Suy niệm Tin Mừng Lễ Truyền Giáo Bài 101-150 Hãy loan báo Tin mừn

Thứ bảy - 20/10/2018 11:48
Suy niệm Tin Mừng Lễ Truyền Giáo Bài 101-150 Hãy loan báo Tin mừng khắp thế gian
Suy niệm Tin Mừng Lễ Truyền Giáo Bài 101-150 Hãy loan báo Tin mừng khắp thế gian
Suy niệm Tin Mừng Lễ Truyền Giáo Bài 101-150 Hãy loan báo Tin mừng khắp thế gian

Truyền_giáo 101: NHIỆT HUYẾT TÔNG ĐỒ.. 2
Truyền_giáo 102: Truyền Giáo hay Rao Giảng Tin Mừng! 6
Truyền_giáo 103: Sứ Điệp Ngày Thế Giới Truyền Giáo 2018. 9
Truyền_giáo 104: Truyền Giáo: Chuyện không của riêng ai 12
Truyền_giáo 105: Suy niệm của Lm. Giuse Nguyễn Thành Long. 15
Truyền_giáo 106: Ưu tiên bốn hạng người 17
Truyền_giáo 107: Suy niệm của Lm. Giuse Đỗ Đức Trí 24
Truyền_giáo 108: Sứ mạng truyền giáo là một hồng ân. 27
Truyền_giáo 109: Lễ Truyền Giáo – Lc 24, 46-53. 29
Truyền_giáo 110: Đưa người anh em lưu lạc về nhà Cha. 32
Truyền_giáo 111: GIỚI TRẺ DẤN THÂN TRUYỀN GIÁO.. 34
Truyền_giáo 112: Cùng Người Trẻ Loan Báo Tin Mừng. 37
Truyền_giáo 113: Làm Cho Muôn Dân Trở Thành Môn Đệ. 40
Truyền_giáo 114: Hôm nay là ngày Chúa Nhật Quốc Tế Truyền Giáo. 41
Truyền_giáo 115: MẪU GƯƠNG CỦA NHÀ TRUYỀN GIÁO. 44
Truyền_giáo 116: Thái độ nào cần cho nhà truyền giáo?. 45
Truyền_giáo 117: HÃY ĐI LÀM CHO MUÔN DÂN TRỞ THÀNH MÔN ĐỆ.. 47
Truyền_giáo 118: Suy Niệm Lễ Khánh Nhật Truyền Giáo 2017. 49
Truyền_giáo 119: “Lạy Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi ”. 52
Truyền_giáo 120: Tháng 10, tháng truyền giáo. 55
Truyền_giáo 121: NGÀY KHÁNH NHẬT TRUYỀN GIÁO.. 57
Truyền_giáo 122: ĐẾN VỚI MUÔN DÂN.. 60
Truyền_giáo 123: TRUYỀN GIÁO LÀ LÊN ĐƯỜNG.. 64
Truyền_giáo 124: HÃY ĐI VÀ LÀM CHO MUÔN DÂN.. 68
Truyền_giáo 125: HẦY Ở CÙNG ANH EM MỌI NGÀY CHO ĐẾN TẬN THẾ.. 71
Truyền_giáo 126: NIỀM VUI TIN MỪNG ĐÁNH THỨC THẾ GIỚI 73
Truyền_giáo 127: ANH EM HÃY RA ĐI 77
Truyền_giáo 128: Hãy đi khắp thế gian. 79
Truyền_giáo 129: Truyền Giáo như Mẹ Maria. 81
Truyền_giáo 130: Đời sống chứng nhân. 84
Truyền_giáo 131: Hãy Đi Loan Báo Tin Mừng. 85
Truyền_giáo 132: NGÔN SỨ HAY TIÊN TRI?. 88
Truyền_giáo 133: VỊ ĐẮNG CUỘC ĐỜI 92
Truyền_giáo 134: GÀY KHÁNH NHẬT TRUYỀN GIÁO.. 98
Truyền_giáo 135: SỨ ĐIỆP CỦA ĐỨC THÁNH CHA PHANXICÔ.. 106
Truyền_giáo 136: Khốn cho tôi nếu tôi không rao giảng Tin Mừng. 110
Truyền_giáo 137: Loan báo Tin Mừng. 113
Truyền_giáo 138: Liên lỉ quấy rầy. 118
Truyền_giáo 139: Đừng trở thành bàn tay bại xụi của Chúa. 122
Truyền_giáo 140: Truyền giáo bằng cách sống. 124
Truyền_giáo 141: Nhà Truyền Giáo nhận được rất nhiều. 126
Truyền_giáo 142: Trái Tim biết cảm thương, chạnh lòng Suy Niệm 2. 128
Truyền_giáo 143: “ĐẰM THẮM - ĐIỀM ĐẠM - KÍN ĐÁO”. 131
Truyền_giáo 144: NHIỆT TÂM - NHIỆT THÀNH.. 135
Truyền_giáo 145: TÂM HỒN CỞI MỞ, TẦM NHÌN XA RỘNG.. 140
Truyền_giáo 146: CHO VÀ NHẬN Suy Niệm 6. 145
Truyền_giáo 147: NGƯỜI LỮ HÀNH.. 150
Truyền_giáo 148: TRUYỀN GIÁO PHÒNG THỦ.. 156
Truyền_giáo 149: KHỦNG HOẢNG Suy Niệm 9. 161
Truyền_giáo 150: “TRỞ NÊN TẤT CẢ CHO MỌI NGƯỜI”. 165

 

Truyền_giáo 101: NHIỆT HUYẾT TÔNG ĐỒ

 

Truyền giáo là một sứ mạng thiêng liêng cao cả, khởi nguồn từ Thiên Chúa. Qua mọi can dự vào lịch  Truyền_giáo 101


Truyền giáo là một sứ mạng thiêng liêng cao cả, khởi nguồn từ Thiên Chúa. Qua mọi can dự vào lịch sử loài người, Thiên Chúa Ba Ngôi đã làm tất cả “vì loài người chúng ta và để cứu độ chúng ta”.

Sứ mạng truyền giáo đã được trao phó cho Giáo Hội. Khi lập Nhóm Mười Hai, Chúa Giêsu cho thấy ý định trao phó sứ mạng truyền giáo cho Giáo Hội sau này (x. Mc 3,13). Trước khi rời các Tông Đồ để về cùng Chúa Cha, Chúa Giêsu đã trực tiếp ban mệnh lệnh truyền giáo cho các ông: “Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai anh em” (Ga 20,21), “Anh em hãy đi dạy dỗ muôn dân, rửa tội cho họ nhân danh Cha và Con và Thánh Thần, và dạy họ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em” (Mt 28,19-20).

Chính các Tông Đồ và những cộng sự của các ngài đã thừa hành mệnh lệnh này một cách xuất sắc. Trải qua bao khó khăn dọc dài lịch sử, các ngài đã đem Tin Mừng Phục Sinh tới nhiều miền và cho nhiều tâm hồn. Hơn hai ngàn năm qua, dưới sự dẫn dắt của Chúa Thánh Thần, các thế hệ tông đồ truyền giáo đã nối tiếp nhau mang Tin Mừng đi khắp địa cầu.

Như vậy, truyền giáo xuất phát từ Thiên Chúa, qua Đức Kitô sứ mạng này đã được trao cho Giáo Hội, nhờ Thánh Thần hướng dẫn Giáo Hội trung thành và nhiệt thành chu toàn sứ mạng cho đến ngày tận thế.

Thực thi sứ mạng truyền giáo là chia sẻ cuộc sống như chính Chúa Giêsu đã sống, là yêu thương mọi người, yêu thương đến cùng, yêu thương đến nỗi dám chấp nhận hy sinh tính mạng cho những người mình yêu. Truyền giáo là làm chứng cho Chúa Kitô bằng đời sống.

Nội dung truyền giáo

Trước khi về với Chúa Cha, Chúa Giêsu ban lệnh truyền; “Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em”. Lời Chúa nói với các môn đệ về nội dung truyền giáo có 4 công việc quan trọng:

Truyền giáo là Rao giảng Tin Mừng của Chúa Giêsu. Rao giảng là bước đầu tiên và quan trọng nhất. Truyền giáo là “loan báo Tin mừng”.

Truyền giáo là “thiết lập cộng đoàn các môn đệ”, cộng đoàn những người tin vào Chúa Kitô, cộng đoàn này chính là Giáo Hội. Chúa Giêsu nói rõ: “Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ”.

Truyền giáo là “cử hành Phụng Vụ và các Bí Tích”. Chúa Giêsu cũng nói rõ: “làm phép rửa cho họ Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần”. Các Bí tích thuộc về Nhiệm cục Cứu độ của thời đại Tân Ước, được Chúa Giêsu thiết lập, để qua đó ban ơn cứu độ cho con người.

Truyền giáo là dạy Giáo Lý, là Huấn Giáo. Chúa Giêsu đã căn dặn: “Dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em”. Mục tiêu của Huấn giáo là dạy cho người ta biết Chúa, tin Chúa và yêu Chúa, giúp cho người Kitô hữu có thể gặp gỡ Chúa, tiếp xúc với Chúa trong đời sống cầu nguyện, cũng như trong đời sống thực tế hằng ngày.

Truyền Giáo theo gương Chúa Giêsu

“Việc truyền giáo của Hội Thánh hướng tới mọi người thành tâm thiện chí, và dựa trên sức mạnh biến đổi của Tin Mừng. Tin Mừng là Tin Vui chứa đầy niềm vui có sức lan toả, vì nó chứa đựng và cống hiến sự sống mới: sự sống của Đức Kitô Phục Sinh, Đấng là Đường, Sự Thật và Sự Sống (x. Ga 14,6) cho chúng ta, và đổ đầy Thần Khí ban sự sống cho chúng ta. Người là Đường mời gọi chúng ta theo Người với lòng tin tưởng và can đảm. Khi theo Đức Giêsu là Đường, chúng ta trải nghiệm Sự Thật và lãnh nhận Sự Sống của Người, nghĩa là có sự hiệp thông viên mãn với Thiên Chúa Cha trong quyền năng Chúa Thánh Thần. Sự sống ấy giải thoát chúng ta khỏi mọi ích kỷ, và là nguồn sáng tạo trong tình yêu”. (Sứ điệp Truyền Giáo 2017).

Đức Thánh Cha Phanxicô gợi lên hai câu chuyện Tin Mừng trong sứ vụ truyền giáo của Chúa Giêsu: “Thế giới vô cùng cần Tin Mừng Đức Giêsu Kitô. Thông qua Hội Thánh, Đức Kitô tiếp tục sứ mạng của mình là Người Samari Tốt Lành, săn sóc những vết thương rướm máu của nhân loại, và là Người Mục Tử Tốt Lành, không ngừng tìm kiếm những con chiên lạc trên những con đường ngoằn ngoèo không dẫn tới đâu” (Sứ điệp Truyền Giáo 2017, số 5).

Khi đi rao giảng Tin Mừng, Chúa Giêsu ưu tiên để ý đến những người nghèo, người tội lỗi, người ngoại và những người bệnh tật. Suốt đời, Ngài đã sống gần gũi với 4 hạng người: người nghèo, người tội lỗi, người ngoại và những người bệnh tật. Chúa Giêsu đến với họ, cho họ thấy, Ngài rất thương họ, và tình thương đó là vô hạn, vô cùng. Thương đến đổ máu mình ra, chết cho họ, chết thay cho họ, và cho mọi người. Chúa Giêsu hiến thân đến tột cùng vì tình yêu.

Chúa Giêsu muốn các môn đệ cũng hãy theo gương Thầy, đem Tin Mừng đến cho 4 hạng người đó.Đây cũng là sứ mạng truyền giáo của mỗi Kitô hữu. Nói cách khác, truyền giáo là yêu như Chúa Giêsu yêu. Chúa dành tình yêu đặc biệt cho 4 hạng người: người ngoại, người tội lỗi, người bệnh tật và người nghèo. Yêu người ngoại, yêu người tội lỗi, yêu người nghèo và người bệnh tật như thế là truyền giáo theo gương Chúa Giêsu.

Chúa Giêsu dạy các Tông Đồ về cách thức loan báo Tin Mừng. Đó là, ở lại với dân chúng và giúp họ nghe lời thông truyền Tình Thương và Sự Sống, lời kêu gọi sám hối và mở lòng đón Chúa, lời đem lại ơn giải thoát cho họ (x. Mc 6,11). Như vậy, người tông đồ ra đi loan báo Tin Mừng không nhất thiết phải giúp người dân có “cơm dư gạo thừa”, nhưng công việc trước tiên là hãy đi vào trong văn hóa của địa phương và nói Lời Chúa cho dân chúng nghe, sau đó mới giúp đỡ họ được khỏe mạnh phần xác như xức dầu, trừ quỷ, chữa lành bệnh tật. Nhờ gặp gỡ Chúa Giêsu, người nghe được ơn biến đổi theo Tin Mừng. Truyền giáo đạt thành quả nhờ sức mạnh biến đổi của Tin Mừng Đức Kitô, là Đường, Sự Thật và Sự Sống (x. Sứ điệp Truyền Giáo 2017, số 1-5).

Tinh thần truyền giáo và nhiệt huyết tông đồ

Đức cố Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận, khi còn là Giám Mục Giáo Phận Nha Trang, đã viết chỉ dẫn về truyền giáo như sau:

“Những nỗ lực hoạt động, cầu nguyện sẽ không mang lại kết quả nếu chúng ta không được hướng dẫn bằng một tinh thần mới, một bầu nhiệt huyết tông đồ. Bất cứ lúc nào tiếp xúc với lương dân, với một bầu nhiệt huyết tông đồ, anh chị em hãy luôn luôn nhớ rằng: Tinh thần truyền giáo không phải là óc chinh phục mà là lòng yêu thương. Tinh thần truyền giáo không phải là óc cai trị, mà là tinh thần phục vụ mọi người. Tinh thần truyền giáo không phải là đạo binh thánh giá, dùng vũ lực để đánh ngã, nhưng là tinh thần chứng nhân, lấy đời sống mà làm chứng tích. Tinh thần truyền giáo không phải là óc tự cao tự đại, nhưng là thái độ đối thoại, là tinh thần trao đổi và tôn trọng các tôn giáo khác. Tinh thần truyền giáo không phải là mãnh lực của tiền tài, quyền thế mà là tinh thần tương trợ. Tinh thần truyền giáo không phải là thủ đoạn chiến lược, nhưng là tấm lòng chân thành đơn sơ. Tinh thần truyền giáo không bao giờ chán nản, vì trở ngại, vì vô ơn, vì phản bội, vì thất bại, ngược lại luôn luôn tin cậy vào ơn Chúa và nhẫn nại”. (Gm. Phanxicô Xaviê Nguyễn văn Thuận, Thư luân lưu: Sứ mạng Chúa Kitô là sứ mạng của chúng ta, lễ Thánh Têrêxa năm 1970. Trích trong tập Hôm qua, hôm nay, ngày mai, Thời điểm 1996, tr. 102-103).

Sắc lệnh Ad Gentes đề cao tầm quan trọng của chứng tá đời sống trong việc truyền giáo: “Tất cả các Kitô hữu, dù sống ở đâu, đều phải dùng chứng tá và gương mẫu đời sống để thể hiện con người mới của họ đã đón nhận qua Bí Tích Thanh Tẩy, đồng thời biểu dương sức mạnh của Chúa Thánh Thần đã cũng cố họ qua Bí Tích Thêm Sức, để những người chung quanh nhìn thấy các việc họ làm mà ngợi khen Chúa Cha” (số 11).

Truyền giáo hôm nay phải là giới thiệu, là trình bày, là minh họa, là thuyết phục. Chúng ta giới thiệu Chúa Giêsu cho những anh chị em mà mình gặp gỡ hàng ngày nơi môi trường mình sống và làm việc. Đời sống của Giáo Dân là phương tiện truyền giáo hữu hiệu hàng đầu. Muốn truyền giáo, Giáo Dân phải có lòng đạo nhất định. Việc tái truyền giáo giúp tẩy xóa hay giảm bớt những cách sống phản Tin Mừng nơi người đã có Đức Tin. Thực tế, chẳng ai lại đi theo một cái Đạo mà ngay cả tín đồ cũng không thực hành Đạo. Cũng chẳng ai có thể cho người khác cái mà mình không có. Tái truyền giáo sẽ giúp giáo dân đong đầy hành trang là những giá trị Tin Mừng cho cuộc sống, thay cho những lối sống buông thả và thiếu cố gắng xưa nay. Muốn giới thiệu Chúa cho người chưa biết Chúa, người Giáo Dân phải thấm nhuần đạo lý, sống trong thế thượng phong về luân lý, về đức Bác Ái và sự Công Bằng. Như thế, từng cá nhân, từng nhóm và cộng đoàn có thể dấn thân vào việc truyền giáo.

Thực thi sứ vụ truyền giáo hôm nay bằng nhiều cách:

Mọi thành viên của Hội Thánh được kêu gọi rao giảng Tin Mừng bằng chứng tá đời sống của mình. Một cách đặc biệt, những người nam người nữ thánh hiến được mời gọi lắng nghe tiếng nói của Thánh Thần, Đấng kêu gọi họ đi ra các vùng ngoại biên, đến với những người chưa được nghe rao giảng Tin Mừng…

Người truyền giáo đích thực thì say mê Tin Mừng. Tin Mừng là nguồn mạch niềm vui, sự giải phóng và cứu độ cho mọi người. Hội Thánh ý thức được hồng ân này, vì thế Hội Thánh không ngừng công bố cho mọi người "điều đã có từ ban đầu, điều chúng tôi đã nghe, và chúng tôi đã tận mắt chứng kiến" (1Ga 1,1).

Việc truyền giáo của Hội Thánh được sinh động bởi một linh đạo của việc liên tục lên đường. Chúng ta được thách thức “ra khỏi vùng đất tiện nghi của mình để đến với mọi vùng ‘ngoại vi’ đang cần ánh sáng Tin Mừng” (Evangelii Gaudium, 20).

Giới trẻ là hy vọng của truyền giáo. Con người Đức Giêsu Kitô và Tin Mừng Người công bố tiếp tục thu hút nhiều người trẻ. Họ tìm cách dấn thân phục vụ loài người với sự can đảm và phấn khởi. “Nhiều người trẻ đang chia sẻ mối quan tâm chung về các vấn đề của thế giới và tham gia các hình thức khác nhau của việc cổ động tích cực và hoạt động tình nguyện… Đẹp biết bao khi chứng kiến cảnh những người trẻ là những “nhà giảng thuyết đường phố”, vui vẻ mang Đức Giêsu đến mọi đường phố, mọi công viên và mọi góc cùng của trái đất!” (Sứ điệp Truyền Giáo 2017).

Mỗi Giáo Xứ khởi động phong trào: mỗi thành viên phải làm sao giúp cho một người khác hiểu Đạo, mến Đạo và có thể theo Đạo.

Mỗi Giáo Dân nên kết thân với một lương dân. Mỗi gia đình kết thân với một gia đình bên Lương. Kết thân để cầu nguyện, nâng đỡ nhau.

Các hội đoàn đi tìm người có "hoàn cảnh đặc biệt" về tâm linh, về luân lý, và người nghèo ngay trong địa phương của mình. Nên có một danh sách cụ thể. Sau đó sẽ cùng nhau thăm viếng, an ủi và giúp đỡ.  

Chúa Thánh Thần hướng dẫn và quyết định thành tựu của việc truyền giáo. Nhưng nỗ lực của mọi thành phần Dân Chúa trong việc truyền giáo cũng là yếu tố làm nên sự thành công. Ước mong Khánh Nhật Truyền Giáo là ngày mang đến cho chúng ta nhiều niềm vui Tin Mừng qua những thành quả, và cũng giúp chúng ta có thêm động lực để dấn thân cho việc loan báo Tin Mừng.

Lm. Giuse NGUYỄN HỮU AN


 

Truyền_giáo 102: Truyền Giáo hay Rao Giảng Tin Mừng!


(Suy niệm của Lm. Gioan Nguyễn Văn Ty SDB)

 

Dầu đã được trực tiếp tham gia vào công tác ‘truyền giáo’ trong thời gian 02 năm tại Mongolia, Truyền_giáo 102


Dầu đã được trực tiếp tham gia vào công tác ‘truyền giáo’ trong thời gian 02 năm tại Mongolia, nhưng khi được nhiều bạn gửi ‘mail’ khuyến khích viết bài suy niệm nhân Khánh Nhật Truyền Giáo, tôi vẫn cảm thấy ngại ngùng. Lý do là vì suy nghĩ của tôi sau thời gian ‘truyền giáo’ trở về đã bị thay đổi nhiều quá; tôi cảm thấy lạc lõng và cô đơn trong suy tư, cũng như hụt hẫng trong truyền đạt về đề tài này. Cuối cùng thì sáng nay trong thánh lễ, sau khi lắng nghe lời chia sẻ của các tập sinh, tôi đã quyết định viết, nhưng không phải cho ai khác mà là viết cho chính mình đấy thôi.

Tôi nhớ là: năm 2003, sau khi kết thúc nhiệm kỳ giám tỉnh cuối cùng, tôi vẫn chưa có một định hướng rõ rệt nào cho tương lai phục vụ của mình. Vì Bề Trên trung ương rộng phép cho tôi được hưởng một năm bồi dưỡng tại bất cứ đâu…, nên tôi đã quyết định xin có một năm trau dồi thêm kiến thức về tu đức, và học hỏi về các tôn giáo thế giới tại đại học Berkeley - California (Hoa Kỳ); chính trong thời gian này mà tôi đã đi tới quyết định xin bề trên cho phép đi truyền giáo tại Mongolia (Mông Cổ), nơi mà tôi đã lui tới nhiều lần trong thời gian, với tư cách giám tỉnh, thành lập các cơ sở truyền giáo cho anh em tỉnh dòng Don Bosco Việt Nam. Hơn nữa, trước khi lên đường đi Mongolia, tôi còn được tham dự một khóa học ba tháng chuyên đề về truyền giáo học tại đại học Universitá Pontificia Salesiana – Roma; ấy thế mà khi thực sự tới và làm việc trực tiếp tại một nơi truyền giáo ‘Ad Gentes’ thứ thiệt như Mongolia, cái kinh nghiệm ‘truyền giáo’ tuy còn rất nông cạn và bé nhỏ mà tôi đã thủ đắc được trong thời gian ngằn ngủi này đã đủ để làm đảo lộn (upside down) mọi suy nghĩ trước đó của tôi về lãnh vực này.

Trước hết, tôi thấy mình dị ứng ghê gớm với cái từ ‘truyền giáo’ thông dụng, vì thấy nó quá mập mời dễ gây hiểu lầm. Nếu truyền giáo hàm ý làm cho một người ‘không có đạo’ được rửa tội để gia nhập đạo Công giáo theo nghĩa ‘cải đạo’ (proselytism), thì rõ ràng là ta đã hiểu sai ẩn ý của Đức Kitô mất rồi. May mắn thay nội dung này đã chính thức bị Công Đồng Va-ti-can II phế bỏ! ‘Missio’ phải được hiểu là sứ vụ được sai đi (‘thừa sai’) để ‘rao giảng Tin Mừng’ (evangelisare), có nghĩa là để loan báo Tin Mừng cứu độ, để loan truyền tình yêu thương xót của Thiên Chúa đã từng được Đức Kitô Giêsu thực hiện trong cuộc sống của Người, đặc biệt qua cái chết Thập Giá. Quan niệm cho rằng: ai đó phải gia nhập đạo, phải được rửa tội, thì mới được hưởng nhờ lòng nhân ái cứu độ của Thiên Chúa là một sai lầm lớn. Lòng thương xót và ơn cứu độ đã được Chúa ban cho hết thảy mọi người cách vô điều kiện (xem thư Rô-ma chương 5). Như thế ‘Loan báo Tin Mừng’ không làm gì khác hơn là mở mắt cho người ta nhận biết rằng họ đã được hưởng ơn cứu độ và lòng thương xót, nhờ vào sự chết và phục sinh của Đức Kitô Giêsu; và một khi họ đã tin nhận điều đó, ta mời gọi họ gia nhập cộng đoàn tín hữu để cùng chúng ta dâng lời cảm tạ tri ân lên Thiên Chúa về hồng ân vĩ đại đó.

Một suy nghĩ khác mà tôi cảm thấy rất ‘dội’ đó là: nếu không có ai đi truyền giáo thì các dân ngoại sẽ mất linh hồn hết…, rằng nhà truyền giáo là những người mang ơn cứu độ tới cho kẻ ngoại…, rằng ơn cứu độ lệ thuộc vào một lối sống được xây dựng trên nền ‘luân lý Kitô giáo’ mà ta sẽ mở mắt cho họ biết, để rồi, nhờ nắm giữ cặn kẽ các qui định, luật lệ đó, họ sẽ được vào hưởng nước thiên đàng. Thiết tưởng: khi Đức Kitô sai các tông đồ đi rao giảng Tin Mừng, Người đâu có ám chỉ điều này: “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo”. Ngay câu nói: ‘Ai tin và chịu phép rửa sẽ được cứu độ” đâu có nghĩa là, chính phép rửa sẽ ban ơn cứu độ! Nhìn vào chính Đức Giêsu ta sẽ thấy: Tin Mừng của lòng thương xót cứu độ vẫn có thể được rao giảng và mời gọi ngay cả một người nữ Sa-ma-ri đang sống chung chạ sau năm đời chồng. Khi còn ở Mongolia, cha sở nhà thờ chính tòa Ulaanbataar, một nhà truyền giáo người Ca-mơ-run, xin tôi dạy giáo lý cho một nhóm sinh viên. Ngài muốn tôi dạy theo chương trình giáo lý tân tòng mà ngài đã soạn sẵn, khởi đầu bằng nội dung thập giới của Chúa và lục giới của Hội Thánh… Ngài căn dặn: đó là các điều kiện tiên quyết để gia nhập đạo hầu được rỗi linh hồn… Tôi đã quyết định không áp dụng chương trình đó, xác tín rằng ‘truyền giáo’ tiên quyết phải là rao giảng Tin Mừng, mà Tin Mừng chính là cho mọi người nhận biết Thiên Chúa xót thương và cứu độ toàn thể nhân loại. Tôi dọn một chương trình riêng, trong đó tôi phân tích cho các sinh viên Mongolia hiểu ra rằng: Thiên Chúa của Đức Giêsu Kitô yêu thương họ, không như các thần linh đạo Shaman của người du mục, luôn gieo rắc sợ hãi kinh hoàng khắp nơi. Thế đấy, cái kinh nghiệm rất cụ thể của tôi về sự khác biệt quá lớn giữa ‘truyền giáo’ và ‘loan báo Tin Mừng’ đại loại là như thế.

Từ cái kinh nghiệm ‘thừa sai’ còn rất thô thiển tại Mongolia tôi đã học được một bài học cơ bản: Thiên Chúa, không biết từ thuở nào, đã yêu mến và cứu chuộc các người Mông Cổ du mục sinh sống trên vùng thảo nguyên lạnh giá mênh mông tại Trung Á. Cuộc sống du mục nay đây mai đó của họ, với văn hóa và các truyền thống từ bao đời, cho dầu có nhiều điểm khác biệt với nền ‘luân lý Kitô giáo’ mang tính định canh định cư của lịch sử, vẫn không hề tách họ ra khỏi lịch sử cứu độ mà Thiên Chúa đã và đang chủ động thực hiện nơi họ nhờ Đức Kitô Giêsu. Công việc của một ‘thừa sai’ như tôi đích thị phải là rao giảng Tin Mừng, là loan báo cho họ biết rằng Thiên Chúa yêu thương họ trong chính lối sống và văn hóa của họ…, đồng thời mời gọi họ tin vào Đức Kitô Giêsu Cứu Chúa…, mời gọi họ lãnh nhận phép thánh tẩy… và gia nhập vào Hội Thánh là cộng đoàn những người nhận biết Thiên Chúa từ ái và yêu thương để không ngừng cất cao lời cảm tạ. Và cũng từ đó tôi nghiệm ra một điều còn quan trọng hơn nữa là: một ‘người loan báo Tin Mừng’ trước hết phải chính mình có cảm nghiệm sâu sắc về lòng thương xót cứu độ của Chúa. Cảm nghiệm này chính là nền tảng của việc được sai đi, là sức mạnh trong khiêm tốn phục vụ, là hy vọng không hề suy chuyển trước các khác biệt và thách đố, và là chương trình và hành động trong sứ vụ thừa sai.

Lạy Chúa, con cảm tạ Chúa đã cho con được tham gia chút ít vào chương trình cứu độ đầy yêu thương của Chúa đối với dân tộc Mongolia. Cảm tạ Chúa đã mở lòng cho con nhận biết Chúa yêu thương họ vô cùng, trước cả khi con được sai tới với họ để nói cho họ biết điều đó. Qua tâm tình tri ân này, xin cho con tiếp tục không ngừng khao khát tuyên xưng niềm tin vào một Thiên Chúa yêu thương và cứu độ, và tìm cách làm chứng cũng như loan truyền điều đó cho mọi người con gặp gỡ và tiếp xúc hàng ngày. Con coi đó chính là công việc ‘truyền giáo = thừa sai’ Chúa đang dành cho con lúc này và trong điều kiện sống này. Amen.


 

Truyền_giáo 103: Sứ Điệp Ngày Thế Giới Truyền Giáo 2018


(Sứ Điệp Ngày Thế Giới Truyền Giáo 2018 của ĐGH Phanxicô - Chuyển ngữ từ Zenit: Joseph C. Pham)

Cùng với giới trẻ, chúng ta hãy đem Tin Mừng cho hết mọi người

 

Các bạn trẻ thân mến, Cha muốn suy tư với các con về sứ mạng mà chúng ta đã nhận lãnh từ Đức Truyền_giáo 103


Các bạn trẻ thân mến, Cha muốn suy tư với các con về sứ mạng mà chúng ta đã nhận lãnh từ Đức Kitô. Trong khi nói với các con, Cha cũng nói với hết mọi Kitô Hữu đang sống hành trình đời mình trong Giáo Hội trong vai trò là con cái của Thiên Chúa. Điều dẫn Cha đến việc nói với mọi người qua cuộc trò chuyện này với các con là là sự chắc chắn rằng niềm tin Kitô vẫn hằng luôn trẻ khi nó mở ra cho việc truyền giáo mà Đức Kitô ủy thác cho chúng ta. “Truyền giáo làm sống động niềm tin” (Redemptoris Missio, 2), theo những lời của Thánh Gioan Phaolô II, một Vị Giáo Hoàng là người đã cho thấy một tình yêu lớn lao và sự quan tâm đặc biệt với giới trẻ.

Thượng Hội Đồng sẽ được tổ chức tại Rôma vào Tháng 10 này, tháng của việc truyền giáo, mang lại cho chúng ta một cơ hội để hiểu cách trọn vẹn hơn, dưới ánh sáng của niềm tin, điều mà Chúa Giêsu muốn nói với các con là giới trẻ, và qua các con, đến hết mọi cộng đoàn Kitô Giáo.

Cuộc đời là một sứ mạng

Mỗi người nam nữ là một sứ mạng; đó là lý do cho cuộc sống của chúng ta trên mặt đất này. Để được lôi cuốn và được sai đi là hai chuyển động mà tâm hồn chúng ta, đặc biệt khi chúng ta còn trẻ, cảm nhận như là những sức mạnh nội tại của tình yêu; chúng mang lại một sự hứa hẹn cho tương lai của chúng ta và chúng mang lại định hướng cho đời sống của chúng ta. Hơn bất kỳ ai khác, người trẻ cảm thấy sức mạnh của cuộc sống đổ ập xuống trên chúng ta và hấp dẫn chúng ta. Để sống cách vui tươi trách nhiệm của chúng ta với thế giới là một thách đố lớn lao. Cha ý thức rõ về những ánh sáng và bóng tối của tuổi trẻ; khi Cha nghĩ lại về tuổi trẻ của Cha và gia đình của Cha, Cha nhớ lại sức mạnh của niềm hy vọng của Cha cho một tương lai tươi đẹp hơn. Sự thật là chúng ta không ở trong thế giới này bởi sự chọn lựa của riêng chúng ta giúp cho chúng ta cảm thấy rằng có một sáng kiến đi trước chúng ta và làm cho chúng ta hiện hữu. Mỗi người chúng ta được mời gọi để suy tư về sự thật này: “Tôi là một sứ mạng trên mặt Đất này; đó là lý do vì sao tôi hiện diện ở đây trong thế giới này” (Evangelii Gaudium, 273).

Chúng ta loan báo Chúa Giêsu Kitô

Giáo Hội, qua việc loan báo điều mà Giáo Hội đã nhận lãnh nhưng không (x. Mt 10:8; Cv 3:6), có thể chia sẻ với các con là những người trẻ con đường và sự thật vốn mang lại ý nghĩa cho đời sống của chúng ta trên mặt đất này. Chúa Giêsu Kitô, Đấng đã chết trên thập giá và đã sống lại vì chúng ta, mời gọi sự tự do của chúng ta và thách đố chúng ta hãy tìm kiếm, khám phá và loan báo thông điệp của sự thật và sự thành toàn này. Các bạn trẻ thân mến, đừng sợ Đức Kitô và Giáo Hội của Ngài! Vì ở đó chúng ta tìm thấy kho tàng vốn lấp đầy cuộc sống bằng niềm vui. Cha có thể nói với các con từ kinh nghiệm của riêng Cha: nhờ niềm tin, Cha đã tìm thấy một nền tảng chắc chắn cho những giấc mơ của Cha và sức mạnh để thực tại hóa chúng. Cha đã chứng kiến sự khổ đau lớn lao và sự nghèo nàn làm biến dạng diện mạo của quá nhiều người anh chị em chúng ta. Và rồi, đối với những người đứng về phía Chúa Giêsu, sự dữ là một động lực cho một tình yêu lớn lao hơn. Nhiều người nam nữ và nhiều bạn trẻ đã hy sinh cách quảng đại chính bản thân họ, thậm chí đôi khi đến mức tử đạo, vì tình yêu đối với Tin Mừng và sự phục vụ anh chị em của họ. Từ thập giá của Chúa Giêsu, chúng ta học được logic thánh của sự hy sinh bản thân (x. 1 Cr 1:17-25) như là một việc loan báo Tin Mừng cho sự sống của thế giới (x. Ga 3:16). Để thắp lên ngọn lửa bởi tình yêu của Đức Kitô nghĩa là bị tiêu thụ bởi ngọn lửa ấy, để lớn lên trong sự hiểu biết bởi ánh sáng của nó và được sưởi ấm bởi tình yêu của ngọn lửa ấy (x. 2 Cr 5:14). Ở trường của các thánh, những vị mở ra cho chúng ta những chân trời của Thiên Chúa, Cha mời gọi các con đừng bao giờ ngừng tự hỏi: “Đức Kitô sẽ làm gì nếu Ngài ở vị trí của tôi?”

Thông truyền niềm tin đến tận cùng trái đất

Các bạn trẻ thân mến, qua phép rửa của mình, các con đã trở thành những thành viên sống động của Giáo Hội: chúng ta cùng nhau nhận lãnh sứ mạng đem Tin Mừng cho hết mọi người. Các con đang ở ngưỡng cửa của cuộc sống. Để lớn lên trong ân sủng của niềm tin đã được ban xuống trên các con bởi các bí tích của Giáo Hội nhận chìm chúng ta vào trong dòng chảy lớn lao của những chứng nhân là những người, qua các thế hệ, làm cho sự khôn ngoan và kinh nghiệm của những người lớn hơn trở thành một chứng tá và sự khích lệ cho những người đang nhìn về tương lai. Và sự tươi mới và lòng nhiệt thành của người trẻ biến chúng thành một nguồn bổ trợ và niềm hy vọng cho những người đang ở gần cuối hành trình của mình. Trong sự hòa quyện của những giai đoạn khác nhau này trong cuộc sống, sứ mạng của Giáo Hội làm cầu nối cho các thế hệ; niềm tin của chúng ta vào Thiên Chúa và tình yêu của chúng ta dành cho người thân cận là một nguồn của sự hiệp nhất lớn lao.

Sự thông truyền niềm tin này, trọng tâm của sứ mạng của Giáo Hội, diễn ra bởi sự lây nhiễm của tình yêu, nơi mà niềm vui và lòng nhiệt thành trở thành một sự thể hiện của một ý nghĩa và sự tròn đầy mới được phát hiện trong cuộc sống. Việc lan tỏa niềm tin “bởi sự cuốn hút” mời gọi các tâm hồn cởi mở và được mở rộng bởi tình yêu. Thật không thể để đặt các giới hạn cho tình yêu, vì tình yêu thì mạnh mẽ như sự chết (x. Dc 8:6). Và sự diễn tả ấy làm phát sinh sự gặp gỡ, chứng tá, sự loan báo; nó làm phát sinh sự chia sẻ về bác ái với hết mọi người đang ở xa niềm tin, thờ ơ với niềm tin và có lẽ thậm chí thù nghịch và chống lại niềm tin. Các bối cảnh con người, văn hóa và tôn giáo vẫn xa lạ với Tin Mừng của Chúa Giêsu và với sự hiện diện mang tính dấu chỉ của Giáo Hội hiện diện ở những vùng ngoại biên cực xa, “những tận cùng thế giới”, mà ngày từ ngày đầu tiên của Sự Phục Sinh, các môn đệ truyền giáo của Chúa Giêsu đã được sai đi đến những nơi ấy, với sự chắc chắn rằng Chúa của họ luôn ở cùng họ (x. Mt 28:20; Cv 1:8). Đây là điều mà chúng ta gọi là mission ad gentes (đến với muôn dân). Vùng ngoại biên hẻo lánh nhất của hết mọi nơi là nơi mà nhân loại, đang cần Đức Kitô, vẫn đang thờ ơ với niềm tin hay những biểu hiện lòng hận thù đối với sự tròn đầy của sự sống trong Thiên Chúa. Mọi sự nghèo nàn về thiêng liêng và vật chất, mọi hình thức phân biệt đối xử với anh chị em của chúng ta, luôn là một hậu quả của sự chối bỏ Thiên Chúa và tình yêu của Ngài.

Các bạn trẻ thân mến, ngày nay, những tận cùng trái đất thì lại khá tương đối và luôn “có thể điều hướng” cách dễ dàng. Thế giới số - các mạng xã hội vốn quá phổ biến và luôn sẵn sàng – làm tan biến hết mọi biên giới, loại bỏ hết những khoảng cách và giảm thiểu những khác biệt. Mọi thứ đều ở trong tầm với, quá gần gũi và tức thời. Nhưng rồi việc thiếu quà tặng chân thành của cuộc sống của chúng ta, chúng ta có thể có vô số các mối liên hệ nhưng không bao giờ chia sẻ một sự hiệp thông sự sống thật sự. Để chia sẻ về mặt truyền giáo cho đến tận cùng trái đất đòi hỏi một quà tặng về bản thân trong ơn gọi mà Thiên Chúa, Đấng đã đặt để chúng ta trên mặt đất này, chọn để ban cho chúng ta (x. Lc 9:23-25). Cha dám nói rằng, đối với một người trẻ nam hay nữ là người muốn theo Đức Kitô, thì điều thiết yếu nhất là tìm kiếm, khám phá và duy trì trong hơn gọi của mình.

Làm chứng cho tình yêu

Cha biết ơn tất cả các nhóm giáo hội đang làm cho việc có một cuộc gặp gỡ cá nhân với Đức Kitô sống động trong Giáo Hội của Ngài trở nên khả thể với các con: các giáo xứ, các tổ chức, các phong trào, các cộng đồng tu trì, và nhiều sự thể hiện khác nhau của công việc truyền giáo. Biết bao nhiêu người trẻ tìm thấy trong công việc thiện nguyện truyền giáo một con đường phục vụ “người bé mọn nhất” trong số anh chị em của chúng ta (x. Mt 25:40), cổ võ phẩm giá con người và làm chứng cho niềm vui của tình yêu và của việc là các Kitô Hữu! Những kinh nghiệm mang tính giáo hội này sẽ giáo dục và đào luyện người trẻ không chỉ cho sự thành công nghề nghiệp và còn cho sự phát triển và nuôi dưỡng những quà tặng mà Thiên Chúa ban cho để có thể phục vụ người khác tốt hơn. Những hình thức đáng khen ngợi này của công việc truyền giáo đương thời là một khởi đầu sinh hoa trái và, qua sự biện phân ơn gọi, những hình thức này còn có thể giúp các con quyết định thực hiện một quà tặng trọn vẹn về bản thân các con thành những nhà truyền giáo.

Hội Truyền Giáo được sinh ra từ những tâm hồn trẻ như là một phương thế của việc cổ võ và loan báo Tin Mừng cho hết mọi dân nước và do đó góp phần cho sự phát triển về nhân bản và văn hóa của hết mọi người đang khát sự hiểu biết về sự thật. Những lời cầu nguyện và sự trợ giúp vật chất được trao ban và phân phát cách đại lượng qua Hội Truyền Giáo giúp cho Tòa Thánh đảm bảo rằng những người được giúp đỡ trong những nhu cầu các nhân của họ sau đó có thể làm chứng cho Tin Mừng trong những hoàn cảnh của đời sống của họ. Không một ai quá nghèo đến mức không thể cho điều họ có, nhưng trước hết và trên hết điều mà họ là. Cho phép Cha lặp lại những lời khích lệ mà Cha đã nói với các bạn trẻ của Chile: “Đừng bao giờ nghĩ rằng các con không có gì để cho đi, hoặc nghĩ rằng không một ai cần các con. Nhiều người cần các con. Hãy nghĩ về điều đó! Mỗi người trong các con, hãy nghĩ trong tâm hồn mình: nhiều người cần tôi” (Gặp Gỡ Giới Trẻ, Đền Maipu, 17/01/2018).

Các bạn trẻ thân mến, vào Tháng 10 tới đây, tháng của truyền giáo, chúng ta sẽ tổ chức Thượng Hội Đồng dành cho các con. Thượng Hội Đồng này sẽ cho thấy là một cơ hội nữa để giúp chúng ta trở thành các môn đệ truyền giáo, hằng tận hiến cách hăng say hơn nữa cho Chúa Giêsu và sứ mạng của Ngài, đến các tận cùng trái đất. Cha xin Mẹ Maria, Nữ Vương Các Tông Đồ, Thánh Francis Xavier, Thánh Thérèse Hài Đồng Giêsu và Chân Phúc Paolo Manna chuyển cầu cho hết mọi người chúng ta và đồng hành với chúng ta luôn mãi.


 

Truyền_giáo 104: Truyền Giáo: Chuyện không của riêng ai


(Suy niệm của Huệ Minh)

 

Chúa Giêsu không ở trần gian mãi, đến kỳ hạn, Chúa Giêsu lại trở về cùng Cha bởi lẽ Ngài xuất Truyền_giáo 104


Chúa Giêsu không ở trần gian mãi, đến kỳ hạn, Chúa Giêsu lại trở về cùng Cha bởi lẽ Ngài xuất phát từ Cha.

Trước khi chia tay với các môn đệ thân tín ở Galilê, ở cái ngọn núi mà các môn đệ được dặn trước và từ đó Ngài về Trời cùng Cha như đã loan báo. Ta bắt gặp lời trối trăng của Chúa Giêsu với các môn đệ rằng: "Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất. Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em. Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế."

Thi thoảng, ta lại bắt gặp lời trăn trối đó và lòng ta lại "được" chất vấn trước lời trăng trối của Chúa Giêsu. Để sống đúng nghĩa và đúng chất với lời mời gọi của Chúa Giêsu không phải là chuyện dễ dàng. Đơn giản là ta nhìn vào con số tỷ lệ giữa người Công Giáo và không Công Giáo tại Việt Nam và nhìn vào con số theo đạo Công Giáo tại Việt Nam thì ta sẽ rõ.

Hẳn nhiên vẫn có con số gia tăng vởi trẻ con của những gia đình có đạo cũng cất tiếng khóc chào đời để rồi được rửa hội và ta có thể gọi là rửa tội tự nhiên. Còn một thể thức rửa tội xem ra tự nhiên mà cũng không tự nhiên tí nào đó là phương thức rửa tội của những người dự tòng để lập gia đình với người bạn đời của mình. Tính như thế, ta sẽ thấy được con số thực của việc truyền giáo trong Giáo Hội ngày hôm nay.

Tỷ lệ người tự nguyện rửa tội chứ không phải tự nhiên ta ngồi nhẩm được bao nhiêu ? Và từ đó, ta lại nhìn lại cung cách sống của ta nhất là với lời mời gọi của Chúa.

Phải nói rằng, điều đầu tiên và căn cốt nhất để người khác không theo đạo, không thiển cảm mấy về đạo Công Giáo đó chính là cung cách sống của người Kitô hữu. Đức cố giáo hoàng Ðức thánh Phaolô VI đã nói rất thấm thía trong Tông huấn Loan báo Tin Mừng như sau: "Người thời nay thích nghe các chứng nhân hơn các thầy dạy. Nếu họ có nghe các thầy dạy là bởi vì thầy dạy cũng chính là chứng nhân".

Và rồi, tư tưởng của Nathan Soderblum: " Thánh nhân là những người có thể làm cho người khác dễ tin vào Chúa hơn".

Thế đó, để người khác tin vào Chúa thì chỉ có duy nhất một con đường cho người Kitô hữu là phải sống, sống như thế nào để người khác tin rằng nơi mình có sự hiện diện của Chúa để rồi tự khắc người ta theo Chúa.

Nhìn vào thực tại truyền giáo tại Việt Nam chúng ta có điều gì đó lợn cợn. Lợn cợn bởi lẽ đã qua nhiều năm, nhiều cách thức, nhiều nẻo đường truyền giáo nhưng rồi ta lại thấy thu lượm kết quả không là bao và chính trong kết quả đó cũng không được có cái gì gọi là bảo đảm.

Thực tại ta thấy ngày hôm nay đó là cảm thức đức tin. Chính người Kitô hữu dù đã có Chúa Kitô, dù đã mang trong mình dấu ấn của Kitô rồi nhưng rồi lại không diễn tả một niềm tin Kitô ngay trong cuộc đời của mình. Và ta thấy vẫn còn cái gì đó, điều gì đó mang dáng dấp của cái nhãn, cái mác bên ngoài mà thôi.

Cái nhãn, cái mác đó dù đẹp, dù hay và thậm chí có dán tem như sản phẩm lan tràn ở thị trường ngày hôm nay làm cho ta nhiều suy nghĩ.

Thánh Giacôbê đã không ngần nại để nói thẳng rằng: "Ai bảo mình có đức tin mà không hành động theo đức tin, thì nào có ích lợi gì? Ðức tin có thể cứu người ấy đợc chăng? Giả như có một người anh em hay chị em không có áo che thân, và không đủ của ăn hàng ngày, mà có ai trong anh em lại nói với họ: "Hãy đi bình an, mặc cho ấm và ăn cho no", nhưng lại không cho họ những thứ thân xác họ đang cần, thì nào có ích lợi gì?" (Gc 2,14-15). Chính nhờ công việc, nhờ việc làm mà củng cố lời rao giảng.

Lời rao giảng, giới thiệu của Gioan tẩy giả về Chúa Giêsu trở nên đáng tin đến độ có những môn đệ của ông đã xin làm môn đệ của Chúa Giêsu. Bởi vì ông đã sống hết mình với sứ điệp ông rao giảng. Ông mời gọi người ta ăn năn sám hối đón đợi Ðấng Cứu Thế thì chính ông đã là mẫu gương của người sám hối, chờ mong. Nhìn nhận Ðấng Cứu Thế, ông tự làm cho mình trở nên bé nhỏ, từ chối những vinh dự mà dân chúng thời đó muốn suy tôn ông, để giới thiệu Chúa Giêsu cho mọi người, cho những môn đệ của mình. Ông đã để cho môn đệ của mình đi theo làm môn đệ Chúa Giêsu, một người lúc đó còn vô danh chưa ai biết đến.

Không phải tất cả chúng ta đều có điều kiện để giới thiệu, để rao giảng Chúa Giêsu cho người khác. Nhưng tất cả chúng ta đều có ơn gọi làm chứng cho ngài bằng đời sống của chúng ta, và bổn phận đó nằm trong tầm tay của chúng ta, từ em thiếu nhi cho đến cụ già. Mỗi người chúng ta đều có bổn phận của mình với trách nhiệm làm người, làm con Thiên Chúa. Và khi chúng ta sống đúng đắn tư cách, bổn phận là người, là con Thiên Chúa, chúng ta đã trở nên chứng nhân cho Chúa , là ánh sáng cho thế gian.

Ta cần và cần lắm khi truyền giáo ngay chính gia đình của ta và gần hơn nữa là truyền giáo cho chính bản thân chai lỳ của chúng ta.

Xin Chúa thêm ơn cho mỗi người chúng ta để chúng ta làm mới con người chúng ta từ lời ăn tiếng nói, cách hành xử để rồi người khác nhìn vào chúng ta họ nhìn thấy một Thiên Chúa sống động đang ở trong chúng ta. Chính khi sống như thế, ta đã người truyền giáo rồi. Xin Chúa thêm ơn và chúc lành cho chúng ta.


 

Truyền_giáo 105: Suy niệm của Lm. Giuse Nguyễn Thành Long


Truyền giáo bằng chứng tá: Ai cũng có thể làm được

 

Có lẽ chúng ta đã nghe nói nhiều đến việc truyền giáo. Và thường chúng ta nghĩ rằng đó là việc của Truyền_giáo 105


Có lẽ chúng ta đã nghe nói nhiều đến việc truyền giáo. Và thường chúng ta nghĩ rằng đó là việc của các linh mục, các nam nữ tu sĩ, của tiểu ban truyền giáo, hay của một số người có ơn gọi đặc biệt như Thánh Phaolô, Thánh Phanxicô Xaviê,… chứ chẳng phải là việc của mình. Tuy nhiên, truyền giáo là ơn gọi, là trách nhiệm gắn liền với mọi người Kitô hữu. Bao lâu còn là Kitô hữu, bấy lâu còn phải loan báo Tin Mừng. Có thể chúng ta không có khả năng lôi kéo, thuyết phục để cho người khác theo đạo, nhưng “nói” cho người khác biết về đạo bằng chứng tá đời sống thì ai ai cũng có thể làm được. Vậy chứng tá cụ thể đó là gì?

- Trước hết là chứng tá bằng đời sống cầu nguyện hy sinh

Đây là hoạt động đi đầu và không thể thiếu trong việc loan báo Tin Mừng. Nhìn thấy gương chúng ta cầu nguyện, gương chúng ta hy sinh, người ta sẽ được đánh động, được cảm hoá. Nếu đời sống tâm linh của chúng ta được cắm rễ sâu trong đời sống cầu nguyện hy sinh, thì mọi việc ta làm đều có giá trị truyền giáo, đều có khả năng làm cho người khác nhận biết Chúa và đem lại rất nhiều lợi ích cho các linh hồn. Như vậy, ngồi ở nhà, chúng ta vẫn có thể truyền giáo. Về điểm này, Thánh nữ Têrêsa Hài đồng Giêsu là mẫu gương tuyệt vời cho chúng ta noi theo. Ngài nói: “Dù cúi xuống nhặt một cây kim vì lòng yêu mến Chúa, tôi cũng có thể cứu được một linh hồn”.

Không ai có thể nói là tôi không có thì giờ để cầu nguyện. Không ai có thể nói là tôi không có cơ hội để hy sinh. Và để rèn luyện được nếp sống thấm nhuần tinh thần cầu nguyện hy sinh, có sức giới thiệu Đức Kitô cho người khác, thiết tưởng chúng ta có thể nhờ đến Chuỗi Kinh Mân Côi. Nhờ Mẹ dẫn chúng ta bước đi từng bước nhỏ trên đường vâng phục thánh ý Chúa và phục vụ các linh hồn.

- Thứ đến là chứng tá bằng lối sống hiệp nhất yêu thương

Truyền giáo bằng việc giảng dạy, bằng sách báo, bằng các lớp Giáo lý, bằng các lễ nghi, bằng các hoạt động tôn giáo, thực tế là rất cần. Nhưng cách truyền giáo hữu hiệu nữa là chính nếp sống đạo đức nổi trội của chúng ta về sự hiệp nhất yêu thương: “Người ta cứ dấu này mà nhận biết anh em là môn đệ của Thầy: là anh em hãy thương yêu nhau”. Tình yêu thương hiệp nhất ấy được thể hiện qua cách suy nghĩ, cách phán đoán, cách chọn lựa, cách đối xử, cách phản ứng, cách hiện diện, cách phục vụ nói năng, ăn uống, giải trí, cách dùng thời giờ, sức khoẻ, của cải,…

Những dấu chỉ yêu thương hiệp nhất giữa mọi người trong gia đình, trong hội đoàn, trong giáo họ, giáo xứ là dấu chỉ loan báo Tin Mừng hữu hiệu nhất, giá trị nhất. Ngược lại, nếu thiếu tình bác ái yêu thương thì những việc tông đồ truyền giáo sẽ phản tác dụng. Xin dẫn chứng:

Một cô gái ngoại giáo lấy người Công giáo, láng giềng, bà con thấy cô ta đẹp người đẹp nết, nên giục cô ta vào đạo. Cô ta trả lời: “Khi nào cháu thấy đạo Chúa hơn đạo Phật, cháu mới vào”. Tìm hiểu, người ta mới biết được bà mẹ chồng dù rất siêng năng đọc kinh, dự lễ và đã từng bỏ ra gần cả một chục triệu bạc cùng với nhiều bà khác giúp cha sở đi Roma xin ơn Đức Giáo hoàng, nhưng bà đã từng sang giật nồi, lấy niêu của một bà hàng xóm nghèo chưa có tiền trả nợ cho bà. Cô dâu in trong lòng hình ảnh không tốt về mẹ chồng và về đạo. Do đó cô nhất quyết không theo đạo bao lâu chưa thấy người theo đạo sống tốt hơn.

Một khi tất cả nếp sống của chúng ta phảng phất hương thơm của tình hiệp nhất yêu thương thì dù ở đâu, nếp sống ấy cũng là truyền giáo.

- Sau nữa là chứng tá bằng nếp sống có văn hoá, văn minh

Ngày hôm nay, xã hội đang phải đối diện với biết bao tệ nạn, môi trường sống bị ô nhiễm trầm trọng, các giá trị đạo đức luân lý bị băng hoại. Chính vì thế, nỗ lực của xã hội là xây dựng nếp sống lành mạnh, có văn hoá, văn minh. Đi đâu chúng ta cũng thấy có các bảng hiệu “khu phố văn hoá”, “thôn văn hoá, ấp văn hoá”…, lẽ nào chúng ta lại đứng ngoài, lẽ nào chúng ta lại không chung tay góp sức mình vào việc đó. Dĩ nhiên, nền văn hoá mà chúng ta phải xây dựng không phải là văn hoá sự chết, văn hoá tiêu diệt sự sống, mà là nền văn hoá bảo vệ và thăng tiến sự sống, sự sống ngay từ khi còn trong lòng mẹ. Nền văn minh mà chúng ta phải kiến tạo không phải là văn minh của nền khoa học kỹ thuật khô cứng hay của chủ nghĩa duy vật hưởng thụ cực đoan, mà là nền văn minh của tình thương, nền văn minh của lòng bao dung tha thứ.

Như mọi người khác, người Công giáo cũng đang hiện diện tại mọi môi trường xã hội hôm nay. Chúng ta cũng làm ăn sinh sống trong mọi lĩnh vực: kinh doanh, sản xuất, buôn bán… với mọi hoàn cảnh từ thương gia đến kỹ sư, bác sĩ, giáo viên, công nhân viên. Cũng làm việc, cũng mưu sinh, nhưng chúng ta làm việc với tinh thần khác: tinh thần công bình bác ái và phục vụ hy sinh.

Xin Chúa cho mỗi người chúng ta luôn ý thức được sứ mạng truyền giáo bằng chứng tá của mình, đặc biệt trong Năm Đức Tin, để ra sức sống tinh thần cầu nguyện hy sinh, yêu thương hiệp nhất, đồng thời nỗ lực xây dựng một cuộc sống tốt đạo đẹp đời hầu cho danh Chúa được ngày một cả sáng hơn. Amen.


 

Truyền_giáo 106: Ưu tiên bốn hạng người


(Suy niệm của Lm. Giuse Nguyễn Hữu An)

 

Thư mục vụ Năm Đức Tin của HĐGMVN viết: Cùng một nhịp bước với Giáo Hội toàn cầu, Năm Đức Truyền_giáo 106


Thư mục vụ Năm Đức Tin của HĐGMVN viết:

Cùng một nhịp bước với Giáo Hội toàn cầu, Năm Đức Tin phải là cơ hội thuận lợi cho mọi thành phần Dân Chúa tại Việt Nam củng cố đức tin của mình, hoán cải và đổi mới đời sống, trở về với Chúa là Đấng Cứu độ duy nhất của thế giới. Khi chúng ta tái khám phá niềm vui đức tin, chúng ta sẽ hăng say dấn thân cho công cuộc Tân Phúc Âm hoá loan báo Tin Mừng cho 93% người Việt Nam chưa biết Chúa, đem tinh thần Phúc Âm thấm nhập mọi lĩnh vực đời sống, góp phần xây dựng một xã hội lành mạnh theo những giá trị Tin Mừng và truyền thống văn hoá của dân tộc. (Số 5).

Năm Đức Tin giúp cho Giáo Hội trở về cội nguồn của mình là chính Chúa Kitô và Tin Mừng của Chúa. Nhờ đó có thể canh tân đời sống và cách làm việc, nhằm thể hiện tốt đẹp hơn Sứ vụ Loan báo Tin Mừng.

Truyền giáo là chia sẻ cuộc sống, một cuộc sống như chính Chúa Giêsu đã sống, là yêu thương mọi người, và yêu thương đến cùng (x. Ga 13,11), yêu thương đến nỗi dám chấp nhận hy sinh tính mạng cho những người mình yêu (x. Ga 15,13). Truyền giáo đồng nghĩa với làm chứng cho Chúa Kitô (x. Lc 24, 47, 48, Cv 1,8) bằng đời sống theo gương của Người.

A. Truyền Giáo theo gương Chúa Giêsu

Giáo Hội luôn trong nỗ lực loan báo Tin mừng của Chúa Giêsu cho toàn thể thế giới. Công đồng Vatican II đã phác họa hướng đi mục vụ truyền giáo: "Vui mừng và hy vọng, buồn sầu và lo sợ của con người ngày hôm nay, nhất là của người nghèo khổ, bị ruồng bỏ quên lãng, cũng là niềm vui, hy vọng, nỗi buồn sầu lo lắng của môn đệ Chúa Kitô..."(Hiến chế Giáo hội, số 1).

Sứ vụ truyền giáo của Giáo hội thời nào và ở đâu cũng bắt đầu từ mẫu gương Chúa Giêsu.

Khi đi rao giảng Tin Mừng, Chúa Giêsu ưu tiên để ý đến những người nghèo, người tội lỗi, người ngoại và những người bệnh tật. Chúa Giêsu áp dụng vào chính mình những lời tiên tri Isaia xưa đã nói: "Thần Khí Chúa ngự trên tôi, Chúa đã xức dầu tấn phong tôi.Sai tôi đi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn" (Lc 4,17-20). Chúa Giêsu cũng đã xác định: "Thầy đến không phải để kêu gọi người công chính, nhưng để kêu gọi người tội lỗi" (Mt 9,13).

Chúa Giêsu nói với người phụ nữ ngoại giáo Samaria: "Này chị, hãy tin tôi: Đã đến giờ, các người sẽ thờ phượng Chúa Cha, không phải trên núi này hay tại Giêrusalem... Nhưng giờ đã đến, và chính là lúc này đây, giờ những người thờ phượng đích thực sẽ thờ Chúa Cha trong tinh thần và trong sự thực. Vì Chúa Cha tìm kiếm những ai thờ phượng Người như thế" (Ga 4,21-24).

Suốt đời, Chúa Giêsu đã sống gần gũi với 4 hạng người: người nghèo, người tội lỗi, người ngoại và những người bệnh tật. Chúa Giêsu đến với họ, cho họ thấy, Người rất thương họ, và tình thương đó là vô hạn, vô cùng. Thương đến đổ máu mình ra, chết cho họ, chết thay cho họ, và cho mọi người. Chúa Giêsu hiến thân đến tột cùng vì tình yêu. Chính ở điểm hiến thân trên thánh giá mà Người làm vinh danh Chúa Cha, và chính Người được tôn vinh. Chúa Giêsu đã nói trước khi hiến tế: "Lạy Cha, giờ đã đến. Xin Cha tôn vinh Con Cha, để con Cha tôn vinh Cha" (Ga 17,1).

Chúa Giêsu muốn các môn đệ cũng hãy theo gương Thầy, đem Tin Mừng đến cho 4 hạng người đó.

Đây cũng là sứ mạng truyền giáo của mỗi kitô hữu.

ĐGH Gioan Phaolô II đã khẳng định trong Thông điệp 'Sứ Vụ Đấng Cứu Độ': "Truyền giáo là trình bày tình yêu của Thiên Chúa được tỏ bày trong Đức Giêsu Kitô." (số 2)

Nói cách khác, truyền giáo là yêu như Chúa Giêsu yêu. Chúa dành tình yêu đặc biệt cho 4 hạng người: người ngoại, người tội lỗi, người bệnh tật và người nghèo.(x.Nhật ký truyền giáo, Lm Piô Phúc Hậu).

1) Yêu thương Lương dân

Chúng ta phải yêu thương và kính trọng Lương dân theo gương Chúa Giêsu.

- Chúa Giêsu về thăm quê hương Nazareth. Đồng hương đang niềm nở đón tiếp Chúa thì bổng dưng đổi thái độ. Họ đã đảo và đòi giết Chúa vì Chúa đề cao người ngoại, coi người ngoại hơn người đạo (Do Thái Giáo)."Vào thời Êlia, khi trời hạn hán suốt ba năm sáu tháng, cả nước phải đói kém dữ dội, thiếu gì bà góa trong nước Itrael, thế mà ông không được sai đến giúp một bà nào cả, nhưng chỉ được sai đến giúp bà góa thành Sarépta miền Siđôn. Cũng vậy, vào thời ngôn sứ Êlisa, thiếu gì người phong hủi ở trong nước Itrael, nhưng không người nào được sạch, mà chỉ có ông Naaman người xứ Syri thôi" (Lc 4, 25-37).

- Tại Caphanaum, Chúa đã đề cao một viên sĩ quan người ngoại, đề cao đến mức độ có thể bị hiểu lầm: "Tôi chưa thấy một niềm tin nào như thế trong dân tộc Israel" (Lc 7,9). Tại miền Tia và Xiđon, Chúa đề cao niềm tin người đàn bà xứ Canaan: "Này bà, lòng tin của bà lớn thật."(Mt 15,21-28). Chúa Giêsu từng ngỡ ngàng trước lòng tin của viên bách quản (Mt 8,10-11).Giờ đây Chúa đối diện với lòng tin của một người mẹ thương con.Chính tình thương thêm sức mạnh cho lòng tin, khiến lòng tin trở nên kiên trì, bất chấp thinh lặng và từ chối.Lòng tin không mất hy vọng ngay khi có vẻ chẳng còn gì để hy vọng.Lòng tin mạnh mẽ và khiêm hạ của người mẹ đã chinh phục Chúa Giêsu,và cuối cùng đã chạm được vào trái tim của Chúa.

Thật ra ttrong nước Israel có nhiều người có niềm tin lớn hơn ông sĩ quan, người mẹ Canaan ấy nhiều. Bà Êlisabeth, Gioan Tẩy Giả, thánh Giuse và Đức Mẹ đều là người Israel. Chúa cường điệu lời khen để ta thấy Người thương người ngoại đến mức độ nào.

- Dụ ngôn người Samari tốt lành (Lc 10, 29-37) đề cao người ngoại hơn cả mấy ông trợ tế và tư tế. Đặc biệt là khi Chúa nói với ông kinh sư bậc thầy của Do Thái giáo: "Ông hãy về và làm như thế!". Làm như thế tức là noi gương một người ngoại.

- Khi Chúa cho 10 người phong cùi được khỏi, chỉ có một người trở lại cám ơn Chúa. Chúa bảo: "Không phải cả mười người được sạch sao? Thế thì 9 người kia đâu? Sao không thấy họ trở lại tôn vinh Thiên Chúa, mà chỉ có người ngoại đạo này?" (Lc 17,17-18).

2) Yêu thương người tội lỗi.

Trong lịch sử loài người, từ trong gia đình ra ngoài xã hội, từ trong đạo ra tới ngoài đời, Chúa Giêsu yêu thương trìu mến người tội lỗi nhất.

Thánh vịnh 100, đòi "quét sạch thành đô, những đứa làm điều ác, không sót một tên". Luật Do Thái loại trừ người tội lỗi, không cho tín đồ liên hệ với họ.

Còn Chúa Giêsu:

- Đề cao người phụ nữ tội lỗi hơn ông Simon biệt phái.

- Dụ ngôn con chiên bị mất (Lc 15,4-7) cho thấy chủ chăn khi tìm được con chiên lạc (người tội lỗi), không mắng, không đánh, mà còn âu yếm vác lên vai đưa về và còn mở tiệc mừng.

- Dụ ngôn người cha nhân từ (Lc 15,11-32) cho thấy, Chúa yêu người tội lỗi tới mức nào. Chỉ thấy đứa con sám hối và trở về mà người cha quên hết bao tội lỗi của nó. Cha làm tiệc mừng vì con trở về. Cha đã quên con ngỗ nghịch phá tan tài sản với bọn đàng điếm.

- Yêu người tội lỗi, để cứu họ, Chúa đã phải trả giá rất cao. Khi Chúa vào nhà ông Giakêu, thánh Luca đã ghi lại: "mọi người xầm xì với nhau: ông này lại vào trong nhà người tội lỗi".

3) Yêu người bệnh tật

Bệnh tật là một trong bốn nỗi khổ của kiếp người. Nó gắn liền với đời người vốn là hữu hạn.

Chúa Giêsu luôn tỏ ra đặc biệt quan tâm tới những người yếu đau. Nhiều câu chuyện chữa lành tuyệt vời được kể lại:

- "Thiên hạ đem đến cho người mọi kẻ ốm đau, mắc đủ thứ bệnh hoạn tật nguyền, những kẻ bị quỷ ám, kinh phong, bại liệt; và Người đã chữa họ." (Mt 4, 24).

- "Chúa Giêsu trên núi đi xuống, đám đông lũ lượt đi theo Người. Và kìa, một người phong hũi tiến lại...Người giơ tay đụng vào anh và bảo, tôi muốn, anh sạch đi. Lập tức, anh được sạch bệnh phong hủi." (Mt 8, 1-3) -"Chúa Giêsu đi khắp các thành thị, làng mạc, giảng dạy trong các hội đường của họ, rao giảng Tin Mừng Nước Trời và chữa các bệnh hoạn tật nguyền." (Mt 9, 35) -"Ra khỏi thuyền, Chúa Giêsu thấy một đoàn người đông đảo thì chạnh lòng thương và chữa lành các bệnh nhân của họ". (Mt 14, 14) -"Có những đám người đông đảo kéo đến cùng Người, đem theo những kẻ què quặt, đui mù, tàn tật, câm điếc và nhiều bệnh nhân khác nữa. Họ đặt những kẻ ấy dưới chân Người và Người chữa lành... (Mt 15, 30) -"Chúa Giêsu chữa nhiều kẻ ốm đau mắc đủ thứ bệnh tật và trừ nhiều quỷ, nhưng không cho quỷ nói, vì chúng biết Người là ai." (Mc 1, 34)

- "Chính giờ ấy, Chúa Giêsu chữa nhiều người khỏi bệnh hoạn tật nguyền, khỏi quỷ ám và ban cho nhiều người mù được thấy..." (Lc 7, 21)

Quan niệm của Cựu Ước cho rằng bệnh gắn liền với tội. Bệnh tật như là một sự trừng phạt bởi tội lỗi gây ra. Vì thế, người ta xa lánh bệnh nhân, nhất là bệnh phong cùi. Đó là một bệnh nan y bị mọi người kinh tởm, không chỉ vì sự dơ bẩn "ô uế theo luật Do thái", hay lây nhiễm, mà còn bị xa lánh như kẻ tội lỗi. Chính các Tông đồ vẫn còn mang cái nhìn ấy khi hỏi Chúa, người mù từ khi mới sinh là do tội của anh hay gia đình anh.(x. Ga 9, 2-3). Chúa đã trả lời không bởi tội, nhưng để làm vinh danh Thiên Chúa.

Chúa yêu người bệnh tật, và cứu họ khỏi nỗi đau thân xác tâm hồn. Thần học Do thái giáo cho rằng bệnh tật là hậu quả của tội. Chúa phản đối điều đó. Cứ mỗi lần Chúa chữa bệnh, Chúa lại gánh lấy nỗi khổ nhân loại.

Chúa đã thông truyền khả năng chữa lành cho các tông đồ: "Rồi Chúa Giêsu gọi mười hai môn đệ lại, ban cho các ông được quyền trên các thần ô uế, để các ông trừ chúng và chữa hết các bệnh hoạn tật nguyền" (Mt 10, 1). Khi sai các môn đệ đi rao giảng Tin Mừng, Chúa cũng ra lệnh chăm sóc bệnh nhân: "Anh em hãy chữa lành người đau yếu, làm cho kẻ chết sống lại, cho người phong hủi được sạch và khử trừ ma quỷ". (Mt 10, 8). Sứ vụ loan báo Tin Mừng của Chúa Giêsu gắn liền với sứ vụ chăm sóc bệnh nhân. Chính các tông đồ nối tiếp công việc của Chúa Giêsu, vừa truyền giáo vừa chữa lành.

4) Yêu người nghèo

Chúa yêu người nghèo và kêu gọi người giàu chia cơm sẻ áo cho người nghèo. Ai giúp người nghèo thì Chúa bảo là đã giúp Chúa. Ai từ chối người nghèo, thì Chúa bảo là từ chối Chúa (Mt 25, 31-46). Người giàu mà chỉ lo ăn xài, chứ không lo chia cơm xẻ áo thì Chúa gọi là đồ ngốc (Lc 12,20).

Yêu người ngoại, yêu người tội lỗi, yêu người nghèo và người bệnh tật như thế là truyền giáo theo gương Chúa Giêsu.

B. Truyền Giáo như Mẹ Maria

Đức Trinh Nữ Maria là Mẹ Hội Thánh và là Ngôi Sao dẫn đường loan báo Tin Mừng (x.Sứ điệp Truyền Giáo 2012).

Truyền giáo là đem Chúa Giêsu đến cho tha nhân. Mẹ Maria là nhà truyền giáo đúng nghĩa nhất. Mẹ đã đón nhận Con Thiên Chúa và đưa Người vào trong thế gian. Đó là Tin Mừng.

Sứ vụ truyền giáo là sứ vụ của người mang tin vui, tin cứu độ, tin được Thiên Chúa đoái thương.

Người truyền giáo là người được Chúa Thánh Thần tác động và làm trổ sinh hoa trái giống như Mẹ: "Thánh Thần sẽ ngự xuống trên Bà, và quyền năng Đấng Tối Cao sẽ ngự xuống trên Bà" (Lc 1, 35). Hoa trái của Chúa Thánh Thần là "hoan lạc, bình an...". Hân hoan trong Thánh Thần, từ đó: "Đức Maria lên đường vội vã" thăm Êlisabet (Lc 1,39), gợi lại hình ảnh ngôn sứ Isaia tiên báo: "Đẹp thay trên núi đồi bước chân người loan báo tin mừng, công bố bình an, người loan tin hạnh phúc, công bố ơn cứu độ và nói với Sion rằng: "Thiên Chúa ngươi là vua hiển trị" (Is 52,7). Đức Maria mang trọn niềm vui Đấng Cứu Độ mà nhân loại đón đợi. Đức Maria trở nên người loan báo Tin Mừng vì Mẹ mang trọn niềm vui Chúa Thánh Thần. Ai để cho Chúa Thánh Thần hoạt động trong cuộc đời của mình cũng là người mang trọn niềm vui loan báo.

Đức Maria còn là người công bố Tin Mừng: "Đấng Toàn Năng đã làm cho tôi những điều cao cả, danh Người thật chí thánh chí tôn" (Lc 1, 49). Thấy được tình thương Thiên Chúa thể hiện trong cuộc đời mình nên lời công bố mang một niềm tin xác tín, đã gặp và đã thấy.
Để trở thành người loan Tin Mừng, Đức Maria đã "hằng ghi nhớ tất cả những điều ấy trong lòng" (Lc 3,51). Cầu nguyện là chiêm ngắm những điều Thiên Chúa đã thực hiện nơi mình. Cầu nguyện là cuộc trao đổi, đối thoại giữa những khó khăn và thử thách. Đức Maria trở thành người công bố Tin Mừng, bởi Mẹ đã chiêm ngắm công trình của Thiên Chúa thực hiện cho dân tộc, cho chính Mẹ.

Đối với Đức Maria, truyền giáo là đem chính Chúa Giêsu cho nhân loại.

Chúa Giêsu là lẽ sống, là hạnh phúc, là niềm vui của cuộc đời mỗi kitô hữu. Chúng ta phải xác tín như Đức Maria: "Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa" (Lc 1, 46). Tràn ngập niềm hân hoan bởi Mẹ đã gặp thấy và cưu mang chính niềm vui có Chúa Giêsu trong lòng Mẹ. Đức Maria reo ca: "Thần trí tôi hớn hở vui mừng trong Thiên Chúa, Đấng cứu độ tôi" (Lc 1, 47). Đức Maria đã cưu mang chính Chúa Giêsu, quà tặng tuyệt hảo nhất của Thiên Chúa, nguồn ơn cứu rỗi duy nhất, công bố, trao tặng cho nhân loại.

Đức Maria luôn đặt mình dưới sự bảo trợ hoạt động của Chúa Thánh Thần.

Đức Maria là công trình tuyệt hảo của Chúa Thánh Thần.

Người truyền giáo cũng như thế, không thể tách rời Chúa Thánh Thần với hoạt động của mình được. Ai có thể chinh phục sự sâu thẳm của lòng người quy hướng về Thiên Chúa, nếu đó không phải là tác động của Chúa Thánh Thần?

Giáo Hội không truyền giáo bằng cách áp đặt, cưỡng chế những người khác theo mình. Giáo Hội cũng không mua chuộc bằng tiền của bằng quyền lợi hay bằng những hứa hẹn. Giáo Hội cũng không dụ dỗ người khác theo đạo.

Truyền giáo hôm nay phải là giới thiệu, là trình bày, là minh họa, là thuyết phục. Chúng ta giới thiệu Chúa Giêsu cho những anh chị em mà mình gặp gỡ hàng ngày nơi môi trường mính sống và làm việc.

Truyền giáo là giới thiệu Chúa cho anh chị em mình bằng chính đời sống chứng tá yêu thương dưới sự bảo trợ của Mẹ Maria. Hy vọng mỗi người chúng ta cũng có thể nói được như người Công Giáo Hàn Quốc với đồng bào lương dân của mình: "Anh chị em cứ nhìn chúng tôi sống thế nào, thì anh chị em bắt chước mà sống như thế".

C. Vài gợi ý thực hành.

Đức Tin là một ân huệ được ban cho chúng ta để chia sẻ cho người khác; là một nén bạc chúng ta nhận được để sinh lời; là ánh sáng không được đem giấu đi, nhưng phải soi sáng cho cả nhà. Đức Tin là ân huệ quan trọng nhất được ban cho cuộc đời chúng ta mà chúng ta không được phép giữ lại cho riêng mình. (Sứ điệp Truyền Giáo 2012).

Cách riêng, trong hoàn cảnh xã hội ngày nay, đức tin của người Công giáo cần được thể hiện qua việc thực thi bác ái. Đức Tin và Đức Mến cần đến nhau và hỗ trợ cho nhau: "Chính đức Tin giúp chúng ta nhận ra Chúa Kitô và chính tình yêu Chúa thôi thúc chúng ta chạy đến phục vụ Chúa mỗi khi Người trở thành người thân cận của chúng ta trên nẻo đường cuộc sống". Được Lời Chúa soi sáng và tình yêu Chúa thấm nhập trong suy nghĩ cũng như hành động, chúng ta sẽ trở nên những chứng tá đáng tin trong xã hội ngày nay. (Thư Năm Đức Tin HĐGMVN, số 7).

Thực thi sứ vụ truyền giáo trong Năm Đức Tin bằng cách:

- Mỗi Giáo xứ khởi động phong trào: mỗi thành viên phải làm sao giúp cho một người khác theo đạo.

- Mỗi giáo dân nên kết thân với một Lương dân. Mỗi gia đình kết thân với một gia đình bên Lương. Kết thân để cầu nguyện, nâng đỡ nhau.

- Các hội đoàn đi tìm người tội lỗi và người nghèo trong địa phương của mình. Nên có một danh sách cụ thể. Sau đó sẽ cùng nhau thăm viếng, an ủi và giúp đỡ.


 

Truyền_giáo 107: Suy niệm của Lm. Giuse Đỗ Đức Trí

 

Việt nam chúng ta hiện này dân số đã hơn 80 triệu người, trong số đó những người Công Giáo chỉ Truyền_giáo 107


Việt nam chúng ta hiện này dân số đã hơn 80 triệu người, trong số đó những người Công Giáo chỉ chiếm 7%, Tin Lành 2%, như thế còn hơn 81% dân số vẫn chưa biết Chúa Giêsu và Tin Mừng của Ngài. Tỉnh Đồng Nai hiện có khoảng 2,5 triệu dân, số người công giáo chiếm khoảng 900 ngàn tức khoảng 36%. Nhìn vào con số như thế, chúng thấy rằng Sứ vụ loan báo Tin Mừng đang là một sứ vụ thôi thúc chúng ta, đồng thời cũng chất vấn về trách nhiệm của mỗi người đã sống như thế nào, đã nói về tin Mừng ra sao để sau bao nhiêu năm, số người biết Đức Giêsu không những không gia tăng, mà trái lại đang có nguy cơ giảm sút?

Thưa quý OBACE, trước khi về trời, Chúa Giêsu đã để lại cho chúng ta một mệnh lệnh hết sức cấp bách: Các con hãy đi giảng dạy cho muôn dân, làm phép rửa cho họ nhân danh Cha, và Con và thánh Thần. Mệnh lệnh ấy đã được các tông đồ và các tín hữu mọi thời đại đã không ngừng trung thành thực hiện, trải qua hơn 2000 năm qua, cho đến chúng ta hôm nay. Vì thế, ngày nay chúng ta không thể dừng chân, không thể ngừng loan báo, mà phải tiếp tục giới thiệu Đức Giêsu Kitô cho thế giới hôm nay, và đem ngọn lửa đức tin mà chúng ta đã lãnh nhận sưởi ấm cả thế giới băng giá lạnh lùng này.

Việc loan báo Tin Mừng cho con người hôm nay là một thách thức khó khăn, song không vì thế mà chúng ta dừng lại. Đức Thánh Cha Fancis trong Sứ điệp Ngày Quốc Tế cầu nguyện cho công cuộc truyền giáo đã nhắc lại cho chúng ta rằng: Chúng ta vừa mới cử hành Năm Đức Tin, qua năm Đức Tin này chúng ta được mời gọi nhìn lại đời sống đức tin của mình, làm mới đời sống của mình và lên đường để đem đức tin ấy thắp sáng thế giới hôm nay. Đức tin là một hồng ân của thiên Chúa, là quà tặng Chúa ban cho chúng ta, và chúng ta phải đáp trả lại bằng thái độ sẵn sàng và khiêm tốn đón nhận. Đức tin là một hồng ân vô giá, mà chúng ta không thể giữ riêng cho mình, là ánh sáng không thể che giấu, là thành phố xây dựng trên núi, vì thế, chúng ta phải làm mọi cách, và dùng mọi phương tiện tuyền thông cũng như các phương tiện hiện đại ngày hôm nay để giới thiệu Đức Giêsu cho thế giới.

Xã hội Việt nam của chúng ta đang thay đổi nhanh chóng từng ngày, cuộc sống phát triển, sự giàu nghèo gia tăng, sứ ép kinh tế trở thành gánh nặng cho nhiều người, khiến các cuộc di dân tìm kiếm việc làm đã làm xáo trộn nếp sống thường ngày của các làng xã Việt nam. Người trẻ bị thu hút mạnh mẽ bởi các phương tiện truyền thông và các công nghệ, lối sống thực dụng và đề cao vật chất được cổ vũ, tư tưởng cộng sản, Mac xit, vô thần vẫn ảnh hưởng sâu đậm trên biết bao thế hệ từ già đến trẻ tại Việt Nam… những yếu tố này đã là những cản trở rất lớn và cũng là những thách thức cho công cuộc loan báo Tin Mừng của Giáo hội và của mỗi người chúng ta. Tại việt nam, Tin Mừng đã được gieo vãi từ nhiều thế kỷ trước, và đã có một thời phát triển nhanh chóng về số lượng và chất lượng, nhưng đến nay, việc loan báo Tin Mừng đã bị chựng lại, bời vi: Nhiều người nghĩ rằng việc loan báo Tin Mừng là việc của các linh mục tu sĩ, mà quên rằng ơn gọi của bí Tích rửa Tội, cho mỗi người được tham dự vào ba chức năng: Tư tế, Ngôn sứ và Mục tử của Chúa Giêsu, và với chức năng Ngôn sứ, tất cả mỗi người không trừ một ai đều có trách nhiệm và đòi buộc phải nói về Chúa Giêsu cho mọi người, và mời gọi mọi người trở thành môn đệ của Chúa Giêsu.

Nhiều người khác, nhất là những người sống trong vùng đông dân Công Giáo, đã quá quen với các sinh hoạt đông đúc của nhà thờ, khiến họ lầm tửơng rằng: cả thế giới này đã biết Chúa, và bỏ quên ý thức và bổn phận không ngừng loan báo Chúa Giêsu cho mọi người. Chúng ta cũng không lọai trừ lý do nhiều lương dân không muốn gia nhập vào đạo, vì nhiều Kitô hữu đã không sống tốt, đã không gây được ấn tượng tốt đẹp nơi những người khác, trái lại nhiều người đã có lối tồi tệ trở thành gương xấu khiến cho anh chị em lương dân dị ứng với đạo của Chúa. Đáng lẽ chúng ta phải là cầu nối để mọi người đến với Chúa, thì nhiều người lại trở thành vật cản đưởng người khác bằng chính sự lười biếng hoặc gương xấu của mình. Cụ thể hiện nay, do lối sống thiếu trách nhiệm, sống bất hiếu của người có đạo, do sư thiếu hiểu biết giáo lý của những cô dâu chú rể Công Giáo, khiến cho nhiều người ngoại đạo vẫn cho rằng những người có đạo là những người bất hiếu với tổ tiên, theo đạo thì phải bỏ tổ tiên ông bà; Nhiều người có đạo nhưng lại sống gian dối, điêu ngoa chứi bới dữ tợn, khiến đã có thời người ta cho rằng dân có đạo là những người hung dữ, có thể kéo cả làng để đánh người khác mỗi khi có tai nạn trên đường…, họ nói như thế có lẽ cũng không sai! Làm sao người ta có thể tin vào Chúa Giêsu, làm sao có thể tin đạo Công Giáo dạy hiền lành bác ái, khi chính người Công Giáo đâm chém giết chóc nhau, hoặc ở vùng Công Giáo xảy ra tệ nạn?

Làm thế nào để khắc phục những thiếu sót trong trách nhiệm và đáp ứng lại đòi hỏi cấp bách của việc loan báo Tin Mừng? Thưa trước hết, mỗi người không ngừng điều chỉnh lại nếp sống của bản thân, làm cho ánh sáng của Tin Mừng thực sự được tỏa sáng trên cuộc đời mỗi chúng ta qua những gương sánh và nếp sống tốt theo Tin Mừng. Tích cực làm nhiều việc lành việc tốt, việc nhân ái yêu thương đối với tha nhân, vì như Chúa đã nói: Cứ dấu này mà mọi người nhận biết các con là môn đệ của Thày là các con hãy yêu thương nhau.

Kế đến mỗi người hãy dành nhiều việc lành hy sinh, và miệt mài cầu nguyện cho công cuộc loan báo Tin Mừng, vì lời cầu nguyện có sức thay đổi thế giới và thay đổi lòng người, lời cầu nguyện sẽ nâng đỡ bước chân những nhà truyền giáo, sẽ an ủi các tin hữu đang gặp thử thách, và lời cầu nguyện còn có sức thay đổi và thúc đây bản thân mỗi người thêm hăng say và thao thức đem Chúa đến cho anh em; Đồng thời hảy tích cực tìm mọi cách, mọi cơ hội mọi điều kiện hiện tại để nói về Chúa Giêsu cho mọi người, đừng chờ đợi, đừng ngại ngùng, đừng bao giờ mặc cảm vì mình là môn đệ của Chúa.

Dù người Công giáo Việt Nam chỉ là một nhóm nhỏ, dù chúng ta đang bị xã hội và người đời cảnh giác đề phòng và coi chúng ta như những kẻ xấu xa phản loạn, những người mê muội lạc hậu… đừng mặc cảm tự ty về điều đó, nhưng mỗi người hãy mạnh dạn và thể hiện niềm hăng say của những người được sai đi, thể hiện niềm hạnh phúc và tự hào vì là con Chúa, vì mình được biết Chúa, đồng thời cố gắng sống tốt để cho mọi người hiểu chúng ta, xã hội tin chúng ta và những người chung quanh muốn làm bạn với chúng ta, và họ nhìn thấy Thiên Chúa ở nơi chúng ta.

Hãy bắt đầu công cuộc loan báo tin Mừng từ trong gia đình: các bậc làm cha mẹ hãy nuôi dưỡng nhiệt tâm tông đồ và lòng hăng say tuyền giáo cho chính mình, và truyền ngọn lửa thao thức ấy cho con cháu qua những giờ kinh giờ cầu nguyện của gia đình. Hãy chủ động để bước đến, làm quen với những nhà lương dân bên cạnh, và thể hiện tình yêu thương sự bác ái quảng đại với họ, hãy nói về Chúa Giêsu cho họ không chỉ bằng lời, nhưng bằng cách sống tốt của chúng ta đối với họ. Nơi giáo xứ, mọi người mọi gia đình trong giáo xứ cùng chung tay sát cánh với nhau và cùng với chủ chăn trong kế hoạch loan báo tin Mừng, qua nếp sống đạo đức siêng năng của các thành viên trong giáo xứ, qua việc năng lãnh nhận các bí tích để xin Chúa biến đổi bản thân và biến đổi giáo xứ nên cộng đòan yêu thương hiệp nhất.

Hãy thực hiện công việc giới thiệu Chúa Giêsu cho các bạn bè nơi trường học, cho các đồng nghiệp nơi công ty, cho những chị em nơi phố chợ, qua đời sống ngay thẳng thật thà, qua việc tôn trọng và bảo vệ của công, qua việc gạt bỏ khỏi mình sư gian tham dối trá, và không để mình bị lôi kéo và những trào lưu ảnh hương xấu của xã hội hôm nay.

Tuổi trẻ ngày ngay dễ để mình buông xuôi theo dòng chảy của cuộc sống, của xã hội, nhiều người còn cho rằng: Người ta làm sao tôi làm vậy. Suy nghĩ và hành động như thế, tức là đã đánh mất ý thức và niềm tự hào là người Công Giáo là con của Chúa. Trái lại hãy mạnh dạn để lội ngược dòng dù có bị bạn bè cười nhạo, hãy dám từ chối những điều xấu và những lối sống dễ dãi của ngày nay, và mạnh dạn nói với mình rằng: Người ta có thể làm được điều xấu, người khác có thể sống dễ dãi, nhưng vì tôi là con Chúa tôi sẽ không làm điều đó.

Xin Chúa thương nhìn đến cánh đồng lúa đã chín vàng và sai nhiều thợ lành nghề hăng say nhiệt thành, đến gặt lúa của Ngài. Amen.


 

Truyền_giáo 108: Sứ mạng truyền giáo là một hồng ân


(Suy niệm của Lm. Mặc Nhân)

 

Bằng những kinh nghiệm trong sứ vụ truyền giáo Thánh Phaolô đã khuyên nhũ Timôthê: “Người của Truyền_giáo 108


Bằng những kinh nghiệm trong sứ vụ truyền giáo Thánh Phaolô đã khuyên nhũ Timôthê: “Người của Thiên Chúa nên thập toàn, và được trang bị đầy đủ để làm mọi việc lành” (2Tm 3, 17). Hiệp thông với Giáo Hội trong ngày Chúa Nhật truyền giáo hôm nay, quả là một đòi hỏi cấp thiết và cần kiếp cho sứ vụ truyền giáo.

Trong Thông điệp “Sứ mạng Đấng Cứu Thế” số 11 đã trình bày lý do phải Truyền giáo là: ngoài mệnh lệnh của Đức Giêsu Kitô sai các môn đệ đi khắp thế giới rao giảng Tin Mừng, Chân Phước Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã đặt nền tảng của việc truyền giáo trên quyền lợi cao quý nhất của con người, đó là quyền của con người được biết sự thật.

Đó là quyền mà Giáo hội luôn tôn trọng và luôn đòi hỏi người truyền giáo luôn ý thức phải nói cho người khác biết sự thật về phẩm giá cao quý của mình. Phẩm giá đó chính là việc Thiên Chúa yêu thương con người, mời gọi con người thông dự vào sự sống của Ngài, nhờ hồng ân cứu rỗi qua Đức Kitô.

Nơi Đức Giêsu, ngài đã thực hiện sứ vụ truyền giáo: “Tôi từ trời mà xuống không phải để làm theo ý tôi, nhưng để làm theo ý Đấng đã sai tôi...Thật vậy, ý của Cha tôi là tất cả những ai thấy người Con và tin vào người Con, thì được sống muôn đời, và tôi sẽ cho họ sống lại trong ngày sau hết.”(Ga 6, 38-40).

Một sứ vụ được biểu hiện tinh thần vâng phục và yêu mến. Trong 04 Tin Mừng, thì Tin Mừng theo Thánh Gioan điều này nổi bật nhất: Vâng lời - Yêu thương và Hiệp nhất. Người truyền giáo là người muốn sống đời sống đạo đức, thì cũng có nghĩa là phải chịu bắt bớ cùng với Đức Kitô (2 Tm 3, 12).

Như vậy những người đi theo Đức Giêsu phải cùng sống trong yêu thương và hiệp nhất, để thế gian tin (Ga 17,21-32). Do đó, cộng đoàn được Chúa Giêsu sai đi làm chứng cho Ngài bằng sự hiệp thông của họ, như Ngài đã sống sự hiệp thông giữa Chúa Cha và Chúa Thánh Thần. Như chính Ngài đã cầu nguyện: “Con không chỉ cầu nguyện cho những người này, nhưng còn cho những ai nhờ lời họ mà tin vào Con, để tất cả nên một, như Cha ở trong con và con ở trong Cha để họ cũng ở trong chúng ta...; như vậy, thế gian sẽ nhận biết là chính Cha đã sai con và đã yêu thương họ như đã yêu thương con” (Ga 17, 20-23).

Trong Sắc lệnh Truyền giáo, Công đồng Vaticanô II cũng đề ra 3 lýdo:
- Chúa Giêsu trước khi về trời đã dạy: "Vậy Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em " (Mt 28,19-20). Nên Hội Thánh phải vâng lời Đức Kitô mà thi hành sứ mạng truyền giáo cho muôn dân.

- Chúa Giêsu dạy: "Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo. Ai tin và chịu phép rửa, sẽ được cứu độ; còn ai không tin, thì sẽ bị kết án " (Mc 16,15). Đây là tính chất công giáo tính của Giáo hội.

- Chúa Giêsu cũng mời gọi "Chính anh em là muối đất và ánh sáng trần gian" (Mt 5,13-14). Là những điều cần thiết để sống Hiến Chương Nước Trời.

Nhìn vào thực trạng của Giáo Hội hôm nay, người kitô hữu đang đánh mất dần căn tính Kitô của mình. Vì mọi áp lực trong cuộc sống giữa xã hội, vì đấu tranh sinh tồn nên nhiều giáo dân không còn bận tâm nhiều đến các nghi thức tôn giáo như dự lễ Chúa Nhật, lãnh nhận bí tích, thực hành luân lý Kitô giáo…Vì thế, các giá trị Tin Mừng trong cuộc đời của họ giống như những ngọn đèn leo loét đang cạn dần dầu và sắp phụt tắt trước những luồng gió mới của thời đại. Nghĩ rằng họ đáng thương hơn là đáng trách. Đó là những con người đang cần đến các nhà truyền giáo đến giữa họ, để nói cho họ về Đức Giêsu đang yêu họ, để đời sống đức tin của họ và con cháu họ được hồi sinh trong yêu thương và hiệp nhất.

Sứ vụ truyền giáo không tập trung cho một thành phần trong Giáo hội, mà tất cả mọi người con trong Giáo Hội đều được Chúa Kitô mời gọi và sai đi thực hiện sứ vụ truyền giáo. Một cách ý thức sâu xa hơn và được xác quyết trong lời nói Đức Giêsu: “ vì Tôi tự trời mà xuống không phải để làm theo ý tôi, nhưng để làm theo ý Đấng đã sai tôi. ” (Ga 6, 38). Như thế khi ta làm công việc truyền giáo, là ta tìm đến cùng đích để chiêm ngưỡng khuôn mặt của Chúa Cha mà tôn vinh Ngài. Đó cũng là quan điểm truyền giáo hiện nay của Giáo hội.

Vậy thì qua sứ vụ truyền giáo:

- Trước hết ta phải xác định không phải là một công việc nhưng là một hồng ân Thiên Chứa ban và ta cần phải đón nhận.

- Thứ đến, là phải tái truyền giáo chính bản thân mình, nghĩa là phải ăn năn hối cải, chỉnh sửa tinh thần sống được trở nên tốt trong khiêm nhường.

- Và cuối cùng thì chính ta phải là một chứng nhân. Vì con người ngày nay tin vào chứng nhân hơn là Thầy dạy.

Tất cả đều đòi hỏi chúng ta phải có đức tin. Đức tin đó đã được Đức Thánh Cha Phanxicô đề cập đến trong Sứ điệp truyền giáo năm 2013 như sau: “Đức tin là quà tặng quý giá của Thiên Chúa, không dành riêng cho một vài người nhưng được ban tặng một cách quảng đại. Tất cả mọi người đều có thể trải nghiệm niềm vui được Thiên Chúa yêu thương, niềm vui của ơn cứu rỗi! Nó là một món quà mà người ta không thể giữ riêng cho mình, nhưng để được chia sẻ. Nếu chúng ta muốn giữ nó cho riêng mình, chúng ta sẽ trở thành những Kitô hữu cô lập, son sẻ và bệnh hoạn”. (trích số 1 – sứ điệp truyền giáo 2013).

Ta có thể trở lại với bài Tin Mừng của chúa nhật hôm nay. Nếu Ông quan tòa không có đức tin thì ít ra ông ta cũng đã làm một việc mà bổn phận ông ta phải làm, đó cũng chính là phương cách sửa mình để những gì ta đang có một giá trị tương xứng. Và nếu nói về đời sống cầu nguyện, thì đó là một sự cố gắng để mình ý thức trách nhiệm, vai trò, bổn phận của một người kitô hữu trong sứ vụ truyền giáo, mà hình ảnh ông Môisen cố gắng giăng tay cầu nguyện để cho dân Israel được thắng trận là một bài học thích ứng cho người kitô hữu chúng ta.

Lạy Chúa, cánh đồng truyền giáo vẫn còn thiếu nhiều thợ gặt. Xin Chúa kiện toàn những gì Chúa đã khởi sự trong thế gian, để thế gian nhận biết Chúa mà chúc tụng, tôn vinh Chúa mãi đến muôn đời.


 

Truyền_giáo 109: Lễ Truyền Giáo – Lc 24, 46-53


(Suy niệm của Lm Đoàn Quang CRM)

"Phải nhân danh Người mà rao giảng việc sám hối và ơn tha tội trong mọi dân".

 

Bài Tin mừng hôm nay ngắn, nhưng rất cần nhớ, vì là những lời Chúa Giêsu dặn dò trước khi ly Truyền_giáo 109


1. Bài Tin mừng hôm nay ngắn, nhưng rất cần nhớ, vì là những lời Chúa Giêsu dặn dò trước khi ly biệt các Tông đồ để về trời. Chắc Chúa có nhiều điều cần dạy, nhưng Ngài chỉ dạy: Các con phải giảng dạy cho người mọi dân về "Đức Kitô đã chịu khổ hình và ngày thứ ba từ cõi chết sống lại; và nhân danh Người mà rao giảng việc sám hối và ơn tha tội trong mọi dân, bắt đầu từ thành Giêrusalem".

Tại sao Chúa dạy vắn tắt như vậy? Vì Người đã xuống thế mở đường cứu rỗi cho người Do thái, nhưng còn bao nhiêu người trên địa cầu cũng cần được cứu.

Ngài đã hứa ban Chúa Thánh Thần đến hướng dẫn bên trong, và nhờ các Tông đồ, các môn đệ của Ngài làm việc rao giảng ấy bên ngoài.

* Qua 2 ngàn năm, các cấp bậc trong Giáo hội đã vâng lệnh Chúa, nhất là các nhà truyền giáo hi sinh bỏ cha mẹ, quê hương đi rao giảng đạo Chúa khắp thế giới.

Việt Nam ta cũng nhờ các nhà truyền giáo người Pháp, người Tây ban nha sang khó nhọc rao giảng và còn đổ máu tưới cho cây Giáo hội Việt nam tươi tốt trong 300 cấm đạo dã man. Cám ơn các Ngài muôn vàn.

* Hiện nay năm 2012, số người trên địa cầu là 7 tỉ người, trong đó mới có hơn 1 tỉ người Công giáo, còn bao nhiêu linh hồn cần cần được cứu rỗi.

2. Nhưng thật buồn, nhiều người sống phất phơ như không care về ơn cứu rỗi, nhiều người có care nhưng sơ sơ, nhu cầu sinh sống vật chất đời này cần hơn, quan trọng hơn. Họ theo lý thuyết "có thực mới vực được đạo", rồi lơ đạo luôn.

3. Tôi có thể làm gì để thi hành lời Chúa dạy?

- Tôi không đi giảng được. Không sao.

- Tôi bận rộn làm ăn sinh sống. Không sao.

* Nhưng chắc bạn có thể cầu nguyện vắn tắt, dễ dàng như Chúa Giêsu dạy trong sách " Chúa Giêsu ngỏ lời với thế giới: Hãy làm tác động mến yêu: "Giêsu Maria Giuse con mến yêu, xin cứu rỗi các linh hồn". Mỗi lời cầu sốt sắng thành tâm là cứu rỗi một linh hồn đấy. Linh hồn còn sống, linh hồn tội lỗi, linh hồn vô thần, linh hồn luyện ngục... (ngày 20-6-1940)

* Chắc bạn có thể hi sinh làm trọn bổn phận, vui chịu đau khổ, và kết hợp với máu cứu chuộc của Chúa, cứu nhiều linh hồn?

Một hôm, Chúa xin nữ tu Beninha, Chúa nói: Bêninha, cho Cha các linh hồn? Chị hỏi: -Giêsu, con làm cách nào để cho Chúa? Chúa trả lời: Bằng hy sinh, con ạ! Các linh hồn sẽ không được cứu chuộc, nếu người ta không hy sinh gì cho họ. Phần Cha, Cha đã chết trên thánh giá để cứu chuộc họ ... Cha không xin con những hy sinh lớn lao, Cha chỉ xin con hãm một lời nói, dẹp một cái nhìn, cắt đứt một tư tưởng vui thích... Những cái nhỏ mọn đó, hợp nhất với công nghiệp vô cùng của Cha, sẽ cứu nhiều linh hồn. (Tình dịu dàng CGS, TTĐM xb,1994, trg 108).

Tại Fatima, Đức Mẹ cũng nói y như Con của Mẹ: "Nhiều linh hồn phải sa hỏa ngục, vì không có ai cầu nguyện và hi sinh cho họ" (hiện ra lần 4 ngày 15-8-1917)

Mời bạn làm những gì trong tầm tay của bạn thôi nhá. Chúa hài lòng với bạn đấy.

Truyện:

Cô Sophia được mướn đến trông coi 3 đứa nhỏ cho một gia đình. Ngày đầu tiên ông chủ đã nói: Trông coi con nít nhưng không được giảng đạo Công giáo. Cô viết mấy chữ vào một mảnh giấy, nhét sau bức ảnh Đức Mẹ. Cả ba đứa trẻ tò mò đòi coi, nhưng cô không cho.

- Đây là điều bí mật, không ai được coi.

Ba đứa trẻ càng ngày càng ngoan ngoãn, học giỏi, dễ thương.

Mùa đông năm ấy, ba đứa thay nhau vào nằm điều trị tại bệnh viện. Cô tình nguyện chăm sóc chúng ngày đêm. Tới lượt cô ngã bệnh. Sưng phổi. Ho loặc quặc, vì quá lao lực. Cô đã từ trần.

Hai năm sau, người ta thấy gia đình ông chủ cũ đi dự lễ nhân ngày qua đời của cô Sophia. Bức ảnh Đức Mẹ cũ của cô bị vứt xó.

Tình cờ một hôm bị vỡ tan mặt kính. Ông chủ mở ra, một hàng chữ hiện ra trước mặt ông: "Người ta cấm không cho tôi giảng đạo Công giáo, nhưng tôi sẽ giảng bằng đời sống của tôi, để làm chứng nhân cho Chúa".

Sophia đã thực hành quyết định trên bằng lao công của cuộc đời. Đáng khen chừng nào.

4. Chúa muốn tôi làm gì?

- Xin Mẹ Maria giúp con sốt sắng thực hành lời Chúa dạy là cầu nguyện, hi sinh trong bổn phận con để cứu thật nhiều linh hồn cho Nước Chúa.

"Thiên Chúa đã yêu thương thế gian đến nỗi ban Con Một Ngài, để tất cả những ai tin vào Ngài, thì được sống đời đời. (Ga 3, 16)

(Loan báo tin vui -Don Hồ hát)


 

Truyền_giáo 110: Đưa người anh em lưu lạc về nhà Cha

 

Tôi biết Tuấn là đứa bé côi cút ngày đêm lang thang phiêu bạt trên đường phố. Tuấn chưa hề biết cha Truyền_giáo 110


Tôi biết Tuấn là đứa bé côi cút ngày đêm lang thang phiêu bạt trên đường phố. Tuấn chưa hề biết cha mẹ mình là ai, vì Tuấn bị lạc mất gia đình trong thời chiến tranh loạn lạc. Nỗi khao khát lớn nhất trong đời Tuấn là được gặp lại mẹ cha, được chung sống dưới một mái nhà đầm ấm với cha mẹ và anh chị em ruột thịt của mình.

Đồng thời, tôi cũng biết cha mẹ Tuấn là người rất giàu có, cao sang, đầy quyền lực và rất giàu lòng yêu thương. Tôi vẫn biết cha mẹ Tuấn ngày đêm trông ngóng tin con, đau đáu, khắc khoải chờ mong con trở về đoàn tụ với gia đình.

Thế mà tôi không chịu hé miệng nói cho Tuấn biết sự thật này. Tôi cứ để mặc Tuấn lang thang vất vưởng trên đường đời, để mặc cho cha mẹ Tuấn ngày đêm thổn thức vì đứa con lưu lạc… thì thử hỏi: Tôi là hạng người thế nào? Có ai vô tâm, vô cảm như tôi không? Tôi có đáng bị lên án không?

Thưa cộng đoàn,

Hôm nay, trong số 95 triệu người trên quê hương đất nước Việt Nam, có hơn 85 triệu người có chung thân phận như Tuấn. Những anh chị em này chưa nhận biết mình có một Người Cha rất cao sang, tốt lành, nhân hậu… là Thiên Chúa, chưa biết mình có một quê hương tuyệt vời là thiên đàng sắm sẵn cho họ vui hưởng mai sau; chưa biết mọi người chung quanh là anh chị em ruột thịt của mình…

Trong khi đó, chúng ta là những người được diễm phúc sống kề cận bên Cha, được Cha ấp ủ bằng tình phụ tử ngọt ngào, được Cha dưỡng nuôi bằng những lời khôn ngoan do Chúa Giêsu mang từ trời xuống, được Chúa Thánh Thần là Thầy khôn ngoan soi đường dẫn lối, được Đức Maria là Mẹ hiền bao bọc chở che bằng tình mẫu tử thiêng liêng trìu mến, được đón nhận vô vàn ân sủng qua các Bí tích…

Vậy mà chúng ta vẫn bình chân như vại, chúng ta vẫn câm lặng, không chịu loan báo cho những người anh chị em lưu lạc của mình biết họ có Chúa là Người Cha rất đỗi tuyệt vời, để họ nhận biết Cha, trở về với Cha và đoàn tụ dưới mái nhà của Thiên Chúa là Cha, và được chung hưởng muôn vàn phúc lộc của người con trong nhà như chúng ta.

Nếu chúng ta cứ mãi câm lặng như thế, thì chúng ta là hạng người như thế nào? Có đáng gọi là con của Cha trên trời nữa hay không?

Lời thôi thúc mời gọi của Cha

Rất nhiều lần, lời Cha qua miệng Chúa Giêsu vang dội trong tâm hồn chúng ta: “Hãy chèo ra chỗ nước sâu mà thả lưới bắt cá (Lc 5,4)”; “Các con hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần… Mt 28,19)”; “Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt lại ít. Vậy các con hãy xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về…” (Lc 10,2)…. Nhưng những lời thôi thúc mời gọi đó vẫn chưa lay động con tim vô cảm của chúng ta, vẫn chưa khơi lên được ngọn lửa truyền giáo đã tắt ngúm trong tâm hồn chúng ta, mà chỉ như làn gió thoảng qua rồi im bặt.

Hôm xưa, sau khi Ca-in giết chết đứa em vô tội của mình, có tiếng Chúa từ trời vọng xuống hạch tội Ca-in: “Ca-in, em ngươi đâu?”

Ca-in vô cảm trả lời: “Tôi đâu phải là người canh giữ em tôi!” (St 4,9).

Nếu hôm nay Chúa hỏi mỗi người chúng ta:

- “Con có biết lòng Cha ray rứt đau khổ ngày đêm vì có hơn 85 triệu đồng bào Việt Nam chưa hề biết Ta là Cha thật của họ không?” Câu đáp sẽ là: “Mặc Chúa, con chẳng quan tâm.”

- “Con có biết hiện nay có hơn 85 triệu đồng bào Việt Nam, là anh chị em ruột thịt của con, đang cần con nói cho họ biết họ có Cha trên trời hết lòng yêu thương họ và họ đang cần được con dẫn về đoàn tụ trong nhà Cha không?” Câu đáp cũng sẽ là: “Mặc họ, con không cần biết đến ai!”

Lạy Chúa Giêsu,
Trong gia đình, người anh không làm theo lời cha truyền dạy phải lên đường đi tìm em là người con bất hiếu; Người chị không chỉ cho đứa em lưu lạc biết mặt cha và đưa em về đoàn tụ trong gia đình là người chị bất nhân.


Hôm nay, có đông đảo anh chị em chúng con chưa biết Chúa là Cha, còn lưu lạc xa nhà là Hội Thánh, đang chơi vơi giữa biển đời như thuyền không bến vì không được Lời Chúa như hải đăng soi dẫn và còn chịu băng giá trong tâm hồn vì chưa được tình Cha sưởi ấm...

Xin cho chúng con luôn quan tâm đến những anh chị em này và tìm mọi cách đưa họ về với Cha. 

Linh mục Inhaxiô Trần Ngà


 

Truyền_giáo 111: GIỚI TRẺ DẤN THÂN TRUYỀN GIÁO

 

Chủ đề Ngày Thế Giới Truyền Giáo năm nay là “Cùng với người trẻ, chúng ta mang Tin Mừng cho Truyền_giáo 111


Chủ đề Ngày Thế Giới Truyền Giáo năm nay là “Cùng với người trẻ, chúng ta mang Tin Mừng cho tất cả mọi người”. Đức Thánh Cha Phanxicô mời gọi giới trẻ dấn thân trong sứ mạng mang Tin Mừng cho tất cả mọi người, cho đến “tận cùng trái đất”.

Đức Thánh Cha nói rằng, mỗi người chúng ta được mời gọi để phản ánh một sự thật là “tôi là một nhà truyền giáo nơi thế gian này”, đó là lý do chúng ta đang ở đây trong thế giới này. “Mỗi người, nam và nữ là một nhà truyền giáo. Để được thu hút và để được sai đi là hai động thái” của trái tim “vì triển vọng tương lai của chúng ta cũng như định hướng cho cuộc đời của chúng ta”.

Truyền giáo là một sứ mạng thiêng liêng cao cả, khởi nguồn từ Thiên Chúa. Qua mọi can dự vào lịch sử loài người, Thiên Chúa Ba Ngôi đã làm tất cả “vì loài người chúng ta và để cứu độ chúng ta”.

Sứ mạng truyền giáo đã được trao phó cho Giáo Hội. Khi lập Nhóm Mười Hai, Chúa Giêsu cho thấy ý định trao phó sứ mạng truyền giáo cho Giáo Hội sau này (x. Mc 3,13). Trước khi rời các Tông đồ để về cùng Chúa Cha, Chúa Giêsu đã trực tiếp ban mệnh lệnh truyền giáo cho các ông: “Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai anh em” (Ga 20,21), “Anh em hãy đi dạy dỗ muôn dân, rửa tội cho họ nhân danh Cha và Con và Thánh Thần, và dạy họ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em” (Mt 28,19-20).

Chính các Tông đồ và những cộng sự của các ngài đã thừa hành mệnh lệnh này một cách xuất sắc. Trải qua bao khó khăn dọc dài lịch sử, các ngài đã đem Tin Mừng Phục Sinh tới nhiều miền và cho nhiều tâm hồn. Hơn hai ngàn năm qua, dưới sự dẫn dắt của Chúa Thánh Thần, các thế hệ tông đồ truyền giáo đã nối tiếp nhau mang Tin Mừng đi khắp địa cầu. Như vậy, truyền giáo xuất phát từ Thiên Chúa, qua Đức Kitô sứ mạng này đã được trao cho Giáo Hội, nhờ Thánh Thần hướng dẫn Giáo Hội trung thành và nhiệt thành chu toàn sứ mạng cho đến ngày tận thế.Thực thi sứ mạng truyền giáo là chia sẻ cuộc sống như chính Chúa Giêsu đã sống, là yêu thương mọi người, yêu thương đến cùng, yêu thương đến nỗi dám chấp nhận hy sinh tính mạng cho những người mình yêu. Truyền giáo là làm chứng cho Chúa Kitô bằng đời sống.

1. Nội dung truyền giáo

Nội dung truyền giáo có 4 công việc quan trọng.

Truyền giáo là Rao giảng Tin Mừng của Chúa Giêsu. Rao giảng là bước đầu tiên và quan trọng nhất. Truyền giáo là “loan báo Tin mừng”.

Truyền giáo là “thiết lập cộng đoàn các môn đệ”, cộng đoàn những người tin vào Chúa Kitô, cộng đoàn này chính là Giáo Hội. Chúa Giêsu nói rõ: “Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ”.

Truyền giáo là “cử hành Phụng vụ và các Bí tích”. Chúa Giêsu cũng nói rõ: “làm phép rửa cho họ Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần”. Các Bí tích thuộc về Nhiệm cục Cứu độ của thời đại Tân Ước, được Chúa Giêsu thiết lập, để qua đó ban ơn cứu độ cho con người.
 
2. Truyền Giáo theo gương Chúa Giêsu


Sứ vụ truyền giáo của Giáo hội thời nào và ở đâu cũng bắt đầu từ mẫu gương Chúa Giêsu.

Khi đi rao giảng Tin Mừng, Chúa Giêsu ưu tiên để ý đến những người nghèo, người tội lỗi, người ngoại và những người bệnh tật. Suốt đời, Chúa Giêsu đã sống gần gũi với 4 hạng người: người nghèo, người tội lỗi, người ngoại và những người bệnh tật. Chúa Giêsu đến với họ, cho họ thấy, Người rất thương họ, và tình thương đó là vô hạn, vô cùng. Thương đến đổ máu mình ra, chết cho họ, chết thay cho họ, và cho mọi người. Chúa Giêsu hiến thân đến tột cùng vì tình yêu.

Chúa Giêsu muốn các môn đệ cũng hãy theo gương Thầy, đem Tin Mừng đến cho 4 hạng người đó.Đây cũng là sứ mạng truyền giáo của mỗi kitô hữu.Nói cách khác, truyền giáo là yêu như Chúa Giêsu yêu. Chúa dành tình yêu đặc biệt cho 4 hạng người: người ngoại, người tội lỗi, người bệnh tật và người nghèo.Yêu người ngoại, yêu người tội lỗi, yêu người nghèo và người bệnh tật như thế là truyền giáo theo gương Chúa Giêsu.

Truyền giáo hôm nay phải là giới thiệu, là trình bày, là minh họa, là thuyết phục. Chúng ta giới thiệu Chúa Giêsu cho những anh chị em mà mình gặp gỡ hàng ngày nơi môi trường mình sống và làm việc. Đời sống của giáo dân là phương tiện truyền giáo hữu hiệu hàng đầu. Muốn truyền giáo, giáo dân phải có lòng đạo nhất định. Việc tái truyền giáo giúp tẩy xóa hay giảm bớt những cách sống phản Tin Mừng nơi người đã có đức tin. Thực tế, chẳng ai lại đi theo một cái Đạo mà ngay cả tín đồ cũng không thực hành Đạo. Cũng chẳng ai có thể cho người khác cái mà mình không có. Tái truyền giáo sẽ giúp giáo dân đong đầy hành trang là những giá trị Tin Mừng cho cuộc sống, thay cho những lối sống buông thả và thiếu cố gắng xưa nay. Muốn giới thiệu Chúa cho người chưa biết Chúa, người giáo dân phải thấm nhuần đạo lý, sống trong thế thượng phong về luân lý, về đức bác ái và sự công bằng. Như thế, từng cá nhân, từng nhóm và cộng đoàn, mới dấn thân vào việc truyền giáo. “Mọi thành viên của Hội Thánh được kêu gọi rao giảng Tin Mừng bằng chứng tá đời sống của mình… Như Công đồng Vaticanô II nói: Giáo dân phải hợp tác vào công cuộc truyền giáo của Hội Thánh; là những chứng nhân và đồng thời là những công cụ sống động, họ chia sẻ sứ mạng cứu rỗi của Hội Thánh" (Ad Gentes, 41)”. 
 
3. Giới trẻ dấn thân truyền giáo


Trong Sứ Điệp Ngày Giới Trẻ Thế Giới Năm 2018, Đức Thánh Cha Phanxicô nhắn nhủ các bạn trẻ hãy đi ra: “Các bạn trẻ thân mến, đừng để cho tính năng động của tuổi trẻ bị dập tắt trong bóng tối của một căn phòng khép kín trong đó cửa sổ duy nhất thông ra thế giới bên ngoài là máy tính và điện thoại thông minh. Hãy mở rộng cánh cửa của cuộc sống các bạn! Cầu xin cho thời gian và không gian của các bạn tràn ngập những mối quan hệ có ý nghĩa, những người thực, là những người các bạn chia sẻ kinh nghiệm thực và cụ thể của bạn về cuộc sống hàng ngày”.

Đức Thánh Cha hy vọng nhiều vào giới trẻ. Ngài nói: “Người trẻ là niềm hy vọng của sứ vụ truyền giáo. Con Người của Chúa Giêsu Kitô và Tin Mừng mà Người công bố tiếp tục thu hút nhiều người trẻ. Họ tìm cách hiến thân phục vụ nhân loại với lòng can đảm và nhiệt tâm. Có nhiều người trẻ đang cung cấp sự đoàn kết của họ chống lại các sự dữ của thế gian và tham gia các hình thức khác nhau của đấu tranh và hoạt động tình nguyện…. Đẹp thay khi thấy rằng các người trẻ đang là ‘những người rao giảng ngoài đường’, vui sướng đem Chúa Giêsu ra mọi nẻo đường, mọi quảng trường của thành phố, đến mọi ngóc ngách của trái đất!”. 

Trong Sứ Điệp Truyền Giáo Năm 2018, Ngài mời gọi: “Các bạn trẻ thân mến, tận cùng trái đất, đối với các bạn ngày nay, thật là tương đối và luôn dễ dàng lướt trong đó, đó là thế giới tiềm thể, kỹ thuật số, các mạng xã hội đang tràn ngập và xuyên qua chúng ta, xóa bỏ mọi khoảng cách, thu hẹp những khác biệt. Dường như tất cả ở trong tầm tay, tất cả đều gần kề. Nhưng nếu không có ơn can dự của cuộc sống chúng ta trong đó, thì dù có vô số các tiếp xúc, chúng ta sẽ không bao giờ đi sâu vào một cuộc sống hiệp thông thực sự. Sứ mạng truyền giáo cho đến tận bờ cõi trái đất đòi phải có sự hiến thân trong ơn gọi được Chúa ban cho chúng ta, Đấng đã đặt chúng ta trên trái đất này (x.Lc 9,23-25). Tôi dám nói rằng, đối với một người trẻ muốn theo Chúa Kitô, điều thiết yếu là tìm kiếm và gắn bó với ơn gọi của mình”.

Trọng tâm của sứ mạng truyền giáo của Giáo Hội là sự lây lan của tình yêu, nơi đó niềm vui và lòng nhiệt thành được diễn tả bằng ý nghĩa mới khám phá và đầy đủ trong đời sống. Việc lan truyền của đức tin qua “sự thu hút” đòi hỏi những con tim biết cởi mở và biết đưa vòng tay ôm rộng vì tình yêu. (x.Sứ điệp Truyền giáo 2018). Như mọi người khác, người Công giáo cũng đang hiện diện tại mọi môi trường xã hội hôm nay. Chúng ta cũng làm ăn sinh sống trong mọi lĩnh vực: kinh doanh, sản xuất, buôn bán… với mọi hoàn cảnh từ thương gia đến kỹ sư, bác sĩ, giáo viên, công nhân viên. Cũng làm việc, cũng mưu sinh, nhưng chúng ta làm việc với tinh thần khác: tinh thần công bình bác ái và phục vụ hy sinh.

Cuộc đời thật cần gương sáng. Gương sáng để đẩy lùi điều xấu. Gương sáng giúp cho xã hội bớt cái xấu và giúp cho cái tốt, cái thiện phát triển mạnh hơn. Gương sáng ở nơi gia đình sẽ giúp cho mọi thành viên sống tốt hơn. Gương sáng nơi học đường sẽ giúp cho nhà trường rạng rỡ hơn. Gương sáng giữa bạn bè sẽ giúp nhau thăng tiến. Gương sáng ở nơi môi trường sống sẽ đẩy lùi những tệ nạn, những trào lưu văn hóa xấu.

Hôm nay là ngày cầu nguyện cho việc truyền giáo, thiết tưởng chúng ta hãy cầu nguyện cho Giáo hội có nhiều gương sáng sống đạo, hơn là những người giảng thuyết mà thiếu gương sáng giữa đời. 

Xin Chúa cho mỗi người chúng ta, đặc biệt là người trẻ, luôn ý thức được sứ mạng truyền giáo bằng chứng tá của mình, để ra sức sống tinh thần cầu nguyện hy sinh, yêu thương hiệp nhất, đồng thời nỗ lực xây dựng một cuộc sống tốt đạo đẹp đời hầu cho danh Chúa được ngày một cả sáng hơn. Amen. 

Lm. Giuse Nguyễn Hữu An


 

Truyền_giáo 112: Cùng Người Trẻ Loan Báo Tin Mừng


(Is 2, 1-5; 1 Tm 2, 4 - 6; Mc 16, 15-20)

 

Tháng 10 tháng Mân Côi, cũng là tháng truyền giáo, Giáo hội ngoài khám phá lại vẻ đẹp của lời Kinh Truyền_giáo 112


Tháng 10 tháng Mân Côi, cũng là tháng truyền giáo, Giáo hội ngoài khám phá lại vẻ đẹp của lời Kinh này, khuyến khích con cái mình siêng năng đọc kinh Mân Côi, Giáo hội còn mời gọi chúng ta dấn thân cho việc truyền giáo.

Nhưng Chúa nhật truyền giáo để làm gì ?

Để nhắc lại rằng bản chất của Giáo hội là truyền giáo; mục đích đầu tiên của Giáo hội khi được Chúa Giêsu thiết lập là truyền giáo.

Ai phải truyền giáo?

Là chi thể của Hội Thánh, tất cả những người đã chịu phép rửa tội phải thi hành nhiệm vụ truyền giáo. Điều này không có ý nói họ phải đi thật xa. Những nơi nào có họ, họ phải truyền giáo. Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II nói:  “Không ai được ngưng nghỉ việc này, vì là bổn phẩn khẩn thiết của ngày hôm nay”. Với lại, chính Chúa Giêsu yêu cầu chúng ta: “Các con hãy đi khắp thế gian, rao giảngTin Mừng cho mọi tạo vật” (Mc 16, 15). Thánh Phaolô kêu lên: “Khốn thân tôi nếu tôi không rao giảng Tin Mừng” (1 Cr 9, 16).

Giáo hội tự bản chất là truyền giáo.

Nếu như Isaia con trai Amót được thị kiến: “Các dân nước sẽ đổ xô về núi Chúa... trong ngày sau hết” (x. Is 2, 1-5). Thánh Phaolô cho người con tinh thần của mình biết: “Thiên Chúa muốn cho mọi người được cứu rỗi” (x.1 Tm 2, 4 – 6). Cả bốn sách Tin Mừng đều nêu bật ý nghĩa của việc truyền giáo, nội dung sứ vụ mà Chúa Giêsu trao cho Giáo hội chứng tỏ bản chất của Giáo Hội là truyền giáo. Chính Chúa Giêsu Phục sinh đã nói với các tông đồ nơi Phòng Tiệc Ly: “Như Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai các con” (Ga 20,21). Đến lượt Chúa Con cũng sai Giáo Hội ra đi cho đến tận cùng trái đất. Ðây là sứ điệp duy nhất phát xuất từ Thiên Chúa gửi đến hết mọi người ngõ hầu họ được cứu chuộc và trở nên con cái Thiên Chúa.

Đức nguyên Giáo hoàng Bênêđictô XVI đã nhấn mạnh: Sứ vụ truyền giáo là “bổn phận của toàn thể Giáo hội”, vốn “tự bản chất là thừa sai” (Ad gentes, 2). Trích dẫn lời Đức Phaolô VI, ngài tiếp: “Giáo Hội hiện hữu để truyền giáo, để giảng thuyết và giáo huấn, để làm máng chuyển quà tặng của các ân sủng, để hoà giải các tội nhân với Thiên Chúa, để trường tồn hy lễ của Chúa Kitô trong Thánh lễ, đó là việc tưởng niệm cuộc tử nạn và phục sinh vinh hiển của Người.”

Ðức Bác Ái là linh hồn của sứ mạng truyền giáo

Thánh Phaolô viết: “Tình Yêu Chúa Kitô thôi thúc tôi” (2 Cr 5, 14). Đức Kitô thúc bách những người đã chịu phép Rửa tội nam phụ cũng như lão ấu, kể cả người đau yếu lẫn người nghèo, khi đã đón nhận tình yêu cứu độ của Thiên Chúa, có sứ mạng rao giảng và mang tình yêu cho hết mọi người, bằng lời nói và chứng tá cụ thể của Đức Ái. Truyền giáo là gì nếu không phải là loan báo Tin Mừng về tình yêu của Thiên Chúa như chính Chúa Giêsu đã làm. Ngài không những đã hăng say loan báo tình yêu của Thiên Chúa cho mọi người, Ngài còn hy sinh mạng sống để làm chứng cho tình yêu đó. Hơn thế nữa, Ngài mạc khải và nhập thể tình yêu đó nơi chính bản thân mình. Ngài là hiện thân của tình yêu Thiên Chúa. Nơi Ngài, tình yêu chiến thắng tội lỗi và sự chết. Vì thế, sứ điệp Tin Mừng Nước Thiên Chúa trở thành Tin Mừng Phục Sinh, Niềm Hy vọng cho toàn thế giới.

Nhân dịp Đại Năm Thánh 2000, thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã nói: “Sứ mạng của Giáo Hội kéo dài sứ mạng của Chúa Kitô. Giáo Hội không ngừng rao giảng cho thế giới Tình Phụ Tử của Thiên Chúa, bằng việc rao giảng và bằng chứng tá của những con cái mình...nhờ việc thực hành mệnh lệnh tình thương đối với Thiên Chúa và đối với anh chị em”. Ngài cũng khuyến khích mọi thành phần trong Giáo hội can đảm khởi hành “mùa truyền giáo mới”, vì “Giáo Hội cần đến với con người… công việc cao cả nhất là công việc rao giảng Tin Mừng Chúa Kitô”, ngài kêu gọi: “Anh chị em đừng sợ: hãy mở toang mọi cửa để tiếp đón Chúa Kitô”(Huấn Đức ngày 22 tháng 10/2000, tại Roma).

Cử hành ngày Thế giới Truyền giáo năm nay diễn ra trong bối cảnh THĐGM tại Rôma bàn về giới trẻ, nên Đức Thánh Cha Phanxicô chọn chủ đề “Cùng với người trẻ, chúng ta mang Tin Mừng cho tất cả mọi người”.

Ngài nhắc đến sứ mạng làm chứng và rao giảng Chúa Kitô mà mỗi Kitô hữu nhận lãnh khi chịu phép rửa tội. Ngài viết: “Sứ mạng thông truyền đức tin, trọng tâm sứ mạng của Giáo Hội, diễn ra qua sự ‘hay lây’ của tình thương, trong đó niềm vui và sự phấn khởi biểu lộ ý nghĩa được tìm lại và sự sung mãn của cuộc sống. Sự loan truyền đức tin bằng sự thu hút đòi chúng ta phải có con tim cởi mở, được tình yêu làm nở rộng”. 

Nhắc đến lời Chúa dạy các môn đệ hãy mang Tin Mừng đến tận cùng trái đất, Đức Thánh Cha cắt nghĩa: “Những môi trường con người, văn hóa và tôn giáo vẫn còn xa lạ với Tin Mừng của Chúa Giêsu và sự hiện diện bí tích của Giáo hội chính là những khu ngoại ô tột cùng”, những bờ cõi của trái đất: mà các môn đệ thừa sai được gửi đến từ Chúa Giêsu Phục Sinh, với niềm xác tín có Chúa luôn ở cùng (Mt 28,20; Cv 1,8). Ơn gọi truyền giáo cho dân ngoại hệ tại điều đó.

Ngài giải thích thêm rằng “Khu vực ngoại ô tiêu điều nhất của nhân loại đang cần Chúa Kitô chính là sự dửng dưng đối với đức tin hoặc thậm chí đó là sự oán ghét chống lại đời sống sung mãn trong Chúa. Mỗi sự nghèo nàn về vật chất và tinh thần, mỗi sự kỳ thị chống lại các anh chị em luôn luôn là hậu quả của sự từ chối Thiên Chúa và tình thương của Ngài”.

Ngỏ lời với các bạn trẻ Đức Thánh Cha viết: “Các bạn trẻ thân mến, tận cùng trái đất, đối với các bạn ngày nay, thật là tương đối và luôn dễ dàng lướt trong đó, đó là thế giới tiềm thể, kỹ thuật số, các mạng xã hội đang tràn ngập và xuyên qua chúng ta, xóa bỏ mọi khoảng cách, thu hẹp những khác biệt. Dường như tất cả ở trong tầm tay, tất cả đều gần kề. Nhưng nếu không có ơn can dự của cuộc sống chúng ta trong đó, thì dù có vô số các tiếp xúc, chúng ta sẽ không bao giờ đi sâu vào một cuộc sống hiệp thông thực sự. Sứ mạng truyền giáo cho đến tận bờ cõi trái đất đòi phải có sự hiến thân trong ơn gọi được Chúa ban cho chúng ta, Đấng đã đặt chúng ta trên trái đất này (x. Lc 9,23-25). Tôi dám nói rằng, đối với một người trẻ muốn theo Chúa Kitô, điều thiết yếu là tìm kiếm và gắn bó với ơn gọi của mình”.

Lạy Mẹ Maria, Ngôi Sao truyền giáo, xin cầu thay nguyện giúp chúng con. Amen.

Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ


 

Truyền_giáo 113: Làm Cho Muôn Dân Trở Thành Môn Đệ


Mt 28,16-20

 

Điểm hẹn cuối cùng của Đức Giêsu với mười một môn đệ tại một ngọn núi thuộc miền Galilê, ngọn núi Truyền_giáo 113


Điểm hẹn cuối cùng của Đức Giêsu với mười một môn đệ tại một ngọn núi thuộc miền Galilê, ngọn núi Người đã truyền cho các ông đến đó. Tại sao Người hẹn gặp các ông ở Galilê, mà không phải ở đền thờ hay hội đường? Có lẽ Galilê là nơi đặc biệt, nơi xảy ra những biến cố lịch sử cứu độ nhân thế của Người, là một cứ điểm truyền giáo. Đây là miền đất của dân ngoại, thật cần kíp để gieo Tin Mừng. Chính nơi đây Satan đã đưa Người lên để thỏa hiệp với hắn nhưng Người đã chiến thắng. Nên hôm nay trên núi này Đức Giêsu đã công bố với các ông: “Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất” (Mt 28,18). Khởi đầu sứ vụ, nơi đây Thầy đã gọi các môn đệ đầu tiên. Và cuối cùng hôm nay, điểm hẹn này là nơi Thầy trao sứ vụ loan báo Tin Mừng: “Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em” (Mt 28,19.20a).

Suốt ba năm, các ông chỉ đi theo Thầy, trực tiếp cận kề học tập bên Thầy. Giờ đến lúc Thầy không còn trực tiếp dạy dỗ các ông, giờ là lúc các ông phải tự “thực hành thực tế” trong khi Thầy “vắng mặt”. Các ông phải “dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy truyền”. Đây là trọng trách lớn lao và thật khó khăn vất vả, nhất là khi không thuận tiện, trong cái chật hẹp, tối tăm của đời các môn đệ cũng như mỗi chúng con hôm nay. Nhưng một lời hứa chắc chắn kèm theo để an ủi và thúc bách chúng con: “Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28, 20b). Đây là lời hứa để chúng con an tâm khi thi hành sứ vụ khó khăn mà cao cả. Chính Thầy sẽ thực hiện những điều lớn lao kỳ diệu nơi con người mỏng giòn yếu đuối của mỗi chúng con. Từ buổi Thiên sứ truyền tin đã loan báo về Đức Giêsu: “Này đây, Trinh Nữ sẽ thụ thai và sinh một con trai, người ta sẽ gọi tên con trẻ là Emmanuel, nghĩa là Thiên Chúa ở cùng chúng ta” (Mt 1,23). Vâng, Đấng Emmanuel vẫn luôn hiện diện, đồng hành, ở cùng các môn đệ và những người nhiệt tâm loan báo Tin Mừng trong mọi nơi mọi lúc. Chúa luôn ở cùng chúng con trên bước đường loan báo, trải dài cho đến ngày tận thế.

Chúa ơi! trước khi về trời Chúa đã trao cho chúng con sứ vụ “làm cho muôn dân trở thành môn đệ” của Chúa. Lạy Chúa! sức chúng yếu lắm, lòng người đời thì cứng cỏi, nhưng chúng con tin Chúa sẽ ở cùng và ở với chúng con trong mọi nơi mọi lúc, để dù khó khăn hay gian nguy, chính Chúa sẽ thực hiện những điều kỳ diệu trong con người hèn mọn yếu đuối chúng con, cho muôn dân nhận biết Chúa và đi theo Ngài. Amen.

Én Nhỏ


 

Truyền_giáo 114: Hôm nay là ngày Chúa Nhật Quốc Tế Truyền Giáo

 

Hôm nay là ngày Chúa Nhật Quốc Tế Truyền Giáo, một trong những ngày quan trọng trong chu kỳ Truyền_giáo 114


Hôm nay là ngày Chúa Nhật Quốc Tế Truyền Giáo, một trong những ngày quan trọng trong chu kỳ phụng vụ trong năm, quan trọng vì mối tương quan giữa ngày lễ này với Chúa Kitô, với Giáo Hội và với mọi Kitô hữu. Để nhận thức đúng mức tầm quan trọng của Ngày Quốc Tế Truyền Giáo, chúng ta phải đặt mình trong cái nhìn, trong tư tưởng và tâm tình của Chúa Kitô. Vì như lời Người đã nói với ông Simon Phêrô: "Không phải phàm nhân mặc khải cho anh điều ấy nhưng là Cha của Thầy, Đấng ngự trên trời" (Mt 16.17)

 Vì thế, dưới ánh sáng của Chúa Cha, chúng ta hãy suy niệm về sứ vụ truyền giáo.

 I. LÝ DO PHẢI TRUYỀN GIÁO

 *  Chúa Cha đã sai Tôi (Ga 12.49)

 Chúa Giêsu vẫn tự xưng mình là người được Chúa Cha sai. Hàng chục lần, Người đã sử dụng danh xưng này. Người "được sai đi để loan báo Tin Mừng cho người nghèo khó" (Lc 4,43), "để cứu độ trần gian" (x. Ga 3,17), "để hoàn thành những việc Chúa Cha giao phó" (x. Ga 5.36). Người là tông đồ, là thừa sai, là nhà truyền giáo của Chúa Cha. Tông đồ có nghĩa là được sai đi; và suốt đời, Người đã làm công việc này. Từ ngày nhờ Mẹ, với Mẹ và trong Mẹ, Người đã mang niềm vui đến thăm gia đình bà Elisabeth (x. Lc 1,44) cho đến mệnh lệnh cuối cùng của Người trước khi về trời (x. Mt 28,19), tất cả cuộc đời của Người đều hướng về việc truyền giáo. Theo các thánh sử, thì Người đã đi khắp miền Galilê (x. Mc 1,39), Jêrusalem, Samaria, Tyro và Sidon (Mt 15,21) và cả miền Thập Tỉnh (Mc 5,20). Người đã đi khắp các thành thị và làng mạc. Người đã rao giảng cho dân chúng ở miền duyên hải, trên núi đồi, trong các hội đường và cả những nơi hoang địa. Người đã nói: "Thầy ra đi cốt để rao giảng Tin Mừng" (Mc 1,39). Tông huấn loan Tin Mừng của Đức Phaolô VI đã viết: "Chính Chúa Giêsu, Tin Mừng của Thiên Chúa là nhà truyền giáo đầu tiên và vĩ đại nhất. Ngài đã rao giảng đến cùng: nghĩa là đến mức hoàn hảo, đến hy sinh cả cuộc sống dương thế của Ngài" (số 6). Truyền giáo là sứ vụ hàng đầu của Chúa Giêsu, đấng được Chúa Cha sai.

 * Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai các con (Ga 20,21)

 Được sai đi loan Tin Mừng, Chúa Giêsu đã sai lại các môn đệ. Người đã thiết lập một Giáo Hội tông truyền, tức là được xây dựng trên nền tảng những người được sai đi (tông đồ) để loan Tin Mừng (truyền giáo) cho mọi người. Mệnh lệnh truyền giáo của người đều được 4 thánh sử ghi lại

 "Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ Thầy" (Mt 28,19).

 "Hãy đi khắp bốn phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thụ tạo" (Mc 16,15).

 "Hãy rao giảng cho muôn dân… kêu gọi họ sám hối để được ơn tha tội" (Lc 24,47).

 "Như Cha đã sai Thầy đã sai Thầy, Thầy cũng sai các con" (Ga 20,21).

 Chúa Giêsu đã tuyển chọn và đào tạo các môn đệ, để họ "ở với Người và để Người sai các ông đi rao giảng" (Mc 3,14).

 Tông huấn loan Tin Mừng viết: "Rao giảng Tin Mừng là ân huệ và ơn gọi của Giáo Hội, là chân tính sâu xa nhất của Giáo Hội. Giáo Hội hiện hữu để rao giảng Tin Mừng" (số 14).

 Công đồng Vaticanô II cũng đã dạy như vậy: "Tự bản tính, Giáo Hội luôn hành phải truyền giáo" (TG 2). Vì thế, chỉ có Giáo Hội truyền giáo mới là Giáo Hội đích thực của Chúa Kitô.

 Bởi vậy không một tổ chức nào trong Giáo Hội được miễn.

 * Mệnh lệnh truyền giáo cũng là di chúc của Chúa Giêsu trước khi về trời, là "hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo" (Mt 16,15). Mệnh lệnh này liên quan đến mọi tín hữu - vì như Công đồng Vaticanô II đã dạy: "Ơn gọi làm kitô hữu tự bản chất là ơn gọi làm tông đồ" (TĐ số 20).

 Nhưng làm rao đi được khắp tứ phương thiên hạ - hay đến tận cùng trái đất (Mt 28,19). Chúng ta không đi được, nhưng có người đi thay cho chúng ta. Là người Á châu, chúng ta không trực tiếp truyền giáo được cho Phi châu. Nhưng là chi thể trong một Thân Thể Chúa Kitô, chúng ta vẫn có thể làm được: bằng lời cầu nguyện, sự hy sinh, đời sống chứng tá và sự dâng hiến cho việc truyền giáo những của lễ thiêng thiêng và vật chất.

 II. PHẦN CHÚNG TA.

 1. Chúng ta sẽ truyền giáo trước tiên bằng cầu nguyện.

 Têrêsa Hài Đồng Giêsu nay là Bổn mạng các xứ truyền giáo. Người không đặt chân đến một nơi truyền giáo nào; cũng chẳng được đào tạo một lớp tông đồ nào để sai đi. Nhưng người chia sẻ tâm tình cứu thế của Chúa. Người cầu nguyện hy sinh cho việc truyền giáo. Người kêu gọi khuyến khích các tâm hồn tông đồ. Người sống như thể đang ra đi, đang rao giảng, đang chịu đau khổ, đang rửa tội cho lương dân. Giáo hội đặt người làm Bổn mạng các xứ truyền giáo để toàn thể Dân Chúa thấy phải tha thiết với việc truyền giáo như thế đó.

 2. Bằng những hy sinh đóng góp cho việc truyền giáo. Hằng năm các Đức Thánh Cha vẫn nhắc nhớ cho chúng ta điều đó. Ở Việt Nam chúng ta thì xem ra vấn đề đề này còn rất yếu. Các nước Tây Phương họ ý thức rất rõ về vấn đề này.

 3. Ngoài những lời cầu nguyện ra ngày hôm nay người nói rất nhiều đến đời sống chứng tá.

 + Một nhóm bạn trẻ từ nhiều quốc gia đang bàn thảo về cách làm cho Tin Mừng Chúa được lan rộng. Họ nói về sự tuyên truyền, về tài liệu và những cách phổ biến Tin Mừng trong thế kỷ XX này.

 Một cô gái Phi Châu nói:

 - Khi muốn truyền đạo cho một làng của chúng tôi, chúng tôi không cho họ sách. Chúng tôi gửi một gia đình Kitô giáo tốt đến sống trong làng. Và họ sẽ làm cho mọi người thành Kitô hữu.

 + Một buổi chiều năm 1953, các ký giả và một số nhân viên chính phải phủ Hoa Kỳ tập trung ở một nhà ga xe lửa tại Chicago để chào đón người được giải thưởng Nobel hòa bình năm 1953 trở về.

 Người vừa xuống khỏi xe lửa là một người đàn ông cao lớn, tóc quăn, có một chòm râu mép dài. Các máy ảnh chớp liên hồi. Các nhân vật cao cấp của thành phố giang rộng tay đón chào vị thượng khách.

 Người được giải Nobel hòa bình cám ơn mọi người rồi rồi đưa mắt nhìn về một một chỗ xa xa ở trên sân ga. Ông xin kiếu vài phút để đi thẳng về hướng đó. Mọi người tưởng ông để quên hành lý nào đó. Ông băng qua đám đông, trực chỉ đến một người đàn bà da đen lớn tuổi đang khệ nệ với hai va ly nặng trên tay. Ông đưa tay xách cả hai va ly, rồi đưa người đàn bà ra một chiếc xe buýt gần đó. Khi giúp người đàn bà lên xe xong, ông không quên chúc bà thượng lộ bình an. Quay lại với đám đông, ông xin lỗi vì đã bắt mọi người chờ đợi.

 Người được giải thưởng hòa bình năm 1953 ấy không ai khác hơn là bác sĩ Albert Schweitzer, nhà truyền giáo nổi tiếng đã hy sinh cả cuộc đời cho người nghèo tại Phi Châu.

 Chứng kiến cử chỉ của ông, một người thuộc ủy ban tổ chức đón tiếp ông hôm đó nói với các ký giả: "Đây là lần đầu tiên tôi thấy được một bài giảng biết đi"
 + Một thương gia giàu có  xin nhập đạo. Khi được hỏi lý do, ông đáp:    

 - Nhờ gương một công nhân của tôi. Đôi lúc tôi nổi nóng, quát mắng, nhưng anh không hề tỏ ra giận ghét tôi, dù tôi biết anh rất đau khổ. Có khi tôi đối xử thô bạo với anh, anh không bao giờ thốt lên nửa lời. Thái độ của anh làm tôi, dù là cấp trên, đem lòng cảm phục. Sự thực, anh chẳng bao giờ nói với tôi về đạo, nhưng đời sống đạo của anh đã chinh phục tôi. Giờ tôi không còn nghi ngờ gì nữa và tôi hy vọng Chúa Giêsu Kitô sẽ ban cho tôi sự sống đời đời.

 Lạy Chúa Giêsu xin biến chúng con thành những người đi loan báo Tin Mừng cho Chúa. Amen.                              

Lm. Giuse Đinh Tất Quý


 

Truyền_giáo 115: MẪU GƯƠNG CỦA NHÀ TRUYỀN GIÁO.


          Chúa Giêsu hỏi ông Phêrô đến ba lần: “Con có yêu Thầy hơn nhưng người này không?” (Ga 21,15-17).

 

Vào năm 1934 giáo lý viên Gioan Caduna được linh mục Palexi sai đến vùng Ramxi miền bắc Ấn-Độ Truyền_giáo 115


Vào năm 1934 giáo lý viên Gioan Caduna được linh mục Palexi sai đến vùng Ramxi miền bắc Ấn-Độ để truyền giáo cho dân làng Majoribua, là những người rất sùng kính tôn thờ vật linh. Sau 18 năm (1952), cha Palexi trở lại vùng này, thấy cả làng đã theo đạo và sống đức tin rất sốt sắng! Cha Palexi hỏi thăm về giáo lý viên Gioan Caduna, thì được biết anh đã chết lâu rồi. Họ kể lại rằng:

          Thời gian đầu mới đến, anh Caduna bị dân làng tẩy chay, và nói:

          - Ở đây không có chỗ cho Chúa của mày! Gioan Caduna đáp:
          -  Tôi không thể đi nơi khác, vì tôi đã được sai đến đây để nói về Thiên Chúa, Đấng sáng tạo và làm chủ muôn loài, Ngài yêu thương hết mọi người, nên đã chấp nhận chết bi đát trên thập giá, nhưng chưa tới ba ngày sau, Ngài đã sống lại, ai tin vào Ngài thì được Ngài cứu độ!

          Thế nhưng thái độ dân làng vẫn quyết liệt không muốn nghe vào lời của Caduna giảng dạy, đuổi anh đi. Anh đành phải chấp nhận ra khỏi làng và đã dựng một cái chòi bên cạnh ngôi làng để hằng ngày cầu nguyện cho dân đừng cứng lòng tin! Người dân mỗi khi đi qua đều phỉ nhổ và mạt sát Caduna:

          -  Cút đi cho xa, chúng tôi không muốn thấy mặt anh, và chúng tôi càng không muốn nghe anh nói về ông Giêsu nào đó! Caduna trả lời:

          - Tôi không đi đâu được, Chúa Giêsu đã chết vì yêu mọi người, nên tôi cũng muốn chết ở đây, để chứng tỏ lòng tôi rất yêu dân Majoribua.

          Thời gian sau, Caduna chết vì bị bệnh sốt rét và sống quá túng thiếu. Chính nhờ cái chết của anh mà không ít lâu sau, tất cả dân trong làng xin theo đạo Công Giáo hết!

          Anh Gioan Caduna đã đáp trả được tiếng Chúa Giêsu hỏi: “Con có yêu Thầy hơn nhưng người này không?”(Ga 21,15-17). Vì “thế giới sẽ thuộc về tay ai biết yêu!” (Lm. Gioan Maria Vianey).


 

Truyền_giáo 116: Thái độ nào cần cho nhà truyền giáo?

 

Mỗi khi con cái rời gia đình đi xa để học tập hoặc kiếm việc làm, cha mẹ thường dặn các con phải  Truyền_giáo 116


Mỗi khi con cái rời gia đình đi xa để học tập hoặc kiếm việc làm, cha mẹ thường dặn các con phải cận thận, giữ gìn sức khoẻ và tránh làm điều này, điều kia để được bình an, hạnh phúc. Đức Giê-su trong bài Phúc Âm hôm nay cũng dặn 72 môn đệ lên đường truyền giáo phải giữ một số phẩm chất sau:

Trước hết, các môn đệ phải đi một nhóm 2 người để bảo vệ và tương trợ lẫn nhau khi gặp khó khăn. Theo sách Đnl 19,15: “Một nhân chứng duy nhất không thể đứng lên buộc tội một người về bất cứ một tội một lỗi nào; về bất cứ lỗi nào người ấy phạm, phải căn cứ vào lời của hai nhân chứng hay căn cứ vào lời của ba nhân chứng, sự việc mới được cứu xét”. Như vậy, các môn đệ được sai đi truyền giáo là việc của cộng đoàn, không phải là việc cá nhân riêng lẻ hay độc quyền của riêng ai, nhưng mỗi người phải liên đới và liên kết với nhiều người khác nữa.

Thứ đến, nhà truyền giáo phải biết cầu nguyện theo sự chỉ bảo của Đức Giê-su, để họ ý thức rằng mình được gọi sai đi là nhờ ơn Chúa. Chính Thiên Chúa là tác nhân chính của việc truyền giáo, Ngài có quyền nhận ai vào Nước Thiên Chúa là quyền của Ngài và là ơn của Ngài.

Tiếp nữa, nhà truyền giáo phải luôn có thái độ sẵn sàng và phó thác trọn vẹn sứ mạng cho Chúa: “như chiên con vào giữa sói rừng”. Việc tin tưởng vào Thiên Chúa quan phòng, không làm cho nhà truyền giáo bị giảm thiểu tính năng hoạt động, nhưng giúp nhà truyền giáo có tinh thần lạc quan vượt qua khó khăn, đói khổ, bắt bớ và tù đầy nếu có. Hơn nữa, nhà truyền giáo sống nghèo theo giá trị Tin mừng, không lệ thuộc vào tiền của cũng là điều kiện để được vào Nước Thiên Chúa: “Phúc cho ai có tâm hồn nghèo khó, vì Nước Trời là của họ”. Việc truyền giáo không theo cảm tính chủ quan hay ngẫu hứng, gián đoạn mà còn là việc khẩn thiết, liên tục, đòi nhà truyền giáo phải sẵn sàng lên đường đến với những người chưa nhận biết Chúa.

Bên cạnh đó, mục đích của việc truyền giáo là đem bình an của Chúa đến cho mọi người, trước khi đạt được ý nghĩa này, nhà truyền giáo phải mặc lấy sự bình an của Chúa, phải có Chúa trong tâm hồn. Nhờ ơn Chúa, nhà truyền giáo sẽ chữa lành bệnh nhân như một dấu chỉ Nước Thiên Chúa hiện diện giữa con người.

Cuối cùng, nhà truyền giáo không đòi hỏi quá đáng về nơi ăn chốn ở, không tìm tiện nghi, không chọn lựa nơi sang giầu để nghỉ: “ở bất cứ nhà nào người ta dọn cho”. Về ăn uống, đơn giản, không cầu kỳ, không lệ thuộc thức ăn theo luật Mô-sê, phân biệt thức ăn nào thanh sạch, thức ăn nào dơ (1Cr 10,27); “Người ta dọn thức ăn gì cứ ăn thức ấy” và “ăn uống những gì của người ta cung cấp cho mình”. Như vậy, nhà truyền giáo sống gắn bó với Chúa thì không lệ thuộc vào của cải vật chất và biết tự giải thoát mình trước những nhu cầu trần thế.

Hôm nay Giáo hội mừng lễ thánh Luca, tác giả sách Tin Mừng và sách Công vụ tông đồ. Ngài là “người thấy thuốc yêu quý”, một người thông thạo văn chương chữ nghĩa. Qua ngòi bút của ngài, Tin Mừng trở thành một bài thánh ca tạ ơn. Theo gương ngài, xin Chúa giúp chúng con ra đi truyền giáo, để làm cho mọi người nhận biết Chúa và đặc biệt yêu thương những người nghèo khổ, Amen



 

Truyền_giáo 117: HÃY ĐI LÀM CHO MUÔN DÂN TRỞ THÀNH MÔN ĐỆ

 

Trách nhiệm của chúng ta là Ki-tô hữu thì phải truyền giáo. Cũng giống như trong một gia đình Truyền_giáo 117


Trách nhiệm của chúng ta là Ki-tô hữu thì phải truyền giáo. Cũng giống như trong một gia đình có người con đi lạc, thì cha mẹ rất lo lắng, cần đến những đứa con trong gia đình phải đi tìm đứa con bị lạc trở về. Chúng ta được vinh dự làm con Chúa trong lòng Giáo hội, chúng ta cũng có bổn phận trong tình bác ái yêu thương mà đi tìm về cho Chúa những đứa con và là anh chị em của ta đang lạc bước.

Có người có điều kiện để bôn ba đây đó rao giảng Tin Mừng, có khả năng kiến thức và lợi khẩu để truyền bá Lời Chúa… Nhưng cũng có người âm thầm bằng những hy sinh và những kinh nguyện trước mặt Chúa, hoặc ngày ngày với tràng chuỗi mân côi cầu xin cho người lạc bước trở về với Chúa…

Bài Tin Mừng Khánh Nhật truyền giáo hôm nay là trích đoạn của thánh Mát-thêu về lệnh truyền của Chúa Giê-su:

Anh em hãy đi làm cho muôn dân trở thành môn đệ
Làm phép rửa cho họ nhân danh Cha và Con và Thánh Thần
Dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em.
Lời hứa: Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế.

1. Anh em hãy đi làm cho muôn dân trở thành môn đệ

Cũng như Chúa Giê-su đã quy tụ môn đệ, để cùng sống với nhau và với Người; coi nhau như bạn hữu, đồng bàn với nhau, hiểu biết và chia sẻ với nhau đời sống hằng ngày. Thì đây, Chúa Giê-su cũng muốn các môn đệ đồng hành trước cả việc rao giảng: Cần có việc chia sẻ giữa những con người với nhau trước, sau đó mới tính đến việc loan báo Tin Mừng. Rao giảng Tin Mừng cho ai là giúp người ấy đào sâu những kinh nghiệm bản thân đã trải qua trong quá khứ, cho đến ngày người ấy nhận ra nơi Chúa Ki-tô, trong cái chết và sự sống lại của Người, là chân lý làm cho cuộc đời họ rực sáng (x. GKPV).

Cùng với các môn đệ Chúa Giê-su, mọi người cũng được mời gọi sống sứ vụ rao giảng Tin Mừng bằng đời sống thanh bần đơn sơ phó thác, xây dựng sự hợp nhất bình an và làm cho Nước Chúa được lớn mạnh ngay trên quê hương trần thế, cách riêng, niềm tin, bác ái, hoan lạc và bình an thắm đầy trên quê hương mình.

2. Làm phép rửa cho họ nhân danh Cha và Con và Thánh Thần
Nếu đem đối chiếu các trình thuật về làm Phép rửa trong sách Tông Đồ Công Vụ (x. Cv 19,5…) và các thư thánh Phaolô, có thể chúng ta không dám chắc là đã có một công thức đầy đủ về việc làm Phép rửa nhân danh Ba Ngôi như tường thuật Tin Mừng Mát-thêu, bởi ban đầu các Tông Đồ và môn đệ vẫn làm Phép rửa nhân danh Chúa Giê-su, còn việc nhân danh Ba Ngôi là sự tiến triển của thần học do Chúa Thánh Thần linh hứng về sau. Tuy nhiên, một điều chắc chắn là khi muốn làm môn đệ Chúa Giê-su (gia nhập đạo) thì phải lãnh Phép rửa. Phép rửa trở thành một điều kiện bắt buộc để được hưởng ơn cứu độ, vì qua Phép rửa, tín hữu được tái sinh trong Chúa Giê-su Ki-tô tử nạn và phục sinh.

Sẽ khó trả lời khi nói điều này với người ngoài Ki-tô Giáo, nhưng hết những ai qua tôn giáo của họ hoặc qua tiếng lương tâm mà ăn ở tốt lành thánh thiện thì mặc nhiên ở trong Đức Ki-tô (được rửa tội “bằng lửa”). Cũng thế, những ai dám hy sinh tính mạng vì niềm tin hoặc vì Đức Ái, thì dù chưa được lãnh nhận Bí tích Rửa tội, thì cũng mặc nhiên ở trong Đức Ki-tô toàn thể (rửa tội “bằng máu”). Tóm lại, phải qua Phép rửa mới được cứu độ dù là minh nhiên hay mặc nhiên.

3. Dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em

Những huấn lệnh của Chúa Giê-su chiếm vị thế hàng đầu và trải dài trong Tin Mừng thánh Mát-thêu, được phân bố trong năm bài diễn từ.

Và giờ đây, Chúa Giê-su truyền cho các môn đệ phải dạy cho muôn dân tuân giữ mọi điều mà Chúa Giê-su đã nói cho các môn đệ biết.

Như thế, sau khi bước theo Chúa và chịu Phép Rửa rồi, Ki-tô hữu không phải nhận Phép rửa gia nhập đạo rồi để đó, mà là phải tuân giữ lề luật của Chúa. Theo đạo thì phải giữ đạo và sống đạo, chứ không phải mang trên mình cái danh Ki-tô hữu vì đã chịu Phép rửa tội, mà sống như kẻ xa lạ.

4. Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế
Chúng ta lại một lần nữa nghe xác quyết điều mà danh xưng Emmanuel diễn đạt (Mt 1,23). Nghĩa là khởi đầu Tin Mừng, thánh sử Mát-thêu trích dẫn lời ngôn sứ Isaia: “Thiên Chúa ở cùng chúng ta”, thì nay, lời Chúa Giê-su hứa và cũng làm cho ứng nghiệm: “Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28,20b).

Thầy ở lại với anh em, nghĩa là sau khi Phục Sinh, trong một cách thế hiện diện mới, Chúa Giê-su không còn bị giới hạn trong không gian hay thời gian nữa, mà ở trong niềm tin, lòng mến và sự trông cậy của các Tông Đồ: Rao giảng một niềm tin duy nhất vào Chúa Giê-su Ki-tô, đặt tình yêu duy nhất vào Chúa Giê-su Ki-tô và đặt tất cả niềm hi vọng vào Chúa Giê-su Ki-tô; bởi, “chính nhờ Người, với Người và trong Người, và mọi chúc tụng và vinh quang đều quy về Chúa là Cha toàn năng, trong sự hiệp nhất của Chúa Thánh Thần đến muôn đời”.

Từ đây, mỗi khi làm dấu thánh giá, Ki-tô hữu tuyên xưng sự hiện diện của Ba Ngôi Thiên Chúa ngự trong chính mình.

Lạy Chúa Giê-su, xin giúp chúng con luôn hiệp nhất với nhau trong cùng một đức tin và một lòng mến, như Chúa luôn hiệp nhất trong Chúa Cha nhờ Thánh Thần Tình Yêu. Amen


 

Truyền_giáo 118: Suy Niệm Lễ Khánh Nhật Truyền Giáo 2017


10/20/2017 8:55:28 AM

 

Trong lời mở đầu của Sứ điệp truyền giáo năm nay, Đức Thánh Cha Phanxicô khẳng định: “Hội Truyền_giáo 118

Trong lời mở đầu của Sứ điệp truyền giáo
năm nay, Đức Thánh Cha Phanxicô khẳng định: “Hội Thánh tự bản chất là truyền giáo; nếu không, thì Hội Thánh không còn là Hội Thánh của Đức Kitô nữa, mà là một trong nhiều nhóm người cuối cùng chỉ phục vụ mục đích riêng của họ và qua đi.”(Sứ điệp Truyền giáo 2017).

Thật vậy, trước khi về trời, Đức Giêsu đã ra lệnh cho các Tông đồ rằng: “Hãy đi khắp cả thiên hạ rao giảng Tin mừng cho mọi loài thụ tạo.” (Mc 16,15). Vâng lệnh truyền của Thầy chí thánh, các Tông đồ đã ra đi rao giảng Tin mừng ở khắp mọi nơi bằng nhiều cách thế khác nhau và cuối cùng đã lấy cái chết để làm chứng cho lời mình rao giảng. Tiếp nối sứ mệnh của các Tông đồ, Giáo hội ở khắp mọi nơi và qua mọi thời luôn luôn thi hành sứ mệnh truyền giáo. Nhờ nổ lực củaGiáo hội, từ con số 12 lúc ban đầu, hiện nay trên thế giới đã có khoảng 1,2 tỷ người công giáo. Dẫu vậy, số người công giáo vẫn còn quá ít so với số còn lại, chỉ chiếm khoảng 17%. Chính vì vậy, lời mời gọi của Đức Giêsu luôn luôn mang tính thời sự và đòi buộc mọi người kitô hữu phải có trách nhiệm thi hành.Đặc biệt, Đức Giáo Hoàng Phanxicôhy vọngnhiều vào tầng lớp giới trẻ và các hiệp hội Giáo Hoàng truyền giáo. Với giới trẻ, Ngài nói: “Người trẻ là niềm hy vọng của sứ vụ truyền giáo. Con Người của Chúa Giêsu Kitô và Tin Mừng mà Người công bố tiếp tục thu hút nhiều người trẻ. Họ tìm cách hiến thân phục vụ nhân loại với lòng can đảm và nhiệt tâm. ‘Có nhiều người trẻ đang cung cấp sự đoàn kết của họ chống lại các sự dữ của thế gian và tham gia các hình thức khác nhau của đấu tranh và hoạt động tình nguyện…. Đẹp thay khi thấy rằng các người trẻ đang là ‘những người rao giảng ngoài đường’, vui sướng đem Chúa Giêsu ra mọi nẻo đường, mọi quảng trường của thành phố, đến mọi ngóc ngách của trái đất!” (ibid., 106). (x. SĐTG 2017, số 8). Với các hiệp hội Giáo Hoàng truyền giáo, Ngài nói: “Các Hiệp Hội Giáo Hoàng Truyền Giáo là một phương tiện quý giá đánh thức trong mọi cộng đồng Kitô hữu một ước ao vượt qua các giới hạn và sự an ninh của mình để rao giảng Tin Mừng cho tất cả mọi người. Trong số đó, nhờ một linh đạo truyền giáo sâu xa, được nuôi dưỡng hằng ngày, và liên tục cam kết nâng cao ý thức và nhiệt tâm truyền giáo, các người trẻ, người lớn, gia đình, linh mục, giám mục và tu sĩ nam nữ làm việc để phát triển một lòng (tâm hồn) truyền giáo trong mọi người.” (x. SĐTG 2017, số 9).

Vậy, chúng ta phải làm gì để truyền giáo cho có hiệu quả? Ba việc làm thông thường nhưng quan trọng luôn cần phải có khi truyền giáo, đó là: Rao giảng, làm chứng và cầu nguyện. Trong một số bài chia sẻ về chủ đề truyền giáo, tôi đã đề cập kỹ càng về các chủ đề này rồi. Hôm nay, trong khuôn khổ của bài chia sẻ này, dựa vào sứ điệp truyền giáo của Đức Thánh Cha năm 2017, tôi xin được phép gợi ý thêm một số điểm sau đây:

Thứ nhất, đối tượng truyền giáo là tất cả mọi người không phân biệt màu da, chủng tộc, tôn giáo hay địa vị.Đặc biệt, đối với những người thiện tâm, họ mong muốn được Tin mừng biến đổi. Đức Thánh Cha Phanxicô nói: “Sứ vụ truyền giáo của Hội Thánh, nhắm đến tất cả mọi người nam nữ có thiện tâm, được dựa trên quyền năng biến đổi của Phúc Âm.” (SĐTG 2017, số 1).Vì thế, trong mọi nơi, mọi lúc, trong các mối tương quan gặp gỡ, chúng ta luôn phải có ý thức truyền giáo.

Thứ hai, nội dung truyền đạt của nhà truyền giáo là Tin mừng. Bởi vì, , bởi vì “thế giới rất cần Tin mừng của Chúa Kitô.” (x. SĐTG 2017, số 1). Hãy gieo Tin mừng vào tâm hồn người khác:Đọc Tin mừng cho họ nghe, giảng Tin mừng cho họ hiểu, tặng Tin mừng cho họ đọc, phổ biến Tin mừng bằng mọi cách nhất là qua các phương tiện truyền thông. Khi họ đã nghe, đã hiểu thì chắc chắn họ sẽ sống và được biến đổi. Bởi vì, “Phúc Âm là Tin Mừng tràn đầy niềm vui hay lây, vì nó chứa đựng và ban tặng sự sống mới: sự sống của Đức Kitô Phục Sinh là Đấng, qua việc ban Thần Khí ban sự sống, trở nên cho chúng ta Con Đường, Sự Thật và Sự Sống” (x. SĐTG 2017, số 1). Đức Thánh Cha Phanxicô còn đưa ra một số bằng chứng về sự biến đổi nhờ Tin mừng, Ngài nói: “Tôi nghĩ đến cử chỉ của một học sinh ở Dinka, người đã hy sinh mạng sống để bảo vệ một học sinh sắp bị bộ lạc thù nghịch Nuer tàn sát. Tôi nghĩ đến buổi cử hành Thánh Lễ ở Kitgum, bắc Uganda, nơi mà, sau những vụ tàn sát hung bạo bởi một nhóm loạn quân, một vị thừa sai đã làm cho dân chúng lặp lại lời của Chúa Giêsu trên thập giá: ‘Ôi Thiên Chúa của con, ôi Thiên Chúa của con, sao Ngài nỡ bỏ con?’ Như một cách diễn tả tiếng khóc than tuyệt vọng của các anh chị em của Chúa Chịu Đóng Đinh. Với dân chúng, buổi cử hành Thánh Lễ ấy là một nguồn an ủi và can đảm khôn lường. Chúng ta cũng có thể nghĩ đến vô số chứng từ về việc Tin Mừng giúp người ta vượt qua sự hẹp hòi, xung đột, kỳ thị chủng tộc, chủ nghĩa bộ lạc, cùng cổ võ ở khắp mọi nơi, và giữa tất cả mọi người, sự hòa giải, tình huynh đệ và chia sẻ cho nhau như thế nào.”(SĐTG 2017, số 5).

Thứba,nhà truyền giáo phải có tấm lòng mục tử, từ đó mới có thể gieo rắc tình yêu và lòng thương xót của Thiên Chúa đến với mọi người. Bởi vì, Thiên Chúa là tình yêu. Ở đâu có tình yêu ở đó có Thiên Chúa. Tình yêu đi liền với tinh thần phục vụ, hy sinh. Đức Giêsu đã nói:“Không có tình yêu nào cao quý hơn tình yêu của người đã dám hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình.”(Ga 15,13).Chính Đức Thánh Cha Phanxicô cũng đã khẳng định: “Qua Hội Thánh, Đức Kitô tiếp tục sứ vụ của Người như người Samaritanô tốt lành, chăm sóc các vết thương rỉ máu của nhân loại, và như Người Mục Tử Nhân Từ, không ngừng tìm kiếm những kẻ lang thang dọc theo các nẻo đường quanh co chẳng dẫn đến đâu.”(SĐTG 2017, số 5).

Thứ tư,nhà truyền giáo phải biết liều mình đi ra “chỗ nước sâu,” tới các “vùng ngoại vi.”Đức Thánh Cha Phanxicô nói: “Chúng ta được thách thức ‘đi ra khỏi vùng an toàn của mình để đến tất cả các vùng ngoại vi đang cần ánh sáng Tin Mừng.’” (EG, 20). (x. SĐTG 2017, số 6). Chỗ nước sâu ở đây có thể là những vùng sâu vùng xa, các khu nhà ổ chuột, các trại phục hồi nhân phẩm, những nơi mà ít khi hoặc chưa bao giờ người ta được nghe Tin mừng. Chỗ nước sâu ở đây cũng có thể hiểu là nơi những tâm hồn chai đá, khô cứng, tội lỗi… Họ đang “đói khát chân lý và công lý” (x. SĐTG 2017, số 6). Chỗ nước sâu ở đây có thể là những người vô thần, thậm chí là những người đang chống đối Thiên Chúa, chống đối Giáo hội. Đi ra chỗ nước sâu, đi tới vùng ngoại vi có thể gây nguy hiểm cho nhà truyền giáo,nhưng nếu nhà truyền giáo biết “liều mình” như thế chắc chắn sẽ bắt được những “con cá lớn”. Đức Thánh cha nói tiếp: Sứ vụ truyền giáo nhắc nhở cho Hội Thánh rằng Hội Thánh không phải là cùng đích cho chính mình, mà là công cụ khiêm tốn và trung gian của Nước Trời. Một Hội Thánh quy chiếu về chính mình, một Hội Thánh hài lòng với những thành công trần thế, thì không phải là Hội Thánh của Đức Kitô, thân thể bị đóng đinh và vinh hiển của Người. Đó là lý do tại sao chúng ta nên thích "một Hội Thánh bị bầm dập, đau đớn và dơ bẩn bởi vì nó đang ở ngoài đường, chứ không phải một Hội Thánh bệnh hoạn vì bị giam hãm và ràng buộc bởi sự an toàn của mình" (ibid., 49). (SĐTG 2017, số 6).

Cuối cùng, nhà truyền giáo cần noi gương Mẹ Maria:Noi gương Mẹ lên đường mang Chúa đến với mọi người như biến cố Mẹ đi thăm bà Êlizabet (x. Lc 1,39-56); Noi gương Mẹ biết quan tâm giúp đỡ sự thiếu thốn của kẻ khác như biến cố tại tiệc cưới Cana (x. Ga 2,1-12); Noi gương Mẹ biết can đảm chấp nhận thánh ý Chúa châp nhận hy sinh Con Một vì nhân loại như biến cố trên thập giá (Ga 19,25-27). Đồng thời, chúng ta cũng cần nhờ Mẹ Maria đồng hành và nâng đỡ trên mọi nẻo đường truyền giáo. Đức Thánh Cha nói: “Trong việc thực thi sứ vụ truyền giáo của chúng ta, chúng ta hãy rút cảm hứng từ Mẹ Maria, Mẹ của việc Phúc Âm hóa. Được Thần Khí thúc đẩy, Mẹ đã đón nhận Lời Chúa ở tận đáy đức tin khiêm tốn của Mẹ. Nguyện xin Mẹ Đồng Trinh giúp chúng con nói lên lời ‘xin vâng’ của chính mình, ý thức về nhu cầu cấp bách để làm Tin Mừng của Chúa Giêsu vang lên trong thời đại của chúng con. Xin Mẹ giúp chúng con có lòng nhiệt thành mới trong việc mang đến cho tất cả mọi người Tin Mừng về sự sống, là sự sống đã chiến thắng sự chết. Xin Mẹ cầu bầu cho chúng con để chúng con có thể có được sự táo bạo thánh thiện cần thiết để khám phá ra những cách thức mới ngõ hầu mang lại ơn cứu độ cho mọi người nam nữ.”(SĐTG 2017, số 8).

Nguyện xin Đức Giêsu, “Đấng loan báo Tin Mừng tiên khởi và vĩ đại nhất” (Phaolô VI, Evangelii Nuntiandi, 7), Đấng tiếp tục sai chúng ta đi loan báo Tin Mừng về tình yêu của Chúa Cha trong quyền năng của Chúa Thánh Thần (x. SĐTG 2017, lời mở đầu) hướng dẫn và đồng hành để sứ vụ loan báo Tin mừng của Giáo hội và mỗi người kitô hữu chúng ta mang lại hoa trái dồi dào. Amen.

Lm. Anthony Trung Thành


 

Truyền_giáo 119: “Lạy Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi ”


(Lc 18, 13 )

Kính thưa quý vị,

 

Truyền giáo là cánh tay nối dài của ơn Cứu Độ. Vâng, có nhiều định nghĩa , nhưng, định nghĩa sau Truyền_giáo 119


Truyền giáo là cánh tay nối dài của ơn Cứu Độ. Vâng, có nhiều định nghĩa , nhưng, định nghĩa sau cùng là định nghĩa đúng nhất.

Vâng, con xin chia sẻ hơi ” mạnh miệng “một chút xin quý vị tha thứ. Theo lệnh truyền của Đức Kitô có nghĩa là ĐẤNG CỨU THẾ,  thì việc truyền giáo là trách nhiệm của những ai muốn bước theo Người. Từ đó, suy ra việc truyền giáo là “bổn phận và trách nhiệm “ của Giáo Hội. Giáo Hội Chúa Kitô là Giáo Hội Truyền giáo.

Ý thức rõ và cao độ về trách nhiệm của mình, Đức Thánh cha Phanxico ban hành Thông Điệp về truyền giáo từ năm 2015: “Chung tay loan báo Tin Mừng ra những vùng ngoại vi “, mà Hội Đồng Giám Mục Việt Nam đang triển khai trên Giáo Hội Việt Nam. Đặc biệt năm truyền giáo 2016 nầy làm nền tảng cho việc tái xây dựng lại công cuộc truyền giáo TRỰC TIẾP từ Đức Kitô.

Mỗi giai đoạn, mỗi biến cố thời gian có khác nhau, nhưng bản chất truyền giáo của Giáo Hội không thay đổi. Mỗi vị giám mục Việt Nam nói riêng có cách nhìn, cách làm, cách hành động khác nhau, nhưng cùng một mục đích duy nhất là: “Thực Thi Lệnh truyền của Chúa GIÊSU” là:TRUYỀN GIÁO.

Vậy , ý nghĩa thiết thực của việc truyền giáo là: Nói về Chúa cho mọi người, Trong đó, theo Hước dẫn cụ thể của Giáo Hội, tính cách vĩ mô, như theo Đức thánh Giao Hoàng Gioan Phaolo II thì có 5 đối tượng để được truyền giáo.

Thứ nhất: Những người chưa biết Thiên Chúa, chưa từng được nghe nói về Thiên Chúa.

Thứ hai: Những người chống đối , ghét Đạo Công giáo.

Thứ ba: Những người bỏ đạo, chối Chúa ( thành phần nầy được gọi là tái rao giảng Tin Mừng cho họ ).

Thứ tư: Thành phần nghèo khổ của xã hội, bệnh tật, thất học, trẻ em bui đời , phạm pháp, tù nhân, dĩ điếm , ma cô, mắc bệnh hiểm nghèo, mà xã hội gọi là ”tệ nạn “ ( bị xã hội bỏ rơi, hoặc lên án)

Thứ năm: Thành phần khác tôn giáo, trí thức vô thần, cụ thể tại Việt Nam là những người đảng viên , những người từng nhận biết Thiên Chúa , nhưng vì hoàn cảnh đã bỏ đạo.

Vâng, truyền giáo ngày nay có nhiều khó khăn và thách đố hơn, vì mỗi giai đoạn lịch sử có những thách đố khác nhau. Nhưng , như lời thánh Phaolo nói: “Anh em hãy rao  giảng Tin Mừng của Đức Kitô trong lúc thuận tiện, cũng như lúc bất tiện “.

Vâng, nhưng Lời Chúa được chọn đọc trong Thánh Lễ Khánh Nhật Tuyền Giáo hôm nay không có lời nào liên quan đến truyền Giáo.

Điều nầy nhấn mạnh đến “ con chỉ là đầy tớ vô dụng”. Vâng, quả thật là như thế, vì bao lâu công việc truyền giáo không biết tháp nhập vào Đức Kitô, thì việc truyền giáo ấy coi như “ hỏng “.

Chúng ta liên tưởng đến người “ đạo đức “ trong trang Tin Mừng hôm nay, ông ta cầu nguyện với Thiên Chúa là Cha, nhưng ông ấy kể công như người làm công. Ông ta không biết rằng , những công đức của ông ta mà ông ta nhận được đó là do Lòng Thương Xót của Cha ông ta là Thiên Chúa toàn năng, Đấng dựng nên trời đất đó sao ?

Vâng, thưa quý vị, chúng ta phụng sự Thiên Chúa vì Ngài yêu thương chúng ta, chứ Ngài không dùng “công đức “ của chúngg ta để “mưu ích” cho Ngài. Khi chúng ta tôn thờ Thiên Chúa một cách thành tín, chính là lúc chúng ta đang nhận được đầy tràn ân sủng trong Thánh Thần. Vì thế, khi chúng ta cầu nguyện chính là lúc chúng ta được diễm phúc gắn kết với Thiên Chúa, và như Lời Chúa Giêsu nói: “ Ta là Cây nho thật, … các anh em là cành nho, cành nào kết hợp cùng cây sẽ trổ sinh hoa trái… “ ( Ga 15, 1 -17)

Vâng , và như vậy, căn cứ vào Lời của Chúa Giêsu, sứ mạng Truyền Giáo của Giáo Hội chính là “kết hợp vào Cây Nho Giêsu” để sinh hoa trái, chứ không phải để lập công.

Hai người lên đền thờ cầu nguyện trong trang Tin Mừng hôm nay, phản ánh thực trang của người Pharisieu và hình ảnh người thống hối. Vì trước nhan Thiên Chúa không ai vô tội, công trạng khi chúng ta lam được , chính là ân huệ nhưng không bởi Thiên Chúa. Nên chi, Ngài không cần công trạng của chúng ta , mà Ngài chỉ muốn LÒNG THƯƠNG XÓT của Thiên Chúa được thực thi. Thiên Chúa không muốn của lễ, nhưng chỉ đòi lòng nhân.

Vậy, Khánh Nhật Truyền giáo, chính là thời gian nhìn lại chúng ta có đang “kết hợp” với Chúa Giêsu hay không? Nếu, chúng ta đang kết hợp với Người, mặc nhiên chúng ta sẽ ”trổ sinh hoa trái”. Vậy, việc truyền giáo chính là: “trổ sinh hoa trái trong Đức Kitô ”. Vì, Truyền Giáo là đem Chúa đến với tha nhân, nếu chúng ta không có Chúa Giêsu, thì làm sao trao Chúa Giêsu cho người khác.

Vậy, theo con, cách truyền giáo tốt nhất và dễ có hiệu quả, đó là hình ảnh “Cây Nho Thật Giêsu” ( Ga 15, 1-17).Vì ngoài Chúa Giêsu ra không ai có thể đến được với Thiên Chúa là Cha, cũng vậy, Chúa Cha là “Người trông Cây Nho thật Giêsu” sẽ cắt tỉa những cành nho không sinh trái.

Biển truyền giáo thì mênh mông, nhưng LÒNG THƯƠNG XÓT của Thiên Chúa thì lớn hơn công cuộc truyền giáo. Mong thay !

Lạy Chúa Giêsu, Đấng là Cây Nho Thật, xin thương ban cho những ai bước theo Người được sinh hoa kết trái dồi dào, nhờ được tháp nhập vào Người là cây Nho Thật, bởi chính Chúa Cha là Người trồng Cây Nho ấy , hầu sinh trái sum suê như Thánh Ý Chúa. Chúng con cầu xin Nhờ Đức Kitô – Giêsu ./. Amen
23/10/2016

P.Trần Đình Phan Tiến


 

Truyền_giáo 120: Tháng 10, tháng truyền giáo

 

Tháng 10 tháng Mân Côi, Giáo hội mời gọi chúng ta hãy khám phá lại nét đẹp của lời kinh này Truyền_giáo 120


Tháng 10 tháng Mân Côi, Giáo hội mời gọi chúng ta hãy khám phá lại nét đẹp của lời kinh này và siêng năng đọc kinh Mân Côi cho cầu thế giới được hoà bình. Tháng 10 còn là tháng truyền giáo. Giáo hội cũng kêu gọi con cái mình dấn thân cho những công cuộc truyền giáo, bước theo Chúa Giêsu trong cuộc hành trình Ðức Tin, và có Mẹ Maria Nữ Vương Rất Thánh Mân Côi Mân Côi và là Nữ Vương truyền giáo đi đầu dẫn đưa tất cả chúng ta đến với Chúa Kitô, và dạy chúng ta mang Chúa đến cho tha nhân.

Giáo hội tự bản chất là truyền giáo.

Nếu như Isaia con trai Amót được thị kiến: “Các dân nước sẽ đổ xô về núi Chúa… trong ngày sau hết” (x. Is 1, 1-5). Thánh Phaolô  cho người con tình thần của mình biết rằng: “Thiên Chúa muốn cho mọi người được cứu rỗi” (x.1 Tm 2, 4 – 6). Cả bốn sách Tin Mừng đều nêu bật ý nghĩa của việc truyền giáo. Nội dung sứ vụ mà Chúa Giêsu trao cho Giáo hội, chứng tỏ bản chất của Giáo hội là truyền giáo. Chính Chúa Giêsu Phục sinh đã nói với các tông đồ nơi Phòng Tiệc Ly như sau: “Như Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai các con” (Ga 20,21). Đến lượt Chúa Con cũng sai Giáo hội ra đi cho đến tận cùng trái đất. Ðây là một sứ mạng duy nhất, một sứ điệp duy nhất, phát xuất từ Thiên Chúa và được gửi đến cho mọi người, ngõ hầu họ được cứu chuộc và trở nên con cái Thiên Chúa.

 “Chúa Kitô phải chịu khổ hình, rồi ngày thư ba, từ cõi chết sống lại và phải nhân danh Người mà rao giảng cho muôn dân. Chính anh em là chứng nhân về những điều ấy” (Lc 24, 46-48).

Nhân dịp Đại Năm Thánh 2000, thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã nói: “Sứ mạng của Giáo Hội kéo dài sứ mạng của Chúa Kitô. Giáo Hội không ngừng rao giảng cho thế giới Tình Phụ Tử của Thiên Chúa, bằng việc rao giảng và bằng chứng tá của những con cái mình…nhờ việc thực hành mệnh lệnh tình thương đối với Thiên Chúa và đối với anh chị em”. (Huấn Đức ngày 22 tháng 10/2000, tại Roma).

Đức nguyên Giáo hoàng Bênêđictô XVI đã nhấn mạnh: Sứ vụ truyền giáo là bổn phận của toàn thể Giáo hội, vốn bởi bản chất là thừa sai (x.Ad gentes, số 2). Trích dẫn lời Chân phước Phaolô VI, ngài tiếp: “Giáo Hội hiện hữu để truyền giáo, để giảng thuyết và giáo huấn, để làm máng chuyển quà tặng của các ân sủng, để hoà giải các tội nhân với Thiên Chúa, để trường tồn hy lễ của Chúa Kitô trong Thánh Lễ, đó là việc tưởng niệm cuộc tử nạn và phục sinh vinh hiển của Người.”

Lòng thương xót là linh hồn của truyền giáo

Thánh Phaolô viết: “Tình Yêu Chúa Kitô thôi thúc tôi” (2 Cr 5, 14). Đức Kitô thúc bách những người đã chịu phép Rửa tội nam phụ cũng như lão ấu, kể cả người đau yếu lẫn người nghèo, khi đã đón nhận tình yêu cứu độ của Thiên Chúa, có sứ mạng rao giảng và mang tình yêu cho hết mọi người, bằng lời nói và chứng tá cụ thể của Lòng Thương Xót. Truyền giáo là gì gì nếu không phải là loan báo Tin Mừng về tình yêu và lòng thương xót của Thiên Chúa như chính Chúa Giêsu đã làm. Ngài không những đã hăng say loan báo tình yêu của Thiên Chúa cho mọi người, Ngài còn xót thương đến thí mạng để làm chứng cho tình yêu đó. Hơn thế nữa, Ngài mạc khải và nhập thể tình yêu đó nơi chính bản thân mình. Ngài là hiện thân của Lòng Thương Xót Chúa. Nơi Ngài, tình yêu và lòng thương xót chiến thắng tội lỗi và sự chết. Vì thế, sứ điệp Tin Mừng Nước Thiên Chúa trở thành Tin Mừng Phục Sinh, Niềm Hy Vọng cho toàn thế giới.

Trong sứ điệp nhân ngày thế giới truyền giáo lần thứ 90 với chủ đề “Giáo hội thừa sai, chứng nhân lòng thương xót”, Đức Thánh Cha Phanxicô viết: “Khi đón nhận và theo Chúa Giêsu qua Tin Mừng và các bí tích, nhờ tác động của Chúa Thánh Linh, chúng ta có thể trở nên người có lòng thương xót như Cha chúng ta trên trời, học yêu thương như Chúa yêu thương chúng ta và biến cuộc sống chúng ta trở thành một món quà nhưng không, dấu chỉ lòng nhân lành của Ngài” (Misericordiae Vultus 3).

Nhân dịp Năm Thánh Lòng Thương Xót, Đức Thánh Cha Phanxicô đề cao vai trò của phụ nữ và các gia đình trong việc biểu lộ lòng thương xót của Thiên Chúa rằng “Có bao nhiêu người nam nữ thuộc mọi lứa tuổi và giai tầng xã hội, đã và đang làm chứng về tình yêu thương xót của Chúa, như trong thời kỳ đầu qua kinh nghiệm của Giáo Hội. Dấu chỉ hùng hồn về tình yêu thương từ mẫu của Thiên Chúa là sự hiện diện gia tăng đáng kể của nữ giới trong thế giới truyền giáo, bên cạnh sự hiện diện của nam giới. Các phụ nữ, nữ giáo dân và các người nữ thánh hiến, và ngày nay cũng có nhiều gia đình, đang thực thi ơn gọi truyền giáo của họ dưới nhiều hình thức khác nhau: từ việc trực tiếp rao giảng Tin Mừng cho đến các dịch vụ bác ái.”

Đức Thánh Cha thêm: “Bên cạnh hoạt động loan báo Tin Mừng và cử hành các bí tích do các nam thừa sai đảm nhận, cũng có các phụ nữ và các gia đình hiểu biết một cách thích hợp hơn các vấn đề của dân chúng và biết đương đầu với các vấn đề ấy một cách thích hợp, và đôi khi một cách ”chưa từng có”: qua sự chăm sóc cuộc sống, đặc biết chú ý đến con người hơn là các cơ cấu, tận dụng mọi tài nguyên nhân bản và tinh thần để xây dựng sự hòa hợp, các quan hệ, hòa bình, liên đới, cộng tác và tình huynh đệ, trong lãnh vực các tương quan giữa con người với nhau, cũng như trong lãnh vực rộng hơn lớn của đời sống xã hội và văn hóa, nhất là việc chăm sóc người nghèo”.

Nhờ lời chuyển cầu của thánh Phanxicô Xaviê, thánh nữ Têrêsa Hài Ðồng Giêsu là quan thầy các xứ truyền giáo, nhất là của Mẹ Maria Ngôi Sao truyền giáo, mẫu gương loan báo Tin Mừng, cầu thay nguyện giúp cho Hội Thánh trở nên một mái nhà của tình yêu và thương xót mọi người ; một người mẹ xót thương cho mọi dân tộc và là nguồn suối tái sinh cho thế giới chúng ta. Amen.
Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ


 

Truyền_giáo 121: NGÀY KHÁNH NHẬT TRUYỀN GIÁO


 Tin mừng Mt 28: 16-20

 

Ngày Thế Giới Truyền Giáo năm nay một lần nữa quy tụ chúng ta quanh con người Đức Giêsu, “Người Truyền_giáo 121


Ngày Thế Giới Truyền Giáo năm nay một lần nữa quy tụ chúng ta quanh con người Đức Giêsu, “Người rao giảng Tin Mừng đầu tiên và vĩ đại nhất”[1]. Người liên tục sai chúng ta đi công bố Tin Mừng tình yêu của Thiên Chúa Cha trong quyền năng Chúa Thánh Thần. Ngày Truyền Giáo này mời gọi chúng ta một lần nữa suy tư về việc truyền giáo ở tâm điểm của đức tin Kitô giáo. Hội Thánh tự bản chất là truyền giáo; nếu không, Hội Thánh không còn là Hội Thánh của Đức Kitô nữa. Vì vậy điều quan trọng đối với chúng ta là tự đặt ra cho mình những câu hỏi về căn tính Kitô giáo và trách nhiệm của chúng ta là những tín hữu trong một thế giới đầy hỗn loạn và thất vọng ê chề, bị xâu xé bởi những cuộc chiến huynh đệ tương tàn nhắm vào những con người vô tội một cách bất công.

Nền tảng việc truyền giáo của chúng ta là gì?
Tâm điểm việc truyền giáo của chúng ta là gì?

Chúng ta phải có cách tiếp cận cơ bản nào để thi hành công việc truyền giáo?

- Khi chúng ta nói đến sứ vụ truyền giáo thì điều chúng ta cần phải lưu ý là việc truyền giáo của Hội Thánh không phải là quảng bá một ý thức hệ tôn giáo, càng không phải là đề nghị một học thuyết đạo đức cao siêu, nhưng nhờ việc truyền giáo của Hội Thánh, chính Đức Giêsu Kitô tiếp tục rao giảng Tin Mừng và hành động; như thế việc truyền giáo của Hội Thánh làm hiện diện trong lịch sử thời điểm của Đức Kitô, một thời điểm thuận lợi cho Ơn Cứu Độ. Nhờ việc công bố Tin Mừng, Đức Giêsu Phục Sinh trở thành người đương thời của chúng ta, để những ai đón nhận Người với đức tin và đức mến có thể trải nghiệm sức mạnh biến đổi của Thần Khí Người, Đấng làm cho loài người và mọi thụ tạo sinh hoa kết quả, như mưa làm cho trái đất vậy.

- Việc truyền giáo của Hội Thánh dựa trên sức mạnh biến đổi của Tin Mừng. Tin Mừng là Tin Vui chứa đầy niềm vui có sức lan toả, vì nó chứa đựng và cống hiến sự sống mới: sự sống của Đức Kitô Phục Sinh, Đấng là Con Đường, Sự Thật và Sự Sống (x. Ga 14,6) cho chúng ta, và đổ đầy Thần Khí ban sự sống cho chúng ta. Người là Con Đường mời gọi chúng ta theo Người với lòng tin tưởng và can đảm. Khi theo Đức Giêsu là Con Đường, chúng ta trải nghiệm Sự Thật và lãnh nhận Sự Sống của Người, nghĩa là có sự hiệp thông viên mãn với Thiên Chúa Cha trong quyền năng Chúa Thánh Thần. Sự sống ấy giải thoát chúng ta khỏi mọi ích kỷ, và là nguồn sáng tạo trong tình yêu.[2]

- Giải thoát khỏi ích kỷ như thế nào?

Chúng ta cùng nhau đọc lại câu chuyện "cái giếng của Ryan".

Trong một lần nghe cô giáo nói để có được một cái giếng cho người Urgando, thì cần phải có 70 đôla, thế mà vẫn còn rất nhiều người Châu Phi phải bị chết khát vì không có nước sạch. Cậu bé Ryan 6 tuổi người Canada đã vô cùng xúc động, với suy nghĩ rằng, nhiều người đang chết và cậu nói với ba mẹ rằng mình cần số tiền đó.

Thế rồi, cậu nhận làm việc nhà. Với mỗi hai đôla kiếm được, cậu lại gạch thêm một vạch trên cái thước rồi bỏ tiền vào trong cái hộp thiếc. Cậu làm việc không ngừng. Ryan hút bụi, lau cửa sổ và nhiều việc khác. Thậm chí cậu còn làm việc nhà cho cả những người hàng xóm cũng như ông bà nội, ông bà ngoại và rồi tất cả số tiền kiếm được đều bỏ vào trong hộp thiếc.

Sau bốn tháng, Ryan đã tiến đến gần mục tiêu của mình. Mẹ cậu đã gọi điện cho một người quen làm ở cơ phát triển quốc tế của Canada để nhờ liên lạc với tổ chức cung cấp nước sạch và hệ thống vệ sinh cho người dân ở các nước đang phát triển.

Tháng tư năm 1998. Ryan đã mang theo hộp thiếc đầy tiền của mình đến gặp vị giám đốc của chương trình WaterCan". Họ đã cám ơn cậu bé và nói rằng sự đóng góp của cậu rất quan trọng, tuy nhiên để xây một cái giếng thì cần phải tốn đến những 2.000 đôla. Ryan không hề thất vọng và nói một cách đơn sơ chân thành: “Không sao ạ. Con sẽ làm việc nhà nhiều hơn nữa!”.

Tin tức về những gì Ryan đang làm đã lan đi khắp nơi và chẳng mấy chốc cha mẹ cậu nhận được nhiều cuộc gọi từ các hãng truyền thông. Một tờ báo cũng đăng tải câu chuyện về cái giếng của Ryan và sau đó số tiền đóng góp được gửi đến từ khắp nơi. Một trường trung học ở Comwall, Ontario, sản xuất nước đóng chai và tặng tổ chức WaterCan một tấm séc trị giá 228 đôla để ủng hộ cho chương trình đào giếng của Ryan.

Đội Hợp Ca Thiếu Nhi Trung Ương ở Ottawa đã quyên góp 1.000 đôla. Hiệp Hội Nước Ngầm ở Miền Đông Ontario đã đóng góp 2.700 đôla. Chẳng mấy chốc Ryan đã có nhiều hơn số tiền cần có để xây giếng. Thế là, cái giếng của Ryan đã được xây cạnh trường tiểu học Angolo ở Uganda, Châu Phi và hoàn thành vào tháng tư năm 1999!

Tuy nhiên, không chỉ dừng lại ở đó. Bắt đầu từ một mơ ước của một cậu bé nhằm thay đổi cuộc sống của nhiều người, mà hầu hết là những người cậu chưa từng gặp. Tổ chức từ thiện mang tên Ryan đã quyên được một số tiền rất lớn và đã có thể xây dựng được  cả hàng ngàn chiếc giếng ở Châu Phi.

Còn Ryan thì vẫn chăm chỉ làm việc mỗi ngày, và lời cầu nguyện mà cậu bé vẫn thường khấn nguyện mỗi đêm đó là: “con cầu mong cho mọi người ở Châu Phi đều có nước sạch". Đó chính là sức mạnh của một ước mơ.

Đến đây tôi sực nhớ có một câu danh ngôn thế này: "Nếu quí vị nhìn thấy một gia đình hạnh phúc, quí vị nên biết rằng, ở trong gia đình đó, có những con người đã biết sống quên mình”. Đó chính là giá trị của lòng hy sinh. Định nghĩa hạnh phúc luôn được đặt trên nên tảng là lòng hy sinh. Đừng bao giờ từ chối người khác nếu chúng ta vẫn có cơ hội để trao ban.

Chúng ta đã từng gặp vô số những con người luôn phàn nàn, và có khuôn mặt khó coi. Họ dường như luôn muốn người khác thấy họ vô cùng khổ sở trong công việc của mình. Chúng ta tin rằng nếu cứ phàn nàn và giữ bộ mặt nhăn nhó như vậy, thì chắc chắn họ sẽ còn gặp khó khăn mãi và không có gì ngạc nhiên là họ sẽ mãi dậm chân tại chỗ!

Trái lại chúng ta cũng đã gặp những người luôn vui vẻ sẵn sàng giúp đỡ người khác dù hoàn cảnh, cũng như công việc của họ vẫn còn khó khăn. Những người như vậy sẽ luôn có những người yêu mến và  trân trọng.

Vậy, thay cho lời kết, chúng ta cùng nhau xác tín rằng: để có được chiếc chìa khóa của hạnh phúc đích thật, chúng ta chỉ cần áp dụng một nguyên tắc vô cùng đơn giản ngay ngày hôm nay. Hãy làm cho người khác điều mình muốn người khác làm cho mình như Đức Giêsu dạy: "Tất cả những gì anh em muốn người ta làm cho mình, thì chính anh em cũng hãy làm cho người ta như vậy." (Mt 7,12).[3] Amen.

Lm. Giuse Đỗ Văn Thụy
---------------
[1]  Phaolô VI, Evangelii Nuntiandi, 7
[2] Sứ điệp của Đức Thánh Cha Phanxicô cho Ngày Thế giới Truyền giáo 2017
[3] Tuấn Hải - Lê Hằng. Phút Suy Niệm Tháng Mân Côi, trg.208-318


 

Truyền_giáo 122: ĐẾN VỚI MUÔN DÂN


*1) LỆNH TRUYỀN CỦA CHÚA GIÊ-SU:

 

Hôm ấy, mười một môn đệ Đức Giê-su đã trở về Ga-li-lê như Chúa…... Trong cuộc gặp gỡ đó Truyền_giáo 122


Hôm ấy, mười một môn đệ Đức Giê-su đã trở về Ga-li-lê như Chúa Phục Sinh đã hẹn qua bà Ma-ri-a Mác-đa-la (x.Mt 28,10). Trong cuộc gặp gỡ đó, Đức Giê-su đã nói với các môn đệ ba điều  như sau:

– Một là: Người đã được trao “Toàn quyền trên trời dưới đất” (Mt 28,18): Điều này nhắc chúng ta nhớ lại khi Đức Giê-su bị cám dỗ, tên cám dỗ đã nói với người rằng: “Tôi sẽ cho ông tất cả những thứ đó, nếu ông sấp mình bái lạy tôi” (Mt 4,9). Nhưng Người đã không theo lời xúi giục của nó. Bây giờ, Chúa Cha đã ban cho Người chẳng những các nước thế gian, mà còn có “toàn quyền trên trời dưới đất” (Mt 28,18).

– Hai là: Người ra lệnh cho các môn đệ: “Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ” (Mt 28,19): Trong thời gian giảng đạo, Đức Giê-su dạy các ông chỉ đi loan báo Tin Mừng cho dân Ít-ra-en, vì đây là dân Chúa chọn có quyền ưu tiên (x. Mt 10,5-7). Nhưng bên cạnh đó, Người cũng rao giảng Tin Mừng cho dân ngoại và làm phép lạ cứu giúp những ai đặt trọn niềm tin nơi Người. Chẳng hạn: Viên đại đội trưởng ngoại giáo có đức tin mạnh đã được Người chữa cho đầy tớ của ông khỏi bệnh tê liệt (x. Mt 8,5-13); Người đàn bà Ca-na-an có đức tin mạnh đã được Đức Giê-su trục xuất quỷ ra khỏi đứa con gái của bà (x. Mt 15,28).

– Ba là: Người hứa “sẽ ở cùng họ mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28,20): Ngày xưa Đức Chúa đã hứa ở với Mô-sê khi sai ông đi cứu dân Ít-ra-en khỏi tay Pha-ra-ô của Ai-Cập như sau: “Ta sẽ ở với người” (Xh 3,12). Ngày nay, Đức Giê-su cũng hứa ở cùng các môn đệ để giúp các ông chu toàn nhiệm vụ được Người trao phó. Cũng như Mô-sê xưa nhờ được Đức Chúa hiện diện phù giúp đã đưa được dân Ít-ra-en thoát cảnh nô lệ cho dân Ai-Cập về tới Hứa Địa, thì nay với sự hiện diện của Chúa Phục Sinh, các môn đệ cũng sẽ thành công trong sứ mệnh “đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ Người”.

*2) TRUYỀN GIÁO LÀ RA ĐI, LẮNG NGHE , VÀ CHIA SẺ NIỀM VUI ƠN CỨU ĐỘ:

Nhân ngày Chúa Nhật Truyền Giáo, Đức Phan-xi-cô đã dựa theo sách Công Vụ Tông Đồ dạy về tiến trình ba bước loan báo Tin Mừng nhờ ơn Thánh Thần, qua câu chuyện tông đồ Phi-líp-phê thực hiện với viên thái giám người xứ Ê-thi-ô-pi như sau:

-Bước một: “Hãy đứng lên và ra đi”:

Thần Khí ra lệnh cho ông Phi-lip-phê: “Hãy đứng lên và ra đi” (x. Cv 8,26) . Ngày nay, để trung thành với huấn lệnh của Chúa, Hội Thánh cũng phải lắng nghe huấn lệnh của Chúa Giê-su với ơn Thánh Thần thôi thúc, để ra đi loan báo Tin Mừng. Một Hội Thánh không “đứng lên và ra đi” là một Hội Thánh đang suy yếu bệnh tật.

– Bước hai: “Hãy lắng nghe sự thao thức của tha nhân” và chia sẻ niềm vui của Tin Mừng:

Thần Khí ra lệnh cho ông Phi-líp-phê chạy theo xe ngựa của quan thái giám người Ê-thi-ô-pi. Ông quan này đã đi hành hương Giê-ru-sa-lem và đang trên đường về quê nhà. Ông đang đọc đoạn sách ngôn sứ I-sai-a. Khi thấy Phi-líp-phê chạy theo xe mình, viên thái giám liền dừng xe mời ông lên xe với mình. Trong câu chuyện, theo yêu cầu của viên thái giám, Phi-líp-phê đã trình bày về Đức Giê-su là Đấng Thiên Sai cho ông. Nhờ được Thần Khí tác động, viên thái giám đã tin vào lời Phi-lip-phê giảng và khi xe ngang qua chỗ có nước, ông đã yêu cầu được nhập đạo. Ông tuyên xưng đức tin vào Đức Giê-su Ki-tô là Con Thiên Chúa, và được Phi-lip-phê làm phép rửa dìm mình trong nước. Sau đó, Thần Khí đã đưa Phi-líp-phê rời đi nơi khác, còn viên thái giám lại tiếp tục cuộc hành trình về quê nhà trong niềm hân hoan (x. Cv 8,27-40).

Ngày nay Hội Thánh cũng cần phải lắng nghe sự thao thức của con người thời đại để biết họ nghĩ gì muốn gì, rồi tìm cách đáp ứng bằng cách chia sẻ niềm vui ơn cứu độ của Chúa cho họ.

Tóm lại Đức Phan-xi-cô đã khuyên các tín hữu hãy truyền giáo bằng ba việc: “Hãy đứng lên và ra đi; Hãy lắng nghe thao thức của tha nhân; Hãy chia sẻ niềm vui Tin Mừng của Chúa cho họ”.

*3) TRUYỀN GIÁO CHÍNH LÀ TRUYỀN NGỌN LỬA YÊU THƯƠNG

– Trong đêm Vọng Phục Sinh, lòng nhà thờ hoàn toàn chìm trong bóng tối. Thế rồi, từ cuối nhà thờ, Nến Phục Sinh được thắp sáng lên và được long trọng rước lên cung thánh. Linh mục chủ sự lấy lửa từ Nến Phục Sinh thắp lên cho một vài cây nến nhỏ bé khác trên tay vài người. Những người nầy lại đem lửa phục sinh thắp lên cho người bên cạnh và cứ tiếp tục như thế, chẳng mấy chốc, cả ngàn cây nến nhỏ của các tín hữu tham dự đều được thắp lên.

– Loan Tin Mừng cũng là thắp lên lửa yêu thương cho người quanh ta. Lửa đức tin, lửa yêu thương đã được Chúa Giê-su thắp lên trong ta, thì đến lượt mỗi chúng ta cũng hãy thắp lửa đức tin, lửa yêu thương ấy cho người bên cạnh và công việc truyền lửa nầy cần được tiếp nối không ngừng.

– Thánh Tê-rê-sa Can-quýt-ta cũng cho rằng truyền giáo là chia sẻ tình thương. Mẹ không rao giảng Phúc Âm bằng lời nhưng bằng những tâm tình và cử chỉ yêu thương cụ thể. Mẹ cũng không chủ trương yêu thương chung chung, nhưng là yêu thương từng người cụ thể ngay ở bên mình.

Mẹ nói: “Đối với chúng tôi, điều quan trọng là từng người một. Để thương yêu một người thì phải đến gần người ấy… Tôi chủ trương một người đến với một người. Mỗi một người đều là hiện thân của Đức Ki-tô… Người đó phải là người duy nhất trên thế gian mà ta cần yêu thương trọn vẹn trong giây phút đó.”

Với tâm tình nầy, Mẹ Tê-rê-sa đã thu phục nhân tâm nhiều người trên thế giới. Cũng bằng phương thức nầy, Giáo Hội Hàn Quốc đã làm gia tăng gấp đôi số tín hữu chỉ trong vòng mười năm!

Theo gương Mẹ Têrêxa, mỗi một người công giáo nên kết thân với một người lương, coi người đó như anh em ruột thịt và đem hết lòng yêu thương người đó.

Mỗi gia đình công giáo nên kết thân với một gia đình lương dân, coi họ như người thân quyến của mình để sẵn sàng chia ngọt sẻ bùi; Khi có kỵ giỗ, cưới xin hay lễ lạc gì trong gia đình, hãy mời họ cùng đến hiệp thông. Nhờ đó hai bên thắt chặt mối giây thân ái và nhờ đó, Tin Mừng của Chúa Ki-tô sẽ chiếu sáng như ánh nến trong đêm Vọng Phục Sinh.

*4) CỤ THỂ CHÚNG TA PHẢI LÀM GÌ ?:

– Đừng “đứng nhìn lên trời”: Hãy xuống núi để chu toàn sứ mệnh loan báo Tin Mừng bằng việc ăn ở công minh chính trực, chu toàn bổn phận đối với Thiên Chúa và tha nhân. Nhất là bằng thái độ biết nghĩ tới người khác và đáp ứng nhu cầu của họ, khiêm nhường phục vụ những người đau khổ bất hạnh. Ngoài ra còn phải dấn thân đến với những anh em chưa biết Chúa, để hợp tác cải thiện xã hội và sãn sàng chia sẻ “Chúa là Tình Yêu” cho tha nhân.

– Hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ: Ngày nay, khi lãnh nhận phép rửa tội và thêm sức, chúng ta cũng đón nhận ánh sáng Tin Mừng và có sứ mệnh chiếu ánh sáng đức tin trong môi trường sống là khu xóm, trường học, chợ búa, cơ quan xí nghiệp, và hết mọi nơi. Chu toàn sứ mệnh sống chứng nhân, chia sẻ niềm tin về Chúa Giê-su đã chết và sống lại.

– Hãy lãnh nhận Thánh Thần (x. Ga 20,21-22): Sứ mệnh truyền giáo thật là khó khăn như kinh nghiệm của Hội Thánh suốt hơn hai mươi thế kỷ qua đã chứng minh. Để giúp Hội Thánh chu toàn sứ mệnh truyền giáo, Đức Giê-su đã hứa ban Thánh Thần để giúp Hội Thánh hiểu biết sự thật toàn vẹn (x. Ga 16,7.13). Vào buổi chiều ngày phục sinh, Đức Giê-su đã hiện đến với các môn đệ và sai các ông giống như Chúa Cha đã sai Người. Người thổi hơi ban Thần Khí cho các ông và phán: “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần”. Người hiện ra nhiều lần để củng cố đức tin cho các ông. Rồi vào lễ Ngũ Tuần, Thánh Thần đã tác động như cơn gió bão ùa vào nhà tiệc ly và đổ ơn Thánh Thần trên đầu mỗi vị (x. Cv 2,1-4). Nhờ ơn Thánh Thần soi dẫn phù trợ mà chỉ sau một bài giảng của Tông đồ Phê-rô, đã có tới ba ngàn người tại Giê-ru-sa-lem xin nhập đạo (x. Cv 2,41).

– Hãy kết nghĩa với lương dân:

Năm 1983, khi thánh Giáo Hoàng Gio-an Phao-lô II đi thăm Giáo Hội Hàn quốc và tấn phong 103 thánh tử đạo người nước này, thì Giáo Hội Hàn quốc mới chỉ có 3 triệu rưỡi tín hữu. Khi ấy Đức Hồng Y Stephano Kim đã hứa với Đức Thánh Cha sẽ đẩy mạnh công việc truyền giáo bằng hoạt động cụ thể như sau: mỗi gia đình Công giáo Hàn quốc cần kết nghĩa với một gia đình lương, và mỗi tín hữu Hàn quốc cần có ý hướng truyền giáo cho một anh chị em ngoài Công giáo.

Sự kết nghĩa thiêng liêng thể hiện bằng việc âm thầm cầu nguyện cho anh em lương dân, năng đến thăm giúp đỡ để gây thiện cảm với họ và tìm dịp thuận tiện giới thiệu Chúa cho họ. Chính công việc này đã mang lại kết quả tốt đẹp: Chỉ sau 10 năm, số tín hữu công giáo Hàn quốc đã tăng lên gấp đôi !

Ngày nay, nếu chúng ta quyết tâm chu toàn sứ mệnh truyền giáo và áp dụng các phương thế của các môn đệ thời Hội Thánh Sơ Khai là: cộng tác với ơn Thánh Thần, hăng hái ra đi loan báo Tin Mừng bằng lời nói và bằng lối sống yêu thương cụ thể… thì chắc chắn chúng ta sẽ chu toàn được sứ mệnh truyền giáo như sau: “Hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ” (Mt 28,19); “Hãy nên chứng nhân của Thầy… cho đến tận cùng trái đất” (Cv 1,8).

*4. THẢO LUẬN:
*1) Đối với những “Ki-tô hữu vô danh” là những người đã có đức tin và muốn theo đạo, nhưng vì hoàn cảnh như là con trai trưởng phải lo cúng giỗ cha mẹ, nên chưa thể gia nhập đạo ngay, chúng ta nên làm gì để giúp họ sống đức tin vào Chúa ?
*2) Nếu họ chết khi chưa chịu phép rửa tội, thì họ có được ơn cứu độ không ? (x. Lc 23,40-43).

*5. NGUYỆN CẦU:

Lạy Chúa Giêsu, Tình Yêu của con, nếu Hội Thánh được ví như một thân thể gồm nhiều chi thể khác nhau, thì hẳn Hội Thánh không thể thiếu một chi thể cần thiết nhất và cao quý nhất. Đó là Trái Tim, một Trái Tim bừng cháy tình yêu. Chính tình yêu làm cho Hội Thánh hoạt động. Nếu trái tim Hội Thánh vắng bóng tình yêu, thì các tông đồ sẽ ngừng rao giảng, các vị tử đạo sẽ chẳng chịu đổ máu mình…

Lạy Chúa Giêsu, cuối cùng con đã tìm thấy ơn gọi của con, ơn gọi của con chính là tình yêu. Con đã tìm thấy chỗ đứng của con trong Hội Thánh: nơi Trái Tim Hội Thánh, con sẽ là tình yêu, và như thế con sẽ là tất cả, vì tình yêu bao trùm mọi ơn gọi trong Hội Thánh. Lạy Chúa, với chỗ đứng Chúa ban cho con, mọi ước mơ của con được thực hiện. (Theo thánh Tê-rê-xa Hài Đồng Giê-su).

X) HIỆP CÙNG MẸ MA-RI-A.- Đ) XIN CHÚA NHẬM LỜI CHÚNG CON.


 

Truyền_giáo 123: TRUYỀN GIÁO LÀ LÊN ĐƯỜNG


- Lm. GB. Trần Văn Hào

 

Trong cuộc tông du tại Hoa Kỳ năm 2015, , Đức Thánh Cha Phanxicô đã chủ sự Thánh lễ ngày Truyền_giáo 123


Trong cuộc tông du tại Hoa Kỳ năm 2015, , Đức Thánh Cha Phanxicô đã chủ sự Thánh lễ ngày 23 tháng Chín tại Đền Thánh Đức Mẹ Vô nhiễm ở Washington DC để tuyên thánh cho Cha Junipero Serra, một vị thừa sai dòng Phanxicô gốc Tây Ban Nha. Vị Thánh đã đến Châu Mỹ làm việc cho thổ dân da đỏ và đã đón nhận cái chết tử đạo để minh chứng đức tin. Trong bài giảng, Đức Thánh Cha nhắc lại câu châm ngôn của vị thánh, là “Hãy luôn tiến lên phía trước để rao giảng Tin mừng”. Đức Thánh Cha cũng gợi lại tư tưởng mà Ngài đã viết trong Tông huấn ‘Niềm vui của Tin mừng’ (Gaudium Evangelii): “ Từ sâu tận tâm hồn, Chúa Giêsu mời gọi chúng ta hãy ra đi. Đừng ở lỳ một chỗ để an hưởng một cuộc sống nhàn hạ. Đức Giêsu nói với các Tông đồ: Hãy đi rao giảng. Niềm vui Tin mừng là điều chúng ta phải trải nghiệm cách cụ thể. Chúng ta không có niềm vui đó nếu chúng ta không biết xả thân và trao ban”. Đây cũng là sứ điệp Giáo hội gửi trao đến chúng ta trong ngày Chúa nhật truyền giáo hôm nay.

Truyền giáo là lên đường.

Trong thư gửi giáo đoàn Ephêsô, Thánh Phaolô đã nói đến bốn phần vụ trong Giáo hội để xây dựng nhiệm thể Đức Kitô, đó là: làm tông đồ, làm ngôn sứ, làm người loan báo Tin mừng, làm người coi sóc và dạy dỗ (Eph 4, 11). Trong bốn chức năng đó, trở thành người loan báo Tin mừng đòi hỏi sự hy sinh và dấn thân hơn cả, bởi vì người đó phải ra đi và lên đường. Người đi rao giảng Tin mừng phải rời bỏ tất cả: từ gia đình, quê hương, đến nơi ăn chốn ở và mọi dính bén khác. Căn gốc của sự ra đi chính là từ bỏ chính mình. Khi sai các học trò đi thực tập truyền giáo, Chúa Giêsu chỉ trang bị cho các ông một món hành trang duy nhất, đó là ‘năng quyền trừ quỷ và chữa lành các bệnh tật’, ngoài ra không tiền bạc, không bao bị, không mặc hai áo, không giầy dép..( Lc 9,3). Vì vậy, truyền giáo trước hết là phải sẵn sàng lên đường và ra đi đến mọi ngõ ngách của thế giới, đặc biệt đến những vùng ven (peripheries) như lời Đức Thánh Cha Phanxicô mời gọi. Cuộc ra đi như vậy đòi hỏi phải chấp nhận phiêu lưu cách mạo hiểm, và cao điểm của cuộc hành trình liều lĩnh là chấp nhận cái chết như Đức Kitô trên Thập giá. Khi phong Thánh cho Cha Serra cuối tháng Chín năm 2015, Đức Thánh Cha đã nhắc lại đôi nét về sự ra đi của Ngài. Vị Thánh đã quảng đại từ khước địa vị danh giá là ghế giáo sư đại học ở Tây Ban Nha để lên đường sang Tân thế giới, phục vụ cho Tin mừng và ơn cứu độ. Cuộc mạo hiểm của Ngài đã phải trả giá, nhưng là cái giá của vinh thắng. Vừa khi mới đặt chân đến Mexicô, chân của Ngài đã bị sưng tấy vì dị ứng và đau đớn tột cùng, giống như bị ung thư hay bị nhện rừng cắn. Cao điểm của cuộc phiêu lưu này là Ngài đã bị giết chết, để bảo vệ các thổ dân. Một thi sỹ đã viết: “ Ra đi là chết trong lòng một ít”. Nhưng sự ra đi trong hành trình truyền giáo là sao chép lại tận căn chính cái chết của Đức Giêsu, vị truyền giáo đầu tiên, và cũng là nguyên mẫu cho chúng ta trong việc thực thi sứ mệnh rao giảng Tin mừng.

Đức Giêsu, nguyên mẫu của ơn gọi truyền giáo.

Năm mươi năm trước, Công đồng Vaticanô 2 đã ban hành sắc lệnh về truyền giáo ‘Ad Gentes’. Ngay từ chương đầu tiên của giáo huấn này, Giáo hội mời gọi chúng ta nhìn về Đức Kitô như là nguyên mẫu. Công đồng đưa dẫn nhiều trích đoạn kinh thánh để cho chúng ta thấy Đức Kitô là Đấng được Chúa Cha sai đến trần gian hầu thực hiện sứ mạng cứu thế ( Col 1, 13; Cv 10, 38; 2C 8, 9..). Vì vậy khi nhìn vào Đức Giêsu, chúng ta có thể nghiệm ra rằng, 2000 năm trước Ngài đã đi vào trần thế không phải để sáng lập một tôn giáo, cũng như không phải để quảng bá một học thuyết chính trị. Ngài đến chỉ với sứ mạng duy nhất là công bố cho chúng ta một Tin mừng, đó là Tin mừng về lòng thương xót của Thiên Chúa đối với con người. Đức Giêsu đã lập đi lập lại sứ điệp này trong suốt ba năm rao giảng công khai, và cái chết của Ngài trên Thập giá chính là đỉnh điểm của lời công bố Tin mừng vĩ đại ấy. Vì vậy, để sống tinh thần truyền giáo, chúng ta phải học nơi Thập giá Đức Giêsu. Ngài chính là vị truyền giáo đầu tiên, và là mẫu gương trọn hảo cho tất cả chúng ta (Tông huấn Evangelii Nuntiandi số 7). Trong các đợt xuất phát truyền giáo, các hội dòng thường trao cho các vị thừa sai Thánh giá truyền giáo cũng với hướng đích này.

Truyền giáo là bản chất của Giáo hội

Trong các phiên họp khoáng đại của công đồng chung Vaticanô 2, Đức Thánh Cha Phaolô đệ lục có nêu ra một câu hỏi rất giản đơn cho các nghị phụ: “ Ta sống ở đời này để làm gì?” Đây cũng là câu hỏi đầu tiên trong các sách giáo lý căn bản mà chúng ta đều biết cũng như đã thuộc lòng câu trả lời, đó là:‘Ta sống ở đời này để nhận biết và kính mến Chúa, cho ngày sau được hưởng hạnh phúc đời đời’. Các nghị phụ cũng trả lời như thế. Nhưng Đức Thánh Cha nói rằng câu trả lời còn thiếu. Ngài cắt nghĩa: “ Ta sống ở đời này để nhận biết và yêu mến Chúa, cho ngày sau được cứu rỗi, nhưng chúng ta cũng sống ở trần gian này còn để giúp người khác yêu mến và nhận biết Thiên Chúa, để họ cũng được ơn cứu độ như chúng ta”. Cha Thomas Merton, một tu sỹ dòng Trappist ở Hoa Kỳ có viết một tác phẩm tựa đề: ‘Không ai là một hòn đảo’. Tư tưởng của Ngài rất thâm thúy, và trong dịp viếng thăm Hoa Kỳ, khi đọc diễn văn tại lưỡng viện quốc hội, Đức Thánh Cha Phanxicô cũng gợi nhắc khuôn mặt tiêu biểu này. Cha Thomas Merton lý luận rằng, không ai trong chúng ta có thể sống cô lẻ một mình như một ốc đảo. Khi sống hiệp thông trong Hội thánh, chúng ta liên đới với anh chị em mình trong sự thánh thiện cũng như cả trong tội lỗi. Vì vậy không ai trong chúng ta sẽ lên thiên đàng một mình hoặc cũng không ai xuống hỏa ngục một mình. Chúng ta nên thánh bằng cách giúp người khác nên thánh, và đây cũng là ý nghĩa của sứ mệnh truyền giáo. Sứ mệnh này thuộc bản chất của Giáo hội, gắn liền với Giáo hội và cũng là bổn phận của mọi Kitô hữu. Trước khi Chúa Giêsu về trời, Ngài đã chuyển giao sứ mạng cứu thế cho Giáo hội bằng mệnh lệnh: “ Anh em hãy đi rao giảng Tin mừng cho muôn dân” (Mc 16,15). ‘Cho muôn dân’ tức “ ad gentes”, cũng chính là tựa đề của sắc lệnh về truyền giáo mà công đồng Vaticanô 2 đã để lại cho chúng ta.

Chứng nhân hơn là thầy dạy

Trong một sứ điệp ngày truyền giáo, Đức Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô 2 cũng viết: “ Truyền giáo là thước đo đức tin của mọi tín hữu”. Lời khẳng định này cũng tương hợp với giáo huấn của Thánh Giacôbê tông đồ khi Ngài viết: “ Đức tin không có việc làm là đức tin chết” (Gc 2,17). Việc làm đó được thực hiện rõ nét nhất qua sứ vụ truyền giáo. Rao giảng Tin mừng là một bổn phận của những ai thuộc về Đức Kitô và được Chúa mời gọi trở nên môn đệ Ngài. Thánh Phaolô xác tín mạnh mẽ bổn phận ấy nên Ngài nói: “ Khốn cho tôi nếu tôi không rao giảng Tin mừng”(1Cr 9,16). Nhưng, cách thái rao giảng Tin mừng để đạt hiệu quả mới là điều quan trọng mà chúng ta cần phải lưu tâm.

Có lần, một số các vị truyền giáo đang làm việc ở Ấn Độ đến gặp ông Mahatma Gandhi và hỏi ông bí quyết làm sao để có thể truyền giáo cho người dân Hindu ở đây. Ông Gandhi mời gọi các vị truyền giáo hãy suy nghiệm bí quyết từ cánh hoa hồng. Người ta thích hoa hồng không phải chỉ vì vẻ đẹp bên ngoài mà còn vì mùi hương quyến rũ từ bên trong tỏa ra. Ông kết luận, muốn truyền giáo thành công, phải học bí quyết ấy, tức là rao giảng không phải bằng lý thuyết xuông nhưng bằng gương sáng cụ thể của cuộc sống. Điều ông ta nói tới cũng giống như giáo huấn của Đức Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô 2 khi Ngài diễn tả: “ Ngày nay, Giáo hội cần những chứng nhân hơn là những thầy dạy.”

Kết luận: Chứng tá Tin mừng

Sau biến cố 30 tháng 04 năm 1975, một cán bộ nhà nước thuộc dạng cao cấp có hỏi một anh em tu sĩ dòng Tên ở Thủ Đức: “ Các anh là những người theo tôn giáo, chắc các anh rất sợ chúng tôi là những người vô thần?”. Vị tu sĩ đó bình thản trả lời: “Vâng thưa ông, chúng tôi rất sợ những người vô thần. Nhưng nếu các ông là những người vô thần thực sự và sống đúng với lý tưởng của các ông, thì chẳng có gì đáng sợ cả. Xin chúc mừng, nếu các ông thật sự cảm thấy hạnh phúc trong sự xác tín lý tưởng của mình. Nhưng ngược lại, chúng tôi rất sợ những người vô thần trong thực hành. Họ mang danh là Kitô hữu, nhưng lại sống như những người vô thần thực sự và còn tệ hơn cả những con người công khai chối bỏ Thiên Chúa. Bởi vì, cuộc sống của họ đang tàn phá Giáo hội, làm lung lạc đức tin người khác và làm cho Giáo hội của chúng tôi ngày càng suy yếu.”

Nếp sống vô thần trong thực hành như thế chính là một lối sống phản chứng tá. Thay vì rao giảng Tin mừng, thì cuộc sống như vậy lại cản che và bóp chết hạt giống Lời Chúa trong những sỏi đá và gai góc nơi chính tâm hồn họ. Trong ngày khánh nhật truyền giáo hôm nay, chúng ta hãy nhìn lại cuộc sống chính mình để duyệt xét xem chúng ta đã thực thi bổn phận quan trọng ấy như thế nào.


 

Truyền_giáo 124: HÃY ĐI VÀ LÀM CHO MUÔN DÂN

TRỞ THÀNH MÔN ĐỆ

 Lm. Giuse Đinh Tất Quý

 

Hôm nay, ngày Chúa Nhật Truyền Giáo, Hội Thánh muốn chúng ta suy nghĩ về việc đem Tin Truyền_giáo 124


Hôm nay, ngày Chúa Nhật Truyền Giáo, Hội Thánh muốn chúng ta suy nghĩ về việc đem Tin Mừng cứu độ của Chúa Giêsu đến cho anh em lương dân, để cho họ cũng được trở nên môn đệ của Chúa.

Theo Công đồng Vaticanô II thì chúng ta không thể sống đẹp lòng Chúa nếu không thao thức làm cho anh chị em lương dân trở thành môn đệ của Người. Vậy, chúng ta hãy nhìn lại lịch sử xem việc truyền giáo đã được thực hiện như thế nào để rồi qua đó chúng ta sẽ thấy được bổn phận chúng ta phải làm gì.

*1. Trước hết là thời các Tông đồ.

Ngay sau khi Chúa Giêsu về trời, các tông đồ đã cất bước lên đường đi rao giảng Tin Mừng khắp nơi như lệnh truyền của Chúa: “Anh em hãy đi” (Mt 28,20). Sách Tông Đồ Công Vụ đã cho chúng ta thấy các tông đồ ngay lập tức đã lên đường đi rao giảng về Đức Giêsu trong các hội đường. (Cv 9,20)

Lý do các tông đồ nêu ra là: “Người truyền cho chúng tôi phải rao giảng cho dân, và long trọng làm chứng rằng chính Người là Đấng Thiên Chúa đặt làm thẩm phán, để xét xử kẻ sống và kẻ chết.” (Cv 10,42)

Trong thư gửi giáo đoàn Côrinthô, thánh Phaolô nói: “Quả vậy, Đức Kitô đã chẳng sai tôi đi làm phép rửa, nhưng sai tôi đi rao giảng Tin Mừng.” (1Cr 1,17)

Vì ý thức việc rao giảng Tin Mừng quan trọng như vậy nên các tông đồ đã hăng hái đi rao giảng khắp mọi nơi.

Đầu tiên là cho những người Do thái: “Từ đó ông Saolô cùng với các Tông Đồ đi lại hoạt động tại Giêrusalem. Các ngài mạnh dạn rao giảng nhân danh Chúa.” (Cv 9,28)

Sau đó các ngài đã đi khắp nơi.Phêrô Phaolô đã sang đến tận Roma.Tục truyền Toma đã sang tới tận Ấn Độ.

Ông Philípphê xuống một thành miền Samaria và rao giảng Đức Kitô cho dân cư ở đó. (Cv 8,5) Các ngài Rao giảng lời Chúa tại Pergê, rồi xuống Áttalia. (Cv 14,25) Các ông đi qua miền Phyghia và Galát, rao giảng lời Chúa ở Asia. (Cv 16,6)

Các ngài rao giảng rất mạnh dạn. (Cv 28,31) và sẵn sàng chịu mọi khổ nhục vì Chúa Kitô.

*2. Sau thời các tông đồ, Giáo Hội còn được chứng kiến thêm nhiều sứ giả khác tiếp tục công việc của các Ngài nhất là vào thời Trung Cổ. Từng đoàn, từng đoàn các nhà truyền giáo đã đi về phía Châu Mỹ. Một số đi về phía trời Đông. Một trong số những người này chúng ta phải đặc biệt nói đến một nhân vật mà Hội Thánh đã đặt làm bổn mạng các xứ Truyền Giáo. Người đó chính là Thánh Phanxicô Xaviê.

Tháng 4 năm 1541 ngài xuống tàu tại Lisbon và mãi 14 tháng sau mới đến được Goa bên Ấn Độ. Trong suốt 10 năm truyền giáo (1542-1552) ngài đã đi cả trăm ngàn cây số. Trong 7 năm đầu, ngài truyền giáo ở vùng Mũi Cormorin, sau đó ở Ceylan, Malaisia và từ đó đến Inđônêsia

Rồi trong vòng 2 năm (1549-1551) ngài đã thành lập một cộng đoàn tín hữu ở Nhật Bản; trước khi ra đi, ngài trao lại cho một Linh mục Bồ Đào Nha; 20 năm sau, cộng đoàn này đã lên đến 30 ngàn người. Cuối cùng vì muốn vào Trung Hoa truyền đạo, ngài đã đến đảo Thượng Xuyên ngay cửa khẩu Quảng Châu, để chờ thuyền lén lút đưa ngài vào Trung quốc. Tiếc rằng tại đây ngài ngã bệnh và qua đời. Vài tuần lễ sau, người ta từ Goa đến tìm xác ngài, đem về Goa để chôn cất.

Chúng ta cũng không thể không nói tới những nhà truyền giáo đã đi về hướngChâu Phi. Một nhân vật mà chúng ta không thể quên đó là Bác sĩ Albert Schweitzer.

“Tôi đã bỏ địa vị Giáo sư tại Đại Học Strasbourg, bỏ công việc tìm tòi khảo cứu khoa học của tôi, bỏ thú tiêu khiển ưa thích nhất của tôi là chơi đàn phong cầm để ra đi hành nghề bác sĩ tại các vùng nhiệt đới Châu Phi.”

Vào năm 1952, nhà truyền giáo và là bác sĩ Albert Schweitzer đã nhận được giải thưởng Nobel về hòa bình.

Phải nói rằng những cuộc truyền giáo đã đem lại những kết quả hết sức tốt đẹp.

*3. Sau đó Giáo Hội được bổ sung bằng một hình thức truyền giáo khác âm thầm hơn, lặng lẽ hơn nhưng cũng hiệu quả không kém: Đó là truyền giáo bằng cầu nguyện và hy sinh. Đại diện cho hình thức truyền giáo này là thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu.

Dù chỉ là một nữ tu dòng kín, chị đã khát khao trở thành một vị truyền giáo đi tới hang cùng ngõ hẻm của trái đất bao la này! Nguyện ước này đã được bề trên chấp thuận với chương trình gửi chị qua dòng kín Sàigòn, Việt Nam nhưng ý Chúa nhiệm mầu! Chị đã ngã bệnh lao phổi trầm trọng…. và giã từ cuộc sống này lúc vừa tròn 24 xuân xanh.

Trước giờ chết, chị đã nói như tạm biệt cộng đoàn: “Tôi không chết, tôi bước vào cõi sống”. Và như một vị tiên tri, chị nói với mẹ Bề Trên;  “A! Con biết lắm, rồi cả thế giới sẽ yêu thương con”. Liền sau cuộc mai táng tại nghĩa trang của thị trấn, có một trận mưa hoa hồng ngay trên mộ của nữ tu trẻ tuổi này, vì chị đã hứa: “Tôi về trời, là để làm điều tốt cho thế gian”.

Tại Paris, nhân ngày Đại hội giới trẻ thế giới lần thứ 12 năm 1997, ngày bế mạc, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã loan báo: Giáo Hội sẽ tôn phong thánh Têrêsa lên hàng Tiến sĩ Hội Thánh vào ngày Chúa nhật Truyền giáo 19.10.1997.
Như vậy qua việc đặt Têrêsa Hài Đồng Giêsu làm bổn mạng và phong Ngài làm tiến sĩ Hội Thánh Giáo Hội đã công khai thừa nhận việc hy sinh và đời sống cầu nguyện cũng có một giá trị truyền giáo không kèm gì việc ra đi truyền giáo như các tông đồ thuở xưa.

*4. Việc truyền giáo hôm nay.

Ngày nay việc truyền giáo còn được làm phong phú hơn bằng một phương pháp mới: Truyền Giáo bằng chứng tá của cuộc sống.

Khi các nhà truyền giáo Công giáo hỏi ý kiến ông Gandhi về việc họ phải làm gì để các người theo đạo Hinđu chấp nhận bài giảng trên núi của Đức Giêsu, ông Gandhi trả lời: “Các ông hãy nghĩ về bí quyết của những bông hoa hồng. Mọi người đều yêu thích chúng, vì ngoài vẻ đẹp và màu sắc sặc sỡ, hoa còn tỏa ra mùi thơm thoang thoảng như diệu kỳ của nó. Vậy các ông hãy ‘tỏa hương thơm!’.”

Đức Thánh Cha Phaolô VI đã thật chí lý khi nói rằng: “Con người thời đại chúng ta thích nghe các chứng nhân hơn là các bậc thầy, hoặc nếu có nghe các bậc thầy thì chính vì những vị thầy này là chứng nhân”

Nhà truyền giáo tại Ấn Độ, ông Gordon Marsuel đã xin một tín đồ Ấn độ giáo, đến sống bên cạnh để dạy ông học tiếng bản xứ. Nhưng tín đồ Ấn này từ chối, anh ta nói:

– Thưa Ngài, tôi không thể đến dạy tiếng bản xứ cho ngài, vì lẽ tôi không muốn trở thành Kitô hữu.

Nhà truyền giáo trả lời:

– Tôi muốn học tiếng bản xứ để có thể giao tiếp với những người chung quanh để hiểu biết họ hơn, chứ không nhằm bắt họ trở lại với đạo Chúa.

Nhưng người tín đồ Ấn giáo đáp lại:

– Thưa ngài, tôi biết vậy. Nhưng đối với tôi, tôi nhận thấy rằng: không một ai có thể sống bên cạnh ngài mà không bị ngài cảm hóa để tin vào Chúa. Tôi không thể dạy ngài vì tôi đã nghĩ, không thể nào sống bên cạnh ngài mà không trở thành Kitô hữu.

Người đại diện nổi bật nhất và cũng là mẫu mức nhất của việc truyền giáo bằng phương pháp này chính là Chân Phước Têrêsa Calcutta.

Ngày nay, công việc của Dòng Bác Ái Truyền Giáo thì nhiều loại, được chia ra như sau: Việc Tông Ðồ qua những lớp Giáo Lý, việc Chăm Sóc Y Tế qua các nhà thương, bệnh viện. việc Giáo Dục qua các trường tiểu học trong các khu nhà nghèo, lớp dạy may cắt, lớp thương mại, lớp cho người tàn tật, lớp mẫu giáo ở làng, và những chương trình giữ trẻ; Dịch Vụ Xã Hội qua chương trình an sinh và giáo dục trẻ em;dịch Vụ Cứu Tế qua những trung tâm phân phát thực phẩm và quần áo v,v…

Để kết thúc xin nhắc lại ở đây lời Đức Thánh Cha Phaolô VI: “Con người thời đại chúng ta thích nghe các chứng nhân hơn là các bậc thầy, hoặc nếu có nghe các bậc thầy thì chính vì những vị thầy này là chứng nhân”


 

Truyền_giáo 125: HẦY Ở CÙNG ANH EM MỌI NGÀY CHO ĐẾN TẬN THẾ

Lm. Fx. Đỗ Công Minh

 

Chúa nhật XXIX  thường niên  hôm nay, Giáo hội dành cầu nguyện cho việc Loan báo Tin Mừng Truyền_giáo 125


Chúa nhật XXIX  thường niên  hôm nay, Giáo hội dành cầu nguyện cho việc Loan báo Tin Mừng mà chúng con quen gọi là lễ Khánh nhật Truyền Giáo. Bài Tin Mừng hôm nay Chúa đả nhắc: “Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ “, qua đó Chúa mong muốn có nhiều người đáp lại tiếng Chúa mời gọi, sẵn sàng  loan báo Tin vui về Thiên Chúa, đấng hằng yêu thương hết mọi người và mong cho họ được ơn cứu độ. Chúa còn muốn con trở nên những người thợ gặt trước một cánh đồng lúa đang chín rộ trên đất nước Việt Nam, nơi đây là biết bao đồng bào đang cùng chia sẻ ngọt bùi với con trên mảnh đất thân thương này. Và cũng chính tại đây, còn có hơn 70 triệu người chưa được đón nhận Tin Mừng của Chúa. Đó chính là những thao thức lớn lao của  Chúa, của Hội Thánh cũng như từng tín hữu chúng con.

Con đã được trở thành người tín hữu tức là con cũng được mời gọi vào cánh đồng  mênh mông này. Ngày hôm nay, một số bạn trẻ đang dấn thân, hy sinh cuộc đời mình dành cho Chúa và cho mọi người, trở thành những Linh Mục, tu sĩ. Nhưng bên cạnh đó, còn biết bao giáo dân đang sống giữa đời, mỗi người chúng con cũng phải đáp lời mời gọi của Chúa. Chính đức Thánh Cha Bênêdictô XVI trong sứ điệp về Truyền giáo cũng nhắc nhở chúng con:”Hãy thông truyền cho mọi người niềm vui đức tin với lòng nhiệt thành hăng hái đến từ cuộc sống được Chúa Thánh Linh thúc đẩy, vì chính Chúa canh tân mọi sự . . .Hãy tỉnh thức, sẵn sàng để nhận ra khuôn mặt  Đức Kitô và chạy đến với anh chị em của chúng ta với Tin vui: Chúng tôi đã nhìn thấy Chúa “.

Con không thể đi đến những nơi xa xôi khó khăn để loan báo Tin mừng. Con không đủ sức hay chưa dám hy sinh quên mình đi đến những trại phong, những buôn làng, hay đến với các em khuyết tật, những người bị bỏ rơi. . .Nhưng con cũng có thể loan báo tin mừng bằng chính cuộc sống của con tại nơi con sống, làm việc, công tác, những người thân cận với con. Nếu con biết “Đi ra” khỏi cuộc sống riêng tư, đi ra những “vùng ngoại biên”, liên đới với mọi người đang sống bên con trong xã hội. Chia sẻ niềm vui, nỗi buồn với họ, giúp đỡ họ và tạo điều kiện cùng giúp nhau vươn lên, nhất là trong lúc đồng bào con thuộc các tỉnh thành miền Bắc, miền Trung nước Việt đang phải gặp bao hoạn nạn vì bão lũ. Con biết mở lòng ra cùng với anh chị em con  đang  con đangđược sống trong những nơi an toàn.:Làm được như thế chính là  giới thiệu khuôn mặt Đức Kitô cho họ, đó chính là con đang biến mình thành những thợ gặt nhiệt thành.

“ Thế giới ngày nay đang cần những người nói với Thiên Chúa, để có thể nói về Thiên Chúa . . .Chúa Giêsu đã không cứu độ thế giới bằng những lời hoa mỹ, hoặc bằng những phương thế hoành tráng, nhưng bằng khổ đau và cái chết của Người “( Sứ điệp TG).

Xin cho con biết luôn thưa cùng Chúa:”Lạy Chúa, này con xin đến để thực thi ý Chúa.

Lạy Ngài, Xin thêm Đức tin cho con” AMEN.


 

Truyền_giáo 126: NIỀM VUI TIN MỪNG ĐÁNH THỨC THẾ GIỚI


 Lm. PM. Cao Huy Hoàng

Sống Sự Sống Của Thiên Chúa Hằng Sống

 

Chúng ta rất vui mừng vì đang có những con người bước ra khỏi lòng mình, bước ra khỏi cái Truyền_giáo 126


Chúng ta rất vui mừng vì đang có những con người bước ra khỏi lòng mình, bước ra khỏi cái tháp ngà sang trọng của mình ở trên cao kia, rồi bước xuống cuộc đời cùng thấp với đầy dẫy những sầu thương bất hạnh, và bước đến tận nơi thâm sơn cùng cốc mọi ngõ ngách cuộc đời, để chạm đôi tay của Thiên Chúa vào thương tích của nhân loại, để tỏ bày lòng yêu của Thiên Chúa đối với con người và cuộc đời hôm nay.

Chúng ta rất vui mừng vì đang có những con người dày công nghiên cứu, dài ngày suy tư nghiền ngẫm, tốn hao công sức cho những luận án, những loạt bài thần học, những cuốn sách giá trị , và hùng hồn thuyết giảng cho thế giới về Thiên Chúa, về niềm vui quý giá của Tin Mừng.

Chúng ta vui mừng vì tất cả các tín hữu có ý thức, có trăn trở, và có thực thi sứ mệnh truyền giáo của mình, sứ mệnh loan báo tin mừng của mình trong cuộc sống trần gian này.

Nhưng, không ai cho điều mình không có. Vì thế, thiết tưởng có đi đến đâu, có nói gì, có làm gì, đi nữa, thì trước tiên, con người truyền giáo phải là con người có đạo, có xác tín rõ rệt con đường mình đi; con người  loan báo tin mừng phải là người có Tin Mừng, phải là người sống hân hoan vui mừng. Ai tin đươc Tin Mừng khi người loan báo Tin Mừng lại là người đang trầm luân trong buốn bã, chán nản thất vọng u sầu, nhất là đang trầm luân trong tình trạng u uất bất mãn, bất ý, chống đối những con người trong Hội Thánh Chúa…Như thế là phản tác dụng truyền giáo, phản ý nghĩa loan báo Tin Mừng, phản Tin Mừng.

Mỗi tín hữu cần xác tín vững chắc về Thiên Chúa, cần xác tín mình hoàn toàn thuộc về Thiên Chúa, cần xác tín mình đang sống sự sống của Thiên Chúa,  trước khi nói về Thiên Chúa, Loan báo về Thiên Chúa.

Vâng, Thiên Chúa mà chúng ta tôn thờ, tin tưởng, cầu khấn, ca tụng, mến yêu là một Thiên Chúa Hằng Sống. Thiên Chúa có sự sống, có sức sống, có sự sống dồi dào, sống dồi dào, sống đến vĩnh cửu, hằng sống. Người là Thiên Chúa của bình an, Thiên Chúa của hy vọng, Thiên Chúa của vui mừng hạnh phúc. Nơi Thiên Chúa không có thiểu não, buồn bã, bi lụy, chán đời, thất vọng, vô vọng, và đặc biệt là không hề có sự chết.

Bởi vậy, nếu gọi những người tin vào Thiên Chúa là tín hữu, thì không có một tín hữu buồn bã, càng không có một nữ tu hay ông thày dòng buồn bã, càng không thể có một linh mục buồn bã… vì, buồn bã là thuộc tính của ma quỷ, là bạn hữu của ma quỷ, thế lực chống lại Thiên Chúa, buồn bã là không có niềm tin vào Thiên Chúa, buồn bã thì ai dám gọi là tín hữu.

Hội Thánh Công Giáo luôn luôn là một Hội Thánh vui mừng và hy vọng, Hội Thánh của những người vui mừng và hy vọng, Hội Thánh mang lại vui mừng và hy vọng cho thế giới cho nhân loại. Thành phần nào trong Hội Thánh không vui mừng và hy vọng, thì lấy vui mừng và hy vọng ở đâu mà mang lại cho tha nhân, cho thế giới, đồng nghĩa với việc thành phần ấy đi ngược lại với ý muốn của Hội Thánh, đi ngược lại với ý muốn của Thiên Chúa khi thiết lập Hội Thánh.

Vì thế, cuộc sống của các tín hữu phải là cuộc sống vui mừng và hy vọng, vì niềm tin vào một Thiên Chúa Hằng Sống. Cuộc sống ấy giới thiệu cho nhân loại một Thiên Chúa Hắng Sống, chứ không thể và không bao giờ có thể giới thiệu một Thiên Chúa đã chết rồi hay một Thiên Chúa hằng chết. Điều đáng tiếc là, hai ngàn năm qua, đã có biết bao người mang danh là tín hữu của Thiên Chúa, mà lại giới thiệu một Thiên Chúa buồn bã, thảm sầu, bất an, vô vọng, qua cách sống của mình, nên xảy ra chuyện “chúng tôi khát khao vui mừng bình an và hạnh phúc” nhưng “ai dám tin Thiên Chúa buồn bã của các anh”.

Đức Giáo Hoàng Phan-xi-cô rất chí lý khi nói lên 5 điều mong đợi nơi các người sống đời thánh hiến, mà 2 trong số đó là sống vui và đánh thức thế giới. Thiết nghĩ, hai điều mong đợi này là niềm mong đợi nơi tất cả mọi tín hữu, và cách riêng, nơi những người sống đời thánh hiến Đó là hai niềm mong đợi thiết thực, đáng suy nghĩ trong ngày truyền giáo năm nay. Sống hân hoan vui mừng chính là sống sự sống của Thiên Chúa. Sống hân hoan vui mừng chính là làm chứng cho một Thiên Chúa hằng sống. Sống hân hoan vui mừng và hy vọng là đánh thức thế giới đang u sầu, buồn bã thất vọng.

Chứng Nhân Cho Tin Mừng: Sống Vui Giữa Những Người Buồn

Bao nhiêu con người đang buồn bã vì cắm đầu chúi cổ vào niềm vui rẻ tiền, niềm vui của thân xác, niềm vui dẫn đến sự chết ngàn thu, thì ngược lại, người tín hữu Chúa Ki-tô được diễm phúc đang say sưa, đang ngây ngất trong niềm vui của sự sống, là chính Thiên Chúa hằng sống.

Bao nhiêu con người đang buồn bã vì tìm cho được và hưởng cho tận tàn những niềm vui vội vàng chóng vánh, thì người tín hữu thưởng nếm hương vị của niềm vui vĩnh cửu, thiên thu, niềm vui thánh thiện của Thiên Chúa chí thánh, chí thiện.

Bao nhiêu con người đang buồn bã vì cứ còn những khát khao bất chính cho đến mãn đời mà chưa hề được thỏa mãn, thì người tín hữu lại sống hân hoan vui mừng vì những khao khát công chính, thiện hảo cùng Đức Giê-su và trong Đức Giê-su, đã được mãn nguyện ngay hôm nay, trên trần gian này.

Bao nhiêu con người đang buồn bã vì xem những bất hạnh, đau khổ, bệnh tật, nghèo đói, và cả sự chết nữa trong cuộc đời này là những thứ dẫn con người tới ngõ cụt bi đát, tới cõi tàn tận hư không, thì người tín hữu lại hân hoan vui mừng nhận ra trong những điều tưởng như là bi đát ấy, lại là hồng ân lớn lao mà Thiên Chúa ban để được cứu rỗi, để được một chỗ trong lòng Thiên Chúa, để được một mai hậu vững bền hạnh phúc trong cõi sống muôn đời.

Bao nhiêu con người đang buồn bã vì ước ao bao nhiêu chuyện được, mà chẳng được, còn người tín hữu thì lại ước ao bao nhiêu chuyện mất, thì lại được vô cùng được, bao la được. Kẻ muốn được phục vụ từ đằng chân tới đằng đầu, được phục vụ tới tận mồm tận răng, mà không hề cảm thấy mình hạnh phúc, còn người tín hữu thì đành mất mình đi, cúi mình xuống phục vụ kẻ khác với lòng yêu thương, thì lại được hân hoan vui mừng vì cuộc sống mình bao la ý nghĩa, vĩ đại ý nghĩa…

Bao nhiêu con người đang buồn bã vì thất bại trong đời, mất chức quyền, mất địa vị, mất tài sản, mất uy tín, mất danh dự, mất tất cả, thì người tín hữu lại hân hoan vui mừng vì cuộc sống mình đã sống theo phong cách Đức Giê-su, là đã tự đánh mất tất cả rồi, nên không còn gì để mất. Và khi không còn gì để mất, thì cũng không có gì phải tiếc nuối, đau buồn, bi lụy, mà chỉ còn toàn là thanh thản, an nhàn với niềm vui, bởi họ biết mình còn lại một điều huyền nhiệm quý giá mà không ai có được: đó là còn lại một Đức Giê-su, sở hữu một Đức Giê-su trắng tay khiêm nhượng, mình trần, thân trụi, tất cả vì yêu.

Bao nhiêu con người đang buồn bã vì những gánh nặng trong cuộc đời, gánh trách nhiệm xã hội, giáo hội, gia đình, gánh oan sai, gánh bức bách, khủng bố, gánh tỵ hiềm ghen ghét, gánh hận thù vô cớ, gánh sự dữ không mong, gánh nợ nần sỉ nhục… thì người tín hữu, cũng ngần ấy gánh nặng, lại phơi phới mùa xuân thong dong thanh thản như không có chuyện gì, bởi có gánh đâu mà nặng, chỉ làm vai phụ cho Chúa mà thôi. Ký thác cả đường đời này cho Chúa, tin tưởng vào Người, Người ra tay, người kê vai mà gánh tất. Chúa đã vác phần nặng, còn người tín hữu chỉ phần nhẹ tưng thôi mà.

Bao nhiêu con người đang buồn bã vì yêu theo cách yêu của loài người, tình yêu vị kỷ, tình yêu trục lợi, tình yêu thỏa mãn những đam mê, thì người tín hữu lại hân hoan vui mừng và say mê cái loại “yêu không giống ai’ theo cách yêu của Đức Giê-su, yêu và chết cho người mình yêu được hạnh phúc.

Chính cách sống hân hoan vui mừng lội ngược dòng đời của những tín hữu, là cách sống anh dũng làm chứng cho một Thiên Chúa hằng sống, Thiên Chúa có sự sống dồi dào, sống tràn trề niềm vui, an bình và hy vọng, sống vĩnh cửu.

Sống vui tươi theo tin mừng, là đánh thức thế giới.

Con người trong thế giới hôm nay đang đắm chìm trong cơn mê muội vật chất trần gian, và thoảng hoặc bừng ngộ như ánh sao vừa le lói lên đã vội vàng vụt tắt. Con người mụ mị về Thiên Chúa, mụ mị về sự sống thần linh, mụ mị về hạnh phúc siêu nhiên, bởi vì lòng trí con người đang bị tử thần Sa-tan giam hãm trong lô cốt ích kỷ, bỏ tù trong nhà tù kiêu căng, khống chế trong chiếc quan tài tri thức không có Thiên Chúa.

Người tín hữu, nhờ sức mạnh chiến thắng của Đức Giê-su Ki-tô hiền lành và khiêm nhượng, đã khai mở một lối đi, một con đường sống, một cách sống tự do trong thần khí, thiện hảo trong chân lý, và được tháp nhập vào cuộc sống “vui tươi, an bình, hạnh phúc” của Thiên Chúa.

Chính cuộc sống “vui tươi, an bình, hạnh phúc” theo Tin Mừng ấy, là lời cảnh tỉnh, là sự đánh thức thế giới mê muội mụ mị kia, và là lời giới thiệu cho thế giới về một Đức Khôn Ngoan có được nhờ lòng khiêm nhượng thẳm sâu của loài thụ tạo trước Đấng Vô Hình, Hằng Có, Hằng Sống. Cuộc sống ấy là của ngôn sứ không nói bằng lời, mà nói bằng cả một cuộc đời.

Chính cuộc sống “vui tươi, an bình, hạnh phúc” theo Tin Mừng ấy, là lời mời gọi một nhân loại tưởng mình là tự do kia, hãy mau mau kíp kíp thoát khỏi cái tự do làm nô lệ của Sa-tan, và hãy khẩn cấp trở về với nguồn tự do đích thực, là tự do của Thiên Chúa tự do, tự do của Thánh Thần chân lý, tự do mà Thiên Chúa ban cho mỗi con người luôn có lòng hướng về cái Chân, Thiện, Mỹ.

Chính cuộc sống “vui tươi, an bình, hạnh phúc” theo Tin Mừng ấy, là động lực thôi thúc, là nguồn khích lệ lớn lao, là đỡ nâng cần thiết cho những con người buồn bã tìm được vui mừng trong Thiên Chúa, qua Đức Giê-su Ki-tô, qua Tin Mừng của Nước Trời.

Ai chưa sống Tin Mừng bằng cách sống hân hoan vui mừng giữa những con người buồn bã, thì cũng chưa nói được là làm chứng cho Đức Tin của mình. Và phải còn hãy cảnh giác trước những cám dỗ nghiêng chiều về phía thất vọng buồn bã, bỏ ngũ, và chống lại niềm tin chân chính của mình.

Người sống vui tươi an bình hạnh phúc là người đã thấu đáo và làm sáng lên giá trị đích thực của Giáo Hội Chúa Ki-tô giữa lòng nhân loại. Đức Thánh Cha Phan-xi-cô đã nói với các Phong trào giáo hội vào lễ Vọng lễ Chúa Hiện xuống ngày 18 tháng 5 năm 2013: “Giá trị căn bản của Giáo hội nằm ở chỗ sống Tin mừng và làm chứng cho đức tin. Giáo hội là muối của đất, là ánh sáng của đời, Giáo hội được kêu gọi làm cho men của Vương quốc Thiên Chúa hiện diện trong xã hội, và Giáo hội thực hiện ơn gọi này tiên vàn bằng sự chứng tá, chứng tá của tình yêu huynh đệ, của tình liên đới, của sự chia sẻ”

Ước gì, sống vui tươi theo Tin Mừng là lý tưởng mà người tín hữu sẽ đạt được, để còn thực hiện một lý tưởng vươn tới: đó là sống trước cuộc sống phục sinh ngay trong cuộc sống trần thế này.


 

Truyền_giáo 127: ANH EM HÃY RA ĐI


 Lm Giuse Nguyễn

 

Chúa Nhật trước Chúa Nhật cuối tháng 10 được Giáo hội chọn là “Khánh Nhật Truyền Giáo”, ngày Truyền_giáo 127


*1.  Chúa Nhật trước Chúa Nhật cuối tháng 10 được Giáo hội chọn là “Khánh Nhật Truyền Giáo”, ngày hội loan báo Tin Mừng. Không phải Giáo hội chỉ loan báo Tin mừng trong ngày hôm nay, mà “bản chất của Giáo hội là Truyền giáo”, lúc nào Giáo hội cũng phải loan báo Tin mừng… Nhưng đặc biệt trong ngày hôm nay, Giáo hội chọn để cầu nguyện cho việc loan báo Tin mừng nhằm nhắc nhở cho toàn thể Giáo hội thêm một lần nữa ý thức rõ hơn về cái gọi là bản chất của mình.

Có nhiều người gọi truyền giáo đơn giản là “Truyền bá tôn giáo”. Trong việc “truyền bá tôn giáo” này hàm ý việc làm cho tổ chức tôn giáo của mình lan rộng ra, được nhiều người biết đến, nghĩa là nhắm đến số lượng; nhưng nó cũng bao gồm việc truyền một con đường, một lý tưởng, là để cho Tin Mừng thấm nhập vào cuộc sống. Ở điểm này người ta nhắm đến phẩm chất nhiều hơn. Tuy nhiên việc Truyền giáo không chỉ đơn giản như vậy. Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã viết trong sứ điệp Truyền Giáo 2017 như sau: “Việc truyền giáo của Hội Thánh không thể là quảng bá một ý thức hệ tôn giáo, càng không thể là đề nghị một học thuyết đạo đức cao siêu.” Vậy Truyền giáo là gì?

Nguyên gốc của chữ Truyền giáo là một danh từ tiếng La Tinh “Missio”, động từ là “Mittere”. Từ này có nhiều nghĩa, mà một trong những nghĩa thường được hiểu là: gửi đi, sai phái đi để làm một công tác quan trọng. Chúa Giêsu là Đấng được Chúa Cha sai đến trần gian, để cứu độ con người. Chính Chúa Giêsu cũng sai các môn đệ ra đi, lên đường để cộng tác với Ngài trong sứ mạng cao cả này. Như vậy, truyền giáo mang đặc tính của sự “ra đi”.

*2.  Đoạn Tin Mừng được đọc trong Thánh lễ hôm nay nói rõ điều đó: “Khi ấy, Chúa Giêsu chỉ định bảy mươi hai môn đệ khác, và sai các ông cứ từng hai người một đi trước, vào tất cả các thành phố, các nơi mà chính Người sẽ đến” (Lc 10, 1). Đức Giêsu sai các môn đệ đến nơi mà Ngài sẽ đến, làm công việc mà Ngài sẽ làm. Như vậy việc các môn đệ được sai đi rõ ràng là việc Truyền Giáo, vì các ông được sai phái đi làm một công việc quan trọng, để thực hiện công việc này, đòi hỏi các ông phải ra đi.

Cựu Linh mục dòng Chúa Cứu Thế, Giáo Sư Nguyễn Ngọc Lan đã có một tác phẩm nổi tiếng vào cuối thập niên 60 mang tên “đường hay pháo đài”. Tác giả nhận đinh: “Đường là để đi, pháo đài là để phòng thủ”. Qua hình ảnh “đường và pháo đài”, tác giả muốn phản ảnh thực tại của Giáo hội để Giáo hội phải trả lời cho nhân loại mình là đường hay pháo đài? Có lẽ có một lúc nào đó, một thời nào đó, một nhóm nào đó… chỉ lo củng cố sức mạnh của mình về quyền lực, tài chánh và ảnh hưởng, nên Giáo hội được ví như một pháo đài phòng thủ kiên cố, chắc chắn. Nếu bản chất của Giáo hội là Truyền giáo, thì Giáo hội phải luôn luôn lên đường, luôn luôn ra đi. Nhưng lên đường, ra đi để làm gì?

*3.   Sứ điệp Truyền Giáo 2017 có đoạn: “Nhờ việc truyền giáo của Hội Thánh, chính Đức Giêsu Kitô tiếp tục rao giảng Tin Mừng và hành động; như thế việc truyền giáo của Hội Thánh làm hiện diện trong lịch sử thời của Đức Kitô, thời cứu độ thuận lợi”. Đức Thánh Cha đã muốn Giáo hội lấy lại mô hình của Đức Giêsu trong việc Truyền Giáo, là làm cho Đức Giêsu hiện diện trong mọi môi trường, mọi thời đại. Ngài sai các môn đệ đi trước, dọn đường, để chính Ngài sẽ hiện diện. Vì lẽ đó, chắc chắn người môn đệ không thể rao giảng một ai khác ngoài Đức Giêsu, càng không thể rao giảng chính bản thân mình như đấng cứu nhân độ thế, đấng làm được mọi sự, và bắt mọi sự phải quy phục mình. Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI đã viết trong thông điệp “Thiên Chúa là Tình Yêu” như sau: “Là Kitô hữu không phải là kết quả của một chọn lựa đạo đức hay một ý tưởng cao siêu, nhưng là gặp gỡ với một biến cố, một Người, sự gặp gỡ ấy tạo cho cuộc đời một chân trời mới và một hướng đi quyết định.”Vì vậy nếu người ta gặp gỡ được Đức Kitô thì họ mới biến đổi được cuộc đời, “mới tìm được chân trời mới, mới có một hướng đi quyết định”. Và đó chính là sứ mạng của Giáo hội, của mỗi Kitô hữu: Cho người khác gặp gỡ được Đức Kitô trong chính cuộc đời chúng ta trong mọi môi trường.

Khi anh chị em lương dân nghe gia đình người Công giáo đọc kinh hôm chung với nhau; thấy một anh bán bánh mì “chất lượng cao”: ngon, an toàn, hợp vệ sinh, luôn tươi cười, trong tủ có dán hình Chúa Thương Xót và cha Diệp; thấy một em học sinh “có đạo” không bao giờ gian lận trong thi cử; thấy một bà đạo đức cứ đi thăm viếng những người đau yếu, bệnh tật; thấy gia đình nọ không giàu có gì, nhưng gặp người nghèo khổ là sẵn sàng chia sẻ miếng cơm, manh áo…

*4.   Muốn cho người khác gặp gỡ được Đức Kitô thì đòi hỏi Kitô hữu phải “lên đường”, phải “ra đi”. Dĩ nhiên không thể hiểu theo nghĩa đen sự ra đi như các môn đệ ngày xưa, nhưng đó vẫn phải là mệnh lệnh cho mỗi chúng ta: “Anh em hãy ra đi!”. Đức Thánh Cha Phanxicô viết trong sứ điệp truyền giáo 2017: “Truyền giáo nhắc nhở Hội Thánh rằng mình không phải là một mục đích tự tại, nhưng là một dụng cụ và trung gian khiêm tốn của Nước Trời. Một Hội Thánh quy chiếu về chính mình, một Hội Thánh bằng lòng với thành công trần thế, thì không phải là Hội Thánh của Đức Kitô, không phải là Thân Thể chịu đóng đinh và vinh hiển của Người. Đó là lý do tại sao chúng ta phải thích “một Hội Thánh bị bầm giập, mang thương tích và nhơ nhuốc vì đi ra ngoài đường, hơn là một Hội Thánh ốm yếu vì bị giam hãm và bám víu vào sự an toàn của mình”.Vì thế Kitô hữu đừng lấy lý do bận công việc làm ăn, mệt mỏi nên không thể đi lễ, không có giờ đọc kinh; sợ điều này, sợ điều kia… mà không dám sống những giá trị của Tin Mừng. Hãy chiêm ngắm một Đức Kitô bị bầm giập vì những vết thương để chúng ta hãy mang lấy thương tích của Đức Kitô mỗi ngày.

*5.  Đức Maria “đã vội vã lên đường”đến với gia đình bà Êlisabet. Trong tháng 10, nhiều Họ đạo tổ chức kiệu Đức Mẹ đến từng gia đình để đọc kinh để chúng ta chiêm ngắm sự “lên đường” của Đức Mẹ. Xin Đức Mẹ giúp chúng ta biết “cưu mang” Chúa qua cầu nguyện, thánh lễ, lãnh nhận các Bí tích… để gương mặt Đức Kitô được tỏa ra nơi cung cách sống hằng ngày của chúng ta, nhờ đó mà người khác gặp gỡ được Đức Kitô.


 

Truyền_giáo 128: Hãy đi khắp thế gian.


(Trích trong ‘Manna’)

Suy Niệm

“Hãy đi khắp thế giới, loan báo Tin Mừng…”

 

Lời Đức Giêsu mời gọi làm chúng ta nhức nhối. Thế giới chẳng phải ở đâu xa. Thế giới là quê Truyền_giáo 128


Lời Đức Giêsu mời gọi làm chúng ta nhức nhối.

Thế giới chẳng phải ở đâu xa. Thế giới là quê hương tôi với gần 80 triệu dân. Thế giới là những người tôi vẫn gặp, những nơi tôi vẫn sống. Thế giới ấy, chân tôi chưa một lần đi hết, miệng tôi chưa một lần loan báo tin vui.

Tôi có lòng tin không? Tôi có dám tin Lời Chúa không?

Chúa hứa cho những ai tin được khả năng trừ quỷ, nghĩa là giải phóng con người khỏi mọi hình thức nô lệ, khả năng chữa bệnh để xoa dịu nỗi đau của trần gian, khả năng nói những ngôn ngữ mới để đem lại hiệp nhất. Các tông đồ đã tin và thấy Chúa cùng làm việc với mình. Họ chẳng bao giờ cô đơn trên bước đường rao giảng.

Có nhiều cách loan Tin Mừng, nhiều cách truyền giáo.

Cách thứ nhất là bằng chính cuộc sống bản thân. Nếu các Kitô hữu đều siêu thoát danh lợi, sống trung thực, thanh khiết, sống chung thủy, yêu thương… Một Kitô hữu nghèo mà vui tươi, hạnh phúc, thì đó là một lời chứng đáng tin cậy.

Làm cho xã hội được tốt đẹp hơn, đó cũng là một cách loan báo Tin Mừng rất hiệu quả. Kitô giáo phải góp phần xây dựng một thế giới hòa bình và huynh đệ, công bằng và ấm no, nơi nhân phẩm của từng người được tôn trọng, nơi bóng tối của sự ích kỷ tàn nhẫn bị đẩy lui.

Mẹ Têrêxa Calcutta đã âm thầm loan báo Tin Mừng bằng những cử chỉ nhân ái với bao người cùng khổ. Mẹ đã đi nhiều nơi trên thế giới để lập các cộng đoàn.

Còn thánh Têrexa nhỏ đã truyền giáo tại chỗ bằng lời cầu nguyện và những hy sinh nhỏ bé. Chị là nữ tu dòng Kín, sống trong bốn bức tường, nhưng lại được phong làm bổn mạng các xứ truyền giáo. Chị đã đi khắp thế giới, không phải bằng đôi chân, nhưng bằng lòng ước ao của một trái tim cháy bỏng.

Phải sống sao để người ta thắc mắc, đặt câu hỏi. Nhưng cũng phải sẵn sàng trình bày câu trả lời.

Dù bạn chẳng uyên thâm về giáo lý nhưng hãy bập bẹ nói về Chúa bằng kinh nghiệm của bạn.

Truyền giáo là giới thiệu cho người khác Đấng tôi đã quen. Có thể người ấy đã biết Đấng này từ lâu rồi.

Anrê đã gọi Simon, Philipphê đã gọi Nathanaen đến gặp Chúa. Cần tập đến với người khác như Đức Giêsu đã đến với người phụ nữ Samari. Hãy xin nước uống, trước khi nói về Nước Hằng Sống. Hãy tìm hiểu người đối diện trước khi loan báo Tin Mừng. Chúng ta cần thấm nhuần văn hóa dân tộc thì mới biết cách nói về Chúa Cha cho đồng bào mình.

Nếu cả đời, mỗi Kitô hữu mời được một người theo đạo, thì nguyện ước của Đấng Phục Sinh được thành tựu.

Gợi Ý Chia Sẻ

Thánh Têrêxa nhỏ đã được tôn phong làm tiến sĩ Hội Thánh. Bạn nghĩ gì về kiểu truyền giáo bằng cầu nguyện và hy sinh của chị? Bây giờ có hợp thời không?
Mẹ Têrêxa hiến đời mình cho người cùng khổ, bệnh tật, không phân biệt tôn giáo, màu da… Bạn nghĩ gì về kiểu truyền giáo này? Nó có đánh động trái tim con người hôm nay không?

Cầu Nguyện

Lạy Chúa Giêsu, Tình Yêu của con, nếu Hội Thánh được ví như một thân thể gồm nhiều chi thể khác nhau, thì hẳn Hội Thánh không thể thiếu một chi thể cần thiết nhất và cao quý nhất. Đó là Trái Tim, một Trái Tim bừng cháy tình yêu.

Chính tình yêu làm cho Hội Thánh hoạt động. Nếu trái tim Hội Thánh vắng bóng tình yêu, thì các tông đồ sẽ ngừng rao giảng, các vị tử đạo sẽ chẳng chịu đổ máu mình…

Lạy Chúa Giêsu, cuối cùng con đã tìm thấy ơn gọi của con, ơn gọi của con chính là tình yêu. Con đã tìm thấy chỗ đứng của con trong Hội Thánh: nơi Trái Tim Hội Thánh, con sẽ là tình yêu, và như thế con sẽ là tất cả, vì tình yêu bao trùm mọi ơn gọi trong Hội Thánh. Lạy Chúa, với chỗ đứng Chúa ban cho con, mọi ước mơ của con được thực hiện. (dựa theo lời của thánh Têrêxa)


 

Truyền_giáo 129: Truyền Giáo như Mẹ Maria


Đức Trinh Nữ Maria là Mẹ Hội Thánh và là Ngôi Sao dẫn đường loan báo Tin Mừng (x.Sứ điệp Truyền Giáo 2012).

 

Truyền giáo là đem Chúa Giêsu đến cho tha nhân. Mẹ Maria là nhà truyền giáo đúng nghĩa nhất Truyền_giáo 129


Truyền giáo là đem Chúa Giêsu đến cho tha nhân. Mẹ Maria là nhà truyền giáo đúng nghĩa nhất. Mẹ đã đón nhận Con Thiên Chúa và đưa Người vào trong thế gian. Đó là Tin Mừng.

Sứ vụ truyền giáo là sứ vụ của người mang tin vui, tin cứu độ, tin được Thiên Chúa đoái thương.

Người truyền giáo là người được Chúa Thánh Thần tác động và làm trổ sinh hoa trái giống như Mẹ: “Thánh Thần sẽ ngự xuống trên Bà, và quyền năng Đấng Tối Cao sẽ ngự xuống trên Bà” (Lc 1, 35). Hoa trái của Chúa Thánh Thần là “hoan lạc, bình an…”. Hân hoan trong Thánh Thần, từ đó: “Đức Maria lên đường vội vã” thăm Êlisabet (Lc 1,39), gợi lại hình ảnh ngôn sứ Isaia tiên báo: “Đẹp thay trên núi đồi bước chân người loan báo tin mừng, công bố bình an, người loan tin hạnh phúc, công bố ơn cứu độ và nói với Sion rằng: “Thiên Chúa ngươi là vua hiển trị” (Is 52,7). Đức Maria mang trọn niềm vui Đấng Cứu Độ mà nhân loại đón đợi. Đức Maria trở nên người loan báo Tin Mừng vì Mẹ mang trọn niềm vui Chúa Thánh Thần. Ai để cho Chúa Thánh Thần hoạt động trong cuộc đời của mình cũng là người mang trọn niềm vui loan báo.

Đức Maria còn là người công bố Tin Mừng: “Đấng Toàn Năng đã làm cho tôi những điều cao cả, danh Người thật chí thánh chí tôn” (Lc 1, 49). Thấy được tình thương Thiên Chúa thể hiện trong cuộc đời mình nên lời công bố mang một niềm tin xác tín, đã gặp và đã thấy.

Để trở thành người loan Tin Mừng, Đức Maria đã “hằng ghi nhớ tất cả những điều ấy trong lòng” (Lc 3,51). Cầu nguyện là chiêm ngắm những điều Thiên Chúa đã thực hiện nơi mình. Cầu nguyện là cuộc trao đổi, đối thoại giữa những khó khăn và thử thách. Đức Maria trở thành người công bố Tin Mừng, bởi Mẹ đã chiêm ngắm công trình của Thiên Chúa thực hiện cho dân tộc, cho chính Mẹ.

Đối với Đức Maria, truyền giáo là đem chính Chúa Giêsu cho nhân loại.

Chúa Giêsu là lẽ sống, là hạnh phúc, là niềm vui của cuộc đời mỗi kitô hữu. Chúng ta phải xác tín như Đức Maria: “Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa” (Lc 1, 46). Tràn ngập niềm hân hoan bởi Mẹ đã gặp thấy và cưu mang chính niềm vui có Chúa Giêsu trong lòng Mẹ. Đức Maria reo ca: “Thần trí tôi hớn hở vui mừng trong Thiên Chúa, Đấng cứu độ tôi” (Lc 1, 47). Đức Maria đã cưu mang chính Chúa Giêsu, quà tặng tuyệt hảo nhất của Thiên Chúa, nguồn ơn cứu rỗi duy nhất, công bố, trao tặng cho nhân loại.

Đức Maria luôn đặt mình dưới sự bảo trợ hoạt động của Chúa Thánh Thần.

Đức Maria là công trình tuyệt hảo của Chúa Thánh Thần.

Người truyền giáo cũng như thế, không thể tách rời Chúa Thánh Thần với hoạt động của mình được. Ai có thể chinh phục sự sâu thẳm của lòng người quy hướng về Thiên Chúa, nếu đó không phải là tác động của Chúa Thánh Thần?

Giáo Hội không truyền giáo bằng cách áp đặt, cưỡng chế những người khác theo mình. Giáo Hội cũng không mua chuộc bằng tiền của bằng quyền lợi hay bằng những hứa hẹn. Giáo Hội cũng không dụ dỗ người khác theo đạo.

Truyền giáo hôm nay phải là giới thiệu, là trình bày, là minh họa, là thuyết phục. Chúng ta giới thiệu Chúa Giêsu cho những anh chị em mà mình gặp gỡ hàng ngày nơi môi trường mính sống và làm việc.

Truyền giáo là giới thiệu Chúa cho anh chị em mình bằng chính đời sống chứng tá yêu thương dưới sự bảo trợ của Mẹ Maria. Hy vọng mỗi người chúng ta cũng có thể nói được như người Công Giáo Hàn Quốc với đồng bào lương dân của mình: “Anh chị em cứ nhìn chúng tôi sống thế nào, thì anh chị em bắt chước mà sống như thế”.

Vài gợi ý thực hành.

Đức Tin là một ân huệ được ban cho chúng ta để chia sẻ cho người khác; là một nén bạc chúng ta nhận được để sinh lời; là ánh sáng không được đem giấu đi, nhưng phải soi sáng cho cả nhà. Đức Tin là ân huệ quan trọng nhất được ban cho cuộc đời chúng ta mà chúng ta không được phép giữ lại cho riêng mình. (Sứ điệp Truyền Giáo 2012).

Cách riêng, trong hoàn cảnh xã hội ngày nay, đức tin của người Công giáo cần được thể hiện qua việc thực thi bác ái. Đức Tin và Đức Mến cần đến nhau và hỗ trợ cho nhau: “Chính đức Tin giúp chúng ta nhận ra Chúa Kitô và chính tình yêu Chúa thôi thúc chúng ta chạy đến phục vụ Chúa mỗi khi Người trở thành người thân cận của chúng ta trên nẻo đường cuộc sống”. Được Lời Chúa soi sáng và tình yêu Chúa thấm nhập trong suy nghĩ cũng như hành động, chúng ta sẽ trở nên những chứng tá đáng tin trong xã hội ngày nay. (Thư Năm Đức Tin HĐGMVN, số 7).

Thực thi sứ vụ truyền giáo trong Năm Đức Tin bằng cách:

– Mỗi Giáo xứ khởi động phong trào: mỗi thành viên phải làm sao giúp cho một người khác theo đạo.

– Mỗi giáo dân nên kết thân với một Lương dân. Mỗi gia đình kết thân với một gia đình bên Lương. Kết thân để cầu nguyện, nâng đỡ nhau.

– Các hội đoàn đi tìm người tội lỗi và người nghèo trong địa phương của mình. Nên có một danh sách cụ thể. Sau đó sẽ cùng nhau thăm viếng, an ủi và giúp đỡ.


 

Truyền_giáo 130: Đời sống chứng nhân.

 

Hôm nay, ngày thế giới truyền giáo. Chúng ta cùng tìm hiểu xem: Truyền giáo là gì? Chúng ta Truyền_giáo 130


Hôm nay, ngày thế giới truyền giáo. Chúng ta cùng tìm hiểu xem: Truyền giáo là gì? Chúng ta phải truyền giáo thế nào?

Trước hết, truyền giáo là gì? Truyền là tuyền bá, truyền thông, chuyển giao, rao giảng, loan truyền… Giáo là giáo lý, đạo giáo, Tin Mừng, Phúc âm… Truyền giáo là truyền bá đạo, là rao giảng Phúc âm, là loan truyền chân lý của Chúa cho người khác. Đó là ý nghĩa thứ nhất, nghĩa hẹp, nghĩa chặt và chính xác. Đàng khác, truyền giáo còn có nghĩa là lập những cộng đoàn Kitô hữu trong đức tin, trong phụng tự Thánh Thể, bác ái như Giáo hội mong muốn. Nói khác đi, truyền giáo là “trồng” Giáo hội vào các dân tộc, các địa phương, cho đến khi những người trong địa phương ấy trở nên tín hữu, thành một đoàn chiên. Theo ý nghĩa này, truyền giáo không phải chỉ là truyền bá một số giáo lý, nhưng là truyền thông sự sống của Chúa cho anh em khác, vì Thiên Chúa là Đấng hằng sống, đạo Chúa là đạo sự sống, là nguồn sống, có khả năng thay đổi, biến cải những con người từ không có Chúa trở thành có Chúa, từ mất Chúa trở thành tìm lại được Chúa. Truyền giáo theo nghĩa này là truyền sự sống của Chúa Kitô mà chúng ta đã có sang cho anh em mình, như thân cây nho chuyển nhựa sống sang cho cành nho. Sau hết, truyền giáo còn có một nghĩa nữa là củng cố, tăng cường, huấn luyện đức tin cho một cộng đoàn, cho các tín hữu, để họ lại ra đi truyền giáo cho những người khác.

Những ý nghĩa trên đây cho thấy hai chiều của việc truyền giáo: chiều rộng và chiều sâu. Nếu làm cho những người chưa biết Chúa hoặc những người biết mà đã bỏ Chúa, được nhận biết và yêu mến Chúa. Đó là truyền giáo theo chiều rộng, là mở rộng nước Chúa và làm tăng thêm số người thờ phượng Chúa. Còn nếu làm cho những người đã biết và yêu mến Chúa được hiểu biết và yêu mến Chúa hơn, để rồi họ lại tiếp tục làm những công việc ấy nơi những người khác. Đó là truyền giáo theo chiều sâu, vì làm cho nước Chúa được vững chắc hơn và làm tăng thêm số người Công giáo sốt sắng, đạo đức.

Việc phân biệt ý nghĩa như trên đây rất quan trọng để chúng ta hiểu rõ hơn việc truyền giáo, vì truyền giáo không phải chỉ có nghĩa là làm cho những người ngoại, những người lương, những người chưa biết được biết và yêu mên Chúa, nhưng còn có nghĩa là truyền giáo cho cả những người Công giáo sống trong một họ, một xứ với chúng ta nữa. Chúng ta phải sống một đời đạo đức, sốt sắng, thánh thiện để làm gương tốt cho họ, để giúp cho họ thêm lòng yêu mến và tôn kính Chúa.

Đó là ý nghĩa của việc truyền giáo. Và như vậy tất cả chúng ta đều có nhiệm vụ truyền giáo. Việc truyền giáo không của riêng ai và không phải là một việc làm tùy sở thích, muốn làm hay không cũng được. Nhưng đây là một bổn phận, một nhiệm vụ bắt buộc. Mỗi người chúng ta phải coi đây là vấn đề sống đạo, là vấn đề sinh tồn của Giáo Hội và là trách nhiệm của chính mình.

Vậy chúng ta phải truyền giáo thế nào? Có rất nhiều cách. Chúng ta muốn dùng cách nào cũng được, nhưng nhất thiết phải thi hành hai cách này là cầu nguyện và đời sống chứng nhân: Cầu nguyện cho việc truyền giáo là cách thức rất quan trọng: cầu nguyện cho những người đi truyền giáo, cầu nguyện cho mọi người mở rộng lòng sẵn sàng đón nhận ơn Chúa, Lời Chúa. Cụ thể như thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu, cả đời không đi đâu truyền giáo, chỉ ở trong bốn bức tường dòng kín cầu nguyện cho việc truyền giáo. Thế mà Giáo Hội đã tôn phong ngài là quan thầy các nơi truyền giáo, ngang hàng với thánh Phanxicô Xaviê. Xin anh chị em hãy suy nghĩ: Chúng ta có thường xuyên thi hành việc này không? Chúng ta có cầu nguyện cho việc truyền giáo không? Nếu không thì đó là tội thiếu sót, bỏ việc phải làm. Thứ hai là truyền giáo bằng chính đời sống chứng nhân của mình: Đây là cách truyền giáo tốt nhất và hữu hiệu nhất, đó là truyền giáo bằng đời sống tốt đẹp của chúng ta. Một đời sống đạo đức, chân thành, cởi mở, yêu thương là một tấm gương sáng trước mặt mọi người. Một đời sống tốt đẹp có sức lôi cuốn hơn những lời nói hay, vì “Lời nói lung lay, gương bày lôi kéo”. Chúng ta hãy suy nghĩ: đời sống chúng ta hiện nay có làm chứng cho Chúa, cho đạo không?


 

Truyền_giáo 131: Hãy Đi Loan Báo Tin Mừng


(Bài chia sẻ Khánh nhật Truyền Giáo)

"Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo. Ai tin và chịu phép rửa, sẽ được cứu độ; còn ai không tin, thì sẽ bị kết án. "

I. TẤM BÁNH LỜI CHÚA

 

Trước khi lên trời, Chúa Giê su nói với mười một Tông đồ rằng: "Anh em hãy đi khắp tứ phương Truyền_giáo 131


Trước khi lên trời, Chúa Giê su nói với mười một Tông đồ rằng: "Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo. Ai tin và chịu phép rửa, sẽ được cứu độ; còn ai không tin, thì sẽ bị kết án. Đây là những dấu lạ sẽ đi theo những ai có lòng tin: nhân danh Thầy, họ sẽ trừ được quỷ, sẽ nói được những tiếng mới lạ. Họ sẽ cầm được rắn, và dù có uống nhằm thuốc độc, thì cũng chẳng sao. Và nếu họ đặt tay trên những người bệnh, thì những người này sẽ được mạnh khoẻ."

Nói xong, Chúa Giê-su được đưa lên trời và ngự bên hữu Thiên Chúa. Còn các Tông Đồ thì ra đi rao giảng khắp nơi, có Chúa cùng hoạt động với các ông, và dùng những dấu lạ kèm theo mà xác nhận lời các ông rao giảng.

II. TẤM BÁNH CHIA SẺ

Một đạo sĩ hỏi các đệ tử: Các con có biết khi nào đêm tàn và ngày xuất hiện, khi nào ánh sáng tới và bóng  tối lui đi không? Các đệ tử thi nhau trả lời: Thưa Thầy, có phải đêm tàn và ngày xuất hiện là khi từ xa nhìn một đoàn vật người ta có thể phân biệt được con nào là con bò con nào là con trâu không? Thầy lắc đầu: Không phải. Đệ tử khác trả lời: Thưa Thầy có phải ánh sáng tới và bóng tối lui là khi từ xa nhìn vào vườn cây, người ta có thể phân biệt được cây nào là cây xoài cây nào là cây mít không? Thầy vẫn lắc đầu: Không phải. Thấy không ai trả lời được, Thầy mới giải nghĩa: Đêm tàn và ngày xuất hiện, ánh sáng tới và bóng tối lui là khi nào ta nhìn vào mặt người xa lạ và nhận ra đó là anh em mình.

Thật là khó hiểu. Tuy trên đời ta thấy có nhiều thứ ánh sáng. Có ánh sáng mặt trăng mặt trời. Có ánh sáng đèn dầu, đèn điện. Có những ánh sáng như tia X, tia hồng ngoại. Nhưng tất cả những ánh sáng đó chỉ giúp ta nhìn rõ sự vật. Không thấy có thứ ánh sáng nào soi vào mặt người xa lạ mà biến người ấy thành người thân của mình.

Mẹ Têrêxa dường như đã tìm ra thứ ánh sáng ấy. Mẹ là một nữ tu người Anbani, được sai đến phục vụ người nghèo tại Ấn Độ. Đến Ấn Độ, thấy người nghèo khổ quá tội nghiệp. Biết bao người hấp hối ngoài lề đường. Chết rồi xác bị quẳng vào đống rác như xác thú vật. Biết bao trẻ thơ bị bỏ rơi. Biết bao gia đình chui rúc trong các căn nhà ổ chuột. Biết bao người đói khát không đủ cơm ăn áo mặc. Mẹ lăn xả vào phục vụ người nghèo.

Một hôm Mẹ đi thăm một ông già cô đơn trong căn lều tồi tàn. Bước vào lều Mẹ phải động lòng thương cảm. Vì tất cả đồ đạc chỉ là một mớ giẻ rách. Căn lều bụi bặm bẩn thỉu ngoài sức tưởng tượng. Và nhất là ông già thu mình lại không muốn giao tiếp với ai. Mẹ chào hỏi ông cũng không buồn trả lời. Mẹ xin phép dọn dẹp căn lều ông cũng làm thinh. Đang khi dọn dẹp, Mẹ thấy trong góc lều có một cây đèn dầu bụi bám đen đủi. Sau khi lau chùi, Mẹ kêu lên: Ô, cây đèn đẹp quá. Ông già nói: Đó là cây đèn tôi tặng vợ tôi ngày cưới. Từ khi bà ấy chết, tôi không bao giờ đốt đèn nữa. Thấy ông đã cởi mở, Mẹ Têrêxa đề nghị: Thế ông có bằng lòng cho các chị nữ tu mỗi ngày đến thăm và đốt đèn cho ông không? Ông đồng ý. Từ đó mỗi buổi chiều, các chị tới thăm ông, dọn dẹp nhà cửa, nói chuyện với ông. Ngọn đèn ấm áp trong căn lều ấm cúng. Ông trở nên vui vẻ hơn. Ông đi thăm mọi người. Mọi người đến thăm Ông. Cuộc đời ông vui tươi trở lại.

Trước kia cuộc đời ông tăm tối không phải vì ông không thắp đèn. Nhưng vì ngọn đèn trong trái tim ông đã tắt. Trái tim khép kín nên Ông mất niềm tin vào con người, vào cuộc sống. Ông nhìn mọi người như thù địch. Từ ngày các nữ tu đến đốt đèn đời ông vui lên, sáng lên. Đời ông sáng lên không phải vì có ngọn đèn dầu hoả soi sáng. Nhưng vì trái tim ông bừng sáng. Ngọn đèn tâm hồn ông rạng rỡ. Tâm hồn ông cởi mở và ông nhìn thấy mọi người là anh em. Thứ ánh sáng ấy ta thấy trong Phúc Âm, khi người Samaritano nhân hậu cúi xuống săn sóc, băng bó vết thương cho người bị nạn bên đường. Hai người nhìn nhau. Một làn ánh sáng loé lên. Và họ nhận ra nhau là anh em.

Cứ như thế Mẹ Têrêxa miệt mài phục vụ người nghèo.  Lập những trung tâm đón tiếp những người hấp hối, săn sóc để họ được chết, được chôn cất như một con người.  Nuôi trẻ mồ côi. Xây bệnh viện. Xây trường học. Công việc càng ngày càng mở rộng.  Số người theo Mẹ ngày càng đông và Mẹ đã lập dòng Nữ tử Thừa sai Bác ái chuyên phục vụ người nghèo. Hiện nay nhà dòng đã có mặt trên 132 quốc gia. Mẹ được thế giới biết tiếng. Mẹ được nhiều giải thưởng trong đó có giải Nobel Hoà bình. Năm 1997, khi Mẹ qua đời, 80 nguyên thủ quốc gia, trong đó có phu nhân tổng thống Mỹ Bill Clinton và phu nhân tổng thống Pháp Jacques Chirac đã đến dự đám tang. Và nước Ấn Độ, đa số dân theo Ấn Độ giáo, vốn không ưa đạo Công giáo, đã chôn cất Mẹ theo nghi thức quốc táng. Hai mươi mốt phát súng đại bác tiễn đưa linh hồn Mẹ về trời.

Mẹ Têrêxa là một nhà truyền giáo thành công của thế kỷ 20. Vì Mẹ đã biết thắp lên ngọn đèn soi trong đêm tối. Giữa đêm tối vật chất hưởng thụ, Mẹ đã thắp lên ngọn đèn siêu nhiên của thiên đàng. Giữa đêm tối rụt rè nghi kỵ, Mẹ đã thắp lên ngọn đèn cởi mở tin yêu. Giữa đêm tối lạnh lẽo cô đơn, Mẹ đã thắp lên ngọn đèn ấm áp tình người. Trái tim Mẹ là một ngọn đèn sáng. Ánh sáng ấy toả lan tới muôn người làm cho mọi người nhận biết khuôn mặt hiền lành khiêm nhường của Đức Kitô và làm cho mọi người nhìn nhau là anh em.

Vào thời “Chiến Tranh Lạnh”, Mẹ Têrêxa vẫn có thể lập nhà ở Nga, ở Cu Ba và cả ở Việt Nam. Với tấm lòng bác ái, Mẹ đã có thể đi khắp thế giới như lời Chúa truyền. Với tấm lòng bác ái, Mẹ đã chiếu tỏa ánh sáng Tin Mừng khắp thế giới.

Hôm nay Giáo hội cầu nguyện cho việc truyền giáo. Giáo hội mời gọi chúng ta góp phần vào việc truyền giáo. Không gì bằng ta hãy noi gương Mẹ Têrêxa, thắp lên ngọn lửa tin yêu trong lòng mình, đem ngọn lửa yêu thương phục vụ soi sáng khắp nơi. Thế giới sẽ bừng sáng và mọi người sẽ nhìn nhận nhau là anh em.

III. TẤM BÁNH HÓA NHIỀU

1- Nhờ đâu Mẹ Têrêxa đến được cả những nước mà chính thể của họ theo chủ nghĩa vô thần?
2- Nhờ đâu việc truyền giáo của Mẹ Têrêxa thành công tốt đẹp?
3- Đời sống bạn là ánh sáng hay là bóng tối cho những người chung quanh?
4- Bạn quyết tâm làm gì để loan báo Tin Mừng cho mọi người?


 

Truyền_giáo 132: NGÔN SỨ HAY TIÊN TRI?

 

Nói tới truyền giáo là nói tới những người được sai đi loan báo Tin Mừng: Ngôn sứ. Những người được Truyền_giáo 132


Nói tới truyền giáo là nói tới những người được sai đi loan báo Tin Mừng: Ngôn sứ. Những người được sai đi gọi là “sứ giả”, Tin Mừng là Lời Chúa mà “lời” là “ngôn ngữ”; tổng hợp lại (“sứ giả” + “ngôn ngữ”) thành một từ ghép: “ngôn sứ”. Ngôn sứ mang ý nghĩa: Người được sai đi loan báo Lời Chúa (Tin Mừng). Trong khi đó, Lời Chúa là Lời dạy cho biết chương trình Cứu Độ của Thiên Chúa bao gồm những sự việc đã xảy ra (quá khứ), đang xảy ra (hiện tại), đồng thời cả những sự kiện sẽ xảy ra (tương lai). Nói cụ thể thì “ngôn sứ” chính là người phát ngôn (phát ngôn nhân, phát ngôn viên) của Thiên Chúa.

Trước đây thường gọi những ngôn sứ” là “tiên tri”. Về mặt ngôn ngữ, tiên tri chỉ có nghĩa là “biết trước”, vậy khi nói “tiên tri Isaia” thì chỉ có nghĩa: một người có tên là Isaia là người biết trước những sự việc sẽ xảy ra. Như vậy thì chưa đúng với vai trò và sứ vụ của Isaia, vì thế lại cần phải hiểu ngầm (ngụ ý) ông Isaia là người loan báo Lời Chúa. Do đó, theo thiển ý của kẻ viết bài này, dùng từ “ngôn sứ” để dịch chữ “Prophet” (có gốc từ chữ Hi-lạp “Aprophetes”) là chính xác hơn.

Ca dao Việt Nam có câu "Khôn ngoan đối đáp người ngoài, Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau", ngụ ý khuyên răn anh em trong nhà có cùng một huyết thống, cùng một cha mẹ sinh ra, phải thương yêu đùm bọc nhau, đừng nên tranh giành hơn kém rồi sinh ra cảnh "nồi da xáo thịt, huynh đệ tương tàn". Lời khuyên răn ấy không chỉ giới hạn trong phạm vi gia đình, mà còn mở rộng ra cả nước. Sự tích bà Âu Cơ đẻ 100 trứng nở ra 100 con, 50 con ở với mẹ trên núi, 50 con theo cha (Lạc Long Quân) xuống biển, cho thấy quan điểm toàn thể dân tộc Việt Nam đều chung một gốc là "con Rồng, cháu Tiên". Vì thế, nên phải biết "Nhiễu điều phủ lấy giá gương, Người trong một nước phải thương nhau cùng". Tuy vậy, nhưng vẫn xảy ra không ít cảnh “huynh đệ tương tàn”, “gà nhà bôi mặt đá nhau” (tiếm ngôi, cướp ngôi nhau, triều đình này hạ bệ triều đình kia, loạn 12 sứ quân, Trịnh Nguyễn phân tranh, cõng rắn cắn gà nhà v.v… và v.v…).

Xã hội loài người không chỉ có cảnh anh em tàn sát lẫn nhau, mà còn hơn thế nữa, xảy ra cảnh “phụ tử tương tàn” nữa kia. Ngay từ thời Cựu Ước đã có chuyện "tranh bá đồ vương" giữa cha con với nhau xảy ra ngay trong hoàng cung một triều đại danh tiếng: Đó là vua Đa-vít và hoàng tử Ap-sa-lôm. Trong những người con của vua Đa-vit, thì Ap-sa-lôm là một người đẹp trai, tài giỏi, được vua cha yêu mến, nhưng chính Ap-sa-lôm đã muốn tranh giành địa vị của cha, rồi tự phong mình làm vua ở Khép-rôn. Cuộc khởi loạn này đã làm cho vua Đa-vít và cả triều đình phải chạy trốn khỏi thành Giê-ru-sa-lem, và Ap-sa-lôm đã tiến chiếm kinh thành; nhưng sau này đã bị đại tướng của vua Đa-vit là Giô-áp đánh bại và bị giết chết tại khu rừng gần Ep-ra-im. Cuộc chiến tranh "phụ tử tương tàn" này đã khiến cho 20 ngàn quân lính bị thiệt mạng! (x. 2 Sm,15-18).

Quả thực từ cái tham vọng của người này nảy sinh ra cái ghen tức của người khác, đã làm cho loài người xung đột, gây hấn với nhau, để rồi thì khủng bố, chiến tranh bùng nổ khắp mọi nơi. Ôi chao! Tham vọng "tranh danh đoạt lợi, tranh bá đồ vương" vẫn là vấn đề muôn thủa của con người. Và cái "miếng đỉnh chung", cái "miếng giữa làng hơn sàng xó bếp" luôn luôn và mãi mãi là cái hấp lực khó lòng từ chối, dứt bỏ. Ngay đến các Tông đồ ở cận kề với Người Thầy luôn dạy dỗ môn đệ phải sống bác ái và khiêm nhường, vậy mà cũng có hai người con ông Dê-bê-đê là Gia-cô-bê và Gio-an muốn được "một người được ngồi bên hữu, một người được ngồi bên tả Thầy, khi Thầy được vinh quang" (Bài Tin Mừng CN XXIX/TN-B – Mc 10,35-45).

Tin tưởng khi Thầy mình được vinh quang sẽ làm Vua, mà lại xin được ngồi bên tả và bên hữu Người, thì chẳng phải đó là muốn được ngồi "cỗ nhất", được hưởng “miếng đinh chung” bảnh nhất là ”Tả hữu Thừa tướng” đó sao? Không phải chỉ có 2 môn đệ này thôi đâu, mà các môn đệ khác cũng tỏ ra tức tối ("Nghe vậy, mười môn đệ kia đâm ra tức tối với ông Gia-cô-bê và ông Gio-an." – Mc 10,41). Tức tối tức là ghen tị, là mong muốn mình phải được coi trọng hơn, và "chiến tranh nóng, chiến tranh lạnh" xảy ra cũng là điều tất nhiên ("Bởi đâu có chiến tranh, bởi đâu có xung đột giữa anh em? Chẳng phải là bởi chính những khoái lạc của anh em đang gây chiến trong con người anh em đó sao? Thật vậy, anh em ham muốn mà không có, nên anh em chém giết; anh em ganh ghét cũng chẳng được gì, nên anh em xung đột với nhau, gây chiến với nhau" – Gc 4,1-3).

Đức Giê-su quá hiểu tâm lý của con người ai cũng muốn mình có địa vị và được kính nể hơn người khác, ai cũng muốn làm ông chủ để được kẻ hầu người hạ và nếu có ai đó được hơn mình thì ngay lập tức ganh tị, thù hằn nhau. Vì thế, khi thấy Gio-an và Gia-cô-bê xin được ngồi “cỗ nhất”, Đức Ki-tô nói thẳng: "Các anh không biết các anh xin gì!", rồi đặt câu hỏi: "Các anh có uống nổi chén Thầy sắp uống, hay chịu được phép rửa Thầy sắp chịu không?" (Mc 10, 38). Cứ tưởng chén của Đức Giê-su sắp uống là chén rượu mừng vinh thăng và phép rửa Người sắp chịu cũng kiểu như phép rửa mà thánh Gio-an Tẩy Giả thực hiện trên sông Gio-đan, nên các Tông đồ mau mắn trả lời: "Thưa được". Thực ra, ở vào trường hợp đó, ít ai có thể ngờ được Đức Giê-su nói chén Người sắp uống là chén đắng, là chén "ĐỨC CHÚA đã muốn Người phải bị nghiền nát vì đau khổ. Nếu Người hiến thân làm lễ vật đền tội, Người sẽ được thấy kẻ nối dõi, sẽ được trường tồn, và nhờ Người, ý muốn của ĐỨC CHÚA sẽ thành tựu. Nhờ nỗi thống khổ của mình, Người sẽ nhìn thấy ánh sáng và được mãn nguyện. Vì đã nếm mùi đau khổ, Người công chính, tôi trung của Ta, sẽ làm cho muôn người nên công chính và sẽ gánh lấy tội lỗi của họ. " (Is 53,10-11).

Đó chính là chén "Con Người sẽ bị nộp cho các thượng tế và kinh sư. Họ sẽ lên án xử tử Người và sẽ nộp Người cho dân ngoại. Họ sẽ nhạo báng Người, khạc nhổ vào Người, họ sẽ đánh đòn và giết chết Người. Ba ngày sau, Người sẽ sống lại." (Mc 10, 33-34). Đồng thời cũng là chén mà Tông đồ Phê-rô cầu xin Chúa Cha cho Thầy khỏi phải uống để rồi được Thầy gọi là “Xa-tan!” (Mc 8, 31-33). Ngay cả đến chính người Thầy đã nói về chén đắng ấy, với bản tình loài người cũng kinh sợ mà thốt lên cùng Chúa Cha: "Abba, Cha ơi, Cha làm được mọi sự, xin cất chén này xa con.” Tuy nhiên, ngay lập tức, bản tính Thiên Chúa đã trỗi dậy, và Người nói tiếp: “Nhưng xin đừng làm điều con muốn, mà làm điều Cha muốn." (Mc 14, 36). Thật không thể ngờ chén đắng ấy lại cũng chính là phép rửa thanh tẩy tội lỗi loài người để được sống lại từ cõi chết như Đức Giê-su đã sống lại. Chỉ đến khi biến cố Thương Khó và Phục Sinh xảy ra, mọi người mới hiểu được hết ý nghĩa sâu xa Lời Thầy Chí Thánh nói về Chén Đắng và Phép Rửa mà Người phải chịu để đền vì tội lỗi nhân loại.

Trước đây, vì chưa hiểu được ý nghĩa thâm thúy của Lời Chúa, nên các Tông đồ mới mạnh miệng nói là mình uống được chén mà Thầy sắp uống, nhưng tới lúc Thầy bắt đầu uống thì "Bấy giờ các môn đệ bỏ Người mà chạy trốn hết” (Mt 26,56). Chỉ đến khi các môn đệ được chịu phép rửa "trong Thánh Thần và lửa" (Mt 3, 11) trong ngày Lễ Ngũ Tuần, thì các ngài mới thật sự dũng cảm uống chén đắng ấy, và hiên ngang chịu phép rửa như Thầy mình đã tiên liệu: "Chén Thầy sắp uống, anh em cũng sẽ uống; phép rửa Thầy sắp chịu, anh em cũng sẽ chịu" (Mc 10, 39). Chính nhờ vậy mà Giáo hội và nói chung là toàn thể nhân loại được vui hưởng vinh quang Phục Sinh cho đến muôn ngàn đời.

Trải dài theo lịch sử Giáo hội, biết bao nhiêu thế hệ, biết bao nhiêu Ki-tô hữu đã uống chén đắng ấy. Chỉ riêng Giáo hội Việt Nam trong quá trình 5 thế kỷ truyền giáo, đã có tới 130.000 Ki-tô hữu anh dũng uống chén đắng. Chén đắng trong quá khứ do những thế lực thù địch hữu hình đưa tới cho sứ vụ truyền giáo, nó lại càng đắng hơn trong hiện tại và tương lai, vì thế lực thù địch ngày nay đã trở nên vô hình vô ảnh. Cũng vẫn những mũi giáo, lưỡi gươm, viên đạn xuyên phá khủng khiếp ấy, nhưng ngày nay tất cả chúng đều được bọc đường, một lớp đường hào nhoáng ngọt lịm. Chỉ đến khi chúng lọt vào thân thể và công phá mãnh liệt, lúc đó mới “à” lên một tiếng muộn màng!

Cho nên, công cuộc truyền giáo hiện nay đòi hỏi người Ki-tô hữu phải có một động lực dấn thân trong vai trò Ngôn sứ, đó chính là: “Động lực của việc dấn thân loan báo Tin Mừng của họ là do xác tín rằng những người Ki-tô hữu không được run sợ trước thế gian, mà đúng hơn phải mạnh dạn chia sẻ kho tàng chân lý đã được giao phó cho mình. Cũng vậy, người Ki-tô hữu ngày nay, đang khi cởi mở với các thực tại hiện thời và tán đồng tất cả những gì tốt lành trong xã hội, phải có can đảm mời gọi mọi người nam và nữ hoán cải tận căn, cuộc hoán cải gắn liền với việc gặp gỡ Đức Ki-tô và khởi đầu một cuộc sống mới trong ân sủng.” (Diễn văn của ĐGH Bê-nê-đic-tô XVI trong “Cuộc gặp gỡ đại kết” tại Tòa TGM Praha - CH Séc - ngày 27/9/2009).

Trong Sứ điệp Truyền Giáo 2017 (số 6), Đức Giáo hoàng Phan-xi-cô viết: “Việc truyền giáo của Hội Thánh được sinh động bởi một linh đạo của việc liên tục lên đường. Chúng ta được thách thức “ra khỏi vùng đất tiện nghi của mình để đến với mọi vùng ‘ngoại vi’ đang cần ánh sáng Tin Mừng” (Tông huấn Niềm vui của Tin Mừng “Evangelii Gaudium”, số 20). Sứ mạng của Hội Thánh thúc đẩy chúng ta liên tục lữ hành qua các sa mạc khác nhau của cuộc đời, qua các trải nghiệm khác nhau của sự đói khát sự thật và công lý. Việc truyền giáo khơi dậy một cảm giác bị đoạ đày triền miên, làm chúng ta ý thức rằng, trong cơn khát cái vô hạn, chúng ta là những kẻ lưu đày đang tiến về quê nhà cuối cùng của mình, đang đứng lơ lửng giữa cái “đã có” và cái “chưa có” của Nước Trời.”

Muốn cho công cuộc Truyền giáo đạt hiệu quả thì phải cần có thật nhiều những ngôn sứ, đúng như lời dạy của ĐGH Phan-xi-cô: “Hội Thánh cần có các ngôn sứ. Tôi nói cách mạnh mẽ hơn rằng: Hội Thánh cần tất cả chúng ta làm ngôn sứ. Ở đây, ngôn sứ không có nghĩa là nhà bình luận, nhà phê bình, không phải thế. Ngôn sứ có nghĩa khác thế. Một nhà phê bình thì luôn nhận xét theo kiểu: “Không, điều này không tốt, điều kia không hiệu quả, điều nọ không phù hợp… điều ấy phải như thế này mới đúng…”. Người như thế thì không phải là ngôn sứ. Vị ngôn sứ là người biết cầu nguyện, biết nhìn lên Thiên Chúa, biết nhìn tới người dân, biết cảm thấy đau khổ khi dân lầm lỗi, biết khóc thương dân chúng, có khả năng thương khóc trước những tội lỗi của dân chúng, và cũng biết cách nói sự thật cho dân biết. Nguyện xin cho Giáo hội luôn có sự hiện diện phục vụ của các ngôn sứ, để dân Chúa tiếp tục tiến bước.” (xc. “Đức Giáo hoàng nói về NGÔN SỨ” – nguồn: Đài Vatican).

Tóm lại, mọi Ki-tô hữu cần – rất cần – nhìn lại quá khứ, nhìn lại mình để thấy được hiện tại những kẻ thù địch là vô hình vô ảnh, với những chiêu thức vô cùng tinh vi xảo quyệt nhằm ngăn chặn, chống phá công cuộc truyền giáo của Giáo hội, “những viên đạn bọc đường” luôn luôn là tột cùng nguy hiểm. Nhìn lại mình để “không được run sợ trước thế gian, mà đúng hơn phải mạnh dạn chia sẻ kho tàng chân lý đã được giao phó cho mình” (ibid). Nhìn lại mình để tôi luyện đức tin, trui rèn ý chí, không chùn bước trước mọi thử thách, sẵn sàng “tham gia vào sứ mạng của Chúa Ki-tô”, sẵn sàng nhận lãnh chức vụ “ngôn sứ” lên đường thi hành sứ vụ truyền giáo mà Thiên Chúa và Giáo hội đã trao phó. Hãy sống xứng đáng với vai trò “ngôn sứ” như ĐGH Phan-xi-cô mong muốn trong lời dẫn trên. Ước được như vậy.

Ôi! Lạy Chúa! Cánh đồng truyền giáo hiện nay trên thế giới cũng như tại quê hương chúng con quả là “lúa chín đầy đồng, mà thợ gặt lại ít” (Mt 9, 37). Cúi xin Chúa ban Thánh Thần Chân Lý cho chúng con, để chúng con đủ can đảm bước ra khỏi “cái tôi vị kỷ”, “cái tôi chỉ ham tranh danh đoạt lợi”, để chúng con có đủ dũng khí đối diện với mọi thử thách, luôn sẵn sàng chấp nhận mọi hy sinh gian khổ, ngõ hầu trở nên những “thợ gặt” đúng như lòng Chúa mong đợi. Chúng con cầu xin, nhờ Đức Ki-tô Chúa chúng con. Amen. Về mục lục.

JM. Lam Thy ĐVD.


 

Truyền_giáo 133: VỊ ĐẮNG CUỘC ĐỜI

ĐAU KHỔ THẾ TRẦN ĐẦY KHẮP CHỐN PHÚC VINH THIÊN QUỐC CHỈ MỘT NƠI

 

Cuộc đời có nhiều mùi vị. Theo nghĩa bóng, không ai thích vi cay đắng, chua chát,… mà ai Truyền_giáo 133


Cuộc đời có nhiều mùi vị. Theo nghĩa bóng, không ai thích vi cay đắng, chua chát,… mà ai cũng thích ngọt bùi. Còn theo nghĩa đen, ai cũng ưa vị cay nồng, đắng chát,… Mà cũng lạ, những gia vị cay đắng lại tốt cho sức khỏe hơn so với vị ngọt ngào. Hảo ngọt là chết chắc – dù nghĩa đen hay nghĩa bóng. Phải chăng đó là một dạng tự mâu thuẫn của con người?

Kể ra cũng khó có thể xác định, nhưng chắc chắn không ai muốn “chạm trán” với đau khổ – nghĩa là ai cũng tìm mọi cách và bằng mọi giá để tránh né đau khổ, thế nhưng hầu như ngày nào chúng ta cũng phải đối mặt với đau khổ, dù ít hay nhiều, với đủ dạng và đủ mức độ khác nhau. Càng tránh khổ càng khổ thêm, càng diệt khổ càng tăng khổ. Vô ích mà thôi! Tại sao? Bởi vì “ngày nào có cái khổ của ngày ấy” (Mt 6:34).

Có lần chính Chúa Giêsu đã từng tỏ cho các môn đệ biết rõ rằng “Ngài PHẢI đi Giêrusalem, PHẢI chịu nhiều đau khổ do các kỳ mục, các thượng tế và kinh sư gây ra, rồi BỊ GIẾT CHẾT, và ngày thứ ba sẽ SỐNG LẠI” (Mt 16:21). Một câu ngắn mà có tới 2 từ PHẢI và 1 từ BỊ, cả hai đều ở thể thụ động. Não lòng quá! Đau khổ luôn có hệ lụy gần gũi với nước mắt, loại chất lỏng đặc biệt mang vị mặn đặc trưng khác hẳn với các vị mẳn khác.

Tuy nhiên, kinh nghiệm sống cho thấy rằng đau khổ như “phần cứng” được cài đặt mặc định trong mỗi con người, thậm chí còn như một chương trình “đóng băng” (DeepFreeze) về lĩnh vực máy vi tính, và người ta không thể thay đổi theo ý mình được. Thật vậy, đau khổ như một phần tất yếu của cuộc sống, không đau khổ cũng hóa “buồn tẻ” lắm, có đau khổ thì mới phải cố gắng, cố gắng khiến người ta vươn lên – tức là tự đổi mới chính mình. Chí lý lắm đấy chứ!

Chắc hẳn là thế. Này nhé, một đứa trẻ chưa hề nếm mùi đau khổ, thế mà vừa sinh ra đã bật tiếng khóc để chào đời. Vui sao lại khóc? Đứa trẻ nào không khóc là có vấn đề, cha mẹ lo sốt vó lên ngay. Như vậy, mặc nhiên người ta đã chấp nhận sự đau khổ là phần tất yếu. Người đời chia sẻ kinh nghiệm: “Đời là bể khổ”. Kinh Thánh đặt vấn đề: “Chuyện gì xảy ra cho con người sau bao mối bận tâm và bao gian lao vất vả nó phải chịu dưới ánh mặt trời? Phải, đối với con người ấy, TRỌN CUỘC ĐỜI CHỈ LÀ ĐAU KHỔ, bao công khó chỉ đem lại ưu phiền! Ngay cả ban đêm, nó cũng không được yên lòng yên trí. Điều ấy cũng chỉ là phù vân!” (Gv 2:22-23). Thật thê thảm!

1. VÌ KHỔ MÀ ĐAU

Việt ngữ thường ghép hai chữ Khổ và Đau thành Khổ Đau hoặc Đau Khổ – đảo qua đảo lại mà chẳng thấy khác chi ráo trọi. Đúng là khổ thật! Trình thuật Is 53:10-11 là một phần của bài thứ tư trong số các Bài Ca Người Tôi Trung: “Đức Chúa đã muốn người phải bị nghiền nát vì đau khổ. Nếu người hiến thân làm lễ vật đền tội, người sẽ được thấy kẻ nối dõi, sẽ được trường tồn, và nhờ người, ý muốn của Đức Chúa sẽ thành tựu”. Tình trạng thê thảm là “bị nghiền nát”, nhưng lại là để “được vĩnh tồn”. Thật lạ lùng và ngược đời quá! Đối với phàm nhân, tình trạng đó thật đáng sợ vì quá chua chát và cay đắng, có thể không còn nước mắt để than khóc nữa. Người Tôi Trung đó chính là Đức Kitô, Con Thiên Chúa. Và thật kỳ diệu, ngôn sứ Isaia giải thích: “Nhờ nỗi thống khổ của mình, người sẽ nhìn thấy ánh sáng và được mãn nguyện. Vì đã nếm mùi đau khổ, người công chính, tôi trung của Ta, sẽ làm cho muôn người nên công chính và sẽ gánh lấy tội lỗi của họ”. Ôi, lòng thương xót của Thiên Chúa bao la vô tận, chúng ta không thể nào hiểu được!

Nhìn thấy người ta đau khổ mà rợn cả người rồi chứ nói chi chính mình phải chịu. Đau khổ nào cũng cay đắng, đắng đến tê lòng, thế nhưng đau khổ vẫn có vị ngọt bùi kỳ lạ. Thật diệu kỳ mầu nhiệm của sự đau khổ. Trong thực tế cuộc sống, khi chịu đau khổ vì tình yêu, có người gọi nỗi đau khổ đó là “thú đau thương”, là “nỗi đau dịu êm”. Vậy đó, đau thương mà vẫn thú vị, đau khổ mà vẫn dịu êm. Còn nước mắt lại được ví von là “giọt nước mắt ngà”. Thế mới lạ, thế mới cao thượng. Người đời con khả dĩ nhận thức như vậy huống chi những người tin nhận Đức Kitô là Thiên Chúa! Ai có khả năng cảm nhận được như vậy chính là người đã vượt lên trên nỗi đau khổ, đi xuyên qua nỗi đau khổ. Chắc chắn không ai có thể tránh đau khổ, nhưng muốn tránh đau khổ thì chỉ còn cách chiến thắng nó và làm chủ nó. Đó là cách độc đáo để tự “vượt qua số phận”. Vị đắng chợt hóa ngọt ngào.

Những người chấp nhận đau khổ là những người can đảm, họ can đảm nên không hề than thân trách phận, không so đo với những người may mắn khác, chắc hẳn người đó phải có chiều sâu tâm linh, luôn sống trong niềm tín thác vào Thiên Chúa quan phòng. Thật vậy, Thánh Vịnh gia bày tỏ: “Lời Chúa phán quả là ngay thẳng, mọi việc Chúa làm đều đáng cậy tin” (Tv 33:4). Nói được như vậy là xác định Thiên Chúa là ai và biết rõ Ngài như thế nào: “Chúa yêu thích điều công minh chính trực, tình thương Chúa chan hoà mặt đất” (Tv 33:9). Chúng ta không thể nào hiểu hết tình yêu Chúa, cũng không thể cân-đo-đong-đếm Lòng Chúa Thương Xót, vì tình yêu thương hoặc lòng trắc ẩn ấy vẫn triền miên hết ngày dài lại đêm thâu, suốt từ thuở hồng hoang trải dài từ đời nọ tới đời kia (x. Lc 1:50). Thật vậy, “muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương” (1 Sbn 16:34; 1 Sbn 16:41; 2 Sbn 5:13; 2 Sbn 7:3; 2 Sbn 7:6; Er 3:11; Tv 100:5; Tv 106:1; Tv 107:1; Tv 118:1-4, 29; Tv 136:1-26).

Tiếp tục minh định về Đấng-Xót-Thương, Thánh Vịnh gia cho biết: “Chúa để mắt trông nom người kính sợ Chúa, kẻ trông cậy vào lòng Chúa yêu thương, hầu cứu họ khỏi tay thần chết và nuôi sống trong buổi cơ hàn” (Tv 33:18-20). Kinh nghiệm cho chúng ta biết rằng ngay cả khi chúng ta quên Ngài mà Ngài vẫn luôn nhớ đến chúng ta, thậm chí cả khi chúng ta hoàn toàn đối nghịch với Ngài mà Ngài vẫn miệt mài tìm chúng ta để đưa về hưởng an bình nơi “đồng cỏ xanh rì bên suối ngọt lành” (x. Tv 23). Vô tri bất mộ, “tri” rồi thì không thể không “mộ”. Ai đã nếm thử Chúa ngọt ngào thế nào rồi thì không thể giữ riêng cho mình, mà tự lòng mình sẽ thôi thúc chia sẻ với người khác về Ngài: “Tâm hồn chúng tôi đợi trông Chúa, bởi Ngài luôn che chở phù trì” (Tv 33:20), đồng thời tin tưởng và vui mừng cầu nguyện liên lỉ: “Xin đổ tình thương xuống chúng con, lạy Chúa, như chúng con hằng trông cậy nơi Ngài” (Tv 33:22).

Và như vậy, cho tới lúc đó thì sự đau khổ không còn vị đắng cay nữa mà lại hóa vị ngọt ngào và êm dịu. Nghĩa là người ta có thể cảm nhận sâu sắc thế nào là “thú đau thương”, là “nỗi đau dịu êm” hoặc “giọt nước mắt ngà”. Quả là điều kỳ diệu, là mầu nhiệm về sự đau khổ.

Thánh Phaolô cho biết: “Chúng ta có một vị Thượng Tế siêu phàm đã băng qua các tầng trời, là Đức Giêsu, Con Thiên Chúa. Vậy chúng ta hãy giữ vững lời tuyên xưng đức tin” (Dt 4:14). Niềm tin luôn quan trọng trong cuộc sống đời thường, đức tin càng quan trọng gấp bội trong đời sống Kitô hữu, nhất là chúng ta đang sống trong Thời Cánh Chung, đồng thời còn phải lưu ý trách nhiệm chung là truyền giáo và tái truyền giáo.

Thánh Vịnh gia nói: “Cậy vào thần thế vua quan, chẳng bằng ẩn náu ở bên Chúa Trời” (Tv 118:9). Thật vậy, Chân phước Linh mục Placid Riccardi (OSB, 1844-1915) cũng khuyên: “Đừng mong gì nhiều nơi những người quyền thế của thế gian này – vì hầu hết họ đều bỏ mặc những người nghèo khó trong cảnh bần hàn, họ vừa hèn hạ vừa thiếu quảng đại, giả điếc làm ngơ trước tiếng kêu than của những người yếu đuối và bất lực”.

Vừa giải thích vừa khuyến khích, Thánh Phaolô cho biết: “Vị Thượng Tế của chúng ta không phải là Đấng không biết cảm thương những nỗi yếu hèn của ta, vì Ngài đã CHỊU THỬ THÁCH về MỌI PHƯƠNG DIỆN cũng như ta, nhưng KHÔNG PHẠM TỘI. Bởi thế, ta hãy mạnh dạn tiến lại gần ngai Thiên Chúa là nguồn ân sủng, để được xót thương và lãnh ơn trợ giúp mỗi khi cần” (Dt 4:15-16). Chúa Giêsu đã mặc khải cho Thánh nữ Faustina: “Lòng Thương Xót của Thiên Chúa lớn hơn cả tội lỗi của cả nhân loại” (Nhật Ký Thánh Faustina, số 1485). Quả thật, nếu Lòng Chúa Thương Xót không lớn lao hơn mọi thứ xấu xa tồi tệ nhất trên đời này thì chúng ta chết ngay lập tức. Tại sao? Không khí là bằng chứng sống động về Lòng Chúa Thương Xót: Nếu không khí chỉ loãng hơn một chút hoặc đậm đặc hơn một chút, chúng ta đủ chết ngắc rồi chứ đừng nói chi đến thiếu không khí. Chỉ cần minh chứng đơn giản về không khí thôi, chúng ta cũng đủ để phải không ngừng tạ ơn Chúa rồi, đừng nói chi đến những thứ khác. Vì thế, “Tôi tin tưởng vào Thiên Chúa và ca tụng lời Người” (Tv 56:5 và 11).

2. VÌ ĐAU MÀ KHỔ

Người ta thường nói: “Yêu thì khổ, không yêu thì lỗ, vậy thà chịu khổ hơn chịu lỗ”. Nhưng phải xác định được mình CẦN gì, MUỐN gì và LÀM gì. Yêu thì khổ, khổ thì đau. Ai cũng được quyền tự do chọn lựa và quyết định.

Trình thuật Mc 10:35-45 nói về chuyện “chạy chọt” chức vụ của hai người con ông Dêbêđê là Giacôbê và Gioan. Họ thưa với Sư Phụ Giêsu: “Thưa Thầy, chúng con muốn Thầy thực hiện cho chúng con điều chúng con sắp xin đây”. Rào trước đón sau, rất đúng “bài bản”, thậm chí còn như “ra điều kiện” với Chúa vậy. Tương tự, chúng ta cũng thường xuyên có cách “cầu xin” như vậy. Chúa Giêsu hỏi họ: “Các anh muốn Thầy thực hiện cho các anh điều gì?” (Mc 10:36). Họ khoái chí thưa ngay, không hề ngại ngùng chi cả: “Xin cho hai anh em chúng con, một người được ngồi bên hữu, một người được ngồi bên tả Thầy, khi Thầy được vinh quang”. Rất thẳng thắn, rất thực tế, rất rõ ràng. Nhưng đó là cách cầu nguyện vị kỷ và tìm tư lợi. Hai con trai ông Dêbêđê chắc mẩm Sư Phụ rất “ngon”, nổi tiếng như cồn, quyền phép vô song, uy tín quá chừng luôn, chắc chắn Sư Phụ sẽ lên ngôi báu trị vì thiên hạ, làm cận thần của Thầy mình thì còn gì oai hơn chứ? Thật là trên cả tuyệt vời! Nếu là chúng ta, có thể chúng ta không muốn làm cận thần như họ, vì như vậy vẫn “bèo” lắm, mà có thể chúng ta muốn làm phó nguyên soái hoặc thủ tướng, chí ít cũng phải xin làm bộ trưởng. Xin cho ra xin mới bõ công!

Thế nhưng Đức Giêsu thẳng thắn nói luôn: “Các anh không biết các anh xin gì! Các anh có uống nổi chén Thầy sắp uống, hay chịu được phép rửa Thầy sắp chịu không?” (Mc 10:38). Chén này không phải là chén mật hoặc chén sữa, cũng chẳng phải là chén cà-phê, dĩ nhiên không phải là chén mật ngọt, mà là chén mật đắng; phép rửa này không rửa bằng nước mà rửa bằng máu tươi. Có lẽ các ông không hiểu ý Chúa nên mạnh dạn đáp: “Thưa được” (Mc 10:39a). Nếu thế thì quá ngon. Rất OK!

Rất điềm đạm và thản nhiên, Chúa Giêsu ôn tồn: “Chén Thầy sắp uống, anh em cũng sẽ uống; phép rửa Thầy sắp chịu, anh em cũng sẽ chịu. Còn việc ngồi bên hữu hay bên tả Thầy thì Thầy KHÔNG có quyền cho, nhưng Thiên Chúa đã chuẩn bị cho ai thì kẻ ấy mới được”. Vế thứ hai trong câu nói của Chúa Giêsu thật đáng lưu ý. Nghe Thầy trò họ đối thoại, mười môn đệ kia cảm thấy “nóng gáy” nên tỏ vẻ tức tối với anh em Giacôbê và Gioan. Đó cũng chính là động thái của chúng ta ngày nay, cũng ghen ăn tức ở chứ chẳng hơn gì họ ngày xưa, thậm chí còn kèn cựa nhau rất tinh vi theo dạng công nghệ “bốn chấm” ngày nay.

Sau đó, Chúa Giêsu gọi các đệ tử lại và nói: “Anh em biết rằng những người được coi là thủ lãnh các dân thì dùng uy mà thống trị dân, những người làm lớn thì lấy quyền mà cai quản dân. Nhưng giữa anh em thì không được như vậy: ai muốn LÀM LỚN giữa anh em thì phải LÀM NGƯỜI PHỤC VỤ anh em; ai muốn LÀM ĐẦU anh em thì phải LÀM ĐẦY TỚ mọi người”. Và Ngài dẫn chứng: “Vì Con Người đến KHÔNG PHẢI ĐỂ ĐƯỢC NGƯỜI TA PHỤC VỤ, nhưng là để PHỤC VỤ, và HIẾN MẠNG SỐNG làm giá chuộc muôn người”. Có thể tóm lại một câu ngắn gọn có vần điệu thế này cho dễ nhớ: “Làm đầu PHẢI hầu thiên hạ”.

Xưa cũng như nay, đối với con người, vấn đề phục vụ là chuyện rất tế nhị, dễ “chạm” vào “phần mềm nhạy cảm” của bất kỳ ai – dù đời hay đạo. Nhưng Lời Chúa quá rõ ràng, không bóng gió, không văn hoa, không tránh né. Tuy nhiên, trong sinh hoạt thường nhật, cái mà người ta nói là phục vụ người khác thì thực chất có thể lại chỉ là cung cách “phục vụ có điều kiện”. Rất đáng quan ngại!

Phục vụ là động từ, nghĩa là phải hành động cụ thể, chứ không là danh từ suông hoặc một mỹ từ để “trang trí” theo chức vụ, tất nhiên liên quan đau khổ. Hầu như mọi thứ đều liên đới với nhau, nối kết như mạng nhện vậy – không trực tiếp thì gián tiếp. Trên một tấm bảng đồng, người ta thấy khắc những dòng chữ tuyệt vời này:

Lạy Chúa, con cầu xin được Mạnh Mẽ để thành đạt trong cuộc đời, Ngài lại làm cho con ra YẾU ĐUỐI để biết VÂNG LỜI và KHIÊM HẠ.

Con cầu xin có Sức Khỏe để mong thực hiện những công trình lớn lao, Ngài lại cho con chịu TÀN TẬT để chỉ làm NHỮNG VIỆC NHỎ TỐT LÀNH.

Con cầu xin được Giàu Sang để sống sung sướng thoải mái, Ngài lại cho con NGHÈO NÀN để học biết thế nào là KHÔN NGOAN.

Con cầu xin có Uy Quyền để mọi người phải kính nể ca ngợi, Chúa lại cho con THẤP HÈN để con biết CẦN NGÀI.

Con cầu xin có Tất Cả để tận hưởng cuộc đời, Ngài lại cho con CẢ CUỘC ĐỜI để TẬN HƯỞNG MỌI SỰ.

Con xin gì cũng chẳng được theo ý con muốn, nhưng những điều con đáng phải mơ ước mà con không hề biết cầu xin, thế mà Ngài vẫn ban cho con THẬT DƯ ĐẦY từ lâu.

Lạy Chúa, hóa ra con lại là người hơn hết trên đời này, bởi con đã nhận được VÔ VÀN ÂN PHÚC của Ngài. Con xin lỗi Ngài, xin tha tội cho con!

Ôi chao! Toàn là những thứ trái ngược nhau. Tuy nhiên, qua đó chúng ta khả dĩ nhận thấy rằng đau khổ không là điều đáng nguyền rủa, mà ngược lại, đau khổ lại là điều đáng mơ ước, vì đó là “thánh giá Chúa trao” – như người ta thường nói với những người chịu đau khổ. Vui chịu đau khổ là sống đức tin, là bước qua cửa hẹp (Mt 7:13-14; Lc 13:24), là vác thập giá theo Chúa (Mt 10:38; Lc 14:27), là từ bỏ chính mình (Mt 10:39; Lc 14:33). Hợp lý lắm!

Chúa Giêsu đã chịu đau khổ tới mức tột cùng, với nhân tính thì Ngài cũng vô cùng đau đớn. Thiết tưởng rằng mỗi chúng ta đều phải nghiêm túc xem lại đức tin của chính mình: “Ai tuyên bố nhận Thầy trước mặt thiên hạ thì Thầy cũng sẽ tuyên bố nhận người ấy trước mặt Cha Thầy, Đấng ngự trên trời. Còn ai chối Thầy trước mặt thiên hạ thì Thầy cũng sẽ chối người ấy trước mặt Cha Thầy, Đấng ngự trên trời” (Mt 10:32-33).

Cuộc sống hầu như luôn TRÁI Ý chứ KHÔNG NHƯ Ý của mình, thế nên Chúa Giêsu mới bảo “vác thập giá” mà theo Ngài. Nhiều vị thánh đã có những lúc phải sống trong vùng tăm tối của linh hồn, nhưng các ngài vẫn một lòng trung tín. Đấng đáng kính Charles de Foucauld nói: “Đôi khi Thiên Chúa để chúng ta chìm trong tăm tối đến độ bầu trời của chúng ta không có một vì sao chiếu sáng. Chúng ta phải nhớ rằng chúng ta sống trên trần gian để chịu đau khổ, trong khi vẫn bước theo Đấng Cứu Độ dịu hiền trên con đường tăm tối và chông gai. Chúng ta là những người lữ hành và những người xa lạ trên trần gian. Những người lữ hành ngủ trong những túp lều và nhiều lúc phải băng qua hoang mạc, nhưng khi nghĩ đến quê nhà là họ quên hết mọi sự khác”.

Lạy Thiên Chúa, chúng con thật là vô tích sự mà vẫn “chảnh”, xin biến đổi chúng con. Xin ban thêm đức can đảm và đức khôn ngoan để chúng con sống đức tin, không ngừng tuyên xưng Danh Thánh Ngài mọi nơi và mọi lúc, xin giúp chúng con biết dùng ánh mắt đức tin để nhận biết Thánh Ý Ngài trong mọi nghịch cảnh ở đời này. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Đấng cứu độ của nhân loại. Amen. Về mục lục.

TRẦM THIÊN THU


 

Truyền_giáo 134: GÀY KHÁNH NHẬT TRUYỀN GIÁO


 Tin mừng Mc 10: 35-45

1.Niềm Tin trong đời sống Kitô hữu

 

Đức Giáo Hoàng Phanxicô trong sứ điệp ngày Thế Giới Truyền Giáo năm nay nói với chúng ta Truyền_giáo 134


Đức Giáo Hoàng Phanxicô trong sứ điệp ngày Thế Giới Truyền Giáo năm nay nói với chúng ta rằng: Các con đừng sợ Đức Kitô và Giáo Hội của Ngài! Vì ở đó chúng ta tìm thấy kho tàng vốn lấp đầy cuộc sống bằng niềm vui. Cha có thể nói với các con từ kinh nghiệm riêng của Cha: nhờ Niềm Tin, Cha đã tìm thấy một nền tảng chắc chắn cho những giấc mơ của Cha và sức mạnh để thực tại hoá chúng. Niềm Tin vào Chúa Giêsu Kitô, Đấng đã chết trên thập giá và đã sống lại vì chúng ta. Sự thật này mời gọi sự tự do của chúng ta và thách đố chúng ta hãy tìm kiếm, khám phá và loan báo. Cha muốn suy tư với các con về sứ mạng mà chúng ta đã nhận lãnh từ Đức Kitô. Trong khi nói với các con, Cha cũng nói với hết mọi Kitô hữu đang sống hành trình đời mình trong Giáo Hội với vai trò là con cái của Thiên Chúa. Điều dẫn Cha đến việc nói với mọi người qua cuộc trò chuyện này với các con là là sự chắc chắn rằng Niềm Tin Kitô Giáo vẫn hằng luôn trẻ khi nó mở ra cho việc truyền giáo mà Đức Kitô ủy thác cho chúng ta:“Truyền Giáo làm sống động Niềm Tin”, [1] nghĩa là "loan truyền Đức Tin chính là tái tạo sinh lực mới cho Đức Tin" [2]

1.1.Vậy Niềm Tin đó như thế nào

1.1.1.Niềm Tin trong đời thường

Trong cuộc sống, không ít lần ta gặp khó khăn, khiến bản thân ta cảm thấy vô cùng tuyệt vọng, mất phương hướng và không còn tin tưởng vào ai cũng như vào bất cứ điều gì. “Sai lầm lớn nhất của đời người là đánh mất Niềm Tin”. Khi gặp khó khăn, trắc trở, chúng ta cần phải đối mặt, cần phải tin rằng ngày mai tươi đẹp sẽ đến. Đó chính là phương pháp giúp ta thoát khỏi những khó khăn, hụt hẫng hoặc thực tại quá cay đắng, phũ phàng. Chúng ta phải tìm lại Niềm Tin vì Niềm Tin giúp cuộc sống trở nên ý nghĩa hơn.

Niềm Tin chính là nguồn năng lực mạnh mẽ nhất trong việc tạo ra những điều tốt đẹp trong cuộc sống. Niềm Tin giúp cho chúng ta khơi nguồn những năng lực vốn có, ẩn sâu trong mỗi con người. Vì thế trong cuộc sống, chúng ta cần phải tin tưởng nhau và Niềm Tin giúp cuộc sống trở nên ý nghĩa hơn. Vì ta tin tưởng vào một người nào đó, tức là ta thấy được giá trị đích thực của họ, cho dù giá trị đó đã bộc lộ ra bên ngoài hay vẫn đang tiềm ẩn bên trong. Từ Niềm Tin tự nhiên, chúng ta tiến tới Niềm Tin tôn giáo.

1.1.2.Niềm Tin Tôn Giáo

- Niềm Tin tôn giáo là một dạng nhận thức đặc biệt, dựa trên trực giác, tạo cho con người một Niềm Tin có tính thiêng liêng, giúp người ta có thể nhận thức được những sự vật mà người thường không thấy được, cho ta một sức mạnh đặc biệt mang tính “thăng hoa” để tác động đến cuộc sống trần tục.

- Niềm Tin tôn giáo phải là một niềm tin siêu lý, không dựa vào lý tính, thực nghiệm, một Niềm Tin được cảm nhận hoặc theo truyền thống kinh nghiệm, hoặc do tu luyện dần để khẳng định vững chắc. Đó là một Niềm Tin không cần chứng minh. Người ta tin để rồi tin. Tin vào những điều vĩnh hằng, tuyệt đối, một cuộc sống như ý muốn, cuộc sống bất diệt. Vì lý do đó mà nội dung Niềm Tin tôn giáo phụ thuộc vào những tín điều, giáo lý của từng tôn giáo khác nhau.

1.2.Sự khác biệt giữa Niềm Tin và Đức Tin

Sống trên đời ai ai cũng có Niềm Tin. Nếu không có Niềm Tin, con người chúng ta dễ rơi vào tình trạng lập dị và có khi đi đến chỗ tuyệt vọng, không còn tin tưởng vào ai cũng như bất cứ điều gì. Là người Kitô hữu, chúng ta lại còn có Đức Tin, tin vào một Thiên Chúa cao cả và quyền năng. Nhưng nhiều khi chúng ta lẫn lộn hai từ Niềm Tin

(la confiance - confidence) và Đức Tin (la Foi - Belef).

1.2.1.Niềm Tin (la confiance - confidence)

Ở đây, Niềm Tin là lòng tin, sự tin tưởng vào một người, một sự việc nào đó. Mất Niềm Tin là mất hết tin tưởng, không còn tín nhiệm nữa. Một lần bất tín, vạn lần không tin. Con người lỡ một lần không trung thực, bội tín, sẽ dễ làm cho người khác không còn tin mình nữa.

1.2.2.Đức Tin (La Foi - Belef)

Đức Tin là Niềm Tin vào một tôn giáo, vào một Đấng Siêu Việt và toàn Năng, thậm chí còn dám hy sinh mạng sống vì Đức Tin, vì Đấng họ yêu mến. Cho nên Đức Tin là chấp nhận chân lý của Thiên Chúa theo lệnh của ý chí được Thiên Chúa tác động nhờ ân sủng.[3] Chính vì vậy, Đức Tin là hồng ân của Thiên Chúa, là một nhân đức siêu nhiên do Thiên Chúa ban tặng. [4]
 
2. “Được lôi cuốn và được sai đi” [5]

Mỗi người nam nữ là một sứ mạng; đó là lý do cho cuộc sống của chúng ta trên mặt đất này. Sứ mạng này gồm “được lôi cuốn và được sai đi”. Đây là hai chuyển động được người trẻ cảm nhận như tình yêu trong tâm hồn họ. Hai chuyển động này còn mang lại cho người trẻ một tương lai đầy hứa hẹn và giúp họ định hướng cuộc đời.

2.1. “Được lôi cuốn và được sai đi” qua vụ nổ trái bom nguyên tử

Ngày 9 tháng 8 năm 1945, lúc 11 giơ 02 phứt.

Một tia chóp lóa mắt lóe lên. Nhiệt độ: 9000 độ bách phân. Dưới một luồng gió với vận tốc 2km/giây, Urakami, khu phố phía tây bắc của Nagasaki bị hủy diệt và bốc cháy. Cơ thể của những người đi đường nằm rạp trên đường và hóa thành than. Những cư dân khác bị biến thành tro bên dưới căn nhà bị thiêu rụi. 30.000 người chết, 100.000 người bị thương. Trong số 10.000 người Công Giáo ở Urakami, có 8.500 người đã chết. Tại ngôi trường có 1.800 em học sinh, thì chỉ còn lại 200 em sống sót.

Đại Học y khoa nằm cách trung tâm vụ nổ 700 mét và được xây dựng bằng bê tông cốt thép đã thoát khỏi cuộc tàn phá lúc ban đầu sớm bị hỏa hoạn. Nagai đang sắp xếp các phim chụp tia X vào lúc diễn ra vụ nổ, ông bị ném xuống nền nhà, bên phải bị mảnh vỡ cửa kính đâm thủng lỗ chỗ. Máu chảy xối xả từ bên thái dương phải của ông. Ông lần mò thoát ra khỏi đống kính vỡ vụn và đi xuống cầu thang. Từ phòng khám và hành lang nơi các bệnh nhân đang ngồi chờ, người ta nghe vọng lên tiếng kêu cứu. “Được, chúng tôi đến đây!” Nagai hét to và đưa bàn tay ép mạnh vào thái dương chảy máu.

Việc săn sóc bắt đầu. Những chiếc áo sơ mi rách nát được sử dụng làm băng quấn. Bác sĩ Nagai, tay phải siết chặt thái dương phải làm việc bằng tay trái. Đôi khi mải mê săn sóc người bị thương, ông bỏ tay ra và máu lại phun ra nhuộm đồ trang phục của cô y tá đứng bên cạnh.

“Vì những mạch máu ở thái dương hẹp, nên tôi có thế cầm cự trong ba tiếng đồng hồ. Điều đó cũng đủ để tiến hành công cuộc sơ cứu,” ông nhận xét. Ông vừa làm việc vừa thỉnh thoảng bắt mạch để xem mình còn đủ sức lực hay không.

Thung lũng Urakami nhanh chóng biến thành biển lửa. Ở cửa bệnh viện, những dòng người bị thương chạy đến không dứt: những bóng dáng đẫm máu, áo quần tơi tả, tóc cháy xém. Trẻ con kéo lê các tử thi của cha mẹ chúng, những bà mẹ trẻ ẵm thi thể mất đầu của những đứa bé còn bú. Một cảnh tượng như hỏa ngục.

Phần lớn các loại thuốc men không còn sử dụng được nữa. Chỉ còn một chút ít dụng cụ để sơ cứu...và hàng ngàn người bị thương đang chờ đợi. Nagai chỉ có một vài người phụ tá. “Mặc kệ! Chúng ta sẽ săn sóc cho đến khi sức cùng lực kiệt!” [6]

Takashi Nagai là người chứng kiến và cũng là nạn nhân của trái bom nguyên tử. Còn Leonard Cheschire người ném trái bom nguyên tử thì như thế nào?

2.2.“Được lôi cuốn và được sai đi” qua nhân vật Léonard Cheshire.

Léonard Cheshire là viên đại úy trẻ tuổi nhất của nhóm R.A.F... Lúc này anh là vị sĩ quan trẻ nhất nhận được đặc ân hiếm có này, huân chương thập giá Victoria.

Một ngày đẹp trời tháng 8/1945, hai pháo đài bay của Mỹ bay về phía Nagasaki trên bầu trời Thái Bình Dương xanh thăm thẳm, ở khoang lái của một trong hai chiếc phi cơ B.29 có đại úy Cheshire. Anh vừa được thủ tướng Winston Churchill bổ nhiệm làm sĩ quan liên lạc bên cạnh không lực Mỹ ở Viễn Đông.

Một chiếc B. 29 khác vừa bay đến mục tiêu. Khoang hầm phi cơ được mở ra, một quả bom nguyên tử đang đâm bổ xuống thành phố. Một vài giây sau, toàn bộ hải cảng Nagasaki bị hủy diệt.

Báo chí Anh đã hết lời ca ngợi Cheshire. Họ nói về “con người có sức hủy diệt nhất của chiến tranh”, “viên sĩ quan được tuyên dương nhất trong chiến tranh”, “một trong số những nhà chiến lược hàng không tài giỏi nhất”. Cảnh tượng hủy diệt Nagasaki cũng vừa khiến cho người đàn ông này quay lưng lại hoàn toàn. Lúc quay về từ cuộc không tập, Cheshire liền xin từ nhiệm chức vụ sĩ quan của R.A.F.

Sau khi rời khỏi hỏa ngục này, anh quay về với Thiên Chúa xa lạ để cầu xin sự giúp đỡ của Người. Khi trở về Anh quốc, anh luôn nghĩ về việc thực hiện bi thảm của ngành kỹ thuật nhân loại, vấn đề căn bản ám ảnh anh hơn bao giờ hết: vai trò của Thiên Chúa trong cuộc sống của nhân loại là gì? Anh ý thức rằng không những bản thân anh nhưng còn tất cả mọi người phải hướng đến một điều gì cao trọng hơn là một nền vật lý nguyên tử thuần túy. [7]

Ngày lễ Giáng Sinh năm 1948, đại úy Cheshire gia nhập Giáo Hội Công Giáo.

Ngay sau đó, anh xây dựng ba ngôi nhà dành để săn sóc cho những bệnh nhân bị bỏ rơi không thể chữa trị. Vào lúc này, anh là người trở lại Công Giáo nổi tiếng nhất của nước Anh và hơn thế nữa, một vị tông đồ đáng chú ý.

Từ thập giá Victoria, anh đã đến với thập giá đích thực của Đức Kitô. [8]

2.3. “Được lôi cuốn và được sai đi” qua nhân vật bác sĩ Takashi Nagai

2.3.1.Tín đồ của chủ nghĩa duy vật

Takashi Nagai sinh năm 1908 tại Izumo, mãnh đất huyền thoại của Nhật Bản. Chẳng biết chút gì về đạo Công Giáo và đến 1928 anh bị ảnh hưởng chủ nghĩa duy vật khoa học rất thịnh hành tại Nhật Bản lúc bấy giờ. Sau đây là những gì bác sĩ Nagai viết khi nhớ lại những năm tháng này:

 “Từ những năm tháng tràn đầy lòng nhân đạo, tôi đã trở thành tù nhân của chủ nghĩa duy vật. Vừa chân ướt chân ráo bước vào ngành y, tôi buộc phải mổ xẻ các tử thi. Theo người ta cho tôi biết, đó là tất cả những gì tồn tại trong con người. Tôi dễ dàng kết luận là con người không là gì khác ngoài vật chất.

Cơ cấu tuyệt vời của toàn bộ cơ thế, tổ chức tỷ mỷ của những phần nhỏ nhất của nó, tất cả làm cho tôi thán phục. Nhưng cái thứ mà tôi đang sử dụng ở đây, đó không chỉ là vật chất đơn thuần.”

Các cơ quan phức tạp của cơ thể con người, các chức năng tương ứng, mọi thứ đều được giải thích. Vì cớ gì anh có thể chấp nhận sự hiện hữu của một thực tại lờ mờ như “linh hồn” kia chứ! Không phải cơ thể chỉ là sự tổng hợp của những vật đơn giản như ôxy, azốt, canxi... hay sao? Linh hồn ư? Một hồn ma do những kẻ lừa bịp nghĩ ra để đánh lừa những người đơn sơ thôi!

Tuy nhiên, vấn đề cuộc sống con người luôn luôn dầy vò anh. Đôi khi anh cũng quyết tâm tìm kiếm chân lý trong khoa học thực nghiệm. Anh tuyệt đối tách ra khỏi tâm trí bất cứ ý tưởng nào về tâm linh hoặc tôn giáo.

Cái chết bất ngờ của mẹ anh vào năm 1930 đã bứt anh ra khỏi những ảo tưởng đó. [9]

Tháng 6/1934, anh chịu Phép Rửa Tội với tên thánh Phaolô.

2.3.2.Những vinh dự sau cùng

Năm 1949, bộ trưởng “bộ phúc lợi xã hội” trao tặng bằng khen cho Nagai về quyển sách “để lại cho các trẻ em”. Cùng năm đó, ông đề nghị với hội đồng chính phủ tuyên dương bác sĩ theo chương trình nghị sự quốc gia.

Ngày 28/6/1949, hoàng đế Nhật đến thăm ông. Cuộc gặp gỡ rất đơn giản đã để lại trong lòng ông đầy sự thán phục đối với tính cách minh bạch khoa học của hoàng đế, với tư cách là một nhà sinh vật học nổi tiếng.
Ngày 30/6, đến lượt Đức Hồng Y Gilroy, đại diện của Đức Giáo Hòang, đến thăm ông nhân dịp lễ kỷ niệm 400 năm ngày thánh Phanxicô Xaviê đến nước Nhật truyền giáo.

Ngày 1/6/1950, qua sự biểu quyết của Quốc Hội, hoàng đế trao tặng cho ông một chiếc cúp bằng bạc, trong khi thủ tướng gửi đến ông một bức thư có nội dung như sau:

Gửi bác sĩ Nagai,

Khen tặng theo chương trình nghị sự

“Giữa muôn vàn nguy hiểm triền miền, ngài đã cống hiến bằng cả tâm hồn và thể xác cho việc nghiên cứu khoa y học quang tuyến X. Rốt cuộc ngài mắc bệnh bạch cầu. Luôn luôn miệt mài hăng say trong công việc, ngài đã góp phần vào sự tiến bộ của khoa học và được xem như tấm gương cho tất cả mọi người. Bị tổn thương vì bom nguyên tử và bắt buộc phải nằm liệt giường, ngài đã cống hiến toàn bộ sức lực cho việc biên soạn nhiều tác phẩm, nổi bật nhất là tác phẩm “những quả chuông ở Nagasaki” và “để lại cho các trẻ em”. Ngài đã đóng góp tích cực vào việc giáo dục xã hội cho những người đồng hương. Trong niềm tin đó, chúng tôi khen ngợi ngài.”

Thủ tướng

Shigeru Yoshida

Và sau đây là bức thư phúc đáp của bác sĩ Nagai:

“Chiếc cúp và bức thư mà ngài gửi đến cho tôi là một niềm vui dành cho Thiên Chúa, những người thân và các con của tôi. Mặc dù bản thân tôi không xứng đáng, tôi cũng xin vui mừng đón nhận.

Nếu như công việc của tôi có góp phần vào việc tái thiết nước Nhật, điều đó có được là nhờ sự hướng dẫn của Thiên Chúa, nhờ sự giúp đỡ của những người đồng loại và nhờ lòng hiếu thảo của các con tôi. Tôi chỉ là một tôi tớ vô dụng, mọi vinh quang đều thuộc về Thiên Chúa.

Về niềm vinh dự dành cho tôi, tôi nghĩ đúng hơn nó nên dành cho những người đồng hương của tôi ở Nagasaki. Trên cánh hoang tàn đổ nát do bom nguyên tử để lại, chính họ là những người xây dựng một trung tâm của nền văn minh có ánh hưởng sâu rộng trên thế giới.

Sự khích lệ mà ngài ban cho tôi đồng thời cũng ban cho tôi sức mạnh mới để làm việc với tất cả khả năng của tôi trong việc xây dựng hòa bình đế đáp lại lòng mong đợi của ngài.”

Takashi Nagai.

Biết được quyết định của hội đồng chinh phủ, Đức Thánh Cha Piô XII cũng san sẻ niềm vui với bác sĩ và gửi đến ông Phép Lành Tòa Thánh. [10]

2.3.3. Những giờ phút sau cùng

Tháng 3/1951, tình trạng sức khỏe của bác sĩ Nagai trở nên nghiêm trọng. Ngoài sự suy nhược cực độ, lá lách sưng to làm bụng phình to đến mức không cho phép ông trở mình trên giường, nếu không có sự giúp đỡ. Bạch cầu với số lượng 7.000 nơi người bình thường, đã đạt đên 330.000. Nagai, người đã nghiên cứu kỹ sự phát triển của căn bệnh trên chính cơ thể của mình, không thể không cảm thấy giờ ra đi của ông sắp đến.

Điều đó không ngăn cấm ông tha hồ biểu lộ óc khôi hài quen thuộc, đến mức những người đến thăm ông khó mà hình dung họ đang đứng trước một người đang hấp hối.

Tháng 4, ông viết quyển sách cuối cùng. Sau khi quyển sách vừa hoàn tất, một cơn xuất huyết lại bộc phát làm tê liệt toàn bộ cánh tay.

Ngày 28/4, lại xảy ra đợt xuất huyết lần thứ hai. Bị dằn vặt đau đớn, bác sĩ đề nghị chích một mũi móc phin. Mũi đầu tiên cho đến giờ phút này.

Người ta quyết định cho ông nhập viện. Buổi sáng vào bệnh viện, ngày 30, ông lãnh nhận Mình Thánh Chúa. Dù rất khát, suốt cả đêm, ông không muốn uống gì, mặc dù ông được phép uống vì là bệnh nhân.

Ở bệnh viện, cơn đau của ông càng trầm trọng thêm, rồi Nagai đi vào hôn mê. Lúc tỉnh lại, ông kêu lên thật to:

 “Giêsu, Maria, Giuse”, rồi với giọng nói khe khẽ “con xin phó dâng linh hồn con trong tay các Ngài”. Một nữ y tá đưa một cây Thánh Giá cho Makoto để anh trao lại cho cha. Vừa đưa bàn tay trái còn cử động cầm lấy Thánh Giá, Nagai vừa thì thào: “con hãy cầu nguyện... " ông tắt thở.

Ông cầm trong tay tràng chuỗi Mân Côi được kết bằng những hạt ngọc đen do Đức Thánh Cha trao tặng và cây Thánh Giá Makoto vừa trao.

Trên gương mặt người chết còn phảng phất một nụ cười nhẹ nhàng. Ông hưởng dương 43 tuổi. Nguyên nhân trực tiếp của cái chết: suy tim do bệnh bạch cầu. Trái tim mà Nagai đã bắt nó dâng hiến cho đến hơi thở cuối cùng đã ngừng đập. [11]

3.Lời khích lệ của Đức Giáo Hoàng Phanxicô nhân ngày Khánh Nhật Truyền Giáo

Cha cám ơn tất cả các nhóm trong Hội Thánh giúp cho các con có thể gặp gỡ Đức Kitô sống động trong Hội Thánh: các giáo xứ, các hiệp hội, các phong trào, các dòng tu, và nhiều hình thức phục vụ truyền giáo khác nhau.

Có biết bao nhiêu người trẻ coi hoạt động truyền giáo tự nguyện là một cách để phục vụ những anh chị em “bé mọn nhất” của chúng ta (xem Mt 25,40), thăng tiến phẩm giá con người và làm chứng cho niềm vui của tình yêu và của tư cách là Kitô hữu! Các kinh nghiệm này của Hội Thánh không chỉ giáo dục và đào tạo những người trẻ để họ thành công trong nghề nghiệp, mà còn để họ phát triển và nuôi dưỡng những ân huệ Chúa ban hầu phục vụ tha nhân tốt hơn. Các hình thức rất đáng khen ngợi của việc phục vụ truyền giáo nhất thời này là một sự khởi đầu hiệu quả, và nhờ việc phân định ơn gọi, chúng có thể giúp các con quyết định hiến mình hoàn toàn cho công việc truyền giáo. [12]

 Lm. Giuse Đỗ Văn Thụy
---------------------------
[1] Sứ điệp ngày Thế Giới Truyền Giáo lần thứ 92 năm 2018
[2] Redemptoris Missio, 2
[3] Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo số155
[4] Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo số 153
[5] Sứ điệp ngày Thế Giới Truyền Giáo lần thứ 92 năm 2018
[6] Nguyễn Thành Thống, Những người trở lại Công Giáo 1, trg.132-133
[7] Nguyễn Thành Thống, Những người trở lại Công Giáo 3, trg.181-183
[8] Nguyễn Thành Thống, Những người trở lại Công Giáo 3, trg.175-177
[9] Nguyễn Thành Thống, Những người trở lại Công Giáo, tập I, trg.124-125
[10] Nguyễn Thành Thống, Những người trở lại Công Giáo, tập I, trg.143-144
[11].Yakichi Kataoka
[12] Sứ điệp ngày Thế Giới Truyền Giáo lần thứ 92 năm 2018


 

Truyền_giáo 135: SỨ ĐIỆP CỦA ĐỨC THÁNH CHA PHANXICÔ


CHO NGÀY THẾ GIỚI TRUYỀN GIÁO 2019

 (Bản dịch Tiếng Việt Lm. Đaminh Ngô Quang Tuyên)

Được Rửa Tội và Được Sai Đi:

Hội Thánh Chúa Kitô thi hành sứ mạng trong thế giới

Anh chị em thân mến,

 

Hướng đến Tháng Mười 2019, tôi đã xin toàn thể Hội Thánh làm sống lại sự ý thức và dấn thân Truyền_giáo 135


Hướng đến Tháng Mười 2019, tôi đã xin toàn thể Hội Thánh làm sống lại sự ý thức và dấn thân truyền giáo của Hội Thánh khi chúng ta kỷ niệm một trăm năm Tông Thư Maximum Illud của Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô XV (30 tháng 11, 1919). Tầm nhìn xa mang tính tiên tri của Tông Thư về hoạt động tông đồ này đã giúp tôi một lần nữa hiểu ra tầm quan trọng của việc đổi mới sự dấn thân truyền giáo của Hội Thánh và tạo sức đẩy Tin Mừng mới cho công cuộc rao giảng và đem cho thế giới ơn cứu độ của Đức Giêsu Kitô, Đấng đã chết và phục sinh.

Tựa đề của Sứ Điệp này cũng y hệt tựa đề của Tháng Mười Đ ặc Biệt Truyền Giáo: Được Rửa Tội và Được Sai Đi: Hội Thánh Chúa Kitô thi hành sứ mạng trong thế giới. Cử hành tháng này sẽ giúp chúng ta trước hết tái khám phá chiều kích truyền giáo của lòng tin của chúng ta vào Đức Giêsu Kitô, một lòng tin đã được Thiên Chúa thương ban cho chúng ta trong phép rửa. Mối quan hệ con thảo của chúng ta với Thiên Chúa không phải chỉ đơn thuần là một cái gì riêng tư, nhưng luôn luôn liên quan đến Hội Thánh. Nhờ mối quan hệ con thảo của chúng ta với Thiên Chúa, Cha, Con và Thánh Thần, chúng ta cùng với rất nhiều anh chị em chúng ta được sinh ra cho đời sống mới. Sự sống thần linh này không phải là sản phẩm để bán-chúng ta không làm chuyện chiêu dụ người ta vào đạo-nhưng là một kho báu để cho tặng, truyền thông và công bố: đó là ý nghĩa của truyền giáo. Chúng ta được cho không mòn quà này và chúng ta cũng đem nó cho không người khác (x. Mt 10:8), không loại trừ một ai. Thiên Chúa muốn mọi n gười được cứu rỗi bằng cách nhận biết chân lý và trải nghiệm lòng thương xót của Người nhờ sứ vụ của Hội Thánh, mầu nhiệm phổ quát của ơn cứu độ (x. 1 Tm 2:4; Lumen Gentium, 48).

Hội Thánh đang thi hành sứ mạng trên thế giới. Lòng tin vào Đức Giêsu Kitô giúp chúng ta nhìn mọi sự trong viễn cảnh đúng của chúng, khi chúng ta nhìn thế giới bằng con mắt và trái tim của Thiên Chúa. Đức cậy mở lòng chúng ta ra những chân trời vĩnh cửu của sự sống thần linh mà chúng ta được thông phần vào. Đức ái mà chúng ta được nếm cảm trước trong các bí tích và tình yêu thương huynh đệ, thúc đẩy chúng ta đi đến mọi chân trời góc biển (x. Mk 5:4; Mt 28:19; Cv 1:8; Rm 10:18). Một Hội Thánh quyết tiến tới những vùng biên cương xa xôi nhất thì cần có một sự hoán cải truyền giáo kiên trì và liên tục. Biết bao vị thánh, biết bao người nam người nữ giàu đức tin, làm chứng cho sự thật rằng sự mở rộng vô hạn này, sự đi ra trong tình thương xót này quả thật là khả thi và thực tế, vì nó được thúc đẩy bởi tình yêu và ý nghĩa sâu xa nhất của nó như là một quà tặng, một hi sinh và một sự cho không (x. 2 Cr 5:14-21)! Người rao giảng về Thiên Chúa phải là một người của Thiên Chúa (x. Maximum Illud).

Sứ mạng truyền giáo này chạm tới bản thân chúng ta: Tôi là một sứ mạng, luôn luôn; bạn là một sứ mạng, luôn luôn; mỗi người nam người nữ đã chịu phép rửa là một sứ mạng. Những người đang yêu thì không bao giờ ở yên; họ được kéo ra khỏi con người họ; họ được thu hút bởi người khác và họ thu hút người khác; họ hiến mình cho người khác và xây dựng những mối quan hệ trao ban sự sống. Liên quan đến tình yêu của Thiên Chúa, không ai là vô ích hay vô nghĩa. Mỗi người chúng ta là một sứ mạng cho thế giới, vì mỗi chúng ta là kết quả tình yêu của Thiên Chúa. Cho dù những người cha người mẹ có thể phản bội tình yêu của họ bằng sự dối trá, thù hằn và bất trung đi chăng nữa, Thiên Chúa không bao giờ lấy lại món quà sự sống của Người. Từ thuở đời đời Người đã tiền định ch o mỗi con cái của Người được dự phần vào sự sống thần linh vĩnh cửu của Người (x. Ep 1:3-6).

Sự sống này được ban cho chúng ta trong Phép Rửa, ban cho chúng ta ơn đức tin vào Đức Giêsu Kitô, Đấng chiến thắng tội lỗi và sự chết. Phép Rửa tái sinh chúng ta theo hình ảnh Thiên Chúa và giống như Thiên Chúa, và làm chúng ta thành những chi thể của Thân Thể Chúa Kitô, tức là Hội Thánh. Theo nghĩa này, Phép Rửa thực sự cần thiết để được cứu rỗi vì nó bảo đảm rằng , luôn luôn và mọi nơi, chúng ta là những người con trai con gái trong nhà Cha, chứ không bao giờ là những trẻ cô nhi, những người xa lạ hay nô lệ. Thực tại bí tích nơi người Kitô hữu -được hoàn thành trong Thánh Thể-vẫn là ơn gọi và số phận của mọi người nam người nữ đang tìm kiế m ơn hoán cải và ơn cứu độ. Bởi vì Phép Rửa hoàn thành lời hứa về món quà của Thiên Chúa làm cho mọi người trở thành con cái [của Thiên Chúa] trong Chúa Con. Chúng ta là con cái của cha mẹ ruột chúng ta, nhưng trong Phép Rửa chúng ta nhận được nguồn mạch của mọi tình phụ tử và tình mẫu tử đích thực: Không ai có thể có Thiên Chúa là Cha nếu không có Hội Thánh là mẹ (x. Thánh Cyprianô, De Cath. Eccl., 6).

Do đó, sứ mạng của chúng ta bắt nguồn từ tình cha của Thiên Chúa và tình mẹ của Hội Thánh. Sứ vụ Chúa Giêsu Phục Sinh truyền cho các môn đệ vào ngày Phục Sinh là yếu tố nội tại trong Phép Rửa: Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai anh em, đầy tràn Thánh Thần, để thế gian được giao hoà (x. Ga 20:19-23; Mt 28:16-20). Sứ mạng này là phần thiết yếu của căn tính Kitô hữu chúng ta; nó làm chúng ta có trách nhiệm giúp mọi người thể hiện ơn gọi của họ là làm nghĩa tử của Chúa Cha, nhận ra nhân phẩm của mỗi người và quí trọng giá trị nội tại của sự sống con người, từ lúc thụ thai tới lúc chết. Chủ nghĩa thế tục lan rộng ngày nay, khi nó nhất quyết từ chối tình phụ tử chủ động của Thiên Chúa trong lịch sử của chúng ta, nó là một cản trở cho tình huynh đệ đích thực của loài người, được biểu hiện trong sự kính trọng sự sống của người khác. Không có Thiên Chúa của Đức Giêsu Kitô, mọi sự khác biệt đều bị coi là một mối đe doạ nguy hại, khiến người ta không thể nào có sự chấp nhận lẫn nhau trong tình huynh đệ chân thành và sự hiệp nhất hiệu quả giữa loài người.

Tính phổ quát của ơn cứu độ được Thiên Chúa ban cho chúng ta trong Đức Giêsu Kitô đã khiến Đức Thánh Cha Bênêđíctô XV kêu gọi chấm dứt mọi hình thức chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa chủng tộc, hay sự xuất hiện của việc rao giảng Tin Mừng nhằm đạt được các lợi kích kinh tế và quân sự của các cường quốc thực dân. Trong Tông Thư Maximum Illud, Đức Giáo Hoàng lưu ý rằng sứ mạng phổ quát của Hội Thánh đòi hỏi phải gạt bỏ các ý tưởng độc quyền về tư cách thành viên của đất nước hay nhóm sắc tộc của mình. Sự cởi mở của nền văn hoá và cộng đồng trước tính mới mẻ cứu độ của Đức Giêsu Kitô đòi hỏi phải bỏ lại đàng sau mọi hình thức tự kỷ về sắc tộc và giáo hội. Hôm nay cũng vậy, Hội Thánh cần những người nam người nữ, mà vì đã lãnh nhận phép rửa, họ quảng đại đáp lại tiếng gọi bỏ lại nhà cửa, gia đình, xứ sở, ngôn ngữ và giáo hội địa phương của họ, để được sai đến với các dân tộc khác, đến với một thế giới chưa được biến đổi nhờ các bí tích của Đức Giêsu Kitô và Hội Thánh Người. Bằng việc rao giảng Lời Chúa, làm ch ứng cho Tin Mừng và cử hành sự sống của Thần Khí, họ kêu gọi người ta hoán cải, họ làm phép rửa và cống hiến ơn cứu độ của Đức Kitô, với sự tôn trọng tự do của mỗi người và đối thoại với các nền văn hoá và tôn giáo của các dân tộc mà họ được gửi đến. Nhờ đ ó, ‘sứ mạng đến với muôn dân’, missio ad gentes, vốn luôn luôn cần thiết cho Hội Thánh, góp phần một cách thiết yếu cho tiến trình hoán cải thường xuyên nơi mọi Kitô hữu. Đức tin vào sự phục sinh của Đức Giêsu; sứ mạng Hội Thánh được lãnh nhận trong phép rửa; sự thoát dính bén địa lý và văn hoá với bản thân mình và gia đình mình; nhu cầu cứu thoát khỏi tội lỗi và giải phóng khỏi sự dữ cá nhân và xã hội: tất cả những điều này đòi hỏi sứ mạng phải đạt đến tận cùng cõi đất.

Sự trùng hợp quan phòng của dịp kỷ niệm một trăm năm này với việc cử hành Thượng Hội Đồng Đặc Biệt về các Giáo Hội Vùng Amazôn cho phép tôi nhấn mạnh rằng sứ mạng mà Đức Giêsu uỷ thác cho chúng ta với ơn Thần Khí của Người cũng đến đúng lúc và cần thiết cho các vùng đất ấy và các dân tộc ấy. Một lễ Hiện Xuống mới đang mở rộng cửa cho Hội Thánh, để không một dân tộc nào bị đóng kín trong chính mình và không dân tộc nào bị cắt đứt khỏi sự hiệp thông phổ quát của đức tin. Không một ai phải bị đóng kín trong tình trạng tự kỷ của mình, trong sự q ui chiếu về tư cách thành viên của sắc tộc và tôn giáo của mình. Biến cố Phục Sinh của Đức Giêsu Kitô phá vỡ những giới hạn chật hẹp của các thế giới, các tôn giáo và các nền văn hoá, bằng cách kêu gọi họ lớn lên trong sự tôn trọng nhân phẩm của mọi người nam nữ, và hướng tới một sự hoán cải sâu xa để trở về với sự thật của Chúa Phục Sinh, Đấng ban sự sống đích thực cho mọi người.

Ở đây tôi nhớ đến những lời của Đức Bênêđíctô XVI khi ngài khai mạc Hội Nghị các Giám Mục Châu Mỹ Latinh tại Aparecida, Brazil, năm 2007. Tôi muốn lặp lại những lời này và lấy chúng làm những lời của chính tôi: “Nhưng các quốc gia Châu Mỹ Latinh và vùng Caribê đã hiểu việc chấp nhận đức tin Kitô giáo có nghĩa là gì đối với họ? Đối với họ, nó có nghĩa là biết và đón tiếp Đức Kitô, v ị Thiên Chúa vô danh mà các tổ tiên của họ từng tìm kiếm mà không biết, trong các truyền thống tôn giáo phong phú của họ. Đức Kitô là Đấng Cứu Độ mà họ âm thầm khao khát. Nó cũng có nghĩa là họ đã lãnh nhận, trong nước rửa tội, sự sống thần linh làm cho họ trở thành những nghĩa tử của Thiên Chúa; hơn nữa, họ đã lãnh nhận Chúa Thánh Thần, Đấng đã đến để làm cho các nền văn hoá của họ sinh hoa kết quả, bằng cách thanh luyện các nền văn hoá ấy và phát triển nhiều hạt giống mà Lời Nhập Thể đã gieo nơi họ, nhờ đó dẫn họ đi trên những con đường của Tin Mừng. Lời Thiên Chúa, khi trở thành xác thể nơi Đức Giêsu Kitô, cũng trở thành lịch sử và văn hoá. Cái ảo tưởng quay trở lại để thổi hơi thở sự sống vào các nền tôn giáo thời kỳ tiền -Côlombô, ngăn cách họ với Đức Kitô và với Hội Thánh hoàn vũ, sẽ không thể là một bước tiến tới phía trước: thực ra, nó sẽ là một bước giật lùi. Trên thực tế, sẽ là một bước thụt lùi về một giai đoạn lịch sử bám chặt vào quá khứ” ( Bài Diễn từ khai mạc Hội Nghị, 13 tháng 5, 2007: Insegnamenti III, 1 [2007], 855-856).

Chúng ta phó thác sứ mạng của Hội Thánh cho Đức Maria Mẹ chúng ta. Kết hợp với Con của mình từ lúc Nhập Thể, Đức Trinh Nữ Maria đã khởi sự con đường lữ hành của mình. Mẹ hoàn toàn gắn bó với sứ mạng của Đức Giêsu, một sứ mạng đã trở thành sứ mạng của chính Mẹ khi đứng dưới chân Thánh Giá: sứ mạng cộng tác, với tư cách là Mẹ Hội Thánh, trong việc sinh ra những người con trai con gái của Thiên Chúa trong Thần Khí và đức tin.

Tôi muốn kết thúc sứ điệp này với vài lời về các Hội Giáo Hoàng Truyền Giáo, đã từng được đề nghị trong Maximum Illud như là một nguồn tài nguyên truyền giáo. Các Hội Giáo Hoàng Truyền Giáo phục vụ tính phổ quát của Hội Thánh như là một mạng lưới toàn cầu để hỗ trợ Đức Giáo Hoàng trong cam kết truyền giáo của ngài bằng cầu nguyện, linh hồn của việc truyền giáo, và bằng các việc quyên góp bác ái từ các Kitô hữu trên khắp thế giới. Các khoản quyên góp của họ giúp Đức Giáo Hoàng trong các cố gắng loan báo Tin Mừng của các Giáo Hội địa phương (Hội Giáo Hoàng Truyền Bá Đức Tin), trong việc đào tạo hàng giáo sĩ địa phương (Hội Giáo Hoàng Thánh Phêrô Tông Đồ), trong việc gây ý thức truyền giáo giữa các nhi đồng (Hội Giáo Hoàng Thiếu Nhi Truyền Giáo), và trong việc khích lệ chiều kích truyền giáo của đức tin Kitô giáo (Hiệp Hội Giáo Hoàng Truyền Giáo). Trong khi nhắc lại sự ủng hộ của tôi đối với các Hội này, tôi tin tưởng rằng Tháng Mười Đặc Biệt Truyền Giáo 2019 này sẽ góp phần canh tân việc phục vụ truyền giáo của các hội này cho sứ vụ của tôi.

Tôi thân ái gửi phép lành của tôi đến mọi người nam người nữ truyền giáo, và đến tất cả những ai, nhờ Phép Rửa, đang bằ ng cách này hay cách khác tham gia vào việc truyền giáo của Hội Thánh.

Từ Điện Vaticanô, 9 tháng 6, 2019, Đại lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống

PHANXICÔ


 

Truyền_giáo 136: Khốn cho tôi nếu tôi không rao giảng Tin Mừng


(Suy niệm của Huệ Minh)

“Khốn cho tôi nếu tôi không rao giảng Tin Mừng” (1Cr 9, 16)

 

Đó không chỉ là tiếng kêu của thánh Phaolô mà còn là lời mợi gọi khẩn thiết được gởi đến mỗi Truyền_giáo 136


Đó không chỉ là tiếng kêu của thánh Phaolô mà còn là lời mợi gọi khẩn thiết được gởi đến mỗi người chúng ta, vì khi khoác trên mình chiếc áo Kitô hữu là chúng ta bước vào trong mối tương quan với Thiên Chúa, ở trong sự hiện diện của Thiên Chúa, nhờ đó chúng ta có thể đến với mọi người mang theo vẻ đẹp của Thiên Chúa mà lấp đầy những cơn đói của kiếp người.

Qua câu đầu tiên của trang Tin Mừng hôm nay nhắc chúng ta điểm khởi đầu căn bản của mọi hoạt động truyền giáo: trước hết là nhận thức nhu cầu của anh chị em chung quanh, thứ hai là đưa nhu cầu đó vào trong lời cầu nguyện của chính mình và thứ ba là sẵn sàng để được sai và hăng say ra đi khi được trao phó cho sứ mạng. Chúng ta hãy tự vấn xem chính mình đã có những tư tưởng căn bản này chưa? Những quan tâm truyền giáo làm chứng cho Chúa có được chúng ta đưa vào trong lời cầu nguyện của chính mình chưa? Trong cuộc đối thoại giữa mình với Thiên Chúa chưa?

Khi sai các môn đệ ra đi rao giảng Tin Mừng, Chúa muốn các ông phải là những sứ giả bình an. Lời đầu tiên Chúa truyền cho các ông phải nói là lời chúc bình an. Lời chúc bình an được gửi đến một cách vô điều kiện, không phải là kết quả của những cuộc thương thuyết lâu dài; cũng không tuỳ thuộc ở hoàn cảnh bên ngoài: người môn đệ vẫn nói lời bình an dù trong tư thế của “con chiên ở giữa bầy sói”. Dù lời chúc bình an có được đón nhận hay không, trước hết sự bình an ấy vẫn “quay về với người môn đệ” và tồn tại nơi họ, và như thế biến họ thành những nhân tố xây dựng một “môi trường hoà bình”. Tuyên ngôn Tám Mối Phúc Thật gọi đó là đặc điểm nhận biết người môn đệ đích thực của Chúa Kitô: “Phúc thay ai xây dựng hoà bình, vì họ sẽ được gọi là con cái Thiên Chúa” (Mt 5,9).

‘Thầy sai các con như chiên ở giữa soi rừng’. Lại một nghịch lý khác! Chiên vào giữa sói rừng mà không bị sói ăn thịt mới là lạ. Đi mà lại không có hành trang: ‘đừng mang theo túi tiền, bao bị, giầy dép’ thì càng lạ hơn. Chính những nét khác thường này kéo chúng ta trở lại với nguyên tắc đầu tiên: ‘hãy xin chủ ruộng sai thợ đến gặt lúa của Người’.

Như vậy, ông chủ mới là nhân vật chính của mùa gặt chứ không phải thợ gặt. Ai được ông sai vào cánh đồng của ông là một vinh dự. Vì ông đã lo liệu mọi nhu cầu cho người đó đến độ không phải mang theo cái gì cho bản thân. Công việc có nguy hiểm như chiên vào giữa sói rừng đi nữa thì cũng an tâm, vì đã có ông bảo vệ. Vì thế chúng ta hãy xin ông nhìn đến ta, nhận ta vào làm thợ gặt cho ông, để ông sai ta vào cánh đồng lúa đã chín vàng.

Được Chúa chọn để sai vào cánh đồng truyền giáo của Người thật là một vinh dự. Thánh Luca đã được chung phần vinh dự này mà hôm nay Giáo Hội mừng kính. Ai không được vinh dự này thì đúng là mối họa như thánh Phaolô nói: ‘khốn cho tôi, nêu tôi không rao giảng Tin mừng’. Thánh Luca đã đồng hành với thánh Phaolô trong nhiều chặng đường truyền giáo, và nhất là trong giai đoạn cuối đời, lúc mà nhiều người rời bỏ thánh Phaolô thì thánh Luca vẫn ở lại với Ngài (2Tm 4, 9-17).

Dù là làm thợ thì đáng được trà công nhưng người môn đệ trung tín của Đấng chịu đóng đinh không thể là một kẻ say mê thế tục, tìm sự dễ dãi mà cần ý thức mình là người được Chúa sai đi, sai đi để làm “thơ gặt” chứ không phải để “nghỉ mát”, đi để “phục vụ” chứ không phải để “được phục vụ”. Ngài muốn môn đệ của Ngài noi gương Ngài đi ra tìm và cứu kẻ hư mất, chứ không phải xây dựng trung tâm nào đó và chờ mong người chưa được cứu đến với mình. Ngài muốn môn đệ của Ngài cầu nguyện để có nhiều người ra đi đến với người ngoại chứ không phải cầu nguyện để người ngoại kéo đến nhà thờ.

Những lời dặn dò trên của Chúa Giêsu thật là cặn kẽ, cụ thể, với những chi tiết hết sức thực tế. Dĩ nhiên, tinh thần phải có khi thực hiện những việc làm trên là điều quan trọng hơn. Thời đại đã thay đổi, thời chúng ta đang sống khác với thời của Chúa Giêsu.

Những hành động cụ thể của một thời đã thay đổi, chẳng hạn như ngày xưa đi bộ, cầm gậy thì ngày nay đã có các phương tiện giao thông liên lạc khác, nhưng tinh thần của những hành động cụ thể mà Chúa Giêsu muốn các môn đệ có không bao giờ thay đổi. Trong những giây phút ngắn ngủi suy niệm này chúng ta không thê nào suy niệm tất cả mọi khía cạnh của tinh thần truyền giáo nơi môn đệ của Chúa.

Ta hãy nhớ lại những lời đầu tiên Chúa Giêsu nói trong đoạn Phúc Âm hôm nay: "Lúa chín đầy đồng mà thợ gặt thì ít, vậy các con hãy xin chủ ruộng sai thợ đến gặt lúa của Người, các con hãy ra đi".

Hơn bao giờ hết, trong thời đại của chúng ta, Lời Chúa Giêsu thôi thúc: ‘lúa chín đầy đồng mà thợ gặt thì ít; vậy các con hãy xin chủ ruộng sai thợ đến gặt lúa Người’. Việc quan trọng nhất và ưu tiên hàng đầu là cầu nguyện cho việc truyền giáo. ‘Việc xin chủ ruộng’ nằm trong tầm tay của mọi thành phần dân Chúa. Như Teresa Hài Đồng Giêsu ở trong Dòng kín mà được kể là quan thầy của các xứ truyền giáo vì chị đã tích cực cầu nguyện cho công việc truyền giáo. Không chỉ là lời cầu nguyện suông, nhưng là những lễ vật hy sinh, hãm mình với tình yêu lớn lao dành cho các nhà truyền giáo cũng như những linh hồn đang khao khát tìm biết Chúa.

Xin Chúa đốt lên trong ta ngọn lửa của “khát vọng truyền giáo”, khát vọng giới thiệu Chúa cho mọi người với một con tim tươi trẻ, con tim tư do không bị lợi lộc trần thế làm cho mù quáng, con tim quả cảm dám đương đầu với những thách đố của thời đại, dám xả thân lo việc truyền giáo. Xin Chúa đồng hành với ta và chúc lành cho những “khát vọng” của ta.


 

Truyền_giáo 137: Loan báo Tin Mừng


 Gioan Văn Huy

 

Vì yêu thương, Thiên Chúa đã tạo nên con người và muốn cho tất cả mọi người tham dự vào Truyền_giáo 137


Vì yêu thương, Thiên Chúa đã tạo nên con người và muốn cho tất cả mọi người tham dự vào sự sống của Ngài. Ngài còn muốn liên kết mọi mỗi người thành một đoàn chiên duy nhất.[1] Thật vậy, Chúa Giêsu được Chúa Cha sai đến không chỉ với những con chiên lạc nhà Israel, mà Ngài còn hoà giải cả vũ trụ với Thiên Chúa (x.Cl 1,18-20 ), với dân ngoại, dẹp tan các mối thù địch để tạo ra một nhân loại mới (x.Ep 2,13-18).

Ơn cứu độ của Thiên Chúa mang tính phổ quát (x.Lc 2,30). Máu của Đức Giêsu đổ ra đem lại ơn cứu độ cho muôn người (x.Mc 10,45). Vì vậy, sứ mệnh của Giáo hội được nối kết với sứ mệnh của Chúa Giêsu: “Như Cha đã sai Thầy đến thế gian, thì Thầy cũng sai anh em” (Ga 20,21). Cho nên, sứ vụ truyền giáo là “bổn phận của toàn thể Giáo hội”, vốn “tự bản chất là thừa sai.”[2] Việc loan báo Tin mừng sẽ không trọn vẹn nếu không quan tâm đến mối quan hệ giữa Tin mừng và cuộc sống: cá nhân và xã hội của con người, công lý, hoà bình, phát triển và việc giải phóng con người thoát khỏi nghèo đói, bệnh tật và những bất công.[3] Giáo hội xem lời của Thánh Phaolô như sứ điệp của mình: “Khốn thân tôi, nếu tôi không rao giảng Phúc âm” (1Cr 9,16).

Trước khi về trời, Đức Giêsu đã truyền lại cho các môn đệ: “Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ những điều Thầy đã truyền cho anh em” (Mt 28,19-20). Lệnh đó đã được tiếp diễn trong suốt chiều dài lịch sử từ thời các Tông đồ cho đến ngày nay và muôn đời sau. Trải qua thời gian, Giáo hội không ngừng ban hành các Tông thư, Tông huấn về truyền giáo, để các tín hữu hiểu rõ hơn và ý thức nhiệm vụ cấp bách này. Qua những dẫn chứng trên, người viết muốn trình bày ba điểm về việc truyền giáo, đó là: Ý thức, thao thức, cách thức truyền giáo.

Thứ nhất: Ý thức việc truyền giáo:

Lời kêu gọi của Chúa Giêsu vẫn còn vang vọng và thúc đẩy chúng ta. Thế nhưng, không ít người Kitô hữu vẫn còn bàng quan cho yên phận, thay vì làm chứng cho Chúa thì chỉ lo giữ đạo, giữ đức tin cho vững là đủ. Là “men”, là “muối”, Giáo hội luôn mang trong mình một “nội lực” nhận lãnh từ Chúa Thánh Thần để tiếp tục biến đổi sao cho phù hợp với sự phát triển không ngừng của thế giới về mọi lãnh vực khoa học kỹ thuật cũng như xã hội nhân văn. Ý thức về sứ vụ của mình, Giáo hội tại Việt Nam cũng đã minh định qua Thư chung của Hậu Đại Hội Dân Chúa 2010: “Thay vì coi truyền giáo chỉ như một trong những hoạt động của Giáo hội, thì nay cần nhìn sứ mệnh truyền giáo như nắm men thấm nhập, khơi dậy và chi phối mọi khía cạnh đời sống Giáo hội. Do đó, cần dành mọi nỗ lực và hoạt động, từ vật chất đến thiêng liêng và mục vụ, cho mục tiêu này.”[4] Công đồng Vatican II đã mời gọi: “Mọi tín hữu đều có bổn phận rất cao cả là hoạt động để mọi người trên khắp hoàn cầu nhận biết và đón nhận Phúc âm cứu độ của Chúa.”[5] Thật vậy, “Tự bản tính, Giáo hội lữ hành là truyền giáo.”[6] Cho nên, ta phải ý thức trách nhiệm phận vụ của mình.

Thứ hai: Thao thức truyền giáo:

Dù muốn dù không, mỗi Kitô hữu đều là tông đồ của Đức Giêsu ngay từ ngày lãnh Bí tích Rửa tội. Bí tích này làm cho chúng ta trở thành chi thể của Chúa Giêsu, thông phần vào vai trò ngôn sứ của Ngài, nên chúng ta phải đảm nhận trách nhiệm loan Tin mừng cứu độ của Thiên Chúa. Truyền giáo là một công việc đòi hỏi kiên nhẫn. Thánh Phaolô khuyên chúng ta: “Hãy rao giảng Lời Chúa. Hãy lên tiếng, lúc thuận tiện cũng như lúc không thuận tiện” (2Tm 4,2). Chúa vẫn luôn mời chúng hãy “ra khơi thả lưới” như các môn đệ xưa kia, vì cánh đồng truyền giáo vẫn còn bát ngát bao la. Muốn vậy, chúng ta phải biết sống tinh thần truyền giáo khởi đi từ lòng mến Chúa và yêu người. Chúng ta mến Chúa và yêu mến tha nhân, nên chúng ta muốn chia sẻ niềm vui và hy vọng với tha nhân. Tình yêu mến mời gọi chúng ta dấn thân một cách quảng đại để đem tình yêu Chúa nối kết tình người, đưa con người đến cùng Thiên Chúa và giúp con người xích lại gần nhau hơn. Được kêu gọi trở nên hạt giống hy vọng, bổn phận của chúng ta là tiếp nối sứ vụ của Chúa Kitô trong thế giới. Phạm vi sứ mạng và việc phục vụ của Giáo hội không thuộc lãnh vực vật chất, hay cả những nhu cầu tinh thần giới hạn nơi cuộc sống trần thế, nhưng là ơn cứu độ siêu việt, được hoàn tất trong Nước Thiên Chúa.[7] Sống tinh thần Kitô giáo, nghĩa là không “đóng kín cửa lòng”, mà phải mở ra để trao tặng cho nhân loại ân ban mà ta đã nhận từ Chúa Kitô.

Thứ ba: Cách thức truyền giáo:

Có nhiều cách thức truyền giáo, nhưng sau đây là những cách mà người viết nghĩ có thể thể mang lại hiệu quả cao, đó là: Cầu nguyện, sống gương mẫu, bác ái, tiếp xúc các nhân và đối thoại.

Cầu nguyện: Công trình cứu độ là của Thiên Chúa. Chúng ta chỉ là người cộng tác vào công trình ấy. Thật vậy, “nếu như Chúa chẳng xây nhà, thợ nề vất vả cũng là uổng công” (Tv 126,1). Chính Thiên Chúa mới làm cho công cuộc truyền giáo sinh hoa kết quả (x.1Cr 3,6-7). Thánh Phaolô cũng nói: “Trong mọi hoàn cảnh, anh em cứ đem lời cầu khẩn, van xin, và tạ ơn mà giãi bày trước mặt Thiên Chúa những điều anh em thỉnh nguyện” (Pl 4,6). Bởi vậy, cầu nguyện cho việc truyền giáo là cách thức rất quan trọng: cầu nguyện cho những người đi truyền giáo, cầu nguyện cho mọi người mở rộng lòng sẵn sàng đón nhận ơn Chúa, Lời Chúa. Thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu, cả đời không đi đâu truyền giáo, chỉ ở trong bốn bức tường dòng kín cầu nguyện cho việc truyền giáo. Thế mà Giáo hội đã tôn phong ngài là quan thầy các nơi truyền giáo, ngang hàng với thánh Phanxicô Xaviê.

Sống gương mẫu: Truyền giáo tốt nhất và có hiệu quả nhất là đời sống gương mẫu. Nếu chúng ta sống thực sự yêu thương thì không ai đánh giá sai lầm về đạo, như lời căn dặn của Chúa Giêsu: “Mọi người sẽ  nhận biết anh em là môn đệ của Thầy ở điểm này: là anh em có lòng yêu thương nhau” (Ga 13,35). Thật vậy, không ai có thể loan báo Tin mừng cho người khác, nếu tâm hồn chưa được Phúc âm biến đổi, hay “không ai có thể làm chứng cho Chúa nếu không phản chiếu hình ảnh của Ngài.”[8] Kinh nghiệm của các tín hữu sơ khai cho thấy, đời sống tu đức là căn bản, và là nguồn sinh lực của việc truyền giáo. Mặc dù thiếu thốn và nhiều khốn đốn (1Cr 1,23), nhưng các tín hữu vẫn luôn đồng tâm nhất trí, chuyên cần cầu nguyện và siêng năng trong nghi lễ bẻ bánh. Họ sống tình yêu thương chan hòa trong sự chia sẻ với nhau, và nêu cao phẩm chất của đời sống Kitô hữu. Do vậy, họ “được toàn dân thương mến” (Cv 2,46). Nhờ đời sống thánh thiện của các cộng đoàn sơ khai, Tin mừng đã lan tràn khắp nơi.

Bởi vậy, đời sống chứng nhân tốt là cách thức truyền giáo hữu hiệu. Việc làm cụ thể và thiết thực đi kèm với lời nói (rao giảng) mới đủ sức thuyết phục con người thời nay và mới chứng minh được những điều được chúng ta rao giảng là chân thật. Đời sống chứng nhân không chỉ là của các cá nhân, mà còn phải là chứng tá của cả gia đình, cộng đoàn của giáo xứ. Muốn vậy, chúng ta phải sống gắn bó mật thiết với Chúa Giêsu và với Chúa Thánh Thần như cành nho gắn liền với thân nho (x.Ga 15,1-8), vì không có đời sống siêu nhiên và ơn sủng của Thiên Chúa chúng ta không thể làm được điều gì tốt lành. Sự thánh thiện là dấu chỉ đời sống chứng tá hữu hiệu nhất trong việc truyền giáo. Đức Phaolô VI đã nói: “Người đương thời sẵn sàng lắng nghe những nhân chứng hơn là những thầy dạy, hoặc nếu họ có nghe thầy dạy, thì bởi vì chính thầy dạy cũng là những nhân chứng.”[9] Kitô hữu là người được Chúa Kitô “chiếm đoạt” (x.Pl 3,12). Một khi được Ngài chiếm đoạt, Chúa Thánh Thần sẽ thúc đẩy làm chứng nhân cho Chúa.

Sống bác ái: Hoạt động tông đồ của Giáo hội phải khởi đi từ đức ái, bởi vì đức ái, theo thánh Phaolô, là một điều gì đó còn lớn lao hơn là một hoạt động: “Giả như tôi có đem hết tài sản mà bố thí, hay nộp thân thể tôi để chịu thiêu đốt, mà không có lòng mến, thì cũng không ích gì cho tôi” (1Cr 13,3). Cũng vậy, thánh Matthêu cho biết: “Anh sáng của anh em phải chiếu toả trước mặt thiên hạ, để họ thấy những công việc tốt đẹp anh em làm, mà tôn vinh Cha của anh em, Đấng ngự trên trời” (Mt 5,16).

Mục đích của truyền giáo không dừng lại ở việc “cứu các linh hồn”, nhưng đúng hơn là sống đời sống của một Kitô hữu, sống theo Tin mừng và dấn thân làm cho thế giới trở thành một ngôi nhà chung: “Sự hiện diện của các Kitô hữu giữa các nhóm người phải được sống động bằng chính tình bác ái mà Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta và muốn chúng ta cũng yêu thương nhau bằng tình bác ái đó. Bác ái Kitô giáo thực sự lan tràn tới mọi người không phân biệt chủng tộc, hoàn cảnh xã hội hay tôn giáo.”[10] Dụ ngôn người Samaritanô nhân hậu (x.Lc 10,25-37) mang đến cho chúng ta tiêu chuẩn để đo lường lòng bác ái. Giới răn yêu thương phải vượt qua những ranh giới địa lý vùng miền, để mở rộng ra cho tất cả những ai cần đến sự trợ giúp của chúng ta. Giáo hội muốn mọi người biết thế giới thật sự là một ‘ngôi làng chung’, ở đó người ta cảm nhận được mình là thành phần của gia đình nhân loại. Với gia đình này người ta chia sẻ với nhau những niềm vui và những đau khổ, những hy vọng và thử thách. Thật vậy, Giáo hội là cộng đoàn chỉ có một nền tảng duy nhất đó là tình yêu, tình yêu là nội dung và là phương thức về sự hiện diện và sứ vụ của Giáo hội. “Thiên Chúa là tình yêu. Nơi đó, chân lý này có thể được nhìn ngắm như lời Đức Bênêđíctô XVI đã nói: “Việc bảo vệ Thiên Chúa và con người cách tốt nhất nằm ngay trong tình yêu.”[11]

Tiếp xúc cá nhân: Chúng ta không được diễm phúc như các Tông đồ là rao giảng lời Chúa một cách hùng hồn và làm nhiều phép lạ. Sống trong thời đại ngày nay, chúng ta chỉ có thể loan báo Tin mừng cho người khác bằng tiếp xúc cá nhân qua đời sống hằng ngày. Cuộc gặp gỡ giữa Đức Giêsu và người phụ nữ Samari (Ga 4,1-42) là một minh chứng. Việc Đức Giêsu muốn làm là xây dựng lòng tin tưởng. Tin nhau mới có thể cộng tác với nhau, mới có thể chia sẻ mọi sự cho nhau. Một trong những cách Đức Giêsu xây dựng lòng tin nơi người khác là thể hiện sự quan tâm. Đức Giêsu quan tâm đến chị, thấu hiểu hoàn cảnh của chị và cảm thông với nỗi khổ tâm của chị. Thật vậy, một khi người khác lấy được niềm tin nơi chúng ta, lúc ấy chúng ta sẵn sàng chia sẻ niềm tin và hy vọng của chúng ta nơi Đức Kitô. Muốn cho việc tiếp xúc cá nhân đạt được thành quả, điều cốt yếu là sự cầu nguyện và hi sinh. Ta nói với Chúa về người bạn trước khi nói với bạn về Chúa. Sự học hỏi trau dồi kiến thức thần học giáo dân là một khía cạnh cần cố gắng. Thái độ khiêm cung, nhã nhặn, lịch thiệp, vồn vã và chân tình là những đức tính cần có của chúng ta mỗi khi giao tiếp, để qua đó, mọi người cùng nắm tay nhau phục vụ anh chị em và phụng sự Chúa. Thánh Phaolô đã nói: “Tôi trồng, anh Apôlô tưới, nhưng Thiên Chúa mới cho lớn lên” (1Cr 3,6). Chúng ta hãy gieo niềm tin và hy vọng nơi những người mà chúng ta gặp gỡ, việc còn lại, hãy để Chúa Thánh Thần tác động nơi họ. Muốn thế, ta phải biết cách đối thoại.

Đối thoại: Đối thoại là một phần thiết yếu trong sứ mạng của Giáo hội, “vì nó xuất phát từ chính sự đối thoại yêu thương ban ơn cứu độ của Chúa Cha với nhân loại qua Chúa Con và trong quyền năng của Chúa Thánh Thần.”[12] Đối thoại là để mở lòng, đón nhận, sống với, phục vụ mọi người bằng tình yêu thương theo gương Chúa Giêsu. Đó là ơn gọi của mỗi Kitô hữu, một ơn mời gọi phải tích cực đi đến với mọi anh chị em để lắng nghe, chia sẻ, hiểu biết, cảm thông, và loan báo Tin mừng bằng chính đời sống mình. Đức Phanxicô kêu gọi: “Tôi muốn thấy một Giáo hội bị bầm giập, tổn thương và lấm lem trên đường dấn thân, chứ không phải là một Giáo hội ‘xanh xao vàng vọt’ vì sống đóng khung và bám víu vào chu vi hàng rào an toàn của riêng mình…”[13] Đối thoại là khiêm tốn nhận ra sự hiện diện kín đáo của Thiên Chúa trong cuộc tranh đấu của người nghèo, trong sự phong phú về văn hóa, trong sự đa dạng về truyền thống tôn giáo và trong thẳm sâu cõi lòng mỗi người. Ðối thoại như thế là lối sống và phương cách truyền giáo của chúng ta. Ðối thoại trở thành nền tảng cho nền linh đạo hiệp thông nhằm canh tân sứ giả Tin mừng.[14]

Tóm lại, lời kêu gọi của Đức Giêsu: “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin mừng cho muôn loài thọ tạo” (Mc 16,15) đang thúc bách chúng ta. Nhìn cánh đồng truyền giáo vẫn còn bát ngát bao la đang chờ đợi mỗi người chúng ta. Vì vậy, chúng ta phải thao thức, ý thức và tìm cách cách thức truyền giáo là bổn phận và nghĩa vụ của của chúng ta. Chúng ta phải tận dụng mọi cơ hội, trong mọi hoàn cảnh để đưa Tin mừng của Chúa đến cho mọi người. Sứ mạng truyền giáo là nhiệm vụ ưu tiên của Giáo hội, như lời Đức Gioan Phaolô II đã nói: “Nhìn vào số đông nhân loại chưa biết Chúa cũng đủ cho thấy rằng sứ mệnh này mới chỉ đang ở những bước đầu tiên và chúng ta còn cần phải dồn hết mọi nỗ lực của mình cho công trình này.”[15] Vì vậy, lòng nhiệt thành truyền giáo luôn là dấu chỉ sức sống của các Giáo hội chúng ta.
________________________
[1] Cf. Ad Gentes, số 2 trong Công đồng Vaticanô II, (Phân Khoa Thần Học Giáo Hoàng Học Viện Thánh Piô X, 1972 – Đà Lạt dịch).
[2] Ad Gentes, op. cit., 2.
[3] Cf. Paul VI, Apostolic Exhortation Evangelii Nuntiandi, no. 29-38 (8 December 1975).
[4] Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, Thư chung Hậu Đại Hội Dân Chúa 2010, số 31.
[5] Apostolicam Actuositatem, số 3 trong Công đồng Vaticanô II, (Phân Khoa Thần Học Giáo Hoàng Học Viện Thánh Piô X, 1972 – Đà Lạt dịch).
[6] Ad Gentes, op. cit., 2.
[7] Cf. Paul VI, Apostolic Exhortation Evangelii Nuntiandi, op. cit., 27.
[8] John Paul II, Encyclical Letter Redemptoris Missio, op. cit., 87.
[9] Francis, Evangelii Nuntiandi, op. cit., 41.
[10] Ad Gentes, op. cit., 12.
[11] Benedict XVI, Encyclical Letter Deus Caritas Est, no. 31 (December 25, 2005): AAS 98 (2006), 245.
[12] John Paul II, Ecclessia in Assia, op. cit., 29.
[13] Francis, Apostolic Exhortation Evangelii Gaudium, no. 49 (24 November 2013): AAS 105 (2013).
[14] Cf. Sứ điệp Hội nghị toàn thể lần thứ X của Liên Hội đồng giám mục Á châu, số 5.
[15] John Paul II, Encyclical Letter Redemptoris Missio, op. cit., 1.


 

Truyền_giáo 138: Liên lỉ quấy rầy

 JM. Lam Thy ĐVD.

 

Trước đây, Đức Ki-tô đã kể dụ ngôn “Người bạn quấy rầy” (Lc 11, 1-13) nói về một người bạn Truyền_giáo 138


Trước đây, Đức Ki-tô đã kể dụ ngôn “Người bạn quấy rầy” (Lc 11, 1-13) nói về một người bạn đến xin bạn bánh vào nửa đêm. Trong bài Tin Mừng hôm nay (CN.XXIX/TN-C – Lc 18, 1-8), Người lại kể một dụ ngôn về “quấy rầy”. Chuyện lần này không phải là bạn bè ngang vai phải lứa quấy rầy nhau, mà là chuyện một bà goá quấy rầy một ông quan toà. Quan hệ hai bên là quan hệ giai cấp, giữa một bên là giai cấp thống trị và bên kia là giai cấp bị trị. Không có chuyện bạn bè nể tình nhau, và đối tượng bị quấy rầy lại là kẻ “chẳng kính sợ Thiên Chúa, mà cũng chẳng coi ai ra gì” (Lc 8, 2). Vậy mà cuối cùng cũng đành thua cái đức “lì” của bà goá.

Trong xã hội Do thái thời đó, các bà goá thường bị xã hội đối xử bất công, bị ức hiếp, bóc lột tàn tệ. Chạy đến với quan toà vì bà nghĩ quan toà là những người chuyên xử án công minh và sẵn sàng bênh vực những kẻ cô thế, cô thân. Nhờ niềm tin ấy, bà hy vọng sẽ đạt được ước nguyện, vì thế, bà kiên trì đến cầu xin người mà bà tin sẽ cứu giúp mình. Bà đã thành công nhờ đã hết lòng tin tưởng vào quan toà và liên lỉ “quấy rầy”. Mấu chốt vấn đề chính ở điểm này: Với một quan phụ mẫu bất lương như thế, nhưng nhờ lòng tin và nhất là sự bền lòng liên tục “quấy rầy” của bà goá, việc bà kêu xin rốt lại cũng được giải quyết. Ngụ ý trong dụ ngôn này đã nổi bật: "Anh em nghe quan toà bất chính ấy nói đó! Vậy chẳng lẽ Thiên Chúa lại không minh xét cho những kẻ Người đã tuyển chọn, ngày đêm hằng kêu cứu với Người sao?” (Lc 18, 6-7).

Cả hai dụ ngôn (“Người bạn quấy rầy” và “Quan toà bất chính và bà goá quấy rầy”) đều ngụ ý răn dạy: "Cứ xin thì sẽ được, cứ tìm thì sẽ thấy, cứ gõ cửa thì sẽ mở ra cho. Vì hễ ai xin thì nhận được, ai tìm thì sẽ thấy, ai gõ cửa thì sẽ mở ra cho" (Mt 7, 7-8). Quả thật, khi xin ai một điều gì thì phải biết nhìn lại mình xem có thực sự là thiếu thốn, nghèo đói hay không và nhất là có thực sự tin tưởng vào người mà mình muốn cầu xin hay không. Một cách cụ thể khi cất tiếng cầu xin Thiên Chúa thì không những cần phải có đức tin vững mạnh, mà đồng thời còn phải biết nhìn lại con người tội lỗi, bất toàn của mình, mà cầu xin ơn tha thứ trước khi xin những ơn khác. Ấy là chưa kể khi cầu xin thì không chỉ cầu xin cho bản thân mà còn phải biết cầu cả cho những “người thân cận” trong khắp tứ phương thiên hạ.

Nói cầu xin Thiên Chúa tức là nói đến cầu nguỵên. Thật vậy, phải hết lòng tin tưởng vào Đấng Công Chính mới liên lỉ cầu nguỵên. Dạy môn đệ phương cách kiên trì cầu nguyện, nhưng đến câu kết thúc, Đức Giê-su lại nói: “Nhưng khi Con Người ngự đến, liệu Người còn thấy lòng tin trên mặt đất nữa chăng?” (Lc 18, 8). Thật chua xót khi Người nói câu này lại là Người hiện diện trên mặt đất với mục đích thắp sáng lại niềm tin đã bị lu mờ của nhân loại. Con Người ấy, từ cuộc sống vật chất đạm bạc nơi một làng quê hẻo lánh, đến cuộc sống tinh thần vô vàn phong phú bởi những Lời giảng dạy, những câu chuyện kể, những việc làm, thậm chí đến hy sinh cả tính mạng, chỉ nhằm mục đích củng cố lại niềm tin cho loài người để tiến tới mục đích tối hậu là cứu độ nhân loại cho khỏi sự chết đời đời. Con Người kỳ vĩ ấy chính là Con Thiên Chúa, là Thiên Chúa thật, đã đến thực thi sứ mệnh như vậy đó, nhưng những người được gặp, được tiếp xúc, được dạy dỗ… đã đón tiếp như thế nào, để đến độ Người phải thốt lên câu nói chua xót như vậy? Và quả nhiên đó là một lời tiên tri, bởi cho đến ngày hôm nay, số người được nghe lời chân lý vẫn chỉ là một thiểu số khiêm nhường so với con số người chưa được nghe rao giảng. Ngay trong số những người đã được nghe, được biết Tin Mừng cứu độ, thì chẳng hiểu những người thực lòng tin tưởng có được là bao nhiêu phần trăm?

Rõ ràng, Đức Giê-su Ki-tô đã dùng những hình ảnh thật quen thuộc, thật gần gũi và rất hiện thực trong cuộc sống đời thường để dạy dỗ các tín hữu, nên mới nói đến sự quấy rầy khi cầu xin để đạt hiệu quả. Thiên Chúa không phải là người bị quấy rầy trong dụ ngôn “người bạn quấy rầy”, lại càng không phải là nhân vật quan toà bị quấy rầy trong dụ ngôn “quan toà bất chính và bà goá quấy rầy”. Tấm lòng Người Cha Nhân Hậu luôn rộng mở đối với con cái, chưa cần nghe lời cầu xin thì Người đã sẵn lòng minh xét, ban phát ân huệ. Thật vậy, “Người không coi thường lời khấn nguyện của kẻ mồ côi, hay tiếng than van của người goá bụa” (Hc 35, 14).

Duy chỉ có một điều là con cái tội lỗi, bất toàn, có thực lòng ăn năn, thực lòng tin, thực lòng cầu xin hay không, mà thôi. Lời dạy “kiên trì quấy rầy” của Người là muốn các tín hữu kiên trung trong đức tin và liên lỉ trong việc “nâng tâm hồn và trí khôn lên với Thiên Chúa” (cầu nguỵên). Bởi cuộc sống trần thế có muôn vàn khó khăn, thử thách lòng tin của con người, nên phải vững vàng trong đức tin trước đã, nhiên hậu mới nói đến kiên trì cầu nguyện. Và như thế thì còn lo gì “Thiên Chúa lại không minh xét cho những kẻ Người đã tuyển chọn, ngày đêm hằng kêu cứu với Người sao?” (Lc 18, 7), chẳng lẽ con cái lâm cảnh khốn cùng đến cầu xin mà Người Cha Nhân Hậu lại ngoảnh mặt làm ngơ không ban những của tốt lành sao? (Lc 11, 13).

Bài học về “kiên nhẫn cầu xin” đã sáng tỏ, nhưng còn vấn đề tại sao Giáo Hội lại để bài Tin Mừng này vào Chúa nhật Truyền Giáo? Cũng đã có những ý kiến cho rằng không lẽ Truyền Giáo lại là đi cầu xin những người “chẳng kính sợ Thiên Chúa, mà cũng chẳng coi ai ra gì” (Lc 8, 2) sao? Mới nghe qua vấn nạn này thì thấy có lý, nhưng suy nghĩ cho thấu đáo thì sẽ thấy ngụ ý trong dụ ngôn hôm nay mới thực sự là vấn đề cốt tuỷ của Truyền Giáo. Truyền giáo ư? Chắc cũng không cần phải định nghĩa lại việc truyền giáo, vì nó là sứ vụ duy nhất, nhất quán của Giáo Hội, của mỗi Ki-tô hữu (“Hoạt động truyền giáo không gì khác hơn, cũng không gì kém hơn là biểu lộ hoặc bày tỏ ý định của Thiên Chúa và hoàn tất ý định đó nơi trần thế và trong lịch sử thế trần, chính trong lịch sử này mà Thiên Chúa hoàn thành lịch sử cứu rỗi một cách rõ rệt nhờ việc truyền giáo.” – Sắc lệnh “Truyền Giáo”, số 9)

Sứ vụ chỉ có một, nhưng thể hiện ra bằng việc làm, bằng hành động thì muôn màu muôn vẻ, không nhất thiết phải cứ thế này hay thế khác. Hoạt động truyền giáo không chỉ giới hạn trong việc "giảng đạo" (như trước đây ở Việt Nam vẫn có quan niệm như vậy, và do đó mà cho rằng chỉ có các linh mục, tu sĩ, các vị thừa sai... mới được giảng đạo, còn giáo dân thì chỉ việc nghe và chấp hành). Công việc truyền giáo cũng ví như các cành nho (Ki-tô hữu) hút nhựa từ thân cây nho (Đức Giê-su Ki-tô) và có bổn phận phải trổ sinh hoa trái. Chính vị sứ giả truyền giáo vĩ đại Giê-su Ki-tô cũng nhiều lần răn dạy môn đệ: “Thầy là cây nho, anh em là cành” (Ga 15, 5), "Chính anh em là muối cho đời… Chính anh em là ánh sáng cho trần gian” (Mt 5, 13-14). Là cành nho mà không trổ sinh hoa trái, là muối mà nhạt nhẽo, là ành sáng mà lu mờ (như “đèn để trong thùng”), thì liệu công việc có đạt hiệu quả không?

Với nhãn quan truyền giáo đó, nhìn lại dụ ngôn “Quan toà bất chính và bà goá quấy rầy” sẽ thấy nổi bật 2 điểm: Kiên trì cầu nguyện và khiêm nhường chịu lụy. Cầu nguyện là nâng tâm hồn và trí khôn lên với Thiên Chúa (“tâm hồn” chính là tấm lòng “mến Chúa yêu người”, còn “trí khôn” là phải xét xem mình sẽ xin những gì, những điều xin ấy có lợi cho riêng mình đã đành, nhưng có mưu ích cho người khác hay lại làm hại người khác (“ích kỷ hại nhân”)? Ngoài ra, nếu đời sống tâm linh của người truyền giáo được cắm rễ sâu trong hoạt động cầu nguyện hy sinh (khiêm nhường chịu luỵ), thì mọi việc làm đều có giá trị truyền giáo, đều có khả năng làm cho người khác nhận biết Chúa và đem lại rất nhiều lợi ích cho các linh hồn. Nhờ thế, nhìn thấy gương cầu nguyện, gương hy sinh của những người truyền giáo, người ta sẽ được đánh động, được cảm hoá.

Cứ nhìn lại gương các Tông đồ trong Giáo Hội tiên khởi thì đủ rõ. Trước ngày lễ Ngũ Tuần, hoạt động truyền giáo của các ngài vẫn chưa thật sự thăng hoa. Sau khi Chúa về Trời, “Tất cả các ông đều đồng tâm nhất trí, chuyên cần cầu nguyện cùng với mấy người phụ nữ, với bà Ma-ri-a thân mẫu Đức Giê-su, và với anh em của Đức Giê-su.” (Cv 1, 14), và đến ngày Lễ Ngũ Tuần thì Thần Khí Chúa hiện xuống và kết quả là các ngài đã trở thành những nhà Truyền Giáo kiệt xuất. Các ngài không chỉ trở nên những người loan báo Tin Mừng Cứu Độ bằng phong cách rao giảng tuyệt vời, mà còn bằng cuộc sống khiêm nhường chịu luỵ đến độ hy sinh cả tính mạng mình làm chứng nhân anh hùng cho Cứu Chúa Giê-su Ki-tô Phục Sinh.

Trên cánh đồng Truyền Giáotoàn cầu, các Tông đồ tiên khởi đã minh chứng rõ ràng đức tính căn bản của truyền giáo là kiên trì cầu nguỵên và khiêm nhường nhẫn nhục. Cách riêng, trải dài theo lịch sử Giáo Hội Việt Nam, các giáo sĩ và giáo dân trong vai trò rao giảng Tin Mừng Cứu Độ, đã gặp không ít những đối tượng cỡ như viên quan toà “chẳng kính sợ Thiên Chúa, mà cũng chẳng coi ai ra gì”. Nếu các ngài không kiên trì nhẫn nhục, thì liệu có được cánh đồng màu mỡ như ngày nay không? Nếu các ngài không liên lỉ cầu nguyện và hy sinh thì có được kết quả 130.000 anh hùng tử vì đạo với 117 vị được tuyên phong hiển thánh hay không?

Tóm lại, tính chất “duy nhất, thánh thiện và tông truyền” của Giáo Hội Công Giáo đã có được vì noi gương truyền thống các Tông đồ tiên khởi (TÔNG TRUYỀN) sống hịêp thông (DUY NHẤT) trong tôn chỉ cầu nguyện (THÁNH THIỆN), nên có thể khẳng định Giáo Hội là “một-cộng-đồng-hiệp-thông-và-truyền-giáo”, vì “Sự hiệp thông và việc truyền giáo gắn liền với nhau, xâm nhập và quấn quít nhau và đã trở nên như nguồn mạch, và là hoa trái của việc truyền giáo. Hiệp thông là truyền giáo, và truyền giáo có mục đích thể hiện sự hiệp thông. Chính một Chúa Thánh Thần kêu gọi và hiệp nhất Giáo Hội và sai Giáo Hội đi rao giảng Phúc âm "khắp trên mặt đất" (Acts. 1, 8).” (Tông Huấn “Ki-tô hữu Giáo dân” – Ch. III, số 32).

Ôi! Lạy Chúa Ki-tô! Xin cho con trưởng thành trong việc cầu nguyện. Xin đừng để đời sống tâm linh của con bị xói mòn, kém phát triển vì cách cầu nguyện ấu trĩ và nhất là đầy ích kỷ của con. Xin dạy con biết cầu nguyện, biết sống khiêm nhường nhẫn nhục trước mọi nghịch cảnh như những thử thách trui rèn cho sứ vụ Truyền Giáo mà Chúa đã trao cho con khi con được nhận lãnh Bí tích Thánh Tẩy (tham dự vào 3 chức vụ của Chúa: “ngôn sứ, tư tế, vương giả”). Ôi! Lạy Chúa!

Cúi xin Chúa ban Thần Khí Tình Yêu cho con để con không chỉ cầu nguỵên cho riêng mình, mà là cầu cho cả những “người thân cận” của con trên khắp năm châu bốn biển, như xưa Chúa đã dạy con cầu nguyện bằng kinh Lạy Cha. Amen.


 

Truyền_giáo 139: Đừng trở thành bàn tay bại xụi của Chúa


(Suy niệm của Lm. Ignatiô Trần Ngà)

 

Khi tôi muốn dùng tay để gắp thức ăn mà cánh tay bị bại xụi, không gắp được thức ăn cho mình Truyền_giáo 139


Khi tôi muốn dùng tay để gắp thức ăn mà cánh tay bị bại xụi, không gắp được thức ăn cho mình, thì thật là điều đáng buồn.

Khi anh hay chị muốn viết một lá thư thăm người bạn xa cách lâu ngày, mà tay bị tê bại, nắm bút lên thì bút lại rơi xuống, cầm tờ giấy lên, giấy cũng rơi xuống luôn, thì cũng thật đáng buồn.

Khi người mẹ muốn đưa tay ra ẵm lấy đứa con thơ rất yêu quý, rất dễ thương, nhưng đôi tay của bà bị bại xụi, nên không ẵm được cháu như ý muốn thì thật là đau lòng.

Thiên Chúa cũng phải chịu một cảnh đau lòng như thế, hết thời này qua thời khác, vì có nhiều "phần thân thể” của Ngài bị bại, bị liệt nên không hoạt động được như ý Ngài mong muốn.

Khao khát mãnh liệt nhất của Thiên Chúa là đưa muôn vàn đứa con yêu quý của Ngài tản mác khắp nơi về đoàn tụ dưới mái nhà chung. Vì lòng khao khát cháy bỏng nầy, vì ước vọng tha thiết nầy, Thiên Chúa đã dùng nhiều cách để đưa loài người về với Ngài.

Thứ nhất: Ngài dùng các ngôn sứ mà phán dạy.

Trước hết, Thiên Chúa dùng các ngôn sứ thời Cựu Ước như Mô-sê, I-sai-a, Ê-li-a, Giê-rê-mi-a, Gioan Tẩy Giả… để giảng dạy cho dân Do-thái nhận biết, tôn thờ Ngài và trở về với Ngài. Nhưng đa số đã không đón nhận các ngôn sứ Chúa gửi đến, lại còn lên án các vị nầy.

Thứ hai: Thiên Chúa sai Người Con Một.

Sau thất bại thứ nhất, Thiên Chúa cho Người Con một xuống thế làm người, trực tiếp dạy dỗ loài người, nộp mình chịu chết để cứu độ loài người. Thư Do-thái viết về sự kiện nầy như sau: "Thuở xưa, nhiều lần nhiều cách, Thiên Chúa đã phán dạy cha ông chúng ta qua các ngôn sứ; nhưng vào thời sau hết nầy, Thiên Chúa phán dạy chúng ta qua Người Con.” (Dt 1,1-2)

Thứ ba: Trao cho mỗi người chúng ta tiếp nối sứ mạng của Chúa cứu thế.

Sau 33 năm sống trên dương thế dùng nhiều cách để bày tỏ cho nhân loại nhận biết Thiên Chúa Cha và nộp mình chịu chết đền tội cho loài người, Chúa Giêsu lên trời và chuyển giao công trình cứu độ của Ngài cho Hội Thánh tiếp nối.

Để thực hiện việc nầy, Chúa Giêsu lập bí tích Thánh Tẩy để nối kết chúng ta vào thân mình Ngài như cành nho liền với thân nho, như cánh tay nối liền cơ thể. Nhờ đó, chúng ta với Chúa Giêsu không còn là hai mà chỉ là một. Thế là từ đây, Chúa Giêsu tiếp tục công cuộc cứu độ của Ngài qua chúng ta là chi thể, là thân mình Ngài.

Đừng để cho đôi tay Chúa bị tê liệt

Thiên Chúa có một đoàn con đông đảo tản mác khắp nơi nhưng chưa hề biết mặt Cha mình là Thiên Chúa Cha, chưa từng quen biết Anh Cả của mình là Chúa Giêsu, không được chung sống và nuôi dưỡng trong gia đình Thiên Chúa. Họ là những anh chị em lương dân đang sống chung quanh chúng ta.

Chúa Giêsu khao khát ngày đêm dẫn dắt đoàn con lưu lạc nầy về đoàn tụ trong gia đình Hội Thánh. Ngài nhờ chúng ta là những bàn tay của Ngài chịu khó đưa ra để dẫn đưa họ về sum họp trong gia đình Thiên Chúa… Nếu chúng ta không chịu làm theo ý Ngài, thì đoàn con của Thiên Chúa là những anh chị em lương dân vẫn còn phải sống xa Cha Mẹ của mình là Thiên Chúa như những đứa con lưu lạc xa nhà. Như thế thì Thiên Chúa phải vô cùng đau khổ và chúng ta vô tình trở thành bàn tay bại xụi của Chúa Giêsu vì không "cử động được” như ý Ngài muốn.

Chúa Giêsu mong muốn ẵm lấy những anh chị em lương dân khắp nơi như người mẹ ẵm lấy những người con bé bỏng dễ thương vào lòng. Ngài nhờ đến chúng ta là đôi cánh tay của Ngài vươn ra, ẵm lấy những anh chị em đó, nhưng chúng ta không thực hiện ý Ngài. Như thế, anh chị em lương dân vẫn còn là những đứa con xa mẹ. Như thế, Chúa Giêsu vẫn tiếp tục phải đau khổ vì không được bồng ẵm chăm sóc đoàn con; còn chúng ta, chúng ta vô tình trở thành đôi tay bại liệt của Chúa Giêsu, không cho Ngài thực hiện được ước vọng của Ngài qua chúng ta.

Lạy Chúa Giêsu,
Chúa là Đầu, chúng con là chi thể, là chân tay của Chúa; xin đừng để chúng con trở thành đôi tay bại liệt, chẳng chịu "cử động” theo lệnh truyền của Chúa.

Xin cho chúng con mau mắn đáp lời mời gọi của Chúa, sẵn sàng lên đường, sẵn sàng hy sinh, sẵn sàng phục vụ để đem Tin Mừng của Chúa đến với anh chị em lương dân, để dẫn đưa đoàn con lưu lạc của Chúa về đoàn tụ trong gia đình Chúa.


 

Truyền_giáo 140: Truyền giáo bằng cách sống


(Suy niệm của Lm. Jos Tạ Duy Tuyền)

 

Cách chung con người ngày hôm nay thường nóng vội, hấp tấp, làm đại. Nghịch lý ở chỗ thích Truyền_giáo 140


Cách chung con người ngày hôm nay thường nóng vội, hấp tấp, làm đại. Nghịch lý ở chỗ thích hoành tránh nhưng lại đòi phải nhanh, phải gọn. Họ chỉ thích làm những chuyện lớn mà bỏ qua chuyện nhỏ. Họ luôn xem việc nhỏ là tầm thường mà quên rằng việc lớn là do tích tiểu thành đại. Không kiên nhẫn trong việc nhỏ thế nên, họ cũng bỏ lỡ cơ hội làm những chuyện lớn lao.

Điển hình là xã hội hôm nay không có những công trình thế kỷ mà chỉ có những kiến thiết hợp thời, model nhưng mau qua. Về sự học dường như học sinh không thể ngồi yên để thuộc một câu thơ hay một bài lịch sử mà chỉ học trên net, trên Iphone...

Người ta kể rằng: Thời Đông hán có một thiếu niên tên Trần Phiên. Hắn cho mình bất phàm nên chỉ làm chuyện lớn mà thôi. Một hôm người bạn tới thăm thấy nhà hắn bẩn thỉu liền nói: Nho tử sao không quét nhà để tiếp đón khách?

Trần Phiên trả lời: Đại trượng phu xử thế. Nên quét thiên hạ sao lo một nhà?

Người bạn đáp lại: Một nhà không quét, sao có thể quét thiên hạ.
Trần Phiên ngộ ra không nói được lời nào.

Xem ra muốn xây dựng giang sơn thì phải xây dựng từ gia đình mình. Muốn làm những điều cống hiến cho đời thì phải rèn luyện mình thành người tốt. Phải khởi đi từ việc nhỏ mới mong làm chuyện đại sự to tát hơn. Muốn canh tân xã hội phải có một kế sách lâu dài và phải khởi đi từ những việc nhỏ nhất mới mong thành đại sự.
Phải chăng Giáo hội hôm nay cũng bị cuốn vào trào lưu thích hoành tráng, rầm rộ? Thích phô trương đánh trống hơn là sống đạo mến yêu? Các lễ nghi, lễ hội thật nhiều nhưng điều đó không quan trọng bằng việc ra đi đến với người nghèo, người già yếu, bệnh tật...?

Giáo hội luôn nói mình có sứ mạng truyền giáo và mời gọi các tín hữu tham gia vào công cuộc truyền giáo, nhưng xem ra chẳng có kết quả, bởi vì ai cũng muốn làm việc lớn nhưng những việc bình thường là canh tân đời sống bản thân, là sống công bình bác ái, là phục vụ yêu thương khởi đi từ gia đình lại bị xem thường.

Thực vậy, làm sao có thể truyền giáo khi chưa tề gia để mang lại cho gia đạo êm ấm thuận hòa?

Làm sao có thể truyền giáo khi bản thân còn nhiều tính hư nết xấu, đôi khi còn trở thành gương mù gương xấu cho tha nhân?

Truyền giáo không phải là một lễ hội để đánh trống khua chiêng. Truyền giáo là đem đạo vào đời qua muôn nẻo đường trần thế. Thế nên, truyền giáo đòi hỏi từng người phải biết sống trở thành nhân chứng cho Chúa, phải mang tin mừng thẩm thấu vào trong trái tim và trao tặng cho anh em, cho bạn bè. Truyền giáo phải như chút muối làm cho thế gian nồng thắm Tin mừng. Truyền giáo phải như chút men làm cho Tin mừng hòa vào thế gian.

Trong bài hát “Một chút” thôi của Đức Cha Giuse Vũ Duy Thống dường như cũng nói những điều thật đơn giản ấy.

Một chút những viên đá nhỏ hợp thành ngọn núi lớn
Một chút những bước chân đi xa về muôn lối
Một chút những phút ủi an dịu xoa ngàn nỗi sầu
Chỉ một chút khởi đầu tương lai sẽ đẹp màu
ĐK - Một chút trong đời chỉ một chút chút xíu thôi
Nhiều chút chút bé nhỏ mà làm cho đời thêm mới
Một chút trong đời trở thành một chút thật tuyệt vời.
Chắt chiu từng chút ấy cho đời này thêm sáng tươi.

Hôm nay ngày khánh nhật truyền giáo, ước gì chúng ta hãy từng chút một chắt chiu những việc làm tốt để sáng danh Chúa, có như vậy chúng ta mới gom thành một làn sóng yêu thương mang tin mừng lan tỏa khắp nơi. Xin Chúa giúp chúng ta biết truyền giáo khởi đi từ việc nhỏ nhất trong đời thường bằng việc nêu gương sáng cho tha nhân trong bổn phận và trong việc bác ái dấn thân xây dựng thế giới ngày một tốt đẹp hơn.


 

Truyền_giáo 141: Nhà Truyền Giáo nhận được rất nhiều


để quảng đại trao ban, hào sảng phân phát

 

Tin Mừng Máccô 6,34-43 kể lại phép lạ Đức Giêsu làm cho bánh hóa nhiều lần thứ nhất. Trong trình Truyền_giáo 141


Tin Mừng Máccô 6,34-43 kể lại phép lạ Đức Giêsu làm cho bánh hóa nhiều lần thứ nhất. Trong trình thuật phép lạ này, Đức Giêsu đem đến cho nhà truyền giáo nhiều ngạc nhiên, bất ngờ:

Ngạc nhiên khi Đức Giêsu trả lời các tông đồ: “Thì chính anh em hãy cho họ ăn đi !” (Mc 6,37).

Như chúng ta, các tông đồ đã không khỏi bất ngờ và ngạc nhiên khi nghe Thầy mình “nói như không nói, trả lời như không trả lời”, vì các ông biết, và tất nhiên Đức Giêsu thừa biết: sức các ông làm sao có thể lo ăn cho “đám người rất đông” như thế (Mc 6,34), khi “ở đây hoang vắng và bấy giờ đã khá muộn” (Mc 6,35).

Các Tông Đồ còn bỡ ngỡ, ngạc nhiên hơn khi Ngài hỏi: “Anh em có mấy chiếc bánh ?” (Mc 6,38), mặc dù các ông đã trình bầy với Ngài: lo cho đám đông ăn lúc này và ở đây là việc làm bất khả thi, vì ngay cả có hai trăm quan tiền, mà thực tế các Tông Đồ không có (x. Mc 6,37), cũng không mua đủ bánh nuôi ăn cả đám đông.
Và khi thấy Đức Giêsu “cầm lấy năm chiếc bánh và hai con cá, ngước mắt lên trời, dâng lời chúc tụng, rồi bẻ bánh ra, trao cho các ông để các ông dọn ra cho dân chúng” (Mc 6,41), các Tông Đồ lại thêm một phen bất ngờ, kinh ngạc, và lần này thì không còn dám tin vào mắt mình nữa.

Không dám tin vào mắt mình, vì bánh càng bẻ ra càng tăng thêm, cá càng chia ra càng vô số “sinh sôi nẩy nở”. Không dám tin vào mắt mình, vì sự thật lạ lùng đang diễn ra trước mắt: chỉ với năm chiếc bánh và hai con cá, “mà ai nấy đều ăn và được no nê” (Mc 6,42), chưa kể sau đó thu lại “những mẩu bánh được mười hai thúng đầy, cùng với cá còn dư” (Mc 6,43).

Thực vậy, cũng như các Tông Đồ, đời của nhà truyền giáo là đời của người đi từ bất ngờ này đến bất ngờ khác, từ bỡ ngỡ này sang bỡ ngỡ nọ, từ ngạc nhiên này qua ngạc nhiên kia, bởi chân tính của người môn đệ Đức Giêsu là được kêu gọi, và sai đến một địa chỉ hoàn toàn không biết trước như Ápraham khi được gọi “đã rời bỏ xứ sở, họ hàng và nhà cha, mà đi tới đất” Thiên Chúa sẽ chỉ cho ông (St 12,1). Sẽ chỉ, chứ chưa chỉ, nên ông vẫn không biết  điều gì, việc gì sẽ xẩy đến trên hành trình được sai đi.

Không biết nơi sẽ đến, nhà truyền giáo cũng không biết trước những con người mình sẽ gặp, như Môsê có bao giờ nghĩ đến chuyện gặp Pharaô uy quyền của một đế quốc Ai Cập hùng mạnh. Và ông đã “bật ngửa” sững sờ, và hốt hoảng thưa với Thiên Chúa: “Con là ai mà dám đến với Pharaô… ?” (Xh 3,11), khi Ngài sai ông đi.

Không biết nơi sẽ đến, người sẽ gặp, nhà truyền giáo còn không được biết sẽ làm việc gì, sẽ thực hiện công trình nào, sẽ phụ trách kế hoạch, lãnh vực nào, nhưng chỉ biết: Thiên Chúa sẽ nói phải đi đâu, sẽ cho biết phải làm gì, gặp ai khi giờ Ngài đến, như những gia nhân ở tiệc cưới Cana đã chỉ biết làm những gì Đức Giêsu bảo, như lời căn dặn của Thân Mẫu Ngài (x. Ga 2,5).

Qủa thực, trong trình thuật “phép lạ bánh hoá nhiều”, các tông đồ ngay từ đầu đã ý thức: chỉ một mình Đức Giêsu mới có thể nuôi cả đám đông, vì Ngài được quyền năng Thiên Chúa bao phủ, nên lời nói, cũng như hành động của Ngài đều làm nên những việc lạ lùng, kỳ diệu. Đồng thời các ông hiểu rằng: tự các ông không làm được gì để cho đám đông gồm “năm ngàn người đàn ông, chưa kể đàn bà và trẻ em ăn no nê” (x. Mc 6,44), bởi các ông hoàn toàn bất lực trước đòi hỏi của Thầy: “Anh em hãy cho họ ăn đi !” (Mc 6,37).

Vì thế, chỉ còn giải pháp nhân loại có thể đề ra là xin Đức Giêsu giải tán đám đông, “cho dân chúng về, để họ vào thôn xóm và làng mạc chung quanh mà mua gì ăn” (Mc 6,36).

Phải chờ đến khi Đức Giêsu “cầm lấy năm chiếc bánh và hai con cá”, mà các tông đồ đã đem đến cho Ngài, và làm phép lạ cho bánh và cá hoá ra nhiều, thì các ông mới hiểu điều Đức Giêsu muốn dậy các ông:

Đức Giêsu muốn dậy các tông đồ và tất cả các nhà truyền giáo, cũng như những ai đi theo Ngài: Thiên Chúa không hoạt động một mình, nhưng hoạt động với con người để cứu độ con người ; không làm việc một mình, nhưng làm việc với con người để đem hạnh phúc và sự sống cho con người ; không độc quyền giải quyết vấn đề của con người, nhưng đòi con người cộng tác, đóng góp, dù phần đóng góp ấy bé nhỏ, và khả năng cộng tác ấy không đáng kể dưới mắt con người, bởi đối với Thiên Chúa, không đóng góp nào của con người là vô ích, không thiện chí nào của con người bị coi thường, không cộng tác nào của con người bị đánh giá không cần thiết, vô giá trị.

Cũng thế, con người  không thể một mình giải quyết, một mình xử lý, một mình bao sân, độc diễn, nhưng cần có sự trợ giúp của Thiên Chúa, cần có bàn tay can thiệp của Thiên Chúa, cần có hoạt động yêu thương, quảng đại của Thiên Chúa, như Đức Giêsu đã làm cho “năm chiếc bánh và hai con cá” ít oi, bé nhỏ, “chẳng thấm thía vào đâu” của các tông đồ mang đến hóa thành những thúng bánh đầy, những mẹt cá ngon nuôi hàng ngàn người ăn no nê.

Đức Giêsu còn dậy các tông đồ và nhà truyền giáo ý thức sứ mệnh căn bản của mình là “nhận lãnh hồng ân từ Thiên Chúa để hào sảng ban phát cho mọi người”.

Hình ảnh các tông đồ, theo lệnh của Đức Giêsu “bảo mọi người ngồi thành từng nhóm trên cỏ xanh” (Mc 6,39), và dọn bánh, cá ra cho dân chúng ăn (x. Mc 6,41) đã nói lên sứ mệnh của các tông đồ và nhà truyền giáo là  lãnh nhận nhiều từ Thiên Chúa để qủang đại ban phát cho mọi người được no thỏa, phủ phê ơn sủng.

Tóm lại, để truyền giáo hữu hiệu và để tâm hồn luôn được thanh thản, bình an, nhà truyền giáo cần ý thức sứ vụ “nhận lãnh ơn sủng từ Thiên Chúa, để ban phát cho mọi người”. Ơn sủng ấy nhà truyền giáo không tự mình làm ra được, nhưng Thiên Chúa lại cần phần đóng góp tuy bé nhỏ, nhưng không thể thiếu của nhà truyền giáo để làm nên đại dương ơn phúc, và người kín múc ơn phúc từ đại dương tình yêu ấy để ban phát cho mọi người chính là nhà truyền giáo được Thiên Chúa chọn và sai đi.     

Vâng, càng ý thức phận hèn mọn và hồng ân Thiên Chúa ban, nhà truyền giáo càng xác tín: Thiên Chúa cần sự yếu đuối của người được chọn để làm nên những việc cao cả, phi thường, như đã lấy bụi tro tầm thường mà tạo dựng con người giống hình ảnh Ngài. Một khi ý thức điều này, nhà truyền giáo sẽ nhủ mình phải khiêm tốn và qủang đại ban phát tất cả những gì nhận được từ Thiên Chúa cho mọi người, vì sứ mệnh của các vị là “nhận lãnh rất nhiều từ Thiên Chúa để quảng đại trao ban, hào sảng phân phát”, và không giữ ơn sủng như của riêng mình.

Jorathe Nắng Tím


 

Truyền_giáo 142: Trái Tim biết cảm thương, chạnh lòng Suy Niệm 2

 

Trên đường theo Đức Giêsu truyền giáo, các tông đồ đã nhiều lần bộc lộ tinh thần còn xa Tin Truyền_giáo 142


Trên đường theo Đức Giêsu truyền giáo, các tông đồ đã nhiều lần bộc lộ tinh thần còn xa Tin Mừng của các ông, khi dễ dãi chọn những phương án, và cách giải quyết thuần nhân loại trước những vấn đề của con người, không như Đức Giêsu mong muốn. Một trong những điều Ngài không mong muốn đó, chính là trái tim vô cảm, không biết cảm thương, chạnh lòng.

Một vài trường hợp cụ thể, điển hình:

Tin Mừng Matthêu kể câu chuyện người đàn bà xứ Canaan. Bà có đứa con gái bị qủy ám, nên lẽo đẽo đi theo và năn nỉ Đức Giêsu thương cứu chữa. Bà lớn tiếng kể lể, thở than, kêu van đến nỗi làm các tông đồ phát cáu, bực bội, và các ông đã  đề nghị với Đức Giêsu một phương án: “Xin Thầy bảo bà ấy về đi, vì bà ấy cứ theo chúng ta mà kêu mãi !” (Mt 15, 23).

Kêu mãi, than hoài làm người nghe đầy tai, nên nổi quạu ; kêu hoài, than mãi khiến người chung quanh phải khó chịu, nổi khùng. Các môn đệ của Đức Giêsu đã rơi vào tình trạng nổi quạu, nổi khùng này, và đã chọn giải pháp “bảo bà ấy về đi” cho mọi người được yên, bớt nhức đầu.

Tin Mừng Máccô kể về đám đông dân chúng say mê nghe Đức Giêsu giảng dậy đã rơi vào tình trạng đói, khi trời đã về chiều và ở nơi hoang vắng. Trước hoàn cảnh này, các môn đệ cũng đã đề nghị một giải pháp mau chóng, giản tiện, thuần nhân loại, đó là giải tán, khi thưa với Đức Giêsu: “Xin Thầy cho dân chúng về…” (Mc 6,36).

Tin Mừng Luca thì kể chuyện các em bé được cha mẹ dẫn đến để xin Đức Giêsu đặt tay chúc lành, nhưng các môn đệ của Đức Giêsu thấy thế đã “la rầy chúng” (Lc 18,15).

Nếu có những người ngày xưa từng bước đi theo Đức Giêsu, nhưng đã không “chạnh lòng” như Ngài khi thấy đám đông “như bầy chiên không người chăn dắt” (Mc 6,34) ; nếu có người  chăm chú nghe Đức Giêsu rao giảng trên đất nước Palestin cách đây hơn hai ngàn năm, nhưng đã không “xót xa” như Ngài, khi thấy bà goá  trên đường đi chôn con trai duy nhất ở thành Nain (x. Lc 7,13) ; nếu có những người vất vả chen lấn để sờ được vào gấu áo Đức Giêsu ngày xưa, nhưng đã không  “thương cảm” như Ngài trước đoàn người đông đảo bệnh tật (x. Mt 14,14) ; nếu nhiều người có Đạo cách đây hai mươi mốt thế kỷ đã không “chạnh lòng thương” người anh em bị bọn cướp trấn lột, đánh nhừ tử, rồi bỏ mặc “nửa sống nửa chết” bên đường (x. Lc 10,33), thì hôm nay cũng không thiếu những người có đạo đầy quyền thế đã cho lệnh giải tán đám đông nghèo khó hay đến làm phiền ; không thiếu những tín hữu chẳng biết xót xa, thương cảm là gì trước những thân phận thiếu ăn, thiếu mặc, gầy giơ xương, nghèo kiết xác của đồng đạo, và nhiều lắm những người mang danh Kitô hữu “rất kêu, rất bóng, rất nổi, rất hoành tráng”, nhưng hoàn toàn không mang trên mình một hình ảnh, một dáng dấp, một thái độ, một lời nói, một việc làm “chạnh lòng thương” của Đức Giêsu. Và ngày xưa cũng như ngày nay, hôm nào cũng như hôm nay, thế giới vẫn không thiếu những con người vô cảm, trong Giáo Hội cũng không khó gặp những trái tim chai đá, giữa xứ đạo cũng còn nhan nhản những tấm lòng cứng cỏi, băng giá, vô tình trước đau khổ, khốn nạn của đồng đạo, tha nhân.

Nhưng có một con người không thể vô cảm, có một sứ mệnh không cho phép vô tình, vô tâm, có một ơn gọi không chấp nhận trái tim cạn khô lòng thuơng xót, đó là con người truyền giáo, sứ mệnh truyền giáo, ơn gọi truyền giáo, trái tim nhà truyền giáo.

Bởi truyền giáo là giới thiệu Đức Giêsu, dung mạo của Chúa Cha giầu lòng thương xót, bao dung ; truyền giáo là đồng hành với người khác đi vào trái tim thương cảm của Đức Giêsu, Thiên Chúa luôn chạnh lòng xót thương ; truyền giáo là cộng tác với Thiên Chúa trong công việc biến đổi trái tim kiêu căng, chai cứng, vô cảm của con người thành hiền lành, khiêm nhường, yêu thương, nhẫn nại, hy vọng và hy sinh vì hạnh phúc của tha nhân như trái tim Đức Giêsu ; truyền giáo là mở cõi lòng, mở tâm tư đón nhận tất cả, nên mọi sự cho tất cả trong yêu thương, phục vụ ; truyền giáo là nhân danh Đức Giêsu, Đấng là Tình Yêu cứu độ để “loan báo Tin Mừng cho người nghèo..., công bố cho kẻ giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức, và công bố năm hồng ân của Chúa” (Lc 4,18-19), nên vô cảm, vô tâm, vô tình không thể chung sống với nhà truyền giáo, người rao giảng Tin Mừng, giới thiệu và làm cho mọi người tin yêu, tôn thờ Đức Giêsu, Thiên Chúa Tình Yêu, Đấng luôn chạnh lòng, trắc ẩn, thương xót, bênh vực, giải thoát, cứu chữa.

Vâng, nhà truyền giáo là người mang Đức Giêsu, Đấng luôn chạnh lòng thương xót ; là người loan báo Đức Giêsu, Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa tội trần gian ; là người chuyển ban ơn Bình An của Đức Giêsu, “Thiên Chúa làm người” đã hiến mạng để cứu chuộc con người tội lỗi sẽ khó có thể sống ơn gọi và sứ mạng truyền giáo của mình, nếu không biết chạnh lòng thương xót, vì thực ra, ơn gọi truyền giáo, sứ mệnh truyền giáo, cũng như con người truyền giáo chính là Thương Xót mọi người như Đức Giêsu đã chạnh lòng thương xót.       

Khi còn ở với các Tông Đồ, Đức Giêsu đặc biệt chú tâm đào tạo con tim của các vị để các vị biết chạnh lòng như Ngài, biết nhìn đoàn chiên như Ngài nhìn, biết chăm nom, săn sóc đoàn chiên như Ngài chăm nom, săn sóc, nhất là biết hy sinh cho đoàn chiên như Ngài đã hy sinh. Vì thế, mỗi lần các vị chọn phương án không bác ái, như xin lửa từ trời xuống đốt một làng xứ Samari để trừng phạt dân làng đã không đón tiếp Đức Giêsu và các ông (x. Lc 9,52-56), hoặc tìm cách giải quyết cho “được việc”, nhưng thiếu từ tâm theo kiểu thế gian như “giải tán, đuổi về, la mắng”, thì đều bị Ngài khiển trách, dậy bảo.

Thực vậy, chỉ với trái tim biết thương cảm, chạnh lòng như Đức Giêsu, nhà truyền giáo mới thực sự truyền giáo khi quy tụ mọi người quanh Lời Chúa và Thánh Thể. Nếu không, nhà truyền giáo sẽ chỉ làm công việc của nhân viên quảng cáo, tiếp thị, khi giới thiệu một mặt hàng, một sản phẩm, mà không giới thiệu “Con Người Thiên Chúa”, không làm chứng Tình Yêu của Thiên Chúa, Đấng từ bi và nhân hậu, và không làm cho Đức Giêsu được có mặt và lớn lên trong trái tim và cuộc đời  mọi người, như điều Chúa muốn ở người được gọi và sai đi truyền giáo.

Jorathe Nắng Tím


 

Truyền_giáo 143: “ĐẰM THẮM - ĐIỀM ĐẠM - KÍN ĐÁO”


NÉT ĐẸP THIÊNG LIÊNG CỦA NHÀ TRUYỀN GIÁO:

 

Nhà truyền giáo không được sai đi “tham quan, ngao du sơn thủy”, nhưng được sai đi làm việc Truyền_giáo 143


Nhà truyền giáo không được sai đi “tham quan, ngao du sơn thủy”, nhưng được sai đi làm việc như người gieo hạt tận tụy (x. Mt 13,4-8), sai đi rất xa, đến với mọi người, ở khắp mọi nơi để rao giảng “Nước Thiên Chúa đã gần”, và với quyền năng của Thiên Chúa “chữa người đau yếu, làm cho kẻ chết sống lại, cho người phong hủi được sạch bệnh, và trừ khử ma qủy” (Mt 10,7-8). Nhà truyền giáo còn được sai vào nơi rất nguy hiểm, đầy chông gai va đe dọa “như chiên đi vào giữa bầy sói” (Mt 10,16), và còn như người đi buôn phải vận dụng mọi khả năng để làm sinh lợi gấp hai, gấp năm, gấp mười vốn liếng được chủ trao (x. Mt 25,14-30).

Như thế, hành trình của nhà truyền giáo không dễ đi, địa chỉ nhà truyền giáo hoạt động không dễ đến, môi trường, hoàn cảnh nhà truyền giáo tiếp cận không luôn thuận lơi, công việc của nhà truyền giáo không dễ thực hiện, và nhất là những con người nhà truyền giáo gặp gỡ, phục vụ, đồng hành không luôn dễ hiểu, dễ sống, dễ nói dễ nghe, dễ thương, dễ cộng tác.

Cũng vì thế mà Đức Giêsu đã chỉ cho các môn đệ hàng loạt những việc phải làm, và những chuyện phải tránh, trước khi sai các ông đi truyền giáo (x. Mt 25,7-14), và ân cần căn dặn như bửu bối: “anh em phải khôn như rắn và đơn sơ như bồ câu” (Mt 25,16).

Khôn đây là khôn ngoan, chứ không phải thói “khôn lỏi, khôn ăn người, khôn lanh, khôn ma le, qủy quái” của thế gian, và đơn sơ đây cũng không phải đơn sơ “ngu ngốc, ngờ nghệch, đờ đẫn, đần độn, hậu đậu, kệch cỡm” để người đời khinh chê, nhạo cười.

Nhưng làm sao để luôn có được khôn ngoan và đơn sơ ? Cư xử thế nào để không đánh mất khôn ngoan và đơn sơ ? Cách sống nào được coi là tốt nhất để bảo đảm khôn ngoan và đơn sơ trong đời truyền giáo ? 

Thiết tưởng, không gì tốt hơn, chính xác hơn cho nhà truyền giáo là nhìn vào chính Đức Giêsu, Đấng sai các vị đi truyền giáo và căn dặn: “phải khôn như rắn và đơn sơ như bồ câu”.

1.    Đức Giêsu đã đằm thắm, điềm đạm trong mọi hoàn cảnh và với mọi người:

Chịu ma qủy cám dỗ trong hoang địa, thay vì bối rối, mất tinh thần, Đức Giêsu điềm đạm “dậy” cho ma qủy Lời Thiên Chúa, và chúng phải tháo lui (x. Mt 4,1-11) ; khi bị mấy ông kinh sư hỗn xược chụp mũ “phạm thượng”, thay vì nóng giận “đốp chát”, Đức Giêsu điềm đạm cắt nghiã và đề nghị: “Trong hai điều: một là bảo: Con đã được tha tội rồi”, hai là bảo: “Đứng dậy mà đi, điều nào dễ hơn ?” (Mt 9,5).   

Đức Giêsu còn điềm đạm trước những lời “xóc óc, móc họng”, khiêu khích, miệt thị, cả những xúc phạm, nguyền rủa, đe dọa, xua đuổi, tấn công của nhóm Biệt Phái như khi thấy Ngài ăn uống với người tội lỗi, họ đã khích bác, châm chọc cốt để Ngài “nổi qạua” to tiếng. Trái lại, Đức Giêsu đã điềm đạm giải thích cho họ sứ mệnh của Ngài: “Người khỏe mạnh không cần thầy thuốc, người đau ốm mới cần” (Mt 9,12). Bị trách móc không ăn chay, thay vì “nổi đoá”, Đức Giêsu điềm đạm trả lời: “Chẳng lẽ khách dự tiệc cưới lại có thể than khóc khi chàng rể còn ở với họ ?” (Mt 9,15). Cả khi bị đám đông qúa khích chửi rủa và lượm đá ném, vì Ngài nói: “Ông Ápraham là cha các ông đã hớn hở vui mừng vì hy vọng được thấy ngày của tôi. Ông đã thấy và đã mừng rỡ” (Ga 8,56), Đức Giêsu cũng vẫn điềm đạm “lánh đi và ra khỏi Đền Thờ” (Ga 8,59), mà không gay go, gây hấn ; và sau cùng, khi các thủ lãnh Do Thái quyết định giết Ngài, sau phép lạ cho Ladarô sống lại sau bốn ngày chôn trong mồ, Đức Giêsu vẫn điềm đạm ứng xử, và “không đi lại công khai giữa người Do Thái nữa” (Ga 11,54). Rồi những ngày chịu nạn: từ khi bị bắt đến lúc chịu đóng đinh, trước không biết bao nhiêu nhục mạ, cực hình, lên án bất công, Đức Giêsu vẫn một thái độ đằm thắm, điềm đạm trước mọi người: không một lời nguyền rủa, không một lần phẫn nộ.

Đặc biệt với các môn đệ, Đức Giêsu luôn đằm thắm, điềm đạm, như khi thấy các ông tranh giành chỗ cao thấp, địa vị lớn nhỏ, Ngài đằm thắm, điềm đạm nói với các ông: “Ai muốn làm người đứng đầu, thì phải làm người rốt hết, và làm người phục vụ mọi người” (Mc 9,35) ; khi Giuđa phản bội, Ngài cũng vẫn điềm đạm trả lời câu hỏi giả hình của ông (x. Mt 26,25) ; cả khi Phêrô nóng nẩy chém đứt tai tên đầy tớ của thượng tế trong vườn Cây Dầu, nơi Ngài bị bắt, Đức Giêsu cũng điềm đạm nhắc nhở ông: “Hãy xỏ gươm vào vỏ, vì tất cả những ai cầm gươm sẽ chết vì gươm…” (Mt 26,52).  

Qủa thực, có đằm thắm, điềm đạm, nhà truyền giáo mới tránh được những “thái qúa, bất cập”, là nguyên cớ của nhiều thất bại, vì đằm thắm, điềm đạm là thái độ của người biết phân định, trung dung, không qúa khích, qúa đáng, cũng không lười biếng, buông xuôi.              

Đằm thắm, điềm đạm còn là đức tính cần thiết của nhà truyền giáo, vì xuất phát từ tâm hồn “hiền lành và khiêm nhuờng” (Mt 11,29), bài học quan trọng và nền tảng Đức Giêsu dậy, mà bất cứ ai muốn đi theo Ngài đều phải nằm lòng và cố gắng thực thi trong đời sống.

Đằm thắm, điềm đạm còn là chià khóa Đức Giêsu ban cho nhà truyền giáo, để các vị thành công trong sứ vụ thiêng liêng được trao phó, bởi thiếu đằm thắm, điềm đạm, các vị rất khó có thể đến với muôn dân, rất khó đi vào lòng người, rất khó vào được nhà người khác, và vô cùng khó “ở lại bình an” với mọi người, vì thiếu đằm thắm, nhà truyền giáo sẽ ứng xử một cách cứng cỏi, thô kệch, dễ đưa đến trịch thượng, hống hách, kiêu căng, cửa quyền, kẻ cả đối với mọi người ; thiếu điềm đạm, nhà truyền giáo cũng sẽ bốc đồng, nóng nẩy, hiếu chiến, hiếu thắng, trong lới nói và cung cách, dễ đưa đến đôi co, hơn thua, thách thức, bạo lực, là điều cấm kị đối với nhà truyền giáo.

Sở dĩ là điều cấm kị ở nhà truyền giáo, vì thái độ, lời nói, hành động thiếu đằm thắm, điềm đạm sẽ gây nên ấn tượng xấu về một nhà truyền giáo “kiêu căng, áp chế, khuynh đảo, xâm lăng”, không tôn trọng, không yêu thương, không phục vụ, trong khi hình ảnh cần có ở nhà truyền giáo là “hiền lành và khiêm nhường”, đơn sơ và nghèo khó, phục vụ trong niềm vui, yêu thương đến quên mình, như chính Đức Giêsu.

Trong thực tế, không thiếu những nhà truyền giáo đã thất bại ngay vòng đầu, vì thiếu đằm thắm, điềm đạm, mặc dù làm đúng quy trình truyền giáo: Những vị này tuy có “vào nhà người xứng đáng và ở đó” như Đức Giêsu dặn (x. Mt 10,11), nhưng vì ăn nói “linh tinh, lôm côm, huyênh hoang, biết ít nói nhiều”, lại thường háo thắng, giành diễn đàn, chiếm micrô “độc thoại”, nên chủ nhà mệt mỏi, ngao ngán mời đi ; những nhà truyền giáo mà “vào nhà nào cũng chúc bình an cho nhà ấy” (Mt 10,12), đúng như Đức Giêsu dặn, nhưng vì thiếu đằm thắm và điềm đạm, các vị đã làm bình an “hoảng sợ và bỏ chạy mất dép”: không ở lại với nhà ấy, mà cũng không “trở về với các vị”.

Thực vậy, nhà truyền giáo, noi gương Đức Giêsu, càng đằm thắm trong cung cách xư xử, càng điềm đạm khi ăn nói, càng đem lại nhiều kết qủa thiêng liêng trong truyền giáo, bởi đó là máng chuyển dễ thương, dễ tiếp cận, dễ cảm thông, dễ đi vào lòng người, dễ đưa vào nhà người Lời hằng sống, Bánh trường sinh, Ơn cứu độ, đặc biệt là lời chứng sống động, đầy sức thuyết phục của nhà truyền giáo về Đức Giêsu hiền lành, nhân hậu, Thiên Chúa làm người, Đấng Cứu Độ duy nhất của nhân loại.

2.   Đức Giêsu yêu thích kín đáo:

Nét đẹp thứ hai mà nhà truyền giáo cần có để giữ được “khôn ngoan và đơn sơ” trong đời truyền giáo chính là biết sống kín đáo, như Đức Giêsu.

Kín đáo ở đây không được hiểu là “thiếu cởi mở, khép kín, đóng chặt cửa tâm hồn, hà tiện lời ăn tiếng nói, và không trao đổi, chia sẻ tâm sự hay công việc với ai”. Trái lại, kín đáo là đức tính cần thiết, đúng hơn rất cần thiết ở nhà truyền giáo, vì chính sứ vụ truyền giáo đòi hỏi.

Nhà truyền giáo cần kín đáo, vì sứ vụ lắng nghe tâm sự thiêng liêng của các tâm hồn, sứ vụ băng bó, chữa lành những vết thương nội tâm, sứ vụ giải thoát linh hồn người khác khỏi xiềng xích, ngục tù của tội lỗi, sứ vụ chia sẻ, đồng hành, hướng dẫn con người trên đường nên thánh, chưa kể những vị mang sứ vụ “tha tội” được Giáo Hội trao phó, và tất cả các sứ vụ đó đều đòi ở các vị sự kín đáo, thận trọng. Nếu không sẽ chẳng còn ai dám tin tưởng, và ký thác tâm sự thầm kín, thiêng liêng ở các vị. 

Sự kín đáo nơi nhà truyền giáo không những phải được triệt để tuân giữ khi thi hành sứ vụ thiêng liêng, mà ngay trong giao tế bình thường trong đời thường, đức tính ấy cũng không thể thiếu, nếu các vị muốn được mọi người kính trọng, bởi khó có thể chấp nhận một nhà truyền giáo thiếu kín đáo, không giữ kín được điều cần phải giữ kín, không bảo đảm được bí mật của những gì liên quan đến danh dự, uy tín, hạnh phúc của người khác, để rồi bất cứ chuyện riêng tư của ai, vấn đề nhậy cảm của gia đình nào chẳng may “bị” các vị biết đều sẽ mau chóng biến thành chuyện công cộng, chuyện công khai, chuyện của công chúng, chuyện của “bàn dân thiên hạ”.

Trong thực tế đã có nhiều phũ phàng đáng tiếc xẩy ra cho nhà truyền giáo, khi các vị không quan tâm đến đòi hỏi phải kín đáo, tế nhi, thận trọng trong giao tế, và hậu qủa là công việc truyền giáo không đem lại kết qủa, khi các vị bị coi là người không đáng tin, thiếu kín đáo, và mọi người rỉ tai nhau coi thường, xa lánh. 

Qủa thực, trong Tin Mừng, Đức Giêsu luôn nhắc nhở các môn đệ phải kín đáo: kín đáo khi cầu nguyện, ăn chay, chia sẻ, làm phúc bố thí  vì “Cha của anh, Đấng hiện diện nơi kín đáo… Đấng thấu suốt những gì kín đáo, sẽ trả lại cho anh” (Mt 6,4.6.18).

Cả ba việc đạo đức quan trọng là cầu nguyện, ăn chay và làm phúc bố thí đều đuợc Đức Giêsu đặt trong tình trạng kín đáo, âm thầm, không khoa trương, ồn ào, nặng phần trình diễn, khoe khoang, cốt để mọi người biết mà tấm tắc khen ngợi, tuyên dương, vì Ngài biết: nhà truyền giáo sẽ không còn “khôn ngoan và đơn sơ” khi được thiên hạ “cho lên mây” với những lời tung hô “có cánh” ; sẽ không “hiền lành và khiêm nhường” như đầy tớ chỉ biết làm việc chủ trao phó ; sẽ không  sống đơn sơ như người môn đệ “hoàn toàn phó thác” vào Thiên Chúa, Cha mình, mà chẳng thu gom, vun vén, cẩn thận chuẩn bị tương lai, tuổi già. Trái lại, nhà truyền giáo được đám đông cuồng tín sùng bái, hâm mộ, vì “thích” tỏ mình giỏi giang, “biết cách” tỏ mình thánh thiện, đạo đức, “chăm chút” tỏ mình vượt trội hơn anh em về mọi mặt trước sau cũng sẽ vấp ngã nặng nề, vì không còn khôn ngoan để phân định, và đơn sơ để được mọi người tin tưởng, yêu mến.

Ngoài những căn dặn phải kín đáo khi cầu nguyện, ăn chay, bố thí, Đức Giêsu còn làm gương kín đáo trong đời sống của Ngài, như khi làm phép lạ, Ngài thường dặn dò người vừa được Ngài chữa lành: “Đừng nói với ai cả” (Mt 8,4), hoặc tự Ngài kín đáo “lánh đi, vì có đám đông ở đấy” (Ga 5,13).

Vâng, Mùa Chay không chỉ là mùa “cá nhân sám hối, bản thân trở về”, nhưng còn là mùa truyền giáo, vì truyền giáo là căn tính của mọi Kitô hữu, nghiã là tất cả chúng ta, khi lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy đểu trở thành nhà truyền giáo, đều mang sứ vụ truyền giáo, đều được Thiên Chúa sai đi truyền giáo, nên việc sám hối cá nhân, việc trở về của bản thân trong mùa chay cũng là việc truyền giáo của cộng đoàn dân Chúa, việc lên đường cùng toàn thể Giáo Hội đến với  muôn dân, và “Mùa Chay Trở Về” được biến thành “Mùa Chay Chay Ra Đi”, Mùa Chay sám hối trở nên “Mùa Chay Được Đổi Mới” cùng với mọi người nhờ dấn thân truyền giáo, lên đường loan báo Tin Mừng.

Và thành qủa truyền giáo ít hay nhiều sẽ tùy thuộc tấm lòng của người được sai đi, hệ tại ở sự vâng phục, và làm theo những gì Đấng sai đi đã căn dặn: “Anh em phải khôn như rắn và đơn sơ như bồ câu” (Mt 25,16).

Jorathe Nắng Tím


 

Truyền_giáo 144: NHIỆT TÂM - NHIỆT THÀNH

 

Đang đi dọc theo biển hồ Galilê, Đức Giêsu thấy ông Simon, cũng gọi là Phêrô và người anh là Truyền_giáo 144


Đang đi dọc theo biển hồ Galilê, Đức Giêsu thấy ông Simon, cũng gọi là Phêrô và người anh là Anrê đang quăng chài xuống biển … Người bảo các ông: “Các anh hãy theo tôi .. Đi một quãng nữa, Người thấy hai anh em khác con ông Dêbêđê là ông Giacôbê và người em là ông Gioan…Người gọi các ông. Lập tức các ông bỏ thuyền, bỏ cha lại mà theo Người. Thế rồi, Đức Giêsu đi khắp miền Galilê, giảng dậy trong các hội đường, rao giảng Tin Mừng Nước Trời, và chữa hết mọi kẻ bệnh hoạn tật nguyền trong dân… Thiên hạ mang đến cho Người đủ thứ bệnh hoạn tật nguyền: những kẻ bị qủy ám, kinh phong, bại liệt, và Người đã chữa họ…và dân chúng lũ lượt kéo đến đi theo Người” (Mt 4,18-25).

Thánh sử Mátthêu chỉ một đọan ngắn đã làm chúng ta “chóng mặt” với những việc Đức Giêsu làm: Ngài đi dọc bờ biển, đi lên đi xuống khắp miền, gọi người này, chọn người kia, chú giải Kinh Thánh trong hội đường của người Do Thái, chữa bệnh, trừ qủy, giảng dậy, loan báo Tin Mừng Nước Trời cho đám đông đi theo Người.

Chỉ cần đếm hết một dẫy dài động từ cũng đủ thấy Đức Giêsu đã hăng say, nhiệt thành và vội vã đến mức nào trong sứ vụ loan báo Nước Thiên Chúa. Sự vội vã ấy nói lên mức độ khẩn trương của việc  loan báo Tin Mừng, lòng nhiệt thành ấy bầy tỏ tính gấp rút của việc sám hối, trở về, vì ơn cứu độ đã đến gần, và niềm hăng say cho thấy thời gian không còn nhiều, vì “cái rìu đã đặt sát gốc cây: bất cứ cây nào không sinh qủa tốt đều bị chặt đi và quăng vào lửa” (Mt 3,10). Ở đây, chúng ta không bàn đến độ khẩn trương, gấp rút, vì ngày tận thế sắp đến, như nhiều người hay hoảng loạn tung tin,  vì Đức Giêsu không kêu gọi mọi người sám hối, ăn năn vì sợ bị Thiên Chúa trừng phạt, nhưng kêu gọi thống hối, trở vể để được vào Vương Quốc của Thiên Chúa: “Anh em hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần” (Mt 3,2). Chính vì  Nước Thiên Chúa là hạnh phúc vô cùng lớn, vô cùng qúy mà Đức Giêsu đã vội vã, nhiệt thành, hăng say loan báo, kêu gọi, mở rộng, bành trướng, làm cho lan tràn, toả sáng để không một ai phải bất hạnh, vì không được hưởng hạnh phúc tuyệt vời này.

Như thế, Nước Trời, Nước Thiên Chúa, Vương Quốc của Thiên Chúa là điểm tới, đích tới, điểm hẹn của tất cả nhân loại, và nhà truyền giáo được Thiên Chúa sai đi để loan báo: Phúc cho ai chiếm được Nước Trời, phúc cho người có Nước Trời làm gia nghiệp, phúc cho kẻ được phần thưởng lớn lao trong Vương Quốc Thiên Chúa (x. Mt 5, 3.4.10.12).

Nhưng Nước Trời, Nước Thiên Chúa ấy cũng chính là Thiên Chúa, bởi Thiên Đàng, kiểu nói khác của Nước Trời, Nước Thiên Chúa là nơi  người được Thiên Chúa chúc phúc sẽ được chính “Thiên Chúa ủi an” (Mt 5,5), được chính “Thiên Chúa cho thoả lòng” (Mt 5,6), được chính “Thiên Chúa xót thương” (Mt 5,7), được “nhìn thấy chính Thiên Chúa” như người là (Mt 5,8), và được gọi là “con Thiên Chúa” (Mt 5,9).

Đó là hạnh phúc tuyệt đối của con người mong đơi, là đích tới tuyệt đối của nhân loại khát mong sau hành trình trần thế, là tất cả những gì con người hy vọng, nhờ được Thiên Chúa yêu thương, cứu chuộc.

Chính vì hạnh phúc ấy tuyệt đối, phần thưởng ấy tuyệt đối, mà Đức Giêsu đã nhiệt tâm, nhiệt tình hối hả, vội vã loan báo, mời gọi và mang đến cho mọi người, vì không muốn bất cứ ai mất cơ hội Nước Trời, khi Nước Trời đã đến gần, không để ai lỡ chuyến đò hẹn hò với Thiên Chúa, vì “Người đã đến nhà mình” (Ga 1,11), và đang ở giữa chúng ta.

Đức Giêsu đã nhiệt tâm, nhiệt tình, nhiệt thành, nhiệt huyết với sứ vụ loan báo Tin Mừng cứu độ, vì Ngài biết đạt đến Thiên Chúa, chạm được Thiên Chúa, ở với Thiên Chúa, ở trong Thiên Chúa là hạnh phúc vô cùng, và tuyệt đối của con người, mà tình yêu đã thúc bách Ngài xuống thế làm người để con người nhận được hạnh phúc “có Thiên Chúa” ấy.

Vâng, nhà truyền giáo được sai đi để cộng tác với Đức Giêsu trong sứ vụ duy nhất này, nghiã là ngoài sứ vụ loan báo Tin Mừng để muôn người, muôn dân được cứu rỗi, các vị không bị ràng buộc, cũng không nên để mình bị trói buộc vào bất cứ  nhiệm vụ trần thế, nghiệp vụ trần gian mang tính “khuyến mãi, vắt vai, vớt vát” nào khác, và chỉ như thế, các vị mới có thể “toàn tâm toàn ý” để có thể thi hành sứ vụ thiêng liêng được trao phó với lửa “nhiệt tâm lo việc nhà Chúa” (Ga 2,17). 

Và để sứ vụ được thi hành với lòng nhiệt thành như Đức Giêsu, nhà truyền giáo cũng phải như Ngài, được thúc bách bởi Thánh Ý Chúa Cha, và Hạnh Phúc của con người:

1.    Đức Giêsu nhiệt thành với sứ vụ, vì  tuyệt đối vâng phục Thánh Ý Chúa Cha:

Đức Giêsu xuống thế làm người không vì bất cứ lý do gì, ngoài thực hiện Thánh Ý Cha Ngài. Trong Tin Mừng, Đức Giêsu không ngớt bầy tỏ lòng vâng phục tuyệt đối Thánh Ý Chúa Cha, như Ngài nói với những người Do Thái:

“Tôi bảo thật các ông: người Con không thể tự mình làm bất cứ điều gì, ngoại trừ điều Người thấy Chúa Cha làm ; vì điều gì Chúa Cha làm, thì người Con cũng làm như vậy” (Ga 5,19), “Tôi không tìm cách làm theo ý riêng tôi, nhưng theo ý Đấng đã sai tôi » (Ga 5,30), cũng như “tất cả những người Chúa Cha ban cho tôi đều sẽ đến với tôi, tôi sẽ không loại ra ngoài, vì tôi tự trời mà xuống, không phải để làm theo ý tôi, nhưng để làm theo ý Đấng đã sai tôi” (Ga 6, 37-38). Vì thế, “Đấng đã sai tôi vẫn ở với tôi ; Người không để tôi cô độc, vì tôi hằng làm những điều đẹp ý Người” (Ga 8, 29). Ngay ở giây phút kinh hoàng, khi “mồ hôi Người như những giọt máu rơi xuống đất” (Lc 22,44)  trong vườn Cây Dầu trước giờ bị bắt đem đi chịu khổ hình và chịu chết, Đức Giêsu vẫn một lòng vâng phục Thánh Ý: “Lậy Cha, xin đừng theo ý con, nhưng xin theo Ý Cha mọi đàng” (Lc 22,42)  

Và Đức Giêsu mặc khải cho chúng ta biết Thánh Ý của Chúa Cha khi qủa quyết: “Ý của Đấng đã sai tôi là tất cả những kẻ Người đã ban cho tôi, tôi sẽ không để mất một ai, nhưng sẽ cho họ sống lại ngày sau hết. Thật vậy, ý của Cha tôi là tất cả những ai thấy người Con và tin vào người Con, thì được sống muôn đời, và tôi sẽ cho họ sống lại trong ngày sau hết” (Ga 6,39-40), vì Thiên Chúa yêu nhân loại, nên “đã sai Con Một đến thế gian, để nhờ Con Một của Người mà chúng ta được sống” (1 Ga 4,9).

Như thế, sứ vụ của nhà truyền giáo chính là làm cho mọi người nhận biết và tin ở Đức Giêsu, Thiên Chúa làm người, để họ được sống muôn đời, khi nhà truyền giáo được kêu gọi cộng tác với Đức Giêsu để trở thành “những kẻ lưới người như lưới cá” (Mc 1,17).

Hình ảnh ngư phủ quăng lưới bắt cá là hình ảnh tuyệt đẹp của nhà truyền giáo được sai đi tìm kiếm và đưa về với Thiên Chúa những con người khao khát  được sống hạnh phúc thật, với tình yêu tuyệt đối của Thiên Chúa trong Vương Quốc của Ngài, và hình ảnh ấy còn đẹp hơn gấp bội khi nhà truyền giáo ý thức mình được sai đi để thực hiện Thánh ý, khi luôn trung thành và khiêm tốn thưa với Đức Giêsu, như Phêrô: “Vâng lời Thầy, con thả lưới”, dù “chúng con đã vất vả suốt đêm mà không bắt được gì cả” (Lc 5,5), bởi chính khi làm theo Thánh Ý, khi vâng lời “chèo ra chỗ nước sâu mà thả lưới” (Lc 5,4), là lúc các tông đồ “bắt được nhiều cá đến nỗi hầu như rách cả lưới, phải làm hiệu cho các bạn chài trên chiêc thuyền kia đến giúp. Những người này tới, và họ đã đổ lên được hai thuyền đầy cá, đến gần chìm” (Lc 5,6-7).

2.   Đức Giêsu nhiệt tâm, nhiệt thành vì Tình Yêu Chúa Cha, và lòng thương xót nhân loại thúc bách:

Không chỉ tình yêu dành cho Chúa Cha, mà cả lòng thương xót dành cho con người đã thúc bách Đức Giêsu nhiệt tâm, nhiệt tình truyền giáo, loan báo Tin Mừng Cứu Độ. Tình yêu thúc bách Ngài vâng phục, tình yêu thúc đẩy Ngài vội vã lên đường, hăng hái rao giảng, nhiệt tình cứu chữa.

Cũng như Đức Giêsu, nhà truyền giáo sẽ chỉ có thể nhiệt tâm với sứ vụ, và nhiệt thành thực hiện Thánh Ý, nếu trí khôn nắm bắt Thánh Ý muốn cứu độ toàn thể nhân loại, vì yêu thương của Thiên Chúa, và trái tim đầy tràn tình yêu của Chúa Cha để có thể yêu thương anh em mình như Thiên Chúa yêu thương, và  thao thức, khắc khoải, khao khát, tìm kiếm hạnh phúc được sống đời đời cho đồng loại, bằng nhiệt tâm, nhiệt tình thực hiện sứ vụ truyền giáo khi được sai đi.

Như Đức Giêsu nhiệt tâm nhiệt tình trên đường truyền giáo, nhà truyền giáo cũng phải đốt nóng trái tim mình bằng tình yêu các linh hồn của Chúa Cha, để nhiệt huyết tông đồ, lòng nhiệt thành rao giảng, nhiệt tình làm chứng Đức Giêsu bùng lên Ơn Cứu Độ cho mọi người.  

Bởi nhà truyền giáo không được tình yêu các linh hồn của Đức Giêsu chiếm đoạt và thúc bách, các vị sẽ không bao giờ cảm được trái tim lọan nhịp vì khao khát các linh hồn của Đức Giêsu, và  hiểu được sự cần thiết của lòng nhiệt thành truyền giáo trước cảnh “lúa chín đầy đồng mà thợ gặt lại ít” (Mt 9,37), cũng như mức độ tha thiết của tâm hồn Đức Giêsu  khi bảo các môn đệ: “Anh em hãy xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về” (Mt 9,38).

Bởi khi trái tim nhà truyền giáo không được tình yêu các linh hồn chiếm đóng để ước mong mọi người được đón nhận Tin Mừng (Cv 26,29), các vị sẽ không thể nhiệt thành và “mạnh dạn” rao giảng như Phêrô và Gioan (x. Cv 4,13), nhiệt tình loan báo Tin Mừng đến nỗi bị người đời coi là điên như Phaolô (x.Cv 26,25), mà không chỉ thiên hạ, nhưng chính Phaolô cũng tự nhận mình điên vì Tin Mừng khi viết cho giáo đoàn Côrinthô:

“Tôi nói như người điên: tôi còn hơn họ nữa ! Hơn nhiều vì công khó, hơn nhiều vì ở tù, hơn gấp bội vì chịu đòn, bao lần suýt chết. Năm lần tôi bị người Do Thái đánh bốn mươi roi bớt một ; ba lần bị đánh đòn ; một lần bị ném đá ; ba lần bị đắm tầu ; một đêm một ngày lênh đênh giữa biển khơi ! Tôi còn hơn họ, vì phải thực hiện nhiều cuộc hành trình, gặp bao nguy hiểm trên sông, nguy hiểm do trộm cướp, nguy hiểm do đồng bào, nguy hiểm vì dân ngoại, nguy hiểm ở thành phố, trong sa mạc, ngoài biển khơi, nguy hiểm do những kẻ giả danh là anh em. Tôi còn phải vất vả mệt nhọc, thường phải thức đêm, bị đó khát, nhịn ăn nhịn uống và chịu rét mướt trần truồng” (2 Cr 11,23-27).

Không có “Tình Yêu Đức Kitô thúc bách” và  trái tim khát khao phần rỗi các linh hồn và hạnh phúc Nước Trời của anh em đồng loại, nhà truyền giáo sẽ không bận tâm, bận trí  vì mang nỗi khắc khoải truyền giáo, như  thánh tông đồ dân ngoại viết: “Nỗi ray rứt hằng ngày của tôi là mối bận tâm lo cho tất cả các Hội Thánh ! Có ai yếu đuối mà tôi lại không cảm thấy mình yếu đuối ? Có ai vấp ngã mà tôi lại không cảm thấy lòng sôi lên ?” (2 Cr 11,29).

Nhà truyền giáo cũng không thể nhiệt thành như các thánh Tông Đồ đã chấp nhận mọi gian nan, thử thách, để đến với muôn dân (x. Rm 15,17), ngõ hầu “ân huệ đã lãnh nhận từ Thiên Chúa  không trở nên vô hiệu” (2 Cr 6,1), nếu thiếu lửa tình yêu các linh hồn được chính Thánh Thần Tình Yêu thắp sáng.

Và khi nhà truyền giáo không được Thánh Thần là Lửa Tình Yêu đốt nóng, các vị sẽ lạnh lùng, không sốt sắng việc “Nhà Chúa” ; lạnh nhạt, thờ ơ với sứ vụ ; nhạt nhẽo, dửng dưng trước hạnh phúc đời đời của tha  nhân ;  lãnh đạm, ỷ nại khi phải cộng tác ; lười biếng, tiêu cực khi phải đồng hành ; chán ngán, vật vờ như  xác không hồn khi đến với người khác, và sứ vụ truyền giáo của các vị ngày càng trở nên nặng nề, khó cam, khó thực hiện.

Qủa thực, truyền giáo mà không hăng say, truyền giáo mà thiếu lửa nhiệt thành, thì truyền giáo không đem lại hoa trái thiêng liêng, vì thiếu phần đóng góp của con người, như “năm chiếc bánh và hai con cá”, tuy rất ít nhưng cần thiết, rất bé nhỏ nhưng không thể thiếu, để Thiên Chúa “có thể” thực hiện những kỳ công vĩ đại và nhiệm lạ, vì Ngài cần sự cộng tác của chính con người trong công cuộc cứu độ con người.

Vì thế, nhà truyền giáo không nhiệt thành cũng như xe lửa không  đầu máy: thiếu đầu máy , xe lửa không  chạy ; thiếu nhiệt thành của nhà truyền giáo, Tin Mừng không đến được với ai, bởi như thánh Inhaxiô nói: “Bạn hãy cầu nguyện vì tất cả đều do Thiên Chúa, nhưng hãy hành động như thể tất cả đều do bạn”. 

Hơn bao giờ hết, con người thời nay không còn muốn nghe Tin Mừng và  phần đông không còn cảm thức về Thiên Chúa. Nhưng cũng hơn lúc nào hết, Thiên Chúa nói với chúng ta, những người Kitô hữu: “Ta đã nhận lời ngươi vào thời Ta thi ân, phù trợ ngươi vào thời Ta cứu độ” (2 Cr 6,2), nên chúng ta đừng bi quan, chủ bại trước khó khăn, không thuận lợi của công cuộc truyền giáo. Trái lại, với tình yêu Đức Giêsu và các linh hồn thúc bách, và với ơn phù trợ của Chúa Thánh Thần, cùng với Giáo Hội và trong Giáo Hội, chúng ta tiến bước bình an, với lòng nhiệt thành phục vụ, với nhiệt tâm loan báo Tin Mừng, với nhiệt huyết không vơi cạn của người được Thiên Chúa sai đi.

Jorathe Nắng Tím 


 

Truyền_giáo 145: TÂM HỒN CỞI MỞ, TẦM NHÌN XA RỘNG

 

Đã là người được sai đi, nhà truyền giáo không thể là người hẹp hòi trong tư duy, cục bộ trong Truyền_giáo 145


Đã là người được sai đi, nhà truyền giáo không thể là người hẹp hòi trong tư duy, cục bộ trong đường lối, nhỏ mọn trong chọn lựa, bởi người hẹp hòi tư duy không dám đi trên hành trình xa; người cục bộ, co cụm chỉ loanh quanh, luẩn quẩn với những ngõ nhỏ, lối mòn, làm sao dám lên đường mạo hiểm ; người chi li, nhỏ mọn, tính toán vặt vãnh chẳng bao giờ dám chọn cho mình tương lai mạo hiểm, và đường xa vạn dặm. 

Nhưng Đức Giêsu chỉ gọi và chọn những con người có tâm hồn cởi mở, khi muốn họ cởi bỏ tất cả, trước khi đi theo Ngài, bởi “cởi bỏ bên ngoài” là dấu chỉ của “cởi mở bên trong”. Cởi bỏ cha mẹ, gia đình, nghề nghiệp cũ (x. Mt 4,22) ; cởi bỏ “vàng bạc, tiền giắt lưng, bao bị, áo sống, giầy dép, gậy chống đi” (x.Mt 10,9-10) để có thể cởi mở cõi lòng, cởi mở trái tim, cởi mở trí óc, cởi mở bàn tay, cởi mở cuộc đời trên đường truyền giáo, vì thiếu tâm hồn cởi mở của nhà truyền giáo, Tin Mừng không đến được tâm hồn người khác, thiếu cởi mở của trái tim người môn đệ Đức Giêsu, sứ điệp Cứu Độ không đi được vào lòng ai, thiếu tinh thần cởi mở của người “nhân danh Thiên Chúa mà đến”, người được sai đi tự ý đóng đường đến gặp Đức Giêsu của mọi người.

Cũng vậy, Đức Giêsu không muốn những người được chọn và sai đi mang não trạng hẹp hòi, khép kín, cục bộ, kỳ thị, vì đó là dấu chỉ của kiêu căng, ích kỷ, bởi Tin Mừng được loan báo cho hết mọi người, Hạnh Phúc và Sự Sống đời đời được ban cho toàn thể nhân loại, và Thiên Chúa là Cha nhân hậu của mọi người, không loại trừ ai, không bỏ sót người nào.

Vì thế, một tầm nhìn xa rộng là đòi hỏi của Đức Giêsu ở các môn đệ Ngài, là điều kiện để truyền giáo mang lại hoa trái, là ơn sủng của Thánh Thần tình yêu, Đấng “mở lòng, mở trí” những người đi theo Đức Giêsu đem Tin Mừng cứu độ đến muôn dân.

1.   Có được tâm hồn cởi mở và tầm nhìn xa rộng khi nhà truyền giáo xác tín: Thiên Chúa yêu thương và muốn cứu độ hết mọi người:

Rất nhiều lần trong Tin Mừng, Đức Giêsu đã mặc khải cho các môn đệ: ý định từ đời đời của Chúa Cha là cứu chuộc hết mọi người, và không muốn một ai phải hư mất. Và ý muốn thánh thiện, thương xót ấy được Thiên Chúa thực hiện bằng mở ra tất cả mọi con đường, ngõ ngách có thể mở để bất luận ai, ở bất cứ hoàn cảnh nào cũng tìm gặp được Thiên Chúa.

Vì thế, sứ mệnh của nhà truyền giáo không là “đoán” người này sẽ được cứu rỗi, “nhắm” người kia sẽ bị luận phạt, “cho người này lên thiên đàng, dí người kia  xuống hoả ngục”, nhưng nhà truyền giáo hoạt động với duy nhất một xác tín: tất cả mọi người đều được Thiên Chúa yêu thương và một quyết tâm: xin được là khí cụ trong tay Thiên Chúa để chuyển tải ơn cứu rỗi đến tất cả mọi người.

Nhiệm vụ của nhà truyền giáo như thế là làm cho mọi người nhận được hạt giống Tin Mừng, và tin nhận Đức Giêsu là Thiên Chúa, Đấng cứu độ duy nhất, nghiã là làm tất cả mọi việc, mọi cách để Tin Mừng được gieo vào tâm hồn mọi người với một niềm hy vọng: sớm muộn hạt giống Tin Mừng cũng sẽ nẩy mầm và lớn lên, xum xuê trong tâm hồn mọi người.

Có những hạt nẩy mầm ngay, nhưng cũng có những hạt nẩy mầm rất lâu sau, nhiều năm sau, có khi “người được gieo” sắp chết, hạt giống mới chịu nẩy mầm trong lòng họ. Nhưng nẩy mầm sớm hay muộn không là việc của người gieo, bởi đó là việc của Thiên Chúa như thánh Phaolô đã qủa quyết: “Tôi trồng, anh Apôlô tưới, nhưng Thiên Chúa mới làm cho lớn lên” (1 Cr 3,6).    

Nhưng tại sao cần phải xác tín: Thiên Chúa yêu thương và muốn cứu chuộc mọi người ?

Bởi khi lên đường truyền giáo, nhà truyền giáo sẽ gặp đủ thứ người, đủ hạng người: có những người sẵn sàng đón nghe Tin Mừng, vì họ đang khao khát, nhưng cũng có những người dửng dưng, không muốn nghe, và những người ra mặt kịch liệt chống đối, ngăn cấm việc rao giảng, làm chứng Tin Mừng, vì không thiện cảm với nhà truyền giáo và dị ứng với danh thánh Đức Giêsu.

Do đo, nhà truyền giáo sẽ cùng lúc chạm mặt với người ủng hộ và người chống phá, nhóm đi theo và nhóm đối nghịch, nên thiếu niềm xác tín: tình yêu Thiên Chúa bao phủ tất cả mọi người, như mưa nắng trên cả người lành, kẻ dữ (x. Mt 5,45), thiếu tâm hồn cởi mở của Đức Ái, để nhìn “rất xa và rất rộng” đến tận chân trời ở đó “lúa chín vàng cả cánh đồng bao la” (x. Mt 9,37), thì nhà truyền giáo không thể đến với muôn dân, gặp gỡ mọi người, và rao giảng Tin Mừng cho cả người ủng hộ cũng như kẻ chống phá, như Đức Giêsu đã loan báo Sứ Điệp Cứu Độ cho những người hiền lành chăm chú lắng nghe Ngài bên triền núi Bát Phúc, và cả những người Pharisêu kiêu căng, cứng lòng, hay phản bác, bắt bẻ Ngài.

Và như thế, Tin Mừng mới là của mọi người, dành cho hết mọi người, không kỳ thị, phân biệt, loại trừ, và nhà truyền giáo mới thực hiện trọn vẹn sứ mạng truyền giáo là loan báo và làm chứng Đức Giêsu cho muôn dân, như bài sai của Ngài: “Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ của Thầy” (Mt 28,19).

2.   Có được tâm hồn cởi mở  và tầm nhìn xa rộng, khi nhà truyền giáo tin tưởng ở ơn đổi mới của Chúa Thánh Thần:

Xác tín Tình Yêu và Ơn Cứu Độ của Thiên Chúa không bỏ quên, loại trừ ai chưa đủ, nhà truyền giáo còn phải có tâm hồn cởi mở và tầm nhìn xa rộng được Thánh Thần ban tặng, để tin tưởng ở ơn đổi mới của Ngài trên mọi người, dù họ là ai, và tội lỗi đến đâu.

Bởi Chúa Thánh Thần sẽ dẫn loài người tới “sự thật toàn vẹn”, nghiã là Ngài sẽ làm cho hoàn hảo những gì Đức Giêsu đã khởi sự và thành hình, khi hướng dẫn nhân loại trên đường chân lý và tình yêu, bằng nhắc lại những gì Đức Giêsu đã giảng dậy. Nhờ thế mà nhân loại được ơn Ngài đổi mới, được bước đi dưới ánh sáng của Ngài là Thánh Thần tình yêu.

Nói cách khác, với ân sủng và hoạt động của Chúa Thánh Thần, Giáo Hội sẽ đi đến cùng sứ vụ loan báo Tin Mừng cứu độ mà Đức Giêsu đã trao phó, và quang cảnh ngày mùa “rộn rã tiếng ca, lòng tràn đầy hân hoan, tay ôm bó lúa vàng” phải là ánh nến hy vọng không thể tắt trong trái tim nhà truyền giáo trên đường loan báo Đức Giêsu chịu đóng đinh.         

Với tâm hồn cởi mở và tầm nhìn xa rộng, nhà truyền giáo nhờ ơn Chúa Thánh Thần, sẽ không nhìn những anh em thuộc các giáo hội Chính Thống, Tin Lành như những tên “phản đạo, đào ngũ”, nhưng tâm hồn cởi mở “Đại Kết” sẽ giúp nhận ra con đường Hiệp Nhất mà tất cả cùng phải đi. “Nhờ đó, dân thánh được chuẩn bị để làm công việc phục vụ, là xây dựng Thân Thể Đức Kitô cho đến khi tất cả chúng ta đạt tới sự hiệp nhất trong đức tin và trong sự nhận biết Con Thiên Chúa, tới tình trạng con người trưởng thành, tới tầm vóc viên mãn của Đức Kitô” (Ep 4,12-13).

Với tâm hồn cởi mở và tầm nhìn xa rộng trong Đức Tin, Đức Ái và Đức Trông Cậy, nhà truyền giáo sẽ đến với anh em trong cùng một đức tin Kitô, để chân thành trao đổi và nài xin Chúa Thánh Thần đổi mới trái tim mỗi người, để tất cả gặp gỡ nhau, và tiến dần về Hiệp Nhất trong niềm tin ở Đức Giêsu, bằng sống theo Tin Mừng của Ngài, bởi tinh thần, cũng như phương thức đại kết tốt nhất chính là sống Tin mừng của Đức Giêsu.

Như thế, nhà truyền giáo có tâm hồn cởi mở và tầm nhìn xa rộng dưới tác động của Chúa Thánh Thần sẽ không bao giờ khinh mạn, hay lên án những anh em Tin Lành, Chính Thống, nhưng luôn tự nhủ: tất cả chúng ta là những người lữ hành cùng đi với nhau, nên chúng ta cần có nhau trên hành trình đi tìm Thiên Chúa. Và để luôn có nhau, chúng ta cần tìm “cho nhau và với nhau” Ơn Bình An từ dung mạo nhân hậu của Thiên Chúa duy nhất, và từ đó, chúng ta có thể học được ở nhau rất nhiều “điều hay lẽ phải”, không chỉ để hiểu biết nhau hơn, mà còn để đón nhận quà tặng qúy báu của Chúa Thánh Thần muốn ban cho chúng ta qua những người anh em đang đồng hành. Và từng bước, Chúa Thánh Thần sẽ hiệp nhất tất cả chúng ta khi dẫn dắt chúng ta tiến về Chân Lý trọn vẹn và Sự Thiện hoàn hảo.   

Với tâm hồn cởi mở và tầm nhìn xa rộng được Chúa Thánh Thần kích hoạt, nhà truyền giáo không coi thường người anh em Do Thái giáo, Hồi giáo, Phật giáo và anh em các tôn giáo khác, để Thánh Giá mà Đức Giêsu đã dùng để cứu chuộc loài người, khi giao hoà con người với Thiên Chúa không bao giờ được phép biến thành khí giới của ganh ghét, hận thù, bạo lực ; không bao giờ đoàn lũ những người đi theo Đức Giêsu “hiền lành và khiêm nhường tận đáy lòng” được cho phép mình biến thái thành những con nguời cuồng tín, gian ác, hiếu chiến, khát máu đồng loại ; không bao giờ cuộc chiến chống lại “cái tôi” kiêu căng, ích kỷ, xảo trá, tham lam làm tổn thương đồng loại được phép biến thành “thánh chiến” làm đổ máu anh em. Trái lại, nhà truyền giáo luôn nhận ra những giá trị Thiên Chúa đặt để trong các tôn giáo, những giá trị mà chính Đức Giêsu đã kiện toàn, và làm cho viên mãn sau đó, khi Ngài đến. Cũng như Lề Luật Môsê là giá trị Thiên Chúa ban cho dân Israel đã được hoàn hảo và kiện toàn bởi Đức Giêsu bằng Giới Luật mới của Ngài từ thời Tân Ước.   

Vâng, cũng với tâm hồn cởi mở, và tầm nhìn xa rộng nhờ ơn soi sáng của Chúa Thánh Thần, nhà truyền giáo không cô lập, tẩy chay, hay miệt thị những người  “không có đạo”, vì tin vào ơn Cứu Độ luôn mở ra cho mọi người, khi nhìn vào thái độ trân qúy, và tâm tình đặc biệt trìu mến, yêu thương của Đức Giêsu dành cho những người ngoại đạo trong Tin Mừng.

Tóm lại, nhà truyền giáo thiếu tâm hồn cởi mở sẽ trầm trọng xuống cấp, và biến thành người qủang cáo, tiếp thị vô duyên, thô kệch, khi trái tim đóng cửa, nụ cười không tươi, mắt môi không long lanh, “biết nói”. Quảng cáo như thế thì chẳng bao lâu công ty, xí nghiệp sẽ phải đăng “cáo phó” phá sản ; cũng như truyền giáo kiểu “độc đoán, độc tôn, độc thọai” thì chẳng khác gì người gieo giống nhắm mắt gieo hạt “xuống vệ đường, chim chóc đến ăn mất” hay “trên sỏi đá... nắng lên, hạt liền bị cháy, chết khô” (Mc 4,4-5).

Nhà truyền giáo thiếu tầm nhìn xa rộng khi chỉ nhìn mình, thấy mình, chỉ nhìn “tôi”, thấy những cái “thuộc về tôi” như nhà tôi, dân tôi, đạo tôi, xứ tôi, đoàn thể tôi, giáo phận tôi, mà không thấy ai, thấy gì khác, sẽ khác chi “mười người mù đi xem voi” cãi nhau chí chóe, vì người nào cũng cho voi của mình như mình “thấy”.

Qủa thực, tinh thần cởi mở và tầm nhìn xa rộng không thể thiếu ở nhà truyền giáo, vì truyền giáo là “ra sâu, ra xa”, xuôi đến tận chân trời, góc biển, nên tâm hồn khép kín, nhỏ mọn  làm sao mở buồm  bung cánh ? Vì truyền giáo là chuyến đi mạo hiểm, đến vùng trời xa đến miền đất lạ, nên thiếu tầm nhìn xa rộng, làm sao nhà truyền giáo có thể dẫn mọi người  về Đất Hứa? Vì truyền giáo là loan báo Tin Mừng cho người mới gặp, cho dân tộc chưa quen, nên thiếu cởi mở, lại cục bộ, kỳ thị, chi li, làm sao nhà truyền giáo vượt được tường cao ngờ vực, hàng  rào nghi ngại và hầm hố thị phi ?

Và như Nhóm Mười Hai, nhà truyền giáo phải từng ngày  học biết cởi mở và tập nhìn xa rộng trên đường loan báo Tin Mừng, với bài học lạc quan, cởi mở của Đức Giêsu: “Ai không chống lại chúng ta là ủng hộ chúng ta” (Mc 9,40), và đón nhận như chià khóa mở lòng mình, mở lòng người, mở Nước Thiên Chúa cho chúng ta và mọi người. 

Jorathe Nắng Tím  


 

Truyền_giáo 146: CHO VÀ NHẬN Suy Niệm 6

 

Không ai cho nhiều bằng nhà truyền giáo: các vị cho cả cuộc đời, cho tuổi thanh xuân, cho tương Truyền_giáo 146


Không ai cho nhiều bằng nhà truyền giáo: các vị cho cả cuộc đời, cho tuổi thanh xuân, cho tương lai, sự nghiệp, cho đời sống giầu sang, thoải mái, cho cả những quyền hưởng thụ chính danh, chính nghiã, chính đáng vì Nước Trời. Nhưng cũng không ai nhận nhiều bằng nhà truyền giáo: nhận tình yêu thương, lòng kính trọng, sự giúp đỡ tinh thần, vật chất của rất nhiều người, khi được sai đi truyền giáo.

Vì thế, hơn ai hết, nhà truyền giáo hiểu cho là gì, nhận là gì, và phải nhận và cho thế nào cho xứng hợp với ơn goi, sứ vụ truyền giáo của mình.

Trước hết nhà truyền giáo ý thức mình phải cho đi, vì truyền giáo là truyền cho người khác giáo lý, cảm nhận, chứng từ niềm tin, và ngay cả chính bản thân mình, và giao cho người khác kho tàng chân lý đức tin mình nhận được từ Giáo Hội.

Cũng vì sứ mệnh của truyền giáo là “truyền giao” không ngừng, nên nhà truyền giáo là người được mời gọi cho đi hào sảng, trao ban quảng đại, dâng hiến không mệt mỏi, như Ơn Gọi truyền giáo đòi hỏi, một Ơn Gọi nhận nhiều để cho nhiều, nhận tất cả để cho tất cả, mà không giữ lại bất cứ sự gì đã nhận được làm của riêng.

Nhưng tại sao nhà truyền giáo phải cho đi tất cả những gì đã nhận ?

Vì tất cả những gì nhà truyền giáo nhận được để lên đường truyền giáo, cũng như những gì nhận được trên đường truyền giáo đều đến từ Thiên Chúa, và từ những người được Thiên Chúa sai đến, như “cánh tay nối dài” của Thiên Chúa để nâng đỡ, hỗ trợ nhà truyền giáo.

Nhưng để nhận được tất cả từ Thiên Chúa, để nhận ra tất cả là Hồng Ân của Thiên Chúa, nhà truyền giáo phải “từ bỏ tất cả” trước đó, vì “ai yêu cha yêu mẹ hơn Thầy, thì không xứng với Thầy. Ai yêu con trai con gái hơn Thầy, thì không xứng với Thầy. Ai không vác thập giá mình mà theo Thầy, thì không xứng với Thầy. Ai giữ lấy mang sống mình, thì sẽ mất ; còn ai liều mất mạng sống vì Thầy, thì sẽ tìm thấy được” (Mt 10,37-39).

Chính vì phải từ bỏ tất cả, mà khi nhận được từ Thiên Chúa ơn gọi làm tông đồ, ơn gọi truyền giáo, sứ vụ rao giảng Tin Mừng, nhà truyền giáo nhận ra một điều rất quan trọng, đó là không còn gia sản nào thuộc về mình, không còn tài sản nào mang tên mình, không còn sự nghiệp nào mang dấu ấn của mình, nhưng tất cả thuộc về Chúa, thuộc quyền sở hữu của Chúa, những gì mình có là của Chúa, những gì mình được sử dụng thuộc quyền sở hữu của Chúa.

Nhờ thế, nhà truyền giáo tự do đón nhận, để được tự do ban phát, tự do nhận lãnh, để được tự do trao dâng. Bởi khi “từ bỏ tất cả những gì không thuộc về Thiên Chúa”, để chỉ nhận về mình những gì thuộc về Thiên Chúa, nhà truyền giáo mới thực sự được hoàn toàn giải phóng khỏi mọi ràng buộc hoặc tinh thần, hoặc vật chất với bất cứ đối tượng thế gian nào, để “toàn tâm, toàn ý, toàn thân” thuộc về Chúa, mà không vương vấn, gắn bó của cải với bất cứ con người trần tục nào, và chỉ một mình Chúa  mới thực là Đấng làm chủ cuộc đời nhà truyền giáo.

Đó là lý do Đức Giêsu đã không nhận làm môn đệ anh thanh niên giầu có (x. Mt 19,16-22), cũng như những người vừa muốn đi theo Ngài, vừa muốn trở về nhà lo an táng cha mẹ, khi nói với người đó: “Anh hãy đi theo tôi, hãy để kẻ chết chôn kẻ chết” (Mt 8,22).

Nói như vậy, Đức Giêsu không bảo chúng ta bất hiếu với cha mẹ, hay vô tình với người thân trong gia đình, nhưng sự cường điệu cố ý của Ngài muốn nói lên đòi hỏi ở người môn đệ: phải triệt để  cởi bỏ tất cả, để thuộc về một mình Chúa, và chỉ làm công việc của Nước Trời.

Nhưng tại sao Đức Giêsu muốn nhà truyền giáo phải cởi bỏ đến độ không còn gì, như chính Ngài “không có cả chỗ tựa đầu”, trong khi “con cáo còn có hang, chim trời còn có tổ” ? (Mt 8,19) ; tại sao Ngài muốn các vị “đừng mang theo vàng bạc, bao bị”, đến quần áo, giầy dép cũng phải đơn sơ, giản dị, vừa đủ, không được dư thừa khi đi rao giảng Tin Mừng ?

Thưa vì Ngài muốn nhà truyền giáo không có gì thuộc về mình, không còn gì là tư hữu, để chỉ còn thuộc về một mình Ngài, như người thợ làm công việc cho Ngài, và ngoài một mình Ngài, không ai sẽ là người trả công.

Không ai sẽ là người trả công cho nhà truyền giáo, để nhà truyền giáo hoàn toàn tự do truyền giáo, mà không bị bất cứ một áp lực trần thế nào, từ bất cứ người nào, đoàn thể, phe nhóm, tổ chức nào, vì không ai được nhận là “ông chủ” của nhà truyền giáo, ngoài Đức Giêsu. “Lãnh lương” của một mình Đức Giêsu, nhà truyền giáo sẽ không lệ thuộc ai, không bị ai lèo lái, ra lệnh, bắt buộc, điều khiển trong sứ vụ truyền giáo, bởi Đấng đã sai nhà truyền giáo “ra khơi, ra xa, ra sâu” không ai ngoài ông chủ có tên Giêsu.

Như thế, nhà truyền giáo mới tự do thi hành sứ vụ của mình, mới hạnh phúc thực hiện bài sai của Đức Giêsu mà không lấm lét sợ hãi người nào, không mặc cảm tự ti vì được ai đó cho tiền, nuôi ăn, giúp đỡ, càng không bị buộc chân, buộc tay, kể cả buộc cổ vì lấn cấn, lôm côm chuyện tiền bạc, vật chất với người này, người nọ, cho chuyện này chuyện kia.
Khi bảo các môn đệ: “Đừng kiếm vàng bạc, hay tiền giắt lưng. Đi đường, đừng mang bao bị, đừng mặc hai áo, đừng đi dép hay cầm gậy. Vì thợ thì đáng được nuôi ăn” (Mt 10,10), Đức Giêsu muốn nhà truyền giáo sống đơn sơ, giản dị, nghèo khó để nhà truyền giáo vừa không trở nên gánh nặng vật chất cho ai, vừa không bị lệ thuộc người nào. Không trở nên gánh nặng cho ai, vì không coi mình là người có quyền đòi hỏi, có quyền bắt người khác phục dịch “tận răng”, có lý do coi người khác như gia nhân, đầy tớ ; không lệ thuộc người nào, vì biết mình là thợ đáng được hưởng công, là đầy tớ đuợc chủ nuôi ăn, nuôi ở. Chủ đây là Thiên Chúa, Đấng sai nhà truyền giáo vào làm vườn nho của Ngài như một người thợ, một người làm, và được nuôi ăn bởi chính ông chủ rất tốt lành, quảng đại.

Đức Giêsu cũng đã nói cho các môn đệ biết Ngài nuôi các vị thế nào, khi căn dặn: “Anh em vào bất cứ thành nào, làng nào, thì hãy dò hỏi xem ở đó ai là người xứng đáng, và hãy ở lại đó cho đến lúc ra đi. Vào nhà nào, anh em hãy chúc bình an cho nhà ấy. Nếu nhà ấy xứng đáng, thì bình an của anh em sẽ đến với họ ; còn nếu nhà ấy không xứng đáng, thì bình an của anh em sẽ trở về với anh em. Nếu người ta không đón tiếp và nghe lời anh em, thì khi ra khỏi nhà hay thành ấy, anh em hãy giũ bụi chân lại” (Mt 10,11-14).

Rõ ràng là Đức Giêsu đã bảo đảm khâu sinh sống thường ngày của nhà truyền giáo, bằng gửi đến cho các vị những “người xứng đáng”, được coi như “cánh tay nối dài” của Thiên Chúa, những cộng sự viên trung tín của ông chủ. Họ được phân bổ để lo liệu đời sống thường ngày cho nhà truyền giáo với tư cách anh em của nhà truyền giáo, vì chính họ cũng là thợ, là người làm cho cùng một  ông chủ của tất cả là Đức Giêsu.

Do đó, tương quan giữa nhà truyền giáo và những người giúp đỡ, chia sẻ vật chất, hoặc tinh thần với nhà truyền giáo là tương quan anh em, tương quan giữa những người thợ cùng làm vườn nho của Thiên Chúa, và không bao giờ được biến thái thành tương quan chủ - tớ, tương quan vua chúa - quần thần, tương quan kẻ thống trị - người nô lệ.

Qủa thực, nếu nhà truyền giáo không xác định chỗ đứng và vai trò “người thợ” và quyền lợi “được nuôi ăn” của một người làm, một tay thợ, khi được sai đi truyền giáo của mình, thì nhà truyền giáo sẽ rơi vào một trong hai tình trạng: hoặc ảo tưởng mình là người đến để thống lãnh, cai trị và có quyền đòi hỏi những người mình đến gặp để rao giảng, truyền giáo phải cung phụng mình như ý mình muốn ; hoặc sẽ mặc cảm “ăn bám, ở nhờ” và rụt rè, ngượng ngùng, e ngại trước những người có lòng tốt, khi phải nhận sự giúp đỡ của họ.

Cả hai đều nguy hiểm: trong trường hợp thứ nhất sẽ mang đến nguy hiểm kiêu căng, ngạo mạn, cửa quyền, độc tài, độc tôn, nhất là phung phí đồng tiền từ mồ hôi nước mắt của người khác, và hưởng thụ cách bất công, bất chính, không xứng hợp với ơn gọi và sứ mệnh được sai đi để yêu thương, phục vụ. Trường hợp thứ hai cũng nguy hiểm không kém, đó là tình trạng tự ty, hèn nhát, thiếu tự trọng, không bản lãnh, nhất là đánh mất nhân phẩm khi hạ thấp giá trị của mình, vì phải lệ thuộc.

Chỉ với ý thức là người được sai đi làm công, làm thợ trong vườn nho, đồng lúa của Thiên Chúa, và đáng được chủ nuôi ăn, nuôi ở, nhà truyền giáo mới bình an, hồn nhiên, khiêm tốn đón nhận những chia sẻ, trợ giúp của người khác để nuôi mình và làm việc truyền giáo, mà không kiêu căng coi đó là quyền được phục vụ, quyền được đòi hỏi, quyền được thoả mãn mọi nhu cầu cá nhân, đồng thời không tự ty mặc cảm, đánh mất chính mình vì nghĩ mình ăn bám, ở nhờ, sống “thân tầm gửi”, dựa dẫm.

Xa hơn nữa, Đức Giêsu muốn các môn đệ của Ngài, cũng như các nhà truyền giáo biết đứng ở vị thế  người thợ, người làm công của Ngài và được Ngài quan phòng, lo liệu tất cả (x. Mt 10,10), vì chỉ ở vị thế này, người môn đệ, nhà truyền giáo mới có thể cho đi tất cả, vì tất cả đều đã đến từ Thiên Chúa, tất cả đã được Thiên Chúa ban cho đầy đủ.

Nhà truyền giáo vì nhận từ Thiên Chúa sẽ nhân danh Thiên Chúa mà trao ban cho người khác ; nhà truyền giáo không có gì của mình, nên dễ dàng cho đi “nhưng không” những gì đã nhận “nhưng không”, bởi một khi tưởng mình là chủ, nghĩ mình có quyền cho hay không cho, ảo tưởng mình là tác nhân, tác giả của “kho tàng thiêng liêng, chân lý bất diệt”, nhà truyền giáo sẽ rơi vào tình trạng  hoàn toàn trái ngược với ước mong của Đức Giêsu khi được kêu gọi và sai đi:

Ngài đợi chờ tinh thần phục vụ như tôi tớ ở nhà truyền giáo: “Cũng như Con Người đến không phải để người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ và hiến dâng mạng sống làm giá cứu chuộc muôn người” (Mt 20,28). Chính tinh thần phục vụ như tôi tớ làm cho nhà truyền giáo trở thành một chứng nhân đầy thuyết phục, vì chỉ ở tinh thần và đời sống khiêm nhường, phục vụ như tôi tớ, người ta mới nhận ra “Đức Giêsu, Chiên Thiên Chúa, Đấng đến để gánh tội nhân loại”.

Ngài mong chờ tinh thần phó thác tuyệt đối ở Thiên Chúa quan phòng ở nhà truyền giáo, và muốn người được chọn và sai đi “đừng lo cho mạng sống: lấy gì mà ăn ; cũng đừng lo cho thân thể: lấy gì mà mặc” (Mt 6,25), vì “Cha anh em trên trời thừa biết anh em cần tất cả những thứ đó. Trước hết hãy tìm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Người, còn tất cả những thứ kia, Người sẽ thêm cho. Vậy anh em đừng lo lắng về ngày mai: ngày mai, cứ để ngày mai lo. Ngày nào có cái khổ của ngày ấy” (Mt 6, 32-34).

Có tinh thần phó thác, nhà truyền giáo mới không tìm cách vun vén, chắt bóp, thu gom, ki bo, góp nhặt, kể cả mưu đồ biển thủ, tranh giành, chiếm đọat, biến của công thành của riêng, làm cho tiền từ túi người chạy qua túi mình, và như thế tâm hồn nhà truyền giáo sẽ không còn chỗ cho Tin Mừng, trái tim nhà truyền giáo sẽ không còn khả năng khao khát các linh hồn, và hoạt động truyền giáo sẽ chỉ còn là  kinh doanh vật chất cho bản thân, gia đình, phe nhóm.

Đức Giêsu thường tỏ ra ưu tư trước những cám dỗ vật chất, tiền bạc, vì Ngài biết mãnh lực vô hình của chúng. Chẳng thế mà Ngài luôn cảnh tỉnh các môn đệ sức quyến rũ và tàn phá của vật chất, khi coi Tiền Của như ông chủ đối nghịch với “ông chủ Thiên Chúa”: “Anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa, vừa làm tôi Tiền Của được” (Mt 6,24). Đồng thời, Ngài khuyến cáo nguy cơ thiếu trung tín khi của cải làm lu mờ lương tâm người môn đệ, nhà truyền giáo, cũng là người quản lý gia nghiệp Ngài: “Ai trung tín trong việc rất nhỏ, thì cũng trung tín trong việc lớn ; ai bất lương trong việc rất nhỏ, thì cũng bất lương trong việc lớn. Vậy nếu anh em không trung tín trong việc sử dụng Tiền Của bất chính, thì ai sẽ tín nhiệm mà giao phó của cải chân thật cho anh em ? Và nếu anh em không trung tín trong việc sử dụng của cải của người khác, thì ai sẽ ban cho anh em của cải dành riêng cho anh em ?” (Lc 16,10-12).  

Và sau cùng, chính Đức Giêsu đã dậy các môn đệ của Ngài một nguyên tắc đối với tất cả những gì mình có, dù là vật chất hay tinh thần, dù là của cải tự nhiên hay kho tàng siêu nhiên, đó là: “Anh em đã nhận được nhưng không, thì cũng phải cho đi nhưng không” (Mt 10,8).

Qủa thực, nếu bình tâm, không chỉ nhà truyền giáo, mà tất cả chúng ta sẽ đều thấy mình đã nhận rất nhiều và nhưng không từ Thiên Chúa, qua Giáo Hội, gia đình,  học đường, đất nước, thế giới là cánh tay nối dài của Thiên Chúa, và tiền công Ngài trả thì vượt qúa xa công sức chúng ta làm cho Ngài, như Đức Giêsu đã khẳng định trong dụ ngôn “thợ làm vườn nho” (x. Mt 20,1-16).

Cũng vì Thiên Chúa không bao giờ chịu thua lòng qủang đại của bất cứ ai, và là “ông chủ rất tốt bụng” (Mt 20,15), như Tin Mừng qủa quyết: “Anh em hãy cho, thì sẽ được Thiên Chúa cho lại. Người sẽ đong cho anh em đấu đủ lượng đã dằn, đã lắc và đầy tràn, mà đổ vào vạt áo anh em. Vì anh em đong bằng đấu nào, thì Thiên Chúa sẽ đong lại cho anh em bằng đấu ấy” (Lc 6,37-38), nên Thiên Chúa muốn nhà truyền giáo, cũng như tất cả những ai đi theo Ngài phải phó thác và qủang đại trao ban những gì đã lãnh nhận.       

Tóm lại, càng ý thức mình là “người làm công được Thiên Chúa trả công”, là “đầy tớ được sai đến để phục vụ”, mà không là quan chức cai trị, khi rao giảng Tin Mừng và làm chứng Đức Giêsu cho muôn dân, nhà truyền giáo sẽ càng biết NHẬN cách xứng đáng, và xứng hợp với ơn gọi, sứ vụ của mình, như Chúa muốn. Cũng vậy, càng biết mình được chọn để làm máng chuyển ban, nhịp cầu truyền giao, người qủan lý phân phát gia sản của chủ, nhà truyền giáo càng biết CHO nhưng không, cho quảng đại, vì có sư gì đã nhận mà đã không nhận “nhưng không”, có gì có mà đã không có như hồng ân đầy tràn, có gì được mà đã không được như ân huệ của lòng thương xót hải hà, chứa chan ?

Đời truyền giáo là đời của người được gọi và sai đi để Cho và Nhận: nhận Thiên Chúa và cho Thiên Chúa, nhận ân sủng và cho ơn phúc, nhận an bình và cho bình an, nhận hạnh phúc và cho hoan lạc, nhận hy vọng và cho cậy trông, nhận Tin Mừng và cho Tin Vui nhận Lời Hứa và cho kỳ công, nhận Nước Trời và cho  Thiên Đàng, bởi nhà truyền giáo chỉ biết “CHO nhưng không như đã NHẬN nhưng không”, được thúc bách bởi Tình Yêu vô vị lợi, vô cùng và đến cùng của Đức Giêsu, Ngôi Lời Thiên Chúa, Đấng đã đến trong thế gian để mọi người “được sống và sống dồi dào” (Ga 10,10).

Jorathe Nắng Tím


 

Truyền_giáo 147: NGƯỜI LỮ HÀNH 

 

Không mấy người hiểu được vị thế “không luôn dễ hiểu” của nhà truyền giáo, khi được sai đi Truyền_giáo 147


Không mấy người hiểu được vị thế “không luôn dễ hiểu” của nhà truyền giáo, khi được sai đi rao giảng và làm chứng Đức Giêsu vừa như tông đồ, và thầy dậy, vừa như người lữ khách đồng hành với người được rao giảng.

Cái “không luôn dễ hiểu” hệ tại ở một khúc mắc khó hiểu, đó là: đã là tông đồ thì niềm tin vào Đức Giêsu tất phải vững chãi, trung kiên ; đã là thầy dậy “những gì liên quan đến Thiên Chúa” (x. Lc 24,27) ắt cũng phải hiểu biết thâm sâu, thấu đáo về Thiên Chúa. Vậy mà trong thực tế, các tông đồ của Đức Giêsu, cũng như các nhà truyền giáo nối tiếp sứ vụ loan báo Tin Mừng của Nhóm Mười Hai đã không luôn đạt được đòi hỏi này.

Trước hết, Tin Mừng cho chúng ta biết các tông đồ là những người được chính Đức Giêsu kêu gọi và tuyển chọn để làm môn đệ thân tín, “bạn hữu tri âm tri kỷ” (Ga 15,15), “kẻ lưới người như lưới cá” (Mc 1,17), “người thu phục người khác” (Lc 5,10), người được sai đi “làm cho muôn dân trở thành môn đệ” (Mt 28,19), và các vị  được Đức Giêsu ban cho quyền chăn dắt như mục tử nhân lành (x.Ga 10), quyền giáo huấn để “dậy bảo muôn dân tuân giữ điều Thầy đã truyền” (Mt 28,20), và  quyền tha tội, thánh hoá (x. Ga 20,19-20).

Qủa thực, Đức Giêsu không những đã tín nhiệm, mà còn trực tiếp huấn luyện các vị, để các vị trở thành mục tử chăn dắt, thầy dậy và tư tế, và ước mơ của Ngài là các vị  trở nên “đồng hình đồng dạng” với Ngài trong mọi sự.

Nếu chỉ dừng ở đây, chúng ta sẽ khó có thể lý giải: tại sao có những môn đệ, nhà truyền giáo sống không xứng đáng với ơn gọi của nhà truyền giáo, môn đệ ? Cắt nghiã thế nào hiện tượng suy thoái đạo đức, xa rời lý tưởng, kể cả xa lạ với sứ vụ được trao phó ? Giải thích làm sao hiện trạng không chỉ suy thoái mà còn phản Tin Mừng, đối nghịch với giáo lý đức tin, và luân lý Kitô giáo của một số ít nhà truyền giáo ? Và hiểu thế nào cho đúng khi có những môn đệ tuyệt vọng trên đường truyền giáo, thất vọng, tiếc nuối vì đã “bỏ mọi sự đi theo Đức Giêsu”, bất mãn, công kích Giáo Hội là Mẹ đã cưu mang, nuôi lớn và sai đi ?

Vâng, chúng ta không thể dừng lại ở ơn gọi tông đồ, sứ vụ truyền giáo, chức vụ thầy dậy, mục tử của nhà truyền giáo, mà quên các vị vẫn mãi là người Lữ Hành như bất cứ người Kitô hữu nào nói riêng, và toàn thể nhân loại nói chung, bởi tất cả đều được mời gọi cùng bước đi trên hành trình về Đất Hứa, cùng lên đường về Nước Trời, cùng đi theo một Đức Giêsu, Mục Tử duy nhất và đời đời.

Vì còn là người lữ hành trên đường lữ thứ đầy cám dỗ, thử thách, mà Phêrô, tông đồ trưởng, người được Đức Giêsu đăc biệt yêu thương và tín nhiệm đã nhiều lần to tiếng nào là: “Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống” (Mt 16,16), “Bỏ Thầy, chúng con biết theo ai, vì Thầy có lời ban sự sống đời đời” (Ga 6,68), nào là “cho dù tất cả có vấp phạm đi nữa, thì con cũng nhất định là không” (Mc 14,29), và ngon lành hơn nữa khi  “gan cùng mình” qủa quyết một “câu xanh dờn, hết ý”: “Dầu có phải chết với Thầy, con cũng không chối Thầy” (Mc 14,31), nhưng rồi không lâu sau đã công khai chối phăng Thầy mình ba lần liên tiếp: “Tôi thề là không biết người các ông nói là ai” (Mc 14,71).

Tin Mừng Máccô còn ghi thêm: “Tất cả các môn đệ cũng đều nói như vậy” (Mc 14,31), nghiã là cùng thề thốt sống chết, cùng tuyên xưng nẩy lửa, cháy bỏng, ngoạn mục, nhưng kết qủa là tất cả, ngoại trừ Gioan: người thì chối bỏ, phản bội, người thì chỉ điểm lấy tiền (x. Mc 14,10-11) người thì bỏ trốn để bảo toàn tính mạng, như thánh sử Máccô đã ghi rõ: “Bấy giờ các môn đệ bỏ Người mà chạy trốn hết” (Mc 14,50).

Vì còn mang phận người Lữ Hành trên đường dài nhiều chông gai, thách đố, nhà truyền giáo, hay môn đệ Đức Giêsu cần ý thức: tuy mang sứ vụ cao cả, mang ơn gọi cao siêu, mang quyền tha tội cao trọng, các vị cũng vẫn không dứt  bỏ được thân phận Lữ Khách, nên bất cứ lúc nào cũng có thể ngã qụy, “vì tinh thần thì hăng hái, nhưng thể xác lại yếu đuối” (Mc 14,38) ; bất cứ ở đâu cũng có thể “lỡ bước sa chân”, vì chính Đức Giêsu đã cảnh báo: “Tất cả anh em sẽ vấp ngã, vì Kinh Thánh đã chép: “Ta sẽ đánh người chăn chiên, và chiên sẽ tan tác” (Mc 14,27) ; bất cứ hoàn cảnh nào cũng có thể bị “sa chước cám dỗ”, vì “Xatan xin được sàng anh em như người ta sàng gạo” (Lc 22,31) ; bất cứ tình huống nào cũng có thể lạc đường, mất hướng, vì “đây là thời của quyền lực tối tăm” (Lc 22,53) ; bất cứ tình trạng nào cũng có thể dẫn tới nguy cơ làm điều bất công, bất chính, vì “sự thiện tôi muốn thì tôi không làm, nhưng sự ác tôi không muốn, tôi lại cứ làm” (Rm 7,19).

Vì còn phải làm người lữ khách đến hết đường đời, nên dù là môn đệ chính danh, dù được chọn làm tông đồ đích thực, nhà truyền giáo vẫn có lúc bâng khuâng nghi nan, có lúc lầm lũi sau màn sương dầy đặc, có khi ngao ngán trong đường hầm tăm tối, có hồi mệt mỏi, chùn chân, sờn lòng bên vệ đường đói lả, như ngôn sứ Êli ngày xưa trên đường lên núi Hôrép.

Và hình ảnh người Lữ Hành vật vã vì vất vả, bải hoải vì thất bại, bàng hoàng vì phút chốc tất cả đều tan hoang, dở dang, lỡ làng đã thể hiện rõ nét ở hai môn đệ trên đường Emmau:

“Cũng ngày hôm ấy”, tức ngày thứ ba sau khi Đức Giêsu chết và an táng trong mồ, “có hai người trong nhóm môn đệ đi đến một làng kia tên là Emmau, cách Giêrusalem chừng mười một cây số. Họ trò chuyện với nhau về tất cả những việc mới xẩy ra. Đang lúc họ trò chuyện và bàn tán, thì chính Đức Giêsu tiến đến gần và cùng đi với họ. Nhưng mắt họ còn bị ngăn cản, không nhận ra Người” (Lc 24,13-16).

Hai ông kể cho người bạn đường mới là Đức Giêsu: “chuyện ông Giêsu Nadarét. Người là một ngôn sứ đầy uy thế trong việc làm cũng như lời nói trước mặt Thiên Chúa và toàn dân. Thế mà các thượng tế và thủ lãnh của chúng ta đã nộp Người để Người bị án tử hình, và đã đóng đinh Người vào thập giá » (Lc 24,19-20).

Hai ông đã kể cho Đức Giêsu nghe những gì các ông đã biết về Đức Giêsu, và những gì thượng tế và thủ lãnh dân Do Thái đã làm cho Ngài. Và tất cả điều đó đều thật, đúng như các ông biết. Nhưng có một điều quan trọng mà các ông đã nghe, đã biết, nhưng quên hẳn, đó là “Lời Hứa sẽ sống lại từ cõi chết”, mà Đức Giêsu đã nói đi nói lại đến ba lần với các ông: “Người phải đi Giêrusalem, phải chịu đau khổ do các kỳ mục, các thượng tế và kinh sư gây ra, rồi bị giết chết, và ngày thứ ba sẽ sống lại” (Mt 16,21 ; 17,23 ; 20,18-19).

Quên Lời Hứa sống lại là dấu chỉ của thiếu sót, là hậu qủa của cơn chấn động sợ hãi, là khủng hoảng tột cùng khi hy vọng đột ngột tan vỡ. Các môn đệ của Đức Giêsu từ mấy năm nay, tuy có lúc căng thẳng vì bị người Do Thái chống đối, nhóm Pharisêu khích bác, gây sự, nhưng  không ai bỏ cuộc, vì hy vọng vào vương quốc  sắp đến của Thầy, hy vọng ai nấy sẽ được vinh hiển với danh phận, chức tước ngất ngưởng cao sang (x.Mc 10,35-40). Nay mọi việc xẩy ra hoàn toàn trái ngược làm tiêu tan hy vọng quan lộ, làm sụp đổ hy vọng một đời vinh quang, và dồn các ông vào ngõ bí, đẩy các ông vào thế kẹt, hoàn toàn bế tắc.

Đây chính là lúc các ông nhận ra phận lữ hành, thân lữ khách của mình, mà thất vọng là dấu ấn chính hiệu, không thể chối cãi, khi chính miệng các ông thú nhận: “Phần chúng tôi, trước đây vẫn hy vọng rằng chính Người là Đấng sẽ cứu chuộc Ítraen” (Lc 24,21).

Trước đây tuy vẫn hy vọng, nhưng hy vọng này không là hy vọng của đức tin “tin một lần là xong”, không là hy vọng của đức tin “gỗ đá, chỉ cần được đục đẽo, tạo hình một lần là trọn vẹn”, nhưng là hy vọng của đức tin phải được lớn lên từng ngày, đức tin liên lỷ chịu thử thách để trưởng thành, đức tin trôi nổi, xây sát, trầy trợt, bị tung lên dìm xuống tơi tả để  có sức dẻo dai chịu đựng. Đó là đức tin của lữ khách nên trong niềm hy vọng có nghi nan, phân vân, thắc mắc, do dự, có khả thể bỏ đi, hay ở lại, có tự do đi tiếp hay bỏ cuộc, như những thách đố cần thiết của đức tin, như thử thách để lớn lên của hy vọng. 

Vì thế, các môn đệ đã có lần nghi ngờ về giáo lý của Thầy mình, thậm chí  nhiều môn đệ đã nói với Đức Giêsu: “Lời này chướng tai qúa. Ai mà nghe nổi ?” (Ga 6,60), khi Ngài mặc khải: “Ai ăn thịt và uống máu tôi, thì được sống muôn đời, và tôi sẽ cho người ấy sống lại vào ngày sau hết, vì thịt tôi thật là của ăn, máu tôi thật là của uống” (Ga 6,54-55), hoặc hồ nghi, thắc mắc về phần thưởng dành cho các ông, khi Phêrô, đại diện anh em lên tiếng hỏi Đức Giêsu: “Thầy coi, phần chúng con đã bỏ mọi sự mà theo Thầy. Vậy chúng con sẽ được gì ?” (Mt 19,27). Và rất nhiều lần các ông đã do dự, phân vân trước cám dỗ bỏ Ngài, như “nhiều môn đệ rút lui, không còn đi theo Người nữa” (Ga 6,66).  

Vì đức tin là đức tin của người sống, nên đức tin phải sống động, và vì sống và động, nên đức tin có thể hy vọng trước đây, nhưng bây giờ thất vọng. Hy vọng trước đây khi được thấy tận mắt những phép lạ nước hoá thành rượu ở tiệc cưới Cana (x. Ga 2,1-12), bánh hoá nhiều nuôi cả đám đông hàng vạn người (x.Mt 15,32-39), người què đi được, người mù được sáng mắt, người bị qủy ám được giải thoát (x. Mt 4,23-24) kể cả kẻ chết được sống lại (x. Ga 11,1-44), nhưng hôm nay thì thất vọng và đầy ngờ vực, nghi nan, khi Thầy bị kết án tử đóng đinh (x. Lc 24,21-24). 

Vâng, thất vọng, ngờ vực, thắc mắc, nghi nan là dấu ấn chính hiệu khi đường đời không luôn thênh thang của người lữ hành, khi thuyền đời không luôn thuận buồm xuôi gió của lữ khách ; là dấu ấn không thể chối cãi, vì người lữ hành không thể biết hết những gì sẽ xẩy ra, lữ khách không thể nắm chắc, tiên liệu mọi sự, mọi việc của chặng đường ngày mai, và đường dài tương lai sắp tới.

Con đường đức tin “vững chắc, thênh thang” của các môn đệ hôm nào khi cùng thầy lên núi Tabo biến hình, hay cùng Thầy vào thành thánh giữa tiếng hoan hô vang trời của dân chúng hâm mộ nay bỗng chênh vênh, gập ghềnh, quanh co, đầy bất trắc, chướng ngại nguy hiểm, và hoàn cảnh bi đát này đã đánh thức các ông ra khỏi giấc mộng vàng khanh tướng, để trở về với thân lữ khách, kiếp lữ hành dong duổi, gian lao, còn phải  trường kỳ chiến đấu cam go, cực khổ mới mong đạt đích, đi đến cùng đường.

Giấc mộng đức tin “một lần hoàn thành cho tất cả”, “một lần hoàn hảo cho cả đời” của hai môn đệ đã vỡ toang trên đường Emmau, khi các ông phải thẹn thùng nghe Đức Giêsu trách móc: “Các anh chẳng hiểu gì cả. Lòng trí các anh thật là chậm tin vào lời các ngôn sứ !” (Lc 24,25). Và hai môn đệ đã nhận ra ơn gọi lữ khách phải luôn đồng hành với mọi người, khi “lòng họ bừng cháy lên” mắt họ mở ra nhận ra Đức Giêsu khi “Người cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, và bẻ ra trao cho họ”, khi đồng bàn với họ (Lc 24,30-31).

Như thế, nhà truyền giáo ngoài sứ vụ loan báo và làm chứng Đức Giêsu, còn mang một nghiã vụ khác nữa, đó là đồng hành với mọi người không chỉ như anh em, mà còn như người lữ hành cùng một thân phận, lữ khách cùng một điều kiện, bạn đường cùng một hoàn cảnh.

Nếu Đức Giêsu sai các môn đệ đi truyền giáo, Ngài cũng sai các ông lên đường và đồng hành với mọi người, đặc biệt với người được các ông loan báo Tin Mừng, giới thiệu Đức Giêsu.

Vì thế, tinh thần chủ nhân của Tin Mừng, não trạng độc quyền Lời Thiên Chúa, thái độ của kẻ thánh thiện vượt trội trên mọi người, kiểu sống của người giầu có bố thí, thi ân, ảo tửởng đức tin của mình là số một, tất cả đều không xứng hợp với nhà truyền giáo, vì như mọi người, nhà truyền giáo vẫn còn phải cùng mọi người bước đi trên đường, vẫn mãi là lữ khách đường xa, vẫn chưa hết chông gai, khó khăn, thử thách của người lữ hành trên hành trình gặp Chúa và anh em.

Hơn thế nữa, hành trình của nhà truyền giáo luôn mang hai đòi hỏi có cùng một giá trị: đòi hỏi là người hướng đạo, và đòi hỏi là lữ khách, bạn đường của mọi người. Thiếu một trong hai, bước chân truyền giáo không thăng bằng, nhưng khập khiễng, sẽ làm chao đảo, vấp ngã nhà truyền giáo ; chỉ dựa vào quyền được trao để chăn dắt, dậy dỗ, tha tội, thánh hoá, mà quên bổn phận đồng hành của người lữ hành, nhà truyền giáo sẽ từ xa lạ đến xa cách, từ phân biệt đến biệt lập, từ cao ngạo đến lố bịch, từ lập dị đến kệch kỡm. Và như thế, nhà truyền giáo không thể chu toàn sứ vụ truyền giáo được Giáo Hội trao.

Con đường Emmau của hai môn đệ khi niềm tin đổ dốc như bóng chiều sụp đổ chính là con đường truyền giáo của những người được sai đi. Trên con đường này, Đức Giêsu có mặt và cùng đi: đi để giảng dậy, giải thích cho các ông những gì liên quan đến Thiên Chúa (x. Lc 24,27) ; đi như “một người lữ hành, lữ khách” đồng hành bên các ông để nâng đỡ, an ủi, làm phấn chấn tinh thần và đốt cháy lên niềm hy vọng  sắp tắt như “ngày sắp tàn” trong tim các ông (Lc 24,29) ; đi với sứ vụ của nhà truyền giáo vừa rao giảng, hướng đạo, vừa đồng hành chia sẻ.

Ngài chia sẻ nỗi buồn, chia sẻ thất vọng, chia sẻ những xót xa của môn đệ mất thầy, chia sẻ u uất của con mất cha, chia sẻ  cay đắng của một niềm tin từ nay không dám nuôi niềm hy vọng. Như lữ khách khi trời đã xế chiều, Đức Giêsu vui lòng ở lại, và cùng chia sẻ cơm canh với hai môn đệ sau quãng đường dài đức tin nhiều thử thách. 

Và như Đức Giêsu đã giảng dậy, giải thích “những gì liên quan đến Người trong tất cả Sách Thánh” (Lc 24,27) trên đường Emmau, nhà truyền giáo cần đuợc trang bị những gì thuộc về Thiên Chúa, cũng như các nhân đức siêu nhiên, cảm nghiệm thiêng liêng để hướng dẫn mọi người đến gặp Thiên Chúa. Đồng thời, nhà truyền giáo không quên xây dựng cho mình những đức tính nhân bản cần thiết, để trở thành người  bạn đường tử tế, nhân hậu, công bình, dễ mến, đáng tin, hào hiệp, qủa cảm, hy sinh, có tinh thần đồng đội, để đồng hành với mọi người đi hết con đường Chúa muốn mọi người cùng đi, và qủang đại chia sẻ ơn huệ của Ngài cho tất cả những ai biết yêu thương và đồng tâm nhất trí đi tìm Ngài.    

Xin Chúa thương các nhà truyền giáo và ban cho các vị học với Đức Giêsu phục sinh trên đường Emmau, khi biết rao giảng, giải thích “những gì liên quan đến Thiên Chúa”, đồng thời biết đồng hành như người lữ khách, bạn đường của mọi người, để cảm thông, nâng đỡ và chia sẻ đến tận cùng những đau buồn, cay đắng, thất vọng của những tâm hồn khắc khoải, thao thức trên hành trình đi tìm Chúa là Chân Thiện Mỹ  tuyệt đối, và đốt  lên trong trái tim họ lửa Hy Vọng của Niềm Tin vào Đức Giêsu, Đấng đã sống lại thật  từ cõi chết như lời Người đã hứa để đem Sự Sống đời đời và Hạnh Phúc đích thực cho hết mọi người. Alléluia !

Jorathe Nắng Tím


 

Truyền_giáo 148: TRUYỀN GIÁO PHÒNG THỦ

 

Lịch sử Giáo Hội cũng như lịch sử Israel đều chung một đặc điểm là có nhiều vết xám loang lổ Truyền_giáo 148


Lịch sử Giáo Hội cũng như lịch sử Israel đều chung một đặc điểm là có nhiều vết xám loang lổ, những vết xám của yếu đuối, bất trung, sai lạc và lầm lỗi.

Tuy cùng là dân đựợc Thiên Chúa chọn để sống theo giáo huấn của Ngài, nhưng vì là lịch sử của con người, lịch sử được làm nên bởi con người, nên Israel cũng như Giáo Hội đã không thiếu những thăng trầm của đoàn lữ hành trên đường dài vạn dặm, những giai đọan tha thiết trung thành bên những năm tháng thờ ơ phản bội, những bình minh hạnh phúc khi Giao Ước với Thiên Chúa được tôn trọng, và những đêm đen bất hạnh khi thay thế Thiên Chúa bằng ngẫu thần.

Riêng Giáo Hội, một Giáo Hội mà sự bền vững được công khai bảo đảm bởi chính Đức Giêsu, Thiên Chúa làm người: “Còn Thầy, Thầy bảo cho anh biết: anh là Phêrô, nghiã là Tảng Đá, trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi” (Mt 16,18) cũng nhiều lần, nhiều cách, ở nhiều thời điểm của lịch sử đã không tránh khỏi những vấp ngã nặng nề, gương xấu tai hại, sai lầm chống lại Tin Mừng, và ngược với ý muốn của Đấng Sáng Lập.

Sống lại những chặng đường đen tối của Giáo Hội, chúng ta nhận ra một điểm khá quan trọng : một trong những nguyên nhân đã đem lại tình trạng không tốt đẹp cho Giáo Hội, đó là chủ trương một Giáo Hội phòng thủ, khi Giáo Hội dồn mọi nỗ lực củng cố hệ thống cơ cấu tự vệ, mà quên “đi ra, đi xa, đi  khắp nơi” như lệnh lên đường truyền giáo của Đức Giêsu: “Chúng ta hãy sang bờ bên kia” (Mc 4,35), “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thụ tạo” (Mc 16,15).

Khi chỉ say mê củng cố Giáo Hội như pháo đài, với những cơ cấu tuyệt vời, hệ thống tổ chức hoàn hảo, quy chế hành chánh chặt chẽ, luật lệ nội bộ kín kẽ, thì Giáo Hội sẽ dễ bỏ quên sứ mệnh truyền giáo, và biến dần thành một Giáo Hội với khuynh hướng phòng thủ, tự vệ. 

Giáo Hội phòng thủ là một Giáo Hội “đóng kín cửa, vì sợ”: sợ người Do Thái như các môn đệ ngày xưa, sau khi Thầy bị tử hình đóng đinh, nay Giáo Hội sợ người lạ, sợ tư tưởng lạ, sợ những đổi mới của thời đại, sợ những phản biện của đám đông, sợ cả ý kiến của chính những người trong hàng ngũ của mình. 

Giáo Hội phòng thủ là một Giáo Hội khép kín trái tim vì sợ phải thương xót, vì thương xót là một việc không luôn đem lại thoải mái, lợi nhuận, nhưng luôn làm nặng lòng, đau lòng.

Giáo Hội phòng thủ là một Giáo Hội nhắm mắt vì sợ đối diện nhiều người không thích mình, bất đồng ý kiến, chống phá mình, làm mình phải nhức đầu, bực bội.

Giáo Hội phòng thủ là một Giáo Hội khoanh tay, vì sợ phải mở cửa nhà mình cho những con người bất toàn, bất hảo, bất chính thường đem đến cho mình nhiều phiền phức, rắc rối, bất lợi.

Giáo Hội phòng thủ là một Giáo Hội tự buộc chân mình, để không phải đi đâu, đến với người nào, vì ở ngoài Giáo Hội phần đông là những con người “không biết điều, không ra làm sao”, khó thương, khó bảo, khó trị.

Giáo Hội phòng thủ là một Giáo Hội bịt tai không muốn lắng nghe, vì “bảo thủ” với những gì mình có, và “cố chấp” không muốn lắng nghe “người ngoài” để khỏi bị phân tâm, rối trí, mất phương hướng, mất lập trường.  

Giáo Hội phòng thủ là một Giáo Hội “ao tù” vì không giao lưu với các con suối, giòng sông, đại dương, và ngột ngạt vì thiếu dưỡng khí trong lành, do bịt kín, đóng chặt, vì sợ lây nhiễm vi-rút do gặp gỡ, trao đổi, chung đụng.

Giáo Hội phòng thủ còn là Giáo Hội “ốc đảo”, muốn một mình sung túc, thịnh vượng, giữa đại dương bao la của thiếu thốn, nghèo nàn hay gây nhiều phiền toái.        
Vì não trạng phòng thủ, vì lối sống tự vệ, Giáo Hội sẽ biến thành một pháo đài chiến đấu, bởi người ta phải chiến đấu nên mới phòng thủ, nhắm tới cuộc chiến mới phải cẩn mật đề phòng, nên có phòng thủ tất phải có chiến đấu, có tự vệ tất phải có tấn công. 
Cũng thế, vì phải chiến đấu, người ta bắt buộc phải ở trong tình trạng phòng thủ, tự vệ liên tục ngày đêm. Và khi phải liên tục phòng thủ như thế, chuyện rời bỏ pháo đài, ra khỏi lô cốt để “qua bờ bên kia”, tức liều lĩnh, mạo hiểm ra xa, ra sâu, rời căn cứ an toàn được kiên cố xây dựng và cẩn mật bảo vệ sẽ là một chuyện rất khó thực hiện, vì ai nấy đều sợ rủi ro, nguy hiểm.

Tin Mừng Máccô làm chứng: sứ mệnh “qua bờ bên kia”, bài sai “ra xa, ra sâu” là một thách đố rất lớn: Khi thuyền các môn đệ vừa rời bến để đi qua bờ bên kia, thì “một trận cuồng phong nổi lên, sóng ập vào thuyền, đến nỗi đầy nước” (Mc 4,37). Và các môn đệ phải một phen thất kinh, hoảng sợ phải đánh thức Đức Giêsu dậy và nói: “Thầy ơi, chúng ta chết đến nơi rồi...” (Mc 4,38).           

Chính vì nguy hiểm, nhiều đe dọa và thường xuyên ở vào “thời không thuận lợi”, mà truyền giáo trở thành một công tác khó khăn, dễ làm “nản lòng chiến sĩ”, dù đó là bổn phận chính yếu của người chiến sĩ đức tin. Và khi truyền giáo mang về tâm trạng lo lắng vì khó khăn, sợ sệt vì nguy hiểm, hoang mang vì phải xa pháo đài an toàn, người Kitô hữu sẽ đi vào khuynh hướng thích xây dựng cơ cấu bảo vệ đức tin hơn làm chứng đức tin, mong muốn ở gần “nhà thờ” với đồng đạo hơn đến với với người chưa quen, giữa chốn xa lạ .

Vì thế, “ra đi” càng xa xôi, “ra xa” càng phức tạp, “ra sâu” càng nhiều sóng gió, người tín hữu càng muốn ở lại bờ, bám trụ cơ sở, canh gác đồn bót, bảo vệ tổng hành dinh, phòng vệ phủ toàn quyền; cũng như “lên đường” càng nhiều đe dọa, người có đạo càng ngại ngùng, do dự, vì ở nhà bảo vệ “ấp chiến lược” giáo xứ, giáo họ, giáo phận vẫn an toàn hơn, bám chặt cơ chế, tổ chức vẫn vững tâm hơn phải lên thuyền ra khơi, phải mạo hiểm lên đường. 

Cũng vì “ở bên ngoài” nhiều nguy hiểm, nhiều chống đối, nhiều lạnh lùng và “bờ bên kia” nhiều sóng gió, nhiều đe dọa, nhiều bất ngờ bất lợi, mà người tín hữu dễ bị đẩy vào tâm trạng lo ngại cho chính sự bền vững của pháo đài cơ cấu, và từ đó, tinh thần giữ đạo kiểu phòng thủ, truyền giáo kiểu tự vệ theo thời gian sẽ ăn sâu, đậm nét, sói mòn tinh thần truyền giáo đích thực, vì một ý nghĩ tiêu cực, rất sai lầm và nguy hiểm: nếu mình không cẩn thận phòng thủ, thì có ngày pháo đài đức tin kiên cố sẽ bị lung lay, sụp đổ.

Rơi vào tình trạng đức tin phòng thủ, cũng là giữ đạo kiểu tự vệ, người tín hữu sẽ không chỉ rơi vào tình trạng co cụm giữa “mình với mình, người mình với người mình, đạo mình với đạo mình”, mà còn rơi vào lối sống đức tin kiêu căng: cho mình là chính quy, chính thống, chính danh, chính thực, để độc quyền chân lý, độc đoán phán xét, độc tài cai trị. Vì thế mới có những bước chân sai lầm của “thánh chiến”, “toà án dị giáo”, “dàn hoả thiêu” làm méo mó dung mạo Đức Giêsu nhân hậu, làm sai lệch Tin Mừng cứu độ, làm thất vọng nhiều tâm hồn khắc khoải đi tìm Thiên Chúa của lòng thương xót.

Đức tin phòng thủ, tự vệ còn làm nghèo nàn, cằn cỗi, suy yếu Giáo Hội, vì thiếu sức sống của Chúa Thánh Thần, bởi Thánh Thần chỉ ban sức sống của Ngài khi cửa nhà Giáo Hội được mở ra để người tín hữu ra đi, nhà truyền giáo lên đường “làm cho muôn dân trở thành môn đệ”, vì chỉ khi đó việc “nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần” mới có hiệu qủa (Mt 28,19).

Thực vậy, người tín hữu chủ trương lối sống đức tin phòng thủ, tự vệ không thể là người Kitô hữu như ý Chúa muốn, vì họ không sống tinh thần truyền giáo đích thực, bởi đã truyền giáo thì phải bỏ nhà ra đi, như các môn đệ bỏ mọi sự của mình, thuộc về mình mà đi theo Đức Giêsu lên đường  truyền giáo ; bởi đã truyền giáo thì không thể ở lì trong nhà, cố thủ pháo đài đức tin, nhưng phải đi ra ngoài, lao mình vào thế giới  đông người, xô bồ, hỗn tạp để gặp gỡ, làm quen và làm chứng; bởi truyền giáo là đến với người khác, không để áp đặt một đức tin kiểu càn quét, xâm lăng, chiếm hữu, độc quyền, nhưng để giới thiệu bằng làm chứng với một tinh thần yêu mến, tôn trọng tự do và thái độ thân thiện, huynh đệ, bình đẳng.

Như thế, nhà truyền giáo phải tránh não trạng phòng thủ khi loan báo Tin Mừng, tránh thái độ loại trừ, tự vệ khi rao giảng Đức Giêsu, vì phòng thủ sẽ không thể hồn nhiên, thân thiện và cởi mở khi gặp gỡ; loại trừ, tự vệ sẽ dè dặt, đề phòng, ngờ vực hết mọi người, mà Tin Mừng thì phổ quát, và Đức Giêsu chịu đóng đinh là Đấng Cứu Độ duy nhất của toàn thể nhân loại.

Với não trạng phòng thủ, nhà truyền giáo sẽ mang cùng một lúc hai thái độ: một là kiêu căng, ích kỷ, vì không muốn mở ra cho ai, chia sẻ, thông ban cho người nào; hai là loại trừ, hiếu chiến, khi nhìn người khác với đôi mắt nghi ngại, thiếu tin tưởng, thân thiện, do ý nghĩ phải cẩn trọng phòng thủ để bảo vệ bằng mọi giá pháo đài đức tin, mà không tin vào đường bay không biên giới của Chúa Thánh Thần.
Thánh sử Máccô rất tinh tế khi liên tiếp thuật lại việc Đức Giêsu bảo các môn đệ “ra khơi”. Lần thứ nhất, ở chương 4, thánh sử kể: “Hôm ấy khi chiều đến, Đức Giêsu nói với các môn đệ: “Chúng ta sang bờ bên kia đi!” (Mc 4,35). Thế rồi sóng gió nổi lên, mà Ngài vẫn ngủ, cho đến khi các môn đệ hoảng hốt đánh thức dậy, Ngài đã truyền cho biển: “Im đi! Câm đi!” (Mc 4,39).

Lần thứ hai lý thú hơn dưới ngòi bút của thánh sử:“Lập tức, Đức Giêsu bắt các môn đệ xuống thuyền qua bờ bên kia về phía thành Bếtxaiđa trước, trong lúc Người giải tán đám đông. Sau khi từ biệt các ông, Người lên núi cầu nguyện. Chiều đến, chiếc thuyền đang ở giữa biển hồ, chỉ còn một mình Người trên đất. Người thấy các ông phải vất vả chèo chống, vì gió ngược, nên vào khoảng canh tư đêm ấy, Người đi trên mặt biển mà đến với các ông…” (Mc 6,45-48).

Lần trước thì Ngài cùng ở trên thuyền với các ông, nhưng lần này thì Ngài để các ông “qua bờ bên kia” mà không có Ngài. Cả hai lần biển đều không êm ả: lần trước thì sóng gió nổi lên dữ dội, lần sau thì “vất vả chèo chống vì gió ngược”. Như thế, mỗi lần “qua bờ bên kia” là phải gặp khó khăn; mỗi lần ra xa, ra sâu là phải  vất vả đối phó với nhiều rủi ro, nguy hiểm; mỗi lần ra khỏi bờ là nơi quen thuộc, an toàn, người môn đệ phải đi vào gian truân, thử thách.

Biết thế, nhưng Đức Giêsu vẫn muốn và “bắt” các môn đệ Ngài phải ra đi, phải ra xa, ra sâu, “qua bờ bên kia”, sang chỗ mới, đến nơi xa lạ, mà không cho các ông ở lì một chỗ, cắm dùi lâu, mọc rễ sâu ở một nơi quen biết, một chỗ an toàn, thuận lợi. Bằng chứng là Tin Mừng đã ghi rõ: “Lập tức, Đức Giêsu bắt các môn đệ xuống thuyền qua bờ bên kia” (Mc 6,45).

Điều này nói lên đòi hỏi của truyền giáo là phải đi ra khỏi nơi an toàn như pháo đài mình đã xây dựng, củng cố để được an thân, an toàn tính mạng, an hưởng cuộc sống. Trái lại, không “qua bờ bên kia”, không lập tức xuống thuyền ra khơi, cả khi trời đã về chiều, và gió ngược phải vất vả chèo chống, người theo Đức Giêsu không thể trở thành môn đệ đích thực của Ngài, vì đã là môn đệ  thì phải can đảm “qua bờ bên kia”, dù sóng gió đang đợi chờ, bão táp đang rình rập đe dọa.

Mức độ quyết liệt của Đức Giêsu khi “bắt các môn đệ xuống thuyền qua bờ bên kia” cũng nói lên đòi hỏi phải “mở ra, đến với, lao mình vào”, nhất là tinh thần từ bỏ tất cả, kể cả những bó buộc đôi khi được coi là cần thiết như cơ chế, bởi khi bị trói buộc qúa chặt vào cơ chế, cơ cấu, người môn đệ sẽ không đủ liều lĩnh của “hồn tông đồ” để có thể xả thân ra khơi tung lưới, mà không ngậm ngùi tiếc nuối, so đo, phân bì, ngần ngại, bởi trong mọi tình huống, phục vụ cơ cấu, xây dựng pháo đài vẫn là chỗ đứng an toàn, chỗ ở an thân, chỗ dựa an ổn mà phần đông vẫn mong đợi, tìm kiếm. 

Tuy thế, Đức Giêsu đã không “vắng mặt” trên hành trình “qua bờ bên kia” của các môn đệ được Ngài sai đi. Lần đầu Ngài có mặt và ngủ. Lần sau đích thân Ngài “đi trên mặt biển đến với các ông”. Các ông vì tưởng Ngài là ma nên hoảng hốt. Sau khi trấn an các ông : “Chính Thầy đây, đừng sợ! Người lên thuyền với các ông và gió liền lặng” (Mc 6,50-51).

Vâng, hành trình “qua bờ bên kia” dù là đường sông, đường biển, đường bộ hay đường hàng không cũng đều là đường vất vả, chông gai, nhiều cam go, thử thách mà nhà truyền giáo luôn biết trước, vì được Đức Giêsu cảnh báo. Nhiều thử thách vì đến một nơi xa lạ; nhiều cam go, vì gặp những con người mới mà không hề biết phản ứng của họ ra sao; nhiều chông gai vì sứ mệnh không dễ dàng; nhiều vất vả vì những giới hạn của chính bản thân.

Nhưng với Đức Giêsu, Đấng sai đi, nhà truyền giáo sẽ không run sợ, dù có lúc hốt hoảng, hoang mang; sẽ không thoái lui, bỏ cuộc, dù đôi khi chán nản, thất vọng; sẽ không nao núng, gục ngã, vì biết “Thầy sẽ thức dậy và ngăm đe gió và truyền cho biển: Im đi! Câm đi!” (Mc 4,39), cũng như Thầy sẽ đi trên biển đến gặp, lên thuyền và gió im hơi lặng tiếng (x. Mc 6,48.51). 

Tóm lại, nhà truyền giáo không thể nuôi chủ trương xây dựng một Giáo Hội phòng thủ, vì Tin Mừng không là sở hữu để “thủ riêng”, kho tàng cất giấu, nhưng là hạt giống phải được hào sảng gieo vãi khắp nơi, Nước Trời không là sản nghiệp của một nhóm, một đoàn thể, nhưng là Hạnh Phúc Thiên Chúa ban cho hết mọi người, và Đức Giêsu không là “của riêng” ai, nhưng là Đấng Cứu Độ của toàn thể nhân loại.

Và chỉ một tinh thần “mở tung mọi cánh cửa ra bên ngoài cho thế giới”, thái độ “không sợ hãi đến với mọi người”, nếp sống đạo “không phòng thủ đức tin như củng cố một pháo đài chiến đấu”, nhà truyền giáo mới thực sự truyền giáo, vì chỉ như thế, nhà truyền giáo mới dám “xuống thuyền qua bờ bên kia”, để Tin Mừng đến được với muôn dân, và Đức Giêsu trở nên “Tấm Bánh được bẻ ra” cho mọi người “được sống và sống dồi dào” (Ga 10,10).

Jorathe Nắng Tím


 

Truyền_giáo 149: KHỦNG HOẢNG Suy Niệm 9

 

Thiên Chúa gọi ai là muốn họ đi theo Ngài cả cuộc đời, nên không có Ơn Gọi hợp đồng, Sứ Mạng Truyền_giáo 149


Thiên Chúa gọi ai là muốn họ đi theo Ngài cả cuộc đời, nên không có Ơn Gọi hợp đồng, Sứ Mạng thời vụ, như hợp đồng lao động ba tháng, một năm hay khế ước thời vụ sáu tháng, vài tuần của công nhân trong các xí nghiệp. Nhưng gọi ai, chọn ai, sai ai, Ngài giữ người ấy ở lại và đi với Ngài đến cùng, không bao giờ sa thải, đuổi việc, bỏ rơi họ, như Lời Hứa với các môn đệ : “Thầy ở lại với anh em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28,20).

Nhưng có Chúa ở cùng và đồng hành cho đến tận thế không có nghiã nhà truyền giáo không còn vất vả, cực nhọc, chịu đủ điều vu khống bất công, và nhận về mình mọi thua thiệt. Bằng chứng là có Đức Giêsu trên thuyền, mà “cuồng phong vẫn nổi lên, sóng lớn vẫn ập vào, đến nỗi thuyền đầy nước” (Mc 4,37) như sắp chìm làm các môn đệ lo sợ, hốt hoảng kêu cứu : “Thầy ơi, chúng ta chết đến nơi rồi…” (Mc 4,38).

Có Chúa ở cùng mọi nơi, mọi lúc không đồng nghiã với tránh được mọi đe dọa, cạm bẫy hiểm nguy của thế gian, ma qủy, vì Đức Giêsu đã khẳng định : “Nếu thế gian ghét anh em, anh em hãy biết rằng nó đã ghét Thầy trước…. Nếu họ đã bắt bớ Thầy, họ cũng sẽ bắt bớ anh em” (Ga 15, 18.20).

Có Đức Giêsu hiện diện không có nghiã khổ đau lánh mặt, thử thách trốn đi, vì chính Đức Giêsu đã qủa quyết con đường dành cho những ai muốn đi theo Ngài là con đường Từ Bỏ: “Ai không vác thập giá mình mà theo Thầy, thì không xứng với Thầy. Ai giữ lấy mạng sống, thì sẽ mất; còn ai liều mất mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ tìm thấy được” (Mt 10,38). Ngài còn đề nghị những ai đi theo Ngài : “Anh em hãy mang lấy ách của tôi, và hãy học với tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường” (Mt 11,29).

Vì thế mà đời truyền giáo không mấy khi “sóng yên biển lặng”, và nhà truyền giáo nhiều lúc rơi vào bế tắc : “cây muốn lặng mà gió chẳng ngừng”, khi nhiều biến cố không ngờ, nhiều sự việc ngoài ước tính, nhiều tình huống éo le, nhiều hoàn cảnh khó xử, nhiều vấn đề chưa từng nghe bất ngờ xẩy đến tạo nên tình trạng khủng hoảng ở nhà truyền giáo.

Khủng hoảng như Đức Giêsu trong vườn Cây Dầu, khi “cảm thấy hãi hùng, xao xuyến” và “buồn đến chết được” (Mc 14,33-34) trong tột cùng của cô đơn và lo sợ trước con đường Thánh Giá sắp phải vượt qua ; khủng hoảng như Con Thiên Chúa rướn mình nức nở giờ hấp hối trên Thánh Giá : “Lậy Thiên Chúa, Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con ?” (Mc 15,35), trong “thinh lặng lãng quên” của Cha mình.

Môn đệ không hơn Thầy, “tôi tớ không hơn ch ” (Ga 15,20), nên nhà truyền giáo cũng trải qua những cơn khủng hoảng đức tin trong đời người môn đệ trước những vấn đề nhiêu khê của chính Giáo Hội, những thiếu sót của anh em, và những yếu đuối của chính mình; nhà truyền giáo cũng phải “ba chìm, bẩy nổi, chín lênh đênh” giữa biển đời, vì sóng gió “dữ tợn” không ngừng nổi dậy từ mọi phía của nhiều thế lực đối kháng.

Khủng hoảng như Nhóm Mười Hai những ngày Đức Giêsu lên Giêrusalem để chịu nạn và chịu chết. Các ông đã rơi vào tình trạng khủng hoảng dữ dội, kinh hoàng, vì chỉ trong mấy ngày, Đức Giêsu và nhóm môn đệ các ông đã đi từ vinh quang của ngày vào thành thánh được dân chúng đón rước long trọng đến thảm cảnh đường Thánh Giá, và bản án tử hình : đóng đinh ô nhục trên đỉnh đồi Gôngôtha như một phạm nhân trọng tội.

Chính vì khủng hoảng mà Phêrô đã ngã lòng chối Thầy, Giuđa đã rơi vào tuyệt vọng đi thắt cổ, các môn đệ khác, trừ Gioan đã “ba chân bốn cẳng” trốn chạy tự lo thân. Cũng vì khủng hoảng mà hai môn đệ đã rời Giêrusalem, ở đó vừa xẩy ra “chuyện ông Giêsu Nadarét. Người là một ngôn sứ đầy uy thế trong việc làm cũng như lời nói trước mặt Thiên Chúa và toàn dân. Thế mà các thượng tế và thủ lãnh đã nộp Người để Người bị án tử hình, và đã đóng đinh Người vào thập giá” (Lc 24,19-20). Và chuyện này là một sụp đổ “toàn tập”, một thất bại toàn phần, một tính toán sai lầm không thể cứu vãn đã đưa các ông vào cơn lốc khủng hoảng toàn diện, ở đó niềm hy vọng coi như tắt lịm như các ông thú nhận : “Phần chúng tôi, trước đây vẫn hy vọng rằng chính Người là Đấng sẽ cứu chuộc Ítraen”, nhưng nay thì hoàn toàn thất vọng vì “đến nay là ngày thứ ba rồi” (Lc 24, 21), mà chưa thấy gì … sáng sủa.

Cũng chính vì khủng hoảng do những biến cố qúa bất ngờ, dồn dập và khủng khiếp, mà các môn đệ sợ người Do Thái, nên “đóng kín cửa” khi Đức Giêsu phục sinh hiện đến, và Tôma trở nên cứng lòng không tin anh em đã gặp Thầy (x. Lc 20,19-29).

Thực vậy, người môn đệ trên đường truyền giáo sẽ không tránh được khủng hoảng đủ loại, đủ kích cỡ, đủ mức độ : có những khủng hoảng từ bản thân, khủng hoảng do cộng đoàn, khủng hoảng từ bề trên, khủng hoảng từ Giáo Hội, khủng hoảng do người khác. Và vì khủng hoảng, nhà truyền giáo dễ rơi vào những tâm trạng : xao xuyến - nghi nan, lo âu - hoảng sợ, bất mãn - phản loạn. 

Xao xuyến - nghi nan khi thấy khoảng cách qúa xa giữa lý tưởng và thực tế ; cách biệt qúa lớn giữa những gì đã học, đã nghe và những gì đã thấy, đã trải nghiệm. Đứng trước thử thách nặng nề và khủng hoảng qúa lớn, nhà truyền giáo có thể nghi nan chính mình, nghi nan chọn lựa dấn thân của mình, nghi nan ơn gọi, sứ vụ của mình, nghi nan đức tin của mình, nghi nan tình huynh đệ của anh em với mình, nghi nan tổ chức, cơ chế của Giáo Hội, nghi nan luôn cả Lời Hứa của Thiên Chúa, và vì nghi nan nên bất an, xao xuyến.

Từ bất an, xao xuyến đến lo âu, hoảng sợ, con đường không dài, và nhà truyền giáo bị lạc vào tình trạng mất phương hướng, vì mất điểm tựa, mất nhiệt huyết vì mất niềm tin, mất thăng bằng vì không còn quân bình tự nhiên cũng như siêu nhiên. Thảm trạng lo âu, hoảng sợ ở nhà truyền giáo làm đời sống của các vị trở nên héo úa, tàn tạ, không còn sức sống để truyền lửa cho ai, không còn hy vọng để chuyển ban ánh sáng tình yêu cho người nào, và người bất hạnh thứ nhất, nhiều nhất chính là nhà truyền giáo, vì tự cho mình là người đã mất tất cả, khi bỏ tất cả đi theo Chúa.

Sau cùng là tình trạng bất mãn, phản lọan được coi như hậu qủa có thể phát sinh từ những cơn chấn động khủng hoảng trầm trọng, khi nhà truyền giáo tự coi mình là nạn nhân của một hệ thống sai lầm, của một “chọn lựa” ngây thơ bị người khác khéo léo dụ dỗ, đẩy đưa. Nhà truyền giáo sẽ rơi vào tình trạng này khi nghi nan, xao xuyến, lo âu, hoảng sợ trong tâm hồn không kịp được be bờ, hóa giải, giảm bớt độ căng thẳng, bởi khi bị dồn vào đường cùng mà không đường thoát thân, bị đẩy lên cao chót vót mà không còn đường xuống, người ta phải thoát ra bằng “đường máu” là phản loạn vì bất mãn.

Thực vậy, nhà truyền giáo vì cho đi tất cả, cho đi cả cuộc đời, tính mạng, nên rất nhậy cảm với những gì bất công đối với mình, nhậy cảm trước những ai bất trung, bất tín với mình, nhất là nhậy cảm với những người bất cần và vô ơn với mình. Chỉ một o ép bất công của bề trên, chỉ một việc làm “đâm sau lưng, đánh lén” của đồng nghiệp, chỉ một thái độ “vắt chanh bỏ vỏ” của bề trên, bề ngang hay bề dưới cũng đủ làm tâm hồn vốn đa cảm, nhậy bén của nhà truyền giáo se thắt đọan trường.

Đó là lý do nhiều nhà truyền giáo đã ngã gục trước những phản bội, chơi xấu của anh em ; đã bỏ cuộc khi bị đối xử không tử tế ; đã nản chí nản lòng khi việc làm của mình không được nhìn nhận, bởi nhà truyền giáo không đủ “lì lợm” như “đám côn đồ anh chị”, không “cố đấm ăn xôi” như đám con buôn trục lợi bằng mọi giá, dù có phải “luồn trôn” thiên hạ, chỉ vì tâm hồn nhà truyền giáo thanh cao, và nhà truyền giáo luôn biết tự trọng.

Trường hợp môn đệ Giuđa tuyệt vọng đi thắt cổ cũng được xếp vào tình trạng bất mãn, phản loạn này, khi đám thượng tế và kỳ mục “vắt chanh bỏ vỏ” đã từ chối nhận lại ba mươi đồng bạc mà họ đã trả cho ông theo “hợp đồng phản bội, chỉ điểm” bắt Đức Giêsu, khi trả lời ông : “Can gì đến chúng tôi. Mặc kệ anh !” mặc dù ông đã hết lời năn nỉ họ : “Tôi đã phạm tội nộp người vô tội, khiến Người phải chết oan” (Mt 27,4-5).

Như thế, khủng hoảng có thể được coi như cơm bữa của nhà truyền giáo trên đường truyền giáo, vì hơn ai hết, nhà truyền giáo có nhiều tương quan, và càng nhiều tương quan càng nhiều khả thể làm phát sinh khủng hoảng, càng nhiều liên đới càng dễ rơi vào phức tạp, nhiêu khê, bởi hễ có “hoạt” thì có “động”, có “động” mới “va chạm”, và có “chạm” mới thấy “đau”, mà có nhà truyền giáo nào đã được sai đi để nằm lì hưởng thụ, an dưỡng?

Vâng, Đức Giêsu đã không nhận lời xin của Phêrô trên núi Tabor, sau khi ông thấy Ngài biến hình sáng láng : “Lậy Ngài, chúng con ở đây thật hay ! Nếu Ngài muốn, con xin dựng tại đây ba cái lều, một cho Ngài, một cho ông Môsê, và một cho ông Êlia.” (Mt 17,4), nhưng Ngài đã muốn Thầy trò cùng xuống núi tiếp tục “con đường đời thường” nhiều thách đố, chông gai, cạm bẫy ; cũng như trước khi chia tay các môn đệ, Ngài đã cầu nguyện với Chúa Cha cho các ông: “Con không xin Cha cất họ khỏi thế gian, nhưng xin Cha gìn giữ họ khỏi ác thần”, mặc dù “Họ không thuộc về thế gian cũng như con đây không thuộc về thế gian” (Ga 17,15-16).

Tuy không lấy các môn đệ ra khỏi thế gian, nhưng Đức Giêsu luôn có mặt, và đồng hành với các ông trên đường truyền giáo để nhắc nhở các ông phải chuyên chăm lắng nghe Lời  Chúa và chuyên cần cử hành Thánh Thể để vượt qua mọi khủng hoảng, như đã dậy hai môn đệ đang khủng hoảng nặng nề trên đường từ Giêrusalem về  Emmau, sau biến cố tử nạn kinh hoàng, khủng khiếp của Ngài, vì chỉ có Lời Chúa và Mình Máu Chúa mới ban lại ơn Bình An phục sinh cho “tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề”, mới có sức cho “tâm hồn được nghỉ ngơi bồi dưỡng”, bởi chỉ Lời Chúa, Mình Máu Chúa là chính Chúa mới làm cho ách đau thương trên đường loan báo Tin Mừng của chúng ta trở nên êm ái, và gánh nặng  rao giảng Nước Thiên Chúa cho muôn dân trở nên nhẹ nhàng (Mt 11,28-30).

Jorathe Nắng Tím


 

Truyền_giáo 150: “TRỞ NÊN TẤT CẢ CHO MỌI NGƯỜI”


 (1 Cr 9,22)

 

Được sai vào đời để làm chứng Đức Giêsu cho đời, người môn đệ bắt buộc phải đi trên đường đời Truyền_giáo 150


Được sai vào đời để làm chứng Đức Giêsu cho đời, người môn đệ bắt buộc phải đi trên đường đời của người đời, phải chia sẻ, và chung vai gánh vác việc đời của người đời, phải hiểu biết và cảm thông những chuyện đời của người đời, như Đức Giêsu, để cứu chuộc nhân loại đã vào đời làm người, và sống đời người cách trọn vẹn như người trần thế, ngoại trừ tội lỗi (x. Pl 2, 7).

Vì thế, trở nên “tất cả cho mọi người – Omnia omnibus” để chinh phục mọi người là phương châm hoạt động truyền giáo đem lại nhiều kết qủa như thánh Phaolô đã viết trong thư gừi giáo đoàn Côrinthô : “Tôi là một người tự do, không lệ thuộc vào ai, nhưng tôi đã trở thành nô lệ của mọi người, hầu chinh phục thêm được nhiều người. Với người Do Thái, tôi đã trở nên Do Thái, để chinh phục người Do Thái. Với những ai sống theo Lề Luật, tôi đã triở nên người sống theo Lề Luật, dù không còn phải sống theo Lề Luật nữa, để chinh phục những người sống theo Lề Luật. Đối với những kẻ sống ngoài Lề Luật, tôi đã trở nên người sống ngoài Lề Luật, dù tôi không sống ngoài Lề Luật của Thiên Chúa, nhưng sống trong luật Đức Kitô, để chinh phục những người sống ngoài Lề Luật. Tôi đã trở nên yếu với những người yếu, để chinh phục những người yếu. Tôi đã trở nên tất cả cho mọi người, để bằng mọi cách cứu được một số người. Vì Tin Mừng, tôi làm tất cả những điều đó, để cùng được thông chia phần phúc của Tin Mừng” (1 Cr 9,19-23).

Thánh tông đồ dân ngoại đã táo bạo khi mạnh dạn tuyên bố và sống phương châm : “trở nên tất cả cho mọi người để bằng mọi cách cứu được một số người”. Lòng khao khát các linh hồn đã đốt cháy tâm can thánh nhân, và ngài đã không còn biết làm gì tốt hơn là trở nên giống mọi người để cứu mọi người.

Nhưng tại sao phải trở nên giống mới chinh phục được ?

Bởi có giống nhau mới dễ đến với nhau ; có ít khác biệt, khoảng cách xa lạ, mới rút ngắn, ngại ngùng mới được thu nhỏ, và làm gần nhau hơn. Đó là lý do các nhà truyền giáo đã học sống như người bản xứ khi đến rao giảng, đã dìm mình vào văn hóa của dân bản địa, đã cố gắng trở nên giống họ bao nhiêu có thể, khi ở giữa họ, để có thể loan báo Tin Mừng và giới thiệu Đức Giêsu.

Một nhà truyền giáo không hội nhập, một thừa sai không hoà mình vào cuộc sống ở nơi mình rao giảng, một người môn đệ từ chối chia sẻ hoàn cảnh sống, điều kiện sống của người mình được sai đến để phục vụ sẽ không thể chinh phục được ai, không cảm hóa được người nào, và công cuộc truyền giáo sẽ nhanh chóng bế tắc, thất bại.

Cũng như Đức Giêsu, để chinh phục và cứu độ con người, đã xuống thế làm người, và trở nên con người trăm phần trăm, ngoại trừ tội lỗi, nhà truyền giáo cũng được mời gọi trở nên tất cả cho mọi người để chinh phục mọi người, hầu đem đến cho họ ơn cứu rỗi.

Như thế, để trở nên tất cả cho mọi người, hay trở nên mọi sự cho mọi người một cách  chính đáng và hữu hiệu, nhà truyền giáo phải đáp ứng những đòi hỏi sau :

1.   “Hoàn toàn tự do, không lệ thuộc ai” :

Hoàn toàn tự do, và không lệ thuộc ai, vì bất cứ lý do gì, thì chọn lựa “trở nên tất cả cho mọi người” của nhà truyền giáo mới có giá trị, bởi người ta có thể “phải” trở nên thế này cho người này, “phải” trở nên thế kia cho người kia, vì cả người này người kia đều có quyền khống chế, áp đạt, đều có khả năng trói chặt, đều có lý do ràng kỹ, đều có bằng chứng để đe dọa, uy hiếp, làm áp lực.

Vì thế, không phải tất cả các nhà truyền giáo đều hoàn toàn được tự do để “trở nên mọi sự cho mọi người”, bởi có vị đã lỡ thuộc về một người, có vị đã lỡ “dính trấu” với vài người, có vị đã bị kết nạp vào một nhóm người, để “nhất cử nhất động” đều bị canh chừng, giám sát, giới hạn, xử lý…

2.   Tự nguyện trở nên tất cả cho mọi người :

Có tự do chưa đủ, nhà truyền giáo còn phải tự nguyện liều thân, dấn thân, hiến thân, vì trở nên “cái khác” mình đang là, đang có, để “giống” cái người khác đang là, đang có đòi một khả năng xóa mình, quên mình, và một tinh thần vị tha quảng đại ở mức độ anh hùng, khi  khiêm tốn, hiền lành ra khỏi “cái tôi” độc tôn, độc tài, độc quyền, độc diễn, và qủa cảm chấp nhận tự thay đổi, tự nguyện thích nghi, vui lòng thích ứng với những gì mình chưa quen, chưa biết, cả những gì mình không thích, không hợp, vì không thuộc về mình, không làm mình dễ chịu, thoải mái, mà để đạt được đích tới : “trở nên tất cả cho mọi người”, nhà truyền giáo sẽ phải vất vả phấn đấu, và hy sinh rất nhiều.    

3.   Với mục đích chinh phục con người cho phần rỗi của con người và vinh danh Thiên Chúa :

Trong cuộc sống, không thiếu những người sẵn sàng làm bất cứ việc gì để lấy lòng người họ cần cho mục đích riêng tư. Như tên lừa đảo, hay anh chàng “sở khanh, đào mỏ” có thể “diễn sâu” bất cứ màn kịch nào để “cưa đổ” kiều nữ đại gia, vì mục đích chiếm đoạt tài sản, sau khi đã lấy lòng, và chiếm đọat thân xác mỹ nhân.

Nhà truyền giáo trở nên mọi sự cho mọi người chỉ với duy nhất một mục đích là hạnh phúc  Nước Trời của người khác và để Thiên Chúa được vinh danh hơn,  ngoài ra không vì bất cứ một mục đích riêng tư hay cộng đồng nào khác. Ở đây, chinh phục không còn ý nghiã “lấy lòng, chiếm hữu tình cảm, khống chế tự do, khuynh loát ý chí, lèo lái, đẩy đưa, mua chuộc”, nhưng là đồng hành với tình huynh đệ được chia sẻ, và trao đổi, hướng dẫn với lòng tôn trọng tự do.

Nhà truyền giáo vì nhắm tới hạnh phúc thiêng liêng của người khác, và để “danh Chúa được cả sáng, Nước Chúa được hiển trị, ý Chúa được thể hiện dưới đất cũng như trên trời”, sẽ không mưu lược để thống trị, không thủ đoạn để áp chế, không kế sách để quyến rũ, mồi chài người khác dưới bất cứ hình thức và bằng bất cứ phương tiện nào, bởi làm như thế, nhà truyền giáo ngang nhiên phản bội sứ vụ truyền giáo của mình khi xâm phạm tự do và xúc phạm quyền chọn lựa của người khác, điều mà Thiên Chúa luôn nghiêm cấm và nặng lời khiển trách.

Như thế, để “trở nên tất cả cho mọi người” như ý Chúa muốn, nhà truyền giáo phải loại trừ tất cả ý nghĩ  tìm tư lợi, và loại bỏ mọi thái độ, việc làm kiếm chác vinh dự, xây dựng uy tín cá nhân, mà chỉ giữ trong mình một thao thức, khắc khoải, ước mơ là hạnh phúc của con người và vinh quang của Thiên Chúa.

Thực vậy, để tránh hiểu sai ý nghiã của “trở nên tất cả cho mọi người”, nhà truyền giáo cần xác tín những đòi hỏi căn bản trên, để không nghĩ rằng mình phải “sống đời” như người đời đang sống, phải “chịu chơi” như người đời ăn chơi, phải “xả ga, tới bến” như người đời đang thí thân, bạt mạng, hầu đem đến ơn cứu rỗi cho họ.

Bởi có nhà truyền giáo lầm tưởng : để rao giảng hữu hiệu cho đám thanh niên, phải dám “xả láng, sáng về sớm” như họ ; để dẫn dụ đám trẻ mới lớn ở thành phố, không gì hay hơn là cùng chúng nhẩy đầm, hát karaoke, ăn nhậu phố đêm, hát hò inh ỏi ; để hướng dẫn chị em doanh nhân, không gì  lôi cuốn hơn là xài hàng hiệu, góp cổ phần buôn bán, chơi hụi kiếm lời, tham gia du lịch nước ngoài ; để cải tạo đám gia trưởng khô khan, nguội lạnh, không gì chắc ăn hơn là gầy sòng ăn nhậu, kể chuyện tiếu lâm, tấu hài ; để làm chứng Giáo Hội đi kịp thời đại, không gì ấn tượng hơn là ăn mặc “à la mode”, ăn diện hợp thời trang, ăn uống nhà hàng sang trọng, ăn ở tiện nghi hạng nhất, hàng đầu ; để không mặc cảm xa rời quần chúng, đạt chuẩn “nắm rõ dân tình”, không gì sáng giá hơn là la cà từ quán càphê đầu xóm đến qúan thịt chó cuối làng và rôm rả những chuyện “không đầu không đuôi”, nặng mùi “đầu đường xó chợ” ; để được gọi là người hiểu xa biết rộng, có khả năng lãnh đạo cộng đoàn, không gì để được người đời nể nang hơn là chơi xe hơi, điện thoại đời mới, bữa ăn có rượu ngoại “hàng xách tay” ; để được giới trẻ thần tượng, đi theo, không gì thu hút hơn là để tóc dài rồi  búi lại cho ra vẻ thiền sư, guru ; để người đời dễ gần gũi, cảm thông, không gì sôi nổi hơn là dùng chính ngôn ngữ báng bổ đến chóng mặt của cánh bụi đời đường phố. Và hậu qủa bất ngờ là nhà truyền giáo đánh mất chính mình lúc nào không hay.

Đánh mất chính mình, vì lầm tưởng để mình được cuốn trôi theo trào lưu là kéo về với mình quần chúng ; vong thân, mất mình, vì ảo tưởng hoà đồng, tan biến với đám đông là chiếm hữu được đám đông ; lạc mất đời mình, vì ngây thơ hoặc qúa tự tin nghĩ rằng trở nên như mọi người  sẽ làm cho mọi người trở nên như ý mình muốn. Rất tiếc lại là ý nghĩ, việc làm và thất bại của một số nhà truyền giáo nhẹ dạ, cả tin và thiếu tinh thần truyền giáo đích thực

Thực vậy, Đức Giêsu nhiều lần đã qủa quyết : môn đệ của Ngài không thuộc về thế gian, dù ở giữa thế gian để làm cho thế gian nhận biết Thiên Chúa là Cha và là Đấng Cứu Độ (x. Ga 15,19). Ngài còn cảnh báo các môn đệ : “Thầy sai anh em đi như chiên đi vào giữa bầy sói. Vậy anh em phải khôn như rắn và đơn sơ như bồ câu” (Mt 10,16).

Khẳng định như thế, Đức Giêsu không ngần ngại cho các môn đệ biết : Anh em không dễ chơi với thế gian đâu, vì con cái thế gian ma lanh hơn con cái sự sáng, nên con cái sự sáng là anh em không dễ gì “ăn” được thế gian, khi chung đụng, đối đầu với chúng. Đó cũng là lời cảnh tỉnh đối với những nhà truyền giáo nghĩ mình “toàn năng”, có thể đổi mới, “thánh hoá” người khác bằng những phương tiện, phương án của riêng mình, mà quên một điều quan trọng : ngoài Thiên Chúa và những phương tiện thiêng liêng Chúa ban, các vị không thể tự mình làm được gì. Chưa kể, nhiều khi những phương tiện, phương án được “vô tình, vô ý, ngây ngô, nhẹ dạ” sử dụng để truyền giáo lại là những vũ khí của ma qủy, thế gian được ngụy trang “hàng hiệu thiên đàng”, được dán nhãn “chế tạo từ hãng xưởng Giáo Hội”, nhưng thực chất lại là sản phẩm được chế tạo từ gang thép của xảo trá, tham lam, từ lửa của ganh ghét, hận thù, từ hóa chất của bạo lực, từ nọc độc của kiêu căng.

Chính vì thế, thiện chí ban đầu của nhà truyền giáo rất dễ biến thành thất chí ở đọan sau, nếu không ăn rễ sâu trong Ơn Gọi và Sứ Vụ ; lý tưởng “trở nên tất cả cho mọi người” dễ biến thành ảo tưởng, nếu tâm hồn nhà truyền giáo không luôn bừng cháy lửa yêu mến các linh hồn và tình yêu Thiên Chúa ; công cuộc hội nhập, hoà nhập, thâm nhập vào nếp nghĩ, nếp sống, tâm tư, thao thức của người khác để chuyển tải ơn Cứu Rỗi cho họ dễ biến thành công cốc, nếu trái tim nhà truyền giáo không nồng nàn nhiệt huyết tông đồ và bước chân truyền giáo không được thúc bách, nâng đỡ bởi Thánh Thần Tình Yêu.

Vâng, hơn bao giờ hết, trào lưu tục hoá, phong trào “cào bằng” Đời - Đạo, để Đời cũng tốt, Đạo cũng đẹp đang gieo nhiều “ý nghĩ quá đời, ngôn từ quá đời, thái độ, việc làm qúa đời, lối sống qúa đời” trong đời sống nhà truyền giáo, và dần dà biến nhà truyền giáo thành những chuyên viên mị dân, những nhân viên mồi chài, mua chuộc hơn thuyết phục, bắt quy hàng, thần phục hơn chinh phục bằng làm chứng, để hướng dẫn người khác cùng đi về Chân - Thiện - Mỹ tuyệt đối là chính Chúa, với tinh thần tôn trọng tự do chọn lựa của mỗi người, và tình yêu phục vụ quên mình cho hạnh phúc đích thực của người mình rao giảng Tin Mừng, loan báo Nước Trời, giới thiệu và làm chứng Đức Giêsu.

Mùa Chay là mùa trở về : trở về nguồn mạch của đời sống Kitô hữu là Đức Giêsu, trở về bản chất của Ơn Gọi Kitô hữu là Truyền Giáo. Mùa Chay cũng là mùa lên đường, mùa ra đi, ra sâu, ra xa để Tin Mừng Nước Trời được đi vào tâm hồn mọi người, tiến sâu trong lòng thế giới, khi người môn đệ, nhà truyền giáo ý thức : “trở nên tất cả cho mọi người” không vì mục tiêu chiếm hữu, thống trị, lợi dụng cho lợi ích bản thân, nhưng như thánh tông đồ dân ngoại, mỗi nhà truyền giáo cần xác tín và tuyên xưng với niềm vui truyền giáo : “Tôi đã trở nên tất cả cho mọi người, để bằng mọi cách cứu được một số người. Vì Tin Mừng, tôi làm tất cả những điều đó, để cùng được thông chia phần phúc của Tin Mừng” (1 Cr 9,22-23). Đồng thời khiêm tốn tự cảnh tỉnh : “Tôi bắt thân thể phải chịu cực và phục tùng, kẻo sau khi rao giảng cho người khác, chính tôi lại bị lọai” (1 Cr 9,27).

Jorathe Nắng Tím

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây