ trong họ cảm giác về sự hiệp nhất và phổ quát của Giáo hội. Chư huynh hãy giữ cách trung tín trong bản thân chư huynh và trong những con người được giao phó cho chư huynh, sự thánh thiện của sự sống, sự thánh thiện đó là một ân ban siêu nhiên do ân sủng của Chúa.

Ngoài ra, tôi âu yếm chào phái đoàn do Thượng phụ Bartholomew I thành Constantinople gởi đến, và do vị Giáo chủ Panteleimon hướng dẫn. Sự thăm viếng truyền thống của các đại diện của toà Thượng phụ Đại kết để mừng lễ trọng các thánh Phêrô và Phaolô, lảm nên một thời buổi quan phòng trên con đường đưa tới sự tái thiết lập sự thống nhất trọn vẹn giữa chúng ta.

Lúc bắt đầu ngàn năm thứ ba, chúng tôi thấy rõ nhu cầu phải “bắt đầu lại từ Chúa Kitô, ” nền tảng của đức tin và sứ vụ chung của chúng ta. “Hôm qua, hôm nay và mãi mãi” (Dt 13:8), Chúa Kitô là tảng đá vững chắc trên đó Giáo hội được xây dựng.

5. “Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống!”(Mt 16:16) Việc xưng đức tin của Phêrô tại Caesarea Phulippi, khi Thầy hỏi các môn đệ Người: “Nhưng anh em nói Thầy là ai?” (Ibid. , c. 15), (việc xưng đức tin đó) có một giá trị và ý nghĩa đặc biệt chung cho chúng ta, những kẻ làm thành cộng đồng giáo hội tại Rome. Chứng từ của Phêrô và Phaolô, được đóng ấn bởi sự hy sinh tột độ đời sống các ngài, nhắc Giáo hội này nhớ sự dấn thân phải thực hiện để bày tỏ “quyền ưu tiên cho đức ái. “(Ignatius of Antioch, Epistle to the Roma, 1. 1)ns

Trung thành với điều này, hỡi giáo phận yêu quí của tôi, chúng ta phải luôn luôn ý thức hơn về trách nhiệm này của chúng ta . chúng ta hgãy bền bỉ cầu nguyện chung với Đức Maria, Nữ Vương các thánh Tông đồ.

Theo gương các thánh quan thầy vinh hiển của chúng ta và với sự nâng đỡ kiên trì của các ngài, chúng ta hãy lập lại mọi lúc với Chúa kitô: “ Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống! Thầy là Đấng Cứu chuộc duy nhất của chúng con!”

Phát biểu của Đức thánh cha sau Thánh lễ

Cuối sự cử hành trọng thể này, tôi muốn cám ơn tất cả, hỡi những anh chị em yêu mến, với sự tham dự sốt sắng của anh chị em, anh chị em đã tôn trọng ký ức các thánh Phêrô và Phaolô. Cách riêng, tôi có lời chào chân tình và biết ơn đối với phái đoàn Giáo hội Chính thống Bulgaria, do Giáo chủ Simeon hướng dẫn. Luôn luôn nhớ tới cuộc viếng thăm mới đây của tôi tại Bulgaria, tôi kêu xin Chúa ban phước lành xuống trên những tín hữu của quốc gia yêu quí này.

[Bản gốc bằng tiếng Ý]

Đức Ông Phêrô Nguyễn Quang Sách


 

29/6-12: PHÊRÔ: KẺ LƯỚI NGƯỜI

Phêrô cùng với cha - ông Gioan (x. Yn 1, 42) - và người anh em của ông: 29/6-12


Phêrô cùng với cha - ông Gioan (x. Yn 1, 42) - và người anh em của ông là Anrê làm nghề đánh bắt cá. Tuy sinh ra Betsaiđa, nhưng thường trú ngụ nhà vợ tại Capharnaum (x. Mc 1, 21 - 31). Phêrô tên ban đầu là Simon. Khi được tuyển chọn, Chúa Yêsu đã gọi ông là Kêpha - nghĩa tiếng Aram nghĩa là Đá - đọc theo Hylạp là Phêrô.

Về tính tình, cha J.Dheilly cho biết Phêrô “là người quảng đại và bốc đồng. Ông hết sức tận tâm với Chúa Yêsu (x. Mc 8, 31 - 33), đôi khi hơi tự phụ (x. Mc 14, 29) và đôi khi cũng sợ dư luận (x. Ga 2, 11 - 14). Đặc biệt Phêrô là người có đức khiêm tốn đáng kính phục (x. Yn 20, 17).[1]

Về tương quan:

Với Chúa Yêsu, gần như lúc nào Phêrô cũng bên cạnh, trừ những lúc Chúa Yêsu cầu nguyện riêng. Ông là một trong ba Tông Đ được Chúa Yêsu mạc khải vinh quang trên núi (x. Mc 9, 2 - 8; Mt 17, 1 - 8; Lc 9, 28 - 36). Khi sắp bước vào cuộc vượt qua, Chúa Yêsu cũng đưa ông vào vườn Ghetsêmani cầu nguyện với Ngài (x. Mc 14, 32 - 42; Mt 26, 36 - 46; Lc 22, 40 - 45). Chúa Yêsu lo liệu việc đóng thuế cho Ngài và cho ông (x. Mt 17, 24 - 27). Phêrô ngăn cản Chúa Yêsu đừng đi vào chỗ chết theo suy luận loài người của ông (x. Mt 16, 22 - 23). Trong lúc Chúa Yêsu bị xử án, Phêrô đã chối Chúa ba lần (x. Yn 18, 17. 25. 27). Nhưng Chúa Yêsu lại trao cho Phêrô bổn phận củng cố niềm tin của anh em sau khi đã chỗi dậy (x. Lc 22, 32) và chìa khóa Nước Trời (x. Mt 16, 19). Chúa Yêsu cho Phêrô đi trên nước đến với Ngài (x. Mt 14, 22 - 33). Và nhất là Chúa Yêsu cho Phêrô cơ hội tuyên xưng tình yêu của ông vào Ngài, đ Ngài trao cho ông sứ mạng cai quản Hội Thánh (x. Yn 21, 15  - 17).

– Đối với các Tông Đ trong nhóm 12, Phêrô là một trong bốn người đầu tiên được tuyển chọn (x. Mc 1, 16 - 20), là người đứng đầu Tông Đ đoàn, thường xuyên thay mặt anh em trả lời Chúa Yêsu (x. Mt 16, 16). Phêrô tổ chức tuyển chọn Tông Đ Matthia thay cho Yuđa Iscariot (x. Cv 1, 15 - 26). Trong ngày lễ Ngũ Tuần, Phêrô được Thần khí hướng dẫn, nên đã thay mặt anh em rao giảng công khai về Chúa Yêsu Phục Sinh (x. Cv 2, 14 - 41). Phêrô là Tông Đ đầu tiên viếng thăm và rửa tội cho dân ngoại (x. Cv 10), bênh vực Phaolô và Banaba trong hội nghị Giêrusalem (x. Cv 15, 7 - 12). Sau khi Chúa Yêsu Phục Sinh , Phêrô đã là người đầu tiên làm dấu lạ chữa lành cho người què đền thờ (x. Cv 3, 1 - 9), làm cho người chết sống lại (x. Cv 9, 36 - 42).

Có thể tóm tắt cuộc đời Phêrô qua ba giai đoạn: Giai đoạn đầu là một ngư phủ bình thường chưa ai biết đến. Giai đoạn thứ hai được Chúa Yêsu tuyển chọn, được Chúa ban và trao cho nhiều đặc ân cùng sứ mạng, nhưng ông chưa sống được những điều đó, mà ngược lại còn cản trở Chúa đi vào con đường cứu đ và còn phản bội Chúa nữa. Giai đoạn cuối, sau khi Chúa Yêsu đã vượt qua, các ân tứ Chúa ban trở nên hiệu nghiệm nơi lời nói và việc làm của Phêrô. Có thể nói sau Phục Sinh , lời Chúa Yêsu nói: “Những ai tin vào Ta thì còn có thể làm những việc lớn lao hơn Ta nữa” (Yn 14, 12) đang ứng nghiệm nơi Phêrô.

Như vậy, do đâu mà một Phêrô bình thường (giai đoạn đầu), hèn nhát (giai đoạn hai) lại trở thành một con người mạnh mẽ và đầy quyền năng (giai đoạn ba) như thế? Câu trả lời dẫu thế nào đi nữa, cũng không được quên hay giản lược đi niềm tin của Phêrô vào Chúa Yêsu đã chết, đã sống lại và đang hiện diện với ông!

Niềm tin của Phêrô khi chưa gặp Chúa Yêsu đã không được các tác giả Thánh Kinh nói đến, nên rất ít có cơ sở đ mọi người bàn luận đến. Còn niềm tin của Phêrô khi được gọi đi theo Chúa Yêsu cho đến ngày Chúa chết như một biểu đ hình sin của toán học - cứ lên lên xuống xuống cách đều đặn - rất khó có một quả quyết chắc chắn lâu dài về niềm tin của Phêrô trong giai đoạn này. Khi nghe Chúa Yêsu gọi, ông tức thì bỏ cha, bỏ thuyền đi theo và không hề đặt vấn đ với Chúa là đi đâu, đi đ làm gì. Cách đáp trả này như đường lên của hình sin. Nhưng một thời gian dài theo Chúa, ông lại đặt vấn đ: “Này chúng tôi bỏ mọi sự mà đi theo Thầy, vậy thì phần chúng tôi sẽ ra sao?” (Mt 20, 27). Đường sin đi xuống. Còn khi Chúa Yêsu hỏi: “Anh em bảo Thầy là ai?” thì Phêrô trả lời: “Ngài là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống” (Mt 16, 16). Đỉnh cao nhất của đường sin đã đạt đến. Nhưng liền sau đó, Chúa Yêsu tỏ bày về con đường cứu thoát nhân loại mà Ngài phải đi qua là thập giá thì Phêrô đã can ngăn một cách thuần túy xác phàm khiến Chúa Yêsu phải quát lên: “Xéo đi sau Ta ! Hỡi Satan ! Ngươi là cớ vấp phạm cho Ta, vì ý tưởng của ngươi không phải là ý tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài người” (Mt 16, 23). Điểm thấp nhất của hình sin. Vừa tưởng Phêrô đã siêu thoát đ hòa vào kế hoạch tuyệt vời của Thiên Chúa, nhưng cũng một hành động ngôn ngữ của con người Phêrô ấy lại đẩy ông cách xa Thiên Chúa như nhân vật đối cực với Thiên Chúa. Rồi trong nhà tiệc ly, cũng Phêrô đó quyết nếu có ai bỏ Thầy Yêsu đi nữa thì riêng ông sẽ không bao giờ bỏang lên), nhưng khi Chúa Yêsu bị bắt chưa đầy một đêm, Phêrô đã chối Chúa ba lầnang xuống). Có lẽ đây là một kinh nghiệm tâm linh rất phổ biến của các tín hữu của mọi thời đại.

Niềm tin của Phêrô được diễn tả theo hình sin như vừa chứng minh là niềm tin mà trong đó sự nỗ lực cố gắng của con người đóng một vai trò quan trọng. Hình ảnh một lực sĩ gồng tay, các cơ bắp của anh ta nổi lên rất đẹp, nhưng anh chỉ gồng được một chút thôi rồi sẽ duỗi tay ra đ nghĩ. Còn nếu anh cố gắng một cách quá sức, anh ta có thể sẽ bị kiệt sức và sau đó tay anh ta sẽ nhão nhoẹt ra và có nhiều trường hợp sẽ không bao giờ gồng lại được nữa. Nếu niềm tin chỉ dựa vào sức mình thì quá lắm cũng chỉ được một thời gian nhất định mà thôi, sau đó sẽ là giai đoạn chán nản, bất tín. Còn nếu niềm tin dựa vào quyền năng Chúa - đây là quyền năng của Chúa Yêsu Phục Sinh , là chính Chúa Thánh Thần - thì sẽ dài lâu trong niềm hạnh phúc vô biên. Đó là đời sống của Phêrô giai đoạn thứ ba.

Từ khi gặp Chúa Yêsu Phục Sinh (x. Lc 24, 34; 1C 15, 5), Phêrô đã đặt trọn niềm tin nơi Ngài nên sức mạnh của niềm tin đó chỉ đẩy đời sống Phêrô tiến lên không ngừng và kéo rất nhiều người cùng Phêrô lên với Chúa. Từ lúc đó trở đi, chúng ta không thấy bất kỳ chỗ nào trong Thánh Kinh mô tả đức tin của Phêrô có dấu hiệu không ổn.

Từ một người nhút nhát, chỉ vì đứa tớ gái - chẳng một chút thế giá, địa vị - đã phải vội chối Thầy, Phêrô đã hiên ngang đứng giữa cộng đồng con cái Israel tuyên bố về niềm tin của mình và niềm hy vọng của Israel mong chờ đã đến và đang hiện tại nơi Chúa Yêsu người Nazareth đã bị đóng đinh cho đến chết và đã Phục Sinh (x. Cv 2, 14 - 41). Từ một người sợ chết, sau khi gặp Chúa Yêsu Phục Sinh , Phêrô đã làm cho người chết sống lại (x Cv 9, 36 - 42).

Sức mạnh niềm tin Kitô giáo nơi Phêrô bắt nguồn từ chính Chúa Yêsu Phục Sinh là Thần Khí Thiên Chúa đã trở nên trọn hảo. Sức mạnh ấy đã, đang và sẽ mang lại ơn cứu đ của Thiên Chúa nơi Đức Yêsu cho nhiều thế hệ trong nhân loại và cho vạn vật trong vũ trụ này.

Sức mạnh niềm tin Kitô giáo hoàn hảo xuất phát từ Chúa Yêsu không chỉ có nơi Phêrô, mà còn có nơi các môn đ khác và trong tất cả những ai đón nhận Yêsu Kitô là Chúa.

 
AN THANH, CSsR – DCCT


 

29/6-13: Thánh Phêrô và Thánh Phaolô Tông Đồ

“Ông Phêrô đáp: Thưa Thầy có, Thầy biết con yêu mến Thầy” (Ga 21,15b)
 

Chúa Giêsu đã hỏi ông Phêrô không những một mà đến ba lần: “Anh có: 29/6-13


Chúa Giêsu đã hỏi ông Phêrô không những một mà đến ba lần: “Anh có mến thầy không?” Với niềm tin sắt son của mình, ông đã trả lời Chúa Giêsu một cách chắc chắn và mạnh mẽ: “Thưa Thầy có”, và đây cũng là một trách nhiệm quan trọng: Người đứng đầu Hội Thánh. Có lẽ không ít lần con đã nói với Chúa “Con yêu Chúa, con yêu mến Ngài suốt cả đời con…” Thế nhưng, mấy lần con yêu Chúa thực sự và trọn vẹn. Nếu chỉ nói suông thì con là kẻ bất tín, là người nói dối mất rồi!

Xin Chúa ban cho con biết tỏ lộ tình yêu Chúa bằng những hành động cụ thể. Vì qua đó con đón nhận được một cách chân thật tình Chúa yêu con.

 

29/6-14: PHAOLÔ: NGƯỜI LÀM CHỨNG

Nếu trước khi gặp Chúa Yêsu Phục Sinh, Phêrô là một người có niềm tin: 29/6-14


Nếu trước khi gặp Chúa Yêsu Phục Sinh, Phêrô là một người có niềm tin theo kiểu “sáng nắng chiều mưa” thì cũng trong hoàn cảnh đó, Phaolô lại là một người kiên quyết đến cùng.

Phaolô sinh tại Tarsô, miền Kilikia (x. Cv 22,3), thuộc gia đình biệt phái (Pharisêu). Khi được cắt bì, người ta gọi ông là Saul - trùng tên với vị vua tiên khởi của Israel, cũng là người thuộc chi tộc Benjamin như ông. Ông được giáo dục theo truyền thống Do Thái giáo một cách nghiêm túc. Từ năm 15 tuổi, Saul được gởi lên Giêrusalem đ được thụ giáo với một rabbi nổi tiếng là Gamaliel (x. Cv 22,3), đ trở thành một rabbi trong tương lai. Ngoài ra, Saul cũng học nghể dệt và đan lưới cá, nhờ vậy mà sau này trong bước đường truyền giáo, ông đã tự lo cho mình và không trở nên gánh nặng cho người khác (x. Cv 18,3; 20,34). Saul vừa là công dân Do Thái (x. Cv 21,39), vừa là công dân Roma (x. Cv 22,27-28). Saul sử dụng tiếng Aram trong gia đình và tiếng Hy lạp trong giao tiếp và viết lách với mọi người. Có lẽ Phaolô là tên Saul đọc theo cách Hy hóa. Với nguồn gốc và quá trình bản thân như vậy, Phaolô thực sự là một người có uy tín trong các cộng đồng Do Thái thuần túy lẫn Do Thái Hy hóa.[2]

Theo sách Công vụ Tông đồ của Thánh Luca và thơ Galat của Thánh Phaolô, chúng ta có thể chia sự nghiệp của Thánh Phaolô thành hai phần rõ rệt. Phần nào cũng đáng dựng thành một cột trụ vững chắc, chỉ có điều phần đầu thì ngắn hơn.

Phần đầu đời dấn thân, Phaolô sống như một Pharisêu nhiệm nhặt và đang nỗ lực cùng với những người thờ phượng Thiên Chúa đích thực theo truyền thống Do Thái bắt bớ và triệt tiêu các nhóm “phản đạo”, “tà giáo”. Kitô giáo là một trong những nhóm đó. Các nỗ lực “nhiệt tâm với việc nhà Chúa” của Phaolô thật có lý với một người Do Thái chân chính.

Vì đối với người Do Thái, chỉ có một Yavê Thiên Chúa của Abraham, Ysaac, Yacóp và Môsê là Đấng đáng tôn thờ, nên những ai thờ phượng một thần linh khác sẽ là thờ tà thần, còn ai tôn dương con người làm thần linh để mà thờ là báng bổ Thiên Chúa. Do đó, nếu khi chưa gặp Đức Kitô Phục Sinh , mà Phaolô không hành động một cách mãnh liệt và dứt khoát như vậy, thì Phaolô chỉ là một người Do Thái trung bình, một người giữ đạo theo kiểu “đu đủ”. Nhưng nếu hăng hái như kiểu Phaolô sẽ xứng danh là bổn mạng của các nhóm tôn giáo cực đoan, cuồng tín, không đối thoại, chỉ duy mình tôi là đúng.

Các thành tích trong các hoạt động này của Phaolô có thể kể ra là người đồng tình giết phó tế Stêphanô (x. Cv 7,58; 8,1); người trực tiếp tấn công, tàn phá Hội Thánh, “xông vào các nhà tư, và lôi đi đàn ông, đàn bà mà tống ngục” (Cv 8,3); người xin chứng thư  ủy nhiệm bắt đạo của thượng tế (x. Cv 9,2); người đã đến Đamát (x. Cv 9,3); người nổi tiếng về bắt đạo ở Giêrusalem và Đamat (x Cv 9,21.26).
Nhưng kể từ khi Chúa Yêsu, người Nazareth, Phục Sinh đã hiện ra với ông trên đường đi Đamat thì cuộc đời ông thay đổi.
Thánh Kinh kể: đang khi Saul trên đường gần tới Đamat thì thình lình ánh sáng từ trời loé sáng bao lấy ông, hất ông ngã xuống đất và có tiếng nói với ông: “Saul, Saul, tại sao ngươi bắt bớ Ta?” Ông thưa lại: “Thưa Ngài, Ngài là ai?”, đáp lại lời ông: “Ta là Yêsu ngươi đang bắt bớ. Song hãy chỗi dậy vào thành; sẽ nói cho ngươi biết ngươi phải làm gì” (Cv 9,3-6; x 22,5-16; 28,9-18). Sau đó, những người cùng đi đưa ông vào thành. Ba ngày ba đêm, ông không nhìn thấy gì và cũng không ăn uống gì. Sau đó, môn đ Hananya được Chúa Yêsu Phục Sinh sai đến đặt tay trên Phaolô đ mắt ông được thấy lại, dạy cho ông những điều cốt yếu về đạo và giúp ông chịu phép Thánh tẩy nhân danh Chúa Yêsu. Môn đ Hananya nói với Phaolô: “Thiên Chúa của cha ông chúng ta đã tiền định cho anh được biết thánh ý Người và được thấy Đấng công chính và nghe tiếng xuất tự miệng Ngài; vì anh sẽ là chứng tá cho Ngài trước mặt mọi người về các điều anh đã thấy, đã nghe. Và bây giờ sao còn lần lữa? Hãy chỗi dậy chịu thanh tẩy và rửa mình cho sạch các tội của anh, miệng kêu khẩn Danh Ngài (Cv 22,14-16).

Nếu trước đây Phaolô chỉ thờ một Thiên Chúa duy nhất và vô hình của tổ tiên thì nay Phaolô cũng thờ một Thiên Chúa duy nhất của tổ tiên ấy đã nhập thể hữu hình nơi con người Yêsu Nazareth đã chết và đã sống lại; Nếu trước đây do không biết, nên Phaolô đã tàn phá Hội Thánh và bắt bớ những người theo Chúa Yêsu thì nay đã gặp và biết quả thật Yêsu là Đức Chúa (x. Ph 2,11) thì ông đã yêu thương, xây dựng Hội Thánh bằng cách thuyết phục những anh chị em Do Thái giáo của ông và đồng chịu cách bắt bớ, phỉ báng và tù tội như những người trước đây ông đã bắt bớ; Nếu trước đây vì là một người Biệt phái nghiêm nhặt, Phaolô không bao giờ tiếp xúc với dân ngoại, vì họ là người tội lỗi không được tuyển chọn thì nay, sau khi đã nhận lãnh sứ mạng cua Chúa Yêsu Phục Sinh , Phaolô đã mang ơn cứu đ đến cho dân ngoại dù họ là chủ nhân hay đầy tớ (x. Plm).

Niềm tin vào Chúa Yêsu Phục Sinh , tức là niềm tin Kitô giáo đã trở nên một sức mạnh lớn lao, khiến Phaolô đ sức giựt mình ra khỏi những lối sống khép kín, tự tôn của niềm hãnh diện dân riêng của Chúa, đến mức không còn đ sáng suốt và bình tĩnh đ nhận ra Chúa đang viếng thăm và đón nhận Ngài. Sức mạnh niềm tin ấy gắn chặt cuộc đời Phaolô vào Chúa Yêsu, đến đ Phaolô sẵn sàng đánh đổi tất cả mọi giá trị đ được một mình Chúa mà thôi (x. Ph 3,8). Đối với Phaolô, không phải do sức mạnh của lề luật, nhưng do sức mạnh của lòng tin vào Đức Yêsu Kitô người ta mới được nên công chính. Sự công chính do tự Thiên Chúa ban xuống cho lòng tin ! (x. Ph 3,9).

Chính niềm tin vào Đức Yêsu Kitô đã làm cho Phaolô được thỏa mãn mọi khát vọng hướng về Thiên Chúa; làm cho Phaolô không còn là người chỉ biết nhân danh lề luật đ bắt bớ, nhưng làm cho ông nên quyền năng của Chúa trong việc chữa lành bệnh tật, cho kẻ chết sống lại và nhất là rao giảng lẽ sống cho muôn người.

Sức mạnh niềm tin Kitô giáo nơi các chứng nhân Thánh Kinh là sức mạnh có thể đánh đổi cơ nghiệp và mạng sống. Nhưng khi dám làm một cuộc đánh đổi cho niềm tin như thế, thì không một chứng nhân nào bị tiêu hủy hay trở nên vô ích, mà ngược lại, nơi các ngài phát sinh một sự sống sung mãn của Thiên Chúa và là nguồn ơn cứu độ xuất phát từ Đức Kitô Yêsu cho muôn người.

 
AN THANH, CSsR – DCCT


 

29/6-15: MỖI MỘT NGƯỜI LÀM NÊN HỘI THÁNH

LỄ THÁNH PHÊ-RÔ VÀ THÁNH PHAO-LÔ
 

Con là Đá, trên Đá này, Thầy xây Hội Thánh của Thầy”. Lời Chúa hứa với: 29/6-15


Con là Đá, trên Đá này, Thầy xây Hội Thánh của Thầy”. Lời Chúa hứa với thánh Phê-rô đã xưa, đã lâu lắm rồi, một lời rất quen thuộc, mọi người đã từng nghe và nghe rất nhiều lần. Dù quen thuộc, nhưng bạn có bao giờ nghĩ rằng lời đó cũng là lời Chúa nói với mỗi trái tim, với từng người hôm nay, với chính bạn và tôi ?

Con là Đá, Thầy xây Hội Thánh trên Đá này”, nghĩa là Thầy xây Hội Thánh trên chính bản thân con. Bạn và tôi, mỗi người là một viên đá, mỗi người làm nên Hội Thánh, vì Chúa dùng chính bản thân từng người một để xây ngôi nhà Hội Thánh. Điều còn lại, cũng quan trọng không kém, là chính bản thân ta: là ý thức, là sự đáp trả đối với Lời Chúa. Ta có thực sự là một viên đá không ? Ta có đúng là công cụ xây nhà trong tay người thợ hồ mang tên là Giê-su chưa ? Nếu chưa, thì cho đến bao giờ cuộc đời ta mới là đá thực sự để Giê-su xây nhà Hội Thánh ?

Cách đây khá lâu, đài truyền hình chiếu một phóng sự cho biết các nữ tu đang chăm sóc các em bại não ở một trường nuôi dạy trẻ em khuyết tật. Các em không có trí khôn, hoàn toàn không biết gì. Ngay cả vệ sinh cá nhân cũng không thể được, lắm lúc còn trây lên thân thể nữa. Nhưng các nữ tu này không ngại dơ bẩn, không ngại mùi tanh tưởi, chăm sóc, nâng niu, bồng bế các em như người mẹ yêu thương con mình. Đặt trong bối cảnh bài Phúc Âm hôm nay, “các bà mẹ” đó đang làm phận sự của một viên đá sống động. Họ không có của cải, không có tiền bạc để mà cho. “Các bà mẹ” ấy đã cho chính bản thân mình, chính cuộc đời mình trả lại những thiệt thòi, mất mát , và trả lại nhân phẩm của trẻ em điên dại. Khi hiến chính mình, các chị nữ tu ấy là những viên đá sống động mà Chúa dùng để xây Hội Thánh như Chúa đã nói: Con là Đá, trên Đá này, Thầy xây Hội Thánh của Thầy”.

Con là Đá”. Bạn cùng tôi, cùng mọi người là đá. Nhưng xin đừng là viên đá mục, viên đá rỗng ruột, viên đá chưa được mài giũa, chưa trang trí ? Không ! Chúng ta phải là những viên đá tốt thật sự mà Chúa dùng đ xây Hội Thánh Người. Đ trở thành viên đá tốt, chỉ có một cách là cho đi chính mình. Cho bằng cách nào ? Đó là ta sẵn lòng tha thứ, không nuôi thù hận. Ta cũng biết giúp đ mọi người tận tình, chu đáo. Trên hết mọi sự, ta hãy học lấy lòng yêu thương. Chính tình yêu sẽ dạy ta biết phải sống thế nào, phải hiến mình ra làm sao đ gọi là cho đi bản thân xây dựng Hội Thánh Chúa Ki-tô.

Bạn và tôi hãy cố gắng, hãy nỗ lực từng ngày, góp phần mình, trở thành viên đá sống động trong tay Chúa Ki-tô. Để rồi một ngày kia, khi đến tòa Chúa, chúng ta đều hãnh diện thưa với Chúa rằng: Lạy Chúa, con là Đá, trên viên Đá này, Chúa đã sử dụng xây Hội Thánh của Chúa”.

 Lm. JB. NGUYỄN MINH HÙNG


 

29/6-16: THÁNH PHÊRÔ VÀ THÁNH PHAOLÔ, TÔNG ĐỒ

Mt 16, 13-19
 

Giáo Hội hân hoan mừng lễ hai thánh Phêrô và Phaolô. Hai vị đã tuyên: 29/6-16


Giáo Hội hân hoan mừng lễ hai thánh Phêrô và Phaolô. Hai vị đã tuyên xưng danh Chúa và đặt nền tảng cho Giáo Hội của Chúa ở trần gian này. Thánh Phêrô, Vị thủ lãnh trong việc tuyên xưng đức tin và thiết lập Hội Thánh cho số sót Israen, một
Hội Thánh được đặt trên nền tảng lòng tin. Hội Thánh tiên khởi nói lên sự duy nhất của Thiên Chúa Ba Ngôi.

Thánh Phaolô, Vị tông đồ dân ngoại, là Thầy và là sứ giả Tin Mừng cho muôn dân được kêu gọi. Mừng lễ các Ngài, chúng ta thử tìm hiểu ơn gọi của các Ngài và ý nghĩa của ngày lễ hôm nay.

I. ƠN GỌI CỦA PHÊRÔ VÀ PHAOLÔ:

Mỗi người một hoàn cảnh, mỗi người được kêu gọi một cách khác nhau. Phêrô, dân chài lưới, được kêu gọi, Ngài đã bỏ chài lưới , vợ con và gia đình để đi theo Chúa Giêsu.

Đọc Tin Mừng nhất lãm, chúng ta sẽ thấy rõ việc kêu gọi nhóm mười hai và Chúa trao sứ vụ cho các Ngài ( Mc 6, 7-13; Lc 9, 1-6 và Mt 10, 1-11 ).

Phêrô, được Chúa cất nhắc làm đầu Hội Thánh. Với chí khí hiên ngang , cương quyết, nhưng cũng đã có lúc sợ sệt, Phêrô đã anh hùng tuyên xưng danh Chúa nhờ sức mạnh và ánh sáng của Chúa Thánh Thần soi dẫn.Phêrô đã tuyên xưng: " Chúa Giêsu là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống "( Mt 16, 16 ). Nhân lời tuyên xưng này, không những Phêrô đã được kêu gọi làm môn đệ của Chúa, Ngài còn được Chúa cất nhắc làm đầu Giáo Hội:" Simon, Baryôna,Ngươi có phúc: vì không phải thịt máu, đã mạc khải cho Ngươi, mà là Cha Ta, Đấng ngự trên trời "( Mt 16, 17 ) "Ngươi là Đá, và trên Đá ấy, Ta sẽ xây dựng hội Thánh của Ta, và quyền môn âm phủ sẽ không thắng nổi "( Mt 16, 18 ). Phêrô là nền tảng cho Giáo Hội tiên khởi của Chúa.

Phaolô, Vị tông đồ dân ngoại. Suốt thời đầu trở lại, Ngài đã hăng say bắt bớ Giáo Hội của Chúa. Trên đường Đamas, Thiên Chúa đã cho Phaolô ngã ngựa, Ngài đã trở vào làng, bị mù ba đêm ngày, Ngài âm thầm cầu nguyện, lắng nghe tiếng Chúa và đã tuân theo ý Chúa. Phaolô đã tìm được ý của Chúa, đã tuân theo ý của Ngài, từ một thái độ hung hăng, bắt bớ Giáo Hội, Ngài đã trở nên vị tông đồ nhiệt thành, làm chứng cho Chúa Kitô ( Cv 26, 4-18 ). Ơn kêu gọi của Phaolô thật là hiếm hoi và tốt đẹp. Trở thành môn đệ, Phaolô đã nhiệt thành với sứ vụ:" Vì tình yêu của Đức Kitô thúc bách chúng tôi "( 2 Co 5, 15 ). Tình yêu của Chúa giúp Phaolô vượt qua mọi thử
thách , mọi cam go và Ngài đã trung thành với sứ mạng đến nỗi quên mọi nguy hiểm quên mọi thử thách để chỉ nghĩ tới các linh hồn và đem dân ngoại trở lại. Việc nhiệt thành chu toàn sứ vụ, còn được Ngài biểu lộ rõ ràng trong thơ thứ hai gửi cho Timôtêô đoạn 4,1-8 . Ngài khuyên Timôtêô: " Hãy chịu cơn thử thách, hãy thi hành việc giảng Phúc Âm, hãy chu toàn chức vụ "( 2Tim. 4, 5 ).

Như thế, chúng ta thấy cả hai ơn gọi, tuy khác nhau về hoàn cảnh, khác nhau về cách gọi, nhưng tựu trung đều qui về một mục đích: phục vụ Thiên Chúa và tha nhân với cả tấm lòng, với cả con tim của mình.Cả hai đều lãnh sứ vụ , cả hai đều hoàn thành nhiệm vụ với lý tưởng nhiệt tình và cả hai đều minh chứng tình yêu Thiên Chúa bằng chính mạng sống của mình. Ơn gọi ấy quả thực cao cả và mang ý nghĩa cứu độ .

Phêrô là nền tảng cho Giáo Hội ở muôn thời . Còn Phaolô, hiện thân của vị Tông đồ dân ngoại, phục vụ tình yêu Thiên Chúa với tất cả lý tưởng của đời mình.

II. Ý NGHĨA CỦA NGÀY LỄ HÔM NAY:

Ngày lễ thánh Phêrô và Phaolô, gợi lại cho dân Chúa sự duy nhất và thánh thiện của Giáo Hội, một Giáo Hội được đặt trên nền tảng của các tông đồ . Giáo Hội thánh thiện, duy nhất và
tông truyền như phần cuối của kinh tin kính tuyên xưng. Thánh thiện vì Giáo Hội có đầu là Chúa Kitô và chi thể là toàn dân Chúa. Duy nhất vì Hội Thánh được đặt trên tình yêu của chính
Thiên Chúa, có Chúa làm đầu và các tông đồ làm nền tảng . Giáo Hội ấy được vinh quang do dòng máu anh hùng của các vị tử đạo. Chính thánh Phêrô và Phaolô, hai vị anh hùng, thánh thiện đã minh chứng cho Sự Thật bằng dòng máu oai hùng của mình. Sự Thật và Ánh Sáng là Đức Kitô phục sinh. Lời giáo huấn của các Ngài hiện tại hóa cuộc đời của Chúa Cứu Thế và lời rao giảng Tin Mừng của các Ngài, đã đưa nhiều người về chung một niềm tin, một niềm trông cậy, vững bền. Chính nhờ các Ngài với những ơn huệ lãnh nhận, đã qui tụ dân Chúa thành gia đình của Chúa, gia đình được đặt trên nền tảng tình yêu của Đức Kitô.

Xin Thiên Chúa tình yêu giúp ta trung thành với lời giáo huấn của các Ngài và can đảm minh chứng cho Giáo Hội của Chúa nơi trần gian này .
Lm Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT



 

29/6-17: Hội Thánh của Chúa  Đức Cha Giuse Ngô Quang Kiệt 

Con là Phêrô, nghĩa là Tảng Đá, trên tảng đá này, Thày sẽ xây Hội Thánh của Thày". Với lời này: 29/6-17  Đầu lễ


"Con là Phêrô, nghĩa là Tảng Đá, trên tảng đá này, Thày sẽ xây Hội Thánh của Thày".

Với lời này, Đức Giêsu chính thức thiết lập Hội Thánh. Lời Chúa cho ta thấy những đặc tính của Hội Thánh. Đó là một Hội Thánh cho con người. Đức Giê su xây dựng Hội Thánh trên nền đá Phêrô.

Phêrô vốn là một người yếu đuối. Đời ông nhiều thất bại hơn thành công, nhiều yếu đuối hơn mạnh mẽ. Đã từng ra khơi suốt đêm để sáng sớm trở về tay trắng. Đã từng chìm xuống khi muốn đi trên mặt nước. Đã từng ngủ mê khi phải canh thức với Thày trước giờ tử nạn. Và tệ hại nhất là đã từng chối Thày ba lần khi Thày chịu khổ nạn. Nền tảng tượng trưng cho cả tòa nhà. Nền tảng Phêrô là một con người yếu đuối cũng như cả Hội Thánh gồm những con người mỏng giòn. Những thất bại của Phê rô thường diễn ra trong bóng đêm. Đánh cá suốt đêm không được gì. Chìm xuống mặt nước lúc ban đêm. Ngủ gật trong vườn Cây Dầu khi trời tối. Chối Thày trong bóng đêm. Đó là hình ảnh Hội Thánh còn phải lần mò đi trong đêm tối thử thách của thế giới với những yếu đuối của con người. Chúa dùng người yếu đuối để qui tụ những con người yếu đuối. Chúa sử dụng những phương tiện của con người để nâng đỡ con người. Đó là một Hội Thánh của Thiên Chúa.

Tuy Hội Thánh dành cho con người, gồm những con người yếu đuối, nhưng đó lại là Hội Thánh của Thiên Chúa. Hội Thánh của Thiên Chúa vì chính Thiên Chúa thiết lập. Đức Giê su xác định đây là "Hội Thánh của Thày".

Hội Thánh của Thiên Chúa nên sống bằng sức sống của Thiên Chúa chứ không bằng sức sống của con người.

Thật vậy, Hội Thánh rất yếu đuối. Có những yếu đuối khi phải đương đầu với những khó khăn thử thách bên ngoài. Biết bao vua chúa đã muốn triệt hạ Hội Thánh khi Hội Thánh chỉ là một nhóm những người bé nhỏ nghèo hèn. Có những yếu đuối từ trong nội bộ. Biết bao lần chia rẽ, phân ly. Biết bao lỗi lầm tai hại tưởng như khiến Hội Thánh đổ nát tan tành. Nhưng Hội Thánh vẫn đứng vững với thời gian. Vì đó là Hội Thánh của Thiên Chúa. Vì Hội Thánh là chính chúng ta, những con người mỏng giòn, nên ta cần khiêm nhường. Khiêm nhường nhận biết mình yếu đuối. Khiêm nhường nhận biết Hội Thánh còn chưa thánh thiện. Khiêm nhường như thánh Phêrô suốt đời cầu xin lòng thương xót của Chúa. Khiêm nhường như Đức Thánh Cha Gioan Phaolô công khai lên tiếng xin lỗi về những sai sót của Hội Thánh. Ta không chỉ khiêm nhường khi đấm ngực chuẩn bị dâng thánh lễ, mà còn phải khiêm nhường trong đời sống hằng ngày. Vì Hội Thánh là cho con người nên ta cần có thái độ cảm thông. Biết mình yếu đuối, tôi sẽ dễ cảm thông với những yếu đuối của anh em. Cảm thông không phải để mặc anh em chìm xuống, nhưng để giúp anh em vượt lên. Như lời Chúa dạy Phêrô: "Phần anh, một khi đã trở lại, hãy làm cho các anh em của anh nên vững mạnh" (Lc 22, 32). Vì Hội Thánh là của Chúa nên ta phải hoàn toàn tin tưởng vào Chúa. Biết mình u mê, ta sẽ phó thác cho Chúa hướng dẫn cuộc đời. Biết mình yếu đuối, ta sẽ không còn cậy dựa vào sức riêng, nhưng hoàn toàn tin tưởng vào Chúa, làm việc bằng sức mạnh của Chúa. Như thánh Phêrô tuyên xưng đức tin nhờ ơn soi sáng của Chúa Cha. Như thánh Phêrô giảng đạo trong ngày lễ Ngũ Tuần nhờ ơn Chúa Thánh Thần hướng dẫn. Chính Chúa là sức mạnh của Hội Thánh. Phêrô là Đá Tảng nhưng chính Chúa làm cho Đá Tảng vững bền. Phêrô giữ chìa khoá nhưng chính Chúa gìn giữ toà nhà.

GỢI Ý CHIA SẺ

1- Hội Thánh rất yếu đuối. Nhưng Hội Thánh vẫn vững bền. Bạn có ngạc nhiên về điều đó không?
2- Khuôn mặt Hội Thánh còn nhiều vết tì ố. Bạn thấy vết nào xấu xa nhất, cần gột rửa ngay tức khắc?
3- Hội Thánh là của Chúa. Bạn tâm đắc gì về điều này? 

Đức Cha Giuse Ngô Quang Kiệt 


 

29/6-18: Phêrô Tông đồ

Ông là người được nhắc đến nhiều nhất ở trong Tin Mừng. Trong bảng danh sách các Tông: 29/6-18


Ông là người được nhắc đến nhiều nhất ở trong Tin Mừng. Trong bảng danh sách các Tông Đồ ông là người đứng đầu.

Người ta thường nghĩ rằng Phê-rô là một con người nhiều khuyết điểm nhất. Điều đó không hoàn toàn sai bởi vì ông đã có nhiều hàng động hăng hái nhất và cũng có nhiều hành động sai lầm nhất. Nhiều người nhìn ông như một con người bốc đồng. Nhưng nếu xét cho kỹ chúng ta thấy ông là một con người nổi bật nhất, sáng chói nhất và có nhiều khả năng nhất.

A- Ngay từ trước khi gặp Chúa ông đã là nhà lãnh đạo trong công cuộc chài lưới. Ông ra lệnh cho mọi người. Và khi thành tông đồ ông là người nổi bật nhất trong Tân Ước.

Một cách tổng quát người ta thấy ông là người luôn mở miệng đầu tiên và hành động trước nhất. Ông nóng bỏng, hăng say, cực đoan, hướng ngoại. Đó là những điều mà người ta có thể thấy rất rõ nơi ông. Nhưng có một điều mà người ta khó thấy đó là sự khiêm nhường của ông. Chính lòng khiêm nhường này đã làm cho ông trở thành một vị thánh lớn. Ông không xử dụng khả năng để tìm lợi lộc cho mình. Chính ông ông cũng biết rằng ông còn nhiều thiếu xót. Điều này đã hiện rõ ngay trong lần đầu tiên chúng ta gặp ông.

Chúng ta gặp ông lần đầu tiên trong Tin Mừng của Luca 5,4-6. Hôm đó ông cùng bạn bè vừa đi chài lưới về. Suốt một đêm họ không được gì cả. Họ mệt mỏi, rã rời, chán nản. Hôm đó Chúa đến giảng ở bên bờ hồ Giênêgiareth. Giảng xong Ngài bảo Simon: " Ra khơi mà thả lưới bắt cá" Dĩ nhiên là Simon Phê-rô phản kháng: "Thưa Thầy, suốt một đêm chúng tôi vất vả mà không được gì (Rồi ông đổi ý) nhưng nếu Thầy bảo thì tôi thả" (Lc 5,4-6).

Sau một đêm thất bại, họ lại đi thả lưới và bắt được một mẻ cá thật lớn, lớn đến độ suýt nữa thì rách cả lưới.

Tất cả mọi người đều xúc động. Thế nhưng chỉ có một mình Phê-rô chạy đến quí mọp ở dưới chân của Chúa và thưa với Ngài:"Lạy Ngài, xin hãy tránh xa con vì con là một người tội lỗi" (Lc 5,8).

Ông không chịu nổi sự hiện diện của Chúa. Ông cản thấy mình nhỏ bé, thấp hèn, bất xứng.

Chúa nhìn thấy thật rõ lòng khiêm nhường thật chân thành của ông và Ngài đã biến ông thành thuyền trưởng trên con thuyền chài lưới mới: "Đừng sợ. Từ nay con sẽ là kẻ chài lưới bắt người"

B- Rồi một đêm kia, Phê-rô cùng với các môn đệ đang lênh đênh trên biển. Hôm đó lại sóng to gió lớn. Bỗng dưng họ thấy một bóng người đang từ từ tiến đến. Tất cả mọi người đều hoảng sợ. Họ có cảm tưởng là họ thấy "ma". Phê-rô cũng hoảng sợ nhưng khi thấy "bóng ma" lên tiếng: "Thầy đây đừng sợ" (Mt 14,27-30) thì ông bốc đồng dám nghĩ rằng ông cũng có thể làm được điều Thầy làm cho nên ông thưa với người vừa lên tiếng: "Thưa thầy, nếu quả thực là Thầy thì xin truyền cho con được đi trên mặt nước mà đến cùng Thầy"

Chúa nói: "Hãy đến đây"

Và Phê-rô bước xuống khỏi thuyền, không cần suy nghĩ và ông bước đi, đi trên mặt nước mà cứ như đi trên dất liền. Nhưng rồi bất chợt ông nghĩ đến truyện ông đang làm. Thật là lạ đời, chưa bao giờ thấy, chưa bao giờ nghe. Thật là không hợp lý tí nào và bỗng ông đâm sợ. Ông bắt đầu bị lún xuống: "Thưa Thầy, xin thầy cứu con với"

Chúa Giêsu đến đỡ ông và đưa ông về thuyền. Rõ ràng là ông đã tin tưởng trước hết và rồi ông cũng lại sa ngã trước hết.

C- Lần khác Chúa muốn hỏi các môn đệ của Ngài xem sau gần 3 năm trời sống với Chúa, được thấy những việc Chúa làm các ông nghĩ gì về Ngài: "Còn các con, các con nghĩ Thầy là ai?" (Mt 16,15-23). Phê-rô mở miệng trả lời ngay, không một chút do dự: "Thầy là Đấng Kitô Con Thiên Chúa hằng sống"

Chúa Giêsu cho mọi người biết rằng câu nói đó không phải là từ con người của Phê-rô nhưng là từ Thiên Chúa mà ra: " Không phải máu thịt đã mạc khải cho con nhưng là Cha Thầy, đấng ngự trên trời" Rồi Ngài thêm:" Con là Phê-rô, là Đá trên đá này Thầy sẽ xây Giáo Hội của Thầy và quyền lực của âm phủ sẽ không tắng nổi"(Mt 16,18).

Ngài vừa tuyên bố cho ông biết ông là Đá thì ngay sau đó tảng đá lại nát ra thành cát liền.

Chúa Giêsu nói cho các môn đệ biết về sự thương khó của Ngài. Ngài sẽ phải đau khổ và phải chết. Phê-rô không muốn tin điều đó. Ông đã lên tiếng cả ngăn:"Thưa Thầy chuyện ấy đâu lại xẩy ra với Thầy được"

Và Chúa đã phải nặng lời với ông:" Xéo ra đàng sau ta ! Đồ satan. Ngươi là cớ cho ta vấp phạm. Vì ý tưởng của ngươi không phải là của Thiên Chúa mà là của loài người" (Mt 16,21-23).

Con người Phê-rô là như thế. Vài phút trước ông được Chúa đưa ông lên đến trời. Còn vài phút sau ông biến thành dụng cụ của Satan. Ông đã sa ngã biết bao nhiêu lần trước khi trở nên đá tảng rắn chắc.

D- Sau ba năm trời theo Chúa ông tự nghĩ rằng giờ đây mình đã có thể tự hào về sự vững chắc

Ông có thể mang tên Đá mà không mắc cở.

Ông cảm thấy mạnh mẽ vững vàng trong đức tin.

Bây giở không có gì có thể lay chuyển được ông. Ông xứng đáng là thủ lãnh trong nhóm tông đồ.

Chính vì thế mà ông cảm thấy tự ái khi Chúa dùng lời Kinh Thánh mà cảnh cáo các ông:"Hết thảy các ngươi sẽ vấp ngã vì ta như đã có lời viết: Ta sẽ đánh kẻ chăn chiên và đàn chiên sẽ tán loạn" (Mt 14, 27-31).

Phê-rô đáp lại như một lời thách thức:"Dù cho mọi người có vấp ngã đi nữa nhưng con thì không bao giờ".

Ông quả quyết với Chúa như vậy, Ông sẽ không chối Chúa. Và  dù cho có chuyện gì xẩy ra, Ông cũng sẽ không đào ngũ.     

Ông vừa nói dứt lời thì Chúa quay về phía ông và nói:"Thầy bảo con, chính con hôm nay, nội đêm nay, trước khi gà gáy hai lần con đã chối Thầy 3 lần".

Câu nói dịu dàng nhưng chắc như bắp của Chúa làm cho Phê-rô bực tức. Ông quả quyết lại một lần nữa:"Dù có phải cùng chết với Thầy con cũng sẽ không chối Thầy".

Viên đá này quyết sẽ không bao giờ sụp đổ.

Thế nhưng chuyện gì xẩy ra trong đêm hôm ấy mọi người chúng ta vẫn còn nhớ. Đêm hôm ấy không ai bắt ông phải chết với Chúa. Đêm hôm ấy không một quyền bính nào trao hỏi. Chỉ có mấy người đầy tớ của vị thượng tế, hai nữ một nam. hỏi chuyện một cách bâng quơ.

Họ nói:"Người này cũng ở trong nhóm"

Thế là ba lần ông chối. Ông thề bán mạng:"Tôi không  biết người đó"

Ôi đá tảng ! Ôi Phê-rô ! Ông đã thề sống thề chết. Ông đã quả quyết sẽ không bao giờ chối bỏ Ngài…

Thế mà bây giờ…???

Rồi gà gáy,  rồi ông nhớ lại lời của Thầy."Trước khi gà gáy hai lần…"

Đúng lúc ấy (Luca nói thật rõ):"Ngay lúc ấy khi ông còn đang nói, thì gà liền gáy và Chúa quay lại nhìn Phê-rô" (Lc 22,60).

Chúa Giêsu xuất hiện với tiếng gà gáy. Những lời nhắn nhủ của Chúa tràn về ký ức của ông.

Rồi ngay lúc ấy trên cầu thang Chúa bị xỉ vả, bị đánh đòn nhưng Ngài biết Phê-rô đang ở phía dưới. Ngài nhìn xuống. Ánh mắt của Chúa dừng lại trên Phê-rô. Phê-rô nhìn lên. Thế là hai cặp mắt gặp nhau. Phê-rô hiểu ngay, không cần phải suy nghĩ. Ngài đã biết tất cả. Phê-rô không chịu đựng nổi nữa. Ông cắn chặt đôi môi. Nước mắt ông rào ra. Ông chạy ra khỏi pháp đình, ra khỏi cổng, đi cho khuất mắt hết mọi người.

Tâm hồn ông nặng chĩu. Cảm xúc ông dâng trào. Ông cảm thấy mình bị bể vụn ra như thanh gỗ mục. Đá bây giờ đã thành cát.

Đêm hôm ấy một biến cố thật lớn đã xảy ra với Phê-rô. Một biến cố thật trọng đại. Một biến cố khiến ông thay đổi. Một biến cố khiến ông trở lại nếu chúng ta có thể nói như thế.

Đúng là một cái gì đó đã chết đi trong ông.
Vâng đã chết rồi niềm tự cao, tự mãn.
niềm tự tin quá mức
sự lên mặt vênh váo
một sức mạnh tưởng chừng như to lớn mà ông tự gán cho mình.

Ông ngỡ mình là đá không gì lay chuyển được. Ai ngờ ông chỉ là cát bụi.Thật là mỉa mai, thật là khôi hài. Bây giờ ông mới nhận ra điều đó. Ông tự cảm thấy xấu hổ với chính mình. Ông ăn không ngon, ngủ không yên. Lương tâm ông gậm nhấm lỗi lầm của ông. Ông tự hỏi không biết Chúa có tha thứ cho ông không? Ông nhớ lại đã có lần Chúa dạy phải tha thứ không đến bảy lần mà phải đến bảy mươi lần bảy.
Thế rồi đùng một cái ông nghe tin xác của Chúa không còn trong mộ. Ông vội chạy ra ngôi mộ trống cùng với Gioan.

Rồi người ta nói với ông.

Rồi Chúa hiện ra với các tông đồ. Ông chỉ biết đứng đó. Trước kia ông nông nổi, ông  ăn to nói lớn - Bây giờ ông cúi đầu lặng thinh. Ông không dám mở miệng vui mừng.

Rồi ông trở về Galilê, trở về với chài lưới, trở về với quê quán xưa, trở về với con đường xưa, lối sống xưa để cố quên đi những dày vò, cố quên đi những lần vấp ngã.
Đêm hôm ấy họ không bắt được con cá nào…rất phải giống như lần đầu tiên lúc họ mới gặp Chúa. Rồi có một người đứng đó. Người ấy bảo đem lưới mà thả bên phải mạn thuyền. Họ làm như thế và bắt được rất nhiều cá. Gioan thốt lên:"Thầy đó" (Ga 21,1-7)

Phê-rô choáng váng. Ông vội khoác áo vào, nhảy xuống khỏi thuyền bơi thật nhanh lên bờ.

Thầy đã gầy lửa và bảo họ lấy cá.

Phê-rô vội vàng thi hành. Ông không dám hỏi một lời.

Sau bữa ăn Chúa phá vỡ im lặng. Ngài quay về phía Phê-rô. Ông vẫn im lặng. Chúa hỏi:"Simon con Gioan, con có yêu mến Thầy hơn những người này không?.(Chúa gọi ông bằng tên riêng của ông chứ không gọi bằng tên Chúa đặt: Phê-rô: Đá)  

Ông cảm thấy như đau nhói ở trong lòng. Trả lời với Thầy làm sao bây giờ. Ông còn có quyền nói là ông yêu Chúa nữa hay không. Dù sao thì ông cũng không thể nói trái với sự thật. Ông để cho Chúa phán xét:"Thưa Thầy, thầy biết con yêu mến thầy"

Vâng có những điều người đời không thể biết nhưng Chúa biết. Ông không nói láo. Một con người đã có lần phản bội, đã có lần chối Chúa, đã có lần rất tầm thường như ông làm sao mà có thể dám quả quyết. Nhưng tự trong thâm tâm, tự trong đáy lòng ông vẫn thấy còn tồn tại lòng ông yêu mến. Ông nói rất thật.

Chúa lại nhìn ông một lần nữa rồi Ngài lại lập lại cũng một câu hỏi trên: "Simon con Gioan, con có yêu mến Thầy hơn những người này không?.

Ông cũng lại lập lại câu trả lời như ông đã trả lời ở trên."Thưa thầy có. Thầy biết rằng con yêu mến Thầy"

Rồi lần thứ ba Chúa hỏi lại để được nghe lại một lần nữa lời tuyên xưng tình yêu của một kẻ được Chúa yêu thương nhất nhưng cũng đã vấp phạm nhiều nhất.

"Simon con Gioan, con có yêu mến Thầy không?.

"Thưa Thầy, thầy biết mọi sự. Thày biết rằng con yêu mến thầy"

Ba lần ông chối Ngài,

Ba lần Ngài cho ông cơ hội để nhắc lại tiếng nói tình yêu. để tuyên xưng lòng tin tưởng của mình.

Không một lời rầy la
Không một lời trách móc
Không một lời buộc tội

Chỉ là cơ hội để xác định lại mối dây liên hệ yêu thương.

Đó là cách Chúa cư xử với những kẻ khiêm nhường và rồi sau đó ông bắt đầu một đoạn đời mới.

"Hãy chăn giữ các chiên của ta"

Phê-rô được sai đi đến Giêrusalem, trở về chính nơi ông đã vấp ngã và lúc này ông đủ can đảm để không phản đối.

Ông vâng lời trở về Giêrusalem và ở đó lần đầu tiên ông rao giảng là rao giảng cho những người đã hò la muốn giết chết Thầy của mình.

Ông dùng khả năng của ông để đem về cho Chúa 3000 tín hữu sau bài giảng đầu tiên.

Ông phải đối diện với gian nguy, bắt bớ.

Trước kia ông run sợ trước câu hỏi của một nữ tì.

Giờ đây ông đối diện với cả một đám đông mà không run rẩy.

Tảng đá đã bắt đều kết tinh.

Và sau này mỗi lần ông ở bên bờ sa ngã thì sự hiện diện của Thầy lại kéo ông về thực tế.

Câu truyện truyền kỳ về những ngày chót của cuộc dời ông chắc chắn cũng chứa đựng ít nhiều sự thật. Ông đến Roma trong thời kỳ bắt đạo. Lúc cơn bách đạo dâng cao, ông đã sợ hãi và muốn lẩn trốn nhưng vừa ra khỏi thành thì ông gặp một người vai mang thập giá đang đi hướng về phía thành.

Ông hỏi:"Quo vadis: Người đi đâu đó?"

Người ấy trả lời:" Ta đi vào Roma để cho người ta đóng đinh một lần nữa"
Phê-rô quay đầu trở lại. Ông vào Roma và chịu tử đạo tại đó. Truyền thống kể rằng ông cảm thấy không xứng đáng được đóng đinh như thầy nên ông xin được chết trên thập giá trong tư thế đầu lộn ngược xuống đất.

Ông thực hiện đúng lời của Chúa:"Khi về già ngươi sẽ dang tay ra, người khác sẽ thắt lưng cho và lôi ngươi đi đến nơi ngươi không muốn" (Ga 21,18-19)

Và cuối cùng tảng đá của Giáo Hội đã được kết tinh.

Vì cuối cùng ông đã hiểu được rằng:

Hiến thân vì Chúa là lãnh nhận

Nô lệ cho Chúa là tự do

Và chết với Chúa là sống mãi.


 

29/6-19: TRANH CÃI THẾ NÀO

Có một cặp vợ chồng sống trong một căn hộ, họ thường tranh cãi nhau to tiếng và lâu dài hầu: 29/6-19


Có một cặp vợ chồng sống trong một căn hộ, họ thường tranh cãi nhau to tiếng và lâu dài hầu như mỗi đêm. Qua những bức tường không cách âm, một cặp vợ chồng khác ở căn hộ kế cận có thể nghe tiếng họ la hét. Vậy phải làm gì để ngừng sự quấy rầy này, để giúp cho cặp vợ chồng kia nói nhỏ nhẹ hơn?

Cặp vợ chồng bên cạnh quyết định một cuộc tranh cãi để cặp vợ chồng kia có một vài ý tưởng về sự ồn ào đáng sợ thế nào. Họ đứng sát tường rồi bắt đầu la hét nhau. Và hầu như tức thời cặp vợ chồng kia ngừng cãi nhau. Và không bao giờ họ la rầy nhau nữa.

Tất cả chúng ta có tranh cãi nhau, vì không có hai người trong chúng ta hoàn toàn giống nhau, không có hai người trong chúng ta nhìn cùng sự vật theo cùng một cách thức. Chúng ta có những khác biệt, và chúng ta bày tỏ những khác biệt này.

Có nhiều cách tranh cãi lành mạnh, nếu chúng ta thực sự trao dổi tư tưởng, quan điểm và lý luận, chúng ta có thể học được nhiều nhờ trao đổi tư tưởng với người khác.
Hôm nay chúng ta tôn vinh hai vị thủ lãnh của Giáo hội, thánh Phêrô và thánh Phaolô. Các Ngài là những vị thánh, tuy nhiên các Ngài cũng đã có một cuộc tranh cãi. Thánh Phêrô nghĩ rằng: người nào muốn nhập cộng đoàn những người tin theo Chúa Kitô, thì trứơc hết phải trở nên người Do thái, họ phải chịu cắt bì và tuân theo nhiều qui tắc của lề luật Do thái. Thánh Phaolô thì nghĩ khác. Các Ngài đã tranh cãi công khai. Tại cộng đồng Giêrualem, các Ngài quyết định sự  tranh cãi bằng cách nhắc đi nhắc lại những điều Chúa Kitô đã dạy các Ngài, nghĩa là Chúa Kitô đã thiết lập Giáo hội của Ngài không chỉ cho người Do thái mà cho cả người ngoài Do thái, dân ngoại.

Nếu bạn phải tranh cãi, thì hãy theo khuôn vàng thứơc ngọc là: hãy làm cho người khác điều mà bạn muốn họ làm cho bạn. Hãy tranh cãi với người khác như bạn muốn họ tranh cãi với bạn. Hãy lắng nghe, thực sự lắng nghe. Hãy mở rộng cho những ý tưởng khác với ý tưởng của bạn. Hãy chấp nhận là người khác có thông tin và kinh nghiệm vượt hơn bạn.

Bạn đừng chửi bới, hay nguyền rủa, thiên vị, bất công hay lăng mạ. Bạn hãy giữ lời nói ôn hòa, đừng hăm dọa chút nào. Bạn hãy lắng nghe chính mình và người khác. Hãy nghe cuộc tranh cãi dữ dội như cặp vợ chồng thứ nhất trong câu chuyện đã làm.

Trước hết, bạn hãy cầu xin cho được hiểu biết và bình an. Hãy xin Chúa thực sự. Hãy cầu nguyện với ý nghĩa đăc biệt của lời kinh nguyện Thánh Thể II: “Xin cho chúng con khi thông Mình và Máu Chúa Kitô được hợp nhất cùng nhau nhờ Chúa Thánh Thần”.

Trong công đồng Vat. II, đã có những sự tranh cãi giữa 2500 giám mục. Một số trong những trao đổi này rất là nặng nề. Nhưng các Ngài đã giải quyết những khác biệt của mình theo đường lối giống Chúa Kitô.

Ngày nay, cũng có những tranh cãi trong gia đình của Thiên Chúa, nếu thánh Phêrô và Phaolô có những khác biệt, thì chúng ta cũng có thể thâý được những tranh cãi trong tổ chức phức tạp và mở rộng toàn cầu, đó là Giáo hội, chúng ta cũng có thể thấy những khác biệt trong chính giáo xứ chúng ta. Bạn hãy giải quyết chung trong tinh thần của Chúa Kitô, trong tinh thần khuôn vàng thước ngọc của Ngài.

Lạy Chúa, xin gìn giữ  con khỏi tranh cãi, nhưng nếu con phải tranh cãi, thỉ xin giúp con hành động theo tinh thần của Chúa.

Xin Chúa chúc lành  cho các bạn.


 

29/6-20: Thánh PHÊRÔ TÔNG ĐỒ

Phêrô là tên mà Chúa đặt cho Simon, có nghĩa là “Đá” Simon và Anrê em ông là những dân: 29/6-20


Phêrô là tên mà Chúa đặt cho Simon, có nghĩa là “Đá” Simon và Anrê em ông là những dân chài chất phác ở biển Galilea. Anrê theo làm môn đệ của thánh Gioan tẩy giả. Lần kia, khi Chúa Giêsu đi qua, thánh Gioan đã giới thiệu với hai môn đệ của mình là Anrê và Gioan: “Đây là Con Thiên Chúa”.

Anrê và Gioan liền theo Chúa Giêsu. Về nhà, Anrê nói lại với Phêrô rằng: mình đã gặp Đấng thiên sai. Hai anh em dẫn nhau đến gặp Chúa Giêsu. Nhìn họ với cặp mắt thần linh, Chúa Giêsu bảo:

- Anh là Simon, nhưng từ nay tên là Phêrô (Ga 1,35-42)

Simon Phêrô gắn bó với Chúa Giêsu mặc dầu vẫn tiếp tục nghề chài lưới. Ông đến được tiệc cưới tại Cana và được chứng kiến phép lạ đầu tiên của Chúa Giêsu cho thấy thiên tính của Người.

Vài tháng sau, Phêrô và Anrê giặt lưới bên bờ hồ, Chúa Giêsu lên một chiếc thuyền để giảng dạy dân chúng. Sau đó Người nói với Phêrô:

- Ra khơi mà thả lưới đánh cá.

Sau một đêm làm việc mà không bắt được gì. Nhưng bây giờ Phêrô vẫn mau mắn vâng lời. Kết quả thật lạ lùng, mẻ cá nhiều quá đến như muốn làm rách lưới. Bối rối trước sự lạ và cảm thấy mình bất xứng không đáng ở gần Chúa Giêsu, Phêrô quỳ sụp dưới chân Người mà nói:

- “Xin hãy xa tôi vì tôi là kẻ tội lỗi”.

Chúa Giêsu trả lời:

- “Đừng sợ, từ nay anh sẽ là kẻ chài lưới bắt người” .

Rồi đây ông sẽ lôi kéo nhiều tâm hồn về với Chúa như số cá nhiều vô kể ông đã lưới được. Ông đã từ bỏ tất cả: gia đình, thuyền lưới mà theo Chúa Giêsu. Khi chọn 12 tông đồ, Chúa Giêsu đặt ông đứng đầu cả nhóm, vào đầu tháng 4, sau khi hoá bánh ra nhiều, Chúa Giêsu truyền cho các tông đồ qua bên kia bờ hồ. Gió nổi lên dữ dội: Chúa Giêsu đến với các ông. Mệt nhọc chèo chống ngược gió trong đêm tối, các ông tưởng là bóng ma và lên tiếng kêu la. Chúa Giêsu trấn an:

- “Hãy vững lòng, chính là Ta, đừng sợ”.

Phêrô liền kêu ngay:

- “Lạy Thày, xin truyền cho tôi được đi trên mặt nước mà đến với thày”.

Người bảo:

- “Hãy đến đây”.

Và Phêrô gieo mình đến với Chúa Giêsu. Nhưng sau phút giây tin tưởng ban đầu, thấy gió thổi mạnh, ông sợ và bắt đầu chìm xuống hốt hoảng ông kêu cứu:

- “Lạy Chúa xin cứu tôi “.

Chúa Giêsu giơ tay nắm lấy ông và trách ông đã yếu tin (Mt 6,22-33)

Hôm sau, Chúa Giêsu đề cập đến mầu nhiệm Thánh Thể lần đầu tiên. Một số môn đệ bỏ đi, lúc đó Người quay lại hỏi các tông đồ xem có muốn bỏ đi không ? Phêrô trung tín đáp lời:

- “Lạy Ngài, chúng tôi sẽ bỏ đi theo ai, Ngài có những lời mang đến sự sống đời đời” (Ga 6,67-68)

Một năm sau Chúa Giêsu đặt vấn đề với các tông đồ:

- “Còn các anh, các anh nói tôi là ai ?”

Mau mắn, Phêrô đã chứng tỏ đức tin của mình:

- “Ngài là đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống”.

Đáp lại, Chúa Giêsu đã khen thưởng Phêrô và hứa hẹn:

- “ Và Ta, Ta bảo ngươi. Ngươi là đá và trên đá này. Ta sẽ xây Hội Thánh của ta, và quyền môn Âm phủ sẽ không thắng nổi. Ta sẽ trao cho ngươi chìa khoá nước trời, và điều gì dưới đất ngươi cầm buộc, thì cũng sẽ bị cầm buộc trên Trời, và điều gì dưới đất ngươi tháo cởi thì cũng sẽ được tháo cởi trên trời” (Mt 16,13-19)

Phêrô đã nhận được lời khen thưởng và lời hứa hẹn rất cao trọng. Nhưng khi nghe Chúa Giêsu loan báo về cuộc khổ nạn sắp tới, ông đã vội vàng can ngăn, khiến Chúa Giêsu phải quở trách ông. Đức tin của ông chưa thực sự kiên vững như đá. Phải còn qua nhiều thăng trầm nữa, Phêrô mới thực sự trở thành mẫu người thủ lãnh của Giáo hội. Nhằm đào tạo ông, Chúa Giêsu đã cho ông trực tiếp tham gia vào cuộc phục sinh cho con gái ông Giairô (Mc 5,37). Bấy giờ, Người dẫn các ông lên núi để cho chứng kiến cuộc biến hình đầy uy nghi sáng láng như mặt trời, áo Người với Môsê và Elia ; đã nghe tiếng nói từ trời cao nhắn nhủ:

- “Ngài là con chí ái của ta, kẻ Ta đã sủng mộ, các ngươi hãy nghe lời Người” (Mt 17,1-8).

Những săn sóc đặc biệt kia phải gây ảnh hưởng mạnh nơi tâm hồn Phêrô. Một lần kia khi có người thanh niên giàu có đến gặp Chúa Giêsu mà không theo Chúa được chỉ vì của cải. Phêrô đã mạnh dạn thưa:

- “Này chúng con đã bỏ mọi sự mà theo Thày” (Mt 19,27)

Đối với ông chỉ có điều này là quan trọng. Còn nhiều điều ông chưa hiểu được, chẳng hạn như việc Thày khiêm tốn quỳ xuống rửa chân cho các tông đồ ngày thứ năm tuần thánh (Ga 13,7)

Tuy nhiên Phêrô vẫn xác tín vào điều kiện cấp thiết phải trung kiên theo Chúa. Ông đã thưa với Chúa trọn cả tâm tình quả cảm của mình:

- “Tôi sẽ thí mạng sống tôi vì thày”.

Dĩ nhiện nhiệt tình còn phải được chứng nghiệm bởi việc làm. Phêrô chưa biết, chưa lượng định nổi khả năng của mình. Đầy cảm thông Chúa Giêsu báo trước cho ông biết rằng:

- “Quả thật, ta bảo ngươi: gà sẽ không gáy cho tới lúc ngươi sẽ chối Ta ba lần” (Ga 13,36-38)

Cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu bắt đầu, Phêrô rút gươm chém đứt tai một binh lính để mong bảo vệ Thày. Sau hành vi bộc phát ấy, Phêrô như nhụt hết nhuệ khí cùng với lưỡi gươm, ông trút trở lại bao theo lời thày, đúng như  lời tiên tri báo trước, ba ần ông đã chối thày. Gà lên tiếng gáy, Chúa Giêsu nhìn lại và Phêrô bừng tỉnh và hối hận nước mắt chảy dài (Ga 18,1-27)

Sau cuộc khổ nạn và tử nạn, Chúa Giêsu sống lại, hiện ra nhiều lần. Tại bờ hồ Tibêria, Người đã hiện ra với Phêrô và các bạn khi họ đang thả lưới đánh cá. Gioan nhận ra Người và nhắn nhủ cho Phêrô biết:

- “Chúa đó”.

Với một nhiệt tình xưa, Phêrô vội cuốn áo gieo mình xuống biển đến gặp thầy. Ba lần Chúa Giêsu đã hỏi ông:

- Con có mến Thày không ?

Phêrô trả lời:

- Lạy Chúa, Chúa thông biết mọi sự, Chúa biết tôi yêu mến Chúa .
Ba lần xác quyết tình yêu xóa bỏ ba lần chối Chúa. Lúc ấy Chúa Giêsu trao phó sứ mệnh cho ông:

- “Hãy chăn dắt đoàn chiên Ta”.

Và Người thêm:
- “Khi ngươi còn trẻ, ngươi tự thắt lưng mình và đi đâu tuỳ ý, nhưng khi đã về già, ngươi sẽ giang tay ra và người khác sẽ thắt lưng cho và lôi đi nơi ngươi không muốn” (Ga 21,15-18)

Từ đây Phêrô lãnh nhiệm vụ điều khiển cộng đoàn. Ngài đã đề nghị chọn một tông đồ thế chân cho Giuda. Ngày lễ Hiện xuống, Ngài là tông đồ đầu tiên công khai rao giảng Tin Mừng, Chúa Kitô phục sinh 3000 người trở lại sau bài giảng ấy. Thật là một mẻ lưới lạ lùng.

Tại cửa đền thờ, Phêrô thấy một người què từ lúc mới sinh, Ngài nói với hắn:

- “Vàng bạc tôi không có, song có gì tôi cho anh: nhân danh đức Giêsu Kitô người Nazareth, anh hãy bước đi.

Người què liền khỏi bệnh và nhảy lên vì vui sướng. Sau phép lạ này, thánh Phêrô giảng lần thứ hai cho dân. Lần này số người trở lại lên tới 5000 người. Thành công lớn lao này  một cho các đầu mục trong dân bực tức. Họ cấm các tông đồ không được rao giảng về Chúa Kitô nữa. Nhưng đầy can đảm thánh Phêrô trả lời:

- Vâng lời các ông hơn là vâng lời Thiên Chúa có phải lẽ không ?

Các tín hữu quây quần bên các thánh tông đồ, họ mang của cải đặt dưới chân các Ngài để mưu ích chung cho mọi người. Annaya và Saphira tiếc của còn muốn nên danh giá. Vợ chồng hắn nói dối là đã dâng hết, khiến lần lượt họ ngã chết ngay dưới chân Phêrô  (Cv 5,1-11). Các phép lạ Ngài thực hiện ngày càng nhiều: tại Lyda, Ênêa liệt giường được lành mạnh, tại Giophê, chị Tabihta đã chết hai ngày được sống lại. Bóng của Ngài cũng chữa lành các bệnh nhân.

Thánh Phêrô rảo khắp xứ Giudea rao giảng nước Chúa. Ngài bị Hêrôđê ra lệnh tống giam, nhưng đã được cứu thoát cách lạ lùng. Ngài chủ tọa công đồng Gierusalem, quyết định rằng: các lương dân gia nhập Kitô giáo không phải giữ luật cắt bì.

Thánh Phêrô còn đi rao giảng bên ngoài đất Palestina, Ngài tới Antiôkia, xây dựng Giáo hội tại đây. Sau đó Ngài đi Rôma và biến nơi này thành trung tâm của Kitô giáo. Thời Nêrô cầm quyền, Giáo hội bắt đầu bị bách hại. Thánh Phêrô bị tù và được giải cứu bởi các lính gác trở lại đạo. Ngài trốn đi khỏi thành.

Nhưng vừa tới cửa, Ngài gặp thấy Chúa Giêsu vác thập giá tiến vào, thánh tông đồ hỏi Chúa:
- Thày đi đâu dây ?
- Ta vào Roma để chịu đóng đinh một lần nưã.
Thánh tông đồ đã hiểu, Ngài trở vào thành để lãnh nhận án đóng đinh thập giá. Theo  chứng của Origênê, thánh Phêrô đã xin được đóng đinh lộn đầu xuống đất vì thấy mình không đáng được chết cùng một cách như Thày.
+ Mộ Ngài được tìm thấy tại chính đền thờ thánh Phêrô ở Rôma ngày nay.


 

29/6-21: MẾN CHÚA

Mẫu gương chúng ta tìm hiểu hôm nay về hai thánh Phêrô và Phaolô tông đồ, đó là lòng mến: 29/6-21


Mẫu gương chúng ta tìm hiểu hôm nay về hai thánh Phêrô và Phaolô tông đồ, đó là lòng mến Chúa.

Hẳn chúng ta còn nhớ lời thánh Giacôbê tông đồ:

- Đức tin không có việc làm, thì chỉ là một đức tin đã chết.

Và theo theo mẹ Têrêsa thành Calcutta:

- Hoa trái của đức tin là tình yêu. Hoa trái của tình yêu là phục vụ. Hoa trái của phục vụ là bình an.

Như vậy, đức ái vừa là dấu chỉ, vừa là kết quả của đức tin.  Giữa đức tin và đức ái luôn có một sợi dây liên kết chặt chẽ. Càng có một đức tin bền vững, thì càng phải có những hành động yêu mến để chứng tỏ đức tin của mình.

Hai thánh Phêrô và Phaolô tông đồ, chắc chắn đã có một niềm tin kiên vững, thì cũng phải có một tình mến sâu xa.

Trước hết là đối với thánh Phêrô. Sau lời kêu gọi đầu tiên của Chúa Giêsu bên bờ hồ Tibêriat, Phêrô đã từ bỏ tất cả mà đi theo Chúa. Khi Chúa loan báo mình phải lên Giêrusalem để chịu đau khổ và chịu chết treo trên thập giá, Phêrô đã không chấp nhận được sự thật phũ phàng ấy, nên đã kéo Chúa ra một góc mà can ngăn:

- Ước gì điều đó đừng xảy ra cho Thày.

Và rồi Phêrô đã bị Chúa quở trách nặng lời về một tình yêu chưa được soi sáng ấy.

Với một trái tim nóng bỏng, đôi lúc Phêrô đã đi tới chỗ quá khích. Tại phòng tiệc ly, Phêrô đã thề thốt cùng Chúa:

- Dù phải chết cùng thày, con cũng sẵn sàng…Dù mọi người có bỏ Thày, thì phần con sẽ không bao giờ.

Và rồi, Phêrô, vị giáo hoàng tiên khởi, đã chối Chúa ba lần. Nhưng đồng thời chúng ta cũng phải ghi nhận: sau đó là tâm tình sám hối của Phêrô. Phúc âm đã ghi lại:

- Phêrô đã ăn n ăn khóc lóc về tội lỗi của mình.

Sau ngày phục sinh, Chúa Giêsu đã đòi hỏi ở Phêrô, vị tông đồ đã phản bội, điều gì nếu không phải là một tình mến chân thành:

 - Phêrô, con có yêu mến Thày hơn những người này không ?

Và Phêrô đã ba lần xác quyết về tình yêu của mình bằng một câu trả lời đầy khiêm tốn:

- Lạy Thày, Thày biết con yêu mến Thày.

Thánh Augustinô đã diễn tả như sau:

- Gioan có thể đã yêu mến Chúa một cách tha thiết hơn, nhưng tình yêu của Phêrô lại là một tình yêu mãnh liệt. Lòng mến của Gioan nghiêng về tình cảm, còn lòng mến của Phêrô thì quảng đại và chân thành. Và như vậy, Gioan không có một tình mến đối với Chúa vừa dứt khoát, lại vừa sâu xa cho bằng tình mến của Phêrô.

Tiếp đến là đối với thánh Phaolô. Ngoài mười hai thánh tông đồ, chúng ta không thể tìm thấy một trái tim nào nhiệt thành cùng Chúa cho bằng trái tim của Phaolô, vị tông đồ dân ngoại.

Thực vậy, chính Phaolô đã kêu lên:

- Ai có thể chia lìa chúng ta ra khỏi tình mến của Đức Kitô. Bách hại ư ? Đói khát ư ? Đau khổ ư ? Gươm giáo   ư ?

Rồi Phaolô còn viết thêm:

- Vì đức tin, chúng ta bị bắt bớ và bị dẫn tới lò sát sinh như một con chiên. Tuy nhiên, chúng ta chiến thắng tất cả nhờ Đấng đã yêu thương chúng ta.
Nơi khác thánh nhân cũng bảo:

- Dù tôi nói được mọi ngôn ngữ của loài người và các thiên thần, nhưng nếu không có đức ái, thì tôi cũng chỉ là như não bạt ầm vang. Dù tôi có ơn nói tiên tri và thấu hiểu mọi mầu nhiệm của khoa học, nhưng nếu không có đức ái, thì tôi cũng chẳng là gì cả. Dù tôi có được một đức tin chuyển núi dời sông, dù tôi phân phát hết mọi của cải, nhưng nếu không có tình mến, thì tôi cũng chẳng là gì cả.

Cũng chính vì tình mến dành cho Chúa mà thánh nhân hăng say rao giảng Tin mừng và phục vụ các linh hồn, dù có phải chịu đựng đòn vọt, tù ngục và muôn vàn khó khăn và thử thách khác nữa.

Sau cùng, đối với thánh Phaolô, cái chết sẽ là một triều thiên vinh quang xứng đáng dành cho một cuộc đời bừng cháy lửa yêu mến.

Thánh Phêrô đã trung thành với Chúa cho đến khi bị đóng đanh vào thập giá trên đỉnh đồi Vatican dưới thời bạo vương Nêron. Còn thánh Phaolô cũng không thua kém thánh Phêtô về phương diện đức tin cũng như tình mến. Thực vậy, sau nhiều năm bị bị tù đày, thánh nhân vẫn không ngừng rao giảng Đức Kitô và sau cùng đã bị chém đầu trên đường Ostie, gần Rôma.

Thánh Phêrô và thánh Phaolô đều là cha đẻ của chúng ta trong đức tin đồng thời đều là thày dạy của chúng ta trong tình mến.

Bởi đó, hãy bước theo hai đấng và xin hai đấng giúp đỡ chúng ta trên bước đường tiến về quê trời.


 

29/6-22: Phần các con, các con nghĩ Thầy là ai? ĐC Phêrô (Đà Lạt)


BÀI GIẢNG CỦA ĐỨC CHA PHÊRÔ (Đà Lạt)
… “Phần các con, các con nghĩ Thầy là ai ?” Simon Phêrô thưa rằng: “Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống”.

Anh chị em thân mến,

 

Có thể nói Chúa Giêsu không quan tâm đến dư luận nghĩ như thế nào về Ngài: Là Gioan Tẩy: 29/6-22


Có thể nói Chúa Giêsu không quan tâm đến dư luận nghĩ như thế nào về Ngài: Là Gioan Tẩy Giả mà Hêrôđê giết chết nay sống lại, là Elia, Giêrêmia, một tiên tri nào đó … điều đó không quan trọng. Người đời tự do nhận hay khước từ Chúa Giêsu, việc đó từ khi Ngài xuống thế gian cho đến bây giờ vẫn luôn xảy ra, chẳng những thế người ta còn gán cho Ngài những danh xưng, những đức tính hay những tật xấu … việc đó cũng không quan trọng.

Quan trọng là chúng ta, những người Ngài đã kêu gọi và được thanh tẩy trong Bí Tích Rửa Tội, Ngài đã ban cho Thần Khí của Ngài, Ngài đã dùng Lời và Mình Máu Thánh Ngài để nuôi dưỡng, Ngài đã không ngớt yêu thương và chăm sóc … Chúa sẽ hỏi chúng ta: “Còn con, con nghĩ Thầy là ai ?”

Qua bài Tin Mừng Mt 16, 13 – 19: Hỏi về dư luận chỉ là cớ để Chúa Giêsu bắt vào câu chuyện, còn vấn đề chính là dành cho các tông đồ: “Chúng con nghĩ Thầy là ai ?” sau khi Phêrô trả lời, Chúa Giêsu  nói ngay: “Chẳng phải (điều con tuyên xưng) do xác thịt hay máu huyết mạc khải cho con, nhưng là Cha Thầy, Đấng ngự trên trời”. Chính Chúa Cha đã mạc khải, đã chọn, đã tỏ cho thấy con có đức tin đó, cho nên Thầy chọn con, con trở nên tảng đá vững chắc, Thầy sẽ xây dựng Giáo Hội của Thầy trên con và Giáo Hội sẽ không bao giờ lay chuyển…

Thưa anh chị em,

Kể từ giây phút đó, dường như Chúa Giêsu bắt đầu đổi hướng trong việc rao giảng và giáo huấn. Ngài dành nhiều thì giờ cho nhóm Mười Hai, Ngài dạy dỗ, chỉ bảo cho các ông, vì Ngài biết rằng đây là nhóm người mà Chúa Cha đã chọn, đã trao cho Ngài và từ những con người này (những con người còn đầy dẫy những khuyết điểm, yếu đuối…) Ngài xây dựng làm nền tảng cho Hội Thánh. Trải qua bao nhiêu thử thách, không quyền lực nào có thể lay chuyển được Hội Thánh mà Ngài đã xây dựng. Chúng ta chính là Hội Thánh đó, là những con người Ngài xây dựng và luôn gìn giữ.

Trở lại với bài sách Công Vụ (Cv 12, 1 – 11), tôi nghĩ rằng dù trình bày như thế nào, chúng ta cũng không quên trọng tâm của câu chuyện: Thiên Chúa giữ lời Ngài nói qua miệng Chúa Giêsu  “Thầy ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế”. Lời Ngài được thực hiện khi thiên thần giải thoát Phêrô khỏi ngục tù cách lạ lùng (Phêrô được Chúa tuyển chọn và Phêrô được Chúa trao cho quyền tha - buộc tội lỗi, và trong chức năng đó, Chúa gìn giữ Phêrô…). Giáo Hội trải qua 2000 năm với bao nhiêu thử thách nhưng vẫn là Giáo Hội của Đức Kitô, ngày hôm nay có thể mang nhiều sắc thái khác nhau, những vị Giáo Hoàng khác nhau, nhưng vẫn là một Giáo Hội duy nhất, Giáo Hội mà Chúa Giêsu đã thiết lập trên nền tảng Phêrô. Chúng ta thấy Lời Chúa vẫn luôn được thực hiện,

Chương trình của Thiên Chúa rất mầu nhiệm, phong phú và đa dạng. Chúng ta nghĩ rằng với thánh Phêrô, với đoàn tông đồ như thế là đã đủ và từ đó cứ tiếp nối để Giáo Hội trường tồn, nhưng không, bên cạnh đó Chúa đã tuyển chọn Phaolô cách rất đặc biệt: Từ con người hăng hái bắt đạo, Chúa đã biến đổi lòng dạ và làm cho Phaolô trở nên tông đồ nhiệt thành.

Vậy vai trò của Phaolô trong Hội Thánh lúc bấy giờ là gì ? (Đọc trong những đoạn kinh Phụng Vụ để thấy Thiên Chúa nhiệm mầu trong chương trình của Ngài) Phêrô là người tuyên xưng đức tin, trên Phêrô đức tin được xây dựng ; Phaolô là người làm sáng tỏ đức tin, là người đem đức tin đó gieo trồng khắp mọi nơi. Hai khía cạnh đó luôn có Trong Hội Thánh, sứ mạng củng cố đức tin, xây dựng nội bộ và sứ mạng truyền giáo, sứ vụ đến với muôn dân … Ngày hôm nay chẳng những trong lòng Giáo Hội, chẳng những ở Giáo Hội địa phương mà ngay mỗi Giáo Xứ, mỗi cộng đoàn và mỗi người luôn phải sống hai khía cạnh đó: một đàng phải luôn đào sâu đức tin, sống gắn bó với Chúa nhiều hơn, đàng khác chúng ta không chỉ được sống cho mình mà phải biết chia sẻ đức tin cho anh em, càng biết đến với anh em, càng biết chia sẻ đức tin, biết loan báo Tin Mừng thì đức tin chúng ta càng vững chắc. Đó là chương trình của Thiên Chúa trao ban cho mỗi người chúng ta. Có thể chúng ta nói mình yếu đuối, tọi lỗi, nhưng thành thật mà nói, chắc chúng ta không tội lỗi hơn thánh Phaolô, cũng không tội lỗi hơn thánh Phêrô ; còn nếu nói chúng ta yếu đuối thì tôi nghĩ rằng thánh Phaolô và thánh Phêrô còn có lúc yếu đuối hơn chúng ta. Thiên Chúa đã tuyển chọn và làm những việc lạ lùng với những con người tội lỗi, yếu đuối đó. Chúng ta cũng được Chúa tuyển chọn và ban Thánh Thần của Ngài, thế thì tại sao chúng ta lại không đi trên con đường đó và không can đảm nhận lấy trách nhiệm và sứ vụ đó ?

Cử hành trọng thể lễ hai thánh tông đồ Phêrô và Phaolô, chúng ta cám ơn Chúa đã yêu thương và xây dựng Hội Thánh để Ngài luôn hiện diện giữa thế gian. Nhờ có Hội Thánh, chúng ta được tiếp xúc với Thiên Chúa và được dạy dỗ để đi trên con đường của Ngài. Tin vào điều đó nhưng đồng thời cũng tin Chúa trao cho chúng ta (ở trong Hội Thánh) sứ vụ làm chứng cho Ngài, vì Ngài không chỉ muốn cứu độ một nhóm người, nhưng Ngài muốn tình yêu cứu độ của Ngài phải được loan báo cho muôn dân. Chúng ta là những người mà Ngài đang cần đến, là những người mà Ngài tuyển chọn để thi hành sứ mạng đó.

Mừng lễ hai thánh tông đồ, chắc chắn chúng ta thêm niềm tin trong Hội Thánh, thêm niềm tin trong sứ vụ mà Chúa đã trao cho Hội Thánh. Noi theo gương hai Ngài, chúng ta luôn tuyên xưng cách vững chắc “ Ngài là Đức Kitô, là Con Thiên Chúa hằng sống”, Ngài là Đấng đã đến trong thế gian để cứu chuộc nhân loại, Ngài đã xây dựng và đã sai Hội Thánh tiếp nối công việc của Ngài. Hiểu và tin được điều đó, chúng ta đã góp phần xây dựng Hội Thánh trường tồn và lan rộng cho đến tận cùng thế giới.


 

29/6-23: ĐỨC  TIN

Hôm nay chúng ta mừng kính trọng thể lễ thánh tông đồ Phêrô và Phaolô tông đồ, là hai cột: 29/6-23


Hôm nay, chúng ta mừng kính trọng thể lễ thánh tông đồ Phêrô và Phaolô tông đồ, là hai cột trụ chống đỡ cho tòa nhà Giáo hội. Chúng ta cùng nhau dừng lại suy gẫm về một mẫu gương của hai đấng, để noi theo và bắt chước, như lời thánh Phaolô đã xác quyết:

- Anh em hãy bắt chước chúng tôi, như chúng tôi đã bắt chước Đức Kitô.
Nhờ đó, đời sống chúng ta không tầm thường, không tăm tối, nhưng sẽ xứng đáng hơn với tước hiệu người Kitô hữu, người có Đức Kitô trong tâm hồn, người mang Đức Kitô trong cuộc sống.

Mẫu gương chúng ta chia sẻ giờ đây, đó là đức tin của các ngài.

Ngay từ đầu thánh Phêrô đã có một đức tin kiên vững. Thực vậy, trước những dư luận trái ngược nhau, Chúa Giêsu đã hỏi các môn đệ xem họ nghĩ gì về Ngài. Thánh Phêrô đã không ngần ngại trả lời:

- Thầy là Đức Kitô, con Thiên Chúa hằng sống.

Lần khác Chúa Giêsu hứa ban thịt máu mình làm của ăn và của uống nuôi sống linh hồn. Người Do thái lấy làm chướng tai, nên đã   nói:

- Những lời ấy thật là khó nghe làm sao mà chấp nhận được.

Và rồi họ đã bỏ Chúa mà đi. Chúa Giêsu quay sang hỏi các môn đệ:

- Cả các con nữa, các con cũng muốn bỏ đi hay sao?

Thánh Phêrô vẫn với sự hăng say thường lệ đã thưa lên:

- Lạy Thầy, bỏ Thầy chúng con biết theo ai, vì chỉ mình Thầy mới có những lời ban sự sống. Chúng con tin và chúng con biết rằng Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa.
Đức tin của Phêrô được đặt cơ sở trên đá tảng vững chắc. Sau này, trong một bức thư ngài đã viết cho các tín hữu như sau:

- Chúng ta không tin vào những chuyện bịa đặt, nhưng tin vào những bằng chứng cụ thể tai nghe mắt thấy, để nhận biết quyền năng của Đức Kitô.

Thực vậy Phêrô  đã nhìn thấy Đức Kitô biến hình trên đỉnh Tabor, đã nghe những lời xuất phát từ môi miệng Chúa Cha:

- Này là con ta yêu dấu, đẹp lòng ta mọi đàng.

Tự bản chất, Phêrô không phải là một kẻ cứng lòng, nhưng Phêrô đòi hỏi phải có những chứng cớ.

Khi những người đàn bà đạo đức trở về và nói Chúa đã sống lại, phản ứng đầu tiên và tự nhiên của Phêrô là nghi ngờ. Phêrô muốn xem xét sự việc theo quan niệm riêng của mình và muốn tận mắt được nhìn thấy Chúa…

Thánh Phaolô cũng đã nói theo thánh Phêrô để có một đức tin kiên vững và nhiệt thành.

Sau khi bị quật ngã trên đường Đamas và được Chúa soi sáng. Phaolô đã rao khắp các hội đường Do thái để rao giảng và minh chứng Đức Kitô là con Thiên Chúa, khiến những người Do thái phải ngạc nhiên và nói với nhau:

- Ông ấy chẳng phải là kẻ đã bách hại những người kêu cầu tên Giêsu, và đã tới đây, để dẫn độ các tín hữu về cho Thầy cả thượng phẩm đó sao ?

Ngày càng thêm hăng say, Phaolô đã gặp gỡ những người Do thái tại Đamas, và minh chứng cho họ biết Chúa Giêsu chính là đấng thiên sai. Được tiếp nhận ánh sáng tự trời cao, Phaolô đã chiếu tỏa ánh sáng ấy ra chung quanh.

Đức tin, chính là vấn đề  Phaolô không ngừng nói tới, coi đó là điều kiện để được cứu độ và đòi buộc các tín hữu phải thực hiện liên tục. Phaolô bảo: Người công chính sống bởi đức tin. Phaolô đòi hỏi nơi chúng ta một đức tin sống động và trưởng thành, và chính thánh nhân cũng đã nêu gương trước cho chúng ta: Đức tin đã thấm nhiễm vào suốt cả cuộc đời Phaolô và là động cơ thúc đẩy Phaolô hành động.

Cuối cùng cả hai đã hy sinh mạng sống để làm chứng cho niềm tin kiên vững, niềm tin sắt đá của mình. Phêrô đã bị đóng đinh trên ngọn đồi Vatican, còn Phaolô thì bị chém đầu trên đường Ostie.

Giữa những đảo điên của cuộc sống, giữa những quyễn rũ của trần thế, nhờ lời bầu cử của hai thánh Phêrô và Phaolô, chúng ta hãy xin Chúa hãy cũng cố niềm tin nhỏ bé của chúng ta.


 

29/6-24: Anh Là Tảng Đá

Suy Niệm
 

Trong ngày lễ kính thánh Phêrô và thánh Phaolô, chúng ta được mời gọi chiêm ngắm hai khuôn: 29/6-24


Trong ngày lễ kính thánh Phêrô và thánh Phaolô, chúng ta được mời gọi chiêm ngắm hai khuôn mặt, rất khác nhau mà cũng rất giống nhau.

Phêrô, một người đánh cá ít học, đã lập gia đình. Ông theo Thầy Giêsu ngay từ buổi đầu sứ vụ. Còn Phaolô là người có nhiều điều để tự hào, về gia thế, về học thức, về đời sống đạo hạnh. Ông chưa hề gặp mặt Đức Giêsu khi Ngài còn sống.

Nhưng hai ông có nhiều nét tương đồng. Cả hai đều được Đức Giêsu gọi. Phêrô được gọi khi ông đang thả lưới bắt cá nuôi vợ con. Phaolô được gọi khi ông hung hăng tiến vào Đamát. Cả hai đã từ bỏ tất cả để theo Ngài. Tất cả của Phêrô là gia đình và nghề nghiệp. Tất cả của Phaolô là những gì ông cậy dựa vênh vang. Bỏ tất cả là chấp nhận bấp bênh, tay trắng. Cả hai đều đã từng có lần vấp ngã. Vấp ngã bất ngờ sau khi theo Thầy như Phêrô, trong một phút giây quá tự tin vào sức mình. Ngã ngựa bất ngờ và trở nên mù lòa như Phaolô, trong lúc tưởng mình sáng mắt và đi đúng hướng.

Vấp ngã nào cũng đau và in một dấu không phai. Vấp ngã bẻ lái đưa con người đi vào hướng mới.

Phêrô và Phaolô đều yêu Đức Giêsu cách nồng nhiệt, vì họ cảm nhận sâu xa mình được Ngài yêu.

"Này anh Simon, anh có mến Thầy không?

Thưa Thầy có, Thầy biết con yêu mến Thầy." (Ga 21,16)

Cả Phaolô cũng yêu Đấng ông chưa hề chung sống, vì Ngài là "Con Thiên Chúa, Đấng đã yêu mến tôi và hiến mạng vì tôi." (Gl 2, 20). Phaolô đã không ngần ngại khẳng định: Không gì có thể tách được chúng ta ra khỏi Tình Yêu của Đức Kitô (x. Rm 8, 35.39)

Tình yêu Đức Kitô là linh hồn của đời truyền giáo, vì nói cho cùng truyền giáo chính là giúp người khác nhận ra và yêu mến Đấng đã yêu tôi và yêu cả nhân loại.

Cả hai vị tông đồ đều hăng say rao giảng, bất chấp muôn vàn nguy hiểm khổ đau. Phêrô đã từng chịu đòn vọt ngục tù (x. Cv 5,40). Còn nỗi đau của Phaolô thì không sao kể xiết (x. 2C 11, 23-28). "Tôi mang trên mình tôi những thương tích của Đức Giêsu" (Gl 6, 1-7)

Cả hai vị đã chết như Thầy. Phêrô bị dẫn đến nơi ông chẳng muốn (x. Ga 21, 18). Phaolô đã chiến đấu anh dũng cho đến cùng, và đã đổ máu ra làm lễ tế (x. 2Tm 4, 6).

Hội Thánh hôm nay vẫn cần những Phêrô và Phaolô mới, dám bỏ, dám theo và dám yêu dám sống và dám chết cho Đức Kitô và Tin Mừng. Hội Thánh vẫn cần những chiếc cột và những tảng đá.

Gợi Ý Chia Sẻ

Bạn biết gì về thánh Phêrô và thánh Phaolô? Có nét nào nơi hai vị thánh làm bạn ưa thích?

Bạn nghĩ gì về Đức Thánh Cha? Bạn biết gì về những hoạt động của Ngài cho giới trẻ?

Cầu Nguyện

Lạy Chúa, chúng con không hiểu tại sao Chúa chọn Simon, một người đánh cá ít học và đã lập gia đình, để làm vị Giáo Hoàng đầu tiên của Giáo Hội.

Chúa xây dựng Giáo Hội trên một tảng đá mong manh, để ai nấy ngất ngây trước quyền năng của Chúa.

Hôm nay Chúa cũng gọi chúng con theo Chúa, sống cho Chúa, đặt Chúa lên trên mọi sự: gia đình, sự nghiệp, người yêu.

Chúng con chẳng thể nào từ chối viện cớ mình kém đức kém tài.

Chúa đưa chúng con đi xa hơn, đến những nơi bất ngờ, vì Chúa cần chúng con ở đó.

Xin cho chúng con một chút liều lĩnh của Simon, bỏ mái nhà êm ấm để lên đường, hạnh phúc vì biết mình đang đi sau Chúa. Amen.


 

29/6-25: ÔNG PHÊRÔ TUYÊN XƯNG ĐỨC GIÊSU


LÀ CON THIÊN CHÚA - JKN
Câu hỏi gợi ý:
 

Nếu Đức Giêsu hỏi bạn: «Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai?», thì bạn trả lời theo những: 29/6-25


1. Nếu Đức Giêsu hỏi bạn: «Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai?», thì bạn trả lời theo những gì bạn chứng nghiệm về Ngài, hay theo sự hiểu biết học được từ người khác?

2. Là Kitô hữu, bạn đã có những cảm nghiệm thực tế và cụ thể về Đức Giêsu chưa, hay chỉ có một mớ những hiểu biết lý thuyết về Ngài, dù rất uyên bác sâu rộng?
3. Bạn có muốn thật sự cảm nghiệm về Ngài không? Bạn đã từng nỗ lực làm điều này chưa? Theo bạn, phải làm sao để cảm nghiệm được Ngài?

Suy tư gợi ý:

1. «Người ta nói…», nhưng «còn anh em…» thì sao?

Khi trình bày về Thiên Chúa, về Đức Giêsu, chúng ta thường trình bày một cách lý thuyết, dựa trên những bài bản có sẵn, do người khác soạn sẵn, suy nghĩ sẵn, chúng ta chỉ việc nói theo đó. Điều đó cũng phần nào hợp lý, vì có dựa trên những bài bản có sẵn đó, thì những người nói về Thiên Chúa hay Đức Giêsu mới có sự đồng nhất với nhau. Nếu mỗi người đều nói theo quan niệm hay suy tư riêng của mình, thì sẽ thành ra mỗi người nói một kiểu, người nghe biết tin theo ai. Nhưng lý thuyết vẫn luôn luôn là lý thuyết, là cái gì ở ngoài mình, và được áp đặt xuống cho mình. Xét cho cùng đó chỉ là cái «người ta nói», còn ta chỉ là người nói theo thôi. Trong bài Tin Mừng hôm nay, ta thấy Đức Giêsu hỏi các môn đệ hai câu khác hẳn nhau: «Người ta nói Con Người là ai?» và «còn anh em, anh em bảo Thầy là ai?» Rõ ràng trong hai câu hỏi, Đức Giêsu coi câu sau quan trọng hơn câu trước rất nhiều. Ngài chỉ dựa vào câu trả lời cho câu hỏi sau để xem ai là người đáng Ngài tin cậy nhất.

2. Điều quan trọng là cảm nghiệm thực tế về Đức Giêsu

Điều quan trọng không phải là những điều chúng ta nghe biết về Thiên Chúa hay Đức Giêsu. Đó là những điều chúng ta học được trong sách giáo lý, hay đọc được từ những tác phẩm thần học… Đó toàn là những điều «người ta nói» về Ngài, chứ không phải là những điều chính bản thân ta cảm nghiệm được về Ngài. Chính những cảm nghiệm đích thực về Ngài mới có khả năng làm ta yêu mến Ngài và dám dấn thân sống chết cho Ngài. Thật vậy, làm sao có thể yêu mến và dấn thân cho một người mà mình chỉ biết trên lý thuyết, chứ chưa từng gặp mặt, chưa từng có một quan hệ ngoại giao hay tình cảm nào? Nhưng làm sao có được những cảm nghiệm về Thiên Chúa hay Đức Giêsu? làm sao có được quan hệ tình cảm riêng tư với Ngài, khi mà Ngài vô hình, ta chẳng hề thấy hay gặp bao giờ?

3. Làm sao cảm nghiệm được Ngài?

Vấn đề rất quan trọng trong đời sống Kitô hữu đích thực là phải cảm nghiệm được sự hiện diện và hoạt động của Ngài trong đời sống của ta, và có được một quan hệ riêng tư và tình cảm với Ngài. Nếu không có được cảm nghiệm và quan hệ này, Thiên Chúa hay Đức Giêsu vẫn chỉ là một ý niệm trong đầu óc ta không hơn không kém. Ý niệm ấy chẳng khác gì ý niệm về ánh sáng hay mầu sắc của một người mù bẩm sinh, sở dĩ có được là do nghe người khác nói.

a) Cần thường xuyên ý thức Ngài hiện diện trong bản thân ta

Cảm nghiệm về Thiên Chúa hay Đức Giêsu phải khởi đi từ niềm tin này, là tin Ngài thật sự hiện diện trong tâm hồn ta. Đây là sự thật làm nền tảng cho đời sống tâm linh của ta, và là một tiêu chuẩn để biết mình có đức tin Kitô hữu hay không. Thật vậy, thánh Phaolô nói: «Anh em hãy tự xét xem mình có còn sống trong đức tin hay không. Hãy tự kiểm điểm xem: anh em chẳng nhận thấy có Đức Giêsu Kitô ở trong anh em sao?» (2Cr 13,5). Chúng ta không có may mắn gặp hay cảm nghiệm được Ngài bằng xương bằng thịt cách hữu hình như các tông đồ xưa. Tuy nhiên, dẫu có may mắn đó, chưa chắc ta đã «gặp» được Ngài thật sự. Biết bao người sống vào thời Đức Giêsu - chẳng hạn những người Pharisiêu hay các kinh sư Do-thái - đã từng thấy Ngài, nói chuyện với Ngài, nhưng đâu có «gặp» được Ngài, đâu có quan hệ riêng tư và tình cảm với Ngài! Vì sao? Vì «hữu duyên thiên lý năng tương ngộ, vô duyên đối diện bất tương phùng» (có duyên với nhau thì dù xa cách ngàn dặm cũng vẫn có thể gặp nhau, còn không có duyên với nhau thì có mặt chạm mặt cũng không thể gặp nhau). Hễ có duyên với Ngài thì sẽ khao khát muốn gặp Ngài và sẽ đi tìm Ngài. Mà hễ đã thật sự đi tìm thì ắt nhiên sẽ gặp, vì «ai tìm sẽ thấy» (Mt 7,8).

Sự hiện diện của Ngài trong bản thân ta đã được chính Ngài xác nhận: «Thầy sẽ ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế» (Mt 28,20). Thánh Phaolô cũng nói: «Chỉ có Đức Kitô là tất cả và ở trong mọi người» (Cl 3,11); «Thiên Chúa đã sai Thần Khí của Con mình đến ngự trong lòng anh em» (Gl 4,6).

Vấn đề hết sức quan trọng là ta phải thường xuyên ý thức sự hiện diện ấy, đồng thời tin tưởng rằng Ngài là nguồn sức mạnh, nguồn yêu thương; và với Ngài, ta có thể làm được tất cả mọi sự (x. Pl 4,13).

b) Cần tạo điều kiện để Ngài tự do hoạt động trong ta

Điều quan trọng thứ hai để Ngài có thể hoạt động hữu hiệu trong ta là phải để cho Ngài được tự do hoạt động. Điều làm cho Ngài không thể tự do hoạt động trong ta chính là ý riêng của ta và sự thiếu cộng tác của ta. Nếu ta coi nhẹ ý riêng mình để lúc nào cũng sẵn sàng cộng tác với Ngài thực hiện những gì Ngài muốn làm trong ta, thì ta sẽ thấy Ngài dần dần thực hiện được trong ta những thay đổi lớn lao. Chính Đức Giêsu cũng coi nhẹ ý riêng của Ngài, và luôn cộng tác với thánh ý Chúa Cha: «Tôi tự trời mà xuống, không phải để làm theo ý tôi, nhưng để làm theo ý Đấng đã sai tôi» (Ga 6,38); «Tôi không tìm cách làm theo ý riêng tôi, nhưng theo ý Đấng đã sai tôi» (Ga 5,30); «Lương thực của Thầy là thi hành ý muốn của Đấng đã sai Thầy» (Ga 4,34). - Nhưng làm sao biết được ý của Ngài thế nào?

Ý của Ngài được biểu lộ:

(1) trước hết và đặc biệt trong lời của Ngài, được ghi chép trong Kinh Thánh,
(2) trong luật của Ngài (được tóm lại trong hai chữ yêu thương),
(3) trong tiếng lương tâm của ta,
(4) trong các bổn phận và trách nhiệm của ta đối với Thiên Chúa, bản thân, tha nhân, gia đình, xã hội và Giáo Hội,
(5) trong các biến cố khách quan - tức xảy ra độc lập với ý muốn của ta - trong đời sống. Ngài dùng những biến cố này để thánh hóa ta.

Chỉ cần thực hiện được hai điều quan trọng trên thì tự nhiên giữa ta với Đức Giêsu càng ngày càng có một quan hệ mật thiết hơn. Dần dần, ta nhận ra Ngài đúng là một nhân vật, tuy vô hình nhưng rất «cụ thể», có thể cảm nghiệm được cách sống động và rõ rệt. Ngài đóng một vai trò quan trọng trong đời sống ta, ảnh hưởng và biến đổi đời sống ta một cách mạnh mẽ, hữu hiệu.

4. Người có đức tin sống động là nền tảng của Giáo Hội

Có cảm nghiệm được Ngài, ta mới có thể trả lời đúng ý Ngài câu hỏi: «Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai?» Ngài muốn ta trả lời dựa trên chính kinh nghiệm của ta chứ không phải dựa trên những bài bản, trên những gì ta chỉ được nghe và ép lòng mình phải tin. Chỉ lúc đó, đức tin của ta mới trở thành đức tin đích thực, đến từ cảm nghiệm thực tế, chứ không chỉ đến từ một chấp nhận xuông của lý trí với tác động của ý chí. Chỉ đức tin ấy mới đủ sức mạnh để thúc đẩy ta thật sự dấn thân cho Thiên Chúa và tha nhân. Ta phải làm sao nói được như những người Samari xưa: «Không phải vì lời chị kể mà chúng tôi tin, mà vì chính chúng tôi đã đích thân nghe Người nói và nhận ra rằng Người thật là Đấng cứu độ trần gian» (Ga 4,41).

Chỉ lúc đó, Đức Giêsu mới có thể nói với ta như đã nói với Phêrô: «Anh là Phêrô, nghĩa là Tảng Đá, trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi». Theo ngữ cảnh của bài Tin Mừng này, Đức Giêsu nói với Phêrô câu ấy vì ông là người có đức tin mạnh mẽ, chứ không phải vì ông là trưởng nhóm các tông đồ. Thật vậy, trong thực tế từ xưa đến nay, Giáo Hội được xây dựng và tồn tại trên những đá tảng vững chắc là những người có đức tin sống động, dù họ là giáo dân, tu sĩ hay giáo sĩ. Chứ Giáo Hội không được xây trên những người đạt được những quyền cao chức trọng trong Giáo Hội nhưng lại không có đủ đức tin và tình yêu, không có một tương quan thật sự với Đức Giêsu. Lịch sử Giáo Hội đã chứng tỏ những người này chẳng những không làm vững chắc mà còn làm lung lay tòa nhà Giáo Hội nữa.

Ước gì mỗi người chúng ta có thể nói tương tự như Phêrô, nghĩa là nói bằng chính cảm nghiệm của mình, chứ không phải lập lại một cách máy móc lời của một người khác: «Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống». Đức Giêsu mong muốn chúng ta nói được như thế!

Cầu nguyện

Lạy Cha, đức tin và tình yêu đích thực không hề đến từ những hiểu biết có tính lý thuyết, mà đến từ khát vọng muốn cảm nghiệm được Cha và lòng quyết tâm đi tìm cảm nghiệm ấy. Xin đừng để con thỏa mãn và dừng lại nơi những hiểu biết về Cha, mà quyết tâm tìm cách cảm nghiệm Cha. Đừng để con giống như kẻ «ăn bã mía», thấy người ta ăn mía khen ngọt, mình cũng nhai lại những bã ấy và bắt chước họ khen ngọt. Xin cho con cảm nếm được Cha, thưởng thức được sự ngọt ngào của tình yêu Cha dành cho con.


 

29/6-26: Hai cột trụ của Hội Thánh - Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi

Khi đọc lại lịch sử của hai vị thánh Phêrô và Phaolô, nhân loại không khỏi ngạc nhiên vì hai con: 29/6-26


Khi đọc lại lịch sử của hai vị thánh Phêrô và Phaolô, nhân loại không khỏi ngạc nhiên vì hai con người này hai tính khí khác nhau, hai nền giáo dục khác nhau, nhưng đã bổ túc cho nhau khiến hai Đấng trở nên cột trụ vững chắc cho Giáo Hội của Chúa Kitô ở trần thế. Thánh Phêrô,vị tông đồ trưởng đã bộc trực thưa với Chúa Giêsu ba lần “ Ngài yêu mến Chúa”, nhưng sau đó lại chối Chúa ba lần. Còn thánh Phaolô, một con người bắt bớ Giáo Hội của Chúa, đã bị Chúa làm cho tan nát trên đường đi Đamas.

HAI KHUÔN MẶT. MỘT NIỀM TIN:

Tin mừng Matthêu thuật lại, các môn đệ sau khi theo Chúa một thời gian khá dài,có nhiều dư luận nói về Chúa Giêsu, người thì bảo là Êlia, người bảo là Giêrêmia hay là một ngôn sứ nào đó,còn các môn đồ nghĩ sao? Chúa Giêsu muốn biết tấm lòng và sự hiểu biết của các tông đồ đối với Chúa Giêsu như thế nào và đây là điều Ngài muốn biết. Ông Simon Phêrô vẫn nhanh nhảu, nóng nảy, bộc trực đã thưa với Chúa Giêsu:” Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống”( Mt 16, 16 ). Chúa Giêsu đã rất hài lòng về câu trả lời của Phêrô và đây là câu trả lời Chúa Giêsu muốn biết. Đức Giêsu nói với Simon Phêrô:” Này anh Simon, con ông Gio-na, anh thật là người có phúc, vì không phải phàm nhân mặc khải cho anh điều ấy, nhưng là Cha của Thầy, Đấng ngự trên trời”( Mt 16,17 ).Đức tin của Phêrô đã giúp Ông thốt lên và tuyên xưng Đức Giêsu là Con Thiên Chúa. Chính nhờ đức tin, sự xác tín và sự tuyên xưng của Simon Phêrô, Chúa Giêsu đã đat thánh Phêrô làm đầu Hội Thánh ( Mt 16, 18 ).

Còn Phaolô, sau khi bị Chúa đánh cho ngã ngựa trên đường Đamas đang khi thực hiện ý đồ triệt hạ các môn đệ và Giáo Hội của Chúa, Phaolô đã nghe tiếng Chúa nói:” Sa-un, Sa-un, tại sao ngươi bắt bớ Ta ? ". Ông nói:” Thưa Ngài, Ngài là ai ?". Người đáp:”Ta là Giêsu mà ngươi đang bắt bớ.”(Cv 9, 4-5 ). Sao-lô tức Sa-un đã được Khanania đặt tay chữa lành và làm cho Sa-un được sáng mắt do quyền năng của Chúa và Ông đã lại thấy được, Ông đứng dậy vàlãnh nhận phép rửa( Cv 9,17-19 ).Từ hôm đó Ông đã mạnh dạn rao giảng về Chúa khiến nhiều người Do Thái ngạc nhiên tự hỏi:” Ông này chẳng phải là người ở Giêrusalem vẫn tiêu diệt những ai kêu cầu danh Giêsu sao ? Chẳng phải ông đã đến đây với mục đích bắt trói họ giải về cho các thượng tế sao?”( Cv 9, 21 ). Phaolô đã làm bẽ mặt những người Do Thái ở Đamát, khi minh chứng rằng Đức Giêsu là Đấng Mêsia( Cv 9, 22). Thánh Phaolô đã được các tông đồ tin tưởng nhờ đó Ông và các tông đồ đi lại hoạt động tại Giêrusalem. Ông mạnh dạn rao giảng nhân danh Chúa ( Cv 9, 28 ). Thánh Phêrô và thánh Phaolô mỗi người một cách suy nghĩ, mỗi người một tính khí nhưng dưới ánh sáng của Tin Mừng, dưới sự tác động của Chúa Thánh Thần, hai Ngài đã trở thành hai cột trụ vững chắc cho Giáo Hội nhờ đức tin của các Ngài được Chúa củng cố.

THÁNH PHÊRÔ VÀ THÁNH PHAOLÔ NÊU GƯƠNG TÔNG ĐỒ CHO TA:

Dù thánh Phêrô đã chối Chúa tới ba lần, dù trước đó Ngài đã cương quyết theo Thầy tới cùng, nhưng khi nghe Chúa loan báo cuộc thương khó Ngài phải chịu để cứu độ nhân loại, Phêrô không thể hiểu được Thầy mình, Ông đã cản ngăn đường Chúa đi,Chúa đã khiển trách Phêrô rất nặng lời, cho ông là Satan, ma quỉ. Nhưng Phêrô đã nhận ra con người của Chúa sau ba lần chối Thầy. Phêrô cũng chỉ nhận ra tình yêu và lòng xót thương của Chúa sau những giọt nước mắt tang thương, ăn năn, sám hối. CònPhaolô chỉ nhận ra Chúa khi Ông hăm hở, lấc cấc, hăng say truy lùng, bắt bớ các môn đệ của Chúa. Ông chỉ hiểu được lòng tha thứ và tình thương của Chúakhi Ông ngã ngựa và đôi mắt bị mù lòa trên đường Đamas. Hai thánh nhân đều ý thức việc quay trở lại với Chúa, đều cảm nghiệm tình thương xót hải hà của Chúa. Hai Ngài đã rất thực, sống hoàn toàn như mình nghĩ và cũng hồi sinh mau chóng khi hiểu được con người đầy xót thương của Chúa Giêsu. Nên, dù hai tính khí, hai nền giáo dục, hai khả năng, hai cách làm việc khác nhau, thánh Phêrô và thánh Phaolô đã bổ túc cho nhau để xây dựng Giáo Hội của Chúa vững chắc ở trần gian này. Hai vị thánh tông đồ đã nêu gương sáng cho nhân loại, cho Hội Thánh, cho từng người về lòng nhiệt thành, sự can đảm và sự say mê truyền giáo của các Ngài. Hai Ngài còn cho nhân loại thấy dù yếu hèn, dù tội lỗi, dù kém tài, Chúa vẫn luôn dùng tới nếu con người biết tin, cậy và quay trở về với Chúa. Mỗi một con người đều có chỗ đứng trong trái tim Chúa. Chúa thương yêu con người không chung chung, có lệ, nhưng Chúa gọi tên từng người một vì “Ta biết chiên và chiên biết Ta “.Chúa dùng mọi người, dùng mỗi người với tất cả những gì đang có, những khuyết điểm, những hạn hẹp của con người, Chúa xử dụng tất cả để làm phong phú, đa dạng và làm nổi bật quyền năng, uy dũng của Ngài. Lễ hai thánh Phêrô và Phaolô là lễ kính mầu nhiệm Hội Thánh đặt nền tảng trên các Ngài. “Lạy Chúa, Chúa đã ban cho chúng con được vui mừng hoan hỷ nhân ngày đại lễ kính hai thánh tông đồ Phêrô và Phaolô. Chính nhờ các Ngài, Hội Thánh đã bắt đầu đón nhận đức tin, xin cho Hội Thánh cũng luôn trng thành tuân giữ lời các Ngài giảng dậy” ( Lời nguyện nhập lễ, lễ hai thánh Phêrô và Phaolô, tông đồ ).

GỢI Ý CHIA SẺ:

1. Bạn hiểu gì về hai thánh Phêrô và thánh Phaolô ?

2. Tại sao các tông đồ lại hy sinh cả mạng sống để làm chứng cho Chúa phục sinh ?


 

29/6-27: THẦY LÀ ĐẤNG KITÔ, CON THIÊN CHÚA HẰNG SỐNG

 - Lm. Phêrô Trần Thanh Sơn
 

Nếu bình tâm nhìn lại, mỗi người chúng ta sẽ nhận ra rằng các việc làm hàng ngày của chúng ta: 29/6-27


Nếu bình tâm nhìn lại, mỗi người chúng ta sẽ nhận ra rằng các việc làm hàng ngày của chúng ta đều bị chi phối bởi một lý tưởng, một xác tín nào đó của bản thân. Niềm xác tín này có thể là minh nhiên trong ý thức ngay khi đang làm, hoặc là cách mặc nhiên trong tiềm thức của chúng ta. Vì những lý tưởng và xác tín này, chúng ta có thể chấp nhận mọi khó khăn, nguy hiểm để đạt tới mục đích của mình.

Chính vì thấy rõ sự ảnh hưởng của tư tưởng trên hành động của mỗi người mà trong bài Tin mừng hôm nay, Đức Kitô sau khi đã rao giảng, làm các phép lạ, Ngài cũng muốn các tông đồ xác định lại lý tưởng, niềm tin của các ông nơi Ngài: “Phần các con, các con bảo Thầy là ai?” (Mt 16, 15). Và chỉ khi các tông đồ tuyên xưng được niềm tin của họ vào con người thật của Ngài, Ngài mới có thể mạc khải cho các ông biết về con đường thương khó mà Ngài sắp trải qua.

Đức Giêsu muốn các tông đồ xác định lại niềm tin của họ vào Ngài, bởi vì trước mắt của dân chúng thời bấy giờ, Đức Giêsu tuy là một con người đặc biệt, nhưng cũng chỉ là một vị ngôn sứ, cùng lắm là một vị đại ngôn sứ như Giêrêmia, Êlia hoặc Gioan Tẩy Giả, hay nói cho cùng, Ngài cũng chỉ là một con người đến dọn đường cho Đấng Messia mà thôi (x. Mt 16, 13-14). Trong bối cảnh đó, chúng ta mới thấy câu trả lời: “Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống” (Mt 16, 15) của Nhóm Mười Hai mà thánh Phêrô là đại diện là một câu trả lời mang tính đột phá, hay chính xác hơn, câu trả lời này không phải của Phêrô hay các tông đồ, nhưng chính là do Thiên Chúa đã mặc khải cho các ông. Chính câu trả lời này sẽ xoay chuyển cuộc đời của các ông sang một hướng mới.

Khi tuyên xưng: “Thầy là Đức Kitô”, nghĩa là các ông chấp nhận chàng thanh niên thợ mộc miền Nazareth, con ông Giuse và bà Maria, có tên là Giêsu, đang sống giữa các ông, thực sự là Đấng Messia mà Thiên Chúa đã hứa ban (x. St 3, 15; Is 7, 14; 2 Sm 7, 13-14). Hơn nữa, trong một đoạn Tin mừng tương đương theo thánh Gioan, thánh Phêrô còn xác quyết: “Bỏ Thầy, con đi với ai? Ngài có những lời đem đến sự sống đời đời.” (Ga 6, 68). Như thế, không những tin Đức Giêsu là Đấng Messia mà Thiên Chúa đã hứa ban, các tông đồ còn tin Đức Giêsu chính thật là Thiên Chúa. Lời tuyên xưng này đòi các tông đồ, không những phải tôn kính Đức Giêsu như một vị Thầy, mà còn phải tôn thờ Ngài như một vị Thiên Chúa. Không chỉ tuyên xưng ngoài miệng, các tông đồ, nhất là thánh Phêrô và Phaolô mà chúng ta mừng kính hôm nay đã thực sự sống niềm tin ấy. Các ngài sẵn sàng chấp nhận mọi đau khổ, bắt bớ, giam cầm, đòn vọt để rao giảng và làm chứng về sự chết và sống lại của Đức Kitô, vị Thầy mà họ đã chọn làm Minh Chủ cho đời mình. Sách Công vụ Tông đồ thuật lại: “Trong những ngày ấy, vua Hêrôđê làm khổ mấy người trong Hội Thánh. Ông đã dùng gươm giết Giacôbê, anh của Gioan. Ông thấy việc ấy đẹp lòng người Do thái nên cho bắt cả Phêrô” (Cv 12, 1-3).

Cũng chính niềm tin ấy đã biến đổi Saolô, một kẻ hăng say bắt bớ các tín hữu ngay từ thuở đầu, thành một thánh Phaolô, tông đồ nhiệt thành của dân ngoại. Sau biến cố bị quật ngã trên đường Đamát (x. Cv 9, 19), Thánh nhân sẵn sàng bỏ tất cả để được chiếm hữu Đức Kitô làm Cứu Chúa cuộc đời mình,ngài nói với tín hữu thành Philip: “ Tôi coi mọi sự hết thảy là thua lỗ bất lợi cả, vì cái lợi tuyệt vời là được biết Đức Kitô Giêsu, Chúa tôi. Vì Ngài, tôi đành thua lỗ mọi sự và coi là phân bón cả để lợi được Đức Kitô” (Pl 3, 8). Chính niềm tin vào Đức Kitô đã giúp thánh Phaolô kiên vững trên bước đường truyền giáo cho dù có gặp phải gian truân, hiểu lầm, tù đày cùng với các hiểm nguy rình rập khắp nơi và các thiệt thòi về thể xác cũng như tinh thần (x. 2 Cr 11, 23-28; 4, 8-11). Do đó, đến cuối cuộc đời, ngài đã thanh thản, bình an, không phải hối tiếc vì đã tin vào Đức Kitô, Con Thiên Chúa. Chúng ta có thể dễ dàng nhận ra sự tự hào đó của thánh nhân qua lời tâm sự của ngài với người môn đệ thân tín Timôthê: “Con thân mến, phần cha, cha đã già yếu, giờ ra đi của cha đã gần rồi. Cha đã chiến đấu trong trận chiến chính nghĩa, đã chạy đến cùng đường và đã giữ vững đức tin. Từ đây triều thiên công chính đã dành cho cha. Và trong ngày đó, Chúa là Đấng phán xét chí công sẽ trao lại cho cha mũ triều ấy.”(2 Tm 4, 6-8).

Như thế, chúng ta thấy lời tuyên xưng của thánh Phêrô có một ý nghĩa đặc biệt. Nó không chỉ là một lời nói nơi cửa miệng mà là một xác tín sâu thẳm từ bên trong, hướng dẫn toàn bộ đời sống của các tông đồ. Đồng thời, chính niềm tin chung vào Đức Kitô đã nối kết hai vị tông đồ mà chúng ta mừng kính hôm nay: thánh Phêrô, một ngư phủ thất học và thánh Phaolô, một học giả uyên thâm trở nên một. Chính nhờ xây dựng đời mình trên nền tảng của Đức Kitô mà đến lượt mình, hai vị đã trở nên cột trụ vững chắc, để xây dựng nên toà nhà Giáo Hội, và là nền tảng đức tin cho từng người chúng ta hôm nay (x. Lời Tiền tụng lễ thánh Phêrô - Phaolô).

“Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống” đã là câu trả lời của các tông đồ, và các ngài đã sống trọn vẹn niềm tin ấy. Còn tôi và quý ông bà anh chị em, đứng trước câu hỏi của Đức Kitô: “Phần các con, các con bảo Thầy là ai?” Chúng ta trả lời thế nào? Đối với chúng ta, phải chăng, Đức Kitô chỉ là một con người của quá khứ, của lịch sử để chúng ta tưởng nhớ như các anh hùng dân tộc; hay khá hơn, như người Do thái, Ngài là một trong các vị ngôn sứ để chúng ta tôn kính? Còn nếu như chúng ta đồng ý với lời tuyên xưng của thánh Phêrô trong bài Tin mừng hôm nay: “Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống”, chúng ta cũng hãy can đảm sống niềm tin đó như các tông đồ đã sống khi xưa.

Các tông đồ đã phải trả giá cho lời tuyên xưng niềm tin của mình vào Đức Kitô bằng xiềng xích, đòn vọt, tù tội và cả mạng sống của các ngài. Do đó, để sống niềm tin của mình, chúng ta cũng phải sẵn sàng hy sinh thời giờ, sức khỏe, kể cả những thiệt thòi về vật chất để đến tôn thờ và kết hợp với Đức Kitô trong các giờ Chầu Thánh Thể và nhất là Thánh Lễ.

Đồng thời, nếu thật sự tất cả chúng ta cùng tuyên xưng và sống cùng một niềm tin vào Đức Kitô, thì tôi chắc chắn rằng trong từng gia đình, từng khu xóm và cả giáo xứ chúng ta sẽ không còn cảnh gây gỗ, kiện cáo, chia rẽ, hận thù, bởi vì “Đức Kitô hôm qua, hôm nay và mãi mãi vẫn là một” (Dt 13, 8). Đức Kitô đã là một thì không thể có chia rẽ giữa những người cùng chung một niềm tin vào Ngài được. Nếu không tất cả lời tuyên xưng của chúng ta chỉ là giả dối.

Tuy nhiên, để sống được điều này, không phải chỉ bằng một lời nói, hay một quyết tâm là đủ, nhưng đó là một chọn lựa, một cố gắng liên lỷ, trường kỳ trong từng phút giây của cuộc sống. Do đó, chúng ta rất cần sự nâng đỡ của ơn Chúa. Ước gì trong thánh lễ hôm nay, không người nào trong chúng ta bỏ lỡ cơ hội được hiệp nhất với Đức Kitô trong phần hiệp lễ, để nhờ Ngài nâng đỡ, chúng ta có thể sống trọn vẹn niềm tin mà từng người chúng ta đã tuyên xưng hôm nay. Nhờ đó, đến ngày trở về với Chúa, từng người chúng ta cũng được bình an để có thể nói như thánh Phaolô hôm nay: “Cha đã chiến đấu trong trận chiến chính nghĩa, đã chạy đến cùng đường và giữ vững đức tin. Từ đây, triều thiên công chính đã dành cho cha”. Amen.


 

29/6-28: Lòng tin yêu son sắt với Giáo hội – Gier Nguyễn Văn Nội

Chúa nhật 13 Thường niên năm nay trùng với ngày lễ kính trọng thể Thánh Phêrô và Phaolô: 29/6-28


Chúa nhật 13 Thường niên năm nay trùng với ngày lễ kính trọng thể Thánh Phêrô và Phaolô Tông Đồ là hai “cột trụ” của Hội Thánh. Trước hết chúng ta hãy dâng lên Thiên Chúa lời cảm tạ sâu sắc vì Thiên Chúa đã dùng hai thánh Phêrô và Phaolô để xây dựng Hội Thánh và rao giảng Tin Mừng cho dân ngoại. Chúng ta cũng hãy thể hiện một lòng tin yêu son sắt với Hội Thánh, với các đấng kế vị Thánh Phêrô và các Tông Đồ: đó chính là sứ điệp của Lời Chúa hôm nay.

ĐÓN NHẬN & SỐNG SỨ ĐIỆP LỜI CHÚA

1. Phêrô là Tảng Đá: Bốn sách Phúc âm, nhất là Phúc âm Máccô cho chúng ta một chân dung rất nổi bật của Phêrô: chân chất, mộc mạc, bộc trực, nhiệt thành, có đôi lúc hồ đồ và hợm mình nhưng bao giờ cũng hết tình hết nghĩa với Thầy Giêsu. Không phải mọi lời nói, thái độ, cử chỉ và hành động của Phêrô đều đẹp lòng Thầy. Chúng ta làm sao quên được việc Phêrô đã dám can ngăn Thầy đừng chọn con đường thập giá và việc Phêrô chối đi chối lại ba lần mối liên hệ thầy trò với Đức Giêsu, khi bị người tớ gái vị thượng tế tra hỏi, dù rằng trước đó không lâu Phêrô đã lớn tiếng cam kết sẽ sống chết với Thầy! Nhưng tất cả mọi lời nói, thái độ, cử chỉ và hành động của Phêrô đều chân thực, không giả tạo, không hình thức, mầu mè. Và khi đã biết lỗi của mình rồi thì Phêrô thành tâm hoán cải và thay đổi cách tuyệt vời! Có lẽ Chúa Giêsu yêu và chọn Phêrô làm Tông đồ Trưởng, làm Tảng Đá - để Người xây dựng Cộng đoàn của Người là Hội Thánh - cũng vì thế! Nhưng thực ra ơn gọi của Phêrô vẫn là một điều bí nhiệm trong chương trình huyền nhiệm của Thiên Chúa. Vì yêu Thầy hết lòng hết sức và luôn mong muốn được giống như Thầy, nên sau này Phêrô đã “được” chịu nhiều cực hình, tù tội và cuối cùng được đóng đinh thập giá tại Roma. Ngôi Đền thờ nguy nga nổi tiếng mang tên Người đã được xây dựng trên chính nơi Người đã được mai táng! Đó là Đền Thờ Thánh Phêrô trong khuôn viên quốc gia nhỏ bé Vatican, ở Roma ngày nay. Đền thờ này là biểu tượng của sống động của Hội Thánh Công giáo La mã trong thế giới này!

2. Phaolô là Tông đồ dân ngoại. Nhờ Sách Tông đồ Công vụ và các Thư của Thánh Phaolô chúng ta biết khá đầy đủ về con người đặc biệt này. So với Phêrô thì Phaolô là một mẫu người hoàn toàn khác: xuất thân từ gia đình quí tộc, thông thái giỏi giang không ai sánh bằng. Hơn nữa Phaolô cũng hết sức nhiệt thành như Phêrô. Phaolô không được Chúa Giêsu gọi làm môn đệ khi Người sống ở Galilê, Giuđêa nhưng lại được Chúa gọi trên đường Đamát, khi Phaolô đang hăng say thực hiện việc lùng bắt những người theo đạo mới là các môn đệ Đức Giêsu Kitô. Biến cố ngã ngựa và cảnh mù lòa chính là bước ngoặt lịch sử trong cuộc đời và sự nghiệp đi lên của Phaolô. Có thể nói Phaolô đã thực hiện một cuộc khám phá tầy trời trong những ngày tiếp theo những sự kiện ấy. Và một khi đã nhận ra chân lý rồi thì Phaolô sống chết với Đấng đã quật ngã và chiếu sáng tâm hồn và điều chỉnh hành động sai lạc của mình. Chúng ta không thể kể hết những gì mà Phaolô đã làm cho Hội Thánh: bao chuyến truyền giáo khó khăn, bao thử thách hiểm nguy, bao lao động cực nhọc, bao đầu tư suy tư và biên soạn. Các nhà chú giải Thánh Kinh không hề quá lời khi đề cập đến nền thần học của Phaolô!

3. Mừng lễ Thánh Phêrô và Phaolô Tông đồ, chúng ta được mời gọi thể hiện lòng tin yêu son sắt đối với Hội Thánh. Đó là sứ điệp của Lời Chúa hôm nay. Chúng ta thể hiện lòng tin yêu son sắt của chúng ta bằng hai cách cụ thể sau đây:
a) Hiệp thông sâu sắc với Hội Thánh không chỉ trong niềm tin, niềm trông cậy vào Thiên Chúa và Chúa Giêsu Kitô Con Một Thiên Chúa xuống thế làm người, mà còn trong thực hành các giáo huấn, các hướng dẫn của Hội Thánh trong đời sống Đức Tin và Luân Lý. Ơn bất khả ngộ mà Thiên Chúa ban cho Thánh Phêrô Tông đồ Trưởng và các Đấng kế vị Ngài bảo đảm cho chúng ta chân lý hằng sống trong hai lãnh vực quan trọng ấy. Nếu là người con thảo một lòng sắt son với Hội Thánh thì chúng ta không chỉ thể hiện bằng tình cảm và lòng mộ mến vâng phục đơn thuần mà chúng ta còn phải thể hiện bằng một đời sống gắn bó với giáo huấn của Hội Thánh. Vì thế việc tìm hiểu và thực hành các giáo huấn trong 16 văn kiện của Công đồng Vatican II không thể không có trong chương trình sống của những ai muốn làm người con thảo của Hội Thánh. Người Công giáo Việt Nam nổi tiếng là những người con thảo hiếu, mộ mến và vâng phục Đức Giáo hoàng. Nhưng có lẽ chúng ta phải thể hiện lòng thảo hiếu, mộ mến và vâng phục ấy một cách trưởng thành và xác tín hơn bằng việc học hỏi và áp dụng Công đồng Vatican II cũng như các Thông điệp, Tông huấn và Tông Thư của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II là vị lãnh đạo cao nhất của Hội Thánh ngày nay.

b) Thể hiện lòng tin yêu son sắt với Giám mục giáo phận là người kế vị các Tông đồ tại Giáo hội địa phương: Ở buổi đầu của Hội Thánh, cùng với Thánh Phêrô -Tông đồ Trưởng-, các Tông Đồ hợp thành Tông Đồ đoàn, tức Nhóm Mười Hai. Trong Hội Thánh ngày nay, cùng với Đức Giáo Hoàng - Đấng kế vị Thánh Phêrô -, các Giám mục là những người kế vị các Tông Đồ, làm thành Giám Mục đoàn. Trong địa hạt sinh sống của mình, người tín hữu phải thể hiện lòng tin yêu son sắt đối với Hội Thánh bằng một đời sống gắn bó mật thiết với vị Giám mục cai quản giáo phận. Cũng như đối với Hội Thánh, chúng ta thể hiện lòng tin yêu son sắt không chỉ bằng tình cảm và lòng mộ mến xuông mà còn bằng cách sống phù hợp với định hướng thần học, mục vụ và tâm linh của Đấng kế vị các Tông Đồ trong giáo phận là Đức Giám mục. Đối với các Giám mục là chủ chăn của giáo phận, người giáo dân Việt Nam có hai điểm yếu: có một số người xúc phạm đến các Giám mục một cách quá dễ dàng, hoặc vì nhẹ dạ, hoặc vì không đủ tinh thần siêu nhiên; còn đại đa số thì chỉ biết tỏ lòng mộ mến một cách tình cảm xuông. Lòng tin yêu son sắt đích thực của những người con thảo đối với Hội Thánh và các Đấng kế vị các Tông Đồ đòi chúng ta phải điều chỉnh hai cách sống khiếm khuyết trên.

CẦU NGUYỆN

Lạy Thiên Chúa là Đấng sáng lập và luôn che chở Hội Thánh, xin Chúa chúc lành cho Đức Giáo Hoàng đương nhiệm là Gioan Phaolô II và các Đức Giám mục trên khắp thế giới, cách đặc biệt cho (các) Đức Giám mục giáo phận chúng con. Xin Chúa ban Thánh Thần cho các Ngài để nhờ ơn Chúa soi sáng, hướng dẫn và phù trợ, (các) Ngài chăm lo cho mọi con cái của Chúa, theo gương Chúa Giêsu là Mục tử nhân lành.


 

29/6-29: Giáo Hội Và Cộng Đồng

Tàu Titanic bị chìm tháng Tư năm 1912 vì đụng băng đá ngầm ở Bắc Đại Tây Dương. Tai nạn: 29/6-29


Tàu Titanic bị chìm tháng Tư năm 1912 vì đụng băng đá ngầm ở Bắc Đại Tây Dương. Tai nạn này đã làm thiệt mạng hơn 1500 trong số 2200 hành khách. Sự việc đã gây nên nhiều đề tài sôi nổi. Một trong những điều đó là nó tự hào là không thể chìm nên không làm đủ các thuyền cấp cứu. Thật ra, gần một nửa số thuyền cấp cứu khi hạ xuống nước còn rất rỗng, nghĩa là nó có thể cứu sống thêm nhiều người nữa.

Những người sống sót kể lại là khi họ chèo ra xa chiếc tàu sắp chìm, họ nghe nhiều tiếng kêu cứu quanh họ, tiếng trẻ con, đàn ông, đàn bà. Nhưng họ nhất định chèo ra xa mà không trở lại cứu vớt những người kêu cứu vì họ sợ thuyền của họ bị chìm bởi những người đang cố tìm sống đó. Họ đã bỏ đi và để nhiều nạn nhân chết chìm.

Tại sao các thuyền cấp cứu không chở thêm cho đầy là một đề tài liên quan đến Lễ Hai Thánh Tông Đồ Phêrô và Phaolô hôm nay.

Kiến tạo tinh thần cộng đồng là một việc khó khăn. Để cho người khác tiến vào chỗ chúng ta, liên quan đến đời chúng ta là một thử thách khi chúng ta trên thuyền cấp cứu hay sửa soạn một chương trình tại hãng làm, tại trường học hay giáo xứ. Càng khó hơn để liên kết khi chúng ta đã có lần bị đau thương bởi những lời nói cay nghiệt, bởi những hành động không trung thành. Thật khó tỏ ra vui tươi với anh chị em khi mà những cánh cửa đập mạnh, khi những cơn giận đổ trên đầu chúng ta. Những lúc đó, xa cách dường như dễ làm hơn là tiến trình tha thứ.

Kiến tạo tinh thần cộng đồng có nghĩa là ra khỏi mình và chạm tới những người khác, những người có quan điểm khác với chúng ta, có cách thức hành động khác với chúng ta, có những nhu cầu khác của chúng ta, có ít may mắn hơn chúng ta.

Việc mừng hai vị Thánh hôm nay nói lên một vấn đề, khi chúng ta có cơ hội để xây dựng cộng đồng, chúng ta chèo thuyền đến những người cần đến chúng ta hay chèo xa đi? Chúa Giêsu đã chọn hai Ngài là những người thật khác nhau làm nền tảng cho Giáo Hội của Chúa. Điều đó đề nghị chúng ta hoạt động thế nào để mối dây liên kết giữa cộng đoàn được bền chặt.

Hai Thánh nhân khác nhau về nguồn gốc và đời sống. Theo xuất xứ, Thánh Phêrô là một người chài lưới đã theo Chúa một cách mau lẹ. Thánh Phaolô bắt bớ những người theo đạo và phải mất nhiều năm mới được ơn cải hoá. Những bài sách Thánh hôm nay nói lên hai biểu tượng: "đá" chỉ Thánh Phêrô, "đua" diễn tả Phaolô. Thánh Phaolô chạy đi bắt đạo rồi sau khi trở lại luôn luôn đi giảng đạo khắp các miền. Thánh Phêrô ở chính tại Rôma và Rôma đã trở thành trung tâm của Giáo Hội được thiết lập. Thánh Phêrô có liên hệ với Chúa Giêsu rất đặc biệt: là đại diện các tông đồ, là phát ngôn viên của nhóm 12 để tiếp đó trở thành lãnh đạo. Phaolô không là trưởng nhóm nhưng là một thợ rao giảng cho muôn dân.

Chúa Giêsu đã chọn hai vị thật khác biệt để thành nền tảng của Giáo Hội. Ngài muốn nói cho chúng ta: sự khác biệt làm mạnh mẽ sự đoàn kết, sự đổi thay phục vụ sự thật, tương phản làm giầu đức tin.

Chúa tỏ lộ một sự khôn ngoan mà thế giới đang cần, một viễn tượng đang thách đố chúng ta nhìn vào, đó là cộng đồng, trong tình trạng tốt nhất, đón nhận sự khác biệt. Cộng đồng đón nhận khác biệt chứ không xua đuổi. Cộng đồng vui mừng trong sự khác biệt vì đó là những kho tàng mở lối cho sự hiểu biết sâu rộng hơn về chân lý, cho sự quí trọng của đời sống, cho cơ hội thi hành tình yêu thương. Chúng ta tin tưởng đó là những phương tiện chắc chắn nhất giúp chúng ta lớn lên trong Chúa Kitô.

Chúa chọn hai vị rất khác nhau trong cộng đồng mà Ngài thiết lập. Phêrô và Phaolô là một biểu tượng cho Giáo Hội mà chúng ta gọi là tập hợp đoàn người khác nhau, khác nhau về quan niệm, khác nhau tài khéo, khác nhau sức lực để trong Chúa và nhờ Ngài giúp, chúng ta dùng những sự khác biệt một cách tích cực.

Chúng ta cảm tạ Chúa vì những sự khác biệt và xin Chúa giúp chúng ta tăng triển sự liên kết với với mọi người.


 

29/6-30: PHÊRÔ VÀ PHAOLÔ - HAI CON NGƯỜI, MỘT CON ĐƯỜNG

 – ĐC Kiệt/ Mt16, 13-19
 

Nhìn vào đời sống tự nhiên, ta thấy hai Thánh Tông đồ Phê-rô và Phao-lô: 29/6-30


Nhìn vào đời sống tự nhiên, ta thấy hai Thánh Tông đồ Phê-rô và Phao-lô có nhiều dị biệt.
Thánh Phê-rô có thân thể to lớn vạm vỡ trong khi Thánh Phao-lô là một nguời bé nhỏ, gân guốc. Thánh Phê-rô là một ngu phủ quen làm việc trên biển. Thánh Phao-lô là một nhà trí thức quen làm việc với sách vở. Thánh Phê-rô thuộc tầng lớp bình dân. Thánh Phao-lô thuộc tầng lớp biệt phái. Thánh Phê-rô là một trong những Tông đồ đầu tiên trong khi Thánh Phao-lô là Tông đồ cuối cùng đuợc Chúa kêu gọi.

Nhung hành trình tâm linh của các ngài có nhiều điểm tuơng đồng.

Điểm tuơng đồng thứ nhất là Chúa đã huấn luyện các Ngài bằng cách để cho các Ngài trải qua một kinh nghiệm hu vô.

Thánh Phê-rô là con nguời tự tin. Trong nhóm 12, Ngài là nguời mạnh dạn phát biểu truớc mỗi câu hỏi mà Đức Giê-su đặt ra. Ngài tin tuởng vào khả năng, vào đức tin, vào sự trung tín của mình. Ngài mạnh dạn nói với Đức Giê-su: "Dù mọi nguời có bỏ Thầy, con quyết liều mạng vì Thầy". Để huấn luyện Ngài, Chúa đã để Ngài trải qua nhiều thất bại: suốt đêm đánh cá mà không đuợc gì ; đang đi trên mặt nuớc thì bị chìm xuống ; nhung thất bai ê chề đau đớn nhất là Ngài đã hèn nhát chối Thầy truớc mặt một nguời thị nữ tầm thuờng. Qua thất bại đó, Ngài mới biết rõ con nguời thực của mình là yếu hèn, khả năng của mình là bé nhỏ, sự trung tín của mình là mong manh, và đức tin của mình là bọt bèo. Thất bại đã khiến Ngài thấy mình chẳng là gì, chẳng có gì ngoài một vực thẳm hu vô. Thất bại đã giúp Ngài biết hạ mình khiêm nhuờng thẳm sâu cho đúng với sự thực của mình.

Thánh Phao-lô cũng trải qua một kinh nghiệm tuơng tự. Ngài rất tự hào, tự tin vào dòng dõi, khả năng, vào đạo đức của mình. Ngài đã nói: "Nếu ai có lý do để cậy vào xác thịt, thì tôi càng có lý do hơn: tôi chịu cắt bì vào ngày thứ 8, thuộc dòng dõi It-ra-en, chi họ Ben-da-min, là nguời Híp-ri, con của nguời Híp-ri, giữ luật đúng nhu một nguời Pha-ri-sêu, nhiệt thành tới mức nguợc đãi Hội thánh, còn sống công chính theo Lề luật, thì chẳng ai trách đuợc tôi" (Phil 3,4-6). Nhung trên đuờng đi Đa-mát, khi Phao-lô bị ngã từ trên lung ngựa xuống đất thì niềm tự tin tự hào kia cũng biến mất. Bị ngựa hất xuống đất Phao-lô chợt nhận ra rằng niềm tự hào của mình chỉ là què quặt. Bị ánh sáng từ trời chiếu loá mắt, Phao-lô chợt nhận ra rằng ánh sáng trí thức nơi mình chỉ là bóng tối. Bị ngựa hất xuống đất, Phao-lô mới hiểu rằng sức riêng của mình cùng với những phuơng tiện trần gian chẳng đua mình đi tới nơi. Bị mù mắt Phao-lô mới hiểu rằng không có ánh sáng của Chúa, chẳng có ai nhìn ra chân lý. Ngài chỉ còn một con đuờng duy nhất là hạ mình xuống đáy vực sâu yếu hèn để nhận biết sự hu vô của mình.Điểm tuơng đồng thứ hai là cả hai Ngài đều có cảm nghiệm sâu xa về tình yêu Thiên chúa.

Phê-rô đuợc sống bên Đức Giê-su trong 3 năm trời. Trong 3 năm đó, Ngài đã đuợc Chúa yêu thuơng, chăm sóc, dậy dỗ. Nhung cảm nghiệm sâu xa về tình yêu của Đức Giê-su chỉ đến với Ngài khi Ngài phạm tội. Sau khi Ngài chối Chúa 3 lần, gà liền gáy, và từ trong dinh Cai-pha, Đức Giê-su đua mắt nhìn Phê-rô (Lc 22,61). Suốt đời Phê-rô sẽ không quên đuợc ánh mắt ấy. Aứnh mắt đau đớn của một tình yêu bị phản bội. Aứnh mắt trách móc sự vô tình. Nhung ánh mắt cũng mở ra một trời bao dung tha thứ. Aứnh mắt ấy cho Phê-rô nhận thức đuợc tội lỗi vô cùng nặng nề của mình, nhung đồng thời cũng bộc lộ cho Ngài tình yêu vô cùng lớn lao của Đức Giê-su. Cảm nghiệm về tình yêu Thiên chúa đã giúp Ngài tin tuởng ăn năn trở về. Cảm nghiệm về tình yêu Thiên chúa đã đua Ngài tiến một buớc rất dài trên hành trình tâm linh. Từ nay Ngài mới thực sự gắn bó với Đức Giê-su, sẵn sàng làm mọi sự, kể cả chịu chết vì Danh Thâỳ Chí thánh.

Còn Thánh Phao-lô, tuy Ngài không nói ra, nhung ta biết chắc Ngài đã đuợc tiếp xúc thân mật với Đức Kitô phục sinh, đuợc Đức Kitô trực tiếp dạy dỗ, vaứ đuợc đua lên tầng trời thứ 3. Chắc chắn Ngài đã cảm nghiệm đuợc tình yêu vô biên của Thiên chúa nên Ngài luôn kết hợp mật thiết với Đức Kitô đến độ Ngài không còn sống nữa mà "chính Đức Kitô sống trong Ngài". Sự kết hợp ấy mật thiết và sâu xa đến độ "dù sự sống hay sự chết, dù hiện tại, tuơng lai, dù thiên thần, thiên phủ, dù hiểm nguy, khốn khó, dù trần truồng đói khát, dù khổ cực cay đắng, không có gì có thể tách Ngài ra khỏi lòng mến của Thiên chúa, trong Đức Kitô".

Điểm tuơng đồng thứ ba là các Ngài cùng bị nung đốt bởi một ngọn lửa: lửa nhiệt tâm truyền giáo.

Đời các Ngài là một hành trình truyền giáo không mệt mỏi. Các Ngài ra đi, ra đi không ngừng để đem Tin Mừng đến tận cùng thế giới. Các Ngài dùng mọi dịp, mọi hoàn cảnh để loan báo Đức Kitô. Bị đe doạ, bị đánh đòn, bị bắt bớ, bị hiểm nguy, các Ngài vẫn kiên trì, hiên ngang, vui tuơi rao giảng Lời Chúa. Ta hãy nghe Thánh Phao-lô kể: "Năm lần bị đánh đòn, mỗi lần thiếu một roi đầy bốn chục, ba lần bị tra tấn, một lần bị ném đá, ba lần bị đắm tầu...". Các Ngài chịu đủ mọi thứ nguy hiểm: "Nguy hiểm vì sông ngòi, nguy hiểm vì trộm cuớp, nguy hiểm vì nguời đồng chủng, nguy hiểm vì dân ngoại, nguy hiểm nơi thành thị, nguy hiểm chốn hoang vu, nguy hiểm trên biển cả, bởi thao thức thuờng ngày, bởi đói khát, bởi nhịn ăn, bởi lạnh giá, bởi mình trần " (2Cr 11, 23-27). Ngọn lửa ấy thiêu đốt các Ngài mãnh liệt đến độ Thánh Phao-lô phải thốt lên: "Khốn cho tôi nếu tôi không rao giảng Tin Mừng". Lửa nhiệt tâm truyền giáo đã đua các Ngài tới điểm tuơng đồng cuối cùng là dâng hiến chính mạng sống làm chứng cho Đức Kitô.

Hành trình tâm linh của các Ngài cũng là hành trình mà mọi nguời phải theo nếu muốn tiến buớc trên đuờng thánh đức. Khởi điểm của hành trình là nhận thức mình tội lỗi yếu hèn, cần ăn năn trở về, cần đuợc ơn cứu độ. Nhận thức sự hu vô của mình để bám chặt vào Thiên chúa, phó thác cho Thiên chúa tất cả cuộc đời mình. Nhận thức ấy đua ta đến khiêm nhờng sâu xa. Một toà nhà càng muốn xây cao, nền móng càng phải chìm sâu, Một sự khiêm nhuờng càng sâu xa càng giúp ta tiến xa trên con đuờng tìm Chúa và gặp Chúa. Một khi đã cảm nghiệm đuợc tình yêu của Thiên chúa trong đời mình, ta sẽ bị tình yêu Chúa thiêu đốt. Ngọn lửa yêu mến ấy sẽ thúc bách ta hăng say làm việc tông đồ

Tạ ơn hai thánh tông đồ Phê-rô và Phao-lô đã mở cho ta con đuờng tìm đến tình yêu Chúa và đến với anh em. Xin hai Thánh Tông đồ giúp chúng con biết tiến buuớc theo các Ngài trên con đuờng theo Chúa. Amen .
 

29/6-31: VINH QUANG QUA THẬP GIÁ

Mt 16, 13 – 19
 

Trong mỗi Thánh Lễ, đặc biệt là các Lễ Trọng và các Lễ Chúa Nhật hàng tuần, Giáo Hội là bà mẹ hiền và: 29/6-31


Trong mỗi Thánh Lễ, đặc biệt là các Lễ Trọng và các Lễ Chúa Nhật hàng tuần, Giáo Hội là bà mẹ hiền và khôn ngoan đã lấy trong kho tàng Sách Thánh những món ăn bổ dưỡng vô giá để dọn lên bàn ăn Lời Chúa, mời gọi con cái tham dự được no thỏa. Trong Lễ kính hai Thánh Tông Đồ Phê-rô và Phao-lô, Giáo Hội dọn món gì ?

Bài đọc 1 trích sách Công Vụ Tông Đồ 12, 1 – 11 với tiêu đề "”Bây giờ tôi đã biết thật sự là Lời Chúa đã cứu tôi thoát khỏi tay vua Hê-rô-đê”. Bài đáp ca trích Thánh Vịnh 33 với câu điệp ca: “Chúa đã giải thoát tôi khỏi mọi nỗi kinh hoàng”. Bài đọc 2 trích Thư thứ hai của Thánh Phao-lô Tông Đồ gửi ông Ti-mô-thê, chương 4 câu 68. 16 b . 17 – 18, với tiêu đề: “Tôi chỉ còn đợi vòng hoa dành cho người công chính”. Bài Tin Mừng trích Tin Mừng theo Thánh Mát-thêu chương 16, câu 13 – 19 với tiêu đề: “Anh là Phê-rô, Thầy sẽ trao cho anh chìa khóa Nước Trời”. Qua các bài Sách Thánh trích đọc nói trên, ta thấy bài đọc 1 và bài Tin Mừng nói về Thánh Phê-rô. Bài đọc nói về Thánh Phao-lô  và bài đáp ca phù hợp với cả hai vị.

Nhìn vào lý lịch trích ngang, ta thấy hai vị Thánh chúng ta mừng kính hôm nay đều có tội tày đình. Theo cách diễn tả của nhạc sĩ Hùng Lân trong bài Thánh Ca quen thuộc mừng kính hai vị, thì Phê-rô đã “chối Chúa ba lần trong đêm tối...” Phao-lô đã “đem ngựa truy nã Chúa...” Nhưng Chúa đã chiếm hữu tâm hồn hai vị, biến đổi các vị. Cả hai đều hối hận, đều mến Chúa thật tình. Chúa đã gọi và chọn hai vị làm Tông Đồ cho Chúa. Nhân danh và nhờ quyền năng Đức Giê-su Ki-tô, hai vị đã làm được nhiều phép lạ.

Phê-rô cùng với Gio-an chữa lành một người què từ lúc lọt lòng mẹ vẫn ngồi ăn xin ở Cửa Đẹp Đền Thờ ( x. Cv 3, 7 – 9 ); Phê-rô làm cho người chết sống lại ( x. Cv 9, 40 – 42 ); Phê-rô chữa nhiều người đau ốm bệnh hoạn mà dân chúng khiêng họ ra tận đường phố để khi Phê-rô đi qua, ít ra cái bóng của ông phủ lên một bệnh nhân nào đó, và tất cả đã được chữa lành ( x. Cv 5, 15 – 16 )...

Phao-lô đã chữa lành một người bẩm sinh bị bại chân tại Lít-ra ( x. Cv 14, 8 – 10 ). Phao-lô cũng làm cho một người đã chết sống lại ( x. Cv 20, 9 – 12 ). Và sách Công Vụ Tông Đồ cho biết Phê-rô bị bắt giam trong ngục, đã được Chúa sai thiên sứ đến cứu thoát khỏi tay vua Hê-rô-đê ( x. Cv 12, 1 – 11 ). Tin Mừng Mát-thêu cho thấy Chúa đã đổi tên Si-môn thành Phê-rô và trao quyền năng ràng buộc hoặc tháo cởi cho ông ( x. Mt 16, 13 – 19 ).

Như vậy, hai ông Phê-rô và Phao-lô được đầy quyền năng và vinh quang trước mặt người đời. Nhưng cuối cùng hai ông cũng bị bắt và chịu chết vì Danh Đức Giê-su Ki-tô. Cả hai vị đã bằng lòng hy sinh đến giọt máu cuối cùng để làm chứng cho Đức Giê-su Phục Sinh, làm chứng cho Tình Yêu Chúa. Hai vị đã trở nên trụ cột của Giáo Hội. Phê-rô là Tông Đồ Cả, đứng đầu Tông Đồ Đoàn. Phao-lô là Tông Đồ của Dân Ngoại. Hai vị có tính tình khác nhau, trình độ văn hóa khác nhau, khả năng làm việc khác nhau nữa, nhưng lại cùng hoạt động, cùng xây dựng Nước Chúa. Những khác biệt của hai vị là để bổ túc cho nhau, giúp đỡ nhau.

Giáo Hội cho chúng ta mừng kính hai vị trong một ngày là để nêu gương sáng cho các tín hữu noi theo. Trong cộng đoàn, ta thấy có những người cùng hoạt động với nhau nhưng tính tình khác nhau, có khi mâu thuẫn nhau, nhưng lại vẫn có thể hoạt động và làm chứng cho Chúa, đạt tới thành công. Với ý hướng “thống nhất trong điều Chúa, tương nhượng trong điều phụ, bác ái trong mọi sự”.

Nhân Năm Thánh Hóa Gia Đình, ta thấy trong đời sống hôn nhân gia đình cũng vậy. Hai người nam nữ yêu nhau, kết hôn với nhau, nhưng không phải luôn luôn “xuôi chèo mát mái” mà thường có những lúc bất hòa, ngộ nhận hay mâu thuẫn nảy sinh. Nếu biết tương nhượng nhau, thông cảm, tha thứ cho nhau thì vẫn mưu cầu được hạnh phúc cho nhau, đem lại bầu khí an vui đầm ấm cho gia đình. Sự khác biệt hay bất hòa là để bổ túc cho nhau, để hiểu nhau hơn, giúp nhau nên hoàn thiện mà thôi.

Còn nhớ trước đây vài năm ở Sài-gòn, có một vụ đánh ghen tạt át-xít vào người yêu, chẳng may một em bé bị vạ lây, mù cả hai mắt, khuôn mặt đâm ra dị dạng. Sau khi được chạy chữa tạm ổn, bác sĩ bảo em hát một bài để giúp cho các cơ ở miệng có thể hoạt động trở lại bình thường, em liền cất lên tiếng hát bài Thánh Vịnh 33 do cha Thành Tâm phổ nhạc, mà Giáo Hội đã chọn làm đáp ca cho ngày lễ trọng này:

“Tôi sẽ không ngừng chúc tụng Thiên Chúa, câu hát mừng Người chẳng ngớt trên môi.

Tôi sẽ không ngừng chúc tụng Thiên Chúa, Đấng giải thoát tôi khỏi nỗi kinh hoàng...”

Em tên M.T, đang học lớp Giáo Lý thiếu nhi cấp Vườn trẻ tại Giáo Xứ Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp. Em chọn hát bài này làm cho mọi người hiện diện hôm ấy hết sức ngạc nhiên, họ hỏi nhau: “Sao bé lại không hát các bài hát đã được cô giáo dạy ở các lớp Mầm, Chồi, Lá, như Cháu Lên Ba, Bé Bé Bồng Bông ?”

Em bé chỉ mới 6 – 7 tuổi mà đã làm chứng được cho tình yêu thương xót của Thiên Chúa một cách hồn nhiên đơn sơ và thật dễ thương như thế đó. Con đường Chúa đã đi là con đường Thập Giá. Các Tông Đồ và những người Chúa cọn đặc biệt cũng không đi con đường nào khác, vì Thập Giá dẫn tới vinh quang. Muốn tới vinh quang ắt là phải ngang qua Thập Giá.

Gs. Phê-rô NGUYỄN VĂN VỊNH, Giáo Xứ ĐMHCG


 

29/6-32: Hai vì sao sáng - Lm. Giuse Nguyễn Hữu An

Lễ Thánh Phêrô và Phaolô Tông đồ
 

Bài ca nhập lễ vang lên hùng tráng trong ngày Lễ kính hai Thánh Tông đồ Phêrô, Phaolô: Hai: 29/6-32


Bài ca nhập lễ vang lên hùng tráng trong ngày Lễ kính hai Thánh Tông đồ Phêrô, Phaolô: Hai vì sao sáng chói,lấp lánh trên bầu trời,ngời sáng đêm trường,rực rỡ soi đường sưởi ấm yêu thương.Hai tình yêu chiến thắng,ngất ngây trong cuộc đời,từ trái tim nồng dòng máu anh hùng ngời sáng muôn trùng.

Phêrô, Phaolô hai vì sao sáng ngời chiếu toả ánh sáng Chúa Kitô cho nhân loại.

Hai Thánh Tông đồ là hai con người xuất thân khác nhau,tính cách khác nhau nhưng cùng một niềm tin,cùng một sứ mạng và cùng một vinh quang được đội triều thiên vinh hiển để trở thành hai vì sao sáng cho Giáo hội.

Còn nhớ hôm nào người ba lần chối Giêsu.Còn nhớ ngày nào người bắt Chúa trong căm thù.Lời ca ngắn đúc kết phần một trong cuộc đời hai Ngài: chối Thầy,bắt Thầy.Nhưng cuộc đời phần hai đã viết nên những trang hào hùng oanh liệt.Nhờ tình yêu Chúa dẫn lối,hai Ngài cầm đuốc Tông đồ rao truyền Tin mừng Chúa Giêsu Kitô cho thế giới.

Đọc lại cuộc đời của hai Thánh Tông đồ để nhận thấy sự quan phòng kỳ diệu của Thiên Chúa.Ơn Gọi Tông Đồ quả là một mầu nhiệm lạ lùng.

Cuộc đời Phêrô có nhiều sôi nổi.Gồm lại những sôi nổi,ta có thể chia đời ông ra làm hai: cuộc đời phần một,từ khi theo Thầy ở biển hồ Galilê đến lúc chối Thầy;phần hai,từ khi theo Thầy ở biển hồ Tibêria cho đến cuối đời chết ở Roma.

Trong cuộc đời phần một của ông, ông đi từ lỗi lầm này sang lỗi lầm khác.Cuối đời của Chúa, Chúa đã bị ông từ chối thê thảm (Mc 14,66-72)

Gom nhặt những đoạn phúc âm nói về Phêrô,ta thấy mãnh đời của ông có nét chân dung thế này: Là tông đồ bị Chúa mắng nhiều nhất.

* Mắng lần đầu tiên: Quân yếu tin ( Mt 14,31)

* Lần thứ hai: Ngu tối ( Mt 15,16)

* Lần thứ ba: Satan ( Mc 8,33)

Khi Chúa bị bắt,kết án,Phêrô đã chối Thầy 3 lần.Phêrô chối Chúa vì quá yếu đuối chứ không phải vì không yêu Thầy.Trước cái chết, Phêrô rùng mình chối bỏ,tìm đường chạy trốn.Thế nhưng trước yếu đuối ấy, Phêrô đã khóc lóc nhớ lại lời Chúa nói về thân phận mình,ông oà khóc nức nơ như một đứa bé với dòng lệ sám hối.Chúa đã nhìn ông bằng ánh mắt thứ tha trìu mến. Đời ông là giằng co giữa yếu đuối và dũng mảnh,giữa trọn vẹn và dang dỡ, giữa xa và gần, giữa trời và đất.Trái tim ông có u tối đi tìm ánh sáng,có nuối tiếc đi tìm lý tưởng.Đời ông có tự tin gặp vấp ngã,có phấn đấu gặp thất bại.Trong sự vấp ngã yếu đuối cuộc đời phần 1 của người môn đệ này vẫn có một tâm hồn chân thành.

Phần hai cuộc đời ông là một thiên anh hùng ca.Thiên anh hùng ca được mở đầu bằng những lời chứng của Gioan(Ga 21,2-3).Lời chứng nói về một đêm đen mờ mịt của biển hồ Tibêria,rồi đưa đời ông từ đếm đen mờ mịt ấy về một cõi trời phiêu bạt mịt mù sương gió cho Nước Trời.

Sứ mạng theo Đức Kitrô khởi đầu từ đây khi 7 anh em ra đi đánh cá, vất vả cả đêm mà không được gì.Đức Giêsu Phục sinh đến với họ ban cho họ mẻ cá lạ lùng.Chính Đấng phục sinh đã hỏi Ông: Phêrô, con có yêu mến thầy không ? Phêrô đáp: Thưa Thầy, Thầy biềt rõ mọi sự,thầy biết con yêu mên Thầy. Sau khi Phêrô trả lời câu hỏi ấy với tất cả chọn lựa cân nhắc, Chúa nói với ông rằng: Thầy bảo cho anh biết lúc còn trẻ anh tự thắt lưng lấy và đi đâu tuỳ ý.Nhưng khi đã về già,anh đã phải giang tay ra cho người khác thắt lưng và dẫn tới nơi anh chẳng muốn. Phúc âm Gioan cắt nghĩa rõ con đường này là: Người nói như vậy có ý ám chỉ ông phải chết cách nào. Thế rồi Chúa bảo ông: hãy theo Thầy. Chỉ chờ đợi lời mời gọi này,Phêrô lập tức lên đường thực thi sứ mạng Thầy trao.Từ đây trên tảng đá này Thầy xây Giáo hội của Thầy,cửa hoả ngục sẽ không thắng được. Từ đây, những trang sử vẻ vang của giáo hội sơ khai được viết nên bởi vị Tông đồ có lòng yêu mến Chúa thiết tha.

Đọc Công vụ Tông tồ từ chương 8 trở đi, chúng ta bắt gặp một Saolô, ở Tac-xô,là người Do thái, trí thức,thông thạo nhiều thứ tiếng miền Do thái - Hy lạp, rất sùng đạo theo môn phái Ga-ma-li-ên ở Giê-ru-sa-lem.Cuộc đời phần một của Phaolô là biệt phái nhiệt thành đi lùng sục bắt bớ Đạo Chúa,tham gia vào vụ giết Tê-pha-nô và trên đường Đa-mát truy lùng các Kitô hữu.

Được ơn trở lại trên đường Đa-Mat,Saolô được biến đổi để trở nên chứng nhân vĩ đại là Phaolô, Tông Đồ dân ngoại.Cuộc đời phần hai của Phaolô đã viết nên thiên anh hùng ca.

Sách Công vụ tông đồ kể lại:trên đường Đa-mat,Phaolô rong ruổi trên yên ngựa hăng say truy bắt các Kitô hữu thì thình lình ánh sáng từ trời loé rạng bao lấy ông.Không bao giờ Phaolô còn thoát được ra ngoài ánh sáng đó.Từ đó trở đi,Chúa Kitô đã trở thành tất cả đối với Phaolô.Từ đó trở đi,chỉ có Chúa Kitô là đáng kể.

Khi đã biết Chúa Kitô thì “ những gì xưa kia tôi cho là có lợi,thì nay,vì Đức Kitô,tôi cho là thiệt thòi.Hơn nữa tôi còn coi tất cả mọi sự là thiệt thòi,so với mối lợi tuyệt vời là được biết Đức Giêsu Kitô,Chúa của tôi.Vì Ngài,tôi đành mất hết,và tôi coi tất cả như đồ bỏ,để được Đức kitô và được kết hợp với Người.Được như vậy,không phải nhờ sự công chính của tôi,sự công chính do luật Mô-sê đem lại,nhưng nhờ sự công chính do lòng tin vào Đức Giêsu( Pl 3,7-9). Từ đó trở đi Phaolô hiên ngang vì tư cách làm môn đệ Chúa Kitô và với tư cách ấy Ngài tuyên xưng sự duy nhất,sự bình đẳng, tình huynh đệ thực sự giữa tất cả mọi người:” vì anh em,phàm ai đã được thanh tẩy trong Đức Kitô,thì đã được mặc lấy Đức kitô: không còn Do thái hay Hy lạp;không còn nô lệ hay tự do;không còn nam hay nữ;vì anh em hết thảy là một trong Đức Kitô Giêsu " (Gal 3,27-28).Vì Đức Kitô là “tất cả mọi sự và trong mọi người” ( Col 3,11).Phaolô hiên ngang được sống và được chết cho Chúa Kitô.Các mối phúc thật được kết tinh nơi cuộc đời Phaolô.Biết mình đã tin vào ai, Phaolô đã sung sướng sống nghèo,lấy việc lao động mà đổi miếng ăn,không để giáo hữu phải cung phụng mình (1Cor 9,3-18; 2Cor11,8-10),sung sướng vì đã mất tất cả và chịu đủ thứ khốn khổ vì Chúa Kitô.Phaolô không ngại trở nên hùng hồn kể về những”& lao tù đòn vọt,bao lần suýt chết,năm lần bị người do thái đánh bốn mươi roi bớt một,ba lần bị đánh đòn,một lần bị ném đá,ba lần bị đắm tàu,một đêm một ngày lênh đênh giữa biển khơi. Phải chịu đủ thứ nguy hiểm bởi “phải thực hiện nhiều cuộc hành trình,gặp bao nguy hiểm trên sông,nguy hiểm do trộm cướp,nguy hiểm do đồng bào,nguy hiểm vì dân ngoại,nguy hiểm ở thành phố,trong sa mạc,ngoài biển khơi,nguy hiểm do những kẻ giả danh là anh em;phải vất vả mệt nhọc,thường phải thức đêm,bị đói khát,nhịn ăn nhịn uống và chịu rét mướt trần truồng ( 2 Cor 11 23-27).Phaolô ra vào tù như đi chợ,có lần Ngài viết từ ngục thất cho Ti-mô-thê,người môn đệ, có khi không khỏi nao núng:” anh đừng hổ thẹn làm chứng cho Chúa chúng ta,cũng đừng hổ thẹn vì tôi,là kẻ bị tù vì Ngài”. Phaolô không hổ thẹn vì tôi biết tôi đã tin vào ai &(2 Tim 1,8-12).Vì Đức Kitô “tôi phải lao đao khốn khó đến cả xiềng xích như kẻ gian phi,nhưng Lời Thiên Chúa không bị xiềng xích” ( 2Tìm 2,9).Phaolô đã sung sướng tự hào cả khi ý thức những yếu đuối của mình “ Ơn Ta đủ cho con vì chưng quyền năng trong yếu đuối mới viên thành” (2 Cor 12,9).Không gì có thể làm nao núng lòng tin mãnh liệt ấy “ chúng tôi bị dồn ép tư bề nhưng không bị đè bẹp;hoang mang nhưng không tuyêt vọng;bị ngược đãi nhưng không bị bỏ rơi;bị quật ngã nhưng không bị tiêu diệt”( 2cor 4,8-9)

Vị Tông đồ dân ngoại đã nhiệt thành loan truyền Chúa Kitô với tất cả thao thức “Khốn thân tôi,nếu tôi không rao giảng Tin mừng”( 1Cor 5,14).Ngài luôn sống trong niềm tin tưởng yêu mến vào Đấng đã kêu gọi Ngài” tôi sống trong niềm tin vào Con Thiên Chúa,là Đấng yêu mến tôi và thí mạng vì tôi”( Gal 2,20).

Vì Đức Kitô và vì Tin mừng thánh nhân đã sống và chết cho sứ mạng.Cuộc sống buôn ba vì Nước trời được điểm tô muôn ngàn vạn nét đẹp của Phaolô mãi mãi được hát lên như một bài ca khải hoàn “Ai có thể tách chúng ta ra khỏi tình yêu của Đức Kitô ? Phải chăng là gian truân,bắt bớ, đói khát,trần truồng, nguy hiểm,gươm giáo? & Vì tôi thâm tín rằng sự chết hay sự sống,dù thiên thần hay thiên phủ,dù hiện tại hay tương lai,hay bất cứ sức mạnh nào,trời cao hay vực thẳm hay bất cứ tạo vật nào khác,không có gì có thể tách chúng ta ra khỏi tình yêu Thiên Chúa thể hiện cho chúng ta trong Đức Giêsu Kitô,Chúa chúng ta “ ( Rm 8,35-39).

Giáo hội mừng kính hai thánh Tông đồ,hai cột trụ giáo hội cùng chung một ngày. Hai con ngưòi khác nhau từ cá tính đến thân thế nhưng cùng chung một ơn gọi từ Chúa Kitô,cùng chung một niềm tin vảo Chúa Kitô,chung một sứ mạng Chúa Kitô trao phó và cuối đời cùng chịu tử đạo vì Chúa Kitô tại Roma.Cùng chia sẽ một niềm tin,cùng thi hành một sứ mạng,Chúa Kitô đã đã đưa hai Ngài đến một cùng đích,một vinh quang đội triều thiên khải hoàn.Hai con người khác biệt ấy laị có những điểm tương đồng lạ lùng.Chúa Kitô đã nối những điểm tương đồng ấy để tất cả được nên một ở trong Người.Đón nhận ánh sáng từ nơi Chúa Kitô,hai vị Thánh Tông đồ Phêrô, Phaolô đã nên hai vì sao sáng ngời cho tất cả chúng ta.

Lm. Giuse Nguyễn Hữu An


 

29/6-33: Phêrô nền móng của Giáo hội - Huyền Đồng


Chúa Nhật 13 Thường Niên B: 13th Sunday in Ordinary Time
LỄ THÁNH PHÊRÔ VÀ PHAOLÔ TÔNG ĐỒ/St. Peter and Paul, Apostles
Lời Chúa cho hôm nay: PHÊRÔ, NỀN MÓNG CỦA GIÁO HỘI.
* Peter, Foundation of the Church *

* BÀI ĐỌC 1: Cvụ 12, 1-11= Đây là một sự đầy đủ về tiên tri Giêsu, mà Người có thể che chở những ai công bố Lời của Thiên Chúa./ This is a fulfillment of JesusỴs prophecy that He would protect those who would proclaim the Word of God.
* BÀI ĐỌC 2: 2 Timôthê 4, 6-8; 17-18 = Một bài viết ngắn gon báo tin Phaolô trước khi ông chết, xác định ý Chúa muốn/ It was written in PaulỴs name with the premise that he wrote it shortly before he died, he realizes that is GodỴs will for...
* BÀI TIN MỪNG(Gospel): Mathêu 16, 13-19 = Phêrô là đá: khi Phêrô nói Giêsu là Chúa Cứu thế: Ông muốn nói rằng Giêsu là Đấng Mesia. / Peter is the rock, when Peter says Jesus is “the Christ,” he is saying that Jesus is the Messiah.
A- Bạn và tôi cùng Cảm nghiệm Sống và chia sẻ ba bài đọc trên: (Reflections, live out and share )

 

Trong bài Tin Mừng, ông Simon nói Thầy là Đấng KITÔ, Con Thiên Chúa hằng sống. Đức Giêsu: 29/6-33


1/ Trong bài Tin Mừng, ông Simon nói Thầy là Đấng KITÔ, Con Thiên Chúa hằng sống. Đức Giêsu liền nói với ông: “Này anh Simon con ông Giô-na, anh thật là ngươi có phúc, vì không phải phàm nhân mạc khải cho anh em điều ấy, nhưng là Cha của Thầy...” Hằng ngày tôi có được nghe Chúa nói qua nhiều cách như vũ trụ, cỏ cây, hoa, con người, không khí v.v... Tâm hồn tôi phải thế nào để dễ nghe tiếng Chúa?

“Blessed are you, Simon son of Jonah. For flesh and blood has not revealed this to you, my heavenly Father” (Mat. 16,17)

2/ Đức Kitô còn nhấn mạnh thêm: “Còn Thầy, Thầy bảo cho anh biết: Anh là Phêrô nghĩa là tảng đá, trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội thánh của Thầy...” Người Tín hữ u là Giáo hội, là đền thờ của Chúa Thánh Thần, là dân thánh của Chúa. Nếu là gia trưởng, bạn đã xây dựng Giáo hội nhỏ là gia đình như thế nào?

And so I say to you, you are Peter, upon this rock I will build My Church...” (Mat. 16, 18)

3/ Trong bài đọc 1, thánh Phêrô đã được Thiên sứ cứu và cảm nhận như sau: “Bây giò tôi biết thực sự là Chúa đã sai Thiên Chúa của Người đến và cứu thoát tôi khỏi tay vua Herôđê...” Tôi đã được Chúa đến cứu nguy trong nhiều tai nạn và biến cố cuộc sống. Tôi đã nhận ra Ngài đến giúp trong những trường hợp nào?

Now I know for certain that Lord sent His angel snd rescue me from the hand of Herod and from all... (Cvụ 12, 11)

4/ Thánh Phaolô nói với một niềm tin sắt đá như sau: “Có Chúa đứng bên cạnh, Người đã ban sức mạnh cho tôi, để nhờ tôi mà việc rao giảng được hoàn thành...” Lòng tha thiết với Tin mừng cho dân ngoại đã làm cho Phaolô thấy rõ được sự nâng đỡ của Chúa. Bạn đã can đảm làm chứng tá trong đời sống những gì?
The Lord stood by me and gave me strength, so that through me the proclamation may be completed... (2Tm.4,17)

B- Câu Kinh Thánh kêu gọi tôi chọn làm Châm ngôn Sống tuần này: ( The Best GodỴs Word )

CÓ CHÚA ĐỨNG BÊN CẠNH, NGƯỜI ĐÃ BAN SỨC MẠNH CHO TÔI... (2 Tm. 4, 17)

“The Lord stook by me and gave me strength.”

C- Ngay bây giờ tôi phải làm gì để noi gương Phêrô và Phaolô: ( So what am I doing/ For action )

a/ Bạn có thể chọn 1 trong 4 Gợi ý Cảm nghiệm Sống và chia sẻ ở phần A để áp dụng vào đời sống.
b/ Tôi chọn một việc rao giảng Tin Mừng cho lương dân bằng cách sống hay việc làm tùy môi trường.

D- Tôi cầu nguyện không ngừng và Sống lời tôi cầu xin: ( I pray and practice / Pray in Action )

1/ Dưạ vào 4 câu Kinh Thánh nêu trên, tôi tự phát với Chúa lòng ước ao Sống Tin Mừng cuả mình.

2/ Bạn có thể ca tụng Ngài về việc Ngài đang đồng hành với bạn khi vui mừng và lúc khó khăn.

Hoa thơm cỏ lạ: ƯỚC GÌ ĐỜI SỐNG BẠN PHẢN ÁNH CHÚA KITÔ TRÊN NGƯỜI LÂN CẬN

Our lives would so reflect Jesus that we would live on our neighborhoods
 Huyền Đồng 


 

29/6-34: Hai kho tàng một chủ nhân- Phaolô Ngô Suốt

Lễ hai thánh Phêrô và Phaolô
 

Quốc gia, dân tộc nào cũng có những vị anh hùng của riêng mình. Họ được dân nước tôn thờ: 29/6-34


Quốc gia, dân tộc nào cũng có những vị anh hùng của riêng mình. Họ được dân nước tôn thờ vì có thể họ đã đóng góp nhiều cho quê hương, dân tộc. Họ có thể là những anh hùng bảo vệ quê hương, xây dựng tình đoàn kết, hoặc là những khai quốc công thần. Kitô giáo cũng có hai vị Tông đồ có thể gọi là khai quốc công thần, nhưng còn đi xa hơn nữa hai Ngài là hai cột trụ khổng lồ chống đỡ tòa nhà Giáo Hội; hai kho tàng quý giá của Giáo Hội: một kho tàng của rực sáng niềm tin; và một kho tàng của tri thức luận; đạo đức học Kitô Giáo. Đó là Đại Thánh Phêrô và PhaoLô mà chúng ta mừng kính hôm nay.

Có người so sánh rằng hai tòa nhà chọc trời -trước khi bị phá sập- là niềm kiêu hãnh của cư dân New York nói riêng và người Mỹ nói chung; đã đập vào mắt bất cứ ai đến New York (Manhattan) như thế nào, thì đối với Kitô hữu Thánh Phêrô và Phaolô cũng y như vậy. Thật lạ lùng Chúa đã dùng hai con người hoàn toàn khác hẳn nhau từ đẳng cấp xã hội, kiến thức, trình độ, tính tình v.vv& cả hai tuy dùng hai phương thế khác hẳn nhau nhưng lại cùng một mục tiêu, một đích điểm: đem Chúa Kitô đến cho muôn dân. Hai Ngài đều được phúc tử đạo vào thời của hoàng đế Nêrô: Thánh Phêrô bị đóng đinh vào thập giá năm 64 A.D.; Thánh Phaolô bị áp giải về Rôma vào năm 60 A.D như một tù nhân, và bị chém đầu vào năm 67 A.D. Hai Ngài là hai nền móng vững chắc cho Giáo Hội tiên khởi, chính Thiên Chúa đã liên kết hai Ngài lại với nhau, và bây giờ chúng ta mừng kính hai Ngài chung với nhau, vì chính ngày hôm nay gần 17 thế kỷ trước, hài cốt của hai Ngài đã được lấy và đem đi giấu trong hang toại đạo mang tên Thánh Sebastian, vì sự ngược đãi, bách hại của hoàng đế Valerian (253-260). Xin mượn hai câu chuyện sau đây để diễn tả phần nào về cá tính đặc biệt của hai Ngài.

Mark Twain (1835-1910), một văn sĩ nổi tiếng của Hoa Kỳ, kể câu chuyện khi Ông ta đi thăm một người bạn ở ngoại ô như sau: Sau một hồi đi trên con đường hẹp Ông ta hỏi một nông dân, “ Đến chỗ ở của Henderson còn bao xa nữa ? “Khoảng một dặm rưỡi “ người nông dân trả lời. Twain tiếp tục đi một hồi lâu mãi cho đến khi gặp được một người nông dân khác. Twain lại hỏi “Đến chỗ ở của Henderson còn bao xa nữa?”. “Khoảng một dặm rưỡi”, người nông dân thứ hai trả lời. Một hồi lâu sau, gặp một nông dân khác Twain lại hỏi “Đến chỗ ở của Henderson còn bao xa nữa?”. Người nông dân thứ ba trả lời “Khoảng một dặm rưỡi”. Lúc này Twain mới phát biểu:”Tạ ơn Chúa, con đang làm chủ được con”. Thánh Phêrô cũng y như thế, dù biết Thiến Chúa là Đấng Thiên sai, hành trình của Phêrô còn rất dài, nhưng tạ ơn Chúa Thánh Phêrô vẫn làm chủ được mình. Ngài đã vấp ngã, nhưng đã vùng dậy, không chán nản, không để mất phương hướng, không đầu hàng, bỏ cuộc. Ngài trở thành vị Giáo Hoàng đầu tiên của Hội Thánh.

Rouault, Georges Henri (1871-1958), một họa sĩ nổi tiếng của Pháp, chuyên vẽ những tranh ảnh của tôn giáo. Nhất là dùng tài của mình vẽ nên những bức ảnh Chúa Giêsu rất độc đáo. Cho đến lúc về già, trước khi chấm dứt nghiệp vẽ vời, Ông ta tâm sự về lý tưởng của ông giống như lý tưởng của bất cứ một người Kitô hữu nào. Ông nói:”Tham vọng duy nhất của tôi là vẽ bức ảnh Chúa Kitô thật sống động, thật có hồn, để bất cứ ai nhìn thấy đều trở lại Kitô giáo”. Thật là một triết lý tuyệt vời, và Thánh Phaolô cũng có cùng một tham vọng như thế.

Họa sĩ Rouault đã thất bại khi muốn dùng tác phẩm của mình làm cho người khác trở lại đạo. Nhưng trái lại, thánh Phaolô đã thành công hoàn toàn, không những từ chính con người thánh thiện, liều lĩnh, nhiệt tình “lửa”, mà còn chính từ những tác phẩm của Ngài. Ngài đã nhận lãnh Sự Thật từ Thiên Chúa, Ngài đã dùng ngòi viết của mình diễn đạt tuyệt vời Chân Lý đó. Dám quả quyết rằng bất cứ một người thành tâm thiện ý nào, đọc hết 14 Thánh Thư của Ngài, sau đó nghiên cứu, tìm hiểu những Thánh Thư đó, và tác giả của nó với một tâm hồn khiêm tốn, chắc chắn người ấy sẽ nhận ra Thiên Chúa.

Tóm lại, khi nhận lãnh bí tích Rửa tội, người Kitô hữu được tiếp nhận ba nhân đức đối thần (Tin, Cậy, Mến) từ Thiên Chúa. Và sự triển nở tốt đẹp nhất, hay đỉnh cao của ba nhân đức này, đó là hình thành một tham vọng hết sức chính đáng: đem Thiên Chúa đến cho mọi người; hay làm cho mọi người biết trở lại với Thiên Chúa. Hôm nay Chúa trao chìa khóa (quyền bính) Nước Trời cho Giáo Hội. Tuy nhiên chúng ta cũng có thể hiểu rằng, khi nhận biết Ngài là con Thiên Chúa, là Đấng Cứu Độ, Chúa Kitô sẽ trao cho chúng ta chìa khóa của Vương Quốc Thiên Chúa đó là chính bản thân Ngài, Ngài ban cho chúng ta chính sự sống của Ngài; chính tình yêu của Thiên Chúa. Ngài là chìa khóa. Và Chúa muốn mỗi tín hữu phải sử dụng triệt để chiếc chìa khóa này để loan báo Tin Mừng cho nhân loại. Phương cách hay nhất là học tập, noi gương hai Thánh Tông Đồ chúng ta mừng kính hôm nay:
* Thứ nhất phải luôn luôn làm chủ chính mình, không nản chí, đánh mất phương hướng hay đầu hàng bỏ cuộc; phải đối diện với những thực tại đang đe dọa, rất nguy hiểm đến đức tin, trong thế giới hôm nay.

* Thứ hai, phải sửa sang, chăm chút, trau dồi, nung nấu liên lỉ ba nhân đức đối thần; luôn can đảm làm chứng nhân cho Chúa giữa đời; và trên hết: luôn xin Chúa ban cho dồi dào ân sủng - qua Giáo Hội của Ngài- vì chỉ có ân sủng của Chúa chúng ta mới có thể hoàn thành được bất cứ điều gì mình mong muốn.

Thánh Tomas Aquinô nói:” Chúng ta từ Thiên Chúa mà đến và cuối cùng sẽ trở về với Thiên Chúa”. Cũng như xưa Chúa đã dùng hai thánh Phêrô và Phaolô để xây dựng và chống đỡ cho tòa nhà Giáo Hội. Nên bên ngoài thì hai Thánh có vẻ khác biệt hoàn toàn, hành động độc lập, phương cách khác nhau, nhưng cùng tựu trung cho một đích điểm. Lý do là vì hai kho tàng đó tuy khác nhau, nhưng đều bắt nguồn và thuộc về một chủ nhân duy nhất: Thiên Chúa Toàn Năng.
Phaolô Ngô Suốt


 

29/6-35: Thầy là Đấng Kitô Con Thiên Chúa Hằng sống - Lm Đan Vinh

Lễ Thánh Phêrô và Phaolô / Mt 16,13-19
I. TÌM HIỂU LỜI CHÚA
1) Ý chính: Thầy là Đấng Kitô con Thiên Chúa hằng sống (x. Mt 16,16):
 

Sau một thời gian rao giảng Tin Mừng Nước Trời, Đức Giêsu muốn biết dư luận quần chúng nghĩ: 29/6-35


Sau một thời gian rao giảng Tin Mừng Nước Trời, Đức Giêsu muốn biết dư luận quần chúng nghĩ gì về vai trò và sứ mệnh của Người, nên đã hỏi các môn đệ rằng: “Người ta nói Con Người là ai ?”.Các ông cho biết về những điều người ta nói về Người. Nhưng Người lại muốn biết lòng tin của các ông, nên hỏi tiếp: “Còn anh em bảo Thầy là ai ?”. Simon đại diện anh em Nhóm 12 khẳng định: “Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống”. Simon được Đức Giêsu khen là người có phúc (x. Mt 16,17). Ong được Đức Giêsu chính thức đổi tên thành Phêrô, và Người còn hứa sẽ xây Hội Thánh trên nền tảng đức Tin mà ông vừa tuyên xưng, tiên báo Hôi Thánh ấy sẽ trường tồn bất chấp sự chống phá của ma quỉ. Người còn trao cho ông chìa khóa Nước Trời với quyền đóng hay mở cửa Nước Trời đối với người ta.
2) Chú thích:

- Khi Đức Giêsu đến vùng kế cận thành Xêdarê Philipphê, Người hỏi các môn đệ rằng: “Người ta nói Con Người là ai?” các Ong thưa: “Kẻ thì nói là ông Gioan Tẩy Giả, kẻ thì bảo là ông Elia, có người lại cho là ông Giêrêmia hay một trong các vị ngôn sư” (Mt 16,13-14):

+ Thành Xêdarê Philipphê: Phân biệt với một thị trấn khác tên là Xêrarê duyên hải, nằm bên bờ Địa Trung Hải thuộc vùng đất Pa-lét-tin. Thành Xêdarê Philipphê là một thành phố cổ ở đầu nguồn sông Gióc-đan, do quận vương Hêrôđê Philipphê tái thiết vào năm thứ 2 trước Công Nguyên, để tỏ lòng tôn kính hoàng đế Rôma là Xêdarê Au-gút-tô.

+ Người ta nói con Người là ai ? Đức Giêsu thường tự xưng là Con Người. Có lẽ Người thích tước hiệu này hơn tước hiệu “Đấng Thiên Sai” hay “Con Vua Đa- vít”, là những tước hiệu bao hàm ý nghĩa chính trị, dễ làm cho dân Do thái bấy giờ đang nuôi hy vọng ái quốc cực đoan nổi loạn chống lại đế quốc Rôma. Sách Đanien trình bày nhân vật Con Người như sau: “Trong thị kiến ban đêm, tôi mải nhìn thì kìa: có ai như một Con Người đang ngự giá mây trời mà đến. Người tiến lại gần Đấng Lão Thành và được dẫn tới trình diện. Đấng Lão Thành trao cho Người quyền thống trị, vinh quang và vương vị. Muôn người thuộc mọi dân tộc, quốc gia và ngôn ngữ đều phải phụng sự Người. Quyền thống trị của Người là quyền vỉnh cửu không bao giờ bị mai một. Vương quốc của Người sẽ chẳng bao giờ suy vong” (Đn 7,13-14). Như vậy, khi dùng tước hiệu Con Người này, chắc chắn Đức Giêsu muốn nhấn mạnh bản tính nhân loại của Người, đồng thời cũng ám chỉ phẩm tính siêu việt của chức vụ Thiên Sai của Người (x. Mt 11,19; 17,9.22; 24,30; 25,31; 26,64).

+ Kẻ thì nói là ông Gioan Tẩy Giả, kẻ thì bảo là ông Elia, có người lại cho là ông Giêrêmia, hay một trong các vị ngôn sứ: Nói chung dân chúng chưa tin Đức Giêsu là Đấng Thiên sai, mà chỉ là một trong những nhân vật đến trước dọn đường cho Đấng Thiên Sai. Chẳng hạn: Là Ngôn Sứ Elia (x. Ml 3,23; Mc 9,11); Là Gioan Tẩy Giả, hiện thân của Elia, đã bị giết hại và nay sống lại (x. Mt 11,14; 17,10-13; Lc 1,17; 9,7); Là Ngôn sứ Giêrêmia hay một trong các Ngôn sứ thời xưa đã sống lại (x. Lc 9,8-9).

- Đức Giêsu lại hỏi: “Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai ?” Ong Simon Phêrô thưa: “Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống” (Mt 16,15-16):
+ “Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai ?” Đặt vấn đề với các môn đệ là Đức Giêsu muốn cho họ ý thức về lập trường đức tin của chính họ đối với Người.

+ “Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống”: Ong Phêrô thay mặt anh em mà tuyên xưng Đức Giêsu bằng hai tước hiệu của Đấng Thiên Sai: Một là “Kitô”, nghĩa là “Đấng được xức dầu”; Hai là “Con Thiên Chúa hằng sống”. Tước hiệu “Con Thiên Chúa” nói lên tình phụ tử giữa Đức Giêsu với Thiên Chúa là Cha của Người (x. Mt 11,25-27; 14,33).

- Đức Giêsu nói với ông: “Này anh Simon con ông Giôna, anh thật là người có phúc. Vì không phải phàm nhân mặc khải cho anh điều ấy. Nhưng là Cha của Thầy, Đấng ngự trên trời. Còn Thầy, Thầy bảo cho anh biết: Anh là Phêrô, nghĩa là Tảng Đá, trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy. Và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi. Thầy sẽ trao cho anh chìa khóa Nước Trời: Dưới đất anh cầm buộc điều gì, trên trời cũng sẽ cầm buộc như vậy. Dưới đất, anh tháo cởi điều gì, trên trời cũng sẽ tháo cởi như vậy” (Mt 16,17-19):

+ Con ông Giôna: Giôna hay có tên khác là Gioan (x. Ga 1,42).

+ Anh là Phêrô nghĩa là Tảng Đá: Trong Kinh Thánh, đặt tên cho ai là xác định có quyền trên người ấy: Giacaria đặt tên cho con trai mới sinh là Gioan trong ngày em chịu phép Cắt bì (x. Lc 1,63); Giuse đặt tên cho con là Giêsu để thừa nhận mình là Cha hợp pháp (x. Mt 1,25). Đức Giêsu đặt tên cho Simon là Phêrô (hay Kêpha) từ khi chọn Nhóm 12 Tông đồ (x. Mc 3,16; Lc 6,14). Ở đây khi long trọng gọi Simon là Phêrô, Đức Giêsu muốn nhấn mạnh về vai trò đặc biệt của ông trong Hội Thánh mà Người sắp thiết lập.

+ Trên tảng đá này: Tảng đá ở đây có thể hiểu là con người của Phêrô hay là chính Đức Giêsu, “Viên đá bị bọn thợ xây loại bỏ, nhưng đã trở thành tảng đá góc tường” (x. Mc 12,10; Cv 4,11). Nhưng có lẽ đúng hơn: tảng đá mà trên đó Đức Giêsu xây dựng Hội Thánh chính là đức tin của Phêrô vào Chúa Giêsu mà ông vừa tuyên xưng: “Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống” (x. Mt 16,16; Ep 2,20; 1 Cr 3,11). Chúa Giêsu cũng hứa sẽ cầu nguyện cho ông được kiên vững đức tin để có khả năng củng cố đức tin cho anh em mình (x. Lc 22,32).

+ Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy: Hội Thánh là cộng đoàn Mêsia thời sau hết, được thiết lập bằng Giao Ước Mới trong Máu Đức Giêsu (x. Mt 26,28). Hội Thánh ấy chính là Nước Trời, hình thành từ trần gian đầu tiên như hạt cải, nhưng ngày một phát triển cho đến tầm vóc to lớn ( x. Mt 13,31-32), là một tổ chức có phẩm trật, mà Phêrô được trao quyền lãnh đạo (x. Mt 16,19; Ga 21,15-17).

+ Quyền lực tử thần: hay “các cửa âm phủ”, nơi giam giữ kẻ chết (x. Ds 16,33). Ở đây có ý nói đến sức mạnh của ma quỉ. Chúng dùng sự dữ để đưa người ta vào con đường tội, và giam giữ họ trong hỏa ngục. Câu nói của Đức Giêsu gồm có hai ý: Một là Hội Thánh sẽ luôn đứng vững trước sự tấn công của Xatan. Hai là Hội Thánh sẽ tấn công Xatan để giải thoát con người đang bị chúng cầm giữ.

+ Chìa khóa, cầm buộc, tháo cởi: là những từ chuyên biệt muợn của Do thái giáo để nói lên quyền của Phêrô là được nhận vào hay loại bỏ ra khỏi Nước Trời. Đây cũng là quyền quyết định trong lãnh vực đức tin và luân lý, quyền cho phép hay cấm đoán về mục vụ. Những lời Đức Giêsu không dành riêng cho con người Phêrô, mà còn cho tất cả các vị kế thừa Người sau này là các Đức Giáo Hoàng, để Hội Thánh được tồn tại mãi mãi.

II. HỌC SỐNG LỜI CHÚA:

1) Trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy (Mt 16,18):

Câu chuyện: “Quo Vadis ?” - “Thầy ở đâu ?”:

“Cô Va-đít” (Quo Vadis) là một cuốn phim rất hay đã ra đời cách đây khoảng 4 thập niên. Câu chuyện phim xoay quanh mối tình giữa một cô gái đạo Công Giáo với một chàng trai dòng dõi quí tộc trong bối cảnh thành Rôma thời hoàng đế Nê-rông. Bấy giờ, Tông đồ Phêrô đã thi hành sứ mệnh rao giảng Tin Mừng. Ngài đã đi khắp nơi và cuối cùng dừng chân tại thành Rôma, trung tâm của Đế quốc La-mã. Bấy giờ dù đang bị bách hại, nhưng số các tín hữu ngày một gia tăng. Họ thuộc đủ mọi tầng lớp xã hội như: nô lệ, người bình dân, nhà buôn, quân lính, và cả trong hàng ngũ quí tộc cũng có các tín hữu. Họ luôn bị người Do thái thù ghét nghi kỵ, bị người Rôma khủng bố bách hại. Để tránh bị bắt, các tín hữu thường họp nhau tại nghĩa trang, nơi chôn cất người chết, vì người Rôma tôn trọng đất thánh không dám xâm phạm vào nơi này, để nghe giảng Lời Chúa, cùng nhau cầu nguyện và cùng cử hành Lễ Nghi Bẻ Bánh. Họ đào hầm sâu vào trong lòng đất để ẩn náu suốt thời kỳ bị bách hại. Ngày nay tại Rôma, người ta đã khám phá ra nhiều đường hầm dẫn đến các hang lớn gọi là hang toại đạo. Trong thời kỳ này, các tín hữu khi bị bắt, nếu không chịu bỏ đạo và làm lễ cúng tế thần mình, sẽ bị coi là phản loạn, và phải chịu cực hình như: Họ bị đem ra sân vận động có nhiều người xem. Họ phải quyết đấu với nhau, nghĩa là từng hai người chém giết lẫn nhau, cho đến khi một trong hai bị giết chết; hoặc họ sẽ bị đóng đinh trên cây thập giá, hay bị đem ra làm mồi cho sư tử hay hổ bị bỏ đói ăn thịt ....

Một hôm, khi bị truy nã gắt gao, tông đồ Phêrô đã phải cải trang thành một người lái buôn để đi trốn. Khi đã ra được ngoài thành, thì bất ngờ Phêrô thấy Chúa Giêsu đang đi từ ngoài vào trong thành. Phêrô lên tiếng hỏi Người: “Quo vadis? - Thầy đi đâu?”. Người đáp: “Thầy đi vào thành Rôma để chịu đóng đinh một lần nữa” rồi Người biến mất. Phêrô hiểu ý Chúa muốn cho mình phải vào thành chịu chết, để làm chứng cho Chúa. Ong đã bị kết án tử hình và chịu chết trên cây thập giá vào năm 64 dưới thời hoàng đế Nê-rông. Ong đã chịu đóng đinh ngược đầu xuống đất để tỏ lòng tôn kính Chúa Giêsu.

Cuộc đời Thánh Phêrô:

- Thánh Phêrô làm nghề chài lưới (x. Mt 4,18), tên là Simon, con ông Gioan và là anh em với Anrê (x. Ga 1,40.42). Sinh tại Bét-xai-đa (x. Ga 1,44), nhưng thường trú tại Ca-phác-na-um (x. Mc 1,29). Ong đã có gia đình riêng và Tin Mừng nói đến mẹ vợ của ông (x. Lc 4,38). Simon được Đức Giêsu đổi tên thành Phêrô (x. Mt 16,18), và được đặt làm đầu của Nhóm 12 Tông Đồ (x. Mt 10,2). Ong thường đại diện các tông đồ lên tiếng trả lời các câu hỏi của Đức Giêsu (x. Lc 5,3-10; Ga 6,68).
Phêrô đã sai lỗi chối Thầy ba lần (x. Mc 14,30) và nhiều lần khác bị Đức Giêsu quở trách vì đã có quan điểm lệch lạc về chương trình cứu thế của Đức Giêsu (x. Mt 16,23; Ga 13,8-10). Nhưng ông đã khiêm tốn hồi tâm sám hối (x. Mt 26,69-75), và đã tuyên xưng lòng yêu mến Thầy, nên đã được tha tội và còn được trao nhiệm vụ lãnh đạo đoàn chiên (x. Ga 21,15-17). Tại thành Xêdarê Philipphê, Simon đã tuyên xưng đức tin và đã được Đức Giêsu đổi tên thành Phêrô và còn được trao tối thượng quyền (x. Mt 16,18-19). Ong cũng được Đức Giêsu hứa sẽ cầu nguyện để ông luôn kiên vững đức tin để chu toàn nhiệm vụ củng cố đức tin cho các anh em (x. Lc 22,32). Ong là một trong ba môn đệ thân tín được xem Người biến hình (x. Mt 17,1), chứng kiến phép lạ một bé gái mới chết được sống lại (x. Mc 5,37) và có mặt khi Đức Giêsu hấp hối trong vườn Ghết-sê-ma-ni (x. Mt 26,37). Trong ngày Chúa Phục Sinh, Phêrô và Gioan đã cùng nhau chạy ra mồ khi nghe Maria Mácđala báo tin xác Thầy bị đánh cắp (x. Ga 20,1-9). Phêrô cũng được Chúa Phục Sinh hiện ra cách riêng (x. Lc 24,34). Sau khi Chúa về trời, Phêrô có mặt trong nhà tiệc ly để xin Chúa Thánh Thần hiện xuống (x. Cv 1,14). Trong những ngày ấy, Phêrô tổ chức cuộc tuyển chọn Mátthia bổ xung vào Nhóm Mười Hai thay chỗ của Giuđa phản bội (x. Cv 1,26).

Vào lễ Ngũ Tuần, sau khi được ơn Thánh Thần, Phêrô đã bắt đầu rao giảng Tin Mừng (x. Cv 2,14-36). Nhờ Thánh Thần tác động mà người nghe dù thuộc nhiều dân tộc và ngôn ngữ khác nhau, vẫn hiểu được bài giảng của Phêrô giống như được nghe bằng tiếng mẹ đẻ của mình (Cv 2,5-8). Ngày hôm ấy đã có tới 3.000 người xin theo đạo. Họ được chịu phép Rửa nhân danh Đức Giêsu Kitô để được ơn tha tội và nhận ân huệ là Thánh Thần (x. Cv 2,37-38.41). từ đây, Phêrô lãnh đạo cộng đoàn Giêrusalem mới thành hình. Ong rảo khắp nơi để đi thăm các giáo đoàn như tại Lốt (x. Cv 9,32), làm nhiều phép lạ (x. Cv 9,33-35.40-41). Ong là người đầu tiên đã làm phép Rửa cho gia đình Conêliô ngoại giáo mà không bắt họ phải chịu phép Cắt Bì trước (x. Cv 10,47-48). Trong Công Đồng Giêrusalem vào năm 49, Phêrô ủng hộ Phaolô và Banaba và cùng quyết định chung là: Không buộc dân ngoại phải chịu phép Cắt Bì trước khi chịu phép Rửa để gia nhập đạo Công Giáo, mà chỉ cần họ kiêng ăn đồ cúng thần, kiêng ăn tiết, kiêng thịt loài vật không cắt tiết, và tránh gian dâm (x. Cv 15,28-28). Sau đó Phêrô đến Rôma và đã bị án tử hình thập giá vào năm 64 trong cuộc bắt đạo dưới thời hoàng đế Nê-rông.

- Suy niệm: Trong cuộc sống, Thánh Phêrô luôn chu toàn sứ mệnh Chúa Giêsu trao và xứng đáng là Mục tử tốt lành, Dù trải qua bao nhiêu bắt bớ tù đày, nhưng Phêrô vẫn một lòng trung kiên phụng sự Chúa cho đến chết để nên giống như Thầy của mình (x. Ga 21,18-19). Tuy đã có lúc phạm tội chối Thầy, nhưng Phêrô đã mau hồi tâm sám hối (x. Lc 22,54-62). Cuối cùng ông đã tuyên xưng lòng mến 3 lần để được tha tội 3 lần chối không dám nhận Thầy (x. Ga 21,15-17).

- Quyết tâm: Hội Thánh được xây dựng trên Tảng Đá là tông đồ Phêrô, hay đúng hơn là trên đức Tin vào Chúa Giêsu là “Đấng Kitô Con Thiên Chúa hằng sống” (Mt 16,16; 1 Cr 3,10). Mỗi tín hữu chúng ta phải làm gì để trở thành viên đá sống động xây nên tòa nhà Hội Thánh (x. 1 Cr 3,16-17), hay nên Đền Thờ của Thiên Chúa, có nền móng là các Tông Đồ và Ngôn Sứ, và Đá tảng góc tường là chính Đức Kitô Giêsu” (Ep 2,20) ?

2) Thánh Phaolô nói: “Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Kitô sống trong tôi” (Gl 2,20):

Câu chuyện về cuộc đời của Thánh Phaolô:

- Thánh Phaolô, Tông đồ của dân ngoại, tên là Saolê, Sách Công vụ đã ghi lại lời tự thuật của Phaolô như sau: “ Tôi là người Do thái, sinh tại Tác-xê miền Ka-li-ki-a, nhưng tôi đã được nuôi dưỡng tại thành này, dưới chân ông Ga-ma-li-en. Tôi đã được giáo dục để giữ luật cha ông một cách nghiêm ngặt. Tôi cũng đã phục vụ Thiên Chúa như tất cả các ông hiện nay. Tôi từng bắt bớ đạo này, không ngần ngại giết kẻ theo đạo, bất kỳ đàn ông đàn bà đều bị trói bỏ tù, như vị thượng tế cùng cả hội đồng kỳ mục có thể làm chứng cho tôi. Tôi còn được các vị ấy cho thư giới thiệu với anh em ở Đa-mát, và tôi đi để bắt trói những người ở đó giải về Giêrusalem để trừng trị.

Đang khi tôi đi đường đến gần Đa-mát vào ban trưa, bỗng nhiên có luồng ánh sáng chói lọi từ trời chiếu xuống bao phủ lấy tôi. Tôi ngã xuống đất và nghe có tiếng nói với tôi: “Sao-lê, Sao-lê, sao ngươi bắt bớ Ta ?” Tôi đáp: “Thưa Ngài, Ngài là ai ?” Đấng ấy nói với tôi: “Ta là Giêsu Nadarét mà ngươi đang bắt bớ”. Những người đi với tôi thấy ánh sáng, nhưng không nghe thấy tiếng của Đấng đang nói với tôi. Tôi nói: “Lạy Chúa, con phải làm gì ? Chúa bảo tôi: “Hãy đứng dậy, vào thành Đa-mát, ở đó người ta sẽ nói cho con biết tất cả những gì Thiên Chúa đã chỉ định cho con phải làm”. Vì ánh sáng chói lòa kia làm cho tôi không còn trông thấy gì nữa, nên tôi đã được các bạn đồng hành cầm tay dắt vào Đa-mát.

Ở đó, có ông Kha-na-ni-a, một người sùng đạo, sống theo Lề Luật và được mọi người Do thái ở Đa-mát chứng nhận là tốt. Ong đến đứng bên tôi và nói: “Anh Sao-lê, anh thấy lại đi !”. Ngay lúc đó, tôi thấy lại được và nhìn ông. Ong nói: “Thiên Chúa của cha ông chúng ta đã chọn anh, để anh được biết ý muốn của Người, được thấy đấng công chính và nghe tiếng từ miệng Đấng ấy phán ra. Quả vậy, anh sẽ làm chứng cho Đấng ấy trước mặt mọi người về những điều anh đã thấy và đã nghe. Vậy bây giờ anh còn chần chừ gì nữa ? Anh hãy đứng lên, chịu phép Rửa và thanh tẩy mình cho sạch tội lỗi, miệng kêu cầu Danh Người”.

Khi trở về Giêrusalem, đang lúc tôi cầu nguyện trong Đền thờ, thì tôi xuất thần và thấy Chúa bảo tôi: “Mau lên, hãy rời khỏi Giêrusalem gấp, vì chúng sẽ không nhận lời con làm chứng về Thầy đâu”. Tôi thưa: “Lạy Chúa, chính họ biết rõ con đây đã đến từng hội đường bắt giam và đánh đòn những kẻ tin Chúa. Khi người ta đổ máu ông Tê-pha-nô chứng nhân của Chúa, thì chính con cũng có mặt, con tán thành và giữ áo cho những kẻ giết ông ấy”. Chúa bảo tôi: “Hãy đi, vì Thầy sẽ sai con đến với các dân ngoại ở phương xa” (x. Cv 22,3-21).

- Suy niệm: Thế là Phaolô từ một người bắt đạo, đã trở nên một vị giảng đạo nhiệt thành. Đặc biệt, thánh nhân luôn lo đem Chúa đến cho lương dân, nên được gọi là “Tông đồ Dân Ngoại”. Ngài dốc hết toàn lực rao giảng Tin Mừng. Ngài đi khắp nơi kêu gọi mọi người tin theo Chúa, Ngài đã chịu gian khổ, thử thách và bách hại vì danh Chúa (x. Cv 20, 18-31). Sau cùng, Phaolô được phúc tử đạo là bị chém đầu ở ngoại thành Rôma vào năm 67.

- Quyết tâm: Noi gương nhiệt tình rao giảng Tin Mừng của thánh Phaolô, tôi quyết tâm chu toàn sứ mệnh làm chứng cho Chúa bằng các việc như sau: quan tâm giáo dục dạy dỗ con cái, học trò và các người dưới quyền; Cầu nguyện cho các tội nhânsớm ăn năng trở lại: Chấp nhận chịu đựng gian nan vất vả và các tai ương trái ý gặp phải trong cuộc sống hằng ngày, để cầu xin cho nhiều đồng bào Việt Nam nhận biết Thiên Chúa, tôn thờ, yêu mến và sống hiếu thảo với Chúa Cha, và sống yêu thương đoàn kết với mọi người thiện chí.

III. HIỆP SỐNG NGUYỆN CẦU

1) Lạy Chúa Giêsu, trước khi trao trách nhiệm cho Thánh Phêrô, Chúa đã đòi Ngài phải xác tín vào Chúa, và Chúa đã hài lòng khi Phêrô tuyên xưng đức Tin: “Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống” (x. Mt 16,16). Chúa cũng đặt Phêrô làm nền móng của Giáo Hội và còn trao chìa khóa Nước Trời với quyền cầm buộc và tháo cởi của ông. Lạy Chúa Giêsu, Chúa tin tưởng và trao trách nhiệm cho người hiểu biết yêu mến Chúa và đặt trọn niềm tin nơi Chúa. Con cũng sẽ được Chúa tin tưởng và trao sứ mệnh xây dựng Giáo Hội, nếu con có lòng tin, lòng cậy và lòng mến Chúa. Vậy xin Chúa cho con có một đức tin vững chắc. Xin cho con trở thành một viên đá sống động, góp phần xây nên tòa nhà Hội Thánh.

Nhưng Chúa ơi, viên đá tâm hồn con cũng cần được mài dũa các góc cạnh sắc bén để có thể ăn khớp với các viên đá khác là tha nhân. Tâm hồn con cũng cần được loại bỏ những phần thừa là các đam mê tội lỗi và các thói hư tật xấu. Lòng trí con cũng cần sớm đục bỏ đi tính ích kỷ, chỉ biết nghĩ đến mình mà quên đi tha nhân. Xin cho con quyết tâm loại bỏ thói háo danh, kiêu căng tự mãn, hay phê bình nói hành nói xấu tha nhân, để con luôn sống hòa hợp với những người ở chung với chúng con dưới cùng một mái nhà, sống chung trong cùng một khu xóm; làm việc chung trong cùng một cơ quan, nhà máy, xí nghiệp, phục vụ chung trong cùng một nhà trường, một giáo xứ hay một hội đoàn công giáo tiến hành&

X) Hiệp cùng Mẹ Maria. - Đ) Xin Chúa nhậm lời chúng con.

2) Lạy Mẹ Maria. Tòa nhà Hội Thánh sau hai ngàn năm xây dựng, nhưng đến nay vẫn còn dang dở và cần được tiếp tục xây dựng để sớm hoàn thành. Xin Mẹ giúp con góp phần nhỏ bé để xây dựng Hội Thánh, bằng việc phó thác cậy trông vào Chúa Quan Phòng, sống tình yêu thương tha nhân, thể hiện qua việc quảng đại chia sẻ tiền bạc vật chất với những kẻ nghèo hèn đói khát, các bệnh nhân và những người đang đau khổ cả về thể xác cũng như tinh thần& xin Mẹ giúp con trở thành một viên đá khiêm tốn, liên kết với những viên đá khác để xây dựng tòa nha Hội Thánh. Xin Mẹ cầu bầu cùng Chúa Giêsu để ban cho con sự nhiệt thành chu toàn sứ mệnh xây dựng Hội Thánh ngày một khang trang đẹp đẻ, luôn đứng vững trước mọi trở ngại do ma quỉ và thế gian là tay sai của ma quỉ gây ra.
X) Hiệp cùng Mẹ Maria. - Đ) Xin Chúa nhậm lời chúng con.

Lm. Đan Vinh


 

29/6-36: Phêrô nền móng của Giáo hội - Huyền Đồng

Chúa Nhật 13 Thường Niên B: / 13th Sunday in Ordinary Time
LỄ THÁNH PHÊRÔ VÀ PHAOLÔ TÔNG ĐỒ/St. Peter and Paul, Apostles
Lời Chúa cho hôm nay: PHÊRÔ, NỀN MÓNG CỦA GIÁO HỘI. / * Peter, Foundation of the Church *

 

Đây là một sự đầy đủ về tiên tri Giêsu, mà Người có thể che chở những ai công bố Lời của: 29/6-36


* BÀI ĐỌC 1: Cvụ 12, 1-11= Đây là một sự đầy đủ về tiên tri Giêsu, mà Người có thể che chở những ai công bố Lời của Thiên Chúa./ This is a fulfillment of JesusỴs prophecy that He would protect those who would proclaim the Word of God.

* BÀI ĐỌC 2: 2 Timôthê 4, 6-8; 17-18 = Một bài viết ngắn gon báo tin Phaolô trước khi ông chết, xác định ý Chúa muốn/ It was written in PaulỴs name with the premise that he wrote it shortly before he died, he realizes that is GodỴs will for...

* BÀI TIN MỪNG(Gospel): Mathêu 16, 13-19 = Phêrô là đá: khi Phêrô nói Giêsu là Chúa Cứu thế: Ông muốn nói rằng Giêsu là Đấng Mesia. / Peter is the rock, when Peter says Jesus is “the Christ,” he is saying that Jesus is the Messiah.

A- Bạn và tôi cùng Cảm nghiệm Sống và chia sẻ ba bài đọc trên: (Reflections, live out and share )

1/ Trong bài Tin Mừng, ông Simon nói Thầy là Đấng KITÔ, Con Thiên Chúa hằng sống. Đức Giêsu liền nói với ông: “Này anh Simon con ông Giô-na, anh thật là ngươi có phúc, vì không phải phàm nhân mạc khải cho anh em điều ấy, nhưng là Cha của Thầy...” Hằng ngày tôi có được nghe Chúa nói qua nhiều cách như vũ trụ, cỏ cây, hoa, con người, không khí v.v... Tâm hồn tôi phải thế nào để dễ nghe tiếng Chúa?

“Blessed are you, Simon son of Jonah. For flesh and blood has not revealed this to you, my heavenly Father” (Mat. 16,17)

2/ Đức Kitô còn nhấn mạnh thêm: “Còn Thầy, Thầy bảo cho anh biết: Anh là Phêrô nghĩa là tảng đá, trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội thánh của Thầy...” Người Tín hữ u là Giáo hội, là đền thờ của Chúa Thánh Thần, là dân thánh của Chúa. Nếu là gia trưởng, bạn đã xây dựng Giáo hội nhỏ là gia đình như thế nào?

And so I say to you, you are Peter, upon this rock I will build My Church...” (Mat. 16, 18)

3/ Trong bài đọc 1, thánh Phêrô đã được Thiên sứ cứu và cảm nhận như sau: “Bây giò tôi biết thực sự là Chúa đã sai Thiên Chúa của Người đến và cứu thoát tôi khỏi tay vua Herôđê...” Tôi đã được Chúa đến cứu nguy trong nhiều tai nạn và biến cố cuộc sống. Tôi đã nhận ra Ngài đến giúp trong những trường hợp nào?

Now I know for certain that Lord sent His angel snd rescue me from the hand of Herod and from all... (Cvụ 12, 11)

4/ Thánh Phaolô nói với một niềm tin sắt đá như sau: “Có Chúa đứng bên cạnh, Người đã ban sức mạnh cho tôi, để nhờ tôi mà việc rao giảng được hoàn thành...” Lòng tha thiết với Tin mừng cho dân ngoại đã làm cho Phaolô thấy rõ được sự nâng đỡ của Chúa. Bạn đã can đảm làm chứng tá trong đời sống những gì?

The Lord stood by me and gave me strength, so that through me the proclamation may be completed... (2Tm.4,17)

B- Câu Kinh Thánh kêu gọi tôi chọn làm Châm ngôn Sống tuần này: ( The Best GodỴs Word )

CÓ CHÚA ĐỨNG BÊN CẠNH, NGƯỜI ĐÃ BAN SỨC MẠNH CHO TÔI... (2 Tm. 4, 17)

“The Lord stook by me and gave me strength.”

C- Ngay bây giờ tôi phải làm gì để noi gương Phêrô và Phaolô: ( So what am I doing/ For action )

a/ Bạn có thể chọn 1 trong 4 Gợi ý Cảm nghiệm Sống và chia sẻ ở phần A để áp dụng vào đời sống.

b/ Tôi chọn một việc rao giảng Tin Mừng cho lương dân bằng cách sống hay việc làm tùy môi trường.

D- Tôi cầu nguyện không ngừng và Sống lời tôi cầu xin: ( I pray and practice / Pray in Action )

1/ Dưạ vào 4 câu Kinh Thánh nêu trên, tôi tự phát với Chúa lòng ước ao Sống Tin Mừng cuả mình.

2/ Bạn có thể ca tụng Ngài về việc Ngài đang đồng hành với bạn khi vui mừng và lúc khó khăn.

Hoa thơm cỏ lạ: ƯỚC GÌ ĐỜI SỐNG BẠN PHẢN ÁNH CHÚA KITÔ TRÊN NGƯỜI LÂN CẬN

Our lives would so reflect Jesus that we would live on our neighborhoods

 Huyền Đồng 


 

29/6-37: HÃY LÀ MÔN ĐỆ ĐỨC KITÔ

 

Thánh Phêrô và Thánh Phaolô luôn dạy tôi một lời vắn tắt sau đây: “Dù con là ai, ở địa vị nào, con hãy 29/6-37


1. Thánh Phêrô và Thánh Phaolô luôn dạy tôi một lời vắn tắt sau đây: “Dù con là ai, ở địa vị nào, con hãy sống đúng ơn gọi của con. Ơn gọi của con là môn đệ Đức Kitô. Môn đệ Đức Kitô, đó là ơn gọi căn bản của con, đó là ơn gọi cao quý nhất Chúa dành cho con”.

Nhận thức điều hai Thánh Tông Đồ dạy trên đây là quan trọng, tôi xin hai Thánh Tông Đồ dạy tôi thêm những gì tôi cần làm để sống ơn gọi người môn đệ Đức Kitô.
Hai Đấng đã dạy tôi…

2. Việc thứ nhất các ngài dạy là hãy cùng với Đức Kitô, mà cầu nguyện với Đức Chúa Cha: “Lạy Cha chúng con ở trên Trời” (Lc 11, 2- 4). Khi tôi cùng với Đức Kitô đọc kinh “Lạy Cha chúng con ở trên Trời”, tôi thấy lòng tôi bỗng mở ra, cho phép tôi có một cái nhìn mới rất lạ lùng.

Tôi sung sướng thấy mình có một người Cha ở trên Trời. Người Cha ấy xót thương tôi. Tôi thấy Cha trên Trời ôm mọi người vào lòng mình, vì Cha coi mọi người đều là những người con của Cha. Tôi cảm thấy tôi được gần lại với Cha, và đồng thời cũng được gần lại với mọi người, không kể họ là ai.

3. Tôi cảm thấy dung mạo của Cha trên Trời là yêu thương là khiêm nhường. Yêu thương hết sức và khiêm nhường tột độ. Với yêu thương và khiêm nhường như thế, để dẫn đưa tôi về thiên đàng. Với yêu thương và khiêm nhường, Cha trên Trời muốn tôi cũng hãy nên giống Cha, mà yêu thương và khiêm nhường không những đối với Cha, mà cũng đối với mọi người.

4. Hình ảnh mà hai Thánh Tông Đồ đã đưa ra để dạy tôi, để trở nên môn đệ Đức Kitô về yêu thương và khiêm nhường đối với người khác. Đó là hình ảnh người Samatinô tốt lành, mà Chúa Giêsu đã nêu lên (x. Lc 10, 25- 37). Người Samatinô đó đã xuống ngựa, đến bên người đau khổ, cúi mình xuống, chăm sóc họ, với yêu thương hết sức và khiêm nhường tột độ, môn đệ Đức Kitô là như thế đó.

Nếu môn đệ Đức Kitô thì phải như thế, thì thú thực đã nhiều lần tôi không phải là môn đệ Đức Kitô. Bởi vì tôi đã không yêu thương và khiêm nhường đủ trong việc phục vụ người khác.

5. Nhận thức mình còn nhiều thiếu sót về yêu thương và khiêm nhường đang là điều tôi phải sám hối. Sám hối của tôi là xin lỗi Chúa, nhất là quyết tâm sửa mình lại.

6. Thánh Phêrô và Thánh Phaolô là hai vị Thánh nổi bật về sám hối. Sám hối nơi hai người nhấn mạnh đến khiêm nhường.

7. Thánh Phêrô quả quyết: “Hãy lấy đức khiêm nhường mà đối xử với nhau, vì Thiên Chúa chống lại kẻ kiêu căng nhưng ban ơn cho kẻ khiêm nhường” (1Pr 5, 5).

8. Còn thánh Phaolô thì nói: “Đừng làm chi vì ganh tị hay vì hư danh, nhưng hãy lấy khiêm nhường mà coi người khác hơn mình” (Pl 2, 3).

9. Khiêm nhường cũng đã và đang là điều mà các Đức Giáo Tông Gioan-Phaolô II, Đức Bênêdictô XVI, và Đức Phanxicô đề cao, khi các ngài dùng nhiều cách khác nhau, để xin lỗi về những gì Hội Thánh trong quá khứ đã xúc phạm đến những người ngoài Công Giáo.

10. Khiêm nhường là một thứ cửa hẹp. Nhưng phải qua cửa hẹp đó, mới vào được Thiên Đàng.

Thế nhưng rất nhiều người đã không muốn đi qua cửa hẹp đó: “Cửa rộng và đường thênh thang thì đưa tới diệt vong, mà nhiều người lại đi qua đó, còn cửa hẹp và đường hẹp đưa tới sự sống, thì ít người tìm được lối ấy” (Mt 7, 13-14).

Lời Chúa Giêsu phán xưa đang là một sự thực xảy ra trong tình hình hiện nay.

11. Khiêm nhường là dấu chỉ những người môn đệ Chúa Giêsu. Kiêu ngạo là dấu chỉ những người môn đệ quỷ Xatan.

12. Đức Phanxicô, khi coi sự khiêm nhường là điều kiện cần thiết để đổi mới Hội Thánh hôm nay, thì ngài coi thời gian là một lãnh vực, mà chúng ta cần thực hiện sự khiêm nhường hơn. Nghĩa là:

13. Khiêm nhường là biết chờ đợi, đừng nóng vội. Hãy biết bắt đầu lại.

14. Khiêm nhường là biết đi từng bước nhỏ, đừng ham bước những bước dài, bước lớn.

15. Khiêm nhường là biết coi thời gian mỗi ngày là một kho tàng để khám phá ra những ơn lành của Chúa. Đừng coi mỗi ngày là một gánh nặng, để rồi than oán.

16. Khiêm nhường là đừng coi mình là Giám Mục, Linh Mục, hay là ai, nhưng chỉ là môn đệ Đức Kitô, đó là việc thứ hai và cũng là việc sau cùng, mà hai Thánh Tông Đồ đã dạy tôi lúc này.

17. Trên đây là đôi chút chia sẻ, để mừng lễ hai Thánh Tông Đồ Phêrô và Phaolô. Các ngài đúng thực là môn đệ Đức Kitô.

Xin hai Thánh làm phép lành cho chúng ta, để chúng ta biết tỉnh thức sống ơn gọi người môn đệ Đức Kitô một cách thiết thực trong tình hình phức tạp hiện nay.

+ Gm. Gioan B. BÙI TUẦN, Long Xuyên, 27.6.2018


 

29/6-38: ĐỐI VỚI TÔI, ĐỨC KI-TÔ LÀ MỘT NGƯỜI ANH

Với niềm tin vào Đức Ki-tô và những cảm nghiệm từ cuộc sống thường ngày, tôi xác tín rằng: Đức: 29/6-38:


Với niềm tin vào Đức Ki-tô và những cảm nghiệm từ cuộc sống thường ngày, tôi xác tín rằng: Đức Ki-tô là một người anh thực sự trong đời sống của tôi. Trước hết, Đức Ki-tô luôn đồng hành với tôi qua việc Ngài luôn lo lắng, chăm sóc, giữ gìn, bảo vệ tôi khi tôi gặp những cơn gian nan thử thách, những lúc ngặt nghèo đau khổ, những lúc gặp khó khăn chán nản, buồn bực. Ngài luôn an ủi tôi, khi tôi thành công cũng như khi thất bại. Ngài luôn ở cạnh tôi để động viên, khích lệ tôi, để tôi đủ can đảm vượt thắng những yếu đuối và những thất vọng của mình trong cuộc sống. Ngài vẫn nắm tay tôi để tôi vững bước theo chân Ngài trên cuộc hành trình tiến về Thiên Quốc.

Hơn thế nữa, Đức Ki-tô là người anh đầy lòng yêu thương và tha thứ. Bởi vì, mỗi lần tôi sa ngã phạm tội, tôi không ngần ngại, sợ sệt để tâm sự và bày tỏ cho Ngài với một tâm hồn đơn sơ chân thành. Những lúc như thế, tôi cảm nghiệm được Ngài luôn biết lắng nghe, cảm thông và thấu hiểu lòng tôi, để từ đó, Ngài tha thứ cho tôi, Ngài yêu thương tôi nhiều hơn và giúp tôi nhận ra được tội lỗi mình đã phạm mà ăn năn hối cải. Nhờ vậy mà tôi ngày càng sống tốt đẹp hơn và giống Ngài hơn.

Cuối cùng, Đức Ki-tô chính là nguồn sức sống của đời tôi Ngài đã yêu thương tôi đến nỗi đã ban chính Ngài cho tôi để làm “của ăn” nuôi dưỡng linh hồn tôi, để tôi và Ngài không còn là hai nhưng là một. Hàng ngày tôi đã đón nhận biết bao hồng ân từ nơi Ngài để vun đắp tình anh em giữa tôi và Ngài thêm sâu sắc và bền chặt cũng như giúp tôi sống trọn vẹn ý nghĩa ơn gọi làm người và làm con Thiên Chúa. Thật vậy, đối với tôi Đức Ki-tô chính là người anh trọn hảo nhất của tôi.

ĐỨC KI-TÔ ĐÃ LÀM GÌ TRONG CUỘC ĐỜI CỦA TÔI ?

Tôi chỉ cần nhìn vào chính cuộc sống của tôi hiện nay là một người đang theo đuổi ơn gọi tu trì để trở thành môn đệ của Ngài. Tôi có thể nói được rằng: Ngài đã làm tất cả mọi sự trong cuộc đời của tôi.

Ngài đã mời gọi tôi để tôi sống gần gũi và kết hiệp với Ngài để trở thành người môn đệ của Ngài. Có thể nhiều người sẽ ngạc nhiên vì Ngài đã chọn gọi tôi – một  con người không có tài giỏi gì, thấp kém, dốt nát, quê mùa, quanh năm suốt tháng chỉ quen với những công việc đồng áng và cày cuốc. Hàng ngày chỉ biết bán mặt cho đất, bán lưng cho trời, sống trong một vùng quê rừng núi nghèo nàn cách xa thành phố hàng ngàn cây số, mùa mưa thì ướt át, đường xá lầy lội và khó đi. Tôi hoàn toàn xa lạ với cuộc sống đô thị, văn minh và hiện đại. Vậy mà Ngài đã yêu thương tôi, Ngài đã chọn tôi làm môn đệ của Ngài. Ngài đã cho tôi tất cả những gì là tốt đẹpnhất, thuận lợi nhất để tôi vững bước trên hành trình bước theo Ngài. Hơn thế nữa, Ngài đã biến đổi tôi từ một con người yếu đuối tội lỗi, đam mê của cải thế gian trở thành một con người mạnh mẽ, sống tốt đẹp và biết bắt chước Ngài sống yêu thương và có lòng vị tha, bác ái đới với người khác, giúp tôi luôn biết quan tâm và phục vụ mọi người theo mẫu gương mà Ngài để lai. Thật vậy, chính Đức Ki-tô đã biến đổi hoàn toàn cuộc đời của tôi, làm cho tôi ngày càng sống trọn vẹn hơn với lời mời gọi làm môn đệ của Ngài.

Tu Sĩ K'BRÔIH, Tu Hội Tận Hiến


 

29/6-39: GIÁO HỘI

Mừng kính lễ hai thánh Phêrô và Phaolô tông đồ, hai cột trụ vững chắc, chống đở cho tòa nhà: 29/6-39


Mừng kính lễ hai thánh Phêrô và Phaolô tông đồ, hai cột trụ vững chắc, chống đở cho tòa nhà Giáo hội, chúng ta cùng nhau nhìn vào tình trạng hiện nay, để rồi từ đó rút ra những kết luận thực hành. Nhìn vào Giáo hội hiện nay, chúng ta phải ghi nhận ba sự kiện đáng buồn sau đây:

Sự kiện thứ nhất, đó là người ta giảm sút lòng tôn trọng và vâng phục quyền bính trong Giáo hội.

Thực vậy, nếu theo dõi báo chí, ngay cả những tờ báo công giáo, chúng ta thấy xuất hiện một khuynh hướng cấp tiến nguy hiểm. Khuynh hướng này nhằm đả phá phẩm trật trong Giáo hội, bôi nhọ Đức Thánh Cha và nhất là phê bình những quyết định của Giáo hội. Tôi xin đan cử một trường hợp gần đây nhất, để cho thấy sự sút giảm đã đến hồi trầm trọng. Ai cũng biết Giáo hội Ý là một Giáo hội được coi như toàn tòng công giáo và Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II là một vị Giáo Hoàng được cảm tình của nhiều người. Khi ngài bị ám sát hụt tại công trường thánh Phêrô, ai cũng cảm thấy xót thương. Thế nhưng, hầu hết người dân Ý vẫn đi bỏ phiếu để chấp thuận luật phá thai, một vấn đề đã được ngài từng lên tiếng phản đối nhiều lần.

Đi xuống một lãnh vực nhỏ bé hơn, trong những câu chuyện thường ngày, tôi được nghe rất nhiều những lời chỉ trích, hạ nhục uy tín các linh mục. Tôi cũng được biết đến rất nhiều vụ kiện về cha này hay cha khác. Kéo nhau ra cha quản hạt hay lên Tòa giám mục mà thôi chưa đủ, họ còn mượn tay chính quyền để phân xử.

Sự kiện thứ hai, đó là người ta đòi hỏi Giáo hội hơn là đòi hỏi chính bản thân mình.

Thực vậy, người ta luôn đặt quyền lời của cá nhân hay gia đình lên trên quyền lợi của Giáo hội. Người ta đòi hỏi các cha, các thày, các dì phải thế nọ, phải thế kia, nhưng lại chẳng bao giờ tự hỏi lòng mình: Tôi đã làm được gì cho Giáo hội ?

Rồi từ đó, người ta đi tới một thái độ cực đoan, muốn kiểm soát cả những vị bề trên của mình. Không thiếu gì những cặp mắt soi mói, luôn dò xét nhà thờ, nhà xứ, không phải để nâng đỡ, mà để  bới móc. Và nếu chẳng may có một sự việc gì không được vừa ý là thổi phồng và bàn tán xôn xao.

Có nơi, ban hành giáo muốn kiểm soát cả sự chi tiêu của cha sở. Muốn làm bất cứ việc gì cũng phải trình qua ban hành giáo, bằng không thì sẽ có chuyện đôi co, chẳng lành. Hành động như thế là đi ngược lại với nguyên tắc quyền bính trong Giáo hội. Thực vậy, quyền bính trong Giáo hội phải từ trên đi xuống, chú không phải từ dưới đi lên.

Sau cùng, sự kiện thứ ba đó là người quá lo lắng cho bản thân, quá vun quén cho gia đình, mà quên đi lợi ích chung của giáo xứ, của giáo phận, cũng như của Giáo hội. Chẳng hạn việc bàu ban hành giáo. Mặc dù được nhắc đi nhắc lại chẳng biết bao nhiêu lần, thế mà số người ra ứng cử vào ban hành giáo chẳng được bao nhiêu. Hình như người ta ngại gánh vác những công việc chung. Ai cũng than là gia đình mình quá bận rộn và thiếu thốn. Tuy nhiên, xét cho cùng phải chăng là chúng ta thiếu tinh thần chung và chúng ta ngại hy sinh cho giáo xứ ? Đã thế, khi có người thiện chí, dám hy sinh ra gánh vác công việc chung, thì chúng ta lại tìm cách ngăn cản, hay gièm pha thế này thế khác.. Chúng ta nói rằng mình yêu mến Giáo hội, thì hãy chứng minh lòng yêu mến ấy bằng những việc làm cụ thể. Đừng tưởng rằng mỗi năm mình đóng góp dăm ba chục ngàn hay một vài trăm ngàn là đã làm tròn phận sự, là đã yên lương tâm, để rồi có quyền đòi hỏi và hạch sách. Chúng ta thử nghĩ xem sự đóng góp ấy được là bao so với những chi phí cần thiết cho việc sinh hoạt cũng như cho việc duy trì và kiến thiết  của giáo xứ.

Chẳng hạn việc học hỏi giáo lý. Mỗi năm mới có một kỳ hè. Đây là thời gian thuận tiện để mở những khóa giáo lý. Chính các Đức Giám mục cũng muốn như vậy. Không phải chỉ mình giáo xứ của chúng ta, mà hầu như tất cả các giáo xứ đều mở. Khi mở những khóa giáo lý như vậy, chúng tôi vừa hao tốn tiền bạc, vừa hao tốn thời giờ, lại vừa hao tốn công sức…Thế nhưng, chúng tôi sẵn sàng chấp nhận để con em chúng ta được bồi dưỡng về đạo đức, được giáo dục về đức tin. Tuy nhiên, tôi thấy có những người đã phát biểu nghe nó chua chát làm sao: Con tôi không phải để đi chơi, nhưng phải tập cho nó biết làm ăn… Nghỉ giáo lý một ngày  thì không sao, chứ nghỉ ăn một ngày thì chết…

Từ những sự việc trên, chúng ta đi vào ngày lễ hôm nay: hai thánh Phêrô và Phaolô tông đồ đã chết để tuyên xưng đức tin và đã trở thành nền móng cho Giáo hội công giáo.

Còn chúng ta thì sao ? Liệu chúng ta có dám sống và dám chết cho Giáo hội hay không ? Chúng ta có dám lên tiếng để bênh vực những quyền lợi chính đáng Giáo hội hay không ? Mỗi người chúng ta phải là một viên gạch, góp phần vào việc xây dựng Giáo hội.  Vậy chúng ta cần phải làm gì ?

Trước hết, chúng ta hãy tôn trọng và vâng phục quyền bính trong Giáo hội. Nhiều khi, trong những lúc vui đùa bên mâm cơm hay bên tiệc rượu, chúng ta đã kể những mẩu chuyện tiếu lâm liên quan tới tôn giáo. Làm như vậy, chúng ta đã vô tình coi thường những chức vụ trong Giáo hội, để dẫn tới những thái độ bất kính.

Tiếp đến, chúng ta hãy dùng lời nói và việc làm để góp phần xây dựng cho giáo xứ của mình, cũng như cho những  giáo xứ khác, trong một tầm nhìn rộng lớn hơn và tổng quát hơn.

Đừng bao giờ hỏi rằng: Giáo hội đã làm gì cho tôi ? Nhưng hãy tự vấn lương tâm xem: Tôi đã làm gì cho Giáo hội ?


 

 29/6-40: NTGT/352- MỘT ĐỨC TIN

Hôm nay cùng với Giáo hội, chúng ta long trọng cử hành lễ trọng kính thánh Phêrô và Phaolô: 29/6-40


Hôm nay cùng với Giáo hội, chúng ta long trọng cử hành lễ trọng kính thánh Phêrô và Phaolô, lễ này cũng là dịp giúp chúng ta chiêm ngắm gương sống đức tin của các Ngài. Các Ngài là hai con người khác nhau, nhưng đón nhận cùng một đức tin từ Thiên Chúa, nhưng các Ngài đã vượt qua và ra đi rao giảng đức tin của mình.

Đức tin được đón nhận

Chúng ta thấy Phêrô và phaolô hai người có hai hoàn cảnh, hai địavị, hai trình độ… hoàn toàn khác nhau nhưng các Ngài cùng đón nhận một đức tin duy nhất đến từ Thiên Chúa. Phêrô là người chài lưới, ông rất hăng say, nhiệt tình và có một tâm hồn nhạy cảm. Ông không ngần ngại, không suy nghĩ đắn đo gì, đã bỏ tất cả mọi sự theo Chúa khi Chúa gọi, điều này cho chúng ta thấy rất rõ Phêrô cảm nghiệm bằng tình yêu nhanh hơn lý trí. Phêrô tin và theo Chúa với tất cả lòng nhiệt thành của mình và niềm tin đó được tuyên xưng cách mạng mẽ rõ ràng: “Thầy là Đức Kitô Con Thiên Chúa hằng sống”. Lời tuyên xưng này thật chính xác, vượt quá mọi hiểu biết và suy tư con người, đây là lời tuyên xưng về bản tính Thiên Chúa của Đức Giêsu này chính là chỉnh cao trong đời sống niềm tin của Phêrô. Có thể là đại diện cho nhóm mười hai, nhưng đây cũng là lời tuyên xưng cho chính Phêrô. Chúa Giêsu xác định lời tuyên xưng này do Chúa Cha mạc khải nên Phêrô mới biết được: “Anh thật là người có phúc, vì không phải phàm nhân mạc khải cho anh điều ấy, nhưng là Cha Thầy Đấng ngự trên trời”.

Với Phaolô, ông là người biệt phái đã từng bách hại môn đệ Chúa, thái độ đó được biểu lộ khi ông đồng tình trong vụ ném đá Stêphanô. Đang khi ông hăng say phi ngựa trên đường Damas để bắt đạo, Phaolô được Chúa Kitô Phục sinh gọi và thanh luyện, một quầng sáng đã bao ttrùm ông, khiến ông bị mù lòa đôi mắt thân xác sau khi ngã ngựa, nhưng đồng thời quầng sáng ấy đã mở cho ông cặp mắt đức tin, ông đã thực sự tin tưởng vào một Đức Giêsu chịu đóng đinh và sống lại, là chính Đấng mà Phaolô đang bắt bớ trở thành Đấng mà “không ai và không gì có thể tách ông ra khỏi lòng mến của Ngài”.

Rõ ràng Phêrô và Phaolô đã đón nhận đức tin trực tiếp từ Đức Giêsu Kitô, còn chúng ta đã đón nhận đức tin gián tiếp qua cha mẹ, Giáo hội …dù khởi đi từ nguồn nào điều đó không quan trọng cho bằng chính thái độ đón nhận của ta, đức tin đo có gắn liền với chích con người mình hay không? Một khi đón nhận cách chân thành, thì chắc chắn chúng ta cũng bị thử thách như Phêrô và Phaolô đã từng bị thử tháh.

Đức tin bị thử  thách

Mặc dù Phêrô và phaolô tin Chúa rất mãnh liệt, nhưng đức tin các Ngài cũng không ngừng bị thử thách. Đức tin Phêrô còn phải là nên tảng nâng đỡ đức tin Giáo hội, nên đức tin đó bị thử thách rất nhiều. Phêrô đã từng tin vào Chúa, nhưng mới trước được Chúa khen tặng là đá tảng thì liền sau đó bị Chúa quở trách là Satan hãy lui ra, đã có lần thề hứa “dù phải  chết với Thầy con không chối Thầy” mới hứa đó thì liền sau đó ba lần chối Chúa, mới phút trước ung dung bước đi trên ngọn sóng thì phút sau bị chìm vì nghi ngờ. Rỡ rằng là nhiều khi Phêrô nói mà chẳng hiểu mình nói gì, và chính cuộc tử nạn và cái chết của Đức Giêsu là một thử thách có tính quyết định đối với niềm tin của Phêrô. Cuộc đời theo Chúa của Phêrô đã sa ngã biết bao nhiêu lần trước khi trở thành đá tảng vững chắc, trên đó Đức Giêsu Kit xây dựng Hội thánh Người. Phêrô chỉ có thể nâng đỡ Đức tin cho anh em sau khi trở lại từ kinh nghiệm yếu đuối sa ngã của mình.

Và Phaolô cũng bị thử thách “năm lần bị người Do thái đánh 40 roi bớt một, ba lần bị đắm tàu, ba lần bị đánh đòn, một lần bị ném đá, một đêm một ngày lênh đênh trên biển khơi”, ngoài ra ông còn gặp nhiều khó khăn nguy hiểm trong các cuộc hành trình phải chịu đói khát, rét lạnh… cho dù những nguy hiểm ấy ngày đêm cứ bám chặt vây bủa lấy ông thay vì chùng bước, nhưng niềm tin vào Đấng Kitô Phục sinh qua mạnh nên ông coi những việc xảy ra cho ông không quan trọng. Ong chỉ có một mối bận tâm ray rứt là lo cho tất cả Hội Thánh vì lòng yêu mến và nhiệt thành nhà Chúa “tình yêu Chúa Kitô thức bách tôi”. Ông coi sự sống của ông không phải là củ ông mà của đấng đã gọi chọn ông, đến độ ông thốt ra: “Tôi sống nhưng không phải là Tôi sống mà là Đức Kitô sống trong Tôi”.

Khi nhìn lại cuộc sống, chắc chắn ai cũng đã hoặc đang ít nhất một lần trải qua những đau khổ như: nghèo đói, bệnh tật, thất vọng… Trước những nghịch cảnh đó chúng ta có đứng vững hay bị chao đảo nghi ngờ đức tin ? Nếu vẫn còn một niềm tin sắc con thì hãy làm chứng đức tin của mình cho người khác như mẫu gương của Phêrô và Phaolô.

Đức tin được rao giảng

Phêrô và phaolô là hai khuôn mặt lớn trong việc rao giảng Tin Mừng. Cuộc đời Phêrô sau khi gặp những thử thách thay vì nhút nhát là một dạ can trường, thay vì chao đảo là một lòng xác tín. Sau khi Thánh Thần hiện xuống ông là người đầu tiên công khai rao giảng Tin Mừng Chúa Cứu Thế cho mọi người, đặc biệt là người Do tháij. Khi Chúa Giêsu đặt ông làm đá tảng Hội Thánh ông đã sống đúng với chức vị của mình, ông làm chứng và rao giảng hết sức hùng hồn về Đức Giêsu Kitô bị giết và đã sống lại từ cõi chết “Anh em đã giết Đấng khơi nguồn sự sống, nhưng Thiên Chúa đã cho Người trỗi dậy từ cõi chết, chúng tôi xin làm chứng”.. Phêrô cũng cho thấy chính Đức Kitô là Đấng Cứu Độ duy nhất cho nhân loại, chỉ có nơi Ngài mới có được ơn cứu độ: “dưới gầm trời này có một danh nào khác đã được ban cho nhân loại, để chúng ta nhờ đó mà được cứu độ”. Quả thật ông là đá tảng vững vào trong mọi sóng gió, những điều ông rao giảng đã chứng minh bằng cái chết của ông tại Rôma.

Còn Phaolô, sau khi gắn bó với Chúa Kitô một cách mật thiết, ông đã lao mình về phía trước như một vận động viên, và dùng chính sự nhiệt thành của mình đi bất cứ nơi đâu vào bất cứ ngóc ngách nào, bất chấp mọi gian khổ tù đày do quyền bính trần thế gây ra, miễn là từ cánh đồng dân ngoại đem về cho Chúa các linh hồn. Phaolô cũng dùng chính khả năng tri thức của mình để trở nên lợi khí phổ biến Tin Mừng cho những vùng đất mới, coi việc rao giảng Tin Mừng là bổn phận và niềm hạnh phúc của mình: “Vô Phúc cho tôi nêu tôi không rao giảng về Đức Kitô”, ông không hổ thẹn về Tin Mừng bở vì Tin Mừng đem lại ơn cứu độ cho toàn thể nhân loại, đến với những người tin.

Ta thấy rõ Phêrô và Phaolô liên kết trong niềm tin, lòng mến Chúa Kitô và Giáo hội, Phaolô luôn hướng về Phêrô như nền tảng cho niềm tin và thế giá Tin Mừng mà ông rao giảng. Nền tảng Pherô cũng là định hước cuộc tiến bước trong đức tin và đảm bảo sự thống nhất dân Chúa trong lòng mến. Điều mà minh chứng hùng hồn nhất đức tin của Phêrô và Phaolô rao giảng đó là việc hai Ngài cùng hội tụ tại Rôma để làm chứng cho Chúa Kitô bằng chính máu đào của mình. Phêrô và Phaolô đã làm thành khuôn mẫu cho việc rao giảng niềm tin cho mọi người.

Còn chúng ta, khi đứng trước một thế giới dường như mất cảm thức về tội, quá nhiều người chưa biết và không tin Chúa, chúng ta có dám sống và giới thiệu một Đức Giêsu Kitô đã chết và sống lại như Phêrô và phaolô không ? chúng ta hãy cố lên, can đảm minh chứng đức tin của mình vì chỉ có nơi Đức Giêsu Kitô con người mới được cứu độ.

Sự khác biệt giữa hai cuộc đời, hai quá khứ của Phêrô và phaolô, đã nối thành một, bởi một sởi chỉ vào “Đức tin vào Thiên Chúa”.

Chúng ta mỗi người tuy khác nhau, nhưng có cùng một niềm tin vào Đức Giêsu Kitô. Chúng ta hãy sống liên đới hiệp nhất với nhau, kiên vững trong đức tin, xẵng sàng minh chứng đức tin của mình qua đời sống cụ thể hằng ngày, điều đó chỉ thực hiện được khi mỗi người biết siêng năng cầu nguyện, múc lấy nguồn sức mạnh nơi bí tích Thánh Thể, luôn kết hợp mật thiết với Chúa Giêsu Kitô, để lời tuyên xưng của Phêrô trở thanh kinh nghiệm riêng cho mỗi người: “Lạy Thầy, bỏ Thầy con biết theo ai?”.


 

29/6-41: LỄ KÍNH HAI THÁNH TÔNG ĐỒ PHÊ-RÔ VÀ PHAO-LÔ


29-6-2003: Nỗi gian khổ của thánh Tông đồ Phê-rô
 Thánh ca và lời nguyện mở đầu
 Kinh Thánh:      2 Ti-mô-thê 4: 6-8.17-18
 

Phụng vụ Lời Chúa hôm nay dành bài đọc thứ nhất để nói về nỗi gian khổ của thánh Tông: 29-6-2003


          Phụng vụ Lời Chúa hôm nay dành bài đọc thứ nhất để nói về nỗi gian khổ của thánh Tông đồ Phê-rô và bài đọc thứ hai về tâm tình của thánh Phao-lô trong những ngày cuối đời.  Đoạn trích thư thứ hai gửi môn đệ Ti-mô-thê là những dòng tâm sự thánh Phao-lô nói với ông.  Quả thực đây là một bản di chúc tinh thần để lại cho người môn đệ yêu dấu, với nội dung là nhìn lại cuộc đời và sứ vụ của mình để nhận ra vai trò cốt yếu của Chúa hoạt động nơi mình.  Không giống như những hồi ký của các vĩ nhân đề cao sự nghiệp của họ, chúc thư của Phao-lô chỉ là những dòng đơn sơ, chân thành và khiêm nhượng để tôn vinh quyền năng Thiên Chúa, đồng thời cũng để bày tỏ lòng tín thác nơi Chúa “là vị Thẩm Phán chí công.”

 a)  Khi giờ chết đến gần

          Thái độ của con người trước giờ chết đến gần tùy thuộc vào niềm tin của họ.  Dĩ nhiên hầu như ai cũng sợ chết cả.  Nhưng sau giây phút giao động ấy, người ta có thể bình tĩnh chấp nhận và tìm thấy ý nghĩa đích thực của cái chết hay không, đó là điều quan trọng.  Vậy thánh Phao-lô đã diễn tả giờ chết của ngài theo ý nghĩa nào?  Trước hết ngài dùng một hình ảnh rất gần gũi đối với ngài và là lẽ sống trong cuộc đời tông đồ của ngài:  sắp đến giờ phải đổ máu ra làm lễ tế.  Phao-lô đã nói lên ước nguyện của ngài với tín hữu Phi-líp-phê là ngài mong họ “chiếu sáng như những vì sao trên trời và làm rực lên Lời ban sự sống” để khỏi uổng công ngài đem Tin Mừng đến cho họ.  Ngài còn mạnh mẽ cam kết:  “Nếu tôi phải đổ máu ra hợp làm một với hy lễ mà anh em lấy đức tin dâng lên Chúa, thì tôi vui mừng” (Pl 2:17).  Đổ máu ra làm lễ tế không phải là một bất hạnh, nhưng là một vinh dự.  Như dầu, rượu hoặc nước được đổ trên của lễ thời Cựu Ước, máu tử đạo của Phao-lô cũng sẽ đổ ra làm lễ tế để làm chứng cho “Lời ban sự sống.”   Hình ảnh thứ hai về giờ chết đến gần là:  đến giờ tôi phải ra đi.  Từ “ra đi” là đặc ngữ nói về một con tàu nhổ neo ra khơi, hoặc về một người lính cuốn lều nhổ trại để di chuyển.  Hình ảnh này thật là sống động nếu áp dụng cho cuộc đời tông đồ của Phao-lô, giống như con tàu sau khi đã cặp nhiều bến vùng Tiểu Á để mang Tin Mừng cho Dân ngoại và giờ đây thẳng buồm chạy tới bến đỗ vĩnh cửu là Thiên Chúa, hoặc giống như người lính chiến sau những chiến trận nguy hiểm và khổ cực được giải ngũ và sống trong bình an muôn đời của Thiên Chúa.  Người lính chiến ấy đã hoàn tất nhiệm vụ được trao phó, đã “đấu trong cuộc thi đấu cao đẹp, đã chạy hết chặng đường, đã giữ vững niềm tin” và đang chờ đợi vị Thẩm Phán tưởng thưởng.

 b)  Chúa luôn hiện diện trong cuộc đời

          Đi gần hết chặng đường lữ hành trần gian, Phao-lô nhìn lại cuộc đời mình để thấy những gì?  Người đời thường chỉ thấy những công trình của mình.  Như thế người ta mới có chất liệu để viết hồi ký, để nói lên chỗ đứng quan trọng của mình.  Nhưng Phao-lô thì khác.  Ngài chỉ thấy bàn tay quan phòng của Chúa can thiệp vào cuộc sống của ngài.  Sự hiện diện của Chúa và sức mạnh Người ban là những yếu tố để ngài thẩm định lại tất cả những gì đã xảy ra trong cuộc đời mình.  Công việc rao giảng không thể nào hoàn thành được, nếu không có Chúa “đứng bên cạnh” và sức mạnh Người ban.  Tư thế “đứng bên cạnh” của Chúa biểu lộ tính cách tích cực và sống động, chứ không quá tĩnh như chúng ta thường nói Chúa “ở bên cạnh.”  Phao-lô còn nêu cao sự hiện diện của Chúa và sức mạnh của Người khi nhắc tới những nguy hiểm, “hành vi hiểm độc, nanh vuốt sư tử” ngài luôn phải đối phó khi thi hành sứ vụ rao giảng Tin Mừng (1 Cr 9; 2Cr 6:1-10;  11).  Càng nguy hiểm thì sự hiện diện và sức mạnh của Chúa càng biểu lộ rõ ràng hơn.  Phao-lô xác tín được điều ấy:  “Nhưng Người (Đức Giê-su) quả quyết với tôi:  ‘Ơn của Thầy đã đủ cho con, vì sức mạnh của Thầy được biểu lộ trọn vẹn trong sự yếu đuối’. (2 Cr 12:9).”

 c)  “Chúc tụng Chúa vinh hiển đến muôn thuở muôn đời”

          Kết thúc chúc thư, người ta thường đưa ra những điều kiện này điều kiện kia...  Phao-lô kết thúc chúc thư bằng tất cả tâm tình của mình:  chúc tụng Thiên Chúa.  Tạ ơn là một thái độ cần thiết của Ki-tô hữu, nhận biết sự sống và khả năng Chúa ban hoàn toàn là một ân huệ nhưng không.  Không một chút khoe khoang, kiêu hãnh.  Không cần người đời tôn vinh.  Chỉ có một vị Thẩm Phán tối cao xét xử cuộc đời chúng ta.  Người đời có thể ém nhẹm đi mặt trái của cuộc đời họ để người khác chỉ thấy được những đẹp đẽ huy hoàng của họ.  Nhưng đối với Phao-lô, một người “nếu phải tự hào thì sẽ tự hào về những yếu đuối của mình” (2 Cr 11:30), chỉ muốn lúc nào cũng phải để cho quyền năng Chúa được tỏ hiện.  Tâm tình tạ ơn đòi người tín hữu nhận rõ giới hạn của mình và vai trò của Chúa.  Có như thế tâm hồn họ mới sẵn sàng và khiêm tốn nhìn nhận sự can thiệp của Chúa trong cuộc đời mình.  Trong các nghi lễ phụng vụ, Giáo Hội luôn kết thúc với lời “Tạ ơn Chúa” cốt để nhắc nhở chúng ta rằng “Tạ ơn Chúa” phải là một thái độ căn bản để, sau khi qua phụng vụ để thờ phượng Chúa, họ đã nhìn nhận vai trò của Chúa đối với mình, thì giờ đây bước vào cuộc sống hằng ngày họ phải sống đúng vai trò của mình đối với Chúa.

 Câu hỏi gợi ý chia sẻ

          Tôi có nghĩ rằng bất cứ lúc nào cũng có thể là lúc tôi “phải đổ máu ra làm lễ tế” và “đến giờ tôi phải ra đi” không?  Ý nghĩ ấy nói gì với tôi?

          Tôi nhìn lại dĩ vãng cuộc đời mình như thế nào?  Để nuối tiếc?  Để căm thù?  Để vênh vang?  Thái độ gương mẫu của Phao-lô dạy tôi phải làm gì?

          Chia sẻ về một lần nào đó Chúa đã cứu tôi “khỏi nanh vuốt sư tử” hoặc một “hành vi hiểm độc”do người khác?  Tôi có thực sự cảm tạ Chúa suốt đời hay đã quên đi rồi?

 Cầu nguyện kết thúc

          Sau cầu nguyện bộc phát, nhóm cùng hát một bài Tạ ơn Chúa, hoặc bài “Xin vĩnh biệt mọi người, tôi ra đi lần cuối” của Tagore.

 Lm. Đaminh Trần Đình Nhi


 

29/6-42: Hãy theo Ta.

Hôm nay, lễ Thánh Phê-rô và Phao-lô nhắc ta nhớ lại lời mời gọi "Hãy theo Ta" mà Chúa Giê-su: 29/6-42


Hôm nay, lễ Thánh Phê-rô và Phao-lô nhắc ta nhớ lại lời mời gọi "Hãy theo Ta" mà Chúa Giê-su đã gửi đến hai vị. Lời mời gọi này được diễn tả dưới nhiều hình thức. Có khi là một lời mời nhẹ nhàng đầy tâm lý như khi Chúa Giê-su mời ông Phê-rô: "Anh hãy theo tôi, tôi sẽ làm cho anh thành kẻ lưới người như lưới cá" ( x. Mt 4, 19 ). Có khi là một lời trách móc đầy tình yêu thương như trường hợp của Phao-lô: “Sa-un ! Sa-un ! Tại sao ngươi bắt bớ Ta?” ( Cv 9, 4 ). Có khi là một cử chỉ gợi ý như việc tặng áo choàng mà ngôn sứ Ê-li-a đã thực hiện đối với Ê-li-sa ( x. 1V 19, 19c ). Có khi là câu trả lời đầy thử thách đối với sự gợi ý của mỗi một người trong chúng ta: "Con Người không có chỗ tựa đầu" ( x. Lc 9, 58b ). Có khi là lời mời gọi từng người trong chúng ta thực hiện một nhân đức: "Hãy lấy đức mến mà phục vụ lẫn nhau" ( x. Gl 5, 13b ).

Lời mời gọi của Chúa Giê-su dù ở dạng thức nào cũng đều có một hấp lực mãnh liệt. Lời đó khiến cho Phê-rô bỏ cả chài lưới; biến Phao-lô từ thù thành bạn; nâng Ê-li-sa lên hàng ngôn sứ; và giờ đây đã gầy dựng một cộng đoàn Tông Đồ nhiệt thành hằng triệu người trên khắp mặt địa cầu: Thánh Phan-xi-cô Xa-vi-ê, Thánh Tê-rê-xa Hài Đồng, Mẹ Tê-rê-xa Calcutta… Chúng ta thường hiểu lời mời gọi "Hãy theo Ta" chỉ dành cho những ơn gọi đặc biệt làm Tông Đồ như giáo sĩ và tu sĩ, và lời mời gọi này chỉ diễn ra ở một thời khắc nhất định nào đó trong cuộc đời. Có đúng như vậy không ?

2. Đối tượng, thời điểm và đòi hỏi của Lời mời gọi.

Chúa Giê-su đã mời gọi mọi người. Kinh Thánh cho ta biết người được mời có thể là người ít học như những ngư phủ; có thể là kẻ thu thuế luôn tiếp xúc với hơi đồng, có thể là cô thiếu nữ ăn sương… Trên đường lên Giê-ru-sa-lem, ngoài việc Chúa đích thân lên tiếng trước, mời gọi những ai mà Ngài gặp, thì chưa bao giờ Ngài từ chối lời gợi ý của ai ( x. Lc 9, 57 – 62 ).

Đây là một lời mời gọi liên lỉ văng vẳng bên tai chúng ta trong cuộc sống thường nhật. "Hãy theo Ta" có nghĩa là bạn phải từ bỏ con đường mà bạn đang đi ngay cả khi bạn nghĩ là mình đang đi đúng hướng. "Hãy theo Ta" có nghĩa là bạn phải dẹp đi mọi tư tưởng, lời nói, hành động trái với Tin Mừng. "Hãy theo Ta" có nghĩa là bạn "Hãy quay về" khi bạn đã bất hiếu bất trung, như người con hoang đàng trở về xin ơn tha thứ nơi người Cha giàu lòng thương xót. Tóm lại, "Hãy theo Ta" có nghĩa là từng giây từng phút chúng ta phải sống trong Thần Khí, đi ngược lại với những đam mê xác thịt ( x. Gl 5, 16 ).

Yêu cầu của Lời mời gọi này cũng hết sức khắt khe và dứt khoát. Nếu như ngôn sứ Ê-li-a cho phép Ê-li-sa về nhà đãi cơm từ biệt người thân thì Chúa Giê-su lại bảo: "Hãy để kẻ chết chôn kẻ chết", "Không được cầm cày mà còn ngoái lại dằng sau"... "Hãy theo Ta" có nghĩa là bạn phải từ bỏ mình mà vác lấy thập giá hằng ngày ( x. Mt 10, 37 – 39 ). Như vậy, theo Chúa thì chúng ta sẽ mất tự do sao ?

3. "Theo Chúa", một con đường thăng tiến tự do.

Theo nếp nghĩ bình thường thì theo ai có nghĩa là ta đã đánh mất tự do ở một lãnh vực nào đó. Chúng ta thử tưởng tượng một anh công an mời ta về bót làm việc, ta vâng lời đi theo anh ấy, ai bảo lúc đó ta có tự do ? Nhưng theo Chúa thì lại khác ? Theo Chúa thì sự sống không bị giới hạn. Ta được tự do để sống và sống muôn đời muôn kiếp vi ta thoát khỏi hậu quả của tội lỗi là sự chết.

Theo Chúa có nghĩa là ta đã chiến thắng được dục vọng thấp hèn. Ai bảo anh có tự do khi anh phải đèo bồng bà hai bà ba ? Khi anh mỗi ngày phải say sỉn thì mới tìm được giấc ngủ ? Khi anh phải tiêm một liều hê-rô-in ngay tức khắc, nếu không cơ thể sẽ oằn oại ? Khi anh phải ngồi sòng bạc hằng giờ để sát phạt nhau nếu không thì chẳng phải biết làm gì cả ? Lúc đó, thực chất ta là nô lệ của những thú vui trần tục hạ đẳng của chính ta. Vâng, theo Chúa ta sẽ cảm nghiệm được sự giải thoát khỏi ách ma quỉ, thế gian và xác thịt. Ta hoàn toàn có được tự do của một người làm con cái Thiên Chúa ( x. Rm 8, 15 ). Tự do là một đặc tính của con cái Thiên Chúa.

CẦU NGUYỆN:

Lạy Chúa Giê-su, chúng con nhất quyết đáp lại tiếng Chúa, luôn theo Chúa dù bước phong trần đầy chông gai. Xin Chúa ban Thần Khí Chúa xuống trên mỗi người chúng con để Ngài cải hóa tâm can và đổi mới mặt địa cầu. Xin cho lời dạy của Chúa "Hãy theo Ta" vang động mãi từng giây từng phút trong đời chúng con, nhất là khi chúng con đang lầm đường lạc lối, để chẳng bao giờ chúng con lẻ loi cô độc, nhưng luôn có Chúa đi trước dẫn đường hoặc cùng song hành với chúng con. Amen.

 An-rê NGUYỄN HỮU NGHĨA


 

29/6-43: LỄ THÁNH PHÊ-RÔ VÀ THÁNH PHAO-LÔ

GỢI Ý SUY NIỆM LỜI CHÚA
 ( Mt  16,13-19 )

 

Tội nghiệp cho Thánh Phê-rô. Khi nghĩ đến thánh nhân, người ta thường nghĩ đến việc ngài chối: 29/6-43


Tội nghiệp cho Thánh Phê-rô. Khi nghĩ đến thánh nhân, người ta thường nghĩ đến việc ngài chối Chúa. Đó là cái gì đập vào trí chúng ta khi nhắc đến tên Phê-rô. Nhưng Phê-rô chỉ chối Chúa ba lần trong đêm đó thôi, ngoài ra ngài đã ăn năn thật lòng và đã được chọn làm nến tảng của Hội Thánh Chúa.

Chúng ta có can đảm như thánh nhân không ? Ngài đã tuốt gươm , một mình chống lại cả một toán lính trong vườn cây dầu. Tại sao ngài chối Chúa ? Chúng ta có bao giờ suy nghĩ về vấn đế nầy một cách nghiêm túc không ? Ngài chối Chúa không phải do sợ sệt mà thôi. Ngài chối Chúa vì đã có gan bênh vực cho Thầy mình. Ngài đã rút gươm chém tên đầy tớ của Thầy Cả, làm sao ngài không sợ sệt khi người ta vạch mặt chỉ tên ngài ?

Chúng ta dám tuốt gươm ra bênh đỡ cho Chúa không ? Chúng ta dám một mình đương đầu với cả một toán quân không ? Chúng ta phải bái phục ngài.

Nhưng trong Kinh Thánh, chúng ta thấy rằng Phê-rô đã được nhắc đến nhiều hơn các tong đồ khác. Con người của ngài có những nét độc đáo mà các môn đệ khác không thể so bì. Ngài rất cương trực, dám nói, dám làm, dám can gián Thầy… Sau cùng chính Chúa Giê-su đã chọn ngài làm Tảng Đá để xây dựng Hội Thánh. Chính trên niềm tin vững mạnh của Phê-rô mà Hội Thánh được xây lên . Chính trên tình yêu không thối thoát của Phê-rô mà Chúa Giê-su đã bảo ngài chăn dắt đoàn chiên của Thầy. Chính Chúa Giê-su đã trao chìa khóa Nước Trời cho Phê-rô.

Còn Phao-lô ?

Chúng ta cũng nhớ và chính ngài cũng không giấu giếm gì: ngài đã cuồng nhiệt bắt bớ Hội Thánh Chúa. Đầy sát khí cho Thiên Chúa ngài tôn thờ, Phao-lô đã đi rảo khắp nơi tìm mọi cách để tiêu diệt bè lũ ông Giê-su mà ngài cho là phạm thượng.

Nhưng trên con đường Đa-mát, ngài đã khuất phục. Ngài đã trở thành môn đệ siêu đẳng của Chúa Giê-su.

Hai đấng thánh hoàn toàn khác nhau, nhưng lại bổ túc cho nhau. Hai con người đã lỗi phạm, nhưng đã trở về. Chúng ta có thấy gì khi nghĩ đến hai đấng thánh lạ lùng nầy ? Chúng ta thấy Thiên Chúa lạ lùng, Thiên Chúa gây ngạc nhiên.

Chúa không chọn những người hoàn toàn không vết tích, Ngài lại chọn những con người đã cảm nghiệm sự hèn yếu của mình để làm công việc của Chúa. Chúa không sợ chúng ta yếu  đuối, Chúa chỉ sợ chúng ta tự phụ. Thánh Phê-rô cũng xưng hùng xưng bá:” Con sẵn sàng chết cho Thầy…” Thánh Phao-lô cũng hăng say tìm cách truy nã Giê-su… Thánh Phao-lô kinh nghiệm như thế nên ngài dám nói rằng:” Thiên Chúa chọn những gì là rốt hèn để làm bẽ mặt những gì mạnh mẽ của thế gian.”

Chúa Giê-su không cần những con người thông minh xuất chúng trước mặt thế gian. Ngài chỉ chọn những người đơn thật, những con người dám nhận mình là yếu hèn…:” Lạy Cha, con xưng tụng Cha vì Cha không cho những người khôn ngoan biết những điều ấy, mà chỉ mạc khải cho những kẻ bé mọn.” Thánh Phao-lô cũng công nhận rằng, “ sở dĩ tôi được như thế nầy không phải là do công khó của tôi, mà là ơn Chúa”…

Phê-rô hay Phao-lô, cả hai chỉ là dụng cụ trong tay uy quyền của Chúa. Các ngài sẵn sàng để cho Chúa sử dụng mình và đã đem tất cả những gì Chúa ban để phục vụ Chúa và mọi người. Các ngài là hai cột trụ của Hội Thánh, không phải vì các ngài đã làm theo những chương trình của mình, nhưng chỉ nhắm một cùng đích là làm sao cho Nước Cha trị đến.

Hai con người khác nhau, hai nhân cách khác nhau, nhưng cả hai là một vì họ yêu một mình Chúa, họ sẵn sàng hiến mạng sống cho Chúa. Chúa Giê-su, chính là nội dung của cuộc sống trần gian của các ngài. Còn chúng ta ?

Tôn kính các ngài, chúng ta chỉ dự lễ, ai nhận các ngài làm thánh bổn mạng thì cũng mừng lễ mà thôi sao ? Chúng ta tôn kính các ngài bằng một vài lời cầu qua quít thôi sao ?

Chúng ta cũng được yêu thương như các ngài. Chúa cũng gọi chúng ta như các ngài. Chúa cũng ban cho chúng ta mọi ơn lành và sai chúng ta đi như các ngài, nhưng có lẽ chúng ta không dám liều mạng như các ngài, không dám hiến dâng cuộc sống cho Chúa. Sự khác biệt nầy không làm chúng ta băn khoăn sao ?

Chúa chứng tỏ cho chúng ta thấy Chúa không chê một ai. Mọi người đều được mời vào vườn nho của Chúa cơ mà ! Dù chúng ta là những công nhân vào giờ thứ mười hay mười một gì đi nữa, Chúa vẫn giao cho chúng ta vườn nho của Ngài để săn sóc, chúng ta đã làm gì ?

Chúa không đòi chúng ta băng rừng vượt biển như Phao-lô, Chúa không bảo chúng ta lặn lội như Phê-rô, Chúa trao cho chúng ta những mãnh vườn nho nho nhỏ thôi để vun quén, săn sóc, làm cho nó trổ sinh hoa trái… Chúng ta đã săn sóc với tất cả sự chú tâm không ? Gia đình chúng ta là vườn nho, Họ Đạo chúng ta cũng là vườn nho của Chúa, chúng ta đã làm gì để vườn nho của Chúa trổ sinh hoa trái ? Hay ngược lại, chúng ta phó mặc cho mưa nắng, chúng ta để cỏ dại làm lụn tàn cây nho ?

Chúa Giê-su đã tin tưởng vào hai chứng nhân của Ngài là Phê-rô và Phao-lô, Chúa cũng tin tưởng chúng ta, cũng mong mỏi nơi chúng ta rất nhiều. Chúng ta có làm cho Chúa thất vọng không ?

Chúa hỏi Phê-rô:” Con có yêu mến Thầy không ?” Có lẽ Chúa cũng hỏi chúng ta như thế. Chúng ta trả lời như thế nào ?  Có lẽ cũng yêu đấy, nhưng yêu sơ sài vậy thôi, hay là hết tình, yêu đến liều mạng như hai thánh Tông Đồ mà chúng ta tôn kính hôm nay ? Chúng ta dám nói như Phao-lô không:” Sự sống của tôi là Giê-su… Ở nơi anh em, tôi không muốn biết gì hơn ngoài Giê-su và Giê-su chịu đóng đinh thập giá.

Đối với Chúa, chúng ta luôn ởm ờ, không quyết tâm, có quyết tâm đi nữa cũng một lúc nào đó thôi.

Hai thánh Tông Đồ mà chúng ta mừng lễ hôm nay đã đi đến cùng, dám dấn thân hết mình. Xin hai thánh Tông Đồ giúp chúng ta biết theo Chúa thực sự, yêu mến Chúa thực sự, không dấn thân nửa vời. Đó là một điều khó, nhưng chúng ta không thể biết được Chúa sẽ dành cho chúng ta những gì. Và chúng ta tin rằng Chúa quảng đại hơn chúng ta, Ngài là kho tàng, Ngài là sự sung mãn tuyệt đối. Đối với Chúa, chúng ta không cần mặc cả, chỉ tin thôi. Chúng ta dám tin không ? Chúng ta đợi đến lúc nào mới dám tin Chúa ? Gương của các thánh cho chúng ta thấy, các ngài đã tin và đã dám liều, và các ngài đã không ân hận vì đã tin Chúa vô điều kiện, triệt để.

Các ngài cũng yếu đuối như chúng ta, các ngài cũng phải chiến đấu với bản thân như chúng ta, nhưng niềm tin của các ngài đã đưa các ngài đến thành công như thánh Phao-lô đã nói:” Tôi đã đi đến cùng và Chúa sẽ ban cho tôi triều thiên vinh quang.”

Chúa Giê-sư trên bàn thờ hôm nay. Cũng là Chúa Giê-su trên bờ hồ Giê-nê-sa-ret, Đấng đã hỏi Phê-rô ba lần:” Con có yêu mến Thầy không ?” Hôm nay cũng hỏi chúng ta như thế. Chúng ta sẽ trả lời như thế nào ? Chúng ta hãy mượn lời của các ngài trả lời với Chúa:” Thầy biết, con yêu mến Thầy.” và chúng ta cũng hỏi Chúa như Phao-lô:” Chúa muốn con làm gì ?”

Linh mục Trầm Phúc.


 

29/6-44: PHÊRÔ VÀ PHAOLÔ: HAI VIÊN ĐÁ TẢNG DIỆU KỲ

Sau một thời gian rao giảng Tin Mừng cứu độ, Chúa Giêsu muốn biết xem người ta nhận định: 29/6-44


Sau một thời gian rao giảng Tin Mừng cứu độ, Chúa Giêsu muốn biết xem người ta nhận định thế nào về thân thế và sứ mạng của Người, nên Người mới hỏi các môn đệ: “Người ta bảo con người là ai ?” (Mt 16,13). Câu hỏi này như một hình thức trắc nghiệm về niềm tin. Dân chúng trả lời mỗi người mỗi cách, nhưng tất cả đều không chính xác. Chỉ có lời tuyên tín của Phêrô, “Thầy là Đức Kitô Con Thiên Chúa hằng sống” (Mt 16,16) là câu trả lời làm Chúa Giêsu hài lòng nhất. Nếu cho điểm, có lẽ Phêrô đã đạt điểm tuyệt đối, điểm 10. Ngay sau đó Chúa Giêsu đã cúi xuống để nâng Phêrô lên một địa vị đặc biệt. Chúng ta biết lúc ấy Phêrô đang mang cái tên cúng cơm, tên thường gọi là Simon. Đây là cái tên rất phổ biến đối với dân Dothái. Ngay trong Tân ước, cũng có tới 3 nhân vật cùng có tên Simon được nhắc đến, đó là Simon nhiệt thành - một trong nhóm Mười Hai, Simon thành Kyrênê và Simon Phêrô.

Chúa Giêsu đã long trọng đặt tên mới cho ngài là Phêrô, tiếng Dothái là Kêpha, nghĩa là đá. Simon, cái tên đang đẹp như vậy, giờ được đổi thành đá (Nguyễn văn Đá !). Chắc hẳn Phêrô đã rất ngạc nhiên vì cha mẹ mình đặt tên như vậy, sao giờ Thầy mình lại đặt cho cái tên lạ lùng như thế. Tại sao lại là Đá ? Là đá có ý nghĩa gì ? Là đá, bởi vì chúng ta biết rằng trong Cựu Ước, hình ảnh đá là hình ảnh hết sức kiêu hùng, hết sức cao vượt. Đá ở đây không phải là đá lăn đá lộn ngoài đường; đá ở đây chính là hình ảnh, là biểu tượng của Thiên Chúa. Bởi thế mà người Dothái mỗi lần cầu nguyện, họ thường nói với Chúa rằng: Lạy Chúa, Ngài là Đá Tảng con nương nhờ; Ngài là Thạch Động, là Núi Đá cho con ẩn mình; Ngài là Đá Cứu Độ…. Được Chúa lấy tên đó mà đặt cho mình, hẳn là Simon Phêrô rất hãnh diện. Và cũng chính qua tên đó mà Phêrô được gởi cho một căn tính mới, một lý lịch mới. Vì chưng đối với người Dothái, cái tên luôn gắn liền một sứ mạng. Cái tên mới đồng nghĩa với sứ mạng mới (x. Lm. Nguyễn Thế Toàn, CD Bài Giảng). Sứ mạng mới ở đây là làm nền tảng cho Giáo hội Chúa Kitô: “Con là Đá, trên đá này, Thầy sẽ xây Hội thánh của Thầy” (Mt 16,18). Nói theo ngôn ngữ ngày hôm nay thì ngài là Đức Giáo Hoàng cơ đấy !

Thế còn thánh Phaolô thì sao ? Một số bạn trẻ lý luận vui rằng tại sao Chúa Giêsu không đặt cho ngài cái tên là Phao-rin, phao xịn, mà lại đặt tên là Phao-lô, vì Phao-lô nghĩa là phao dỏm. Mà phao dỏm thì ai mà xài! Thực sự thì Chúa Giêsu không đặt tên cho Phaolô. Phaolô là cái tên Hylạp của ngài; còn Saolê là tên gọi theo tiếng Dothái. Tuy nhiên, một điều cần ghi nhận là ngài được chính Chúa Giêsu trực tiếp chọn gọi trên đường đi Đamas, và đích thân Chúa Giêsu trao sứ mạng cho ngài, một sứ mạng cao cả là làm tông đồ cho dân ngoại. Như vậy thánh Phaolô đã cùng với thánh Phêrô giữ vai trò là hai trụ cột, hai viên đá sống động làm nền cho Giáo hội Chúa Kitô.

Thế nhưng một điều ngỡ ngàng là khi đọc lại các sách Tin mừng và sách Công vụ Tông đồ, chúng ta thấy cả hai Tảng Đá này đều bị nứt (một bị nứt trước khi xây và một bị nứt sau khi xây). Trước khi đặt xây thì tảng đá Phaolô đã bị nứt (x. Giọt Nước Mắt Hồng, Lm. Đỗ Văn Thiêm, NXB Tôn Giáo 2005). Những lần bắt bớ Giáo hội, và giết hại các Kitô hữu là những vết nứt. Là một người nhiệt thành với Giavê Thiên Chúa và trung thành với luật Môisê, Phaolô đã không ngần ngại tiêu diệt những ai xưng mình là môn đệ Đức Kitô. Đối với Chúa Giêsu, Phaolô là một viên đá tảng kiên vững của đạo Dothái, song là tảng đá đầy góc cạnh, ngang ngược, kiêu căng, tự mãn và cũng quá nhiều đường nứt. Tuy thế, Chúa Giêsu sẽ sử dụng viên đá này trong công trình mở mang ngôi nhà Giáo hội của Người. Chúa Giêsu sẽ sửa lại, gọt đẽo lại bằng lòng thương xót của Người, cùng với cả những thập giá khổ đau mà thánh nhân phải chịu, như bị mù lòa, bị bắt bớ, bị tù đày, bị đánh đòn, bị ném đá, bị trộm cướp, bị đắm tàu, bị đói khát…(x. 2Cr 11,23-27). Chính tình yêu của Đức Kitô và những đau khổ mà thánh nhân chịu đã biến luyện ngài trở thành một viên đá trơn tru lành lặn, và nhất là luôn gắn kết với Đá Tảng Góc Tường là Đức Kitô, như lời ngài xác nhận: “Không có gì tách tôi ra khỏi lòng yêu mến của Đức Kitô” (Rm 8, 35.39).

Thưa quý ÔBACE. Nếu tảng đá Phaolô bị nứt trước khi xây thì tảng đá Phêrô, đá chính hiệu, không bị nứt bể ngay từ đầu, mà lúc đặt xây rồi mới bị nứt. Không phải nứt một đường mà là ba đường. Mỗi lần chối Chúa là một đường nứt; đường nứt sau lớn hơn đường nứt trước, và có nguy cơ tách lìa khỏi Đức Kitô là Viên Đá Góc.

Nhiều người vẫn thắc mắc: liệu Chúa Giêsu có biết trước những điều này không, mà sao Ngài vẫn chọn tảng đá này. Ngài vẫn chọn vì chính ngài sẽ giúp Phêrô hàn gắn lại tảng đá đời mình. Hàn gắn bằng gì ? Thưa đối với Phêrô là bằng ánh mắt bao dung khoan thứ của Chúa Giêsu. Chính ánh mắt dung thứ ấy đã làm cho vết nứt nơi tâm hồn ông liền lại. Hơn nữa ngài còn sửa chữa bằng nước mắt. Kỳ lạ ở chổ, đá mà biết khóc, tảng đá mà biết rơi lệ. Tương truyền rằng thánh nhân đã khóc lóc ăn năn (khóc như mưa mấy ngày qua vậy), khóc đến độ nước mắt chảy làm mòn cả hai gò má. Nước mắt ấy được các nhà tu đức gọi là nước mắt hồng. Gọi là nước mắt hồng vì là nước mắt chảy ra từ trái tim sám hối. Như thế, tảng đá Phêrô chẳng những đã trở nên lành lặn mà còn cứng rắn hơn, vững chắc hơn. Chính Chúa Giêsu đã xác nhận điều này: “Dầu sức mạnh hỏa ngục có nổi lên cũng không làm gì được” (Mt 16,18). Nhưng đồng thời tảng đá ấy cũng “khiêm tốn” hơn, vuông đẹp hơn trước rất nhiều.

Giờ đây, Chúa Giêsu có thể hoàn toàn yên tâm trước sứ mạng mà Người đã giao phó cho hai vị. Nhờ đá tảng Phêrô mà tòa nhà Giáo hội được nên kiên vững; nhờ đá tảng Phaolô mà Hội thánh Chúa Kitô được mở rộng cho muôn dân nước.

Kính thưa quý ÔBACE. Qua Bí tích Rửa tội, mỗi người chúng ta cũng được mang một danh xưng mới, danh xưng Kitô hữu. Danh xưng này nói lên một sứ mạng đặc biệt, sứ mạng xây dựng Hội thánh Chúa ở trần gian. Nếu chúng ta không là đá tảng như Phêrô hay Phaolô, thì chúng ta cũng được mời gọi làm một viên gạch góp phần xây nên tòa nhà Giáo hội. Thế thì chúng ta phải khiêm tốn đặt câu hỏi cho mình: Viên gạch đời tôi đang trong tình trạng nào ? Có thể là nó quá méo mó, cong queo và nhiều góc cạnh khi con người của mình còn đầy những tính hư nết xấu, đầy những đam mê tội lỗi chăng ? Có thể là bị nứt bể và mất hiệp thông với Viên Đá Góc là Đức Kitô, khi đời sống của chúng ta thiếu cầu nguyện, thiếu lòng yêu mến Chúa chăng ? Và cũng có thể là không còn gắn kết với các viên gạch khác là anh chị em mình, khi sống thiếu tình liên đới và lòng bác ái yêu thương chăng ?… Nếu viên gạch đời tôi còn cong queo méo mó, xin Chúa giúp uốn nắn lại cho ngay thẳng; nếu còn quá nhiều góc cạnh, xin Chúa gọt đẽo cho vuông vức; nếu bị nứt bể, xin Chúa hàn gắn; và nếu tách lìa với Đức Kitô và Giáo hội, thì xin Thánh Thần Nguồn Tình Yêu nối kết lại, để cuộc đời chúng ta luôn là những viên gạch thật đẹp trong bàn tay Người Thợ Xây là chính Chúa.

Vậy hôm nay, trong ngày lễ mừng hai thánh Quan Thầy Phêrô và Phaolô, chúng ta cùng nguyện xin Chúa, qua lời cầu bầu của các ngài, giúp mỗi người chúng ta luôn biết ý thức về sứ mạng của mình và nổ lực chu toàn sứ mạng ấy trong việc cộng tác xây dựng ngôi nhà chung của Giáo Hội ngày một tươi đẹp và lớn mạnh hơn. Amen.
Phan Thiết, lễ Thánh Phêrô và Phaolô

Lm. Giuse Nguyễn Thành Long


 

29/6-45: LINH MỤC: Tên gọi và cuộc đời

 (Bài giảng Thánh lễ Phong chức Linh mục GP Phan Thiết, ngày 29.6.2011)
 

Bài Phúc Âm, trong bối cảnh phụng vụ ngày lễ, vẫn được gọi là “lời tuyên xưng đức tin của Thánh Phêrô”: 29/6-45


Bài Phúc Âm, trong bối cảnh phụng vụ ngày lễ, vẫn được gọi là “lời tuyên xưng đức tin của Thánh Phêrô”, nhưng gắn liền với nghi thức truyền chức hôm nay, lại đem đến ánh sáng soi rõ thêm về vận mạng và cuộc đời Linh Mục. Chính trong bài Phúc Âm này, danh tánh của Thánh Tông đồ, sau lời tuyên xưng bất hủ “Thầy là Đức Kitô Con Thiên Chúa hằng sống”, được Chúa Giêsu nhắc đến hai lần bằng hai cách khác nhau.

1. Từ tên gọi “Simon, con Giôna”…

Theo quan niệm do thái, tên là người và gọi tên ai là thiết lập với người ấy một tương giao thân tình. Lần thứ nhất khi nêu danh Simon, Chúa Giêsu gọi đúng tên cúng cơm gia đình vốn đã quen thuộc trong môi trường xã hội họ hàng làng mạc bạn bè. Cả một nhân thân được gợi lên cùng với tên gọi, quá quen thuộc đến nỗi chẳng cần thêm một lời chú thích nào. Vị Tông đồ của chúng ta như thế đó, khi bước theo Chúa Giêsu, ngài ôm theo cả một sơ yếu lý lịch công khai có thể trích dọc trích ngang đầy đủ.

Cùng với tên gọi Simon, ai cũng biết ngài thuộc dân chài, đã lớn tuổi, có gia đình, tính bộc trực, nghĩ sao nói vậy, chẳng cần phải hoa mỹ bóng bẩy làm chi, miễn là chân thành. Chính từ sự chân thành đi liền với tên gọi Simon ấy, lời tuyên xưng mang dấu ấn rất riêng đã được dâng lên, và Chúa Giêsu cũng chẳng tiếc lời công khai khen ngợi người ngư phủ tuy máu huyết nhà nòi, nhưng đã biết đón nhận ơn đức tin do Thánh Thần khai sáng. Theo Chúa như thế là theo bằng tất cả con người tự nhiên của mình.

2. … đến tên gọi “Phêrô, nghĩa là Đá”…

Sau lời khen ngợi dành cho người mang tên gọi Simon, Chúa Giêsu đã nhanh chóng chuyển sang lời tuyển chọn, và đặt cho con người ấy một tên hoàn toàn mới lạ trong sự nghiệp cũng như trong vận mạng cuộc đời: là Phêrô, nghĩa là Đá! Là Phêrô được chọn đứng đầu Hội Thánh vững mạnh đức tin kiên bền đức ái miệt mài rao giảng Tin Mừng, nơi đầu sóng ngọn gió để kết trái trải dài lịch sử Giáo Hội. Là Đá sẽ kết thành nền móng xây dựng Hội Thánh, nên cũng phải khiêm tốn chấp nhận bị chôn vùi. Nhà càng cao, móng càng sâu. Giáo Hội Chúa Kitô sẽ được xây cao lên mãi nên móng nền Phêrô cũng phải lặn thật sâu thật chắc thật bền.

Danh xưng Phêrô gắn bó với Chúa Kitô để trở nên danh xưng thánh đức của vị Tông đồ được tuyển chọn. Tuyển ai và chọn ai là hoàn toàn tuỳ thuộc sáng kiến của Chúa Giêsu, nhưng tuyển chọn Phêrô làm tông đồ trưởng, chắc chắn Chúa Giêsu đã dựa trên lời tuyên xưng của ông. Có sự song đối giữa việc tuyên xưng và việc tuyển chọn, của câu “Tu es Christus” và câu “Tu es Petrus”.

Với tên gọi mới thuộc về sứ vụ, Phêrô sẽ bước đi trên chặng đường mới, hy sinh bản thân để phục vụ danh thánh Kitô, để đem Tin Mừng cứu rỗi đến cho mọi người.

3. … Để thêm ý thức: “Con là Linh Mục đời đời”

Anh em Tân Chức thân mến,

Từ tên gọi Simon sang tên gọi Phêrô nơi vị Tông đồ là một sự chuyển biến lạ lùng. Giữa nhóm môn đệ trong cuộc sống, Phêrô vẫn là Simon sinh động với cá tính và lịch sử của một ngư phủ tốt bụng với anh em; nhưng cũng giữa nhóm môn đệ ấy trong sứ mạng tông đồ, Phêrô dường như đã khác hẳn so với Simon ngày nào để vượt lên gắn bó mật thiết với Chúa Kitô mà chu toàn nhiệm vụ đã được trao phó. Tự nhiên và siêu nhiên là hai lĩnh vực song đôi. Dung hoà được hai lĩnh vực đó trong một cuộc đời chính là chìa khoá mở vào hạnh phúc của người môn đệ Chúa Kitô.

Lát nữa đây, với việc đặt tay phong chức, anh em sẽ trở thành linh mục của Chúa. Con người tự nhiên cùng với tên gọi khai sinh của anh em vẫn còn đó, nhưng một phép lạ sẽ đến, anh em sẽ được gọi là linh mục, người thuộc về Chúa và Giáo Hội. Người ta không gọi anh em đơn giản là A, B như trước đây nữa, mà sẽ nhắc tên anh em cùng với chức thánh là Linh mục A, Linh mục B. Như vậy, giống như quan niệm do thái về “tên tức là người”, suốt đời anh em cần sống sao cho phù hợp với danh xưng phép lạ này và tổ chức đời sống cho tương thích với tên gọi linh mục hôm nay lãnh nhận.

Cùng với hai Đức cha Nicôla và Đức cha Phaolô cũng như các linh mục đồng tế, quý thân nhân và ân nhân cùng toàn thể Dân Chúa Giáo Phận nhà, xin gửi đến anh em lời mừng kèm theo tâm tình tạ ơn, đồng thời cũng chúc anh em mãi nhớ phép lạ đổi tên hôm nay để được trung thành và hạnh phúc trong đời mục vụ. Xin cám ơn các gia đình đã quảng đại dâng con đi tu làm linh mục. Xin cảm tạ các đại chủng viện đã góp phần đào tạo gọt giũa cho các Simon trở nên Phêrô. Và xin cho các linh mục biết thể hiện rõ nét là người không thuộc về mình nữa, mà đã thuộc về Chúa Kitô và về cộng đoàn được trao phó cho mình.

Tác giả bài viết: + Gm. Giuse Vũ Duy Thống


 

29/6-46: Ngài Là Cha Tôi

Truyện cổ Roma thường ghi lại các cuộc chiến thắng khải hoàn của các vị Hoàng đế. Sau một lần: 29/6-46


Truyện cổ Roma thường ghi lại các cuộc chiến thắng khải hoàn của các vị Hoàng đế. Sau một lần thắng trận, các vị hoàng đế thường hướng dẫn các đoàn quân tiến qua các ngã phố cho dân chúng tung hô.

Lần kia, các đường phố đều đông nghẹt. Người ta phải dựng một khán đài đặc biệt để hoàng gia có thể theo dõi cuộc diễu hành. Khi hoàng đế và quân đội tiến đến gần khán đài nơi hoàng hậu và các công chúa, hoàng tử đang chờ đợi, người ta kinh ngạc vô cùng vì vị hoàng tử nhỏ nhất đã rời khỏi khán đài và chạy vụt đến chiến xa của hoàng đế.

Những người vệ binh có trách nhiệm giữ an ninh hai bên đường đã chận hoàng tử lại. Họ giải thích cho cậu biết rằng: xa giá đang tiến lại gần chính là xa giá của hoàng đế. Không ai được phép đến gần... Vị hoàng tử nhỏ điềm nhiên trả lời: "Ngài là hoàng đế của các ông, còn đối với tôi thì ngài là cha tôi".

"Ngài là cha tôi": đó phải là danh xưng mà chúng ta có quyền sử dụng để gọi Thiên Chúa. Ðó cũng là danh xưng nói lên mối liên hệ mật thiết mà Thiên Chúa luôn muốn thắt chặt với từng người trong chúng ta.

"Ngài là cha tôi": danh xưng ấy cũng cho phép chúng ta khẳng định về giá trị của con người chúng ta. Dù chúng ta có bất tài, yếu hèn, tội lỗi đến đâu, chúng ta vẫn có thể gọi Chúa là Cha.

"Ngài là cha tôi": danh xưng ấy không cho phép chúng ta thất vọng về chính mình. "Hãy trở nên chính mình". Ðó là mệnh lệnh mà Thiên Chúa dành cho từng người chúng ta. Thiên Chúa yêu thương từng người trong chúng ta và yêu thương chúng ta vì những cá biệt của từng người.

Hôm nay chúng ta mừng trọng thể hai thánh tông đồ Phêrô và Phaolô. Hai trụ cột của Giáo hội, nhưng đồng thời cũng là hai tính khí khác nhau, có khi lại xung khắc nhau.

Một người xuất thân từ một dân chài, nóng nảy, cục mịch. Một người xuất thân là một thư sinh học rộng, hiểu sâu.

Hai trình độ khác nhau, hai tính tình khác nhau, nhưng mẫu số chung nối kết hai tâm hồn: đó là cuộc gặp gỡ với Ðức Kitô. Cuộc gặp gỡ ấy cũng diễn ra trong hai trường hợp khác nhau. Một người chỉ thực sự khám phá ra con người của Ðức Kitô sau ba lần phản bội. Một người chỉ nhận biết Ngài sau những lần truy lùng gắt gao các môn đệ của Ngài... Một người đã nhận ra tình yêu của Ngài qua những giọt nước mắt của sám hối, một người đã gặp gỡ Ngài sau một lần ngã ngựa đớn đau.

Hai tính khí khác nhau, hai trực giác khác nhau, hai đường hướng hoạt động tông đồ khác nhau, nhưng đã gặp gỡ nhau trong tình yêu Chúa và bổ túc cho nhau để xây dựng Giáo hội của Chúa.

Hai thánh tông đồ Phêrô và Phaolô vừa là hình ảnh đa diện phong phú của Giáo Hội, vừa là biểu trưng của Tình Yêu của Chúa đối với chúng ta. Thiên Chúa yêu thương chúng ta trong sự yếu hèn, thiếu sót của chúng ta. Tình yêu đó không đòi hỏi chúng ta phải chối bỏ con người tự nhiên của chúng ta. Trái lại Chúa muốn sử dụng tất cả những khuyết điểm, những giới hạn của con người chúng ta để làm nổi bật sức mạnh và sự khôn ngoan của Ngài.
(Trích trong ‘Lẽ Sống’ của R. Veritas)


 

29/6-47: Hủy bỏ con người cũ để mặc lấy con người mới

(Cv 12,1-11; 2Tm 4,6-8.17-18; Mt 16,13-19)

Suy Niệm:
 

Kinh Thánh có nhiều đoạn về hai thánh Tông đồ Phêrô và Phaolô; nhưng phụng vụ đọc cho chúng: 29/6-47


Kinh Thánh có nhiều đoạn về hai thánh Tông đồ Phêrô và Phaolô; nhưng phụng vụ đọc cho chúng ta nghe 3 bài này trong thánh lễ hôm nay. Chắc chắn phải có một hay nhiều ý tứ nào đó. Chúng ta được tự do tìm hiểu. Và nếu chúng ta đồng ý, chúng ta thử xếp đặt lại thứ tự 3 bài đọc như sau để có một phương hướng suy nghĩ. Trước hết bài Phúc âm gợi lên vinh dự của hai thánh Tông đồ được đặt làm rường cột cho Hội Thánh Chúa, rồi bài sách Công vụ cho chúng ta thấy các ngài được bảo hộ mạnh mẽ như thế nào khi thi hành sứ vụ; và cuối cùng bài Thánh thư kêu gọi chúng ta hết thảy hãy tin tưởng phấn đấu như các ngài đã hy sinh không mỏi mệt.
A. Là Những Tông Ðồ Ðược Ðặc Cách

Bài Tin Mừng chỉ nói đến vinh dự đặc biệt đã được dành cho Phêrô. Nhưng vinh dự ấy một ngày kia cũng sẽ được trao tặng Phaolô qua lời Chúa phán với Hananya: Hãy đi tìm Saulô, vì nó là lợi khí Ta chọn để mang Danh Ta ra trước mặt các dân ngoại. Và Hananya đã ra đi làm theo lệnh Chúa, vì ông hiểu Phaolô đã được đặc cách, như Phêrô và các Tông đồ trước đây.

Phêrô hôm ấy cùng đi theo Chúa với đồng bạn... Cuộc truyền giáo của Chúa ở Galilê đã sửa soạn hoàn tất. Ngài sắp phải qua Yuđê để chịu thương khó. Ngài ý thức mọi sự và mọi việc. Ðể đánh dấu khúc quanh lịch sử quan trọng này, Chúa Yêsu đột xuất qua hỏi môn đệ: Người ta nói Con Người là ai? Ngài muốn đo kết quả của 3 năm truyền giáo. Ngài muốn biết môn đệ đã hiểu Ngài đến mức nào?

Người thì bảo Ngài là Yoan Tẩy giả; kẻ lại nói Ngài là Êlya; nhiều người khác nữa thì tưởng Ngài là Yêrêmya hay một tiên tri nào đó. Như vậy chung chung thiên hạ đã lờ mờ nghĩ rằng Ngài là Thiên sai cứu thế vì dư luận Dothái thời đó cho rằng các vị tiên tri như thế sẽ trở lại trong thời Ðấng Thiên sai và có thể một trong những vị đó sẽ chính là Ðấng muôn dân trông đợi. Ở đây chúng ta chỉ chú ý điều này: một mình sách Tin Mừng Matthêô nhắc đến tên tiên tri Yêrêmya, có lẽ muốn ngầm nói rằng: Ðấng Thiên sai sẽ đau khổ và bị bắt bớ như nhà Tiên tri đã có cuộc đời gian nan khổ sở, mà Chúa nhật XII Thường niên chúng ta đã nghe nói. Dù sao phần đông người ta vẫn chưa dám khẳng định dứt khoát Ðức Yêsu Kitô là ai.

Còn chính các môn đệ?

Chúa đã hỏi thẳng các ông. Chưa ai dám lên tiếng thưa, thì Phêrô đã nói: "Thầy là Ðức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống". Chắc chắn mọi người đã phải giật mình. Chính Chúa Yêsu cũng thấy rõ không phải xác thịt đã nói lên được điều đó. Con người tự nhiên không thể biết được như vậy. Quả là Cha trên trời đã mạc khải cho Phêrô, đã nói qua miệng lưỡi người Tông đồ này. Vì lời tuyên xưng kia thật là chính xác, là chính sự thật, vượt quá mọi hiểu biết và suy tư của con người. Chỉ có Cha trên trời biết Con, thế mà cho đến nay Người chưa mạc khải ra. Ðúng hơn, Người đã có lần công bố Yêsu Kitô là Con Chí Ái, nhưng Thánh Thần chưa được ban xuống cho loài người thì làm sao ai hiểu được điều đó. Thế mà miệng lưỡi của Phêrô vừa nói lên niềm tin chính xác mà chỉ sau này, khi đã được tràn đầy Thánh Thần, Hội Thánh mới có thể tuyên xưng.

Như vậy Phêrô đã được ơn mạc khải đặc biệt. Chúa Cha đã tỏ ra đặc cách Phêrô. Thế thì luôn luôn thi hành Thánh ý Người, Ðức Yêsu liền tuyên bố sẽ chọn Phêrô làm nền tảng để xây Hội Thánh của Người. Và quả thật tên của Phêrô như đã được tiền định vì Phêrô trong tiếng Dothái có nghĩa là Ðá. Vậy Phêrô sẽ là đá tảng xây nên Hội Thánh. Và Ðá này sẽ được củng cố để ngay sức mạnh hỏa ngục dấy lên cũng không lung lay nổi. Nhưng không phải để Phêrô đè đầu thiên hạ; Hội Thánh của Ðức Kitô là để cứu thế. Và cứu thế, trước hết là tha tội. Thế nên Ðức Kitô lại tiếp: Ta sẽ ban cho con chìa khóa Nước Trời để con đóng mở cho người ta ra vào.

Chúng ta mừng cho Phêrô đã được những vinh dự như vậy. Ðó là những ơn hoàn toàn nhưng không mà Thiên Chúa đã ban cho người, vì hạnh phúc của tất cả chúng ta. Sự lựa chọn hoàn toàn chỉ vì tình thương. Cũng như sau này, đang khi Phaolô hung hăng phi ngựa trên con đường Ðama để bắt đạo, Ðức Kitô đã từ trời cao phán gọi người, khiến người tức khắc ngã quỵ để rồi khi ngẩng lên, đã trở thành vị Tông đồ dân ngoại.

Nhiều người đã muốn thử giải thích vì những lý do tâm lý, xã hội và tôn giáo nào đã khiến hai thánh Tông đồ được lựa chọn một cách đột xuất, và được trao phó những sứ mạng cao cả như vậy? Nhưng chẳng có câu trả lời nào thỏa đáng, ngoại trừ công nhận chính mạc khải của lòng nhân nghĩa Chúa.

Do đó, ngày lễ hai thánh Tông đồ, trước hết chúng ta phải tuyên xưng điều ấy: chính Thiên Chúa đã đặc cách hai ngài. Và việc này khiến chúng ta phải hân hoan tạ ơn, bởi vì Hội Thánh chúng ta được xây trên nền tảng của hai ngài, mà hai ngài được Chúa đặc cách như vậy, thì tòa nhà Hội Thánh của chúng ta tốt đẹp, vinh dự và bảo đảm biết bao? Ngôi nhà của chúng ta không những vững bền mà còn đầy phúc, vì nền tảng của nó là hai vị Tông đồ đã được tuyển chọn một cách tuyệt diệu. Chúa Cha và Chúa Yêsu Kitô đã tỏ ra vô vàn ưu ái và rộng rãi, quyền năng đối với nền tảng của tòa nhà Hội Thánh chúng ta. Chúng ta phải hân hoan cảm mến. Và phải tiếp tục xem hai vị Tông đồ ưu tú đó đã thi hành sứ mệnh thế nào.

B. Các Ngài Tiếp Tục Ðược Chúa Bảo Hộ

Bài sách Công vụ cho thấy Lời Chúa nói với Phêrô khi đặt người làm nền tảng Hội Thánh, luôn luôn thực hiện. Phêrô quả thật là Ðá vững vàng trong mọi sóng gió. Hêrôđê bấy giờ bắt đạo. Hành động và thái độ của nhà vua rất đẹp lòng người Dothái. Hêrôđê liền mạnh tay, truyền bắt giam chính Phêrô, thủ lãnh của Hội Thánh mới. Sức mạnh của hỏa ngục rõ ràng mạnh mẽ. Nhưng bài sách nghe đọc hôm nay cho thấy Phêrô bình tĩnh lạ thường. Dường như ông không nhúc nhích. Mặc cho người ta cùm tay trói chân, và đặt lính gác trong ngoài cửa ngục, ông như chìm đắm trong suy nghĩ nhớ đến giáo đoàn và hiệp ý cầu nguyện với tất cả nhiệm thể. Bỗng dưng xiềng xích ở tay chân mở ra. Có người bảo Phêrô mặc áo, thắt lưng và xỏ giầy vào. Rồi bảo ông đi theo. Ông không ngần ngại khoan thai cất bước, chẳng cần tìm hiểu. Hai người tiến bước dễ dàng; đi đến đâu, người vật dường như đều nhường bước. Kể cả cửa sắt có lính canh gác, cũng tự động mở ra mời hai người ra phố. Ðến lúc thần Chúa biến đi, Phêrô mới nhận ra: quả thật Chúa đã giải cứu mình.

Và về sau, khi suy nghĩ lại sự việc, ông mới thấy câu chuyện thật là mầu nhiệm. Ông đã bị bắt vào dịp lễ Bánh không men và cũng đã được giải thoát trong dịp ấy. Chúa Yêsu cũng đã bị nộp, bị giết và được Thiên Chúa cho sống lại vào dịp lễ Bánh không men. Phải chăng sự việc đã chẳng có ngụ ý rằng: đầy tớ không trọng hơn Thầy và đường Thầy đi thì tớ cũng sẽ phải theo. Phêrô phải đi theo đường của Chúa và sẽ đưa Hội Thánh Chúa đi vào. Ðó là con đường bị bắt, bị nộp, bị giết... nhưng sẽ dẫn tới phục sinh vinh quang. Và những người đi trên con đường ấy đều như thể chiên cừu bị đưa đi xén lông mà không hề kêu la. Phêrô trong câu truyện bị bắt hôm nay đã bắt chước Chúa Yêsu, hoàn toàn vâng theo Thánh ý Thiên Chúa. Và nếu chúng ta có đọc lại cuộc đời của Phaolô, chúng ta cũng thấy như vậy.

Những lời đầu tiên trong bài thư hôm nay xác định điều đó. Phaolô thấy mình là "tửu tế đã tiến", tức là cuộc đời mình đã trở thành lễ tế. Ðó là thứ rượu người ta dâng khi thuyền rời bến... Và chính Chúa Yêsu cũng đã nói với Hananya khi sai ông đi gặp Saulô. Ta sẽ tỏ cho nó biết tất cả những gì nó sẽ phải chịu vì Danh Ta. Nên tất cả cuộc đời của Phaolô là chiến đấu trong cuộc chiến chính nghĩa. Người đã chạy đến cùng đường... Và nhìn lại người có thể đếm trên con đường ấy: bao nhiêu lần đắm tàu, nhịn đói, chịu khát, bị đánh, bị tù. Sức mạnh của hỏa ngục cũng tung ra mạnh mẽ, nhưng Ơn Chúa vẫn đủ cho Phaolô cũng như cho Phêrô. Ðến nỗi ngày hôm nay, nhắc lại việc tử đạo của hai ngài Hội Thánh hân hoan cử hành một ngày vinh quang.

Quả thật hôm nay chúng ta kính nhớ cuộc chiến vẻ vang của hai thánh Tông đồ. Gian khổ các ngài đã chịu thật là sức mạnh của hỏa ngục. Nhưng Chúa đã bảo hộ các ngài. Các ngài đã đưa con thuyền Giáo hội vượt xa qua bao sóng gió... Con thuyền ấy cứ mỗi ngày một lớn. Và nhìn khắp mặt biển trần gian, không chỗ nào mà ta không thấy nó. Có chỗ nó đang ung dung rẽ sóng. Chỗ khác, nó lại như thuyền của các Tông đồ gặp bão trên mặt hồ Tibêria. Chính trong những trường hợp khó khăn này, khuôn mặt của Phêrô và Phaolô như lại nổi lên, nhắc lại Lời Chúa hứa sẽ ở cùng Hội Thánh mãi mãi và sức mạnh của hỏa ngục sẽ chẳng làm gì được.

Chúng ta hãy lưu ý tỉ mỉ hơn đến điều nhắn nhủ của các ngài.

C. Các Ngài Kêu Gọi Chúng Ta Tin Tưởng

Ðối với chúng ta, các ngài có một tình yêu thương đặc biệt. Bài thư Phaolô gửi cho Timôthê làm chứng điều ấy. Phêrô chắc chắn cũng đồng ý khuyên nhủ chúng ta như vậy. Vì hôm nay là lễ của hai ngài, Giáo hội nhắc nhớ lại cuộc đời phấn đấu kiên trung và thành quả của các ngài. Sự kiện này nào muốn nói lên gì khác hơn việc kêu gọi chúng ta hãy bắt chước các ngài.

Phaolô nói với Timôthê, tức là với tất cả chúng ta. Chúa đã phù hộ và ban sức mạnh cho người. Chúa sẽ cứu và độ người vào Nước trên trời. Và hoàn lại cho người triều thiên công chính, không phải cho người mà thôi, nhưng còn cho hết mọi người đầy lòng mến yêu trông đợi cuộc hiển linh của Chúa. Nói tắt, hai thánh Tông đồ đã muốn cho chúng ta cũng mến Chúa và tin tưởng phấn đấu cho Chúa.

Vì thế chúng ta phải nhìn lại đời sống các ngài để thấy từ đầu các ngài đã đón nhận ơn Chúa thế nào và đã tiếp tục làm sao để đi đến vinh quang ngày nay. Các ngài đã được Chúa chiếu cố một cách đặc biệt và đã được Người tiếp tục bảo hộ. Có thể nói các ngài chẳng có công trạng nào hết: Phêrô rõ ràng là người không có gì cả; còn Phaolô đã có lần khẳng định mọi điều người có theo xác thịt, thì người đã bỏ đi hết và coi như phân bón để được tình yêu nhưng không của Ðức Yêsu Kitô.

Ðó là thái độ căn bản của Kitô giáo. Người ta phải hủy bỏ con người cũ và mọi sự thuộc về nó để mặc lấy con người mới là Thần trí của Ðức Yêsu Kitô hầu chỉ còn sống cho Thiên Chúa. Khi đó người ta mới là người của Chúa và là lợi khí để Người dùng vào việc xây dựng Nước Trời. Và triều thiên công chính mới để dành cho người ấy.

Chúng ta có nên sợ trở thành những con người như vậy không? Có lẽ nhiều người ngại ngùng khi nghe nói đến thái độ từ bỏ. Nhưng ai có gì lắm mà sợ phải bỏ? Ðàng khác điều quan trọng là từ bỏ con người cũ; chứ từ bỏ những sự vật chất đâu đã là điều khó lắm. Và con người cũ là tinh thần không muốn đón nhận mạc khải của Chúa, không để cho Lời Chúa đi vào tâm hồn và sinh động ở trong đó để dần dần đổi mới chúng ta từ bên trong. Cả Phêrô và Phaolô đều đã bắt đầu đi vào đường lối của Chúa khi đón nhận lời mạc khải. Phêrô đã để Chúa Cha nói lên ở trong mình. Phaolô đã để lời Chúa Yêsu lọt vào tai khiến mình quỵ xuống và trở nên con người mới. Chúng ta phải bắt đầu nên thánh từ thái độ đầu tiên ấy: tức là đón nhận lời mạc khải, đón nhận ơn Chúa vào mình và để cho chính ơn Chúa từ đó làm việc nơi chúng ta.

Giờ đây Chúa cũng đến với chúng ta trong thánh lễ. Mình Máu Thánh Chúa đến tăng cường cho Lời Chúa chúng ta vừa nghe. Ai đón nhận Lời Chúa và Mình Thánh Chúa thật sự, sẽ để Người tiếp tục sống trong mình. Chính Người sẽ hoàn thành công việc của Người nơi chúng ta như nơi hai thánh Tông đồ Phêrô và Phaolô. Chúng ta hãy cầu xin hai thánh cho chúng ta biết bắt chước các ngài.

(Trích dẫn từ tập sách Giải Nghĩa Lời Chúa
của Ðức cố Giám Mục Bartôlômêô Nguyễn Sơn Lâm)


 

29/6-48: Thánh Phêrô và Thánh Phaolô Tông Đồ

Biến cố xảy ra gần thành Xêsarê thật quan trọng, chúng ta được mời gọi chiêm ngắm thêm một lần: 29/6-48


Biến cố xảy ra gần thành Xêsarê thật quan trọng, chúng ta được mời gọi chiêm ngắm thêm một lần nữa nhân dịp lễ kính hai thánh Phêrô và Phaolô tông đồ hôm nay.

Đây không phải chỉ có một lời tuyên xưng của Phêrô mà thôi, nhưng là hai lời tuyên xưng, đó là của Phêrô và của Chúa Giêsu.

Lời tuyên xưng thứ nhất của Phêrô: “Thầy là Đức Kitô Con Thiên Chúa hằng sống”. Thiên Chúa yêu thương con người đến độ sai Con Một Người xuống thế để cứu rỗi nhân loại. Lời tuyên xưng của Phêrô nhìn nhận chương trình của Thiên Chúa đang diễn ra trong lịch sử con người: “Thầy là Đức Kitô Con Thiên Chúa hằng sống”.

Đáp lại lời tuyên xưng này, có thể nói dựa vào lời tuyên xưng Chúa Giêsu tuyên bố vinh hạnh của Phêrô, đồng thời cũng là vinh hạnh của con người, của tất cả mọi người được quy tụ trong đại gia đình của Thiên Chúa, trong một cộng đoàn con cái Thiên Chúa “Này Simon Phêrô, trên tảng đá này Thầy sẽ xây Giáo Hội của Thầy”.

Phêrô tuyên xưng vinh quang của Thiên Chúa, Chúa Giêsu tuyên xưng vinh quang của Phêrô. Phêrô được chọn làm đá tảng và sự lựa chọn đó bền vững muôn đời, cho dù Phêrô có thế nào đi nữa, nhưng Thiên Chúa không thay đổi chương trình, không hủy bỏ sự lựa chọn: “Phêrô con là đá, trên đá này Thầy sẽ xây Giáo Hội của Thầy”. Vinh quang của Phêrô được Chúa Giêsu tuyên bố ra đây không phải là để Phêrô khoe khoang vinh quang hay hưởng thụ quyền lực và danh vọng, mà là vinh quang của Thập Giá, của hy sinh chiến đấu, của sự từ bỏ mọi sự cho đến cả mạng sống mình, và chúng ta biết rõ con đường vinh quang Thập Giá mà Phêrô đã trải qua.

Phêrô vừa mới tuyên xưng một sự thật “Thầy là Đức Kitô Con Thiên Chúa hằng sống”, tiếp đó Chúa Giêsu tuyên bố một sự thật khác: “Trên đá tảng là chính con đây, Thầy sẽ xây Giáo Hội của Thầy”. Phêrô mới nhìn nhận mầu nhiệm Con Thiên Chúa nơi chính con người Giêsu thành Nagiarét đang đứng trước mặt mình, thì Chúa Giêsu liền mạc khải thêm mầu nhiệm Nhập Thể thường hằng mãi mãi trong lịch sử, không phải cho một người mà cho nhiều người được quy tụ lại làm con Thiên Chúa trong một cộng đoàn, một Giáo Hội của Người. Giáo Hội là một mầu nhiệm nhập thể kéo dài mãi mãi của Con Thiên Chúa, đó là Giáo Hội mà mỗi người chúng ta đang là phần tử và đó cũng chính là Giáo Hội mà Chúa Giêsu muốn thiết lập.
Thiên Chúa mời gọi chúng ta đến với Ngài trong Giáo Hội, để chúng ta được biến đổi thành con cái Thiên Chúa, sống trong sự hiệp thông với Chúa và với nhau. Tất cả mọi sinh hoạt của người đồ đệ Chúa đều được diễn ra trong Giáo Hội của Ngài và mọi Kitô hữu đều được quy tụ lại với nhau trong Chúa, trong một thân thể huyền nhiệm của Chúa. Đây là Giáo Hội của Thầy, trên đá tảng Phêrô, Thầy sẽ xây Giáo Hội của Thầy và cửa hỏa ngục sẽ không thắng được.

Giáo Hội yếu hèn vì gồm những con người tội lỗi, nhưng Giáo Hội cũng rất thánh thiện, tràn đầy thánh sủng của Chúa và được gìn giữ đến tận cùng: “Con là Phêrô, nghĩa là đá, trên đá này Thầy sẽ xây Giáo Hội của Thầy và cửa hỏa ngục sẽ không thắng được”. Lời công bố long trọng của Chúa Giêsu đã trấn an các tông đồ, đồng thời mạc khải tính cách thường hằng mãi mãi. Giáo Hội sẽ hiện diện mãi mãi trong lịch sử cho đến tận thế, dù cửa hỏa ngục, tức quyền lực của hỏa ngục tấn công vào Giáo Hội, nhưng hỏa ngục sẽ không thắng được. Chúng ta hãy tin tưởng vào Giáo Hội cho đến cùng, chúng ta hãy chiến đấu với chính sự dữ nằm trong bản thân, để giúp Giáo Hội chiến thắng trên mọi sự dữ.
Lạy Chúa, xin hướng dẫn con trên đường về cùng Chúa, xin tăng triển nơi con tình yêu thương tin tưởng vào Giáo Hội, xin củng cố đức tin và củng cố sự hiệp nhất giữa chúng con trong Chúa và trong Giáo Hội của Chúa. Amen


 

29/6-49: Phêrô

 

Tôi tên là Phêrô. Đó là đầu đề tấm bích chương loan tin Đức Gioan Phaolô II đến thăm nước Pháp. Và: 29/6-49


Tôi tên là Phêrô.

Đó là đầu đề tấm bích chương loan tin Đức Gioan Phaolô II đến thăm nước Pháp. Và chính Đức Gioan Phaolô II cũng đã tự giới thiệu như thế, khi ngài xuất hiện ở Génève, trước hội đồng hợp nhất các Giáo hội…

Thực vậy, dù Đức Giáo Hoàng có tên là gì chăng nữa thì người ta vẫn gọi ngài là Phêrô, vị giám mục đầu tiên của thành Rôma. Thực ra, ngay từ năm 180, thánh Irênê đã khẳng định:

- Cả hai thánh tông đồ Phêrô và Phaolô cùng thiết lập Giáo hội Rôma và cả hai đều đã được diễm phúc tử đạo tại kinh thành muôn thuở này.

Chúng ta biết rằng Giáo hội Rôma, trong lễ kính ngày 29.6 hôm nay, đã liên kết chặt chẽ hai cột trụ ấy lại với nhau. Đồng thời mọi tuyên bố long trọng của Đức Giáo Hoàng đều được thực hiện chiếu theo quyền hành của thánh tông đồ Phêrô và Phaolô.

Nhưng dần dần qua những góc độ khác nhau trên khuôn mặt thánh Phêrô, các cộng đoàn tiên khởi đã đo lường được kích thước đích thực mà Đức Kitô muốn trao phó cho Phêrô, cũng như sứ mạng phục vụ toàn thể Giáo hội mà chính Phêrô đã nhận lãnh.

Từ bên ngoài chúng ta nhìn thấy: Phêrô là một người thuyền chài, tuy cộc cằn nhưng năng động, một tông đồ tuy nhát đảm nhưng biết sám hối. Tuy nhiên vượt trên những điểm cá tính ấy, chúng ta cần phải nhấn mạnh đến một số đường nét nằm trong ơn gọi đặc biệt của ngài.

Trước hết, Phêrô là một nhà truyền giáo tuyệt hảo: Đây là những người mà từ nay con phải chăn giữ. Việc trao chìa khóa là một hình ảnh tượng trưng cho đặc ân mở cửa nước trời nhờ việc rao giảng Phúc âm của ngài và thị kiến tại Jopphê cho thấy cửa trời đã được mở rộng cho muôn dân. Thánh Phêrô còn là biểu tượng cho người chủ chăn mẫu mực, có trách nhiệm ưu tiên là chăn dắt đoàn chiên Chúa và quyền hành được xây dựng trên tình yêu mến, gắn bó mật thiết với Đức Kitô.

Hẳn chúng ta còn nhớ, sau khi sống lại, Chúa Giêsu hiện ra và đã hỏi Phêrô ba lần:

- Phêrô, con có yêu mến Thày hơn những người này không?

Và Phêrô đã xác quyết tình mến của mình:

- Lạy Thày, Thày biết con yêu mến Thày.

Sau đó Đức Kitô đã phán với Phêrô:

- Con hãy chăn dắt các chiên con và chiên mẹ của Thày.
Tiếp đến, Thánh Phêrô là thày dạy đức tin Kitô giáo, là phát ngôn viên chính thức của nhóm Mười hai. Tại địa hạt Cêsarêa Philipphê ngài đã tuyên xưng:

- Thày là Đức Kitô Con Thiên Chúa hằng sống.

Rồi sau phép lạ bánh hóa nhiều, ngài cũng đã xác quyết:

- Lạy Thày, bỏ Thày chúng con biết theo ai vì chỉ mình Thày mới có những lời ban sự sống.

Chính Phêrô là người đầu tiên đã nhận ra Đức Kitô là Đấng Messia, Con Thiên Chúa hằng sống như chúng ta vừa thấy.

Mặc dù yếu đuối, nhưng thánh Phêrô đã tiếp nhận từ nơi Đức Kitô một sứ mạng duy nhất. Sứ mạng duy nhất ấy đã làm cho Phêrô đồng hóa với Thày mình hơn ai hết, ngoài ra ngài còn là một khuôn mặt tiêu biểu cho người môn đệ, cho người tín hữu.

Mừng lễ thánh Phêrô tông đồ, chúng ta hãy cầu nguyện cho Đức Thánh Cha, được hướng dẫn Giáo hội trên con đường thánh Phêrô đã đi, cũng như cho mỗi người chúng ta được trở nên những chứng nhân sống động cho Chúa giữa lòng cuộc đời.


 

29/6-50: Suy Niệm Lễ Thánh Phêrô Và Phaolô

"ST" nghĩa là sự thánh thiện
 

Người ta kể rằng: tại một vùng miền quê nước Mỹ, có hai anh em nhà kia vì quá đói khổ, nghèo nàn đã: 29/6-50


Người ta kể rằng: tại một vùng miền quê nước Mỹ, có hai anh em nhà kia vì quá đói khổ, nghèo nàn đã trở thành kẻ "bần cùng sinh đạo tặc". Họ rủ nhau đi ăn cắp cừu của nông dân trong vùng. Không may hai anh em bị bắt. Dân trong làng đưa ra một hình phạt là khắc lên trán tội nhân hai mẫu tự "ST", có nghĩa là quân trộm cắp (viết tắt từ chữ stealer).

Không chịu nổi sự nhục nhã này, người anh đã trốn sang một vùng khác sinh sống để mong chôn chặt dĩ vãng. Thế nhưng, anh chẳng bao giờ quên được nỗi nhục nhã mỗi khi ai đó hỏi anh về ý nghĩa hai chữ "ST" đáng nguyền rủa này.

Còn người em, anh tự nói với bản thân mình: "Tôi cần phải lấy lại lòng tin của những người xung quanh và của chính tôi". Thế là anh tiếp tục ở lại xứ sở của mình. Chẳng mấy chốc anh đã xây dựng cho mình một sự nghiệp cũng như tiếng thơm là một người nhân hậu. Anh sẵn sàng giúp đỡ người khác với tất cả những gì mình có thể. Anh lao động bằng đôi tay của mình. Anh dành một phần hoa lợi để giúp đỡ người nghèo. Anh sống chan hoà tình yêu thương với mọi cư dân trong vùng. Tuy nhiên, cho dẫu thời gian có qua đi, hai mẫu tự "ST" vẫn còn in dấu trên vầng trán anh. Nhưng chẳng mấy ai để ý đến ý nghĩa hai chữ ST trên vầng trán của anh.

Ngày kia, có một người lạ mặt hỏi một cụ già trong làng về ý nghĩa hai mẫu tự này. Cụ già suy nghĩ một hồi rồi trả lời: "Tôi không biết rõ lai lịch của hai chữ viết tắt ấy, nhưng cứ nhìn vào cuộc sống của anh ta, tôi đoán hai chữ đó có nghĩa là người thánh thiện (saint)".

Hôm nay lễ kính thánh Phêrô và Phaolô, các ngài trở thành thánh nhân cao cả là nhờ biết khép lại quá khứ để chỉ lo tìm kiếm ý Chúa và thực thi trong hiện tại và suốt cuộc đời. Các ngài cũng có một quá khứ lầm lỗi, một quá khứ tưởng chừng như đã làm cho hai ngài suốt đời sống trong ân hận và tủi nhục. Phêrô đã có lần bị Chúa quở là satan. Lầm lỗi lớn nhất trong cuộc đời ông là ba lần chối mình không phải là môn đệ của Thầy Giêsu. Phaolô đã năm lần bảy lượt đi lùng bắt và giết chết những ai mang danh kytô hữu. Chính Phaolô đã can dự vào việc ném đá Stêphanô, vị tử đạo đầu tiên của Giáo hội. Nhưng mẫu số chung của hai ông chính là biết đứng lên sau những lần vấp ngã và chuộc lại lỗi lầm bằng cuộc sống đổi mới con người theo như lòng Chúa mong ước.

Thực vậy, sau khi chối Thầy lần thứ ba, từ trên pháp đình Chúa nhìn xuống Phêrô. Ánh mắt Thầy vẫn trìu mến thân thương như gởi đến ông sứ điệp: "Phêrô, sao con lại chối Ta. Ơn nghĩa Thầy trò ba năm gắn bó chẳng lẽ không còn một chút vương vẫn hay sao?". Lại thêm tiếng gà gáy đêm khuya đã giúp lương tâm ông tỉnh ngộ và nhớ lại lời Thầy đã tiên báo: "trước khi gà gáy con đã chối Ta ba lần". Phêrô lầm lũi ra khỏi pháp đình, nước mắt tuôn trào, tâm hồn trĩu nặng, một cái gì đó đã chết trong ông. Vâng, đã chết rồi, niềm tự hào, tự tin quá mức. Ông chỉ là cát bụi, ông biết mình chỉ là cát bụi, yếu hèn và rất dễ sa ngã. Mới hôm qua ông còn tuyên bố rằng: "dù mọi người bỏ Thầy, riêng con thì không bao giờ". Thế mà, miệng gan hùm đã không còn khi đối diện trước nguy nan. Ông đã hèn nhát chối Thầy đến ba lần. Nhưng đêm hôm đó, một biến cố trọng đại đã "đổi mới" tâm hồn Phêrô. Lòng ăn năn bộc phát và lòng khiêm nhường chân thành đã biến Phêrô thành người thuyền trưởng trên con tàu Giáo hội.

Phaolô, sau lần ngã ngựa đớn đau bởi một luồng sáng chói loà hôm ấy. Mắt ông không còn thấy gì nữa, ông như kẻ bị mù trong ba ngày. Con mắt thể xác ông bị đóng lại, nhưng con mắt tâm hồn ông lại được sáng tỏ. Ông đã thấy Giêsu, người mà ông tưởng đã chết, thế mà, Người đã Sống lại thật, lên trời ngự bên hữu Chúa Cha. Người đang nói với ông: "Ta là Giêsu mà ngươi đang tìm giết". Bao lâu nay ông không tin có sự sống lại. Ông đang hăm hở tiêu diệt những ai loan báo về sự sống lại của một tử tội Giêsu. Giờ đây, ông đã tin. Sự sống của Chúa Phục sinh đã làm thay đổi cuộc đời của ông. Và kể từ nay, ông đã trở thành một tông đồ ra đi đổi mới cả thế giới.

Cuộc đời của mỗi người chúng ta đôi khi cũng có những yếu đuối, có những bước đi bị vấp té bởi cạm bẫy của tham sân si. Vì thế, có ai đó đã từng nói rằng: "lầm lỗi là của con người", nhưng đứng lên làm lại cuộc đời đó là của "thánh nhân". Thánh Phêrô và thánh Phaolô đã nhìn quá khứ như một hồng ân của Thiên Chúa dành cho các ngài. Chúa không trách phạt các ngài mà còn tin tưởng trao phó sứ mạng mở mang nước Chúa đến tận cùng trái đất. Với ơn trời cao cả đó, thánh Phaolô đã từng thốt lên: "Khốn cho tôi, nếu tôi không rao giảng tin mừng". Còn thánh Phêrô thì không còn sợ cường quyền ức hiệp, ngài đã mạnh dạn nói rằng: "phải nghe lời Thiên Chúa hơn là lời của con người". Và hôm nay, Chúa vẫn không trách phạt chúng ta theo như chúng ta đáng tội, Ngài vẫn khoan dung tha thứ và hằng mời gọi chúng ta hãy làm lại cuộc đời, hãy dùng ơn Chúa để hoàn thiện mình và nhất là hãy nói về tình yêu Chúa cho anh em, cho bạn bè, cho mọi người mà chúng ta gặp gỡ thân quen.

Ước gì cuộc đời các ngài soi sáng cho cuộc đời chúng ta để chúng ta không bao giờ thất vọng về lỗi lầm của mình, nhưng qua những yếu đuối bản thân, chúng ta càng nhận ra tình thương bao la của Chúa và cũng biết noi gương các ngài trở thành chứng nhân cho tình yêu Chúa giữa thế gian. Amen.

Jos Tạ duy Tuyền
 
[1] X. J.Dheilly. Tự điển Thánh Kinh, TP.HCM. 1998, tr 1256.
[2] x. J. Dheilly. Từ điển Thánh Kinh .TP.HCM 1998, tr 1208

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây