Suy Niệm Tin Mừng Lễ Truyền Tin 25/3 Bài 1-50 Xin Vâng

Thứ hai - 09/04/2018 05:07
Suy Niệm Tin Mừng Lễ Truyền Tin 25/3 Bài 1-50 Xin Vâng
Suy Niệm Tin Mừng Lễ Truyền Tin 25/3 Bài 1-50 Xin Vâng
Suy Niệm Tin Mừng Lễ Truyền Tin 25-3 Bài 1-50 Xin Vâng
25/3-1: “XIN VÂNG": SỨ MẠNG TÔNG ĐỒ - Sr.Tâm Năng. 2
25/3-2: CHÚNG TA CÓ ĐỂ CHO THIÊN CHÚA "TRUYỀN TIN". 4
25/3-3: ĐỨC MẸ TRUYỀN TIN – GM Bùi Tuần. 6
25/3-4: Ave Maria, lời tán tụng tuyệt diệu của trần gian dâng lên Thiên Chúa. 9
25/3-5: Lễ Truyền Tin của Đức Maria. 11
25/3-6: XIN VÂNG TRONG LỄ TRUYỀN TIN - GB. BÙI TUẦN.. 13
25/3-7: BÔNG HOA HÉ NỞ-Sr Marciana Chuẩn, CMR.. 16
25/3-8: MẦU NHIỆM VUI THỨ NHẤT - THIÊN THẦN TRUYỀN TIN.. 18
25/3-9: XIN VÂNG.. 22
25/3-10: LỄ TRUYỀN TIN.. 24
25/3-11: SUY NIỆM NĂM SỰ VUI 25
25/3-12: CÂU TRUYỆN: NÊN TIN NGƯỜI SỐNG.. 28
25/3-13: LỊCH SỬ.. 28
25/3-14: Lễ Mẹ Truyền Tin. 30
25/3-15: Mừng vui lên. 31
25/3-16: Ngày 25 - 03 Lễ Truyền Tin. 32
25/3-17: Tôi là nữ tỳ của Chúa. 33
25/3-18: Lễ Truyền Tin, Năm ABC.. 36
25/3-19: MARIA, NGƯỜI NỮ TUYỆT VỜI 41
25/3-20: LỊCH SỬ PHỤNG VỤ.. 45
25/3-21: Này tôi là tôi tớ Chúa. 47
25/3-22: LỄ TRUYỀN TIN. Lễ Trọng – Nữ tỳ của Chúa xin vâng. 49
25/3-23: Lễ Truyền Tin. 51
25/3-24: Xin vâng. 53
25/3-25: Người nữ tỳ trung tín của Thiên Chúa. 54
25/3-26: Lễ Truyền Tin GM JB. Bùi Tuần. 56
25/3-27: Bài giảng lễ Truyền Tin Lm. Giuse Đinh Tất Quý. 58
25/3-28: LỄ TRUYỀN TIN.. 61
25/3-29: LỜI XIN VÂNG Lm Giuse Trần Đình Long, Dòng Thánh Thể. 63
25/3-30: MỘT ĐỜI XIN VÂNG - Lm Giuse Đinh lập Liễm.. 67
25/3-31: SUY NIỆM CỦA LM. GIU-SE LÊ QUANG UY, DCCT.. 72
25/3-32: Mẹ thân yêu của con, 74
25/3-33: Truyền tin cho Đức Mẹ. 77
25/3-34: Lễ Truyền Tin, Tầm Quan Trọng Của Hai Tiếng Xin Vâng, 79
25/3-35: Lễ Truyền Tin. 83
25/3-36: Mẹ Maria trong mầu nhiệm truyền tin. 85
25/3-37: Những yêu sách của truyền tin. 88
25/3-38: LÀM THEO Ý CHÚA.. 91
25/3-39: Tình Mẹ Còn Mãi, 94
25/3-40: Đối Thoại Truyền Tin, Lm Giuse Nguyễn Hữu An. 96
25/3-41: LỄ TRUYỀN TIN.. 98
25/3-42: Lễ Truyền Tin: Xin vâng như Mẹ Maria. 99
25/3-43: SUY NIỆM TIN MỪNG MẦU NHIỆM TRUYỀN TIN 2017. 100
25/3-44: VAI TRÒ CỦA MẸ MARIA TRONG SỨ VỤ CỨU CHUỘC.. 102
25/3-45: Tổng Thần Thiên Sứ Gabiên Truyền Tin Cho Mẹ Thụ Thai 105
25/3-46: MẦU NHIỆM THINH LẶNG CỦA MẸ.. 107
25/3-47: Đức Thánh Cha Phanxicô - Huấn Từ Truyền Tin. 109
25/3-48: LỄ TRUYÊN TIN CŨ VÀ NAY.. 111
25/3-49: XIN VÂNG.. 113
25/3-50: LỄ TRUYỀN TIN.. 114

 

25/3-1: “XIN VÂNG": SỨ MẠNG TÔNG ĐỒ - Sr.Tâm Năng

Nếu tìm hiểu lịch sử Israel chúng ta sẽ thấy vua Achaz trong bài đọc 1 hôm nay: 25/3-1

Nếu tìm hiểu lịch sử Israel chúng ta sẽ thấy vua Achaz trong bài đọc 1 hôm nay không phải vì khiêm nhượng mà không dám xin Chúa một dấu lạ, nhưng vì ông đã hồ nghi Yahweh Thiên Chúa không đủ quyền năng để bảo toàn đất nước khi nghe quân ngoại bang vây đánh. Vì thế, thay vì cầu khấn cùng Yahweh, ông đã đi năn nỉ vua Assaria giúp đỡ. Bài đọc 2 cho chúng ta thấy các của lễ toàn thiêu không phải là điều Thiên Chúa hằng mong đợi nơi con người. Điều làm Thiên Chúa vui lòng nhất là thi hành ý Ngài. Và bài Phúc Âm hôm nay nêu lên một mẫu gương sống động của việc thi hành ý Chúa qua tiếng "Xin Vâng" của Mẹ Maria trong biến cố truyền tin mà chúng ta kính nhớ hôm nay.
Tiếng xin vâng của Đức Mẹ, thoạt nghe, chẳng có gì đặc biệt đáng chúng ta phải chú ý. Nhưng nếu để tâm suy nghĩ và cầu nguyện, chúng ta sẽ thấy được tinh thần hy sinh, lòng bác ái, và đức tin sống động của Mẹ được gói gọn trong hai tiếng xin vâng đó.
Qua tiếng xin vâng, Mẹ Maria sẵn sàng gạt bỏ đi tất cả những gì Mẹ hằng ôm ấp cho riêng mình là sống đời đồng trinh, để chấp nhận cộng tác với Chúa trong việc sinh ra cho nhân loại Đấng Cứu Thế mà ai cũng trông chờ.
Chính vì điểm này mà Chúa đã ban cho Mẹ được cả hai, tức là vừa đồng trinh vừa làm Mẹ Thiên Chúa. Khi thưa lên tiếng xin vâng, Mẹ Maria hiểu được nhiệm vụ chính yếu của Mẹ là hiến mình làm dụng cụ đem Chúa đến cho nhân loại. Vì vậy, khi Ngôi Hai Thiên Chúa vừa đầu thai trong cung lòng Mẹ, Mẹ đã "vội vã" lên đường thăm viếng bà Isave. Không cần phải dài dòng, ai cũng hiểu được mục đích của cuộc viếng thăm này không phải là để Mẹ ca bài Magnificat cho bà Isave và cũng chẳng phải để nghe bà Isave tán tụng Mẹ là người có đức tin mạnh mẽ. Lý do chính yếu của cuộc viếng thăm này là để Mẹ đem Chúa đến cho gia đình ông Giacaria, đặc biệt là thánh Gioan Tiền Hô, khiến ngài phải nhảy mừng trong lòng bà Isave.
Tiếng xin vâng của Mẹ Maria còn nhắc nhớ chúng ta về đức tin sống động của Mẹ: luôn phó thác mình cho tác động của Chúa Thánh Thần. Nếu chỉ xin vâng một lần rồi thôi hoặc có thể rút lại được khi hết hứng thì rất dễ, nhưng tiếng xin vâng của Mẹ Maria là tiếng xin vâng liên tục và vĩnh viễn kể từ giây phút truyền tin. Do đó, nếu không có một đức tin mạnh mẽ và sống động thì Mẹ Maria không thể nào thưa lên được tiếng xin vâng cộng tác vào chương trình cứu chuộc. Và nếu đức tin đó không được tiếp tục nuôi dưỡng thì Mẹ Maria cũng chẳng tiếp tục sứ mạng cộng tác của Ngài cho đến ngày Mẹ được Chúa cất về trời. Vì cuộc đời tại thế của Mẹ cũng là một cuộc hành trình đức tin như mỗi người chúng ta ngày nay vậy. Và mỗi biến cố xảy đến trong cuộc đời là một bước Mẹ tiến cao hơn trong cuộc lữ hành đức tin. Mỗi một lần như vậy nó đòi buộc một sự tín thác cao độ hơn lần trước, vì như mọi người chúng ta, Mẹ cũng chẳng biết được tương lai ngày mai sẽ ra sao.
Như Mẹ đã cưu mang Chúa trong thân xác qua biến cố truyền tin, mỗi người chúng ta cũng cưu mang Chúa trong tâm hồn kể từ ngày lãnh nhận Bí tích Rửa Tội. Vì thế, biến cố truyền tin mời gọi mỗi người chúng ta hãy xét lại xem cuộc sống Kitô hữu của chúng ta có rập theo khuôn mẫu của Mẹ Maria chưa: luôn tín thác mình cho tác động của Chúa Thánh Thần. Điều này đòi buộc mỗi người chúng ta phải luôn sẵn sàng để thưa lời xin vâng như Mẹ Maria trong mọi cảnh huống của cuộc sống hằng ngày. Bao lâu chúng ta chưa thi hành được như vậy thì bấy lâu chúng ta đừng trông mong đem Chúa đến cho người khác. Vì việc tông đồ đúng nghĩa phải là việc của Thiên Chúa. Mà bao lâu chúng ta chưa đồng tâm nhất trí với Chúa, chưa sẵn sàng đón nhận tác động của Chúa trong chúng ta thì bấy lâu Chúa và chúng ta không thể nào hoạt động giống nhau được.
Như Mẹ Maria xưa đã đồng ý để Chúa dùng Mẹ như một phương tiện đến với nhân loại thế nào thì nhiệm vụ chính yếu của mỗi người Kitô hữu ngày nay cũng chính là việc sẵn sàng hiến cho Chúa một cơ hội để Ngài tỏ mình ra cho những người chúng ta tiếp xúc trong cuộc sống hằng ngày: một nụ cười thân thiện, một ánh mắt thông cảm, một nghĩa cử bác ái, một sự nhịn nhục kẻ thù... tất cả sẽ là việc tông đồ nếu qua đó mà người ta nhận biết Chúa rõ ràng hơn, yêu mến Chúa sâu đậm hơn, và thương yêu tha nhân chân thật hơn.
Xin Mẹ Maria nâng đỡ phù trì để chúng ta ngày một tiến cao hơn trong cuộc lữ hành đức tin qua việc mở rộng tâm hồn sẵn sàng cộng tác với ơn soi động của Chúa Thánh Thần ngõ hầu Chúa Giêsu có cơ hội tiếp tục sinh xuống tâm hồn những ai chưa nhận biết Chúa.

 

25/3-2: CHÚNG TA CÓ ĐỂ CHO THIÊN CHÚA "TRUYỀN TIN"

CHO MÌNH KHÔNG ?  Lm. Giu-se LÊ QUANG UY, DCCT / Lc 1,26-38
 

Trước tiên, qua đoạn Tin Mừng hôm nay, chúng ta thấy cô - Lm Lê Quang Uy: 25/3-2

Trước tiên, qua đoạn Tin Mừng hôm nay, chúng ta thấy cô thiếu nữ Ma-ri-a không hề ngu ngơ khờ dại, nhắm mắt vâng lời một cách thiếu suy xét. Cô đã có một phản ứng tức thì khi nghe thiên sứ báo tin cô sẽ thụ thai, cô ngỡ ngàng thắc mắc: "Việc ấy sẽ xảy ra cách nào được, vì tôi không biết đến việc vợ chồng !"
Xin lưu ý là: cô Ma-ri-a đã phản ứng ngỡ ngàng, chứ không phải là phản đối, phản kháng. Cô chỉ băn khoăn thắc mắc rằng: bằng cách nào mà Ngôi Hai Thiên Chúa sẽ nhập thể làm người , sẽ đầu thai để trở thành một bé trai sinh ra từ cung lòng mình ? Lý do thắc mắc ngỡ ngàng của cô thật quá rõ ràng: cô chỉ mới đính hôn với ông Giu-se cơ mà ?
Thiên sứ liền trấn an cô: "Thánh Thần sẽ ngự xuống trên bà, và quyền năng Đấng Tối Cao sẽ rợp bóng trên bà". Thiên sứ còn quả quyết: "Đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được".
Đến đây thì cô Ma-ri-a đã vui mừng và mạnh dạn thốt lên lời Xin Vâng tuyệt vời: "Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói".
Trong phút chốc, cô Ma-ri-a trở thành Mẹ của Đức Giê-su Ngôi Hai Thiên Chúa. Tất cả chỉ nhờ một lời ngắn gọn, một thái độ vâng phục chan chứa lòng Tin Cậy Mến. Có thể nói, Mẹ đã để cho Thiên Chúa hoàn toàn quyết định hướng đi cuộc đời Mẹ, hầu Mẹ được cộng tác với Thiên Chúa trong kế hoạch cứu độ chính cuộc đời của Mẹ, cuộc đời của mọi người, của toàn thể nhân loại.
Lời Xin Vâng của Mẹ trở thành một mẫu mực tuân phục Thiên Chúa cho chúng ta noi theo. Nói mạnh hơn, lời Xin Vâng ấy là một lời chất vấn, một thách đố hùng hồn trước thảm kịch bất tuân phục Thiên Chúa của con người trong thời đại của chúng ta.
Tự do ly dị, phá thai vô tội vạ, cướp bóc bạo lực, đua xe bạt mạng, nghiện ngập xì-ke ma túy, buôn gian bán lận, ăn chơi trác táng, cha mẹ độc đoán hoặc ghẻ lạnh với con cái, con cái nhục mạ hoặc thờ ơ bỏ rơi cha mẹ, học trò đánh đập thầy cô, vợ chồng xô sát với nhau và chiến tranh khủng bố bạo tàn khắp nơi trên thế giới... Hình như con người quá kiêu hãnh về mình, muốn gạt bỏ Ý Thiên Chúa để tự quyết lấy đời mình !
Phần chúng ta thì sao ? Chúng ta được gọi là Ki-tô hữu, tức là chúng ta thuộc về Đức Ki-tô, là môn đệ của Thầy Giê-su chí thánh, đã và luôn tin cậy phó thác hoàn toàn vào Thiên Chúa. Vậy chúng ta có mở ngỏ cuộc đời mình cho ý định yêu thương của Thiên Chúa không ?
Chúng ta có bao giờ nghĩ rằng chính mình cũng đang được mời gọi: Hãy để cho Thiên Chúa "truyền tin" cho mình ngay giữa cái thế giới hôm nay đang bùng nổ về thông tin. Và Thiên Chúa sẽ gửi đến cho chúng ta một bản tin như thế nào ? Phải chăng đó chính là "Tin Mừng", "Tin Vui", "Tin Lành", "Tin Tốt Đẹp", "Tin Bình An", "Tin Hy Vọng" cho mảnh đời đã có quá nhiều "tin buồn, quá nhiều "tin... tức" của chúng ta ?
Và một khi nhận được một "Tin Mừng" như thế, chúng ta có sẵn sàng mau mắn thưa Xin Vâng trước mọi biến cố, nhất là những nghịch cảnh trong cuộc sống hôm nay được lồng vào trong, được ẩn dấu trong một nội dung Tin Mừng kỳ diệu của Sự Sống Yêu Thương chăng ?
Chúng ta hãy bắt chước Đức Ma-ri-a để luôn tìm đọc Lời Chúa, để nhẫn nại cầu nguyện trong niềm xác tín rằng: "Đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được".
Có một thiếu nữ người Pháp mà tôi đã lỡ quên mất tên sau khi đọc được câu truyện sau đây trên báo Echo de Lourdes cách đây khoảng 25 năm. Cô ấy bị mắc phải căn bệnh nhũn tủy làm cho bị liệt đôi chân. Cô đã hy vọng rất nhiều khi người ta đề nghị đưa cô tới Lộ-đức để xin ơn Mẹ làm phép lạ. Khi ra về, ai cũng lắc đầu thất vọng vì thấy cô gái không được lành bệnh. Thế nhưng, chính cô thì lại hân hoan tâm sự: "Tôi không hề được Mẹ chữa lành căn bệnh thể xác, chắc là Chúa Giê-su muốn tôi được chia nỗi đau đớn thân xác với Ngài, và tôi đã thưa Xin Vâng như Mẹ... Thế nhưng, Mẹ lại đã chữa lành căn bệnh tuyệt vọng bi quan của tâm hồn tôi... Từ nay, tôi xin được làm Tông Đồ của Chúa Giê-su, Con yêu dấu của Mẹ..."
Và quả thật, cô gái đã trở thành một Tông Đồ nằm trên giường bệnh của những người cũng đang đau khổ bất hạnh như cô đã từng đau khổ bất hạnh. Cô đã viết thư gửi đi để khích lệ niềm hy vọng của những em bé mồ côi, của những người già cô đơn trong Viện Dưỡng Lão, của những thiếu nữ lỡ lầm đang định phá thai, của những người khuyết tật khốn khổ...
Cho đến khi bị liệt cả hai tay, cô đọc người ta viết. Khi không nói được nữa, người ta soạn các lá thư rồi đọc lên cho cô nghe và gật đầu hoặc chớp mắt đồng ý. Và sau khi cô chết, người ta lấy những lá thư đã sao chép và lưu trữ để in thành hàng vạn lá thư khác...
Mới đây, khi tôi được đến giúp Tĩnh Tâm 3 ngày Mùa Chay cho Giáo Xứ Tử-đình ở Gò-vấp, tôi lại gặp được một bạn trẻ cũng bị căn bệnh Nhũn Tủy giống như cô gái nói trên. Đó là bạn sinh viên năm thứ hai Đại Học khoa Tin Học tên là Phạm Ngọc Quỳnh. Tôi đã mời cả gia đình Quỳnh cùng tôi cầu nguyện ngay bên giường bệnh của bạn ấy...
Và tôi đã nhìn vào đôi mắt bừng sáng đầy nghị lực quả cảm của bạn ấy. Và tôi đang cầu nguyện thật lòng xin Thánh Ý Thiên Chúa tỏ bày, để một hôm nào đó tôi sẽ mạnh dạn ngỏ lời đề nghị với bạn Quỳnh cũng chọn công việc Tông Đồ khiêm tốn mà hiệu quả tuyệt vời như cô gái người Pháp đã làm.
Nếu được, xin các bạn trẻ, đặc biệt là các bạn sinh viên hãy đến thăm bạn Quỳnh ở số nhà 2/16 đường Thống Nhất, tổ 75, phường 15, quận Gò-vấp, hoặc điện thoại số 9.961.554. Tôi hy vọng, cả tôi lẫn các bạn có thể sẽ là những "sứ giả", những "thiên thần" được Thiên Chúa gửi đến cho Quỳnh và cho biết bao nhiêu bạn trẻ khác, cho biết bao nhiêu con người khốn khổ bất hạnh khác đang sống quanh chúng ta, ngay bên cạnh chúng ta...
Thế đấy, mỗi ngày, mỗi biến cố xảy đến trong cuộc đời chúng ta đều như văng vẳng một lời "Truyền Tin" của Thiên Chúa thông qua một "sứ giả", một "thiên thần" nào đó ngay bên chúng ta. Có thể đó sẽ là một lời mời gọi chúng ta hãy cộng tác với một chương trình mầu nhiệm hoặc một kế hoạch kỳ diệu nào đó của Thiên Chúa như đã từng xảy đến cho Đức Ma-ri-a. Chúng ta chỉ cần khiêm tốn thưa Xin Vâng với Thiên Chúa. Còn mọi sự sau đó, hãy cứ tin rằng: "Đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được".
Được như vậy, thật sự chúng ta sẽ là những người có phúc, xứng đáng được chào bằng lời chào ngày xưa thiên thần đã kính chào đức Ma-ri-a: "Mừng vui lên, hỡi Đấng đầy ân sủng, Đức Chúa ở cùng bà". A-men.

 

25/3-3: ĐỨC MẸ TRUYỀN TIN – GM Bùi Tuần

Lễ Truyền tin sắp tới. Tôi thầm nghĩ: xưa biến cố truyền tin đã mang đến một tin quan trọng có: 25/3-3

Lễ Truyền tin sắp tới. Tôi thầm nghĩ: xưa biến cố truyền tin đã mang đến một tin quan trọng có liên quan đến chương trình cứu độ. Nay kỷ niệm biến cố đó sẽ không phải chỉ là nhắc lại chuyện xưa để mừng, mà còn là dịp tìm ra những dấu chỉ này nọ báo tin cho tình hình cứu độ hiện nay.
Để có một chút tư tưởng cơ bản về biến cố truyền tin, nhờ đó mà nhìn vào tình hình hôm nay, tôi đọc Phúc Âm. Tôi thấy đại khái mấy yếu tố này đã có mặt trong biến cố truyền tin.
Yếu tố thứ nhất là tình yêu Thiên Chúa.
Trong cuộc trao đổi với ông Nicôđêmô, Chúa Giêsu đã quả quyết: “Thiên Chúa yêu thương thế gian, đến nỗi đã ban Con Một của Người, để ai tin vào Con của Người, thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời. Quả thực, Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để, nhờ Con của Người, mà được cứu độ” (Ga 3,16. 17).
Qua những lời mạc khải trên đây, chúng ta thấy đầu nguồn biến cố truyền tin là tình yêu Thiên Chúa. Đó là một chân lý tuyệt đối và nền tảng. Tất cả đều khởi đi từ chân lý đó.
Sự Ngôi Hai giáng trần, sự Ngôi Hai được sai đi, sự Ngôi Hai nhập thể, sự Ngôi Hai đi vào hành trình dài từ lòng Đức Maria đến Bêlem, Ai Cập, Nagiarét, đến Canvariô và lên trời, đều hoàn toàn phát xuất từ tình yêu thương xót Chúa. Một tình yêu thực sự là thương xót. Chúa Giêsu quả quyết: “Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để, nhờ Con của Người mà được cứu độ” (Ga 3,17). Không do yếu tố nào từ bên ngoài ép buộc Người. Tình yêu thương xót của Người là quà tặng nhưng không.
Thiên Chúa muốn chia sẻ chính sự sống của mình cho nhân loại. Người tặng sự sống đó cho nhân loại trong Con của Người. Người tặng nhưng không. Chỉ cần người ta biết đón nhận. Đón nhận một cách tự do, tự nguyện.
Sự đón nhận tự do tự nguyện này có tên là tin.
Yếu tố thứ hai là tin vào tình yêu Chúa một cách rất khiêm nhường.
Lời sau cùng Mẹ Maria thưa ngày truyền tin rất vắn, nhưng gồm tóm một niềm tin sâu rộng: ẪVâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm như lời sứ thần nóiỮ (Lc 1,38).
Đó là niềm tin đón nhận. Đón nhận tình yêu Thiên Chúa dành cho nhân loại và cho bản thân Đức Mẹ. Đón nhận chính Thiên Chúa tình yêu. Đón nhận một sự sống là tình yêu, là ánh sáng. Đón nhận một thực tại vượt hẳn con người của mình. Đón nhận một sự tái sinh đổi mới con người, vừa êm dịu, vừa mạnh mẽ và quyết liệt. Nhất là đón nhận hoàn toàn thánh ý Chúa, lúc đó, sau này và mãi mãi. Cho dù mình chưa hiểu.
Tất cả mọi đón nhận này đều rất khiêm nhường, đưa Đức Mẹ xuống sâu tinh thần thờ phượng trước một Thiên Chúa vô cùng thánh. Sau này, Đức Mẹ đã nói lên cảm tình đó ẪĐấng Toàn Năng đã làm cho tôi những điều cao cả. Danh Người thật chí thánh chí tôn. Đời nọ tới đời kia, Chúa hằng thương xót những ai kính sợ NgườiỮ (Lc 1,49-50).
Yếu tố thứ ba là vâng theo tác động của Chúa Thánh Thần.
Trong ngày truyền tin, sứ thần Chúa nói với Đức Mẹ: ẪThánh Thần sẽ ngự xuống trên BàỮ (Lc 1,35). Với Thánh Thần, Đức Mẹ sẽ được chia sẻ sự sống Thiên Chúa. Thánh Thần ví như hơi thở của sự sống Thiên Chúa. Hít vào, thở ra một hơi thở từ Chúa ban, Mẹ sẽ dần dần được đổi mới, một cách thường xuyên và nhẹ nhàng. Chúa Giêsu nói với ông Nicôđêmô: ẪGió muốn thổi đâu thì thổi; ông nghe tiếng gió, nhưng không biết gió từ đâu đến và thổi đi đâu. Ai bởi Thánh Thần mà sinh ra thì cũng vậyỮ (Ga 3,8).
Sự đổi mới của Thánh Thần đến từ đâu, đến với ai, đến cách nào, và đến lúc nào, là tuỳ ở sự tự do của Thánh Thần. Điều quan trọng không phải là ta muốn Thánh Thần đến theo ý ta, mà ta phải tỉnh thức và đón nhận tất cả những gì Thánh Thần làm, mặc dầu nhiều trường hợp gây nên những bất ngờ, hoàn toàn khác những gì ta nghĩ tưởng, chờ mong.
***
Trên đây chỉ là mấy yếu tố đơn sơ vắn tắt, để giúp chuẩn bị tâm hồn mừng lễ truyền tin.
Nếu dựa vào ba yếu tố nói trên, để nhìn xung quanh mình, tôi thấy có nhiều người tốt đang là những đốm sáng rải rác trong bóng tối. Bóng tối rộng và dầy, nhưng những đốm sáng vẫn là những hy vọng chỉ đường. Họ là những nhân chứng sống động của Chúa. Nhất là ở chỗ họ giống Chúa. Họ có tình thương dồi dào, biết cảm thương, dám tự hạ mặc lấy thân phận con người bé nhỏ, tự ý hội nhập vào đám đông bần cùng, vô danh. Mục đích để làm chứng đám đông đó được yêu thương, được trọng kính, được chia sẻ.
Phải nhận rằng những nhân chứng đó đang có sức thuyết phục. Bởi vì họ là những chứng nhân sống Tin Mừng truyền tin một cách chân thực. Và ơn Chúa cứu độ đang đổ xuống thế gian qua những chứng nhân như thế, cho dù họ thinh lặng.
Nhưng, được nghe những gì chính Đức Mẹ đã truyền tin cho nhân loại, khi hiện ra ở Fatima và ở nhiều nơi khác, tôi lo ngại nhiều cho hiện tình đạo đức của nhân loại nói chung, và của Hội Thánh chúng ta nói riêng, trong đó có tôi.
Khi Đức Mẹ kêu gọi: Hãy sám hối, hãy hy sinh, hãy đền tạ, hãy cầu nguyện kinh Mân côi để tránh thảm hoạ, tôi hiểu tình hình là hết sức nghiêm trọng. Xem ra nơi chính chúng ta, chính đức tin cũng đang cần được cứu độ.
Lần này chính Đức Mẹ truyền tin. Chứ không phải Thiên Thần truyền tin.
Rất mong các con cái Mẹ khắp nơi hãy quan tâm đặc biệt đến biến cố truyền tin khác thường này. Không phải chỉ để cộng tác vào việc cứu nhân loại, mà nhất là còn để cộng tác vào sự cứu độ chính mình chúng ta.
+ GM Bùi Tuần

 

25/3-4: Ave Maria, lời tán tụng tuyệt diệu của trần gian dâng lên Thiên Chúa

Ave Maria,  lời tán tụng tuyệt diệu của trần gian dâng lên Thiên Chúa. Maria, suối: 25/3-4

Ave Ma-ri-a, Lời tán tụng tuyệt diệu của trần gian dâng lên Thiên Chúa. Ma-ri-a, suối ân lộc của Thiên Chúa tuôn trào cho nhân loại. Ma-ri-a, người phụ nữ đẹp nhất trong nhân loại, niềm vinh dự, sự trinh khiết vẹn toàn, sự kiều diễm, lòng trung kiên, lòng nhân ái, sự thánh thiện, nét tinh khôi, tâm hồn trong sángBao nhiêu chữ nghĩa đẹp nhất của trần gian đ nói về Ma-ri-a cũng không sao nói đ. Ma-ri-a, người đầu tiên và thay cho nhân loại lãnh nhận trọn vẹn Con Thiên Chúa vào trong lòng nhân thế với tất cả lòng thành kính.
Trời cao cũng như đất thấp không ngừng hỷ hoan chào mừng Mẹ Ma-ri-a.
Như sóng lộc triều nguyên ơn phước cả,
Dâng cao dâng thần nhạc sáng hơn trăng
Thơm tho bay cho đến cõi thiên đàng
Huyền diệu biến thành muôn kinh trọng thể

Ma-ri-a, con người tuyệt diệu của trần thế, đẹp nhất của muôn loài thọ tạo, sáng giá nhất trong toàn thể chúng sinh, có dâng cao như sóng lộc triều nguyên, cũng chưa bao giờ nói hết kỳ công của Thiên Chúa thực hiện nơi Mẹ. Cho nên giữa lòng nhân thế muốn được ước ao, dâng muôn kinh bay cho đến tận cõi thiên đàng, đ trong đó huyền diệu của nhân thế trở nên lời kinh trọng thể.
Và Tổng Lãnh Thiên Thần quỳ lạy Mẹ
Tung hô câu đường hạ ngớp châu sa.
Hương xông lên lời ca ngợi sum hoà.
Trí miêu duệ muôn vì rất thánh

Ma-ri-a, cả triều thần thiên quốc cùng ca tụng, bàn tay Thiên Chúa đã tài tình sáng tạo nên Mẹ, người phụ nữ muôn ngàn đời được tán tụng và chính Mẹ cũng là lời tán tụng đẹp nhất mà cả nhân loại được cất tiếng. Ma-ri-a, lời đẹp nhất của nhân loại có thể dâng lên cho Thiên Chúa. Lời mà trong đó cả nhân loại như đang được hơi thở Thần Linh chuyển đến nơi Chúa Cha, bởi Mẹ đã cưu mang Người Con Duy Nhất bởi Thánh Thần Thiên Chúa. Diễm phúc cho câu đường hạ ngớp châu sa. Diễm phúc cho trần thế, khi được cất tiếng ca ngợi Kỳ Công tuyệt hảo của Thiên Chúa thực hiện nơi Mẹ.
“Ma-ri-a, linh hồn tôi ớn lạnh.
Run như run tử thần thấy long nhan,
Run như run hơi thở chạm tơ vàng…
Nhưng lòng vẫn thắm nhuần ơn trìu mến”

Ma-ri-a, đã là lời ca ngợi trong danh xưng của Mẹ. Nhân loại đã và đang run lên vì thấy được lịch sử Tình Yêu Thiên Chúa đang vận hành trong lịch sử phận hèn của nhân loại. Đang run lên vì vui sướng, hạnh phúc tràn trề chảy tuôn trên đất sữa và mật. Đang run lên vì hạnh phúc được gọi Mẹ là Mẹ của nhân loại, Mẹ của muôn lời tán tụng từ muôn cõi lòng trào dâng lên Thiên Chúa.
Ma-ri-a, “ Đấng tinh tuyền thánh vẹn, giàu nhân đức, giàu muôn hộc từ bi”. Lời ca tụng sẽ vang mãi, vang mãi trong lòng nhân thế. Bằng tuyệt tác của Thiên Chúa, Người đã mở cho nhân loại một lối hy vọng, một con đường cậy trông. Lối ấy, đường ấy là chính Giê-su con lòng Mẹ. Nhân loại đang không ngừng được lắng nghe, được suy niệm từ tận sâu trong tâm hồn tiếng gọi của Thiên Chúa bằng sự đáp trả “Xin Vâng” của Mẹ trong ngày truyền tin.
“Hỡi sứ thần Thiên Chúa Gabriel,
Khi người xuống truyền tin cho Thánh Nữ,
Người có nghe xôn xao muôn tinh tú?
Người có nghe náo động cả muôn trời”.

Lời Thiên Chúa đã trở thành nhục thể, Tin Mừng ấy làm rung động cả cõi trời cao thẳm, làm xao động muôn ngàn trăng sao và lòng nhân thế. Giê-su, Con của Trời cao đã làm người nơi đất thấp. Nhân loại được cầm lấy bàn tay Thiên Chúa nhờ Ngôi Lời Nhập Thể, nên bàn tay nhân loại không thể không run lên vì niềm hạnh phúc. Ma-ri-a, Mẹ đã thay toàn thể nhân loại, đón nhận quà tặng tuyệt vời nhất của Thiên Chúa trao ban cho nhân loại. Sự bối rối và run lên trong ngày truyền tin của Mẹ cũng là sự bối rối và run lên của toàn thể vũ trụ. Run lên vì hạnh phúc, run lên từ trong tất cả mọi tạo vật trên trời và dưới đất.
Ma-ri-a, hoa trái tốt đẹp của Thánh Thần Thiên Chúa, bởi bóng Người rợp bóng trên Mẹ và muôn ngàn đời chúc khen Mẹ diễm phúc. Lời chúc phúc của Thiên Chúa sinh hoa kết trái nơi Mẹ là sự hoan hỷ và bình an. Mẹ là người đón nhận và mang bình an cho nhân loại, là niềm hân hoan của mọi thời mọi thế kỷ, lời chúc khen sẽ rất no, rất nư, bởi tràn ngập ân phúc.
Ma-ri-a, sự hãnh diện của nhân loại sau những ngày mang vết thương đau của E-và đầu tiên. Sự cao cả của Thiên Chúa thể hiện một cách siêu vời hơn nữa trong công trình tái tạo của Người. Ma-ri-a, cả trời trăng sao đang run lên trong những ánh sáng toả lan từ nơi Mẹ. Ma-ri-a, một lần và nhiều lần nữa tạo vạt run lên vì niềm hạnh phúc vì được chạm đến bàn tay Thiên Chúa và nhận ra Chúa thương loài người.
Lời tán tụng sẽ là “chưa bưa, chưa đã, được chí trăng sao”, “ Lút trí khôn và ám ảnh hương lòng”. Ma-ri-a, lời tán dương tuyệt hảo nhất, là hoa trái nguyên vẹn nhất, là của lễ đầu mùa nhân loại vẹn sạch nhất nhờ của lễ đầu mùa Giê-su Con lòng Mẹ, có thể dâng lên Thiên Chúa. Cả hương thơm, cả ánh sáng, cả trăng sao, cả muôn lòng như “vỡ lở” bởi lời tán tụng ca khen Thiên Chúa: “Phận nữ tỳ hèn mọn, Người đã đoái thương”.
Ma-ri-a, tình thương Chúa được vang lên trong niềm tin kính: “Vì loài người chúng tôi và để cứu rỗi chúng tôi”. Tất cả trời và đất như ngừng lại, như lặng im đón đợi giây phút giao thừa của Mùa Ơn Cứu Rỗi. Giây phút của niềm vui gói trọn trong chữ “Xin Vâng” để ‘Xuân ra đời” trong lòng nhân thế.
Ma-ri-a, “Đây rồi, đây rồi, chuỗi ngọc vàng kinh”, như một khám phá mới, như một lời kinh thiết tha nhất từ trong cuộc sống, đang vang lên, đang thầm thì trên những đôi môi của nhân loại lời chào của thiên sứ “Kính mùng Ma-ri-a, đầy ơn phước”. Từ trong nhiều góc tối của trần gian, những lầm lũi thân phận của lữ hành, và trong hân hoan của những thành công nhân loại đang vang lên lời Ave Ma-ri-a, bằng tràng chuỗi, bằng hành trình vui, thương, mừng, nhân loại đang hân hoan đi về phía trước qua mọi nẻo đường của trần thế.
Ma-ri-a, “cả trời bỗng nổi lên muôn điệu nhạc, rất trọng vọng, rất thơm tho, man mác, rất phương phi, trên hết cả anh hoa”. Càng tán tụng Mẹ, càng làm vinh danh Thiên Chúa; càng trìu mến Mẹ, càng trìu mến Giê-su Con của Mẹ.
Giê-su, con của người Mẹ trần thế và là Con của Thiên Chúa, đã nhiều lần gọi Mẹ, Mẹ ơi, giữa lòng cuộc sống, giữa mái ấm gia đình, làm cho nhân loại cũng từ ấy hạnh phúc gọi Mẹ, Mẹ ơi. Mẹ, tiếng gọi ấy quá bình thường trong cuộc sống, nhưng lại không thể thiếu trên đôi môi những đứa con. Mẹ, tiếng gọi ấy quá bình dị, nhưng chưa lần nào gọi lên mà thiếu những tâm tình trìu mến. Mẹ, lời ấy ngắn ngủi nhưng lại trải dài trong đời sống. Mẹ ơi, đã một lần đọng trên đôi môi của Giê-su là đã nhiều lần được âm vang lên trong tâm hồn của tất cả những người con của trần thế. Mẹ, tiếng bập bẹ đầu tiên và suốt đời của những người con muốn gọi.
Ma-ri-a, Mẹ của các bà mẹ trần thế, Mẹ xứng muôn lời ca tụng của đoàn con dâng lên. Mẹ đã cưu mang những đứa con của trần thế sanh vào thiên quốc nhờ sự cưu mang Con của Thiên Chúa sanh cho trần thế. Ma-ri-a, Mẹ xứng muôn ngàn tinh tú lay động, Mẹ đã ngỏ lời “Xin Vâng” để nhân loại được đón tiếp chính Con của Thiên Chúa.
Ave Ma-ri-a, qua lời tán tụng của thi sỹ Hàn Mặc Tử, bút sắc thần kỳ của người Kitô hữu Việt Nam “sẽ ngất ngây bởi chưng thơ đầy ý, nguồn thiêng liêng yêu Mẹ Sầu Bi”. Xin dâng Mẹ những người con nhân loại chúng con.
Ngày lễ truyền Tin 2001. LM. Giu-se HOÀNG KIM TOAN.


 

25/3-5: Lễ Truyền Tin của Đức Maria 

Lc 1, 26-38
 

Trong quyển "Vị ẩn sĩ khôn ngoan", đoạn nói về người me, có viết: "...Và tất cả những điều đó: 25/3-5

Trong quyển "Vị ẩn sĩ khôn ngoan", đoạn nói về người me, có viết: "...Và tất cả những điều đó chỉ một mình bà biết mà thôi, ẩn sĩ nói, mọi người không ai hay biết, vì thế họ mới lên án con bà. nhưng còn bà, vì biết rõ nó nên bà thương yêu nó. Thiên Chúa cũng thế, Người còn biết rõ nó hơn cả bà nữa. Và cả những điều bà không thấy nơi con bà, những điều còn ở trong ao ước, trong hy vọng, trong tiếc nuối, Thiên Chúa đều biết hết. Và giờ đây tất cả những cái đó đều xuất hiện ở bên kia thế giới. Ở đó không còn vấn đề nửa sự thật như ở đây ta thấy nữaỮ(Ebbe de Pauli - LỴ Ermite ).
Vâng, người mẹ thế gian còn yêu thương con cái mình với tất cả tình thương dù cho con mình ngỗ nghịch, nói trắng ra là cả lúc phản nghịch, lỗi đạo làm con. Người mẹ có tên Maria lại còn yêu thương con người gấp bội. Mẹ đã yêu con người, chấp nhận ý định Thiên Chúa, nói lời xin vâng làm mẹ Thiên Chúa, mẹ Chúa Giêsu, dù rằng mẹ đã khấn giữ mình đồng trinh. Nhưng, chỉ biết ý định của Chúa: " Thánh Thần sẽ ngự xuống trên bà, và quyền năng Đấng Tối Cao sẽ rợp bóng trên bà, vì thế, Đấng Thánh sắp sinh ra sẽ được gọi là con Thiên Chúa"( Lc 1, 35 ). Maria đã tuân theo ý Chúa, không hề nao núng, không hề do dự: " Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần" ( Lc 1, 38 ).
Mẹ Maria được tràn đầy ơn phúc
Linh mục Thành Tâm trong bài hát: "Mẹ đầy ơn phúc" đã viết: " Hỡi Mẹ đầy ơn phúc, đời đời diễm phúc, Chúa ở cùng Mẹ". Lời ca đượm ý Thánh Kinh. Vì với lời chào của thần sứ Gabrien, Maria quả thực là người vô cùng diễm phúc. Hàng ngày, lời kinh kính mừng mà muôn muôn người Kitô hữu cất lên vẫn luôn là lời ca ngợi, chúc tụng mẹ Maria đầy ơn phúc, Thiên Chúa ở cùng Mẹ. Mối phúc quan trọng hàng đầu là phúc con người được Thiên Chúa ở cùng. Mẹ Maria có phúc hơn mọi người phụ nữ được sinh ra bởi dòng dõi bà Eva, đó là Mẹ được tràn muôn ơn phúc. Mẹ được Thiên Chúa đoái thương, cất nhắc, dù Mẹ chỉ là một người đầy tớ khiêm hạ, đơn hèn và nghèo khó. Cái nghèo được Thiên Chúa ghé mắt đoái thương. Mẹ là một trong những kẻ "Anawim", người nghèo của Thiên Chúa Giavê. Với lời chào của sứ thần Gabrien, Mẹ đã biến mối lo âu không biết đến người nam làm cái phúc, nghĩa là Mẹ đã biến cái son sẻ của một con người đã hiến trọn cuộc đời cho Chúa trở nên phong phú vì Mẹ biết không việc gì mà Thiên Chúa không làm được. Mẹ đã biến cái bối rối, lo âu, trăn trở làm thành nỗi vui mừng, phấn khởi vì Mẹ hiểu ra người chị họ là bà Eligiabét cũng đang được phúc mang thai con trong lúc tuổi già, trong lúc xế chiều, gần ra đi về với Chúa. Maria đã hiểu ý Chúa qua sứ thần truyền tin. Mẹ đã chấp nhận ý định tuyệt vời của Chúa và sẵn sàng tiếp tay với Chúa trong công việc cứu độ nhân loại, đến nỗi Mẹ đã cất cao lời chúc tụng, tạ ơn, tri ân Thiên Chúa:" Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa...Đấng toàn năng đã làm cho tôi biết bao điều cao cả"( Lc 1, 46- 55 ).
Cái phúc của Thiên Chúa cũng đang được trao cho ta.
Như câu chuyện: " Người Mẹ" trong vị An sĩ khôn ngoan, người Mẹ luôn yêu thương đứa bé con bà dẫu rằng có lúc bà đã quá chán vì đứa con bà trở nên hư đốn, nhưng tấm lòng bao la, rộng lớn của bà mẹ đã lấn lướt đi tất cả, bà đã nghe lời khuyên của vị ẩn sĩ : "... Người ta gặt cái gì mà mình đã gieo: đó là luật chung, một điều luật tốt đẹp của Thiên Chúa dành cho con cái của Người. Nhưng nhờ đau khổ, chúng ta mới học biết nhiều. Và khi ta vượt qua được sự dữ đã từng đè nén ta, thì sự lành do Chúa đem lại sẽ lớn lên trong ta và sau cùng chỉ còn sự lành. Đó sẽ là cái "tôi" độc nhất và là cái "tôi" thật sự của mỗi người" ( Ebba De Pauli LỴ Ermite ).
Vâng, người mẹ đã biến cái nỗi khốn cùng khi bà lo lắng về con mình để làm cho nó trở thành chứa chan hạnh phúc: bà đã cầu nguyện và hàng ngày cầu nguyện cho con mình. Cái phúc trở nên niềm vui cho con người, cho cuộc đời của mỗi người. Thiên Chúa đã dùng một người nữ, một người mẹ với trọn tình thương, với muôn đặc ân cao quí mà chỉ có độc nhất vô nhị người mẹ, người nữ ấy mới có: đặc ân không vướng tội lỗi, làm mẹ Thiên Chúa, hồn xác lên trời, trọn đời đồng trinh, để nhờ mẹ đưa nhiều người đến với Chúa.
Thiên Chúa đã biến nỗi bất hạnh, nỗi âu lo, xao xuyến bối rối của người nữ tỳ Sion làm thành sự hạnh phúc tuyệt vời cho mẹ vì mẹ được chọn, được tuyển lựa giữa muôn vàn người nữ, cộng tác vào công trình cứu rỗi nhân loại. Mẹ nói lời "Fiat", biến nó thành cái phúc cho mẹ và cho nhân loai, cho từng người. Cái phúc ấy vẫn như là một dòng suối linh thiêng đang từ từ tuôn chảy trong từng người con của mẹ.Nhân loại mãi mãi và muôn thuở vẫn nhận được cái phúc từ mẹ vì từ mẹ, từ cung lòng mẹ: "...Ngôi Lời của Chúa mặc lấy xác phàm để cứu độ loài người"( lời nguyện nhập lễ, lễ truyền tin ) và cũng chính nơi cung lòng mẹ Maria như thánh Phaolô viết: khi vào trần gian Đức Kitô nói:"Lạy Thiên Chúa, này con đây, Con đến để thực thi ý Ngài"( Dt 10, 5.7 ).
Lạy Chúa, chúng con tuyên xưng rằng: Con Chúa nhập thể trong lòng Đức Trinh Nữ Maria là Thiên Chúa thật và là người thật. Xin cho bí tích chúng con vừa lãnh nhận củng cố niềm tin chân thật ấy, và xin cho cuộc chiến thắng phục sinh của Con Chúa đem lại cho chúng con ơn cứu độ và niềm vui muôn đời ( lời nguyện hiệp lễ, lễ Truyền Tin ).
 Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT

 

25/3-6: XIN VÂNG TRONG LỄ TRUYỀN TIN - GB. BÙI TUẦN

Năm nay, lễ Truyền Tin được dời vào ngày mồng 8/4/2002. Trong ngày lễ: 25/3-6

Năm nay, lễ Truyền Tin được dời vào ngày mồng 8 tháng 4 (8-4-2002).
Trong ngày lễ Truyền tin, Hội Thánh kính nhớ một biến cố quan trọng. Thiên thần báo tin cho Đức Mẹ rằng: Thiên Chúa muốn chọn Đức Mẹ làm mẹ Đấng Cứu thế.
Tin đó quá bất ngờ, vượt mọi suy nghĩ, mọi tưởng tượng, mọi đợi chờ.
Phản ứng của Đức Mẹ bắt đầu là bỡ ngỡ bàng hoàng lo sợ, nhưng tiếp đó là xin vâng (Lc 1,38).
Xin vâng là xin tuân phục ý Chúa.
Xin vâng là xin cộng tác vào chương trình cứu độ của Chúa, với sự từ bỏ mình, với sự tuyệt đối phó thác đời mình trong tay Chúa.
Lập tức sau lời “xin vâng” của Đức Mẹ, Ngôi Hai Thiên Chúa đã xuống thế nhập thể trong lòng Đức Mẹ. Tất cả đều diễn tiến một cách âm thầm, khiêm tốn.
Từ đó “xin vâng” đã được coi như
một giao ước mới,
một bài ca mới,
một con đường mới,
của con người mới.

Khi nói xin vâng được coi như một giao ước mới, tôi nhớ lại việc Đức Mẹ vội vã lên đường đi thăm viếng bà Isave (Lc 1,39-45). Đi thăm để chia sẻ, để phục vụ, để nâng đỡ khích lệ bà Isave. Theo Đức Mẹ, thì mình được Chúa thương, là để mình biết thương người khác. Mình được Chúa chọn cộng tác với Chúa trong việc cứu độ, thì mình phải quyết tâm dấn thân góp phần cứu độ người khác. Mình nhận ơn Chúa ban, thì mình sẽ cố gắng chia sẻ ơn đó cho người khác.
Thiết tưởng đó là một giao ước mới về bác ái liên đới phát sinh từ lời xin vâng.
Khi nói xin vâng được coi như một bài ca mới, tôi nhớ lại tâm tình Đức Mẹ trong kinh Tạ Ơn Linh hồn tôi tung hô Chúa (Lc 1,46,55). Tâm tình Đức Mẹ là lời nói chân thành của người con bé nhỏ, đầy khiêm tốn, ngỡ ngàng biết ơn và phó thác đối với Chúa. Tâm tình Đức Mẹ là khát vọng cứu độ toả ra sức nóng của tình yêu thương xót, nhưng lại khiêm nhường tế nhị đối với đồng bào, nhân loại. Tâm tình Đức Mẹ là cái nhìn tiên tri sâu sắc của trái tim khiêm nhường về tương lai dành cho những kẻ khiêm tốn.
Thiết tưởng  đó là một bài ca mới về khiêm tốn khởi đi từ lời xin vâng.
Khi nói xin vâng được coi là một con đường  mới, tôi nhớ lại biến cố Đức Mẹ sinh Chúa Giêsu tại hang đá Belem (Lc 2,1-7). Đang khi hầu hết mọi người đều coi giàu sang chức quyền danh vọng là những bậc thang giới thiệu gía trị con người, thì Đức Mẹ đã không nghĩ như vậy, đã không vận động chút nào để được như vậy. Trái lại, Đức Mẹ đã lặng lẽ đi vào con đường khó nghèo. Con đường đó đã khởi đi từ hang đá Belem và kéo dài từng ngày, từng tháng, từng năm, suốt cả cuộc đời Đức Mẹ. Trên con đường đó, Đức Mẹ đã cầu nguyện, đã suy gẫm trong lòng, đã lắng nghe Chúa, đã thông hiệp với sự sống Chúa.
Thiết tưởng đó là một con đường mới về sự nghèo khó được vạch ra từ lời xin vâng.
Con đường mới đó, bài ca mới đó, giao ước mới đó đều nói lên Đức Mẹ là con người mới. Mới về nhiều phương diện, nhưng nhất là về phương diện Chúa Thánh Thần ngự xuống trên Đức Mẹ, để đổi mới con người của Mẹ (Lc 1,35).
Qua việc Ngôi Hai xuống thai trong lòng Đức Mẹ, Chúa Thánh Thần đã đưa tình yêu thương xót của Thiên Chúa vào nhân loại, đã mạc khải Thiên Chúa là tình yêu, đã khai mở một nguồn mạch ơn thánh cứu độ vô cùng phong phú cho mọi người thiện chí. Do đó, Đức Mẹ là con người mới, là tác phẩm tuyệt vời của Chúa Thánh Linh. Với đặc điểm là Đức Mẹ có một trái tim giống trái tim Chúa Giêsu, trong sạch, hiền lành, khiêm nhường, cháy rực lửa tình yêu thương xót.
Những chia sẻ vắn tắt trên đây có thể giúp chúng ta phần nào, để chuẩn bị mừng lễ Truyền Tin một cách sống động sát với thời sự.
Thời sự hiện nay, nếu nhìn về góc độ xin vâng ý Chúa, thì đó là cả một vấn đề đáng phải lo ngại. Bởi vì có những người coi trọng ý Chúa và xin vâng ý Chúa. Cũng có những người coi thường ý Chúa và chống lại ý Chúa. Có những người hiểu sai ý Chúa, vô tình hoặc cố tình. Có những người gán cho ý Chúa những ý riêng của mình. Có những người muốn ý Chúa hợp theo ý riêng mình, cho dù ý riêng mình là quái gở.
Thời sự hôm nay là Israel, quê hương của Đức Mẹ, đang là mảnh đất diễn ra vòng xoáy hận thù và đổ máu. Vòng xoáy kinh hoàng này càng ngày càng mở rộng trên đất, đồng thời càng xoáy sâu vào lòng dân. Từ mảnh đất này hằng ngày truyền đi khắp năm châu những tin đau đớn, gây nên băn khoăn nặng nề cho hoà bình thế giới. Thời sự này làm cho rất nhiều người phải khóc, phương chi Đức Mẹ.
Nhưng theo tôi, thời sự hiện nay quan trọng nhất chính là chuyện của bản thân ta. Ta có lắng nghe ý Chúa không? Và ta có xin vâng ý Chúa thực không? Đoạn Phúc Âm sau đây sẽ gợi ý cho ta thấy rõ ý Chúa về ta trong thời sự hôm nay:
“Cùng lúc ấy, có mấy người đến kể lại cho Đức Giê-su nghe chuyện những người Ga-li-lê bị tổng trấn Phi-la-tô giết, khiến máu đổ ra hoà lẫn với máu tế vật họ đang dâng. Đức Giê-su đáp lại rằng: "Các ông tưởng mấy người Ga-li-lê đó tội lỗi hơn mọi người Ga-li-lê khác, bởi lẽ họ đã chịu đau khổ như vậy sao? Tôi nói cho các ông biết: Không phải thế đâu. Nhưng nếu các ông không sám hối, thì các ông cũng sẽ chết hết như vậy”.
“Cũng như mười tám người kia bị tháp Si-lô-e đổ xuống đè chết, các ông tưởng họ là những người mắc tội nặng hơn tất cả mọi người ở thành Giê-ru-sa-lem sao? Tôi nói cho các ông biết: Không phải thế đâu. Nhưng nếu các ông không chịu sám hối, thì các ông cũng sẽ chết như vậy” (Lc 13,1-5).
Suy gẫm đoạn Phúc Âm trên, tôi có cảm tưởng là Chúa muốn báo tin cho từng người chúng ta biết rõ ý Chúa. Đó là đừng quá bận tâm xét đoán người khác, nhưng hãy ưu tiên lo phần rỗi của mình. Lo bằng cách sám hối ăn năn, đổi mới chính mình. Cách đó là cách tốt nhất để góp phần vào việc cứu độ người khác.
Chúa báo tin cho chúng ta ý Chúa là như thế đó. Rất rõ ràng.
Ở Fatima Đức Mẹ cũng báo cho chúng ta tin đó. Cũng rất rõ ràng.
Chúng ta hãy đáp lại bằng lời xin vâng.
Xin vâng của chúng ta là một hành trình dài đi về với Chúa. Hãy bước đi với những bước nhỏ. Như hằng ngày cầu nguyện bằng kinh Kính Mừng và chuỗi mân côi. Như  hằng ngày đến bên trái tim Đức Mẹ, để xin trái tim Đức Mẹ chia sẻ cho ta bầu khí thinh lặng, chiêm niệm, lửa bác ái nồng nàn và sức mạnh lạ lùng của khiêm nhường nghèo khó. Như hằng ngày thực hiện đôi ba việc bác ái, thương cảm liên đới với những người nghèo, bệnh tật, xa Tin Mừng, bị xã hội loại trừ. Như hằng ngày tập nói và làm những gì mang tính cách phục vụ hoà bình hiệp nhất trong yêu thương và tế nhị. Như hằng ngày dùng lòng tin mến biến những mệt mỏi khổ đau của mình thành của lễ đền tội tạ ơn, và xin ơn an bình cho gia đình quê hương và thế giới.
Nếu lời xin vâng của chúng ta được hiệp thông sâu sắc với lời xin vâng của Đức Mẹ, thì đây sẽ là một hy vọng mới cho tương lai bản thân ta, cho Hội Thánh ta, cho quê hương Việt Nam ta, và cho tất cả nhân loại.

 

25/3-7: BÔNG HOA HÉ NỞ-Sr Marciana Chuẩn, CMR

Phúc Âm thánh Luca đề cập đến đoạn kinh thánh tuyệt vời về cuộc Truyền Tin: 25/3-7

Lk 1,26-38

Phúc Âm thánh Luca đề cập đến đoạn kinh thánh tuyệt vời về cuộc truyền tin, đó là mẫu gương sáng ngời về Đức Maria người nữ của niềmtin. Lời thiên sứ kính chào Mẹ đã trở thành lời kinh"Ave Maria" được dùng trong toàn thể Giáo Hội: "Kính Mừng Maria đầy ơn phúc, Đức Chúa Trời ở cùng Bà." Các nghệ sĩ, họa sĩ và các nhà nghệ thuật trong mọi thời đại đã cố gắng miêu tả Đức Maria trong trạng thái cầu nguyện, chính trong giây phút này đã làm thay đổi toàn thể lịch sử nhân loại. Mầu nhiệm Thiên Chúa Nhập Thể cho chúng ta cái nhìn trong bốn khía cạnh của mầu nhiệm.

Mầu nhiệm thứ nhất Thiên Chúa mong mỏi tha thiết để thông đạt chính mình cho thụ tạo của Người là chúng ta qua Người Con yêu dấu là Đức Kitô. Phúc âm thánh Gioan đã diễn tả tóm tắt lòng nhân hậu yêu thương nhân loại torng đoạn Kinh thánh như sau: "Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết nhưng được sống muôn đời."

Mầu nhiệm thứ hai là tình yêu vĩnh cửu vô biên Chúa Kitô không chỉ dâng lên Thiên Chúa Cha mà thôi mà còn cho mỗi cá nhân chúng ta. Tình yêu đó được thể hiện trong cuộc tự hiến của Ngài. Thánh Phaolô nói: "Ngài đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân phận nô lệ, trở nên giống phàm nhân." (P1 2,7). Chính Chúa Kitô cũng xác quyết với ta rằng: "Không có tình yêu nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình." (Ga 15,13) Vì thế, tình yêu đã thúc bách Ngài mau mắn thưa với Cha: ".. Này con đây, con xin đến để thi hành thánh ý Cha." (Dt 10,7) Chúa Kitô còn quả quyết với những người theo Ngài: "Lương thực của Thầy là thi hành ý muốn của Đấng đã sai Thầy, và hoàn tất công trình của Người." (Ga 4,34).

Mầu nhiệm thứ ba bao quanh biến cố truyền tin. Thánh Phaolô viết: "Khi thời gian tới hồi viên mãn, Thiên Chúa đã sai Con mình tới, sinh làm con một người nữ." (Gl 4,4). Người Nữ này có một chỗ thật "đặc biệt" trong chương trình của Thiên Chúa. "Chúa Thánh Thần sẽ xuống trên bà và quyền năng của Đấng Tối Cao sẽ bao phủ bà." (Lk 1.35) Maria đã cưu mang hòm bia giao ước trong dạ Mẹ. Mẹ chỉ đặt một câu hỏi duy nhất với Thiên Sứ: "Làm sao có thể xảy ra được?" (Lk 1, 34) hay "làm sao hòm bia giao ước của Thiên Chúa đến với tôi được?" (II Sam 6,9) hoặc làm sao tôi có thể thực hiện công trình vĩ đại siêu phàm đó được? Câu hỏi không phải của sự nghi ngờ tránh né, nhưng là làm sáng tỏ. Qua sự vâng phục khiên nhường của Mẹ: "Này tôi là nữ tì của Chúa, tôi xin vâng như lời Ngài truyền." (Lk 1,38) và "lời Chúa đã được thực hiện" (Lk 1,45). Sau này trong đời công khai Chúa Kitô khen tặng Mẹ "Mẹ Ta và anh em Ta là những người nghe lời Chúa và đem ra thi hành" (Lk 8,21). Maria trở nên hiện thân đích thực lời hứa của Thiên Chúa, Mẹ thụ thai cùng cưu mang lời hứa và lời hứa ấy sẽ được gọi là "Con Đấng Tối Cao" (Lk 1,35). Maria đã nên gương sáng cho các tín hữu trong lòng tin và sự phó thác tuyệt đối vào Thiên Chúa, mặc dù khó khắn và đắt giá trong một tương lai xa xăm mịt mờ. Niềm tin của Mẹ không mù quáng nhưng rất am tường thánh ý Chúa "con thích làm theo thánh ý và ấp ủ luật Chúa trong lòng." (Tv 40,9)

Mầu nhiệm thứ bốn bao quanh đời sống chúng ta. Trong cương vị của người môn đệ, Chúa Kitô sửa soạn cho chúng ta vào mầu nhiệm này: "Ai muốn theo Ta phải từ bỏ mình hằng ngày mà theo. Ai muốn cứu mạng sống mình, thì sẽ mất, còn ai liều mất mạng sống mình vì Ta, thì sẽ cứu được mạng sống ấy." (Lk 9,23-24) Chúa kêu gọi chúng ta phải từ bỏ và chết cho mình cách liên tục như: lòng yêu mình, ích kỷ, tham danh vọng... phải bỏ hết vì lòng yêu mến Cha trên Trời mà thánh Phaolô gọi là sự điên rồ của thập giá.

Giống như Me, đời sống người Kitô hữu phải luôn luôn là hành động đức tin trong mọi giây phút. Nhiều nghịch cảnh trong cuộc đời xẩy đến chúng ta không hiểu, như phải đối diện với những nỗi hoang mang sợ hãi như: hoàn cảnh bấp bênh không có tương lai, nỗi kinh hoàng nếu chiến tranh nguyên tử xẩy đến, sợ đói kém hạn hán đưa tới, sự đối xử bất công trong xã hội... thế giới thách thức chúng ta. Như Maria, chúng ta phải tin và phó thác vào tình yêu tuyệt đối Cha trên trời. Mẹ đã dâng lên Chúa lời xin vâng vô điều kiện, chính lời thưa này dẫn Mẹ tới sự thô sơ nghèo nàn của hang Bêlem, sự cô đơn lưu đầy sang Ai Cập, cái kiếp nghèo cùng khốn tại Nagiarét và một nỗi đau khổ tột độ trên đồi thánh Cavariô. Lòng tin tưởng và phó thác của Mẹ đã không suy giảm vì Mẹ yêu Chúa nhiều. Đừng sợ, Mẹ sẽ dẫn đưa chúng ta đến niềm hy vọng ngày mai, niềm hy vọng ấy không làm chúng ta thất vọng. Hãy dâng cho Chúa tất cả con người chúng ta. Chắc chắn rằng niềm tion và sự phó thác của Mẹ sẽ kiên vững lòng tin của ta. Mẹ là Mẹ chúng ta, Mẹ "sẽ không từ chối những ai chạy đến Mẹ xin bầu chữa cứu giúp."

Đây là thông điệp Mẹ nhắc cho mỗi người tín hữu: "HÃY LÀM TẤT CẢ NHỮNG GÌ NGÀI BẢO."

NS Trái Tim Đức Mẹ


 

25/3-8: MẦU NHIỆM VUI THỨ NHẤT - THIÊN THẦN TRUYỀN TIN

 CHO ĐỨC BÀ MA-RI-A - Đan Quang Tâm
 

Trong chương đầu Phúc Âm của mình, Thánh Lu-ca thuật lại biến cố Đức: 25/3-8

Trong chương đầu Phúc Âm của mình, Thánh Lu-ca thuật lại biến cố Đức Ma-ri-a được truyền tin về sứ mạng của mình: "Bà Ê-li-sa-bét có thai được sáu tháng, thì Thiên Chúa sai sứ thần Gáp-ri-en đến một thành miền Ga-li-lê, gọi là Na-da-rét, gặp một trinh nữ đã thành hôn với một người tên là Giu-se, thuộc dòng dõi vua Đa-vít. Trinh nữ ấy tên là Ma-ri-a" ( c. 26 - 27 ).

LỜI CHÀO CỦA THIÊN THẦN

"Sứ thần vào nhà trinh nữ và nói: "Mừng vui lên, hỡi Đấng đầy ân sủng, Đức Chúa ở cùng bà." Nghe lời ấy, bà rất bối rối, và tự hỏi lời chào như vậy có nghĩa gì" ( c. 28 - 29 ).

Ma-ri-a được sứ thần gọi bằng một tên mới. Đây là điều Chúa thường làm đối với những người Ngài gọi để lĩnh sứ mạng trọng yếu trong Chương Trình của Ngài ( x. St 17, 5.15; 32, 29; Mt 16, 18 ). Tên mới này của Ma-ri-a là "Đấng đầy ân sủng", điều này cho thấy Ma-ri-a đã được Thiên Chúa chọn để lĩnh sứ vụ trọng yếu và được ban ân sủng cần thiết để hoàn thành sứ vụ.

"Đức Chúa ở cùng bà" như vẳng lại lời chào của thiên thần cho Ghít-ôn khi ông được Chúa gọi trở thành vị thủ lãnh giải phóng dân Ít-ra-en khỏi ách thống trị của quân Ma-đi-an ( Tl 6, 11 - 18 ). Không chỉ là lời chào, "Đức Chúa ở cùng bà" còn là lời khẳng định một sự kiện có liên quan mật thiết đến mầu nhiệm Nhập Thể. Thánh Âu-tinh bình luận lời đó bằng cách đặt vào miệng thiên thần câu sau đây: "Ngài ở với bà còn nhiều hơn ở với tôi: Ngài ở trong tâm hồn bà, định hình và trở thành nhục thể trong người bà, Ngài tràn ngập linh hồn bà, Ngài ngự trong cung lòng bà" ( Sermo de Nativitate Domini, 4 ).

TIN MỪNG

Rồi thiên thần bèn nói cùng Ma-ri-a: "Thưa bà Ma-ri-a, xin đừng sợ, vì bà đẹp lòng Thiên Chúa. Và này đây bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai, và đặt tên là Giê-su. Người sẽ nên cao cả, và sẽ được gọi là Con Đấng Tối Cao. Đức Chúa là Thiên Chúa sẽ ban cho Người ngai vàng vua Đa-vít, tổ tiên Người. Người sẽ trị vì nhà Gia-cóp đến muôn đời, và triều đại của Người sẽ vô cùng vô tận" ( c. 30 - 33 ).

Tổng thiên thần Gáp-ri-en loan báo cho trinh nữ Ma-ri-a rằng trinh nữ sẽ trở nên Mẹ Thiên Chúa bằng cách lặp lại lời ngôn sứ I-sai-a loan báo từ xa xưa rằng Đấng Mê-si-a sẽ sinh bởi một người trinh nữ, lời tiên tri ấy nay được hoàn thành nơi Đức Ma-ri-a ( x. Mt. 1, 22 - 23; Is 7, 14 ). I-sai-a mô tả việc hoàn thành lời hứa ấy cho chúng ta thấy trong một đoạn văn có thể nói là diễm lệ nhất trong Kinh Thánh, mà chúng ta nghe đọc trong đêm Giáng Sinh:

"Dân đang lần bước giữa tối tăm đã thấy một ánh sáng huy hoàng; đám người sống trong vùng bóng tối, nay được ánh sáng bừng lên chiếu rọi. Chúa đã ban chứa chan niềm hoan hỷ, đã tăng thêm nỗi vui mừng. Họ mừng vui trước nhan Ngài như thiên hạ mừng vui trong mùa gặt, như người ta hỷ hoan khi chia nhau chiến lợi phẩm. Vì cái ách đè lên cổ dân, cây gậy đập xuống vai họ, và ngọn roi của kẻ hà hiếp, Ngài đều bẻ gãy như trong ngày chiến thắng quân Ma-đi-an. Vì mọi giầy lính nện xuống rần rần và mọi áo choàng đẫm máu sẽ bị đem thiêu, làm mồi cho lửa.
Vì một trẻ thơ đã chào đời để cứu ta, một người con đã được ban tặng cho ta. Người gánh vác quyền bính trên vai, danh hiệu của Người là Cố Vấn kỳ diệu, Thần Linh dũng mãnh, người Cha muôn thuở, Thủ Lãnh hoà bình. Người sẽ mở rộng quyền bính, và lập nền hoà bình vô tận cho ngai vàng và vương quốc của vua Đa-vít. Người sẽ làm cho vương quốc được kiên cố vững bền trên nền tảng chính trực công minh, từ nay cho đến mãi muôn đời. Vì yêu thương nồng nhiệt, Đức Chúa các đạo binh sẽ thực hiện điều đó" ( Is 9, 1 - 6 ).

Đức Giêsu tuyên bố Ngài hoàn thành lời hứa này khi Ngài ban cho các môn đệ sứ vụ lớn lao: "Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất. Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em. Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế" ( Mt 28, 18 - 20 ).

QUYỀN NĂNG CỦA THIÊN CHÚA

Bà Ma-ri-a thưa với sứ thần: "Việc ấy sẽ xảy ra cách nào, vì tôi không biết đến việc vợ chồng !" Sứ thần đáp: "Thánh Thần sẽ ngự xuống trên bà, và quyền năng Đấng Tối Cao sẽ rợp bóng trên bà, vì thế, Đấng Thánh sắp sinh ra sẽ được gọi là Con Thiên Chúa. Kìa bà Ê-li-sa-bét, người họ hàng với bà, tuy già rồi, mà cũng đang cưu mang một người con trai: bà ấy vẫn bị mang tiếng là hiếm hoi, mà nay đã có thai được sáu tháng. Vì đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được" ( c. 34 - 37 ).

Đối với Chúa thì không có gì mà không thể thực hiện được! Ngài tạo dựng trời đất và mọi cư dân ( St 1 ). Ngài có thể đem sự sống vào trong cung lòng người nữ đã có tuổi, có tiếng là son sẻ và cũng có thể gieo sự sống vào trong một cung lòng trinh trong. Ngài có thể hóa nước thành rượu ( Ga 2, 1 - 11 ). Ngài có thể lấy phần ăn của một em nhỏ mà nuôi những cả một đám đông quần chúng ( Mt 14, 15 - 21; 15, 32 - 39; Mc 6, 34 - 44; 8, 1 - 10; Lc 9, 10 - 17; Ga 6, 1 - 15 ). Ngài có thể chữa kẻ què đi được, người mù được sáng mắt. Ngài có thể biến đổi bánh và rượu trở thành mình và máu Ngài ( Mt 16,16 - 28; Mc 14, 22 - 23; Lc 22, 17 - 20 ) nhằm cung cấp cho chúng ta của ăn đem lại sự sống đời đời ( Ga 6, 35.48 - 58 ).

TIẾNG XIN VÂNG CỦA MA-RI-A

"Bấy giờ bà Ma-ri-a nói: "Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói." Rồi sứ thần từ biệt ra đi" ( c. 38 ).

Bình luận về các câu trên, Đức Gio-an Phao-lô II nói:

"Virgo fidelis, đức nữ trung tín thật thà. Đức trung tín của Ma-ri-a nghĩa là gì ? Trung tín bao gồm các chiều kích gì ? Chiều kích thứ nhất gọi là tìm kiếm. Trước hết, Ma-ri-a tỏ ra trung tín khi ngài bắt đầu tìm kiếm ý nghĩa sâu xa của chương trình Thiên Chúa nơi mình và cho thế giới. Quomodo fiet ? Sự việc xảy ra như thế nào ? Ngài hỏi Sứ Thần Truyền Tin ( ... ).

Chiều kích thứ hai của trung tín gọi là tiếp nhận, chấp nhận. Lời Quomodo fiet ? trên môi Ma-ri-a chuyển thành một lời fiat: Xin cứ làm cho tôi như lời sứ thần truyền, tôi sẵn sàng, tôi chấp nhận. Đây là giờ phút hệ trọng của đức trung tín, giờ phút mà con người cảm thấy mình sẽ không bao giờ hiểu thấu được từ "như thế nào"; trong kế hoạch của Thiên Chúa có các khu vực mang tính nhiệm mầu nhiều hơn là tính sáng sủa, rõ ràng; cho dù có ra sức phấn đấu đến đâu chăng nữa thì cũng chẳng tài nào lĩnh hội đầy đủ sự việc ( ... )

Chiều kích thứ ba của đức trung tín là sự kiên định, kiên trì sống theo những điều mình tin tưởng, sẵn sàng điều chỉnh cuộc đời mình cho phù hợp với mục tiêu mình theo đuổi. Sẵn sàng chấp nhận bị hiểu lầm, bắt bớ còn hơn ngôn hành bất nhất, tin một đàng mà làm thì một nẻo; điều này gọi là tính kiên định ( ... )

Tuy nhiên, mọi sự trung tín đều phải trải qua cuộc thử nghiệm khốc liệt nhất: sự thử thách của thời gian. Do đó, chiều kích thứ tư là tính thuỷ chung như nhất. Kiên trì ngày một ngày hai thì dễ. Kiên trì trong suốt cuộc đời thì khó và đây mới là điều quan trọng. Kiên trì đang khi hào hứng, hồ hởi phấn khởi thì dễ, còn vẫn giữ được sự kiên trì trong cơn thử thách khốn quẫn mới khó. Và chỉ có sự kiên trì kéo dài cho đến suốt đời mới là tín trung. Lời thưa 'fiat' xin vâng của Đức Ma-ri-a trong buổi Truyền Tin trở nên viên mãn trong tiếng 'fiat' xin vâng âm thầm mà Mẹ lập lại dưới chân Thập Giá" ( Đức Gio-an Phao-lô II, Bài giảng tại Vương Cung Thánh Đường Mexico City, 26 tháng 1 năm 1979 ).

KẾT LUẬN

Chúng ta vừa cung chiêm Đức Ma-ri-a tràn đầy thánh thiện, có một không hai ngay từ lúc mới được thụ thai, Đức Trinh Nữ thành Na-da-rét được Thiên Thần vâng lệnh Thiên Chúa đến truyền tin và kính chào là "Đấng đầy ân phúc" ( x. Lc 1, 28 ). Và Trinh Nữ đã đáp lời sứ thần rằng: "Này tôi là Tôi Tá Chúa, xin hãy xảy ra cho tôi theo lời ngài" ( Lc 1, 38 ). Như thế, Đức Ma-ri-a, con cháu A-đam, vì chấp nhận lời cứu độ của Thiên Chúa, đã trở nên mẹ Chúa Giêsu. Hết lòng đón lấy ý định cứu rỗi của Thiên Chúa, vì không một tội nào ngăn trở ngài.

Đức Ma-ri-a đã tận hiến làm tôi tớ Chúa, phục vụ cho thân thế và sự nghiệp của Con ngài, và nhờ ân sủng của Thiên Chúa toàn năng, phục vụ mầu nhiệm cứu chuộc dưới quyền và cùng với Con ngài. Bởi vậy, các Thánh Giáo Phụ đã nghĩ rất đúng rằng: Thiên Chúa đã không thu dụng Đức Ma-ri-a một cách thụ động, nhưng đã để ngài tự do cộng tác vào việc cứu rỗi nhân loại, nhờ lòng tin và sự vâng phục của ngài.

Thực vậy, Thánh I-ren-nê nói: "Chính ngài, nhờ vâng phục, đã trở nên nguyên nhân cứu rỗi cho mình và cho toàn thể nhân loại". Và cùng với Thánh I-ren-nê còn có rất nhiều Thánh Giáo Phụ thời xưa cũng không ngần ngại giảng dạy rằng: "Nút dây đã bị thắt lại do sự bất tuân của E-và, nay được gỡ ra nhờ sự vâng phục của Đức Ma-ri-a; điều mà E-và đã buộc lại bởi cứng lòng tin, Đức Ma-ri-a đã tháo ra nhờ lòng tin; và so sánh với E-và, các ngài gọi Đức Ma-ri-a là "Mẹ kẻ sống", và thường quả quyết rằng: "Bởi E-và đã có sự chết, thì nhờ Ma-ri-a lại được sống" ( Vatican II, Lumen gentium, 56 ).

Truyền Tin cho Đức Ma-ri-a và Nhập Thể của Ngôi Lời là mầu nhiệm thâm sâu nhất về mối quan hệ giữa Thiên Chúa và loài người và là biến cố quan trọng nhất trong lịch sử nhân loại: Thiên Chúa làm người và ở cùng chúng ta mãi mãi. Ấy vậy mà khi Ngôi Hai Thiên Chúa xuống làm người, nhập thể trong cung lòng tinh khiết của Đức Trinh Nữ Ma-ri-a, thì biến cố lẽ ra phải long trời lở đất lại diễn ra trong âm thầm, không kèn không trống.

Ta thấy rằng Thánh Lu-ca đã thuật câu truyện trên bằng một ngôn ngữ hết sức bình dị. Thái độ của ta trước đoạn Lời Chúa là hãy trân trọng và năng sử dụng những lời Phúc Âm này, chẳng hạn như ta có thể thực hành tập quán Ki-tô giáo đọc kinh Truyền Tin mỗi ngày và suy niệm năm mầu nhiệm vui của Kinh Mai Khôi.
----------------------
Viết theo:
1. A Scriptural Reflection on the Rosary: the First Joyful Mystery, Maryann Marshall, www.petersnet.net
2. The Navarre Bible St Luke, Nhà Xuất Bản Four Courts Press, Kill Lane, Blackrock, Co. Dublin, Ireland, 1997.


 

25/3-9: XIN VÂNG

Jean Guitton, một triết gia công giáo nổi tiếng và đạo đức, đã viết trong cuốn: 25/3-9

Jean Guitton, một triết gia công giáo nổi tiếng và đạo đức, đã viết trong cuốn “la Vierge Marie”, Đức Trinh nữ Maria, về hoạt cảnh truyền tin, một cách vừa thâm trầm lại vừa ý vị, ngày đó Con Thiên Chúa đã mặc lấy thân phận con người nơi cung lòng Đức Trinh nữ Maria. Tôi chỉ xin trích dẫn một vài đoạn nho nhỏ mà thôi.
Như chúng ta đã biết : trước lời chào kính của sứ thần Gabriel. Mẹ Maria đã thực sự bối rối bởi vì Mẹ đã khấn giữ mình đồng trinh. Nhưng rồi sứ thần đã tỏ lộ cho Mẹ biết ý định tuyệt vời của Thiên Chúa.
Và Jean Guitton đã diễn tả :
Mặc dù Phúc Âm không ghi lại, nhưng trong lúc đó, hẳn Mẹ đã thinh lặng. Giây phút thinh lặng ấy hẳn không lâu nhưng lại rất cần thiết. Giây phút của băn khoăn và suy nghĩ. Có lẽ dưới đất và ngay cả trên trời chưa bao giờ có được một giây phút quan trọng đến thế. Đây không phải là giây phút phân vân do dự, nhưng là giây phút tự do và chọn lựa. Giây phút của lời xin vâng.
Từ đời đời, Ba Ngôi Thiên Chúa đã mong chờ lời xin vâng ấy. Với lời xin vâng ấy, chiếc vòm của tòa nhà đã được hoàn tất. Bởi vì tất cả đều lệ thuộc vào giây phút trọng đại này.
Thiên Chúa chờ đợi để thực hiện chương trình cứu độ. Nhân loại chờ đợi để được giải thoát. Với lời xin vâng này, Ba Ngôi Thiên Chúa bắt đầu hoạt động. Chúa Cha biểu lộ quyền năng qua cuộc sáng tạo. Chúa Con được sinh ra trong thời gian và Chúa Thánh Thần tác động để Chúa Con được mặc lấy thân phận con người.
Lời xin vâng này chỉ diễn ra trong giây lát nhưng lại có giá trị đến muôn ngàn đời.
Đối với Thiên Chúa, nếu cần có một lời thì lời đó chưa được nói ra. Nếu cần có một giới luật thì giới luật đó chưa được công bố. Nếu cần có một hành động yêu thương, thì hành động đó chưa được thực hiện.
Còn về phía con người, thì chỉ có mình Mẹ Maria. Chúng ta không được biết đích xác những gì đã xảy ra trong tâm hồn Mẹ lúc bấy giờ, nhưng chắc chắn là Mẹ đã suy nghĩ nhiều lắm. Trước mặt Mẹ là hai ngành cây liên kết, không thể chia cắt, không thể phân ly. Một bên là niềm vui mừng và vinh dự. Còn một bên là đau khổ, và âu lo. Một khi đã chấp nhận vinh dự thì cũng phải chấp nhận bổn phận. Một khi đã chấp nhận vinh quang thì cũng phải chấp nhận gánh nặng.
Mẹ cảm thấy như mình được chọn bởi Đấng sẽ trở nên Con của mình. Đó là điều khác biệt giữa Đức Maria với những người mẹ trần gian. Và thời gian dường như ngừng đọng.
Với lời xin vâng, Mẹ nhận thấy hôm nay là vui mừng nhưng ngày mai sẽ là đau khổ. Với lời xin vâng Mẹ chấp nhận để cho thánh ý Thiên Chúa được thực hiện.
Sứ thần Gabriel rời bỏ căn nhà tại Nagiarét. Mọi sự trở về tình trạng như thường ngày. Cánh đồng cỏ vẫn mọc xanh và trên trời những cụm mây vẫn lững lờ bay. Thánh Giuse có lẽ đã đến viếng thăm Đức Maria, nhưng thánh nhân đâu có biết được biến cố trọng đại đã xảy ra giữ Thiên Chúa và con người.
Giờ đây ở trên trời, là Nữ vương trời đất, nhưng Mẹ vẫn không xa lìa chúng ta. Trái lại, bằng một tình thương bao la, Mẹ luôn bênh vực và cầu bầu cho chúng ta.
Bởi đó chúng ta hãy tin tưởng và chạy đến với Mẹ để xin Mẹ  nâng đỡ phù trợ. Bởi vì với quyền năng của một vị Nữ vương, Mẹ có thể thực hiện được những điều chúng ta van xin. Đồng thời với tình thương của một người me, Mẹ luôn sẵn sáng ra tay nâng đỡ.

 

25/3-10: LỄ TRUYỀN TIN

Kể từ khi cửa thiên đàng đóng lại do lỗi phạm của Adong Evà, con người khổ: 25/3-10

Kể từ khi cửa thiên đàng đóng lại do lỗi phạm của Adong Evà, con người khổ đau luôn ngước mắt nhìn lên trời. Rồi qua dòng thời gian, hàng ngàn năm về trước, dân Do thái, từ thế hệ này qua thế hệ khác, luôn mong đợi Thiên Chúa thực hiện lời đã phán hứa. Tận chốn trời cao, Thiên Chúa cũng trông chờ, bởi vì Ngài là Đấng trung thành, Ngài đã đặt niềm hy vọng của Ngài cũng như của chúng ta vào một trái tim bé nhỏ. Ngài đã âm thầm gìn giữ và trang điểm cho trái tim nhỏ bé ấy. Đó là trái tim của Maria, một thiếu nữ xứ Galilêa. Hàng ngày, nàng vẫn cầu nguyện, xin Thiên Chúa nhìn đến những nỗi thống khổ của con người. Rồi khi thời gian viên mãn, cuộc gặp gỡ giữa Thiên Chúa và nhân loại được thực hiện. Nhờ Maria mà nhân loại được tiến đến cùng Thiên Chúa và sẵn sàng đón nhận tình thương của Ngài. Câu chuyện được xảy ra dưới mái nhà Nagiareth. Sứ thần Gabriel được sai đến, có nhiệm vụ trình bày ý định tuyệt vời của Thiên Chúa cho Maria. Bởi vì Ngài luôn tôn trọng sự tự do của con người. Ngày xưa ma quỷ đã mong đợi sự đồng ý của Evà để đẩy con người vào vòng sự chết, thì hôm nay, Thiên Chúa và nhân loại đang trông chờ lời “Xin Vâng” của Maria để khởi đầu cho chương trình cứu độ. Tất cả đều lệ thuộc vào Maria, qua những lời Mẹ sẽ nói và qua những việc Mẹ sẽ làm. Vì thế, thánh Bernađô đã phải kêu lên : “Câu trả lời của Mẹ sẽ là ơn cứu độ của chúng con. Xin Mẹ hãy nói, hãy nói mau lên, bởi vì Adong và các vị tổ phụ, còn ngồi trong bóng tối sự chết đang kêu cầu Mẹ. Cả chúng con nữa, cũng đang quỳ gối nài van Mẹ”. Và sau cùng Mẹ đã trả lời... Một câu trả lời vừa đơn sơ, vừa ngắn gọn, vừa khiêm nhường lại vừa cương quyết : “Này tôi là tôi tá Chúa, tôi xin vâng như lời sứ thần truyền”. Mẹ đã nối kết ý riêng của mình vào với Thánh ý của Thiên Chúa. Với một đức tin tuyệt đối, không điều kiện, không so đo tính toán, Mẹ đã chấp nhận cộng tác với Thiên Chúa trong công cuộc cứu độ trần gian. Kể từ giây phút đó, tình yêu của Thiên Chúa bắt đầu thực hiện những việc kỳ diệu.
Thực vậy, lời Xin Vâng của Mẹ đã làm cho Con Thiên Chúa trở nên con của Mẹ và Ngôi Lời đã làm người và ở giữa chúng ta. Lời Xin Vâng của Mẹ là sự đáp trả sự từ khước Thánh ý Thiên Chúa của Adong Evà ngày xưa. Lời Xin Vâng của Mẹ chấm dứt vai trò của Cựu Ước và mở ra một giai đoạn mới, giai đoạn của Tân Ước. Lời Xin Vâng của Mẹ là tiếng nói đầy thảo hiếu của một người con. Chương trình cứu độ chỉ có thể được thực hiện với hai tình yêu : tình yêu của Thiên Chúa và tình yêu của nhân loại. Thiên Chúa trao ban Con Một của Ngài, còn nhân loại thì mở rộng cõi lòng để đón nhận Người Con ấy. Ngày xưa ma quỷ đã dùng phương tiện nào thì hôm nay Thiên Chúa cũng dùng phương tiện ấy. Đúng thế, ngày xưa ma quỷ đã dùng một người phụ nữ để làm cho nhân loại bị hư đi thì hôm nay Thiên Chúa cũng dùng một người phụ nữ để lật ngược thế cờ, mà làm cho nhân loại trở nên tốt lành. Ngày xưa Evà đã làm cho nhân loại phải chết thì hôm nay Maria sẽ làm cho nhân loại được sống. Ngày xưa Evà đã kiêu căng thì hôm nay Maria đã khiêm nhường. Ngày xưa Evà đã tin vào lời dụ dỗ của ma quỷ thì hôm nay Maria tin vào lời của sứ thần Thiên Chúa. Đó là những sự tương phản giữa cũ và mới, giữa ngày xưa và hôm nay, giữa Evà và Maria, để rồi chúng ta có thể nói lên như thánh Phaolô : “Ngày xưa bởi một người mà nhân loại phải chết thì hôm nay cũng bởi một người mà nhân loại được sống”.
Có một người mẹ đã hỏi đứa con nhỏ của mình như sau : Theo ý con, thì câu nào trong Kinh thánh đã làm cho con thích thú hơn cả. Đứa bé mở cuốn Kinh thánh và tình cờ lật phải ngay trang trình bày về khung cảnh Truyền tin. Với một ánh mắt long lanh, đứa bé đã nói với Mẹ : Thưa Mẹ, hai chữ Xin Vâng của Đức Maria là hai chữ đã làm cho con thích thú hơn cả. Đúng thế, không gì đẹp cho bằng hai chữ Xin Vâng trên cặp môi của Maria cho chương trình cứu độ được thực hiện. Đồng thời, cũng không gì đẹp cho bằng hai chữ Xin Vâng trên cặp môi của mỗi người chúng ta cho Thánh ý Thiên Chúa được chu toàn. Thánh ý ấy được biểu lộ qua tiếng nói lương tâm, qua mười điều răn, qua Tin mừng Phúc âm cũng như qua những lời giáo huấn của Hội thánh. Chẳng hạn, Chúa bảo chúng ta hãy thờ phượng và kính mến Ngài trên hết mọi sự, chúng ta sẽ thưa lên hai tiếng Xin Vâng, để rồi không một ngày nào qua đi mà không cầu nguyện và sống gắn bó mật thiết với Ngài. Như Mẹ Maria, chúng ta hãy thưa lên hai tiếng Xin Vâng và cố gắng thực hiện lời Xin Vâng ấy trong cuộc sống của chúng ta.

 

25/3-11: SUY NIỆM NĂM SỰ VUI

Mẹ thân yêu của con, con rất yêu thích đọc kinh Mai Khôi mà Mẹ đã dạy: 25/3-11

Mẹ thân yêu của con, con rất yêu thích đọc kinh Mai Khôi mà Mẹ đã dạy và hằng luôn nhắc nhở chúng con siêng năng nguyện gẫm. Nhưng Mẹ ơi, xưa nay con chỉ có quen đọc thôi, chứ không nhớ hoặc đôi khi không biết suy gẫm các mầu nhiệm Mai Khôi như thế nào. Thật là thiếu sót khi chỉ đọc mà không suy gẫm các mầu nhiệm, phải không Mẹ ? Hôm nay, con viết thư này cho Mẹ để xin Mẹ giúp con suy niệm các mầu nhiệm cho sốt sắng hơn, hầu thêm lòng mến yêu Mẹ và kính yêu Chúa nhiều hơn. Xin Mẹ giúp con. Con xin viết ra đây Năm Sự Vui để xin Mẹ dạy dỗ con thêm.
Thứ nhất thì ngắm: Thiên Thần truyền tin cho Đức Bà chịu thai, ta hãy xin cho được ở khiêm nhượng.
“Kính mừng Ma-ri-a đầy ơn phúc...” Khi lặp đi lặp lại lời kinh này, con muốn cùng với Thiên Thần Gáp-ri-en xưa kia kính mừng Mẹ “đầy ơn phúc” vì Thiên Chúa ở cùng Mẹ. Hơn nữa, Mẹ thật sự “có phúc hơn mọi người phụ nữ” khi được Chúa chọn làm Mẹ của Ngôi Hai Thiên Chúa. Mặc dù vậy, Mẹ đã hết sức khiêm tốn khi nói lên lời “Xin vâng” theo Thánh ý Chúa. Con cầu xin Mẹ giúp con sống đơn sơ khiêm nhượng, không được như Mẹ hoàn toàn, nhưng ít ra cũng giống như Mẹ một phần nào đó.
“Thánh Ma-ri-a Đức Mẹ Chúa Trời...”. Sau khi nghe Thiên Thần báo tin như vậy, thì Thánh Thần Chúa đã ngự xuống trong Mẹ tràn đầy, và bấy giờ Mẹ đã bắt đầu là Mẹ của Thiên Chúa Ngôi Hai. Vậy con xin Mẹ thương cầu cho chúng con là những kẻ tội lỗi “khi nay và trong giờ lâm tử” để chúng con luôn xứng đáng là con cái Chúa.
Thứ hai thì ngắm: Đức Bà đi viếng Bà Thánh Ê-li-sa-bét, ta hãy xin cho được lòng yêu người.
“Kính mừng Ma-ri-a đầy ơn phúc...” Con nhớ lại khi xưa Mẹ đã không quản đường xa khó nhọc để đi thăm Thánh Ê-li-sa-bét, người chị họ của mình. Lúc đó, Chúa Giê-su đã ở trong lòng Mẹ, nên con thật sự vui mừng khi kính chào Mẹ “đầy ơn phúc Đức Chúa Trời ở cùng Mẹ”. Và khi đọc “...Bà có phúc lạ hơn mọi người nữ và Giê-su con lòng Bà gồm phúc lạ”, con cũng không quên những lời của Thánh Nữ Ê-li-sa-bét đã nói với Mẹ khi Mẹ vừa bước vào nhà. Vì tình chị em, Mẹ đã tận tình giúp đỡ chị mình. Con xin Mẹ giúp con sống bác ái và yêu thương tha nhân, luôn biết xả kỷ giúp đỡ mọi người vì tình yêu.
“Thánh Ma-ri-a Đức Mẹ Chúa Trời...” Xin Mẹ cầu cho con là kẻ có tội, đặc biệt là các lỗi về đức bác ái. Nhiều khi con đã ích kỷ, chỉ bo bo suy tính cho mình mà không biết nghĩ cho người khác. Lại có lúc con thờ ơ không giúp đỡ người đang cần sự giúp đỡ của con. Xin Mẹ cầu cho chúng con !
Thứ ba thì ngắm: Đức Bà sinh Đức Chúa Giê-su nơi hang đá, ta hãy xin cho được lòng khó khăn.
“Kính mừng Ma-ri-a đầy ơn phúc...” Một đêm đông lạnh giá, trong một hang đá ở Bê-lem, Mẹ đã hạ sinh Chúa Giê-su. Hòa cùng niềm vui của Mẹ, và cùng với các Thiên Thần và các Thánh, con xin “kính mừng Ma-ri-a đầy ơn phúc…”. Và chính lúc này, Mẹ là người có phúc hơn hết tất cả các người phụ nữ trên trần gian: Mẹ là người đầu tiên nhìn thấy Đức Ki-tô con của Mẹ, Đấng Cứu Độ của loài người.
“Thánh Ma-ri-a Đức Mẹ Chúa Trời...” Bên máng cỏ, nơi Hài Nhi Giê-su đang say giấc ngủ, xin Mẹ cầu cho chúng con là những kẻ tội lỗi. Vì tội lỗi chúng con, Chúa đã xuống thế làm người, một con người nghèo khó. Xin Mẹ giúp chúng con sống tinh thần nghèo khó như Chúa đã dạy, xin giúp chúng con sống thanh đạm để ngày càng trở nên giống Chúa nhiều hơn.
Thứ bốn thì ngắm: Đức Bà dâng Đức Chúa Giê-su vào Đền Thánh, ta hãy xin cho được vâng lời chịu lụy.
“Kính mừng Ma-ri-a đầy ơn phúc...” Với Chúa Giê-su Hài Đồng ẵm trên tay, Mẹ thật sự đầy ơn phúc vì chính Đức Chúa Trời đang ở cùng Mẹ. Mẹ đã vâng theo ý Chúa, thể hiện qua việc tuân theo Luật Chúa dâng con vào Đền Thờ. Con còn nhớ lời tiên báo của Thánh Si-mê-on nói với Mẹ. Chắc lúc ấy, Mẹ cũng đã suy nghĩ, nhưng không nói ra mà chỉ suy gẫm trong lòng. Có thể Mẹ chưa thấy được những viễn cảnh mà Chúa Giê-su sẽ gặp phải sau này, nhưng chỉ nguyện trong lòng một điều là xin vâng theo thánh ý Chúa. Xin Mẹ giúp con luôn biết nói “Vâng” với Chúa, ngõ hầu mọi thánh ý của Ngài được thực hiện toàn vẹn nơi con.
“Thánh Ma-ri-a Đức Mẹ Chúa Trời...” Xin Mẹ cầu cho chúng con là những kẻ đã nhiều lần phạm tội bất phục tùng, không nghe theo tiếng Chúa mời gọi trong tâm hồn, không sống theo những gì Ngài đã dạy. Mẹ biết con yếu đuối, nên xin Mẹ, hãy giúp con dám can đảm sống “xin vâng” như Mẹ. Con không dám xin Chúa đừng gửi đến cho con những thử thách khó khăn, vì chính những thử thách mới giúp linh hồn con được tôi luyện, nhưng con chỉ xin Chúa, nhờ lời cầu bầu của Mẹ, ban cho con được thêm nhiều ơn thánh để con đủ nghị lực vượt qua mọi thử thách ấy và sống trung thành mến yếu Chúa suốt đời con.
Thứ năm thì ngắm: Đức Bà tìm được Đức Chúa Giê-su trong Đền Thánh, ta hãy xin cho được giữ nghĩa cùng Chúa luôn.
“Kính mừng Ma-ri-a đầy ơn phúc...” Với mầu nhiệm này, con hân hoan kính mừng Mẹ vì Mẹ được Thiên Chúa ( cậu bé Giê-su của Mẹ ) ở cùng đã tròn 12 năm. Một lần, Mẹ đã để lạc mất Chúa Giê-su, Mẹ đã hết sức lo lắng đi tìm. Và khi tìm lại được Chúa rồi, Mẹ vui mừng xiết bao. Cùng mừng với Mẹ, con xin dâng lên những lời kinh Kính Mừng này.
“Thánh Ma-ri-a Đức Mẹ Chúa Trời...” Xin Mẹ cầu cho chúng con là những tội nhân, là những kẻ lắm lúc lầm đường lạc lối. Mẹ ơi, xin Mẹ giúp con đừng để con lạc mất Chúa bất kỳ giây phút nào trong cuộc đời đầy thử thách cám dỗ này.
Con xin tạm dừng tại đây, hẹn gặp lại Mẹ thư sau, con sẽ xin Mẹ chỉ dạy con suy niệm Năm Sự Thương Khó của Chúa Giê-su. Nhân Lễ Truyền Tin, con chúc mừng Mẹ vì ân sủng làm Mẹ Thiên Chúa mà Mẹ đã lãnh nhận; và cùng với Mẹ, con xin dâng lên Chúa tâm tình thành kính tạ ơn vì Chúa đã thương ban cho Mẹ ân sủng trọng đại này. Con của Mẹ.
Lm. Don Bosco TRẦN ĐỨC QUÝ

 

25/3-12: CÂU TRUYỆN: NÊN TIN NGƯỜI SỐNG

Có hai thanh niên da đen làm nô lệ cho một ông chủ Hồi giáo ở Bắc/Chuyện: 25/3-12

Có hai thanh niên da đen làm nô lệ cho một ông chủ Hồi giáo ở Bắc Phi. Ông thường hay dạy hai đứa phải tin lời tiên tri Mahomed. Ông cũng kể cho hai đầy tớ biết thi hài của Mahomed hiện đang được lưu giữ trong một chiếc hòm ở thành Medine bên xứ Ả-rập.
Một ngày kia, hai đứa trẻ nghe một nhà truyền giáo nói về sự chết và sự sống lại của Đức Giê-su. Đêm hôm đó, hai thiếu niên bàn với nhau: “Anh nghĩ sao, ông chủ chúng ta nói Mahomed đã chết và xác vị tiên tri này đang được giữ trong một chiếc hòm. Còn vị giáo sĩ da trắng lại dạy chúng ta rằng: Đức Chúa Giê-su là Con Thiên Chúa, Ngài đến trần gian chịu chết cho chúng ta và đã sống lại, hiện đang sống ngự bên hữu Chúa Cha trên trời, như vậy biết tin bên nào ?”
Đứa bé kia trả lời: “Tôi nghĩ, chúng mình nên tin vào người đang sống hơn là tin vào một kẻ chết.”
Trích NỐI LỬA CHO ĐỜI tập 8

 

25/3-13: LỊCH SỬ

Lễ Truyền tin : Lc 1,26-38
* lịch sử
 

Lịch Phụng Vụ Rô-ma lấy lại danh xưng “lễ Truyền Tin” để gọi lễ Ngôi Lời Nhập Thể, vì có: 25/3-13

Lịch Phụng Vụ Rô-ma lấy lại danh xưng “lễ Truyền Tin” để gọi lễ Ngôi Lời Nhập Thể, vì có lý do chính đáng, nhưng trước sau vẫn là lễ chung của Đức Kitô và Đức Trinh Nữ : Lễ của Ngôi Lời làm “con đức Trinh Nữ” và lễ Đức Trinh Nữ là “Mẹ Thiên Chúa”.
Về phía Đức Kitô, phụng vụ phong phú vô tận của cả Đông Phương lẫn Tây Phương đều ca tụng lễ trọng này như là lễ tưởng niệm tiếng FIAT có giá trị cứu rỗi của Ngôi Lời nhập Thể, đã vào trong trần gian với lời này : “Lạy Chúa, này con đến để thi hành ý Chúa” ; đồng thời cũng là để tưởng niệm bước đầu của công chuộc cứu chuộc và hiệp nhất mật thiết, bất khả phân ly giữa thiên tính và thiên tính trong ngôi vị độc nhất của Ngôi Lời.
Về phía Đức Maria, lễ này được coi là lễ của E-Va mới, người trinh nữ vâng phục và trung tín, đã nhờ tiếng Fiat đại độ của mình và nhờ phép Chúa Thánh Thần, trở nên Mẹ Thiên Chúa và cũng là mẹ thật của loài người ; đồng thời cũng là Hòm Bia Giao Ước đích thực và Đền Thờ đích thực của Thiên Chúa vì đã tiếp đón Đấng Trung Gian độc nhất trong cung lòng mình. Vì vậy, đây là lễ tưởng niệm giây phút tột đỉnh trong cuộc đối thoại cứu rỗi Giữa Thiên Chúa và loài người ; cũng là dịp kính nhớ sự ưng thuận tự do và sự hợp tác của Đức Maria đối với chương trình cứu chuộc của Thiên Chúa.
Chín tháng trước ngày lễ Sinh Nhật, Hội Thánh Mừng lễ Truyền Tin, ngày mà sứ thần đến với Đức Trinh Nữ Maria báo cho biết, Trinh Nữ đã được chọn để làm Mẹ Đấng Mê-si-a, Con Thiên Chúa.
Đức Maria đại diện cho dân tộc mình, cũng như đại diện cho nhân loại, đã trả lời bằng tiếng “Thưa vâng”. Chức “Thiên Mẫu” là mầu nhiệm trọng tâm trong cuộc đời của Đức Maria : tất cả mọi mầu nhiệm và ân sủng khác đều bắt nguồn từ đấy và cũng hướng vào đấy.
Lễ “Công bố ngày sinh của Chúa” đã được mừng kính ở Giáo Hội Đông Phương từ khoảng năm 550 vào ngày 25.3. Giáo Hội la-tinh mãi cho đến thế kỷ thứ VII mới chấp nhận thánh lễ này (Lm Nguyễn văn Trinh, Phụng vụ chư thánh)
A. Hạt giống...
Vai chính trong tường thuật này là Đức Maria, được Thánh Luca mô tả với những nét như sau :
- một thiếu nữ bề ngoài bình thường như mọi thiếu nữ khác (câu 27)
- nhưng đặc biệt hơn mọi thiếu nữ vì “đầy ơn sủng” và được “Đức Chúa ở cùng” (câu 28)
- được Thiên Chúa chọn làm mẹ Đấng Messia Con Thiên Chúa (cc 30-33)
- dù không hiểu rõ (câu 34), Maria cũng sẵn sàng cho Chúa dùng mình để làm công việc của Chúa (câu 38 : Fiat = “Xin Chúa cứ làm nơi tôi...”).
B.... nẩy mầm.
1. Đức Maria hỏi “Việc ấy xảy ra cách nào được, vì...”. Thiên sứ đáp “Đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được” (câu 37). Rất nhiều điều con người tưởng không thể nào làm được thế mà Thiên Chúa vẫn làm được : Ngài đã làm cho Êlisabét son sẻ được có con, đã làm cho Đức Maria đồng trinh sinh ra Đấng Cứu Thế. Thiên Chúa cũng có thể làm nơi mỗi người chúng ta những việc trọng đại, miễn là chúng ta sẵn sàng để Ngài hoạt động trong chúng ta.
2. Mặc dù “Đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được”, nhưng thường Thiên Chúa không làm một mình, Ngài thích có sự hợp tác của con người. Để cho Đấng Cứu Thế nhập thể, Thiên Chúa đã nhờ Đức Maria hợp tác. Và Đức Maria đã hợp tác bằng cách ngoan ngoãn để cho ơn Chúa hành động trong mình và qua mình : “Xin cứ làm cho tôi...”.
3. Một thanh niên kia có thói quen ngủ rất say, luôn cần có mẹ gọi mới thức dậy được. Sau khi tốt nghiệp, anh đi làm ở một chỗ xa nhà. Mẹ anh mua cho anh một chiếc đồng hồ báo thức. Ngày đầu tiên anh quên vặn đồng hồ trước khi ngủ nên đến sở làm trễ. Ngày thứ hai, anh nhớ vặn đồng hồ, nhưng sáng sớm khi nó reo thì anh đưa tay tắt bỏ, nên lại đi làm trễ. Và anh bị đuổi việc. Khi anh trở về gia đình, mẹ anh hỏi về chiếc đồng hồ. Anh đáp :
- Chiếc đồng hồ đó hoàn toàn vô dụng đối với con.
- Nó vô dụng là vì con không chịu dùng nó. Mẹ anh đáp.
Bao nhiêu ơn Chúa ban cho ta cũng đều vô dụng nếu ta không xử dụng đến. (Góp nhặt)
4. “Sứ thần vào nhà Trinh nữ và nói : Mừng vui lên hỡi đấng đầy ân sủng. Đức Chúa ở cùng Bà. Nghe lời chào ấy, Bà rất bối rối và tự hỏi lời chào như vậy có nghĩa gì” (Lc 1,28-29)
Đứng trước một biến cố trọng đại, bất ngờ, Mẹ đã bối rối. Sự bối rối ấy không đến từ sự hoang mang nghi ngờ như trường hợp ông Dacaria, nhưng đến từ sự băn khoăn muốn tìm hiểu thánh ý Thiên Chúa.
Phần tôi, đứng trước những khó khăn xảy đến trong cuộc sống thì hầu như chỉ biết than vãn, kêu trách Chúa mà không thử tìm xem Chúa muốn nói gì với tôi qua những biến cố ấy. Chúa vẫn đi ngang qua đời tôi nhưng tôi đã không gặp được Ngài. Chúa đứng ngoài và gõ cửa nhà tôi nhưng tôi đã không nghe được tiếng Ngài. Lòng tôi vẫn khép kín.
Lạy Chúa. Xin cho con biết lắng nghe tiếng Chúa trong từng biến cố của cuộc sống, và biết xin vâng như Mẹ. (Epphata)
5. Mầm khác :

 

25/3-14: Lễ Mẹ Truyền Tin

Lễ Mẹ Truyền Tin.
“Mừng vui lên Đấng đầy ân sủng, Thiên Chúa ở cùng bà.” (Lc 1: 28)

 

Mượn lời sứ thần chào Mẹ để bắt đầu ‘Phút Suy Niệm’ của ngày lễ Kính Đức Mẹ Truyền Tin: 25/3-14

Mượn lời sứ thần chào Mẹ để bắt đầu ‘Phút Suy Niệm’ của ngày lễ Kính Đức Mẹ Truyền Tin hôm nay.

Cách nay gần một tuần, chúng ta đã thán phục sự ‘Thinh Lặng’ của thánh cả Giuse, dù Ngài có đủ bằng chứng - đủ miệng lưỡi - đễ tố cáo Maria theo Thánh Nhân nghĩ - Maria sẽ bị ném đá theo luật của Môisen... nhưng Ngài đã không làm... chỉ có ý định âm lìa bỏ Maria ra đi...

Mẹ Maria cũng đã phải ‘Câm Lặng - Phó Dâng’ cho Chúa vì Ngài đã thực hiện điều lạ lùng thì Ngài cũng phải có cách quan phòng trù liệu mọi sự cho Mẹ. Vâng, Mẹ đã ‘Xin Vâng’ trọn vẹn thánh ý của Thiên Chúa.

Cuộc đời của mỗi người chúng ta cũng phải là lời ‘Xin Vâng’ liên lỉ. Có những lúc chúng ta miễn cưỡng xin vâng lấy lệ. Có những lúc chúng ta hăng hái xin vâng vì việc nầy việc nọ hạp ý mình. Nhưng có những lúc chúng ta nói lời xin vâng bằng môi miệng, nhưng trong việc làm thì thay dạ đổi lòng.

Lời Nguyện:

Lạy Mẹ Maria, xin dạy chúng con biết đáp lại tiếng mời gọi của Chúa luôn thể hiện trong cuộc sống với lời Xin Vâng - Đón Nhận Thánh Ý Chúa cho dù trái với ý muốn cá nhân. Xin cho Ý Cha luôn được thể hiện nơi chúng con trong mọi hoàn cảnh của cuộc đời.

Fr Francis Lý văn Ca

 

25/3-15: Mừng vui lên

Lễ Truyền Tin

Mừng vui lên, hỡi Đấng đầy ân sủng, Đức Chúa ở cùng bà” (Lc 1, 28)

 

Niềm vui là dấu chứng của người có Thiên Chúa, của người được Thiên Chúa ở cùng. Ai nói: 25/3-15

Niềm vui là dấu chứng của người có Thiên Chúa, của người được Thiên Chúa ở cùng. Ai nói tôi tin vào Chúa, tôi có Chúa trong cuộc đời mà cứ luôn sống trong buồn tủi thì cần phải đặt lại niềm tin của mình vào Thiên Chúa. Mình có tin thực sự không hay chỉ tin cho có hoặc tin vậy vậy thôi?

Thánh Phaolô khuyên nhủ những giáo dân của ngài: “Thưa anh em, anh em hay vui mừng vì Chúa” (Pl 3,1). Chúng ta không thể vừa tin vào Chúa và vừa sống trong lo sợ, vì Thần Khí mà chúng ta nhận lãnh được không phải là một Thần Khí của nô lệ khiến chúng ta phải lo sợ, nhưng là Thần Khí làm cho chúng ta nên nghĩa tử, khiến chúng ta được kêu lên Abba! Cha ơi ! (cf Rm 8,15).

Vậy có Chúa là có niềm vui và Mẹ Maria có đủ mọi lý do để vui mừng trong Chúa. Mẹ được tràn đầy ân sủng. Thánh Thần Chúa chiếm ngự Mẹ và ban cho Mẹ chính sức sống của Thiên Chúa. Và đây cũng là niềm vui của Mẹ khi được cộng tác vào chương trình cứu chuộc của Thiên Chúa,

Cầu nguyện
Lạy Mẹ Maria là mẫu mực của đời sống con. Xin dạy con hai tiếng XIN VÂNG, hôm qua, hôm nay và ngày mai. Con người con hay thay đổi, thích làm theo ý riêng mình, xin Mẹ dạy con luôn tìm thánh ý Chúa hơn ý riêng mình, dù con chưa hiểu được chương trình của Chúa nhưng cũng xin giúp con biết mở lòng ra để đón nhận và sống trong phó thác hoàn toàn vào bàn tay quyền năng và đầy yêu thương của Chúa. Amen.


 

25/3-16: Ngày 25 - 03 Lễ Truyền Tin

Thứ năm, 24 Tháng 3 2011 08:25
 

Lễ Truyền Tin có từ thế kỷ thứ tư hoặc thứ năm. Ý nghĩa chính của lễ là sự Nhập Thể: Thiên: 25/3-16

Lễ Truyền Tin có từ thế kỷ thứ tư hoặc thứ năm. Ý nghĩa chính của lễ là sự Nhập Thể: Thiên Chúa trở nên một người trong chúng ta. Tự đời đời Thiên Chúa đã quyết định để Ngôi Hai Thiên Chúa xuống thế làm người. Giờ đây, như Thánh Luca 1:26-38 kể cho chúng ta biết, quyết định ấy được thể hiện. Thần-Nhân ấy đã ôm lấy toàn thể nhân loại, đúng hơn toàn thể tạo vật, để đưa đến Thiên Chúa trong một nghĩa cử bác ái cao cả. Vì loài người đã chối từ Thiên Chúa, Đức Giêsu chấp nhận sự thống khổ và cái chết đau đớn: "Không ai có tình yêu cao quý hơn tình yêu của người hy sinh mạng sống mình vì bạn hữu" (Gioan 15:13)

Đức Maria có vai trò quan trọng trong hoạch định của Thiên Chúa. Từ thuở đời đời, Thiên Chúa đã tiền định ngài làm mẹ của Đức Giêsu và có liên hệ mật thiết với Người trong sự tạo dựng và cứu chuộc nhân loại. Chúng ta có thể nói quyết định tạo dựng và cứu chuộc của Thiên Chúa được tiếp nối trong quyết định Nhập Thể. Vì Đức Maria là một công cụ của Thiên Chúa trong sự Nhập Thể, nên cùng với Đức Giêsu ngài có một vai trò trong sự tạo dựng và cứu chuộc. Đó là vai trò mà Thiên Chúa đã ban. Đó là ơn sủng của Thiên Chúa từ khởi thủy cho đến tận cùng. Chính nhờ ơn Thiên Chúa mà Đức Maria trở nên một nhân vật cao trọng.

Ngài là người mẹ-đồng-trinh đã hoàn tất lời tiên tri Isaiah 7:14 trong một phương cách mà tiên tri Isaiah không thể ngờ. Ngài được kết hợp với Con của ngài để thể hiện thánh ý Thiên Chúa (TV 40:8-9; Do Thái 10:7-9; Luca 1:38)

Cùng với Đức Giêsu, Đức Maria đầy ơn phúc là sợi dây liên kết giữa trời và đất. Sau Đức Giêsu, ngài là một con người tuyệt hảo tiêu biểu cho mọi tiềm năng của loài người. Ngài đón nhận tình yêu vô cùng của Thiên Chúa vào sự hèn mọn của mình. Ngài chỉ cho chúng ta thấy phương cách mà một con người bình thường có thể phản ánh Thiên Chúa trong những hoàn cảnh bình thường của đời sống. Ngài là một gương mẫu mà Giáo Hội cũng như mọi phần tử của Giáo Hội phải noi theo. Ngài là sản phẩm đích thực của quyền năng tạo dựng và cứu chuộc của Thiên Chúa. Ngài biểu lộ những gì mà sự Nhập Thể phải hoàn tất cho tất cả mọi người chúng ta.
Lời Bàn

Đôi khi các nhà văn của Giáo Hội bị kết án là đã nâng Đức Maria lên bệ cao và như thế không khuyến khích loài người bắt chước ngài. Có lẽ nhận xét như vậy là lầm. Chính Thiên Chúa đã nâng Đức Maria lên và Người đang đưa tất cả mọi người chúng ta lên. Ít khi chúng ta nhận ra sự cao trọng của ơn Chúa, sự kỳ diệu của tình yêu cho không của Người. Sự kỳ diệu của Đức Maria -- ngay cả giữa những bình thường của đời ngài -- là lời Thiên Chúa thức tỉnh chúng ta về thân phận cao trọng của tạo vật mà tất cả chúng ta đều được hưởng trong hoạch định của Thiên Chúa.


 

25/3-17: Tôi là nữ tỳ của Chúa

Thứ năm, 24 Tháng 3 2011 08:23
Lời Chúa: Lc 1, 26-38
Khi ấy, Thiên Chúa sai sứ thần Gáprien đến một thành miền Galilê, gọi là Nadarét, gặp một trinh nữ đã đính hôn với một người tên là Giuse, thuộc dòng dõi vua Đavít. Trinh nữ ấy tên là Maria. Sứ thần vào nhà trinh nữ và nói: “Mừng vui lên, hỡi Đấng đầy ân sủng, Đức Chúa ở cùng bà.” Nghe lời ấy, bà rất bối rối, và tự hỏi lời chào như vậy có nghĩa gì. Sứ thần liền nói: “Thưa bà Maria, xin đừng sợ, vì bà đẹp lòng Thiên Chúa. Và này đây bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai, và đặt tên là Giêsu. Người sẽ nên cao cả, và sẽ được gọi là Con Đấng Tối Cao. Đức Chúa là Thiên Chúa sẽ ban cho Người ngai vàng vua Đavít, tổ tiên Người. Người sẽ trị vì nhà Giacóp đến muôn đời, và triều đại của Người sẽ vô cùng vô tận.” Bà Maria thưa với sứ thần: “Việc ấy sẽ xảy ra như thế nào, vì tôi không biết đến việc vợ chồng!” Sứ thần đáp: “Thánh Thần sẽ ngự xuống trên bà, và quyền năng Đấng Tối Cao sẽ rợp bóng trên bà, vì thế, Đấng Thánh sắp sinh ra sẽ được gọi là Con Thiên Chúa. Kìa bà Êlisabét, người họ hàng với bà, tuy già rồi, mà cũng đang cưu mang một người con trai: bà ấy vẫn bị mang tiếng là hiếm hoi, mà nay đã có thai được sáu tháng. Vì đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được.” Bấy giờ bà Maria nói: “Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói.” Rồi sứ thần từ biệt ra đi.
Suy nim:
 

Chín tháng trước khi mừng lễ Giáng Sinh, Giáo hội mừng lễ Truyền Tin.  Lễ Truyền Tin là lễ trọng: 25/3-17

Chín tháng trước khi mừng lễ Giáng Sinh, Giáo hội mừng lễ Truyền Tin.
Lễ Truyền Tin là lễ trọng, lễ Con Thiên Chúa xuống thế giới này làm người.
Mầu nhiệm Nhập Thể là mầu nhiệm lớn, đã bắt đầu từ giây phút này đây.
Nhưng sự trọng thể và lớn lao ấy lại diễn ra rất đỗi bình thường và bé nhỏ.
Galilê là vùng đất của dân ngoại, Nadarét chỉ là một tỉnh nhỏ ít danh tiếng.
Đây là nơi sinh sống của Chị Maria, một thiếu nữ đã đính hôn với ông Giuse.
Sứ thần Gáprien được Thiên Chúa sai đến với người trinh nữ Do thái ấy
vào lúc Chị đang sống đời sống thường nhật như các cô gái khác.
Chị sống bên cha mẹ, chờ ngày về nhà chồng.
Chị có biết đời mình sắp bước vào một khúc quanh mới không?
Thiên Chúa cần Chị Maria cho công trình cứu độ thế giới của Ngài.
Lễ Truyền Tin là lễ Thiên Chúa hỏi ý một thụ tạo, một thiếu nữ nhỏ bé.
Ngài tôn trọng tự do mà Ngài đã ban cho Chị, Ngài cần sự ưng thuận của Chị.
Qua trung gian sứ thần Gáprien, Thiên Chúa muốn Chị làm Mẹ của Con Ngài.
Người Con ấy là Vua thuộc dòng Đavít, là Đấng Mêsia, là Con Thiên Chúa.
Chị Maria đã hết sức bối rối trước lời chào của sứ thần.
Lời chào ấy khiến Chị phải suy nghĩ và sợ hãi (c. 29, 30).
Và khi được báo tin mình sẽ thụ thai,
Chị đã hỏi lại: “Việc ấy sẽ xảy ra như thế nào?”
vì cho đến nay Chị vẫn còn là trinh nữ, chưa về chung sống với Giuse (c. 34).
Trước khi nói tiếng Xin Vâng, Chị Maria đã suy nghĩ cầu nguyện nhiều.
Chị biết mình được Thiên Chúa mời gọi bước vào cuộc phiêu lưu.
Cuộc hôn nhân với Giuse, người mà Chị yêu mến, hẳn sẽ không như cũ.
Điều gì sẽ xảy ra nếu Chị mang thai bây giờ? Giuse sẽ nghĩ sao?
Ai sẽ tin chuyện Chị được thụ thai bởi Thánh Thần (c. 35)?
Maria đã nói tiếng Xin Vâng không phải vì thấy rõ con đường Chúa muốn.
Xin Vâng là mềm mại, buông mình để Chúa dẫn đi giữa đêm đen,
yên tâm không phải vì mình làm chủ được tương lai,
nhưng vì tin nó nằm trong tay Chúa.
Xin Vâng là để cho những dự tính và ước mơ của mình bị tan vỡ.
Chị Maria đã dám chấp nhận mọi hậu quả khi nói tiếng Xin Vâng.
“Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa.” (c. 38).
Tiếng Xin Vâng của Chị Maria đã cho Con Thiên Chúa có chỗ trong thế giới.
Nhờ những tiếng Xin Vâng của tôi, Đức Giêsu đi vào được thế giới hôm nay.
Tôi có kiên nhẫn cưu mang Ngài trong đời tôi, để cho Ngài lớn lên cứng cáp,
trước khi sinh ra Ngài cho môi trường tôi đang sống không?
Cầu nguyn:
Lạy Đức Trinh Nữ Maria, Mẹ Thiên Chúa,
xin gìn giữ nơi con quả tim của trẻ thơ
tinh tuyền và trong ngần như dòng suối.
Xin ban cho con quả tim đơn sơ,
mau quên những nỗi buồn phiền.
Một quả tim hào hiệp dám hiến thân,
dịu dàng để cảm thông.
Một quả tim trung thành và quảng đại,
không quên ơn, không báo oán.
Xin tạo cho con quả tim hiền từ và khiêm tốn,
yêu mà không mong được yêu lại,
hân hoan xóa mình đi
để Con của Mẹ có chỗ trong lòng người khác.
Một quả tim vĩ đại và bất khuất,
không khép lại trước những kẻ vô ơn,
không chán nản trước người lạnh nhạt.
Một quả tim khắc khoải
lo tìm vinh danh Chúa Giêsu Kitô,
quả tim mang vết thương vì yêu Ngài,
vết thương chỉ lành
khi được sống với Ngài trên trời. Amen.
(hđgmvietnam)
 Lm Antôn Nguyễn Cao Siêu, SJ


 

25/3-18: Lễ Truyền Tin, Năm ABC

Thứ năm, 24 Tháng 3 2011 07:59
Bài đọc: Isa 7:10-14; Heb 10:4-10; Lk 1:26-38.
 1/ Bài đọc I: 10 Một lần nữa ĐỨC CHÚA phán với vua A-khát rằng: 11 "Ngươi cứ xin ĐỨC CHÚA là Thiên Chúa của ngươi ban cho ngươi một dấu dưới đáy âm phủ hoặc trên chốn cao xanh."
12 Vua A-khát trả lời: "Tôi sẽ không xin, tôi không dám thử thách ĐỨC CHÚA."
13 Ông I-sai-a bèn nói: "Nghe đây, hỡi nhà Đa-vít! Các ngươi làm phiền thiên hạ chưa đủ sao,
mà còn muốn làm phiền cả Thiên Chúa của tôi nữa?

14 Vì vậy, chính Chúa Thượng sẽ ban cho các ngươi một dấu: Này đây người thiếu nữ mang thai, sinh hạ con trai, và đặt tên là Em-ma-nu-en.
 2/ Bài đọc II: 4 Thật thế, máu các con bò, con dê không thể nào xoá được tội lỗi.
5 Vì vậy, khi vào trần gian, Đức Ki-tô nói: Chúa đã không ưa hy lễ và hiến tế, nhưng đã tạo cho con một thân thể. 6 Chúa cũng chẳng thích lễ toàn thiêu và lễ xá tội.
7 Bấy giờ con mới thưa: Lạy Thiên Chúa, này con đây, con đến để thực thi ý Ngài, như Sách Thánh đã chép về con. 8 Trước hết, Đức Ki-tô nói: Hy lễ và hiến tế, lễ toàn thiêu và lễ xá tội, Chúa đã chẳng ưa, chẳng thích, mà đó chính là những thứ của lễ được dâng tiến theo Lề Luật truyền. 9 Rồi Người nói: Này con đây, con đến để thực thi ý Ngài. Thế là Người bãi bỏ các lễ tế cũ mà thiết lập lễ tế mới. 10 Theo ý đó, chúng ta được thánh hoá nhờ Đức Giê-su Ki-tô đã hiến dâng thân mình làm lễ tế, chỉ một lần là đủ.
 3/ Phúc Âm: 26 Bà Ê-li-sa-bét có thai được sáu tháng, thì Thiên Chúa sai sứ thần Gáp-ri-en đến một thành miền Ga-li-lê, gọi là Na-da-rét, 27 gặp một trinh nữ đã thành hôn với một người tên là Giu-se, thuộc dòng dõi vua Đa-vít. Trinh nữ ấy tên là Ma-ri-a.
28 Sứ thần vào nhà trinh nữ và nói: "Mừng vui lên, hỡi Đấng đầy ân sủng, Đức Chúa ở cùng bà."
29 Nghe lời ấy, bà rất bối rối, và tự hỏi lời chào như vậy có nghĩa gì.
30 Sứ thần liền nói: "Thưa bà Ma-ri-a, xin đừng sợ, vì bà đẹp lòng Thiên Chúa.
31 Và này đây bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai, và đặt tên là Giê-su. 32 Người sẽ nên cao cả, và sẽ được gọi là Con Đấng Tối Cao. Đức Chúa là Thiên Chúa sẽ ban cho Người ngai vàng vua Đa-vít, tổ tiên Người. 33 Người sẽ trị vì nhà Gia-cóp đến muôn đời, và triều đại của Người sẽ vô cùng vô tận." 34 Bà Ma-ri-a thưa với sứ thần: "Việc ấy sẽ xảy ra cách nào, vì tôi không biết đến việc vợ chồng!"
35 Sứ thần đáp: "Thánh Thần sẽ ngự xuống trên bà, và quyền năng Đấng Tối Cao sẽ rợp bóng trên bà, vì thế, Đấng Thánh sắp sinh ra sẽ được gọi là Con Thiên Chúa.
36 Kìa bà Ê-li-sa-bét, người họ hàng với bà, tuy già rồi, mà cũng đang cưu mang một người con trai: bà ấy vẫn bị mang tiếng là hiếm hoi, mà nay đã có thai được sáu tháng.
37 Vì đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được."
38 Bấy giờ bà Ma-ri-a nói: "Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói." Rồi sứ thần từ biệt ra đi.

GIỚI THIỆU CHỦ ĐỀ: Sự vâng phục mang lại ơn cứu độ cho con người.
 

Con người được Thiên Chúa ban cho có tự do để làm quyết định; nhưng khi con người quyết định: 25/3-18

Con người được Thiên Chúa ban cho có tự do để làm quyết định; nhưng khi con người quyết định chọn điều gì, là con người phải lãnh nhận hậu quả do quyết định ấy mang lại. Thói quen của con người là không muốn phải vâng lời ai, muốn tự mình có thể quyết định mọi sự. Trong cuộc cám dỗ đầu tiên tại Vườn Địa Đàng, con rắn gian manh biết Bà Evà không muốn vâng phục Thiên Chúa, nên cám dỗ Bà ăn trái cây “biết lành biết ác” mà Thiên Chúa đã cấm không được ăn. Hậu quả của cuộc bất tuân là ông bà mất nghĩa cùng Thiên Chúa, và truyền nọc độc của tội Tổ Tông cho con cháu.
Các Bài Đọc hôm nay tập trung trong việc tuân phục hay bất tuân lời Thiên Chúa. Trong Bài Đọc I, mặc dù đã được tiên-tri Isaiah truyền chỉ tuân phục một mình Thiên Chúa, vua Ahaz của Judah vẫn bất tuân sang cầu viện Ai-cập. Hậu quả là nước mất nhà tan, từ vua đến dân bị lưu đày qua Babylon. Trong Bài Đọc II, tác giả Thư Do-thái so sánh các hy lễ đền tội của Cựu Ước với sự vâng phục của Đức Kitô, và đưa đến kết luận: Thiên Chúa trân quí sự vâng phục của Đức Kitô hơn ngàn vạn chiên cừu, và cái chết của Ngài trên Thập Giá có sức mạnh xóa sạch tội và mang lại ơn cứu độ cho con người. Trong Phúc Âm, lời thưa “Xin Vâng” của Đức Trinh Nữ Maria trong biến cố Truyền Tin đã bắt đầu kỷ nguyên cứu độ: Chúa Thánh Thần đã rợp bóng trên Mẹ, và hài nhi Giêsu, Con Một của Thiên Chúa, đã hình thành trong lòng Mẹ.
 
KHAI TRIỂN BÀI ĐỌC:
 1/ Bài đọc I: Vua Ahaz bất tuân lời Thiên Chúa.
 1.1/ Vua Ahaz nghi ngờ Thiên Chúa: Rezin là vua sau cùng của Damascus. Năm 732 BC, vua Assyrian, Tiglath-pileser III phá hủy Damascus và giết vua Rezin. Sự liên hiệp giữa Assyria và Israel làm vua Judah khủng hỏang, vua sợ liên hiệp này sẽ đem quân thôn tính Judah. Liên hiệp hai nước phác họa kế họach truất phế vua Ahaz, và thay thế ông với hòang tử của Bet Tabel, một lãnh thổ của Aram, miến Bắc của khu vực Transjordan. Hoàng tử này có lẽ là người Judah, con trai của Jotham hoặc Uzziah với công chúa của Tabel.
(1) Sự bất trung của vua Ahaz: Tiên-tri Isaiah được Thiên Chúa sai đến với vua Ahaz để khuyên nhà vua tin tưởng vững mạnh vào Thiên Chúa, vì chỉ có Ngài mới có thể bảo tòan lãnh thổ của nhà Judah. Vua Ahaz không tin tưởng vào sự can thiệp của Thiên Chúa, và vào lời khuyên của tiên tri Isaiah; ông cầu viện với vua Ai-cập để xin sự bảo vệ. Hậu quả là Chúa để cho vương quốc của ông rơi vào tay vua Babylon.
 1.2/ Tiên tri Isaiah được Thiên Chúa sai đến với vua Ahaz lần thứ hai.
(1) Hãy xin một dấu lạ để Thiên Chúa làm cho: “Một lần nữa Đức Chúa phán với vua Ahaz rằng: "Ngươi cứ xin Đức Chúa là Thiên Chúa của ngươi ban cho ngươi một dấu dưới đáy âm phủ hoặc trên chốn cao xanh." Vua Ahaz trả lời: "Tôi sẽ không xin, tôi không dám thử thách Đức Chúa." Vua không xin một dấu từ Thiên Chúa vì vua ngoan cố, không muốn nghe những lời khuyên của tiên-tri Isaiah.
(2) Dấu lạ Đấng Cứu Thế: Tiên-tri Isaiah bèn nói: "Nghe đây, hỡi nhà David! Các ngươi làm phiền thiên hạ chưa đủ sao, mà còn muốn làm phiền cả Thiên Chúa của tôi nữa? Vì vậy, chính Chúa Thượng sẽ ban cho các ngươi một dấu: Này đây người thiếu nữ mang thai, sinh hạ con trai, và đặt tên là Emmanuel.”
- Isaiah không dùng chữ đặc biệt để chỉ trinh nữ (betula), nhưng dùng chữ (alma) để chỉ một phụ nữ trẻ tới tuổi thành hôn, có thể là trinh nữ kay không. Lời tuyên sấm này được loan báo trước hòang gia, có thể mang ý nghĩa giòng dõi của David sẽ bị tận diệt. Nếu điều ấy xảy ra, lời hứa của Thiên Chúa đã làm với giòng dõi David sẽ bị chấm dứt (2 Sam 7:12-16).
- Con trẻ sắp sinh ra có thể là trẻ Hezekiah, mà Judah đang hy vọng sẽ tiếp tục sự hiện diện của Chúa giữa dân Ngài, và là một canh tân của lời hứa đã được ký kết với vua David.
- Dẫu vậy, sự nghiêm trọng của lời tuyên sấm và tên con trẻ tương lai “Emmanuel” cho chúng ta thấy lời của tiên-tri Isaiah không chỉ dừng lại với sự sinh ra của Hezekiah; nhưng chỉ thẳng tới vị vua lý tưởng của giòng tộc David, mà qua vị vua này, Thiên Chúa mới thực sự ở với con người.
- Thánh sử Mathhew và Giáo Hội đã nhìn sự sinh ra của Đấng Cứu Thế bởi Trinh-Nữ Maria là sự hòan tất của lời tiên tri này.
 2/ Bài đọc II: Thi hành ý muốn của Thiên Chúa cao trọng hơn các hy lễ tòan thiêu và hiến tế chiên bò.
 2.1/ Máu thú vật không thể xóa bỏ tội lỗi con người: Trong Cựu Ước, mỗi khi con người muốn được Thiên Chúa tha tội, họ lên Đền Thờ, sát tế thú vật, và dâng cho Thiên Chúa như trong ngày lễ Day-at-onement. Nhưng những hy lễ này chỉ có thể tha những tội vô tình họ xúc phạm đến Thiên Chúa và tha nhân; còn những tội cố tình, không một hy lễ nào có thể xóa được; đó là lý do tại sao tác giả Thư Do-thái nói: “Thật thế, máu các con bò, con dê không thể nào xoá được tội lỗi.” Vì thế, con người cần một cách khác để được tha tội; và Thiên Chúa đã chuẩn bị một cách thức hiệu quả để tha tội cho con người: “Vì vậy, khi vào trần gian, Đức Kitô nói: Chúa đã không ưa hy lễ và hiến tế, nhưng đã tạo cho con một thân thể.” Tạo cho Chúa Giêsu một thân thể để Ngài có tai để lắng nghe và vâng lời; có trí óc để hiểu và có ý chí để làm theo những gì Thiên Chúa muốn; và có một thân xác để có thể hy sinh, chịu đựng đau khổ, để đền tội thay cho con người.
 2.2/ Đức Kitô thi hành thánh ý Thiên Chúa để mang lại ơn cứu độ cho con người: Tác giả trưng dẫn Thánh Vịnh 40:6-9: “Chúa cũng chẳng thích lễ toàn thiêu và lễ xá tội. Bấy giờ con mới thưa: Lạy Thiên Chúa, này con đây, con đến để thực thi ý Ngài, như Sách Thánh đã chép về con.”
- Trước hết, Đức Kitô nói: “Hy lễ và hiến tế, lễ toàn thiêu và lễ xá tội, Chúa đã chẳng ưa, chẳng thích, mà đó chính là những thứ của lễ được dâng tiến theo Lề Luật truyền.” Điều này hiển nhiên vì tất cả những điều này thuộc về Thiên Chúa. Con người có dâng tiến những lễ vật này cũng là lấy những của Thiên Chúa ban để dâng lại cho Ngài. Đó là chưa kể đến tội mà các tiên tri đã tố cáo con người nhiều lần: dâng của dư thừa, dâng cho qua lần chiếu lệ, dâng lễ vật mà vẫn đang toan tính phạm tội, dâng lễ vật mà lòng xa Thiên Chúa vạn dặm …
- Rồi Người nói: “Này con đây, con đến để thực thi ý Ngài. Thế là Người bãi bỏ các lễ tế cũ mà thiết lập lễ tế mới. Theo ý đó, chúng ta được thánh hoá nhờ Đức Giêsu Kitô đã hiến dâng thân mình làm lễ tế, chỉ một lần là đủ.” Sự vâng phục của Chúa Giêsu là lễ hiến tế duy nhất đẹp lòng Thiên Chúa, và máu của Người đổ ra chỉ một lần là đủ để Thiên Chúa tha thứ tất cả cho con người.
- Nếu chúng ta muốn thiết lập mối giao hòa với Thiên Chúa, vâng lời làm theo thánh ý Ngài là cách thức duy nhất. Thiên Chúa muốn con người tin và tuân phục những gì Đức Kitô đã mặc khải và dạy dỗ con người.
 3/ Phúc Âm: Lời thưa “Xin Vâng” của Đức Trinh Nữ Maria bắt đầu Kế Họach Cứu Độ của Thiên Chúa.
 3.1/ Biến cố Truyền Tin: Khi Bà Elisabeth có thai được sáu tháng, thì Thiên Chúa sai sứ thần Gabriel đến một thành miền Galilee, gọi là Nazareth, gặp một trinh nữ đã đính hôn với một người tên là Giuse, thuộc dòng dõi vua David. Trinh nữ ấy tên là Maria.
- Sứ thần vào nhà trinh nữ và nói: "Mừng vui lên, hỡi Đấng đầy ân sủng, Đức Chúa ở cùng bà." Nghe lời ấy, bà rất bối rối, và tự hỏi lời chào như vậy có nghĩa gì. Thông thường, con người dễ hãnh diện khi được người khác khen mình; nhưng Mẹ là người rất khiêm nhường, Mẹ biết mình không xứng đáng với lời chào này; nên bối rối, băn khoăn về lời chào ấy.
- Sứ thần liền nói: "Thưa bà Maria, xin đừng sợ, vì bà đẹp lòng Thiên Chúa. Và này đây bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai, và đặt tên là Giêsu. Người sẽ nên cao cả, và sẽ được gọi là Con Đấng Tối Cao. Đức Chúa là Thiên Chúa sẽ ban cho Người ngai vàng vua David, tổ tiên Người. Người sẽ trị vì nhà Jacob đến muôn đời, và triều đại của Người sẽ vô cùng vô tận." Bà Maria thưa với sứ thần: "Việc ấy sẽ xảy ra cách nào, vì tôi không biết đến việc vợ chồng!" Mẹ đã khấn giữ mình đồng trinh để lo việc của Thiên Chúa. Điều khó hiểu ở đây là thánh Luca đã đề cập tới việc Mẹ đã đính hôn với Giuse ở đầu trình thuật. Tại sao đã khấn giữ mình đồng trinh, lại còn đính hôn với Giuse? Điều này chỉ có thể giải nghĩa hoặc Luca lầm lẫn hoặc bản văn bị sắp xếp lẫn lộn thứ tự giữa 2 biến cố: truyền tin và đính hôn.
- Sứ thần đáp: "Thánh Thần sẽ ngự xuống trên bà, và quyền năng Đấng Tối Cao sẽ rợp bóng trên bà, vì thế, Đấng Thánh sắp sinh ra sẽ được gọi là Con Thiên Chúa.”
 3.2/ Không điều gì là không thể đối với Thiên Chúa: Chúng ta không chắc Mẹ Maria có thể hiểu thế nào là sinh ra bởi quyền năng của Chúa Thánh Thần; nhưng Mẹ tin những gì thiên thần Gabriel nói vì hai lý do:
(1) Không điều gì là không thể đối với Thiên Chúa: Nếu Ngài có thể làm cho bà Elisabeth, người họ hàng với Mẹ, tuy già rồi, mà cũng đang cưu mang một người con trai; còn việc gì Thiên Chúa không làm được?
(2) Niềm tin của Mẹ vào Thiên Chúa: Mẹ biết Thiên Chúa là ai, và Mẹ biết mình là ai. Mẹ tuy không hiểu những gì Thiên Chúa nói, nhưng sự khôn ngoan dạy Mẹ cứ mau mắn vâng lời; vì tất cả những gì Thiên Chúa muốn đều tốt đẹp. Vì thế, Mẹ thưa với thiên thần: "Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói." Rồi sứ thần từ biệt ra đi.
 ÁP DỤNG TRONG CUỘC SỐNG:
 - Chúng ta phải tuân phục Thiên Chúa, vì chỉ có Thiên Chúa biết chắc các điều tốt đẹp cho con người. Bất tuân Thiên Chúa là cách dễ dàng nhất gây ra đau khổ cho con người.
- Vâng lời Thiên Chúa không lấy đi sự tự do của con người, nhưng chứng tỏ sự khôn ngoan. Giống như một con trẻ chưa đủ khôn ngoan để làm quyết định cho mình, em phải vâng lời cha mẹ là những người khôn ngoan hơn. Chúng ta cũng thế, khi chưa hiểu kế họach của Thiên Chúa cho cuộc đời, chúng ta hãy bắt chước Chúa Giêsu và Đức Mẹ: xin vâng làm theo ý Thiên Chúa.
- Mọi sự đều có thể đối với Thiên Chúa. Chúng ta hãy kiên nhẫn chờ những gì Thiên Chúa hứa ban cho tới khi thành sự thật.
LM. Anthony Đinh Minh Tiên, OP   

 

25/3-19: MARIA, NGƯỜI NỮ TUYỆT VỜI

LỄ TRUYỀN TIN, ngày 25/3
Lc 1, 26-38
 

Chín tháng trước lễ Giáng Sinh, Giáo Hội mừng lễ Truyền Tin. Dù Đức Maria liên kết chặt chẽ : 25/3-19

Chín tháng trước lễ Giáng Sinh, Giáo Hội mừng lễ Truyền Tin. Dù Đức Maria liên kết chặt chẽ với biến cố đã làm người trở thành Mẹ Thiên Chúa, nhưng chính Ngôi Lời nhập thể mới là trung tâm cử hành hôm nay. Tuy nhiên, để đóng góp phần mình vào công trình cứu độ của Thiên Chúa, chúng ta đặc biệt chiêm ngưỡng Đức Maria trong cung cách Mẹ nói lời xin vâng với Thiên Chúa để nhận lời cưu mang Chúa Giêsu trong cung lòng trinh khiết hầu ban ơn cứu độ cho nhân loại, cho mọi người.
1.BIẾN CỐ CHÚNG TA ĐỀ CẬP TỚI HÔM NAY LÀ BIẾN CỐ NÀO?:
Cách đây hơn hai ngàn năm, một biến cố vĩ đại, mang nhiều ý nghĩa đã xẩy ra làm đảo lộn cả lịch sử nhân loại, mặc cho lịch sử thế giới một ý nghĩa lớn lao, ý nghĩa cứu độ và  ý thực hiện lời hứa của Thiên Chúa nói qua miệng ngôn sứ Isaia:” Này đây một Trinh Nữ sẽ thụ thai, hạ sinh một con trai và đặt tên Con Trẻ là EMMANUEN, nghĩa là Thiên- Chúa- ở –cùng- chúng- tôi”. Lời hứa này được hoàn tất khi sứ giả của Thiên Chúa là Thiên Thần Gabrien được sai tới một thành xứ Galilêa, tên là Nagiarét đến với một Trinh Nữ đã đính hôn với một người tên là Giuse thuộc chi tộc vua Đavít. Sứ thần đã tới Nagiarét để thực hiện sứ mạng cao cả mà Thiên Chúa ủy thác là thực hiện lời hứa từ xa xưa ban Đấng Cứu Độ cho nhân loại vào thời giờ và theo cách thức Thiên Chúa muốn, Thiên Chúa quyết định. Đây là biến cố cứu rỗi, biến cố có một không hai trong lịch sử con người, đến nỗi nếu đã không có sự kiện này thì nhân loại đã khác hẳn hôm nay.
2.PHỤNG VỤ LỜI CHÚA HÔM NAY MỜI GỌI CHÚNG TA SUY NGHĨ GÌ ? : Các bài đọc trong phụng vụ Lời  Chúa hôm nay mời gọi chúng ta suy nghĩ về thái độ của Mẹ Maria khi Mẹ Maria đón nhận tin vui Ngôi Lời  Nhập Thể. Ở đây chúng ta chỉ dừng lại hai điểm:
a.Sau khi trao đổi ngắn ngủi với sứ thần Gabrien, biết được ý Chúa, dù chưa hiểu rõ ràng lắm, Maria đã đơn sơ, mau mắn trả lời cho sứ giả của Thiên Chúa:” Này tôi là tôi tớ Chúa. Xin hãy làm cho tôi theo như lời sứ thần nói”( Lc 1, 38 ). Đó là lời xin vâng chấp nhận một sự phục vụ và sự phục vụ mà Mẹ Maria chấp nhận ở đây là sự trao ban Chúa Giêsu cho nhân loại. Một sứ mạng tuyệt vời, nhưng khiêm tốn vì trở thành Mẹ thì người đàn bà nào cũng có thể hoàn thành theo thiên ý của Thiên Chúa.
Maria nhận lời cưu mang Chúa Giêsu, Mẹ đã ý thức sự trao ban của Mẹ. Chúa sinh ra là cho nhân loại chứ không cho riêng mình:” Mẹ thụ thai bởi phép Chúa Thánh Thần từ Thiên Chúa đến và thuộc về Thiên Chúa”. Khi nói lời xin vâng, Đức Maria đã chấp nhận phục vụ cách rộng lượng. Chính trong tinh thần đó mà Maria đã sống các thời điểm quyết định trong cuộc đời của Chúa Giêsu, Con Mẹ :” Mẹ suy đi nghĩ lại ngày Chúa sinh ra, nát ruột gan khi dâng Chúa vàoo đền thánh theo luật, không hiểu gì về thái độ của con ngày Con lạc mất và tìm thấy Con trong đền thờ Giêrusalem, tin tưởng vào Con trong tiệc cưới Cana, chấp nhận đặt tình nghĩa khí huyết sau lời Chúa, cùng Chúa Giêsu tiến về thập giá như đỉnh cao của tình yêu”. Vai trò của Mẹ Maria như lùi vào phía sau, để cho sứ vụ một Maria tín hữu nổi bật lên. Con tim của Maria như được vét trống tất cả những gì không thuộc về niềm tin của Mẹ.
b.Khi nói lời xin vâng, Đức Maria đã chấp nhận một sự phục vụ nhưng không: Phục vụ như người đầy tớ mà Chúa Giêsu làm gương là phục vụ vì tình yêu. Ở đây, xin đan cử hai trường hợp :” Một, chuyện người đàn bà tội lỗi trong Tin Mừng thánh Luca 7, 36-50 và chuyện bà Maria Bêtania của thánh Gioan 12, 1-8 . Hai người đàn bà đó đều đã xức dầu thơm cho Chúa Giêsu :” Một xức trên tóc và một trên chân của Chúa Giêsu”. Sở dĩ các bà làm như vậy là để cho thấy, xuyên qua việc phục vụ vật chất ấy, các bà tôn vinh Đức Giêsu, và nhất là cho Đức Giêsu thấy rõ, tuy các bà thinh lặng, nhưng qua cử chỉ ấy, các bà yêu mến Chúa Giêsu như thế nào.
Kết quả, ông Simon biệt phái và các tông đồ đều hiểu không đúng và đã công kích các cử chỉ đó. Nhưng Đức Giêsu đã bênh vực các bà. Trong trường hợp của bà Maria Bêtania, Chúa Giêsu bảo:” Để yên cho cô ấy, cô đã giữ dầu thơm này có ý dùng cho ngày mai táng xác Thầy”. Ngài bênh vực bà vì qua cử chỉ phục vụ ấy, bà muốn thực hiện một phục vụ
tình yêu, một cử chỉ Chúa Giêsu dễ dàng khước từ vì không cần thiết, nhưng đó lại là một cử chỉ Ngài thực sự mong chờ bởi vì điều Ngài cần và chúng ta cũng cần là được yêu. Cuối cùng, chính bản thân Chúa Giêsu đã rửa chân cho các tông đồ ( Ga 3 ). Cử chỉ của Chúa Giêsu làm cho các môn đệ chưng hửng, ngạc nhiên, khó hiểu. Cử chỉ đó xem ra không cần thiết, vô ích, nhưng Chúa Giêsu lại nêu gương phục vụ ấy cho các môn đệ bắt chước, noi theo :” Thầy đã nêu gương cho anh em để cho anh em cũng làm như Thầy đã làm cho anh em”. Chúa Giêsu đã lấy cử chỉ ấy làm dấu chứng huynh đệ bác ái, yêu thương:” Hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em”( Ga 15, 12 ). Cái mẫu phục vụ Kitô giáo mà Chúa Giêsu muốn mọi người noi theo, thực hiện là một sự phục vụ khiêm tốn. Khi cúi mình rửa chân cho các môn đệ, Chúa Giêsu không có gì khác ngoài nước và tình yêu đối với họ. Nhưng đó lại là hình bóng của phục vụ tối hậu mà Chúa sẽ thực hiện vài ngày sau đó trên thập giá :” Khi chịu đóng đinh trên thập giá, chịu trần truồng như lúc chào đời, Chúa Giêsu không còn gì hết, nhưng đó lại là sự diễn tả tình yêu cao vời, vô biên của Thiên Chúa”. Các môn đệ của Chúa đều được Chúa mời gọi đi con đường Chúa đã đi trước.
Chính cung cách ấy mà Maria đã đi theo Chúa Giêsu, Con Mẹ cho tới chân thập giá,cho tới cùng tận của tình yêu. Mẹ Maria đã tự do tới đó, đứng đó. Các sách Tin Mừng cho chúng ta cái cảm giác rằng cho tới giây phút Mẹ đang đứng dưới chân thập giá, Chúa Giêsu không nói gì với Mẹ Maria về giây phút cuối đời của Chúa, không mời Mẹ tới đó. Vả lại trước đó ít lâu, tuy Chúa Giêsu có nhấn mạnh đến sự cần thiết phải theo Người cho tới thử thách, nhưng khi giây phút nguy ngập tới, Chúa Giêsu lại để cho các môn đệ rời xa Người”. “ Nếu các anh tìm bắt Tôi thì hãy để cho những người này đi”( Ga 18, 8 ). Thật ra thì lúc đó dưới chân thập giá, chỉ có môn đệ Gioan và vài người phụ nữ đạo đức trong đó có thân mẫu Đức Giêsu. Lúc đó, đích thực Maria không còn gì để làm cho Con nữa nếu không nói được là Mẹ đã dâng hiến sự hiện diện quí báu của Mẹ, thinh lặng, nhưng trung thành của tình yêu mình cho Con, cho nhân loại.
Và như vậy Maria đã tới chân thập giá như một nữ tỳ vô dụng, khiêm tốn, như một người Mẹ gắn bó, như một người phụ nữ hết lòng tin tưởng nơi Con của mình.
3. MÙA CHAY HÃY BẮT CHƯỚC MẸ, HÃY NOI GƯƠNG MẸ: Mùa chay, Chúa mời gọi con người sám hối và tin vào Tin Mừng vì Nước Trời đã đến gần. Thống hối, quay trở về với Chúa, với anh em là sứ điệp tình yêu của Chúa Giêsu. Mẹ Maria, Mẹ của Thiên Chúa và Mẹ của Hội Thánh, của mỗi người có lòng tin đã sống những giây phút đau khổ của Chúa Giêsu. Mẹ đã đứng im lặng dưới chân thập giá để suy gẫm về cái chết nhục hình của Con Mẹ trên thập giá. Mẹ đã chấp nhận ý định của Thiên Chúa và dâng sự đau khổ của Mẹ lên Thiên Chúa để góp phần vào việc cứu rỗi nhân loại. Mẹ đứng đó hoàn toàn tự do, hoàn toàn thanh thản như Con Chiên bị đem đi giết. Mẹ đứng đó hiệp cùng Con Mẹ như của lễ toàn thiêu đẹp lòng Thiên Chúa nhất vì như Chúa Giêsu, Mẹ cũng hoàn toàn thốt lên:” Lạy Cha nếu có thể thì xin cho con khỏi uống chén này, nhưng đừng theo ý Con mà là theo ý của Cha”.
Mẹ mời gọi nhân loại, mời gọi mỗi người chúng ta:” Sống yêu thương và phục vụ “. Mẹ kêu mời chúng ta ăn năn sám hối và siêng năng cầu nguyện để được Chúa yêu thương, thứ tha và thi ân giáng phúc. Mẹ mời gọi mọi Kitô hữu hãy noi gương Mẹ, hãy bắt chước Mẹ để Chúa, Con Mẹ hài lòng.
Lạy Mẹ Maria, xin tăng thêm lòng tin cho chúng con để chúng con luôn biết nói xin vâng như Mẹ trong mọi biến cố của đời sống thường ngày.
Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi  DCCT

 

25/3-20: LỊCH SỬ PHỤNG VỤ

LỄ TRUYỀN TIN
Ngày 25 tháng Ba

I. LỊCH SỬ PHỤNG VỤ
 

Lễ Truyền tin được mừng đầu tiên tại Giáo hội Đông phương vào Chúa nhật I mùa Vọng từ thế : 25/3-20

Lễ Truyền tin được mừng đầu tiên tại Giáo hội Đông phương vào Chúa nhật I mùa Vọng từ thế kỷ IV hay thế kỷ V để kính nhớ mầu nhiệm Nhập Thể. Đến thế kỷ VII, lễ này lan sang Giáo hội Tây phương để kỷ niệm Đức Trinh Nữ Maria chịu thai Ngôi Lời Nhập Thể, đồng thời kỷ niệm Chúa Kitô được xức dầu làm Thượng Tế và làm Trung Gian giữa Thiên Chúa và loài người. Đức Thánh Sergiô I lập bốn lễ: Lễ Đức Mẹ tịnh tẩy, dâng Con vào đền thờ, lễ Truyền tin, lễ Sinh nhật Đức Mẹ, và lễ Đức Mẹ lên trời. Mỗi dịp lễ này, ngài truyền dạy tổ chức cuộc rước Đức Mẹ từ nhà thờ Thánh Adrianô về đền thờ Đức Bà Cả tại Rôma. Thánh Phêrô Kim ngôn đã giảng nhiều trong lễ Truyền tin.
Thánh Augustinô đã đề nghị mừng lễ Truyền tin vào ngày 25 tháng 3 cho đúng chín tháng trước lễ Giáng sinh, nhưng Giáo hội Tây Ban Nha không đồng ý, nên Công đồng Toleđô năm 656 ấn định mừng tám ngày trước lễ Giáng sinh rồi đổi sang ngày 18 tháng Giêng để tránh mùa Chay. Đức Bênêđictô XIV ra sắc lệnh ấn định khắp Giáo hội mừng lễ Truyền tin vào ngày 25 tháng 3 theo Thánh Augustinô đã đề nghị và như ngày nay.
Năm 1884 Công đồng Baltimore quyết định lễ Truyền tin ngày 25 tháng 3 là lễ nghỉ và lễ buộc cho Giáo hội Hoa Kỳ.
II. Ý NGHĨA PHỤNG VỤ
Lịch Rôma thời xưa trọng thể mừng "lễ Ngôi Lời nhập thể" gọi là "Lễ Truyền tin của Chúa". Lễ này đã được sửa đổi lại nhưng là lễ mừng Chúa Kitô và Đức Trinh Nữ. Mừng Chúa là Ngôi Lời trở thành Con Mẹ Maria (Mc 6:3). Mừng Đức Trinh Nữ trở thành Mẹ Thiên Chúa.
* Về Chúa Kitô, Phụng vụ Đông phương và Tây phương mừng lễ trọng này để kính nhớ "lời xin vâng" của Ngôi Lời nhập thể vào trần gian đã nói: "Lạy Chúa, này con đây. Con xin đến để thực thi ý Chúa" (xem Dt 10:7; Tv 39:8-9). Lễ này cũng kính nhớ giây phút đầu tiên của ơn Cứu chuộc và mối tơ duyên kết hợp bất khả phân ly của Thiên tính với nhân tính trong một ngôi vị của Ngôi Lời.
* Về Mẹ Maria, Phụng vụ Đông phương và Tây phương mừng lễ trọng này như một lễ của Tân Evà là Đức Trinh Nữ tuân phục và trung thành. Với lời thưa "Xin vâng quảng đại", bởi phép Chúa Thánh Thần, Mẹ đã trở nên Mẹ Thiên Chúa cũng là Mẹ chúng sinh. Và bởi nhận trong cung lòng một Đấng trung gian (1 Tm 2:5), Mẹ thật sự trở nên Hòm bia Giao ước và Đền thờ Thiên Chúa. Phụng vụ này cũng kính nhớ thời điểm cao chót của cuộc đối thoại cứu độ giữa Thiên Chúa và loài người, và kính nhớ sự tự tình chấp nhận và hợp tác của Đức Trinh Nữ trong công trình Cứu chuộc.
III. Ý NGHĨA LỜI CHÚA TRONG THÁNH LỄ
Bài đọc I: Isaia 7:10-14
Thời vua Akhaz cai trị nước Giuđêa, vua Aram và vua Ephraim định lên đánh chiếm thành Giêrusalem. Vua Akhaz hoảng sợ. Giavê sai Isaia nói với vua Akhaz: "Hãy ở yên. Đừng sợ. Lòng chớ bủn rủn". Isaia bảo vua Akhaz phải đặt lòng tin vào Giavê trong giờ nguy kịch cho triều đại Đavít. Isaia lại nói với vua Akhaz: "Hãy xin với Giavê, Thiên Chúa ngươi, một dấu". Nhưng Akhaz nói: "Tôi đâu dám xin thế. Tôi không muốn thử sức Giavê". Ngài mới nói: "Hỡi nhà Đavít, hãy nghe đây... chính Đức Chúa sẽ cho các ngươi một dấu: Này Trinh Nữ sẽ thụ thai và sinh Con và Bà sẽ gọi tên Con là Emmanuel". Thánh sử Matthêô giải thích lời tiên tri này nói về Trinh Nữ của lễ Truyền tin là "Chúa ở cùng chúng ta" (Mt 1:22-23).
Bài đọc II: Do thái 10:4-10
Chức tư tế thời Cựu ước tương phản chức tư tế của Chúa Kitô: Hy lễ Cựu ước không trừ được tội lỗi, nên Chúa Kitô đã đến, hiến dâng mình Ngài duy một lần mà chúng ta được ơn cứu thoát.
Phúc âm: Luca 1:26-38
Thánh sử Luca trình thuật cuộc đàm đạo giữa thiên sứ Gabrie và Trinh nữ Maria tại căn nhà Nazaréth xứ Galilêa. Thiên sứ chào chúc Trinh Nữ "đầy ơn phúc" làm Trinh Nữ xao xuyến. Thiên sứ trấn an Trinh Nữ và loan báo "Trinh Nữ sẽ thụ thai sinh con trai sẽ gọi tên là Giêsu. Ngài là Con Đấng tối cao. Ngài sẽ lên ngai Đavít, làm vua trên nhà Giacob đến đời đời. Vương quyền Ngài vô tận". Trinh Nữ thắc mắc: "Làm sao điều đó xảy ra được vì tôi giữ mình đồng trinh". Thiên sứ giải thích: "Thánh Thần sẽ đến trên tôn nương và quyền năng Đấng Tối Cao rợp bóng trên tôn nương, nên con tôn nương sẽ là Đấng Thánh là Con Thiên Chúa". Thiên sứ đưa tin bà Elizabéth già và son sẻ mà đã mang thai sáu tháng để minh chứng: "Với Thiên Chúa, không gì là không có thể". Trinh Nữ đầy lòng tin và ưng thuận.
L.m. Phêrô, CMC

 

25/3-21: Này tôi là tôi tớ Chúa

"Này tôi là tôi tớ Chúa, tôi xin vâng như lời Thiên Thần truyền
Suy niệm lễ Truyền Tin Thiên Chúa Nhập Thể

( Lc 1, 26-38 )

 

Lễ Truyền Tin là cơ hội để chúng ta nhìn vào Nagiaret hầu cảm nhận được sự hiện diện của một : 25/3-21

Lễ Truyền Tin là cơ hội để chúng ta nhìn vào Nagiaret hầu cảm nhận được sự hiện diện của một trinh nữ mà muôn đời khen là có phúc (x. Lc 1, 48). Thánh Augustinô viết : " Ngài đã chọn một người mẹ mà Ngài đã tạo dựng, Ngài đã tạo dựng người mẹ mà Ngài đã chọn "(x. Bài giảng 69, 3, 4).

Hôm nay, chúng ta cử hành mầu nhiệm cao cả tuyệt vời đã hoàn tất cách đây hơn hai ngàn năm. Sự kiện ấy diễn ra trong không gian và thời gian : " Khi ấy, Thiên Thần Gabriel được Chúa sai đến một thành xứ Galilêa, tên là Nagiarét, đến với một trinh nữ đã đính hôn với một người tên là Giuse, thuộc chi họ Đa-vít, Trinh nữ ấy tên là Maria "(Lc 1 , 26-27 ). Tuy nhiên, để hiểu được những gì đã xảy ra tại Nagiaret hơn ngàn năm về trước, chúng ta lần dở lại Thư gửi tín hữu Do thái. Bản văn này thuật lại cuộc trò chuyện giữa Chúa Cha và Chúa Con về kế hoạch đời đời của Thiên Chúa. " Chúa đã không muốn hy tế và của lễ hiến dâng, nhưng đã tạo nên cho tôi một thể xác. Chúa không nhận của lễ toàn thiêu và của lễ đền tội ". Nên tôi nói : " Lạy Chúa, này tôi đến để thi hành thánh ý Chúa " (Dt 10, 5-7). Như thế, vì vâng ý Chúa Cha, Ngôi Lời đến đã đến cư ngụ giữa chúng ta, dâng chính thân mình làm của lễ hy sinh vượt trên mọi hy lễ đã dâng trong Cựu Ước. Lễ hy sinh của Chúa Giêsu là lễ vĩnh viễn và hoàn hảo cứu chuộc thế gian.

Kế hoạch của Thiên Chúa dần dần được thể hiện trong Cựu Ước, lời tiên tri Isaia là bằng chứng : " Vì thế chính Chúa sẽ cho các ngươi một dấu, này đây một trinh nữ sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai và tên con trẻ sẽ gọi là Immanuel " (Is 7, 14). Emmanuel nghĩa là Thiên Chúa ở cùng chúng ta. Khi thời gian tới hồi viên mãn như đã báo trước, những lời trên được thực hiện, ngày hôm nay chúng ta cử hành với hạnh phúc và niềm vui.

Từ Abraham đến Đức Maria

Hành trình truyền tin khởi đi từ Abraham " cha chúng ta trong đức tin" (x. Rm 11, 12 ). Đưa chúng ta về Nagiaret, gặp Đức Maria nữ tử Sion thuộc dòng dõi Abraham. Hơn ai hết, Đức Maria là người có thể dạy cho chúng ta sống đức tin với " Cha chúng ta."

Abraham và Đức Maria, cả hai đều nhận được từ Thiên Chúa lời hứa tuyệt hảo. Abraham sẽ trở thành cha một cậu con trai, sinh ra một quốc gia vĩ đại. Đức Maria sẽ trở thành Mẹ Đấng Thiên Sai, Đấng Được Xức Dầu của Chúa. Sứ thần Gabriel nói , "Này Bà sẽ thụ thai, sinh một con trai [...] Thiên Chúa sẽ ban cho Người ngôi báu Đavít tổ phụ Người [...] và triều đại Người sẽ vô tận " (Lc 1, 31-33) .

Lời hứa của Thiên Chúa đến với Abraham và Đức Maria thật bất ngờ, làm thay đổi cuộc sống hàng ngày và đảo lộn những trật tự bình thường của hai đấng. Lời hứa ấy là hoàn toàn khổng thể đối với Abraham và Đức Maria. Sara vợ của Abraham đã lão, Maria còn trinh nữ nên đã thưa với Thiên Thần : " Việc đó xảy ra thế nào được, vì tôi không biết đến người nam " (Lc 1, 34).

Lời "xin vâng" của Abraham và Đức Maria

Cả Abraham và Đức Maria đều được yêu cầu trả lời "xin vâng " cho một điều mà từ trước tới nay chưa từng thấy thế bao giờ. Sara, người đàn bà son sẻ đầu tiên trong Kinh Thánh thụ thai bởi ân sủng quyền năng của Thiên Chúa, giống như người phụ nữ sau cùng là bà Elizabeth. Thiên Thần Gabriel nói về Elizabeth để trấn an Đức Maria : "Này Isave, chị họ Bà cũng đã thụ thai con trai trong lúc tuổi già " (Lc 1, 36).

Như Abraham, Đức Maria cũng phải bước đi trong đêm tối, tin tưởng vào Đấng đã kêu gọi Maria. Tuy nhiên, câu hỏi " việc đó xảy ra thế nào được ? " chứng tỏ Đức Maria đã sẵn sàng thưa " xin vâng " bất chấp mọi hoàn cảnh. Maria không đặt câu hỏi liệu lời hứa có được thực hiện hay không, nhưng chỉ hỏi việc đó xảy ra thế nào và đã thưa : "Này tôi là tôi tớ Chúa, tôi xin vâng như lời Thiên Thần truyền" (Lc 1, 38). Với những lời trên, Đức Maria chứng tỏ mình là nữ tử thuộc dòng dõi Abraham đã trở thành Mẹ Chúa Kitô và Mẹ của tất cả các những người tin.

Để hiểu rõ hơn mầu nhiệm này, chúng ta nhìn lại hành trình của Abraham khi đón ba vị khách lạ vào nhà mình (x. St 18, 1-5) ông đã nhận được lời hứa. Cuộc gặp gỡ nhiệm mầu ấy báo trước buổi Truyền Tin cho Đức Maria. Sự hiệp thông giữa Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần lôi kéo Mẹ. Nhờ lời thưa "xin vâng" của Đức Maria tại Nagiaret mà mầu nhiệm Nhập Thể hoàn tất cuộc gặp gỡ của Abraham với Thiên Chúa. Hôm nay chúng ta hát mừng người nữ " đem vầng hồng rực rỡ xuống trần gian" ( Hymne Ave Regina Caelorum ).

Chúng ta xin gì cùng Mẹ Thiên Chúa ?

Chúng ta cầu xin cho mọi người trong Năm Phúc Âm Hóa Gia Đình này được đối mới về đức tin, không chỉ chung chung, nhưng là một đức tin có ý thức và can đảm tuyên xưng như vẫn đọc trong Kinh Tin Kính : "Bởi phép Đức Chúa Thánh Thần, Người đã nhập thể trong lòng Trinh Nữ Maria, và đã làm người ".

Tại Nagiaret, Chúa Giêsu " đã ngày càng tiến tới trong sự khôn ngoan, tuổi tác và ân sủng trước mặt Thiên Chúa và người ta" ( Lc 2 , 52 ). Chúng ta xin Thánh Gia để bảo vệ tất cả các gia đình khỏi các mối đe dọa hiện nay đang đè nặng trên các gia đình. Chúng ta phó thác cho Thánh Gia tất cả những ai đang nỗ lực bảo vệ sự sống và cổ võ việc tôn trọng phẩm giá con người. Chúng ta phó dâng cách riêng các gia đình trên thế giới cho Mẹ Maria.

Tại Nagiaret, nơi Chúa Giêsu khởi đầu sứ vụ công khai, chúng ta xin Đức Maria giúp Hội Thánh rao giảng "Tin Mừng " khắp mọi nơi. Trong " Năm Phúc Âm Hóa Gia Đình ", chúng ta xin xin Mẹ dạy chúng ta con đường khiêm tốn, vâng phục và niềm vui Phúc Âm để phục vụ anh chị em.

Ước gì trên hành trình dương thế, có Mẹ Maria đồng hành, nhờ lời " xin vâng " của Mẹ lúc Truyền Tin, cánh cửa ơn cứu rỗi đã mở ra cho nhân loại. Chúng ta có thể thư " xin vâng " với Chúa Kitô, ngõ hầu toàn thể nhân loại "giao hòa với Thiên Chúa. " Amen.
Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ


 

25/3-22: LỄ TRUYỀN TIN. Lễ Trọng – Nữ tỳ của Chúa xin vâng.

Nữ tỳ của Chúa xin vâng.
25/03 – THỨ BA TUẦN 3 MÙA CHAY – LỄ TRUYỀN TIN. Lễ Trọng.
"Này Bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai".
 * Chín tháng trước lễ Giáng Sinh, chúng ta mừng ngày Con Thiên Chúa nhập thể trong lòng Đức Trinh Nữ Maria. Biến cố này được thánh Luca tường thuật lại trong phần đầu sách Tin Mừng của người. Phụng vụ ngày hôm nay được soi sáng nhờ lời của tác giả Thánh Vịnh 39. Lời này đã được tác giả thư Do Thái đặt lên miệng Chúa Kitô khi Người bước vào trần gian: “Lạy Chúa, này con đây, con đến để thực thi ý Ngài”.
 Lời Chúa: Lc 1, 26-38
Khi ấy, thiên thần Gabriel được Chúa sai đến một thành xứ Galilêa, tên là Nadarét, đến với một trinh nữ đã đính hôn với một người tên là Giuse, thuộc chi họ Ðavít, trinh nữ ấy tên là Maria. Thiên thần vào nhà trinh nữ và chào rằng: "Kính chào Bà đầy ơn phước, Thiên Chúa ở cùng Bà, Bà được chúc phúc giữa các người phụ nữ". Nghe lời đó, Bà bối rối và tự hỏi lời chào đó có ý nghĩa gì.
Thiên thần liền thưa: "Maria đừng sợ, vì đã được nghĩa với Chúa. Này Bà sẽ thụ thai, sinh một Con trai và đặt tên là Giêsu. Người sẽ nên cao trọng và được gọi là Con Ðấng Tối Cao. Thiên Chúa sẽ ban cho Người ngôi báu Ðavít tổ phụ Người. Người sẽ cai trị đời đời trong nhà Giacóp, và triều đại Người sẽ vô tận".
Nhưng Maria thưa với thiên thần: "Việc đó xảy đến thế nào được, vì tôi không biết đến người nam?"
Thiên thần thưa: "Chúa Thánh Thần sẽ đến với Bà và uy quyền Ðấng Tối Cao sẽ bao trùm Bà. Vì thế Ðấng Bà sinh ra, sẽ là Ðấng Thánh và được gọi là Con Thiên Chúa. Và này, Isave chị họ Bà cũng đã thụ thai con trai trong lúc tuổi già và nay đã mang thai được sáu tháng, người mà thiên hạ họi là son sẻ; vì không có việc gì mà Chúa không làm được".
Maria liền thưa: "Này tôi là tôi tớ Chúa, tôi xin vâng như lời Thiên thần truyền". Và thiên thần cáo biệt Bà.
 Nữ tỳ của Chúa
 

Đức Maria vừa được sứ thần Chúa đến báo tin là được chọn làm Mẹ Đức Kitô, Con Thiên Chúa: 25/3-22

Đức Maria vừa được sứ thần Chúa đến báo tin là được chọn làm Mẹ Đức Kitô, Con Thiên Chúa. Và sau khi đã nghe sứ thần giải đáp những điều còn thắc mắc, Mẹ chỉ vắn tắt thưa cùng sứ thần: Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói.
Là Mẹ của con Thiên Chúa, tức là Mẹ của Thiên Chúa, nhưng Đức Maria vẫn chỉ coi mình là nữ tỳ. Cũng như Đức Kitô, là Con Thiên Chúa và là Thiên Chúa thật, nhưng cũng khẳng định là mình đến không phải để được phục vụ, nhưng là để phục vụ và hiến mạng sống mình làm giá cứu chuộc nhiều người. Nói cách khác, tuy thực sự là Thầy và là Chúa, nhưng Đức Kitô muốn sống giữa anh em nhân loại của mình như một người tôi tớ chứ không như một ông chủ. Và Ngài cũng muốn cho cộng đoàn Dân Chúa, mà Ngài lập ra, phải luôn tôn trọng nguyên tắc Ngài đã ấn định: Vua Chúa các dân thì lấy quyền mà thống trị và những ai cầm quyền thì tự xưng mình là ân nhân. Anh em thì không như thế, trái lại, ai lớn nhất trong anh em thì phải nên  người nhỏ nhất và kẻ làm đầu thì phải nên như người phục vụ.
Trong xã hội phong kiến ngày xưa, vua quan được coi như cha mẹ của dân: dân chi phụ mẫu. Ngày nay, tuy phần lớn các quốc gia đã trở thành dân chủ và nhiều người lãnh đạo chính quyền vẫn tự xưng mình là "công bộc", là "đầy tớ" của nhân dân. Nhưng trong thực tế, thì chỉ thấy người ta đón tiếp, chào hỏi long trọng và hết lòng phục vụ các người đầy tớ ấy, mà chẳng ai đón tiếp, chào hỏi người dân, nhất là những người nghèo và những kẻ làm tôi thực sự.
Còn Đức Maria và Chúa Giêsu thì vẫn trước sau như một. Chỉ biết sống vì mọi người và cho mọi người, hay nói cách khác, lấy sự phục vụ mọi người làm phương châm. Chúa Giêsu thì chủ tâm thực hiện sứ vụ người tôi tớ của Thiên Chúa mà tiên tri Isaia đã phác hoạ, còn Mẹ Maria thì chỉ thích sống như một người nữ tỳ của Chúa.
Giáo Hội, một mặt là nhiệm thể Đức Kitô, một mặt cũng là hình ảnh nối tiếp của Đức Maria, nên cũng phải thể hiện vai trò làm tôi tớ và nữ tỳ của Thiên Chúa. Trong kinh nghiệm sống hằng ngày, người mẹ nào cũng trước hết làm mẹ, làm tôi tớ rồi mới làm thầy dạy con cái mình. Con càng nhỏ dại, mẹ càng phải vất vả hầu hạ và nhất là con càng đau yếu, thì mẹ càng pảhi chăm sóc tận tình. Giữa chức vụ làm mẹ và làm thầy thì có bổn phận làm tôi tớ. Người ta phải yêu mến cha mẹ, phải sống trọn chữ hiếu. Người ta phải tôn kính thầy mình. Nhưng không ai có bổn phận phải biết ơn tôi tớ. Trái lại kẻ làm tôi thường bị khinh rẻ và cư xử bất công. Người ta đã bất công như thế nào đối với Chúa Giêsu chỉ vì Ngài đã không dùng quyền năng để áp đặt trên họ một quyền thống trị, mà lại chỉ muốn hầu huyện mọi người như tôi tớ. Vậy nếu ngày hôm nay Giáo Hội có bị coi thường, bị ngược đãi, thậm chí có bị bách hại, thì âu cũng là lẽ thường, bởi chính Đức Kitô cũng đã từng bị ngược đãi và bị giết. Cũng chính Người đã báo trước cho các môn đệ biết trước số phận đang chờ đón họ. Thà chúng ta tự coi mình như những đầy tớ vô dụng, làm tất cả những gì Chúa dạy phải làm, rồi sau đó có bị quên ơn, ngược đãi, còn hơn là tự tôn mình làm thầy, làm chúa thiên hạ, rồi sau bị người ta nguyền rủa và lên án: Vì ai nâng mình lên sẽ bị hạ xuống, còn ai hạ mình xuống sẽ được nâng lên. Chính vì chỉ muốn làm nữ ty của Chúa, nên Đức Maria đã được chọn làm Mẹ Thiên Chúa và được mọi đời khen ngợi là người diễm phúc.

 

25/3-23: Lễ Truyền Tin

Mỗi khi đọc kinh Kính Mừng, chúng ta lặp lại lời sứ thần Gabriel chào Ðức Maria khi mở đầu: 25/3-23

Mỗi khi đọc kinh Kính Mừng, chúng ta lặp lại lời sứ thần Gabriel chào Ðức Maria khi mở đầu cuộc truyền tin: “Kính mừng Maria đầy ơn phúc, Ðức Chúa Trời ở cùng Bà. Mừng vui lên hỡi Ðấng đầy ân sủng, Thiên Chúa ở cùng Bà”. Ðây chính là lời chúc phúc có ý nghĩa nhất và cũng là lời chúc phúc có giá trị nhất của con người.
Quả thế, không có mối phúc nào lớn hơn mối phúc của người được Thiên Chúa ở cùng, của người được Thiên Chúa chọn làm Mẹ của Con Thiên Chúa. Theo sau lời chúc phúc cũng là lời loan báo cho Ðức Maria biết tình trạng ân sủng tuyệt vời của Mẹ. Sứ thần cho Mẹ biết là Mẹ sẽ thụ thai Con Thiên Chúa. Ðây quả là một tin hết sức trọng đại khiến Mẹ phải bối rối. Hơn nữa, Mẹ sẽ thụ thai thế nào đây khi mà Mẹ chưa hề chung chăn gối với ai. Thắc mắc của Ðức Maria được sứ thần giải đáp bằng một câu trả lời đầy thuyết phục, một cách tuyệt đối nhân danh quyền năng của Ðấng Tối Cao, kèm theo là một chứng cớ cụ thể đang xảy ra cho người chị họ của Mẹ. Ðối chiếu với các câu Thiên Chúa trả lời cho tổ phụ Abraham, cho ông Môsê hay cho thánh Giuse, chúng ta thấy Thiên Chúa rất tế nhị khi giao tiếp với từng đối tượng để giải đáp thắc mắc của người thiếu nữ. Người đã chọn cách trả lời giản dị mà có hiệu quả nhất. Câu trả lời này mang lại cho Ðức Maria sự bình an sâu thẳm. Mẹ đã sẵn sàng lãnh nhận sứ mạng cao cả mà Thiên Chúa trao phó cho Mẹ. Mẹ đã tiếp nhận được điều chính yếu trong sứ điệp Truyền Tin, Mẹ đã tin tưởng tuyệt đối vào sứ điệp đó và Mẹ sẽ cống hiến hết mình cho điều mình xác tín.
Trong cuộc sống hàng ngày, mỗi người chúng ta cũng được Thiên Chúa gởi sứ điệp có liên quan đến công cuộc cứu độ của Người. Trong cái đại dương thông tin mênh mông đang ùa tới với chúng ta mỗi ngày, Thiên Chúa vẫn không ngừng nói với chúng ta bằng tiếng nói của con người hôm nay, cung cách giao tiếp của Thiên Chúa vẫn luôn tế nhị, thích ứng với từng đối tượng mà Người muốn ngỏ lời. Nếu chịu khó lắng nghe, chúng ta sẽ thấy sứ điệp mà Thiên Chúa gửi đến cho mình cũng có những nét tương tự như sứ điệp Truyền Tin cho Ðức Maria.
Thay cho lời chào của sứ thần, chúng ta có thể cảm thấy có một cái gì đó lay động linh hồn chúng ta và tạo cho chúng ta một cảm giác thiêng liêng huyền nhiệm. Trước cảm giác linh thiêng này, có thể chúng ta sẽ bối rối xao xuyến vì không biết chuyện gì đang xảy ra cho tâm hồn mình, chúng ta có thể lờ đi không lưu tâm đến nó nữa. Và trong trường hợp này, chúng ta sẽ không nhận được phần tiếp theo của sứ điệp. Nhưng nếu chúng ta để ý lắng nghe, chúng ta sẽ nhận được những sứ mạng mà Thiên Chúa muốn trao cho chúng ta. Ða số các sứ mạng này là những công việc bình lặng trong cuộc sống thường ngày với mục đích đem ơn cứu độ đến cho những người khác. Nhưng cũng có lúc đó là những công việc có tầm ảnh hưởng lớn hơn, khó thực hiện hơn và đôi khi vượt quá khả năng của chúng ta. Những lúc ấy, chúng ta sẽ cảm thấy e ngại vì không biết mình sẽ làm sao để thực hiện lời Thiên Chúa gợi ý. Nhưng nếu chúng ta tin tưởng và tiếp tục đối thoại với Thiên Chúa, thì Người sẽ đưa ra cho chúng ta lời giải đáp, và có thể Người sẽ đưa ra cho chúng ta một vài bằng chứng cụ thể để củng cố lòng tin của chúng ta. Ðến đây, Thiên Chúa chờ đợi lời thưa “Xin Vâng” của chúng ta như Người đã chờ đợi lời thưa “Xin Vâng” của Mẹ Maria ngày xưa.
Lạy Mẹ Maria, có những lúc con đã nghe được tiếng Chúa gọi gợi ý cho biết những công việc phải làm, nhưng khi nhìn lại bản thân, con thấy mình chỉ là một con người bé nhỏ, bình thường như bao nhiêu người khác, vì thế, con ngần ngại không dám tiến thân. Hôm nay, khi suy niệm về biến cố Truyền Tin, con hiểu ra rằng đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được, cũng không có gì là bé nhỏ tầm thường vô giá trị. Xin Mẹ giúp con từ nay biết lắng nghe và thực hiện ý Chúa với tâm tình đơn sơ phó thác như Mẹ ngày xưa.
(Trích trong ‘Mỗi Ngày Một Tin Vui’)

 

25/3-24: Xin vâng

Người ta không ngớt hỏi về tiểu sử của cô thiếu nữ Do Thái, cô đã biết nắm giữ những điều chính: 25/3-24

Người ta không ngớt hỏi về tiểu sử của cô thiếu nữ Do Thái, cô đã biết nắm giữ những điều chính xác của Chúa, và trong đám chị em cô. Cô đã được chọn làm Mẹ Đấng Cứu Thế. Có phải có một phụ nữ độc nhất đã được ghi tên trong lịch sử không? có phải có một phụ nữ độc nhất đã là đối tượng của tình yêu trinh trong của nhiều quân tử không? có phải có một bà độc nhất đã nhận bao nhiêu lời cầu khẩn của nhiều ông trong cơn quẫn bách đã chạy đến cùng bà và nhận được an ủi không?
Không, người ta không ngừng chiêm ngắm mầu nhiệm lạ lùng này, đã hoàn toàn đặt vào thiện tâm thiện chí của một phụ nữ trẻ, vào lời đáp ngắn gọn: “Fiat Voluntas tua”. Xin vâng ý Ngài. Và đồng thời những vui mừng được làm người mẹ, đặc biệt cùng với thảm kịch bi đát nhất trong suốt lịch sử: Sinh hạ Con Thiên Chúa, và cái chết trên thánh giá.
Cần phải có một đức tin sâu xa để tin nhận những biến cố như thế và đừng thử giải nghĩa theo lý trí loài người. Một đức tin sâu thẳm như đức tin của Ma-ri-a để thư xin vâng.
Và nếu người ta nghĩ ra rằng Thiên Chúa đợi chúng ta đáp cùng lời như thế, thì sao? Nếu Thánh Thần chỉ đợi chúng ta xin vâng để Ngài ngự đến và biến đổi đời sống chúng ta, thì sao? Nếu Thánh thần chỉ đợi chúng ta hết lòng xin vâng để làm cho chúng ta tiến tới trong đường lối của Ngài, thì chúng ta nghĩ sao?
Xin vâng đôi khi dễ dàng vì nó gợi lên những niềm vui sâu xa như niềm vui mà Thánh Phaolô ở trong tù viết thư cầu chúc cho giáo đoàn Philip.
Xin vâng khó hơn đối với một cuộc đời đầy những giờ phút khó khăn, đôi lúc được hạnh phúc an ủi.
Xin vâng khó nhất, lúc đứng dưới chân thập giá, lúc tất cả hình như mất hết. Sự xin vâng của thiếu nữ Ma-ri-a kéo dài không ngừng trong đời sống đau khổ làm Mẹ như thế.
Nguyện xin Chúa Thánh Thần giúp chúng ta sống xin vâng như vậy.
L.P

 

25/3-25: Người nữ tỳ trung tín của Thiên Chúa

Những lời của Đức Bà Maria trong giờ Truyền Tin: “Vâng tôi đây là nữ tỳ của Chúa; xin Chúa cứ làm: 25/3-25

1.Những lời của Đức Bà Maria trong giờ Truyền Tin: “Vâng tôi đây là nữ tỳ của Chúa; xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần truyền” (Lc 1,38) nói lên thái độ đặc biệt về lòng mộ đạo của người Do Thái. Môisen, trong buổi đầu của Giao Ước Xưa, đã đáp lại lời gọi của Chúa, xưng là người tôi tớ (Ex 4,10; 14,31). Từ khởi đầu của Giao Ước Mới, Đức Bà Maria cũng đáp lại lời gọi của Chúa bằng một cử chỉ tự do vâng phục và tự giác phú dâng theo thánh ý Chúa, bày tỏ sự sẵn sàng trở thành “nữ tỳ của Chúa”.
Trong Cựu Ước, tính chất “người tôi tớ” của Chúa tập họp lại những ai được gọi để thực hành sứ mệnh chăn dắt dân Chúa chọn: Abraham (Gn 26, 24), Isaac (Gn
24,14), Jacob (Ex 32,13; Es 37,25), Josué (Jos 24,29), David (2S 7,8, v.v.). Các đấng tiên tri và những thầy cả, mà Chúa đã giao cho trọng trách tập họp dân chúng trung thành thờ phượng Chúa, đều là những người tôi tớ. Sách Tiên tri Isaie ca tụng sự tuân phục của “Người Tôi Tớ khổ đau”, một gương mẫu trung tín với Chúa trong niềm hy vọng chuộc tội cho thiên hạ (Is 42,53). Còn có nhiều phụ nữ cũng nêu lên những gương mẫu về lòng trung tín, như Hoàng Hậu Esther, trước khi đi cầu xin cứu vớt dân Do Thái, đã dâng lên Chúa lời cầu khẩn nhiều lần bày tỏ là “người nữ tôi tớ của Chúa” (Est 4,17).
2. Đức Bà Maria, người đàn bà “đầy ơn phúc”, xưng là “nữ tỳ của Chúa”, đã tự hiến dâng chính mình, một cách hoàn hảo, trong công việc mà Chúa chờ mong cho toàn thể dân chúng. Những lời: “Tôi là nữ tỳ của Chúa” báo trước Đấng sẽ nói về Chính mình: “Vì Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ, và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người.” (Mc 10,45; Mt 20,28). Chúa Thánh Thần cũng thực hiện giữa Đức Mẹ và Chúa Con, với sự sắp đặt hài hòa trong nội tâm, điêù này giúp cho Đức Bà Maria đảm trách hoàn hảo vai trò người mẹ của Chúa Giêsu, đồng hành cùng Chúa trong sứ mệnh của “Nguời Tôi Tớ”.
Trong cuộc đời của Chúa Giêsu, ý hướng muốn phục vụ luôn kiên trì và kỳ lạ: là Con của Thiên Chúa, thực vậy, Chúa có quyền để ngưới khác phục vụ mình. Khi nhận lãnh tước vị “Con Người”, sự việc này sách Daniel xác nhận: “mọi dân tộc, mọi quốc gia và ngôn ngữ phải phụng sự Ngài” (Dn 7,14) và Chúa có quyền chế ngự tất cả mọi người. Trái lại, để đánh đỗ tinh thần của thời đại bây giờ, mà các môn đệ của Chúa dã ước vọng là có một vai trò ở hàng đầu (Mc 9,34) và phản kháng của Phêrô khi Chúa cúi xuồng rửa chân cho môn đệ (Jn 13,6), Chúa Giêsu không muốn được phục vụ, nhưng muốn phục vụ cho đến việc ban cho tất cả sự sống của mình trong công cuộc cứu chuộc.
3. Khi Thiên Sứ báo tin, Đức Bà Maria, nhận biết một vinh dự thật cao cả được Chúa trao ban, nên tự nhiên bột phát nói “người nữ tỳ của Chúa”. Trong sự ưng thuận phục vụ, trong đó gồm có việc phục vụ tha nhân, và điều đó nói lên trong mối liên hệ qua giai đoạn Truyền Tin và Viếng Thăm: được Thiên sứ báo là bà Elizabeth đang chờ sinh con, Đức Bà Maria vội vã lên đường đến Judea với bà Elizabeth (Lc 1, 39) để phụ giúp người bà con trong lúc sinh sản, đã tỏ ra sẵn sàng phục vụ. Đức Bà Maria nêu gương cho người Kitô hữu thuộc mọi thời đại một gương mẫu cao cả trong việc phục vụ.
Những lời: “Xin Chúa cứ làm cho tôi như lời thiên sứ truyền” (Lc 1, 38), lời của người thốt ra là nữ tỳ của Chúa chứng tỏ một sự vâng phục tuyệt đối vào thánh ý Chúa. Danh từ “genoito” “xin cứ làm cho tôi” mà Luca dùng, không chỉ bày tỏ sự ưng thuận mà còn nhận lấy trách nhiệm được giao phó về kế hoạch của Chúa, công việc mà Đức Bà Maria sẽ thực hiện với tất cả khả năng của chính mình.
4. Để cho phù hợp với thánh ý Chúa, Đức Bà Maria dự đoán và xem như chính cho mình thái độ của Chúa Kitô, mà trong Thư gởi cho người Do Thái, khi vào trần gian, Chúa Kitô nói: “Chúa đã không ưa hy lễ và hiến tế, nhưng đã tạo cho con một thân thể... Và bây giờ con mới thưa: này con đây, con đến để thực thi thánh ý của Chúa”. (He 10, 5-7; Ps 40/39, 7-9)
Sự vâng phục của Đức Bà Maria loan truyền và báo trước sự vâng phục của Chúa Kitô trong đời sống công khai và cho đến tận Đồi Calvê. Chúa Kitô nói: “ Lương thực của Thầy là thi hành ý muốn của Đấng đã sai Thầy” (Jn 4, 35). Cũng như vậy, Đức Bà Maria đã thực hành ý muốn của Đức Chúa Cha là nguồn cảm hứng cho cuộc sống, tìm kiếm trong mình sức mạnh cần thiết để hoàn thành sự mệnh đã được giao phó.
Nếu trong giây phút Truyền Tin, Đức Bà Maria chưa biết đến sự hy tế trong sứ mệnh của Chúa Kitô, lời tiên tri của Syméon đã cho Đức Bà Maria thấy định mệnh bi thảm của Chúa Con (Lc 2, 34-35), mà Đức Trinh Nữ đã nhận thức được trong thâm tâm của mình. Trong sự vâng phục tuyệt đối vào thánh ý Chúa, Đức Bà Maria sẵn sàng sống trong tình yêu của Chúa đã hoạch định cho cuộc sống của mình với “lưởi dòng đâm thâu qua tâm hồn của mình”.
(Trích từ báo L'Observatore Romano)
Phó Tế Huỳnh Mai Trác dịch
VietCatholic News (25/03/2006)

 

25/3-26: Lễ Truyền Tin GM JB. Bùi Tuần

Trong ngày lễ Truyền Tin, Hội Thánh kính nhớ một biến cố quan trọng. Thiên thần báo tin cho Ðức: 25/3-26  FB

Trong ngày lễ Truyền Tin, Hội Thánh kính nhớ một biến cố quan trọng. Thiên thần báo tin cho Ðức Mẹ rằng: Thiên Chúa muốn chọn Ðức Mẹ làm Mẹ Ðấng Cứu Thế. Tin đó quá bất ngờ, vượt mọi suy nghĩ, mọi tưởng tượng, mọi đợi chờ. Phản ứng của Ðức Mẹ bắt đầu là bỡ ngỡ bàng hoàng lo sợ, nhưng tiếp đó là xin vâng ( Lc 1, 38 ).
Xin vâng là xin tuân phục ý Chúa. Xin vâng là xin cộng tác vào chương trình cứu độ của Chúa, với sự từ bỏ mình, với sự tuyệt đối phó thác đời mình trong tay Chúa.
Lập tức sau lời "xin vâng" của Ðức Mẹ, Ngôi Hai Thiên Chúa đã xuống thế nhập thể trong lòng Ðức Mẹ. Tất cả đều diễn tiến một cách âm thầm, khiêm tốn. Từ đó "xin vâng" đã được coi như một giao ước mới, một bài ca mới, một con đường mới, của con người mới.
Khi nói xin vâng được coi như một giao ước mới, tôi nhớ lại việc Ðức Mẹ vội vã lên đường đi thăm viếng bà Ê-li-da-bét ( Lc 1, 39 - 45 ). Ði thăm để chia sẻ, để phục vụ, để nâng đỡ khích lệ bà Ê-li-da-bét. Theo Ðức Mẹ, thì mình được Chúa thương, là để mình biết thương người khác. Mình được Chúa chọn cộng tác với Chúa trong việc cứu độ, thì mình phải quyết tâm dấn thân góp phần cứu độ người khác. Mình nhận ơn Chúa ban, thì mình sẽ cố gắng chia sẻ ơn đó cho người khác.
Thiết tưởng đó là một giao ước mới về bác ái liên đới phát sinh từ lời xin vâng.
Khi nói xin vâng được coi như một bài ca mới, tôi nhớ lại tâm tình Ðức Mẹ trong kinh Tạ Ơn "Linh hồn tôi tung hô Chúa" ( Lc 1, 46 - 55 ). Tâm tình Ðức Mẹ là lời nói chân thành của người con bé nhỏ, đầy khiêm tốn, ngỡ ngàng biết ơn và phó thác đối với Chúa. Tâm tình Ðức Mẹ là khát vọng cứu độ tỏa ra sức nóng của tình yêu thương xót, nhưng lại khiêm nhường tế nhị đối với đồng bào, nhân loại. Tâm tình Ðức Mẹ là cái nhìn tiên tri sâu sắc của trái tim khiêm nhường về tương lai dành cho những kẻ khiêm tốn.
Thiết tưởng đó là một bài ca mới về khiêm tốn khởi đi từ lời xin vâng.
Khi nói xin vâng được coi là một con đường mới, tôi nhớ lại biến cố Ðức Mẹ sinh Chúa Giê-su tại hang đá Bê-lem ( Lc 2, 1 - 7 ). Ðang khi hầu hết mọi người đều coi giàu sang chức quyền danh vọng là những bậc thang giới thiệu giá trị con người, thì Ðức Mẹ đã không nghĩ như vậy, đã không vận động chút nào để được như vậy. Trái lại, Ðức Mẹ đã lặng lẽ đi vào con đường khó nghèo. Con đường đó đã khởi đi từ hang đá Bê-lem và kéo dài từng ngày, từng tháng, từng năm, suốt cả cuộc đời Ðức Mẹ. Trên con đường đó, Ðức Mẹ đã cầu nguyện, đã suy gẫm trong lòng, đã lắng nghe Chúa, đã thông hiệp với sự sống Chúa.
Thiết tưởng đó là một con đường mới về sự nghèo khó được vạch ra từ lời xin vâng.
Con đường mới đó, bài ca mới đó, giao ước mới đó đều nói lên Ðức Mẹ là con người mới. Mới về nhiều phương diện, nhưng nhất là về phương diện Chúa Thánh Thần ngự xuống trên Ðức Mẹ, để đổi mới con người của Mẹ ( Lc 1, 35 ).
Qua việc Ngôi Hai xuống thai trong lòng Ðức Mẹ, Chúa Thánh Thần đã đưa tình yêu thương xót của Thiên Chúa vào nhân loại, đã mạc khải Thiên Chúa là tình yêu, đã khai mở một nguồn mạch ơn thánh cứu độ vô cùng phong phú cho mọi người thiện chí.
Do đó, Ðức Mẹ là con người mới, là tác phẩm tuyệt vời của Chúa Thánh Linh. Với đặc điểm là Ðức Mẹ có một trái tim giống trái tim Chúa Giêsu, trong sạch, hiền lành, khiêm nhường, cháy rực lửa tình yêu thương xót.
Những chia sẻ vắn tắt trên đây có thể giúp chúng ta phần nào, để chuẩn bị mừng Lễ Truyền Tin một cách sống động sát với thời sự.
Thời sự hiện nay, nếu nhìn về góc độ xin vâng ý Chúa, thì đó là cả một vấn đề đáng phải lo ngại. Bởi vì có những người coi trọng ý Chúa và xin vâng ý Chúa. Cũng có những người coi thường ý Chúa và chống lại ý Chúa. Có những người hiểu sai ý Chúa, vô tình hoặc cố tình. Có những người gán cho ý Chúa những ý riêng của mình. Có những người muốn ý Chúa hợp theo ý riêng mình, cho dù ý riêng mình là quái gở.
Thời sự hôm nay là Ít-ra-en, quê hương của Ðức Mẹ, đang là mảnh đất diễn ra vòng xoáy hận thù và đổ máu. Vòng xoáy kinh hoàng này càng ngày càng mở rộng trên đất, đồng thời càng xoáy sâu vào lòng dân. Từ mảnh đất này hằng ngày truyền đi khắp năm châu những tin đau đớn, gây nên băn khoăn nặng nề cho hoà bình thế giới. Thời sự này làm cho rất nhiều người phải khóc, phương chi Ðức Mẹ.
Nhưng theo tôi, thời sự hiện nay quan trọng nhất chính là chuyện của bản thân ta. Ta có lắng nghe ý Chúa không ? Và ta có xin vâng ý Chúa thực không ? Ðoạn Phúc Âm sau đây sẽ gợi ý cho ta thấy rõ ý Chúa về ta trong thời sự hôm nay:
"Cùng lúc ấy, có mấy người đến kể lại cho Ðức Giê-su nghe chuyện những người Ga-li-lê bị tổng trấn Phi-la-tô giết, khiến máu đổ ra hoà lẫn với máu tế vật họ đang dâng. Ðức Giê-su đáp lại rằng: "Các ông tưởng mấy người Ga-li-lê đó tội lỗi hơn mọi người Ga-li-lê khác, bởi lẽ họ đã chịu đau khổ như vậy sao ? Tôi nói cho các ông biết: Không phải thế đâu. Nhưng nếu các ông không sám hối, thì các ông cũng sẽ chết hết như vậy". "Cũng như mười tám người kia bị tháp Si-lô-e đổ xuống đè chết, các ông tưởng họ là những người mắc tội nặng hơn tất cả mọi người ở thành Giê-ru-sa-lem sao ? Tôi nói cho các ông biết: Không phải thế đâu. Nhưng nếu các ông không chịu sám hối, thì các ông cũng sẽ chết như vậy" ( Lc 13, 1 - 5 ).
Suy gẫm đoạn Phúc Âm trên, tôi có cảm tưởng là Chúa muốn báo tin cho từng người chúng ta biết rõ ý Chúa. Ðó là đừng quá bận tâm xét đoán người khác, nhưng hãy ưu tiên lo phần rỗi của mình. Lo bằng cách sám hối ăn năn, đổi mới chính mình. Cách đó là cách tốt nhất để góp phần vào việc cứu độ người khác.
Chúa báo tin cho chúng ta ý Chúa là như thế đó. Rất rõ ràng. Ở Fatima Ðức Mẹ cũng báo cho chúng ta tin đó. Cũng rất rõ ràng. Chúng ta hãy đáp lại bằng lời xin vâng.
Xin vâng của chúng ta là một hành trình dài đi về với Chúa. Hãy bước đi với những bước nhỏ. Như hằng ngày cầu nguyện bằng kinh Kính Mừng và chuỗi Mai Khôi. Như hằng ngày đến bên trái tim Ðức Mẹ, để xin trái tim Ðức Mẹ chia sẻ cho ta bầu khí thinh lặng, chiêm niệm, lửa bác ái nồng nàn và sức mạnh lạ lùng của khiêm nhường nghèo khó. Như hằng ngày thực hiện đôi ba việc bác ái, thương cảm liên đới với những người nghèo, bệnh tật, xa Tin Mừng, bị xã hội loại trừ. Như hằng ngày tập nói và làm những gì mang tính cách phục vụ hoà bình hiệp nhất trong yêu thương và tế nhị. Như hằng ngày dùng lòng tin mến biến những mệt mỏi khổ đau của mình thành của lễ đền tội tạ ơn, và xin ơn an bình cho gia đình quê hương và thế giới.
Nếu lời xin vâng của chúng ta được hiệp thông sâu sắc với lời xin vâng của Ðức Mẹ, thì đây sẽ là một hy vọng mới cho tương lai bản thân ta, cho Hội Thánh ta, cho quê hương Việt Nam chúng ta, và cho tất cả nhân loại.

 

25/3-27: Bài giảng lễ Truyền Tin Lm. Giuse Đinh Tất Quý

T2, 24/03/2014 - 06:15

Anh chị em thân mến

 

Hôm nay chúng ta cùng với toàn thể Giáo Hội mừng kính một trong những biến cố quan trong nhất: 25/3-27

Hôm nay chúng ta cùng với toàn thể Giáo Hội mừng kính một trong những biến cố quan trong nhất trong lịch sử ơn cứu đ. Biến cố sứ thần của Thiên Chúa truyền tin cho Đức Maria Mẹ của chúng ta.

Nói về Đức Mẹ như lời thánh Bernađô thì "chẳng bao giờ cho đ". Mỗi lần nói về vai trò của Đức Mẹ trong công trình cứu chuộc của Chúa thì chúng ta thường hay nghĩ đến cách thức Chúa thực hiện những việc lạ lùng nới con người của Đức Mẹ hơn là nghĩ đến những yếu tố đặc biệt khiến Đức Mẹ được Thiên Chúa tuyển chọn. Thậm chí chúng ta còn thấy nhiều nhà tu đức còn cho là Thiên Chúa luôn có quyền làm theo ý muốn của mình. Họ cho rằng việc Thiên Chúa chọn một người phụ nữ quê mùa, nghèo khó đ làm Mẹ Thiên Chúa là cốt ý đ làm bẽ mặt những kẻ quyền thế, giầu có sang trọng trong thế gian.

Tôi không phủ nhận ý kiến đó. Thế nhưng đối với tôi nếu chỉ nghĩ về Thiên Chúa như thế thì chưa đ. Không phải lúc nào Thiên Chúa cũng hành động khác thường. Có những lúc Ngài cũng hành động theo những qui luật bình thường. Nói như thế là tôi muốn nói tới những lý do khiến Chúa đã đặc biệt đ ý đến Đức Mẹ và tuyển chọn Ngài vào một công tác rất quan trọng trong chương trình cứu đ của Người.

Thế thì Đức Mẹ đã có những yếu tố nào đ Thiên Chúa làm như thế?. Tôi thấy nơi Đức Mẹ có hai nhân đức rất quan trọng này:

Trước hết đó là lòng kính sợ Thiên Chúa

Thứ đến là sự khiêm nhường.

a - Lòng kính sợ Thiên Chúa.

Sách khôn ngoan nói :"Lòng kính sợ Thiên Chúa là đầu mối của mọi sự khôn ngoan" Lòng kính sợ Thiên Chúa nơi Đức Mẹ được biểu lộ ra trong nhiều trường hợp nhưng đặc biệt được biểu lộ ra một cách rõ rệt trong hai trường hợp này.

+
Trước hết vì lòng kính sợ Thiên Chúa cho nên Đức Mẹ không dám làm những gì mất lòng Người. Thí dụ như trong biến cố truyền tin hôm nay. Đức Mẹ chỉ chấp nhận lời đ nghị của sứ thần Grabriel khi biết chắc việc thụ thai là do quyền lực của Chúa Thánh Thần.

+
Thứ đến là Đức Mẹ luôn sẵn sàng thi hành mọi mệnh lệnh của Thiên Chúa.

Trong việc đưa Hài nhi Giêsu trốn qua Ai cập.

Trong việc đưa Chúa Giêsu trở về.

Nhất là theo Chúa Giêsu lên đến đỉnh đồi Golgôtha.

b - Đức tính đặc biết thứ hai của Đức Mẹ đó là lòng khiêm nhường.

Các nhà tu đức học đều coi "Khiêm nhường là đức nền tảng của mọi nhân đức". Sự khiêm nhường của Đức Mẹ được biểu lộ rất rõ nét qua hai sự việc này:

- Đ
ức Mẹ đã biết nhìn nhận thật rõ về con người của mình. Khác hẳn với Eva thuở xưa trong vườn địa đàng, tuy chỉ là con người mà cứ tưởng mình ngang tầm với Thiên Chúa. Đức Mẹ là Eva mới dù được Thiên Chúa đặc biệt ưu ái tuyển chọn lên bậc "quân vương" làm Mẹ sinh ra Đấng Cứu thế nhưng Đức Mẹ vẫn chỉ xưng mình là một tôi tớ không hơn không kém……

- Đ
ức Mẹ nhìn nhận tất cả những gì mình có được đều là do Thiên Chúa.

"
Người đã đoái thương nhìn tới phận nữ tì hèn mọn"

" Đ
ấng toàn năng đã làm cho tôi biết bao điều cao cả"

Vâng tất cả là bởi Thiên Chúa .

"
Thiên Chúa đã hạ bệ những ai quyền thế và nâng cao những kẻ khiêm nhường.

Thiên Chúa đã ban đầy dư cho nhũng kẻ nghèo, còn người giầu có thì Người đuổi về tay không.

Phải có một lòng khiêm nhương thật thẩm sâu thì mới có thể thấy hết được những sự thật đó. Thái đ của Đức Mẹ khác hẳn với thái đ của Eva thuở xưa. Evà thuở xưa có được một chút quyền hành Thiên Chúa ban cho trong công việc canh giữ và làm chủ vườn điạ đàng đã tưởng mình là quan trọng, thậm chí có lúc còn tưởng là Thiên Chúa như muốn ghen tương với mình. Thật là kiêu ngạo.

Trong thi tập: “Người Làm Vườn”, thi hào Tagore của Ấn Đ đã ca ngợi người đàn bà như sau:

Hỡi người đàn bà! Người không chỉ là tuyệt tác của Thượng Đế. Người còn là công trình của con người. Chính con người vẫn mãi mãi tiếp tục tô điểm cho người bằng tâm tình của họ.

Các thi sĩ dệt cho người một mạng lưới của những vần thơ óng .

Các hoạ sĩ mặc cho người một chiếc áo choàng bất tử.

Biển khơi dâng hiến cho người ngọc ngà châu báu.

Người thợ mỏ mang vàng đến cho người.

Người làm vườn ôm ấp vỗ về người bằng muôn hoa cỏ đồng nội. Khát vọng của lòng người đã trải dài vinh quang của họ trên tuổi xuân của người. Hỡi người đàn bà! Người một nữa là đàn bà một nữa là mộng mơ.

Anh chị em thân mến.

Những vần thơ trên đây đáng được dành riêng đ ca tụng Mẹ Maria, Mẹ Thiên Chúa và là Mẹ chúng ta. Mẹ Maria tuyệt mỹ, bởi vì Mẹ giống Chúa Con. Mẹ giống Chúa Con là bởi vì cả cuộc sống lúc nào Mẹ cũng tuân theo thánh ý Chúa. Trước khi được liên kết với Chúa Giê-su bằng máu mủ ruột thịt, Mẹ đã được liên kết với Ngài bằng hai chữxin vâng”.

Lạy Mẹ, chúng con thật hạnh phúc vì được gọi Mẹ bằng chính âm thanh mà chính Chúa Giêsu đã từng gọi trong suốt cuộc đời của Ngài. Mẹ được Chúa Giê-su gọi bằng mẹ không những vì đã sinh ra Chúa mà còn bởi vì Mẹ đã sống vâng phục như Thiên Chúa như chính Con của Mẹ.

Xin mẹ hãy phù giúp chúng con biết nhìn ngắm Mẹ và nhờ đó mỗi ngày một trở nên giống Con Mẹ hơn. Amen.


 

25/3-28: LỄ TRUYỀN TIN

Chính tổng lãnh thiên thần Gabriel đã loan báo cho Đức Maria Mầu Nhiệm Nhập Thể. Khi các : 25/3-28

Chính tổng lãnh thiên thần Gabriel đã loan báo cho Đức Maria Mầu Nhiệm Nhập Thể. Khi các phụ nữ đến mộ của Chúa Kitô đ tìm kiếm Ngài, thì cũng chính thiên thần Gabriel đã loan báo biến cố phục sinh và dặn dò: “Đừng tìm kiếm Ngài, Ngài không có đây, Ngài chờ đợi anh em Galilê.” Qua hai sự kiện này, ta thấy có một sự thống nhất lạ lùng trong mầu nhiệm. Tôi cầu mong sao cho Lễ Truyền Tin năm nay sinh lợi cho tất cả anh chị em. Muốn như thế, tôi mời gọi anh chị em nhìn mọi góc cạnh, vì nếu nhìn vào chính giữa thì Mầu Nhiệm sẽ vượt khỏi trí khôn chúng ta, nhưng nếu nhìn các đường viền chung quanh thì mình lại cảm nhận được mầu nhiệm ấy.

Đ
ức Maria là nhân vật duy nhất mà trong Phúc Âm Chúa Kitô đã gọi là “Người Nữ” (viết bằng chữ hoa). Ngài đã tặng Đức Maria hai lần danh hiệu này, Ngài không gọi Bà là Mẹ hay Maria, ngài gọi là Người Nữ. Chẳng hạn tại tiệc cưới Cana, Ngài nói: “Người Nữ ơi, Người muốn tôi làm gì?” và trên Thập Giá, Ngài đưa tay về hướng tông đ Gioan mà nói với Bà: “Người Nữ ơi, đây là con của Người!” Chưa bao giờ người nói với một người nam mà bảo rằngNgười Nam ơi!” nhưng Ngài đã nói như thế với một Người Nữ, và chỉ với một người duy nhất, ấy là Đức Maria. Điều này cho thấy rằng danh hiệu Người Nữ đã được chu toàn, được hoàn tất trong Đức Maria.

Đ
iều gì đã được hoàn tất trong Đức Maria khiến Mẹ được viên mãn đến như thế? Chính Mẹ là người đã cưu mang trong lòng mình và sinh ra cho đời một vị Thiên Chúa, một điều chưa từng xảy ra trên vũ trụ này. Vai trò người nữ, hay đúng hơn vai trò duy nhất của người nữ, ấy là sinh hạ, là cho ra đời. Tất cả chúng ta đều thông qua cung lòng của một người mẹ. Đức Mẹ là tuyệt tác của toàn thể nhân loại trong quá khứ, hiện tại và tương lai. Thiên Chúa đã chọn Mẹ, đã đoái nhìn đến Mẹ, không phải vì Mẹ có một công trạng gì đặc biệt, nhưng vì Mẹ hội tụ toàn bộ tinh thần của nhân loại cũng như tất cả mọi nỗ lực tác sinh một thọ tạo cao vời và độc nhất vô nhị.

Ta hãy nhớ lại điều này: Sau khi tạo thiên lập địa, Thiên Chúa đến cạnh con người mà đ nghị: “Nếu ngươi muốn, Ta đ nghị ngươi yêu mến Ta. Và nếu ngươi yêu mến trong sự thật, chẳng hạn yêu mến thế giới dưới kia, toàn bộ thế giới với thú vật, cây cỏ, đất đai; nếu ngươi thực hiện điều đó, thì Ta sẽ yêu mến ngươi và ban cho người sự sống của chính Ta.” Như vậy, khi ta trở thành Kitô hữu, thì Thiên Chúa cũng đ nghị: “Nếu con muốn, Cha sẽ trở thành người bạn chí thiết của con, nghĩa là Cha sẽ sinh ra đ đón nhận sự sống giống con. Cha là đấn dựng nên con, thế nhưng Cha sẽ trở nên một người giữa mọi con người.” Lời đ nghị của Đấng Tạo Dựng hầu như là một nghịch lý: Người không tông cửa mà vào. Đấy là điều mà ta gọi là Sự Công Bình của Thiên Chúa. Công bình chính là tôn trọng bằng mọi giá sự tự do của Hữu Thể, sự tự do của con người: Người đến đxin phépvà cánh cửa đã mở ra đến cho Thiên Chúa đến với loài người. Cánh cửa cuối cùng được mở ra, chính là Đức Maria, và Thiên Chúa đã đi vào cung lòng Mẹ.

Đ
ức Maria từng trong Đền Thờ, và Mẹ biết rất rõ về các thiên thần. Vì thế, điều làm Mẹ ngạc nhiên không phải là thiên thần Gabriel xuất hiện, nhưng mà là điều sứ thần nói, sau đó là lời đáp trả của Mẹ: “Xin vâng, vì tôi là tôi tá của Chúa.”

Xin dừng lại đây một phút: tôi không hiểu là trong cuộc đời của chính anh chị em, có bao giờ anh chị em cảm thấy rằng con người của mình, cuộc sống của mình là một ngục tù không. Chúng ta bị trói chặt vì hoàn cảnh, nghề nghiệp, một loại biến cố, thậm chí vì linh hồn mình. Chưa thời đại nào mà lại có nhiều người bị khủng hoảng âu lo, bị suy nhược thần kinh như thời đại chúng ta. Vì sao như vậy? Bởi vì người ta đã xua đuổi Thiên Chúa ra khỏi nền văn minh của mình từ bốn thế kỷ qua. Vì thế, khi chúng ta đang trong ngục tù đó mà có thể thốt lên từ cõi lòng mình: “Lạy Chúa, Xin Hãy Đến!” thì Người sẽ đến! Và lúc ấy, giống như Đức Mẹ, chúng ta làm câm miệng cách suy nghĩ, những ưu tư lo lắng của mình mà tìm hiểu cách thức mà Vị Thiên Chúa ấy suy nghĩ và hành động. Đấy là điều mà Đức Maria đã làm đ mở cánh cửa cuối cùng. Thiên thần Gabriel bảo rằng: “Cô sẽ thọ thai,” nhưng làm thế nào một trinh nữ có thể thọ thai mà không cần đến người nam? Đức Maria đã nêu lên lời chất vấn duy nhất đ xác nhận rằng điều bất khả ấy sẽ trở thành hiện thực. “Tôi sẽ sinh con, nhưng tôi không liên hệ gì với người nam!”

Tất cả chúng ta đều có thể làm như thế đối với Thiên Chúa theo cách thức mà Người thể hiện đối với chúng ta, nghĩa là Người sẽ mặc khải cho chúng ta một hình thức bất khả, và cái bất khả xuất hiện trước mắt chúng ta và thường đi trước những thắc mắc của chúng ta. Những thắc mắc ấy rồi sẽ được giải quyết, bởi vì nếu ta tự do hiến dâng cho Chúa thì Người sẽ tự do đem đến giải pháp. Đấy là điều cao cả nơi Đức Mẹ. Đấy là một dạng tự do trọn vẹn của một người biết ngắm nhìn và lắng nghe chính tác giả của tự do và hai hữu thể gặp nhau đ đem lại hoa trái tự sự gặp gỡ đó. Đức Mẹ là Đấng tổng hợp trời và đất, và những tương quan giữa trời và đất. Chính vì thế mà Mẹ trở thành một nhân vật có sự quyền năng phi thường.

Tất cả chúng ta hãy trở thành những con người tự do, và qua đó làm vinh danh Thiên Chúa cho đến thiên thu vạn đại. Amen.

Đ
ức Cha Germain


 

25/3-29: LỜI XIN VÂNG Lm Giuse Trần Đình Long, Dòng Thánh Thể

Với lời “Xin Vâng”, Đức Maria được làm Mẹ Thiên Chúa như lời Sứ Thần đáp lời Mẹ : “Thánh: 25/3-29

Với lờiXin Vâng”, Đức Maria được làm Mẹ Thiên Chúa như lời Sứ Thần đáp lời Mẹ : “Thánh Thần sẽ ngự xuống trên bà, và quyền năng Đấng Tối Cao sẽ rợp bóng trên bà, vì thế, Đấng Thánh sắp sinh ra sẽ được gọi là Con Thiên Chúa” (Lc1, 35). Bà Elizabet tự hỏi : “Bởi đâu tôi được Thân Mẫu Chúa tôi đến với tôi thế này?” (Lc 1,43). Còn Mẹ Maria thưa với sứ thần : “Việc ấy sẽ xảy ra cách nào, vì tôi không biết đến việc vợ chồng!” (Lc 1,34). Thực ra không ai trong loài người có thể lý luận tại sao ? Vì Kinh Thánh nói : “Đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được.” (Lc 1,37). Tất cả những việc Thiên Chúa làm chỉ vì yêu thương con người. Nhưng đúng hơn là mỗi người chúng ta phải nói lên được rằng : Việc Đức Maria đáp tiếngXin Vâng” đ làm Mẹ Thiên Chúa là bởi vì Thiên Chúa yêu tôi. Vì yêu tôi mà Ngài đã phải hạ mình nhờ cậy một người phụ nữ hèn mọn, do chính tay Ngài tạo dựng nên, đ làm Mẹ Ngài, đ nhờ người nữ này mà Con Thiên Chúa có được một thân xác hữu hình giữa trần gian giống như tôi, đ tôi được gặp gỡ Ngài, nhìn thấy Ngài chết thay tôi chỉ vì yêu mến tôi.

Đ
ức Maria, một tôi tớ hèn kém mà tin, tin tuyệt đối, không lý luận. Mẹ cậy nhờ tất cả vào Thiên Chúa, đ mặc cho Thiên Chúa muốn dẫn đưa đến đâu, tùy ý của Ngài. Mẹ chỉ biết đáp lờiXin Vâng”!

Mọi chuyện xảy ra trong đời Mẹ, dù vui mừng, dù buồn đau, đau đến xé nát cả cõi lòng, đau đến như gươm thâu qua tim óc, Mẹ chỉ giơ tay đón nhận, giữ lấy suy niệm trong lòng, và nhắm mắt tin tưởng vào Thiên Chúa với lờiXin Vâng”. Chính như thế mà Thần khí Thiên Chúa đã dễ dàng đưa Đức Maria từ Belem nghèo hèn tới chân thập giá cô đơn. Nơi đây Mẹ thấy Con của mình trong ngày Truyền Tin được gọi là “Con Đấng Tối cao. Đức Chúa là Thiên Chúa sẽ ban cho Người ngai vàng vua Đavidvà triều đại của Người sẽ vô cùng vô tận” (Lc 1,32) vậy mà giờ đây coi như bị thất bại hoàn toàn! Con của Mẹ đang bị hành hình, tả tơi nhục nhã, bị lột trần bêu xấu trước đám quần chúng kiêu căng ngạo mạn.

Trước thảm cảnh ấy, Đức Maria không kêu gào than khóc, chỉ đứng yên đối diện với đau khổ, tim vỡ ra từng mảnh mà nhìn vào thánh ý của Thiên Chúa trong giây phút bi thảm này. Mẹ vẫn chỉ một lờiXin Vâng”. Kinh Thánh nêu một câu rất ngắn, đ chứng tỏ Thiên Chúa yêu mến Đức Maria thế nào. Câu ấy là : “Phúc cho Bà là kẻ đã tin” (Lc 1,45).

Lòng tin của Mẹ không rơi vào vô vọng. Lời hứa của Thiên Chúa đã thành sự. Từ trong tối tăm đau thương của thập giá, mầm sống bừng lên. Đức Giêsu đã phục sinh, và Thiên Chúa tôn vinh Giêsu Kitô là Chúa muôn loài.

Đ
ức Maria, kẻ đã bám vào lòng tin mà chết lên chết xuống nơi thập giá cũng được phục sinh và được tôn lên làm Mẹ Thiên Chúa.

Còn tôi, kẻ đứng ngoài chầu rìa, vì lãnh đạm với ơn cứu đ, lại luôn sống thù nghịch với thập giá Đức Kitô mà cũng được nhờ ơn phục sinh của Đức Giêsu mà trở thành con Thiên Chúa, và được gọi Đức Maria, Mẹ của Ngài là Mẹ của tôi.

Khi các bà mẹ trần gian với con mắt tự nhiên muốn xếp Đức Maria ngang hàng với mình, thì Đức Giêsu nhìn họ, và qua họ, Người nhìn tất cả các bà mẹ trên thế gian và nói : “Ai là Mẹ Ta?”

Sự thật duy nhất chỉ có một Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa. Tất cả các bà mẹ thế gian chỉ muốn cho con mình nên danh nên phận theo ý của mình. Còn Đức Maria thì đặt tất cả vận mệnh của con mình và của cả bản thân mình trong ý của Thiên Chúa. Nên Đức Giêsu đã ca ngợi Đức Mẹ : “Mẹ và anh em Ta là kẻ nghe và làm theo ý Cha Ta”.

Cả cuộc đời Đức Maria chỉ có một mong ước là bỏ ngỏ đời mình cho Thiên Chúa, là đáp tiếngXin Vâng”. Thế nên suốt đời Mẹ chẳng cố gắng tập tành đạo đức giống như các bậc hiền nhân quân tử thế gian, mà chỉ trông nhìn vào Thiên Chúa, đ đón nhận tất cả những gì Thiên Chúa ban cho. Nhờ đó Đức Maria được tràn đầy nhân đức, vượt trên tất cả loài người và trên tất cả các thần thánh trên trời.

Đ
ức Maria đã sống như vậy, và đang là gương mẫu cho mọi xác phàm muốn sống như vậy. Đức Maria là mẫu mực và là người chúng ta phải nhờ cậy đ gặp gỡ được Con Thiên Chúa. Vì tất cả những gì Thiên Chúa muốn ban cho chúng ta nơi Đức Giêsu Kitô, Con của Ngài, đó là : “Chức vị làm con, chức vị thừa hưởng phúc lộc của Cha, chức vị đồng trị với Đức Giêsu” (2Tim 2,12), dù có cố gắng lắm chúng ta cũng không nhận được trọn vẹn, chưa nói chúng ta còn có khả năng từ chối. Nhưng Thiên Chúa đã chuẩn bị cho một người có khả năng nhận được, đó là Đức Maria, đ nhờ Mẹ dẫn dắt mà chúng ta đón nhận được Đức Giêsu.

Đ
ức Maria, một con người xác phàm từ đất mà ra như chúng ta, không phải từ trời mà đến như Đức Giêsu Kitô, đã sống trọn vẹn cuộc sống ân nghĩa trong vinh quang Thiên Chúa bằng lờiXin Vâng”. Mẹ đã chứa đựng trong thân xác linh hồn mình cả một Đấng quyền năng tạo thành vũ trụ, cùng với một đại dương mênh mông của lòng mến, mà vẫn sống được cuộc sống bình thường như mọi người, trong nhân ái yêu thương như mọi người, và còn trổi xa hơn mọi người. Như vậy Đức Mẹ phải là con người duy nhất mà chúng ta có thể tín nhiệm và phải cậy trông. Muốn không bị lạc nẻo giữa đường trần gian này, chúng ta phải chạy đến nhờ Mẹ đưa đến gặp gỡ được Đức Giêsu con Mẹ, đ sống kết hiệp với Ngài. Sống kết hiệp không phải trên mây trên gió, mà ngay trong mọi nỗi đau buồn, khấp khểnh, đói no, bất trắc của cuộc sống hôm nay, trong xã hội này, giữa thế giới đầy xao xuyến bất an chúng ta đang .

Bản thân Đức Maria chẳng có công nghiệp gì đ đáng được như vậy. Và phần chúng ta không bao giờ có thể đặt một tạo vật như Đức Maria ngang hàng với Đức Giêsu Kitô. Tất cả chỉ là ơn, như chính Đức Maria đã nói trong kinh Magnificat. Mẹ chẳng có công gì nhưng tất cả đều là ơn huệ của Thiên Chúa : “Phận nữ tỳ hèn mọn, Người đoái thương nhìn tới, từ nay hết mọi đời sẽ khen tôi diễm phúc. Đấng Tòn năng đã làm cho tôi biết bao điều cao cả…” (Lc 1,48-49).

Đ
ức Maria được nên cao trọng như vậy, bởi vì Mẹ đã đặt cả đời mình vào trong ý của Cha trên trời và kết hiệp mật thiết với Đức Giêsu Kitô.

Hôm nay nhìn vào Đức Maria, Mẹ của tôi hiện đang trên thiên quốc cả hồn lẫn xác, và cũng đang bên tôi. Mỗi người tự đặt câu hỏi : Tôi phải yêu mến Đức Maria thế nào ?

Thưa, tôi phải yêu mến Đức Maria như người con thảo đối với mẹ hiền. Đừng bao giờ sợ lòng yêu mến Đức Maria là quá mức hay quá đáng. Vì thật sự tất cả thần thánh trên trời cũng như những người tốt lành dưới đất có yêu mến Đức Maria đến đâu cũng không thể sánh bằng lòng yêu mến của Đức Giêsu Kitô đối với Mẹ của Ngài được.

Hơn nữa, nếu tôi càng yêu mến Đức Mẹ, thì chắc chắn tôi lại càng gắn bó mật thiết với Đức Giêsu. Vì chính Đức Mẹ sẽ giúp tôi làm việc ấy, và cũng chính là lòng khao khát của Đức Mẹ như vậy. Đức Mẹ sẽ có con đường ngắn nhất và đúng nhất đ dẫn dắt tôi vào trong tình yêu của Con Thiên Chúa.

Suy niệm như thế, tôi phải cảm tạ Thiên Chúa đã ban cho tôi một người Mẹ, đã thấm cuộc đời mình vào trong đau khổ thập giá Đức Kitô mà được nên tinh tuyền cao trọng và có một tấm lòng yêu thương tôi vô bờ bến.

Chính Đức Giêsu đã ban cho tôi ân huệ này. Ngài nói với tôi : “Này là Mẹ con”. Và Đức Giêsu hằng mong ước mọi người luôn chạy đến nhờ cậy Mẹ của Ngài. Khi tôi chạy đến cùng Đức Maria thì Đức Mẹ ban cho tôi những ơn gì ?

Riêng tự mình Đức Mẹ, thì Mẹ chẳng có ơn gì đ cho tôi cả, nhưng khi tôi chạy đến cùng Mẹ, thì chắc chắn tôi sẽ được Đức Maria ban cho Đức Giêsu Kitô, Con của Mẹ.

Do đó hàng ngày tôi siêng năng đọc kinh lần hạt sùng kính Đức Mẹ mà tôi thấy lòng tôi vẫn lạnh nhạt với Đức Giêsu Kitô, thì tôi phải xem lại cách kính mến Đức Mẹ của tôi. Vì nơi nào tôi thấy bóng dáng Đức Maria mà không thấy Đức Giêsu thì có thể tôi đã yêu mến một bà nào, mà tôi tưởng là Đức Mẹ, mà thực sự không phải là Đức Mẹ, Mẹ Thiên Chúa. Vì hai trái tim của Đức Maria và Chúa Giêsu đã nên một với nhau trong Thần khí Chúa, không bao giờ tách rời phân cách.

Lạy Đức Maria, xin cho con biết đáp tiếngXin vângnhư Mẹ trong mọi biến cố cuộc đời, đ ý Chúa được thể hiện trong con, đ con không bắt người khác lúc nào cũng phải làm theo ý con, đ con không lấy ý con làm trên hết, nhờ đó những người khác đ khổ vì con, và con được sống bình an trong Thiên Chúa, Đấng cứu đ con. Amen.

Lễ Truyền Tin 25-03
Lm. Giuse Trần Đình Long


 

25/3-30: MỘT ĐỜI XIN VÂNG - Lm Giuse Đinh lập Liễm

I. NGÀY LỄ TRUYỀN TIN
1. Việc chọn ngày lễ
 

Lễ Truyền Tin được kính vào ngày 25 tháng 3, tức là 9 tháng trước lễ Giáng Sinh, là khoảng thời 25/3-30

Lễ Truyền Tin được kính vào ngày 25 tháng 3, tức là 9 tháng trước lễ Giáng Sinh, là khoảng thời gian Đức Mẹ cưu mang Chúa Giêsu.
Lễ này trước kia được mừng kính ở Giáo hội Đông phương với tước hiệu lễ "Ngôi Lời nhập thể" từ khoảng năm 550. Giáo hội Rôma mãi đến thế kỷ thứ 7 mới chấp nhận thánh lễ này.
Ngày nay, Lịch Phụng vụ Rôma lấy lại danh xưng "Lễ Truyền Tin" vì có lý do chính đáng, nhưng trước sau vẫn là lễ chung của Đức Kitô và Đức Trinh Nữ : Lễ của Ngôi Lời làm "con Đức Trinh nữ" và lễ Đức trinh nữ là "Mẹ Thiên Chúa".
Ngay từ đời đời, Thiên Chúa đã có ý định tái lập tất cả những gì đã hư mất bởi tội lỗi, và phác họa một công trình cứu chuộc mà Chúa Kitô là trung tâm, với sự cộng tác cần thiết của một người nữ thánh thiện. Cả hai sẽ là Adong và Evà mới thay thế cho Adong và Evà cũ đã phạm tội.
Người nữ ấy không ai khác hơn là Mẹ Maria, Đấng đầy ân phúc, trổi vượt hơn mọi phụ nữ. Mẹ đã được tiên báo qua lời hứa tại vườn Địa đàng xưa :"Ta sẽ đặt mối thù giữa mi và người nữ. Người sẽ đạp nát đầu mi, còn mi sẽ rình cắn gót chân Người"(St 3,15). Mẹ đã được chọn làm Evà mới thực hiện lời hứa xưa kia tại vườn Địa Đàng.
2. Quang cảnh Truyền tin
Trong toàn bộ Thánh Kinh, chỉ có Tin mừng theo thánh Luca (1,26-38) ghi lại biến cố truyền tin. Sứ thần Gabriel đến với một thiếu nữ đã đính hôn tên là Maria tại làng Nazareth để loan báo tin vui về việc hạ sinh Đấng Được Xức Dầu được đợi trông từng bao đời. Sứ thần loan tin cho thiếu nữ : "Này đây, bà sẽ thụ thai và hạ sinh một con trai, và bà sẽ đặt tên là Giêsu. Người sẽ nên cao trọng và sẽ được gọi là Con Đấng Tối Cao".
Tin báo này làm Đức Maria ngỡ ngàng, vì Ngài đã quyết chí giữ đức khiết tịnh. Sứ thần đã giải thích về cách thức Thiên Chúa sẽ làm cho sự kiện mang thai lạ lùng xẩy ra :"Vì đối với Thiên Chúa, không có gì là không có thể".
Mặc dù đã có lời trấn an của sứ thần, nhưng chắc chắn Đức Maria cũng hoảng hốt vì Ngài không biết đến việc vợ chồng. Tuy nhiên, Maria đã can đảm và suy phục thánh ý Chúa nên đã thưa với sứ thần :"Này tôi là nữ tỳ Thiên Chúa, xin hãy làm trọn nơi tôi điều sứ thần truyền".
Sau câu trả lời dứt khoát của Maria, Ngôi Lời đã nhập thể làm người và Maria đã trở thành Mẹ Thiên Chúa.
Truyện : Thị kiến của thánh Catarina Emmerrich
Một hôm, Chúa cho bà thánh Catarina Emmerrich được xem thấy quang cảnh ngày lễ Truyền Tin.
Theo bà thuật lại : Ngày 23 tháng 3, tôi thấy Đức Mẹ quỳ ngay ở chỗ phòng tôi, đầu và mặt phủ một khăn trắng mỏng, hai tay búp măng chắp trước ngực, đôi mắt đăm đăm nhìn về phía góc trời, rồi tôi thấy một luồng ánh sáng đổ xuống bên tay hữu Đức Mẹ; và trong luồng sáng trong tốt đó, tôi thấy Thiên thần Gabriel, y phục trắng toát, tóc hoe hoe và phất phới. Đoạn một tiếng chào của Thiên thần làm tan làn không khí im lặng.
Nghe tiếng chào mình, Đức Mẹ có vẻ sợ sệt, hơi nghiêng về phía tả, song con mắt vẫn đăm đăm nhìn về góc trời, chứ không quay hẳn về phía tiếng chào, và cầm trí nghe lời thiên thần - mỗi lời thiên thần nói như nhả ra từng dòng chữ lửa.
Sau khi đã hiểu ý câu truyện, Đức Mẹ xoay mình lại, mở hé khăn trùm, khiêm tốn trả lời rằng :"Này tôi là nữ tỳ Thiên Chúa, xin hãy làm trọn nơi tôi điều sứ thần truyền".
Quang cảnh tới đây hạ màn.
II. VÀI SUY TƯ TỪ LỄ TRUYỀN TIN
1. Thiên Chúa là Đấng toàn năng.
Trước việc sinh con mà vẫn còn đồng trinh, Maria thắc mắc và hỏi lại sứ thần :"Việc ấy xẩy ra cách nào được, vì..."? Sứ thần liền đáp :"Đối với Thiên Chúa, không có gì là không có thể" (Lc 1,37).
Câu trả lời của sứ thần nói lên quyền năng của Thiên Chúa, Ngài sáng tạo muôn vật từ hư vô, quyền năng Ngài không giới hạn. Quyền năng của Thiên Chúa cũng đồng nghĩa với yêu thương, nên trong lịch sử cứu độ, Ngài luôn đi bước trước trong sáng kiến yêu thương con người. Chỉ với bài Tin mừng hôm nay thôi cũng đủ thấy sáng kiến táo bạo của Ngài.
Thiên Chúa lại muốn trở thành một con người, đó là sang kiến táo bạo thứ nhất. Hơn thế nữa, không muốn đột nhiên xuất hiện cách phi thường mà lại muốn làm người con bình thường sinh ra bởi một người nữ như bao nhiêu người khác. Đây chẳng phải là sáng kiến táo bạo thứ hai sao ?
Táo bạo và kỳ diệu hơn nữa đã làm phát sinh sáng kiến thứ ba thật tuyệt vời và mầu nhiệm, đó là : người phụ nữ ấy lại đồng trinh trước và sau khi sinh con. Thực ra, không có gì Thiên Chúa không làm được. Một Vị Thiên Chúa mà còn làm con người được, thì chuyện bảo vệ sự đdồng trinh cho Đức Maria trước và sau khi sinh thì có nghĩa lý gì đâu ?
Cũng vậy, nếu sau khi phục sinh, Chúa Giêsu hiện ra cho các Tông đồ trong lúc cửa vẫn đóng kín, thì việc Ngài hạ sinh mà tấm lòng băng trinh của Mẹ Maria vẫn còn nguyên vẹn lại không được chấp nhận sao ? Quả thật, không có gì Thiên Chúa không làm được. Điều đó mời gọi chúng ta tin tưởng tuyệt đối vào quyền năng Thiên Chúa.
Thiên Chúa cũng có thể có thể làm nơi mỗi người chúng ta những việc trọng đại, miễn là chúng ta sẵn sàng để Ngài hoạt động nơi chúng ta.
2. Thiên Chúa cần con người cộng tác
Nhưng có một điều mà "Thiên Chúa không làm được", đó là "Thiên Chúa không thể cứu độ con người nếu con người không cộng tác với Ngài". Lời quả quyết này có vẻ nghịch thường, nhưng nội dung bàiTin mừng hôm nay là như thế. Thiên Chúa không làm được không phải vì quyền năng Ngài bị giới hạn, nhưng vì yêu thương, tôn trọng tự do của con người nên Ngài không làm được những điều mà con người không cộng tác.
Mặc dù Thiên Chúa đã ban cho con người sự tự do, nhưng Thiên Chúa vẫn có thể ép buộc Maria phải làm theo ý định của Ngài vì Ngài có khả năng làm như vậy. Tuy nhiên, Thiên Chúa không muốn. Điều Ngài muốn là thấy Maria tự nguyện đáp lại ý muốn của Ngài vì Thiên Chúa yêu thích những ai cho một cách vui lòng.
Ôi ! Thiên Chúa nhân từ dườg nào ! Một Thiên Chúa quyền năng tuyệt đối mà lại phải đi hỏi ý kiến của một thiếu nữ nhỏ bé, quê mùa, và lo lắng chờ đợi trước quyết định của cô, dù nó là một đặc ân cao cả, mà nếu chấp nhận thì sẽ có lợi cho toàn thể nhân loại và riêng cho thiếu nữ nữa.
Truyện : Chiếc đồng hồ báo thức
Một thanh niên kia có thói quen ngủ rất say, luôn cần có mẹ gọi mới thức dậy được. Sau khi tốt nghiệp, anh đi làm một chỗ ở xa nhà. Mẹ anh mua cho anh một chiếc đồng hồ báo thức. Ngày đầu tiên anh quên vặn đồng hồ trước khi ngủ nên đến sở làm trễ. Ngày thứ hai, anh nhớ vặn đồng hồ, nhưng sáng sớm khi nó reo thì anh đưa tay tắt bỏ, nên lại đi làm trễ. Và anh bị đuổi việc. Khi anh trở về gia đình, mẹ anh hỏi về chiếc đồng hồ. Anh đáp :
- Chiếc đồng hố ấy hoàn toàn vô dụng đối với con.
- Nó vô dụng là vì con không dùng nó. Mẹ anh đáp.
Qua câu truyện trên, chúng ta thấy rằng trong cuộc đời chúng ta, Thiên Chúa ban cho chúng ta muôn vàn ơn, nếu chúng ta không biết sử dụng thì nó cũng trở nên vô dụng đối với chúng ta.
3. Lời Fiat của Đức Maria
Bấy giờ bà Maria nói :"Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Thiên Chúa, xin cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói".
Bình luận về câu trả lời trên, Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II, trong bài giảng tại Vương cung Thánh đường Mexicô City đã nói :"Virgo fidelis : Đức Nữ trung tín thật thà. Đức trung tín của của Maria nghĩa là gì ? Trung tín bao gồm chiều kích gì ?
- Chiều kích thứ nhất là tìm kiếm. Trước hết, Maria tỏ ra trung tín khi Ngài bắt đầu tìm kiếm ý nghĩa sâu xa của chương trình Thiên Chúa nơi mình và cho thế giới. Quomodo fiet ? Sự việc xẩy ra như thế nào ? Ngài hỏi sứ thần Truyên Tin ( ... ).
- Chiều kích thứ hai của trung tín gọi là tiếp nhận, chấp nhận. Lời Quomodo fiet ? trên môi Maria chuyển thành một lời fiat : Xin cứ làm cho tôi như lời sứ thần truyền, tôi sẵn sàng, tôi chấp nhận. Đây là giờ phút hệ trọng của đức trung tín, giờ phút mà con người cảm thấy mình sẽ không bao giờ hiểu thấu được từ "như thế nào"; trong kế hoạch của Thiên Chúa có các khu vực mang tính nhiệm mầu nhiều hơn là tính sáng sủa rõ ràng; cho dù có ra sức phấn đấu đến đâu chăng nữa thì cũng chẳng tài nào lĩnh hội đầy đủ sự việc ( ... )
- Chiều kích thứ ba của đức trung tín là sự kiên định, kiên trì sống theo nhừng điều mình tin tưởng, sẵn sàng điều chỉnh cuộc đời mình cho phù hợp với mục tiêu mình theo đuổi. Sẵn sàng chấp nhận bị hiểu lầm, bắt bớ còn hơn là ngôn hành bất nhất, tin một đàng mà làm thì một nẻo, điều này gọi là tính kiên định.
- Tuy nhiên mọi sự trung tín đều phải trải qua cuộc thử thách khốc liệt nhất : sự thử thách của thời gian. Do đó, chiều kích thứ tư là tính thủy chung như nhất. Kiên trì ngày một ngày hai thì dễ. Kiên trì trong suốt cuộc đời thì khó và đây mới là điều quan trong. Kiên trì đang khi hào hứng, hồ hởi phấn khởi thì dễ, còn vẫn giữ được sự kiên trì trong cơn thử thách khốn quẫn mới khó. Và chỉ có sự kiên trì kéo dài cho đến suốt đời mới là tín trung.. Lời thưa "Fiat" : xin vâng của Đức Maria trong buổi truyền tin trở nên viên mãn trong tiếng fiat xin vâng âm thầm mà Mẹ lặp lại dưới chân Thập giá (Đức Gioan Phaolô II, Bài giảng tại Vương cung Thánh đường Mexico City, 26 tháng 01 năm 1979).
Đức Maria đã tận hiến làm tôi tớ Chúa, phục vụ cho thân thế và sự nghiệp của Con Ngài, và nhờ ân sủng của Thiên Chúa toàn năng, phục vụ mầu nhiệm cứu chuộc dưới quyền và cùng với Con Ngài. Bởi vậy, các thánh Giáo phụ đã nghĩ rất đúng rằng : Thiên Chúa đã không thu dụng Đức Maria một cách thụ động, nhưng đã để ngài tự do cộng tác vào việc cứu rỗi nhân loại.
Truyện : Tờ giấy và cây viết
Nhắc đến ông Leonard de Vinci, chúng ta thường nghĩ ngay đến những phát minh khoa học và những bức họa tuyệt diệu của ông. Nhưng để giải trí, ông còn sưu tầm những truyện cổ tích, hay đặt ra những truyện mới, như câu truyện sau đây về cuộc đối đáp tưởng tượng của tờ giấy trắng và cây viết.
Có tờ giấy trắng nọ nằm ù lì trên bàn viết với bao đồng bạn khác từ nhiều năm tháng qua. Nhưng rồi một hôm nó được chọn đem ra trước bàn chịu cảnh cây viết với mực đen vẽ lên nó không biết bao nhiêu là những dấu hiệu mà nó không hiểu gì cả. Tờ giấy phàn nàn với cây viết như sau : "Tại sao anh lại làm thế, anh vẽ trên mình tôi những dấu làm tôi mất đi sự trắng sạch ban đầu, anh làm nhục tôi thế này sao ? Anh làm hư cả cuộc đời tôi rồi".
Nhưng cây viết trả lời :"Không, anh giấy hiểu lầm tôi rồi, tôi không làm dơ anh đâu, tôi vẽ lên anh những dấu hiệu, những dòng chữ và kể từ nay, anh không còn là tờ giấy vô dụng nữa, mà mang trên mình một sứ điệp, anh trở thành kẻ cộng tác với con người lưu giữ những tư tưởng cao siêu của con ngưởi, và vì thế sẽ được con người nâng niu bảo vệ; anh được sống mãi để trợ giúp con người".
Tờ giấy chưa kịp trả lời cây viết, thì nó bỗng nhìn thấy một bàn tay con người quơ lấy những tờ giấy trắng đồng bạn của nó mà nay đã trở thành vàng đục, già cỗi và đầy bụi bặm mà quăng vào ngọn lửa bên cạnh. Bấy giờ tờ giấy trắng đầy chữ viết mới hiểu được hành động vừa rồi của cây viết và lấy làm sung sương vì được trở thành kẻ cộng tác và lưu giữ kho tàng trí khôn của con người.
Cuộc đời mỗi người chúng ta có thể được so sánh như tờ giấy trắng kia, nếu không chấp nhận để cho bàn tay Thiên Chúa viết vào đó những dòng chữ, những chương trình hành động, thì sẽ không được hạnh phúc trở thành người cộng tác với Thiên Chúa, trở thành kẻ lưu truyền sự khôn ngoan của Thiên Chúa, từ thế hệ này sang thế hệ khác. Tờ giấy không hiểu được những hành động của cây viết vẽ những dấu lạ trên mình nó, con người cũng chắc chắn không thể nào hiểu được ý định của Thiên Chúa là ý định khôn ngoan, hợp lý nhất để đưa con người đến hnạh phúc.
Thật vậy, Đức Maria đã tự nguyện trở thành tôi tớ của Thiên Chúa để cộng tác vào chương trình cứu chuộc nhân loại. Ngài đã trở nên một dụng cụ tuyệt vời của Thiên Chúa, hoàn toàn đặt mình dưới quyền sử dụng của Thiên Chúa như như một tờ giấy trắng trước cây viết.
Thánh Irênê nói :"Chính Ngài, nhờ vâng phục, đã trở nên nguyên nhân cứu rỗi cho mình và cho toàn thể nhân loại". Và cùng với thánh Irênê còn có rất nhiều thánh Giáo phụ thời xưa cũng không ngần ngại giảng dạy rằng :"Nút dây đã bị thắt lại do sự bất tuân của Evà, nay được gỡ ra nhờ sự vâng phục của Đức Maria. Điều mà Evà đã buộc lại bởi cứng lòng tin, Đức Maria đã tháo ra nhờ lòng tin; và so sánh với Evà, các ngài gọi Đức Maria là "Mẹ kẻ sống", và thường quả quyết rằng :"Bởi Evà đã có sự chết, thì nhờ Maria lại được sống" (Lumen gentium, số 56).

 

25/3-31: SUY NIỆM CỦA LM. GIU-SE LÊ QUANG UY, DCCT

Chúng ta có để cho Thiên Chúa "truyền tin" cho mình không ? Trước tiên, qua đoạn Tin Mừng 25/3-31

Chúng ta có để cho Thiên Chúa "truyền tin" cho mình không ?
Trước tiên, qua đoạn Tin Mừng hôm nay, chúng ta thấy cô thiếu nữ Ma-ri-a không hề ngu ngơ khờ dại, nhắm mắt vâng lời một cách thiếu suy xét. Cô đã có một phản ứng tức thì khi nghe thiên sứ báo tin cô sẽ thụ thai, cô ngỡ ngàng thắc mắc: "Việc ấy sẽ xảy ra cách nào được, vì tôi không biết đến việc vợ chồng !"
Xin lưu ý là: cô Ma-ri-a đã phản ứng ngỡ ngàng, chứ không phải là phản đối, phản kháng. Cô chỉ băn khoăn thắc mắc rằng: bằng cách nào mà Ngôi Hai Thiên Chúa sẽ nhập thể làm người , sẽ đầu thai để trở thành một bé trai sinh ra từ cung lòng mình ? Lý do thắc mắc ngỡ ngàng của cô thật quá rõ ràng: cô chỉ mới đính hôn với ông Giu-se cơ mà ?
Thiên sứ liền trấn an cô: "Thánh Thần sẽ ngự xuống trên bà, và quyền năng Đấng Tối Cao sẽ rợp bóng trên bà". Thiên sứ còn quả quyết: "Đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được".
Đến đây thì cô Ma-ri-a đã vui mừng và mạnh dạn thốt lên lời Xin Vâng tuyệt vời: "Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói".
Trong phút chốc, cô Ma-ri-a trở thành Mẹ của Đức Giê-su Ngôi Hai Thiên Chúa. Tất cả chỉ nhờ một lời ngắn gọn, một thái độ vâng phục chan chứa lòng Tin Cậy Mến. Có thể nói, Mẹ đã để cho Thiên Chúa hoàn toàn quyết định hướng đi cuộc đời Mẹ, hầu Mẹ được cộng tác với Thiên Chúa trong kế hoạch cứu độ chính cuộc đời của Mẹ, cuộc đời của mọi người, của toàn thể nhân loại.
Lời Xin Vâng của Mẹ trở thành một mẫu mực tuân phục Thiên Chúa cho chúng ta noi theo. Nói mạnh hơn, lời Xin Vâng ấy là một lời chất vấn, một thách đố hùng hồn trước thảm kịch bất tuân phục Thiên Chúa của con người trong thời đại của chúng ta.
Tự do ly dị, phá thai vô tội vạ, cướp bóc bạo lực, đua xe bạt mạng, nghiện ngập xì-ke ma túy, buôn gian bán lận, ăn chơi trác táng, cha mẹ độc đoán hoặc ghẻ lạnh với con cái, con cái nhục mạ hoặc thờ ơ bỏ rơi cha mẹ, học trò đánh đập thầy cô, vợ chồng xô sát với nhau và chiến tranh khủng bố bạo tàn khắp nơi trên thế giới... Hình như con người quá kiêu hãnh về mình, muốn gạt bỏ Ý Thiên Chúa để tự quyết lấy đời mình ! Phần chúng ta thì sao ? Chúng ta được gọi là Ki-tô hữu, tức là chúng ta thuộc về Đức Ki-tô, là môn đệ của Thầy Giê-su chí thánh, đã và luôn tin cậy phó thác hoàn toàn vào Thiên Chúa. Vậy chúng ta có mở ngỏ cuộc đời mình cho ý định yêu thương của Thiên Chúa không ?
Chúng ta có bao giờ nghĩ rằng chính mình cũng đang được mời gọi: Hãy để cho Thiên Chúa "truyền tin" cho mình ngay giữa cái thế giới hôm nay đang bùng nổ về thông tin. Và Thiên Chúa sẽ gửi đến cho chúng ta một bản tin như thế nào ? Phải chăng đó chính là "Tin Mừng", "Tin Vui", "Tin Lành", "Tin Tốt Đẹp", "Tin Bình An", "Tin Hy Vọng" cho mảnh đời đã có quá nhiều "tin buồn, quá nhiều "tin... tức" của chúng ta ? Và một khi nhận được một "Tin Mừng" như thế, chúng ta có sẵn sàng mau mắn thưa Xin Vâng trước mọi biến cố, nhất là những nghịch cảnh trong cuộc sống hôm nay được lồng vào trong, được ẩn dấu trong một nội dung Tin Mừng kỳ diệu của Sự Sống Yêu Thương chăng ?
Chúng ta hãy bắt chước Đức Ma-ri-a để luôn tìm đọc Lời Chúa, để nhẫn nại cầu nguyện trong niềm xác tín rằng: "Đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được".
Có một thiếu nữ người Pháp mà tôi đã lỡ quên mất tên sau khi đọc được câu truyện sau đây trên báo Echo de Lourdes cách đây khoảng 25 năm. Cô ấy bị mắc phải căn bệnh nhũn tủy làm cho bị liệt đôi chân. Cô đã hy vọng rất nhiều khi người ta đề nghị đưa cô tới Lộ-đức để xin ơn Mẹ làm phép lạ. Khi ra về, ai cũng lắc đầu thất vọng vì thấy cô gái không được lành bệnh. Thế nhưng, chính cô thì lại hân hoan tâm sự: "Tôi không hề được Mẹ chữa lành căn bệnh thể xác, chắc là Chúa Giê-su muốn tôi được chia nỗi đau đớn thân xác với Ngài, và tôi đã thưa Xin Vâng như Mẹ... Thế nhưng, Mẹ lại đã chữa lành căn bệnh tuyệt vọng bi quan của tâm hồn tôi... Từ nay, tôi xin được làm Tông Đồ của Chúa Giê-su, Con yêu dấu của Mẹ..."
Và quả thật, cô gái đã trở thành một Tông Đồ nằm trên giường bệnh của những người cũng đang đau khổ bất hạnh như cô đã từng đau khổ bất hạnh. Cô đã viết thư gửi đi để khích lệ niềm hy vọng của những em bé mồ côi, của những người già cô đơn trong Viện Dưỡng Lão, của những thiếu nữ lỡ lầm đang định phá thai, của những người khuyết tật khốn khổ...
Cho đến khi bị liệt cả hai tay, cô đọc người ta viết. Khi không nói được nữa, người ta soạn các lá thư rồi đọc lên cho cô nghe và gật đầu hoặc chớp mắt đồng ý. Và sau khi cô chết, người ta lấy những lá thư đã sao chép và lưu trữ để in thành hàng vạn lá thư khác...
Mới đây, khi tôi được đến giúp Tĩnh Tâm 3 ngày Mùa Chay cho Giáo Xứ Tử-đình ở Gò-vấp, tôi lại gặp được một bạn trẻ cũng bị căn bệnh Nhũn Tủy giống như cô gái nói trên. Đó là bạn sinh viên năm thứ hai Đại Học khoa Tin Học tên là Phạm Ngọc Quỳnh. Tôi đã mời cả gia đình Quỳnh cùng tôi cầu nguyện ngay bên giường bệnh của bạn ấy...
Và tôi đã nhìn vào đôi mắt bừng sáng đầy nghị lực quả cảm của bạn ấy. Và tôi đang cầu nguyện thật lòng xin Thánh Ý Thiên Chúa tỏ bày, để một hôm nào đó tôi sẽ mạnh dạn ngỏ lời đề nghị với bạn Quỳnh cũng chọn công việc Tông Đồ khiêm tốn mà hiệu quả tuyệt vời như cô gái người Pháp đã làm.
Nếu được, xin các bạn trẻ, đặc biệt là các bạn sinh viên hãy đến thăm bạn Quỳnh ở số nhà 2/16 đường Thống Nhất, tổ 75, phường 15, quận Gò-vấp, hoặc điện thoại số 9.961.554. Tôi hy vọng, cả tôi lẫn các bạn có thể sẽ là những "sứ giả", những "thiên thần" được Thiên Chúa gửi đến cho Quỳnh và cho biết bao nhiêu bạn trẻ khác, cho biết bao nhiêu con người khốn khổ bất hạnh khác đang sống quanh chúng ta, ngay bên cạnh chúng ta...
Thế đấy, mỗi ngày, mỗi biến cố xảy đến trong cuộc đời chúng ta đều như văng vẳng một lời "Truyền Tin" của Thiên Chúa thông qua một "sứ giả", một "thiên thần" nào đó ngay bên chúng ta. Có thể đó sẽ là một lời mời gọi chúng ta hãy cộng tác với một chương trình mầu nhiệm hoặc một kế hoạch kỳ diệu nào đó của Thiên Chúa như đã từng xảy đến cho Đức Ma-ri-a. Chúng ta chỉ cần khiêm tốn thưa Xin Vâng với Thiên Chúa. Còn mọi sự sau đó, hãy cứ tin rằng: "Đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được".
Được như vậy, thật sự chúng ta sẽ là những người có phúc, xứng đáng được chào bằng lời chào ngày xưa thiên thần đã kính chào đức Ma-ri-a: "Mừng vui lên, hỡi Đấng đầy ân sủng, Đức Chúa ở cùng bà".

 

 25/3-32: Mẹ thân yêu của con,

Suy Niệm của Lm. Don Bosco Trần Đức Quý
 

Con rất yêu thích đọc kinh Mai Khôi mà Mẹ đã dạy và hằng luôn nhắc nhở chúng con siêng năng 25/3-32

Con rất yêu thích đọc kinh Mai Khôi mà Mẹ đã dạy và hằng luôn nhắc nhở chúng con siêng năng nguyện gẫm. Nhưng Mẹ ơi, xưa nay con chỉ có quen đọc thôi, chứ không nhớ hoặc đôi khi không biết suy gẫm các mầu nhiệm Mai Khôi như thế nào. Thật là thiếu sót khi chỉ đọc mà không suy gẫm các mầu nhiệm, phải không Mẹ ? Hôm nay, con viết thư này cho Mẹ để xin Mẹ giúp con suy niệm các mầu nhiệm cho sốt sắng hơn, hầu thêm lòng mến yêu Mẹ và kính yêu Chúa nhiều hơn. Xin Mẹ giúp con. Con xin viết ra đây Năm Sự Vui để xin Mẹ dạy dỗ con thêm.
Thứ nhất thì ngắm: Thiên Thần truyền tin cho Đức Bà chịu thai, ta hãy xin cho được ở khiêm nhượng.
"Kính mừng Ma-ri-a đầy ơn phúc..." Khi lặp đi lặp lại lời kinh này, con muốn cùng với Thiên Thần Gáp-ri-en xưa kia kính mừng Mẹ "đầy ơn phúc" vì Thiên Chúa ở cùng Mẹ. Hơn nữa, Mẹ thật sự "có phúc hơn mọi người phụ nữ" khi được Chúa chọn làm Mẹ của Ngôi Hai Thiên Chúa. Mặc dù vậy, Mẹ đã hết sức khiêm tốn khi nói lên lời "Xin vâng" theo Thánh ý Chúa. Con cầu xin Mẹ giúp con sống đơn sơ khiêm nhượng, không được như Mẹ hoàn toàn, nhưng ít ra cũng giống như Mẹ một phần nào đó. "Thánh Ma-ri-a Đức Mẹ Chúa Trời...". Sau khi nghe Thiên Thần báo tin như vậy, thì Thánh Thần Chúa đã ngự xuống trong Mẹ tràn đầy, và bấy giờ Mẹ đã bắt đầu là Mẹ của Thiên Chúa Ngôi Hai. Vậy con xin Mẹ thương cầu cho chúng con là những kẻ tội lỗi "khi nay và trong giờ lâm tử" để chúng con luôn xứng đáng là con cái Chúa.
Thứ hai thì ngắm: Đức Bà đi viếng Bà Thánh Ê-li-sa-bét, ta hãy xin cho được lòng yêu người.
"Kính mừng Ma-ri-a đầy ơn phúc..." Con nhớ lại khi xưa Mẹ đã không quản đường xa khó nhọc để đi thăm Thánh Ê-li-sa-bét, người chị họ của mình. Lúc đó, Chúa Giê-su đã ở trong lòng Mẹ, nên con thật sự vui mừng khi kính chào Mẹ "đầy ơn phúc Đức Chúa Trời ở cùng Mẹ". Và khi đọc "...Bà có phúc lạ hơn mọi người nữ và Giê-su con lòng Bà gồm phúc lạ", con cũng không quên những lời của Thánh Nữ Ê-li-sa-bét đã nói với Mẹ khi Mẹ vừa bước vào nhà. Vì tình chị em, Mẹ đã tận tình giúp đỡ chị mình. Con xin Mẹ giúp con sống bác ái và yêu thương tha nhân, luôn biết xả kỷ giúp đỡ mọi người vì tình yêu. "Thánh Ma-ri-a Đức Mẹ Chúa Trời..." Xin Mẹ cầu cho con là kẻ có tội, đặc biệt là các lỗi về đức bác ái. Nhiều khi con đã ích kỷ, chỉ bo bo suy tính cho mình mà không biết nghĩ cho người khác. Lại có lúc con thờ ơ không giúp đỡ người đang cần sự giúp đỡ của con. Xin Mẹ cầu cho chúng con !
Thứ ba thì ngắm: Đức Bà sinh Đức Chúa Giê-su nơi hang đá, ta hãy xin cho được lòng khó khăn.
"Kính mừng Ma-ri-a đầy ơn phúc..." Một đêm đông lạnh giá, trong một hang đá ở Bê-lem, Mẹ đã hạ sinh Chúa Giê-su. Hòa cùng niềm vui của Mẹ, và cùng với các Thiên Thần và các Thánh, con xin "kính mừng Ma-ri-a đầy ơn phúc...". Và chính lúc này, Mẹ là người có phúc hơn hết tất cả các người phụ nữ trên trần gian: Mẹ là người đầu tiên nhìn thấy Đức Ki-tô con của Mẹ, Đấng Cứu Độ của loài người. "Thánh Ma-ri-a Đức Mẹ Chúa Trời..." Bên máng cỏ, nơi Hài Nhi Giê-su đang say giấc ngủ, xin Mẹ cầu cho chúng con là những kẻ tội lỗi. Vì tội lỗi chúng con, Chúa đã xuống thế làm người, một con người nghèo khó. Xin Mẹ giúp chúng con sống tinh thần nghèo khó như Chúa đã dạy, xin giúp chúng con sống thanh đạm để ngày càng trở nên giống Chúa nhiều hơn.
Thứ bốn thì ngắm: Đức Bà dâng Đức Chúa Giê-su vào Đền Thánh, ta hãy xin cho được vâng lời chịu lụy.
"Kính mừng Ma-ri-a đầy ơn phúc..." Với Chúa Giê-su Hài Đồng ẵm trên tay, Mẹ thật sự đầy ơn phúc vì chính Đức Chúa Trời đang ở cùng Mẹ. Mẹ đã vâng theo ý Chúa, thể hiện qua việc tuân theo Luật Chúa dâng con vào Đền Thờ. Con còn nhớ lời tiên báo của Thánh Si-mê-on nói với Mẹ. Chắc lúc ấy, Mẹ cũng đã suy nghĩ, nhưng không nói ra mà chỉ suy gẫm trong lòng. Có thể Mẹ chưa thấy được những viễn cảnh mà Chúa Giê-su sẽ gặp phải sau này, nhưng chỉ nguyện trong lòng một điều là xin vâng theo thánh ý Chúa. Xin Mẹ giúp con luôn biết nói "Vâng" với Chúa, ngõ hầu mọi thánh ý của Ngài được thực hiện toàn vẹn nơi con.
"Thánh Ma-ri-a Đức Mẹ Chúa Trời..." Xin Mẹ cầu cho chúng con là những kẻ đã nhiều lần phạm tội bất phục tùng, không nghe theo tiếng Chúa mời gọi trong tâm hồn, không sống theo những gì Ngài đã dạy. Mẹ biết con yếu đuối, nên xin Mẹ, hãy giúp con dám can đảm sống "xin vâng" như Mẹ. Con không dám xin Chúa đừng gửi đến cho con những thử thách khó khăn, vì chính những thử thách mới giúp linh hồn con được tôi luyện, nhưng con chỉ xin Chúa, nhờ lời cầu bầu của Mẹ, ban cho con được thêm nhiều ơn thánh để con đủ nghị lực vượt qua mọi thử thách ấy và sống trung thành mến yếu Chúa suốt đời con.
Thứ năm thì ngắm: Đức Bà tìm được Đức Chúa Giê-su trong Đền Thánh, ta hãy xin cho được giữ nghĩa cùng Chúa luôn.
"Kính mừng Ma-ri-a đầy ơn phúc..." Với mầu nhiệm này, con hân hoan kính mừng Mẹ vì Mẹ được Thiên Chúa ( cậu bé Giê-su của Mẹ ) ở cùng đã tròn 12 năm. Một lần, Mẹ đã để lạc mất Chúa Giê-su, Mẹ đã hết sức lo lắng đi tìm. Và khi tìm lại được Chúa rồi, Mẹ vui mừng xiết bao. Cùng mừng với Mẹ, con xin dâng lên những lời kinh Kính Mừng này. "Thánh Ma-ri-a Đức Mẹ Chúa Trời..." Xin Mẹ cầu cho chúng con là những tội nhân, là những kẻ lắm lúc lầm đường lạc lối. Mẹ ơi, xin Mẹ giúp con đừng để con lạc mất Chúa bất kỳ giây phút nào trong cuộc đời đầy thử thách cám dỗ này. Con xin tạm dừng tại đây, hẹn gặp lại Mẹ thư sau, con sẽ xin Mẹ chỉ dạy con suy niệm Năm Sự Thương Khó của Chúa Giê-su. Nhân Lễ Truyền Tin, con chúc mừng Mẹ vì ân sủng làm Mẹ Thiên Chúa mà Mẹ đã lãnh nhận; và cùng với Mẹ, con xin dâng lên Chúa tâm tình thành kính tạ ơn vì Chúa đã thương ban cho Mẹ ân sủng trọng đại này. Con của Mẹ.

 

25/3-33: Truyền tin cho Đức Mẹ

Đúng 9 tháng trước lễ Sinh nhật là lễ Truyền tin cho Đức Mẹ (25.3 - 25.12). Truyền tin là biến cố 25/3-33

Đúng 9 tháng trước lễ Sinh nhật là lễ Truyền tin cho Đức Mẹ (25.3 - 25.12).
Truyền tin là biến cố hết sức quan trọng. Nếu không có biến cố Truyền tin, thì cũng sẽ không có biến cố Sinh nhật, Phục sinh. Hội Thánh mừng biến cố truyền tin bằng thánh lễ trọng thể, với phụng vụ phong phú. Nhiều lời cầu nguyện. Nhiều đoạn Thánh Kinh. Nhiều bài giảng dạy. Nhiều cuộc tĩnh tâm, hội thảo và thánh ca.
Những người con bé nhỏ của Đức Mẹ sẽ không bỏ qua lễ trọng này. Họ mừng lễ với tất cả tấm lòng bé nhỏ. Chia sẻ tấm lòng bé nhỏ của mình về Mẹ của mình cũng là một cách mừng lễ. Dưới đây là một thứ chia sẻ.
Trong biến cố Truyền tin, Đức Mẹ bỗng chốc trở nên khác thường.
1/ Mẹ là một tình yêu dâng hiến
Đức Tổng Lãnh thiên thần Gabriel chào kính Đức Mẹ bằng một lời hết sức mới lạ : “Mừng vui lên, hỡi Đấng đầy ân sủng, Thiên Chúa ở cùng bà” (Lc 1,28).
Thế nào là đầy ân sủng ? Và thế nào là Thiên Chúa ở cùng bà ? Thiết tưởng sẽ không sai, nếu có ai hiểu đầy ân sủng là đầy tình yêu của Chúa. Nhất là khi lại thêm : Thiên Chúa ở cùng bà, “Thiên Chúa chính là tình yêu” (1 Ga 4,8).
Tin vui đầu tiên, mà Đức Mẹ nhận được từ Đức Tổng Lãnh thiên thần là : Đức Mẹ được Chúa chia sẻ chính sự sống của Người là tình yêu của Người cho Đức Mẹ.
Tin đó không phải là lời chào chúc, mà chính là một chứng thực. Thực Thiên Chúa tình yêu đang ở trong Đức Mẹ. Thực Đức Mẹ đang được đón nhận một nguồn tình yêu lạ từ Thiên Chúa.
Đức Mẹ không những tin, mà còn cảm được mình đã thuộc về Chúa. Tình yêu Chúa bao phủ Mẹ. Tình yêu Chúa biến đổi Mẹ. Mẹ trở nên một tình yêu từ Thiên Chúa tình yêu.
Tin ấy được cảm nhận như một cái nhìn mới, đem lại hạnh phúc ngập tràn. Bên cạnh hạnh phúc sâu xa, cái nhìn mới ấy cũng cho Đức Mẹ hiểu những đặc tính của tình yêu Thiên Chúa.
Những gì mà thánh Phaolô sau này mô tả trong “Bài ca đức mến” chắc cũng đã được Chúa cho Đức Mẹ thấy một cách nào đó, ngay lúc Mẹ được trở nên một tình yêu tuyệt vời của Chúa.
“Đức mến thì nhẫn nhục, hiền hậu... hy vọng tất cả, chịu đựng tất cả” (1 Cr 13,4-7).
Đặc biệt, những dâng hiến đến cùng, mà sau này Chúa Giêsu sẽ thực hiện, chắc cũng được Chúa cho Đức Mẹ thấy trước.
Như vậy, tình yêu nơi Đức Mẹ trong biến cố truyền tin là một tình yêu dâng hiến. Dâng hiến như Chúa Giêsu dâng hiến. Vì mến Chúa Cha và vì thương nhân loại.
Nhận thức đó không làm cho Đức Mẹ tự hào chút nào. Trái lại, nó đã làm cho Đức Mẹ nên khiêm nhường tự hạ.
2/ Đức Mẹ là một tình yêu khiêm hạ
Sự khiêm nhường của Đức Mẹ được diễn tả vắn tắt bằng câu trả lời: “xin vâng, này tôi là nữ tỳ của Chúa” (Lc 1,38).
Lời “xin vâng” lúc đó của Đức Mẹ mở đường cho cả một cuộc đời đầy những từ bỏ. Một phần nào đó, Đức Mẹ biết trước những đau đớn về các từ bỏ của Chúa Giêsu trên đường cứu độ.
Thánh Phaolô viết về Chúa Cứu Thế : “Đức Giêsu Kitô, vốn dĩ là Thiên Chúa, nhưng không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa. Nhưng đã hoàn toàn từ bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế”.
“Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập giá” (Pl 2,6-8).
Tinh thần khiêm hạ đã luôn đi kèm tình yêu dâng hiến. Nơi Chúa Giêsu là thế. Nơi Đức Mẹ cũng vậy. Sự khiêm nhường tự hạ làm đẹp cho việc dâng hiến. Hơn thế nữa, nó còn có giá trị cứu chuộc các linh hồn.
Dâng hiến mà không khiêm nhường tự hạ có thể được người đời cho là việc anh hùng, nhưng không có thể được Chúa cho là việc đạo đức có giá trị cứu rỗi.
Nhìn ngắm tình yêu dâng hiến đầy khiêm nhường tự hạ nơi Đức Mẹ, những người con bé nhỏ của Đức Mẹ sẽ rất hân hoan vì những bé nhỏ thấp hèn của mình.
3/ Một tình yêu phục vụ
Ngay sau biến cố Truyền tin, Đức Mẹ : “đã vội vã lên đường, đến miền núi, vào một thành thuộc chi tộc Giuđa” (Lc 1,39). Mục đích là để viếng thăm bà Elisabét. Cuộc viếng thăm này đã được Chúa dùng để thánh hóa thai nhi trong lòng bà Elisabét. Thai nhi đó chính là thánh Gioan Baotixita (x. Lc 1,41-45).
Tình yêu Chúa trong Đức Mẹ đã thúc đẩy Đức Mẹ lên đường phục vụ. Phục vụ kín đáo. Phục vụ cá nhân. Nhưng phục vụ đó đã được thực hiện trong tinh thần vâng theo thánh ý Chúa. Đức Mẹ đã làm một việc bác ái với đúng những điều kiện của phục vụ. Đó là làm đúng việc, cho đúng đối tượng, đúng lúc, đúng cách mà Chúa muốn.
Phục vụ như thế của Đức Mẹ sẽ được Đức Mẹ thực hiện suốt cuộc đời mình.
Qua việc phục vụ ấy, người ta nhìn thấy một tấm lòng bao la cao cả, và cảm nhận được một tình yêu nhưng không vô bờ.
Chúng ta hết lòng cảm tạ Chúa đã chọn Đức Mẹ để mạc khải tình yêu cứu độ. Đức Mẹ là một bản tin ngọt ngào của Chúa.
Chúng ta vui mừng vì được là con Đức Mẹ. Cho dù chúng ta rất thấp hèn, rất yếu đuối, nhưng chúng ta tin : Đức Mẹ sẽ thương giúp chúng ta luôn biết đón nhận Thiên Chúa tình yêu.
Chúng ta hy vọng Đức Mẹ sẽ đồng hành với chúng ta mọi bước trên đường làm chứng cho Chúa giàu lòng thương xót.
Chúng ta sẽ ca ngợi Chúa đã thực hiện nơi Đức Mẹ lời Chúa phán xưa: “Ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên” (Lc 18,14)
 

25/3-34: Lễ Truyền Tin, Tầm Quan Trọng Của Hai Tiếng Xin Vâng,

Lm Anthony Trung Thành
Suy Niệm Lễ Truyền Tin, Tầm Quan Trọng Của Hai Tiếng Xin Vâng, Lm  Anthony Trung Thành
 

Biến cố truyền tin chỉ có Tin Mừng của Thánh Luca ghi lại. Đây là biến cố hết sức quan trọng trong 25/3-34

Biến cố truyền tin chỉ có Tin Mừng của Thánh Luca ghi lại. Đây là biến cố hết sức quan trọng trong lịch sử cứu độ. Biến cố này xảy ra trước lễ Giáng Sinh 9 tháng.
Sau khi nguyên tổ phạm tội, để lại hậu quả vô cùng nghiêm trọng cho nhân loại: đó là phải xa cách Chúa, phải đau khổ và phải chết. Nhưng Thiên Chúa đã không bỏ rơi con người. Ngài đã hứa ban Đấng Cứu Thế để cứu độ con người. Ngài nói với con rắn rằng: “Ta sẽ gây mối thù giữa mi và người đàn bà, giữa dòng giống mi và dòng giống người ấy; dòng giống đó sẽ đánh vào đầu mi, và mi sẽ cắn vào gót nó" (St 3,15).
Từ đó, cả nhân loại sống trong tối tăm mù mịt, trông chờ Thiên Chúa thực hiện lời hứa. Trông chờ trong niềm tin. Trông chờ trong hy vọng. Trông chờ trong cầu nguyện. Sự trông chờ đó được thể hiện qua lời cầu nguyện triền miên của dân Do Thái, được phụng vụ nhắc lại trong Mùa Vọng: “Trời cao hãy đổ sương xuống và ngàn mây hãy mưa đấng cứu đời” (Is 45,8). Thế rồi, niềm tin, niềm hy vọng của sự trông chờ được đáp trả trong biến cố Truyền Tin hôm nay.
Đức Maria là một thôn nữ nhà quê. Thời đó, Mẹ cũng sống như bao nhiêu người Do Thái khác. Mẹ cũng trông chờ Đấng Cứu Thế đến. Có lẽ cho tới khi Thiên Thần đến báo tin thì Mẹ vẫn chưa bao giờ nghĩ rằng, Mẹ sẽ cưu mang Đấng Cứu Thế. Nhưng Thiên Chúa đã chuẩn bị mọi sự nơi Mẹ. Ba tuổi, Mẹ đã dâng mình trong đền thờ. Lớn lên, Mẹ đã khấn giữ mình đồng trinh. Mẹ chuyên chăm suy niệm Lời Chúa. Mẹ luôn cầu nguyện. Chính khi Thiên Thần Gabriel đến cũng là lúc Mẹ đang chìm đắm trong kinh nguyện. Thế rồi, cuộc trò chuyện có một không hai trong lịch sử giữa Mẹ và Thiên Thần Gabriel bắt đầu. Cuộc trò chuyện lịch sử này cho chúng ta nhiều điều bất ngờ.
Mở đầu cuộc trò chuyện là việc Thiên Thần chào Đức Mẹ một cách cung kính rằng: “Kính chào Bà đầy ơn phước, Thiên Chúa ở cùng Bà, Bà được chúc phúc giữa các người phụ nữ” (Lc 1,28). Lời chào này được Giáo hội đưa vào đoạn đầu của Kinh Kính Mừng. Giáo hội cũng giữa vào lời chào này để giải thích về ơn Vô Nhiễm Nguyên Tội của Mẹ. Bởi vì, Mẹ đầy tràn ơn phúc, đầy tràn Chúa, tội lỗi không có thể len lỏi vào. Rồi Thiên thần còn cho biết “Mẹ có phúc hơn các người phụ nữ.” Bởi vì Mẹ được làm mẹ Thiên Chúa và Mẹ được Thiên Chúa ban cho nhiều đặc ân đặc biệt khác, hơn hẳn các phụ nữ trên trần gian này.
Tiếp đến, Thiên Thần cho Mẹ biết, Mẹ sẽ cưu mang và sinh hạ Đấng Cứu Thế. Thiên Thần nói: “Maria đừng sợ, vì đã được nghĩa với Chúa. Này Bà sẽ thụ thai, sinh một Con trai và đặt tên là Giêsu. Người sẽ nên cao trọng và được gọi là Con Ðấng Tối Cao. Thiên Chúa sẽ ban cho Người ngôi báu Ðavít tổ phụ Người.
Người sẽ cai trị đời đời trong nhà Giacóp, và triều đại Người sẽ vô tận.” (Lc 1, 31-33). Đây là một tin vui. Tin vui cho Mẹ và cho cả nhân loại. Nhưng tin vui này đến với Mẹ quá bất ngờ. Bất ngờ vì Mẹ không bao giờ nghĩ tới. Bất ngờ vì Mẹ đã có chương trình riêng của Mẹ là “khấn giữ mình đồng trinh.” Đức Mẹ phân vân giữa việc giữ mình đồng trinh và làm Mẹ Thiên Chúa. Vì thế, Mẹ thưa lại với Thiên Thần rằng: “Việc đó xảy đến thế nào được, vì tôi không biết đến người nam?”(Lc 1,34).

Hiểu được ý Mẹ, Thiên Thần liền cho Mẹ biết, Mẹ cưu mang Đấng Cứu Thế là bởi quyền phép Chúa Thánh Thần. Thiên Thần nói: "Chúa Thánh Thần sẽ đến với Bà và uy quyền Ðấng Tối Cao sẽ bao trùm Bà. Vì thế Ðấng Bà sinh ra, sẽ là Ðấng Thánh và được gọi là Con Thiên Chúa”(Lc 1,35).  Và để thuyết phục Mẹ, Thiên thần còn đưa ra một dẫn chứng cụ thể, đó là trường hợp của bà Ê-li-sa-bét. Thiên Thần cho biết: “Kìa bà Ê-li-sa-bét, người họ hàng với bà, tuy già rồi, mà cũng đang cưu mang một người con trai: bà ấy vẫn bị mang tiếng là hiếm hoi, mà nay đã có thai được sáu tháng” (Lc 1,36). Thiên thần còn nhấn mạnh thêm: “Vì đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được” (Lc 1, 37).
Sau khi Thiên thần đã cho biết ý định của Thiên Chúa và giải thích về những băn khoăn thắc mắc trong lòng Mẹ. Giờ đây, số phận nhân loại tùy thuộc vào hai tiếng “xin vâng” của Mẹ. Cho nên, hai tiếng xin vâng của Mẹ hết sức quan trong, liên quan đến vận mạng của cả nhân loại. Vì thế, khi nói về tầm quan trọng của hai tiếng xin vâng, Thánh Bênađô kêu lên rằng: "Ôi trinh nữ, Adam đang khóc lóc cầu khẩn Mẹ trả lời, Đavít cũng khẩn cầu, các tổ phụ cũng không ngớt nài xin. Câu trả lời ấy cả thế giới này đang phủ phục dưới chân Mẹ và chờ đợi nó. Bởi việc giải thoát cho những ai đang đau khổ, chuộc lại kẻ giam cầm, trả tự do cho người bị kết án và sau cùng là phần rỗi của mọi con cái Adam, của toàn thể dòng dõi Mẹ đều tùy thuộc vào lời thưa của Mẹ."
Đức Maria cũng biết rõ điều đó. Ở đời, người ta thường so sánh cái được cái mất. Xin vâng thì được gì, mất gì? Đối với Mẹ, từ một thiếu nữ bình thường, nay thưa xin vâng sẽ trở thành Mẹ Thiên Chúa. Từ một thiếu nữ chỉ lo biết việc cá nhân, gia đình, nay thưa xin vâng sẽ phải lo việc Chúa, cưu mang Chúa, sinh ra Chúa, nuôi nấng Chúa, đem Chúa đến với nhân loại. Hành trình phía trước quá vất vả, gian nan. Như vậy, nếu thưa “xin vâng” thì Đức Mẹ được Chúa, cứu được nhân loại, nhưng Đức Mẹ phải chấp nhận làm “đấng Đồng công cứu chuộc,” nghĩa là chấp nhận hy sinh đau khổ. Thế rồi, cuối cùng Đức Maria cũng mạnh dạn đưa qua quyết định của mình. Mẹ thưa với Thiên Thần rằng: “Này tôi là tôi tớ Chúa, tôi xin vâng như lời Thiên Thần truyền” (Lc 1,38).
Ôi, vui quá! Hạnh phúc quá! Vì sau khi dứt lời thưa xin vâng của Đức Mẹ thì “chốc ấy Ngôi Thứ Hai Xuống Thế Làm Người.”
Nếu đọc tiếp Tin mừng chúng ta sẽ thấy, đi liền với hai tiếng xin vâng của Mẹ là những niềm vui và nỗi buồn, những hạnh phúc và đau khổ. Niềm vui, hạnh phúc vì có Chúa ở cùng Mẹ, Mẹ mang Chúa đến với mọi người như biến cố Mẹ đem Chúa đến với bà Ê-li-sa-bét và ông Gioan Tẩy Giả. Niềm vui của Mẹ được thể hiện qua bài Magnificat. Nhưng quan trọng hơn là Mẹ mang Chúa đến với cả nhân loại. Mẹ trở thành Đấng Đồng Công Cứu Chuộc. Thế nhưng, đi liền với niềm vui là một chuỗi ngày tháng năm chồng chất những đau khổ. Bảy sự thương khó của Mẹ nói lên tất cả. Mẹ đau khổ nhưng nhân loại sẽ được cứu độ.

Có thể nói, nhân loại không mất gì nhưng lại được rất nhiều nhờ hai tiếng “xin vâng” của Mẹ. Thánh Irênê nói: “Chính Ngài, nhờ vâng phục, đã trở nên nguyên nhân cứu rỗi cho mình và cho toàn thể nhân loại.”
Nhờ Mẹ, nên có Đấng Cứu Thế mà hàng ngàn năm nay nhân loại chờ đợi. Có Đấng Cứu Thế nên mới có ơn cứu chuộc. Có Đức Giêsu nên mới có Giáo Hội. Có
Giáo hội nên mới có linh mục. Có linh mục nên mới có các Bí tích và muôn vàn ân sủng khác. Ôi thật hạnh phúc với hai tiếng xin vâng của Mẹ. Mẹ hạnh phúc và nhân loại còn hạnh phúc hơn. Nhân loại biết ơn vì hai tiếng xin vâng của Mẹ. Nhân loại phải luôn cùng với Mẹ cất lên lời kinh Magnificat: “Linh hồn tôi ngợi khen
Đức Chúa và thần trí tôi hớn hở vui mừng vì Đấng toàn năng đã làm cho tôi biết bao điều cao cả…” (Lc 1,46-55).
Mẹ Maria đã cưu mang Chúa sau lời thưa xin vâng. Mỗi người chúng ta cũng được cưu mang Chúa sau khi lãnh nhận Bí tích Rửa tội, nhờ sức mạnh của Chúa Thánh Thần qua Bí tích Thêm Sức, và được nuôi dưỡng từ Bí tích Thánh Thể. Từ đó, Chúng ta cũng được Chúa mời gọi đáp lại hai tiếng “xin vâng” mỗi ngày.

Xin vâng theo lời thề hứa trong ngày lãnh nhận Bí tích Rửa Tội. Để rồi chúng ta được mời gọi làm mới lại tiếng xin vâng đó, bằng cách chấp nhận “xin vâng” trong mọi cảnh huống của cuộc đời: Có khi đó là lời mời gọi của Chúa qua Giáo hội; hay là lời mời gọi của Chúa qua cha mẹ, anh chị em, qua các chương trình bác ái từ thiện. Đôi khi đó lại là lời mời gọi chấp nhận một thất bại, một cơn bệnh, một sự mất mát khổ đau. Nhiều lúc chúng ta bắt gặp lời mời gọi sống và tuân giữ luật Chúa, luật Hội Thánh… Có thể nói, mọi biến cố xảy đến trong cuộc đời chúng ta như là những lời truyền tin mà Thiên Chúa gửi đến cho chúng ta. Như Đức Mẹ, chúng ta hãy khiêm tốn thưa “xin vâng”.
Nhưng xét mình lại, nhiều khi chúng ta bất tuân, chúng ta lỗi lời thề hứa ngày chịu Bí tích Rửa tội. Chúng ta không theo ý Chúa nhưng làm theo ý riêng mình. Chúng ta sống quá ích kỷ, chỉ biết đón Chúa về nhà và đóng chặt cửa lại, rồi để niềm vui của Chúa bị bóp nghẹt nơi cuộc sống của chúng ta chứ không đem Chúa đến với tha nhân. Vậy, xin Chúa tha thứ cho chúng ta. Xin Đức Mẹ cầu thay nguyện giúp cho chúng ta.
Lạy Mẹ Maria, Mẹ đã can đảm thưa hai tiếng “xin vâng” để cộng tác với Chúa trong việc cứu độ nhân loại. Xin dạy chúng con biết thưa xin vâng trong mọi cảnh huống của cuộc đời, để chúng con luôn trung thành với Chúa trong đức tin và đặc biệt từ đó chúng con biết đem Chúa đến với tha nhân. Amen.
Lm  Anthony Trung Thành

 

25/3-35: Lễ Truyền Tin

+ GM JB. Bùi Tuần
 

Khi nói xin vâng được coi như một bài ca mới, tôi nhớ lại tâm tình Ðức Mẹ trong kinh Tạ Ơn "Linh hồn25/3-35

Khi nói xin vâng được coi như một bài ca mới, tôi nhớ lại tâm tình Ðức Mẹ trong kinh Tạ Ơn "Linh hồn tôi tung hô Chúa" ( Lc 1, 46 - 55 ).
Trong ngày lễ Truyền Tin, Hội Thánh kính nhớ một biến cố quan trọng. Thiên thần báo tin cho Ðức Mẹ rằng: Thiên Chúa muốn chọn Ðức Mẹ làm Mẹ Ðấng Cứu Thế. Tin đó quá bất ngờ, vượt mọi suy nghĩ, mọi tưởng tượng, mọi đợi chờ. Phản ứng của Ðức Mẹ bắt đầu là bỡ ngỡ bàng hoàng lo sợ, nhưng tiếp đó là xin vâng ( Lc 1, 38 ).
Xin vâng là xin tuân phục ý Chúa. Xin vâng là xin cộng tác vào chương trình cứu độ của Chúa, với sự từ bỏ mình, với sự tuyệt đối phó thác đời mình trong tay Chúa.
Lập tức sau lời "xin vâng" của Ðức Mẹ, Ngôi Hai Thiên Chúa đã xuống thế nhập thể trong lòng Ðức Mẹ. Tất cả đều diễn tiến một cách âm thầm, khiêm tốn. Từ đó "xin vâng" đã được coi như một giao ước mới, một bài ca mới, một con đường mới, của con người mới.
Khi nói xin vâng được coi như một giao ước mới, tôi nhớ lại việc Ðức Mẹ vội vã lên đường đi thăm viếng bà Ê-li-da-bét ( Lc 1, 39 - 45 ). Ði thăm để chia sẻ, để phục vụ, để nâng đỡ khích lệ bà Ê-li-da-bét. Theo Ðức Mẹ, thì mình được Chúa thương, là để mình biết thương người khác. Mình được Chúa chọn cộng tác với Chúa trong việc cứu độ, thì mình phải quyết tâm dấn thân góp phần cứu độ người khác. Mình nhận ơn Chúa ban, thì mình sẽ cố gắng chia sẻ ơn đó cho người khác.
Thiết tưởng đó là một giao ước mới về bác ái liên đới phát sinh từ lời xin vâng.
Khi nói xin vâng được coi như một bài ca mới, tôi nhớ lại tâm tình Ðức Mẹ trong kinh Tạ Ơn "Linh hồn tôi tung hô Chúa" ( Lc 1, 46 - 55 ). Tâm tình Ðức Mẹ là lời nói chân thành của người con bé nhỏ, đầy khiêm tốn, ngỡ ngàng biết ơn và phó thác đối với Chúa. Tâm tình Ðức Mẹ là khát vọng cứu độ tỏa ra sức nóng của tình yêu thương xót, nhưng lại khiêm nhường tế nhị đối với đồng bào, nhân loại. Tâm tình Ðức Mẹ là cái nhìn tiên tri sâu sắc của trái tim khiêm nhường về tương lai dành cho những kẻ khiêm tốn.
Thiết tưởng đó là một bài ca mới về khiêm tốn khởi đi từ lời xin vâng.
Khi nói xin vâng được coi là một con đường mới, tôi nhớ lại biến cố Ðức Mẹ sinh Chúa Giê-su tại hang đá Bê-lem ( Lc 2, 1 - 7 ). Ðang khi hầu hết mọi người đều coi giàu sang chức quyền danh vọng là những bậc thang giới thiệu gía trị con người, thì Ðức Mẹ đã không nghĩ như vậy, đã không vận động chút nào để được như vậy. Trái lại, Ðức Mẹ đã lặng lẽ đi vào con đường khó nghèo. Con đường đó đã khởi đi từ hang đá Bê-lem và kéo dài từng ngày, từng tháng, từng năm, suốt cả cuộc đời Ðức Mẹ. Trên con đường đó, Ðức Mẹ đã cầu nguyện, đã suy gẫm trong lòng, đã lắng nghe Chúa, đã thông hiệp với sự sống Chúa.
Thiết tưởng đó là một con đường mới về sự nghèo khó được vạch ra từ lời xin vâng.
Con đường mới đó, bài ca mới đó, giao ước mới đó đều nói lên Ðức Mẹ là con người mới. Mới về nhiều phương diện, nhưng nhất là về phương diện Chúa Thánh Thần ngự xuống trên Ðức Mẹ, để đổi mới con người của Mẹ ( Lc 1, 35 ).
Qua việc Ngôi Hai xuống thai trong lòng Ðức Mẹ, Chúa Thánh Thần đã đưa tình yêu thương xót của Thiên Chúa vào nhân loại, đã mạc khải Thiên Chúa là tình yêu, đã khai mở một nguồn mạch ơn thánh cứu độ vô cùng phong phú cho mọi người thiện chí.
Do đó, Ðức Mẹ là con người mới, là tác phẩm tuyệt vời của Chúa Thánh Linh. Với đặc điểm là Ðức Mẹ có một trái tim giống trái tim Chúa Giêsu, trong sạch, hiền lành, khiêm nhường, cháy rực lửa tình yêu thương xót.
Những chia sẻ vắn tắt trên đây có thể giúp chúng ta phần nào, để chuẩn bị mừng Lễ Truyền Tin một cách sống động sát với thời sự.
Thời sự hiện nay, nếu nhìn về góc độ xin vâng ý Chúa, thì đó là cả một vấn đề đáng phải lo ngại. Bởi vì có những người coi trọng ý Chúa và xin vâng ý Chúa. Cũng có những người coi thường ý Chúa và chống lại ý Chúa. Có những người hiểu sai ý Chúa, vô tình hoặc cố tình. Có những người gán cho ý Chúa những ý riêng của mình. Có những người muốn ý Chúa hợp theo ý riêng mình, cho dù ý riêng mình là quái gở.
Thời sự hôm nay là Ít-ra-en, quê hương của Ðức Mẹ, đang là mảnh đất diễn ra vòng xoáy hận thù và đổ máu. Vòng xoáy kinh hoàng này càng ngày càng mở rộng trên đất, đồng thời càng xoáy sâu vào lòng dân. Từ mảnh đất này hằng ngày truyền đi khắp năm châu những tin đau đớn, gây nên băn khoăn nặng nề cho hoà bình thế giới. Thời sự này làm cho rất nhiều người phải khóc, phương chi Ðức Mẹ.
Nhưng theo tôi, thời sự hiện nay quan trọng nhất chính là chuyện của bản thân ta. Ta có lắng nghe ý Chúa không ? Và ta có xin vâng ý Chúa thực không ? Ðoạn Phúc Âm sau đây sẽ gợi ý cho ta thấy rõ ý Chúa về ta trong thời sự hôm nay:
"Cùng lúc ấy, có mấy người đến kể lại cho Ðức Giê-su nghe chuyện những người Ga-li-lê bị tổng trấn Phi-la-tô giết, khiến máu đổ ra hoà lẫn với máu tế vật họ đang dâng. Ðức Giê-su đáp lại rằng: "Các ông tưởng mấy người Ga-li-lê đó tội lỗi hơn mọi người Ga-li-lê khác, bởi lẽ họ đã chịu đau khổ như vậy sao ? Tôi nói cho các ông biết: Không phải thế đâu. Nhưng nếu các ông không sám hối, thì các ông cũng sẽ chết hết như vậy". "Cũng như mười tám người kia bị tháp Si-lô-e đổ xuống đè chết, các ông tưởng họ là những người mắc tội nặng hơn tất cả mọi người ở thành Giê-ru-sa-lem sao ? Tôi nói cho các ông biết: Không phải thế đâu. Nhưng nếu các ông không chịu sám hối, thì các ông cũng sẽ chết như vậy" ( Lc 13, 1 - 5 ).
Suy gẫm đoạn Phúc Âm trên, tôi có cảm tưởng là Chúa muốn báo tin cho từng người chúng ta biết rõ ý Chúa. Ðó là đừng quá bận tâm xét đoán người khác, nhưng hãy ưu tiên lo phần rỗi của mình. Lo bằng cách sám hối ăn năn, đổi mới chính mình. Cách đó là cách tốt nhất để góp phần vào việc cứu độ người khác.
Chúa báo tin cho chúng ta ý Chúa là như thế đó. Rất rõ ràng. Ở Fatima Ðức Mẹ cũng báo cho chúng ta tin đó. Cũng rất rõ ràng. Chúng ta hãy đáp lại bằng lời xin vâng.
Xin vâng của chúng ta là một hành trình dài đi về với Chúa. Hãy bước đi với những bước nhỏ. Như hằng ngày cầu nguyện bằng kinh Kính Mừng và chuỗi Mai Khôi. Như hằng ngày đến bên trái tim Ðức Mẹ, để xin trái tim Ðức Mẹ chia sẻ cho ta bầu khí thinh lặng, chiêm niệm, lửa bác ái nồng nàn và sức mạnh lạ lùng của khiêm nhường nghèo khó. Như hằng ngày thực hiện đôi ba việc bác ái, thương cảm liên đới với những người nghèo, bệnh tật, xa Tin Mừng, bị xã hội loại trừ. Như hằng ngày tập nói và làm những gì mang tính cách phục vụ hoà bình hiệp nhất trong yêu thương và tế nhị. Như hằng ngày dùng lòng tin mến biến những mệt mỏi khổ đau của mình thành của lễ đền tội tạ ơn, và xin ơn an bình cho gia đình quê hương và thế giới.
Nếu lời xin vâng của chúng ta được hiệp thông sâu sắc với lời xin vâng của Ðức Mẹ, thì đây sẽ là một hy vọng mới cho tương lai bản thân ta, cho Hội Thánh ta, cho quê hương Việt Nam chúng ta, và cho tất cả nhân loại.

 

25/3-36: Mẹ Maria trong mầu nhiệm truyền tin

L.m. Nguyễn Công Lý, OP
 

Để hiểu về Mẹ Maria trong mầu nhiệm truyền tin, thiết tưởng chúng ta cần nói qua về mầu nhiệm25/3-36

Để hiểu về Mẹ Maria trong mầu nhiệm truyền tin, thiết tưởng chúng ta cần nói qua về mầu nhiệm tình yêu của Thiên Chúa.  Đây là chân lý nền tảng: Chúa yêu ta, và đã cứu ta nhờ Đức Giêsu Kitô. Việc cứu độ này trước hết và trên hết, có tính cách siêu nhiên, nghĩa la bao gồm việc tha tội, việc cho ta được trở thành con Chúa, và vì thế được mọi ơn lành về tinh thần cũng như vật chất. Thánh Phaolô trong thư II gởi giáo đoàn Côrintô đã tóm lược về ơn cứu độ như sau:
"Ai ở trong Đức Kitô thì người ấy là tạo vật mới: vì cũ đã qua và mới đã thành tựu. Nhưng mọi sự đều do tự Thiên Chúa, Đấng đã giao hòa ta lại với Ngài, nhờ Đức Kitô, và đã ban cho chúng ta được giúp việc giao hòa đó. Vì chính nhờ Đức Kitô thì Thiên Chúa, Đấng mưu cuộc giao hòa thế gian với chính mình Ngài, đã không còn đếm xỉa đến các lầm lỗi của họ, và trao cho chúng tôi sứ mệnh laon bao ơn giao hòa. Là sứ giả thay mặt Đức Kitô, chúng tôi tin chắc rằng Thiên Chúa dùng chúng tôi để rao giảng. Vậy nhân danh Đức Kitô, chúng tôi xin anh em hãy làm hòa với Thiên Chúa. Đấng không hề biết tội lỗi, thì vì ta, Thiên Chúa đã làm cho Người thành 'sự tội', ngõ hầu trong Ngài ta được trở thành 'sự công chính' của Thiên Chúa" (I Cor. 5:17-21).
Trong chương vừa kể, thánh Phaolô nói đến những yếu tố tích cực và tiêu cực của ơn cứu độ tức là: Cũ đã qua, mới đã thực hiện. Chúa Cha là chủ động thứ nhất của ơn cứu độ. Chúa Con là chủ động thứ hai, các Tông đồ là chủ động thứ ba. Còn chúng ta, chúng ta phải làm hòa với Thiên Chúa, đó là sự sống con cái Chúa.
Chúa Giêsu khai mạc cuộc cứu đời bằng việc Nhập Thể. Rồi Ngài tiếp tục công việc đó trong suốt cuộc đời và kết thúc bằng một cuộc tử nạn trên núi sọ. Khi sống lại, lên trời, thì Chúa lại chính là Đấng ban Thánh Thần một cách hiển hiện trong ngày lễ Hiện Xuống. Như thế là Chúa Giêsu đã hoàn tất công việc cứu thế khách quan. Và đó là công việc lịch sử của Chúa Giêsu làm ngày xưa.
Từ tòa thiên quốc, và nhờ phép Thánh Thể, Chúa Giêsu tiếp tục công việc cứu thế chủ quan, nghĩa là Ngài áp dụng công việc cứu thế Ngài đã thực hiện xưa, vào từng tín hữu, cho tới ngày tái lâm. Đó là công việc Chúa Giêsu làm hiện nay và mãi mãi.
Chiếu theo chương trình của Chúa, Đức Mẹ đã cộng tác một cách đầy đủ và trọn vẹn trong việc cứu độ này, như một Evà mới của Chúa Giêsu, là Adam mới. Chính Đức Mẹ ban cho ta Đấng Cứu Thế sau khi đã ưng thuận chịu thai Ngài một cách ý thức, tự do và đầy công phúc trong ngày truyền tin. Rồi Đức Mẹ đã cộng tác với Chúa Con trong suốt cuộc sống, từ Belem cho tới Calvario. Đức Mẹ cũng hiện diện trong ngày Hiện Xuống. Và sau khi lên trời cả hồn lẫn xác, thì với tư cách là mẹ và là hoàng hậu, Đức Mẹ cộng tác với Chúa Giêsu trong việc áp dụng ơn cứu độ cho mọi người. Đấy là công việc thực hiện xưa, nay và mãi mãi.
Để hiểu hơn nữa về việc Đức Mẹ cộng tác với Chúa Giêsu trong việc cứ thế, đặc biệt là trong mầu nhiệm Nhập thể, chúng ta nên tìm hiểu thêm Công Đồng Vaticanô II nói gì về vấn đề này. Trước hết, ta nên biết rằng một trong những điểm nổi bật của Công Đồng là việc nhấn mạnh đến giá trị cứu độ của mầu nhiệm nhập thể. Vì theo đạo lý Công Đồng thì trong lúc nhập thể, khi thực hiện việc " này con đến để làm theo thánh ý Cha", thì Chúa Giêsu bắt đầu công cuộc cứu thế. Các mầu nhiệm khác chỉ là những tiến triển của mầu nhiệm tiên khởi này. Đối với Đức Mẹ cũng vậy. Khi thứ tiếng "xin vâng" trong phút thiên thần truyền tin, thì Đức Mẹ bắt đầu làm mẹ Đấng Cứu Thế. Chính trong lúc đó, Chúa Thánh Thần hoạt động để thực hiện việc cấu tạo nên thân xác Chúa Cứu Thế trong lòng Đức Mẹ, và nhờ đó Chúa Giêsu mới bắt đầu thực hiện được việc cứu thế. Và vì Đức Mẹ là Mẹ, cho nên cũng trong lúc ấy Đức Mẹ đã "xin vâng" để cộng tác với Con trong mọi sự. Vì thế tất cả các mầu nhiệm khác về Đức Mẹ, kể cả việc Đức Mẹ hiện diện ở núi Sọ, chỉ là những phát triển và áp dụng của mầu nhiệm "xin vâng" trong ngày truyền tin.
Từ trước tới nay, người ta thường kể tới sự hiện diện của Đức Mẹ tại chân đồi Calvario, để minh chứng sự đồng công cộng tác của Đức mẹ trong việc cứu thế. Nhưng theo Công Đồng Vaticanoo II thì sự hiện diện của Đức Mẹ ở núi Sọ chỉ là hậu quả của lời "xin vâng" trong ngày truyền tin. Vì thế Chúa Giêsu không cần hỏi sự đồn gý của Đức Mẹ để tuyên bố Ngài là mẹ loài người, khi trao phó Gioan cho Đức Mẹ. Vì sự đồng ý đó đã được biểu lộ ngay trong ngày truyền tin.
Như thế chúng ta có thể quả quyết rằng, chiếu theo Thánh kinh và Lưu truyền, Công Đồng Vaticanô II đã nêu lên một điểm quan trọng trong mầu nhiệm truyền tin, khi quả quyết rằng từ lúc đó Đức Mẹ bắt đầu hoạt động trong việc cộng tác cứu đời (L.G.). Phải, Đức Mẹ bắt đầu cộng tác trong việc cứu thế ngay từ lúc truyền tin vì hai lý do: 1. Đức Mẹ đã  ý thức và tự do nhận làm Mẹ Chúa Cứu Thế, Đấng sẽ là sự sống của nhân loại. 2. Trong đức tin và vâng phục, Đức Mẹ đã cộng tác với Con của Ngài, và các việc Con Ngài sẽ làm. Và Đức Mẹ cộng tác như một "nữ tới" đối với chủ, khi thưa: Này tôi là tôi tớ Chúa, tôi xin vâng như lời thiên thần truyền.
Để rõ hơn về địa vị của Đức Mẹ trong công cuộc cộng tác cứu thế, chúng ta cũng  nên hiểu lý do của mầu nhiệm truyền tin. Theo đạo Công Đồng Vaticanô II thì vai chủ động trong mầu nhiệm truyền tin là Chúa Cha, Đấng là Cha hay thương xót. Chiếu theo chương trình tự do đã có từ đời đời, Ngài có sáng kiến và quyết định ban cho nhân loại một Đấng Cứu Thế, và ban cho Đấng Cứu Thế một người Mẹ, một người mẹ được chọn giữa con cái loài người, để nhờ đó Đấng Cứu Thế sẽ trở thành cùng dòng máu với gia đình nhân loại, là kẻ sẽ được cứu độ. Việc làm Mẹ Chúa Cứu Thế không phải chỉ là một tác động thể lý, nhưng còn là một hiệu quả của một sự ưng thuận đầy ý thức và tự do của Đức Mẹ, Đấng đã được Chúa tièn định trong công việc trọng đại này. Công Đồng nói, "Chúa Cha Đấng hay thương xót, đã muốn sự đồng ý của Đức Mẹ, trước khi có sự Nhập thể của Ngôi Lời." (n.56). Và đấy là lý do tại sao có chương Phúc âm thực ý vị của Thánh Luca (1:26-38) tả về câu truyện truyền tin, về cuộc đối thoại giữa Thiên Thần và Đức Mẹ, và sau cùng là sự đồng ý của Mẹ Maria.
Như thé là sự chấp nhận đầy ý thức và tự do của Đức Mẹ đối với mầu nhiệm Nhập Thể là một điều đã có trong chương trình cứu độ của Thiên Chúa. Vì cũng như do một Phụ Nữ mà mọi người phải chết, thì cũng nhờ một Phụ Nữ mà nhân loại được sống (n.56). Với những lời lẽ đó Công Đồng muốn nhắc lại nguyên tắc "tương phản" mà thánh Ireneo đã đề nghị. Nghĩa là chương trình cứu độ tương phản lại chương trình phá hoại. Và nhứ thế Đức Maria là Tân Evà, Ngài sửa lại những gì Evà làm đổ vỡ.

 

 25/3-37: Những yêu sách của truyền tin

Giây phút "truyền tin" bắt đầu một kỷ nguyên mới. Giây phúc "truyền tin" thật là quan trong đối 25/3-37

Giây phút "truyền tin" bắt đầu một kỷ nguyên mới. Giây phúc "truyền tin" thật là quan trong đối với Thánh mẫu học. Từ giây phúc thưa hai tiếng "xin vâng", Đức Mẹ Maria trở thành một tạo vật đặc biệt, trở nên Mẹ Thiên Chúa, Mẹ Đấng Cứu thế, Mẹ loài người, Mẹ Giáo Hội, và mẹ từng tín hữu. Vì thế những yêu sách của  "phúc truyền tin" cũng thực lớn lao vè phía Chúa và về phía Đức Mẹ. Ta xem Công Đồng Vaticanô II nói gì về những yêu sách ấy.
Về phía Chúa:
1- Trước hết, Công Đồng quả quyết: Đức Mẹ được Chúa làm cho nên phong phúc về mọi ơn, xứng hợp với thiên chức "Mẹ Chúa". Như thế là một cách gián tiếp Công Đồng nhắc lại nguyên tắc thường  gọi trong giáo lý là "xứng tiện: convenientiae". Nghĩa là theo các nhà Thần học thì những gì nên làm, và có thể làm thì Chúa đã làm: decuit, potuit ergo fecit. Nguyên tắc này thường được áp dụng trong Thánh mẫu học.
Không phải theo cảm tình hay sở thích cá nhân, mà chính là dựa vào hoàn cảnh cụ thể của phút "truyền tin" mà Công Đồng đã áp dụng nguyên tắc này. Trong giờ phút "truyền tin", Đức Mẹ trở nên Mẹ  Chúa Cứu Thế. Đó là điều Thánh kinh, Lưu truyền và Giáo hội vẫn dạy. Dựa vào sự việc đó, và nhờ ơn Chúa Thánh Thần soi sáng, Giáo hội đã muốn áp dụng nguyên tắc "xứng tiện" này nơi chính Thiên Chúa đối với Đức Mẹ.
2- Cũng theo nguyên tắc đó Công Đồng quyết thêm: Vì muốn cho Đức Maria trở nên Mẹ Chúa Cứu Thế, Mẹ Thiên Chúa, nên Chúa phải làm cho Đức Mẹ trở thành rất thánh, không vướng tì ố tội lỗi. Nói như thế là Công Đồng dựa vào thế giá các Giáo phụ, để chỉ sự thánh thiện tích cực của Đức Mẹ - Về phương diện tiêu cực: Đức Mẹ không vướng một chút tì ố tội lỗi - Về phương diện tích cực: Đức Mẹ là đấng rất thánh, được Chúa Thánh thần tác tạo như một thụ sinh mới. Đấy là những điểm các thánh Giáo phụ thường nói về Đức Mẹ, và Công Đồng nhận những quan niệm đó như của chính Công Đồng.
3- Công Đồng còn nói thêm rằng: Ngay từ phút đầu vừa thụ thai, Đức Mẹ được trang điểm bằng mọi huy hoàng của sự thánh thiện đặc biệt, và vì thế Ngài đã trở thành xứng đáng để chịu thai Ngôi Lời, mà không bị một mảy may tội lỗi hay lòng ích kỷ chi phối. Công Đồng không dùng kiểu nói của Đức Giáo Hoàng Pio IX khi tuyên bố tín điều Đưc Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội, vì Công Đồng có ý trưng lại quan niệm của các thánh Giáo phụ về sự thánh thiện và sự không vương vấn tội lỗi nơi Đức Mẹ. Tuy thế, trong triệt 5 của sô 59 Hiến Chế Lumen Gentium, Công Đồng có nhắc đến câu định tín vừa kể trên:
4- Để minh chứng việc Đức Mẹ thánh thiện, Công Đồng nói: theo lệnh của Chúa, Thiên thần đã chào Mẹ là "Đấng đầy ơn phúc" (Lc. 1:28). Ở đây Công Đồng cũng không muốn đưa ra một cách cắt nghĩa nào về câu "Đấng đầy ơn phúc", nhưng vẫn còn để cho các nhà chú giải tự do tìm hiểu theo ngôn ngữ học. Nhưng Công Đồng muốn nói Chúa phải làm cho Đức Mẹ đầy ơn phúc, đầy sự thánh thiện và không hề vương vấn bất cứ một thứ tội lỗi nào, để xứng đáng làm Mẹ Ngôi Hai giáng trần. Và nói nhứ thế là dựa vào Thánh kinh, vào Lưu truyền và vào đạo lý của Giáo hội từ xưa tới nay.
Về phía Đức Mẹ:
Về phía Đức Mẹ, phút "truyền tin" cũng đem lại những yêu sách đặc biệt.
1- Công Đồng tóm tắc bằng một câu vắn vỏi, nhưng rất quan trọng khi nói: Công tác của Đức Mẹ là công tác của một "tới nữ" của Thiên Chúa. Đức Mẹ đã tận hiến cho Ngôi Lời là Con của Đức Mẹ, ngay khi Ngôi Lời nhận láy bản tính nhân loại trong lòng Đức Mẹ, để nhờ các mầu nhiệm của thân xác đó, Chúa cứu vãn con người tội lỗi (L.G. 55). Công Đồng muốn nêu cao giá trị cứu độ của Đức Mẹ trong giờ phút truyền tin, và đặc biệt Đức Mẹ đã cộng tác một cách tích cực vào sứ vụ công khai của Chúa Cứu Thế. Và quả quyết như thế vì đã có lời Thánh kinh kể lại: Đức Mẹ trả lời cho Thiên sứ: "Này tôi là nữ tớ Chúa, xin thi hành nơi tôi như lời Ngài đã nói" (Lc 1:38).
2- Việc tình nguyện tận hiến phục vụ mầu nhiệm cứu độ như thế, không phải là một việc riêng rẽ, nhưng đi liền với thiên chức "Mẹ Chúa Cứu Thế" với việc Đức Mẹ được đầy ơn phúc, và việc Đức Mẹ được Chúa ban cho mọi ơn một cách nhưng không. Nghĩa là Đức Mẹ đã tích cực cộng tác với Chúa Con để cứu nhân loại trong lòng tin và vâng phục Chúa Con, và cùng với Chúa Con, nhờ ơn Thiên Chúa toàn năng. Đây là nguyên văn Công Đồng: Nhứ thế Đức Mẹ Maria, một nữ tử của Adam, khi ưng thuận lời Chúa truyền, đã trở thành Mẹ Chúa Giêsu, và với tất cả tâm hồn, chứ không vì một mảy may ẩn ý tội lỗi. Đức Mẹ đã nhận lấy thánh ý cứu độ của Thiên Chúa. Và như một nữ tớ của Chúa, Đức Mẹ tận hiến hoàn toàn cho Chúa Con và công việc của Ngài để phục vụ mầu nhiệm cứu độ, dưới quyền điều kiển của Chúa con và cùng với Chúa Con, nhờ ơn Thiên Chúa toàn nằng (L.G. 56). Trên đây là những quả quyết quan trọng nhất của Công Đồng Vaticanô II về Đức Mẹ.
3- Khi quả quyết về mối tương quan giữ Đức Mẹ và công việc cứu độ trong giờ phúc "truyền tin". Công Đồng không những chú ý đến điều các nhà chú giải Thánh kinh đã tìm thấy nơi Phúc âm thánh Luca, mà nhất là chú ý đén điều các thánh Giáo phụ đã dạy. Các ngài đã phân tách hai điểm tích cực và tiêu cực trong việc này. Tiêu cực: theo các thánh Giáo phụ thì Đức Mẹ không phải chỉ là một dụng cụ thụ động ở nơi tay Chúa. Tích cực: nhưng với đầy lòng tin và vâng phục, Đức Mẹ đã công tác thực sự trong công việc cứu độ nhân loại. Hai điểm tiêu cực và tích cực này đã được các thánh Giáo phụ đề cập và quảng diễn ngay từ thời thánh Irênêô (202). Việc quảng diễn đã được tóm lại trong 4 điểm này:
a/ Khi vâng lời như thế, Đức Mẹ trở nên căn nguyên cứu độ cho chính Ngài, và cho tất cả nhân loại (Adv. Haer. III, 22,4).
b/ Vì thế việc bà Evà đã thắt buộc lại vì không vâng phục thì Đức Mẹ đã thóa cởi ra vì vâng phục. Việc bà Evà thắt buộc lại vì thiếu lòng tin, thì Đức Mẹ đã cởi ra vì lòng tin. Evà bất tuân lệnh Chúa cấm ăn trái biết lành biết dữ vì theo lời dối trá của ma quỉ, còn Đức Mẹ Maria thì trái lại, Ngài đã vâng lời thiên thần báo tin về chương trình cứu độ của Chúa, và Đức mẹ vâng theo thánh ý Chúa một cách ngoan ngoãn như một nữ tới hay vâng phục.
c/ Cũng như bà Evà, Đức Mẹ Maria được gọi là Mẹ những kẻ sống. Dĩ nhiên chúng ta không bàn đến một chức vụ là mẹ thể lý như bà Evà, mà đề cập đến một chức vụ làm mẹ thiêng liêng của những kẻ được sống và sống đời đời, nhờ Chúa Giêsu con Đức Mẹ.
d/ Chết là do Evà thí sống là do Đức Mẹ Maria. Evà đem lại cho nhân loại cái chết, một cái chét thiêng liêng, tức là tội lỗi, làm cho mất ơn nghĩa với Chúa. Cái chết này lưu truyền cho con cháu. Ngoài cái chết thiêng liêng lại có cả cái chết thể lý. Chết thể lý là hình phạt của tôi Adam và Evà. Đức Mẹ Maria làm cho người ta được hai cái sống: Một cái sống thiêng liêng, nghĩa là được lại ơn nghĩa với Chúa, nhờ sự hy sinh đền tội của Chúa Giêsu, Con của Đức Mẹ, Ngài là nguồn mọi sự thánh thiện Đức Mẹ cũng đem lại cho nhân loại một cái sống thể lý, nghĩa là nhờ Chúa Giêsu, Con thực của Đức Mẹ, Đấng đã chịu chết và sống lại, thì xác loài người, sau khi chết và tan rã, sẽ được sống lại, và sống đời đời.
Kết luận:
Mầu nhiệm cứu độ trong giây phúc "truyền tin" có thể tóm lược bằng những lời đầy ý nghĩa của Đức Giáo Hoàng VI đọc trong ngày 25 tháng 3 năm 1973:
"Trong mầu nhiệm 'truyền tin' chúng ta chào mừng việc Đức Kitô giáng trần. Đây là trung tâm điểm của mầu nhiệm Nhập Thể. Là một biến cố đặc biệt, mới lạ và đẹp đẽ nhất của nhân loại. Khi Ngôi Hai nhập thể làm người, Ngài đã mặc khải cho ta mầu nhiệm Ba Ngôi Thiên Chúa, và đổ xuống trên nhân loại một đời sống mới, đời sống siêu nhiên, và làm cho nhân loại được thông công sự sống của chính Thiên Chúa. trong giờ phút truyền tin, Đức Kitô cũng để lại những điều kiện căn bản về việc cứu đô, về nước Chúa, một nước băt dầu với Đức Kitô trong thời gian, à sẽ kéo dài qua mọi thời gian, để kết thúc trong đời đời vô tận.
"Hạnh phúc đó, tương lai đó, và ơn gọi đó đã mở ra cho chúng ta trong giờ phút truyền tin. Và Mẹ Maria, một đấng rất khiêm nhường trong sạch, với một lòng vâng phục đầy yêu mến, và nhờ ơn Chúa Thánh Thần, đã nhận trở thành Mẹ Đồng trinh của Đấng vừa là Chúa vừa là người, tức là Chúa Giêsu Kitô. Đấy là trung tâm điểm của các mầu nhiệm, của chân lý, và của thực tại..."

 

25/3-38: LÀM THEO Ý CHÚA

Sắp đến lễ Truyền Tin. Khi cử hành lễ trọng này, các chủ tế thường giảng về lời Đức Mẹ "xin vâng 25/3-38

Sắp đến lễ Truyền Tin. Khi cử hành lễ trọng này, các chủ tế thường giảng về lời Đức Mẹ "xin vâng", cộng đoàn cũng hay đồng ca lời "xin vâng" của Đức Mẹ.
Đến nay, lời "xin vâng" của Đức Mẹ trong biến cố truyền tin đã trở thành một gương mẫu "Sống Lời Chúa" cho nhiều tín hữu tại Việt Nam ta.
Nhận xét này báo cho chúng ta một tin vui. Để góp phần nhỏ vào tin vui này, tôi xin phép được chia sẻ kinh nghiệm về cách sống "xin vâng". Tất nhiên chia sẻ này sẽ rất giới hạn. Nó được diễn tả như một hành trình. Hành trình này có những chặng như sau:
1/ Nhận thức về bổn phận "phải làm theo ý Chúa"
"Xin vâng" không phải là nói theo công thức đạo đức, mà là một lời hứa sẽ làm theo ý Chúa.
Chúa Giêsu phán: "Không phải bất cứ ai thưa với Thầy: 'Lạy Chúa, lạy Chúa' là được vào Nước Trời cả đâu! Nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời, mới được vào mà thôi" (Mt 7,21).
"Vậy ai nghe những lời Thầy nói đây mà đem ra thực hành, thì ví như người khôn xây nhà trên đá. Dù mưa sa, nước cuốn, hay bão táp ập vào, nhà ấy cũng không sụp đổ, vì đã xây trên nền đá. Còn ai nghe những lời Thầy nói đây, mà chẳng đem ra thực hành, thì ví như người ngu dại xây nhà trên cát. Gặp mưa sa, nước cuốn, hay bão táp ập vào, nhà ấy sẽ sụp đổ, sụp đổ tan tành" (Mt 7,24-27).
Lời Chúa trên đây dạy ta phải chú trọng đến thực hành. Đừng xin vâng như một lễ nghi. Nghe rồi, nói rồi, hứa rồi, là kể như xong. Xin vâng kiểu đó chỉ là một cách giữ đạo hình thức. Kết quả sẽ rất tai hại. Phải đặt trong lời xin vâng một quyết tâm làm theo ý Chúa. Làm thực sự, làm đến nơi đến chốn.
2/ Nhận thức mình yếu đuối, tội lỗi, tối tăm
Quyết tâm làm theo ý Chúa là điều khởi đầu không được thiếu. Nhưng liền sau quyết tâm đó sẽ không phải là động lực tự phụ, tự đắc. Nhưng là một nhận thức khiêm nhường về bản thân mình.
Nhận thức khiêm nhường đó có thể diễn tả như lời tự thú của thánh Phaolô xưa: "Điều tôi muốn, thì tôi không làm, nhưng điều tôi ghét thì tôi lại làm... Bởi đó, tôi khám phá ra luật này: Khi tôi muốn làm sự thiện, thì lại thấy sự ác xuất hiện ngay. Theo con người nội tâm, tôi vui thích vì luật của Chúa. Nhưng trong các chi thể của tôi, tôi lại thấy một luật khác: Luật này chiến đấu chống lại luật của lý trí và giam hãm tôi trong luật của tội là luật vẫn nằm sẵn trong các chi thể của tôi. Tôi thực là người khốn nạn. Ai sẽ giải thoát tôi khỏi thân xác phải chết này? Tạ ơn Chúa, nhờ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta" (Rm 7,15-26).
Lời tự thú trên đây của thánh Phaolô là một sự thực sống động. Mỗi người trong chúng ta đều đã và đang cảm nghiệm sự thực đó nơi bản thân mình.
Cảm nghiệm này cần được ta nói lên với Chúa một cách khiêm nhường. Riêng tôi, hằng giờ và từng phút, tôi vẫn nhìn lên Chúa, với tấm lòng của trẻ thơ yếu đuối, rất xác tín lời Chúa phán xưa: "Không có Cha, chúng con không thể làm gì được" (Ga 15,5). Tôi không thể làm được điều gì tốt, nhưng lại rất có thể làm được nhiều điều không tốt trong tư tưởng, lời nói, việc làm và những điều thiếu sót. Nhất là những thiếu sót thì vô số kể.
Nhận thức mình yếu đuối, hèn hạ, tối tăm sẽ không là một cái nhìn bi quan bệnh hoạn, nhưng sẽ là một cái nhìn đúng sự thực, lành mạnh, đưa tới một nhìn nhận mang tính cách cứu độ.
3/ Nhìn nhận mình cần đón nhận Chúa và ở trong Chúa cứu độ
Chúa Giêsu phán: "Thầy là ánh sáng đến thế gian, để bất cứ ai tin vào Thầy, thì không ở lại trong bóng tối" (Ga 12,48).
Tôi tin lời Chúa trên đây. Từ niềm tin ấy, tôi khao khát cầu xin Chúa đến với tôi. Đời tôi trở thành một thao thức đợi chờ. Đợi chờ một Thiên Chúa đang đến.
Khi Người đến, gặp thấy lòng con người thao thức về sự cứu độ, Người sẽ thương đốt lên trong lòng họ lửa tin mến nồng nàn. Họ sẽ được Người chia sẻ cho dần dần kế hoạch làm theo ý Chúa.
Họ sẽ làm. Chúa cũng sẽ làm với họ. Họ cảm nghiệm được một sự an ổn thiêng liêng. Cho dù nhiều lúc, họ không tránh được đau khổ. Nhất là khi họ thấy một lời Chúa phán xưa sẽ phải được thực hiện nơi họ: "Thật, Thầy bảo thật các con, nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không thối đi, thì nó vẫn trơ trơ một mình. Còn nếu nó chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác" (Ga 12,24).
Cùng đi sâu vào con đường cứu độ, mà Chúa Giêsu đã đi, kẻ muốn làm theo ý Chúa càng cảm thấy cần phải gắn bó với Người. Gắn bó chặt chẽ và sống động như cành cây với thân cây. Như Chúa Giêsu đã quả quyết: "Thầy là cây nho, các con là cành. Ai ở lại trong Thầy và Thầy ở trong người ấy, thì người ấy sinh nhiều hoa trái" (Ga 15,5).
Từ kinh nghiệm ấy, sự luôn ở lại trong tình thương của Chúa trở thành một vấn đề bức xúc. Nó sẽ có liên hệ mật thiết với sự bình an, mà Chúa hứa ban riêng cho những ai làm theo ý Chúa. Như Chúa Giêsu đã hứa: "Thầy để lại bình an cho các con. Thầy ban cho các con sự bình an của Thầy. Thầy ban cho các con không như thế gian ban tặng" (Ga 14,27).
Ai đã được nếm sự bình an này, sẽ rất chân thành nhìn nhận: Khi mình làm theo ý Chúa, thì có sự bình an. Sự bình an mà mình được, hoàn toàn không do công phúc của mình, nhưng do Chúa ban cho mà thôi.
Chia sẻ trên đây chẳng có gì lạ. Tuy nhiên, hy vọng nó cũng được coi là một nhắn gởi của một người lớn tuổi, đã trải qua nhiều chặng đường lịch sử rất phức tạp. Nhìn lại đời mình, tôi thấy: Chỉ có sự thao thức làm theo ý Chúa mới đáp lại được ơn gọi Chúa đã dành cho mình. Tôi nhìn lại với tâm tình cảm tạ và vô vàn thống hối ăn năn.
Hiện nay, chủ nghĩa cá nhân và thực dụng đang rất mạnh. Nó dụ dỗ những người tin Chúa hãy sống theo ý riêng mình, hãy đua đòi làm theo ý thế gian. Tình hình này rất nguy hiểm cho tương lai đạo đức Phúc Âm.
Vì thế, lời "xin vâng" của Đức Mẹ nên được coi là một nhắn gởi tha thiết. Rất mong các môn đệ Chúa hãy đón nhận, để suốt đời mình sẽ là một dòng thiện chí tuyệt đối phó thác làm theo ý Chúa, mặc dù ý Chúa thường rất khác ý thế gian và ý riêng ta.
+ GM GB Bùi Tuần

 

25/3-39: Tình Mẹ Còn Mãi,

Lm Tạ Duy Tuyền

Nếu phải nói lời cám ơn, có lẽ chúng ta phải cảm ơn mẹ đã sinh ra ta trong cuộc đời này! Tình thương 25/3-39

Nếu phải nói lời cám ơn, có lẽ chúng ta phải cảm ơn mẹ đã sinh ra ta trong cuộc đời này! Tình thương của mẹ còn dành trọn vẹn cho ta đến nỗi người ta  nói rằng: “đi khắp thế gian không ai tốt bằng mẹ”.

Thế nhưng:

Có lúc ta quên màu tóc Mẹ. Đã một thời giãi nắng dầm mưa.

Có lúc ta quên nhìn trán Mẹ. Còn bao nhớ thương dù ta lớn khôn rồi...

Dầu hiểu rằng món nợ ân tình mà chúng ta phải mang lấy suốt cuộc đời là nợ tình thương hy sinh của mẹ, nhưng đôi khi ta vẫn vô tâm để mẹ buồn lòng vì ta.

Có một bạn trẻ đã tâm sự với mẹ như sau:

Khi hình hài con sống trong lòng mẹ, thì cũng là lúc con biết tập đếm yêu thương... Chín tháng mười ngày mẹ sống trong chờ đợi, hy vọng đứa con bé bỏng chào đời. Chín tháng mười ngày và hai mươi năm con sống trong mẹ, sống trong ngọt ngào mà mẹ dành tặng, như là một lẽ hiển nhiên.

Con đã từng nghĩ đó là lẽ hiển nhiên, hiển nhiên phải thế, hiển nhiên mẹ phải chăm lo cho con từng miếng ăn tấm áo, hiển nhiên phải vỗ về con mỗi lúc con khóc, hiển nhiên đưa tay cho con nắm lấy, khi con cảm thấy mình chơi vơi…

Thế nên,

Đã có lúc con quên đi màu tóc mẹ, chẳng còn xanh như thuở đôi mươi. Tóc mẹ đã ngả màu theo tháng năm nhọc nhằn nuôi con lớn, một màu tiêu muối mà con cảm thấy đau lòng.

Đã có lúc con quên đi bàn tay mẹ, chẳng còn mịn màng trắng trẻo như xưa. Chỉ còn là đôi tay đã chai sần đi vì vất vả, cả cuộc đời tất tả với gành hàng rong.

Trong hàng ngàn người phụ nữ trên thế gian này, có những người rất tài giỏi, cũng có những người phụ nữ rất nhiều tiền, nhiều của, nhưng trong con, mẹ luôn là người phụ nữ giàu có nhất, giàu có hơn tất thảy mọi người phụ nữ trên thế gian này, đơn giản vì, tình yêu của mẹ dành cho con luôn đầy ăm ắp, chưa có khi nào vơi đi...

Con yêu mẹ. Cảm ơn mẹ, vì mẹ là mẹ của con.

"Hát khúc hát ai quên mình có Mẹ. Một ngày kia lặng lẽ bên cuộc đời.

Cánh cò, cõng nắng, cõng mưa. Mẹ tôi cõng cả, bốn mùa gió sương...".

Trong cuộc đời Chúa Giê-su cũng có một người Mẹ. Một người Mẹ thật tuyệt vời mà Chúa Cha đã chọn cho Con Một của Ngài. Mẹ Maria tài đức vẹn toàn đến nỗi mà từ trời cao Thiên Chúa luôn hài lòng về Mẹ. Và Thiên Chúa mãi hài lòng về Mẹ qua 2 tiếng xin vâng để lãnh nhận thiên chức làm Mẹ Đấng cứu thế.

Hôm nay lễ kỷ niệm Mẹ Maria được chọn làm Mẹ Chúa Trời. Phúc âm ghi lại hành trình làm mẹ của Mẹ Maria thật cao cả, tuyệt vời. Mẹ đón nhận làm Mẹ của Con Chúa Trời trong sự đơn sơ khiêm tốn. Mẹ đón nhận thiên chức làm mẹ trong cái nhìn của đức tin để vượt qua mọi sợ hãi mà sinh Con Chúa Trời làm người. Nếu không có lòng quảng đại Mẹ đã khước từ gánh nặng của bóng thập giá ngay từ lúc truyền tin. Nếu không có đức tin Mẹ sẽ không đủ can đảm đón nhận thiên chức làm Mẹ vượt qua trí hiểu của con người. Mẹ Maria đã đón nhận mang trong mình một mầm sống trong niềm tín thác xin vâng.

Mẹ xin vâng dầu Mẹ chưa hiểu hết. Mẹ xin vâng dầu phải đối diện với nguy nan, vì sinh con mà không qua người đàn ông, chắc chắn theo luật Do Thái Mẹ phải chết . . . Thế nhưng, Mẹ vẫn tin vào quyền năng của Chúa sẽ bao phủ trên cuộc đời của Mẹ. Mẹ đón nhận tất cả với niềm tín thác nơi sự quan phòng của Thiên Chúa.

Cám ơn Mẹ đã nhận Chúa Giê-su làm con Mẹ và rồi hôm nay lại nhận chúng con làm nghĩa tử để Mẹ mãi đong đầy tình thương cho chúng con. Cám ơn Mẹ cũng nhận Giáo họ truyền tin làm con của mẹ để Mẹ luôn cầu bầu cùng Chúa chúc lành cho giáo họ. Chúng con tin rằng nhờ sự bảo vệ của Mẹ mà Giáo họ vẫn bình an, con cái các gia đình trong giáo họ không vướng vào tệ nạn mặc dù sống giữa đô thị đầy cám dỗ. Cuộc sống của nhiều di dân mới tới lập nghiệp còn nhiều khó khăn nhưng từng bước đang được an cư lập nghiệp.
 

25/3-40: Đối Thoại Truyền Tin, Lm Giuse Nguyễn Hữu An

Thiên Sứ Gabriel truyền tin cho Đức Maria là một cuộc đối thoại.  Để thấy được sự trang trọng, độc 25/3-40

Thiên Sứ Gabriel truyền tin cho Đức Maria là một cuộc đối thoại.  Để thấy được sự trang trọng, độc đáo của cuộc đối thoại Truyền Tin, cần so sánh khung cảnh truyền tin của Thiên sứ Gabriel cho Ông Zacaria và cho Đức Maria.
Về địa điểm: Thiên sứ hiện ra với Zacaria ở đền thờ Giêrusalem, trung tâm tôn giáo của Israel, giữa làn khói hương nghi ngút.  Với Đức Maria, Thiên sứ đến gặp Mẹ tại Nazareth, một thôn làng chẳng mấy ai biết đến (Ga1,46; 7,41).  Nazareth thuộc miền đất Galilê, gần vùng dân ngoại (Is 8,23; Mt 4,14).
Về nhân vật: Zacaria là tư tế thuộc giòng Abia, Isave thuộc giòng Aaron.  Cả hai ông bà thuộc thành phần có địa vị xã hội.  Hai ông bà tuân giữ lề luật chu đáo (Lc 1,6).  Họ tượng trưng cho người công chính theo Cựu ước.  Còn Maria chỉ là một thôn nữ tầm thường, một người nghèo của Giavê.
Đi vào nội dung đối thoại thì hoàn toàn đảo ngược.
Thái độ của Thiên sứ: Với Zacaria: Thiên sứ coi mình như chủ nhà.  Giọng nói Thiên sứ như ra lệnh, thị oai.  Thiên sứ phạt Zacaria khi ông tỏ dấu nghi ngờ.  Với Maria: Thiên sứ là khách, đi đến nhà của Maria, một làng quê hẻo lánh.  Thiên sứ tỏ vẻ kính cẩn vì nhìn thấy nới thôn nữ mộc mạc dáng vẻ oai nghi của “Đấng đầy ân sủng, Thiên Chúa ở cùng”
Công trạng và ân huệ: Với Zacaria: Thiên sứ bảo rằng: Lời cầu nguyện của ông đã được Chúa chấp nhận, vợ ông sẽ thụ thai (Lc 1,13).  Như vậy tất cả đều dựa trên công trạng phúc đức của con người, đúng theo hình ảnh Cựu ước.  Với Đức Maria: Tất cả đều là Ân huệ của Chúa.  Thiên sứ chào Maria là “người được Thiên Chúa yêu thương chiếu cố” (Lc 1,28), tất cả đều là ân huệ và tình thương của Chúa.
Kết quả: Zacaria bị quở trách vì “không chịu tin vào Lời Chúa” (Lc 1.20).  Maria được ca ngợi vì “đã tin rằng Lời Chúa sẽ thực hiện” ( Lc 1,45.38).  Isave được cưu mang Gioan “sẽ làm lớn trước mặt Chúa” (Lc 1,15).  Maria cưu mang “Con Đấng Tối Cao” (Lc 1,32); “Con Thiên Chúa” (Lc 1,35).
Lắng nghe cuộc đối thoại giữa Thiên Sứ và Đức Maria, ta thầy rằng: công cuộc vĩ đại của Thiên Chúa là cứu chuộc nhân loại, thiết lập Nước Trời được bắt đầu một cách rất âm thầm.  Một cuộc đối thoại Truyền Tin tại một làng quê, giữa Thiên Sứ với một thôn nữ chẳng mấy người biết.  Chúa Giêsu đã diễn tả sự khởi đầu bé nhỏ nhưng thành quả lại lớn lao qua dụ ngôn hạt cải: “Nước Thiên Chúa giống như hạt cải, lúc gieo xuống đất, nó là loại hạt nhỏ nhất trên mặt đất.  Nhưng khi gieo rồi, thì nó mọc lên lớn hơn mọi thứ rau cỏ, cành lá xum xuê, đến nỗi chim trời có thể làm tổ dưới bóng” (Mc 4,31-32). Thiên Chúa thường khởi sự những việc hết sức lớn lao bằng những việc hết sức bé nhỏ, với những con người cũng hết sức nhỏ bé.  Như thế người ta mới thấy quyền năng của Ngài, mới thấy Ngài là một Thiên Chúa vĩ đại: “Những gì thế gian cho là yếu kém, thì Thiên Chúa đã chọn để hạ nhục những kẻ hùng mạnh”(1Cr 1,27).
Lắng nghe cuộc đối thoại giữa Thiên Sứ và Maria, ta thấy Thiên Chúa chọn những ai sống đẹp lòng Ngài.  Maria đã được Thiên Chúa chọn làm Mẹ Đấng Cứu Thế để cộng tác với Ngài trong công trình cứu độ.  Ngài chọn Maria vì Ngài muốn chọn, theo sự tự do của Ngài (x. Rm 9,12.16), và cũng vì Maria đẹp lòng Thiên Chúa.  Thời Đức Mẹ, ai cũng mong chờ Đấng Cứu Thế, nhưng chỉ mình Đức Mẹ được diễm phúc đón nhận.  Chúa chọn Đức Mẹ, đó là do ân huệ nhưng không của Chúa, nhưng cũng vì Đức Mẹ có tâm hồn khiêm nhường đón nhận.  Thiên sứ nói với Đức Maria: “Quyền năng của Đấng tối cao sẽ bao trùm lên bà, vì thế Đấng Thánh con của bà sinh ra sẽ được gọi là Con Thiên Chúa” (Lc.1, 35).  Tiếng quan trọng ở trong câu đó là “bao trùm lên” hay “bao phủ lên.”  Lều tạm nơi dân Do Thái để hòm Giao Ước.  Câu Xh 40,34 nói rằng bao lâu đám mây còn bao phủ lều tạm thì “lều tạm có Thiên Chúa hiện diện”.  Việc Luca chọn và dùng từ “bao trùm lên” có ý nghĩa thâm sâu.  Luca so sánh thân thế Đức Maria với lều tạm nơi đặt Hòm Giao Ước của Thiên Chúa.  Luca so sánh cung lòng Đức Maria nơi Đức Giêsu sẽ tới cư ngụ với Hòm Giao Ước nơi đặt hai phiến đá có ghi 10 điều răn của Thiên Chúa.  Như vậy nghĩa là khi quyền năng của Thiên Chúa bao trùm lên Đức Maria, thì có “Thiên Chúa hiện diện” trong Mẹ.  Nhưng sự hiện diện của Thiên Chúa trong Đức Maria thì vô cùng phong phú hơn sự hiện diện của Ngài trong “lều tạm.”  Sự hiện diện của Thiên Chúa nơi Đức Maria chính là sự hiện của Đức Giêsu bằng xương bằng thịt.
Lắng nghe cuộc đối thoại giữa Thiên Sứ và Maria, ta thấy Đức Maria đã tự do đáp tiếng “Xin vâng”. Trong Hiến Chế Lumen Gentium số 56, Công Đồng Vatican II đã giải thích ý nghĩa quan trọng của câu chuyện Truyền Tin và sự ưng thuận tự do của Đức Maria: “Các thánh Giáo Phụ đã nghĩ rất đúng rằng: Thiên Chúa đã không thu dụng Đức Maria một cách thụ động, nhưng đã để Ngài tự do cộng tác vào việc cứu rỗi nhân loại, nhờ lòng tin và sự vâng phục của Ngài.  Thực vậy, Thánh Irênê nói : “Chính Ngài, nhờ vâng phục, đã trở thành nguyên nhân ơn cứu độ cho bản thân Mẹ và cho toàn thể nhân loại.”  Và cùng với thánh Irênê còn có rất nhiều thánh Giáo Phụ thời xưa cũng không ngần ngại giảng dạy rằng: “Nút dây đã bị thắt lại do sự bất tuân phục của bà Evà, nay được gỡ ra nhờ sự vâng phục của Đức Maria; điều mà trinh nữ Evà đã buộc lại bởi cứng lòng tin, thì Trinh Nữ Maria đã tháo ra nhờ lòng tin.”  Và so sánh với Evà, các Giáo phụ gọi Đức Maria là “Mẹ các sinh linh” và thường quả quyết rằng: “Bởi Evà đã có sự chết, thì nhờ Maria lại được sống.”  Trong Sứ điệp Ngày Quốc Tế Giới Trẻ Lần Thứ 18 năm 2002, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã nói với giới trẻ rằng: Trong biến cố Truyền Tin, Đức Maria trao ban bản tính nhân loại cho Con Thiên Chúa trong cung lòng Mẹ với lời tự do chấp nhận: “Này tôi là tôi tớ Chúa.”  Dưới chân Thánh Giá, nơi thánh Gioan, Đức Maria đón nhận toàn thể nhân loại vào tâm hồn mình: “Hỡi bà, này là con bà.”  Là Mẹ Thiên Chúa ngay từ lúc đầu tiên của biến cố Nhập Thể, Mẹ đã trở thành Mẹ loài người trong những giây phút cuối cùng của cuộc đời Chúa Giêsu, Con Mẹ.  Cuộc đối thoại Truyền Tin là khoảnh khắc Thiên Chúa “bật mí” cái bí mật từ ngàn đời.
Thiên Chúa đã yêu thương con người đến nỗi muốn trở thành một con người giữa nhân loại.  Và Thiên Chúa đã chọn Mẹ Maria là để Ngài sai Con Một Ngài đến giữa chúng ta, thực hiện chương trình cứu độ của Ngài đối với trần gian.  Giây phút Mẹ tự do đáp lời “Xin vâng” là khởi đầu bình mình ơn cứu độ cho thế nhân.
Mẹ Maria đã đáp “Xin vâng” không chỉ một lần mà còn nhiều lần trong đời.  Mẹ Maria mãi mãi là tấm gương cho chúng ta soi trong cuộc đối thoại lắng nghe Lời Chúa và đáp trả Lời Chúa.  Thiên Chúa đã chứng tỏ nơi Mẹ điều không thể để trở nên điều có thể.  Vì “cái gì cũng có thể đối với người có lòng tin” (Mc 9,23).
LM Giuse Nguyễn Hữu An

 

25/3-41: LỄ TRUYỀN TIN

Lễ Truyền tin có từ thế kỷ IV hoặc V. Trung tâm điểm của lễ này là mầu nhiệm Nhập Thể: Thiên 25/3-41

Lễ Truyền tin có từ thế kỷ IV hoặc V. Trung tâm điểm của lễ này là mầu nhiệm Nhập Thể: Thiên Chúa làm người. Từ đời đời, Thiên Chúa đã chọn Ngôi Hai xuống thế làm người. Theo Lc 1:26-38, giao ước này đã hiện thực. Con Người ôm cả nhân loại, không phân biệt ai, để đem về cho Thiên Chúa qua hành động yêu thương tuyệt đối. Vì nhân loại khước từ Thiên Chúa, Đức Giêsu chấp nhận đau khổ và chịu chết: “Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình” (Ga 15:13).

Mẹ Maria giữ vai trò quan trọng trong kế hoạch của Thiên Chúa. Từ đời đời, Thiên Chúa đã tiền định Đức Maria làm Mẹ của Chúa Giêsu và liên quan mật thiết với Ngài trong việc sáng tạo và cứu độ thế giới. Chúng ta có thể nói rằng công cuộc sáng tạo và cứu độ của Thiên Chúa được liên kết trong mầu nhiệm Nhập Thể. Vì Mẹ Maria là khí cụ của Thiên Chúa trong mầu nhiệm Nhập Thể, Đức Mẹ giữ vai trò đồng công sáng tạo và cứu độ. Đó là vai trò được Thiên Chúa trao ban, là hồng ân Thiên Chúa từ khởi sự cho đến hoàn thành. Mẹ Mariatrở thành nhân vật nổi trội chỉ có thể nhờ hồng ân Thiên Chúa. Mẹ là nơi mà Thiên Chúa khả dĩ hành động. Mẹ là mọi sự thuộc về Thiên Chúa Ba Ngôi.

Mẹ là trinh nữ hoàn thành lời tiên tri Isaia 7:14 theo cách mà Isaia không thể tưởng tượng ra. Mẹ kết hợp với Chúa Con trong việc thi hành Tôn Ý Thiên Chúa (x. Tv 40:8-9; Dt 10:7-9; Lc 1:38).

Cùng với Chúa Giêsu, Mẹ đầy ân sủng và đặc quyềnlà sự nối kết giữa Trời với Đất. Sau Chúa Giêsu, Mẹ là con người tốt nhất, làm ví dụ về tính khả dĩ của sự hiện hữu nhân loại. Mẹ đón nhận sự thánh thiện và tình yêu vô hạn của Thiên Chúa. Mẹ cho thấy cách nhân loại có thể phản ánh Thiên Chúa trong những trường hợp bình thường của cuộc sống. Mẹ nêu gương về những gì Giáo hội và mỗi tín hữu đều có ý nghĩa. Mẹ là kết quả cuối cùng của sự sáng tạo và Ơn Cứu Độ của Thiên Chúa. Mẹ biểu hiện ý nghĩa của mầu nhiệm Nhập Thể hoàn tất vì tất cả chúng ta.

TRẦM THIÊN THU

 

25/3-42: Lễ Truyền Tin: Xin vâng như Mẹ Maria

Đối với một người phụ nữ, khoảnh khắc làm mẹ thật cao cả và thiêng liêng. Hạnh phúc biết bao 25/3-42

Đối với một người phụ nữ, khoảnh khắc làm mẹ thật cao cả và thiêng liêng. Hạnh phúc biết bao trong giây phút đầu tiên cưu mang trong cung lòng đứa con của mình. Tuy nhiên hoàn cảnh làm mẹ đến với Mẹ Maria theo cách rất đặc biệt. Hành trình làm mẹ của Mẹ Maria đến trong một khung cảnh vừa kỳ lạ nhưng cũng thật đơn sơ, vừa bất ngờ nhưng lại rất thánh thiêng và sâu sắc.

Lời Chúa trong ngày lễ Truyền tin đưa chúng ta đến một viễn cảnh thật thiêng liêng trong giây phút làm mẹ của Đức Maria. Đó là một hành trình thật cao cả và tuyệt vời. Mẹ đón nhận Con Thiên Chúa trong sự khiêm hạ đơn hèn. Mẹ đón nhận thiên chức làm Mẹ Thiên Chúa trong cái nhìn của đức tin để vượt qua những gian nan thử thách. Mẹ đã xin vâng trong sự tín thác để đồng hành cùng con mình đến tận hơi thở cuối cùng.

Nếu không có lòng quảng đại thì Mẹ đã khước từ đau khổ của bóng thập giá ngay từ giây phút truyền tin.

Nếu không có một đức tin mạnh mẽ thì Mẹ không thể đủ can đảm để đón nhận thiên chức làm Mẹ vượt trên hiểu biết của con người.

Nếu không tín thác trọn vẹn cuộc đời mình trong tay Thiên Chúa thì Mẹ đã không đáp lời xin vâng trước biến cố quá lớn lao ấy.

Mẹ xin vâng cho dẫu Mẹ chưa hiểu. Mẹ xin vâng cho dẫu phải đối diện với nguy nan. Lời xin vâng khiêm hạ nhưng chứa chất một sự cậy trông lớn lao. Mẹ tin tưởng phó thác cả cuộc đời mình cho Đấng đã tuyển chọn Mẹ. Lời thưa xin vâng ấy đã đưa Mẹ trở nên Mẹ Thiên Chúa và Mẹ của mỗi người chúng ta.

Trên đường đời nhiều sóng gió hôm nay, Mẹ Maria sẽ là điểm tựa vững chắc cho mỗi một người Kitô hữu chúng ta. Trải nghiệm của Mẹ sẽ thấu hiểu những khó khăn mà chúng ta đang đối diện. Niềm cậy trông của Mẹ sẽ là gương mẫu cho chúng ta trên hành trình đức tin. Mẹ sẽ là điểm tựa cho mọi NỖI ĐAU của con cái Mẹ nơi trần gian này.

Mẹ sẽ là nguồn an ủi cho những ai đang đau đớn thân xác vì ốm đau bệnh tật, vì những nặng nề của thể xác dằn vặt.

Mẹ là sẽ nguồn bình an cho những ai đang đau thương tinh thần vì thử thách chông gai, bị đối xử tệ bạc, hay bị đẩy ra bên lề của xã hội.

Mẹ sẽ là nguồn cậy trông cho những ai đang đau buồn vì sự chia ly trong tình yêu, vì những đổ vỡ hạnh phúc gia đình.

Mẹ sẽ là nguồn hy vọng cho những ai đau khổ vì sự yếu đuối vấp ngã, khó khăn thất bại, hay mất mát trong đời.

Một lòng cậy trông nơi Mẹ sẽ giúp chúng ta đáp lời xin vâng trước mọi biến cố trong cuộc đời, chiến thắng mọi sợ hãi trong cuộc sống và can đảm làm chứng cho sự thật, cho tình thương nơi trần thế. Có Mẹ chúng ta sẽ vượt qua được mọi thăng trầm của trên dòng đời lắm nổi trôi hôm nay, để một ngày không xa chúng ta sẽ cùng Mẹ chung hưởng vinh phúc trên Nước Trời.

J.B Lê Đình Nam

 

25/3-43: SUY NIỆM TIN MỪNG MẦU NHIỆM TRUYỀN TIN 2017

 LỄ TRỌNG
(Lc 1, 26 -38)
ĐẤNG ĐẦY ƠN PHÚC !
 

Kính chào bà, đấng đầy ân phúc, Đức Chúa ở cùng bà !” Nghe lời ấy, Đức Mẹ thật bối rối, vì trong 25/3-43

“Kính chào bà, đấng đầy ân phúc, Đức Chúa ở cùng bà !” Nghe lời ấy, Đức Mẹ thật bối rối, vì trong lúc cầu nguyện, sứ thần hiện đến cùng Mẹ và thưa cùng. Thật vậy, lời chào ấy là một lời chào” trần đầy ân phúc”, bởi vì chưa có một thụ tạo nào cao quý, trọng vọng như Mẹ. Có thể nói từ cổ chí kim, vô tiền khoáng hậu, chưa có nhân vật nào được diễm phúc nhận lời chúc mừng của sứ thần như Mẹ. Vâng, chính Mẹ cũng lấy làm bối rối .Tại sao vậy, thưa quý vị ? Thưa, bởi vì, “ … Đấng Thánh sắp sinh ra sẽ được gọi là Con Đấng Tối Cao”.
Nhưng, Đức Mẹ càng ngạc nhiên hơn, vì : “ tôi không biết đến việc vợ chồng”. Vâng, chúng ta thấy sự đối đáp giữa sứ thần Gapriel và Đức Maria là một sự đối đáp rất “tự nhiên “ và chân thành. Vì , không biết đến việc vợ chồng thì làm sao sinh con ?! vâng, một sự đối đáp rất hiển nhiên, không một chút do dự. Nhưng, sứ thần đáp : “ Thánh Thần sẽ ngự xuống trên bà, và quyền năng Đấng Tối Cao sẽ rợp bóng trên bà, vì thế, Đấng Thánh sắp sinh ra sẽ được gọi là Con Thiên Chúa.” ( c 35).
Vâng , sự đối đáp giữa sứ Thần và Đức Trinh Nữ Maria đến đây được kết thúc, vì không còn gì để trao đổi nữa, sau khi sứ thần nói tiếp : “Kìa người chị họ của Trinh Nữ, người mà thiên hạ vẫn chê cười vì không có con, mà nay đã mang thai được sáu tháng. Vì, không có sự gì mà Thiên Chúa không làm được.( c 36 -37)
Vâng, bởi đâu, Đức Trinh Nữ Maria đạt được điều diễm phúc như vậy? Vâng, chúng ta suy tư về Mẹ nhé !
-Thứ nhất : Đặc tính khiêm nhường thẳm sâu.
Bởi vì, Mẹ là một kiệt tác như được uốn nắn, gọt giũa, tô điểm, và trân quý nhất trong bàn tay Thiên Chúa, một thụ tạo thấp hèn, nhưng chiếm được “Thánh Ý “, nói cách khác là đẹp lòng Thiên Chúa. Đến đây chúng ta có thể hiểu được Mẹ HOÀN TOÀN không tỳ vết cả thể xác lẫm tâm hồn, Mẹ thánh khiết vẹn tuyền, mà các thánh ví như “bình pha lê” dưới ánh sáng mặt trời. tiếp đến Mẹ được Chúa Thánh Thần ban tràn ân sủng, và Ngôi Hai ngự xuống. Như vậy, cung lòng vẹn sạch không tỳ ố trước và sau khi nhận “TRUYỀN TIN “ của Mẹ thật là một “diễm phúc”, và như vậy, Giáo Hội tuyên tín Mẹ là ” ĐẤNG VÔ NHIỄM NGUYÊN TÔI” là như vậy.
-Thứ Hai : Mau mắn tín trung vào Mầu Nhiệm Truyền Tin .
Do nhận được một đăc ân trọng đại là sự khiêm nhường thẳm sâu, Đức Trinh Nữ Maria như ngập tràn ân sủng bởi Trời cao. Linh hồn và thể xác của Mẹ hoàn toàn thánh thiện như pha lê trong suốt, vì vậy, Sự thánh thiện nầy, ngày nay, như người Kitô được sạch tội trọng và được rước Chúa Giêsu Thánh Thể vậy. Và từ tận sâu thẳm tâm hồn Mẹ, Mẹ đã cất lên bài ca Ngợi Khen ( Magnificat) tuyệt vời vô song.
-Thứ ba : Đáp lại và cộng tác vào công trình Cứu Chuộc nhân loại của Thiên Chúa.
Vâng, Mẹ đã gánh vác trọng trách là Mẹ Đấng Cứu Chuộc, có nghĩa là Mẹ cưu mang và ôm trọn mầu nhiệm làm Người, đau khổ, Tử nạn và Phục Sinh của Con của Mẹ, đồng thời là Ngôi Hai Thiên Chúa, vì vậy, Mẹ đã được kêu mời để trở nên một “thụ tạo” tuyệt hảo, tham dự vào công cuộc “khổ hình sinh ơn cứu độ” của Đức Kitô.
Như vậy, Mẹ mang lấy cuộc đời Chúa Cứu Thế không những phần nhân tính mà còn phần siêu nhiên của Chúa Giêsu, nếu không mầu nhiệm cứu độ không hoàn tất được. Và , những nỗi khổ đau cảu Mẹ, gọi là ”sầu bi” là những đau thương bởi cuộc đời Chúa Cứu Thế, và như thế, Mẹ được gọi là : “Người Nữ Thánh Thể”.
Vâng, Mẹ được diễm phúc vì Mẹ được đi trọn cuộc hành trình cứu độ tại thế trần của Ngôi Hai Thiên Chúa. Rõ ràng, từ giây phút nhập thể, là ngày Mẹ nhận ơn truyền tin, đến hành trình Nhập Thế, và kết thúc ngày Chúa Phục Sinh. Có thể nói, mầu nhiệm Mẹ nhận được ơn Truyền Tin , mà sứ thần gọi Mẹ là “Đấng đầy ơn phúc “ không phải hiểu như thế gian, mà là đước gắn liền với mầu nhiệm Làm Người , rao giảng, Tử Nạn và Phục Sinh của Đức Kitô.
Theo đó, hành trinh thiêng liêng của Đức Mẹ, ngày mà Mẹ nhận sứ vụ cưu mnag, sinh hạ Đấng Cứu Thế, ngày mà Mẹ được gọi là diễm phúc, không phải là ngày bắt đầu hưởng “ vinh hoa phú quý”., mà ngày mang lấy “trọng trách” Thập giá, và quả thật, Mầu
Nhiệm thập giá nơi Mẹ thật “ âm thầm” nhưng không kém phần đau thương. Nỗi đau của một người Mẹ có một Người Con đền thay tội lỗi nhân gian là một nỗi đau “ khôn tả” , nhưng “TRÀN ĐẦY DIỄM PHÚC”.

Lạy Thiên Chúa là Cha toàn năng, Cha đã ban cho loài người ơn cứu chuộc, nhưng Cha đã kêu mời những con người cách riêng như Đức Trinh Nữ Maria, thánh Cả Giuse là người cộng tác vào mầu nhiệm cứu độ của Đức Kitô. Xin Cha thương ban cho những ai tiếp bước Người được nhờ lời chuyển cầu của Ba Đấng mà ban ơn cứu độ cho chúng con, và cho chúng con xứng đáng bước theo Người. Amen.
P.Trần Đình Phan Tiến

 

25/3-44: VAI TRÒ CỦA MẸ MARIA TRONG SỨ VỤ CỨU CHUỘC

( Lc 1, 26 -38)
 

Vâng , thưa quý vị, nói đến mầu nhiệm là nói đến sự kỳ bí, sự lạ lùng, sự thiêng thánh, sự ẩn chứa 25/3-44

Vâng , thưa quý vị, nói đến mầu nhiệm là nói đến sự kỳ bí, sự lạ lùng, sự thiêng thánh, sự ẩn chứa một điều gì đó mà phàm nhân không thể nào hiểu nỗi. Mỗi hành động, mỗi việc làm của Thiên Chúa đều nằm trong kế hoạch cứu độ nhân loại mà Giáo Hội gọi là Mầu Nhiệm. nhưng, những mầu nhiệm ấy không được tiết lộ thì không ai biết, được tiết lộ thì được gọi là mặc khải, kẻ đón nhận mặc khải ấy thì được gọi là Đức Tin. Như vậy, Đức Tin hay Niềm Tin phải hội đủ hai điều kiện là: Mặc Khải và đón nhận.
Vâng, thưa quý vị, Mặc Khải là việc của Thiên Chúa, nhưng đón nhận ơn mặc khải là việc của con người. Thời kỳ cứu độ bởi Tân Ứơc mở ra một kỷ nguyên cứu độ nhân loại mới, tức Giao Ứơc mới. Mặc nhiên phải có người đón nhận, vâng, người ấy chính là Đức Trinh Nữ Maria, tại làng Nazaret.

Vâng, Mẹ được gọi là diễm phúc , tràn đầy diễm phúc, bởi vì, Mẹ là người phụ nữ duy nhất và đầu tiên khai sinh ra kỷ nguyên cứu độ nhân loại mới ấy, mặc nhiên , là do bởi Thiên Chúa. Nhưng, Mẹ Maria là người đã vui mừng đón nhận ơn mặc khải lớn lao ấy, bởi vì, Thiên Chúa đã “tiết lộ” điều được giấu kín từ ngàn xưa. Vâng, một điều kỳ diệu, điều lạ lùng, vượt quá sức con người ấy, há không phải là Mầu Nhiệm hay sao?! Thiên Chúa không báo trước qua giấc mộng, vì điều ấy đã được loan báo từ ngàn xưa qua Tiên Tri Isaia nói với vua Acát : “ Này đây một Trinh Nữ sẽ mang thai rồi sinh con trai và đặt tên là Emmanuel( Is 7, 6 -14), nhưng, điều hiện thực ấy, Thiên Chúa sai Sứ thần Gabriel “đưaTin “ấy trực tiếp cho một Trinh Nữ , tại làng Nazaret, đó là Đức Maria.
Sự tuyệt vời ấy làm cho Đức Maria thật là bối rối, vâng, điều nầy hoàn toàn nói lên là con người, bởi một sự lạ lùng vượt quá sức một con người, là một thiếu nữ 15 tuổi. Sự bối rối nơi Đức Maria nói lên sự thật, vì , Mẹ Maria là một phàm nhân, chưa là thần thánh gì. Nhưng, là một phàm nhân trỗi vượt trên tất cả mọi phàm nhân, đại diện cho nhân loại cộng tác với Thiên Chúa để “hạ sinh” một kỷ nguyên cứu độ cho loài người.
Vậy, Mầu Nhiệm nhận Truyền tin, hay là đón nhận ơn Mặc Khải đầu tiên trong kế hoạch cứu độ nhân loại của Thiên Chúa nơi Mẹ Maria, chính là tiếng thưa” Xin Vâng” của Mẹ : ” Này tôi là nữ tỳ của Chúa, tôi xin vâng như lời sứ thần truyền “. ( Lc 1, 38)
Nhưng, thưa quý vị, tiếng xin vâng ấy, tuy mau mắn tín trung đáp trả của Mẹ Maria, nhưng, không phải hời hợt mà là sau khi được đối đáp với sứ thần Gabriel, sự đối đáp ấy thật là hợp tình, hợp lý, đầy lý lẽ của Đức Maria. Điều nầy nói lên ba ý chính:

-Một là: Thiên Chúa tôn trọng con người cộng tác ( đối tác) của Ngài. Không cưỡng ép, cưỡng cầu.Thiên Chúa tôn trọng sự tự do của con người, vì một điều đơn giản Ngài là Thiên Chúa. Thiên là Trời, Trời là ”TỰ DO”. Chúa là : Chủ. Thiên Chúa là Chủ Trời, đồng thời là Đấng ban Tự Do cho con người.
-Hai là : Sự đối đáp ấy hoàn toàn là sự thật, không phải trong giấc mộng. Cho thấy, Đức Maria có quyền từ chối, hoặc ưng thuận. Nhưng, Mẹ hoàn toàn “ưng thuận “, vì một Đặc Ân vĩ đại của Thiên Chúa. Vừa là người được cộng tác với Thiên Chúa, vừa là đảm nhận vai trò trong sứ vụ cứu độ nhân loại. Như vậy, Mẹ cưu mang, sinh hạ Đấng Cứu Thế, đồng thời Mẹ cưu mang, sinh hạ một kỷ nguyên loài người mới, mà Đấng Tái Sinh sự sống mới ấy chính là Thánh Thần, Thần Khí Tác Sinh vĩnh cửu và duy nhất.
-Ba là: Tiếng “Xin Vâng” của Mẹ là sự tự nguyện nhận ra “LÒNG XÓT THƯƠNG ”của Thiên Chúa đối với dân tộc Dothai và nhân loại, mà Mẹ biết được sự khao khát mong chờ Đấng Cứu Thế như thế nào.
Đức Kitô , Ngôi Hai Thiên Chúa thực thi sứ vụ Thiên Sai làm Người. Nhưng, Thánh Thần Ngôi Ba chính là Đấng điều khiển kế hoạch cứu độ ấy. Bởi vì, Thiên Chúa Cha là Đấng Tạo Sinh muôn đời từ khởi nguyên đến cùng tận. Nhưng, Thời Kỳ Giao Ứơc mới là kỷ nguyên của Chúa Thánh Thần.
Bởi vì, Chúa Cứu Thế, Ngôi Hai hoàn toàn tự nguyện mặc lấy sự hữu hình, phần Nhân Tính hoàn toàn, cho nên, Người không còn hoàn toàn làm theo ý mình nữa, dù là Ngôi Vị Thiên Chúa, Người hoàn toàn trút bỏ địa vị ngang hàng cùng Thiên Chúa, để trở nên phàm nhân đúng nghĩa nhất.
Như vậy, chúng ta thấy Vai trò trong Sứ Vụ cứu chuộc của Đức Maria thật là lớn lao. Mẹ cộng tác tích cực theo sự dẫn dắt đầy huyền diệu của Chúa Thánh Thần. Theo đó, sứ vụ cứu chuộc mà Đức Kitô, Đấng thi hành trong kế hoạc bởi Thiên Chúa dành cho loài người ấy,là do bởi một Nhạc Trưởng là Chúa Thánh Thần, chứ không hoàn toàn do bởi Chúa Cha, vì vậy, người ta nói: “Thời Đại Tân Ứơc là thời đại của Chúa Thánh Thần.”.
Qua tiếng “Fiat” của Mẹ, Đấng Cứu Thế đã ngự vào cung lòng vẹn tuyền thánh khiết đầy ân sủng của Đức Maria. Ngay giây phút linh thiệng trọng đại ấy, Đấng Cực Thánh, ngàn trùng Chí Thánh ấy đã biến đổi thân xác phàm nhân, dù là trinh khiết vẹn tuyền của Đức Trinh Nữ Maria, trở thành nơi ngai tòa cực trọng, xứng đáng cho Thiên Chúa ngự đến. Nhu vậy, mầu nhiệm Truyền Tin được hoàn thành nhờ Thần Khí Thiên Chúa biến đổi và sự đáp trả tuyệt vời của Đức Maria, đã làm nên công trình cứu độ loài người bởi Thiên Chúa. Chúng ta thấy tiếng “Fiat” của Mẹ rất đáng giá, sự nhiệm mầu nơi Đấng toàn năng đã rõ, nhưng sự tín trung một cách tín thác trọn vẹn nơi Mẹ là một món quà vô giá, không những dâng lên Thiên Chúa qua sự vâng phục tuyệt vời của Mẹ mà còn là một động thái kéo được Thiên Ân xuống trên nhân loại của Mẹ. Theo đó, Đức Maria là vị ” linh mục” tiên khởi đứng sau Chúa Giêsu – Kitô, Con của Mẹ. như vậy, ơn Đồng Công của mẹ, tức ơn sầu bi của Mẹ, tuy Mẹ không chịu về phần nhân tính, nhưng trên tinh thần chịu đựng muôn nghìn nỗi đau như dao sắt thâu qua lòng vậy, thì quả nhiên , sự thong phần cứu chuộc loài người tức ơn Đồng Công của Mẹ thật lớn lao. Vâng, các thánh suy niệm điều ấy đã rút ra được sự thông phần cứu thế của Mẹ thật là thấm thía.
Bài đọc II, thánh Phaolô gởi cho dân Dothai rằng : Đức Kitô đã nói : “ Chúa đã không ưa hy lễ và hiến tế, nhưng đã tạo cho con một thân thể … “ .Rồi Người nói tiếp: “Này Con đây, Con đến để thực thi ý Ngài” (Dt 10, 4 -10).
Vâng, không những chính Đức Kitô, mà còn Mẹ của Người, Đấng Đồng Công cứu chuộc loài người đã thưa lên với Thiên Chúa là Cha rằng: “FIAT”. Vâng, tiếng”xin vâng” của Mẹ cũng chính là :” Này con đây, con đến để thực thi ý Ngài”.
Lạy Thiên Chúa là Cha toàn năng hằng hữu, Cha đã ban cho loài người Đức Kitô, để trở nên Hy lễ đẹp lòng Cha, cùng với Đức Trinh Nữ Rất Thánh, Mẹ của Người,  để thực thi ơn cứu độ loài người, hầu trở nên hoàn tất kế hoạch cứu độ của Cha và để Thiên Chúa ở cùng nhân loại mãi mãi. Như vậy, ơn Đồng Công của Đức Maria thật tuyệt vời, xin cho con người mọi thời biết kính tin sùng mộ mầu nhiệm truyền tin, là mẹ của mọi mầu nhiệm , hầu đáng hưởng nhờ ơn cứu độ, chúng con cầu xin nhờ Đức Kitô, Chúa chúng con. Amen.

P.Trần Đình Phan Tiến

 

25/3-45: Tổng Thần Thiên Sứ Gabiên Truyền Tin Cho Mẹ Thụ Thai

Cho dù hôm nay Giáo Hội có cử hành Lễ Mẹ Thai Lời đi chăng nữa, bài phúc âm về biến cố Tổng 25/3-45

Cho dù hôm nay Giáo Hội có cử hành Lễ Mẹ Thai Lời đi chăng nữa, bài phúc âm về biến cố Tổng Thần Thiên Sứ Gabiên truyền tin cho Mẹ Thụ Thai Lời Nhập Thể (Mẹ Thai Lời) cũng chất chứa Mầu Nhiệm Vượt Qua.
Thật vậy, về phụng vụ, Lễ Mẹ Thai Lời thường rơi vào Mùa Chay, như năm 2015 theo chu kỳ phụng niên B này, và có năm lại rơi vào Mùa Phục Sinh, chẳng hạn Năm A 2005, năm ĐTC GPII qua đời, nên phải dời vào Thứ Hai sau Chúa Nhật II PHục Sinh, tức vào Thứ Hai mùng 4/4/2005.
Như thế có nghĩa là Lễ Mẹ Thai Lời bao gồm cả 2 chiều kích tử nạn và phục sinh, hai chiều kích làm nên Mầu Nhiệm Vượt Qua. Nhưng, làm sao để biết được Mầu Nhiệm Vượt Qua đã được bao gồm ngày trong biến cố Truyền Tin?
Xin thưa, ở ngay lời tiên báo của Vị Tổng Thần Thiên Sứ Gabiên về Đấng Cứu Thế: "Maria đừng sợ, vì đã được nghĩa với Chúa. Này Bà sẽ thụ thai, sinh một Con trai và đặt tên là Giêsu. Người sẽ nên cao trọng và được gọi là Con Ðấng Tối Cao. Thiên Chúa sẽ ban cho Người ngôi báu Ðavít tổ phụ Người. Người sẽ cai trị đời đời trong nhà Giacóp, và triều đại Người sẽ vô tận" (Luca 1:30-33).
Đúng thế, trước hết, chiều kích phục sinh đã được tiên báo ở câu: “Người sẽ cai trị đời đời trong nhà Giacóp, và triều đại Người sẽ vô tận". Sau nữa, chiều kích tử giá cũng được chất chứa trong lời tiên báo ngay trước đó: "Thiên Chúa sẽ ban cho Người ngôi báu Ðavít tổ phụ Người". Bằng cách nào, nếu không phải bằng cách tử giá, như chính Người đã cảm nhận và tuyên bố: "Đã đến giờ Con Người được vinh hiển" (Gioan 12:23), như được Thánh ký Gioan trong bài Phúc Âm Chúa Nhật V Năm B vừa rồi?!
Chính Tổng Trấn Philatô thuộc đế quốc Rôma, nhân vật đã được diễm phúc trực diện với chính "chân lý" là Chúa Kitô (Gioan 14:6), đã thắc mắc "chân lý là gì?" (Gioan 18:38), và tuy Chúa Giêsu không trả lời cho ông biết rõ ràng, nhưng qua lập luận và thái độ của Người (xem Gioan 18:35-37), tự mình ông cũng đã nhận ra đâu là chân lý, và  đã công khai tuyên bố chân lý ấy, bằng cách cho viết một tấm bảng gắn trên cây thập tự giá của Người bằng 3 thứ tiếng Hy Lạp, La Tinh và Do Thái (xem Gioan 19:19-20) rằng "Giêsu Nazarét (là) Vua Dân Do Thái" (Gioan 19:19), đến để "giải phóng dân mình khỏi tội" (Luca 1:77), chứ không phải khỏi bị đế quốc Rôma đô hộ.
Đó là lý do, trong chính bài Phúc Âm cùng ngày hôm nay (xem Gioan 8:31-42), nếu xẩy ra vào năm không trùng với Lễ Mẹ Thai Lời như hôm nay, Thứ Tư tuần V Mùa Chay, chính Người đã cho "những người Do Thái đã tin Người", thành phần cứ tưởng rằng: "Chúng tôi là dòng dõi ông Áp-ra-ham. Chúng tôi không hề làm nô lệ cho ai bao giờ" biết về tình trạng nô lệ thực sự của họ theo nghĩa thiêng liêng liên quan đến linh hồn bất tử hơn là tự nhiên về thân xác và cuôc sống trần gian này: "Thật, tôi bảo thật các ông: hễ ai phạm tội thì làm nô lệ cho tội. Mà kẻ nô lệ thì không được ở trong nhà luôn mãi, người con mới được ở luôn mãi. Vậy, nếu người Con có giải phóng các ông, thì các ông mới thực sự là những người tự do".
Như thế là ứng nghiệm lời tiên báo Truyền Tin của Tổng Thần Thiên Sứ Gabiên cho người Mẹ đang đứng bên thập giá của Người bấy giờ (xem Gioan 19:25): "Thiên Chúa sẽ ban cho Người ngôi báu Ðavít tổ phụ Người". Ôi mầu nhiệm thay, những gì được tiên báo về Người đã được chính dân ngoại không hề biết gì về mạc khải thần linh của Dân Do Thái làm cho ứng nghiệm một cách vô thức và "bất ngờ", như sự kiện Người bị lưỡi đòng đâm vào cạnh sườn cũng thế, do một tên lính Rôma thực hiện vậy (xem Gioan 19:31-37).
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL

 

25/3-46: MẦU NHIỆM THINH LẶNG CỦA MẸ

(Lễ Truyền Tin, Lc 1, 26-38)
 

Tôi quá đỗi ngạc nhiên đến bái lạy trứơc Mầu Nhiệm Đức Maria. Bài Tin Mừng hôm nay theo thánh 25/3-46

Tôi quá đỗi ngạc nhiên đến bái lạy trứơc Mầu Nhiệm Đức Maria. Bài Tin Mừng hôm nay theo thánh Luca 1, 26 – 38  ngắn đến độ lột tả được gần như tất cả phẩm chất siêu nhiên của một con người hèn kém nhưng cao cả, dẫn đưa tôi vào một sự thinh lặng đến ngỡ ngàng bởi sự nhỏ bé kì diệu lại phát sinh một Tin Mừng vĩ đại của Cứu độ, của Mầu Nhiệm Mẹ Thiên Chúa.
     
Thinh lặng trong không gian hoang vắng. Nazaret khuất bóng trong cả một lich sử cứu độ đến nỗi ông Nathanaen đã phải thốt lên: “Từ Nazaret, làm sao có cái gì hay được?” (Ga 1, 46a). Một trống rỗng nhưng không!
     
Thinh lặng trong tâm hồn của một trinh nữ đã thành hôn. Đã thành hôn mà lại là một trinh nữ nghĩa là cuộc hôn nhân âm thầm, lặng lẽ dẫn nhau đi vào trong siêu thoát hoàn toàn hiến dâng sự trinh khiết mà chỉ có chiêm ngắm sâu thẳm mới lột tả cái vô biên. Cái vô biên của một tình yêu thanh khiết được che dấu ẩn kín trong một cuộc hôn nhân cột chặt vào một xã hội được trói buộc trong lề luật mà thiếu nó sẽ không có vai trò của một người dẫn đường cực kì cần thiết. Một tình yêu trinh khiết làm cho trống rỗng trước Nhan Thiên Chúa!
     
Thinh lặng trong nghèo khó tinh thần. “Nhà trinh nữ” chứ không phải là một nơi chốn cao trọng như “bên phải hương án” là nơi Cực Thánh trong đền thờ thánh. Maria nhỏ bé không một chút danh vọng nào đến nỗi chẳng có một danh từ nào đặt vào danh xưng Maria khi thánh Luca ghi trong Tin Mừng của Ngài. Thinh lặng của một Maria trinh nữ được nổ tung ra trong lời chào vô cùng mãnh liệt, bởi một thụ tạo không có gì nhưng lại có tất cả, khi mà sứ thần đã cung kính nâng Maria lên thành một Đấng. Đây chính là một sự đảo ngược cực kì nâng cao phẩm giá của con người thọ tạo khi chính sứ giả thay mặt Thiên Chúa để xưng hô với thọ tạo của Người bằng một danh xưng quá đỗi cao sang tột độ “Đấng đầy ân sủng”, mà đáng lẽ danh xưng này chỉ dành cho con người gọi Thiên Chúa là Đấng Tối Cao, Đấng Toàn Năng, Đấng Chí Thánh Chí Tôn. Vẫn chưa hết kì lạ khi một thiếu nữ 16 tuổi lại được tôn vinh lên như một Bà. “Đức Chúa ở cùng bà” là gì? Nếu không phải là một Mầu Nhiệm Mẹ Chúa!
     
Thinh lặng trong thật thà đơn sơ khiêm tốn đây yêu thương. Trinh nữ đã thành hôn nhưng làm sao có thể thụ thai được vì Maria không biết việc vợ chồng! Một câu trả lời vừa thật thà, đơn sơ nhưng lại loé lên một sự tinh tế tôn trọng người bạn đời là Giuse làm sao có thể chấp nhận khi hai người sẽ không bao giờ biết đến chuyện thầm kín. Một câu trả lời của Maria đã được sứ thần biết hết tất cả khi Người đã thưa một cách long trọng và tôn kính: “Xin đừng sợ, vì bà đẹp lòng Thiên Chúa”. Một thân phận thấp hèn như Maria vẫn lại được thưa gửi bằng một cung giọng kính cẩn “Xin đừng sợ”. Rất lạ và cũng rất là Mầu Nhiệm Mẹ! Mẹ không những tôn trọng Giuse mà lại có một niềm tin tưởng phó thác vào quyền năng cũng như sự quan phòng bất biến của Thiên Chúa khi sứ thần cho Mẹ biết những gì Mẹ đã sống, đã nghĩ, đã lắng nghe đều đẹp lòng Thiên Chúa. Thế thì trước khi xin vâng lời sứ thần truyền tin, chắc chắn Mẹ đã có một niềm vững tin vào kế hoạch đầy sáng tạo, đầy uy quyền để không còn phải lo sợ về thái độ phải có của Giuse, người công chính.
     
Trong khiêm tốn và trong phó thác đến cùng mà Mẹ đã không ngần ngại đưa nhân loại vào trong chương trình cứu độ vì “dối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được!”
     
Thinh lặng trong đức tin hoàn toàn phó thác của một “nữ tỳ của Chúa”. Sự thinh lặng của trao ban không lay chuyển, không lấy lý trí của mình làm sự khôn ngoan suy tính cân đong đo đếm mà là sự thinh lặng hoàn toàn đón nhận tất cả: “Xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói”.
      
Bài Tin Mừng về truyền tin cho Đức Maria đã dẫn tôi đi vào một sự thinh lặng nội tâm rất sâu lắng.Bởi với tôi, vẫn thường nghĩ rằng phải lập được công trạng gì đó mới gọi là đáp trả Tinh yêu Thiên Chúa đã dành cho tôi. Mầu Nhiệm Thinh Lặng của Mẹ đã mở đôi mắt linh hồn tôi thêm một cung bậc nữa. Vì sao? Vì tôi vẫn chỉ là một con người với cái vốn sẵn có là: muốn ra khỏi mình để trở thành một ai đó không phải là mình, nghĩa là muốn vươn lên khỏi cái thinh lặng mà Chúa đã gieo vào lòng tôi để tôi tìm gặp Ngài trong cái hiện có. Thế mà tôi lại cố vươn lên để tìm cho mình cái khác lạ hòng có thể đập vào mắt người khác, để chứng minh với người khác rằng: tôi chẳng muốn là tôi thấp hèn nhỏ bé. Hãy biết tự hỏi cùng biết lắng nghe để không bị cái thế giới bên ngoài réo gọi.Hãy tìm thanh vắng để cầu nguyện vì chỉ có trong thinh lặng tôi mới có thể nhận ra đuợc những tiếng gió hiu hiu thổi như sứ thần nói với Mẹ: “Xin đừng sợ, vi bà đẹp lòng Thiên Chúa.”
     
Sống với tất cả Mầu Nhiệm Thinh Lặng của Mẹ đã là đẹp lòng Thiên Chúa rồi. Mà Mầu Nhiệm của Mẹ là một nữ tỳ tin vào Lời Chúa và vâng nghe Lời Chúa trong thinh lặng của nghèo khó, trong đức tin phó thác, trong hiến dâng trọn vẹn tình yêu trinh khiết được toát lên thật thấm thía với ngôn từ “cứ” trong “Xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói.”
 
Chị Thánh Têrêsa HĐGS, vì đã dâng hiến cả cuộc đời mình, ẩn náu trong sự thinh lặng của Thiên Chúa mà Chị đã đạt tới sự cao cả vĩ đại. Chị đã hiểu được tiếng gọi của thế giới. Chị đã nghe thấy tiếng kêu của tất cả những cảnh khốn cùng của nhân loại, Chị còn thấy sâu xa hơn nữa, tiếng kêu của nỗi đau Thiên Chúa và Chị đã muốn hợp tác, bằng tất cả niềm tin và lòng mến nhiệt thành của Chị, hợp tác để xây dựng Nước Thiên Chúa; và vì thế, Chị đã ẩn mình trong sự thinh lặng của Chúa Kitô. Và trong tu viện, nơi Chị làm tròn những công việc tầm thường nhất, vô nghĩa nhất, mà Chị đã đem vào thế giới tất cả những cơn sóng ánh sáng và tình yêu, và chính những làn sóng này đã cất nhấc Chị lên đến tận Thiên Chúa.

Lạy Mẹ!
Mẹ đã dậy con một lời kinh thánh, đã làm con phải rung động bởi con xác tín rằng Mẹ đã thương con trong đau khổ mà Mẹ dã an ủi con khi con bắt đầu cầm lấy cuốn Phúc Âm suy niệm và cầu nguyện. Lời kinh thánh ấy luôn luôn làm con muốn đi ngược lại bởi cái sở thích cố hữu của con là muốn tôn vinh chính mình. Muốn vượt lên chính mình không phải vì tình yêu tự hiến mà vì cái tôi nào đó trong con còn sót lại.
Cám ơn Mẹ đã cho nhìn ngắm Mầu Nhiệm Thinh Lặng của Mẹ với những cảm nghiệm sâu lắng mà con tin rằng Mẹ đã giúp con đi sâu vào trong thinh lặng. Một sự thinh lặng tràn đầy bình an của Chúa trong nghèo khó, trong tín thác phó dâng, trong đau khổ hiện tại hơn là nỗi sợ hãi vì chưa làm được gì cho Chúa như người khác đã làm. Nghĩa là con vẫn chưa thực sự tìm Chúa như Mẹ mà vẫn còn ẩn tàng một cái tôi thích vinh danh chính mình. Xin Mẹ, nhờ được Thần Khí Lời Chúa dẫn con đi sâu vào Mầu Nhiệm của Mẹ, giúp con biết sống như một nữ tỳ của Chúa trong âm thầm vâng theo thánh ý Chúa: “Ơn của Thầy đã đủ cho con vì sức mạnh của Thầy thể hiện trọn vẹn trong sự yếu đuối” (2Cr 12, 9). Amen.
     
Lễ Truyền Tin
Phêrô Vũ văn Quí CVK64


 

25/3-47: Đức Thánh Cha Phanxicô - Huấn Từ Truyền Tin

 23/3/2014 - Chúa Nhật III Mùa Chay: "Hết mọi cuộc gặp gỡ với Chúa Giêsu đều thay đổi đời sống của chúng ta"
Xin chào anh chị em thân mến!
 

Phúc Âm hôm nay cho chúng ta thấy cuộc gặp gỡ giữa Chúa Giêsu và người phụ nữ Samaritanô ở Sychar 25/3-47

Phúc Âm hôm nay cho chúng ta thấy cuộc gặp gỡ giữa Chúa Giêsu và người phụ nữ Samaritanô ở Sychar gần một cái giếng cổ, nơi người nữ này đã đến kín nước. Chúa Giêsu được mô tả là "mệt mỏi bởi cuộc hành trình" (Gioan 4:6) ngồi nghỉ ở giếng nước này hôm ấy. Người nói ngay rằng: "Cho tôi uống với" (4:7). Như thế là Người thắng vượt các thứ rào cản của hận thù đã từng xẩy ra giữa người do Thái và người Samaritanô cũng như cái tâm thức thành kiến đối với nữ giới. Lời yêu cầu giản dị của Chúa Giêsu mở đầu cho một cuộc đối thoại thẳng thắn, nhờ đó, một cách thật tế nhị, Người tiến vào thế giới nội tâm của một con người mà theo tiêu chuẩn xã hội Người thậm chí không được nói năng gì. Thế nhưng, Chúa Giêsu đã làm thế! Chúa Giêsu không sợ. Khi nhín thấy một con người là Chúa Giêsu tiến tới bởi Người yêu thương. Người yêu thương tất cả chúng ta. Vấn đề thành kiến không cản trở việc Người giao tiếp với một con người. Chúa Giêsu đặt con người trước hoàn cảnh của họ, không phán đoán họ mà làm cho họ cảm thấy được cảm nhận, được nhìn nhận và nhờ đó khơi lên trong họ ước muốn vươn ra ngoài cái thông lệ hằng ngày của họ.
 Cái khát của Chúa Giêsu không phải là nước cho bằng gặp gỡ một linh hồn cằn cỗi. Chúa Giêsu cần gặp gỡ người nữ samaritanô này để mở lòng chị ta ra. Người xin chị cho uống nước để làm lộ ra cái khát ở trong lòng của chị. Người nữ này bị cảm kích trước cuộc hội ngộ ấy: chị hỏi Chúa Giêsu những câu hỏi sâu xa mà tất cả chúng ta đều có nhưng chúng ta thường chẳng để ý gì. Cả chúng ta nữa cũng có nhiều vấn nạn để hỏi, thế nhưng chúng ta không thể can đảm để hỏi Chúa Giêsu! Anh chị em thân mến, Mùa Chay là thời điểm thuận lợi để nhìn vào trong bản thân mình, để khơi lên những nhu cầu thiêng liêng chân thực nhất của chúng ta, và để xin ơn Chúa giúp đỡ trong nguyện cầu. Gương của người phụ nữ Samaritanô mời gọi chúng ta hãy bày tỏ mình như thế này: "Lạy Chúa Giêsu, xin ban cho con thứ nước muôn đời làm giãn cơn khát của con".
 Phúc Âm nói với chúng ta rằng các môn đệ lấy làm ngỡ ngàng khi thấy Thày của mình nói chuyện với người nữ ấy. Thế nhưng, Chúa cao cả hơn các thứ thành kiến; đó là lý do Người không sợ giao tiếp với người phụ nữ Samaritanô này. Tình thương là những gì cao cả hơn là thành kiến. Chúng ta cần phải biết rõ như thế! Tình thương cao cả hơn là thành kiến, và Chúa Giêsu là Đấng rất xót thương, rất xót thương!Thành quả của cuộc gặp gỡ này đó là người phụ nữ ấy được biến đổi: "Chị ta để vò nước lại" (4:28) mà chạy vào thành nói với dân chúng về cảm nghiệm phi thường của mình. "Tôi đã gặp một người nói với tôi hết mọi sự tôi đã làm. Chẳng lẽ Người chẳng phải là Đấng Thiên Sai hay sao?" Chị trở nên nhiệt liệt. Chị đã đi ra để kín nước ở giếng và đã thấy được thứ nước khác, thứ nước hằng sống của tình thương vọt lên sự sống đời đời. Chị đã thấy được thứ nước mà chị đã luôn tìm kiếm! Chị chạy về làng - một khu làng đã từng soi mói chị, lên án chị và loại trừ chị - mà loan báo rằng chị đã gặp được Đấng Thiên Sai: một người đã biến đổi đời sống của chị. Vị hết mọi cuộc gặp gỡ với Chúa Giêsu đều thay đổi cuộc sống của chúng ta, bao giờ cũng thế. Nó là một bước tiến tới, một bước tiến đến gần hơn với Thiên Chúa. Thế nên hết mọi cuộc hội ngộ với Chúa Giêsu đều thay đổi đời sống của chúng ta. Bao giờ cũng thế, bao giờ cũng như thế. Trong bài Phúc Âm này, cả chúng ta cũng được hứng khởi để "bỏ lại cái vò nước lại", một tiêu biểu cho tất cả những gì bề ngoài có vẻ quan trọng nhưng lại chẳng còn giá trị trước "tình yêu của Thiên Chúa". Tất cả chúng ta đều có một, hay hơn một cái vò! Tôi hỏi anh chị em và chính tôi rằng: "Cái vò nước nội tâm của anh chị em là gì, cái khiến anh chị em nặng gánh, cái khiến anh chị em xa cách Thiên Chúa?" Chúng ta hãy loại trừ nó đi mà lắng nghe tiếng của Chúa Giêsu bằng tấm lòng của mình. Người cống hiến cho chúng ta một thứ nước khác, một thứ nước mang chúng ta đến gần với Chúa hơn. Chúng ta được kêu gọi để tái nhận thức tầm quan trọng và ý nghĩa đời sống Kitô hữu của chúng ta, khởi đi từ Phép Rửa, và như người phụ nữ Samaritanô, làm chứng cho anh chị em của chúng ta. Làm chứng về cái gì? Về niềm vui! Hãy chứng tỏ niềm vui được hội ngộ với Chúa Giêsu, vì tôi đã nói rằng hết mọi cuộc gặp gỡ với Chúa Giêsu đều thay đổi đời sống của chúng ta, và hết mọi cuộc hội ngộ với Chúa Giêsu đều làm cho chúng ta tràn đầy niềm vui, một niềm vui xuất phát từ bên trong. Và Chúa là thế đó. Hãy nói về biết bao điều kỳ diệu Chúa biết cách thực hiện trong lòng của chúng ta khi chúng ta can đảm bỏ vò nước của chúng ta lại.
Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL
http://www.zenit.org/en/articles/on-the-encounter-with-christ

 

25/3-48: LỄ TRUYÊN TIN CŨ VÀ NAY

(25-3)
 

Lịch cũ viết là  In annuntiatione Beatae Mariae  Virginis (Truyền tin cho  Đức Trinh Nữ Maria ), 25/3-48

Lịch cũ viết là  In annuntiatione Beatae Mariae  Virginis (Truyền tin cho  Đức Trinh Nữ Maria ), Sách lễ Lễ Roma hiện nay viết là  In annuntiatione  Domini ( Truyền tin Chúa ) .
Như vậy cũng là Truyền tin nhưng đối tượng khác nhau . Sách lễ cũ cho lễ Truyền tin có đối tượng là Đức Mẹ vì  Thánh Luca viết : Sứ thần vào nhà trinh nữ và nói mừng vui lên, hỡi Đấng đầy ơn phúc …. xin đừng sợ vì bà  đẹp lòng Thiên Chúa. Và nầy đây bà  sẽ thụ thai và đặt tên là Giêsu  ……
Thánh Thần sẽ ngự xuống trên bà, vì thế Đấng Thánh bà sinh ra sẽ được gọi là con Thiên Chúa .
Rõ ràng là sứ thần đã nói với Đức Trinh nữ Maria mà thôi . Do đó sách lễ Roma cũ đã đặt tên cho lễ nầy là Truyền tin cho Đức Trinh Nữ Maria .
Sách lễ Roma mới lại đặt tên là Lễ Truyền tin Chúa ?  Thiển nghĩ cứ hiểu theo thói quen cũng thấy sách lễ Roma mới có lý . Thí dụ : ông chủ nhờ anh thư ký đi đặt tiệc ,  Việc đặt tiệc là đối tượng chính, là chuyện quan trọng , còn anh thư ký chỉ là ”phương tiện” thôi . Việc Ngôi Hai xuông thế làm người là việc chính , còn Thiên Chúa nhờ cậy Đức Trinh nữ Maria cưu mang Ngôi Hai,  sinh ra Ngôi Hai, nuôi dưỡng Ngôi Hai là việc lớn, việc quan trọng nhưng không thể hơn việc Ngôi Hai sinh ra làm người để cứu nhân loại !
Trong Cựu ước , Chúa dùng Môisen lãnh đạo, giải thóat dân khỏi ách nô lệ Pharaon, đưa dân vể Hứa địa . Phải chăng Môisen là đối tượng chính, hoặc dân Do thái là đồi tượng chính ? Rõ ràng Thiên Chúa là chính , là Đấng giải thoát dân Do thái , Chúa dùng Moisen là phương tiện, là dụng cụ.
Chúng con viết bài nầy vì sáng hôm nay đi dự thánh lễ Truyền tin có một số khấn dòng, chủ tế và cả dòng chỉ kêu cầu Đức Mẹ , chắc là một số các ngài hiểu “truyền tin cho Đức Mẹ “.
Xin đọc hai lời nguyện sau để thấy có sự khác nhau do đối tượng khác nhau :
(Sách lễ cũ) : Deus, qui  de beatae Mariae Virginis utero Verbum tuum, Angelo nuntiante, carnem suscipere voluisti ; praesta supplicibus tuis ; ut, qui vere eam Genetricem Dei credimus, eius  apud te  intercessionibus adiuvemur. Per eumdem Dominum ( Lạy Thiên Chúa, Chúa đã dùng sứ thần  đến báo tin Ngôi Lời  làm người trong cung lòng Đức Trinh nữ Maria xin cho chúng con  tin thật  Đức Maria là  Mẹ Thiên Chúa , xin cho chúng con được Đức Mẹ cầu bầu trước mặt Chúa. Vì Đức Giêsu  Con Chúa .
(Sách lễ mới) : Deus , qui Verbum tuum in útero Virginis Mariae veritátem carnis  humánae suscipere  voluisti, concéde , quaésumus, ut, qui Redemptórem nostrum Deum et hóminem confitémur, ipsius étiam divinae naturae mereámur esse consórtes. Per Dominum . (Lạy Chúa , Chúa đã muốn cho Ngôi Lời của Chúa mặc lấy xác phàm trong lòng Đức Trinh nữ Maria để cứu độ loài người . Nầy chúng con tuyên xưng  Đấng Cứu độ là Thiên Chúa thật và là người thật, xin cho chúng con cũng được  thông phần bản tính Thiên Chúa  của Người . Người là Thiên Chúa …..   (Bản dịch của Ủy Ban Phụng tự HĐGMVN ).
Lễ Truyền tin Chúa  25-3-2014
Lm Fx Nguyễn hùng Oánh


 

25/3-49: XIN VÂNG

Một linh mục nổi tiếng thánh thiện và nhiệt thành, có kể lại kinh nghiệm khi được mời dự tiệc tại 25/3-49

Một linh mục nổi tiếng thánh thiện và nhiệt thành, có kể lại kinh nghiệm khi được mời dự tiệc tại một nhà giáo dân khá giả trong giáo xứ như sau:
Trong suốt bữa tiệc thịnh soạn hôm đó, giữa tiếng cười nói của thực khách, có một điều làm tôi thắc mắc, đó là tiếng nước chảy đâu đó trong nhà. Vì là lần đầu tiên được mời, tôi không dám lên tiếng, chỉ mong sao có người nhà nhận ra tiếng nước chảy đó.
Sau cùng, không thể cầm lòng được, tôi hỏi một người giúp việc. Với nụ cười lịch sự, người này giải thích:
Cách đây khoảng 40 năm, khi người ta đào móng xây nhà và dựng nông trại, tình cờ họ đã khám phá ra mạch nước ngầm. Thế là họ xây một căn phòng ngay bên mạch nước, kế đó họ xây những căn phòng khác ở chung quanh.
Mạch nước ngay trong nhà mình, tư tưởng đó xâm chiếm tâm trí tôi suốt quãng đường về, và tôi đoán ra đâu là bí quyết hạnh phúc của gia đình giáo dân ngoan đạo và tốt lành đó.
***
Câu chuyện trên đây gợi lại trong tâm trí chúng ta lời sứ thần chào Đức Trinh Nữ: “Kính mừng Maria đầy ơn phúc” (Lc 1,28). Vâng, Mẹ chính là mạch suối tràn đầy thánh ân, mạch suối trong lành tươi mát, mạch suối không bao giờ cạn của Thiên Chúa.
Để chuẩn bị cho Ngôi Hai xuống thế làm người, Thiên Chúa đã dọn sẵn cung lòng Đức Maria trinh khiết vẹn tuyền, xứng đáng cho Con Thiên Chúa ngự đến. Thiên Chúa đã ưu đãi và ban ơn đặc biệt cho Mẹ qua lời sứ thần: “Maria đừng sợ, vì đã được ơn nghĩa với Chúa” (Lc 1,30). Và để bảo đảm cho sự can thiệp đặc biệt này, sứ thần loan báo thêm: “Chúa Thánh Thần sẽ đến với Trinh Nữ, và uy quyền Đấng Tối Cao sẽ bao trùm Trinh Nữ” (Lc 1,35). Như vậy việc sinh con này hoàn toàn do Thiên Chúa, xác thịt không tham dự vào.
Cuối cùng, thiên thần đã kết thúc sứ điệp Truyền Tin bằng một lời bảo đảm tuyệt diệu: “Vì không việc gì mà Thiên Chúa không làm được” (Lc 1,38).
Và Đức Maria, với tâm tình đầy tin tưởng, vâng phục và phó thác liền thưa: “Xin vâng” (Lc 1,38). Một câu tuy ngắn gọn nhưng đã thay đổi hoàn toàn bộ mặt thế giới. Một câu đã khai mở kỷ nguyên cứu rỗi. Một câu đã đem lại cho muôn loài niềm hy vọng và bình an.
Với “Uy quyền Đấng Tối Cao”, một thế giới tuyệt vọng trong vòng kiềm toả của tội lỗi, đã hy vọng được ơn giải thoát. Với “Uy quyền Đấng Tối Cao”, một cung lòng trinh nữ không sinh con, đã được dâng hiến để hạ sinh Đấng Cứu Thế. Với “Uy quyền Đấng Tối Cao”, một nhân loại đang sống dưới ách nô lệ của Satan, đã được tự do làm con cái Chúa.
Lời thưa “xin vâng” của Mẹ không chỉ thốt lên một lần để thay cho tất cả, nhưng là tiếng “Xin vâng” liên lỉ trọn cả kiếp người. Từ tiếng “Xin vâng” đầy phó thác và tuân phục vào ngày Truyền Tin đến lời “Xin vâng” trọn vẹn tin yêu và chấp nhận dưới chân thập giá.
***
Lạy Mẹ Maria, việc Mẹ thụ thai cách lạ lùng là dấu hiệu báo trước sứ mạng cao cả của Hài Nhi. Xin cho chúng con biết vâng phục và phó thác cho chương trình nhiệm màu của Chúa. Nhất là, xin Mẹ cho chúng con biết cộng tác với Ơn Chúa để hoàn thành sứ mạng mà Chúa đã giao phó cho mỗi người chúng con. Amen!
Thiên Phúc

 

25/3-50: LỄ TRUYỀN TIN

Vì yêu thương, Thiên Chúa đã dựng nên con người giống hình ảnh Ngài. Vì yêu thương nên Ngài 25/3-50

Vì yêu thương, Thiên Chúa đã dựng nên con người giống hình ảnh Ngài. Vì yêu thương nên Ngài đã đặt con người sống trong vườn Địa Đàng với biết bao ân huệ. Thế nhưng, con người nghe theo lời xúi giục của ma quỷ đã sa ngã phạm tội, nên bị Thiên Chúa tước mất mọi ân sủng, đuổi ra khỏi vườn Địa Đàng.
Dầu vậy, Thiên Chúa vẫn không bỏ rơi con người. Ngài đã nói với con rắn: “Ta sẽ đặt mối thù giữa mày và người nữ, Người Nữ sẽ đạp giập đầu mày”(St 3,15).
Khi tới hồi viên mãn, Thiên Chúa đã sai Thiên Thần đến gặp Đức Mẹ và loan báo ý định của Ngài. Sau khi nghe Thiên Thần loan báo, Đức Mẹ bối rối vì không hiểu lời Thiên Thần, hay nói đúng hơn, Đức Mẹ phân vân giữa chức vụ làm mẹ Thiên Chúa và việc giữ mình đồng trinh, nên Mẹ thưa với Thiên Thần rằng: “Việc ấy sẽ xảy ra cách nào, vì tôi không biết đến việc vợ chồng!” (Lc 1,34). Thiên Thần đã giải thích cho mẹ biết, việc Mẹ thụ thai và sinh con là do Chúa Thánh Thần. Để thuyết phục Đức Mẹ, Thiên Thần còn đưa ra dẫn chứng về việc thụ thai trong tuổi già của bà Êlizabet cách đây 6 tháng. Cuối cùng Thiên Thần kết luận: “Vì đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được” (Lc 1,37).
Sau khi nghe Thiên Thần giải thích, Đức Mẹ đã thưa xin vâng: “Này tôi là tôi tới Chúa, tôi xin vâng như lời Thiên Thần truyền” (Lc 1,38). Nhờ tiếng thưa “Xin Vâng” của Mẹ, Ngôi Hai Thiên Chúa xuống thể Làm Người, lịch sử Cứu Độ đã bắt đầu sang trang và biến Mẹ từ một thiếu nữ Do thái trở thành Mẹ của Ngôi Hai Thiên Chúa.
Khi nói về tầm quan trọng hai tiếng xin vâng của Mẹ, công đồng Vatican II đã lặp lại lời của các Giáo Phụ xưa rằng : Nút dây đã bị thắt lại do sự bất tuân của Evà, nay được gỡ ra nhờ sự vâng phục của Đức Maria. Điều mà Evà đã buộc lại bởi cứng lòng tin, Đức Maria đã tháo ra nhờ lòng tin; và so sánh với Evà, các ngài gọi Đức Maria là “Mẹ kẻ sống”, và thường quả quyết rằng : “Bởi Evà đã có sự chết, thì nhờ Maria lại được sống” (x. Lumen gentium, số 56). Thánh Bênađô thì kêu lên rằng: “Ôi trinh nữ, Adam đang khóc lóc cầu khẩn Mẹ trả lời, Đavit cũng khẩn cầu, các tổ phụ cũng không ngớt nài xin. Câu trả lời ấy cả thế giới này đang phủ phục dưới chân Mẹ và chờ đợi nó. Bởi việc giải thoát cho những ai đang đau khổ, chuộc lại kẻ giam cầm, trả tự do cho người bị kết án và sau cùng là phần rỗi của mọi con cái Adam, của toàn thể dòng dõi Mẹ đều tùy thuộc vào lời thưa của Mẹ”.
Đối với Mẹ, để thưa xin vâng, Mẹ phải chấp nhận hy sinh, hy sinh vì lòng yêu mến Thiên Chúa và yêu thương nhân loại. Lời thưa xin vâng của Mẹ, thể hiện sự phó thác tin tưởng tuyệt đối vào Thiên Chúa. Bởi vì, lời thưa xin vâng không chỉ thực hiện trong biến cố truyền tin mà còn kéo dài trong suốt cuộc sống của Mẹ. Sau biến cố truyền tin là cả hành trình dài đầy gian nan đau khổ. Từ việc bị Thánh Giuse hiểu nhầm, đến việc sinh con trong hang đá nghèo hèn, lạnh lẽo. Việc bà Anna loan báo về sự đau khổ của Hài Nhi khi Mẹ đưa Chúa Giêsu dâng trong đền thờ. Việc đưa con trốn sang Ai cập khỏi Hêrôđê lùng bắt. Suốt ba mươi năm tại làng quê Nazaret, Mẹ sống âm thầm cùng với Thánh Giuse nuôi Chúa Giêsu khôn lớn. Sau đó, Mẹ đã đồng hành với con suốt ba năm trên mọi nẻo đường rao giảng Tin mừng. Đặc biệt, khi Mẹ chứng kiến cuộc khổ nạn và cái chết của con mình trên thập giá… Qua những biến cố đau thương như vậy, để thưa xin vâng, Mẹ phải có một niềm phó thác và một đức tin vững mạnh vào Thiên Chúa. Chính bà Êlizabeth đã xác nhận điều đó khi nói với Mẹ rằng: “Em thật có phúc vì đã tin rằng Chúa sẽ thực hiện những gì Người đã nói với em” (Lc 1,45). Như vậy, để cộng tác với Chúa Giêsu trong việc cứu rỗi nhân loại, Mẹ Maria đã thực hiện lời xin vâng một cách trọn vẹn bằng cả cuộc sống.
Đối với chúng ta hôm nay, sự vâng lời luôn luôn cần thiết: Người dưới vâng lời người trên, con cái vâng lời cha mẹ, học sinh vâng lời thầy cô, vợ chồng lắng nghe nhau… Đó không chỉ là nét đẹp của cuộc sống hằng ngày và để gia đình, xã hội có tôn ti trật tự mà còn là điều kiện để gia đình hạnh phúc và xã hội bình yên. Chúng ta thử hình dung: Nếu trong một gia đình mà con cái không vâng lời cha mẹ, vợ chồng không biết lắng nghe nhau; ở nhà trường, học sinh không vâng lời thầy cô; xã hội không có trên dưới… thì gia đình, nhà trường, xã hội đó sẽ như thế nào? Thực tế cho chúng ta thấy, vì không biết vâng lời cho nên con cái hư hỏng, trò đánh thầy, hỗn loạn nhiều nơi trong xã hội chúng ta đang sống.
Trong lĩnh vực tôn giáo, “Đức Vâng Lời” lại còn quan trọng hơn gấp bội phần. Đức vâng lời được thể hiện qua việc lắng nghe tiếng Chúa. Tiếng Chúa qua Lời Chúa và các giới răn. Thực hành lời Chúa và tuân giữ các giới răn của Chúa một cách trọn vẹn là chúng ta đang giữ nhân đức vâng lời.
Đức vâng lời còn được thể hiện qua việc vâng nghe sự dạy bảo của các vị bề trên coi sóc linh hồn chúng ta. Đó có thể là Đức Giáo Hoàng, các Giám Mục, linh mục hay cha mẹ anh chị của chúng ta. Đối với các cộng đoàn dòng tu, vâng lời các vị bề trên không chỉ là nhân đức mà còn thực hiện một trong ba lời khấn.

Việc tuân giữ đức vâng lời không phải lúc nào cũng dễ dàng, nhất là khi không hiểu ý bề trên (như trường hợp của Đức Mẹ) hay khi sự vâng lời đó đòi hỏi chúng ta phải chấp nhận hy sinh, thậm chí là phải đổ máu (như trường hợp các thánh tử đạo). Vì vậy, chúng ta cần phải cố gắng luôn và trong mọi hoàn cảnh hãy thưa với Thiên Chúa như Chúa Giêsu trong vườn Cây Dầu : “Lạy Cha, nếu có thể được, xin cho con khỏi phải uống chén này. Tuy vậy, xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha” (Mt 26,39).
Nhờ tiếng xin vâng của Mẹ Maria, nhân loại đã bước sang một trang sử mới là trang sử Cứu Thế. Ngày hôm nay, để viết lên những trang sử đẹp, rất cần nhiều tiếng thưa xin vâng trong gia đình, Giáo Hội và xã hội. Xin Chúa giúp mọi người chúng ta biết noi gương Mẹ, chấp nhận hy sinh để luôn thưa xin vâng trong những điều đẹp ý Chúa. Amen.
Lm. Anthony Trung Thành
Nguồn: Vietcatholic.org

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây