Suy Niệm Tin Mừng Mồng 1 Tết Bài 101-150 Cầu Bình An Năm Mới

Thứ hai - 04/02/2019 09:22
Suy Niệm Tin Mừng Mồng 1 Tết Bài 101-150 Cầu Bình An Năm Mới
Suy Niệm Tin Mừng Mồng 1 Tết Bài 101-150 Cầu Bình An Năm Mới
Suy Niệm Tin Mừng Mồng 1 Tết Bài 101-150 Cầu Bình An Năm Mới
Tết 1_101: MỒNG MỘT TẾT.. 2
Tết 1_102: CẦU BÌNH AN NĂM MỚI 3
Tết 1_103: NGẮM XEM... 4
Tết 1_104: ĐƯỢC PHÚC.. 6
Tết 1_105: NĂM MỚI - ĐỔI MỚI 8
Tết 1_106: THIÊN CHÚA QUAN PHÒNG.. 9
Tết 1_107: LỄ TÂN NIÊN -  CẦU BÌNH AN CHO NĂM MỚI 10
Tết 1_108: TIẾNG GÀ GÁY.. 14
Tết 1_109: LỘC LỜI CHÚA ( LỄ MỒNG MỘT TẾT ) 18
Tết 1_110: Đi tìm hạnh phúc. 23
Tết 1_111: Hạnh Phúc ơi, Mi là gì?. 24
Tết 1_112: Nỗi khao khát 27
Tết 1_113: Chín lần hạnh phúc. 28
Tết 1_114: Phúc cho người sống những mối phúc. 30
Tết 1_115: Đường hẹp – Radio Veritas Asia. 32
Tết 1_116: E.T. gọi về nhà. 34
Tết 1_117: Phúc thay. 35
Tết 1_118: Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó. 37
Tết 1_119: Hạnh phúc – Lm. Nguyễn Ngọc Long. 39
Tết 1_120: Chúa là phúc thật – Lm. Phạm Quốc Hưng. 41
Tết 1_121: Phúc thật, phúc giả – Lm. Bùi Quang Tuấn. 44
Tết 1_122: Xây dựng hoà bình. 46
Tết 1_123: Tám Mối Phúc. 48
Tết 1_124: Phúc Tám Mối 49
Tết 1_125: Chú giải của Noel Quession. 51
Tết 1_126: NĂM TRUNG THÀNH VỚI CHÚA.. 55
Tết 1_127: THIÊN CHÚA LÀ MÙA XUÂN VĨNH CỬU.. 59
Tết 1_128: BÀI GIẢNG CỦA ĐỨC CHA ANTÔN.. 62
Tết 1_129: ĐẦU NĂM HÁI LỘC.. 65
Tết 1_130: MƯU SỰ TẠI NHÂN, THÀNH SỰ TẠI THIÊN.. 69
Tết 1_131: MÙNG MỘT TẾT - THÁNH LỄ TÂN NIÊN.. 74
Tết 1_132: THÀNH TÂM TÍN THÁC.. 76
Tết 1_133: GÁNH ĐỜI 80
Tết 1_134: CẦU BÌNH AN.. 84
Tết 1_135: Hãy tìm kiếm nước Thiên Chúa. 88
Tết 1_136: LỜI CHÚC ĐẦU NĂM... 90
Tết 1_137: CHÚA LÀ MÙA XUÂN VĨNH CỬU.. 94
Tết 1_138: TẾT NGUYÊN ĐÁN 2018 – LỄ MÙNG 1. 97
Tết 1_139: HIẾU THẢO VỚI ĐẤNG SÁNG TẠO.. 100
Tết 1_140: TIN VÀO TÌNH YÊU QUAN PHÒNG CỦA CHÚA.. 102
Tết 1_141: NGÀY NÀO CÓ CÁI KHỔ CỦA NGÀY ẤY.. 104
Tết 1_142: CHÚA QUAN PHÒNG.. 107
Tết 1_143: THÁNH  LỄ TÂN NIÊN.. 110
Tết 1_144: Ngày đầu năm mới 111
Tết 1_145: Cầu xin Chúa Xuân ban Bình An. 112
Tết 1_146: Chúng ta là người hành khất 114
Tết 1_147: Ngày đầu năm – R. Veritas. 115
Tết 1_148: Hạt giống, hạt cải 117
Tết 1_149: Vấn đề thân cận. 118
Tết 1_150: Ngôn ngữ “dụ ngôn”. 119

 

Tết 1_101: MỒNG MỘT TẾT

Mt 6, 25 - 34
 

Sách Giảng viên đã nói rằng: Phù Vân quả là phù vân. Tất cả chỉ là phù vân. Người khôn  biết mở Tết 1_101

Sách Giảng viên đã nói rằng: Phù Vân quả là phù vân. Tất cả chỉ là phù vân. Người khôn  biết mở mắt nhìn, kẻ dại bước đi trong tăm tối. (Gv1, 2; 2,14a)

Người không biết Chúa, không biết có đời sau thì dễ đặt mục tiêu cuộc sống ở đời này là của cải, danh vọng, hưởng thụ tiện nghi, thành đạt vật chất. Thế nhưng chúng ta biết rằng: Tất cả những gì thuộc về vật chất thì không bền vững, có thể tiêu biến đi bất cứ lúc nào, có đó rồi mất đó không bảo đảm chi hết. Vì vậy, trong ngày đầu năm mới này, chúng ta hãy hướng lòng lên Chúa là Đấng trường tồn và đặt niềm hy vọng của chúng ta nơi Chúa. Chúa rất yêu thương chúng ta và Chúa biết rõ xác hồn chúng ta cần những gì. Chắc chắn Ngài sẽ chỉ cho chúng ta con đường phải đi, những việc phải làm và giá trị của sự sống đời đời là như thế nào.

Ðời này chúng ta cần phải làm lụng để có cái ăn cái mặc cho mình và thân nhân. Ðiều này Chúa biết rõ. Ngay cả, chim trời mà Chúa còn lo cho có đủ ăn, hoa cỏ hoang dại ngoài đồng, nay còn mai mất mà Chúa còn trang điểm cho chúng những đóa hoa đầy màu sắc rực rỡ, không có thợ dệt nào trên trần gian nào làm được những tấm áo như thế. Huống chi chúng ta là con cái Chúa, Chúa còn quan tâm, lo lắng cho chúng ta nhiều hơn gấp bội.

Tuy nhiên, có một điều chúng ta hãy nhớ luôn luôn là: chúng ta có phần linh hồn và phần thưởng hạnh phúc đời sau. Cho nên Chúa muốn chúng ta tập trung tất cả năng lực của mình để tìm nước Thiên Ðàng và sự công chính. Khi chúng ta lo phần rỗi của mình đúng mức thì Chúa sẽ bù đắp cho chúng ta phần vật chất, ít là có đủ ăn đủ mặc. Còn nếu chúng ta quá lo phần xác, bỏ bê hoặc thờ ơ trong việc sống đạo, cậy vào sức riêng và chỉ lo sao cho bằng người ta đời này mà xao lãng phần hồn thì chúng ta sẽ mất phần phúc Chúa muốn ban tặng cho chúng ta.

Cuộc sống đời này là chóng qua và bất toàn, không thể tránh những khốn khó cách này cách khác, đòi hỏi chúng ta cố gắng. Mỗi người phải vận dụng chí, tâm, trí và cầu xin Chúa ban ơn nâng đỡ mới vượt qua được thử thách gian nan.

Chúng ta cần xin Chúa ban cho đức tin và sự kiên trì nhẫn nại. Ðây là điều Chúa muốn nói với chúng ta trong năm mới này. Chính Chúa Giêsu khi làm người cũng đã trãi qua bao nhiêu là mồ hôi và đau khổ rồi mới đến vinh quang. Chúa Cha yêu con mình hơn tất cả mọi sự nhưng Ngài cũng không miễn giảm cho Con mình những gian nan khốn khó đời này, một để cho Con mình chịu đau khổ hơn tất cả mỗi người chúng ta để nêu gương về sự kiên trì đáp trả lời mời gọi của Chúa trong niềm tin và vâng phục.

Trong những giờ phút đầu tiên của năm Canh Dần này, chúng ta hãy dâng lên Chúa trọn cuộc sống chúng ta, với tất cả ước mơ, hy vọng, lòng ăn năn, công việc làm ăn và những mối lo toan khác. Xin Chúa đón nhận những tâm tình cầu nguyện của chúng con và xin giúp chúng con biết chu toàn bổn phận dưới sự trợ giúp của ơn Chúa và năng hướng lòng về Chúa để nhận ra nhu cầu của linh hồn mình và sự quý giá của sự sống đời sau.

Nguyện xin Chúa Xuân chúc lành cho tất cả mọi dự tính và ước vọng đạo đức, tốt lành của chúng ta và mọi việc chúng ta làm trong năm nay từ khởi sự cho đến hoàn thành đều nhờ bởi ơn Chúa. Amen.


 

Tết 1_102: CẦU BÌNH AN NĂM MỚI

Mt 6, 25 - 34
Anh chị em thân mến
 

Sáng hôm nay khi chuẩn bị chào đón ánh bình minh của một ngày mới như bao nhiêu ngày  khác, Tết 1_102

Sáng hôm nay khi chuẩn bị chào đón ánh bình minh của một ngày mới như bao nhiêu ngày  khác, mỗi người trong chúng ta lại có một cảm giác đặc biệt hơn bình thường, tâm hồn phấn chấn hơn, tinh thần vui tươi hơn vì ngày mới hôm nay là ngày đầu tiên của năm mới, ngày khởi đầu cho bao nhiêu dự tính, cho nên phải chuẩn bị như thế nào để tất cả mọi sự thật chu đáo. Nhìn bao nhiêu người với khuôn mặt rạng rỡ, với những bộ đồ mới, tôi thiết nghĩ: không ai khi vừa mới mặc đồ mới sạch đẹp, lại nghĩ ngay đến việc phải từ bỏ nó như thế nào, trái lại mọi người đều phải lo giữ gìn cho nó được luôn mới, đồng thời còn tận hưởng được niềm vui mà những gì bộ đồ mang đến.
Trong niềm vui của ngày đầu năm mới, chúng ta vừa nghe Lời Chúa nhắc bảo mọi người đừng lo âu thái quá, Ngài muốn nhắc nhở cho mỗi người biết bằng lòng với hiện tại, biết gìn giữ hiện tại cho cẩn thận để được tận hưởng những gì hiện tại mang đến. Hoàn thành hiện tại cho chu đáo, không phí đi những giây phút hiện tại Chúa ban cho, đó là chúng ta đã chuẩn bị cho tương lai rồi còn gì. Còn nếu chỉ biết ngồi đó nhìn về tương lai rồi lo âu, dự tính, sẽ không đi đến đâu. Ngày mai như thế nào không ai biết được, nếu không sống trọn ngày hôm nay cho thật tốt, đừng để có gì phải hối tiếc. Sống trọn ngày hôm nay với tất cả niềm tin, con người sẽ không còn phải lo âu điều gì nữa.
Mỗi người trong chúng ta đang khoát trên mình một chiếc áo của thời gian, chiếc áo mới của ngày tháng mà hôm nay đang bắt đầu. Chúng ta cũng có biết bao dự tính cho năm mới. Tính toán cho những việc làm để sinh sống, tính toán cho tương lai của mình, của những người thân. Tính toán làm những gì để có thêm lợi lộc, nghĩa là làm thế nào để có thật nhiều tiền. Nhưng từ khi mở mắt đón chào ngày mới, cho đến giờ nầy đây, chúng ta có biết dâng những giây phút đầu tiên cho Chúa, chúng ta có hứa với Chúa được điều gì chưa? Chúng ta có toan tính để trong năm mới, mình có được đời sống mới tốt đẹp hơn không? Đó mới là những dự tính thật sự cần thiiết mà mỗi người phải nhìn thấy, để làm tròn bổn phận đối với Thiên Chúa.
Chúng ta cùng tha thiết cầu xin Chúa ban ơn lành cho chúng ta trong năm mới. Chúng ta cũng xin Chúa cho mỗi người biết đỗi mới cuộc sống của mình để xứng với những ngày tháng mới mà Chúa đã ban cho.

 

Tết 1_103: NGẮM XEM

Mt 6, 25 - 34
 

Hôm nay là ngày lễ hội cổ truyền quan trọng nhất của dân tộc Việt nam. Sau một năm dài  với biết Tết 1_103

Hôm nay là ngày lễ hội cổ truyền quan trọng nhất của dân tộc Việt nam. Sau một năm dài  với biết bao khó nhọc, bao nhiêu cộng việc vây kín . . . Giờ đây, mọi người được có dịp nghỉ ngơi, vui chơi giải trí, hội tụ bên gia đình và người thân . . . Thời gian là của Chúa. Xin tạ ơn Người đã gìn giữ chúng con và đã ban cho mọi người chúng con những điều cần thiết cho cuộc sống, nhất là đã ban cho chúng con có điều kiện sống đúng với địa vị và nhân phẩm của một con người và đặc biệt là người con của Chúa.
Tin mừng hôm nay mời gọi chúng ta hãy nhìn lại và ngắm xem những gì chúng ta đang vun trồng và xây cất. Đã hẳn, con người khi đến tuổi khôn và trưởng thành đã có những kế hoạch cho tương lai của đời mình, để nhờ đó mà biết phải làm gì hầu mong tìm hạnh phúc cho mình và cho những người thân yêu.. Nhưng tiếc thay, những gì chúng ta đang ra công vun trồng, xây đắp và tìm kiếm chỉ là cơm áo, bạc tiền, địa vị và danh vọng. Con người đang xây dựng hạnh phúc cho mình trên nền tảng những vật chất ấy để rồi khi đạt được những điều mong muốn, con người khám phá ra đó không phải là hạnh phúc thật sự. Đôi khi những gì con người cho là hạnh phúc ấy lại hoá ra là đau khổ và nước mắt. Biết bao người đầu tắt mặt tối, lo làm giàu vật chất đã ngậm ngùi khóc than khi nhìn thấy con cái mình ra hư đốn, chồng vợ ngoại tình, gia đình tan vỡ . . . Bấy giờ, họ mới đâm ra hoang mang lo sợ.
Như vậy, hạnh phúc thật mà con người phải tìm kiếm và xây dựng nằm ở đâu? Con người phải làm gì để có được hạnh phúc ấy? Điều ta cần xác định tận tường là: Không có hạnh phúc thật ở trần gian này, mà hạnh phúc ấy chỉ có ở nơi Thiên Chúa và ở cuộc sống mai sau trên thiên quốc mà thôi. Có Thiên Chúa là có hạnh phúc thật, bởi vì Người là tình yêu và hạnh phúc.
Lời Chúa hôm nay mách bảo chúng ta phải làm gì: đó là "đừng lo""hãy lo". Đừng lo phải ăn gì? Uống gì? Mặc gì? Lý do Cha của chúng ta sẽ lo cho chúng ta. Nhưng hãy biết lo tìm kiếm Nước Thiên Chúa và sự công chính của người, lý do: Đó là bổn phận của chúng ta.
Cha mẹ trong gia đình thường không bảo con cái của mình khi còn nhỏ phải lo kiếm cơm áo, bạc tiền để nuôi sống mình hay gia đình, mà chỉ bảo con cái hãy cố gắng làm tròn công việc bổn phận là chăm lo học hành hay vâng lời chỉ dạy của cha mẹ thôi.
Trước mặt Thiên Chúa và đối với Thiên Chúa, chúng ta là một bé thơ. Nếu chúng ta thật sự nhìn nhận Thiên Chúa là cha của chúng ta, thì chúng ta hãy biết tin tưởng và tín thác vào Người. Chúa đã dựng nên ta, đã nhận ta làm con cái của Người thì Người không bao giờ bỏ quên hay bỏ rơi chúng ta. Hãy ngắm xem chim trời và hoa huệ ngoài đồng mà học cho thuộc bài học quan phòng và yêu thương của Thiên Chúa dành cho chúng ta và mọi tạo vật Chúa đã dựng nên. Bổn phận duy nhất mà Chúa muốn ta phải lo là phải làm và tìm kiếm Nước Thiên Chúa và sự công chính của người. Bởi lẽ không ai có thể làm thay việc bổn phận của chúng ta , ngay cả Chúa cũng không thể làm thay cho chúng ta trong công việc này được. Chúa chỉ cung cấp cho chúng ta đầu đủ những điều kiện để ta thực hiện nó mà thôi. Điều kiện đó là lý trí, ý chí và sự tự do mà Chúa đã đặt để ở nơi mỗi người. Việc bổn phận của chúng ta sẽ quyết định số phận đời đời của chúng ta. Mỗi chọn lựa hôm nay trong sự tự do, ý chí và lý trí sẽ làm nên toà nhà vĩnh viễn cho chúng ta ở cuộc sống mai sau.
Bài Tin mừng thật là một quà tặng tình yêu mà Thiên Chúa muốn gởi đến mỗi người chúng ta trong ngày đầu năm này. Đây là những lời chỉ dạy, khuyên bảo và là lời chúc lành quí báu hơn mọi của cải trần gian. Chúng ta hãy hãnh diện có Chúa là Cha chúng ta. Chúng ta không phải là những kẻ mồ côi hay những người con hoang. Ai không có cha có mẹ thì hãy làm những gì họ cho là cần làm và họ muốn làm theo ý của riêng họ. Còn chúng ta, chúng ta hãy làm những gì Chúa muốn chúng ta làm.
Ước gì mỗi người chúng ta biết tận dụng mọi lời chỉ dạy của Chúa để đem ra thực hành trong cuộc sống hằng ngày. Xin Chúa giúp chúng ta biết tin tưởng vào sự quan phòng đầy yêu thương của Chúa để ta vui sống và lãnh đạo cuộc sống của mình theo ý muốn của Thiên Chúa. Hãy ngắm xem chim trời, hoa đồng cỏ nội và muôn loài trong vũ trụ mà an lòng tiến bước trong niềm tin của chúng ta.

 

 Tết 1_104: ĐƯỢC PHÚC

Ga 14, 23 - 27
 

Trong những ngày đầu năm, hầu hết mọi người đều phải tất bật với những lo toan, lo cho những Tết 1_104

Trong những ngày đầu năm, hầu hết mọi người đều phải tất bật với những lo toan, lo cho những chương trình những hoạch định sẽ làm gì đi đâu trong mấy ngày tết này. Người thì lo về với ông bà cha mẹ để chúc tết ngày đầu năm mới, cha mẹ lo cho con đi chơi chỗ này chỗ kia, người trẻ thì lo đến nhà bạn bè .....Riêng người công giáo cũng lo nhưng với chiều kích khác. Ngày đầu năm người Công giáo có thói quen đến nhà thờ để gặp gỡ Chúa, như là chu toàn cho bổn phận của một người con đối với Cha mình là Thiên Chúa. Họ đến với nhà thờ để chúc tuổi Chúa và cũng không quên cầu phúc lộc đầu năm để hướng đến một năm mới sống trong sự chở che của Thiên Chúa. Bên cạnh các ý đó Giáo Hội còn mời gọi mọi người hướng cái nhìn đến những người đau khổ để cảm thông giúp đỡ và cầu nguyện cho họ cũng như cầu nguyện cho sự hòa bình của thế giới.
Trong bài đọc 1 , chúng ta thấy được sự hiện hữu của vũ trụ vạn vật là do tình thương của Thiên Chúa. Chính Thiên Chúa đã thương yêu mà tạo nên, và Thiên Chúa đã chúc phúc cho những gì Người đã làm.
Trong bài đọc 2 , thánh Phaolô tông đồ mời gọi mọi người hãy biết tìm đặt sự tin tưởng nơi Thiên Chúa; hãy biết vui luôn trong Thiên Chúa và hãy lo tìm kiếm những giá trị chân thật cũng như sự cao quý cho đời sống của một người con cái Chúa.
Nơi bài phúc âm, thánh Gioan cho thấy Chúa Giêsu mời gọi mọi người hãy đặt trọn niềm tin vào Thiên Chúa và đừng sợ hãi. Ai yêu mến và tuân giữ Lời của Ngài chính là người đang sống trong tình yêu của Thiên Chúa Ba Ngôi: "Thầy và Cha Thầy sẽ đến và ở trong người ấy....Chúa Thánh Thần sẽ dạy....." Kết quả cho những ai yêu mến và tuân giữ Lời là sẽ tìm được sự bình an trong Thiên Chúa.
Ngay từ đầu Tin Mừng, ta thấy được yếu tố quan trọng hàng đầu đó là sự vâng giữ Lời của Chúa Giêsu, như là một cách thức biểu lộ tình yêu. Thật vây khi yêu một người nào đó thì ta luôn nhớ đến những lời người đó nói và hằng giữ những gì người muốn nơi ta; dù là người đó thật sự sống gần hay không gần ta không quan trọng. Ở đây Lời Chúa là một sự mời gọi trực tiếp và cụ thể cho người Kitô hữu qua việc vâng giữ Lời Thiên Chúa. Người Kitô hữu được đặt trước một sự chọn lựa dứt khoát. yếu tố tuân giữ Lời luôn là yếu tố hằng đầu và là nền tảng cho đời sống đạo của người Kitô hữu trên hành trình tiến về Nhà Cha trên trời. Một sự vâng giư có tính cách liên tục chứ không phải khi vui thì giữ khi buồn thì thôi. Một khi người Kitô hữu không tuân giữ hoặc coi nhẹ Lời ấy thì chính là một sự biểu lộ cho thấy người đó đã đặt sai chổ trong tình yêu; thay vì tìm đặt nơi Thiên Chúa thì lại chọn nơi các tạo vật. Và như thế họ tự đặt mình tách rời khỏi sự sống trong tình yêu của Thiên Chúa, tự cắt đứt mối dây liên đới với Thiên Chúa là nguồn mạch mọi sự sống.
Việc chúng ta đến nhà thờ hôm nay đây được coi như một dấu chỉ cho việc vâng giữ Lời. Thế nhưng ta cần phải nhìn nhận một thực tế là khi mọi người hiện diện ở nơi đây thì không hẳn là hết tất cả mọi người vì lòng yêu mến Thiên Chúa và muốn vâng giữ Lời của Ngài. Có người hiện diện vì thói quen hay chỉ là làm cho đủ lễ nghĩa rồi thôi để còn phải lo cho những chuyện khác ....Những cám dỗ niềm vui bên ngoài và cả những lo toan nhiều sự dễ làm cho ta trở nên xem nhẹ tình yêu dành cho Thiên Chúa . thực không gì tệ hại cho bằng việc đến với nhà thờ, đến với Chúa vào ngày đầu năm mà lại là làm vì thói quen hay làm cho có lễ thôi, làm lấy có lấy rồi. ý nghĩa mà ta đến với Chúa ngày hôm nay cần phải đợc thanh luyện khỏi những cám dỗ đó, để rồi mặc cho nó một ý nghĩa sâu xa và cao quý hơn là làm vì lòng yêu mến Thiên Chúa và vì muốn vâng giữ Lời Người.
Một sự chuẩn bị tâm hồn để đến với Chúa là chủ tể của sự sống thật cần thiết biết bao, thật là lý tưởng nếu ta có được sự chuẩn bị như thế; vì rằng đây là một sự chọn lựa đúng đắn, biết đặt nền tảng sự sống mình nơi Thiên Chúa , biết chọn Chúa làm nguồn sống đích thực cho đời mình trong ngày đầu năm này.

 

Tết 1_105: NĂM MỚI - ĐỔI MỚI

"Thịt mỡ dưa hành câu đối đỏ
Nêu cao, pháo nổ, bánh chưng xanh".

 

Trong ý nghĩ của dân chúng Việt Nam , mồng một tết là ngày Thiêng liêng nhất của cả năm,  là Tết 1_105

Trong ý nghĩ của dân chúng Việt Nam , mồng một tết là ngày Thiêng liêng nhất của cả năm,  là khởi đầu của mọi sự khởi đầu, sự nghiệp của con người thành bại, tốt xấu một phần quan trọng là do thời điểm Thiêng liêng này quyết định. Do đó, trong ngày tết hôm nay chúng ta cùng dâng lên Chúa tất cả lòng tôn kính, cảm tạ Chúa đã và đang tiếp tục ban ơn. Chúng con tin chắc Chúa rất sẵn lòng ban ơn cho chúng con, nhất là những gì cần thiết cho việc sống đạo và ích lợi cho phần rỗi của chúng con trong suốt năm nay.
Năm hết tết đến, tôi lại nhớ câu : Chúa Giêsu càng thêm tuổi càng thêm khôn ngoan nhân đức. Tôi thấy hổ thẹn vì qua một năm rồi mà tôi chưa khắc phục được những khuyết điểm theo dự tính, chưa phát huy hết mức ưu điểm và khả năng để làm đẹp lòng Chúa. Năm mới này tôi quyết tâm sống đạo sốt sắng hơn, không chỉ giữ mình khỏi phạm tội làm mất lòng Chúa mà còn luyện tập các nhân đức: khôn ngoan, công bình, dũng cảm, tiết độ cụ thể trong công việc hàng ngày, tôi sẽ chạy đến Chúa với tâm tình con thảo, biết nói tiếng không với tội lỗI và quảng đại giúp đỡ mọi ngừơi. Chúa đã ban ơn gìn giữ chúng con trong suốt năm cũ, xin cũng chúc lành và ban những ơn cần thiết cho chúng con trong năm mới.
Mồng một tết là ngày vui, ngày đẹp, không khí tôn nghiêm, mọi người phải cư xử tốt đẹp với nhau. Dù ngày thường có giận dỗi thì hôm nay cũng phải cởi mở chan hoà: giận đến chết, tới tết cũng thôi. Tuy nhiên, chúng ta là con cái Chúa, chúng ta không chỉ sống vui với mọi ngừơi trong ngày tết mà còn tập sống vui vẻ, nhân ái trong suốt năm, đúng với tinh thần yêu thương của những người con cùng một tổ tiên, cùng một Cha. Mỗi người phải luôn vun bồi hoà bình và hạnh phúc trong lòng mình để có thể đem bình an hạnh phúc đến cho mọi người.
Mồng một tết còn có tục mừng tuổi và chúc thọ, có thể mừng bằng tiền, nhưng phải chú trọng đến mặt hình thức. Con cháu cũng nhận được sự tôn trọng, những lời khuyên bảo ân cần hữu ích trong dịp tết. Tết cũng là dịp giao lưu tình cảm, hoà hợp giữa ngừơi với người, là dịp đi chơi, thăm hỏi, chúc mừng, động viên nhau. Mọi người dẹp bỏ những lo âu, buồn phiền và chúc nhau những gì tốt đẹp nhất : phúc, lộc, thọ ....Tết năm mới là cơ hội duy trì và giữ vững mọi mối quan hệ gia đình và xã hội vốn có từ lâu đời (thăm hỏi và chúc mừng). Tết cũng phải là dịp chúng ta nhớ đến Chúa là Cha, người đã cho chúng ta tất cả hạnh phúc này, Người có ơn lớn lao không những đối với chúng ta mà còn đối với cha mẹ, tổ tiên chúng ta, Người cho mà không hề kể công, không đòi đáp trả. Cha mẹ chúng ta thường không hề tính công với con cái, nhưng bổn phận của chúng ta là biết đáp đền công ơn của các ngài; Chúa ban cho chúng ta và gia đình chúng ta nào ơn sinh thành, nào ơn cứu chuộc, ơn này ơn khác trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta phảI mang ơn ngài biết kể sao cho xiết! là con hiếu thảo của Ngài, chúng ta phải biết sống sao cho đẹp lòng ngài, luôn biết đáp trả lời mời gọi của Chúa trong Kinh Thánh cụ thể trong Mười Điều răn, tám Mối Phúc thật và các lời khuyên Phúc Âm.
Lạy Chúa, trong tâm tình của ngày đầu năm mới, chúng con hết lòng cảm tạ Chúa về những ơn lành Chúa ban trong suốt thời gian qua, xin Chúa thương cho mọi người chúng con năm mới được dồi dào ơn lộc Chúa, luôn hăng say trong sứ vụ Phúc Âm hoá, luôn lưu ý đến việc làm gương sáng cho mọi người trong gia đình và bạn bè về niềm tin đối với Chúa và sự sống đời sau.

 

 Tết 1_106: THIÊN CHÚA QUAN PHÒNG

Mt 6, 25 - 34: 9, 28b- 36
"Tiên vàn, hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và sự công chính của Người, còn các thứ khác, Người sẽ thêm cho..." (Mt 6, 33)
 

Năm 1978, lúc tôi còn là thầy Sáu, Phó tế, đang công tác tại họ nhà, có một gia đình trẻ mời  các thầy Tết 1_106

Năm 1978, lúc tôi còn là thầy Sáu, Phó tế, đang công tác tại họ nhà, có một gia đình trẻ mời  các thầy chủng viện đến ăn cơm ngày mồng hai Tết. Các thầy lúc đó đang ở tại họ đạo chỉ có tôi, Thầy Cảnh và thầy Hiệp. Thầy Liêm và Thầy Đằng đang đi giúp họ xa không có nhà. Bữa cơm hôm đó cũng vui. Phần chúng tôi là các thầy, khi đến đây ăn cơm cũng có ý để chia vui với gia đình dịp Tết, đồng thời cũng giúp củng cố niềm tin của gia đình còn khá "hôi nhang". Hôm đó, chúng tôi hoàn toàn không hiểu ý của chủ nhà chi cả; cho đến vài tuần sau, có người nhắc nhở chúng tôi: họ mời các thầy tới nhà ăn cơm là kén chọn chữ đó: CẢNH - HIỆP - LỰC. Vậy sao? Hóa ra người ta mượn tên của chúng tôi: Cảnh - Hiệp - Lực, để xông đất nhà họ vào Mồng Hai Tết, tránh bị xấu hái.... Trời ơi là trời.... Dù vậy, tôi cũng nói thêm, gia đình đó không khá đâu: nội trong năm đó, gia đình tan nát cả, mỗi người mỗi nơi.... Tại ai đây?
a. Những Ngày tết VN chúng ta, còn có quá nhiều cái cấm kỵ, những cái cấm kỵ tự mình trói buộc lấy mình: ngày Tết hoàn toàn nghỉ ngơi đã đành, ta còn phải kiêng cử: không được quét nhà - hay quét nhà thì không đổ bỏ rác đi - ngày Tết không được ăn mặc rách rưới, không được ở trần, kẻo ở trần cả năm - mình có cái tên không được thanh, tên xấu, thì không được xông đất nhà người, kẻo người ta chưởi; hay mình quá nghèo, cũng không ngang ngược vào xông đất nhà người khác lúc sáng sớm, khi người ta không mời...- mấy ngày Tết, không được chưởi bới kẻo xui cả năm - cây trái chưng trên bàn thờ phải là: mảng cầu, đu đủ, trái xoài (không phải dâng lễ phẫm quí giá với tấm lòng thành cho Thiên Chúa, hay cho ông bà Tổ tiên, mà là cầu cho chính mình mà thôi: CẦU - ĐỦ - XÀI ) - ba ngày tết, người ta còn cố gắng chúc cho nhau những lời thật tốt đẹp, tránh tới mức tối đa không nói những lời không hay để sang năm được may được lành.
b. Anh chị em thân mến, người ta tưởng tất cả những kiêng kỵ đó đem lại phúc lộc cho họ trong ba ngày Tết và trong cả năm, thực ra tất cả hầu như đêu ngược lại. Ai có thể tin rằng vì ngày Tết, tôi ở trần nên cả năm tôi sẽ phải ở trần như thế? Ai bảo đảm cho tôi rằng vì ngày Tết tôi không quét nhà, nên cả năm tôi sẽ giữ của cải lại được? Thực ra chúng ta sẽ là những người ngốc nghếch hết chổ nói, nếu ta tin và giữ theo mặt chữ mọi kiêng kỵ nêu trên... Chính bài Tin Mừng hôm nay giải thích cho chúng ta cặn kẻ về nguồn hạnh phúc thật từ đâu mà có, và muốn giữ được hạnh phúc, ta phải làm gì. Lời Chúa dạy hầu như hoàn toàn ngược lại: đừng lo cho mạng sống mình không có của ăn của mặc, chim trời và hoa huệ ngoài đồng Chúa còn lo cho chúng huống chi là con người - trước hết hãy lo tìm Nước Thiên Chúa, có nghĩa trước tiên hãy nghe và thực hành Lời Chúa, sống như Chúa Kitô đã sống; mọi sự khác Chúa sẽ lo cho ta sau... Sở dĩ người ta hay còn chạy theo hủ tục, mê tín dị đoan, kiêng kỵ tầm phào, chính là vì đức tin của ta còn quá kém,hiểu biết Lời chúa của ta quá nông cạn. Lịch sử Hội thánh qua 20 tk, chính các thánh đã là những tấm gương tin và thực hành Lời Chúa....
c. Gợi ý sống và chia sẻ:
* Là người Kitô hữu, là con Thiên Chúa những ngày tết năm nay ta có sẳn sàng loại bỏ những hủ tục, những kiêng kỵ vớ vẫn để tin vào một mình Thiên Chúa, vào sự quan phòng của Người không?
* Chúa nói: ai trong anh em có thể nhờ lo lắng mà kéo dài đời mình thêm dù chỉ một gang một tấc không? Là Kitô hữu chúng ta hiểu rõ câu nói này lắm, ta có tin vững vàng nơi Chúa Giêsu không?

 

Tết 1_107: LỄ TÂN NIÊN -  CẦU BÌNH AN CHO NĂM MỚI

MỒNG MỘT TẾT KỶ HỢI
(05/02/2019)
 [St 1,14-18; Pl 4, 4-8; Mt 6, 25-34]
. DẪN VÀO PHỤNG VỤ
 

Năm Mới bao giờ cũng đem lại Niềm Vui và Hy Vọng cho mọi người. Vui và Hy Vọng về sức khỏe Tết 1_107:

Năm Mới bao giờ cũng đem lại Niềm Vui và Hy Vọng cho mọi người. Vui và Hy Vọng về sức khỏe, về công ăn việc làm, về điều kiện sống và phục vụ của mình và của những người thân trong gia đình. Vui và Hy Vọng về sự phát triển của đất nước, về tự do và phẩm giá của người dân được tôn trọng nhiều hơn.
Nhưng với các Ki-tô hữu thì Niềm Vui và Hy Vọng của Năm Mới còn có một ý nghĩa thâm sâu và linh thiêng vì đó là Niềm Vui và Hy Vọng nơi/trong Thiên Chúa là Đấng chẳng những đã dựng nên đất trời và thời gian mà còn chăm lo cho công trình tạo dựng của Người bằng sự Quan Phòng đầy yêu thương và quyền năng. 
Các bài Sách Thánh Giáo Hội cho chúng ta đọc trong Lễ Tân Niên hôm nay mời gọi chúng ta tin tưởng và cậy trông vào Thiên Chúa.   

II. LẮNG NGHE LỜI CHÚA TRONG BA BÀI THÁNH KINH
2.1 Trong bài đọc 1 (St 1,14-18):  Thiên Chúa thấy thế là tốt đẹp
14  Thiên Chúa phán : "Phải có những vầng sáng trên vòm trời, để phân rẽ ngày với đêm, để làm dấu chỉ xác định các đại lễ, ngày và năm. 15  Đó sẽ là những vầng sáng trên vòm trời để chiếu soi mặt đất." Liền có như vậy. 16 Thiên Chúa làm ra hai vầng sáng lớn : vầng sáng lớn hơn để điều khiển ngày, vầng sáng nhỏ hơn để điều khiển đêm ; Người cũng làm ra các ngôi sao. 17 Thiên Chúa đặt các vầng sáng trên vòm trời để chiếu soi mặt đất, 18  để điều khiển ngày và đêm, và để phân rẽ ánh sáng với bóng tối. Thiên Chúa thấy thế là tốt đẹp.  
2..2 Trong bài đọc 2 (Pl 4, 4-8): Anh em hãy vui luôn trong niềm vui của Chúa 4 Anh em hãy vui luôn trong niềm vui của Chúa. Tôi nhắc lại : vui lên anh em!  5 Sao cho mọi người thấy anh em sống hiền hoà rộng rãi, Chúa đã gần đến. 6 Anh em đừng lo lắng gì cả. Nhưng trong mọi hoàn cảnh, anh em cứ đem lời cầu khẩn, van xin và tạ ơn, mà giãi bày trước mặt Thiên Chúa những điều anh em thỉnh nguyện.  7 Và bình an của Thiên Chúa, bình an vượt lên trên mọi hiểu biết, sẽ giữ cho lòng trí anh em được kết hợp với Đức Ki-tô Giê-su. 8 Ngoài ra, thưa anh em, những gì là chân thật, cao quý, những gì là chính trực tinh tuyền, những gì là đáng mến và đem lại danh thơm tiếng tốt, những gì là đức hạnh, đáng khen, thì xin anh em hãy để ý.  
2.3 Trong bài Tin Mừng (Mt 6, 25-34): Tin tưởng vào Chúa quan phòng 25 "Vì vậy Thầy bảo cho anh em biết: đừng lo cho mạng sống : lấy gì mà ăn; cũng đừng lo cho thân thể: lấy gì mà mặc. Mạng sống chẳng trọng hơn của ăn, và thân thể chẳng trọng hơn áo mặc sao? 26 Hãy xem chim trời: chúng không gieo, không gặt, không thu tích vào kho; thế mà Cha anh em trên trời vẫn nuôi chúng. Anh em lại chẳng quý giá hơn chúng sao? 27 Hỏi có ai trong anh em, nhờ lo lắng, mà kéo dài đời mình thêm được dù chỉ một gang tay? 28 Còn về áo mặc cũng thế, lo lắng làm gì ? Hãy ngắm xem hoa huệ ngoài đồng mọc lên thế nào mà rút ra bài học: chúng không làm lụng, không kéo sợi; 29 thế mà, Thầy bảo cho anh em biết: ngay cả vua Sa-lô-môn, dù vinh hoa tột bậc, cũng không mặc đẹp bằng một bông hoa ấy. 30 Vậy nếu hoa cỏ ngoài đồng, nay còn, mai đã quẳng vào lò, mà Thiên Chúa còn mặc đẹp cho như thế, thì huống hồ là anh em, ôi những kẻ kém tin!  31 Vì thế, anh em đừng lo lắng tự hỏi: ta sẽ ăn gì, uống gì, hay mặc gì đây? 32 Tất cả những thứ đó, dân ngoại vẫn tìm kiếm. Cha anh em trên trời thừa biết anh em cần tất cả những thứ đó.  33 Trước hết hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Người, còn tất cả những thứ kia, Người sẽ thêm cho. 34 Vậy, anh em đừng lo lắng về ngày mai: ngày mai, cứ để ngày mai lo. Ngày nào có cái khổ của ngày ấy.

III. KHÁM PHÁ DUNG MẠO CỦA THIÊN CHÚA VÀ SỨ ĐIỆP  CỦA LỜI CHÚA TRONG BA BÀI THÁNH KINH
3.1 Dung mạo Thiên Chúa (Thiên Chúa là Đấng nào?)    
3.1.1 Bài đọc 1 (St 1,14-18): là một phần trong tường thuật tạo dựng trong Sách Sáng Thế, liên quan tới việc mặt trời mặt trăng và ánh sáng được Thiên Chúa dựng nên cho vũ trụ và cho con người. Ánh sáng và mặt trời mặt trăng và các tinh tú đều là những sản phẩm tốt đẹp..
3.1.2 Bài đọc 2 (Pl 4, 4-8): là một đoạn trong thư của Thánh Phao-lô gửi giáo đoàn Phi-líp-phê, trong đó Thánh Tông Đồ khuyến khích các Ki-tô hữu Phi-líp-phê sống trong niềm vui và yêu chuộng những điều thanh cao, thánh thiện.
3.1.3 Bài Tin Mừng (Mt 6, 25-34): là một trong những đoạn văn hay nhất của Sách Tin Mừng theo Thánh Mát-thêu, trong đó Chúa Giê-su giảng dậy về sự Quan Phòng  kỳ diệu của Thiên Chúa và khuyên các tín hữu tìm kiếm Nước Thiên Chúa và Đức Công Chính và hoàn toàn cậy trông, phó thác vào Thiên Chúa.
3.2 Sứ điệp Lời Chúa (Thiên Chúa muốn chúng ta làm gì?)    
là  “Đừng lo cho mạng sống: lấy gì mà ăn; cũng đừng lo cho thân thể: lấy gì mà mặc”
vì  “Cha anh em trên trời thừa biết anh em cần tất cả những thứ đó.”
Nên “Trước hết hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Người, còn tất cả những thứ kia, Người sẽ thêm cho.”

IV. SỐNG VỚI THIÊN CHÚA VÀ THỰC THI SỨ ĐIỆP CỦA NGƯỜI
4.1 Sống với Thiên Chúa Cha là Đấng Tạo Đựng vũ trụ vạn vật và loài người trong đỏ có mặt trời mặt trăng và ánh sáng. Công trình ấy tốt đẹp và kỳ diệu đáng chúng ta dâng lời chúc tụng ngợi khen. Thiên Chúa còn chăm lo, săn sóc mọi loài mọi vật và loài người qua sự Quan Phòng đầy quyền năng và tình thương, nên chúng ta có thể cậy trông phó thác trọn vẹn cuộc đời mình cho Thiên Chúa.
4.2 Thực thi sứ điệp Lời Chúa 
Để thực thi sứ điệp Lời Chúa hôm nay, tôi tự kiểm điểm xem mỗi ngày tôi có thường xuyên
- dâng lời chúc tụng ngợi khen Thiên Chúa Tạo Dựng không?
- dâng lời cảm tạ Thiên Chúa Quan Phòng và trông cậy phó thác cuộc đời tôi cho Người không?

V. CẦU NGUYỆN CHO LOÀI NGƯỜI VÀ HỘI THÁNH
5.1 “Thiên Chúa làm ra hai vầng sáng lớn: vầng sáng lớn hơn để điều khiển ngày, vầng sáng nhỏ hơn để điều khiển đêm; Người cũng làm ra các ngôi sao. Thiên Chúa đặt các vầng sáng trên vòm trời để chiếu soi mặt đất, để điều khiển ngày và đêm, và để phân rẽ ánh sáng với bóng tối. Thiên Chúa thấy thế là tốt đẹp.” Chúng ta hãy cầu xin Chúa cho thế giới và loài người hôm nay để mọi người, mọi dân biết cảm tạ, ngợi khen và chúc tụng Thiên Chúa là Đấng đã dựng nên mặt trời mặt trăng, ánh sáng và muôn vật muôn loài.
Xướng: Chúng ta hãy cầu xin Chúa.  Đáp: Xin Chúa nhậm lời chúng con! 
 
5.2 “Thưa anh em, anh em hãy vui luôn trong niềm vui của Chúa. Tôi nhắc lại: vui lên anh em!” Chúng ta hãy cầu xin Chúa cho Hội Thánh Công giáo khắp năm châu, cách riêng cho Đức Thánh Cha Phan-xi-cô, cho các Hồng Y, Giám Mục, Linh Mục, Tu Sĩ Nam Nữ và Giáo Dân để mọi Ki-tô hữu được hưởng Niềm Vui của những ngày Xuân Kỷ Hợi và có được một Năm Mới tràn đầy Phúc Lộc của Chúa!
Xướng: Chúng ta hãy cầu xin Chúa. Đáp: Xin Chúa nhậm lời chúng con! 
5.3 “Trước hết hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Người, còn tất cả những thứ kia, Người sẽ thêm cho.”  Chúng ta hãy cầu xin Chúa cho mọi Ki-tô hữu thuộc giáo xứ chúng ta, để ai nấy biết ưu tiên tìm kiếm Nước Thiên Chúa và Đức Công Chính trong Năm Kỷ Hợi vừa bắt đầu.
Xướng: Chúng ta hãy cầu xin Chúa. Đáp: Xin Chúa nhậm lời chúng con! 
5.4 “Cha anh em trên trời thừa biết anh em cần tất cả những thứ đó.” Chúng ta hãy cầu xin Chúa cho những người nghèo, những người thiếu ăn, thiếu mặc, thiếu thuốc uống, thiếu trường học, để họ được ơn tin tưởng phó thác trọn vẹn vào Thiên Chúa là Đấng Quan Phòng và là Cha yêu thương của mọi người!
Xướng: Chúng ta hãy cầu xin Chúa.  Đáp: Xin Chúa nhậm lời chúng con! 
Sài-gòn ngày 31 tháng 01 năm 2019
Giêrônimô Nguyễn Văn Nội.

 

Tết 1_108: TIẾNG GÀ GÁY

Năm mới Đinh Dậu 2017, năm Con Gà đã cận kề. Con Gà Trống từ lâu đời đã hiện diện trong nhiều Tết 1_108  Ephata

Năm mới Đinh Dậu 2017, năm Con Gà đã cận kề. Con Gà Trống từ lâu đời đã hiện diện trong nhiều nền văn hoá Đông Tây. Hình ảnh Gà Trống được văn chương thi phú nhắc đến nhiều.
Trên nhiều ngọn tháp Nhà Thờ, ngoài Thánh Giá, còn có tượng chú gà trống bằng đồng hay sắt thép. Ở Châu Âu biểu tượng này khá phổ biến nhưng ở Việt Nam có vài Nhà Thờ cổ xây dựng theo kiến trúc Tây Phương và có chú gà trống trên tháp cao. Được nhiều người biết đến nhất và gắn với cái tên Nhà thờ Con Gà là Nhà Thờ Chính Toà Đà Lạt và Nhà thờ Chính toà Đà nẵng.
Nhà Thờ Chính Toà Đà Lạt là một trong những công trình mang dấu ấn kiến trúc Phương Tây kết hợp kiến trúc của đồng bào dân tộc vùng Tây Nguyên. Với vẻ đẹp cổ kính, Nhà Thờ con gà Đà Lạt tạo cho du khách một ấn tượng đặc biệt về kiến trúc và sự hoành tráng hiếm thấy trên cao nguyên. Năm 1931, Linh Mục Céleste Nicolas, cha sở Đà Lạt thời đó, khi xây cất Nhà Thờ kéo dài 11 năm, ngài đã cho gắn trên chóp đỉnh Thánh Giá tháp chuông một con gà trống được đúc bằng đồng, dài 66cm, cao 58cm. Con gà này có thể quay quanh một trục, để người ta biết gió thổi hướng nào.
Nhà Thờ Chính Toà Đà nẵng có kiến trúc theo kiểu Gothique với những đường nét cao vút, những vòng cửa quả trảm. Nhà Thờ hiện nay được xây dựng trong khoảng thời gian từ tháng 2.1923 đến tháng 9.1924, do Linh Mục Louis Vallet chủ công xây dựng và phác thảo phối cảnh tổng thể, trên khoảng đất trống đường Rue du Musée ( nay là đường Trần Phú ).Trên nóc Nhà Thờ có biểu tượng con gà màu xám. Cột thu lôi, đế bầu tròn đỡ con gà và chữ thập chỉ bốn hướng Đông-Tây-Nam-Bắc, sau nhiều năm đã được sửa chữa, thay mới vài lần. Con gà xoay theo hướng gió nên người dân bản xứ kháo nhau rằng đây là đài dự báo thời tiết rất hiện đại, quay chiều nào là gió mưa, chiều nào là nắng tạnh, họ nắm hết.
Theo các Linh Mục sở tại, tượng chú gà trống trên đỉnh tháp Nhà Thờ mang ba ý nghĩa:
Chú gà đánh thức: ngày xưa khi chưa có đồng hồ báo thức chỉ giờ, nhất là ở miền thôn quê, người dân nghe tiếng gà gáy biết được giờ thức dậy đi lễ, đi làm…
Chú gà báo tin: Chú là “người” đầu tiên tiếp cận ánh sáng mặt trời để lên tiếng gáy báo tin đêm đen đã qua và ngày đang đến. Chú mang biểu tượng của “người báo tin” Chúa Giêsu sống lại, đưa con người từ bóng tối tội lỗi đi vào ánh sáng.
Chú gà nhắc bảo: ngày xưa trong sân xứ án Chúa Giêsu, chú gà trống đã gáy lúc canh ba, thức tỉnh lương tâm và lòng tin của ông Phêrô ( x. Mt 26, 34.75 ). ngày nay tiếng gà gáy cũng nhắc bảo chúng ta như thế. ( x. Năm Gà, Trần Thăng tổng hợp, Nhịp sống Tin Mừng, số 01.2017 ).
Dù không được gọi là Nhà Thờ Con Gà nhưng một số Nhà Thờ ở Việt Nam cũng có con gà trên ngọn tháp cao, có thể xem là những dấu tích của quá khứ. Đó là Nhà Thờ đá Bảo Nham ( Yên Thành – Nghệ An ), Nhà Thờ Huyên Sĩ và Nhà Thờ Xóm Chiếu ở Sàigòn cũng có biểu tượng chú gà trống trên tháp chuông. ( x. Con gà trên tháp Nhà Thờ, CG và DT, Xuân Đinh dậu, tr. 24-26 ).
Có lẽ khi vẽ bản thiết kế Nhà Thờ, đặt con gà trống trên đỉnh tháp chuông cao vút, các kiến trúc sư muốn nhắc đến tiếng gà gáy cảnh tỉnh Thánh Phêrô trong Phúc Âm.
Khi Thánh Phêrô chối Chúa ba lần thì gà gáy. Tiếng gà gáy đã giúp Thánh Phêrô thức tỉnh và sám hối về sự bất trung đối với Thầy. Cả bốn sách Phúc Âm đều tường thuật về tiếng gà gáy cảnh tỉnh Phêrô.
Mt 26, 34-35: Đức Giêsu bảo ông: "Thầy bảo thật anh: nội đêm nay, gà chưa kịp gáy, thì anh đã chối Thầy ba lần." Ông Phêrô lại nói: "Dầu có phải chết với Thầy, con cũng không chối Thầy." Tất cả các môn đệ cũng đều nói như vậy.
Mc 14, 30-31: Đức Giêsu nói với ông: "Thầy bảo thật anh: hôm nay, nội đêm nay, gà chưa kịp gáy hai lần, thì chính anh, anh đã chối Thầy đến ba lần". Nhưng ông Phêrô lại nói quả quyết hơn: "Dầu có phải chết với Thầy, con cũng không chối Thầy."
Lc 22, 34: Đức Giêsu lại nói: "Này anh Phêrô, Thầy bảo cho anh biết, hôm nay gà chưa kịp gáy, thì đã ba lần anh chối là không biết Thầy."
Ga 13, 38: Đức Giêsu đáp: "Anh sẽ thí mạng vì Thầy ư ? Thật, Thầy bảo thật cho anh biết: gà chưa gáy, anh đã chối Thầy ba lần.
Ðúng như lời Thầy đã cảnh báo, Phêrô đã run rẩy trước những tên đầy tớ vô danh tiểu tốt và mau mắn chối từ Thầy.
Mt 26, 74-75: Bấy giờ ông Phêrô liền thề độc mà quả quyết rằng: "Tôi thề là không biết người ấy." Ngay lúc đó, có tiếng gà gáy. Ông Phêrô sực nhớ lời Đức Giêsu đã nói: "Gà chưa kịp gáy thì anh đã chối Thầy ba lần." Ông ra ngoài, khóc lóc thảm thiết.
Mc 14, 71-72:  Nhưng ông Phêrô liền thốt lên những lời độc địa và thề rằng: "Tôi thề là không có biết người các ông nói đó! ". Ngay lúc đó, gà gáy lần thứ hai. Ông Phêrô sực nhớ điều Đức Giêsu đã nói với mình: "Gà chưa kịp gáy hai lần, thì anh đã chối Thầy đến ba lần." Thế là ông oà lên khóc.
Lc 22, 60-63: Ngay lúc ông còn đang nói, thì gà gáy. Chúa quay lại nhìn ông, ông sực nhớ lời Chúa đã bảo ông: "Hôm nay, gà chưa kịp gáy, thì anh đã chối Thầy ba lần." Và ông ra ngoài, khóc lóc thảm thiết.
Ga 18, 28: Một lần nữa ông Phêrô lại chối, và ngay lúc ấy gà liền gáy.
Tiếng gà gáy đã thức tỉnh Phêrô. Phúc âm cho biết, Ngài đã khóc lóc thảm thiết và ăn năn thống hối suốt cuộc đời.
Cách các Thánh Matthêu, Luca và Gioan kể lại đều giống nhau ở chi tiết này: có tiếng gà gáy, sau ba lần chối. Nhưng Thánh Luca thêm một chi tiết thú vị: ông đang chối lần ba, thì gà gáy. Thánh Maccô kể lại hơi khác một chút: sau lần chối thứ nhất, gà gáy; sau lần chối thứ hai và thứ ba, gà gáy lần nữa.
Đức Giêsu đã nói với ông Phêrô: “Nội đêm nay, gà chưa kịp gáy, thì anh đã chối Thầy 3 lần”, ngay trong đêm Đức Giêsu bị bắt, trước khi trời sáng. Như thế, bối cảnh “chối Thầy” là những hình ảnh thiên nhiên mang đầy ý nghĩa: hành động từ chối tương quan thuộc về xảy ra rất mau; và đó là hành động thuộc về ban đêm, thuộc về đêm tối, trước khi trời sáng; thế mà ánh sáng là biểu tượng của sự sống và tương quan thuộc về ánh sáng Đức Kitô.
Tiếng gà gáy báo cho người ta thức dậy, sau giấc ngủ. Hành động từ chối thuộc về Thầy của mình, đến ba lần, đủ nhiều để chúng ta hiểu đó là một giấc ngủ, và là một giấc ngủ mê. Tiếng gà gáy đánh thức ông Phêrô. Tuy nhiên, tiếng gà gáy, xét như hiện tượng tự nhiên vẫn chưa đủ. Bởi vì, sau tiếng gà gáy, ông nhớ lại lời Đức Giêsu. Đi đôi với hiện tượng thiên nhiên, cần phải có Lời Chúa nữa. Ông Phêrô nhớ lại lời Chúa đã nói với mình. Đó là chìa khoá của hoán cải. Chúa là Tình Yêu, và trong Tình Yêu không có chỗ cho việc chối từ sự trở về, mà chỉ có đón nhận mà thôi.
Bản văn của Tin Mừng theo Thánh Luca, còn nói đến một chi tiết rất đánh động: Chúa quay lại nhìn ông ( Lc 22, 61 ). Như vậy Phêrô chối Thầy trong tầm nhìn của chính Thầy. Sau khi chối Thầy lần thứ ba, từ trên pháp đình Chúa nhìn xuống Phêrô. Ánh mắt Thầy vẫn trìu mến thân thương như gởi đến ông sứ điệp: Phêrô, sao con lại chối Ta. Ơn nghĩa Thầy trò ba năm gắn bó chẳng lẽ không còn một chút vương vấn hay sao ? Lại thêm tiếng gà gáy đêm khuya, nhắc nhở lương tâm ông tỉnh ngộ và nhớ lại lời Thầy đã tiên báo: "Trước khi gà gáy, con đã chối Ta ba lần". Phêrô lầm lũi ra khỏi pháp đình, nước mắt tuôn trào, tâm hồn trĩu nặng, cõi lòng xốn xang, mình chỉ là cát bụi, phận yếu hèn và quá dễ sa ngã ! Phêrô thổn thức. Mới hôm nào ông còn tuyên bố: "Dù mọi người bỏ Thầy, riêng con thì không bao giờ". Thế mà, giờ đây ông lại nhát gan khi đối diện nguy nan nên đã chối Thầy đến ba lần. Và đêm hôm ấy, tiếng gà gáy đã thức tỉnh tâm hồn Phêrô.
Xuất thân là ngư phủ với bản tính chất phác, chân thật, có sao nói vậy, nên khi lầm lỗi, ngài chân thành sám hối và òa khóc như một đứa trẻ. Đó là hành trình của phàm nhân, những con người luôn mỏng dòn và yếu đuối, nhưng luôn được Thiên Chúa hải hà thương xót, thứ tha và thánh hóa. Đời ông là giằng co giữa yếu đuối và dũng mãnh, giữa trọn vẹn và dang dở. Trái tim ông có u tối đi tìm ánh sáng, có nuối tiếc đi tìm lý tưởng. Đời ông có tự tin gặp vấp ngã, có phấn đấu gặp thất bại. Tuy nhiên, Thánh Phêrô có nhiều đức tính đáng nể phục. Chính những đức tính sáng chói này sẽ làm lu mờ đi những cái tầm thường nơi con người của ngài. Nhờ đó, ngài đã xứng đáng với sự tín nhiệm của Chúa.
Thánh Phêrô có lòng quảng đại. Khi được Chúa gọi, ông nhanh nhẹn bỏ tất cả mọi sự rồi theo Chúa. Thánh Phêrô có một đức tin chân thành và lòng gắn bó keo sơn với Chúa: "Lạy thầy, bỏ Thầy chúng con biết theo ai vì Thầy có lời ban sự sống đời đời”. Đức tính đáng cảm phục nhất chính là lòng khiêm nhường. Đó là nhân đức nền tảng của mọi nhân đức. Khiêm nhường là mẹ các nhân đức. Rõ ràng, trong trái tim Phêrô lúc nào cũng yêu Chúa. Ngay cả khi Chúa bảo Phêrô là Satan thì ngài cũng không giận Chúa. Chỉ vì sự sợ hãi yếu đuối mà chối Thầy, chứ trong tâm hồn lúc nào Phêrô cũng yêu mến Chúa.
Không phải Phêrô yếu đuối vấp ngã mà Chúa bỏ rơi, chính tình yêu chân thành trong tâm hồn Phêrô mà Chúa đã yêu thương chọn làm Tảng Đá. Lòng mến chân thành chính là sự thánh thiện. Chúa đã từng cho Phêrô thất bại, suốt đêm không bắt được con cá nào để sáng hôm sau ngài thấy quyền năng của Chúa. Chúa đã từng cho Phêrô chìm xuống mặt nước để ngài có dịp chứng nghiệm đức tin yếu kém của mình và trông cậy vào quyền năng của Chúa. Chúa cho ngài sa ngã, chối Chúa ba lần để ngài càng thấy rõ sự yếu hèn của bản thân.
Sau khi sống lại, Chúa hỏi: “Phêrô, con có yêu mến Thầy hơn những người này không ?” Phêrô xúc động tận đáy lòng.Từ đó ngài đã cảm nghiệm huyền nhiệm tình yêu Chúa dành cho mình nên đã viết cho đoàn chiên: “Anh em hãy sống thánh thiện trong cách ăn nết ở, để nên giống Đấng Thánh đã kêu gọi anh em” ( 1Pr 1, 15 ); “Anh em là giống nòi được tuyển chọn, là hàng tư tế vương giả, là dân thánh, dân riêng của Thiên Chúa, để loan truyền những kỳ công của Người, Đấng đã gọi anh em ra khỏi miền u tối, vào nơi đầy ánh sáng diệu huyền” ( 1Pr 2, 9 ).
Từ thế kỷ IX, con gà bắt đầu được đặt lên tháp chuông Nhà Thờ và Nhà Thờ cổ nhất có biểu tượng này hiện ở thành phố Brescia, miền bắc Ý. Đức Giáo Hoàng Lêô IV ( qua đời năm 855 ) quyết định mỗi Thánh Đường sẽ đặt sẽ đặt con gà trống lên trên chong chóng chỉ chiều gió ở tháp chuông “để đánh thức những ai còn ngủ say”.
Xuân Đinh Dậu đang về trên muôn lối. Năm Con Gà đang mở ra nhiều triển vọng tốt lành, báo trước những điều thuận lợi. Mỗi sáng sớm, con gà trống cất tiếng gáy vang trong trẻo, đúng giờ đúng canh. Tiếng gà gáy gợi nhớ Thánh Phêrô tỉnh thức sám hối. Xin Chúa giúp mỗi người chúng ta suốt năm nay luôn biết tỉnh thức và “sống thánh thiện trong cách ăn nết ở, để nên giống Đấng Thánh”.
Lm. Giuse NGUYỄN HỮU AN

 

Tết 1_109: LỘC LỜI CHÚA ( LỄ MỒNG MỘT TẾT )

Từ hái lộc ngày xuân trong xã hội
 

Hái lộc ngày xuân là một trong những phong tục ngày Tết ở Việt Nam. Vào lúc giao thừa và Tết 1_109

Hái lộc ngày xuân là một trong những phong tục ngày Tết ở Việt Nam. Vào lúc giao thừa và trong ngày Tết, dân chúng có tục lệ đi hái lộc xuân. Họ thường đến đình chùa, miếu làng để xin lộc xin ơn, cầu phúc cầu tài.
Lộc có hai nghĩa: là nhánh cây non, như người ta thường nói: cây nẩy lộc. Lộc cũng có nghĩa là bổng lộc, phúc lộc của trời, của thiên nhiên ban không cho.
Vì là một mầm non vừa nhú ra từ thân cây, từ kẽ lá, hoặc một nhánh cây non, nên lộc tượng trưng cho một sức sống vừa phát sinh và sẽ phát triển mạnh mẽ, hứa hẹn một tương lai sáng lạng đang chờ ở phía trước. Vào thời điểm đầu xuân, những mầm non như vậy không có nhiều, nên trong thực tế người ta bẻ những nhánh cây non đem về treo trước nhà hoặc chưng trên bàn thờ với hy vọng rước được sức sống mới về nhà, đồng thời cũng cầu mong đem được phúc lộc về cho gia đình. Truyền thống tin vào sức sống của thiên nhiên, tin vào ơn trời tự nó là điều tốt.
Đến hái lộc Lời Chúa trong các Nhà Thờ
Đối với người Công giáo “hái lộc xuân” là “hái lộc thánh”. Ngày Mồng Một Tết, ngày linh thiêng nhất trong năm, ngày cầu bình an cho năm mới. Mỗi xứ đạo đều tổ chức hái lộc đầu xuân.
Lộc Thánh là những câu Lời Chúa được tuyển chọn trong Thánh Kinh. Lộc được treo trên những nhánh mai vàng rực rỡ đặt trên Cung Thánh. Sau bài giảng, Cha chủ tế hái Lộc Thánh Đầu Xuân rồi đến các Tu Sĩ nam nữ. Lần lượt Hội Đồng Mục Vụ, các đoàn thể, đại diện gia đình lên hái Lộc.
Sau Thánh Lễ, mọi người ra về mang theo niềm vui và hạnh phúc, bình an và Ơn Thánh. Gia đình sum họp trước Bàn Thờ đọc kinh nguyện, dâng một năm mới lên Chúa và Đức Me. Người cha hoặc mẹ trịnh trọng mở Lộc Thánh đọc cho cả nhà nghe. Mỗi Lộc thích hợp với từng gia đình. Lộc Thánh được đặt trang trọng trên bàn thờ, dưới chân thập giá. Câu chuyện ngày Tết đi thăm nhau thường hàn huyên về Lộc Lời Chúa mỗi nhà.
Lời Chúa dạy có thể xếp thành nhiều loại.
a. Loại tích cực:
- Hãy đi rao giảng Tin Mừng khắp thế gian ( Mc 16, 15 )
- Như Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai các con. Các con hãy nhận lấy Thánh Thần ( Ga 20, 24 )
b. Loại tiêu cực:
- Khốn cho các ngươi, hỡi những kẻ bây giờ đang được no nê, vì các ngươi sẽ phải đói ( Lc 6, 25 )
- Ai vả má bên này, thì hãy giơ cả má bên kia nữa ( Lc 6, 29 )
c. Loại pha cả tích cực và tiêu cực:
- Phúc cho ai có tinh thần nghèo khó vì Nước Trời là của họ ( Mt 5, 3 )
- Vì danh Thầy các con sẽ bị mọi người ghen ghét, nhưng ai bền đỗ đến cùng, kẻ ấy sẽ được cứu độ ( Mt 10, 22 )
Trên nguyên tắc: đã là Lời Chúa thì lời nào cũng soi sáng hướng dẫn và nuôi dưỡng con người, có lời khuyên bảo, có lời răn đe, có lời hứa hẹn với điều kiện… và tất nhiên nếu muốn sống theo Lời Chúa cũng đòi hỏi rất nhiều hy sinh.
Người Công Giáo, dù vẫn phải biết tiên liệu mọi công việc với tất cả tinh thần trách nhiệm, cũng phải luôn biết tin tưởng phó thác trong tay Chúa Quan Phòng về tất cả những gì liên quan tới tương lai, tránh mọi thứ tò mò không lành mạnh về vấn đề này ( x. GLHTCG số 2115 ).
Khi hái lộc Lời Chúa, người Công Giáo không nhằm cầu may hay để tìm biết tương lai hậu vận… nhưng là để chọn cho mình và cho cả gia đình mình một trong nhiều Lời Chúa, để cả gia đình thực hành cách đặc biệt trong suốt năm. Trong khi chồi lộc cây cối đem lại cho người hái hình ảnh một sức sống phát sinh và đang phát triển, thì lộc Lời Chúa lại đi lên tới chính Đấng “nhờ Người mà muôn vật được tạo thành”, vì Lời Người “là ngọn đèn soi cho chúng ta bước, là ánh sáng chỉ đường cho ta đi” ( x. Tv 118, 105 ); “Lời Chúa là sức thiêng cứu rỗi mọi tín hữu” ( Mc 17 ); “bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai? Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời đời” ( Ga 6, 68 ). “Trong lời Thiên Chúa, có năng lực lớn lao có thể nâng đỡ và ban sinh lực cho Hội Thánh, còn đối với con cái Hội Thánh thì thành sức mạnh cho đức tin, lương thực cho linh hồn, nguồn sống tinh tuyền và trường tồn cho đời sống thiêng liêng” ( MK 21, trích dẫn trong GLHTCG số 114 ).
Nhận định như trên, thì dù Lời Chúa khuyên bảo hay răn đe, dù diễn tả dưới hình thức tích cực hay tiêu cực, tất cả đều đem lại ánh sáng và sự sống cho con người. Tuy nhiên, trong thực tế, vào thời điểm đầu năm, tâm lý chung của con người là chỉ muốn nghe những điều tích cực, những điều đem lại niềm vui và hạnh phúc. Vì thế nên nhiều khi có những trường hợp xảy ra là: người bắt được câu không vừa ý thì len lén treo lại và hái câu khác, hoặc đem về giấu đi để khi đi lễ chiều hái câu khác.
Rút kinh nghiệm này, nhiều cha quản xứ, khi soạn các câu lộc Lời Chúa, đã chỉ chọn những câu tích cực, để khi rút được ai cũng bằng lòng, và tình trạng đổi lại hoặc giấu giếm không xảy ra nữa. Như vậy xem ra đã giải quyết được một phần vấn đề. Phần vấn đề còn lại là làm cách nào để cũng áp dụng những Lời Chúa mà nhiều người cho là chói tai ? Vì có lúc Chúa sẽ hỏi: “Thế còn những câu sau đây, sẽ chẳng có ai thi hành áp dụng sao ? – “Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo” ( Lc 9, 23 ); “Vì danh Thầy anh em sẽ bị mọi người thù ghét. Nhưng ai bền chí đến cùng, kẻ ấy sẽ được cứu thoát” ( Mt 10, 22 ).
Có cha xứ đã trả lời: “Vào những thời điểm Phụng Vụ thích hợp, như Mùa Chay, Tuần Thánh… con sẽ giải thích cho dân chúng để họ vui lòng chấp nhận những giáo huấn khác của Tin Mừng đòi hỏi nhiều hy sinh”. Có lẽ Chúa sẽ trả lời: ‘cũng tạm được thôi, nhưng…” Nhưng cách tốt nhất vẫn là giải thích và chuẩn bị tinh thần Giáo Dân trước để ngay từ ngày đầu xuân, họ có thể đón nhận đầy đủ giáo huấn của Chúa Giêsu, những điều dễ đón nhận cũng như những điều xem ra chướng tai ( Ga 6, 60 ). Như lời Thánh Phaolô: “Hãy rao giảng Lời Chúa, hãy lên tiếng, lúc thuận tiện cũng như lúc không thuận tiện, hãy biện bác, ngăm đe, khuyên nhủ, với tất cả lòng nhẫn nại và chủ tâm dạy dỗ” ( 2Tm 4, 2 ). ( Gm. Phaolô Nguyễn Văn Hòa, VietCatholic News 1.2.2011 ).
Chúa là Lộc Đầu Xuân của mỗi gia đình
Lời Thánh Vịnh 27 nói lên niềm cậy trông: “Tôi vững vàng tin tưởng, sẽ được thấy ân lộc Chúa ban trong cõi đất dành cho kẻ sống. Hãy cậy trông vào Chúa, mạnh bạo lên, can đảm lên nào ! Hãy cậy trông vào Chúa”. Vững vàng tin tưởng và cậy trông vì người Kitô hữu xác tín vào Lời Chúa Giêsu dạy: “Các con cứ xin thì sẽ được, cứ tìm thì sẽ thấy, cứ gõ thì sẽ mở cho” ( Mt 7, 7 ).
Không phải bây giờ người ta mới hái lộc. Từ ngàn xưa, thửơ địa đàng đã có chuyện người con gái đi hái lộc đầu xuân rồi. Ngày khai sinh vũ trụ đã được sách Sáng Thế kể lại: “Trời đất trống không mông quạnh và tối tăm bao phủ, Thiên Chúa phán: Hãy có ánh sáng. Và đã có ánh sáng. Thiên Chúa thấy ánh sáng thật là tốt lành. Thiên Chúa phán: Đất hãy xanh um thảo mộc tươi tốt. Và đã xảy ra như vậy. Đất lên màu xanh. Cây có quả đã sinh quả. Cây có hoa đã nở hoa. Thiên Chúa thấy màu xanh thật tốt lành. Thiên Chúa đã làm hai cái đèn, cái lớn cai quản ban ngày, cái nhỏ cai quản ban đêm. Thêm vào Ngài trang điểm bầu trời bằng các sao. Thiên Chúa thấy thế thật tốt lành” ( St 1, 1-4 ).
Đó là ngày Tết đầu tiên của nhân loại. Nhạc sĩ Trầm Hương rất thi vị trong bài ca “Bước chân người hái lộc trường sinh”: vũ trụ chào đời, mùa xuân về theo gió, nắng phủ cho rừng lá xanh, muôn hoa xinh tươi vẫy gọi. Thiên Chúa chúc lành trao quyền làm chủ muôn loài cho Nguyên Tổ với một điều kiện duy nhất là phải tuân phục: “Mọi cây trong vườn ngươi đều được ăn. Nhưng cây ”sự biết tốt xấu” ngươi không được ăn, vì chưng ngày nào ngươi ăn nó, tất ngươi phải chết” ( St 2, 16-17 ). Ađam, Evà phơi phới trong hạnh phúc mùa xuân địa đàng.
Thế rồi một hôm, Evà đi dạo một mình trong vườn Eđen, ngang qua cây biết lành biết dữ. Bước chân Evà rạo rực đi hái lộc trường sinh nhưng xui xẻo gặp phải Xatan quyến rũ. Lời Xatan đường mật: Evà, Evà ơi, cô có muốn giữ mãi nhan sắc tuyệt vời này không ? hay cô có muốn bằng Đức Chúa Trời không ?
Evà phản kháng: không dám đâu, không dám đâu, đừng dụ dỗ tôi, Thiên Chúa đã dặn kỹ lắm rồi. Sau một hồi đôi co lý sự, con rắn ngọt ngào: ”Chẳng chết chóc gì đâu, Thiên Chúa biết ngày nào người hái lộc ấy mà ăn mắt các ngươi sẽ mở ra và các ngươi sẽ nên như Thiên Chúa, biết cả tốt xấu” ( St 3, 4-5 ). Người thiếu nữ thấy giấc mơ đẹp như màu hồng của trái táo “nhìn thì đã thấy sướng mắt” ( St 3, 6 ). Nàng đã hái. Nàng đã ăn. Nàng chia cho chồng với ước mơ hão huyền là chồng được thông minh như Thiên Chúa.
Còn Ađam thì sao ? Một cuộc đấu tranh quyết liệt giữa tiếng lương tâm và lời nài nỉ của người yêu: ăn đi anh, ăn đi, đây là cơ hội ngàn vàng, cơ hội chúng ta bằng Đức Chúa Trời đó anh; Ađam đừng ăn, nếu ăn sẽ vi phạm luật Chúa truyền, đừng, xin đừng. “Và ông đã ăn” ( St 3, 6 ). Lời Thánh Kinh ngắn gọn diễn tả sự yếu đuối, nhu nhược đến sa ngã của Ađam trước cám dỗ quá ư dịu ngọt. Thôi rồi, xong hết cả rồi, còn đâu địa đàng, còn đâu ân nghĩa Thiên Chúa dành cho ngươi, Ađam ơi !
“Mắt họ liền mở ra và họ thấy mình trần truồng nên kết lá vả che thân” ( St 3, 7 ). Lời bài ca “Vườn Địa Đàng” của Trầm Hương man mác buồn: Ađam, anh đi về đâu đó, bên kia, bên kia trời lộng gió, tiếng Giavê vẫy gọi trong nắng chiều. Ađam, anh đi về đâu đó, Ađam, quên đi lời Thiên Chúa, hái trái trăng ngon ngọt nhưng đắng cay. Ađam, sao anh lại chạy trốn, bóng Giavê đứng đợi bên gió ngàn. Ađam, quên ân tình Thiên Chúa, xoá tan đi nụ cười trong nắng mai.
Kể từ đó Địa Đàng đóng ngõ cài then. Xuân Địa Đàng đã thành mùa đông ảm đạm cho trần thế. Kinh Thánh viết về một nỗi đớn đau làm sao: “Những gai cùng góc nó sẽ mọc lên cho ngươi, ngươi sẽ ăn cỏ lả ngoài đồng nội. Mồ hôi đẫm mặt, ngươi mới có bánh ăn cho đến lúc ngươi về lại với bụi đất” ( St 3, 18-19 ).
Đó là sự tích hái lộc đầu năm, mùa xuân êm đềm thành chìm vắng lặng lẽ.
Và cũng từ đó lời kinh cầu luôn vang vọng qua các thế hệ: “Trời cao hãy đỏ sương xuống và ngàn mây hãy mưa Đấng Chuộc Tội. Trời cao hãy đỏ sương xuống và ngàn mây hãy mưa đấng cứu đời”. Nhân loại đã biết mình thiếu thốn lộc gì, họ đã muốn giơ tay hái Lộc Trời Cao.
Thiên Chúa đã nghe tiếng vọng cầu kinh. Lộc Trời Cao đã gởi xuống đất thấp, Lộc Đấng Cứu Thế. Con Thiên Chúa vào đời trồng cây Thập giá. Lộc Thập giá của Ngài nối lại tình người với tình thánh. Thánh giá Chúa Kitô là nhịp cầu liên kết con người với Thiên Chúa và con người với nhau. Sự giao hoà ấy nẩy Lộc Bình An. Tặng vật cao quý mà Chúa lưu lại cho nhân loại là Lộc Bình An: “Thầy để lại bình an cho các con, Thầy ban bình an của Thầy cho các con, bình an mà thế gian không thể ban được” ( Ga 14, 27 ). Sau khi Phục sinh, gặp các môn đệ, lời đầu tiên của Chúa là: “Bình an cho các con” ( Ga 20, 19 ). Tám ngày sau, trở lại thăm họ, Chúa vẫn một lời chào: “Bình an cho các con” ( Ga 20, 26 ). Sai các môn đệ ra đi truyền giáo Chúa căn dặn: “Vào nhà nào, trước tiên hãy nói: bình an cho nhà này” ( Lc 10, 5 ).
Bình an không chỉ là lời cầu chúc mà còn là sự sống để ban tặng cho nhau. Lộc Bình An là chính Chúa, ai xa lìa Ngài là đánh mất sự bình an.
Chúa là Lộc Đầu Xuân của mỗi gia đình, mỗi người. Một ngày có Chúa sẽ tràn đầy xuân hạnh phúc và lộc bình an.
Lối vào vườn Eđen, dấu chân người xưa hái lộc vẫn còn in nét vẫy gọi. Lối lên đồi Canvê, lời chúc bình an vẫn mãi vọng ngân.
Chúa ơi, đầu năm hái lộc thánh, xin cho con lộc hạnh phúc và bình an trong ơn nghĩa Chúa.
Lm. Giuse NGUYỄN HỮU AN

 

Tết 1_110: Đi tìm hạnh phúc

Trong dịp đầu năm, chúng ta thường cầu chúc cho nhau 365 ngày hạnh phúc. Trong những bức Tết 1_110

Trong dịp đầu năm, chúng ta thường cầu chúc cho nhau 365 ngày hạnh phúc. Trong những bức thư, chúng ta thường nguyện ước cho nhau gặp nhiều may mắn, thế nhưng trái chín hạnh phúc vẫn ở ngoài tầm tay của chúng ta, vì cả chúng ta lẫn những người chung quanh không ai có đủ yêu thương và đủ quyền phép để thực hiện những điều mong ước. Bởi đó đau khổ vẫn chồng chất trong cuộc sống, đau khổ vì nghèo đói, vì bệnh tật, vì chết chóc. Đau khổ vì thất bại, vì chia ly, vì những cám dỗ đè nặng. Và hạnh phúc mãi mãi vẫn là một khát vọng chưa một lần nguôi ngoai.
Tôi còn nhớ trong cuốn giới luật yêu thương, Đức cha Bùi Tuần đã viết: Cuộc đời chúng ta là một chuyến đi, đi từ khát vọng này sang khát vọng khác. Chẳng lúc nào mà chúng ta không ước mơ, nhưng cũng chẳng có sự gì làm cho chúng ta được no thỏa. Trong mọi ước muốn to nhỏ, hình như chúng ta vẫn tìm hoài một hạnh phúc vô biên. Niềm hạnh phúc vô biên ấy là gì để rồi chúng ta lên đường tìm kiếm và đầu tư cuộc đời chúng ta vào đó?
Có người cho rằng: hạnh phúc trong cuộc sống đó là sắc đẹp và vẻ quyến rũ, để rồi suốt ngày họ lo trau chuốt cho thân xác của họ. Nhưng sắc đẹp ấy tồn tại được bao lâu? Mười hay mười lăm năm là cùng, để rồi chúng ta cũng phải già nua với tuổi đời chồng chất.
Có người cho rằng: Tiền bạc sẽ đem lại hạnh phúc. Nhưng thực sự có phải là như vậy hay không? Paul Getty là chủ một hãng dầu lớn nhất tại Anh Quốc. Tài sản của ông lên tới hàng tỷ mỹ kim. Tuy nhiên cũng vì thế mà hàng ngay ông nhận được cả trăm bức thư tống tiền và hăm dọa sẽ ám sát ông, để rồi ông đã phải sống trong cảnh cô đơn, như chính ông đã thú nhận: Tôi chưa bao giờ được hạnh phúc. Tôi là một kẻ bất hạnh nhất.
Có người cho rằng: Địa vị và danh tiếng chính là mục đích của cuộc đời. Vậy thử hỏi những người đã có một thời vàng son, nắn giữ uy quyền tuyệt đối, như các vua chúa thời xưa, vậy bây giờ họ ở đâu? Hay thân xác họ cũng đã phải trở về với bụi đất và chìm vào quên lãng, như Nguyễn Du đã từng than thở:
- Bất tri tam bách dư niên hậu.
Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như.
- Biết rồi ba trăm năm sau,
Nào ai còn khóc một câu thương mình.
Và sau cùng, có người đi tìm hạnh phúc trong tình yêu, thế nhưng liệu họ có được thỏa lòng ước mơ hay lại như kinh nghiệm đã diễn tả: Yêu nhau trong ba ngày, ghét nhau trong ba tháng và chịu đựng nhau suốt ba mươi ba năm…Hạnh phúc của tình yêu thì chỉ thoáng qua, những đau khổ của nó lại kéo dài trong suốt cả cuộc đời.
Vậy đối với chúng ta, niềm hạnh phúc đích thực là gì? Tôi xin thưa niềm hạnh phúc đích thực của chúng ta là chính Thiên Chúa và được sống với Ngài mãi mãi trên quê trời, vì chỉ mình Ngài mới có đủ tình yêu và khả năng thực hiện mọi điều chúng ta mơ ước mà thôi. Đối với chúng ta, chỉ có một sự cần thiết, đó là tìm kiếm Chúa và cứu rồi linh hồn, như lời Chúa đã phán: Được lời lãi cả thế gian, mà mất linh hồn thì nào có ích lợi chi.
Bởi đó đời sống chúng ta phải là một cuộc phiêu lưu đi tìm kiếm Chúa, phải là một hànhtrình đi về với Chúa. Đã là một cuộc hành trình thì phải có một hướng đi, một con đường nhất định. Con đường ấy chính là cái đạo mà Chúa Giêsu đã truyền dạy cho chúng ta, bởi vì đạo chính là đường. Cái đạo ấy, con đường ấy được gồm tóm trong giới luật yêu thương, và cụ thể hơn được diễn tả qua tám mối phúc thật mà chúng ta vừa nghe.
Chúa Giêsu đã thổi vào tâm hồn chúng ta một luồng gió mới, đã gieo vào cõi lòng chúng ta một tinh thần mới, hoàn toàn khác biệt với tinh thần thế gian. Phúc thật tám mối là như bản hiến chương Nước Trời, gồm tóm những điều căn bản và cần thiết nhất, phải được coi như là những tiêu chuẩn hướng dẫn cho đời sống chúng ta.
Hãy thực thi tinh thần của bài giảng trên núi về tám mối phúc thật, để chúng ta tìm thấy cho mình niềm hạnh phúc đích thực ở đời này và nhất là ở đời sau.

 

Tết 1_111: Hạnh Phúc ơi, Mi là gì?

(Suy niệm của Lm. Giuse Nguyễn Văn Nghĩa)
 

Cái tựa đề bài viết có vẻ như là tựa đề một khúc ca, một bản tình ca. Hẳn nhiên không phải Tết 1_111

Cái tựa đề bài viết có vẻ như là tựa đề một khúc ca, một bản tình ca. Hẳn nhiên không phải vô tình nhưng xin thú thực là có chủ ý. Kitô hữu chúng ta, nếu là người trưởng thành và được “xem là ngoan đạo” thì chắc chắn thuộc nằm lòng kinh “phúc thật tám mối”. Mẹ Giáo hội đã minh nhiên khẳng định rằng “tám mối phúc” chính là bản Hiến Chương Nước Trời”. Dưới một góc độ nào đó thì bản Hiến Chương cũng gần tương tự với bản Hiến Pháp của một quốc gia. Chúng ta dễ dàng đồng thuận với nhau về tầm quan trọng cũng như vị trí, vai trò tối thượng của bản Hiến Pháp trong việc định chế các luật lệ để điều hành các tổ chức, sinh hoạt của một đất nước. Vị trí, vai trò của bản Hiến Chương trong các tổ chức xã hội lớn bé cũng có tầm quan trọng không thể phủ nhận, cho dù trong thực tế, có thế lúc này, lúc kia, nơi này nơi nọ, việc tuân thủ không được chặt chẽ và nghiêm túc.
Một ngộ nhận thường thấy khi đề cập đến các mối phúc của Tin mừng đó là người ta dễ bị cám dỗ tìm cách giải thích, biện luận và minh chứng vì sao khó nghèo là có phúc, vì sao sầu khổ là có phúc… Trong khi đó hạnh phúc thật mà Chúa Kitô loan báo không ở cái vế đầu của câu nói mà ở vế sau. Để hiểu rõ điều này xin đan cử câu chuyện đã từng xảy ra về một ông lão nghèo hành nghề bán vé số kiếm kế sinh nhai bỗng nhiên thành tỉ phú. Một ngày kia, vé số bán không hết, ông lão mệt quá nên không đem số vé dư trả lại đại lý. Ai ngờ có trong số vé dư ấy có một cặp mười lại trúng giải độc đắc. Người ta bèn nói rằng ông lão bán vé số có phúc vì trúng số độc đắc bạc tỉ. Như thế cái được gọi là có phúc không phải ở vế “làm nghề bán vé số” hay ở vế “không trả lại số vé không bán được” mà ở nơi vế “trúng giải độc đắc bạc tỉ” kiểu như trên trời rơi xuống.
Vậy chúng ta cần khẳng định rằng hạnh phúc thật chính tình trạng được ở trong Nước Trời, được có Nước Trời làm gia nghiệp, được Thiên Chúa ủi an, thương xót, được nhìn thấy Thiên Chúa, được gọi là con Thiên Chúa, được Thiên Chúa ân thưởng trên trời, nghĩa là các vế thứ hai của các mối phúc. Các vế thứ nhất của các mối phúc không phải là những điều kiện để có hạnh phúc, nhưng chỉ là những tình trạng được ban phúc, những tình trạng đã đón nhận hạnh phúc được ban.
Để hiểu điều này chúng ta cần đối chiếu với Tin Mừng thánh Luca. Các nhà nghiên cứu Tin Mừng đồng thuận với nhau rằng thánh sử Luca tường thuật các dữ kiện liên quan đến các mối phúc thì sát thực tiển hơn so với Tin mừng thánh Matthêu. “Đức Giêsu ngước mắt lên nhìn các môn đệ và nói: ‘Phúc cho anh em là những kẻ nghèo khó, vì Nước Thiên Chúa là của anh em. Phúc cho anh em là những kẻ bây giờ đang phải đói, vì Thiên Chúa sẽ cho anh em được no lòng…”(Lc 6,20-23).
Hạnh phúc thật là Nước Trời, là chính Thiên Chúa. Và Thiên Chúa đã đoái thương ban hạnh phúc ấy cho tất cả mọi người, cho cả những người mà dưới con mắt thế gian hay theo nếp nghĩ của con người là bất hạnh là kém cõi là ngu dại, là kém phận… Thực tế cho thấy khi Chúa Kitô đi rao giảng tin mừng, thì rất nhiều người vốn bị xem như là bé phận, hèn mọn đã biết mở rộng tâm hồn đón nhận ân phúc Người ban. Trái lại, có nhiều người mà thế gian cho là may mắn thì không nhận được ân phúc ấy, nói đúng hơn là họ đã chối từ hạnh phúc được ban. Thánh sử Luca sau khi tường thuật những lời chúc phúc của Chúa Kitô thì tường thật tiếp liền những lời cảnh báo về các mối họa với những người giàu có, những người đang được no nê, vui cười, đang được mọi người ca tụng (x.Lc 6,24-26).
Những hạng người này bị chúc dữ hay nói đúng hơn là cảnh báo về tại họa không phải vì họ giàu, đang được no nê hay vui cười…nhưng vì họ đã đặt hạnh phúc thật sai chỗ, sai đối tượng. Họ đã lầm tưởng rằng của cải, các hoàn cảnh thuận lợi, danh phận đời này là hạnh phúc thật. Chính vì thế họ đã khước từ Chúa Kitô, khước từ Nước Trời mà Thiên Chúa ban tặng.
Các mối phúc thật hay Bản Hiến Chương Nước Trời không chủ ý nói đến những điều kiện để có hạnh phúc nhưng là trình bày nội dung của hạnh phúc đích thật. Đó là Thiên Chúa, là Nước Trời mà Người ban tặng cho nhân loại. Hạnh phúc đích thật chính là quà tặng nhưng không của Thiên Chúa, một quà tặng vượt quá mọi khả năng chiếm hữu của con người. Con người chỉ có thể đón nhận ân phúc ấy bằng lòng tin. Thánh Tông đồ dân ngoại đã từng nhấn mạnh chân lý này trong thư gửi tín hữu giáo đoàn Galata và giáo đoàn Rôma (x.Gl 2,16.19-21; Rm 3,28-30).
Có thể nói rằng tám mối phúc như khó nghèo, sầu khổ, khát khao nên người công chính, biết xót thương người…là những cách thế biểu lộ niềm tin, những con đường sống đức tin. Và chúng ta cũng có thể nói rằng ngoài những con đường, những cách thế rõ nét ấy thì vẫn có đó muôn vàn con đường sống đức tin, muôn muôn vàn cách thế biểu lộ niềm tin. Có thể xem đây là sự giao thoa giữa tám mối phúc đã được kể. “Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi !”(Lc23,42). Không biết người gian phi bị treo bên phải Chúa Giêsu năm nào đã đi con đường nào của bát phúc, nhưng anh ta đã biểu lộ niềm tin vào Chúa Giêsu. Và anh đã được trao ban hạnh phúc đích thực là Nước Trời ngay ngày hôm ấy (x.Lc 23,43).
Cũng như Bản Hiến Pháp của một quốc gia vừa có tính hướng dẫn, vừa có tính quy định những thể chế, tổ chức, luật lệ của quốc gia ấy, thì Bản Hiến Chương Nước Trời khi cho biết đâu là hạnh phúc thật và con đường để có hạnh phúc thật sẽ có tính hướng dẫn và quy định các tổ chức, sinh hoạt…của đoàn tín hữu Kitô không chỉ trong tư cách cá nhân mà cả trong tư cách là đoàn dân của Thiên Chúa. Mong sao mọi tổ chức sinh hoạt của Giáo hội, mọi nghi tiết Phụng vụ, mọi luật lệ được ban hành… biết lấy Bản Hiến Chương Nước trời làm tiêu chuẩn quy chiếu. Và ước gì được một lần trong đời chúng ta không chỉ cất tiếng hát mà còn thực sự cảm nhận và xác tín lời một bài thánh ca khá quen thuộc: “vì ngoài Chúa ra, đâu là hạnh phúc…?”

 

Tết 1_112: Nỗi khao khát

Bill Gates, nhà tỷ phú trẻ tuổi người Mỹ, chuyên kinh doanh về máy điện toán, nhiều năm liên tiếp Tết 1_112

Bill Gates, nhà tỷ phú trẻ tuổi người Mỹ, chuyên kinh doanh về máy điện toán, nhiều năm liên tiếp đạt danh hiệu “người giàu nhất thế giới”. Theo tạp chí Forbes bình chọn mỗi năm, tài sản cá nhân của Gates hiện đã lên đến 36,4 tỉ USD (1997) và đang sinh sôi nảy nở rất nhanh. Mỗi ngày, ông chủ công ty Microsoft này thu nhập 42,5 triệu USD.
Nhiều người ao ước được giàu có và danh tiếng như ông vua phần mềm máy tính này, thậm chí chỉ xin được bằng cái số lẻ của ông thì đã vô cùng hạnh phúc. Bởi vì “Có tiền mua tiên cũng được!” Hay như thời nay người ta thường nói:
          “Đồng tiền là Tiên là Phật
          Là sức bật của tuổi trẻ,
          Là sức khỏe của tuổi già,
          Là cái đà của danh vọng,
          Là cái lọng che thân,
          Là cán cân công lý,
          Đồng tiền là hết ý”.
Nhưng Tin Mừng hôm nay, Đức Giêsu lại tuyên bố: “Hạnh phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó” (Mt 5,3). Hơn nữa, Người còn cho là hạnh phúc những ai hiền lành, sầu khổ, bị bách hại…
Giáo Hội gọi đó là Hiến Chương Nước Trời, nghĩa là chỉ những ai sống và thực thi những điều ấy mới được làm công dân của Nước Trời.
Với người không có niềm tin thì đó là một điều hết sức nghịch lý. Nghèo khó, hiền lành, sầu khổ, bị bách hại… không thể mang lại hạnh phúc mà chỉ đem đến những bất hạnh thiệt thòi, khinh bỉ mà thôi.
Như vậy phải chăng Đức Giêsu ngăn cản nền văn minh tiến bộ của nhân loại đang vươn tới hùng cường, thịnh vượng sao? Phải chăng Người ủng hộ cho hành động bóc lột và đàn áp? Hoàn toàn trái lại. Người đã nói: “Phần tôi, tôi đến để cho chiên được sống và sống dồi dào” (Ga 10,10). Vì thế, làm môn đệ Đức Giêsu là phải xua đuổi nghèo nàn và lạc hậu khỏi thế giới này, là phải đẩy lui đau khổ và bất công xa rời con người. Đó là những vị khách không mời mà đến, và chúng ta phải có nhiệm vụ tống khứ chúng ra khỏi mái nhà của nhân loại. Đây là mục tiêu giải quyết của Kitô giáo, và cũng là trách nhiệm của mỗi người tín hữu chúng ta.
Đức Hồng Y Tonini tuyên bố: “Giáo Hội trở nên nghèo bởi vì Giáo hội tràn đầy Thiên Chúa. Giáo Hội nghèo bởi vì Giáo Hội có nhiều thứ vĩ đại hơn”. Nếu Chúa đã nói: “Phúc cho những ai có tâm hồn nghèo khó”, “Phúc cho những ai hiền lành”, “Phúc cho những ai sầu khổ”, “Phúc cho những ai bị bách hại”, là bởi vì họ đã khiêm tốn nhận mình thiếu thốn, bất lực, nên đặt trọn niềm tin cậy và phó thác nơi Người.
Nếu Chúa đã dạy: “Phúc cho những ai có tâm hồn trong sạch” “Phúc cho những ai khao khát công chính, “Phúc cho những ai xây dựng hòa bình”, Phúc cho những ai xót thương người”, là bởi vì họ đã quyết tâm sống trọn vẹn cho Thiên Chúa và nhiệt tâm phục vụ anh em.
Tận thẳm sâu của tâm hồn, ai cũng có nỗi khao khát cháy bỏng được sống hạnh phúc, ai cũng muốn người khác đem lại phúc lộc cho mình. Nhưng hạnh phúc đích thực chỉ đến với những người biết đem lại hạnh phúc cho kẻ khác, và hết lòng quảng đại với tha nhân. Đức Giêsu đã dạy: “Cho thì có phúc hơn là nhận” (Cv 20,35). Nhà truyền giáo Albert Schweiltzer quả quyết: “Người hạnh phúc nhất trong anh em là người đã tìm thấy con đường hiến thân phục vụ”.
Hạnh phúc đích thực không đo bằng của cải con người thu tích được, không tùy thuộc nơi những thành đạt mà họ có, cũng không đến từ danh vọng mà con người chiếm hữu, nhưng chính là do nơi họ biết hoàn toàn tín thác vào Chúa mà thôi. Sự giàu có đích thực là sự giàu có ở trái tim, không phải ở túi tiền.

 

Tết 1_113: Chín lần hạnh phúc

Người ta có thể làm cho lễ Các thánh trở nên lễ của hạnh phúc hay không? Dầu sao Tin Mừng ngày Tết 1_113

Người ta có thể làm cho lễ Các thánh trở nên lễ của hạnh phúc hay không? Dầu sao Tin Mừng ngày hôm nay cũng nói lên điều đó! Chín lần “hạnh phúc”. Và đầu tiên là: “Các ngươi hãy vui mừng hoan hỉ, phần thưởng của các ngươi sẽ lớn lao ở trên Trời”.
Đám mây đầu tiên trên ngày lễ này đó là thì tương lai “Các ngươi sẽ là...Các ngươi sẽ được... Các ngươi sẽ thấy...”. Chính với những thì tương lai kiểu này mà người ta đã giễu cợt những người bất hạnh. Người ta dễ dàng tìm thấy trên đó những bài thuyết giáo khó chịu và những bản văn hoang tưởng của Nã phá Luân!: Khi một người chết đói bên cạnh một người khác no đầy, không thể nào làm cho người đó chấp nhận sự khác biệt này nếu không có một người có uy tín nói với họ: Thiên Chúa muốn như thế, phải có người nghèo và người giàu trên thế gian này, nhưng sau đó và trong vĩnh cửu sự chia sẻ sẽ được thực hiện theo cách khác”.
Các mối phúc chính là hạnh phúc trong tương lai và những sự đảo ngược đầy ấn tượng, những người đầu tiên sẽ là những người cuối cùng. Nhưng không như Nã phá Luân nghĩ, theo nghĩa đó đơn giản là một sự phân phối lại và chỉ có trong tương lai mà thôi. Hạnh phúc được ban tặng ngay từ bây giờ cho tất cả mọi người dười hai hình thức một cuộc hành trình tiến về niềm vui hoàn toàn và một cuộc hành trình đã có hạnh phúc. Giá như mỗi năm họ làm cho lễ Các thánh trở nên một ngày suy niệm về sự hy vọng.
Chúng ta là những người của hy vọng, những người của Tin Mừng. Một ngày kia, tại Palextin, một người đã cất tiếng nói: “Nước Trời kia rồi! Nước Trời đây là ơn cứu độ Chúa ban cho tất cả mọi người. Từ đây bất cứ người nào cũng có thể hướng tới hạnh phúc được mô tả nơi trang cuối cùng của Thánh Kinh: “Tôi thấy trời mới và đất mới. Tôi nghe có tiếng nói: Kìa nhà tạm Chúa ở giữa nhân loại. Họ sẽ là dân tộc của Ngài và Ngài sẽ là Thiên Chúa ở giữa nhân loại. Thiên Chúa sẽ lau khô mọi giọt lệ, sẽ không còn chết nữa, hết tang chế, hết kêu than, đau đớn, vì những cái trước kia qua đi rồi” (Kh 21, 1-4).
Chính điều này mà chúng ta mừng vào lễ Các thánh: tất cả chúng ta được mời gọi đi vào trong thế giới mới của sự vui mừng lớn lao. Nhưng phải nói đi nói lại rằng ngay từ bây giờ chúng ta là những người của cái tương lai này. Sự liên tục giữa đất và trời không phải luôn luôn được nhận thức một cách rõ ràng. Chúng ta sẽ không nhận lãnh một phần bánh Trời được đo lường và trả giá bằng cuộc sống mà chúng ta đang sống, khó nhọc, lo âu và đau khổ. Chúng ta sẽ mãi mãi là khả năng của niềm vui mà chúng ta tìm kiếm nơi chúng ta trên thế gian này. Chúng ta sẽ là con người của niềm vui mà chúng ta đang tạo nên. Người ta không chinh phục nước trời mà là trở thành nước trời.
Với những mối phúc. Những mối phúc này là một tinh thần và là một hình ảnh. Tinh thần của Nước trời, bầu không khí và những tập tục của Nước trời. Còn hình ảnh là hình ảnh của vị sáng lập, vị vua mẫu mực: đó là Chúa Giêsu, Hgaì đã là người nghèo hèn, khiêm nhu, ôn hoà, trong trắng và bị bách hại. Khi nói “Phúc cho”, Ngài biết Ngài nói về điều gì, về sự trộn lẫn giữa hiện tại và tương lai. Điều này làm cho chúng ta hạnh phúc như Ngài đã từng hạnh phúc. Chúa Giêsu hạnh phúc vì đã là một con người. Điều kỳ lạ là người ta rất ít nói về điều này.
Chúng ta có thể ngay lập tức trở thành một “chân phước” khi chúng ta sống trong niềm hy vọng, nếu tôi dám nói như thế. Niềm hy vọng dặc biệt này được gọi là “vì Chúa” bởi vì nó nối kết chúng ta với Chúa trong khi đảm bảo rằng Chúa muốn cho chúng ta hoan hỉ và sẽ làm tất cả để cho chúng ta hạnh phúc: “Thầy nói cùng các con những điều này để các con được vui mừng và sự vui mừng đó được đầy đủ” (Ga 15,11). Cho nên trước hết các mối phúc này khẳng định với chúng ta rằng Chúa ở với chúng ta. Nhưng chúng cũng cho chúng ta biết những sở thích của Ngài và ở đây lọt vào một điêù phiền nhiễu: Thiên Chúa có thích sự đau khổ hay không? Tại sao Ngài ưa thích người nghèo, người khiêm hạ, người bị bách hại?
Tôi tin rằng câu trả lơì nằm ở phía tấm lòng của những kẻ đáng thương này. Thiên Chúa tìm kiếm những người con và đặc biệt là Ngài tìm ra họ trong các hoàn cảnh khó khăn đó. Đây không phải là lý thuyết mà là thực tế. Khi lặp đi lặp lại chín lần “Phúc thay”, Chúa Giêsu nói đến kinh nghiệm riêng của Ngài. Rất muốn làm vui lòng Cha Ngài, Chúa Giêsu đã kinh nghiệm rằng con người chỉ thực sự là con của Chúa khi ở trong một tình trạng nghèo khổ đáng thương nào đó.
Đến lượt chúng ta hãy thử kinh nghiệm về các mối phúc này. Chúng chỉ làm cho người ta mỉm cười hoặc nghiến răng nếu nhìn từ xa. Nhưng những người cố gắng thử nghiệm thì nhận thấy kinh nghiệm và nói lên kinh nghiệm đó: họ cảm thấy hạnh phúc... vì được hạnh phúc như Chúa Kitô.

 

Tết 1_114: Phúc cho người sống những mối phúc.

(Trích trong ‘Mở Ra Những Kho Tàng’ của Charles E. Miller)
 

Tự nhiên ai cũng muốn hạnh phúc, nhưng hạnh phúc rất khó tìm thấy. Nó thường trượt khỏi tay chúng Tết 1_114

Tự nhiên ai cũng muốn hạnh phúc, nhưng hạnh phúc rất khó tìm thấy. Nó thường trượt khỏi tay chúng ta giống như bánh xà phòng ướt nơi phòng tắm. Tất cả chúng ta đều cố gắng để được hạnh phúc, nhưng chúng ta lại không luôn luôn đồng ý với những gì mà sự hạnh phúc có. Điều đó giống như những cảm hưởng khác nhau trong âm nhạc và thực phẩm vậy. Chúng ta khác nhau cho dù bây giờ chúng ta có phung phí tiền bạc vào những gì sẽ làm cho chúng ta được hạnh phúc, hoặc chúng ta sẽ để dành cho “những ngày mưa gió” trong tương lai.
Tất cả những gì mà người ta nghĩ là hạnh phúc thì Chúa Giêsu lại không nghĩ vậy, giáo huấn của Người hoàn toàn biệt lập về sự hạnh phúc là gì, làm thế nào và khi nào chúng ta đạt được hạnh phúc. Tất cả chúng ta đều đã nghe lời giáo huấn của Người nhưng có lẽ chúng ta hoàn toàn thất bại trong việc nắm bắt cho dù là một đặc tính duy nhất mà Chúa Giêsu đã tuyên bố.
Chúng ta gọi giáo huấn này của Người là những mối phúc, từ “beatus” theo nghĩa Latinh có nghĩa là hạnh phúc. Đầu tiên chúng ta nhận thấy rằng những mối phúc không phải là những điều luật, cũng không phải là những lời khuyên. Chúng là những lời tuyên bố. Chỉ một điều duy nhất mà hôm nay Chúa Giêsu đã nói chúng ta phải làm, đó là “hãy sung sướng và vui mừng”. Những điều khác, Người muốn trình bày những gì mà hạnh phúc phải gồm có, Người nói thẳng những người hạnh phúc là những người nghèo, người khóc lóc, người đau buồn và người đói khát. Ngài cũng nhấn mạnh những người hạnh phúc là những người bày tỏ sự thương xót, người kiến tạo hoà bình và người chịu đau khổ, bắt bớ. Đó không phải là danh sách mà chúng ta sẽ chọn lựa cho chính mình. Nếu chúng ta phải nhận lấy sự nghèo khổ, khóc lóc, đói khát như những món quà Giáng sinh, chúng ta sẽ nghĩ rằng ông già Noel phải trở thành ông già keo kiệt mới đúng.
Nhưng Chúa Giêsu không phải là ông già keo kiệt dù người nói những điều mà nhiều người nghĩ là “bịp bợm” chứ làm sao hạnh phúc với những thứ ấy được, chìa khoá bài giáo huấn của Chúa Giêsu được tìm thấy trong mối phúc thứ sáu. Mối phúc ấy nói: “Phúc cho ai có lòng trong sạch, vì họ sẽ xem thấy Thiên Chúa”.
Người có lòng trong sạch là những người giống như những vị thánh, trung tâm toàn bộ đời sống của họ là Thiên Chúa. Trong sự nghèo khổ, họ nhận ra sự giàu có thật chỉ tìm thấy nơi Thiên Chúa. Nơi sự đau buồn của họ, họ khám phá ra rằng niềm vui thật chỉ cảm nghiệm được ở nơi Thiên Chúa. Nơi sự thấp hèn, họ hiểu rằng chỉ có Thiên Chúa mới có thể nâng họ lên sống xứng đáng một con người. Trong sự đói khát, họ thấy giá trị của Thánh Thể, bởi Mình và Máu Chúa sẽ dẫn chúng ta tới bữa tiệc vĩnh cửu trên quê trời. Họ bày tỏ lòng thương xót mà không báo thù, họ đem đến sự an bình chứ không oán ghét, bởi vì họ biết rằng Thiên Chúa là nguồn mạch sự thương xót và bình an. Họ sẵn lòng chịu bắt bớ, bách hại bởi vì họ cảm thấy đặc ân được đau khổ và ngay cả cái chết chỉ là làm chứng cho sự thật.
Vì người có lòng trong sạch đặt trọng tâm vào Thiên Chúa nên họ nhận biết Chúa Giêsu đã thực hiện những gì Người đã rao giảng. Chúa Giêsu là người nghèo, người phải chịu nhiều đau buồn trong cuộc thương khó của Người. Người đã trở nên thấp hèn, bị khinh khi như là một tội nhân trên thập giá. Họ thấy Chúa Giêsu đã trải qua đói khát trong hoang địa để chuẩn bị cho sứ vụ của Người, Người đã chuyển giao sự trống rỗng của người đến cạn kiệt để rồi làm sung mãn chúng ta bằng sự sống và tình yêu của Người. Chúa Giêsu đã biểu lộ lòng thương xót đối với những người tội lỗi và Người đã hiến dâng mọi sự như là đặc ân sự bình an của Người.
Mặc dù không có mối phúc nào là một lề luật, chúng ta tự mình cũng phải thực hiện cho tốt: “Hãy trở nên giống Chúa Giêsu. Hãy có lòng trong sạch. Hãy tập trung toàn bộ đời sống của bạn ở nơi Thiên Chúa”. Đó sẽ là lời khuyên tốt cho chính chúng ta. Trong việc thực hành, chúng ta có thể làm trọn vẹn một điều mà Chúa Giêsu hôm nay bảo chúng ta làm: “Hãy sung sướng và vui mừng vì phần thưởng của các con ở trên trời thì rất lớn lao”.

 

Tết 1_115: Đường hẹp – Radio Veritas Asia

(Trích từ ‘Sống Tin Mừng’)
 

Khi Mẹ Têrêsa thành Calcutta còn sống, người ta kể lại rằng, một lần Mẹ đang rửa những vết ghẻ lở Tết 1_115

Khi Mẹ Têrêsa thành Calcutta còn sống, người ta kể lại rằng, một lần Mẹ đang rửa những vết ghẻ lở của người bị bệnh cùi thì có một thương gia giàu có đến thăm nhà, thấy Mẹ đang làm việc ấy, ông phát biểu ý kiến như sau: - Nếu có ai cho tôi một triệu bạc để làm công việc như Mẹ đang làm thì tôi cũng không dám làm.
Mẹ Têrêsa vui vẻ trả lời: - Tôi cũng vậy, nếu có ai cho tôi một triệu bạc tôi cũng không thể làm điều ông làm.
Tiền của vật chất không phải là yếu tố chính và chúng ta cũng không thể nào đo lường giá trị tinh thần của hành động con người bằng tiền của vật chất, nhưng đây là điều mà thường tình mỗi người chúng ta cũng dễ bị cám dỗ suy nghĩ và hành động như vậy, đó là hành động theo sự khôn ngoan của xác thịt, theo như bài đọc hai của thánh Phaolô Tông đồ nhắc lại cho chúng ta.
Bài Phúc âm hôm nay trình bày cho chúng ta một căn bản, một hiến chương cho đời sống đức tin của mình, đời sống đức tin của người môn đệ Chúa qua mọi thế hệ, trong mọi hoàn cảnh và chúng ta không thể nào hiểu được, cũng như không thể nào sống thực hành những điều phúc.
Tám mối phúc thật được ghi lại trong Phúc Âm hôm nay, trong một kiểu nói phàm trần với tâm thức tự nhiên con người, với lẽ khôn ngoan xác thịt như cách nói của thánh Phaolô Tông đồ. Chìa khoá để hiểu và sống những điều Phúc âm mà chính Chúa Giêsu Kitô đã dạy chúng ta là chính Ngài là Chúa. Chúa đã sống trọn vẹn những điều phúc này, nhất là trên núi Sọ khi để mình bị treo trên thập giá trong một hành động dâng hiến tuyệt đỉnh chính mình cho Thiên Chúa Cha, và chỉ khi nào chúng ta như Chúa Giêsu trên thập giá, bắt chước Chúa Giêsu trên thập giá chúng ta mới hiểu và mới sống như Chúa đã sống.
Không phải vì tiền của, vì danh vọng mà Mẹ Têrêsa có thể thực hiện những gì Mẹ đã làm cho những anh chị em thấp cùng nhất trong xã hội, nhưng chính là tình yêu Chúa tràn đầy nơi Mẹ, không phải nhờ tiền của mà con người có thể sống thánh thiện, sống thương xót, sống hòa bình, sống công bằng, sống mối phúc thật như Chúa Giêsu đã dạy, nhưng chính là tình yêu Chúa, nhờ Chúa biến đổi, nhờ sống kết hiệp mật thiết với Chúa, chúng ta mới có đủ can đảm để sống những gì Chúa mời gọi chúng ta sống: "Phúc cho những ai có tinh thần nghèo khó, phúc cho những ai hiền lành, phúc cho những ai đau buồn, phúc cho những ai đói khát điều công chính, phúc cho những ai hay thương xót, phúc cho những ai có lòng trong sạch, phúc cho những ai ăn ở thuận hòa, phúc cho những ai bị bách hại vì lẽ công chính".
Xin Chúa giúp mỗi người chúng ta được sống như Chúa, được sống kết hiệp với Chúa mỗi ngày một hơn để chúng ta có thể hiểu và sống tám mối phúc thật như Chúa đã sống. Xin Chúa giúp mỗi người chúng ta được trung thành với đức tin. Amen.
 
 
 

Tết 1_116: E.T. gọi về nhà

Phim "E.T." nói về một người hành tinh khác đến trái đất và bị lọt lại một mình. E.T. làm bạn với Tết 1_116

Phim "E.T." nói về một người hành tinh khác đến trái đất và bị lọt lại một mình. E.T. làm bạn với cậu bé Elliot cùng những anh chị em của Elliot và nhiều người khác nữa. Họ đã vượt qua nhiều cuộc phiêu lưu thử thách và cuối cùng E.T. đã gọi về nhà và được phi thuyền của dân tộc E.T. trở lại đón. E.T. có nghĩa là "Extra Terrestrial". Mặc dù người làm phim không chủ ý luồn Phúc Âm vào cuốn phim nhưng nó lại hiện diện trong toàn cuốn phim.
Trước hết, the Extra Terrestrial đến trái đất như là biểu tượng Nhập Thế. Hơn nữa, trong cuộc phiêu lưu của E.T. nó gần như song song với câu truyện Thánh Kinh về Chúa Giêsu. E.T. chọn một số bạn thương mến và đi theo E.T. Hầu hết mọi người đều chống đối bọn họ, đặc biệt là các khoa học gia chỉ muốn giết E.T. để khảo nghiệm. E.T. cũng làm những phép lạ như làm cho cây khô sống lại, chữa lành bệnh nhân bằng cách sờ vào người bệnh. E.T. đi đâu cũng tạo nên cảnh thương yêu. Cuối cùng E.T. bị chết vì những người chống đối và rồi E.T tự phục sinh. Rồi phi thuyền trở lại và đón E.T. về, trong cảnh đi về ấy, Elliot nhìn lên bầu trời tựa như cảnh các môn đệ nhìn Chúa Giêsu lên trời vậy. Trước khi trở về quê hương của mình, E.T. đã nói lời cuối là: "Tôi sẽ ở với các bạn luôn mãi" (Mt 28,20).
Nếu chúng ta mở rộng lòng ra thì cuốn phim đó cũng gợi lại cho chúng ta một sự trong sáng, mủi lòng, tìm thấy một sự biết ơn mới đối với Chúa Giêsu vì khi Ngài xuống thế, vì Ngài đã chọn trái đất này làm quê hương của Ngài. Trong Phúc Âm, chúng ta thấy Chúa Giêsu không bao giờ làm cái việc gọi về quê hương hay tìm cách trở về. Thánh Gioan tông đồ đã viết: "Ngài đến và ở giữa chúng ta... Ngài đến nơi nhà Ngài". Chúa Giêsu đã yêu nhân loại quá mức nên Ngài không đến như một người xa lạ và chỉ chực chờ có cơ hội là bỏ ra đi ngay. Đúng hơn, Ngài đến và hòa nhập vào sự cô đơn, lo lắng, và tan nát của cả nhân loại.
Có sự trái ngược đó là Chúa Giêsu đến ở giữa chúng ta, đồng thời Ngài nói rằng thế gian này không phải là nhà của chúng ta. Ngài cho biết nhà chúng ta không phải ở thế giới này hay ở một thế giới kế cận nào. Nhà thật sự của chúng ta chính là sự quan hệ giữa nhân loại chứ không phải là nơi chốn. Và nhà thật sự của chúng ta là ở trong Chúa. Như Thánh Augustinh nói, chúng ta được dựng nên "với một tâm hồn không bao giờ nghỉ cho tới khi nào tìm thấy sự nghỉ yên trong Chúa".
Vấn đề chính đối với một số người trong chúng ta ngày nay đó là nhớ nhà. Chúng ta có thể không nhận ra, hay chối từ điều ấy, nhưng sự thổn thức luôn luôn hiện diện ở đó-- và sẽ chẳng bao giờ nó yên lặng cho tới khi chúng ta tìm thấy căn nhà thật sự của chúng ta là ở trong Thiên Chúa.
Điều ấy chẳng lạ lùng gì khi các ngụ ngôn của Chúa Giêsu thường nói về sự trở về nhà. Người con hoang đàng trở về trong vòng tay mở rộng đón mừng của người cha với đầy sự hoan lạc. Chúng ta cần phải có cảm nghiệm sự trở về này. Chúng ta phải trở về cùng Chúa, nếu như chúng ta muốn được chia sẻ sự sống vĩnh cửu của Ngài. "Sự sống vĩnh cửu" đối với một số người cho rằng nó ở tương lai. nhưng Chúa Giêsu nói sự sống ấy chính là một tính chất thực tại của cuộc sống này chứ không phải một sự sống của chiều kích khác.
Sự sống vĩnh cửu là chính mối dây liên kết hiện tại, là cảm nhận sự Hiện Hữu của Tình Yêu Thiên Chúa trong toàn thể con người ta. "Phúc thay cho người có tinh thần nghèo khó vì Nước Trời là của họ" Chúa Giêsu đã dạy thế trong bài Tin Mừng hôm nay (Mt 5:3). Nghèo trong nghĩa Thánh Kinh chính là sự nhận biết rằng toàn thể con người, sự sống mình lệ thuộc vào Chúa; nhận biết xa rời Ngài là chúng ta chẳng có gì hay sức mạnh để trở nên con người theo như chủ đích khi chúng ta được dựng nên; nhận biết sự thao thức băn khoăn tìm kiếm điều gì đó cao cả hơn của tâm hồn cho tới khi chúng ta tìm thấy nghỉ an trong Chúa.
"Phúc cho ai có lòng thương xót vì họ sẽ được xót thương"; "Phúc cho ai ăn ở thuận hòa vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa" (Mt 5,7-9). Những điều ấy có nghĩa là sự toàn hảo của con người chúng ta lệ thuộc trên sự trở về của ta với Thiên Chúa và tha nhân. Trong và qua mối cảm nghiệm sự hiện diện của tình yêu Thiên Chúa, chúng ta trở nên liên kết với hết mọi người qua tình yêu. Yêu Chúa và tha nhân không thể chia cách tách rời được.
Hãy để Ngài chỉ lối và hướng dẫn chúng ta; rồi chúng ta sẽ cảm nghiệm được tình yêu của Ngài ở ngay trong chúng ta. Phúc cho những ai có tinh thần nghèo khó vì họ sẽ tìm thấy bình an và chính họ sẽ xây dựng an bình.

 

Tết 1_117: Phúc thay

Trong Kinh Thánh, "Hạnh phúc" là tiếng ca tụng người biết làm cho ơn Chúa ban sinh lợi, nên họ cảm Tết 1_117

Trong Kinh Thánh, "Hạnh phúc" là tiếng ca tụng người biết làm cho ơn Chúa ban sinh lợi, nên họ cảm thấy hạnh phúc ngay từ bây giờ, và nếu họ luôn trung thành với con đường đã chọn, họ sẽ được nhìn nhận là người công chính trong giờ phán xét."(Tin Mừng thánh Matthêu, Centurion, 1991, tr.58)
1. Bốn mối phúc đầu của Matthêu: ca tụng người biết hướng về Thiên Chúa và từ chối bạo lực.
* "Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó, vì Nước Trời là của họ". Sự nghèo khó mà mối phúc này nhắm tới không phải là sự nghèo khó về vật chất; nhưng là thái độ của một người nghèo tự nhận mình không có quyền đòi hỏi gì trước mặt Chúa, trái lại mọi sự mình có đều do bàn tay nhân từ của Thiên Chúa.
J. Potel chú giải: “Người Kitô hữu phải nhìn nhận mình đã lãnh nhận sự sống nơi Thiên Chúa; mà Đức Giêsu dạy rằng phải nhận ra và yêu mến Ngài như một người Cha. Sự nghèo khó tinh thần chính là chấp nhận từ thẳm sâu lòng mình rằng sự sống là quà tặng thường xuyên của người Cha này. Thiên Chúa không cần lời khen ngợi, Ngài tự hiến một cách vô vị lợi: đó chính là nguồn mạch sự khiêm nhường Kitô giáo. Sự khiêm nhường triệt để này tạo nên phẩm giá của một con người và của tất cả mọi người. Thật vậy, phẩm giá này không dựa trên sự giàu có cũng như những đức tính nhân bản, nhưng dựa trên tình yêu mà Thiên Chúa dành cho mỗi người, nhất là người nghèo. Chính đây là trọng tâm của Tin Mừng vĩnh cửu".
* "Phúc thay ai hiền lành, vì họ sẽ được đất hứa làm gia nghiệp". Mối phúc thứ hai này nối dài mối phúc trên từ một câu Thánh Vịnh 36: “Những ai hiền lành sẽ chiếm hữu trái đất và sẽ hưởng một nền hòa bình sung mãn". J. Potel nói tiếp: "Sự hiền lành là hoa trái của sự khó nghèo. Người nghèo thì không có phương tiện thể lý hay pháp lý bảo vệ mình. Vậy phải chăng người nghèo hoàn toàn trơ trọi trước những người không nhìn nhận quyền của mình? Không, vũ khí của họ chính là sự hiền lành, sự nhẫn nại, sự tín nhiệm vào Thiên Chúa. Sự chiến thắng vĩnh viễn không đến từ võ lực. Ngày nay người ta gọi nó là kết quả của sự không dùng bạo lực".
* "Phúc thay ai sầu khổ, vì họ sẽ được Thiên Chúa ủi an". Tận đáy sâu của nỗi tuyệt vọng, người tín hữu vẫn thấy ánh lên một niềm hy vọng: "Tia hy vọng này là khuôn mặt của Thiên Chúa. Ngài đến gần để an ủi người đắm chìm trong cơn thử thách".
* "Phúc thay ai khao khát nên người công chính, vì họ sẽ được Thiên Chúa cho thoả lòng". Rảo qua toàn bộ Kinh Thánh, Sự công chính ở mối phúc thứ bốn được hiểu là "tự điều chỉnh" tâm hồn và thái độ theo cách thế Thiên Chúa đã làm. Thiên Chúa ở đây là Đấng đã đến để gặp gỡ con người và nối kết với họ bằng giao ước. Như vậy ‘trọn đời mình, người Kitô hữu tìm cách đáp ứng những đòi hỏi tinh thần và luân lý do giao ước này đề ra bằng cách thực hiện "sự công chính" đối với Thiên Chúa và đối với đồng loại’.
2. Bốn mối phúc sau hướng đến thái độ đặc trưng của người môn đệ Đức Kitô
* "Phúc thay ai xót thương người, vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương". Khi chiêm ngắm cách Thiên Chúa, Đấng nhân từ và xót thương cư xử với ta, người môn đệ của Đức Kitô học biết tha thứ những xúc phạm và trợ giúp anh em mình sống trong cảnh tuyệt vọng.
* "Phúc thay ai có tâm hồn trong sạch, vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa". Sự trong sạch ở đây không có liên quan trực tiếp đến tình dục. Nó cũng không phải là sự chính trực, sự không giả dối, sự đi đôi giữa nói và làm. Sự trong sạch đây là con đường hợp nhất với Thiên Chúa.
* "Phúc thay ai xây dựng hòa bình, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa". Jean Potel giải thích: "Đối với Đức Giêsu, sống hòa bình bằng cách rèn luyện một đời sống hòa hợp và an lành không đủ, Ngài đòi một đức ái tích cực, nhất là khi không có hòa bình trong gia đình, nơi cộng đoàn Kitô hữu. Hòa bình sẽ được gọi không có biên giới cũng như tình yêu Thiên Chúa không có giới hạn. Những người xây dựng hoà bình là con Thiên Chúa: dĩ nhiên nhiệm vụ của con là tiếp tục công việc của Cha mình, mà điều Cha trên trời muốn là đem hoà bình đến cho con người".
* "Phúc thay ai bị bách hại vì sự công chính, vì Nước Trời là của họ". Trung thành tuân giữ giáo huấn của Đức Kitô như trong các mối phúc không phải là không có những hiểu lầm, những đối nghịch, những bách hại, vì những giá trị Nước Trời đi ngược lại với những giá trị thường được đề cao như những tiêu chuẩn cuộc sống. Đối với Đức Giêsu, những môn đệ bị bách hại của Ngài là những người nghèo thật sự của mối phúc thứ nhất. Họ chỉ có lời hứa Nước Trời cho những khổ đau họ gánh chịu.
Tất cả các mối phúc đều vẽ lên một khuôn mặt, đó là khuôn mặt của Đức Giêsu. Jean Potel kết luận: "Đức Giêsu hân hoan đón nhận Nước Trời mà Ngài hết lòng chờ đợi và đã hoàn toàn dấn thân vì Nước Trời ấy. Cuộc đời, lời nói, hành vi của Ngài đều biểu lộ nơi Ngài một con người nghèo hèn, hiền lành, thương xót, trong sạch, kiến tạo hòa bình; một người chỉ sống vì Nước Trời đang đến, vì triều đại của Đấng mà các môn đệ Ngài sẽ cầu khẩn khi gọi là Cha".

 

Tết 1_118: Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó

(Suy niệm của Lm. Thiện Cẩm)
 

Phật Thích Ca mở đầu bài thuyết pháp đầu tiên tại Bê-na-rét bằng câu: "Vạn sự sự vô thường, Tết 1_118

Phật Thích Ca mở đầu bài thuyết pháp đầu tiên tại Bê-na-rét bằng câu: "Vạn sự sự vô thường, vạn sự khổ", nghĩa là mọi sự đổi thay không ngừng, nên mọi sự chỉ là khổ. Sinh, lão, bệnh, tử: Con người sinh ra để rồi già yếu, bệnh tật, và cuối phải chết. Rõ thật cuộc đời chỉ là bể khổ!
Năm trăm năm sau, Đức Kitô xuất hiện bên đất Pa-lét-tin, dõng dạc tuyên bố trong bài giảng đầu tiên: "Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó, vì Nước Trời là của họ!" (Mt 5,3)
Một người mang tiếng là bi quan yếm thế, người kia lại bị coi như không tưởng, lạc quan quá cỡ. Một bên coi đời là bể khổ, còn một bên lại nhìn thấy màu hồng trong cái thanh bạch trống trơn.
Người ta đã tốn khá nhiều giấy mực và thời giờ sức lực để nghiên cứu, suy tư, bàn cãi về hai bài giảng đầu tiên của Đức Phật và của Đức Giêsu.. Đã có cả những luận án trình bày và so sánh hai bài giảng đó. Tuy nhiên có lẽ chẳng mấy ai hiểu được chính xác nội dung ý nghĩa của hai bài giảng có tính cách ngôn sứ ấy. Vì thực ra, cả Đức Phật lẫn Đức Kitô, đều không có chủ ý đề ra một lý thuyết về vấn đề hạnh phúc và đau khổ, mà chỉ chia sẻ cho anh em nhân loại của các Ngài chính kinh nghiệm sống của mình. Kinh nghiệm của Đức Phật là kinh nghiệm của một người đã đạt tới Chân Như, vượt ra ngoài thế giới vô thường của những đam mê mù quáng, của sự phân chia đối kháng; còn kinh nghiệm của Đức Kitô, là kinh nghiệm của một người thấy được sự tồn tại trong cái mất (x. Mt 10,39), và sự sống trong cái chết (x. Ga 12,24-25)
Đức Phật chỉ nói lên cái lý do, cái nguyên nhân làm cho người ta khổ, nhưng Người không bao giờ lên án cuộc đời, cho nó chỉ là bể khổ. Đức Kitô cũng không bảo rằng muốn hạnh phúc thì phải là kẻ khố rách áo ôm. Do đó, Matthêu đã có lý khi thêm ba chữ "có tâm hồn" vào trong câu nói của Chúa, để xác định cho rõ cái nghèo hèn nào mới thực sự đem lại hạnh phúc cho con người.
Trong cuộc đời, xưa cũng như ngày nay, vào thời con người còn ăn lông ở lỗ, cũng như trong thời ở khách sạn 5 sao, vẫn luôn luôn diễn ra những cảnh trái khoáy: nhiều người có đủ mọi điều kiện để hạnh phúc, mà thực tế lại đau khổ khôn lường, còn những kẻ xem ra bần cùng tăm tối, lại tràn trề hạnh phúc.
Thật ra ai cũng biết rằng nghèo khó không đương nhiên là khổ, đã đành rằng nghèo và khổ thường đi đôi với nhau. Trái lại, giàu có cũng không tất nhiên đem lại hạnh phúc cho con người. Vấn đề hạnh phúc chủ yếu ở cái TÂM. Bởi thế các bậc thánh hiền, bằng những ngôn ngữ khác nhau, nhưng hầu như đều luôn luôn nhất trí trong việc đề cao đời sống tâm linh.
Chính đó là lý do tại sao Đức Giêsu đề cao tâm hồn nghèo khó, hiền hậu, dám chấp nhận khổ đau, yêu thích sự chính trực, thương xót đồng loại, trong sạch, và biết xây dựng hòa bình. Thực ra tất cả những đức tính trên đây là những đức tính của "người nghèo của Thiên Chúa", của một anawim, theo truyền thống Kinh thánh. Người nghèo của Thiên Chúa, không phải là người có đời sống vật chất khó khăn túng quẫn, mà là kẻ trước hết hoàn toàn tin tưởng phó thác cậy trông nơi Chúa, biết sống cho Người và cho anh em đồng loại của mình, lấy Chúa làm gia nghiệp, và luôn luôn sống trong tình liên đới với anh em đồng loại, thực thi điều răn trọng nhất là mến Chúa yêu Người.
Nói theo Đông phương chúng ta, thì hạnh phúc chủ yếu ở chỗ thực hiện được sự hòa điệu giữa lòng mình với lòng Trời, giữa lòng mình với lòng người, nghĩa là sống sao cho hợp lòng Trời và lấy lòng của trăm họ làm lòng mình, "dĩ bách tánh tâm vi tâm" (ĐĐK XLIX,1).
Theo truyền thống Ấn Độ nói chung và Phật giáo nói riêng, hạnh phúc là sukha, đó là tình trạng giống như tình trạng của một bánh xe, mà trong đó mọi sự ăn khớp với nhau: vành xe, ổ trục và các đũa xe đều tốt và nằm đúng vị trí, hòa hợp với các thành phần khác, do đó mà bánh xe chạy trơn tru. Còn đau khổ là dukha, đó là tình trạng một bánh xe trục trặc, vì có những thành phần hư hỏng hay không ăn khớp với những thành phần khác.
Nói tóm lại, không ai sướng khổ một mình hay chỉ tại mình, mà tất cả chúng ta liên đới và chịu trách nhiệm về hạnh phúc cũng như đau khổ của nhau. Vì thế mà trong Tám mối phúc thật, Đức Giêsu cho thấy hạnh phúc của chúng ta tùy thuộc vào mối tương quan ba chiều giữa chúng ta với Thiên Chúa, và giữa chúng ta với anh em đồng loại.

 

 Tết 1_119: Hạnh phúc – Lm. Nguyễn Ngọc Long

Hạnh phúc cần thiết cho đời sống mỗi người từ khi mở mắt chào đời cho tới khi nhắm mắt từ giã Tết 1_119

Hạnh phúc cần thiết cho đời sống mỗi người từ khi mở mắt chào đời cho tới khi nhắm mắt từ giã cuộc sống trần thế, ai củng mong muốn có hạnh phúc và ra công gắng sức để tìm hạnh phúc. Nhưng nếu hỏi hạnh phúc là gì, và làm thế nào để có được hạnh phúc? Có lẽ không mấy ai có thể cắt nghĩa cho rõ ràng được! Vì hạnh phúc không là điều đơn giản có thể thu tóm trong một định nghĩa hay một công thức, hay một bài viết. Hạnh phúc cũng không giống như chiếc áo, chiếc xe, hay cái nhà mà có thể vẽ ra thành hình hài có màu sắc, hay có thể mua sắm làm ra được.
Hạnh phúc là điều cảm thấy trong tâm hồn, trong cuộc sống, khi một biến cố, một lời nói cử chỉ mang lại niềm vui, mà họ chờ đợi từ lâu. Thí dụ, khi thi đỗ hay lam ăn phát đạt gặp dịp may, con cháu khỏe mạnh mau lớn, học hành giỏi giang, cước được người hằng mong ước, sang đoàn tụ với gia đình, được khen tặng tán thưởng, được khích lệ an ủi, thoát khỏi tai bay vạ gió, bình phục khỏe mạnh trở lại sau cơn bạo bệnh...
Trong Phúc âm, những người được Chúa chúc phúc, những người được gọi là hạnh phúc, lại có đời sống trái ngược. Họ phải gánh chịu cuộc sống đâu có gì sáng sủa mang lại hạnh phúc như chúng ta hiểu. Trái lại họ phải chịu phần thiệt thòi, sống hy sinh chịu đựng nhiều hơn là đàng khác! Tại sao Chúa lại gọi họ là những người có hạnh phúc? Phải chăng đó chỉ là những lời an ủi để họ bằng lòng với số phận "chịu vậy" cho xong?
"Phúc thay cho những ai có tâm hồn nghèo khó, vì nước trời là của họ" (Mt 5,3). Tất cả mọi người ai cũng cần có cuộc sống no đủ cơm ăn áo mặc, nhà ở, việc làm, cơ hội học hành thăng tiến cuộc sống cho xứng đáng nhân vị đời sống con người. Nhưng đời sống con người đâu chỉ gói trọn trong phạm vi bốn bức tường nhà ở của mình. Nó còn liên đới lan rộng và tùy thuộc với môi trường, với mọi người xung quanh nữa. Và đời sống con người đâu phải chỉ có nhu cầu cho thể xác, cho bao tử, cho sức khỏe, nhưng còn có nhu cầu thiêng liêng tinh thần nữa: Lòng tin tưởng biết ơn Đấng Tạo Hóa.
Người nghèo khó trong tâm hồn là người nhìn nhận Chúa là Cha đời mình và sống bác ái, chia sẻ với người xung quanh mình. Chính tình liên đới đó làm cho cuộc sống có ý nghĩa, có hạnh phúc.
Dưới con mắt của mọi người, những ai lâm cảnh hoạn nạn buồn sầu tủi khổ, họ là những người bất hạnh - Thử lòng trong đời đã có ai chưa một lần nào lâm cảnh này? - Nhưng đức tin dạy chúng ta: Thiên Chúa không bỏ họ một mình trong lúc sầu khổ, như Ngài đã hứa: "Con đừng sợ, trong cơn sầu khổ, Ta sẽ cứu độ con" (Is 43,1). Và trong hoàn cảnh bước đường cùng vẫn có những người anh chị em đồng loại sẵn sàng an ủi, giúp đỡ nhau. Điều này rất cần cho con người. Và chính điều này mang lại hạnh phúc cho cuộc sống.
Trong lúc gặp bước đường cùng khổ gian nan, mà biết có người cùng chia sẻ, cùng đồng hành với, sẽ cảm thấy được an ủi. Đời sống được an ủi, là đời sống có hạnh phúc.
Chúa chúc phúc cho những người có lòng nhân từ, lòng thông cảm với người khác (Mt 3,7-8). Có thể họ bị người đời cho là khờ dại hay "ăn cơm nhà, vác ngà voi hàng xóm". Nhưng đâu phải như thế. Họ là những người kiến tạo hoà bình. Vì họ không lợi dụng người anh chị em mình lúc yếu thế sa cơ để kiếm lợi cho riêng mình như cảnh "dậu đổ bìm bịp leo!", nhưng tìm cách tương trợ lẫn nhau "chị ngã em nâng".
Họ là những người không tìm cách, tìm dịp xa gần nhục mạ bôi nhọ danh dự người khác. Lòng đạo đức nhân bản là nền tảng đời sống đức tin của họ, như lời Chúa dạy: Yêu thương, tha thứ cả kẻ bách hại các con (Mt 5,44).
Và trong đời sống, thiết tưởng ai cũng đã có kinh nghiệm quý báu này: Ngày hôm nay người này có thể là người thù địch, hay người không đồng ý kiến, tư tưởng với ta, nhưng ngày mai họ có thể sẽ trở thành bạn, người làm ơn cho ta! Nhà chí sĩ Nguyễn Trãi thuở xưa trên bình diện quốc gia dân tộc trong hịch Bình Ngô Đại Cáo đã kêu gọi: "Lấy chí nhân thay cường bạo!" làm nền móng xây dựng hòa bình cho xã hội, kiến tạo tình người, bắc chiếc cầu thông cảm tha thứ làm hoà với nhau.
Những người được Chúa chúc phúc, được Chúa hứa cho đời sống hạnh phúc là những ai? Họ là những người tin theo Chúa, sống rao giảng tình yêu Chúa, tình yêu bác ái tha thứ, thắp sáng niềm hy vọng cho mọi người bằng chính đời sống mình trong môi trường họ sinh sống.
Qua đời sống như thế "Danh Chúa được cả sáng và Nước Chúa trị đến". Và người khác tìm thấy niềm vui hạnh phúc cho tâm hồn khi nhận ra tình yêu thương, tương trợ nhau.

 

 Tết 1_120: Chúa là phúc thật – Lm. Phạm Quốc Hưng

"Hãy vui sướng và hân hoan, vì phần thưởng các ngươi lớn thật ở trên trời".
 

Người Ái Nhĩ Lan có một câu nói diễn tả lòng tự hào dân tộc của họ như sau: "Trên thế giới chỉ có Tết 1_120

Người Ái Nhĩ Lan có một câu nói diễn tả lòng tự hào dân tộc của họ như sau: "Trên thế giới chỉ có hai loại người: những người Ái Nhĩ Lan và những người muốn trở thành người Ái Nhĩ Lan". Là người Việt Nam và cảm thấy tự hào về truyền thống anh hùng của Việt tộc, dĩ nhiên tôi không chấp nhận câu nói trên. Nhưng tôi cũng không dám sửa câu đó thành: "Trên thế giới chỉ có hai loại người: những người Việt Nam và những người muốn trở thành người Việt Nam." Vì tôi biết có những người không muốn nhận mình là người Việt Nam dù đã sinh ra trên quê hương Việt Nam và mang trong mình dòng máu Lạc Hồng.
Dù vậy, tôi không sợ lầm khi sửa câu trên thành: "Trên thế giới chỉ có hai loại người: những con người hạnh phúc và những con người không được hay chưa được hạnh phúc". Vì không có một người bình thường nào mà không mong mỏi khát khao hạnh phúc. Hạnh phúc viên mãn hay hạnh phúc đích thực bao giờ cũng là đối tượng tìm kiếm của trái tim nhân loại.
Nhưng làm thế nào để đạt được hạnh phúc?
Ai cũng mong muốn hạnh phúc, nhưng những quan niệm của con người về hạnh phúc, về cách thức để đạt được hạnh phúc thì thật khác nhau. Có người quan niệm hạnh phúc là có sức khỏe, nhan sắc, bạc tiền, tài năng, của cải, địa vị, học thức, và gia đình êm ấm thuận hoà. Người khác lại cho rằng hạnh phúc là được nhiều người ái mộ, làm được nhiều điều hữu ích cho xã hội, được đi vào lịch sử như những người hùng của nhân loại. Người khác nữa lại quan niệm hạnh phúc là phải từ bỏ mọi sự phiền toái của cuộc sống xã hội, sống ẩn dật như một loài thú đi hoang.
Trong Tin mừng hôm nya, Chúa Giêsu đã đưa ra những quy luật bất biến - chứ không phải một quan niệm vu vơ - để đạt đến hạnh phúc thực như con người hằng mong ước. Theo Ngài, những người hạnh phúc là
những người có tinh thần nghèo khó,
những người hiền lành,
những người ưu phiền,
những người đói khác sự công chính,
những người biết thương xót,
nhưng người tinh sạch trong lòng,
những người tác tạo hòa bình,
và những người bị bách bớ vì sự công chính.
Là Thiên Chúa và là Đấng tạo dựng nên chúng ta, Chúa Giêsu hiểu biết ta hơn là ta hiểu biết về chính mình. Ngài biết ta phải sống thế nào để đạt được hạnh phúc đích thực, nên Ngài đã chỉ cho ta biết những quy luật hạnh phúc trên. Nhưng điều này xem ra nghịch hẳn với quan niệm thông thường của con người về hạnh phúc. Nhưng đó là những chân lý không thể sai lầm.
Làm sao chúng ta biết được đây là những quy luật hạnh phúc chân thực nhất xưa nay? Vì những quy luật này đã được thể hiện nơi chính con người của Chúa Giêsu. Ngài đã sống trước khi giảng dạy chúng ta những điều ấy.
Thật vậy, nơi Chúa Giêsu chúng ta gặp thấy hiện thân của chính đức khó nghèo, chính sự hiền lành, chính sự ưu phiền, chính cơn đói khát công chính, chính lòng xót thương, chính lòng tinh sạch, chính sự hòa bình, và chính sự công chính đang bị bách bớ. Ngài là mẫu mực của tất cả những ai mà Ngài nhìn nhận là có phúc.
Nói cách khác, những quy luật trên sở dĩ gọi là những quy luật hạnh phúc bất biến vì chúng giúp người ta nên giống Chúa Giêsu và nên một với Ngài là Thiên Chúa làm người. Theo ngôn ngữ của thánh Phaolô, chúng là những phương thức giúp ta "mặc lấy Chúa Kitô" và trở nên nên "đồng hình đồng dạng" với Người. Những quy luật này giúp chúng ta noi gương Chúa Giêsu, cắm sâu chôn chặt vào Thiên Chúa như nguồn hạnh phúc duy nhất của mình và sẵn sàng thoát ly tất cả những gì không phải là Chúa. Chúng sẽ giúp chúng ta thưa cùng Chúa những lời của Thánh vịnh gia:
"Tôi thưa cùng Yavê: Chính Người là Chúa của tôi, hạnh phúc của tôi, có đâu ngoài Người...
Yavê là phần cơ nghiệp, là chén của tôi,
chính Người là Đấng nắm giữ cơ đồ cho tôi!
Giây đo phần tôi rơi nhằm nơi tuyệt mỹ,
cơ nghiệp ấy làm cho tôi sung sướng!"
(Tv 16:2 & 5-6)
Điều quan trọng ở đây là chúng ta có dám dấn thân sống theo những quy luật hạnh phúc này hay không?
Sở dĩ cuộc đời chúng ta còn buồn tẻ chán chường, còn "sà sà mặt đất", còn chưa được thăng hoa là vì chúng ta chưa dám thực hành những điều mà miệng ta nhìn nhận là chân là thiện. Cũng chính vì thế mà ta chưa cảm nếm được sự ngọt ngào và sức mạnh của Lời Chúa. Đúng như tác giả sách Gương Chúa Giêsu nhận xét: "Sở dĩ nhiều người nghe giảng Phúc âm luôn mà vẫn không xúc động, là vì họ không có tinh thần Chúa Kitô. Muốn hiểu tỏ và nếm thử thi vị của Lời Chúa, cần phải tập sống đời sống của Chúa" (GCG Q.1 Ch. 1).
Trong quá trình phong thánh của Giáo hội, các vị á thánh là những người bắt đầu được dân chúng tôn kính nơi công cộng còn được gọi là những "chân phúc", những con người được phúc thật, được phần thưởng thiên đàng, được sống đời đời. Lý do Giáo hội tôn phong các ngài là vì Giáo hội nhận thấy nơi các ngài là hình ảnh của chính Chúa Giêsu là Nguồn mọi sự thánh, thấy sự hiện diện của chính Chúa nơi cuộc đời các ngài. Phần phúc của các ngài cũng là phần phúc được Chúa hứa ban cho mỗi tín hữu chúng ta.
Cuối cùng rồi thì nhân loại vẫn được chia thành hai loại như những con chiên lạc được tách khỏi đám dê trong bài giảng về ngày phán xét cùng tận (Mt 25:31-46): những người được phúc thật là những người mang hình ảnh Chúa Giêsu vì đã nổ lực sống thánh thiện noi gương Người và nhưng người đã tự khước từ phúc thật đời đời vì đã chối bỏ lời mời gọi sống thánh theo gương Chúa Giêsu khi còn ở trần gian và đã đánh mất hình ảnh Thiên Chúa nơi mình bằng lối sống đắm chìm trong tội.
Với lời mời gọi của Chúa Kitô, với sự trợ giúp của Ơn Chúa, với sự thúc bách của Chúa Thánh Thần, với gương sáng và lời chuyển cầu của Mẹ Maria và chư thánh, chúng ta còn ngần ngại gì mà chưa nỗ lực sống thánh để đạt được phúc thật?

 

Tết 1_121: Phúc thật, phúc giả – Lm. Bùi Quang Tuấn

Bài Giảng Trên Núi" hay "Hiến Chương Nước Trời" là bản tổng hợp xúc tích nhất của Tin mừng Tết 1_121

"Bài Giảng Trên Núi" hay "Hiến Chương Nước Trời" là bản tổng hợp xúc tích nhất của Tin mừng Đức Kitô. Và "Tám Mối Phút Thật" chính là nền tảng căn bản nhất của "Bài Giảng Trên Núi" đó.
Thế nhưng không tránh khỏi một câu hỏi đầy tính hiện sinh: làm sao nghèo hèn, hiền từ, ưu phiền, đói khát, bị bắt bớ...mà lại có phúc được? Phải chăng Đức Giêsu đang ru ngủ hạng bần cùng khốn khó, như Marx có lần tuyên bố: Kitô giáo biện chứng cho sự nghèo đói của nhân loại và làm lụn bại tinh thần đấu tranh vượt thoát áp bức. Phải chăng là như thế?
Dựa vào đâu để khẳng định nghèo khó, ưu phiền, đau khổ là có phúc, đang khi thực tế lại như những "vô phúc" đáng loại trừ?
Một nhà tư tưởng đã có lý khi nhận định: ấy là dựa vào con người của Đức Giêsu, vì Ngài chính là hiện thân của khó nghèo, hiền lành, lắng lo, khát khao, thương xót, tinh tuyền, hoà bình, và khốn khổ vì công chính.
Không phải bởi lâm vào tình cảnh bế tắc nên Ngài phải chịu vậy, song đây là một sự tự nguyện chọn lựa để làm nên mẫu gương ân phúc cho con người. Ví dụ, có lần ma quỉ đến nói với Đức Giêsu: "Nếu ông cúi mình bái lạy tôi thì tất cả vinh quang giàu sang của thế gian sẽ thuộc về ông". Như vậy Chúa Giêsu có khả năng để nên giàu có, và giàu có lắm, vì được cả thế gian chứ không phải thường. Nhưng Ngài từ chối bái lạy "cha của bọn dối trá".
Hay sau khi hóa bánh cho dân chúng ăn no, Chúa Giêsu được người ta tôn vinh làm vua. Khi làm vua, chắc là sẽ sung sướng và cao sang hơn người. Ấy thế mà Kinh thánh lại nói: "Ngài trốn lên núi". Tại sao trốn? Phải chăng Đức Giêsu muốn khẳng định một điều: giá trị cao quí và cần thiết vô cùng không ở nơi của cải, cao sang, sức mạnh, chức quyền nhưng là nơi Thiên Chúa. Ai chọn lựa Thiên Chúa, ai đặt trọn niềm tin tưởng nơi Ngài chính là người có phúc nhất. Thánh vịnh đã xác nhận điều đó khi nói: "Phúc thay người đặt niềm tin tưởng nơi Chúa". Vì sao? Vì khi đặt niềm tin tưởng như thế:
"Họ như cây trồng bên suối nước,
Trổ sinh hoa trái đúng mùa
Lá cây không bao giờ tàn úa
Tất cả công việc họ làm đều thịnh đạt".
Thịnh đạt trong mọi công việc chính là phần phúc dành cho những ai chọn Thiên Chúa làm lẽ sống và con đường ngay thẳng của Tin mừng để bước đi, dù rằng nẻo đường đó không thiếu chật hẹp, gian nan, đau khổ và rướm máu. Thế nhưng có bước theo Chúa và gắng nên giống Ngài mới là phúc thật, còn ngược lại, thì dù được xem như thành công, giàu có, hạnh phúc, an lành, người ta vẫn là những kẻ vô phúc trong thiên hạ.
Mới đây, làng điện ảnh Hollywood thường đề cập đến nữ minh tinh Demi Moore, người rất được khán giả Hoa kỳ ái mộ, và cũng từng là vợ của Bruce Willis, một tài tử danh tiếng khác.
Nổi tiếng và giàu có, nhưng Demi lại đang sống trong tình trạnh mặc cảm, lo sợ, hối hận dày vò. Số là trước khi bước chân vào nghề điện ảnh, Demi đã làm một nghề tồi bại: cho chụp hình playboy thân xác của mình.
Mặc dầu đã tốn khá nhiều tiền mua lại các phim gốc, hầu xóa bỏ dấu tích của một thời thiếu đoan trang, Demi vẫn mang trong mình nỗi bất an lo sợ. Vì hiện nay đang có dấu hiệu xuất hiện các hình ảnh xấu xa của cô trên Internet.
Demi lo cho danh dự của mình một phần, nhưng nguy hiểm hơn, cô đang sợ một ngày kia, ba đức con gái bé bỏng của cô là Rumer, Scout, và Talluah sẽ nhìn thấy các hình ảnh "không nết na" của mẹ chúng trên Internet, hoặc bị bạn bè bắt gặp và đem ra trêu chọc. Demi không muốn chứng kiến cảnh các con ngây thơ vô tội phải xấu hổ đau khổ vì mình. Cô tâm sự: "Giấc mơ lớn lao nhất của tôi là tìm mọi cách thu hồi những tấm ảnh playboy đó và ném vào một đống lửa cho cháy tiêu tan". Demi cũng cho hay cô không kiêu hãnh chút nào khi có người khen cô đẹp vẹn toàn, bởi vì cô đã phạm một lỗi lầm rất lớn là để cho người ta chụp hình khỏa thân hầu sớm nổi danh và giàu có.
Thế đó, cứ tưởng vừa giàu sang có sang trọng, vừa xinh đẹp và được mến mộ thì hạnh phúc lắm. Nhưng sung sướng gì khi thâm tâm cứ bị dày xéo cắn rứt không nguôi.
Thử hỏi sống như thế là có phúc hay vô phúc? Thành ra có nhiều điều người ta tưởng "sướng lắm" hay "phúc lắm", nhưng khi đạt được rồi mới thấy bức rức, hụt hẫng, dày vò, dơ nhớp... bởi vì nỗi khát khao háo hức không phải là công chính và thẳng ngay.
Như vậy, con người chỉ có phúc thật khi khao khát Thiên Chúa và sự công chính của Ngài. Con người chỉ có bình an và thoả lòng thật sự khi bước đi trên nẻo đường thập giá của Phúc âm. Và con người chỉ có thể vui cười chiến thắng khi can đảm chiến đấu và chiến thắng bao dục vọng đam mê thế trần.
Đường lên thiên đàng khi nào cũng nhỏ hẹp và vất vả hơn đường xuống hỏa ngục đầy bóng mát thênh thang. Nhưng can đảm chọn lựa bước theo Giêsu là đón nhận cho đời mình chính nguồn hạnh phúc chân thật và sự sống phong phú dồi dào.

 

 Tết 1_122: Xây dựng hoà bình

Kể từ ngày 11/9/2001, ngày toà tháp đôi Trung Tâm Thương Mại Thế Giới ở thành phố New York, Tết 1_122

“Kể từ ngày 11/9/2001, ngày toà tháp đôi Trung Tâm Thương Mại Thế Giới ở thành phố New York, Mỹ bị bọn khủng bố tấn công khiến cho khoảng 3000 chết cho đến nay, thế giới đã không có một phút nào yên. Thật vậy, trong suốt ba năm qua, mặc cho những cố gắng của các chính phủ, nạn khủng bố vẫn không ngừng gia tăng trên một diện rộng chưa từng thấy. Đó là vụ đánh bom đảo du lịch Bali (Inđônêxia) làm 202 người chết hồi tháng 2/2002, vụ đánh bon nhà ga xe lửa ở Madrid (Tây Ban Nha) hồi tháng 3/2004 làm 191 người chết, rồi hàng loạt vụ đánh bom chung cư ở Nga khiến 300 người thiệt mạng. Và gần đây nhất là vụ bắt cóc con tin tại một trường học ở Beslan (Nga) hồi đầu tháng 9/2004 gây ra cái chết cho 326 người, và làm bị thương 727 con tin, và vụ đánh bom toà đại sứ Úc ở Jakarta (Inđônêxia) hồi thượng tuần tháng 9/2004 vừa qua đã khiến cho 9 người chết và 170 người bị thương…”
Giữa lúc nền hòa bình thế giới đang bị đe dọa nặng nề, thì qua đoạn Tin mừng hôm nay, chúng ta nghe vang vọng lời Chúa:
- Phúc cho ai xây dựng hòa bình, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa.
Đúng thế, cho đến ngày hôm nay, hòa bình mãi mãi vần là một ước vọng sâu xa nhất của con người. Thế nhưng, chúng ta không thể ngồi yên để đón nhận hòa bình như đón nhận một quà tặng từ trời rơi xuống. Trái lại, chúng ta phải ra sức kiến tạo, phải tích cực góp phần xây dựng hòa bình.
Thế nhưng, việc kiến tạo và xây dựng hòa bình không phải được bắt đầu bằng những hội nghị bàn tròn hay bàn vuông, mà phải được bắt đầu ngay từ cõi lòng mỗi người. Vì thế, chúng ta không lấy làm lạ khi thấy trong đêm Giáng sinh, các thiên thần đã hát vang trên cánh đồng Bêlem:
- Bình an dưới thế cho người thiện tâm.
Giờ đây trong thinh lặng và bình tĩnh, nhìn vào tận đáy tâm hồn, chúng ta sẽ nhận ra kẻ nội thù phá hoại sự bình an của bản thân và của người khác chính là sự ghen tức.
Thực vậy, sách “Cổ học tinh hoa” đã kể lại một mẩu chuyện như sau:
Có một vị tướng, trước khi xuất quân, đã khao tất cả các binh sĩ một bữa tiệc thịnh soạn bằng thịt dê. Không hiểu vì quên lãng hay vì nghĩ rằng là chỗ thân tình, nên đã không báo cho anh đánh xe. Thế là anh đánh xe nổi giận đùng đùng, cho rằng mình đã bị đối xử tệ bạc.
Sáng hôm sau khi ra trận, anh ta đã đánh xe và chở thẳng vị tướng và giao nộp cho quân địch.
Chỉ vì một miếng thịt dê và do lòng ghen tức mà anh đánh xe đã phản bội, đã phá đổ mọi tình nghĩa mà vị tướng đã dành cho anh trong suốt bao nhiêu năm trời.
Với chúng ta cũng vậy, nhiều khi chỉ vì một miếng thịt dê, nghĩa là chỉ vì những quyền lợi nhỏ mọn, nhưng được lòng ghen tức thúc đãy và thổi phồng, chúng ta sẵn sàng coi những người thân cận ruột thịt là kẻ thù của mình. Chúng ta quên đi mọi tình nghĩa cũ để rồi tìm mọi cách triệt hạ cho bằng được những kẻ chúng ta ghen tức.
Thế nhưng, chính sự ghen tức này đã làm cho tâm hồn chúng ta trở nên bất ổn và nhiều lúc còn dày vò cắn rứt vì những lời nói chì chiết và những hành động thô bạo của chúng ta.
Và hơn thế nữa, sự ghen tức còn hủy diệt sự bình an giữa chúng ta và người khác. Bởi vì một khi đã nhìn nhau bằng cặp mắt không mấy thiện cảm, làm sao chúng ta có thể tạo được sự hài hòa và cảm thông.
Chình vì thế, để góp phần xây dựng sự bình an giữa chúng ta và những người chung quanh, thì việc đầu tiên cần phải làm ngay, đó là hãy trục xuất kẻ nội thù nguy hiểm này ra khỏi cõi lòng chúng ta, đó là sự ghen tức. Bởi vì có đánh bật tận gốc rễ sự ghen tức, thì bấy giờ chúng ta mới có thể nhìn nhau bằng cặp mắt trong sáng và từ đó mới dễ dàng đi tới chỗ hiểu biết và cảm thông với nhau hơn. Đó phải là yếu tố căn bản cho một sự bình an chân chính.
 
 
 

Tết 1_123: Tám Mối Phúc

Khi còn bé tôi nghĩ rằng nếu đào một cái lỗ xuống đất và cứ tiếp tục đào, đào mãi, tôi có thể làm Tết 1_123

Khi còn bé tôi nghĩ rằng nếu đào một cái lỗ xuống đất và cứ tiếp tục đào, đào mãi, tôi có thể làm thành một con đường hầm từ Việt Nam xuyên qua trái đất sang đến Hoa Kỳ. Tất cả mọi người Mỹ, nhà cửa, ruộng vườn… là thế giới lộn ngược!
Đó là lý luận của trẻ con. Nhưng một thế giới lộn ngược đối với Chúa Giêsu không phải là một tư tưởng quá điên rồ. Chúa Giêsu trong bài giảng trên núi hôm nay, thánh Matthêu đã đưa ra Tám Mối Phúc làm đảo lộn những giá trị và sự khôn ngoan của con người. Những phúc lành của Chúa Giêsu là những giá trị bị lộn ngược.
Đang khi người ta chúc “Phúc cho những ai giàu có” thì Đức Giêsu lại nói “Phúc cho những ai có tinh thần nghèo khó”. Đang khi người ta chúc “Phúc cho những ai lanh lợi” thì Đức Giêsu nói “Phúc cho những ai hiền lành”. Đang khi người ta chúc phúc “Phúc cho những ai vui vẻ” thì Đức Giêsu nói “Phúc cho những ai đau buồn”. Người ta chúc “Phúc cho những ai tiệc tùng linh đình”. Đức Giêsu nói “Phúc cho những ai đói khát điều công chính”. Người ta ước ao “Phúc cho những ai có quyền hành”. Đức Giêsu nói “Phúc cho những ai hay thương xót người”. Người ta muốn “Phúc cho những ai có thân hình đẹp đẽ thon thả”. Đức Giêsu nói “Phúc cho những ai có lòng trong sạch”. Người ta muốn “Phúc cho những ai gây tin giật gân”. Đức Giêsu nói “Phúc cho những ai ăn ở thuận hòa”. Đang khi người ta muốn “Phúc cho những ai có đủ tiền mướn luật sư giỏi” thì Đức Giêsu nói “Phúc cho những ai bị bách hại vì lẽ công chính”. Lý do của sự đảo ngược giá trị này vì Chúa Giêsu rao giảng với tiêu chuẩn và uy quyền của thần linh. Chúa tập trung vào việc yêu mến Thiên Chúa và thương yêu tha nhân, còn người trần gian lại tập trung vào sự hưởng thụ ích kỷ và thỏa mãn khoái lạc.
Triết gia Aristốt xưa kia đã nói: “Hạnh phúc (happiness) là cái mà tất cả mọi người tìm kiếm”. Đó là điều tự nhiên của con người. Sự ao ước này có nguồn gốc thần linh: Thiên Chúa đã đặt nó trong trái tim con người để lôi kéo con người lại với Người. Do đó những điều con người nghĩ là hạnh phúc, nhưng không đưa họ về với Thiên Chúa, đều là hạnh phúc giả tạo, khoái cảm mau qua, và không phải là phúc lành thực sự.
Người nghiện rượu tin rằng hạnh phúc nằm trong chai bia, chai rượu. Một chai chưa đủ, rồi hai, ba chai. Sau đó lái xe về nhà, vượt đèn đỏ, gây tai nạn. Sáng sớm tỉnh dậy thấy mình mẩy băng bó đầy những thương tích. Từ đó anh học biết rằng hạnh phúc hứa ban bởi rượu là giả tạo, hoàn toàn không phải là phúc lành tí nào!
Thế gian có thể tìm kiếm được khoái cảm mà họ muốn, nhưng cũng có thể mất. Một sự thay đổi về tài sản của cải, một sự suy sụp về sức khỏe, một kế hoạch bị thất bại, một tham vọng không đạt được, và ngay cả một sự thay đổi của thời tiết… cũng có thể lấy đi cái hạnh phúc mong manh do thế gian mang lại.
Phúc lành của người Kitô hữu hoàn toàn khác biệt. Không một yếu tố ngoại giới nào có thể ảnh hưởng đến, hay hủy diệt nó được. “Và niềm vui của các con”, Đức Giêsu đã nói “không ai lấy mất được”. “Các mối phúc thật cho thấy một trật tự của hạnh phúc và ân sủng, của vẻ đẹp và bình an”.

 

Tết 1_124: Phúc Tám Mối

Vào năm 258, hoàng đế Valerian ban lệnh bắt tất cả các giám mục, linh mục và thầy sáu vào tù. Đức Tết 1_124

Vào năm 258, hoàng đế Valerian ban lệnh bắt tất cả các giám mục, linh mục và thầy sáu vào tù. Đức Giáo Hoàng Sixtus II là người bị bắt đầu tiên. Ngài liền tin tưởng trao lại tài sản của Giáo Hội cho thầy sáu Laurensô với những lời hướng dẫn phải phân phát cho các bà góa và trẻ mồ côi. Thầy sáu Laurensô đã làm đúng như lời dặn của Đức Giáo Hoàng Sixtus II.
Khi Đức Giáo Hoàng Sixtus II bị đem đi hành quyết, Laurensô đã đi theo ngài khóc lóc thảm thiết: “Thưa Đức Thánh Cha, ngài vội vàng đi đâu vậy? Và con phải làm gì đây? Tại sao ngài lại đi đến nơi hiến tế mà không có thầy sáu, người phụ giúp bàn thờ của ngài? Con đã thi hành lệnh truyền của ngài về tài sản của Giáo Hội”. Đức Giáo Hoàng đáp: “Con yêu dấu, ta sẽ không bỏ rơi con đâu. Con sẽ theo ta trong ba ngày nữa”.
Ngay sau đó, Laurensô đã bị bắt. Ông quận trưởng đã yêu cầu Laurensô phải trao nộp tài sản của Giáo Hội. “Giáo Hội thực sự rất giàu có”, Laurensô trả lời “Tôi sẽ chỉ cho ông thấy những tài sản đó, nhưng hãy cho tôi một thời gian ngắn để gom góp lại. Thời gian đã được ban, và Laurensô đã đi đến với các bà góa, trẻ mồ côi, những người què quặt, và già yếu mà Giáo Hội đã giúp đỡ. Ngài đã qui tụ họ lại xếp thành hàng dài đứng trước cửa nhà thờ, rồi mời ông quận trưởng đến và nói: “Thưa ông, đây là những tài sản của Giáo Hội!” Viên quận trưởng nổi giận và hứa sẽ ban cho Laurensô một cái chết đặc biệt: từ từ và đau đớn.
Sau đó Laurensô đã bị xích vào vỉ sắt nướng thịt, nằm trên ngọn lửa cháy riu riu. Tuy chịu cực hình, nhưng lòng khát khao của ngài hướng về Thiên Chúa quá lớn lao đến độ ngài không còn cảm thấy đau đớn. Nằm trên vỉ sắt một lúc, ngài nói với ông quận trưởng: “Xin ông hãy lật sang mặt bên kia, bên này đã chín đủ rồi”. Quân lính đã làm y như vậy. Sau đó ngài lại nói: “Bây giờ cả hai bên đã chín, tất cả đã sẵn sàng, hãy đem ra phục vụ!” Rồi ngài cầu nguyện cho tòa thánh Rôma, để nhờ đó, thế giới có thể đón nhận được đức tin. Đang khi ngước mắt hướng lên trời, ngài đã tắt hơi thở cuối cùng trong niềm vui hân hoan được trở về với Thiên Chúa hằng sống.
Nơi Thiên Chúa, người nghèo khổ đặt tất cả sự phó tác tin cậy, người đau buồn tìm sự ủi an, người tội lỗi xin ơn tha thứ, người ốm đau được ơn chữa lành, kẻ bị bách hại có sức mạnh và lòng can đảm phi thường… Họ hoàn toàn tùy thuộc nơi Ngài. Vì thế tất cả phúc lành được trao ban cho họ.
Mẹ Têrêsa Calcutta là một người phụ nữ sống cho tha nhân. Suốt đời của mẹ sống với Phúc Tám Mối của Chúa Giêsu. Mẹ phục vụ những người nghèo khó nhất trần gian là để bắt chước lòng nhân từ của Chúa Giêsu. Ngay cả những người không phải là Kitô hữu đã nhìn vào mẹ Têrêsa và thấy mẹ có một điều gì đó giống như Thiên Chúa và có thể nối kết với Ngài. Một người ăn xin đang hấp hối bên vệ đường thành phố Calcutta, sau khi được cứu sống đã hỏi mẹ Têrêsa: “Trên trần gian này, có điều gì giống với Thiên Chúa không?” Mẹ trả lời: “Không, tôi đang cố gắng là một cái gì đó giống như Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa”.
Cha Henri Nouwen, tác giả nổi danh của nhiều tác phẩm tu đức, khi ngài còn sống đã gặp mẹ Têrêsa ở Rôma. Ngài nói rằng điều đáng chú ý nhất nơi mẹ Têrêsa, là mẹ thường xuyên tập trung vào Đức Giêsu. Dân chúng bu quanh lấy mẹ và đặt biết bao nhiêu câu hỏi. Mẹ đã trả lời với một nguyên tắc duy nhất: tập trung tất cả nơi Đức Giêsu. Những câu trả lời của mẹ, mới nghe có vẻ “đỏ mặt” vì đơn sơ và ngây thơ, phản ảnh những thói quen của một người sống hoàn toàn tùy thuộc vào Thiên Chúa. Chính cha Nouwen cũng đã cảm nhận được một sức mạnh dịu dàng và êm đềm phát ra từ những câu trả lời đó.
Phúc Tám Mối là những con đường dẫn ta về Nước Trời theo gương Chúa Giêsu đã đi. Đó không phải là tám con người khác nhau, nhưng là tám bức hình chụp từ những góc cạnh khác nhau của cùng một người, người đặt hoàn toàn tin tưởng và tùy thuộc vào Chúa Giêsu Kitô, người sống theo giảng thuyết và trở nên giống như Ngài.
Ở Hoa Kỳ hằng năm những hãng xăng dầu thường phát hành miễn phí những tấm bản đồ chỉ đường. Lịch sử của những tấm bản đồ chỉ đường này bắt đầu vào năm 1895, khi tờ báo “Chicago Times Herald” vẽ ra lộ trình của cuộc đua xe hơi từ Chicago tới Waukegan cho các độc giả theo dõi. Từ đó trở đi những người lái xe đã bắt đầu đòi hỏi những bản đồ chỉ đường giữa các thành phố. Những tấm bản đồ vẽ ra những con đường tốt nhất, những chỗ phải đi đường vòng, những điều kiện của xa lộ, những chỗ nghỉ ngơi, đổ xăng và những điểm cần phải chú ý dọc theo bên đường…
Sách Giáo lý Công giáo giải thích rằng: “Trong suốt cuộc đời của Chúa Giêsu, Ngài luôn tỏ mình là “khuôn mẫu của chúng ta”. Ngài là “Con người hoàn hảo” và Ngài mời gọi chúng ta đến làm môn đệ Ngài, bước theo Ngài: trong sự hạ mình của Ngài. Ngài đã để lại cho ta một gương để noi theo; bằng lời cầu nguyện của Ngài, Ngài thu hút ta vào việc cầu nguyện; bằng sự khó nghèo của Ngài, Ngài kêu gọi chúng ta hãy tự ý chấp nhận cảnh thiếu thốn và những cuộc bách hại”.
Phúc Tám Mối là tất cả những gì Chúa Kitô đã sống, Ngài muốn chúng ta sống những điều đó trong Ngài, để Ngài sống trong chúng ta như Công đồng Vatican II đã nói: “Do sự Nhập Thể của Ngài, một cách nào đó Con Thiên Chúa đã kết hiệp với mỗi người chúng ta”.

 

Tết 1_125: Chú giải của Noel Quession

Thấy đám đông, Đức Giêsu lên núi...
 

Phải suy nghĩ về những lời dẫn nhập đầu tiên này của bài giảng trên Núi Thánh Matthêu giới thiệu Tết 1_125

Phải suy nghĩ về những lời dẫn nhập đầu tiên này của bài giảng trên Núi Thánh Matthêu giới thiệu với chúng ta Đức Giêsu lúc bắt đầu sứ vụ của Người, có một đám đông đi theo Người. Và những câu trước đó mô tả đám đông ấy gồm, những người bệnh hoạn, tật nguyền, những kẻ kinh phong, bại liệt... (Mt 4,23). Đức Giêsu là Đấng nhìn thấy đám đông lầm than vất vưởng mà chạnh lòng thương... như bầy chiên không người chăn dắt (Mt 9,36). Ngày hôm nay... tôi nhìn thấy ánh mắt của Đức Giêsu đẫm lệ xót thương những ai bị đè bẹp: bệnh hoạn, tật nguyền, những người không việc làm, những phụ nữ bị nhạo báng, những người nghèo thuộc mọi thành phần, "những người thu thuế và tội lỗi" cả một nhân loại ấy bên bờ tuyệt vọng.
Khi Đức Giêsu nhìn thấy tất cả nhữngđiều đó... Người làm gì? Người nói gì?
Đức Giêsu lên núi. Người ngồi xuống các môn đệ đến gần bên. Người mở miệng dạy họ rằng:
Phong cảnh này được cố ý dựng lên vĩ đại và long trọng. Đức Giêsu rất con người nhưng theo Tin Mừng của Matthêu cũng là "Đức Chúa Vinh quang", uy nghi như một tranh thánh của phương Đông. Phong cảnh núi non là "bài giảng" Đây không phải là một phác họa cho diễm lệ, đó chính là khung cảnh vĩ đại của việc công bố luật mới là núi Xi-nai mới, đỉnh núi bốc khói nơi Thiên Chúa nói với dân. Và Đức Giêsu là Môsê mới, nhà làm luật, nhà giải phóng chân chính cho tất cả những ai đang sống trong nô lệ.
Vâng, bạn đang bị đè bẹp bởi một hoàn cảnh mà con người không thể chịu đựng nỗi, bạn hãy lắng nghe! Thiên Chúa muốn nói với bạn môt điều. Bạn đang khốn khổ bởi vì bạn cảm thấy bị tổn thương trong những khát vọng sâu nhất bạn hãy lắng nghe! Nếu bạn có cơ may "'hiểu được, điều Người sắp nói với bạn, thì cuộc đời bạn sẽ được thay đổi. Hãy lắng nghe... Bạn hãy lắng nghe Thầy. Bạn hãy lắng nghe Đức Giêsu.
“Phúc thay... Phúc thay... Phúc thay...
Đó là chữ đầu tiên của tất cả các câu trong "bài giảng trên núi".
“Phúc thay"!, "makarioi" trong tiếng Hy-lạp.
“Phúc thay”!, "asherei” trong tiếng Do Thái...
Vâng chủ đề của bài thuyết giáo đầu tiên của Đức Giêsu chính là hạnh phúc. Các mối phúc thật là một sự loan báo về hạnh phúc, một "tin mừng tóm lược toàn bộ Tin Mừng. Các bạn là những người nghèo khó, bị khinh miệt những người chán nản, thất vọng, các bạn có thể được hạnh phúc. Các bạn hãy hạnh phúc. Bởi vì hạnh phúc thật trước tiên không phải là công việc của sự giàu sang, của sự thành công, của lạc thú. Bạn đã tưởng rằng hạnh phúc không dành cho bạn... Đức Giêsu nói với bạn rằng bạn có thể được hạnh Phúc. Đức Giêsu muốn làm cho các môn đệ của người trở thành những người hạnh phúc. Bạn là Kitô hữu! bạn có biết rằng bạn đang hạnh phúc không? Nếu bạn không hạnh phúc, bạn không hỏi tại sao ư?
Nhưng vấn đề là hạnh phúc nào? Có nhiều loại hạnh phúc.Và hạnh phúc khi nào? Cho cuộc đời hiện tại hay cuộc sống mai sau?
Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó...
Phúc thay ai hiền lành...
Phúc thay ai sầu khổ...
Phúc thay ai khao khát nên người công chính...
Phúc thay ai xót thương người...
Phúc thay ai có tâm hồn trong sạch...
Phúc thay ai xây dựng hòa bình...
Phúc thay ai bị bách hại vì sống công chính...
Hạnh phúc mà Đức Giêsu nói đến không loại trừ những nghịch cảnh và sự đau khổ. Chúng ta đã thấy điều đó qua tất cả bản văn, một cách chính xác Đức Giêsu nhắm đến những người mà người ta coi như những người bất hạnh. Các mối phúc thật không nhắm đến "những"hạng người khác Những từ ngữ thay đổi ở đó chỉ để làm dôi lại một tư tưởng duy nhất: “Anh em hãy đến cùng tôi. tất cả những ai đang vất vả và nặng nhọc, và tôi, tôi sẽ cho anh em sự nghỉ ngơi. Anh em hãy mang lấy ách của tôi, và hãy học vôi tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường. Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng vì ách tôi êm ái và gánh tôi nhẹ nhàng" (Mátthêu 11,28-30).
Vâng, Đức Giêsu đúng là Đấng mà người ta chờ đợi "Đấng đã được loan báo", "Đấng phải mang lại Tin Mừng “cứu độ" Người ta hay quên rằng chữ "Tin Mừng" đã được chính Đức Giêsu lấy lại từ phần thứ hai của sách I-sai-a: "Thần khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu (oint = chnstoa) tấn phong tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn. Người đã sai tôi đi công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức..." (I-sai-a 61, 1.6 - Lc 4, 18)
Phúc thay... vì Nước Trời là của họ...
Tám mối phúc thật đầu tiên được đóng khung bằng sự bao gồm này, được lặp lại hai lần ở đầu và ở cuối (Mt 4,3 và 4,10). Bởi công thức này, Đức Giêsu trả lời hai câu hỏi của chúng ta: hạnh phúc nào? khi nào? Vấn đề là một hạnh phúc “từ bây giờ". Nước trời đang ở trong anh em: Không phải chỉ là một hạnh phúc được hứa cho mai sau, cho đời sau. Phải hiểu rõ sự tế nhị trong tư tưởng của Đức Giêsu.
Sẽ là một sự hiểu sai khi biến nó thành một thứ "thuốc phiện của quần chúng để người ta hút và ngủ thiếp đi với lại hứa sẽ được hạnh phúc sau này, bên kia thế giới sau khi chết! Đức Giêsu nói rằng những ai bị đè bẹp bởi thế giới này thì được hoặc có thể được hạnh phúc một cách thiết thực ngay trong lúc mà Đức Giêsu nói điều đó với họ. Nhưng điều này không hiển nhiên. Phải ý thức về nó. Và điều ấy dĩ nhiên không loại bỏ viễn cảnh của một "thế giới
phải đến", "Nước Thiên Chúa" nhưng niềm hy vọng ấy đã chuyển biến hiện tại. Tương lai hạnh phúc mà Đức Giêsu hứa ban cho tất cả những ai bị hoàn cảnh nhọc nhằn hiện tại đè bẹp…. tương lai ấy đã trở thành một thực tại hiện diện trong ngôi vị và tình bạn hữu của Đức Giêsu
Bởi vì hạnh phúc ấy, chúng cuộc, chính là Triều đại của Thiên Chúa", chính là "Tinh yêu Thiên Chúa" ngay từ Hôm Nay nếu bạn muốn thật sự soi sáng hoàn cảnh đau khổ của bạn. Đức Giêsu không bao giờ định nghĩa "Nước Thiên Chúa (những chữ Nước, Triều đại, Vương quyền đều giống nhau trong tiếng Do Thái), nhưng nó gợi lên ý tưởng và người ta có về Đấng Quân Vương, Đấng Thiên Sai lý tưởng trong toàn bộ Phương Đông Cổ đại: chức năng đầu tiên của vua (Đấng quân Vương) là bảo đảm sự giải phóng khỏi mọi sức mạnh ngoại bang đang đe dọa... bảo đảm công lý và bảo vệ những người nghèo, trẻ nhỏ chống lại những người giàu sang và quyền thế là những người luôn luôn có khuynh hướng bóc lôt những người yếu đuối. Khi Đức Giêsu khẳng định rằng những người nghèo là những người được Thiên Chúa ban đặc ân, rằng triều đại của Thiên Chúa thuộc về họ, rằng công lý vương đế đứng về phía những người phận nhỏ….Đức Giêsu không nói rằng những người nghèo là những tốt nhất, đạo đức hơn những người khác. Vấn đề ở đây không phải là tâm lý hoặc đạo đức của những người nghèo. Trong. Những công bố này về các mối phúc thật, có một sự mạc khải một ý tưởng nào đó về Thiên Chúa: Thiên Chúa tự nhận mình có bổn phận là một ông vua tốt. Thiên Chúa đặt niềm vinh dự của Người trong việc đem lại "hạnh 'phúc”, một cách mầu nhiệm, cho những người bị tước đoạt hết mọi hạnh phúc của con người. Cho cả bạn nữa, nếu bạn muốn! Hạnh phúc nghịch lý và không thể hiểu được đối với người nào đã không cảm nghiệm nó.
Vậy bạn hãy thử xem. Hãy bước vào hạnh phúc đó của Thiên Chúa. Ngay NGÀY HÔM NAY.
Nếu bạn đã bắt đầu hiểu được ý nghĩa toàn diện" của các mối phúc thật, lúc đó bạn hãy lắng nghe cách thể hiện mà Matthêu đem lại. Sự công bố Tin Mừng Nước Thiên Chúa trình bày một chương trình sống cho người Kitô hữu: nếu bạn muốn hạnh phúc thì đó là cách mà bạn phải làm.
Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó, vì Nước Trời là của họ.
Phúc thay ai hiền lành vì họ sẽ được Đất Hứa làm gia nghiệp.
Cùng một chữ Do Thái "anawim': có thể được dịch là “nghèo khó" hay là "hiền lành". Đó là hai khía cạnh của cùng một thực tại. Chữ "anawim" gợi lên hình ảnh của một người "bị uốn cong", thái độ của kẻ yếu không còn khả năng tự vệ bắt buộc phải nhường bước trước những người là nạmh nhất. Là người bị hạ nhục, bị làm cho thấp kém, người đó dù là nam hay nữ không làm sao để cho người ta tôn trọng các quyền của mình…. Người "hiền lành" chính là người không bực tức trước sự thịnh vượng của những vô đạo và họ không đánh mất lòng nhẫn nại. Đức Giêsu nói về người "Thầy hiền lành và khiêm nhường ở trong lòng (Mt 11,29-12, 18-21). Bị các kẻ thù công kích, Người tha thứ cho họ. Đức Giêsu đã sống mối phúc thật thứ nhất:
Phúc ai sầu khổ, vì họ sẽ được Thiên Chúa ủi an.
Phúc thay ai khát khao nên người công chính, vì họ sẽ được Thiên Chúa cho thỏa lòng.
Phúc thay ai xót thương người vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương.
Phúc thay ai có tâm hồn trong sạch, vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa.
Đức Giêsu đã khóc với Mát-ta và Ma-ri-a. Đức Giêsu hoàn toàn "tương ứng" với ý muốn của Chúa Cha: Người là Đấng Công chính. Người là lòng thương xót của Thiên Chúa đối với những người tội lỗi. Người đã tha thứ tha thứ và tha thứ... Tâm hồn Người "thanh khiết" vô song, không chút sai lầm, không chút quanh co: hành động và ý định của Người hoàn toàn thống nhất.
Phúc thay ai xây dựng hỏa bình, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa.
Phúc thay ai bị bách hại vì sống công chính, vì Nước Trời là của họ.
Đức Giêsu đến để đem lại hòa bình. Ồ, những ai xây dựng hòa bình thật hạnh phúc, họ hòa giải những cặp vợ chồng gây gỗ, cãi vã nhau, họ nối lại những tình bạn bất hoà? họ làm dịu bớt những xung đột giữa cha mẹ và con cái trong gia đình, họ tạo ra sự lắng nghe và hiểu biết lẫn nhau. Không có sự phục vụ nào lớn hơn là phục vụ anh em mình. "Thầy ban cho anh em bình an của Thầy không như thế gian ban tặng". (Ga 14,27). Phúc thay anh em khi vì Thầy mà bị người ta sỉ vả, bách hại và vu khống đủ điều xấu xa. Anh em hãy vui mừng" hớn hở, vì phần thưởng dành cho anh em ở trên trời thật lớn lao.

 

Tết 1_126: NĂM TRUNG THÀNH VỚI CHÚA

 TẾT NGUYÊN ĐÁN 2018 – LỄ MÙNG 1
NĂM MẬU TUẤT –Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ
 

Chúng ta vừa bước sang năm mới, năm Mậu Tuất, năm con chó, năm của những chú cho thông Tết 1_126

Chúng ta vừa bước sang năm mới, năm Mậu Tuất, năm con chó, năm của những chú cho thông minh và trung thành của cả Phương Đông lẫn Phương Tây. Chó rất được trân trọng và nâng niu được xem như một loài động vật mang lại nhiều may mắn, người ta cũng đặt Các chòm sao được đặt tên chó gồm : Tiểu Khuyển, Đại Khuyển, Lạp Khuyển.
Người Việt Nam ta, chó là là động vật trung thành, nhưng lại là món khoái khẩu của nhiều người. Chó được xếp vào 12 con giáp ở vị trí thứ 11 với chi Tuất nên vì thế năm nay là Tết Mậu Tuất 2018 và thuộc lục súc, nhưng may mắn “Mèo đến nhà thì khó, Chó đến nhà thì sang”.
Trong nhà đạo, có lắm chuyện về con chó, từ chuyện vui đến chuyện thật. Chúng ta cùng mở Kinh Thánh để tìm xem chuyện con chó.

Chó trong Kinh Thánh
Thiên Chúa gìn giữ Isreal : “Sẽ không có một con chó nào sủa, dù sủa người hay sủa thú vật” (Xh 11,6).
Ngài răn dạy cách thế gìn giữ sự tinh sạch: “Thịt con vật bị thú dữ xé ngoài đồng, các ngươi đừng ăn, nhưng phải ném cho chó” (Xh 22, 28-30).
Thiên Chúa dạy Ghêđêôn cách chọn người : “Tất cả những ai thè lưỡi tớp nước như chó, ngươi hãy để riêng ra” (Tl 7). Dùng chó làm binh khí : “ông Samson tinh khôn đi bắt ba trăm con chó sói, cột ngược đuôi con này với đuôi con kia và buộc một chiếc đuốc giữa hai đuôi rồi thả chạy vào doanh trại của địch quân gây đám cháy lớn và hàng ngũ địch quân bị rối loạn! (Tl 15, 4)
Chó được dùng để ám chỉ kẻ tồi : “Philitinh nói với Đavít: “Tao là chó hay sao mà mầy cầm gậy đến với tao? ” (1Sm 17, 43).
Chính Chúa Giêsu đã dùng hình ảnh con chó để sánh ví dân riêng của Chúa với người dân ngoại: “Của thánh, đừng quăng cho chó” (Mt 7, 6); “Phải để cho con cái ăn no trước đã, vì không được lấy bánh dành cho con cái mà ném cho chó con” (Mc 7, 27).

Cho trong đời thường
Trong thực tế có con chó buồn cho tới chết sau khi mất chủ. Nhiều con chó bị bắt trộm hay bị bán đi nơi xa, nhưng rồi nó lại trổ chuồng tìm về với chủ cũ.  Đúng là : Chó không chê chủ nghèo
Có câu chuyện người chủ muốn giết con chó để ăn thịt, bèn bắt chó bỏ vào bao bố, rồi đem con vật đi nhận nước, chẳng may gặp phải dòng sông sâu và nước xoáy nên anh ta suýt chết đuối. Con chó vùng vẫy thoát ra được, nó liền lội đến cắn cổ áo người chủ lôi vào bờ cứu thoát anh ta. Con chó biết chủ của nó, bênh vực chủ khi cần. Dù chủ chỉ là người hành khất hay người tàn tật, chó vẫn trung thành và ngoan ngoãn.
Bên cạnh các phần mộ cổ của người Ai Cập, người ta thường dựng hai tượng con chó, tiêu biểu cho đầy tớ trung thành và biết ơn, ngày đêm canh giữ phần mộ. Vì thế có câu tục ngữ  “Nuôi một con chó trung thành quý hơn sinh một bầy con bất hiếu”. Nên mới có câu : “Nào ai buôn bán trăm bề, chẳng bằng nuôi chó huyền đề 4 chân”. Phan Bội Châu đã từng lập mộ cho chó tại Huế.

Và bài học từ con chó
Trong kho tàng ca dao tục ngữ Việt Nam có câu : “Làm người thì khó, làm chó thì dễ”, nhưng có phải vậy hay không, bởi chó có nỗi khổ của chó, may mắn được sinh ra làm chó Âu-Mỹ, ăn sung ngủ sướng, có cả di chúc. Trái lại, bất hạnh cho chó nếu sống ở Phi Luật Tân, Triều Tiên, Trung Hoa, Việt Nam, thì sớm muộn cũng vào miệng người. Vì sống trên đời ăn miếng dồi chó.

Thật bất công khi người ta gán chó vào những kẻ phản phúc lọc lừa, vì trên cõi đời này, cho dù con chó có bị ruồng bỏ hay thuộc loại chó đói, chó ngu… thì thủy chung chó chẳng bao giờ phản chủ như con người. Chỉ vì thấp hèn, nên chó chịu nhiều bất công, chẳng những trong văn chương chữ nghĩa, mà cả đời sống “lên voi xuống chó” bên cạnh con người hằng ngày.
Tuy nhiên, chó có những đặc tính tốt. Chó rất gần với con người và giúp ích cho loài người như giữ nhà, săn bắt mồi, tìm người, truy lùng thuốc phiện, ma túy… Chó đâu chó sủa chỗ không,

Chẳng thằng ăn trộm cũng ông ăn mày.
Chó trung thành, hiểu ý chủ, vâng lời, biết sợ chủ, biết mừng chủ… Con chó chưa một lần nào trách móc chủ một điều gì dù cho có nhiều lần chủ xử tệ, bỏ mặc chó. Chủ đi đâu về là nó vui vẻ đến gần tỏ lộ niềm vui, nếu chủ vui mà vuốt ve nó thì nó đáp ứng, nếu chủ buồn bực điều gì mà đẩy nó ra, thì nó nằm im không quấy rầy. Nó là một gương xóa mình, tha thứ, đón nhận và yên ủi.
Con chó trung thành. Trong các loài vật, có lẽ không có loài nào gắn bó với con người hơn con chó. Chó trung thành với chủ, gần như tuyệt đối. Chó tôn thờ chủ, yêu chủ bằng một tình cảm trong sáng, vô tư không bao giờ có tính hai mặt. Chó biết vui cùng chủ và cũng biết buồn cùng chủ. Bất luận vào những hoàn cảnh nào, khi bị chủ mắng, thậm chí bị đánh đòn nó chỉ đau khổ cúp đuôi chui vào một xó, nhưng rồi chỉ ít phút sau nó lại ngoe nguẩy đuôi để đón chủ về. Chủ giàu hay nghèo, sướng hay khổ, vui hay buồn, thất bại hay thành công, chó vẫn luôn khắng khít bên chủ. Thế mới có câu “khuyển mã chi tình”. Còn con người, người có luôn trung tín hay người chỉ phù thịnh chứ mấy ai phù suy? Khi chủ được tiền, mọi người ai cũng đòi khao; khi chủ mất tiền, chẳng thấy ai sẻ chia giúp đỡ. Khi chủ thành công, làm ăn phát đạt, bạn bè kéo đến chúc mừng, ăn uống đông vui; khi chủ thất bại, mất mát thì chẳng thấy ma nào bén mảng tới cả, chỉ có mình chó vẫn luôn bên chủ.
Con chó thẳng thắn. Người nhà về, chó vui mừng ra đón, vẫy đuôi quấn quýt. Kẻ lạ đến, chó hướng mắt cảnh giác, lao ra gầm gừ, sủa vang. Yêu nói là yêu. Ghét bảo là ghét. Còn người, người có thẳng thắn với nhau? Có dám công khai bày tỏ chính kiến của mình? Cái ma mãnh của con người là trước mặt nói một đằng, sau lưng lại nói một nẻo; trước mặt thì giả vờ ca ngợi, sau lưng lại chê bai thậm tệ. Sao người không thẳng thắn, cởi mở tấm lòng với nhau để cuộc đời thêm tốt, thêm đẹp mà lại cứ phải đi nói xấu nhau với người thứ ba và lấy làm hả lòng hả dạ về điều ấy?
Chó phải sủa. Các Giáo Phụ thường dùng chỉ các bậc cha mẹ hay bề trên không biết răn đe hay nhắc nhủ cho bề dưới của mình bằng câu ngạn ngữ vắn gọn: “Khốn cho những con chó không biết sủa!” Nhiệm vụ canh giữ của chó là sủa mỗi khi có người lạ hay vật cấm mà chó được huấn luyện để truy lùng phát hiện, mà không sủa lên thì làm sao chủ nhân của nó biết được? Chó không sủa thì chẳng còn là chó nữa! Tiếng sủa của chó luôn gây những phản ứng khác nhau: nó làm kẻ trộm tức tối vì việc gian manh của hắn bị bại lộ; nó có thể làm hàng xóm bực mình vì mất giấc ngủ ngon; nhưng chắc chắn nó làm người nhà vui mừng vì chó đã giúp họ tỉnh thức nhận ra được cái ác đang rình rập và ra sức loại trừ nó.
“Chó sủa vang, xua đuổi phường gian ác.
Chủ thức dậy, thắp sáng cả đêm đen…“
Thôi thì cho dù năm Khỉ, Heo, Mèo, Gà, Chó, Lợn, thì cả tháng nay, mọi người đã sắm Tết, ăn Tết rồi. Hôm nay ngày đầu năm mới, ai cũng có cảm tưởng là có cái gì đó mơi mới, nên dùng chữ năm mới. Năm mới mọi cái đều phải mới.
Từ mấy hôm nay, chúng ta đã đi chúc tết nhau, và sẽ còn chúc tết nhau nữa. Thường người dướt tết người trên : con cháu tết ông bà cha mẹ, em tết anh chị, công nhân viên tết thủ trưởng, kèm theo món quà, tượng trưng cho tấm lòng thơm thảo. Ngoài bánh chưng bánh tét, hoa đào, hoa mai… có lẽ không gì nhiều bằng “lời chúc”. Ai cũng muốn dành những lời chúc tốt đẹp nhất cho gia đình, người thân, bạn bè trong những ngày này và ngược lại, ai cũng muốn mình được nhận nhiều những lời chúc. Muốn lời chúc của chúng ta trở thành hiện thực, hãy đặt tin tưởng, cậy trông và phó thác vào Chúa, bởi tất cả mọi sự đều do Chúa như lời thánh vịnh viết: “Hãy ký thác đường đời cho Chúa, tin tưởng vào Người, Người sẽ ra tay” (Tv 36, 5).
Người Kitô hữu cũng có tập tục, truyền thống rất quí là dâng những giây phút đầu năm cho Thiên Chúa. Người Kitô hữu mong Chúa đổi mới và chúc lành cho năm mới. Lời nguyện nhập lễ chúng ta xin :” Nguyện Chúa Trời dủ thương và chúc phúc, xin tỏa ánh tôn nhan rạng ngời trên chúng con, cho cả hoàn cầu biết đường lối Chúa, và muôn nước biết ơn cứu độ của Ngài” (Tv 66, 2-3).  Chúa mới chính là gia nghiệp, là cùng đích mà con người cần phải kiếm tìm và đó cũng chính là sự tồn tại của con người.
“Các con chớ áy náy về ngày mai” (Mt 6,34). Chúa luôn muốn mọi người nghĩ đến hạnh phúc mai hậu của sống mình. Tương lai mỗi người đều nằm trong tay Thiên Chúa. Với tình thương và lòng nhân hậu của Ngài, chúng ta luôn tin tưởng và phó thác, bởi Ngài là người Cha luôn muốn những điều tốt nhất cho con cái. Lo lắng, bận rộn, tất bật làm việc để tích luỹ và để bảo đảm cho tương lai… tất cả đều tốt và cần thiết, nhưng cũng nên nhớ một điều “nếu như Chúa chẳng xây nhà, thợ nề vất vả cũng là uổng công”. Hãy làm tốt bao nhiêu có thể, những bổn phận và trách nhiệm của mình, phần còn lại hãy phó thác trong tay quan phòng của Thiên Chúa. Ngài sẽ hoàn tất những gì còn lại.
Năm Đinh Dậu sắp qua, năm Mậu Tuất sắp đến, kính chúc mọi người một năm mới được mọi sự may lành trong sự quan phòng của Thiên Chúa. Amen

 

Tết 1_127: THIÊN CHÚA LÀ MÙA XUÂN VĨNH CỬU

TẾT NGUYÊN ĐÁN 2018 – LỄ MÙNG 1
- Trích Logos B
 

Hôm nay, ngày đầu năm Bính Tuất, chúng ta nhắc lại câu chuyện cổ tích “Con Chó Đá”. Ngày xưa Tết 1_127

Hôm nay, ngày đầu năm Bính Tuất, chúng ta nhắc lại câu chuyện cổ tích “Con Chó Đá”.
Ngày xưa, có người học trò nghèo dùi mài kinh sử chờ khoa thi ở kinh đô. Một hôm, anh đi qua cổng làng, thì con chó bằng đá đang đứng trên bệ bỗng nhổm dậy vẫy đuôi mừng rỡ. Lấy làm lạ, anh học trò bèn hỏi tại sao lại vẫy đuôi. Con chó trả lời : “Khoa này thầy thi đỗ nên tôi mừng”. Anh học trò về kể cho cha mẹ nghe. Thế là từ đó người cha lên mặt hống hách với mọi người, không coi ai ra gì.
Tháng sau, trước ngày đi thi, anh học trò đi ngang qua cổng làng, không thấy con chó vẫy đuôi nữa, bèn hỏi tại sao. Con chó đáp : “Tại cha thầy sớm lên mặt với mọi người, nên khóa này thầy chẳng đỗ đâu. Y rằng như thế.
Anh học trò về kể lại với người cha. Ông hối hận, từ đó tu thân tích đức, sửa chữa lỗi lầm. Khóa sau, anh học trò đi qua, chó đá lại vẫy đuôi. Quả nhiên, sau đó anh đỗ đạt và làm quan lớn.
Hình ảnh con chó đá luôn gắn bó với làng quê miền Bắc Việt Nam bao đời qua, trở thành một biểu tượng dân gian thân thuộc. Chó là con vật trung thành với con người, luôn biết phục vụ con người qua việc canh giữ nhà cửa và bảo vệ con người sống trong sự bình an. Hình ảnh con chó đá vẫy đuôi trong câu chuyện cổ tích còn cho thấy chó luôn sống thân thiện với con người, hòa nhập vào đời sống tình cảm của con người, trở thành niềm vui và niềm động viên cho con người.
Từ những nét đặc trưng của loài chó kể trên, ta mới nghiệm thấy Xuân Bính Tuất đang đến với ta cũng có những đặc tính đáng yêu đáng mến ấy. Đó cũng chính là những ước vọng của chúng ta trong năm mới Bính Tuất này.
Một năm mới tràn ngập bình an
Bình an luôn là ước vọng lớn của con người. Cũng vậy, hòa bình cũng chính là hoài bão lớn nhất của nhân loại. Thế nhưng, đã nhiều thế kỷ trôi qua, con người vẫn sống trong chiến tranh điêu tàn. Con người vẫn chưa tìm được sự bình an, và thế giới vẫn chưa có hòa bình đúng nghĩa.
Hôm nay, ngày đầu năm chúng ta hãy nguyện xin Thiên Chúa là Chúa Xuân ban cho chúng ta sự bình an như lòng chúng ta mong ước và ban hòa bình cho thế giới. Chỉ có Chúa mới có thể ban tặng cho ta sự bình an đúng nghĩa, vì chính Người là nguồn bình an đích thực.
Tuy nhiên, sự bình an chỉ có thể có được nếu chúng ta biết hoàn toàn phó thác cậy trông vào tình thương và sức mạnh của Chúa, như lời Chúa dạy chúng ta : “Các con chớ áy náy lo lắng về ngày mai”.
Trong ngày đầu năm, chúng ta hãy dâng lên Chúa quan phòng những ước vọng và mọi âu lo trong đời sống, nhất là trong những ngày tháng sắp tới. Trong niềm phó thác và cậy trông vào Chúa, chúng ta sẽ luôn được bình an.

Một năm mới tràn ngập yêu thương
Tình yêu cũng luôn là khát vọng khôn nguôi của con người. Vì thiếu tình yêu, con người đã rơi vào những thảm cảnh của bạo lực và khủng bố. Vì thiếu sự thân thiện, nên con người đã lao vào chém giết nhau. Vì thiếu sự yêu thương, nên gia đình ly tán, tan vỡ. Và cũng vì thiếu tình thương yêu nên con người càng ngày càng đắm chìm trong hận thù ghen ghét.
Trong ngày đầu năm, chúng ta hãy dâng lên Chúa là Thiên Chúa tình yêu, những nguyện ước chân thành, xin cho mọi người biết yêu thương nhau hơn, bớt đi những khủng hoảng và chiến tranh, thay vào đó là tinh thần đại đồng và hiệp nhất giữa mọi quốc gia, luôn giúp nhau cùng phát triển trong một “nền văn minh tình thương”.
Muốn được thế, mỗi người chúng ta hãy biết loại bỏ đi những tị hiềm ghen ghét, biết cảm thông và tha thứ cho mọi người sống chung quanh. Chúng ta hãy để cho “Thiên Chúa tình yêu” luôn ở giữa chúng ta và liên kết mọi người nên một trong tình yêu và sự hiệp nhất.

Một năm mới tràn ngập niềm vui
Thế giới luôn chìm ngập trong nỗi buồn muôn thuở : nỗi đau “huynh đệ tương tàn”, nỗi niềm xót xa của những thảm cảnh chiến tranh từng ngày, ở khắp nơi. Tâm hồn con người cũng không thoát khỏi nỗi ưu sầu nhân thế : sự cô đơn, thất vọng và khủng hoảng. Các gia đình cũng không thiếu cảnh buồn sầu : gia đình xung đột, chia rẽ và cuối cùng dẫn đến sự đổ vỡ hoàn toàn.
Trong ngày đầu năm, chúng ta hãy xin Chúa ban cho chúng ta niềm vui trọn vẹn và bền vững, niềm vui xuất phát từ chính Thiên Chúa, niềm vui không phai nhòa và lụi tàn.
Niềm vui ấy chỉ có được ở nơi những tâm hồn đầy tràn ơn Chúa. Niềm vui ấy cũng chỉ có được nếu biết hướng tới tha nhân. Và niềm vui ấy thật sự bền vững khi niềm vui ấy là kết quả của một đời biết hy sinh phục vụ người khác.
Hôm nay, chúng ta còn khát khao một điều cao cả hơn hết : đó là xin Chúa mãi mãi là mùa xuân vĩnh cửu của cuộc đời ta. Muốn được thế, ta phải biết chọn lựa và tìm kiếm Người giữa những thần tượng trần thế. Hãy biết đặt Người lên trên mọi ưu tiên của cuộc đời, như lời Chúa dạy chúng ta : “Tiên vàn các con hãy biết tìm kiếm nước Thiên Chúa và sự công chính của Người”.
“Nước Thiên Chúa” là gì nếu không phải là “Vương quốc tình yêu”, vương quốc mà chỉ có những con người biết yêu thương mới đạt tới?
“Sự công chính” của Thiên Chúa là gì, nếu không phải sự thánh thiện của những con người luôn biết vâng theo thánh ý Chúa hằng ngày ?
Hôm nay, chúng ta mở sang một trang sách mới của cuộc đời, trang sách đầu tiên của năm mới. Chúa mời gọi chúng ta hãy làm một cuộc lựa chọn : Thiên Chúa hay thế gian. Trong suốt cả năm, chúng ta có hạnh phúc, an vui, thành đạt hay không là tùy thuộc ở sự lựa chọn này.
Một đứa bé đã khóc thét lên khi nó thọc tay vào miệng một cái bình sứ Trung Quốc rất đắt tiền mà không thể rút tay ra được. Cha mẹ nó tìm mọi cách kéo tay đứa bé ra. Nhưng hoài công vô ích ! Mọi cách đều làm đứa bé khóc to hơn vì đau và sợ.
Cuối cùng, họ đành đập bể chiếc bình quý giá đó. Khi những mảnh vỡ rơi tan tác dưới sàn, mọi người mới hiểu tại sao tay đứa bé kẹt cứng ở trong cái bình : Nó nắm chặt lấy một đồng tiền cắc mà trước đó nó đã làm rơi vào trong bình. Vì cứ nắm chặy lấy đồng tiền, nó đã không thể rút tay ra khỏi chiếc bình.
Không chỉ riêng đứa bé, rất nhiều người trong chúng ta đã không nhận ra được giá trị thật của cuộc sống. Bàn tay ta cứ nắm chặt lấy những đồng tiền trong cuộc sống, khiến ta không thể nắm bắt được hạnh phúc mà Thiên Chúa tặng ban.

 

Tết 1_128: BÀI GIẢNG CỦA ĐỨC CHA ANTÔN

NGÀY MỒNG 1 TẾT NHÂM THÌN
TẠI NHÀ THỜ  CHÍNH TÒA ĐÀ LẠT
 Anh chị em thân mến,
 

Tết cổ truyền của dân tộc ta có những phong tục độc đáo như: tục xông đất đầu năm, tục chúc tết Tết 1_128

Tết cổ truyền của dân tộc ta có những phong tục độc đáo như: tục xông đất đầu năm, tục chúc tết bà con, đặc biệt là tục hái Lộc Xuân với ước mong năm mới có nhiều tài, lộc. Lộc ở đây là những cành lá, cành cây tươi tốt, xanh non được hái vào thời điểm sớm nhất của năm mới.
Hái lộc Xuân là nét văn hóa đẹp của người Việt Nam. Vì thế, mỗi dịp Tết đến, người người đi lễ chùa và hái lộc Xuân mang về để trên bàn thờ là nơi trang trọng nhất. Người công giáo chúng ta đi lễ nhà thờ, và trong tinh thần hội nhập văn hóa, cuối lễ chúng ta hái Lộc Xuân là những câu Lời Chúa, mang về nhà đặt nơi trang trọng. Mỗi câu Lời Chúa trong sách Kinh Thánh đều có giá trị.
Riêng các bài đọc Kinh Thánh trong phần Phụng vụ Lời Chúa hôm nay muốn nói với chúng ta điều gì ?
Có câu chuyện kể rằng: một bộ tộc trên miền núi xa xôi, hàng năm cứ mỗi độ Xuân về, mọi người, già trẻ lớn bé, đều tham dự vào một cuộc thi đi tìm bông hoa đầu tiên của mùa Xuân. Ai tìm và hái được bông hoa đó sẽ là người may mắn nhất trong năm.
Một năm kia, khi ánh nắng Xuân vừa ló dạng, cả làng đều chạy đi tìm bông hoa đầu Xuân. Giữa lúc mọi người đang chán nản vì chưa ai tìm được cánh hoa nào, thì trên một triền núi cao, người ta nghe vọng tiếng reo vui của một cậu bé: "Tôi đã tìm thấy. Tôi đã tìm thấy". Mọi người chạy tới nơi cậu bé. Thế nhưng, không may cho cậu, cánh hoa lại nằm kẹt trong một khe đá dưới vực sâu, muốn lấy được phải thả dây thừng xuống.  Các trai tráng trong làng tình nguyện giữ dây thừng để cậu bé xuống hái hoa đầu Xuân, nhưng cậu vẫn không đủ can đảm xuống, chỉ tới khi người cha của cậu nắm lấy dây thừng cậu mới dám leo xuống hái hoa.
Hái lộc Xuân như là dấu chỉ ân lộc trời ban, như là phúc lành của Đấng tạo thành trời đất. Vì thế, khi hái lộc Xuân, ta gửi tâm tình tín thác vào Thiên Chúa là Cha, như cậu bé chỉ can đảm hái hoa đầu Xuân trong niềm tín thác vào người cha yêu quý của mình.
Bài đọc thứ nhất (xem St 1,14-18) trình thuật việc Thiên Chúa sáng tạo trời đất, mời gọi chúng ta trao gửi nỗi niềm ước mơ cho Đấng Tạo thành. Ngài là Đấng làm cho đất trời thay đổi theo bốn mùa – Xuân, Hạ, Thu, Đông –.  Ngài là Đấng làm chủ cuộc đời chúng ta.  Ngài là Đấng có thể làm cho ước mơ trở thành hiện thực. Người ta thường nói: "Mưu sự tại nhân – thành sự tại thiên". Sự tính toán là của con người, nhưng trở thành hiện thực là do Thiên Chúa, là ân lộc bởi Trời.  Như em bé hái được bông hoa đầu Xuân nhờ sự hỗ trợ của nhiều người, nhất là nhờ tin tưởng vào người cha,  chúng ta cũng tin rằng mọi sự đều nhờ bởi ơn Chúa. Niềm tin này dựa trên chính lời của Chúa Giêsu trong bài Tin Mừng vừa nghe đọc : “Anh em đừng lo lắng tự hỏi : ta sẽ ăn gì, uống gì, hay mặc gì đây ? ... Cha anh em trên trời thừa biết anh em cần tất cả những thứ đó. Trước hết hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Người, còn tất cả những thứ kia, Người sẽ thêm cho.” (Mt 6, 31-33).
Đó cũng là niềm tin của dân Chúa qua Thánh Vịnh đáp ca: “Hãy ký thác đường đời cho Chúa, tin tưởng vào Người, Người sẽ ra tay.” (TV 36, 5).
Chính vì thế, Thánh Phaolô, trong bài đọc 2, đã khuyên nhủ các tín hữu: “Anh em hãy vui luôn trong Chúa. Tôi nhắc lại : vui lên anh em ! … Anh em đừng lo lắng gì cả. Nhưng trong mọi hoàn cảnh, anh em cứ đem lời cầu khẩn, van xin và tạ ơn, mà giãi bày trước mặt Thiên Chúa những điều anh em thỉnh nguyện. Và bình an của Thiên Chúa, bình an vượt lên trên mọi hiểu biết, sẽ giữ cho lòng trí anh em được kết hợp với Đức Ki-tô Giê-su. Ngoài ra, thưa anh em, những gì là chân thật, cao quý, những gì là chính trực tinh tuyền, những gì là đáng mến và đem lại danh thơm tiếng tốt, những gì là đức hạnh, đáng khen, thì xin anh em hãy để ý.” (Pl 4,4-8).
Hôm nay, bắt đầu một năm mới, chúng ta vui mừng ăn Tết, nhưng không khỏi lo lắng cho tương lai. Tuy nhiên chúng ta cùng đáp lại Lời Chúa qua Thánh Vịnh đáp ca: “Hãy ký thác đường đời cho Chúa, tin tưởng vào Người, Người sẽ ra tay.” (TV 36, 5). Điều duy nhất, và cũng là điều quan trọng nhất, đó là “tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Người.”
Năm nay, năm Nhâm Thìn, được gọi là năm con Rồng. Rồng cũng được gọi theo âm Hán Việt là Long; đó là con vật huyền thoại trong cổ tích của nhiều dân tộc trên thế giới. Người Á châu coi Rồng là con vật linh thiêng cao trọng, đứng đầu bốn con vật quý trong muôn vật: Long, Ly, Quy, Phụng. Từ xa xưa, người châu Á đã coi rồng là cao quý; các triều vua đã nhận rồng làm biểu tượng cho riêng mình; thần dân coi vua như rồng, thậm chí cái gì vua dùng cũng kèm thêm chữ “long” để biểu lộ sự kính trọng: long bào là áo vua mặc, long sàng là giường vua nằm, bệ rồng, sân rồng…
Còn trong Thánh Kinh thì sao ?
Một vài Thánh Vịnh, như TV 104, có nói đến “rồng biển” (hải long) là một trong những loài được Thiên Chúa tạo thành: “Này đây biển cả bao la, trong đó nhung nhúc không biết cơ man vật li ti, vật khổng lồ, trong đó có thuyền bè đi lại, hải long Người đã nắn ra làm trò tiêu khiển.” (Tv 104, 25-26).
Tuy nhiên, theo văn hoá Âu châu cũng như quan điểm thần học, hải long được ghép vào loài thủy quái, hung tàn, chuyên chống lại chân thiện mỹ. Nó là điển hình cho quyền lực tối tăm chống lại Thiên Chúa, tìm sát hại tôi tớ Chúa, phá hủy nơi thờ phượng Chúa. Đặc biệt, qua sách Khải huyền, là sách mạc khải những điều huyền nhiệm liên quan đến ngày thế mạt và cuộc khải hoàn của giáo hội lữ hành, chúng ta biết rằng:  trong cuộc lữ hành trần thế, Hội Thánh Chúa luôn bị bách hại bởi những quyền lực chống lại Thiên Chúa, mà thủ lãnh của chúng chính là con rồng, tức con rắn già satan trong vườn địa đàng xưa, đã luôn luôn dối trá lừa phỉnh người nhẹ dạ. Nhưng Thiên Chúa đã tỏ mình ra trong Đức Giêsu Kitô, Đấng chịu đóng đinh trên Thánh giá. Ai tin vào Người sẽ được cứu rỗi. Vương quyền của Đức Kitô ngày nay còn khuất ẩn trong bóng Thánh giá, nhưng một ngày kia, Ngài sẽ đến trong vinh quang chiến thắng. Con rồng sẽ bị triệt hạ và bị quăng vào lửa diêm sinh chẳng hề tắt.
Như thế, người tín hữu vừa tin tưởng vào quyền năng của Thiên Chúa, của thập giá Đức Kitô, vừa nỗ lực chiến đấu với những mưu ma chước quỷ. Người tín hữu vừa hái lộc đầu Xuân mong được ân lộc bởi trời, vừa ý thức rằng mình phải chiến đấu chống lại sự dữ, vì từ thuở ban đầu, Adam Eva đã đi hái lộc đầu xuân nhưng lại để cho satan dụ dỗ chống lại Thiên Chúa !
Hạnh phúc thay, Thiên Chúa đã ban cho thế gian Con Một là Adam mới, sinh bởi Đức Maria là Eva mới; Đấng Cứu Thế như Lộc từ trời cao ban cho đất thấp. Chính sự giao hoà trời đất ấy đã nẩy lộc bình an.
Chúng ta tiếp tục dâng Thánh Lễ đầu năm cầu xin ơn bình an cho mọi người và mọi gia đình trong Năm Mới Nhâm Thìn này, sự bình an nội tâm mà Thánh Phaolô vừa nhắc nhớ: “sự bình an của Thiên Chúa, bình an vượt lên trên mọi hiểu biết, sẽ giữ cho lòng trí anh em được kết hợp với Đức Ki-tô Giê-su”.
Mến chúc anh chị em một Năm Mới bình an !

 

Tết 1_129: ĐẦU NĂM HÁI LỘC

Lm Giuse Đinh Lập Liễm
 

Ngày Tết Nguyên Đán là thời gian quan trọng nhất trong năm, được coi như ngày thánh, con cái Tết 1_129

Ngày Tết Nguyên Đán là thời gian quan trọng nhất trong năm, được coi như ngày thánh, con cái dù ở nơi xa cũng cố gắng trở về sum họp dưới mái gia đình để ăn Tết. Giao thừa là lúc mọi người phải có mặt đầy đủ để chúc tuổi mới ông bà cha mẹ được mọi sự lành trong cả năm mới.
Ngoài ra, người ta còn kiêng cữ trong cách sống, không dám nói hoặc làm một điều gì sai trái để tạo ra xúi quảy cho cả năm.
I. LỜI CHÚC TẾT ĐẦU NĂM
Trong những ngày đầu năm, người ta cầu chúc nhau rất nhiều điều cao quí, rất đa dạng, tùy theo từng hoàn cảnh. Thường người ta chúc nhau : phát tài phát lộc, bách niên giai lão, buôn may bán đắt, thăng quan tiến chức, vạn sự như ý; hay nói một cách tổng quát người ta chúc nhau được ngũ phúc : Phú, Quí, Thọ, Khanh, Ninh.
Ngoài ra, cũng có những câu chúc có vẻ văn hoa như :
Trẻ mãi không già, mặn mà nhan sắc,
Vạn sự cát tường, toàn gia hạnh phúc,
Vui trong sức khỏe, trẻ trong tâm hồn, khôn trong công việc, tuyệt vời trong tình yêu.
Có những câu dài hơi hơn như :
Vạn sự như ý, tỷ sự như mơ, cuộc đời như thơ, tình yêu như nhạc, coi tiền như rác, xem bạc như rơm, chung thủy với cơm, không màng chi phở.
Hoặc chúc mọi người một cách rộng rãi hơn :
Chúc mọi người một bầu trời sức khỏe, một biển cả tình thương, một đại dương tình cảm, một điệp khúc tình yêu, một người yêu chung thủy, một tình bạn mênh mông, một gia đình hạnh phúc.
Thế nhưng, lời cầu chúc tốt đẹp và đầy đủ nhất vẫn là lời chúc “ Phúc. Lộc, Thọ. Phúc là mong được nhiều hạnh phúc,
Lộc là mong được nhiều của cải lợi lộc,
Thọ là mong được sống lâu mạnh khỏe.
Để tượng trưng cho Phúc, Lộc, Thọ, người ta dùng hình ảnh ba ông già.
Ông Phúc được thể hiện dưới dạng một người giầu có, nét mặt viên mãn hiền hậu, với những chi tiết về hình thể biểu lộ quí tướng như khối hình đầy đặn, tai to, mũi thẳng, hàm nở… mình mặc áo chùng, tay bồng một đứa trẻ mũm mĩm tượng trưng cho con cháu ngoan hiền.
Ông Lộc được thể hiện dưới dạng một viên quan đầu đội mũ phốc hay mũ cánh chuồn, mình khoác áo vân cẩm, dáng đứng nghiêm trang, khuôn mặt uy nghi quắc thước, bởi vì người xưa quan niệm rằng sự thành đạt của con người được thể hiện trên con đường công danh chức tước nhiều bổng lộc.
Ông Thọ được thể hiện dưới dạng một ông già hói đầu, râu tóc bạc phơ, mình mặc áo chùng, tay cầm gậy trúc, trên đầu gậy có treo mấy quả đào tiên, một biểu tượng nói lên sự trường thọ.
Hôm nay, chúng ta đặc biệt chúc nhau chữ LỘC, từ lộc vật chất đến lộc thiêng liêng, đó là LỘC THÁNH do Thiên Chúa ban cho : “Đó là Phúc Lộc Chúa dành cho kẻ kính sợ Người” (Tv 128,4) hoặc câu khác : “Công khó tay bạn làm, bạn được an hưởng. Bạn quả là lắm phúc nhiều may” (Tv 128,2).
II. TỤC HÁI LỘC TRONG NGÀY TẾT
1. Tục hái lộc nơi chùa miếu
Theo tài liệu của ông Phan Kế Bính, ông Toan Ánh và ông Nhất Thanh thì sáng sớm ngày mồng một Tết, người ta đi lễ chùa miếu để xin Thần Phật gia ơn độ trì cho năm mới.
Thường ai cũng mua vài nén hương để khấn vái trước bàn thờ, hoặc đông người quá thì dâng hương ở ngoài sân. Có người mua về vài ba nén hương gọi là “hương lộc” đem về cắm vào bát hương Táo quân ở nhà. Lửa đỏ ở mấy nén hương là lộc Phật Thánh ban biểu tượng cho sự thịnh vượng.
Cũng có nhiều người không xin hương lộc, thì lễ xong ra sân vườn chùa miếu bẻ lấy một cành cây, tục gọi là “HÁI LỘC” đem về gọi là Lộc Thánh.
Tục hái lộc ở các chùa miếu ngụ ý xin hưởng chút lộc của Thần Phật ban cho năm mới. Cành lộc thường là một cành đa nhỏ, cành đề, cành si là những loại cây quanh năm tươi tốt và nảy lộc.
Năm mới lúc trở về có tài lộc mang theo vừa chỉ sự may lành, vừa chỉ sự vui sướng.
2. Tục hái lộc nơi thánh đường
Ngày Mồng Một Tết, ngày linh thiêng nhất trong năm, ngày cầu bình an cho năm mới. Nhiều giáo xứ tổ chức hái lộc đầu xuân.
Lộc thánh là những câu Lời Chúa được tuyển chọn trong Thánh Kinh. Lộc được treo trên những cành mai vàng rực rỡ đặt trên cung thánh. Sau bài giảng, Cha chủ tế hái lộc thánh đầu xuân, rồi đến các tu sĩ nam nữ, đến đại diện các hội đoàn và đại diện các gia đình lên hái lộc.
Sau Thánh lễ, mọi người ra về mang theo niềm vui và hạnh phúc, bình an và Ơn thánh. Gia đình sum họp trước bàn thờ đọc kinh nguyện, dâng một năm mới lên Chúa và Đức Mẹ. Người cha hoặc người mẹ trịnh trọng mở lộc thánh đọc cho cả nhà nghe. Mỗi lộc thánh hợp với từng gia đình. Lộc thánh được đặt trang trọng trên bàn thờ, dưới chân thánh giá. Câu chuyện ngày Tết đi thăm nhau thường hàn huyên về lộc thánh Lời Chúa mỗi nhà.
Lời Thánh vịnh 27 nói lên niềm cậy trông : “Tôi vững vàng tin tưởng, sẽ được thấy ân lộc Chúa ban trong cõi đất dành cho kẻ sống. Hãy cậy trông vào Chúa, mạnh bạo lên, can đảm lên nào, hãy cậy trông vào Chúa” (Tv 27).
Vững vàng tin tưởng và trông cậy vì người Kitô hữu xác tín vào lời Chúa Giêsu dạy : “Các con cứ xin thì sẽ được, cứ tìm thì sẽ thấy, cứ gõ thì sẽ mở cho” (Mt 7,7).
Không phải bây giờ người ta mới hái lộc. Từ ngàn xưa, thuở địa đàng đã có truyện con gái đi hái lộc đầu xuân rồi.
Đọc chương 3 sách Sáng thế, chúng ta thấy rõ có một cô gái đẹp ở Vườn Diệu quang, cô được hái lộc ở mọi cây, trừ cây biết lành biết dữ ỡ giữa vườn. Lộc cây ấy không phải lộc tốt mà có hại. Nhưng cô đã liều lĩnh hái lộc cây ấy và lập tức cái lộc cây ấy quật ngã cố. Đó là cô EVÀ đã hái lộc cây trái cấm. Cô đã không hái được lộc thánh mà chỉ hái được lộc của tội lỗi, độc hại. Cô đã đánh mất hạnh phúc trong ngày đầu xuân.
Nhưng bù vào đó, Ngôi Hai Thiên Chúa đã xuống thế cứu chuộc loài người bằng Cây Thập Giá mà lộc của cây này lại đem phúc trường sinh. Lộc đây là lộc thánh ban muôn vàn ơn phúc. Cũng từ đó, Chúa lại còn ban cho chúng ta một thứ lộc quí giá nữa, đó là “Bí tích Thánh Thể”. Chúa phán : “Ai ăn thịt Ta và uống máu Ta thì sẽ được sống đời đời”.
III. HÃY TẬN HƯỞNG LỘC THÁNH CHÚA BAN
Hôm nay chúng ta không đến chùa miếu để khấn Thần Phật như người ta thường làm, mà đến nhà thờ để ca tụng Chúa là Chúa của Mùa Xuân và xin Người ban cho ta được nhiều ơn lành hồn xác. Chúng ta hãy hái lộc thánh đem về để cho cả năm Quý Tỵ này được may mắn.
Tờ Lộc thánh mà chúng tôi tặng anh chị em hôm nay là lời Chúa Giêsu đã chào thăm các môn đệ sau khi Người sống lại : “Bình anh cho các con” (Ga 20,19.26).
Cùng với tờ Lộc thánh, chúng tôi chúc anh chị em một câu thơ mà ngươi ta chúc nhau trong ngày đấu xuân, coi như món quà tặng cho nhau :
Mai vàng nở khắp quê nhà
An khang thịnh vương món quà đầu năm
“An khang thịnh vượng” cũng là một trong 5 lời chúc căn bản nhất : Phú, Quý, Thọ, Khang. Ninh. “An khang thịnh vượng” là một lời chúc từ chữ Hán, dùng để chúc nhau vào những dịp Tết hay ăn mừng tân gia..
Chữ “An” diễn tả sự bình an, yên ổn, an vui, an bình.
Chữ “Khang” diễn tả sự mạnh khỏe, tươi tốt.
Vậy chúc cho nhau “an khang thịnh vượng” là chúc cho người ta được sống trong bình an, thư thái, mạnh khỏe và phát đạt. Do đó, chúng tôi chúc anh chị em được anh bình cả hồn lẫn xác trong gia đình cũng như ngoài xã hội.
Sự an bình chúng tôi muốn chúc cho anh chị em không phải là anh bình nhất thời, tạm bợ mà là thứ an bình mà Ngôi Hai Thiên Chúa đã chúc cho loài người trong đêm Người giáng sinh :
Vinh danh Thiên Chúa trên trời
Bình an dưới thế cho người Chúa thương.
(Lc 2,14)
Sự bình an Thiên Chúa ban cho gồm cả hai phương diện :
– Về thể xác : an lành, may mắn, không tai họa, không chiến tranh.
– Về tâm hồn : được ơn nghĩa cùng Chúa, sống kết hợp thân mật với Người.
Điều chúng tôi cầu chúc hôm nay đặc biệt là an bình trong tâm hồn, một thứ an bình tròn đầy và vĩnh cửu. Xã hội có an bình mà lòng không có thì kể là không có an bình thực sự, và ngược lại, xã hội tuy đầy chiến tranh loạn lạc nhưng lòng vẫn được an bình thư thái.
Điều kiện muốn có an bình trong tâm hồn là phải có một tâm hồn trong sạch : “Ai có lòng trong sạch ấy là phúc thật vì sẽ được xem thấy mặt Đức Chúa Trời vậy”. Ai phạm tội là chống lại Chúa, chống lại Chúa là thù nghịch với Chúa, gây chiến với Chúa, như thế làm sao có sự bình an trong tâm hồn được ?
Để kết thúc, xin chúc anh chị em được hưởng sự bình an trường cửu ngay ở đời này nếu anh chị em thực hiện Lời Chúa trong bài Tin mừng Thánh lễ hôm nay : “Trước hết, hãy lo tìm kiếm Nước Thiên Chúa và ăn ở công chính như Người đòi hỏi, còn tất cả những thứ khác, Người sẽ thêm cho” (Mt 6,34).
Tân niên thánh đức bao ân phúc
Xuân nhật an hòa mãi phúc vinh

 

Tết 1_130: MƯU SỰ TẠI NHÂN, THÀNH SỰ TẠI THIÊN

(Chúa Nhật V TN(C) – Mồng Một Tết Quý Tỵ “Cầu bình an cho Năm Mới”)
JM. Lam Thy ĐVD
TIỄN NHÂM THÌN XUA TAN BAO TỘI LỖI
MỪNG QUÝ TỴ SÁNG TỎ MỘT NIỀM TIN
 

Bài Tin Mừng Chúa nhật V/TN-C (Lc 5, 1-11) đúng vào ngày Mồng Một Tết Quý Tỵ 2013, trình thuật Tết 1_130

Bài Tin Mừng Chúa nhật V/TN-C (Lc 5, 1-11) đúng vào ngày Mồng Một Tết Quý Tỵ 2013, trình thuật phép lạ “Mẻ cá lớn” do Đức Giê-su làm tại hồ Ghen-nê-xa-rét, có rất đông người chứng kiến. Những người đánh cá (Phê-rô, Gia-cô-bê, Gio-an) bằng những dụng cụ chài lưới thường dùng và những kinh nghiệm từng trải, đã “vất vả suốt đêm mà không bắt được gì cả”; nhưng khi “vâng lời Thầy, tôi sẽ thả lưới”, cũng vẫn những dụng cụ và cách thức ấy, thì kết quả đã vượt quá sức tưởng tượng (“bắt được rất nhiều cá, đến nỗi hầu như rách cả lưới”). Có thể coi đó là một biến cố vì trong cùng một sự kiện, cũng một cách thức thực hiện, mà kết quả khác hẳn nhau, trước thì “vất vả suốt đêm mà không bắt được gì cả”, nhưng sau đó thì “được hai thuyền đầy cá, đến gần chìm”. Ấy là chưa kể biến cố đó xảy ra đã làm thay đổi hẳn cách nhìn (quan điểm) của thánh Phê-rô và đám đông về Đức Giê-su Ki-tô, đến nỗi mà thánh nhân phải “sấp mặt dưới chân Đức Giê-su và nói: “Lạy Chúa, xin tránh xa con, vì con là kẻ tội lỗi!” Từ biến cố đó, Đức Giê-su thu nhận 4 môn đệ đầu tiên (Phê-rô với người anh là An-rê, 2 người con ông Dê-bê-đê là Gia-cô-bê và Gio-an).
Sau Phục Sinh, thêm một lần nữa, Đức Giê-su làm phép lạ “mẻ cá lớn” tại Biển hồ Ti-bê-ri-a (Ga 21, 1-19). Lần này có các môn đệ Phê-rô, Tô-ma (Đi-đi-mô), Na-tha-na-en, 2 người con ông Dê-bê-đê (Gia-cô-bê và Gio-an) và 2 môn đệ khác nữa. Cũng như lần trước, suốt đêm “họ không bắt được gì cả” (Ga 21, 3). Đến khi các ông nghe lời Đức Giê-su “thả lưới xuống bên phải mạn thuyền”, thì “không sao kéo lên nổi, vì lưới đầy những cá” (Ga 21, 6). Sau khi thưởng thức món cá nướng từ thành quả gặt hái được, Thánh Phê-rô được Thầy Chí Thánh gặng hỏi tới 3 lần: “Này anh Si-môn, con ông Gio-an, anh có mến Thầy không?”; 2 lần trước, thánh nhân đều trả lời “Thưa Thầy có, Thầy biết con yêu mến Thầy”, đến lần thứ ba thì “Ông Phê-rô buồn vì Người hỏi tới ba lần: “Anh có yêu mến Thầy không?” Ông đáp: “Thưa Thầy, Thầy biết rõ mọi sự; Thầy biết con yêu mến Thầy.” Có lẽ cũng vì khi Thầy chính thức bước vào cuộc khổ nạn, “Phê-rô đã chối Thầy 3 lần trong một đêm”, nên lần này Đức Ki-tô cũng muốn Phê-rô 3 lần tuyên xưng lòng Mến hầu củng cố đức tin cho thật vững chắc, để từ đó, Người chính thức trao quyền “chăn dắt đàn chiên của Thầy” (Giáo Hội).
Phép lạ tại hồ Ghen-nê-xa-rét đúng vào dịp khai mạc giai đoạn công khai sứ vụ rao giảng Tin Mừng Cứu Độ của Đức Giê-su Ki-tô. Còn phép lạ tại Biển hồ Ti-bê-ri-a đúng vào thời điểm hoàn tất sứ vụ của Người. Cả 2 biến cố đều minh hoạ thật cụ thể châm ngôn “Mưu sự tại nhân, thành sự tại Thiên: ” (Liệu việc do người, thành sự do Trời – “Man proposes, God disposes”). Thật vậy, con người được tự do, có quyền chọn lựa và mưu tính mọi việc, nhưng kết quả không bao giờ ra ngoài sự quan phòng của Thiên Chúa; vì ngay đến chính loài người cũng do Thiên Chúa dựng nên thì tất cả mọi sự kiện, mọi biến cố trong cuộc sống của con người đều nằm trong sự quan phòng của Thiên Chúa là điều tất nhiên. Vâng, “Ngay đến tóc trên đầu anh em cũng được đếm cả rồi” (Lc 12, 7).
Bài Tin Mừng hôm nay trùng vào ngày đầu năm âm lịch chỉ là ngẫu nhiên, nhưng kẻ viết bài này lại thấy nó phù hợp với ngày đầu Xuân một cách lạ lùng. Vâng, ngày đầu tiên bước vào một năm mới là bước vào một chặng đường mới trên hành trình “ba vạn sáu ngàn ngày”, tâm lý chung ai chẳng nghĩ đó là đón mừng một hy vọng mới cho một chặng đường mới trong cuộc sống. Cũng như các môn đệ xuất thân từ nghề chài lưới (Phê-rô, An-rê, Gia-cô-bê và Gio-an) khi thả lưới đánh cá, ai chẳng mong sẽ bắt được nhiều cá, nhưng vất vả suốt đêm chẳng được gì cả. Chán nản, mọi người đi giặt lưới tính nghỉ ngơi thì vừa lúc Đức Giê-su xuất hiện. Và sau khi “vâng lời Thầy, tôi sẽ thả lưới” thì hiệu quả vượt quá ước mơ. Kể từ đó, các môn đệ bước vào một chặng đường mới “theo Thầy đi lưới người như lưới cá”.
Chặng đường ấy cũng như chặng đường 365 ngày trần thế, tuy có những thuận lợi nhất định, nhưng cũng sẽ gặp không ít gian nan nguy hiểm và nếu vững tin vào Người Thầy Chí Thánh đã hướng dẫn, chỉ dạy, mà “vâng lời Thầy, con xin thả lưới”, chắc chắn vào ngày kết thúc lộ trình trần thế, cũng là ngày hoàn tất sứ vụ được trao, sẽ được Đức Vua âu yếm phán dạy: “Nào những kẻ Cha Ta chúc phúc, hãy đến thừa hưởng Vương Quốc dọn sẵn cho các ngươi ngay từ thuở tạo thiên lập địa” (Mt 25, 34). Vấn đề đặt ra là phải hiểu cho thấu đáo “Mưu sự tại nhân, thành sự tại Thiên”, không những thế mà còn phải “Tận nhân lực nhi tri Thiên mệnh ( : hết sức người thì hiểu mệnh Trời – Khổng Tử – “Luận ngữ”). Như vậy thì phải “Vâng lời Thầy, con xin dốc hết sức mình thả lưới”. Ấy cũng bởi vì “Để dựng nên ta, Thiên Chúa không cần đến ta, nhưng để cứu rỗi ta, Thiên Chúa không thể làm được nếu ta không cộng tác với Ngài” (Thánh Âu-tinh).
Đó là những cảm nghĩ về bài Tin Mừng CN.V/TN-C, giờ đây xin chia sẻ vào 3 ngày Tết theo Lịch Phụng vụ:
1- Lễ Tân niên: Cầu bình an cho Năm Mới. (Bđ 1: St 1, 14-18; Bđ 2: Pl 4, 4-8; Tin Mừng: Mt 6, 25-34):
Lễ Tân Niên được cử hành vào sáng Mồng Một Tết. Lịch Phụng vụ của Giáo Hội toàn cầu ấn định ngày đầu năm dương lịch (01/01) là “Ngày Thế Giới Hoà Bình”. Cũng vậy, Giáo Hội Việt Nam ấn định ngày đầu năm âm lịch (Mồng Một tháng Giêng) là ngày cầu bình an cho Năm Mới. Khi Thiên Chúa dựng nên con người có nam có nữ theo hình ảnh Người, Người đã dùng chính Tình Yêu của Người để kết dính 2 ông bà Nguyên tổ lại với nhau nên “một xương một thịt” để “sinh sôi nảy nở cho đầy mặt đất và thống trị mặt đất”. Như vậy, ngay từ nguyên thuỷ, Thiên Chúa đã muốn cho con cái của mình sống trong yêu thương, trong an bình hạnh phúc. Không những thế, khi con người xa lìa Thiên Chúa, chìm đắm trong tội lỗi, thì Người lại ban chính Con Một xuống thế làm người cứu độ nhân loại và ngay trong đêm Con Người giáng thế, thì đã có lời chúc từ trời cao “Bình an dưới thế cho người thiện tâm”.
Sứ vụ cao trọng của Con Thiên Chúa làm người chỉ có thể là làm cho “Đất với Trời se chữ đồng” trong Tình Yêu mà thôi. Sự ích kỷ, ghen ghét, đố kỵ, thù hằn đã làm cho con người chìm ngập trong tội lỗi nhuốc nhơ, trong sự chết đen tối, nên Đức Giê-su Thiên Chúa phải chịu khổ hình để tẩy xoá tội lỗi, chịu chết trên thập giá để tiêu diệt sư chết và Người sống lại hiển vinh đem lại sự sống vĩnh cửu cho loài người. Cũng chính Người Con luôn mời gọi “Hãy đến cùng tôi, mọi người sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng” (Mt 11, 28). Nghỉ ngơi bồi dưỡng trong sự sống vĩnh cửu thì chẳng phải đó là an bình hạnh phúc hay sao? Vâng, chính vì loài người không ưng thuận đón nhận sự cứu độ, không muốn được nghỉ ngơi bồi dưỡng trong yêu thương, không thích an bình, nên mới thành cớ sự.
Đúng như vậy, Thiên Chúa – thông qua Ngôi Lời nhập thể – luôn thương yêu con cái, kể cả những đứa con ngỗ nghịch, bất hiếu nhất, và Người ban (một cách nhưng không, không đòi hỏi đáp trả) rất nhiều hồng ân xuống cho loài người, mà điển hình hơn cả là ơn an bình. Sống và hoạt động trong Tình Yêu Thiên Chúa, nên Hiền thê của Đấng Cứu Độ là Giáo Hội luôn quan tâm đến vấn đề hoà bình của thế giới cũng là lẽ đương nhiên. Chỉ có hoà bình mới thực sự đem lại đời sống ấm no hạnh phúc cho con người. Chính vì thế, nên “Vị Tôi tớ Chúa Phao-lô VI, người có trí tuệ và tầm nhìn xa, người đã đặt ra Ngày Thế giới Hòa bình (năm 1976), đã dạy rằng: “Trước hết phải trang bị cho Hòa bình những loại vũ khí mới, khác với những thứ dùng để giết hại và hủy diệt con người. Phải trang bị trước tiên bằng vũ khí đạo đức, đem lại sức mạnh và uy tín cho công pháp quốc tế, bắt đầu bằng việc tuân giữ các hiệp ước” (Sứ điệp “Ngày Hoà bình Thế giới năm 2011” của ĐTC Biển Đức XVI, số 15).
Ngày đầu năm – ngày cầu bình an cho Năm Mới – ngày Thế giới hoà binh – cũng là ngày mở ra một chặng đường mới, hướng tới một “Trời mới đất mới” mà Thiên Chúa – thông qua Ngôi Lời Nhập Thể – đã thương ban. Chính vì thế, “Qua cuộc sống mới mà Đức Ki-tô ban cho, chúng ta có thể nhận ra người khác là anh chị em của mình, bất chấp mọi khác biệt về ngôn ngữ, quốc tịch, và văn hóa. Tóm lại, qua việc chia sẻ trong cùng một bánh và cùng một chén, chúng ta đi đến nhận thức rằng chúng ta là “gia đình của Thiên Chúa” và rằng cùng nhau chúng ta có thể đưa ra cống hiến có hiệu quả để xây dựng một thế giới trên cơ sở các giá trị công lý, tự do và hòa bình.” (Sứ điệp “Ngày Hoà bình Thế giới năm 2005” của ĐTC Gio-an Phao-lô II, số 1). Như vậy, cầu bình an cho Năm Mới không chỉ là cầu cho bản thân, mà là cầu cho gia đình, cầu cho đồng bào cùng chung tổ quốc, cầu cho hết mọi người trên khắp địa cầu. Tắt một lời, đó chính là cầu cho hoà bình thế giới vậy.
2- Mồng 2 Tết: Kính nhớ Tổ tiên và Ông Bà Cha Mẹ. (Bđ 1: Hc 44, 1.10-15; Bđ 2: Ep 6, 1-4.18-23; Tin Mừng: Mt 15, 1-6):
Ngược lại với quan niệm, suy nghĩ của dân Do Thái, đặc biệt là các Luật sĩ, Kinh sư Pha-ri-sêu về vấn đề báo hiếu, Chúa Giê-su luôn đề cao việc hiếu thảo đối với tổ tiên, ông bà, cha mẹ, các bậc có công sinh thành, dưỡng dục con cháu. Ấy cũng bởi vì trong 10 giới răn của Thiên Chúa răn dạy loài người thông qua ngôn sứ Mô-sê, thì có 3 điều “mến Chúa” và 7 điều “yêu người”; mà đứng đầu trong 7 điều “yêu người” là giới răn thứ tư: “Thảo kính cha mẹ”. Ngay từ Cựu Ước, giới răn “thảo kính cha mẹ” đã được nhiều ngôn sứ nhắc đến (Hc 3, 3-14; Xh 29, 12…), sang đến Tân Ước cũng vậy (Ep, 6, 1-9), đặc biệt là chính Đức Giê-su đã phê phán tính cách của các kinh sư luật sĩ Pha-ri-sêu chỉ câu nệ truyền thống mà coi thường giới răn của Thiên Chúa. Người nói thẳng: “Các ông thật khéo coi thường điều răn của Thiên Chúa để nắm giữ truyền thống của các ông. Quả thế, ông Mô-sê đã dạy rằng: Ngươi hãy thờ cha kính mẹ và kẻ nào nguyền rủa cha mẹ, thì phải bị xử tử! Còn các ông, các ông lại bảo: “Người nào nói với cha với mẹ rằng: những gì con có để giúp cha mẹ đều là “co-ban” nghĩa là “lễ phẩm đã dâng cho Chúa” rồi, và các ông không để cho người ấy làm gì để giúp cha mẹ nữa. Thế là các ông lấy truyền thống các ông đã truyền lại cho nhau mà huỷ bỏ Lời Thiên Chúa. Các ông còn làm nhiều điều khác giống như vậy nữa!” (Mc 7, 9-13).
Truyền thống dân tộc Việt Nam rất coi trọng chữ hiếu đối với các bậc sinh thành dưỡng dục (“Công cha như núi Thái sơn, Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra. Một lòng thờ mẹ kính cha, Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con” – ca dao VN), nên đã dành cả tháng 7 âm lịch làm tháng “báo hiếu” (trong đó lễ Vu Lan là trọng tâm được tổ chức trọng thể vào ngày Rằm – 15/7 âm lịch). Với Ki-tô Giáo thì dành cả tháng 11 để cầu cho các đấng tiền nhân (trong đó tất nhiên là có tổ tiên, ông bà, cha mẹ) đã khuất bóng. Từ truyền thống cao đẹp đó, Giáo Hội Việt Nam trước thềm Năm Mới đã dành ngày Mùng 2 Tết để “Kính nhớ Tổ tiên và Ông Bà Cha Mẹ”. Ghi nhớ công ơn các ngài, học theo gương sống của các ngài, đồng thời với mầu nhiệm hiệp thông xuyên suốt qua 3 Giáo Hội (Lữ hành, Thanh luyện, Khải hoàn), cầu nguyện cho các ngài, để từ đó nhờ các ngài chuyển cầu cùng Thiên Chúa ban cho con cháu thêm nhiều hồng ân trong Năm Mới. Thiết tưởng nghĩa cử báo hiếu đó không còn gì có thể so sánh nổi.
3- Mồng 3 Tết: Thánh hoá công ăn việc làm. (Bài đọc 1: St 2, 4b-9.15; Bài đọc 2: Cv 20, 32-35; Tin Mừng: Mt 25, 14-30):
Nhiều người thường quan niệm công ăn việc làm là do con người tự phát để mưu cầu sự sống còn, bởi “Có làm thì mới có ăn, Không dưng ai dễ đem phần đến cho” (ca dao VN). Làm ăn thành công hay thất bại là do tự bản thân, như vậy thì cần gì phải được thánh hóa. Mới thoạt nghe thì tưởng chừng có lý, nhưng suy cho cùng thì đó lại là một nguỵ biện trong biện chứng pháp vô thần. Thực thế, nếu anh không tin con người đồng thời có 2 đời sống hoà quyện vào nhau, kết dính với nhau là thể xác và tâm linh, thì anh có quyền nghĩ như vậy; nhưng nếu anh tin thì anh sẽ thấy rằng sự hiện hữu của con người anh trên mặt đất không phải từ hư không mà có, mà do một bàn tay Sáng Tạo vô hình đã dựng nên anh. Đó chính là Thiên Chúa, Người đã tạo dựng con người giống hình ảnh của Người và đặt con người trong vườn Ê-đen, rồi dạy con người trồng trọt, nghĩa là dạy con người lao động. Thiên Chúa muốn con người ngoài việc lao động để tự nuôi sống bản thân, còn chung tay góp sức và trí tuệ để làm cho vũ trụ mà Chúa dựng xây ngày càng tốt đẹp, ngày càng phong phú.
Cứ suy niệm bài Tin Mừng ngày Mồng 3 Tết “Dụ ngôn những yến bạc” (Mt 25, 14-30) thì đủ rõ: Ông chủ trao cho mỗi người một số vốn (“người này năm yến, người kia hai yến, người khác nữa một yến, tuỳ khả năng riêng mỗi người”) để con người tự lao động kiếm lời. Đa phần đều làm cho số vốn tăng gấp đôi, và được ông chủ ban thưởng “Hãy vào mà hưởng niềm vui của chủ anh!”; nhưng cũng có kẻ cho ông chủ là “người hà khắc, gặt chỗ không gieo, thu nơi không vãi”, không chịu làm ăn sinh lợi, cũng chẳng biết “gửi vào ngân hàng”, nên cuối cùng đã bị “quăng ra chỗ tối tăm bên ngoài: ở đó, sẽ phải khóc lóc nghiến răng”. Phải chăng những kẻ đó chính là những kẻ chỉ muốn “há miệng chờ sung rụng” chủ trương nguỵ biện thuyết như nêu trên? Tóm lai, lao động phải mệt nhọc, lao động đòi hỏi phải cố gắng, phấn đấu, hy sinh; nhưng trên hết lao động còn là phương cách thăng hoa cuộc sống trần thế nhằm “cộng tác với công trình sáng tạo của Thiên Chúa” nữa. Ấy cũng bởi vì “Để dựng nên ta, Thiên Chúa không cần đến ta, nhưng để cứu rỗi ta, Thiên Chúa không thể làm được nếu ta không cộng tác với Người” (Thánh Âu-tinh).
Tết Quý Tỵ năm nay còn có một điểm đặc biệt nữa là vừa hết 3 ngày Tết (nhằm ngày 10, 11 và 12/02 dương lịch), là bước vào Mùa Chay (Thứ Tư Lễ Tro 13/02/2013). Tổng kết lại những điều đã chia sẻ, tôi lại càng thấy câu châm ngôn “Mưu sự tại nhân, thành sự tại Thiên” là rất đúng. Mừng đón Chúa Xuân là bước vào một chặng đường mới với một hy vọng mới sẽ đạt được phần thưởng hưởng niềm vui trong “Trời mới đất mới”. Muốn được vậy, hãy sẵn sàng hành động trong tâm tình sám hối để canh tân cuộc sống, đổi mới chính con người của mình. Đồng thời phải “tận nhân lục” trong hành động “Vâng lời Thầy, con xin dốc một lòng làm theo Lời Thầy dạy”. Chỉ có như thế mới hy vọng “tri Thiên mệnh” là được chính Ông Chủ Trời (Thiên Chúa) dang rộng vòng tay, ân cần phán dạy: “Hãy vào mà hưởng niềm vui của chủ anh!”. Ước được như vậy.
Ôi! “Lạy Thiên Chúa từ bi nhân hậu, trong ngày đầu năm mới chúng con họp nhau đây để dâng lời chúc tụng ngợi khen Chúa. Cúi xin Chúa mở lượng hải hà, ban cho hết mọi người chúng con trong năm Quý Tỵ (2013) này được bình an mạnh khoẻ, càng thêm tuổi càng thêm nhân đức hầu đáng hưởng phúc lộc dồi dào. Chúng con cầu xin, nhờ Đức Ki-tô, Chúa chúng con. Người là Thiên Chúa hằng sống và hiển trị cùng Chúa, hiệp nhất với Chúa Thánh Thần đến muôn thủa muôn đời. Amen. (Lời nguyện nhập lễ, lễ Tân Niên).

 

Tết 1_131: MÙNG MỘT TẾT - THÁNH LỄ TÂN NIÊN

Bài đọc 1: Is 11, 1-9; Bài đọc 2: Cl 3, 12-17; TM: Ga 14, 23-27
 
Thưa cộng đoàn rất thân mến!

 

Nói đến mùa xuân là nói đến sức sống và sự sinh sôi nảy nở, nói đến niềm vui, hạnh phúc và sự an Tết 1_131

Nói đến mùa xuân là nói đến sức sống và sự sinh sôi nảy nở, nói đến niềm vui, hạnh phúc và sự an bình. Phụng vụ Lời Chúa trong ngày Mùng Một Tết hôm nay đều qui hướng và làm nổi bậc lên những ý nghĩa này.
Trong bài đọc thứ nhất, ngôn sứ Isaia đã viết: “ Từ gốc tổ Giê-sê, sẽ đâm ra một nhánh nhỏ; từ cội rễ ấy, sẽ mọc lên một mầm non”. Mầm Non này chính là Đấng Messia, Đấng tràn đầy Thần Khí của Thiên Chúa. Sự xuất hiện của Ngài sẽ mang lại cảnh hạnh phúc và an bình: “Sói sẽ ở với chiên con, beo nằm bên dê nhỏ, bò tơ và sư tử non được nuôi chung với nhau”.
Thánh vịnh đáp ca cũng tô điểm thêm: “Triều đại Người đua nở hoa công lý, và thái bình thịnh trị đến muôn đời”.
Ở bài đọc thứ hai, trong thư gởi tín hữu Côlôsê, thánh Phaolô đã tiếp nối ý tưởng này qua lời khuyên nhủ các tín hữu: “Anh em hãy có lòng thương cảm, nhân hậu, khiêm nhu, hiền hòa và nhẫn nại…Ước gì ơn bình an của Đức Kitô điều khiển tâm hồn anh em; vì trong một thân thể duy nhất, anh em được kêu gọi đến hưởng ơn bình an đó”.
Trong bài Tin Mừng, Chúa Giêsu đã cô đọng tất cả những ý tưởng trên qua lời trối hứa của Ngài, là ban Chúa Thánh Thần và ban sự bình an.
Lời Hứa Ban Chúa Thánh Thần:
 Nếu đọc lại sách Sáng Thế chương 1, chúng ta sẽ thấy rằng Chúa Thánh Thần đã xuất hiện ngay từ thuở tạo thiên lập địa: “Lúc khởi đầu, Thiên Chúa sáng tạo trời đất, đất còn trống rỗng, chưa có hình dạng, bóng tối bao trùm vực thẳm, và Thần Khí Thiên Chúa bay lượn trên mặt nước”. Thần Khí tượng trưng cho sự sống. Nhưng từ khi Adam sa ngã phạm tội thì cửa trời đã bị đóng lại, mối tương quan tốt đẹp giữa Thiên Chúa và con người đã bị gãy đổ. Giờ đây, khi Chúa Giêsu đến trần gian, Ngài thiết lập lại mối tương giao này và Thánh Thần lại được tuôn đổ trên các tông đồ. Thánh Thần sẽ khai sáng mọi điều bí ẩn mà lâu nay các tông đồ chưa hiểu được. Quả thật, có Chúa Thánh Thần là có sự đổi mới trong tâm hồn. Có Chúa Thánh Thần là có sự triển nở nơi đời sống đức tin. Có Chúa Thánh Thần là có bình an và sự đơm hoa kết trái trong mọi hoạt động của người Kitô hữu.
Lời Hứa Ban Sự Bình An:
 “Thầy để lại bình an cho anh em. Thầy ban cho anh em bình an của Thầy. Thầy ban cho anh em không như thế gian ban tặng. Lòng anh em đừng xao xuyến và sợ hãi”. Bình an ở đây không phải là cảm giác an toàn tạm bợ của những người đang sống một cuộc sống trưởng giả, đầy đủ sung túc về vật chất; cũng không phải là niềm vui nhất thời của những người vừa thăng quan tiến chức hay vừa đạt được thành công nào đó. Bình an mà Chúa hứa ban không phải là bình an tạm bợ và nhuốm màu của phàm trần. Bình an của Chúa là bình an đích thực, trường tồn và có giá trị cứu độ con người, tức là niềm an bình vì có ân sủng Đức Giêsu Kitô, tình yêu của Chúa Cha và ơn thông hiệp của Chúa Thánh Thần ở cùng chúng ta. Sự bình an kiên vững đến nỗi cho dù bước đi giữa những khó khăn và lo lắng của cuộc đời, chúng ta vẫn an tâm, vì xác tín rằng: có Thiên Chúa luôn đồng hành và nâng đỡ chúng ta.
Lời hứa ban Chúa Thánh Thần và bình an mà Chúa Giêsu dành cho chúng ta trong ngày đầu năm mới này thật ý nghĩa biết bao. Chúng ta hãy gác lại sau lưng những lo lắng để mở rộng cõi lòng mà đón nhận bình an của Thiên Chúa.
Một năm mới đang mở ra trước mắt chúng ta với bao nhiêu dự định tốt đẹp cho tương lai. Hãy trao phó tất cả cho tình thương và sự quan phòng của Thiên Chúa. Hãy xác tín rằng, một khi chúng ta biết kính mến và tuân giữa Lời Chúa, biết đặt hết hy vọng vào Chúa, thì Thánh Thần sẽ hoạt động và làm trổ sinh dồi dào ân sủng nơi những công việc của chúng ta.
Lạy Chúa, Chúa là Chúa Tể trời đất, là Chúa Tể của thời gian và là Chúa của mùa xuân, xin hãy chúc lành cho chúng con trong ngày đầu xuân và trong suốt cả năm mới này. Amen.


 

Tết 1_132: THÀNH TÂM TÍN THÁC

(Mồng Một Tết Nguyên Đán – Cầu Bình An)
XUÂN SANG CẢM TẠ CHÚA TRỜI THƯƠNG XÓT
TẾT ĐẾN TRI ÂN ĐỨC MẸ CHỞ CHE
 

Khởi đầu luôn là “mốc” quan trọng trong các lĩnh vực, cũng gọi là khởi điểm. Thiên Chúa là người khởi Tết 1_132

Khởi đầu luôn là “mốc” quan trọng trong các lĩnh vực, cũng gọi là khởi điểm. Thiên Chúa là người khởi sự đầu tiên: “Lúc khởi đầu, Thiên Chúa sáng tạo trời đất” (St 1:1). Một năm cũ kết thúc và đã qua, một năm mới khởi đầu và vừa tới. Đó là quy luật tự nhiên bất biết muôn thuở, vì cái gì cũng có hai “điểm” – khởi sự và kết thúc. Cả hai “điểm” đó đều là Thiên Chúa: “Ta là An-pha và Ô-mê-ga, là Đầu và Cuối, là Khởi Nguyên và Tận Cùng” (Kh 22:13).
Ngày đầu năm là Mồng Một Tết và là ngày cầu bình an cho năm mới. Đời người có nhiều khởi điểm: Khởi đầu cuộc đời, khởi đầu công việc, khởi đầu hôn nhân, khởi đầu sự nghiệp,… đặc biệt là khởi đầu năm mới, đặc biệt là lúc từ bỏ lối sống cũ để sống lối sống mới, đó là “đổi đời” – tâm linh gọi là hoán cải. Tất cả những cái khởi đầu đều làm người ta cảm thấy quan ngại – lo đủ thứ, e đủ kiểu, sợ đủ mức. Lẽ tất nhiên, vì chúng ta không thể chủ động, không biết tương lai ra sao – vì “thời gian là của Chúa”. Vì thế, người ta rất cần và phải tín thác vào Chúa. Đó là sống khôn ngoan!
Trên chiếc đồng hồ lớn tại giáo xứ Thánh Gioan Chrysostom ở Inglewood (California, Hoa Kỳ), người ta thấy có khắc chữ “Tempus Fugit” – La ngữ nghĩa là “thời giờ trôi qua”. Điều dĩ nhiên nhưng rất chí lý! Tục ngự Việt Nam cũng nói tương tự: “Thời giờ thấm thoắt thoi đưa, nó đi đi mãi có chờ đợi ai”. Và hôm nay, mồng Một Tết, cũng sẽ qua đi theo dòng chảy thời gian, kể cả Mùa Xuân cũng sẽ chấm dứt, nhưng chính Thiên Chúa đã động viên mỗi chúng ta: “ĐỪNG LO!” (Mt 6:34).
Một năm có bốn mùa, Mùa Xuân chỉ là một phần của thời gian. Chờ Xuân thì háo hức, cảm thấy vui, đón Xuân thì lại kém vui. Xuân đến rồi Xuân lại đi, chẳng có gì vĩnh viễn, và mọi thứ đều hữu hạn: “Chính Ngài vạch biên cương cho cõi đất, thời hạ, tiết đông, cũng chính Ngài thiết lập” (Tv 74:17).
Mùa Xuân ấm áp sau khi tan giá lạnh Mùa Đông. Có lạnh mới biết quý hơi ấm. Mùa Xuân đến, mọi vật đều biến đổi, khác lạ, y như được hồi sinh từ cõi chết vậy. Lạ lắm, đúng như tác giả sách Diễm Ca (2:11-12) mô tả, đơn giản mà tinh tế, khéo léo và thú vị:
Tiết Đông giá lạnh đã qua
Mùa mưa đã dứt, đã xa lắm rồi
Sơn hà nở rộ hoa tươi
Và mùa ca hát vang trời về đây
Tiếng chim gáy hót mê say
Văng vẳng cả ngày trên khắp đồng quê
Khởi đầu một năm mới được đánh dấu bằng Mùa Xuân. Với cái vẻ “mới lạ” của mùa Xuân, chúng ta được gợi nhớ tới việc sáng tạo của Thiên Chúa từ thuở hồng hoang. Khoảng thời gian đó được Kinh Thánh cụ thể hóa là sáu ngày, và thêm một ngày nghỉ nữa là thành một tuần.
Con số 7 là con số “lạ” lắm: 7 ngày là khoảng thời gian Thiên Chúa sáng tạo trời đất, 7 ngày trong tuần, 7 bí tích, 7 nhân đức đối lập với 7 mối tội đầu, 7 mối thương xác và 7 mối thương hồn (14 mối thương người), 7 quỷ bị Chúa Giêsu đuổi ra khỏi cô Maria Mađalêna (Mc 16:9; Lc 8:2), 7 lời cuối Chúa Giêsu nói trên Thập Giá, riêng sách Khải Huyền đề cập số 7 nhiều nhất: 7 ấn (5:1 & 5; 6:1), 7 đầu của Con Mãng Xà (12:3), 7 đầu của Con Thú từ biển đi lên (13:1; 17:3, 7 & 9), 7 chén (15:7; 16:1; 17:1; 21:9), 7 chiếc kèn (8:2 & 6), 7 đặc tính của Con Chiên (5:12), 7 đặc tính của Thiên Chúa (7:12), 7 hạng người (6:12), 7 hồi sấm (10:3-4), 7 Hội Thánh (1:4, 11 & 20), 7 mắt (5:6), 7 ngôi sao (1:16 & 20; 2:1; 3:1), 7 ngọn đồi (17:9), 7 ngọn đuốc (4:5), 7 sừng (5:6), 7 tai ương (15:1, 6 & 8; 21:9), 7 thần khí (1:4; 3:1; 4:5; 5:6), 7 thiên sứ (8:2 & 6; 15:1, 6-8; 16:1; 17:1; 21:9), 7 trụ đèn bằng vàng (1:12 & 20; 2:1), 7 vua (17:9 & 11), 7 vương miện trên 7 đầu của Con Mãng Xà (12:3).
Còn nữa, 7 loại hình nghệ thuật, 7 nốt trong âm nhạc, 7 sắc cầu vồng, 7 màu cơ bản cho việc phối màu trong hội họa, 7 kỳ quan thế giới. Thật thú vị!
Con số 7 lạ lùng đầu tiên là khi Thiên Chúa tạo thiên lập địa: 7 ngày. Vào ngày thứ tư trong công cuộc sáng tạo, Thiên Chúa phán: “Phải có những vầng sáng trên vòm trời, để phân rẽ ngày với đêm, để làm dấu chỉ xác định các đại lễ, ngày và năm. Đó sẽ là những vầng sáng trên vòm trời để chiếu soi mặt đất” (St 1:14-15). Tức thì đã xảy ra y như vậy!
Tường thuật chi tiết hơn, Kinh Thánh cho biết: “Thiên Chúa làm ra hai vầng sáng lớn: vầng sáng lớn hơn để điều khiển ngày, vầng sáng nhỏ hơn để điều khiển đêm; Người cũng làm ra các ngôi sao. Thiên Chúa đặt các vầng sáng trên vòm trời để chiếu soi mặt đất, để điều khiển ngày và đêm, và để phân rẽ ánh sáng với bóng tối. Thiên Chúa thấy thế là tốt đẹp” (St 1:16-18). Ngày để làm việc, đêm để nghỉ ngơi. Thiên Chúa đã tạo cơ hội thuận lợi để chúng ta có thể cân bằng cuộc sống, nhờ đó mà làm việc có hiệu quả cao nhất. Xin tạ ơn Chúa Tể càn khôn!
Đời là bể khổ. Thế nên cuộc sống luôn có những nỗi lo, không nhiều thì ít, không to thì nhỏ, chẳng ai có thể vô tư. Ngay cả người điên cũng có nỗi lo riêng của họ, thậm chí người sống thực vật cũng lo – vì họ não và tim của họ vẫn hoạt động, tức là vẫn sống. Thật vậy, cứ mở mắt ra là thấy lo rồi. Tuy nhiên, lo là lẽ thường tình của nhân sinh, nhưng đừng lo quá, vì chúng ta “không thể làm cho một sợi tóc hóa trắng hay đen” (Mt 5:36). Việc nhỏ như vậy còn chưa làm nổi kia mà! Do đó, tác giả Thánh Vịnh nhắc nhở chúng ta “thoát” ra khỏi cái “vỏ ốc yếu đuối” của mình: “Cứ tin tưởng vào Chúa và làm điều thiện thì sẽ được ở trong đất nước và sống yên hàn. Hãy lấy Chúa làm niềm vui của bạn, Người sẽ cho được phỉ chí toại lòng. Hãy ký thác đường đời cho Chúa, chính Người sẽ ra tay” (Tv 37:4-5).
Nhưng không chỉ có vậy, Thiên Chúa còn làm cho chúng ta nhiều hơn nữa: “Chính nghĩa bạn, Chúa sẽ làm rực rỡ tựa bình minh, công lý bạn, Người sẽ cho huy hoàng như chính ngọ” (Tv 37:6). Tuy nhiên, chúng ta phải chú ý đến “chính nghĩa” (lẽ phải, sự thật) và “công lý” (công minh, chính trực) – tức là chúng ta phải nghiêm túc, rạch ròi, thẳng thắn, chứ đừng “bẻ cong” hoặc “bóp méo” bất cứ điều gì. Không dễ đâu đấy, thế nên phải thực sự can đảm mới khả dĩ thực hiện.
Thánh Vịnh gia cho biết: “Chúa giúp con người bước đi vững chãi, ưa chuộng đường lối họ dõi theo. Dầu họ có vấp cũng không ngã gục, bởi vì đã có Chúa cầm tay. Từ nhỏ dại tới nay tôi già cả, chưa thấy người công chính bị bỏ rơi, hoặc dòng giống phải ăn mày thiên hạ. Ngày ngày họ thông cảm và cho mượn cho vay, dòng giống mai sau hưởng phúc lành” (Tv 37:23-26). Mấy câu này làm sáng tỏ mấy câu trên. Lô-gích lắm!
Cái gì cũng có hệ lụy nhất định. Sống tốt thì người ta an lòng, hy vọng cũng làm người ta vui sống, và càng an tâm hơn nếu người ta biết phó thác tất cả cho Chúa. Thánh Phaolô kêu gọi: “Anh em hãy vui luôn trong niềm vui của Chúa. Tôi nhắc lại: vui lên anh em! Sao cho mọi người thấy anh em sống hiền hoà rộng rãi, Chúa đã gần đến. Anh em đừng lo lắng gì cả. Nhưng trong mọi hoàn cảnh, anh em cứ đem lời cầu khẩn, van xin và tạ ơn, mà giãi bày trước mặt Thiên Chúa những điều anh em thỉnh nguyện” (Pl 4:4-6). Sống tín thác cũng là sống “con đường thơ ấu” của Thánh Hoa Hồng Nhỏ Tê-rê-xa Hài Đồng.
Và đây là hệ quả tất yếu đối với những ai biết sống tín thác: “Bình an của Thiên Chúa, bình an vượt lên trên mọi hiểu biết, sẽ giữ cho lòng trí anh em được kết hợp với Đức Kitô Giêsu” (Pl 4:7). Thánh Phaolô nhắn nhủ thêm về các đức tính cần thiết để sống tốt lành và đạo đức: “Ngoài ra, thưa anh em, những gì là chân thật, cao quý, những gì là chính trực tinh tuyền, những gì là đáng mến và đem lại danh thơm tiếng tốt, những gì là đức hạnh, đáng khen, xin anh em hãy để ý” (Pl 4:8).
Chắc chắn điều chính xác và rõ ràng nhất là lời khuyên của Đại Sư Giêsu: “ĐỪNG LO cho mạng sống: lấy gì mà ăn; cũng ĐỪNG LO cho thân thể: lấy gì mà mặc. Mạng sống chẳng trọng hơn của ăn, và thân thể chẳng trọng hơn áo mặc sao?” (Mt 6:25). Một câu nghi-vấn-xác-định thật độc đáo quá chừng. Tuyệt vời biết bao!
Dĩ nhiên Chúa Giêsu biết chúng ta còn yếu đuối, chưa đủ tin, nên Ngài phải “dài hơi” giải thích và đưa ra chứng cớ minh nhiên: “Hãy xem chim trời: chúng không gieo, không gặt, không thu tích vào kho; thế mà Cha anh em trên trời vẫn nuôi chúng. Anh em lại chẳng quý giá hơn chúng sao? Hỏi có ai trong anh em, nhờ lo lắng, mà kéo dài đời mình thêm được dù chỉ một gang tay? Còn về áo mặc cũng thế, lo lắng làm gì? Hãy ngắm xem hoa huệ ngoài đồng mọc lên thế nào mà rút ra bài học: chúng không làm lụng, không kéo sợi; thế mà, Thầy bảo cho anh em biết: ngay cả vua Sa-lô-môn, dù vinh hoa tột bậc, cũng không mặc đẹp bằng một bông hoa ấy” (Mt 6:26-29). Như vậy, liệu chúng ta có thực sự tâm phục khẩu phục chưa?
Và rồi Ngài nhấn mạnh bằng cách đặt vấn đề: “Vậy nếu hoa cỏ ngoài đồng, nay còn, mai đã quẳng vào lò, mà Thiên Chúa còn mặc đẹp cho như thế, thì huống hồ là anh em, ôi những kẻ kém tin! Vì thế, anh em đừng lo lắng tự hỏi: ta sẽ ăn gì, uống gì, hay mặc gì đây? Tất cả những thứ đó, dân ngoại vẫn tìm kiếm. Cha anh em trên trời thừa biết anh em cần tất cả những thứ đó. Trước hết hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Người, còn tất cả những thứ kia, Người sẽ thêm cho” (Mt 6:30-33). Với sức con người thì khó lắm, nhưng với niềm tín thác, chúng ta sẽ làm được nhờ Đức Giêsu Kitô. Chắc chắn như thế!
Cuối cùng, Chúa Giêsu đưa ra lời xác định, vừa động viên vừa khuyến cáo: “Anh em ĐỪNG LO LẮNG về ngày mai: ngày mai, cứ để ngày mai lo. Ngày nào có cái khổ của ngày ấy!” (Mt 6:34). Biết thế thì sẽ thoát khổ, cứ thanh thản mà sống. Lo bạc râu, sầu bạc tóc. Đi xuyên qua đau khổ là cách tốt nhất để thoát khổ. Vả lại, lo lắng lắm cũng chẳng thay đổi được gì, thế thì lo chi để tự chuốc khổ vào mình?
Giờ đã điểm, ngay giây phút đầu tiên của mùa Xuân, khi hòa chung niềm vui mừng của muôn loài và cùng nhau ăn Tết, mỗi người chúng ta hãy ghi nhớ và chân thành thề hứa với Chúa: “Ngày lại ngày, con xin chúc tụng Chúa và ca ngợi Thánh Danh muôn thuở muôn đời” (Tv 145:2). Có Chúa là có tất cả, mất Chúa là mất tất cả. Thế thôi!
Lạy Thiên Chúa là Khởi Đầu và Kết Thúc – Anpha và Ômêga, chúng con tin kính và yêu mến Ngài, xin giúp chúng con thể hiện niềm tin yêu đó qua động thái yêu thương tha nhân, hôm nay và mãi mãi. Đó là Tình Xuân của chúng con, và chúng con muốn chia sẻ với tha nhân, nhất là những người chưa có thể tận hưởng ngày Xuân trọn vẹn vì bất cứ lý do nào – có thể họ là tội nhân, bệnh nhân, tù nhân, người mồ côi, người năng ưu sầu, người chia ly, người nghèo khó, người bị ruồng bỏ, người bị phản bội,… Xin Chúa thương họ cách đặc biệt, và xin ban an bình cho mọi người. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Đấng cứu độ nhân loại. Amen.
TRẦM THIÊN THU

 

Tết 1_133: GÁNH ĐỜI

(Mồng Một Tết Nguyên Đán – Cầu Bình An)
NGÀY MỒNG MỘT CHUNG LỜI TẠ ƠN CHÚA
NGUYỆN THÁI AN HIỆP NHẤT NIỀM KÍNH TIN
 

Học giả Nguyễn Hiến Lê có cuốn sách dịch với tựa đề “Quẳng Gánh Lo Đi và Vui Sống” (xuất bản Tết 1_133

Học giả Nguyễn Hiến Lê có cuốn sách dịch với tựa đề “Quẳng Gánh Lo Đi và Vui Sống” (xuất bản năm 1955, nguyên tác “How to Stop Worrying and Start Living” của tác giả Dale Carnegie, viết năm 1948). Cuốn sách này được coi là cẩm nang về cách làm việc và cách vui sống.
Quẳng là vứt, bỏ. Động từ này thể hiện sự dứt khoát. Quẳng một cái gì đi có thể là động thái dễ hoặc khó, tùy giá trị của cái cần hoặc phải bỏ đi.
Người dân quê Việt Nam có đôi quang gánh thật “kỳ diệu”. Khi người ta gánh, nhìn giống như chiếc cân. Muốn dễ gánh, hai bên phải cân bằng trọng lượng, nếu không sẽ lệch và khó gánh. Khi bỏ đôi quang gánh xuống, người ta cảm thấy thoải mái, vì trút được gánh nặng. Cuộc đời con người cũng luôn có nhiều thứ phải gánh trên đôi vai đời. Một trong những thứ khó trút bỏ là “gánh lo”. Trút được gánh nặng này là điều không hề dễ chút nào!
Không ai lại không có “gánh nợ đời”. Nợ tiền nhân, nợ song thân, nợ xã hội, nợ cộng đồng, nợ đất nước,… tất nhiên có cả nợ tôn giáo, đặc biệt nhất là nợ Thiên Chúa. Món nợ bình thường mà quan trọng là “nợ sự sống”. Khi hít thở không khí, ai cũng mắc nợ Thiên Chúa – vì Ngài chính là Sự Sống (Ga 14:6) hoặc Nguồn Sống (Tv 36:10), là ĐẤNG CẦM QUYỀN SINH TỬ (Đnl 32:39; 1 Sm 2:6; Kn 16:13). Thật vậy, chúng ta sống hay chết là quyền của Ngài: “Chúa ẩn mặt đi, chúng rụng rời kinh hãi; lấy sinh khí lại, là chúng tắt thở ngay, mà trở về cát bụi. Sinh khí của Ngài, Ngài gửi tới, là chúng được dựng nên, và Ngài đổi mới mặt đất này” (Tv 104:29-30).
Xuân sang thì Tết đến. Đó là dấu chỉ cho chúng ta biết rằng, dù muốn hay không, thời gian năm cũ cũng đã thực sự qua đi, và thời gian năm mới vừa khởi đầu. Đó là quy luật tự nhiên bất biết muôn thuở, vì cái gì cũng có hai “điểm” – khởi sự và kết thúc. Cả hai “điểm” đó đều là Chúa: “Ta là An-pha và Ô-mê-ga, là Đầu và Cuối, là Khởi Nguyên và Tận Cùng” (Kh 22:13).
Mồng Một Tết là ngày cầu bình an cho năm mới. Khởi đầu cuộc đời, khởi đầu công việc, khởi đầu hôn nhân, khởi đầu sự nghiệp,… đặc biệt là khởi đầu năm mới. Tất cả những cái khởi đầu đều làm người ta cảm thấy lo – lo đủ thứ, đủ kiểu, đủ mức độ. Lẽ tất nhiên, vì chúng ta không thể chủ động, không biết tương lai ra sao. Thời gian là của Chúa. Vì vậy mà người ta cần và phải tín thác vào Chúa. Đó là sống khôn ngoan!
Tại giáo xứ Thánh Gioan Chrysostom ở Inglewood (California, Hoa Kỳ) có một chiếc đồng hồ lớn. Trên chiếc đồng hồ đó có khắc chữ “Tempus Fugit” – theo La ngữ có nghĩa là “thời giờ trôi qua”. Thật là chí lý! Tương tự, người Việt chúng ta cũng nói: “Thời giờ thấm thoắt thoi đưa, nó đi đi mãi có chờ đợi ai”. Và hôm nay, mồng Một Tết, Thiên Chúa động viên mỗi chúng ta: “ĐỪNG LO!” (Mt 6:34).
Mùa Xuân chỉ là một phần của thời gian. Xuân đến rồi Xuân lại đi. Tác giả Thánh Vịnh xác định: “Chính Ngài vạch biên cương cho cõi đất, thời hạ, tiết đông, cũng chính Ngài thiết lập” (Tv 74:17).
Sau mùa Đông giá lạnh là mùa Xuân ấm áp, mọi vật đều biến đổi, khác lạ, y như được hồi sinh từ cõi chết vậy. Lạ lắm, đúng như sách Diễm Ca (2:11-12) mô tả, đơn giản mà tinh tế và khéo léo:
Tiết Đông giá lạnh đã qua
Mùa mưa đã dứt, đã xa lắm rồi
Sơn hà nở rộ hoa tươi
Và mùa ca hát vang trời về đây
Tiếng chim gáy hót mê say
Văng vẳng cả ngày trên khắp đồng quê
Mùa Xuân là mùa khởi đầu một năm mới, cái vẻ “mới lạ” của mùa Xuân khiến chúng ta nhớ tới việc sáng tạo của Thiên Chúa từ thuở hồng hoang. Khoảng thời gian đó được Kinh Thánh cụ thể hóa là sáu ngày, và thêm một ngày nghỉ nữa là thành một tuần.
Ngày thứ tư trong công trình khai thiên lập địa, Thiên Chúa phán: “Phải có những vầng sáng trên vòm trời, để phân rẽ ngày với đêm, để làm dấu chỉ xác định các đại lễ, ngày và năm. Đó sẽ là những vầng sáng trên vòm trời để chiếu soi mặt đất” (St 1:14-15). Tức thì đã xảy ra y như vậy.
Chi tiết hơn, Kinh Thánh cho biết: “Thiên Chúa làm ra hai vầng sáng lớn: vầng sáng lớn hơn để điều khiển ngày, vầng sáng nhỏ hơn để điều khiển đêm; Người cũng làm ra các ngôi sao. Thiên Chúa đặt các vầng sáng trên vòm trời để chiếu soi mặt đất, để điều khiển ngày và đêm, và để phân rẽ ánh sáng với bóng tối. Thiên Chúa thấy thế là tốt đẹp” (St 1:16-18). Ngày để làm việc, đêm để nghỉ ngơi. Thiên Chúa đã tạo cơ hội thuận lợi để chúng ta có thể cân bằng cuộc sống, nhờ đó mà làm việc có hiệu quả cao nhất. Quả thật, chúng ta rất cần phải biết tạ ơn Chúa Tể càn khôn, đặc biệt là ngay từ giây phút đầu năm như thế này.
Chắc chắn ai cũng biết rằng cuộc sống luôn có những nỗi lo, không nhiều thì ít, không to thì nhỏ, chẳng ai có thể vô tư. Ngay cả người điên cũng có nỗi lo riêng của họ, thậm chí người sống thực vật cũng lo – vì họ não và tim của họ vẫn hoạt động, tức là vẫn sống. Thật vậy, cứ mở mắt ra là thấy lo rồi. Tuy nhiên, lo là lẽ thường tình của nhân sinh, nhưng đừng lo quá, vì chúng ta “không thể làm cho một sợi tóc hóa trắng hay đen” (Mt 5:36). Việc nhỏ như vậy còn chưa làm nổi kia mà!
Vì thế, Kinh Thánh nhắc nhở chúng ta cố “thoát” ra khỏi cái “vỏ ốc yếu đuối” của mình: “Cứ tin tưởng vào Chúa và làm điều thiện thì sẽ được ở trong đất nước và sống yên hàn. Hãy lấy Chúa làm niềm vui của bạn, Người sẽ cho được phỉ chí toại lòng. Hãy ký thác đường đời cho Chúa, chính Người sẽ ra tay” (Tv 37:4-5).
Không chỉ có như vậy, Thiên Chúa còn làm cho chúng ta hơn thế nữa: “Chính nghĩa bạn, Chúa sẽ làm rực rỡ tựa bình minh, công lý bạn, Người sẽ cho huy hoàng như chính ngọ” (Tv 37:6). Tuy nhiên, chúng ta phải chú ý đến “chính nghĩa” (lẽ phải, sự thật) và “công lý” (công minh, chính trực). Tức là chúng ta phải nghiêm túc, rạch ròi, thẳng thắn, chứ đừng “bẻ cong” hoặc “bóp méo”. Động thái xem chừng đơn giản nhưng không dễ đâu đấy, thế nên phải can đảm mới khả dĩ thực hiện.
Tác giả Thánh Vịnh chân thành dẫn chứng: “Chúa giúp con người bước đi vững chãi, ưa chuộng đường lối họ dõi theo. Dầu họ có vấp cũng không ngã gục, bởi vì đã có Chúa cầm tay. Từ nhỏ dại tới nay tôi già cả, chưa thấy người công chính bị bỏ rơi, hoặc dòng giống phải ăn mày thiên hạ. Ngày ngày họ thông cảm và cho mượn cho vay, dòng giống mai sau hưởng phúc lành”(Tv 37:23-26). Mấy câu này làm sáng tỏ mấy câu trên. Rất lô-gích!
Sống tốt thì người ta an tâm, hy vọng làm người ta vui sống, và càng an tâm hơn nếu người ta biết phó thác tất cả cho Chúa. Thánh Phaolô kêu gọi: “Anh em hãy vui luôn trong niềm vui của Chúa. Tôi nhắc lại: vui lên anh em! Sao cho mọi người thấy anh em sống hiền hoà rộng rãi, Chúa đã gần đến. Anh em đừng lo lắng gì cả. Nhưng trong mọi hoàn cảnh, anh em cứ đem lời cầu khẩn, van xin và tạ ơn, mà giãi bày trước mặt Thiên Chúa những điều anh em thỉnh nguyện” (Pl 4:4-6). Sống tín thác cũng là sống theo “con đường thơ ấu” của Thánh Hoa Hồng Nhỏ Têrêsa Hài Đồng.
Đây là hệ quả tất yếu dành cho những ai sống tín thác: “Bình an của Thiên Chúa, bình an vượt lên trên mọi hiểu biết, sẽ giữ cho lòng trí anh em được kết hợp với Đức Kitô Giêsu” (Pl 4:7). Thánh Phaolô nhắn nhủ thêm về các đức tính cần thiết để sống tốt lành và đạo đức: “Ngoài ra, thưa anh em, những gì là chân thật, cao quý, những gì là chính trực tinh tuyền, những gì là đáng mến và đem lại danh thơm tiếng tốt, những gì là đức hạnh, đáng khen, thì xin anh em hãy để ý” (Pl 4:8).
Chính xác và rõ ràng nhất là lời khuyên của Đại sư Giêsu: “ĐỪNG LO cho mạng sống: lấy gì mà ăn; cũng đừng lo cho thân thể: lấy gì mà mặc. Mạng sống chẳng trọng hơn của ăn, và thân thể chẳng trọng hơn áo mặc sao?” (Mt 6:25). Một câu nghi-vấn-xác-định thật độc chiêu quá chừng!
Chúa Giêsu biết chúng ta yếu đuối, chưa đủ tin, nên Ngài phải “dài hơi” giải thích và đưa ra các chứng cớ minh nhiên: “Hãy xem chim trời: chúng không gieo, không gặt, không thu tích vào kho; thế mà Cha anh em trên trời vẫn nuôi chúng. Anh em lại chẳng quý giá hơn chúng sao? Hỏi có ai trong anh em, nhờ lo lắng, mà kéo dài đời mình thêm được dù chỉ một gang tay? Còn về áo mặc cũng thế, lo lắng làm gì? Hãy ngắm xem hoa huệ ngoài đồng mọc lên thế nào mà rút ra bài học: chúng không làm lụng, không kéo sợi; thế mà, Thầy bảo cho anh em biết: ngay cả vua Sa-lô-môn, dù vinh hoa tột bậc, cũng không mặc đẹp bằng một bông hoa ấy” (Mt 6:26-29). Chúng ta có thực sự tâm phục khẩu phục hay còn ngờ vực?
Và rồi Ngài nhấn mạnh: “Vậy nếu hoa cỏ ngoài đồng, nay còn, mai đã quẳng vào lò, mà Thiên Chúa còn mặc đẹp cho như thế, thì huống hồ là anh em, ôi những kẻ kém tin! Vì thế, anh em đừng lo lắng tự hỏi: ta sẽ ăn gì, uống gì, hay mặc gì đây? Tất cả những thứ đó, dân ngoại vẫn tìm kiếm. Cha anh em trên trời thừa biết anh em cần tất cả những thứ đó. Trước hết hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Người, còn tất cả những thứ kia, Người sẽ thêm cho” (Mt 6:30-33). Với sức con người thì khó lắm, nhưng với niềm tín thác, chúng ta sẽ làm được nhờ Đức Giêsu Kitô.
Cuối cùng, Chúa Giêsu vừa động viên vừa khuyến cáo khi Ngài xác định: “Anh em đừng lo lắng về ngày mai: ngày mai, cứ để ngày mai lo. Ngày nào có cái khổ của ngày ấy” (Mt 6:34). Và tác giả Thánh Vịnh nhắn nhủ: “Hãy trút nhẹ GÁNH LO vào tay Chúa, Người sẽ đỡ đần cho” (Tv 55:23).
Ngay giây phút đầu tiên của mùa Xuân, chính thức khởi đầu ngày Tết, khi hòa chung niềm vui mừng của muôn loài và cùng nhau ăn Tết, mỗi người chúng ta hãy ghi nhớ và chân thành thề hứa với Chúa: “Ngày lại ngày, con xin chúc tụng Chúa và ca ngợi Thánh Danh muôn thuở muôn đời” (Tv 145:2).
Cuộc sống không thể không lo, Thiên Chúa cũng không bảo chúng ta “vô lo”, mà có lo cũng chẳng được, nhưng Ngài muốn chúng ta thành tâm tín thác vào Ngài. Và đó cũng là lời khuyên chân thành của tác giả Thánh Vịnh: “Hãy ký thác đường đời cho Chúa, tin tưởng vào Người, Người sẽ ra tay” (Tv 37:5).
Lạy Thiên Chúa Ba Ngôi, Chúa Xuân vĩnh hằng, chúng con tin kính và yêu mến Ngài, xin giúp chúng con thể hiện niềm tin yêu đó qua việc yêu thương tha nhân, không phân biệt ai, hôm nay và mãi mãi. Đó là Tình Xuân của chúng con, và chúng con muốn chia sẻ với tha nhân, nhất là những người chưa có thể tận hưởng ngày Xuân trọn vẹn vì lý do nào đó – tội nhân, bệnh tật, mồ côi, ưu sầu, chia ly, tù đày, nghèo khổ, bị ruồng bỏ, bị phản bội,… Chúng con xin phó thác năm mới và tương lai của chúng con cho Ngài, xin Ngài ban an bình cho mọi người. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Thiên Chúa làm người và cứu độ chúng con. Amen.

 

Tết 1_134: CẦU BÌNH AN

LỄ TÂN NIÊN
Anh chị em thân mến,
 

Chúng ta vừa nghe một trong những đoạn Tin Mừng hay nhất của sách Tin Mừng. Cá nhân của Tết 1_134

Chúng ta vừa nghe một trong những đoạn Tin Mừng hay nhất của sách Tin Mừng. Cá nhân của tôi đã đọc đoạn Tin Mừng này không biết bao nhiêu lần và lần nào khi đọc xong tôi cũng cảm thấy một cảm giác thật phấn khởi.
Chọn bài Tin Mừng này để đọc vào thời điểm chúng ta bắt đầu một năm mới tôi cho là một chọn lựa tuyệt vời. Đây không phải là một đoạn Tin Mừng chỉ đòi đòi hỏi chúng ta phải rà lại cách sống của chúng ta trước mặt Chúa mà nó còn là một đoạn Tin Mừng giúp chúng ta định hướng cho những ngày chúng ta sắp sống trong một tương lai đang đi tới của chúng ta.
Đây là một việc làm rất cần thiết. Nó quyết định cho sự thành - bại, vui tươi hạnh phúc - hay bất hạnh của cuộc đời mỗi người chúng ta.
Đọc cả đoạn Tin Mừng hôm nay, chúng ta thấy Chúa Giêsu Chúa của chúng ta là một con người rất thực tế. Ngài biết thật rõ cuộc đời của mỗi con người. Ngài biết thật rõ cuộc đời không chỉ toàn là mầu hồng mà bên cạnh đó còn có cả những khốn khó gian nan và những khốn khó gian nan này thì hầu như ngày nào cũng có. Bởi vậy khi phác họa ra một thái độ sống cho mỗi ngày như trong bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu chỉ muốn nhắm tới một mục đích là giúp cho mỗi người chúng ta có thể tìm thấy niềm vui và hạnh phúc cho cuộc sống của mình.

1. Đừng lo:
Dale Carnegie cắt nói thêm:"Đừng lo không có nghĩa là đừng nghĩ. Bạn cứ việc nghĩ tới ngày mai đi, cứ cẩn thận suy nghĩ, cứ dự tính, cứ sửa soạn, nhưng đừng lo lắng gì hết"
Đừng lo lắng gì hết bởi vì con người dù có lo lắng đến đâu đi nữa, như Chúa Giêsu nói, cũng chẳng có thể kéo dài cuộc đời của mình dù là chỉ thêm vài gang tấc.
Đàng khác lo lắng còn là thái độ của một người không có lòng tin. Nếu thực sự con người biết tin nơi Thiên Chúa thì chắc chắn họ sẽ không có gì phải lo lắng.
Chúa Giêsu nói thật rõ: "Cha chúng con biết chúng con cần gì" Nói thế không có nghĩa là Chúa bảo chúng ta chẳng cần phải làm gì cả. "Tình phụ tử của Thiên Chúa không phải là chính sách phụ mẫu, nghĩa là một sự che chở đầy ủy mị, bao bọc khỏi mọi may rủi bất trắc của cuộc đời. Một người cha biết yêu con không phải bao giờ cũng có ý tránh cho con mình khỏi mọi thử thách, đau khổ hay chiến đấu. Nhưng theo sức của ông, ông sẽ biến đau khổ thử thách thành kinh nghiệm có ích lợi cho đứa con" Tình yêu như thế mới là tình yêu thật sự.
Hơn nữa khi tin vào Thiên Chúa con người cũng còn phải biết phó thác tất cả cho Người. Phải tin vào giá trị của mình cũng như phải tin vào quyền năng và tình yêu của Thiên Chúa. Chim chóc hoa cỏ mà còn được Chúa để ý chăm nom thì huống chi là con người. Bởi thế nói theo kiểu của Thánh Phaolô thì "ngay cả khi ta phục vụ Thiên Chúa mà ta vẫn bị đói rách hay bị chết chóc thì ta vẫn không phải là kẻ bị quyền năng Thiên Chúa tử bỏ (Rom 8,28; Mt 10,28-31) mà đó còn là một cái phúc.(Mt 5,3-12) Chỉ có Thiên Chúa mới hiểu hết được những sự tốt lành mà Ngài làm cho các con cái của Người.
Hoài Nam Tử có thuật lại một câu truyện như sau: có một ông lão ở gần cửa ải có một con ngựa tự nhiên bỏ sang nước Hồ. Láng giềng biết tin đó đến hỏi thăm.
Ông lão nói:
- Mất ngựa thế mà biết đâu lại là cái phúc.
Cách mấy tháng con ngựa của ông tự nhiên quay trở về, lại về với một con ngựa khác. Láng giềng nghe tin đến mừng. Ông lão nói:
- Được ngựa thế biết đâu lại là một mối họa.
Từ khi có con ngựa hay, đứa con ông lão ngày ngày mải mê tập dượt. Một hôm chẳng may bị té ngã và què mất một chân.
Láng giềng nghe tin lại đến chia buồn.
Ông lão nói:
- Con tôi què thế nhưng biết đâu lại là một cái phúc.
Một năm sau bỗng có giặc Hồ xâm lăng, nhà vua hạ lệnh tổng động binh. Con ông lão vì què chân cho nên được miễn nhập ngũ. Trận chiến ác liệt chưa từng thấy. Tướng sĩ lâm trận mười phần tử trận mất chín. Nhờ được ở nhà mà con ông lão thoát được hiểm nguy chết chóc và nhờ đó mà hai cha con vẫn còn được sống bên nhau.

2. Vậy trước hết hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Người... Còn tất cả những thứ khác Người sẽ thêm cho"
Đây là câu nói thật quan trọng và cũng là điều kiên tất yếu mà khoa Thần học gọi là điều kiện "sine qua non" có nghĩa là điều kiện không thể không có để cho một điều gì đó được thành sự hay được xẩy ra.
Theo bản văn Thánh Kinh hôm nay thì việc "trước hết phải tìm kiếm nước Thiên Chúa và sự công chính của Người" là điều kiện để Chúa thực hiện lời hứa "Còn các điều khác sẽ được ban thêm cho"
Việc tìm kiếm nước Thiên Chúa mà Chúa Giêsu nói ở đây không phải là sự tìm kiếm giống như tìm kiếm một đồ vật nhưng là thái độ gồm cả ý chí, nỗ lực và hành động hướng về Thiên Chúa, để cho Thiên Chúa chi phối và điều khiển mọi suy nghĩ và hành động của mình sao cho những hành động đó thể hiện được thánh ý của Người. Làm được như vậy là con người đã làm được điều mà bài Tin Mừng hôm nay gọi là tìm kiếm nước Thiên Chúa .
Và sau đó chắc chắn Thiên Chúa sẽ thực hiện những gì Ngài đã hứa cho chúng ta.
Câu truyện số 33 trong Góp nhặt B kể lại một biến cố rất đặc biệt xẩy ra trong Công đoàn các chị nữ tu Bác ái của Mẹ Têrêxa thành Calcutta. Kể câu truyện này để anh chị em thấy việc Thiên Chúa làm lạ lùng như thế nào. Mỗi ngày tại Calcutta hội dòng phải chăm sóc cho khoảng chừng 7000 người một số người bằng cả giáo xứ Bùi Phát của chúng ta - rồi còn phải lo cung cấp thực phẩm cho họ nữa. Vào một ngày thứ sáu nọ, chị nữ tu coi sóc nhà bếp đến thưa với mẹ:
- Thưa mẹ, trong nhà không còn gì ăn cho hôm nay và ngày mai nữa.Tốt hơn hết là chúng ta nên bo cho họ biết điều đó.
Nghe điều đó, mẹ không biết phải trả lời cho chị phụ trách nhà bếp như thế nào. Cả 7000 ngàn người ăn chứ đâu phải ít.
Thế nhưng vào khoảng 9 giờ sáng hôm đó không hiểu vì lý do gì mà chính quyền Ấn độ tuyên bố đóng cửa tất cả các trường công lập. Thế là số bánh mì làm sẵn cung cấp cho các học sinh không có chỗ sử dụng và chúng được chở thẳng tới cho mẹ Têrêxa.Và tất cả 7000 người từ nhỏ tới lớn có đủ bánh mì ăn trong hai ngày và hơn nữa còn được ăn no nê hơn cả những lần khác.
Chẳng ai hiểu được lý do. Nhưng mẹ Têrêxa thì thấy thật rõ. Mẹ nói: "Đó chính là dấu chỉ của Tình thương Thiên Chúa. Người là người Cha giầu lòng yêu thương đối với con cái mình"
Thánh Phanxicô Assisi khi trình bản nội qui lên Đức Thánh Cha để xin Ngài chuẩn y. Sau khi Đức Thánh Cha đọc xong, ngài hỏi Phanxicô Assisi:
- Các tu sĩ của con sẽ sống bằng cái gì.
- Tâu Đức Thánh Cha, Thiên Chúa là một người Cha đầy uy quyền, nhưng Người cũng là một người Mẹ nhân từ." (?!)
Một hôm đang trên con đường vào Giêricô Chúa Giêsu nghe thấy có một tiếng than từ xa xa vọng lại:
- Lạy Ngài Giêsu, con Vua Đavid, xin thương xót con.
Chúa Giêsu dừng chân lại:
- Con muốn xin gì đây?
- Lạy Thầy, xin cho con được sáng mắt.
Thấy anh ta mạnh tin, Chúa hiền từ đáp:
- Được lắm. Lòng tin của anh đã cứu anh." (Lc 18,35)
Lòng tin vào Chúa quan phòng là con đường giải thoát rực rỡ huy hoàng cho mọi người nhất là trong thời đại này.

 

Tết 1_135: Hãy tìm kiếm nước Thiên Chúa

 “Trước hết hãy tìm kiếm nước Thiên Chúa và sự công chính của Ngài”.
 

Đã là người khi bước vào cuộc đời này không tránh khỏi những băn khoăn. Có những băn khoăn Tết 1_135

Đã là người khi bước vào cuộc đời này không tránh khỏi những băn khoăn. Có những băn khoăn về phận người, có những băn khoăn về đời sống vật chất và có những băn khoăn về đời sống tinh thần. Từ những băn khoăn đó, con người đi tìm lý giải cho ý nghĩa của cuộc đời. Vì mang trong thân mình là con người yếu đuối, bất toàn hay nói đúng hơn là bất lực trước những nghịch cảnh của cuộc đời, để rồi sự băn khoan đó cứ dồn dập mãi.
 Về phía Thiên Chúa, Thiên Chúa nói với con người là Ngài ở bên, ở gần và che chở con người. Nhưng thực tế trong cuộc sống, quá nhiều lần Thiên Chúa làm cho con người hụt hẫng và không biết là Thiên Chúa có ở bên cạnh không?
 Bài đọc I chúng ta vừa nghe, đó là câu trả lời. Sion từng nói: “Chúa bỏ rơi tôi, Chúa đã quên tôi rồi”. Nghe tiếng lòng thổn thức như vậy, Thiên Chúa đã đáp lại: “Nào người mẹ có thể quên con mình, mà không thương xót chính đứa con mình đã cưu mang ư? Cho dù người mẹ đó có quên, nhưng Ta sẽ không quên ngươi đâu”.
 Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu nói rõ: “Cha các con biết rõ các con cần gì “…Ngài còn lặp đi lặp lại 6 lần câu nói: Anh em đừng quá lo lắng. Lẽ tất nhiên chúng ta phải hiểu câu nói này cho chính xác.
 Chúa Giêsu là Thiên Chúa, nhưng Ngài cũng là một con người như chúng ta. Ngài không ngây ngô. Ngài hiểu rõ mọi vấn đề của cuộc sống:
 - Ngài biết chị em Tu Viện MTG trong các cộng đoàn cũng trăm công ngàn việc, việc của cộng đoàn và cả việc của giáo xứ…
 - Ngài biết các thành viên BHG và HĐGX, đôi khi đã phải gác công việc ở nhà để đi làm cho giáo xứ giáo họ.
 - Ngài biết ban giáo vụ và cả giáo xứ chúng ta đang lo lắng cho kỳ thi Kinh thánh, Giáo lý cho mọi thành phần dân Chúa trong dịp mùa chay sắp tới.
 - Ngài biết các ông bà cha mẹ đang lo lắng cho con cái học tập để chúng trở thành những đứa con ngoan có ích cho xã hội và Giáo Hội.
 Nhưng Ngài muốn nói với chúng ta: “đừng chìm đắm trong lo lắng thái quá, đừng làm cho mình sợ hãi quá, hãy làm đúng với khả năng của mình !”.
 Ngài nói với chúng ta:
 - Cứ làm việc, nhưng đừng quá say sưa với công việc mà quên mất việc kinh hạt và lễ lạy!
- Cứ nghĩ đến của ăn hằng ngày, nhưng đừng làm quá, dễ gây nên ốm yếu bệnh tật.
- Hãy làm việc nhưng cần nghỉ ngơi
- Cố gắng làm việc nhưng phải có điểm dừng.
 Ngài không nói với chúng ta:
- Hãy sống ăn chơi hippi: rượu chè và thoải mái
- Hãy như những con chim không cần nghĩ nát óc để gieo hạt mà vẫn có mùa gặt.
- Cứ như bông huệ ngoài đồng chờ đợi Thiên Chúa sẽ mặc đẹp cho.
- Cứ há miệng chờ quả sung rụng xuống!
- Cứ đọc kinh và đi lễ, mà không cần phải làm!
 Không, Ngài không nói như vậy! Ngài đã nói với chúng ta cần phải làm việc chăm chỉ. Vả lại chim trời nhất là vào mùa đông, chúng chăm chỉ đi kiếm ăn. Của ăn không từ trên trời rơi xuống mỏ chúng.
 Chúng ta đã không đọc bài Tin Mừng về các nén bạc mà Thiên Chúa đã trao cho chúng ta cần phải sinh lãi đó sao? Và Chúa Giêsu cũng đã chẳng nói rằng ai làm việc thì đáng được thưởng công đó sao?  Thánh Phao lô cũng đã nói: ai không làm việc thì không được ăn.
 Sau hết, Chúa Giêsu yêu cầu chúng ta phải đi tìm kiếm Nước Thiên Chúa. Vì thế, chúng ta không thể nằm yên trên một chiếc ghế salon dài để chờ Thiên Chúa phục vụ chúng ta một bữa ăn tại nhà.
 Nhưng điều mà Chúa Giêsu muốn nói với chúng ta, nhất là đừng đặt vấn đề một cách quá đáng:
- Chú tâm. Vâng, nhưng không phải là quá lo lắng.
- Làm việc. Vâng, nhưng không phải là quá say sưa với công việc mà quên mất nhiệm vụ gia đình của mình.
- Nghĩ đến của ăn hằng ngày, nhưng đừng làm quá, dễ gây nên ốm yếu bệnh tật.
- Làm việc nhưng cần phải nghỉ ngơi.
- Cố gắng làm việc nhưng phải có điểm dừng.
 Chúa Giêsu không phải là người ngây ngô, Ngài hiểu rõ mọi vấn đề của cuộc sống. Nhưng Ngài muốn nói với chúng ta: “đừng chìm đắm trong lo lắng điên rồ vì ngày mai. Đừng làm cho mình sợ hãi quá, chỉ làm đúng với khả năng của mình mà thôi”.
 Chúa Giêsu không khờ dại. Ngài hiểu nỗi lo lắng của bậc làm cha mẹ thấy con cái lớn của mình không có công ăn việc làm phải chịu cảnh thất nghiệp. Nhưng Ngài muốn nói với họ: “quí ông bà đừng lo lắng quá mức độ, con cái của quý ông bà cũng có những khả năng tiềm ẩn sẽ thức dậy nếu quý ông bà cứ tin tưởng vào chúng, chắc chắn chúng sẽ không thất vọng”.
 Trở lại bài Tin Mừng hôm nay, câu nói: “Anh em đừng quá lo lắng” được lặp đi lặp lại 6 lần. Điều đó chứng tỏ rằng tương lai không thuộc về chúng ta. Tương lai thuộc về Thiên Chúa là Cha, Ngài biết rõ chúng ta cần gì.
 Hãy sống với cái hiện tại và hãy để cho Thiên Chúa tính toán tương lai. Tốt hơn hết là hãy như đứa trẻ phó thác vào Ngài, tin tưởng vào Ngài. Hãy đặt toàn bộ tinh thần và sức lực chúng ta cho hiện tại. Thiên Chúa luôn đồng hành với chúng ta: “Ơn Ta đủ cho con”. “Trước hết hãy tìm kiếm nước Thiên Chúa và sự công chính của Ngài, còn những sự khác sẽ được ban thêm cho sau”.
 Lm Gioan Đặng Văn Nghĩa

 

Tết 1_136: LỜI CHÚC ĐẦU NĂM

TẾT NGUYÊN ĐÁN 2018 – LỄ MÙNG 1
- Lm. Giuse Nguyễn Hữu An
 

Tết đến, lời chúc đầu năm mang nhiều ý nghĩa, và là biểu trưng thiêng liêng cho tình cảm giữa Tết 1_136

Tết đến, lời chúc đầu năm mang nhiều ý nghĩa, và là biểu trưng thiêng liêng cho tình cảm giữa con người với nhau. Tết mang đến những gì mới mẻ, trẻ trung, sức sống, cho nên ai cũng muốn chúc Tết và được chúc Tết.
Ngày thường gặp nhau “tiếng chào cao hơn mâm cỗ”. Người Việt lấy ứng xử nhân nghĩa ở đời làm thước đo văn hóa nên chào hỏi trở thành nghi lễ trong xã giao, và nó trở thành nét đẹp văn hóa đời thường. Lời chúc đầu năm thiêng liêng là lời hay ý đẹp dành tặng cho nhau.
Thi sĩ Bùi Nghiệp có bài thơ “Chúc Tết” ngũ phúc lâm môn.
Chẳng có món gì mừng tuổi nhau
Gọi là năm mới tết thêm màu
Thôi thì mượn chữ người xưa cũ
Mến chúc xuân này ngũ phúc sâu
Phước ngập gia đình lẫn tổ gia
Niềm vui trên dưới sống chan hòa
Ân tình nghĩa thiết luôn đằm thắm
Vắng mặt gần lòng chẳng có xa

Lộc nảy mầm tươi kết tựu thành
Xum xuê cành lá trổ vươn xanh
Đơm hoa kết trái mau thông đạt
Phấn khởi tiền tài lợi tức nhanh
Thọ với đất trời tựa núi sông
Tuổi già dù đến cứ ung dung
Bên đàn con cháu đông vui đủ
Ríu rít xum xuê cội bách tùng
Khang an tráng kiện tháng ngày vui
Gân cốt bền dai dạo chợ đời
Thời tiết bốn mùa xem nhẹ hẫng
Nắng mưa nóng lạnh chuyện thường thôi
Ninh tĩnh bình yên dưới mái nhà
Khó khăn trắc trở đẩy lùi xa
An cư lạc nghiệp thuyền xuôi mái
Gia tộc luôn vui sống thuận hòa
Ngũ phúc lâm môn đón quý thần
Cận kề gia tộc suốt hằng năm
Đầu xuân mến chúc chư bằng hữu
Vạn sự hanh thông phúc đức tràn…
Những ngày đầu năm, lời chúc trước tiên là dành cho người thân ruột thịt trong gia đình dòng tộc. Đêm 30 Tết, tham dự thánh lễ tất niên, gia đình đoàn viên, cả nhà quây quần nói chuyện tâm tình, ôn lại buồn vui được mất của năm qua đón chờ giao thừa. Thắp nến sáng lung linh trên bàn thờ, đốt nén nhang thơm tỏa ngát. Chuông nhà thờ ngân vang đúng lúc giao thừa. Mọi người dâng lời kinh hạt đầu năm mới, sau đó vui vẻ chúc mừng nhau. Con cháu chúc ông bà cha mẹ, anh chị chúc mừng em, ba mẹ chúc con cái, ông bà chúc con cháu. Lòng ai cũng nao nao thời khắc giao thừa vui vầy trang trọng, gần gũi thiêng liêng ấm áp tình thân.
Sáng Mồng Một, thánh lễ Minh niên, đến nhà thờ gặp nhau ai cũng rôm rã lời chúc mừng năm mới. Cha xứ chúc cộng đoàn, mọi người chúc mừng nhau những lời tốt đẹp. Những ngày tết đến thăm nhau, gia chủ mời ly trà ly rượu thân tình và cầu chúc những lời hay nhất: ơn thánh dồi dào, sức khỏe bình an, hạnh phúc thành đạt, làm ăn tấn tới. Hàng xóm thân quen, người này đến thăm người kia, rộn ràng vui vẻ, nén nhang thắp trên bàn thờ gia tiên, ly rượu đầu xuân mời nhau thân thiết, nói chuyện đầu năm nụ cười tươi nở. Đơn sơ mà ấm áp, thăm nhau chúc nhau mấy ngày xuân được xem như nghiã cử ở đời thật đáng quý đáng trân trọng. Tiếng Việt vốn phong phú nên lời chúc Tết cũng muôn hình vạn trạng, không cứng nhắc và không sáo ngữ. Ai cũng chọn lọc câu chữ tinh tế để người nghe cảm thấy vui lòng tin tưởng. Lời chúc làm cho tâm hồn cảm thấy thăng hoa hạnh phúc, niềm vui dâng tràn. Gặp nhau đầu năm mới, lời chúc Tết bao hàm nhiều ý nghĩa tốt đẹp. Ngày thường giận nhau ghét nhau thế nào đi nữa, nhưng Tết đến Xuân về mọi lời chúc đều trở nên chan hòa trân trọng tràn ngập yêu thương gắn bó mọi người, mọi gia đình trong giáo xứ. Lời chúc đầu năm trở thành văn hóa thẩm mỹ mang nhiều ý nghĩa thiêng liêng của dân tộc Việt Nam.
Đối với người Kitô hữu, lời chúc Tết hay nhất, mang đến hạnh phúc và niềm vui trọn vẹn chính là Lời Chúa trong sách Dân Số: “Đức Chúa phán với ông Môsê: Hãy nói với Aharon và các con nó rằng: Khi chúc lành cho con cái Ítraen, anh em hãy nói thế này :Nguyện Đức Chúa chúc lành và gìn giữ anh em!
Nguyện Đức Chúa tươi nét mặt nhìn đến anh em và dủ lòng thương anh em!
Nguyện Đức Chúa ghé mắt nhìn và ban bình an cho anh em!
Chúc như thế là đặt con cái Ítraen dưới quyền bảo trợ của danh Ta, và Ta, Ta sẽ chúc lành cho chúng” (Ds 6, 22-27).
Chúa Giêsu không chúc theo kiểu thế gian. Khi Chúa Giáng Sinh, các thiên thần đã chúc bình an cho người thiện tâm. Khi Phục Sinh, Chúa cũng chúc bình an cho các môn đệ trung thành. Bài giảng trên núi “Tám mối phúc thật” là Hiến Chương Nước Trời, Chúa Giêsu chúc phúc cho những thân phận nhỏ bé, bị thua thiệt hay bị áp bức đáng thương, cùng những tâm hồn biết hướng về Chúa, về tha nhân.
Chúa Giêsu không chúc “phú quý thọ khang ninh” mà chúc phúc Nước Trời cho những ai có tâm hồn nghèo khó, không nô lệ tiền bạc vật chất hay tiện nghi, những người bé mọn, yếu đuối, oan ức, đau buồn, khóc lóc. Khi có tấm lòng thanh thoát, sẵn sàng đón nhận Lời Chúa gieo vào, bén rễ và sinh hoa kết trái, là phúc trường sinh sau này.
Năm Mậu Tuất, Mùa Xuân vừa về thì Mùa Chay vừa đến đúng 29 Tết. “Vui năm Mậu Tuất, hãy chân thật hoà giải; Mùa Chay hoán cải, lòng rộng trải yêu thương“. Mừng Xuân và vui Tết nhưng phải luôn nhớ “mình là bụi đất và sẽ trở về với bụi đất” (St 3,19). Vì thế người tín hữu luôn tâm niệm lời Chúa dặn dò: “Tiên vàn hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Người, còn tất cả những thứ kia (nghĩa là của cải vật chất), Người sẽ thêm cho” (Mt 6, 33). Sống theo ưu tiên của Nước Thiên Chúa, người Kitô hữu sẽ giữ được sự tự do thanh thoát và bình an ngay giữa những nhiệm vụ nặng nề nhất, vì họ biết có Chúa là Cha yêu thương cùng lo cho họ và với họ, và chỉ có Người mới đem lại cho họ niềm hạnh phúc đích thực mà họ hằng mong ước.
Sẽ không mong là an khang thịnh vượng, là công thành danh toại, là buôn may bán đắt, là vạn sự như ý, là… là… Nhưng chỉ cần tâm nguyện là một năm mới trong tình thương của Chúa, một năm mới bình an, một năm mới theo thánh ý Chúa, một năm mới thuộc về Chúa. Niềm hạnh phúc của một tâm hồn trong sạch và có Chúa ở cùng, cũng chính là niềm hạnh phúc mà chúng ta cầu chúc cho nhau trong năm mới Mậu Tuất này.
Lạy Chúa, mỗi lần Tết đến, chúng con dành cho nhau những lời chúc tốt đẹp nhất và ước ao cho tất cả cầu chúc ấy trở nên hiện thực trong năm mới. Giờ đây, dưới ánh sáng của Lời Chúa, chúng con biết rằng Chúa là khởi nguyên và cùng đích của mọi phúc lành. Chúng con xin đặt đất nước chúng con, gia đình, bạn bè thân hữu, và tất cả anh chị em chúng con dưới sự bảo trợ của danh Chúa trong năm mới này. Xin Chúa chúc lành cho chúng con.
Lạy Chúa, khi chúng con chúc lành cho nhau, xin hướng lòng chúng con về Chúa và thưa lên: Nguyện Đức Chúa chúc lành và gìn giữ anh chị em!
Nguyện Đức Chúa tươi nét mặt nhìn đến anh chị em và dủ lòng thương anh chị em! Nguyện Đức Chúa ghé mắt nhìn và ban bình an cho anh chị em!

 

Tết 1_137: CHÚA LÀ MÙA XUÂN VĨNH CỬU

 (St 1,14-18; Pl 4,4-8; Mt 6,25-34)
 

Trong bầu không khí hân hoan của cả dân tộc đón mừng năm mới, chúng ta quy tụ nhau nơi ngôi Tết 1_137

Trong bầu không khí hân hoan của cả dân tộc đón mừng năm mới, chúng ta quy tụ nhau nơi ngôi nhà thờ thân thương này, để cùng nhau ca tụng Thiên Chúa là Mùa Xuân Vĩnh Cửu thì thật là ý nghĩa và hợp lý biết chừng nào!
Khi niềm vui của chúng ta được quyện vào tình thương của Chúa, thì niềm vui của mỗi người được trở nên trọn vẹn. Điều này đã được thánh Phaolô nhắc các tín hữu của ngài: “Anh em hãy vui lên trong niềm vui của Chúa. Tôi nhắc lại: vui lên anh em” (Pl 4,4).
Không vui sao được, vì đối với người Công Giáo, niềm vui không chỉ dừng lại ở mùa xuân tự nhiên, mùa xuân của đất trời, hay mùa xuân của lòng người, mà niềm vui ấy còn được dâng cao để hòa quyện vào niềm vui Ơn Thánh, niềm vui của Mùa Xuân Vĩnh Cửu.

1. Niềm vui khi mùa xuân tự nhiên đến
Một quy luật tuần hoàn, sau 365 ngày, đất trời lại có mùa xuân mới. Cứ thế, nó đã đi vào quy luật tự nhiên. Quả thật: “Xuân khứ, xuân lai, xuân bất tận. Xuân đến, xuân đi, xuân lại về”. Có mùa xuân, bởi vì trái đất vần xoay, nên hết xuân sang hạ, hết hạ sang thu, hết thu sang đông và hết đông lại sang xuân.
Đây là quy luật của Tạo Hóa, Đấng đã cho tứ thời bát tiết chuyển xoay... khi mùa xuân đến, mọi người, mọi nhà, đều được hưởng niềm vui!
Vì thế, trên khuôn mặt mỗi người đều nở những nụ cười tươi vui, hạnh phúc, vì ai ai cũng được tận hưởng mùa xuân. Niềm vui ấy không thể giữ lại cho riêng mình, vì thế, chúng ta thường trao tặng cho nhau những lời cầu chúc tốt đẹp. Mong cho mọi người phúc ấm bền lâu, khang an thịnh đạt, phúc, lộc, thọ...
Thật là ý nghĩa khi mỗi người đều mong cho mình và cho tha nhân được: “Tân niên thánh đức bao ân phúc, xuân nhật an hòa mãi phú vinh”.
Tại sao có được niềm vui dạt dào nơi mọi người như vậy, thưa, bởi vì tự đáy lòng, con người cũng nở rộ mùa xuân.

2.  Mùa Xuân của lòng người
Nếu xuân tự nhiên nơi đất trời là do quy luật tuần hoàn, thì xuân của lòng người hoàn toàn khác, bởi nó không tự đến rồi lại tự đi, mà phải do dày công vun đắp mùa xuân mới có.
Vì thế, mùa xuân nơi lòng người, mỗi người cảm nghiệm mỗi khác, không ai giống ai. Có người thì vui, có kẻ lại buồn. Có người hạnh phúc, có người bất an. Có người được quây quần, có người chia ly. Có người được đoàn tụ, có kẻ bị cô đơn. Có người ấm lòng, có người lạnh tanh...
Như vậy, mùa xuân năm nay, có lẽ phải đặt ra cho mỗi người chúng ta một câu hỏi mà có nhiều người xem ra thật vớ vẩn, ngẩn ngơ, đó là: tết năm nay, xuân năm nay, bạn buồn hay vui???
Nhưng nghĩ suy một chút thì phải chăng câu hỏi đó không đến nỗi hẩm hiu, nhưng nó gợi lại cho chúng ta về niềm vui, hạnh phúc có hay không trong năm mới, trong mùa xuân này!
Thật ra thì năm hết, tết đến, có người vui vì thu được nhiều tiền, buôn may bán đắt, gia đình xum họp, thêm con dâu, có con dể, đầy đủ ấm êm...
Nhưng cũng có biết bao nhiêu cảnh đời éo le! Năm mới mà nhà nghèo hơn ngày thường! Không có tiền, không có tình yêu! Cha mẹ ly tán, con cái bơ vơ...!
Hay nhìn rộng ra, mùa xuân là mùa của niềm vui, của hy vọng, nhưng niềm vui đâu chẳng thấy, hy vọng có lẽ là thứ xa xỉ phẩm khi thấy quá nhiều bất công, áp bức, bóc lột, đâm chém, xì ke ma túy; đạo đức giáo dục xuống cấp, học sinh như người vô học, con cái lếu láo với cha mẹ, cha mẹ vô trách nhiệm với con cái, bạn bè phản bội nhau...
Khi suy nghĩ như thế, chúng ta thấy, niềm vui của lòng người bị giới hạn vào tâm trạng nội tâm, vì thế cảm xúc hoàn toàn khác nhau!
Tuy nhiên, với người Công Giáo, chúng ta gặp nhau ở một điểm, đó là mùa xuân tự nhiên, kết hợp với lòng người và vươn tới Mùa Xuân Ơn Thánh.

3.  Mùa Xuân Ơn Thánh
Nếu mùa xuân tự nhiên cứ đều đặn tuần hoàn nối tiếp: “Xuân khứ, xuân lai, xuân bất tận”, hay mùa xuân của lòng người phụ thuộc vào thành quả hay tâm trạng chủ quan, thì Mùa Xuân Ơn Thánh là một mùa xuân bất diệt, toàn diện và được trao tặng cho hết mọi người...
Tuy nhiên, Mùa Xuân Ơn Thánh này lại phụ thuộc vào mỗi người, nếu đón nhận thì được dồi dào, phong phú, nhưng không đón nhận thì trơ trụi, cằn khô.
Một trong những nguyên nhân khiến con người không có Mùa Xuân Ơn Thánh, đó là: tâm hồn tràn ngập tội lỗi, ích kỷ, kiêu ngạo, bất công... Những người như thế, họ luôn mang trong tâm hồn mình một trạng thái bất an, tù túng, và không chừng, linh hồn sẽ bị chết chóc, sầu thương ảm đạm!
Chỉ khi nào con người biết khôn ngoan quay trở về với Chúa, rộng tay làm phúc cho kẻ túng nghèo và lo sống một cuộc đời thánh thiện, thì sẽ được Thiên Chúa thi ân chúc phúc. Lúc đó, con người mới hưởng được Mùa Xuân Ơn Thánh, nói cách khác, lúc đó Mùa Xuân Vĩnh Cửu mới hiện về trong tâm hồn của con người.
Nói cách cụ thể hơn, nếu muốn cho mùa xuân trở về trong trái tim chúng ta, thì chúng ta phải thực sự trở nên giống trẻ thơ để đón nhận tình thương của Thiên Chúa, vì Mùa Xuân Ơn Thánh chỉ đến với tâm hồn đơn sơ trong trắng mà thôi.
Khi có tâm hồn đơn sơ trong trắng, chúng ta phó thác đường đời cho Chúa, và phần còn lại, đó là chúng ta đi trong đường lối của Ngài để được dồi dào ân lộc: “Hãy ký thác đường đời cho Chúa, tin tưởng vào Người, Người sẽ ra tay”. Vì “Hãy xem chim trời: chúng không gieo, không gặt, không thu tích vào kho; thế mà Cha anh em trên trời vẫn nuôi chúng. Anh em lại chẳng quý giá hơn chúng sao ?”.
Hôm nay, ngày đầu năm mới, mỗi người chúng ta hãy cầu chúc cho nhau một năm mới không chỉ dừng lại ở niềm vui của mùa xuân đất trời, cũng không hệ tại lòng người, nhưng chúng ta luôn hướng lòng về Mùa Xuân Ơn Thánh – Vĩnh Cửu.
Ước mong Mùa Xuân Ơn Thánh – Mùa Xuân Vĩnh Cửu luôn ngự trị trong tâm hồn của chúng ta, để mỗi người chan chứa ân sủng và bình an trong năm mới này.
Kính chúc cộng đoàn một năm mới luôn luôn dạt dào ơn thánh, để: “Xuân sang cội phúc sinh nhành lộc. Tết về cây đức trổ thêm hoa”. Amen.
Jos. Vinc. Ngọc Biển

 

Tết 1_138: TẾT NGUYÊN ĐÁN 2018 – LỄ MÙNG 1

ĐẦU NĂM TẠ ƠN VÀ KHÁM PHÁ – ĐGM GB. Bùi Tuần
 

Đầu năm là mốc thời gian trọng đại. Dịp này, con cái Chúa hướng lòng về Cha trên trời. Một việc Tết 1_138

Đầu năm là mốc thời gian trọng đại. Dịp này, con cái Chúa hướng lòng về Cha trên trời. Một việc không thể thiếu là tạ ơn Cha.
Trong tâm tình tạ ơn thường có cảm nhận tình thương của Chúa. Cảm nhận sẽ trở thành khám phá, khi linh hồn được đưa vào một cõi tình yêu mênh mông êm đềm, mà Chúa dành riêng cho họ.

1/ Bài học tạ ơn và khám phá
Khám phá riêng tư ấy không luôn xảy ra trong việc tạ ơn. Khám phá đó là do Chúa ban. Không phải bất cứ ai cũng được ơn riêng ấy. Vậy những người được Chúa ban ơn đặc biệt đó là ai? Chúng ta tìm được câu đáp ở lời sau đây của Chúa Giêsu: “Ngay giờ ấy, được Thánh Thần thúc đẩy, Đức Giêsu hớn hở vui mừng và nói: ‘Lạy Cha là Chúa trời đất, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu kín không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mạc khải cho những người bé mọn. Vâng, lạy Cha, vì đó là điều đẹp ý Cha'” (Lc 10,21).
Như vậy, những người được Chúa ban ơn khám phá thấy tình xót thương Chúa chính là những kẻ bé mọn.
Để hiểu thế nào là kẻ bé mọn, mà Chúa Giêsu đề cao ở đây, trước hết chúng ta nên đọc lại đoạn Phúc Âm sau đây:
“Nhóm Bảy Mươi Hai trở về, hớn hở nói: ‘Thưa Thầy, nghe đến danh Thầy, cả ma quỷ cũng phải khuất phục chúng con’, Chúa Giêsu bảo các ông: ‘Thầy đã thấy Satan như một tia chớp từ trời sa xuống. Đây, Thầy đã ban cho anh em quyền năng để đạp trên rắn rết, bọ cạp và mọi thế lực Kẻ Thù, mà chẳng có gì làm hại được anh em. Tuy nhiên, anh em chớ mừng vì quỷ thần phải khuất phục anh em, nhưng hãy mừng vì tên anh em đã được ghi trên trời'” (Lc 10,17-20).
Đoạn Phúc Âm trên đây cho chúng ta thấy: Những kẻ bé mọn Chúa Giêsu muốn đề cao chính là nhóm Bảy Mươi Hai.

Họ đã được Chúa sai đi.
Họ đã đến với những người nghèo hèn, cùng khổ, để tiếp cận, để cứu giúp, để loan báo Tin Mừng, để giúp sám hối, để xua đuổi quỷ dữ.
Họ làm những việc bác ái đó nhân danh Chúa Giêsu với nhận thức tự mình chẳng có gì.
Đang khi họ vui mừng vì những thành công đó, Chúa Giêsu đã cho họ khám phá thấy tình xót thương Chúa dành cho họ còn cao quý hơn nhiều, đó là tên họ được ghi trên trời.
Nói tóm lại, nhóm Bảy Mươi Hai được Chúa Giêsu gọi là những kẻ bé mọn, vì hai lý do:
Họ đã đến với những kẻ nghèo hèn, cùng khổ, để cứu giúp và chia sẻ. Họ khiêm tốn trở thành bé mọn với bất cứ kẻ bé mọn nào.
Họ khiêm tốn nhận mình đã cho đi những gì mình đã nhận từ lòng xót thương Chúa. Họ chỉ làm theo ý Chúa và nhân danh Chúa, Đấng đã sai họ đi. Họ luôn bé mọn, nghèo khó.
Chúa dạy họ không nên vui vì những thành công trước mắt, nhưng hãy vui vì phần thưởng cao quý Chúa dành riêng cho họ, đó là tên họ được ghi trên trời. Nghĩa là họ được Chúa cứu độ, được Chúa thánh hoá, được Chúa tuyển chọn. Khám phá đó sẽ cho họ thấy tình thương Chúa là vô biên, vô bờ, đem lại cho họ sự bình an và hạnh phúc đời đời, không gì sánh kịp.
Chúa Giêsu đã hớn hở vui mừng tạ ơn Đức Chúa Cha, vì những lạ lùng đã xảy ra cho những kẻ bé mọn. “Lạy Cha, con xin ngợi khen Cha, vì… đã mạc khải những điều này cho những kẻ bé mọn”

2/ Thực hiện bài học tạ ơn và khám phá
Những gì Chúa Giêsu đã nói và đã làm trên đây, nên được coi là bài học quý giá cho chúng ta mọi ngày, nhất là những dịp tạ ơn Chúa. Bài học đó có thể thực hiện bằng những việc sau đây:
Chúng ta khiêm tốn nhận mình hèn mọn, yếu đuối, bé nhỏ. Nếu ta có điều gì tốt, làm được việc gì lành, thì đều do Chúa ban ơn.
Chúng ta khiêm tốn cầu xin Chúa giúp chúng ta khám phá ra những ơn lành Chúa đã ban cho chúng ta. Tôi được Chúa ban ơn trở về, tôi được Chúa cứu độ, tôi được Chúa kêu gọi, tôi được Chúa tha thứ, tôi được Chúa sai đi, tôi được Chúa ban ơn chia sẻ tình Chúa cho người khác, tôi được Chúa yêu thương đặc biệt.
Chúng ta khiêm tốn vui mừng trong tình yêu của Chúa, theo gương Chúa và Đức Mẹ. Chúa Giêsu “hớn hở vui mừng, ca ngợi Chúa Cha”. Tình cảm đó cũng được thấy nơi Đức Mẹ Maria, khi Mẹ đi viếng thăm bà chị họ Isave. Mẹ đã khám phá thấy tình Chúa xót thương Mẹ là hết sức lạ lùng, nên lòng Mẹ trào dâng lên những lời cảm tạ đầy hớn hở, vui mừng, ca ngợi Chúa: “Linh hồn tôi tung hô Chúa”. Tình cảm vui mừng cảm tạ Chúa có hương sắc thiêng liêng siêu thoát, có sức nâng tâm hồn lên với Chúa. Không một chút vẩn đục bởi bất cứ tư tưởng thế tục nào.
Chúng ta khiêm tốn để lòng mình nghỉ ngơi trong sự chiêm niệm ngắm nhìn Chúa, với hết lòng tin tưởng phó thác nơi Chúa. Chúa là nguồn mọi sự tốt lành. Chúa là cùng đích cuộc đời của ta.

3/ Tỉnh thức trong tạ ơn và khám phá
Thánh Phaolô khuyên: “Anh em hãy tỉnh thức mà cầu nguyện và tạ ơn” (Cl 4,2). Lời khuyên trên đây của thánh Tông đồ nên được áp dụng thường xuyên trong tạ ơn và khám phá.
Trước hết, cần tỉnh thức về phương diện khiêm tốn. Khiêm tốn thực chất, khiêm tốn luôn luôn, khiêm tốn trong mọi sự. Có thể nói, cái làm cho việc tạ ơn và khám phá đẹp lòng Chúa chính là sự khiêm tốn. Đức Mẹ Maria suốt đời khiêm tốn, nên suốt đời Mẹ là lễ tạ ơn và khám phá tình xót thương của Chúa.
Khiêm tốn, nên luôn giữ tự do tâm hồn. Tỉnh thức không để mình bị áp lực do bất cứ quyền lực nào của ma quỷ, thế gian và xác thịt. Tâm hồn nhờ vậy sẽ rất nhẹ nhàng vâng phục thánh ý Chúa. Thánh ý Chúa là muốn chúng ta sẵn sàng phục vụ.
Vì thế, cũng cần tỉnh thức trong việc phục vụ. Mỗi nơi ta ở, mỗi thời ta sống, đều có những dấu chỉ về thánh ý Chúa. Ta sẽ nghe được tiếng gọi của Chúa trong các dấu chỉ đó, để phục vụ. Không thể tạ ơn, nếu phục vụ sai thánh ý Chúa.
Nhờ tỉnh thức, chúng ta sẽ khám phá thấy tình Chúa thương chúng ta, ngay cả khi chúng ta sống trong muôn vàn đau khổ. Trong những hoàn cảnh khắc nghiệt nhất, chúng ta cũng sẽ khám phá thấy Chúa ban cho chúng ta vẫn có khả năng phục vụ các linh hồn bằng nhiều cách hiệu nghiệm.
Nếu không tỉnh thức, việc gọi là tạ ơn Chúa có thể sẽ trở thành dịp phô trương cái tôi, và việc gọi là khám phá tình yêu Chúa cũng dễ là dịp khoe khoang thành tích. Tệ hại nhất là vô ơn và lạm dụng ơn Chúa cũng như danh  nghĩa Chúa.
Cúi xin Mẹ Maria thương giúp chúng ta biết noi gương Mẹ mà tạ ơn Chúa và khám phá tình Chúa xót thương.

 

Tết 1_139: HIẾU THẢO VỚI ĐẤNG SÁNG TẠO

 TẾT NGUYÊN ĐÁN 2018- LỄ MÙNG 1
–Lm. Giuse Hoàng Kim Đại
 

Hôm nay là ngày đầu năm, mọi người đều vui mừng phấn khởi chào đón ngày Xuân Mới. Giờ Tết 1_139

Hôm nay là ngày đầu năm, mọi người đều vui mừng phấn khởi chào đón ngày Xuân Mới. Giờ đây chúng ta, các tín hữu của Chúa, dành giây phút đầu tiên của Năm Mới, để thể hiện lòng hiếu thảo đối với Đấng đã sáng tạo Vũ trụ vạn vật, cho chúng ta.
Các bài Thánh Kinh trong ngày đầu năm hôm nay, nhắc nhở chúng ta: Chúng ta hãy thể hiện lòng hiếu thảo với Đấng Sáng Tạo bằng cách : Tạ ơn Chúa thường xuyên và sống một đời sống mới.
Trước hết, chúng ta hãy tạ ơn Chúa vì Ngài đã dựng nên Mặt Trời, Mặt Trăng và các vì Sao để phân rẽ ánh sáng và bóng tội, ngày và đêm. tất cả các tạo vật chúa dựng nên, đều nhằm mục đích là phục vụ và nuôi sống loài người chúng ta. Việc tạ ơn là cử chỉ không thể thiếu được của những người con hiếu thảo đối với Đấng sáng tạo. Tạ ơn Chúa cũng là thái độ của những người biết “Uống nước nhớ nguồn theo bản sắc đạo đức của người Việt Nam.
Tiếp theo, chúng ta hãy nghe lời Thánh Phao lô nói với tín hữu ở Philipphê:
“Anh em hãy vui luôn trong niềm vui của Chúa. Tôi nhắc lại : Vui lên anh em! Sao cho mọi ngưởi thấy anh em sống hiền hòa, rộng rãi, Chúa đã gần đến. Anh em đừng lo lắng gì cả. Nhưng trong mọi hoàn cảnh, anh em cứ đem lời cầu khẩn, van xin và tạ ơn, mà giãi bày trước mặt Thiên Chúa những điều anh em thỉnh nguyện:”
Bởi vì “Bình an của Thiên Chúa, bình an vượt lên trên mọi hiểu biết, sẽ giữ cho lòng trí anh em được kết hợp với Đức Kitô Giêsu.
Ngoài ra, thưa anh em, những gì là chân thật, cao quý, những gì là chính trực tinh tuyền, những gì là đáng mến và đem lại danh thơm tiếng tốt, những gì là được hạnh, đáng khen, thì xin anh em hãy để ý “ (Pl 4, 4-9)
Để tạ ơn và tỏ lòng hiếu thảo với Thiên Chúa, anh chị em hãy sống chân thật và công bằng chính trực trong mọi hoàn cảnh. Đồng thời làm trong sáng cho mọi người chung quanh bằng lời nói và việc làm. Hãy sống đức hạnh và giữ vững phẩm giá cao quý của người Kitô hữu, là môn đệ của Chúa Kitô, Đồng thời, anh chị em hãy ghi nhớ, suy niệm và thực hành lời Chúa Kitô:
“Đừng lo cho mạng sống : lầy gì mà ăn; đừng lo cho thân thể : lây gì mà mặc. Mạng sống chẳng trọng hơn của ăn, và thân thể chẳng trọng hơn áo mặc sao, nhưng “ trước hết hãy tìm kiếm nước Thiên Chúa và đức công chính của Người, còn tất cả những thứ kia, Người se thêm cho. Vậy, anh em đừng lo lắng về ngày mai: ngày mai, cứ để ngày mai lo.” (Mt 6, 25-34)
Chúa Kitô muốn tất cả anh chị em hãy tin tưởng tuyệt đối vào tình thương vô biên của Thiên chúa; tin vào sự quan phòng của Ngài.
Trong thực tế, nhiều người ngày nay chưa hiểu biết, nên chỉ đón nhận của ăn vật chất, mà không đón nhận của ăn tình thần. vì quá chú trọng của ăn vật chất, nên đã dành cả cuộc đời để lo tích lũy kho tàng dưới đất, mà không lo  tích lũy kho tàng trên trời. Họ đã qua lo lắng về của cải vật chất, nên đã dùng mọi mưu chước, gian dối, lừa lọc, bất công, bóc lột người khác để làm giầu, hầu bảo đảm cho cuộc sống thể xác ở đời này. Trong khi đó, của ăn vật chất chỉ nuôi đời sống thể xác chúng ta trong khoảng 100 năm; còn của ăn tinh thần thì nuôi sống trường sinh của chúng ta trong Nước Trời.
Trong giờ phút linh hiêng của ngày đầu năm, chúng ta tham dự Bữa tiệc thánh để đón nhận của ăn tinh thần do Chúa tặng ban: Đó là Ơn Chúa , Lời Chúa và Mình Máu Chúa
Chúng ta hãy biết quý trọng của ăn tinh thần hơn của ăn vật chất; hãy thường xuyên tham dự Thánh lễ để đón nhận của ăn tinh thần. Đồng thời anh chi em hãy tin tưởng, ghi nhớ và thực hành Lời Chúa dạy trong suốt cuộc đời: “Trước hết hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Người, còn tất cả những thứ kia, Người sẽ thêm cho.” (Mt 6, 33)
Cầu chúc anh chị em luôn tạ ơn Thiên Chúa và giữ trọn lòng hiếu thảo với Ngài, biết lắng nghe và thực hành Lời Ngài dạy, để được Ngài ban tràn đầy hạnh phúc trong năm mới.

 

Tết 1_140: TIN VÀO TÌNH YÊU QUAN PHÒNG CỦA CHÚA

- Lm. Giuse Đỗ Đức Trí
 

Một trong những thực hành mê tín của dân ngoại đang ảnh hưởng đến đời sống của người tín hữu Tết 1_140

Một trong những thực hành mê tín của dân ngoại đang ảnh hưởng đến đời sống của người tín hữu, đó là sự tin kiêng mù quáng và phong thủy sai lầm. Những người này, mặc dù vẫn tin Chúa, nhưng đồng thời họ lại tin kiêng vào những lời lẽ của ông thày và những thói quen của người ngoại. Ví dụ như chọn người xông nhà, chọn ngày khởi công, khai trương, xây nhà phải đếm bậc, đếm đòn tay. Người dân ngoại, vì không biết Chúa, họ cho rằng sự may mắn trong năm là do ông thầy hướng dẫn; sự thành công của công việc là do chọn đúng ngày, gia đình hạnh phúc là do phong thủy.
Người Công giáo khi tin và thực hành như thế, có nghĩa là chối bỏ quyền năng và sự quan phòng của Thiên Chúa, và cho rằng sự thành công hay thất bại, khỏe manh hay đau ốm, may mắn hay bắt hạnh, là do tài khéo của bản thân hoặc do một sức mạnh nào đó không phải là Thiên Chúa. Khi cố tình tin và thực hành như vậy, chúng ta xúc phạm trầm trọng đến Thiên Chúa và đức tin của mình.
Trong giây phút đầu năm hôm nay, chúng ta đến đây để dâng lên Thiên Chúa những giây phút đầu xuân, cầu xin Chúa ban cho một năm mới thuận lợi trong công việc, gia đình bằng an, mạnh khỏe, hạnh phúc, con cháu ngoan hiền. Trong ngày đầu năm này, Lời Chúa mời gọi chúng ta tái khăng định niềm tin của mình vào quyền năng, tình yêu và sự quan phòng của Thiên Chúa.
Bài đọc một cho chúng ta thấy: Thiên Chúa là Đấng sáng tạo và làm chủ mọi vật mọi loài, không có một thần linh nào khác ngoại trừ Thiên Chúa. Chính Thiên Chúa dựng nên vũ trụ trời đất, Ngài dùng lời quyền năng, chỉ phán: hãy có, mọi vật, mọi loài liền có. Ngài là Đấng quan phòng, sắp xếp thời gian, cho mặt trời soi sáng ban ngày và mặt trăng soi đường ban đêm; Ngài chi phối hướng dẫn vũ trụ và điều khiển cuộc đời của từng con người. Vì thế, tất cả những việc cúng bái tin kiêng vào các thần linh theo kiểu của dân ngoại đều là phản bội lại niềm tin vào Thiên Chúa tạo dựng.
Thánh Kinh không chỉ khẳng định cho chúng ta về một Thiên Chúa tạo dựng quyền năng, nhưng trước hết, và trên hết, Thiên Chúa thực sự là một người Cha giàu lòng thương xót. Thiên Chúa yêu thương các tạo vật Ngài đã dựng nên, nhưng Ngài vẫn dành cho con người một tình yêu thương đặc biệt. Vì yêu thương cách đặc biệt, nên đã tạo dựng con người theo hình ảnh của Thiên Chúa giống như Thiên Chúa. Con người được nâng cao và trao ban một phẩm giá đặc biệt trên tất cả mọi loài. Thiên Chúa đã yêu thương con người đến độ, Ngài trở nên bạn hữu với con người; mỗi buổi chiều, Thiên Chúa ngự xuống đi dạo với con người, trò chuyện với con người.
Tình thương của Thiên Chúa dành cho con người thật cao cả lớn lao, Ngài đã chấp nhận cho Con của Ngài là Chúa Giêsu xuống thế làm người, để ở với con người. Chúa Giêsu là hiện thân lòng thương xót của Thiên Chúa, Ngài đến thế gian để nói cho mọi người biết rằng: Con người được Chúa yêu thương. Bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu đã quả quyết về tình yêu quan phòng của Thiên Chúa. Ngài nói cho mọi người biết rằng, Thiên Chúa là Cha, Ngài luôn muốn và làm điều tốt đẹp cho con người. Vì thế, con người đừng cậy dựa vào sức lực khả năng của mình, nhưng hãy tin tưởng, cậy dựa và phó thác cuộc sống mình cho Thiên Chúa.
Đừng lo cho mạng sống lấy gì mà ăn, cũng đừng lo cho thân xác lầy gì mà mặc…hãy xem chim trời, chúng không gieo không gặt, vậy mà Cha anh em trên trời vẫn nuôi chúng. Căn dặn chúng ta như thế, Chúa Giêsu không khuyến khích chúng ta lười biếng, thụ động, cũng không ù lỳ, lười suy nghĩ tính toán. Nhưng nói như thế, để nhắc chúng ta nhớ rằng: Mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên. Chúng ta tính toán làm ăn, nhưng vẫn phải biết trông cậy và cầu xin cùng Thiên Chúa và phó thác công việc cùng toan tính của ta cho Chúa. Vì cho dù chúng ta lên kế hoạc, đầu tư làm ăn, nếu Chúa không trợ giúp, không ban, chúng ta cũng không thể thành công được.
Cũng vậy, cơm ăn áo mặc hằng ngày, chúng ta vẫn phải vất vả lào động để tìm kiếm, nhưng đừng vì quá lo chuyện ngày mai ăn gì mặc gì, mà quên Thiên Chúa là Cha yêu thương, Ngài không ngừng chăm sóc cho chúng ta. Vì thế, đừng bao giờ mất niềm tin vào Thiên Chúa, cho dù cuốc sống có muôn vàn khó khăn, Thiên Chúa vẫn tìm cho ta một giải pháp tốt nhất. Do đó, hãy lao động làm việc trong tư cách là con của Thiên Chúa, làm với lòng tin tưởng và yêu mến. Đừng biến mình trở nên như một kẻ nô lệ, lệ thuộc vào công việc và lệ thuộc vào miếng cơm manh áo, đến độ, làm giảm phẩm giá làm người làm con Chúa. Vì là con của Thiên Chúa, nên dù có gian lao vất và, chúng ta vẫn phải ưu tiên tìm kiếm Thiên Chúa và hạnh phúc đời đời cho linh hồn của ta và của người thân trong gia đình. Vì thế, Chúa căn dặn chúng ta: Trước hết, hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Người, còn tất cả những thứ khác Người sẽ ban cho.
Một khi đã cảm nhận được tình Chúa yêu thương, quan phòng, chăm sóc cho từng người chúng ta, thánh Phaolô mời gọi: Anh em hãy vui luôn trong niềm vui của Chúa. Tôi nhắc lại: Vui lên anh em! Sao cho mọi người thấy anh em sống hiền hòa rộng rãi. Điều đó có nghĩa là, mỗi chúng ta đón nhận được Tin Mừng yêu thương của Thiên Chúa, chúng ta không thể để mình sống trong u bồn sầu não, cũng không bi quan chán nản, nhưng trong mọi hoàn cảnh chúng ta luôn vui. Vui, vì dù trong đau khổ, khó khăn nhất, chúng ta vẫn thấy Chúa hiện diện bên cạnh nâng đỡ; vui vì biết mình luôn được Chúa yêu thương, Chúa chia sẻ và nâng đỡ.
Thánh Phaolô căn dặn: Trong mọi hoàn cảnh, anh em hãy tạ ơn Thiên Chúa và giãi bày trước Thiên Chúa mọi điều anh em khẩn nguyện. Vì vậy, trong giờ phút đầu năm quy tụ trong nhà Chúa đây, nhìn lại một năm qua, không phải tất cả mọi người đều thành công thành đạt, nhưng tất cả cùng chung một lời để tạ ơn Thiên Chúa. Tạ ơn Chúa vì món quà thời gian, năm mới, Chúa ban tặng; tạ ơn vì bao thăng trầm cũng đã trôi qua, bao khó khăn phía trước, xin Chúa giải gỡ; tạ ơn vì Chúa luôn quan phòng chở che bênh đỡ.
Ngày nay, nhiều người không hề biết phong thủy là gì nhưng vẫn tin kiêng một cách mù quáng vào phong thủy và nhiều thứ khác nữa. Họ tin như thể rằng, mọi sự họ đang có, đang hưởng là do phong thủy, do tin kiêng, do hên, hơn là do Thiên Chúa. Điều này đang là một cám dỗ và là nguy cơ phá vỡ đức tin của chúng ta.
Phong thủy theo nghĩa của người Hoa, có nghĩa là gió và nước. Hợp phong thủy, là sự hòa hợp của đất trời, của nắng của gió, sự hòa hợp của thiên nhiên. Khi con người biết tôn trọng thiên nhiên, sống hòa hợp với thiên nhiên, con người sẽ mạnh khỏe. Phong thủy có nghĩa như thế.
Theo cái nhìn của Kitô giáo, khi con người sống hòa hợp với Thiên Chúa, với tha nhân và với thiên nhiên vũ trụ, con người sẽ đạt được hạnh phúc. Tỗi lỗi và ma quỷ, chính là kẻ gây sự bất hòa giữa con người và Thiên Chúa, cũng như với tha nhân và vũ trụ. Vì thế, chỉ khi loại trừ tội lỗi, ma quỷ trong tâm hồn, chúng loại trừ được nguyên nhân gây xáo trộn bất hòa.
Ngày tết, mọi người đều muốn có một bầu khí hòa hợp vui tươi, quảng đại, dễ dàng bỏ qua cho nhau những xích mích. Vì vậy, hãy tận dụng những ngày tết này, để giao hòa với Thiên Chúa, đem lại cho gia đình nhiều niềm vui tiếng cười. Hãy chủ động bước đến thăm nhau và thật lòng mong muốn, cầu chúc cho nhau những điều tốt đẹp. Quan trọng hơn, là hãy làm những điều tốt đẹp cho gia đình, cho nhau, không chỉ trong ngày tết, mà kéo dài tâm tình hòa thuận vui tươi của ngày tết trong suốt cả năm mới này.
Cầu chúc cho mọi người năm mới sống hòa hợp vui tươi, luôn tin tưởng vào sự quan phòng của Thiên Chúa. Trong mọi hoàn cảnh vui buồn, xin Chúa giúp ta nhận ra sự hiện diện đồng hành của Chúa. Amen.

 

Tết 1_141: NGÀY NÀO CÓ CÁI KHỔ CỦA NGÀY ẤY

–  Lm. Đan Vinh (trích Hiệp Sống Tin Mừng)
Lời Chúa: Chúa phán: “Vậy anh em đừng lo lắng về ngày mai: ngày mai, cứ để ngày mai lo. Ngày nào có cái khổ của ngày ấy” (Mt 6,34).
Truyện: Tái Ông Thất Mã, An Tri Họa Phúc
 

Sách Hoài Nam Tử có ghi lại một câu chuyện dạy đời như sau: Một ông lão ở gần biên giới giáp Tết 1_141

Sách Hoài Nam Tử có ghi lại một câu chuyện dạy đời như sau:
Một ông lão ở gần biên giới giáp với nước Hồ phía Bắc nước Tàu, gần bên Trường thành có nuôi một con ngựa. Một hôm con của ông lão dẫn ngựa ra gần biên giới cho ăn cỏ, vì lơ đễnh nên con ngựa vọt chạy qua nước Hồ mất dạng. Những người trong xóm nghe tin đến chia buồn với ông lão. Ông lão rất bình tỉnh nói:  Biết đâu con ngựa chạy mất ấy sẽ đem lại điều tốt cho tôi.
Vài tháng sau, con ngựa chạy mất ấy quay trở về, dẫn theo một con ngựa của nước Hồ, cao lớn và mạnh mẽ. Người trong xóm hay tin liền đến chúc mừng ông lão và nhắc lại lời ông lão đã nói trước đây. Ông lão không có vẻ gì vui mừng, nói:  Biết đâu việc được ngựa Hồ nầy sẽ dẫn đến tai họa cho tôi Quả nhiên con trai của ông lão rất thích cưỡi ngựa, thấy con ngựa Hồ cao lớn mạnh mẽ thì thích lắm, liền nhảy lên lưng cỡi nó chạy đi. Con ngựa Hồ chưa thuần nết, chưa quen người nên nhảy loạn lên, con ông lão bị ngựa Hồ hất xuống đất, bị té gãy một xương đùi thành ra què chân chịu cảnh tật nguyền. Người trong xóm vội đến chia buồn với ông lão, thật không ngờ con ngựa không tốn tiền mua nầy lại gây ra tai họa cho con trai của ông lão như thế. Ông lão thản nhiên nói:  Xin các vị chớ lo lắng cho tôi, con tôi bị ngã gãy chân, tuy bất hạnh đó, nhưng biết đâu nhờ họa nầy mà lại được phúc đó.
Một năm sau, nước Hồ kéo quân sang xâm lấn Trung nguyên. Các trai tráng trong vùng biên giới đều phải sung vào quân ngũ chống ngăn giặc Hồ. Quân Hồ thiện chiến, đánh tan đạo quân mới gọi nhập ngũ, các trai tráng đều bị tử trận, riêng con trai ông lão vì bị què chân khỏi phải đi lính, nên còn sống sót.
Thảo Luận: 1) Qua câu chuyện “Tái ông thất mã, an tri họa phúc” nghĩa là: Lão ông mất ngựa, họa hay là phúc?, bạn suy nghĩ thế nào về các điều phúc họa trong cuộc sống của bạn? 2) Tin Mừng trong thánh lễ Mùng Một Tết hôm nay dạy thế nào về sự quan phòng của Thiên Chúa trước những điều may rủi gặp phải giữa đời thường?

Suy niệm:
1) Nội dung Tin Mừng ngày đầu Năm Mới:
Tin Mừng thánh lễ ngày đầu Năm Mới hôm nay, Đức Giê-su đã dạy môn đệ đừng quá lo lắng về đời sống cho bản thân nhưng phải tin cậy vào tình thương quan phòng của Thiên Chúa qua ba ví dụ cụ thể như sau:
Một là loài chim trời không gieo không gặt nhưng chúng vẫn được Cha trên trời nuôi sống.
Về việc sống lâu thì dù có lo lắng cũng không thể kéo dài đời mình thêm một vài gang tấc!
Về cơm ăn áo mặc: Như loài hoa huệ ngoài đồng không kéo sợi may mặc, thế mà Cha trên trời vẫn cho chúng mặc đẹp hơn vua Sa-lo-mon vinh hoa tột bậc.
Từ đó Đức Giê-su dạy các môn đệ phải biết phó thác cậy trông vào tình thương quan phòng của Thiên Chúa: Nếu loài chim trời chẳng đáng giá bao nhiêu, và loài hoa đồng nội sớm nở tối tàn mà Cha trên trời còn chăm sóc như thế, phương chi con cái loài người đáng giá hơn muôn phần lại không được Thiên Chúa quan phòng gìn giữ hay sao? Và Đức Giê-su kết luận: “Vậy đừng quá lo lắng về ngày mai. Ngày mai cứ để ngày mai lo. Ngày nào có cái khổ của ngày đó”.

2) Về sự quan phòng của Thiên Chúa:
Ngày nay chúng ta cũng có muôn ngàn nỗi lo chính đáng: Người làm cha mẹ thì lo sao cho gia đình có cái ăn cái mặc hằng ngày, lo căn nhà đang ở khỏi dột khi mùa mưa đến, lo cho con cái học hành tử tế, lo cho người nhà mắc bệnh được có tiền để khám bệnh uống thuốc, lo giá cả tiêu dùng không bị tăng vọt, lo mùa màng ngoài đồng không bị thất bát do nắng hạn, sâu rầy hay lũ lụt… Những nỗi lo như thế phát xuất từ trách nhiệm của mỗi người chúng ta và đều chính đáng đúng theo thánh ý của Thiên Chúa.

3) Phải tránh thói ỷ lại lười biếng và vô trách nhiệm:
Chim trời tuy không phải vất vả gieo gặt như loài người, nhưng chúng cũng phải bay đi đó đây để tìm mồi. Hoa huệ ngoài đồng tuy không phải dệt may nhưng cũng phải đâm rễ tìm chất bổ dưỡng. Đàng khác chính Đức Giê-su đã nói: “Ngày nào có cái khổ của ngày ấy” (Mt 6,34).
Không những Đức Giê-su không muốn chúng ta lười biếng vô trách nhiệm, mà còn muốn ta phải chịu khó làm việc để góp phần làm cho môi trường ta đang sống, cho thế giới này ngày một tốt đẹp hoàn thiện hơn. Ngay từ khi dựng nên loài người, Thiên Chúa đã ra lệnh cho họ phải canh tác trái đất và làm chủ vạn vật. Trong dụ ngôn về những nén bạc (x. Mt 25,15-25), Đức Giê-su đã đòi mỗi đầy tớ phải làm lợi cho chủ gấp đôi các nén bạc được trao, chứ không phải đem đi chôn giấu. Như vậy, chúng ta có bổn phận phải lo lắng, tiên liệu cho tương lai. Điều Chúa không chấp nhận là quá lo lắng về đời sống vật chất, coi nó là cùng đích đời mình.

4) Tiên vàn phải lo tìm kiếm Nước Thiên Chúa:
Người môn đệ Đức Giê-su phải coi trọng nước Thiên Chúa. Những điều khác cũng cần phải quan tâm, nhưng không được coi chúng hơn Nước Thiên Chúa. Thường người ta coi tiền bạc vật chất là ưu tiên số một và có khả năng giải quyết được mọi vấn đề của con người. Nhưng thực tế chứng minh suy nghĩ ấy là sai lầm. Thực ra tiền bạc của cải là phương tiện cần giúp con người có đời sống tốt hơn như người ta thường nói: “Phú quý sinh lễ nghĩa, bần cùng sinh đạo tặc”. Nhưng của cải tự nó không mang lại hạnh phúc. Nó chỉ tốt khi chúng ta biết dùng nó như phương tiện, như đầy tớ của chúng ta. Nhưng tên đầy tớ tiền bạc này lại rất có uy, rất dễ biến thành ông chủ lúc nào không biết. Khi nó đã nắm quyền làm chủ, nó sẽ bắt chúng ta phải phụng sự nó với bất cứ giá nào.
Ưu tiên tìm nước Thiên Chúa là phải chịu khó làm việc với hết khả năng, tìm kiếm đối sách và nhìn xa trông rộng để giải quyết các vấn đề mới phát sinh theo khả năng của mình. Cần tránh thái độ ỷ lại vào tình thương và quyền năng của Thiên Chúa. Khi gặp sự khó chúng ta tránh thái độ thụ động, nhưng phải biết chủ động xin ơn Thánh thần soi sáng để tìm ra cách giải quyết theo gương mẫu và lời dạy của Đức Giê-su trong Tin Mừng. Cần theo lời người xưa dạy: “Hãy làm hết sức mình, rồi trời sẽ giúp”, hoặc : “Hãy thắp sáng lên ngọn đèn, chứ đừng ngồi đó mà nguyền rủa bóng tối”.

Lời cầu:
Lạy Chúa Giê-su. Hôm nay Chúa đã dạy chúng con phải biết ưu tiên tìm kiếm Nước Thiên Chúa và sự công chính, còn những thứ khác như ăn gì mặc gì, thì phó thác vào tình thương quan phòng của Cha trên trời. Xin cho chúng con ý thức rằng: “Đồng tiền chính là đầy tớ tốt nhưng lại là ông chủ xấu”. Nhờ biết sử dụng đồng tiền phục vụ cho Nước Chúa và phục vụ tha nhân, mà chúng con sẽ có sự bình an trong tâm hồn và sẽ nên chứng nhân trước mặt người đời, xây dựng một thế giới mới tốt đẹp là Nước Trời đời sau.- Amen.

 

Tết 1_142: CHÚA QUAN PHÒNG

 TẾT NGUYÊN ĐÁN 2018 – LỄ MÙNG 1
- Lm. Giuse Nguyễn Văn Khánh
 

Người ta hay kể câu chuyện sau đây để nói về sự quan phòng của Thiên Chúa: Có hai người bộ Tết 1_142

Người ta hay kể câu chuyện sau đây để nói về sự quan phòng của Thiên Chúa:
Có hai người bộ hành đi lên đường đi đến một phương xa. Họ dùng một con lừa để chuyên chở hành lý, và mang theo một chú gà cồ làm bạn. Ban đêm đến họ đốt đuốc để soi đường.
Một trong hai người  là một tín hữu rất đạo đức, luôn miệng nói: “Chúa là Ðấng tốt lành  quan phòng mọi sự”. Người kia thì rất cứng lòng tin. Ông rất bực mình mỗi khi nghe người bạn đồng hành hơi một tí là cầu nguyện “phó thác cho Chúa lòng lành”.Trước khi mặt trời lặn, họ đến một ngôi làng nhỏ. Họ tìm một nơi để qua đêm. Họ gõ cửa khắp nơi, nhưng không có ai đón tiếp họ. Cuối cùng họ đành phải ra khỏi làng và tìm đến bìa rừng để qua đêm. Trong cảnh màn trời chiếu đất, người bạn không có  lòng tin mới thốt lên: “Nào,  Chúa tốt lành của anh ở đâu rồi?”. Người kia bình tĩnh đáp lại: “Ðây là chỗ tốt nhất Chúa dành cho chúng ta ngủ qua đêm này”.
Ðêm đó, họ nằm ngủ dưới một gốc cây lớn nằm sát bìa rừng. Họ cột chú lừa vào một gốc cây gần đó. Họ chưa kịp đốt lên ngọn đuốc thì một tiếng  động mạnh từ xa vang lại. Thì ra, chỉ trong chớp nhoáng, một chú sư tử đã đến cắn xé con lừa và mang đi. Vừa thương tiếc cho chú lừa, vừa lo sợ cho thân phận của mình, hai người bộ hành chỉ còn biết leo lên cây để tránh tai họa.Vừa tức giận, vừa mỉa mai, người bạn cứng lòng  mới thốt lên: “Nào, Chúa quan phòng của anh còn tốt nữa không?”. Người tín hữu ngoan đạo dõng dạc tuyên bố: “Nếu con sư tử không bắt gặp con lừa trước, thì chắc chắn nó đã bổ nhào trên chúng ta rồi. Tạ ơn Chúa là Ðấng tốt lành”.
Một vài phút sau, con gà cồ bỗng kêu la thất thanh. Hai người bộ hành mới trèo cao hơn. Họ nhận ra con gà cồ đang nằm trong nanh vuốt của một chú mèo rừng. Họa vô đơn chí! Chỉ vài phút sau đó, một cơn gió mạnh ùa đến, ngọn đuốc bỗng tắt ngụm đưa hai người vào trong cảnh tối tăm ghê rợn. Lần này, người tín hữu ngoan đạo chỉ biết giữ thinh lặng trước lời xiên xỏ của  người bạn không tin Chúa của  mình.
Sáng hôm sau, hai người mon men trở lại làng để mua thức ăn. Họ mới hay biết rằng đêm hôm đó một băng cướp đã đột nhập vào làng cướp của giết người. Nhìn cảnh tượng hoang tàn của ngôi làng , người có lòng tin mới  giải thích cho người bạn như sau: “Anh đã chứng kiến từ đầu đến cuối. Giá như đêm hôm qua, chúng ta thuê được một chỗ trọ trong làng, thì có lẽ chúng ta cũng không thoát khỏi tay của bọn cướp. Nếu cơn gió lớn không làm tắt ngọn đuốc của chúng ta, thì hẳn bọn chúng đã nhìn thấy chúng ta. Bạn thấy chưa, trong tất cả mọi sự, Thiên Chúa luôn là Ðấng quan phòng tuyệt hảo”.
Thien Chúa không muốn cho chúng ta gặp phải sự dữ. Trong Cựu ước  sự kiện thiên thần Raphael phù hộ cho ông Tobia trên đường đi cưới vợ, hay là Thiên Chúa có thể biến sự dữ thành điều lành cho chúng ta như trường hợp ông Giuse bị bán sang Ai Cập,tất cả nói lên sự quan phòng của Thiên Chúa. Chúa Giêsu dùng hình ảnh con chim sẻ chẳng đáng mấy đồng hay bông huệ ngoài đồng nay còn mai mất mà vẫn được Thiên Chúa chăm sóc, huống hồ là con người chúng ta…
– Ngày đầu năm mới,người ta thường cầu chúc cho nhau mạnh khỏe,bằng an, hạnh phúc… Những gì người ta đã có thì không cần chúc nữa. Vậy thì khi cầu chúc cho người khác điều gì là cũng hàm chứa một  chút  lo lắng trong đó. Chúng ta lo ngại  người thân có thể gặp rắc rối vì bệnh tật nên mới chúc “mạnh khỏe”. Vì chưa giàu đủ nên mới chúc “Phát tài”, sợ tai nạn hay chuyện này chuyện nọ xảy ra nên mới chúc “bình an”. Mỗi lời chúc đều hàm chứa một phần sự thiện mà chúng ta ao ước và đồng thời cũng hàm chứa một “nỗi lo”. Tuy nhiên lời Chúa hôm nay lại là tin vui cho chúng ta. Bởi vì Chúa Giêsu cho chúng ta biết chúng ta có một người Cha là Thiên Chúa rất quyền năng mà lại nhân lành luôn quan tâm đến mỗi người đến độ một sợi tóc trên đầu rụng xuống Chúa cũng tính cả rồi. Như vậy thì chăng việc  gì phải lo những chuyện không đâu ,như là lo động đất,lo thiên thạch lao vào trái đất, lo tận thế…
– Chớ lo lắng về ngày mai không có nghĩa là cứ  nằm chờ sung rụng. Các nhà tu đức dạy rằng: Cầu nguyện mà không hành động là sự xúc phạm đến Thiên Chúa.Cũng như một người bị bệnh cầu xin Chúa chữa cho mình mà không thèm sử dụng những phương thế y học mà Thiên Chúa đã ban cho con người khám phá ra…
– Tin vào Chúa quan phòng, chúng ta yên tâm mạnh dạn sắp xếp chương trình sống cho gia đình của mình trong đó ưu tiên cho việc kiếm tìm Nước Thiên Chúa. Ưu tiên cho việc cầu nguyện và các việc đạo đức thay vì dành hết tất cả thời gian cho công việc làm ăn mà thôi. Ưu tiên cho việc kiếm tìm Nước Thiên Chúa cũng có nghĩa là chúng ta phải dám hy sinh chấp nhận một phần thiệt thòi nào đó về vật chất,  dành một phần kinh phí cho việc đạo thay vì sợ tốn tiền xăng rồi không dám đi lễ…
Để kết thúc,  chúng ta tin tưởng nhắc lại lời  Đức Giáo Hoàng Benedicto XVI trong phần mở đầu sứ điệp Hòa Bình: “Năm mới luôn mang lại cho chúng ta niềm hy vọng về một thế giới tốt đẹp hơn. Trong ánh sáng này, tôi nguyện xin Thiên Chúa, là Cha của nhân loại, ban cho tất cả chúng ta sự hoà thuận và bình an để những khao khát của chúng ta về một đời sống hạnh phúc và thịnh vượng có thể được thành tựu.”

 

Tết 1_143: THÁNH  LỄ TÂN NIÊN

MỒNG MỘT TẾT - CẦU BÌNH AN CHO NĂM MỚI
Mt 6,25-34
 

Phụng vụ Giáo Hội cho đọc bài Tin Mừng ngày minh niên nói lên ý nghĩa về sự quan phòng của Tết 1_143

Phụng vụ Giáo Hội cho đọc bài Tin Mừng ngày minh niên nói lên ý nghĩa về sự quan phòng của Thiên Chúa, Đấng làm chủ thời gian và không gian, làm chủ vận mệnhcủa vũ trụ và thế giới, làm chủ cuộc đời của mọi người chúng ta. Vì thế, cầu bình an cho năm mới là tìm kiếm nước Thiên Chúa và sự công chính của Người.Cầu xin bình an trong năm mới là cầu xin cho có lòng tin vào bàn tay Chúa quan phòng.
Con người không được bình an là quá lo lắng về của cải vật chất, để rồi trằn trọc nghĩ suy tính toán, lấn chiếm hết cả thời giờ nghỉ ngơi và cầu nguyện, dẫn đến mất cả niềm tin vào sự an bài của Thiên Chúa.
Chúa Giêsu không chủ trương cho chúng ta lười biếng hay ỷ lại, mà là muốn chúng ta đừng quá tin cậy vào sức mình, nhưng cần đến sự tin tưởng phó thác với sự quan phòng của Thiên Chúa. Sự tin tưởng vào Chúa Quan Phòng, không có tính cách thụ động, khoanh tay ngồi chờ “trời sinh voi, trời sinh cỏ”, không phải thái độ vô vi, yếm thế, buông trôi.Tín nhiệm hoàn toàn vào Thiên Chúa không có nghĩa là sống trong thụ động, mà là cộng tác với công việc của Thiên Chúa tùy ơn gọi của mỗi người: tự giúp mình thì trời sẽ giúp cho. “Đức tin chân chính phải thể hiện bằng việc làm”, càng tin, càng phải đem “hết sức mình, hết lòng, hết trí khôn, hết linh hồn” cộng tác vào công trình sáng tạo và cứu thế của Thiên Chúa; biết xây dựng trần thế tốt đẹp như khi Ngài dựng nên mọi sự tốt đẹp; biết xây dựng nước Trời cho tình thương của Thiên Chúa trải rộng khắp mọi người.
Chúa Giêsu đưa ra một bằng chứng cụ thể để nâng đỡ đức tin của chúng ta vào sự quan phòng của Thiên Chúa đối với thụ tạo thượng đẳng của Người: “Chim trên trời, bông huệ ngoài đồng, chúng có đáng gì đâu, thế mà Thiên Chúa vẫn hằng nuôi nấng, để ý đến”, huống chi con người, vì con người được tạo dựng giống hình ảnh Thiên Chúa và được Chúa Giêsu Kitô cứu chuộc bằng chính giá máu của Người.
"Trước hết hãy lo tìm Nước Chúa và sự công chính của Ngài", nghĩa là: Thiên Chúa phải chiếm chỗ ưu tiên trong con người và công việc của chúng ta, rồi đến việc cứu rỗi bản thân và đưa người khác về với Chúa. Nếu đảo lộn trật tự này tức là đi ngược thánh ý Thiên Chúa và chương trình của Người.
Lạy Chúa, xin cho chúng con nhân ngày đầu năm mới này, biết phân định giữa việc chọn Chúa hay chọn tiền bạc, quá lo lắng đến vật chât hay luôn tín nhiệm vào sự quan phòng của Chúa. Xin cho chúng con biết ưu tiên tìm kiếm Nước Chúa và sự thánh thiện, để mọi thứ khác Chúa sẽ ban cho chúng con. Amen.

 

Tết 1_144: Ngày đầu năm mới

Mt 5,43-48
 

Ngày đầu năm mới, Giáo Hội cho đọc Bài Tin Mừng kể về phần cuối của bài giảng “kiện toàn lề Tết 1_144

Ngày đầu năm mới, Giáo Hội cho đọc Bài Tin Mừng kể về phần cuối của bài giảng “kiện toàn lề luật” của Chúa Giê-su, xoay quanh chủ đề: “Hãy yêu thương kẻ thù và hãy cầu nguyện cho họ”. Đó là chủ ý mà Giáo Hội muốn mời gọi con cái mình hãy quên đi tất cả những gì thù hận trong năm cũ, để bắt đầu một tình yêu mới dành cho mọi người trong năm mới này.
Luật xưa dạy: “Hãy yêu thương đồng loại và ghét kẻ thù”.
Đây là điểm tương khắc cuối cùng giữa luật cũ và luật Tin Mừng. Cựu Ước nói về lòng nhân ái, nhưng là sự liên đới đồng đạo (trong Do-thái với nhau) mà thôi.
Về vấn đề “ghét kẻ thù”, thật ra trong Cựu Ước không nói rõ vấn đề này, nhưng có những chỗ có tư tưởng tương đương (x. Đnl 7,2). Đúng hơn, luật Cựu Ước nói về kẻ thù dân tộc hơn là kẻ thù cá nhân. Tư tưởng này khuyên người ta dè dặt với kẻ thù xâm lược, không nên giúp đỡ chúng và thậm chí thà giết sạch còn hơn thông đồng với chúng trong lầm lỗi.
Tắt một lời, dù cách nào đó luật Cựu Ước về đức ái đã ở một mức cao hơn các tôn giáo và các dân tộc sơ khai, nhưng bao lâu còn có tư tưởng trả thù thì bấy lâu hận thù còn truyền kiếp. Vì thế, cần đến luật Tin Mừng như Chúa Giê-su dạy hôm nay.
Thầy Giê-su dạy: “Hãy yêu thương kẻ thù và hãy cầu nguyện cho họ”.
Đây quả là một lời dạy khó thực hiện nhất, nhưng là những môn đệ Chúa lại phải cố gắng thực hiện vì những lý do sau:
Nếu chúng ta chỉ yêu những người yêu mình thì cũng có hơn gì dân ngoại và những người tội lỗi, họ cũng làm được và làm tốt hơn nữa là khác. Chúa Giêsu trên thập giá đã KÊU XIN CHÚA CHA tha thứ cho người đóng đinh mình, thánh Têphanô khi bị ném đá cũng CẦU XIN CHÚA tha thứ cho những kẻ bách hại… Đến lượt chúng ta là những Kitô hữu, chúng ta giống Chúa và khác với người ngoại chính là việc yêu thương kẻ thù và cầu nguyện cho họ.
Cá tính của con người thật khó để yêu kẻ thù, ngay việc tha thứ và không trả thù đã là cao thượng lắm rồi, đàng này Chúa còn đòi hỏi chúng ta bước thêm một bước cao hơn nữa lên đỉnh hoàn thiện là YÊU KẺ THÙ và CẦU NGUYỆN CHO HỌ. Thật ra, dù khó, nhưng lại là một phương thế tuyệt hảo nhất có thể hoá giải được những mâu thuẫn giữa người với người. Vì khi, cứ tìm cách trả thù nhau thì thù hận càng ngày càng chồng chất từ đời cha sang con đời cháu và cả những dòng tộc trả thù đến trường kỳ. Nếu tôi trả thù được anh thì con anh tìm cách trả thù tôi và cứ như thế mãi mãi. Còn khi lấy ân để trả thù thì không những thù được hoá giải mà còn dễ nên bạn hữu của nhau và làm gương cho hậu thế.
Bởi khi tha thứ là lúc được thứ tha. Mang trong mình sự hận thù, thì chính ta khổ trước, ăn không ngon ngủ không yên vì tức giận ấm ức, trằn trọc nghĩ kế trả đũa… Nhưng khi ta tha thứ thì không phải lo nghĩ gì và tâm hồn thanh thản, nhất là khi ta tha thứ thì ta không còn kẻ thù mà lại được bạn hữu. Tha thứ lại là một cách trả thù ngọt ngào nhất mà đối phương không ngờ, và làm cho chính đối phương dằn vặt vì nhận ra chính họ sai khi xúc phạm đến một người tốt, cuối cùng làm cho đối phương cảm kích và thay đổi thái độ.
Lại nữa, khi sự tha thứ trong tương quan giữa người với người được thực hiện, lại chính là tiêu chuẩn Chúa xét công trạng cho chúng ta đáng được ân thưởng Nước Trời. Vì: “Anh em đừng xét đoán để khỏi bị đoán xét, đừng kết án để khỏi bị Thiên Chúa tuyên án…” Lỗi lầm giữa chúng ta với nhau chẳng là gì so với lỗi phạm giữa chúng ta với Thiên Chúa, nhưng Thiên Chúa đã ngàn lần tha thứ cho chúng ta thì đến lượt chúng ta cũng phải tha thứ cho nhau. Chúa cho mưa xuống trên người lành cũng như kẻ dữ, thì tại sao chúng ta phải phân biệt thương ai ghét ai?
 Vì thế, hãy nên hoàn thiện như Cha chúng ta trên trời là Đấng Hoàn Thiện.
Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con một trái tim  quảng đại như Chúa, vươn lên cao vượt mọi tình cảm tầm thường để mặc lấy tâm tình bao dung tha thứ; Thay vì toan tính phục thù, chúng con biết cầu nguyện cho những người làm hại chúng con; xin cũng cho vòng tay chúng con luôn rộng mở để có thể ôm cả những người thù ghét chúng con. Amen.

 

Tết 1_145: Cầu xin Chúa Xuân ban Bình An

Ga 14,23-27
 

Ngày đầu năm mới, Giáo Hội Việt Nam chọn ý lễ là cầu xin Chúa Xuân ban Bình An của Người Tết 1_145

Ngày đầu năm mới, Giáo Hội Việt Nam chọn ý lễ là cầu xin Chúa Xuân ban Bình An của Người cho quê hương, đồng thời cũng mong muốn mọi người biết kiến tạo bình an cho nhau. Cùng trong ý nghĩa đó, thật thích hợp biết bao khi đọc Bài Tin Mừng về sự bình an mà chúng ta vừa nghe.
Bình an. Đó là khao khát của con người mọi nơi và mọi thời. Người có được sự bình an thì  đáng quý hơn tất cả. Bình an vượt lên trên tất cả sự giàu sang, danh vọng, quyền lực…
Người có nhiều của cải ư? Lo lắng sợ bị mất… mất bình an
Người có quyền lực ư? Lo ngại kẻ thù… mất bình an
Không phải làm vua mà được bình an thư thái, vì sợ bị ám sát hay sợ bị lật đổ
Cũng không phải nghèo khó mà được tự tại an vui, vì lo lắng cho cái ăn cái mặc
Nhưng có một điểm chung của bất kỳ ai là đều mất bình an vì lo sợ tương lai. Tương lai sẽ ra sao và sẽ đi về đâu…
Oiralih nói rằng: “Khi đến với cung vua hay nơi sang trọng nhất là khi bạn mất bình an nhất, nhưng nếu muốn bình an thì bạn hãy bước vào tu viện”. Thật vậy, nơi
các tu viện không phải vì đầy đủ cơm no áo ấm, mà vì nơi đó các tu sĩ sống an nhiên tự tại khi họ từ bỏ tất cả những lo toan vật chất để chỉ lo phụng sự Chúa.
Chúa Giêsu thấu hiểu nỗi lo lắng của các môn đệ về tương lai bất định, nhất là việc Thầy sắp ra đi, nên Người đã trấn an các ngài: “Thầy để lại bình an cho anh em, Thầy ban cho anh em bình an của Thầy. Thầy ban cho anh em không theo kiểu thế gian. Anh em đừng xao xuyến cũng đừng sợ hãi” (Ga 14,27).
Thứ bình an mà Chúa Giêsu ban cho các môn đệ là bình an đích thực, nghĩa là đặt niềm tin vào Chúa quan phòng, không lo sợ bất cứ điều gì từ bên ngoài tác động vì luôn có Chúa trong mình. Cũng như Chúa Giêsu luôn bình an, dù đứng trước mọi khó khăn chống đối, trước cuồng phong bão táp hay trước sự bách hại của vua chúa quan quyền; thì đây Chúa Giêsu cũng ban cho những ai buớc theo Người được sự bình an đích thực trong tâm hồn, khi luôn đặt niềm tin vào Thiên Chúa.
Trong Thánh Kinh, từ thời Cựu Ước, người ta dùng từ “bình an” để chào hỏi nhau lúc gặp gỡ. Còn ngôn sứ Isaia thì tiên báo Đấng Messia sẽ là “Hoàng Tử Bình An”. Khi Chúa Giêsu sinh hạ nơi hang đá Bêlem, các thiên thần cũng đã ca hát: “Vinh danh Thiên Chúa trên trời, BÌNH AN dưới thế cho người Chúa thương”. Như thế, Chúa Giêsu chính là sự BÌNH AN đích thực của Thiên Chúa, và sứ điệp đầu tiên mà Chúa Giêsu đem xuống từ trời chính là ban bình an cho nhân loại.
Tóm lại, sứ điệp đầu tiên mà Chúa Giêsu đem xuống trần gian qua lời thiên sứ hát mừng là “Bình an dưới thế cho người Chúa thương”, thì nay khi sắp lìa bỏ những người Chúa thương mà trở về với Chúa Cha, Chúa Giêsu cũng để lại ơn bình an ấy. Ơn bình an mà từ đây, những người theo Chúa thì không còn sợ hãi tội lỗi, ma quỷ và sự chết nữa. Thật vậy, khi có Chúa, Kitô hữu không chỉ được hưởng bình an ngay tự bây giờ, mà còn hi vọng được về “quê BÌNH AN” vĩnh cửu trên trời.
Lạy Chúa Giêsu, như trong thánh lễ mỗi ngày, chúng con nhắc lại lời Ngài phán với các môn đệ: “Thầy để lại bình an cho các con, Thầy ban bình an của Thầy cho các con”. Xin đoái thương ban cho gia đình chúng con, giáo xứ chúng con, hội thánh của Chúa, và quê hương đất nước chúng con được bình an. Đặc biệt trong năm mới này, chúng con biết tạo bình an cho nhau. Amen.

 

Tết 1_146: Chúng ta là người hành khất

Chúng ta là người hành khất!" lời tâm sự này Martinô Lutherô, cha đẻ của đạo Tin lành Thệ Phản Tết 1_146

"Chúng ta là người hành khất!" lời tâm sự này Martinô Lutherô, cha đẻ của đạo Tin lành Thệ Phản bên Đức, đã thốt lên năm 1546 vào những ngày cuối cùng cuộc sống trên trần gian của ông. Lời tâm sự này của ông biểu lộ niềm tin mối tương giao giữa Thiên Chúa và con người. Người có tâm hồn niềm tin vào Thiên Chúa trông mong chờ đợi đón nhận từ nơi Ngài, những sự cần thiết cho đời sống. Và đồng thời cũng nói lên tâm tình niềm tin: Thiên Chúa là Đấng ban phát mọi ân đức tặng phẩm cho đời sống, con cám ơn Ngài! "Chúng ta là người hành khất!" tâm tình này cũng có thể là một suy tư gợi ý vào những giờ phút cuối cùng của năm hiện tại đang đi vào qúa khứ. Nhưng tại sao lại đem tâm tình này vào đời sống ngày cuối năm?
Khi nghe đến "hành khất" ta nghĩ ngay tới nghèo khổ, đói khát, túng thiếu, yếu đau, bơ vơ không nhà cửa... Không lẽ cuộc sống chỉ tiêu cực như thế sao? Không, chúng ta không dừng lại ở điểm tiêu cực đó. Ngày nay, nơi nhiều quốc gia tình trạng xóa đói, giảm nghèo, vệ sinh bệnh tật đang dần dà được đẩy mạnh bài trừ cải tiến. Và mức sống no cơm ấm áo dần được nâng cao, cho xứng với phẩm gía con người. Trong cuộc sống, lẽ dĩ nhiên rất nhiều người, nhất là ở trong xã hội văn minh đầy đủ hay đang mở cửa phát triển, đã đạt được những thành công rực rỡ về mặt chính trị, kinh tế, học hành, nghề nghiệp, y tế, của cải tài sản, cuộc sống gia đình hòa hợp êm ấm... Những điều đó đối với người có lòng tin vào Thiên Chúa, khi nhìn lại cũng có tâm tình gần giống như của Martinô Lutherô: Vâng, chúng con là người hành khất!
Tâm tình này muốn nói lên: Con cám ơn Thiên Chúa đã ban cho chúng con cơ hội sống, cơ hội góp phần vào cuộc sống. Những gì con có hay đạt được, là những ân đức qùa tặng Thiên Chúa ban cho. Cuộc sống xã hội và đời sống từng người không chỉ có mặt sáng đẹp đó. Nhưng còn có mặt với nhiều bóng tối tiêu cực nữa: chiến tranh, thiên tai, lo âu, tai nạn, đau khổ bệnh tật, chạy loạn tỵ nạn tha hương ... Trước những cảnh tượng đó, không ai muốn, nhưng chúng xảy ra đó và mọi người phải đối diện với! Trong cơn tuyệt vọng như thế, đâu đâu vào thời đại nào, hầu như bất cứ ai cũng đều cúi đầu hướng tâm hồn lên cao, thành tâm khấn vái xin Thiên Chúa, xin Thượng Đế, xin Trời phù hộ cho đời sống, cho thế giới khỏi cơn khốn khó đó.Tâm tình này càng vẽ rõ nét hơn "Chúng ta là người hành khất!" Người tin vào Thiên Chúa, khi nhận lãnh một tin lành bằng an, một tin vui, họ đều thắp sáng cây nến lòng biết ơn cho Đấng đã ban cho mình ân đức cao qúi đó và cho người nào đó đã liên đới trao tặng giúp đỡ mình. Cung cách sống đạo đức tình người này muốn nói lên: "Chúng ta là người hành khất!"
Trước ngưỡng cửa Năm Mới đang tiến dần vào hiện tại, niềm vui mừng đang khơi dậy trong lòng. Nhưng nào ai có thể biết đươc tương lai ngày mai trong năm mới sẽ đến như thế nào. Rồi trong đời sống vào nhiều hoàn cảnh giai đoạn cuộc sống, chúng ta thường lâm vào ngõ bí đường cùng, không biết nên làm sao nữa... Là người có niềm tin, ta đặt niềm tin tưởng nơi Thiên Chúa, Đấng biết sự gì cần thiết cho đời sống của ta. Chúng ta thường cầu nguyện cùng Đức Chúa Thánh Thần: lạy Cha kẻ khó khăn bần hàn, xin đến trợ giúp ban cho chúng con ân đức gìn giữ cuộc sống hôm nay và ngày mai! Đó cũng là tâm tình: "Chúng ta là người hành khất!"

 

Tết 1_147: Ngày đầu năm – R. Veritas

Tâm tình tạ ơn và phó thác trong cuộc sống. Một nhà tư tưởng người Đức sống vào thế kỷ thứ 14 Tết 1_147

Tâm tình tạ ơn và phó thác trong cuộc sống.
Một nhà tư tưởng người Đức sống vào thế kỷ thứ 14 được tôn làm bậc tôn sự đưa ra khuôn vàng thước ngọc như sau:
- Người quan trọng nhất trong lúc này là người đối diện với ta. - Giờ phút quan trọng nhất đối với ta lúc này là giờ phút hiện tại.
- Công việc quan trọng nhất là công việc bác ái yêu thương.
Chỉ chú ý vào người đối dịện, vào giờ phút hiện tại vào công việc ta đang làm. Đó là bí quyết sống hạnh phúc.
Người Nga cũng có một châm ngôn tương tự:
- Chỗ quan trọng nhất là chỗ bạn đang đứng này đây.
- Con người quan trọng nhất là con nguời đang đứng trước mặt bạn và đang cần bạn.
Đầu năm mới, có lẽ ai trong chúng ta cũng có một quyết tâm. Có người quyết tâm bỏ thuốc lá. Có người quyết tâm bỏ uống rượu. Có người quyết tâm dành thêm tiền bạc để đi buôn, để xây nhà,v.v... Có người quyết tâm hăng hái học hành để chuẩn bị cho một tương lai sáng lạn. Có quyết tâm và có quyết tâm, nhưng lắm khi sức người có hạn, chúng ta lại bỏ cuộc giữa đàng, đâu lại vào đó, con sâu của chán nản, của thất vọng lúc nào cũng chực sẵn để gậm nhấm tâm hồn chúng ta.
- Hãy sống giây phút hiện tại với tất cả tâm tình lạc quan và phó thác. Đó phải là quyết tâm mà chúng ta có thể làm tức khắc trong giây phút này.
- Hãy hưởng nếm những niềm vui nhỏ trong cuộc sống như ân tình diệu vợi của Chúa.
- Hãy trao vào tay Ngài mọi sầu muộn lắng lo. Chúng ta hãy để cho mọi lo âu lắng đọng xuống.
Chúng ta hãy chấm dứt mọi bài ca than vãn của thất vọng để chỉ còn lại một tâm tình duy nhất xứng hợp với người có lòng tin: Đó là tâm tình phó thác và tri ân.

***
- Tạ ơn Chúa đã ban cho ta chào đón năm mới.
- Tạ ơn Chúa đã luôn có mặt trong cuộc sống của chúng ta để dẫn dắt chúng ta trong từng phút giây của cuộc sống.
- Tạ ơn Chúa đã giữ vững chúng ta trong niềm tin vào Tình Yêu của Ngài.
- Tạ ơn Chúa cho riêng chúng ta. Tạ ơn Chúa cho tất cả mọi người.
- Tạ ơn Chúa chúng ta cũng không quên tạ ơn người:
- Tạ ơn ông bà tổ tiên đã cho chúng ta được sinh ra làm người Việt Nam. Tạ ơn cha mẹ đã sinh ra và giáo dục chúng ta nên người. Tạ ơn những người thân thương ruột thịt đã đùm bọc chúng ta. Tạ ơn những người bạn tốt đã nâng đỡ chúng ta bằng muôn nghìn cách thể hiện của tình yêu. Tạ ơn những người vô danh mà sự hiện diện và âm thầm đồng hành đã giúp chúng ta được sống như con người. Tạ ơn tất cả những người khốn khổ kém may mắn hơn chúng ta: Nhờ đó tiếng gọi sống yêu thương huynh đệ liên đới còn vang vọng trong tâm hồn chúng ta. Tạ ơn nhiều người mà chúng ta thù ghét. Tạ ơn những người thù ghét chúng ta. Tạ ơn tất cả bởi vì cách này hay cách khác họ vẫn luôn luôn là tiếng gọi để chúng ta sống tinh thần Kitô hữu nhiều hơn.
Với tất cả tâm tình tạ ơn. Chúng ta hãy dâng lên Chúa một năm mới.
Xin đâng lên Ngài tất cả niềm cảm mến tri ân của chúng ta.

 

Tết 1_148: Hạt giống, hạt cải

Trong bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu dùng hạt giống và hạt cải làm ví dụ để nói về Nước Tết 1_148

Trong bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu dùng hạt giống và hạt cải làm ví dụ để nói về Nước Thiên Chúa.
Nước Thiên Chúa được thiết lập giống hệt như một tiến trình gieo gặt trọn vẹn: từ hạt giống, hạt nẩy sinh thành cây, rồi thành bông lúc. Như người dân Palestina, sau khi gieo hạt giống, họ âm thầm chờ đợi lúa chín để gặt hái, chứ không hề biết hạt giống được gieo xuống đất đã phát triển như thế nào: Chúa Giêsu cũng gieo hạt giống Nước Trời nơi tấm lòng con người, cùng với ơn Chúa, Nước đó âm thầm phát triển lan rộng khắp thế giới, tạo nên mùa gặt các linh hồn. Chúa Giêsu chỉ đích thân có mặt trong mùa gieo giống và mùa gặt hái. Tuy nhiên, trong khoảng thời gian chờ đợi, Ngài vẫn tiếp tục hoạt động một cách vô hình, qua Chúa Thánh Thần và Giáo Hội. Khi Nước Thiên Chúa đã phát triển đến mức tối đo, Ngài sẽ trở lại trong vinh quang, thu hoạch mùa gặt của Ngài.
Dụ ngôn hạt cải là dụ ngôn cuối cùng trong năm dụ ngôn về Nước Thiên Chúa. Cũng như các dụ ngôn trước, dụ ngôn này được rút ra từ đời sống thôn dã. Nó đưa ra một nét tương phản hấp dẫn: hạt cải nhỏ xíu trở thành một cây to lớn. Nước Thiên Chúa cũng mang nơi mình một nghịch lý tương tự: Dưới cái nhìn của thánh Marcô, dụ ngôn hạt cải chứa đựng cách diễn tả tuyệt vời về bí mật Mêsia. Cho đến lúc này, hành vi của Chúa Giêsu có thể bị coi là vô nghĩa và Nước Thiên Chúa vẫn chỉ là một thực tế khiêm tốn. Dù vậy, các dân ngoại đang nhìn thấy sự tăng trưởng dị thường của nó như các Kitô hữu ở Rôma đã kinh nghiệm được điều này. Chính Giáo Hội tiên khởi, dù yếu đuối, vẫn ý thức được mình đang tham dự vào sự thành công của một công trình đã sẵn tiềm tàng nguồn sinh lực vô biên, công trình này sẽ đạt tới mức hoàn vũ vào cuối giai đoạn phát triển của nó.
Hạt giống đã trải qua một quá trình phát triển âm thầm trước khi tới mùa gặt; hạt cải được trồng dưới đất cũng phải trải qua một quá trình cho đến khi trở thành một cây lớn. Trong những bổn phận dù âm thầm hằng ngày, chúng ta hãy tin tưởng phó thác cho quyền năng yêu thương của Chúa, chính Ngài sẽ làm cho công việc chúng ta thực hiện theo ý Chúa đạt tới kết quả vượt quá sức tưởng tượng của chúng ta, và như vậy chúng ta sẽ làm ích cho chính bản thân, cho tha nhân và cho Nước Chúa.
Xin Chúa củng cố chúng ta trong niềm xác tín đó.
(Trích trong ‘Mỗi Ngày Một Tin Vui’)

 

Tết 1_149: Vấn đề thân cận

Người nói: “Chuyện Nước Thiên Chúa thì cũng tựa như chuyện một người vãi hạt giống xuống đất. Đêm hay ngày, người ấy ngủ hay thức, thì hạt giống vẫn nảy mầm và mọc lên, bắng cách nào thì người ấy không biết.” (Mc. 4. 26-27)
 

Phúc âm hôm nay lấy chủ đề là việc gieo giống. Nhưng những lời lẽ được dùng lại vang lên những Tết 1_149

Phúc âm hôm nay lấy chủ đề là việc gieo giống. Nhưng những lời lẽ được dùng lại vang lên những âm điệu mới lạ đáng chúng ta quan tâm suy nghĩ: mầu nhiệm Đức Kitô có một sức mạnh âm thầm hằng thúc đẩy để mầu nhiệm ấy được thực hiện trọn vẹn; dầu có tính cách mong manh, mầu nhiệm ấy vẫn có một sức mạnh vô địch; sau cùng lòng gắn bó hoặc tin cậy vào Chúa Giêsu giúp ta hiểu biết đầy đủ về mầu nhiệm này.

Một sức mạnh âm thầm
Mỗi ngày ta khó nhọc vất vả gieo hạt giống Nước Trời, mong cho Nước Chúa trị đến. Nào là: kinh lễ, hội họp, thảo luận, phục vụ, thăm viếng tình nghĩa, dạy giáo lý, hoạt động nghề nghiệp, săn sóc bệnh nhân, dạy học, làm việc chân tay… Chúng ta tin rằng thực hiện một trong những công việc kể trên là làm cho chúng ta sống mầu nhiệm phục sinh, là đưa mọi loài thụ tạo đến sự phục hồi. Ta tin nhưng mắt không nhìn thấy gì cả. Những kết quả công khó của ta thường âm thầm kín đáo. Chúng ta phải khiêm tốn và có khi phải cay đắng chấp nhận những giới hạn của thân phận con người.
“Chuyện Nước Thiên Chúa thì cũng tựa như …”, Chúa Kitô nói với chúng ta như vậy mà, …
Ta hãy kiên nhẫn và tin tưởng!
Một sức mạnh vô địch
Chúa còn kể dụ ngôn thứ hai, dụ ngôn hạt cải, để ta thêm vững lòng. Thực vậy, Chúa đặt đối chọi nhau hai sự thể: một bên là cái mong manh bé nhỏ, bên kia lại là những kết quả to lớn đạt được. “Cây cải mọc lên lớn hơn mọi thứ rau cỏ, cành lá xum xuê, đến nỗi chim trời có thể làm tổ dưới bóng”.
Chúng ta không thường sống sự tương phản này sao, sự tương phản giữa một bên là những dấu chỉ mong manh, còn bên kia là những kết quả to lớn đạt được? Tất cả đời sống bí tích chỉ là việc xử dụng một loại hạt giống nhỏ nhất để rồi hạt giống đó trở thành một dấu chỉ sinh ân sủng vô vàn của Chúa.
Chỉ có ai yêu mến mới hiểu được
Sau cùng, những dụ ngôn này kết thúc với lời ghi nhận rằng khi chỉ có thầy trò với nhau, thì Chúa Giêsu giải nghĩa hết cho các Tông đồ. Sự gắn bó, gần gũi với Chúa giúp ta tiến tới Người vượt xa mức bình thường mà quần chúng có thể tiếp cận được, bởi vì xét cho cùng người ta chỉ có thể hiểu biết rõ được một người khi ta yêu mến người đó.

 

Tết 1_150: Ngôn ngữ “dụ ngôn”

Sau khi kể lại một loạt dụ ngôn mà Đức Giê-su đã dùng trong lời giảng của mình, dụ ngôn người Tết 1_150

Sau khi kể lại một loạt dụ ngôn mà Đức Giê-su đã dùng trong lời giảng của mình, dụ ngôn người gieo giống, dụ ngôn cái đèn, dụ ngôn đấu đong, dụ ngôn hạt giống và dụ ngôn hạt cải, thánh sử Mác-cô kết luận:
Người không bao giờ nói với họ mà không dùng dụ ngôn.
Câu nói này của thánh Mác-cô rất là triệt để và chúng ta cần lưu tâm cách đặc biệt; bởi lẽ theo đó, dụ ngôn không chỉ là một trong những cách thức giảng dạy của Đức Giê-su, nhưng còn là chính cách thức giảng dạy của Người; hay ít nhất chúng ta có thể nói rằng, một mình cách giảng dạy bằng dụ ngôn đủ để diễn tả toàn bộ lời giảng của Đức Giê-su. Một nhà chú giải còn đi xa hơn khi nói rằng, Đức Giêsu là “Dụ Ngôn của Thiên Chúa” cho con người. Trong bài tin Mừng hôm nay, thánh sử Mác-cô, trong bài Tin Mừng hôm nay còn nói:
Nhưng khi chỉ có thầy trò với nhau, thì Ngài giải thích hết.
Ai trong chúng ta cũng có kinh nghiệm về sự khó hiểu của các dụ ngôn, cũng giống như các môn đệ xưa; và vì thế chúng ta cảm thấy có nhu cầu học hỏi. Đúng là phải học, nhưng điều này vẫn chưa đủ, thậm chí không phải là yếu tố quyết định; bởi lẽ lời Chúa hôm nay muốn nói với chúng ta rằng chúng ta cần ở lại với Đức Giê-su (thay vì thấy khó rồi bỏ đi), im lặng lắng nghe chính Ngài giải thích. Chính tương quan thiết thân với Đức Kitô, và sự hiểu biết Đức Kitô mà thánh Phaolô nói tới trong thư Phi-líp-phê mới là quyết định để hiểu các dụ ngôn: “Tôi coi tất cả mọi sự là thiệt thòi, so với mối lợi tuyệt vời, là được biết Đức Ki-tô Giê-su, Chúa của tôi” (Phil 3, 8)
Những dụ ngôn mà Đức Giêsu kể luôn là một câu chuyện đến từ kinh nghiệm đời thường và từ thiên nhiên. Nhưng các dụ ngôn lại nói cho chúng ta những điều kín ẩn: kín ẩn về Thiên Chúa, kín ẩn về con người, kín ẩn về mối tương quan giữa Thiên Chúa và con người và giữa con người với nhau, kín ẩn về chương trình cứu độ của Thiên Chúa, kín ẩn về Nước Trời. Chúng ta được mời gọi nhớ lại bao nhiêu có thể những dụ ngôn mà Đức Giêsu đã kể trong các Tin Mừng và xin Chúa dẫn chúng ta vào “những điều kín ẩn” ở bên dưới các dụ ngôn, như thánh sử Mát-thêu nói:
Tất cả các điều ấy, Đức Giê-su dùng dụ ngôn mà nói với đám đông; và Người không nói gì với họ mà không dùng dụ ngôn, hầu ứng nghiệm lời sấm của ngôn sứ: Mở miệng ra, tôi sẽ kể dụ ngôn, công bố những điều được giữ kín từ tạo thiên lập địa.
(Mt 13, 33-34)
Dụ ngôn hạt giống và hạt cải
Khi nói đến Nước Thiên Chúa, chúng ta thường nghĩ ngay đến năng lực của con người: con người yếu đuối, tội lỗi, bất lực; thế giới và xã hội chúng ta đang sống đầy hỗn mang, lệch lạc, ô nhiễm… Nhưng, để giúp chúng ta hiểu mầu nhiệm Nước Thiên Chúa, lời của Đức Giêsu lại mời gọi chúng ta chiêm ngắm năng lực của thiên nhiên, đúng hơn là năng lực của một trong những điều nhỏ bé nhất của thiên nhiên, để nhận ra điều kì diệu vượt qua mọi nỗ lực của con người: “
Chuyện Nước Thiên Chúa thì cũng tựa như chuyện một người vãi hạt giống xuống đất… Nước Thiên Chúa giống như hạt cải, lúc gieo xuống đất, nó là loại hạt nhỏ nhất trên mặt đất.
(c. 26 và 31)
Đó là năng lực của hạt lúa, đó là năng lực của hạt cải. Đúng là trong hai dụ ngôn nhỏ này, Đức Giê-su hình như xem nhẹ công sức của con người. Tuy nhiên, đó lại là sự thật của muôn đời: dù con người có cố mấy đi nữa cũng không thể thay thế được sức sống của thiên nhiên, dù hiểu biết khoa học của con người có tiến bộ mấy đi nữa cũng không thấu hiểu được thiên nhiên, nhất là sự sống trong thiên nhiên. Nhưng xét cho cùng, với những dụ ngôn này, Đức Giêsu không muốn dạy chúng ta về thế giới thực vật, nhưng Ngài mời gọi chúng ta hãy chiêm ngắm thiên nhiên để cảm nghiệm được năng lực ẩn dấu nhưng thật mạnh mẽ và kì diệu của Nước Thiên Chúa, của Hạt Giống Giê-su, ngang qua mầu nhiệm Vượt Qua, nẩy mầm, thành cây, trỗ đòng đòng và thành “bông lúa nặng trĩu hạt”.
Thật vậy, hai dụ ngôn hạt giống và hạt cải thật nhỏ bé và rất tự nhiên (nghĩa là không có những yếu tố “lạ thường” mà các dụ ngôn thường có), nhỏ bé và tự nhiên như chính hình thức (rất ngắn) và nội dung của dụ ngôn (hạt giống và hạt cải nhỏ bé khiêm tốn). Tuy nhiên, niềm hy vọng mà hai dụ ngôn này có thể khơi dậy nơi tâm hồn người nghe thì rất to lớn và rất siêu nhiên:
Niềm hy vọng to lớn. Bất chấp tất cả, bất chấp Sự Dữ, bất chấp những hoàn cảnh khó khăn hay bất lợi, bất chấp những giới hạn, yếu đuối, tội lỗi của loài người, của người khác, của anh em, của chị em và của chính chúng ta, bất chấp hạt giống rất nhỏ bé mong manh đang có trong thế giới, trong cộng đoàn và trong lòng chúng ta, Nước Trời mà chúng ta hy sinh cả đời để xây dựng trong đời sống dâng hiến, tất yếu sẽ hiện hữu, lớn mạnh và đạt tới sự viên mãn. Hình ảnh đồng lúa trĩu hạt và chín vàng và hình ảnh cây cải cành lá sum suê đến độ chim trời làm tổ trên cành được diễn tả sự viên mãn tất yếu của NT.
Niềm hy vọng siêu nhiên. Bởi vì đó chỉ có thể là công trình của Thiên Chúa, công trình kì diệu diễn ra trước mắt chúng ta. Thật ra, ngay trong tiến trình lớn lên tự nhiên của hạt lúa và hạt hạt cải đã có điều gì đó là siêu nhiên rồi, trong mức độ con người không thấu suốt và làm chủ được hoàn toàn.
Điều mà hai dụ ngôn này muốn diễn tả, đang được thực hiện cho cộng đoàn chúng ta, cho từng người chúng ta mỗi ngày ngang qua việc đọc và cầu nguyện với Lời Chúa, ngang qua Thánh Lễ được cử hành và ngang qua ngày sống được nuôi dưỡng bằng Lời và Mình của chính Đức Ki-tô. Từng ngày và từng ngày, dù bất cứ điều gì đã xẩy ra trong nội tâm của chúng ta, tất cả chúng ta, từng người và cả cộng đoàn, đã được Chúa gieo hạt giống. Hạt giống thật nhỏ bé và mong manh, nhưng tất yếu sẽ tạo nên mùa màng bội thu và trở nên to lớn và bền vững. Bởi vì đó là sức mạnh tất yếu của Lời Chúa. Hạt giống chính là Lời Chúa. Như chính Đức Chúa đã tuyên bố:
Lời TA, một khi xuất phát từ miệng ta, sẽ không trở về với Ta nếu chưa đạt kết quả, chưa thực hiện ý muốn của Ta, chưa chu toàn sứ mạng Ta giao phó.
(Is 55, 11)
Hạt Giống “Giê-su
Trong bữa tiệc li, theo Tin Mừng Gioan, Đức Giêsu nói: « Anh em là bạn của Thầy » và « Không có ai có tình yêu lớn hơn người từ bỏ sự sống cho những người bạn của mình » (Ga 15, 13-14). Qua hành vi trao bánh và rượu cho các môn đệ, qua hành vi rửa chân của các ông, Đức Giêsu muốn Phê-rô và tất cả chúng ta hiểu ra rằng Ngài không chỉ muốn gieo Lời của Ngài, nhưng còn muốn gieo chính bản thân của Ngài. Vì Lời của Ngài và Ngôi Vị của Ngài là một. Hạt giống là chính Đức Giê-su, là Sự Thiện và Sự Sống nơi Người, mạnh hơn Sự Dữ và Sự Chết, chính vì vậy mà sự viên mãn của Nước Trời là tất yếu.
Trong thiên nhiên, mầu nhiệm Nước Thiên Chúa được ghi khắc, và không chỉ mầu nhiệm Nước Thiên Chúa, nhưng đỉnh cao của mầu nhiệm Nước Thiên Chúa, nghĩa là mầu nhiệm Vượt Qua, cũng được khi khắc trong thiên nhiên, khi Đức Giêsu nói:
Thật, Thầy bảo thật anh em, nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác.
(Ga 12, 24)
Đức Giê-su ví lời của mình và chính bản thân mình với hạt giống. Như thế, trong thiên nhiên, còn ghi khắc mầu nhiệm Vượt Qua của Đức Kitô. Và nếu trong thiên nhiên, mầu nhiệm Nước Thiên Chúa và mầu nhiệm Vượt Qua được ghi khắc thật rõ nét, thì trong lịch sử loài người, trong thế giới và xã hội chúng ta đang sống và trong chính cuộc đời của mỗi người chúng ta, mầu nhiệm Nước Thiên Chúa và mầu nhiệm Vượt Qua còn được ghi khắc rõ nét hơn biết bao. Có thể nói, cuộc đời của chúng ta như thế đó cũng là một dụ ngôn nói về Nước Thiên Chúa, về mầu nhiệm Vượt Qua.
Xin cho con tim chúng ta bừng cháy, khi nhận ra “điều kín ẩn” này và quảng đại mở lòng ra để cho Chúa Thánh Thần hoàn tất mầu nhiệm Nước Thiên Chúa và mầu nhiệm Vượt Qua nơi cuộc đời của chúng ta.
Lm Giuse Nguyễn Văn Lộc
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây