Chuyện Gã Siêu Phần III Bài 101-150 Chuyện Phiếm

Thứ ba - 15/01/2019 10:30
Chuyện Gã Siêu Phần III Bài 101-150 Chuyện Phiếm
Chuyện Gã Siêu Phần III Bài 101-150 Chuyện Phiếm
Chuyện Gã Siêu Phần III Bài 101-150 Chuyện Phiếm
Chuyện Gã Siêu 101: ĐỜN BÀ CON GÁI 2
Chuyện Gã Siêu 102: CON NGƯỜI QUẢ LÀ…DỄ SỢ. 10
Chuyện Gã Siêu 103: CÁI LƯỠI 19
Chuyện Gã Siêu 104: TẤP TỂNH NGƯỜI ĐI 25
Chuyện Gã Siêu 105: TÌNH YÊU THỜI MỞ CỬA.. 33
Chuyện Gã Siêu 106: THAM NHŨNG VÀ HỐI LỘ.. 43
Chuyện Gã Siêu 107: NHẬU 2. 53
Chuyện Gã Siêu 108: TỪ HÀNG GIẢ ĐẾN NGƯỜI GIẢ.. 61
Chuyện Gã Siêu 109: THƯƠNG HẠI 67
Chuyện Gã Siêu 110: KHÔN MÀ KHÔNG NGOAN.. 73
Chuyện Gã Siêu 111: NÓI VÀ LÀM... 80
Chuyện Gã Siêu 112: NHỮNG KIỂU PHỤ NỮ.. 86
Chuyện Gã Siêu 113:  VỢ DẠI 94
Chuyện Gã Siêu 114: NĂM TUẤT NÓI CHUYỆN CHÓ.. 100
Chuyện Gã Siêu 115: NĂM QUÍ MÙI NÓI CHUYỆN…DÊ.. 109
Chuyện Gã Siêu 116:  ĐỜN BÀ VÀ ĐỜN ÔNG.. 117
Chuyện Gã Siêu 117: Nhớ dai và nói dài 128
Chuyện Gã Siêu 118: CHẢ VÀ NEM... 135
Chuyện Gã Siêu 119:  NÀNG DÂU XƯA VÀ NAY.. 144
Chuyện Gã Siêu 120:  GIÁNG SINH BUỒN.. 147
Chuyện Gã Siêu 121: Vợ ơi là vợ. 156
Chuyện Gã Siêu 122: CHỬI 167
Chuyện Gã Siêu 123: Thương hiệu. 178
Chuyện Gã Siêu 124: CẶP KÍNH MÀU.. 184
Chuyện Gã Siêu 125: Lệch. 192
Chuyện Gã Siêu 126: Khi đờn bà nắm quyền. 198
Chuyện Gã Siêu 127: Vợ Khen. 206
Chuyện Gã Siêu 128: SIÊU THỊ 214
Chuyện Gã Siêu 129: Cơm và Phở. 223
Chuyện Gã Siêu 130: Tu tại gia. 230
Chuyện Gã Siêu 131: Mặt nạ. 238
Chuyện Gã Siêu 132: Luyện chồng. 243
Chuyện Gã Siêu 133: Con người và lòng người 248
Chuyện Gã Siêu 134: Nhỏ và to. 254
Chuyện Gã Siêu 135: TỪ CHẾT ĐẾN BỊ THƯƠNG.. 261
Chuyện Gã Siêu 136: Công lao của vợ. 268
Chuyện Gã Siêu 137: CHỒNG ƠI LÀ CHỒNG.......toàn là "vô...". 276
Chuyện Gã Siêu 138: Bữa ăn trong gia đình. 277
Chuyện Gã Siêu 139: Phở và Cơm thời H1N1. 281
Chuyện Gã Siêu 140: Hai chữ cám ơn. 288
Chuyện Gã Siêu 141 Chìa khóa. 292
Chuyện Gã Siêu 142 Tuổi biết yêu, tuổi hết yêu. 295
Chuyện Gã Siêu 143 Nói móc. 299
Chuyện Gã Siêu 144 Cũng là đờn ông. 306
Chuyện Gã Siêu 145 Viết Về Một Người Cha. 312
Chuyện Gã Siêu 146 Nịnh Vợ. 319
Chuyện Gã Siêu 147 Lột xác. 326
Chuyện Gã Siêu 148 7 thứ mà một người phụ nữ đẹp dễ đánh mất 330
Chuyện Gã Siêu 149: VỢ ƠI LÀ VỢ...toàn là "Bất". 332
Chuyện Gã Siêu 150 : Quỹ đen. 333

 

Chuyện Gã Siêu 101: ĐỜN BÀ CON GÁI

ĐỜN BÀ CON GÁI Chuyện Gã Siêu 101

Lâu lắm rồi, gã được nghe một câu nói thuộc hạng danh ngôn, đại khái như thế này: - Đờn bà con Chuyện Gã Siêu 101

Lâu lắm rồi, gã được nghe một câu nói thuộc hạng danh ngôn, đại khái như thế này:
- Đờn bà con gái giống như con mèo, nếu con mèo ngoáy đuôi bên trái, thì chắc chắn nó sẽ nhảy sang bên phải.
Cũng trong chiều hướng ấy, gần đây ở Việt Nam giới choai rất  khoái một bài hát mang tựa đề là ‘’đừng nghe những gì con gái nói’’.
Bài hát này được liệt vào ‘’tốp ten’’ nghĩa là mười bài hát được thiên hạ ưa chuộng nhất với những lời lẽ thật dí dỏm về dễ thương :
- Con gái nói có là không, con gái nói không là có.
  Con gái nói một là hai, con gái nói hai là một.
  Con gái nói ghét là thương, con gái nói thương là ghét.
  Con gái nói giận là yêu, con gái nói yêu là giận.
  Đừng nghe những gì con gái nói, đừng nghe những gì con gái nói.
  Con gái nói không biết ghen là ghen như điên đấy nhé.
  Con gái nói không biết yêu là yêu tới quên đường về.
  Đừng nhge những gì con gái nói, đừng nghe những gì con gái nói.
Gã có một thằng bạn, thâm niên quân vụ về cái khoản đờn bà con gái. Sau nhiêu phen bị các nường đá lên đá xuống, nó đã tích lũy được một số vốn kinh nghiệm khá đồ sộ, đáng mặt sự phụ.
Ngày kia vị sư phụ nay đã truyền cho đệ tử bài học vỡ lòng về tâm lý con gái như sau :
- Con ơi, con nên nhớ rõ điều này : khi cô nường nói với con “ghét anh ghê…à”, nhất là lại kèm theo một cái liếc nhìn, nheo mắt có đuôi, thì con có thể yên chí nhớn mà hét toáng lên rằng : ôi sung sướng quá nhẽ vì đời toàn màu hồng. Bởi vì đó chính là lúc cô nường đã chịu đèn, yêu con khủng khiếp. Con hãy nhào vô liền tù tì để kiếm chút cháo, kẻo dịp may đã qua đi thì khó mà trở lại đó, ngốc ạ.
Đối với một tên đại ngố như gã, thì đờn bà con gái quả thực là một màu nhiệm, toàn những chuyện ngược đời và nghịch lý, nhiều kiểu rắc rối, đến quỉ thần cũng không lường nổi.
Đọc lại sách Sáng thế ký, gã nhận thấy thưở ban đầu, thượng đế lấy bùn đất nhào nặn mà làm thành Adong.
Sau khi ban cho Adong sinh khí bằng cách thổi hơi vào lỗ mũi, Ngài đã cho Adong sống trong vườn địa đàng. Với khu vườn kỳ diệu này, dù chim hót có véo von, cây cối có trổ bông khoe sắc, thì Adong vẫn chỉ cu ki một mình, lặng lẽ đến từng bước chân âm thầm.
Chính thượng đế cũng cám cảnh trước sự cô đơn đậm đặc ấy, Ngài  thầm nghĩ :
- Người đờn ông ở một mình không tốt, Ta sẽ dựng nên cho nó một người nội trợ giống như nó.
Nói và làm. Thượng đế chờ cho tới lúc Adong ngủ say, bèn rút trộm một chiếc xương sườn của Adong mà dựng nên Evà, rồi dẫn Evà tới ra mắt Adong.
Thoạt nhìn thấy Evà, cặp mắt Adong long lên còng cọc và miệng ông sững sờ kêu to :
- Này đây xương tôi và thịt bởi thịt tôi.
Nếu lúc bấy giờ Adong biết dùng tiếng Việt Nam để diễn tả ý tưởng tuyệt vời này, thì hẳn ông chỉ cần rên lên hai tiếng ngắn gọn :
- Mình ơi!
Bởi vì chữ ‘’mình’’ vừa là thân xác, vừa là anh, vừa là em, vừa là chúng ta nữa. Ôi hai tiếng ‘’mình ơi’’ sao mà ngọt như đường cát, mát như đường phèn, thấm tới tận lục phủ ngũ tạng, làm chết lịm cả con tim. Ôi, mình ơi!
Thế nhưng, đời không như là mơ. Sau cái phút gặp em tinh tú quay cuồng, ‘’sau cái’’ thuở ban đầu lưu luyến ấy, sau cái cảm giác ngọt lịm của hai tiếng ‘’mình ơi’’ và bốn mắt liếc nhìn nhau, thì khởi sự cho những ngược đời và nghịch lý, những nhiều kê và rắc rối.
Evà không còn bằng lòng với thân phận của mẩu xương sường nữa, mà muốn nhảy phóc vào lồng ngực Adong, chiếm lãnh vị trí con tim, đòi Adong phải yêu thương và chiều chuộng. Rồi thừa thắng xông lên, tiến thẳng tới đầu và xơi ngay vai trò óc não, muốn chỉ huy cả Adong nữa.
Chính vì thế, dân Tây ban nha, một dân tộc rất mê đấu bò, cũng đã phải kêu lên :
- Đờn bà là tai họa khủng khiếp nhất trong tất cả những tai họa của loài người.
Tai họa đầu tiên đó là đờn bà đã cám dỗ đờn ông.
Thực vậy, nước làm hư rượu, xe bò làm hư đường lộ thế nào thì đờn bà cũng làm hư đờn ông như rứa.
Đúng thế, đờn bà vốn nổi tiếng về cái thói ăn vặt như tục ngữ đã diễn tả
- Đi chợ mất tám tiền quà,
  Chồng thương chồng bảo về nhà đỡ cơm.
Cái thói ngốn hàng này đã thấm sâu vào máu huyết và trở thành nghề ruột của các nường. Thậm chí các em nữ sinh mắt nai ngơ ngác, thế mà trong chiếc cặp sách dễ thương cũng đã tích lũy bao nhiêu thứ lỉnh kỉnh có thể xơi được : nào ổi, nào cóc, nào xoài, nào tầm duộc, nào xí muội…
Chính vì thế, ngay từ lời dụ khị đầu tiên của con rắn, Eva đã nuốt phăng ngay trái cấm. Rồi sau đó, Eva đã năn nỉ ỉ ôi Adong :
- Thôi mờ, ăn đi mờ…
Với lời lẽ nhỏng nhẻo mầm duyên như thế, Adong làm sao có thể chối từ. Adong đưa mắt nhìn, nuốt nước bọt và xơi liền tù tì, ăn ngấu ăn nghiến, đến nỗi mắc nghẹn nơi cổ, làm thành một cục, còn tồn tại cho đến ngày hôm nay ở bất cứ anh chàng đờn ông con trai nào.
Ghiền ngẫm về sự việc này, ông thánh Âu cu tinh đã phát biểu một câu xanh dờn :
- Đờn bà chính là thủ phạm làm tăng thêm tội lỗi cho loài người.
Kinh nghiệm trên không ngừng lặp đi lặp lại trong dòng lịch sử. Vua Kiệt vì say mê nàng Muội Hỉ bỏ bê triều chính, ăn chơi trác táng, sau bị Thành thang cướp mất ngai vàng.
Vua Trụ vì nghe theo nàng Đắc Kỷ giết hại trung thần, lòng dân oán thán, cuối cùng sự nghiệp cũng bị tan tành theo mây khói.
Ngô phù Sai yêu quí nàng Tây Thi. Cô nàng bé bỏng này có chứng đau bụng. Mỗi lần đau bụng thì lại nhăn mặt. Và mỗi lần nhăn mặt thì lại đẹp quỉ khóc thần sầu, khiến cho Ngô Phù Sai cứ mê mẩn cả tâm thần.
Tương truyền rằng :
Ngô Phù Sai đã ra lệnh ai làm cho Tây Thi cười thì sẽ được trọng thưởng. Nghe theo lời hiến kế của bọn quân sư quạt mo, ông đã cho xé hết lụa trong kho vì nghĩ rằng khi nghe tiếng lụa xé, nàng xẽ cười mím chi, thế nhưng nét mặt Tây Thi vẫn buồn rười rượi.
Sau cùng ông cho đốt lửa trên Cô Tô đài để khẩn báo cho các chư hầu biết kinh thành đang nguy khốn, nên phải vội đem quân về tiếp cứu.
Nhưng khi về đến nơi thì mới chưng hủng, chẳng thấy địch đâu cả, mà chỉ thấy Ngô Phù Sai đang cũng cụng li mí Tây Thi.
Trước thái độ chưng hủng ấy, Tây Thi đã phát cười như nắc nẻ. Nhưng rồi khi địch quân vây hãm thực sự, dù lửa báo động đã nổi lên, thì cũng chẳng ma nào đến tiếp cứu, khiến Ngô Phù Sai phải thua chạy.
Từ những bằng chứng cụ thể ấy thiên hạ đã kết luận :
- Vua nghe vợ mất nước.
Một chính tri gia mà lem nhem, gây nên sì căng đen với đờn bà con gái, thì chỉ có nước thân bại danh liệt mà chớ.
Bình thường chúng ta thường gọi đờn ông là phái mạnh đờn bà là phái yếu. Thế nhưng nếu đem ra cân do, đong đếm, chưa chắc đờn ông đã ăn được đờn bà và phái nam chưa chắc đã xơi tái được phái nữ.
Thực vậy, đờn ông phải thức trắng một vài đêm, thì tứ chi liền bải hoải, ngồi đâu ngáp đấy. Trong khi đó, làm sao có thể kể hết những giấc ngủ đứt đoạn và những đêm thức trắng của các bà mẹ để chăm sóc cho đứa con của mình.
Xét về góc cạnh bền bỉ, dẻo dai để chịu đựng, thì đờn bà hơn hẳn đờn ông. Vì thế, đờn bà con gái thường sống thọ hơn đờn ông con trai. Nói cách khác, các ông thường ngỏm sớm hơn các bà. Sự kiện này để lại một hậu quả trầm trọng, đó là số đờn bà góa chồng đông hơn số đờn ông góa vợ bội phần.
Chẳng biết có ai đã lưu tâm tìm cách giải quyết vấn đề xã hội này chưa ?
Bình thường đờn bà con gái vốn dịu hiền và tế nhị, thế nhưng hãy đợi đấy. Nói vậy mà hỏng phải vậy đâu. Con mèo tuy hiền thật, nhưng khi cần nó chỉ cào cho một phát, là đã toạc da và vãi máu, vì móng của nó rất nhọn và răng của nó rất sắc.
Đờn bà con gái một khi đã nổi máu tam bành, thì hiền cũng hóa dữ. Gã đã từng chứng kiến những cô em bé bỏng tựa nai vàng ngơ ngác, dịu hiền như… ni cô, hỏng dám như ma xơ đâu, thế mà khi cơn giận bừng bừng bốc lên, tẩu hỏa nhập ma, cũng lồng lộn như bò điên nước Ăng lê, cũng xỉa xói như con choi choi, cũng chửi rủa có bài có bổn như mấy cô đào cải lương ca sáu câu vọng cổ có mùi.
Gã xin đưa ra một vài nạn nhân của quí bà chằng lửa.
Trước hết là Socrate. Ông là một triết gia nổi tiếng của Hy Lạp, một bậc thầy trong thiên hạ, nhưng oái oăm thay, ông lại là nạn nhân của một bà vợ. Bà khinh bỉ ông là thứ trói gà không chặt. Ngày kia, ông định ra phố, thì liền bị bà tặng cho một chậu nước dơ vào mình sau cơn giận lôi đình.
Thế nhưng, ông vẫn bình tĩnh nói :
- Có sấm có sét, ắt trời phải đổ mưa.
Ngán ngẩm trước mụ vợ đanh đá, ông đã phát biểu một cách chua chát :
- Trời đất sinh ra biết bao thú dữ, những đờn bà mới thật là con thú dữ đáng sợ nhất.
Đó là chuyện bên tây, còn chuyện bên đông thì kể lại :
Thi hào Tô đông Pha có một người bạn tên là Trần quí Thường. Quí Thường có người vợ hay ghen tức và hung dữ. Mỗi lần Tô đông Pha đến chơi, thì đều được nghe những tiếng chửi bới la hét ầm ĩ.
Thấy vậy, họ Tô bèn làm thơ chế diễu như sau:
- Hốt văn Hà đông sư tử rống
  Trụ trượng lạc thủ tâm mang mang.
Có nghĩa là :
- Bỗng nghe sư tử Hà đông rống
  Tay run gậy rớt lòng kinh hãi.
Từ đó, bốn chữ “sư tử Hà đông” thường được dùng để chỉ người vợ có tính tình hung dữ. Tuy nhiên, Hà đông ở đây là Hà đông bên Tàu, chứ không phải là Hà đông bên Ta. Vì thế quí bà quí cô gốc Hà đông, đừng vội lòng động lòng lo mà sinh ra buồn bã.
Bình thường thì tề gia nội trợ và giáo dục con cái vốn là lãnh vực riêng của đờn bà con gái. Vì thế, thiên hạ thường phong cho quí bà quí cô làm ‘’nội tướng’’.
Và nhiều khi uy quyền của vị ‘’nội tướng’’ thật là ghê gớm, khiến cho mấy ông chồng thuộc nòi râu quặp phải nín khe :
- Làm trai rửa bát quét nhà,
  Vợ gọi thì dạ, bẩm bà… em đây.
Gã đã thấy có những ông giám đốc hay những viên chức cấp nhớn, đến công sở thì hét ra lửa, nhưng khi về nhà, thì lại miềm nhũn như con chi chi, phục vụ và vâng lời bà xã hết mình.
Vì thế tục ngữ đã bảo :
- Lệnh ông không bằng cồng bà.
Lợi dụng điểm yếu này, dân bắt mánh áp phe thường đi của hậu, nghĩa là đút lót, lấy lòng quan bà trước, rồi mới nhờ quan bà ton hót, tấu với quan ông, thì việc khó đến đâu cũng xong cả.
Được đằng chân lân đằng đầu. Từ vai trò người nội trợ, làm bạn đường cùng đi, đờn bà con gái xông tới, nắm quyền chỉ huy. Lúc bấy giờ quả thực là nguy to như một cơn ác mộng, vì họ cai trị theo tình cảm và lệnh truyền đổi thay như chong chóng.
Thực vậy, trên đời không có gì hay thay đổi cho bằng thời tiết và đờn bà con gái.
Có lẽ do sự nể nang và nhượng bộ của Adong thuở ban đầu, mà nhân loại đã trải qua một thời gian sống dưới chế độ mẫu hệ, trong đó người mẹ nắm giữ vai trò điều khiển gia đình và xã hội.
Thật là tội nghiệp cho thân phận đờn ông con trai lúc bấy giờ :
- Ba đồng một chục đờn ông,
  Ta bỏ vào lồng, ta xách đi chơi.
Ngày nay với phong trào giải phóng đờn bà, nam nữ bình quyền, quí bà quí cô đang hăng hái xông xáo tiến ra ngoài xã hội, chiếm giữ những lãnh vực mà từ xưa  cho đến rày, vốn là của phe đờn ông con trai. Và họ đã gặt hái được những thành công rực rỡ.
Có những bà những cô đã làm tới thủ tướng và bộ trưởng, giám đốc và chuyên viên. Cung cách điều khiển của họ cũng cứng không kém gì phe đờn ông con trai, chẳng hạn như bà đầm già Teacher, thủ tướng nước Ăng lê, vốn được mệnh danh là bàn tay sắt bọc nhung.
Đờn bà con gái chiếm được uy quyền không phải chỉ bởi tài năng, mà còn bởi nhiều thứ vũ khí khác nữa, chẳng hạn như sắc đẹp, như nước mắt, như nụ cười…
Vì thế người Đức đã nói :
- Chỉ một sợi tóc của người đờn bà cũng giật mạnh hơn cả giây chuông.
Còn dân Nhật thì bảo :
- Chỉ với một sợi tóc, người đờn bà có thế trói được cả… voi.
Chuyện đời còn bất công hơn nữa. Người đờn ông chắt chiu học hành mới ẵm được cái bằng bác sĩ, đấu tranh vào tủ ra khám bao nhiêu năm mới leo lên được cái ghế bộ trưởng.
Trong khi đó người đờn bà chỉ cần gật đầu hay ừ một phát, bằng lòng lấy anh ta, thì liền khều được cả con người lẫn chức vị của anh ta, nghiễm nhhiên trở hành bà bác sĩ, bà bộ trưởng, mà chẳng cần tốn một giọt mà hôi. Đờn bà là một phản ứng cộng, một chiếc tàu há mồm, khả dĩ vơ vét về cho mình đủ mọi thứ.
Xem ra gã khen thì ít mà chê thì thật nhiều, chỉ biết kê tủ đứng, kể tội đờn bà con gái. Cứ điệu này, lỡ thò mặt ra đường, ắt sẽ bị quí bà quí cô cho ăn trứng thối mất thôi.
Cho đến bây giờ, đờn bà con gái vẫn là một màu nhiệm, một vấn đề lớn. Để diễn tả về sự ngược đời và nghịch lý của đờn bà con gái, hình như một ông nhà văn Ấn độ đã bảo:
- Khi tạo dựng đờn bà con gái, Thượng đế đã trộn lẫn những vật thể đối kháng vào với nhau. Chẳng hạn Ngài lấy một chút gió mát mùa thu với một chút nắng chói chang mùa hạ, một chút ngọt của mật ong với một chút đắng của bồ hòn, một chút cay của ớt với một chút chua của chanh, một chút hiền hòa của chim bồ câu và một chút hung dữ của sư tử, một chút khôn ngoan của con rắn và một chút ngốc nghếch của con bò… Tất cả được Ngài hòa lẫn với nhau và tạo nên người đờn bà đầu tiên.
Cách đây không lâu, gã lượm được một bài thơ nói về người vợ, đại khái như thế này :
-Vợ là tình cảm sâu xa,
Vợ là gió mát, vợ là bão dông.
Vợ như một đóa hoa hồng,
Vợ là sự tử Hà đông kinh người.
Vợ là êm ái tuyệt vời,
Vợ là bão táp rụng rời chân tay.
Vợ là một chất men say
Vợ là cái đắng cái cay trong lòng.
Có người nhờ vợ nên ông,
Có người vì vợ mất không cơ đồ.
Và tác giả kết luận :
-Tốt số lấy được vợ hiền,
Vô duyên vớ phải bà khùng bà điên.
Đờn bà con gái mãi mãi ngược đời như thế đó, nhưng thử hỏi :
- Nếu không có họ thì đời còn gì là đời nữa…
Phải, nếu không có họ, thì lũ đờn ông con trai lại lầm lũi cu ki một mình, như những ‘’con sâu làm tổ, trong trái vả cô đơn”. Cho nên, đờn ông Pháp, vốn dư chất ‘’ga lăng’’ trong máu, đã phát biểu :
- Nhà không có đờn bà như xác không hồn, như đờn không giây.
Chả hiểu quí bà quí cô đã bằng lòng và sẵng sàng ban cho gã một nụ cười… ruồi chưa đấy ?
Gã Siêu.

 

Chuyện Gã Siêu 102: CON NGƯỜI QUẢ LÀ…DỄ SỢ.

CON NGƯỜI QUẢ LÀ…DỄ SỢ. Chuyện Gã Siêu 102

Cách đây không lâu, gã có theo dõi trên truyền hình một bộ phim hình sự nhiều tập của Úc mang Chuyện Gã Siêu 102

Cách đây không lâu, gã có theo dõi trên truyền hình một bộ phim hình sự nhiều tập của Úc mang tựa đề là “Cuộc chiến thầm lặng”. Tuy chỉ xem bữa đực bữa cái, hôm được hôm không, nhưng rất may mỗi tập là một vụ án, nên có đứt đoạn cũng chẳng sao cả.
Hôm ấy, anh chàng cảnh sát được lệnh đi công tác nhưng không được mang theo súng để xâm nhập vào một tổ chức buôn lậu bạch phiến.
Thế nhưng, không hiểu sao, anh chàng lại lén vào kho, lấy trộm một khẩu mà nhét vô cạp quần. Khi hoàn tất công tác, bị cấp trên khiển trách, anh chàng đã trả lời :
-Khẩu súng không nguy hiểm, nhưng con người xử dụng khẩu súng mới thật là… nguy hiểm.
Câu trả lời này khiến cho gã phải “vắt chân lên trán” mà suy gẫm lung tung, đến nỗi “đêm quên ăn, ngày quên ngủ”, khiến cho dung nhan ngày càng thêm tiều tụy và thân thể ngày càng thêm hốc hác.
Tuy nhiên, càng suy gẫm, gã lại càng cảm thấy chí lý. Có lúc khoái quá vỗ đùi đánh đét một cái, xin bái phục người đã phệu ra câu nói trên.
Thực vậy, theo Khổng tử thì “nhân chi sơ tính bổn thiện”, con người thuở ban đầu vốn tốt lành, nhưng rồi dần dần trở nên xấu xa do ảnh hưởng của xã hội và những người chung quanh.
Còn theo Kitô giáo, Thượng đế dựng nên con người từ bùn đất, rồi Ngài thổi hơi vào lỗ mũi, qua đó trao ban cho nó sự sống cùng với một tấm linh hồn.
Tấm linh hồn này có hai cơ năng chính là trí khôn và ý muốn. Với trí khôn, con người không ngừng phát triển. Với ý muốn, con người được tự do chọn lựa. Và đây cũng chính là một thảm kịch làm cho con người trở nên thật…dễ sợ.
Trước hết là với trí khôn. Mấy ông triết gia bên tây thường phát biểu :
- Người là một con vật có trí khôn.
Còn Pascal thì bảo :
- Người là một cây sậy biết suy tư.
Đúng thế, trí khôn nhờ biết suy tư đã làm cho con người trổi vượt trên muôn vật và  liên tục phát triển.
Con ong ngày xưa làm tổ và kéo mật thế nào, thì hôm nay nó vẫn làm tổ và kéo mật y chang như vậy.
Nếu có nhúc nhích được tí xíu nào là do con người tập luyện cho chúng, chẳng hạn như con khỉ biết làm trò, con chó biết múa may quay cuồng.
Đang khi con vật hành động theo bản năng và dậm chân tại chỗ qua muôn thế hệ, thì con người đã tạo được những tiến bộ trong mọi lãnh vực. Gã xin đưa ra một vài phạm vi thông thường nhất để chứng minh cho sự thật trên.
Chẳng hạn về chuyện ăn.
Ngày xưa, thiên hạ ăn sống nuốt tươi. Vớ được trái cây hay thú rừng là liền xơi tái ngay lập tức. Rồi con người đã tìm thấy lửa và bắt đầu nấu nướng. Còn hôm nay, trên thực đơn người ta không biết có bao nhiêu thứ mà kể. Nào luộc, nào nướng, nào chiên. Rồi món tây, món tàu, món ta…chỉ sợ không có đủ tiền để nếm thử mỗi món một lần trong  đời.
Chẳng hạn về chuyện uống.
Ngày xưa thiên hạ chắc hẳn chỉ uống nước lã. Rồi sau đó biết cách làm cho lên men từ một số lá cây để rồi hôm nay người ta đã chế ra biết bao nhiêu thứ rượu và bao nhiêu thứ chất uống khác nhau.
Chỉ nguyên tại Việt Nam mà thôi, người ta cũng không thể đếm hết có bao nhiêu thứ nước suối, nước ngọt, nước uống có ga, nước uống có cồn…Và không hiểu một ai đó đã phát biểu một cách rất anh dũng và rất “hách xì xằng” như sau :
- Mặc dù quê hương ta còn nghèo đói và khó khăn, nhưng rất ta rất lấy làm hãnh diện vì đất nước này đã hội tụ được đầy đủ các hãng bia nổi tiếng trên cả và thế giới.
Như thế, phải chăng tinh thần ăn và uống của dân ta đã phất lên như diều gặp gió, như rồng gặp mây.
Chẳng hạn về chuyện ở.
Ngày xưa thiên hạ ở dưới hang, ở trong lỗ. Tiến bộ hơn một tí là ngôi nhà tranh vách đất. Còn hôm nay, người ta ở trong những ngôi nhà gỗ, nhà bê tông cốt thép. Nào chung cư, nào biệt thự, nào lâu đài…
Và người ta đã xây không biết bao nhiêu tòa nhà chọc trời, cao hàng mấy trăm mét. Không hiểu những kẻ đau tim, can đảm chê cầu thang máy, có đủ sức leo từng bậc từ dưới lên, hay mới chỉ được nửa đường thì đã thở hồng hộc, đứt hơi mà chết.
Chẳng hạn về chuyện mặc.
Sách Sáng thế ký đã chẳng kể lại sau khi phạm tội, Adong Eva đã kết lá mà che thân vì thấy mình trần truồng và xấu hổ. Đó là “mô đen” thứ nhất.
Tiến thêm một bước, người ta làm áo quần bằng da thú. Đó là “mô đen” thứ hai.
Còn hôm nay với ngành dệt may phát triển, người ta không ngừng thay đổi mẫu mã, từ thấp lên cao, rồi lại từ cao xuống thấp. Từ dày tới mỏng rồi lại từ mỏng tới dày. Thời trang mỗi ngày một khác. Thậm chí có những mốt thật là quái đản và kinh dị, đố  chị em đờn bà con gái nào dám mặc vào để nghênh ngang dạo chơi phố phường.
Chẳng hạn về chuyện đi.
Ngày xưa có lẽ phương tiện duy nhất để di chuyển chính là đôi chân của mình, vì thế, người ta thường phải đi bộ, đi “căng hải”, hay đi “lô ca chân” đường dài mà chẳng biết mỏi. Nhích lên một chút, người ta cưỡi lừa, cưỡi ngựa, cưỡi bò, cưỡi lạc đà…
Còn hôm nay, người ta đã có biết bao nhiêu phương tiện di chuyển khác nhau : Nào là đi xe đạp, đi xe gắn máy, đi xe ô tô. Nào là đi tàu lửa, tàu thủy, tàu bay, tàu ngầm…Rồi còn có cả những phương tiện thật tối tân và nhanh chóng, như phản lực, phi thuyền, hỏa tiễn… Không phải chỉ đi từ nơi này đến nơi kia, mà còn đi từ hành tinh này tới hành tinh khác.
Khoa học đã, đang và sẽ còn tiến những bước tiến khổng lồ, đúng như lệnh truyền của  Đấng Tối Cao :
- Hãy làm chủ cá biển, chim trời và muôn loài trên mặt đất.
Tiếp đến là với ý muốn, con người được quyền tự do chọn lựa. Ý muốn và sự tự do chính là một qùa tặng tuyệt vời nhất Thiên Chúa đã trao ban cho con người và làm cho con người trở nên cao cả.
Một ông vua đầy uy quyền cũng không thể bắt tôi làm điều tôi không muốn. Thậm chí ngay cả Thiên Chúa cũng đành phải chào thua trước sự tự do của con người, như lời ông thánh Âu cu tinh đã viết :
- Ngài sẽ không thể cứu chuộc tôi nếu như chính bản thân tôi lại không muốn.
Ý muốn và sự tự do làm cho con người trở nên cao cả, nhưng đồng thời cũng có thể biến con người thành nguy hiểm và dễ sợ. Nếu không biết điều khiển và quản lý chặt chẽ, nó sẽ đọng lại, kết tủa và hóa kiếp con người thành một con thú hoang lang thang trong cõi lòng. Đây là điều mà các vị tiền bối đã diễn tả :
- Con người vừa có thể là một thượng đế, lại vừa có thể là một con vật.
- Trong mỗi con người đều có tiềm ẩn một con thú hoang.
- Con người là một con vật hai chân, thuộc loài hỗn thực, nghĩa là xơi được mọi thứ, nhưng lại biết…mặc quần đùi.
- Dưới làn da của con người đều có bóng dáng của nhiều súc vật.
Bây giờ gã sẽ đi từ trong ra ngoài, từ bản thân đến cuộc đời và xã hội để tìm dấu vết của con thú hoang ấy.
Trước hết là nơi bản thân.
Thượng đế đã ban cho mỗi người chúng ta một cái miệng, đôi khi cũng được gọi là cái mồm. Công dụng của mồm miệng là để ăn và để nói. Dĩ  nhiên còn nhiều công dụng khác nữa, chẳng hạn như hôn, hút, mút…gã xin được miễn bàn tới.
Về chuyện ăn thì như chúng ta vừa thấy : con người thuộc loài hỗn thực, nghĩa là xơi được tất tật mọi thứ. Đây cũng là một điểm làm cho con người khác với con vật. Bình thường thì mỗi con vật chỉ xơi một vài loại thức ăn nào đó. Chẳng hạn như con trâu thì ăn cỏ, con hổ thì ăn thịt sống.
Trong khi đó, con người thì thượng vàng hạ cám, có thể đút vào miệng  mình đủ thứ, từ lá cây ngọn cỏ đến hoa trái, từ con giun con rắn đến con gà con vịt. Ngay cả đến những con vật khổng lồ như con voi, con tê giác…con người cũng xơi được cả.
Mọi vất vả con người phải chịu cũng chỉ để phục vụ cho cái miệng. Và nhiều cuộc chiến tranh đã xảy ra cũng chỉ vì nhu cầu ăn của con người.
Thậm chí có những thứ không nên xơi mà vẫn cứ xơi, thí dụ trong một trận đấu quyền anh, Mike Tyson đã xơi tái cái tai của Holyfield. Chẳng hiểu cái tai ấy có dòn như tai lợn bóp gỏi hay không, thì khi nào thuận tiên gã sẻ hỏi Mike Tyson và sẽ “báo cáo” lại sau.
Hơn thế nữa, còn có những thứ không được xơi mà cứ vẫn phớt tỉnh “ăng lê”, lại còn xơi bạo nữa là khác, thí dụ ăn tiền, ăn gian, ăn cắp, ăn cướp, ăn hối lộ…May ra thì chỉ có ăn đòn hay ăn tát là…em hỏng dám đâu.
Còn về chuyện nói, thì như chúng ta đã biết : ngôn ngữ là phương tiện Thượng đế đã trao ban để chúng ta bộc lộ những ý nghĩ, những ước muốn hầu tạo lấy một sự cảm thông.
Đây cũng là một điểm làm cho con người khác với con vật, bởi vì như thiên hạ thường bảo :
- Người là một con vật có tiếng nói, có ngôn ngữ.
Thế nhưng, lời nói lại là điều chúng ta thường hay sai lỗi vấp phạm hơn cả. Thậm chí, thay vì tạo được một bàu khí hòa thuận, bắc được một nhịp cầu cảm thông, thì lại gây ra thù oán, làm cho người khác thân bại danh liệt, đi đoong cả một đời.
Mới đây báo Công An TPHCM có đăng một mẩu tin nho nhỏ với tựa đề là “Câu nói đùa tai hại”, đại khái như thế này :
Cô H. yêu anh N. và đã có thai được ba tháng. Vốn tính hay ghen, cô H. nghĩ rằng anh N. không còn yêu mình nữa. Tối hôm trước, anh N. sang nhà cô H. chơi và thấy cô H. đang ngồi khóc, nên nói đùa :
- Anh sẽ cưới em làm vợ nhỏ, còn vợ nhớn anh sẽ đi lấy ở nơi khác.
Trong lúc đang nghi ngờ và giận dỗi, câu nói đùa của anh N. khiến máu ghen nơi cô H. bốc lên đùng đùng. Vì cho đó là sự thật, nên cô H. đã uất ức, uống thuốc độc tự tử mà chết.
Trên cơ thể con người, Thượng đế còn ban cho chúng ta đôi bàn tay. Với đôi bàn tay, chúng ta có thể bồng ẵm con cái, lao động sản xuất để nuôi sống gia đình, làm việc để giúp đỡ người khác, vân vân và vân vân…
Tuy nhiên, rất nhiều lần chúng ta đã dùng đôi bàn tay để làm những việc mờ ám, gây nên thiệt hại cho những người chung quanh, chẳng hạn dùng đôi bàn tay để uỵch nhau, để thoi nhau, để cướp của, để giết người…
Nếu cứ lần lượt bới lông tìm vết, mổ xẻ từng bộ phận một để lần ra dấu ấn của con thú hoang, thì e  rằng chẳng biết viết đến bao giờ mới chấm hết. Thế nhưng chỉ với hai bộ phận nho nhỏ ấy mà thôi, chúng ta cũng đã thấy được con người chính là yếu tố quan trọng, quyết định trong mọi tình huống.
Tiếng Việt Nam chúng ta không phân biệt giống đực và giống cái. Vì thế mới có chuyện rằng :
Hai vợ chồng nhà kia, sau nhiều ngày cơm chẳng lành canh chẳng ngọt bèn rã gánh một cách êm ru bà rù. Tuy nhiên trước khi ca bổn anh đi đường anh, tôi đi đường tôi, tình nghĩa đôi ta chỉ có thế thôi, thì cũng phải chia chác tài sản vì của chồng công vợ.
Chị vợ bèn phát biểu :
- Anh là đờn ông còn tôi là đờn bà. Anh là giống đực còn tôi là giống cái. Vậy hễ đồ vật nào là cái thì thuộc về tôi, còn đồ vật nào là đực thì thuộc về anh. Bằng lòng chứ ?
Anh chồng gật đầu và OK liền tù tì.
Chỉ chờ có vậy, chị vợ bèn vội vã vơ vét về tất cả bởi vì hầu như mọi đồ vật đều mang chữ cái trên đầu : cái nồi, cái niêu, cái soong, cái chảo…Phát hoảng, anh chồng bèn chộp bừa con dao rựa và hô to :
- Đực rựa.
Có lẽ vì thế mà đực rựa vừa có nghĩa là loại dao lưỡi dài và sống dày, vừa có nghĩa là đờn ông và con giai.
Trong tiếng Pháp, người ta chia danh từ thành hai giống : giống đực và giống cái. Còn trong tiếng La tinh, ngoài giống đực và giống cái, còn thêm một giống nữa, đó là giống… dở (neuter), chẳng đực mà cũng chẳng cái. Trung lập, trung hòa, vô tính.
Sự vật chung quanh chúng ta phần lớn thuộc giống dở, chẳng đực mà cũng chẳng cái. Xét theo phương diện luân lý, thì chẳng tốt mà cũng chẳng xấu. Nó trở nên tốt hay nên xấu là do con người.
Thực vậy, con người xử dụng nó với ý hướng tốt, hay với mục đích tốt, thì nó sẽ tốt. Còn nếu con người xử dụng nó với ý hướng xấu, hay với mục đích xấu, thì nó sẽ xấu.
Chẳng hạn như tiền bạc. Tự bản chất, tiền bạc chẳng tốt mà cũng chẳng xấu. Nó tốt hay xấu là do cách thức con người kiếm nó và xài nó.
Thực vậy, nếu tiền bạc được tìm kiếm một cách chính đáng và công bằng qua lao công vất vả, qua mồ hôi và nước mắt của chúng ta thì lúc bấy giờ tiền bạc ấy quả thực là tốt.
Còn nếu tiền bạc được tìm kiếm bằng con đường bất chính và bất công : Kẻ sản xuất thì tung ra những mặt hàng dổm, kém chất lượng. Kẻ buôn bán thì dùng cân thiếu, thước hụt. Quan chức thì tham nhũng hối lộ…Những đồng tiền được nhồi nhét cho đầy túi tham theo kiểu này, chắc chắn sẽ là những đồng tiền xấu xa và nhơ bẩn.
Khi đã có đồng tiền rủng rỉnh trong hào bao, thì cách xài tiền cũng không kém phần quan trọng. Nếu tôi dùng tiền để nuôi sống bản thân và gia đình cũng như giúp đỡ những người chung quanh, thì lúc bấy giờ tiền bạc sẽ đem lại nhiều lợi ích.
Trái lại, nếu tôi vung tiền bạc cho những cuộc ăn chơi thâu đêm suốt sáng, nếu tôi dùng tiền bạc để dụ khị kẻ khác làm điều bất chính…lúc bấy giờ tiền bạc sẽ làm rạn vỡ gia đình, gẫy đổ tình yêu và gây nên biết bao nhiêu đau khổ, đúng như một câu danh ngôn đã bảo :
- Tiền bạc là một tên đầy tớ tốt, nhưng lại là một ông chủ hà khắc.
Chẳng hạn như thiên nhiên với những sức mạnh tiềm ẩn, tự bản chất  chẳng tốt mà cũng chẳng xấu. Ăn thua là ở con người xử dụng những sức mạnh ấy.
Lâu lắm rồi, gã có đọc một bài trong cuốn “Dừng”, đại khái tác giả đã viết như sau :
Hẳn chúng ta đã biết trái bom nguyên tử đầu tiên đã được ném xuống thành phố Hiroshima vào ngày 6 tháng 8 năm 1945. Trong nháy mắt, trái bom ấy đã giết hại hơn 200.000 người. Từ đó, bao nhiêu vũ khí khủng khiếp hơn nữa đã được chế tạo. Nào là bom khinh khí. Nào là bon neutron. Một trái bom 500 mégatonnes có đủ sức làm cho Việt Miên Lào và một phần Thái lan bị chìm xuống đáy biển. Một trái bom 2000 mégatonnes có thể làm cho chúng ta thấy được ngày tận thế !
Chiến tranh nguyên tử thật kinh khủng, nó là như một cơn ác mộng đè nặng trên nhân loại, Tuy nhiên cái đáng sợ không phải là bom nguyên tử mà là con người xử dựng nó. Bom đạn vốn là vật vô hồn, không thể mang lấy trách nhiệm của cuộc chiến. Chính con người đã chế tạo ra bom đạn và xử dụng bom đạn  mới phải gánh lấy trách nhiệm ấy hoàn toàn.
Các năng lực thiên nhiên tự nó rất hữu ích và cũng chẳng hề biết gì đến nhân nghĩa cả. Nó đã bị con người lợi dụng để chà đạp nhân nghĩa.
Điện khí rất hữu ích để làm đèn soi sáng, chứ không phải để chạy vào thành ghế, thành giường. Lửa rất hữu ích để thổi nấu chứ không phải để đốt nhà. Sức mạnh của nguyên tử cũng thế, nó không đe dọa hòa bình, không tàn sát, không tiêu diệt, trái lại còn phụng sự hòa bình, phát triển nông nghiệp và các ngành nghề khác. Chỉ có con người xử dụng sức mạnh nguyên tử mới đe dọa hòa bình, tàn sát và phá hoại mà thôi.
Ngay cả những thực tại vốn  dĩ tốt đẹp cũng vẫn có thể bị con người xào xáo, làm cho trở thành xấu xa.
Chẳng hạn như nghề nghiệp. Người xưa đã từng bảo :
- Nghề nghiệp nào cũng đáng quí đáng trọng. Không có nghề nghiệp nào xấu mà chỉ có con người xấu mà thôi.
Thực vậy, với nghề nghiệp chúng ta kiếm được tiền bạc nuôi sống bản thân và gia đình, như tục ngữ đã bảo :
- Nhất nghệ tinh, nhất thân vinh.
Đồng thời nhờ đó, chúng ta góp phần xây dựng xã hội. Thế nhưng nếu xử dụng tay nghề của mình vào những mục đích xấu, lúc bấy giờ chúng ta sẽ gây nên những tai họa thảm khốc.
Thí dụ : tôi giỏi nghề in, nhưng không dùng khả năng ấy để in sách, in báo hầu nâng cao dân trí, nhưng lại dùng để in tiền giả khiến cho nền kinh tế quốc gia bị lũng đoạn.
Tôi giỏi nghề võ, nhưng không dùng khả năng ấy để bảo vệ bản thân và giúp đỡ những kẻ cô thân cô thế, nhưng lại dùng để uy hiếp, để trấn lột người khác…
Chẳng hạn như tình yêu, một thực tại vốn được ca ngợi là thiêng liêng và cao đẹp, thế nhưng con người cũng vẫn có thể lợi dụng tình yêu để làm những điều xằng bậy.
Thí dụ : một chàng trai dùng những lời đường mật của tình yêu để dụ dỗ cô gái, khiến cho cô gái phải mang bầu, rồi truất ngựa truy phong, bỏ rơi cô gái…Hay mượn đỡ danh nghĩa tình yêu để lường gạt tiền của theo kiểu kỹ sư đào mỏ…Cũng có thể yêu nhầm đối tượng mà làm cho gia đình bị đổ vỡ tan hoang, vợ mình chẳng yêu lại cứ nhè vợ người ta mà yêu, thế mới rách việc.
Báo Công an TPHCM cũng đăng tải một mẩu tin ngắn như sau :
Anh T. vốn thầm yêu chị H. là một góa phụ. Trong lúc đến chơi, lợi dụng cơ hội tư riêng, anh đã hôn chị một miếng. Chẳng may vô tình cháu L. nhìn thấy và khóc thét lên rồi chạy sang mách người hàng xóm. Người hàng xóm bèn đến can ngăn và đuổi anh T. về. Cảm thấy xấu hổ trước mặt bà con lối xóm, ngày hôm sau chị H. đã thắt cổ tự tử. Chị H. chết đi bỏ lại đứa con thơ mới chín tuổi. Đúng là một cái hôn gây nên hậu quả khó lường.
Từ những điều vừa trình bày, chúng ta thấy trong mọi việc yếu tố con người là quan trọng hơn cả. Và nơi con người thì cái tâm hay nói một cách nôm na và bình dân hơn, là cái lòng sẽ nắm phần quyết định. Tốt hay xấu cũng bởi nó. Vì thế sách giáo lý có câu :
- Hỏi tội bởi đâu mà ra ?
- Thưa tội thì bởi trong lòng mà ra.
Hay như người xưa cũng dạy :
- Nhân dục thắng, thiên lý vong.
Có nghĩa là lòng dục của con người phát triển thì đạo lý của trời sẽ bị mai một,
Hay :
- Dục vọng đánh đổ đạo lý.
Chính vì thế có người đã phát biểu :
- Thà rằng ngồi trong trái tim con sư tử còn hơn là ngồi trong trái tim con người.
Và tiền nhân cũng đã từng cay đắng khi đưa ra kinh nghiệm chua chát của mình :
- Homo hominibus lupus.
Có nghĩa là người với người là chó sói của nhau.
Thế nhưng cái tâm ấy lại âm u. Cái lòng ấy lại đầy những ý đồ đen tối như tục ngữ đã bảo :
- Sông sâu còn có kẻ dò,
  Lòng người nham hiểm ai đo cho cùng.
- Dò sông, dò biển, dễ dò,
  Nào ai lấy thước mà đo lòng người.
Điều khó khăn và gay go nhất đó là phải làm thế nào để kiểm soát được cái tâm và hướng dẫn được cái lòng của mình. Thế nhưng dù khó khăn và cam go đến đâu chăng nữa, cũng vẫn phải thực hiện nếu muốn cho mọi việc luôn được êm xuôi và tốt đẹp.
Ngày kia, có một đứa bé ném hòn đá vào lớp khiến cho cửa kính vỡ tung. Cô giáo đỏ mặt tức tối.  Tuy nhiên, thay vì sửa phạt cậu học trò tinh nghịch, thì cô giáo lại đi lượm viên đá, rồi lấy thước kẻ đánh cho viên đá một trận. Vừa đánh vừa nói :
- Từ nay, mày phải trở nên mềm dẻo chứ không được cứng rắn như thế này nữa nhé.
Phải kiểm soát cái tâm,  phải hướng dẫn cái lòng vì nhân tâm hay lòng người là nơi sản xuất ra những thứ vũ khí nguy hiểm, những toan tính mờ ám, những hành động dã man.
Và để kết luận, gã xin lập lại câu nói ban đầu của một diễn viên trong bộ phim “Cuộc chiến thầm lặng” :
-Khẩu súng không nguy hiểm, nhưng con người xử dụng khẩu súng mới thực nguy hiểm.
Ôi, con người quả là…dễ sợ.
Gã Siêu.

 

Chuyện Gã Siêu 103: CÁI LƯỠI

CÁI LƯỠI Chuyện Gã Siêu 103

Ngày xưa có một ông vua nước Ai Cập gửi cho nhà hiền triến Bias một con vật vừa quí lại vừa Chuyện Gã Siêu 103

Ngày xưa có một ông vua nước Ai Cập gửi cho nhà hiền triến Bias một con vật vừa quí lại vừa hiếm để tế lễ các thần minh. Thế nhưng ông vua này muốn chơi khăm nhà hiền triến một vố, bèn phán :
- Sau khi cúng kiếng xong, ngươi phải trả lại cho ta cái gì vừa tốt nhất lại vừa xấu nhất nơi con vật quí hiếm ấy.
Nhà hiền triết cũng không phải là tay vừa, bèn xẻo ngay cái lưỡi mà trao cho ông vua.
Cử chỉ đó gián tiếp nói lên rằng :
- Cái lưỡi là phần tốt nhất nếu biết sử dụng, nhưng đồng thời cũng là phần xấu nhất nếu không biết sử dụng.
Đúng thế, cái lưỡi là một bộ phận quan trọng để phát ra tiếng nói. Hồi tôi còn bé, mẹ gã thường răn đe :
- Con mà chửi tục, thì cái lưỡi sẽ thụt vào trong cổ, để rồi từ rày mà đi cho đến lúc rình xinh thì sẽ chẳng còn nói năng được nữa !
Hay :
- Con mà chửi tục, ông ba bị nghe thấy, thì ông ấy sẽ cắt ngay cái lưỡi để xơi…tái.
Và như chúng ta đã thấy :
- Tiếng nói là một phương tiện hữu hiệu để chuyển đạt cho người khác biết những tư tưởng, những ý nghĩ, những ước muốn thầm kín ấp ủ tận đáy tâm can tỳ phế, nhờ đó bắc lấy một  nhịp cầu cảm thông.
Chính vì thế, mấy ông triết gia đã phát biểu :
- Người là một con vật có ngôn ngữ, có tiếng nói. Sông có thể cạn núi có thể mòn nhưng chân lý ấy ngàn đời vẫn không thây đổi.
Một kẻ câm ú a ú ớ, diễn tả bằng cử điệu thật là vất vả và người không quen cũng khó mà hiểu được những cử điệu ‘’búa xua’’ ấy.
Tuy nhiên, cái lưỡi cùng với lời nói lại là điều chúng ta thường hay vấp phạm hơn cả, bởi vì chúng ta có thể vấp phạm bất kỳ ở đâu, bất kỳ lúc nào và bất kỳ với ai.
Do đó Kinh thánh đã bảo :
- Số người chết vì cái lưỡi thì nhiều hơn số người ngã gục vì gươm giáo ngoài chiến trường.
Và tục ngữ dân Ăng lê cũng xác quyết :
- Không nọc nào độc cho bằng cái lưỡi.
Trước hết là trong lãnh vực gia đình.
Nhiều khi sóng gió nổi lên chỉ vì một lời nói nóng nảy và thiếu tế nhị.
Có một chị vợ cặm cụi nhổ cỏ ở thửa ruộng sau nhà. Theo sự phân công thì hôm đó anh chồng đóng vai tề gia nội trợ. Và thế là anh chồng bèn trổ mấy món ruột của mình để lấy điểm ‘’mí’’ bà xã.
Mồ hôi mồ kê chảy xuống ròng ròng. Khi đã nấu nướng xong, yên chí nhớn và hớn hở bắn một điếu thuốc lào, anh chồng mới sai đứa con nhỏ ra mời mẹ.
Đứa bé chạy tới và nói :
- Bu ơi bu, bố bảo về ăn cơm.
Chẳng nói chẳng rằng, chị vợ vẫn cứ lặng lẽ nhổ cỏ.
Đứa bé trở về, mặt xụ xuống như bánh bao chiều.
Một lúc sau, anh chồng lại sai đứa khác ra mời, nhưng chị vợ vẫn cứ nín thinh cặm cụi nhổ cỏ.
Đứa bé trở về, mặt xìu xìu như trái bóng xì hơi.
Dường như không chờ đợi được nữa, vả lại sợ thức ăn để lâu sẽ  nguội và mất ngon, nên lát sau anh chồng liền sai đứa út ra mời, ông cười ruồi và thầm nghĩ trong bụng :
- Quá tam ba bận. Ba keo mèo phải mở mắt đứt đuôi con nòng nọc chứ còn gì.
Thế nhưng lần thì chị vợ lại tỏ ra tức tối. Chị ta đứng lên. Hai tay chống nạnh. Mắt long còng cọc như một tia chớp. Miệng hét toáng chẳng khác gì sư tử rống :
- Bố con mày có hốc thì cứ việc hốc đi.
Trước sự nổi tam bành của chị ta, đứa út run cầm cập, ba chân bốn cẳng vội chạy về méc bố.
Đến đây thì chuyện phải đến ắt sẽ đến. Sau khi nhổ hết đám cỏ bợ, chị vợ đủng đỉnh về nhà. Thế nhưng vừa mới tới sân thì hàng xóm đã phải nghe thấy những tiếng kêu la thất thanh :
- Ối giời ơi ! Ối đất ơi ! nó đánh tôi, nó giết tôi, làng nước ơi, cứu tôi với…
Rồi thì nồi niêu soong chảo, chổi cùn rế rách, mâm bàn chén đĩa cùng với những thứ cao lương mỹ vị thi nhau bay ra ngoài sân, bởi sức người chịu đựng có hạn. Và lúc này đến lượt anh chồng đang nổi máu yêng hùng,  đùng đùng nổi trận lô đình như Trương Phi !
Giá như chị vợ biết nhún nhường và tế nhị một chút trong lời nói của mình thì đâu đến nỗi xảy ra sự việc đáng tiếc kể trên. Còn thân thể ‘’liễu yếu đào tơ’’ của chị ta đâu đến nỗi tím bầm và lãnh đủ những thứ cú thượng cẳng chân hạ cẳng tay của đức ông chồng, ‘’vai năm thước rộng, thân mười thước cao’’, như vóc dáng của anh chàng Từ Hải trong truyện Kiều !
Bởi đó, tục ngữ đã dậy :
- Chồng giận thì vợ làm lành
  Miệng cười tươi hỏi rằng anh giận gì.
- Chồng giận thì vợ bớt lời
  Cơm sôi bớt lửa chẳng đời nào khê.
Còn nếu ông cũng ghê bà cũng gớm, thì chắc chắn phải kết thúc bằng xô xát, bằng tan hoang và đổ vỡ.
- Bên thẳng thì bên phải chùng
  Hai bên đều thẳng thì cùng đứt dây.
- Bên giận thì bên phải lùi
  Hai bên cùng giận thì… dùi nó quăng.
Cho nên, muốn gia đình được êm ấm thì phải biết nhường nhịn và tha thứ :
- Một sự nhịn là chín sự lành.
Đồng thời phải biết phát ngôn cho êm dịu và tế nhị, bởi vì :
- Lời nói chẳng mất tiền mua
  Liệu lời mà  nói cho vừa lòng nhau.
Tiếp đến là trong tương quan xã hội, trong mối liên hệ với người khác.
Hẳn rằng, đã có lần chúng ta bực bội tức tối trước những luồng dư luận xuyên tạc, trước những miệng lưỡi thâm độc và xảo trá của người đời. Bởi vì dư luận vẫn thường là luận dư, lời đôn thổi bao giờ cũng phóng đại tô màu, chẳng biết đâu mà lường :
- Lưỡi không xương nhiều đường lắt léo.
Hay như ca dao đã diễn tả :
- Ở sao cho vừa lòng người
  Ở rộng người cười ở hẹp người chê
  Cao chê ngỏng, thấp chê lùn
  Béo chê béo trục béo tròn
  Gầy chê xương sống, xương sườn hở ra.
Tuy nhiên, chúng ta không thể nào sống cu ky, đơn độc, lẻ loi như một hòn đảo giữa biển khơi hay như một pháp đài biệt lập. Trái lại, sống là sống là sống với người khác. Và trong cuộc sống chung này, chúng ta không thể tránh đi cho hết những va chạm, những bực bội, những buồn phiền.
Nếu biết dùng những lời nói ôn tồn, chúng ta sẽ hóa giải được những thù oán, triệu tiêu được những  giận hờn, bởi vì mật ngọt chết ruồi. Người ta có thể giết được nhiều ruồi chỉ bằng một giọt mật, còn hơn là bằng cả một thùng dấm chua.
Một lời thiếu ý thức được sánh ví như một lon dầu đổ vào lửa, làm bừng lên sự tức giận, thiêu hủy hết tình ruột thịt cũng như nghĩa bà con lối xóm.
Một lời nói vu oan có thể làm người khác mất hết tiền bạc, mất hết danh dự, tiêu tan sự nghiệp để rồi thân bại danh liệt và đi vào thế giới lao tù.
Sau cùng là trên bình diện cá nhân.
Như chúng ta đã biết :
- Lòng đầy thì mới tràn ra ngoài.
Dựa vào lời nói, người khác có thể biết được phần nào tâm hồn chúng ta. Dựa vào lời nói, thiên hạ sẽ đánh giá con người  và nhận rõ bộ mặt thực của chúng ta.
Nếu chúng ta nói những điều hữu lý, thiên hạ sẽ cho chúng ta là người tài giỏi và khôn ngoan. Nếu chúng ta nói những điều vô lý, thiên hạ sẽ cho chúng ta là kẻ ngu ngốc và dại khờ. Nếu chúng ta nói những điều xằng bậy,  thiên hạ sẽ cho chúng ta là kẻ tầm phào và láo khoét.
Được yêu mến và kính trọng hay bị khinh bỉ và ghét bỏ một phần lớn là do bởi cái lưỡi và lời nói của chúng ta.
Như thế, cái lưỡi đã đóng một vai trò quan trọng trong việc hình thành uy tín và thế giá của mọi người,  như một câu danh ngôn đã bảo :
- Lưỡi người khôn ngoan tạo nên danh dự,  còn mồm kẻ ngu dại gây đổ vỡ tan hoang.
Bởi đó, phải biết đắn đo cân nhắc, để tránh đi những lời lộng ngôn xúc phạm đến Đấng Tối Cao, những lời chua cay độc địa nhằm hạ nhục uy tín người khác, cũng như những lời côïc cằn tục tĩu làm hoen ố những tâm hồn đơn sơ trong trắng, đồng thời bôi nhọ chính bản thân mình, vì ngậm máu phun người dơ miệng mình.
Như thế, nếu không biết sử  dụng cái lưỡi cho đúng đắn, thì lời nói sẽ là nguồn ngốc phát sinh rất nhiều giống tội thay vì là một phương tiện giúp chúng ta cảm thông và xích lại gần nhau.
Êsôpe là một tên lô lệ, nhưng lại được ông chủ tên là Santô rất yêu mến và kính trọng.
Ngày kia có khách đến chơi, ông chủ sai Êsôpe ra chợ mua thức ăn, nhưng không bảo là mua những thứ gì. Êsôpe bèn dinh về đủ các thứ lưỡi : lưỡi lợn, lưỡi bò và lưỡi ngựa… để nấu nướng.
Lạ miệng nên xơi ngon. Ông chủ và khách khứa đều hài lòng về tài bếp  núc của Êsôpe. Rồi khen lấy khen để.
Lần sau cũng có khách, ông chủ lại sai Êsôpe đi chợ và cũng không dặn phải mua những gì, Êsôpe cũng lại dinh về toàn những lưỡi là lưỡi, chỉ khác ở cách chế biến và thêm bớt gia vị.
Thấy vậy, ông chủ rất đỗi ngạc nhiên, còn Êsôpe thì kính cẩn làm một màn lý luận, bàn về cái lưỡi như sau :
- Phàm ở trên đời này, mọi sự tốt hay xấu, lợi hay hại… tất tật đều do bởi việc sử dụng cái lưỡi một cách khôn khéo hay vụng về.
Chính nhờ vậy, mà Êsôpe được chủ yếu mến và sau này được giải thoát khỏi kiếp nô lệ lầm than.
Ý thức được tầm mức quan trọng của cái lưỡi là như vậy, chúng ta hãy lắp đặt một cái phanh vào miệng, để những lúc ngứa mồm, muốn phát ngôn bừa bãi, thì biết “sì tốp” lại đúng nơi và đúng lúc.
Viết tới đây, gã bèn nhớ tới lời khuyên của người xưa, đó là :
- Hãy ngoáy lưỡi bảy lần trước khi nói.
Gã Siêu

 

Chuyện Gã Siêu 104: TẤP TỂNH NGƯỜI ĐI

TẤP TỂNH NGƯỜI ĐI Chuyện Gã Siêu 104

Sáng hôm ấy, sau khi đã uống một ly cà phê đen và “bắn” một phát thuốc…lào, gã đang ngồi vểnh Chuyện Gã Siêu 104

Sáng hôm ấy, sau khi đã uống một ly cà phê đen và “bắn” một phát thuốc…lào, gã đang ngồi vểnh cằm lên trần nhà mà vặt mấy sợi râu mọc vô tổ chức và để cho hồn mình “mơ theo trăng mà vơ vẩn cùng mây”, bỗng có tiếng chuông điện thoại.
Bốc máy lên, mới vỡ nhẽ :
- À thì ra đó là cụ chủ nhiệm.
Chưa kịp mở mồm mở miệng, thì đã nghe cụ ấy làm một màn “đắc nhân tâm” :
- Chuyện phiến của chú mày khá là được chiếu cố đấy nhé.
Nghe vậy, gã bèn kê tủ đứng :
- Xin cụ hãy nhớ cho rằng kẻ nào bốc thơm mà bốc phải ấy là bạn ta, còn kẻ nào bốc thối mà bốc phải ấy là thày ta. Cụ muốn điều gì thì xin cứ nói mẹ nó ra, bởi vì tôi tớ cụ đang lắng tai nghe, cần gì phải vòng vo tam quốc.
Hình như có tiếng hắng giọng kèm theo một nụ cười ruồi. Cụ bảo :
- Sinh ta ra là cha mẹ ta, còn hiểu được lòng ta chính là chú mày đấy. Sao chú mày lại đi guốc trong bụng ta vậy. Thôi, chú mày hãy chịu khó viết nhăng viết cuội, tán hươu tán vượn cho ta tí tẳng về đề tài việt…kều được không ?
Chẳng kịp suy nghĩ, gã đã buột miệng nói :
- Chuyện nhỏ, dễ ợt mà.
Thế là cụ bèn cúp máy cái rụp, chẳng kịp để cho gã lấy thêm mấy cái ý kiến ý cò chỉ đạo. Thôi đành chịu vậy, biết sao được.
Thiên hạ thường bảo :
- Lao động thì vinh quang,
  Lang thang thì chết đói,
  Hay nói thì ở tù,
  Lù khù thì sống lâu.
- Nhất ngôn xuất khẩu, tứ mã nan truy. Có nghĩa là một lời nói tuột  ra khỏi miệng, thì bốn ngựa đuổi theo cũng chẳng kịp.
- Chẳng cái dại nào bằng cái dại miệng.
Vì thế, bây giờ gã mới ân hận, bởi vì gã chưa bao giờ để tâm để trí vào lãnh vực này, hay bới lông tìm vết mà khám phá ra những cái sở trường và sở đoản, những cái hay và dở, những cái tốt lành và lôm côm của…phe ta, khi trở về thăm lại quê hương.
Giá mà gã cứ chối phắt ngay từ đầu, thì có phải là khỏe re, như con bò kéo xe hay không. Nhưng hối bất cập, “bi giờ” thì đã quá muộn, đành phải vò đầu bứt tai làm tròn điều đã lỡ hứa với cụ chủ nhiệm vậy.
Đối với dân Việt nam ta, phàm cái gì cũng có thể trở nên một phong trào, một hiện tượng.
Nếu trí nhớ của gã không tồi thì trước ngày giải phóng, ở miền Nam đã có những phong trào, những hiện tượng. Chẳng hạn như phong trào nuôi chim cút, hiện tượng đọc chuyện kiếm hiệp của Kim Dung, hay đọc chuyện tình cảm ẩm ướt của Quỳnh Dao.
Còn trong những ngày gần đây, thì trên cả nước có hiện tượng sì ke ma túy, hiện tượng học trò đánh đấm thày cô, phong trào dật hụi, phong trào thi cử gian lận…Và nếu không lầm, thì thời gian từ năm 1978 đến năm 1981 chính là cao điểm của phong trào…vượt biên.
Hồi ấy, gã đã từng nơm nớp lo sợ :
- Có một buổi sáng sám xịt nào đó, khi thức giấc tỉnh dậy sau giấc ngủ mệt mỏi đầy ác mộng, thì ngó tới ngó lui, chẳng còn ai ở chung quanh mình, bởi vì tất cả đều đã khăn gói quả mướp…ra đi.
Thêm vào đó, ngày nào cũng có những tin tức về những “kẻ ngồi thuyền vượt biển” được rêu rao trên các đài phát thanh BBC, VOA…Thậm chí có kẻ đã trả lời phỏng vấn như sau :
- Nếu cái cột đèn biết đi thì nó cũng…đi.
Thành thử, những người bám trụ, còn ở lại cũng cảm thấy chao đảo và nếu lập trường không vững, thì cũng rất dễ sa vào “cơn cám dỗ cuối cùng” này, theo kiểu :
- Tấp tểnh người đi tớ cũng đi,
  Cũng thuyền, cũng bến cũng…ra khơi.
Ra đi lúc bấy giờ quả thật là một hành động liều lĩnh và  mạo hiểm, một được hai thua, được thì vẻ vang, còn thua thì nắm chắc cái chết trong tay, hay ít nữa thì cũng tù tội. Thế mà thiên hạ vẫn cứ ào ào ra đi, bất chấp mọi khó khăn.
Nơi gã ở lúc bấy giờ đang trong cao điểm ấy, không ngày nào mà không có một vài người, hay một vài gia đình…biến. Thậm chí có những người đã từng bị bắt đôi ba lần, thế mà khi được thả ra, liền lập tức âm mưu, tính toán cho một chuyến đi khác.
Làm sao kể cho hết những khó khăn và gian khổ của những người ra đi. Ở đây, gã chỉ xin “kê đơn hoàn tán” một vài khó khăn gian khổ chính yếu mà thôi.
Cái khó khăn thứ nhất là phải làm thế nào thoát khỏi sự dòm ngó và lùng bắt của công an.
Gã có một thằng bạn, nhà liền vách với trạm công an, thế mà hắn đã đưa được cả gia đình xuống tàu một cách êm ru bà rù. Quả là tâm phục, khẩu phục. Sau này gã mới khám phá ra mưu chước của hắn.
Số là hắn có một thửa ruộng cách xa nhà. Và thế là ngày nào hắn cùng vợ con đi lao động, chăm sóc thửa ruộng ấy. Cho đến một ngày, khi mọi sự đã sẵn sàng…và thế là hắn đã biến cùng với những người thân yêu của hắn.
Nhiều người muốn được bảo đảm an toàn đã mua đứt bến bãi, bằng cách đút tiền cho công an, nhưng nếu chẳng may vớ phải mánh dổm, thì tiền mất tật mang, trọn ổ bị hốt về trại giam, hay bỏ của chạy lấy người, mạnh ai người ấy trốn, mỗi người một ngả, may thì thoát.
Cái khó khăn thứ hai là phương tiện di chuyển.
Đối với những người sống ở ven biển, có sẵn tàu thuyền thì không mấy khó khăn. Còn đối với những người sống sâu trong đất liền, có khi chưa một lần đặt chân tới  vùng biển, thì cách thức đơn giản nhất là đi theo mánh. Phó mặc toàn bộ công việc cho những kẻ tổ chức. Tới thời điểm đã định, chỉ việc đến điểm hẹn để được…ém quân, rồi sau đó được chở bằng thuyền nhỏ, gọi là “tắc xi” để được bốc lên thuyền lớn. Thế nhưng rất nhiều người đã méo mặt vì  vớ phải mánh dổm, đụng phải những kẻ lừa gạt chuyên nghiệp.
Bọn này cũng cho đi xem ghe thuyền đàng hoàng, cũng ấn định điểm hẹn và còn bảo đảm cả bến bãi đã được mua đứt…Những rồi khi tay xách nách mang tới điểm hẹn, thì chẳng thấy ma nào hết.
Ở lại thì sợ bị công an thộp cổ, nên chỉ còn cách “dĩ đào vi thượng sách”, chạy trốn là kế sách hay hơn cả, bằng mọi cách phải cao chạy xa bay khỏi điểm hẹn chết tiệt ấy.
Giá cả lúc bấy giờ cũng thật là chóng mặt. Mỗi đầu người là mười đồng, tức là mười cây vàng, chứ nào có phải là ít. Vì thế, có những gia đình chỉ sau một đêm mà mất toi sản nghiệp được chắt chiu gầy dựng suốt bao nhiêu năm trời, đúng là “kiếm củi ba năm thiêu một giờ”, hay :
- Ra đi trong hy vọng khấp khởi,
  Trở về trong rầu rĩ hoang mang.
Thấy kiểu này vừa hao tốn, vừa bấp bênh, nên về sau nhiều người đã tự tổ chức lấy, đứng ra sắm ghe thuyền, hải bàn, bản đồ… mua lương thực, săng dầu…rồi thuê tài công, thợ máy…nghĩa là lo từ A đến Z cho chuyến đi định mệnh ấy.
Tuy nhiên, đứng ra tổ chức không phải là không có những trục trặc và rủi ro. Chẳng hạn người tài công hay thợ máy vào phút chót thì giở quẻ, đòi cho vợ con hay tình nhân của mình đi theo.
Chẳng hạn để bù lỗ phần nào những chi phí, thường phải nhờ kẻ dắt mối bắt khách ăn chia, thế những khi thuyền sắp rời bến, kẻ dắt mối lại đòi phải nhồi nhét thêm cho một vài khuôn mặt ăn có khác nữa làm cho con thuyền bị…quá tải.
Người xưa đã từng diễn tả :
- Thùng thùng trống đánh ngũ liên,
  Bước chân xuống thuyền nước mắt như mưa.
Ở đây thì những người ra đi phải trốn chui, trốn nhủi, làm gì có cảnh đưa tiễn rầm rộ, nhưng nước mắt đổ ra khi rời bỏ nơi quê cha đất tổ và những người thân yêu chắc chắn không phải là ít.
Thế nhưng bước chân được xuống thuyền đã là điều mừng, để rồi từ đó phó mặc cho số phận dun dủi :
- Cũng liều nhắm mắt đưa chân,
  Màø xem con tạo xoay vần tới đâu.
Thực vậy, ghe thuyền nhiều khi chỉ là một chiếc “cà dom” ọp ẹp, dài hơn chục mét mà phải chất chứa đến mấy chục mạng người. Thêm vào đó, máy móc lại quá “đát”, có lúc chỉ là một chiếc máy xăng BS9…tất cả chẳng khác chi một chiếc vỏ trứng tròng trành trên sóng nước, nhưng mà :
- Một liều ba bảy cũng liều.
Còn tài công lắm khi cũng chỉ là những kẻ “ấm ớ hội tề”, mang tý nhãn hiệu trình tòa hay cái mác của hải quân mà chẳng biết đã có lần nào chui xuống tàu hay đi ra biển chưa là nghiễm nhiên có quyền gật đầu, ừ đại để được đi…chùa, khỏi tốn tiền hao bạc, mà lại còn được cõng thêm một vài người khác gọi là chút đỉnh thù lao đền bù. Vì thế đôi khi đã xảy ra những chuyện cười làm vãi cả nước mắt.
Có một nhóm bè bạn liên kết với nhau để tổ chức bằng cách tự mua sắm thuyền và thuê mướn tài công. Lúc xuất phát từ Nha trang, họ đã xin lễ cầu bằng an. Lúc xuống thuyền, mặc dầu không hát thành lời, nhưng hầu như ai nấy đều thầm thĩ kêu xin :
- Lạy Mẹ là ngôi sao sáng, soi lối cho con lúc vượt biển….
Con thuyền thuận buồm xuôi gió, luớt sóng được mấy ngày thì thấy một hải đảo hiện ra. Mọi người đều tin rằng miền đất hứa đang mở rộng vòng tay chào đón.
Và thế là họ lớn tiếng dâng lời cám ơn Thiên Chúa :
- Đến muôn đời con cảm tạ ơn Chúa…
Tuy nhiên, khi bước chân lên bờ, họ bỗng rụng rời khiếp hãi khi nhìn thấy cờ đỏ sao vàng phấp phới tung bay. Thì ra nơi họ tưởng là miền đất hứa chính là đảo Phú quốc. Rồi chuyện gì phải đến ắt sẽ đến. Tất cả mọi người, nam phụ cũng như lão ấu, liền ông cũng như liền bà, không trừ một ai, đều được thưởng thức món cơm hẩm nhà tù một thời gian.
Và như trên gã đã viết :
- Đây là chuyến đi định mệnh, một được hai thua.
Về cái chuyện được thua ấy, thiên hạ đã diễn tả như sau :
- Được làm vua, thua chui vô hàm cá mập.
Hay :
- Được làm vua, thua làm mồi cho cướp.
Có một ông chồng đã dặn dò người vợ yêu dấu trước khi bước chân xuống thuyền như thế này :
- Nếu sau một thời gian mà không nhận được tin tức gì của anh cả thì : “giỗ tết từ đấy nhớ đến ngày”. Coi như anh đã đi đứt, đang phiêu diêu miền cực lạc, hay đang tắm mát dưới suối vàng.
Còn biết bao nhiêu gian truân và hiểm nguy trên mặt đại dương. Còn biết bao nhiêu tủi nhục và cay đắng khi sa vào tay bọn hải tặc. Còn biết bao nhiêu hãi hùng và nước mắt khi thuyền chìm giữa biển khơi. Còn biết bao nhiêu ê chề khi ở trại tị nạn. Và không biết bao nhiêu người đã chết mất xác…
Có lần gã đã hỏi một người bạn ở Mỹ về như thế này :
- Liệu bây giờ mi có dám làm một chuyến vượt biển như hồi đó hay không ?
Hắn đã lắc đầu quầy quậy mà trả lời :
- Có các vàng thì em cũng…chả dám đâu.
Nhiều người tin rằng vượt biên cũng có cái số của nó. Có kẻ đi mãi đi hoài, vào tù ra khám, tiêu tan sản nghiệp, mà vẫn không xong. Có kẻ đi một cú là liền tới bến. Có kẻ vượt biên bất đắc dĩ, không muốn đi nhưng bị ép phải đi thế mà cũng êm ru bà rù.
Những người ra đi lúc bấy giờ, theo gã nghĩ, gồm có ba thành phần.
Thành phần thứ nhất là những người muốn đi tìm một cuộc sống tự do vì họ nghĩ rằng :
- Nếu ở lại, họ sẽ bị trù dập, bị tù tội vì đã tham gia vào guồng máy cai trị của chế độ cũ, hay sẽ không được thực sự sống niềm tin của mình.
Thành phần thứ hai là những người muốn đi tìm một cuộc sống giàu sang, thỏa mái vì họ nghĩ rằng :
- Nếu ở lại, kinh tế gia đình họ sẽ gặp khó khăn và tương lai con cái họ không được sáng sủa.
Thành phần thứ ba là những người chẳng có ý định nào suốt, thấy người ta bồng bế nhau đi thì mình cũng đi.
Họ có thể là những người ra đi “bất đắc dĩ”. Chẳng hạn như cha mẹ bắt con cái phải đi để có được một ngày mai tươi sáng hơn. Chẳng hạn một anh chàng nào đó dạo chơi phất phơ gần chỗ thiên hạ”bốc hàng”, và thế là để bảo đảm an toàn, thiên hạ bèn dùng áp lực bắt anh ta xuống thuyền và cho dông luôn.
Ngoài  ra còn có một hạng người được gọi là dân “can me”.
Họ là những kẻ không có một đồng xu dính túi để đóng góp, nên đành phải đi chùa của thiên hạ bằng cách nhờ tình cảm của tài công, thợ máy, kẻ dắt mối giới thiệu cho đi ké mà chẳng phải mất một cắc bạc… hay do hoàn cảnh dun dủi, gặp được thời cơ thuận lợi, họ cứ nhảy đại xuống thuyền theo kế sách : nhất lý, nhì lì, tam ì, tứ ẩu…rồi thì đến một lúc nào đó con thuyền cũng sẽ cặp bến mà chớ.
Ra đi lúc bấy giờ không phải chỉ  là “chết trong lòng một tí”, mà hơn thế nữa, còn được coi như là chia lìa vĩnh viễn, đôi ngả ngăn cách ngàn đời, như cõi âm và cõi dương, người sống và kẻ chết, vì “bước chân đi cấm kỳ trở lại”.
Gã còn nhớ hồi năm 1954, những người di cư vào miền Nam, lúc đầu còn được liên hệ với những thân nhân tại miền Bắc bằng cách viết vào một tấm giấy bìa màu vàng, tựa như tấm “cạc pót tan”, rồi nhờ “Ủy hội quốc tế kiểm soát đình chiến” chuyển giao.
Viết thì cứ viết, nhưng liệu tấm thư bỏ ngỏ ấy có đến được tay người thân hay không, thì hãy bắc thang lên hỏi ông trời vì chỉ có một mình ông mới biết mà thôi.
Giòng sông Bến Hải nào có rộng rãi chi, thế mà người từ bên ấy muốn qua bên này cũng chẳng được và ngược lại, người từ bên này muốn qua bên ấy cũng đành bất nhóc nhách, huống lọ là hai bờ Thái Bình Dương cách xa ngàn trùng, thì làm sao mà có thể trở về thăm lại quê hương.
Người ra đi thì hiểm nguy khiếp hãi, còn kẻ ở lại thì cũng không kém phần long đong khốn khó…Nhưng thôi, chả dám viết nữa, kẻo có người lại thở dài mà than :
- Biết rồi, khổ lắm, nói mãi.
Thế nhưng sự đời vốn thường thiên biến vạn hóa, thay đổi không ngừng, như người xưa đã bảo :
- Thương hải biến vi tang điền. Nghĩa là biển cả biến thành ruộng dâu.
Hay như một bài hát quen thuộc :
- Than ôi trái đất vẫn tròn,
  Chúng mình hai đứa vẫn còn gặp nhau.
Đúng thế, một luồng gió mới đã thổi vào Việt nam với chính sách đổi mới. Nhà nước mở cửa, kêu gọi nước ngoài đầu tư, nới rộng kinh doanh, phát triển du lịch, một loại kỹ nghệ không có khói nhưng đem lại nhiều lợi nhuận…
Gã không thông thạo lắm về chuyện này, nhưng có lẽ vấn đề cấp bách là phải vực cái nền kinh tế vốn dĩ đã èo uột và lạc lậu lên vì lợi tức đầu người hàng năm lúc bấy giờ của mình thuộc vào hạng thấp nhất thế giới.
Thôi thì như Đặêng Tiểu Bình đã nói, nếu như gã không lầm, rằng :
- Mèo trắng, mèo đen không sao cả, miễn là bắt chuột.
Song song với đó, nhà nước cũng kêu gọi những người Việt nam đang sinh sống ở nước ngoài góp phần xây dựng đất nước, sẵn sàng mời họ trở về thăm lại quê hương xứ sở. Và thế là các Việt kiều bắt đầu lục tục kéo nhau về.
Lúc đầu các Việt kiều còn e dè vì sợ rằng đây chỉ là một cái bẫy do Nhà nước giăng ra. Một khi đã về thì bẫy liền sập, nhất là  đối với  những người đã từng cộng tác với chế độ cũ. Vì có tội thì phải đền tội. Hoặc còn ngại ngùng vì sợ tư thù cá nhân, không được luật pháp bảo vệ, sẽ bị đối xử theo luật rừng, hay theo kiểu giang hồ, mắt đền mắt, răng thế răng…
Nhưng rồi những  cái “sợ rằng” ấy không phải là sự thật. Khi đặt chân xuống mảnh đất quê hương, họ được ân cần tiếp đón như những người thân yêu đi vắng xa nay đã trở về, như những người con đã lạc mất nay lại tìm thấy.
Sở dĩ như vậy vì có lẽ chính sách, đường lối và lập trường của Nhà nước đã thay đổi, nếu không muốn nói là chiếc bản lề đã quay hẳn một góc 180o.
Trước kia, nếu những người vượt biên bị coi là phản quốc, thì nay được coi là yêu nước, được cưng như cưng trứng, hứng như hứng hoa…
Và sở dĩ có bước ngoặt này vì có lẽ Nhà nước đã ý thức được rằng Việt kiều cũng là những người con của Mẹ Việt nam, cũng là những thành phần trong lòng dân tộc, khả dĩ  có thể đóng góp khả năng và chất xám, vật chất và tiền của để xây dựng và phát triển đất nước. Cụ thể là những đồng đô la do các Việt kiều gửi hay đem về giúp đỡ thân nhân.
Tuy nhiên, đồng đô la thì cũng có mặt phải và mặt trái. Việt kiều thì cũng có người tốt và kẻ xấu.
Có những đồng đô la hữu ích đem lại vui mừng và hy vọng, nhưng cũng có những đồng đô la bất hạnh gây đổ vỡ tan hoang. Có những Việt kiều trở về đã sưởi ấm tình yêu thương trong gia đình hay khu xóm, nhưng cũng có những Việt kiều trở về chỉ để hưởng thụ, lường gạt  hay toan tính những việc làm ăn mờ ám.
Muốn biết được những sự việc tốt lành và lôm côm này, xin mời bạn đọc đón xem những bài sau ắt sẽ rõ.
Gã Siêu

 

Chuyện Gã Siêu 105: TÌNH YÊU THỜI MỞ CỬA

TÌNH YÊU THỜI MỞ CỬA Chuyện Gã Siêu 105

Khi học về lịch sử Việt Nam, gã còn nhớ một trong những nguyên nhân khiến người Pháp đem Chuyện Gã Siêu 105

Khi học về lịch sử Việt Nam, gã còn nhớ một trong những nguyên nhân khiến người Pháp đem quân chiếm đóng và dày xéo quê hương này, đó là chính sách “bế môn tỏa cảng” của vua chúa triều Nguyễn.
Thời bấy giờ, người Pháp đang cần thị trường để tiêu thụ hàng hóa, mở rộng bờ cõi, phát huy quyền lực và ảnh hưởng của mình. Thế nhưng, luật “cấm vận” và nghỉ chơi của triều đình Huế đã làm cho người Pháp đánh rơi bổn tính ga lăng của dân Gô loa, để rồi nổi máu yêng hùng “Tạc dăng”, biểu lộ ý đồ xâm lăng đen tối của mình.
Và dân tộc Việt Nam khốn khổ đã bị tròng vào cổ cái ách một-trăm-năm-nô-lệ-giặc-Tây.
Thế nhưng, các cụ ta ngày xưa hình như rất khoái món bế môn tỏa cảng và cấm vận này, nên đã bê nguyên con mà ấp dụng trong lãnh vực tình yêu.
Thực vậy, hồi đó khi con trai và con gái mới lớn lên thì bị cấm tiệt, không được giao du quen biết nhau, theo khẩu hiệu từ ngàn xưa đã để lại :
- Nam nữ thọ thọ bất thân.
Khi đến tuổi đi lập gia đình, thì phải tuyệt đối vâng lời quí vị phụ huynh :
- Cha mẹ đặt đâu, con ngồi đó.
Và tiêu chuẩn quí vị phụ huynh thường đặt ra để cho con cái mình được ngồi vào, đó là môn đăng hộ đối : phải cân bằng về tuổi tác, về địa vị, về kinh tế…Vì vậy, nhiều lúc đã xảy ra những chuyện thật chéo cẳng ngỗng :
- Mẹ em tham thúng xôi rền,
  Tham con lợn béo, tham tiền Cảnh hưng.
  Em đã bảo mẹ rằng đừng,
  Mẹ hấm, mẹ hứ, mẹ bưng ngay vào.
  Bây giờ chồng thấp vợ cao,
  Như đôi đũa lệch so sao cho vừa.
Lắm khi hai ông bố ngồi chén thù chén tạc, rồi kết tình xui gia mí nhau, ngay cả lúc hai trẻ chưa mở mắt chào đời, vì thế mới xảy ra cái cảnh :
- Bồng bồng cõng chồng đi chơi,
  Đi đến chỗ lội đánhrơi mất chồng.
  Cho tôi mượn chiếc gàu sòng,
  Để tôi tát nước vớt chồng tôi lên.
- Lấy anh từ thuở mười ba,
  Đến năm mười tám, thiếp đà năm con,
  Ra đường thiếp hãy còn son,
  Về nhà thiếp đã năm con cùng chàng.
Luật bế môn tỏa cảng này còn được biểu lộ một cách rõ rệt nhất qua chủ trương :
- Trâu đồng nào ăn cỏ đồng ấy.
Hay :
- Ta về ta tắm ao ta,
  Dầu trong dầu đục, ai nhà vẫn hơn.
Hồi đó, hẳn chưa có lý lịch trích ngang để nắm vững đối tượng, nhưng nhờ chủ trương này, các cụ vẫn biết rõ kẻ mình định chọn.
Hơn nữa, sau khi gả bán, các cụ còn mua đứt đường về và tình nghĩa cho con cái :
- Có con mà gả chồng xa,
  Trước là mất nghĩa sau là mất con.
Hay là kiếm chác tí đỉnh lợi lộc để bù lỗ :
- Có con mà gả chồng gần,
  Có bát canh cần nó cũng đem cho.
Đến thời Pháp thuộc, hay Mỹ thuộc chăng nữa, lập trường này vẫn còn được tuân giữ nghiêm chỉnh. Những cuộc hôn nhân “dị chủng” hay “đa quốc gia” năm thì mười họa mới xảy ra và những kẻ trong cuộc đều bị thiên hạ coi khinh bằng nửa con mắt với tên gọi là “me tây” hay “me mẽo”, cho dù đôi lúc những cuộc hôn nhân này cũng đã thành công.
Thực vậy, có những anh chàng mẽo phong nhã cũng xơi tiết canh lòng lợn như điên, cũng nhậu thịt chó riềng mẻ và nhâm nhi ly rượu đế đến say khướt có bợ mà mồm thì vẫn cứ ngân nga :
-Sống trên đời ăn miếng dồi chó,
Xuống âm phủ biết có hay không ?
Cũng ăn cà ghém và khi ăn còn quết mắm tôm thật đậm, đến như gã, dân ghiền mắm tôm hạng nặng cũng đành phải chào thua.
Có những chàng hoàng tử mắt xanh mũi lõ tỏ ra hào hoa “mí” người tình bé bỏng an nam mít, đến độ nhớ nhung phát ốm tương tư :
- Dê cờ ri tình thơ uyn lét,
  Để cho nàng con nét mông cơ.
Nghĩa là :
- Viết lên một bức thư tình
  Để nàng biết rõ lòng mình đắm say.
Có một ông chồng tây chính hiếu con nai vàng, ngày kia dẫn bà vợ an nam mít đi sắm đồ. Thấy vợ kêu :
-Tré sô (tres chaud), nghĩa là quá nóng
Ông chồng dư máu ga lăng liền
vội vàng mua lấy mua để kẻo bà vợ mi nhon bị cái nắng nhiệt đới hành hạ. Thế những khi về đến nhà, ông chồng tây liền bị bà vợ việt xài xể cho một trận tơi bời hoa lá :
- Ối giời ơi, ngu chi ngu lạ, người ta bảo “ tré sô” thì phải hiểu là “trố se” (trop cher) nghĩa là quá đắt. Nói lóng đấy… bò ạ.
Và ông chồng tây chỉ còn nước trố mắt ngạc nhiên, tay giơ lên trời và miệng thì không ngừng kêu :
- Ố là là, ố là là.
Nếu lỡ bị nàng cho leo cây hay đá dăng cu lơ thì cũng đắng cay chua xót :
- Từ ngày lủy kít tê dơ
  Bon nơ cũng lắm, ma lơ cũng nhiều.
Nghĩa là :
Từ ngày mình bỏ rời nhau,
Mừng vui cũng lắm, khổ đau cũng nhiều.
Sau ngày giải phóng, đất nước mình được hoàn toàn độc lập tự do, nhưng tinh thần cấm vận, nghỉ chơi  vẫn được thi hành một cách triệt để, nhất là đối với dân tư bản.
Cũng dễ hiểu thôi, bởi vì ta phải đề cao cảnh giác, kẻo địch lợi dụng những sơ hở để chống phá cách mạng. Bởi đó, việc đầu tiên cần phải làm ngay là xin mời quí vị ngoại quốc về quê ngồi chơi xơi nước để ta ổn định việc nhà, vì có tề gia thì mới trị quốc và bình thiên hạ.
Tiếp đến là phải dè chừng những kẻ có liên hệ với nước ngoài. Gã còn nhớ hồi bấy giờ gã đang cắm dùi tại một vùng vừa sâu lại vừa xa, thư từ liên hệ với bạn bè thật là khó khăn.
Thư về đến xã thì bị mất tích, phiêu diêu miền cực lạc, hay được những bàn tay tò mò tọc mạch ưu ái mở ra xem trước. Buồn tình, gã mới nhờ địa chỉ của một người thân trên tỉnh, thế mà cũng được công an sờ gáy :
- Anh có một hòm thư  bí mật trên tỉnh. Anh liên hệ với ngoại quốc. Anh là người được Xịa cài lại hả ?
Hồi bấy giờ vượt biên bị coi là phản quốc, phản dân tộc và những gia đình có thân nhân ra nước ngoài lúc nào cũng nơm nớp lo sợ bị công  an  chiếu cố hỏi thăm, vì dù sao mình cũng mang lấy mặc cảm tội lỗi.
Trong thời gian này, đốt đuốc đi giữa ban ngày cũng chả tìm thấy một cuộc tình đa quốc gia.
Nhưng rồi con tạo xoay vần. Nhà nước đã chơi một cú ngoạn mục, đá “vô lê” quay phắt 180 độ với chủ trương mở cửa, đổi mới. Việt kiều trở về được coi là yêu nước, được cưng như cưng trứng, hứng như hứng hoa.
Họ rót đô la cho thân nhân xây nhà xây cửa, góp vốn mần ăn. Người nước ngoài ào ào tới Việt Nam như tới miền đất hứa. Nào công ty này. Nào xí nghiệp nọ. Đất cát ven đô rơi vào một cơn xốt cấp tính. Bác nông dân ngày nào còn nghèo rớt mùng tơi, nay chỉ cần bán đi vài công ruộng là khẻo re, đủ phương tiện làm le “mí” thiên hạ.
Trong bối cảnh đó, tình yêu thời mở cửa mang lấy tính cách toàn cầu hóa. Nhưng cuộc tình đa quốc gia hay xuyên lục địa, những cuộc hôn nhân dị chủng nở rộ như lúa hè thu nảy mầm sau trận mưa dầm dề.
Thế nhưng, ăn theo vào đó, biết bao nhiêu chuyện hỉ nộ ái ố đã phát sinh. Gã xin ghi nhanh qua mấy tờ báo thường đọc như Tuổi trẻ Chủ nhật, Công an thành phố… rồi “cọp dê” để chiềng làng, báo cáo với bàn dân thiên hạ, hầu mua vui lấy “một vài chống canh”. Thảng hoặc có dư chút thời giờ chả biết làm gì, thì thử vắt tay lên trán, ngẫm nghĩ sự đời mà cười cho hai chữ nhân tình éo le.
Trước hết là cảnh tỉnh ‘’hờ’’ theo sự tính toán cho cả hai cùng có lợi, nhưng rốt cuộc bị bể mánh, chẳng ‘’nước mẹ’’ gì cả.
Số là vì nuôi mộng ước không bình thường được ra ngoại quốc và trở về làm việt kiều, một cô nường ở Sài gòn đã ưng thuận kết hôn giả với một cống dân Pháp chính gốc con gà trống ‘’Gô-loa’’ vừa chẵn băm lăm tuổi.
Theo sự thỏa thuận, hai người là vợ chồng trên giấy tờ pháp lý, nhưng không được sống chung ‘’mí’’ nhau. Khi đã định cư ở nước ngoài rồi, thì lập tức ly dị liền tù tì. Nếu mọi sự êm xuôi tốt đẹp, anh chồng hờ được hưởng ba ngàn đô, còn chị vợ hờ thì được phe phẩy ở nước ngoài.
Cuộc tình hờ này được trình tòa và được chính quyền thành phố ký nhận. Cứ tưởng mọi sự đã thuận chèo mát mái, ai dè vào phút chót anh chàng ‘’phú lãng sa’’ này lại nhảy rào, xé hợp đồng, đòi làm chồng thiệc, chứ không chịu đóng vai chồng hờ, khiến cho cô nường tóa hỏa tam tinh, chạy vội đến ba tòa quan lớn để xin can thiệp một phen, vì thà chịu vỡ mộng còn hơn là tàn một kiếp …hoa.
Dù sao chuyện tình hờ kể trên, thực chất chỉ là một loại tình dổm, dựa trên sự tình toán cân đo đong điếm.
Bây giờ, gã xin đi vào những cuộc tình nặng đô hơn và cũng day dứt hơn.
Dân Việt Nam ta vốn bản chất dễ hòa đồng và đón nhận cái mới. Chả thế mà ngày xưa Phật giáo, Nho giáo và Lão giáo đã sống chung hòa bình với nhau một cách rất đề huề trong xã hội.
Dưới thời Pháp thuộc, chúng ta đã xơi ngay phần tình túy của nền văn minh phương tây và đã mượn đỡ mẫu tự La tinh mà chế biến thành chữ quốc ngữ.
Vì  thế, chuyện những cô gái thích lấy chồng ngoại âu cũng chỉ là một chuyện hết sức bình thường. Ấy là gã chưa nói tới xu hướng toàn cầu hóa đang xâm lấn vào mọi lãnh vực, kể cả lãnh vực tình yêu.
Bởi vì như chúng ta thường bảo :
- Biên giới của yêu thương là thương yêu không biên giới.
Một khi đã ‘’chịu đèn’’ và ‘’phê’’ mí nhau rồi , người ta sẵn sàng vượt qua mọi ngăn cách về màu da, về ngôn ngữ, về thổ địa… để được sống cùng nhau. Ngày xưa cũng như hôm nay, vẫn có những cặp vợ chồng hai quốc tịch rất hạnh phúc và chuyện tình của họ đẹp như một huyền thoại.
Có một cô hàng bán nước giải khát ở bến Bạch Đằng. Cuộc đời  đang phẳng lặng, thì bỗng một anh chàng si tình xuất hiện. Ngày nào anh chàng mắt xanh da trắng này cũng đến nhấm nháp một con mực khô, uống hai long bia và ‘’bám trụ’’ tại quán suốt hai tiếng đồng hồ để được ngắm nghía cô hàng nước xinh đẹp một cách đăm đăm.
Và thế là tình yêu bắt đầu từ đôi mắt, liên tục phát triển theo số tiền bo hậu hĩnh và số quà cáp mỗi ngày một tăng. Rồi sự gì phải đến đã đến. Anh chàng gà trống Gõ loa đã tỏ tình thẳng đét ‘’mí’’ chị gà mái an nam mít:
- Tôi yêu em, tôi muốn cưới em làm vợ. Em trả lời tôi đi.
Riêng  cô nàng đã bật mí cho biết :
- Yếu tố hớp hồn và hấp dẫn của con gái Việt Nam là nét thùy mị, dịu dàng, kín đáo và đặc biệt là sự bẽn lẽn, e thẹn. Rồi tà áo dài chiếc nón lá… đều là những cái thật dễ thương và đáng yêu.
Tuy nhiên, hiện tượng lấy chồng ngoại không thể không xảy ra những bất trắc, những bi kịch hụt hẫng bởi những mưu tính vụï lợi nhỏ nhen của cả đôi bên, đặc biệt lo ngại là những cô gái lấy chồng Đài Loan.
Bất chấp những trớ trêu từ các cuộc hôn nhân, mai mối chẳng khác chi mua bán nô lệ, đổi chác hàng hóa. Đó là chưa ai để ý đến số phận của những cô gái phải theo chồng về xứ lạ đang hối hả nộp đơn xin ly dị, tìm đường về nước, còn nóng vội hơn cả hôm xuất ngoại theo chồng. Những trục trặc đắng cay xảy ra đều do bởi những cái không biết sau đây.
Cái không biết thứ nhất là về bản thân của đối tượng.
Các cụ ta ngày xưa đã dạy :
- Lấy vợ xem tông,
  Lấy chồng xem giống.
Nhiều khi phải thẩm tra ngược dòng thời gian tới ba bốn đời xem có chi bất ổn. Đằng này người ta sờ mó và chọn mình, chứ mình đâu được quyền chọn người ta.
Phận gái lấy chồng ngoại giống như giọt mưa sa. May thì rơi vào chỗ nước trong. Chẳng may thì rơi vào vũng bùn hay đống phân trâu thì cũng đành phải chịu vậy.
Có chàng sang Việt Nam với mác kỹ sư, nhưng thực chất chỉ là tay thợ hồ hay bốc vác, không hơn dân cu li cu leo là mấy. Có chàng vì tai nạn bị phỏng nặng, toàn thân đầy sẹo to sẹo nhỏ nhưng được che phủ bằng những bộ quần áo đắt giá, nhưng khi về đến nhà thì… hỡi ôi.
Cô nàng kia vớ được anh chồng tướng tá cao ráo, đi đứng lúc nào cũng từ tốn chập chạp. Đến tân hôn, từ phòng tắm bước ra, cô nàng suýt hét lên bởi vì trước mặt cô là một anh chàng chỉ có ‘’một khúc mà thôi’’.hai chân giả quá khéo được lấy ra, kể ngay đầu giường. Thế là kể từ đó, anh chàng ‘’thiếu chân đứng’’ này luôn hành hạ cô nàng, bắt cô nàng phải cõng đi ăn, phải bế đi tắm… chỉ khi ra đường mới chịu gắn chân giả.
Cái không biết thứ hai là về mục đích.
Các cụ ta ngày xưa đã bảo :
- Lấy chồng gánh vác giang sơn nhà chồng.
Thế nhưng, khi lấy chồng ngoại, người con gái lại mù tịt về chồng cũng như về nhà chồng, thì làm sao mà gánh vác ? Hơn nữa, phần lớn những cuộc hôn nhân này lại diễn ra theo nhịp điệu của mua bán. Người con gái không biết mình được mua để làm gì ?
Có những kẻ cưới vợ là để vợ làm những việc đồng áng nặng nhọc như những người làm thuê. Có những kẻ cưới vợ là để vợ chu toàn những công việc bếp núc trong nhà như một người đầy tớ. Có những kẻ cưới vợ là để thỏa mãn những đòi hỏi thân xác.
Báo Công an kể lại :
Một cô gái trẻ Việt nam lấy một ông chồng già Đài loan bằng tuổi ông ngoại. Ai ngờ khi về nước, lão viên ngoại đốn mạt này bắt cô phải phục vụ “chuyện ấy” cho em trai, rồi con trai, rồi cháu trai của lão cho đáng đồng tiền bát gạo lão đã bỏ ra để mua cô về.
Bất hạnh hơn nữa phải kể đến những cô gái lâm vào thế đường cùng nơi đất khách, bị lọt vào những tổ chức mại dâm quốc tế. Những tổ chức này tại Việt nam có thể được mang những vỏ bọc bên ngoài đẹp đẽ, như môi giới hôn nhân, lao động ở nước ngoài… những thí sinh được tuyển chọn, khi đi hăm hở bao nhiêu, thì khi về cũng vội vã bấy nhiêu.
- Khi đi thì dệt mộng vàng,
  Đến khi về nước thì ngậm bồ hòn đắng cay.
Cái không biết thứ ba là về ngôn ngữ.
Ngôn ngữ và tiếng nói là phương tiện Thượng đế trao ban để chúng ta chuyền đạt những tư tưởng, những ý nghĩ cho người khác hầu xích lại gần nhau và bắc được một nhịp cầu cảm thông.
Thế nhưng, vì bất đồng ngôn ngữ, không hiểu nhau, không cảm thông cùng nhau, thì cũng khó mà hạnh phúc với nhau.
Để chứng thực điều trên, gã xin kể lại một câu chuyện cho tất cả cùng… cười.
Thấy thiên hạ có con gái lấy chồng Đài loan, chẳng khác nào đào trúng mở vàng. Nhà cửa vinh vang. Xe cộ đổi đời liên tục. Ông hai Nhơn nôn nóng. Ngó đi ngó lại chỉ còn mỗi cô gái út tên là Mén. Kể ra Út Mén cũng hiền lành lại đẹp gái, vì thế ông kiên quyết phải cho con gái mình lấy chồng ngoại, chứ không cho lấy chồng nội.
Chẳng bao lâu mơ ước của ông đã thành sự thật. Một chàng rể Đài loan to con tốt tướng, tóc húi cao và tuổi sấp xỉ bằng ông xuất hiện. Lối xóm xì xào bàn tán. Ông bỏ ngoài tai, ông rất hài lòng và hãnh diện vì Út Mén đã có chồng ngoại. Hôm bà mối dẫn anh chàng Đài loan về ra mắt ông Hai Nhơn và coi mặt Út Mén, thiên hạ cứ tưởng rằng bạn ông ghé thăm.
Đến khi gia đình làm tiệc chiêu đãi, muốn biết khẩu vị của anh chàng rể tương lai thì được bà mối giải thích :
- Hễ anh chàng Đài loan kêu “ột ột” là thích ăn thịt heo, kêu “hùm bò” là thích ăn thịt bò, kêu “cạp cạp” là thích ăn thịt vịt, kêu “ò ó o” là thích ăn thịt gà. Khi ăn no thì ôm bụng xua tay. Và thế là cả nhà đều vui vẻ.
Một tháng sau, anh chàng rể Đài loan đột xuất về thăm bố vợ và cô vợ sắp cưới. Có lẽ vì đột xuất nên chỉ đi với bác tài xế mà không có bà mối kèm theo.
Bác tài xế thì tiếng anh mới chỉ lõm lõm, thích nói bằng tay hơn bằng mồm, còn tiếng tàu thì hoàn toàn mù tịt. Vì thế khi vô nhà, mọi người đều chào nhau, nhìn nhau, cười nhau và chẳng nói với nhau được sự gì.
Sau khi nhận quà cáp, ông Hai Nhơn bảo vợ và con gái làm tiệc đãi anh chàng rể quí. Những do không biết món gì hợp khẩu với anh chàng rể, ông bèn nhớ đến mấy ngôn ngữ bà mối đã méc lần trước. Ông bèn đưa tay khều anh chàng rể một cái và nói :
- Cạp cạp cạp.
Anh chàng rể gật đầu. Ông khều cái thứ hai và nói :
- Ò ó o.
Anh chàng rể cũng gật đầu. Ông tiếp tục khều cái thứ ba và nói :
- Ột ột ột
Anh chàng rể cười cười, rồi gật đầu. Thế là ông Hai Nhơn cùng Út Mén làm thịt một cặp vịt, một con gà và một con lợn bốn chục ký.
Trong khi ăn, anh chàng rể quẳng một mẩu xương gà xuống đất. Hai con chó chạy lại giành :
- Gừ gừ… Gâu gâu.
Có lẽ vì lạ tai vui mắt, chàng rể bèn buông đũa, bỏ bát, tay chỉ hai con chó, miệng mỉm cười và :
- Gừ gừ… Gâu gâu.
Ông Hai Nhơn tưởng anh chàng rể đòi ăn thịt chó, nên lập tức truyền cho con gái đun nước sôi và đích thân ông ra tay hạ thủ hai chú chó vô tội.
Nấu thịt cầy xong và dọn lên. Anh chàng rể và bác tài xế ngơ ngác. Vợ chồng ông Hai Nhơn cũng ngơ ngác. Cô Út Mén lại càng ngơ ngác hơn.
Vì ham chồng ngoại, rể ngoại, không ít người đã liều nhắm mắt đưa chân, phớt tỉnh ăng lê những chuyện không biết kể trên, để rồi đã phải lãnh đủ những hậu quả dở cười dở khóc.
Mà chắc chắn, khóc phải nhiều hơn cười rồi.
Gã Siêu

 

Chuyện Gã Siêu 106: THAM NHŨNG VÀ HỐI LỘ

THAM NHŨNG VÀ HỐI LỘ Chuyện Gã Siêu 106

Trong những năm tháng gần đây, việc gian lận, xơi tiền của dân của nước mỗi ngày một phát triển Chuyện Gã Siêu 106

Trong những năm tháng gần đây, việc gian lận, xơi tiền của dân của nước mỗi ngày một phát triển, cả về số lượng lẫn về phẩm chất. Mặc dù không nhớ rõ lắm, nhưng gã cũng xin “kê đơn hoàn tán” những vụ điển hình.
Ngày xưa, Nguyễn văn Mười Hai, chủ tiệm nước hoa Thanh Hương, đã dùng thủ đoạn vay vay mượn mượn để ẵm của những người dân tội nghiệp hơn 104 tỷ đống.
Theo vết xe đổ, Phạm công Tước cũng đã dùng mánh mung trên để nuốt trửng 130 tỷ đồng của ngân hàng Nhà nước.
Người đẹp Trần xuân Hoa, với độc chiêu ấy cộng thêm tí nhan sắc trời ban cho, đã xơi tái 250 tỷ đồng của ngân hàng.
Noi gương các vị tiền bối, Phạm huy Phước cũng đã vay vay mượn mượn và rồi đã ăn trọn hơn 300 tỷ đồng.
Có một thời, phong trào giật hụi, bể nợ như một trận cuồng phong thổi vào đất nước, ở mọi nơi và trong mọi lúc, người ta dở khóc dở cười, dở mếu dở máo vì đồng tiền chắt chiu bằng mồ hôi nước mắt của mình bỗng dưng bị bốc hơi, còn thủ phạm thì cao chạy xa bay, hay ngồi tù ít ngày để tồn tâm dưỡng tánh vì không còn khả năng chi trả.
Và gần đây hơn, hai vụ nổi cộm đã làm cho người dân phải xót xa, đó là vụ Tân trường sanh và Tăng minh Phụng.
Với vụ Tân trường sanh thì số hàng nhập lậu lên tới hơn 900 tỷ đồng. Riêng số tiền chè nước lo lót khoảng 9 tỉ rưỡi. Còn vụ Tăng minh Phụng, thì Nhà nước mất toi 4.000 tỷ đồng, bằng số tiền của toàn dân thắt lưng buộc bụng mua công trái trong hai tháng đầu tiên được phát động của năm 1999.
Từ những sự kiện trên, gã bỗng nhớ tới câu chuyện cổ tích “ăn khế trả vàng”.
Ngày xửa ngày xưa, tại một làng nọ có một nhà kia, ông bố chết đi để lại hai người con trai với một gia tài kếch xù. Ông anh, ỉ mình là trưởng nam quyền huynh thế phụ, đã nuốt vội nuốt vàng toàn bộ sản nghiệp to lớn ấy, chỉ để lại cho chú em một túp lều tranh xiêu vẹo và một cây khế.
Hằng ngày, chú em hái khế đem ra chợ bán lấy tí tiền còm đong gạo và mua sắm những thứ cần thiết cho sinh hoạt gia đình bởi vì đó là nguồn thu nhập duy nhất.
Cũng như mọi ngày, sáng sớm hôm đó chú em ra hái khế, thì một con quạ to ơi là to đã xơi hết những trái chín. Thấy vậy, chú em bèn than thở cả tiếng :
- Quạ ơi quạ, quạ biết tôi nghèo túng mà còn nỡ lòng nào xơi hết những trái khế chín của tôi.
Quạ trả lời :
- Anh đừng lo, ta sẽ đền ơn đáp nghĩa cho anh. Anh hãy về may một cái túi rồi sáng mai chờ ta tại đây.
Nghe quạ nói, chú em về nhà may một cái túi, rồi sáng hôm sau ra gốc cây khế chờ quạ. Chờ chưa được bao lâu thì quạ đến và công chú em tới một hải đảo xa xôi, nhưng lại đầy vàng.
Khi chú em lượm chặt  túi, quạ liền công chú về. Với túi vàng này, chú em làm lại nhà cửa và trở nên một người giàu có trong làng.
Sững sờ trước sự phất lên mau chóng của chú em, ông anh bèn gạ gẫm hỏi cho biết bí quyết mánh mung. Chú em đơn sơ thật thà kể lại đầu đuôi sự việc là như thế cho ông ta.
Sáng hôm sau, ông ta ra hái khế, thấy quạ đã xơi hết trái chín, liền than thở đúng bài bổn và được quạ căn dặn về nhà may túi.
Khấp khởi mừng thầm vì phen này ắt hẳn vớ to. Ông ta quát tháo bà vợ may cho mình một chiếc bao thật lớn, loại bao hai dạ “được mùa” của các bác nông dân vùng đồng bằng sông Cửu long.
Sáng hôm sau, ông ta cũng ra chờ ở gốc khế và được qua công ra đảo vàng. Ông ta lèn cho đầy một bao, rồi lại còn nhét vào trong túi quần, túi áo và ngậm cả ở trong miệng.
Quạ công ông ta về, nhưng  vì không kham nổi trọng lượng của bao vàng, nên cuối cùng đã phải thả ông ta xuống biển khiến ông ta bị chết trôi chết nổi giữa sóng nước.
Từ câu chuyện trên gã nghiệm ra một sự thật :
- Phàm đã là người thì dường như không nhiều thì ít, ai cũng có tí máu tham trong mình. Đã cầm cuốc thì ai cũng cuốc vào chứ nào ai có cuốc ra bao giờ. Hễ có dịp, thì dường như ai cũng chịu khó vơ vét cho đầy túi tham. Chỉ phiền một nỗi là đối với lắm kẻ thì túi tham ấy lại thủng đáy, cho nên vơ vét vào mà chẳng bao giờ đầy.
Sự việc xảy ra ở bên Đức :
Khi trận đấu bóng kết thúc, mọi người ra khỏi sân vận động, không hiểu tiền ở đâu mà rơi vãi lắm thế trên hè phố. Thế là tất cả, từ những người đạo mạo và mô phạm cho đến những tay cà chớn, ai nấy đều mắt trước mắt sau, lấm lét cúi giả bộ như sửa giây giày, nhưng thực chất là xuống lượm và lượm cho bằng hết những đồng tiền rơi vãi.
Tuy nhiên, khi về tới nhà, dưới ánh đèn sáng choang thì mới bật ngửa, té ra đó chỉ là những đồng tiền giả của một kẻ chơi khăm, muốn trắc nghiệm xem có quí vị nào không tham.
Nếu gian tham là một chứng bệnh, thì nơi những người có quyền có chức, chứng bệnh này thường được bộc phát qua hai dạng đặc biệt, đó là tham nhũng và hối lộ.
Đúng thế, phải có quyền có chức, phải là các quan thì mới có điều kiện và cơ may để đớp tiền chùa của nhà nước cũng như xơi tiền mồ hôi nước mắt của dân, như cha ông chúng ta ngày xưa đã từng lên tiếng báo động :
- Con ơi, nhớ lấy câu này,
  Cướp đêm là giặc, cướp ngày là…quan.
Người ta thường dùng lẫn lộn tham nhũng và hối lộ, nhưng theo thiển ý của gã, mặc dầu có chung một mẫu số là xơi tiền của dân của nước, nhưng mỗi bên đều có những lãnh vực riêng biệt.
Vậy thế nào là tham nhũng và thế nào là hối lộ ?
Trước hết, chúng ta sẽ cùng nhau bàn về tham nhũng.
Impact, một tạp chí chuyên ngành về tài chính có uy tín đã đưa ra một định nghĩa khá mỹ miều như sau :
- Tham nhũng là sự coi thường tính minh bạch và liêm khiết trong các vấn đề có liên quan đến lợi ích công cộng.
Định nghĩa này xem ra có vẻ hoa hòe hoa sói, nhiêu khê và rắc rối.
Còn theo “Việt nam tự điển” của Lê văn Đức thì :
- Tham nhũng xuất phát bởi bốn chữ “tham lam nhũng lạm”. Bốn chữ này có nghĩa là ăn bớt của chung.
Còn nếu nói huỵch toẹt như gã, thì  :
- Tham nhũng chính là ăn cắp của công.
Nghệ thuật ăn bớt, ăn xén, ăn cắp…của các quan thì thiên biến vạn hóa đến quỉ thần cũng không lường nổi.
Chẳng hạn như Nhà nước trao cho quan xây dựng một công trình. Quan liền ký hợp đồng với một công ty nào đó, thỏa thuận nâng giá thành lên để rồi chia nhau phần sai biệt. Làm như vậy, cả hai đều có lời, nhưng lại là một thứ cấu kết liên doanh với ma quỉ.
Rồi khi mua sắm vật tư, quan có thể làm hóa đơn khống, nghĩa là không mua mà vẫn có hóa đơn, hay mua một nhưng ghi thành hai, hay mua rẻ nhưng ghi thành mắc…Vì thế, quan càng làm, càng có tiếng với dân, lại càng có nhiều miếng để mà đớp.
Quan đánh hơi thấy chỗ nào có mùi tiền là liền vươn vòi bạch tuộc tới đó, hay chịu khó nhúng cả bàn tay lông lá vào ngay. Thậm chí có những quan vui vẻ xơi ở cả những chỗ không đáng xơi.
Chẳng hạn đồng tiền của những cơ quan viện trợ giúp cho những người phong cùi hay mồ côi, chạy vòng vo tam quốc, thế nào cũng rò rỉ vào túi các quan một mớ, quan lớn xơi nhiều, quan bé xơi ít, để rồi khi tới tay trại phong cùi hay viện cô nhi thì chẳng còn bao nhiêu. Chỉ là như mấy giọt nước tong teo được nhỏ xuống mà thôi.
Gã còn nhớ, năm 1978  vùng gã ở bị lụt lớn. Nhà nước kêu gọi toàn dân nhường cơm sẻ áo, lá lành đùm lá rách. Thậm chí ngay cả những thày cô giáo vùng gã, vốn mang danh là những người “húp cháo”, lại đang gặp thiên tai cũng phải hưởng ứng lời kêu gọi cứu trợ. Mà không hưởng ứng cũng không được vì thiên hạ trừ tật vào tiền lương của mình. Thôi thì lá rách ít đùm lá rách nhiều, lá rách vừa vừa đùm lá rách te tua, cứu trợ bất dắc dĩ cũng chẳng sao, đổi khóc thành cười mà miệng thì cứ méo xệch.
Theo số liệu trên báo chí thì khoản tiền cứu trợ này thật đáng khích lệ, nhưng cuối cùng trong cả ấp của gã thì chỉ có mấy gia đình thuộc hạng “khố rách áo ôm”, nghèo rớt mùng tơi là được chiếu cố, đi lãnh mấy ký gạo hẩm và một lít nước mắm thối của cái được gọi là cứu trợ đồng bào bị  thiên tai. Quả là đầu voi đuôi chuột.
Những vị quan có máu tham nhũng được sánh ví như là những con chuột nhắt đục khoét bồ lúa, hay như một loại mối mọt ăn rỗng cây cột và làm cho cây cột bị gẫy đổ lúc nào không hay. Quĩ của Nhà nước mỗi ngày một tóp lại và trở nên rỗng tuếch, còn quĩ  của các quan mỗi ngày một phình ra, nào nhà lầu, nào xe hơi và trăm thứ lỉnh kỉnh khác nữa.
Hồi gã còn bé ở ngoài Bắc không có nhiều kẹo như bây giờ. Cả nhà có mỗi một khạp mật được bố cất kỹ để dùng mỗi khi cần đến chất ngọt. Thế là những lúc bố đi vắng, gã bèn chui vô ăn vụng bằng cách chấm ngón tay vào khạp mật, ngoáy một vòng rồi đưa lên miệng mút lấy mút để, mút hết cả ghét khiến ngón tay cứ…trắng tươi.
Với các quan cũng vậy, hành động tham nhũng chính là hành động chấm mút. Các quan chấm ngón tay vào công quĩ rồi  vô tư, mặc sức mà…mút cho thoải mái.
Bây giờ gã xin bàn tới phạm trù thứ hai, đó là ăn hối lộ.
Ngày xưa có những bọn cướp thường chặn và bắt dân chúng phải đóng một khoản tiền được gọi là “mãi lộ”, để “mua đường đi”, thì mới được qua lại trên đoạn đường ấy. Chẳng hiểu có phải vì vậy mà phát sinh ra hai chữ hối lộ, tức là đút lót tiền cho các quan để nhờ cậy một công việc, để được che chở hay được một ơn huệ nào đó.
Nói cách khác, hối lộ là việc người dân dùng tiền bạc hay quà cáp… có khi vui lòng, có khi bị ép buộc mà dâng cho các quan một cách kín đáo trong một dịch vụ nào đó.
Thuở ban đầu, khi nhân chi sơ tính bản thiện, thì hành vi biếu xén rất có thể chỉ là một hành vi đền ơn đáp nghĩa.
Chẳng hạn gia đình bị mất trộm, tôi đến công an trình báo và công an không những đã tìm ra thủ phạm mà còn bắt thủ phạm phải hoàn trả những món đồ đã chôm được của gia đình tôi. Khi nhận lại những của đã mất, tôi thầm nghĩ  mình cũng phải biết điều, ít  nữa là đối với những anh em công an. Mặc dầu họ không đòi, nhưng mình vẫn phải làm, như có một sự thúc ép từ bên trong :
- Đã nhận ơn thì phải biết ơn và đền ơn.
Thế nhưng chuyện đời không đơn sơ và phẳng phiu như thế. Kinh nghiệm cho thấy : đồng tiền đi trước, đồng tiền khôn. Đằng nào cũng đút thì nên đút trước, bởi lẽ sẽ làm cho quan vui vẻ hơn. Và một khi quan đã vui vẻ thì công việc của mình hẳn sẽ đầu xuôi đuôi lọt, đỡ phải những mắc míu khó khăn, như một nhà thơ đã phát biểu :
- Có tiền việc ấy mà xong nhỉ.
Trong báo”Tuổi trẻ chủ nhật” có ghi lại một mẩu chuyện hài hước của Zadorop. Mẩu chuyện ấy đại khái như thế này.
Vừa qua, người ta đưa tôi vào bệnh viện để mổ ruột thừa gấp. Thế nhưng bác sĩ nói :
- Hôm nay chúng tôi phải giải phẫu cho mấy người nước ngoài.
- Xin bác sĩ  cứ tính gấp đôi.
Bác sĩ vui vẻ nói :
-Đây lại là chuyện khác, đáng lẽ anh nên nói ngay từ lúc đầu.
Thế là bác sĩ  mổ cho tôi ngay lập tức, không kịp tiêm thuốc tê vì cô y tá gây tê xin nghỉ bù sáng nay.
Khi ruột thừa đã cắt xong thì đúng mười hai giờ. Bác sĩ buông dụng cụ, lột bao tay và nói :
- Hết giờ làm việc.
- Thế ông không khâu lại cho tôi sao ?
- Tự nó sẽ lành thôi.
Tôi lại thử một lần nữa :
- Chỗ quen biết, ông cứ tính cả tiền xăng dầu, lẫn tiền cà phê luôn nhé.
- Thế thì được, theo nguyên tắc chúng tôi không khâu cho ai ngoài giờ cả. Nhưng chỗ quen biết với nhau, tôi linh động cho anh đấy.
Cuối cùng, bác sĩ đã khâu bụng lại cho tôi. Nhưng chẳng có ai đưa tôi về phòng. Tôi cố gọi mấy cô y tá, nhưng ai cũng đi qua vội vã. Mãi nửa đêm tôi mới nhờ được một người tàn tật cho bám vào xe lăn.
Chính vì thế, dân cảm thấy đó là như một bổn phận vì muốn được việc thì cần phải biết điều, cần phải hối lộ. Còn các quan, được đút mãi, được xơi hoài thành tật theo kiểu “quen mui thấy mùi ăn mãi”, và nghiễm nhiên coi đó là một thái độ phải có, một bổn phận phải làm của dân.
Đây quả là cái vòng luẩn quẩn của một mê hồn trận, của một thế cài răng lược, tựa lưng vào nhau mà sống : Có đớp thì mới đút và có đút thì mới đớp.
Thậm chí trong vụ Tân trường sanh, bị cáo Phùng long Thất, một cán bộ Hải quan cao cấp đã phải thốt lên ai oán :
- Thân mình không thể không nhận “bồi dưỡng”, vì ngày nào cũng bị khách hàng o bế cung phụng.
Và như thế, tệ trạng hối lộ đã trở thành chuyện đời thường, như một tục lệ đương nhiên. Mà đã là lệ thì khó mà xóa bỏ, bởi vì phép vua còn thua cả lệ làng.
Tệ trạng hối lộ vẫn đang liên tục phát triển, trăm hoa đua nở với những danh xưng thật mỹ miều, nào là tiền bồi dưỡng, tiền chè nước, nào là phong bì, quà cáp…Tệ trạng này có mặt trong mọi lãnh vực, gã xin ghi lại nơi đây một số ý kiến của bạn đọc về vấn đề này đã được đăng tải trên báo Công giáo và Dân tộc.
“Khi xin giấy tờ về nhà đất, về kinh doanh hay mua bán xe…tất cả đếu phải “trà nước” nếu muốn nhanh việc. Cho dù đây không phải là luật, nhưng đã là lệ. Nếu phải chạy đi chạy lại nhiều lần cho một công việc nào đó, gia đình sẽ bảo tôi là khờ, là không bén “nhạy”.
“Bây giờ muốn làm gì thì khó mà đi tay không. Việc tặng quà đã  trở thành cái nếp, gần như là một cố tật của xã hội. Người ta cho rằng những món quà chỉ mang ý nghĩa “tình cảm”. Thật ra chẳng tình cảm chút nào cả, chỉ có người tặng quà và người nhận quà mới biết rõ nó mang ý nghĩa gì. Theo tôi, hối lộ có nhiều mức độ khác nhau, nhưng mức độ khởi đầu của nó là quà biếu.
“Tôi xin làm bản sao khai sinh cho con để nộp đơn đi học. Nhân viên hộ tịch bảo phải một tuần sau. Tôi đành đưa một phong bì bồi dưỡng. Thế là mọi chuyện ổn thỏa nhanh chóng.
“Mấy lần trước về tới Tân sơn nhất, nhiều Việt kiều nhét 5 USD  vào giấy thông hành. Lần này về thăm gia đình, lại chẳng tốn đồng nào. Tôi nghĩ  đã có sự thay đổi trong đội ngũ hải quan. Nhưng gia đình tôi lại nói chắc là họ quên.
“Ba tôi mất ở bệnh viện bị đưa xuống nhà xác. Gia đình phải chi tiền bồi dưỡng cho nhân viên quản lý, xác ba tôi mới được nhanh chóng về nhà. Mẹ tôi cũng nằm viện, do rút kinh nghiệm, nên khi mẹ hấp hối, gia đình xin đưa mẹ về trước. Nhưng cũng phải bồi dưỡng cho các bác sĩ, y tá…
“Có người đã gọi ngày nhà giáo là “ngày cho đồ thày cô”. Tôi buồn quá. Một ngày kỷ niệm bị biến thành ngày nặng về vật chất, bôi nhọ luôn những món quà đầy ắp tình cảm.
Lời phát biểu trên chưa đau cho bằng lời phát biểu của một vị phụ huynh mà gã đã được nghe thấy :
- Chúng tôi đã đóng tiền cho các thày các cô nhậu rồi còn đòi hỏi gì nữa!!!
Từ những cảm nghĩ trên, có người đã cho rằng : tiền hối lộ chính là một “chất mỡ” bôi trơn bánh xe vận hành thương mại và đầu tư ở các nước đang phát triển.
Họ nêu ra trường hợp một địa phương miền nam Trung quốc, nhà đầu tư phải lo lót tiền cho chính quyền xã để mở một con đường giao thông huyết mạch đi ngang qua xã này mà không có trong qui hoạch. Mấy năm sau, con đường ấy phát huy tác dụng, nhà đầu tư lẫn địa phương đó đều giàu lên.
Tuy nhiên, một vài trường hợp như trên không đủ để thuyết phục bất cứ ai thấm thía với tệ nạn tham nhũng hối lộ bởi vì nó chính là yếu tố quan trọng  hơn cả làm suy thoái kinh tế và mất ổn định xã hội.
Luật sư  Nguyễn văn Phương cũng viết :
“Một nguyên nhân nổi bật và gây nhức nhối là vấn đề “tiền bồi dưỡng”. Với “tiền bồi dưỡng”, người ta đã có thể mua được cả một ngành mà nhiệm vụ là gác cổng không để hàng lậu lọt vào phá hoại kinh tế quốc gia. Nhưng đâu chỉ có ngành Hải quan nhận tiền bồi dưỡng, mà vấn đề tiền bồi dưỡng có mặt ở khắp nơi, trong mọi hoạt động, trong mọi ngành nghề. Thiếu nó thì công việc không chạy, hoặc chạy không trơn tru, nên thật khéo khi người ta gọi nó là “tiền bôi trơn”. Vấn đề này xảy ra thường xuyên quá đến nỗi người ta coi nó là chuyện đương nhiên và không hề có mặc cảm tội lỗi khi thực hiện nó.
Theo con số thống kê quốc tế, trong thời gian từ 1988-1992, kim ngạch xuất khẩu bình quân hằng năm của mười tập đoàn xuất khẩu vũ khí đạn dược lớn trên thế giới là 30 tỷ mỹ kim, trong đó có khoảng 4 tỷ mỹ kim được dùng vào việc hối lộ trực tiếp hoặc gián tiếp các chính khách và các quan chức cao cấp.
Nếu gã không lầm thì hình như chính phủ của thủ tướng Tanaka bên nước Nhật cũng đã bị gục ngã vì số tiền hối lộ của một công ti chế tạo máy bay tại nước Mỹ!
Tuy nhiên đút được và được đút cũng như đớp được và được được đớp quả là một nghệ thuật. Ở đây gã chỉ bàn thêm chút xíu về hai thứ nghệ thuật này.
Hồi trước ngày Giải phóng, tất cả các xe đò muốn qua trạm kiểm soát một cách mau chóng thì anh lơ phải mau mắn nhảy xuống xe đút một tờ báo cho viên cảnh sát. Dĩ nhiên là trong tờ báo ấy có kẹp thêm “Đức thánh Trần”, tức là tiền năm trăm thời đó.
Bây giờ, các Việt kiều muốn thủ tục nhập cảnh được êm xuôi, thì khi tới sân bay, cứ việc kẹp sẵn vài đồng đô la trong hộ chiếu là qua cửa ải cái vù. Đó cũng là một cách đút.
Nếu đút cửa trước xem chừng có vẻ…căng, thì hãy chịu khó luồn cửa hậu, cửa sau, nghĩa là hãy chịu khó liên hệ với quan bà, vì một lời của quan bà đối với quan ông thì bằng ngàn lời của người dưng nước lã.
Thấy tiền và nhất là thấy vàng, chắc chắn quan bà sẽ rất lấy làm xúc động mà bàu cử cho.
Đây cũng là điều dễ hiểu, bởi vì  lấy vàng để nhử đờn bà và lấy đờn bà để nhử đờn ông, vốn là một qui luật của ngàn đời.
Riêng các quan, muốn đớp một cách khéo léo ít kẻ biết được, thì mỗi khi có tí chuyện vui hay tí chuyện buồn như : đám giỗ cho các cụ thân sinh, đám cưới cho con, đám thôi nôi cho cháu, hay đám kỷ niệm quan ông lấy quan bà…thì cứ việc mở tiệc cho linh đình.
Đối với dân đen, thì đông vui hao, chứ đối với các quan, đông vui…thì chỉ có lời. Các thân chủ khi nhận được thiệp báo tin thì hãy lo chuẩn bị một phong bì thật chất lượng, hay quà cáp thật hậu hĩnh.
Có một vở kịch mang tựa đề là “phong bì” được báo Công An thành phố tóm lược như sau :
Có ông bác sĩ “lương y như từ mẫu” nên rất nghèo, quanh năm cứ được bà vợ cho ăn cơm với rau muống. Hết luộc tới xào, hết xào tới nộm, khiến ông thấy rau muống là phát ngán.
Cuối cùng hai vợ chồng mới tìm ra nguyên nhân khi soi rọi lại các đồng nghiệp của mình cứ giàu lên, đó là do ông bác sĩ  chân chính này không chịu nhận phong bì. Hai vợ chồng ông bác sĩ sau khi “ngộ” ra cái nguyên nhân nghèo của mình, nên quyết định…nhận phong bì.
Bất ngờ có một đứa bé gái đến gõ cửa nhờ cứu mẹ đang nằm trong bệnh viện chờ mổ và đưa cho ông bác sĩ cái phong bì. Quyết tâm thì có, nhưng lương tâm thì chống lại, nên ông bác sĩ rất khổ sở, giằng xé trước cái phong bì. Nhận hay không nhận ? Bà vợ càng thúc giục, ông bác sĩ  càng đau khổ.
Hỏi thăm hoàn cảnh của “khổ chủ” mới vỡ lẽ ra rằng trước đây đứa bé gái cũng có một người cha đau nặng phải vào nhà thương để mổ, nhưng vì nghèo quá không có phong bì nên người cha ấy đã chết. Bây giờ cô bé không muốn mất thêm người mẹ, nên cương quyết phải đưa phong bì cho ông bác sĩ.
Cuối cùng, cái gút của vấn đề đã được mở cũng từ cái phong bì khi có sự giằng co của bà vợ ông bác sĩ  khiến tiền trong bì bị rơi : thì ra chỉ là mấy đồng bạc lẻ.
Để kết luận gã xin kể lại một mẩu chuyện nho nhỏ trong sách “Cổ học tinh hoa”.
Có một ông quan vừa mới nhận chức tại một huyện xa xôi. Ban đêm, một người bạn đến thăm và đút cho ông ta một số tiền lớn. Ông quan thanh liêm nhất định không nhận, nhưng người bạn liền nói :
- Trời thì tối, chẳng có ai biết được đâu mà sợ.
Ông quan trả lời :
- Trời biết, đất biết, anh biết và tôi biết, sao lại nói chẳng có ai biết được đâu ?
Thế nhưng, các vị quan thời nay cứ phớt tỉnh ăng lê, ung dung xơi một cách tận tình, miễn sao đừng để cho sao quả tạ chiếu tướng.  Chỉ khi nào lỡ chùi mép không kịp, bị sờ vào gáy và bị lôi ra tòa xét xử thì mới giật mình và vội vã kêu lên rằng :
- Mình bị oan…mình bị lừa…hay mình dốt và thiếu khả năng nhưng bị đặt ngồi vào ghế cao một cách bất đắc dĩ…
Giữa lúc ba tòa quan lớn xét xử những vụ tham nhũng hối lộ nổi cộm như Tân trường sanh, Minh phụng… thì  báo chí cho biết :
- Các nhân viên hải quan đang thi hành nhiệm vụ vẫn tiếp tục nhận tiền bồi dưỡng và những người làm thủ tục hải quan vẫn tiếp tục đưa tiền bồi dưỡng như thường lệ.
Nếu vậy,  cứ diệt tham nhũng, nhưng diệt rồi thì biết lấy ai mà lo việc dân việc nước.
Và thế là tòa xử, tòa cứ xử. Ta đớp, ta cứ đớp.
Gã Siêu

 

Chuyện Gã Siêu 107: NHẬU 2

NHẬU 2 Chuyện Gã Siêu 107

Một nhà học giả kia đã bàn về cái cười của người dân Việt, đại khái như sau : - Dân An nam ta Chuyện Gã Siêu 107

Một nhà học giả kia đã bàn về cái cười của người dân Việt, đại khái như sau :
- Dân An nam ta cái gì cũng cười. Vui cũng cười mà buồn cũng cười. Động một tí là vén môi cười…tồ tồ.
Mà đúng thế. Một vị linh mục, gốc Canada, ngày nọ loan báo cho đám học trò của mình :
- Cha Bolumburu, vị giáo sư khả kính của chúng ta mới qua đời.
Bỗng một tiếng cười ồ của đám học trò vang lên, làm cho vị linh mục tức giận đến nỗi đỏ mặt tía tai, suýt nữa thì hộc cả máu mồm. Bởi đó, ngài liền mắng te tua :
- Tôi không hiểu được tại sao khi loan báo một tin buồn như thế mà các anh lại cười được.
Cuối cùng, mấy tên đầu sỏ, đại diện cho đám học trò, bèn phải gặp gỡ để giải thích :
- Chúng con cười không phải vì mất đi một vị giáo sư, nhưng cười vì tên của ngài nghe thật lạ tai. Bolumburu mà.
Tuy hiểu là như thế, nhưng xem chừng vị linh mục ngoại quốc này vẫn còn tức như bị…”tê giác húc” ấy.
Cũng một thể thức ấy, gã có thể phán về sự nhậu của người Việt mình như sau :
- Dân An nam ta cái gì cũng nhậu. Vui cũng nhậu mà buồn cũng nhậu. Động một tí là…nhậu liền tù tì.
Gã đã lượm trên báo “Tuổi trẻ chủ nhật” một mẩu ngăn ngắn với tựa đề : “Quá trời là nhậu”. Tác giả đã viết :
“Khó mà kể hết có bao nhiêu cách để nhậu, bao nhiêu chuyện để nhậu. Này nhé :
- Nhờ người bạn mua giúp chiếc xe honda…cũng nhậu. Hôm qua mới lĩnh lương…cũng nhậu. Tuần rồi mới nhận hàng “bển” gửi về…cũng nhậu.
Rồi này :
- Vừa tậu được xe mới hả…nhậu “tân xe” đi. Mới trúng số hả…”khao đi”. Kỳ này lên chức hả…làm một chầu “rửa lon” đi…Rõ ràng nhậu không hề có “luật” chi hết, nhưng đã trở thành “lệ” rồi.
“Khánh thành, cũng nhậu. Tổng kết, cũng nhậu. Cuối năm, cũng nhậu. Đám cưới, đám giỗ, đám hỏi, đám ma, đám đầy tháng, đám thôi nôi, đám sinh nhật, đám khai trương tiệm may, đám mừng tốt nghiệp…đều nhậu tất. Coi bộ thật khó để sửa cái đã thành nếp này.
Gã có một tên bạn thuộc hạng nghèo kiết xác, nghèo rớt mùng tơi. Hôm trước anh ta đi chợ, đụng phải một tên thương phế binh. Tóc tai bờm xờm, râu ria rậm rạp.
Tên thương phế binh này vừa mời vừa bắt anh ta mua vé số kiến thiết. Bất đắc dĩ anh ta phải mua một tấm cho yên chuyện. Rủi thay tấm vé số bất đắc dĩ giúp người ta lại trúng ngay lô hạng bét, lãnh được hai chục ngàn đồng.
Bè bạn hay tin anh ta trúng số, lục tục kéo đến mừng, rồi cắm dùi tại nhà anh ta, thành thử anh ta bèn phải miễn cưỡng tổ chức một chầu nhậu xương xương ngoài ý muốn tốn gấp đôi, gấp ba số tiền thưởng. Quả là một tấm vé số… bất hạnh.
Cũng trên báo “Tuổi trẻ chủ nhật”, tác giả Danh gia đã mô tả cái bàu khí “nhậu” thật ồn ào náo nhiệt của thành phố Saigon như sau :
“Mỗi buổi chiều cắp cặp đi làm về đều chạy qua khu “chợ nhậu hải sản” đường Thi sách. Tiếng bao khăn lạnh nổ đôm đốp, tiếng bia từng thùng được vác ra chất đống cứ như thể ngồi bên cái “đề bô” bia mới gọi là sang, tiếng réo nhau ơi ới trên điện thoại cầm tay rủ nhau đến đông vui xen vào giữa những tiếng hò “dzô, dzô”, tiếng tâng bốc, tiếng “tứ hải giai huynh đệ kết nghĩa”, tiếng khích bác, tiếng chửi thề, tiếng gây gỗ…quyện lẫn với mùi tôm, mùi cá, mùi lươn, mùi nghêu, mùi sò…Tất cả tạo thành một cảnh hỗn mang mà bất cứ một cái chợ cá nào cũng phải hổ thẹn vì thua kém.
“Quẹo ra đường Tôn Đức Thắng, rẽ qua Thị Nghè, Hàng Xanh về nhà cũng bấy nhiêu cảnh tương tự dọc hai bên đường. Không biết có bao nhiêu “chợ nhậu” như thế trong thành phố này ? Chỉ biết đi đâu cũng thấy, khiến phải băn khoăn đặt  câu hỏi :
- Phải chăng đây là “hoạt động văn hóa” chủ yếu của thành phố này vào giờ tan tầm ?
“Cứ thế ngày này sang ngày khác, các độ lớn, độ nhỏ, độ XO, độ VSOP, độ bia, độ đế, độ rượu thuốc từ lâu đã thay thế bữa cơm tối vợ chồng, con cái đoàn tụ trong nhiều gia đình. Mù mịt đến khuya chồng mới bò về đến nhà, vợ có hỏi, may mắn lắm mới được chồng    nạt :
- Làm ăn mà. Thời buổi kinh tế thị trường không nhậu làm sao làm ăn, làm sao ký hợp đồng được chớ ?
“Còn rủi phận hơn thì ăn đấm, ăn đá.
Chúng ta thường nói :
- Con người không sống để mà ăn, trái lại con người ăn để mà sống.
Nhờ ăn, mà cơ thể được bồi dưỡng, có đủ sức để lao động sản xuất. Nhờ uống chút ít mà chúng ta có thể tạo được một bàu khí vui vẻ, cởi mở và thân mật. Chính vì thế, khi ngồi vào bàn tiệc, chúng ta thường được nghe những câu nói để tạo “khí thế”, chẳng hạn như :
- Nam vô tửu như kỳ vô phong. Có nghĩa là con trai mà không uống rượu thì như cờ không có gió, rũ rợi, ủ dột, buồn tẻ.
Những kẻ đạo đức hơn một tí thì khôi hài sánh ví :
- Cỗ không có rượu, như kiệu không có cụ. Nghĩa là đi rước kiệu mà thiếu vắng cha chủ sự, thì  quả là nhạt nhẽo vô duyên tệ.
Trong Thánh vịnh cũng đã từng có câu :
- Chúa ban rượu ngon làm vui thỏa lòng người.
Và trong cuộc sống, Chúa Giêsu cũng đã nhiều lần tham dự những đám tiệc. Ngài đã khởi đầu cuộc sống công khai bằng tiệc cưới tại Cana và kết thúc bằng bữa tiệc Vượt qua với các môn đệ.
Tuy nhiên, nhân đức bao giờ cũng phải ở vào cái thế trung dung, “virtus in medio stat”, bởi vì phàm cái gì thái quá thì cũng bất cập. Ăn nhiều quá sinh ra bội thực , rồi từ chỗ bội thực sinh ra bệnh nọ tật kia. Còn uống nhiều quá thì  “hóa rồ hóa rại”  như tục ngữ đã bảo :
-Tửu nhập tâm như hổ nhập lâm. Có nghĩa là rượu vào thì như cọp dữ giữa rừng.
- Tửu nhập tâm như  cẩu cuồng tọa thị. Có nghĩa là rượu vào thì như chó điên cắn càn giữa chợ.
Làm mất nhân phẩm của mình đã đành, mà còn gây nên đổ vỡ cho gia đình, đồng thời va chạm với những người chung quanh, làm sứt mẻ tình nghĩa bà con lối xóm.
Trước hết là đối với bản thân.
Dân bợm nhậu thường nói :
- Chưa hề có một mộ bia nào trên đó khắc ghi hàng chữ : đây là nơi an nghỉ của kẻ đã chết vì rượu.
Thế nhưng trong cuộc sống thường ngày, không thiếu chi những chuyện vui buồn xảy đến cho những kẻ say xỉn. Uống say rồi lăn kềnh ra ngủ,thì còn đơ đỡ  và không cần nói tới. Nhưng uống say mà phát rồ phát rại,thì cần phải đặt lại vấn đề.
Không rồ không rại mà tại sao có những kẻ khi rượu vào thì lại thi nhau nhai ly, nhai cốc, nhai chén, nhai bát.
Không rồ không rại mà tại sao có những kẻ khi rượu vào người mềm nhũn như con chi chi, đứng lên không nổi, phải có người kè người vực.
Không rồ không rại mà tại sao có những kẻ khi rượu vào thì chân nam đá chân chiêu, đường rộng rãi thênh thang không muốn đi, chỉ muốn đi vào bụi rậm cho gai đâm sứt cằm, xẻ mũi. Lái xe thì xiên bên nọ xọ bên kia khiến cho mấy thày cảnh sát phải thổi còi biên phạt.
Không rồ không rại mà tại sao có những kẻ khi rượu vào đã chửi bới, rồi thượng cẳng chân hạ cẳng tay “mí” nhau, thậm chí còn vác cả gậy gộc, dao búa phang nhau túa máu đầu, gây thành án mạng như báo chí không ngớt đăng tải.
Không rồ không rại mà tại sao thiên hạ lại diễn tả về họ, những kẻ say xỉn,  như sau :
. Một xị thì mở mang trí hóa.
. Hai xị thì giải bớt cơn sầu.
. Ba xị thì mũi chảy đầy râu.
. Bốn xị thì ngồi đâu khóc đó.
. Năm xị thì cho chó ăn chè.
. Sáu xị thì làm xe lội nước.
. Bảy xị thì vợ rước không về.
. Tám xị thì ra nhị tì mà ở.
Đồng thời, thiên hạ cũng thường hát vui về họ, những kẻ say xỉn, như sau :
- Hiu hiu gió thổi đầu non,
  Những người uống rượu là con ngọc hoàng.
  Ngọc hoàng ngự tại ngai vàng,
  Thấy con uống rượu hai hàng lệ rơi.
  Tưởng rằng con uống con chơi.
  Ai dè con uống, con rơi xuống….xình.
Tiếp đến là những bất ổn cho gia đình.
Thường xuyên rủ nhau đi nhà hàng hay thường xuyên tổ chức ăn nhậu tại nhà đã là một sự tốn kém cho ngân quĩ  vốn dĩ eo hẹp của gia đình trong cái thời buổi khó khăn, gạo châu củi quế này, bởi vì những sự cần cho được uống rượu nên xem ra cũng rất gắt.
Ấy là chưa kể đến những cực nhọc cho vợ con, nhất là khi phải thu dọn những bãi cho chó ăn chè. Thực vậy, người ta đã hỏi một tên bợm nhậu, thuộc hạng thâm niên quân vụ, nhiều năm trong nghề, như sau :
- Hỏi phải làm mấy sự cho được uống rượu nên ?
Đúc kết kinh nghiệm của bản thân sau nhiều năm lăn lóc trên các chiến trường với những chiến hữu lưu linh của mình, hắn ta đã trả lời :
- Thưa phải làm ba sự này, một là tốt cái nhắm, hai là lắm anh em, ba là muốn nhắm thì nhắm.
Đông, vui, hao, đó là qui luật của muôn đời. Thế mà “nghệ thuật ăn nhậu” lại đòi hỏi vừa phải tốt cái nhắm, lại phải lắm anh em, thì chỉ có nước đập bể nồi cơm gia đình khiến vợ con phải treo niêu, ăn chay trường dài dài mà thôi.
Còn nếu đi uống rượu ở nơi khác, khi trở về nhà, mà giữ được tác phong cốt cách thì còn đơ đỡ, nhưng như trên gã đã nói : nhiều kẻ đã bị rượu bốc lên, làm cho hóa rồ hóa rại.
Đúng thế, không rồ không rại mà tại sao có những kẻ khi rượu vào lại tung hê nồi niêu xoong chảo cùng với bát đũa ra ngoài sân, để rồi khi tỉnh cơn say. Lại phải hì hục lao động kiếm tiền mua sắm.
Không rồ không rại mà tại sao có những kẻ khi rượu vào, bỗng trở thành “vũ phu chi cục mịch”, chửi vợ đánh con, khiến cho gia đình bị đổ vỡ tan hoang. Hay ít nữa, khi tỉnh cơn say thì cũng phải bỏ tiền mua thuốc men và bỏ công sức chăm sóc cho vợ con đã bị chính mình hành hung một cách dã man trong lúc xỉn.
Thấy thiên hạ lao mình vào tệ nạn cờ bạc, một đức ông chồng, uống rượu thuộc hạng dân ghiền, đã hãnh diện tâm sự với bà xã :
- Em phải cám ơn anh nhiều lắm đấy, bởi vì anh không bài bạc như mấy tên hàng xóm.
Thế nhưng, bà xã đã phản pháo một cách rất chính xác :
- Ông không bài với bạc, nhưng tối ngày những rượu cùng chè, những say cùng xỉn, khiến tôi phát chán cả lên.
Nhưng phiền hơn cả là trong những lúc say xỉn như vậy, chúng ta lại thường gây nên những sự rắc rối, phiền toái cho bà con lối xóm. Thực vậy, thiên hạ thường bảo :
- Tửu nhập, ngôn xuất. Rượu vào thì lời ra.
Cái thứ “ngôn xuất” này, cái thứ “lời ra”này, cũng thường thay đổi thiên hình vạn trạng, đến quỉ thần cũng không lường nổi.
Có kẻ khi say thì cười, nhưng cũng có kẻ khi say thì lại khóc.
Có kẻ khi say thì hát nhưng cũng có kẻ khi say thì lại sổ tiếng Ăng lê.
Có kẻ khi say thì vui miệng, vợ mình không khen, lại cứ nhè vợ người ta mà khen, nên mới rách việc, dẫn đến chuyện đánh đấm nhau phun cả máu đầu.
Có kẻ mượn hơi men để có đủ can đảm mà đi…xưng tội, nhưng cũng có kẻ mượn hơi men để chửi xéo người này người nọ, đôi khi chửi cả cha mẹ và những người họ hàng thân thích, khiến cho tình nghĩa ruột thịt cũng như lối xóm nhiều lúc như muốn đứt đoạn.
Có những kẻ bình thường rất hiền lành, thế nhưng do ma men dẫn đường, rượu ngấm vào, máu yêng hùng nổi lên, cũng sẵn sàng vác gậy, vác đá đi hỏi thăm sức khỏe người khác, giống như một kẻ côn đồ thứ thiệc, để rồi khi hết cơn yêng hùng, lúc phải ký vào biên bản,thì như quả bóng xì hơi, năn nỉ ỉ ôi hết người này đến người khác, như tục ngữ đã diễn tả :
- Chưa đánh được người, mặt đỏ như vang,
  Đánh được người rồi, mặt vàng như nghệ.
Có thể nói được rằng : ngành nghề ăn nhậu ở Việt Nam hiện nay luôn được liên tục phát triển. Chỉ cần rảo qua một vòng phố xá, chúng ta liền thấy, tiệm cà phê và quán nhậu mọc lên như nấm sau cơn mưa. Đường nào cũng có, góc phố nào cũng có…Đúng là trăm hoa đua nở.
Những tháng ngày sau giải phóng thì cho rằng : đờn ông thanh niên bấy giờ vì thiếu những phương tiện giải trí nên đâm ra nhậu nhoẹt say sưa. Còn lúc này, những phương tiện giải trí không thiếu, nhưng thiên hạ vẫn hăng hái nhậu liên tu bất tận.
Có thể vì trong túi có sẵn tí tiền còm, nhất là tiền hối lộ, tiền buôn lậu, tiền áp phe, áp chảo…không nhậu cũng uổng. Có thể vì nền kinh tế thị trường, có nhậu thì mới bắt được mánh làm ăn, mới làm được những giao lưu và trao đổi…Thôi thì có đủ một ngàn lẻ một lý do để biện minh cho cái “dịch vụ ăn nhậu này”.
Tuy nhiên, cũng trên báo “Tuổi trẻ Chủ nhật”, tác giả Danh Gia đã đưa ra một vài nhận định nho nhỏ về đờn ông phương tây như sau :
“Đừng đổ thừa cho kinh tế thị trường khi chưa từng thấy “mặt mũi” đích thực của nó. Không tin cứ đi hỏi các giám đốc ngân hàng nước ngoài sẽ nghe họ nghĩ gì về cách duyệt hồ sơ cho vay “quen thuộc” của các ngân hàng trong nước khác với cách của họ như thế nào. Bởi thế mới đẻ ra bao vụ “Tamexco” lớn nhỏ, mới có tỉ lệ thua lỗ “bộn”, nợ nần dính chùm như thế.
“Đàn ông các nước công nghiệp, tức các nước kinh tế thị trường nhất, đến giờ tan sở mệt nhoài vì công việc chỉ biết cắm đầu cắm cổ chạy thục mạng, ba chân bốn cẳng leo lên tàu điện, đổi dăm ba tuyến đường mới về được đến nhà phụ vợ con dọn cơm, rửa chén rồi đi ngủ sớm, đến cuối tuần cần tranh thủ sửa sang nhà cửa, chở vợ đi chợ. Xu hào đủng đỉnh lắm thì tối thứ sáu đưa vợ, đưa con đi ăn tiệm hoặc đưa vợ con đi nghỉ mát cuối tuần, chứ không ai rỗi hơi nát rượu tối này sang tối khác với bạn bè.
“Không tin, nếu có dịp đi tây, chiều tối cứ xuống các trạm xe điện ngầm ở Paris chen chúc với bốn triệu người, ta sẽ thấy rõ thế nào là nếp sống kinh tế thị trường đích thực. Chớ tưởng dân đi chơi tối giữa Paris, Luân đôn…là người dân bản xứ. Trừ một thiểu số nhung lụa hoặc của “thế giới về đêm”, người lao động lĩnh lương trong tháng, cho dù có là giám đốc, chẳng mấy khi léo hánh đến quán xá vào những tối trong tuần.
Khi người ta phải đóng thuế thu nhập giá chót cũng 30%, khi người ta ở nhà thuê hay mua trả góp mỗi tháng cũng phải đóng từ 1/3 đến 1/5 lương cho tiền nhà, khi người ta sắm cái xe hơi, cái máy giặt, cái máy sấy khô quần áo…sao cho cuộc sống gia đình tiện nghi hơn, để rồi cuối tháng bị ngân hàng tự động trừ nợ, người ta mới không dám vứt thì giờ và tiền bạc cho các độ nhậu triền miên vì sợ ngày mai dậy không nổi, mất năng xuất, mất óc sáng tạo dễ có ngày thất nghiệp.
“Khi người ta phải ngày ngày mất ít nhất hai giờ để di chuyển, khi người ta phải làm việc ngày tám tiếng ra tám tiếng mới được chủ trả lương, thì người ta mới biết quí thì giờ và sức lực của mình.
“Ngay cả đàn ông xứ Thái sát cạnh đây, tức một nước chưa công nghiệp bao nhiêu, thưở còn thịnh vượng có phần trễ nải hơn ở hàng quán, song giỏi lắm cũng chỉ uống một chai bia Singa nội địa chứ hiếm ai uống đến chai thứ nhì.
Thói quen rượu chè say sưa là một tật xấu khó chừa, bởi nếu không nhậu thì….nhạt miệng, nên phải đi tìm chỗ gài độ để khỏi ngồi ngáp vặt.
Vì thế Tản Đà đã bảo :
- Say sưa nghĩ cũng hư đời,
  Hư thời hư vậy, say thời cứ say.
Hay như Nguyễn Khuyến đã thú nhận :
- Những lúc say sưa cũng muốn chừa,
  Muốn chừa nhưng tính lại hay ưa.
  Hay ưa đến nỗi không chừa được.
  Chừa được mà ông cũng chẳng chừa.
Thành thử người say xỉn nghiện ngập cứ kéo lê cuộc đời mình trong một tình trạng be bét. Cần phải có một ý chí vững mạnh mới có thể dứt khoát được với tật xấu này.
Một dân bợm nhậu nọ quyết tâm giã từ rượu chè. Cứ mỗi lần ngồi vào bàn tiệc là anh ta nhỏ một giọt nếân vào chiếc ly uống rượu…Cứ thế, cứ thế…ngày qua ngày…cho tới khi chiếc ly đầy nến và anh ta cũng bỏ được tật say xỉn của mình.
Gã xin tạm ngưng việc kể tội đờn ông ở đây.
Gã Siêu

 

Chuyện Gã Siêu 108: TỪ HÀNG GIẢ ĐẾN NGƯỜI GIẢ

TỪ HÀNG GIẢ ĐẾN NGƯỜI GIẢ Chuyện Gã Siêu 108

Mấy hôm nay rảnh rỗi, gã đọc lại chồng báo xuân Mậu dần 1998  và gã tóm được một mẩu tin Chuyện Gã Siêu 108

Mấy hôm nay rảnh rỗi, gã đọc lại chồng báo xuân Mậu dần 1998  và gã tóm được một mẩu tin làm đề tài tán hươu tán vượn, không biết nên buồn hay vui. Và nếu có cười thì nụ cười cũng méo mó, rất có thể sẽ rơi cả nước mắt.
Mẩu tin ấy ở trong báo Công an, mang tựa đề là “chồng thật- chồng giả “, đại khái như thế này :
Với mong muốn được vi vút ở ngoại quốc, nên khi được người quen gợi ý, cô BT, ngụ tại phường 12 quận 6, đồng ý liền tù tì.
Để hợp thức hóa việc xuất ngoại, BT ưng thuận làm thủ tục kết hôn giả với một với công dân Pháp, tên là Simon, 35 tuổi, hơn BT vừa đúng một con giáp.
Theo hợp đồng, hai người là vợ chồng nhưng không sống chung. Khi đã định cư ở nước ngoài, thì ly dị và BT phải trả công cho ông chồng hờ 3.000 mỹ kim.
Ngày 06-5-1997, BT và Simon được Ủy ban nhân dân thành phố cấp giấy chứng nhận kết hôn. Từ đây, cô gái những tưởng mọi chuyện đã xuôi chèo mát mái, bắt đầu thêu dệt mộng…việt  kiều.
Nào ngờ chàng rể vi phạm hợp đồng, đòi làm chồng thật, chứ nhật định không chịu đóng vai làm chồng hờ nữa. Đường cùng, BT phải đâm đơn cho ba tòa quan lớn xin ly hôn. Vì thà “ vỡ mộng “còn hơn    là …tàn một kiếp hoa.
Từ sự việc trên đây, đêm nằm vắt chân lên trán, gã nghiệm   rằng :
- Sự giả là một cơn bệnh trầm trọng của xã hội hiện nay, là một hiện tượng được liên tục phát triển qua một lãnh vực, từ hàng hóa đến con người.
Vậy giả là gì ?
Dĩ nhiên, giả có nhiều nghĩa, nhưng trong phạm vi bài này, gã chỉ xin được tự hạn chế :
- Giả là nhái cho giống để gạt người ta.
Thí dụ như giả điếc, giả câm, giả bộ…Riêng dân có tinh thần ăn uống cao, ghiền món “cờ tây’’ mà nếu không sẵn, thì bèn phệu ra món ‘’giả cầy’’ để xài cho đỡ nhớ. Vật liệu được làm bằng thịt heo, tẩm liệm với riềng mẻ và mắm tôm, xào lên thơm phưng phức, làm điếc cả mũi hàng xóm, xơi vào cũng êm trời gió bụi, chẳng khác chi thịt cầy thứ thiệc.
Bây giờ xin trở lại với phạm trù hàng giả.
Hàng giả hơi khác với hàng dổm một tí, bởi vì hàng dổm là hàng có phẩm chất kém. Còn hàng giả, ngoài phẩm chất tồi, còn mắc thêm cái tội ‘’cóp pi’’ mẫu mã y chang thứ hàng thật, rồi tung ra thị trường, nhằm dối gạt người mua, gây thiệt hại đôi ba bề.
Hàng giả lúc này thật ê hề, tràn lan từ cái tăm đến hộp xà phòng, từ chiếc đồng hồ đeo tay đến những máy móc đắt tiền.
Chẳng thế mà có thời người ta để mỉa mai :
- Hồng kông ư ?
- Hỏng dám đâu, có mà bên hông Chợ lớn ấy.
Nghệ thuật làm hàng giả ngày càng tinh vi, khiến cho người tiêu dùng khó mà nhận ra, chỉ khi mua về đem xài thì mới vỡ nhẽ ra đó là hàng giả.
Dịp tết, gã bóp bụng mua một chai rượu tây cho đời lên hương. Từ vỏ chai đến nhãn hiệu trình tòa đều là thứ xịn, nhưng khi khui ra để uống, thì hỡi ơi, chỉ toàn là một thứ nước màu vàng, sặc mùi cồn mà thôi.
Bởi đó, trong những năm gần đây, người ta chịu khó tổ chức nhiều cuộc triểm lãm hàng giả, để người mua kẻ sắm nhận diện.  Hay trong những mục quảng cáo trên truyền hình, người ta luôn dặn dò :
- Xin nhìn kỹ mẫu mã để khỏi mua nhầm hàng giả.
Tới đây, gã xin kể lại hai mẩu chuyện nho nhỏ.
Mẩu chuyện thứ nhất về tiền giả ở bên Đức.
Hôm ấy, hai đội bóng tranh giải vô địch. Sân vận động chặt cứng như nêm. Người hèn có, kẻ sang có và những bậc tai mắt lại càng nhiều.
Khi tan cuộc, mọi người hối hả ra về, thì thấy giữa đường đi, rải rắc nhiều tờ giấy bạc 500 đồng, của một hay nhiều khán giả vô ý nào đó đánh rơi.
Ai cũng lấm la lấm lét. Thế rồi kẻ trước người sau, tất cả đều lần lượt cúi xuống…sửa giày. Có kẻ sửa tới năm bảy lần. Kẻ sang cũng như người hèn, thượng lưu cũng như bình dân. Không ai trao đổi với ai một tiếng, nhưng ai cũng thấy vui như mở trong bụng :
- Đi xem đá bóng hôm nay đúng là được thần tài phò trợ.
Về đến nhà, xoa tay cho sạch, thò vào túi, rút xấp bạc ra, sung sướng và hí hủng.
Thế nhưng dưới ánh đèn sáng, nhìn kỹ lại, thì ôi thôi, khóc vì hổ ngươi. Vừa tức lại vừa nhục. Tức cho ai mà cũng nhục cho ai. Các ngài đã bị sập bẫy trong một cuộc chơi trắc nghiệm của một tổ chức nào đó. Bời vì giấy bạc toàn là thứ giả mà thôi.
Xem thế, thì phàm đã là người, ai cũng có một chút máu tham trong mình.
Mẩu chuyện thứ hai về vàng giả ở Việt Nam.
Trưa Sài Gòn, trời nắng như đổ lửa. Đường phố ngái ngủ. Xe cộ thưa thớt. Một cô nàng ăn mặc thật đúng mốt. Cổ thì giây chuyền. Tay thì vòng vàng óng ánh. Còn thân hình yểu điệu thì đang cưỡi trên một chiếc xe gắn máy, dường như cô nàng vừa mới đi dự tiệc và đang trên đường về nhà.
Bỗng một chiếc xe gắn máy khác trờ tới và ép sát cô nàng. Người ngồi sau lanh tay lẹ con mắt chộp vội sợi giây chuyền nơi chiếc cổ nõn nường, khiến cho chiếc xe lảo đảo và cô nàng xuýt bị đo đường.
Thế nhưng, chỉ một lúc sau hai tên kẻ cướp vòng xe lại, ném sợi giây chuyền vào mặt cô nàng và chửi :
- Tiên sư em nhé, đẹp như tiên mà xài toàn đồ giả, thối không chịu nổi.
Tuy nhiên, chúng ta cần phải lưu ý điều này :
- Hàng giả đang lũng đoạt thị trường, nhưng không nguy hiểm cho bằng người giả.
Thực vậy, nhìn vào con người, chúng ta thấy từ vóc dáng và hành động bên ngoài đến tình cảm và ý nghĩ bên trong, người ta đều có thể giả được tuốt luốt.
Nếu các cụ ta ngày xưa thường bảo :
- Cái răng cái tóc là góc con người.
Thì ngày nay, với kỹ thuật giải phẫu thẩm mỹ và trang điểm tuyệt vời, người ta có thể cải lão hoàn đồng, từ một bà già trầu móm mém gần đất xa trời trở nên một cô thiếu nữ liễu yếu đào tơ trong thoáng chốc bằng cách trang bị cho bà cụ những thứ đồ giả : nào là mái tóc giả, nào là hàng mi giả, nào là hàm răng giả, nào là bộ ngực giả, nào là cặp mông giả…
Người ta cũng có thể tạo nên những nụn ruồi giả, những má lún đồng tiền giả, những chiếc cằm xẻ giả. Thậm chí có những anh chàng đực rựa “chăm phần chăm” được cải trang thành những cô gái y như thật với những ý đồ đen tối và hắc ám, khiến cho những đấng mày râu háo sắc và ngây thơ cụ cũng phải bé cái lầm.
Thế nhưng cái “hình dong bên ngoài” không quan trọng cho bằng những cái làm nên phẩm chất bên trong của con người. Và những thứ này lại cũng toàn là đồ giả.
Chẳng hạn để khoe khoang với bè bạn, để dễ dàng trong công ăn việc làm, cũng như để luồn lách vào chức vụ nọ chức vụ kia, người ta có thể bỏ tiền ra mua một cái bằng…phó tiến sĩ giả, để hù dọa bà con lối xóm.
Người ta cũng có thể mượn danh làm công an giả, cán bộ giả, thậm chí cả linh mục giả để dối gạt thiên hạ, ẵm về cho mình những món tiền lớn và những lợi nhuận kếch xù.
Thế nhưng bẽ bàng và cay đắng hơn cả, đó là người ta đã mượn tạm danh nghĩa, lợi dụng những chức vụ giả ấy để ăn cướp cơm chim, phỗng tay trên chén cơm manh áo của các em nhỏ trong viện mồ côi, của các cụ già trong nhà dưỡng lão…bằng cách lừa đảo các tổ chức từ thiện cũng như các nhà hảo tâm.
Mánh mung của bọn này thì thiên biển vạn hóa, đến quỉ thần cũng không lường nổi mà chúng ta thấy nhan nhản trên báo chí.
Từ phẩm chất giả, quạ mượn lông công, cáo mượn oai hùm, chúng ta bàn tới những hành động giả. Và một trong những hành động giả mà gã xin đề cập đến, đó là hôn nhân giả.
Thực chất của cuộc hôn nhân giả chính là tình yêu giả. Người ta giả bộ yêu nhau để toan tính những công việc khác chẳng hạn như để xuất ngoại, để làm ông nọ bà kia.
Họ nhìn vào người ấy không phải để thấy người ấy dễ thương và dễ mến, nhưng để thấy túi tiền người ấy đang có, cái ghế người ấy đang ngồi, tòa nhà người ấy đang ở, chiếc xe người ấy đang đi…Tóm lại, họ không yêu gì người ấy, mà yêu cái tài sản, cái chức vụ của người ấy mà thôi.
Nổi cộm trong hàng loạt hành động giả này, đó là cái thói giả hình, hay nói một cách cụ thể hơn, cái thói giả nhân giả nghĩa, hay đạo đức giả.
Họ là những kẻ khẩu phận tâm xà, miệng nam mô bụng bồ dao găm,  đúng như tục ngữ đã diễn tả :
- Ngoài thì thơn thớt nói cười,
  Mà trong nham hiểm giết người không gươm.
 Hay :
- Nam mô.
  Một bồ dao găm,
  Một trăm dao mác,
  Một vác dao bầu,
  Một xâu thịt chó.
Họ là những kẻ nghĩ thế này, nói thế kia, nói một đàng làm quàng một nẻo. Tư tưởng không đi đôi với lời nói, còn lời nói thì không đi đôi với việc làm. Tư tưởng, lời nói và việc làm của họ không còn trong suốt như pha lê. Không còn hợp nhất với nhau.
Họ nói thì nhiều mà làm chẳng được bao nhiêu. Thậm chí họ còn làm ngược lại với điều họ nói.
Trong Phúc Âm, Chúa Giêsu đã diễn tả một cách rất chính xác về hạng người này :
- Họ kinh kệ dài dòng nhưng lại nuốt hết tài sản của các bà góa. Họ rửa sạch bên ngoài chén đĩa, nhưng bên trong thì đầy những chuyện trộm cắp và vô độ. Họ giống như mồ mả tô vôi, bên ngoài thì có vẻ đẹp đẽ, nhưng bên trong thì đầy xương người chết và đủ mọi thứ ô uế.
Để kết luận, tôi xin ghi lại nơi đây ý kiến của chị Nguyễn thị Oanh, tác gỉa bài ‘’tính trung thực’’, đăng trên báo tuổi trẻ Chủ Nhật, như sau :
“Tôi thấy cán bộ công đoàn ngồi lại đánh giá công nhân trên những phát triển của họ ở các buổi học tập chính trị. Còn công nhân thì thổ lộ : Người ta không cần biết chúng tôi sản xuất như thế nào ? Đối xử với anh em ra sao ? Gìn giữ tài sản chung đến mức nào ? Mà chỉ coi trọng lời nói. Tôi thì rất ngượng ngùng phải nói những điều không xuất phát từ đáy lòng. Đó là vào giữa thập kỷ 80.
‘’Còn ngày nay, trở lại sự trung thực thì ta thấy trong cuộc sống : mắt mũi môi giả, hàng giả, bằng lái giả, bằng cấp giả, hôn nhân giả ! Người ta giả vờ với nhau một cách tỉnh bơ. Đáng sợ hãi cho tương lai là chuyện gian dối ở chỗ mà lẽ ra sự trung thực là nguyên tắc hàng đầu. Đó là ở phòng thi : thày làm ngơ để trò quay cóp.
‘’Con người lấy gì làm cơ sở để quan hệ với nhau khi cái trục chính của chiếc cầu đã gẫy ? Cái túi nước silicon rò rỉ, đã biến những con người muốn làm đẹp thành xấu xí đến tai hại. Thực phẩm giả, bằng lái giả gây chết người. Còn bằng cấp giả ?
Xin trích thêm đoạn dưới đây từ báo phụ nữ ngày 27-9-1997.
‘’NM sinh viên khoa ngữ văn, một cô gái tài hoa, có lối sống khá bạt mạng, mệt mỏi tâm sự :
- Ở gia đình, bố mẹ luôn dạy tôi cách sống tốt, chân thật, nhưng tôi biết rõ ràng đó chỉ là lời nói. Thực tế còn cả một khoảng cách.
“Cái khoảng cách ấy đã được NM nhận rõ  khi người ta phát hiện hai cái học vị phó tiến sĩ của bố và mẹ NM đều là của giả. NM bộc lộ :
- Tôi không quan lắm đến danh dự gia đình, nhưng bố mẹ, những thần tượng của tôi, đã hoàn toàn sụp đổ.
“Để trốn chạy thực tế, NM thường đóng kín cửa phòng, đắm mình trong âm thanh của Spice Girls, hoặc phóng xe hết tốc lực ngoài đường.
‘’ Thế đấy, cái giả tưởng chừng như vô thưởng vô phạt đang giết chết một thế hệ về mặt tinh thần. Và ngày nay không cần thiết phải chứng minh tính chính trị của đạo đức nữa. Cái khó là tìm hiểu những nguyên nhân sâu xa và những cơ chế vận hành nào đã đưa tới tình trạng báo động này.
‘’Ta đánh giá cao những báo cáo tô hồng, những trường có tỉ lệ ‘’lên lớp’’, ‘’thi đậu’’ cao, những người nói đúng bài bổn nên cấp dưới tập phản xạ nói dối, phản xạ này ăn sâu trong tâm tư họ đến nỗi có người không còn biết nhận ra và phân biệt thật và giả, đúng và sai.
‘’Phải tập lại từ đầu, không phải bằng hô hào mà bằng hành động. Khó có thể kêu gọi tuổi trẻ bằng những khẩu hiệu chung chung, nhưng họ sẽ hưởng ứng ngay với cách làm mới.’’
‘’Khen thưởng những ai lật tẩy sự dối trá. Phạt nặng sự dối trá trong sản xuất. Chỉnh đốn triệt để ngành giáo dục vì bao giờ còn gian lận trong ngành này thì không thể gọi nó là giáo dục. Văn học nghệ thuật phải đem sự dối trá ra làm trò cười cho đến nơi đến chốn.
Và rồi cuối cùng :
- Sự thật sẽ giải thoát chúng ta.
Gã Siêu

 

Chuyện Gã Siêu 109: THƯƠNG HẠI

THƯƠNG HẠI Chuyện Gã Siêu 109

Ngày xửa ngày xưa, có một ông tây chính hiệu “Phú lãng sa”, trong người đặc sệt dòng máu “Gô Chuyện Gã Siêu 109

Ngày xửa ngày xưa, có một ông tây chính hiệu “Phú lãng sa”, trong người đặc sệt dòng máu “Gô loa”, nhãn hiệu con gà trống. Thế nhưng ông tây này lại yêu đến chết mê chết mệt một “cô em Bắc kỳ nho nhỏ”.
Và khi đã yêu ai như điếu đổ, người ta sẵn sàng yêu cả đường đi cùng với mọi tông chi họ hàng. Vì thế, ông tây này cũng xơi thịt chó như điên, cũng húp canh cua rau đay chùn chụt, cũng dùng cà ghém quệt đẫy mắm tôm và bắn thuốc lào kêu ro ro như bắp nổ. Đặc biệt, ông tây này đã hết lời ca ngợi tiếng Việt của dân ta.
Hình như trong một bài báo, ông tây này đã bạo phổi cả gan gọi tiếng Việt của dân ta là “mère des langues”, nghĩa là mẹ của các ngôn ngữ.
Và rồi ông tây này đã đưa ra lập luận của mình, gã chỉ còn nhớ mang máng, xin ghi lại nơi đây để trình làng, đồng thời có thêm mắm thêm muối tí chút cho rộng  đường dư luận.
Ngôn ngữ cổ xưa nhất phải là ngôn ngữ độc âm, tượng hình và tình cảm, giống như một đứa bé khi mới học nói, nó chỉ nói được từng tiếng một và diễn đạt những cái cụ thể, gần gũi với nó nhất.
Dưới góc độ này thì tiếng Việt của dân ta thừa sức qua cầu. Thực vậy, như chúng ta đã thấy tiếng Việt của dân ta tự bản chất vốn đã là một ngôn ngữ độc âm, từng tiếng một và hơn thế nữa những ngôn từ thông dụng, cụ thể và gần gũi nhất đều xuất phát từ….tiếng Việt.
Chẳng hạn như người Việt chúng ta gọi “Ba”, thì người Pháp gọi là papa hay père, còn dân Ăng lê thì gọi là father. Người Việt chúng ta gọi “Má, Mẹ” thì người Pháp gọi là maman, mère, còn dân Ăng lê thì gọi là mather, người Tàu thì gọi là mẫu…
Riêng cái khoản tượng hình và tình cảm thì tiếng  Việt của dân ta hẳn phải ăn đứt thiên hạ.
Chẳng hạn chỉ một màu trắng mà thôi, trong tiếng Việt, đã có biết bao nhiêu mức độ đậm nhạt khác nhau như : trắng bạc, trắng bệch, trắng bong, trắng bốp, trắng dã, trắng đục, trắng hếu, trắng mét, trắng mịn, trắng mởn, trắng ngà, trắng ngần, trắng nõn, trắng phau, trắng phếu, trắng tinh, trắng tuốt…
Trong phạm vi tình cảm cũng vậy, chỉ nguyên cái chuyện giận mà thôi cũng đã thấy nhiêu khê và rắc rối : giận bậy, giận cùn, giận dai, giận dữ, giận giỗi, giận hờn, giận lẫy, giận phừng phừng, giận run cả người, giận tím cả gan, giận bể cả phổi, giận sôi cả tim….
Có lần gã định dịch một câu hát của Trịnh Công Sơn qua tiếng Pháp :
- Nắng có hờn hằn lên môi em…
Rốt cuộc, gã đành chào thua. Có thể vì khả năng tiếng “phăng xe” của gã còn yếu kém, nhưng cũng có thể vì cái nắng, cái hờn trong tiếng Việt Nam có những “gam”, những mức độ đậm đặc tuyệt vời khó mà diễn tả.
Gã không chuyên về ngôn ngữ học, nên chẳng hiểu lý luận trên đây của ông tây này được ban giám khảo chấm cho được mấy điểm.
Riêng phần gã, gã hoàn toàn “ khẩu phục, tâm phục” cách ghép chữ của ông cha ta ngày trước. Gã chỉ xin đưa ra một vài thí dụ điển hình mà thôi.
Chẳng hạn : “học hành”, đã học thì phải hành, nghĩa là phải làm, phải thực hiện thì mới ăn tiền. “Đạo đức” nghĩa là đạo giúp chúng ta trở nên người nhân đức, vì thế đã có đạo thì phải sống tốt lành nếu không thì chỉ bằêng thừa mà thôi. “Nhường nhịn” đã nhường nhau thì cũng phải nhịn nhau, dù người ta có chửi cha chửi mẹ, đào mồ tổ tiên ông bà hay cho ăn những thức cao lương mỹ vị thì cũng phải cắn răng chịu vậy, bởi vì đã nhường thì phải nhịn và nhịn như vậy thì lắm lúc cũng…nhục lắm. Thế mới gọi là nhịn nhục chứ.
Trong mục “tán hiêu tán vượn” hôm nay, gã chỉ xin bàn đến hai chữ “thương hại” mà thôi. Đây quả là hai chữ tuyệt vời và hết ý.
Thực vậy, tình thương là một cái gì tốt đẹp như khi cha mẹ thương yêu con cái mình. Tình thương là một lý tưởng cao cả cần phải được cổ võ. Chẳng hạn trước những đồng bào gặp phải thiên tai như bão lụt, chúng ta nên biểu lộ tình thương một cách cụ thể theo kiểu : thương người như thể thương thân, lá lành đùm lá rách, còn lá rách thì cũng cố mà đùm lấy lá…te tua.
Thế nhưng trong đời thường lại có biết bao nhiêu kiểu thương vô cùng tai hại, mà hậu quả nhiều khi khó lường nổi.
Trước hết trong phạm vi gia đình.
Có những bậc cha mẹ vì thương con, sợ con phải cực, phải  nhọc, phải đau nên sẵn sàng “bao cấp”, làm hết mọi việc cho nó, biến nó trở thành một thứ “cô chiêu, cậu ấm”, chỉ biết đòi hỏi, bắt người khác phục vụ, chẳng biết khuôn mình vào một kỷ luật tối thiểu nào cả, luôn ỉ lại và không bao giờ biết tự chủ lấy một ly ông cụ.
Bên cạnh nhà gã có một cặp vợ chồng già sinh được một mụn con trai. Hai ông bà hết sức muông chiều cậu ấm như người ta diễn tả :
- Cưng như cưng trứng, hứng như hứng hoa.
Thấy bọn nhóc tập xe đạp, cậu ấm cũng đòi tập, những hai ông bà kiên quyết nhất trí không cho vì sợ cậu ấm té ngã, trầy da tróc vẩy, toạc đầu xẻ chân…Vì vậy cho tới già, cậu ấm vẫn không biết đi xe đạp và mang một nỗi mặc cảm với chúng bạn.
Có những bậc cha mẹ vì thương con nên hết sức cưng chiều. Nó đòi gì là lập tức cho ngay, thậm chí còn thỏa mãn ngoài nhu cầu của nó. Từ chỗ có tiền, nó đâm đua đòi bè bạn học thói xì ke ma túy. Từ chỗ xì ke ma túy bước sang trộm cắp, khoảng cách rất gần, chả cần đến một cú nhảy vọt.
Gã xin lượm lặt những mẩu tin trong báo Công an để chứng tỏ sự thật bi đát trên.
“…Thành là con út trong gia đình nên rất được ông bố cưng chiều. Cậu quí tử này đã đàn đúm cùng lũ bạn xấu tập tành hút xách. Thương con cách mù quáng, thay vì đưa con đi cai nghiện, ông bố lại còn đưa thêm tiền để nó thỏa mãn cơn nghiện. Ngày 6.11.1997, do không chịu nổi cơn ghiền, Thành đã về nhà dí dao vào cổ ông bố, bắt ông phải đưa tiền cho hắn…
“…Vì cha mẹ cho rằng học nhiều cũng chẳng đi đến đâu, nên đã mười mấy tuổi, Toàn vẫn còn là một “thằng bé lêu lổng”, ngỗ nghịch. Nhà gần chợ, suốt ngày Toàn lê la quán xá, học đòi ăn chơi và không biết từ bao giờ nó đã nghiện…ma túy. Nghe tin dữ ấy, cha mẹ Toàn chỉ còn biết mắng vuốt đuôi một trận te tát, sau đó đâu lại vào đấy. Cuộc mưu sinh cuốn họ vào những lo toan “cơm áo gạo tiền”. Việc Toàn nghiện hút được gia đình mặc nhiên thừa nhận như thể đó là chuyện phải đến với một thằng bé 15 tuổi. Thời gian đầu chưa kiếm được tiền, Toàn tự trích lại một phần thuốc bán được 5.000đ để dành cho cữ ngày hôm sau. Hết tiền thì mua chịu, ký nợ. Cứ như thế, từng ngày từng giờ Toàn lún sâu vào nghiện ngập, lún sâu vào việc buôn bán ma túy…
Có những bậc cha mẹ vì thương con, nên khi con sai lỗi, đã không sửa dạy mà con dấu diếm và bênh vực những sai lỗi ấy. Chẳng hạn như trong trường hợp của Toàn trên kia. Tại tòa án, khi được hỏi thì bà mẹ của Toàn đã thản nhiên trả lời :
- Tôi biết nó hút héroin, nhưng vì nó còn bé, đưa đi cai nghiện thì tội nghiệp…Tôi cũng biết nó bán héroin, mấy lần nó còn nhờ tôi bán giúp. Thỉnh thoảng nó cho tôi ba, bốn chục ngàn. Tôi nghĩ con cái có tiền cho thì xài, không cần hỏi lại.
Rất nhiều chuyện cỏn con không đâu của đám con nít, nhưng chỉ vì bênh con nên đã hóa thành chuyện lớn làm mất đi bàu khí êm ấm và cảm thông trong khu xóm : bênh con, lon xon mắng láng giềng là vậy.
Tiếp đến trong phạm vi xã hội.
Cũng có nhiều kiểu thương mà rất hại. Gã chỉ xin đưa ra một trường hợp cụ thể đó là nạn ăn xin.
Tác giả Nguyễn thị Oanh trên báo Tuổi trẻ Chủ nhật đã phân tích như sau :
“Không nói đến người già cả, tàn tật, cô thế mà ta có nhiều cách nâng đỡ, chứ không chỉ máy móc cho tiền, người còn sức lao động sẽ ỷ lại, chai lỳ. Đó là cái hại thứ nhất.
“Việc kiếm tiền dễ dàng khiến cho nhiều người lấy xin ăn thành một nghề. Như vậy cái hại thứ hai của cử chỉ ban phát là tạo một lớp người ăn bám.
“Hơn thế nữa, ta còn góp phần tạo ra tội phạm là những kẻ giả dạng thày tu, thương binh và nghiêm trọng hơn nhiều, ta góp tay vào nạn lạm dụng trẻ em để làm công cụ xin ăn. Có em bị gây thương tật, bị cho uống thuốc ngủ và nội chuyện phơi nắng suốt ngày…. cũng đã đủ nhức nhối.
Để gợi lòng thương, dân ăn xin dám làm những chuyện thật tai hại khác. Ngoài việc lạm dụng trẻ em, còn một số mánh đã được báo Công an mô tả.
“…Phổ biến nhất là chuyện tạo ra thương tật giả, lấy sự bi đát ghê rợn để diễn cảm hầu kích thích lòng nhân ái, từ tâm. Những “dân chơi bất cần thân thể” này chẳng sợ hoại thư, chẳng cữ bất cứ vi trùng gì, cứ  “triển lãm sản phẩm” là những vết lở loét rất kinh tởm, mủ máu, ruồi nhặng bu đầy, có thế mới ép phê, mới tạo sự xót xa để rồi khổ chủ càng lòi nhiều tiền ra.
Trong phút nói thật, có kẻ đã tiết lộ bí quyết như sau : Ban đầu chỉ là một vết cào xước bằng đá xanh tự làm lấy, tự tạo ra. Rồi một nắm tóc được ngâm lâu trong nước tiểu, rịt vào, băng thật kín lại, vết loét sẽ lan rộng sau một tuần bị bí hơi và không được rửa ráy, bôi thuốc, mà còn phải ăn hằng ngày xôi đậu phộng, bánh tét…để vết thương lồ lộ cho ruồi muỗi bu vào đẻ đái, kết quả một tháng thôi đã quá đủ để bá tánh đi chợ nhăn mặt, sẵn 200, 500 tiền thối đáng gì cho họ làm phước, tội nghiệp.
Để cho mắt sưng lên, chảy cả mủ lẫn ghèn, trông như đui đến nơi, chúng chỉ cần nhỏ vài giọt mủ xương rồng.
Để tạo cảm giác mạnh với một dúm ruột máu me đỏ hỏn lủng lẳng trước bụng, chúng dùng đoạn ruột heo rửa sạch bôi thuốc đỏ, đặt ở bụng, rồi dùng bao nylon ém lại, lấy giây buộc quanh bụng. Qua lớp nylon cáu bẩn thật là khó phân biệt, hơn nữa đã có mấy ai được biết ruột thật ra sao ?
Để vừa bò vừa lết, chúng nằm sấp trên chiếc xe đẩy tự tạo, một chân gập ngược ra sau, buộc cho chặt, sau đó phủ lên trên bằng lớp quần áo cũ rách…
Qua những mánh được xử dụng trong nghề ăn xin như vậy, có lẽ nên tự hỏi xem mỗi khi bố thí, mình sẽ làm cho họ vươn lên hay ngược lại, sẽ làm cho họ ỉ lại, đảy họ vào chỗ phụ thuộc, ăn bám và đánh mất lòng tự trọng. Thương như vậy quả là thương mà hại.
Sau cùng trong phạm vi quốc tế.
Cũng không thiếu những kiểu thương mà hại. Một nước giàu viện trợ cho một nước nghèo, trước mặt bàn dân thiên hạ, thì đó là một hành động biểu lộ tình thương. Thế nhưng hành độâng biểu lộ tình thương này không phải là không có những tác hại của nó.
Nếu viện trợ về súng ống, đạn dược, thì họ đảy chúng ta vào vòng chiến tranh, làm cho quê hương bị rách nát hầu nuôi sống ngành công nghệ chế tạo vũ khí của họ.
Nếu viện trợ về tiền bạc, thì họ làm cho chúng ta bị lệ thuộc một cách êm ái. Khi muốn gây áp lực, chỉ cần cúp viện trợ, lập tức chúng ta bị xính vính và xin qui thuận vô điều kiện như một chư hầu ngoan ngoãn và dễ bảo.
Ngoài ra những đồng tiền bất hạnh này còn tạo ra một thứ phồn vinh giả tạo, ru ngủ chúng ta trong việc phát triển kinh tế, để rồi không cần thắt lưng buộc bụng, ăn xài theo kiểu bóc ngắn cắn dài, con nhà lính tính nhà quan, nên đã lệ thuộc thì lại càng lệ thuộc hơn nữa, bằng không chẳng sớm thì muộn cũng sẽ sụp đổ về chính trị cũng như về kinh tế.
Hôm nay dám xía vô lãnh vực chính chị chính em thì quả là bạo phổi, vì lãnh vực này gã chẳng hề có tí hiểu biết nào sốt, đúng là múa rìu qua mắt thợ, đánh trống qua cửa nhà sấm…Ví bằng có điều gì sai sót, thì gã xin…rút.
Trở về với lãnh vực đời thường nhỏ bé, gã xin kể lại một kinh nghiệm bản thân.
Hồi sống trên Đàlạt, gã có một bà dì. Gia đình bà dì này cũng lâm vào cảnh túng thiếu. Ông chú đi làm không đủ chi bởi vì họ có những tám đứa con.
Nhiều lúc bà dì đã cầu viện gã giúp đỡ. Hoàn cảnh của gã lúc bấygiờ cũng chẳng khấm khớ gì cho lắm, bởi còn đang trong kiếp học trò, dài lưng tốn vải ăn no lại nằm. Chắt chiu vét hào bao thì cũng chỉ được mấy chục ngàn. Mà mấy chục ngàn thì có là bao, đánh vèo một cai là đã hết. Đúng là của vào nhà khó như gió vào nhà trống.
Nằm vắt chân lên trán để tìm kế giúp đỡ sao cho có hiệu quả. Cuối cùng sau nhiều ngày tháng tiết kiệm, nghĩ tới nghĩ lui, gã bèn mua tặng cho bà dì một chiếc máy may cũ hiệu Sinco.
Thế rồi, cũng từ chiếc máy may này, đời sống kinh tế dần dần được cải thiện. Mấy đứa nhỏ đi học về, bèn chia phiên nhau may gia công giúp mẹ. Thời gian sau, bà dì gã tậu thêm được một chiếc máy nữa, vì cũng lắm…con gái. Kinh tế không những được bảo đảm mà còn có mòi phất lên là đàng khác.
Viết đến đây, gã bèn nhớ tới một câu thành ngữ của người    Tàu :
- Thụ chi dĩ ngư, cần cung nhất phạn chi nhu, giáo nhân dĩ ngư, tắc chung thân thụ dụng vô cùng. Nghĩa là trao cho người ta con cá thì chỉ giúp được một bữa ăn, dạy cho người ta biết câu cá thì người ta suốt đời được hưởng dụng vô cùng.
Chẳng hiểu câu thành ngữ này có thể trở thành một đường lối cho chúng ta trong việc giúp đỡ người khác và một chính sách trong việc viện trợ cho các nước nghèo hay không ?
Còn gã, khi trích dân câu thành ngữ này của người Tàu, liệu có đáng mặt ….cụ đồ hay “nho chùm” không đấy chứ ?
Gã Siêu

 

Chuyện Gã Siêu 110: KHÔN MÀ KHÔNG NGOAN

KHÔN MÀ KHÔNG NGOAN Chuyện Gã Siêu 110

Mục “Sổ tay Văn hóa” trên báo “Tuổi trẻ Chủ nhật” số ra ngày 06.12.1998, có một bài viết ngăn Chuyện Gã Siêu 110

Mục “Sổ tay Văn hóa” trên báo “Tuổi trẻ Chủ nhật” số ra ngày 06.12.1998, có một bài viết ngăn ngắn của Nguyễn ngọc Bích, với tựa đề : “Món hàng từ siêu thị Cora”.
Gã xin phép tác giả được trích dẫn nguyên con, kẻo bị mang tiếng là “thuổng văn” thiên hạ. Rồi bị lôi ra ba tòa quan lớn với tội danh được thành lập là xâm phạm tác quyền thì thật  nguy to.
Cora ở Đồng Nai là một siêu thị lớn nhất và hiện đại nhất nước, do doanh nhân Pháp đầu tư. Ở đó người ta không phải đối phó với chuyện buôn bán ế ẩm, nhưng với việc hàng hóa bị mất cắp. Sự kiện mất cắp hàng hóa tại đây đặt ra cho chúng ta vấn đề đạo đức và phát triển.
Đối với mỗi cá nhân, đạo đức dễ làm cho người ta cảm thấy thiệt thòi và có những khi muốn vứt bỏ nó. Tuy nhiên đối với xã hội, đạo đức của mỗi cá nhân lại cần thiết cho sự phát triển.
Sự việc mất cắp ở siêu thị Cora cho chúng ta thấy ít ra năm điều :
. Không chỉ là chuyện ăn cắp vặt mà là ăn cắp có tổ chức.
. Một cụ già 60 tuổi ăn cắp bị bắt còn chửi người bảo vệ rằng : “lấy đồ của Tây chứ đâu có ăn cắp của Nhà nước“.
. Điều mà chủ nhân siêu thị lo ngại không phải là ở chỗ mất cắp mà là không có người nào muốn bắt cắp, và là sẽ phải đóng cửa vào ngày chủ nhật vì số tiền bỏ ra cho chi phí bảo vệ sẽ cao hơn số tiền kiếm được.
. Đối phó, siêu thị đã phải thêm người bảo vệ, thêm quầy tính tiền.
. Giới chức có trách nhiệm tại trung ương và địa phương khi được hỏi đã cho biết đại ý là cần làm nhanh, nếu có báo cáo và được chỉ đạo sẽ họp với các ngành để làm rốt ráo.
Đó là một hiện tượng xã hội. Và chúng ta rút ra được gì khi nhìn vụ Cora trong bối cảnh của đạo đức ?
. Nếu siêu thị đóng cửa một ngày, hay đóng cửa luôn thì có nghĩa là khi thiếu đạo đức bên trong, chúng ta sẽ không được hưởng những tiện nghi bên ngoài.
Như thế,  để cho xã hội phát triển về kinh tế thì không chỉ trong giao tiếp giữa con người, chúng ta mới phải xứng đáng với nhau;  mà ngay cả với vật chất, nó cũng đòi hỏi như thế. Người sử dụng nó phải xứng đáng với nó về mặt đạo đức. Thấy Cora nó to, hàng nhiều, nhưng chớ táy máy.
. Nếu hưởng được, thì giá trả sẽ đắt hơn so với những nước khác. Tiền thuê thêm bảo vệ hay phải mở nhiều quầy thu tiền thì cũng sẽ được tính vào giá hàng.
Ấy là tại sao giá thành ở chúng ta cao, và sức cạnh tranh của chúng ta thấp. Ấy là tại sao vào siêu thị, phải gửi túi, bỏ cặp…Chúng ta có thể được nhìn, được kể nhiều về văn minh thế giới, nhưng chẳng bao giờ những thứ đó đến tay ta.
. Trong tâm lý của chủ nhân và của những nhân viên siêu thị, trước kia họ vui vẻ đón chờ thì nay sẽ là cảnh giác đề phòng. Khách hàng vào đó sẽ ít tìm thấy ở họ những nụ cười của vui tươi.
Một môi trường của sự lương thiện không thể tồn tại khi nó không được một nền tảng đạo đức hỗ trợ.
. Chính quyền sẽ không còn nhiều thì giờ để nghĩ và làm những việc tốt cho dân, mà sẽ bị bận rộn vì giải quyết cái xấu của kẻ cắp.
. Tình trạng có thể kéo dài mãi nếu như  “ không người nào muốn bắt cắp”, hay còn nghĩ  “ ăn cắp của Tây”! Sao mà hội nhập kinh tế ?
Cha mẹ thương con, mua tủ sắm giường. Vậy là khi chúng ta làm cho người khác thì xã hội có thêm của cải.
Cora cho thấy khi lấy của người khác thì cái hiện có trong xã hội cũng sẽ mất đi. Cora là một minh chứng về vai trò của đạo đức đối với phát triển. Ý nghĩa về nó là thước đo cho thấy khả năng hội nhập kinh tế của chúng ta. Siêu thị cho chúng ta một món hàng, một bài học cụ thể cho một đề tài trừu tượng.
Tác giả đã nhìn sự kiện Cora trong phạm vi kinh tế và đã đi tới một kết luận :
- Đạo đức rất cần thiết và là nền tảng cho phát triển.
Còn gã, mỗi khi nhớ hay đọc lại sự kiện trên, gã liền cảm nhận một nỗi buồn tê tái, vừa xót lại vừa thương.
Phải, gã cảm thấy xót xa như chính mình bị bôi tro trát trấu, hay như chính mình bị một ai đó tát vào mặt. Tự ái dân tộc nơi gã nổi lên đùng đùng, nhưng đành phải “ngậm đắng nuốt cay” thế nào. Gã băn khoăn tự hỏi :
- Không hiểu mấy ông tây bà đầm ấy sẽ nghĩ gì về người Việt Nam. Rồi khi về nước, chắc hẳn họ sẽ xì xầm bàn tán với bà con lối xóm rằng : người Việt Nam thế này, người Việt Nam thế nọ…Và cuối cùng họ sẽ đi tới một thái độ cụ thể, đó là hãy đề cao cảnh giác, tránh cho xa cái bản mặt người Việt Nam.
Có kẻ đã kể cho gã nghe rằng : ở một vài vùng bên Mỹ, tại những nơi công cộng hay trên xe buýt, người da trắng mang nặng đầu óc kỳ thị, đã bạo phổi viết những hàng chữ bậy bạ như sau :
- Coi chừng người Việt Nam ăn cắp.
Gã không tin rằng câu chuyện này là có thực, bởi vì người Mỹ vốn đã vỗ ngực khoe khoang mình là dân tộc văn minh, hiện đại và tự do nhất hành tinh này. Thế nhưng khi nghe qua, Gã đã tức suýt nữa thì bể phổi và hộc máu ra mà chết.
Buồn ơi là buồn và đau ơi là đau. Nhưng nghĩ đi thì cũng phải nghĩ  lại. Và khi nghĩ  lại, Gã cảm thấy thương cho những người Việt anh dũng ấy, đã có can đảm đi ăn cắp và đã có can đảm phát ngôn thật hách xì xằng :
- Lấy đồ của Tây, chứ đâu có ăn cắp của nhà nước.
Bình thường, những người Việt anh dũng này đang lâm vào một hoàn cảnh kinh tế không mấy sáng sủa, nếu không muốn nói là còn đen hơn cả mõm chó, bởi vì như cha ông chúng ta thưở trước đã dạy :
- Bần cùng sinh đạo tặc.
- Đói ăn vụng, túng làm liều.
- Bụng đói thì đầu gối phải bò.
Thế nhưng, bò đâu không bò, lại bò ngay vào cái siêu thị của mấy ông chủ Tây mà chôm chỉa, nên mới rách việc.
Gã còn nhớ hồi trước giải phóng, gã có một bà bác cắm dùi tại giáo xứ Bắc hà, quận Củ chi. Giáo xứ này nằm sát một căn cứ của quân đội Mỹ.
Và thế là đang từ một giáo xứ nghèo rớt mùng tơi, dân chúng lục đục bỏ đi nơi khác để tìm đường sống, bỗng dưng hồi sinh cái một. Đờn ông cũng như đờn bà, già cũng như trẻ, người người đều đi làm sở Mỹ, nhà nhà đều đi làm sở Mỹ. Bọn nhóc con thì lang thang bán kẹo cao su và thuốc lá. Ấy là chưa kể đến đội quân “gà móng đỏ” kéo về, khiến những quán “bar” mọc lên như nấm sau cơn mưa.
Bà bác tôi,  lúc bấy giờ dù đã có tí tuổi, nhưng cũng vẫn hăng hái hưởng ứng phong trào đi làm…sở Mỹ. Kể từ đó, trong nhà rủng rỉnh những cam và táo. Mỗi buổi chiều, khi tan sở về, thế nào bà cũng moi trong cạp quần ra được một hay hai trái.
Bà kể lể sự thật như sau :
- Bọn Mỹ chúng nó rất thương các bà già, chúng gọi các bà già là “má mì san” và thường cho các bà già trái cây. Thế nhưng các bà già không ăn, để dành đem về cho con cho cháu. Lỡ hôm nào chúng không cho, thì nhanh tay lẹ con mắt, chớp vội vài trái mà dắt đại vào cạp quần chứ sao.
- Bộ khi ra cổng, MP tức là quân cảnh chúng không khám không xét ư ?
- Đối với các “má mì san”, chúng đều cho ra mà chẳng khám xét chi cả.
Chuyện rằng có một cô gái được làm ở khâu nhà bếp, thấy đứa con ở nhà mỗi ngày một ròm và còm cõi vì suy dinh dưỡng, nên chiều hôm ấy cô quyết tâm khi về sẽ lấy một ký thịt bò đông lạnh, rồi quấn kỹ quanh bụng.
Thế nhưng, khi ra đến cổng, do sức nóng của cơ thể, miếng thịt bò đông lạnh bắt đầu chảy nước và nhỏ xuống đất những giọt đo đỏ. Bọn quân cảnh Mỹ thấy vậy tưởng cô gái đã tới…tháng  hay mắc phải chứng bệnh đờn bà con gái gì đó, nên vội kêu xe cứu thương, chở gấp tới bệnh xá.
Tại đây, người ta mới khám phá ra và cười ồ lên :
- À, té ra là thế.
Cái khó ló cái khôn. Hôm nay, cái khó thì vẫn còn đó, nhưng liệu sẽ ló ra được bao nhiêu cái khôn siêu đẳng thuộc loại này ? Vậy đâu là nguyên nhân phát sinh ra tệ trạng trên?
Các cụ đồ nho, học trò Đức Khổng Tử, thì cho rằng :
- Nhân chi sơ tính bản thiện.
Bổn tính con người khi sinh ra vốn dĩ tốt lành. Nhưng rồi do hoàn cảnh xã hội, cái tính bản thiện ấy  mỗi ngày một tuột dốc và xấu dần, xấu dần thêm mãi.
Còn các nhà thần thọc thì phán rằng :
- Xuất phát từ lòng bàn tay Thiên Chúa, con người tốt lành như các thiên thần, thế nhưng do ảnh hưởng của tội nguyên tổ, con người bắt đầu xuống cấp. Trí khôn trở nên mờ tối. Ý muốn bị dục vọng khống chế. Và lòng tham thì như một vực thẳm không đáy.
Chính vì lòng tham không đáy này, người ta luôn hướng chiều tới “việc vơ vét về”. Và người ta đã nghĩ ra trăm phương ngàn kế để thực hiện ý đồ đen tối ấy.
Riêng với người Việt Nam, theo gã nghĩ, còn có một nguyên nhân lịch sử khác nữa.
Số là như chúng ta đã biết cha ông chúng ta đã từng sống một ngàn năm nô lệ giặc Tàu, rồi một trăm năm nô lệ giặc Tây và hai mươi năm nội chiến từng ngày. Trong kiếp nô lệ đằng đẵng này, muốn được sống phây phây và phè phỡn, người ta cần phải khéo luồn và  khéo lách…Tất cả nghệ thuật luồn và lách này được kết tinh thành những cái khôn, như :
- Khôn quỉ hay khôn xảo, nghĩa là hiểu biết và thu lợi nhiều cho mình một cách quỉ quyệt và xảo trá.
- Khôn ranh, khôn lỏi hay khôn vặt, nghĩa là hơn người trong những việc vặt vãnh, nhỏ mọn chẳng đáng.
Những cái khôn này, tự bản chất : rằng khôn thì thật là khôn nhưng lại chẳng ngoan tí nào, bởi vì chẳng biết phân biệt phải trái. Cứ thấy tiền của, lợi lộc và chức tước là húc đầu vào như con thiêu thân lao mình vào lửa hay như con bò rừng nhào tới tấm vải màu đỏ trong đấu trường Tây ban nha.
Những cái khôn này đều có hai điểm chung.
Điểm chung thứ nhất đó là luôn đặt cái lợi của mình lên trên hết và sẵn sàng dùng mọi phương tiện để đạt cho được mục đích, dù đó chỉ là những phương tiện xấu xa và  hèn hạ.
Điểm chung thứ hai đó là  những cái khôn này luôn mang tính cách lươn lẹo, gian dối và thiếu thành thật. Nhiều khi miệng thì nam mô, nhưng trong bụng lại chất đầy một bồ dao găm. Hay như tục ngữ cũng đã diễn tả :
- Miệng thì thơn thớt nói cười,
  Mà trong nham hiểm giết người không gươm.
Với một bề dày lịch sử nổi cộm như thế, những cái khôn ranh và khôn vặt này đã bén rễ sâu trong tâm hồn và luôn lưu thông trong máu huyết của người Việt Nam, dù đã cố gắng rất nhiều nhưng vẫn chưa thể đánh bật được nó ra ngoài.
Chính vì thế mà cho đến hôm nay, nó vẫn còn để lại những hệ lụy, những hậu quả giây chuyền thật thê lương và thảm thiết.
Thực vậy, vì thiếu thành thật, nên người Việt Nam chúng ta rất khó cộng tác với nhau. Người ngoại quốc đã nhận xét về các sinh viên Việt Nam như sau :
- Sinh viên Việt Nam rất giỏi, chỉ số thông minh của họ rất cao. Nếu một chọi một, nghĩa là một sinh viên Việt Nam địch với một sinh viên ngoại quốc, họ dễ dàng nắm phần thắng. Thế nhưng một nhóm sinh viên Việt Nam đấu trí với một nhóm sinh viên ngoại quốc, thì họ sẽ thua xa. Sở dĩ như vậy là vì họ không biết hay không thể cộng tác với nhau.
Đây cũng là kinh nghiệm gã đã từng trải qua. Thưở còn mài đũng quần trên ghế nhà trường, cứ mỗi lần thảo luận theo nhóm là thấy khỏe re con bò kéo xe, bởi vì chỉ cần bàu lên một tên trưởng nhóm, rồi sau đó ngồi tán gẫu, cà kê dê ngỗng cho đến hết giờ, phó mặc tên trưởng nhóm tha hồ ba hoa chích chòe, vẽ rồng vẽ rắn, thêm râu thêm ria khi lêân trình bày hay báo cáo cùng bàn dân thiên hạ.
Cũng chính vì sự thiếu cộng tác này mà cho đến ngày hôm nay dân tộc mình không để lại được cho đời một công trình nghệ thuật tầm cỡ nào.
Chẳng hạn về kiến trúc, các lăng tẩm ở Huế còn quá nhỏ nhoi so với khu đền Ăng ko của người anh em Campuchia. Về văn học, hiện giờ chúng ta chưa có được một bộ bách khoa tự điển đầy đủ…Mạnh ai, người ấy viết. Mạnh ai người ấy làm. Mà sức làm, sức viết của mỗi cá nhân thì thật hạn hẹp. Một cái đầu làm sao bằng hai cái đầu.
Một bộ tự điển “Larousse” của Pháp mà thôi cũng đã có biết bao nhiêu người cộng tác, rồi từ năm này qua năm khác, họ vẫn luôn duy trì sự cộng tác chặt chẽ ấy, để có những bổ túc cập nhật hóa, khỏi bị lỗi thời. Thấy mà thèm.
Rồi vì lòng tham, thấy cái lợi liền bị tối tăm mặt mũi như kẻ phải gió, nên mới nảy sinh ra những hành động làm nghèo cho đất nước.
Thực vậy, có người đã quan niệm : của nhà nước là của chùa, cứ mặc sức mà vơ vét, tuy nhiên phải khôn ranh một tí để khỏi bị tóm cổ. Nếu lỡ bị tóm cổ, thì hãy liệu mà chạy thuốc, lo lót càng sớm càng tốt, vì :
- Đồng tiền đi trước, đồng tiền khôn.
- Nén bạc đâm toạc tờ giấy.
Có một độ, nhà nước thu thuế bằng hiện vật. Chẳng hạn anh nông dân thì phải đóng thuế bằng lúa. Và thế là anh ta không ngần ngại trộn cát hay dội nước vào lúa cho nặng ký, khiến cho cả núi lúa thuế bị hư hỏng hay không thể xài được. Đây rõ ràng là tham cái lợi trước mắt mà quên cái hại sau lưng.
Cũng vì tham cái lợi mà biết bao xí nghiệp, công ti đã lỗ chổng vó, đã thua sặc gạch hay đã biến thành một thứ “công ti năng tan” chỉ vì ngài giám đốc hay cô thư ký biển thủ.
Biết bao đường giây hụi bị bể vì người cầm trịch ẵêm tiền bỏ trốn đi mất. Ấy là gã chưa nói đến những thứ “giả” được sản xuất để trục lợi.
Chẳng hạn làm hàng giả để kiếm lời. Hôn nhân giả để được xuất cảnh. Ly hôn giả để được cấp đất, cấp nhà. Bằng cấp giả để lòe thiên hạ hay để được ngồi vào chiếc ghế này, chiếc ghế kia. Mang thai giả để tống tiền. Đạo đức giả để lấy điểm hay để được thương…chỉ còn thiếu mỗi cái hàm răng giả để cho khỏi móm mà thôi. Hy vọng khi có dịp, gã sẽ mổ xẻ về những thứ giả này.
Càng viết, gã lại càng thương và càng xót, càng tủi và càng hận. Rốt cuộc, yếu tố quan trọng nhất vẫn là yếu tố con người. Chẳng thế mà cha ông chúng ta ngày xưa đã bảo :
- Phải tu thân, rồi sau đó mới tề gia, trị quốc và bình thiên hạ.
Ngày nay, muốn phát triển và nâng cấp nền kinh tế, thì tiên vàn, phải phát triển và nâng cấp chính con người trước mình đã.
Gã Siêu

 

Chuyện Gã Siêu 111: NÓI VÀ LÀM

NÓI VÀ LÀM Chuyện Gã Siêu 111

Chuyện xưa tích cũ kể lại rằng : Ngày kia, vợ thày Tăng Tử đi chợ, thấy con khóc đòi theo, bà Chuyện Gã Siêu 111

- Con ở nhà, rồi khi về, mẹ sẽ làm thịt
Chuyện xưa tích cũ kể lại rằng :
Ngày kia, vợ thày Tăng Tử đi chợ, thấy con khóc đòi theo, bà liền phỉnh gạt :
- Con ở nhà, rồi khi về, mẹ sẽ làm thịt heo cho con ăn.
Lúc vợ về, thày Tăng Tử  bèn bắt heo làm thịt. Vợ bảo là mình chỉ nói đùa mà thôi, nhưng thày lắc đầu :
- Đừng khinh rẻ trẻ thơ không biết gì. Cha mẹ làm chi thì con cái thường hay bắt chước mà làm như vậy. Nay mình nói dối con, là mình dạy con nói dối rồi đó.
Và thế là thày đi làm thịt heo cho con ăn.
Từ câu chuyện trên gã nhận ra hai mẫu người. Thày Tăng Tử là mẫu người nói và làm, còn bà vợ là mẫu người nói và lờ.
Trong cuộc sống, giữa nói và làm có biết bao nhiêu tình tiết nhiêu khê rắc rối. Thậm chí nhiều lúc có cả một vực thẳm ngàn trùng xa cách. Chính vì thế, gã xin mạn phép được bàn đến mối quan hệ giữa nói và làm.
Khi tạo dựng, Thiên Chúa đã ban cho con người một cái lưỡi. Nhờ cái lưỡi, con người có thể nói được. Và nhờ tiếng nói, con người biểu lộ cho nhau những tình cảm, những ước muốn, những suy nghĩ  hầu xích gần lại ‘’mí’’ nhau hơn. Bởi đó, người ta thường bảo :
- Người là một con vật có ngôn ngữ, có tiếng nói.
Thế nhưng, phàm bất cứ việc gì trên cõi đời này cũng đều có hai mặt. Mặt phải và mặt trái. Mặt phải của cái lưỡi, đó là một nhịp cầu cảm thông được bắc bằng ngôn ngữ và tiếng nói.
Còn mặt trái, đó là những uẩn khúc, những hận thù, những đổ vỡ mà cái lưỡi đã gây nên, đúng như người xưa đã bảo :
- Lưỡi người còn độc hơn cả họng ong.
Sở dĩ như vậy là vì cái lưỡi không có xương. Mà đã không có xương thì lại lắm đường lắt léo. Nói dọc nói ngang, nói quàng nói bậy, nói thế nào cũng được, như tục ngữ đã diễn tả :
-Ở sao cho vừa lòng người
Ở rộng người cười ở hẹp người chê
Cao chê ngỏng thấp chê lùn
Béo chê béo trục béo tròn
Gầy chê xương sống xương sườn phơi ra.
Trong mối liên hệ giữa nói và làm, thì hạng người tệ hại nhất đó là  những kẻ nói một đàng, làm quàng một nẻo. Những kẻ nói thì hay, nhưng làm thì ngược lại những điều mình nói. Họ nói vậy mà không phải vậy đâu, cho nên phải đề cao cảnh giác, bởi vì :
- Ngoài thì hơn hớt nói cười
  Mà trong nham hiểm giết người không gươm.
Họ đúng là những kẻ ‘’khẩu phật tâm xà’’, ‘’miệng nam mô bụng bồ dao găm’’ như ca dao đã bảo :
-Nam mô, một bồ dao găm
Một trăm dao mắc
Một vác dao bầu
Một xâu thịt chó.
Chính Đức Kitô cũng bàn về hạng người này một cách rất chính xác :
- Họ kinh kệ dài dòng nhưng lại nuốt trửng gia tài của các bà góa… Họ giống như mồ mả, bên ngoài thì quét vôi đẹp đẽ, nhưng bên trong thì đầy giòi bọ và đủ mọi thứ xú khí.
Người ta thường cho rằng :
- Nói và làm ngược lại điều mình nói là một chứng bệnh trầm kha của nhiều người, đặc biệt của các thương gia và chính khách.
Với các thương gia trong lãnh vực buôn bán mà cứ thật thà như đếm thì làm sao khấm khớ. Muốn khấm khớ thì phải cân non, thước thiếu, hàng dổm vẫn cứ nói là hàng xịn.
Còn với các chính khách trong việc hoạch định chính sách và đường lối của mình mà cứ thẳng như ruột ngựa thì làm sao thành công. Muốn thắng lợi thì phải tung hỏa mù, càng mập mờ càng tốt.
Khi vui thì ta cắt nghĩa rộng cho đối phương thoải mái tí chút, còn khi buồn thì ta cắt nghĩa hẹp để có thể chịt cổ những kẻ ngo ngoe chống cưỡng. Chả hiểu nhận xét trên đúng hay sai.
Tiếp đến, một hạng người khác bớt nham hiểu hơn, đó là những kẻ nói và lờ. Họ nói nhưng không làm, giống như bà vợ của thày Tăng Tủ, bảo đi chợ về sẽ làm thịt heo, nhưng rồi bà liền đánh trống lảng, cho đó chỉ là chuyện đùa.
Quái chiêu được hạng người này xử dụng đó là ‘’lờ tít’’. Những điều tâm niệm được họ áp dụng trong cuộc sống, đó là  :
- Yên lặng là vàng.
- Cố đấm ăn xôi.
- Nhất lí nhì lì tam ì tứ ẩu.
Sau khi tuyên bố vung vít, họ bèn lặn thật sâu, im hơi lặng tiếng thật dài. Mặc cho thiên hạ phản đối, mặc cho thiên hạ yêu cầu. Nói lắm mỏi miệng. Rồi cũng chìm xuồng và đi vào quên lãng để họ thủ lợi. Dù có bị mang tiếng là đánh trống bỏ dùi, thả diều cắt dây, đem con bỏ chợ…thì lợi nhuận cũng đã chui vô đầy túi.
Gã thấy trong những cuộc vận động, ứng cử viên nào cũng hứa sẽ làm điều này, sẽ làm điều kia cho dân chúng khấp khới mừng thầm mà dồn phiếu
Đến khi đã ẵm được cái ghế này, ghế nọ, đã yên vị tại Quốc hội, hay tại chỗ nọ chỗ kia, thì những lời hứa chắc như đinh đóng cột khi trước liền bốc hơi và trở thành những lời hứa hão. Mọi sự vẫn y nguyên như cũ.
Gã vốn thường phong cho những kẻ nói và lờ, nghe và lặn là những vị ‘’giám đốc’’, nghĩa là họ dám xúi, dám đốc cho thiên hạ làm, còn họ thì chỉ tay năm ngón, ngồi nhà mát ăn bát vàng, dẻo miệng đỡ tay chân.
Họ chất những bó nặng lên vai người khác, còn bản thân thì chả đụng một tí móng tay để lay thử. Bao nhiêu việc nhọc nhằn thiên hạ lãnh đủ, còn họ chỉ việc phe phẩy vuốt mấy cọng râu cá chốt của mình. Nói thì nói vậy chứ đôi lúc gã cũng thấy mình đã muốn và đã làm như thế.
Hạng người thứ ba gã muốn bàn đến đó là những kẻ nói thì nhiều mà làm chẳng được bao nhiêu. Dầu sao, đối với hạng người này, gã còn thấy được một đốm sáng ở cuối con đường hầm.
Trước sự kiện ‘’làm chẳng được bao nhiêu này’’ họ có sẵn trong bụng một ngàn lẻ một lý do để biện minh. Nào là tại, nào là bởi, nào là vì… ôi thôi, cái khó bó cái khôn.
Họ quên mất lời người xưa đã dạy :
- Tri bỉ tri kỷ, bách chiến bách thắng. Biết mình, biết người trăm trận đều thắng.
Nhiều lúc họ cố tình không muốn biết mình, nên cứ tuyên bố vung vít, cứ nói cho sướng cái lỗ miệng, rồi thì đến đâu hay tới đó. Mọi sự sẽ hạ hồi phân giải. Mà phân giải không được thì sẽ đánh bài ‘’lờ tít’’.
Họ luôn đâm ngực người khác mà rằng :
- Lỗi tại anh, lỗi tại chị, lỗi tại hoàn cảnh…
Họ chẳng bao giờ dám đấm ngực mà rằng :
- Lỗi tại tôi, lỗi tại tôi  mọi đàng.
Bây giờ,  gã xin đề cập tới những hạng người mà lời nói thường đi đôi vói việc làm. Giữa hai phạm trù này có một tỷ lệ thuận nào đó, và đặc biệt, lãnh vực ‘’làm’’thì không ngừng phát triển.
Trước hết là những kẻ nói ít mà làm thì cũng ít. Họ tiêu biểu cho những kẻ an phận, hưởng nhàn, luôn bằng lòng với gì mình có. Không muốn đấu tranh, không muốn dây dưa vào những chuyện rắc rối của cuộc đời, xin cho được hai chữ bình yên.
Trái với hạng người này là những kẻ nói nhiều mà làm thì cũng nhiều. Nói hăng mà làm thì cũng hăng. Họ tượng trưng cho hạng yêu đời, và năng động, dám nói, dám làm và dám lãnh nhâän trách nhiệm của mình trước những thành công và thất bại. Đi tới đâu, họ cũng gieo vãi niềm vui mừng và hy vọng cho những người chung quanh.
Sau cùng là những người nói ít mà làm nhiều, nói thỉ chẳng bao nhiêu mà làm thì lại rất nhiều, thậm chí có những người không nói chi cả mà vẫn âm thầm làm việc. Họ là những người vừa khiêm tốn, vừa nhiệt thành lại vừa thiện chí.
Tiêu biểu cho hạng người này là thánh Giuse.
Mặc dù nắm giữ một vai trò quan trọng trong chương trình cứu độ, thế mà qua Tin mừng, gã không thấy vị thánh này để lại cho hậu thế một lời nói nào, mà chỉ toàn là những việc làm. Vâng phục tối mặt, ngay cả trong những hoàn cảnh bi đát và tăm tối nhất. Gã xin kê đơn hoàn tán, kể lại một số việc làm điển hình.
Vừa mới đính hôn với Maria chưa được bao lâu, thì Giuse thấy người yêu bé bỏng của mình bỗng dưng mang bầu.
Giả như chúng ta, thì chúng ta phải làm cho ra nhẽ, phải bôi tro trát trấu khiến cho cô ấy bị  bẽ mặt. Còn Giuse, khi nhận ra Maria mang thai bởi quyền phép Chúa Thánh Thần, liền mau mắn đón cô ấy về nhà làm bạn mình.
Tiếp đến, khi Maria đang bụng mang dạ chửa, và sắp tới ngày sinh nở, thế mà chiếu chỉ của hoàng đế lại truyền cho mọi người phải trở về quê hương bổn quán của mình để kê khai nhân hộ khẩu.
Giá như chúng ta, thì chúng ta đã nại lý do này lý do kia để đánh bài xù. Còn Giuse thì đã âm thầm đưa Maria về Bêlem để chu toàn bổn phận của một người công dân.
Rồi đang đêm, được thiên thần báo mộng :
- Hãy đưa con trẻ và mẹ Ngài trốn sang Ai cập vì Hêrôđê đang truy tìm để giết hại.
Giá như chúng ta, thì chúng ta sẽ mường tượng ra những vất vả của cuộc hành trình trốn chạy, những khó khăn của cuộc sống vất vưởng nơi đất khách quê người để rồi ca bài “xù”. Còn Giuse thì khác, đã mau mắn vâng theo lệnh truyền, giữa đêm hôm khuya khoắt, vội vã đưa Hài nhi Giêsu và Mẹ Maria lên đường trốn sang Ai cập.
Cũng như sau này, qua lời báo của thiên thần, Giuse đã đem gia đình về định cư tại làng Nagiarét, hầu Kinh thánh được ứng nghiệm.
Cuối cùng, suốt những năm tháng dài, Giuse đã âm thầm đổ những giọt mồ hôi, lao động cật lực với đôi bàn tay chai cứng tại xưởng mộc Nagiarét, cố đem lại cho gia đình chén cơm manh áo, bảo đảm một cuộc sống vật chất ấm no hạnh phúc cho Chúa Giêsu và Mẹ Maria.
Giuse không nói nhưng đã làm thật nhiều. Rõ ràng khác xa với chúng ta.
Thời buổi hiện nay là thời buổi lạm phát lời nói nhưng lại khan hiếm và thiếu vắng việc làm.
Trong một ngày, trên báo chí, truyền thanh và truyền hình, chúng ta được nghe biết bao nhiêu lời tuyên bố nảy lửa, biết bao nhiêu giọng điệu tuyên truyền, biết bao nhiêu mẫu quảng cáo hấp dẫn… nhưng  thử hỏi kết quả được ngần nào ?
Có những lúc gã cảm thấy như người ta nói để mà nói, chứ chả có một tí quyết tâm để biến lời nói thánh việc làm. Người ta tô hồng bằng những bản báo cáo đầy triển vọng đang lúc thực tế còn rất bâáp bênh và đen tối.
Ngay cả những lúc thiên tai bão lụt ập xuống, mùa màng thất bát. Mà mức thu hoạch vẫn gấp đôi cùng kỳ năm ngoái. Thế có oai không chứ.
Có một khẩu hiệu khiến gã không ngừng suy gẫm, đó là câu:
- Nhà nước và nhân dân cùng làm.
Nhưng rốt cuộc nhân dân làm đến mửa mật, mà tiền do mồ hôi nước mắt lại chui tọt vào cái túi không đáy của những ông quan tham nhũng.
Riêng trong phần đạo, chúng ta cũng đang mắc phải tệ trạng này :
- Lạm phát lời nói nhưng lại khan hiếm việc làm.
Từ lúc có trí khôn cho đến bây giờ, chúng ta đã được nghe biết bao nhiêu bài giảng, chúng ta đã học được biết bao nhiêu bài giáo lý, chúng ta đã đọc biết bao lời kinh, còn những hành động bác ái yêu thương, giúp đỡ những người chung quanh thì liệu có được một ‘’dúm’’ hay không ?
Và ngay cả bản thân, có lẽ chúng ta cũng đã nói rất nhiều mà làm chẳng được bao nhiêu!
Tuy nhiên, việc làm lúc nào cũng có lợi điểm, giá trị và ưu thế riêng biệt của nó.
Thực vậy, nhờ việc làm chúng ta chứng tỏ cho người khác tình yêu nồng nàn của chúng ta. Làm sao có thể nhận ra một tình yêu không việc làm, bởi vì tình yêu không việc làm chỉ là một tình yêu đã chết, một tình yêu trong mơ tưởng chứ không hề tồn tại trong cuộc sống.
Trái lại, với những việc làm dù nhỏ bé, dù tầm thường nhất cũng đủ cho thấy mức độ đậm đà của tình yêu chúng ta.
Lắm khi chỉ là một nụ cười, một ánh mắt, một lời nói, một cử chỉ trìu mến đã làm ấm lên cả cõi lòng người mình thương mến.
Hơn nữa, nhờ việc làm chúng ta có thể lôi cuốn và hấp dẫn được người khác như tục ngữ đã bảo :
- Lời nói như gió lung lay
  Việc làm như tay lôi kéo.
Hay như một câu danh ngôn đã bảo :
- Việc làm mới là một bài giảng hùng hồn nhất có sức lôi cuốn và hấp dẫn. Lời nó chỉ là một tên lùn, còn việc làm mới thực sự là một anh chàng khổng lồ.
Con người hôm nay có lẽ đã chán ngấy những lời công bố, những khẩu hiệu tuyên truyền, những hình ảnh quảng cáo theo kiểu thùng rỗng kêu to, nhưng lại rất cần đến những chứng tá bằng việc làm, những chứng tá bằng cuộc sống.
Thiên hạ cúi đầu ngưỡng mộ một cha Phêrô ở Paris, suốt đời giúp đỡ cho những kẻ lang thang không nơi ăn chốn ở. Thiên hạ không ngớt ca tụng một mẹ Têrêxa ở Calcutta, luôn hy sinh chăm sóc cho những kẻ nghèo hèn, ốm đau và hấp hối.
Chính những hành động bác ái, chính những việc làm yêu thương nhằm xoa dịu những nỗi đau là điều nhân loại hôm nay đang cần đến.
Còn những ý đồ, những toan tính chính trị núp sau lưng những lời nói nặng phần trình diễn, chẳng sớm thì muộn, chẳng hôm nay thì ngày mai cũng sẽ bị lịch sử lật tẩy.
Viết tới đây, gã tự cảm thấy mình nói cũng khí nhiều, chỉ xin ghi lại một ý tưởng nữa, cho cái kết luận được thêm phần… có hậu :
- Thượng đế đã ban cho chúng ta chỉ có một cái miệng, nhưng lại có những hai bàn tay. Nếu như ai cũng ý thức điều đó, để rồi giảm nói mà tăng làm, thì chắc hẳn cục diện thế giới sẽ đổi thay, khuôn mặt nhân loại sẽ tươi sáng, môi trường xã hội sẽ ổn định và an bình hơn bao giờ hết.
Gã Siêu

 

Chuyện Gã Siêu 112: NHỮNG KIỂU PHỤ NỮ

NHỮNG KIỂU PHỤ NỮ Chuyện Gã Siêu 112

Truyện xưa kể lại rằng:  Vua Arthur, vị vua trẻ tuổi của nước Anh, bị quân Pháp phục kích và Chuyện Gã Siêu 112

Truyện xưa kể lại rằng:
Vua Arthur, vị vua trẻ tuổi của nước Anh, bị quân Pháp phục kích và bắt giữ. Lẽ ra vua nước Pháp sẽ giết ngài, nhưng vẻ trẻ trung dễ mến của Arthur đã làm cho vua Pháp cảm động. Ông ta hứa sẽ trả tự do cho Arthur nếu ngài giải được một câu đố cực khó. Thời hạn để Arthur đưa ra câu trả lời là một năm. Nếu sau một năm không tìm ra lời giải, Arthur sẽ phải chết. Câu đố ấy là: Phụ nữ thật sự muốn gì? Đối với Arthur, câu đố này quả là một thử thách quá lớn. Nhưng dù sao nó vẫn tốt hơn là cái chết. Arthur đành chấp nhận mạo hiểm.
Khi trở về Anh  quốc, ngài hỏi tất cả mọi người từ các công chúa đến các cha xứ và đến cả các quan toà, nhưng không ai có thể đưa ra một câu trả lời hoàn hảo. Cuối cùng, mọi người khuyên nhà vua hãy đến hỏi bà phù thuỷ già, bởi vì chỉ mình bà ta mới giải được câu đố hóc búa đó. Những ngày cuối năm cũng đã tới gần. Arthur không còn cách nào khác là đến xin ý kiến của mụ phù thuỷ. Bà ta đồng ý sẽ đưa câu trả lời nhưng với một điều kiện. Đó là bà ta muốn lấy Garwain, chàng hiệp sĩ dũng cảm, bạn thân nhất của nhà vua. Arthur thất kinh. Bà ta vừa xấu, lại vừa bẩn. Ngài chưa từng bao giờ thấy một ai đáng tởm như bà ta. Không, ngài sẽ không để bạn thân của mình phải chịu thiệt thòi như vậy.
Khi biết chuyện, Garwain nói với Arthur rằng sự hy sinh của chàng làm sao có thể so sánh được với sự sống của nhà vua, sự tồn tại của vương quốc Anh. Và chàng hiệp sĩ quyết định hy sinh. Cuộc hôn nhân được chấp thuận và vua Arthur nhận được câu trả lời. Điều phụ nữ thật sự muốn đó là “Có toàn quyền quyết định mọi việc trong cuộc sống của mình”.  Ngay lập tức ai cũng nhận ra rằng mụ ta vừa thốt lên một chân lý. Nhà vua của họ sẽ được cứu thoát. Quả thật vua nước nước Pháp rất hài lòng với lời giải đáp và cho Arthur khỏi cái án tử hình.
Lại nói về đám cưới của mụ phù thuỷ và chàng hiệp sĩ. Tưởng chừng như không gì có thể khiến Arthur hối hận và đau khổ hơn nữa. Tuy nhiên chàng hiệp sĩ của chúng ta vẫn cư xử hết sức chừng mực và lịch sự. Mụ phù thuỷ thì trái lại, trong tiệc cưới, mụ ta làm nháo nhào mọi thứ lên. Thỉnh thoảng mụ lại lấy cái tay bẩn thỉu của mụ nhón cái này một chút, bốc cái kia một tý. Thật chẳng ra làm sao cả. Mọi người thì hết sức khó chịu.
Đêm tân hôn, Garwain thu hết can đảm bước vào động phòng hoa chúc. Nhưng gì thế này? Trên giường không phải là mụ phù thuỷ già nua xấu xí mà là một cô gái vô cùng xinh đẹp đợi chàng tự bao giờ. Nhận thấy sự ngạc nhiên trên nét mặt chàng hiệp sĩ, cô gái từ tốn giải thích là vì chàng rất tốt với nàng lúc nàng là phù thuỷ, nên để ân thưởng, nàng sẽ trở thành một người xinh đẹp dễ mến đối với chàng vào nửa ngày. Vấn đề là chàng phải lựa chọn hình ảnh đẹp của nàng vào ban ngày hay ban đêm. Chao ôi sao mà khó thế? Garwain bắt đầu cân nhắc: Ban ngày nếu nàng là một cô gái xinh đẹp thì ta có thể tự hào cùng nàng đi khắp nơi, nhưng ban đêm làm sao mà ta chịu cho nổi? Hay là ngược lại nhỉ, ta đâu cần sỹ diện với bạn bè cơ chứ, cứ để nàng ta xấu xí trước mặt mọi người đi, còn khi màn đêm buông xuống, ta sẽ được tận hưởng những giây phút chồng vợ với thiên thần này. Garwain đã trả lời: “Nàng hãy tự quyết định lấy số phận của mình. Nàng muốn đẹp hay xấu vào lúc nào cũng được”. Tất nhiên câu trả lời này đã làm cho mụ phù thuỷ đội lốt cô nàng xinh đẹp kia hài lòng và nàng nói rằng nàng sẽ hóa thân thành một cô nương xinh đẹp suốt đời. Đó là phần thưởng dành cho người biết tôn trọng ý kiến của phụ nữ.
Câu truyện trên khiến gã nhớ tới một câu danh ngôn đại khái như thế này: Phụ nữ giống như bức tranh trừu tượng mà mãi 300 năm về sau cũng chẳng có ai hiểu được. Hôm nay, gã xin dựa vào một bài trên trang mạng “Dân Trí”, để bàn về một vài kiểu phụ nữ…quái chiêu. Thực vậy, sống trên đời, anh đàn ông nào mà chẳng thích những phụ nữ đẹp đẽ, duyên dáng, dịu dàng và đảm đang, tuy nhiên đôi khi vẫn thấy xuất hiện những kiểu phụ nữ làm cho họ phải “chết khiếp”.
 
Thứ nhất là những phụ nữ thích tiền 
Nói đến tiền, ai mà chẳng thích. Ngay cả một đứa nhỏ cũng thích và hình như càng già lại càng thích, bởi vì từ nhỏ cho tới lớn, từ già cho chí trẻ, ai cũng hiểu được “siêu giá trị” của đồng tiền: Có tiền mua tiên cũng được, có tiền là có tất cả. Thế nhưng, khuynh hướng thích tiền của một số  chị vợ lại được biểu lộ bằng những độc chiêu, khiến cho đối phương, tức là những anh chồng, phải ngậm đắng nuốt cay.
Thực vậy, hầu như chị vợ nào cũng muốn quản lý chặt chẽ những đồng tiền còm của chồng. Các chị có một bộ nhớ trên cả tuyệt vời, bao nhiêu chi tiêu của anh chồng đều được lưu giữ, chẳng hề sai trật một đồng xu cắc bạc nào cả. Các chị còn là một thứ ngân hàng đặc biệt, chỉ biết đầu vào mà chẳng biết đầu ra. Thu vào thi vui vẻ, bao nhiêu cũng nhận. Còn phát ra thì bủn xỉn, xẻn so từng đồng, như tâm sự của một anh chồng sau đây:
Vào ngày tui mới lãnh lương,
Vợ tui bỗng chốc dễ thương vô cùng.
Về nhà, “bả” tới ôm “hun”,
Dường như lòng bả nhớ nhung quá trời,
Xong rồi bả mới mở lời :
Tiền lương cuối tháng em coi xem nào.
Dứt lời, túi trước túi sau,
Hai tay bả móc, tui đau…đớn lòng.
Chỉ vài ba phút là xong,
Tiền trong tay bả, tui không còn gì.
Thế rồi bả cất bước đi,
Nét duyên khi nãy còn gì nữa đâu.
Tháng qua hai chín ngày sầu,
Ngày vui duy nhất, trôi mau quá trời.
(Trần Thành Nghĩa)
Trong khi đó, các chị lại mang “cái máu mua sắm” trong mình và người ta có thể coi việc thích mua sắm là bản tính “bẩm sinh” của một số phụ nữ. Các chị “ghiền” đi siêu thị và một khi đã bước chân vào, thì đố mà dứt cho ra. Các chị mải mê ngắm nghía hết gian hàng này tới gian hàng nọ. Kinh nghiệm cho thấy mấy anh chồng thường nghĩ rằng đồng tiền kiếm được là do lao động vất vả, nên phải chi tiêu sao cho hợp lý và chỉ mua những thứ cần thiết, còn các chị vợ thì khác, các chị mua sắm những thứ mình thích. Thậm chí có những thứ mua về rồi để một chỗ chẳng khi nào dùng tới. Thành thử người đời vốn thường bảo: Người đàn ông thành công là người phải kiếm được nhiều hơn số tiền vợ anh ta chi tiêu.
 
Thứ hai là những phụ nữ thích…so 
So ở đây có nghĩa là so sánh. Hội chứng so sánh này còn được gọi là hội chứng đứng núi này trông núi nọ, được voi đòi tiên, chẳng bao giờ biết bằng lòng với số phận của mình:
- Chồng người ta thì…thế nọ thế kia, còn anh thì cứ…thế này, thế này. Vậy nghĩa là làm sao?
Cái điệp khúc trên được rỉ rả suốt cả ngày và được rù rì suốt cả đêm, đến độ quỷ thần cũng không chịu nổi, huống lọ là anh chồng. Ấy là chưa nói tới cái danh dự, cái tự ái to bằng cái rế của anh chồng bị xúc phạm năng nề, vì dù sao mình cũng là thằng đờn ông kia mà. Thực vậy, sau một ngày đi làm mệt mỏi, trở về nhà chỉ toàn nghe thấy vợ mình khen chồng người khác giỏi giang, mua nhà lầu, sắm xe hơi, vợ người ta ăn sung mặc sướng, cuộc sống nhàn hạ… Chắc hẳn anh chồng nào cũng cảm thấy chối tai. Còn đâu cái cảnh:
Chồng ta áo rách ta thương,
Chồng người áo gấm xông hương mặc người.
 
Thứ ba là những phụ nữ thích gây 
Gây ở đây có nghĩa là gây sự. Các chị vợ thuộc loại này rất hiếu chiến, hễ gặp chuyện không vừa ý là nổi cơn tam bành, không còn biết cảm thông, chia sẻ là gì nữa. Các chị quên mất rằng hạnh phúc gia đình phải được xây dựng trên cơ sở tình yêu. Các chị không còn nhớ rằng sự dịu dàng đằm thắm của phụ nữ chính là thứ vũ khí mạnh nhất chinh phục cánh mày râu. 
Nếu tại các khu rừng rậm thuộc châu Á, cọp là vua của loài thú, thì ở châu Âu, sư tử là chúa sơn lâm. Khi nghe sư tử rống lên, các loài thú khác đều hoảng sợ, cụp đuôi chạy trốn mất.
Trần Quí Thường là bạn của thi hào Tô Đông Pha. Ông ta có một người vợ nổi tiếng là hay ghen và hung dữ. Mỗi lần Tô Đông Pha đến chơi, đều nghe tiếng bà ta la hét ầm ĩ. Thấy vậy, họ Tô mới làm một bài thơ cám cảnh mà chế diễu ông bạn có người vợ hung dữ như sau :
Thùy tự Long Khâu cư sĩ  hiền,
Đàm không thuyết pháp dạ bất miên.
Hốt văn Hà Đông sư tử hống,
Trụ tượng lạc thủ tâm mang mang.
Có nghĩa là :
Ai hiền hơn cư sĩ Long Khâu,
Đọc kinh giảng đạo suốt canh thâu.
Bỗng nghe sư tử Hà Đông rống,
Tay run gậy rớt lòng hoang mang.
Những chị vợ hung dữ như sư tử Hà Đông bên Tàu, thì quả là hiếm hoi, nhưng không phải là không có. Bởi vì trên đời này, đôi khi cũng vẫn xảy ra cảnh “gà mái đá gà cồ”. Chẳng tin thì xin nghe thử tâm sự của “Người mặt sẹo” như sau :
Nắng Sài Gòn anh đi mà lạnh ngắt,
Bởi vì em sinh quán ở Hà Đông.
Bao lần anh khiếp hãi sợ vô cùng,
Và trên mặt vẫn còn lằn vết sẹo.
Anh vẫn nhớ em ngồi đâu quát đấy,
Cầm khúc cây dài lắm chỉ đe anh.
Anh kinh hồn vội vã né lung tung,
Chờ sơ hở phóng ra rồi dông tuốt…
 
Thứ tư là những phụ nữ thích nói 
Người ta thường bảo: Nơi nào có hai hoặc ba người phụ nữ họp lại với nhau, nơi đó sẽ biến thành một cái chợ. Nếu hai hoặc ba chị phụ nữ ngồi lại với nhau là có tiếng xì xèo to nhỏ, cũng giống như hai hoặc ba anh đàn ông tụ lại với nhau là có tiếng bát đũa, ly tách khua vang. Khi gặp mặt nhau, các chị nói đủ thứ chuyện, từ chuyện trên trời đến chuyện dưới đất, từ chuyện trong nhà đến chuyện ngoài ngõ, đặc biệt là những chuyện thầm kín, riêng tư.
Không phải các chị chỉ “rậm lời” với nhau, mà còn “dài lời” với chồng con trong nhà. Về nghệ thuật “nói dài, nói dẻo, nói dai, nói day, nói dứt”, thì các chị ăn đứt, khiến mấy anh chồng chỉ có nước ngồi bó tay, chịu trận mà thôi.
Trước hết, phần lớn các chị vợ đều mắc phải chứng bệnh than, nào là thời buổi gạo châu củi quế, nào là vật giá leo thang, nào là gạo đường tăng lên vùn vụt:
Anh ạ, bình ga đã hết rồi,
Cộng dồn hai cái trả gấp đôi.
Đây nữa, nhà đèn đưa giấy báo,
Hẹn ổng cuối tuần phải đóng thôi.
Còn cái “a lô” nữa anh à,
Chuyện này không hoãn được đâu nha,
“Ầu ơ ví dặm là ổng…cắt,
Hóa đơn em nhận mới chiều qua.
Tiếp đến, các chị không ngần ngại nói tới nói lui, nhắc đi nhắc lại những sai lỗi của chồng, nhất là những lem nhem, những phản bội trong lãnh vực tình cảm. Đây chỉ là chuyện rất bình thường, không có chi là khó hiểu. Thực vậy, các chị vợ sống bằng trái tim. Đối với các chị, tình yêu là tất cả và chi phối mọi sinh hoạt. Vì thế, những lỗi phạm tới tình yêu sẽ trở thành như một vết chém, không bao giờ nguôi ngoai trong cõi lòng họ. Tình yêu của họ giống như bát nước đầy, một khi đã bị hắt xuống đất, thì không thể nào hốt lên được. Vì thế, anh chồng nào đã  bị lưu vào hồ sơ tội trạng, thì chẳng thể nào bôi xóa cho hết được.
 Mấy anh đàn ông rất sợ phải chung sống với kiểu người nói dài, nói dai. Suốt ngày bị lải nhải bên tai là một cực hình đối với họ. Họ không hiểu sao các chị vợ lại có thể nhắc đi nhắc lại mãi một vấn đề mà không biết chán. Họ chỉ biết lắc đầu lè lưỡi và tìm cách tẩu thoát cho nhanh khi “cái đài” được bật lên.
Trên đây, chỉ là một vài kiểu điển hình “tiên tiến” mà thôi. Chắc hẳn trong đời thường còn lắm mẫu gương tuyệt vời hơn thế nữa. Tuy nhiên, chỉ nguyên suy gẫm những kiểu trên mà thôi, một ông bố đã đưa ra những lời khuyên cho cậu con trai của mình như sau:
1- Kẻ thù lớn nhất của con là vợ con.
2- Ngu dốt lớn nhất của đời con là không hiểu được nó.
3- Thất bại lớn nhất của đời con là không bỏ được nó.
4- Bi ai lớn nhất của đời con là phải sống với nó.
5- Sai lầm lớn nhất của đời con là quyết định lấy nó.
6- Tội lỗi lớn nhất của đời con là nghe lời nó.
7- Đáng thương lớn nhất của đời con là bị nó sai khiến.
8- Đáng khâm phục lớn nhất của đời con là con vẫn chịu được nó.
9- Tài sản lớn nhất của đời con là những thứ nó đang giữ.
10- Khiếm khuyết lớn nhất của đời con là con không lấy được hai vợ.
Tới đây, gã xin kể lại một truyện cổ tích Ấn Độ như sau:
Thượng Đế tạo ra đàn ông trước, sau thấy đàn ông rầu rĩ, cô đơn quá, Ngài bèn lấy vẻ đẹp của Hoa, tiếng hót của Chim, mầu sắc của Cầu Vồng, cái độc ác của Chó Sói, cái hợm hĩnh của Con Công, cái lạnh lùng của Băng Tuyết, sự bất thường của Nắng Mưa, sự mềm mại của Gió, sự nhút nhát của Thỏ Rừng, đường cong của Vầng Trăng, lồi lõm của Đồi Núi.... để tạo thành đàn bà.
Thượng Đế cho đàn ông tặng vật tuyệt vời này làm vợ. Người đàn ông mừng quá, dắt người đàn bà đi, quên cả cám ơn. Nhưng chỉ ít lâu sau, chịu không thấu, gã bèn đem trả lại cho Thượng Đế.
Một thời gian ngắn, buồn héo hắt vì cô đơn, gã lại đến xin người đàn bà. Tiếp tục như thế mấy lần, xin trả rồi trả xin, Thượng Đế nổi giận và mắng: “Đây là lần cuối ta cho ngươi, từ nay sướng khổ ráng mà chịu lấy, đừng quấy rầy ta nữa vì ta còn bận trăm công ngàn việc với cái trần gian đa sự này. Biết chưa?”
Thôi thì xin ghi nhớ câu danh ngôn sau đây như một kết luận: Để có được hạnh phúc với một người đàn ông, bạn cần phải hiểu anh ta nhiều và yêu ít thôi. Còn để có được hạnh phúc với môt người phụ nữ, bạn cần phải yêu nhiều và đừng cố hiểu cô ta.
Gã Siêu

 

Chuyện Gã Siêu 113:  VỢ DẠI

VỢ DẠI Chuyện Gã Siêu 113

Có thể nói được rằng tục ngữ ca dao là cái túi khôn của người Việt Nam, đã tích luỹ được biết bao Chuyện Gã Siêu 113

Có thể nói được rằng tục ngữ ca dao là cái túi khôn của người Việt Nam, đã tích luỹ được biết bao nhiêu kinh nghiệm quí giá. Gã xin đưa ra một vài thí dụ cụ thể:
Chẳng hạn như bàn về cái ngu, các cụ ta đã bảo:
- Trên đời có bốn cái ngu,
  Làm mai, lãnh nợ, gác cu, cầm chầu.
Chẳng hạn như bàn về cái khó, các cụ ta đã nói:
- Tậu trâu, lấy vợ, làm nhà,
  Cả ba việc đó đều là khó thay.
Chẳng hạn như bàn về cái khổ, các cụ ta đã cho hay:
- Thứ nhất vợ dại trong nhà,
  Thứ hai nhà dột, thứ ba nợ đòi.
Hôm nay, gã xin lượm lặt những mẩu chuyện nho nhỏ trên mạng, cũng như trên báo chí, để “tám” về nỗi khổ thứ nhất của các anh chồng có vợ dại.
Thực vậy, đờn ông ai cũng muốn vợ mình phải là một phụ nữ giỏi giang, tháo vát, vừa khéo chiều chồng, lại vừa khéo nuôi con. Bởi vì một chị vợ vụng về làm sao có thể vun quén được một mái ấm gia đình hạnh phúc, một bà mẹ vụng về làm sao có thể nuôi dạy được những đứa con nên người. Chữ “dại” ở đây không phải là ngu dốt, cũng không phải là điên khùng, mà chỉ là hơi bị đần một chút xíu mà thôi. Sự dại ấy thường được biểu lộ qua hai trạng thái:
 
TRƯỚC HẾT, ĐÓ LÀ VỢ CHẬM. 
Anh chồng vốn tính nóng nảy, làm việc gì cũng phải nhanh nhẹn. Còn chị vợ thì trái lại, vốn tính chậm rãi, khoan thai, từ tốn. Anh ta nghĩ rằng một khi đã ráp lại với nhau và thành vợ thành chồng, hai tính khí khác biệt ấy sẽ bổ túc cho nhau, để rồi sẽ dẫn tới một tình trạng tuyệt vời. Nhưng anh ta đâu có ngờ, ngay sau ngày cưới, đã phải nếm mùi đau khổ vì cái sự khoan thai, chậm rãi và từ tốn của nàng. Chính anh ta đã “bật mí” cho bàn dân thiên hạ biết về nỗi đau khổ của anh ta trên báo Phụ Nữ Chủ Nhật, số 13, ra ngày 10.4.2011, đại khái như thế này:
 
Nỗi khổ thứ nhất là chờ nàng trang điểm   
Khi mới yêu nhau, mỗi lần hẹn hò, thì việc chờ nàng là cả một hạnh phúc, anh ta hồi hộp và sung sướng, dù có phải chờ một hai tiếng đồ hồ cũng chẳng nhằm nhòi gì. Lúc mới cưới, mỗi lần chuẩn bị đi chơi, anh ta rất lấy làm thú vị khi nhìn ngắm nàng trang điểm. Đôi khi còn ra vẻ hiểu biết, góp ý cho nàng pha màu và chọn quần chọn áo. Thế những bây giờ sự đời đã ra khác. Việc phải chở nàng đi đâu đó quả là một cực hình. Anh ta “thắng bộ” xong xuôi, uống hết ly cà phê, đọc xong tờ báo mà nàng vẫn chưa rời bàn phấn. Việc chờ đợi trước kia thi vị bao nhiêu, thì nay lại khốn khổ bấy nhiêu. Có những lần đi đám cưới, khi vợ chồng anh ta tới nơi, thì thiên hạ đã xử tới món…tráng miệng!
 
Nỗi khổ thứ hai là chờ nàng nấu cơm 
Lúc đầu anh ta phụ giúp nàng những việc lặt vặt, nhưng sau mấy lần đói muốn xỉu cả người, mà vẫn chưa có cơm ăn, anh ta bèn phải xung phong làm bếp chính. Anh ta đảm trách việc nấu cơm, kho cá, còn nàng thì nhặt rau. Nồi cơm đã xong, niêu cá đã rắc tiêu, thịt đã bằm sẵn và nước cũng đã sôi, thế mà nàng vẫn còn đánh vật với rổ rau.
Nàng biết mình chậm chạp, nên cũng rất cố gắng. Đi làm về, nàng tranh thủ bắt tay ngay vào phần việc của mình, vậy mà lục đục mãi cũng vẫn chưa xong. Nhiều bữa nàng đi làm về với bộ dạng ủ rũ, thì ra nàng bị sếp dũa te tua vì cái tội làm việc với tốc độ rùa bò. Anh ta cũng đã thử giúp nàng cải thiện tình hình, chẳng hạn như lên lịch làm việc cho hợp lý, sắp xếp đồ đạc cho ngăn nắp…tính chậm chạp của nàng cũng được cải thiện ít nhiều, nhưng vẫn không thể nhanh như lòng mong muốn.
 
Nỗi khổ thứ ba là chậm chạp trong việc chăm sóc con cái 
Chính anh ta đã bật mí cho biết sau khi sinh con, cũng vì tính chậm chạp của nàng, mà thằng nhỏ mấy lần suýt phải đưa vào bệnh viện. Chẳng hạn tắm cho con, thằng nhỏ lạnh run, mà mẹ nó vẫn chưa xong tiết mục quấn tã và mặc áo. Chẳng hạn thằng con sốt bừng bừng, bác sĩ dặn phải cho uống thuốc hạ nhiệt ngay, thế mà mẹ nó cứ loay hoay mãi, ly thuốc vừa pha xong lại đánh đổ mất. Cuối cùng anh ta đành phải kết luận: Có vợ chậm, khổ ơi là khổ. (Văn Thuỳ).
 
TIẾP ĐẾN, ĐÓ LÀ VỢ ĐOẢNG 
Khi nói tới chữ “đoảng”, người ta thường nghĩ ngay đến sự vụng về trong phạm vi “nữ công gia chánh” của phe đờn bà con gái. Thế nhưng, không phải chỉ phe đờn bà con gái mới đoảng, mà nhiều khi cánh đờn ông con giai cũng đoảng thầy chạy, và hơn thế nữa, đoảng còn có mặt trên từng cây số trong nhiều lãnh vực khác nhau. Câu chuyện sau đây là một điển hình:
Hai vợ chồng ghé vào ăn tại một quán ven đường. Ăn xong, khi đã lên xe và đi được khá xa, chị vợ mới sực nhớ là mình quên cặp kính trên bàn ăn. Suốt quãng đường trở lại quán, anh chồng luôn cằn nhằn tính đoảng và hay quên của chị vợ. Thế nhưng, đến chỗ cũ, khi chị vợ tất tả chạy vào tìm kính, anh chồng bèn dặn với theo:
- Em nhớ cầm ra luôn cả chiếc mũ của anh nữa nhé!  (Quy Tung).
Tuy nhiên, trong bài này, gã chỉ xin bàn tới sự đoảng của các chị vợ mà thôi.
 
Đoảng với bản thân 
Một anh chồng đã tâm sự: “Tôi có người vợ xinh, tác phong sinh hoạt thì luộm thuộm, bạ đâu bỏ đó, không có thói quen đánh răng buổi tối. Khi ngủ thì ngáy to và toàn mùi tỏi do thức ăn bữa tối còn đọng lại. Có lần ngủ quên, dậy muộn, bèn mặc nhầm cả quần của tôi để đi làm, mặc dù quần rất rộng mà cũng chẳng hay biết”. (Quốc Hiếu).
Một anh chồng khác nhiều lần phải đỏ mặt khi nhà có khách. Số là chị vợ có phong cách ăn mặc khá mát mẻ. Hôm nào oi bức là chị diện áo mỏng, khoét cổ rộng, hãi nhất là bên trong không thèm mặc gì cả. Có ai đến chơi, chị vợ đều vô tư cúi người, rót nước mời khách. Anh chồng góp ý, thì chị vợ lại bảo:
- Có ai để ý đâu mà anh lo.
“Chịu hỏng nổi” tính đoảng của chị vợ, một anh chồng đã kể lại như sau: Hôm lễ thượng thọ của bố, vợ chồng đến nơi, vui vẻ trò chuyện với mọi người. Thế nhưng, sắp vào giờ thiêng, chuẩn bị tuyên bố lý do, bỗng nhiên bà xã tôi trốn biệt trong buồng, gọi mãi cũng không chịu ra. Mẹ tôi bực mình:
- Sao lại tránh mặt, không thích quay phim, chụp hình thì cũng phải chịu chứ.
Tiệc chưa tàn, bà xã nằng nặc đòi về. Trên đường đi, mặt tôi sưng lên như bị dị ứng, lúc đó bà xã mới tiết lộ:
- Em phát hiện ra mình quên mặc áo trong anh ạ, hèn gì mà thấy dễ chịu mát mẻ thoải mái như ở nhà. Không biết có ái nhìn thấy không? Kỳ quá, làm sao mà dám xuất hiện ở chỗ đông người.
Nhìn bà xã cười hì hì, tôi cũng nghẹn luôn. (Phư Chu, Tuổi Trẻ Cười).
Nhiều chị vợ mắc sai lầm khi cho rằng đã là vợ chồng, thì cuộc sống chung thế nào cũng được. Chị vợ có ăn mặc lôi thôi, nhà cửa có hơi bề bộn thì anh chồng cũng cố mà chịu. Dĩ nhiên, anh chồng không đòi vợ mình rực rỡ như hoa hậu, nhưng các chị vợ cũng cần phải gọn ghẽ và sạch sẽ. Phần lớn các anh chồng đều chết khiếp vì vợ mình lôi thôi, nhà cửa bề bộn và con cái bẩn thỉu. Nếu chẳng may mắc phải tính cẩu thả, chị vợ nên tự nhìn nhận để tìm cách sửa đổi. Hoàn thiện bản thân cũng chính là một cách giúp duy trì hạnh phúc gia đình.
 
Đoảng với chồng 
Chuyện rằng:
Anh chồng nọ vốn sợ cái tính đoảng của vợ. Ngày tết, hai người đến chúc tuổi thủ trưởng. Vừa vào nhà, chị vợ đã ôm chầm lấy vợ thủ trưởng mà khen:
- Lâu không gặp chị, dạo này chị trẻ và xinh quá. Chẳng bù cho ông nhà tôi, ngày một hói trán và bụng phệ. Chị có bí quyết gì bảo em với.
Vợ thủ trưởng rất ngượng vì lời khen ấy. Và cũng từ đó, anh chồng không bao giờ đi đâu cùng chị vợ nữa.
Chuyện rằng:
Anh chồng kia đi làm về, thấy chị vợ có vẻ lo lắng bèn hỏi:
- Em gặp chuyện gì buồn phiền à?
Chị vợ trả lời:
- Em buồn lắm, bởi vì lúc ủi quần áo, em sơ ý đã làm thủng một lỗ trên chiếc quần mới của anh.
Anh chồng an ủi:
- Đừng nghĩ ngợi nhiều! Chẳng lẽ em không nhớ anh còn một chiếc quần mới giống hệt chiếc ấy sao?
Chị vợ mỉm cười:
- Tất nhiên là em nhớ lắm. Thế nên mới có cái để vá vào chiếc quần thủng này chứ.
Chuyện rằng:
Một anh chồng khác được vợ đãi món canh bầu nấu hến. Anh ta nói:
- Đó là món mình mê nhất đấy.
Thế nhưng hôm ấy, anh ta đã phải nhắm mắt nuốt canh vì bầu thì nhão, còn hến thì nguội và rất tanh. Anh ta còn hài hước nói thêm:
- Chưa hết, vợ mình mà thái thịt xong, nếu chịu khó tìm xung quanh, thế nào cũng nhặt được vài miếng. Có miếng nằm cạnh bình gas, có miếng ở gần chân ghế, và có miếng lại vắt vẻo trên vòi nước trong chậu rửa bát. Thế mới ghê!
 
Đoảng với con cái 
Ngày mới quen nhau, trông cô ấy hơi…tưng tưng, thấy hay làm sao. Như lúc vào quán ăn, cô ấy nhìn muối ra đường, nhìn đường ra bột ngọt, bỏ lung tung vào tô cháo, ăn không được, cả hai cùng cười ngặt nghẻo…Vui thế, mới nên duyên chồng vợ. Nhưng rồi, cái kiểu “vớ vẩn” của chị vợ không thể tạo ra niềm vui mãi được.
Ai đời, bả tắm cho con, mà thằng bé cứ vùng vẫy khóc thét lên. Anh chồng sốt ruột, đến kiểm tra hiện trường thì trời ơi! Toàn kiến. Hoá ra bả không rửa cái thau, cứ đặt con vào. Thằng bé khóc, bả tưởng nó nhõng nhẽo, còn phét vào mông nó nữa chứ. Chỉ hai mẹ con trong nhà mà như có chiến tranh. Thế mới ghê!
 
Đoảng với bàn dân thiên hạ 
Có những chị vợ thật tốt nết, nhưng chỉ phải cái tật…đoảng. Chẳng hạn một chị vợ kia đi công tác xa. Trong thời gian vắng nhà, thì ông bố chồng phải cấp cứu, tưởng không qua khỏi. Ngày chị vợ về, anh chồng đã căn dặn:
- Ông nội ốm nặng, em đến thăm ông ngay đi.
Tưởng chị vợ sẽ vội vã đi ngay, nào ngờ cô ấy đáp:
- Mệt lắm, em về nhà ngủ đã, để mai.
Anh chồng tức đến nghẹn lời. Anh ta biết bản chất chị vợ rất tốt. Bình thường cô ấy vẫn yêu quý bố mẹ anh ta và không nề hà việc gì. Tuy nhiên, có lẽ cô ấy đã nghĩ rằng đằng nào ông cũng ốm, đến ngay cũng chẳng giải quyết được việc gì. Nhưng cô ấy đâu biết còn có bao nhiêu người trong gia đình anh đang nhìn vào.
Khi đón ông về nhà, chị vợ rất tận tình chăm sóc: cơm cháo mỗi ngày một thực đơn. Thế nhưng, cô ấy lại oang oang nói chuyện diện thoại, hay vặn tivi quá lớn, khi ông nội đang gật gà ngủ trưa. Dọn dẹp thì vẫn cái tính động đến cái gì là loảng xoảng cái nấy. Ầm cả nhà. Góp ý, thì cô ấy bảo:
- Em quen rồi, không nói nhỏ, không làm nhẹ được.
Một cặp vợ chồng khác có con đi  học nhà trẻ. Nhân sinh nhật cô giáo, vợ chồng bàn với nhau:
- Mua quà không thực tế bằng phong bì.
Sợ chị vợ ăn nói không khéo, anh chồng nhận nhiệm vụ đưa con đi học, rồi gửi phong bì cho cô. Thế mà đến tối, chị vợ bồn chồn báo cáo với chồng:
- Anh ơi, em đoảng quá anh ạ. Hình như em chưa bỏ tiền vào phong bì.
Trời đất, anh chồng giận như muốn la làng, còn chị vợ lại đổ thừa:
- Anh phải kiểm tra chứ.
Mẹ chồng ở quê lên chơi, mới vài ngày cũng đã đòi về vì cái tính đoảng của con dâu:
- Đời thuở nhà nao, hết xíu quách, chân gà đến bắp nướng, ổi giòn. Bộ vợ con tính cướp đi mấy cái răng còn sót lại của mẹ à? (Phư Chu, Tuổi Trẻ Cười).
Đối với tính đoảng của chị vợ, anh chồng la mắng hay phàn nàn thì cũng tội nghiệp, mà không phản ứng, thì cấp độ đoảng ngày càng gia tăng, để rồi đi đến chỗ sứt mẻ và đổ vỡ.
Hiện nay, chưa có một nghiên cứu khoa học nào xác minh tính đoảng có phải do di truyền hay không? Nhưng nếu bình tĩnh mà phân tích, người ta sẽ dễ dàng nhận thấy các bà mẹ vợ đã góp phần không nhỏ vào chuyện “đẻ” ra các bà vợ đoảng. Có hai nguyên nhân chính:
Nguyên nhân khách quan, đó là trong thời gian ở nhà với mẹ, các cô gái được ưu tiên không phải làm gì cả, “vì kêu nó làm, chỉ vướng chân, rồi mình phải làm lại”. Đến khi lập gia đình dễ phát sinh ra chứng đoảng qua các biểu hiện đầu óc không tập trung, nói và làm không đi đôi với suy nghĩ. Dạng này được điều chỉnh bằng cách luyện tập thể thao cho tâm trí, phải nghĩ kỹ trước khi phát ngôn, hay hành động.
Còn nguyên nhân chủ quan là do các chị vợ muốn anh chồng để ý, quan tâm tới gia đình. Số này có quan điểm: Mình đảm qúa, chồng ỷ lại và hư đi. Từ đoảng giả chuyển sang đoảng thật lúc nào cũng không hay.
Thế nhưng, dù chủ quan hay khách quan, dù thật hay giả, thì anh chồng cũng đừng ngồi đó  mà rủa xả hay than trách tính đoảng của chị vợ, nhưng hãy lấy tình yêu và sự kiên nhẫn của mình để giúp chị vợ biến đổi từ đoảng sang đảm, cho gia đình được an vui hạnh phúc.
Gã Siêu 

 

Chuyện Gã Siêu 114: NĂM TUẤT NÓI CHUYỆN CHÓ

NĂM TUẤT NÓI CHUYỆN CHÓ Chuyện Gã Siêu 114

Thuở ban đầu nơi gã đang cắm dùi, chỉ có một số ít gia đình làm nghề dệt chiếu. Những gia đình Chuyện Gã Siêu 114

Thuở ban đầu nơi gã đang cắm dùi, chỉ có một số ít gia đình làm nghề dệt chiếu. Những gia đình này đều thuộc gốc Phát Diệm và nghề dệt chiếu vốn là nghề cha truyền con nối, được đem từ miền bắc vào miền nam.
Cùng với thời gian, họ đã sinh con đẻ cái và con cái họ lấy vợ lấy chồng. Vì thế, nghề dệt chiếu như được nối vòng tay lớn và liên tục phát triển. Rồi sau đó,  bàn dân thiên hạ thấy “mần ăn” được, nên cũng nhào vô kiếm chút cháo và nghề dệt chiếu được tràn lan khắp thôn ấp.
Ăn theo vào đó là nghề trồng đay, nghề xe đay và nhất là nghề đổi…chó, hay còn được gọi là nghề…chiếu chó!
Những người làm nghề chiếu chó phải là những thanh niên khỏe mạnh và dẻo dai. Chỉ cần một chiếc xuồng là hai vợ chồng có thể tung tăng chèo bơi trên sóng nước vào những đêm trăng sáng, cũng như vào những đêm trời tối với nghề chiếu chó. Khá hơn một chút thì ráp thêm chiếc máy nổ, cho đỡ tốn sức lao động và chỉ cần một người trên ghe cũng đủ.
Họ lấy chiếu từ nhà hay mua chiếu từ những gia đình dệt chiếu. Nếu mua thì họ thường mua chịu, gối đầu hai ba chuyến. Tiền bán chó lần này sẽ được dùng để thanh toán cho tiền mua chiếu của những lần trước. Có nghĩa là làm nghề này thì không cần bỏ vốn, mà chỉ cần bỏ công sức mà thôi. Chiếu mua thường là chiếu mỏng và chất lương…tồi, thì mới lời.
Họ phải len lỏi vào các kênh rạch chằng chịt, đi tới những nơi mà thiên hạ còn kiêng thịt chó, hay chưa mặn mà với món “mộc tồn” cũng như món “cờ tây”, thậm chí còn phải chui vào tận những sóc Miên, vì càng đi xa thì càng có lãi. Họ không mua chó, nhưng  đem chiếu ra để mà đổi lấy chó.
Mỗi chuyến đi của họ thường kéo dài năm ngày. Nói theo ngôn ngữ vi tính hiện nay, thì đó là “mô đen 2.5”, có nghĩa là khởi hành vào sáng thứ hai và trở về vào chiều hay tối thứ sáu.
Ngày thứ bảy là thời điểm để bán chó. Họ có thể mang chó ra chợ, nhưng phần lớn đều đã được đặt hàng từ trước, hay được các “lái chó” đến cân, để rồi đem lên Saigon, Xóm Mới, Hố Nai… Nếu chẳng may có con chó bị nghẹt thở mà ngỏm củ riềng, thì họ mới làm thịt và sai vợ con đi bán rong.
Ngày kia, một cô nàng đội mẹt thị chó đi ngoài đường và rao bán :
- Ai thịt chó không ?
Bỗng một người từ trong nhà gọi vọng ra :
- Chó, chó lại đây.
Cô nàng đội thịt chó cũng không phải là tay vừa, nên đã hỏi lại :
- Ai chó đấy.
Giống như những tên tử tù, trước khi bị hành quyết, thường được cho ăn một bữa phủ phê, thì cũng vậy, trước khi bán chó hay cân chó, họ cho chó xơi một bữa thịnh soạn, muốn ăn bao nhiêu thì ăn, ăn cho đã thèm tới lúc căng bụng lên mới thôi. Chỉ tính riêng khoản này, họ cũng đã kiếm lời thêm được một vài ký khi bán chó hay cân chó.
Mua chiếu dổm, đổi chó rẻ và bán chó mắc, thành thử nhiều anh chàng “chiếu chó” làm ăn phất lên trông thấy. Tính trung bình mỗi chuyến đi như vậy, sau khi đã trừ mọi chi phí, họ còn lời được cả chỉ vàng.
Thời hoàng kim của nghề chiếu chó tại vùng khỉ ho cò gáy này là vào khoảng năm 1986, nghĩa là cách đây vừa đúng hai mươi năm. Hồi đó, nếu chỉ bấm đốt ngón tay, gã cũng có thể ghi nhận được ít nhất 50 ghe chiếu chó ăn theo trong ấp. Và bây giờ gã thử nhẩm làm một phép tính xem như thế nào nhé.
Bình thường thì một ghe, một tuần, một chuyến. Mỗi chuyến đem về khoảng 100 ký chó. Với con số 50 ghe trong ấp, vị chi sẽ đem về khoảng 5.000 ký chó, hay nói vắn tắt là 5 tấn chó trong một tuần. Một năm tính tròn là 52 tuần lễ, như vậy sẽ đem về khoảng 260 tấn chó mỗi năm. Số chó khổng lồ này sẽ được phân tán đi khắp tứ phương thiên hạ cho dân nhậu xài chơi.
Tuy nhiên, con người thời nay đã đổi khác. Người ta bắt đầu ưa chuộng nệm “mút”, nệm thông hơi, nệm nước, với những nhãn hiệu nổi tiếng, chẳng hạn như Kym Đan…Một khi đã quen nằm nệm rồi, mà lỡ đi tới đâu phải nằm chiếu, thì cứ y như rằng  mọi xương sống, xương xườn, nghĩa là tất cả bộ xương cách trí của mình như đâm xuống giường, đau nhức không ngủ nổi.
Ngoài ra, dân chúng ở đây muốn dệt chiếu, thì phải mua cói tận Sađéc, thành thử chiếu nơi gã không địch nổi với chiếu Sađéc, vì giá cả mắc hơn. Một vài gia đình cũng thử trồng cói, nhưng không thành công, vì cói vừa ngắn lại vừa không đạt chất lượng.
Trong khi đó, nhiều loại chiếu khác nhau xuất hiện trên thị trường, từ chiếu ny lông đến chiếu gỗ, từ chiếu Thái Lan đến chiếu Trung Quốc được quảng cáo là vừa êm lại vừa có công dụng chữa bệnh!
Chính vì những lẽ ấy, hàng chiếu bị ế ẩm và nghề dệt chiếu dần dần bị dẹp tiệm.
Hơn thế nữa, nuôi được một con chó không phải là chuyện dễ. Kinh nghiệm về việc nuôi chó đã cho gã thấy như vậy. Có những lúc trong nhà ba con chó cái cùng đẻ một lúc, nên lúc nhúc ba bầy chó con. “Khuyển số” tổng cộng lên tới gần bốn chục.
Thế nhưng, khi chó con bắt đầu biết ăn cũng chính là lúc bệnh đường ruột xuất hiện và cướp đi sinh mạng của chúng. Số chó sống sót, khôn lớn và trưởng thành chỉ còn lại đôi ba con mà thôi.
Do đó, số cung không theo kịp với số cầu, số chó được nuôi không lấp đầy nổi cái khoảng trống vô cùng to lớn của dân bợm nhậu, khiến cho  “nguồn” cung cấp chó ở khắp nơi bị cạn kiệt.
Chính vì lẽ ấy, dân chiếu chó lâm vào cảnh ba chìm bảy nổi và chín cái lênh đênh, nên phần lớn đã bỏ nghề chiếu chó mà xoay sang nghề khác.
Trong văn học sử có một giai thoại khá thơ mộng về một cô nàng bán chiếu. Giai thoại ấy như sau :
Ngày kia trên đường về nhà, Nguyễn Trãi đã gặp một cô gái rất đẹp, đang gánh chiếu đi bán.  Muốn bỡn cợt cô gái nọ, Nguyễn Trãi đã đọc bốn câu thơ :
- Ả ở đâu mà bán chiếu gon ?
  Chẳng hay chiếu ấy hết hay còn ?
  Xuân thu nay độ bao nhiêu tuổi ?
  Đã có chồng chưa, được mấy con ?
Không một chút do dự, cô nàng đã họa lại :
- Tôi ở Tây Hồ bán chiếu gon,
  Nỗi chi ông hỏi hết hay còn ?
  Xuân thu tuổi mới trăng tròn lẻ.
  Chồng còn chưa có, hỏi chi con.
Ngạc nhiên về sự thông mình xuất chúng của cô gái, Nguyễn Trãi bèn hỏi tên cô gái là gì ? Cô gái đã trả lời tên là Thị Lộ. Và rồi Nguyễn Trãi đã cưới cô nàng bán chiếu ấy về làm hầu thiếp. Câu chuyện “tình cô bán chiếu” còn dài, dẫn tới vụ án “Lệ Chi Viên”,  khiến cho Nguyễn Trãi bị “tru di tam tộc”, bị giết tới ba đời, nhưng gã xin “xì tốp” ở đây để trở lại với cái nghề chiếu chó nơi quê hương gã.
Cái nghề chiếu chó nơi quê hương gã không được thơ mộng như cô nàng Thị Lộ bán chiếu ở Tây Hồ, trái lại rất nặng nề vất vả, trầy da tróc vẩy, đổ mồ hôi sôi nước mắt, mới kiếm được tí tiền còm đem về nuôi vợ nuôi con.
Một mình một ghe, nên ban đêm dân chiếu chó thường phải tìm những nơi đông dân cư, như chợ búa, nhà thờ hay nhà chùa để mà ngủ, bằng không sẽ trở thành miếng mồi ngon và rơi vào tầm ngắm cho bọn trộm cướp hỏi thăm sức khỏe.
Những đêm tạnh ráo còn đỡ, chứ những đêm mưa to gió lớn, thì vừa rét lại vừa run, nằm co ro trên chiếc xuồng nhỏ, vừa tròng trành, lại vừa nồng nặc mùi…chó, đến quỉ thần cũng không chịu nổi.
Cái mùi chó cũng rất đặc biệt. Những anh lái chó và nhất là những anh chuyên môn làm…chó, tức là giết chó lấy thịt, thì hình như bị cái mùi ấy, không phải chỉ ám vào áo quần, mà còn ám vào tận lục phủ ngũ tạng, dù tắm gội thế nào cũng không tẩy sạch nổi. Bởi đó, bất kỳ họ đi tới đâu đều bị lũ chó sủa vang.
Sinh nghề tử nghiệp. Trong ấp của gã đã có hai anh chàng chết vì nghề chiếu chó rồi đấy.
Một anh thì bị rơi tõm xuống sông vào mùa lụt lớn trong đêm giông bão và bị dòng nước cuốn trôi lúc nào không hay. Còn một anh thì bị chó cắn trong lúc thi hành phận sự, nhưng vì coi thường không thèm đi chích ngừa, đã nổi cơn điên một thời gian sau đó và đi tầu suốt sang thế giới bên kia, để lại người vợ trẻ và mấy đứa con thơ trong một căn nhà xiêu vẹo. Thì ra con chó cắn là một con chó dại.
Thời hoàng kim của nghề chiếu chó đã qua đi và chìm vào dĩ vãng, bởi vì số gia đình dệt chiếu bây giờ “lơ thơ như tơ liễu buông mành”, chỉ còn một vài hộ mà thôi. Ngoài ra, hàng chiếu cũng không còn được ưa chuộng nhiều trên thị trường như ngày xưa. Từ đó, nghề chiếu chó cũng bị tàn lụi theo, để rồi  trên đám tro tàn ấy, nghề mua chó hay lái chó được phát triển theo một chiều hướng mới.
Thực vậy, cho đến bây giờ thịt chó vẫn là món…”khoái khẩu” cho dân bợm nhậu. Hơn thế nữa, trong cơn đại dịch H5N1, bao nhiêu gà vịt, chim chóc, nghĩa là phần lớn gia cầm gia súc đều bị giết sạch, chôn sạch, đốt sạch để khỏi bị lây lan bệnh cúm, nên thịt chó bỗng lên ngôi, vừa tương đối rẻ, lại vừa an toàn cho sức khỏe.
Chính vì lẽ ấy, hiện nay tại Việt Nam các quán thịt chó thi nhau mở ra như đi vào mùa xuân với trăm hoa đua nở. Con đường nào cũng có quán thịt chó, từ những con đường lớn dẫn vào trung tâm thành phố đến những con đường nhỏ dẫn về những vùng quê khỉ ho cò gáy. Mọi vùng đất, từ thị xã, thị trấn đến những thôn ấp đèo heo hút gió cũng thấy mọc lên những quán thịt chó, với những tên gọi rất quen thuộc và thân thương, chẳng hạn như : Cờ tây, Mộc tồn, Lá mơ, Nó kìa, Đúng rồi, Sống trên đời…
Gã ở nông thôn, nên cũng được xơi thịt chó đều đều. Thế mà đôi khi về Saigon, lũ bạn vẫn không ngần ngại rủ đi nhậu thịt chó. Địa chỉ của những quán ấy bây giờ không còn là độc quyền của khu vực Ngã Ba Ông Tạ hay Xóm Mới, mà đã lan tràn tới nhiều nơi, nhiều chỗ.
Lũ bạn gã, lúc thì lôi gã tới quán 297 đường Lý Thái Tổ, khi thì kéo gã tới quán Văn Bái ở bên Thanh Đa. Thậm chí có lần mò tới tận quán Tư Thân ở Bùi Môn. Nhưng đặc biệt nhất có lẽ là “cụm quán mộc tồn” ở một con hẻm đường Nguyễn Thị Minh Khai.
Đường Nuyễn Thị Minh Khai, ngày xưa là đường Hồng Thập Tự, khởi đi từ “bùng binh” Cộng Hòa, qua bệnh viện Từ Dũ, qua rạp Olympique với đoàn kịch nói Tiếng Chuông Vàng Thủ Đô của Kim Cương, qua vườn Tao Đàn…
Hiện nay, nếu đi về hướng cầu Thị Nghè,  thì sẽ gặp một con hẻm nhỏ. Rất tiếc vì hôm đó gã tới vào buổi tối nên không nhìn rõ tên con hẻm, nhưng nếu hỏi những nhà ở gần đấy rằng quán Hai Mơ ở đâu, chắc chắn họ sẽ chỉ cho ngay vì ai cũng biết đến tiếng tăm của “cụm quán” này.
Nằm sâu một chút trong con hẻm nhỏ, có tới cả chục quán thịt chó. Quán này liền vách với quán kia. Có lẽ do một nhóm dân cư họ hàng, bà con lối xóm với nhau ở ngoài bắc, kéo vô lập nghiệp.
Ở đây có  hai hình thức ngồi nhậu thịt chó, một là ngồi ghế xoay quanh một chiếc bàn như vốn thường thấy. Hai là “đánh tệt”, nghĩa là ngồi xếp bằng bằng xuống chiếu, theo kiểu Nhật.
Các món ở đây được chế biến theo phong cách miền bắc như : luộc, nướng, dồi, hầm, chả chìa, rựa mận, xáo măng…Đặc biệt có món “bàn chân chó” thật tuyệt vời. Khi kêu món này, thì phải đặt hàng là mấy cái. Người ta sẽ dọn lên trong một hay hai cái đĩa toàn bàn chân chó. Có lẽ người ta đã phải hấp cho nhừ, rồi nướng lại trên than hồng, nên bàn chân chó vừa dẻo, vừa dòn lại vừa thơm vừa ngon nữa.
Còn ở thủ đô Hà Nội, hai địa điểm thịt chó được bàn dân thiên hạ chiếu cố và thường hay nhắc đến, đó là thịt chó ở đê Yên Phụ và thịt chó ở phố Nghi Tầm. Tuy nhiên, Hà Nội có một phong cách thưởng thức thịt chó hơi bị đặc biệt, đã từng được báo chí đề tới, đó là thịt chó ôm!!! Miết rồi cái gì người ta cũng có thể ôm được, từ cà phê ôm đến bia ôm, từ rượu đế ôm đến thịt chó ôm. Nhưng trong các thứ ôm ấy, chỉ có “xe ôm” là tương đối sạch sẽ nhất.
Nét đặc sắc của các quán “cờ tây” trên toàn quốc, là chỉ bán thịt chó mà thôi, không kèm theo bất cứ thứ thịt nào khác. Có lẽ một khi đã xơi thịt chó chấm mắm tôm, công thêm với lá mơ và củ riềng, củ xả, người ta sẽ nghiệm thấy thịt chó thật là đậm đà khó quên, trên cả tuyệt vời nữa, nên những thứ thịt khác, dù là đặc sản, cũng trở nên nhạt nhẽo, không thể sánh nổi.
Nói tới việc bán toàn thịt chó trong quán, gã nhớ tới một câu chuyện đã được đọc từ lâu trong một tác phẩm của Toan Ánh. Câu chuyện ấy như thế này :
Thời Pháp thuộc, có một viên tri huyện thường bị các quan trên bắt nạt. Ông ta tức lắm, nhưng nghĩ mình chức nhỏ, thấp cổ bé miệng, nên đành phải chịu vậy. Tuy nhiên, ông ta vẫn có ý muốn trả miếng lại những kẻ vẫn bắt nạt ông.
Ngày kia, nhân có việc, ông làm tiệc mời các hàng quan lớn, quan bé tới dự. Bữa tiệc đặc biệt này được ông làm toàn bằng thịt chó và ông thuê bếp Tàu đến nấu nướng rất ngon.
Vào tiệc, gắp một miếng chó hầm, xơi thấy ngon, quan tuần phủ mới hỏi quan huyện :
- Món gì mà ngon quá vậy.
Quan huyện kính cẩn đáp :
- Bẩm món chó đấy ạ.
Rồi ông ta đưa tay khoa một vòng như để chỉ món đã được bầy biện cũng như để chỉ khắp mọi người và nói :
- Hôm nay toàn chó thôi ạ. Tất cả đây đều là chó hết
Tới đây, gã xin trở lại với nghề mua chó hay lái chó. Thực vậy, theo định luật kinh tế :  đã có cầu thì ắt phải có cung, có người mua, thì  ắt phải có người bán. Trước nhu cầu thịt chó ngày càng gia tăng,  người ta phải lùng xục khắp các hang cùng ngõ hẻm để tìm cho ra chó.
Như trên gã đã trình bày : Nghề chiếu chó nơi quê hương gã đã tàn lụi, thế nhưng trên đám tro tàn ấy, nghề mua chó hay lái chó được phát triển theo chiều hướng mới. Đúng thế, bây giờ, người ta không mang chiếu đi đổi lấy chó, nhưng người ta đi mua chó đàng hoàng.
Một anh lái chó hôm nay được trang bị bằng một chiếc xe gắn máy, phía sau “đèo” thêm một cái lồng chó hay một cái cũi chó bằng sắt. Ban sáng, anh ta chạy phom phom trên những con đường làng, ban chiều anh ta trở về với cái lồng hay cái cũi nhốt những con chó đủ   loại : mực có, vàng có và lôm nhôm cũng có; già có, tơ có và xà mâu cũng có. Đôi khi còn có cả vài ba con mèo nữa, bởi vì mèo cũng là một món khoái khẩu, được dân bơm nhậu chiếu cố và được ưu ái gọi bằng cái tên…”tiểu hổ”.
Trong một vài năm gần đây, gã thấy xuất hiện ở nhiều nơi một cái nghề chẳng giống ai, đó là nghề…trộm chó.
Trước năm 1975, Saigon thường giới nghiêm vào ban đêm, nghĩa là từ mười hai giờ khuya cho tới ba bốn giờ sáng không ai được đi  ngoài đường phố, ngoại trừ lực lượng “bạn dân”, tức là lực lượng cảnh sát, có bổn phận phải tuần tra.
Gã có một ông anh, lúc bấy giờ làm cuộc trưởng cảnh sát tại Hòa Hưng, còn được gọi là Cống Bà Sếp. Các bạn dân nằm tại cuộc  cảnh sát này, thỉnh thoảng cũng mắc phải chứng bệnh nhạt miệng và thèm…thịt chó. Và thế là vào giờ giới nghiêm, ngài cuộc trưởng bèn phái mấy tay đàn em, leo lên chiếc xe díp, trực chỉ một bãi rác nào đó.
Ban đêm, chó thường kéo nhau tới bãi rác để kiếm thêm tí chút bồi dưỡng. Chỉ cần rút một khẩu súng, nhắm vào con chó nào có tướng tá ngon lành nhất,  “pằng” một phát, rồi chạy đến bỏ vào bao tải, quẳng lên xe, chạy về cuộc. Trong khi đó ở nhà, những người khác đã đun nước sôi và chuẩn bị mọi thứ gia vị cần thiết. Thoáng một chốc là đã có những đĩa thịt chó nóng hổi vừa thổi vừa xơi. Nhanh, gọn, đẹp.
Đi trên đường phố, nhiều lần gã được chứng kiến cảnh nhân viên công lực bắt chó…chạy rông. Họ dùng một chiếc xích có thòng lọng ở đầu. Gặp một con chó chạy rông, họ đuổi con chó chạy về hướng người cầm thòng lọng đang đón đường sẵn. Khi chó chạy tới, người đó nhẹ nhàng, nhưng lại nhanh như cắt, đưa thòng lọng vào đầu con chó. Con chó càng dãy dụa, thòng lọng càng siết chặt. Sau cùng, con chó được đưa lên xe một cách rất êm ru bà rù.
Gã phải công nhận rằng người cầm thòng lọng đón đầu con chó thật điêu luyện và thành thạo, rất ít khi đoán sai và tròng hụt. Con chó chạy qua, họ đã chụp là phải đúng, như những tay thiện xạ, bách phát bách trúng. Những kẻ hành nghề trộm chó, cũng hay dùng cách thức này để bắt chó.
Ngoài ra, chúng còn dùng tới bả, tức là tẩm thuốc độc vào một miếng thịt và ném cho chó ăn. Khi chó ngấm thuốc và rơi vào tình trạng hôn mê, chúng chỉ cần nhét chó vào bao, mang về xả thịt, rồi mang tới những quan thịt chó, vốn là mối ruột của chúng. Cách thức này thường mất toi bộ lòng, vốn dĩ là một món tuyệt vời của thịt chó, như người xưa vốn bảo :
- Sống trên đời, ăn miếng dồi chó,
  Xuống âm phủ, biết có hay không ?
Trong cuốn “Ăn trộm và nghệ thuật bắt trộm”, Toan Ánh đã ghi lại hai cách thức trộm chó của người xưa, mà gã đã liệt vào hạng…tuyệt chiêu, vậy xin được chép lại, kẻo mai mốt bị thất truyền, hậu duệ con cháu những kẻ trộm chó chẳng biết đâu mà mò.
Tuyệt chiêu thứ nhất được gọi là “mỹ cẩu kế”, dùng chó cái để bắt chó đực. Toan Ánh đã mô tả tuyệt chiêu này như sau :
Bọn chúng nuôi một hai con chó cái. Chúng ta thả những con chó cái này ra để bắt “cẩu tình” vời những con chó đực và giữa lúc chó đực đang say men tình chó cái, thì chúng gọi chó cái về. Lẽ tất nhiên chó đực đi theo… Đầu tiên, đến ngõ nhà nàng thì chó đực rút lui, nhưng sau không thấy gì nguy hiểm, thì theo hẳn vào trong nhà. Chó đực đâu biết mình đã đi vào chỗ chết. Tên trộm chỉ chờ chó đực vào nhà liền đóng cửa lại để hạ thủ.
Tuy nhiên, nhiều chó đực đi theo chó cái nhưng lại không chịu vào nhà ban ngày, mà chỉ thường đến vào ban đêm, đứng ngoài cửa mà…rít gọi. Đối với loại chó đực này, bọn trộm khóet một lỗ hổng ở tường, chỉ chui vừa con chó. Bên trong  chúng xích chó cái. Chó đực tới bên ngoài và rít lên để gọi. Chó cái ở bên trong cũng rít lên để trả lời. Chờ lâu không thấy bạn tình xuất hiện và thế là chó đực bèn chui qua lỗ tường. Tại đây, tên trộm đã rình sẵn. Và chó đực đi đời nhà ma.
Tuyệt chiêu thứ hai gã tạm gọi là “chó ơi là chó”. Có hai anh trộm chó đã nghĩ ra một mưu thật chiến. Mưu ấy như sau : Hàng ngày chúng dắt nhau ra cánh đồng, chỗ bàn dân thiên hạ đổ rác, cũng là nơi lũ chó thường tới để kiếm chút bổng lộc ngoài luồng.
Lợi dụng thói quen của lũ chó, một tên ngồi…ị, còn một tên vác vồ đi đi lại lại như  anh nông phu vác vồ ra ruộng đập đất. Chó mon men đến chờ và khi đã vục đầu vào xơi cái món nóng sốt ấy, thì chiếc vồ sẽ đập ngay vào đầu nó và nó chỉ còn đủ thời giờ để kêu lên hai tiếng ăng ẳng mà thôi.
Chẳng biết hai tên trộm áp dụng tuyệt chiêu này đã bắt được bao nhiêu chó, nhưng rồi ngày hôm ấy, cũng theo bài bổn cũ, một tên ngồi đồng, còn một tên vác vồ. Thế nhưng, tới lúc đập, vì bị hoa mắt nên tên vác vồ thay vì đập chó, thì đã đập tên ngồi đồng, khiên tên này lăn đùng ra bất tỉnh trên chính cái món nóng sốt hắn đã cho ra.
Ơi chó ơi là chó.
Để kết luận, gã xin kể lại sự việc một chú chó đáng được lưu danh đã làm. Báo Công An Thành Phố đã kể lại sự việc ấy như sau :
Một con chó cái giống Esquimaux đã cứu mạng một cháu bé mới chào đời tại Đài Loan. Chị Huang, hai mươi bốn tuổi, mang bầu tháng thứ chín, hôm Chúa nhật chị cảm thấy khó chịu nên đi vào phòng tắm, con chó của chị là Baby theo sau.
Trong phòng tắm, chị chuyển dạ bất ngờ, rồi sinh một bé trai. Chị cố xoay sở để cắt rốn bé bằng một chiếc kéo, nhưng không được và chị gục xuống sàn, kiệt sức đến nỗi không thể gọi người bạn cùng phòng giúp đỡ.
Nhưng con chó trung thành đã ngoạm cẳng chân đứa bé và cứu nó khỏi chết đuối. Khi đứa bé đã thở và khóc được nhờ con chó liếm mặt, Huang mới cố lấy hết sức gọi người tới giúp. Và đứa bé được cứu sống.
Đặc tính của chó là trung thành và tận tụy giúp đỡ chủ. Phải chăng đó cũng là những điều đáng cho chúng ta suy gẫm trong năm Bính Tuất này lắm chứ.
Gã Siêu

 

Chuyện Gã Siêu 115: NĂM QUÍ MÙI NÓI CHUYỆN…DÊ

NĂM QUÍ MÙI NÓI CHUYỆN…DÊ Chuyện Gã Siêu 115

Cho đến bây giờ gã vẫn chưa có dịp tìm hiểu tại sao người Á đông chúng ta, dưới ảnh hưởng của Chuyện Gã Siêu 115

Cho đến bây giờ gã vẫn chưa có dịp tìm hiểu tại sao người Á đông chúng ta, dưới ảnh hưởng của mấy chú ba Tàu, lại chia vòng thời gian thành từng chu kỳ, mỗi chu kỳ kéo dài mười hai năm và được gọi là một can hay một con giáp.
Chẳng hạn khi nói :
- Vợ nó hơn nó một con giáp.
Câu nói này  nghĩa là :
- Nó kém vợ nó những mười hai tuổi. Đúng theo cái mốt “vợ già chồng trẻ là duyên con…bò”.
Tất cả có mười can, đó là Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm và Quí.
Mỗi năm trong một can hay trong một con giáp được gọi là chi. Tất cả có mười hai chi, đó là Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tị, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất và Hợi. Mỗi chi lại được biểu tượng bằng một con vật nào đó.
Thí dụ năm nay là năm Quí Mùi. Quí là can chót, can thứ mười. Còn Mùi là vị thứ tám trong mười hai chi và thuộc về con Dê. Năm tới 2004, sẽ trở lại can đầu là Giáp và chi thứ chín là Thân. Như thế năm 2004 sẽ được gọi là năm Giáp Thân, cầm tinh con khỉ.
Theo tục lệ tốt lành vốn có từ lâu trong nghề viết lách, hôm nay gã xin bàn rộng bàn dài, tán hươu tán vượn về con dê, để bàn dân thiên hạ được xả hơi trong những ngày đầu năm, mà quên đi những căng thẳng của công ăn việc làm và những khủng bố đang xảy ra khắp đó đây trên cả và trái đất.
Sách “ Cổ Học Tinh Hoa” kể lại như sau :
Người láng giềng nhà Dương Chu mất một con dê, bèn sai hết cả nhà đi tìm, lại sang nói với Dương Chu cho mượn một người đi tìm hộ.
Dương Chu nói :
- Ôi ! Sao mất có một con dê mà cho những bao nhiêu người đi tìm.
Người láng giềng đáp :
- Vì đường có lắm ngã ba.
Khi các người tìm dê đã về, Dương Chu hỏi :
- Có tìm thấy dê không ?
Người láng giềng nói :
- Không.
- Sao lại không tìm thấy ?
- Tại đường đã lắm ngã ba, theo các ngã ba đi một chốc lại có nhiều ngã ba khác. Thành thử không biết đi vào đường nào để tìm thấy dê, phải chịu về không cả.
Ấy đường cái chỉ vì lắm ngã ba mà dê mất  không tìm thấy. Người đi học cũng vậy, chỉ vì  mê muội mà mất cả lương tâm.
Theo “Việt Nam Tự điển” của Lê Văn Đức, thì :
“Dê là loài thú có sừng, có râu, lông nhiều và hôi, bốn móng thon nhọn, thích chồm phá để kiếm cỏ và dây leo để ăn.”
Khi con dê đực mang nặng tuổi đời và trở về già, lúc bấy giờ râu cằm dài, lông nhiều và mùi hôi thật đậm đặc, người ta gọi nó là dê…xồm.
Riêng những kẻ muốn bắt chước dê, để một chòm râu ở cằm, thì bộ râu ấy liền được bàn dân thiên hạ tặng phong cho danh hiệu là bộ râu dê.
Trong chữ Tàu, dê được gọi là dương. Chẳng hạn cao dương là dê con, sơn dương là dê núi.
Tại Việt Nam có một thời người ta đua nhau nuôi dê để lấy sữa bởi vì theo các nhà phân tích, thì sữa dê có nhiều chất bổ dưỡng. Thậm chí các cụ già thường xuyên uống sữa dê thì sẽ trẻ ra vài chục tuổi, còn quí bà quí cô ấy hở, nếu thường xuyên tắm sữa dê, thì da dẻ lúc nào cũng cứ trắng nuốt như trứng gà bóc vậy !!!
Xem ra các chú ba Tàu, cũng như dân bợm nhậu rất khoái món thịt dê, bộ phận nào của dê cũng được liệt vào hàng quí hiếm và được chiếu cố tận tình, chẳng hạn như : dương trường là ruột dê, dương can là gan dê, dương huyết là máu dê, dương nhục là thịt dê, dương thận là thận dê…Mỗi thứ này được tẩm liệm và chế biến theo một cách thức riêng để trở thành món đặc sản của những nhà hàng tại  Chợ Lớn.
Những người chuyên nghiệp làm dê, tức là mần thịt dê, cho  hay : 
- Để khử cái mùi hoi của dê, người ta thường phải đuổi cho dê chạy thật lâu, hay cho dê uống rượu cốt để cho dê say  đến toát cả mồ hôi hột, rồi sau đó mới chọc tiết. Thịt sẽ không còn hoi nữa.
Có một thời ở Saigon, dân bợm nhậu rất ghiền  cái món lẩu dê, đi tới chỗ nào cũng thấy những bảng hiệu quảng cáo và mời gọi cho lẩu dê. Thậm chí cả một dẫy phố, nhà nhà đều trở thành quán nhậu với món lẩu dê. Sau thời đại của lẩu dê, tới thời đại của lẩu mắm. Còn bây giờ tại các đám tiệc, cái “mốt” lẩu tươi sống đang rất được  thịnh hành.
Ngày nọ, gã về Saigon và được mấy tên bạn cùng lớp rủ đi nhậu lẩu dê. Quán nhậu chỉ gồm vỏn vẹn mấy chiếc bàn và một ít ghế thấp lè tè được bày ngay trên  lề đường vào ban tối. Khi món nhậu được bưng ra, gã nhận thấy có một cái niêu đựng thịt dê đã được nấu sẵn với chao, đặt trên bếp than và đang sôi sùng sục. Đi kèm với nó là hai đĩa mì vắt và hai đĩa cải đắng. Mì và cải đắng được nhúng vào lẩu trước khi ăn.
Dân nhậu chính hiệu con nai vàng, khi xơi lẩu dê, thì phải uống rượu huyết dê, nghĩa là rượu đế được pha với máu dê. Uống chừng dăm cốc thì bầu khí bỗng trở nên vui vẻ, ai cũng thích nói to và nói dài. Dường như mình là người duy nhất nắm được chân lý trên đời.
Riêng  phần gã, dù bị dị ứng với mùi tanh của máu, cũng phải nhắm mắt nhắm mũi làm vài cốc cho vui lòng bè bạn. Ăn miếng thịt dê mà vẫn cứ phân vân không biết dê hay chó, bởi vì dê đâu mà lắm thế !
Nhậu lẩu dê là một hình thức nhậu bình dân và rẻ tiền nhất. Chẳng thế mà quán lẩu dê nào cũng đông khách. Mấy anh tài xế xe ôm, mấy bác đạp xích lô, sau một ngày lao động cực nhọc, ban tối rủ nhau làm một cái lẩu dê với vài xị rượu huyết dê là sẽ quên tuốt  những vất vả và khốn khổ của mình.
Nhiều khi không có thịt dê, dần ghiền bèn phệu ra món “giả dê”, tương tự như món “giả cầy” để được tưởng nhớ mùi hương. Người ta dùng chân giò heo, nướng lên rồi thái nhỏ và bóp với riềng. Khi thưởng thức, miệng thì ăn nhưng lòng thì phải mường tượng ra đó là thịt dê chính gốc.
Có một điều gã ghi nhận được khi suy gẫm về loài dê, đó là từ đông sang tây, từ cổ chí kim, người ta đều nhìn dê bằng một cặp mắt khinh bỉ, gán cho dê những thói hư tật xấu và đồng hóa dê với tội lỗi. Chẳng hiểu có oan cho dê lắm không ?
Thực vậy, sách Lêvi của Cựu ước đã mô tả về nghi thức của ngày lễ xá tội như sau :
Người ta dẫn tới trước mặt Aaron một con dê đực còn sống. Ông ta sẽ đặt hai tay lên đầu nó mà xưng thú hết mọi sai lầm, hết  mọi phản nghịch, nghĩa là hết mọi tội lỗi của con dân Israel, như thể trút tất tật lên đầu nó, rồi dùng tay một người đang chờ sẵn mà đuổi nó vào sa mạc. Ở đó chẳng có sự hiện diện đầy yêu thương của Đức Giavê, mà chỉ có sự hiện diện của ma quỉ độc dữ mà thôi.
Con dê này được người Do thái gọi là “oan dương”, con dê gánh tội, con vật hy sinh.
Trong Tân ước, gã lại còn thấy rõ điều ấy hơn nữa.
Thực vậy, hoạt cảnh vể ngày phán xét chung đã được Kinh thánh  mô tả như sau :
Bấy giờ các dân thiên hạ sẽ được tập họp trước mặt Ngài, và Ngài sẽ tách biệt họ ra, như mục tử tách biệt chiên với dê. Ngài sẽ cho chiên đứng bên phải, còn dê thì ở bên trái.
Như thế, dê là biểu tượng cho những kẻ đứng bên trái, tức là những kẻ tội lỗi, những kẻ sẽ bị trừng phạt đời đời kiếp kiếp chẳng cùng. Thật là đại họa và vô phúc cho chúng ta nếu như trong ngày định mệnh ấy chúng ta bị đứng ở bên trái và lầm lũi bước theo dấu chân dê mà đi xuống hỏa ngục.
Chẳng biết có phải vì dê tượng trưng cho tội lỗi và ngoại diện của nó không được bắt mắt  cho lắm mà người ta rất ngại vẽ dê.
Năm ngoái cầm tinh con ngựa, thì hình ảnh về ngựa thật là ê hề, từ hình chụp đến hình vẽ, từ ngựa đực đến ngựa cái, từ ngựa mẹ đến ngưa con, thậm chí có cả ngựa đang mang bầu.
Còn năm nay cầm tinh con dê, gã đã phải chạy đôn chay đáo, chạy ngược chạy xuôi, thậm chí còn vắt cả giò lên cổ mà chạy để tìm cho ra một tấm lịch có hình con dê, hầu làm thiệp đón mừng xuân mới, gửi cho bè bạn khắp bốn phương trời, thế nhưng bạc mắt tìm mà cũng chẳng thấy.
Riêng đối với người Việt Nam, nết xấu nổi bật nhất nơi con dê đực, chính là cái  “tính thích đờn bà con gái”, chính là cái “thói ve vãn, chọc ghẹo đờn bà con gái”.
Cái tính và cái thói này nhiều khi nằm sẵn trong huyết quản vì thế những kẻ mắc phải cái tính và cái thói này thường được gọi là kẻ có…máu dê, hay máu băm nhăm.
Khi cái tính và cái thói này liên tục phát triển và lên tới tột đỉnh của nó, thì kẻ ấy nghiễm nhiên được bàn dân thiên hạ phong cho cái chức…”dê xồm”, tức là kẻ cả gan dám dê một cách trắng trợn, ngay cả giữa ban ngày ban mặt, giữa thanh thiên bạch nhật, chẳng kể gì đến những lời bàn ra tán vào. Kẻ ấy giống như “dê cỏn buồn sừng húc dậu thưa”, mà Hồ Xuân Hương đã diễn tả.
Ngày xửa ngày xưa, vua Tấn Võ Đế có rất nhiều cung phi mỹ nữ. Ban đêm, nhà vua ngồi trên chiếc xe khảm vàng khảm ngọc, do một đàn dê kéo đi khắp trong cung, tự ý dê muốn đi đâu tùy thích. Xe dừng ở nơi nào, nhà vua sẽ nghỉ đêm tại đó.
Vì thế, các cung phi liền lấy lá dâu treo ở ngoài cửa và dùng nước muối rắc, để cho dê thấy lá dâu và ngửi mùi nước muối thì thèm ăn, mà kéo xe đi vào cửa cung.
Chẳng hiểu có phải vì vậy mà dê bị gán cho cái tác phong  “thiếu đứng đắn” khi giao tiếp với “phe địch” hay không ? Nếu chỉ vì thèm ăn nắm lá dâu mà dê bị kết tội dê, tức là “táy máy với đờn bà con gái”, thì thật hơi oan cho dê một tí.
Cái tội dê này, báo chí phương tây hiện giờ đã mặc cho nó một danh xưng nhẹ nhàng và mỹ miều hơn, đó là cái tội “quấy rối tình dục”. Và theo những nhà tâm lý, thì từ “quấy rối tình dục” đến “lạm dụng tình dục” chỉ cách nhau có một đốt ngón tay. Mấy ông quan tòa bên đó đã dành cho những kẻ quấy rối tình dục những bản án nặng nề, nhưng chẳng biết  có  “sì tốp” được cái tính và cái thói dê ấy chút xíu nào hay không ?
Trong ngôn ngữ, gã ghi nhận được một vài câu tục ngữ, nói lên tính cách giả dối của người đời liên quan tới dê.
Trước hết các cụ đồ sính chữ nho hay những người thuộc vào hàng nho chùm vốn thường bảo :
- Dương chất hổ bì.
Câu này có nghĩa là :
- Cốt là cốt dê, mà da lại là da cọp.
Từ đó ám chỉ những kẻ dùng thế lực giả tạo bên ngoài để lòe bịp hay hù dọa thiên hạ.
Họ là những kẻ :
- Mượn đầu heo nấu cháo.
Hay :
- Mượn hoa cúng Phật.
Họ giống như :
- Cáo mượn oai hùm.
Chứ thực  chất bên trong của họ chẳng đáng giá một đồng xu cắc bạc nào cả.
Chuyện xưa kể rằng :
Tuyên Vương làm vua cả nước Sở. Còn Chiêu Hề Tuất chỉ là một người bầy tôi của Tuyên Vương. Thế mà người phương bắc ai nghe thấy nói Chiêu Hề Tuất cũng phải kính sợ. Vua lấy làm lạ, một hôm hỏi quần thần vì cớ làm sao ? Không ai trả lời nổi. Chỉ có Giang Nhất thưa được rằng :
- Con hổ hay bắt các giống thú để ăn thịt. Một hôm bắt được một con cáo. Cáo bảo : Liệu đó! Chớ  đụng chạm đến ta mà chết ngay bây giờ. Ta là trời sai xuống, cầm quyền coi hết cả bách thú. Ngươi ăn thịt ta, là ngươi trái mệnh trời, hại đến thân tức khắc… Không tin, thử để ta đi trước, ngươi theo hầu sau, xem có con thú nào trông thấy ta mà lại không sợ hãi tìm đường trốn mau hay không ? Hổ cho là cáo nói thật, bèn đi theo cáo. Quả nhiên bách thú trông thấy đều sợ mà chạy cả. Hổ vẫn không biết bách thú sợ mình mà chạy, cứ tưởng là sợ cáo. Nay nhà vua nước mạnh, quân nhiều mà vua giao cả quyền thế cho Chiêu Hề Tuất, người phương bắc sợ Hề Tuất, nhưng kỳ thực là sợ vua, cũng như bách thú sợ hổ vậy.
Câu chuyện trên ám chỉ kẻ dưới thích mượn quyền thế  “bề trên” để hống hách và dọa nạt. Nếu không biết, người ta còn sợ, chứ khi “lừa đã thò tai” thì chẳng những người ta đem lòng khinh bỉ, mà còn làm đê nhục để cho bõ ghét.
Tiếp đến, người bình dân trong ngôn ngữ thường ngày vốn thường hay nói :
- Treo đầu dê, bán thịt chó.
Cửa hàng treo bảng hiệu bán thịt dê, nhưng thực chất bên trong chỉ toàn chó với chó.
Cũng giống như gã đã trình bày ở trên : khi ngồi nhậu lẩu dê với bè bạn mà lòng cứ thắc thỏm không hiểu là thịt dê hay thịt chó, bởi vì dê đâu mà nhiều thế.
Câu tục ngữ ngắn gọn này cũng đủ diễn tả tác phong của kẻ giả hình, họ nói vậy mà không phải vậy, họ nói một đàng nhưng làm quàng một nẻo. 
Kinh thánh đã bảo :
- Họ giống như mồ mả, bên ngoài thì quét vôi trắng xóa, nhưng bên trong thì đầy dòi bọ cùng mọi thứ xú khí.
Tục ngữ Việt Nam đã liệt họ vào hạng :
- Khẩu Phật, tâm xà.
- Miệng na mô, bụng bồ dao băm.
- Ngoài thì thơn thớt nói cười,
  Mà trong nham hiểm giết người không gươm.
Như thế, họ không làm đã đành, mà thậm chí còn làm ngược lại những gì họ đã nói :
- Na mô, một bồ dao găm,
  Một trăm dao mác,
  Một vác dao bầu,
  Một xâu thịt chó.
- Na mô, một bồ dao găm,
  Một trăm con chó,
  Một lọ mắm tôm,
  Một ôm rau húng,
  Một thúng rau răm.
Bàn về hạng người giả nhân giả nghĩa ấy, thiết tưởng còn nhiều điều phải nói. Tuy nhiên để kết thúc những sự việc lỉnh kỉnh về con dê, gã xin mượn một mẩu chuyện trong sách “Cổ Học Tinh Hoa”. Mẩu chuyện ấy mang tựa đề là “Người bán thịt dê” :
Vua Chiêu Vương nước Sở bị mất nước, phải bỏ chạy.  Có người bán thịt dê tên là Duyệt, cũng chạy theo vua.
Thời gian sau, vua Chiêu Vương  trở về, lấy lại được nước. Vua bèn thưởng cho những người chạy theo mình khi trước, trong số đó có cả người bán thịt dê nữa.
Ai cũng nhận phần thưởng, chỉ một mình người bán thịt dê từ chối và nói :
- Trước nhà vua mất nước, tôi mất nghề bán thịt dê. Nay nhà vua còn nước, tôi còn nghề bán thịt dê. Thế là tôi giữ được nghiệp cũ đủ ăn rồi, còn đâu dám mong thưởng.
Vua cố ép. Người bán thịt dê thưa rằng :
- Nhà vua mất nước không phải là tội tôi, nên tôi không dám liều chết. Nhà vua lấy lại được nước, không phải do công tôi, nên tôi không dám lĩnh thưởng.
Vua bảo :
- Để rồi ta đến nhà ngươi chơi vậy.
Người bán thịt dê nói :
- Theo phép nước Sở, phàm người nào có công to, được trọng thưởng thì vua mới đến nhà. Nay tôi xét mình tôi mưu trí không đủ giữ được nước, dũng cảm không đủ giết được giặc. Quân giặc vào trong nước, tôi chạy đi lánh nạn, phải theo nhà vua, chớ có phải là cốt ý theo nhà vua đâu ! Nay nhà vua muốn bỏ phép nước đến chơi nhà tôi, e thiên hạ nghe thấy lại chê cười chăng.
Chiêu Vương thấy nói, ngoảnh lại bảo Tư Mã Tử Kỳ rằng :
- Người bán thịt dê này tuy làm nghề vi tiện mà giãi bày nghĩa lý rất cao xa. Nhà ngươi làm thế nào mời được người ấy ra nhận chức tam công cho ta.
Người bán thịt dê nghe thế bèn nói :
- Tôi biết chức tam công là quí hơn cửa hàng bán thịt dê, bổng lộc nghìn vạn, giàu hơn tiền lãi bán thịt dê. Nhưng tôi đâu dám tham tước lộc mà để nhà vua mang tiếng là gia ơn không phải nghĩa. Tôi thực không dám nhận. Xin cho về giữ lấy nghề bàn thịt dê.
Nói đoạn, người ấy lùi ra ngay.
Tác giả sách “Cổ Học Tinh Hoa” đã góp thêm lời bàn như sau :
“Vua Chiêu Vương muốn thưởng, là lấy cái ý khí mình gặp bước lưu vong mà người ta đi theo mình là người ta có lòng trung thành với mình. Người bán thịt dê không nhận thưởng là lấy cái nghĩa không đáng nhận, vì không có công cán gì.”
“Nếu ai cũng biết an phận thủ thường, quí trọng nghề nghiệp như người bán thịt dê, thì còn ai là kẻ ham mê phú quí, quyền thế và sự thưởng phạt ở đời chẳng là công minh lắn ru ! Thực đáng làm gương cho những kẻ không biết liêm sỉ, tài năng công đức chẳng có gì mà cũng cố cày cục, chạy chọt lấy chút phẩm hàm chức vụ để lòe đời vậy.”
Theo ý gã, nếu các vị tai to mặt lớn mà không tham sân si, tiền của, bổng lộc, để cho tệ tạn tham nhũng lộng lành, thì đất nước này đã phất lên từ lâu.
Và trước khi giã từ để…ăn tết, gã xin :
Long trọng…kính chúc…Quí vị…năm con…dê nhiều…may mắn !!!
Gã Siêu.

 

Chuyện Gã Siêu 116:  ĐỜN BÀ VÀ ĐỜN ÔNG

ĐỜN BÀ VÀ ĐỜN ÔNG Chuyện Gã Siêu 116

Trong những tháng vừa qua, gã đã phải bất đắc dĩ làm cái nghề “bới lông tìm vết” moi móc những Chuyện Gã Siêu 116

Trong những tháng vừa qua, gã đã phải bất đắc dĩ làm cái nghề “bới lông tìm vết” moi móc những thói hư tật xấu của cả phe mình lẫn phe ta, của cả đờn ông lẫn đờn bà, của cả chồng lẫn vợ. Sự moi móc này chẳng đem lại một tí lợi lộc nào hết, mà chỉ chuốc thêm thù oán vào thân, bởi vì nó đã làm cho nhiều người phẫn nộ. Gã chỉ sợ mỗi khi vác mặt mo của mình ra ngoài phố, thì sẽ bị xơi cà chua hay trứng thối bất kỳ lúc nào mà thôi.
Bản thân gã cũng cảm thấy nhức nhối, bởi vì vạch áo cho người ta xem lưng thì nào có hay ho gì, nhất là khi lưng của mình lại đầy những vết sẹo. Mà người ta ở đây lại là phe địch, đứng ở bên kia chiến tuyến, thế mới chết không cơ chứ.
Đờn bà và đờn ông, chuyện dài của muôn đời, có lẽ viết mãi viết hoài cũng chẳng bao giờ hết. Đờn bà và đờn ông có những khác biệt ngay từ lúc Thượng Đế cho ra lò tác phẩm đầu tay của mình, thành thử nếu không khéo hòa hợp, những khác biệt ấy sẽ  trở thành những đối kháng làm cho tê liệt mọi sinh hoạt, thì quả thật là thậm chí nguy.
Phải, chị đờn bà thì chu mỏ chê bai anh đờn ông, như tục ngữ ca dao đã diễn tả :
- Đờn ông ba bảy đờn ông,
  Đem bỏ vào lồng cho kiến nó tha.
Hay như :
- Ba đồng một chục đờn ông,
  Ta bỏ vào lồng, ta xách ta chơi.
  Ai ngờ dây đứt, lồng rơi.
  Nó bò lổm ngổm mỗi thằng một nơi.
Trong khi đó anh đờn ông thì lại ngán ngẩm, dài cổ ra mà ca với cẩm :
- Kiếp sau chẳng dám làm chồng,
  Làm cây cọc cắm bên sông cũng đành.
  Còn hơn có vợ bị hành,
  Bầm lên dập xuống như chanh cuối mùa.
  Lương chưa kịp giấu sơ cua,
  Đã moi sạch nhách chẳng chừa một xu.
  Giữ chồng còn hơn giữ tù,
  Đi đâu bà cũng lù lù theo sau.
  Bạn bè vừa mới gặp nhau,
  Chai chưa kịp cạn, “về mau, tối rồi”.
  Điểm tâm sáng chỉ gói xôi,
  Cà phê, thuốc lá xa rời từ lâu.
  Tan sở chẳng dám đi đâu,
  Đón con, ghé chợ mua rau, mua hành.
  Về nhà kho cá, nấu canh.
  Lau chùi giặt giũ, dỗ dành... bày heo.
  Mười năm khổ vẫn còn đeo,
  Trời ơi, cứu kiếp bọt bèo của con. (PNCN số 45).
Mặc dầu sự đời vốn dĩ là như thế, đờn bà và đờn ông tuy lườm nguýt nhau, nhưng vẫn cứ lôi cuốn, hấp dẫn lẫn nhau, cho tình yêu được nở rộ, cho nòi giống được tồn tại. Anh đờn ông thì :
- Trai thấy gái lạ,
  Như quạ thấy gà con.
Còn chị đờn bà thì :
- Đi đâu mà chẳng lấy chồng,
  Người ta lấy hết chổng mông mà gào.
Đây quả thực là ý muốn vừa thâm sâu, lại vừa nhiệm màu của Đấng Tạo hóa. Vì thế các cụ ta từ ngày xửa ngày xưa vốn đã từng xác quyết :
- Nhất âm, nhất dương chi vi đạo.
Âm dương, qui luật của muôn đời, không phải chỉ là đạo người mà còn là đạo chung của tất cả vạn vật. Thực vậy, muôn loài trong vũ trụ đều bị chi phối bởi luật âm dương. Hơn thế nữa, âm và dương luôn thu hút lẫn nhau mà lưu truyền trong dòng thời gian. Vì thế, anh đờn ông có liếc mắt đưa tình chị đờn bà, hay chị đờn bà có liếc mắt đưa tình anh đờn ông, âu cũng là chuyện thường ngày ở huyện :
- Có âm dương, có vợ chồng,
  Dẫu từ thiên địa, cũng vòng phu thê.
Và như vậy, gã thấy trong vũ trụ vật chất thì âm cũng cần, mà dương cũng cần. Còn trong cõi nhân sinh, thì đờn bà cũng quí, mà đờn ông cũng trọng. Tuy nhiên điều đáng lưu ý đó là phải biết điều hòa, chứ đừng nhất bên trọng, nhất bên khinh. Các cụ ta ngày xưa đã từng dạy :
- Thái quá bất cập.
Nhân đức bao giờ cũng đứng giữa, ở vào cái thế trung dung, chứ không nghiêng bên này, hay  ngả bên kia. Âm dương phải hòa hợp, nam nữ phải đề huề, thì mới liên tục phát triển :
- Gái có chồng như rồng có vây.
Bằng không thì rất khó mà tiến tới :
- Gái không chồng như cối xay chết ngỏng.
Có biết tôn trọng lẫn nhau, thì mới tạo được sự bình an và hạnh phúc. Còn gì êm đẹp cho bằng hình ảnh vợ chồng đồng lao cộng khổ với nhau như ca dao tục ngữ đã diễn tả :
- Đôi ta là nghĩa tào khang,
  Xuống khe bắt ốc, lên đàng hái rau.
- Trên đồng cạn, dưới đồng sâu,
  Chồng cày, vợ cấy, con trâu đi bừa.
- Râu tôm nấu với ruột bàu,
  Chồng chan, vợ húp, gật đầu khen ngon.
Còn nếu như bị “lệch pha”, chẳng hạn như “âm thịnh dương suy” ắt sẽ tạo nên những bất ổn, như danh ngôn đông tây vốn đã đề cập đến :
- Đờn bà không có đờn ông như vườn không có rào.
Trong khi đó :
- Đờn ông không có đờn bà như đàn đứt dây.
- Nhà không đờn bà như thân xác thiếu mất linh hồn.
Thành thử sau hai bài viết : thế giới không đờn bà và nhân loại chẳng đờn ông, gã mới “ngộ” ra rằng, đó là hai thái cực không thể nào chấp nhận được. Phải có đờn bà cũng như phải có đờn ông. Đồng thời cả hai phải biết tựa vào nhau để mà sống.
Đọc lại những trang đầu của sách Sáng thế ký, gã thấy được một quan niệm rất đặc sắc về hôn nhân, cũng như về đờn bà và đờn ông của Kitô giáo.
Thực vậy, sau khi dựng nên Adong, Thiên Chúa đặt ông đứng đầu để trông coi cá biển chim trời và muôn vật sống trên mặt đất. Thấy ông sống cô độc, lẻ loi và cu ki, Thiên Chúa thầm nghĩ :
- Người đờn ông ở một mình không tốt. Ta hãy dựng nên cho nó một người nội trợ giống như nó.
Đợi lúc ông ngủ say, Thiên Chúa bèn lấy một nửa chiếc xương sườn của ông mà tạo thành người đờn bà. Rồi Ngài dẫn bà ra mắt ông. Thoạt nhìn thấy Eva, Adong đã mừng rỡ, hớn hở kêu lên :
- Này đây mới thật xương bởi xương tôi và thịt bởi thịt tôi. Nàng sẽ được gọi là người nữ vì bởi người nam mà ra.
Như thế, Adong đã đồng hóa Eva với chính thân xác của mình. Để diễn tả ý tưởng “một xương một thịt”, theo gã nghĩ, trong tiếng Việt Nam của chúng ta có một danh từ thật dễ thương, thật tuyệt vời, đó là chữ “mình”.
Bởi vì mình vừa là anh và cũng lại vừa là em, vừa là chàng và cũng lại vừa là nàng. Vừa là ngôi thứ nhất :
- Mình làm ra chẳng ma nào giúp.
Và cũng lại vừa là ngôi thứ hai :
- Biển sâu sóng vỗ rập rình,
  Biển bao nhiêu sóng thương mình bấy nhiêu.
Mình còn là cả chúng ta. Ngoài ra, mình vừa là thân xác :
- Mình lính, tính quan.
Và cũng lại là cả con người nữa.
Nếu thế thì khi thoạt nhìn thấy Eva, Adong đã hớn hở gọi :
- Mình ơi!
Hai chữ  “mình ơi” quả thật đã ngọt hơn đường cát, mát hơn đường phèn và trên cả tuyệt vời nữa.
Từ hai chữ “mình ơi” gã bỗng nhớ tới hai chữ “ai ơi”. Số là cách đây mấy chục năm tại Việt Nam người ta vẫn còn e thẹn, dù đã là vợ chồng “mí nhau” nhưng rất ít khi người ta gọi nhau một cách thẳng thừng :
- anh anh, em em.
Có hai vợ chồng trẻ mới cưới. Chị vợ nấu cơm trong bếp. Anh chồng làm cỏ ngoài vườn. Khi nồi cơm đã chín, từ trong bếp chị vợ bèn gọi vọng ra :
- Ai ơi về ăn cơm.
Anh chồng bèn hỏi :
- Cơm ai nấu.
Chị vợ liền trả lời :
- Ai nấu chứ ai.
Ôi chu choa, tiếng Việt mình quả là dễ thương và hết xảy!!!
Cũng từ một nửa chiếc xương sườn, gã liên tưởng đến hình ảnh một nửa trái tim. Có một câu chuyện thần thoại kể về việc tạo dựng trái tim đờn bà và đờn ông được tóm lược như sau :
Thưở ban đầu, Thượng đế chỉ dựng nên có một trái tim duy nhất. Sau đó, Ngài bổ trái tim ấy thành hai mảnh đều nhau. Một mảnh thì Ngài đặt trong thân xác người đờn ông. Còn mảnh kia, thì Ngài đặt trong thân xác người đờn bà. Hai mảnh trái tim ấy luôn khắc khoải tìm kiếm nhau.
Cho dù hai người có sống cách xa nhau hàng ngàn cây số, thì vẫn có những cuộc tình xuyên lục địa. Cho dù hai người có sống ở hai bên bờ biển ngàn trùng, thì vẫn có những cuộc tình xuyên đại dương. Cho dù hai người có sống ở những đất nước khác nhau, thì vẫn có những cuộc tình xuyên quốc gia...
Vì thế, người Pháp mới gọi người vợ hay người chồng thân thương của mình là :
- Ma moitié! Có nghĩa là “Nửa của anh ơi!” “nửa của em ơi”!
Qua hình ảnh một nửa chiếc xương sườn và hai nửa trái tim, gã nhận thấy đờn bà và đờn ông đều đáng quí đáng trọng và phải được bình đẳng với nhau.
Nói tới hai chữ bình đẳng, hẳn chúng ta lại nghĩ tới những phong trào đòi nam nữ bình quyền, phụ nữ đòi quyền sống... Những phong trào này một thời đã gây ồn ào và làm cho quần chúng chú ý đến. Thế nhưng rất nhiều người lại thích hiểu lầm về hai chữ “bình đẳng”.
Thực vậy, họ cho rằng người đờn bà mặc gì, thì người đờn ông cũng có thể bắt chước mà mặc như vậy. Vì thế ngày nay, chúng ta mới thấy anh đờn ông để tóc dài, đeo bông tai...Chỉ còn việc mặc váy là chưa được phổ biến sâu rộng, ngoại trừ đờn ông xứ Tô Cách Lan!
Họ cho rằng người đờn ông làm gì thì người đờn bà cũng có thể bắt chước mà làm như vậy. Vì thế, ngày nay chúng ta mới thấy nhiều chị đờn bà cũng để đầu trọc, đấu võ Sumô, hút thuốc và uống rượu như điên.
Báo “Công an Thành phố” có đăng tải về đời sống của “Bà Tư xả láng”. Đây là một chuyện buồn, buồn nẫu cả gan và thối cả ruột. Chuyện buồn ấy như thế này :
Ông bà ngày xưa thường nói :
- Phúc đức mới sinh được nhiều con.
Nếu cứ theo cách nghĩ của người xưa, thì bà Trần Kim Nga thật có phước. Bà có tới tám đứa con, lớn nhất ba mươi, nhỏ nhất lên mười và các con bà thuộc loại chăm chỉ. Bốn con trai lớn đã về quê vợ làm ăn, hai con trai kế tiếp đi làm phụ hồ và xúc cát mướn. Cô con gái xinh đẹp tên là Nghi chỉ học đến lớp chín, rồi ở nhà may quần áo đem bán để phụ mẹ và nuôi đứa em út mới lên mười tuổi.
Thế nhưng, bà Nga không biết giữ gìn hạnh phúc trời cho ấy. Bà sinh tật uống rượu vì buồn chồng mèo mỡ. Năm 1955 khi bà và người chồng chính thức chia tay, bà bán căn nhà, nơi cả gia đình sinh sống những ngày tháng đầm ấn nhất, được mười hai lượng vàng. Bà chia cho chồng năm cây để chồng đi với vợ mới, còn bà thì bắt đầu đến với rượu nhiều hơn để “hóa giải” cơn sầu! Bà uống hết hiệp này sang hiệp khác và say bí tỉ, vì vậy dân nhậu đặt cho bà biệt danh “Tư xả láng”.
Từ tháng 6 năm 2001, Tư xả láng có quan hệ thân thiết như vợ chồng với anh Nguyễn Văn Tuấn, ngụ cùng phường và cũng là bạn nhậu của Tư xả láng.
Tuấn thua bà Nga, tức Tư xả láng, mười bốn tuổi, hai người thường bỏ nhà đi chơi tới ba, bốn giờ sáng mới về. Mỗi lần say về, bà ói mửa, rên hừ hử, bắt các con bóp tay chân và chửi mắng thô lỗ. Mọi chuyện trong gia đình bà phó mặc cho Nghi, để chị em Nghi bữa đói bữa no. Thỉnh thoảng bà mới tỉnh rượu, gặp lúc lối xóm kêu đi chùi xoong nồi, bà làm và lấy tiền đi nhậu với Tuấn.
Nghe lối xóm đồn ầm ĩ về chuyện hai người, Nghi hỏi mẹ :
- Mẹ và chú Tuấn yêu nhau à ?
- Ừ, chú ấy yêu mẹ.
- Không được đâu, mẹ đã lớn tuổi vả lại chú ấy kém tuổi mẹ nhiều!
- Mẹ yêu là để trả thù ba vì ba có vợ nhỏ, bỏ mẹ.
Khuyên nhủ mẹ không được, nhiều lần Nghi gặp Tuấn để can ngăn hãy buông tha mẹ để mẹ lo cho em của Nghi. Nhưng mặc lời can ngăn, mối quan hệ vẫn tiếp diễn. Bà Nga bỏ mặc các con ngay cả lúc con trai út sốt xuất huyết nặng, Nghi phải chạy vạy vay tiền đưa em vào bệnh viện cấp cứu.
Mười lăm giờ ngày 01.4.2001, bà Nga và Tuấn đi chơi ở Châu Đốc về. Bà lên giường nằm một lúc rồi lại vùng dậy đi nhậu tiếp. Tới 18g30 không thấy mẹ về, Nghi lo mẹ uống nhiều sẽ bệnh, nên vội đi tìm. Gặp những người cùng nhậu với mẹ, Nghi hỏi :
- Mẹ con đâu ?
Mọi người trả lời :
- Bà ấy với thằng Tuấn đi rồi.
Nghi nháo nhào đi tìm khắp nơi không thấy, nên chạy đến nhà Tuấn. Gõ cửa phòng mười lăm phút không thấy ai trả lời, nghi lén leo lên vách nhà nhìn vào thì thấy mẹ đang nằm trên giường của Tuấn. Gõ thật mạnh một lúc nữa mới thấy Tuấn mở cửa. Nghi đề nghị :
- Chú Tuấn để cho mẹ tôi về.
Nghi đưa mẹ về nhà và nói :
- Mẹ nghỉ cho đỡ mệt.
Rồi nhìn cảnh nhà bữa đói bữa no, đứa em lên mười ngơ ngác tội nghiệp, người mẹ chỉ nhậu về là rên la, không lo gì cho con, trong lòng Nghi nổi lên ý định giết Tuấn để “giành lại mẹ”. Lúc hai mươi giờ, Nghi lấy dao Thái Lan dắt vào bụng và tới nhà Tuấn, mời Tuấn ra quán cà phê nói chuyện.
Ra quán, Nghi năn nỉ Tuấn hãy buông tha mẹ để mẹ chăm lo cho gia đình, chăm lo cho chị em Nghi và nhờ Tuấn khuyên mẹ không nên uống rượu vì mẹ lớn tuổi. Tuấn nói :
- Tôi thương rồi, bỏ không được.
Vào lúc ấy, bà Nga lại đi tìm Tuấn. Thấy Tuấn đang ngồi với Nghi, bà định bỏ đi, nhưng Nghi kéo mẹ lại ngồi giữa Nghi và Tuấn :
- Đây có mẹ, ba mặt một lời, mẹ nói mẹ có thương chú Tuấn   không ?
Bà Nga nói :
- Mẹ không thể lấy Tuấn vì tuổi tác, nên xem nhau như bạn thôi.
- Vậy chú Tuấn thì sao ?
- Tôi thương bả, không thể cưới được, nhưng cũng không thể bỏ được.
Quá uất ức, Nghi đập chai nước ngọt vào đầu Tuấn và đâm Tuấn. Sau đó, Nghi mang dao đến công an phường tự thú.
Chính vì sự hiểu lệch lạc hai chữ “bình đẳng” mà phát sinh ra những hành động đáng tiếc theo kiểu “ông ăn chả, bà ăn nem” làm cho gia đình bị tan vỡ.
Vậy bình đẳng là như thế nào ?
Dĩ nhiên, gã không phủ nhận những khác biệt giữa đờn bà và đờn ông. Chẳng hạn đàn bà thì yếu, còn đờn ông thì mạnh. Đàn bà thiên về tình cảm, còn đờn ông thiên về suy luận. Đờn bà có óc phân tích, còn đờn ông có óc tổng hợp... Tuy nhiên, những khác biệt ấy không phải là để đối chọi và triệt tiêu lẫn nhau, như ánh sáng và bóng tối, như lửa và nước, nhưng là để bổ túc và nâng đỡ cho nhau.
Vì thế, người ta thường bảo :
- Cái nhìn đúng không phải là cái nhìn của anh hay của em, nhưng là cái nhìn của cả hai đứa chúng mình.
Tiếp đến, gã cũng phải công nhận rằng trong thân thể có nhiều chi thể và mỗi chi thể có một nhiệm vụ, nhưng  tất cả đều hướng tới một mục đích, đó là làm cho thân thể được liên tục phát triển.
Ngày nọ, hai chân lên tiếng phản đối cái miệng. Chúng nói :
- Suốt ngày tôi phải đi rạc cả cẳng, còn ngươi thì chỉ việc ngồi nhà mát ăn bát vàng.
Hai tay cũng lên tiếng :
- Tôi phải làm lụng quần quật suốt ngày, còn ngươi thì chỉ việc xơi hết những thành quả do tôi làm ra.
Thế là đôi tay và đôi chân đình công, không đi và cũng không làm nữa, thành thử cái miệng chẳng có gì để ăn. Nhưng chỉ một ngày, toàn thân ủ rũ như sắp chết đến nơi. Nhờ sự can thiệp của bộ óc, các chi thể mới hiểu được vai trò cần thiết của mình và tiếp tục hoạt động lại, làm cho toàn thân được sống và sống dồi dào.
Ngoài xã hội cũng vậy, mỗi người có một nghề để sinh sống và đóng góp cho đất nước. Nếu mọi người đều cấy lúa thì lấy ai dệt vải. Nếu mọi người đều dệt vải thì lấy ai xây nhà...
Đêm kia, một thi sĩ nằm mơ. Anh chàng thấy người giúp việc đến và nói :
- Tôi xin nghỉ việc. Từ nay, anh phải nấu lấy mà ăn, giặt lấy mà mặc.
Người giết heo cũng đến và bảo :
- Tôi xin giải nghệ. Từ nay anh tự nuôi lợn, mổ lấy mà ăn.
Rồi người trồng cà phê, người trồng thuốc lá, người cấy lúa... Tất cả đều xin nghỉ việc, khiến anh chàng lo toát cả mồ hôi, đập mạnh chân xuống giường, thì ra đó chỉ là một giấc mơ.
Thế nhưng, từ giấc mơ này anh chàng nhận ra rằng : mình cần đến người khác và mình mắc nợ người khác nhiều lắm.
Nơi gia đình luật phân công ấy cũng đã được áp dụng : người thì kiếm tiến, kẻ thì nấu bếp... Tuy nhiên, tất cả đều có chung một nỗi băn khoăn lo lắng, đó là góp phần xây dựng cho cuộc sống được tốt đẹp hơn.
Như thế, mỗi người đều có một công việc một bổn phận và không  có công việc nào là thấp hèn, đáng khinh đáng ghét. Trái lại, công việc nào cũng tốt và cũng cần như nhau.
Giống như khi nói về nghề nghiệp :
- Nghề nào cũng đáng quí đáng trọng. Không có nghề xấu mà chỉ có người xấu mà thôi.
Sau khi đã khẳng định như vậy, gã nhận ra rằng bình đẳng có nghĩa là đờn bà và đờn ông đều bằng nhau về nhân vị và phải được tôn trọng như nhau. Đờn bà cũng là một con người, cũng có một phẩm giá và cũng phải được quí mến như đờn ông. Quan niệm “trọng nam khinh nữ” chuộng nam chê nữ, hay “nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô” một cậu con giai là đã có, chứ còn mười cô con gái cũng chỉ là số không, quả là đã xưa rồi Diễm ơi!
Tiếp đến, bình đẳng còn có nghĩa là đờn bà và đờn ông đều bằng nhau về quyền lợi cũng như về trách nhiệm. Cả hai đều phải kề vai sát cánh cộng tác với nhau trong việc xây dựng một cuộc đời chung, một mái ấm chung.
Người chồng ngoài giờ đi làm, cũng phải giúp đỡ người vợ trong việc “tề gia nội trợ” cũng như giáo dục con cái, Người vợ ngoài việc bếp múc, cũng phải phụ với người chồng một tay trong việc bươm chải, tìm tiền kiếm bạc cho gia đình có được một cuộc sống vật chất ấm no. Nhất là khi người chồng bị sao quả tạ chiếu tướng, rơi vào tình trạng thất nghiệp, ở nhà đuổi gà cho vợ và ngồi chơi xơi nước, không còn kiếm ra một đồng xu nào sốt, thì người vợ cũng đừng vì thế mà lên tiếng chì chiết người chồng là hạng vô tài bất tướng, ăn hại đái nát. Rồi thay lòng đổi dạ.
Lệnh Nữ là con gái của quan thái thú Hạ Hầu Văn Ninh, được gả cho Tào Văn Thúc, cháu nội của Tào Tháo. Văn Thúc chẳng may chết sớm, Lệnh Nữ góa chồng. Nàng sợ cha mẹ bắt phải tái giá, nên cắt cụt tóc, ý muốn ở vậy thờ chồng. Nhưng cha mẹ không nghe, ép phải lấy chồng. Lệnh Nữ bèn dùng dao cắt đứt hai tai, rồi sang ở với người anh họ của chồng là Tào Sảng. Khi Tư mã Ý diệt nước Ngụy, giết cả dòng họ Tào, chú của Lệnh Nữ bắt nàng về Lương Châu định ép gả. Nàng lại tự xẻo mũi, cương quyết ở vậy cho trọn đạo vợ hiền. Bà con thấy vậy liền bảo :
- Tất cả họ hàng nhà chồng đều bị tru diệt, nàng thủ tiết với ai mà phải đày đọa thân xác đến thế ?
Lệnh Nữ đáp :
- Tôi thường nghe người nhân chẳng lấy lẽ thịnh suy mà đổi tiết. Xưa kia họ Tào còn thế lực, mọi người thảy đều khuất phục để thụ hưởng giàu sang, nay chẳng may bị tru diệt, tôi há lại hùa theo thiên hạ mà làm điều bất nghĩa hay sao ?
Hẳn rằng khi bước vào cuộc sống hôn nhân, chúng ta đã lớn tiếng đọc lên lời thề hứa rằng :
- Sẽ giữ lòng chung thủy với nhau khi thịnh vượng cũng như lúc gian nan, khi bệnh hoạn cũng như lúc khỏe mạnh, để yêu thương và tôn trọng nhau trong suốt cả cuộc đời.
Viết đến đây, gã xin khép lại chuyện đờn bà và đờn ông, để chuyển sang một đề tài khác, theo ý muốn của cụ chủ nhiệm. Đề tài ấy như thế nào, thì xin... hạ hồi phân giải.
Gã Siêu

 

Chuyện Gã Siêu 117: Nhớ dai và nói dài

Nhớ dai và nói dài Chuyện Gã Siêu 117



 

Hôm nay, gã xin đề cập tới cái tật nhớ dai và nói dài của phe ta. Hai chữ nhớ dai chỉ có nghĩa là Chuyện Gã Siêu 117

Hôm nay, gã xin đề cập tới cái tật nhớ dai và nói dài của phe ta. Hai chữ nhớ dai chỉ có nghĩa là nhớ lâu, nhớ bền, nhớ kỹ mà thôi. Xin đừng hiểu cong queo mà có tội đấy!!! Hai chữ này làm cho gã nghĩ tới máy vi tính. Trên  một tờ báo, người ta đã đưa ra câu hỏi: Tại sao máy vi tính lại thuộc về giống cái? Và người ta đã ghi nhận được nhiều điểm của máy vi tính rất gần và rất giống với đờn bà con gái:
1- Ngay cả những người tạo ra nó cũng chẳng hiểu được nó.
2- Một lỗi, dù là nhỏ nhất của bạn, cũng sẽ được ghi nhớ tức thời.
3- Người khác không thể nào hiểu được loại ngôn ngữ mà máy vi tính dùng để trao đổi thông tin với nhau.
4- Khi trang bị máy vi tính, tức là bạn đang trút phân nửa hào bao
cho các thứ phụ tùng lỉnh kỉnh.
5- Bạn luôn muốn thử máy của người khác.
6- Máy vi tính lỗi thời rất  nhanh.
7- Tuy nhiên, các máy vi tính có một lợi thế lớn hơn nhiều so với đờn bà con gái, bởi vì chúng có nút “tắt và mở”.
Riêng phần gã, gã xin thêm một đặc tính khác nữa, đó là chẳng biết được lúc nào và tại sao nó lại trục trặc, cũng giống như anh chàng chẳng thể nào biết được lúc nào và tại sao chị nàng lại nổi giận đùng đùng, lại “bo xì” v nghỉ chơi với mình.
Ảnh Internet
Nếu gã nhớ không lầm thì có một vài ông triết gia nào đó đã đưa ra những câu định nghĩa hết sức “vô lý”, chẳng hạn: Trí nhớ là một khả năng để quên. Còn ai nghĩ đến quên thì ắt sẽ nhớ. Trong phạm vi lý luận, người ta lại khoái cái món “vô lý” như thế thì phải. Vì thế, các bậc thầy trong thiên hạ thường nghiệm ra rằng: Điều gì càng tối, thì lại càng sâu. Chứ còn đơn giản, ai cũng biết thì còn hay ho gì nữa. Cho nên cần phải phát ngôn làm sao để thiên hạ không thể hiểu nổi, phải nể phục mình sát đất và thế là nghiễm nhiên mình nhảy tót lên hàng sư phụ.
Riêng trong phạm vi đời thường, người ta thấy đờn ông con giai vốn có đầu óc tổng hợp, cái gì cũng đại khái chủ nghĩa, “qualoarement”, nên rất ư là hay quên. Gã có một thằng bạn, thỉnh thoảng hai đứa lại rủ nhau lên thành phố. Tối hôm trước, thằng bạn tự tay gấp quần áo bỏ vào giỏ, thế mà lần nào cũng vậy, không quên cái này thì cũng sót cái kia. Có lần khi chui vào phòng tắm nhà người ta, hắn mới phát giác ra rằng mình quên không mang theo quần đùi, nên vội khều gã lại và nói nhỏ với gã: Cậu chịu khó ra phố mua cho tớ hai chiếc quần xà loỏng. Mau lên nhé. Còn việc hắn mặc quần tây mà quên không kéo “phẹc-mơ-tuya”, thì đó chỉ là chuyện nhỏ, vốn xảy ra thường ngày.
Tuy nhiên, dưới một góc cạnh nào đó, cái quên cũng có những lợi ích của nó. Bởi vì nếu phải nhớ hết mọi sự, chẳng bao giờ được phép quên, ắt hẳn đầu óc sẽ không còn đủ chỗ chứa cho những dữ kiện được nạp vào, bấy giờ nó sẽ nổ tung và điên lên mất, chỉ vì bị quá tải. Chính vì thế, có người đã phát biểu như sau: Đôi khi quên những điều mình biết cũng làm lợi ích. Biết quên là một hạnh phúc hơn là một nghệ thuật. Kinh nghiệm bản thân cũng cho gã hay: Nhiều lúc gặp phải chuyện buồn, mình cũng muốn quên phứt đi tất cả. Quên đời và quên người. Có quên đi thì mới được ngủ mới yên. Bằng không thì cuộc sống cứ nặng trình trịch như đeo cối đá vào cổ vậy.
Trong khi đó, đờn bà con gái thì ngược lại, vốn có đầu óc phân tích, sợi tóc chẻ làm bốn, luôn chú trọng tới những chi tiết nhỏ mọn nhất, nên rất ư là nhớ dai. Chính vì thế, hồi ở tiểu học, phe con gái thường dẫn đầu những môn học thuộc lòng, lên trung học phe kẹp tóc thường giỏi về sinh ngữ và khi thò chân vào cuộc đời, các chị thường thích hợp với nghề thư ký, dạy học, nội trợ là những nghề đòi phải có óc tỷ mỉ và nhớ dai. Gã có một bà chị ở bên Mỹ, trước khi về Việt nam bốn tháng, bà chị ấy đã truyền cho gã cả một “bộ luật chương trình”, ngày nào phải đi đâu, phải làm gì. Rồi lại còn hỏi xem có cần phải thay đổi hay bổ túc gì không? Gã chỉ biết trả lời: Cứ về đã, rồi hạ hồi phân giản, tới đâu hay tới đó.
So với máy vi tính thì đờn bà con gái còn nhiêu khê và rắc rối hơn nhiều. Đối với máy vi tính, một văn bản hay một hình ảnh đã được lưu vào bộ nhớ, lúc nào mình muốn bỏ đi thì chỉ cần bấm chọn tận gốc rồi nhấn nút “delete”, thế là xong, an toàn chăm phần chăm. Chứ còn đờn bà con gái ấy hở, một khi đã nhớ thì nhớ mãi nhớ hoài, nhớ vào tận tim gan phèo phổi, chẳng thể nào bỏ được. Mình càng cố gắng xóa đi thì họ lại càng nhớ dai hơn, thành thử tình huống trở nên rất ư là phức tạp. Sau đây gã xin ghi lại tâm sự buồn của một ông chồng có bà vợ nhớ dai. Tâm sự buồn này đã được đăng tải trên báo Phụ nữ Chủ nhật. Gã xin trích dẫn nguyên con như thế này:
Ảnh Internet
“Cho dù các nhà khoa học có phát minh ra loại máy tính hiện đại nào có bộ nhớ tốt đến đâu đi nữa, tôi cam đoan rằng nó vẫn không bằng trí nhớ của vợ tôi. Thuở mới yêu nhau, sự nhớ dai của nàng làm tôi hạnh phúc và tuy đó không phải là yếu tố quyết định, nhưng lại là một trong những lý do khiến tôi cưới nàng làm vợ. Lấy nhau rồi, tôi mới nhận ra sự nhớ dai của nàng làm tôi khổ sở. Thuở yêu nhau, không có sinh nhật của người nào trong gia đình tôi mà nàng không nhớ. Vào những ngày đó, bao giờ nàng cũng dành cho gia đình tôi những bất ngờ thật dễ thương, không phải những món quà, mà chính sự quan tâm sâu sắc, sự tinh tế chu đáo của nàng làm cho mọi người trong nhà rất có cảm tình với nàng. Ba mẹ tôi giục tôi “cưới vợ thì cưới liền tay” bởi ông bà sợ vuột mất cô dâu quí. Mấy đứa cháu thì tối ngày cứ quấn lấy nàng khiến tôi có khi phải ganh tị với nàng. Còn thói quen của mọi người trong nhà, thì nàng nhớ chính xác không sai vào đâu được: mẹ tôi kiêng món gì, ba tôi thích đọc loại sách nào, còn đứa em gái tôi thích mặc đồ “size” bao nhiêu. Tóm lại, nàng có thể nhớ tất tần tật những gì mà một thằng tôi sống trong gia đình từ bé đến lớn cũng không biết, chứ đừng nói là nhớ. Cho đến khi cưới xong, gia đình tôi vẫn an tâm hài lòng về sự chu đáo của cô con dâu mà theo mẹ tôi “còn hơn cả những đứa con ruột tao đẻ ra nữa”. Chỉ có tôi mới biết tôi phải khổ sở bởi tính nhớ dai của nàng như thế nào. Trước khi cưới, có lần nàng bảo tôi: Anh hãy dọn dẹp lại phòng riêng của mình coi xem có gì cần “niêm phong” lại không thì làm trước khi em về, đừng để sau này em phát hiện ra là “mệt” đó! Tôi hiểu nàng “ám chỉ” cái gì và câu nói với mệnh đề “nếu…thì…” của nàng còn bao hàm cả sự “đe dọa”, bởi trước kia tôi đã “thật thà thú thiệt” với nàng về những mối tình thời sinh viên của mình mà quên mất một câu đúc kết vô cùng chí lý là: “thật thà thường thua thiệt”. Nàng muốn tôi “dọn dẹp” những lá thư tình, những hình ảnh hay những kỷ vật có liên quan đấy mà. Lúc đó, tôi nghĩ thật đơn giản: Có gì mà phải dọn, miễn là mình chỉ còn yêu cô ấy và lấy cô ấy mà thôi là đủ rồi. Vả lại, bấy giờ tôi cũng chẳng nhớ mình để những thứ đó ở đâu. Tôi quan niệm những gì qua rồi thì thôi, tính tôi không thích những hoài niệm cũ với quá khứ. Vậy mà, chỉ sau tuần trăng mật, nàng bắt đầu ra tay “thanh lý” cái mớ bòng bong trong phòng tôi và không mấy khó khăn truy ra một đống “kẻ thù của những bà vợ hay ghen”: thư từ, hình ảnh, vài chiếc khăn tay và cả những thứ tôi từng tặng cô người yêu cũ nhưng bị trả lại kèm với những lời yêu đương vô cùng thắm thiết. Thế là nàng yên lặng suốt mấy ngày sau đó. Bình thường sự ít nói của nàng đáng yêu vô cùng, nhưng lúc đó tôi chỉ thấy rờn rợn một sự lạnh lùng bao phủ hai vợ chồng. May mà tôi vừa tận hưởng những gì ngọt ngào nhất của tuần trăng mật, chứ nếu không, có lẽ nàng trừng phạt tôi bằng “mật đắng” mất. Nàng đọc tất cả không sót một chi tiết nào và sau này cứ mỗi lần có dịp là nàng lại lôi ra, không để “dằn vặt” thì cũng để “dằn mặt” tôi vì đã để cho nàng xem những thứ cấm kỵ đó. Và chính cái trí nhớ chết tiệt của nàng đã hỗ trợ cho nàng trong việc công kích tôi. Đi ngoài đường, nếu tôi có lỡ dại ngoái nhìn một người nào đó trông quen quen thì nàng nhỏ nhẹ: Giống chị ấy quá hở anh? Khi tôi khen nàng cao và trắng, thì nàng hờn dỗi: May mà em giống chị ấy ở chỗ cao và trắng, nên anh mới lấy, chứ nếu không dễ gì. Rõ ràng những tấm ảnh nàng bắt gặp được đã in tạc vào bộ nhớ của nàng mất rồi. Những lúc đó tôi chỉ còn biết chịu trận. Người ta nói: Cái gì chẳng phải trả giá. Tôi biết mình đang phải “trả giá” cho sự “sơ sót” của mình, nhưng tôi không nghĩ hậu quả lại kéo dài và dai dẳng đến vậy. Sau nhiều lần nhún nhường, tôi nổi cáu thực sự. Thế nhưng, khi thấy nàng thút thít: Tại sao biết em nhớ dai như vậy mà anh còn cố tình để em thấy những thứ đó làm chi? Tôi mới nhận ra lỗi là ở tôi cũng như ở cái trí nhớ dai dẳng của nàng, chứ nào phải nàng muốn làm khổ tôi. Nếu có được một điều ước, tôi sẽ ước cho vợ tôi đừng có trí nhớ tốt như vậy, tương đương bộ nhớ của Pentium IV. Sẵn đây cũng xin nhắn nhủ cùng những người vợ có thói quen thích lôi quá khứ của chồng ra “nhắc nhở”: Các ông chồng dù có thương vợ đến đâu cũng không thể chịu đựng nổi cái kiểu đào xới quá khứ của chồng lên như thế, tìm hiểu quá khứ của chồng chỉ để thông cảm và hiểu hơn về người chồng của mình thì tốt, bởi ai mà chẳng có quá khứ, nhưng đừng đay nghiến, xỏ xiên hay chỉ trích, bởi đó cũng là một phần cuộc sống của mỗi người, hơn ai hết lại là của người mình đầu ấp tay gối, kề cận mỗi ngày. Trân trọng quá khứ của chồng hóa ra cũng chỉ là một cách yêu thương và tôn trọng chồng vậy!
Ảnh Internet
Chắc hẳn trong khối óc của đờn bà con gái, trung khu thần kinh về nhớ chắc hẳn nằm cận kề với trung khu thần kinh về nói. Vì thế, một khi đã nhớ dai thì chắc chắn họ cũng sẽ nói dài. Lòng đầy thì ắt hẳn phải tràn ra ngoài mà thôi. Như chúng ta đã biết: Người là một con vật có ngôn ngữ, có tiếng nói. Ngôn ngữ và tiếng nói chính là một quà tặng quí giá Thượng đế ban tặng cho con người, để truyền thông những tư tưởng, những ý nghĩ, nhờ đó hiểu nhau hơn và xích lại gần nhau hơn.  Thế nhưng, ngôn ngữ và tiếng nói lại là điều chúng ta thường sai lỗi hơn cả, bởi vì với ngôn ngữ và tiếng nói, chúng ta có thể sai lỗi ở mọi nơi, trong mọi lúc và với mọi người. Gã không rõ có ai đó đã phát biểu một câu được liệt vào hạng “ranh ngôn” như thế này: Nơi nào có hai hay ba chị đờn bà tụ tập lại, thì nơi đó bỗng trở thành một cái chợ. Lúc bấy giờ chị nào cũng nghiêm nhiên là một phóng viên vỉa hè. Họ thu lượm và thông truyền cho nhau đủ mọi thứ tin tức từ trong nhà cho ra đến ngoài phố, từ chuyện riêng tư cho đến chuyện công cộng, chị đờn bà nào cũng cảm thấy ngứa cái miệng, nên rất khỏe nói: nói dẻo, nói dai, nói dài. Gã không đồng ý với mấy câu ca dao vốn ca tụng cánh đờn ông con giai: Đờn ông nông nổi giếng khơi, đờn bà sâu sắc như cơi đựng trầu. 
Thực vậy, trong cuộc sống không thiếu gì những anh đờn ông khù khờ và dại dột, đồng thời cũng không thiếu những chị đờn bà khôn ngoan và giỏi giang, chẳng vậy mà có chị đờn bà đã làm tới chức nữ hoàng, thủ tướng, bộ trưởng. Thế nhưng, không phải cứ nói dẻo nói dài mà sự thực và phần thắng sẽ thuộc về mình, bởi vì: Khôn ngoan chẳng lọ nói nhiều, người khôn mới nói nửa điều đã khôn.  
Tuy nhiên, nói dẻo nói dài nói dai mà thôi chưa kinh khủng cho bằng việc nói day và nói dứt. Thực vậy, một anh chồng, ở sở thì bị cấp trên chèn ép, cấp ngang ganh tị, cấp dưới bướng bỉnh. Về nhà chỉ thầm ước một điều là sẽ tìm thấy khuôn một mặt dịu hiền, một nụ cười tươi thắm, một lời nói ngọt ngào của chị vợ để quên đi những buồn đau và cực nhọc: Bảy thương nết ở khôn ngoan, tám thương ăn nói lại càng thêm xinh. 
Thế nhưng, có chị vợ lại thường xuyên càu nhàu và cạu cọ. Cứ thấy anh chồng vác mặt về là liền nhào vô đay nghiến và day dứt: Sao anh thua người ta thế này, sao anh thua người ta thế nọ. Người ta kiếm tiền như nước đem về cho vợ cho con, còn anh sao vô tài bất tướng quá vậy. Khốn thân tôi, khổ thân tôi. Ngay cả những lúc thân mật, chị vợ ấy cũng sẵn sàng rót vào tai anh chồng những lời nói chua như giấm và cay hơn cả ớt. Nhất là những khi xảy ra chuyện xích mích, thì nói dẻo nói dài nói dai mà thôi chưa đủ, chị vợ ấy còn nói xiên nói xẹo, nói bóng nói gió, nói gian nói dối, nói méo nói móc,  xóc vào đến tận tâm can tì phế anh chồng.
Ảnh Internet
Hai chủ đề thường được chị vợ đem ra mà day dứt đối với anh chồng, đó là chuyện “cơm áo gạo tiền” và chuyện “tình cảm lem nhem”, cho dù chưa được phối kiểm hay chỉ là những tin đồn thất thiệt. Đến nước đó, anh chồng chỉ còn hai cách giải quyết: Một là yên lặng bỏ đi, hai là thượng cẳng chân hạ cẳng tay, cho cô ấy một trận để câm miệng lại. Cả hai cách giải quyết đều bất ổn và bất lợi cho bản thân cũng như cho gia đình. Gã cũng xin ghi lại nơi đây nỗi buồn của một anh chồng có chị vợ vốn nói dẻo và nói dài, nói day và nói dứt: “Khi yêu nhau thì hầu như các cô rất dịu dàng, e lệ và ít nói. Nhưng khi đã yên bề gia thất, thì cái sự nói dài tỷ lệ thuận với năm tháng và tuổi tác. Những lời dễ thương âu yếm thì còn êm tai, chứ đi làm về mệt mà nghe những chuyện ngày xưa dai nhách thì thật khổ. Đôi khi giận cá chém thớt, cằn nhằn con rồi la rầy luôn cả chồng, coi chồng như con. Các ông kiếm cớ kéo dài thời gian ở ngoài đường để khỏi bị “nhai lỗ tai”, rồi những chuyện gì xảy ra thì chỏ có trời mới biết! Có ông tâm sự rằng: Ước gì có thể ghi âm “bài ca không bao giờ quên” của vợ để được quyền bấm nút stop bất kỳ lúc nào muốn, chứ thực tế ngoài đời thì đành chịu thua.
Cuộc sống ngày càng cuốn hút con người vào tốc độ của nó. Những giây phút hiếm hoi ở nhà, ở bên nhau nên là những giây phút êm đềm. Hãy nói những lời yêu thương mật ngọt. Nếu mệt quá thì chí ít là nên im lặng để có thể thư giãn nghỉ ngơi. Chuyện gì thủng thẳng lúc hai vợ chồng bình tĩnh cùng trao đổi. Đừng làm khổ nhau vì những chuyện không đáng, nhằm giữ cho mái ấm luôn là “một cõi đi về”.
Ảnh Internet
Sau cùng là nói gian và nói dối. Nói dối chồng con trong việc chi tiêu, nói dối bè bạn trong việc giao tế, buôn bán và nhất là nói gian cho người khác. Cũng lại một câu “ranh ngôn” khác phát biểu: Nơi nào có hai hay ba chị đờn bà tụ lại với nhau, chắc chắn nơi đó có nói hành nói xấu, bằng không thì cứ chặt đầu tôi đi. Nói đúng sự thật những sai lỗi của người khác còn có thể thông cảm, chứ phóng đại tô màu, bóp méo sự thật, để vui cười hay để hạ nhụ nhau, thì đó là điều bất ổn làm mất đi danh dự của người khác, khó mà đền trả cho được, bởi vì: Nhất ngôn xuất khẩu, tứ mã nan truy. Một lời nói ra khỏi miệng, thì bốn ngựa đuổi theo cũng không kịp. Bởi đó, người xưa đã khuyên: Hãy ngoáy lưỡi bảy lần trước khi nói. Lời nói chẳng mất tiền mua, liệu lời mà nói cho vừa lòng nhau. Để kết luận, gã xin ghi lại lời một người mẹ khuyên cô con gái rượu của mình sắp sửa đi làm dâu thiên hạ như sau: Con ơi mẹ bảo con này, học buôn học bán cho tày người ta. Con đừng học thói chua ngoa, họ hàng ghét bỏ, người ta chê cười.
Gã Siêu

 

Chuyện Gã Siêu 118: CHẢ VÀ NEM

CHẢ VÀ NEM Chuyện Gã Siêu 118

Gã xin bắt đầu mẩu chuyện phiếm hôm nay bằng cách tìm hiểu về nguồn gốc của Táo Quân. Trước Chuyện Gã Siêu 118

Gã xin bắt đầu mẩu chuyện phiếm hôm nay bằng cách tìm hiểu về nguồn gốc của Táo Quân.
Trước hết là bên Tàu : Người Trung Hoa có một tập tục rất xa xưa, đó là cứ đến mùa hạ, thì tổ chức lễ tế thần Táo. Chung quanh sự kiện này, có rất nhiều giả thuyết và truyền thuyết được lưu hành trong dân gian.
Theo Châu Lễ, Táo Quân tên thật là Chúc Dung.
Sách Hoài Nam Tử lại chép vua Hoàng Đế là người đầu tiên đặt ra việc nấu nướng, đến khi mất, hóa thành Táo Quân.
Ngũ Kinh Di Nghĩa lại chép : Thần Táo tên là Tô Cát Lợi.
Theo sách Dũ Dương tạp trở thì Thần Táo tên là Ổi, có vẻ mặt xinh đẹp như con gái.
Tiếp đến là bên ta : Theo một truyền thuyết, thì hai vợ chồng nhà nọ rất nghèo, phải phiêu bạt mỗi người một nơi. Về sau, người vợ lấy chồng khác. Một hôm có người ăn mày đến xin sự bố thí. Khi người đàn bà đem cơm gạo ra cho, thì mới hay người hành khất ấy chính là chồng cũ của mình.
Sợ người chồng sau biết được, người vợ liền đem dấu vào ổ rơm. Bất ngờ, người chồng sau lại dùng ổ rơm để nướng con thú vừa mới săn được. Người chồng trước sợ chui ra sẽ làm cho người vợ xấu hổ với người chồng sau, liền can tâm chịu chết thiêu.
Người vợ quá đỗi khổ đau, bèn nhảy vào đống lửa mà chết theo chồng. Người chồng sau thấy vậy quá thương vợ, cũng nhảy vào cùng chịu chết luôn.
Linh hồn của ba người này được Thượng Đế thưởng công, truyền cho làm thần Táo. Vì thế, trong ca dao Việt Nam mới có câu :
- Thế gian một vợ một chồng,
Nào như vua bếp, hai ông một bà.

Từ câu chuyện trên, gã rút ra được hai điểm son đáng suy gẫm, đó là địa vị của chị đờn bà trong xã hội và sự chung thủy trong tình yêu vợ chồng. Hai điểm son nay thật là quí hiếm, nếu không phát huy thì sẽ dần dần bị mai một.
Về địa vị của chị đờn bà trong xã hội, gã nhận thấy từ đông sang tây, cũng như từ cổ chí kim, hầu như cả và thiên hạ đều mang lấy một quan niệm na ná giống nhau, đó là trọng nam khinh nữ.
Sách Sáng Thế ký của Kitô giáo viết rằng : Thiên Chúa đã dựng nên Adong, tức là người đờn ông đầu tiên, từ bùn đất, rồi phú bẩm cho một sinh khí để ông được sống động.
Thấy ông cô đơn vò võ một mình, Thiên Chúa động lòng trắc ẩn, bèn dựng nên cho ông Eva, tức là người đờn bà đầu tiên, từ nửa chiếc xương sườn của ông. Thoạt nhìn thấy Eva, cặp mắt Adong đã sáng lên niềm vui, ông hớn hở nói :
- Này đây xương bởi xương tôi và thịt bởi thịt tôi.
Chẳng biết có phải vì Adong được dựng nên trước, còn Eva được dựng nên sau, cũng chẳng biết có phải vì Eva được dựng nên chỉ bằng một nửa chiếc xương sườn của Adong hay không mà trải qua dòng thời gian, đờn ông vẫn được trọng kính và trọng dụng hơn đờn bà, mặc dù Giáo hội đã ghi công đầu trong việc giải phóng và nâng cao địa vị của người phụ nữ.
Ngay như thánh Phaolô cũng đã viết :
- Người làm vợ hãy phục tùng chồng, như phục tùng Chúa, vì chồng là đầu của vợ cũng như Đức Kitô là đầu của Hội Thánh.
Trước khí thế đấu tranh đòi bình quyền và bình đẳng giữa nam và nữ, trong những năm gần đây ở bên Tây cũng như ở bên Mỹ đã dấy lên một phong trào đòi cho phụ nữ, ít nữa là các…ma sơ, được làm cha, làm linh mục !
Còn ở Việt Nam, lác đác trên báo Công Giáo và Dân Tộc gã cũng đã thấy xuất hiện một vài bài viết, đại khái các sơ than thở về thân phận hẩm hiu của mình và mong sao được các đấng các bậc trong Hội Thánh lưu ý, nâng đỡ và trân trọng hơn một tí.
Đồng thời, gã cũng thấy xuất hiện một vài bài viết, đại khái so sánh địa vị “ông bà cố của cha” với “ông bà cố của sơ”, để rồi nghiệm ra rằng ông bà cố của cha nặng ký hơn nhiều vì được bàn dân thiên hạ kính trọng. Còn ông bà cố của sơ cũng được kính trọng đấy, nhưng còn bị lép vế nhiều bề, cứ y như ngọc bị đá đè vậy !
Bên tây phương, thân phận chị đờn bà thật rẻ rúng, họ bị liệt vào hàng nô lệ, bị coi như một phương tiện cho cánh đờn ông con giai mua vui, hay bị đồng hóa như một đồ vật để đổi chác.
Khi một bé gái mở mắt chào đời, thì ông bố là người quyết đình sự tồn vong của nó. Ông muốn nó sống thì nó được sống. Ông muốn nó chết thì nó phải chết.
Còn bên đông phương, thân phận chị đờn bà cũng chẳng sáng sủa gì hơn. Nền luân lý Khổng Mạnh đã thống trị toàn bộ những sinh hoạt xã hội.
Thực vậy, người ta coi trọng con giai hơn con gái :
- Nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô. Nghĩa là sinh một cậu con giai thì được kể như là có, chứ còn sinh mười cô con gái, thì vẫn bị kể như là không.
Rồi ba chữ tòng là như ba sợi dây bền chắc đã cột chặt người con gái cũng như người đờn bà vào với gia đình và chồng con :
- Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử. Ở nhà thì phục tùng cha. Đi lấy chồng thì phục tùng chồng. Chồng chết thì phục tùng con.
Thành thử, bà vợ chỉ còn là một chiếc bóng mờ nhạt trong gia đình cũng như ngoài xã hội :
- Phu xướng phụ tùy. Chồng phán điều chi, thì vợ lập tức phải nghe theo.
Từ đó, ông chồng dễ mang lấy cung cách xử sự theo kiểu “chồng chúa vợ tôi”, coi bà vợ như một đầy tớ không công, hay như một chiếc máy để đẻ con cho mình không hơn không kém.
Có những bà vợ đã hy sinh trót cả tuổi thanh xuân, tần tảo nuôi ông chồng ăn học. Thế nhưng khi vừa mới đỗ đạt, ông chồng bội bạc bèn nhảy tót sang thuyền khác, kiếm lấy một cô vợ vừa trẻ đẹp, vừa giàu sang, vừa con nhà quan để làm bàn đạp tiến lên trên đường danh vọng. Chỉ tội nghiệp cho bà vợ già, âm thầm và lầm lũi khi tuổi đời xế bóng về chiều.
Tại một số nơi như Ấn Độ người ta còn thi hành một tập tục dã man khác, đó là khi ông chồng qua đời, thì bà vợ cũng phải chết để theo hầu ông chồng nơi chín suối.
Nhất là trong lãnh vực tình cảm, số phận của bà vợ thật là bẽ bàng và cay đắng. Hai chữ “tiết hạnh” được dành riêng cho người phụ nữ :
- Trai thời trung hiếu làm đầu,
Gái thời tiết hạnh làm câu trau mình.

Cũng vì hai chữ tiết hạnh này, khi ông chồng còn sống, bà vợ chẳng bao giờ được phép tơ tưởng linh tinh đã đành, mà ngay cả khi ông chồng đã phiêu diêu miền cực lạc, bà vợ cũng phải ở vậy thờ chồng và nuôi con. Chứ mà bước thêm một bước nữa, ắt sẽ không thoát khỏi búa rìu và sự cười chê của dư luận.
Trong khi đó, nền luân lý ấy lại tỏ ra lỏng lẻo và dễ dãi đối với cánh đờn ông con giai :
- Trai năm thê bảy thiếp,
Gái chính chuyên chỉ có một chồng.

Anh con trai tha hồ mà vung vít. Năm thê bảy thiếp là hệ biên chế, hệ trong luồng và hệ chính ngạch, có cưới có xin hẳn hoi. Còn những cuộc tình qua đường, thầm lén vụng trộm thì chỉ mình ông trời mới biết.
Ca dao cũng đã từng diễn tả :
- Dầu chàng năm thiếp bảy thê,
Thì chàng chẳng bỏ gái…sề này đâu.

Theo sử sách còn ghi lại thì một con người chững chạc và đáng kính như Nguyễn Công Trứ lại tỏ ra sành sỏi và phong lưu hết ý. Khi lên chùa, ông cũng dắt theo mấy cô hầu non để cùng “đăng sơn ngoạn cảnh” và ông đã diễu cợt :
- Gót tiên đủng đỉnh một đôi dì,
Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng.

Với một sinh lực dồi dào và cường tráng, năm 73 tuổi ông vẫn còn cưới thêm nàng hầu và có tất cả 14 bà vợ.
Đêm tân hôn, giai nhân hỏi ông bao nhiêu tuổi, (tân nhân dục vấn lang niên kỷ), ông đã chẳng ngần ngại đáp :
- Ngũ thập niên tiền nhị thập tam, nghĩa là năm mươi năm về trước tôi mới 23 tuổi.
Anh đờn ông con giai được thả lỏng như vậy, thì đâu có lỗi phạm gì khi chán cơm, mò đi ăn phở. Vì thế, ngoại tình dường như chỉ là một tội được dành riêng cho chị đờn bà con gái :
- Không chồng mà chửa mới ngoan,
|Có chồng mà chửa thế gian thiếu gì.

Nơi người Do Thái, gã cũng thấy như vậy. Đã phạm tội ngoại tình, thì đương nhiên phải có cả nam lẫn nữ. Thế mà khi bắt quả tang những kẻ phạm tội này, bọn Biệt phái chỉ dẫn đến Chúa Giêsu mỗi một cô nàng để Ngài xét xử, còn cậu chàng thì được làm ngơ cho cao chạy xa bay.
Riêng ông chồng, nếu không ưng vợ mình ở điểm nào và muốn rãy bỏ, thì chỉ cần đưa cho bà một tờ giấy chứng nhận thế là xong, đường ai người ấy đi.
Trong khi ông chồng nhởn nhơ và phè phỡn với những cuộc tình trong luồng cũng như ngoài luồng, thì bà vợ sẽ lãnh đủ nếu lỡ dại đính dấp vào tội danh này.
Thực vậy, nơi người Do Thái cũng như nơi người Hồi giáo, bà vợ ngoại tình sẽ bị ném đá cho chết. Còn nơi người Việt Nam, thì ngày xưa có những nơi đã áp dụng những hình phạt cực kỳ nghiêm khắc và nặng nề như cạo đầu bôi vôi, cột bè trôi sông…cốt để cho mà tởm, nhưng đồng thời cũng để bảo vệ đặc quyền đặc lợi của cánh đờn ông con giai.
Tuy nhiên, ngày hay hoàn cảnh đã đổi thay và thế gian bỗng dưng đã ra khác.
 Những tháng năm về trước, khí thế đấu tranh và giải phóng cho thân phận người phụ nữ bốc lên bừng bừng. Người ta đòi hỏi cho đờn bà con gái phải được bình đẳng và bình quyền với đờn ông con giai.
Người phụ nữ dần dần giã từ vai trò “nội tướng”, bầu bạn với nồi niêu xoong chảo, chổi cùn rế rách, mà nhảy bổ ra ngoài xã hội, nắm giữ những vai trò quan trọng và thu nhập cũng chẳng kém gì phe mày râu. Có người làm tới thủ tướng, bộ trưởng, nghị sĩ, giám đốc…Một khi đã có tài khoản riêng, không còn bị lệ thuộc vào vấn đề kinh tế và tài chánh, người phụ nữ vững bước trên đôi chân của mình.
Thế là họ muốn được bình đẳng về mọi phương diện. Sự gì anh đờn ông con giai làm được, thì chị đờn bà con gái cũng sẽ làm được.
Ngày xưa anh đờn ông con giai được ô dù Khổng Mạnh bao che, nên chẳng tội vạ gì mỗi khi vung vít tình cảm, còn chị đờn bà con gái nào lỡ dại thì bị lãnh đủ.
Còn ngày nay thì khác, chị đờn bà được pháp luật che chắn và bảo vệ. Nếu chẳng may lôi nhau ra ba tòa quan lớn vì chuyện cơm chẳng lành canh chẳng ngọt, thì ông chồng hãy liệu hồn đấy, phải đề cao cảnh giác, bằng không có khi mất cả chì lẫn chài, mất cả tình lẫn tiền.
Cũng vì sự đấu tranh đòi bình đẳng ấy mà ngày nay, tội ngoại tình không còn là độc quyền của phái nam hay phái nữ, mà dường như nó liên tục được phát triển ở cả hai giới, đúng như các cụ ta ngày xưa đã diễn tả :
- Ông ăn chả, bà ăn nem.
Chả là thức ăn bằng thịt, cá, tôm hay cua, được quết nhuyễn, rồi đem lên hấp, chiên hay nướng. Còn nem là thức ăn bằng thịt, được quết nhuyễn trộn với thính và gói chặt cho chua. Nói chung cả hai đều là những món đặc sản cao cấp và trong những bữa tiệc lớn, thì phải xuất hiện đủ bộ sậu tứ quái : giò, nem, ninh, mọc. Còn trong những yến tiệc của hàng vương đế, ít nhất cũng phải có nem công, chả phượng…
Với câu tục ngữ “ông ăn chả, bà ăn nem”, người ta muốn diễn tả việc vợ chồng phân bì nhau, để rồi tranh nhau làm điều quấy quá, xằng bậy như cờ bạc, trai gái với người khác.
Chẳng hạn ông binh sập xám, thì bà cũng phải bài cào tứ sắc.
Ông có bồ nhí, thì bà cũng phải có kép nhỏ.
Trong một bài viết, tác giả Chu Tất Tiến đã báo cáo về những cuộc tình còm ngoài luồng tại Hoa Kỳ như sau :
Có những điếu mà ta nghe thấy thì giật mình, vì cứ theo trí tưởng tượng thì không đến nỗi như vậy. Theo một thống kê ở xứ Mỹ năm 1993, thì có tới 25% đờn ông, tức là 19 triệu người chồng ngoại tình và 17% đờn bà, tức là 12 triệu người vợ có tình ái lăng nhăng với người không phải là chồng mình.
Chuyện anh đờn ông ăn chả hay ngoại tình là chuyện thường ngày ở huyện, bởi vì bổn tính của anh ta vốn háo sắc, nên hễ thấy bóng hồng nào xinh xinh là chạy theo liền tù tì. Anh đờn ông, nhiều phen chẳng hề nhìn thấy cái nết, mà chỉ nhìn thấy cái đẹp của chị đờn bà, thành thử thay vì cái nết đánh chết cái đẹp, thì cái đẹp đã đè bẹp cái nết.
Người ta đã làm một cuộc trắc nghiệm như sau :
Một cụ già đứng bên đường vẫy xe xin đi quá giang, thì hầu như bác tài nào cũng không nhìn thấy và có nhìn thấy chăng nữa, cũng vẫn chịu khó lờ tít. Thế nhưng một cô gái trẻ, nhất là lại ăn mặc mát mẻ một tí mà đứng bên vệ đường vẫy xe đi nhờ, thì hầu như bác tài nào cũng rất sốt sắng…làm phước ! Quả thật, tình yêu đã đi vào anh đờn ông con giai bắt đầu bằng đôi mắt.
Vì thế, ở đây gã xin miễn bàn đến việc ông ăn chả, mà chỉ nói tới việc bà ăn nem mà thôi.
Ngoại trừ một số rất ít chị đờn bà có tính lẳng lơ và ham vui và thích của lạ, nên mới kết mô đen với một anh kép nhỏ. Chứ phần đông cánh phụ nữ, khi đã yêu thì đều yêu bằng tất cả trái tim của mình. Vì thế, tình yêu của họ thường bền vững và chung thủy :
- Yêu anh đến chết vẫn còn yêu anh.
Nếu chẳng may tình yêu của họ bị phản bội hay bị chia sớt, thì cơn ghen lập tức nhập vào lục phủ ngũ tạng, khiến họ ăn không ngon và ngủ không yên, cho tới khi nào dành lại được địa vị tuyệt đối trong tình yêu hay là đã dạy cho tình địch một bài học đích đáng :
- Ớt nào là ớt chẳng cay,
Gái nào là gái chẳng hay ghen chồng.
Vôi nào là vôi chẳng nồng,
Gái nào là gái có chồng chẳng ghen.

Hay như Thúy Kiều đã trả lời Hoạn Thư :
- Rằng tôi chút phận đàn bà,
Ghen tương thì cũng người ta thường tình.

Vậy đâu là lý do khiến bà vợ đi ăn nem hay chia sẻ tình yêu vớimột kẻ thứ ba ?
Lý do thứ nhất là sự bất mãn về ông chồng của mình. Ông chồng ấy có thể là một người độc tài, độc đoán và đôi lúc cũng độc ác nữa, khiến cho bà vợ chịu hết nổi. Tức nước thì phải vỡ bờ. Trong hoàn cảnh ấy, nếu gặp được một anh đờn ông ga lăng, biết chiều chuộng và mềm mỏng, thì từ chỗ tình bạn để gửi gấm tâm sự đến chỗ tình yêu, cách nhau chẳng bao xa và rồi bà đã ăn nem lúc nào cũng chẳng hay.
Ông chồng ấy có thể là người mang trong mình dòng máu đào hoa. Nay cô này, mai cô khác. Hết cà phê đèn mờ đến quán xá bia ôm. Cứ như vậy thì bà vợ chịu làm sao cho nổi. Nếu không suy nghĩ chín chắn, hẳn rằng bà ấy sẽ trả thù đời bằng cách đi ăn nem cho bõ ghét.
Ông chồng ấy có thể là người rất yêu vợ, nhưng lại không kiếm ra tiền. Vì thế, trước những nhu cầu tiêu dùng của bản thân và gia đình, bà vợ cảm thấy như điên cái đầu. Giữa lúc đen tối ấy mà xuất hiện một “quới nhân” phò trợ, sẵn sàng chi tiền để giúp đỡ, bà vợ sẽ mừng húm như vớ được chiếc phao cứu mạng. Rồi từ nghĩa dẫn đến tình và bà vợ sẽ sẵn sàng ăn nem một cách êm ru bà rù, như một hành động đền ơn đáp nghĩa. Ấy là chưa kể những anh đờn ông hắc ám mang ý đồ đen tối, đã tính toán cộng trừ nhân chia khi bỏ tiền ra giúp đỡ.
Ông chồng ấy có thể là một người rất gắn bó với gia đình, nhưng cũng lại rất say mê với một lý tưởng, hay tất bật trong công việc làm ăn, nên không còn thời giờ dành cho vợ cho con. Bà vợ cần một trái tim để chia sẻ, cần một bờ vai để tựa đầu. Chờ miết mà không được, đợi mãi mà không thấy, thì đành phải đi tìm một trái tim khác để chia sẻ và một bờ vai khác để tựa đầu. Và thế là rơi tõm vào cảnh ăn nem.
Dĩ nhiên ông chồng ấy còn có thể mắc phải những sai lỗi khác nữa, có những sai lỗi công khai, có những sai lỗi thầm kín, nhưng bằng đó mà thôi cũng đã đủ để kiểm điểm lại quãng đời làm chồng của mình.
Lý do thứ hai là những hoàn cảnh bên ngoài. Những hoàn cảnh ấy nhiều lúc đã ảnh hưởng sâu đậm và làm cho chị đờn bà bị lung lạc và chao đảo.
Chẳng hạn như bạn bè xấu. Hễ tụ tập lại với nhau, nếu không nói xấu người vắng mặt, thì cũng lại bàn về chuyện…ấy, chuyện ăn nem và rất lấy làm hãnh diện như muốn khoe thành tích vậy. Thậm chí đôi lúc còn rủ rê nhau nhập hội, nhập băng, làm thử, chí ít cũng một lần, cho biết…mùi đời.
Chẳng hạn như những phương tiện thông tin hiện đại. Nào “chát”, nào “meo”, nào “mô bai”, tha hồ mà cởi mở cõi lòng, tha hồ mà tâm sự bầu cua tôm cá, tha hồ mà hò hẹn một cách bí mật chẳng ai biết đến.
Những hoàn cảnh ấy là như “ma dẫn lối, quỉ đưa đường”, hay nói cách khác, những hoàn cảnh ấy là những thế lực ngầm thúc đẩy chị vợ đi tới chỗ…ăn nem.
Để kết thúc, gã xin đưa ra hai mẫu gương nói về sự thành công trong đời sống gia đình cũng như trong đời sống vợ chồng.
Mẫu gương thứ nhất là ông bà Curie.
Ông đã phải vất vả đeo đuổi và tấn công suốt ba năm mới dành được tình yêu của bà. Bí quyết sống của họ, đó là :
- Yêu nhau trong sự hợp tác.
Cùng học và cùng làm việc với nhau trong phòng thí nghiệm. Về tài năng có thể nói được rằng :
- Ông tám lạng thì bà cũng nửa cân.
Cả hai đều biết kính nể nhau. Bằng chứng là ghế giáo sư vật lý ở trường đại học đã được dành cho người phụ nữ đầu tiên là bà, sau khi ông mất. Lúc nhận việc, bà đã khiêm tốn nói :
- Tôi thử cố gắng dạy.
Quả nhiên, bà cũng đã thành công chẳng thua kém gì ông.
Mẫu gương thứ hai là ông bà Nixon.
Sự nghiệp của ông tổng thống nước Mỹ này phần lớn là do bà vợ. Bà luôn sát cánh với chồng qua mọi việc, ở mọi nơi và trong mọi lúc, để chia sẻ những nỗi cực nhọc thuở hàn vi, cũng như làm phụ tá đắc lực cho ông trong việc tranh cử, soạn diễn văn, thiết đãi quan khách…Bà là người đầu tiên xứng đáng để cho ông giới thiệu với các ký giả, lúc tuyên thệ nhận chức tổng thống.
Không biết những mẫu gương này có còn được những cặp vợ chồng hôm nay noi theo và bắt chước nữa hay không ?
Gã Siêu

 

Chuyện Gã Siêu 119:  NÀNG DÂU XƯA VÀ NAY

NÀNG DÂU XƯA VÀ NAY Chuyện Gã Siêu 119

NÀNG DÂU THỜI XƯA
 

Nếu như bây giờ gã đưa ra câu hỏi: Ai là người vợ hạnh phúc nhất trên trần gian? Không chừng có Chuyện Gã Siêu 119

Nếu như bây giờ gã đưa ra câu hỏi: Ai là người vợ hạnh phúc nhất trên trần gian? Không chừng có người sẽ trả lời: Đó là bà Eva. Đúng thế, vào cái thuở ban đầu lưu luyến ấy, bên cạnh Adong không hề có hình ảnh một người đẹp nào cả, để rồi phải ghen lồng ghen lộn. Và nhất là bên cạnh Adong không hề có bóng dáng một bà mẹ chồng hà khắc, để rồi phải ngậm đắng nuốt cay những giọt nước mắt tủi hờn. Như vậy quả là một niềm hạnh phúc tuyệt vời! Nhưng rồi sau đó suốt dọc thời gian năm tháng, mối liên hệ giữa mẹ chồng và nàng dâu, cũng như giữa nàng dâu và mẹ chồng đã nhuốm đủ mùi vị hỉ nộ ái ố, đã thăng trầm đủ cả ba chìm, bảy nổi và chín cái lênh đênh, đúng như bài ca hài hước về “ba bà mẹ chồng” mà ban AVT ngày xưa đã trình diễn: Vào một ngày thứ sáu đẹp trời, ba bà đi bán lợn con, được dịp gặp nhau, bà nào cũng hăng hái, cũng ồn ào tố khổ nàng dâu của mình. Lời ca thật châm biếm, nhưng cũng phản ảnh được phần nào sự thật. Nàng dâu thì nói xấu mẹ chồng, như hai cô ca sĩ chẳng hề khen nhau. Còn mẹ chồng thì tố khổ nàng dâu, như Nga với Mỹ có thương nhau bao giờ. Và rồi bài hài hước này đã kết thúc bằng một lời kêu gọi: Đình chiến với nàng dâu, mẹ chồng đình chiến với nàng dâu, ôi thôi là thế gian hết loạn, bà ơi, hãy mau mau hòa bình.
Quả thực, đây là một kinh nghiệm chua xót, đã gây đổ vỡ cho nhiều gia đình. Mẹ chồng không ai nói tốt cho nàng dâu, còn nàng dâu thì cũng chẳng ai nói tốt cho mẹ chồng. Mẹ chồng thì nghi ngờ nàng dâu, còn nàng dâu thì lườm nguýt mẹ chồng. Tục ngữ ca dao cũng đã đề cập rất nhiều về vấn đề này: Thật thà cũng thể lái trâu. Yêu nhau cũng thể nàng dâu mẹ chồng. Lý do gây nên tình trạng bất ổn trên cũng thật đơn giản và dễ hiểu. Người mẹ bao giờ cũng yêu thương con cái và muốn nó phải tuân theo ý muốn của mình, cũng như muốn độc quyền chi phối những tình cảm của nó. Thế nhưng bây giờ nó đã lớn và vượt ra ngoài vòng phủ sóng của mình, nó dồn mọi yêu thương cho một kẻ xa lạ, nhất là khi kẻ xa lạ này lại không phải là người mình chọn. Bởi đó, người mẹ cảm thấy tình thương như bị phản bội và hụt hẫng. Thành ra có ác cảm với nàng dâu. Từ nỗi ác cảm ấy, thường dễ có những thái độ, những lời nói thiếu tế nhị với nàng dâu và nhìn nàng dâu bằng cặp mắt soi mói để bắt lỗi: Xem nó nói năng, làm lụng như thế nào? Với cặp mắt hình sự, mẹ chồng dễ dàng nhận ra những sơ hở, những khuyết điểm của nàng dâu, để rồi lên tiếng đả kích và chê bai, khởi đầu cho một tình trạng chiến tranh lạnh.
Trong khi đó kể từ ngày khăn gói quả mướp “theo chàng về dinh”, nàng dâu phải gánh vác cả giang sơn nhà chồng, phải thực hiện câu nói ngày xưa các cụ ta đã đề ra: Đáo giang tùy khúc, nhập gia tùy tục. Không được lấy gia đình mình làm khuôn mẫu cho gia đình chàngï. Thế nhưng việc thích nghi với tình hình và nhiệm vụ mới không phải là không có những khó khăn. Khó khăn ở cách xưng hô: Phải kêu những người lạ hoắc này là thầy, là bu, là anh, là chị, là em. Khó khăn ở những công việc lặt vặt trong nhà: Ngày xưa mình được chiều chuộng, chẳng phải động tay vào việc quét nhà, thổi cơm. Còn bây giờ phải loay hoay suốt ngày dưới bếp, đổ cả hôi hột mà nồi cơm vẫn trên sống dưới khê. Khó khăn ở thói quen, ở cung cách cư xử cũng như sinh kế làm ăn. Bởi đó, nếu không tế nhị và kiên nhẫn, thì sẽ không thể nào tránh đi cho hết những va chạm, những hiểu lầm, những buồn phiền. Và một khi đã va chạm, thì bản tính tự vệ bèn nổi lên đùng đùng. Người ta đã “pháo” mình thì mình cũng phải tìm mọi cách để “phản pháo”. Và như thế chuyện bé liền bị xé ra to. Âm ỉ tức tối, nên mỗi lần về thăm bu là lại tỉ tê hết chuyện nọ sang chuyện kia. Người mẹ và những cô em luôn đứng sau hậu thuẫn, bày mưu đối lại. Thế là chiến tranh bùng nổ giữa hai gia đình. Xui gia xui giáo thay vì nấu cháo nuôi nhau, thì nay sẵn sàng lấy giáo mà đâm nhau. Một khi tình nghĩa đã sứt mẻ, rất khó mà hàn gắn.

NÀNG DÂU THỜI NAY
Tất cả những sự việc kể trên đã, đang và sẽ còn tồn tại trong cuộc sống gia đình của người Việt Nam. Tuy nhiên, ngày nay do những chuyển biến ngoài xã hội, những tập tục cũ dần dần bị đổi thay. Nếu ngày xưa mẹ chồng được sánh ví như một cơn ác mộng, như một vì sao quả tạ chiếu vào số kiếp của nàng dâu, thì bây giờ “sao” đã đổi ngôi, nàng dâu bỗng trở thành một cơn ác mộng, một vì sao quả tạ tác oai tác quái trên vận mạng của mẹ chồng. Theo sự suy nghĩ nông cạn của gã, thì có hai lý do chính yếu đã tạo nên sự đổi ngôi và đảo lộn này.
Lý do thứ nhất đó là vì nhiều nàng dâu ngày nay đã được học hành đến nơi đến chốn, không còn bị giam hãm trong căn bếp nhỏ hay trong bốn bức tường của một ngôi nhà, với những công việc thuộc phạm vi nồi niêu xoong chảo, hay tề gia nội trợ, nhưng đã ung dung tiến ra ngoài xã hội. Họ cũng đi làm, cũng kiếm tiền và cũng nắm giữ những địa vị quan trọng. Có khi họ còn kiếm được nhiều tiền và nắm giữ những địa vị quan trọng hơn cả anh chồng. Ngoài ra, họ còn được xã hội che chắn và bênh vực với những phong trào giải phóng đàn bà con gái, đòi cho được sự bình đẳng giữa nam và nữ. Mấy anh đàn ông con giai mà nổi máu “yêng hùng”, thượng cẳng chân hạ cẳng tay với họ, thì lập tức liền bị cảnh sát mò tới hỏi thăm. Và khi phải đối chất trước ba toà quan lớn, thì luật pháp thường đứng về phía họ và bảo vệ cho họ.
Lý do thứ hai đó là vấn đề con cái. Trước tình trạng bấp bênh về công ăn việc làm, trước sự sa sút về kinh tế, tiền vô thì ít mà tiền ra lại nhiều, khiến việc nuôi dưỡng và giáo dục con cái trở nên khó khăn. Vì thế, người ta hạn chế sinh sản, ấn định một số con phù hợp với khả năng của mình. Sự hạn chế này còn được xã hội ủng hộ mãnh liệt. Người đã vẽ ra cả một tương lai đen tối khi trái bom dân số bùng nổ. Đi tới đâu cũng thấy nhan nhản những khẩu hiệu: Dù gái hay trai, chỉ hai là đủ. Một số nước trên thế giới còn liệt vấn đề này vào hàng “quốc sách” và ấn định mỗi cặp vợ chồng chỉ được phép có một hay hai con là cùng. Nếu vượt quá số này, thì sẽ bị phạt tiền ngu và bị chế tài về nhiều phương diện.
Con cái càng hiếm, thì lại càng quí và càng được cha mẹ hết sức cưng chiều. Nâng như nâng trứng, hứng như hứng hoa. Ngày xưa con cái nghịch đất nghịch cát và lê la bẩn thỉu, còn ngày nay người ta cẩn thận giữ phép vệ sinh, áo quần lúc nào cũng thơm tho. Ngày xưa người mẹ thường mớm cơm cho con, ngày nay người ta dùng biết bao nhiêu loại sữa, từ sữa tươi cho đến sữa bột. Hơn thế nữa, một số nàng dâu còn sử dụng con cái làm vũ khí chống lại mẹ chồng, hay đòi hỏi mẹ chồng phải thoả mãn những yêu cầu của mình. Trên báo “Phụ Nữ Chủ Nhật”, số 41 ra ngày 24.10.2010, trong một bài viết, tác giả Nguyễn Thiện đã đưa ra những trường hợp cụ thể để minh chứng. Chẳng hạn trường hợp của vợ chồng Hà. Hai vợ chồng xích mích nhau trong việc nuôi con. Phần lỗi của con dâu được mẹ chồng chỉ rõ cho con trai thấy. Để trả thù tội chỉ điểm, Hà bế cháu về ngoại, để mẹ chồng “biết thế nào là lễ độ”. Theo Hà, khi bị cách ly với con, với cháu, chồng khổ một, thì mẹ chồng sẽ phải khổ gấp mười! Y như rằng cả chồng lẫn mẹ chồng đều “ngấm đòn” chỉ sau một ngày xa con, xa cháu. Sau hai ngày trừng phạt, thấy chồng buồn, Hà cũng xao lòng, nhưng vẫn kiên quyết giữ vững lập trường. Muốn mang cháu về, thì bà phải thực hiện năm điều sau đây:
1- Móng tay bà phải luôn cắt ngắn.
2- Bà chỉ được cho cháu ăn và uống những thứ có trong danh sách đã “niêm yết”.
3- Dụng cụ cho cháu ăn, bà phải trụng nước sôi trước khi sử dụng.
 4- Được bế cháu hai lần trong một ngày, sau khi bà đã tắm và thay đồ mới.
5- Không được chơi trò “ú oà”, làm cháu hết hồn.
Chấp nhận năm điều kiện trên và được con dâu khoan hồng, khi bế cháu trên tay, bà thừa nhận: Thật ra những điều nó muốn, về lý thì không sai, nhưng về tình, thì thật là quá quắt!
Ngoài ra, bằng lợi thế trình độ học vấn cao hơn, giao tiếp rộng hơn, ứng dụng khoa học kỹ thuật nhanh hơn, bắt trúng điểm yếu của mẹ chồng chính xác hơn, các nàng dâu đang “nắm kèo trên” nhưng cũng mắc không ít sai lầm khi muốn mẹ chồng phải theo ý mình. Tuy nhiên, nếu hai bên cứ tiếp tục tố khổ và kể tội lẫn nhau, thì có lẽ “truyện phim buồn” sẽ không có hồi kết thúc. Người khác đau khổ đành, mà chính bản thân mình cũng đau khổ không ít.
Để thoát ra khỏi cái vòng kim cô này, chúng ta phải xác tín rằng: Một khi đã chọn lựa, thì cũng phải chấp nhận. Chấp nhận không phải chỉ bản thân của chồng mà còn phải chấp nhận cả môi trường sống và những liên hệ của nhà chồng, rồi dần dần biến đổi mối ác cảm thành thiện cảm. Nếu chẳng may xảy ra sự căng thẳng, hãy kiên nhẫn và từ từ giải quyết. Nhất là hãy biết cảm thông với chồng trong những hoàn cảnh như vậy, bởi vì tiến thoái lưỡng nan, bên hiếu bên tình, bên mẹ bên vợ, ngả sang bên nào cũng không ổn, mà giữ thái độ yên lặng cũng chẳng xong. Bởi vì, nếu yên lặng, thì bà mẹ sẽ nói: Đấy, con vợ mày nó như vậy, mà mày cứ câm như hến được sao? Trong khi đó, người vợ lại tỉ tê: Đó, mẹ mắng em như vậy mà anh cũng chẳng bênh em được lấy một nửa lời, hay là anh chẳng còn thương em nữa.
Để kết luận, thiết tưởng không gì hơn, là mẹ chồng nàng dâu, hãy biết quên đi và tha thứ, hãy nhường nhịn và chịu đựng. Nếu mẹ chồng và nàng dâu biết sống chung hòa bình, không còn giận hờn, không còn bới móc và nói xấu nhau nữa, chắc hẳn bàu khí gia đình sẽ nhẹ nhàng và hạnh phúc hơn rất nhiều.
Gã Siêu

 

Chuyện Gã Siêu 120:  GIÁNG SINH BUỒN

GIÁNG SINH BUỒN Chuyện Gã Siêu 120

Mấy bữa nay, trời Saigon đổ lạnh. Một cái lạnh họa hiếm và quí giá cho miền Nam oi bức. Đây Chuyện Gã Siêu 120

Mấy bữa nay, trời Saigon đổ lạnh. Một cái lạnh họa hiếm và quí giá cho miền Nam oi bức. Đây là cơ hội ngàn vàng, một năm mới có một lần để cho phe đờn bà con gái trình làng các thứ áo lạnh, từ áo gió cho tới áo len. Còn cánh đờn ông con giai ngồi uống cà phê bên vỉa hè tha hồ ngắm nghía và đưa ra những lời bình luận loạn cào cào. Có tên đã dựa vào bao thuốc lá Salem mà phát ngôn rông rổng :

- Sao áo len em mỏng.

Một tên khác, đọc ngược lại với cặp mắt lim dim tuồng như đang mơ mộng :

- Mắt em là ánh sao.

Riêng phần gã, mỗi khi xuống phố, hai tay thọc vào túi quần, vừa đi vừa nghêu ngao nho nhỏ bài tình ca thuở nào :

- Lại một Noel nữa.

Mấy mùa Giáng sinh buồn. 

Anh ở miền biên giới, 

Thương về một khung trời. 

Chắc Đàlạt vui lắm. 

Mimosa nở vàng. 

Anh đào khoe sắc thắm. 

Hương ngào ngạt không gian…

Mà lạ thật, cứ mỗi độ Noel về, gã lại nhớ tới Đalạt một cách day dứt và quay quắt. Noel Đalat ngày xưa như có một cái gì thật thơ mộng và vấn vương, để lại trong đầu óc gã những kỷ niệm chẳng bao giờ nhạt phai, nhất là với cái lạnh. 

Đúng thế, thời tiết Saigon chẳng phù hợp với bầu khí Noel tí nào. Có những năm trời nóng toát cả mồ hôi hột : trong nhà thờ quạt máy thổi vù vù, còn tại những vùng sâu vùng xa, ánh sáng điện đóm chưa chiếu tới, thì quạt nan, quạt giấy cứ phành phạch loạn cả lên…thế mà miệng vẫn cứ phải hát to :

- Đêm đông lạnh lẽo Chúa sinh ra đời.

Oái oăm hơn nữa, có những năm vào chiều ngày hai mươi bốn, ông trời bỗng giáng cho một trận mưa. Và thế là bao nhiêu công trình trang trí bỗng đi đoong. Lặng lẽ đứng nhìn những núi đá bằng giấy xi măng “vỡ ra tan tác” mà bụng rầu thối cả ruột.

Năm ấy, trời Đalat rét sớm. Chui vào khu chợ mới, rảo qua các hàng quán, rồi từ tầng trệt bước lên lầu, gã nhìn thấy một cô gái nhỏ người người thượng, đang co ro nơi góc cầu thang tăm tối. Ánh mắt van xin. Đôi tay run rẩy giơ ra như đợi chờ những đồng tiền lẻ bố thí. 

Hình ảnh này khiến gã nhớ tới câu chuyện “Cô bé bán diêm” của Andersen, mà gã đã say mê đọc. Câu chuyện đại khái như thế này :

Buổi chiều ngày hai mươi bốn tháng mười hai, trời thật lạnh. Cô bé lảo đảo bước đi trong gió rét. Làm sao cô bé có thể bán hết những bao diêm trong một buổi chiều mà mọi người đều đang vội vã chuẩn bị cho một ngày lễ lớn. 

Nhớ tới những bao diêm còn tồn đọng, cô bé không dám trở về nhà vì sợ bà dì ghẻ đay nghiến. Cô bé tìm một nơi ẩn khuất để ngồi nghỉ chân. Từng cơn gió lạnh thổi qua. Cô bé thầm nghĩ :

- Bây giờ mình thử quẹt một que diêm để sưởi ấm tí chút đôi lòng bàn tay.

Thế rồi, que diêm thứ nhất được quẹt lên. Cô bé thấy mình đang ngồi trong một căn phòng rộng lớn. Củi nơi lò sưởi cháy bừng bừng và tỏa ra hơi ấm. Thế nhưng, chỉ thoáng chốc, que diên lại vội tắt. Chung quanh cô bé chỉ là một màn đêm dày đặc.

Với que diêm thứ hai, cô bé thấy mình đang ngồi trước một bàn ăn thịnh soạn, được dọn sẵn cho cô bé trong đêm Giáng sinh. Nhưng rồi que diêm chợt tắt, trước mặt cô bé chỉ còn là băng giá.

Que diêm thứ ba được quẹt lên, cô bé thấy mình đang đứng trước một cây Noel với những món quà xinh đẹp. Giữa lúc cô bé đưa tay ra để ngắt lấy, thì que diêm lại tắt ngấm. Chỉ còn lại đường phố tấp nập, kẻ đến người đi.

Và cô bé vẫn ngồi đấy, lập cập trước từng cơn gió lạnh thổi tới. Một que diêm nữa, rồi lại một que diêm nữa. Bao nhiêu ước mơ êm đem nhất lần lượt xuất hiện, rồi lại tan biến theo ánh lửa yếu ớt của que diêm.

Cuối cùng cô bé thấy mẹ đến bên mình và cô bé đã van xin cho mình được đi theo mẹ. Hình như mẹ đã mỉm cười với cô bé.

Sáng hôm sau, người ta nhận ra cô bé đã chết vì giá lạnh giữa những que diêm đã cháy. Người ta chép miệng thở dài và nói :

- Thật tội nghiệp. Hẳn là cô bé muốn sưởi ấm cho mình đây, nhưng rồi lại chết, chết trong đêm Giáng sinh.

Hình ảnh cô gái nhỏ người thượng và hình cảnh cô bé bán diêm khiến gã liên tưởng tới lễ Giáng sinh đầu tiên được diễn ra nơi máng cỏ và gã thầm nghĩ :

- Đây hẳn phải là một lễ Giáng sinh nghèo, thật nghèo.

Đúng thế, Giuse và Maria, cặp vợ chồng trẻ nhưng nghèo trở về Bêlem, quê hương bản quán, để khai hộ khẩu theo chiếu chỉ của hoàng đề Cêsar Augustô. Nhìn bộ dạng thiểu não và túng quẫn, cộng thêm vào đó, Maria đang bụng mang dạ chửa, sắp sửa tới ngày sinh nở, nên chẳng hàng quán nào thèm tiếp nhận. Thành thử hai vợ chồng phải dắt díu nhau ra ngoài đồng vắng tìm chỗ trú chân. 

Và Hài Nhi Giêsu đã được sinh ra trong cảnh thiếu thốn như thế. Không nhung lụa êm ấm. Không hoàng cung rực rỡ. Mẹ Maria đã phải lấy tã bọc Hài Nhi Giêsu và đặt nằm trong máng cỏ.

Rồi những người khách đầu tiên đến viếng thăm là ai ? Họ là những người chăn chiên, hạng cùng đinh trong xã hội. cũng nghèo hèn và cơ cực. 

Thực vậy, sau khi được thiên thần Chúa hiện ra trên cánh đồng Bêlem với lời loan báo:

- Ta mang đến cho các ngươi một tin vui và cũng là tin vui cho toàn thể dân Israel, hôm nay Đấng Cứu Thế đã sinh ra cho các ngươi trong thành vua Đavít.

Và thế là họ vội vã lên đường. Tuy nghèo về tiền bạc, nhưng họ lại giàu về tình bác ái yêu thương. Phải chăng chính tình bác ái yêu thương này đã sưởi ấm cho Hài Nhi Giêsu ?

Hình ảnh cô gái nhỏ người thượng và hình cảnh cô bé bán diêm, cũng như hình ảnh máng cỏ tại Bêlem thật khác biệt với bầu khi Noel hôm nay. 

Đúng thế, hôm nay người ta đã đón mừng lễ Giáng sinh một cách tưng bừng và lộng lẫy. Người ta đã quốc tế hóa, thương mại hóa và tục hóa ngày lễ thánh thiện này. 

Trước hết, người ta đã quốc tế hóa ngày lễ thánh thiện này.

Thực vậy, Không phải chỉ người có đạo tin theo Đức Kitô mới mừng, mà hầu như bàn dân thiên hạ đều mừng. Từ người già cho đến người trẻ, từ người phương tây cho đến người phương đông, từ người dân ở thành thị cho đến người dân ở hóc bà tó, đèo heo hút gió…Tất cả đều mừng biến cố trọng đại Chúa sinh ra đời. 

Cũng giống như cây thánh giá. Đúng thế, ngày xưa cây thánh giá dấu chỉ của người có đạo, còn hôm nay cây thánh giá đã trở thành một thứ đồ trang sức. Những cô gái trẻ đeo thánh giá toòng teng trên hai tai, mang thánh giá lủng lẳng ở trước ngực và không chừng có cô còn cột cả thánh giá ở hai mắt cá chân nữa. Gã không biết nên cười hay nên khóc trước cảnh tượng này.

Tiếp đến, người ta đã thương mại hóa ngày lễ thánh thiện này.

Thực vậy, ngay từ đầu tháng mười hai, những cây thông Noel, những hang đá Noel và những ông già Noel đã được dùng để trang trí khắp nơi khắp chốn. 

Rồi những cửa tiệm bán thiệp Giáng sinh, bán đồ chơi cho trẻ em và bán quà tặng cho người lớn được mọc lên như nấm, nhất là tại các thành phố lớn. Đây là dịp để bàn dân thiên hạ mua sắm sau một năm vất vả kéo cày và cực nhọc lao động. Đây cũng là dịp béo bở để cho con buôn hốt bạc. Mỗi năm mới có một lần, làm sao mà chẳng mong chẳng đợi, còn hơn cả người có đạo sống tâm tình mùa vọng vậy.

Và sau cùng, người ta đã tục hóa ngày lễ thánh thiện này. 

Thực vậy, đối với nhiều người, Noel chỉ là một dịp để gửi cho nhau những tấm thiệp với lời mừng chúc : Một mùa Giáng sinh vui vẻ và một năm mới bình an! A merry Christmas and a happy new year! Un joyeux Noel et une heureuse année! 

Đối với nhiều người, Noel chỉ là một dịp để trao cho nhau những món quà. 

Cha mẹ tặng quà cho con cái để thưởng công chúng đã ngoan ngoãn, chăm chỉ và vâng lời đã đành, mà hơn thế nữa các nhân viên cấp dưới còn có bổn phận biếu xén cho các xếp lớn của mình, để cầu ơn mưa móc, để tạo được những ấn tượng tốt cũng như để tránh không bị trù dập. Chuyện đời là thế. Đồng tiền đi trước đồng tiền khôn. Nếu không biết điều, thì hãy liệu hồn đấy.

Nói tới ông già Noel, nhiều người chẳng cần tìm hiểu gốc gác, cội nguồn, để biết ông ta là hiện thân của thánh Nicôlas, vị giám mục thành Myre, sống vào đầu thế kỷ thứ tư. 

Thánh nhân mở mắt chào đời tại Patara, xứ Lycia, mồ côi cha mẹ từ thuở nhỏ. Ngài luôn giúp đỡ những người nghèo túng và bất hạnh. Cuộc đời ngài được dệt bằng những huyền thoại. 

Chẳng hạn nhờ lời cầu nguyện, ngài đã truyền cho sóng yên biển lặng trong cơn giông bão, vì thế ngài được đặt làm bổn mạng các thủy thủ. 

Đặc biệt, ngài luôn yêu thương trẻ nhỏ : Chính ngài đã làm cho ba em bé bị tên đồ tể giết chết được sống lại và cũng chính ngài đã cứu ba cô gái bị cha mẹ bắt đi làm điếm chỉ vì không có của hồi môn để lấy chồng, vì thế, ngài cũng được đặt làm bổn mạng của giới thiếu nhi. Ngài qua đời vào khoảng năm 350 và được mừng kính vào ngầy 6 tháng 12.

Có lẽ vì lòng yêu thương tuổi thơ mà ngài được dân gian gán cho công việc phát quà đêm Giáng sinh. Các trẻ em bên phương tây, vào ngày lễ Giáng sinh, trước khi ngủ, thường đặt đôi vớ hay cặp ủng của mình ở đầu giường, hay ở lò sưởi, cho ông già Noel để quà vào đó, vì ông già Noel thường vào nhà qua ngả ống khói.

Phải, nói tới ông già Noel, hiện nay người ta chỉ nghĩ ngay đến một ông già tốt bụng, râu tóc bạc phơ, đội mũ đỏ và mặc áo đỏ, vai mang túi vải, có nhiệm vụ đi phát quà cho các em thiếu nhi trong đêm Giáng sinh. Hình ảnh này đã được một họa sĩ Thụy Điển vẽ vào năm 1890. Và đến năm 1931, được hãng Coca-Cola sử dụng cho chiến dịch quảng cáo của mình.

Đối với nhiều người, Noel chỉ là một lễ hội để ăn nhậu và nhảy nhót, nhất là đối với giới trẻ. 

Thực vậy, ngay từ chiều ngày hai mươi bốn, người ta đã nhốn nháo đổ xuống đường phố, không phải là để tới nhà thờ tham dự thánh lễ, mà là để khoe khoang quần áo mốt miếc. Thiện chí lắm là làm một vòng, rảo qua mấy ngôi nhà thờ để ngó những kiểu cọ hang đá. Thấy người ta đi thì mình cũng đi, mà chẳng biết đi để làm gì ? 

Tại những ngôi nhà thờ, hang đá hôm nay không còn phải là một hang hôi hám và tăm tối cho chiên bò ngủ đêm, nhưng là một cảnh tượng huy hoàng và rực rỡ với muôn ngàn bóng điện màu chớp nhá. Thế nhưng, cõi lòng người tin Chúa thì sao ? Có lẽ nó cũng hôi hám và tăm tối như hang chiên bò ngày xưa ?

Sau khi chen chúc ngoài đường phố, tạo nên cảnh tượng kẹt cứng trên các trục lộ giao thông, người ta kéo nhau về nhà mình hay đi tới những nhà hàng để ăn nhậu nhậu. Nào là những chai rượu đắt tiền đổ ra như nước lã. Nào là những món ăn quí hiếm mắc mỏ thừa bứa. Khi đã sừng sừng thì kéo nhau ra sàn gỗ để nhảy nhót và để lắc tới lắc lui, tơi bời hoa lá, quay cuồng trong tiếng nhạc xập xình. Nhảy nhót chán thì lại ăn nhậu tiếp cho tới sáng, khiến nhiều chiến binh đã phải gục ngã, cho chó ăn chè ngay tại bàn nhậu.

Một số khác khi đã sừng sừng thì nhảy lên xe, phóng bạt mạng như những hung thần ngoài xa lộ, tạo nên những cái chết thật oan uổng và đau đớn trong đêm cực thánh này.

Tất cả lễ Giáng sinh chỉ có vậy mà thôi : mua sắm, ăn nhậu, nhảy nhót… Người ta chẳng cần biết đến giây phút trọng đại nhất của lịch sử loài người. Giây phút Con Thiên Chúa xuống thế làm người để giải thoát nhân loại đang ngồi trong tăm tối và đang bị trói buộc dưới gông cùm tội lỗi, giây phút giao hòa đất với trời. Thậm chí người ta cũng chẳng biết đến Hài Nhi Giêsu là ai.

Viết tới đây, gã nhớ tới một mẩu chuyện của Gibran. Gã xin kể lại như một kết thúc. Mẩu chuyện ấy như thế này : 

Vào một đêm giáng sinh, đường phố ngập tràn muôn ánh đèn màu và từng lớp người mừng vui bước đi.

Tôi muốn lẩn tránh những âm thanh ồn ào, tìm kiếm một vài phút giây thinh lặng để suy tưởng về con người vĩ đại nhất mà thiên hạ đang tôn kính. 

Con người ấy đã sinh ra làm thân trẻ nhỏ nơi máng cỏ Bêlem, đã chết một cách ô nhục như một tên tội phạm với khổ hình thập giá trên đỉnh đồi Canvê.

Tôi dừng chân và ngồi trên chiếc ghế đá công viên, để mặc cho những tâm tư trào dâng. Một lúc thật lâu, tôi bỗng giật mình vì có một người đã ngồi bên cạnh tôi từ lúc nào tôi cũng chẳng hay biết. Người đó đang cầm một cành cây khô và vạch những đường nét bâng quơ trên đất. Tôi nghĩ rằng : 

- Hẳn ông ta cũng là một kẻ cô đơn.

Dường như đọc được ý nghĩ của tôi, người ấy nói :

-Chào anh.

Tôi thận trọng đáp lễ :

-Dạ, xin chào ông.

Rồi tôi gợi chuyện :

-Hẳn ông là một kẻ xa lạ trong thành phố này ?

Người ấy đáp :

-Phải, tôi chỉ là một kẻ xa lạ trong thành phố này cũng như trong mọi thành phố khác. 

Tôi hỏi tiếp :

-Chắc ông cũng cảm thấy vui trong bầu khí tưng bừng của ngày lễ Giáng sinh hôm nay chứ ?

Người ấy đáp :

-Vào những ngày như thế này, tôi lại càng cảm thấy xa lạ và cô đơn hơn bao giờ hết.

Tôi nói tiếp :

-Dường như ông đang cần một sự giúp đỡ ? Vậy xin ông vui lòng nhận lấy mấy đồng bạc này.

Tôi mở bóp và đưa tiền. Thế nhưng, người ấy vội xua tay, lắc đầu với nét mặt chán ngán :

-Tôi rất cần một sự giúp đỡ, nhưng không phải là tiền bạc.

Tôi đề nghị :

-Hay là ông về nhà tôi để chúng ta cùng nghỉ ngơi ?

Người ấy đáp :

-Tôi cần một nơi để nghỉ ngơi, một chỗ để tựa đầu, một mái nhà cho tâm tư chìm lắng. Tôi đã cố gắng đến mọi lữ quán, đã gõ cửa mọi căn nhà, nhưng tất cả đều chối từ. Tôi mệt mỏi nhưng không thất vọng. Đúng ra tôi không tìm một ngôi nhà, nhưng tìm một tâm hồn, tìm một nơi nghỉ ngơi trong lòng người.

Tôi nhìn thấy một giọt nước mắt rơi xuống trên gò má người ấy. Nói rồi, người ấy đứng lên, giơ hai tay ra phía trước. Tôi bỗng nhìn thấy những dấu đinh nơi lòng bàn tay. 

Tôi bàng hoàng phủ phục và kêu lên :

-Ôi! Lạy Chúa Giêsu.

Lúc bấy giờ Chúa nói tiếp :

-Mọi người đang tôn vinh Ta, đang thêu dệt chung quanh Ta những huyền thoại, những hào quang rực rỡ. Còn về phần Ta, Ta mãi mãi vẫn chỉ là một kẻ xa lạ và cô đơn trên mặt đất này. Con cáo có hang, chim trời có tổ, nhưng Con người không có lấy được một hòn đá để tựa đầu.

Đúng thế, Hài nhi Giêsu vẫn còn cô đơn trong chính ngày lễ bàn dân thiên hạ mừng kính Ngài. Ngài vẫn còn âm thầm khổ đau giữa cảnh tưng bừng của ngày Ngài giáng sinh. Ngài vẫn còn xa lạ ngay cả đối với những người đã tin nhận Ngài. 

Và hơn thế nữa, nếu Ngài thực sự hien diện nơi người khác, thì chính Ngài cũng đang bị hắt hủi nơi những cô gái nghèo hèn người thượng, Ngài cũng đang bị chết dần chết mòn nơi những cô bé bán diêm túng thiếu, Ngài cũng đang bị quằn quại trong đau đớn nơi những em nhỏ lây nhiễm HIV ở Phi Châu, Ngài cũng đang bị vất ra ngoài đường nơi những người lâm cảnh màn trời chiếu đất tại những nơi đang xảy ra chiến tranh.

Nếu những chủ quán ngày xưa tại Bêlem đã không dành cho Ngài một chỗ cư ngụ, thì hôm nay biết bao nhiêu người cũng đã đóng kín cõi lòng và xua đuổi Ngài, để Ngài phải vất vưởng cùng giá rét.

Và rồi một giọng hát quen thuộc với nhạc phẩm “Bài thánh ca buồn” vang lên nơi tiệm cà phê của người hàng xóm :

- Bài thánh ca đó còn nhớ không em.

Noel năm nào chúng mình có nhau.

………………………………………

Rồi những đêm thánh thường đón Noel,

Lang thang qua miền giáo đường dấu yêu.

Tiếng thánh ca ngày xưa vang đêm tối,

Nhớ quá đi thôi giọng hát ai buồn.

Đêm thánh vô cùng lạnh giá hồn tôi.


 

Chuyện Gã Siêu 121: Vợ ơi là vợ

Vợ ơi là vợ Chuyện Gã Siêu 121:

Vợ không có công sinh ra ta, nhưng có công nuôi dưỡng và dậy dỗ ta nên người Chuyện Gã Siêu 121

« Vợ không có công sinh ra ta,
nhưng có công nuôi dưỡng
và dậy dỗ ta nên người»
                (Khuyết danh)

I.-  Chồng than:
Chiều chiều bìm bịp kêu chiều
Lấy vợ thì cũng lấy liều mà thôi
Ban ngày làm việc tả tơi
Ban đêm hầu vợ, phận tôi đêm trường

***
Nằm chung thì bảo.....chật giường
Nằm riêng lại bảo.....tơ vương con nào
Lãng mạn thì bảo.....tào lao
Đứng đắn lại bảo.....người sao hửng hờ

***
Khù khờ thì bảo.....giai tơ
Khôn lanh thì bảo.....hái mơ bao lần
Cả đời cứ mãi phân vân
Tơ lòng con gái biết mần sao đây.

II.- Vợ
Vợ, từ thiếu nữ hiền lành
Ðến khi xuất giá trở thành... "quan gia"
Vợ là con của người ta
Và ta quen Vợ chẳng qua vì tình
Có quan thì phải có binh
Nên ta làm... lính hầu tình "quan gia"
Con ta do Vợ sanh ra
Nên ta với Vợ... chẳng bà con chi
Tại vì hôm Vợ vu quy
Ta lỡ làm... lính hầu đi bên nàng
Làm lính chứ không... làm tàng
Tính chất Vợ ta phải càng hiểu hơn
Mỗi khi mà Vợ giận hờn
Áp dụng "công thức giản đơn"... làm huề
Khi Vợ đã ngỏ lời... chê
Thì nên sửa đổi... "đa bê" tức thì (database)
Mỗi khi Vợ nhờ chuyện gì
"Program" Vợ viết nhớ ghi trong lòng
Khi Vợ đã nói là... "không!"
"Nguyên hàm bất định", đừng mong tìm dò
Vợ mà nổi nóng dằn co
"Bảo toàn định luật" phải lo sẵn sàng
Khi nào cùng Vợ ra đàng
"Bảy hằng đẳng thức" sẵn sàng lắng nghe
Mỗi khi mà đã ngừng xe
Phải lo... "chuyển vế " mở xe cho nàng
Cùng Vợ đi vào nhà hàng
Không nên tự ý "khai hàm tích phân"
Hễ thấy Vợ cứ nhăn nhăn
"Khảo sát hàm số" nhưng cần làm thinh
Vợ... "input" chữ "Shopping"
Thì... "output" phải áo xinh, váy đầm...
Muốn Vợ đừng có... chầm bầm
Credit cards cứ âm thầm... "khai căn"
Nếu... lỡ mà có lăng nhăng
"Giá trị tuyệt đối" một lần rồi thôi
Tình Vợ mà có muôn đời
Phải nhường Vợ chức "đương thời quan gia"
Muốn Vợ trẻ mãi không già
Lưng ta chắc phải như là... "parabol"
Tính chất Vợ thì phải tuân
Kẻ làm... lính phải luôn luôn thật thà
Nấu cơm, đi chợ, quét nhà...
Quan gọi thì... dạ , bẩm bà có ngay
Quan thương sẽ cười suốt ngày
Quan ghét... lính sẽ bị đày khổ sai
Hễ ai có cười chê bai
Ðổ thừa... thương Vợ chứ ai mà...đần
Tính chất phải... học nhiều lần
Nếu không áp dụng trăm phần trăm... thua!!!

III.- Sợ Vợ
Dù không sinh đẻ ra ta
Nhưng công nuôi dưỡng thật là lớn lao
Khi ta đau ốm xanh xao
Vợ lo chăm soc hồng hào khoẻ ngay
Sợ ta đi trật đường rầy
Vợ liền theo dõi kéo ngay về nhà
Khi ta tán tỉnh ba hoa
Vợ liền "quát nạt "để mà răn đe
Lời vợ dạy phải lắng nghe
Mai sau "khôn lớn "mà khoe mọi người
Nói ra xin hãy chớ cười
Vợ ta ta sợ ! Vợ người ... còn lâu !

 
Vợ dặn
 Lái xe ra khỏi cổng nhà
Vợ kêu giật ngược, diết da dặn rằng:
Một đừng mơ mộng Thơ - Trăng
Đụng xe thi sĩ gẫy răng u đầu
Hai đừng giữ ống nghe lâu
Gái tơ õng ẹo ghẹo đầu dây kia
Ba đừng ghé quán rượu bia
Bốc men tơ tưởng nọ kia khó lường
Bốn đừng mua báo dọc đường
Bìa in hoa hậu soi gương liếc cười
|Năm đừng liến láo con ngươi
Đồng nghiệp váy ngắn ẹo người đi qua
Sáu đừng hoang phí thời gian
Ngồi lâu trộm nghiá cô hàng càfé
Bảy đừng thấy phở mà mê
Bột ngọt loét dạ lại chê cơm nhà
Tám đừng hò hát lang thang
Tiếp viên ca sĩ giả ma hớp hồn
Chín đừng dạo bước hoàng hôn
Công viên hoa lá cô hồn rủ rê
Mười đừng ghé rạp xi nê
Tivi nhà sẵn, lẹ về coi phim
Rõ chưa? ( vợ hét đứng tim )
Đừng hòng tưởng bở như chim sổ lồng
Mười đừng nhắc lại cho thông
Nếu không.... tui quyết nhốt ông ở nhà


IV.- Vợ ta - Vợ người
Vợ ta thì nạt thì đe
Vợ người thì cứ... lăm le ... nhìn hoài
Vợ ta thì chẳng đoái hoài
Vợ người khen đẹp... dài dài quanh năm
Vợ ta chê mắt... lá răm
Vợ người trông tợ trăng rằm tiên nga
Vợ ta nói mãi chẳng tha
Mèo tơ e ấp, nết na dịu dàng
Vợ ta đi tướng hai hàng
Mèo tơ đi tướng sàng sàng thấy mê
Vợ ta hay mắng hay chê
Mèo tơ âu yếm cận kề sáng hôm
Vợ mình, mình sợ mới khôn
Vợ người mà sợ có hôm què giò !
Vợ ta, ta sợ chẳng lo
Vợ người mà sợ , đồ bò đồ trâu !!

 ***
Cô hàng xóm
(Xin cáo lỗi cùng cố thi sỹ Nguyễn Bính)
Nhà nàng ở cạnh nhà tôi
Cách nhau cái cọc để phơi áo quần
Hai người nhầm lẫn tứ tung
Nàng như cũng có cái quần giống tôi
Để rồi có một lần phơi
Thế nào tôi lấy nhầm ngay của nàng
...Tôi chiêm bao rất nhẹ nhàng
Thấy nàng hé cửa gọi sang thế này
"Ấy ơi ấy hãy vào đây,
Cho tui đổi lại cái này chút coi"
Lần đầu tiên thấy nàng cười
Nàng che một tấm vải dày ngang hông (?)
"Cái quần duy nhất của em,
Hôm qua anh lấy về bên ấy rồi"

***
Thanh Niên nên lấy vợ sớm vì những lợi ích sau đây :
1/ Vợ dậy cho ta tính phục thiện (sẵn sàng nhận lỗi tuy mình không làm gì sai cả).
2/ Vợ dậy cho ta tính kiên nhẫn, chờ đợi không biết mệt (để vợ sửa soạn đi lễ hay đi sắm đồ).
3/ Vợ cho ta sức khỏe (không hút thuốc lá, uống bia, đi chơi khuya với mấy thằng bạn cô hồn).
4/ Vợ dậy cho ta sự tế nhị (không bao giờ chê bai dù cơm khét, canh mặn).
5/ Vợ dậy cho ta sự lễ phép (đi thưa, về trình).
6/ Vợ dậy cho ta sự rộng lượng (kiếm được bao nhiêu tiền, tặng vợ hết)
7/ Vợ là huấn luyện viên thể dục tại gia của ta ( làm vườn, cắt cỏ, đổ rác, giặt quần áo, lau dọn nhà cửa, mang vác khi theo nàng ra phố)
8/ Vợ dạy cho ta tính gọn gàng, trật tự ( chỉ được bày biện của riêng trong một góc tủ vợ cho).
9/ Vợ dạy cho ta sự công chính ( ra đường cứ thẳng một đàng mà đi, không nhìn ngang liếc dọc, nhất là ở chỗ có nhiều phụ nữ).
10/ Vợ giúp cho ta trở thành người cha gương mẫu ( thay tã, tắm rửa, cho con bú, ru con ngủ..vv..)
11/ Vợ dạy cho ta biết giá trị của hai chữ Tự Do (nay không còn nữa).
12/ Vợ dạy cho ta biết phấn đấu với nghịch cảnh ( muốn chết nhưng cứ sống chơi).
***
Lợi ích do vợ đem lại nhiều khôn xiết kể. Ai không tin, cứ thử rồi biết.
***
Bí quyết xây dựng hạnh phúc gia đình của những người vợ thông minh:
Đời sống hôn nhân không giống như ngắm hoa dưới trăng, nói câu "em yêu anh" tưởng dễ, thực ra nó lại phước tạp hơn bạn nghĩ rất nhiều. Nếu như bạn muốn được mọi người yêu quý, bạn tất phải làm cho mình trở lên đáng yêu. Người vợ thông thường chú ý từ chính bản thân mình, đem tính nết dịu dàng, sự tinh tế và sự bền lòng của người con gái, giành lấy tấm lòng yêu quý của chồng, giữ cho đời sống gia đình hạnh phúc.
1. Hiểu rõ tâm lý của đàn ông
Tâm lý của đàn ông có hai tính chất, một phương diện biểu hiện là người đàn ông, tính khí trượng phu, chứng minh hiệu lực, nǎng lực và uy vọng của chính mình, một phương diện khác anh ta lại giống như một đứa trẻ, cần phải có sự dịu dàng, yêu mến, sự quan tâm chǎm sóc và thông cảm của người vợ.
2. It oán giận, nhiều khích lệ
Người chồng có những sở thích của bản thân như sự nghiệp, ăn uống hợp khẩu vị và trưng diện. Nếu như bạn cảm thấy không được thoải mái có thể tiến hành dẫn dắt thích hợp nhưng không cần hờn trách oán giận, quở mắng và bắt bẻ, đối với những điều chính đáng thì cần phải có nhiều sự khích lệ và ráng duy trì.
3. Hiểu cách khích lệ chồng
Khen chồng mình trước mặt bạn bè, đồng nghiệp và thông gia. Nhưng khen cần có chừng mực và mức độ thích hợp,
đồng thời lại cần "thực sự cầu thị" (làm việc cần sát hợp với thực tế), nếu không thì sẽ trái lại hoàn toàn, biến thành diễn cợt nói móc lẫn nhau.
4. Coi trọng tinh thần hoà thuận với mẹ chồng
Người chồng sợ bố mẹ cáu giận cho là bất hiếu, trách nhiệm đó là "lấy vợ rồi nàng dâu đã quên mẹ chồng", nhưng lại sợ thân cận quá nhiều dẫn đến sự bất mãn của vợ. Vì thế, làm dâu, cần phải tôn trọng bố mẹ chồng, những ngày lễ tết hàng năm cần chủ động đề xuất việc thăm hỏi người già hoặc mời mọi người đến nhà mình chơi, cùng ăn cơm, để giành được tình cảm tốt đẹp, sự yêu thương và tôn kính của chồng đối với bạn.
5. Không nên chỉ chú ý đến hưởng thụ vật chất
Cần phải chăm lo đầy đủ đến chồng và đến thực lực kinh tế gia đình, không nên đề xuất yêu cầu vật chất một cách quá đáng, yêu cầu phải rút tiền chi tiêu một cách hợp lý, điều đó sẽ khiến cho chồng bạn nảy sinh sự ngờ vực là bạn đã yêu người khác hoặc là bạn yêu quý những vật chất đó hơn.
6. Lý giải và giúp đỡ hành vi của chồng
Đối với những hành vi và việc làm của chồng khi gặp lầm lỗi, bất trung, bất hiếu, cần dành cho anh ấy sự lý giải đầy đủ, không nên hạn chế, càng không chú ý theo sát. Người chồng phải giúp đỡ cha mẹ và mọi người trong gia đình, bạn không nên can thiệp quá sâu, càng không nên không biết phải phân biệt phải trái đúng sai.
7. Trước mặt chồng chớ ăn mặc sơ sài
Không nên chỉ chú ý ăn mặc đẹp và lịch sự khi ở bên ngoài, về đến nhà thì tuỳ tiện. Hôn nhân làm cho bạn không chú ý đến việc ăn mặc, trang điểm và không chú ý đến quyền lợi sắc đẹp. Cổ nhân nói "Con gái vì vui vẻ mà đã trở nên xinh đẹp". Câu nói đó quả là đúng.
8. Không nên coi thường địa vị của chồng
Lòng tự trọng của người đàn ông rất cao, đặc biệt không bằng lòng với công việc và mức thu nhập, địa vị không kịp với người vợ, trong lòng vốn đã rất mềm yếu, một khi bị mọi người coi thường đặc biệt là vợ, rất dễ bộc phát tình cảm chịu thụt lùi.
9. Không ngừng trao đổi tư tưởng tình cảm với chồng
Cần học để biết nghệ thuật hấp dẫn chồng, vì chồng mà tạo nên lên một hoàn cảnh gia đình thoải mái, vui vẻ và hạnh phúc, khiến cho người chồng mong muốn được quan tâm chăm sóc gia đình, mà không phải đi "tránh nạn" và tìm kiếm niềm vui ở nơi khác.
10. Nắm vững năm giờ then chốt
Năm giờ trước khi chồng đi làm và sau khi đi làm về là thời gian rất quan trọng. Tinh thần của người vợ sẽ phát sinh sự truyền cảm rất lớn đối với việc đó, tinh thần hăng hái khoẻ mạnh, sẽ đem lại cho gia đình niềm vui hạnh phúc và không khí hoà thuận vui vẻ.
***
7 thứ mà một người phụ nữ đẹp dễ đánh mất
Nếu bạn là một người phụ nữ đẹp, hẳn bạn sẽ rất tự hào. Tuy nhiên có một lúc nào đó bạn tự hỏi bản thân mình đã đánh mất thứ gì quý giá chưa? Thực tế cho thấy, một người phụ nữ đẹp có thể đánh mất một số thứ, trong đó 7 thứ sau đây là quan trọng nhất.
1. Cơ hội
Đây là thứ mà người phụ nữ đẹp rất dễ đạt được trong cuộc sống và công việc. Có lẽ vì vậy mà người phụ nữ đẹp thường có nhiều khát vọng và sẽ không còn quý giá những thứ đã đạt được, luôn tin rằng mình sẽ có cơ hội tốt hơn. Nhưng thật ra, khi nhìn lại mình bạn sẽ thấy mấu chốt dẫn đến sự thành công và cơ hội của bạn là do sắc đẹp đem đến, chứ chưa thực sự là tài năng của bạn. Trong khi đó, việc nắm bắt và tận dụng thành công các cơ hội tốt lại không bao giờ liên quan đến sắc đẹp.
2. Sự kiên trì
Có lẽ đa số người đẹp đều muốn tránh xa các công việc khó khăn nặng nhọc, bởi lẽ họ không muốn bàn tay mình có vết chai, khuôn mặt phải nghĩ ngợi. Có lẽ vì vậy mà tính kiên trì không giúp ích gì được cho bạn và bạn sẽ dần dần tự đánh mất nó.
3. Sự khoan dung
Những người phụ nữ đẹp luôn nhận được sự sủng ái và ngưỡng mộ của người xung quanh. Vì thế họ dần dần trở nên kiêu căng, thậm chí còn "hung hăng" là khác. Họ thích nổi tiếng, thích được ngưỡng mộ, quan tâm chiều chuộng, vì vậy họ xem thường người khác, đôi khi còn xúc phạm người khác.
4. Sự tín nhiệm
Do mọi người cũng phần nào hiểu được tính cách của những người phụ nữ đẹp cho nên nếu là người phụ nữ đẹp, bạn rất dễ bị hiểu lầm. Bạn sẽ phải rất cố gắng nỗ lực để cho mọi người hiểu rằng bạn là người đẹp cả ngoại hình lẫn nội tâm. Có lẽ lúc này nhiều người đẹp than thở rằng sắc đẹp thật nhiều phiền toái. Bởi những người phụ nữ có khuôn mặt thật thà phúc hậu thường được sự tin tưởng, tín nhiệm của mọi người xung quanh.
5. Người đàn ông đứng đắn
Người phụ nữ đẹp thường tự phụ và luôn thích có nhiều đàn ông theo đuổi. Luôn thích đàn ông trở thành "nô lệ" của mình. Trong khi đó những người đàn ông đứng đắn luôn có lòng tự trọng rất cao. Họ biết dừng lại đúng chỗ. Nếu như người đẹp không đoái hoài đến tình cảm của họ, hoặc gây khó dễ cho họ thì dĩ nhiên họ cũng sẽ lạnh lùng ra đi mà không hề nuối tiếc.
6. Sự tự do
Người đàn ông nào lấy được một cô vợ đẹp hẳn sẽ phải chịu muôn vàn cực nhọc. Họ luôn phải che chở chăm sóc chịu đựng tha thứ cho vợ mình. Đôi khi còn phải đề phòng hoặc chiến đấu vì vợ đẹp. Lúc nào anh ta cũng phải dõi mắt theo vợ. Và tất nhiên, cô vợ đẹp kia sẽ chắc chắn không còn được tự do như trước nữa.
7. Sự yên ổn
Một người phụ nữ đẹp thường là mục tiêu theo đuổi của nhiều người đàn ông. Vì vậy nếu không khéo léo hẳn họ sẽ gặp rất nhiều phiền toái trong cuộc sống. Họ sẽ khó yên ổn bởi các "mũi tấn công" vẫn cứ liên tục triển khai.
***
VỢ ƠI LÀ VỢ.............
Vợ xấu là Bất tài
Vợ đẹp là Bất hạnh
Vợ bỏ là Bất lực
Ế vợ là Bất trí
Có vợ bé là Bất nhân
Giựt vợ là Bất lương
Vợ ly dị là Bất cần
Còn ly dị vợ là Bất lợi
Vợ ghen mà làm thinh là Bất chấp
Vợ chồng bên nhau mãi là Bất tử
Vợ chồng cãi lộn là Bất hòa
Vợ giận không nói là Bất hợp tác
Vợ chồng giận nhau là án binh Bất động
Vợ chồng đánh nhau là Bất phân thắng bại
Vợ bị đánh mỗi ngày vẫn không sợ là Bất khuất
Ý vợ là Bất di Bất dịch
Áo vợ mặc là Bất luận
Cơm vợ nấu là Bất kiến
Đồ đạc của vợ là Bất động sản
Em gái của vợ là Bất khả xâm phạm
Khen gái đẹp trước mặt vợ là Bất tiện
Vợ được người ta khen nhiều là Bất ổn
Vợ không cho lại gần là Bất thường
Vợ không cho ngủ chung là Bất mãn
Léng phéng mà vợ bỏ qua chỉ Bất quá tam
Vợ bắt được quả tang (với ẻm) là Thiên Bất dung tha
Vì vợ mà thi rớt là Bất đạt
Vì vợ mà bỏ bạn là Bất tin
Vì bạn không thương vợ là Bất công
Vì vợ mà bỏ cha là Bất hiếu
Vì cha mà phụ vợ là Bất nghĩa
Vì tiền mà xem thường cha vợ là Bất kính
Lương đưa hết cho vợ là luật Bất thành văn
Tiền đưa vợ với tiền vợ chi là Bất đẳng thức
Nói chung, lấy vợ là chuyện Bất đắc dĩ,
Nhưng lại là chuyện Bất khả kháng.

***
CHỒNG ƠI LÀ CHỒNG.......
Chồng ngu đần là Vô phúc
Chồng thông minh thì Vô sự
Chồng bỏ là Vô sinh
Ế chồng là Vô duyên
Chồng đi ngoại tình là Vô đề kháng
Giựt chồng là Vô lương tâm
Chồng ly dị là Vô mưu
Còn ly dị chồng là Vô mục đích
Chồng ghen mà làm thinh là Vô tội
Ghen với chồng là Vô cớ, nếu không nói là Vô hiệu
Con riêng của chồng là Vô thừa nhận
Vợ chồng bên nhau mãi mãi là Vô giá
Vợ nhồng cãi lộn là Vô tận
Chồng giận không nói là Vô hạn
Vợ chồng đánh nhau là Vô luật lệ
Chồng đánh mỗi ngày không sợ là thiên hạ Vô địch
Nhưng đã bị chồng đánh là Vô phưiơng cứu chữa
Ý chồng là Vô biên
Áo quần chồng mặc là Vô hình
Cơm chồng nấu là Vô vị
Đồ đạc của chồng là Vô sản
Nói xấu chồng là Vô công rồi nghề
Ghẹo anh em trai của chồng là Vô tình
Khen người khác đẹp trai trước mặt chồng là Vô ý
Chồng được người ta khen nhiều là Vô tâm
Chồng không muốn lại gần là Vô độ
Trước khi ngủ với chồng cần phải Vô trùng
Trốn chồng mà léng phéng là Vô kỷ luật,Vô chủ
Chồng bắt được quả tang (với bồ) là Vô can
Vì chồng mà thi rớt là Vô dụng
Vì chồng mà bỏ bạn là Vô ân
Vì bạn mà không thương chồng là Vô lại
Vì chồng mà bỏ cha là Vô đạo, Vô ơn
Vì cha mà phụ chồng là Vô liêm sỉ
Vì tiền  mà xem thường bố chồng là Vô lễ, Vô văn hóa
Lương đưa hết cho chồng là Vô điều kiện
Chi tiền của chồng là Vô tư, Vô nguyên tắc, và Vô trách nhiệm
Lấy chồng là Vô nghĩa, Vô bổ, Vô  ích,
Nhưng nếu không lấy thì Vô vọng.

***
TẠI SAO PHỤ NỮ …?
 - Vừa sinh ra, họ đuợc xếp ngay vào "phái đẹp", chẳng cần chờ ban giám khảo các cuộc thi hoa hậu cân đo, săm soi gì hết, rõ sướng ! Họ khoái sắm đồ đẹp, thích đi mỹ viện, sửa đi, sửa lại, độn cái này vô, lấy cái kia ra cũng đuợc cho qua, bởi họ là phái đẹp. Còn đàn ông mà làm như vậy dư luận lại chộn rộn : rõ là đồ pêđê, bóng lại cái …
- Thử hỏi ở phòng khám béo phì có bao nhiêu bà, bao nhiêu cô bụng to cỡ "thùng nước lèo", hông bự cỡ "võ sĩ sumô". Ấy vậy mà nếu đàn ông bụng to đi chữa mập thì bị các bà, các cô nhòm nhòm, ngó ngó rồi ghé vào tai nhau : "Bụng bia, uống cho lắm vào mới vậy !".
- Họ đựơc phép quyến rũ ta bằng các chiêu: ánh mắt, nụ cười, giọng nói .. khiến cánh đàn ông được gọi là phái mạnh bỗng yếu xìu: làm theo mong muốn của họ. Thế rồi dư luận cũng lên tiếng chê bai chúng ta mất đạo đức, làm bại hoại gia phong, tan nát gia đình. Họ lại còn rất khôn: Thích được người khác ôm, chứ nhất định không chịu bỏ tiền ra "ôm" ai !
Ngày Quốc Tế Phụ Nữ
08.03.200...
Gã Siêu


 

Chuyện Gã Siêu 122: CHỬI

CHỬI Chuyện Gã Siêu 122

Cách đây không lâu, một anh bạn từ bên Mỹ, chẳng biết sưu tầm được ở đâu, đã gửi cho gã một Chuyện Gã Siêu 122

Cách đây không lâu, một anh bạn từ bên Mỹ, chẳng biết sưu tầm được ở đâu, đã gửi cho gã một mẩu chuyện, đọc xong gã chẳng biết nên cười hay nên khóc. Mẩu chuyện ấy như thế này :

Lần đầu tiên mới tới Hà Nội, tôi không khỏi bỡ ngỡ khi tìm nhà của một người bạn, hiện làm trưởng một khu phố văn hóa. 

Thấy có mấy đứa trẻ đang nô đùa ngoài đầu ngõ, tôi hỏi :

- Này các cháu, các cháu có biết nhà ông trưởng khu phố văn hóa này ở đâu hay không ?

Một đứa bé trai, khoảng trên dưới mười tuổi, ngước nhìn tôi bằng ánh mắt xấc láo và ranh mãnh, rồi đáp gọn lỏn :

- Biết nhưng…đéo chỉ.

Tôi lắc đầu, tiếp tục đi sâu vào con hẻm văn hóa. Gặp một thanh niên, tôi liền hỏi:

- Anh ơi, anh có biết nhà ông trưởng khu phố văn hóa này ở chỗ nào hay không?

Gã trẻ tuổi chẳng thèm nhòm ngó gì đến tôi và trả lời cộc lốc :

- Đéo biết.

Miết rồi cũng tìm thấy nhà ông trưởng khu phố văn hóa. Khi gặp ông, tôi kể lại chuyện này cho ông ta nghe với lời than thở :

- Anh ạ, các bậc cha mẹ ở đây không dạy dỗ con em hay sao mà để chúng nó ăn nói với những người khách lạ một cách thô bỉ và tục tĩu đến thế hả anh ?

Chẳng cần suy nghĩ, ông trưởng khu phố văn hóa đã thuận miệng trả lời tôi ngay:

- Có dạy đấy chứ, nhưng chúng nó…đéo nghe.

Lúc ấy người con gái của ông bạn tôi, hiện là một cô giáo dạy môn văn, vừa từ nhà trường trở về và tôi liền đem câu chuyện ấy ra mà kể. 

Thay vì trả lời trực tiếp cho tôi, cô giáo xin phép thuật lại một sự việc như sau :

Hôm ấy, cháu giảng bài văn, có đoạn trình bày thành tích anh hùng và dũng cảm của nhân dân ta đã đánh gục giặc Tây, đã đánh nhào giặc Mỹ…Cuối cùng, cháu kêu một em trai lớn nhất lớp và bảo :

- Em hãy định nghĩa xem hai chữ “dũng cảm là gì ?” 

Nó đứng lên, suy nghĩ một lúc rồi đáp gọn lỏn :

- Thưa cô, nghĩa là…đéo sợ ạ.

Sau đó, trong cuộc tiếp xúc với ông bộ trưởng giáo dục và đào tạo, cháu liền đem câu chuyện thằng bé học trò đã cắt nghĩa hai chữ “dũng cảm” là…”đéo sợ” cho ông ta nghe. 

Nghe xong, ông bộ trưởng tỏ vẻ đăm chiêu, ra điều suy nghĩ lung lắm. Cuối cùng, ông nghiêm nghị nhìn tôi, rồi gật gù như một triết gia uyên bác vừa mới khám phá ra một chân lý cao siêu, ông ta chậm rãi đáp :

- Ừ, nó cắt nghĩa như thế thì cũng…đéo sai.

Nghe vậy, tôi chua chát nghĩ thầm trong bụng rằng :

- Giáo dục và đào tạo theo kiểu này thì đất nước mình…đéo khá lên được.

Gã nghĩ rằng mẩu chuyện trên đây chỉ là một giai thoại được “phệu ra” với một chủ đích…châm chích chọc nào đó mà thôi. Nhưng câu chuyện dưới đây lại là một câu chuyện có thật một chăm phần chăm, do một cha già khả kính đã kể cho gã nghe.

Vào buổi sáng ngày lễ Giáng sinh, cha già đạp xe từ nhà thờ xứ tới nhà thờ họ lẻ để ban lễ vào lúc tám giờ. Cũng trong khoảng thời gian ấy, có hai vợ chồng nhà kia chẳng hiểu lục đục với nhau vì lý do gì, đã chửi bới nhau một cách thậm tệ. 

Thế nhưng, đang lúc hăng say dọn cho nhau xơi những thứ cao lương mỹ vị, chị vợ nhác thấy bóng cha già sắp đi qua bèn đề nghị…đình chiến. Chị nói :

- Thôi, không cãi nhau nữa, cha đấy.

Anh chồng còn đang hậm hực và tức tối, từ trong nhà chõ mõm ra ngoài ngõ và quát lớn:

- Cha thì ông cũng…đéo sợ.

Ngay lúc đó, vị cha già khả kính của gã đạp xe ngang qua và đã nghe thấy “nguyên văn” câu nói ấy.

Như vậy, chẳng phải chỉ có người Hà Nội mới chửi, mà người Saigon cũng chửi. Chẳng phải chỉ có người miền Bắc mới chửi, mà người miền Nam cũng chửi. Chẳng phải chỉ có đờn ông mới chửi, mà đờn bà cũng chửi. Ngôn ngữ chửi là ngôn ngữ chung của mọi người, ở mọi nơi và trong mọi lúc, từ đông sang tây cũng như từ cổ chí kim.

Và gần đây, gã thấy hiện tượng này xem ra đã bùng nổ mãnh liệt và liên tục phát triển nơi giới…nữ sinh. Cứ nhìn những cặp môi ngây thơ và xinh đẹp ấy phát ngôn một cách bừa bãi, tuôn ra rông rổng những lời chửi bới cộc cằn. Chẳng khác gì các bà hàng cá, hàng tôm, hàng thịt… Dường như đối với các em mới nhớn này phải biết chửi mới là dân chơi thứ thiệc, chính hiệu con nai vàng ngơ ngác.

Tình cờ đi qua một đám nữ sinh đang chu mỏ lại bình loạn về lão nọ, lão kia. Nhưng những lão ấy là ai thế ? Gã xin thưa những lão ấy có khi là cha mẹ của họ, có khi là thầy dạy của họ và cũng có khi là…bồ bịch của họ nữa. 

Nghe được những lời bình loạn này, hẳn nhiều người sẽ phải sởn gai ốc, nổi da gà và phát sốt phát rét lên ấy chứ. Nếu có sống lại, Đức Khổng Tử cũng phải thở dài thườn thượt, rồi sau đó lăn đùng ra mà chết, miệng vẫn còn nói những lời sau cùng như muốn cảnh báo :

- Hỉ ôi! Hỉ ôi! Hậu sinh khả…ố. Tứ đức công dung ngôn hạnh của ta biến sạch đằng nào cả rồi ?

Như trên gã đã xác quyết bằng cả hai tay lẫn hai chân rằng :

- Ngôn ngữ chửi là ngôn ngữ chung của mọi người ở mọi nơi và trong mọi lúc.

Thực vậy, đã là người thì ai cũng có tình cảm. Và theo sự phân tích của người xưa, thì có bảy thứ tình cảm chi phối toàn bộ đời sống con người và được gọi là thất tình. 

Vì vậy, gã xin cả tiếng lại dài hơi thanh minh thanh nga rằng : thất tình ở đây chẳng phải là mất đi tình yêu để rồi phát buồn phát sầu mà đi lang thang như người cõi trên. Trái lại, thất tình là bảy thứ tình cảm chất chứa trong lòng con người, đại khái như sau :

Thứ nhất hỉ là mừng.
Thứ hai nộ là giận.
Thứ ba ai là buồn.
Thứ tư cụ là sợ.
Thứ năm ái là yêu.
Thứ sáu ố là ghét.
Thứ bảy dục là muốn.

Kinh nghiệm cho thấy khi cái sự “nộ” tức là cái sự giận nổi lên đùng đùng, nó sẽ ám vào lục phủ ngũ tạng khiến cho đương sự như bị tẩu hỏa nhập ma, mặt đỏ tía tai và thế nào miệng cũng phát ra những lời chửi bới độc địa. 

Vậy thế nào là chửi ?

Theo gã nghĩ chửi là biểu lộ sự nóng giận của mình bằng những lời lẽ thô lỗ, xúc phạm tới ông bà cha mẹ người ta, gán cho người ta những tên xấu xa của súc vật, hay cho người ta ăn những của lạ…Như vậy, sự chửi bới thường đi đôi với những lời nói tục tĩu.

Gã không phải là một nhà ngôn ngữ học, nhưng xem ra cách chửi của dân An-nam-ta vừa trầm lại vừa bổng, vừa đậm đà lại vừa ý vị, ăn đứt những dân tộc khác trên trái đất này. 

Nếu coi việc chửi bới là như một chứng bệnh, thì gã có thể phân chia thành hai loại. 

Loại thứ nhất là chửi mãn tính.

Chửi mãn tính là thứ chửi thường xuyên. Người mắc phải chứng bệnh này, hễ mở mồm ra là phải chửi. Họ chửi một cách tự nhiên. Họ chửi một cách vô tư, không tội vạ chi sốt. Nếu không chửi thì xem ra họ sẽ bị nhạt miệng hay bị ngứa ngáy khó chịu. 

Bất cứ câu nói nào của họ cũng phải được đệm theo một thứ tiếng lạ, như tiếng Đức hoặc tiếng Congo... Tất cả tạo thành một thứ hợp âm cho ngôn từ của họ được tròn trịa, được hài hòa và cân đối.

Hồi còn bé sống trong nội trú, tên nào chửi tục mà bị thầy giám thị vớ được, sẽ bị trừ điểm kỷ luật và chiều thứ năm, thay vì được đi “bát phố”, thì sẽ phải ở nhà để làm công tác. Vì thế, những tên “ghiền” chửi tục, đã bịa ra những từ nhẹ nhàng và thanh tao hơn để mà chửi, cho dù bản chất vẫn là thô tục.

Chẳng hạn như từ “điếu” :

- Ông điếu sợ…

Chẳng hạn như từ “bè mẹ” :

- Bè mẹ nó chứ, ông đánh cho vỡ mỏ ra bây giờ.

Thanh thử, đám trẻ cứ thoải mái qua mặt thầy giám thị cái vù, mà chẳng hề hấn chi.

Gã có một anh bạn mắc phải chứng bệnh này một cách “thâm niên quân vụ”. Là miền người Bắc, nhưng vì sống lâu năm với đám học trò nhỏ người miền Nam, nên tiếng đệm của anh ta cũng bị pha trộn. 

Hầu như lúc nào trên môi miệng anh ta cũng vang lên điệp khúc “đủ mẻ”. Vì thế, gã đã phong cho anh ta cái hỗn danh là “ông thầy Đủ Mẻ”.

Ngày kia, anh ta đang lái xe phom phom đi trên đường phố, nhưng có lẽ vì lơ đãng hay sao ấy, anh ta đã va quẹt vào chiếc xe của một cô gái. Thế là nhanh như chớp, anh ta xuống xe, khoa chân múa tay mà chửi :

- Đủ mẻ, lái thế mà coi được à. Bộ đui bộ mù hay sao ?

Tội nghiệp cho cô gái, hai mắt rưng rưng như muốn khóc, lên tiếng năn nỉ ỉ ôi với anh ta:

- Thôi mà chú. Tội nghiệp cháu. Chú đừng chửi nữa. Cháu sợ lắm. Hết bao nhiêu cháu xin đền ạ.

Về tới nhà, gã bèn hỏi anh ta :

- Sao lúc đó ông hung hăng con bọ xít đến thế ?

Anh ta điềm nhiên trả lời :

- Đủ mẻ nó chứ, hễ đụng xe là phải chửi liền tù tì. Bắn chậm thì chết thế nào, thì chửi chậm cũng chết như vậy. Đó là quy luật của muôn đời, mày phải nhớ cho kỹ, rồi đem ra mà áp dụng mỗi khi…hữu sự nghe con.

Đặc biệt nhất là khi tâm hồn anh ta sảng khoái và ngồi vào bàn nhậu. Anh ta đã từng phát biểu thật hách xì xằng :

- Đã không “dzô”thì thôi, “dzô” thì là một chăm phầm chăm. Đủ mẻ thế mới đã!

Thậm chí anh ta còn cao hứng nghêu ngao hát :

- Đâu có tình yêu thương, ở đó uống rượu thật nhiều.

Đâu có tình bác ái, ở đó uống rượu không say.

Đâu ý hiệp tâm đầu, ở đó uống chăm phần chăm.

Còn rất nhiều những sự việc hay ho hấp dẫn về “ông thầy Đủ Mẻ” này, nhưng gã xin khép lại ở đây để tiếp tục bàn về chứng bệnh chửi.

Loại thứ hai là chửi cấp tính.

Chửi cấp tính là thứ chửi đột xuất, khi tự ái bị chạm mạch và sự nóng giận bốc lên đầu, khiến người ta chửi thành từng câu hay thành từng bài với ý đồ thâm hiểm nhằm hạ nhục đối phương, làm cho đối phương phải te tua nát nước. 

Tùy theo tính tình của từng người mà cơn bệnh cấp tính này mang những âm độ khác nhau.

Trước hết, đối với với những kẻ nhát gan, không đủ can đảm biểu lộ sự bực tức ra bên ngoài, bèn nuốt giận mà chửi lén hay chửi thầm.

Chửi lén là chửi sau lưng, là chửi lúc người ta vắng mặt. Họ giống như hội đồng nhà chuột. Căm thù trước sự dã man của mấy lão mèo, dòng họ nhà chuột đã họp hội đồng và trong cuộc đại hội này, từ tên chuột cống đến tên chuột nhắt, tất cả đều to mồm chửi bới mấy lão mèo. Thế nhưng khi mấy lão mèo xuất hiện, thì họ hàng nhà chuột đều mạnh ai nấy trốn, bỏ của chạy lấy người. Giá như có một tí trí khôn để suy nghĩ, thì không thiếu những tên chuột khom lưng quì gối mà nịnh bợ mấy lão mèo.

Còn chửi thầm là chửi âm ỉ trong cõi lòng của mình mà không phát thành tiếng thành lời, bản lãnh lắm thì cũng chỉ lẩm bẩm nơi cửa miệng mà thôi. Nhiều khi cơn giận làm cho thâm gan tím ruột, mà bản mặt thì vẫn cứ phải tươi cười, cho dù cái cười có quay quắt và héo hắt.

Tiếp đến, đối với những kẻ bạo phổi thì sự bực tức được phát tiết ra bên ngoài, nhất là nơi miệng lưỡi bằng những lời lẽ cộc cằn và thô lỗ. Đồng thời, tùy theo đối tượng được nhắm tới, gã có thể chia loại chửi này thành hai kiểu.

Kiểu thứ nhất là chửi trực diện, hay nói theo ngôn ngữ tin học, thì đó là chửi trực tuyến, nghĩa là chửi thẳng vào mặt đối phương, chẳng cần phải nể nang, chẳng cần phải rào trước đón sau. Những “lời hay và ý đẹp” cũng như những món “cao lương mỹ vị” cứ tuôn ra ào ào, khiến cho đối phương bị tối tăm mặt mũi chẳng biết đâu mà đỡ. Nếu không có nội lực thâm sâu, thì chắc chắn sẽ bị…sụm bà chè mất thôi. Kiểu chửi này được bàn dân thiên hạ gọi chửi tưới hột sen, chửi như tát nước.

Kiểu thứ hai là chửi gián tiếp. Ta cứ gào to giữa làng và giữa xóm, giữa đường và giữa phố, để cho ai có tật thì phải giật mình. Ta cứ rút dây cho rừng phải động. Ta cứ nổ sấm bên đông cho động tới bên tây. Ta cứ nói đấy để cho đây phải chạnh lòng. Vì thế, kiểu chửi này được bàn dân thiên hạ gọi là chửi đổng, chửi khống, chửi lông bông, chửi xiên chửi xéo…

Một đứa bé học trò nghịch ngợm trong lớp, bị ông thầy đánh cho ba roi. Trong khi ông thầy quất cái roi xuống, đứa bé theo phản xạ tự nhiên bèn đưa tay ra đỡ. Chẳng may cái roi dụng phải cái móng tay đứa bé và làm cho nó chảy máu. 

Đứa bé nước mắt lưng tròng chạy về nhà kể lể và tả oán với bố nó. Ông bố cáu tiết bèn làm một màn chửi đổng. Ông ta vừa chạy dọc theo con đường duy nhất trong làng, vừa quát tháo ầm ĩ :

- Tiên sư bố nó. Nó không đẻ, nó không đau, nó dám đánh con người ta như thế kia à. Tiên sư bố nó…Tiên sư bố nó…

Gã có thể quả quyết được rằng việc chửi đổng hay chửi xiên chửi xéo nơi một số quí bà quí cô đã đạt tới trình độ nghệ thuật với chất lượng cao, nếu không muốn nói là tuyệt vời và trên cả tuyệt vời nữa. 

Họ chửi có cung có điệu và có trầm có bổng. Họ chửi thành câu thành cú và thành bài thành bổn. Lời họ chửi chẳng khác chi một bài thơ, có bằng có trắc và có vần có vế. Tiếng họ chửi khi thì dồn dập như thác lũ, khi thì nỉ non ai oán như tiếng người vợ nức nở tiễn đưa người chồng vào nơi chín suối.

Trời bắt đầu nhá nhem. Bà hàng xóm ném một nắm thóc xuống khoảng sân đất và lên tiếng gọi :

- Chắt, chắt, chắt…

Bầy gà lục tục kéo nhau về, mổ những hạt thóc cuối cùng trong ngày trước khi lên chuồng. 

Bà hàng xóm đếm đi đếm lại mà sao vẫn thiếu một anh gà trống choai. Rồi bà đếm lại đếm đi mà sao vẫn cứ thiếu. Và thế là bà ra đứng trước ngõ, mắt long lên còng cọc, cất cao giọng the thé mà chửi một bài cả thể. 

Nhân vật được bà ưu ái nhắm tới thuộc vào hàng vô ngã, “impersonnel”, nên lời chửi của bà cũng vu vơ và bâng quơ. Tuy vu vơ và bâng quơ, nhưng lại nhằm trực tiếp tới một thằng cha nào đó đã cả gan dám ăn cắp gà của bà. 

Tiếng chửi của bà nhờ gió chuyển tới các gia đình trong khu xóm :

- Cha tiên sư ông cụ, 

ông kỵ bảy đời nhà nó.

Nó chẳng bỏ công nuôi, 

mà lại muốn ăn không của bà.

Thì đây bà cho nó ăn….

Tới chỗ này thì xin cho gã tự đục bỏ và cắt xén, không dám viết thêm nữa vì sợ sẽ làm cho kẻ thanh sạch mất lòng khiết tịnh. Chỉ biết rằng anh gà trống choai của bà hàng xóm sáng hôm sau đã xuất hiện thật sớm trên khoảng sân đất. Anh ta vỗ cánh đùm đụp, rồi cất giọng ồ ề mà gáy. Có lẽ đêm hôm qua anh ta đã đi tán tỉnh, hay đi mừng sinh nhật của một chị gà mái tơ nào đó chăng ?

Về việc chửi bới cũng như về nhiều việc khác nữa, đôi khi đã xảy ra một nghịch lý đáng buồn trong phạm vi gia đình. 

Thực vậy, cha mẹ nào cũng muốn dạy bảo con cái mình phải nghiêm túc trong lời nói, tránh đi những lời nói nóng nảy, cộc cằn và tục tĩu. Thế nhưng, chính những bậc làm cha làm mẹ ấy lại luôn có những lời nói nóng nảy, cộc cằn và tục tĩu ấy trên môi trên miệng của mình.

Một ông bố đã căn dặn con mình như sau :

- Mày nhớ nhé, không được nói tục nghe con. Mày mà nói tục, ông cha sở nghe thấy, thì ông ấy sẽ xẻo lưỡi mày đấy. Đủ mẻ mày đã nghe rõ chưa ?

Cũng thế, một bà mẹ luôn nhắc nhở đứa con gái cưng của mình phải thành thật. Thế nhưng, khi có người đến đòi nợ, bà đã trốn kỹ dưới bếp và sai đứa con gái ra nói người khách bất đắc dĩ ấy rằng bà đi vắng. 

Đứa con gái mở cổng và rất ngây thơ nói với người khách :

- Thưa bác, má cháu bảo cháu ra nói với bác rằng má cháu không có nhà.

Cũng thế, buổi sáng nghe chuông nhà thờ vang lên, ông bố cuộn mình trong chăn, vội lên tiếng giục giã con cái :

- Nào, thức dậy, đi đái, lấy nước, súc miệng, đánh răng, rửa mặt, đi lễ.

Trong khi con cái uể oải thực thi những mệnh lệnh kể trên, thì ông bố vẫn cứ nằm ngủ nướng…nướng đến độ cháy khê cháy khét.

Thảo nào, khi người ta hỏi một cậu bé rằng :

- Em muốn gì ?

Cậu bé không ngần ngại trả lời :

- Em muốn làm người lớn.

Người ta hỏi tiếp :

- Tại sao lại thế ?

Cậu bé nhoẻn một nụ cười đầy bí mật và nói :

- Để được chửi tục, nói dối và nằm ngủ nướng mà không bị la mắng!

Cha mẹ nói một đàng nhưng lại làm quàng một nẻo, thành thử trống đánh xuôi kèn thổi ngược, những lời dạy bảo của họ không đủ sức thuyết phục con cái. 

Phương thế giáo dục đạt hậu quả cao nhất, đó chính là gương sáng của cha mẹ, bởi vì chỉ gương sáng của cha mẹ mới là một bài giảng hùng hồn hấp dẫn được con cái mà thôi, chả thế mà người xưa đã bảo :

- Lời nói như gió lung lay,

Việc làm như tay lôi kéo.

Để kết luận, gã nhớ lại lời người xưa đã khuyên :

- Hãy ngoáy lưỡi bảy lần trước khi nói.

Có nghĩa là phải thận trọng đắn đo trước khi nói, để tránh đi những lời chửi bới và tục tĩu, trái lại hãy có những lời ôn tồn và thành thực để tạo được một bàu khí hòa thuận cũng như bắc được một nhịp cầu cảm thông, vì :

- Lời nói chẳng mất tiền mua,

Liệu lời mà nói cho vừa lòng nhau.

Hơn thế nữa, kinh nghiệm cũng cho thấy :

- Ngậm máu phun người, trước dơ miệng mình.

Hay như người Pháp cũng đã bảo :

- Khi chửi bới thì chính chúng ta lại là người đầu tiên phải nghe những lời tục tĩu ấy.

Hơn thế nữa, lòng đầy thì mới tràn ra ngoài. Căn cứ vào lời nói mà thiên hạ có thể đánh giá được con người chúng ta. Nếu lời nói của chúng ta cộc cằn và thô lỗ, thì con người chúng ta cũng cộc cằn và thô lỗ như vậy. Trái lại :

- Chim khôn kêu tiếng rảnh rang,

Người khôn tiếng nói dịu dàng dễ nghe.

Gã Siêu

 

Chuyện Gã Siêu 123: Thương hiệu

Thương hiệu Chuyện Gã Siêu 123

Trong tiếng Việt, người ta hay dùng kiểu viết tắt trong nhiều trường hợp. Chẳng hạn như về Chuyện Gã Siêu 123

Trong tiếng Việt, người ta hay dùng kiểu viết tắt trong nhiều trường hợp. Chẳng hạn như về học vị hay chức tước :

Ts có nghĩa là Tiến sĩ.
Bs có nghĩa là Bác sĩ.
Gs có nghĩa là Giáo sư.
Lm có nghĩa là Linh mục…

Hiện giờ, người ta cũng hay dùng những chữ cái đầu tiên để đặt cho thương hiệu của mình.

Trong một bài báo mới đây bàn về phong trào xơi tiết canh lòng lợn, để có số đỏ và lấy hên cho công việc làm ăn, người ta đã nói đến những nhà hàng, những quán ăn tại Saigon nổi tiếng về món “lolotica”.

Cũng có công ti chuyên mua và bán hột vịt lộn đã tự đặt cho mình cái tên là “Hovilo”.

Gã còn nhớ vào khoảng năm 1981, cuộc sống còn chồng chất nhiều khó khăn. Công việc đồng ruộng thì nhiều vất vả, hơn nữa lại không quen, bởi vì lúc bấy giờ gã chỉ là một thư sinh, dài lưng tốn vải ăn no lại nằm, có trói gà thì cũng chẳng chặt, vì thế gã đành phải chuyển hệ, tập tễnh bước vào nghề nuôi heo.
Gã làm quen và học hỏi kinh nghiệm nơi những vị…thâm niên trong nghề, từ khâu chọn mua heo giống, đến khâu chế biến thực phẩm bằng công thức, dựa theo những sản phẩm của địa phương mình, như gạo, cám, cá, bột xương, bột xò…Từ việc xây dựng chuồng trại, đến việc chữa trị những chứng bệnh thông thường. Với một “bồ hiểu biết” như vậy, gã bèn lăn xả vào cái nghề bất đắc dĩ này.
Tuy nhiên, chuyện đầu tiên gã nghĩ tới để heo mau lớn, đó là phải xổ giun sán. Vì nếu thực phẩm vừa mới đưa vào đến ruột, đã bị bọn giun sán, loài ký sinh sống bám, sống nhờ… phỗng tay trên, thi nhau xơi trước, thì còn gì nữa đâu để con heo phát triển.
Và thế là lại một lần nữa, gã phải thỉnh ý những “chuyên viên chuồng trại” xem loại thuốc nào hiệu nghiệm hơn cả. Họ bảo :
- Ông cứ ra tiệm thú y, mua và quất cho mỗi con một liều TGS là xong ngay.
Gã ngẫm nghĩ không hiễu TGS là cái thuốc quái quỷ gì mà “linh” quá vậy ? Sau khi cầm những gói thuốc trong tay, gã mới ngộ ra rằng :
- TGS chính là Trị Giun Sán.
Đơn giản chỉ có vậy mà gã cũng chậm…tiêu.

Cách đây khá lâu, để khử trừ nạn cướp bóc vốn xảy ra hằng ngày, nhất là vào những lúc đêm hôm khuya khoắt trên những còn đường vắng vẻ, ngành cảnh sát công an đã thành lập một lực lượng đặc biệt, mang tên gọi là SBC, có nghĩa là Săn Bắt Cướp.

Còn cách đây không lâu, báo Công An Thành Phố có một bài viết mang tựa đề “Theo chân tổ SĐB”. Chỉ mới liếc qua cái tựa đề này mà thôi, gã đã phải bỏ ra cả phút đồng hồ để động não xem SĐB nghĩa là gì. Tức anh ách vì đầu óc mình tối tăm không đoán ra nổi. Đến khi đọc bài viết thì mới à lên một phát và rất lấy làm thú vị :
- SĐB có nghĩa là “Săn Đái Bậy”

Số là thành phố Sàigòn từ năm ngoái cho đến năm nay, thiên hạ vẫn còn đang phát động phong trào “Vì cuộc sống văn minh đô thị”. Và để cho khuôn mặt Sàigòn được văn minh và dễ thương, đúng với truyền thống của “Hòn ngọc Viễn Đông”, người dân cần phải giữ gìn vệ sinh công cộng, trật tự giao thông và nhiều chuyện lỉnh kỉnh khác nữa…Trong việc giữ gìn vệ sinh công cộng, ngoài việc không được xả rác bừa bãi, lại còn thêm cái việc không được…đái bậy.

Đúng thế, theo tác giả Hoài Giang – Thanh Thủy của bài viết, thì người ta đã thành lập Đội Quản lý Đô thị. Nhiệm vụ của những người làm công tác thuộc đội này, ngoài việc xử phạt những trường hợp vi phạm trật tự an toàn giao thông, trật tự lòng lề đường, còn có chức năng khá đặc biệt là xử lý các trường hợp vi phạm liên quan đến vệ sinh môi trường, trong đó có việc đái bậy nơi công cộng.

Vì thế, tổ SĐB được hình thành và trực thuộc Đội Quản lý Trật tự Đô thị. Dĩ nhiên SĐB chỉ là kiểu nói vui của những người trong tổ, để chỉ công việc rất đặc biệt này mà thôi.

Mục đích của SĐB là chuyên môn săn lùng những kẻ “trút bầu tâm sự” ở những gốc cây, những công viên, những tường vách…nghĩa là trút ở những nơi không được phép trút.
Tình trạng vô tư “giải quyết nỗi buồn” ngay giữa thanh thiên bạch nhật từ lâu đã trở thành một căn bệnh “mãn tính” và hiện đang có chiều hướng gia tăng và liên tục phát triển, bởi vì ngày càng có nhiều người, chẳng mắc bệnh “đái đường, thế mà lại thích đứng khơi khơi ngoài đường để “xả”, để “trút”!
Cũng theo tác giả bài viết, thì việc săn lùng và biên phạt những hành vi kể trên cũng nhiêu khê và rắc rối, chứ chẳng dễ dàng và ngon lành gì, bởi vì phải bắt tại trận, nghĩa là phải “tóm” được đúng nơi và đúng lúc, nghĩa là ngay khi can phạm đang “hành sự”, rồi lại còn phải thêm bằng chứng với hình ảnh cụ thể, để can phạm hết đường chối cãi…
Theo chân tổ SĐB của Quận 1, tác giả đã ghi lại một vài trường hợp điển hình :

Trường hợp thứ nhất : Săn hụt.
Vào một buổi chiều đẹp trời, sau chầu nhậu sương sương, một người đàn ông bèn tấp vào gốc cây…rồi vô tư kéo khóa quần “trút bầu tâm sự”.
Vừa lúc đó, tổ chuyên xử phạt những người đái bậy thuộc Đội Quản lý Trật tự Đô thị quận 1 xuất hiện. Vừa nhác thấy, người đàn ông đã ngay lập tức vội vã lủi nhanh vào khuôn viên Cung văn hóa Lao Động, khóa quần còn chưa kịp kéo lên.
Vì không kịp ghi lại chứng cứ bằng hình ảnh, nên những người làm công tác đặc biệt này đành chịu thua, không thể phạt được gì.
Khi được hỏi vì sao lại tè bậy, mà không vào nhà vệ sinh công cộng, các phạm nhân thường đưa ra những lý lẽ như sau :
- Nhà vệ sinh công cộng quá đông, quá xa và lại quá bẩn. 
- Vào nhà vệ sinh công cộng thì tốn tiền. Mỗi lần 2.000 đồng.
- Người khác cũng tè bậy chứ đâu phải chỉ có mình tôi.
- Đang gấp, nên đứng ngoài đường cho…lẹ.

Trường hợp thứ hai : Phụ nữ.
Có những phụ nữ bán hàng rong, khi “bí” cũng không chịu vào nhà vệ sinh công cộng, mà…quây mấy cái thúng đựng hàng hóa lại, rồi ngồi ở giữa mà…tè.
Gặp trường hợp này, thì tổ SĐB đành chào chua.
Cũng như trường hợp người tè bậy đưa giấy bác sĩ chứng nhận mắc bệnh về thận. Và tổ SĐB cũng đành phải bó tay.
Kết thúc bài viết, tác giả đã cho biết : Chỉ riêng quận 1, quận trung tâm của thành phố mà thôi, trong năm 2007 đã lập được một thành tích đáng nể :
Mức phạt cho mỗi lần đái bậy ngoài đường là 80.000 đồng. Nếu tái phạm sẽ bị phạt 100.000 đồng.
Trong năm 2007, Đội Quản lý Đô thị quận 1 đã xử lý 2.045 trường hợp liên quan đến vệ sinh môi trường, trong đó hành vi đái bậy nơi công cộng cũng không phải là ít.
Đọc xong bài báo và ghi lại một vài nét đại cương như ở trên, bỗng dưng gã cảm thấy buồn hơi bị nhiều. Gã tự hỏi :
- Chẳng biết có nước nào trên thế giới thành lập được một lực lượng đặc biệt như tổ SĐB của Việt Nam không nhỉ ?
Còn đâu nữa bài hát của Y Vân (?) :
- Sàigòn đẹp lắm, Sàigòn ơi, Sàigòn ơi!
Còn đâu nữa hình ảnh của “hòn ngọc Viễn đông” với những con đường có lá me bay, đi dưới những vòm cây đan chéo vào nhau, như đi trong lòng một ngôi thánh đường cổ kính.
Nhưng có lẽ điều đáng buồn hơn cả, đó là cái tinh thần chung, cũng như cái ý thức cộng đồng và trách nhiệm của người Việt mình hơi bị kém, thành thử mới ra…nông nỗi này.

Trong những năm vừa qua, ở Việt Nam gã thấy xuất hiện hai chữ, vốn được báo chí và nhiều người sử dụng, đó là hai chữ “của chùa”.
Chữ chùa ở đây chẳng liên quan đền miếu hay thánh thất chi cả, mà đơn giản chỉ có nghĩa là…chung. Của chùa là của chung và nhất là của nhà nước.
Mà đã là của chung, thì ta mặc sức xài, mặc sức dùng, chẳng cần phải tiếc xót, chẳng cần phải so đo tính toán. Tiền bạc đã có người thanh toán. Hư hỏng đã có người sửa chữa. Cái “não trạng” cha chung không ai khóc”, dường như đã bén rễ sâu vào tim óc của người Việt chúng ta.
Chẳng hạn như tại công sở, thì điện do xí nghiệp của nhà nước cung cấp, nên được liệt vào hàng của chùa. Bởi đó, ta cứ vô tư mở quạt, mở máy lạnh ở nơi làm việc và khi về cũng chẳng cần tắt. Của chùa mà.

Điện thoại trong công ty cũng là của chùa, nên ta cứ vô tư gọi để tán dóc với nhau, phe đờn ông con giai thì rủ nhau đi nhậu, còn phe đờn bà con gái thì tâm sự vụn đủ các thứ chuyện, từ chuyện trong nhà đến chuyện ngoài ngõ, từ chuyện trên trời đến chuyện dưới đất, từ chuyện vợ chồng đến chuyện bồ nhí…Lắm lúc như muốn nấu cháo nhừ cả chiếc điện thoại mà vẫn chưa chịu gác máy. Của chùa mà.
Cái não trạng này xuất phát từ một quan niệm sống, đó là đặt cái riêng lên trên cái chung, làm gì thì làm miễn là mình có lợi, miễn là mình được việc thì thôi. Quan niệm này được áp dụng vào nhiều lãnh vực khác nhau. Tuy nhiên, trong phạm vi bài viết này, gã chỉ đề cập tới phạm vi đường phố mà thôi.

Trở lại vấn đề SĐB, một hướng dẫn viên du lịch đã tâm sự trên báo Phụ Nữ Chủ Nhật, số 32, ra ngày 21 tháng 8 năm 2005, như sau :
Một hôm, đoàn khách nước ngoài đang chụp hình lưu niệm tại nhà thờ Đưc Bà, bỗng có một chiếc xe @ chở hai thanh niên tấp vào bên hông nhà thờ, trước con mắt ngạc nhiên của những du khách, hai thanh niên kia vẫn cứ vô tư “trút bầu tâm sự” vào tường, rồi lên xe bỏ đi. Sự ngạc nhiên của những du khách đã được chuyển thành câu hỏi dành cho tôi :
- Bộ đó là thói quen của người thành phố bạn hả ?
Tôi chẳng biết giải thích ra sao, chỉ biết chống chế :
- Chắc hai người đó say rượu.

Sau đó, tôi mau chóng chuyển qua đề tài khác và tôi biết họ không hài lòng với cách trả lời của tôi.
Khi đoàn qua đường Đồng Khởi – Nguyễn Du, bỗng hai du khách lại gần tôi với dáng vẻ bối rối, họ nói ra chuyện họ đang cần :
- Xin lỗi! Bạn có thể cho tôi biết nhà vệ sinh ở đâu ?
Chẳng biết chỉ cho họ nhà vệ sinh nào, vì quanh đấy không có lấy một nhà vệ sinh công cộng, tôi đành dẫn hai du khách vào một quán ăn gần nhất, giải thích với họ để họ hiểu, rồi kêu một chai nước uống ngồi chờ. Xong việc trở ra, họ nói nhỏ với nhau :
- Thật kinh khủng.

Thiết tưởng hai chữ “kinh khủng” trên đã quá đủ để diễn tả tình trạng thiếu trách nhiệm, thiếu tinh thần chung của những người sử dụng nhà vệ sinh nơi đó.
Sàigòn là một thành phố xinh đẹp và hiện nay những tòa nhà nhiều tầng và hiện đại mọc lên như nấm, như để cạnh tranh với những thành phố lớn trên thế giới, vậy mà gã vẫn bắt gặp đâu đó trên các bức tường hai chữ “Cấm đái” một cách thô thiển.
Và hình như chỗ nào có hai chữ đó, thì lại càng được chọn làm điểm hẹn để mà…tè. Thành thử đi qua những nơi ấy, thì phải bước cho thật nhanh, hay chịu khó bịt mũi và nín thở, vì xú khí bốc lên nồng nặc. Ai khó chịu mặc ai, miễn là ta xả được cái tâm sự buồn trong bụng thì thôi.
Cũng từ quan niệm “làm gì thì làm miễn là mình có lợi, miễn là mình được việc thì thôi”, một cái tật khác góp phần làm nhếch nhác thành phố, đó là cái tật khạc nhổ và xả rác một cách bừa bãi.

Mấy ông bạn nhậu, thì ngồi đâu nhổ đấy. Hình như họ phải nhổ bớt nước bọt đi cho đỡ nhạt miệng, thì nhậu mới ngon và mới được lâu, bất chấp những cái nhăn mật và khó chịu của những người chung quanh. Bởi vì đối với những người này, thì đó là một thói quen, khó có thể sửa đổi.
Còn việc xả rác nơi công cộng, cũng chỉ là chuyện nhỏ. Quan sát một tiệm phở, gã thấy khách ngồi ăn vô tư cho giấy lau bát lau đũa, cũng như những thứ thừa thãi như cọng rau, chiếc tăm xuống đất…Và chỉ trong một thời gian rất ngắn, tiệm phở bỗng trở nên một bãi chiến trường, ngổn ngang những thứ phế thải.
Có lần bước vào một chung cư ở bến Phạm Thế Hiển gã đã phải một phen kinh hồn khiếp vía. Gầm cầu thang là nơi cắm dùi của những kẻ vô gia cư. Ban ngày đi kiếm ăn chỗ này chỗ khác. Ban tối kéo về địa chỉ trên làm chốn tựa đầu cho giấc ngủ qua đêm.

Dọc theo hành lang là những gói rác. To cũng có mà nhỏ cũng có. Ấy là chưa kể những rác rưởi rơi vãi chỗ nào cũng có. Hành lang hay lối đi là phần đất chùa, mặc sức oanh kích, miễn sao phòng mình sạch sẽ và thơm tho là được rồi. Thậm chí có những người ở lầu trên vô tư ném rác xuống dưới. Chẳng cần biết những thứ rác ấy phiêu bạt nơi nao.
Lòng lề đường cũng vậy, là phần đất chùa, nên ta cứ việc xả vì sẽ có người đến quét và thu hồi lại.

Chẳng hạn khi ngồi trên xe hơi, nhất là với mấy cô bạn gái, họ xơi đủ thứ : Nào trái cây, nào bánh kẹo, hầm bà lằng xáng cấu. Khi xơi xong, họ cứ thản nhiên ném xuống đường các thứ rác rưởi từ vỏ nhãn, vỏ chôm chôm, lõi bắp…đến các thứ giấy gói bánh, gói kẹo.
Thậm chí có kẻ còn ném nguyên cả một bịch ni lông chứa đầy những thứ họ nôn ra vì bị say xe. Vô phúc cho ai đi qua, bị cái bịch ấy rơi vào đầu, thì cũng gắng mà chịu, chạy vội về nhà tắm gội và thay quần áo, chứ biết kiện ai bây giờ. 
Chính quan niệm “làm gì thì làm miễn là mình có lợi, miễn là mình được việc thì thôi”, đã góp phần cho nạn kẹt xe tại thành phố. Thực vậy, sau khi tan sở, ai cũng muốn mau chóng trở về nhà. Vì vậy, vào giờ cao điểm, xe cộ ùn tắc là lẽ dĩ nhiên. Thế nhưng, nếu người người đều tuân thủ luật giao thông, thì sự ùn tắc đó sẽ từ từ được giải quyết, không đến nỗi bị kẹt cả tiếng đồng hồ.

Đàng này, người ta chỉ sợ ông cảnh sát đứng bên lề đường và lăm le biên phạt, còn hệ thống đèn xanh đèn đỏ chỉ là chuyện nhỏ, người ta coi như pha, để rồi mặc sức luồn lách mà ngoi lên phía trước, được tí nào hay tí đó. Nếu không luồn lách được, thì tranh thủ leo lên vệ đường và dọt cho lẹ. Vì thế, đã kẹt lại càng kẹt hơn. Đã ùn tắc lại càng ùn tắc hơn.

Tóm lại, yếu tố quyết định cho mọi công việc, chính là yếu tố con người. Bởi đó, các cụ ta ngày xưa đã có lý khi khuyên nhủ con cháu :
- Phải tu thân trước đã, sau mới tề gia, trị quốc và bình thiên hạ.
Muốn đổi mới gia đình và xã hội, thì phải đổi mới tự bản thân. Muốn cho Sàigòn nói riêng và các thành phố khác trên đất nước này nói chung, có được một nếp sống văn minh, không hổ thẹn với bè bạn bốn phương, thì cần phải giáo dục con người Việt Nam có được cái tinh thần chung, cũng như cái ý thức cộng đồng và trách nhiệm.
Không biết có phải do giáo dục, hay do “gần mực thì đen, gần đèn thì sáng”, mà những người Việt sống ở nước ngoài, khi về quê hương, đã cư xử một phần nào giống với những người phương Tây, đó là trên môi miệng của họ có những chữ như:
- Xin lỗi, cám ơn…

Khi mọi người đã có được cái tinh thần chung và ý thức trách nhiệm, thì chẳng cần phải sử dụng tới tổ SĐB, mà Sàigòn vẫn xứng đáng với tên gọi là hòn ngọc Viễn Đông :
- Sàigòn đẹp lắm, Sàigòn ơi, Sàigòn ơi!

Gã Siêu

 

Chuyện Gã Siêu 124: CẶP KÍNH MÀU

CẶP KÍNH MÀU Chuyện Gã Siêu 124

Trong một bài chia sẻ về những mâu thuẫn trong cuộc đời Linh mục, một vị giảng thuyết kia đã Chuyện Gã Siêu 124

Trong một bài chia sẻ về những mâu thuẫn trong cuộc đời Linh mục, một vị giảng thuyết kia đã thao thao bất tuyệt như sau :

Ngày xưa, ngài chỉ được học qua quít về…nghệ thuật giảng thuyết, thế mà bây giờ, giảng thuyết lại trở nên một trong những hoạt động chính yếu của ngài. Nếu ngài giảng về những sự cao siêu, giáo dân sẽ ngáp lên ngáp xuống. Họ đòi hỏi bài giảng của ngài phải cụ thể và xúc tích. Vậy phải làm thế nào để đáp ứng nhu cầu trên ?

Ngày xưa, ngài đâu có được học về kiến trúc, thế mà bây giờ ngài phải nhúng tay vào hết mọi công trình, xây từ nhà thờ cho đến nhà bếp, xây từ nhà xứ cho đến nhà sinh hoạt, thậm chí đến cả chuồng heo, chuồng gà, bằng không thì sẽ bị chê là cù lần, chỉ biết cất mà không xây. Và còn rất nhiều lãnh vực khác nữa, mặc dù hiểu biết còn rất lơ mơ và kinh nghiệm tích lũy chẳng bao nhiêu, thế mà ngài vẫn cứ phải dấn thân. Thôi thì ông cha đi trước, làng nước theo sau.

Một khó khăn nữa cũng đến từ bên ngoài, đó là cách cư xử. Ngài phải làm sao để dung hòa được những hoạt động của mình, luôn đứng ở giữa, không nghiêng bên nọ, cũng không ngả bên kia, bởi vì thái quá thì bất cập.

Nếu vui vẻ thì bị hiểu là quá thân mật, còn nếu nghiêm nghị thì bị mang tiếng là khó tính.

Nếu bình dân ăn nói như mọi người thì bị chê là không có tác phong đứng đắn, còn nếu áo quần tề chỉnh thì bị khép vào hạng người quan liêu và cách biệt.

Nếu hăng hái lao động thì bị kêu là kẻ ham mê của cải vật chất, còn nếu ít làm việc tay chân thì bị trách là con nhà trưởng giả…

Từ đó, gã nghiệm ra lời cha ông chúng ta ngày xưa quả là chí lý lắm vậy thay :

- Ở sao cho vừa lòng người, 
Ở rộng người cười, ở hẹp người chê.
Cao chê ngỏng, thấp chê lùn.
Béo chê béo trục béo tròn,
Gầy chê xương sống xương sườn phơi ra.

Cùng một sự việc, nhưng người thì nói thế này, kẻ thì lại nói thế khác, người thì đánh giá một đàng, kẻ thì lại đánh giá một nẻo…Thành thử, những sự phát biểu cứ thiên biến vạn hóa, cứ loạn cào cào, đến quỷ thần cũng không lường nổi.

Tuy nhiên, sự đánh giá của chúng ta thường dựa vào những yếu tố chủ quan hơn là khách quan. Vậy những yếu tố chủ quan ấy là như thế nào ?
Yếu tố thứ nhất, đó là tình cảm. 

Tục ngữ thường bảo :
- Yêu nên tốt, ghét nên xấu.
Và ca dao cũng đã quảng diễn ý tưởng trên bằng nhiều hình ảnh rất cụ thể :
- Yêu nhau, trầu vỏ cũng say,
Ghét nhau, cau đậu đầy khay chẳng màng.
- Yêu nhau, xé lụa may quần,
Ghét nhau, kể nợ kể nần nhau ra.
- Yêu nhau, bốc bải dần sàng,
Ghét nhau đũa ngọc, mâm vàng chẳng ăn.
- Yêu nhau, yêu cả đường đi,
Ghét nhau, ghét cả tông chi họ hàng.

Tình cảm là như một cặp kính đeo trên mắt. Khi yêu thì nó là màu hồng, còn khi ghét thì nó là màu xám, và sự đánh giá của chúng ta cũng theo đó mà thay đổi. 

Sách “Cổ Học Tinh Hoa” có một mẩu chuyện kể lại rằng :
Trước kia, vua nước Vệ rất yêu thương Di Tử Hà. Cái phép nước Vệ, ai đi trộm xe của vua, thì phải tội chặt chân. Mẹ của Di Tử Hà ốm nặng. Đêm khuya có người đến gọi, Di Tử Hà vội vàng lấy xe của vua mà ra đi. Vua nghe thấy khen rằng :

- Có hiếu thật ! Vì hết lòng với mẹ mà quên cả tội chặt chân.
Lại một hôm, Di Tử Hà theo vua đi chơi ở ngoài vườn, đang ăn quả đào, thấy ngọt, còn một nửa bèn đưa cho vua ăn. Vua khen :

- Yêu ta thật ! Của đang ngon miệng mà cũng biết để nhường cho ta.
Về sau, vua không còn yêu thương Di Tử Hà như trước nữa. Một hôm 

Di Tử Hà phạm lỗi, vua giận nói rằng :


- Di Tử Hà trước dám liều lấy xe củ ta mà đi. Lại một lần dám cho ta ăn quả đào thừa. Thực mang tội với ta đã lâu ngày.

Nói xong bèn đem Di Tử Hà ra trị tội.
Tác giả sách “Cổ Học Tinh Hoa” đã ghi thêm lời bàn của mình như sau :
Sự yêu ghét thường làm cho người ta mờ đi, không rõ được cái giá trị của người được yêu hay bị ghét ra thế nào. Không nói gì yêu người này, ghét người nọ, cũng chỉ một người ấy, lúc yêu cho ra thế này, còn lúc ghét cho ra thế kia. Cái thói thường yêu thì nên tốt, ghét thì nên xấu, khen chanh thì chanh ngọt, chê hồng thì hồng chua. Trong bụng đã thế, thì cư xử chắc cũng theo như thế, lúc yêu hậu bao nhiêu, thì đến lúc ghét lại bạc gấy nhiêu.

- Yêu nhau, cau bảy bổ ba,
Ghét nhau, cau bảy bổ ra làm mười.

Lại chẳng những yêu ghét riêng một người, mà thường yêu ghét đến cả những sự hay những người có can thiệp đến người ấy :

- Yêu nhau, yêu cả tông chi,
Ghét nhau, ghét cả đường đi lối về.

Kinh nghiệm trên lại càng trúng phóc hơn nữa đối với những người đang yêu, bởi vì lúc bấy giờ :

- Yêu nhau muôn sự chẳng nề,
Một trăm chỗ lệch, cũng kê cho bằng.

Đã đeo cặp kính tình yêu vào rồi, thì ở mọi nơi và trong mọi lúc đều thấy cuộc đời toàn màu hồng. Ngay cả những sai lỗi, khuyết điểm của “người ấy” cũng trở nên duyên dáng và dễ thương :

- Lỗ mũi em mười tám gánh lông,
Chồng yêu, chồng bảo : “Râu rồng trời cho”.
Đêm nằm thì ngáy o o…
Chồng yêu, chồng bảo : “Ngáy cho vui nhà”.
Đi chợ thì hay ăn quà,
Chồng yêu, chồng bảo : “Về nhà đỡ cơm”.
Trên đầu những rác cùng rơm,
Chồng yêu, chồng bảo : “Hoa thơm rắc đầu”.

Yếu tố thứ hai, đó là thành kiến. 
Thành kiến là những ý nghĩ đã có sẵn, khó mà thay đổi. Nó chính là một cục sạn nằm trong đầu óc của chúng ta. Khi đã có cục sạn ấy, thì khó mà lay chuyển.

Cũng như tình cảm, thành kiến giống như một cặp kính đeo trên mắt, khi có những ý nghĩ tốt thì nó màu hồng, còn khi có những ý nghĩ xấu thì nó trở thành màu xám.

Chẳng hạn một ông bố luôn nghĩ rằng : 

- Con nít thì biết cái quái gì.
Rồi từ đó ông kết luận

- Phàm những gì con nít làm, đều là đồ bỏ, chẳng đáng một đồng xu cắc bạc nào cả.

Chuyện rằng :
Tagore là một thi sĩ Ấn Độ, nổi tiếng cả và thế giới. Hồi còn nhỏ, ngày kia cậu nhóc làm được một bài thơ và đưa cho ông bố coi thử. Chẳng biết ông bố có đọc hết hay không, nhưng liền nhăn mũi mà bảo :
- Dở ẹc.
Ngày hôm sau, cậu nhóc lại sáng tác một bài thơ khác và cũng đưa cho ông bố coi thử. Lần này ông bố liền kê tủ đứng vào mũi cậu nhóc :
- Đúng là bài thơ …con cóc.
Bực quá, cậu nhóc bèn chơi trò láu cá, cậu nghĩ ra một cái mưu nho nhỏ, đó là đem bài thơ vừa mới làm xong, chép lại cẩn thận, rồi ghi thêm xuất xứ từ trong một tập thơ cổ.
Lần này thì ông bố cứ đọc đi đọc lại, rồi vỗ đùi đánh đét một phát và phán :
- Tuyệt vời, tuyệt vời, còn trên cả tuyệt vời nữa.

Sau đó, ông bố đem bài thơ khoe với anh con trai lớn, đang làm chủ nhiệm một tờ báo văn học. Cả hai bố con đều tấm tắc khen lấy khen để, rồi lại còn muốn đem trình làng cho bà con thiên hạ cùng thưởng thức. Và để cho ăn chắc, bèn bảo cậu nhóc đem cuốn thơ cổ ra để đối chiếu.

Tới lúc đó thì mới vỡ lẽ ra : bài thơ ấy chính là của cậu nhóc. Ông bố bèn giận sôi lên sùng sục, nhưng cũng cảm thấy thán phục cậu nhóc và hối hận cho thái độ mâu thuẫn của mình.

Khi đã có cục sạn trong đầu, chúng ta khó mà nghĩ tốt và đánh giá cao những lời nói và việc làm của người khác.

Cách đây đã lâu, gã được đọc một bài phỏng vấn Đức Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Bình trên tờ Paris Match.

Người ta hỏi Đức Tổng :
- Ngài có sợ Cộng sản hay không ?
Đức Tổng vô tư trả lời :
- Có chứ. Cho đến bây giờ, tôi vẫn còn sợ Cộng sản.
Thì ra cũng như bao nhiêu người Công giáo Việt Nam, trong đầu óc Đức Tổng đã có một cục sạn nhỏ cho rằng :
- Công giáo không thể đi đôi với Cộng Sản, như vô thần không thể đứng chung liên danh với hữu thần. Nghĩ tới Cộng sản là nghĩ tới đấu tố, bắt bớ và cấm cách…

Trong khi đó, người Cộng sản Việt Nam cũng mang một cục sạn khá to trong đầu óc khi nhìn những người Công giáo như những kẻ chạy theo thực dân và làm tay sai tư bản, cản bước tiến của cách mạng, cho nên cần phải kìm kẹp, cần phải giới hạn và cần phải “sì tốp” bớt những sinh hoạt, ít nữa là bằng cách bắt chui đầu vào cái rọ của cơ chế “xin-cho”.

Trái lại, một khi đã có những thành kiến tốt, những ý nghĩ đẹp về người khác, chúng ta sẽ dễ dàng đánh giá cao những lời nói và những việc làm của họ, và xem đó như khuôn vàng thước ngọc để noi theo. Cho dù những lời nói và những việc làm ấy có ngớ ngẩn đến đâu chăng nữa thì cũng vẫn được coi như thần, như thánh.

Một cô đào nổi tiếng vừa mới lên xe hoa về nhà chồng. Mấy chàng nhà báo lẽo đẽo chạy cheo với đủ cả máy chụp hình, máy quay phim cùng mọi thứ phụ tùng lỉnh kỉnh khác nữa, khiến mồ hôi mồ kê vãi ra như tắm.

Câu hỏi duy nhất được đặt ra, đó là :
- Tại sao cô lại lấy anh ta làm chồng ?

Và cô đào nổi tiếng này đã trả lời một cách hết sức bất ngờ :
- Sở dĩ tôi lấy anh ta làm chồng chỉ vì anh ta là….đờn ông.

Nếu suy nghĩ một chút thì câu trả lời này nào có điều chi hay ho và lạ lẫm. Nó cũ như trái đất. Nó giống như một câu danh ngôn đã xác quyết :
- Chẳng có gì mới dưới ánh nắng mặt trời.
Đã lấy chồng, thì đương nhiên anh chồng phải là đờn ông con giai, chẳng lẽ anh chồng ấy lại là đờn bà con gái hay sao ? Ngoại trừ trường hợp cô đào nổi tiếng này dân “pê-đê”, chuyên xài “săng pha nhớt”.

Thế nhưng, mấy anh nhà báo này lại mừng quýnh và cho rằng câu trả lời ấy thật nảy lửa, thật tuyệt chiêu, còn hơn là cả một sáng kiến mới.
Cũng giống như ông thày bói, một khi đã tạo được cái uy tín nơi mấy bà mấy cô và bắt đầu hốt ra bạc, lúc bấy giờ dù có tán hươu tán vượn, thì mấy bà mấy cô hâm mộ vẫn cứ quì gối nhắm mắt mà tin theo, coi như thần bảo và thánh phán :

- Số cô chẳng giàu, thì nghèo,
Ba mươi tết có thịt heo trong nhà.
Số cô có mẹ có cha,
Mẹ cô đàn bà, cha cô đàn ông.
Số cô có vợ, có chồng,
Sinh con đầu lòng chẳng gái thì trai.

Chuyện rằng :
Ngày kia người ta dọn lên cho thánh Don Boscô một chiếc bánh “ga tô” thật ngon. Trong lúc đó có hai bà cùng ngồi nói chuyện với ngài.
Hai bà đưa mắt quan sát xem ngài sẽ ăn chiếc bánh “ga tô” này như thế nào.

Bà này ghé vào tai bà kia và nói :
- Cha Don Bosco là một vị thánh sống, tôi tin chắc ngài chỉ ăn một chút xíu mà thôi.
Nghe thấy vậy, ngài bèn cầm lấy một con dao, cắt một miếng bánh ngọt thật to, rồi ăn ngồm ăn ngoàm, ăn lấy ăn để, thậm chí còn phùng cả má và trợn cả mắt, suýt nừa thì mắc nghẹn. Rồi sau đó, uống một ly cối nước trà nóng và tỏ ra khoái trá, cứ y như dân phàm ăn tục uống vậy.
Trước sự việc bất ngờ này, bà kia bèn ghé vào tai bà này và cũng khẽ nói :

- Thánh nhân là thế đó, ngài ăn uống như vậy trước mặt chúng ta là cố ý tỏ ra rằng ngài không phải là thánh như mọi người vốn thường nghĩ tưởng. Ôi sự khiêm nhường của ngài quả là cao vòi vọi…

Sống trên đời, ai trong chúng ta cũng đều mong muốn được người khác yêu thương.
Tuy nhiên để được người khác yêu thương, chúng ta cần phải trở nên một người khả dĩ yêu thương được. Chứ lúc nào cũng kiêu căng hợm hĩnh, lúc nào cũng vênh vang tự đắc…thì ai mà yêu thương cho nổi.

Chuyện rằng :
Dương Chu sang nước Tống, đến ở trọ một nhà kia. Chủ nhà trọ có hai người thiếp. Một người đẹp và một người xấu. Dương Chu thấy trong nhà ai cũng quí mến người thiếp xấu mà khinh chê người thiếp đẹp, lấy làm lạ bèn hỏi dò thằng trẻ con trong nhà trọ, thì nó trả lời rằng :
- Người thiếp đẹp tự tôn là đẹp mà mất đẹp, tôi chẳng biết cái đẹp của nàng nữa. Còn người thiếp xấu tự biết là xấu mà quên xấu, tôi chẳng biết cái xấu của nàng nữa.
Dương Chu gọi học trò lại mà bảo :
- Các con nhớ lấy câu ấy. Người ta giỏi mà bỏ được cái nết “tự cho mình là giỏi”, thì đi đến đâu ai mà chẳng tôn trọng, chẳng yêu quí.
Sống trên đời, ai mà chẳng mong muốn được người khác nghĩ tốt về mình và đánh giá cao những việc mình làm.
Tuy nhiên, để được nghĩ tốt và được đánh giá cao như thế, chúng ta cần phải tạo ra những ý nghĩ tốt, những thành kiến đẹp và những tình cảm nồng hậu nơi những người chung quanh.

Chuyện rằng :
Mạnh Thường Quân nhà giàu cho vay mượn nhiều. Một hôm sai Phùng Huyên sang đất Tiết đòi nợ. Lúc sắp đi, Phùng Huyên hỏi :
- Tiền nợ thu được, có định mua gì về không ?
Mạnh Thường Quân trả lời :
- Ngươi xem trong nhà ta còn thiều thứ gì, thì mua.
Khi đến đất Tiết, Phùng Huyên cho gọi dân lại và bảo :
- Các ngươi công nợ bao nhiêu, Mạnh Thường Quân đều tha cho cả.
Nói đoạn, bèn đem văn tự ra đốt sạch.
Lúc về, Phùng Huyên thưa với Mạnh Thường Quân :
- Nhà tướng công châu báu đầy kho, chó má đầy chuồng, người đẹp đầy nhà, không còn thiếu thứ gì nữa. Chỉ còn thiếu một cái “nghĩa”, tôi trộm phép vì Tướng công đã mua về.
Mạnh Thường Quân nghe nói thế, cũng không hỏi gì đến tiền nữa.
Sau Mạnh Thường Quân phải bãi quan về ở đất Tiết. Dân đất Tiết nhớ đến ơn xưa, ra đón rước đầy đường. Mạnh Thường Quân bấy giờ mới ngoảnh lại bảo Phùng Huyên rằng :
- Trước tiên sinh vì tôi mua “nghĩa”, nghĩa ấy ngày nay tôi mới trông thấy.
Nếu gã nhớ không lầm thì ông thánh Augustinô có lần đã nói :
- Hãy yêu, rồi muốn làm gì thì làm.
Cùng một thể thức ấy, gã xin được nhái theo :
- Hãy tạo cho mình những hình ảnh đẹp, những ý nghĩ tốt nơi người khác, rồi muốn làm gì mà chẳng được.
Hay như trên gã cũng đã phát biểu :
- Để được yêu thương, thì điều cần thiết là phải trở nên một người khả dĩ…yêu thương được.

Gã Siêu

 

Chuyện Gã Siêu 125: Lệch

Lệch Chuyện Gã Siêu 125


Theo Tự Điển Việt Nam của Lê Văn Đức, chữ lệch có hai nghĩa chính: 1- Lệch là xéo, nghiêng qua Chuyện Gã Siêu 125

Theo Tự Điển Việt Nam của Lê Văn Đức, chữ lệch có hai nghĩa chính:
1- Lệch là xéo, nghiêng qua một bên, chẳng hạn như chênh lệch, thiên lệch.
2- Lệch là so le, không đều, không bằng, chẳng hạn như đũa lệch.
Trong mục chuyện phiếm hôm nay, gã xin bàn về hiện tượng lệch, nhất là trong phạm vi tình yêu.

Lệch
TRƯỚC HẾT, LỆCH LÀ NGHIÊNG QUA MỘT BÊN
Nếu hiểu lệch là nghiêng về một bên, theo kiểu: Ai đội mũ lệch, xấu mặt người ấy, thì trong phạm vi tình cảm, hiện tượng lệch cũng chỉ là một hiện tượng rất bình thường. Thực vậy, khi bàn về cái đẹp, có người đã phát biểu: Đẹp là con cóc cái dưới mắt con cóc đực. Lời phát biểu này muốn nói lên rằng: Trên cõi đời này chỉ có cái đẹp chủ quan, chứ chẳng hề có cái đẹp khách quan, được xác định bằng những số đo lý tưởng của vòng số một, vòng số hai và vòng số ba.
Cũng thế, khi bàn về tình yêu, có người cũng đã phát biểu: Con tim có những lý lẽ riêng của nó. Lời phát biểu này cũng muốn nói lên rằng: Tình yêu là một cái gì rất mực riêng tư, đặt căn bản trên những yếu tố hết sức chủ quan, khiến nó trở thành như một mầu nhiệm, mà người ngoài không tài nào hiểu nổi. Chính vì thế mà trong tình yêu, luôn xảy ra những chuyện chéo cẳng ngỗng. Chẳng hạn bà mẹ vì thương đã chọn vợ cho anh con giai. Cô gái được bà mẹ chấm vừa đẹp người lại vừa đẹp nết, thế mà anh con giai cứ lắc đầu nguầy nguậy, để rồi cuối cùng rước về dinh một cô gái vừa xấu lại vừa đen, cứ vô tư ăn nói bô bô, cái dáng bên ngoài là dáng đờn bà, nhưng cái cốt bên trong lại là cốt đờn ông! Chẳng hạn gã có một anh chàng học trò tên là Dũng. Ngay từ hồi còn học lớp đệ thất đã được bè bạn đặt cho cái hỗn danh là Dũng…đen. Dũng đen không phải vì cứ vác banh ra đá vào giữa trưa với cái nắng chói chang của vùng Thất Sơn, nhưng đen từ cái “gien” trong bụng đen ra. Thế nhưng anh chàng Dũng đen này lại lấy được một cô vợ trắng nõn trắng nà, trắng còn hơn cả trứng gà bóc, khiến bàn dân thiên hạ cứ tưởng chị ta là một…cô đầm chính hiệu Pháp quốc!
Vốn mang tích cách chủ quan, nên tình cảm thường nghiêng về bên này, hoặc ngả sang bên kia, khó có ai yêu thương một cách đồng đều. Hiện tượng được gọi là thiên tư, thiên vị và có mặt ở nhiều lãnh vực khác nhau.

Thứ nhất là trong gia đình.
Con cái hay kêu la trách móc cha mẹ vì thương đứa này mà ghét đứa kia. Có những “đứa con bất đắc dĩ”, mà ngay từ khi cất tiếng khóc chào đời, dường như đã bị cha mẹ bỏ quên, và nếu có chấp nhận, cũng chỉ vì miễn cưỡng mà thôi. Khi lớn lên, những đứa con này được khen thì ít, mà bị chê thì hơi nhiều. Chẳng hạn: Mày là đứa con thiếu tháng, nên chân tay hậu đậu, đụng vô chuyện nào là hỏng chuyện nấy. Đôi khi gã cũng thấy trong gia đình, có những đứa con được diễn tả là “ngồi nhà mát mà ăn bát vàng”, có nghĩa là được “cưng như cưng trứng, hứng như hứng hoa”, chẳng phải đưa ngón tay ra lay thử bất kỳ công việc nào. Còn ăn uống, thì bao giờ cũng được dành cho miếng to hơn, miếng ngon hơn. Trong khi đó, những đứa con khác phải làm đầu tắt mặt tối với những công việc nặng nhọc, mà chẳng dám mở miệng than van, oán trách. Cựu Ước kể lại câu chuyện về tổ phụ Giuse như sau: Giacóp rất yêu thương Giuse, vì Giuse là con út, lại được sinh ra trong lúc ông đã già. Ông may cho Giuse một chiếc áo choàng dài tay…Tất cả những điều đó đã làm cho những người anh sinh lòng ghen ghét. Họ càng bực bội tức tối hơn nữa khi Giuse kể cho họ nghe giấc mơ về những bó lúa của các anh bỗng nghiêng mình chào kính bó lúa của Giuse, cũng như giấc mơ mặt trời, mặt trăng và mười một ngôi sao bỗng sụp lạy Giuse. Cuối cùng, chính vì lòng ghen ghét mà những người anh đã tìm cách ám hại Giuse và bán Giuse sang Ai Cập.
Đứng trước hiện tượng con yêu con ghét và nếu chẳng may mình lại là đứa con bị ghét, thì cũng hãy bình tĩnh tìm hiểu, đừng vội kết án cha mẹ, bởi vì cha mẹ có quyền yêu thương đứa con đau yếu hơn đứa con khỏe mạnh, đứa con ngoan ngoãn vâng lời hơn đứa con cứng đầu ngỗ nghịch. Nhiều lúc phải đấm ngực mình mà rằng: Lỗi tại tôi, lỗi tại tôi mọi đàng. Chính vì những sai lỗi của mình đã làm cho mình trở thành kẻ dễ bị ghét.

Thứ hai là ngoài xã hội.
Rời khỏi ngưỡng cửa gia đình, đứa bé bước chân vào xã hội và môi trường đầu tiên đứa bé được tiếp xúc, chính là nhà trường. Và tại đây cũng đã thấy xuất hiện sự thiên tư, thiên vị. Tình cảm của thầy cô nghiêng về đứa học trò này hơn đứa học trò kia.
Thực vậy, gã đã từng chứng kiến: Có đứa học trò hầu như lúc nào cũng được điểm cao, hầu như lúc nào cũng được thầy cô sai bảo việc nọ việc kia, hầu như lúc nào cũng được khen ngợi trước bàn dân thiên hạ. Trong khi đó, cũng có những đứa học trò bị thầy cô… đì, cứ nhìn thấy cái bản mặt là đã không ưa.
Đây cũng chỉ là chuyện bình thường, ngay như Chúa Giêsu trong nhóm mười hai tông đồ, Ngài cũng đã dành cho Phêrô, Giacôbê và Gioan những tình cảm đặc biệt hơn.
Ngay cả đến ông trời, hình như cũng đối xử không được công bằng cho lắm. Có người mở mắt chào đời đã được phú ban cho một sắc đẹp “chim sa cá lặn”, “nghiêng thành lệch nước”, có kẻ sinh ra đã phải ngậm đắng nuối cay số kiếp “em là gái trời bắt xấu”. Và ca dao cũng đã từng diễn tả:
– Trời sao trời ở chẳng cân,
 Người ăn không hết, kẻ lần chẳng ra.

TIẾP ĐẾN, LỆCH LÀ SO LE
Khi nói lệch là so le, thì cũng có nghĩa là không đều, không bằng, để rồi dẫn tới những sự khác biệt. Trong cuộc sống, gã nhận thấy có những cái lệch tạo nên vẻ đẹp. Chẳng hạn trong một bức tranh có màu nhạt, thì cũng phải có màu thẫm, có màu lạnh thì cũng phải có màu ấm và luật phối cảnh quy định bên cạnh một cây cao thì phải có căn nhà thấp. Cũng vậy, trong một bản nhạc có nốt trầm thì cũng phải có nốt bổng, có nhịp mạnh thì cũng phải có nhịp yếu. Tuy nhiên, có những cái lệch không được đẹp mắt cho lắm. Chẳng hạn cái lệch về thước tấc của một đôi vợ chồng trẻ, như ca dao đã diễn tả :
– Bây giờ chồng thấp vợ cao,
  Như đôi đũa lệch so sao cho vừa.
Riêng trong phạm vi tình yêu, có một cái lệch dễ gây va chạm và đổ vỡ, đó là lệch “gu”, khác biệt nhau về sở thích. Thực vậy, chúng ta thường nói: Cha mẹ sinh con, trời sinh tính. Cha mẹ chỉ sinh ra hình hài bên ngoài của đứa con còn tính tình bên trong của nó, thì do trời đem lại. Chuyện rằng: Doãn Văn Tử thấy con không giống mình, nên giận lắm, cứ đánh đập nó luôn. Một hôm nói với Tử Tư rằng: Vì không giống tôi, nên nó không phải là con của tôi. Tôi nghi ngờ mẹ nó có ngoại tình mà đẻ ra nó, nên tôi muốn bỏ nó. Tử Tư nghe vậy liền bảo: Cứ như ông nói thì vợ vua Nghiêu, vua Thuấn cũng đáng ngờ ư? Hai ông này là bậc thánh đế, mà sao đẻ ra Đan Chu và Thương Quân thực không bằng kẻ thất phu. Như thế thì con cứ gì phải giống cha? Cái đạo thường thì cha mẹ làm sao đẻ con ra làm vậy. Nhưng cha hiền mà đẻ ra con ngu, thì cũng là thế thường tự nhiên, chớ nào phải tội người vợ. Doãn Văn Tử nghe hiểu ra, nên không từ con bỏ vợ nữa.
Nếu suy nghĩ, gã thấy cái “gu”, hay cái sở thích cũng là một yếu tố nhỏ bé góp phần vào việc hình thành tính tình riêng của một con người. Nếu bảo rằng: Bá nhân bá tánh, mỗi người có một tính tình riêng. Thì cũng có thể nói được rằng: Bá nhân bá…thích, mỗi người đều có một sở thích, một cái “gu”riêng. Đúng là năm người thì mừơi ý, cứ như trăm hoa đua nở. Ngay cả trong đời sống vợ chồng cũng rứa. “Thế nào là một cặp vợ chồng lý tưởng ?” Đó là tựa đề một chương trình truyền hình, gây được nhiều thích thú cho người xem. Từng cặp vợ chồng xuất hiện riêng rẽ trước ban giám khảo và trả lời những câu hỏi được đặt ra. Nếu cặp vợ chồng nào có được những câu trả lời hoàn toàn giống nhau, thì sẽ được chọn làm cặp vợ chồng lý tưởng.
Thí dụ ban giám khảo hỏi: Bạn muốn ăn gì? Nếu người chồng trả lời là cà ghém mắm tôm, thì người vợ cũng phải trả lời là cà ghém mắm tôm, thì mới được điểm. Thí dụ ban giám khảo hỏi: Bạn muốn tiết kiệm trước hay mua sắm trước? Nếu người vợ trả lời là tiết kiệm trước, thì người vợ cũng phải trả lời là tiết kiệm trước, thì mới được điểm. Thí dụ ban giám khảo hỏi: Bạn sợ gì? Nếu người vợ trả lời là sợ ma, thì người chồng cũng phải trả lời là sợ ma, thì mới được điểm. Xem như vậy, thì có lẽ chẳng bao giờ tìm được một cặp vợ chồng lý tưởng, hoàn toàn giống nhau trong mọi sở thích, trong mọi vấn đề.
Bước vào hôn nhân, chúng ta không hủy diệt những khác biệt của nhau, nhưng tìm cách sống chung với những khác biệt ấy. Tuy nhiên, nếu không cố gắng, thì những khác biệt ấy sẽ trở thành đầu mối sinh ra những căng thẳng và đổ vỡ. Gã xin liệt kê nơi đây một số những khác biệt về sở thích, một số những trường hợp lệch “gu”, để bàn dân thiên hạ cùng suy gẫm và tìm cách giải quyết.

Về quan niệm sống
Người thì thích mua sắm và trang bị cho gia đình đầy đủ mọi tiện nghi, bởi vì phải an cư rồi mới lạc nghiệp. Kẻ chỉ muốn tiết kiệm, rồi dần dần mua sắm, để khỏi vay công mắc nợ, bởi vì tích tiểu thành đại, kiến tha lâu cũng đầy tổ. Người thì thích giao lưu rộng rãi, tham gia các phong trào, các đoàn thể, kết bè kết bạn để được thăng tiến ngoài xã hội. Kẻ chỉ muốn tạo bầu khí thân mật trong gia đình, chỉ cần có vợ chồng và con cái mà thôi. “Hai vợ chồng trẻ đã cãi nhau kịch liệt về quan hệ bè bạn của mình. Vợ thì không chịu nổi việc bất cứ người nào anh chồng cũng chơi được, bởi vì theo anh ta, mỗi người đều có những mặt hay, những mặt dở, quan trọng là mình biết chọn ra những điểm phù hợp để chơi, chứ không như chị, lúc nào cũng rặt mấy cô bạn từ thời phổ thông cho đến giờ, không muốn mở rộng mối quan hệ mới mẻ nào nữa, thì làm sao chịu nổi. Đờn ông thì phải giao du rộng rãi…” (Gia đình, số 49, năm 2006).

Về chuyện giải trí
Người thì mê bóng đá, kẻ chỉ thích bóng chuyền. Người thì khoái phim Mỹ, kẻ chỉ khoái phim Hàn. Người thì thích nhạc rock, kẻ chỉ yêu nhạc trữ tình. Người thì kết sách khoa học kỹ thuật, kẻ chỉ kết sách văn học với những truyện tình lãng mạn.
Tôi quen biết một anh chồng trẻ mê bóng đá, được liệt vào hàng tín đồ của túc cầu giáo. Dù sớm hay dù muộn, dù ngoại quốc hay Việt Nam, anh đều không bỏ qua một trận nào cả. Có những trận đấu quốc tế ở bên Tây, bên Mỹ được truyền hình vào hai ba giờ sáng, anh cũng vẫn chịu khó ngồi coi. Ngặt một nỗi nhà chỉ có một chiếc TV, được đặt trong phòng ngủ. Để khỏi làm cho chị vợ bị mất giấc ngủ, hay lẩm bẩm càu nhàu, anh đã phải lấy mền trùm kín người và trùm lên cả chiếc tivi, không cho âm thanh và ánh sáng lọt ra ngoài, rồi thu mình trong đó mà theo dõi trận đấu. Đôi lúc hứng chí, quên béng mất sự đề cao cảnh giác, anh cũng vẫn gào lên: Vào. Hay: Dzô. Có chị vợ đã biểu lộ sự bực bội của mình như sau: Thỉnh thoảng vào những dịp lễ hay kỷ niệm ngày cưới, mình cũng muốn thiết kế một bữa ăn có nến, hoa và nhạc cho thêm phần thú vị, thì anh chồng lại chê vợ là sến. Mình mở nhạc trữ tình, thì anh chồng lại tắt ngay, và thay vào đó là những bản nhạc rap sôi động. Nhà có mỗi cái tivi, nên đôi khi vợ chồng giận nhau vì chẳng ai nhường ai, người đòi xem phim hành động, kẻ đòi xem phim tình cảm, người đòi xem tin tức thời sự, kẻ đòi xem ca múa nhạc. (Phụ nữ Chủ Nhật, số 50, ra ngày 17.12.2006).

Về chuyện ăn uống
Người thì thích canh chua cá lóc, kẻ chỉ thích canh thịt dồn khổ qua. Người thì muốn ăn mặn, kẻ chỉ muốn ăn ngọt. Người muốn ăn cơm khô, kẻ chỉ muốn ăn cơm nhão. Thành thử mỗi  khi cơm gần chín, chị vợ bèn phải đổ thêm nước sôi vào một bên, để tạo thành một nồi cơm nửa khô nửa nhão. Một chị vợ khác đã tâm sự: Mình thích các món canh có vị chua và cá rán, nhưng biết khẩu vị đó không hợp với chồng, nên cũng cố chiều chồng, làm những món ăn hợp với khẩu vị của anh ta. Một vài bữa thì được, nhưng quanh năm suốt tháng như thế thì chị thấy khó quá, không ăn nổi. Vì thế, bữa cơm chỉ có hai người, nhưng bao giờ cũng có hai bát canh, hai món thức ăn hoàn toàn khác nhau. Những hôm đi làm về mệt mỏi, chị làm qua loa bữa cơm, thế là anh ta giận sự không quan tâm của vợ, bỏ ra quán cơm đầu ngõ. Chị tự ái. Hai người thấy lòng cách xa dần”. (Gia đình, số 49, năm 2006).
Để kết luận, gã xin ghi lại nơi đây cách “giáo dục sở thích của chồng” mà một chị vợ đã áp dụng, để cùng nhau gẫm suy: Anh rất thích ăn canh khổ qua, còn tôi thì không ưa đắng mà lại thích chua. Để vừa lòng “ông xã”, tôi bèn nấu cho anh một tô canh khổ qua và luộc thêm một tô rau muống, lấy nước vắt chanh cho riêng mình, cũng là để mâm cơm thêm phần phong phú. Tôi cứ tưởng ông xã sẽ vui khi có đến hai thứ để lựa chọn, nhưng thật bất ngờ, khi bưng mâm cơm lên bàn, anh yên lặng nhíu mày và buông một câu buồn bã: Em đem mâm cơm xuống đi. Tôi ngạc nhiên hỏi: Tại sao vậy? Anh nghiêm mặt trả lời: Chỉ có hai vợ chồng mà mỗi người một tô canh, mất tình cảm quá.
Thực sự tôi rất buồn, nhưng nghĩ lại anh đang muốn được thể hiện cái “tôi” của đấng mày râu, khi mới bắt đầu làm chồng. Tôi đành yên lặng bưng tô canh “sở thích” của mình đem đi đổ. Và quả thật, như một người thắng thế, ông xã tôi đã tươi cười suốt cả bữa cơm hôm ấy. Từ đó, tôi cố công tìm hiểu những sở thích của ông xã và nếu thấy “chấp nhận được”, tôi luôn làm theo. Điều đó khiến ông xã tôi luôn cảm thấy hài lòng về tôi. Mỗi lần đi chợ, tôi lại đùa: Còn thích đắng nữa không? Và lại nhận được từ anh một nụ cuời. Phần tôi dần dà cũng “ghiền” luôn vị đắng cúa bát canh mà chồng tôi thích. Còn anh thì đắng mãi cũng đâm chán. Biết thế nhưng tôi cứ vờ như đang được chiều anh, vẫn tiếp tục bát canh đắng hàng ngày và chờ một ngày anh tự yêu cầu thay đổi.
Hình như được chiều quá, chồng tôi cũng đâm quen và cứ coi sở thích của mình là tối thượng. Một lần tôi thực hiện món kho có ngũ vị hương mà tôi rất thích. Bữa ấy, ngồi vào mâm cơm, anh lại nhăn mũi: Mùi thế này, ngon gì, sao mà ưa thế? Tôi im lặng, không phản ứng gì, cũng không đem cất món kho đi, ngược lại tôi ngồi “chén” món kho này một cách ngon lành. Vài hôm sau, tôi lại cố tình nấu một món kho có ngũ vị hương, nhưng không quên nấu một món khác tương tự mà anh rất thích. Bữa ăn được dọn lên và tôi chờ đợi. Quả nhiên chồng tôi lại tiếp tục câu nói hôm trước:
Mùi thế này, ngon gì, sau mà ưa thế? Bây giờ tôi không yên lặng nữa: Em đã tôn trọng sở thích của anh rất nhiều, đúng không? Vì anh, em đã “ghiền” món canh khổ qua mà trước đây em rất ghét. Vậy tại sao anh lại không tôn trọng sở thích của em? Anh không thích mùi ngũ vị hương, thì đã có món khác cho anh. Chẳng lẽ em không được quyền thích một món nào cho riêng mình sao? Ban đầu, anh có vẻ bất ngờ, nhưng rồi anh lại yên lặng. Và chị đã cứu được một bàn thua trông thấy.
Tác giả Ngọc Bích đã kết luận như sau: Hai con người khác nhau sống chung dưới một mái nhà, tránh sao cho khỏi những bất đồng về cá tính, sở thích, góc độ đánh giá, cảm nhận, kinh nghiệm, kiến thức, quan điểm sống. Vấn đề là cả hai có biết chấp nhận và cùng nhau khắc phục hay không mà thôi. Những bất hòa nho nhỏ, nếu mỗi cá nhân không chú ý ứng xử tế nhị thì sự khó chịu dần dần làm lòng người trở nên băng giá, lâu dài sẽ trở thành vô cảm. Khi xảy ra “sự cố”, phải biết đâu là giới hạn, đâu là điểm dừng…tránh tình trạng” kẻ chua, người đắng”. Ai cũng có “cái tôi”. Dẹp bỏ bớt đi “cái tôi” của từng người, để dung hòa lẫn nhau, sẽ giúp nuôi dưỡng tình yêu và giữ vững hạnh phúc gia đình. (Phụ Nữ Chủ Nhật, số 52, ra ngày 31.12.2006).
Gã Siêu

 

Chuyện Gã Siêu 126: Khi đờn bà nắm quyền

Khi đờn bà nắm quyền Chuyện Gã Siêu 126

Vừa mới nhận được một chuyện vui nho nhỏ, viết về đờn bà con gái, gã xin kể lại đây để bàn Chuyện Gã Siêu 126

Vừa mới nhận được một chuyện vui nho nhỏ, viết về đờn bà con gái, gã xin kể lại đây để bàn dân thiên hạ cùng suy gẫm và nhận định xem thực hư như thế nào.Số là ông vua xe hơi, Henry Ford, sau khi chết được đưa lên thiên đàng.
 Tại cổng thiên đàng đã có thánh Phêrô đứng chờ sẵn để đón chào. Vừa gặp ông ta, thánh Phêrô đã mỉm cười và cho biết :
- Hồi còn sống, ngươi đã làm nhiều điều lợi ích cho xã hội, chẳng hạn như đã sáng chế ra phương pháp dây chuyền, làm cho kỹ nghệ xe hơi thay đổi cả và thế giới. Với thành quả này, ngươi sẽ được một ân huệ, đó là có thể chuyện trò với bất cứ ai ở trên thiên đàng.Suy nghĩ một lát, ông ta xin được gặp Thượng Đế. Và thế là thánh Phêrô bèn lập tức dẫn ông ta ra mắt Thượng Đế. Vừa gặp Ngài, ông ta liền hỏi ngay:
- Thưa Ngài, lúc chế tạo ra đờn bà con gái, Ngài đã suy nghĩ như thế nào ?Thượng Đế nghe xong, bèn vặn lại :
- Ngươi nói như vậy là có ý nghĩa gì ?Ông ta bèn trả lời :
- Sản phẩm của Ngài còn có quá nhiều sơ sót. Phía trước thì bị phồng lên, còn phía sau thì lại bị nhô ra. Máy thường kêu to mỗi khi chạy nhanh. Tiền bảo trì và nuôi dưỡng quá cao. Thường xuyên đòi hỏi nước sơn mới. Cứ đi hai mươi tám ngày, thì lại bị chảy nhớt và không làm việc được. Chỗ bơm xăng và ống xả lại quá gần nhau. Đèn trước hơi bị nhỏ. Tiêu thụ nhiên liệu thì nhiều khủng khiếp.Thượng Đế nghe qua liền bảo :
- Ngươi hãy đợi ta một chốc để ta xem lại bản thiết kế.Thượng Đế bèn cho triệu tập toàn bộ các kỹ sư thiết kế và cơ khí trên thiên đàng lại để xem xét quá trình thi công. Sau một thời gian..."ngâm kíu", họ trình lên Thượng Đế một bản báo cáo.Xem xong bản báo cáo này, Thượng Đế bèn phán rằng :
- Mọi điều ngươi vừa nói, đều hoàn toàn đúng. Bằng sáng chế của ta thật có nhiều sai sót. Thế nhưng, nếu tính về phương diện kinh tế, thì hiệu quả lại rất cao : Có gần 98% đờn ông con giai trên thế gian xài sản phẩm do Ta chế tạo, trong khi đó chưa đầy 10% đờn ông con giai xài sản phẩm của ngươi.Từ câu chuyện trên, gã nghiệm ra rằng thì là : nhân vô thập toàn. Ai cũng có những sai lỗi khuyết điểm của mình, chẳng riêng gì đờn bà con gái, mà ngay cả đờn ông con giai cũng thế mà thôi.
 Phải chăng điều đó cũng đã được Thượng Đế tính toán, cũng như đã được nằm sẵn trong chương trình và ý định tuyệt vời của Ngài.Thực vậy, nếu Ngài dựng nên con người trong tình trạng hoàn hảo và thánh thiện, thì có lẽ lúc bấy giờ thế gian này sẽ chán phèo và buồn tênh, bởi vì nó phẳng lặng như mặt nước hồ thu và con người sẽ chẳng còn tạo được cho mình một chút công trạng nào cả.
 Với những khuyết điểm mang trong thân phận, con người phải cố gắng, phải phấn đấu từng giây từng phút. Chính những cố gắng và phấn đấu này đã góp phần làm nên vẻ đẹp của con người.Từ ngàn xưa, các cụ ta vốn thường quan niệm :
- Gái trong khung cửi, giai ngoài chân mây.Có nghĩa là đờn bà con gái thì lo quán xuyến những công việc trong nhà, như bếp núc và nuôi dạy con cái. Còn đờn ông con giai thì lo gánh vác những công việc ngoài ngõ, tức là những công việc mang tính cách xã hội.
 Tuy nhiên, trong những tháng năm gần đây, nhất là kể từ khi phong trào giải phóng phụ nữ, hay nói cách khác kể từ khi phong trào đờn bà con gái vùng lên đòi bình đẳng với đờn ông con giai, thì phe ta dần dần thoát ra khỏi ngưỡng cửa gia đình, để dấn thân vào xã hội và cũng đã gặt hái được những thành công rạng rỡ, chẳng thua gì cánh mày râu.
 Chẳng hạn như bà Golda Meir, một khuôn mặt chính trị sáng giá của Do Thái. Bà đã từng giữ chức bộ trưởng ngoại giao từ năm 1956 đến năm 1966, rồi nắm giữ chức thủ tướng từ năm 1969 đến năm 1974. Tuy mang tiếng thuộc về phe liễu yếu đào tơ, nhưng bà đã thực sự dùng những biện pháp mạnh trong đường lối lãnh đạo của mình.
 Chẳng hạn như bà Margaret Thatcher, cũng là một khuôn mặt chính trị sáng giá của dân Ăng Lê. Bà là lãnh tụ của đảng Bảo Thủ vào năm 1975, giữ chức thủ tướng suốt ba nhiệm kỳ, từ năm 1979 đến năm 1990, và cũng đã dùng những biện pháp mạnh để giải quyết các vấn đề bang giao quốc tế, thí dụ việc sử dụng quân đội chống lại Argentina về hòn đảo Falkland.
 Và theo sự đánh giá của bàn dân thiên hạ, thì hiện nay có hai phụ nữ quyền lực nhất thế giới, đó là bà Angela Merkel, thủ tướng nước Đức và bà Condoleezza Rice, bộ trưởng ngoại giao của Mỹ...Và còn rất nhiều khuôn mặt đờn bà con gái khác đang từng làm mưa làm gió tại nhiều lãnh vực khác nhau.Tuy nhiên, dù ở trong nhà hay ở ngoài ngõ, thì một nét duyên ngầm, nhưng lại rất hấp dẫn của đờn bà con gái, đó là sự dịu hiền và tế nhị được biểu lộ qua từng ánh mắt, từng lời nói, từng cử chỉ, khiến cho phe đờn ông con giai phải chết mê chết mệt, chết đứ chết đừ.
 Thế nhưng trong cuộc sống, đôi khi chúng ta cũng gặp phải những người đờn bà rất hung dữ, chẳng còn tí tẹo nào là dịu hiền và tế nhị. Sự hung dữ này rất có thể do di truyền và nằm sẵn trong máu huyết, trong lục phủ ngũ tạng của họ. Bản chất của họ là hung dữ, theo kiểu phát biểu của Nho giáo :
- Nhân chi sơ, tính vốn...dữ.
 Gã xin đưa ra hai trường hợp.Trường hợp thứ nhất tiêu biểu cho trường phái phương tây, đó là bà vợ của Socrate.Hẳn rằng nhiều người trong chúng ta đã biết Socrate là một triết gia nổi tiếng của Hy Lạp cổ xưa, lý thuyết của ông còn ảnh hưởng cho tới ngày nay, thế nhưng tai hại thay, ông lại là nạn nhân của một bà vợ hung dữ. Bà đã khinh thường ông, coi ông chỉ là hạng "dài lưng tốn vải", cũng như "trói gà không chặt".Có lần sau một trận xỉ vả thậm tệ, tức quá bà liền đổ cả một chậu nước dơ lên người ông, nhưng ông vẫn thản nhiên nói với mọi người :
- Trời có sấm sét, ắt hẳn sẽ đổ mưa.Lần khác, bà đã hất tung hất té mâm cỗ ra ngoài sân. Mâm cỗ mà ông đã cẩn thận làm để đãi bạn bè. Và thế là ông bèn ngồi yên lặng nhặt lên cho bằng hết. Món nào còn ăn được thì ăn, bằng không thì bỏ đi, mà chẳng than van một lời.
 Trường hợp thứ hai tiêu biểu cho trường phái phương đông, đó là bà vợ của Trần Qúi Thường.Theo điển tích người xưa, thì chúng ta được biết : Trần Quí Thường, quê tại tỉnh Hà Đông bên Tàu, có một người vợ nổi tiếng hung dữ. Mỗi lần Tô Đông Pha đến chơi, thì đều được nghe bà vợ này la hét, chửi bới thật ồn ào và quá đáng.Thấy vậy, thi sĩ dòng họ Tô mới làm một bài thơ châm biếm, trong đó có câu :
- Hốt văn Hà Đông sư tử hống,
Trụ tượng lạc thủ tâm mang mang.Có nghĩa là :
- Bỗng nghe sư tử Hà Đông rống,
Tay run, gậy rớt, lòng kinh hãi.Từ điển tích này, người ta mới dùng cụm từ "sư tử Hà Đông" để ám chỉ người vợ hung dữ.
 Tuy nhiên, ngoài cụm từ này, bàn dân thiên hạ còn dùng một vài danh xưng khác nữa.Chẳng hạn danh xưng "bà chằn". Theo truyện thần thoại, thì chằn là một con yêu tinh dữ tợn và hay ăn thịt người, đã bị Thạch Sanh giết chết. Vì thế hai chữ bà chằn được dùng để chỉ người đờn bà hung dữ.Chẳng hạn danh xưng "bà la sát". Theo tiếng Phạn (Ấn Độ), thì bà la sát là một con quỷ ăn thịt người. Dựa vào đó, người bình dân dùng ba chữ bà la sát để chỉ người đờn bà hung dữ, mặc dù chữ bà trong tiếng Phạn và trong tiếng Việt chỉ đồng âm mà thôi, chứ không đồng nghĩa một tí ti nào cả.
 Nếu nhái theo tựa đề tập thơ "Em là gái trời bắt xấu", thì có những người, đờn bà cũng như đờn ông, vốn hung dữ tự bản tính : Thoạt sinh ra thì đã hung dữ. Nhưng có nhưng người, đờn ông cũng như đờn bà, do hoàn cảnh bên ngoài tác động mà trở nên hung dữ.
Thực vậy, có những bà và những chị, tự bản chất vốn hiền như ma...sơ, thế nhưng, một khi đã nắm được tí quyền trong tay, hay một khi đã kiếm được nhiều tiền, không cần phải cậy dựa vào người chồng nữa, thì bỗng nhiên trở thành hung dữ.Sự hung dữ ở đây cần phải được hiểu về cả ba phương diện : tư tưởng, lời nói, cũng như việc làm. Về tư tưởng thì luôn áp đặt những ý nghĩ của mình lên chồng con theo kiểu cả vú lấp miệng em. Về lời nói thì sẵn sàng tuôn ra những ngôn từ đao to búa lớn và không ngần ngại chửi bới, tung hê và văng đủ thứ ra cho chồng con xơi. Về việc làm thì luôn dùng biện pháp mạnh, thượng cẳng chân hạ cẳng tay, mặc dù mình chỉ là phái...yếu.
 Gã xin đưa ra một thí dụ cụ thể. Thí dụ này được trích từ một bài viết mang tên "Khi vợ gia trưởng" của Văn Nhuệ, được đăng trên tuần báo Gia đình số 38, năm 2006.Chị là một người năng động, giỏi giang và rất có năng lực quản lý. Chẳng thế mà con đường thăng tiến của chị được bạn bè ví lên "như diều gặp gió". Chị được đề bạt làm phó giám đốc một công ty lớn và luôn được "uy" với cấp dưới. Ở cơ quan, chị quyết định chuyện gì, thì cấp dưới phải nhất nhất thi hành.Khi về nhà, chị cũng thể hiện "năng lực quản lý" ấy đối với chồng con.
 Phải thừa nhận chị là một người đảm đang. Dù bận bịu với công việc ở cơ quan, nhưng chị vẫn quán xuyến mọi chuyện trong nhà. Sau giờ làm việc, về đến nhà chị xắn tay áo lao vào chuyện bếp núc, chuyện học hành của con cái, cũng như công việc của chồng.Trong nhà ai có việc riêng tư gì, thì chị cũng tham gia giải quyết và yêu cầu người đó thực hiện những gì mình đã chỉ bảo. Con trai đi dự sinh nhật bạn gái, chị dắt đi mua quà tặng vì cho rằng :
- Phải tặng quà làm sao để người nhận không đánh giá thấp người nhà mình. Chồng chị có chuyện xích mích với đồng nghiệp, chị yêu cầu anh giải quyết theo phương án của chị, mặc cho anh phân tích những cái sai trong phương án ấy.
 Nhiều khi chị còn tự ý đi gặp đồng nghiệp của chồng để dàn xếp, khiến anh bị một phen mất mặt. Chị không yên tâm khi chồng con quyết định bất cứ sự gì. Chị tin rằng cách giải quyết của chị mới đạt hiệu quả nhất. Chị không cho ai bàn bạc. Chị không cần ai góp ý. Chị thường nhắc đi nhắc lại điệp khúc :
- Tôi đã quyết định thì mọi người phải nghe theo...Khi chồng con phản đối, thì chị lý sự :
- Tôi làm thế chỉ vì muốn mang lại điều tốt cho mọi người.Chị yêu cầu chồng sau giờ làm việc không được đi uống bia hay la cà với bạn bè, vì chị khẳng định : tại những nơi ấy đều có những tệ nạn xã hội.
  Chị mua sắm vi tính, nhưng nhất định không chịu cài đặt internet vì sợ chồng con truy cập các trang Web "đen".Mỗi buổi sáng, trước khi đến sở, chị căn dặn chồng con phải làm việc này việc kia. Và ban tối, chị kiểm điểm chồng con xem đã thực hiện như thế nào. Việc gì không làm được, thì chị lên mặt "dạy chồng", "chửi con". Chị có quá nhiều yêu cầu đối với chồng con, song bản thân lại tự cho mình quyền được làm "mọi chuyện mình thích".
 Với chị mọi người làm cái gì cũng sai, còn cái đúng luôn thuộc về chị.Hậu quả là con cái vì sợ chị nên không dám cãi lời. Còn chồng chị thì mỗi ngày một "chán vợ" hơn.Theo những nhà... "ngâm kíu" thì hiện nay nhiều anh chồng đang có xu hướng "thuần" và qui phục chị vợ hơn. Rất có thể đây là kết quả của công trình "nuôi chồng khỏe, dạy chồng ngoan" của chị vợ.
 Trong gia đình, vì nhiều nguyên nhân có khi vì quá thành công trên đường đời, có khi vì những thất bại chua cay, anh chồng đang âm thầm nhường lại quyền làm chủ cho chị vợ. Chính vì thế, chị vợ thừa thắng xông lên, dễ dàng lấn át vị trí của anh chồng, dường như chị ta đứng ở một vị trí cao hơn để chỉ huy mọi người trong nhà.Để diễn tả tình trạng này người xưa đã dùng câu tục ngữ :
- Lệnh ông không bằng cồng bà.Thực vậy, lệnh là cái chiêng đồng nhỏ, tiếng thanh, thường được dùng làm hiệu xuất quân. Còn cồng là cái chiêng đồng lớn, tiếng trầm, thường được dùng làm hiệu thu quân.
 Mặc dù ông phát lệnh xuất quân, nhưng nếu bà đánh cồng để thu quân, thì tiếng cồng chắc chắn sẽ át tiếng lệnh, khiến mọi người cứ phải theo đó mà rút lui.Tại nhiều gia đình, gã thấy quyền hành của chị vợ...to lớn hơn quyền hành của anh chồng gấp bội. Và cũng từ đó, người ta sử dụng câu nói đùa này để chế diễu các ông chồng...sợ vợ!
 Tuy nhiên, các chị vợ cũng cần phải lưu ý : sự chịu đựng cũng như nhường nhịn nào cũng có giới hạn của nó, bởi vì tức nước vỡ bờ, tới lúc người chồng không thể nào chịu đựng, nhường nhịn, và nể nang được nữa, thì buộc lòng phải phản ứng lại. Và những phản ứng lúc bấy giờ thường là những phản ứng gắt gao và thảm khốc, gây nên những đổ vỡ.Không thiếu gì những người chồng vốn nổi tiếng hiền lành, nhưng một khi đã tức giận, thì lại thường cộc cằn, phản ứng một cách quyết liệt và mạnh mẽ.Được hỏi về chuyện sợ vợ của mình, phần lớn các anh chồng đều đồng ý với câu trả lời như sau :
- Chúng tôi chẳng hề sợ vợ, vì nếu sợ thì còn đâu là cái bản lãnh của một đấng tu mi nam tử. Chẳng qua chỉ vì chúng tôi nể vợ mà thôi, không muốn làm to chuyện, khiến cửa nhà bị tan hoang. Nếu có đôi co và cãi vã, hàng xóm biết được, thì chỉ tổ "xấu thiếp hổ chàng".
 Thôi thì cứ nhịn đi cho xong chuyện.Vì vậy, đừng thấy chồng cả nể mà đã vội được đàng chân lân đàng đầu, mặc sức o ép chồng con. Sự hiền lành và tế nhị bao giờ cũng là nét duyên thầm của người phụ nữ. Chẳng thế mà nền luân lý Khổng Mạnh ngày xưa đã đòi hỏi người con gái phải có tứ đức : công, dung, ngôn, hạnh.
 Để kết luận, gã xin kể lại một thí dụ cụ thể khác nữa :Trong những lúc ngồi hàn huyên tâm sự với bè bạn, chị thường khoe chồng mình là một người hiền lành như...cục đất. Chẳng bao giờ dám nổi nóng đánh đập hay chửi bới vợ con.
 Tuy nhiên, đối lập với sự điềm đạm và ít nói của anh là tính cách nóng "như Trương Phi" của chị. Không ít lần giận chồng và bực con, chị đã đập phá chén bát, quẳng vứt đồ đạc, thét lên những lời quá quắt khó nghe, khiến bố con anh tròn mắt hãi hùng.Vẫn bằng cái giọng tự tin thái quá, chị luôn thanh minh thanh nga :
- Tính mình hễ tức giận là sôi máu lên, không thể kiềm chế được, phải đá thùng đụng nia, hoặc xả hết những dồn nén trong lòng ra ngay lập tức. Cũng may mà ông xã nhường nhịn, không cố chấp, chứ nếu chẳng ai chịu nhường ai, thì có lẽ đã lôi nhau ra tòa từ lâu rồi.Chị cười cười, thừa nhận sự nóng nảy cộc cằn đã thấm sâu vào bản chất của chị, nên dù biết là sai mà vẫn cứ chứng nào tật nấy...
 Thế nhưng, trong thâm tâm chị vẫn tự hào về khả năng điều khiển chồng và vị trí làm gia trưởng của mình.Anh là người hiền lành, thương vợ thương con và sống có trách nhiệm với những người thân yêu. Chẳng bao giờ anh quát mắng, chỉ trích hay dằn vặt cả khi chị và hai đứa con lỗi lầm và sai phạm. Anh luôn nỗ lực xây dựng bầu không khí đầm ấm, yên vui, tràn ngập thường xuyên trong gia đình.Trái ngược với anh, chị là một phụ nữ luôn thích ăn to nói lớn, có gì chướng tai gai mắt là không để bụng được, phải nói hụych toẹt ra cho bõ tức.
 Chính vì tính cách này mà từ thời con gái cho đến bây giờ, chị đã gây hiểu lầm và làm mất lòng không ít người.Những lúc vợ chồng gần gũi và tâm tình, anh thường nhẹ nhàng khuyên bảo chị nên sửa bỏ thói tật ấy, bởi vì sự nóng vội chẳng giải quyết được việc gì, mà còn làm cho mọi chuyện thêm rắc rối, phức tạp, thậm chí còn hạ thấp giá trị của chính mình.
  Hơn thế nữa, thói tật này càng không nên có ở người phụ nữ, vì nó làm mất đi vẻ dịu dàng, thùy mị, vốn là những đặc tính gắn liền với phái đẹp. Chị ậm ừ cho qua chuyện, chứ không để tâm tiếp thu ý kiến xây dựng của anh.Chị cứ đinh ninh rằng anh quá hiền lành, nên mình có thiếu nữ tính một chút cũng chẳng gây nên hậu quả gì nghiêm trọng.
 Chính vì những suy nghĩ nông cạn ấy, nên chị chẳng những không làm cho mình đẹp hơn trong mắt anh, mà còn vô tình đẩy anh vào trạng thái hụt hẫng và thất vọng. Chị đâu ngờ rằng điều đó đã ảnh hưởng nặng nế tới cuộc hôn nhân của anh chị.Lần ấy, mấy người bạn học cũ đang công tác ở miền quê, mới có dịp lên tỉnh, nên đã đến thăm vợ chồng chị, rồi họ rủ nhau ra quán bia ở đầu phố "liên hoan đánh dấu buổi gặp gỡ khó quên này".
 Không muốn chồng sa đà vào nhậu nhẹt, chị định ngăn cản, nhưng thấy anh tíu tít, hớn hở cùng bạn ôn lại những kỷ niệm thời học trò, nên chị đành miễn cưỡng để họ kéo anh đi.Suốt từ bốn giờ chiều cho tới mười giờ tối, lòng chị nóng như lửa đốt, đứng ngồi không yên. Từ ngày lấy nhau, chưa bao giờ anh chè chén về muộn khiến chị phải lo lắng như lúc này. Chuông đồng hồ điểm mười một tiếng. Chị đùng đùng nổi giận đi về phía quán bia, bụng bảo dạ :
- Phải cho cả bọn một bài học.Xuất hiện giữa đám bạn đang cười nói rôm rả của anh, chị xối xả mắng chửi anh là phường mê rượu chè, chẳng đếm xỉa gì đến vợ con ở nhà phải trông chờ và lo lắng. Chị gạt phăng lời giải thích của anh :
- Bạn bè xa cách lâu ngày mới gặp lại đông đủ, nên vui quá không để ý tới thời gian.Chị lôi tay chồng và nói như ra lệnh :
- Anh về nhà ngay, phải biết chọn bạn mà chơi. Những người này lần sau đừng có hòng đặt chân tới nhà của tôi.Ông chủ quán khuyên chị có gì thì cũng nhẹ nhàng mà nói, vì trời đã khuya, chớ quấy rầy hàng xóm. Thế nhưng, chị bèn quay sang rủa ông là kẻ hám lợi, lại còn bênh vực và chứa chấp những thằng say rượu.Tới nước này thì anh không còn im lặng như những lần trước, mà bất ngờ giật mạnh tay ra khỏi sự co kéo của chị và giơ thẳng cánh tát chị một cái nổ đom đóm mắt :
- Cô im ngay. Tôi cấm cô không được phép xúc phạm tới những người bạn thân của tôi.Chị không chịu thua, mà còn lu loa, gào thét to hơn, khiến cuộc gặp mặt của anh và các bạn đang vui bỗng trở thành...bi kịch. Anh hổ thẹn với bạn bè vì có một người vợ thô lỗ, không biết cách đối nhân xử thế.Sự kiện này là như giọt nước tràn ly, bởi vì sau đó anh đã quyết định ly hôn trước sự ngỡ ngàng của chị... (Phụ nữ Chủ nhật, số 41, ngày 15.10.2006).
  Cùng một thể thức ấy, gã nghĩ rằng :
- Một cọng rơm, cũng có thể làm gãy lưng con lạc đà!!!                                                                                      
Gã Siêu

 

Chuyện Gã Siêu 127: Vợ Khen

Vợ Khen Chuyện Gã Siêu 127

Phàm những gì quá độ, đều bất ổn. Trong khi đó, nhân đức luôn đứng ở giữa, ở cái mức trung dung. Chuyện Gã Siêu 127

Phàm những gì quá độ, đều bất ổn. Trong khi đó, nhân đức luôn đứng ở giữa, ở cái mức trung dung.
Từ nhận định trên, gã đi vào mối liên hệ giữa anh chồng với chị vợ và đã nhận ra những thái độ quá quắt, dẫn đến những chuyện không hay trong đời sống tình cảm của cá nhân cũng như gia đình.
Thái độ thứ nhất, đó là coi vợ như đầy tớ, để rồi mặc sức “khủng bố”.
Trước hết là khủng bố về mặt tinh thần bằng những cấm đoán, áp đặt tư tưởng và lập trường của mình trên tư tưởng và lập trường của vợ, theo kiểu phu xướng vụ tùy, xuất giá tòng phu, khiến người vợ lúc nào cũng phải vâng lời tối mặt.
Tiếp đến là khủng bố về mặt thể xác bằng những đánh đập, hành hạ, thượng cẳng chân hạ cẳng tay, khiến vợ phải mang thương tích, đồng thời lúc nào cũng phải sống trong tình trạng căng thẳng và ngột ngạt. Thậm chí đôi khi còn dẫn tới một cái chết oan uổng và tất tưởi.
Gã xin đưa ra một trường hợp điển hình cho những bạo hành trong gia đình :
Sau khi cưới, những ngày tháng hạnh phúc chưa được bao lâu, thì gia đình bắt đầu có mối bất hòa và rạn nứt. Ban đầu từ chuyện mẹ chồng nàng dâu, cho đến những chuyện cỏn con của đời sống vợ chồng.
Cứ không bằng lòng điều gì, chẳng cần góp ý với chị một câu nào, anh liền đánh đập chị như một thú tiêu khiển. Hết đánh, rồi tới đập phá đồ đạc và chửi bới đe nẹt chị.
Khi bị anh đánh đâp thâm tím cả mặt mày, chị quay sang cầu cứu bố mẹ chồng, nhưng cũng chẳng nhận được một sự an ủi nào. Tệ hơn nữa, bố mẹ chồng còn gọi điện, mời bố mẹ đẻ lên để “nói chuyện”. Đích điểm của những lần nói chuyện ấy chỉ là những lời lẽ chửi bới, nhục mạ, hay nhẹ nhàng nhất thì cũng dạy cho chị và và gia đình bên ngoại một bài học…(Báo Gia đình, số 13 ra ngày 26 tháng 3 năm 2007).
Thái độ thứ hai, đó là coi vợ như bà chủ, để rồi lúc nào cũng khúm núm và nơm nớp sợ hãi.
Đây là tác phong đã được Tú Xương miêu tả :
– Làm trai rửa bát quét nhà,
Vợ gọi thì dạ, bẩm bà em đây.
Phần đông các ông chồng trên trái đất này đều mắc phải một chứng bệnh, được gọi toạc móng heo ra, là chứng bệnh “sợ vợ”. Các ông ấy đã lý sự cùn với nhau để bênh vực cho chứng bệnh vốn dĩ đã trở nên “di căn” hay “mãn tính” của mình.
Chẳng hạn :
– Mình sợ vợ mình, chứ đâu có sợ vợ người ta đâu mà lo.
Chẳng hạn :
– Mình đâu có sợ vợ, mà chỉ nể vợ.
Chẳng hạn :
– Mình làm vậy cốt để cho cửa nhà được êm ấm.
Tuy nhiên, dù biện minh thế nào chăng nữa, thì râu quặp cũng vẫn chỉ là râu quặp mà thôi. Những anh chồng sợ vợ vốn thường sống và thực thi hết mình lời khuyên bảo sau đây :
– Kính vợ đắc thọ,
Sợ vợ sống lâu.
Nể vợ ta hết u sầu,
Để vợ lên đầu, thì trường sinh bất lão.
Ngoài hai thái độ bất cập kể trên, nhiều lúc gã còn gặp thấy một thái độ khác, tuy không đến nỗi tệ hại, nhưng cũng không kém phần bất ổn đó là cái thói nịnh vợ.
Thái độ này, hình như cũng đã được Tú Xương bàn đến như sau :
– Vuốt râu nịnh vợ con bu nó.
Quắc mắt khinh đời cái bộ anh.
Sỡ dĩ như vậy bởi vì trong thâm tâm, anh chồng luôn dành cho chị vợ một địa vị…tối ưu :
– Nhất vợ nhì giời.
Lắm lúc anh chồng nịnh một cách rất trơ trẽ, khiến người được nịnh là chị vợ cũng cảm thấy ngượng ngùng. Những lời lẽ nịnh bợ ấy sẽ phản tác dụng vì trở nên bôi bác giả hình, như muốn che lấp một ý đồ đen tối nào đó.
Để tránh đi tình trạng bi đát trên, hôm nay gã xin…”cắt thuốc” và đưa ra mấy thang “độc chiêu”, thay vì phải khen vợ thì lại được vợ khen.
Anh chồng phải nắm đàng chuôi, phải ở vào cái thế “thượng phong” và phải chơi “nước cờ cao”…Như vậy mới xứng với đấng mày râu, mới đáng với bậc tu mi nam tử.
Thang thuốc gã đưa ra gồm bốn vị :
– Thứ nhất : đưa lương đủ.
Thứ hai : tối ngủ nhà.
Thứ ba : giúp việc bà.
Thứ tư : quà đúng lúc.
Bây giờ gã sẽ bàn rộng tán dài về từng vị trong thang thuốc tuyệt vời ấy.
Thứ nhất : đưa lương đủ.
Kinh nghiệm cho thấy : để làm được chuyện nọ chuyện kia, thì vấn đề đầu tiên bao giờ cũng vẫn là vấn đề…tiền đâu.
Trong phạm vi gia đình, quốc gia cũng như quốc tế, ai nắm được túi tiền, thì người đó cũng nắm được quyền lực, để rồi chi phối và bắt người khác phải quy phục mình răm rắp.
Gã xin đưa ra một thí dụ, chẳng hạn như những đồng tiền viện trợ.
Nước Mỹ vốn là nước hào phóng nhất trong vấn đề viện trợ cho các…chư hầu. Thế nhưng, một khi đã ngửa tay nhận lãnh những đồng tiền viện trợ, thì chắc chắn sẽ phải đi vào quĩ đạo của Mỹ. Mỹ bảo sao phải nghe vậy, bằng không thì sẽ bị cắt viện trợ. Lúc đó sẽ dở khóc, dở cười và dở mếu nữa.
Thành thử, dù là viện trợ nhân đạo, nhưng cũng vẫn kèm theo những điều kiện. Và những điều kiện này thường được hiểu ngầm với nhau, chứ ít khi được viết ra trên giấy trắng mực đen.
Trong phạm vi gia đình cũng vậy. Sở dĩ uy quyền của chị vợ tương đối lớn, bởi vì chị vợ vốn là “tay hòm chìa khóa”, nắm giữ tiền bạc trong gia đình.
Với vai trò của người quản lý khôn ngoan, chị vợ nào cũng muốn thâu tóm tất cả vào một mối. Vì thế, chị vợ không những muốn kiểm soát tiền lương cũng như tiền lậu, tiền bổng cũng như tiền lộc của anh chồng, mà còn muốn cứ đúng hẹn, anh chồng phải giao nộp đầy đủ, không thiếu một đồng, không thừa một cắc. Sự giao nộp đầy đủ này đem lại rất nhiều lợi ích.
Trước hết, chị vợ biết đường mà chi tiêu cho gia đình. Thực vậy, sống trong thời buổi gạo châu củi quế, vật giá leo thang đến chóng cả mặt. Vì thế, ngân sách trong gia đình thường bị thâm thủng và thiếu hụt, đôi khí tới mức độ trầm trọng.
Nắm được đầu vào, chị vợ mới có thể lên kế hoạch cho đầu ra một cách hợp tình và hợp lý, liệu cơm mà gắp mắm, cái gì không cần thiết thì gạch bỏ, chứ không bóc ngắn cắn dài, con nhà lính tính nhà quan, để suốt đời cứ bị nợ nần chồng chất.
Tiếp đến, vì tiền bạc được quản lý một cách hết sức chặt chẽ, nên chị vợ sẽ giúp cho anh chồng tránh được những thói hư tật xấu, những tệ đoan xã hội.
Đúng thế, các cụ ta ngày xưa đã bảo :
– Có tiền mua tiên cũng được.
Chính vì thế, người thời nay cũng nhận xét và thấy được rằng :
– Đờn ông, muốn hư thì phải có tiền.
Hay nói cách khác :
– Tiền dễ làm cho cánh đờn ông trở thành hư.
Thực vậy, có tiền anh chồng mới dễ dàng cùng với bè bạn chén thù chén tạc. Tăng một chưa hết, lại lê lết qua tăng hai. Có tiền, anh chồng mới dễ dàng bén mảng tới những nơi được tận cùng bằng chữ…ôm. Chẳng hạn như bia ôm, cà phê ôm, karaoke ôm…Thậm chí ở Hà Nội, theo như báo chí dăng tải, còn có cả…thịt chó ôm nữa!
Có tiền, anh chồng mới dễ dàng sa đà vào cờ bạc cũng như hút sách. Và tệ hại hơn nữa, thay vì đem tiền về để nuôi sống vợ con, anh chồng lại dùng vào việc phát triển những tình cảm sai trái và ngoài luồng, bằng cách bao gái, hay nuôi…bồ nhí, khiến cho gia đình bị đổ vỡ tan hoang.
Mặc dù quản lý chặt chẽ, nhưng chị vợ cũng nên xét tới những nhu cầu chính đáng của anh chồng, chẳng hạn như tiền xăng nhớt, cà phê cà pháo…để rồi tuồn vào ví của anh chồng một số tiền còm.
Chị vợ nên nhớ rằng tiền bạc là phương tiện làm cho cuộc sống trở nên tươi hồng, chứ không phải là cùng đích phải theo đuổi bằng bất cứ giá nào.
Đừng biến mình trở thành một thứ ngân hàng, hay kho bạc của nhà nước : có đầu vào mà chẳng có đầu ra. Nhập vô thì hồ hởi, xuất ra thì nhăn nhó.
Thiết tưởng mỗi người nên xác tín về giá trị của tiền bạc : Nó có uy lực riêng của nó. Tuy nhiên, uy lực ấy không phải là vô song và tuyệt đối như người ta vốn thường sánh ví :
Tiền bạc có thể mua được một ngôi nhà, nhưng không mua được một mái ấm.
Tiền bạc có thể mua được một chiếc giường êm ấm, nhưng không mua được giấc ngủ ngon lành.
Tiền bạc có thể mua được chiếc đồng hồ, nhưng không mua được thời gian.
Tiền bạc có thể mua được sách vở, nhưng không mua được kiến thức.
Tiền bạc có thể mua được địa vị, nhưng không mua được lòng tin phục.
Tiền bạc có thể mua được thuốc men, nhưng không mua được sức khẻo.
Tiền bạc có thể mua được tình dục, nhưng không mua được tình yêu….

Thứ hai : tối ngủ nhà.
Đây là một vị thuốc rất cần cho sức khỏe của gia đình, nhất là đối với các gia đình trẻ, mới được bố mẹ cho…ra riêng.
Thực vậy, lúc bấy giờ, tình yêu còn đang mặn nồng và hơn thế nữa trong chiếc tổ ấm dễ thương ấy, thường chỉ có hai vợ chồng : đi ra thì cũng chỉ ta với mình, đi vào thì cũng chỉ mình với ta. Có thêm chăng nữa, chỉ là một đứa con.
Cứ tưởng tượng ra xem : chị vợ sau khi nấu nướng xong xuôi, ngồi đợi anh chồng về để cùng ăn. Thế nhưng, anh chồng lúc đó lại đang bận lai rai với các chiến hữu, ba hoa đủ mọi thứ chuyện trên trời dưới đất, bởi vì tửu nhập thì ngôn xuất, rượu vào thì lời ra.
Cái cảm giác chờ đợi, khiến cho chị vợ dễ dàng bực bội và tức tối, bởi vì :
– Ngồi chờ không bực cho bằng ngồi chực nồi cơm.
Thức ăn nguội dần, chị vợ ngồi xơi một mình mà nuốt chẳng trôi. Bực bội tức tối đã đành mà còn thắc thỏm lo âu :
– Giờ này anh ấy đang ở đâu và với ai ? Trên đường về có gặp phải tai nạn gì không ?
Mãi tới khuya anh chồng mới về tới nhà trong tình trạng chân nam đá chân chiêu, toàn thân bốc lên một mùi rượu nồng nặc, ấy là chưa kể tới cái cảnh anh chồng…OK thau, cho chó ăn chè. Như vậy, làm sao chị vợ có thể chịu đựng nổi.
Ngoài ra, ban ngày bàn dân thiên hạ phải lao động cật lực, đầu tắt mặt tối, người nào việc nấy. Vì thế, khi màn đêm buông xuống mới chính là lúc người ta nghỉ ngơi, chơi bời, du hí.
Bóng đêm như đồng lõa, ma dẫn lối quỉ đưa đường, khiến cho anh chồng loạng quạng mò tới những địa chỉ đen. Và ở đó, anh chồng làm gì và với ai thì chỉ có ông trời mới biết được mà thôi.
Vì thế, tối ngủ nhà là thượng sách. Giống như trong thời chiến, binh lính thường phải cắm trại một trăm phần trăm. Riêng ban đêm thường có lệnh giới nghiêm, người dân ai ở nhà nấy, nội bất xuất, ngoại bất nhập.
Cũng vậy, tối về ngủ nhà dưới sự chăm sóc và quản lý chặt chẽ của chị vợ, anh chồng sẽ như một cầu thủ ở trong cái thế…việt vị, bất nhóc nhách, chẳng còn sơ múi gì nữa. Và như vậy, theo sự diễn tả của truyện Tây Du Ký, thì anh chồng sẽ tránh được biết bao nhiêu thứ yêu tinh, biết bao nhiêu ổ nhền nhện, biết bao nhiêu hang tội lỗi…Một cuộc sống trong lành và mạnh khỏe như mở ra và chờ đón ở phía trước.

Thứ ba : giúp việc bà.
Thời buổi bây giờ là thời buổi nam nữ bình quyền. Người chồng ngang hàng với người vợ. Và người vợ cũng ngang hàng với người chồng. Vì thế, cả hai đều phải chia sẻ trách nhiệm và bổn phận với nhau.
Ngày nay, nhiều chị vợ không phải chỉ biết làm bạn với nồi niêu xoong chảo nơi xó bếp, mà còn anh dũng tiến ra ngoài xã hội, đảm nhận những công việc quan trọng và cũng đã gặt hái được những thành quả sáng chói.
Nếu để cho chị vợ, một vai gánh việc nước, một vai lo việc nhà, thì e rằng quá sức chịu đựng của loài người ? Vì thế rất cần sự quan tâm và giúp đỡ của anh chồng.
Có lẽ cái thời chồng chúa vợ tôi cần phải qua đi, vì không còn thích hợp. Thực vậy, ngày xưa có những ông chồng sau giờ làm việc trở về nhà, thì liền ngồi đọc báo, xem TV và…chờ cơm. Việc bếp núc được coi như là việc riêng của người vợ.
Cái não trạng này đang dần dần được thay đổi. Nhiều anh chồng cũng đã lăn xả vào bếp để tiếp sức với chị vợ. Nếu không thổi được nồi cơm, thì cũng có thể làm được một món ăn, chẳng hạn như luộc rau, kho thịt…
Nếu không làm được món ăn, thì cũng có thể ngồi nhặt hành, băm tỏi…Thấy anh chồng đầy thiện chí như vậy, chị vợ nào mà chẳng vui mừng như mở cờ trong bụng.
Thậm chí khi nhìn thấy đôi bàn tay “hậu đậu” và lóng ngóng của anh chồng, chị vợ bèn giành lấy công việc về cho mình một cách đầy yêu thương và trìu mến :
– Thôi anh nghỉ đi, để em làm.
Ngoài chuyện bếp núc, anh chồng còn có thể giúp đỡ chị vợ những việc lặt vặt thuộc nhiều lãnh vực khác nữa, chẳng hạn như trang hoàng nhà cửa, dạy bảo con cái, trồng bông tưới kiểng, nuôi gà nuôi vịt…
Tóm lại, cả hai cùng cộng tác với nhau trong việc tổ chức và điều hành gia đình, để gia đình thực sự trở thành một mái ấm ngập tràn yêu thương và hạnh phúc.
Những sự giúp đỡ này, tuy âm thầm và nhỏ bé, nhưng lại có sức hâm nóng tình yêu và làm cho bầu khí gia đình thêm ấm cúng.

Thứ tư : quà đúng lúc.
Trong hoàn cảnh khó khăn, người ta chỉ mong sao được ăn no và mặc ấm. Để ăn no, thì lắm khi “ngày ba bữa vỗ bụng rau bình bịch”. Để mặc ấm, thì áo đụp, áo kép đắp lên người hai ba lớp miễn sao cho khỏi run lên lập cập
Thế nhưng, khi hoàn cảnh khó khăn ấy đã qua đi và một tương lai tươi sáng đã hé mở, thì từ chỗ ăn no mặc ấm, người ta ước mơ được ăn ngon mặc đẹp. Và thế là phú quí sinh lễ nghĩa.
Trong những tháng năm gần đây, gã đã thấy xuất hiện tại Việt Nam nhiều lễ hội để tôn vinh phe đờn bà con gái. Ngoài những lễ hội cổ truyền như tết Nguyên đán, còn có :
– Ngày tình yêu 14 tháng 2.
– Ngày phụ nữ quốc tế, mồng 8 tháng 3.
– Ngày tưởng nhớ công ơn mẹ hiền vào Chúa nhật thứ hai trong tháng năm.
– Nếu chị vợ đi dạy học thì có ngày nhà giáo 20 tháng 11. Nếu chị vợ làm bác sĩ, thì có ngày thầy thuốc 27 tháng 2.
Ngoài ra, trong lãnh vực riêng tư còn có một số những ngày khác, đánh dấu những kỷ niệm khó quên trong đời, chẳng hạn ngày sinh, ngày cưới…Và nếu là người Công giáo, thì còn có ngày mừng kính thánh bổn mạng.
Vì thế, một anh chồng lịch sự và tế nhị, cần phải ghi những ngày đáng nhớ này vào sổ tay của mình, để rồi cứ đúng hẹn lại lên. Hãy biểu lộ tình cảm và sự ga lăng của mình vào đúng những ngày trọng đại ấy bằng một cử chỉ đặc biệt, chẳng hạn như mời chị vợ đi ăn nhà hàng, hay tổ chức một bữa cơm thân mật trong gia đình.
Hay bằng một quà tặng nào đó. Dĩ nhiên, quà tặng phải tùy theo túi tiền của mình. Có khi không cần đến một quà tặng đắt giá, chỉ một bông hồng mà thôi cũng đủ làm cho chị vợ cảm động đến chớp chớp đôi mắt và rưng rưng như muốn khóc.
Hỡi những anh chồng khốn khổ ơi!
Xin hãy nghe lời xúi dại của gã chỉ một lần :
– Chịu khó uống thang thuốc bắc gã đã cắt, gồm bốn vị chính : Đưa lương đủ, tối ngủ nhà, giúp việc bà, và quà đúng lúc.
Gã sẽ bảo đảm “chăm phần chăm” thế nào các anh cũng được chị vợ của mình khen lấy khen để và bỗng dưng trở thành những con người thật dễ thương mà chẳng mất đồng xu cắc bạc nào cả.
Gã Siêu

 

Chuyện Gã Siêu 128: SIÊU THỊ

SIÊU THỊ Chuyện Gã Siêu 128

Gã không biết chợ búa xuất hiện từ bao giờ, nhưng chắc chắn là từ rất xa xưa. Thực vậy, ngay khi con người Chuyện Gã Siêu 128

Gã không biết chợ búa xuất hiện từ bao giờ, nhưng chắc chắn là từ rất xa xưa.
Thực vậy, ngay khi con người kiếm được hay làm ra các sản phẩm của mình, chẳng hạn như thú rừng săn bắn hay hoa quả trồng trọt…Nếu dùng không hết, thì mang đi đổi chác.

Và những nơi người ta thường tụ họp để đổi chác các sản phẩm của mình được gọi là chợ. Rồi từ đó đến nay, chợ không ngừng phát triển.

Theo
 “Từ điển Bách khoa Việt Nam”, thì chợ là nơi gặp nhau giữa cung và cầu các hàng hóa, các dịch vụ…là nơi tập trung mua bán giữa người sản xuất và người tiêu dùng. Quy mô và tính chất của chợ tùy thuộc vào trình độ phát triển kinh tế.

Chợ có vai trò chủ yếu là nơi tiêu thụ hàng hóa, đồng thời cũng có ảnh hưởng kích thích ngược lại đối với sản xuất. Ngoài ra, đối với đồng bào dân tộc, chợ còn là nơi sinh hoạt vănh óa.

Hơn thế nữa, quy mô và tính chất của chợ lại rất đa dạng. Có loại chợ mang tính chất nông thôn tự sản tự tiêu. Có loại chợ mang tính chất khu vực hay một vùng rộng lớn. Thông thường, các mặt hàng mua bán ở chợ rất phong phú và gồm nhiều thứ. Thế nhưng, cũng có loại chợ chỉ mua bán những mặt hàng nhất định, như chợ gạo, chợ chợ vải, chợ trâu bò…

Tùy theo điều kiện, địa điểm và nhu cầu, chợ có thể họp hằng ngày, hay chỉ họp theo phiên nhất định trong tháng. Có loại chợ một năm chỉ họp mấyngàytết.

Vì vậy, có thể xem chợ là sự phản ánh trình độ phát triển và nếp sống kinh tế – xã hội của một địa phương. (TĐBKVN, cuốn 1, trang 486).

Dựa vào câu định nghĩa trên, gã xin phân chia và đưa ra  những kiểu chợ khácnhau.

Trước hết, tùy theo thời gian nhóm họp, thì có: 

Chợ đông là chợ họp thật sớm, lúc mặt trời ló dạng và có nhiều người :

- Trai khôn tìm vợ chợ đông.
- Chợ đông sao chẳng bán hàng,
   Chờ tan buổi chợ, dạo hàng bán duyên.

   Chợ mai là chợ chỉ họp trong buổis áng.

Chợ trưa là chợ gần tan, lúc mặt trời đứng bóng, nhưng đồng thời cũng ám chỉ những cô gái đang“toan về già”
 :

- Em về giục mẹ cùng cha,
 Chợ trưa dưa héo kẻo mà buồn thay.

Chợ chiều là chợ họp vào buổi chiều, nhưng đồng thời cũng ám chỉ cảnh ếẩm, rời rạc và chán nản :

- Chợ chiều nhiều khế ế chanh,
 Nhiều cô gái lạ nên anh chàng ràng.

Chợ đêm là chợ họp suốt đêm trong những ngày gần tết.

Chợ phiên là chợ họp định kỳ :

- Lấy chồng phải gánh giang san,
  Chợ phiên còn nhỡ, giang san  còn gì ?

Tiếp đến, tùy theo cách thức nhóm họp, thì có : 

Chợ chạy là chợ họp ở những nơi bị cấm. Vì thế, khi thấy cảnh sát xuất hiện là…a lê hấp, ôm hàng chạy te tua, chạy vắt giò lên cổ, chạy có cờ luôn.

Chợ la là chợ họp dọc theo lề đường, vừa bán vừa rao hàng inh ỏi.

Chợ chồm hổm hay chợ trời là chợ họp ngoài trời, không nhà lồng, không quầy, không sạp.

Chợ nổi là chợ họp dưới sông, trên những ghe xuồng. Đây là một nét đặc biệt của vùng đồng bằng sông Cửu Long, mà những năm gần đây đã được đem vào chương trình du lịch miệt vườn.
Ngoài ra, gã cũng xin ghi nhận thêm hai kiểu chợ đặc biệt khác nữa, đó là chợ người và chợ đen.
Chợ người là nơi những kẻ thất nghiệp tụ họp để chờ được thuê mướn. Còn chợ đen, hay chợ âm phủ là nơi bán đồ lậu, hoặc bán với giá cao hơn giá qui định.

Tại Việt Nam, trong những năm gần đây hiện tượng mở chợ tùm lum được phát triển ở nhiều địa phương. Xã nào cũng mở chợ, phường nào cũng mở chợ. Người ta chỉ cần tìm mặt bằng, bỏ vốn xây một cái nhà lồng bề thế, rồi phân chia thành những sạp nhỏ, mà bán cho dân kinh doanh để kiếm lời.

Tuy nhiên, nếu không khéo tính toán, thì chợ đã xây xong, nhưng chẳng ai thèm tới thuê mua, như chợ Văn Thánh ở Saigon, hay được dùng làm chỗ cột trâu cột bò, bằng không thì cũng bỏ hoang, như một số chợ thuộc tỉnh An Giang.

Khi nền kinh tế được đi lên và mức sống của dân chúng xem ra khấm khớ và sáng sủa hơn, người ta thấy xuất hiện ồ ạt tại các thành phố một loạichợmới,đ
Cũng theo định nghĩa của “Từ điển Bách khoa Việt Nam”,
 thì siêu thị là một loại cửa hàng tổng hợp bán lẻ với diện tích bán hàng qui mô lớn và nhiều ngành hàng khác nhau, có từ vài ngàn đến vài vạn mặt hàng, được trang bị các phương tiện hiện đại để di chuyển hàng và người trong phạm vi của mình, thỏa mãn việc thanh toán nhanh cho hàng nghìn lượt khách muat rong một giờ.

Siêu thị là sản phẩm của một quá trình đô thị hóa. Thực vậy, khi những nhu cầu tiêu thụ tăng cao, mà người tiêu thụ lại không có nhiều thời gian, để đi từ cửa hàng này đến cửa hàng khác, mà mua sắm đồ dự trữ cho nhiều ngày trong tuần, nên cần phải có siêu thị.

Siêu thị thường được xây dựng ở ven ngoại thành phố, gần tuyến giao thông, thuận tiện cho người đi tới bằng phương tiện công cộng, có bãi để xe cho khách đến mua hàng. (TĐBKVN, cuốn 3, trang 760).

Siêu thị ở Việt Nam và nhất là ở Saigon, không phải chỉ được xây dựng ở ven ngoài thành phố, như siêu thị Cora Miền Đông và Cora An Lạc, mà còn nghiễm nhiên cắm dùi tại nhiều con đường lớn trong thành phố.

Có những siêu thị rất to lớn và hoành tráng, nhưng cũng có những siêu thị rất khiêm tốn và nhỏ bé.

Từ ngày siêu thị được mọc lên như nấm sau cơn mưa và trở nên gần gũi với sinh hoạt của dân chúng, thì nhiều người bỗng có thêm một sở thích, một cái khoái mới, đó là…cái khoái đi siêu thị.
Cái khoái này có nhiều điểm lợi: :


Thứ nhất là vì siêu thị nào cũng trang bị máy lạnh, nên vào đó ta trốn được cái nắng chói chang bên ngoài, đồng thời lại còn được hít thở những lọn không khí dịu mát, làm tỉnh  táo cả thần hồn.




Thứ hai là vì vào đó ta được tha hồ nhìn những con người qua lại, “dập dìu tài tử giai nhân, mày râu nhẵn nhụi áo quần bảnh bao”, cũng như được tha hồ ngắm những mặt hàng phong phú bày bán.

Thứ ba là vì vào đó, nếu trong túi rủng rỉnh những tiền, ta có thể mua được những hàng hóa chất lượng cao, mà không bị lừa gạt bởi hàng dổm, hàng nhái, như ngoài chợ trời, mặc dù giá cả trong siêu thị hơi bị cao.

Và sau cùng, đi siêu thị còn là dấu chỉ chứng tỏ ta cũng là người văn minh và tiến bộ.

Thời buổi bây giờ người ta nghiêng về lãnh vực chuyên môn, nên các siêu thị cũng rất đa dạng.
Có những siêu thị chuyên về cái ăn, bán đủ mọi thứ thực phẩm, từ con cá rô và cá lóc đến những thứ hải sản cao cấp.

Có những siêu thị chuyên về cái mặc, bán đủ mọi thứ áo quần, từ
 “nội y” đến “ngoại y”, từ “hàng hiệu” đến hàng xoàng xoàng bậc trung, thứ nào cũng có và tiền nào của nấy.

Có những siêu thị chuyên về cái nghe và cái nhìn, bán đủ mọi thứ máy móc, từ chiếc TV màn hình tinh thể lỏng đến các loại đàn, như
 “ọc”, “gui-ta”…nhưng chắc chắn là không có “đàn bà” hay đàn “tỳ bà”.

Hôm nay, gã được mấy tên bạn rủ đi “tham quan” siêu thị kim khí điện máy ở trên tỉnh, một siêu thị mới được cắt băng khánh thành và đưa vào sửdụng.

Vì là dân Hai Lúa trong ruộng,  nên trước khi đi cũng phải chăm sóc cái ngoại hình bên ngoài: Nào là rửa mặt và cạo râu, nào là đóng bộ áo quần
 “vía” nhất, để xóa đi những nét cơ cực lầm than và làm cho mình được…oách hơn một tí.



Trong lúc dạo quanh một vòng, từ trệt lên lầu, rồi lại từ lầu xuống trệt, gã vừa đi vừa suy gẫm và đưa ra ý nghĩ méo mó cũng như những so sánh khập khiễng của mình.

Trước hết, bọn gã dừng chân ở khu vực bán những dụng cụ khuếch đại âm hanh.

Nhìn vào những gian hàng, gã thấy: Nào là “amplie”: Có cái to như chiếc tủ gỗ, có cái gọn nhẹ như một món hàng xách tay. Nào là “micro”: Cái có dây, cái không dây và có cái chỉ nhỏ như đầu đũa để cài trên áo. Nào là những cặp thùng, lớn bé đủ mọi kích cỡ… Tiếng nhạc phát ra như đưa hồn lạc vào cõi thiên thai.

Những người bán còn cănd ặn: :

- Chúng tôi có chuyên viên đến lắp ráp tại nhà và dành giá đặc biệt cho những cơ sở như nhà thờ, nhà sinh hoạt, hộit rường…

Gã thầm nghĩ :

- Ở nhà, anh chồng nào cũng đã có một dàn âm thanh nổi rồi, cần gì phải mua và thuê người đến lắp ráp nữa. Dàn âm thanh nổi ấy chính là…bà xãvậy.

Đúng thế, mỗi buổi chiều khi tan sở về nhà, anh chồng thường được nghe những bản nhạc êm dịu từ dàn âm thanh ấy với những lời ca cẩm về tình trạng vật giá leo thang, thức ăn mắc mỏ, ngân sách thiếu hụt…Tiếp đến là về những ngang bướng ngỗ nghịch của cậu con trai, hay những thái độ khó hiểu của cô con gái.

Tuy nhiên, nếu chẳng may anh chồng đã sai lỗi điều chi, hay đã làm sự gì cho chị vợ buồn lòng, thì lập tức dàn âm thanh ấy liền đổi tông, phát ra những âm thanh đinh tai nhức óc với tất cả công xuất chát chúa của nó, khiến cho anh chồng, nếu có đủ bản lãnh, thì bịt tai chịu vậy, bằng không thì bỏ nhà xuống phố :

- Ô ta buồn, ta đi lang thang bởi vì ai…

Cái gay của dàn âm thanh này, đó là nó rất ít khi bị trục trặc kỹ thuật, đồng thời nó lại có thể tự động phát thanh bất cứ lúc nào, ngay cả  những lúc hàng xóm đang cần sự thinh lặng để nghỉ ngơi.

Và hơn thế nữa, thời gian bảo hành của nó lại dài bằng cả cuộc đời, thành thử phải gắng sức mà tập cho mình cái nhân đức…vâng lời chịu vậy, nếu không muốn cho cửa nát nhà tan, và xấu chàng hổ thiếp đối với bàn dân thiên hạ.


Rời khu vực âm thanh khuếch đại, bọn gã ghé thăm khu vực bán tủ lạnh.

Ở đây cũng vậy, sản phẩm thật là phong phú: Đủ mọi thứ nhãn hiệu như: Sanyo, National. Toshiba… Đủ mọi thứ kiểu cọ và kích cỡ: To có, nhỏ có, vừa vừa cũng có. Đủ mọi thứ công dụng: Bảo trì thức ăn, giữ tươi rau trái, rồi lại còn làm kem, làm đá….

Những cô bán hàng xinh xinh, luôn niềm nở tươi cười và không ngừng nhắcđi nhắc lại lời khuyến mãi :

- Ai mua tủ lạnh của chúng tôi, thì sẽ được tặng thêm những khuôn làm đá, những hộp đựng thức ăn và được chuyên chở miễn phí đến tận nhà…

Nghe xong những lời dụ khị này, gã bèn suy đi nghĩ lại trong lòng rằng:

- Ở nhà, anh chồng nào cũng đã có một chiếc tủ lạnh to đùng rồi, nên dinh về làm chi nữa cho thêm phiền phức. Và tủ lạnh trong gia đình cũng lại là chính…bà xã đấy!!!

Kinh nghiệm cho gã thấy: Chiến thuật “tủ lạnh”
 vốn dĩ là chiến thuật thường được các chị vợ sử dụng, mỗi khi xảy ra “chiến tranh giữa các vì sao”.

Thực vậy, sau một cuộc tranh luận đầy gay go dẫn tới sự cãi vã đầy căng thẳng trước một vài bất đồng nho nhỏ nào đó, mặc dù chiến sự vẫn còn tiếp diễn và chưa phân thắng bại, thì chị vợ bèn lập tức áp dụng chiến thuật “tủ lạnh”,với một nét mặt đầy băng giá, không cười và cũng chẳng nói.

Sau một chầu nhậu nhoẹt đàn đúm với bè bạn, anh chồng lỡ về muộn sau giờ…giới nghiêm, hay sau những lời phân trần hơn thiệt rất chân thành, mà anh chồng vẫn không chịu
 “ăn…nhời”, thì thế nào chị vợ cũng áp dụng chiến thuật “tủ lạnh” với một trái tim mùa đông, không hề biểu lộ  một chút cảm thông. Mặc cho anh chồng muốn làm gì thì làm, còn chị vợ vẫn cứ bất hợp tác.

Và nhất là nếu anh chồng chẳng may có những bước chân đi hoang, lỡ ngán cơm nhà mà xuống phố ăn phở, thì chiến thuật
 “tủ lạnh” lại càng được khai thác triệt để. Đêm nằm mỗi người quay một hướng, như miền Bắc và miền Nam ngày xưa, lấy vĩ tuyến 17 làm ranh giới, cấm vận về mọi phương diện, cũng như về mọi lãnh vực. Khiến cho anh chồng như bị tê liệt, bị dồn vào cái thế “việt vị và bất nhóc nhách”.

Cũng như tủ lạnh ngoài thị trường, tủ lạnh trong nhà cũng chất chúa trong khoang của nó những thứ đặc sản tuyệt vời như: Ổi, xoài, cóc, tầm duộc, me…và một rúm muối ớt.

Đồng thời, như những chiếc tủ lạnh đời mới có công dụng xả băng khi được mở ra, thì chiếc tủ lạnh trong nhà cũng sẽ tan băng, nếu như anh chồng biết điều một chút.

Thực vậy, mặc dù chiến tranh nóng không còn bùng nổ, nhưng chiến tranh lạnh vẫn cứ kéo dài, sẽ làm cho anh chồng trở nên héo hắt và quay quắt. Chi bằng hãy biết hạ mình xuống, năn nỉ ỉ ôi cho dù có phải gãy lưỡi đi chăng nữa, hãy biết thành thật khai báo, can đảm nhận lấy khuyết điểm và sẵn sàng thề thốt uốn nắn sửa đổi, thì chắc chắn sẽ được hưởng sự khoan hồng tha thứ. Lúc đó, băng giá sẽ tan, mùa xuân sẽ trở lại và chị vợ không còn giữ khuôn mặt đưa đám và đôi mắt treo cờ tang nữa.


Tiếp đến, bọn gã cùng nhau đứng ngắm nghía khu vực bán máy vi tính. 

Phải công nhận rằng trong những năm gần đây ngành tin học đã tiến được những bước khổng lồ. Các loại máy vi tính thi nhau ra lò như trăm hoa đua nở, mỗi loại đều có rất nhiều những chức năng, mà người sử dụng chẳng bao giờ dùng hết. Nào là máy để bàn, nào là máy xách tay…. Kè kè một cái “lap-top” bên mình, bỗng cảm thấy oai hẳn ra. Chẳng VIP, thì cũng là giám đốc. Mà chẳng giám đốc, thì cũng là dân áp phe, áp chảo thứ thiệc, chính hiệu con nai vàng ngơ ngác.

Loại máy nào cũng được những cô bán hàng giới thiệu là cực mạnh và cực nhanh. Ổ dĩa cứng có thể lưu giữ cả một tủ sách lớn, rồi lại còn biết bao nhiêu chương trình có thể cài đặt, thiên hình vạn trạng…

Cứ việc ngồi ở nhà, bấm con chuột vài cái, là có thể đi tham quan vòng quanh thế giới, cũng như có thể liên lạc với bạn bè khắp bốn phương trời…

Nghe vậy, gã bèn mỉm cười :

- Ở nhà, anh chồng nào mà chẳng có một dàn vi tính cực mạnh và cực nhanh. Dàn vi tính ấy cũng lại là chính…bà xã của mình.

Thực vậy, ổ dĩa cứng của chị vợ có thể lưu giữ rất nhiều sự kiện xảy ra trong dĩ vãng, trong hiện tại cũng như trong tương lai. Chẳng hạn tiền lương chính thức và tiền kiếm thêm mỗi tháng được bao nhiêu ? Số tiền ấy đã được chi cho những  khoản nào ? Tất cả đều được ghi nhớ cho đến đồng xu cuối cùng.

Đặc biệt là trong lãnh vực tình cảm
 “ngoài luồng” của anh chồng. Nếu chẳng may tình cờ chị vợ vớ được một bức thư có những lời lẽ mùi mẫm, bất chợt nghe được một giọng nói thỏ thẻ qua điện thoại, hay vô tình thấy được mấy bà hàng xóm xì xào bàn tán về những quan hệ thiếu trong sáng của anh chồng…thì lập tức tất cả đều được ghi vào bộ nhớ.

Sau đó, bất cứ lúc nào những sự việc ấy cũng đều có thể được mang ra tra hỏi, chì chiết và day dứt, để rồi trở thành điệp khúc của một
 “bài ca không bao giờ quên”. Còn nếu anh chồng đã thực sự…ăn vụng, tình hình sẽ trở nên ngột ngạt và căng thẳng hơn nhiều.

Một chiếc máy tính, thỉnh thoảng cũng cần phải được nâng cấp và cài đặt thêm những chương trình mới. Thế nhưng, đối với chị vợ thì hơi bị khác một chút, đó là chị ta có thể tự nâng cấp về nhiều phương diện, chẳng hạn: Nâng cấp về dung nhan bằng cách đi mỹ viện, nâng cấp về áo quần bằng cách mua sắm tại các cửa hàng, cho dù nhiều bộ chẳng bao giờ được chị ta mặc lấy mộ tlần.

Có một câu chuyện kể lại rằng :

Nhân dịp sinh nhật, chị vợ muốn nâng cấp cho anh chồng, nên đã tự động đi mua sắm quà tặng. Đi từ trưa cho đến tận chiều mới về. Vừa bước chân vào nhà chị vợ đã ríu rít khoe:

- Em vào tiệm mua giày tặng anh, nhưng khổ nỗi em không biết cỡ bao nhiêu. Vừa khi ấy, em mới nhìn xuống và phát hiện ra giày của mình đã…tơi tả hết rồi. Vả lại, bà chủ hứa trước sẽ bán với giá cực rẻ, nên em mới mua một đôi. Sang hiệu quần áo, nhưng lại không tài nào nhớ rõ
 “size” của anh là bao nhiêu. Mà ông chủ ở đó nói chỉ giảm giá cho một bộ duy nhất với mỗi khách hàng, nên em cũng chỉ thử và mua có một bộ. Đến tiệm mũ, thì cô chủ nói cái mũ này hợp với khuôn mặt của em hơn, còn anh thì cô ấy chưa gặp, nên không rõ…

Anh chồng nghe tới đây bèn sốt ruột :

- Thế thì rốt cuộc sinh nhật này em định tặng chồng cái gì  nào ?

Chị vợ hồn nhiên nói tiếp:

- Em tặng…em cho anh, bộ chưa đủ sao? Anh không nhớ là hồi mới cưới, anh vốn thường nói: Em là món quà vô giá của cuộc đời anh!!!

Một chiếc máy vi tính, đôi lúc cũng dở quẻ, không chịu hoạt động. Rõ ràng tối hôm trước mình còn ngồi làm việc với nó tới tận khuya, thế mà sáng hôm nay nó bèn trở chứng, khởi động thế nào cũng chẳng được. Đã sử dụng máy, thì thế nào cũng sẽ bị nó móc. Âu đó cũng chỉ là qui luật của muôn đời.

Chị vợ cũng vậy, có những ngày bỗng dưng chị ta nổi giận đùng đùng, nhưng cũng có những lúc chị ta bỗng chìm vào cõi thinh lặng, một sự thinh lặng dễ sợ, đến nổi cả gai ốc…Tính khí thay đổi thất thường đến quỉ thần ũng không lường nổi.

Tuy nhiên cũng đừng nên hỏi xem chị ta có sự gì bất ổn, bởi vì:

- Hôm nay trời nhẹ lên cao,
“Em buồn” không hiểu vì sao em buồn.

Siêu thị kim khí điện máy là cả một tòa nhà rộng lớn với ba tầng lầu. Phải dành cả một buổi để đi tham quan. Trước mặt gã, còn rất nhiều khu vực khác nữa, chẳng hạn: Khu vực bán điện thoại di động, khu vực bán đầu dĩa, khu vực bán các thứ máy phục vụ cho nhà bếp như lò nướng, lò viba, máy quay sinh tố…

Những loại máy móc này, gã xin nhường lại cho quí anh chồng suy gẫm, để xem có được những đường nét nào xêm xêm và hao hao giống với chị vợ yêu của mình không nhé.

Gã Siêu

 

Chuyện Gã Siêu 129: Cơm và Phở

Cơm và Phở Chuyện Gã Siêu 129

Trong một số báo gần đây, gã đã phân tích lời các cụ ta ngày xưa đã bảo : Ông ăn chả, bà ăn nem Chuyện Gã Siêu 129

Trong một số báo gần đây, gã đã phân tích lời các cụ ta ngày xưa đã bảo : Ông ăn chả, bà ăn nem. Đại khái có nghĩa là : Nếu ông có bồ nhí, thì bà cũng phải có kép nhỏ.Nói như vậy, thì hơi bị oan cho quí bà quí cô một tí, bởi vì người phụ nữ thường sống bằng cả trái tim của mình và tình yêu đối với họ bao giờ cũng chiếm địa vị số một. Do đó, họ thừơng chung thủy và ít khi đi hoang trong tình yêu.Còn đờn ông con giai thì khác. Tục ngữ cũng đã bảo :
Đờn ông những tám lá gan.
Lá ở cùng vợ, lá toan cùng người.

Vì thế, chuyện ăn nem của các ông chồng xem chừng có vẻ như khí bị nhiều. Thực vậy, khung cửa đầu tiên để cho tình yêu đi vào người đờn ông thường là con mắt. Người đờn ông dễ bị hớp hồn bởi vẻ đẹp bên ngoài. Chẳng thế mà “ranh ngôn thời nay” đã bảo : Lập gia đình giống như đi ăn nhà hàng với bạn bè. Bạn gọi món bạn muốn, nhưng khi nhìn thấy những gì người khác gọi, bạn lại ước chi mình đã gọi giống như vậy. Câu ranh ngôn này thực đúng với kinh nghiệm, với qui luật của muôn đời :Vợ người thì đẹp, văn mình thì hay.
Trong những năm gần đây, báo chí tại Việt Nam không còn dùng cái phạm trù “chả và nem” nữa, bởi vì nó đã xưa rồi Diễm ơi, nhưng lại thích dùng cái phạm trù “cơm và phở”. Cơm ám chỉ bà xã, còn phở ám chỉ bồ nhí.Gã xin ghi lại nơi đây những lời phát biểu thật hăng tiết vịt trong cuộc đấu láo vung vít tại một câu lạc bộ “bồ nhí”. Mấy ông to gan lại bạo phổi, muốn thiết lập phòng nhì, đã vuốt chòm râu dê của mình mà xuất khẩu thành thơ. Ông thì ngâm nga :
Vợ là địch,
Bồ bịch mới là ta.
Khi chiến sự xảy ra,
Ta buộc về với địch,
Nằm trong lòng địch,
Ta vẫn nhớ đến ta.

Có ông lại cười khà khà mà ví ví von von :
Sáng chở cơm đi ăn phở.
Trưa chở phở đi ăn cơm.
Chiều cơm về nhà cơm, Phở về nhà phở.
Tối Nằm với cơm, mà vẫn mong về phở.

Nói thế thì nói, nhưng vẫn phải luôn luôn đề cao cảnh giác :
Vợ là cơm nguội của ta
Nhưng là phở tái của cha láng giềng!!!

Hôm nay, gã xin dựa vào một tài liệu bất ngờ chộp được ở đâu đó để phân tích về những cái lợi và những cái hại của cơm và của phở.
Nhận định thứ nhất, đó là cơm thường được ăn khi đói, còn thường được ăn khi…thích.
Thực vậy, thiên hạ thường bảo :Con người ăn để mà sống, chứ không sống để mà ăn. Như một chiếc máy, muốn chạy tốt thì cần phải nạp đủ nhiên liệu, con người cũng vậy, chính khi ta ăn là lúc ta nạp nhiên liệu vào cho cơ thể, nhờ đó cơ thể mới có thể lao động : ăn để mà sống. Như thế, ăn trở thành một sinh hoạt chính yếu nơi con người. Ta phải vất vả, bới đất nhặt cỏ, đổ mồ hôi sôi nước mắt mới tìm được chén cơm manh áo cho bản thân và gia đình.Tuy nhiên, nếu nghĩ rằng : sống để mà ăn, thì chuyện đời lại mang một ý nghĩa khác. Lúc bấy giờ, người ta sẽ ăn cho khoái khẩu, hay ăn cho thỏa mãn…nhục dục, như một số nhà đạo đức đã lên tiếng chỉ trích. Và thánh Phaolô cũng đã diễn tả :Họ lấy cái bụng của mình làm chúa. Bình thường, nếu đói thì phải ăn, bẵng không, tay chân sẽ bủn rủn, thậm chí con ruồi đậu vào mép cũng chẳng buồn xua. Lúc ấy, bỗng cảm thấy mình là “người Việt mắt hoa” chính hiệu con nai vàng ngơ ngác, hay lại cảm thấy như có cả một sư đoàn kiến đang lổm ngổm bò trong bụng. Đối với người Việt Nam, thực phẩm được nhồi nhét vào cái bao tử rỗng tuếch lúc bấy giờ thường là cơm. Chín hột gạo mới được một hột cơm :
Ai ơi bưng bát cơm đầy
Dẻo thơm một hột, đắng cay muôn phần.

Tóm lại, cơm thường được ăn khi đói, còn phở thì khác. Phở thường được ăn khi…thích. Cũng vậy, khi hứng tình nổi lên, nhất là trong túi lại rủng rỉnh có một nắm tiền, anh chồng chán cơm bèn đi tìm…phở để xơi cho đã thèm, hay nói cách khác, chán bà xã bèn đi tìm…bồ nhí để mà hú hí nơi phòng khách sạn, nơi quán bia ôm hay cà phê đèn mờ.
Nhận định thứ hai, đó là cơm thì thường đơn giản, còn phở thì thường đa dạng.
Thực vậy, chỉ việc vo gạo và cho vào nồi, rồi đổ nước và đun lên, thế là xong ngay một nồi cơm. Đơn giản chỉ có vậy. Hơn thế nữa, ngày nào ta cũng xơi cơm, ít là hai lần, thành thử cơm trở thành một thứ thực phẩm quá quen thuộc. Thậm chí, đôi lúc vì quá quen thuộc mà hóa ra nhàm chán. Trong lúc nhàm chán, “ngấy đến tận cần cổ”, thấy cơm mà nuốt chẳng vô, người ta bỗng thèm phở.Đi qua một tiệm phở, chỉ cần ngửi thấy cái hương vị thơm tho bốc lên từ thùng nước lèo, là nước miếng đã đầy tràn cả miệng. Phở thật tuyệt vời và đa dạng.

Trước hết, phở đa dạng về chủng loại. 
Ở miền Nam gã thấy có phở gà, phở bò. Riêng về phở bò, thì có phở tái và phở chín. Nhưng ở miền Bắc, có lần đi chơi vịnh Hạ Long, bất ngờ ghé vô một quán bên đường để ăn sáng, gã còn thấy có cả phở vịt và phở ngan nữa. Có lẽ vì sợ bị lây nhiễm bệnh cúm gà, mà thiên hạ đã chế biến thành những thứ phở “tương cận” chăng ? Trước năm 1975, tại Saigon có những tiệm phở thật nổi tiếng, đã từng…chui vào văn học sử, vì được ngòi bút của mấy ông văn thi sĩ đá động tới. Thậm chí báo Văn Học còn phát hành cả một số đặc biệt, để chỉ nói về phở mà thôi. Điểm qua những tiệm nổi tiếng, gã thấy người ta ca tụng phở gà ở đường Hiền Vương, phở Tàu Bay ở đường Lý Thái Tổ, phở Quyền và phở 94 hình như ở đường Võ Tánh, Phú Nhuận…Tại những tiệm nổi tiếng này, người ta phải xếp hàng và chờ đợi tới phiên của mình, mới có được một tô phở nóng.

Tiếp đến, phở còn đa dạng về khẩu vị.
Bước vào một tiệm phở, ta có thể gọi tái hay chín. Mà tái thì còn có thể là tái nạm gầu, rồi cộng thêm với nước béo. Trước một tô phở nóng hổi như đang bốc khói, tùy sở thích ta có thể nêm tương đậu và tương ớt, vắt thêm một vài miếng chanh, rồi lại còn ngắt mấy cọng rau thơm mà bỏ vô. Quả thực là đậm đà khó quên. Chẳng thế mà phở đã trở thành một món ăn đặc sắc của người Việt Nam ở trong nước cũng như ở ngòai nước. Và ông Clinton, tổng thống nước Mỹ, khi sang thăm Việt Nam, đã đi bát phố và cũng đã xơi một tô phở. Từ Saigon ra Hà Nội, ban sáng ghé vô tiệm phở mà cảm thấy tức anh ách, bởi vì phở Hà Nội không có tương ớt và rau thơm, mà chỉ có bột ngọt, nên nó có vẻ nhạt nhẽo vô duyên sao ấy. Chính vì những lý do trên, phở thường thơm tho và hấp dẫn hơn cơm, ấy là gã chưa nói tới những trường hợp gặp sự cố, nồi cơm bị trên sống, dưới khê, tứ bề nhão nhoét…thật là chán mớ đời. Cũng thế, bà xã suốt ngày ở với ta, sáng tối đụng đầu nhau theo kiểu :
Đi ra chỉ mình với ta,
Đi vào thì cũng chỉ ta mới mình.

Miết rồi hóa nhàm hóa chán. Ấy là gã chưa nói tới trường hợp có những bà vợ, một khi đã “đưa chàng về dinh” thì không còn lo lắng tới ngoại hình của mình nữa.  Trước kia chải chuốt bao nhiêu, thì bây giờ lại lôi thôi lếch thếch bấy nhiêu. Mặt mũi thì lem luốc chẳng còn hình tượng người ta. Áo quần thì xốc xếch ống cao ống thấp.  Trong khi đó, bồ nhí thì lại đa dạng về cách thức ăn mặc và chiều chuộng, thành thử “cuốn hút” hơn, khiến ông chồng cứ chết mê chết mệt, chứ chẳng phải bùa mê thuốc lú nào cả.
Nhận định thứ ba, đó là cơm thường được ăn ở nhà, còn phở thường được ăn ở quán, mà bầu không khí ở quán thường thì vui hơn ở nhà.
Thực vậy, bầu không khí ở nhà thường tẻ nhạt, nhất là khi bà vợ mắc phải chứng bệnh…than. Ông chồng suốt ngày vất vả làm việc để kiếm tí tiền còm, như cánh chim tha mồi về tổ. Và khi về tới tổ, thường mong muốn được nghỉ ngơi, được chiều chuộng cho bõ công sức lao động của mình. Thế nhưng, vừa chui đầu vào nhà là đã phải nghe những điệp khúc buồn. Nào là thời buổi gạo châu củi quế. Nào là vật giá leo thang. Nào là con cái ngang bướng ngỗ nghịch. Nào là bệnh tật đau yếu…Thôi thì trăm thứ bà giằng. Bầu không khí tẻ nhạt đã đành, mà nhiều lúc nó còn trở nên căng thẳng và ngột ngạt. Chẳng hạn như khi người ta còn đang bất đồng ý kiến với nhau về chuyện mua sắm hay về chuyện dạy bảo con cái. Chẳng hạn như khi người ta còn đang giận hờn với nhau về chuyện ông xã đi phố với một bóng hồng lạ lẫm hay về chuyện bà xã bị bể hụi, vay mượn tùm lum nên nợ nần cứ giáng xuống trên đôi vai gầy.
Trong khi đó, ở quán người ta được tự do ăn, tự do nói, tự do cười, nhất là khi gặp được mấy tên bạn chí cốt nữa, tha hồ mà “xả sú bắp”, cộng thêm vào đó mấy cô chiêu đãi viên cứ lượn qua lượn lại trong bộ áo quần quá nghèo đến độ thừa da thiếu vải. Còn cô bồ nhí thì lại sẵn sàng gắp giùm mồi để bỏ vào miệng, sẵn sàng nâng hộ cốc để đổ bia vào mồm, sẵn sàng cho mượn bờ vai để tựa đầu, cũng như sẵn sàng cho mượn cặp đùi để gếch chân, rồi lại còn khăn nóng khăn lạnh…Thảo nào mấy ông xã cứ vắt óc đưa ra một ngàn lẻ một lý do để dối gạt bà xã, nào hội họp, nào chiêu đãi, nào tiếp khách…tha hồ mà ghé quán. Cho tới lúc này thì phở đang chiếm phần ưu thế, dầu vậy cuộc đời bao giờ cũng có những chữ “nhưng” chết tiệt của nó. Chính vì những chữ nhưng chết tiệt này mà cơm dần dần lấy lại được vị trí số một của mình.
Nhận định thứ tư, đó là cơm thường được bảo quản kỹ nên nguy cơ bị ngộ độc thấp, còn phở thường không được bảo quản kỹ nên nguy cơ bị ngộ độc cao.
Thực vậy, cơm được nấu chín và để trên bếp, tới khi ăn mới bắc xuống, nên bữa ăn trong gia đình bao giờ cơm cũng nóng và canh cũng sốt, cho nên rất an toàn và bảo đảm cho sức khỏe. Trong khi đó phở thì khác. Cách đây không lâu, báo chí tại Việt Nam đã phanh phui hầu hết những cơ sở làm bánh phở, tại Hà Nội và Saigon, vì muốn cho bánh phở được dẻo, dai và dòn, người ta đã dùng hàn the và thậm chí còn dùng cả “phoọc môn” ướp xác chết, mà cho vào bột gạo. Tất cả đều là những chất độc hại cho cơ thể.Thêm vào đó, thịt dư từ ngày hôm qua, bây giờ được tái phối trí bằng cách mấu lại cho thực khách xơi. Hay thịt được thái ra, để khơi khơi giữa trời và đất, mặc cho bụi bậm từ xe cộ và những người qua lại trên đường được cơn gió thổi tới mà bám vào. Rồi trong tiệm, ngổn ngang trên sàn những giấy lau bát, những giấy chùi miệng, những cọng rau không còn lá và cả những nước miếng, đờm rãi người ta khạc nhổ mà tương xuống. Có lần gã quan sát thấy vì đông khách, nên ông đầu bếp mồ hôi mồ kê nhễ nhại, thậm chí có cả những giọt mồ hôi vô tư rớt vào thùng nước lèo hay vô tư rơi xuống đống thịt đã được thái sẵn. Sống trong gia đình với bà xã, ta không sợ bị lây nhiễm bệnh tật, mà hơn thế nữa, còn được o bế về sức khỏe một cách tận tình và chu đáo :
Dù không sinh đẻ ra ta
Nhưng công nuôi dưỡng thật là lớn lao.
Khi ta đau ốm xanh xao
Vợ lo chăm sóc hồng hào khỏe ngay.

Chẳng thế mà để chống lại với những chứng bệnh do tệ đoan xã hội gây nên, người ta đang hô hào trở về nếp sống chung thủy, một vợ một chồng. Chứ còn lang bang hết cô này tới cô kia, không sớm thì muộn cũng sẽ rơi vào tình trạng liệt kháng nặng nề và trầm trọng. Ngày xưa người ta thường nói đến những chứng bệnh nguy hiểm như phong tình, hoa liễu, giang mai…Vi trùng “gồ nô”được phe chị em ta trao ban cho ta, để rồi bây giờ ta lại đem về tặng lại cho bà xã ta và gây nên hệ lụy đớn đau cho con cho cháu ta. Tuy nhiên, những chứng bệnh đã từng vang bóng một thời, đã từng làm mưa làm gió ấy, dường như đã chìm vào dĩ vãng, bởi vì hiện nay người ta đang ngán ngẩm trước cơn bệnh thế kỷ, cơn bệnh Sida vốn chưa có thuốc chữa và một trong những con đường lây nhiễm HIV, đó là quan hệ tình dục một cách bừa bãi.
Nhận định thứ năm đó là khi ăn cơm, ta muốn ăn bao nhiêu cũng được và lại đỡ tốn tiền. Còn khi ăn phở, ta chỉ được ăn theo một chế độ nào đó và luôn phải…xùy tiền ra.
Đúng thế, cuối tháng lĩnh lương, ta chỉ việc hân hoan đem về giao nộp cho bà xã, còn mọi sự lỉnh kỉnh khác như tính toán cộng trừ nhân chia…bà xã sẽ phải lo tất tật. Lúc bấy giờ ta có thể vểnh chòm râu cá chốt lên mà phán :
Thế sự thăng trầm quân mặc vấn.
Chuyện đời lên xuống anh hỏi làm gì.

Hay rít một điếu thuốc lào rồi “quắc mắt khinh đời cái bộ anh”.
Đến bữa, ta chỉ việc xơi, xơi bao nhiêu cũng được. Thậm chí xơi cho đến độ căng rốn cũng chẳng ai bảo sao. Trong khi đó, lỡ đèo bòng bồ nhí ta phải lo toan mọi sự từ A cho tới Z, từ nơi ăn cho tới chốn ở, từ những nhu cầu chính yếu của kiếp người cho tới cả những phụ tùng lỉnh kỉnh của đờn bà con gái. Tất cả đều lệ thuộc vào cái vấn đề “đầu tiên”. Nếu không có những thủ tục đầu tiên này, thì e rằng ta sẽ bị bồ nhí đá văng cái rụp. Và nếu ví ta yếu, thì đường ai người ấy đi, bởi vì tình nghĩa đôi ta chỉ có thế mà thôi.
Tóm lại, khi không có tiền ta vẫn có thể về nhà ăn cơm, chứ đừng dại dột vác cái bản mặt tới tiệm phở. Hay nói cách khác, vì phở tốn tiền hơn cơm, nên ta chỉ có thể ăn phở khi ví ta đã căng phồng mà thôi. Phở làm cho ta tốn tiền hao bạc đã đành, mà nhiều lúc phở còn làm cho ta thân bại danh liệt. Không thiếu gì những ông tai to mặt lớn, chỉ vì nghe theo những lời đường mật của bồ nhí, hay chỉ vì không đủ khả năng cung phụng cho những nhu cầu của bồ nhí, nên đã can đảm ăn hối lộ, anh dũng biển thủ công quĩ, để rồi bây giờ âm thầm nằm trong nhà đá bóc lịch, “vắt chân lên trán” mà ngẫm nghĩ chuyện đời.
Và sau cùng, nhận định thứ sáu đó là cơm thì ta phải ăn thường xuyên, còn phở thì không nhất thiết phải là như thế.
 Như trên gã đã xác quyết : Cơm chính là thức ăn thường xuyên, mỗi ngày ta đều phải dùng tới hai ba lần ở nhà. Còn phở thì khác, xuân thu nhị kỳ ta mới đến tiệm. Thậm chí có người cả đời vẫn chưa biết mùi phở là như thế nào. Cũng thế, bà xã ở cạnh ta hai mươi bốn trên hai mươi bốn, ngày cũng như đêm. Còn bồ nhí thì khác, chỉ những lúc ta rửng mỡ và thừa tiền, hay những lúc ta thất bại chua cay, bị đời đá lên đá xuống, ta mới tìm chỗ giải khuây để trút bầu tâm sự hay để trả thù cuộc đời đen bạc. Chính vì thế, ta có thể kết luận một cách mạnh mẽ như sau : Dù phở hấp dẫn hơn cơm, nhưng ta chỉ có thể ăn cơm trừ phở, chứ chẳng thể nào ăn phở trừ cơm.
Đúng thế, nếu thử ăn phở dăm bữa liền, thế nào ta cũng cảm thấy xót ruột và nóng cả người, nóng âm ỉ từ trong lục phủ ngũ tạng, để rồi tìm về với cơm là món ăn truyền thống. Cũng vậy, sau những bước chân đi hoang, cặp kè với bồ nhí, thế nào cũng có lúc lương tâm thức giấc, ta bỗng nhớ tới vợ tới con. Ấy là gã chưa nói tới tình huống ta bất đắc dĩ phải ở ngoài vòng phủ sóng vì hết tiền, vì ốm đau hay vì thân bại danh liệt…Không sớm thì muộn, những ông chồng bạc bẽo ấy cũng sẽ ca bản : Tung cánh chim tìm về tổ ấm. Chả biết lúc bấy giờ bà xã có còn đủ khoan dung mà tha thứ cho hay không mà thôi. Ý thức được những tình huống não nùng và bi đát do phở gây nên, không chi bằng bây giờ , hỡi những ông chồng “yêu rấu”, ta hãy quyết tâm trở thành những ông xã….ngoan :
Chồng em không thích ăn quà,
Đi đâu cũng thích về nhà ăn cơm.
Con bò trọn kiếp nhai rơm
Chồng em trọn kiếp ăn cơm…ở nhà.

Tới đây gã xin mượn mấy dòng thơ…thẩn của một tác giả tên là Linh Cơ, như một kết luận :
Hạnh phúc thay đời ta có Cơm
Những người chồng tốt được danh thơm,
Đều nhờ Cơm cả, yêu Cơm lắm,
Đi đâu xa cũng nhớ về Cơm.


Mấy ông hư chẳng thiết gì Cơm
Ăn bánh trả tiền,  Phở ngọt thơm,
Đã “quen mui thấy mùi ăn mãi”
Đầy bụng về nhà chán bỏ Cơm
Mong ai cũng một dạ cùng Cơm
Ăn mãi ngon lành, mãi ngọt thơm

Cơm tẻ no, Phở cho chả thiết,
Đi đâu xa cũng nhớ về Cơm

Gã Siêu

 

Chuyện Gã Siêu 130: Tu tại gia

Tu tại gia Chuyện Gã Siêu 130

Cách đây không lâu, gã có đọc được một câu chuyện đại khái như thế này: Có ba người cùng tôn Chuyện Gã Siêu 130

Cách đây không lâu, gã có đọc được một câu chuyện đại khái như thế này:
Có ba người cùng tôn giáo, gồm một nhà truyền giáo, một anh tài xế lái xe đò và một bác nông dân có vợ và mười đứa con. Ba người đều thâm niên bốn mươi năm chức nghiệp, đã qua đời cùng một giờ, cùng một ngày và cùng được lên trình diện Chúa, để xin vào thiên đàng. Ba người cùng tới một lúc, nên Thánh Phêrô mới nói:
– Các anh hãy tự nhường nhịn nhau, vậy anh nào muốn vào trước?
Nhà Truyền Giáo nói:
– Hai anh dành cho tôi vào trước được không?
Anh tài xế và bác nông dân đều kính nể vị lãnh đạo tinh thần, chẳc hẳn người có nhiều công lao, nên đồng thanh cất tiếng cùng một lúc:
– Chúng tôi xin nhường ngài vào trước.
Nhà truyền giáo rất lấy làm hãnh diện thấy mình được nhường, cúi đầu chào thánh Phêrô và chững chạc tiến vào cửa Thiên đàng, quỳ trước Thiên Nhan và tâu:
– Muôn lạy Chúa, con là nhà truyền giáo đã làm việc thay thế các Tông Đồ, suốt bốn mươi năm chuyên lo rao giảng Lời Chúa nhân từ cho giáo dân, xin cho con được vào Thiên đàng trước.
Chúa ngắm nhìn nhà truyền giáo với tấm lòng yêu thương dạt vào và rồi xuất khẩu thành thơ, Ngài phán:
– Bốn mươi năm dạy dỗ Lời Cha
Con giảng giáo dân ngủ gật gà
Đâu hiểu Phúc Âm mà áp dụng
Ra ngoài tạm nghỉ, đợi chờ Ta.

Nhà truyền giáo lủi thủi lui ra. Anh tài xế nói với bác nông dân:
– Bác nhường cho tui vào trước nhé vì tui thường chở bác đi đây đi đó.
Bác nông dân gật đầu chấp nhận vào sau chót. Anh tài nhanh nhảu cúi đầu chào thánh Phêrô và tiến vào cửa Thiên đàng, quỳ xuống, rồi ngẩng mặt lên chiêm ngưỡng Chúa và tâu:
– Muôn tâu lạy Chúa! Con làm tài xế xe đò, suốt bốn mươi năm con phục vụ đồng bào, chuyên chở vợ đi thăm chồng, con đi thăm cha, đem tình thương yêu đến với mọi người. Thỉnh xin Chúa cho con được vào Thiên đàng sớm.
Chúa nhìn anh tài xế, Ngài mỉm cười:
– Ừ, kể ra con cũng có nhiều công to đáng được thưởng, tuy nhiên con tạm ra ngoài nghỉ, chờ Cha xem kỹ lại một số hồ sơ vừa trình lên thưa kiện con vì bị thương dập mũi, trầy trán gì đó mà Cha chưa kịp xem hết.
Cũng xuất khẩu thành thơ, Ngài phán:
– Xe đò chuyên chở khách đi xa
Thăm viếng chồng, cha cũng tuyệt mà
Đáng thưởng Thiên đàng nhờ lái giỏi!
Mỗi lần con thắng, chúng kêu Ta!

Anh tài xế cũng chưa được vào, phải lui ra và ngồi chờ. Đến lượt bác nông dân, bác rụt rè sợ sệt vì nghĩ bụng hai người có công lớn như vậy mà chưa được vào. Còn mình chỉ có cày sâu cuốc bẫm, trồng trọt để nuôi vợ, nuôi con, đâu có công lao gì, thì làm sao vào nổi Thiên đàng, nên rất hồi hộp lo âu! Anh trịnh trọng cúi đầu chào thánh Phêrô và nhỏ nhẹ thưa:
– Bẩm ngài, con được phép vào chưa?
Thánh Phêrô gật đầu và  nói:
– Con hãy vào trình diện Chúa đi.
Bác nông dân rụt rè tiến vào, còn cách cửa Thiên đàng cả trăm mét, bác đã quỳ xuống và di chuyển bằng hai đầu gối, gần đến cửa anh cúi rạp đầu và khúm núm tâu:
– Bẩm lạy Cha nhân từ! Con là một nông dân dốt nát, nghèo hèn, bốn mươi năm chỉ biết cày sâu cuốc bẫm, trồng trọt để nuôi vợ và mười đứa con, ban tối còn phải phụ bà xã rửa chén, cuối tuần còn phải lau nhà nữa. Xin Cha rộng lòng thương cho con được nương náu dưới mái nhà thân yêu của Cha là con sung sướng lắm rồi. Cha muốn con làm bất cứ việc gì, con cũng xin vâng theo!
Chúa nhìn bác nông dân một cách trìu mến và Ngài phán:
– Con quả thực có công lớn.
Rồi Ngài đọc mấy vần thơ chợt nghĩ ra:
– Làm chồng chiều vợ tuyệt vời thay
Nhịn nhục khôn ngoan đáng bậc thầy!
Suốt bốn mươi năm con chịu nổi
Thiên đàng, Cha thưởng bước vô ngay.

Từ hình ảnh bác nông dân âm thầm chu toàn những bổn phận của mình, gã bỗng nhớ tới mấy câu ca dao về đường tu, thì cũng có dăm bảy đường:
– Thứ nhất thì tu tại gia,
Thứ nhì tu chợ, thứ ba tu… dòng.

Là con nhà có đạo, chúng ta thường hiểu chữ tu là dấn thân theo đuổi lý tưởng phục vụ Chúa và người khác. Lý tưởng ấy được thực hiện bằng hai cách,  đó là tu triều và tu dòng. Tu triều là dâng mình cho Chúa với mục đích làm công việc mục vụ, không bị ràng buộc bởi lời khấn khó nghèo và đời sống chung, nhưng đoan hứa giữ sự độc thân và vâng phục Giám mục như bề trên trực tiếp của mình. Còn tu dòng là dâng mình cho Chúa, bằng cách theo đuổi sự hoàn thiện của Tin Mừng: khó nghèo, trong sạch và vâng phục, với đời sống chung của cộng đoàn, được biểu lộ qua việc tuyên khấn công khai vĩnh viễn hay tạm thời theo qui luật riêng của từng dòng.
Tuy nhiên, nếu hiểu chữ tu theo nghĩa rộng là sửa sang lại cho hoàn thiện, nhất là bằng cách uốn nắn những sai lỗi, để trở thành một con người tốt lành và thánh thiện hơn, thì đó phải là bổn phận đầu tiên của mọi người, ở mọi nơi và trong mọi lúc. Đồng thời gia đình chính là môi trường thuận tiện để chúng ta thực hiện lý tưởng đời tu của mình.
Vì thế, ngoài tu triều và tu dòng, chúng ta còn có một cách tu khác nữa, đó là tu nhà hay tu tại gia, nghĩa là cứ ở tại nhà, cứ sống trong gia đình của mình mà tu bằng cách sửa đổi những khuyết điểm và chu toàn những bổn phận của đấng bậc mình: Là con cái thì phải thảo kính và vâng lời cha mẹ; là vợ chồng thì phải yêu thương và trung thành với nhau; là anh chị em thì phải hoà thuận và giúp đỡ lẫn nhau.
Các cụ ta ngày xưa đã từng nói: Phải tu thân trước đã, rồi sau mới tề gia, trị quốc và bình thiên hạ. Việc tu thân này tiên vàn phải được thực hiện ngay tại gia đình của mình, bởi vì nhiều khi chính những sai lỗi của chúng ta đã làm cho những người thân yêu buồn phiền, cuộc sống trở nên ngột ngạt và tình yêu đi dần tới chỗ rạn vỡ. Muốn được thương thì chúng ta cần phải trở nên một người thương được.
Tuy nhiên trong thực tế, chúng ta giống như người mang hai cái giỏ. Cái giỏ phía trước đựng những sai lỗi của người khác, còn cái giỏ phía sau lưng thì đựng những sai lỗi của mình. Bởi đó, chúng ta thường nhìn thấy rất rõ những sai lỗi của người khác, để rồi lên tiếng phê bình chỉ trích một cách gắt gao. Đang khi đó, những sai lỗi của bản thân thì lại không nhìn thấy. Và nếu có nhìn thấy, thì cũng sẽ đưa ra một ngàn lẻ một lý do để bênh vực, để bào chữa. Chúng ta thường rộng rãi với bản thân mà nghiêm khắc với người khác. Đáng lý ra chúng ta phải rộng rãi với người khác mà nghiêm khắc với chính bản thân mình.
Ngoài ra, gia đình còn là một xã hội thu nhỏ, trong đó chúng ta có được những mối liên hệ với nhau. Vì thế, việc tu nhà hay tu tại gia đòi buộc chúng ta phải chu toàn những bổn phận của đấng bậc mình, để làm cho gia đình thực sự trở thành một mái ấm ngập tràn hạnh phúc.
Trước hết, là vợ chồng chúng ta có bổn phận phải yêu thương, hoà thuận, trung thành và giúp đở lẫn nhau.
Hiện nay, nền tảng gia đình đang bị lung lay tận gốc rễ và hôn nhân đang rơi vào một cuộc khủng hoảng trầm trọng. Số những đôi vợ chồng lôi nhau ra toà để ly dị mỗi ngày một gia tăng. Vậy phải làm thế nào để cứu vãn tình trạng đen tối này?
Theo gã nghĩ: Cái qui luật muôn đời của tình yêu, chính là sự hy sinh. Thực vậy, thánh nữ Têrêsa đã bảo:  Tình yêu chân thật phải được nuôi dưỡng bằng hy sinh. Hay như một câu danh ngôn đã nói: Hãy cho tình yêu vào máy mà cán, nếu nó tiết ra chất hy sinh, thì đó là tình yêu thứ thiệc, bằng không thì đó chỉ là một tình yêu dỏm mà thôi. Và tình yêu thứ thiệc này thì đáng giá bằng cả cuộc đời.
Nếu suy nghĩ, chúng ta thấy tình yêu và sự hy sinh luôn gắn bó mật thiết với nhau. Hy sinh mà không có tình yêu thì đó chỉ là những sự thừa thãi. Còn tình yêu mà vắng bóng hy sinh, thì đó chỉ là những lạm dụng và giả dối, như Tagore đã nói: Tại sao hoa kia lại tàn và suối kia lại cạn. Xin thưa, chỉ vì người ta đã hái hoa mà ép vào ngực, chỉ vì người ta đã đắp đập chặn suối. Nếu không biết vượt qua tính ích kỷ thì tình yêu cũng sẽ khô cạn và tàn héo như vậy.
Hy sinh càng lớn sẽ làm cho tình yêu càng thêm nồng thắm. Và với một tình yêu nồng thắm người lại càng dễ chấp nhận những hy sinh to lớn hơn cho nhau và vì nhau. Đỉnh cao của hy sinh cũng như của tình yêu đó là dám chết cho người mình yêu. Thế nhưng, chấp nhận những hy sinh cho nhau và vì nhau cũng không phải là việc dễ dàng.
Chuyện rằng: Một người đàn ông nọ đi xưng tội. Cha giải tội ra việc đền tội bằng cách hôn kính Thánh Giá ba lần. Ông ta bèn chạy về nhà, ôm chầm lấy bà xã và hôn lấy hôn để những ba lần, bởi vì ông ta thầm nghĩ: Bà xã chính là cây Thập Giá Chúa đã gửi vào cuộc đời của ông ta.
Tiếp đến là cha mẹ, chúng ta có bổn phận phải sinh sản, nuôi dưỡng và giáo dục con cái.
Sống trong thời buổi “gạo châu củi quế”, vật giá leo thang đến chóng cả mặt, nên chu toàn được bổn phận sinh sản và nuôi dưỡng con cái không phải là chuyện dễ. Thảo nào mà nạn ngừa thai tràn lan khắp nơi và Việt Nam ta đứng hàng đầu về nạn phá thai.
Cùng với những tiến bộ về những phương tiện truyền thông: Nào điện thoại di động, nào nối mạng internet…Nhiều bậc làm cha làm mẹ đã không theo kịp con cái, thành thử việc giáo dục đã gặp phải không ít những khó khăn.
Tuy nhiên, đối với phần lớn người Việt Nam, con cái vẫn còn là một điều tốt lành đáng được mong ước. Trong những dịp đầu xuân năm mới, chúng ta thường cầu chúc cho nhau: Đa tử, đa tôn, đa phú quí, có nghĩa là lắm con, nhiều cháu, lắm tiền, nhiều bạc. Sở dĩ như vậy vì con cái sẽ làm cho bầu khí gia đình được đầm ấm, được tươi vui như tục ngữ đã bảo: Con đàn như tre ấm bụi.
Mặc dù vốn biết rằng: Con cái đôi lúc đã trở thành một gánh nặng, thế nhưng cha mẹ vẫn có thể tìm thấy niềm hạnh phúc trong lành và đơn giản nơi con cái. Thiếu con cái là thiếu ánh sáng nơi con mắt. Nhiều tiền mà không con thì vẫn chưa hẳn là giàu. Trái lại đông con mà ít tiền, thì vẫn chưa hẳn là nghèo. Hơn nữa, nhiều khi con cái chính là chiếc gạch nối, chính là nhịp cầu cảm thông giữa hai vợ chồng. Đáng lý ra hai vợ chồng đã cãi cọ, đánh lộn hay lôi nhau ra tòa xin ly dị, nhưng vì con cái, họ không nỡ làm như vậy. Vì con cái, họ quên đi và tha thứ cho nhau. Vì con cái, họ tìm cách hòa giải cùng nhau. Vì con cái, họ sẵn sàng chập nhận mọi hy sinh gian khổ. Bởi vì nhà không có tiếng cười của trẻ thơ, thì vắng lặng, buồn tẻ như một ngôi mộ chết.
Ngoài ra, là con cái, chúng ta có bổn phận phải yêu mến, trọng kính, vâng lời và giúp đỡ cha mẹ.
Làm sao kể ra cho hết những khổ đau, những vất vả, những hy sinh cha mẹ đã phải chịu vì chúng ta suốt chín tháng cưu mang, ba năm bú mớm và nuôi dạy chúng ta nên người. Chúng ta hãy nhớ lại hình ảnh người mẹ đã phải thức trắng nhiều đêm để canh giữ giấc ngủ cho đứa con, khi nó đau ốm. Chúng ta hãy nghĩ đến những giọt mồ hôi chảy xuống trên khuôn mặt người cha trong những giờ lao động cực nhọc ngoài đồng ruộng nóng cháy, trong hầm đá mệt mỏi, hay tại nhà máy ồn ào đinh tai nhức óc….tất cả những việc ấy để làm gì nếu không phải là để kiếm tiền về nuôi sống chúng ta và gia đình.
 Bởi đó, chúng ta mắc nợ cha mẹ nhiều lắm, không phải chỉ mắc nợ về tiền bạc vật chất, mà còn mắc nợ về tình yêu thương. Một khi đã mắc nợ về tình yêu thương thì chỉ có thể đáp trả lai bằng tình yêu thương mà thôi. Ca dao đã nhiều lần khuyên nhủ:
– Dạy con, con chớ quên lời,
Yêu cha mến mẹ suốt đời không quên.

Cũng trong chiều hướng ấy, ca dao còn xác quyết:
– Tu đâu cho bằng tu nhà,
Thờ cha kính mẹ mới là chân tu.

Thuở xưa, có một anh chàng nghe nói về Phật, thì thích lắm, bèn quyết tâm đi tìm gặp Ngài bằng được. Anh chàng khăn gói quả mướp lên đường. Sau khi trải qua không biết cơ man nào là núi sông, thành phố, và gian nguy hiểm trở, chàng ta vẫn chưa gặp được Phật giống như hình dạng trong Kinh đã diễn tả: Thân Phật sắc vàng, cao một trượng sáu, đầy đủ ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp, hào quang chói sáng.
Ngày kia, tại một sườn núi nọ, anh chàng tình cờ gặp một cụ già râu tóc bạc phơ, cốt cách siêu phàm. Mừng quá, anh chàng khẩn khoản:
– Thưa cụ, cụ có biết Phật đang ngụ ở đâu không? Xin chỉ dùm cho con với.
Ông lão mĩm cười:
– Ồ! Chỗ nào mà không có Phật. Trên quãng đường vừa qua, chả lẽ con không gặp được Ngài ư?
– Thưa cụ, trên đường đi con đã từng gặp vô số người, nhưng đều là hạng phàm phu tục tử cả. Con chưa từng thấy người nào có được vài tướng tốt như trong kinh đã mô tả về Phật cả.
Ông cụ cười ha hả:
– Cháu ngốc thật, cháu không biết rằng cái thân đầy đủ ba mươi hai tướng tốt và tám mươi vẻ đẹp đó người Ấn Độ đã đốt thành tro và chia nhau xây tháp thờ cúng cả rồi ư?
– Thế thì Phật chết rồi sao?
– Hiện giờ Đức Phật đang phân thân ở khắp mọi nơi. Ngài cũng mang thân tốt và xấu như chúng sinh vậy. Con có còn muốn gặp Ngài nữa không?
– Thưa, dù bất cứ với hình dáng nào, nếu đích thật là Ngài thì con vẫn vô cùng khát mong.
– Vậy thì, để ta mách nước cho con nhé. Con hãy quay trở về và trên đường, nếu con gặp người nào mang guốc trái ở chân phải, guốc phải ở chân trái, thì người đó chính là một hóa thân của Phật. Hãy cúng dường vị Phật ấy như trong kinh đã dạy.
Chàng trai hối hả quay trở về. Suốt quãng đường dài, chàng không gặp Đức Phật nào mà hình dạng như cụ già diễn tả. Chán nản, chàng đi luôn về nhà. Trời đã khuya, bà mẹ còn chong đèn ngồi đợi con. Nghe tiếng gọi cửa, bà mừng quá, quờ quạng tìm đôi guốc rồi chống gậy tất tả ra mở cửa. Chàng trai thấy mẹ tiều tụy, nước mắt chảy dài trên đôi má nhăn nheo, mang lộn chiếc guốc trái qua chân phải, guốc phải sang chân trái. Chàng ôm chầm lấy mẹ nghẹn ngào:
– Ôi Đức Phật yêu quí của con.
Sau cùng, là anh chị em với nhau, chúng ta có bổn phận phải yêu thương, hoà thuận và giúp đỡ lẫn nhau.
Người ta thường bảo: Chuyến đò nên nghĩa, miếng trầu nên duyên. Trong cuộc sống, có những người chúng ta mới chỉ gặp nhau một vài lần, trao đổi với nhau đôi ba câu chuyện, thế mà tình nghĩa đã mặn nồng, huống nữa là đối với anh chị em ruột thịt, là những người cùng sống với chúng ta dưới một mái nhà, cùng chia sẻ với chúng ta những nỗi vui buồn, cũng như cùng có chung một dĩ vãng. Vì thế, chúng ta càng phải yêu thương nhau hơn.
Hơn thế nữa, anh chị em còn có chung một ngồn gốc,  được sinh ra bởi cùng một cha một mẹ, cùng mang trong mình cùng một dòng máu. Chính vì thế tục ngữ đã diễn tả: Một giọt máu đào còn hơn một ao nước lã. Nếu chúng ta không yêu thương những người cận kề với chúng ta, nếu chúng ta không yêu thương chính thân xác chúng ta, chính máu huyết chúng ta, thì làm sao có thể yêu thương những kẻ xa lạ.
Tuy nhiên, trong cuộc sống, chúng ta thấy không thiếu gì những người anh em với nhau, chỉ vì đồng tiền cắc bạc, hàng rào bờ dậu…đã đi tới chỗ giận hờn và thù oán, không còn thèm nhìn mặt nhau nữa.
– Anh em khinh trước, làng nước khinh sau.
Nếu anh em trong gia đình mà không bảo ban, đùm bọc được nhau, thì làm sao có thể khuyên nhủ và nêu gương cho những người chung quanh.
Ông bố nọ trên giường hấp hối, đã gọi những người con của mình đến và trao cho mỗi người một chiếc đũa và bảo:
– Các con hãy bẻ đi.
Ai nấy đều bẻ được chiếc đũa một cách dễ dàng. Sau đó, ông trao cho mỗi người một bó đũa và cũng bảo:
– Các con hãy bẻ đi.
Ai nấy đều cố gắng hết mình, nghiến răng trợn mắt, vận dụng hết mọi nội công, mà cũng chẳng tài nào bẻ nổi bó đũa. Từ sự việc trên, ông đã khuyên nhủ:
– Bố sắp sửa ra đi và trở về cùng ông bà tổ tiên, lời nói sau cùng bố muốn trối lại cho các con, đó là các con hãy yêu thương, đoàn kết và đùm bọc lẫn  nhau. Chính nhờ sự yêu thương, đoàn kết và đùm bọc ấy, các con sẽ tạo được sự hòa thuận giữa các con đã đành, mà hơn thế nữa, các con còn tạo được sức mạnh để không một ai có thể  chèn ép, bóc lột các con được.
Hình ảnh bó đũa cũng là hình ảnh mà mỗi người chúng ta cần phải khắc ghi. Nếu từ trước đến giờ, chúng ta đã có những tị hiềm, những giận hờn, thì hãy mau mắn xóa bỏ và làm hòa cùng nhau. Là những người anh chị em cùng một cha một mẹ, cùng một cội nguồn, chúng ta phải biết thực sự yêu thương, hoà thuận và giúp đở lẫn nhau, bởi vì :
– Khôn ngoan đối đáp người ngoài,
Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau.

Để kết luận, gã xin mượn lại câu chuyện về thánh Simon Cột. Ngài sống vào thế kỷ thứ 5 tại Syrie, nổi tiếng là một người thánh thiện và khổ hạnh. Ngài làm một cái chòi nhỏ trên đầu một cây cột và sống ở đó suốt 35 năm trời. Sau khi ngài chết, để nêu cao mẫu gương thánh thiện và khổ hạnh của ngài, Giáo Hội đã tôn phong ngài, và người ta thường gọi ngài với biệt danh là Simon Cột.
Nghe xong câu chuyện này, một em nhỏ như được thôi thúc muốn bắt chước sự thánh thiện và lối sống khắc khổ của ngài. Thế là khi về đến nhà, em chồng những chiếc ghế đẩu trên một cái bàn, rồi leo lên. Giữa lúc đang loay hoay như thế, thì mẹ em nhìn thấy, bà đã la mắng và cấm không cho em được leo lên và bà nói tiếp:
– Con ơi, làm thánh ở trong nhà cũng khó lắm con à.
Gã Siêu

 

Chuyện Gã Siêu 131: Mặt nạ

Mặt nạ Chuyện Gã Siêu 131

Cách đây mấy năm, cứ mỗi khi hè về, các đài truyền hình tại Việt Nam  đều thi nhau trình chiếu bộ Chuyện Gã Siêu 131

Cách đây mấy năm, cứ mỗi khi hè về, các đài truyền hình tại Việt Nam  đều thi nhau trình chiếu bộ phim “Tây Du Ký” để phục vụ quí vị con nít. Chính vì thế, sáng hôm nay, khi gã chuẩn bị đi chợ, thì đứa cháu con ông bác đến bên và năn nỉ ỉ ôi: Chú nhớ mua cho cháu chiếc mặt nạ Tôn Ngộ Không nhé. Chẳng là thấy bọn nhóc hàng xóm, đứa nào cũng trang bị cho mình một chiếc mặt nạ. Đứa thì đeo mặt nạ Đường Tăng. Đứa thì đeo mặt nạ Trư Bát Giới. Vì thế, đứa cháu gã nhất định đòi cho bằng được chiếc mặt nạ Tôn Ngộ Không.
Ghé vô tiệm bán đồ chơi con nít, gã nhìn thấy đủ thứ mặt nạ, làm bằng giấy cũng như làm bằng nhựa, từ “Người nhện” cho đến con sư tử. Từ cô gái mắt to cho đến thằng quỉ dữ. Thôi thì hầm bà lằng. Cầm chiếc mặt nạ Tôn Ngộ Không, mang về cho đứa cháu mà bỗng dưng gã cảm thấy buồn rười rượi, bởi vì gã nghiệm rằng trong cuộc sống hiện nay có quá nhiều người đeo mặt nạ để đến với nhau. Thế nhưng, trước hết mặt nạ là gì?
Mặt nạ là một thứ mặt giả, được làm bằng những chất liệu khác nhau, như “các tông”, nhựa dẻo, kim loại. Tùy theo công dụng của nó, mà chúng ta có được những thứ mặt nạ khác nhau.
Trong quân đội, những người lính được trang bị chiếc mặt nạ chống hơi độc, khi tấn công vào những cao ốc hay những đường hầm bị coi là nguy hiểm. Tại thẩm mỹ viện, các bà các cô đến để chăm sóc sắc đẹp, cũng thường được các chuyên viên đắp cho một chiếc mặt  nạ bằng kem, bằng bột, bằng dưa leo, bằng cà chua, bằng lòng trắng trứng gà, để tẩy và dưỡng da mặt. Tại bệnh viện, người ta cũng thường chụp vào mặt bệnh nhân một chiếc mặt nạ, để gây mê, hay để giúp cho bệnh nhân được thở dưỡng khí. Trong lãnh vực thể thao, những người thợ lặn được trang bị chiếc mặt nạ để có thể thở dưới nước. Hay những vận động viên đấu kiếm cũng được trang bị chiếc mặt nạ bằng sắt để phòng chống những tai nạn có thể xảy ra.
Tuy nhiên, người ta thường hay dùng mặt nạ để che dấu bộ mặt thật của mình trong những lễ hội. Theo phong tục phương Tây, mặt nạ thường được sử dụng trong hai lễ hội chính yếu sau  đây:
Lễ hội thứ nhất là lễ hội giả trang, hay  “Carnaval”, được tổ chức vào ngày thứ ba trước thứ tư lễ tro. Người Pháp gọi ngày thứ ba này là “thứ ba béo” (mardi gras). Trong ngày thứ ba béo, người ta mặc sức ăn uống, nhảy nhót, đeo mặt nạ và cải trang thành con người hay con vật mà mình muốn diễn tả. Lễ hội này chấm dứt vào lúc 12 giờ đêm, để rồi ngày Thứ Tư Lễ Tro, người ta sẽ ăn chay kiêng thịt, xức tro trên đầu, như dấu chỉ của cõi lòng sám hối ăn năn và chính thức bước vào mùa chay. Phải chăng đây là một sự bù lỗ cho những hy sinh hãm mình người ta thực hiện trong suốt bốn mươi ngày đêm trong mùa chay? Lễ hội thứ hai là lễ hội “Halloween”, được tổ chức vào tối ngày 31 tháng 10. Đây là một lễ hội dành riêng cho quí vị con nít. Buổi tối hôm ấy, bọn nhóc được hóa trang và mang mặt nạ quỉ dữ, đi tới từng nhà và người trong nhà thường phải cho bọn nhóc ấy  bánh kẹo.
Từ những sự việc kể trên, hai chữ “mặt nạ” được mang thêm một nghĩa bóng, đó là sự giả hình và gian dối. Chẳng hạn như khi chúng ta nói: Hãy lột mặt nạ những kẻ hắc ám. Nếu hiểu đeo mặt nạ là sống bằng sự giả hình và gian dối, thì có lẽ con số những kẻ đeo mặt nạ hơi bị nhiều trong xã hội rồi đấy. Sách Cổ Học Tinh Hoa kể lại “Lời nói của người bán cam” như sau:
Ở Hàng Châu có người bán các thứ quả, khéo để dành cam, lâu ngày mà không ủng, vỏ vẫn đỏ hồng, trông đẹp như vàng, như ngọc, đem ra chợ bán giá đắt, mà người ta lại tranh nhau mua. Ta cũng mua một quả. Đem về bóc ra, hơi xông lên mũi, múi xác như bông nát. Ta liền đem ra chợ hỏi người bán cam: Anh bán cam cho người ta để làm của cúng lễ, đãi khách khứa hay là chỉ làm cho choáng bề ngoài để đánh lừa người ta ? Tệ thật ! Anh giả dối lắm! Người bán cam cười và nói: Tôi làm nghề này đã lâu năm để kiếm tiền nuôi thân. Tôi bán, người ta mua, chẳng ai nói gì, chỉ có ông kêu ca! Thiên hạ giả dối nhiều chẳng phải gì một mình tôi? Ông thật không chịu nghĩ đến nơi. Này thử xem, người đeo hổ phù, ngồi da hổ, hùng dũng trông ra dáng quan võ lắm, kỳ thực không biết có giỏi được như Tôn Tẫn, Ngô Khởi không? Người đội mũ cao, đóng đai dài, đường hoàng trông ra dáng quan văn lắm, kỳ thực không biết có giỏi được như Y Doãn, Cao Dao không? Giặc nổi lên không biết dẹp, dân khổ không biết cứu, quan lại tham nhũng không biết trừng trị, pháp độ hỏng nát không biết sửa đổi, ngồi không ăn lương, chẳng biết xấu hổ. Thế mà lúc ngồi công đường, đi xe ngựa, uống rượu ngon, ăn cao lương, oai vệ, hách dịch vô cùng! Đó bề ngoài chẳng như vàng như ngọc, mà bề trong chẳng như bông nát là gì? Ông không chịu xét những hạng người ấy, mà đi xét quả cam của tôi.
Ta nghe nói, nín lặng, không trả lời được ra làm sao. Ta nghĩ người ấy nói có giọng khôi hài. Dễ chừng người ấy ghét kẻ gian tà, giận phường thế tục, mới thác ra truyện bán cam để dạy người đời chăng? Vì vậy, bàn dân thiên hạ mới có câu thơ:
– Trông em, anh tưởng sao mai,
  Biết rằng trong có như ngoài hay không ?
– Nhác trông cứ tượng tô vàng,
  Nhìn ra mới biết chẫu chàng ngày mưa.
Báo chí tại Việt Nam trong những ngày gần đây đã phanh phui biết bao nhiêu quan chức đã dùng bằng giả để leo lên ghế nọ ghế kia. Vào chợ mua sắm, chúng ta gặp phải biết bao nhiêu loại hàng giả. Nếu không tinh ý thì khó mà phân biệt được. Thậm chí người ta đã tổ chức cả một hội chợ tại Hà Nội đề trình bày những mẫu mã hàng thiệc và hàng giả. Bác nông dân mua chai thuốc diệt cỏ, mang về xịt trên ruộng đồng. Xịt xong cỏ không chết mà còn liên tục phát triển, thành thử bị thất thu. Thì ra đó chỉ là thuốc dổm. Có anh bạn quí từ xa ghé thăm, bèn vội chạy ra tiệm mua một chai rượu tây XO hẳn hoi để đãi khách. Thế nhưng, thoạt khi mở nắp, mùi cồn nồng nặc xông lên mũi. Hóa ra đó là hàng nhái. Đổ đi thì tiếc, mà uống vào thì nhức đầu.
Tuy nhiên, điều bi đát hơn cả đó là người ta đến với nhau bằng những chiếc mặt nạ, người ta cư xử với nhau bằng sự giả dối, người ta luôn “đóng kịch” với nhau ở mọi nơi và trong mọi lúc. Sự gian dối và lường gạt dường như đã trở thành một nguyên tắc chỉ đạo, giúp chúng ta gặt hái những thành công trên đường đời.
Trước hết là trong lãnh vực thương mại: Muốn mau kiếm lời, thì phải gian dối bằng mọi cách. Nào là cân thiếu và thước hụt. Nào là hàng giả và hàng nhái. Nào là nói thách và nói dối. Có  nói thành không và không nói thành có. Buôn bán mà cứ thật thà như đếm, thì thà rằng dẹp tiệm đi còn hơn. Chính vì vậy, người xưa đã bảo: Thật thà như thể lái trâu, yêu nhau cũng thể nàng dâu mẹ chồng.
Tiếp đến là trong lãnh vực quân sự: Muốn mau chiến thắng thì làm sao phải lừa được kẻ địch. Gã nhớ không rõ lắm, hình như trong “Tam Quốc Diễn Nghĩa” có kể lại một sự việc như sau: Tào Tháo dẫn một đội quân hùng tấn công Gia Cát Lượng. Thấy lực lượng của mình vừa ít lại vừa yếu, Khổng Minh bèn dùng kế nghi binh. Ông buộc cành cây vào đuôi ngựa, rồi đánh cho ngựa phi nước đại, làm cho cát bụi tung bay mịt mù. Địch quân thấy vậy hoảng sợ chạy trốn và Khồng Minh đã chiến thắng một cách dễ dàng. Trước ngày 30 tháng 4 năm 1975 cũng thế. Việt Cộng tuy ít, nhưng dùng chiến thuật du kích, bất ngờ tấn công chỗ này chỗ khác. Rồi gây hoảng sợ bằng cách tung tin đồn thất thiệt, đã chiếm được tỉnh nọ tỉnh kia. Tạo hoang mang bằng cách bắn đọp đọp chỗ này vài tiếng, chỗ kia vài tiếng, ngụy trang máy cày thành chiến xa, lái đi ầm ầm trong đêm, làm cho tâm lý quân đội và người miền Nam bị chao đảo và hốt hoảng. Chính vì sự chao đảo và hốt hoảng này đã dẫn tới tình trạng co rúm và thua chạy, dù chẳng bị tấn công.
Trong lãnh vực chính trị cũng thế: Để chạy đua vào những chức vụ quan trọng như tổng thống, dân biểu, nghị sĩ…các ứng cử viên đã tự đánh bóng mình bằng những hình ảnh đẹp đẽ và những lời tuyên bố đao to búa lớn thật nảy lửa. Nhưng sau khi đã an tọa trên chiếc ghế của mình, thì mọi sự vẫn như cũ.
Dám ăn dám nói là chuyện đương nhiên, còn có dám làm hay không, thì việc này còn phải ”ngâm kíu” và xét lại. Người ta thường bảo: Nghề luật sư là nghề thường xuyên phải giả dối, thường xuyên phải đóng kịch. Chính một luật sư bên Âu châu đã phát biểu: Nghề diễn viên rất cần cho nghề luật sư. Khi ra tòa, nếu mô tả được đúng tình cảm định khoác cho mình, thì rất có ảnh hưởng đến người nghe, là bồi thẩm đoàn và ba tòa quan lớn: không giận mà làm như giận, không thương mà làm như thương, như vậy bảo đảm “chăm phần chăm” là sẽ thành công. Cũng vị luật sư này đã kết luận một cách chua chát: Đã là người thì ai mà lại chẳng đóng kịch. Cha mẹ đóng kịch trang nghiêm với con cái mà trong thâm tâm chưa chắc đã là trang nghiêm. Càng điêu luyện thì càng dễ thành công.
Thực vậy, kinh nghiệm đời thường nhiều khi cho thấy: muốn thành công, thì đừng bao giờ nói ra ngoài miệng những gì mình suy nghĩ trong lòng. Dù trong lòng có ghét cay ghét đắng, thì ngoài miệng vẫn ngọt như mía lùi, vẫn bùi như lạc rang. Kinh nghiệm này cũng đã được tục ngữ ca dao Việt Nam diễn tả:  Khẩu phật tâm xà. Miệng Nam mô, bụng bồ dao găm. Ngoài thì thơn thớt nói cười, mà trong nham hiểm giết người không gươm.
Sách Cổ Học Tinh Hoa kể lại mẩu chuyện mang tựa đề là “Ác ngầm” như sau: Vua Ngụy đem một người con gái đẹp dâng vua Kinh. Vua Kinh rất lấy làm thích thú và đem lòng yêu thương người con gái ấy. Phu nhân là Trịnh Tu biết thế, chính mình cũng tỏ ra  yêu mến người con gái ấy, có khi lại còn tỏ ra yêu mến hơn cả nhà vua nữa. Người con gái ấy muốn ăn mặc, chơi bời gì, phu nhân cũng đều sắm sửa cho đủ cả. Vua khen: Phu nhân biết ta yêu mến tân nhân, nên cũng đem lòng yêu mến tân nhân của ta, thật có khác nào như người con có hiếu thờ cha mẹ, người bầy tôi trung thờ vua vậy. Phu nhân đã chắc bụng vua không ngờ mình là người ghen, nhân dịp mới bảo tân nhân rằng: Vua yêu mến nhà ngươi lắm, nhưng ghét cái mũi nhà ngươi. Giá từ nay, hễ ngươi trông thấy vua, ngươi cứ che lấy cái mũi đi, thì sẽ được vua yêu mến  mãi đấy. Tân nhân nghe theo lời ấy, từ đó mỗi khi trông thấy vua, là che ngay cái mũi lại. Vua thấy thế, bảo với phu nhân rằng: Tân nhân trông thấy ta mà cứ che mũi là ý làm sao? Phu nhân thưa: Tôi không được rõ. Đợi vua cưỡng hỏi nữa, phu nhân mới thưa rằng: Tôi nghe đâu tân nhân có nói hơi vua khí nặng, rất lấy làm khó chịu. Vua phát giận bảo: À nếu thế thì xẻo cái mũi nó đi. Vua nói đoạn, thì một viên hầu cận cầm dao ra xẻo ngay cái mũi của tân nhân. Sở dĩ như vậy là vì phu nhân đã dặn một viên quan hầu đứng chực sẵn ở đấy trước, rằng: Hễ nghe vua phán gì, thì phải làm ngay lập tức.
Trong Phúc âm, Chúa Giêsu đã dùng rất nhiều hình ảnh cụ thể để diễn tả về hạng người giả hình, đeo mặt nạ đạo đức. Nào là họ kinh kệ dài dòng nhưng lại nuốt trửng gia tài của các bà góa. Nào là họ nói mà không làm, và nếu có làm thì cũng tìm cách kiếm chác cho mình một chút hào quang để nghênh ngang với đời. Nào là họ chịu khó tắm rửa cơ thể và lau chùi những đồ dùng, nhưng tâm hồn lại chất đầy tội ác. Nào là họ giống như mồ mả, bên ngoài thì đẹp đẽ, nhưng bên trong chỉ toàn dòi bọ và xú khí…Và Ngài đã kết luận: Hãy nghe những lời họ nói, nhưng đừng làm theo những việc họ đã làm.
Gã xin đưa ra một vài trường hợp người ta cư xử với nhau theo sự giả dối. Trước hết trong phạm vi gia đình, vợ chồng thường đeo mặt nạ đối với nhau: Có những anh chồng luôn tỏ yêu thương và chu toàn những bổn phận đối với vợ con, nhưng đồng thời vẫn cứ lăng nhăng lít nhít,  hở một tí là đèo bòng bồ nhí. Chắc hẳn khi trở về gia đình, những anh chồng này phải đeo cái mặt nạ đạo mạo, mực thước. Nhưng khi đến với bồ nhí lại đeo cái mặt nạ hào hoa phong nhã.
Tiếp đến trong phạm vi nhà trường, thày cô thường đeo mặt nạ đối với học trò của mình. Người Việt Nam chúng ta vốn có truyền thống “tôn sư trọng đạo”, quí mến những bậc thầy: Muốn sang thì bắc cầu kiều, muốn con hay chữ phải yêu lấy thầy. Sở dĩ như vậy là do ảnh hưởng của Nho giáo. Thực vậy, đối với Nho giáo thì trên cõi đời này có ba hạng người chúng ta phải tỏ lòng trọng kính, đó là quân sư phụ, có nghĩa là vua thầy và cha. Ông thầy là biểu tượng của sự hiểu biết đã đành, mà còn là biểu tượng của tác phong đạo đức, xứng đáng được gọi là bậc mô phạm, làm khuôn mẫu cho bàn dân thiên hạ noi theo. Thế nhưng, trong mấy ngày qua báo chí tại Việt Nam đã phanh phui chuyện một ông thầy hiếp dâm học trò của mình là một nữ sinh lớp 12 tại Cần Thơ. Thậm chí một ông thầy khác ở Kiên Giang còn có hành vi đồi bại đối với sáu bảy em tiểu học của mình. Những ông thầy này, khi đứng trên bục gỗ để giảng dạy, hẳn cũng bệ vệ, oai phong lắm lắm, nhưng hành động của họ đã làm cho chiếc mặt nạ đạo đức ấy bị rơi rụng, để rồi họ hiện nguyên hình là những…con quỉ râu xanh!
Để kết luận, gã xin kể lại vở kịch “Hầu Tước” của Albert Thompson. Vở kịch ấy có nội dung như thế này : Sau khi Đức Quốc Xã bị sụp đổ và Thế giới đại chiến lần thứ hai kết thúc, quân đội Đồng Minh đi lục soát trong các trai tập trung để tìm kiếm những nạn nhân khốn khổ và bất hạnh bị nhốt trong đó. Và họ đã gặp được một quả phụ còn sống sót. Chồng bà là một người Do Thái đã trở lại Công Giáo và đã bị thủ tiêu. Bà biết được rằng lúc phải ra đứng trước những họng súng thù địch, ông vẫn không ngừng cầu nguyện: Lạy Chúa, xin tha thứ cho họ. Thế nhưng, người con trai của bà không thể nào chịu đựng nổi cảnh thương tâm này. Oán giận nổi lên bừng bừng, anh ta đã nhào tới, cướp lấy một khẩu súng và điên cuồng nhả đạn vào đám mật vụ, làm cho một người trong bọn bị thương nặng. Tên mật vụ này, khi hấp hối trong bệnh viện, đã cho mời bà quả phụ đến để xin tha thứ, và rồi sau đó cả hai cùng đọc một kinh “Lạy Cha”, như dấu chỉ của sự hòa giải. Vở bi kịch này đã thành công và gặt hái nhiều kết quả tốt đẹp mỗi khi trình diễn và đã để lại một ấn tượng sâu đậm trong lòng khán giả. Tuy nhiên, có một lần trình diễn, khi tới chỗ tên mật vụ và người góa phụ cùng đọc kinh “Lạy Cha”, thì diễn viên đóng vai tên mật vụ đang hấp hối bỗng dừng lại, nhất định không chịu đọc câu: Như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con. Anh ta đứng phắt dậy, xua tay và nói lớn: Tất cả đều đóng kịch, đóng kịch hết.
Mỗi ngày, vợ chồng, cha mẹ và con cái đều đọc kinh “Lạy Cha”, thế mà gia đình vẫn cứ lục đục và bất hòa, cơm chẳng lành và canh chẳng ngọt, thiếu điều muốn thượng cẳng chân hạ cẳng tay với nhau và cho chén dĩa bay ra ngoài sân.  Phải chăng chúng ta cũng đang đóng kịch và đeo mặt nạ với nhau? Mỗi ngày có hàng triệu người đọc kinh “Lạy Cha” thế mà nhân loại  vẫn sôi sục vì khủng bố, vì chiến tranh. Phải chăng người ta cũng đang đóng kịch và đeo mặt nạ với nhau? Hãy chấm dứt những thái độ đóng kịch và hãy vứt bỏ những chiếc mặt nạ giả nhân giả nghĩa, để đến với nhau bằng tất cả tấm lòng chân thành của mình.
Gã Siêu

 

Chuyện Gã Siêu 132: Luyện chồng

Luyện chồng Chuyện Gã Siêu 132

Trong một bài viết ngăn ngắn trên báo Phụ Nữ Chủ Nhật, Đoàn Văn Thường đã ghi lại sự nghiệp Chuyện Gã Siêu 132

Trong một bài viết ngăn ngắn trên báo Phụ Nữ Chủ Nhật, Đoàn Văn Thường đã ghi lại sự nghiệp của các chị vợ, đại khái tác giả viết như thế này: Vợ là bậc thầy của ta, vì các cụ ngày xưa đã từng bảo “bán tự vi sư”, nửa chữ cũng đã là thầy, huống hồ vợ đã dạy cho ta trọn cả một chữ…nhẫn! Thực vậy, sau khi lấy vợ, ta lập tức quen ngay với sự nhẫn nhục và chịu đựng. Nhiều bố, khi còn là giai tơ, tính tình nóng nảy hung dữ, thế mà vợ vào, bỗng trở nên hiền lành dễ bảo. Chỉ nguyên chuyện này mà thôi, vợ cũng xứng đáng được tôn phong lên hàng “sư mẫu”.
Vợ là nhà xã hội học của ta, vì vợ dạy cho ta biết lao động là vinh quang, cụ thể qua việc nấu ăn, giặt tã, lau nhà, tắm con. Vợ là nhà đạo đức học của ta, vì vợ dạy cho ta biết yêu thương, đùm bọc, chia sẻ và quan tâm đến người khác, chẳng hạn như bố mẹ vợ, anh chị em vợ và bạn bè của vợ. Vợ là bác sĩ riêng của ta, vì vợ luôn nhắc nhở ta ăn cơm nhà và tránh phở đường phố, bởi vì phở dù ngon cũng chỉ ngoài da, cơm khê cũng thấm ruột già ruột non; cũng như không được bén mảng tới các quán xá vì thực phẩm ở đó mất vệ sinh, dễ nhiễm khuẩn lây bệnh.Vợ luôn cấm ta nhậu nhẹt, nhằm bảo vệ lá gan của ta khỏi bị u xơ, không nhiễm siêu vi B. Ăn ngủ theo đúng giờ giấc của đồng hồ sinh học, tránh xa xì trét, rất tốt cho sức khoẻ tinh thần lẫn thể xác.
Nếu kể công đức của các chị vợ theo kiểu này, thì có mà đến tận thế cũng chẳng hết. Từ những sự việc trên, gã toan lấy tựa đề cho chuyện phiếm hôm nay là “dạy chồng”. Nhưng xem ra chữ “dạy” hơi bị nặng, làm mất mặt phe ta, vốn là các bậc tu mi nam tử, nên đành phải dùng chữ “luyện”, cho nó nhẹ nhàng, êm dịu hơn, nhưng nội dung cũng vẫn chỉ là một: Dạy con từ thuở còn thơ, luyện chồng từ thở bắt bồ làm quen.
Chuyện dạy chồng hay luyện chồng không phải chỉ là chuyện mới, mà còn là chuyện cũ, cũ như trái đất vậy! Đúng thế, để chứng minh cho sự thật này, gã xin đưa ra hai mẩu truyện nho nhỏ, được trích từ sách “Cổ học Tinh hoa”.
Mẩu truyện thứ nhất: Vợ của Hứa Doãn là Nguyễn Thị. Nhan sắc kém lắm. Khi Hứa Doãn mới lấy về, làm lễ cưới xong, trông thấy vợ quá xấu, muốn lập tức bỏ đi thẳng, bèn hỏi Nguyễn Thị rằng: Đàn bà có “tứ đức”, vậy nàng được mấy đức? Nguyễn Thị thưa: Thiếp đây chỉ kém có “dung” mà thôi. Rồi nàng liền hỏi: Kẻ sĩ có “bách hạnh”, dám hỏi chàng có mấy hạnh? Hứa Doãn trả lời: Ta có đủ cả bách hạnh. Nguyễn Thị nói: Trong bách hạnh thì đức là đầu. Chàng là người hiếu sắc, không hiếu đức, sao lại bảo là có đủ cả bách hạnh được? Hứa Doãn nghe nói thế, thì bèn lấy làm xấu hổ và kể từ đó, hai vợ chồng yêu mến, kính trọng nhau suốt cuộc đời. Và như vậy, chỉ một lời nói nhẹ nhàng, chị vợ đã dạy cho anh chồng một bài học nhớ đời, cũng như đã luyện cho anh chồng chừa bỏ được tính háo sắc, khinh cơm trọng phở mà toan chạy theo bồ nhí.
Truyện thứ hai: Án tử làm tể tướng nước Tề, một hôm đi việc quan, có tên đánh xe theo hầu. Vợ tên đánh xe dòm qua khe cửa, thấy chồng tay cầm cái dù, tay cầm dây cương, mặt vác lên trời, dương dương tự đắc. Lúc chồng về, nàng xin bỏ nhà ra đi. Chồng bèn hỏi: Tại làm sao? Nàng nói: Án Tử người gầy thấp, bé nhỏ, làm đến Tướng nước Tề, danh tiếng lừng lấy khắp thiên hạ, thế mà thiếp xem ông vẫn có ý  chín chắn và khiêm nhường, như chưa bằng ai. Còn chàng, cao lớn đẫy đà, chỉ mới làm được một tên đánh xe tầm thường, hèn hạ, thế mà thiếp xem chàng đã ra dáng, lấy làm vinh hạnh, tưởng không ai bằng nữa. Nên thiếp xin từ giã chàng mà đi. Từ hôm ấy, tên đánh xe bỏ được cái bộ dạng vênh váo, chừa được cái tính nông nổ. Án Tử thấy thế, lấy làm lạ bèn hỏi. Tên đánh xe đem việc nhà kể lại. Án Tử bèn cất cho làm đại phu.
Theo gã nghĩ: cũng chỉ với một vài lời sửa lưng nhẹ nhàng, lấy cái địa vị hèn hạ, cái dáng bộ ngông nghênh của chồng làm xấu hổ, mà sửa được tâm tính chồng và đem lại thanh danh cho chồng. Đúng là: Chồng khôn vợ được đi hài, vợ khôn chồng được nhiều bài cậy trông. Làm trai lấy được vợ hiền, như cầm đồng tiền mua được của ngon.
LuyenChongChuyện dạy chồng hay luyện chồng không phải chỉ là chuyện bên Tàu, mà còn là chuyện bên ta, nhưng tuỳ theo từng địa phương, mà cách dạy và luyện ấy được biến đổi, thiên hình vạn trạng, đến quỷ thần cũng không lường nổi. Có những nơi, các chị vợ luôn dùng tới biện pháp mạnh, khiến cho các anh chồng khiếp bạc cả con mắt: Ai về Bình Định mà coi, con gái Bình Định cầm roi dạy chồng.
Một anh bợm nhậu đã kể lại câu chuyện cá biệt của mình một cách công khai trên báo chí về cách dạy và luyện của chị vợ mang tính cách bạo lực: Chuyện xảy ra hơn 10 tháng nay, bỗng một ngày khi tỉnh rượu, tôi thấy mình bị trói, khắp thân người ê ẩm. Tôi kêu lên. Hai đứa con lớn chạy vô bảo: Má đi chợ rồi, để con mở trói cho ba. Qua hai đứa con, tôi mới biết mình bị vợ trói và đánh. Ban trưa cô ấy về, rồi hất hàm mà bảo: Ông chừa chưa? Từ nay trở đi, nếu ông còn nhậu và la lối, tôi sẽ xử với ông như vậy đó… (Trần Văn Tiệm, Long An).
Có những nơi, các chị vợ sử dụng biện pháp “cấm vận”, tuy nhẹ nhàng, nhưng cũng đủ làm cho các anh chồng… cạch đến già: chồng bát, chồng đĩa, chồng sứ, chồng sành, chồng ở chẳng lành, chồng ra bờ tre!
Người ta thường bảo: Nhân vô thập toàn. Phàm đã là người, thì ai cũng có những sai lỗi khuyết điểm của mình. Anh chồng cũng như chị vợ. Chẳng ai là một người hoàn toàn trên cõi đời này cả. Về những sai lỗi khuyết điểm của anh chồng, kể ra thì cũng khá nhiều, nào là đầu óc gia trưởng, chồng chúa vợ tôi, coi vợ chả là cái đinh gì hết. Vợ thì nhất nhất phải tuyệt đối vâng lời chồng, như chủ trương của Khổng Tử: Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử. Ở nhà thì vâng lời cha, đi lập gia đình thì vâng lời chồng, chồng chết thì vâng lời con. Nào là thói trăng hoa, thích phở hơn cơm, đèo bòng bồ nhí. Nào là tật rượu chè say xỉn, mê nhậu hơn mê vợ.
– Chồng em nó chẳng ra gì,
Tổ tôm sóc đĩa nó thì chơi hoang.
Nói ra xấu thiếp, hổ chàng,
Nó giận, nó phá tan hoang cửa nhà.

Riêng hôm nay, gã muốn đề cập tới một chứng bệnh mà nhiều chị vợ vốn thường hay ca cẩm, than trách về anh chồng của mình, đó là chứng bệnh…lười. Về chứng bệnh này, ca dao đã diễn tả:
– Chú tôi hay tửu hay tăm,
Hay nghiện chè tàu, hay nằm ngủ trưa.
Ngày thì ước những ngày mưa,
Đêm thì ước những đêm thừa trống canh.

Hay như Tú Xương cũng đã viết:
– Việc nhà phó mặc cho bu nó,
Quắc mắt khinh đời, cái bộ anh.

Nếu chịu khó phân tích một chút, gã nhận thấy không hẳn ông trời sinh ra hai loại đàn ông, một loại chăm và một loại lười. Bằng chứng là có những anh chồng, khi còn ở với bu thì chăm, mà lấy vợ rồi thì bỗng dưng lười. Có những anh chồng trong thời gian bồ bịch với nhau thì chăm, nhưng một khi đã rước nàng về dinh thì bỗng dưng cũng lười. Có những anh chồng ở cơ quan với sếp thì chăm, mà về nhà ở với vợ thì cũng lại bỗng dưng lười…Như vậy, phải chăng chị vợ đã góp một phần không nhỏ vào chứng bệnh lười của anh chồng? Tuy nhiên, để chữa tận căn, theo gã nghĩ có hai việc chị vợ cần phải làm ngay.

Việc thứ nhất là phải xoá bỏ những thành kiến của mình.
Thực vậy, nhiều chị vợ vốn nghĩ rằng: Việc nhà là lãnh vực riêng tư của phe đờn bà con gái, anh chồng không được xớ rớ tới. Chị vợ rất sợ bị mang tiếng là hư, là đoảng, khi bàn dân thiên hạ nhìn thấy anh chồng của mình thổi cơm, rửa bát, quét nhà. Hơn thế nữa, nhiều chị vợ còn cho rằng đó là lãnh vực độc quyền và chỉ có mình mới làm được mà thôi. Nếu “bà” không ra tay “cứu khốn phò nguy”, quán xuyến trong ngoài, thì cửa nhà sẽ ngập chìm trong nhơ bẩn, mất trật tự, vô tổ chức và mọi người sẽ bị chết đói. Mặc dù luôn kêu than rằng mình đầu tắt mặt tối, vất vả từ sáng cho đến tận khuya, mệt đứ đừ không kịp thở. Nhưng nếu anh chồng muốn chia sẻ đỡ đần, thì chị lại không ưng, bởi vì dưới mắt chị anh chồng chỉ là tay “hậu đậu”, trói gà không chặt, đụng đâu hỏng đó. Nếu anh chồng có lau nhà, thì chị sẽ phải lau lại. Nếu anh chồng có rửa bát, thì chị cũng sẽ phải rửa lại. Nếu anh chồng có giặt quần áo, thì chị lại cũng sẽ phải giặt lại.
Những chị vợ này quên rằng các công việc trên bọn đờn ông con giai đều biết làm, thậm chí còn làm một cách xuất sắc. Bằng chứng là những tay đầu bếp giỏi nhất đều là đờn ông, những bác thợ may khéo nhất cũng là đờn ông và những chú thợ uốn tóc đẹp nhất cũng lại là đờn ông tuốt. Và anh con giai nào đã đi lính, thì đều biết rằng trong suốt thời gian ở quân trường, mình đều phải tự làm mọi việc kể trên mà chẳng cần tới một bàn tay phụ nữ nào giúp đỡ cả. Giày vớ không bóng loáng, áo quần không thẳng ly, giường chiếu không phẳng phiu, thì thế nào cũng bị phạt, một trăm cái hít đất là ít!
Cũng có những chị vợ nghĩ rằng: Nếu mình không chịu khó cưng chiều như thế, thì e rằng anh chồng sẽ đi tìm sự cưng chiều ở một địa chỉ khác ngoài luồng. Những chị ấy quên rằng vào cái thuở ban đầu lưu luyến ấy, anh chồng đã mê cái bản thân chị, hay mê cái nồi niêu xoong chảo, cái chổi cùn rế rách của chị? Bây giờ được cưng chiều, anh chồng chỉ cần thêm một tí gia vị, củ hành củ tỏi, là những lời khen ngợi, thế là chị mát lòng mát ruột, sẵn sàng làm tất tật mọi sự, đúng là “khéo mồm miệng, đỡ tay chân”. Rồi cứ thế, cứ thế mà tiến, cho đến lúc chị “ngộ” ra rằng mình bỗng già trước tuổi, tóc tai bù xù, áo quần xốc xếch, chẳng còn hình tượng người ta nữa, trong khi đó anh chồng lại đang tung tăng ngoài vòng phủ sóng, thì e rằng đã quá muộn!

Việc thứ hai là đưa ra một chương trình “luyện” chồng.
Trước hết, chị vợ cần phải giúp cho anh chồng xác tín rằng làm việc nhà sẽ đem lại niềm vui và nhất là có lợi cho sức khoẻ. Hoạt động tay chân sẽ làm cho “thùng nước lèo” của anh chồng vơi giảm, nhờ đó mà kéo dài tuổi thọ, bởi vì vòng bụng càng to, thì vòng đời càng ngắn. Tiếp đến là chị vợ cần phải đưa ra một chương trình cụ thể, mang tính cách tiệm tiến, từng giai đoạn, từ việc dễ tới việc khó, để anh chồng thích thú thực hiện, không nản lòng thất vọng.
Gã xin mượn tạm cái chương trình luyện chồng của chị Thu Nga, được đăng trên Phụ Nữ Chủ Nhật số ra ngày 16.8.2009 như sau: Chồng chị là con út và cũng là con trai duy nhất trong một gia đình có đến chín cô con gái, nên anh được mọi người hoan hỉ chào đón, và cưng như cưng trứng, hứng như hứng hoa. Thế là chị phải bắt tay vào công cuộc “cải tạo” anh ngay lập tức. Đầu tiên, những việc dao cưa kìm búa của đờn ông, dứt khoát phải thuộc về anh. Hai đứa ở trọ, căn phòng bé xíu, điện đóm chập chờn, nên lắm thứ hư hỏng. Anh quen thói công tử, nhất nhất việc gì cũng gọi thợ. Chị mặc anh muốn gọi ai thì gọi, nhưng tiền công thì anh phải tự thanh toán. Lương tháng nộp đủ cho chị, nên mấy khoản chi thêm này làm anh héo hon. Đó là chưa kể mỗi lần gọi được ông thợ cũng nhiêu khê. Rốt cuộc, anh đành tự thân vận động, đương nhiên là với sự trợ giúp của chị.
Thắng lợi bước một, chị rón rén tiếp bước hai: Tập cho anh làm việc nhà. Hai vợ chồng son, cơm nước đơn giản, rửa có vài cái chén chứ có gì đâu mà đùn đẩy. Nhưng vì muốn “luyện” anh, nên chị phải giở bài “em mệt” để nhờ vả. Năm lần bảy lượt, anh nhăn nhó, nhưng cũng miễn cưỡng động tay động chân. Anh làm xong, bao giờ chị cũng nhiệt tình cám ơn, như thể anh là đấng phu quân hào hoa nhất trên đời. Cùng với độc chiêu đó, chị dần dà tập cho anh phơi quần áo, lau nhà.
“Ăn hiếp” anh như vậy, chứ chị cũng biết giữ sĩ diện cho anh. Mỗi lần có khách ở quê ra, chị lại đóng vai thục nữ ngoan hiền, chăm lo tất cả, để anh rảnh rang ngồi xem tivi và tiếp chuyện khách. Nhưng anh theo thói quen, vẫn cứ nhào vô phụ giúp vợ. Có bữa má chồng lên chơi, mắt tròn mắt dẹt nhìn ông con trai cưng hì hụi lau nhà, bà buông lời mát mẻ: Mày cưng vợ mày dữ ha! Chị sợ điếng người, trong khi anh vẫn tỉnh bơ ôm lấy má: Nịnh vợ mới có cơm ăn chứ má! Má cười cho qua chuyện, chứ trong bụng chắc xót xa cho ông con dữ lắm.
So với ngày mới cưới, giờ thì anh đã “lên đai” lắm rồi. Chuyện phụ giúp vợ dọn nhà cửa hay chăm sóc con cái chỉ là chuyện nhỏ. Thỉnh thoảng chị lại trêu: Dạy con từ thuở còn thơ, dạy chồng từ thuở bơ vơ mới về. Anh liền vênh mặt:  Nam nhi chi chí, sá gì mấy việc vặt của đờn bà. Thương vợ thì giúp, chứ còn khuya mới dạy được thằng này đấy nhé!
Hãy kiên nhẫn trong sự nghiệp luyện chồng, bởi vì mưa dầm thấm đất, lạt mềm buộc chặt. Với chiến thuật này, dù anh chồng có lười biếng, muốn trốn việc nhà, thì cũng khó bề tẩu thoát. Tới lúc đó, chị vợ thế nào cũng được bàn dân thiên hạ tấm tắc ngợi khen vì đã thành công lớn trong việc “nuôi chồng khoẻ, dạy chồng… ngoan”!
Gã Siêu

 

Chuyện Gã Siêu 133: Con người và lòng người

Con người và lòng người Chuyện Gã Siêu 133

Cách đây mấy bữa, gã mới đọc được một mẩu chuyện như sau: Dọc theo triền núi Trường Sơn, có Chuyện Gã Siêu 133

Cách đây mấy bữa, gã mới đọc được một mẩu chuyện như sau: Dọc theo triền núi Trường Sơn, có một ngôi mộ cổ từ lâu đời, trên tấm bia có khắc dòng chữ: Tôi thương người, nhưng rất sợ lòng người. Đây là câu nói của Hy Thanh, người đang bị vùi sâu dưới lòng đất lạnh. Nhưng tại sao lại khắc dòng chữ đó trên mộ bia của chàng?
Sự việc đại khái như thế này: Thời bấy giờ, Hy Thanh căm cụi chịu khó đi học nghề tìm mạch nước. Thấy vậy, bạn bè đều khinh chê: Dưới đất lúc nào mà chẳng có nước, cần chi phải học với hành. Còn gia đình thì nguyền rủa: Học làm gì cái nghề vô tích sự ấy, đi đâu thì đi. Vì tự ái, Hy Thanh đã bỏ nhà ra đi. Ban ngày chàng vất vả kiếm sống, ban đêm tìm đến nhà chùa xin ngủ nhờ, cắn răng chịu đựng và vẫn tiếp tục theo đuổi cái nghề”vô tích sự” ấy.
Hai mươi năm trôi qua, gặp thời đại hạn, mọi giếng nước đều khô cạn, nhiều người đã chết vì khát. Lúc bấy giờ, người ta chợt nhớ đến chàng và chạy tới để cầu cứu. Hy Thanh tìm ra mạch nước ngầm, rồi đào bới và nước đã vọt lên, chảy lênh láng khắp nơi. Dân chúng từ khắp bốn phương hay tin bèn kéo nhau đến xin uống. Họ vui mừng và không tiếc lời ca ngợi chàng.
Tuy nhiên, có kẻ vì bị khát lâu ngày, đã uống quá độ, nên lăn đùng ra chết. Và thế là người ta quay phắt lại một trăm tám mươi độ, lên tiếng mạt sát chàng thậm tệ, nhưng vẫn chịu khó uống nước mà chàng đã khơi lên. Đám người có thân nhân bị chết, bèn xúm lại, đánh đập chàng không thương tiếc. Và rồi trước khi chết, chàng đã nói: Tôi thương người, nhưng rất sợ lòng người.
Câu nói này đã làm cho gã phải băn khoăn, thiếu điều muốn “vắt chân lên trán” mà suy gẫm đến nỗi “đêm quên ăn, ngày quên ngủ”. Và giờ đây gã xin chia sẻ cùng bàn dân thiên hạ những tâm tự vụn vặt, không đầu không đuôi, chẳng ra ngô mà cũng chẳng ra khoai của gã.

Vế thứ nhất: Tôi thương người.
Nhìn vào con người, gã thấy con người chúng ta thật là dễ thương và cũng thật là đáng thương.
Trước hết, con người thật là dễ thương.
Đúng thế, ở vào bất cứ thời điểm nào, con người cũng đều mang lấy một vẻ đẹp cho riêng mình. Giống như khi nhìn cảnh bình minh, gã thấy được vẻ đẹp của buổi sáng rạng đông, còn khi ngắm cảnh hoàng hôn, gã cũng thấy được vẻ đẹp của buổi chiều tà. Mỗi cảnh có nét đặc sắc riêng của nó. Giống như khi nhìn chiếc mầm non, thì mầm non có vẻ đẹp riêng, còn khi ngắm một cành cây sai trái, thì cành cây sai trái cũng có vẻ đẹp riêng. Mỗi loại, mỗi thứ đều có một giá trị của nó.
Cũng vậy, mỗi chặng đường, mỗi giai đoạn, mỗi lứa tuổi đều có một giá trị và một vẻ đẹp riêng của mình. Tiên vàn là tuổi thơ. Vẻ đẹp của lứa tuổi này là vẻ đẹp của đơn sơ và trong trắng. Một em bé đẹp từ ánh mắt long lanh đến nụ cươi hồn nhiên. Thảo nào mà người ta gọi tuổi này là tuổi thiên thần. Tiếp đến là tuổi choai choai. Vẻ đẹp của lứa tuồi này là vẻ đẹp của phát triển, đang chập chững làm người…nhớn, vì bắt đầu biết suy tư và đôi lúc cũng ra dáng ông cụ non. Vẻ đẹp của một chiếc lá xanh, sau khi đã thoát khỏi tình trạng mầm và chồi, nhưng cũng chưa quá lớn để gánh lấy trách nhiệm của cuộc sống, nên rất cần được chăm sóc. Thảo nào mà người ta đã gọi tuổi này là tuổi trăng tròn, tuổi đôi tám, tuồi đưa duyên, tuổi học trò, tuổi ô mai. Rồi sau là tuổi trưởng thành. Vẻ đẹp của lứa tuổi này là vẻ đẹp của lao động và bươn chải, vẻ đẹp của hăng say và nhiệt thành. vẻ đẹp của thành công và chiến thắng. Cuối cùng là tuổi già. Vẻ đẹp của lứa tuổi này là vẻ đẹp của khôn ngoan và dày dạn, vẻ đẹp của kinh nghiệm và từng trải, như tục ngữ đã diễn tả: Cây già tốt lõi. Gừng và quế, càng già càng cay. Đi hỏi già, về nhà hỏi trẻ.
Sự phân chia về lứa tuổi là như thế, còn sự phân chia về giới tính lại càng tuyệt vời hơn nữa. Phái nam có vẻ đẹp của phái nam, đó là vẻ đẹp của bắp thịt và sức mạnh, vẻ đẹp của suy tư và quyết định, vẻ đẹp của một anh gà trống. Còn phái  nữ có vẻ đẹp của phái nữ, đó là vẻ đẹp của dịu hiền và mềm mại, vẻ đẹp của tế nhị và yêu thương, vẻ đẹp của một chị gà mái. Nói về vẻ đẹp của phái nữ, xem ra cũng bằng thừa, giống như “giảng cho các đấng các bậc, giải tội cho các sơ các dì, và bắt rận cho chó vậy, bởi vì từ ngàn xưa cho tới ngày hôm nay, các nàng vốn được gọi là phái đẹp rồi cơ mà. Mà các nàng cũng xứng đáng mang “tước hiệu” ấy, bởi vì các nàng quả thực là rất đẹp với những đường cong của đồi núi: Em đẹp bàn tay ngón thon thon, Em xinh đôi má nắng hoe tròn. Vì đẹp như thế, nên các nàng cũng rất dễ thương: Một thương tóc bỏ đuôi gà, hai thương ăn nói mặn mà có duyên. Ba thương má lúm đồng tiền, bốn thương răng nhánh hạt huyền kém thua.
Mới chỉ nhìn sơ qua cái hình dong, gã đã thấy con người thật là dễ thương, còn nếu xét tới cái bản tính, thì con người lại càng dễ thương hơn nữa. Thực vậy, theo Khổng tử thì “nhân chi sơ tính bổn thiện”, con người thuở ban đầu vốn tốt lành, nhưng rồi dần dần trở nên xấu xa do ảnh hưởng của xã hội và những người chung quanh. Còn theo Kitô giáo, Thiên Chúa dựng nên con người từ bùn đất, rồi Ngài thổi hơi vào lỗ mũi, qua đó trao ban cho con người sự sống cùng với một tấm linh hồn. Vào cái thuở ban đầu ấy, con người được Thiên Chúa đặt vào vườn địa đàng, sống trong tình yêu thương thân mật với Thiên Chúa. Lúc bấy giờ, con người cũng thật tốt lành vì chưa phạm tội, nên cũng rất dễ thương dưới cái nhìn của Thiên Chúa.
Không những chỉ dễ thương, mà con người còn thật là đáng thương nữa.
Thực vậy, từng giây và từng phút trên mặt đất này chiến tranh cùng vơí biết bao nhiêu tai ương hoạn nạn đã xảy ra, khiến cho rất nhiều người lâm vào cảnh màn trời chiếu đất, và nỗi bất hạnh của họ dường như chẳng có cơ may được giải quyết, thì cũng đủ để thấy được rằng: Con người thật là đáng thương.
Nếu có dịp ghé thăm các bệnh viện, ở đó biết bao nhiêu người đang quằn quại trong đau đớn với đủ mọi chứng bệnh. Họ đớn đau trong tuyệt vọng, khi các bác sĩ đành phải bó tay vì  không còn phương cách trị liệu nào khác, thì cũng đủ để thấy được rằng: Con người thật là đáng thương. Cũng từng giây và từng phút, cái chết đã cướp đi sinh mạng của biết bao nhiêu người, để lại cảnh tang tóc cho những người thân yêu còn ở lại. Cứ nhìn những giải khăn xô buộc hờ hững trên mái đầu xanh của người vợ trẻ và những đứa con thơ, thì cũng đủ để thấy được rằng: Con người thật là đáng thương.

Vế thứ hai: Nhưng rất sợ lòng người.
Vấn đề ở đây đó là phải xác định xem “lòng” là cái gì  khiến chúng ta phải sợ hãi? Đối với người Việt Nam, trong cuộc sống  “ăn” là một vấn đề thật quan trọng, bởi vì có thực mới vực được đạo. Chẳng thế mà người ta đã phải đổ mồ hôi sôi nước mắt, vất vả ngược xuôi cũng chỉ để tìm chén cơm manh áo, bảo đảm những nhu cầu vật chất cho bản thân và gia đình. Nỗi băn khoăn lo lắng hầu như của mọi người, đó là nỗi lo lắng về cơm áo gạo tiền. Vấn đề ăn chiếm một chỗ đứng quan trọng, nên ngôn ngữ Việt Nam thật phong phú để diễn tả động tác này. Khi kính cẩn người trên thì bảo: Mời, xơi. Khi vui vẻ với bè bạn thì bảo: Nhậu, chén, lai rai. Khi bực bội với kẻ dưới thì bảo: Đớp, hốc. Mở cuốn Tự điển Việt Nam của Lê Văn Đức, gã thấy nhiều chữ được ghép với tiếng ăn, như ăn giỗ, ăn cưới, ăn chay. Và cũng còn rất nhiều tiếng ăn khác chẳng liên quan gì tới miệng lưỡi, như ăn đòn, ăn cướp, ăn quịt… Tổng cộng, gã đếm được cả thảy 173 tiếng.
Vì ăn là một trong những sinh hoạt chính yếu của con người, phải ăn thì mới sống, nên người Việt Nam thường nhấn mạnh đến bụng, dạ, lòng… Trong khi người tây phương nhấn mạnh đến trái tim và tâm hồn. Cũng theo Tự điển Việt Nam của Lê Văn Đức, thì: Dạ là cái bao tử. Bụng là phần dưới của thân mình, gồm bao tử, gan và lá lách. Còn lòng thì gồm các bộ phận trong ngực và bụng. Nơi gã đang ở, để tỏ lòng kính trọng ai, thì khi làm thịt heo, người ta thường biếu cho người ấy bộ lòng chay gồm quả tim, rồi một ít gan, một ít lá lách…Khi xơi món lòng lợn tiết canh, thì không phải chỉ có dồi, ruột non mà còn có cả tim gan phèo phổi.  Hay như tục ngữ cũng bảo: Đẻ con chẳng dạy chẳng răn. Thà rằng nuôi lợn cho ăn lấy lòng.
Tuy nhiên chữ lòng cũng như chữ bụng, chữ dạ còn được dùng để ám chỉ tính tình, tình cảm và nhất là ý muốn của mỗi người. Thực vậy, ý muốn và sự tự do chính là một qùa tặng tuyệt vời Thiên Chúa đã trao ban cho con người và làm cho con người trở nên cao cả. Một ông vua đầy uy quyền cũng không thể bắt gã làm điều gã không muốn. Thậm chí ngay cả Thiên Chúa cũng đành phải chào thua trước sự tự do của con người, như lời ông thánh Âu Cu Tinh đã viết: Ngài sẽ không thể cứu chuộc tôi nếu như chính bản thân tôi lại không muốn.
Ý muốn và sự tự do làm cho con người trở nên cao cả, nhưng đồng thời cũng có thể biến con người thành nguy hiểm và dễ sợ. Nếu không biết điều khiển và quản lý chặt chẽ, nó sẽ đọng lại, kết tủa và hóa kiếp con người thành một con thú hoang. Đây là điều mà các vị tiền bối đã diễn tả: Con người vừa có thể là một thượng đế, lại vừa có thể là một con vật. Trong mỗi con người đều có tiềm ẩn một con thú hoang.
Từ ý muốn, hay nói một cách cụ thể hơn, từ cái lòng của mình mà phát sinh ra những hành động. Bởi vì: Tư tưởng thì hướng dẫn cho hành động, và lòng đầy thì mới tràn ra ngoài. Cái lòng mà đã tốt, thì thường phát sinh ra những hành động tốt. Còn cái lòng mà đã xấu, thì cũng thường phát sinh ra những hành động xấu. Do ảnh hưởng của tội lỗi, cũng như do ảnh hưởng từ bên ngoài, mà cái “tính bản thiện” vốn có ngay từ đầu dần dần bị mai một và lòng người trở nên nham hiểm, cũng như luôn hướng chiều về đàng xấu, đàng trái: Sông sâu còn có người dò, lòng người nham hiểm ai đo cho cùng. Chính Đức Kitô cũng đã có lần dạy: Không có cái gì từ bên ngoài vào trong con người lại có thể làm cho con người ra ô uế được; nhưng chính cái từ con người xuất ra, là cái làm cho con người ra ô uế. Ai có tai nghe thì nghe! Và rồi Ngài đã cắt nghĩa cho các môn đệ được rõ: Bất cứ cái gì từ bên ngoài vào trong con người, thì không thể làm cho con người ra ô uế, bởi vì nó không đi vào lòng, nhưng vào bụng người ta, rồi bị thải ra ngoài. Còn cái gì từ trong con người xuất ra, cái đó mới làm cho con người ra ô uế. Vì từ bên trong, từ lòng người, phát xuất những ý định xấu: tà dâm, trộm cắp, giết người, ngoại tình, tham lam, độc ác, xảo trá, trác táng, ganh tỵ, phỉ báng, kiêu ngạo, ngông cuồng. Tất cả những điều xấu xa đó, đều từ bên trong xuất ra, và làm cho con người ra ô uế. Quả là một lời giảng dạy tuyệt vời, xác định được nguồn gốc của mọi tội ác chính là cõi lòng con người.
Gã còn nhớ ngày xưa còn bé, khi học giáo lý có một câu như sau: Hỏi: Tội bởi đâu mà ra? Thưa: Tội thì bởi trong lòng mà ra. Cõi lòng là nơi chất chứa, hay nói một cách mạnh mẽ hơn, cõi lòng chính là hang ổ của tội ác. Thảo nào mà bàn dân thiên hạ đều rất sợ lòng người. Trong cõi lòng của con người, thì ý muốn ngự trị như một bà hoàng. Chính ý muốn xác định hay đưa ra mục đích của việc làm. Và chính cái mục đích ấy phần nào biến đổi việc làm của chúng ta trở nên xấu.
Một việc tự bản chất là xấu, thì ở mọi nơi, trong mọi lúc và với bất kỳ mục đích nào, mèo vẫn hoàn mèo, chó đen vẫn giữ mực, xấu vẫn là xấu mà thôi, bởi vì muc đích không thể nào biện minh cho hành động. Chẳng hạn ăn trộm là một việc tự bản chất là xấu, thì dù gã có đi ăn trộm để giúp đỡ người nghèo, thì hành động ăn trộm của gã vẫn cứ xấu như thường. Trong khi đó, một hành động tốt nhưng vì mục đích hay ý hướng xấu, thì cũng sẽ trở nên xấu, hay ít nữa cũng bị mất cái phẩm chất tốt ấy đi. Chẳng hạn gã làm phúc bố thí nhưng cốt để cho người ta khen ngợi, thì việc làm phúc bố thí ấy đã bị mất đi rất nhiều giá trị của nó. Và như vậy, cái ý muốn cũng như cái ý hướng của cõi lòng quả thật cũng rất là… đáng sợ.
Tuy nhiên, gã còn nhận thấy một sự nguy hiểm khác nữa, đó là thói giả hình, bên ngoài thi tốt đẹp, nhưng cái tốt đẹp bên ngoài ấy chỉ nhằm che lấp những ý đồ đen tối bên trong, như mồ mả bên ngoài quét vôi trắng bóc, nhưng bên trong lại đầy giòi bọ cùng mọi thứ xú khí. Đây là hạng người mà cha ông chúng ta đã gọi là hạng “khẩu Phật tâm xà”, “miệng Na mô bụng bồ dao găm”. Ngoài thì thơn thớt nói cười, mà trong nham hiểm giết người không gươm.
Ca dao cũng đã diễn tả một cách rất thú vị về họ: Na mô, một bồ dao găm. một trăm con chó, một lọ mắm tôm, một ôm rau húng, một thúng rau răm… Na mô, một bồ dao găm, một trăm giáo mác, ột vác dao bầu, một xâu thịt chó… Đây mới chính là điều làm cho gã phải khiếp sợ. Khiếp sợ đến phát run lên cầm cập, bởi vì mình chẳng còn phân biệt được lành và dữ, tốt và xấu, đồng thời còn có nguy cơ bị sập bẫy bất cứ lúc nào.
Thế nhưng, làm sao có thể tách biệt được cái hình dong bên ngoài và cái cõi lòng bên trong, bởi vì cả hai gắn bó mật thiết với nhau và làm thành một người. Vì thế, điều gay go nhất, đó là làm sao có thể chung sống hòa bình với những kẻ có lòng dạ độc ác. Và hơn thế nữa, làm sao có thể hoán cải được những kẻ “lòng chim dạ chó” trở nên những người tốt lành. Bởi vì, như lời ca của một bài hát mà thỉnh thoảng gã cũng vẫn ngâm nga: Kẻ thù ta đâu có phải là người, giết người đi thì ta ở với ai. Một khi đã cảm hóa được lòng người thì đâu còn phải sợ hãi nữa.
Gã Siêu

 

Chuyện Gã Siêu 134: Nhỏ và to

Nhỏ và to Chuyện Gã Siêu 134

Lâu rồi, gã có đọc một bài viết, hình như của Bs Phạm Hồng Quang trên báo Tuổi Trẻ Cười thì Chuyện Gã Siêu 134

Lâu rồi, gã có đọc một bài viết, hình như của Bs Phạm Hồng Quang trên báo Tuổi Trẻ Cười thì phải? Bài viết mang tựa đề “To và nhỏ”, đại khái như thế này:

“Ở một đất nước rất nhỏ, có một thủ đô rất to. 
Trong thủ đô rất to, có những con đường rất nhỏ.
Trên những con đường rất nhỏ, có những biệt thự rất to.
Những biệt thự rất to, toàn của các cô vợ nhỏ.
Các cô vợ nhỏ là của các ông quan rất to.
Các ông quan rất to, có những chiếc cặp rất nhỏ.
Trong những chiếc cặp rất nhỏ, có các dự án rất to.
Các dự án rất to, nhưng mang lại hiệu quả rất nhỏ.
Hiệu quả rất nhỏ, nhưng thất thoát rất to.
Thất thoát rất to, nhưng tìm ra rất nhỏ.
Tìm ra rất nhỏ, nhưng xử lại rất to.
Xử rất to, nhưng kết quả rất nhỏ…

Tiếp nối bài viết trên, hôm nay gã cũng muốn tán một chút về đề tài to và nhỏ. Ngày xưa, dọc theo quãng đường từ thác Prenn lên Đàlạt, gã thấy bên vệ đường có nhiều tấm bảng gỗ màu xanh với những hàng chữ, đại khái như:  Phòng cháy hơn chữa cháy.  Lửa cháy rừng điêu tàn. Thực vậy, chỉ cần một mẩu thuốc lá của một du khách bất cẩn ném xuống, là có thể tạo nên một đám cháy lớn, thiêu huỷ cả một cánh rừng, bởi vì ước vọng của tàn lửa là đốt cháy và đốt cháy không ngừng. Một đám cháy lớn đã khởi đi từ một tàn lửa nhỏ. Phải chăng đó cũng chính là quy luật của cuộc sống.
Phàm đã là người sống trong cuộc đời, thì ai cũng ước mơ. Và ước mơ nào thì cũng tốt đẹp và hoành tráng. Tuy nhiên, người ta lại thường hay quên mất rằng: Để ước mơ tốt đẹp và hoành tráng ấy trở thành sự thật, cần phải được bắt đầu bằng những việc nhỏ. Bình thường, đời người là một chuỗi những việc nhỏ đan chen vào nhau. Nếu tấm vải tượng trưng cho cuộc đời, thì mỗi việc nhỏ chính là một sợi chỉ vô danh đã dệt nên tấm vải ấy. Không có những sợi chỉ, thì cũng chẳng có được tấm vải.
Hồi còn bé, gã đã say mê đọc truyện các thánh Tử đạo và mong ước một ngày nào đó mình sẽ đưa cổ ra cho “bọn quân dữ” chém một nhát, hay đưa thân ra cho chúng bắn một phát, thế là nghiễm nhiên gã có tên trong sổ bộ các vị anh hùng tử đạo, được cả và thiên hạ mộ mến. Thế nhưng, lớn lên một chút, gã nhận thấy mộng ước như vậy chỉ là điều viển vông và hão huyền như đi trên mây trên gió, bởi vì hiện nay chuyện bắt bớ cấm cách một cách đẫm máu khó có thể xảy ra, và nếu có xảy ra, thì “bọn quân dữ” cũng sẽ thực hiện một cách rất tinh vi và khoa học, thậm chí đến cả quỉ thần cũng không lường nổi. Và hơn thế nữa, hành vi tử đạo chỉ là một kết quả đương nhiên của một cuộc sống trung thành với đức tin, bởi vì cây xiêu chiều nào sẽ đổ theo chiều ấy. Nếu cuộc sống hôm nay đã khô khan nguội lạnh, đã bê tha tội lỗi, thì khi gian nan thử thách xảy đến, người ta sẽ khó lòng đứng vững trong đức tin, nếu không muốn nói rằng người ta sẽ dễ dàng bán Chúa như Giuđa, hay sẽ dễ dàng chối Chúa như Phêrô. Ai trung thành trong việc nhỏ, thì rồi mới sẽ trung thành trong việc lớn. Ai liên tục phản bội trong những việc nhỏ, thì rồi cũng sẽ phản bội trong việc lớn. Như trên gã đã trình bày: Cuộc đời chỉ là một chuỗi dài những chuyện nhỏ được đan chen vào nhau. Những chuyện nhỏ này, có khi đem lại những tai hại to, nhưng cũng có khi đem lại những thành công lớn.

Trước hết là những chuyện nhỏ nhưng đem lại tai hại to.

Người ta thường bảo: Bé ăn cắp một trái trứng, thì lớn lên sẽ ăn trộm một con bò. Không phải chỉ trong một sớm một chiều, mà người lương thiện bỗng trở nên kẻ tội phạm. Tiến trình phạm tội là cả một chuỗi dài những sai lỗi nhỏ mọn, để rồi kết thúc bằng việc sa vào vòng tội ác, huỷ diệt cả một cuộc đời. Chẳng hạn một cậu bé học trò, lúc ban đầu trốn học theo bè bạn đi chơi. Trốn miết thành thói quen, rồi cuối cùng bị nhà trường đuổi và chính cậu cũng nản lòng, không còn theo kịp chương trình, đành phải bỏ dở việc học. Và thế là cánh cửa tương lai bị khép lại. Lối vào ngày mai của cậu bị tắc nghẽn. Chẳng hạn một anh chàng ghiền xì ke ma tuý, lúc ban đầu có thể chỉ là đơn giản nghe theo lời bạn bè rủ rê và mời mọc. Chính chàng cũng thầm nghĩ trong bụng:  Thử một lần cho biết mùi đời. Hút một điếu chỉ là chuyện nhỏ. Thế rồi chàng trở thành con nghiện lúc nào cũng không hay. Như viên bi rơi xuống trên một triền dốc. Nó cứ lăn mãi lăn hoài cho tới tận cùng con dốc mới thôi. Chàng lần lượt phạm hết tội ác này đến tội ác khác. Đã ghiền thì phải có tiền để mua thuốc. Và để có tiền thì chàng phải dối gạt cha mẹ, đánh đập vợ con, lừa đảo bạn bè, hay ăn trộm ăn cắp. Và rồi trong một giây phút mù quáng nào đó, chàng cũng sẵn sàng cướp của giết người, chỉ để kiếm tí tiền còm.
Nhất là trong lãnh vực tình yêu, chỉ vì những chuyện nhỏ, mà niềm hạnh phúc bị tiêu tan và gia đình bị đổ vỡ. Gã xin lươm lặt một vài kinh nghiệm nhỏ, được đăng tải trên báo Phụ Nữ, để chứng minh cho sự thật não nùng và bi đát trên.
Kinh nghiệm thứ nhất, tính ham nhậu của chàng chỉ là chuyện nhỏ: Chàng và nàng quyết định lấy nhau. Gia đình nàng phản đối vì chàng có sở thích lớn là…nhậu. Tính ham nhậu của chàng đã có thừ thời sinh viên, khi hai người mới yêu nhau. Cứ cuối tuần là chàng và mấy người bạn cùng phòng ở ký túc xá lại ra quán bia hơi bên lề đường nhâm nhi vài lít. Nàng giận lắm vì chàng mải lai rai quên cả cái hẹn với nàng. Thậm chí trong lần ra mắt bên nhà vợ tương lai, chàng đã quên luôn việc cần phải tạo ra một hình ảnh chàng rể tốt vì chàng đã nhậu “tới bến” với hai người anh của nàng, khiến nàng phải gọi taxi đưa chàng về nhà.
Tuy nhiên, nàng vẫn hăng hái bênh vực: Nhân vô thập toàn. Làm người ai mà chẳng có những khuyết điểm. Kẻ này cờ bạc. Kẻ kia đèo bòng bồ nhí, trong khi chàng tính tình trung thực, hiếu thảo với cha mẹ và yêu thương nàng hết lòng. Chàng chỉ có một khuyết điểm tí tẹo là hay nhậu. Chuyện nhỏ như con thỏ. Chàng nhậu chỉ vì công việc, chỉ vì nể nang bạn bè. Nàng tin rằng khi đã có vợ có con, kề vai gánh lấy trách nhiệm gia đình, chàng sẽ chia tay với ma men. Nhưng rồi cuộc tình của nàng đã kết thúc trong đổ vỡ cũng vì chuyện nhỏ này. Chính nàng đã phải khai trước toà án: Ngày nào chàng cũng say xỉn. Tiếp khách hàng cũng nhậu. Gặp bạn bè cũng nhậu. Đến ngày cuối tuần, không có lý do gì cũng nhậu, bằng cách gầy độ với mấy ông hàng xóm. Tôi buồn chán, nên có lần bồng con về quê sáu tháng, chàng năn nỉ và thề bỏ rượu, tôi đã tha thứ và gia đình đoàn tụ. Sau đó, chàng vẫn chứng nào tật ấy và tôi không thể chịu đựng được nữa. Chuyện nhỏ bây giờ không còn nhỏ nữa mất rồi.
Kinh nghiệm thứ hai, tính hay ghen của nàng chỉ là chuyện nhỏ. Chàng là nhân viên phòng kinh doanh nhà đất. Nàng là con gái rượu của một đại gia. Họ đến với nhau quả là môn đăng hộ đối, xứng đôi vừa lứa. Tuy nhiên, nàng chỉ có mỗi tội là… hay ghen.  Lúc bấy giờ, chàng cho là chuyện nhỏ. Mặc dù bực bội, nhưng đôi khi chàng lại cảm thấy hay hay, vì có yêu, thì nàng mới ghen. Thành thử, chàng chẳng hề nghĩ tới việc chia tay, bởi vì sau mỗi lần chàng giận, nàng luôn năn nỉ xin chàng bỏ qua. Hơn thế nữa, nàng lại xinh đẹp, giỏi nội trợ, điều kiện gia đình quá tốt. Chàng nghĩ lấy nhau rồi nàng sẽ hiểu rõ chàng là người sống nghiêm túc, không lăng nhăng, lúc bấy giờ nàng sẽ không còn lý do gì để mà ghen. Nhưng rồi cuộc hôn nhân của chàng cũng đã vội chết yểu khi chưa kịp “mừng tuổi lên hai”, do chàng không chịu đựng nổi sự ghen tuông đến bệnh hoạn của nàng.  Thực vậy, ngày nào đi làm về, chàng cũng bị nàng “đánh hơi”, kiểm tra xem có mùi nước hoa, có vết son hay sợi tóc cô nào vương trên áo chàng hay không.  Chàng cũng bị nàng kiểm tra điện toại xem đã gọi, đã nhắn tin cho những ai. Cô nào nằm trong danh sách “tình nghi”, liền bị nàng gọi điện thoại để điều tra và đe doạ không được đến gần chàng. Điều làm chàng mệt mỏi nhất, đó là nàng còn hay bày trò tuyệt thực, đòi tự tử…mỗi khi chàng nổi cáu, mắng nàng vì tội ghen bóng ghen gió hay về nhà trễ. (Dựa theo bài viết của Thuỳ Dương trong báo Phụ Nữ thứ ba, số ra ngày 19.1.2010).


Các cụ ta ngày xưa thường bảo: Yêu nhau củ ấu cũng tròn, Trái bồ hòn cũng ngọt. Khi tình yêu còn mặn nồng, nhất là vào cái thuở ban đầu lưu luyến ấy, thì những thói hư tật xấu chỉ là chuyện nhỏ. Thế nhưng, một khi đã bước vào hôn nhân và chung sống với nhau, nhất là khi tình yêu đang có những triệu chứng nhạt phai và giảm sút, thì những thói hư tật xấu ấy không còn là chuyện nhỏ nữa, nhưng đã trở thành chuyện lớn, nguyên nhân dẫn tới đổ vỡ, bởi vì đó chính là giọt nước cuối cùng làm tràn ly, đó chính là cọng rơm sau hết làm gãy cả cái lưng con lạc đà!
Kinh nghiệm thứ ba, dư luận cũng chỉ là chuyện nhỏ. Chàng là một đại gia, goá vợ và có hai con. Nàng là một cô gái duyên dáng, giỏi giang, được nhiều chàng trai theo đuổi, nhưng cuối cùng nàng đã lên xe hoa để được chàng rước về dinh. Mặc dù những người chung quanh đã xì xào bàn tán, nhưng nàng cho đó chỉ là chuyện nhỏ. Nàng hy vọng với tất cả thiện chí và những việc làm tốt lành của mình, nàng sẽ đánh tan được cái dư luận đầy ác ý ấy. Vì thế, sau đám cưới, cả chàng lẫn nàng đều cố gắng thu xếp ổn thoả những mối liên hệ gia đình. Tuy nhiên, chỉ được một thời gian ngắn mà thôi, sau đó nàng bắt đầu cảm thấy bị chao đảo, khi mà ngày nào cũng phải nghe những lời bóng gió: Làm vú em đặng có kinh nghiệm để mai mốt làm mẹ tốt hơn. Chàng cưới nàng là để có người hầu hạ, chứ có yêu gì nàng đâu. Còn hai đứa con, lúc nào cũng chê bai rằng: Dì không bằng mẹ ngày xưa. Lúc đầu chàng còn cố gắng phân tích thiệt hơn  cho nàng và dỗ dành con cái. Nhưng rồi sự việc cứ liên tục xảy ra theo chiều hướng xấu, khiến chàng đành phải buông xuôi. Có lần chàng đã nói với nàng: Thôi thì tuỳ em chọn lựa, muốn ở với anh nữa thì ở, bằng không thì cứ việc ra đi. Câu nói ấy làm cho nàng đau đớn và nghiệm ra rằng: Những gì người khác nói đều chính xác. Chàng chỉ biết có con riêng và người vợ cũ mà thôi. (Dựa theo bài viết của Nghi Anh trong báo Phụ Nữ thứ sáu, số ra ngày 8.1.2010).
Thiết tưởng trong hoàn cảnh này, cả hai đều phải có can đảm gác bỏ ngoài tai những lời đàm tiếu, thậm chí còn phải…”ngồi xổm” trên cả dư luận nữa, nếu thấy rằng những lời đồn thổi ấy đều vô căn cứ, không đúng sự thật và chất đầy những ý đồ đen tối. Bởi vì: Dư luận thì vốn thường luận dư. Lưỡi không xương nhiều đường lắt léo. Vì thế chó cắn mặc chó, đôi ta vẫn cứ tay trong tay cùng nhau sánh bước trong cuộc đời:Mặc người nói ngả nói nghiêng, ta đây vẫn vững như kiềng ba chân. Những chuyện nhỏ chỉ hoàn thành được một cái lỗ bé như lỗ cua đào, nhưng nếu không kịp thời vít lại, thì khi mùa lụt đến, nó có thể làm vỡ cả một con đê. Và khi con đê đã vỡ, hậu quả thật khó mà lường nổi. Cũng giống một tàn thuốc lá rơi vãi có thể đốt cháy cả một khu rừng. 
Tiếp đến là những chuyện nhỏ nhưng đem lại thành công lớn. 

Đứng từ xa, gã thấy sa mạc thật mênh mông, nhưng đến gần thì cái mênh mông ấy được kết thành bởi muôn vàn hạt cát nhỏ. Đại dương thì bao la, nhưng cái bao la ấy được tạo nên bởi những cái gì, nếu không phải là bởi những giọt nước vô danh tiểu tốt! Cũng vậy, đằng sau những thành công vẻ vang, đằng sau những cuộc đời rạng rỡ chính là những cố gắng âm thầm, chính là những nỗ lực liên tục. Hay nói cách khác, chính là những…chuyện nhỏ. Chẳng hạn thánh nữ Têrêsa, một vị thánh nổi tiếng, mà người công giáo nào cũng biết đến. Cuộc sống của ngài chỉ kéo dài vỏn vẹn được có hai mươi bốn tuổi đời trong bốn bức tường tu viện, không làm những phép lạ kỳ diệu, không có những lời giảng dạy hùng hồn và cũng không hy sinh cho đến giọt máu cuối cùng, trái lại thánh nữ chỉ âm thầm chu toàn những việc nhỏ trong nhà dòng. Thế nhưng, chính những việc nhỏ này đã làm cho ngài trở thành một vị thánh lớn trong Giáo Hội. Việc nhỏ nhưng thành công lớn.
Hẳn rằng nhiều lúc chúng ta cũng đã “tâm phục khẩu phục” những thiên tài trong lãnh vực này, hay trong phạm vi kia. Thế nhưng, cái thiên tài ấy, phần nhỏ do trời ban, còn phần lớn là do đã khổ công tập luyện, đã siêng năng học hỏi, như tục ngữ cũng đã nói: Có công mài sắt, có ngày nên kim. Phải chăng những tập luyện và học hỏi ấy chỉ là những chuyện nhỏ, nhưng chúng ta lại không có đủ kiên nhẫn để thực hiện cho đến cùng mà thôi.
Trong công việc làm ăn buôn bán cũng vậy. Những thương gia giàu có thuộc vào hàng “nứt đố đổ vách”, những khuôn mặt tài phiệt cỡ lớn, khả dĩ làm lũng đoạn cả thị trường quốc tế, thế mà nhiều người trong số họ đã khởi đi từ thân phận nghèo túng, khố rách áo ôm. Tiền bạc và gia sản của họ hôm nay, phần nhỏ do may mắn, nhưng phần lớn là do cần kiệm và chí thú làm ăn. Sở dĩ như vậy, vì họ luôn tâm niệm: Năng nhặt, chặt bị.
Sau cùng, tình yêu và gia đình cũng không thoát khỏi quy luật chung này. Có người cho rằng: Chết cho người mình yêu, thì dễ hơn là sống với người mình yêu. Bởi vì chết cho người mình yêu là một hy sinh lớn, nhưng lại không dễ gì xảy ra. Trong khi ấy, sống với người mình yêu liên tục đòi hỏi những hy sinh, tuy nhỏ nhưng lại kéo dài bằng cả cuộc đời. Chẳng hạn ban chiều đi làm về, thay vì ngồi đọc báo hay xem TV chờ cơm tối, chàng vội vào bếp phụ với nàng một tay. Việc làm tuy nhỏ, nhưng chắc chắn sẽ làm cho khuôn mặt của nàng thêm rạng rỡ và nụ cười của nàng thêm xinh. Chẳng hạn vào sinh nhật của chàng, nàng bèn trổ tài nữ công gia chánh, làm một bữa cơm thịnh soạn để chúc mừng chàng, cũng như để khoản đại mọi người trong gia đình. Việc làm tuy nhỏ, nhưng sẽ đem lại cho chàng niềm vui lớn. Chẳng hạn vào ngày phụ nữ quốc tế, chàng tặng cho nàng một bông hồng. Bông hồng chẳng đáng bao nhiêu, chỉ là chuyện nhỏ, nhưng sẽ để lại một dấu ấn kỷ niệm thật lớn, không bao giờ quên trong trái tim nàng.
Những việc làm và những hy sinh nhỏ này sẽ làm cho tình yêu thêm nồng thắm và được lớn lên. Với một tình yêu nồng thắm và được lớn lên như thế, người ta lại càng sẵn sàng chấp nhận những hy sinh cho nhau và vì nhau, đảm bảo cho một mái ấm ngập tràn hạnh phúc.
Gã Siêu

 

Chuyện Gã Siêu 135: TỪ CHẾT ĐẾN BỊ THƯƠNG

TỪ CHẾT ĐẾN BỊ THƯƠNG Chuyện Gã Siêu 135

Cặp vợ chồng lý tưởng”, đó là tựa đề của một chương trình truyền hình thật hấp dẫn và ăn khách Chuyện Gã Siêu 135

“Cặp vợ chồng lý tưởng”, đó là tựa đề của một chương trình truyền hình thật hấp dẫn và ăn khách. Năm cặp vợ chồng bước vào phòng thu hình.
 Người điều khiển sẽ tách riêng mỗi cặp, chồng đứng một nơi, vợ ngồi một nẻo và hỏi từng người một. Rồi sau đó, cặp vợ chồng nào mà cả hai đều trả lời hoàn toàn giống nhau cho tất cả những vấn đề được đặt ra, mới được chọn làm cặp vợ chồng lý tưởng.
Chẳng hạn người điều khiển hỏi:
- Bạn thích ăn cơm nhão hay ăn cơm khô?
Nếu người vợ trả lời là cơm nhão và người chồng cũng phải trả lời là cơm nhão, thì mới được điểm.
Chẳng hạn người điều khiển hỏi:
- Khi ra riêng, bạn sẽ vay tiền để mua sắm đồ đạc hay cứ chịu khó tiết kiệm để rồi mua sắm sau?
Nếu người vợ trả lời rằng tiết kiệm trước, mua sắm sau, và khi được hỏi, người chồng cũng phải trả lời y chang như vậy, thì mới được điểm.
Từ đó, cặp vợ chồng lý tưởng sẽ phải là cặp vợ chồng hoàn toàn hoà hợp, cả hai cùng nhất trí, cùng đồng ý với nhau trong tư tưởng, trong lời nói, cũng như trong hành động: Mình với ta tuy hai mà một. Họ chỉ còn là một tâm hồn và một ước mơ, một trái tim và một việc làm.
Tuy nhiên, tìm được một người chồng hoàn hảo, hay một người vợ tuyệt vời đã là một chuyện rất khó, còn khó hơn cả việc mò kim dưới đáy biển, đơn giản chỉ vì nhân vô thập toàn, ai cũng có những sai lỗi và khuyết điểm của mình, cho nên người chồng hoàn hảo hay người vợ tuyệt vời chỉ là điều không tưởng, chẳng hề có trong cuộc đời này.
Tìm kiếm một cặp vợ chồng lý tưởng, hoàn toàn ăn ý với nhau, còn khó hơn thế nữa. Dù gã có đốt đuốc đi tìm giữa ban ngày, thì cũng chẳng hề thấy, bởi vì bá nhân bá tánh, mỗi người đều có một tính tình riêng. Ấy là gã chưa nói đến mỗi người còn là một mầu nhiệm, một thế giới biệt lập với những khoảng trời riêng tư. Và kinh nghiệm cũng cho hay: Trong cuộc sống chung, vợ chồng sẽ không thể nào tránh khỏi những va chạm, những bực bội và những buồn phiền. Thậm chí đối với một số cặp vợ chồng, những bất đồng, cãi vã và xô xát vốn chỉ là những chuyện rất bình thường, xảy ra như cơm bữa. Thế nhưng, nếu bình tĩnh ngồi phân tích, gã nhận thấy giận vợ hay làm cho vợ giận, trong cả hai trường hợp, phe ta chỉ toàn thua là thua, từ chết đến bị thường mà thôi.
Trước hết là trường hợp vợ giận
Bản tính của đờn bà con gái vốn dịu hiền, vì thế đứng trước những tức tối, phản ứng của các chị vợ thường âm ỉ và dai dẳng, khiến cho anh chồng phải một phen ngậm đắng nuốt cay, xất bất xang bang, giống như hiện tượng cháy ngầm trong hoá học, tuy âm thầm nhưng vẫn có thể cưa đứt cả sắt thép.
Bình thường, chị vợ vốn hay nói dài, nói dẻo, nói giai, nhưng khi đã giận rồi, thì bỗng trở thành…”tắt tiếng”. Và một khi chị vợ đã quyết tâm, thì trời có đánh, thánh có vật cũng không can nổi. Từ một người nói nhiều như đài phát thanh, chị có thể câm nín, nhịn nói cả tuần lễ. Bộ mặt lầm lỳ như công an hình sự. Có cậy miệng cũng chẳng thèm phát ngôn lấy được một lời, làm cho anh chồng càng ngày càng bị căng thẳng và khổ sở, bởi vì mỗi khi bước chân vào nhà, đều phải đối mặt với một “pho tượng đá”, để rồi cuối cùng anh chồng đành phải xuống nước, năn nỉ ỉ ôi, chị vợ mới mở lượng khoan hồng mà tha cho. Sau cơn giận nín lặng thuộc vào hàng cao thủ võ lâm của chị vợ, nhiều anh chồng mới sáng mắt và ngộ ra rằng: vợ nói nhiều còn dễ chịu hơn là vợ lầm lì, tắt tiếng.
Thái độ thứ hai là ca tới ca lui cái điệp khúc “trở về mái nhà xưa”. Thực vậy, cứ mỗi lần cãi nhau và khi yêu cầu không được giải quyết một cách thoả đáng, nhiều chị vợ bèn chẳng nói chẳng rằng, tự động gấp quần áo, xếp đồ đạc, khăn gói quả mướp lên đường về với …bu! Để rồi anh chồng phải lí nhí bẩm báo với mẹ vợ:
- Mẹ ơi, con có chuyện muốn thưa với mẹ. Thực ra con và vợ con đều không có lỗi chi cả, chỉ hiểu lầm nhau mà thôi. Mong mẹ khuyên nhủ nhà con giùm.
Thế nhưng, sự đời đâu có đơn giản. Mặc dù được mẹ can gián, nhưng chị vợ vẫn cứ tiếp tục làm reo,  ở thêm ba bốn ngày cho hả giận. Và lần nào cũng vậy, anh chồng phải đích thân sang nhà ngoại, đóng vai “bị can”, xuống nước van xin lượng từ bi hì xả, mới được ân xá và rước chị vợ trở về. Có thể nói được rằng, đối với người đàn ông, không có việc gì khổ sở hơn là việc đó.
Về với bu là còn may phúc bảy mươi đời, vì dù sao anh chồng cũng đã biết được địa chỉ nơi đến, một địa chỉ an toàn tuyệt đối, nên yên chí phần nào. Trong khi đó, có những chị vợ đùng đùng nổi giận đã anh dũng bỏ nhà ra đi cái một, không hề tiếc xót, không hề nhung nhớ và cũng chẳng hề hé môi cho biết là mình đi đâu, làm cho anh chồng một phen băn khoăn lo nghĩ toát cả mồ hôi hột: Bà con họ hàng thì không có, thuê phòng khách sạn thì không đủ tiền, hỏi han bạn bè thì chẳng ai biết, gọi điện thoại thì không trả lời, thậm chí còn tắt cả nguồn, hay chỉ nghe tổng đài léo nhéo tạm thời không liên lạc được, vì ngoài vòng phủ sóng.
Trong khi đó con cái thì nheo nhóc, nhà cửa thì bừa bãi, khiến anh chồng bèn phải xuống thang, rót từng lời mật ngọt để dỗ dành, nhắn tin vào máy chị vợ. Cuối cùng, sau ba ngày thấm đòn, khi bố con hốc hác, bơ phờ vì ngôi nhà không có đờn bà, chị vợ mới chịu trở về với vẻ mặt kênh kiệu của người chiến thắng, kèm theo một thông điệp:
- Tôi về là vì các con mà thôi, không êm thì tôi sẽ đi tiếp cho mà biết. (Phỏng theo Phụ nữ Thứ tư, số 67 ra ngày 28.7.2010).
Như vậy, hẳn mọi anh chồng đều nghiệm ra rằng: Đừng dại dột mà làm cho vợ giận, bởi vì cuối cùng đều phải xuống nước mà năn nỉ đến gãy cả lưỡi, cũng lại từ chết đến bị thương mà thôi.
Tiếp đến là trường hợp giận vợ
Kinh nghiệm cho hay tính hiếu thắng dường như là một cái gì đã được Tạo Hoá cài đặt sẵn trong máu huyết của phe đờn ông con giai. Vì thế, trong những cuộc “nội chiến”, anh chồng thường phấn đấu dành phần thắng cho bằng được, thậm chí đôi lúc không ngần ngại dùng đến chiến thuật cả vú lấp miệng em, mình sai mà vẫn cứ cãi chày cãi cối.
Hơn thế nữa, bản tính của đờn ông con giai vốn nóng nảy và thẳng thừng, vì thế đứng trước những bực bội, phản ứng của các anh chồng thường bộc phát một cách mãnh liệt bằng những lời chửi bới và bằng những hành động mang tính cách bạo lực, như thương cẳng chân hạ cẳng tay và để lại những đổ vỡ tan hoang, giống như hiện tượng cháy bùng trong hoá học, nổ tung làm tan xác pháo.
Bình thường, anh chồng vốn ít nói, nhưng khi đã điên tiết vì cơn giận bốc lên đầu và bị tẩu hoả nhập ma, thì lại hay nói to và nói tục với những lời lẽ cộc cằn và thô lỗ, để rồi khi hạ nhiệt và cơn giận tan đi, lại phải một phen uốn lưỡi xin lỗi chị vợ.
Ngoài ra, cũng không ít anh chồng còn xử lý bằng bạo lực, như đập vỡ nồi niêu xoong chảo, đánh đập đấm đá chị vợ. Rốt cuộc thì cũng lại từ chết đến bị thường, từ thua đến thua mà thôi.
Suy gẫm về thái độ “vũ phu chi cục mịch” này, gã thấy làm như vậy quả là vô cùng dại dột. Bởi vì khi tỉnh cơn mê, lại phải bỏ tiền ra mua sắm những nồi niêu xoong chảo đã bị đập bể. Nếu chị vợ bị đánh phun máu đầu, lại phải bỏ tiền bạc và thời giờ ra chạy chữa. Còn nếu chẳng may chị vợ…bị đi tàu suốt sang thế giới bên kia, thì chắc chắn ông chồng sẽ được luật pháp sờ vào gáy, cho ngồi nhà đá mà đếm lịch. Rồi tương lai gia đình và con cái sẽ như thế nào? Nheo nhóc và tan hoang là cái chắc.
Chính vì thế, một anh chồng đã thề quyết với bè bạn:
- Tớ hứa từ nay sẽ không bao giờ đánh vợ nữa. Tốn kém lắm!
Mọi người đều ngạc nhiên:
- Sao lại tốn kém?
Anh chồng buồn sầu trả lời:
- Vợ tớ thích làm đẹp, tớ hoàn toàn đồng ý. Nhưng càng ngày cô ấy càng quá đáng. Hôm trước cô ấy hỏi ý kiến để đi xâm môi, tớ không đồng ý, vì từ cha sinh mẹ đẻ đến giờ môi vợ tớ đã thật dễ thương rồi. Mua son gì tớ cũng chịu, chứ đi xăm nó hâm hâm tái tái, như miếng thịt trâu ôi, nhìn thấy mà ghê. Tớ cương quyết: Em mà xâm môi, anh nhất định sẽ không bao giờ hôn em nữa. Đồ thật còn chẳng ăn, ai lại ăn đồ giả. Yên lặng được một thời gian, lần này cô ấy chẳng thèm hỏi han gì, qua mặt tớ cái vù. Các cậu thấy đấy, cái mũi của vợ tớ trước giờ vốn hênh hếch nhìn có duyên đáo để. Thế mà hôm nay cô ấy đem về trình diện tớ một cái mũi dọc dừa thẳng tưng, chóp mũi còn cao hơn cả cái trán. Tớ mở tủ xem ngân quĩ thì thấy thiếu mất mấy triệu đồng. Khổ quá! Đang dành tiền tính đổi cái xe đạp cà tàng cổ lỗ sắp thành sắt phế thải rồi. Cũng phải lên đời, chuyển hệ thành xe máy chứ. Tức quá, tớ gọi cô ấy lại, xáng cho nguyên một bạt tai. Của đáng tội, tớ đánh nhẹ thôi chứ đâu có mạnh tay. Lần đầu tiên kể từ khi cưới nhau, tớ đánh vợ tớ. Các cậu biết chuyện gì xảy ra không? Cái mũi “mỹ viện” của cô ấy lệch sang một bên, nhìn giống như một cục thịt thừa. Cô ấy soi vào gương mà cứ khóc thút thít khiến tớ ân hận quá chừng. Nắn mãi cũng không làm sao cho mũi ngay ngắn lại được. Đành phải chở vợ tớ tới mỹ viện, tốn thêm mấy triệu đồng nữa để họ chỉnh cái mũi lại như cũ. Tớ chỉ đánh vợ một lần duy nhất mà thôi, tởm tới già. Giận quá mất khôn. Tốn một lần chưa đủ hay sao mà lại muốn tốn thêm một lần nữa.
Kinh nghiệm sống sượng trên đây đáng cho mọi anh chồng vũ phu suy gẫm trong cung cách cư xử với chị vợ của mình. Làm thân đờn ông đã khó, còn làm anh “chồng giỏi chồng ngoan” lại càng khó hơn. Vì vậy, một anh chồng thấm thía sự thua lỗ mỗi khi đôi co với vợ, đã ví von bằng ngôn ngữ bóng đá như sau:
- Các anh chồng nên xác tín rằng cãi nhau với vợ chỉ là “đá giao hữu”, chứ không phải là đá ăn thua, một mất một còn. Phải biết thua trong danh dự mới là cao thủ, và sau đó chỉ sợ không đử sức nhận…”bồi thường chiến tranh” mà thôi.
Một anh chồng khác cũng đã rút tỉa, từ những lần “va chạm, cọ quẹt” với chị vợ, một kinh nghiệm để đời:
- Trong những cuộc “nội chiến” với vợ, không gì dại bằng giành phần thắng về cho mình, bởi lẽ ngay sau đó chắc chắn sẽ bị trừng phạt, sẽ bị trả đũa, sẽ bị dạy cho một bài học để biết thế nào là lễ độ. Cũng giống như dân An Nam ta ngày xưa, dù có anh dũng đánh thắng Trung Quốc, thì khi hoà bình trở lại, vẫn cứ phải triều cống và lệ thuộc, thì mới được yên thân!
Anh chồng này còn bật mí thêm hai điều thật quí giá:
- Một là vợ bao giờ cũng đúng. Hai là nếu vợ sai, thì phải nhẩm đi nhẩm lại cho tới lúc hoàn toàn xác tín vào điều một.
Chẳng thế mà các cụ ta ngày xưa đã từng bảo:
- Lệnh ông không bằng cồng bà. Vợ muốn là trời muốn.
Thậm chí còn xếp ông trời đứng sau lưng chị vợ:
- Nhất vợ, nhì trời.
Sở dĩ như vậy cũng dễ hiểu, bởi vì vợ lúc nào cũng có lý, cho dù là cái lý ngang như cua bò!
Trong một bài viết trên báo Phụ nữ Thứ sáu, số ra ngày 06.8.2010, tác giả Trần Trung Hoà cho biết: Trong một cuộc khảo sát 50 nữ sinh viên sắp ra trường với câu hỏi: Đức tính nào của người chồng mà phụ nữ thích hơn cả? Có đến 87% trả lời là thích tính hài hước. Vì vậy, khi tranh cãi với chị vợ,  các anh chồng không nên dùng lý lẽ sắc bén hay những câu nói gây tổn thương, mà chỉ nên tranh luận bằng thứ ngôn ngữ có tính hài hước. Đôi khi cũng phải miệng lưỡi chút xíu, vì đặc điểm của phụ nữ là ưa nịnh. Người phương Tây đánh giá cao những anh đờn ông giỏi “nịnh đầm”. Nhiều khi chỉ một câu nói pha trò là có thể tránh được cả một cuộc chiến đau đầu. Chẳng hạn khi chị vợ bảo nhất thiết phải có hành ngon để nấu ăn, tại sao anh chồng lại không mở miệng ra mà nói:
- Vợ anh nấu ăn, thì không cần hành vẫn cứ ngon ngất trời!
Hay:
- Anh đã cố đi tìm những năm cái chợ mà vẫn không tìm ra thứ hành ngon nhất. Chỉ toàn hành héo, anh sợ đem về, em lại mắng, nên không dám mua.
Chị vợ biết tỏng anh chồng nói ngoa, nhưng nghe đến câu “anh sợ đem về, em lại mắng”, thì làm sao mà còn giận, còn hờn được nữa. Lắm khi lại anh chồng lại còn được khoẻ re, bởi vì dẻo miệng lưỡi, khoẻ tay chân, vì khéo nói, nên chẳng phải làm chi cả.
Một anh bạn từ bên Mỹ vừa mới gửi về một bài thơ, để gã dùng làm tài liệu…ngâm kiú. Bà thơ mang tựa đề là “Sợ vợ” như sau:
Ngồi buồn kiếm chuyện nói chơi,
Nhất vợ nhì trời... là chuyện tự nhiên.

Đàn ông sợ vợ thì sang,
Đàn ông đánh vợ tan hoang cửa nhà.
Đàn ông không biết thờ bà
Cuộc đời lận đận kể là vứt đi.
Đàn ông sợ vợ ai khi,

Vợ mình, mình sợ xá gì thế gian!!!
Đàn ông khí phách ngang tàng,
Nghe lời vợ dạy là hàng trượng phu.
Đàn ông đánh vợ là ngu,
Tốn tiền cơm nước, ở tù như chơi.

Lấy nàng từ thuở mười nhăm,
Đến khi mười chín tôi đà năm con.
Nàng thì trông hãy còn son,
Tôi thì đinh ốc, bù lon rã rời.
Nắng mưa là chuyện của trời,
Tề gia nội trợ có tôi bao thầu.
Suốt ngày cày cấy như trâu,
Chiều về rửa chén cũng ngầu như ai.
Nấu cơm, đi chợ hàng ngày,
Bồng con, thay tã tôi đây vẹn toàn.
Lau nhà, lau cửa chẳng màng,
Ôi thời oanh liệt ngang tàng còn đâu.
Nhiều khi muốn hộc xì dầu,
Xin nàng nghỉ phép, nàng chau đôi mày.
Nàng đòi thi đấu võ đài,
Tung ra một chưởng, chén bay ào ào.
Nhớ xưa mình mới quen nhau,
Em ăn, em nói ngọt ngào dễ thương.
Cho nên tôi mới bị lường,
Mang thân ngà ngọc cậy nương nơi nàng.
Than ôi thực tế phũ phàng,
Mày râu một kiếp thôi đành đi đoong.
Một lòng thờ vợ sắt son,
Còn non còn nước thì tôi còn...thờ

Để kết thúc, gã xin ghi lại một mẩu chuyện nho nhỏ “Tuy gần mà xa”, giúp cho bàn dân thiên hạ cùng suy gẫm, hầu bắc được một nhịp cầu cảm thông và tạo được một bàu khí đầm ấm trong gia đình của mình.
Có một nhà hiền triết đã hỏi các đệ tử rằng:
- Tại sao trong cơn giận dữ người ta thường phải hét thật to vào mặt nhau?
Sau một lúc suy nghĩ, một trong những đệ tử đã trả lời:
- Bởi vì người ta mất bình tĩnh, mất tự chủ!
Nhà hiền triết không đồng ý với câu trả lời, ngài bảo:
- Nhưng tại sao phải hét lên trong khi cả hai đang ở cạnh nhau, tại sao không thể nói với một âm thanh vừa phải đủ nghe?
Các đệ tử lại phải ngẫm nghĩ để trả lời, nhưng không câu giải thích nào khiến vị thầy của họ hài lòng. Sau cùng ông bảo:
- Khi hai người đang giận nhau, thì trái tim của họ không còn ở gần nhau nữa. Từ trong thâm tâm, họ cảm thấy giữa họ và người kia có một khoảng cách rất xa, nên muốn nói cho nhau nghe, thì họ phải dùng hết sức bình sinh để nói thật to. Sự giận dữ càng lớn thì khoảng cách càng xa, họ càng phải nói to hơn để tiếng nói của họ bao trùm khoảng cách ấy.
 Ngưng một chút, ngài lại hỏi:
- Còn khi hai người bắt đầu yêu nhau thì thế nào?  Họ không bao giờ hét to mà chỉ nói nhỏ nhẹ, tại sao?  Bởi vì trái tim của họ cận kề nhau.  Khoảng cách giữa họ rất nhỏ.
Rồi ngài lại tiếp tục:
- Khi hai người ấy đã yêu nhau thật đậm đà, thì họ không nói nữa, họ chỉ thì thầm, họ đã đến rất gần nhau bằng tình yêu của họ. Cuối cùng ngay cả thì thầm cũng không cần thiết nữa, họ chỉ cần đưa mắt nhìn nhau, thế thôi! Và qua ánh mắt đó, họ đã biết đối phương nghĩ gì và muốn gì?
Và nhà hiền triết kết luận:
- Khi các con bàn cãi với nhau về một vấn đề, hãy giữ trái tim của các con lúc nào cũng cận kề. Đừng bao giờ thốt ra điều gì khiến các con cảm thấy xa cách nhau. Nếu không, thì sẽ có một ngày, khoảng cách ấy càng lúc càng rộng, càng lúc càng xa và các con sẽ không còn tìm được đường quay trở lại với nhau.
Thật là trên cả tuyệt vời!!!
Gã Siêu

 

Chuyện Gã Siêu 136: Công lao của vợ

Công lao của vợ Chuyện Gã Siêu 136

 

Kính vợ đắc thọ,  Sợ vợ sống lâu, Nể vợ ta hết u sầu, Để vợ lên đầu, Thì trường sinh bất lão. Chuyện Gã Siêu 136

Kính vợ đắc thọ, 
Sợ vợ sống lâu,
Nể vợ ta hết u sầu,
Để vợ lên đầu,
Thì trường sinh bất lão.

Cứ mỗi lần lễ tình nhân, hay ngày tôn vinh mẹ hiền trở về, là mấy anh con giai lo toát cả mồ hôi, chạy đôn chạy đáo để mà mua bông mua quà, còn mấy ông viết lách thì hết lời ca tụng và tôn vinh phe đờn bà con gái, khiến cho cánh kẹp tóc cứ vểnh tai cối lên mà nghe, cánh mũi nở to như trái cà chua và cảm thấy đời bỗng dưng “dzui”.
Dịp mồng tám tháng ba, ngày quốc tế phụ nữ năm nay, có một anh chàng độc thân vui tính đã viết :
- Đời không có đờn bà con gái giống như một ngày mà không có mặt trời. Ủ dột và tê tái.
Nếu như anh chàng độc thân này mà rời bỏ binh chủng “phòng không” của mình, để gia nhập lực lượng “lính thủy đánh bộ”, chắc chắn anh ta sẽ được liệt vào hàng “tôn thờ” bà xã theo kiểu:
- Kính vợ đắc thọ,
  Sợ vợ sống lâu,
  Nể vợ ta hết u sầu,
  Để vợ lên đầu,
  Thì trường sinh bất lão.

Mà quả đúng như vậy, nếu bà xã là mặt trời, thì lúc nào mà chẳng ở vào cái thế “thượng phong”, vì mặt trời luôn luôn chẳng chiếu sáng trên đầu chúng ta.
Ngày xưa khi học về ca dao tục ngữ, gã vẫn còn nhớ bài “Mười thương”:
- Một thương tóc bỏ đuôi gà,
  Hai thương ăn nói mặn mà có duyên,
  Ba thương má lúm đồng tiền,
  Bốn thương răng nhánh hạt huyền kém thua.
  Năm thương cổ yếm đeo bùa,
  Sáu thương nón thượng qua tua dịu dàng.
  Bảy thương nết ở khôn ngoan,
  Tám thương ăn nói lại càng thêm xinh.
  Chính thương cô ở một mình,
  Mười thương con mắt có tình với ai.

Thế nhưng, ngày phụ nữ đòi quyền sống và sướng năm nay, một anh bạn của gã tận mãi bên Đan Mạch, không biết tự mình sáng tác, hay đã đọc được ở đâu đó, bèn gửi cho gã một bài thơ cùng một thể thức và cũng mang tựa đề là “Mười thương” được nhái theo bài ca dao trên, gọi là để góp tiếng ngợi ca phe kẹp tóc:
- Một thương đôi má của nàng,
  Xoa toan mỹ phẩm, anh tàn tháng lương.
  Hai thương giọng ngọt như đường,
  Nàng xin một tiếng, vua nhường mất ngôi.
  Ba thương đo đỏ đôi môi,
  Anh không hôn được, sợ trôi son nàng.
  Bốn thương mười ngón thiên đàng,
  Móng nàng lạ lắm : lúc vàng, lúc xanh.
  Năm thương đôi mắt long lanh,
  Liếc tình, cọp cũng biến thành nai tơ.
  Sáu thương cái nết ngây thơ,
  Quen nàng  một tháng, anh khờ ba năm.
  Bảy thương cái mặt chầm dầm,
  Đòi mua vài cái áo đầm mới vui.
  Tám thương mái tóc buông xuôi,
  Làm anh té xỉu bởi mùi dầu thơm.
  Chín thương nàng biết nấu cơm,
  Lớp khê, lớp khét, thằng bờm chạy xa.
  Mười thương tính chẳng xa hoa,
  Vòng vàng không khoái, hột xoàn nàng mê.
  Đời trai sao lắm ê chề,
  Thương xong mười cái anh về chăn trâu.

Gọi là góp tiếng để ngợi ca phe kẹp tóc theo cái kiểu này, thì đúng là tên phản phé, đâm sau lưng các…nữ chiến sĩ rồi còn gì.
Riêng phần gã, gã xin mượn phần đất của bài viết hôm nay, để tôn vinh công sức của các chị vợ.
Thực vậy, có người đã định nghĩa chữ “vợ” như sau :
- Vợ là mẹ các con ta,
  Thường kêu “bà xã”, hiệu là “phu nhân”.
  Vợ là tổng hợp bạn thân,
  Thủ trưởng, bảo mẫu, tình nhân, mẹ hiền.
  Vợ là ngân khố, kho tiền,
  Gửi vô nhanh gọn, hơi phiền rút ra.
  Vợ là biển cả bao la,
  Đôi khi nổi sóng, khiến ta chìm phà.
  Vợ là âm nhạc, thi ca,
  Vừa là cô giáo, vừa là luật sư.
  Cả gan đấu khẩu vợ ư?
  Cá ươn không muối, chồng hư cãi lời.
  Chồng ơi! Đừng có dại khờ,
  Vợ đi, thì biết cậy nhờ vào ai?
  Vợ là phước, lộc, thọ, tài,
  Thuộc trăm định nghĩa, trả bài vợ khen.

Bài thơ trên đã  quảng diễn một cách phong phú ý tưởng của câu “ranh ngôn” :
- Vợ không có công sinh ra ta, nhưng lại có công nuôi dưỡng và dạy dỗ ta nên người.
Hay như một câu ca dao thời nay :
- Dù không sinh đẻ ra ta,
  Nhưng công dưỡng dục thật là lớn lao.
Dựa vào câu “ranh ngôn” cũng như câu ca dao trên, gã thấy công sức của chị vợ được chia thành hai loại:
Loại thứ nhất, đó là công sức nuôi dưỡng.
Mặc dù thỉnh thoảng cũng có tí luật trừ, đó là một vài anh đờn ông bỗng dưng giỏi chuyện bếp núc, phụ trách chế biến các món ăn ở những khách sạn năm sao và một vài chị đờn bà bỗng dưng mù tịt việc nấu nướng, chỉ nguyên việc thổi một nồi cơm, thì cũng đã trên sống, dưới khê, tứ bề nhão nhoét.
Tuy nhiên, phải công nhận rằng lãnh vực bếp núc là lãnh vực riêng của các nàng. Có bàn tay phụ nữ, bữa ăn được cải thiện trông thấy. Không còn cảnh chém to kho mặn…
Chính vì thế, nhiều anh chàng sinh viên đã gạ gẫm bạn gái của mình góp gạo thổi cơm chung. Rồi sau đó, việc gì đến, ăt sẽ phải đến. Và chuyện…ăn cơm trước kẻng đương nhiên sẽ xảy ra, với những hậu quả thật não nùng và bi đát , mà phần thiệt thòi bao giờ cũng nằm ở phía các nàng.
Ngày nay, hình như người ta thích dành cho mình cái danh hiệu là “từ mẫu”, tức là mẹ hiền. Mấy ông bác sĩ, mấy ông thày thuốc và ngay cả những vị lang băm cũng đều ra sức tự phong cho mình cái nhãn hiệu ấy:
- Lương y như từ mẫu.
Trong khi đó, mấy cô giáo nhà trẻ cũng say mê tập cho các em thuộc lứa tuổi babilac hát vang:
- Lúc ở nhà, mẹ cũng là cô giáo,
  Đi đến trường, cô giáo như mẹ hiền.
  Cô và mẹ là hai cô giáo,
  Mẹ và cô cũng như mẹ hiền.

Và bây giờ đến lượt các chị vợ cũng rất mong muốn được làm mẹ của các anh chồng. Dĩ nhiên, sự mong muốn này được biểu lộ ra không phải trong tư tưởng, cũng như không phải trong lời nói, mà được biểu lộ ra trong những việc làm cụ thể, bằng cách “nuôi chồng khỏe và dạy chồng ngoan”.
Hiện giờ, chuyện an toàn thực phẩn đang là một vấn đề nóng bỏng được thiên hạ bàn tán. Phở thì có “phọc môn”, bún thì có hàn the, thịt lợn thì đang bị lở mồm long móng, thịt gà thịt vịt thì đang bị dịch cúm gia cầm, lúa gạo thì nhiễm thuốc trừ sâu và phân hóa học…
Cũng chính vì thế, để bảo đảm sức khỏe cho các thành viên trong gia đình, các chị vợ đều bắt mọi người phải ăn cơm nhà, vừa bảo đảm, lại vừa đủ chất dinh dưỡng. Còn đâu nữa mỗi buổi sáng ra quán làm một tô phở tái béo ngậy, rồi nhâm nhi ly cà phê đen mà ba hoa chích chòe đủ  mọi chuyện trên trời dưới đất với nhóm bạn hữu.
Thậm chí, nhiều khi đi dự đám tiệc, chị vợ cũng bắt anh chồng phải ăn cơm ở nhà trước cho chắc bụng. Hơn thế nữa, lỡ có uống dăm ba ly, thì cũng khó mà say được.
Nhiều chị vợ còn ra sức chăm sóc anh chồng một cách chu đáo, vượt ngoài mức độ cần thiết, cứ như một người mẹ chăm sóc đứa con bé bỏng của mình.
Chẳng hạn sau mỗi bữa cơm, phải “tráng miệng” bằng hai trái chuối, và trước khi đi ngủ, phải “lót lòng” bằng một ly cối đầy sữa…Thành thử anh chồng cứ mỗi ngày một phát tướng và vòng số hai cứ liên tục phát triển. Chị vợ đâu có ngờ rằng cái vòng này càng to ra, thì vòng đời càng teo lại!
Nếu chẳng may anh chồng quá vui mà bị xỉn, thì đã có chị vợ lo pha nước chanh, đắp khăn nóng và thậm chí còn bôi vôi vào gan bàn chân để được mau tỉnh. Còn nếu chẳng may anh chồng bị đau yếu thì đã có chị vợ vội tìm thầy chạy thuốc, dành cho một chế độ “bồi dưỡng” mà ngày thường có nằm mơ cũng chẳng thấy. Vì thế, người ta đã bảo :
- Khi ta đau ốm xanh xao,
  Vợ lo chăm sóc, hồng hào khỏe ngay.

Anh chồng mà nhõng nhẽo…chả muốn ăn, thì liền được rót vào tai những lời ngọt ngào :
- Bộ anh hổng còn thương em nữa sao? Em đã bỏ công lo lắng cho sức khỏe của anh từng ly từng tí, để vợ chồng mình được ăn ở đời kiếp với nhau. Vậy mà anh hổng chịu nghe lời em.
Tới nước này, thì anh chồng cũng giống như em bé, ầm một cái, ăn cho bà xã được vui lòng.