Chuyện Gã Siêu Phần III Bài 101-150 Chuyện Phiếm

Thứ ba - 15/01/2019 10:30
Chuyện Gã Siêu Phần III Bài 101-150 Chuyện Phiếm
Chuyện Gã Siêu Phần III Bài 101-150 Chuyện Phiếm
Chuyện Gã Siêu Phần III Bài 101-150 Chuyện Phiếm
Chuyện Gã Siêu 101: ĐỜN BÀ CON GÁI 2
Chuyện Gã Siêu 102: CON NGƯỜI QUẢ LÀ…DỄ SỢ. 10
Chuyện Gã Siêu 103: CÁI LƯỠI 19
Chuyện Gã Siêu 104: TẤP TỂNH NGƯỜI ĐI 25
Chuyện Gã Siêu 105: TÌNH YÊU THỜI MỞ CỬA.. 33
Chuyện Gã Siêu 106: THAM NHŨNG VÀ HỐI LỘ.. 43
Chuyện Gã Siêu 107: NHẬU 2. 53
Chuyện Gã Siêu 108: TỪ HÀNG GIẢ ĐẾN NGƯỜI GIẢ.. 61
Chuyện Gã Siêu 109: THƯƠNG HẠI 67
Chuyện Gã Siêu 110: KHÔN MÀ KHÔNG NGOAN.. 73
Chuyện Gã Siêu 111: NÓI VÀ LÀM... 80
Chuyện Gã Siêu 112: NHỮNG KIỂU PHỤ NỮ.. 86
Chuyện Gã Siêu 113:  VỢ DẠI 94
Chuyện Gã Siêu 114: NĂM TUẤT NÓI CHUYỆN CHÓ.. 100
Chuyện Gã Siêu 115: NĂM QUÍ MÙI NÓI CHUYỆN…DÊ.. 109
Chuyện Gã Siêu 116:  ĐỜN BÀ VÀ ĐỜN ÔNG.. 117
Chuyện Gã Siêu 117: Nhớ dai và nói dài 128
Chuyện Gã Siêu 118: CHẢ VÀ NEM... 135
Chuyện Gã Siêu 119:  NÀNG DÂU XƯA VÀ NAY.. 144
Chuyện Gã Siêu 120:  GIÁNG SINH BUỒN.. 147
Chuyện Gã Siêu 121: Vợ ơi là vợ. 156
Chuyện Gã Siêu 122: CHỬI 167
Chuyện Gã Siêu 123: Thương hiệu. 178
Chuyện Gã Siêu 124: CẶP KÍNH MÀU.. 184
Chuyện Gã Siêu 125: Lệch. 192
Chuyện Gã Siêu 126: Khi đờn bà nắm quyền. 198
Chuyện Gã Siêu 127: Vợ Khen. 206
Chuyện Gã Siêu 128: SIÊU THỊ 214
Chuyện Gã Siêu 129: Cơm và Phở. 223
Chuyện Gã Siêu 130: Tu tại gia. 230
Chuyện Gã Siêu 131: Mặt nạ. 238
Chuyện Gã Siêu 132: Luyện chồng. 243
Chuyện Gã Siêu 133: Con người và lòng người 248
Chuyện Gã Siêu 134: Nhỏ và to. 254
Chuyện Gã Siêu 135: TỪ CHẾT ĐẾN BỊ THƯƠNG.. 261
Chuyện Gã Siêu 136: Công lao của vợ. 268
Chuyện Gã Siêu 137: CHỒNG ƠI LÀ CHỒNG.......toàn là "vô...". 276
Chuyện Gã Siêu 138: Bữa ăn trong gia đình. 277
Chuyện Gã Siêu 139: Phở và Cơm thời H1N1. 281
Chuyện Gã Siêu 140: Hai chữ cám ơn. 288
Chuyện Gã Siêu 141 Chìa khóa. 292
Chuyện Gã Siêu 142 Tuổi biết yêu, tuổi hết yêu. 295
Chuyện Gã Siêu 143 Nói móc. 299
Chuyện Gã Siêu 144 Cũng là đờn ông. 306
Chuyện Gã Siêu 145 Viết Về Một Người Cha. 312
Chuyện Gã Siêu 146 Nịnh Vợ. 319
Chuyện Gã Siêu 147 Lột xác. 326
Chuyện Gã Siêu 148 7 thứ mà một người phụ nữ đẹp dễ đánh mất 330
Chuyện Gã Siêu 149: VỢ ƠI LÀ VỢ...toàn là "Bất". 332
Chuyện Gã Siêu 150 : Quỹ đen. 333

 

Chuyện Gã Siêu 101: ĐỜN BÀ CON GÁI

ĐỜN BÀ CON GÁI Chuyện Gã Siêu 101

Lâu lắm rồi, gã được nghe một câu nói thuộc hạng danh ngôn, đại khái như thế này: - Đờn bà con Chuyện Gã Siêu 101

Lâu lắm rồi, gã được nghe một câu nói thuộc hạng danh ngôn, đại khái như thế này:
- Đờn bà con gái giống như con mèo, nếu con mèo ngoáy đuôi bên trái, thì chắc chắn nó sẽ nhảy sang bên phải.
Cũng trong chiều hướng ấy, gần đây ở Việt Nam giới choai rất  khoái một bài hát mang tựa đề là ‘’đừng nghe những gì con gái nói’’.
Bài hát này được liệt vào ‘’tốp ten’’ nghĩa là mười bài hát được thiên hạ ưa chuộng nhất với những lời lẽ thật dí dỏm về dễ thương :
- Con gái nói có là không, con gái nói không là có.
  Con gái nói một là hai, con gái nói hai là một.
  Con gái nói ghét là thương, con gái nói thương là ghét.
  Con gái nói giận là yêu, con gái nói yêu là giận.
  Đừng nghe những gì con gái nói, đừng nghe những gì con gái nói.
  Con gái nói không biết ghen là ghen như điên đấy nhé.
  Con gái nói không biết yêu là yêu tới quên đường về.
  Đừng nhge những gì con gái nói, đừng nghe những gì con gái nói.
Gã có một thằng bạn, thâm niên quân vụ về cái khoản đờn bà con gái. Sau nhiêu phen bị các nường đá lên đá xuống, nó đã tích lũy được một số vốn kinh nghiệm khá đồ sộ, đáng mặt sự phụ.
Ngày kia vị sư phụ nay đã truyền cho đệ tử bài học vỡ lòng về tâm lý con gái như sau :
- Con ơi, con nên nhớ rõ điều này : khi cô nường nói với con “ghét anh ghê…à”, nhất là lại kèm theo một cái liếc nhìn, nheo mắt có đuôi, thì con có thể yên chí nhớn mà hét toáng lên rằng : ôi sung sướng quá nhẽ vì đời toàn màu hồng. Bởi vì đó chính là lúc cô nường đã chịu đèn, yêu con khủng khiếp. Con hãy nhào vô liền tù tì để kiếm chút cháo, kẻo dịp may đã qua đi thì khó mà trở lại đó, ngốc ạ.
Đối với một tên đại ngố như gã, thì đờn bà con gái quả thực là một màu nhiệm, toàn những chuyện ngược đời và nghịch lý, nhiều kiểu rắc rối, đến quỉ thần cũng không lường nổi.
Đọc lại sách Sáng thế ký, gã nhận thấy thưở ban đầu, thượng đế lấy bùn đất nhào nặn mà làm thành Adong.
Sau khi ban cho Adong sinh khí bằng cách thổi hơi vào lỗ mũi, Ngài đã cho Adong sống trong vườn địa đàng. Với khu vườn kỳ diệu này, dù chim hót có véo von, cây cối có trổ bông khoe sắc, thì Adong vẫn chỉ cu ki một mình, lặng lẽ đến từng bước chân âm thầm.
Chính thượng đế cũng cám cảnh trước sự cô đơn đậm đặc ấy, Ngài  thầm nghĩ :
- Người đờn ông ở một mình không tốt, Ta sẽ dựng nên cho nó một người nội trợ giống như nó.
Nói và làm. Thượng đế chờ cho tới lúc Adong ngủ say, bèn rút trộm một chiếc xương sườn của Adong mà dựng nên Evà, rồi dẫn Evà tới ra mắt Adong.
Thoạt nhìn thấy Evà, cặp mắt Adong long lên còng cọc và miệng ông sững sờ kêu to :
- Này đây xương tôi và thịt bởi thịt tôi.
Nếu lúc bấy giờ Adong biết dùng tiếng Việt Nam để diễn tả ý tưởng tuyệt vời này, thì hẳn ông chỉ cần rên lên hai tiếng ngắn gọn :
- Mình ơi!
Bởi vì chữ ‘’mình’’ vừa là thân xác, vừa là anh, vừa là em, vừa là chúng ta nữa. Ôi hai tiếng ‘’mình ơi’’ sao mà ngọt như đường cát, mát như đường phèn, thấm tới tận lục phủ ngũ tạng, làm chết lịm cả con tim. Ôi, mình ơi!
Thế nhưng, đời không như là mơ. Sau cái phút gặp em tinh tú quay cuồng, ‘’sau cái’’ thuở ban đầu lưu luyến ấy, sau cái cảm giác ngọt lịm của hai tiếng ‘’mình ơi’’ và bốn mắt liếc nhìn nhau, thì khởi sự cho những ngược đời và nghịch lý, những nhiều kê và rắc rối.
Evà không còn bằng lòng với thân phận của mẩu xương sường nữa, mà muốn nhảy phóc vào lồng ngực Adong, chiếm lãnh vị trí con tim, đòi Adong phải yêu thương và chiều chuộng. Rồi thừa thắng xông lên, tiến thẳng tới đầu và xơi ngay vai trò óc não, muốn chỉ huy cả Adong nữa.
Chính vì thế, dân Tây ban nha, một dân tộc rất mê đấu bò, cũng đã phải kêu lên :
- Đờn bà là tai họa khủng khiếp nhất trong tất cả những tai họa của loài người.
Tai họa đầu tiên đó là đờn bà đã cám dỗ đờn ông.
Thực vậy, nước làm hư rượu, xe bò làm hư đường lộ thế nào thì đờn bà cũng làm hư đờn ông như rứa.
Đúng thế, đờn bà vốn nổi tiếng về cái thói ăn vặt như tục ngữ đã diễn tả
- Đi chợ mất tám tiền quà,
  Chồng thương chồng bảo về nhà đỡ cơm.
Cái thói ngốn hàng này đã thấm sâu vào máu huyết và trở thành nghề ruột của các nường. Thậm chí các em nữ sinh mắt nai ngơ ngác, thế mà trong chiếc cặp sách dễ thương cũng đã tích lũy bao nhiêu thứ lỉnh kỉnh có thể xơi được : nào ổi, nào cóc, nào xoài, nào tầm duộc, nào xí muội…
Chính vì thế, ngay từ lời dụ khị đầu tiên của con rắn, Eva đã nuốt phăng ngay trái cấm. Rồi sau đó, Eva đã năn nỉ ỉ ôi Adong :
- Thôi mờ, ăn đi mờ…
Với lời lẽ nhỏng nhẻo mầm duyên như thế, Adong làm sao có thể chối từ. Adong đưa mắt nhìn, nuốt nước bọt và xơi liền tù tì, ăn ngấu ăn nghiến, đến nỗi mắc nghẹn nơi cổ, làm thành một cục, còn tồn tại cho đến ngày hôm nay ở bất cứ anh chàng đờn ông con trai nào.
Ghiền ngẫm về sự việc này, ông thánh Âu cu tinh đã phát biểu một câu xanh dờn :
- Đờn bà chính là thủ phạm làm tăng thêm tội lỗi cho loài người.
Kinh nghiệm trên không ngừng lặp đi lặp lại trong dòng lịch sử. Vua Kiệt vì say mê nàng Muội Hỉ bỏ bê triều chính, ăn chơi trác táng, sau bị Thành thang cướp mất ngai vàng.
Vua Trụ vì nghe theo nàng Đắc Kỷ giết hại trung thần, lòng dân oán thán, cuối cùng sự nghiệp cũng bị tan tành theo mây khói.
Ngô phù Sai yêu quí nàng Tây Thi. Cô nàng bé bỏng này có chứng đau bụng. Mỗi lần đau bụng thì lại nhăn mặt. Và mỗi lần nhăn mặt thì lại đẹp quỉ khóc thần sầu, khiến cho Ngô Phù Sai cứ mê mẩn cả tâm thần.
Tương truyền rằng :
Ngô Phù Sai đã ra lệnh ai làm cho Tây Thi cười thì sẽ được trọng thưởng. Nghe theo lời hiến kế của bọn quân sư quạt mo, ông đã cho xé hết lụa trong kho vì nghĩ rằng khi nghe tiếng lụa xé, nàng xẽ cười mím chi, thế nhưng nét mặt Tây Thi vẫn buồn rười rượi.
Sau cùng ông cho đốt lửa trên Cô Tô đài để khẩn báo cho các chư hầu biết kinh thành đang nguy khốn, nên phải vội đem quân về tiếp cứu.
Nhưng khi về đến nơi thì mới chưng hủng, chẳng thấy địch đâu cả, mà chỉ thấy Ngô Phù Sai đang cũng cụng li mí Tây Thi.
Trước thái độ chưng hủng ấy, Tây Thi đã phát cười như nắc nẻ. Nhưng rồi khi địch quân vây hãm thực sự, dù lửa báo động đã nổi lên, thì cũng chẳng ma nào đến tiếp cứu, khiến Ngô Phù Sai phải thua chạy.
Từ những bằng chứng cụ thể ấy thiên hạ đã kết luận :
- Vua nghe vợ mất nước.
Một chính tri gia mà lem nhem, gây nên sì căng đen với đờn bà con gái, thì chỉ có nước thân bại danh liệt mà chớ.
Bình thường chúng ta thường gọi đờn ông là phái mạnh đờn bà là phái yếu. Thế nhưng nếu đem ra cân do, đong đếm, chưa chắc đờn ông đã ăn được đờn bà và phái nam chưa chắc đã xơi tái được phái nữ.
Thực vậy, đờn ông phải thức trắng một vài đêm, thì tứ chi liền bải hoải, ngồi đâu ngáp đấy. Trong khi đó, làm sao có thể kể hết những giấc ngủ đứt đoạn và những đêm thức trắng của các bà mẹ để chăm sóc cho đứa con của mình.
Xét về góc cạnh bền bỉ, dẻo dai để chịu đựng, thì đờn bà hơn hẳn đờn ông. Vì thế, đờn bà con gái thường sống thọ hơn đờn ông con trai. Nói cách khác, các ông thường ngỏm sớm hơn các bà. Sự kiện này để lại một hậu quả trầm trọng, đó là số đờn bà góa chồng đông hơn số đờn ông góa vợ bội phần.
Chẳng biết có ai đã lưu tâm tìm cách giải quyết vấn đề xã hội này chưa ?
Bình thường đờn bà con gái vốn dịu hiền và tế nhị, thế nhưng hãy đợi đấy. Nói vậy mà hỏng phải vậy đâu. Con mèo tuy hiền thật, nhưng khi cần nó chỉ cào cho một phát, là đã toạc da và vãi máu, vì móng của nó rất nhọn và răng của nó rất sắc.
Đờn bà con gái một khi đã nổi máu tam bành, thì hiền cũng hóa dữ. Gã đã từng chứng kiến những cô em bé bỏng tựa nai vàng ngơ ngác, dịu hiền như… ni cô, hỏng dám như ma xơ đâu, thế mà khi cơn giận bừng bừng bốc lên, tẩu hỏa nhập ma, cũng lồng lộn như bò điên nước Ăng lê, cũng xỉa xói như con choi choi, cũng chửi rủa có bài có bổn như mấy cô đào cải lương ca sáu câu vọng cổ có mùi.
Gã xin đưa ra một vài nạn nhân của quí bà chằng lửa.
Trước hết là Socrate. Ông là một triết gia nổi tiếng của Hy Lạp, một bậc thầy trong thiên hạ, nhưng oái oăm thay, ông lại là nạn nhân của một bà vợ. Bà khinh bỉ ông là thứ trói gà không chặt. Ngày kia, ông định ra phố, thì liền bị bà tặng cho một chậu nước dơ vào mình sau cơn giận lôi đình.
Thế nhưng, ông vẫn bình tĩnh nói :
- Có sấm có sét, ắt trời phải đổ mưa.
Ngán ngẩm trước mụ vợ đanh đá, ông đã phát biểu một cách chua chát :
- Trời đất sinh ra biết bao thú dữ, những đờn bà mới thật là con thú dữ đáng sợ nhất.
Đó là chuyện bên tây, còn chuyện bên đông thì kể lại :
Thi hào Tô đông Pha có một người bạn tên là Trần quí Thường. Quí Thường có người vợ hay ghen tức và hung dữ. Mỗi lần Tô đông Pha đến chơi, thì đều được nghe những tiếng chửi bới la hét ầm ĩ.
Thấy vậy, họ Tô bèn làm thơ chế diễu như sau:
- Hốt văn Hà đông sư tử rống
  Trụ trượng lạc thủ tâm mang mang.
Có nghĩa là :
- Bỗng nghe sư tử Hà đông rống
  Tay run gậy rớt lòng kinh hãi.
Từ đó, bốn chữ “sư tử Hà đông” thường được dùng để chỉ người vợ có tính tình hung dữ. Tuy nhiên, Hà đông ở đây là Hà đông bên Tàu, chứ không phải là Hà đông bên Ta. Vì thế quí bà quí cô gốc Hà đông, đừng vội lòng động lòng lo mà sinh ra buồn bã.
Bình thường thì tề gia nội trợ và giáo dục con cái vốn là lãnh vực riêng của đờn bà con gái. Vì thế, thiên hạ thường phong cho quí bà quí cô làm ‘’nội tướng’’.
Và nhiều khi uy quyền của vị ‘’nội tướng’’ thật là ghê gớm, khiến cho mấy ông chồng thuộc nòi râu quặp phải nín khe :
- Làm trai rửa bát quét nhà,
  Vợ gọi thì dạ, bẩm bà… em đây.
Gã đã thấy có những ông giám đốc hay những viên chức cấp nhớn, đến công sở thì hét ra lửa, nhưng khi về nhà, thì lại miềm nhũn như con chi chi, phục vụ và vâng lời bà xã hết mình.
Vì thế tục ngữ đã bảo :
- Lệnh ông không bằng cồng bà.
Lợi dụng điểm yếu này, dân bắt mánh áp phe thường đi của hậu, nghĩa là đút lót, lấy lòng quan bà trước, rồi mới nhờ quan bà ton hót, tấu với quan ông, thì việc khó đến đâu cũng xong cả.
Được đằng chân lân đằng đầu. Từ vai trò người nội trợ, làm bạn đường cùng đi, đờn bà con gái xông tới, nắm quyền chỉ huy. Lúc bấy giờ quả thực là nguy to như một cơn ác mộng, vì họ cai trị theo tình cảm và lệnh truyền đổi thay như chong chóng.
Thực vậy, trên đời không có gì hay thay đổi cho bằng thời tiết và đờn bà con gái.
Có lẽ do sự nể nang và nhượng bộ của Adong thuở ban đầu, mà nhân loại đã trải qua một thời gian sống dưới chế độ mẫu hệ, trong đó người mẹ nắm giữ vai trò điều khiển gia đình và xã hội.
Thật là tội nghiệp cho thân phận đờn ông con trai lúc bấy giờ :
- Ba đồng một chục đờn ông,
  Ta bỏ vào lồng, ta xách đi chơi.
Ngày nay với phong trào giải phóng đờn bà, nam nữ bình quyền, quí bà quí cô đang hăng hái xông xáo tiến ra ngoài xã hội, chiếm giữ những lãnh vực mà từ xưa  cho đến rày, vốn là của phe đờn ông con trai. Và họ đã gặt hái được những thành công rực rỡ.
Có những bà những cô đã làm tới thủ tướng và bộ trưởng, giám đốc và chuyên viên. Cung cách điều khiển của họ cũng cứng không kém gì phe đờn ông con trai, chẳng hạn như bà đầm già Teacher, thủ tướng nước Ăng lê, vốn được mệnh danh là bàn tay sắt bọc nhung.
Đờn bà con gái chiếm được uy quyền không phải chỉ bởi tài năng, mà còn bởi nhiều thứ vũ khí khác nữa, chẳng hạn như sắc đẹp, như nước mắt, như nụ cười…
Vì thế người Đức đã nói :
- Chỉ một sợi tóc của người đờn bà cũng giật mạnh hơn cả giây chuông.
Còn dân Nhật thì bảo :
- Chỉ với một sợi tóc, người đờn bà có thế trói được cả… voi.
Chuyện đời còn bất công hơn nữa. Người đờn ông chắt chiu học hành mới ẵm được cái bằng bác sĩ, đấu tranh vào tủ ra khám bao nhiêu năm mới leo lên được cái ghế bộ trưởng.
Trong khi đó người đờn bà chỉ cần gật đầu hay ừ một phát, bằng lòng lấy anh ta, thì liền khều được cả con người lẫn chức vị của anh ta, nghiễm nhhiên trở hành bà bác sĩ, bà bộ trưởng, mà chẳng cần tốn một giọt mà hôi. Đờn bà là một phản ứng cộng, một chiếc tàu há mồm, khả dĩ vơ vét về cho mình đủ mọi thứ.
Xem ra gã khen thì ít mà chê thì thật nhiều, chỉ biết kê tủ đứng, kể tội đờn bà con gái. Cứ điệu này, lỡ thò mặt ra đường, ắt sẽ bị quí bà quí cô cho ăn trứng thối mất thôi.
Cho đến bây giờ, đờn bà con gái vẫn là một màu nhiệm, một vấn đề lớn. Để diễn tả về sự ngược đời và nghịch lý của đờn bà con gái, hình như một ông nhà văn Ấn độ đã bảo:
- Khi tạo dựng đờn bà con gái, Thượng đế đã trộn lẫn những vật thể đối kháng vào với nhau. Chẳng hạn Ngài lấy một chút gió mát mùa thu với một chút nắng chói chang mùa hạ, một chút ngọt của mật ong với một chút đắng của bồ hòn, một chút cay của ớt với một chút chua của chanh, một chút hiền hòa của chim bồ câu và một chút hung dữ của sư tử, một chút khôn ngoan của con rắn và một chút ngốc nghếch của con bò… Tất cả được Ngài hòa lẫn với nhau và tạo nên người đờn bà đầu tiên.
Cách đây không lâu, gã lượm được một bài thơ nói về người vợ, đại khái như thế này :
-Vợ là tình cảm sâu xa,
Vợ là gió mát, vợ là bão dông.
Vợ như một đóa hoa hồng,
Vợ là sự tử Hà đông kinh người.
Vợ là êm ái tuyệt vời,
Vợ là bão táp rụng rời chân tay.
Vợ là một chất men say
Vợ là cái đắng cái cay trong lòng.
Có người nhờ vợ nên ông,
Có người vì vợ mất không cơ đồ.
Và tác giả kết luận :
-Tốt số lấy được vợ hiền,
Vô duyên vớ phải bà khùng bà điên.
Đờn bà con gái mãi mãi ngược đời như thế đó, nhưng thử hỏi :
- Nếu không có họ thì đời còn gì là đời nữa…
Phải, nếu không có họ, thì lũ đờn ông con trai lại lầm lũi cu ki một mình, như những ‘’con sâu làm tổ, trong trái vả cô đơn”. Cho nên, đờn ông Pháp, vốn dư chất ‘’ga lăng’’ trong máu, đã phát biểu :
- Nhà không có đờn bà như xác không hồn, như đờn không giây.
Chả hiểu quí bà quí cô đã bằng lòng và sẵng sàng ban cho gã một nụ cười… ruồi chưa đấy ?
Gã Siêu.

 

Chuyện Gã Siêu 102: CON NGƯỜI QUẢ LÀ…DỄ SỢ.

CON NGƯỜI QUẢ LÀ…DỄ SỢ. Chuyện Gã Siêu 102

Cách đây không lâu, gã có theo dõi trên truyền hình một bộ phim hình sự nhiều tập của Úc mang Chuyện Gã Siêu 102

Cách đây không lâu, gã có theo dõi trên truyền hình một bộ phim hình sự nhiều tập của Úc mang tựa đề là “Cuộc chiến thầm lặng”. Tuy chỉ xem bữa đực bữa cái, hôm được hôm không, nhưng rất may mỗi tập là một vụ án, nên có đứt đoạn cũng chẳng sao cả.
Hôm ấy, anh chàng cảnh sát được lệnh đi công tác nhưng không được mang theo súng để xâm nhập vào một tổ chức buôn lậu bạch phiến.
Thế nhưng, không hiểu sao, anh chàng lại lén vào kho, lấy trộm một khẩu mà nhét vô cạp quần. Khi hoàn tất công tác, bị cấp trên khiển trách, anh chàng đã trả lời :
-Khẩu súng không nguy hiểm, nhưng con người xử dụng khẩu súng mới thật là… nguy hiểm.
Câu trả lời này khiến cho gã phải “vắt chân lên trán” mà suy gẫm lung tung, đến nỗi “đêm quên ăn, ngày quên ngủ”, khiến cho dung nhan ngày càng thêm tiều tụy và thân thể ngày càng thêm hốc hác.
Tuy nhiên, càng suy gẫm, gã lại càng cảm thấy chí lý. Có lúc khoái quá vỗ đùi đánh đét một cái, xin bái phục người đã phệu ra câu nói trên.
Thực vậy, theo Khổng tử thì “nhân chi sơ tính bổn thiện”, con người thuở ban đầu vốn tốt lành, nhưng rồi dần dần trở nên xấu xa do ảnh hưởng của xã hội và những người chung quanh.
Còn theo Kitô giáo, Thượng đế dựng nên con người từ bùn đất, rồi Ngài thổi hơi vào lỗ mũi, qua đó trao ban cho nó sự sống cùng với một tấm linh hồn.
Tấm linh hồn này có hai cơ năng chính là trí khôn và ý muốn. Với trí khôn, con người không ngừng phát triển. Với ý muốn, con người được tự do chọn lựa. Và đây cũng chính là một thảm kịch làm cho con người trở nên thật…dễ sợ.
Trước hết là với trí khôn. Mấy ông triết gia bên tây thường phát biểu :
- Người là một con vật có trí khôn.
Còn Pascal thì bảo :
- Người là một cây sậy biết suy tư.
Đúng thế, trí khôn nhờ biết suy tư đã làm cho con người trổi vượt trên muôn vật và  liên tục phát triển.
Con ong ngày xưa làm tổ và kéo mật thế nào, thì hôm nay nó vẫn làm tổ và kéo mật y chang như vậy.
Nếu có nhúc nhích được tí xíu nào là do con người tập luyện cho chúng, chẳng hạn như con khỉ biết làm trò, con chó biết múa may quay cuồng.
Đang khi con vật hành động theo bản năng và dậm chân tại chỗ qua muôn thế hệ, thì con người đã tạo được những tiến bộ trong mọi lãnh vực. Gã xin đưa ra một vài phạm vi thông thường nhất để chứng minh cho sự thật trên.
Chẳng hạn về chuyện ăn.
Ngày xưa, thiên hạ ăn sống nuốt tươi. Vớ được trái cây hay thú rừng là liền xơi tái ngay lập tức. Rồi con người đã tìm thấy lửa và bắt đầu nấu nướng. Còn hôm nay, trên thực đơn người ta không biết có bao nhiêu thứ mà kể. Nào luộc, nào nướng, nào chiên. Rồi món tây, món tàu, món ta…chỉ sợ không có đủ tiền để nếm thử mỗi món một lần trong  đời.
Chẳng hạn về chuyện uống.
Ngày xưa thiên hạ chắc hẳn chỉ uống nước lã. Rồi sau đó biết cách làm cho lên men từ một số lá cây để rồi hôm nay người ta đã chế ra biết bao nhiêu thứ rượu và bao nhiêu thứ chất uống khác nhau.
Chỉ nguyên tại Việt Nam mà thôi, người ta cũng không thể đếm hết có bao nhiêu thứ nước suối, nước ngọt, nước uống có ga, nước uống có cồn…Và không hiểu một ai đó đã phát biểu một cách rất anh dũng và rất “hách xì xằng” như sau :
- Mặc dù quê hương ta còn nghèo đói và khó khăn, nhưng rất ta rất lấy làm hãnh diện vì đất nước này đã hội tụ được đầy đủ các hãng bia nổi tiếng trên cả và thế giới.
Như thế, phải chăng tinh thần ăn và uống của dân ta đã phất lên như diều gặp gió, như rồng gặp mây.
Chẳng hạn về chuyện ở.
Ngày xưa thiên hạ ở dưới hang, ở trong lỗ. Tiến bộ hơn một tí là ngôi nhà tranh vách đất. Còn hôm nay, người ta ở trong những ngôi nhà gỗ, nhà bê tông cốt thép. Nào chung cư, nào biệt thự, nào lâu đài…
Và người ta đã xây không biết bao nhiêu tòa nhà chọc trời, cao hàng mấy trăm mét. Không hiểu những kẻ đau tim, can đảm chê cầu thang máy, có đủ sức leo từng bậc từ dưới lên, hay mới chỉ được nửa đường thì đã thở hồng hộc, đứt hơi mà chết.
Chẳng hạn về chuyện mặc.
Sách Sáng thế ký đã chẳng kể lại sau khi phạm tội, Adong Eva đã kết lá mà che thân vì thấy mình trần truồng và xấu hổ. Đó là “mô đen” thứ nhất.
Tiến thêm một bước, người ta làm áo quần bằng da thú. Đó là “mô đen” thứ hai.
Còn hôm nay với ngành dệt may phát triển, người ta không ngừng thay đổi mẫu mã, từ thấp lên cao, rồi lại từ cao xuống thấp. Từ dày tới mỏng rồi lại từ mỏng tới dày. Thời trang mỗi ngày một khác. Thậm chí có những mốt thật là quái đản và kinh dị, đố  chị em đờn bà con gái nào dám mặc vào để nghênh ngang dạo chơi phố phường.
Chẳng hạn về chuyện đi.
Ngày xưa có lẽ phương tiện duy nhất để di chuyển chính là đôi chân của mình, vì thế, người ta thường phải đi bộ, đi “căng hải”, hay đi “lô ca chân” đường dài mà chẳng biết mỏi. Nhích lên một chút, người ta cưỡi lừa, cưỡi ngựa, cưỡi bò, cưỡi lạc đà…
Còn hôm nay, người ta đã có biết bao nhiêu phương tiện di chuyển khác nhau : Nào là đi xe đạp, đi xe gắn máy, đi xe ô tô. Nào là đi tàu lửa, tàu thủy, tàu bay, tàu ngầm…Rồi còn có cả những phương tiện thật tối tân và nhanh chóng, như phản lực, phi thuyền, hỏa tiễn… Không phải chỉ đi từ nơi này đến nơi kia, mà còn đi từ hành tinh này tới hành tinh khác.
Khoa học đã, đang và sẽ còn tiến những bước tiến khổng lồ, đúng như lệnh truyền của  Đấng Tối Cao :
- Hãy làm chủ cá biển, chim trời và muôn loài trên mặt đất.
Tiếp đến là với ý muốn, con người được quyền tự do chọn lựa. Ý muốn và sự tự do chính là một qùa tặng tuyệt vời nhất Thiên Chúa đã trao ban cho con người và làm cho con người trở nên cao cả.
Một ông vua đầy uy quyền cũng không thể bắt tôi làm điều tôi không muốn. Thậm chí ngay cả Thiên Chúa cũng đành phải chào thua trước sự tự do của con người, như lời ông thánh Âu cu tinh đã viết :
- Ngài sẽ không thể cứu chuộc tôi nếu như chính bản thân tôi lại không muốn.
Ý muốn và sự tự do làm cho con người trở nên cao cả, nhưng đồng thời cũng có thể biến con người thành nguy hiểm và dễ sợ. Nếu không biết điều khiển và quản lý chặt chẽ, nó sẽ đọng lại, kết tủa và hóa kiếp con người thành một con thú hoang lang thang trong cõi lòng. Đây là điều mà các vị tiền bối đã diễn tả :
- Con người vừa có thể là một thượng đế, lại vừa có thể là một con vật.
- Trong mỗi con người đều có tiềm ẩn một con thú hoang.
- Con người là một con vật hai chân, thuộc loài hỗn thực, nghĩa là xơi được mọi thứ, nhưng lại biết…mặc quần đùi.
- Dưới làn da của con người đều có bóng dáng của nhiều súc vật.
Bây giờ gã sẽ đi từ trong ra ngoài, từ bản thân đến cuộc đời và xã hội để tìm dấu vết của con thú hoang ấy.
Trước hết là nơi bản thân.
Thượng đế đã ban cho mỗi người chúng ta một cái miệng, đôi khi cũng được gọi là cái mồm. Công dụng của mồm miệng là để ăn và để nói. Dĩ  nhiên còn nhiều công dụng khác nữa, chẳng hạn như hôn, hút, mút…gã xin được miễn bàn tới.
Về chuyện ăn thì như chúng ta vừa thấy : con người thuộc loài hỗn thực, nghĩa là xơi được tất tật mọi thứ. Đây cũng là một điểm làm cho con người khác với con vật. Bình thường thì mỗi con vật chỉ xơi một vài loại thức ăn nào đó. Chẳng hạn như con trâu thì ăn cỏ, con hổ thì ăn thịt sống.
Trong khi đó, con người thì thượng vàng hạ cám, có thể đút vào miệng  mình đủ thứ, từ lá cây ngọn cỏ đến hoa trái, từ con giun con rắn đến con gà con vịt. Ngay cả đến những con vật khổng lồ như con voi, con tê giác…con người cũng xơi được cả.
Mọi vất vả con người phải chịu cũng chỉ để phục vụ cho cái miệng. Và nhiều cuộc chiến tranh đã xảy ra cũng chỉ vì nhu cầu ăn của con người.
Thậm chí có những thứ không nên xơi mà vẫn cứ xơi, thí dụ trong một trận đấu quyền anh, Mike Tyson đã xơi tái cái tai của Holyfield. Chẳng hiểu cái tai ấy có dòn như tai lợn bóp gỏi hay không, thì khi nào thuận tiên gã sẻ hỏi Mike Tyson và sẽ “báo cáo” lại sau.
Hơn thế nữa, còn có những thứ không được xơi mà cứ vẫn phớt tỉnh “ăng lê”, lại còn xơi bạo nữa là khác, thí dụ ăn tiền, ăn gian, ăn cắp, ăn cướp, ăn hối lộ…May ra thì chỉ có ăn đòn hay ăn tát là…em hỏng dám đâu.
Còn về chuyện nói, thì như chúng ta đã biết : ngôn ngữ là phương tiện Thượng đế đã trao ban để chúng ta bộc lộ những ý nghĩ, những ước muốn hầu tạo lấy một sự cảm thông.
Đây cũng là một điểm làm cho con người khác với con vật, bởi vì như thiên hạ thường bảo :
- Người là một con vật có tiếng nói, có ngôn ngữ.
Thế nhưng, lời nói lại là điều chúng ta thường hay sai lỗi vấp phạm hơn cả. Thậm chí, thay vì tạo được một bàu khí hòa thuận, bắc được một nhịp cầu cảm thông, thì lại gây ra thù oán, làm cho người khác thân bại danh liệt, đi đoong cả một đời.
Mới đây báo Công An TPHCM có đăng một mẩu tin nho nhỏ với tựa đề là “Câu nói đùa tai hại”, đại khái như thế này :
Cô H. yêu anh N. và đã có thai được ba tháng. Vốn tính hay ghen, cô H. nghĩ rằng anh N. không còn yêu mình nữa. Tối hôm trước, anh N. sang nhà cô H. chơi và thấy cô H. đang ngồi khóc, nên nói đùa :
- Anh sẽ cưới em làm vợ nhỏ, còn vợ nhớn anh sẽ đi lấy ở nơi khác.
Trong lúc đang nghi ngờ và giận dỗi, câu nói đùa của anh N. khiến máu ghen nơi cô H. bốc lên đùng đùng. Vì cho đó là sự thật, nên cô H. đã uất ức, uống thuốc độc tự tử mà chết.
Trên cơ thể con người, Thượng đế còn ban cho chúng ta đôi bàn tay. Với đôi bàn tay, chúng ta có thể bồng ẵm con cái, lao động sản xuất để nuôi sống gia đình, làm việc để giúp đỡ người khác, vân vân và vân vân…
Tuy nhiên, rất nhiều lần chúng ta đã dùng đôi bàn tay để làm những việc mờ ám, gây nên thiệt hại cho những người chung quanh, chẳng hạn dùng đôi bàn tay để uỵch nhau, để thoi nhau, để cướp của, để giết người…
Nếu cứ lần lượt bới lông tìm vết, mổ xẻ từng bộ phận một để lần ra dấu ấn của con thú hoang, thì e  rằng chẳng biết viết đến bao giờ mới chấm hết. Thế nhưng chỉ với hai bộ phận nho nhỏ ấy mà thôi, chúng ta cũng đã thấy được con người chính là yếu tố quan trọng, quyết định trong mọi tình huống.
Tiếng Việt Nam chúng ta không phân biệt giống đực và giống cái. Vì thế mới có chuyện rằng :
Hai vợ chồng nhà kia, sau nhiều ngày cơm chẳng lành canh chẳng ngọt bèn rã gánh một cách êm ru bà rù. Tuy nhiên trước khi ca bổn anh đi đường anh, tôi đi đường tôi, tình nghĩa đôi ta chỉ có thế thôi, thì cũng phải chia chác tài sản vì của chồng công vợ.
Chị vợ bèn phát biểu :
- Anh là đờn ông còn tôi là đờn bà. Anh là giống đực còn tôi là giống cái. Vậy hễ đồ vật nào là cái thì thuộc về tôi, còn đồ vật nào là đực thì thuộc về anh. Bằng lòng chứ ?
Anh chồng gật đầu và OK liền tù tì.
Chỉ chờ có vậy, chị vợ bèn vội vã vơ vét về tất cả bởi vì hầu như mọi đồ vật đều mang chữ cái trên đầu : cái nồi, cái niêu, cái soong, cái chảo…Phát hoảng, anh chồng bèn chộp bừa con dao rựa và hô to :
- Đực rựa.
Có lẽ vì thế mà đực rựa vừa có nghĩa là loại dao lưỡi dài và sống dày, vừa có nghĩa là đờn ông và con giai.
Trong tiếng Pháp, người ta chia danh từ thành hai giống : giống đực và giống cái. Còn trong tiếng La tinh, ngoài giống đực và giống cái, còn thêm một giống nữa, đó là giống… dở (neuter), chẳng đực mà cũng chẳng cái. Trung lập, trung hòa, vô tính.
Sự vật chung quanh chúng ta phần lớn thuộc giống dở, chẳng đực mà cũng chẳng cái. Xét theo phương diện luân lý, thì chẳng tốt mà cũng chẳng xấu. Nó trở nên tốt hay nên xấu là do con người.
Thực vậy, con người xử dụng nó với ý hướng tốt, hay với mục đích tốt, thì nó sẽ tốt. Còn nếu con người xử dụng nó với ý hướng xấu, hay với mục đích xấu, thì nó sẽ xấu.
Chẳng hạn như tiền bạc. Tự bản chất, tiền bạc chẳng tốt mà cũng chẳng xấu. Nó tốt hay xấu là do cách thức con người kiếm nó và xài nó.
Thực vậy, nếu tiền bạc được tìm kiếm một cách chính đáng và công bằng qua lao công vất vả, qua mồ hôi và nước mắt của chúng ta thì lúc bấy giờ tiền bạc ấy quả thực là tốt.
Còn nếu tiền bạc được tìm kiếm bằng con đường bất chính và bất công : Kẻ sản xuất thì tung ra những mặt hàng dổm, kém chất lượng. Kẻ buôn bán thì dùng cân thiếu, thước hụt. Quan chức thì tham nhũng hối lộ…Những đồng tiền được nhồi nhét cho đầy túi tham theo kiểu này, chắc chắn sẽ là những đồng tiền xấu xa và nhơ bẩn.
Khi đã có đồng tiền rủng rỉnh trong hào bao, thì cách xài tiền cũng không kém phần quan trọng. Nếu tôi dùng tiền để nuôi sống bản thân và gia đình cũng như giúp đỡ những người chung quanh, thì lúc bấy giờ tiền bạc sẽ đem lại nhiều lợi ích.
Trái lại, nếu tôi vung tiền bạc cho những cuộc ăn chơi thâu đêm suốt sáng, nếu tôi dùng tiền bạc để dụ khị kẻ khác làm điều bất chính…lúc bấy giờ tiền bạc sẽ làm rạn vỡ gia đình, gẫy đổ tình yêu và gây nên biết bao nhiêu đau khổ, đúng như một câu danh ngôn đã bảo :
- Tiền bạc là một tên đầy tớ tốt, nhưng lại là một ông chủ hà khắc.
Chẳng hạn như thiên nhiên với những sức mạnh tiềm ẩn, tự bản chất  chẳng tốt mà cũng chẳng xấu. Ăn thua là ở con người xử dụng những sức mạnh ấy.
Lâu lắm rồi, gã có đọc một bài trong cuốn “Dừng”, đại khái tác giả đã viết như sau :
Hẳn chúng ta đã biết trái bom nguyên tử đầu tiên đã được ném xuống thành phố Hiroshima vào ngày 6 tháng 8 năm 1945. Trong nháy mắt, trái bom ấy đã giết hại hơn 200.000 người. Từ đó, bao nhiêu vũ khí khủng khiếp hơn nữa đã được chế tạo. Nào là bom khinh khí. Nào là bon neutron. Một trái bom 500 mégatonnes có đủ sức làm cho Việt Miên Lào và một phần Thái lan bị chìm xuống đáy biển. Một trái bom 2000 mégatonnes có thể làm cho chúng ta thấy được ngày tận thế !
Chiến tranh nguyên tử thật kinh khủng, nó là như một cơn ác mộng đè nặng trên nhân loại, Tuy nhiên cái đáng sợ không phải là bom nguyên tử mà là con người xử dựng nó. Bom đạn vốn là vật vô hồn, không thể mang lấy trách nhiệm của cuộc chiến. Chính con người đã chế tạo ra bom đạn và xử dụng bom đạn  mới phải gánh lấy trách nhiệm ấy hoàn toàn.
Các năng lực thiên nhiên tự nó rất hữu ích và cũng chẳng hề biết gì đến nhân nghĩa cả. Nó đã bị con người lợi dụng để chà đạp nhân nghĩa.
Điện khí rất hữu ích để làm đèn soi sáng, chứ không phải để chạy vào thành ghế, thành giường. Lửa rất hữu ích để thổi nấu chứ không phải để đốt nhà. Sức mạnh của nguyên tử cũng thế, nó không đe dọa hòa bình, không tàn sát, không tiêu diệt, trái lại còn phụng sự hòa bình, phát triển nông nghiệp và các ngành nghề khác. Chỉ có con người xử dụng sức mạnh nguyên tử mới đe dọa hòa bình, tàn sát và phá hoại mà thôi.
Ngay cả những thực tại vốn  dĩ tốt đẹp cũng vẫn có thể bị con người xào xáo, làm cho trở thành xấu xa.
Chẳng hạn như nghề nghiệp. Người xưa đã từng bảo :
- Nghề nghiệp nào cũng đáng quí đáng trọng. Không có nghề nghiệp nào xấu mà chỉ có con người xấu mà thôi.
Thực vậy, với nghề nghiệp chúng ta kiếm được tiền bạc nuôi sống bản thân và gia đình, như tục ngữ đã bảo :
- Nhất nghệ tinh, nhất thân vinh.
Đồng thời nhờ đó, chúng ta góp phần xây dựng xã hội. Thế nhưng nếu xử dụng tay nghề của mình vào những mục đích xấu, lúc bấy giờ chúng ta sẽ gây nên những tai họa thảm khốc.
Thí dụ : tôi giỏi nghề in, nhưng không dùng khả năng ấy để in sách, in báo hầu nâng cao dân trí, nhưng lại dùng để in tiền giả khiến cho nền kinh tế quốc gia bị lũng đoạn.
Tôi giỏi nghề võ, nhưng không dùng khả năng ấy để bảo vệ bản thân và giúp đỡ những kẻ cô thân cô thế, nhưng lại dùng để uy hiếp, để trấn lột người khác…
Chẳng hạn như tình yêu, một thực tại vốn được ca ngợi là thiêng liêng và cao đẹp, thế nhưng con người cũng vẫn có thể lợi dụng tình yêu để làm những điều xằng bậy.
Thí dụ : một chàng trai dùng những lời đường mật của tình yêu để dụ dỗ cô gái, khiến cho cô gái phải mang bầu, rồi truất ngựa truy phong, bỏ rơi cô gái…Hay mượn đỡ danh nghĩa tình yêu để lường gạt tiền của theo kiểu kỹ sư đào mỏ…Cũng có thể yêu nhầm đối tượng mà làm cho gia đình bị đổ vỡ tan hoang, vợ mình chẳng yêu lại cứ nhè vợ người ta mà yêu, thế mới rách việc.
Báo Công an TPHCM cũng đăng tải một mẩu tin ngắn như sau :
Anh T. vốn thầm yêu chị H. là một góa phụ. Trong lúc đến chơi, lợi dụng cơ hội tư riêng, anh đã hôn chị một miếng. Chẳng may vô tình cháu L. nhìn thấy và khóc thét lên rồi chạy sang mách người hàng xóm. Người hàng xóm bèn đến can ngăn và đuổi anh T. về. Cảm thấy xấu hổ trước mặt bà con lối xóm, ngày hôm sau chị H. đã thắt cổ tự tử. Chị H. chết đi bỏ lại đứa con thơ mới chín tuổi. Đúng là một cái hôn gây nên hậu quả khó lường.
Từ những điều vừa trình bày, chúng ta thấy trong mọi việc yếu tố con người là quan trọng hơn cả. Và nơi con người thì cái tâm hay nói một cách nôm na và bình dân hơn, là cái lòng sẽ nắm phần quyết định. Tốt hay xấu cũng bởi nó. Vì thế sách giáo lý có câu :
- Hỏi tội bởi đâu mà ra ?
- Thưa tội thì bởi trong lòng mà ra.
Hay như người xưa cũng dạy :
- Nhân dục thắng, thiên lý vong.
Có nghĩa là lòng dục của con người phát triển thì đạo lý của trời sẽ bị mai một,
Hay :
- Dục vọng đánh đổ đạo lý.
Chính vì thế có người đã phát biểu :
- Thà rằng ngồi trong trái tim con sư tử còn hơn là ngồi trong trái tim con người.
Và tiền nhân cũng đã từng cay đắng khi đưa ra kinh nghiệm chua chát của mình :
- Homo hominibus lupus.
Có nghĩa là người với người là chó sói của nhau.
Thế nhưng cái tâm ấy lại âm u. Cái lòng ấy lại đầy những ý đồ đen tối như tục ngữ đã bảo :
- Sông sâu còn có kẻ dò,
  Lòng người nham hiểm ai đo cho cùng.
- Dò sông, dò biển, dễ dò,
  Nào ai lấy thước mà đo lòng người.
Điều khó khăn và gay go nhất đó là phải làm thế nào để kiểm soát được cái tâm và hướng dẫn được cái lòng của mình. Thế nhưng dù khó khăn và cam go đến đâu chăng nữa, cũng vẫn phải thực hiện nếu muốn cho mọi việc luôn được êm xuôi và tốt đẹp.
Ngày kia, có một đứa bé ném hòn đá vào lớp khiến cho cửa kính vỡ tung. Cô giáo đỏ mặt tức tối.  Tuy nhiên, thay vì sửa phạt cậu học trò tinh nghịch, thì cô giáo lại đi lượm viên đá, rồi lấy thước kẻ đánh cho viên đá một trận. Vừa đánh vừa nói :
- Từ nay, mày phải trở nên mềm dẻo chứ không được cứng rắn như thế này nữa nhé.
Phải kiểm soát cái tâm,  phải hướng dẫn cái lòng vì nhân tâm hay lòng người là nơi sản xuất ra những thứ vũ khí nguy hiểm, những toan tính mờ ám, những hành động dã man.
Và để kết luận, gã xin lập lại câu nói ban đầu của một diễn viên trong bộ phim “Cuộc chiến thầm lặng” :
-Khẩu súng không nguy hiểm, nhưng con người xử dụng khẩu súng mới thực nguy hiểm.
Ôi, con người quả là…dễ sợ.
Gã Siêu.

 

Chuyện Gã Siêu 103: CÁI LƯỠI

CÁI LƯỠI Chuyện Gã Siêu 103

Ngày xưa có một ông vua nước Ai Cập gửi cho nhà hiền triến Bias một con vật vừa quí lại vừa Chuyện Gã Siêu 103

Ngày xưa có một ông vua nước Ai Cập gửi cho nhà hiền triến Bias một con vật vừa quí lại vừa hiếm để tế lễ các thần minh. Thế nhưng ông vua này muốn chơi khăm nhà hiền triến một vố, bèn phán :
- Sau khi cúng kiếng xong, ngươi phải trả lại cho ta cái gì vừa tốt nhất lại vừa xấu nhất nơi con vật quí hiếm ấy.
Nhà hiền triết cũng không phải là tay vừa, bèn xẻo ngay cái lưỡi mà trao cho ông vua.
Cử chỉ đó gián tiếp nói lên rằng :
- Cái lưỡi là phần tốt nhất nếu biết sử dụng, nhưng đồng thời cũng là phần xấu nhất nếu không biết sử dụng.
Đúng thế, cái lưỡi là một bộ phận quan trọng để phát ra tiếng nói. Hồi tôi còn bé, mẹ gã thường răn đe :
- Con mà chửi tục, thì cái lưỡi sẽ thụt vào trong cổ, để rồi từ rày mà đi cho đến lúc rình xinh thì sẽ chẳng còn nói năng được nữa !
Hay :
- Con mà chửi tục, ông ba bị nghe thấy, thì ông ấy sẽ cắt ngay cái lưỡi để xơi…tái.
Và như chúng ta đã thấy :
- Tiếng nói là một phương tiện hữu hiệu để chuyển đạt cho người khác biết những tư tưởng, những ý nghĩ, những ước muốn thầm kín ấp ủ tận đáy tâm can tỳ phế, nhờ đó bắc lấy một  nhịp cầu cảm thông.
Chính vì thế, mấy ông triết gia đã phát biểu :
- Người là một con vật có ngôn ngữ, có tiếng nói. Sông có thể cạn núi có thể mòn nhưng chân lý ấy ngàn đời vẫn không thây đổi.
Một kẻ câm ú a ú ớ, diễn tả bằng cử điệu thật là vất vả và người không quen cũng khó mà hiểu được những cử điệu ‘’búa xua’’ ấy.
Tuy nhiên, cái lưỡi cùng với lời nói lại là điều chúng ta thường hay vấp phạm hơn cả, bởi vì chúng ta có thể vấp phạm bất kỳ ở đâu, bất kỳ lúc nào và bất kỳ với ai.
Do đó Kinh thánh đã bảo :
- Số người chết vì cái lưỡi thì nhiều hơn số người ngã gục vì gươm giáo ngoài chiến trường.
Và tục ngữ dân Ăng lê cũng xác quyết :
- Không nọc nào độc cho bằng cái lưỡi.
Trước hết là trong lãnh vực gia đình.
Nhiều khi sóng gió nổi lên chỉ vì một lời nói nóng nảy và thiếu tế nhị.
Có một chị vợ cặm cụi nhổ cỏ ở thửa ruộng sau nhà. Theo sự phân công thì hôm đó anh chồng đóng vai tề gia nội trợ. Và thế là anh chồng bèn trổ mấy món ruột của mình để lấy điểm ‘’mí’’ bà xã.
Mồ hôi mồ kê chảy xuống ròng ròng. Khi đã nấu nướng xong, yên chí nhớn và hớn hở bắn một điếu thuốc lào, anh chồng mới sai đứa con nhỏ ra mời mẹ.
Đứa bé chạy tới và nói :
- Bu ơi bu, bố bảo về ăn cơm.
Chẳng nói chẳng rằng, chị vợ vẫn cứ lặng lẽ nhổ cỏ.
Đứa bé trở về, mặt xụ xuống như bánh bao chiều.
Một lúc sau, anh chồng lại sai đứa khác ra mời, nhưng chị vợ vẫn cứ nín thinh cặm cụi nhổ cỏ.
Đứa bé trở về, mặt xìu xìu như trái bóng xì hơi.
Dường như không chờ đợi được nữa, vả lại sợ thức ăn để lâu sẽ  nguội và mất ngon, nên lát sau anh chồng liền sai đứa út ra mời, ông cười ruồi và thầm nghĩ trong bụng :
- Quá tam ba bận. Ba keo mèo phải mở mắt đứt đuôi con nòng nọc chứ còn gì.
Thế nhưng lần thì chị vợ lại tỏ ra tức tối. Chị ta đứng lên. Hai tay chống nạnh. Mắt long còng cọc như một tia chớp. Miệng hét toáng chẳng khác gì sư tử rống :
- Bố con mày có hốc thì cứ việc hốc đi.
Trước sự nổi tam bành của chị ta, đứa út run cầm cập, ba chân bốn cẳng vội chạy về méc bố.
Đến đây thì chuyện phải đến ắt sẽ đến. Sau khi nhổ hết đám cỏ bợ, chị vợ đủng đỉnh về nhà. Thế nhưng vừa mới tới sân thì hàng xóm đã phải nghe thấy những tiếng kêu la thất thanh :
- Ối giời ơi ! Ối đất ơi ! nó đánh tôi, nó giết tôi, làng nước ơi, cứu tôi với…
Rồi thì nồi niêu soong chảo, chổi cùn rế rách, mâm bàn chén đĩa cùng với những thứ cao lương mỹ vị thi nhau bay ra ngoài sân, bởi sức người chịu đựng có hạn. Và lúc này đến lượt anh chồng đang nổi máu yêng hùng,  đùng đùng nổi trận lô đình như Trương Phi !
Giá như chị vợ biết nhún nhường và tế nhị một chút trong lời nói của mình thì đâu đến nỗi xảy ra sự việc đáng tiếc kể trên. Còn thân thể ‘’liễu yếu đào tơ’’ của chị ta đâu đến nỗi tím bầm và lãnh đủ những thứ cú thượng cẳng chân hạ cẳng tay của đức ông chồng, ‘’vai năm thước rộng, thân mười thước cao’’, như vóc dáng của anh chàng Từ Hải trong truyện Kiều !
Bởi đó, tục ngữ đã dậy :
- Chồng giận thì vợ làm lành
  Miệng cười tươi hỏi rằng anh giận gì.
- Chồng giận thì vợ bớt lời
  Cơm sôi bớt lửa chẳng đời nào khê.
Còn nếu ông cũng ghê bà cũng gớm, thì chắc chắn phải kết thúc bằng xô xát, bằng tan hoang và đổ vỡ.
- Bên thẳng thì bên phải chùng
  Hai bên đều thẳng thì cùng đứt dây.
- Bên giận thì bên phải lùi
  Hai bên cùng giận thì… dùi nó quăng.
Cho nên, muốn gia đình được êm ấm thì phải biết nhường nhịn và tha thứ :
- Một sự nhịn là chín sự lành.
Đồng thời phải biết phát ngôn cho êm dịu và tế nhị, bởi vì :
- Lời nói chẳng mất tiền mua
  Liệu lời mà  nói cho vừa lòng nhau.
Tiếp đến là trong tương quan xã hội, trong mối liên hệ với người khác.
Hẳn rằng, đã có lần chúng ta bực bội tức tối trước những luồng dư luận xuyên tạc, trước những miệng lưỡi thâm độc và xảo trá của người đời. Bởi vì dư luận vẫn thường là luận dư, lời đôn thổi bao giờ cũng phóng đại tô màu, chẳng biết đâu mà lường :
- Lưỡi không xương nhiều đường lắt léo.
Hay như ca dao đã diễn tả :
- Ở sao cho vừa lòng người
  Ở rộng người cười ở hẹp người chê
  Cao chê ngỏng, thấp chê lùn
  Béo chê béo trục béo tròn
  Gầy chê xương sống, xương sườn hở ra.
Tuy nhiên, chúng ta không thể nào sống cu ky, đơn độc, lẻ loi như một hòn đảo giữa biển khơi hay như một pháp đài biệt lập. Trái lại, sống là sống là sống với người khác. Và trong cuộc sống chung này, chúng ta không thể tránh đi cho hết những va chạm, những bực bội, những buồn phiền.
Nếu biết dùng những lời nói ôn tồn, chúng ta sẽ hóa giải được những thù oán, triệu tiêu được những  giận hờn, bởi vì mật ngọt chết ruồi. Người ta có thể giết được nhiều ruồi chỉ bằng một giọt mật, còn hơn là bằng cả một thùng dấm chua.
Một lời thiếu ý thức được sánh ví như một lon dầu đổ vào lửa, làm bừng lên sự tức giận, thiêu hủy hết tình ruột thịt cũng như nghĩa bà con lối xóm.
Một lời nói vu oan có thể làm người khác mất hết tiền bạc, mất hết danh dự, tiêu tan sự nghiệp để rồi thân bại danh liệt và đi vào thế giới lao tù.
Sau cùng là trên bình diện cá nhân.
Như chúng ta đã biết :
- Lòng đầy thì mới tràn ra ngoài.
Dựa vào lời nói, người khác có thể biết được phần nào tâm hồn chúng ta. Dựa vào lời nói, thiên hạ sẽ đánh giá con người  và nhận rõ bộ mặt thực của chúng ta.
Nếu chúng ta nói những điều hữu lý, thiên hạ sẽ cho chúng ta là người tài giỏi và khôn ngoan. Nếu chúng ta nói những điều vô lý, thiên hạ sẽ cho chúng ta là kẻ ngu ngốc và dại khờ. Nếu chúng ta nói những điều xằng bậy,  thiên hạ sẽ cho chúng ta là kẻ tầm phào và láo khoét.
Được yêu mến và kính trọng hay bị khinh bỉ và ghét bỏ một phần lớn là do bởi cái lưỡi và lời nói của chúng ta.
Như thế, cái lưỡi đã đóng một vai trò quan trọng trong việc hình thành uy tín và thế giá của mọi người,  như một câu danh ngôn đã bảo :
- Lưỡi người khôn ngoan tạo nên danh dự,  còn mồm kẻ ngu dại gây đổ vỡ tan hoang.
Bởi đó, phải biết đắn đo cân nhắc, để tránh đi những lời lộng ngôn xúc phạm đến Đấng Tối Cao, những lời chua cay độc địa nhằm hạ nhục uy tín người khác, cũng như những lời côïc cằn tục tĩu làm hoen ố những tâm hồn đơn sơ trong trắng, đồng thời bôi nhọ chính bản thân mình, vì ngậm máu phun người dơ miệng mình.
Như thế, nếu không biết sử  dụng cái lưỡi cho đúng đắn, thì lời nói sẽ là nguồn ngốc phát sinh rất nhiều giống tội thay vì là một phương tiện giúp chúng ta cảm thông và xích lại gần nhau.
Êsôpe là một tên lô lệ, nhưng lại được ông chủ tên là Santô rất yêu mến và kính trọng.
Ngày kia có khách đến chơi, ông chủ sai Êsôpe ra chợ mua thức ăn, nhưng không bảo là mua những thứ gì. Êsôpe bèn dinh về đủ các thứ lưỡi : lưỡi lợn, lưỡi bò và lưỡi ngựa… để nấu nướng.
Lạ miệng nên xơi ngon. Ông chủ và khách khứa đều hài lòng về tài bếp  núc của Êsôpe. Rồi khen lấy khen để.
Lần sau cũng có khách, ông chủ lại sai Êsôpe đi chợ và cũng không dặn phải mua những gì, Êsôpe cũng lại dinh về toàn những lưỡi là lưỡi, chỉ khác ở cách chế biến và thêm bớt gia vị.
Thấy vậy, ông chủ rất đỗi ngạc nhiên, còn Êsôpe thì kính cẩn làm một màn lý luận, bàn về cái lưỡi như sau :
- Phàm ở trên đời này, mọi sự tốt hay xấu, lợi hay hại… tất tật đều do bởi việc sử dụng cái lưỡi một cách khôn khéo hay vụng về.
Chính nhờ vậy, mà Êsôpe được chủ yếu mến và sau này được giải thoát khỏi kiếp nô lệ lầm than.
Ý thức được tầm mức quan trọng của cái lưỡi là như vậy, chúng ta hãy lắp đặt một cái phanh vào miệng, để những lúc ngứa mồm, muốn phát ngôn bừa bãi, thì biết “sì tốp” lại đúng nơi và đúng lúc.
Viết tới đây, gã bèn nhớ tới lời khuyên của người xưa, đó là :
- Hãy ngoáy lưỡi bảy lần trước khi nói.
Gã Siêu

 

Chuyện Gã Siêu 104: TẤP TỂNH NGƯỜI ĐI

TẤP TỂNH NGƯỜI ĐI Chuyện Gã Siêu 104

Sáng hôm ấy, sau khi đã uống một ly cà phê đen và “bắn” một phát thuốc…lào, gã đang ngồi vểnh Chuyện Gã Siêu 104

Sáng hôm ấy, sau khi đã uống một ly cà phê đen và “bắn” một phát thuốc…lào, gã đang ngồi vểnh cằm lên trần nhà mà vặt mấy sợi râu mọc vô tổ chức và để cho hồn mình “mơ theo trăng mà vơ vẩn cùng mây”, bỗng có tiếng chuông điện thoại.
Bốc máy lên, mới vỡ nhẽ :
- À thì ra đó là cụ chủ nhiệm.
Chưa kịp mở mồm mở miệng, thì đã nghe cụ ấy làm một màn “đắc nhân tâm” :
- Chuyện phiến của chú mày khá là được chiếu cố đấy nhé.
Nghe vậy, gã bèn kê tủ đứng :
- Xin cụ hãy nhớ cho rằng kẻ nào bốc thơm mà bốc phải ấy là bạn ta, còn kẻ nào bốc thối mà bốc phải ấy là thày ta. Cụ muốn điều gì thì xin cứ nói mẹ nó ra, bởi vì tôi tớ cụ đang lắng tai nghe, cần gì phải vòng vo tam quốc.
Hình như có tiếng hắng giọng kèm theo một nụ cười ruồi. Cụ bảo :
- Sinh ta ra là cha mẹ ta, còn hiểu được lòng ta chính là chú mày đấy. Sao chú mày lại đi guốc trong bụng ta vậy. Thôi, chú mày hãy chịu khó viết nhăng viết cuội, tán hươu tán vượn cho ta tí tẳng về đề tài việt…kều được không ?
Chẳng kịp suy nghĩ, gã đã buột miệng nói :
- Chuyện nhỏ, dễ ợt mà.
Thế là cụ bèn cúp máy cái rụp, chẳng kịp để cho gã lấy thêm mấy cái ý kiến ý cò chỉ đạo. Thôi đành chịu vậy, biết sao được.
Thiên hạ thường bảo :
- Lao động thì vinh quang,
  Lang thang thì chết đói,
  Hay nói thì ở tù,
  Lù khù thì sống lâu.
- Nhất ngôn xuất khẩu, tứ mã nan truy. Có nghĩa là một lời nói tuột  ra khỏi miệng, thì bốn ngựa đuổi theo cũng chẳng kịp.
- Chẳng cái dại nào bằng cái dại miệng.
Vì thế, bây giờ gã mới ân hận, bởi vì gã chưa bao giờ để tâm để trí vào lãnh vực này, hay bới lông tìm vết mà khám phá ra những cái sở trường và sở đoản, những cái hay và dở, những cái tốt lành và lôm côm của…phe ta, khi trở về thăm lại quê hương.
Giá mà gã cứ chối phắt ngay từ đầu, thì có phải là khỏe re, như con bò kéo xe hay không. Nhưng hối bất cập, “bi giờ” thì đã quá muộn, đành phải vò đầu bứt tai làm tròn điều đã lỡ hứa với cụ chủ nhiệm vậy.
Đối với dân Việt nam ta, phàm cái gì cũng có thể trở nên một phong trào, một hiện tượng.
Nếu trí nhớ của gã không tồi thì trước ngày giải phóng, ở miền Nam đã có những phong trào, những hiện tượng. Chẳng hạn như phong trào nuôi chim cút, hiện tượng đọc chuyện kiếm hiệp của Kim Dung, hay đọc chuyện tình cảm ẩm ướt của Quỳnh Dao.
Còn trong những ngày gần đây, thì trên cả nước có hiện tượng sì ke ma túy, hiện tượng học trò đánh đấm thày cô, phong trào dật hụi, phong trào thi cử gian lận…Và nếu không lầm, thì thời gian từ năm 1978 đến năm 1981 chính là cao điểm của phong trào…vượt biên.
Hồi ấy, gã đã từng nơm nớp lo sợ :
- Có một buổi sáng sám xịt nào đó, khi thức giấc tỉnh dậy sau giấc ngủ mệt mỏi đầy ác mộng, thì ngó tới ngó lui, chẳng còn ai ở chung quanh mình, bởi vì tất cả đều đã khăn gói quả mướp…ra đi.
Thêm vào đó, ngày nào cũng có những tin tức về những “kẻ ngồi thuyền vượt biển” được rêu rao trên các đài phát thanh BBC, VOA…Thậm chí có kẻ đã trả lời phỏng vấn như sau :
- Nếu cái cột đèn biết đi thì nó cũng…đi.
Thành thử, những người bám trụ, còn ở lại cũng cảm thấy chao đảo và nếu lập trường không vững, thì cũng rất dễ sa vào “cơn cám dỗ cuối cùng” này, theo kiểu :
- Tấp tểnh người đi tớ cũng đi,
  Cũng thuyền, cũng bến cũng…ra khơi.
Ra đi lúc bấy giờ quả thật là một hành động liều lĩnh và  mạo hiểm, một được hai thua, được thì vẻ vang, còn thua thì nắm chắc cái chết trong tay, hay ít nữa thì cũng tù tội. Thế mà thiên hạ vẫn cứ ào ào ra đi, bất chấp mọi khó khăn.
Nơi gã ở lúc bấy giờ đang trong cao điểm ấy, không ngày nào mà không có một vài người, hay một vài gia đình…biến. Thậm chí có những người đã từng bị bắt đôi ba lần, thế mà khi được thả ra, liền lập tức âm mưu, tính toán cho một chuyến đi khác.
Làm sao kể cho hết những khó khăn và gian khổ của những người ra đi. Ở đây, gã chỉ xin “kê đơn hoàn tán” một vài khó khăn gian khổ chính yếu mà thôi.
Cái khó khăn thứ nhất là phải làm thế nào thoát khỏi sự dòm ngó và lùng bắt của công an.
Gã có một thằng bạn, nhà liền vách với trạm công an, thế mà hắn đã đưa được cả gia đình xuống tàu một cách êm ru bà rù. Quả là tâm phục, khẩu phục. Sau này gã mới khám phá ra mưu chước của hắn.
Số là hắn có một thửa ruộng cách xa nhà. Và thế là ngày nào hắn cùng vợ con đi lao động, chăm sóc thửa ruộng ấy. Cho đến một ngày, khi mọi sự đã sẵn sàng…và thế là hắn đã biến cùng với những người thân yêu của hắn.
Nhiều người muốn được bảo đảm an toàn đã mua đứt bến bãi, bằng cách đút tiền cho công an, nhưng nếu chẳng may vớ phải mánh dổm, thì tiền mất tật mang, trọn ổ bị hốt về trại giam, hay bỏ của chạy lấy người, mạnh ai người ấy trốn, mỗi người một ngả, may thì thoát.
Cái khó khăn thứ hai là phương tiện di chuyển.
Đối với những người sống ở ven biển, có sẵn tàu thuyền thì không mấy khó khăn. Còn đối với những người sống sâu trong đất liền, có khi chưa một lần đặt chân tới  vùng biển, thì cách thức đơn giản nhất là đi theo mánh. Phó mặc toàn bộ công việc cho những kẻ tổ chức. Tới thời điểm đã định, chỉ việc đến điểm hẹn để được…ém quân, rồi sau đó được chở bằng thuyền nhỏ, gọi là “tắc xi” để được bốc lên thuyền lớn. Thế nhưng rất nhiều người đã méo mặt vì  vớ phải mánh dổm, đụng phải những kẻ lừa gạt chuyên nghiệp.
Bọn này cũng cho đi xem ghe thuyền đàng hoàng, cũng ấn định điểm hẹn và còn bảo đảm cả bến bãi đã được mua đứt…Những rồi khi tay xách nách mang tới điểm hẹn, thì chẳng thấy ma nào hết.
Ở lại thì sợ bị công an thộp cổ, nên chỉ còn cách “dĩ đào vi thượng sách”, chạy trốn là kế sách hay hơn cả, bằng mọi cách phải cao chạy xa bay khỏi điểm hẹn chết tiệt ấy.
Giá cả lúc bấy giờ cũng thật là chóng mặt. Mỗi đầu người là mười đồng, tức là mười cây vàng, chứ nào có phải là ít. Vì thế, có những gia đình chỉ sau một đêm mà mất toi sản nghiệp được chắt chiu gầy dựng suốt bao nhiêu năm trời, đúng là “kiếm củi ba năm thiêu một giờ”, hay :
- Ra đi trong hy vọng khấp khởi,
  Trở về trong rầu rĩ hoang mang.
Thấy kiểu này vừa hao tốn, vừa bấp bênh, nên về sau nhiều người đã tự tổ chức lấy, đứng ra sắm ghe thuyền, hải bàn, bản đồ… mua lương thực, săng dầu…rồi thuê tài công, thợ máy…nghĩa là lo từ A đến Z cho chuyến đi định mệnh ấy.
Tuy nhiên, đứng ra tổ chức không phải là không có những trục trặc và rủi ro. Chẳng hạn người tài công hay thợ máy vào phút chót thì giở quẻ, đòi cho vợ con hay tình nhân của mình đi theo.
Chẳng hạn để bù lỗ phần nào những chi phí, thường phải nhờ kẻ dắt mối bắt khách ăn chia, thế những khi thuyền sắp rời bến, kẻ dắt mối lại đòi phải nhồi nhét thêm cho một vài khuôn mặt ăn có khác nữa làm cho con thuyền bị…quá tải.
Người xưa đã từng diễn tả :
- Thùng thùng trống đánh ngũ liên,
  Bước chân xuống thuyền nước mắt như mưa.
Ở đây thì những người ra đi phải trốn chui, trốn nhủi, làm gì có cảnh đưa tiễn rầm rộ, nhưng nước mắt đổ ra khi rời bỏ nơi quê cha đất tổ và những người thân yêu chắc chắn không phải là ít.
Thế nhưng bước chân được xuống thuyền đã là điều mừng, để rồi từ đó phó mặc cho số phận dun dủi :
- Cũng liều nhắm mắt đưa chân,
  Màø xem con tạo xoay vần tới đâu.
Thực vậy, ghe thuyền nhiều khi chỉ là một chiếc “cà dom” ọp ẹp, dài hơn chục mét mà phải chất chứa đến mấy chục mạng người. Thêm vào đó, máy móc lại quá “đát”, có lúc chỉ là một chiếc máy xăng BS9…tất cả chẳng khác chi một chiếc vỏ trứng tròng trành trên sóng nước, nhưng mà :
- Một liều ba bảy cũng liều.
Còn tài công lắm khi cũng chỉ là những kẻ “ấm ớ hội tề”, mang tý nhãn hiệu trình tòa hay cái mác của hải quân mà chẳng biết đã có lần nào chui xuống tàu hay đi ra biển chưa là nghiễm nhiên có quyền gật đầu, ừ đại để được đi…chùa, khỏi tốn tiền hao bạc, mà lại còn được cõng thêm một vài người khác gọi là chút đỉnh thù lao đền bù. Vì thế đôi khi đã xảy ra những chuyện cười làm vãi cả nước mắt.
Có một nhóm bè bạn liên kết với nhau để tổ chức bằng cách tự mua sắm thuyền và thuê mướn tài công. Lúc xuất phát từ Nha trang, họ đã xin lễ cầu bằng an. Lúc xuống thuyền, mặc dầu không hát thành lời, nhưng hầu như ai nấy đều thầm thĩ kêu xin :
- Lạy Mẹ là ngôi sao sáng, soi lối cho con lúc vượt biển….
Con thuyền thuận buồm xuôi gió, luớt sóng được mấy ngày thì thấy một hải đảo hiện ra. Mọi người đều tin rằng miền đất hứa đang mở rộng vòng tay chào đón.
Và thế là họ lớn tiếng dâng lời cám ơn Thiên Chúa :
- Đến muôn đời con cảm tạ ơn Chúa…
Tuy nhiên, khi bước chân lên bờ, họ bỗng rụng rời khiếp hãi khi nhìn thấy cờ đỏ sao vàng phấp phới tung bay. Thì ra nơi họ tưởng là miền đất hứa chính là đảo Phú quốc. Rồi chuyện gì phải đến ắt sẽ đến. Tất cả mọi người, nam phụ cũng như lão ấu, liền ông cũng như liền bà, không trừ một ai, đều được thưởng thức món cơm hẩm nhà tù một thời gian.
Và như trên gã đã viết :
- Đây là chuyến đi định mệnh, một được hai thua.
Về cái chuyện được thua ấy, thiên hạ đã diễn tả như sau :
- Được làm vua, thua chui vô hàm cá mập.
Hay :
- Được làm vua, thua làm mồi cho cướp.
Có một ông chồng đã dặn dò người vợ yêu dấu trước khi bước chân xuống thuyền như thế này :
- Nếu sau một thời gian mà không nhận được tin tức gì của anh cả thì : “giỗ tết từ đấy nhớ đến ngày”. Coi như anh đã đi đứt, đang phiêu diêu miền cực lạc, hay đang tắm mát dưới suối vàng.
Còn biết bao nhiêu gian truân và hiểm nguy trên mặt đại dương. Còn biết bao nhiêu tủi nhục và cay đắng khi sa vào tay bọn hải tặc. Còn biết bao nhiêu hãi hùng và nước mắt khi thuyền chìm giữa biển khơi. Còn biết bao nhiêu ê chề khi ở trại tị nạn. Và không biết bao nhiêu người đã chết mất xác…
Có lần gã đã hỏi một người bạn ở Mỹ về như thế này :
- Liệu bây giờ mi có dám làm một chuyến vượt biển như hồi đó hay không ?
Hắn đã lắc đầu quầy quậy mà trả lời :
- Có các vàng thì em cũng…chả dám đâu.
Nhiều người tin rằng vượt biên cũng có cái số của nó. Có kẻ đi mãi đi hoài, vào tù ra khám, tiêu tan sản nghiệp, mà vẫn không xong. Có kẻ đi một cú là liền tới bến. Có kẻ vượt biên bất đắc dĩ, không muốn đi nhưng bị ép phải đi thế mà cũng êm ru bà rù.
Những người ra đi lúc bấy giờ, theo gã nghĩ, gồm có ba thành phần.
Thành phần thứ nhất là những người muốn đi tìm một cuộc sống tự do vì họ nghĩ rằng :
- Nếu ở lại, họ sẽ bị trù dập, bị tù tội vì đã tham gia vào guồng máy cai trị của chế độ cũ, hay sẽ không được thực sự sống niềm tin của mình.
Thành phần thứ hai là những người muốn đi tìm một cuộc sống giàu sang, thỏa mái vì họ nghĩ rằng :
- Nếu ở lại, kinh tế gia đình họ sẽ gặp khó khăn và tương lai con cái họ không được sáng sủa.
Thành phần thứ ba là những người chẳng có ý định nào suốt, thấy người ta bồng bế nhau đi thì mình cũng đi.
Họ có thể là những người ra đi “bất đắc dĩ”. Chẳng hạn như cha mẹ bắt con cái phải đi để có được một ngày mai tươi sáng hơn. Chẳng hạn một anh chàng nào đó dạo chơi phất phơ gần chỗ thiên hạ”bốc hàng”, và thế là để bảo đảm an toàn, thiên hạ bèn dùng áp lực bắt anh ta xuống thuyền và cho dông luôn.
Ngoài  ra còn có một hạng người được gọi là dân “can me”.
Họ là những kẻ không có một đồng xu dính túi để đóng góp, nên đành phải đi chùa của thiên hạ bằng cách nhờ tình cảm của tài công, thợ máy, kẻ dắt mối giới thiệu cho đi ké mà chẳng phải mất một cắc bạc… hay do hoàn cảnh dun dủi, gặp được thời cơ thuận lợi, họ cứ nhảy đại xuống thuyền theo kế sách : nhất lý, nhì lì, tam ì, tứ ẩu…rồi thì đến một lúc nào đó con thuyền cũng sẽ cặp bến mà chớ.
Ra đi lúc bấy giờ không phải chỉ  là “chết trong lòng một tí”, mà hơn thế nữa, còn được coi như là chia lìa vĩnh viễn, đôi ngả ngăn cách ngàn đời, như cõi âm và cõi dương, người sống và kẻ chết, vì “bước chân đi cấm kỳ trở lại”.
Gã còn nhớ hồi năm 1954, những người di cư vào miền Nam, lúc đầu còn được liên hệ với những thân nhân tại miền Bắc bằng cách viết vào một tấm giấy bìa màu vàng, tựa như tấm “cạc pót tan”, rồi nhờ “Ủy hội quốc tế kiểm soát đình chiến” chuyển giao.
Viết thì cứ viết, nhưng liệu tấm thư bỏ ngỏ ấy có đến được tay người thân hay không, thì hãy bắc thang lên hỏi ông trời vì chỉ có một mình ông mới biết mà thôi.
Giòng sông Bến Hải nào có rộng rãi chi, thế mà người từ bên ấy muốn qua bên này cũng chẳng được và ngược lại, người từ bên này muốn qua bên ấy cũng đành bất nhóc nhách, huống lọ là hai bờ Thái Bình Dương cách xa ngàn trùng, thì làm sao mà có thể trở về thăm lại quê hương.
Người ra đi thì hiểm nguy khiếp hãi, còn kẻ ở lại thì cũng không kém phần long đong khốn khó…Nhưng thôi, chả dám viết nữa, kẻo có người lại thở dài mà than :
- Biết rồi, khổ lắm, nói mãi.
Thế nhưng sự đời vốn thường thiên biến vạn hóa, thay đổi không ngừng, như người xưa đã bảo :
- Thương hải biến vi tang điền. Nghĩa là biển cả biến thành ruộng dâu.
Hay như một bài hát quen thuộc :
- Than ôi trái đất vẫn tròn,
  Chúng mình hai đứa vẫn còn gặp nhau.
Đúng thế, một luồng gió mới đã thổi vào Việt nam với chính sách đổi mới. Nhà nước mở cửa, kêu gọi nước ngoài đầu tư, nới rộng kinh doanh, phát triển du lịch, một loại kỹ nghệ không có khói nhưng đem lại nhiều lợi nhuận…
Gã không thông thạo lắm về chuyện này, nhưng có lẽ vấn đề cấp bách là phải vực cái nền kinh tế vốn dĩ đã èo uột và lạc lậu lên vì lợi tức đầu người hàng năm lúc bấy giờ của mình thuộc vào hạng thấp nhất thế giới.
Thôi thì như Đặêng Tiểu Bình đã nói, nếu như gã không lầm, rằng :
- Mèo trắng, mèo đen không sao cả, miễn là bắt chuột.
Song song với đó, nhà nước cũng kêu gọi những người Việt nam đang sinh sống ở nước ngoài góp phần xây dựng đất nước, sẵn sàng mời họ trở về thăm lại quê hương xứ sở. Và thế là các Việt kiều bắt đầu lục tục kéo nhau về.
Lúc đầu các Việt kiều còn e dè vì sợ rằng đây chỉ là một cái bẫy do Nhà nước giăng ra. Một khi đã về thì bẫy liền sập, nhất là  đối với  những người đã từng cộng tác với chế độ cũ. Vì có tội thì phải đền tội. Hoặc còn ngại ngùng vì sợ tư thù cá nhân, không được luật pháp bảo vệ, sẽ bị đối xử theo luật rừng, hay theo kiểu giang hồ, mắt đền mắt, răng thế răng…
Nhưng rồi những  cái “sợ rằng” ấy không phải là sự thật. Khi đặt chân xuống mảnh đất quê hương, họ được ân cần tiếp đón như những người thân yêu đi vắng xa nay đã trở về, như những người con đã lạc mất nay lại tìm thấy.
Sở dĩ như vậy vì có lẽ chính sách, đường lối và lập trường của Nhà nước đã thay đổi, nếu không muốn nói là chiếc bản lề đã quay hẳn một góc 180o.
Trước kia, nếu những người vượt biên bị coi là phản quốc, thì nay được coi là yêu nước, được cưng như cưng trứng, hứng như hứng hoa…
Và sở dĩ có bước ngoặt này vì có lẽ Nhà nước đã ý thức được rằng Việt kiều cũng là những người con của Mẹ Việt nam, cũng là những thành phần trong lòng dân tộc, khả dĩ  có thể đóng góp khả năng và chất xám, vật chất và tiền của để xây dựng và phát triển đất nước. Cụ thể là những đồng đô la do các Việt kiều gửi hay đem về giúp đỡ thân nhân.
Tuy nhiên, đồng đô la thì cũng có mặt phải và mặt trái. Việt kiều thì cũng có người tốt và kẻ xấu.
Có những đồng đô la hữu ích đem lại vui mừng và hy vọng, nhưng cũng có những đồng đô la bất hạnh gây đổ vỡ tan hoang. Có những Việt kiều trở về đã sưởi ấm tình yêu thương trong gia đình hay khu xóm, nhưng cũng có những Việt kiều trở về chỉ để hưởng thụ, lường gạt  hay toan tính những việc làm ăn mờ ám.
Muốn biết được những sự việc tốt lành và lôm côm này, xin mời bạn đọc đón xem những bài sau ắt sẽ rõ.
Gã Siêu

 

Chuyện Gã Siêu 105: TÌNH YÊU THỜI MỞ CỬA

TÌNH YÊU THỜI MỞ CỬA Chuyện Gã Siêu 105

Khi học về lịch sử Việt Nam, gã còn nhớ một trong những nguyên nhân khiến người Pháp đem Chuyện Gã Siêu 105

Khi học về lịch sử Việt Nam, gã còn nhớ một trong những nguyên nhân khiến người Pháp đem quân chiếm đóng và dày xéo quê hương này, đó là chính sách “bế môn tỏa cảng” của vua chúa triều Nguyễn.
Thời bấy giờ, người Pháp đang cần thị trường để tiêu thụ hàng hóa, mở rộng bờ cõi, phát huy quyền lực và ảnh hưởng của mình. Thế nhưng, luật “cấm vận” và nghỉ chơi của triều đình Huế đã làm cho người Pháp đánh rơi bổn tính ga lăng của dân Gô loa, để rồi nổi máu yêng hùng “Tạc dăng”, biểu lộ ý đồ xâm lăng đen tối của mình.
Và dân tộc Việt Nam khốn khổ đã bị tròng vào cổ cái ách một-trăm-năm-nô-lệ-giặc-Tây.
Thế nhưng, các cụ ta ngày xưa hình như rất khoái món bế môn tỏa cảng và cấm vận này, nên đã bê nguyên con mà ấp dụng trong lãnh vực tình yêu.
Thực vậy, hồi đó khi con trai và con gái mới lớn lên thì bị cấm tiệt, không được giao du quen biết nhau, theo khẩu hiệu từ ngàn xưa đã để lại :
- Nam nữ thọ thọ bất thân.
Khi đến tuổi đi lập gia đình, thì phải tuyệt đối vâng lời quí vị phụ huynh :
- Cha mẹ đặt đâu, con ngồi đó.
Và tiêu chuẩn quí vị phụ huynh thường đặt ra để cho con cái mình được ngồi vào, đó là môn đăng hộ đối : phải cân bằng về tuổi tác, về địa vị, về kinh tế…Vì vậy, nhiều lúc đã xảy ra những chuyện thật chéo cẳng ngỗng :
- Mẹ em tham thúng xôi rền,
  Tham con lợn béo, tham tiền Cảnh hưng.
  Em đã bảo mẹ rằng đừng,
  Mẹ hấm, mẹ hứ, mẹ bưng ngay vào.
  Bây giờ chồng thấp vợ cao,
  Như đôi đũa lệch so sao cho vừa.
Lắm khi hai ông bố ngồi chén thù chén tạc, rồi kết tình xui gia mí nhau, ngay cả lúc hai trẻ chưa mở mắt chào đời, vì thế mới xảy ra cái cảnh :
- Bồng bồng cõng chồng đi chơi,
  Đi đến chỗ lội đánhrơi mất chồng.
  Cho tôi mượn chiếc gàu sòng,
  Để tôi tát nước vớt chồng tôi lên.
- Lấy anh từ thuở mười ba,
  Đến năm mười tám, thiếp đà năm con,
  Ra đường thiếp hãy còn son,
  Về nhà thiếp đã năm con cùng chàng.
Luật bế môn tỏa cảng này còn được biểu lộ một cách rõ rệt nhất qua chủ trương :
- Trâu đồng nào ăn cỏ đồng ấy.
Hay :
- Ta về ta tắm ao ta,
  Dầu trong dầu đục, ai nhà vẫn hơn.
Hồi đó, hẳn chưa có lý lịch trích ngang để nắm vững đối tượng, nhưng nhờ chủ trương này, các cụ vẫn biết rõ kẻ mình định chọn.
Hơn nữa, sau khi gả bán, các cụ còn mua đứt đường về và tình nghĩa cho con cái :
- Có con mà gả chồng xa,
  Trước là mất nghĩa sau là mất con.
Hay là kiếm chác tí đỉnh lợi lộc để bù lỗ :
- Có con mà gả chồng gần,
  Có bát canh cần nó cũng đem cho.
Đến thời Pháp thuộc, hay Mỹ thuộc chăng nữa, lập trường này vẫn còn được tuân giữ nghiêm chỉnh. Những cuộc hôn nhân “dị chủng” hay “đa quốc gia” năm thì mười họa mới xảy ra và những kẻ trong cuộc đều bị thiên hạ coi khinh bằng nửa con mắt với tên gọi là “me tây” hay “me mẽo”, cho dù đôi lúc những cuộc hôn nhân này cũng đã thành công.
Thực vậy, có những anh chàng mẽo phong nhã cũng xơi tiết canh lòng lợn như điên, cũng nhậu thịt chó riềng mẻ và nhâm nhi ly rượu đế đến say khướt có bợ mà mồm thì vẫn cứ ngân nga :
-Sống trên đời ăn miếng dồi chó,
Xuống âm phủ biết có hay không ?
Cũng ăn cà ghém và khi ăn còn quết mắm tôm thật đậm, đến như gã, dân ghiền mắm tôm hạng nặng cũng đành phải chào thua.
Có những chàng hoàng tử mắt xanh mũi lõ tỏ ra hào hoa “mí” người tình bé bỏng an nam mít, đến độ nhớ nhung phát ốm tương tư :
- Dê cờ ri tình thơ uyn lét,
  Để cho nàng con nét mông cơ.
Nghĩa là :
- Viết lên một bức thư tình
  Để nàng biết rõ lòng mình đắm say.
Có một ông chồng tây chính hiếu con nai vàng, ngày kia dẫn bà vợ an nam mít đi sắm đồ. Thấy vợ kêu :
-Tré sô (tres chaud), nghĩa là quá nóng
Ông chồng dư máu ga lăng liền
vội vàng mua lấy mua để kẻo bà vợ mi nhon bị cái nắng nhiệt đới hành hạ. Thế những khi về đến nhà, ông chồng tây liền bị bà vợ việt xài xể cho một trận tơi bời hoa lá :
- Ối giời ơi, ngu chi ngu lạ, người ta bảo “ tré sô” thì phải hiểu là “trố se” (trop cher) nghĩa là quá đắt. Nói lóng đấy… bò ạ.
Và ông chồng tây chỉ còn nước trố mắt ngạc nhiên, tay giơ lên trời và miệng thì không ngừng kêu :
- Ố là là, ố là là.
Nếu lỡ bị nàng cho leo cây hay đá dăng cu lơ thì cũng đắng cay chua xót :
- Từ ngày lủy kít tê dơ
  Bon nơ cũng lắm, ma lơ cũng nhiều.
Nghĩa là :
Từ ngày mình bỏ rời nhau,
Mừng vui cũng lắm, khổ đau cũng nhiều.
Sau ngày giải phóng, đất nước mình được hoàn toàn độc lập tự do, nhưng tinh thần cấm vận, nghỉ chơi  vẫn được thi hành một cách triệt để, nhất là đối với dân tư bản.
Cũng dễ hiểu thôi, bởi vì ta phải đề cao cảnh giác, kẻo địch lợi dụng những sơ hở để chống phá cách mạng. Bởi đó, việc đầu tiên cần phải làm ngay là xin mời quí vị ngoại quốc về quê ngồi chơi xơi nước để ta ổn định việc nhà, vì có tề gia thì mới trị quốc và bình thiên hạ.
Tiếp đến là phải dè chừng những kẻ có liên hệ với nước ngoài. Gã còn nhớ hồi bấy giờ gã đang cắm dùi tại một vùng vừa sâu lại vừa xa, thư từ liên hệ với bạn bè thật là khó khăn.
Thư về đến xã thì bị mất tích, phiêu diêu miền cực lạc, hay được những bàn tay tò mò tọc mạch ưu ái mở ra xem trước. Buồn tình, gã mới nhờ địa chỉ của một người thân trên tỉnh, thế mà cũng được công an sờ gáy :
- Anh có một hòm thư  bí mật trên tỉnh. Anh liên hệ với ngoại quốc. Anh là người được Xịa cài lại hả ?
Hồi bấy giờ vượt biên bị coi là phản quốc, phản dân tộc và những gia đình có thân nhân ra nước ngoài lúc nào cũng nơm nớp lo sợ bị công  an  chiếu cố hỏi thăm, vì dù sao mình cũng mang lấy mặc cảm tội lỗi.
Trong thời gian này, đốt đuốc đi giữa ban ngày cũng chả tìm thấy một cuộc tình đa quốc gia.
Nhưng rồi con tạo xoay vần. Nhà nước đã chơi một cú ngoạn mục, đá “vô lê” quay phắt 180 độ với chủ trương mở cửa, đổi mới. Việt kiều trở về được coi là yêu nước, được cưng như cưng trứng, hứng như hứng hoa.
Họ rót đô la cho thân nhân xây nhà xây cửa, góp vốn mần ăn. Người nước ngoài ào ào tới Việt Nam như tới miền đất hứa. Nào công ty này. Nào xí nghiệp nọ. Đất cát ven đô rơi vào một cơn xốt cấp tính. Bác nông dân ngày nào còn nghèo rớt mùng tơi, nay chỉ cần bán đi vài công ruộng là khẻo re, đủ phương tiện làm le “mí” thiên hạ.
Trong bối cảnh đó, tình yêu thời mở cửa mang lấy tính cách toàn cầu hóa. Nhưng cuộc tình đa quốc gia hay xuyên lục địa, những cuộc hôn nhân dị chủng nở rộ như lúa hè thu nảy mầm sau trận mưa dầm dề.
Thế nhưng, ăn theo vào đó, biết bao nhiêu chuyện hỉ nộ ái ố đã phát sinh. Gã xin ghi nhanh qua mấy tờ báo thường đọc như Tuổi trẻ Chủ nhật, Công an thành phố… rồi “cọp dê” để chiềng làng, báo cáo với bàn dân thiên hạ, hầu mua vui lấy “một vài chống canh”. Thảng hoặc có dư chút thời giờ chả biết làm gì, thì thử vắt tay lên trán, ngẫm nghĩ sự đời mà cười cho hai chữ nhân tình éo le.
Trước hết là cảnh tỉnh ‘’hờ’’ theo sự tính toán cho cả hai cùng có lợi, nhưng rốt cuộc bị bể mánh, chẳng ‘’nước mẹ’’ gì cả.
Số là vì nuôi mộng ước không bình thường được ra ngoại quốc và trở về làm việt kiều, một cô nường ở Sài gòn đã ưng thuận kết hôn giả với một cống dân Pháp chính gốc con gà trống ‘’Gô-loa’’ vừa chẵn băm lăm tuổi.
Theo sự thỏa thuận, hai người là vợ chồng trên giấy tờ pháp lý, nhưng không được sống chung ‘’mí’’ nhau. Khi đã định cư ở nước ngoài rồi, thì lập tức ly dị liền tù tì. Nếu mọi sự êm xuôi tốt đẹp, anh chồng hờ được hưởng ba ngàn đô, còn chị vợ hờ thì được phe phẩy ở nước ngoài.
Cuộc tình hờ này được trình tòa và được chính quyền thành phố ký nhận. Cứ tưởng mọi sự đã thuận chèo mát mái, ai dè vào phút chót anh chàng ‘’phú lãng sa’’ này lại nhảy rào, xé hợp đồng, đòi làm chồng thiệc, chứ không chịu đóng vai chồng hờ, khiến cho cô nường tóa hỏa tam tinh, chạy vội đến ba tòa quan lớn để xin can thiệp một phen, vì thà chịu vỡ mộng còn hơn là tàn một kiếp …hoa.
Dù sao chuyện tình hờ kể trên, thực chất chỉ là một loại tình dổm, dựa trên sự tình toán cân đo đong điếm.
Bây giờ, gã xin đi vào những cuộc tình nặng đô hơn và cũng day dứt hơn.
Dân Việt Nam ta vốn bản chất dễ hòa đồng và đón nhận cái mới. Chả thế mà ngày xưa Phật giáo, Nho giáo và Lão giáo đã sống chung hòa bình với nhau một cách rất đề huề trong xã hội.
Dưới thời Pháp thuộc, chúng ta đã xơi ngay phần tình túy của nền văn minh phương tây và đã mượn đỡ mẫu tự La tinh mà chế biến thành chữ quốc ngữ.
Vì  thế, chuyện những cô gái thích lấy chồng ngoại âu cũng chỉ là một chuyện hết sức bình thường. Ấy là gã chưa nói tới xu hướng toàn cầu hóa đang xâm lấn vào mọi lãnh vực, kể cả lãnh vực tình yêu.
Bởi vì như chúng ta thường bảo :
- Biên giới của yêu thương là thương yêu không biên giới.
Một khi đã ‘’chịu đèn’’ và ‘’phê’’ mí nhau rồi , người ta sẵn sàng vượt qua mọi ngăn cách về màu da, về ngôn ngữ, về thổ địa… để được sống cùng nhau. Ngày xưa cũng như hôm nay, vẫn có những cặp vợ chồng hai quốc tịch rất hạnh phúc và chuyện tình của họ đẹp như một huyền thoại.
Có một cô hàng bán nước giải khát ở bến Bạch Đằng. Cuộc đời  đang phẳng lặng, thì bỗng một anh chàng si tình xuất hiện. Ngày nào anh chàng mắt xanh da trắng này cũng đến nhấm nháp một con mực khô, uống hai long bia và ‘’bám trụ’’ tại quán suốt hai tiếng đồng hồ để được ngắm nghía cô hàng nước xinh đẹp một cách đăm đăm.
Và thế là tình yêu bắt đầu từ đôi mắt, liên tục phát triển theo số tiền bo hậu hĩnh và số quà cáp mỗi ngày một tăng. Rồi sự gì phải đến đã đến. Anh chàng gà trống Gõ loa đã tỏ tình thẳng đét ‘’mí’’ chị gà mái an nam mít:
- Tôi yêu em, tôi muốn cưới em làm vợ. Em trả lời tôi đi.
Riêng  cô nàng đã bật mí cho biết :
- Yếu tố hớp hồn và hấp dẫn của con gái Việt Nam là nét thùy mị, dịu dàng, kín đáo và đặc biệt là sự bẽn lẽn, e thẹn. Rồi tà áo dài chiếc nón lá… đều là những cái thật dễ thương và đáng yêu.
Tuy nhiên, hiện tượng lấy chồng ngoại không thể không xảy ra những bất trắc, những bi kịch hụt hẫng bởi những mưu tính vụï lợi nhỏ nhen của cả đôi bên, đặc biệt lo ngại là những cô gái lấy chồng Đài Loan.
Bất chấp những trớ trêu từ các cuộc hôn nhân, mai mối chẳng khác chi mua bán nô lệ, đổi chác hàng hóa. Đó là chưa ai để ý đến số phận của những cô gái phải theo chồng về xứ lạ đang hối hả nộp đơn xin ly dị, tìm đường về nước, còn nóng vội hơn cả hôm xuất ngoại theo chồng. Những trục trặc đắng cay xảy ra đều do bởi những cái không biết sau đây.
Cái không biết thứ nhất là về bản thân của đối tượng.
Các cụ ta ngày xưa đã dạy :
- Lấy vợ xem tông,
  Lấy chồng xem giống.
Nhiều khi phải thẩm tra ngược dòng thời gian tới ba bốn đời xem có chi bất ổn. Đằng này người ta sờ mó và chọn mình, chứ mình đâu được quyền chọn người ta.
Phận gái lấy chồng ngoại giống như giọt mưa sa. May thì rơi vào chỗ nước trong. Chẳng may thì rơi vào vũng bùn hay đống phân trâu thì cũng đành phải chịu vậy.
Có chàng sang Việt Nam với mác kỹ sư, nhưng thực chất chỉ là tay thợ hồ hay bốc vác, không hơn dân cu li cu leo là mấy. Có chàng vì tai nạn bị phỏng nặng, toàn thân đầy sẹo to sẹo nhỏ nhưng được che phủ bằng những bộ quần áo đắt giá, nhưng khi về đến nhà thì… hỡi ôi.
Cô nàng kia vớ được anh chồng tướng tá cao ráo, đi đứng lúc nào cũng từ tốn chập chạp. Đến tân hôn, từ phòng tắm bước ra, cô nàng suýt hét lên bởi vì trước mặt cô là một anh chàng chỉ có ‘’một khúc mà thôi’’.hai chân giả quá khéo được lấy ra, kể ngay đầu giường. Thế là kể từ đó, anh chàng ‘’thiếu chân đứng’’ này luôn hành hạ cô nàng, bắt cô nàng phải cõng đi ăn, phải bế đi tắm… chỉ khi ra đường mới chịu gắn chân giả.
Cái không biết thứ hai là về mục đích.
Các cụ ta ngày xưa đã bảo :
- Lấy chồng gánh vác giang sơn nhà chồng.
Thế nhưng, khi lấy chồng ngoại, người con gái lại mù tịt về chồng cũng như về nhà chồng, thì làm sao mà gánh vác ? Hơn nữa, phần lớn những cuộc hôn nhân này lại diễn ra theo nhịp điệu của mua bán. Người con gái không biết mình được mua để làm gì ?
Có những kẻ cưới vợ là để vợ làm những việc đồng áng nặng nhọc như những người làm thuê. Có những kẻ cưới vợ là để vợ chu toàn những công việc bếp núc trong nhà như một người đầy tớ. Có những kẻ cưới vợ là để thỏa mãn những đòi hỏi thân xác.
Báo Công an kể lại :
Một cô gái trẻ Việt nam lấy một ông chồng già Đài loan bằng tuổi ông ngoại. Ai ngờ khi về nước, lão viên ngoại đốn mạt này bắt cô phải phục vụ “chuyện ấy” cho em trai, rồi con trai, rồi cháu trai của lão cho đáng đồng tiền bát gạo lão đã bỏ ra để mua cô về.
Bất hạnh hơn nữa phải kể đến những cô gái lâm vào thế đường cùng nơi đất khách, bị lọt vào những tổ chức mại dâm quốc tế. Những tổ chức này tại Việt nam có thể được mang những vỏ bọc bên ngoài đẹp đẽ, như môi giới hôn nhân, lao động ở nước ngoài… những thí sinh được tuyển chọn, khi đi hăm hở bao nhiêu, thì khi về cũng vội vã bấy nhiêu.
- Khi đi thì dệt mộng vàng,
  Đến khi về nước thì ngậm bồ hòn đắng cay.
Cái không biết thứ ba là về ngôn ngữ.
Ngôn ngữ và tiếng nói là phương tiện Thượng đế trao ban để chúng ta chuyền đạt những tư tưởng, những ý nghĩ cho người khác hầu xích lại gần nhau và bắc được một nhịp cầu cảm thông.
Thế nhưng, vì bất đồng ngôn ngữ, không hiểu nhau, không cảm thông cùng nhau, thì cũng khó mà hạnh phúc với nhau.
Để chứng thực điều trên, gã xin kể lại một câu chuyện cho tất cả cùng… cười.
Thấy thiên hạ có con gái lấy chồng Đài loan, chẳng khác nào đào trúng mở vàng. Nhà cửa vinh vang. Xe cộ đổi đời liên tục. Ông hai Nhơn nôn nóng. Ngó đi ngó lại chỉ còn mỗi cô gái út tên là Mén. Kể ra Út Mén cũng hiền lành lại đẹp gái, vì thế ông kiên quyết phải cho con gái mình lấy chồng ngoại, chứ không cho lấy chồng nội.
Chẳng bao lâu mơ ước của ông đã thành sự thật. Một chàng rể Đài loan to con tốt tướng, tóc húi cao và tuổi sấp xỉ bằng ông xuất hiện. Lối xóm xì xào bàn tán. Ông bỏ ngoài tai, ông rất hài lòng và hãnh diện vì Út Mén đã có chồng ngoại. Hôm bà mối dẫn anh chàng Đài loan về ra mắt ông Hai Nhơn và coi mặt Út Mén, thiên hạ cứ tưởng rằng bạn ông ghé thăm.
Đến khi gia đình làm tiệc chiêu đãi, muốn biết khẩu vị của anh chàng rể tương lai thì được bà mối giải thích :
- Hễ anh chàng Đài loan kêu “ột ột” là thích ăn thịt heo, kêu “hùm bò” là thích ăn thịt bò, kêu “cạp cạp” là thích ăn thịt vịt, kêu “ò ó o” là thích ăn thịt gà. Khi ăn no thì ôm bụng xua tay. Và thế là cả nhà đều vui vẻ.
Một tháng sau, anh chàng rể Đài loan đột xuất về thăm bố vợ và cô vợ sắp cưới. Có lẽ vì đột xuất nên chỉ đi với bác tài xế mà không có bà mối kèm theo.
Bác tài xế thì tiếng anh mới chỉ lõm lõm, thích nói bằng tay hơn bằng mồm, còn tiếng tàu thì hoàn toàn mù tịt. Vì thế khi vô nhà, mọi người đều chào nhau, nhìn nhau, cười nhau và chẳng nói với nhau được sự gì.
Sau khi nhận quà cáp, ông Hai Nhơn bảo vợ và con gái làm tiệc đãi anh chàng rể quí. Những do không biết món gì hợp khẩu với anh chàng rể, ông bèn nhớ đến mấy ngôn ngữ bà mối đã méc lần trước. Ông bèn đưa tay khều anh chàng rể một cái và nói :
- Cạp cạp cạp.
Anh chàng rể gật đầu. Ông khều cái thứ hai và nói :
- Ò ó o.
Anh chàng rể cũng gật đầu. Ông tiếp tục khều cái thứ ba và nói :
- Ột ột ột
Anh chàng rể cười cười, rồi gật đầu. Thế là ông Hai Nhơn cùng Út Mén làm thịt một cặp vịt, một con gà và một con lợn bốn chục ký.
Trong khi ăn, anh chàng rể quẳng một mẩu xương gà xuống đất. Hai con chó chạy lại giành :
- Gừ gừ… Gâu gâu.
Có lẽ vì lạ tai vui mắt, chàng rể bèn buông đũa, bỏ bát, tay chỉ hai con chó, miệng mỉm cười và :
- Gừ gừ… Gâu gâu.
Ông Hai Nhơn tưởng anh chàng rể đòi ăn thịt chó, nên lập tức truyền cho con gái đun nước sôi và đích thân ông ra tay hạ thủ hai chú chó vô tội.
Nấu thịt cầy xong và dọn lên. Anh chàng rể và bác tài xế ngơ ngác. Vợ chồng ông Hai Nhơn cũng ngơ ngác. Cô Út Mén lại càng ngơ ngác hơn.
Vì ham chồng ngoại, rể ngoại, không ít người đã liều nhắm mắt đưa chân, phớt tỉnh ăng lê những chuyện không biết kể trên, để rồi đã phải lãnh đủ những hậu quả dở cười dở khóc.
Mà chắc chắn, khóc phải nhiều hơn cười rồi.
Gã Siêu

 

Chuyện Gã Siêu 106: THAM NHŨNG VÀ HỐI LỘ

THAM NHŨNG VÀ HỐI LỘ Chuyện Gã Siêu 106

Trong những năm tháng gần đây, việc gian lận, xơi tiền của dân của nước mỗi ngày một phát triển Chuyện Gã Siêu 106

Trong những năm tháng gần đây, việc gian lận, xơi tiền của dân của nước mỗi ngày một phát triển, cả về số lượng lẫn về phẩm chất. Mặc dù không nhớ rõ lắm, nhưng gã cũng xin “kê đơn hoàn tán” những vụ điển hình.
Ngày xưa, Nguyễn văn Mười Hai, chủ tiệm nước hoa Thanh Hương, đã dùng thủ đoạn vay vay mượn mượn để ẵm của những người dân tội nghiệp hơn 104 tỷ đống.
Theo vết xe đổ, Phạm công Tước cũng đã dùng mánh mung trên để nuốt trửng 130 tỷ đồng của ngân hàng Nhà nước.
Người đẹp Trần xuân Hoa, với độc chiêu ấy cộng thêm tí nhan sắc trời ban cho, đã xơi tái 250 tỷ đồng của ngân hàng.
Noi gương các vị tiền bối, Phạm huy Phước cũng đã vay vay mượn mượn và rồi đã ăn trọn hơn 300 tỷ đồng.
Có một thời, phong trào giật hụi, bể nợ như một trận cuồng phong thổi vào đất nước, ở mọi nơi và trong mọi lúc, người ta dở khóc dở cười, dở mếu dở máo vì đồng tiền chắt chiu bằng mồ hôi nước mắt của mình bỗng dưng bị bốc hơi, còn thủ phạm thì cao chạy xa bay, hay ngồi tù ít ngày để tồn tâm dưỡng tánh vì không còn khả năng chi trả.
Và gần đây hơn, hai vụ nổi cộm đã làm cho người dân phải xót xa, đó là vụ Tân trường sanh và Tăng minh Phụng.
Với vụ Tân trường sanh thì số hàng nhập lậu lên tới hơn 900 tỷ đồng. Riêng số tiền chè nước lo lót khoảng 9 tỉ rưỡi. Còn vụ Tăng minh Phụng, thì Nhà nước mất toi 4.000 tỷ đồng, bằng số tiền của toàn dân thắt lưng buộc bụng mua công trái trong hai tháng đầu tiên được phát động của năm 1999.
Từ những sự kiện trên, gã bỗng nhớ tới câu chuyện cổ tích “ăn khế trả vàng”.
Ngày xửa ngày xưa, tại một làng nọ có một nhà kia, ông bố chết đi để lại hai người con trai với một gia tài kếch xù. Ông anh, ỉ mình là trưởng nam quyền huynh thế phụ, đã nuốt vội nuốt vàng toàn bộ sản nghiệp to lớn ấy, chỉ để lại cho chú em một túp lều tranh xiêu vẹo và một cây khế.
Hằng ngày, chú em hái khế đem ra chợ bán lấy tí tiền còm đong gạo và mua sắm những thứ cần thiết cho sinh hoạt gia đình bởi vì đó là nguồn thu nhập duy nhất.
Cũng như mọi ngày, sáng sớm hôm đó chú em ra hái khế, thì một con quạ to ơi là to đã xơi hết những trái chín. Thấy vậy, chú em bèn than thở cả tiếng :
- Quạ ơi quạ, quạ biết tôi nghèo túng mà còn nỡ lòng nào xơi hết những trái khế chín của tôi.
Quạ trả lời :
- Anh đừng lo, ta sẽ đền ơn đáp nghĩa cho anh. Anh hãy về may một cái túi rồi sáng mai chờ ta tại đây.
Nghe quạ nói, chú em về nhà may một cái túi, rồi sáng hôm sau ra gốc cây khế chờ quạ. Chờ chưa được bao lâu thì quạ đến và công chú em tới một hải đảo xa xôi, nhưng lại đầy vàng.
Khi chú em lượm chặt  túi, quạ liền công chú về. Với túi vàng này, chú em làm lại nhà cửa và trở nên một người giàu có trong làng.
Sững sờ trước sự phất lên mau chóng của chú em, ông anh bèn gạ gẫm hỏi cho biết bí quyết mánh mung. Chú em đơn sơ thật thà kể lại đầu đuôi sự việc là như thế cho ông ta.
Sáng hôm sau, ông ta ra hái khế, thấy quạ đã xơi hết trái chín, liền than thở đúng bài bổn và được quạ căn dặn về nhà may túi.
Khấp khởi mừng thầm vì phen này ắt hẳn vớ to. Ông ta quát tháo bà vợ may cho mình một chiếc bao thật lớn, loại bao hai dạ “được mùa” của các bác nông dân vùng đồng bằng sông Cửu long.
Sáng hôm sau, ông ta cũng ra chờ ở gốc khế và được qua công ra đảo vàng. Ông ta lèn cho đầy một bao, rồi lại còn nhét vào trong túi quần, túi áo và ngậm cả ở trong miệng.
Quạ công ông ta về, nhưng  vì không kham nổi trọng lượng của bao vàng, nên cuối cùng đã phải thả ông ta xuống biển khiến ông ta bị chết trôi chết nổi giữa sóng nước.
Từ câu chuyện trên gã nghiệm ra một sự thật :
- Phàm đã là người thì dường như không nhiều thì ít, ai cũng có tí máu tham trong mình. Đã cầm cuốc thì ai cũng cuốc vào chứ nào ai có cuốc ra bao giờ. Hễ có dịp, thì dường như ai cũng chịu khó vơ vét cho đầy túi tham. Chỉ phiền một nỗi là đối với lắm kẻ thì túi tham ấy lại thủng đáy, cho nên vơ vét vào mà chẳng bao giờ đầy.
Sự việc xảy ra ở bên Đức :
Khi trận đấu bóng kết thúc, mọi người ra khỏi sân vận động, không hiểu tiền ở đâu mà rơi vãi lắm thế trên hè phố. Thế là tất cả, từ những người đạo mạo và mô phạm cho đến những tay cà chớn, ai nấy đều mắt trước mắt sau, lấm lét cúi giả bộ như sửa giây giày, nhưng thực chất là xuống lượm và lượm cho bằng hết những đồng tiền rơi vãi.
Tuy nhiên, khi về tới nhà, dưới ánh đèn sáng choang thì mới bật ngửa, té ra đó chỉ là những đồng tiền giả của một kẻ chơi khăm, muốn trắc nghiệm xem có quí vị nào không tham.
Nếu gian tham là một chứng bệnh, thì nơi những người có quyền có chức, chứng bệnh này thường được bộc phát qua hai dạng đặc biệt, đó là tham nhũng và hối lộ.
Đúng thế, phải có quyền có chức, phải là các quan thì mới có điều kiện và cơ may để đớp tiền chùa của nhà nước cũng như xơi tiền mồ hôi nước mắt của dân, như cha ông chúng ta ngày xưa đã từng lên tiếng báo động :
- Con ơi, nhớ lấy câu này,
  Cướp đêm là giặc, cướp ngày là…quan.
Người ta thường dùng lẫn lộn tham nhũng và hối lộ, nhưng theo thiển ý của gã, mặc dầu có chung một mẫu số là xơi tiền của dân của nước, nhưng mỗi bên đều có những lãnh vực riêng biệt.
Vậy thế nào là tham nhũng và thế nào là hối lộ ?
Trước hết, chúng ta sẽ cùng nhau bàn về tham nhũng.
Impact, một tạp chí chuyên ngành về tài chính có uy tín đã đưa ra một định nghĩa khá mỹ miều như sau :
- Tham nhũng là sự coi thường tính minh bạch và liêm khiết trong các vấn đề có liên quan đến lợi ích công cộng.
Định nghĩa này xem ra có vẻ hoa hòe hoa sói, nhiêu khê và rắc rối.
Còn theo “Việt nam tự điển” của Lê văn Đức thì :
- Tham nhũng xuất phát bởi bốn chữ “tham lam nhũng lạm”. Bốn chữ này có nghĩa là ăn bớt của chung.
Còn nếu nói huỵch toẹt như gã, thì  :
- Tham nhũng chính là ăn cắp của công.
Nghệ thuật ăn bớt, ăn xén, ăn cắp…của các quan thì thiên biến vạn hóa đến quỉ thần cũng không lường nổi.
Chẳng hạn như Nhà nước trao cho quan xây dựng một công trình. Quan liền ký hợp đồng với một công ty nào đó, thỏa thuận nâng giá thành lên để rồi chia nhau phần sai biệt. Làm như vậy, cả hai đều có lời, nhưng lại là một thứ cấu kết liên doanh với ma quỉ.
Rồi khi mua sắm vật tư, quan có thể làm hóa đơn khống, nghĩa là không mua mà vẫn có hóa đơn, hay mua một nhưng ghi thành hai, hay mua rẻ nhưng ghi thành mắc…Vì thế, quan càng làm, càng có tiếng với dân, lại càng có nhiều miếng để mà đớp.
Quan đánh hơi thấy chỗ nào có mùi tiền là liền vươn vòi bạch tuộc tới đó, hay chịu khó nhúng cả bàn tay lông lá vào ngay. Thậm chí có những quan vui vẻ xơi ở cả những chỗ không đáng xơi.
Chẳng hạn đồng tiền của những cơ quan viện trợ giúp cho những người phong cùi hay mồ côi, chạy vòng vo tam quốc, thế nào cũng rò rỉ vào túi các quan một mớ, quan lớn xơi nhiều, quan bé xơi ít, để rồi khi tới tay trại phong cùi hay viện cô nhi thì chẳng còn bao nhiêu. Chỉ là như mấy giọt nước tong teo được nhỏ xuống mà thôi.
Gã còn nhớ, năm 1978  vùng gã ở bị lụt lớn. Nhà nước kêu gọi toàn dân nhường cơm sẻ áo, lá lành đùm lá rách. Thậm chí ngay cả những thày cô giáo vùng gã, vốn mang danh là những người “húp cháo”, lại đang gặp thiên tai cũng phải hưởng ứng lời kêu gọi cứu trợ. Mà không hưởng ứng cũng không được vì thiên hạ trừ tật vào tiền lương của mình. Thôi thì lá rách ít đùm lá rách nhiều, lá rách vừa vừa đùm lá rách te tua, cứu trợ bất dắc dĩ cũng chẳng sao, đổi khóc thành cười mà miệng thì cứ méo xệch.
Theo số liệu trên báo chí thì khoản tiền cứu trợ này thật đáng khích lệ, nhưng cuối cùng trong cả ấp của gã thì chỉ có mấy gia đình thuộc hạng “khố rách áo ôm”, nghèo rớt mùng tơi là được chiếu cố, đi lãnh mấy ký gạo hẩm và một lít nước mắm thối của cái được gọi là cứu trợ đồng bào bị  thiên tai. Quả là đầu voi đuôi chuột.
Những vị quan có máu tham nhũng được sánh ví như là những con chuột nhắt đục khoét bồ lúa, hay như một loại mối mọt ăn rỗng cây cột và làm cho cây cột bị gẫy đổ lúc nào không hay. Quĩ của Nhà nước mỗi ngày một tóp lại và trở nên rỗng tuếch, còn quĩ  của các quan mỗi ngày một phình ra, nào nhà lầu, nào xe hơi và trăm thứ lỉnh kỉnh khác nữa.
Hồi gã còn bé ở ngoài Bắc không có nhiều kẹo như bây giờ. Cả nhà có mỗi một khạp mật được bố cất kỹ để dùng mỗi khi cần đến chất ngọt. Thế là những lúc bố đi vắng, gã bèn chui vô ăn vụng bằng cách chấm ngón tay vào khạp mật, ngoáy một vòng rồi đưa lên miệng mút lấy mút để, mút hết cả ghét khiến ngón tay cứ…trắng tươi.
Với các quan cũng vậy, hành động tham nhũng chính là hành động chấm mút. Các quan chấm ngón tay vào công quĩ rồi  vô tư, mặc sức mà…mút cho thoải mái.
Bây giờ gã xin bàn tới phạm trù thứ hai, đó là ăn hối lộ.
Ngày xưa có những bọn cướp thường chặn và bắt dân chúng phải đóng một khoản tiền được gọi là “mãi lộ”, để “mua đường đi”, thì mới được qua lại trên đoạn đường ấy. Chẳng hiểu có phải vì vậy mà phát sinh ra hai chữ hối lộ, tức là đút lót tiền cho các quan để nhờ cậy một công việc, để được che chở hay được một ơn huệ nào đó.
Nói cách khác, hối lộ là việc người dân dùng tiền bạc hay quà cáp… có khi vui lòng, có khi bị ép buộc mà dâng cho các quan một cách kín đáo trong một dịch vụ nào đó.
Thuở ban đầu, khi nhân chi sơ tính bản thiện, thì hành vi biếu xén rất có thể chỉ là một hành vi đền ơn đáp nghĩa.
Chẳng hạn gia đình bị mất trộm, tôi đến công an trình báo và công an không những đã tìm ra thủ phạm mà còn bắt thủ phạm phải hoàn trả những món đồ đã chôm được của gia đình tôi. Khi nhận lại những của đã mất, tôi thầm nghĩ  mình cũng phải biết điều, ít  nữa là đối với những anh em công an. Mặc dầu họ không đòi, nhưng mình vẫn phải làm, như có một sự thúc ép từ bên trong :
- Đã nhận ơn thì phải biết ơn và đền ơn.
Thế nhưng chuyện đời không đơn sơ và phẳng phiu như thế. Kinh nghiệm cho thấy : đồng tiền đi trước, đồng tiền khôn. Đằng nào cũng đút thì nên đút trước, bởi lẽ sẽ làm cho quan vui vẻ hơn. Và một khi quan đã vui vẻ thì công việc của mình hẳn sẽ đầu xuôi đuôi lọt, đỡ phải những mắc míu khó khăn, như một nhà thơ đã phát biểu :
- Có tiền việc ấy mà xong nhỉ.
Trong báo”Tuổi trẻ chủ nhật” có ghi lại một mẩu chuyện hài hước của Zadorop. Mẩu chuyện ấy đại khái như thế này.
Vừa qua, người ta đưa tôi vào bệnh viện để mổ ruột thừa gấp. Thế nhưng bác sĩ nói :
- Hôm nay chúng tôi phải giải phẫu cho mấy người nước ngoài.
- Xin bác sĩ  cứ tính gấp đôi.
Bác sĩ vui vẻ nói :
-Đây lại là chuyện khác, đáng lẽ anh nên nói ngay từ lúc đầu.
Thế là bác sĩ  mổ cho tôi ngay lập tức, không kịp tiêm thuốc tê vì cô y tá gây tê xin nghỉ bù sáng nay.
Khi ruột thừa đã cắt xong thì đúng mười hai giờ. Bác sĩ buông dụng cụ, lột bao tay và nói :
- Hết giờ làm việc.
- Thế ông không khâu lại cho tôi sao ?
- Tự nó sẽ lành thôi.
Tôi lại thử một lần nữa :
- Chỗ quen biết, ông cứ tính cả tiền xăng dầu, lẫn tiền cà phê luôn nhé.
- Thế thì được, theo nguyên tắc chúng tôi không khâu cho ai ngoài giờ cả. Nhưng chỗ quen biết với nhau, tôi linh động cho anh đấy.
Cuối cùng, bác sĩ đã khâu bụng lại cho tôi. Nhưng chẳng có ai đưa tôi về phòng. Tôi cố gọi mấy cô y tá, nhưng ai cũng đi qua vội vã. Mãi nửa đêm tôi mới nhờ được một người tàn tật cho bám vào xe lăn.
Chính vì thế, dân cảm thấy đó là như một bổn phận vì muốn được việc thì cần phải biết điều, cần phải hối lộ. Còn các quan, được đút mãi, được xơi hoài thành tật theo kiểu “quen mui thấy mùi ăn mãi”, và nghiễm nhiên coi đó là một thái độ phải có, một bổn phận phải làm của dân.
Đây quả là cái vòng luẩn quẩn của một mê hồn trận, của một thế cài răng lược, tựa lưng vào nhau mà sống : Có đớp thì mới đút và có đút thì mới đớp.
Thậm chí trong vụ Tân trường sanh, bị cáo Phùng long Thất, một cán bộ Hải quan cao cấp đã phải thốt lên ai oán :
- Thân mình không thể không nhận “bồi dưỡng”, vì ngày nào cũng bị khách hàng o bế cung phụng.
Và như thế, tệ trạng hối lộ đã trở thành chuyện đời thường, như một tục lệ đương nhiên. Mà đã là lệ thì khó mà xóa bỏ, bởi vì phép vua còn thua cả lệ làng.
Tệ trạng hối lộ vẫn đang liên tục phát triển, trăm hoa đua nở với những danh xưng thật mỹ miều, nào là tiền bồi dưỡng, tiền chè nước, nào là phong bì, quà cáp…Tệ trạng này có mặt trong mọi lãnh vực, gã xin ghi lại nơi đây một số ý kiến của bạn đọc về vấn đề này đã được đăng tải trên báo Công giáo và Dân tộc.
“Khi xin giấy tờ về nhà đất, về kinh doanh hay mua bán xe…tất cả đếu phải “trà nước” nếu muốn nhanh việc. Cho dù đây không phải là luật, nhưng đã là lệ. Nếu phải chạy đi chạy lại nhiều lần cho một công việc nào đó, gia đình sẽ bảo tôi là khờ, là không bén “nhạy”.
“Bây giờ muốn làm gì thì khó mà đi tay không. Việc tặng quà đã  trở thành cái nếp, gần như là một cố tật của xã hội. Người ta cho rằng những món quà chỉ mang ý nghĩa “tình cảm”. Thật ra chẳng tình cảm chút nào cả, chỉ có người tặng quà và người nhận quà mới biết rõ nó mang ý nghĩa gì. Theo tôi, hối lộ có nhiều mức độ khác nhau, nhưng mức độ khởi đầu của nó là quà biếu.
“Tôi xin làm bản sao khai sinh cho con để nộp đơn đi học. Nhân viên hộ tịch bảo phải một tuần sau. Tôi đành đưa một phong bì bồi dưỡng. Thế là mọi chuyện ổn thỏa nhanh chóng.
“Mấy lần trước về tới Tân sơn nhất, nhiều Việt kiều nhét 5 USD  vào giấy thông hành. Lần này về thăm gia đình, lại chẳng tốn đồng nào. Tôi nghĩ  đã có sự thay đổi trong đội ngũ hải quan. Nhưng gia đình tôi lại nói chắc là họ quên.
“Ba tôi mất ở bệnh viện bị đưa xuống nhà xác. Gia đình phải chi tiền bồi dưỡng cho nhân viên quản lý, xác ba tôi mới được nhanh chóng về nhà. Mẹ tôi cũng nằm viện, do rút kinh nghiệm, nên khi mẹ hấp hối, gia đình xin đưa mẹ về trước. Nhưng cũng phải bồi dưỡng cho các bác sĩ, y tá…
“Có người đã gọi ngày nhà giáo là “ngày cho đồ thày cô”. Tôi buồn quá. Một ngày kỷ niệm bị biến thành ngày nặng về vật chất, bôi nhọ luôn những món quà đầy ắp tình cảm.
Lời phát biểu trên chưa đau cho bằng lời phát biểu của một vị phụ huynh mà gã đã được nghe thấy :
- Chúng tôi đã đóng tiền cho các thày các cô nhậu rồi còn đòi hỏi gì nữa!!!
Từ những cảm nghĩ trên, có người đã cho rằng : tiền hối lộ chính là một “chất mỡ” bôi trơn bánh xe vận hành thương mại và đầu tư ở các nước đang phát triển.
Họ nêu ra trường hợp một địa phương miền nam Trung quốc, nhà đầu tư phải lo lót tiền cho chính quyền xã để mở một con đường giao thông huyết mạch đi ngang qua xã này mà không có trong qui hoạch. Mấy năm sau, con đường ấy phát huy tác dụng, nhà đầu tư lẫn địa phương đó đều giàu lên.
Tuy nhiên, một vài trường hợp như trên không đủ để thuyết phục bất cứ ai thấm thía với tệ nạn tham nhũng hối lộ bởi vì nó chính là yếu tố quan trọng  hơn cả làm suy thoái kinh tế và mất ổn định xã hội.
Luật sư  Nguyễn văn Phương cũng viết :
“Một nguyên nhân nổi bật và gây nhức nhối là vấn đề “tiền bồi dưỡng”. Với “tiền bồi dưỡng”, người ta đã có thể mua được cả một ngành mà nhiệm vụ là gác cổng không để hàng lậu lọt vào phá hoại kinh tế quốc gia. Nhưng đâu chỉ có ngành Hải quan nhận tiền bồi dưỡng, mà vấn đề tiền bồi dưỡng có mặt ở khắp nơi, trong mọi hoạt động, trong mọi ngành nghề. Thiếu nó thì công việc không chạy, hoặc chạy không trơn tru, nên thật khéo khi người ta gọi nó là “tiền bôi trơn”. Vấn đề này xảy ra thường xuyên quá đến nỗi người ta coi nó là chuyện đương nhiên và không hề có mặc cảm tội lỗi khi thực hiện nó.
Theo con số thống kê quốc tế, trong thời gian từ 1988-1992, kim ngạch xuất khẩu bình quân hằng năm của mười tập đoàn xuất khẩu vũ khí đạn dược lớn trên thế giới là 30 tỷ mỹ kim, trong đó có khoảng 4 tỷ mỹ kim được dùng vào việc hối lộ trực tiếp hoặc gián tiếp các chính khách và các quan chức cao cấp.
Nếu gã không lầm thì hình như chính phủ của thủ tướng Tanaka bên nước Nhật cũng đã bị gục ngã vì số tiền hối lộ của một công ti chế tạo máy bay tại nước Mỹ!
Tuy nhiên đút được và được đút cũng như đớp được và được được đớp quả là một nghệ thuật. Ở đây gã chỉ bàn thêm chút xíu về hai thứ nghệ thuật này.
Hồi trước ngày Giải phóng, tất cả các xe đò muốn qua trạm kiểm soát một cách mau chóng thì anh lơ phải mau mắn nhảy xuống xe đút một tờ báo cho viên cảnh sát. Dĩ nhiên là trong tờ báo ấy có kẹp thêm “Đức thánh Trần”, tức là tiền năm trăm thời đó.
Bây giờ, các Việt kiều muốn thủ tục nhập cảnh được êm xuôi, thì khi tới sân bay, cứ việc kẹp sẵn vài đồng đô la trong hộ chiếu là qua cửa ải cái vù. Đó cũng là một cách đút.
Nếu đút cửa trước xem chừng có vẻ…căng, thì hãy chịu khó luồn cửa hậu, cửa sau, nghĩa là hãy chịu khó liên hệ với quan bà, vì một lời của quan bà đối với quan ông thì bằng ngàn lời của người dưng nước lã.
Thấy tiền và nhất là thấy vàng, chắc chắn quan bà sẽ rất lấy làm xúc động mà bàu cử cho.
Đây cũng là điều dễ hiểu, bởi vì  lấy vàng để nhử đờn bà và lấy đờn bà để nhử đờn ông, vốn là một qui luật của ngàn đời.
Riêng các quan, muốn đớp một cách khéo léo ít kẻ biết được, thì mỗi khi có tí chuyện vui hay tí chuyện buồn như : đám giỗ cho các cụ thân sinh, đám cưới cho con, đám thôi nôi cho cháu, hay đám kỷ niệm quan ông lấy quan bà…thì cứ việc mở tiệc cho linh đình.
Đối với dân đen, thì đông vui hao, chứ đối với các quan, đông vui…thì chỉ có lời. Các thân chủ khi nhận được thiệp báo tin thì hãy lo chuẩn bị một phong bì thật chất lượng, hay quà cáp thật hậu hĩnh.
Có một vở kịch mang tựa đề là “phong bì” được báo Công An thành phố tóm lược như sau :
Có ông bác sĩ “lương y như từ mẫu” nên rất nghèo, quanh năm cứ được bà vợ cho ăn cơm với rau muống. Hết luộc tới xào, hết xào tới nộm, khiến ông thấy rau muống là phát ngán.
Cuối cùng hai vợ chồng mới tìm ra nguyên nhân khi soi rọi lại các đồng nghiệp của mình cứ giàu lên, đó là do ông bác sĩ  chân chính này không chịu nhận phong bì. Hai vợ chồng ông bác sĩ sau khi “ngộ” ra cái nguyên nhân nghèo của mình, nên quyết định…nhận phong bì.
Bất ngờ có một đứa bé gái đến gõ cửa nhờ cứu mẹ đang nằm trong bệnh viện chờ mổ và đưa cho ông bác sĩ cái phong bì. Quyết tâm thì có, nhưng lương tâm thì chống lại, nên ông bác sĩ rất khổ sở, giằng xé trước cái phong bì. Nhận hay không nhận ? Bà vợ càng thúc giục, ông bác sĩ  càng đau khổ.
Hỏi thăm hoàn cảnh của “khổ chủ” mới vỡ lẽ ra rằng trước đây đứa bé gái cũng có một người cha đau nặng phải vào nhà thương để mổ, nhưng vì nghèo quá không có phong bì nên người cha ấy đã chết. Bây giờ cô bé không muốn mất thêm người mẹ, nên cương quyết phải đưa phong bì cho ông bác sĩ.
Cuối cùng, cái gút của vấn đề đã được mở cũng từ cái phong bì khi có sự giằng co của bà vợ ông bác sĩ  khiến tiền trong bì bị rơi : thì ra chỉ là mấy đồng bạc lẻ.
Để kết luận gã xin kể lại một mẩu chuyện nho nhỏ trong sách “Cổ học tinh hoa”.
Có một ông quan vừa mới nhận chức tại một huyện xa xôi. Ban đêm, một người bạn đến thăm và đút cho ông ta một số tiền lớn. Ông quan thanh liêm nhất định không nhận, nhưng người bạn liền nói :
- Trời thì tối, chẳng có ai biết được đâu mà sợ.
Ông quan trả lời :
- Trời biết, đất biết, anh biết và tôi biết, sao lại nói chẳng có ai biết được đâu ?
Thế nhưng, các vị quan thời nay cứ phớt tỉnh ăng lê, ung dung xơi một cách tận tình, miễn sao đừng để cho sao quả tạ chiếu tướng.  Chỉ khi nào lỡ chùi mép không kịp, bị sờ vào gáy và bị lôi ra tòa xét xử thì mới giật mình và vội vã kêu lên rằng :
- Mình bị oan…mình bị lừa…hay mình dốt và thiếu khả năng nhưng bị đặt ngồi vào ghế cao một cách bất đắc dĩ…
Giữa lúc ba tòa quan lớn xét xử những vụ tham nhũng hối lộ nổi cộm như Tân trường sanh, Minh phụng… thì  báo chí cho biết :
- Các nhân viên hải quan đang thi hành nhiệm vụ vẫn tiếp tục nhận tiền bồi dưỡng và những người làm thủ tục hải quan vẫn tiếp tục đưa tiền bồi dưỡng như thường lệ.
Nếu vậy,  cứ diệt tham nhũng, nhưng diệt rồi thì biết lấy ai mà lo việc dân việc nước.
Và thế là tòa xử, tòa cứ xử. Ta đớp, ta cứ đớp.
Gã Siêu

 

Chuyện Gã Siêu 107: NHẬU 2

NHẬU 2 Chuyện Gã Siêu 107

Một nhà học giả kia đã bàn về cái cười của người dân Việt, đại khái như sau : - Dân An nam ta Chuyện Gã Siêu 107

Một nhà học giả kia đã bàn về cái cười của người dân Việt, đại khái như sau :
- Dân An nam ta cái gì cũng cười. Vui cũng cười mà buồn cũng cười. Động một tí là vén môi cười…tồ tồ.
Mà đúng thế. Một vị linh mục, gốc Canada, ngày nọ loan báo cho đám học trò của mình :
- Cha Bolumburu, vị giáo sư khả kính của chúng ta mới qua đời.
Bỗng một tiếng cười ồ của đám học trò vang lên, làm cho vị linh mục tức giận đến nỗi đỏ mặt tía tai, suýt nữa thì hộc cả máu mồm. Bởi đó, ngài liền mắng te tua :
- Tôi không hiểu được tại sao khi loan báo một tin buồn như thế mà các anh lại cười được.
Cuối cùng, mấy tên đầu sỏ, đại diện cho đám học trò, bèn phải gặp gỡ để giải thích :
- Chúng con cười không phải vì mất đi một vị giáo sư, nhưng cười vì tên của ngài nghe thật lạ tai. Bolumburu mà.
Tuy hiểu là như thế, nhưng xem chừng vị linh mục ngoại quốc này vẫn còn tức như bị…”tê giác húc” ấy.
Cũng một thể thức ấy, gã có thể phán về sự nhậu của người Việt mình như sau :
- Dân An nam ta cái gì cũng nhậu. Vui cũng nhậu mà buồn cũng nhậu. Động một tí là…nhậu liền tù tì.
Gã đã lượm trên báo “Tuổi trẻ chủ nhật” một mẩu ngăn ngắn với tựa đề : “Quá trời là nhậu”. Tác giả đã viết :
“Khó mà kể hết có bao nhiêu cách để nhậu, bao nhiêu chuyện để nhậu. Này nhé :
- Nhờ người bạn mua giúp chiếc xe honda…cũng nhậu. Hôm qua mới lĩnh lương…cũng nhậu. Tuần rồi mới nhận hàng “bển” gửi về…cũng nhậu.
Rồi này :
- Vừa tậu được xe mới hả…nhậu “tân xe” đi. Mới trúng số hả…”khao đi”. Kỳ này lên chức hả…làm một chầu “rửa lon” đi…Rõ ràng nhậu không hề có “luật” chi hết, nhưng đã trở thành “lệ” rồi.
“Khánh thành, cũng nhậu. Tổng kết, cũng nhậu. Cuối năm, cũng nhậu. Đám cưới, đám giỗ, đám hỏi, đám ma, đám đầy tháng, đám thôi nôi, đám sinh nhật, đám khai trương tiệm may, đám mừng tốt nghiệp…đều nhậu tất. Coi bộ thật khó để sửa cái đã thành nếp này.
Gã có một tên bạn thuộc hạng nghèo kiết xác, nghèo rớt mùng tơi. Hôm trước anh ta đi chợ, đụng phải một tên thương phế binh. Tóc tai bờm xờm, râu ria rậm rạp.
Tên thương phế binh này vừa mời vừa bắt anh ta mua vé số kiến thiết. Bất đắc dĩ anh ta phải mua một tấm cho yên chuyện. Rủi thay tấm vé số bất đắc dĩ giúp người ta lại trúng ngay lô hạng bét, lãnh được hai chục ngàn đồng.
Bè bạn hay tin anh ta trúng số, lục tục kéo đến mừng, rồi cắm dùi tại nhà anh ta, thành thử anh ta bèn phải miễn cưỡng tổ chức một chầu nhậu xương xương ngoài ý muốn tốn gấp đôi, gấp ba số tiền thưởng. Quả là một tấm vé số… bất hạnh.
Cũng trên báo “Tuổi trẻ chủ nhật”, tác giả Danh gia đã mô tả cái bàu khí “nhậu” thật ồn ào náo nhiệt của thành phố Saigon như sau :
“Mỗi buổi chiều cắp cặp đi làm về đều chạy qua khu “chợ nhậu hải sản” đường Thi sách. Tiếng bao khăn lạnh nổ đôm đốp, tiếng bia từng thùng được vác ra chất đống cứ như thể ngồi bên cái “đề bô” bia mới gọi là sang, tiếng réo nhau ơi ới trên điện thoại cầm tay rủ nhau đến đông vui xen vào giữa những tiếng hò “dzô, dzô”, tiếng tâng bốc, tiếng “tứ hải giai huynh đệ kết nghĩa”, tiếng khích bác, tiếng chửi thề, tiếng gây gỗ…quyện lẫn với mùi tôm, mùi cá, mùi lươn, mùi nghêu, mùi sò…Tất cả tạo thành một cảnh hỗn mang mà bất cứ một cái chợ cá nào cũng phải hổ thẹn vì thua kém.
“Quẹo ra đường Tôn Đức Thắng, rẽ qua Thị Nghè, Hàng Xanh về nhà cũng bấy nhiêu cảnh tương tự dọc hai bên đường. Không biết có bao nhiêu “chợ nhậu” như thế trong thành phố này ? Chỉ biết đi đâu cũng thấy, khiến phải băn khoăn đặt  câu hỏi :
- Phải chăng đây là “hoạt động văn hóa” chủ yếu của thành phố này vào giờ tan tầm ?
“Cứ thế ngày này sang ngày khác, các độ lớn, độ nhỏ, độ XO, độ VSOP, độ bia, độ đế, độ rượu thuốc từ lâu đã thay thế bữa cơm tối vợ chồng, con cái đoàn tụ trong nhiều gia đình. Mù mịt đến khuya chồng mới bò về đến nhà, vợ có hỏi, may mắn lắm mới được chồng    nạt :
- Làm ăn mà. Thời buổi kinh tế thị trường không nhậu làm sao làm ăn, làm sao ký hợp đồng được chớ ?
“Còn rủi phận hơn thì ăn đấm, ăn đá.
Chúng ta thường nói :
- Con người không sống để mà ăn, trái lại con người ăn để mà sống.
Nhờ ăn, mà cơ thể được bồi dưỡng, có đủ sức để lao động sản xuất. Nhờ uống chút ít mà chúng ta có thể tạo được một bàu khí vui vẻ, cởi mở và thân mật. Chính vì thế, khi ngồi vào bàn tiệc, chúng ta thường được nghe những câu nói để tạo “khí thế”, chẳng hạn như :
- Nam vô tửu như kỳ vô phong. Có nghĩa là con trai mà không uống rượu thì như cờ không có gió, rũ rợi, ủ dột, buồn tẻ.
Những kẻ đạo đức hơn một tí thì khôi hài sánh ví :
- Cỗ không có rượu, như kiệu không có cụ. Nghĩa là đi rước kiệu mà thiếu vắng cha chủ sự, thì  quả là nhạt nhẽo vô duyên tệ.
Trong Thánh vịnh cũng đã từng có câu :
- Chúa ban rượu ngon làm vui thỏa lòng người.
Và trong cuộc sống, Chúa Giêsu cũng đã nhiều lần tham dự những đám tiệc. Ngài đã khởi đầu cuộc sống công khai bằng tiệc cưới tại Cana và kết thúc bằng bữa tiệc Vượt qua với các môn đệ.
Tuy nhiên, nhân đức bao giờ cũng phải ở vào cái thế trung dung, “virtus in medio stat”, bởi vì phàm cái gì thái quá thì cũng bất cập. Ăn nhiều quá sinh ra bội thực , rồi từ chỗ bội thực sinh ra bệnh nọ tật kia. Còn uống nhiều quá thì  “hóa rồ hóa rại”  như tục ngữ đã bảo :
-Tửu nhập tâm như hổ nhập lâm. Có nghĩa là rượu vào thì như cọp dữ giữa rừng.
- Tửu nhập tâm như  cẩu cuồng tọa thị. Có nghĩa là rượu vào thì như chó điên cắn càn giữa chợ.
Làm mất nhân phẩm của mình đã đành, mà còn gây nên đổ vỡ cho gia đình, đồng thời va chạm với những người chung quanh, làm sứt mẻ tình nghĩa bà con lối xóm.
Trước hết là đối với bản thân.
Dân bợm nhậu thường nói :
- Chưa hề có một mộ bia nào trên đó khắc ghi hàng chữ : đây là nơi an nghỉ của kẻ đã chết vì rượu.
Thế nhưng trong cuộc sống thường ngày, không thiếu chi những chuyện vui buồn xảy đến cho những kẻ say xỉn. Uống say rồi lăn kềnh ra ngủ,thì còn đơ đỡ  và không cần nói tới. Nhưng uống say mà phát rồ phát rại,thì cần phải đặt lại vấn đề.
Không rồ không rại mà tại sao có những kẻ khi rượu vào thì lại thi nhau nhai ly, nhai cốc, nhai chén, nhai bát.
Không rồ không rại mà tại sao có những kẻ khi rượu vào người mềm nhũn như con chi chi, đứng lên không nổi, phải có người kè người vực.
Không rồ không rại mà tại sao có những kẻ khi rượu vào thì chân nam đá chân chiêu, đường rộng rãi thênh thang không muốn đi, chỉ muốn đi vào bụi rậm cho gai đâm sứt cằm, xẻ mũi. Lái xe thì xiên bên nọ xọ bên kia khiến cho mấy thày cảnh sát phải thổi còi biên phạt.
Không rồ không rại mà tại sao có những kẻ khi rượu vào đã chửi bới, rồi thượng cẳng chân hạ cẳng tay “mí” nhau, thậm chí còn vác cả gậy gộc, dao búa phang nhau túa máu đầu, gây thành án mạng như báo chí không ngớt đăng tải.
Không rồ không rại mà tại sao thiên hạ lại diễn tả về họ, những kẻ say xỉn,  như sau :
. Một xị thì mở mang trí hóa.
. Hai xị thì giải bớt cơn sầu.
. Ba xị thì mũi chảy đầy râu.
. Bốn xị thì ngồi đâu khóc đó.
. Năm xị thì cho chó ăn chè.
. Sáu xị thì làm xe lội nước.
. Bảy xị thì vợ rước không về.
. Tám xị thì ra nhị tì mà ở.
Đồng thời, thiên hạ cũng thường hát vui về họ, những kẻ say xỉn, như sau :
- Hiu hiu gió thổi đầu non,
  Những người uống rượu là con ngọc hoàng.
  Ngọc hoàng ngự tại ngai vàng,
  Thấy con uống rượu hai hàng lệ rơi.
  Tưởng rằng con uống con chơi.
  Ai dè con uống, con rơi xuống….xình.
Tiếp đến là những bất ổn cho gia đình.
Thường xuyên rủ nhau đi nhà hàng hay thường xuyên tổ chức ăn nhậu tại nhà đã là một sự tốn kém cho ngân quĩ  vốn dĩ eo hẹp của gia đình trong cái thời buổi khó khăn, gạo châu củi quế này, bởi vì những sự cần cho được uống rượu nên xem ra cũng rất gắt.
Ấy là chưa kể đến những cực nhọc cho vợ con, nhất là khi phải thu dọn những bãi cho chó ăn chè. Thực vậy, người ta đã hỏi một tên bợm nhậu, thuộc hạng thâm niên quân vụ, nhiều năm trong nghề, như sau :
- Hỏi phải làm mấy sự cho được uống rượu nên ?
Đúc kết kinh nghiệm của bản thân sau nhiều năm lăn lóc trên các chiến trường với những chiến hữu lưu linh của mình, hắn ta đã trả lời :
- Thưa phải làm ba sự này, một là tốt cái nhắm, hai là lắm anh em, ba là muốn nhắm thì nhắm.
Đông, vui, hao, đó là qui luật của muôn đời. Thế mà “nghệ thuật ăn nhậu” lại đòi hỏi vừa phải tốt cái nhắm, lại phải lắm anh em, thì chỉ có nước đập bể nồi cơm gia đình khiến vợ con phải treo niêu, ăn chay trường dài dài mà thôi.
Còn nếu đi uống rượu ở nơi khác, khi trở về nhà, mà giữ được tác phong cốt cách thì còn đơ đỡ, nhưng như trên gã đã nói : nhiều kẻ đã bị rượu bốc lên, làm cho hóa rồ hóa rại.
Đúng thế, không rồ không rại mà tại sao có những kẻ khi rượu vào lại tung hê nồi niêu xoong chảo cùng với bát đũa ra ngoài sân, để rồi khi tỉnh cơn say. Lại phải hì hục lao động kiếm tiền mua sắm.
Không rồ không rại mà tại sao có những kẻ khi rượu vào, bỗng trở thành “vũ phu chi cục mịch”, chửi vợ đánh con, khiến cho gia đình bị đổ vỡ tan hoang. Hay ít nữa, khi tỉnh cơn say thì cũng phải bỏ tiền mua thuốc men và bỏ công sức chăm sóc cho vợ con đã bị chính mình hành hung một cách dã man trong lúc xỉn.
Thấy thiên hạ lao mình vào tệ nạn cờ bạc, một đức ông chồng, uống rượu thuộc hạng dân ghiền, đã hãnh diện tâm sự với bà xã :
- Em phải cám ơn anh nhiều lắm đấy, bởi vì anh không bài bạc như mấy tên hàng xóm.
Thế nhưng, bà xã đã phản pháo một cách rất chính xác :
- Ông không bài với bạc, nhưng tối ngày những rượu cùng chè, những say cùng xỉn, khiến tôi phát chán cả lên.
Nhưng phiền hơn cả là trong những lúc say xỉn như vậy, chúng ta lại thường gây nên những sự rắc rối, phiền toái cho bà con lối xóm. Thực vậy, thiên hạ thường bảo :
- Tửu nhập, ngôn xuất. Rượu vào thì lời ra.
Cái thứ “ngôn xuất” này, cái thứ “lời ra”này, cũng thường thay đổi thiên hình vạn trạng, đến quỉ thần cũng không lường nổi.
Có kẻ khi say thì cười, nhưng cũng có kẻ khi say thì lại khóc.
Có kẻ khi say thì hát nhưng cũng có kẻ khi say thì lại sổ tiếng Ăng lê.
Có kẻ khi say thì vui miệng, vợ mình không khen, lại cứ nhè vợ người ta mà khen, nên mới rách việc, dẫn đến chuyện đánh đấm nhau phun cả máu đầu.
Có kẻ mượn hơi men để có đủ can đảm mà đi…xưng tội, nhưng cũng có kẻ mượn hơi men để chửi xéo người này người nọ, đôi khi chửi cả cha mẹ và những người họ hàng thân thích, khiến cho tình nghĩa ruột thịt cũng như lối xóm nhiều lúc như muốn đứt đoạn.
Có những kẻ bình thường rất hiền lành, thế nhưng do ma men dẫn đường, rượu ngấm vào, máu yêng hùng nổi lên, cũng sẵn sàng vác gậy, vác đá đi hỏi thăm sức khỏe người khác, giống như một kẻ côn đồ thứ thiệc, để rồi khi hết cơn yêng hùng, lúc phải ký vào biên bản,thì như quả bóng xì hơi, năn nỉ ỉ ôi hết người này đến người khác, như tục ngữ đã diễn tả :
- Chưa đánh được người, mặt đỏ như vang,
  Đánh được người rồi, mặt vàng như nghệ.
Có thể nói được rằng : ngành nghề ăn nhậu ở Việt Nam hiện nay luôn được liên tục phát triển. Chỉ cần rảo qua một vòng phố xá, chúng ta liền thấy, tiệm cà phê và quán nhậu mọc lên như nấm sau cơn mưa. Đường nào cũng có, góc phố nào cũng có…Đúng là trăm hoa đua nở.
Những tháng ngày sau giải phóng thì cho rằng : đờn ông thanh niên bấy giờ vì thiếu những phương tiện giải trí nên đâm ra nhậu nhoẹt say sưa. Còn lúc này, những phương tiện giải trí không thiếu, nhưng thiên hạ vẫn hăng hái nhậu liên tu bất tận.
Có thể vì trong túi có sẵn tí tiền còm, nhất là tiền hối lộ, tiền buôn lậu, tiền áp phe, áp chảo…không nhậu cũng uổng. Có thể vì nền kinh tế thị trường, có nhậu thì mới bắt được mánh làm ăn, mới làm được những giao lưu và trao đổi…Thôi thì có đủ một ngàn lẻ một lý do để biện minh cho cái “dịch vụ ăn nhậu này”.
Tuy nhiên, cũng trên báo “Tuổi trẻ Chủ nhật”, tác giả Danh Gia đã đưa ra một vài nhận định nho nhỏ về đờn ông phương tây như sau :
“Đừng đổ thừa cho kinh tế thị trường khi chưa từng thấy “mặt mũi” đích thực của nó. Không tin cứ đi hỏi các giám đốc ngân hàng nước ngoài sẽ nghe họ nghĩ gì về cách duyệt hồ sơ cho vay “quen thuộc” của các ngân hàng trong nước khác với cách của họ như thế nào. Bởi thế mới đẻ ra bao vụ “Tamexco” lớn nhỏ, mới có tỉ lệ thua lỗ “bộn”, nợ nần dính chùm như thế.
“Đàn ông các nước công nghiệp, tức các nước kinh tế thị trường nhất, đến giờ tan sở mệt nhoài vì công việc chỉ biết cắm đầu cắm cổ chạy thục mạng, ba chân bốn cẳng leo lên tàu điện, đổi dăm ba tuyến đường mới về được đến nhà phụ vợ con dọn cơm, rửa chén rồi đi ngủ sớm, đến cuối tuần cần tranh thủ sửa sang nhà cửa, chở vợ đi chợ. Xu hào đủng đỉnh lắm thì tối thứ sáu đưa vợ, đưa con đi ăn tiệm hoặc đưa vợ con đi nghỉ mát cuối tuần, chứ không ai rỗi hơi nát rượu tối này sang tối khác với bạn bè.
“Không tin, nếu có dịp đi tây, chiều tối cứ xuống các trạm xe điện ngầm ở Paris chen chúc với bốn triệu người, ta sẽ thấy rõ thế nào là nếp sống kinh tế thị trường đích thực. Chớ tưởng dân đi chơi tối giữa Paris, Luân đôn…là người dân bản xứ. Trừ một thiểu số nhung lụa hoặc của “thế giới về đêm”, người lao động lĩnh lương trong tháng, cho dù có là giám đốc, chẳng mấy khi léo hánh đến quán xá vào những tối trong tuần.
Khi người ta phải đóng thuế thu nhập giá chót cũng 30%, khi người ta ở nhà thuê hay mua trả góp mỗi tháng cũng phải đóng từ 1/3 đến 1/5 lương cho tiền nhà, khi người ta sắm cái xe hơi, cái máy giặt, cái máy sấy khô quần áo…sao cho cuộc sống gia đình tiện nghi hơn, để rồi cuối tháng bị ngân hàng tự động trừ nợ, người ta mới không dám vứt thì giờ và tiền bạc cho các độ nhậu triền miên vì sợ ngày mai dậy không nổi, mất năng xuất, mất óc sáng tạo dễ có ngày thất nghiệp.
“Khi người ta phải ngày ngày mất ít nhất hai giờ để di chuyển, khi người ta phải làm việc ngày tám tiếng ra tám tiếng mới được chủ trả lương, thì người ta mới biết quí thì giờ và sức lực của mình.
“Ngay cả đàn ông xứ Thái sát cạnh đây, tức một nước chưa công nghiệp bao nhiêu, thưở còn thịnh vượng có phần trễ nải hơn ở hàng quán, song giỏi lắm cũng chỉ uống một chai bia Singa nội địa chứ hiếm ai uống đến chai thứ nhì.
Thói quen rượu chè say sưa là một tật xấu khó chừa, bởi nếu không nhậu thì….nhạt miệng, nên phải đi tìm chỗ gài độ để khỏi ngồi ngáp vặt.
Vì thế Tản Đà đã bảo :
- Say sưa nghĩ cũng hư đời,
  Hư thời hư vậy, say thời cứ say.
Hay như Nguyễn Khuyến đã thú nhận :
- Những lúc say sưa cũng muốn chừa,
  Muốn chừa nhưng tính lại hay ưa.
  Hay ưa đến nỗi không chừa được.
  Chừa được mà ông cũng chẳng chừa.
Thành thử người say xỉn nghiện ngập cứ kéo lê cuộc đời mình trong một tình trạng be bét. Cần phải có một ý chí vững mạnh mới có thể dứt khoát được với tật xấu này.
Một dân bợm nhậu nọ quyết tâm giã từ rượu chè. Cứ mỗi lần ngồi vào bàn tiệc là anh ta nhỏ một giọt nếân vào chiếc ly uống rượu…Cứ thế, cứ thế…ngày qua ngày…cho tới khi chiếc ly đầy nến và anh ta cũng bỏ được tật say xỉn của mình.
Gã xin tạm ngưng việc kể tội đờn ông ở đây.
Gã Siêu

 

Chuyện Gã Siêu 108: TỪ HÀNG GIẢ ĐẾN NGƯỜI GIẢ

TỪ HÀNG GIẢ ĐẾN NGƯỜI GIẢ Chuyện Gã Siêu 108

Mấy hôm nay rảnh rỗi, gã đọc lại chồng báo xuân Mậu dần 1998  và gã tóm được một mẩu tin Chuyện Gã Siêu 108

Mấy hôm nay rảnh rỗi, gã đọc lại chồng báo xuân Mậu dần 1998  và gã tóm được một mẩu tin làm đề tài tán hươu tán vượn, không biết nên buồn hay vui. Và nếu có cười thì nụ cười cũng méo mó, rất có thể sẽ rơi cả nước mắt.
Mẩu tin ấy ở trong báo Công an, mang tựa đề là “chồng thật- chồng giả “, đại khái như thế này :
Với mong muốn được vi vút ở ngoại quốc, nên khi được người quen gợi ý, cô BT, ngụ tại phường 12 quận 6, đồng ý liền tù tì.
Để hợp thức hóa việc xuất ngoại, BT ưng thuận làm thủ tục kết hôn giả với một với công dân Pháp, tên là Simon, 35 tuổi, hơn BT vừa đúng một con giáp.
Theo hợp đồng, hai người là vợ chồng nhưng không sống chung. Khi đã định cư ở nước ngoài, thì ly dị và BT phải trả công cho ông chồng hờ 3.000 mỹ kim.
Ngày 06-5-1997, BT và Simon được Ủy ban nhân dân thành phố cấp giấy chứng nhận kết hôn. Từ đây, cô gái những tưởng mọi chuyện đã xuôi chèo mát mái, bắt đầu thêu dệt mộng…việt  kiều.
Nào ngờ chàng rể vi phạm hợp đồng, đòi làm chồng thật, chứ nhật định không chịu đóng vai làm chồng hờ nữa. Đường cùng, BT phải đâm đơn cho ba tòa quan lớn xin ly hôn. Vì thà “ vỡ mộng “còn hơn    là …tàn một kiếp hoa.
Từ sự việc trên đây, đêm nằm vắt chân lên trán, gã nghiệm   rằng :
- Sự giả là một cơn bệnh trầm trọng của xã hội hiện nay, là một hiện tượng được liên tục phát triển qua một lãnh vực, từ hàng hóa đến con người.
Vậy giả là gì ?
Dĩ nhiên, giả có nhiều nghĩa, nhưng trong phạm vi bài này, gã chỉ xin được tự hạn chế :
- Giả là nhái cho giống để gạt người ta.
Thí dụ như giả điếc, giả câm, giả bộ…Riêng dân có tinh thần ăn uống cao, ghiền món “cờ tây’’ mà nếu không sẵn, thì bèn phệu ra món ‘’giả cầy’’ để xài cho đỡ nhớ. Vật liệu được làm bằng thịt heo, tẩm liệm với riềng mẻ và mắm tôm, xào lên thơm phưng phức, làm điếc cả mũi hàng xóm, xơi vào cũng êm trời gió bụi, chẳng khác chi thịt cầy thứ thiệc.
Bây giờ xin trở lại với phạm trù hàng giả.
Hàng giả hơi khác với hàng dổm một tí, bởi vì hàng dổm là hàng có phẩm chất kém. Còn hàng giả, ngoài phẩm chất tồi, còn mắc thêm cái tội ‘’cóp pi’’ mẫu mã y chang thứ hàng thật, rồi tung ra thị trường, nhằm dối gạt người mua, gây thiệt hại đôi ba bề.
Hàng giả lúc này thật ê hề, tràn lan từ cái tăm đến hộp xà phòng, từ chiếc đồng hồ đeo tay đến những máy móc đắt tiền.
Chẳng thế mà có thời người ta để mỉa mai :
- Hồng kông ư ?
- Hỏng dám đâu, có mà bên hông Chợ lớn ấy.
Nghệ thuật làm hàng giả ngày càng tinh vi, khiến cho người tiêu dùng khó mà nhận ra, chỉ khi mua về đem xài thì mới vỡ nhẽ ra đó là hàng giả.
Dịp tết, gã bóp bụng mua một chai rượu tây cho đời lên hương. Từ vỏ chai đến nhãn hiệu trình tòa đều là thứ xịn, nhưng khi khui ra để uống, thì hỡi ơi, chỉ toàn là một thứ nước màu vàng, sặc mùi cồn mà thôi.
Bởi đó, trong những năm gần đây, người ta chịu khó tổ chức nhiều cuộc triểm lãm hàng giả, để người mua kẻ sắm nhận diện.  Hay trong những mục quảng cáo trên truyền hình, người ta luôn dặn dò :
- Xin nhìn kỹ mẫu mã để khỏi mua nhầm hàng giả.
Tới đây, gã xin kể lại hai mẩu chuyện nho nhỏ.
Mẩu chuyện thứ nhất về tiền giả ở bên Đức.
Hôm ấy, hai đội bóng tranh giải vô địch. Sân vận động chặt cứng như nêm. Người hèn có, kẻ sang có và những bậc tai mắt lại càng nhiều.
Khi tan cuộc, mọi người hối hả ra về, thì thấy giữa đường đi, rải rắc nhiều tờ giấy bạc 500 đồng, của một hay nhiều khán giả vô ý nào đó đánh rơi.
Ai cũng lấm la lấm lét. Thế rồi kẻ trước người sau, tất cả đều lần lượt cúi xuống…sửa giày. Có kẻ sửa tới năm bảy lần. Kẻ sang cũng như người hèn, thượng lưu cũng như bình dân. Không ai trao đổi với ai một tiếng, nhưng ai cũng thấy vui như mở trong bụng :
- Đi xem đá bóng hôm nay đúng là được thần tài phò trợ.
Về đến nhà, xoa tay cho sạch, thò vào túi, rút xấp bạc ra, sung sướng và hí hủng.
Thế nhưng dưới ánh đèn sáng, nhìn kỹ lại, thì ôi thôi, khóc vì hổ ngươi. Vừa tức lại vừa nhục. Tức cho ai mà cũng nhục cho ai. Các ngài đã bị sập bẫy trong một cuộc chơi trắc nghiệm của một tổ chức nào đó. Bời vì giấy bạc toàn là thứ giả mà thôi.
Xem thế, thì phàm đã là người, ai cũng có một chút máu tham trong mình.
Mẩu chuyện thứ hai về vàng giả ở Việt Nam.
Trưa Sài Gòn, trời nắng như đổ lửa. Đường phố ngái ngủ. Xe cộ thưa thớt. Một cô nàng ăn mặc thật đúng mốt. Cổ thì giây chuyền. Tay thì vòng vàng óng ánh. Còn thân hình yểu điệu thì đang cưỡi trên một chiếc xe gắn máy, dường như cô nàng vừa mới đi dự tiệc và đang trên đường về nhà.
Bỗng một chiếc xe gắn máy khác trờ tới và ép sát cô nàng. Người ngồi sau lanh tay lẹ con mắt chộp vội sợi giây chuyền nơi chiếc cổ nõn nường, khiến cho chiếc xe lảo đảo và cô nàng xuýt bị đo đường.
Thế nhưng, chỉ một lúc sau hai tên kẻ cướp vòng xe lại, ném sợi giây chuyền vào mặt cô nàng và chửi :
- Tiên sư em nhé, đẹp như tiên mà xài toàn đồ giả, thối không chịu nổi.
Tuy nhiên, chúng ta cần phải lưu ý điều này :
- Hàng giả đang lũng đoạt thị trường, nhưng không nguy hiểm cho bằng người giả.
Thực vậy, nhìn vào con người, chúng ta thấy từ vóc dáng và hành động bên ngoài đến tình cảm và ý nghĩ bên trong, người ta đều có thể giả được tuốt luốt.
Nếu các cụ ta ngày xưa thường bảo :
- Cái răng cái tóc là góc con người.
Thì ngày nay, với kỹ thuật giải phẫu thẩm mỹ và trang điểm tuyệt vời, người ta có thể cải lão hoàn đồng, từ một bà già trầu móm mém gần đất xa trời trở nên một cô thiếu nữ liễu yếu đào tơ trong thoáng chốc bằng cách trang bị cho bà cụ những thứ đồ giả : nào là mái tóc giả, nào là hàng mi giả, nào là hàm răng giả, nào là bộ ngực giả, nào là cặp mông giả…
Người ta cũng có thể tạo nên những nụn ruồi giả, những má lún đồng tiền giả, những chiếc cằm xẻ giả. Thậm chí có những anh chàng đực rựa “chăm phần chăm” được cải trang thành những cô gái y như thật với những ý đồ đen tối và hắc ám, khiến cho những đấng mày râu háo sắc và ngây thơ cụ cũng phải bé cái lầm.
Thế nhưng cái “hình dong bên ngoài” không quan trọng cho bằng những cái làm nên phẩm chất bên trong của con người. Và những thứ này lại cũng toàn là đồ giả.
Chẳng hạn để khoe khoang với bè bạn, để dễ dàng trong công ăn việc làm, cũng như để luồn lách vào chức vụ nọ chức vụ kia, người ta có thể bỏ tiền ra mua một cái bằng…phó tiến sĩ giả, để hù dọa bà con lối xóm.
Người ta cũng có thể mượn danh làm công an giả, cán bộ giả, thậm chí cả linh mục giả để dối gạt thiên hạ, ẵm về cho mình những món tiền lớn và những lợi nhuận kếch xù.
Thế nhưng bẽ bàng và cay đắng hơn cả, đó là người ta đã mượn tạm danh nghĩa, lợi dụng những chức vụ giả ấy để ăn cướp cơm chim, phỗng tay trên chén cơm manh áo của các em nhỏ trong viện mồ côi, của các cụ già trong nhà dưỡng lão…bằng cách lừa đảo các tổ chức từ thiện cũng như các nhà hảo tâm.
Mánh mung của bọn này thì thiên biển vạn hóa, đến quỉ thần cũng không lường nổi mà chúng ta thấy nhan nhản trên báo chí.
Từ phẩm chất giả, quạ mượn lông công, cáo mượn oai hùm, chúng ta bàn tới những hành động giả. Và một trong những hành động giả mà gã xin đề cập đến, đó là hôn nhân giả.
Thực chất của cuộc hôn nhân giả chính là tình yêu giả. Người ta giả bộ yêu nhau để toan tính những công việc khác chẳng hạn như để xuất ngoại, để làm ông nọ bà kia.
Họ nhìn vào người ấy không phải để thấy người ấy dễ thương và dễ mến, nhưng để thấy túi tiền người ấy đang có, cái ghế người ấy đang ngồi, tòa nhà người ấy đang ở, chiếc xe người ấy đang đi…Tóm lại, họ không yêu gì người ấy, mà yêu cái tài sản, cái chức vụ của người ấy mà thôi.
Nổi cộm trong hàng loạt hành động giả này, đó là cái thói giả hình, hay nói một cách cụ thể hơn, cái thói giả nhân giả nghĩa, hay đạo đức giả.
Họ là những kẻ khẩu phận tâm xà, miệng nam mô bụng bồ dao găm,  đúng như tục ngữ đã diễn tả :
- Ngoài thì thơn thớt nói cười,
  Mà trong nham hiểm giết người không gươm.
 Hay :
- Nam mô.
  Một bồ dao găm,
  Một trăm dao mác,
  Một vác dao bầu,
  Một xâu thịt chó.
Họ là những kẻ nghĩ thế này, nói thế kia, nói một đàng làm quàng một nẻo. Tư tưởng không đi đôi với lời nói, còn lời nói thì không đi đôi với việc làm. Tư tưởng, lời nói và việc làm của họ không còn trong suốt như pha lê. Không còn hợp nhất với nhau.
Họ nói thì nhiều mà làm chẳng được bao nhiêu. Thậm chí họ còn làm ngược lại với điều họ nói.
Trong Phúc Âm, Chúa Giêsu đã diễn tả một cách rất chính xác về hạng người này :
- Họ kinh kệ dài dòng nhưng lại nuốt hết tài sản của các bà góa. Họ rửa sạch bên ngoài chén đĩa, nhưng bên trong thì đầy những chuyện trộm cắp và vô độ. Họ giống như mồ mả tô vôi, bên ngoài thì có vẻ đẹp đẽ, nhưng bên trong thì đầy xương người chết và đủ mọi thứ ô uế.
Để kết luận, tôi xin ghi lại nơi đây ý kiến của chị Nguyễn thị Oanh, tác gỉa bài ‘’tính trung thực’’, đăng trên báo tuổi trẻ Chủ Nhật, như sau :
“Tôi thấy cán bộ công đoàn ngồi lại đánh giá công nhân trên những phát triển của họ ở các buổi học tập chính trị. Còn công nhân thì thổ lộ : Người ta không cần biết chúng tôi sản xuất như thế nào ? Đối xử với anh em ra sao ? Gìn giữ tài sản chung đến mức nào ? Mà chỉ coi trọng lời nói. Tôi thì rất ngượng ngùng phải nói những điều không xuất phát từ đáy lòng. Đó là vào giữa thập kỷ 80.
‘’Còn ngày nay, trở lại sự trung thực thì ta thấy trong cuộc sống : mắt mũi môi giả, hàng giả, bằng lái giả, bằng cấp giả, hôn nhân giả ! Người ta giả vờ với nhau một cách tỉnh bơ. Đáng sợ hãi cho tương lai là chuyện gian dối ở chỗ mà lẽ ra sự trung thực là nguyên tắc hàng đầu. Đó là ở phòng thi : thày làm ngơ để trò quay cóp.
‘’Con người lấy gì làm cơ sở để quan hệ với nhau khi cái trục chính của chiếc cầu đã gẫy ? Cái túi nước silicon rò rỉ, đã biến những con người muốn làm đẹp thành xấu xí đến tai hại. Thực phẩm giả, bằng lái giả gây chết người. Còn bằng cấp giả ?
Xin trích thêm đoạn dưới đây từ báo phụ nữ ngày 27-9-1997.
‘’NM sinh viên khoa ngữ văn, một cô gái tài hoa, có lối sống khá bạt mạng, mệt mỏi tâm sự :
- Ở gia đình, bố mẹ luôn dạy tôi cách sống tốt, chân thật, nhưng tôi biết rõ ràng đó chỉ là lời nói. Thực tế còn cả một khoảng cách.
“Cái khoảng cách ấy đã được NM nhận rõ  khi người ta phát hiện hai cái học vị phó tiến sĩ của bố và mẹ NM đều là của giả. NM bộc lộ :
- Tôi không quan lắm đến danh dự gia đình, nhưng bố mẹ, những thần tượng của tôi, đã hoàn toàn sụp đổ.
“Để trốn chạy thực tế, NM thường đóng kín cửa phòng, đắm mình trong âm thanh của Spice Girls, hoặc phóng xe hết tốc lực ngoài đường.
‘’ Thế đấy, cái giả tưởng chừng như vô thưởng vô phạt đang giết chết một thế hệ về mặt tinh thần. Và ngày nay không cần thiết phải chứng minh tính chính trị của đạo đức nữa. Cái khó là tìm hiểu những nguyên nhân sâu xa và những cơ chế vận hành nào đã đưa tới tình trạng báo động này.
‘’Ta đánh giá cao những báo cáo tô hồng, những trường có tỉ lệ ‘’lên lớp’’, ‘’thi đậu’’ cao, những người nói đúng bài bổn nên cấp dưới tập phản xạ nói dối, phản xạ này ăn sâu trong tâm tư họ đến nỗi có người không còn biết nhận ra và phân biệt thật và giả, đúng và sai.
‘’Phải tập lại từ đầu, không phải bằng hô hào mà bằng hành động. Khó có thể kêu gọi tuổi trẻ bằng những khẩu hiệu chung chung, nhưng họ sẽ hưởng ứng ngay với cách làm mới.’’
‘’Khen thưởng những ai lật tẩy sự dối trá. Phạt nặng sự dối trá trong sản xuất. Chỉnh đốn triệt để ngành giáo dục vì bao giờ còn gian lận trong ngành này thì không thể gọi nó là giáo dục. Văn học nghệ thuật phải đem sự dối trá ra làm trò cười cho đến nơi đến chốn.
Và rồi cuối cùng :
- Sự thật sẽ giải thoát chúng ta.
Gã Siêu

 

Chuyện Gã Siêu 109: THƯƠNG HẠI

THƯƠNG HẠI Chuyện Gã Siêu 109

Ngày xửa ngày xưa, có một ông tây chính hiệu “Phú lãng sa”, trong người đặc sệt dòng máu “Gô Chuyện Gã Siêu 109

Ngày xửa ngày xưa, có một ông tây chính hiệu “Phú lãng sa”, trong người đặc sệt dòng máu “Gô loa”, nhãn hiệu con gà trống. Thế nhưng ông tây này lại yêu đến chết mê chết mệt một “cô em Bắc kỳ nho nhỏ”.
Và khi đã yêu ai như điếu đổ, người ta sẵn sàng yêu cả đường đi cùng với mọi tông chi họ hàng. Vì thế, ông tây này cũng xơi thịt chó như điên, cũng húp canh cua rau đay chùn chụt, cũng dùng cà ghém quệt đẫy mắm tôm và bắn thuốc lào kêu ro ro như bắp nổ. Đặc biệt, ông tây này đã hết lời ca ngợi tiếng Việt của dân ta.
Hình như trong một bài báo, ông tây này đã bạo phổi cả gan gọi tiếng Việt của dân ta là “mère des langues”, nghĩa là mẹ của các ngôn ngữ.
Và rồi ông tây này đã đưa ra lập luận của mình, gã chỉ còn nhớ mang máng, xin ghi lại nơi đây để trình làng, đồng thời có thêm mắm thêm muối tí chút cho rộng  đường dư luận.
Ngôn ngữ cổ xưa nhất phải là ngôn ngữ độc âm, tượng hình và tình cảm, giống như một đứa bé khi mới học nói, nó chỉ nói được từng tiếng một và diễn đạt những cái cụ thể, gần gũi với nó nhất.
Dưới góc độ này thì tiếng Việt của dân ta thừa sức qua cầu. Thực vậy, như chúng ta đã thấy tiếng Việt của dân ta tự bản chất vốn đã là một ngôn ngữ độc âm, từng tiếng một và hơn thế nữa những ngôn từ thông dụng, cụ thể và gần gũi nhất đều xuất phát từ….tiếng Việt.
Chẳng hạn như người Việt chúng ta gọi “Ba”, thì người Pháp gọi là papa hay père, còn dân Ăng lê thì gọi là father. Người Việt chúng ta gọi “Má, Mẹ” thì người Pháp gọi là maman, mère, còn dân Ăng lê thì gọi là mather, người Tàu thì gọi là mẫu…
Riêng cái khoản tượng hình và tình cảm thì tiếng  Việt của dân ta hẳn phải ăn đứt thiên hạ.
Chẳng hạn chỉ một màu trắng mà thôi, trong tiếng Việt, đã có biết bao nhiêu mức độ đậm nhạt khác nhau như : trắng bạc, trắng bệch, trắng bong, trắng bốp, trắng dã, trắng đục, trắng hếu, trắng mét, trắng mịn, trắng mởn, trắng ngà, trắng ngần, trắng nõn, trắng phau, trắng phếu, trắng tinh, trắng tuốt…
Trong phạm vi tình cảm cũng vậy, chỉ nguyên cái chuyện giận mà thôi cũng đã thấy nhiêu khê và rắc rối : giận bậy, giận cùn, giận dai, giận dữ, giận giỗi, giận hờn, giận lẫy, giận phừng phừng, giận run cả người, giận tím cả gan, giận bể cả phổi, giận sôi cả tim….
Có lần gã định dịch một câu hát của Trịnh Công Sơn qua tiếng Pháp :
- Nắng có hờn hằn lên môi em…
Rốt cuộc, gã đành chào thua. Có thể vì khả năng tiếng “phăng xe” của gã còn yếu kém, nhưng cũng có thể vì cái nắng, cái hờn trong tiếng Việt Nam có những “gam”, những mức độ đậm đặc tuyệt vời khó mà diễn tả.
Gã không chuyên về ngôn ngữ học, nên chẳng hiểu lý luận trên đây của ông tây này được ban giám khảo chấm cho được mấy điểm.
Riêng phần gã, gã hoàn toàn “ khẩu phục, tâm phục” cách ghép chữ của ông cha ta ngày trước. Gã chỉ xin đưa ra một vài thí dụ điển hình mà thôi.
Chẳng hạn : “học hành”, đã học thì phải hành, nghĩa là phải làm, phải thực hiện thì mới ăn tiền. “Đạo đức” nghĩa là đạo giúp chúng ta trở nên người nhân đức, vì thế đã có đạo thì phải sống tốt lành nếu không thì chỉ bằêng thừa mà thôi. “Nhường nhịn” đã nhường nhau thì cũng phải nhịn nhau, dù người ta có chửi cha chửi mẹ, đào mồ tổ tiên ông bà hay cho ăn những thức cao lương mỹ vị thì cũng phải cắn răng chịu vậy, bởi vì đã nhường thì phải nhịn và nhịn như vậy thì lắm lúc cũng…nhục lắm. Thế mới gọi là nhịn nhục chứ.
Trong mục “tán hiêu tán vượn” hôm nay, gã chỉ xin bàn đến hai chữ “thương hại” mà thôi. Đây quả là hai chữ tuyệt vời và hết ý.
Thực vậy, tình thương là một cái gì tốt đẹp như khi cha mẹ thương yêu con cái mình. Tình thương là một lý tưởng cao cả cần phải được cổ võ. Chẳng hạn trước những đồng bào gặp phải thiên tai như bão lụt, chúng ta nên biểu lộ tình thương một cách cụ thể theo kiểu : thương người như thể thương thân, lá lành đùm lá rách, còn lá rách thì cũng cố mà đùm lấy lá…te tua.
Thế nhưng trong đời thường lại có biết bao nhiêu kiểu thương vô cùng tai hại, mà hậu quả nhiều khi khó lường nổi.
Trước hết trong phạm vi gia đình.
Có những bậc cha mẹ vì thương con, sợ con phải cực, phải  nhọc, phải đau nên sẵn sàng “bao cấp”, làm hết mọi việc cho nó, biến nó trở thành một thứ “cô chiêu, cậu ấm”, chỉ biết đòi hỏi, bắt người khác phục vụ, chẳng biết khuôn mình vào một kỷ luật tối thiểu nào cả, luôn ỉ lại và không bao giờ biết tự chủ lấy một ly ông cụ.
Bên cạnh nhà gã có một cặp vợ chồng già sinh được một mụn con trai. Hai ông bà hết sức muông chiều cậu ấm như người ta diễn tả :
- Cưng như cưng trứng, hứng như hứng hoa.
Thấy bọn nhóc tập xe đạp, cậu ấm cũng đòi tập, những hai ông bà kiên quyết nhất trí không cho vì sợ cậu ấm té ngã, trầy da tróc vẩy, toạc đầu xẻ chân…Vì vậy cho tới già, cậu ấm vẫn không biết đi xe đạp và mang một nỗi mặc cảm với chúng bạn.
Có những bậc cha mẹ vì thương con nên hết sức cưng chiều. Nó đòi gì là lập tức cho ngay, thậm chí còn thỏa mãn ngoài nhu cầu của nó. Từ chỗ có tiền, nó đâm đua đòi bè bạn học thói xì ke ma túy. Từ chỗ xì ke ma túy bước sang trộm cắp, khoảng cách rất gần, chả cần đến một cú nhảy vọt.
Gã xin lượm lặt những mẩu tin trong báo Công an để chứng tỏ sự thật bi đát trên.
“…Thành là con út trong gia đình nên rất được ông bố cưng chiều. Cậu quí tử này đã đàn đúm cùng lũ bạn xấu tập tành hút xách. Thương con cách mù quáng, thay vì đưa con đi cai nghiện, ông bố lại còn đưa thêm tiền để nó thỏa mãn cơn nghiện. Ngày 6.11.1997, do không chịu nổi cơn ghiền, Thành đã về nhà dí dao vào cổ ông bố, bắt ông phải đưa tiền cho hắn…
“…Vì cha mẹ cho rằng học nhiều cũng chẳng đi đến đâu, nên đã mười mấy tuổi, Toàn vẫn còn là một “thằng bé lêu lổng”, ngỗ nghịch. Nhà gần chợ, suốt ngày Toàn lê la quán xá, học đòi ăn chơi và không biết từ bao giờ nó đã nghiện…ma túy. Nghe tin dữ ấy, cha mẹ Toàn chỉ còn biết mắng vuốt đuôi một trận te tát, sau đó đâu lại vào đấy. Cuộc mưu sinh cuốn họ vào những lo toan “cơm áo gạo tiền”. Việc Toàn nghiện hút được gia đình mặc nhiên thừa nhận như thể đó là chuyện phải đến với một thằng bé 15 tuổi. Thời gian đầu chưa kiếm được tiền, Toàn tự trích lại một phần thuốc bán được 5.000đ để dành cho cữ ngày hôm sau. Hết tiền thì mua chịu, ký nợ. Cứ như thế, từng ngày từng giờ Toàn lún sâu vào nghiện ngập, lún sâu vào việc buôn bán ma túy…
Có những bậc cha mẹ vì thương con, nên khi con sai lỗi, đã không sửa dạy mà con dấu diếm và bênh vực những sai lỗi ấy. Chẳng hạn như trong trường hợp của Toàn trên kia. Tại tòa án, khi được hỏi thì bà mẹ của Toàn đã thản nhiên trả lời :
- Tôi biết nó hút héroin, nhưng vì nó còn bé, đưa đi cai nghiện thì tội nghiệp…Tôi cũng biết nó bán héroin, mấy lần nó còn nhờ tôi bán giúp. Thỉnh thoảng nó cho tôi ba, bốn chục ngàn. Tôi nghĩ con cái có tiền cho thì xài, không cần hỏi lại.
Rất nhiều chuyện cỏn con không đâu của đám con nít, nhưng chỉ vì bênh con nên đã hóa thành chuyện lớn làm mất đi bàu khí êm ấm và cảm thông trong khu xóm : bênh con, lon xon mắng láng giềng là vậy.
Tiếp đến trong phạm vi xã hội.
Cũng có nhiều kiểu thương mà rất hại. Gã chỉ xin đưa ra một trường hợp cụ thể đó là nạn ăn xin.
Tác giả Nguyễn thị Oanh trên báo Tuổi trẻ Chủ nhật đã phân tích như sau :
“Không nói đến người già cả, tàn tật, cô thế mà ta có nhiều cách nâng đỡ, chứ không chỉ máy móc cho tiền, người còn sức lao động sẽ ỷ lại, chai lỳ. Đó là cái hại thứ nhất.
“Việc kiếm tiền dễ dàng khiến cho nhiều người lấy xin ăn thành một nghề. Như vậy cái hại thứ hai của cử chỉ ban phát là tạo một lớp người ăn bám.
“Hơn thế nữa, ta còn góp phần tạo ra tội phạm là những kẻ giả dạng thày tu, thương binh và nghiêm trọng hơn nhiều, ta góp tay vào nạn lạm dụng trẻ em để làm công cụ xin ăn. Có em bị gây thương tật, bị cho uống thuốc ngủ và nội chuyện phơi nắng suốt ngày…. cũng đã đủ nhức nhối.
Để gợi lòng thương, dân ăn xin dám làm những chuyện thật tai hại khác. Ngoài việc lạm dụng trẻ em, còn một số mánh đã được báo Công an mô tả.
“…Phổ biến nhất là chuyện tạo ra thương tật giả, lấy sự bi đát ghê rợn để diễn cảm hầu kích thích lòng nhân ái, từ tâm. Những “dân chơi bất cần thân thể” này chẳng sợ hoại thư, chẳng cữ bất cứ vi trùng gì, cứ  “triển lãm sản phẩm” là những vết lở loét rất kinh tởm, mủ máu, ruồi nhặng bu đầy, có thế mới ép phê, mới tạo sự xót xa để rồi khổ chủ càng lòi nhiều tiền ra.
Trong phút nói thật, có kẻ đã tiết lộ bí quyết như sau : Ban đầu chỉ là một vết cào xước bằng đá xanh tự làm lấy, tự tạo ra. Rồi một nắm tóc được ngâm lâu trong nước tiểu, rịt vào, băng thật kín lại, vết loét sẽ lan rộng sau một tuần bị bí hơi và không được rửa ráy, bôi thuốc, mà còn phải ăn hằng ngày xôi đậu phộng, bánh tét…để vết thương lồ lộ cho ruồi muỗi bu vào đẻ đái, kết quả một tháng thôi đã quá đủ để bá tánh đi chợ nhăn mặt, sẵn 200, 500 tiền thối đáng gì cho họ làm phước, tội nghiệp.
Để cho mắt sưng lên, chảy cả mủ lẫn ghèn, trông như đui đến nơi, chúng chỉ cần nhỏ vài giọt mủ xương rồng.
Để tạo cảm giác mạnh với một dúm ruột máu me đỏ hỏn lủng lẳng trước bụng, chúng dùng đoạn ruột heo rửa sạch bôi thuốc đỏ, đặt ở bụng, rồi dùng bao nylon ém lại, lấy giây buộc quanh bụng. Qua lớp nylon cáu bẩn thật là khó phân biệt, hơn nữa đã có mấy ai được biết ruột thật ra sao ?
Để vừa bò vừa lết, chúng nằm sấp trên chiếc xe đẩy tự tạo, một chân gập ngược ra sau, buộc cho chặt, sau đó phủ lên trên bằng lớp quần áo cũ rách…
Qua những mánh được xử dụng trong nghề ăn xin như vậy, có lẽ nên tự hỏi xem mỗi khi bố thí, mình sẽ làm cho họ vươn lên hay ngược lại, sẽ làm cho họ ỉ lại, đảy họ vào chỗ phụ thuộc, ăn bám và đánh mất lòng tự trọng. Thương như vậy quả là thương mà hại.
Sau cùng trong phạm vi quốc tế.
Cũng không thiếu những kiểu thương mà hại. Một nước giàu viện trợ cho một nước nghèo, trước mặt bàn dân thiên hạ, thì đó là một hành động biểu lộ tình thương. Thế nhưng hành độâng biểu lộ tình thương này không phải là không có những tác hại của nó.
Nếu viện trợ về súng ống, đạn dược, thì họ đảy chúng ta vào vòng chiến tranh, làm cho quê hương bị rách nát hầu nuôi sống ngành công nghệ chế tạo vũ khí của họ.
Nếu viện trợ về tiền bạc, thì họ làm cho chúng ta bị lệ thuộc một cách êm ái. Khi muốn gây áp lực, chỉ cần cúp viện trợ, lập tức chúng ta bị xính vính và xin qui thuận vô điều kiện như một chư hầu ngoan ngoãn và dễ bảo.
Ngoài ra những đồng tiền bất hạnh này còn tạo ra một thứ phồn vinh giả tạo, ru ngủ chúng ta trong việc phát triển kinh tế, để rồi không cần thắt lưng buộc bụng, ăn xài theo kiểu bóc ngắn cắn dài, con nhà lính tính nhà quan, nên đã lệ thuộc thì lại càng lệ thuộc hơn nữa, bằng không chẳng sớm thì muộn cũng sẽ sụp đổ về chính trị cũng như về kinh tế.
Hôm nay dám xía vô lãnh vực chính chị chính em thì quả là bạo phổi, vì lãnh vực này gã chẳng hề có tí hiểu biết nào sốt, đúng là múa rìu qua mắt thợ, đánh trống qua cửa nhà sấm…Ví bằng có điều gì sai sót, thì gã xin…rút.
Trở về với lãnh vực đời thường nhỏ bé, gã xin kể lại một kinh nghiệm bản thân.
Hồi sống trên Đàlạt, gã có một bà dì. Gia đình bà dì này cũng lâm vào cảnh túng thiếu. Ông chú đi làm không đủ chi bởi vì họ có những tám đứa con.
Nhiều lúc bà dì đã cầu viện gã giúp đỡ. Hoàn cảnh của gã lúc bấygiờ cũng chẳng khấm khớ gì cho lắm, bởi còn đang trong kiếp học trò, dài lưng tốn vải ăn no lại nằm. Chắt chiu vét hào bao thì cũng chỉ được mấy chục ngàn. Mà mấy chục ngàn thì có là bao, đánh vèo một cai là đã hết. Đúng là của vào nhà khó như gió vào nhà trống.
Nằm vắt chân lên trán để tìm kế giúp đỡ sao cho có hiệu quả. Cuối cùng sau nhiều ngày tháng tiết kiệm, nghĩ tới nghĩ lui, gã bèn mua tặng cho bà dì một chiếc máy may cũ hiệu Sinco.
Thế rồi, cũng từ chiếc máy may này, đời sống kinh tế dần dần được cải thiện. Mấy đứa nhỏ đi học về, bèn chia phiên nhau may gia công giúp mẹ. Thời gian sau, bà dì gã tậu thêm được một chiếc máy nữa, vì cũng lắm…con gái. Kinh tế không những được bảo đảm mà còn có mòi phất lên là đàng khác.
Viết đến đây, gã bèn nhớ tới một câu thành ngữ của người    Tàu :
- Thụ chi dĩ ngư, cần cung nhất phạn chi nhu, giáo nhân dĩ ngư, tắc chung thân thụ dụng vô cùng. Nghĩa là trao cho người ta con cá thì chỉ giúp được một bữa ăn, dạy cho người ta biết câu cá thì người ta suốt đời được hưởng dụng vô cùng.
Chẳng hiểu câu thành ngữ này có thể trở thành một đường lối cho chúng ta trong việc giúp đỡ người khác và một chính sách trong việc viện trợ cho các nước nghèo hay không ?
Còn gã, khi trích dân câu thành ngữ này của người Tàu, liệu có đáng mặt ….cụ đồ hay “nho chùm” không đấy chứ ?
Gã Siêu

 

Chuyện Gã Siêu 110: KHÔN MÀ KHÔNG NGOAN

KHÔN MÀ KHÔNG NGOAN Chuyện Gã Siêu 110

Mục “Sổ tay Văn hóa” trên báo “Tuổi trẻ Chủ nhật” số ra ngày 06.12.1998, có một bài viết ngăn Chuyện Gã Siêu 110

Mục “Sổ tay Văn hóa” trên báo “Tuổi trẻ Chủ nhật” số ra ngày 06.12.1998, có một bài viết ngăn ngắn của Nguyễn ngọc Bích, với tựa đề : “Món hàng từ siêu thị Cora”.
Gã xin phép tác giả được trích dẫn nguyên con, kẻo bị mang tiếng là “thuổng văn” thiên hạ. Rồi bị lôi ra ba tòa quan lớn với tội danh được thành lập là xâm phạm tác quyền thì thật  nguy to.
Cora ở Đồng Nai là một siêu thị lớn nhất và hiện đại nhất nước, do doanh nhân Pháp đầu tư. Ở đó người ta không phải đối phó với chuyện buôn bán ế ẩm, nhưng với việc hàng hóa bị mất cắp. Sự kiện mất cắp hàng hóa tại đây đặt ra cho chúng ta vấn đề đạo đức và phát triển.
Đối với mỗi cá nhân, đạo đức dễ làm cho người ta cảm thấy thiệt thòi và có những khi muốn vứt bỏ nó. Tuy nhiên đối với xã hội, đạo đức của mỗi cá nhân lại cần thiết cho sự phát triển.
Sự việc mất cắp ở siêu thị Cora cho chúng ta thấy ít ra năm điều :
. Không chỉ là chuyện ăn cắp vặt mà là ăn cắp có tổ chức.
. Một cụ già 60 tuổi ăn cắp bị bắt còn chửi người bảo vệ rằng : “lấy đồ của Tây chứ đâu có ăn cắp của Nhà nước“.
. Điều mà chủ nhân siêu thị lo ngại không phải là ở chỗ mất cắp mà là không có người nào muốn bắt cắp, và là sẽ phải đóng cửa vào ngày chủ nhật vì số tiền bỏ ra cho chi phí bảo vệ sẽ cao hơn số tiền kiếm được.
. Đối phó, siêu thị đã phải thêm người bảo vệ, thêm quầy tính tiền.
. Giới chức có trách nhiệm tại trung ương và địa phương khi được hỏi đã cho biết đại ý là cần làm nhanh, nếu có báo cáo và được chỉ đạo sẽ họp với các ngành để làm rốt ráo.
Đó là một hiện tượng xã hội. Và chúng ta rút ra được gì khi nhìn vụ Cora trong bối cảnh của đạo đức ?
. Nếu siêu thị đóng cửa một ngày, hay đóng cửa luôn thì có nghĩa là khi thiếu đạo đức bên trong, chúng ta sẽ không được hưởng những tiện nghi bên ngoài.
Như thế,  để cho xã hội phát triển về kinh tế thì không chỉ trong giao tiếp giữa con người, chúng ta mới phải xứng đáng với nhau;  mà ngay cả với vật chất, nó cũng đòi hỏi như thế. Người sử dụng nó phải xứng đáng với nó về mặt đạo đức. Thấy Cora nó to, hàng nhiều, nhưng chớ táy máy.
. Nếu hưởng được, thì giá trả sẽ đắt hơn so với những nước khác. Tiền thuê thêm bảo vệ hay phải mở nhiều quầy thu tiền thì cũng sẽ được tính vào giá hàng.
Ấy là tại sao giá thành ở chúng ta cao, và sức cạnh tranh của chúng ta thấp. Ấy là tại sao vào siêu thị, phải gửi túi, bỏ cặp…Chúng ta có thể được nhìn, được kể nhiều về văn minh thế giới, nhưng chẳng bao giờ những thứ đó đến tay ta.
. Trong tâm lý của chủ nhân và của những nhân viên siêu thị, trước kia họ vui vẻ đón chờ thì nay sẽ là cảnh giác đề phòng. Khách hàng vào đó sẽ ít tìm thấy ở họ những nụ cười của vui tươi.
Một môi trường của sự lương thiện không thể tồn tại khi nó không được một nền tảng đạo đức hỗ trợ.
. Chính quyền sẽ không còn nhiều thì giờ để nghĩ và làm những việc tốt cho dân, mà sẽ bị bận rộn vì giải quyết cái xấu của kẻ cắp.
. Tình trạng có thể kéo dài mãi nếu như  “ không người nào muốn bắt cắp”, hay còn nghĩ  “ ăn cắp của Tây”! Sao mà hội nhập kinh tế ?
Cha mẹ thương con, mua tủ sắm giường. Vậy là khi chúng ta làm cho người khác thì xã hội có thêm của cải.
Cora cho thấy khi lấy của người khác thì cái hiện có trong xã hội cũng sẽ mất đi. Cora là một minh chứng về vai trò của đạo đức đối với phát triển. Ý nghĩa về nó là thước đo cho thấy khả năng hội nhập kinh tế của chúng ta. Siêu thị cho chúng ta một món hàng, một bài học cụ thể cho một đề tài trừu tượng.
Tác giả đã nhìn sự kiện Cora trong phạm vi kinh tế và đã đi tới một kết luận :
- Đạo đức rất cần thiết và là nền tảng cho phát triển.
Còn gã, mỗi khi nhớ hay đọc lại sự kiện trên, gã liền cảm nhận một nỗi buồn tê tái, vừa xót lại vừa thương.
Phải, gã cảm thấy xót xa như chính mình bị bôi tro trát trấu, hay như chính mình bị một ai đó tát vào mặt. Tự ái dân tộc nơi gã nổi lên đùng đùng, nhưng đành phải “ngậm đắng nuốt cay” thế nào. Gã băn khoăn tự hỏi :
- Không hiểu mấy ông tây bà đầm ấy sẽ nghĩ gì về người Việt Nam. Rồi khi về nước, chắc hẳn họ sẽ xì xầm bàn tán với bà con lối xóm rằng : người Việt Nam thế này, người Việt Nam thế nọ…Và cuối cùng họ sẽ đi tới một thái độ cụ thể, đó là hãy đề cao cảnh giác, tránh cho xa cái bản mặt người Việt Nam.
Có kẻ đã kể cho gã nghe rằng : ở một vài vùng bên Mỹ, tại những nơi công cộng hay trên xe buýt, người da trắng mang nặng đầu óc kỳ thị, đã bạo phổi viết những hàng chữ bậy bạ như sau :
- Coi chừng người Việt Nam ăn cắp.
Gã không tin rằng câu chuyện này là có thực, bởi vì người Mỹ vốn đã vỗ ngực khoe khoang mình là dân tộc văn minh, hiện đại và tự do nhất hành tinh này. Thế nhưng khi nghe qua, Gã đã tức suýt nữa thì bể phổi và hộc máu ra mà chết.
Buồn ơi là buồn và đau ơi là đau. Nhưng nghĩ đi thì cũng phải nghĩ  lại. Và khi nghĩ  lại, Gã cảm thấy thương cho những người Việt anh dũng ấy, đã có can đảm đi ăn cắp và đã có can đảm phát ngôn thật hách xì xằng :
- Lấy đồ của Tây, chứ đâu có ăn cắp của nhà nước.
Bình thường, những người Việt anh dũng này đang lâm vào một hoàn cảnh kinh tế không mấy sáng sủa, nếu không muốn nói là còn đen hơn cả mõm chó, bởi vì như cha ông chúng ta thưở trước đã dạy :
- Bần cùng sinh đạo tặc.
- Đói ăn vụng, túng làm liều.
- Bụng đói thì đầu gối phải bò.
Thế nhưng, bò đâu không bò, lại bò ngay vào cái siêu thị của mấy ông chủ Tây mà chôm chỉa, nên mới rách việc.
Gã còn nhớ hồi trước giải phóng, gã có một bà bác cắm dùi tại giáo xứ Bắc hà, quận Củ chi. Giáo xứ này nằm sát một căn cứ của quân đội Mỹ.
Và thế là đang từ một giáo xứ nghèo rớt mùng tơi, dân chúng lục đục bỏ đi nơi khác để tìm đường sống, bỗng dưng hồi sinh cái một. Đờn ông cũng như đờn bà, già cũng như trẻ, người người đều đi làm sở Mỹ, nhà nhà đều đi làm sở Mỹ. Bọn nhóc con thì lang thang bán kẹo cao su và thuốc lá. Ấy là chưa kể đến đội quân “gà móng đỏ” kéo về, khiến những quán “bar” mọc lên như nấm sau cơn mưa.
Bà bác tôi,  lúc bấy giờ dù đã có tí tuổi, nhưng cũng vẫn hăng hái hưởng ứng phong trào đi làm…sở Mỹ. Kể từ đó, trong nhà rủng rỉnh những cam và táo. Mỗi buổi chiều, khi tan sở về, thế nào bà cũng moi trong cạp quần ra được một hay hai trái.
Bà kể lể sự thật như sau :
- Bọn Mỹ chúng nó rất thương các bà già, chúng gọi các bà già là “má mì san” và thường cho các bà già trái cây. Thế nhưng các bà già không ăn, để dành đem về cho con cho cháu. Lỡ hôm nào chúng không cho, thì nhanh tay lẹ con mắt, chớp vội vài trái mà dắt đại vào cạp quần chứ sao.
- Bộ khi ra cổng, MP tức là quân cảnh chúng không khám không xét ư ?
- Đối với các “má mì san”, chúng đều cho ra mà chẳng khám xét chi cả.
Chuyện rằng có một cô gái được làm ở khâu nhà bếp, thấy đứa con ở nhà mỗi ngày một ròm và còm cõi vì suy dinh dưỡng, nên chiều hôm ấy cô quyết tâm khi về sẽ lấy một ký thịt bò đông lạnh, rồi quấn kỹ quanh bụng.
Thế nhưng, khi ra đến cổng, do sức nóng của cơ thể, miếng thịt bò đông lạnh bắt đầu chảy nước và nhỏ xuống đất những giọt đo đỏ. Bọn quân cảnh Mỹ thấy vậy tưởng cô gái đã tới…tháng  hay mắc phải chứng bệnh đờn bà con gái gì đó, nên vội kêu xe cứu thương, chở gấp tới bệnh xá.
Tại đây, người ta mới khám phá ra và cười ồ lên :
- À, té ra là thế.
Cái khó ló cái khôn. Hôm nay, cái khó thì vẫn còn đó, nhưng liệu sẽ ló ra được bao nhiêu cái khôn siêu đẳng thuộc loại này ? Vậy đâu là nguyên nhân phát sinh ra tệ trạng trên?
Các cụ đồ nho, học trò Đức Khổng Tử, thì cho rằng :
- Nhân chi sơ tính bản thiện.
Bổn tính con người khi sinh ra vốn dĩ tốt lành. Nhưng rồi do hoàn cảnh xã hội, cái tính bản thiện ấy  mỗi ngày một tuột dốc và xấu dần, xấu dần thêm mãi.
Còn các nhà thần thọc thì phán rằng :
- Xuất phát từ lòng bàn tay Thiên Chúa, con người tốt lành như các thiên thần, thế nhưng do ảnh hưởng của tội nguyên tổ, con người bắt đầu xuống cấp. Trí khôn trở nên mờ tối. Ý muốn bị dục vọng khống chế. Và lòng tham thì như một vực thẳm không đáy.
Chính vì lòng tham không đáy này, người ta luôn hướng chiều tới “việc vơ vét về”. Và người ta đã nghĩ ra trăm phương ngàn kế để thực hiện ý đồ đen tối ấy.
Riêng với người Việt Nam, theo gã nghĩ, còn có một nguyên nhân lịch sử khác nữa.
Số là như chúng ta đã biết cha ông chúng ta đã từng sống một ngàn năm nô lệ giặc Tàu, rồi một trăm năm nô lệ giặc Tây và hai mươi năm nội chiến từng ngày. Trong kiếp nô lệ đằng đẵng này, muốn được sống phây phây và phè phỡn, người ta cần phải khéo luồn và  khéo lách…Tất cả nghệ thuật luồn và lách này được kết tinh thành những cái khôn, như :
- Khôn quỉ hay khôn xảo, nghĩa là hiểu biết và thu lợi nhiều cho mình một cách quỉ quyệt và xảo trá.
- Khôn ranh, khôn lỏi hay khôn vặt, nghĩa là hơn người trong những việc vặt vãnh, nhỏ mọn chẳng đáng.
Những cái khôn này, tự bản chất : rằng khôn thì thật là khôn nhưng lại chẳng ngoan tí nào, bởi vì chẳng biết phân biệt phải trái. Cứ thấy tiền của, lợi lộc và chức tước là húc đầu vào như con thiêu thân lao mình vào lửa hay như con bò rừng nhào tới tấm vải màu đỏ trong đấu trường Tây ban nha.
Những cái khôn này đều có hai điểm chung.
Điểm chung thứ nhất đó là luôn đặt cái lợi của mình lên trên hết và sẵn sàng dùng mọi phương tiện để đạt cho được mục đích, dù đó chỉ là những phương tiện xấu xa và  hèn hạ.
Điểm chung thứ hai đó là  những cái khôn này luôn mang tính cách lươn lẹo, gian dối và thiếu thành thật. Nhiều khi miệng thì nam mô, nhưng trong bụng lại chất đầy một bồ dao găm. Hay như tục ngữ cũng đã diễn tả :
- Miệng thì thơn thớt nói cười,
  Mà trong nham hiểm giết người không gươm.
Với một bề dày lịch sử nổi cộm như thế, những cái khôn ranh và khôn vặt này đã bén rễ sâu trong tâm hồn và luôn lưu thông trong máu huyết của người Việt Nam, dù đã cố gắng rất nhiều nhưng vẫn chưa thể đánh bật được nó ra ngoài.
Chính vì thế mà cho đến hôm nay, nó vẫn còn để lại những hệ lụy, những hậu quả giây chuyền thật thê lương và thảm thiết.
Thực vậy, vì thiếu thành thật, nên người Việt Nam chúng ta rất khó cộng tác với nhau. Người ngoại quốc đã nhận xét về các sinh viên Việt Nam như sau :
- Sinh viên Việt Nam rất giỏi, chỉ số thông minh của họ rất cao. Nếu một chọi một, nghĩa là một sinh viên Việt Nam địch với một sinh viên ngoại quốc, họ dễ dàng nắm phần thắng. Thế nhưng một nhóm sinh viên Việt Nam đấu trí với một nhóm sinh viên ngoại quốc, thì họ sẽ thua xa. Sở dĩ như vậy là vì họ không biết hay không thể cộng tác với nhau.
Đây cũng là kinh nghiệm gã đã từng trải qua. Thưở còn mài đũng quần trên ghế nhà trường, cứ mỗi lần thảo luận theo nhóm là thấy khỏe re con bò kéo xe, bởi vì chỉ cần bàu lên một tên trưởng nhóm, rồi sau đó ngồi tán gẫu, cà kê dê ngỗng cho đến hết giờ, phó mặc tên trưởng nhóm tha hồ ba hoa chích chòe, vẽ rồng vẽ rắn, thêm râu thêm ria khi lêân trình bày hay báo cáo cùng bàn dân thiên hạ.
Cũng chính vì sự thiếu cộng tác này mà cho đến ngày hôm nay dân tộc mình không để lại được cho đời một công trình nghệ thuật tầm cỡ nào.
Chẳng hạn về kiến trúc, các lăng tẩm ở Huế còn quá nhỏ nhoi so với khu đền Ăng ko của người anh em Campuchia. Về văn học, hiện giờ chúng ta chưa có được một bộ bách khoa tự điển đầy đủ…Mạnh ai, người ấy viết. Mạnh ai người ấy làm. Mà sức làm, sức viết của mỗi cá nhân thì thật hạn hẹp. Một cái đầu làm sao bằng hai cái đầu.
Một bộ tự điển “Larousse” của Pháp mà thôi cũng đã có biết bao nhiêu người cộng tác, rồi từ năm này qua năm khác, họ vẫn luôn duy trì sự cộng tác chặt chẽ ấy, để có những bổ túc cập nhật hóa, khỏi bị lỗi thời. Thấy mà thèm.
Rồi vì lòng tham, thấy cái lợi liền bị tối tăm mặt mũi như kẻ phải gió, nên mới nảy sinh ra những hành động làm nghèo cho đất nước.
Thực vậy, có người đã quan niệm : của nhà nước là của chùa, cứ mặc sức mà vơ vét, tuy nhiên phải khôn ranh một tí để khỏi bị tóm cổ. Nếu lỡ bị tóm cổ, thì hãy liệu mà chạy thuốc, lo lót càng sớm càng tốt, vì :
- Đồng tiền đi trước, đồng tiền khôn.
- Nén bạc đâm toạc tờ giấy.
Có một độ, nhà nước thu thuế bằng hiện vật. Chẳng hạn anh nông dân thì phải đóng thuế bằng lúa. Và thế là anh ta không ngần ngại trộn cát hay dội nước vào lúa cho nặng ký, khiến cho cả núi lúa thuế bị hư hỏng hay không thể xài được. Đây rõ ràng là tham cái lợi trước mắt mà quên cái hại sau lưng.
Cũng vì tham cái lợi mà biết bao xí nghiệp, công ti đã lỗ chổng vó, đã thua sặc gạch hay đã biến thành một thứ “công ti năng tan” chỉ vì ngài giám đốc hay cô thư ký biển thủ.
Biết bao đường giây hụi bị bể vì người cầm trịch ẵêm tiền bỏ trốn đi mất. Ấy là gã chưa nói đến những thứ “giả” được sản xuất để trục lợi.
Chẳng hạn làm hàng giả để kiếm lời. Hôn nhân giả để được xuất cảnh. Ly hôn giả để được cấp đất, cấp nhà. Bằng cấp giả để lòe thiên hạ hay để được ngồi vào chiếc ghế này, chiếc ghế kia. Mang thai giả để tống tiền. Đạo đức giả để lấy điểm hay để được thương…chỉ còn thiếu mỗi cái hàm răng giả để cho khỏi móm mà thôi. Hy vọng khi có dịp, gã sẽ mổ xẻ về những thứ giả này.
Càng viết, gã lại càng thương và càng xót, càng tủi và càng hận. Rốt cuộc, yếu tố quan trọng nhất vẫn là yếu tố con người. Chẳng thế mà cha ông chúng ta ngày xưa đã bảo :
- Phải tu thân, rồi sau đó mới tề gia, trị quốc và bình thiên hạ.
Ngày nay, muốn phát triển và nâng cấp nền kinh tế, thì tiên vàn, phải phát triển và nâng cấp chính con người trước mình đã.
Gã Siêu

 

Chuyện Gã Siêu 111: NÓI VÀ LÀM

NÓI VÀ LÀM Chuyện Gã Siêu 111

Chuyện xưa tích cũ kể lại rằng : Ngày kia, vợ thày Tăng Tử đi chợ, thấy con khóc đòi theo, bà Chuyện Gã Siêu 111

- Con ở nhà, rồi khi về, mẹ sẽ làm thịt
Chuyện xưa tích cũ kể lại rằng :
Ngày kia, vợ thày Tăng Tử đi chợ, thấy con khóc đòi theo, bà liền phỉnh gạt :
- Con ở nhà, rồi khi về, mẹ sẽ làm thịt heo cho con ăn.
Lúc vợ về, thày Tăng Tử  bèn bắt heo làm thịt. Vợ bảo là mình chỉ nói đùa mà thôi, nhưng thày lắc đầu :
- Đừng khinh rẻ trẻ thơ không biết gì. Cha mẹ làm chi thì con cái thường hay bắt chước mà làm như vậy. Nay mình nói dối con, là mình dạy con nói dối rồi đó.
Và thế là thày đi làm thịt heo cho con ăn.
Từ câu chuyện trên gã nhận ra hai mẫu người. Thày Tăng Tử là mẫu người nói và làm, còn bà vợ là mẫu người nói và lờ.
Trong cuộc sống, giữa nói và làm có biết bao nhiêu tình tiết nhiêu khê rắc rối. Thậm chí nhiều lúc có cả một vực thẳm ngàn trùng xa cách. Chính vì thế, gã xin mạn phép được bàn đến mối quan hệ giữa nói và làm.
Khi tạo dựng, Thiên Chúa đã ban cho con người một cái lưỡi. Nhờ cái lưỡi, con người có thể nói được. Và nhờ tiếng nói, con người biểu lộ cho nhau những tình cảm, những ước muốn, những suy nghĩ  hầu xích gần lại ‘’mí’’ nhau hơn. Bởi đó, người ta thường bảo :
- Người là một con vật có ngôn ngữ, có tiếng nói.
Thế nhưng, phàm bất cứ việc gì trên cõi đời này cũng đều có hai mặt. Mặt phải và mặt trái. Mặt phải của cái lưỡi, đó là một nhịp cầu cảm thông được bắc bằng ngôn ngữ và tiếng nói.
Còn mặt trái, đó là những uẩn khúc, những hận thù, những đổ vỡ mà cái lưỡi đã gây nên, đúng như người xưa đã bảo :
- Lưỡi người còn độc hơn cả họng ong.
Sở dĩ như vậy là vì cái lưỡi không có xương. Mà đã không có xương thì lại lắm đường lắt léo. Nói dọc nói ngang, nói quàng nói bậy, nói thế nào cũng được, như tục ngữ đã diễn tả :
-Ở sao cho vừa lòng người
Ở rộng người cười ở hẹp người chê
Cao chê ngỏng thấp chê lùn
Béo chê béo trục béo tròn
Gầy chê xương sống xương sườn phơi ra.
Trong mối liên hệ giữa nói và làm, thì hạng người tệ hại nhất đó là  những kẻ nói một đàng, làm quàng một nẻo. Những kẻ nói thì hay, nhưng làm thì ngược lại những điều mình nói. Họ nói vậy mà không phải vậy đâu, cho nên phải đề cao cảnh giác, bởi vì :
- Ngoài thì hơn hớt nói cười
  Mà trong nham hiểm giết người không gươm.
Họ đúng là những kẻ ‘’khẩu phật tâm xà’’, ‘’miệng nam mô bụng bồ dao găm’’ như ca dao đã bảo :
-Nam mô, một bồ dao găm
Một trăm dao mắc
Một vác dao bầu
Một xâu thịt chó.
Chính Đức Kitô cũng bàn về hạng người này một cách rất chính xác :
- Họ kinh kệ dài dòng nhưng lại nuốt trửng gia tài của các bà góa… Họ giống như mồ mả, bên ngoài thì quét vôi đẹp đẽ, nhưng bên trong thì đầy giòi bọ và đủ mọi thứ xú khí.
Người ta thường cho rằng :
- Nói và làm ngược lại điều mình nói là một chứng bệnh trầm kha của nhiều người, đặc biệt của các thương gia và chính khách.
Với các thương gia trong lãnh vực buôn bán mà cứ thật thà như đếm thì làm sao khấm khớ. Muốn khấm khớ thì phải cân non, thước thiếu, hàng dổm vẫn cứ nói là hàng xịn.
Còn với các chính khách trong việc hoạch định chính sách và đường lối của mình mà cứ thẳng như ruột ngựa thì làm sao thành công. Muốn thắng lợi thì phải tung hỏa mù, càng mập mờ càng tốt.
Khi vui thì ta cắt nghĩa rộng cho đối phương thoải mái tí chút, còn khi buồn thì ta cắt nghĩa hẹp để có thể chịt cổ những kẻ ngo ngoe chống cưỡng. Chả hiểu nhận xét trên đúng hay sai.
Tiếp đến, một hạng người khác bớt nham hiểu hơn, đó là những kẻ nói và lờ. Họ nói nhưng không làm, giống như bà vợ của thày Tăng Tủ, bảo đi chợ về sẽ làm thịt heo, nhưng rồi bà liền đánh trống lảng, cho đó chỉ là chuyện đùa.
Quái chiêu được hạng người này xử dụng đó là ‘’lờ tít’’. Những điều tâm niệm được họ áp dụng trong cuộc sống, đó là  :
- Yên lặng là vàng.
- Cố đấm ăn xôi.
- Nhất lí nhì lì tam ì tứ ẩu.
Sau khi tuyên bố vung vít, họ bèn lặn thật sâu, im hơi lặng tiếng thật dài. Mặc cho thiên hạ phản đối, mặc cho thiên hạ yêu cầu. Nói lắm mỏi miệng. Rồi cũng chìm xuồng và đi vào quên lãng để họ thủ lợi. Dù có bị mang tiếng là đánh trống bỏ dùi, thả diều cắt dây, đem con bỏ chợ…thì lợi nhuận cũng đã chui vô đầy túi.
Gã thấy trong những cuộc vận động, ứng cử viên nào cũng hứa sẽ làm điều này, sẽ làm điều kia cho dân chúng khấp khới mừng thầm mà dồn phiếu
Đến khi đã ẵm được cái ghế này, ghế nọ, đã yên vị tại Quốc hội, hay tại chỗ nọ chỗ kia, thì những lời hứa chắc như đinh đóng cột khi trước liền bốc hơi và trở thành những lời hứa hão. Mọi sự vẫn y nguyên như cũ.
Gã vốn thường phong cho những kẻ nói và lờ, nghe và lặn là những vị ‘’giám đốc’’, nghĩa là họ dám xúi, dám đốc cho thiên hạ làm, còn họ thì chỉ tay năm ngón, ngồi nhà mát ăn bát vàng, dẻo miệng đỡ tay chân.
Họ chất những bó nặng lên vai người khác, còn bản thân thì chả đụng một tí móng tay để lay thử. Bao nhiêu việc nhọc nhằn thiên hạ lãnh đủ, còn họ chỉ việc phe phẩy vuốt mấy cọng râu cá chốt của mình. Nói thì nói vậy chứ đôi lúc gã cũng thấy mình đã muốn và đã làm như thế.
Hạng người thứ ba gã muốn bàn đến đó là những kẻ nói thì nhiều mà làm chẳng được bao nhiêu. Dầu sao, đối với hạng người này, gã còn thấy được một đốm sáng ở cuối con đường hầm.
Trước sự kiện ‘’làm chẳng được bao nhiêu này’’ họ có sẵn trong bụng một ngàn lẻ một lý do để biện minh. Nào là tại, nào là bởi, nào là vì… ôi thôi, cái khó bó cái khôn.
Họ quên mất lời người xưa đã dạy :
- Tri bỉ tri kỷ, bách chiến bách thắng. Biết mình, biết người trăm trận đều thắng.
Nhiều lúc họ cố tình không muốn biết mình, nên cứ tuyên bố vung vít, cứ nói cho sướng cái lỗ miệng, rồi thì đến đâu hay tới đó. Mọi sự sẽ hạ hồi phân giải. Mà phân giải không được thì sẽ đánh bài ‘’lờ tít’’.
Họ luôn đâm ngực người khác mà rằng :
- Lỗi tại anh, lỗi tại chị, lỗi tại hoàn cảnh…
Họ chẳng bao giờ dám đấm ngực mà rằng :
- Lỗi tại tôi, lỗi tại tôi  mọi đàng.
Bây giờ,  gã xin đề cập tới những hạng người mà lời nói thường đi đôi vói việc làm. Giữa hai phạm trù này có một tỷ lệ thuận nào đó, và đặc biệt, lãnh vực ‘’làm’’thì không ngừng phát triển.
Trước hết là những kẻ nói ít mà làm thì cũng ít. Họ tiêu biểu cho những kẻ an phận, hưởng nhàn, luôn bằng lòng với gì mình có. Không muốn đấu tranh, không muốn dây dưa vào những chuyện rắc rối của cuộc đời, xin cho được hai chữ bình yên.
Trái với hạng người này là những kẻ nói nhiều mà làm thì cũng nhiều. Nói hăng mà làm thì cũng hăng. Họ tượng trưng cho hạng yêu đời, và năng động, dám nói, dám làm và dám lãnh nhâän trách nhiệm của mình trước những thành công và thất bại. Đi tới đâu, họ cũng gieo vãi niềm vui mừng và hy vọng cho những người chung quanh.
Sau cùng là những người nói ít mà làm nhiều, nói thỉ chẳng bao nhiêu mà làm thì lại rất nhiều, thậm chí có những người không nói chi cả mà vẫn âm thầm làm việc. Họ là những người vừa khiêm tốn, vừa nhiệt thành lại vừa thiện chí.
Tiêu biểu cho hạng người này là thánh Giuse.
Mặc dù nắm giữ một vai trò quan trọng trong chương trình cứu độ, thế mà qua Tin mừng, gã không thấy vị thánh này để lại cho hậu thế một lời nói nào, mà chỉ toàn là những việc làm. Vâng phục tối mặt, ngay cả trong những hoàn cảnh bi đát và tăm tối nhất. Gã xin kê đơn hoàn tán, kể lại một số việc làm điển hình.
Vừa mới đính hôn với Maria chưa được bao lâu, thì Giuse thấy người yêu bé bỏng của mình bỗng dưng mang bầu.
Giả như chúng ta, thì chúng ta phải làm cho ra nhẽ, phải bôi tro trát trấu khiến cho cô ấy bị  bẽ mặt. Còn Giuse, khi nhận ra Maria mang thai bởi quyền phép Chúa Thánh Thần, liền mau mắn đón cô ấy về nhà làm bạn mình.
Tiếp đến, khi Maria đang bụng mang dạ chửa, và sắp tới ngày sinh nở, thế mà chiếu chỉ của hoàng đế lại truyền cho mọi người phải trở về quê hương bổn quán của mình để kê khai nhân hộ khẩu.
Giá như chúng ta, thì chúng ta đã nại lý do này lý do kia để đánh bài xù. Còn Giuse thì đã âm thầm đưa Maria về Bêlem để chu toàn bổn phận của một người công dân.
Rồi đang đêm, được thiên thần báo mộng :
- Hãy đưa con trẻ và mẹ Ngài trốn sang Ai cập vì Hêrôđê đang truy tìm để giết hại.
Giá như chúng ta, thì chúng ta sẽ mường tượng ra những vất vả của cuộc hành trình trốn chạy, những khó khăn của cuộc sống vất vưởng nơi đất khách quê người để rồi ca bài “xù”. Còn Giuse thì khác, đã mau mắn vâng theo lệnh truyền, giữa đêm hôm khuya khoắt, vội vã đưa Hài nhi Giêsu và Mẹ Maria lên đường trốn sang Ai cập.
Cũng như sau này, qua lời báo của thiên thần, Giuse đã đem gia đình về định cư tại làng Nagiarét, hầu Kinh thánh được ứng nghiệm.
Cuối cùng, suốt những năm tháng dài, Giuse đã âm thầm đổ những giọt mồ hôi, lao động cật lực với đôi bàn tay chai cứng tại xưởng mộc Nagiarét, cố đem lại cho gia đình chén cơm manh áo, bảo đảm một cuộc sống vật chất ấm no hạnh phúc cho Chúa Giêsu và Mẹ Maria.
Giuse không nói nhưng đã làm thật nhiều. Rõ ràng khác xa với chúng ta.
Thời buổi hiện nay là thời buổi lạm phát lời nói nhưng lại khan hiếm và thiếu vắng việc làm.
Trong một ngày, trên báo chí, truyền thanh và truyền hình, chúng ta được nghe biết bao nhiêu lời tuyên bố nảy lửa, biết bao nhiêu giọng điệu tuyên truyền, biết bao nhiêu mẫu quảng cáo hấp dẫn… nhưng  thử hỏi kết quả được ngần nào ?
Có những lúc gã cảm thấy như người ta nói để mà nói, chứ chả có một tí quyết tâm để biến lời nói thánh việc làm. Người ta tô hồng bằng những bản báo cáo đầy triển vọng đang lúc thực tế còn rất bâáp bênh và đen tối.
Ngay cả những lúc thiên tai bão lụt ập xuống, mùa màng thất bát. Mà mức thu hoạch vẫn gấp đôi cùng kỳ năm ngoái. Thế có oai không chứ.
Có một khẩu hiệu khiến gã không ngừng suy gẫm, đó là câu:
- Nhà nước và nhân dân cùng làm.
Nhưng rốt cuộc nhân dân làm đến mửa mật, mà tiền do mồ hôi nước mắt lại chui tọt vào cái túi không đáy của những ông quan tham nhũng.
Riêng trong phần đạo, chúng ta cũng đang mắc phải tệ trạng này :
- Lạm phát lời nói nhưng lại khan hiếm việc làm.
Từ lúc có trí khôn cho đến bây giờ, chúng ta đã được nghe biết bao nhiêu bài giảng, chúng ta đã học được biết bao nhiêu bài giáo lý, chúng ta đã đọc biết bao lời kinh, còn những hành động bác ái yêu thương, giúp đỡ những người chung quanh thì liệu có được một ‘’dúm’’ hay không ?
Và ngay cả bản thân, có lẽ chúng ta cũng đã nói rất nhiều mà làm chẳng được bao nhiêu!
Tuy nhiên, việc làm lúc nào cũng có lợi điểm, giá trị và ưu thế riêng biệt của nó.
Thực vậy, nhờ việc làm chúng ta chứng tỏ cho người khác tình yêu nồng nàn của chúng ta. Làm sao có thể nhận ra một tình yêu không việc làm, bởi vì tình yêu không việc làm chỉ là một tình yêu đã chết, một tình yêu trong mơ tưởng chứ không hề tồn tại trong cuộc sống.
Trái lại, với những việc làm dù nhỏ bé, dù tầm thường nhất cũng đủ cho thấy mức độ đậm đà của tình yêu chúng ta.
Lắm khi chỉ là một nụ cười, một ánh mắt, một lời nói, một cử chỉ trìu mến đã làm ấm lên cả cõi lòng người mình thương mến.
Hơn nữa, nhờ việc làm chúng ta có thể lôi cuốn và hấp dẫn được người khác như tục ngữ đã bảo :
- Lời nói như gió lung lay
  Việc làm như tay lôi kéo.
Hay như một câu danh ngôn đã bảo :
- Việc làm mới là một bài giảng hùng hồn nhất có sức lôi cuốn và hấp dẫn. Lời nó chỉ là một tên lùn, còn việc làm mới thực sự là một anh chàng khổng lồ.
Con người hôm nay có lẽ đã chán ngấy những lời công bố, những khẩu hiệu tuyên truyền, những hình ảnh quảng cáo theo kiểu thùng rỗng kêu to, nhưng lại rất cần đến những chứng tá bằng việc làm, những chứng tá bằng cuộc sống.
Thiên hạ cúi đầu ngưỡng mộ một cha Phêrô ở Paris, suốt đời giúp đỡ cho những kẻ lang thang không nơi ăn chốn ở. Thiên hạ không ngớt ca tụng một mẹ Têrêxa ở Calcutta, luôn hy sinh chăm sóc cho những kẻ nghèo hèn, ốm đau và hấp hối.
Chính những hành động bác ái, chính những việc làm yêu thương nhằm xoa dịu những nỗi đau là điều nhân loại hôm nay đang cần đến.
Còn những ý đồ, những toan tính chính trị núp sau lưng những lời nói nặng phần trình diễn, chẳng sớm thì muộn, chẳng hôm nay thì ngày mai cũng sẽ bị lịch sử lật tẩy.
Viết tới đây, gã tự cảm thấy mình nói cũng khí nhiều, chỉ xin ghi lại một ý tưởng nữa, cho cái kết luận được thêm phần… có hậu :
- Thượng đế đã ban cho chúng ta chỉ có một cái miệng, nhưng lại có những hai bàn tay. Nếu như ai cũng ý thức điều đó, để rồi giảm nói mà tăng làm, thì chắc hẳn cục diện thế giới sẽ đổi thay, khuôn mặt nhân loại sẽ tươi sáng, môi trường xã hội sẽ ổn định và an bình hơn bao giờ hết.
Gã Siêu

 

Chuyện Gã Siêu 112: NHỮNG KIỂU PHỤ NỮ

NHỮNG KIỂU PHỤ NỮ Chuyện Gã Siêu 112

Truyện xưa kể lại rằng:  Vua Arthur, vị vua trẻ tuổi của nước Anh, bị quân Pháp phục kích và Chuyện Gã Siêu 112

Truyện xưa kể lại rằng:
Vua Arthur, vị vua trẻ tuổi của nước Anh, bị quân Pháp phục kích và bắt giữ. Lẽ ra vua nước Pháp sẽ giết ngài, nhưng vẻ trẻ trung dễ mến của Arthur đã làm cho vua Pháp cảm động. Ông ta hứa sẽ trả tự do cho Arthur nếu ngài giải được một câu đố cực khó. Thời hạn để Arthur đưa ra câu trả lời là một năm. Nếu sau một năm không tìm ra lời giải, Arthur sẽ phải chết. Câu đố ấy là: Phụ nữ thật sự muốn gì? Đối với Arthur, câu đố này quả là một thử thách quá lớn. Nhưng dù sao nó vẫn tốt hơn là cái chết. Arthur đành chấp nhận mạo hiểm.
Khi trở về Anh  quốc, ngài hỏi tất cả mọi người từ các công chúa đến các cha xứ và đến cả các quan toà, nhưng không ai có thể đưa ra một câu trả lời hoàn hảo. Cuối cùng, mọi người khuyên nhà vua hãy đến hỏi bà phù thuỷ già, bởi vì chỉ mình bà ta mới giải được câu đố hóc búa đó. Những ngày cuối năm cũng đã tới gần. Arthur không còn cách nào khác là đến xin ý kiến của mụ phù thuỷ. Bà ta đồng ý sẽ đưa câu trả lời nhưng với một điều kiện. Đó là bà ta muốn lấy Garwain, chàng hiệp sĩ dũng cảm, bạn thân nhất của nhà vua. Arthur thất kinh. Bà ta vừa xấu, lại vừa bẩn. Ngài chưa từng bao giờ thấy một ai đáng tởm như bà ta. Không, ngài sẽ không để bạn thân của mình phải chịu thiệt thòi như vậy.
Khi biết chuyện, Garwain nói với Arthur rằng sự hy sinh của chàng làm sao có thể so sánh được với sự sống của nhà vua, sự tồn tại của vương quốc Anh. Và chàng hiệp sĩ quyết định hy sinh. Cuộc hôn nhân được chấp thuận và vua Arthur nhận được câu trả lời. Điều phụ nữ thật sự muốn đó là “Có toàn quyền quyết định mọi việc trong cuộc sống của mình”.  Ngay lập tức ai cũng nhận ra rằng mụ ta vừa thốt lên một chân lý. Nhà vua của họ sẽ được cứu thoát. Quả thật vua nước nước Pháp rất hài lòng với lời giải đáp và cho Arthur khỏi cái án tử hình.
Lại nói về đám cưới của mụ phù thuỷ và chàng hiệp sĩ. Tưởng chừng như không gì có thể khiến Arthur hối hận và đau khổ hơn nữa. Tuy nhiên chàng hiệp sĩ của chúng ta vẫn cư xử hết sức chừng mực và lịch sự. Mụ phù thuỷ thì trái lại, trong tiệc cưới, mụ ta làm nháo nhào mọi thứ lên. Thỉnh thoảng mụ lại lấy cái tay bẩn thỉu của mụ nhón cái này một chút, bốc cái kia một tý. Thật chẳng ra làm sao cả. Mọi người thì hết sức khó chịu.
Đêm tân hôn, Garwain thu hết can đảm bước vào động phòng hoa chúc. Nhưng gì thế này? Trên giường không phải là mụ phù thuỷ già nua xấu xí mà là một cô gái vô cùng xinh đẹp đợi chàng tự bao giờ. Nhận thấy sự ngạc nhiên trên nét mặt chàng hiệp sĩ, cô gái từ tốn giải thích là vì chàng rất tốt với nàng lúc nàng là phù thuỷ, nên để ân thưởng, nàng sẽ trở thành một người xinh đẹp dễ mến đối với chàng vào nửa ngày. Vấn đề là chàng phải lựa chọn hình ảnh đẹp của nàng vào ban ngày hay ban đêm. Chao ôi sao mà khó thế? Garwain bắt đầu cân nhắc: Ban ngày nếu nàng là một cô gái xinh đẹp thì ta có thể tự hào cùng nàng đi khắp nơi, nhưng ban đêm làm sao mà ta chịu cho nổi? Hay là ngược lại nhỉ, ta đâu cần sỹ diện với bạn bè cơ chứ, cứ để nàng ta xấu xí trước mặt mọi người đi, còn khi màn đêm buông xuống, ta sẽ được tận hưởng những giây phút chồng vợ với thiên thần này. Garwain đã trả lời: “Nàng hãy tự quyết định lấy số phận của mình. Nàng muốn đẹp hay xấu vào lúc nào cũng được”. Tất nhiên câu trả lời này đã làm cho mụ phù thuỷ đội lốt cô nàng xinh đẹp kia hài lòng và nàng nói rằng nàng sẽ hóa thân thành một cô nương xinh đẹp suốt đời. Đó là phần thưởng dành cho người biết tôn trọng ý kiến của phụ nữ.
Câu truyện trên khiến gã nhớ tới một câu danh ngôn đại khái như thế này: Phụ nữ giống như bức tranh trừu tượng mà mãi 300 năm về sau cũng chẳng có ai hiểu được. Hôm nay, gã xin dựa vào một bài trên trang mạng “Dân Trí”, để bàn về một vài kiểu phụ nữ…quái chiêu. Thực vậy, sống trên đời, anh đàn ông nào mà chẳng thích những phụ nữ đẹp đẽ, duyên dáng, dịu dàng và đảm đang, tuy nhiên đôi khi vẫn thấy xuất hiện những kiểu phụ nữ làm cho họ phải “chết khiếp”.
 
Thứ nhất là những phụ nữ thích tiền 
Nói đến tiền, ai mà chẳng thích. Ngay cả một đứa nhỏ cũng thích và hình như càng già lại càng thích, bởi vì từ nhỏ cho tới lớn, từ già cho chí trẻ, ai cũng hiểu được “siêu giá trị” của đồng tiền: Có tiền mua tiên cũng được, có tiền là có tất cả. Thế nhưng, khuynh hướng thích tiền của một số  chị vợ lại được biểu lộ bằng những độc chiêu, khiến cho đối phương, tức là những anh chồng, phải ngậm đắng nuốt cay.
Thực vậy, hầu như chị vợ nào cũng muốn quản lý chặt chẽ những đồng tiền còm của chồng. Các chị có một bộ nhớ trên cả tuyệt vời, bao nhiêu chi tiêu của anh chồng đều được lưu giữ, chẳng hề sai trật một đồng xu cắc bạc nào cả. Các chị còn là một thứ ngân hàng đặc biệt, chỉ biết đầu vào mà chẳng biết đầu ra. Thu vào thi vui vẻ, bao nhiêu cũng nhận. Còn phát ra thì bủn xỉn, xẻn so từng đồng, như tâm sự của một anh chồng sau đây:
Vào ngày tui mới lãnh lương,
Vợ tui bỗng chốc dễ thương vô cùng.
Về nhà, “bả” tới ôm “hun”,
Dường như lòng bả nhớ nhung quá trời,
Xong rồi bả mới mở lời :
Tiền lương cuối tháng em coi xem nào.
Dứt lời, túi trước túi sau,
Hai tay bả móc, tui đau…đớn lòng.
Chỉ vài ba phút là xong,
Tiền trong tay bả, tui không còn gì.
Thế rồi bả cất bước đi,
Nét duyên khi nãy còn gì nữa đâu.
Tháng qua hai chín ngày sầu,
Ngày vui duy nhất, trôi mau quá trời.
(Trần Thành Nghĩa)
Trong khi đó, các chị lại mang “cái máu mua sắm” trong mình và người ta có thể coi việc thích mua sắm là bản tính “bẩm sinh” của một số phụ nữ. Các chị “ghiền” đi siêu thị và một khi đã bước chân vào, thì đố mà dứt cho ra. Các chị mải mê ngắm nghía hết gian hàng này tới gian hàng nọ. Kinh nghiệm cho thấy mấy anh chồng thường nghĩ rằng đồng tiền kiếm được là do lao động vất vả, nên phải chi tiêu sao cho hợp lý và chỉ mua những thứ cần thiết, còn các chị vợ thì khác, các chị mua sắm những thứ mình thích. Thậm chí có những thứ mua về rồi để một chỗ chẳng khi nào dùng tới. Thành thử người đời vốn thường bảo: Người đàn ông thành công là người phải kiếm được nhiều hơn số tiền vợ anh ta chi tiêu.
 
Thứ hai là những phụ nữ thích…so 
So ở đây có nghĩa là so sánh. Hội chứng so sánh này còn được gọi là hội chứng đứng núi này trông núi nọ, được voi đòi tiên, chẳng bao giờ biết bằng lòng với số phận của mình:
- Chồng người ta thì…thế nọ thế kia, còn anh thì cứ…thế này, thế này. Vậy nghĩa là làm sao?
Cái điệp khúc trên được rỉ rả suốt cả ngày và được rù rì suốt cả đêm, đến độ quỷ thần cũng không chịu nổi, huống lọ là anh chồng. Ấy là chưa nói tới cái danh dự, cái tự ái to bằng cái rế của anh chồng bị xúc phạm năng nề, vì dù sao mình cũng là thằng đờn ông kia mà. Thực vậy, sau một ngày đi làm mệt mỏi, trở về nhà chỉ toàn nghe thấy vợ mình khen chồng người khác giỏi giang, mua nhà lầu, sắm xe hơi, vợ người ta ăn sung mặc sướng, cuộc sống nhàn hạ… Chắc hẳn anh chồng nào cũng cảm thấy chối tai. Còn đâu cái cảnh:
Chồng ta áo rách ta thương,
Chồng người áo gấm xông hương mặc người.
 
Thứ ba là những phụ nữ thích gây 
Gây ở đây có nghĩa là gây sự. Các chị vợ thuộc loại này rất hiếu chiến, hễ gặp chuyện không vừa ý là nổi cơn tam bành, không còn biết cảm thông, chia sẻ là gì nữa. Các chị quên mất rằng hạnh phúc gia đình phải được xây dựng trên cơ sở tình yêu. Các chị không còn nhớ rằng sự dịu dàng đằm thắm của phụ nữ chính là thứ vũ khí mạnh nhất chinh phục cánh mày râu. 
Nếu tại các khu rừng rậm thuộc châu Á, cọp là vua của loài thú, thì ở châu Âu, sư tử là chúa sơn lâm. Khi nghe sư tử rống lên, các loài thú khác đều hoảng sợ, cụp đuôi chạy trốn mất.
Trần Quí Thường là bạn của thi hào Tô Đông Pha. Ông ta có một người vợ nổi tiếng là hay ghen và hung dữ. Mỗi lần Tô Đông Pha đến chơi, đều nghe tiếng bà ta la hét ầm ĩ. Thấy vậy, họ Tô mới làm một bài thơ cám cảnh mà chế diễu ông bạn có người vợ hung dữ như sau :
Thùy tự Long Khâu cư sĩ  hiền,
Đàm không thuyết pháp dạ bất miên.
Hốt văn Hà Đông sư tử hống,
Trụ tượng lạc thủ tâm mang mang.
Có nghĩa là :
Ai hiền hơn cư sĩ Long Khâu,
Đọc kinh giảng đạo suốt canh thâu.
Bỗng nghe sư tử Hà Đông rống,
Tay run gậy rớt lòng hoang mang.
Những chị vợ hung dữ như sư tử Hà Đông bên Tàu, thì quả là hiếm hoi, nhưng không phải là không có. Bởi vì trên đời này, đôi khi cũng vẫn xảy ra cảnh “gà mái đá gà cồ”. Chẳng tin thì xin nghe thử tâm sự của “Người mặt sẹo” như sau :
Nắng Sài Gòn anh đi mà lạnh ngắt,
Bởi vì em sinh quán ở Hà Đông.
Bao lần anh khiếp hãi sợ vô cùng,
Và trên mặt vẫn còn lằn vết sẹo.
Anh vẫn nhớ em ngồi đâu quát đấy,
Cầm khúc cây dài lắm chỉ đe anh.
Anh kinh hồn vội vã né lung tung,
Chờ sơ hở phóng ra rồi dông tuốt…
 
Thứ tư là những phụ nữ thích nói 
Người ta thường bảo: Nơi nào có hai hoặc ba người phụ nữ họp lại với nhau, nơi đó sẽ biến thành một cái chợ. Nếu hai hoặc ba chị phụ nữ ngồi lại với nhau là có tiếng xì xèo to nhỏ, cũng giống như hai hoặc ba anh đàn ông tụ lại với nhau là có tiếng bát đũa, ly tách khua vang. Khi gặp mặt nhau, các chị nói đủ thứ chuyện, từ chuyện trên trời đến chuyện dưới đất, từ chuyện trong nhà đến chuyện ngoài ngõ, đặc biệt là những chuyện thầm kín, riêng tư.
Không phải các chị chỉ “rậm lời” với nhau, mà còn “dài lời” với chồng con trong nhà. Về nghệ thuật “nói dài, nói dẻo, nói dai, nói day, nói dứt”, thì các chị ăn đứt, khiến mấy anh chồng chỉ có nước ngồi bó tay, chịu trận mà thôi.
Trước hết, phần lớn các chị vợ đều mắc phải chứng bệnh than, nào là thời buổi gạo châu củi quế, nào là vật giá leo thang, nào là gạo đường tăng lên vùn vụt:
Anh ạ, bình ga đã hết rồi,
Cộng dồn hai cái trả gấp đôi.
Đây nữa, nhà đèn đưa giấy báo,
Hẹn ổng cuối tuần phải đóng thôi.
Còn cái “a lô” nữa anh à,
Chuyện này không hoãn được đâu nha,
“Ầu ơ ví dặm là ổng…cắt,
Hóa đơn em nhận mới chiều qua.
Tiếp đến, các chị không ngần ngại nói tới nói lui, nhắc đi nhắc lại những sai lỗi của chồng, nhất là những lem nhem, những phản bội trong lãnh vực tình cảm. Đây chỉ là chuyện rất bình thường, không có chi là khó hiểu. Thực vậy, các chị vợ sống bằng trái tim. Đối với các chị, tình yêu là tất cả và chi phối mọi sinh hoạt. Vì thế, những lỗi phạm tới tình yêu sẽ trở thành như một vết chém, không bao giờ nguôi ngoai trong cõi lòng họ. Tình yêu của họ giống như bát nước đầy, một khi đã bị hắt xuống đất, thì không thể nào hốt lên được. Vì thế, anh chồng nào đã  bị lưu vào hồ sơ tội trạng, thì chẳng thể nào bôi xóa cho hết được.
 Mấy anh đàn ông rất sợ phải chung sống với kiểu người nói dài, nói dai. Suốt ngày bị lải nhải bên tai là một cực hình đối với họ. Họ không hiểu sao các chị vợ lại có thể nhắc đi nhắc lại mãi một vấn đề mà không biết chán. Họ chỉ biết lắc đầu lè lưỡi và tìm cách tẩu thoát cho nhanh khi “cái đài” được bật lên.
Trên đây, chỉ là một vài kiểu điển hình “tiên tiến” mà thôi. Chắc hẳn trong đời thường còn lắm mẫu gương tuyệt vời hơn thế nữa. Tuy nhiên, chỉ nguyên suy gẫm những kiểu trên mà thôi, một ông bố đã đưa ra những lời khuyên cho cậu con trai của mình như sau:
1- Kẻ thù lớn nhất của con là vợ con.
2- Ngu dốt lớn nhất của đời con là không hiểu được nó.
3- Thất bại lớn nhất của đời con là không bỏ được nó.
4- Bi ai lớn nhất của đời con là phải sống với nó.
5- Sai lầm lớn nhất của đời con là quyết định lấy nó.
6- Tội lỗi lớn nhất của đời con là nghe lời nó.
7- Đáng thương lớn nhất của đời con là bị nó sai khiến.
8- Đáng khâm phục lớn nhất của đời con là con vẫn chịu được nó.
9- Tài sản lớn nhất của đời con là những thứ nó đang giữ.
10- Khiếm khuyết lớn nhất của đời con là con không lấy được hai vợ.
Tới đây, gã xin kể lại một truyện cổ tích Ấn Độ như sau:
Thượng Đế tạo ra đàn ông trước, sau thấy đàn ông rầu rĩ, cô đơn quá, Ngài bèn lấy vẻ đẹp của Hoa, tiếng hót của Chim, mầu sắc của Cầu Vồng, cái độc ác của Chó Sói, cái hợm hĩnh của Con Công, cái lạnh lùng của Băng Tuyết, sự bất thường của Nắng Mưa, sự mềm mại của Gió, sự nhút nhát của Thỏ Rừng, đường cong của Vầng Trăng, lồi lõm của Đồi Núi.... để tạo thành đàn bà.
Thượng Đế cho đàn ông tặng vật tuyệt vời này làm vợ. Người đàn ông mừng quá, dắt người đàn bà đi, quên cả cám ơn. Nhưng chỉ ít lâu sau, chịu không thấu, gã bèn đem trả lại cho Thượng Đế.
Một thời gian ngắn, buồn héo hắt vì cô đơn, gã lại đến xin người đàn bà. Tiếp tục như thế mấy lần, xin trả rồi trả xin, Thượng Đế nổi giận và mắng: “Đây là lần cuối ta cho ngươi, từ nay sướng khổ ráng mà chịu lấy, đừng quấy rầy ta nữa vì ta còn bận trăm công ngàn việc với cái trần gian đa sự này. Biết chưa?”
Thôi thì xin ghi nhớ câu danh ngôn sau đây như một kết luận: Để có được hạnh phúc với một người đàn ông, bạn cần phải hiểu anh ta nhiều và yêu ít thôi. Còn để có được hạnh phúc với môt người phụ nữ, bạn cần phải yêu nhiều và đừng cố hiểu cô ta.
Gã Siêu

 

Chuyện Gã Siêu 113:  VỢ DẠI

VỢ DẠI Chuyện Gã Siêu 113

Có thể nói được rằng tục ngữ ca dao là cái túi khôn của người Việt Nam, đã tích luỹ được biết bao Chuyện Gã Siêu 113

Có thể nói được rằng tục ngữ ca dao là cái túi khôn của người Việt Nam, đã tích luỹ được biết bao nhiêu kinh nghiệm quí giá. Gã xin đưa ra một vài thí dụ cụ thể:
Chẳng hạn như bàn về cái ngu, các cụ ta đã bảo:
- Trên đời có bốn cái ngu,
  Làm mai, lãnh nợ, gác cu, cầm chầu.
Chẳng hạn như bàn về cái khó, các cụ ta đã nói:
- Tậu trâu, lấy vợ, làm nhà,
  Cả ba việc đó đều là khó thay.
Chẳng hạn như bàn về cái khổ, các cụ ta đã cho hay:
- Thứ nhất vợ dại trong nhà,
  Thứ hai nhà dột, thứ ba nợ đòi.
Hôm nay, gã xin lượm lặt những mẩu chuyện nho nhỏ trên mạng, cũng như trên báo chí, để “tám” về nỗi khổ thứ nhất của các anh chồng có vợ dại.
Thực vậy, đờn ông ai cũng muốn vợ mình phải là một phụ nữ giỏi giang, tháo vát, vừa khéo chiều chồng, lại vừa khéo nuôi con. Bởi vì một chị vợ vụng về làm sao có thể vun quén được một mái ấm gia đình hạnh phúc, một bà mẹ vụng về làm sao có thể nuôi dạy được những đứa con nên người. Chữ “dại” ở đây không phải là ngu dốt, cũng không phải là điên khùng, mà chỉ là hơi bị đần một chút xíu mà thôi. Sự dại ấy thường được biểu lộ qua hai trạng thái:
 
TRƯỚC HẾT, ĐÓ LÀ VỢ CHẬM. 
Anh chồng vốn tính nóng nảy, làm việc gì cũng phải nhanh nhẹn. Còn chị vợ thì trái lại, vốn tính chậm rãi, khoan thai, từ tốn. Anh ta nghĩ rằng một khi đã ráp lại với nhau và thành vợ thành chồng, hai tính khí khác biệt ấy sẽ bổ túc cho nhau, để rồi sẽ dẫn tới một tình trạng tuyệt vời. Nhưng anh ta đâu có ngờ, ngay sau ngày cưới, đã phải nếm mùi đau khổ vì cái sự khoan thai, chậm rãi và từ tốn của nàng. Chính anh ta đã “bật mí” cho bàn dân thiên hạ biết về nỗi đau khổ của anh ta trên báo Phụ Nữ Chủ Nhật, số 13, ra ngày 10.4.2011, đại khái như thế này:
 
Nỗi khổ thứ nhất là chờ nàng trang điểm   
Khi mới yêu nhau, mỗi lần hẹn hò, thì việc chờ nàng là cả một hạnh phúc, anh ta hồi hộp và sung sướng, dù có phải chờ một hai tiếng đồ hồ cũng chẳng nhằm nhòi gì. Lúc mới cưới, mỗi lần chuẩn bị đi chơi, anh ta rất lấy làm thú vị khi nhìn ngắm nàng trang điểm. Đôi khi còn ra vẻ hiểu biết, góp ý cho nàng pha màu và chọn quần chọn áo. Thế những bây giờ sự đời đã ra khác. Việc phải chở nàng đi đâu đó quả là một cực hình. Anh ta “thắng bộ” xong xuôi, uống hết ly cà phê, đọc xong tờ báo mà nàng vẫn chưa rời bàn phấn. Việc chờ đợi trước kia thi vị bao nhiêu, thì nay lại khốn khổ bấy nhiêu. Có những lần đi đám cưới, khi vợ chồng anh ta tới nơi, thì thiên hạ đã xử tới món…tráng miệng!
 
Nỗi khổ thứ hai là chờ nàng nấu cơm 
Lúc đầu anh ta phụ giúp nàng những việc lặt vặt, nhưng sau mấy lần đói muốn xỉu cả người, mà vẫn chưa có cơm ăn, anh ta bèn phải xung phong làm bếp chính. Anh ta đảm trách việc nấu cơm, kho cá, còn nàng thì nhặt rau. Nồi cơm đã xong, niêu cá đã rắc tiêu, thịt đã bằm sẵn và nước cũng đã sôi, thế mà nàng vẫn còn đánh vật với rổ rau.
Nàng biết mình chậm chạp, nên cũng rất cố gắng. Đi làm về, nàng tranh thủ bắt tay ngay vào phần việc của mình, vậy mà lục đục mãi cũng vẫn chưa xong. Nhiều bữa nàng đi làm về với bộ dạng ủ rũ, thì ra nàng bị sếp dũa te tua vì cái tội làm việc với tốc độ rùa bò. Anh ta cũng đã thử giúp nàng cải thiện tình hình, chẳng hạn như lên lịch làm việc cho hợp lý, sắp xếp đồ đạc cho ngăn nắp…tính chậm chạp của nàng cũng được cải thiện ít nhiều, nhưng vẫn không thể nhanh như lòng mong muốn.
 
Nỗi khổ thứ ba là chậm chạp trong việc chăm sóc con cái 
Chính anh ta đã bật mí cho biết sau khi sinh con, cũng vì tính chậm chạp của nàng, mà thằng nhỏ mấy lần suýt phải đưa vào bệnh viện. Chẳng hạn tắm cho con, thằng nhỏ lạnh run, mà mẹ nó vẫn chưa xong tiết mục quấn tã và mặc áo. Chẳng hạn thằng con sốt bừng bừng, bác sĩ dặn phải cho uống thuốc hạ nhiệt ngay, thế mà mẹ nó cứ loay hoay mãi, ly thuốc vừa pha xong lại đánh đổ mất. Cuối cùng anh ta đành phải kết luận: Có vợ chậm, khổ ơi là khổ. (Văn Thuỳ).
 
TIẾP ĐẾN, ĐÓ LÀ VỢ ĐOẢNG 
Khi nói tới chữ “đoảng”, người ta thường nghĩ ngay đến sự vụng về trong phạm vi “nữ công gia chánh” của phe đờn bà con gái. Thế nhưng, không phải chỉ phe đờn bà con gái mới đoảng, mà nhiều khi cánh đờn ông con giai cũng đoảng thầy chạy, và hơn thế nữa, đoảng còn có mặt trên từng cây số trong nhiều lãnh vực khác nhau. Câu chuyện sau đây là một điển hình:
Hai vợ chồng ghé vào ăn tại một quán ven đường. Ăn xong, khi đã lên xe và đi được khá xa, chị vợ mới sực nhớ là mình quên cặp kính trên bàn ăn. Suốt quãng đường trở lại quán, anh chồng luôn cằn nhằn tính đoảng và hay quên của chị vợ. Thế nhưng, đến chỗ cũ, khi chị vợ tất tả chạy vào tìm kính, anh chồng bèn dặn với theo:
- Em nhớ cầm ra luôn cả chiếc mũ của anh nữa nhé!  (Quy Tung).
Tuy nhiên, trong bài này, gã chỉ xin bàn tới sự đoảng của các chị vợ mà thôi.
 
Đoảng với bản thân 
Một anh chồng đã tâm sự: “Tôi có người vợ xinh, tác phong sinh hoạt thì luộm thuộm, bạ đâu bỏ đó, không có thói quen đánh răng buổi tối. Khi ngủ thì ngáy to và toàn mùi tỏi do thức ăn bữa tối còn đọng lại. Có lần ngủ quên, dậy muộn, bèn mặc nhầm cả quần của tôi để đi làm, mặc dù quần rất rộng mà cũng chẳng hay biết”. (Quốc Hiếu).
Một anh chồng khác nhiều lần phải đỏ mặt khi nhà có khách. Số là chị vợ có phong cách ăn mặc khá mát mẻ. Hôm nào oi bức là chị diện áo mỏng, khoét cổ rộng, hãi nhất là bên trong không thèm mặc gì cả. Có ai đến chơi, chị vợ đều vô tư cúi người, rót nước mời khách. Anh chồng góp ý, thì chị vợ lại bảo:
- Có ai để ý đâu mà anh lo.
“Chịu hỏng nổi” tính đoảng của chị vợ, một anh chồng đã kể lại như sau: Hôm lễ thượng thọ của bố, vợ chồng đến nơi, vui vẻ trò chuyện với mọi người. Thế nhưng, sắp vào giờ thiêng, chuẩn bị tuyên bố lý do, bỗng nhiên bà xã tôi trốn biệt trong buồng, gọi mãi cũng không chịu ra. Mẹ tôi bực mình:
- Sao lại tránh mặt, không thích quay phim, chụp hình thì cũng phải chịu chứ.
Tiệc chưa tàn, bà xã nằng nặc đòi về. Trên đường đi, mặt tôi sưng lên như bị dị ứng, lúc đó bà xã mới tiết lộ:
- Em phát hiện ra mình quên mặc áo trong anh ạ, hèn gì mà thấy dễ chịu mát mẻ thoải mái như ở nhà. Không biết có ái nhìn thấy không? Kỳ quá, làm sao mà dám xuất hiện ở chỗ đông người.
Nhìn bà xã cười hì hì, tôi cũng nghẹn luôn. (Phư Chu, Tuổi Trẻ Cười).
Nhiều chị vợ mắc sai lầm khi cho rằng đã là vợ chồng, thì cuộc sống chung thế nào cũng được. Chị vợ có ăn mặc lôi thôi, nhà cửa có hơi bề bộn thì anh chồng cũng cố mà chịu. Dĩ nhiên, anh chồng không đòi vợ mình rực rỡ như hoa hậu, nhưng các chị vợ cũng cần phải gọn ghẽ và sạch sẽ. Phần lớn các anh chồng đều chết khiếp vì vợ mình lôi thôi, nhà cửa bề bộn và con cái bẩn thỉu. Nếu chẳng may mắc phải tính cẩu thả, chị vợ nên tự nhìn nhận để tìm cách sửa đổi. Hoàn thiện bản thân cũng chính là một cách giúp duy trì hạnh phúc gia đình.
 
Đoảng với chồng 
Chuyện rằng:
Anh chồng nọ vốn sợ cái tính đoảng của vợ. Ngày tết, hai người đến chúc tuổi thủ trưởng. Vừa vào nhà, chị vợ đã ôm chầm lấy vợ thủ trưởng mà khen:
- Lâu không gặp chị, dạo này chị trẻ và xinh quá. Chẳng bù cho ông nhà tôi, ngày một hói trán và bụng phệ. Chị có bí quyết gì bảo em với.
Vợ thủ trưởng rất ngượng vì lời khen ấy. Và cũng từ đó, anh chồng không bao giờ đi đâu cùng chị vợ nữa.
Chuyện rằng:
Anh chồng kia đi làm về, thấy chị vợ có vẻ lo lắng bèn hỏi:
- Em gặp chuyện gì buồn phiền à?
Chị vợ trả lời:
- Em buồn lắm, bởi vì lúc ủi quần áo, em sơ ý đã làm thủng một lỗ trên chiếc quần mới của anh.
Anh chồng an ủi:
- Đừng nghĩ ngợi nhiều! Chẳng lẽ em không nhớ anh còn một chiếc quần mới giống hệt chiếc ấy sao?
Chị vợ mỉm cười:
- Tất nhiên là em nhớ lắm. Thế nên mới có cái để vá vào chiếc quần thủng này chứ.
Chuyện rằng:
Một anh chồng khác được vợ đãi món canh bầu nấu hến. Anh ta nói:
- Đó là món mình mê nhất đấy.
Thế nhưng hôm ấy, anh ta đã phải nhắm mắt nuốt canh vì bầu thì nhão, còn hến thì nguội và rất tanh. Anh ta còn hài hước nói thêm:
- Chưa hết, vợ mình mà thái thịt xong, nếu chịu khó tìm xung quanh, thế nào cũng nhặt được vài miếng. Có miếng nằm cạnh bình gas, có miếng ở gần chân ghế, và có miếng lại vắt vẻo trên vòi nước trong chậu rửa bát. Thế mới ghê!
 
Đoảng với con cái 
Ngày mới quen nhau, trông cô ấy hơi…tưng tưng, thấy hay làm sao. Như lúc vào quán ăn, cô ấy nhìn muối ra đường, nhìn đường ra bột ngọt, bỏ lung tung vào tô cháo, ăn không được, cả hai cùng cười ngặt nghẻo…Vui thế, mới nên duyên chồng vợ. Nhưng rồi, cái kiểu “vớ vẩn” của chị vợ không thể tạo ra niềm vui mãi được.
Ai đời, bả tắm cho con, mà thằng bé cứ vùng vẫy khóc thét lên. Anh chồng sốt ruột, đến kiểm tra hiện trường thì trời ơi! Toàn kiến. Hoá ra bả không rửa cái thau, cứ đặt con vào. Thằng bé khóc, bả tưởng nó nhõng nhẽo, còn phét vào mông nó nữa chứ. Chỉ hai mẹ con trong nhà mà như có chiến tranh. Thế mới ghê!
 
Đoảng với bàn dân thiên hạ 
Có những chị vợ thật tốt nết, nhưng chỉ phải cái tật…đoảng. Chẳng hạn một chị vợ kia đi công tác xa. Trong thời gian vắng nhà, thì ông bố chồng phải cấp cứu, tưởng không qua khỏi. Ngày chị vợ về, anh chồng đã căn dặn:
- Ông nội ốm nặng, em đến thăm ông ngay đi.
Tưởng chị vợ sẽ vội vã đi ngay, nào ngờ cô ấy đáp:
- Mệt lắm, em về nhà ngủ đã, để mai.
Anh chồng tức đến nghẹn lời. Anh ta biết bản chất chị vợ rất tốt. Bình thường cô ấy vẫn yêu quý bố mẹ anh ta và không nề hà việc gì. Tuy nhiên, có lẽ cô ấy đã nghĩ rằng đằng nào ông cũng ốm, đến ngay cũng chẳng giải quyết được việc gì. Nhưng cô ấy đâu biết còn có bao nhiêu người trong gia đình anh đang nhìn vào.
Khi đón ông về nhà, chị vợ rất tận tình chăm sóc: cơm cháo mỗi ngày một thực đơn. Thế nhưng, cô ấy lại oang oang nói chuyện diện thoại, hay vặn tivi quá lớn, khi ông nội đang gật gà ngủ trưa. Dọn dẹp thì vẫn cái tính động đến cái gì là loảng xoảng cái nấy. Ầm cả nhà. Góp ý, thì cô ấy bảo:
- Em quen rồi, không nói nhỏ, không làm nhẹ được.
Một cặp vợ chồng khác có con đi  học nhà trẻ. Nhân sinh nhật cô giáo, vợ chồng bàn với nhau:
- Mua quà không thực tế bằng phong bì.
Sợ chị vợ ăn nói không khéo, anh chồng nhận nhiệm vụ đưa con đi học, rồi gửi phong bì cho cô. Thế mà đến tối, chị vợ bồn chồn báo cáo với chồng:
- Anh ơi, em đoảng quá anh ạ. Hình như em chưa bỏ tiền vào phong bì.
Trời đất, anh chồng giận như muốn la làng, còn chị vợ lại đổ thừa:
- Anh phải kiểm tra chứ.
Mẹ chồng ở quê lên chơi, mới vài ngày cũng đã đòi về vì cái tính đoảng của con dâu:
- Đời thuở nhà nao, hết xíu quách, chân gà đến bắp nướng, ổi giòn. Bộ vợ con tính cướp đi mấy cái răng còn sót lại của mẹ à? (Phư Chu, Tuổi Trẻ Cười).
Đối với tính đoảng của chị vợ, anh chồng la mắng hay phàn nàn thì cũng tội nghiệp, mà không phản ứng, thì cấp độ đoảng ngày càng gia tăng, để rồi đi đến chỗ sứt mẻ và đổ vỡ.
Hiện nay, chưa có một nghiên cứu khoa học nào xác minh tính đoảng có phải do di truyền hay không? Nhưng nếu bình tĩnh mà phân tích, người ta sẽ dễ dàng nhận thấy các bà mẹ vợ đã góp phần không nhỏ vào chuyện “đẻ” ra các bà vợ đoảng. Có hai nguyên nhân chính:
Nguyên nhân khách quan, đó là trong thời gian ở nhà với mẹ, các cô gái được ưu tiên không phải làm gì cả, “vì kêu nó làm, chỉ vướng chân, rồi mình phải làm lại”. Đến khi lập gia đình dễ phát sinh ra chứng đoảng qua các biểu hiện đầu óc không tập trung, nói và làm không đi đôi với suy nghĩ. Dạng này được điều chỉnh bằng cách luyện tập thể thao cho tâm trí, phải nghĩ kỹ trước khi phát ngôn, hay hành động.
Còn nguyên nhân chủ quan là do các chị vợ muốn anh chồng để ý, quan tâm tới gia đình. Số này có quan điểm: Mình đảm qúa, chồng ỷ lại và hư đi. Từ đoảng giả chuyển sang đoảng thật lúc nào cũng không hay.
Thế nhưng, dù chủ quan hay khách quan, dù thật hay giả, thì anh chồng cũng đừng ngồi đó  mà rủa xả hay than trách tính đoảng của chị vợ, nhưng hãy lấy tình yêu và sự kiên nhẫn của mình để giúp chị vợ biến đổi từ đoảng sang đảm, cho gia đình được an vui hạnh phúc.
Gã Siêu 

 

Chuyện Gã Siêu 114: NĂM TUẤT NÓI CHUYỆN CHÓ

NĂM TUẤT NÓI CHUYỆN CHÓ Chuyện Gã Siêu 114

Thuở ban đầu nơi gã đang cắm dùi, chỉ có một số ít gia đình làm nghề dệt chiếu. Những gia đình Chuyện Gã Siêu 114

Thuở ban đầu nơi gã đang cắm dùi, chỉ có một số ít gia đình làm nghề dệt chiếu. Những gia đình này đều thuộc gốc Phát Diệm và nghề dệt chiếu vốn là nghề cha truyền con nối, được đem từ miền bắc vào miền nam.
Cùng với thời gian, họ đã sinh con đẻ cái và con cái họ lấy vợ lấy chồng. Vì thế, nghề dệt chiếu như được nối vòng tay lớn và liên tục phát triển. Rồi sau đó,  bàn dân thiên hạ thấy “mần ăn” được, nên cũng nhào vô kiếm chút cháo và nghề dệt chiếu được tràn lan khắp thôn ấp.
Ăn theo vào đó là nghề trồng đay, nghề xe đay và nhất là nghề đổi…chó, hay còn được gọi là nghề…chiếu chó!
Những người làm nghề chiếu chó phải là những thanh niên khỏe mạnh và dẻo dai. Chỉ cần một chiếc xuồng là hai vợ chồng có thể tung tăng chèo bơi trên sóng nước vào những đêm trăng sáng, cũng như vào những đêm trời tối với nghề chiếu chó. Khá hơn một chút thì ráp thêm chiếc máy nổ, cho đỡ tốn sức lao động và chỉ cần một người trên ghe cũng đủ.
Họ lấy chiếu từ nhà hay mua chiếu từ những gia đình dệt chiếu. Nếu mua thì họ thường mua chịu, gối đầu hai ba chuyến. Tiền bán chó lần này sẽ được dùng để thanh toán cho tiền mua chiếu của những lần trước. Có nghĩa là làm nghề này thì không cần bỏ vốn, mà chỉ cần bỏ công sức mà thôi. Chiếu mua thường là chiếu mỏng và chất lương…tồi, thì mới lời.
Họ phải len lỏi vào các kênh rạch chằng chịt, đi tới những nơi mà thiên hạ còn kiêng thịt chó, hay chưa mặn mà với món “mộc tồn” cũng như món “cờ tây”, thậm chí còn phải chui vào tận những sóc Miên, vì càng đi xa thì càng có lãi. Họ không mua chó, nhưng  đem chiếu ra để mà đổi lấy chó.
Mỗi chuyến đi của họ thường kéo dài năm ngày. Nói theo ngôn ngữ vi tính hiện nay, thì đó là “mô đen 2.5”, có nghĩa là khởi hành vào sáng thứ hai và trở về vào chiều hay tối thứ sáu.
Ngày thứ bảy là thời điểm để bán chó. Họ có thể mang chó ra chợ, nhưng phần lớn đều đã được đặt hàng từ trước, hay được các “lái chó” đến cân, để rồi đem lên Saigon, Xóm Mới, Hố Nai… Nếu chẳng may có con chó bị nghẹt thở mà ngỏm củ riềng, thì họ mới làm thịt và sai vợ con đi bán rong.
Ngày kia, một cô nàng đội mẹt thị chó đi ngoài đường và rao bán :
- Ai thịt chó không ?
Bỗng một người từ trong nhà gọi vọng ra :
- Chó, chó lại đây.
Cô nàng đội thịt chó cũng không phải là tay vừa, nên đã hỏi lại :
- Ai chó đấy.
Giống như những tên tử tù, trước khi bị hành quyết, thường được cho ăn một bữa phủ phê, thì cũng vậy, trước khi bán chó hay cân chó, họ cho chó xơi một bữa thịnh soạn, muốn ăn bao nhiêu thì ăn, ăn cho đã thèm tới lúc căng bụng lên mới thôi. Chỉ tính riêng khoản này, họ cũng đã kiếm lời thêm được một vài ký khi bán chó hay cân chó.
Mua chiếu dổm, đổi chó rẻ và bán chó mắc, thành thử nhiều anh chàng “chiếu chó” làm ăn phất lên trông thấy. Tính trung bình mỗi chuyến đi như vậy, sau khi đã trừ mọi chi phí, họ còn lời được cả chỉ vàng.
Thời hoàng kim của nghề chiếu chó tại vùng khỉ ho cò gáy này là vào khoảng năm 1986, nghĩa là cách đây vừa đúng hai mươi năm. Hồi đó, nếu chỉ bấm đốt ngón tay, gã cũng có thể ghi nhận được ít nhất 50 ghe chiếu chó ăn theo trong ấp. Và bây giờ gã thử nhẩm làm một phép tính xem như thế nào nhé.
Bình thường thì một ghe, một tuần, một chuyến. Mỗi chuyến đem về khoảng 100 ký chó. Với con số 50 ghe trong ấp, vị chi sẽ đem về khoảng 5.000 ký chó, hay nói vắn tắt là 5 tấn chó trong một tuần. Một năm tính tròn là 52 tuần lễ, như vậy sẽ đem về khoảng 260 tấn chó mỗi năm. Số chó khổng lồ này sẽ được phân tán đi khắp tứ phương thiên hạ cho dân nhậu xài chơi.
Tuy nhiên, con người thời nay đã đổi khác. Người ta bắt đầu ưa chuộng nệm “mút”, nệm thông hơi, nệm nước, với những nhãn hiệu nổi tiếng, chẳng hạn như Kym Đan…Một khi đã quen nằm nệm rồi, mà lỡ đi tới đâu phải nằm chiếu, thì cứ y như rằng  mọi xương sống, xương xườn, nghĩa là tất cả bộ xương cách trí của mình như đâm xuống giường, đau nhức không ngủ nổi.
Ngoài ra, dân chúng ở đây muốn dệt chiếu, thì phải mua cói tận Sađéc, thành thử chiếu nơi gã không địch nổi với chiếu Sađéc, vì giá cả mắc hơn. Một vài gia đình cũng thử trồng cói, nhưng không thành công, vì cói vừa ngắn lại vừa không đạt chất lượng.
Trong khi đó, nhiều loại chiếu khác nhau xuất hiện trên thị trường, từ chiếu ny lông đến chiếu gỗ, từ chiếu Thái Lan đến chiếu Trung Quốc được quảng cáo là vừa êm lại vừa có công dụng chữa bệnh!
Chính vì những lẽ ấy, hàng chiếu bị ế ẩm và nghề dệt chiếu dần dần bị dẹp tiệm.
Hơn thế nữa, nuôi được một con chó không phải là chuyện dễ. Kinh nghiệm về việc nuôi chó đã cho gã thấy như vậy. Có những lúc trong nhà ba con chó cái cùng đẻ một lúc, nên lúc nhúc ba bầy chó con. “Khuyển số” tổng cộng lên tới gần bốn chục.
Thế nhưng, khi chó con bắt đầu biết ăn cũng chính là lúc bệnh đường ruột xuất hiện và cướp đi sinh mạng của chúng. Số chó sống sót, khôn lớn và trưởng thành chỉ còn lại đôi ba con mà thôi.
Do đó, số cung không theo kịp với số cầu, số chó được nuôi không lấp đầy nổi cái khoảng trống vô cùng to lớn của dân bợm nhậu, khiến cho  “nguồn” cung cấp chó ở khắp nơi bị cạn kiệt.
Chính vì lẽ ấy, dân chiếu chó lâm vào cảnh ba chìm bảy nổi và chín cái lênh đênh, nên phần lớn đã bỏ nghề chiếu chó mà xoay sang nghề khác.
Trong văn học sử có một giai thoại khá thơ mộng về một cô nàng bán chiếu. Giai thoại ấy như sau :
Ngày kia trên đường về nhà, Nguyễn Trãi đã gặp một cô gái rất đẹp, đang gánh chiếu đi bán.  Muốn bỡn cợt cô gái nọ, Nguyễn Trãi đã đọc bốn câu thơ :
- Ả ở đâu mà bán chiếu gon ?
  Chẳng hay chiếu ấy hết hay còn ?
  Xuân thu nay độ bao nhiêu tuổi ?
  Đã có chồng chưa, được mấy con ?
Không một chút do dự, cô nàng đã họa lại :
- Tôi ở Tây Hồ bán chiếu gon,
  Nỗi chi ông hỏi