Chuyện Gã Siêu Phần II Bài 51-100 Chuyện Phiếm

Thứ ba - 15/01/2019 10:12
Chuyện Gã Siêu Phần II Bài 51-100 Chuyện Phiếm
Chuyện Gã Siêu Phần II Bài 51-100 Chuyện Phiếm
Chuyện Gã Siêu Phần II Bài 51-100 Chuyện Phiếm
Chuyện Gã Siêu 51: MÈO 4. 2
Chuyện Gã Siêu 52: MÈO 3 : MÈO VỚI CHUỘT VÀ CHÓ.. 9
Chuyện Gã Siêu 53: MÈO 2. 17
Chuyện Gã Siêu 54: MÈO.. 21
Chuyện Gã Siêu 55: TÌNH KHÔNG BIÊN GIỚI 29
Chuyện Gã Siêu 56: CÒ.. 38
Chuyện Gã Siêu 57:  TẾT.. 45
Chuyện Gã Siêu 58: TRẺ VÀ GIÀ.. 52
Chuyện Gã Siêu 59: CON TRÂU VÀ TÌNH YÊU.. 59
Chuyện Gã Siêu 60: THÓI VŨ PHU.. 67
Chuyện Gã Siêu 61: CHUYỆN GÀ NĂM DẬU.. 71
Chuyện Gã Siêu 62: NĂM ẤT DẬU NÓI VỀ GÀ.. 79
Chuyện Gã Siêu 63: BÀN VỀ TÂY VÀ TA.. 89
Chuyện Gã Siêu 64: THẬP GIÁ CỦA NHỮNG ÔNG CHỒNG.. 98
Chuyện Gã Siêu 65: TỨ…SẮC.. 107
Chuyện Gã Siêu 66: TAM VÒNG.. 117
Chuyện Gã Siêu 67: LẤY VỢ.. 126
Chuyện Gã Siêu 68: ĐỒN THỔI 137
Chuyện Gã Siêu 69: ĐỨC ÔNG… CHỒNG.. 146
Chuyện Gã Siêu 70: THÂN PHẬN ĐỜN ÔNG.. 157
Chuyện Gã Siêu 71: CỌP VÀ NGƯỜI 166
Chuyện Gã Siêu 72: CỌP. 173
Chuyện Gã Siêu 73: NĂM NGỌ VIẾT VỀ NGỰA.. 179
Chuyện Gã Siêu 74: NĂM GIÁP THÂN, BÀN VỀ CON KHỈ 189
Chuyện Gã Siêu 75: CÓ TIỀN.. 197
Chuyện Gã Siêu 76:  TÌNH TẶC.. 207
Chuyện Gã Siêu 77: TỰ ÁI 216
Chuyện Gã Siêu 78: SỐ CÔ…... 225
Chuyện Gã Siêu 79: LƯỜI BIẾNG.. 235
Chuyện Gã Siêu 80: CÁI TÌNH LÀ CÁI CHI CHI ?. 244
Chuyện Gã Siêu 81: THẾ GIỚI KHÔNG ĐỜN BÀ.. 254
Chuyện Gã Siêu 82: NHỮNG KIỂU LÀM VỢ.. 263
Chuyện Gã Siêu 83: CÁI ĂN.. 274
Chuyện Gã Siêu 84: TẬT ĐỜN BÀ : NHỚ DÀI VÀ NÓI DAI 282
Chuyện Gã Siêu 85: NGHỈ 291
Chuyện Gã Siêu 86: NHẬU 1. 302
Chuyện Gã Siêu 87: ĐÀO HOA.. 313
Chuyện Gã Siêu 88: BỆNH ĐỜN ÔNG 1 : NỔ.. 321
Chuyện Gã Siêu 89: BỆNH ĐỜN ÔNG 2 : SỢ.. 331
Chuyện Gã Siêu 90: VỢ.. 342
Chuyện Gã Siêu 91: HẠNH PHÚC.. 352
Chuyện Gã Siêu 92: GÕ ĐẦU TRẺ.. 361
Chuyện Gã Siêu 93: MỖI NĂM ĐẾN HÈ.. 370
Chuyện Gã Siêu 94: TUỔI THƠ BỊ ĐÁNH CẮP. 379
Chuyện Gã Siêu 95: BỒ NHÍ 389
Chuyện Gã Siêu 96: NGƯỜI MẸ.. 400
Chuyện Gã Siêu 97: BỔN ĐẠO…MỚI 409
Chuyện Gã Siêu 98: BÀ XÃ.. 418
Chuyện Gã Siêu 99: VALENTINE VÀ NGƯỜI TÌNH. 428
Chuyện Gã Siêu 100: ĐỜN ÔNG CON GIAI. 438

 

Chuyện Gã Siêu 51: MÈO 4

MÈO 4 Chuyện Gã Siêu 51

Có một câu truyện vui nước ngoài với tựa đề “Nghỉ học vì con mèo tham ăn”, nội dung như sau Chuyện Gã Siêu 51

Có một câu truyện vui nước ngoài với tựa đề “Nghỉ học vì con mèo tham ăn”, nội dung như sau:
Để tăng tốc trong kỳ thi cuối cấp, thầy giáo đã đưa ra một qui định: Không ai được ra ngoài vì việc riêng, trừ việc đi vệ sinh mà thôi. Qui định được ban bố và thi hành trong một tuần, ai nấy đều nghiêm chỉnh chấp hành. Thế rồi một hôm, trong tiết của thầy giáo, một cậu bé học sinh đứng lên và xin phép:
- Thưa thầy, xin cho em ra ngoài ạ!
- Em ra ngoài có việc gì không?
- Thưa thầy, em xin ra ngoài để về nhốt con mèo nhà em lại.
- Việc đó có quan trọng bằng việc học của em không?
- Thưa thầy, nếu em không nhốt nó lại, chắc chắn em sẽ phải nghỉ học!
- Sao lại có chuyện như thế? Em hãy giải thích tại sao lại phải nghỉ học?
- Thưa thầy, nếu em không về nhốt con mèo nhà em lại, thì nó sẽ ăn hết thức ăn mà mẹ đã nấu cho bố trưa nay. Nếu bố em về mà không thấy gì, thì sẽ trách mẹ ở nhà không chu đáo. Mẹ chắc chắn sẽ cãi lại. Bố sẽ bỏ đi vì chán nản, còn mẹ thì sẽ buồn bã. Sau đó, bố và mẹ sẽ ly dị. Cuối cùng thì em sẽ bơ vơ, nên phải nghỉ học ạ.
Thầy giáo, nghe xong lập luận của cậu bé học trò, cũng toát hết cả mồ hôi hột, nên đành phải cho cậu bé ra ngoài. (St).
Điểm qua tình hình hiện hay, gã nhận thấy “dân số” dòng họ nhà mèo ngày càng bị giảm đi một cách thê thảm và không chừng sẽ dẫn tới một cuộc khủng hoảng trầm trọng, nhất là từ khi người ta quảng cáo rùm beng cho món “tiểu hổ”. Tệ trạng bắt mèo đã có từ lâu, nhưng bây giờ mới thực sự phát triển bằng những bước nhảy vọt khổng lồ. Đoàn quân bắt mèo lùng sục khắp các hang cùng ngõ hẻm để mua bán, đổi chác và…bắt trộm.
Toan Ánh, trong cuốn “Ăn trộm và nghệ thuật bắt trộm”, đã kể lại chuyện bắt mèo ngày xưa như sau:
“Bắt mèo ở đây có nghĩa đen, tức là bắt trộm mèo của người khác. Kể ra thì người ta bắt mèo làm gì? Ở nhà quê mèo vào nhà người ta còn cho là một điềm xấu, nên mới có câu: Mèo đến nhà thì khó, chó đến nhà thì giàu.
Mèo hoang ở nhà quê nhiều lắm và có khi ở tỉnh cũng nhiều. Nhà nào có nuôi mèo, cũng chỉ nuôi một hai con cho nó bắt chuột là nhiều. Nếu chẳng may có con mèo cái đẻ, người ta gọi cho bạn bè, hoặc cũng có khi người ta mang ra chợ bán rẻ được đồng nào hay đồng ấy.
Ai đã có dịp đi xe đò mà gặp một hành khách mang mèo, chắc cũng phải nhận thấy là xe đò không chịu chở mèo vì sợ xúi quẩy.
Vậy mà có kẻ đi bắt mèo, chúng bắt để làm gì? Xin thưa: Nguyên do là mấy năm chiến tranh thực phẩm khan, các hiệu cơm tây lại thường phải cung ứng cho khách ăn các món thỏ si-vê, mà thỏ thì kiếm không ra, khách ăn lại cứ đòi ăn. Các ông chủ hiệu đành phải làm phép biến hoá để có thể cho khách xơi. Các ông khách sành ăn, xơi thịt mèo, lại cứ cho là thịt thỏ, thấy nó vẫn ngon thơm, có khi thịt lại thấy bùi hơn món thỏ các ngài vẫn xơi ở nhà. Các ngài cho là đầu bếp ở hiệu nấu khéo và các ngài đã xơi thịt thỏ chính cống rồi.
Cũng vì các ngài khách sành ăn này mà các hiệu ăn phải đi kiếm mèo nhiều để có thịt thỏ bán cho khách. Chỉ oan cho lũ mèo! Và cũng do đó có nạn ăn trộm mèo ở nhà quê và ở cả tỉnh nữa.
Ngay tại Saigon, trước đây đã có bọn đi bắt mèo để bán cho các hiệu ăn, và các ngài sành ăn ở Saigon chắc chắn cũng đã xơi nhiều món thỏ chính cống nấu bằng thịt mèo rồi.
Muốn bắt mèo, bọn ăn trộm mèo lấy thức ăn mà dử. Trong khi mèo mải ăn, chúng chụp cho vào bị, hoặc cũng có khi chúng rật thòng lọng cho vào lồng.
Bắt mèo không nguy hiểm, vì thường những chủ nuôi mèo cũng ít khi để ý tới mèo. Người nuôi mèo không thấy mèo về, cho là nó đã đi đâu mất, không ai ngờ nó bị bắt trộm. Không có con mèo này thì nuôi con mèo khác, xin đâu chẳng được mèo con.
Bọn đi bắt mèo chỉ bắt những con mèo lớn vì các hiệu ăn cũng chỉ dùng những con mèo lớn để nấu giả làm thịt thỏ.
Chiến tranh xong, thỏ dễ mua, nhưng bọn đi bắt mèo vẫn không bỏ nghề, vì giá thỏ đắt hơn giá mèo, mà khách sành ăn xơi thịt mèo lại vẫn cứ khen ngon, thì các hiệu ăn vẫn cần mua mèo.
Mèo chết thay thỏ và bọn bắt mèo vẫn sống!”
Còn tác giả Lữ Khách trên “Giai phẩm xuân Tân Mão 2011” của báo Kiến Thức Ngày Nay đã viết về món “tiểu hổ” hiện giờ như sau:
“Vùng quê tôi có câu: “Dê núi Ninh Bình, cầy tơ Nam Định, tiểu hổ Thái Bình”. Chẳng biết từ bao giờ, quê lúa Thái Bình đã trở thành trung tâm của thịt mèo, cũng chẳng biết căn cứ vào sách vở nào, thịt “tiểu hổ”, (thịt mèo) luôn được quí ông khẩu truyền và tâm đắc như một món ăn quí, có tác dụng “bổ âm bổ dương, bổ giường bỏ chiếu”.
Các quan nhậu ở trung tâm thành phố Thái Bình không cần treo biển hiệu rầm rộ, chỉ cần nhốt vài con mèo ngoài cửa, rồi làm thịt ngay trên vỉa hè là khách nhậu ùn ùn kéo tới. Giá “tiểu hổ” gấp đôi món cầy tơ, nên các chủ quán sẵn sàng bỏ nghề cũ, mỗi đêm chỉ cần thịt chừng mươi chú mèo là sống khoẻ re…
Ăn thịt mèo chưa đủ, còn phải uống rượu mật mèo với giá 10.000đ/xị mới bảo đảm thành “đại sự”. Nghe đâu mật mèo cũng chẳng kém gì mật gấu, mật bò tót. Chủ quán đon đả với thực khách: “Mật gấu bây giờ là mật gấu nuôi nên lạt nhách. Bò tót thì tuyệt chủng hết rồi, nên phải dùng mật bò nhà làm giả. Bởi vậy, chỉ có mật mèo là nguyên chất nhất. Mà uống mật nó thì có khác gì mật hổ đâu, nó là tiểu hổ mà”. Ai cũng gật gù tán thưởng.
Nếu muốn tác dụng nhanh chóng và hiệu quả rõ ràng hơn, tốt nhất là uống rượu có ngâm bào thai mèo. Đắt giá nhất là “cao tiểu hổ” với giá 700-800 ngàn đồng/lạng, ngâm theo công thức 2 lít rượu/100g cao. “Tiểu hổ” là sư phụ của “Đại hổ, nên rượu “tiểu hổ cốt” uống vô là “bách bệnh tiêu tán, vạn bệnh tiêu trừ!?”…
“Tiểu hổ” cũng đã theo chân người miền Bắc tha phương tới miền Nam. Tôi đi trên đường Lê Hồng Phong, thành phố Nha Trang, thấy đã có nhiều quán treo biển “tiểu hổ 9 món”, “meo…meo”… Ở Saigon, món đặc sản này cũng đã cắm dùi ở Gò Vấp và nhiều nơi khác.
Có cầu ắt có cung, để bảo đảm “hậu cần” cho hàng chục ngàn quán nhậu lớn nhỏ, đã hình thành mạng lưới thu mua, vận chuyển, đại lý hoàn chỉnh. Có những đoàn quân đông đảo do lực lượng chuyên rong mua chó “kiêm nhiệm”, đi khắp các xóm làng hẻo lánh với câu rao: “Ai có mèo đực theo cái, mèo gái theo trai…bán – mua”. Miền Bắc cạn nguồn, đoàn quân này “Nam tiến”, từ mua bán đến đổi xoong nhôm, kể cả bắt trộm. Chưa ai thống kê được mỗi ngày có bao nhiêu chú mèo lên bàn nhậu, nhưng cứ nhìn số lượng mèo bị giết ở những hàng quán tại các tỉnh, thành phố lớn, có thể ước tính cứ 24 giờ trôi qua, cả ngàn kiếp mèo được giải thoát để phục vụ cho “mục đích cao cả” của quí ông.
Thịt mèo ngon bổ đâu chưa biết, nhưng có lẽ cần đưa thêm chút thông tin sau: Một chuột đồng trong vòng 1 năm có thể sinh 80 chuột con, và cứ 2 tháng lại có 1 thế hệ chuột tham gia sinh sản. Mỗi năm, một đôi chuột có thể trực tiếp và gián tiếp cho “ra lò” 2.160 con chuột. Và nếu cánh đồng có 1.000 con chuột, thì mỗi ngày sẽ đẻ thêm 6.000 con. Vắng bóng mèo, chuột sẽ hoành hành”. Lúc bấy giờ đại hoạ sẽ xảy ra cho bàn dân thiên hạ”.
Khoa học cũng như lịch sử đã cho thấy sự thực là như vậy. Một nhà sinh vật học nổi tiếng người Anh, khi nghiên cứu nguyên nhân mất mùa của cây cải dầu, đã kết luận là do số mèo giảm theo cơ chế như sau: Mèo giảm, thì chuột tăng; chuột tăng sẽ phá tổ ong làm cho ong giảm; ong giảm thì việc thụ phấn cho hoa cải dầu cũng giảm, và thế là dẫn tới mất mùa.
Vào thời Trung cổ, ở châu Âu đã từng xảy ra dịch hạch lớn, cướp đi 20 triệu mạng sống, tương đương với 60% dân số lúc bấy giờ. Nguyên nhân là do người châu Âu lúc đó cho rằng mèo là tay chân của phù thuỷ, nên phải tận diệt, tạo cơ hội cho giống chuột châu Phi hoành hành, mang lại thảm hoạ cho loài người. Chính vì vậy mà mèo dần dần được phục hồi danh dự.
Đối với người Việt Nam, mèo không phải chỉ là con vật thân thương và gần gũi với con người, được nuôi trong nhà để bắt chuột, mà hơn thế nữa mèo còn là một trong số rất ít những con vật được dùng làm hình ảnh tượng trưng cho con người, thậm chí còn được đồng hoá với con người. Gã xin được kể ra như sau:
 
Trước hết, mèo được dùng làm hình ảnh tượng trưng cho con gái.
Sở dĩ như vậy là vì giữa con gái và con mèo có nhiều điểm rất giống nhau. Thực vậy, trong một cuộc hội thảo bàn tròn chung quanh vấn đề này, những anh con giai đã nhao nhao phát biểu ý kiến.
Anh thì bảo:
- Con gái bình thường rất ư là hiền lành, thậm chí còn nhõng nhẽo với mình bằng đôi mắt nai long lanh. Nhưng khi bức tức ấy hả? Con gái cũng giống như con mèo: gầm gừ, xù lông, không chừng còn nhe răng, làm cho mình, như chú chuột nhắt, hết sức sợ hãi, chỉ thầm mong sao thoát khỏi móng vuốt của nàng mà thôi. Cãi lời là bị lườm nguýt thấu đến tận tim gan phèo phổi. Lơ mơ là còn bị ăn đòn nữa chứ!
Anh thì nói:
- Con gái cũng giống như con mèo, khi kêu meo meo thì thật dễ thương, nhưng động vào là nó cào cho chết luôn. Và khi bị con gái cào thì chẳng khác chi bị mèo cào vậy!
Anh thì xác quyết:
- Con mèo rất hay ăn vụng và con gái cũng rứa. Hễ nhìn thấy cái gì ăn được, thì thế nào cững phải đưa tay bốc.
Anh thì cho rằng:
- Con mèo là chúa lười và hay ngủ dạy muộn. Con gái cũng giống như vậy.
Sau cùng một anh đã nhận xét:
- Con mèo và con gái đều hay nói “meo”. Chẳng hạn khi kiến bò bụng thì con gái thường nói với con trai: Tớ đói meo rồi đó. Có phải vì vậy mà con mèo bắt chước con gái, cứ suốt ngày kêu meo meo!
 
Tiến đến, mèo được đồng hoá với bồ nhí.
Có lần gã đã hỏi một ông thầy người Pháp:
- Tiếng Việt đối với ngài dễ hay là khó?
Ngài bèn trả lời:
- Tôi là người Pháp, nếu học tiếng Ý, hay tiếng Tây Ban Nha thì chỉ mất có ba bốn tháng. Nếu học tiếng Anh thì chỉ mất sáu bảy tháng. Nếu học tiếng Đức thì chỉ mất hơn một năm. Nếu học tiếng Do Thái thì chỉ mất hai năm. Nếu học tiếng Tàu thì chỉ mất ba năm. Còn học tiếng Việt ấy hả. Đã mất bốn năm rồi mà vẫn chưa ăn thua gì. Thậm chí đã viết ra giấy, thế mà khi đọc lên, thiên hạ vẫn cứ cười ồ!
Cũng vì thế mà ngày xưa, các vị cố Tây qua Việt Nam để truyền đạo, tiếng Việt của các ngài không được thông thạo cho lắm, nên nhiều khi đã gây ra những hiểu lầm, buồn cũng có mà vui cũng có, thậm chí còn cười ra cả nước mắt cũng có. Đặc biệt là câu chuyện mà tôi thường được nghe kể sau đây:
Có một chàng thanh niên, khi vào xưng tội với vị cố Tây, anh ta đã nói rằng:
- Thưa cha, con đã có một vợ và hai đứa con thơ, con rất thương vợ và thương các con của con, nhưng mà con đã phạm một tội nặng lắm cha ạ!
Vị cố Tây bèn an ủi:
- Chúa nhân từ, con cứ việc xưng.
Chàng thanh niên lắp bắp:
- Dạ thưa cha, con đã có vợ mà lại còn có mèo nữa ạ!
Vị cố Tây bèn ôn tồn nói:
- Có mèo thì sao? Cha cũng có mèo mà!
Cái rắc rối mà vị cố Tây này không “ngộ” ra được: Mèo có khi chỉ là một con vật, có khi lại là một con người, và nó được đồng hoá với “bồ nhí”. Vậy thế nào là bồ nhí?
Trước hết bồ có nghĩa là phe cánh, chẳng hạn như khi đánh bạc, người ta thường cặp bồ, hay bắt bồ mí nhau. Còn trong ngôn ngữ dân gian, thì bồ có nghĩa là bạn thân. Riêng trong mối liên hệ giữa đờn ông và đờn bà, giữa con giai và con gái, bồ còn có nghĩa là người tình hay người yêu.
Tiếp đến là chữ nhí. Nếu gã không lầm thì chữ nhí, dưới một góc cạnh nào đó, cũng đồng nghĩa với chữ nhỏ. Lê văn Đức trong “Việt Nam Tự điển” còn chua thêm một nghĩa nữa cho chữ nhí, đó là lẳng lơ và liến xáo, chẳng hạn như nhí nhảnh
Tuy nhiên, có bồ, có người tình hay có người yêu thì khác với có mèo hay có bồ nhí. Bởi vì loại có trên thường là công khai, hợp pháp và mang nhãn hiệu trình tòa hẳn hoi, còn loại có dưới, thì bao giờ cũng thầm lén, vụng trộm, chui lủi và bất hợp pháp.
Theo các nhà tâm lý, thì đối với một số những người đờn ông đã lập gia đình, thì thích “có mèo” hay có “bồ nhí” là một khuynh hướng bẩm sinh, khó mà cưỡng lại được. Ngay cả những ông chồng “siêu tốt” cũng phải trầy da tróc vẩy, thế mà chưa chắc đạt được điểm cao cho môn đạo đức hôn nhân. Một công ty thám tử tư, sau nhiều dịch vụ rình mò, đã hùng hồn công bố kết quả của họ là 99% đàn ông đã kết hôn vẫn có hay vẫn thích có bồ nhí. Đàn ông 18 tuổi, thì tìm kiếm một cô gái cùng trang lứa, năm 40 tuổi các chú này vẫn yêu cô gái 18, và cho đến năm 60 hay 70 các cụ này vẫn không thay đổi lập trường, trước sau như một, vẫn chọn cô gái 18 nếu có thể. Đàn ông là như thế. Họ khó chung thuỷ với bà xã, nhưng luôn chung thuỷ với bản thân mình. (Đẹp).
Vậy tại sao các ông chồng lại thích có mèo, hay ưa có bồ nhí? Xin thưa chỉ vì bồ nhí thì giống mèo và mèo thì cũng giống bồ nhí. Gã xin đưa ra một vài điểm của sự giống nhau ấy.
1- Mèo ít khi gầm gừ, nhe răng hay dương móng vuốt, trái lại luôn dịu dàng kêu meo meo nghe thật êm tai. Bồ nhí cũng vậy, ít khi cáu gắt hay quát tháo ầm ĩ, nhưng luôn âu yếm, thật êm dịu và dễ chịu.
2- Mèo bao giờ cũng sạch sẽ. Bồ nhí cũng vậy, lúc nào cũng thơm tho.
3- Mèo thích được mơn trớn. Bồ nhí cũng vậy, ưa được vuốt ve và thường xuyên nũng nịu.
4- Mơn trớn mèo mang lại cảm giác mềm mại. Bồ nhí cũng vậy, vuốt ve bồ nhí làm cho sung sướng.
5- Mèo ăn uống nhỏ nhẹ. Bồ nhí cũng vậy, ăn uống rất từ tốn, có nghĩa là bồ nhí nhiều khi ăn rất từ từ, nhưng lại vô cùng tốn kém, thế mà ông xã vẫn cứ cho là chuyển nhỏ, không đáng kể.
6- Mèo biết tỏ ra vâng lời. Bồ nhí cũng vậy, luôn cưng chiều khiến ông xã tưởng mình là chúa tể sơn lâm.
7- Nếu chẳng may bị mèo cào, thì chỉ xót xa tí chút. Cũng vậy, nếu chẳng may bị bồ nhí giận hờn, thì cũng chỉ thêm thi vị cho cuộc sống mà thôi.
Càng suy nghĩ, chúng ta càng tìm ra được nhiều điểm giống nhau giữa mèo và bồ nhí. Cũng chính vì vậy mà các ông chồng, vợ con đàng hoàng, thế mà vẫn cứ thích có mèo, vẫn ưa đèo bòng bồ nhí. Đối với các chuyên gia trong lãnh vực gỡ rối tơ lòng, thì đây chỉ là chuyện thường ngày ở huyện, nhưng đối với các bà xã, thì đây quả là một hung tin, bởi vì khi dựng nên người đàn bà, Thượng đế đã cài đặt sẵn trong tâm can tì phế của họ một chương trình ghen và đánh ghen, như Hoạn Thư đã từng phân bua:
- Rằng tôi cũng thể đàn bà,
  Ghen tuông thì cũng người ta thường tình.
Cac bà vợ bị phản bội luôn cần đến một quân sư quạt mo, giúp họ những phương thế “trị mèo”, nhưng tại các trung tâm tư vấn, họ chỉ nhận được những lời khuyên chung chung, chẳng hạn như phải bình tĩnh và sáng suốt, phải biết tự trọng và cư xử cho có văn hoá. Nhưng làm sao có thể đàng hoàng với những kẻ đã không đàng hoàng với mình bây giờ đây?
Tuy nhiên, sự quyết định của các bà vợ, hành động mà các bà định làm, sự ra tay hay xuất chiêu của các bà mới thực sự quan trọng, ảnh hướng sâu xa tới kết quả: Một là sẽ đưa các ông chồng “trở về mái nhà xưa” cách an toàn, hai là vợ chồng sẽ ca bản đường ai người ấy đi vì tình nghĩa đôi ta chỉ có thế mà thôi.
Làm sao trị được mèo bây giờ đây?
Gã Siêu 

 

Chuyện Gã Siêu 52: MÈO 3 : MÈO VỚI CHUỘT VÀ CHÓ

MÈO 3 : MÈO VỚI CHUỘT VÀ CHÓ Chuyện Gã Siêu 52

Cách đây không lâu trên báo “Tuổi Trẻ Cười”, một độc giả đã nêu lên câu hỏi như sau: “Tôi sinh Chuyện Gã Siêu 52

Cách đây không lâu trên báo “Tuổi Trẻ Cười”, một độc giả đã nêu lên câu hỏi như sau:
“Tôi sinh năm 1975, mẹ tôi bảo tuổi Mẹo, cầm tinh con mèo, cha tôi thì bảo tuổi Mão, cầm tinh con thỏ. Như vậy có phải Mão là thỏ, còn Mẹo là mèo hay không? Đến nay tôi biết trong 12 con giáp không có con thỏ. Vậy năm 2011 này, gọi là Tân Mão hay Tân Mẹo, cầm tinh con thỏ hay con mèo?”
Và Cô Tú, chủ “quán Mắc Cở”, đã trả lời như sau:
“Theo cách tính của âm lịch, lịch Can-Chi, thì Tí, Sửu, Dần, Mão… là 12 chi. Người làm lịch chọn cho mỗi chi một con vật làm biểu tượng. Ví dụ: Tí biểu tượng là con chuột. Sửu biểu tượng là con trâu… Cần hiểu rằng: Theo chữ Hán, Tí không có nghĩa là chuột và Sửu cũng không có nghĩa là trâu. Tương tự như vậy, Mão không phải là mèo và cũng không phải là thỏ. Riêng từ Mẹo là tiếng Việt thì rất có thể do từ mèo mà ra.
Âm lịch của người Trung Hoa có rất sớm, khoảng đời nhà Thương (thế kỷ 16 TCN). Khi ấy nước Trung Hoa chưa có mèo thuần dưỡng, chỉ có loại mèo rừng. Hầu hết giống mèo thuần dưỡng đều có nguồn gốc từ Ai Cập. Châu Âu mãi đến thời Trung Cổ mới biết nuôi mèo. Vì chưa có mèo, nên các nhà làm lịch Can-Chi của Trung Hoa lấy con thỏ làm biểu tượng cho chi Mão.
Khi người Việt Nam biết sử dụng lịch Can-Chi, thì dân ta đã nuôi mèo, nên các nhà làm lịch người Việt bèn linh động, dùng con mèo làm biểu tượng thay thế con thỏ, vì lẽ con mèo gần gũi hơn. Hiện nay, người Hoa vẫn nói rằng tuổi mão cầm tinh chon thỏ, còn người Việt thì tuổi mão cầm tinh con mèo”.
Tác giả Lữ Khách, trên báo Kiến Thức Ngày Nay trong giai phẩm xuân Tân Mão, cũng cùng một quan điểm như trên, nhưng lại thêm một câu hỏi: Tại sao người Trung Quốc không nêu biểu tượng con mèo?
Tương truyền rằng:
Ngày xửa ngày xưa, Ngọc Hoàng tuyên triệu các loài vật lên thiên đình để được chọn lựa và thụ phong 12 con giáp. Mèo và chuột đều “quá giang” trên lưng bác trâu tốt bụng. Khi bơi qua sông Ngân Hà, chú chuột láu cá đẩy chú mèo xuống nước. Lúc chú mèo ngoi lên được, thì đã trễ, xếp thứ 13, nên phải ra rìa. Bác trâu cần cù, dẫn đầu đoàn quân, nhưng khi đến cửa thiên đình, chú chuột bèn nhảy phóc qua đầu bác trâu, thành ra được xếp thứ nhất trong 12 con giáp. Cũng từ đó, mèo thấy chuột là phải vồ bằng được cho hả giận.
Đó là truyền thuyết dân gian, còn các nhà khảo cổ thì cho rằng sở dĩ Trung Quốc vốn không dùng biểu tượng mèo là vì mèo mới chỉ được du nhập vào Trung Quốc từ đời Minh Đế (43-61) nhà Đông Hán, cách thời điểm phát minh ra 12 con giáp đã trễ gần 200 năm, nên không có chỗ đứng. Còn Mông Điểm đời Tần Thuỷ Hoàng (220-207 TCN) đã sử dụng lông thỏ làm ra bút lông, chứng tỏ giả thuyết trên là có lý.
Mèo thấy chuột, thì phải vồ cho bằng được. Vồ được rồi, thường không cắn chết hoặc xơi tái ngay, trái lại còn vờn tới vờn lui, đùa giỡn hồi lâu và cảm thấy thích thú trên sự sợ hãi và đau đớn của chuột. Tìm hiểu về mối thù truyền kiếp của mèo đối với chuột, gã ghi nhận được một vài mẩu truyện sau đây.
Mẩu truyện thứ nhất:
Ngày xửa ngày xưa, chuột vốn là một giống linh thiêng được ở trên thiên đình. Trời trao cho nó giữ chìa khóa kho lúa của Trời. Nhưng chuột không phải là loài đáng tin cẩn, nhân được giữ chìa khóa, cứ tự do đến mở kho, rủ nhau vào ăn rả rích hết bao nhiêu là lúa.
Sau Trời biết được, lấy làm giận lắm, mới không cho ở trên ấy nữa, mà đuổi xuống dưới hạ giới để giữ chìa khóa lẫm thóc của nhân gian. Nhưng chứng nào tật ấy, chuột lại rủ nhau vào lẫm thóc của người, rả rích ăn. Đến nỗi người đã phải than rằng:
- Chuột kia xưa ở nơi nào? 
  Bây giờ ăn lúa nhà tao thế này?
Người lấy làm chua xót, mới kêu với vua Bếp. Vua Bếp liền bắt chuột đem lên trả cho Trời và tâu rằng:
- Chuột này vốn ở thiên đình, sao Trời lại thả nó xuống hạ giới làm chi?
Trời nói:
- Ừ, trước kia nó ở trên này giữ chìa khoá kho thóc cho ta. Nhưng bởi nó ăn vụng lúa của ta nhiều lắm, nên ta không cho nó ở trên này nữa, mà đuổi nó xuống hạ giới, cho nó giữ kho lúa ở dưới ấy.
Vua Bếp tâu:
- Xuống dưới ấy, nó lại ăn vụng lúa hại lắm. Bẩm chúng con thiết nghĩ: lúa của Trời thì nhiều, mà lúa của người thì ít, của Trời nó ăn không hết, chớ của người nó cứ ăn mãi, thì có ngày sẽ hết, và người người đến phải chết đói mất. Vậy xin bây giờ trả lại nó cho Trời.
Trời nghe tâu, bèn phán:
- Không được. Ta đã đuổi nó đi cho xa, nên không thể lại để nó lên đây một lần nữa. Thôi bây giờ ta đã có cách: con mèo của ta, ta cho ngươi đem xuống hạ giới, để khi nào lũ chuột ăn lúa của nhân gian, thì ngươi hãy thả nó ra cho nó bắt chuột, rồi gầm gừ mà ăn chuột đi; còn khi nào nó không muốn bắt chuột, thì ngươi bảo nó cứ kêu toáng lên rằng: “Nghèo, nghèo, nghèo", ắt chuột sẽ phải sợ nó mà bỏ đi.
Vua Bếp lạy tạ, rồi lại đem cả chuột lẫn mèo xuống trần gian. Và cứ theo như lời dạy mà làm. Thành thử, hễ khi nào rình bắt được chuột, thì mèo cứ "gầm gừ, gầm gừ". Còn khi nào không bắt được chuột, thì mèo cứ vô tư kêu: "Nghèo, nghèo, nghèo!”
Những lúc ấy, mèo hồi nghĩ lại, mới lấy làm giận vua Bếp, vì tại vua Bếp mà mèo mới phải xuống dương gian. Nhưng không làm gì nổi vua Bếp, nên mèo chỉ còn cách thỉnh thoảng vào giữa đống tro trong bếp mà phóng uế.  (VietFun Story).
Mẩu truyện thứ hai:
Ngày xưa, mèo và chuột đều chung sống hòa bình và đều biết nói tiếng của loài người. Nhưng bản tính của hai loài vật này quá khác nhau, nên mâu thuẫn nảy sinh và ngày càng trầm trọng.
Hôm nọ, trong một nhà kia, chủ nhà bực bội vì mâm thức ăn mình chưa đụng đũa đến nhưng đã thấy thất thoát. Vừa nghe chủ nhà quát tháo, mèo đã uốn éo đến cạ mình vào chân ông chủ và nói:
- Ông xem thử dấu răng nham nhở trên miếng thịt kia là của ai?
Quá dễ, chủ nhà thấy ngay đó là dấu răng chuột nên bèn lôi lũ chuột ra nện cho một trận. Chuột chúa kêu oan inh ỏi:
- Ông ơi, đúng là tụi con có tội. Ông nghĩ mà xem, cả đám tụi con vì đói nên phải ăn vụng, nhưng cũng chỉ hết có chút xíu thịt. Còn lão mèo ấy à, lão giở cả lồng bàn lấy đi nguyên con cá to. Chẳng qua lão ấy khéo quá nên ông không phát hiện mà thôi!
Mèo bèn gầm gừ:
- Bằng chứng đâu mà bọn mày dám bảo ta ăn nguyên con cá to?
Bực mình với hai tên kẻ cắp, ông chủ bèn tát mỗi con một cái cực mạnh khiến cả hai mất luôn khả năng nói và hiểu tiếng người. Từ đó, mèo và chuột trở thành kẻ thù truyền kiếp của nhau. Có điều chuột thì luôn bị săn đuổi, đánh đập, còn mèo thì vẫn nhơn nhơn thân cận với con người! Nhiều lúc buồn tình đời, chuột triết lý:
- Mình phá cả đời cũng không bằng hắn xơi một quả. Vậy mà lúc nào tiếng xấu cũng thuộc về mình. Đúng là con người nói chớ có sai: Lý thuộc về kẻ mạnh!” (Bút Bi, báo Tuổi Trẻ).
Từ mối thù truyền kiếp này, hễ thấy chuột là mèo phải rình bắt cho bằng được. Bắt được rồi, thì cứ từ từ mà xơi tái. Bởi vì thịt chuộc là một món ăn bổ dưỡng, giúp cho mèo được sáng mắt. Thực vậy, theo các nhà khoa học nghiên cứu thì để duy trì sức nhìn vào ban đêm, mèo cần phải ăn thịt chuột, vì trong thịt chuột có rất nhiều chất taurine, giúp cho hoạt động của các tế bào hình nón cảm nhận được ánh sáng yếu. Và hơn thế nữa, thịt chuột còn là một món ăn khoái khẩu cho loài mèo. Một món ăn tuyệt vời, ngon ơi là ngon. Do đó mới có truyện:
Một con mèo chết đi và đưa lên thiên đường, Thượng đế hiện ra và nói:
- Con là một con mèo tốt khi còn sống. Bây giờ con mong ước gì, thì sẽ được nấy.
Con mèo nói:
- Con sống trong một gia đình nghèo khó, suốt cuộc đời phải ngủ trên sàn gỗ cứng.
Thượng đế mỉm cười:
- Sẽ không còn thế nữa.
Dứt lời, một chiếc gối nệm rất êm được mang đến. Vài ngày sau, có mấy chú chuột cũng chết và được đưa lên thiên đường. Thượng Đế cũng ban điều ước cho chúng. Lũ chuột lao nhao:
- Cả đời bọn con cứ phải chạy, chạy suốt. Bọn con bị mèo, chó và cả các quý bà với cây chổi trên tay rượt đuổi suốt thôi. Tụi con ước gì mình có được đôi giày patin để đỡ phải chạy.
Thượng đế mỉm cười:
- Như chúng con đã ước.
Thế là mỗi chú chuột đều có một đôi giày patin mới toanh. Vài tuần sau, Thượng đế đi thăm chúng sinh trên thiên đường. Ghé ngang qua chỗ mèo, ông thấy chú mèo đang ngủ ngon lành trên gối nệm. Thượng đế đến khẽ lay mèo dậy và hỏi:
- Con khoẻ chứ? Con có thấy vui không?
Chú mèo vươn vai và rên ư ử ra chiều thích thú:
- Trong đời mình con chưa bao giờ hạnh phúc như thế này. Và đặc biệt mấy bữa ăn ngài để trên bánh xe mà gửi xuống cho con, thì thật là tuyệt vời! (xaluan.com).
Trong lúc mèo mang nối thù truyền kiếp đối với chuột, thì mèo lại bị chó “ghét cay ghét đắng, ghét vào tận tâm”. Thực vậy, rất nhiều phen gã đã bị lũ chuột quấy phá. Chuột lớn thì cắn lúa ngoài ruộng, ăn thóc trong bồ, chuột nhắt thì cắn rách áo quần. Thậm chí nó còn chui vô máy vi tính và gậm nhấm từng sợi dây điện. Để diệt bớt loài chuột, đánh thuốc thì không ổn, bởi vì chuột ăn phải bả, sẽ nằm chết ở một kẹt góc nào nó, bốc mùi hôi thối không chịu nổi. Còn đánh bẫy thì chỉ được một vài con vào đêm đầu mà thôi, sau đó nó khôn ra, không chịu chui đầu vào cho bẫy sập nữa. Vì vậy, kế sách hay nhất là phải nuôi mèo.
Tuy nhiên, nuôi được một hai con mèo trong nhà không phải là chuyện dễ, nhất là khi trong nhà đã có dăm ba con chó. Có người đã từng phải đi xin hay đi mua, mèo lớn cũng có mà mèo nhỏ cũng có, thế nhưng cũng chỉ được dăm bữa nửa tháng, tất cả những con mèo đem về đều bị chó rượt đuổi tới cùng và cắn chết. Sự ghét cay ghét đắng này có nguồn gốc như sau:
Ngày xửa ngày xưa, chó và mèo gặp nhau trong rừng, chúng nhìn thấy đối phương và khá hài lòng về người bạn mới, trong đầu chúng nghĩ sẽ có một mối quan hệ tốt với "kẻ kia". Và vì thế, chó vẫy đuôi biểu hiện sự vui vẻ. Tín hiệu này thật dễ hiểu đối với người yêu chó và họ cũng biết nếu chó gầm gừ thì chúng đã sẵn sàng chiến đấu.
Nhưng mèo lại không cho là vậy. Từ nhỏ mỗi lần bú sữa mẹ, chúng phát ra tiếng gừ gừ nho nhỏ trong miệng nhằm báo cho mẹ biết mình đã nhận được sữa, đồng thời thể hiện sự thích thú. Khi lớn lên, mèo đem nguyên ký ức của mình làm thành một thói quen, và để tỏ ra thân thiện mèo đã gừ gừ.
Ôi, chó lại cứ tưởng mèo đang muốn gây sự với mình. Nhưng nếu bạn nào yêu mèo thì sẽ rõ khi sắp xung trận, mèo sẽ lắc đuôi liên tục. Hoá ra trong tình huống ấy, mèo đã nghĩ chó muốn tấn công mình. Từ đó, chó mèo không đội trời chung. Chỉ vì sự hiểu lầm đáng tiếc mà lý ra hai kẻ rất hợp làm bạn tâm giao lại trở thành kẻ thù.
Sự hiểu lầm này hoá ra chỉ vì chúng dùng những cảm giác và những tư duy của mình để suy đoán kẻ khác, mà không hề cố gắng tìm hiểu tâm hồn và những mong ước của kẻ khác loài kia. (Sưu tầm).
Cũng có truyện khác kể lại rằng:
Một ngày nọ, mèo và chó bị bắt vào ngục của Diêm vương vì đã cắn nhau một trận nảy lửa cho đến chết. Sau một thời gian thu thập nhân chứng, vật chứng đầy đủ, công tố viên, tức Mít tờ Phán quan, quyết định chuyển giao vụ việc khởi tố lên Diêm Vương. Sau đây là bài tường thuật trực tiếp buổi xét xử chó và mèo.
Diêm Vương hỏi Mèo:
- Trong cáo trạng của Mít tờ phán quan thì mèo cắn chó trước! Tức là mèo gây sự trước. Tại sao?
-Tại vì con thù nó
- Tại sao mèo thù nó?
- Tại vì nó cắn con
            - Tại sao nó cắn mèo?
- Tại vì nó thù con.
- Tại sao nó thù mèo?
- Tại vì con cắn nó.
- Tại sao mèo cắn nó?
- Tại vì con thù nó.
- Thế ta hỏi tại sao mèo thù nó?
- Tại vì nó cắn con.
- Thế tại sao nó cắn mèo?
- Tại vì nó thù con.
Nghe thiên hạ đồn rằng: Kể từ lúc loài chó và loài mèo được sinh ra và vụ án được khởi tố, Diêm vương vẫn chưa xử xong. Chính vì thế mà loài mèo và loài chó vẫn còn rất ghét nhau vì không quên được mối cựu thù năm xưa mà đến nay lời giải đáp vẫn chưa được ngã ngũ.
Dĩ nhiên, cũng có những con mèo và những con chó sống chung hoà bình với nhau, như những người bạn chân thành. Neta-li Feuerstein và các cộng sự viên của ông tại Đại học Tel Aviv, Israel, đã phỏng vấn 170 gia đình nuôi chó và mèo. Phần lớn họ đều cho biết hai loài vật có thể sống thân mật với nhau. Sự dửng dưng chỉ chiếm 1/4 và tình trạng đấu đá xảy ra chưa tới 1/10. Sự hòa hợp sẽ ở mức độ cao khi con mèo được nuôi trước con chó và khi chúng gặp nhau lúc con mèo chưa tới 7 tháng tuổi và con chó thì chưa được 1 năm tuổi. (M.T. theo Livescience).
Mối liên hệ tay ba giữa chuột mèo và chó làm cho gã nhớ tới một câu truyện trong sách Cổ Học Tinh Hoa, đại khái nhự thế này:
Vua nước Ngô muốn đem quân đi đánh nước Kinh. Đã nhiều người can ngăn, nhưng vua nhất định không nghe. Sau lại hạ lệnh rằng:
- Ai can ta đánh nước Kinh, thì sẽ bị xử tử.
Có một viên quan trẻ tuổi, muốn can ngăn mà không dám nói. Luôn ba ngày, cứ sáng sớm cầm cung tên đến đứng vườn sau nhà vua, sương ướt đẫm cả áo. Hôm thứ ba, vua gặp, mới hỏi:
- Người đến đây làm gì mà để sương xuống ướt cả áo như thế?
Viên quan thưa rằng:
- Trong vườn có một cây cổ thụ, chót vót trên ngọn cây, có con ve sầu hút gió, uống sương, rả rích kêu cả ngày, tưởng đã được yên thân lắm. Biết đâu, đằng sau có con bọ ngựa đang giơ hai càng chực bắt. Chính con bọ ngựa muốn bắt con ve sầu, lại biết đâu đằng sau có con chim sẻ nghển cổ chực mổ. Chính con chim sẻ muốn bắt con bọ ngựa, lại biết đâu dưới gốc cây có tôi cầm cung tên chực bắn. Chính tôi đây muốn bắt con chim sẻ mà không biết sương đã xuống ướt đẫm cả áo… Như thế đều chỉ vì tham cái lợi trước mắt mà quên hẳn cái hại ở ngay sau lưng vậy.
Vua nghe nói tỉnh ngộ, bèn thôi không đánh nước Kinh nữa.
Và tác giả đã thêm vào câu chuyện lời bàn như sau:
- Thế mới hay ở trên đời, ngay cả đến loài vật cũng chỉ rình hại lẫn nhau, nuốt lẫn nhau mà thôi. Nhưng biết đâu trong khi mình muốn nuốt người, lại có kẻ khác muốn nuốt mình, mình chỉ ham mê trục cái lợi trước mắt, mà không phòng bị cái hại sau lưng. Mà khi tai hại nó đã xảy đến, thì chẳng những không thấy lợi đâu, lại thiệt thân mình trước. Cho nên người khôn thấy cái lợi, thì lo cả đến cái hại, lợi bất cập hại thì không bao giờ làm.
Trước thềm năm mới, gã xin mượn lời của tiên tri Isaia mà vẽ ra một tương lai an bình thịnh vượng:
Lúc bấy giờ: Sói sẽ ở với chiên con, beo nằm bên dê nhỏ. Bò tơ và sư tử non được nuôi chung với nhau, một cậu bé sẽ chăn dắt chúng. Bò cái kết thân cùng gấu cái, con của chúng nằm chung một chỗ, sư tử cũng ăn rơm như bò. Bé thơ còn đang bú giỡn chơi bên hang rắn lục, trẻ thơ vừa cai sữa thọc tay vào ổ rắn hổ mang. (11,6-8).
Người với người sẽ không còn cấu xé lẫn nhau theo kiểu: Cá lớn nuốt cá hé. Hay theo kiểu: Anh như con chó, em như con mèo, hai con cắn nhau. Nhưng sẽ thực sự sống chung trong yêu thương và tôn trọng lẫn nhau. Và hoà bình sẽ mỉm cười với trái đất này.
Gã Siêu 

 

Chuyện Gã Siêu 53: MÈO 2

MÈO 2 Chuyện Gã Siêu 53

Mão, miêu hay mèo đó là một loại thú nhỏ thuộc giống ăn thịt, lông mềm, râu trắng, cứng và Chuyện Gã Siêu 53

Mão, miêu hay mèo đó là một loại thú nhỏ thuộc giống ăn thịt, lông mềm, râu trắng, cứng và cử đôäng được, vấu bén, mình nhẹ, leo giỏi và có tài bắt chuột. Có lẽ chính nhờ tài bắt chuột mà mèo được nhiều người, nhất là nông dân ưu ái muôi ở trong nhà. Đối với lũ chuột thì mèo chính là đại vương sư tử. Người tàu thì bảo:  Sát nhất miêu, cứu vạn thử. Nghĩa là giết được một con mèo thì cứu được vạn con chuột. Còn người tây thì nói: Absent le chat, les souris dansent. Đã có lần gã quan sát khi chuột thấy mèo thì hình như tứ chi bị tê liệt, co rúm và bất nhóc nhách. Mặc dù mèo có làm ngơ, ngoảnh mặt đi, thì chuột cũng không thể chạy thoát khỏi móng vuốt của mèo. Hồi còn bé, gã được học về một câu chuyện ngụ ngôn mang tựa đề là “Hội đồng chuột”. Câu chuyện ấy đại khái như thế này:
Họ hàng nhà chuột, sau một cuộc kiểm tra hộ khẩu, thấy dân số bị sút giảm trầm trọng, khả dĩ đi tới chỗ tuyệt chủng. Thế là họ hàng nhà chuột bèn vội vã tổ chức đại hội bất thường, sớm hơn định kỳ để tìm phương thế cứu vãn tình hình. Trong cuộc đại hội này, vì sự sống còn của dòng tộc, tất cả từ chuột già đến chuột trẻ, từ chuột đực đến chuột cái, đều tích cực và hăng hái góp ý kiến. Những ý kiến này được ghi nhận, bàn bạc và thảo luận. Cuối cùng, ý kiến được coi là tuyệt vời nhất và được toàn thể hội nghị vỗ tay tán đồng, đó là tìm cách cột một chiếc chuông nhỏ vào cổ mèo. Hễ mèo đi tới đâu, chiếc chuông sẽ phát ra những tiếng leng keng báo động để họ hàng nhà chuột có đủ thời gian di tản chiến thuật, rút vào những nơi bảo đảm và an toàn nhất. Mọi chuột đều nhất trí và đồng ý với kế sách này. Thế nhưng khi hỏi xem có ai sẵn sàng đăng ký thực hiện, thì chẳng một chuột nào dám ghi tên. Và thế là từ chuột già đến chuột trẻ, từ chuột đực đến chuột cái, tất cả đều yên lặng rút lui có trật tự. Thậm chí cho tới ngày hôm nay, mèo vẫn còn là một tai họa to lớn cho dòng họ nhà chuột.
Câu chuyện này làm cho gã băn khoăn, bởi vì trong đời thường, rất nhiều kẻ và ngay chính bản thân gã cũng giống như loài chuột bởi vì mình nói thì nhiều mà làm chẳng được bao nhiêu. Nói thì đao to búa lớn, còn làm thì chỉ như cây tăm. Thậm chí trăm voi chưa chắc đã được một bát nước xáo.
Tuy nhiên, trong những năm gần đây, tại Việt Nam dòng họ nhà chuột khấp khởi mừng thầm, bởi vì dân bợm nhậu Việt Nam và Trung Quốc rất khoái món thịt mèo, được kê theo thực đơn nhà hàng là món “tiểu hổ”. Những tay lái buôn lùng sục khắp hang cùng ngõ hẻm để tìm mua mèo. Mèo mua về được bán cho các nhà hàng, khách sạn và nhất là được xuất khẩu sang Trung quốc. Thế là dòng họ nhà chuột phát triển theo cấp số nhân. Vì không còn mèo giám sát và canh chừng, nên dòng họ nhà chuột tha hồ, mặc sức đục khoét mọi kho lẫm. Và chuột bỗng trở thành một quốc nạn làm cho chính phủ phải lo lắng và ra tay can thiệp bằng cách trừng trị đích đáng những tay lái…mèo. Không hiểu thiên hạ chế biến món thịt mèo ra sao. Chứ người dân quê, chỉ cần một mớ rau má đem nấu hay xào với thịt mèo, thì đã là tuyệt vời. Nhất là ruột mèo vừa trắng lại vừa dòn quả là hết ý.
Từ cái tài bắt chuột, mà mèo bỗng được nhảy tót vào lãnh vực chính chị chính em. Bởi vì nếu gã không lầm, thì một vị chính khách cỡ bự, thuộc hàng đầu của Trung quốc, đó là ông Đăng tiểu Bình, đã lấy mèo làm biểu tượng cho đường lối của mình khi tuyên bố: Mèo trắng, mèo đen không hệ gì, miễn là bắt chuột. Phải chăng lời phán dạy này đã khai đường dẫn lối cho chính sách mở cửa, tự do kinh doanh, ngoại quốc đầu tư… miễn sao làm cho dân được giàu và nước được mạnh?
Được ưu ái nuôi ở trong nhà,  nên mèo rất gần gũi với người bình dân, đồng thời cũng đã đi vào nếp sống và kinh nghiệm đời thường. Thực vậy, mèo vốn là dấu chỉ của sự xui xẻo và xúi quẩy: Mèo đến nhà thì khó, chó đến nhà thì sang. Bởi đó mấy anh lơ thường không cho hành khách mang mèo lên xe đò, kẻo gặp sự chẳng lành trong suốt cuộc hành trình của mình.
Rồi mỗi khi tự khen về những thành công và ưu điểm của mình, thì liền bị những kẻ thối mồm kê ngay tủ đứng vào miệng: Rõ thật, mèo khen mèo dài đuôi. Câu kê tủ đứng này còn nặng hơn cả câu: Mẹ hát con khen hay. Hoặc câu: Lươn ngắn lại chê trạch dài, thờn bơn méo miệng chê trai lệch mồm.
Với tuổi đời chồng chất, chúng ta thu tích được một mớ kinh nghiệm, thế nhưng nếu lỡ biến chúng thành những kinh nghiệm…sống sượng bởi những ý đồ đen tối, thì  chúng ta lập tức trở nên giống mèo, bởi vì: Mèo già hóa cáo,  cáo già hóa chằng tinh. Liệu chúng ta đã trở nên “cáo già” hay “chằng tinh” chưa?
Thỉnh thoảng một đôi khi trong cuộc sống, chúng  ta được vận may thăm viếng hay thần tài gõ cửa vào giữa lúc nghiệt ngã nhất. Thiên hạ không ngại liệt chúng ta vào hàng mèo, bởi vì lúc bấy giờ mắt chúng ta sáng rực như  “mèo thấy mỡ” và thiên hạ sẽ không ngần ngại gọi chúng ta là “mèo mù vớ cá rán”. Và sau cùng, mèo hiền, mèo ngoan thường được yêu thương, chẳng ai nỡ đánh tập nó, như tục ngữ đã bảo: Mèo lành ai nỡ xách tai, gái hư chồng để khoe tài nỗi chi. Trong đời thường, hình như mối liên hệ giữa mèo và những người bạn sống quanh nó không được tốt đẹp cho lắm.
Trước hết là mối liên hệ với chuột. Như chúng ta đã thấy, hình như sự thù ghét chuột đã in sâu vào bản tính của mèo. Vì thế, hễ gặp chuột là mèo liền xơi tái, chẳng chút xót thương. Còn họ hàng nhà chuột, vốn ý thức thân phận nhược tiểu và yếu kém của mình, nên theo sự diễn tả của người bình dân, luôn tỏ ra biết điều và lễ độ: Bốn con chuột đưa xác con mèo, tò te tò tò tí tí te.
Tiếp đến là mối liên hệ với chó. Mèo ghét chuột thế nào, thì có lẽ chó cũng ghét mèo như thế. Nhà gã nhiều chuột, định nuôi vài con mèo cho bớt sự phá phách. Thế nhưng hễ xin được mèo con nào, nếu không canh giữ cẩn thận, thì liền bị chó cắn chết. Đang đêm mà nghe thấy mèo tru lên hai ba tiếng, thì thế nào sáng hôm sau cũng thấy mèo con phơi xác trên trận địa. Vì thế người Pháp đã bảo: Vivre comme le chien et le chat. Nghĩa là yêu nhau cũng thể như chó với mèo. Tuy nhiên một đôi lúc chúng ta cũng thấy mèo và chó sống chung hòa bình với nhau. Có những tay săn ảnh tình cờ chộp được những bức hình mèo ngủ yên trong vòng tay yêu thương của chó.
Xét về những đặc tính của mèo, gã ghi nhận mấy điều sau đây. Trước hết mèo có nhân đức “sạch sẽ”, bởi vì mỗi khi phóng uế, mèo đều vùi dấu thật kỹ, chứ không phóng uế một cách bừa bãi, thiếu văn hóa như nhiều người. Vì sạch sẽ mà vùi dấu, thế nhưng chính vì sự vùi dấu này mà mèo lại trở thành biểu tượng cho sự thiếu ngay thẳng, bởi vì thiên hạ thường bảo: Lấm la lấm lét như mèo dấu cứt!
Có lẽ vì phải thức đêm bắt chuột, mà suốt ngày mèo nằm ngủ li bì. Với sự nằm ngủ li bì như thế, mèo bị mang tiếng là lười biếng, lười đến độ chảy thây chảy xác, đồng thời tượng trưng cho những kẻ chểnh mảng, bôi bác, qua loa, đại khái, bởi vì họ làm như mèo mửa hay như mèo rửa mặt. Thực vậy, mèo tuy có nhân đức “sạch sẽ” nhưng lại rất sợ nước. Vì thế, để rửa mặt, mèo thường liếm vào bàn chân rồi đưa lên và quẹt quẹt vào mặt, giống như gã hồi còn nhỏ. Phải, hồi còn nhỏ, mỗi khi trời trở lạnh, gã rất thích nằm ngủ nướng, cuộn mình trong chăn sướng rên mé đìu hiu. Mẹ đánh thức như gọi đò sang sông, thế mà gã chỉ ú ớ: Từ từ cái đã. Khi mở được cặp mi nặng trĩu, thì đã sáng bạch, thiếu điều ông mặt trời chiếu xỏ vào lỗ mũi. Và thế là phải ù té gấp gáp làm một số những công việc cần thiết, như: đi đái lấy nước súc miệng đánh răng! Thấy vậy, bao giờ mẹ gã cũng mỉm cười và bảo: Con làm cứ như mèo rửa mặt vậy.
Một đặc tính khác của mèo là thích được vuốt ve, mơn trớn và chiều chuộng. Gã nuôi một con mèo, ban sáng ngủ dậy,  vừa ngồi vào ghế, thể nào nó cũng đến và cạ vào chân gã. Cạ một vài lần mà không thấy gã nhúc nhích hay động tĩnh gì, thì thế nào nó cũng cắn nhẹ vào chân gã, khiến gã đau điếng. Vì thế, nhiều hôm vừa mới bắn xong điếu thuốc lào, mà theo dân ghiền thì điếu quan trọng nhất trong ngày, chính là điếu đầu tiên ban sáng, chắc chắn thế nào cũng…phê. Đang thả hồn theo khói thuốc, cũng phải cố gắng đá nhẹ cho nó một phát thì nó mới chịu để cho gã được yên.
Ngoài ra mèo còn mắc phải một thói xấu khác là thích ăn vụng. Gã nhớ hồi còn bé, mỗi lần bố gã dọn tiệc hay chị gã dọn cơm, thế nào gã cũng được phân công canh chừng, để đuổi ruồi và trông mèo. Có lẽ vì thích ăn vụng và thích được vuốt ve mà mèo được dùng để chỉ…bồ nhí. Tiếng Việt Nam thật là phong phú. Có người yêu thì hoàn toàn khác với có bồ nhí hay có…mèo. Bởi vì có người yêu thường phải công khai và hợp pháp. Trong khi đó có bồ nhí hay có mèo bao giờ cũng phi pháp và thầm lén vụng trộm. Gã thành thật “khẩu phục tâm phục” những đấng đờn ông, vợ con đề huề, thế mà còn can đảm đèo bồng thêm tí bồ nhí. Vừa hao tiền tốn bạc, vừa mất thời giờ và chỉ tội đau lưng. Còn địa vị và sự nghiệp thì dễ dàng đi đoong, một sớm một chiều thân bại danh liệt chóng như trở bàn tay. Chiều được một cô bồ nhí quả là một nghệ thuật. Bởi vì cũng giống như mèo, cô bồ nhí nào mà chẳêng thích được vuốt ve, cưng chiều. Cô bồ nhí nào mà chẳng hay hờn, hay dỗi, hay nhõng nhẽo và hay đỏng đảnh. Biết vậy thế mà khối anh đờn ông vẫn cứ nhào vô như con thiêu thân lao đầu vào lửa.
Ngoài ra, thiên hạ còn thích dùng hình ảnh mèo để so sánh với con gái, bởi vì giữa mèo và con gái có nhiều điể giống nhau.
Điểm thứ nhất giống nhau đó là cái khoản ăn. Mèo ăn ít mà con gái cũng ăn ít, vì vậy người đời mới bảo: Nam thực như hổ, nữ thực như miu. Nghĩa là  đờn ông con giai thì ăn nhiều như hổ, còn đờn bà con gái thì ăn ít như mèo. Ấy là thiên hạ tự giới hạn vào việc ăn chính thức trong bữa cơm, chứ còn ăn lai rai trong ngày hay ăn hàng với đủ thứ quà vặt thì khác. Đem cộng và cân tất cả mọi thứ quà vặt này vào thì chưa chắc mèo nào thắng mèo nào, vì đờn bà con gái vốn là chúa ăn vạêt cơ mà: Đi chợ mất tám tiền quà, chồng thương chồng bảo về nhà đỡ cơm!
Điểm thứ hai giống nhau, đó là chuyện không và có. Con mèo ngoáy đuôi bên trái thì sẽ nhảy qua bên phải, cũng vậy con gái bảo có thì chắc chắn là không, bảo không thì chắc chắn lại là có, như một bài hát của Ngọc Lễ: Con gái nói một là hai, nói hai là một, con gái nói ghét là thương,  nói thương là ghét. Vì thế, đừng nghe những gì con gái nói!
Điểm thứ ba giống nhau. Đó là  về thái độ hiền và dữ. Thực vậy, mèo thật hiền lành khi nó nằm dài ngủ yên, khi nó cạ nhẹ vào chân mình. Thế nhưng mèo cũng thật dữ dằn khi nó nhe răng gầm gừ và giơ móng nhọn chiến đấu với chó, hay vồ chuột nhanh như chớp. Con gái cũng vậy, bình thường thì nhỏ nhẹ dễ thương và dễ mến, nhất là khi cô nường nhõng nhẽo hay mần duyên. Thế nhưng một khi đã nổi cơn tam bành vì bị chạm tự ái hay bị phỗng tay trên mất mối lợi, thì phải biết. Đang là một cô em bắc kỳ nho nhỏ bỗng hóa kiếp thành một bà chằng lửa, chửi đến nơi đến chốn, chửi có bài có bổn, chửi có cung có điệu, tay chân thì múa may quay cuồng thiếu điều lăn xả vào người ta như muốn ăn tươi nuốt sống vậy.
Tuy nhiên, có một điều hoàn toàn khác biệt giữa mèo và con gái, đó là mèo thì luôn có râu, bất kể là mèo đực hay mèo cái. Còn đờn bà con gái thì lại chẳng có râu. Họa lắm mới có. Và nếu có, thì quả là hết nước nói.
Gã Siêu

 

Chuyện Gã Siêu 54: MÈO

MÈO Chuyện Gã Siêu 54

Thiên hạ thường bảo : - Nhà báo nói láo ăn tiền. Thế nhưng, ăn được tiền bằng nghề nói láo Chuyện Gã Siêu 54

Thiên hạ thường bảo :
- Nhà báo nói láo ăn tiền.
Thế nhưng, ăn được tiền bằng nghề nói láo không phải là chuyện dễ. Có anh nhà báo khi bài của mình vừa mới được trình làng liền bị bà xã chất vấn :
- Tôi nói cho anh hay : văn là người. Anh đã vắt óc, moi ruột gan phèo phổi để viết nên bài ấy và bài ấy đã phản ảnh đúng tim đen của anh và của bọn đàn ông. Vậy cái con nhỏ trong bài ấy là đứa nào ? Liệu cái thần hồn, anh mà léng phéng với ai là…chít  mí em đấy.
Không thiếu gì những anh nhà báo đã được ăn đòn hội chợ hay được xơi kẹo đồng vì đã trót dại chõ mõm vào các xếp lớn, hay lạng quạng đụng vô phạm vi chính chị chính em.
Và rốt cuộc chẳng anh nhà báo nào làm giàu hay phất lên nhờ cái nghề ngỗng này, bởi vì ở Việt Nam nhà giáo và nhà báo thì chỉ có nước…húp cháo mà thôi.
Lắm lúc tiền nhuận bút đã tiêu béng đi từ hồi nào, mà bài thì lại chưa viết, thế là đúng hẹn, bèn phải ngồi vào bàn hì hục viết lách gọi là kéo cày trả nợ, một cách văn hoa hơn là “tằm nhả tơ”, nhưng thực chất chỉ là viết nhăng viết cuội.
Như gã lúc này, công việc cuối năm thật bề bộn khiến đầu óc trống rỗng, mà hạn nộp bài cho số tết đã tới gần, chẳng biết sẽ phải tán hươu tán vượn về sự gì. Thôi đành phải theo truyền thống vốn đã có từ lâu đời, năm mão thì phải nói láo về…mèo đứt đuôi chứ còn gì.
Mão, miêu hay mèo đó là một loại thú nhỏ thuộc giống ăn thịt, lông mềm, râu trắng, cứng và cử đôäng được, vấu bén, mình nhẹ, leo giỏi và có tài bắt chuột. Có lẽ chính nhờ tài bắt chuột mà mèo được nhiều người, nhất là người nông dân ưu ái muôi ở trong nhà.
Đối với lũ chuột thì mèo chính là đại vương sư tử. Người tàu thì bảo :
-  Sát nhất miêu, cứu vạn thử. Nghĩa là giết được một con mèo thì cứu được vạn con chuột.
Còn người tây thì nói :
- Absent le chat, les souris dansent. Nghĩa là vắng mèo, chuột nhảy choi choi.
Hay :
- Mèo đi ra thì chuột vươn vai theo kiểu vắng chủ nhà gà vộc niêu tôm.
Đã có lần gã quan sát khi chuột thấy mèo thì hình như tứ chi bị tê liệt, co rúm và bất nhóc nhách. Mặc dù mèo có làm ngơ, ngoảnh mặt đi, thì chuột cũng không thể chạy thoát khỏi móng vuốt của mèo.
Hồi còn bé, gã được học về một câu chuyện ngụ ngôn mang tựa đề là “Hội đồng chuột”. Câu chuyện ấy đại khái như thế này :
Họ hàng nhà chuột, sau một cuộc kiểm tra hộ khẩu, thấy dân số bị sút giảm trầm trọng, khả dĩ đi tới chỗ tuyệt chủng. Thế là họ hàng nhà chuột bèn vội vã tổ chức đại hội bất thường, sớm hơn định kỳ để tìm phương thế cứu vãn tình hình.
Trong cuộc đại hội này, vì sự sống còn của dòng tộc, tất cả từ chuột già đến chuột trẻ, từ chuột đực đến chuột cái, đều tích cực và hăng hái góp ý kiến. Những ý kiến này được ghi nhận, bàn bạc và thảo luận.
Cuối cùng, ý kiến được coi là tuyệt vời nhất và được toàn thể hội nghị vỗ tay tán đồng, đó là tìm cách cột một chiếc chuông nhỏ vào cổ con mèo. Hễ mèo đi tới đâu, chiếc chuông sẽ phát ra những tiếng leng keng báo động để họ hàng nhà chuột có đủ thời gian di tản chiến thuật, rút vào những nơi bảo đảm và an toàn nhất. Mọi chuột đều nhất trí và đồng ý với kế sách này.
Thế nhưng khi hỏi xem có ai sẵn sàng đăng ký thực hiện, thì chẳng một chuột nào dám ghi tên. Và thế là từ chuột già đến chuột trẻ, từ chuột đực đến chuột cái, tất cả đều yên lặng rút lui có trật tự. Thậm chí cho tới ngày hôm nay, mèo vẫn còn là một tai họa to lớn cho dòng họ nhà chuột.
Câu chuyện này làm cho gã băn khoăn, bởi vì trong đời thường, rất nhiều kẻ và ngay chính bản thân gã cũng giống như loài chuột bởi vì mình nói thì nhiều mà làm chẳng được bao nhiêu. Nói thì đao to búa lớn, còn làm thì chỉ như cây tăm. Thậm chí trăm voi chưa chắc đã được một bát nước xáo.
Tuy nhiên, trong những năm gần đây, tại Việt Nam dòng họ nhà chuột khấp khởi mừng thầm, bởi vì dân bợm nhậu Việt Nam và Trung Quốc rất khoái món thịt mèo, được gọi theo thực đơn nhà hàng là món “tiểu hổ”.
Những tay lái buôn lùng sục khắp hang cùng ngõ hẻm để tìm mua mèo. Mèo mua về được bán cho các nhà hàng, khách sạn và nhất là được xuất khẩu sang Trung quốc. Thế là dòng họ nhà chuột phát triển theo cấp số nhân.
Vì không còn mèo giám sát và canh chừng, nên dòng họ nhà chuột tha hồ, mặc sức đục khoét mọi kho lẫm. Và chuột bỗng trở thành một quốc nạn làm cho chính phủ phải lo lắng và ra tay can thiệp bằng cách trừng trị đích đáng những tay lái…mèo.
Không hiểu thiên hạ chế biến món thịt mèo ra sao. Chứ người dân quê, chỉ cần một mớ rau má đem nấu hay xào với thịt mèo quả là tuyệt vời. Nhất là ruột mèo vừa trắng lại vừa dòn quả là hết xảy.
Từ cái tài bắt chuột, mà mèo bỗng được nhảy tót vào lãnh vực chính chị chính em.
Bởi vì nếu gã không lầm, thì một vị chính khách cỡ bự, thuộc hàng đầu của Trung quốc, đó là ông Đăng tiểu Bình, đã lấy mèo làm biểu tượng cho đường lối và chính sách của mình khi tuyên bố :
- Mèo trắng, mèo đen không hệ gì, miễn là bắt chuột.
Phải chăng lời phán dạy này đã khai đường dẫn lối cho chính sách mở cửa, tự do kinh doanh, ngoại quốc đầu tư… miễn sao làm cho dân được giàu và nước được mạnh ?
Được ưu ái nuôi ở trong nhà,  nên mèo rất gần gũi và thân thương với người bình dân, đồng thời cũng đã đi vào nếp sống và kinh nghiệm đời thường.
Thực vậy, mèo vốn là dấu chỉ của sự xui xẻo và xúi quẩy :
- Mèo đến nhà thì khó,
  Chó đến nhà thì sang.
Bởi đó mấy anh lơ thường không cho hành khách mang mèo lên xe đò, kẻo gặp sự chẳng lành trong suốt cuộc hành trình của mình.
Rồi mỗi khi khen và tự khen về những thành công và ưu điểm của mình, thì liền bị những kẻ thối mồm kê ngay tủ đứng vào miệng, khi họ chu mỏ nói với chúng ta :
- Rõ thật, mèo khen mèo dài đuôi.
Câu kê tủ đứng này còn nặng hơn cả câu :
- Mẹ hát con khen hay.
Hoặc câu :
- Lươn ngắn lại chê trạch dài,
  Thờn bơn méo miệng chê trai lệch mồm.
Với tuổi đời chồng chất, chúng ta thu tích được một mớ kinh nghiệm, thế nhưng nếu chúng ta lỡ biến chúng thành những kinh nghiệm…sống sượng bởi những ý đồ đen tối, thì  chúng ta lập tức trở nên giống mèo, bởi vì :
- Mèo già hóa cáo,
  Cáo già hóa chằng tinh.
Liệu chúng ta đã trở nên “cáo già” hay “chằng tinh” chưa ?
Thỉnh thoảng một đôi khi trong cuộc sống, chúng  ta được vận may thăm viếng hay thần tài gõ cửa vào giữa lúc nghiệt ngã nhất. Thiên hạ không ngại liệt chúng ta vào hàng mèo, bởi vì lúc bấy giờ mắt chúng ta sáng rực như  “mèo thấy mỡ” và thiên hạ sẽ không ngần ngại gọi chúng ta là “mèo mù vớ cá rán” hay “ngủ gật gặp chiếu manh”.
Và sau cùng, mèo hiền, mèo ngoan thường được yêu thương, chẳng ai nỡ đánh tập nó, như tục ngữ đã bảo :
- Mèo lành ai nỡ xách tai,
  Gái hư chồng để khoe tài nỗi chi.
Trong đời thường, hình như mối liên hệ giữa mèo và những người bạn sống quanh nó không được tốt đẹp cho lắm.
Trước hết là mối liên hệ với chuột. Như chúng ta đã thấy, hình như sự thù ghét chuột đã in sâu vào bản tính của mèo. Vì thế, hễ gặp chuột là mèo liền xơi tái, chẳng chút xót thương.
Còn họ hàng nhà chuột, vốn ý thức thân phận nhược tiểu và yếu kém của mình, nên theo sự diễn tả của người bình dân, luôn tỏ ra biết điều và lễ độ :
- Bốn con chuột đưa xác con mèo.
  Tò  te tò tò te te tò
  Bốn con chuột đưa xác con mèo,
  Tò te tò tò tí tí te.
Tiếp đến là mối liên hệ với chó. Mèo ghét chuột thế nào, thì có lẽ chó cũng ghét mèo như thế, nhất là mèo con. Nhà gã nhiều chuột, định nuôi vài con mèo cho bớt sự phá phách. Thế nhưng hễ xin được mèo con nào, nếu không canh giữ cẩn thận, thì liền bị chó cắn chết.
Đang đêm mà nghe thấy mèo tru lên hai ba tiếng, thì thế nào sáng hôm sau cũng thấy mèo con phơi xác trên trận địa. Vì thế người Pháp đã bảo :
- Vivre comme le chien et le chat. Nghĩa là yêu nhau cũng thể như chó với mèo.
Tương tự như mối liên hệ mẹ chồng nàng dâu vậy :
- Thật thà như thể lái trâu,
   Yêu nhau như thể nàng dâu mẹ chồng.
Tuy nhiên một đôi lúc chúng ta cũng thấy mèo và chó sống chung hòa bình với nhau. Có những tay săn ảnh tình cờ chộp được những bức hình mèo ngủ yên trong vòng tay yêu thương của chó.
Xét về những đặc tính của mèo, gã ghi nhận mấy điều sau đây.
Trước hết mèo có nhân đức “sạch sẽ”, bởi vì mỗi khi phóng uế, mèo đều vùi dấu thật kỹ, chứ không phóng uế một cách bừa bãi, thiếu văn hóa như nhiều người.
Thực vậy, Saigòn, thành phố Hồ chí Minh, vốn được gọi là hòn ngọc Viễn đông từ lâu, thế mà đi trên đường, đôi khi thiên hạ vẫn dẫm phải những “bãi mìn”, cụ thể là những đống…phân. Hình như chỗ nào có bảng chữ : cấm đổ rác, cấm tiêu, cấm tiểu, cấp đái… thì chỗ đó lại được chiếu cố đặc biệt. Người ta càng đổ rác nhiều và càng…cho ra  hăng. Mỗi lần phải đi qua đó, thì liền được thưởng thức một thứ xú khí nồng nặc đến nôn mửa.
Vì sạch sẽ mà vùi dấu, thế nhưng chính vì sự vùi dấu này mà mèo lại trở thành biểu tượng cho sự thiếu ngay thẳng, bởi vì thiên hạ thường bảo :
- Lấm la lấm lét như mèo dấu cứt.
Có lẽ vì phải thức đêm bắt chuột, mà suốt ngày mèo nằm ngủ li bì. Với sự nằm ngủ li bì như thế, mèo bị mang tiếng là lười biếng, lười đến độ chảy thây chảy xác, đồng thời tượng trưng cho những kẻ chểnh mảng, bôi bác, qua loa, đại khái, bởi vì họ làm như mèo mửa hay mèo rửa mặt..
Thực vậy, mèo tuy có nhân đức “sạch sẽ” nhưng lại rất sợ nước. Vì thế, để rửa mặt, mèo thường liếm vào bàn chân rồi đưa lên và quẹt quẹt vào mặt, giống như gã hồi còn nhỏ.
Phải, hồi còn nhỏ, mỗi khi trời trở lạnh, gã rất thích nằm ngủ nướng, cuộn mình trong chăn sướng rên mé đìu hiu. Mẹ đánh thức như gọi đò sang sông, thế mà gã chỉ ú ớ :
- Từ từ cái đã.
Khi mở được cặp mi nặng trĩu, thì đã sáng bạch, thiếu điều ông mặt trời chiếu xỏ vào lỗ mũi. Và thế là phải ù té gấp gáp làm một số những công việc cần thiết, như : đi đái, lấy nước, súc miệng, đánh   răng, rửa mặt…
Thấy vậy, bao giờ mẹ gã cũng mỉm cười và bảo :
-Con làm cứ như mèo rửa mặt vậy.
Một đặc tính khác của mèo là thích được vuốt ve, mơn trớn và chiều chuộng.
Gã nuôi một con mèo, ban sáng ngủ dậy,  vừa ngồi vào ghế, thể nào nó cũng đến và cạ vào chân gã. Cạ một vài lần mà không thấy gã nhúc nhích hay động tĩnh gì, thì thế nào nó cũng cắn nhẹ vào chân gã, khiến gã đau điếng.
Vì thế, nhiều hôm vừa mới bắn xong điếu thuốc lào, mà theo giới ghiền thuốc lào thì điếu quan trọng nhất trong ngày, chính là điếu đầu tiên ban sáng, chắc chắn thế nào cũng…phê, đang thở phì phò hay đang thả hồn theo khói thuốc, cũng phải cố gắng đá nhẹ cho nó một phát thì nó mới chịu để cho gã được yên.
Ngoài ra mèo còn mắc phải một thói xấu khác là thích ăn vụng.
Gã nhớ hồi còn bé, mỗi lần bố gã dọn tiệc hay chị gã dọn cơm, thế nào gã cũng được phân công canh chừng, để đuổi ruồi và trông mèo. Có những hôm bóng dáng mèo chẳng thấy đâu, mà thủ phạm ăn vụng lại là chính gã.
Thực vậy, nhìn trước nhìn sau không thấy một ai và thế là gã liền rón rén, nhón vội một miếng, rồi đút vào miệng mà nhai ngấu nhai nghiến. Miếng thịt được ăn vụng sao mà nó ngon đáo để, đến giờ nghĩ  lại vẫn còn thinh thích, mặc dù có…xí  hổ tí chút cho tuổi thơ đơn sơ và ngây thơ.
Có lẽ vì thích ăn vụng và thích được vuốt ve mà mèo được dùng để chỉ…bồ nhí.
Tiếng Việt Nam thật là phong phú. Có tình nhân, có người yêu hay có bồ thì hoàn toàn khác với có bồ nhí hay có…mèo. Bởi vì có tình nhân, có người yêu hay có bồ, thường phải là công khai và hợp pháp. Trong khi đó có bồ nhí hay có mèo bao giờ cũng bất hợp pháp và thầm lén vụng trộm.
Gã thành thật “khẩu phục tâm phục” những đấng đờn ông, vợ con đề huề, thế mà còn can đảm đèo bồng thêm tí bồ nhí. Vừa hao tiền tốn bạc, vừa mất thời giờ và chỉ tội đau lưng. Còn địa vị và sự nghiệp thì dễ dàng đi đoong, đồng thời một sớm một chiều thân bại danh liệt chóng như trở bàn tay.
Chiều được một cô bồ nhí quả là một nghệ thuật. Bởi vì cũng giống như mèo, cô bồ nhí nào mà chẳêng thích được vuốt ve, mơn trớn và cưng chiều. Cô bồ nhí nào mà chẳng hay hờn, hay dỗi, hay nhõng nhẽo và hay đỏng đảnh…..Biết vậy thế mà khối anh đờn ông vẫn cứ nhào vô như con thiêu thân lao đầu vào lửa.
Thiên hạ thích dùng hình ảnh mèo để so sánh với đờn bà con gái, bởi vì giữa mèo và đờn bà con gái có nhiều điể giống nhau.
Điểm thứ nhất giống nhau đó là cái khoản ăn.
Mèo ăn ít mà đờn bà con gái cũng ăn ít, vì vậy người đời mới bảo :
- Nam thực như hổ, nữ thực như miu. Nghĩa là  đờn ông con giai thì ăn nhiều như hổ, còn đờn bà con gái thì ăn ít như mèo.
Ấy là thiên hạ tự giới hạn vào việc ăn chính thức trong bữa cơm, chứ còn ăn lai rai trong ngày hay ăn hàng với đủ thứ quà vặt thì khác. Đem cộng và cân tất cả mọi thứ quà vặt này vào thì chưa chắc mèo nào thắng mèo nào, vì đờn bà và nhất là con gái vốn là chúa ăn vạêt cơ mà :
- Đi chợ mất tám tiền quà,
  Chồng thương chồng bảo về nhà đỡ cơm.
Điểm thứ hai giống nhau, đó là chuyện không và có.
Con mèo ngoáy đuôi bên trái thì sẽ nhảy qua bên phải, cũng vậy con gái bảo có thì chắc chắn là không, bảo không thì chắc chắn lại là có, như một bài hát của Ngọc Lễ :
- Con gái nói có là không, con gái nói không là có.
  Con gái nói một là hai, con gái nói hai là một.
  Con gái nói ghét là thương, con gái nói thương là ghét,
  Đừng nghe những gì con gái nói. Đừng nghe những gì con gái nói…
Gã sẽ mổ xẻ chi tiết về chuyện này trong một bài khác.
Điểm thứ ba giống nhau. Đó là  về thái độ hiền và dữ.
Thực vậy, mèo thật hiền lành khi nó nằm dài ngủ yên, khi nó cạ nhẹ vào chân mình…thế nhưng mèo cũng thật dữ dằn khi nó nhe răng gầm gừ và giơ móng nhọn chiến đấu với chó, hay vồ chuột nhanh như chớp.
Đờn bà con gái cũng vậy, bình thường thì nhỏ nhẹ dễ thương và dễ mến, nhất là khi cô nường nhõng nhẽo hay…mần duyên. Thế nhưng một khi đã nổi cơn tam bành vì bị chạm tự ái hay bị phỗng tay trên mất mối lợi, thì phải biết.
Đang là một cô em bắc kỳ nho nhỏ bỗng hóa kiếp thành một bà chằng lửa, chửi đến nơi đến chốn, chửi có bài có bổn, chửi có cung có điệu, tay chân thì múa may quay cuồng thiếu điều lăn xả vào người ta như muốn ăn tươi nuốt sống vậy.
Về vấn đề này thì gã xin “ no table” nghĩa là xin miễn bàn, kẻo lại bi ăn cà chua, trứng thối và bị chụp cho cái mũ thiên vị là luôn bốc thơm đờn ông con giai, mà lại hay bốc thối và bôi bác đờn bà con gái.
Tuy nhiên, có một điều hoàn toàn khác biệt giữa mèo và đờn bà con gái, đó là mèo thì luôn có râu, bất kể là mèo đực hay mèo cái. Còn đờn bà con gái thì lại chẳng có râu. Họa lắm mới có. Và nếu có, thì quả là hết chỗ nói.
Đêm bắt đầu về khuya, tiếng con nít xa dần, chìm vào xóm vắng :
- Con mèo mà trèo cây cau,
  Hỏi thăm chú chuột đi đâu vắng nhà.
  Chú chuột đi chợ đàng xa,
  Mua mắm mua muối giỗ cha con mèo.
Gã Siêu.

 

Chuyện Gã Siêu 55: TÌNH KHÔNG BIÊN GIỚI

TÌNH KHÔNG BIÊN GIỚI Chuyện Gã Siêu 55

Cách đây khoảng mười năm, mỗi khi gửi một bài báo, gã cảm thấy thật vất vả đến toát cả mồ Chuyện Gã Siêu 55

Cách đây khoảng mười năm, mỗi khi gửi một bài báo, gã cảm thấy thật vất vả đến toát cả mồ hôi hột. Ngoài chuyện phải cầm lòng cầm trí mà viết với lách, gã còn phải bấm đốt ngón tay và nhẩm tính trong bụng như sau :
- Thời gian từ đây qua đó mất ngót nghét một tháng vì vận tốc của bưu điện vốn được tiếng là vận tốc của rùa bò. Phòng hờ những trục trặc như bị thất lạc, hay chưa ăn ý với ông chủ bút, cần phải điều chỉnh qua lại cũng mất ngót nghét một tháng. Thời gian cho báo lên khuôn, rồi in ấn và phát hành cũng mất ngót nghét một tháng. Như thế, phải gửi bài đi trước những ba tháng thì mới chắc ăn. Cứ thử nghĩ mà xem : Đầu tháng mười, gã đã phải ngồi rung đùi viết về lễ Giáng Sinh, cho dù có vận dụng hết khả năng tưởng tượng, thì cũng vẫn là một việc làm hết sức khó khăn.
Còn bây giờ thì khác. Những phương tiện viễn thông trong thời gian gần đây đã liên tục phát triển và tạo được những bước tiến khổng lồ và ngoạn mục.
Để tiết kiệm tiền bạc, bây giờ ông chủ bút chỉ cần gửi một cái “meo”, và lập tức vọng lại tiếng trả lời từ bên kia đại dương :
- Dạ, có em.
Và chỉ một lúc sau, tòa soạn liền nhận được một bài báo mới toanh, rồi chỉ việc “cóp-pi” và dán vào phần đất đã được dành sẵn cho nó, chẳng cần phải mổ cò gõ máy, vừa chậm chạp lại vừa tốn sức lao động.
Với những tiến bộ trong lãnh vực viễn thông như thế, nhân loại dường như xích lại gần nhau hơn và câu tục ngữ từ ngàn xưa xem ra có cơ may sớm được thực hiện, đó là :
- Tứ hải giai huynh đệ, bốn bể đều là anh em.
Một biến cố vừa xảy ra ở nơi nào đó trên thế giới, chẳng hạn như cơn bão Katrina thổi vào New Orleans…thì lập tức mọi người đều được biết qua truyền thanh, truyền hình, internet…những ngăn cách, những rào cản đang dần dần đã bị phá vỡ, để rồi thế giới trở thành mái nhà chung cho mọi người.
Cũng trong chiều hướng phá vỡ những rào cản, những ngăn cách, trong những năm gần đây gã thường thấy xuất hiện cụm từ “không biên giới”. Nào là “Nhà Báo không biên giới”. Nào là “Y Sĩ không biên giới”…
Nếu gã nhớ không lầm thì tổ chức “Y Sĩ thế giới” đã được lập ra để phục vụ mọi người, không phân biệt ngôn ngữ, chủng tộc và lãnh địa.
Khi phong trào vượt biên lên tới cao điểm, thì tổ chức này đã có hẳn một con tàu lênh đênh trên biển Đông để cứu vớt và giúp đỡ những người lâm nạn.
Và nếu suy nghĩ một chút, gã thấy phong trào “không biên giới” này đã nảy sinh từ “lệnh lên đường” của Đức Kitô bởi vì chính Ngài đã truyền dạy các môn đệ :
- Các con hãy đi rao giảng cho muôn dân.
Chính vì thế, qua dòng thời gian các vị thừa sai đã lặn lội tới những vùng đất xa xôi và hẻo lánh nhất, để chiếu tỏa ánh sáng Phúc Âm, nhờ vậy mà cách đây hơn ba trăm năm dân tộc Việt Nam chúng ta đã được diễm phúc đón nhận Tin Mừng.
Tuy nhiên, theo thiển ý của gã thi tình yêu mới chính là vùng đất phì nhiêu cho phong trào không biên giới này được nở rộ như trăm hoa khoe sắc.
Và đó cũng chính là đề tài gã xin bàn đến trong mục chuyện phiếm hôm nay.
Lâu lắm rồi gã có được xem một cuốn phim hay một vở kịch chi đó đề cập tới vấn đề : Người ta nên yêu đương ở lứa tuổi nào ?
Câu chuyện xoay quanh một ông bố và ba cô con gái. Ông bố là một vị giáo sư khả kính, muốn tìm ra những qui luật của tình yêu dưới mọi góc độ như thời gian, nghề nghiệp, tuổi tác…
Vậy muốn cho tình yêu được bền vững, người ta chỉ cần áp dụng những qui luật ấy một cách nghiêm chỉnh mà thôi.
Vị giáo sư khả kính này được mời đi thuyết trình về bộ luật tình yêu ở nhiều nơi. Đồng thời chính ông cũng đã ra sức khuyên nhủ và tìm mọi cách để ba cô con gái thân yêu thực thi những qui luật ấy.
Thế nhưng, cả ba cô con gái kẻ trước người sau đều rơi vào cái vòng tình ái cong cong, bất chấp những qui luật mà ông đã tốn công giảng giải.
Và sau cùng, chính vị giáo sư khả kính này cũng đã bị tình yêu của bà hàng xóm đánh gục.
Vì thế, ông đã quyết định đốt bỏ bộ luật mà ông đã khám phá ra, rồi sau đó tuyên bố một cách mạnh mẽ và dứt khóat với bàn dân thiên hạ rằng :
- Tình yêu thì không có biên giới và cũng chẳng có qui luật ráo trọi nào cả.
Thực vậy, như người ta thường bảo :
- Con tim có những lý lẽ riêng của nó.
Mà lý lẽ của con tim thì khác xa với lý lẽ của đầu óc, của lý trí. Chẳng hạn đối với những anh chị tập tễnh bước vào tình yêu, rất khó mà cắt nghĩa được cho ra ngô ra khoai :
- Tại sao tôi yêu người này ? Tại sao tôi chọn người kia ?
Có người vừa mới gặp mặt nhau, thì liền bị tiếng sét ái tình giáng một quả tốt tăm mặt mũi, khiến cho cả tinh tú lảo đảo quay cuồng.
Trong khi đó, có những kẻ sống bên cạnh nhau từ hồi còn để chỏm, thế mà chẳng mảy may xúc động và xao xuyến bâng khuâng.
Gã xin lượm lặt và đưa ra một vài lãnh vực để nói lên rằng yêu thương quả thực là không có biên giới.
Thứ nhất, tình không biên giới về tuổi tác.
Gã mới đọc được hai mẩu tin. Trước hết là mẩu tin trên báo Công An nói về chồng già vợ trẻ :
“Nếu có ai làm được bộ sưu tập “những cuộc hôn nhân óai oăm” thì thật là tuyệt vời. Đó là truờng hợp của nhà báo Marie- Laure Durand trong tác phẩm “Những cuộc tình kỳ thú” (NXB La Fayette), sưu tập trong suốt 15 năm từ khắp thế giới. Ở đây, chúng tôi chỉ trích ra một bức ảnh trong số hàng trăm bức ảnh cực kỳ khác lạ : Cô gái 18 tuổi lấy chồng 78 tuổi, ông ta là  một cựu phú tại Madras, Ấn Độ”.
Nhìn vào bức hình chồng già vợ trẻ, gã liền nhớ tới câu ca dao :
- Chồng già vợ trẻ là tiên.
  Vợ già chồng trẻ là duyên nợ nần.
Tiếp đến là mẩu tin trên báo Phụ Nữ nói về chồng trẻ vợ  già :
“Tình yêu không phân biệt tuổi tác, đều này thì không ai có thể nghi ngờ. Thế nhưng, người ta sẽ sửng sốt khi được biết có một mối tình chênh nhau quá xa này ở nước Úc.  Bà Edna Townsend không ngần ngại thú nhận :
- Tôi 70 tuổi, anh ấy 31. Tôi yêu anh ấy ngay từ lần gặp đầu cách đây 3 năm.
Cuộc tình của họ nảy nở khi bà đi nghe một buổi hòa nhạc. Lúc chàng nhạc công Simon Martin vừa bước ra sân khấu, thì bà bỗng thấy tim mình đập dồn đập :
- Tôi đã tự nhủ thật là một người đàn ông đáng yêu, anh ấy đích thực là người đàn ông của đời tôi.
Bà là một kỹ sư xây dựng nghỉ hưu, đã lập gia đình lần đầu vào năm 1954. Cuộc hôn nhân này tồn tại được 37 năm. Sau đó bà “kết” một người bán sữa nhỏ hơn bà 16 tuổi và người đàn ông này qua đời vì canh bệnh ung thư 8 năm truớc.
Còn Simon là một nhạc công rất nhút nhát trong chuyện tình cảm. Anh tâm sự :
- Trước khi gặp Edna, tôi chưa bao giờ có một mối quan hệ sâu đậm nào và gần như chỉ biết có âm nhạc. Và Edna đã đảo lộn cuộc đời tôi.
Cuộc tình của họ đã diễn tiến khá êm ả và lãng mạn với lời cầu hôn đúng ngày Valentine  và một hôn lễ vào đầu năm nay.
Trong ngày vui vô tiền khoáng hậu này, cô dâu ở tuổi 70 đã diện áo cưới được thiết kế theo mẫu thập niên 20, cài hoa lan trên tóc và cầm một bó bông dài.
Những người được mời đến chung vui đều cảm thấy đây là một đám cưới có một không hai, nhất là khi họ được  xem bộ ảnh cô dâu chú rể hóa thân thành những cặp tình nhân lãng mạn trong phim Pretty Woman, Titanic…
Có thể nói ngay rằng mối quan hệ của họ tuy chênh lệch về tuổi tác, nhưng không mang “màu sắc đồng tiền”. Sau lời cầu hôn, Simon và Edna đi sắm nhẫn cưới trong một cửa hàng nữ trang second-hand.
Gay cấn nhất là lúc Simon đưa “bà” người yêu về ra mắt bố mẹ anh : bố 69 tuổi, mẹ 64. Anh nói :
- Tất nhiên là bố mẹ tôi hơi bị choáng khi biết cô con dâu tương lại còn lớn tuổi hơn bố mẹ chồng, nhưng rồi bố mẹ tôi đã thông cảm, chấp nhận mối tình của tôi. Ở tuổi xế chiều, điều mà bố mẹ tôi mong mỏi nhất là thấy tôi được hạnh phúc với người phụ nữ tôi yêu.
Về phía nhà gái, Edna được các con riêng của bà ủng hộ…
Nhìn vào tấm hình của họ, gã cũng nhớ ngay tới câu ca dao :
- Chồng lớn vợ bé thì xinh,
  Chồng bé vợ lớn ra tình chị em.
Ở đây không phải chỉ “ra tình chị em” mà còn “ra tình mẹ con” ấy chứ.
Cách đây khá lâu, gã được chứng kiến một cảnh tương buồn cười.
Tối hôm đó, bọn con nít vây chung quanh nhà thờ, khiến cha sở phải khóa chặt cửa lại, rồi mới tập nghi thức cho một đôi hôn phối : Chàng 70 còn nàng 45.
Cha sở hỏi :
- Khi đọc lời cam kết, ông muốn xưng hô : Anh nhận em làm vợ, tôi nhận bà làm vợ…hay một công thức khác đơn giản hơn, chỉ cần trả lời “có” mà thôi.
Ông lão bèn hăng hái nói :
- Thưa cha, phải : anh nhận em chứ.
Đúng là tình yêu không phân biệt tuổi tác.
Thứ hai, tình không biên giới về địa dư và đất nước.
Như chúng ta đã biết, với những chiếc máy bay phản lực và nhất là với những phương tiện truyền thông hiện đại, thì việc nối liền những quốc gia và những lục địa chỉ là chuyện…nhỏ và không còn khó khăn nữa.
Vì thế cũng đã nảy sinh những cuộc tình không biên giới, hay nói cách khác những cuộc tình xuyên quốc gia, xuyên lục địa.
Trước hết là những cuộc tình xuyên quốc gia.
Ngày xưa, một cô gái Việt Nam lấy chồng người nước ngoài, sự việc này thường bị coi là một hiện tượng đặc biệt và bị bàn dân thiên hạ nhìn bằng cặp mắt không mấy cảm tình. Người ta gọi họ là…me tây, me mỹ.
Nhưng ngày nay, thế thái nhân tình đã đổi khác. Người ta coi đó là một vinh dự, một hãnh diện. Vì thế, trong những tháng năm gần đây đã nổi cộm lên phong trào những cô gái Việt Nam thi nhau lấy chồng Trung Quốc, Hàn Quốc, Đài Loan…Và gã tạm gọi đây là những cuộc tình xuyên quốc gia.
Trong những cuộc tình xuyên quốc gia này, cũng có những người được hạnh phúc và đem tiền bạc về giúp đỡ cho cha mẹ, cho gia đình.
Tuy nhiên, phần lớn đều đã thất bại đắng cay. Thất bại vì không hiểu được phong tục và ngôn ngữ nơi đất khách quê người. Thất bại vì bị lạm dụng để trở thành phương tiện thỏa mãn tình dục cho cả bố lẫn con của người ta. Thất bại vì bị bán vào những ổ điếm, mang thân ra làm gái mãi dâm, kiếm tiền cho các chủ chứa…Thật là đau lòng và bi đát.
Tiếp đến là những cuộc tình xuyên lục địa.
Đối tượng được nhắm tới là những anh chàng Việt kiều, vì người ta mơ rằng :
- Lấy được Việt kiều thì tức khắc được đổi đời, từ nghèo hèn trở thành giàu có, từ vất vả cực nhọc trở thành sung suớng hạnh phúc.
Và không ít người cũng đã vỡ mộng.
Bên cạnh nhà gã có một cô bé. Thực tình mà nói, về phương diện ngoại hình thì cô bé bị xếp vào hạng dưới trung bình. Cô bé chỉ cao một thước rưỡi, nước da lại ngăm đen, nhưng bù lại trời phú cho cô bé cái khiếu về sinh ngữ. Cô bé rất giỏi tiếng Ăng Lê và làm giáo sư tại một trường học nọ.
Thế rồi cô bé được cử đi giao lưu văn hóa tại Ấn Độ trong ba tuần lễ. Tại đây cô bé làm quen với một anh chàng chính gốc Ăng Lê, “cham phần chăm” : da trắng, mắt xanh và cao những một thước tám.
Khi cuộc giao lưu chấm dứt, mọi người đều trở về quê hương bản quán của mình.
Lúc đầu chỉ là tình bạn tinh ròng, nhưng sau đó qua những cái “meo” được  trao đổi, tình bạn tinh ròng này bỗng chuyển biến và trở thành tình yêu lúc nào cả hai cũng không hay.
Tết năm ấy anh chàng Ăng Lê còn dẫn cả bà mẹ sang Việt Nam để xem nhà và xem mắt cô bé. Và truớc khi cử hành hôn phối, anh chàng Ăng Lê này đã qua và sống ở Việt Nam sáu tháng để ôn lại giáo lý và lo những thủ tục cần thiết.
Trong đám cưới mọi người tha hồ bình luận :
- Đúng là mối tình xuyên lục địa.
- Con nhỏ sao bạo gan thế.
Khi mọi sự đã hoàn tất, chính anh chàng Ăng Lê đã đưa cô bé sang Anh Quốc, để cùng nhau xây dựng một mái ấm hạnh phúc, bỏ lại sau lưng những lời bình luận đầy tình cảm cũng như đấy ác ý.
Đúng là tình yêu không phân biệt lãnh địa và đất nước.
Thứ ba, tình không biên giới về phương diện ngoại hình.
Hình như bây giờ bàn dân thiên hạ đều chú trọng tới ngoại hình, tức là cái hình dong bên ngoài, theo kiểu :
- Xem mặt mà bắt hình dong,
  Con lợn có béo, thì lòng mới ngon.
Trong mục tìm bạn bốn phương trên các tạp chí, nếu là phe nữ thì thường kèm theo một câu giới thiệu đại loại như thế này :
- Ngoại hình dễ nhìn…Ngoại hình coi được…Ngoại hình dễ thương…Ngoại hình bắt mắt…
Trong các thông báo tuyển mộ nhân viên, nếu là nữ, thì thường bị đòi hỏi một điều kiện, đó là là…ngoại hình phải đẹp.
Thành thử, nhiều người đã than ngắn thở dài :
- Thời buổi này đâu còn là thời buổi cái nết đánh chết cái đẹp, mà là thời buổi  cái đẹp đè bẹp cái nết.
Vì vậy, luôn xảy ra những cuộc hôn nhân “lệch pha” về ngoại hình, hai bên khác biệt nhau một trời một vực.
Trước hết là chuyện cao và thấp.
Bình thường người chồng phải cao hơn người vợ một chút, thì mới hài hòa cân đối. Nếu người vợ hơi bị lùn một tí thì có thể dùng giày hay guốc cao gót, để bù lấp chỗ thiếu hụt thước tấc của mình. Chứ còn thiếu hụt quá nhiều thì cũng đành…bó tay.
Như cô bé Việt Nam chỉ đứng tới ngực anh chàng Ăng Lê, xem ra cũng chẳng được ổn cho lắm, bởi vì mỗi khi anh chàng Ăng Lê muốn “mi” một cái, chắc sẽ phải thì thầm hay nghêu ngao bài hát của Trịnh Công Sơn :
- Cúi xuống, cúi xuống thật gần…
Thế nhưng, nếu chồng thấp vợ cao, thì đây chắc hẳn phải là điều bất ồn, làm cho bàn dân thiên hạ bàn tán, như ca dao đã diễn tả :
- Chồng thấp mà lấy vợ cao,
  Nồi tròn, vung méo úp sao cho vừa.
Hay :
- Mẹ em tham thúng xôi dền,
  Tham con lợn béo, tham tiền Cảnh Hưng.
  Em đã bảo mẹ rằng : đừng,
  Mẹ hấm, mẹ hứ, mẹ bưng ngay vào.
  Bây giờ chồng thấp vợ cao,
  Như đôi đũa lệch so sao cho vừa.
Thế nhưng, trên đời vẫn có những đôi đũa lệch, những cặp chồng thấp vợ cao.
Đúng là tình yêu không phân biệt thước tấc.
Tiếp đến là chuyện trắng và đen.
Vốn biết rằng :
- Tối lửa tắt đèn, trắng cũng như đen.
Thế nhưng, màu sắc hài hòa sẽ làm cho vợ chồng trở nên “bắt mắt” và dễ được bàn dân thiên hạ chấp nhận. Nếu trắng, thì cả hai cùng trắng. Nếu đen thì cả hai cùng đen, còn nếu ngăm ngăm, thì cả hai cùng ngăm ngăm.
Trái lại, nếu người này trắng, còn người kia lại đen thì thế nào cũng được miệng lưỡi thế gian chõ vào. Dầu vậy, vẫn có những cặp vợ chồng đối chọi và tương phản nhau về phương diện màu sắc.
Trước ngày 30 tháng 4 năm 1975, gã có một người học trò tên là Dũng. Vì nước da hơi bị tối, nên bè bạn trong lớp đã tặng cho hắn cái biệt danh là “Dũng Đen”.
Hai mươi năm sau, gã gặp lại người học trò cũ tại một vùng đất khỉ ho cò gáy. Hắn giới thiệu vợ hắn với gã. Thì ra vợ hắn là một người  phụ nữ có nước da trắng như trứng gà bóc.
Theo những định luật của sự di truyền, gã nhẩm tính trong lòng rằng : Có lẽ tổ tiên ba bốn đời của vợ hắn là một ông tây, nên bây giờ chị ta mới được thừa hưởng đôi mắt nâu màu hạt dẻ, cái mũi cao cao và nước da trắng như trứng gà bóc.
Lợi dụng nước da ngăm đen của mình, đồng thời lợi dụng đôi mắt nâu màu hạt dẻ, cái mũi cao cao và nước da trắng như trứng gà bóc của vợ, hắn chạy chọt và luồn lách để làm hồ sơ sang Mỹ theo diện con lai. Và hắn đã qua mặt các viên chức Mỹ cũng như Việt và gia đình hắn hiện đang sống  hạnh phúc tại Hawaii.
Đúng là tình yêu không phân biệt trắng đen.
Sau cùng là chuyện đẹp và xấu.
Trong cuộc sống, gã đã từng thấy có những anh chàng đẹp trai, học giỏi, con nhà giàu lại kết “mô đen” với một chị nàng xấu ơi là xấu. Và ngược lại, có những chị nàng đẹp ơi là đẹp lại đi lấy một anh chàng nông nãi vũ phu chi cục mịch.
Chỉ trong những cuộc thi hoa hậu, người ta mới bàn đến cái đẹp khách quan, được ấn đinh bởi những số đo vòng một, vòng hai, vòng ba…
Còn trong đời thường, người ta luôn nói tới cái đẹp chủ quan. Ngoại hình tuy hơi bị xấu, nhưng lại  có duyên ở cách ăn nói, ở chiếc răng khểnh, hay ở đôi má lúm đồng tiền…nên vẫn hấp dẫn là làm cho người khác mê như điếu đổ.
Vì thế, cái đẹp trong tình yêu mãi mãi vẫn chỉ là một cái đẹp chủ quan. Dưới lăng kính của tình yêu, người ta đã định nghĩa :
- Đẹp có nghĩa là con cóc cái dưới mắt con cóc đực.
Xấu là xấu với bàn dân thiên hạ, nhưng vẫn luôn là đẹp với người đang say men tình. Và chỉ cần có vậy mà thôi.
Đúng là tình yêu không phân biệt  đẹp xấu.
Nếu cứ tiếp tục phân tích, gã còn nhận ra biết bao nhiêu lãnh vực khác nữa. Tình không biên giới về tiền bạc, tình không biên giới về địa vị, tình không biên giới về giai cấp…Và để kết luận, gã xin mượn lời một tác giả trên báo Công An đã viết như sau :
“Tình yêu không phân biệt tuổi tác, giai cấp, kích thước và trọng lương. Có những ông già 70-80 lấy cô gái 20. Có những gã nẵng hàng trăm ký lấy người đẹp 38 ký. Hay cô em người mẫu cao 1,82 mét lấy anh chồng thấp chỉ được 1,3 mét đứng tới hông của mình. Có những ông vua lấy nàng thôn nữ, hay những tay đại tài phiệt lấy cô gái đứng đường…”
Tất cả những sự kiện “không biên giới”, “không phân biệt” hay “lệch pha” kể trên, theo gã nghĩ , đều được  xuất phát bởi những đánh giá mang tính cách chủ quan của mình, như tục ngữ  và ca dao đã diễn tả :
- Yêu nhau muôn sự chẳng nề,
  Một trăm chỗ lệch, cũng kê cho bằng.
Một khi đã yêu, đã thương thì củ ấu cũng tròn và trái bồ hòn cũng ngọt.
Vậy gã xin giơ cả hai tay lẫn hai chân để nhiệt liệt hoan hô :
- Tình không biên giới muôn năm !!!
Gã Siêu

 

Chuyện Gã Siêu 56: CÒ

CÒ Chuyện Gã Siêu 56

Theo “Việt Nam tự điển” của Lê văn Đức thì cò được định nghĩa là một loại chim cẳng cao, mỏ Chuyện Gã Siêu 56

Theo “Việt Nam tự điển” của Lê văn Đức thì cò được định nghĩa là một loại chim cẳng cao, mỏ dài, mình thon, đuôi nhọn, ăn cá, bình thường lông màu trắng, nhưng cũng có loại lông màu xám như cò hương, hay lông màu đỏ như cò lửa…
Khi tìm hiểu về ca dao, gã thấy hình ảnh con cò là một hình ảnh quen thuộc và thân thương nhất của người bình dân.
Thực vậy, vãi mồ hôi trên đồng ruộng, người nông dân có con trâu làm bạn để giúp đỡ họ. Thế nhưng trâu thì nặng nề, chậm chạp và suốt đời vất vả.
Vì vậy, để đầu óc được thư giãn, thảnh thơi và bay bổng, người nông dân đã mượn hình ảnh con cò, một hình ảnh vừa thơ mộng lại vừa đẹp đẽ để nói lên những ước mơ và những hiện thực của đời mình.
Như người nông dân, con cò cũng đã phải vất vả kiếm sống :
               - Lặn lội thân cò khi quãng vắng,
                 Eo xèo mặt nước buổi đò đông,
Như người nông dân, con cò đã chết đi trong cô đơn nghèo túng :
               - Cái cò chết rũ trên cây,
                 Cò con mở lịch xem ngay làm ma.
               - Cái cò chết tối hôm qua,
                 Có hai hạt gạo với ba đồng tiền,
                 Một đồng mua trống mua kèn
                 Một đồng mua mỡ đốt đèn thờ vong
                 Một đồng mua mớ rau rong
                 Đem về thái nhỏ thờ vong con cò.
Như người nông dân, con cò cũng đã phải chịu nhiều cảnh oan ức vì thấp cổ bé miệng :
               - Cái cò cái vạc cái nông,
                 Sao mày dẫm lúa nhà ông hỡi cò,
                 Không không tôi đứng trên bờ,
                 Mẹ con cái vạc đổ thừa cho tôi,
                 Chẳng tin ông đến tận nơi,
                 Mẹ con nhà nó còn ngồi ở kia.
Như người nông dân, con cò cũng đã chia sẻ số phận cay đắng của đất nước :
               - Nước non lận đận một mình,
                 Thân cò lên thác xuống gềnh bấy nay.
Và đôi lúc cũng đã bị đàn áp dã man :
               - Con cò mà đậu cành tre,
                 Thằng Tây bắn súng cò què một chân,
                 Đến mai ra chợ Đồng xuân,
                 Chú khách mới hỏi sao chân cò què,
                 Cò rằng cò đứng bờ tre,
                 Thằng Tây bắn súng cò què một chân.
Như người nông dân, con cò cũng có những giây phút mộng mơ và nhung nhớ :
               - Một đàn cò trắng bay quanh,
                 Cho loan nhớ phượng cho mình nhớ ta,
                 Mình nhớ ta như cà với muối,
                 Ta nhớ mình như cuội với trăng.
Như người nông dân, con cò dù có phải chết vẫn cố gắng giữ lấy sự trong trắng của mình :
               - Con cò mày đi ăn đêm,
                 Đậu phải cành mềm luôn cổ xuống ao,
                 Ông ơi ông vớt tôi nao,
                 Tôi có lòng nào ông hãy xáo măng,
                 Có xáo thì xáo nước trong,
                 Đừng xáo nước đục đau lòng cò con.
Dĩ nhiên con cò không phải chỉ là hình ảnh tượng trưng cho người nông dân, mà hơn thế nữa, nó còn được sử dụng trong nhiều trường hợp khác nhau.
Nào là hình ảnh của một em bé mồ côi :
               - Cái cò là cái cò vàng,
                 Mẹ đi đắp đàng con ở với ai,
                 Con ở với bà, bà không có vú,
                 Con ở với chú, chú là đàn ông.
            Nào là hình ảnh của một cô gái được muông chiều :
                   - Cái cò là cái cò con
                     Mẹ nó yêu nó, nó càng làm thơ.
                   - Cái cò là cái cò kỳ,
                     Ăn cơm nhà dì, uống nước nhà cô,
                     Đêm nằm thì gáy o o,
                     Chửa ra đến chợ đã lo ăn quà.
                   - Cái cò bay bổng bay lơ,
                     Lại đây anh gửi xôi khô cho nàng.
                   - Cái cò lặn lội bờ ao,
                     Phất phơ hai giải yếm đào gió bay.
Và nhất là hình ảnh người vợ Việt Nam tần tảo, chắt chiu nuôi chồng, nuôi con :
                        - Cài cò lặn lội bờ sông,
                          Gánh gạo đưa chồng tiếng khóc nỉ non
                          Nàng hãy trở lại cùng con,
                          Để anh đi trẩy nước non Cao bằng.
Hình ảnh con cò trong ca dao, trong văn chương bình dân thật là phong phú, gã  có thể kê đơn hoàn tán nhiều nhiều nữa.
Còn trong đời thường, con cò cũng không kém phần đa dạng. Này nhé, cò là nhảy một chân. Cò là thanh tre mỏng dùng để điểm công gánh, công vác bằng cách bẻ từng đoạn ngắn, vì thế mới gọi là bẻ cò. Cò là một bộ phận của cây súng, khi bấm nó mổ vào viên đạn và làm cho đạn nổ, vì thế mới nói là bóp cò. Cò là tem để dán vào thư. Có cò thì bưu điện mới chuyển, bằng không thì cũng vẫn chuyển nhưng người nhận sẽ bị phạt.
Riêng trong phạm vi con người, cò cũng rất ư là nhiêu khê. Trước hết, hồi còn bé, gã không hiểu tại sao ở làng gã, thiên hạ thường gọi những đứa con trai thuộc vào hàng suy dinh dưỡng là…thằng cò. Chắc hẳn chỉ vì thân hình của chúng còm cõi, mảnh mai như một bộ xương cách trí, khẳng khiu như cánh cò trên ruộng đồng.
Rồi cò còn là một tiếng chửi nhẹ nhàng của bọn con nít. Vì thế, khi bực bội, tức tối, chúng liền không ngần ngại cho nhau ăn…cò.
Dưới thời Pháp thuộc, gã thấy xuất hiện một vài loại cò đặc biệt.
Thực vậy, cò là sửa bài trong nhà in. Bài viết được xếp chữ và in thử. Khi bản in đầu tiên mới ra lò, thì lập tức được chuyển đến thày cò, để anh ta đọc và ghi chú những chỗ sai hay chưa vừa ý, cần phải đổi thay. Chữ cò này xuất phát từ chữ “corriger” nghĩa là sửa, chữa. Còn “correcteur” nghĩa là thày cò, người sửa bài, người chữa bài.
Tiếp đến, cò còn chỉ viên cảnh sát trưởng nói riêng, hay mấy thày cảnh sát nói chung. Chữ cò nay xuất phát từ chữ “commissaire” nghĩa là ông cò. Còn “phú lít” xuất phát từ chữ “police” cũng có nghĩa là cảnh sát.
Tuy nhiên, hiện nay tại Việt Nam đang có một nghề mới phất lên như diều gặp gió mà gã xin đề cập đến, đó là nghề…cò.
Theo báo “Tuổi trẻ Chủ nhật”, chữ cò này xuất phát từ chữ “commission” nghĩa là tiền hoa hồng, tiền côm hay tiền cò.
Còn theo ngu ý của gã, cò nay có lẽ xuất phát từ “cò mồi”, là loại cò được nuôi làm mồi để dụ khị lũ cò hoang sa vào bẫy. Vì thế bọn cò mồi là bọn giả bộ theo phe mình đề làm hại cho phe mình và làm lợi cho phe chúng.
Nghề làm cò bây giờ đôi lúc thật tệ lậu và trắng trợn, đã tạo nên không ít những cảnh dở mếu, dở khóc và dở cười…
Nói một cách văn hoa thì đó là nghề làm môi giới, làm trung gian, làm tiếp thị. Còn nói một cách nôm na và bình dân thì đó là hạng mối lái, dụ khị thiên hạ mua hàng hay cậy nhờ một công việc nào đó. Họ chỉ cần dẻo mép, mánh khóe và đôi khi cả áp lực nữa để kiếm lời cho mình. Họ là những người trung gian, chuyên bán nước bọt để chấm mút tí tiền còm.
Nếu ai đã từng sống ở Châu đốc, hẳn phải biết từ sau tết nguyên đán, thiên hạ đã chuẩn bị cho ngày lễ hội Bà Chúa xứ tại núi Sam, vốn được gọi là Vía Bà.
Trong những ngày lễ hội này, hiện nay ở đây hội tụ đủ mặt mọi hạng cò mà báo “Công an” đã phải gọi là “làng cò Núi Sam” . Thôi thì thượng vàng hạ cám, hầm bà lằng xắng cấu. Đủ loại cò. Đủ thứ cò.
Này nhé, khi khách vừa chân ướt chân ráo đến nơi thì đã có ngay một lực lượng cò dành dật khách tới nhà trọ này, tới khách sạn nọ.
Bước vào lễ hội, khách là thiện nam tín nữ, muốn biểu lộ tấm lòng thành của mình đối với Bà, thì liền có ngay một đội ngũ cò đông đảo để phục vụ cho nhu cầu lễ bái và cúng kếng.
Nào là “cò heo quay” với khoảng ba chục tên chuyên nghiệp, rất giỏi việc khua môi múa mỏ, gian lận trong giá cả và trong cân đo, sẵn sàng nhét đầy tiết heo, tiết bò trong bụng heo quay để cân cho nặêng, vì thế mà hạng cò này ăn nên làm ra một cách mau chóng.
Nào là “cò nhang đèn”, thay vì thắp một nén nhang để tỏ lòng tôn kính, người ta đã lạm phát  nhang, để rồi nhang đã trở thành một dụng cụ để…hun Bà. Suốt ngay khói tỏa nghi ngút thì làm sao mà chịu nổi.
Nào là “cò phóng sinh” mối lái để khách mua chim rồi thả ra để cầu mong lộc Bà. Chim trong lồng nhảy lên nhảy xuống, nên mặc sức đếm gian theo kiểu năm mười mười lăm…Chim được xổ lồng bay ra thì ít mà chim được đếm thì lại nhiêàu.
Và khi khách buồn tình, muốn giải sầu thì lập tức có ngay bọn “cò tệ nạn”, hay nói huỵch toẹt ra, đó là cò…gái, cò mãi dâm. Quả là hết ý.
Báo “Tuổi trẻ Chủ nhật” đã phải lên tiếng báo động :
- Chưa bao giờ nghề cò lại phát triển bát nháo như hiện nay.
Theo tác giả Nguyễn thị Oanh, thì ngày xưa có “ông mai bà mối” nhưng họ chỉ ăn “đầu heo” thôi vì mục đích giới thiệu này mang tính cách nhân đạo. Chẳng hạn mách cho bệnh nhân được gặp thày gặêp thuốc…Đẹp biết mấy những môi giới vì hạnh phúc con người.
Còn bây giờ thì khác, hoạt động cò không xuất phát từ nhu cầu của người “bị phục vụ” mà từ động cơ ranh ma lợi dụng và khai thác họ.
Chẳng hạn tiệm bán thịt nằm sát mặt đường, khách có thể dừng xe để mua hay người bán hàng có thể bước ra vài bước để giao hàng. Vậy mà có tới hàng chục thanh niên vạm vỡ, la hét, níu kéo làm người mua ngao ngán bực mình. Con người bán, đã mất khách, lại phải nộp tiền mãi lộ cho chúng mà chẳng dám ho he.
Đai loại gã có thể phân chia thành hai loại cò.
Trước hết là cò dịch vụ, làm trung gian mua bán vật dụng như cò xe, cò nhà, cò đất, hay chạy chọt giấy tờ với những thủ tục hành chánh rắc rối, nhiêu khê tựa mê hồn trận như cò xuất ngoại, cò hộ khẩu, cò sang nhượng…
Thế nhưng khi mắc míu, dính líu với hạng cò này, chúng ta cần tỉnh táo và đề cao cảnh giác, bởi vì rất nhiều mánh chỉ là mánh dổm, rất nhiều cò chỉ là cò giả, nhận tiền rồi tung cánh bay cao, khiến chúng ta tiền mất tật mang, công việc thì cứ dậm chân tại chỗ, hết tháng này qua tháng khác, chẳng đi đến đâu cả.
Tuy nhiên, đáng kinh tởm hơn cả phải là loại cò thứ hai này, đó là cò người, gã chỉ xin liệt kê một vài loại chính điển hình mà thôi.
Chẳng hạn như cò tệ nạn, cò mãi dâm, cò…gái. Một buổi tối bạn lang thang trên phố vắng hay tại công viên, rất có thể bạn sẽ bị hỏi thẳng thừng một cách sỗ sàng :
- Có mốn giải sầu không sư phụ ?
- Có cần em út không đại ca ?
Chẳng hạn như cò lấy chồng nước ngoài, nhất là lấy mấy chú ba tàu xếnh xáng gốc Đài loan. Hạng cò này len lỏi khắp hang cùng ngõ hẻm, luồn lách tận vùng thôn quê hẻo lánh, gạ gẫm, dụ dỗ, rót vào tai những cô gái và những bậc phụ huynh những lời ngon ngọt, đường mật về tiền bạc và hạnh phúc, để rồi mấy cô gái nhẹ dạ ấy đã ca bài “cũng liều nhắm mắt đưa chân”, cuối cùng phần đông đã phải ngậm đắng nuốt cay một số phận nghiệt ngã, một kết thúc bẽ bàng nơi đát khách quê người.
Chẳng hạn như cò con nuôi. Một cô gái chửa hoang đang lo lắng sợ hãi thì vớ ngay được tên cò loại này. Hắn không những trấn an mà còn đặt tiền cọc cho cái bầu nữa.
Vậy là thay vì ăn năn hối cải, cô gái sẽ chai lì và dám làm thêm một cái bầu nữa để kiếm tiền. Như thế, cô gái không chỉ vi phạm luật pháp, chà đạp nhân phẩm phụ nhữ và trẻ em, mà còn tích cực góp phần làm băng hoại các giá trị đạo đức.
Chẳng hạn như cò phá thai. Một cô gái lỡ mang bầu, ngơ ngác và rụt rè tới cổng bệnh viện, lập tức được mấy tay cò nạo thai xớp đi mau chóng  và nhiều cô  đã bỏ mạng vì đến những chỗ phá thai lậu, không bảo đảm về mặt vệ sinh và y khoa.
Chắc chắn là còn nhiều loại cò khác nữa, nhưng bằng đó mà thôi cũng đã đủ ngán ngẩm và nhức nhối cho một xã hội đang nhích lên về mặt kinh tế, nhưng lại đang tuột dốc về mặt đạo đức.
Biết làm sao vực lên bây giờ ?
Gã Siêu

 

Chuyện Gã Siêu 57:  TẾT

TẾT Chuyện Gã Siêu 57

Bây giờ là buổi chiều cuối năm, nắng vàng rơi rụng, làm cho những ý nghĩ xám xịt cứ lãng đãng Chuyện Gã Siêu 57

Bây giờ là buổi chiều cuối năm, nắng vàng rơi rụng, làm cho những ý nghĩ xám xịt cứ lãng đãng trong đầu óc gã, khiến cho gã phải thờ dài thườn thượt như người xưa :
- Ôi nhân sinh là thế ấy,
  Như bóng đèn, như mây nổi, như gió thổi, như chiêm bao.
Thời gian thấm thoát tựa thoi đưa, tựa ngựa hồng qua khung cửa. Một khi đã chắp cánh bay đi thì chẳng bao giờ trở lại. Nó giống như dòng sông, làm sao có thể chảy ngược về nguồn. Nó cũng lững lờ trôi, chẳng cần chờ ai mà chẳng cần ai chờ nó :
- Xoay vần ngày tháng thoáng qua
  Năm kia nào có đợi ta bao giờ.
Chính trong những ý nghĩ xám xịt ấy, mà gã lan man, tản mạn nghĩ về cái tết.
Vậy tết là đí gì ?
Trước câu hỏi này, gã phải vác tự điển ra tra cứu, vì sự hiểu biết của gã về vấn đề này rất là  “lơ tơ lơ mơ”.
Theo  “Việt Nam từ điển” của lê văn Đức, thì tết là ba ngày đầu năm âm lịch. Đồng thời nó còn chỉ khoảng cách thời gian trước và sau ba ngày này.
Thí dụ như khi tôi nói chợ tết, thì phải hiểu chợ được nhóm trước tết, chứ sau tết thì chỉ còn là chợ bán những đồ ế, của thừa mà chớ…
Điều rắc rối là về ngày. Khi ta bảo hai mươi chín tết phải hiểu là trước. Trái lại, khi ta nói những ngày còn ở trong… mùng,  như mùng bảy, mùng tám, mùng mười, thì tất ráo cả đều là sau tết.
Ngoài ra, tết còn chỉ những ngày lễ lớn trong năm, như tết trung thu… Hay chỉ hành động xách đồ vật đi biếu nhân ngày tết :
- Mồng một tết cha,
  Mồng hai tết chú
  Mồng ba tết thày.
Trong khi đó, theo : “Thành ngữ, điển tích, danh nhân từ điển”, của Trịnh văn Thanh, thì thời gian ăn tết co dãn như cao su và thường  được kéo dài ra nhiều hơn. Đó là tám ngày đầu năm.
Ngày xưa các cụ cho mỗi ngày thuộc một giống khác nhau. Mùng một thuộc gà, mùng hai thuộc chó, mùng ba thuộc heo, mùng bốn thuộc dê, mùng năm thuộc trâu, mùng sáu thuộc ngựa, mùng bảy thuộc người và mùng tám thuộc thóc.
Vì thế, vào dịp tết người ta thường nghỉ sáu ngày, đến ngày mùng bảy thuộc người, được kêu là khai hạ, mới bắt đầu làm việc.
Chẳng hạn như gã, sống bằng nghề cạo giấy, thì ngày mồng bảy thể nào cũng phải bắn một điếu thuốc lào, thả hồn theo khói, rồi tay cầm bút nguệch ngoạc vài dòng, gọi là  “khai bút” lấy hên cho năm mới.
Riêng quí vị thất nghiệp, ưa ngáp vặt, ngồi chơi xơi nước, thì còn nghỉ mút chỉ hơn nữa :
- Tháng giêng là tháng ăn chơi,
  Tháng hai trồng đậu,
  Tháng ba trồng cà.
Gã biết một nhóm bè bạn, gồm đúng mười hai tên, được gọi là “thập nhị sứ quân”. Họ nhậu xoay vòng, cứ ngày mồng bảy âm lịch mỗi tháng  là đến “lai rai” tại nhà một tên, thành thử suốt năm họ đều…ăn tết cả.
Xong chuyện thứ nhất, bước tới chuyện thứ hai. Vậy trong cả và thiên hạ, người ta ăn tết ra làm sao ?
Mỗi lần nghĩ  về cái tết, dân khố rách áo ôm như gã thường thở dài ngao ngán, như người xưa đã diễn tả :
- Tết đến,
  Ông vải thì mừng, con cháu thì lo.
Đúng thế, ông vải thì mừøng bởi vì được tưởng nhớ, được cúng vái và nhất là được hưởng… hương khói.
Trong khi đó, con cháu thì lo bởi vì phải sắm sửa trăm thức bà giằng.
Còn hôm nay, gã có thể đổi lại câu nói trên một tí xíu :
- Tết đến,
  Con nít thì mừng,
  Người lớn thì lo’’.
Thực vậy, con nít thì mừng bởi vì sẽ được nghỉ học, sẽ được tiền lì xì, sẽ được mặc quần áo mới, sẽ được ăn thịt và còn nhiều cái khác ‘’sẽ được’’ khác nữa…
Trong khi đó, người lớn thì lo, lo đến toát cả mồ hôi hột, bởi vì trăm dâu đổ đầu tằm, bao nhiêu chi phí đều cậy nhờ vào ‘’cái hào bao’’ đang độ rỗng tuếch…
Trước tết thật lâu, thằng bạn gã đã hối bà xã mua hoặc may cho quí vị con nít, mỗi nhóc tì một bộ quần áo mới. Vì lúc bấy giờ vải còn rẻ và tiền công chưa mắc. Hay âm thầm sắm những bộ đồ “sida” đem về giặt ủi y như mới, rồi cất kỹ đến tết mới phô ra cho chúng.
Ngày ba mươi tết, bà xã hắn cứ thấp thỏm muốn đi chợ thật sớm, thế là hắn bèn phải vắt óc tìm đủ một ngàn lẻ một lý do để  cản chân bà ta lại, khiến bà ta đi chợ muộn hơn thường lệ, bởi vì từ giờ ‘’ngọ’’ tức là vào khoảng giữa trưa , thịt thà, đường mứt và hoa kiểng đều rẻ… chỉ tội nó hơi kém tươi, hơi kém ngon một chút mà thôi.
Nhưng nào có can chi, bởi vì  hắn lý luận :
- Của không ngon,
  Nhà niều con cũng hết.
- Phải giả bộ đủng đỉnh cho qua ba ngày tết để lấy vải thưa che mắt thiên hạ, khỏi nhìn thấy cái rách mát te tua của mình.
Hắn cũng giống như một cô gái được ông thày bói sờ mu rùa, gieo quẻ mà phán :
- Số cô chẳng giàu thì nghèo
  Ba mươi tết có thịt heo trong nhà’’.
Miễn là có hoa kiểng, có bánh mứt, có thịt thà cá mú để ‘’lên mặt với đời’’ còn phẩm chất của chúng ra sao thì thôi, kệ bà chúng. Méo mó có hơn không. Thói đời vốn thường vậy kia mờ :
- Chí cha chí chát khua giày dép
   Đen thủi đen thui cũng lượt là.
Tính toán chi li như vậy, hẳn gã sẽ phải phong hắn lên hàng ‘’trùm sò’’ mất thôi. Nhưng đành chịu vậy. Cái khó bó cái khôn, biết nói sao bi giờ.
Ngoài những mua sắm cần thiết cho cái mặc, cái ăn, cái uống… cả năm đầu tắt một tối, thì cũng phải phong lưu ít ra trong ba ngày tết cho bõ ghét.
Rồi sau đó, lại cúi gầm mặt xuống, tiếp tục kéo cày trả nợ cho cuộc đời mà vẫn cảm thấy hả lòng hả dạ, mát ruột mát gan.
Phải, ngoài những chi phí kể trên, là xếp trong gia đình, hắn còn phải dành cả một ngân khoản, cả một số tiền… khơ khớ, để lì xì.
Ngày xưa hắn vui mừng vì được lì xì bao nhiêu thì bây giờ hắn lại xót ruột, nhót gan và ỉu xìu bấy nhiêu vì phải lì xì.
Lì xì cho con nít còn đơ đỡ một chút. Nhưng con nít thời nay khôn hơn con nít thời xưa. Qua mặt nó bằng đồng tiền ‘’mới mà nhỏ’’ là không xong, thế nào nó cũng đòi cho được đồng tiền to, có cũ một tí cũng chẳng nhằm nhò gì.
Phiền nhất và đau nhất là phải lì xì cho những cặp vợ chồng “đỏ” đi tết mới. Đây cũng là dip để họ ‘’bù lỗ’’ cho đám cưới.
Theo phong tục quê gã, đồ lỡi thường là một cặp rượu, một cặp bánh chưng, một ký đường… hay thế nào thì tùy hỉ, không cần thiết lắm. Đồ lỡi chỉ có tính cách nghi thức tượng trưng và trình diễn, vì sau đó anh chị được lấy lại và đem sang nhà khác, miễn sao bày biện cho đẹp mắt và dễ coi.
Riêng phần khổ chủ, phải mở hào bao lì xì. “Bèo” quá thì không được, bởi vì đây sự góp vốn đầu đời cho anh chị mới làm ăn. Nhưng “khơ khớ” một chút thì không cáng đáng nổi. Thử hỏi, dịp tết mà có chừng hai mươi cặp đến tết mới, nhận họ nhận hàng, thì quá là nguy tai, và… vỡ nợ !
Gã là kẻ có khiếu ăn, mà chẳng có khiếu nói, bởi vì tinh thần ăn uống được Chúa ban cho ngay từ lúc lọt lòng mẹ. Do đó, những lời chúc hay những câu “đáp lêã “, gã thường phải nhẩm trước trong bụng.
Nhớ lại hồi còn bé, sáng mồng một tết thật là vui. Thày mẹ gã ở nhà để nhận đồ lỡi, còn anh em gã phải hớn hở vác đồ lỡi đi tết ông chú bà bác, những người ở… vai trên.
Trước khi đi, mẹ gã thường gài cho một lời chúc, bắt phải học thuộc lòng như sau :
- Năm hết tết đến, thày mẹ chúng cháu cho chúng cháu đến tết hai bác, cầu chúc hai bác trong năm mới được… vân vân và vân vân…
Lớn lên, gã thường phải “vắt chân lên trán” để phệu ra những lời chúc thật dí dỏm, vừa để cười thầm một chút vừa để chọc ghẹo thiên hạ cho vui cửa vui nhà.
Thí dụ  năm Canh Mùi, cầm tinh con dê, gã bèn mở miệng  :
- Trước thềm năm mới, xin chúc chị năm con dê… nhiều may mắn.
Hay :
-Xuân về, chúc anh năm con… dê nhiều… may mắn.
Chúc như vậy, thì cứ liệu hồn đấy, không chừng sẽ được ăn đòn hội chợ đến phù cả mỏ ra. Tuy nhiên, có những câu chúc mà ngày nay xét ra không còn hợp thời nữa.
Thí dụ :
- Chúc cho anh chị mới, đầu năm sinh con trai, cuối năm sinh con gái… hay đẻ “tốc hành” theo kiểu cá cặp, sinh đôi, sinh ba...
Chúc như vậy là đi ngược lại với đường lối và chủ trương của nhà nước, vì nhan nhản ngoài đường phố thấy những tấm bích chương với khẩu hiệu :
- Vợ chồng son hai con  là đủ.
- Dù gái hay trai,
  Hai con là đủ.
Hơn nữa, nếu nhiều quá thì vợ chồng trẻ cũng khó mà khan nổi giữa thời buổi gạo châu củi quế này.
Dịp tết, ai cũng mong được nhiều may mắn. Người ta kiêng cữ đủ thứ để tránh cái xui cái xẻo. Người ta lên chùa hái lộc để rước vận may. Người ta đi xem bói, chấm lá số tử vi để biết được thêm một tí tẹo về hậu vận.
Bởi vì, như dân Thổ Nhĩ Kì đã bảo :
- Tương lai giống như người đàn bà mang thai, chẳng hiểu bà ta sẽ đẻ ra con trai hay con gái.
Câu danh ngôn này, hôm nay xem ra đã “xưa rồi Diễm ơi”, bởi vì nhờ siêu âm người ta biết rằng bà xã sẽ sinh con trai hay con gái từ lúc bào thai còn bé tẹo tèo teo.
Nhưng tương lai hậu vận thì vẫn còn mù tịt. Gã sẽ treo giải thưởng, còn đắt giá hơn giải Nobel, cho ai sáng chế ra chiếc máy dò tìm và xác định được tương lai hậu vận.
Bây giờ thì gã đành phải mượn lời của Tú Mỡ mà long trọng cầu chúc :
- Lẳng lặng mà nghe nó chúc nhau
  Chúc nhau trăm tuổi bạc đầu râu
  Phen này ông quyết đi buôn cối
  Thiên hạ bao nhiêu đứa giã trầu.
- Lẳng lặng mà nghe nó chúc nhau
  Đứa thì mua chức đứa mua quan
  Phen này thì ông quyết đi buôn lọng
  Vừa chửi vừa rao cũng đắt hàng
Còn rất nhiều chuyện để nói về ngày tết, nhưng cứ lông bông, nói dông nói dài, thì sợ bị thiên hạ kê ngay tủ đứng vào miệng :
- Biết rồi, khổ lắm, nói mãi.
Vì thế, gã xin trở lại với những ý nghĩ xám xịt lúc ban đầu.
Nếu trong chuyện Kiều, Nguyễn Du đã bảo :
- Chữ tài liền với chữ tai một vần.
Cùng theo thể thức ấy, gã liền phệu :
- Chữ tết liền với chữ chết một vần.
Một ông thi sĩ  nào đó đã viết :
- Yêu là chết trong lòng một tí.
Còn gã, gã cũng có thể phệu :
-Tết là chết trong đời một tí.
Đúng thế, trong dịp tết này rất nhiều người sẽ chết.
Phải, họ chết vì rượu bởi vì họ uống tới tình trạng say xỉn, ngoắc cần câu. Rất may cái chết này chỉ là một cái chết  tạm thời, bởi vì người ta sẽ tỉnh lại sau cơn say.
Có những chàng trai và cô gái sẽ chết vì đua xe, vì đụng xe hay vì lạng lách trên đường phố. Rất may cái chết này chỉ dành cho một số ít, đó là những cô chiêu cậu ấm, ăn no dửng mỡ… mà đứt bóng !
Nhưng quan trọng hơn vẫn là cái chết chung  cho mọi người  ở mọi nơi và trong mọi lúc.
Thực vậy, một năm mới sắp tới, cũng có nghĩa là một năm cũ sắp qua đi trong dòng chảy cuộc đời. Cây nến hồng cuộc sống sẽ ngắn lại một chút, bởi vì mỗi cái tết là một bước tiến gần đến cái chết, để rồi một lúc nào đó, cây nến hồng ấy sẽ phụt tắt.
Tết là chết trong đời một tí.
Mới ngày nào, gã còn trẻ trung, khỏe mạnh và yêu đời, thế mà hôm nay đã phải cõng trên vai một tí tuổi. Tết đến, gã sẽ già hơn một chút.
Với tí tuổi mang nặng, gã cảm thấy lưng oằn xuống, thân xác giở quẻ với những chứng bệnh mà gã không ngờ trước. Cuối cùng, thuyền đời sẽ cặp bến, nhưng bến đục hay bến trong ? Điều đó lệ thuộc vào cuộc sống hiện tại của gã.
Lúc này gã đã nghĩ trước một điều ước, để trong đêm giao thừa, lỡ có một bà tiên, hay một cô tiên thì càng tốt, quá bộ đến vỗ vai và bảo :
-Hãy ước một điều.
Hẳn gã sẽ trả lời liền tù tì như sau :
- Xin cho gã được làm con nít mãi mãi.
Hồi còn bé, gã chỉ mong ước được làm người lớn, để khỏi phải đi học, khỏi phải bị mắng, khỏi phải bị khua dậy đi lễ… mặc sức la hét om sòm cũng như ngủ nuớng và tết đến lại còn “sẽ được” nhiều thứ.
Gã thường  hay hỏi ông ngoại :
- Làm thế nào cho tuổi mới nó vào ?
Ôâng ngoại xoa đầu gã, rồi mỉm cười và nói :
- Đêm giao thừa hãy chổng mông lên.
Thằng bé mê ngủ quên cả chổng mông, thế mà tuổi vẫn vào ào ào và xác vẫn lớn.
Bây giờ gã mới thấy :
- Mơ làm người lớn quả là điều dại dột, bởi vì người lớn phải nghĩ nhiều, phải lo nhiều, phải làm nhiều và nhất là… chóng về chầu trời.
Viết tới đây, gã bỗng nghe thấy tiếng hát của Hồng Nhung với chiếc răng khểnh vọng lên từ chiếc “cát xét” của quán nước bên nhà hàng xóm được vặn hết cỡ thợ mộc điếc cả lỗ nhĩ và rát cả con ráy :
- Em không muốn làm người lớn đâu anh,
  Ứ hư….ứ hư…
Gã Siêu

 

Chuyện Gã Siêu 58: TRẺ VÀ GIÀ

TRẺ VÀ GIÀ Chuyện Gã Siêu 58

Trong mục sổ tay của tuần báo Tuổi Trẻ Chủ Nhật, gã lượm được một mẩu tin như sau : - Kể từ Chuyện Gã Siêu 58

Trong mục sổ tay của tuần báo Tuổi Trẻ Chủ Nhật, gã lượm được một mẩu tin như sau :
- Kể từ nay, chính phủ sẽ không bổ nhiệm người làm thứ trưởng và những chức vụ tương đương quá 55 tuổi. Khi đọc thông báo trên do thủ tướng vừa ký ngày 18 tháng 4, một công chức cấp vụ ở Hà Nội nói với người viết : dễ có đến 20% số cán bộ mang cấp hàm thứ trưởng sẽ ra đi vì tuổi không còn đúng với tiêu chuẩn…
Mẩu tin này cũng khiến cho gã phải sờ vào gáy mình và nhận ra rằng :
- Sống lâu lên lão làng, cứ cái điệu này thì mình cũng sắp    được …ra ngũ, về nhà đuổi gà và trồng hoa. Chẳng biết nên vui hay nên buồn.
Gã nhớ lại hồi đầu mình còn để chỏm, hình như có đọc trong sách Quốc âm Giáo khoa thư bài học về một câu đố :
- Con gì sáng nó đi bốn chân, trưa nó đi hai chân và chiều nó đi ba chân ?
Xin thưa :
- Đó chính là con người.
Thuở còn nhỏ, chúng ta bò lê bò la bằng cả hai tay lẫn hai chân, vị chi là bốn. Lớn lên, chúng ta đứng thẳng và mạnh mẽ bước tới. Còn khi về già, chúng ta phải chống thêm một chiếc gậy nữa là ba.
Các cụ ta ngày xưa đã ngán ngẩm mà bảo :
  - Âm thầm ngày tháng trôi qua,
    Năm kia nào có đợi ta bao giờ.
Đúng thế, chẳng ai có thể cản được những bước chân âm thầm của thời gian. Cứ nhìn vào xấp nhỏ, lớn lên như thổi, gã bèn nghiệm ra gánh nặng tuổi đời đang đè xuống đôi vai còm cõi của gã và dấu ấn thời gian đã in đậm trên khuôn mặt gã.
Cách đây không lâu, một cô bé Việt kiều hớn hở đến thăm gã. Phối kiểm lại bộ nhớ, gã thấy được  rằng : khi khăn gói quả mướp theo thày bu xuống tàu đi vượt biên, cô bé này còn đang ở lứa tuổi “babilắc”, suốt ngày chơi ô quan và nhày cò cò ở sân nhà gã, thậm chí còn anh dũng mặc quần đùi đi móc cua ngoài đồng về cho chị nấu riêu, thế mà giờ đây đang độ đào tơ trổ mã, đẹp như một cô tiên, giống hệt một bài thơ cổ đã diễn tả :
- Hồng hồng tuyết tuyết,
  Mới ngày nào chửa biết cái chi chi,
  Mười mấy năm thấp thoát có xá gì,
  Ngoảnh mặt lại đã tới kỳ tơ liễu.
Ngay như chính bản thân gã cũng vậy. Bốn mươi năm được coi là đỉnh cao cuộc đời, rồi sau đó bắt đầu đi xuống ở triền núi bên kia. Tới cái mốc này, mắt gã bỗng mơ huyền, phải vội vã ra tiệm cắt ngay một chiếc kính lão, để khỏi trông gà hóa quốc.
Rồi từ đó, lục phủ ngũ tạng bắt đầu rệu rạo. Nhất là khi đã bước vào tuổi “ngũ tuần”, thì sức kéo bị giảm sút một bậc, làm việc lâu một xíu là cảm thấy mệt mỏi, uể oải liền tù tì ngay à.
Nhớ hồi còn trẻ, ngồi đánh máy chữ lọc cọc suốt tám chín tiếng đồng hồ mà chẳng hề hấn, sứt mẻ chi cả, thậm chí có những lúc gấp rút, làm ngày không đủ phải tranh thủ làm cả ban đêm mà vẫn cứ phom phom và hăng tiết vịt.
Chứ bây giờ, khi đã có tí tuổi, gõ máy dù là máy vi tính, chỉ một lúc là liền nhức nhối từ đầu ngón tay cho đến tận…lái tim. Rồi ăn chẳng biết ngon, ngủ thì cứ mơ mơ màng màng.
Sức kéo giảm sút đã đành, mà tuổi năm mươi còn là khởi điểm cho đủ mọi thứ bệnh hoạn. Nào cao huyết áp, nào nhồi máu cơ tim, nào tai biến mạch máu não, nào loét bao tử, nào đái…đường. Bản án tử hình dường như đã được treo lơ lửng trên đầu quí cụ thượng thọ ngũ tuần.
Nghĩ vậy, nên cứ bình tĩnh mà run. Vì thế, hôm rồi gã bèn phải gồng mình đi khám lại toàn bộ đồ lòng, từ tim gan cho chí đến đến phèo phổi. Qua siêu âm, người ta cho biết gã hiện có hai viên sạn nhỏ nằm ở trong thận.
Ông bác sĩ  thuộc vào hàng chịu chơi bèn phán :
- Vì chúng còn bé tẹo tèo teo, nên chưa cần phải mổ hay bắn biếc chi cả, chỉ cần uống thuốc, uống nước, vận động và nhất là…cười nhiều.
Vì thế, trong mấy tháng nay, gã đành phải ép mình ép xác mà dùng thuốc, dùng nước và tập thể dục thẩm mĩ để giữ…eo. Bởi vì lúc này cái eo của gã xem chừng liên tục phát triển theo kích thước của cái eo con…bò.
Rồi lúc nào cũng phải vén môi lên mà cười. Vui cũng cuời mà buồn cũng cười, thiếu điều bị liệt vào hạng người…cõi trên. Thế mà chẳng biết đến bao giờ mới tống khứ được hai cái của nợ ấy ra.
Từ những điều gã vừa cà kê dê ngỗng, thì khác biệt thứ nhất giữa già và trẻ là khác biệt về ngoại hình, về sức khỏe.
Trẻ thì mạnh, già thì yếu. Đó là lẽ đương nhiên, qui luật của muôn đời kia mờ. Trừ ra một vài trường hợp ngoại lệ mà chúng ta vốn gọi là những cụ… già gân,  như Nguyễn công Trứ đã viết :
- Càng già càng dẻo càng dai.
Bình thường, tuổi già là một nhà thương, tiếp nhận đủ mọi thứ bệnh. Hơn nữa, nếu nửa đầu cuộc đời, chúng ta xài theo kiểu “xả láng sáng về sớm”, như lời hô hào :
- Chơi xuân kẻo hết xuân đi,
  Cái già sồng sộc nói thì tới ngay.
Chắc hẳn nửa sau cuộc đời, chúng ta sẽ phải trả giá bằng những bệnh tật và đớn đau của mình.
Sự giảm sút về sức khỏe phần xác, thường kéo theo sự giảm sút về tâm lý và sự xơ cứng về tinh thần. Kinh nghiệm của những bậc tiền bối cho hay :
- Năm mươi tuổi thì ta chán đời, còn sáu mươi tuổi thì đời chán ta.
Tuổi già vốn dĩ là một gánh nặng cho bản thân cũng như cho người khác. Tuổi già giống như phiên chợ chiều, vắng tanh vắng ngắt. Hay như con sư tử già chỉ là trò cười cho đám chó con.
Từ đó, người già đánh mất sụ hăng say nhiệt tình, để rồi buông xuôi, mặc cho ‘’con tạo xoay vẫn đến đâu’’ hay phó mặc cho lũ cháu đàn con :
- Già thì mọi sự mọi hèn
  Giang sơn phó mặc đàn em sau này.
Khác biệt thứ hai giữa già và trẻ là khác biệt về kinh nghiệm, về vốn sống được tích lũy từ lòng cuộc đời.
Trong phạm vi này, người trẻ chưa có được bao nhiêu, đang khi đó với bề dày của năm tháng, người già đã gom góp được rất nhiều. Vì thế, người trẻ thường hay bồng bột, xốc nổi và… phổi bò, như tục ngữ cũng đã bảo :
- Khôn đâu tới trẻ, khẻo đâu tới già.
Và đôi lúc người ta đã gọi :
- Tuổi trẻ là tuổi ăn chưa no, lo chưa tới.
Với những kinh ngiệm được tích lũy suốt dọc dòng thời gian, tuổi già thường khôn ngoan và thâm trầm, giống như cây càng già thì gỗ càng tốt, giống như gừng và quế, càng già thì lại càng cay, hay như tục ngữ cũng đã nói :
- Đi hỏi già, về nhà hỏi trẻ.
Do số vốn sống phong phú ấy, nên đã nảy sinh ra một khác biệt thứ ba giữa già và trẻ, đó là người già thường thích quay nhìn dĩ vãng và sống bằng những hoài niệm, còn người trẻ thường thích hướng tới tương lai và sống bằng những ước mơ. Người già thì quay lại phía sau, còn người trẻ thì bước tới phía trước.
Thực vậy, mấy ông bạn già lâu ngày gặp mặt nhau, khề khà bên chén rượu nồng hay bên tách trà đậm, chắc chắn các cụ sẽ gợi nhớ và sống lại cái thuở huy hoàng vang bóng của mình :
- Ngày ấy mình thế này… chúng ta thế nọ… chứ không như bây giờ, chẳng ra cái thể thống nào cả.
Trong khi đó, bọn trẻ ngồi đấu láo với nhau thì thao thao bất tuyệt về những dự tính đang được ươm mơ. Nào là làm cái này, nào là làm cái kia…
Chính do sự khác biệt này, nhiều lúc đã xảy ra những bất đồng, những lục đục, những chống đối trong gia đình giữa già và trẻ, giữa cha mẹ với con cái.
Hồi xưa, có lần thằng bạn gã đang năn nỉ ỉ ôi, xin mẹ tí tiền còm để mua sách hay làm cái chi đó, thì ông bố bước vào. Chợt nghe thấy tiền, ông bố bèn mở miệng phang ngay cho cậu ấm một bài ‘’luân lý cơ bản’’ :
- Ngày xưa tao phải tiết kiệm từng trang giấy, từng giọt mực… ngày xưa tao thế này… ngày xưa tao thế kia… ngày xưa tao thế nọ…
Điệp khúc ‘’ngày xưa ấy’’ không biết đã được ông bố ca đi ca lại biết bao nhiêu lần. Cứ nhìn cái bản mặt nhăn nhó của thằng bạn như là sắp bị ‘’Tào tháo’’ rượt, gã thấy nó hậm hực mà nói chẳng nên lời, vì sợ bị  mắng, nên đành phải nhủ thầm trong bụng rằng :
- Biết rồi, khổ lắm, nói mãi, bố ơi.
Cũng từ điểm khác biệt đằng trước và đằng sau, tương lai và dĩ vãng, nên người trẻ thường dám liều, dám chấp nhận cái mới để rồi khắc phục và làm chủ lấy nó, như chúng ta thường bảo :
- Đâu cần thanh niên có,
  Đâu khó có thanh niên.
Phải chăng đây chính là yếu tố quan trọng làm thành ‘’chất trẻ’’ nơi một người…
Trong khi đó, tuổi già thường ngại di chuyển, ngại thay đổi, an phận với những cái đã có. Ấy là gã chưa nói đến những cụ thích ngủ quên trên chiến thắng và vinh quang một thời của mình.
Vì vậy, thiên hạ vốn thường bảo :
- Một người bị coi là già kể từ lúc người ấy hết dám… liều.
Nếu cứ ngồi kể tội và điểm mặt những khác biệt giữa già và trẻ, thì có lẽ nói mãi, nói hoài cũng chẳng bao giờ hết, chi bằng bây giờ hay thửû đi tìm một dung hòa, một mô hình lý tưởng để cùng chung sống hòa bình ‘’mí nhau’’.
Theo gã, mỗi tuổi đều có nét duyên ngầm của riêng mình. Buổi bình minh có vẻ đẹp của bình minh và lúc hoàng hôn có vẻ đẹp của hoàng hôn. Chồi non, có sức quyến rũ của chồi non và trái chín có sức quyến rũ của trái chín.
Về người già và người trẻ, chúng ta có thể diễn tả như Nguyễn Du :
- Mỗi người mỗi vẻ mười phân vẹn mười.
Tuy nhiên cuộc sống vốn thường có những ngịch lý, những ngược đời và những chuyện chéo cẳng ngỗng của nó, như G. B. Shaw đã viết :
- Có lắm người không khi nào trẻ và vài kẻ không bao giờ già.
Thực vậy, có lắm người không bao giờ trẻ.
Nói cách khác, họ đã đánh mất tuổi trẻ khi mái đầu còn xanh. Họ là những kẻ tuổi đời chưa được bao nhiêu, thân xác còn phơi phới, thế nhưng tâm hồn họ đã già cỗi và tàn úa. Họ thiếu mất chất trẻ và chất lửa trong con người.
Có nghĩa là họ không dám liều, không dám chấp nhận cái mới và đối đầu với những đổi thay. Họ bằng lòng với số phận của mình và lúc nào cũng chỉ xin cho được hai chữ…bình an.
Họ không còn sự hăng say nhiệt thành, trái lại chỉ sống lửng lơ như con cá vàng, mặc dù bề ngoài họ rất oai phong bệ vệ và sức khỏe tràn trề. Chính vì thế thiên hạ vốn thường gọi họ là những … ông cụ non.
Tiếp đến là có vài kẻ không bao giờ già.
Dĩ  nhiên ở đây gã không bàn tới một vài người vì ảnh hưởng của một loại bệnh đặc thù nào đó, khiến cho họ, dù đã ba mươi mí, những thân xác họ mới chỉ là một đứa trẻ lên sáu, lên bảy như báo chí đã đăng tải cách đây không lâu.
Gã cũng không bàn tới một vài cụ vì ham vui và thích của lạ mà thiên hạ vốn thường gọi là chơi…..trống bỏi. Những cụ đầu đã bạc, răng đã long mà vẫn còn đèo bồng vợ nọ con kia, chỉ vì sợ cảnh cô  đơn :
- Con nuôi cha không bằng bà nuôi ông.
Gã chỉ xin nói đến các cụ tuy  đã già mà thực sự vẫn còn trẻ. Vậy các cụ ấy là ai ?
Các cụ ấy được diễn tả là những người “nhân lão tâm bất lão”. Ngoại hình các cụ tuy già, nghĩa là tóc các cụ đã bạc, răng các cụ đã long, da các cụ đã nhăn nheo và tay chân các cụ đã lỏng lẻo.
Thế nhưng, tâm hồn các cụ vẫn còn trẻ chứ chưa già, nghĩa là các cụ vẵn hăng hái nhiệt thành, dám chấp nhận cái mới và dám đương đầu với những thay đổi….
Chất trẻ vẫn lưu thông trong máu huyết, trong thân thể già nua của các cụ và lửa vẫn bừng cháy trong con tim đau ốm của các cụ. Tuy nhiên, số người nhân lão tâm bất lão như thế này, hẳn không nhiều lắm.
Có một thời ở Sàigòn thiên hạ đã gọi  nhạc sĩ Phạm Duy là một híppi già. Sở dĩ như vậy, vì tuổi đời đã đè nặng trên vai ông. Ngay từ hồi gã còn là một thằng bé mặc quần thủng đũng, thì những bài hát của ông  đã được phổ biến sâu rộng.
Thế nhưng, tâm hồn và tư tưởng của ông vẫn còn trẻ. Ông không phải chỉ viết về tuổi trẻ, mà hơn thế nữa, từng lời ca, từng khuông nhạc của ông đều thoát ra chất trẻ, làm cho người trẻ say mê và thiên hạ đã không ngần ngại tặng cho ông cái biệt danh là híppi già.
Ngày nay, khắp mọi nơi người ta đều hô hào phải trẻ hóa lãnh vực này, trẻ hóa lãnh vực kia và nhất là phải trẻ hóa cấp lãnh đạo.
Báo Tuổi Trẻ Chủ Nhật viết :
“Chuyện sẽ không xa lạ một khi nước Nga có thủ tướng 36 tuổi hay là Việt Nam thời gian không xa có những nhà lãnh đạo, những chính khách lứa tuổi 30-40, nếu như công nghệ trẻ hóa, không chỉ là hạn mức tuổi tác mà thực sự là cả một quá trình chuẩn bị nhân tài, ươm trồng, vun bón”.
Mẹ chồng nàng dâu, như hai cô ca sĩ có thương nhau bao giờ. Cũng vậy, luôn có một vực thẳm ngăn cách giữa già và trẻ, giữa trẻ và già.
Trẻ chê già là cổ hủ, lỗi thời và…. khó tính. Gìa chê trẻ là thiếu kinh nghiệm, xốc nổi, ngu đần theo kiểu : trứng mà đòi khôn hơn rận.
Tuy nhiên, theo gã nghĩ :
- Trẻ phải kính trọng già và học hỏi nơi gìa vốn sống và kinh nghiệm. Còn già thì hãy tìm hiểu, cảm thông và nâng đỡ cho trẻ.
Có lẽ gã bèn phải mượn lời khuyên sau đây và Alfred de Vigny như một kết luận :
- Bạn ơi, một đời sống vĩ đại là gì ? Nếu không phải là một ý tưởng của tuổi trẻ được tuổi già thực hiện.
Kết luận như thế, chẳng hiểu gã đã lên mặt dạy đời hay chưa ? Và nhất là gã có đáng được phong làm…hàm cụ non hay chưa ?
Gã Siêu

 

Chuyện Gã Siêu 59: CON TRÂU VÀ TÌNH YÊU

CON TRÂU VÀ TÌNH YÊU Chuyện Gã Siêu 59

Tựa đề của câu chuyện phiếm hôm nay có lẽ đã làm cho bàn dân thiên hạ hơi bị ngạc nhiên, bởi Chuyện Gã Siêu 59

Tựa đề của câu chuyện phiếm hôm nay có lẽ đã làm cho bàn dân thiên hạ hơi bị ngạc nhiên, bởi vì từ ngàn xưa và cho đến ngày hôm nay, con trâu vốn dĩ đã là một người bạn chân thành của nông dân Việt Nam, cũng như vốn dĩ đã là biểu tượng của một kiếp sống lầm than và cực nhọc.
Nơi con trâu, ta chẳng tìm thấy được một chút gì thơ mộng, một chút gì để nhớ và để thương, hay một tí ti nào dính dáng tới tình yêu. Tuy nhiên, cứ từ từ thì cháo nó mới nhừ, cứ nhẩn nha suy gẫm, cứ âm thầm nhai đi nhai lại, thì sẽ nghiệm ra rằng con trâu thật là dễ thương và cũng có được một chút gì đó gắn liền với tình yêu.
Tương truyền rằng:
Ngưu Lang là anh chàng chăn trâu cho Nhà Trời, còn Chức Nữ là cháu của Ngọc Hoàng Thượng Đế, vốn làm nghề dệt cửi. Cả hai gặp nhau, thương nhau và kết thành duyên vợ chồng. Thế nhưng, vì quá đắm đuối yêu thương, nên cả hai đã bỏ bê công việc bổn phận của mình, khiến cho Ngọc Hoàng Thượng Đế nổi giận đùng đùng.
Cuối cùng, Ngọc Hoàng Thượng Đế đành phải trừng phạt bằng cách bắt cả hai phải xa lìa nhau. Mỗi năm chỉ được gặp nhau một lần  vào đêm mồng bảy tháng bảy âm lịch, được gọi là đêm thất tịch.
Đêm hôm ấy, bầy quạ cắn đuôi nhau làm thành một chiếc cầu bắc ngang dải Ngân Hà cho vợ chồng Ngưu Lang Chức Nữ sum họp.
Gặp nhau, vợ chồng mừng mừng tủi tủi, kể lể cho nhau nghe những tâm sự buồn vui. Vừa kể mà những giọt nước mắt cứ lã chã tuôn rơi, khiến cho đêm đó có mưa dầm, được gọi là mưa ngâu.
Riêng loài quạ thường rụng lông đầu vào tháng bảy là do việc cùng nhau kết thành chiếc cầu cho vợ chồng Ngưu Lang Chức Nữ đi mà gặp nhau.
Cũng vì thế mà trong thiên hạ mới lưu truyền bài hát:
- Giọt mưa, mưa ngâu, mưa ngâu,
  Búp non trên cành thành lá biếc.
  Giọt mưa, mưa ngâu, mưa ngâu,
  Tròn xoe chiếc ô trên đầu.
  Ngày xưa đôi ta bên nhau,
  Chiếc ô xoe tròn thành bóng lá.
  Mong sao mưa thật lâu,
  Để cho đôi lứa bên nhau….
  …. Và cơn mưa, mưa rồi sẽ tan đi trên trời đầy nắng gió,
  Giọt mưa ngâu hay là nước mắt ai nhớ nhau.
  Chuyện tình yêu như là những cơn mưa trong đời đầy nắng
  gió.
  Để trên mi ai bây giờ ướt đẫm mưa.
Chuyện tình trên đẹp như một giấc mơ và một trong hai nhân vật chính là Ngưu Lang, rất thân quen với loài trâu, bởi vì anh ta thường xuyên chăn trâu cho Nhà Trời.
Tuy nhiên trong thực tế, gã xin ghi nhận hai quan niệm của xã hội bình dân Việt Nam ngày xưa về tình yêu và hôn nhân có liên quan tới con trâu.
Quan niệm thứ nhất đó là: “Trâu ta ăn cỏ đồng ta”, hay “Trâu đồng nào ăn cỏ đồng nấy”.
Cả hai câu này đều mang một ý nghĩa na ná giống nhau, đó là quyền lợi của ai thì người nấy hưởng, lãnh địa của ai thì người nấy khai thác, nhà mình mình ở, cơm mình mình ăn, việc mình mình làm…
Tuy nhiên, trong phạm vi tình yêu và hôn nhân, thì xem ra hai câu này lại muốn nêu cao lập trường bảo vệ hàng nội địa, nghĩa là trai làng nào thì lấy gái làng nấy.
Như chúng ta đã biết: Do ảnh hưởng của nền luân lý Khổng Mạnh, các cụ ta ngày xưa vốn chủ trương “nam nữ thọ thọ bất thân”. Phải có sự “nam nữ hữu biệt” thì mới tránh được những trò “trên bộc trong dâu”, hay “ăn cơm trước kẻng”, một hiện tượng vốn thường xảy ra như cơm bữa trong giới trẻ ngày nay.
Tuy nhiên, theo Toan Ánh trong “Phong tục Việt Nam”, thì việc nam nữ “hữu biệt” hay “bất thân” như thế chỉ có ở những gia đình trưởng giả, còn trong giới bình dân, thì không đến nỗi quá khắt khe, bởi vì phong tục cũng như sinh hoạt hằng ngày đã tạo nên nhiều dịp để họ có thể gặp nhau.
Nào những lúc công việc đồng áng cùng làm, rồi những lúc nghỉ ngơi trên bờ đê, nơi sân đình, hay dưới dậu tre… họ tha hồ gặp gỡ và tiếp xúc với nhau. Rồi trong những cuộc tiếp xúc này, họ đã thổ lộ tâm tình với nhau.
Bao nhiêu câu ca dao đã nhắc lại những cuộc trò chuyện của họ. Họ ướm thử lòng nhau, họ nhắc lại cái cảnh còn đơn chiếc của mỗi người:
- Cô kia má đỏ hồng hồng,
  Cô chưa lấy chồng, cô đợi chờ ai?
  Buồng không lần lữa hôm mai,
  Đầu xanh mấy lúc da mồi tóc sương.
Trong lúc tình yêu được liên tục phát triển để rồi tiến tới việc trầu cau cưới hỏi, thì rất có thể vì tình trạng trai thiếu gái thừa và cũng có thể vì tự ái dân tộc nổi lên bừng bừng mà người ta đưa ra chủ trương: “Trâu ta ăn cỏ đồng ta”, hay “Trâu đồng nào ăn cỏ đồng nấy”.
Đọc lại lịch sử gã nhận thấy ngày xưa trước sự tấn công của người Pháp, các vua triều Nguyễn đã tích cực áp dụng chính sách bế quan tỏa cảng,  sống đơn độc một mình, không thèm giao thiệp với nước ngoài.
Còn ngày nay, để cứu vớt nền kinh tế vốn èo ọt của mình, nhà nước có một thời đã phải áp dụng chủ trương bảo vệ hàng nội địa, bằng cách đánh thuế thật  nặng những mặt hàng nhập khẩu, để người dân quay trở về với những mặt hàng được sản xuất ở trong nước. Và người ta đã đưa ra khẩu hiệu:
- Người Việt Nam dùng hàng Việt Nam.
Phải chăng chủ trương “trâu ta ăn cỏ đồng ta”, hay “trâu đồng nào ăn cỏ đồng nấy” cũng có phần nào hao hao giống với chính sách bế môn tỏa cảng và bảo vệ hàng nội địa?
Để thực thi chủ trương này, thì ngoài việc giai làng nào lấy gái làng nấy, người ta còn cấm vận không cho giai làng khác xớ rớ đến gái làng mình.
Rất nhiều lần gã đã được chứng kiến cái cảnh anh giai xóm trên bị bọn giai xóm dưới xúm lại đánh hội đồng cho một trận tơi bời hoa lá, đến phun cả máu đầu, chỉ vì anh giai xóm trên đã dám cả gan lẹo tẹo cô nàng xóm dưới.
Ngày nay, tình trạng này đã giảm đi rất nhiều, chỉ còn lác đác xảy ra tại một vài thôn làng thuộc vùng xâu vùng xa mà thôi. Bởi vì cánh cửa toàn cầu hóa đã mở rộng và Việt Nam ta đã anh dũng bước vào. Tình yêu cũng ăn theo, không còn đóng chốt hay bám trụ trong  một làng, một ấp, mà đã trở thành “tình yêu không biên giới”, “tình yêu xuyên lục địa”.
Biết bao nhiêu anh chàng Việt kiều từ Mỹ, từ Đan Mạch… đã trở về Việt Nam để cưới lấy một cô vợ. Biết bao nhiêu chú ba Tàu, biết bao nhiêu bác sâm Cao ly, đủ mặt già trẻ lớn bé, đã đến phần đất nghèo túng này để chọn lựa, ngã giá và mua lấy cái vợ.
Đám trai làng  nghèo túng chỉ còn biết tiếc xót, nhuốt nước bọt mà “đứng ngẩn trông vời áo tiểu thư”. 
Quan niệm thứ hai, đó là: “Trâu tìm cọc, chứ cọc không tìm trâu”. 
Theo nghĩa thông thường,  câu này ám chỉ rằng: muốn được việc cho mình, thì chính mình phải đến cầu người, chứ không phải đợi người đến cầu mình.
Còn trong lãnh vực tình yêu và hôn nhân, câu này nói đến việc muốn thành vợ chồng với nhau, thì anh con giai phải lên tiếng trước, phải tỏ tình trước. Còn cô con gái cần phải giữ danh giá, cho dù “lòng trong như đã”, nhưng “mặt ngoài còn e”, và cũng cần phải tỏ ra dè dặt một chút để mần duyên, theo kiểu Vũ Trọng Phụng:
-  Em chả… Em chả…
Nguyên tắc là như vậy, còn trong thực tế, không phải chỉ anh con giai mới kén vợ, mà cả chị con gái cũng vẫn cứ kén chồng.
Theo Toan Ánh, ngày xưa anh con giai khi kén vợ, thì thường chọn người đạo đức và nết na, bởi vì:
- Cái nết đánh chết cái đẹp.
Chứ không như ngày nay:
- Cái đẹp đè bẹp cái nết.
Thế nhưng, cùng đi với cái nết và cái đức, nếu cô nàng lại có thêm tí cái nhan sắc kiều diễm, thì lại càng tuyệt vời hơn nữa, như câu da dao “mười thương” đã diễn tả:
- Một thương tóc để đuôi gà,
  Hai thương ăn nói mặn mà có duyên.
  Ba thương má lúm đồng tiền,
  Bốn thương răng lánh hạt huyền kém thua.
  Năm thương cổ yếm đeo bùa,
  Sáu thương nón thượng quai tua dịu dàng.
  Bảy thương ở nết khôn ngoan,
  Tám thương ăn nói lại càng thêm xinh.
  Chín thương em ở một mình,
  Mười thương con mắt hữu tình với ai.
Anh con giai yêu chị con gái vì nết na và vì nhan sắc, trong khi đó chị con gái lại yêu anh con giai vì tài ba hơn người:
- Lấy chồng cho đáng tấm chồng,
  Bõ công trang điểm má hồng môi son.
Và như vậy cả hai bên, nam cũng như nữ, vừa là trâu mà cũng vừa là cọc. Muốn cho tình yêu và hôn nhân của mình được tiến triển một cách mau chóng, thì mình phải mang lấy thân phận của trâu, cố gắng mà đi tìm cọc.
Vì thế, nhiều anh chàng từ phương bắc đến phương nam, từ phương đông đến phương tây, đã chịu khó lặn lội tới Việt Nam để tìm lại chiếc xương sườn cụt của mình.
Và thỉnh thoảng cũng có những  cô nàng từ Úc Đại Lợi, Tân Tây Lan…trở lại chốn quê hương, tìm lấy cho mình một anh chồng rặt dòng da vàng mũi tẹt, chính gốc “An Nam Mít” một trăm phần trăm.
Còn nếu cứ ngồi chờ cho tình yêu như trái sung chín và rụng xuống, thì có lẽ phải đợi đến tết…Công Gô, thì may ra mới ngáp được một trái!!!
Tuy nhiên, trong việc kén chọn, thì cũng chỉ nên một vừa hai phải, bởi vì trên trần gian này làm gì có mẫu người yêu lý tưởng, thỏa mãn mọi nhu cầu và đáp ứng mọi tiêu chuẩn mà mình đưa ra.
Có lần gã đã kể câu chuyện về một ông già cô đơn và hôm nay xin được nhắc lại cùng bàn dân thiên hạ:
Ngày kia, bàn dân thiên hạ xúm lại hỏi một ông già:
- Tại sao lại không lập gia đình?
Ông ta bèn kể lể về cuộc đời ba chìm bảy nổi chín cái lênh đênh của mình:
- Tôi đã dành trọn thời gian của tuổi thanh xuân để tìm kiếm một người đờn bà hoàn hảo. Tại Cairô, thủ đô nước Ai Cập, tôi đã gặp một người đờn bà vưa trẻ đẹp lại vừa thông minh, nhưng rất tiếc người đờn bà này chẳng có được một chút dịu hiền, nàng hung dữ như con cọp cái.
Tôi đành bỏ Cairô mà tìm đến Bagdah, thủ đô nước Irak, với hy vọng tìm ra người đờn bà lý tưởng của lòng mình. Tại đây, tôi đã gặp một người đờn bà đúng như lòng mong ước. Nàng vừa trẻ đẹp lại vừa thông minh, vừa quảng đại lại vừa dịu hiền. Chỉ kẹt một nỗi, đó là hai đứa chúng tôi chẳng bao giờ nhất trí được với nhau về bất cứ chuyện gì. Hễ ngồi tâm sự với nhau là bắt đầu cãi vã, ông nói gà bà nói vịt, trống đánh xuôi kèn thổi ngược. Vì thế, tôi đành phải chào thua.
Và như vậy, hết người đờn bà nọ tới người đờn bà kia. Kẻ được điều này, người mất điều khác. Tôi như kẻ đốt đuốc đi tìm người yêu lý tuởng, mà dường như chẳng bao giờ thấy.
Thế rồi một hôm tôi gặp được nàng, người đờn bà của mơ uớc. Nàng đã kết hợp được tất cả những đức tính mà tôi thầm vẽ ra trong đầu óc. Vừa trẻ đẹp lại vừa thông minh, vừa quảng đại lại vừa dịu hiền, vừa tế nhị lại vừa ăn ý với tôi ngay cả trong những điều nhỏ mọn nhất. Nhưng cuối cùng, tôi vẫn cứ phải gân cổ lên mà ca solo, cam chịu cảnh chăn đơn gối chiếc suốt đời. Các bạn có biết tại sao không?
Trong lúc mọi người suy nghĩ, ông già cô đơn đáng thương khẽ kéo một hơi thuốc lá, rồi kể tiếp:
- Sở dĩ như vậy là vì người đờn bà ấy cũng đang đi tìm một người đờn ông lý tưởng. Và thật chẳng may cho tôi, bởi vì dưới mắt nàng, tôi chỉ là một thằng đờn ông tồi với biết bao nhiêu thói hư tật xấu.
Rồi ông già cô đơn đã khuyên nhủ cánh trẻ với mot cung giọng hơi bị cay cú :
- Đi tìm một một người tình hoàn hảo chỉ là một việc làm hão huyền và vô ích, bởi vì người tình hoàn hảo ấy chỉ có trong mơ mà thôi. Nhân vô thập toàn. Đã mang lấy kiếp con người, ai mà chẳng có những sai lỗi và khuyết điểm.
Thành thử người đời mới nói:
- Trâu già kén cỏ bờ ao,
  Anh kia không vợ, đời nào có con.
Bờ ao là nơi đất tốt, lại thường ẩm ướt, nên cỏ mọc ở đó luôn xanh tốt. Đây là loại cỏ ngon, người ta dành cho trâu bò đang độ sanh đẻ hay đang ra sức kéo cày. Còn loại trâu già đã bất lực rồi, gặp cỏ gì thì người ta cho ăn cỏ nấy, làm sao mà dám kén chọn cỏ bờ ao cho mình.
Và như vậy, câu này muốn nói lên rằng: thiếu tài năng mà lại cứ đòi hưởng sung sướng. Thân phận thấp hèn mà lại cứ đòi làm cao,  Cũng như chẳng chịu lấy vợ, mà lại cứ đòi có con, thì làm sao mà được.
Còn trong lãnh vực tình yêu, anh con giai chẳng ngon lành gì mà cứ nằng nặc đòi cưới cho được một cô vợ vừa đẹp lại vừa hiền,  vừa khôn lại vừa ngoan, thì e rằng  hơi bị khó lắm đấy.
Cũng như chị con gái, kén đi kén lại, chọn tới chọn lui…kén miết và chọn hoài mà cũng chẳng tìm được một tấm chồng, để rồi khi tuổi đời “bóng ngả về tây”, bèn phải lấy vội lấy vàng:
- Còn duyên kén cá, chọn canh,
  Hết duyên rốc đực, cua kềnh cũng vơ.
- Còn duyên kén những giai tơ,
  Hết duyên ông lão cũng vơ làm chồng.
Bằng không thì cứ việc đếm những bước chân âm thầm, mà đi vào chốn cô đơn:
- Đi đâu mà chẳng lấy chồng,
  Người ta lấy hết, chổng mông mà gào.
  Gào rằng: Đất hỡi trời ơi!
  Sao không thí bỏ cho tôi chút chồng?
  Ông trời ngoảnh lại mà trông:
  Mày hay kén lắm, ông không cho mày.
Để kết thúc, gã xin phác họa niềm hạnh phúc của một gia đình nông dân ngày xưa:
- Trên đồng cạn, dưới đồng sâu.
  Chồng cày, vợ cấy, con trâu đi bừa.
Suy đi nghĩ lại về câu ca dao này, gã thấy hạnh phúc sao mà quá đơn sơ trong tầm tay của mọi người.
Thực vậy, cho dù cuộc sống của đôi vợ chồng này có chất đầy những vất vả với những công việc đồng áng đầy cưc nhọc, thế nhưng hạnh phúc của họ vẫn tràn đầy, bởi vì họ luôn sống trong tình yêu.
Tình yêu là như một chất xúc tác, biến khổ đau thành niềm vui, làm cho gánh nặng cuộc đời trở thành nhẹ nhàng và êm ái.
Trong năm Ky Sửu cầm tinh con trâu, chắc chắn sẽ còn nhiều khó khăn và thử thách, nhưng với tình yêu thì hạnh phúc sẽ mỉm cười với mỗi người chúng ta.
Gã Siêu

 

Chuyện Gã Siêu 60: THÓI VŨ PHU

THÓI VŨ PHU Chuyện Gã Siêu 60

Trong khi phần lớn những anh đều chồng sợ vợ, thì cũng có không ít những anh chồng thuộc vào Chuyện Gã Siêu 60

Trong khi phần lớn những anh đều chồng sợ vợ, thì cũng có không ít những anh chồng thuộc vào loại hảo hớn, lúc nào cũng sẵn sàng nổi máu “yêng hùng” đối với chị vợ. Thái độ của những anh chồng loại này, được tóm tắt vào mấy chữ “Đ” như sau:
- Độc đoán, đày đọa và đánh đập…vợ mình.
Thái độ trên xuất phát từ những tư tưởng chỉ đạo của Nho giáo. Bởi vì Khổng Mạnh vốn chủ trương trọng nam khinh nữ: Nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô, một mụn con trai được kể là đã có, còn mười cô con gái cũng vẫn bị coi là không.
Vì thế, một khi đã mang thân phận đờn bà con gái thì bắt buộc phải sống cái đạo “tam tòng”:
- Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử. Có nghĩa là ở nhà thì phục tùng bố. Khi lập gia đình thì phục tùng chồng. Còn khi chồng ngỏm thì phục tùng con.
Từ đó mà luôn luôn phải:
- Phu xướng phụ tùy. Có nghĩa là chồng mà đã phán, thì vợ phải cúi đầu răm rắp vâng theo.
Ôm mớ lý thuyết này mà đi vào thực hành, các ông chồng luôn nắm giữ vai trò “gia trưởng”, đứng đầu gia đình, coi vợ như một đầy tớ, như một con ở, có bổn phận phải phục dịch cho bản thân mình, đúng với tiêu chuẩn: Chồng chúa vợ tôi.
Quan niệm này ngày nay đã bị đảy lui trước những phong trào nổi lên như vũ bão: nào là phụ nữ đòi quyền sống, nào là nam nữ bình quyền… Dầu vậy, đôi lúc nó vẫn còn tái xuất giang hồ ở chỗ này hay chỗ khác, dưới hình thức nọ hay hình thức kia.
Trước hết, về phương diện tư tưởng, các ông chồng này luôn tỏ ra độc đoán, cho ý nghĩ của mình là đúng và bắt mọi người phải tuân theo. Tác phong của họ là “ cả vú lấp miệng em”. Dù bộ ngực của nhiều người trong bọn họ lép kẹp vì là dân “hít tô phe” nghĩa là nghiện thuốc phiện, hay xì ke ma túy.
Tiếp đến, về phương diện lời nói, các ông chồng này luôn tỏ ra gắt gỏng, cộc cằn và thô lỗ, theo kiểu “dùi đục chấm mắm tôm”. Mở mồm ra là:
- Cái con mẹ mày…cái con mụ kia.
Trong khi đó, môi miệng của họ lại dẻo quẹo đối với bồ nhí hay đối với người dưng nước lã, thôi thì:
- Anh anh, em em…mình ơi, mình à…
Cứ ngọt xớt như đường cát và mát như đường phèn!
Còn về phương diện hành động, họ luôn đày đọa và đánh đập ở mọi nơi và trong mọi lúc.
Đày đọa bằng cách bắt chị vợ phải làm hết mọi công việc nặng nhọc, từ buôn bán ngoài đường đến bếp núc trong nhà. Còn họ thì lúc nào cũng phải thuốc lào ngon, trà tàu đặc…để mà bàn chuyện chính chị chính em, chuyện trên trời dưới đất với mấy ông bạn già, rồi ngước mặt nhìn đời bằng nửa con mắt. Tác phong của họ đã được diễn tả như sau:
- Bố tôi hay tửu hay tăm,
  Hay nghiện chè tàu, hay nằm ngủ trưa.
  Ngày thì ước những ngày mưa,
  Đêm thì ước những đêm thừa trống canh.
Tới bữa thì phải cơm bưng nước rót. Lắm khi nhà nghèo không đủ tiền mua gạo, thế mà vẫn phải có tí thịt…cho ông chồng nhắm rượu. Có gia đình còn phải dành riêng cho anh chồng một mâm riêng, khi anh ta xơi xong thì mới tới lượt vợ con và những  người trong nhà. Thiếu điều chị vợ còn phải đứng mà quạt theo kiểu:
- Em hầu quạt…mo.
 Đày đọa như thế chưa đủ, đến khi tẩu hỏa nhập ma, cơn giận nổi lên đùng đùng, thì liền ném nồi niêu. xoong chảo, bát đũa…ra ngoài sân. Nếu chưa hả cơn nóng, thì bèn thượng cẳng chân hạ cẳng tay, đánh đập chị vợ một cách không thương tiếc.
Nghĩ về thái độ “vũ phu chi cục mịch này”, gã thấy làm như vậy quả là vô cùng dại dột. Bởi vì khi tỉnh cơn mê, nếu nồi niêu bát đũa bị bể vỡ, lại phải bỏ tiền ra mà mua sắm. Nếu chị vợ đánh bị phun máu đầu, lại phải bỏ tiền bạc và thời giờ ra mà chạy chữa. Còn nếu chẳng may chị vợ…bị đi tàu suốt sang thế giới bên kai, thì chắc chắn ông chồng này sẽ được luật pháp sờ vào gáy, cho ngồi nhà đá mà đếm lịch. Rồi tương lai gia đình và con cái sẽ như thế nào?
Một anh chồng đã thề quyết với bè bạn như sau :
- Tớ hứa từ nay sẽ không bao giờ đánh vợ nữa. Tốn kém lắm.
Mọi người đều ngạc nhiên:
- Sao lại tốn kém?
Anh chồng buồn sầu trả lời :
- Vợ tớ thích làm đẹp, tớ hoàn toàn đồng ý. Nhưng càng ngày cô ấy càng quá đáng. Hôm trước cô ấy hỏi ý kiến để đi xâm môi, tớ không đồng ý vì từ cha sinh mẹ đẻ đến giờ môi vợ tớ đã thật dễ thương rồi. Mua son gì tớ cũng chịu, chứ đi xăm nó hâm hâm tái tái, như miếng thịt trâu ôi, nhìn thấy mà ghê. Tớ cương quyết:
- Em mà xâm môi, anh nhất quyết sẽ không bao giờ hôn em nữa. Đồ thật còn chẳng ăn, ai lại ăn đồ giả.
Yên lặng được một thời gian, lần này cô ấy chẳng thèm hỏi han gì, qua mặt tớ luôn. Các cậu thấy đấy, cái mũi vợ tớ trước giờ vốn hênh hếch nhìn có duyên đáo để. Thế mà hôm nay cô ấy đem về trình diện tớ một cái mũi dọc dừa thẳng tưng, chóp mũi còn cao hơn cả cái trán. Tớ mở tủ xem ngân quĩ  thì thấy thiếu mất một triệu rưỡi. Khổ quá! Đang dành tiền tính đổi cái xe đạp cà tàng cổ lỗ sắp thành sắt phế thải rồi. Cũng phải lên đời, chuyển hệ thành xe máy chứ. Tức quá, tớ gọi cô ấy lại, xáng cho nguyên một bạt tai. Của đáng tội, tớ đánh nhẹ thôi chứ đâu có mạnh tay. Lần đầu tiên kể từ khi cưới nhau, tớ đánh vợ tớ. Các cậu biết chuyện gì xảy ra không ? Cái mũi “mỹ viện” của cô ấy lệch sang một bên, nhìn giống như cục thịt thừa. Cô ấy soi vào gương mà cứ khóc thút thít khiến tớ ân hận quá. Nắn mãi cũng không làm sao cho mũi ngay ngắn lại được. Đành phải chở vợ tớ tới mỹ viện, tốn thêm một triệu rưỡi nữa để họ chỉnh cái mũi lại như cũ. Tớ chỉ đánh vợ một lần duy nhất mà thôi, tởm tới già. Giận quá mất khôn. Tốn một lần chưa đủ hay sao mà lại muốn tốn thêm một lần nữa.
Kinh nghiệm sống sượng trên đây đáng cho mọi anh chồng vũ phu suy gẫm trong cung cách cư xử với chị vợ của mình.
Làm thân đờn ông đã khó, còn làm anh “chồng giỏi chồng ngoan” lại càng khó hơn.
Và để kết luận, gã xin kể lại một mẩu chuyện như sau:
Hôm đó, một nhóm các cô gái đi tới câu lạc bộ “tìm bạn”, nơi mà người ta quảng cáo có rất nhiều chàng trai để các cô làm quen. Khi họ đến, người hướng dẫn nói:
- Chúng tôi có năm tầng. Các cô cứ đi theo thứ tự từ tầng một và có thể dừng lại bất cứ chỗ nào các cô thấy thích hợp.
Họ đi vào tầng một, thấy tấm biển với hàng chữ:
- Ở đây có những chàng trai thấp và chất phác.
Họ liền cười ồ và tiếp tục lên tầng hai. Tại tầng hai, họ thấy tấm biển với hàng chữ:
- Ở đây có những chàng trai thấp và đẹp.
Các cô thấy chưa đủ tiêu chuẩn, nên tiếp tục lên tầng ba. Tại tầng ba, họ thấy tấm biển với hàng chữ
- Ở đây có những chàng trai cao và chất phác.
Các cô muốn các chàng trai tốt hơn nên đi tiếp. Tại tầng bốn, họ thấy tấm biển với hàng chữ:
- Ở đây có những chàng trai cao và đẹp.
Các cô rất hào hứng vì thấy càng lên cao, tiêu chuẩn càng tăng và chất lượng càng bảo đảm. Các cô thầm nghĩ:
- Còn một tầng nữa, tội gì mà không lên.
Vì thế, các cô tiếp tục leo lên tầng năm. Tại tầng năm, họ thấy tấm biển với hàng chữ:
- Ở đây chẳng có chàng trai nào cả. Tầng này được xây chỉ để chứng minh rằng:  Ở trên cõi đời này, không có cách nào làm cho phe đờn bà con gái được vừa ý cả.
Tất cả các cô đều chưng hửng, trố mắt nhìn nhau, vừa mệt lại vừa tức. Câu lạc bộ này quả thực là…đồ đểu, đồ tồi, đã chơi khăm các cô nàng một vố đau điếng
Đọc xong mẩu chuyện trên, gã đã phải mất trọn một đêm không ngủ, nằm vắt chân lên trán mà suy gẫm. Rồi sau đó, lồm cồm bò dậy, bắn một phát thuốc lào, tớp một ngụm trà nóng, rồi vỗ bụng cười…hề hề.
Gã Siêu

 

Chuyện Gã Siêu 61: CHUYỆN GÀ NĂM DẬU

CHUYỆN GÀ NĂM DẬU Chuyện Gã Siêu 61

Năm Ất Dậu cầm tinh con gà, vì thế mẩu phiếm luận hôm nay gã xin được xoay quanh chuyện con Chuyện Gã Siêu 61

Năm Ất Dậu cầm tinh con gà, vì thế mẩu phiếm luận hôm nay gã xin được xoay quanh chuyện con gà. Đó là một việc làm thật phải đạo và chẳng có gì là quá đáng.
Không hiểu bên Ăng Lê thì thế nào, chứ còn ở Việt Nam  ấy hả, do dịch cúm đã đang và sẽ còn tung hoành trong giới gia cầm gia súc, thành thử dân số loài gà mỗi ngày một giảm sút và những món đặc sản từ gà mỗi ngày một trở nên khan hiếm.
Khan hiếm phần vì không còn thịt để mà chế biến, phần vì bàn dân thiên hạ sợ chết không dám ăn. Có nơi người ta đã tính đến việc xóa tên gà trong sổ thực đơn. Chẳng hạn như món phở. Phở bò thì sợ bệnh bò điên. Phở gà thì sợ bệnh gà cúm. Thành thử vạn bất đắc dĩ phải cho ra lò và trình làng món phở vịt, phở ngan…Và được gọi là món phở của những con tương cận.
Chẳng cần phải nói thì ai trong chúng ta cũng đã biết gà là một con vật rất gần gũi, rất quen thuộc và cũng rất thân thương với con người.
Ở miền quê, hầu như nhà nào cũng nuôi một bầy gà để có thịt mà xơi vào những dịp tết nhất  và những ngày lễ lớn, hay mỗi khi bèn bạn và khách khứa đột xuất tới chơi.
Tuy nhiên ở thành phố thì khác. Tấc đất tấc vàng, nhất là vào thời buổi hiện nay, giá cả nhà đất tăng lên vùn vụt đến tối tăm cả mặt mũi. Kiếm được một chỗ cắm dùi cho gia đình đã là điều khó khăn, trầy da tróc vẩy, thì đất cát đâu mà nuôi gà nuôi vịt. Thậm chí có những người chỉ thấy được gà vịt ngoài chợ, trong sở thú hay qua phim ảnh mà thôi.
Mấy anh bạn Việt kiều về thăm quê hương, ghé vô vùng khỉ ho cò gáy nơi gã đang cư ngụ. Ban đêm nghe tiếng động, họ vội vã chỗi  dậy  và hỏi :
- Tiếng gì thế ?
Gã bèn trả lời :
- Tiếng chó sủa ấy mà.
Ban sáng nghe tiếng động, họ cũng hối hả ngồi lên và hỏi :
- Tiếng  gì thế ?
Gã vừa trả lời, vừa che miệng  ngáp :
- Tiếng gà gáy ấy mà.
Và rồi họ liền thanh minh thanh nga :
- Đã lâu lắm rồi mình không được nghe tiếng chó sủa ban đêm và tiếng gà gáy ban sáng.
Nghe xong câu trả lời này, vì trằn trọc không thể ngủ tiếp, gã bèn vắt tay lên trán mà suy gẫm, để rồi ngộ ra rằng : cuộc sống văn minh và nhất là cuộc sống tại thành phố đã cướp đi biết bao nhiêu cái đẹp trong thiên nhiên, chẳng hạn như ánh trăng.
Đúng thế, phải ở nông thôn thì mới thưởng thức được vẻ đẹp tuyệt vời của ánh trăng :
- Hỡi cô tát nước bên đàng,
  Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi.
Chứ còn ở thành phố thì chỉ thấy ánh nê ông trắng bệch hay vàng khè từ hệ thống đèn đường hắt xuống mà thôi.
Có rất nhiều chuyện lỉnh kỉnh để viết về gà, nhưng trong phạm vi của một bài báo, gã chỉ xin đề cập tới hai chuyện mà thôi.
 
Chuyện thứ nhất đó là tình thương của chị gà mái. 
Hẳn rằng đã có lần chúng ta nhìn thấy một chị gà mẹ dẫn đàn con của mình đi kiếm ăn. Chị ta bới đất tìm mồi và khi tìm thấy được, chị ta bèn gọi đàn con đến và nhường mồi cho đàn con. Ban đêm chị ta ấp ủ đàn con dưới đôi cánh của mình, để đàn con khỏi bị lạnh cóng. Và nhất là khi diều hâu xuất hiện, chị ta không ngần ngại nhảy bổ lên để  chiến đấu hầu bảo vệ cho đàn con.
Hình ảnh này khiến gã nhớ tới một câu thơ của Nguyễn Du trong truyện Kiều :
- Đoạn trường ai có qua cầu mới hay.
Hai chữ “đoạn trường” có nghĩa là đứt ruột, ám chỉ một sự việc thảm thương đến tột độ, khiến thiên hạ nghe qua, bèn  cảm thấy như đứt ruột và nát gan.
Hai chữ này xuất phát từ một câu chuyện trong sách “Sưu Thần Hậu Ký”. Câu chuyện ấy đại khái như sau :
Có một người thợ săn bắt được một con khỉ con, đem về làm thịt. Khỉ mẹ trông thấy cứ ở trên cây kêu la thảm thiết mãi, rồi buông tay té xuống đất mà chết. Đến khi mổ bụng ra, người thợ săn trông thấy ruột của con khỉ mẹ đã đứt ra từng khúc.
Hình ảnh gà mẹ cũng như hình ảnh khỉ mẹ làm cho gã liên tưởng đến tình mẩu tử nơi con người.
Thực vậy, mỗi khi nghĩ tới người mẹ, hay mỗi khi nói tới  người mẹ, ai trong chúng ta cũng cảm thấy một cái gì dịu ngọt và đầm ấm. Sở dĩ như vậy, vì người mẹ đã chấp nhận biết bao nhiêu hy sinh và gian khổ cho những đứa con của mình.
Người ta kể lại rằng trong nạn đói vào năm Ất Dậu xảy ra tại miền Bắc, có một bà mẹ đã cắn đứt ngón tay của mình để đứa con được bú những giọt máu cuối cùng thay cho dòng sữa đã cạn kiệt với hy vọng đứa con sẽ được cứu khỏi cái chết. Hẳn rằng trong giây phút ấy, bà chỉ có một ý nghĩ duy nhất, đó là phải làm tất cả mọi sự miễn sao đứa con được sống.
Thế nhưng, ngày hôm nay tình mẫu tử ấy xem ra như có vẻ đang bắt đầu nguội dần và không còn đậm đà như xưa.
Cách đây không lâu, tại Saigon người ta đã xôn xao bàn tán về một sự việc thật thương tâm :
Theo một bài viết trên báo Phụ nữ Chủ nhật số ra ngày 29.6.2003, thì tại Thành phố Hồ Chí Minh đã xảy ra một vụ án đau lòng : một người mẹ nhẫn tâm đổ dầu sôi vào mặt con gái, người mẫu Võ Thị Thu Tâm, trước ngày cô lên đường tham dự cuộc thi “Hoa hậu liên lục địa” tại Đức.
Lý do người mẹ ấy đưa ra sau khi sát hại con, đó là bà đã có hai mươi năm mua bán ve chai, vất vả nuôi con khôn lớn, để rồi khi bắt đầu nổi tiếng, cô đã mang mặc cảm về thân phận người mẹ, lẩn tránh sự kiểm soát của bà và đối xử tệ bạc với bà.
Sự việc này đã  làm cho gã phải cau mặt suy nghĩ :
- Lỗi bởi   ai ? Bởi người mẹ hay bởi người con ?
Hầu như mọi người đều đồng ý cho rằng :
- Lỗi bởi cả hai, người mẹ cũng như người con. Lỗi của người con vì đã cư xử tệ bạc với người mẹ. Còn lỗi của người mẹ  vì đã hành động độc ác với người con.
Câu chuyện thương tâm trên chỉ là một trường hợp cá biệt mà thôi. Tuy nhiên còn một sự việc khác, mà thiên hạ lại cứ lờ tít, lại cứ phớt tỉnh Ăng lê, lại cứ coi như “nơ pa”, chẳng hề tiếc xót, chẳng hề hối hận. Thậm chí lại còn cho là hợp tình hợp lý và  xứng đáng lãnh nhận bằng khen vì đã tích cực thực thi chính sách và đường lối của Nhà Nước . Đó là tình trạng nạo thai, phá thai vốn đã xảy ra hằng ngày như cơm bữa.
Thực vậy, theo một bài viết trên Ephata thì : Vấn đề nạo phá thai của thanh thiếu niên tại Việt Nam đang có khuynh hướng ngày một tăng cao. Tăng cao đến đáng sợ. Con số nạo phá thai hàng năm xấp xỉ với tổng số cháu bé được sanh ra trên toàn quốc.  Năm 1997, tổng số sanh trên toàn quốc là 1.138.607 ca, thì con số nạo phá thai là 934.302 ca. Năm 1998, số sanh là 1.101.791 ca, thì nạo phá thai là 861.353 ca.
Riêng bệnh viện Từ Dũ mỗi năm có trên 40.000 ca nạo phá thai. Các nhà xã hội học ước tính số người nạo phá thai trong cả nước hàng năm có thể từ 2 đến 3 triệu người.
Liên Hiệp Quốc cũng đã báo động và xếp nước ta vào một trong năm nước có tỷ lệ nạo phá thai lớn nhất thế giới.
Như vậy, dưới ảnh hưởng của chủ nghĩa thực dụng và hưởng thụ, người ta chỉ yêu thương con cái khi con cái là một phương tiện cần thiết để thỏa mãn những nhu cầu của mình, chẳng hạn nhu cầu tình cảm hay bất cứ một nhu cầu nào khác.
Còn khi con cái trở nên một thứ “kỳ đà cản mũi” cho những hưởng thụ, và nhất là khi con cái trở nên một gánh nặng, một sự đầu tư phi lợi nhuận, chỉ có đầu ra mà không có đầu vào…thì người ta sẵn sàng bỏ đi cái một không chút tiếc thương.
Lâu nay gã đã từng nghe nói tại một vài giáo xứ chẳng hạn như ở ngoài Huế, người ta đã thành lập những nghĩa trang, được tạm gọi là những nghĩa trang “Anh Hài” để chôn cất những bào thai bị phế bỏ hay những thai nhi bị quẳng đi. Làm như vậy, thì ít nữa là còn một chút gì để nhớ và để thương!!!
 
Chuyện thứ hai đó là tiếng gáy của anh gà trống. 
Nếu bản tính của chị gà mái là yêu thương đàn con, thì bản tính của anh gà trống là gáy. Anh gà trống mà không gáy thì chỉ còn nước bỏ vào nồi mà thôi.
Các cụ ta ngày xưa đã chia đêm thành năm canh và ngày thành sáu khắc. Vì không có đồng hồ, nên các cụ ta tính canh tính khắc, tính giờ tính giấc bằng cách dựa vào những hiện tượng trong thiên nhiên.
Ban ngày thì dựa vào mặt trời : giờ ngọ là lúc mặt trời nằm ở ngay chóc trên đỉnh đầu. Còn ban đêm thì dựa vào mặt trăng, chẳng hạn ngày hai mươi mốt âm lịch là ngày trăng mọc vào giữa đêm :
- Hai mươi giấc tốt,
  Hai mươi mốt nửa đêm.
Ngoài ra, ban đêm còn được dựa vào tiếng gà gáy. Thực vậy, tiếng gà gáy cũng giống như tiếng đồng hồ đổ, báo hiệu một ngày mới đang đến, kéo chúng ta ra khỏi giấc ngủ đêm dài và đánh thức chúng ta mau mắn chỗi dậy để bắt đầu những công việc bổn phận của mình :
- Nửa đêm gà gáy o o,
  Thôi anh đừng ngủ, còn lo học hành.
Thế nhưng, mấy anh gà trống lại hay méo mó nghề nghiệp, bẻ cong mục đích tốt đẹp của tiếng gáy. Thay vì dùng tiếng gáy như phương tiện để đánh thức bàn dân thiên hạ, thì lại dùng tiếng gáy như phương tiện để khoe khoang và phách lối.
Nửa đêm, giờ tí, canh ba, một anh gà trống ngủ mê cất tiếng gáy ó ó o, thì lập tức những anh gà trống khác cũng cất tiếng gáy theo. Tất cả cùng dương cổ ra mà gáy cho thật to, cho thật dài. 
            Thành thử người xưa mới bảo : con gà tức nhau vì tiếng gáy để rồi cùng chết vì tiếng gáy là như thế đó. Điều đó muốn nói lên rằng :
- Những lời khoe khoang, phách lối thường làm cho người ta ghét và rồi chính những lời khoe khoang phách lối ấy sẽ đem lại hậu quả tai hại cho bản thân mình.
Từ cái tật con gà tức nhau vì tiếng gáy, gã quay sang cánh đờn ông con giai và nhận thấy rằng một trong những chứng bệnh mà cánh đờn ông con giai thường hay mắc phải, đó là chứng bệnh sĩ  hay còn được gọi là chứng bệnh nổ.
Theo sự chuẩn đoán của những bác sĩ không chuyên, thì hai hiện tượng này có một liên hệ mật thiết với nhau và cùng có một nguyên nhân, đó là sự  kiêu căng.
Thực vậy, trong xã hội ngày xưa kẻ sĩ là người đã học sách thánh hiền, hiểu rộng biết nhiều, tương tự như giới trí thức hôm nay, vì vậy thường được bàn dân thiên hạ kính nể. Chẳng thế mà Nguyễn Công Trứ đã viết :
- Tước hữu ngũ sĩ cư kỳ liệt,
  Dân hữu tứ sĩ vi chi tiên.
Có nghĩa là :
- Nơi triều đình có năm danh vị cao quí được nhà vua phong, đó là công, hầu, bá, tử, nam thì sĩ  đã được liệt kê vào đó. Trong dân gian có bốn hạng, đó là sĩ, nông, công, thương thì sĩ đã chiếm ngay hàng đầu.
Vì được bàn dân thiên hạ kính nể, nên mới xuất phát ra cái  danh từ sĩ diện, tức là cái thể diện, cái bộ mặt của con nhà có học, để rồi mang một nghĩa bóng, một ám chỉ là cái danh dự của mình.
Thế nhưng, khi nói tới chứng bệnh sĩ, người ta hiểu rằng đó là thái độ vênh mặt lên, nhìn đời bằng nửa con mắt, cố giữ lấy cái thể diện hão, cái danh dự ảo, không có thực của mình.
Chẳng hạn một anh chồng tự cho mình là người có uy quyền trong gia đình, nên đã tỏ ra phách lối, đánh vợ chửi con để thiên hạ nhìn vào thấy mình oai như cóc chết, chứ  chẳng phải là kẻ “vuốt râu nịnh vợ con bu nó.”
Cũng vì muốn bảo vệ cái thể diện hão và cái danh dự ảo của mình, nên cần phải nổ, nổ càng lớn càng tốt, theo kiểu thùng rỗng kêu to cho bàn dân thiên hạ biết mặt biết tên mà khẩu phục tâm phục sát đất.
Chẳng hạn mấy anh Việt kiều khi về nước tha hồ tô vẽ về một xã hội phương tây, tha hồ huênh hoang về nghề nghiệp của mình, dù chỉ là một anh rửa chén rửa bát trong nhà hàng, hay làm nghề xén cỏ công viên, thì vẫn nghiễm nhiên trở thành một ông giám đốc, một ông chủ tầm cỡ, rồi tung vãi những đồng đô la đi vay của ngân hàng, cốt để bà con họ hàng phải kiêng nể, cho dù sau đó là những ngày tháng kéo cày trả nợ.
Ấy là chưa nói tới những anh Việt kiều khi về nước, vì  đã mang sẵn những ý đồ đen tối, nên đã nổ một cách tưng bừng hoa lá, đã nổ một cách vô tội vạ, cốt để lừa cả tình, gạt cả lẫn tiền của những cô gái nhẹ dạ và ngây thơ.
Bây giờ, gã xin trở lại với tiếng gà gáy. Thực vậy, tiếng gà gáy không phải chỉ kéo chúng ta ra khỏi giấc ngủ đêm dài và đánh thức chúng ta mau mắn chỗi dậy để bắt đầu những công việc của một ngày mới đang đến, mà hơn thế nữa, tiếng gà gáy đôi lúc còn kéo chúng ta ra khỏi tình trạng tội lỗi và đánh thức chúng ta mau mắn chỗi dậy để bắt đầu một cuộc đời mới, trong sáng hơn và tốt lành hơn.
Đó chính là trường hợp đã xảy ra cho ông thánh Phêrô. Thực vậy, trong bữa tiệc ly Phêrô đã “thề độc” với Chúa Giêsu rằng :
- Cho dù mọi người có bỏ Thầy, nhưng con sẽ chẳng bao giờ. Cho dù có phải chết cùng Thầy, con vẫn luôn sẵn sàng.
Thế nhưng, Chúa Giêsu đã báo cho Phêrô biết :
- Ngay trong đêm hôm nay, trước khi gà gáy con đã chối Thầy ba lần.
Và sự việc đã xảy ra đúng y như vậy. Trong sân nhà thầy cả thượng phẩm, Phêrô đã chối Chúa ba lần chỉ vì một câu hỏi vu vơ của đứa nữ tì, để rồi sau đó, Phêrô đã bỏ của chạy lấy người, vội vã bước ra ngoài và lập tức gà liền gáy. Nghe tiếng gà gáy, Phêrô đã đấm ngực ăn năn khóc lóc về tội lỗi của mình.
Tiếng gà gáy ấy chính là tiếng nói của lương tâm, rất nhiều lần đã vọng lên tự thẳm sâu cõi lòng, trước hết là để thôi thúc chúng ta làm lành tránh dữ, bảo cho chúng ta biết đâu là việc phải làm và đâu là việc phải tránh, rồi sau đó là để dày vò, khiến chúng ta phải sám hối và dốc lòng chừa.
Thế nhưng, rất tiếc là chúng ta đã không chịu nghe theo lời cảnh báo, cũng như không chịu nghe theo lời phán quyết của lương tâm. Như con thiêu thân lao mình vào lửa, chúng ta đã nhảy xả vào vòng tội lỗi và sau đó cũng chẳng có lấy được một giây phút nào ăn năn và hối tiếc.
Sau nhiều lần báo động và cắn rứt mà chẳng “xi-nhê”, mà chẳng đem lại hậu quả, thành thử lương tâm trở nên chai lỳ và tắt ngấm.
Cũng giống như ngày xưa gã khăn gói quả mướp vô miền Thất Sơn để dạy học. Thiên hạ bảo cho gã biết rằng :
- Ở đây xơi pháo kích là chuyện bình thường. Tuần nào không bị pháo kích mới là chuyện lạ. Vì thế, mỗi khi nghe tiếng đạn rít xé không gian, thì phải mau mắn ba chân bốn cẳng chạy vào hầm trú ẩn.
Lần thứ nhất bị pháo kích, mắt nhắm mắt mở gã đã vội  vã chui ngay vô hầm trú ẩn. Lần thứ hai bị pháo khích, gã không còn vội vã nữa, mà cứ thủng thẳng bước vào hầm trú ẩn. Lần thứ ba bị pháo kích, vì thấy rằng chẳng chết anh Miên đen nào cả, bởi vì nếu chết thì đã chết rồi, nên cứ ung dung nằm thẳng cẳng trên giường, rồi lại còn kéo chăn che mặt như con đà điểu cắm đầu xuống cát.
Cũng giống như ngày nay hai anh chị bị tiếng sét ái tình giáng cho một cú trúng ngay tim đen, tóa hỏa tam tinh, nên chi :
- Phút đầu gặp em, tinh tú quay cuồng.
Trong lúc ngồi bên nhau và tâm sự vụn, chỉ cần cầm lấy bàn tay của nhau, thì  đã run run như bị điện giật, hay theo ngôn ngữ của Hàn Mặc Tử, thì đã “run run như thần tử thấy long nhan”. Chỉ cần “thơm” nhẹ lên trán, thì đã “ôi ngất ngây, ngất ngây”.
Miết rồi hóa nhàm, nghiệm ra rằng cái cử chỉ cầm tay hay thơm nhẹ không phê, nên bèn phải tăng đô, từ cái thơm đến cái hôn và từ cái hôn đến việc “ăn cơm trước kẻng”, anh chị cũng cho là chuyện nhỏ. Thậm chí ngay cả việc “lỡ bụng em sình” thì cũng chẳng hề hấn chi, chỉ cần đến bệnh viện giải quyết cái rụp là xong tuốt luốt, rồi đâu lại vào đấy.
Cũng thế, từ tình trạng lương tâm chai lì và xơ cứng đến tình trạng lương tâm táng tận và phá sản, thì cũng chỉ cách nhau một bước ngắn.
Trong tình trạng lương tâm táng tận và phá sản như thế, người ta không phải chỉ phạm tội một cách dễ dàng như uống nước, hay như trở bàn tay, mà chẳng chút ân hận chi cả. Trái lại, người ta lại còn cảm thấy hãnh diện vì đã phạm tội, người ta coi hành vi tội phạm của mình là một việc làm can đảm và anh hùng.
Càng phạm tội nhiều thì lại càng nghênh ngang và lên mặt với đời, thì lại càng hợp thời và đúng điệu dân chơi thứ thiệt “một chăm phần chăm”, chứ còn ăn ngay ở lành, chân chỉ hạt bột, thật thà như đếm, thì chỉ có ở trong truyện cổ tích, xưa rồi diễm ơi.
Tới nước này, lương tâm không phải chỉ đã tắt ngấm, mà còn là đã chết, đã chết thật rồi, một cái chết đã được cảnh báo, một cái chết đã được nói trước.
Với một lương tâm tán tận, một lương tâm đã chết như  thế, thì theo sự diễn tả hình như của Đức Thánh Cha Piô XII :
- Cái tội lớn nhất và nặng nhất của con người thời nay, đó là cái  tội không còn ý thức về tội nữa.
Nghe thật xót xa, khiến gã phải ngậm ngùi khẽ hát bài tình ca “Mùa thu chết” :
- Ta ngắt đi một cụm hoa thạch thảo,
  Em nhớ cho mùa thu đã chết rồi,
  Mùa thu đã chết, em nhớ cho,
  Mùa thu đã chết, em nhớ cho,
  Mùa thu đã chết, đã chết rồi
  Em nhớ cho…
Gã Siêu

 

Chuyện Gã Siêu 62: NĂM ẤT DẬU NÓI VỀ GÀ

NĂM ẤT DẬU NÓI VỀ GÀ Chuyện Gã Siêu 62

Thời giờ thấm thoát thoi đưa, mới ngày nào chú khỉ lên ngôi, thế mà hôm nay đã phải khăn gói Chuyện Gã Siêu 62

Thời giờ thấm thoát thoi đưa, mới ngày nào chú khỉ lên ngôi, thế mà hôm nay đã phải khăn gói quả mướp về rừng, nhường chỗ cho họ hàng nhà gà. Thế nhưng, xem ra dòng họ gà cũng không mấy hồ hởi phấn khởi là mấy, vì đang còn phải ngất ngư con tàu đi với cơn đại dịch, được bàn dân thiên hạ gọi là…dịch cúm gà.
Thực vậy, mới chỉ cách đây mấy tháng, cơn dịch này đã làm cho Việt Nam thiệt hại hàng mấy chục triệu đô la, ấy là chưa kể tới hơn hai chục mạng người bị lây nhiễm, đã tháp tùng bày gia súc của mình mà phiêu diêu miền cực lạc.
Giữa lúc dầu sôi lửa bỏng ấy, bao nhiêu gà vịt cũng như gia cầm gia súc trong vùng mắc dịch đều bị các ông thú y thu gom, nhét vào bao tải và mang đi chôn, mặc cho chủ nhân của chúng, những gia đình nghèo túng khố rách áo ôm, năn nỉ ỉ ôi cũng chẳng ăn thua gì.
Như một cơn sốt lên tới đỉnh cao của nó, thì nhiệt độ bắt đầu giảm dần. Sau một thời gian tung hoành, dịch cúm gà chìm lắng, tưởng chừng như đã lui vào dĩ vãng. Xưa rồi Diễm ơi! Thế mà trong những ngày gần đây, nó lại tái xuất giang hồ, từ Thái Lan cho đến mấy tỉnh miền Tây, chưa biết hạ hồi phân giải sẽ ra sao. Thôi thì của Caesar trả về cho Caesar, dịch cúm gà xin trả về cho bộ Y tế cùng với những quan chức nhà nước. Còn bây giờ, gã xin hầu chuyện về dòng họ  gà.
Trong khi dòng họ gà đang lao đao vất vưởng, đang xất bất xang bang vì cơn dịch cúm, dân số giảm đi trông thấy mà chẳng cần phải kế hoạch hóa, thì có một loại gà khác vẫn cứ liên tục phát triển và gia tăng không ngừng, đó là là loại gà móng đỏ, loại gà mắt xanh mỏ đỏ. Danh từ này được cánh nhà báo Việt Nam dùng để gọi những cô gái điếm, kiếm ăn bằng cái vốn tự có, cái vốn trời cho.
Theo Việt Nam Tự Điển của Lê Văn Đức, thì gà là một loại súc vật có lông mao và cánh, đẻ trứng và ấp. Riêng con trống, đầu có mồng cao, dài và đỏ, chân có cựa dài và nhọn, lông dài và đẹp, thuộc loài hiếu chiến, gáy tiếng to vào giữa đêm và gần sáng.
Tùy theo “giới tính”, người ta phân biệt gà trống tức là con đực và gà mái tức là con cái. Riêng anh gà trống nào bị người ta lấy mất  khả năng truyền giống thì được gọi là gà trống…thiến.
Tùy theo tuổi tác người ta phân biệt gà con là gà mới nở và còn theo mẹ, tựa như các em nhỏ mới mở mắt chào đời và  đang còn trong lứa tuổi “babilac”. Gà giò là gà độ bốn năm tháng tuổi, tựa như các em thiếu nhi và thiếu niên. Gà mái tơ là gà  mái mới lớn và sắp chịu trống, còn gà trống choai là gà trống mới lớn và chưa đạp mái, tựa như mấy anh chị em đang chuẩn bị hôn nhân để bước chân vào cuộc sống lứa đôi. Gà mẹ là gà mái đang trong thời kỳ chăn con. Và sau cùng là gà mái…già, tức là gà mái đã…quá “đát”.
Tùy theo vóc dáng và thể hình, người ta phân biệt gà ác, gà ri là loại gà nhỏ con, lông trắng và da den, thường được hầm với thuốc bắc để xơi cho…khỏe người. Gà tre là loại gà rừng lai gà nhà, nhỏ con và hiếu chiến. Gà cồ là loại gà trống to, được dành để làm giống. Gà chọi là loại gà trống khỏe mạnh, ít lông, được nuôi để chọi cho dân mê cờ bạc ăn cá độ.
Tùy theo nguồn gốc và địa dư, người ta phân biệt gà ta, gà tàu, gà tây, gà mỹ, gà rừng.
Tùy theo sự khoái khẩu, dân bợm nhậu có thể chế biến thịt gà thành nhiều món tuyệt vời như  gà luộc, gà xé phay, gà chiên, gà tiềm, gà hầm, gà rút xương, gà nướng muối, gà xối mỡ, gà rô ti, gà cà ri…thôi thì thiên hình vạn trạng đến quỉ thần cũng không lường nổi. Ba bộ phận được thiên chiếu cố nhiều nhất và đứng đầu trong “top ten”, đó là đầu, phao câu và bầu cánh :
- Đầu gà, má lợn.
- Thứ nhất phao câu, thứ nhì bầu cánh.
Tuy nhiên, có một món xem chừng không mấy ai ưa thích, đó là món gân gà. Thực vậy, khi đã xơi gân gà, thì thường hay bị giắt răng. Khi đã bị giắt răng thì lấy ra chẳng được, nuốt vào cũng chẳng  trôi.
Chuyện rằng :
Tào Tháo đem đại quân đi tiếp viện Hạ Hầu Uyên, bị quân Thục của Lưu Bị vây khốn. Đang buồn bực, bỗng người hậu cần bưng bát canh lên dâng. Tào Tháo nhìn vào thấy miếng gân gà. Vừa đúng lúc trời tối, Hạ Hầu Đôn bước vào xin TàoTháo ban cho mật khẩu để đi tuần tra  ban đêm. Tào Tháo buột miệng nói hai tiếng :
- Gân gà, gân gà.
Hạ Hầu Đôn liền lui ra khỏi trướng, truyền cho binh sĩ mật khẩu đêm nay là :
- Gân gà.
Bấy giờ, Dương Tu đang làm chức Hành quân chủ bạ, nghe Hạ Hầu Đôn truyền mật khẩu như vậy, liền bảo binh sĩ chuẩn bị lui quân. Hạ Hầu Đôn lấy làm lạ, bèn hỏi duyên cớ. Dương Tu đáp :
- Chúa công đã cho mật khẩu là gân gà, ta cứ suy ra thì biết. Vả chăng gân gà không có thịt mà lại dai. Không có mùi vị, nhưng  bỏ đi thì lại tiếc. Hiện nay quân ta thua mấy trận lớn, muốn tiến lên không được, rút về thì sợ quân Thục cười cho. Ngụy Vương còn đang lưỡng lự, nhưng tôi biết nội trong nay mai, thế nào cũng có lệnh ban sư. Vậy ta sửa soạn đi là vừa.
Tào Tháo có lòng oán hận Dương Tu, đang đêm đi tuần tiễu, biết được Dương Tu ra lệnh chuẩn bị rút quân, liền truyền trói Dương Tu lại và đem ra chém đầu vì tội phá rối quân ngũ, làm loạn ba quân. Nhưng sau quả nhiên Tào Tháo thấy ở lâu ngày không tiện, liền lui quân về Hứa Đô. Bấy giờ mới phục Dương Tu đã dùng mật khẩu gân gà mà biết trước mọi việc. Thế nhưng, hiểu được như vậy thì đã qúa muộn. (Thành ngữ diễn tích danh nhân từ điển của Trịnh Văn Thanh, trang 341).
Gà là một con vật được nuôi trong nhà, nên rất thân thương và gần gũi với con người. Vì thế, tục ngữ ca dao nói rất nhiều về gà, thận chí nhiều lúc hình ảnh của nó còn được sử dụng để ám chỉ con người.
Thực vậy, “Lục súc tranh công”, câu chuyện về sáu con vật được nuôi trong nhà, gồm bò, ngựa, dê, chó lợn và gà, thi nhau báo cáo thành tích của mình trước đại hội đảng. Tác giả đã dựa vào “Hàn thi ngoại truyện” mà đưa ra năm nhân đức của anh gà trống. Năm nhân đức ấy như sau :
Thứ nhất, có ăn thì gọi nhau lại, đó là nhân.
Thứ hai, có chí phấn đấu hăng hái, đó là dũng.
Thứ ba, đêm gáy đúng giờ, đó là tín.
Thứ tư, chân có cựa, đó là võ.
Thứ năm, đầu có mào, đó là văn. (Hán Việt tân từ điển của Nguyễn Quốc Hùng, trang 299).
Như vậy, nơi anh gà trống có đủ nhân dũng tín võ văn, năm nhân đức này xem ra nơi con người ngày càng bị hiếm.
Về những thói hư tật xấu của dòng họ gà, người xưa đã đúc kết thành những câu tục ngữ, như kinh nghiệm sống ngàn đời cho con người. Gã chỉ xin đưa ra hai thói hư tật xấu mà thôi.
Thói hư tật xấu thứ nhất, đó là :
- Vắng chủ nhà gà mọc đuôi tôm.
Với loài chim loài gà, con đực thường làm duyên với con cái bằng cách khoe mẽ : Giang cánh, xòe đuôi,  múa may, nhảy nhót . Anh gà trống khi muốn “gạ gẫm” chị gà mái, thường làm điệu làm bộ : Chạy vòng quanh, xệ cánh, xòe đuôi có hình chiếc quạt  hay giống như cái đuôi con tôm :
- Lưng tôm tít,
  Đít tôm càng,
  Chân đi lắt lẻo hai hàng,
  Được như lời ấy, lạng vàng cũng mua.
Cũng có người lại cho rằng : Vắng chủ nhà gà vọc niêu tôm. Có nghĩa là khi chủ nhà đi vắng, thì chú gà tha hồ thọc  đầu vào niêu tôm mà ăn vụng.
Thói hư tật xấu này muốn nói lên rằng : Vắng người trên, thì kẻ dưới thường hay làm bậy, làm bộ, làm phách, làm tàng và lên mặt ta đây với mọi người. (Về cội nguồn của Lê Gia, trang 352).
Thói hư tật xấu thứ hai, đó là :
- Gà què ăn quẩn cối xay.
Một con gà bị què không thể đi kiếm ăn xa, chỉ quanh quẩn bên cối xay để được hưởng những hạt rơi hạt vãi. Thói hư tật xấu này có ý nói rằng : kẻ bất tài, không thể kiếm được tiền của thiên hạ, bèn quay về bòn rút, kiếm chác những người thân yêu của mình.
Cũng trong chiều hướng ấy, người xưa còn bảo :
- Gà cùng chuồng bôi mặt đá nhau.
Thực vậy, nhìn đàn gà con ríu rít chung quanh gà mẹ, ai mà chẳng cảm thấy ngập tràn yêu thương. Thế nhưng, hình ảnh đẹp đẽ này có khi chẳng kéo dài được bao lâu, bởi vì mấy chú gà con, hoặc vì tranh ăn, hoặc vì ghen tức đã xúm vào đá nhau chí chóe, thậm chí đến cả phun máu đầu. Vì thế, người xưa mới phải lên tiếng khuyên can :
- Khôn ngoan đối đáp người ngoài,
  Gà cùng một mẹ, chớ hoài đá nhau.
Kinh nghiệm này cũng giống như câu chuyện về ba chú rận con.
Ngày xưa, có ba chú rận con, vì tranh nhau hút máu một con lợn, nên đã phải vác đơn ra ba tòa quan lớn để xin xét xử. Đang lúc đi đường, ba chú rận con gặp một cụ rận già. Cụ hỏi :
- Ba cháu kiện nhau vì việc gì thế ?
Ba chú rận con đồng thanh đáp :
- Chúng cháu kiện nhau vì  tranh giành một thửa đất màu mỡ.
Cụ rận già bèn ôn tồn nói :
- Tôi tưởng các cháu không nên tranh giành kiện tụng nhau làm chi. Chỉ nên lo con dao của tên đồ tể giết lợn và gáo nước sôi mà hắn đổ xuống để cạo lông con lợn  mà thôi.
Ba chú rận con bèn “ngộ” ra, biết là mình dại, kéo nhau về và cộng tác với nhau để làm ăn, no đói không bỏ nhau. Phần con lợn ngày càng gầy, chủ không dám bán thịt, cứ để vậy mà nuôi. Ba chú rận con nhờ đó mà được no đủ mãi.
Từ đó, chúng ta thấy : anh em một nhà, người cùng một đoàn thể hay dân cùng một nước không được vì cái lợi trước mắt mà giành giật nhau, để rồi quên mất cái hại sau lưng, hay vì chút hư danh mà xâu xé, chém giết lẫn nhau, chẳng kể gì đến tương lai về lâu về dài. Trái lại, phải biết yêu thương đùm bọc lấy nhau :
- Lá lành đùm lá rách.
- Nhiễu điều phủ lấy giá gương,
  Người trong một nước phải thương nhau cùng.
Như đàn gà con chỉ nên trêu chọc nhau chút ít cho chóng lớn và vui cửa vui nhà mà thôi :
- Khôn ngoan đối đáp người trong,
  Gà cùng một mẹ chỉ tròng nhau chơi.
Sau khi đã phác họa mấy nét chung chung về dòng họ nhà gà, bây giờ gã xin đi sâu hơn một tí về anh gà trống và chị gà mái.
Trước hết là anh gà trống.
Một trong những đặc điểm của anh gà trống là tiếng gáy. Đối với con người, tiếng gáy của anh gà trống có thể đem lại nhiều lợi ích. Ngày xưa khi “văn minh đồng hồ” chưa được phổ biến, người ta xác định giờ giấc ban ngày bằng ánh nắng mặt trời, và ban đêm bằng tiếng  gáy của anh gà trống.
Tiếng gáy của anh gà trống là như lời mời gọi  mọi người hãy chỗi dậy để bắt tay vào công việc lao động.
Đây là lời của một bà hiền phi khuyên nhà vua đăng triều cho sớm, để các quan khỏi phải đợi chờ :
- Kê minh hỹ, kiều ký doanh hỹ. Có nghĩa là gà đã gáy, triều đình đã đông người.
Đây cũng là lời của người vợ hiền thúc giục chồng mình thức dậy để chú tâm vào công việc đèn sách :
- Nửa đêm gà gáy o o,
  Thôi anh đừng ngủ, còn lo học hành.
Có một câu chuyện mà vì lâu ngày, gã đã quên mất tên những nhân vật chính, chỉ còn nhớ mang máng như sau :
Một vị tướng nọ muốn trốn khỏi thành. Thế nhưng, ban đêm cửa thành khóa chặt, tới gần sáng mới được mở. Và thế là một thuộc hạ của vị tướng này có biệt tài nhái tiếng gà bèn dài cổ ra mà gáy. Viên quan canh cổng nghe tiếng nhái gà gáy, cứ tưởng là trời sắp sáng, vội vã đi mở cổng và viên tướng thoát thân một cách êm ru bà rù.
Như trên gã vừa nói đối với con người, tiếng gà gáy có thể mang lại nhiều lợi ích, thế nhưng đối với những anh gà trống khác, tiếng gáy ấy lại là một lời thách thức rất đáng ghét và thế nào chúng cũng tìm cách trả đũa.
Khi một con đã gáy, thì những con khác cũng cất tiếng gáy theo. Hai bên cùng cố gáy cho to, cho dài. Vì thế : gà thường tức nhau vì tiếng gáy, để rồi cuối cùng sẽ chết vì tiếng gáy của mình.
 Điều đó muốn nói lên rằng : Những lời khoe khoang phách lối thường làm cho người ta ghét mình, và rồi chính những lời khoe khoang phách lối ấy sẽ đem lại hậu quả tai hại cho bản thân.
Chẳng hạn ngồi vào bàn tiệc, một anh nào đó vỗ ngực tự xưng mình là bậc…hoàng đế hay đế vương, có nghĩa là vua rượu đế. Uống rượu như uống nước. Và thế là bàn dân thiên hạ đều xúm vào mời anh ta hết ly này tới ly khác. Cuối cùng anh ta bèn gục chết tại trận. Thấy thế, mọi người bèn chép miệng :
- Cho bõ ghét.
Đúng là anh ta chết vì cái mồm huênh hoang của mình.
Tuy nhiên, nơi anh gà trống có một sự ngược đời đáng suy nghĩ. Như trên chúng ta đã phác họa về anh gà trống : đầu có mồng cao và đỏ, lông dài và đẹp. Nhìn vào, chúng ta thấy  anh gà trống bắt mắt hơn chị gà mái bội phần.
Cũng vì thế, trong tiếng Pháp, người ta dùng từ “coquetterie”, để chỉ tính ưa làm dáng, làm đỏm. Từ này có nguồn gốc bởi chữ “coq” có nghĩa là anh gà trống. Như thế, anh gà trống phải thuộc về phái đẹp. Hay nói cách khác, theo nhãn quan dòng họ gà, thì phái đẹp phải là phái nam.
Thế nhưng, sự đổi đời bất đắc dĩ này cũng đã kéo theo những hệ lụy phức tạp của nó. 
Hệ lụy thứ nhất đó là cảnh gà trống nuôi con.
Chị gà mái vì cơn dịch cúm đã phải an nghỉ nơi chín suối, để lại bầy con cho anh gà trống. Giờ đây nhìn cảnh anh gà trống dẫn đàn con ra ngoài vườn, bới đất tìm miếng ăn, ai mà lại chẳng ngậm ngùi cảm động rơi cả nước mắt.
Cũng thế, chị vợ chẳng may chết sớm, nhiều anh chồng lâm vào cảnh gà trống nuôi con. Đến khổ. Nào là phải bươn chải tìm chén cơm manh áo đem về nuôi xấp nhỏ. Nào là phải lo toan đủ mọi chuyện lỉnh kỉnh, từ tề gia cho đến nội trợ, toát cả mồ hôi hột mà cũng chẳng xong.
Thế nhưng, có những anh chồng, chị vợ vẫn còn sống sờ sờ trước mặt, thế mà cũng vẫn phải anh dũng sống cảnh gà trống nuôi con.
Sát vách nhà tôi có một chi vợ mơ làm ca sĩ. Anh chồng vì nể và thương, nên cũng đã đồng ý để chị vợ làm theo mơ ước của mình.
Bước thứ nhất chị vợ thực hiện, đó là chạy ngay ra chợ mua sắm áo quần cùng mọi thứ phụ tùng lỉnh kỉnh của đờn bà con gái, từ chiếc áo dài quần trắng cho đến cái váy lấp la lấp lửng, từ thỏi son bôi môi cho đến đôi giày cao gót “nâng niu bàn chân Việt”. Tính tổng cộng cũng hết một món kha khá, khiến cho anh chồng tê tái cả mặt mày.
Bước thứ hai chị vợ thực hiện, đó là nhờ bè bạn thân quen, chị vợ được một số tụ điểm văn nghệ quần chúng nhận vào chương trình “hát với nhau” hay “hát cho nhau nghe” chi đó. Vì giọng ca mới chỉ là bậc gần “sao”, chứ chưa phải là bậc sao chính hiệu con nai vàng, nên chị vợ phải chạy xô, mỗi tối hát vài ba nơi. Do đó, ngay từ ban chiều, chị vợ đã phải ngồi vào bàn trang điểm, bôi chỗ này, tô chỗ kia, rồi phóng xe đi mất tiêu. Anh chồng bế con tựa cửa nhìn theo, mà suýt nữa nước mắt rơi xuống đồm độp.
Ban tối, gã nghe anh chồng hát ru đưa con vào giấc ngủ, sao mà não nùng và bi đát thế :
- Ầu ơ!
  Đêm qua tát nước đầu đình.
  Để quên cái nón trên cành hoa sen.
  Ầu ơ! Ầu ơ!
Thế nhưng con bé nhất định không chịu ngủ, nó cứ hỏi :
- Mẹ đâu rồi ? Mẹ đâu rồi ?
Rồi sau đó lại òa lên khóc. Anh chồng bế con bé chạy tới chạy lui, chạy từ trong nhà, chạy ra ngoài ngõ. Thế mà con bé khóc vẫn hoàn khóc, khóc cho tới khi mỏi miệng, khô cả nước mắt và thiếp ngủ lúc nào cũng chẳng biết. Lúc đó anh chồng mới được giải thoát, thở phào nhẹ nhõm.
Bước thứ ba chị vợ thực hiện, đó là ngủ bù. Đêm đã thức khuya, thì ngày phải ngủ bù. Về tới nhà, chị vợ lăn quay ra ngủ, thậm chí còn nướng khê  nướng khét, nướng tới chín mười giờ sáng mà vẫn chưa buồn dậy. Thành thử anh chồng lại phải lo toan mọi việc : giặt giũ áo quần, quét nhà quét cửa, tắm rửa cho con, lon ton đi chợ…Chính anh chồng đã tâm sự với gã :
- Quả là tốn kém, nặng nề và mệt mỏi cho cái giấc mơ làm ca sĩ. Có vợ ca sĩ còn tệ hơn là…không có!
Như thế là gã đã bắt đầu bàn về chị gà mái rồi đó. Nhân vì  sự anh gà trống trở thành phái đẹp, mà nhiều chuyện tréo cẳng ngỗng bỗng xảy ra, làm đảo lộn cái trật tự xã hội.
Và đây hệ lụy thứ hai đó là gà mái đá gà cồ.
Thửa vườn sau nhà vốn được dùng để thả gà thả vịt, gã thấy dòng họ gà sống thật bình an hạnh phúc : đàn gà con ríu rít chung quanh gà mẹ. Anh gà trống ga  lăng ve vãn chị gà mái. Nhưng rồi thỉnh thoảng cũng thấy một chị gà mái đuổi anh gà trống. Anh gà trống cắm đầu cắm cổ chạy te tua, chẳng còn hơi sức đâu mà gáy ò ó o.
Trong cuộc sống cũng thế. Khi nói về nạn khủng bố, trên bình diện quốc tế, người ta nghĩ ngay đến những vụ đánh bom, những vụ bắt cóc của phe Hồi giáo quá khích. Còn trong phạm vi gia đình, người ta nghĩ ngay đến những vụ bạo hành, đánh đập của anh chồng đối với chị vợ.
Tuy nhiên, thực tế đôi lúc không phải là như vậy, bởi vì chị vợ cũng có thể khủng bố anh chồng. Khủng bố bằng lời nói : nói dài nói dẻo nói dai làm cho đầu óc anh chồng lúc nào cũng bị căng thẳng. Khủng bố bằng hành động : thượng cẳng chân hạ cẳng tay, ăn thua đủ với chồng. Và nhất là khủng bố bằng chính sách bất bạo động : không cười, không nói, không làm, không hợp tác, sẵn sàng khăn gói quả mướp về với bu bất cứ lúc nào. Tới nước này thì liệu anh chồng có thể chịu đựng nổi sự lạnh lùng của chị vợ hay không ?
Cho đến bây giờ, gã vẫn chẳng hiểu tại sao gà mái lại bị coi là dấu chỉ của những sự xui xẻo và kém may mắn. Quan niệm này có lẽ xuất phát từ điển xưa tích cũ.
Thực vậy, ngày xưa thiên hạ coi việc người đờn bà nắm chính quyền là một điều lạ lùng, chẳng khác gì gà mái gáy. Đời nhà Hán có Lữ Hậu, đời nhà Đường có Võ Hậu cả hai người đàn bà này, khi nắm được quyền hành trong tay, đã làm cho nước Tàu phải một phen thất điên bát đảo, ba chìm bảy nổi chín lênh đênh. Vì thế, thiên hạ mới nói :
- Ghê thay gà mái gáy càn,
  Non sông nghiêng ngửa, giang san đổi đời.
Có lẽ cũng vì thế thiên hạ đã đồng hóa gà mái với tai ương hoạn nạn, khi nói :
- Gà mái gáy gở, có nghĩa là báo điềm chẳng lành.
- Gà bới thì khó, chó bới thì giàu. Đây là cách coi bói theo chỉ tay. Nếu những vết chỉ trên bàn tay mà nhiều, nhưng nhỏ, cạn và rối tung như những vết gà bới thì là số nghèo. Còn nếu những vết chỉ ấy mà ít, nhưng lớn, sâu và rõ như những vết chó bới thì là số giàu. (Về cội nguồn 2 của Lê Gia, trang 348).
Còn rất nhiều vấn đề phải đá động tới dòng họ gà, chẳng hạn như :
Tại sao gà đẻ gà cục tác, bác đẻ bác la làng ?
Tại sao tiếng cục ta cục tác của gà mái đẻ, lại bị phiên âm thành vừa đau vừa rát ?
Tại sao gà khôn lại giấu đầu và chim khôn lại dấu mỏ ?
Tại sao người ta lại bảo “kê khẩu ngưu hậu” có nghĩa là thà làm mỏ con gà chứ chẳng chịu làm đít con trâu ?
Và còn nhiều tại sao khác nữa.
Để kết thúc, gã xin đưa ra hai sự kiện nho nhỏ, để ngày xuân năm mới được vui vẻ cả làng.
Sự kiện thứ nhất, đó là việc con gà mái đẻ trứng vàng.
Bác nông phu nọ có một con gà  mái và mỗi ngày nó đẻ cho bác một quả trứng vàng. Bác rất mừng và nghĩ rằng trong bụng nó có  một kho vàng to lắm, nên vội vã làm thịt. Thế nhưng, khi mổ con gà mái ra, thì nó cũng chỉ như mọi con gà khác, bên trong chẳng có tí vàng bạc nào cả.
Câu chuyện này muốn nói rằng : đứng trước  mối lợi từ từ nhưng vô tận, như cá dưới biển hay như cây trên rừng, chúng ta đừng vì tham lam mà vơ vét về một lần.
Sự kiện thứ hai, đó là tiếng gà gáy giữa đêm khuya.
Thực vậy, sau khi Phêrô chối Chúa ba lần trong sân nhà Thầy cả Thượng phẩm, thì gà liền gáy, đúng như lời Chúa đã tiên báo. Chính nhờ tiếng gà gáy này, Phêrô đã thức tỉnh, đã sám hối ăn năn và  đã xứng đáng được Chúa đặt làm đầu Giáo hội.
Còn chúng ta, có bao giờ chúng ta đã lắng nghe tiếng gà gáy âm thầm, vọng lên từ thẳm sâu cõi lòng, đánh thức lương tâm  chúng ta hay  chưa ?
Gã Siêu

 

Chuyện Gã Siêu 63: BÀN VỀ TÂY VÀ TA

BÀN VỀ TÂY VÀ TA Chuyện Gã Siêu 63

Khi học về tâm lý, gã được biết nơi con người có hai yếu tố luôn ảnh hưởng lẫn nhau, đó là Chuyện Gã Siêu 63

Khi học về tâm lý, gã được biết nơi con người có hai yếu tố luôn ảnh hưởng lẫn nhau, đó là yếu tố bên trong và yếu tố bên ngoài.
Trước hết, yếu tố bên trong ảnh hưởng tới bên ngoài. Chẳng hạn khi buồn, ta có cảm tưởng như môi trường chung quanh cũng ảm đạm và tê tái như muốn chia sớt nỗi buồn đang đầy ứ trong cõi lòng của ta. Vì thế, Nguyễn Du đã viết :
- Cảnh nào, cảnh chẳng đeo sầu,
  Người buồn, cảnh có vui đâu bao giờ.
Tiếp đến, yếu tố bên ngoài ảnh hưởng tới bên trong. Chẳng hạn vừa mới ngủ dậy mà bỗng trời đổ mưa, ta liền cảm thấy một chút lười biếng, chả muốn bắt tay làm bất cứ công việc gì, mà chỉ muốn nằm ngủ nướng trong chăn cho đẫy con mắt. Chẳng hạn đang đi thất tha thất thểu ngoài phố, bỗng nghe thấy một khúc quân hành, ta liền cảm thấy phấn chấn hẳn lên, bước đều bước theo điệu nhạc đong đưa.
Một trong những yếu tố bên ngoài khá quan trọng đó là địa dư, hay nói một cách nôm na là nơi ăn chốn ở. Yếu tố này cũng đã góp phần không nhỏ vào việc hình thành con người chúng ta. Thực vậy, nhìn vào bản đồ, gã thấy có bốn hướng : đông tây nam bắc. Như thế, người bắc khác với người nam và người phương đông khác với người phương tây.
Thực vậy, tuy cùng là dân Việt mình với nhau, nhưng người bắc có một số đặc điểm khác với người nam. Gã chỉ xin đưa ra một  thí dụ nho nhỏ mà thôi.
Chẳng hạn tại miền bắc đất đại thì ít, còn sông Hồng Hà như bà già khó tính hay như cô gái đỏng đảnh, gây nên lụt lội thất thường. Chính vì phải đương đầu với một hoàn cảnh nghiệt ngã như vậy, nên người bắc thường chí thú làm ăn, tích lũy tiền của phòng khi tai ương hoạn nạn xảy ra.
Trong khi đó, tại miền nam, ruộng đất thẳng cánh cò bay, còn sông Cửu Long, như người mẹ hiền hay như cô gái dịu dàng, lụt lội cứ đúng hẹn lại lên, không có sức tàn phá dữ tợn, nhưng mang lại phù sa cùng mọi thứ tôm cá. Đứng trước môi trường được thiên nhiên ưu đãi như thế, người miền nam thường sống một cách nhàn hạ, chả cần phải ky cóp, nhưng làm ngày nào xào ngày ấy.
Vào năm 1954, cả triệu người miền bắc di cư xuống miền nam. Sau năm mươi năm chung sống, những người bắc 54 cũng đã mang lấy không nhiều thì ít những đặc tính của người miền nam. Thành thử bây giờ họ không còn cần cù siêng năng mấy so với những người bắc 75, tức là những người vào nam sau ngày thống nhất đất nước.
Bây giờ gã xin so sánh người tây với ta. Người tây dĩ nhiên là sống ở phương tây, còn ta thì dĩ nhiên sống ở phương đông. Vị trí đông và tây này cũng đã ảnh hưởng trên con người và tạo nên những khác biệt.
Vì sống ở bắc bán cầu với khí hậu lạnh, người tây thường to con, trắng trẻo và râu tóc rậm rạp. Còn ta vì sống gần đường xích đạo, nên có vóc dáng nhỏ hơn, da vàng và râu tóc cũng thưa thớt hơn. Người tây dùng màu đen để chỉ sự tang tóc, còn ta thì lại dùng màu trắng. Người tây gọt từ dưới gọt lên, còn ta thì gọt từ trên gọt xuống. Người tây khi gọi thì ngửa tay ra mà vẫy, còn ta khi gọi thì úp tay xuống mà vẫy. Người tây không ăn thịt chó, còn ta thì lại coi thịt chó là một món…khoái khẩu. Thành thử trong những năm gần đây các thứ quán “cờ tây”, “nó kìa”, “sống trên đời”…mọc lên như nấm, có mặt trên khắp nẻo đường đất nước, từ thành thị cho đến thôn quê.
Đó mới chỉ là những khác biệt lẻ tẻ, mà nếu kể ra thì sẽ chẳng  bao giờ cùng. Trong khuôn khổ bài viết này, gã chỉ xin tập trung vào mấy điểm khác biệt chính yếu mà thôi.
Trước hết là về phép tính ngày tháng năm. Người tây căn cứ theo dương lịch. Còn ta căn cứ theo âm lịch. Vậy thế nào là dương lịch và thế nào là âm lịch ?
Dương lịch hay lịch tây là lịch tính theo mặt trời. Thực vậy, trái đất xoay quanh mặt trời cứ 365 ngày 6 giờ thì được một vòng. Vì thế, cứ bốn năm lại có một năm nhuận. Và năm nhuận được tính thêm một ngày vào tháng hai. Người tây chắc hẳn  là phải ăn tết tây, tức là mừng ngày 1 tháng 1, ngày đầu năm dương lịch.
Còn âm lịch, lịch ta hay lịch tàu là lịch căn cứ vào sự vận hành của mặt trăng chung quanh trái đất. Đối với âm lịch, năm nhuận là năm có thêm hẳn một tháng. Theo Trung Quốc, âm lịch có từ thời nhà Hạ và lấy tên mười hai chi mà đặt cho mười hai tháng.
Ta chắc hẳn là phải ăn tết ta, hay còn được gọi là tết Nguyên đán, mừng ngày 1 tháng 1, ngày đầu năm âm lịch. Theo tác giả “Toan Ánh” trong “Tín ngưỡng Việt Nam” thì “Nguyên là bắt đầu, đán là buổi sớm mai. Tết Nguyên đán là tết đầu năm, mở màn cho một năm mới với mọi cảnh vật đều mới mẻ đón xuân sang”.
Ngày nay, qua sự giao lưu văn hóa, đông và tây không còn cách biệt ngàn trùng nữa. Vì thế, ta vẫn giữ lại một số lễ tết chính, chẳng hạn tết Nguyên đán và tết Trung thu, đồng thời cũng mở rộng cửa đón nhận một số lễ tết của người phương tây, chẳng hạn tết Dương lịch. Và trong những năm gần đây giới trẻ, nhất là tại các thành phố lớn, cũng đã bắt đầu mừng những ngày lễ  khác, như ngày tình nhân, ngày mẹ hiền, ngày phụ nữ, ngày  quỷ dữ Halloween…Chẳng khác gì một anh chàng, vừa có họ với cô dâu lại vừa có họ với chú dể, nên khi được mời dự đám cưới, đã hăng hái phát ngôn vung vít :
- Giai hay gái, tớ đều…xơi tuốt!
Nếu đưa mắt quan sát, gã ghi nhận được hai đặc tính về con người và về xã hội. Hai đặc tính này đã tạo nên những sự khác biệt giữa ta và tây.
Trước hết là về con người. Nếu so sánh, gã thấy người tây vốn thường suy nghĩ  bằng cái đầu, còn ta vốn thường suy nghĩ  bằng trái tim. Nói cách khác, người tây sống bằng lý trí hơn sống bằng tình cảm, còn ta thì sống bằng tình cảm hơn sống bằng lý trí. Đối với người tây, ngang bằng xổ thẳng, hai với hai phải là bốn, chứ không được nghiêng bên nọ, ngả bên kia. Còn ta thì khác, lắm khi nói vậy mà chẳng phải đâu và trong cách cư xử thường uyển chuyển và du di, bởi vì :
- Một trăm cái lý không bằng một tí cái tình.
Tiếp đến là về xã hội.  Người tây vốn phát triển về khoa học kỹ thuật nên đòi hỏi sự chính xác. Còn ta vốn phát triển về nghề nông, nên cứ thủng thẳng mà đi. Có thể nói được rằng từ thời ông “Bành Tổ” và cho đến ngày hôm nay, xã hội ta vốn dĩ đã là một xã hội nông nghiệp :
- Nhất sĩ nhì nông,
  Hết gạo chạy rông,
  Nhất nông nhì sĩ.
Người dân chủ yếu sống bằng nghề trồng lúa. Mà đã trồng lúa, thì đòi hỏi nhiều lao động, nhiều công sức, nhất là vào thời buổi “con trâu đi trước, cái cày theo sau”, chưa được hiện đại hóa bằng những thứ máy móc lỉnh kỉnh. Vì thế, cần phải đông con nhiều cháu, để cùng nhau chia sẻ và gánh vác những công việc nặng nhọc trên ruộng đồng.
Từ hai đặc điểm này, gã xin đưa ra hai điểm nổi bật, khiến cho ta hoàn toàn khác biệt với tây.
Điểm nổi bật thứ nhất, đó là đời sống tình cảm.
Như trên gã vừa  mới trình bày : người tây vốn suy nghĩ bằng cái đầu, lấy lý trí làm tiêu chuẩn hướng dẫn cho mọi hành động, nên phàm bất cứ sự việc gì cũng phải hợp lý, cũng phải có cái “lô gích” của nó. Chẳng phải chỉ người Anh mới có thái độ “phớt tỉnh Ăng Lê”, mà phần đông dân tây đều có thái độ ấy. Thí dụ như dân Đức máu còn lạnh và phớt tỉnh còn bạo hơn cả dân Ăng lê nữa.
Cũng từ đó, cá nhân chủ nghĩa được liên tục phát triển nơi người tây, đặc biệt trong phạm vi gia đình. Thực vậy, một gia đình của người tây thường chỉ gồm có cha mẹ và con cái. Con cái vừa mở mắt chào đời đã được đặt ngủ trong nôi, chứ không được nằm ngủ chung với mẹ. Lớn lên một tí thì ở trong phòng riêng, một vùng cấm địa mà ngay cả cha mẹ cũng phải tôn trọng. Còn cha mẹ khi đã về già, thường được gửi vào những viện dưỡng lão, thỉnh thoảng trong những ngày lễ hay những ngày nghỉ cuối tuần, con cháu mới tới thăm viếng.
Còn ta thì khác. Ta suy nghĩ bằng trái tim, lấy tình cảm làm tiêu chuẩn hướng dẫn cho mọi hành động. Và trái tim thì có những lý lẽ riêng của nó. Thành thử ở mọi nơi và trong mọi lúc, tình nghĩa lúc nào cũng lai láng và tràn đầy, nhất là trong phạm vi gia đình.
Thực vậy, gia đình ta ngày xưa, nếu đi từ người chủ, thì sẽ thấy hàng trên của người chủ là cha mẹ, ông bà, cụ kỵ. Nhưng thường chỉ có cha mẹ và ông bà, còn cụ kỵ nếu sống được thì cũng rất hiếm. Hàng ngang của người chủ là anh chị em. Còn hàng dưới của người chủ là vợ con. Tất cả cụ kỵ, ông bà, cha mẹ, con cái, anh chị em đều là những người trong gia đình và thuộc về họ nội. Riêng ông bà, cha mẹ, anh chị em của người mẹ thì thuộc về họ ngoại, tuy không ở chung cùng một gia đình, nhưng vẫn là những người trong thân quyến, có liên hệ mật thiết với nhau.
Gia đình ta ngày xưa thường quy tụ tất cả những thành phần kể trên và có thể được gọi là một đại gia đình. Nếu năm đời ở cùng một nhà với nhau, thì được gọi là ngũ đại đồng đường. Đây là một trường hợp rất họa hiếm và dường như không có, bởi vì tuổi thọ của các cụ ta ngày xưa không được cao lắm. Bốn đời ở cùng một nhà với nhau, thì được gọi là tứ đại đồng đường. Trường hợp này cũng có, nhưng rất ít. Ba đời ở cùng một nhà với nhau, thì được gọi là tam đại đồng đường. Đây là trường hợp bình thường vì chỉ gồm có ông bà, cha mẹ và con cháu. Nhiều khi những thành phần của đại gia đình này quây quần bên nhau trên một mảnh đất và làm thành như một trại gia binh.
Tình cảm mặn nồng ấy không phải chỉ gắn bó những người trong cùng một nhà, mà còn gắn bó những người trong cùng một dòng tộc. Vì thế, mỗi khi có việc hệ trọng như cưới hỏi, ta thường “nhóm họ” để bàn bạc, trao đổi ý kiến và phân chia công tác.
Tình cảm mặn nồng ấy cũng không phải chỉ gắn bó những người còn sống với nhau, mà còn gắn bó cả với những người đã khuất. Ta vốn có truyền thống biết ơn, ăn quả nhớ kẻ trồng cây và uống nước phải nhớ đến nguồn, nên ta đã dành cho ông bà tổ tiên một chỗ đứng quan trọng trong đời sống. Ta có một cái đạo rất phổ thông được gọi là “đạo ông bà”, coi việc thảo kính ông bà và cha mẹ khi còn sống cũng như khi đã qua đời là một bổn phận thiêng liêng và hầu như gia đình nào cũng có một bàn thờ tổ tiên đặt ngay giữa nhà.
Điểm nổi bật thứ hai, đó là lòng quí trọng sự sống.
Người tây vốn sống theo cá nhân chủ nghĩa, lấy sự hưởng thụ của mình làm gốc, vì thế con cái nhiều khi trở thành một gánh nặng, một thứ kỳ đà cản mũi, nên cần phải loại trừ, hay ít nữa cũng phải hạn chế, “sì tốp” bớt đi cho vừa. Đồng thời trước viễn tượng một tương lai đen tối, người tăng nhưng đất đai lại chẳng tăng và như vậy một mai sẽ lấy gì mà ăn, nên người ta đã quảng bá cho mọi thứ phương pháp tránh thai, ngừa thai và phá thai.
Còn ta thì khác. Câu chuyện Lạc Long Quân lấy bà Âu Cơ, sinh được một trăm trái trứng, nở thành một trăm người con. Năm mươi người theo cha lên núi. Năm mươi người theo mẹ xuống biển, phải chăng đã trở thành một huyền sử dựng nước, mang tính cách tượng trưng cho một nền văn hóa quí trọng và phát triển sự sống.
Hơn thế nữa, xã hội ta vốn là một xã hội nông nghiệp, vì thế rất cần phải đông con nhiều cháu, để cùng nhau san sẻ những công việc đồng áng nặng nhọc. Đúng thế, ta ước mong có nhiều con, nhiều cháu. Ước mong ấy được biểu lộ bằng cách chào hỏi lẫn nhau mỗi khi gặp gỡ :
- Thế nào, được mấy cháu rồi.
Và trong dịp tết, ta thường cầu chúc cho nhau :
- Đa tử, đa tôn, đa phú quí, có nghĩa là đông con, nhiều cháu lắm tiền nhiều của.
Riêng với những anh chị mới lập gia đình thì :
- Đầu năm sinh con trai và cuối năm sinh con gái!!!
Như vậy, gia đình ta là một chiếc nôi luôn mở rộng đón nhận sự sống. Cha mẹ nào cũng mong sớm có con có cháu để bồng ẵm cho vui cửa vui nhà, cũng như để nối dõi tông đường.
Sinh con là một chuyện, còn dạy con lại là một chuyện khác. Trong việc dạy con, ta có một quan niệm rất tinh tế và chính xác, khiến cho bàn dân thiên hạ phải “tâm phục khẩu phục”.
Thực vậy, người tây tính tuổi từ ngày đứa con mở mắt chào đời, còn ta thì khác, ta tính tuổi đứa con ngay từ khi nó còn là một bào thai trong lòng mẹ. Vì thế, tuổi ta luôn trội hơn tuổi tây một năm.
Cũng vì quan niệm đứa con đã là người, kể từ lúc nó còn là một bào thai, nên ta chia việc dạy con làm hai thời kỳ.
Thời kỳ thứ nhất được gọi là thai giáo, nghĩa là phải dạy con ngay từ lúc còn trong bụng mẹ. Theo Toan Ánh :
“Vấn đề thai giáo cũng rất quan trọng một phần vì sức khỏe của người mẹ, một phần vì mọi tư tưởng và hành động của người mẹ trong lúc mang thai đều có thể ảnh hưởng tới bào thai trong bụng. Chính vì vậy, trong lúc mang thai, người đàn bà phải bó buộc làm nhiều việc xưa nay không làm, và phải kiêng nhiều điều xưa nay không cần kiêng. Mọi người cho rằng sự ăn không ngồi rồi hại cho sức khỏe của người mang thai và do đó ảnh hưởng tới cả bào thai. Trong lúc có thai, người đàn bà nên hoạt động tay chân, bằng việc làm. Nhiều gia đình khá giả, xưa nay người đàn bà không phải làm lụng nhiều, thế nhưng trong lúc có thai cũng phải bày đặt ra công việc để cho tay chân cử động. Việc kiêng cữ trong lúc mang thai rất nhiều :
Đầu tiên trong sự ăn uống phải tránh những đồ quá bổ béo, e cái thai quá lớn khó sinh. Ngoài ra, theo sự mê tín trong dân gian, phải kiêng không được ăn cua để tránh sinh ngang, không được ăn ngao sò ốc hến để tránh con nhiều dãi dớt, không được ăn thịt thỏ để tránh sinh con sứt môi, không được ăn những quả sinh đôi để tránh sự đẻ song thai…Thường người đàn bà có thai nên ăn nhiều trứng gà để sinh con có da dẻ hồng hào. Trong vấn đề thai giáo, người đàn bà có thai còn phải tránh mọi cảnh tượng hãi hùng hay đau đớn, mọi ngôn ngữ thô bỉ, mọi sự giận dữ, mọi tranh ảnh bất chính…Đồng thời còn phải nói năng dịu dàng, cử chỉ khoan thai, luôn tươi cười giữ cho tâm hồn ngay thẳng, nhìn ngắm tranh ảnh các vị anh hùng, những phong cảnh thanh khiết để gây ảnh hưởng tốt đẹp cho đứa con sau này”.
Tuy nhiên, đời không như là mơ, nên đôi khi đã xảy ra những chuyện chéo cẳng ngỗng. Một người mẹ trẻ trong thời kỳ mang thai đã mong ước con mình sinh ra sẽ đẹp như hoa hậu, hay ít nữa cũng đẹp như những người mẫu chân dài và sẽ thông minh như Einstein hay ít nữa cũng thông  minh như một nhà bác học nào đó. Vì thế, chị ta luôn ngắm nhìn hình ảnh của những cô hoa hậu và những nhà bác học. Thế nhưng, khi được sinh ra, đứa bé lại có khuôn mặt xấu xí của Einstein và bộ óc đần độn của những cô người mẫu!!!
Thời kỳ thứ hai là được gọi là giáo nhi, tức là dạy trẻ. Cũng theo Toan  Ánh :
“Kể từ khi đứa trẻ bắt đầu hiểu biết, thì cha mẹ đã phải chăm sóc tới để nó tập giữ tính thành. Dạy con từ thuở còn thơ, có nghĩa là ngay từ lúc còn nhỏ, đã phải tập cho nó những điều hay, những điều tốt. Nhân chi sơ tính bản thiện. Mỗi người sinh ra tính vốn tốt, cha mẹ phải răn dạy con để giữ lấy tính tốt đó. Tục ngữ có câu bé không vin cả gẫy ngành, có ý sánh ví đứa trẻ như một cành cây, phải uốn ngay từ lúc còn non, kẻo khi lớn lên, như một cành cây già, uốn sẽ gẫy”.
Thế nhưng, ngày nay, với những phương tiện thông tin hiện đại, đồng thời với xu hướng toàn cầu hóa, ta và tây đang xích lại gần nhau bằng những bước chân khổng lồ. Gã không hiểu ta đã tạo được ảnh hưởng gì đối với tây, chứ tây thì đã để lại những dấu ấn sâu đậm trên ta, khiến ta mất dần những nét đẹp truyền thống của mình. Gã xin đưa ra những thí dụ cụ thể :
Chẳng hạn về lòng quí trọng sự sống. Theo một bài viết trên Ephata thì :
Vấn đề nạo phá thai của thanh thiếu niên tại Việt Nam đang có khuynh hướng ngày một tăng cao, con số nạo phá thai hàng năm xấp xỉ với tổng số các cháu bé được sanh ra trên toàn quốc.  Năm 1997, tổng số sanh trên toàn quốc là 1.138.607 ca, thì con số nạo phá thai là 934.302 ca. Năm 1998, số sanh là 1.101.791 ca, thì nạo phá thai là 861.353 ca. Riêng bệnh viện Từ Dũ mỗi năm có trên 40.000 ca nạo phá thai. Các nhà xã hội học ước tính số người nạo phá thai trong cả nước hàng năm có thể từ 2 đến 3 triệu người. Liên Hiệp Quốc cũng đã báo động và xếp nước ta vào một trong năm nước có tỷ lệ nạo phá thai cao  nhất thế giới.
Chẳng hạn về sự chung thuy trong tình nghĩa vợ chồng. Theo một bài viết của Nữ tu Phạm Thị Oanh thì :
Trong xã hội Việt Nam ở mọi thời đại đều thấy cảnh : lầu xanh, đa thê, tảo hôn, bán trinh để báo hiếu cha mẹ, loạn luân, đồng tính ái, đặc biệt là tệ nạn mãi dâm ngày nay đang xuất hiện dưới nhiều dạng thức: nhà hàng, cà-phê, Karaoke, xông hơi, xoa bóp, vũ trường, chat group trên Internet...
Ngoài ra nhiều hình thức văn hóa phẩm đen đã khiến nhiều bạn trẻ ngộ nhận cho rằng tình yêu chỉ là sự cuốn hút của cảm xúc, chiếm hữu, tình dục, tiền tài, thương hại. Tình trạng yêu sớm, yêu thử, yêu ào ào theo phong trào, yêu như điên, yêu hết mình xẩy ra nơi học sinh cấp 2, 3, và trong giới sinh viên ngày một tăng. Đó phải chăng là những nhân tố làm nên một dòng nhạc “vô cảm” và “não tình” mà dư luận quần chúng trên báo chí gần đây đã đề cập đến khá nhiều:
- Tình yêu đến em không mong đợi gì.
Tình yêu đi em không hề nuối tiếc.”
Tiếp đến là nhiều cặp sống chung không đăng ký kết hôn, không muốn có con để tránh trách nhiệm. Nhiều gia đình được hình thành trong một cam kết hời hợt lợi dụng lẫn nhau. Tất cả những vấn đề đó đã dẫn đến tỉ lệ ly dị ngày một tăng. Theo thống kê của Tòa An Nhân Dân Thành Phố Sài-gòn năm 2000, thì mỗi ngày trung bình có 32 vụ ly hôn, vị chi một năm là 11680 chỉ nguyên tại thành phố Hồ Chí Minh. Ngoài ra còn tình trạng bạo hành trong gia đình về mặt thể chất, tinh thần và tình dục cũng rất phổ biến trong nhiều gia đình ở thành phố cũng như ở thôn quê.
Chẳng hạn về tình nghĩa của những thành viên trong gia đình. Theo một bài viết trên báo Phụ nữ Chủ nhật số ra ngày 29.6.2003 thì tại Thành phố Hồ Chí Minh đã xảy ra một vụ án đau lòng :
Một người mẹ nhẫn tâm đổ dầu sôi vào mặt con gái, người mẫu Võ Thị Thu Tâm, trước ngày cô lên đường tham dự cuộc thi “Hoa hậu liên lục địa” tại Đức. Lý do người mẹ ấy đưa ra sau khi sát hại con, đó là bà đã có hai mươi năm mua bán ve chai, vất vả nuôi con khôn lớn, để rồi khi bắt đầu nổi tiếng, cô đã mặc cảm về thân phận người mẹ, lẩn tránh sự kiểm soát của bà và đối xử tệ bạc.
Bài báo còn đưa ra những trường hợp điển hình khác nữa. Chẳng hạn mấy ngày trước, một phụ nữ ở huyện Bình Chánh trong khi cãi cọ với chồng, đã bị chồng đạp cho vỡ lá lách phải cấp cứu ở bệnh viện. Tòa án tỉnh Vĩnh phú vừa tuyên án tử hình Trần Văn Nam, do ham chơi và đua đòi đã giết bà nội để lấy năm chỉ vàng và bảy trăm ngàn đồng. Một đứa con trai trong những cơn say triền miên thường hay quậy phá, gây sự với cha mẹ già và đã ra tay giết người cha 74 tuổi bằng bốn nhát dao.
Bài báo kết luận : Từ những vụ việc trên, không ít ý kiến cho rằng phải chăng những giá trị gia đình, đạo lý làm người đang bị sút giảm nghiêm trọng ? Tuy những vụ việc trên là cá biệt, nhưng đó là những báo động đỏ, là những bài học cảnh tỉnh sâu sắc cho những bậc cha mẹ, cũng như cho những người con,  đánh động và thúc đẩy xã hội hướng sự quan tâm đến vấn đề giáo dục trong gia đình, mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái.
Cách đây ít bữa, gã đọc được một mẩu tin như sau : Tại Hà Nội, có người đã bỏ ra bạc tỷ để xây dựng một viện dưỡng lão, đầy đủ tiện nghi và được phục vụ như ở một khách sạn năm sao. Những “đại gia” và những người giàu sang có thể gửi cha mẹ già của mình vào đó. Tuy nhiên, người ta còn đang phân vân chưa biết đặt tên cho dịch vụ này là gì ? Là báo hiếu thuê, báo hiếu mướn hay là báo hiếu thay.
Không khéo thì ta chỉ hấp thụ được những cái xấu, những cái cặn bã của người tây, để rồi trắng tay, mất cả chì lẫn chài, mất cả vốn lẫn lãi. Truyền thống cũ thì chẳng còn, mà cái mới thì lại khập khà khập khiễng. Tây chẳng ra tây, ta cũng chẳng ra ta. Đầu annamít, đít phăngxe mà thôi!!!
Gã Siêu.

 

Chuyện Gã Siêu 64: THẬP GIÁ CỦA NHỮNG ÔNG CHỒNG

THẬP GIÁ CỦA NHỮNG ÔNG CHỒNG Chuyện Gã Siêu 64

Hình như trong cuốn “Tâm Hồn Cao Thượng”, có một bài viết được bắt đầu bằng câu : - Tôi sinh Chuyện Gã Siêu 64

Hình như trong cuốn “Tâm Hồn Cao Thượng”, có một bài viết được bắt đầu bằng câu :
- Tôi sinh ra đời dưới một ngôi sao xấu.
Càng suy nghĩ về đờn ông con giai, gã càng nghiệm thấy thân phận phe ta thật là hẩm hiu, bẽ bàng và cay đắng. Chỉ nguyên những lễ hội trong năm mà thôi, cũng đã đủ cho phe ta tức hộc máu. Nào là ngày lễ tình nhân dành cho những người đang yêu, nào là ngày quốc tế phụ nữ vùng lên đòi quyền sống, nào là ngày tưởng nhớ công ơn mẹ hiền. Ấy là chưa kể tới ở Việt Nam còn có những ngày mừng kính những vị anh hùng…liệt nữ, như ngày Hai Bà Trưng. Tất cả những ngày này đều được tổ chức một cách long trọng và phe ta cứ việc móc hào bao, vui vẻ mua quà tặng cho cánh đờn bà con gái.
Rất nhiều cố gắng đã được thực hiện để bàn dân thiên hạ vực ngày tưởng nhớ công ơn người cha lên để mừng vào trung tuần tháng sáu, nhưng xem ra chẳng có ma nào hưởng ứng, thành thử những cố gắng ấy chỉ là như một tiếng kêu trong sa mạc mà thôi :
- Dạ tràng xe cát biển Đông,
  Nhọc nhằn mà chẳng nên công cán gì.
Đã tới lúc phe ta phải gào lên :
- Tôi sinh ra đời dưới một ngôi sao xấu.
Hay hợp lời với nhà thơ Thế Lữ mà hét toáng :
- Lũ chúng ta đầu thai lầm thế kỷ!
Cám cảnh trước số mạng đen thủi đen thui ấy, một tác giả nào đó trong ngày tưởng nhớ công ơn người cha, tiếng Ăng Lê gọi là “Fathers’day”, đã viết một bài với tựa đề “Đền tội”, như để góp thêm một tiếng lẻ loi và cô đơn.
Thế nhưng, khi đọc xong bài này, gã đã phải vỗ đùi đánh đét một cái và rất lấy làm tâm đồng ý hợp. Vì thế, gã xin mượn tạm một vài hình ảnh của tác giả, làm chất liệu để suy gẫm thêm về thập giá, về nỗi  khổ đau của những ông chồng trong hoàn cảnh hiện nay.
Có một câu chuyện vui kể lại rằng : Hôm đó vào lúc năm giờ chiều, thánh Phêrô đang chuẩn bị đóng cửa thiên đàng, thì bỗng từ xa nghe văng vẳng những tiếng kêu la thất thanh :
- Lạy thánh cả, chờ con với, chờ con với.
Thánh Phêrô giật mình quay lại. Không phải một người réo gọi, mà những hai người đang vội vã chạy tới, mồ hôi mồ kê toát ra nhễ nhại. Thấy vậy, thánh Phêrô bèn hỏi :
- Hai anh đi đâu mà chạy cứ như Tào Tháo rượt vậy ?
Cả hai vừa thở hổn hển, vừa trả lời :
- Dạ, xin cho chúng con được vào thiên đàng.
Thánh Phêrô nhìn hai người, rồi lên giọng :
- Hai anh làm như thiên đàng là chỗ không người, muốn vào lúc nào là vào phải không ?
Nói đoạn, thánh Phêrô quay lại nhìn chằm chặp như dò xét, rồi chỉ tay thẳng vào người đứng trước, tướng tá đẹp trai, vóc dáng hồng hào khỏe mạnh và hỏi :
- Anh đã làm gì ở dưới thế ?
- Dạ, con là linh mục đã bốn mươi năm và đang chuẩn bị mừng kim khánh.
Nghe vậy, thánh Phêrô bèn bảo :
- Anh đứng qua một bên. Còn anh kia, anh có gia đình, vợ con gì chưa ? Nếu có thì đã được bao nhiêu năm rồi ?
- Dạ con đã có vợ được bốn mươi năm và đèo thêm bốn đứa con nữa.
- Anh làm nghề gì ?
- Dạ con là dân biểu.
Vừa nghe nói tới hai chữ dân biểu, thánh Phêrô liền đùng đùng nổi giận :
- Anh là đại diện dân mà không chịu khó làm việc vì dân, chỉ lo quơ tiền, vơ vét về cho đầy túi tham của mình, nên không xứng đáng vào thiên đàng chút nào.
Anh ta vội vã giơ tay xin đính chính :
- Dạ con không phải là dân biểu, nghị sĩ gì ráo cả. Con làm nghề đạp xe xích lô. Dân biểu cho chở đi đâu, thì con chở đi tới đó, nên ở dưới trần thế, cánh nhà báo ăn hại đái nát gọi chúng con là dân biểu.
Thánh Phêrô nhìn kỹ anh dân biểu, thấy mặt mũi anh ta xanh lè, thân hình anh ta là một bộ xương cách trí biết đi, gầy ốm đong đưa như cây sậy, đứng ngồi không vững. Thánh cả bèn dang rộng hai tay ra ôm lấy con người khốn khổ ấy và nói :
- Ngày hôm nay, con sẽ ở nơi vui vẻ cùng ta.
Sau đó, thánh cả quay sang anh linh mục mà phán :
- Anh phải xuống luyện ngục đền tội bốn mươi năm.
Anh linh mục nghe vậy lấy làm tức tối, bèn khiếu nại :
- Tại sao ngài cư xử quá bất công như vậy. Ở dưới đó, con đã thực hiện  biết bao nhiêu công việc làm sáng danh Chúa và cứu vớt được biết bao nhiêu linh hồn.
Không để cho anh linh mục nói hết, thánh Phêrô đã xua tay và ngắt lời :
-Thôi. Biết rồi, khổ lắm nói mãi. Thế nhưng, anh đâu có hay anh dân biểu này đã đền tội bốn mươi năm rồi, còn anh thì chưa có đền tội một ngày nào hết.
Nói xong, thánh cả dắt anh dân biểu vào thiên đàng và đóng sập cửa lại, mặc cho anh linh mục la lối om xòm.
Câu chuyện trên đây muốn nói lên rằng : những anh đờn ông con giai nào đã lấy vợ và có gia đình, đều là những người đang đền tội cả đấy, nhưng mỗi người đền tội theo một cách thức khác nhau.
Kinh nghiệm đời thường cho thấy : con người không thể nào sống cô độc lẻ loi như một pháo đài biệt lập, hay như một hòn đảo giữa biển khơi, nhưng sống là sống với người khác, nhất là với những người thân yêu trong cùng một gia đình.
Tuy nhiên, trong cuộc sống chung này, chúng ta không thể nào tránh đi cho hết những va chạm, những bực bội và những buồn phiền, bởi vì bá nhân bá tánh, mỗi người đều có một tính tình riêng, hơn nữa nhân vô thập toàn, ai cũng có những sai lỗi khuyết điểm của mình.
Do đó, mỗi gia đình đều có những thập giá của mình. Con cái là thập giá của cha mẹ và cha mẹ cũng là thập giá của con cái. Vợ là thập giá của chồng và chồng cũng là thập giá của vợ. Cho nên Kinh Thánh đã khuyên :
- Anh em hãy vác đỡ thập giá của nhau.
Ngôn ngữ Việt Nam quả thực là tài tình và phong phú. Người phụ nữ khi còn là con gái thì dễ thương dễ mến làm sao. Sở dĩ như vậy bởi vì cái âm “ái” có nghĩa là yêu. Từ lời nói dịu dàng đến nhõng nhẽo, từ cử chỉ hiền hòa đến nũng nịu, tất tật đều làm cho trái tim phe đờn ông con giai bị lúc lắc.
Thế nhưng, cũng người phụ nữ ấy một khi đã trở thành bà vợ, thì bỗng quay phắt 180 độ. Xưa rồi Diễm ơi, đâu còn nữa :
- Một thương tóc bỏ đuôi gà,
  Hai thương ăn nói mặn mà có duyên.
  Ba thương má lúm đồng tiền,
  Bốn thương răng nhánh hạt huyền kém thua…
Sở dĩ như vậy bởi vì cái âm “ợ” nghe chẳng êm tai chút nào, nó làn cho ta như nuốt chẳng trôi, chỉ muốn đưa lên cổ họng,rồi ói ra ngoài  mà thôi.
Đồng thời, cái âm “ợ” nhắc ta nhớ đến danh từ rợ nghĩa là cái dây, cái xích :
- Trai có vợ như rợ buộc chân.
Hơn thế nữa, cái âm “ợ” còn khiến ta liên tưởng tới danh từ nợ. Vợ là cái nợ phải mang và phải trả trong suốt  đời mình. Chẳng thế mà người ta đã bảo :
- Anh đờn ông con giai đi lấy vợ là tự ý ký vào bản án chung thân, bế mạc cuộc đời.
Hay như một câu danh ngôn cũng đã nói :
- Trong đời anh đờn ông con giai có hai ngày vui. Ngày vui thứ nhất là ngày cưới vợ, vì lúc ấy anh ta ngu ngơ ngớ ngẩn. Còn ngày vui thứ hai là ngày vợ chết, vì lúc ấy, anh ta được thoát khỏi…cái của nợ.
Vậy đâu là những khổ đau âm thầm đã kết thành cây thập giá đời thường cho những anh chồng ? Dĩ nhiên là có nhiều, nhiều lắm. Nhưng trong khuôn khổ của bài viết, gã chỉ xin đưa ra hai cái tật mà thôi.
 
Cái tật thứ nhất là nói dài, nói dẻo, nói dai. 
Tác giả bài “Đền tội” cho biết như sau :
Các nhà tâm lý  nghiên cứu về đời sống lứa đôi, đã đi tới kết luận như sau :
- Đờn bà sau khi có chồng, thì nói nhiều hơn lúc chưa lấy chồng một trăm lần. Còn đờn ông thì ngược lại, nói ít đi một trăm lần sau khi có vợ.
Chúng ta thử tưởng tượng xem khi các bà gặp nhau thì sẻ xảy ra những gì ?
Trước hết là một cái chợ được hình thành. Tất cả những chuyện cà kê dê ngỗng đều được đem ra bày bán, còn hơn hàng cá hàng thịt. Hàng cá hàng thịt thì chỉ có một loại hay một món, có trả giá, có kỳ kèo. Còn đây thì không phải chỉ có một thứ, mà là đủ thứ…hầm bà lằng.
Các nhà tâm lý còn cho biết : nơi nào có hai bà ngồi nói chuyện với nhau, thì sẽ có một người đờn ông bị đấu tố. Nhưng nơi nào có ba bà ngồi nói chuyện với nhau, thì sẽ có một người đờn ông bị đưa lên đoạn đầu đài, chết tức tưởi không kịp ngáp.
Trong phạm vi gia đình, ngoài những tin tức lượm lặt từ vỉa hè hay xó bếp hàng xóm, thì điệp khúc buồn được phát đi phát lại nhiều lần trong ngày, đó là điệp khúc “cơm áo gạo tiền”. Thôi thì vật giá leo thang. Thôi thì học phí gia tăng. Thôi thì xăng dầu lên giá. Còn tiền lương khiêm tốn anh chồng đem về chỉ được có bằng ấy, làm sao mà chi dùng cho đủ ? Khốn khổ cho anh chồng làm thân trâu ngựa, hì hục kéo cày suốt năm suốt tháng, cốt tìm tiền kiếm bạc, mà đem về nộp cả cho bà xã.
Tuy nhiên, không hiểu phe đờn ông con giai ta có nên nghe theo tất cả những lời nói dài, nói dẻo, nói dai ấy hay không ?
Ngày xưa, trong vườn địa đàng, Thiên Chúa đã dựng nên ông Adong. Thấy ông buồn sầu vì cứ phải lặng lẽ sống cu ki một mình và âm thầm kéo lê những bước chân cô đơn, nên đã dựng nên bà Eva để ông có bạn. Ngài muốn Eva sẽ là  người bạn đường đem lại nguồn vui cho ông trong suốt cả cuộc đời.
Vì thế, Ngài đã ban tặng cho ông bà tất cả những gì tốt đẹp nhất, đặt ông bà lên làm chủ cá biển, chim trời cùng muôn loài muông thú. Ngài chỉ cấm không được ăn trái cây biết lành biết dữ mà thôi.
Thế nhưng, bà Eva đã không vâng nghe lời Thiên Chúa truyền, giơ tay ngắt trái cấm mà ăn, lại còn xúi ông Adong cùng ăn. Từ đó, ông bà mất đi tất cả.
Còn chúng ta là con cháu cũng đã bị lãnh đủ hậu quả thảm khốc của tội tổ tông truyền : sống một cuộc sống vất vả vì phải đổ mồ hôi sôi nước mắt mới có cơm ăn, một cuộc sống khổ đau vì đất đai đã trổ sinh gai góc và cuối cùng kết thúc bằng cái chết vì là thân tro bụi, nên sẽ phải trở về cùng bụi tro.
Giả như ông Adong phe lờ và bỏ ngoài tai những lời dụ dỗ đường mật của bà Eva, nhất định không thèm nếm thử trái cấm, thì chắc chắn thân phận của phe đờn ông con giai cũng như của toàn thể nhân loại  đã sáng sủa và tốt đẹp hơn nhiều.
Kinh nghiệm của ông Adong đưa ra cho chúng ta một vấn đề vừa cụ thể lại vừa nghiêm trọng,  mà gã cũng vừa mới nêu lên, đó là :
- Có nên nghe lời vợ hay không ?
Thiết tưởng phe đờn ông con giai ta cần phải suy nghĩ thật  kỹ càng và nghiêm chỉnh về vấn đề này, bởi vì kinh nghiệm ông Adong vẫn còn đó, sờ sờ trước mặt, rồi lịch sử cũng đã minh chứng :
- Vua nghe vợ, mất nước.
Thế mà trong phạm vi gia đình, biết bao nhiêu anh chồng vẫn còn mê muội cho rằng :
- Lệnh vua thua lệnh bà.
-  Nhất vợ nhì giời.
- Vợ muốn là trời muốn.
Thành thử mèo vẫn hoàn mèo và chó đen vẫn giữ mực, không khá lên được !!!
 
Cái tật thứ hai là vung tay quá trán. 
Lương ông xã thì ba cọc ba đồng, thu nhập chả được bao nhiêu, mà bà vợ thì lại có đam mê mua sắm, bóc ngắn mà lại cắn dài, con nhà lính nhưng tính lại nhà quan, thành thử sự thiếu hụt là như một căn bệnh mãn tính, khiến mọi người đều phải bó tay.
Tại Việt Nam cũng như tại nhiều nơi trên thế giới, các siêu thị hiện giờ mọc lên như nấm sau cơn mưa và các “shop” liên tục phát triển vì ăn nên làm ra. Họ đã tung vào thị trường biết bao nhiêu “độc chiêu” để dụ dỗ các thượng  đế :  Nào là mua hàng có thưởng, nào là khuyến mãi giảm giá 50%, nào là mua trả góp…khiến cho các bà các cô, cứ như con nai vàng ngơ ngác, mê mẩn cả tâm thần và máu “shopping” bốc lên đùng đùng. Thấy cái lợi trước mắt mà quên mất cái hại sau lưng. Hiện tượng này phải chăng nên được gọi là “hội chứng shopping”!!!
Thực vậy, tôi có một cô em thuộc loại ghiền siêu thị. Vào những ngày nghỉ, thì chương trình của cô nàng rất giản đơn  : sáng đi siêu thị, chiều đi siêu thị và tối cũng đi siêu thị. Nhiều khi đi chỉ để mà ngắm các thứ hàng hiệu, rồi thèm rỏ rãi, vì tiền đâu mà mua, có nằm mơ cũng chả thấy.
Có những bà vợ thuộc hàng chuyên viên, luôn nghiên cứu và sưu tầm những cửa hàng khuyến mãi. Hễ chỗ nào khuyến mãi là nhào vô ăn có, bởi vì các bà ấy lý luận :
- Giá rẻ mạt, tội gì mà không mua.
Và thế là các bà ấy lôi về nhà đủ mọi thứ lỉnh kỉnh. Thậm chí có thứ chẳng được xài tới một lần. Chỉ tội cho các ông chồng, cứ phải xì tiền ra, mà mặt thì nhăn như cái bị rách.
Chuyện rằng :
Trong phiên tòa xử một ông chồng về tội hành hung vợ. Quan tòa phán  :
- Anh không được quyền…đá vợ, làm như vậy là phạm tội. Tòa tuyên án anh ba tháng tù treo và không được tới gần vợ 3 mét trong suốt thời gian thụ án.
Ông chồng đau khổ xin được hỏi lại  :
- Thưa quan tòa, nếu bà vợ trong gia đình cứ xài tiền lương của chồng một cách xả láng. Tối ngày shopping, tụ họp bài cào tứ sắc, chẳng lo lắng gì đến con cái, đã vậy khi bảo ban thì  chẳng nghe, lại còn văng tục chửi thề. Trong trường hợp như thế thì phải làm sao bây giờ ?
Quan tòa nghe nói, tức khí nổi xung, đập bàn cái rụp và tuyên bố hách xì xằng :
- Đánh bỏ mẹ nó đi, cho chừa cái tật hỗn láo.
Nói vậy thôi, chứ đa số đờn ông con giai ta đều hiền như ông…bụt, và nhất là mắc phải chứng bệnh sợ vợ :
- Lời vợ dặn, phải lắng nghe,
  Mai sau “khôn lớn” mà khoe mọi người.
  Nói ra xin hãy chớ cười,
  Vợ ta ta sợ ! Vợ người…còn lâu.
Chứng bệnh này dường như đã thấm sâu vào máu huyết con tim, ám vào lục phủ ngũ tạng nên không còn thuốc chữa. Thực vậy, rất nhiều lần phe đờn ông con giai muốn vùng lên, thoát khỏi cái “cồng” bà, mà liền thất bại ngay từ trong ý đồ, ngay từ trong trứng nước.
Hôm ấy, trời đang nắng bỗng dưng có một cụm mây đen kéo tới và bất ngờ đổ xuống những giọt nước mưa, khiến cho áo quần đang phơi, không kịp chạy đều bị ướt hết trơn hết trọi. Và thế là ông chồng liền bị bà vợ xài xể cho một trận tơi bời hoa lá :
- Anh thật là phường vô tích sự, chỉ mỗi  việc chạy quần áo mà làm cũng không xong. Còn ra cái thể thống gì nữa, sao không chết đi cho rồi.
Nghe vậy anh hàng xóm bèn góp ý với ông chồng :
- Tại sao anh cứ để cho bà ấy xài xể và lên mặt như vậy. Phải tay tôi ấy à…
Vừa phát ngôn tới đây, anh hàng xóm liền nghe thấy một giọng nói oang oang từ phía sau :
- Gớm thật, phải tay tôi ấy à…
Quay mặt lại, thấy bà xã đang hầm hầm tiến tới. Và thế là  anh hàng xóm bèn cười toe toét :
- Dạ thưa mình, phải tay tôi thì tôi đã chạy quần áo từ trước khi có những đám mây đen.
Phe đàn ông con giai của một làng kia bị bàn dân thiên hạ chê là bọn sợ vợ. Nhân ngày các bà đi chợ hết, họ mới ngấm ngầm thông báo tổ chức đại hội. Phen này phe ta nhất định phải rửa nhục. Một là để cho các bà ấy biết tay ta. Hai là để những kẻ xấu bụng thối mồm làng khác không còn dí mũi vào mà khinh bỉ  ta nữa.
Họ đưa ra hết sáng kiến này tới tối kiến kia. Nhưng trước câu hỏi ai sẽ thực hiện, thì xem ra mọi người đều e dè sợ sệt. Cuối cùng, một vị cũng đã can đảm giơ tay xin lãnh nhận nhiệm vụ cao cả ấy. Anh ta nói :
- Phen này nhất định phải vùng lên, cho các bà ấy lãnh đủ.
Giữa lúc đang hăng tiết vịt như vậy, thì các bà đi chợ về. Nhìn thấy quang cảnh đại hội, các bà bèn vứt quang, vứt thúng…chỉ còn mỗi cái đòn gánh và xông vào chiến trận.
Và thế là  các ông bèn lỉnh mất tiêu, tìm chỗ nấp để xem sự việc xảy ra làm sao. Chỉ còn mỗi một anh tình nguyện là bám trụ ở lại để chống cự. Các ông mừng thầm vì từ nay mình có một nhà lãnh đạo thật xứng đáng.
Nhưng  sao cứ thấy anh ta quì gối mãi ? Té ra, khi các bà xông tới, anh ta liền bị nhồi máu cơ tim và chết bất đắc kỳ tử trong tư thế quì gối như vậy.
Giai làng nọ cũng mang tiếng là phường râu quặp, nhưng họ lại có máu văn nghệ. Vì thế, thay vì bạo động, họ vận dụng lời ca tiếng hát để đấu tranh đòi quyền…sướng.
Vào một đêm trăng sáng, họ tụ lại với nhau, rồi phệu lời ca và cùng nhau tập dượt :
- Ta không chê vợ người, ta không khen vợ ta…
Đang say mê với lời ca như vậy, bỗng có mấy bà xuất hiện, thế là họ bèn đổi tông, trước cứng như sắt, thì bây giờ lại mềm nhũn như con chi chi :
- Nhưng dù sao đi nữa, ta về ta tắm ao ta, dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn.
Thế mà cũng đòi đấu với tranh, đấm với đá. Một hãy cúi đầu xuống như muông chim cho rồi.
Mỗi khi gặp những người khổ đau, thiên hạ thường chia sẻ và khuyên nhủ :
- Âu cũng là thập giá Chúa gửi đến, ráng vác đời này để được thưởng đời sau.
Một người đờn ông mon men tới cửa thiên đàng. Thánh Phêrô bèn hỏi :
- Trong cuộc sống nơi trần gian, anh đã làm được những gì để xứng đáng lãnh nhận phần thưởng Nước Trời.
Anh đờn ông gãi đầu gãi tai mà chẳng thấy mình làm được một việc gì tốt lành cả. Cuối cùng, như sực nhớ ra điều gì, anh bèn  nói :
- Thưa thánh cả, con có vợ ạ.
Nghe vậy, thánh cả Phêrô bèn vân vê chòm râu bạc và nói :
- Ngươi cũng đã đau khổ và vác thập giá như ta. Thôi hãy vào thiên đàng mau đi.
Và để kết luận, gã xin ghi lại mấy mấy câu thơ như một an ủi cho phe ta :
- Mỗi lần em nổi tam bành,
  Vào phòng đóng cửa mình anh nguyện cầu.
  Nhìn anh, Chúa cũng lắc đầu.
  Thôi con ráng chịu, đời sau phúc lành.
 Gã Siêu.

 

Chuyện Gã Siêu 65: TỨ…SẮC

TỨ…SẮC Chuyện Gã Siêu 65

Trong số trước, gã đã trình bày hình ảnh về đờn bà con gái xưa và nay, bằng cách mượn kiểu diễn Chuyện Gã Siêu 65

Trong số trước, gã đã trình bày hình ảnh về đờn bà con gái xưa và nay, bằng cách mượn kiểu diễn tả của Linh mục Thiện Cẩm, đó là sự tiến hóa từ tam tòng nhảy vọt sang tam…vòng. Cùng một thể thức ấy, hôm nay gã xin đề cập đến sự chuyển biến từ tứ đức bỗng chốc trở thành  tứ…sắc nơi đờn bà con gái thời xưa và thời nay.
Khi được hỏi thế nào là cái đẹp, có người đã đưa ra một câu định nghĩa xanh dờn như thế này :
- Đẹp, đó chính là con cóc cái dưới mắt con cóc đực.
Câu định nghĩa méo mó này muốn nói lên rằng : ở thế gian, chẳng bao giờ có được một cái đẹp khách quan, mà chỉ toàn là những cái đẹp chủ quan mà thôi. Chủ quan của từng người, cũng như chủ quan của từng thời.
Tại sao anh chàng “bô…giai” nọ lại vớ ngay phải cô vợ xấu ơi là xấu ? Thế nhưng, xấu là xấu dưới mắt bàn dân thiên hạ, chứ còn dưới mắt anh chàng “bô giai” nọ, nhất là khi đã chịu đèn và say tình, thì cô nàng vẫn là người đẹp nhất trên đời :
- Mũi em mười tám gánh lông,
  Chồng yêu, chồng bảo : râu rồng trời cho.
  Đêm nằm thì ngáy o o,
  Chồng yêu, chồng bảo : ngáy cho vui nhà.
  Đi chợ thì hay ăn quà,
  Chồng yêu, chồng bảo : về nhà đỡ cơm.
  Trên đầu những rác cùng rơm,
  Chồng yêu, chồng bảo : hoa thơm rắc đầu.
Cũng thế, tại sao cô nàng thuộc vào hàng “lá ngọc cành vàng” lại quơ ngay phải một anh chàng thuộc hàng “nông nãi, vũ phi chi cục mịch” ? Thế nhưng, nông nãi và vũ phu chi cục mịch là đối với người ngoài, chứ còn đối với cô nàng, thì anh chàng vẫn mãi mãi là…hoàng tử của lòng em :
- Chồng ta áo rách ta thương,
  Chồng người áo gấm, xông hương mặc người.
Không phải chỉ mỗi người, mà hơn thế nữa, mỗi thời cũng đều có những tiêu chuẩn riêng để xác định cái đẹp. Ca dao đã diễn tả về người con gái đẹp ngày xưa như sau :
- Một thương tóc bỏ đuôi gà,
  Hai thương ăn nói mặn mà có duyên.
  Ba thương má lúm đồng tiền,
  Bốn thương răng nhánh hạt huyền kém thua.
  Năm thương cổ yếm đeo bùa,
  Sáu thương nón thượng quai tua dịu dàng.
  Bảy thương nết ở khôn ngoan.
  Tám thương ăn nói lại càng thêm xinh.
  Chín thương cô ở một mình,
  Mười thương con mắt có tình với ai.
Từ bài ca dao trên, gã thấy phảng phất và bàng bạc tinh thần của Nho giáo. Thực vậy, xã hội Việt Nam thời xưa đã mang nặng dấu ấn của Nho giáo. Người ta lấy những lời giảng dạy của Khổng Tử làm khuôn vàng thước ngọc cho cách cư xử, cũng như làm tiêu chuẩn hướng dẫn cho cuộc sống của mình.
Đối với cánh đờn ông con giai, ngoài việc  tuân giữ “tam cương”, ba  rường cột quan trọng trong đạo làm người, ba mối dây liên hệ chính yếu trong xã hội, đó là quân thần, phụ tử và phu phụ, đạo vua tôi, đạo cha con và đạo vợ chồng, lại còn phải thực thi “ngũ thường”, năm nhân đức quen thuộc của con người, đó là nhân nghĩa lễ trí tín.
Riêng đối với phe đờn bà con gái, ngoài việc tuân giữ “tam tòng”, ba sự tùng phục chính yếu, đó là tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử, khi còn ở nhà thì theo cha, khi đi lấy chồng thì theo chồng và khi chồng chết thì theo con, lại còn phải thực thi tứ đức, bốn nhân đức đặc thù của người phụ nữ, đó là  công, dung, ngôn, hạnh.
- Phận gái tứ đức vẹn tuyền,
  Công dung ngôn hạnh giữ gìn chớ sai.
Đức thứ nhất là công. Vậy công là gì ?
Xin thưa rằng :
- Công là đủ mùi xôi thức bánh, giỏi giang từ đường chỉ mũi kim, nói chung việc nhà phải khéo léo.
Dường như Thượng đế đã ngấm ngầm thỏa thuận và phân chia : đờn bà thì quán xuyến việc nhà, còn đờn ông thì lo toan việc làng việc nước. Hai chữ “việc nhà”, mới nghe qua, thấy nó thật nhẹ nhõm và đơn giản, nhưng bước vào rồi, mới thấy nó thật nhiêu khê và rắc rối, cũng vất vả toát cả mồ hôi hột, chứ chẳng nhẹ nhõm và đơn giản tí nào.
Trước hết, việc nhà chính là việc sắp đặt và tổ chức trong gia đình.
Đúng thế, phải làm sao cho căn nhà được sạch sẽ và đẹp đẽ, được thứ tự và ngăn nắp, biến nó trở thành một tổ ấm dễ thương và dễ mến, để rồi sau những giờ phút lao động mệt mỏi, sau những bươn chải kiếm tìm chén cơm manh áo, thì ai cũng thầm mong sớm trở về, hầu được nghỉ ngơi và thư giãn.
Thử tưởng tượng xem một anh chồng suốt ngày quần quật trên ruộng đồng, đổ mồi hôi xôi nước mắt, hay một ông xã ngồi nơi công sở, bị cấp trên chèn ép, bị cấp ngang cạnh tranh và bị cấp dưới chống đối…mang cái đầu óc căng thẳng về nhà, chỉ mong sao được khuây khỏa. Thế mà khi bước chân vào nhà, thì ôi thôi, cả một bãi chiến trường ngổn ngang và bầy hầy trước mặt. Áo quần vứt bừa vứt bãi, hay giăng mắc lung tung. Thậm chí, có những thứ “nội y” cần cất dấu, mà vẫn cứ được vô tư phơi bày ra trước mắt bàn dân thiên hạ. Ly tách bẩn thỉu, bàn ghế mỗi cái một nơi. Thẹn đỏ cả mặt, mỗi khi có bè bạn hay khách khứa ghé thăm.
Chính vì thế, thiên hạ thường gọi người vợ là người nội trợ, tức là người trợ giúp những việc trong nhà :
- Bề nội trợ việc trong xem xét,
  Siêng năng thì trăm việc đều nên.
Nói là trợ giúp, chứ thực chất là quản lý và điều hành tấr ráo cả mọi sự, như  Tú Xương đã từng xác quyết :
- Việc nhà phó mặc cho bu nó,
  Quắc mắt khinh đời cái bộ anh.
Cái uy quyền “nội thất” này, không oai phong lẫm liệt, không hét ra lửa khiến cho nhiều đầu gối phải run lập cập, để rồi chỉ còn nước cúi gập mình xuống, hay uốn cong người lên mà luồn lách lươn lẹo…nhưng âm thầm và kín đáo, dầu vậy cũng vẫn có được một tác dụng ghê gớm.
Chính vì tác dụng ghê gớm này, mà thiên hạ đã không ngần ngại phong cho các bà xã cái hàm…nội tướng. Và khi vị nội tướng đã phán, thì tất cả đều phải thi hành, hay khi vị nội tướng đã ra tay, thì mọi người đều phải răm rắp vâng theo, từ ông bố cho chí đến đứa con. Chả thế mà người xưa đã bảo :
- Lệnh ông không bằng cồng bà.
Phân tích câu tục ngữ này, gã nhận thấy : lệnh là thứ chiêng đồng loại nhỏ dùng để đánh làm hiệu mà xuất quân, đồng thời cũng có nghĩa là lời sai khiến. Còn cồng là thứ chiêng đồng loại lớn dùng để đánh làm hiệu mà lui quân. Như vậy khi cái lệnh của ông được đánh thì mọi người sẽ vâng nghe mà ra đi. Nhưng nếu cái cồng của bà cũng vang lên, hẳn sẽ át được tiếng lệnh của ông, khiến  mọi người phải nghe theo mà rút về.
Thậm chí nhiều lúc còn :
- Lệnh vua thua lệnh bà.
Và như thế, trong phạm vi gia đình, quyền bà thường lớn hơn quyền ông. Chả thế mà dân mánh mung, cũng như dân áp phe áp chảo đã triệt để khai thác đặc điểm trên.
Thực vậy, muốn cho công việc được thuận buồm xuôi gió, nói với “tướng ông” xem ra có vẻ bị  khó, thế là họ bèn đi cửa sau, giãi bày tâm sự với “tướng bà”. Một khi tướng bà đã gật đầu ô kê, thì mọi việc đều xong tuốt luốt. Bởi vì, tướng ông nỡ lòng nào mà từ chối những lời thỏ thẻ ngọt như đường cát, mát như đường phèn của tướng bà, dù có phải tra chân vào cùm và bị thân bại danh liệt… cũng vẫn một lòng chịu vậy !!!
Tiếp đến, việc nhà là việc bếp núc và nấu nướng.
Cánh đàn ông con giai, xem ra anh nào cũng thích ăn ngon. Đối với họ, bao tử đi trước, rồi việc làng  việc nước mới theo sau. Thậm chí những kẻ phàm ăn tục uống còn phát biểu :
- Tình yêu đến qua ngả đường của bao tử.
Ngay cả trong phạm vi tôn giáo, đằng sau những việc đạo đức thiêng liêng cao cả, thì dường như người ta đều thấy bóng dáng của mâm cỗ, của dạ dày phảng phất :
- Trước là kính thánh, sau là…đánh chén.
- Có thực mới vực được đạo.
Chẳng thế mà họ đã từng giải quyết chuyện quốc gia đại sự, hay những phi vụ làm ăn trị giá bạc tỷ bên bàn tiệc đó sao. Còn nói theo kiểu thánh Phaolô, thì đôi lúc họ đã trót lấy …cái bụng của mình làm chúa.
Vì thế, người vợ “ngon lành” cũng phải là người vợ thành thạo việc bếp núc và nấu nướng :
- Vắng đờn ông quạnh nhà,
  Vắng đờn bà quạnh bếp.
- Xem trong bếp, biết nết đờn bà.
Nhiều bà mẹ đã khéo lo cho con gái, bằng cách gửi con gái theo học một lớp cắt may và một khóa nữ công gia chánh, là như một mớ hành trang cần thiết cho chuyến đi về nhà…chồng.
Sau cùng, việc nhà còn là việc giáo dục con cái.
Thực vậy, ông bố thường bận bịu với chuyện cơm áo gạo tiền, lắm lúc bất đắc dĩ phải lấy “ngoài đường” làm nơi thường trú, còn “trong nhà” chỉ là nơi tạm trú mà thôi. Vì thế, người mẹ là người sống gần gũi con cái hơn, hiểu biết con cái hơn và cũng được con cái yêu thương hơn, nên cũng thường để lại nhiều dấu ấn sâu đậm trên con cái. Chẳng vậy mà người xưa đã bảo :
- Con hư tại mẹ, cháu hư tại bà.
Việc giáo dục này cần phải được bắt đầu ngay khi con cái còn là một bào thai và nhất là khi chúng bắt đầu hiểu biết , bởi vì :
- Bé không vin, cả gẫy cành.
- Uốn cây thừ thưở còn non,
  Dạy con từ thưở con còn đương thơ.
Một tên tướng cướp ngày kia trở về nhà thăm mẹ già. Bà mẹ dẫn con ra một góc vườn, rồi hai mẹ con cùng ngồi thủ thỉ và tâm sự với nhau. Bà mẹ ra sức khuyên nhủ người con từ bỏ con đường lầm lạc và làm lại đời mình. Nghe nói thế, người con bèn chỉ vào một cây to và nói :
- Liệu mẹ có còn uốn được cây này nữa không ? Chắc chắn là không. Vậy tại sao mẹ không dạy con từ lúc con còn nhỏ, bây giờ con đã là một cây to, thì không thể uốn được nữa.
Nói xong, tên tướng cướp lặng lẽ bỏ đi.
Đức thứ hai là dung. Vậy dung là gì ?
Xin thưa rằng :
- Dung hay dong là hình dáng, tướng mạo bên ngoài, như người đời thường bảo :
- Xem mặt mà bắt hình dong,
  Con lợn có béo thì lòng mới ngon.
Dung ám chỉ sắc đẹp của người phụ nữ. Sắc đẹp này, trước hết được chú trọng vào khuôn mặt, vì thế người ta mới gọi nhan sắc là vẻ đẹp của khuôn mặt nói riêng và  vẻ đẹp của toàn thân nói chung :
- Chồng em vừa xấu vừa đen,
  Đã kém nhan sắc, lại hèn chân đi.
Người con gái đẹp là người con gái có nét mặt tự nhiên, không tha thướt lả lơi. :
- Cổ tay em trắng như ngà,
  Con mắt em liếc như là dao cau.
  Miệng cười như thể hoa ngâu,
  Cái khăn đội đầu như thể hoa sen.
Sắc đẹp ấy không phải chỉ được thể hiện trên khuôn mặt, mà còn được thể hiện nơi thân hình :
- Những người thắt đáy lưng ong,
  Vừa khéo chiều chồng, vừa khéo nuôi con.
Thế nhưng, ngoài sắc đẹp trời ban cho, người con gái còn phải biết kết hợp với việc ăn mặc, sử dụng trang phục sao cho hài hòa, thích hợp với từng người, theo từng tuổi, ở từng nơi và trong từng lúc :
- Áo đen ai nhuộm cho mình,
  Cho duyên mình đậm, cho tình anh thương.
Đức thứ ba là ngôn. Vậy ngôn là gì ?
Xin thưa rằng :
- Ngôn là biết trình thưa vâng dạ.
Lời nói vừa tế nhị lại vừa ôn tồn, vừa lễ độ lại vừa khôn ngoan, biểu hiện được nhân cách của người phụ nữ, đồng thời còn chứng tỏ mình là một con người có giáo dục, có văn hóa :
- Chim khôn kêu tiếng rảnh rang,
  Người khôn nói tiếng dịu dàng dễ nghe.
Sau cùng, đức thứ tư là hạnh. Vậy hạnh là gì ?
Xin thưa rằng :
- Hạnh là đường ngay thảo kính, nết na đằm thắm.
Nói cách khác, hạnh chính là sự đạo đức, nết na của người phụ nữ. Muốn được bàn dân thiên hạ coi là đẹp, thì bản thân họ phải là con ngoan, vợ hiền và dâu hiền, phải biết trung thực và nhân hậu, kính trên và nhường dưới. Đây chính là yếu tố căn bản nhất tạo thành nét duyên ngầm của người phụ nữ. Nét duyên ngầm này sẽ không bị tàn phai với thời gian, trái lại ngày càng thêm đậm đà, khiến cho mọi người phải cúi đầu tâm phục khẩu phục :
- Cái nết đánh chết cái đẹp.
Nếu phải chọn lựa giữa nhan sắc và đức hạnh, người xưa không ngần ngại chọn ngay đức hạnh, bởi vì như vừa trình bày, đức hạnh chính là nét duyên ngầm của đờn bà con gái, không bị thời gian là cho nhạt nhòe :
- Tốt gỗ hơn tốt nước sơn,
  Xấu người đẹp nết, còn hơn đẹp người.
Sách “Cổ học tinh hoa” có kể lại một mẩu chuyện như sau :
Dương Chu sang nước Tống, đến ở trọ một nhà kia. Chủ nhà trọ có hai người thiếp : một người đẹp, còn một người xấu. Dương Chu thấy trong nhà ai cũng quí mến người thiếp xấu mà khinh chê người thiếp đẹp, lấy làm lạ bèn dò hỏi một thằng nhỏ giúp việc, thì nó trả lời rằng :
- Người thiếp đẹp tự coi là đẹp, nên mất đẹp. Còn người thiếp xấu, tự biết là xấu, nên không còn xấu nữa.
Nghe vậy, Dương Chu bèn gọi học trò lại và bảo :
- Các con hãy nhớ lấy câu này : người giỏi mà bỏ được cái thói ”tự cho mình là giỏi”, thì đi đến đâu ai mà chẳng trọng kính, ai mà chẳng yêu mến.
Sau khi đã tìm hiểu về tứ đức của đờn bà con gái thời xưa, bây giờ chúng ta hãy nhìn vào xã hội hôm nay, để xem tứ đức ấy còn tồn tại, hay chỉ là một kỷ niệm buồn của dĩ vãng, một chuyện đã xưa rồi Diễm ơi mà thôi.
Theo sự diễn tả của linh mục Thiện Cẩm, thì ngày nay thế gian bỗng tự nhiên ra khác. Vậy thế gian ra khác như thế nào, nhất là trong lãnh vực đờn bà con gái ?
Theo các nhà tâm lý, hoàn cảnh bên ngoài nhiều lúc đã ảnh hưởng sâu xa đến tâm tính bên trong. Đờn bà con gái ngày nay, không còn bị nhốt trong căn nhà bếp, suốt ngày bầu bạn với nồi niêu xoong chảo, mà đã nhảy phóc ra ngoài xã hội. Cũng lao động và sản xuất, cũng quản lý và điều hành, cũng bươn chải và đôn đáo chạy ngược chạy xuôi chẳng kém gì đờn ông con trai. Nhiều bà nhiều cô đã gặt hái được những thành quả sáng chói, làm tới giám đốc, bộ trưởng, thủ tướng…chẳng kém gì, mà có khi còn vượt trội hơn cả cánh đờn ông con giai với mức lương thu nhập khá cao.
Gã không phải là chuyên viên kinh tế, nhưng kinh nghiệm đời thường cho gã thấy : trong bất cứ tổ chức nào, từ gia đình cho đến xã hội, ai nắm được tài chánh, thì người ấy cũng nắm quyền chỉ huy, nghĩa là được quyền ra lệnh, đồng thời chi phối mọi hoạt động của người khác.
Vì cũng phải góp mặt với đời và hơn thế nữa, không còn bị lệ thuộc vào đờn ông con giai trong lãnh vực tiền bạc, nên đờn bà con gái ngày nay bỗng trở thành một thứ bề trên, nên đâu còn thời giờ lo toan chuyện tẹp nhẹp bếp núc, thành thử lắm khi “việc nhà phó mặc cho bố nó”. Như vậy, chữ “công” được tạm cất vào ngăn kéo của dĩ vãng.
Thật tội nghiệp cho những đức ông chồng, mặc dù đang sống phây phây giữa đời, thế mà cứ như ông thầy dòng sống trong tu viện. Mặc dù chẳng khấn chẳng hứa, thế mà vẫn cứ phải tuân giữ ba nhân đức khó nghèo, khiết tịnh và vâng phục. Thứ nhất không được giữ tiền riêng, vì đồng lương phải nộp cả cho vợ Thứ hai đừng có dại mà tơ tưởng lung tung, hay mèo chuột linh tinh vì phải tuyệt đối trung thành với vợ. Bà mà biết được thì chết với bà. Thứ ba phải luôn chiều ý vợ, thậm chí nếu phải tham nhũng hối lộ vì vợ thì cũng hồ hởi thưa lên hai tiếng “xin vâng”.
Ai nắm tiền bạc trong gia đình, thì người ấy có quyền phán bảo. Và một khi đã quen với cung cách phán bảo, thì cứ việc ăn to nói lớn, chả cần phải để ý tới ai, vì lẽ phải và công lý luôn nằm trong lòng bàn tay của mình.  Nương theo cái đà ấy, mấy cô em gái nho nhỏ dễ thương mà tụ lại với nhau, thì cũng phát ngôn theo kiểu đao to búa lớn, đủ mùi chanh chua. Họ sẵn sàng gọi người yêu của mình là cái lão ấy, cũng như gọi cha mẹ của mình là cái ông ấy, cái bà ấy. Hơn nữa, những đề tài được trao đổi, người ngoài mà nghe thấy  cũng phải toát cả mồ hôi lạnh và quỉ thần cũng phải phát kinh, phát khiếp lên ấy chứ. Như vậy, chữ “ngôn” cũng được mời đi chỗ khác chơi.
Nếu ngày xưa người ta chủ trương : Cái nết đánh chết cái đẹp, thì đờn bà con gái thời nay nhiều người lại cho rằng :
- Cái đẹp đè bẹp cái nết.
Rất nhiều cô đã biết tận dụng cái vốn trời cho này mà hốt bạc tỉ, hay leo lên đài danh vọng, mà chẳng phải tốn đồng xu cắc bạc nào cả, khiến cho phe đờn ông con giai phát  thèm, phát khát, có nằm mơ cũng chẳng thấy. Thành thử chữ “hạnh” bị xếp vào hàng thứ yếu. Thậm chí, người đạo đức nết  na lắm khi còn bị liệt vào hàng “ngớ ngẩn ngây ngô khù khờ ngu ngơ” nữa là khác.
Điều mà đờn bà con gái thời nay chú trọng hơn hết, có lẽ là chữ “dung”, tức là nhan sắc, tức là vẻ đẹp. Và thế là tứ đức của Nho giáo nghiễm nhiên trở thành tứ…sắc. Sắc đẹp của khuôn mặt, sắc đẹp của bộ ngực, sắc đẹp của cặp giò và sắc đẹp của áo quần.
Để phục vụ cho nhu cầu làm đẹp này, các thẩm mỹ viện mọc lên như nấm, ăn nên làm ra, phất lên như diều gặp gió. Mấy ông bác sĩ giải phẫu, cắt chỗ nọ vá chỗ kia, hút chỗ này bơm chỗ khác, cứ ung dung ngồi hốt bạc vì phen này ắt hẳn trúng mánh lớn. Thậm chí nhiều bà nhiều cô lặn lội từ bên Mỹ về Việt Nam cốt chỉ để xẻ cái cằm, xâm bờ môi hay cấy hàng lông mi…vì tiền công ở Việt Nam rất rẻ.
Rồi trên thị trường, từ các siêu thị hiện đại cho đến các tiệm tạp hóa nơi hang cùng ngõ hẻm, cũng đã bày bán biết bao nhiêu thứ mỹ phẩm. Nguyên dầu gội đầu, phục vụ cho mái tóc thì cũng đã có biết bao nhiêu loại, đến quỉ thần cũng không thể nào nhớ cho hết. Nguyên kem phục vụ cho làn da, thì cũng đã có biết bao nhiêu thứ : kem dưỡng da,  kem tẩy da, kem trắng da, kem chống nắng, kem chống nhờn, kem chống khô…vì nhất dáng nhì da cơ mà. Và rồi còn biết bao nhiêu mặt hàng, biết bao nhiêu đồ phụ tùng lỉnh kỉnh khác nữa, từ bên ngoài cho đến bên trong, nhằm tăng thêm vẻ đẹp cho quí bà quí cô. Gã đành phải bó tay, xin chào thua.
Thế nhưng, qui luật của muôn đời cho thấy :
- Có tuổi trẻ nào mà không già, có nhan sắc nào mà không bị tàn phai với thời gian.
Và khi nhan sắc đã tàn phai, thì hỡi ôi :
- Còn duyên kẻ đón người đưa,
  Hết duyên vắng ngắt như chùa bà Đanh.
- Còn duyên kén những giai tơ,
  Hết duyên ông lão cũng vơ làm chồng.
Vì thế, trong khi điểm tô và làm đẹp cho cái nhan sắc bên ngoài, cũng đừng quên điểm tô và làm đẹp cho cái nhan sắc bên trong :
- Người xấu, duyên lặn vào trong.
  Bao nhiêu người đẹ
p, duyên bong ra ngoài.
Để tạo được vẻ đẹp hài hòa như thế, không bì bằng trở về với truyền thống dân tộc, bởi vì bốn chữ “công dung ngôn hạnh” vừa tạo được cái đẹp bên ngoài, mà cũng không sao lãng cái đẹp của phẩm chất bên trong.
Với chủ trương như vậy, chắc chắn gã sẽ bị mấy cô gái choai choai bây giờ bĩu môi, trề miệng ra mà phán :
- Rõ thật  đồ cù lần cù lèo!!!
Gã Siêu

 

Chuyện Gã Siêu 66: TAM VÒNG

TAM VÒNG Chuyện Gã Siêu 66:

Buổi tối, mấy đứa con nít ngồi cãi nhau chí chóe về vấn đề đờn bà và đờn ông. Một đứa lên tiếng Chuyện Gã Siêu 66

Buổi tối, mấy đứa con nít ngồi cãi nhau chí chóe về vấn đề đờn bà và đờn ông. Một đứa lên tiếng hỏi :
- Đờn bà bởi đâu mà có ?
- Thì bởi đờn ông chứ còn bởi ai ?
- Thế đờn ông bởi đâu mà có ?
- Thì bởi đờn bà chứ còn bởi ai ? Nếu không có đờn bà, thì  lấy ai sinh ra đờn ông, không khéo đờn ông đã tiêu tùng từ lâu.
Và thế là bọn con nít rơi vào một chiếc vòng luẩn quẩn giữa đờn ông và đờn bà, giữa đờn bà và đờn ông. Cuối cùng một đứa xem ra có vẻ thông thái đã cất tiếng nói :
- Đức Chúa Trời đã dựng nên người đờn ông thứ nhất, rồi từ đó sinh ra người đờn bà thứ nhất và cứ thế, cứ thế….liên tục phát triển cho đến ngày hôm nay.
Thực vậy, theo sách Sáng Thế Ký thì thưở ban đầu, Thiên Chúa lấy bùn đất nhào nặn, rồi thổi hơi vào lỗ mũi mà làm thành người đàn ông đầu tiên, mang tên gọi là Adong. Sau đó, Ngài thấy Adong sống cô độc lẻ loi và cu ky một mình thì động lòng thương, bèn chờ lúc Adong ngủ say, lấy một chiếc xương sườn của chàng mà dựng nên người đờn bà đầu tiên. Ngài dẫn người đờn bà này tới giới thiệu với Adong. Vừa nhìn thấy, cặp mắt Adong đã sáng lên long lanh, còn đôi môi thì hớn hở mừng rỡ mà kêu lên hai tiếng :
- Mình ơi !
Rồi Adong đã đặt tên cho người đờn bà này là Eva, bởi lẽ nàng là mẹ của chúng sinh. Theo quan niệm của sách Sáng Thế Ký, thì đờn ông và đờn bà đều được Đức Chúa Trời dựng nên, bình đẳng với nhau về trách nhiệm cũng như bổn phận, mặc dù mỗi người đều có một lãnh vực riêng của mình. Vì thế, một vị thánh nào đó đã diễn tả :
- Đức Chúa Trời đã  không lấy xương sọ mà dựng nên Eva, vì thế bà không được chỉ huy ông. Ngài cũng không lấy xương gót chân mà dựng nên Eva, vì thế ông không được đày đọa bà. Nhưng Ngài đã lấy chiếc xương sườn ở cạnh lái tim mà dựng nên Eva, vì thế ông phải yêu thương bà và bà phải yêu thương ông.
Ngoài ra, còn rất nhiều truyền thuyết khác nữa nói về nguồn gốc của người đờn bà. Gã xin kể ra đây hai truyền thuyết mà thôi.
Truyền thuyết thứ nhất kể lại rằng :
Thưở ban đầu, người đờn ông sống trơ trụi một mình. Vừa đơn độc lại vừa buồn phiền. Thượng đế lấy làm tội nghiệp. Ngài bèn dùng một chút dịu dàng của hoa lan, một chút xinh đẹp của hoa hồng và một chút tinh khiết của hoa huệ. Tất cả được trộn lẫn với nhau, nhưng chưa đủ. Ngài còn hòa vào đó một chút tinh ranh của con khỉ già, một chút độc ác của con rắn hổ mang và một chút hung dữ của con sư tử. Tất cả được quyện lẫn với nhau mà làm nên người đờn bà. Thượng đế trao người đờn bà ấy cho người đờn ông. Kể từ đó, người đờn ông không còn trơ trụi một mình nữa.
Nhưng rồi vào một buổi sáng u ám, người đờn ông bỗng cảm thấy không còn chịu đựng nổi sự tinh ranh, độc ác và hung dữ của người đờn bà, nên đã trả nàng lại cho Thượng đế. Thế nhưng, cuộc ly hôn đầu tiên này diễn ra chưa được một tuần trăng, thì người đờn ông bỗng cảm thấy nhớ day nhớ dứt vẻ dịu dàng, xinh đẹp và tinh khiết của người đờn bà, nên đã xin Thượng đế cho mình được lấy lại. Và từ đó, họ sống hạnh phúc với nhau.
Truyền thuyết thứ hai kể lại rằng :
Sau khi dựng nên núi đồi và biển cả, cây cối và muông thú, cuối cùng Thượng đế mới hoàn tất tác phẩm tuyệt vời của mình, đó là là người đờn ông với tên gọi là Adong. Bấy giờ, Adong đi lang thang hết chỗ này đến chỗ kia, nhưng luôn cảm thấy trống vắng. Một buổi sáng, Adong dừng chân bên hồ, chàng mừng rỡ khi nhận ra bóng mình in trên mặt nước. Và thế là chàng bèn nhảy xuống để ôm lấy chiếc bóng mình trong vòng tay, nhưng không thể được. Chàng buồn bã ngồi thinh lặng dưới gốc cây và than thở cùng Thượng đế về sự trống vắng. Thượng đế liền trả lời :
- Thôi được, hãy dẫn Ta tới hồ nước.
Thượng đế nắm lấy chiếc bóng của Adong trong lòng bàn tay, thổi vào đó một luồng sinh khí. Và thế là một người đàn bà đẹp hết ý mang tên gọi là Eva bỗng xuất hiện. Nàng chớp chớp đôi mắt và khẽ nói :
- Tôi hiện hữu hay không hiện hữu ?
Thượng đế mỉm cười và bảo :
- Đây là quy luật của muôn đời : khi con ở cạnh người đờn ông, thì con hiện hữu. Trái lại, khi vắng bóng chàng, con sẽ không còn hiện hữu nữa.
Từ những truyền thuyết trên, gã nhận thấy bàn dân thiên hạ cũng đã dành cho người đờn bà một sự trân trọng đáng kính nào đó và nàng trở thành một con người không thể thiếu vắng cho phe đờn ông con giai. Thế nhưng, trải qua dòng thời gian, phe đờn ông con giai đã lờ tít và cố tình quên đi sự trân trọng đáng kính ấy, để rồi ỷ vào sức mạnh trời cho, mà đày đọa cánh đờn bà con gái. Từ đông sang tây, cũng như từ cổ chí kim, họ đã nhìn cánh đờn bà con gái bằng nửa con mắt.
Thực vậy, ở phương tây có những kẻ muốn trút tất cả mọi tội lỗi lên đầu cánh đờn bà con gái. Theo họ : khi cánh đờn bà con gái chưa xuất hiện trên mặt đất này, thì phe đờn ông con trai sống rất ư là thoải mái, vui vẻ và đầm ấm. Thế nhưng, khi cánh đờn bà con gái vừa xuất hiện, thì lập tức có ghen ghét và vu cáo, bạo loạn và chiến tranh. Và cũng theo họ : lòng dạ đờn bà con gái thì vô cùng hiểm độc và nhan sắc của họ dễ làm cho phe mày râu chìm đắm.
Các triết gia như Anaxilas thì khẳng định : hùm beo, rắn độc, quái vật, sư tử…bao nhiêu thứ ấy là cái quái gì chứ ? Chẳng là cái thá gì cả trước đờn bà con gái. Phutarque thì nhẹ nhàng hơn, nhưng cũng đầy khinh bỉ : Khi các ngọn nến được thổi tắt, thì tất cả đờn bà con gái đều xinh đẹp cả.
Các nhà văn, chẳng hạn như  Somerset Maugham đã lập luận như sau :
- Vì cớ làm sao những người đờn bà xinh đẹp đều lấy những người đàn ông tầm thường ? Xin thưa rằng những người đàn ông thông minh sẽ chẳng bao giờ chịu lấy những người đờn bà xinh đẹp cả.
Georges Courteline thì than thở :
- Những gì mình làm cho đờn bà con gái thì họ quên rất mau, còn những gì mình không làm cho họ thì họ lại nhớ mãi nhớ hoài. (Kiến thức ngày nay số 43).
Ý thức được sự bất công và địa vị yếu kém của mình, cánh đờn bà con gái đã đoàn kết lại để đấu tranh, thiết lập những phong trào, nào là phụ nữ đòi bình đẳng, nào là phụ nữ đòi quyền sống và ngay cả phụ nữ đòi quyền…sướng nữa. Thế nhưng, xem ra tình trạng mới chỉ sáng hơn được một chút xíu mà thôi.
Ông Nguyễn Thanh Long, trong một bài viết trên báo “Công giáo và Dân tộc”  đã cho biết những nét đại cương như sau :
Hiện nay, đờn bà con gái chiếm ít nhất 50% dân số nhân loại. Theo một cuộc điều tra của Liên Hiệp Quốc được công bố năm 1999, thì chẳng có quốc gia nào đối xử với nữ giới bình đẳng với nam giới. Trên trái đất, có 1,3 tỷ người sống trong tình trạng cực kỳ nghèo đói, thì đờn bà con gái chiếm tới 70%. Tổng trị giá của những công việc đờn bà con gái phải làm mà không có lương được ước tính khoảng 11.000 tỷ đô la Mỹ mỗi năm. Số lượng đờn bà con gái đi làm có lương chỉ là 1/3 so với đờn ông con giai. Số tiền lương họ được lãnh chỉ bằng 10% tổng quỹ lương. 50% nhân loại ấy chỉ đứng tên sở hữu 1% tài sản trên thế giời!
Trong lãnh vực chính trị, sự hiện diện của đờn bà con gái lại còn quá thấp. Tại Pháp, quốc hội hiện nay chỉ có khoảng 60 nữ trên tổng số 577 đại biểu, tỷ lệ 10,2%. Mỗi khi một nhân vật nữ được bàu vào một chức vụ cao, thì đó là một “sự lạ cả thể” và được bàn dân thiên hạ nhìn bằng một cặp mắt nghi ngờ.
Trong phạm vi tôn giáo, một vị thánh nổi tiếng là Âu Cơ Tinh cũng đã khẳng định đờn bà con gái thấp kém hơn đờn ông con trai. Vì thế, họ không được tham gia vào những hoạt động về xét xử hay giảng dạy trong Giáo hội. Thậm chí theo truyền thuyết còn có cả một công đồng, trong đó các nghị phụ đã tranh cãi về vấn đề đờn bà con gái có linh hồn hay không ?
Còn tại nước Đức, phe đờn ông con giai đã gọi cánh đờn bà con gái là người của 3K : Kinden tức là con nít, Kuchen tức là bếp núc và Kirch tức là nhà thờ. (Công giáo và Dân tộc số 1447).
Trong kinh Coran, Đức Mahomet đã truyền dạy các tín đồ đực rựa như sau : Đờn bà con gái là một mảnh đất đã được cày sẵn, các con cứ việc đến đấy, tha hồ mà trồng cấy.
Còn ở phương đông như tại Việt Nam, do ảnh hưởng nặng nề của Khổng giáo, trải qua nhiều thế kỷ chủ trương trọng nam khinh nữ tha hồ mà tung hoành trong xã hội. Người ta cho rằng :
- Nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô. Sinh được một cậu con giai thì đã kể là có, trong khi đó sinh được mười cô con gái, thì vẫn kể là không.
- Trai năm thê bảy thiếp, gái chính chuyên chỉ có một chồng.
Chỉ người đờn ông mới là chủ gia đình và được trọng kính. Thực vậy, trong nhà khi các bà muốn đưa cho chồng cái gì thì cũng phải để trên bàn chứ không đưa tận tay. Nam nữ thọ thọ bất thân. Không thể có chuyện nắm tay hay bá vai bá cổ. Lại càng không thể có chuyện vuốt ve hôn hít nhau chùn chụt trước mặt bàn dân thiên hạ. Đặc biệt trong xã hội ngày xưa, đờn bà con gái còn phải giữ tam tòng tứ đức. Tam tòng, tức là ba chữ tòng : tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử. Ở nhà thì phục tùng cha, lấy chồng thì phục tùng chồng, chồng chết thì phục tùng con. Còn tứ đức, tức là bốn nhân đức : công dung ngôn hạnh. Khéo tay làm lụng, nét mặt đoan trang, ăn nói lịch sự và tính tình nết na.
Theo linh mục Thiện Cẩm : Ngày nay, thế gian bỗng tự nhiên ra khác, ngay ở nước ta, nam nữ cũng trở nên thọ thọ…rất thân, nắm tay, ôm eo, tựa vai, bá cổ. Có người bảo phụ nữ ngày nay chỉ nghĩ  đến “tam vòng tứ sắc”. Tam vòng là vòng ngực, vòng eo và vòng mông. Tứ sắc là nét đẹp của khuôn mặt, của bộ ngực, của áo quần và của cặp giò. Còn chuyện tam tòng tứ đức là chuyện đã quá “đát” từ lâu.
Hôm nay, gã xin mượn những gợi ý trên để bàn rộng và tán dài về chuyện tam tòng cũng như tam…vòng!
Trước hết là chuyện tam tòng mà ngày xưa, cánh đờn bà con gái phải tuyệt đối tuân giữ.
Thứ nhất, tại gia tòng phụ, có nghĩa là khi còn sống ở nhà thì phải phục tùng và vâng lời người cha, bởi vì người cha là cột trụ của gia đình. Đây là điều dễ hiểu và dễ chấp nhận, bởi vì cha mẹ có bổn phải phải giáo dục con cái và con cái có bổn phận phải vâng lời cha  mẹ :
- Mẹ dạy thì con khéo, bố dạy thì con khôn.
- Cá không ăn muối cá ươn,
  Con cưỡng cha mẹ trăm đường con hư.
Thứ hai, xuất giá tòng phu, đi lấy chồng thì phải phục tùng và vâng lời chồng. Đây là một quan niệm cần phải xét lại, bởi vì nó đã làm nảy sinh ra những lạm dụng khó mà chấp nhận. Thực vậy, người chồng trong xã hội phong kiến thường được coi như là một ông chủ. Vì thế, hễ ông ta mở miệng phán ra điều gì, thì vợ con trong nhà đều phải cúi đầu răm rắp nghe theo, chẳng được phép ý kiến ý cò gì sốt.
Phu xướng phụ tùy. Từ đó, ông ta sẽ thừa thắng xông lên mà đi tới chỗ độc tài, độc đoán và cả…độc ác nữa.  Ông ta sẽ mang lấy đầu óc “gia trưởng” và đối xử theo kiểu  “chồng chúa vợ tôi”. Lời nói của ông ta cộc lốc như dùi đục chấm mắm tôm : Tiên sư cái con mẹ mày. Hành động của ông ta mang nặng tính cách vũ phu và bạo lực. Ông ta không ngần ngại “thượng cẳng chân hạ cẳng tay”. Như cầu thủ ghi bàn thắng, ông ta hăng tiết vịt sút một phát cho bà vợ lọt thỏm vào tủ áo mỗi khi cần ưu ái dạy bảo điều gì, như trái banh lọt thỏm vào khung thành, hay cầu môn chi đó.
Gã đã từng thấy có những ông chồng đòi hỏi bà vợ phải phục dịch cơm bưng nước rót cho mình. Thậm chí đến bữa ăn, mình ông ngồi chễm chệ một mâm. Tội nghiệp cho bà vợ suốt ngày phải tần tảo buôn thúng bán mẹt, nhặt từng cọng rau muống đem ra chợ với hy vọng kiếm được tí tiền còn, mua lấy một xị rượu và một chút thịt lợn mà cung phụng cho đức ông chồng của mình được thập phần béo tốt.
Thứ ba, phu tử tòng tử, khi chồng chết thì theo con. Đây cũng là điều tương đối dễ hiểu và dễ chấp nhận, bởi vì người đờn bà lúc bấy giờ nghiễm nhiên đã trở thành một người mẹ, và không chừng cũng đã mang nặng tí tuổi đời. Một khi chồng chết thì biết theo ai nếu không phải là theo những người con mình đã mang nặng đẻ đau, đã chắt chiu nuôi dưỡng. Hơn thế nữa, chính những người con này cũng có bổn phận phải thảo hiếu đối với người mẹ của mình.
Cái sự phu tử tòng tử ở đây xem ra còn có vẻ nhẹ nhàng và nhân đạo hơn tập tục tại nhiều nơi trên thế giới. Chẳng hạn, nếu gã nhớ không lầm, trong cuốn “Vòng quanh thế giới 80 ngày”, Jules Verne cho hay tại một vài nơi bên Ấn Độ, khi người chồng qua đời thì các bà vợ sẽ bị thiêu sống để được theo hầu đức phu quân của mình nơi chín suối!!!
Tuy nhiên, theo lời của linh mục Thiện Cẩm thì : Ngày nay thế gian bỗng tự nhiên ra khác, chuyện tam tòng là chuyện quá “đát” từ lâu, xưa rồi Diễm ơi!
Thực vậy, trong tương quan với cha mẹ : con cái bây giờ thuộc vào thế hệ vi tính, nên cha mẹ khó mà dạy bảo. Nếu có răn đe điều gì, thì liền bị chúng kê tủ  đứng :
- Mấy ông mấy bà…già rồi, rõ thật lẩm cẩm, thời bây giờ mà còn như vậy ư ?
Và cha mẹ cũng đành phải bó tay. Chẳng hạn như  việc hôn nhân : Ngày xưa thì cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy, còn bây giờ thì con cái đặt đâu thì cha mẹ xin vui lòng…ngồi đấy. Chẳng hạn việc giao tiếp : Ngày xưa thì nam nữ thọ thọ bất thân, còn bây giờ thì nam  nữ thọ thọ…rất thân, để rồi đi tới chỗ nam nữ cọ cọ rất  ư là….giật gân.
Trong tương quan vợ chồng : đờn bà con gái bây giờ đang lăm le nhảy vào lãnh vực xã hội, thành thử gã phải đổi lại câu thơ của Tú Xương. Thay vì :
- Việc nhà phó mặc cho bu nó.
Thì bây giờ sẽ phải là :
- Việc nhà phó mặc cho bố nó.
Và theo định luật về thị trường, anh nào có tiền, thì anh ấy sẽ nắm quyền. Chữ tiền liền với chữ quyền một vần. Khi chị vợ đã làm ra tiền, nắm hào bao và quyết định ngân sách, thì sẽ chi phối mọi sinh hoạt trong gia đình. Lúc bấy giờ, sẽ có một cuộc thay ngôi đổi chủ. Anh chồng chỉ còn nước âm thầm vào bếp, như chó cụp đưôi, làm bạn với nồi niêu xoong chảo, chổi cùn rế rách mà thôi.
Một khi tam tòng của Nho giáo đã bị xếp vào ngăn kéo dĩ vãng vì quá “đát’ và xưa rồi Diễm ơi, thì cũng theo như lời diễn tả trên, đờn bà con gái bây giờ lại chăm chăm chú chú mà lo cho cái khoản “tam vòng”, tức là ba cái vòng trên cơ thể mình.
Viết đến đây, gã bỗng nảy ra một “théc méc”, đó là không biết từ bao giờ cái ông khỉ gió nào đó đã có sáng kiến công bố cho bàn dân thiên hạ được biết số đo ba vòng của những thí sinh trong các cuộc thi hoa hậu. Coi đó như một trong những chuẩn mực để phán xét về sắc đẹp, khiến cho cánh đờn bà con gái phải lao đao vất vả, xấc bấc xang bang, tốn phí không biết biết bao nhiêu tiền bạc và công sức, để cái thì được phình ra, còn cái thì được tóp lại, theo đúng tiêu chuẩn quốc tế ISO, cũng chỉ vì muốn làm người đẹp mà thôi.
Vòng số một, tức là vòng ngực. Thực vậy, Thượng đế trao ban cho cánh đờn bà con gái bộ ngực là để cung cấp sữa mà nuôi con, như các cụ ngày xưa đã bảo :
- Đờn ông không râu bất nghì,
  Đờn bà không vú, lấy gì nuôi con.
Bộ râu làm nên nét oai phong của người đờn ông thế nào, thì bộ ngực cũng làm nên vẻ quyến rủ của người đờn bà như vậy. Vì thế, ngày nay nhiều bà nhiều cô đã phe lờ cái nhiệm vụ cung cấp sữa để nuôi con, mà chỉ chuyên trị làm đẹp cho bộ ngực của mình.
Thực vậy, mặc dù các bác sĩ và các nhà chuyên môn luôn quảng bá sữa mẹ là một thức ăn không thể thiếu cho con trẻ, nào là đề kháng được nhiều chứng bệnh, nào là có đủ chất dinh dưỡng…Thế nhưng, chỉ vì không muốn cho bộ ngực của mình bị xệ xuống, nên không thiếu những bà mẹ chả chịu cho con bú, cứ việc ra ngoài chợ, lôi về đủ mọi thứ sữa, từ sữa tươi cho đến sữa đặc có đường, từ sữa bột cho đến sữa hộp, từ sữa cô gái Hà Lan đến sữa ông già, từ sữa có nhãn hiệu trình tòa đến những loại sữa chui và trôi nổi…thôi thì thiên hình vạn trạng, đến quỷ thần cũng chẳng đếm nổi trên thị trường hiện nay có bao nhiêu thứ sữa. Có những người đã bị đi tàu suốt về chầu Diêm Vương, chỉ vì ham rẻ mà dùng những loại sữa chui và trôi nổi ấy.
Vì vòng số một là nơi cần phải làm phình ra, nên khoa giải phẫu thẩm mỹ đã nhảy vào vòng chiến, cứu một bàn thua trông thấy cho những bà những cô chẳng may có bộ ngực lép xẹp. Người ta mổ ngang, xẻ dọc rồi đặt vào trong đó chất “silicone”, làm cho bộ ngực phình to ra bao nhiêu cũng được. Miễn là đạt mục đích, sau này lỡ có bị ung thư, thì cũng…hạ hồi phân giải.
Nếu ngại giải phẫu, người ta có thể nhờ trang phục trợ giúp, nào là những chiếc yếm hững hờ, nào là những chiếc nịt ngực, những chiếc “cọc xê” được độn được lót cách này hay cách khác để che lấp cái kích thước bé tẻo bé teo của bộ ngực mình.
Tiếp đến, vòng số ba tức là vòng mông. Đây cũng là nơi cần phải làm cho phình ra như vòng số một, nên gã xin miễn bàn tới để được tiếp nối ngay bằng  vòng số hai tức là vòng eo.
Với cơn bệnh béo phì ngày càng liên tục phát triển, thì vòng eo đã trở nên một nỗi ám ảnh cho nhiều người. Báo Le Monde số 2884 cho hay : Trung tâm dự phòng bệnh tật Mỹ cảnh báo bệnh béo phí sắp dành ngôi vị giết người hàng đầu, vượt qua thuốc lá. Mỹ ước tính có 130 triệu có thể trọng vượt mức, trong đó có 59 triệu béo phì. Trung Quốc hiện có 300 triệu người quá mập, trong đó có 30 triệu bép phì. Khi vòng eo tăng trưởng vượt vòng ngực và vòng mông, thì nguy cơ bị tiểu đường và tim mạch cũng gia tăng. Vòng eo nam giới vượt quá 1,00m và nữ giới vượt quá 0,80m là dấu hiệu béo phì, cũng như là dấu chỉ phát tướng vòng eo. (CGVDT số 1449).
Trái với vòng số một và vòng số ba là những nơi cần phải làm cho phình ra, thì vòng số hai lại là địa điểm cần phải làm cho tóp lại. Lý tưởng của vòng số hai chính là cái eo của con ong. Thế nhưng, đối với nhiều bà nhiều cô, nó lại cứ phình ra mới chết không cơ chứ. Lý do phình ra như thế, có thể do chứng béo phì và cũng có thể do…trục trặc kỹ thuật ngoài ý muốn.
Trước hết, để thực hiện cái lý tưởng “eo con ong”, cũng như để chống lại tình trạng phát tướng do sự béo phì gây nên, người ta đã phải dùng tới nhiều biện pháp. Nào là tập thể dục như đi bộ, đi xe đạp, hay bơi lội mỗi ngày, nghĩa là thân thể phải vận động. Nào là kiêng ăn kiêng uống, áp dụng một chế độ ẩm thực vô cùng nghiêm khắc. Những biện pháp này đòi hỏi phải kiên nhẫn nhiều lắm, bằng không thì chỗ cần phình thì lại tóp, còn chỗ cần tóp thì lại phình. Thật là tréo cẳng ngỗng.
Ngoài ra, người ta cũng có thể nhờ trang phục trợ giúp phần nào.  Nếu gã không lầm thì “mô đen” áo dài Việt Nam vào thập niên sáu mươi : cổ phải cao có khi hơn một tấc, eo phải thắt ngẫng như eo con ong. Vì thế, người ta đã khéo léo luồn vào phía trong áo một sợi dây nhỏ cùng màu và sau khi mặc, người ta sẽ thắt chặt sợi dây ấy để tạo nên một cái eo rất là….ấn tượng, trên cả tuyệt vời.
Tiếp đến, có những trường hợp vòng số hai bỗng dưng phình ra, một cách bất đắc dĩ và ngoài ý muốn, hoàn toàn không phải do chứng béo phì, nhưng do một trục trặc kỹ thuật nào đó. Chẳng hạn như  cái tật ăn cơm trước kẻng, anh chị vụng trộm với nhau hay thử cho biết vị ngọt đắng của tình yêu, để rồi một buổi sáng bỗng thấy vòng eo phình ra và những ngày sau đó lại liên tục phình ra một cách vô tổ chức, vượt ngoài chỉ tiêu. Lúc ấy chỉ còn biết mếu máo và khóc lên, như người ta hay phịa ra mà hát :
- Anh ơi, nếu bụng em…phình thì sao ?
Nhưng đừng dại đột :
- Đi mua thuốc chuột uống cho rồi đời!!!
Bởi đó, đừng “khôn ba năm dại một giờ”, vì vui sướng của tình yêu có thể chỉ kéo dài trong thoáng chốc, nhưng khổ đau của nó sẽ kéo dài bằng cả cuộc đời :
- Đờn ông bụng…bự thì sang,
  Đờn bà bụng…bự tan hoang cuộc đời.
Chỉ có ba cái vòng, mà sao lại nhiêu khê rắc rối quá vậy. Gã cũng đành bó tay chào thua.
Gã Siêu

 

Chuyện Gã Siêu 67: LẤY VỢ

LẤY VỢ Chuyện Gã Siêu 67

Ngày kia, một tên bạn bật mí cho gã hay về lần hắn đi xưng tội mùa chay. Hắn bảo sau khi đã Chuyện Gã Siêu 67

Ngày kia, một tên bạn bật mí cho gã hay về lần hắn đi xưng tội mùa chay. Hắn bảo sau khi đã kể hết mọi lỗi lầm, cha ngồi tòa bèn hỏi hắn mấy câu thật lãng xẹt :
- Năm nay con bao nhiêu tuổi rồi.
- Dạ băm mốt.
- Con đã lập gia đình chưa ? 
- Dạ thưa cha chưa ạ.
- Băm mốt rồi mà tại sao lại chưa lập gia đình ?
Thế là hắn bèn phải cúi đầu thú nhận :
- Thưa cha, con đi…tu ạ.
Rồi hắn oang oang cái miệng thuyết minh cho gã hiểu :
- Đối với vị linh mục này, anh đờn ông con giai ở vào tuổi băm, một là phải lấy vợ, hai là phải đi tu, chứ còn ở vậy thì quả thực là có vấn đề  đấy con ạ.
Các cụ ta ngày xưa vốn thường dạy :
- Tam thập nhi lập.
Đối với anh đờn ông con giai, thì tuổi ba mươi là tuổi lập thân, lập gia đình và lập nên công danh sự nghiệp.
Riêng trong lãnh vực hôn nhân, kinh nghiệm cho thấy, hễ ngoài tuổi “băm” này anh đờn ông con giai chưa rước được một cô nàng về dinh để làm vợ, thường rơi vào trạng thái “lừng khừng”,  và hay “ngãng ra” mỗi khi thầy bu tính toán cho việc lứa đôi.
Sở dĩ anh đờn ông con giai ở vào lứa tuổi này, thường hay lừng khừng và ngãng ra cũng có những lý do riêng của hắn. Vì không phải là một chuyên gia về tâm lý, nên gã xin mượn tạm một mẩu viết trên báo Phụ Nữ Chủ nhật với tựa đề “ Tầm thê ở tuổi băm”, để phần nào hiểu được những lý do thầm kín ấy.
Người ta bảo : trai ba mươi tuổi đang xoan…Song câu nói này giờ đây dường như không còn hợp thời nữa. Nhiều chàng “đang xoan” đã phải giật thót người khi chợt nhận ra mình đã chìm quá sâu vào nỗi cô đơn không lối thoát. Phải chăng những chàng trai này “ế vợ” do nghèo, xấu trai, không có địa vị xã hội ? Hoàn toàn không. Họ có đầy đủ những ưu thế để có thể dễ dàng tạo dựng cho mình một mái ấm hạnh phúc. Bi kịch ở chỗ họ đã tự xây cho mình một đỉnh cô đơn quá cao đến nỗi khó lòng leo xuống.
Bài báo đã đưa ra một ngàn lẻ một lý do khiến những chàng trai này phải sống “cu ky một mình”, gậm nhấm nỗi cô đơn và lẻ loi đếm từng bước chân âm thầm, để rồi đêm đêm “tôi lặng lẽ nhìn tôi trên vách”.
Thực tế cho thấy số người độc thân trong độ tuổi ba mươi ở Việt Nam thời gian gần đây ngày càng gia tăng. Điều này có thể thấy ở cả  nữ giới lẫn nam giới, Khác với phụ nữ thường lo lắng ra mặt khi đã đến tuổi băm mà vẫn còn chiếc bóng, các chàng trai thường tỏ vẻ phớt lờ. Ai dám bảo các chàng không lo…ế ? Thật ra các chàng giả bộ mặt lạnh thế thôi, chứ trong ruột bắt đầu rối như tơ vò. Nhất là khi song thân ở nhà luôn thôi thúc để có cháu nội bồng bế trước khi nhắm mắt xuôi tay. Song đối với các “của quý hiếm” tuổi băm này, thì chuyện lấy vợ không hề đơn giản chút nào.
Chỉ xin đơn cử vấn đề tuổi tác. Lấy cô vợ ngoài hai mươi thì trẻ quá, sợ cách biệt tuổi tác không hiểu nhau, lại còn phải chiều chuộng. Chọn cô vợ ngoài băm như mình thì phù hợp, nhưng lại sợ  mất gía với bạn bè, bị chê là lấy vợ…già! Thế mới khổ. Chưa kể tới ngàn lẻ một lý do khác trong thời buổi công nghiệp hóa đến chóng mặt này, như tôn giáo, nhà cửa, việc làm…khiến cho cái sự lấy vợ càng phức tạp khó khăn bội phần.
Bài báo đã kể lại những trường hợp cụ thể, chứng minh cho sự thật trên.
Ở vào địa vị như Nguyễn Văn B, không ai có thể nghĩ  anh lại lâm vào tình cảnh “muộn vợ”. Đẹp trai, cao ráo, giám đốc một công ty có tầm cỡ. Tháng nào cũng bận rộn với những chuyến đi bất tận, khi thì lên các tỉnh miền núi phía Bắc, khi thì lặn lội về đồng bằng sông Cửu Long, lúc lại công du tuốt ở Anh, Mỹ. Anh bộc bạch : “Mình cũng từng có một chuyện tình đẹp. Cô ấy là công nhân cùng phân xưởng. Do hiểu lầm, mẹ mình đã ngăn cấm mình đi đến hôn nhân với cô ấy. Ngày nàng chuẩn bị về nhà chồng, mình đã đưa nàng dạo chợ Bến Thành sắm…áo cưới. Từ đó, mình chỉ còn lấy sự học làm vui để có được sự nghiệp như ngày nay. Nàng bây giờ đã có con lớn, còn mình thì vẫn cảm thấy hết sức cù….lần mỗi khi đứng trước phụ nữ, mặc dù tuổi đã sắp quá băm”.
Đàn ông ở cái lứa tuổi ba mươi, nếu không quá bận rộn vì công việc như trường hợp chàng B, thì cũng chạy trốn vào công việc do quá mệt mỏi với  chuyện yêu đương.
Tôi có anh bạn là thư ký tòa soạn một tờ báo khá lớn ở Hà Nội. Suốt ngày chỉ cắm đầu lo bài ở tòa soạn, anh thú nhận là chẳng còn thời gian nào cho cái trò hò hẹn, mặc dù anh đã ba mươi tám cái xuân xanh. Một lần do bạn bè hối “uống rượu” quá, anh đã tự đăng tên mình trên mục câu lạc bộ làm quen của “báo nhà” với cái mác phóng viên. Thư từ các nơi đổ về hàng trăm lá. Nhưng chỉ sau vài cuộc hò hẹn, anh đâm chán : các cô chỉ thích cài mã nhà báo thôi, chứ khó lòng thông cảm với cái nghề đi đây đi đó. Thế là anh lại quay về với “người tình muôn thuở” là công việc, lấy đêm làm ngày và tự an ủi mình : thế mà lại hay. “Nàng” chẳng bao giờ phản bội mình.
Ngạc nhiên nhất có lẽ là câu chuyện của H, một anh bạn học cũ của tôi. Bẵng đi hơn chục năm không gặp, cứ ngỡ H đã yên bề gia thất rồi. Hóa ra, H càng đạt được đỉnh cao trong sự nghiệp bao nhiêu, lại càng thất bại trong tình trường bấy nhiêu. Đẹp trai không thua gì…tài tử xi nê, có một căn hộ xinh xắn đầy đủ tiện nghi ở một quận trung tâm thành phố,, công việc thu nhập cao và ổn đỉnh tại một công ty liên doanh với nước ngoài. Vậy mà H vẫn độc thân ở tuổi ba mươi lăm. Hỏi ra mới biết H  đã từng có khá nhiều người yêu, song các cô đều chê anh chàng…có máu lạnh, khô khan tình cảm. Quả thật, khuôn mặt đẹp như tượng của H trông lạnh như băng, hiếm hoi mới có nụ cười. Nhưng đó không phải là lý do chính đáng khiến H muộn vợ. Xuất thân từ miền Trung, H thuộc loại người kỹ tính. Tất nhiên, anh đòi hỏi khá cao ở người bạn đời về các tiêu chuẩn công, dung, ngôn, hạnh. Thế là những cuộc tình chợt đến, chợt đi, dù rằng đã từng có người đến với anh thật lòng.
C, một anh chàng điển trai và thành đạt, ba mươi sáu tuổi, cao một mét bảy mươi lăm, là một nha sĩ có cả “chân trong” lẫn “chân ngoài” : ban ngày làm việc trong một bệnh viện lớn của nhà nước, chiều về phòng mạch tư, khách đông nườm nượp, khiến chàng…nhổ răng mỏi tay. Phòng mạch tư của C thường mở cửa đến hơn 20 giờ mỗi ngày. Nhiều cô gái đã phải ngậm ngùi ra đi sau nhiều lần bị chàng cho “leo cây” bởi lời hẹn : “Nếu cứ hơn 8 giờ tối mà không thấy anh đến, em cứ việc về nhé”. Nhờ chịu khó làm ăn, đến nay C đã tậu được căn nhà rộng rãi trong một con hẻm yên tĩnh gần khu trung tâm. Cứ chủ nhật rảnh, chàng lại rủ đám bạn trai đi đánh billart ăn độ nhậu cho hết ngày để trốn những giờ phút chỉ “ta với ta”, không biết làm gì trong căn nhà quạnh quẽ. Và thế là vô tình chàng lại càng xây cao thêm tháp ngà cô đơn.
Ngoài những lý do được bài báo trình bày, gã xin nêu thêm một lý do khác nữa : sở dĩ những anh đờn ông con giai ở vào tuổi băm mà chưa lấy được vợ là vì họ chẳng biết đến những lợi ích to tát do việc lấy vợ đem lại.
Chẳng thế mà trong sách “Guiness”, người ta đã ào ào tạo lập thành tích, hùng hổ lập nên những kỷ lục về…yêu. Gã xin trích ra như sau :
- Thời gian đính hôn dài nhất, đó là thời gian đính hôn giữa Octavio Guillen và Adriana Martinez, người Mexico. Cuối cùng họ đã kết hôn vào tháng 6 năm 1969, sau 67 năm thề non hẹn biển. Cả hai người đều được 82 tuổi lúc lên xe hoa.
- Cô dâu nhiều tuổi nhất, đó là cụ bà Minnie Munro, cỡ tuổi 102, vẫn còn hăng hái lên xe hoa với chú rể Dudley Reid, kém bà cụ tới 19 tuổi. Hôn lễ được tổ chức tại Point Clara, Australia, ngày 31.5.1991.
- Chú rể già nhất, đó là cụ Harry Steven mới quyết định làm lễ cưới với bà lão Thelma Lucas, 84 tuổi, tại nhà riêng ở bang Wisconsin, nước Mỹ, ngày 03 tháng 12 năm 1984.
- Cặp vợ chồng trẻ nhất, đó là vào năm 1986, có tin một bé trai 11 tháng tuổi đã cưới một bé gái 3 tháng tuổi tại Aminpur, nước Bangladesh. Lễ vu quy được hai gia đình sắp xếp nhằm chấm dứt mối thù hằn kéo dài 20 năm giữa hai bên.
- Cuộc hôn nhân bền chặt nhất, đó là cuộc hôn nhân giữa ông Temulji Bhicaji và bà Lady Nariman được gia đình đôi bên tổ chức lễ cưới khi  họ mới  năm tuổi vào năm 1853. Cuộc hôn nhân của đôi vợ chồng người Ấn Độ này kéo dài 86 năm, cho tới tháng 11 năm 1940, khi ông Temulji qua đời, thọ 91 tuổi.
- Nhiều cặp hôn nhau cùng một lúc, đó là ngày 14.02.1996 có tới 1420 cặp tình nhân tụ về đại học Maine, nước Mỹ, để lập kỷ lục thế giới mới về số đôi hôn nhau tại một nơi và trong một lúc.
- Nụ hôn dài nhất, đó là nụ hôn của đôi tình nhân Karmit Tzubera và Dror Orpaz. Ngày 5 tháng 4 năm 1999, họ đã đứng hôn nhau trong 30 giờ 45 phút không ngưng nghỉ. Và họ dành chức vô địch cuộc thi được tổ chức tại quảng trường Rabin, thành phố Tel Aviv, nước Israel, với giải thường là một chuyến đi vòng quanh thế giới và 2.500 đô la. Cả hai sau đó đã phải nhập viện vì kiệt sức.
Vậy thì việc lấy vợ đem lại những lợi ích to tát nào ?
Mỗi khi trà dư tửu hậu, hoặc chén thù chén tạc với nhau, cánh đờn ông con giai thường hay nói xấu bà xã của mình, bởi vì  dưới mắt họ, trên trần gian này chỉ  vợ người mới đẹp và chỉ văn mình mới hay :
- Vợ ta thì nạt thì đe,
  Vợ người thì cứ lăm le…nhìn hoài.
  Vợ ta thì chẳng đoái hoài,
  Vợ người khen đẹp dài dài quanh năm.
  Vợ ta chê mắt lá răm,
  Vợ người trông tựa trăng rằm tiên nga.
 Thế nhưng, gã có một anh bạn rất…ngược đời. Cứ mỗi lúc xỉn xỉn, anh ta chẳng hề hé môi phê bình chỉ trích bà xã, trái lại luôn mở miệng ngợi khen, ca tụng bà xã hết lời :
- Nhà tôi đã nhiều đêm từng khóc mà khuyên tôi rằng…Nhà tôi nói với tôi thế này…Nhà tôi làm cho tôi thế nọ…
Dựa vào những lời anh ta phát ngôn trong những lúc xừng xừng như thế, gã có cảm tưởng rằng người vợ hiền đã thế chỗ cho người mẹ hiền của anh ta đã qua đời từ lâu. Vì thế, anh ta cũng có lý phần nào khi bảo :
- Công cha như núi Thái Sơn,
  Nghĩa…vợ như nước trong nguồn chảy ra.
  Một lòng thờ…vợ, kính cha.
  Cho tròn tình nghĩa, mới là…đờn ông.
Và anh ta còn bạo phổi quả quyết :
- Cha sinh không bằng…vợ dưỡng.
Sở dĩ như vậy, vì người vợ ấy không ngừng khuyên răn, nhủ bảo và giáo dục anh ta đêm ngày.
Ngay chính dân bợm nhậu cũng đã phải khẩu phục tâm phục và cúi đầu thú nhận :
- Vợ ta không có công sinh ra ta, nhưng có công nuôi dưỡng và dạy dỗ ta nên người.
Như vậy, lấy vợ thì sẽ được muôn vàn lợi ích. Tuy nhiên, cái lợi ích to tát nhất mà gã muốn bàn đến hôm nay, đó là vợ đã dạy dỗ ta nên người.
Trước hết về cách thức dạy dỗ. Ông trời đã phú bẩm cho người phụ nữ thiên chức làm mẹ và làm vợ. Vì thế, tự bản chất họ có nhiều năng khiếu về sư phạm, về nghệ thuật dạy dỗ.
Có khi họ tỉ tê năn nỉ ỉ ôi, khiến anh đờn ông con giai dù cứng như đá, cũng phải mềm nhũn như con chi chi. Có khi họ nói dài nói dẻo nói dai, miết rồi như giọt mưa cũng thấm dần xuống đất. Có khi họ dùng tới biện pháp mạnh, độc ác như bà La Sát, nghiệt ngã như bà chằn và hung dữ như sư tử Hà Đông, khiến anh đờn ông con giai phải rụng rời tay chân, hồn xiêu phách lạc.
Chẳng thế mà đa số những ông chồng đều mắc phải một thói tật rất dễ thương, đó là thói tật…sợ vợ :
- Vợ mình, mình sợ mới khôn,
  Vợ người mà sợ có hôm què giò.
  Vợ ta, ta sợ chẳng lo.
  Vợ người mà sợ, đồ bò đồ trâu.
Tuy nhiên, điều quan trọng hơn, đó là những bài học vợ dạy cho ta, nhờ đó ta mới mở mắt ra và mới được như ngày hôm nay. 
Trước hết, vợ dạy ta nên một người…thứ thiệc “chăm phần chăm”. 
Thực vậy, mục đích thứ nhất việc dạy dỗ nhắm tới, đó là đào tạo nên những con người thứ thiệc “một chăm phần chăm” khả dĩ có thể sống tự lập và sống với người khác. Trước khi là người cha hay người chồng, trước khi là người Phật tử hay người Kitô hữu, thì tiên vàn phải là người đúng nghĩa của nó, chứ đừng có “nửa người, nửa ngợm, nửa đười ươi”.
Công việc này được các nhà chuyên môn gọi là “giáo dục nhân bản”, “giáo dục đầu tiên”, tiếng “Phăng xe” gọi là “première éducation”. Tại Việt Nam, xem ra công việc giáo dục này còn thiếu sót  trầm trọng. Chẳng thế mà đường phố thì  nhếch nhác bẩn thỉu, xe cộ thì chen lấn gây ùn tắc giao thông, hàng quán thì khạc nhổ tùm lum, chẳng ai thèm giữ phép vệ sinh công cộng.
Thế nhưng, chính nhờ vợ mà ta được hấp thụ một nền giáo dục nhân bản, để ta trở thành một con người đường đường chính chính.  
Phải, nhờ vợ mà ta biết phép lịch sự.  
Ngày xưa, ta la hét quát tháo là chuyện nhỏ, ta mày tao chi tớ cũng chỉ là chuyện xoàng. Còn bây giờ, ta phải ăn nói nhỏ nhẹ, khi đi thì thưa, khi về thì trình, khi gọi thì dạ, khi bảo thì vâng :
- Làm trai rửa bát quét nhà,
  Vợ gọi thì dạ bẩm bà em đây.
Chẳng thế mà thiên hạ vốn thường bảo :
- Lịch sự là bông hoa thơm của nhân loại, là món tiền càng tiêu càng lời, là chiếc chìa khóa bằng vàng khả dĩ mở được mọi khung cửa, kể cả khung cửa những con tim chai đá nhất. 
Phải, nhờ vợ mà ta biết tế nhị, chẳng bao giờ hé môi chê bai ai, nhưng luôn mở mồm mở miệng để cám ơn và khen ngợi. 
Ngày xưa, ta mặc sức phê bình chỉ trích và sẵn sàng kê tủ đứng vào mặt kẻ nào dám phản đối ta. Còn bây giờ, ví dù cơm có khê, ta vẫn cứ hùng hục mà ăn. Ví dù canh có mặn, ta vẫn cứ anh dũng mà húp chùn chụt, rồi khen lấy khen để :
- Ôi chao,  mình nấu nướng mới tuyệt vời làm sao!!!
Chẳng thế mà :
- Vuốt râu nịnh vợ con bu nó,
  Quắc mắt khinh đời, cái bộ anh
Phải, nhờ vợ mà ta biết phục thiện.  
Ngày xưa, ta vốn thường hay cãi chày cãi cối, đã ngang như cua, lại còn ngoác miệng ra mà bảo :
- Ta ngang, nhưng là ngang phải, ngang có lý.
Thiên hạ tức anh ách, như bị bò đá mà vẫn miệng vẫn cứ phải ngậm tăm :
- Một thằng ngang, cả làng phải chịu.
Ấy là chưa kể những anh chàng mang thói quan liêu và gia trưởng, sai bét bè be mà vẫn cứ cho rằng mình đúng, Dùng áp lực theo kiểu cả vú lấp miệng em, bắt người khác, nhất là vợ con, phải chấp nhận sự thật của mình. Cứ tưởng rằng : lý kẻ mạnh bao giờ cũng thắng và chân lý luôn ở về phía những kẻ…vũ phu.
Thế nhưng bây giờ, rất may vợ dạy ta biết nhận lỗi, xin lỗi và sửa lỗi, ngay cả khi ta chẳng thấy mình có lỗi chi. Thôi thì cứ nhận bừa, cứ ký đại cho êm cửa êm nhà. Dĩ hòa vi quí. Một sự nhịn là chín sự lành kia mà. Thà rằng mình chịu thua một tí, còn hơn là để cho vợ phải thiệt. Ngoài ra, ta làm sao mà chịu nổi sự lạnh lùng và “cấm vận” của vợ ta cơ chứ.
Chẳng thế mà người xưa đã bảo :
- Tri bỉ tri kỷ, bách chiến bách thắng. Biết người biết mình trăm trận đều thắng.
Và ông thánh Âu Cơ Tinh luôn cầu nguyện cho được biết mình :
- Lạy Chúa, xin cho con biết Chúa và xin cho con biết con… 
Phải, nhờ vợ mà ta biết kiên nhẫn, luôn chờ đợi mà chẳng thấy mệt mỏi. 
 Ngày xưa, từ lúc quen nàng rồi yêu nàng, biết bao nhiêu lần nàng hẹn sẽ gặp ta vào giờ ấy, nhưng mãi cả bốn mươi lăm phút sau, nàng mới lững thững bước tới. Thời gian chờ đợi khiến ta đứng ngồi không yên, như bị cả trăm con kiến lửa cắn vào chân. Nếu có cà phê thì phải xơi tới vài ba cái phin đen. Hay như một ông thi sĩ nào đó đã diễn tả :
- Em cứ hẹn, nhưng em đừng đến nhé,
  Để lòng sầu, anh dạo gót quanh sân,
  Ngó trên tay, thuốc lá cháy lui dần.
  Anh khẽ bảo : gớm sao mà nhớ thế.
Thế nhưng khi nàng vừa xuất hiện, ta liền quên béng mất sự bực tức khi trước, bèn nhoẻn miệng cười toe toét. Nàng ậm ừ hỏi ta :
- Anh chờ có lâu không.
Ta phản xạ trả lời :
- Anh cũng vừa mới tới à.
Bây giờ, nàng đã là vợ  và ta lại càng có nhiều dịp thực hành đức kiên nhẫn. Chẳng hạn mỗi khi vợ chồng phải đi dự tiệc, mà giờ thì đã cận kề, thế mà nàng cứ vô tư tô chỗ này, vô tư thoa chỗ khác và vô tư kẻ  chỗ kia. Rồi lại còn vô tư ướm chiếc áo này, vô tư thử chiếc áo kia. Ta đành phải tự an ủi mình :
- Vợ ta mà không làm đẹp, thì hẳn không còn phải là đờn bà con gái nữa.
Rồi mỗi khi vợ chồng đi “shop”, ta âm thầm như một chiếc bóng theo hầu, để tay xách nách mang những sự lỉnh kỉnh nàng dúi cho. Món nào nàng cũng muốn ngắm và thứ nào nàng cũng muốn mua. Vài ba tiếng đồng hồ trôi qua vèo vèo như một cơn mộng dữ. Dù chiếc ví có lép kèm kẹp, thì bản mặt ta cũng vẫn phải tươi cười khi nàng chỉ trỏ cái nọ cái kia.
Chẳng thế mà người xưa đã khuyên ta :
- Hãy cho bền chí câu cua,
  Dù ai câu trạch,  câu rùa mặc ai. 
Phải, nhờ vợ mà ta biết hào phóng với người và tiết kiệm với mình. 
Thực vậy, ngày xưa khi còn độc thân vui tánh, làm được đồng nào, ta liền xào đồng nấy. Nhiều khi lại còn bóc ngắn cắn dài, con nhà lính tính nhà quan. Ta luôn rộng rãi với bản thân, để rồi keo kiệt  và nghiệt ngã với người khác. 
Còn bây giờ ấy hả. Làm được đồng nào ta liền mang về dâng hết cho vợ, để lập thành tích và mong nàng ban phát cho ta một nụ cười ruồi, mát ruột mát gan. Ta luôn hào phóng với nàng, để rồi bất đắc dĩ phải keo kiệt và nghiệt ngã với bản thân, vì còn tiền nữa đâu mà ga với lăng. Nhiều lúc ta phải gãi đầu gãi tai xin nàng bố thí cho kẻ bần cùng túng thiếu vài đồng bạc lẻ để cà phê cà pháo với bè bạn. 
Phải, nhờ vợ mà ta biết trật tự ngăn nắp. 
Thực vậy, xưa kia ta bạ đâu quăng đấy. Trật tự của ta chính là sự vô trật tự. Tuy nhiên, hễ cần cái gì là ta liền tìm thấy ngay.
Thế nhưng, từ ngày vợ ta quản lý căn hộ, sáng nào nàng cũng quét dọn, cũng lau chùi, cũng xếp đặt. Phá vỡ cái vô trật tự, cái vô tổ chức của ta. Rõ ràng chiếc bật lửa ta vừa quẳng trên bàn, bây giờ thèm thuốc, chẳng biết nó biến nơi mô ? Bước chân vô nhà, ta phải để giày, để dép ở bên ngoài, miết rồi ta không còn làm chủ nữa, mà làm nô lệ cho chính ngôi nhà của ta. 
Phải, nhờ vợ mà ta biết chấp nhận  nghịch cảnh. 
Ngày xưa ta thường nhe răng cười, khi thấy thiên hạ phát biểu :
- Bông hồng nào mà chẳng có gai, cuộc đời nào mà chẳng có những đắng cay của nó. Có ở trong chăn, mới biết chăn có rận. Đoạn trường ai có qua cầu mới hay.
Còn bây giờ, ta đã là kẻ nhảy tõm vào lòng cuộc đời, ta đã là kẻ đang nằm ở trong chăn và ta đã là kẻ qua cầu. Cuộc đời ấy có nàng ở bên cạnh. Tấm chăn ấy có nàng cùng đắp chung. Và nhịp cầu ấy có nàng sánh bước. Ta chẳng còn cách nào khác, đành phải cúi đầu xin vâng, chấp nhận mọi gai nhọn, chấp nhận mọi đắng cay, chấp nhận mọi chấy rận, chấp nhận mọi đớn đau đứt ruột. Có lẽ ta đang tiến mau, tiến mạnh và tiến vững chắc trên con đường nhân đức…vâng lời chịu vậy. 
Phải, nhờ vợ mà ta biết được giá trị của hai chữ tự do. 
Ngày xưa, ta muốn nói gì thì nói, muốn làm gì thì làm, muốn ăn gì thì ăn. Còn bây giờ vợ ta khép ta vào kỷ luật, đặt ta nằm vào cái thế gọng kìm, đúng như người xưa đã bảo : trai có vợ như rợ buộc chân.
Ta giống như chú hổ của Thế Lữ, ngồi chổm hổm trong chiếc lồng vững chắc mà nhớ tới chốn rừng xanh :
- Gậm mối căm hờn trong cũi sắt,
  Ta nằm dài nghe ngày tháng dần trôi.
Bây giờ ta mới thấy thấm thía câu nói :
- Không có gì quí hơn độc lập và tự do.
Bây giờ ta mới thấy quí sự tự do. Ta hối tiếc vì đã để nó như cánh chim vuột khỏi bàn tay ta. Và mọi sự đã trở thành quá muộn vì ta đâu còn tự do nữa. Nhưng ta vẫn vui vẻ tự an ủi mình :
- Kỷ luật do vợ ta áp đặt trên ta sẽ tạo cho ta sức mạnh và giúp ta nên người. 
Phải, nhờ vợ ta mới có được một sức khỏe dẻo dai.
Ngày xưa, ta lười biếng, cẩu thả và nhếch nhác. Ngày thì ước những ngày mưa, đêm thì ước những đêm thừa trống canh. Ta phung phí sức khỏe cho những trận đá bóng về sáng, cho những cuộc nhậu thâu đêm. Ta giống như hạng thư sinh, trói gà không chặt, dài lưng tốn vải ăn no lại nằm.
Thế nhưng, bây giờ vợ ta sẽ đem lại cho ta một sức khỏe, nếu không mạnh mẽ như  “Hẹc quin”, thì cũng dẻo dai như bất kỳ vận động viên nào.
Thực vậy, theo các bác sĩ. Muốn được khỏe mạnh thì cần phải hoạt động và ăn uống chừng mực. Vợ ta, dù không phải là bác sĩ, nhưng đã áp dụng hai tuyệt chiêu ấy cho ta từ lâu.
Trước hết, nàng bắt ta phải lao động tay chân : nào là thổi cơm và giặt giũ, nào là rửa bát và quét nhà, nào là cắt cỏ và làm vườn, nào là mang và vác mỗi khi theo nàng đi “shop”…Lao động tay chân khiến ta nhìn thấy vinh quang và đem lại  cho ta một sức khỏe dồi dào.
Thứ đến, về chế độ ăn uống,  nàng ra sức ngăn cản ta không được hút thuốc, thuốc lào cũng như thuốc lá, không được uống rượu, rượu mạnh cũng như rượu bia, tối tối không được thức khuya mà phải lên giường đi ngủ sớm…Ta chỉ khác ông thày tu có chút xíu!!!
Có lẽ ta cũng nên theo chương trình “huấn nhục” như thế của vợ ta, bởi vì :
- Một thằng ăn mày khỏe mạnh còn sung sướn