Suy tư của Đức Cha GB Bùi-Tuần Bài 1051-1100

Thứ ba - 26/02/2019 08:15
Suy tư của Đức Cha GB Bùi-Tuần Bài 1051-1100
Suy tư của Đức Cha GB Bùi-Tuần Bài 1051-1100
Suy tư của Đức Cha GB Bùi-Tuần Bài 1051-1100
Bùi-Tuần 1051: NIỀM VUI TRỞ VỀ 04-04-2008. 2
Bùi-Tuần 1052: NHÌN VÀO BA HÌNH ẢNH SỐNG ĐỘNG.. 5
Bùi-Tuần 1053: HẠT LÚA GIEO VÀO LÒNG ĐẤT 30-04-2008. 8
Bùi-Tuần 1054: NGƯỜI CON CỦA MẸ MARIA 04-05-2008. 10
Bùi-Tuần 1055: NHÌN TRONG TÌNH YÊU TRÁI TIM CHÚA GIÊSU.. 13
Bùi-Tuần 1056: THÁNH HOÁ CÁC LINH MỤC19-05-2008. 16
Bùi-Tuần 1057: CẦU NGUYỆN CHO CHUYẾN ĐI 19
Bùi-Tuần 1058: TỈNH THỨC TRƯỚC NHỮNG XÁO TRỘN 28-05-2008. 22
Bùi-Tuần 1059: TÌM HƯỚNG PHỤC VỤ LÂU DÀI 15-08-2008. 25
Bùi-Tuần 1060: TIẾNG GỌI CỦA CẢNH NGHÈO 04-06-2008. 28
Bùi-Tuần 1061: MỘT CON ĐƯỜNG ĐÀO TẠO 16-06-2008. 31
Bùi-Tuần 1062: NÂNG TÂM HỒN LÊN 24-06-2008. 33
Bùi-Tuần 1063: NHẮC NHỞ CỦA PHÁI ĐOÀN TOÀ THÁNH 29-06-2008. 36
Bùi-Tuần 1064: GẶP GỠ CHÚA GIÊSU NƠI NHỮNG TÌNH YÊU.. 39
Bùi-Tuần 1065: CHA MẸ CÔNG GIÁO GIÁO DỤC CON CÁI 26-07-2008. 42
Bùi-Tuần 1066: SÙNG KÍNH ĐỨC MẸ MARIA 13-08-2008. 45
Bùi-Tuần 1067: HIỆP THÔNG VỚI CHÚA GIÊSU CẦU NGUYỆN.. 48
Bùi-Tuần 1068: THÁNH AUGUTINH GIẢNG DẠY 17-08-2008. 51
Bùi-Tuần 1069: MẸ CỦA KẺ ĐI ĐƯỜNG 21-07-2008. 53
Bùi-Tuần 1070: NHỚ VỀ ĐỨC CỐ HỒNG Y PHANXICÔ XAVIÊ.. 56
Bùi-Tuần 1071: ĐỨC MẸ SẦU BI 30-08-2008. 60
Bùi-Tuần 1072: SUY NGHĨ VỀ THỜI SỰ 30-08-2008. 63
Bùi-Tuần 1073: HÀNH HƯƠNG LỘ ĐỨC TẠI NHÀ 19-09-2008. 66
Bùi-Tuần 1074: SỐNG ĐẠO TRONG THỬ THÁCH 03-10-2008. 69
Bùi-Tuần 1075: BỊ GIAM CẦM 03-09-2008. 72
Bùi-Tuần 1076: SỨC MẠNH GIẢI CỨU 22-09-2008. 75
Bùi-Tuần 1077: NIỀM VUI TRUYỀN GIÁO 12-10-2008. 77
Bùi-Tuần 1078: NHÂN ĐẠO HƠN 19-10-2008. 80
Bùi-Tuần 1079: CHÚA NÓI VỚI TÔI 15-10-2008. 83
Bùi-Tuần 1080: DẤN THÂN CỦA NGƯỜI MÔN ĐỆ ĐỨC KITÔ 29-10-2008. 87
Bùi-Tuần 1081: ĐƯỢC ĐÓN NHẬN VÀ ĐÓN NHẬN 11-11-2008. 90
Bùi-Tuần 1082: LÀM CHỨNG CHO CHÚA GIÊSU 11-11-2008. 93
Bùi-Tuần 1083: DIỄN TẢ TÌNH YÊU 21-12 -2008. 96
Bùi-Tuần 1084: THÁNH GIUSE, CON NGƯỜI KHÔN NGOAN.. 98
Bùi-Tuần 1085: NĂM LINH MỤC 22-06-2009. 101
Bùi-Tuần 1086: TRUYỀN GIÁO NHỜ ƠN THÁNH 18-10-2009. 103
Bùi-Tuần 1087: LINH MỤC VÀ TỨ CHUNG 12-10-2009. 105
Bùi-Tuần 1088: LINH MỤC VÀ TỈNH THỨC 26-10-2009. 107
Bùi-Tuần 1089: BÁC ÁI HÔM NAY 04-11-2009. 110
Bùi-Tuần 1090: LINH MỤC VÀ NGƯỜI NGHÈO 09-11-2009. 112
Bùi-Tuần 1091: TINH THẦN KHÓ NGHÈO CỦA THÁNH GIUSE.. 115
Bùi-Tuần 1092: TỈNH THỨC 19-03-2010. 117
Bùi-Tuần 1093: TUẦN THÁNH NĂM NAY 20-03-2010. 120
Bùi-Tuần 1094: ĐẠO ĐỨC PHỤC SINH 27-03-2010. 123
Bùi-Tuần 1095: CẢM TẠ CHÚA XÓT THƯƠNG 04-04-2010. 126
Bùi-Tuần 1096: XÂY DỰNG NỀN VĂN MINH TÌNH YÊU.. 129
Bùi-Tuần 1097: ĐÓN NHẬN NHỮNG SÁNG KIẾN CỦA CHÚA 16-04-2010. 131
Bùi-Tuần 1098: CHIẾN ĐẤU TRONG THỜI BÌNH 19-04-2010. 134
Bùi-Tuần 1099: DÂNG HOA VÀ DÂNG MÌNH 08-05-2010. 138
Bùi-Tuần 1100: NHỮNG LỜI GIÃ TỪ 11-05-2010. 141

 

Bùi-Tuần 1051: NIỀM VUI TRỞ VỀ 04-04-2008

+ GB. BÙI TUẦN
 

Trong đời sống đạo, người tín hữu  có nhiều niềm vui. Niềm vui thuộc nhiều loại khác nhau:04-04-2008 Bùi-Tuần 1051

Trong đời sống đạo, người tín hữu  có nhiều niềm vui. Niềm vui thuộc nhiều loại khác nhau, thuộc nhiều thời gian khác nhau.
Ở đây, tôi xin chia sẻ về niềm vui trở về. Trở về có nhiều hình thức, như:
Từ tình trạng tội lỗi trở về tình trạng đạo đức.
Từ tình trạng nguội lạnh trở về tình trạng sốt sắng.
Từ tình trạng an thân và hưởng thụ trở về tình trạng dấn thân và từ bỏ.
Từ tình trạng tự mãn phô trương trở về tình trạng khó nghèo khiêm tốn.
Và nhiều thứ trở về khác.
Trở về là bỏ cái không tốt để tới cái tốt, mà đáng lẽ mình phải chọn. Cái tốt đó là Tin Mừng Phúc Âm, là chính Chúa Phục sinh.
Mấy nét của niềm vui trở về
Mỗi lần người tín hữu  trở về như vậy là mỗi lần họ cảm nhận được niềm vui. Niềm vui này rất thiêng liêng, được chia sẻ từ Chúa Giêsu, do Chúa Thánh Thần thúc đẩy, và hướng về Chúa Cha.
Đoạn Phúc Âm sau đây giúp chúng ta dễ hiểu: "Nhóm Bảy Mươi hai trở về, hớn hở nói với Chúa Giêsu: Thưa Thầy, nghe đến danh Thầy, cả ma quỷ cũng phải khuất phục. Đức Giêsu bảo các ông: Thầy đã thấy Satan như một tia chớp từ trời sa xuống... Tuy nhiên, các con chớ mừng vì quỷ thần phải khuất phục các con, nhưng hãy mừng vì tên các con đã được ghi trên trời...
"Ngay giờ ấy, được Thánh Thần tác động, Đức Giêsu hớn hở vui mừng và nói: Lạy Cha là Chúa Trời đất, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu kín không cho các bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mạc khải cho những người bé mọn. Vâng, lạy Cha, vì đó là điều đẹp ý Cha" (Lc 10,17-212).
Khi đem bài Phúc Âm trên đây dọi vào mọi biến cố trở về, tôi thấy Chúa ban cho người trở về niềm vui có ba đặc tính:
- Vui, vì được thoát khỏi quyền lực ác thần.
Thực vậy, lòng con người có một vùng tối. Ác thần ra vào đó, để phá Nước Trời trong con người. Nhưng khi con người được ơn trở về, vùng tối đó bị rút nhỏ lại, quyền lực ác thần bị hạ.
- Vui, vì tên của người trở về được ghi trên trời.
Đó là ơn rất trọng. Càng trở về, tên họ càng được ghi sâu ghi đậm trên trời.
- Vui, vì họ thấy mình yếu đuối hèn mọn, nhưng được Chúa xót thương.
So sánh mình với những bậc giàu sang thông thái, người trở về thấy mình được yêu thương đặc biệt.
Một chứng từ sống động
Những năm gần đây, tôi được may mắn tham dự vào sự trở về của hai tín hữu. Cả hai cùng rất hận thù Hội Thánh. Cả hai cùng thuộc một nhóm coi việc trả thù các tư tế là lẽ sống. Cả hai cùng phục tùng một quyền bính có chủ trương phải căm ghét triệt hạ giáo phẩm, giáo sĩ. Họ hăng say thu gom các lửa ghen ghét, để việc trả thù của họ được càng ngày càng lan rộng và quyết liệt.
Nhưng sự người ta không làm được, thì Chúa đã làm. Dần dần họ đã được Chúa đổi lòng. Họ đã trở về. Hành trình trở về của họ là rất dài và rất cam go. Hôm nay, họ đã ra đi. Họ chết trong ơn trở về.
Theo những gì họ viết cho tôi, tôi thấy họ đã cảm được một niềm vui lạ lùng do ơn trở về. Niềm vui lạ lùng đó có thể được hiểu như sự trút bỏ một gánh rất nặng, để được bồi dưỡng bởi lòng hiền lành và khiêm nhường của Chúa phục sinh. Họ không nói rõ, nhưng những gì họ chia sẻ đã gợi ý cho tôi nhớ lại lời Chúa Giêsu phán sau đây: "Tất cả những ai vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng Thầy, Thầy sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng. Anh em hãy mang lấy ách của Thầy, và học với Thầy, vì Thầy có lòng hiền lành và khiêm nhường. Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng. Vì ách của Thầy thì êm ái, và gánh của Thầy thì nhẹ nhàng" (Mt 11,28-30).
Đem bài Phúc Âm trên đây soi vào trường hợp trở về của hai người đó, tôi thấy, khi trở về, họ đã rất vui.
- Họ vui vì thoát khỏi gánh nặng quyền lực Satan.
- Họ vui vì họ cảm thấy mình được đưa vào bầu trời thiêng liêng của Chúa.
- Họ vui vì được nghỉ ngơi trong trái tim hiền lành và khiêm nhường của Chúa.
Sự trở về của hai người tín hữu thân thương đó đã giúp tôi suy nghĩ nhiều về sự sám hối. Nó trở thành nguồn vui âm thầm cho tôi trong những ngày tôi đang cần trở về với Chúa một cách sâu xa hơn.
Niềm vui trở về của mục vụ nơi tôi
Sự trở về của tôi lúc này tập trung vào lời Chúa Giêsu đã cầu nguyện xưa: "Lạy Cha... nhưng xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha mọi đàng" (Mt 14,36). Tôi trở về với thánh ý Chúa.
Thánh ý Chúa là: Tôi phải cậy nhờ vào ơn thánh trong sống đạo và truyền đạo.
Cậy nhờ vào ơn thánh Chúa là phải tập trung vào Đức Kitô. Thay thế trung tâm Chúa Giêsu bằng những trung tâm khác là sai. Phải trở về.
Cậy nhờ vào ơn thánh đòi phải cầu nguyện và sám hối. Thay thế cầu nguyện và sám hối bằng những tổ chức ồn ào là sai. Phải trở về.
Cậy nhờ vào ơn thánh đòi phải thấm nhuần Lời Chúa. Thay thế Lời Chúa bằng những lời khác là sai. Phải trở về.
Cậy nhờ vào ơn thánh đòi phải mộ mến Mình Thánh. Thay thế Mình Thánh bằng những tôn sùng khác là sai. Phải trở về.
Cậy nhờ vào ơn thánh đòi phải chấp nhận mầu nhiệm thánh giá. Chối từ mầu nhiệm thánh giá là sai. Phải trở về.
Cậy nhờ vào ơn thánh đòi phải trung thành với điều răn mới của Chúa. Thay thế điều răn mới của Chúa bằng những điều răn mới của bất cứ ai là sai. Phải trở về.
Ngoài ra, ý Chúa là mọi sự tôi có, mọi sự tôi nhận, mọi sự tôi cho đi, mọi sự tôi chịu, tất cả đều phải là những tuyên xưng. Tôi tuyên xưng niềm tin của người con hèn mọn đang trên đường về với Cha. Niềm tin đó pha trộn niềm vui. Niềm vui này riêng tư, nhưng vẫn có thể kể lại như một chia sẻ, mà mọi người con Chúa đều có quyền được tham dự.

 

Bùi-Tuần 1052: NHÌN VÀO BA HÌNH ẢNH SỐNG ĐỘNG

CỦA CHÚA GIÊSU Nhân kỷ niệm 30/4/1975
+ GB. BÙI TUẦN
 

Ngày 30 tháng 4 năm 2008 này là dịp thúc đẩy tôi nhìn lại. Bởi vì đây là kỷ niệm 33 năm biến:30-04-2008  Bùi-Tuần 1052

Ngày 30 tháng 4 năm 2008 này là dịp thúc đẩy tôi nhìn lại.
Bởi vì đây là kỷ niệm 33 năm biến cố quan trọng của lịch sử Đất Nước tôi (30/4/1975 - 30/4/2008).
Bởi vì đây cũng là kỷ niệm 33 năm thụ phong giám mục của tôi (30/4/1975-30/4/2008).
Riêng đối với tôi, hai kỷ niệm này là rất sâu đậm. Sâu đậm nhất là do đức tin. Tôi đã trải qua thời gian này với đức tin. Niềm tin vào Chúa Giêsu đã soi sáng tôi, đã nâng đỡ tôi.
Cũng đức tin đã cho tôi thấy Chúa rất thương Hội Thánh Việt Nam. Yêu thương này rất phong phú, rất đa dạng.
Ở đây, tôi chỉ xin chia sẻ cái nhìn của riêng tôi về sự Chúa yêu thương chúng ta qua ba hình ảnh Phúc Âm.
- Hình ảnh Chúa Giêsu nhập thể.
- Hình ảnh Chúa Giêsu cứu độ.
- Hình ảnh Chúa Giêsu Thánh Thể.
1/ Làm mới lại cách sống mầu nhiệm nhập thể
Khi bước vào ngày 30/4/1975, rất nhiều người công giáo đã cảm thấy bầu trời quá mới. Nhiều e ngại đã được đặt ra: Không biết đạo Chúa sẽ còn tồn tại ở Việt Nam được bao lâu nữa?
Nhưng giữa những hoang mang như thế, Chúa Giêsu đã vẫn ở lại với con cái Người. Một trong những cách Người ở lại là làm mới lại cách sống mầu nhiệm nhập thể.
Noi gương Chúa Giêsu nhập thể, nhiều cá nhân, nhiều nhóm, nhiều cộng đoàn đã sống mầu nhiệm nhập thể một cách cụ thể và sâu sắc.
Như Chúa Giêsu, họ tình nguyện mặc lấy thân phận kẻ hèn mọn.
Họ tình nguyện trút bỏ mọi vinh quang. Họ tình nguyện sống giữa đám đông bình thường. Họ tình nguyện sống như phần đông nghèo túng.
Qua đời sống nhập thể, họ mang đến cho những người xung quanh tình thương và chân lý của Chúa Giêsu.
Chân lý và tình thương của Chúa được toả sáng qua nếp sống của những người sống mầu nhiệm nhập thể. Họ là người của một địa phương rõ rệt. Họ kính yêu gắn bó với mảnh đất mà họ gọi là quê hương của họ. Họ đồng hành một cách khiêm tốn và có trách nhiệm với những chặng đường lịch sử cụ thể. Họ sống trọn vẹn thân phận con người của lịch sử, chỉ trừ những gì là tiêu cực.
Nhờ sống mầu nhiệm nhập thể, họ gần gũi với đồng bào. Gần gũi không phải chỉ bằng sự hiện diện, mà nhất là bằng sự nhạy cảm với những gì xảy ra nơi đồng bào, bằng sự đồng cảm với những gì đồng bào cảm thấy, bằng sự linh cảm với những gì sẽ xảy ra cho đồng bào.
Sự làm mới lại cách sống mầu nhiệm nhập thể đã đem lại cho Hội Thánh Việt Nam một bộ mặt tươi trẻ của Phúc Âm.
2/ Cùng với sự làm mới lại cách sống mầu nhiệm nhập thể, Chúa cũng đã làm mới lại cách sống mầu nhiệm cứu độ
Mầu nhiệm cứu độ vẫn hoạt động trong Hội Thánh Việt Nam từ lâu rồi. Nhưng biến cố 30/4/1975 đã là cơ hội để mầu nhiệm cứu độ được thời sự hoá với những cái nhìn mới.
Thay vì chủ trương bảo vệ nguyên trạng và đắc thắng, nhiều người nhiều nơi đã được Chúa cho thấy cần phải chủ trương sám hối, canh tân và hoà giải để cứu độ.
Thay vì chủ trương đào sâu hận thù, loại trừ và nghi kỵ, nhiều người nhiều nơi đã được Chúa cho thấy cần phải có thiện chí gần lại bên nhau trong bao dung, kính trọng và yêu thương để được cứu độ.
Những ai sống mầu nhiệm cứu độ đã thấy chính bản thân mình, chính Hội Thánh mình, chính Quê Hương mình có thể cùng nhau nhìn vào những gì chung để cứu độ, như cứu khỏi mọi hình thức sự ác ngăn cản việc thăng tiến con người. Những hình thức sự ác có thể ở khắp nơi, nơi những người ngoài Hội Thánh và cả nơi những người trong Hội Thánh.
Từ 30/4/1975 đến giờ, nhiều nơi đã chứng kiến sự lan rộng của hình ảnh Chúa cứu độ. Chứng kiến không qua lý thuyết, mà qua gặp gỡ và hiểu biết. Không ít giáo sĩ, tu sĩ và giáo dân đã được đồng bào lương giáo yêu thương. Họ được nhìn như những người cứu độ. Cứu độ về nhiều phương diện, nhưng nhất là về mặt yêu thương, kính trọng. Yêu thương và kính trọng nhau đã cứu khỏi những thành kiến hận thù, nghi kỵ. Nhờ dấn thân yêu thương khiêm tốn, họ trở thành người của tất cả mọi người, không phân biệt lương giáo, có tôn giáo hay không có tôn giáo.
Hiện nay, cuốn sách được bán chay nhất tại địa phương tôi là "Trên cả tình yêu" của Mẹ Têrêsa Calcutta. Những người mua sách phần đông là ngoài công giáo. Họ nhìn Mẹ Têrêsa là con người cứu độ. Đọc xong, họ tìm hình ảnh Mẹ trong địa phương này. Họ đã không ngã lòng. Họ đã tìm thấy một số hình ảnh thân thương đó. Và hình ảnh đó đã đưa tới hình ảnh Chúa Giêsu cứu độ.
Tiếp theo sự đổi mới cách sống mầu nhiệm cứu độ và mầu nhiệm nhập thể, là sự đổi mới cách sống mầu nhiệm Thánh Thể.
3/ Làm mới lại cách sống mầu nhiệm Thánh Thể
Từ biến cố 30/4/1975 đến giờ, tôi thấy tại Hội Thánh Việt Nam có một biến chuyển về cách sống mầu nhiệm Thánh Thể.
Mới ở chỗ:
- Nhiều người tập trung vào Chúa Giêsu trong phép Thánh Thể hơn trước.
- Nhiều người để ý nhiều hơn đến việc sống kết hợp với Chúa Giêsu Thánh Thể.
- Nhiều người thực hiện nhiều hơn việc tạ ơn, sám hối và đền tội với Chúa Giêsu Thánh Thể.
- Nhiều người áp dụng nghiêm túc hơn giới luật yêu thương của Chúa Giêsu Thánh Thể.
- Nhiều người đã sống khiêm tốn bé nhỏ hơn trước, theo gương Chúa Giêsu Thánh Thể.
Sự đổi mới cách sống mầu nhiệm Thánh Thể thường được thực hiện  một phần do sự đổi mới cách sống của những tư tế của Chúa. Khi các vị tư tế sống thực sự là người của phép Thánh Thể, thì bầu khí phượng tự, mục vụ sẽ ra khác. Sự kiện đó sẽ ảnh hưởng nhiều đến bầu khí xã hội.
Ba cách sống trên đây đã trình bày ba hình ảnh sống động của Chúa Giêsu: Chúa nhập thể, Chúa cứu độ, Chúa Thánh Thể. Ba cách sống này là chứng từ về Thiên Chúa chúng ta. Tất nhiên chúng ta sẽ phải đau khổ trên đường làm chứng. Nhưng chúng ta vững tin. Chúa luôn ở với chúng ta. Người đang đổi mới mọi sự theo thánh ý Người.
Xin khiêm tốn cảm tạ Chúa giàu lòng thương xót đến muôn đời.

 

Bùi-Tuần 1053: HẠT LÚA GIEO VÀO LÒNG ĐẤT 30-04-2008

+ GB. BÙI TUẦN
Bài chia sẻ trong thánh lễ kỷ niệm thụ phong Giám mục tại nhà nguyện thánh Tôma - Toà Giám Mục LongXuyên, ngày 30/4/2008
Trọng kính Đức Cha Giuse,
Kính thưa anh chị em thân mến,
 

Cách đây 33 năm, cũng vào ngày 30 tháng 4, và cũng tại nhà nguyện bé nhỏ này, tôi đã được:30-04-2008 Bùi-Tuần 1053

Cách đây 33 năm, cũng vào ngày 30 tháng 4, và cũng tại nhà nguyện bé nhỏ này, tôi đã được thụ phong Giám mục.
I. Khi nằm sấp mặt xuống đất để cùng cộng đoàn đọc kinh cầu Các Thánh, tôi thoáng nhìn tôi như một hạt lúa được gieo vào lòng đất.
Hình ảnh hạt lúa gieo vào lòng đất được rút ra từ lời Chúa Giêsu: "Nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình. Còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác" (Ga 12,24).
Chúa Giêsu nói lời đó về chính mình. Người coi chính mình Người là hạt lúa được gieo vào lòng đất, đợi được chết đi.
Khi thấy Chúa gởi cho tôi hình ảnh hạt lúa rút ra từ lời Chúa, tôi chỉ hiểu đơn sơ rằng: Đó là một sự sai đi. Tôi đã tin và đã xin vâng.
II. Sau đó, thời gian đã dần dần cho tôi hiểu rõ hơn sự Chúa sai đi. Đó là Chúa muốn:
Một đàng tôi phải kết hợp với hạt lúa Phúc Âm là chính Chúa Giêsu.
Đàng khác, tôi phải gắn bó với đất là Đất Nước Việt Nam này nói chung và với địa phương Long Xuyên này nói riêng.
a) Là hạt lúa được gieo vào một Đất Nước cụ thể, tôi hiểu địa phương và Đất Nước hơn. Hiểu không một cách khô khan trừu tượng, nhưng với yêu thương và đồng cảm. Tôi cảm nhận phần nào tâm tình của đồng bào, những niềm vui và những nỗi lo âu, những hy vọng và những thất vọng. Tôi cảm nhận phần nào những gì âm ỉ trong vô thức và tiềm thức của nhân dân. Có những gì như linh cảm mà không nói ra được. Có những mặt sông phẳng lặng và có những sóng ngầm.
b) Là hạt giống gieo vào lòng đất, tôi cảm thấy mình được hạnh phúc vì được chia sẻ. Nhưng hạt giống phải chết đi, như Chúa phán, đó lại là điều tự nhiên tôi không dễ chấp nhận như một hạnh phúc.
Sợ thì phải nói là sợ. Khổ thì phải nói là khổ. Tôi xin thành thực thú nhận rằng: Tôi đã sợ, tôi đã khổ, khi phải từ bó ý riêng để vâng phục thánh ý Chúa. Thánh giá vẫn là thánh giá.
Nhưng tôi cũng xin tuyên xưng rằng: Tôi đã được nâng đỡ rất nhiều.
Sự nâng đỡ của Chúa là vô cùng sâu xa.
Sự nâng đỡ của giáo phận là rất lớn lao.
Sự nâng đỡ của Hội Thánh là rất quảng đại.
Sự nâng đỡ của xã hội, của đồng bào là rất đáng trân trọng.
III. Hôm nay, nhìn lại 33 năm, thôi thấy hạt lúa này đã trải qua một hành trình khá dài. Một hành trình không tách rời khỏi hành trình của giáo phận. Một hành trình góp phần làm chứng cho Thiên Chúa chúng ta. Một hành trình Chúa không ngừng đào tạo kẻ Người dùng như một dụng cụ hèn mọn. Một hành trình như chuỗi dài kinh nghiệm cho lý tưởng thiêng liêng. Tôi xin lợi dụng dịp hiếm hoi này để cảm ơn mọi người vì những đồng hành quý báu.
Xin thân tình cảm ơn cách riêng Đức Cha Cố Micae và Đức Cha Giuse. Hai vị đáng kính đã nâng đỡ tôi về nhiều mặt một cách tế nhị và yêu thương đặc biệt.
Cũng nhân dịp này, tôi xin  mọi người tha thứ cho tôi vì bao lỗi lầm thiếu sót của tôi.
Chúng ta tiếp tục cầu nguyện cho nhau, và cùng nhau chúng ta cầu nguyện cho Hội Thánh và Quê Hương chúng ta. Chúng ta vẫn luôn là hạt lúa của Hội Thánh và của Đất Nước Việt Nam này.
Với hết lòng khiêm tốn, chúng ta cảm tạ Thiên Chúa giàu lòng thương xót. Người đã sai chúng ta đi. Người luôn ở với chúng ta mọi ngày, nhất là những ngày khốn khó gian nan. Người ở lại với chúng ta như Đấng Cứu độ, như Đấng ủi an và như Đấng Phục sinh. Chúng ta luôn sống với Người trong ơn đổi mới và phó thác trọn vẹn vào thánh ý Người.

 

Bùi-Tuần 1054: NGƯỜI CON CỦA MẸ MARIA 04-05-2008

Tháng Năm là tháng dâng hoa kính Đức Mẹ. Tại Việt Nam tháng này gọi tắt là tháng hoa. Hiện:04-05-2008 Bùi-Tuần 1054

Tháng Năm là tháng dâng hoa kính Đức Mẹ. Tại Việt Nam tháng này gọi tắt là tháng hoa. Hiện nay tháng hoa đang làm đẹp Giáo Hội Việt Nam. Mọi nhà thờ lớn nhỏ đều tổ chức rước kiệu Đức Mẹ, dâng hoa lên Đức Mẹ theo những lễ nghi văn hoá truyền thống. Một bầu khí vui tươi, nô nức lan tràn khắp các họ đạo.
Những hình thức bề ngoài đó chỉ nói lên phần nào tâm tình của người con Đức Mẹ. Nhiều người đã vượt qua những hình thức bề ngoài đó, để đi sâu vào những mối dây liên hệ mật thiết hơn với Đức Mẹ.
Họ sống mật thiết hơn với Đức Mẹ bằng nhiều cách. Ở đây, tôi chỉ xin nêu lên vài cách sống nổi bật của họ.
1/ Sống thân phận cành của cây nho
Là người con của Đức Mẹ, họ thấy cách sống đẹp lòng Đức Mẹ nhất là sống mật thiết với Chúa Giêsu. Mật thiết như cành nho gắn vào cây nho.
Chúa Giêsu phán: "Thầy là cây nho thật, và Cha Thầy là người trồng nho... Cành nào sinh hoa trái, thì Người cắt tiả, cho nó sinh nhiều hoa trái hơn... Hãy ở lại trong Thầy, như Thầy ở lại trong các con. Cũng như cành nho không thể tự mình sinh hoa trái, nếu không gắn liền với cây nho. Các con cũng thế, nếu không ở lại trong Thầy...
"Thầy là cây nho, các con là cành. Ai ở lại trong Thầy, và Thầy ở lại trong người ấy, thì người ấy sinh nhiều hoa trái. Vì không có Thầy, các con chẳng làm gì được" (Ga 15,1-5).
Khi sống thân phận cành của cây nho, theo lời Chúa phán trên đây, người con Đức Mẹ sẽ trải qua hai kinh nghiệm này: Một là mình là cành sẽ được cắt tiả, hai là mình là cành sẽ không ngừng kết hợp với cây nho là Đức Kitô.
Kinh nghiệm bị cắt tiả là những chuỗi dài đau đớn. Nhiều lá phải rụng, cành phải cắt bớt. Khi cành là con người chúng ta, nếu bị cắt tiả như thế, sẽ không tránh được đớn đau phần hồn phần xác. Những gì là cái tôi ích kỷ sẽ bị đào thải, để sự sống cuả Đức Kitô thay thế.
Lúc đó, chúng ta sẽ dần dần có một kinh nghiệm khác, đó là cùng với Đức Kitô vâng phục thánh ý Chúa Cha. "Lạy Cha, xin đừng theo ý con, nhưng xin theo ý Cha mọi đàng" (Mt 26,39). Kinh nghiệm vâng phục thánh ý Chúa nhiều khi cũng là một thứ thánh giá. Nhưng thánh giá đó được cảm thấy như một vinh dự: "Vinh dự của chúng ta là thập giá Đức Kitô. Nơi Người ơn cứu độ của ta, sức sống của ta và sự phục sinh của ta".
Chính kinh nghiệm đó làm cho người con Đức Mẹ sống lời "xin vâng" của Đức Mẹ một cách hiếu thảo.
2/ Sống hạnh phúc người có Chúa ở cùng
Trước khi Chúa Giêsu lên trời, Người đã hứa với các môn đệ Người rằng: "Và đây, Thầy ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế" (Mt 28,20).
Kinh nghiệm về sự được Chúa ở cùng cũng là một thứ kinh nghiệm rất độc đáo.
Người con Đức Mẹ cảm thấy Chúa ở với mình bằng nhiều cách, nhưng bằng cách rất cụ thể này: Chúa cho họ cảm thấy mình yếu đuối, nhưng sự yếu đuối đó lại giúp cho họ bám chặt vào Chúa một cách khiêm nhường.
Trường hợp thánh Phaolô là một điển hình: "Sự thiện tôi muốn làm thì tôi không làm. Nhưng sự dữ tôi không muốn thì tôi lại làm... Tôi thật là người khốn nạn. Ai sẽ giải thoát tôi khỏi thân xác phải chết này? Tạ ơn Thiên Chúa, nhờ Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta" (Rm 7,19-24).
Người con Đức Mẹ không nghĩ rằng: Họ có Chúa ở cùng có nghĩa là họ có quyền tự mãn như người sạch tội, nhưng chỉ có nghĩa là họ nhận thức mình bé mọn yếu hèn, nếu chẳng may vấp ngã thì luôn sám hối, nhờ cầm lấy tay Chúa mà đứng lên.
Sống ơn sám hối, giảng sự sám hối, đó là tư cách nổi bật của các thánh tông đồ, những người con đầu tiên của Đức Mẹ.
Khi sống ơn sám hối một cách đích thực, họ không giam cái nhìn của mình vào nhà tù tội lỗi của mình, nhưng họ nhìn lên tình yêu thương xót Chúa, nơi có ánh sáng, sự ủi an và tha thứ.
3/ Sống sứ vụ người loan báo Tin Mừng
Thánh sử Marcô nhấn mạnh một lời truyền của Chúa Giêsu, khi từ biệt các môn đệ: "Các con hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo" (Mc 16,15).
Những người con của Đức Mẹ Maria đã và đang loan báo Tin Mừng khắp nơi với nhiều cách phong phú. Nhưng cách loan báo sau đây được coi là đang phổ biến nhất và cũng hữu hiệu nhất, đó là loan báo bằng chính đời sống thường ngày của họ.
Đời sống thường ngày của họ cũng rất bình thường, nhưng vẫn có cái gì khác thường.
Người xung quanh dễ nhận thấy nơi người con Đức Mẹ có những giá trị linh thiêng âm thầm mà cao đẹp. Như sự sâu thẳm của đức khiêm nhường, lửa nồng nàn của đức ái quên mình, sự nhạy bén trước những gì là thánh ý Chúa. Nơi họ có tâm hồn của kinh tạ ơn "Magnificat", có tâm tình của sự vâng phục "Fiat", có sự hiến dâng của Đức Mẹ đứng dưới cây thánh giá Chúa Giêsu.
Gần họ, người ta sẽ nhận ra bầu khí cầu nguyện và mộ mến Lời Chúa.
Họ chuyển tải những giá trị đời đời qua ánh mắt, qua lời nói, qua các ứng xử.
Chỉ thế thôi, họ cũng đã là chứng nhân của Chúa và Đức Mẹ.
Tình hình hiện nay trên thế giới nói chung và tại Việt Nam nói riêng có nhiều điều phải lo ngại. Kinh tế suy giảm, nạn đói bùng phát, thiên tai dồn dập, luân lý suy đồi... Người con Đức Mẹ nên ưu tiên để ý đến việc đổi mới tâm hồn mình, theo lời Đức Mẹ kêu gọi ở Lộ Đức và Fatima.
Sống lương thiện, sống thánh thiện, đó là dấu chỉ rất cần của người con Mẹ trong xã hội Việt Nam hôm nay.
Với chính chia sẻ này, hy vọng những ai muốn sống ơn gọi người con Đức Mẹ sẽ nhận ra ý Chúa, để đổi mới chính mình, góp phần đổi mới Hội Thánh và xã hội Việt Nam hôm nay.

 

Bùi-Tuần 1055: NHÌN TRONG TÌNH YÊU TRÁI TIM CHÚA GIÊSU

11-05-2008
 + GB. BÙI TUẦN
 

Sự bình an tuỳ thuộc rất nhiều ở cái nhìn. Nhìn mình và nhìn người khác với kiêu căng, sẽ làm:11-05-2008 Bùi-Tuần 1055

Sự bình an tuỳ thuộc rất nhiều ở cái nhìn. Nhìn mình và nhìn người khác với kiêu căng, sẽ làm mất bình an cho mình và cho người khác. Trái lại nhìn người khác và nhìn mình với khiêm tốn, sẽ đem lại cho mình và người xung quanh một bầu khí bình an nhẹ nhàng.
Kinh nghiệm đời sống dạy tôi như thế. Thêm vào kinh nghiệm đó là kinh nghiệm về trái tim Chúa Giêsu. Khi tôi nhìn bằng tình yêu trái tim Chúa Giêsu, tôi thấy tôi được bình an nhiều lắm.
Bây giờ nhìn sâu vào cái nhìn đó qua chỉ dẫn của những người đạo đức, tôi thấy trái tim Chúa Giêsu đã đổi mới sâu sắc cái nhìn của những kẻ dâng mình cho Người.
Những kẻ dâng mình cho Người thấy mình rất tội lỗi. Từ nhận thức khiêm tốn ấy, họ để Chúa biến đổi cái nhìn của họ bằng tình yêu trái tim Người.
Một tình yêu đem lại khích lệ.
Một tình yêu làm cho biết sợ điều phải sợ.
1/ Tình yêu khích lệ làm điều lành
Ở đây, tôi nhấn mạnh đến sự Chúa Giêsu khích lệ người ngoài đạo Chúa.
Thời Chúa Giêsu, những người theo đạo Chúa có thói quen nhìn người khác đạo bằng con mắt lạnh lùng, thiếu khích lệ. Chúa Giêsu không chấp nhận cái nhìn tự mãn đó. Người sửa đổi cái nhìn dửng dưng của người đạo Chúa bằng nhiều cách. Ở đây, chỉ xin nhắc đến ba trường hợp Chúa đề cao người ngoài đạo Chúa bằng những khích lệ trân trọng.
a) Đề cao đức tin của họ
Phúc Âm thánh Luca kể: Tại thành Caphanaum, có một người đại đội trưởng ngoại đạo, khi nghe Chúa Giêsu vào thành, đã sai mấy kỳ mục của người Do Thái đến gặp Chúa, để xin Người cứu sống cho người nô lệ đầy tớ của ông. Đang khi Chúa trên đường đến nhà ông, thì ông cho người đến nói với Chúa Giêsu rằng: Tôi không xứng đáng được đón tiếp Ngài vào nhà tôi. Xin Ngài cứ nói một lời, thì đầy tớ của tôi sẽ được khỏi. Trước thái độ của ông, Chúa Giêsu đã quả quyết: "Ngay cả trong dân Israel, tôi cũng không thấy một người nào có lòng tin mạnh như thế" (Lc 7,9).
Lời Chúa phán trên đây là một khích lệ lớn gởi các người ngoài đạo Chúa. Đồng thời đây cũng là lời dạy các người đạo Chúa phải biết khiêm nhường. Chúng ta có biết khích lệ những người khác bằng những lời khen chính đáng không?
b) Đề cao đức yêu thương của họ
Thời đó, những người theo đạo Chúa sống đóng khung trong nội bộ chật hẹp. Họ không muốn nhìn ra ngoài ranh giới đạo mình. Nên cứ tưởng mình đạo đức nhất. Chúa Giêsu sửa đổi thói quen xấu đó bằng đưa ra một dụ ngôn:
Có một người bộ hành từ Giêrusalem đi Giêricô, dọc đường bị rơi vào tay bọn cướp. Sau khi lấy hết của cải, bọn cướp đánh anh nhừ tử, rồi ném ở vệ đường. Tình cờ một thầy tư tế đi qua. Ông chỉ nhìn qua nạn nhân, rồi tiếp tục đi. Sau đó, một thầy Lêvi cũng đi qua. Ông cũng thấy nạn nhân, nhưng cũng chỉ nhìn qua, rồi tiếp tục đi. Sau cùng, một người Samari cỡi ngựa đi qua. Ông dừng lai, xuống ngựa, chăm sóc nạn nhân, chở nạn nhân vào quán gần đó để nhờ cứu sống nạn nhân, chi phí bao nhiêu ông xin trả hết. Chúa Giêsu khen người Samari ngoại đạo đó là kẻ có lòng thương người thực sự (x. Lc 10,29-37).
Dụ ngôn trên đây là một sứ điệp gởi những người ngoài đạo Chúa như người Samari. Chúa khích lệ họ vì những việc từ thiện bác ái họ làm cho những con người khốn khổ. Sứ điệp cho thấy trước mặt Chúa họ bác ái hơn cả hàng tư tế và Lêvi của đạo Chúa.
c) Đề cao lòng biết ơn của họ
Khi đang đi giữa ranh giới miền Samari và Galilê, Chúa Giêsu gặp 10 người phong cùi. Họ xin Người cứu chữa họ. Người bảo họ: Hãy đi trình diện với các tư tế. Đang khi đi đường, cả 10 người phong cùi đó đều được phép lạ chữa lành. Thấy vậy, một người trong họ đã trở lại cám ơn Đức Giêsu. Đức Giêsu nói: "Chín người kia đâu? Sao không thấy họ trở lại tôn vinh Thiên Chúa, mà chỉ có người ngoại đạo này" (Lc 17,17-18).
Lời Chúa phán trên đúng là một khích lệ trân trọng gởi đến những người ngoài đạo Chúa. Lòng biết ơn là một đức tính nhân bản. Giữ được đức tính nhân bản cần thiết đó là bước đầu đi vào đức ái và đức tin.
Khích lệ những người khác làm việc tốt, khích lệ điều tốt nơi những người khác, đó là việc những người tôn sùng trái tim Chúa cần làm. Khích lệ từ những việc thuộc đức tin, cho đến đức ái, cả đến nhân bản. Nhiều khi khích lệ các việc tốt về nhân bản lại rất cần. Bởi vì nếu thiếu nhân bản như sống lười biếng, sống tham lam ích kỷ, sống hiện thực, sống thực dụng, thì dù có siêng đi lễ, đọc kinh, cũng sẽ chẳng làm chứng được nhiều cho đạo Chúa.
Thêm vào sự khích lệ làm điều lành, việc tôn sùng trái tim Chúa Giêsu cũng răn đe, làm cho người ta biết sợ những gì phải sợ.
2/ Tình yêu làm cho biết sợ những điều phải sợ
Nguy cơ đem nhân loại đến diệt vong là nhân loại không còn biết sợ tội.
Nguy cơ đưa một cộng đoàn đến suy tàn là cộng đoàn đó không chịu sám hối.
Nguy cơ đưa cả một thế hệ đến chỗ diệt vọng là vì thế hệ đó xem thường hình phạt đời này và hình phạt hoả ngục đời sau.
Phải biết sợ tội, phải biết sám hối, phải biết sợ hình phạt đời này và hình phạt hoả ngục đời sau. Những điều đó chính là của tình yêu cứu độ.
Tôi mới đọc lại một đoạn thư của thánh Phaolô. Người răn đe: "Những việc do tính xác thịt gây ra thì ai cũng biết, đó là dâm dục, ô uế, phóng đãng, thờ quấy, phù phép, hận thù, bất hoà, ghen tương, nóng giận, tranh chấp, chia rẽ, bè phái, ganh tỵ, say sưa, chè chén, và những điều khác giống như vậy. Tôi báo trước cho mà biết, như tôi đã từng báo: Những kẻ làm các điều đó sẽ không được thừa hưởng Nước Thiên Chúa" (Gl 5,19-21). Đọc xong, tôi tự hỏi: Thời nay, còn mấy người sám hối về chuỗi dài những tội như thế, vì tin chúng cản ngăn mình vào Nước Trời? Tôi nghĩ số người đó còn khá nhiều.
Rồi tôi đọc lại bốn Phúc Âm, tôi nhận ra rất nhiều lời Chúa Giêsu cảnh báo: Phải sám hối, phải tránh tội, kẻo không thoát được hình phạt hoả ngục đời đời. Thí dụ: Tội không thực thi thánh ý Chúa (x. Mt 7,21-23). Tội không làm ra lời những vốn Chúa trao (x. Mt 25,26-30). Tội không phục vụ những người Chúa gởi (x. Mt 24,45-50). Tội không bác ái đối với những kẻ khốn cùng (x. Mt 25, 41-46). Tôi tự hỏi: Chính tôi có nhận thức đúng và đủ những điều Chúa răn đe không? Tôi thực sự phải sám hối.
Những răn đe trong Tân Ước cũng chính là những cảnh báo của tình yêu trái tim Chúa Giêsu. Nếu nhìn mình và người khác trong tình yêu trái tim Chúa Giêsu, chúng ta sẽ thấy việc cảnh báo răn đe là rất cần cho tu đức. Ta nên làm việc đó bên cạnh những khích lệ. Răn đe và khích lệ là hai mặt của tình yêu cứu độ. Tôi thấy Chúa cũng đã chia sẻ tình yêu cứu độ cho nhiều người ngoài đạo Chúa tại Việt Nam hôm nay.

 

Bùi-Tuần 1056: THÁNH HOÁ CÁC LINH MỤC19-05-2008

  + GB. BÙI TUẦN
 

Ngày 30 tháng 5 này là lễ kính Trái Tim Chúa Giêsu. Dịp này, phụng vụ nhắc đến việc thánh:19-05-2008 Bùi-Tuần 1056

Ngày 30 tháng 5 này là lễ kính Trái Tim Chúa Giêsu. Dịp này, phụng vụ nhắc đến việc thánh hoá các linh mục.
Hơn bao giờ hết, linh mục cần phải nên thánh, để có thể đối phó với biết bao vấn đề đang được đặt ra. Khắp nơi đang có những hồi chuông báo động thúc giục linh mục phải nên thánh.
Ngay tại Việt Nam này, trong đạo ngoài đời, Chúa đang dùng nhiều dấu chỉ cho thấy: Tình hình đạo đức tuỳ thuộc rất nhiều ở việc linh mục có lo nên thánh hay không.
Ý thức điều đó, nhiều người vốn tha thiết với việc thánh hoá linh mục, nay càng tha thiết hơn.
Phải làm gì?
Tất nhiên là phải cầu nguyện.
Để việc cầu nguyện thánh hoá linh mục có thể hướng dẫn các suy tư về vấn đề này được phong phú và cụ thể hơn, chúng ta nên đi vào ba tình yêu, mà linh mục cần có để nên thánh. Đó là:
- Tình yêu Đức Giêsu Kitô.
- Tình yêu Hội Thánh.
- Tình yêu con người, nhất là người nghèo.
1/ Tình yêu Đức Giêsu Kitô
Khi tiếp xúc với bất cứ linh mục nào, tôi vẫn mong muốn gặp được Chúa Giêsu trong ngài.
Thánh Phaolô nói: "Tôi sống, nhưng không phải tôi sống, mà là Chúa Giêsu sống trong tôi" (Gl 2,25).
Ước chi mỗi linh mục đều có thể nói câu đó về chính mình.
Khi diễn tả tâm tình của mình đối với Chúa Giêsu, thánh Phaolô quả quyết: "Tôi coi mọi sự đều là thiệt thòi, so với mối lợi tuyệt vời là được biết Đức Giêsu Kitô, Chúa của tôi... Vì Người, tôi đành mất hết, và tôi coi tất cả như rác, để được Đức Giêsu Kitô và được kết hợp với Người" (Ph 3,8-9). Tâm tình trên đây là ngọn lửa nồng nàn.
Trong những tiếp xúc, người nhạy bén dễ nhận ra ngọn lửa nào vốn thường xuyên nung nấu tâm hồn người mình gặp gỡ. Lửa đó sẽ bốc ra từ miệng lưỡi, ánh mắt, và thái độ của mỗi người. Lửa yêu mến Đức Kitô và các giá trị cao thượng thì khác lửa nung nấu những khát vọng về xác thịt, thế tục và tội lỗi.
Những tiếp xúc với các linh mục càng dễ nhận ra điều đó. Bởi vì linh mục được coi là một thứ gương chuyên phản ánh lửa tình yêu Chúa.
Lửa mến Chúa Giêsu là lửa mến Chúa Cứu thế, Đấng đã quỳ gối xuống rửa chân cho các môn đệ, Đấng là người chăn chiên tốt lành, lặn lội đi tìm các con chiên lạc, Đấng đã phó mình chịu chết trên cây thánh giá để cứu chuộc nhân loại.
Thật là sung sướng, khi nhận được lửa mến đó toả ra từ con người linh mục, nhất là khi ngài giảng dạy và ban các bí tích.
Tuy nhiên, không thiếu kẻ ghét các linh mục khi các ngài chia sẻ lửa mến Chúa cho môi trường xung quanh. Những kẻ đó là ma quỷ và các thứ tinh thần thế tục chống đối Tin Mừng Đức Giêsu Kitô.
Vì thế, khi cầu cho linh mục được thêm lửa mến Chúa, chúng ta nghĩ tới những cản trở không muốn lửa đó được phát triển trong linh mục và được đón nhận trong thế giới tục hoá hiện nay.
2/ Tình yêu Hội Thánh
Trước hết, tôi hiểu Hội Thánh một cách bình dân sơ đẳng. Theo đó, Hội Thánh là những ai được Chúa ban quyền, để lo đời sống đạo cho tôi. Đời sống đạo là những gì tôi phải tin, những gì tôi phải xin, những gì tôi phải lãnh, những gì tôi phải giữ.
Rồi, Hội Thánh cũng là cộng đoàn những người có đạo như tôi. Hội Thánh như thế là một đại gia đình, có sự sống thiêng liêng, có trật tự riêng, được Chúa thiết lập và được Chúa điều khiển.
Cái nhìn đơn sơ đó khiến tôi yêu mến những ai lo đời sống đạo cho tôi, đồng thời cũng yêu mến những người cùng có đời sống đạo như tôi.
Tình yêu Hội Thánh là một tình yêu gắn bó. Gắn bó một cách chân thành, hiếu thảo khiêm nhường và có trách nhiệm.
Hội Thánh còn được hiểu như liên đới giữa các đặc sủng khác nhau. Thánh Phaolô viết: "Chính Chúa đã ban ơn cho kẻ này làm tông đồ, kẻ nọ làm ngôn sứ, kẻ khác làm người loan báo Tin Mừng, kẻ khác nữa làm người coi sóc và dạy dỗ" (Ep 4,11).
Khi nhìn Hội Thánh như một cộng đoàn gồm nhiều người mang những đặc sủng khác nhau, tôi phải cúi đầu tôn phục Chúa. Một sự tôn phục kèm theo sự khiêm tốn trong các thái độ đối với những người mang đặc sủng. Khiêm tốn yêu thương, khiêm tốn cộng tác với họ, trong tinh thần hiệp nhất.
Các linh mục là những kẻ lãnh nhận được rất nhiều trong Hội Thánh. Nhiều thần quyền, nhiều đặc sủng. Vì thế các ngài có bổn phận dùng những gì đã được trao ban. Đối với các ngài, yêu mến Hội Thánh là hãy tận dụng những ơn Chúa ban cho các ngài vì ích chung Hội Thánh. Tận dụng nói đây là phục vụ hết sức mình những trách nhiệm mà bề trên đã uỷ thác.
3/ Tình yêu con người
Càng ngày người ta càng thấy: Những giá trị thuyết phục nhất của một tôn giáo chính là những gì tôn giáo đó làm cho con người, cho đồng bào và cho đất nước. Đặc biệt là trong công trình kiến tạo văn hoá hoà bình và phục vụ những người nghèo khổ. Với cái nhìn đó, những hoành tráng nội bộ đã không chứng minh được nhiều cho tâm linh cao quý của tôn giáo.
Đạo Công giáo là đạo bác ái. Kinh Thánh quả quyết như thế. Hội Thánh khẳng định như vậy. Dư luận cũng muốn có cái nhìn đẹp đẽ đó về đạo ta.
Trên thực tế, nhiều sinh hoạt đạo ta đã đi vào thân phận những người khổ đau. Chia sẻ nỗi lo. Thương cảm cảnh nghèo. Dấn thân giúp cho xã hội được công bình hơn. Sống mầu nhiệm nhập thể, để dân tộc được từng bước đi lên.
Những sinh hoạt như thế nên được tăng lên về lượng và về phẩm. Trong chiều hướng đó, thiết tưởng nên bớt đi những sinh hoạt có nguy cơ làm cho Hội Thánh bị tiếng là xa cách người nghèo, nhưng gần lại những cảnh giàu sang hưởng thụ.
Vì thế, cầu cho linh mục được nên thánh là cầu cho linh mục biết yêu thương phục vụ những người nghèo khổ và thăng tiến con người.
Nguyện xin lửa Trái Tim Chúa Giêsu luôn đốt nóng trái tim các linh mục của chúng con.

 

Bùi-Tuần 1057: CẦU NGUYỆN CHO CHUYẾN ĐI

CỦA PHÁI ĐOÀN TOÀ THÁNH 27-05-2008BT19
 + GB. BÙI TUẦN
 

Một mẩu tin đang được truyền đi trong Giáo Hội Việt Nam. Mẩu tin nhỏ. Cách truyền đi nhẹ:27-05-2008 Bùi-Tuần 1057

Một mẩu tin đang được truyền đi trong Giáo Hội Việt Nam. Mẩu tin nhỏ. Cách truyền đi nhẹ. Đó là: Phái đoàn Toà Thánh Vatican sắp sang Việt Nam.
Tin đó đang khơi dậy nhiều dự đoán và nhiều hy vọng. Có nghĩa là phái đoàn đang được chờ đợi với nhiều thiện cảm.
Phần tôi, tôi đón chờ phái đoàn với tâm tình cầu nguyện. Xin phép cho tôi được chia sẻ tâm tình cầu nguyện ấy. Điều tôi cầu nguyện nhiều nhất cho chuyến đi này của phái đoàn Toà Thánh là: Đem lại cho người Việt Nam nói chung và cho người công giáo Việt Nam nói riêng một hướng đi nội tâm đúng đắn.
Trên đất nước Việt Nam hiện nay, người ta thấy chằng chịt những hướng đi khác nhau, với những ý nghĩa khác nhau về cuộc đời, với những bậc thang khác nhau về các giá trị điều khiển lòng trí con người. Trước tình hình như vậy, rất nhiều người khao khát những nhắc nhở chân thành về một hướng đi nội tâm đúng đắn. Khao khát ấy thường đặt nơi những ai được Hội Thánh Chúa sai đi cách này cách khác. Hướng đi đó thế nào?
1/ Một hướng đi nội tâm sâu hơn những sinh hoạt tôn giáo thường thấy
Những sinh hoạt tôn giáo đang giữ một vai trò khá quan trọng hiện nay tại Việt Nam là: Đi lễ, hội họp, đóng góp, xây cất, đào tạo nhân sự, tổ chức hội đoàn, huấn luyện đại chúng, các việc từ thiện bác ái.
Những sinh hoạt đó có thực sự gây được một hướng đi nội tâm đúng đắn không? Thưa tuỳ đấy.
Xưa, Chúa Giêsu đã phán: "Không phải bất cứ ai thưa với Thầy: lạy Chúa, lạy Chúa, là được vào Nước Trời cả đâu. Nhưng chỉ ai thi hành ý muốn Cha Thầy mà thôi" (Mt 7,21).
Biết được đâu là ý Chúa không phải dễ. Thực thi ý Chúa đã được biết càng không dễ dàng.
Xin đưa ra một ví dụ dễ thấy, đó là cử hành một thánh lễ, tham dự một thánh lễ, tổ chức một thánh lễ. Có trường hợp, sau thánh lễ, người ta cảm thấy gần lại Chúa. Có trường hợp sau thánh lễ, chỉ đọng lại sự mệt mỏi, bực mình và trống rỗng. Một phần lớn nguyên nhân là do có tinh thần cầu nguyện và tìm sáng danh Chúa thực sự, hay nặng về tinh thần thế tục, tìm lợi ích riêng tư. Vì thế, nếu chỉ căn cứ vào những sinh hoạt tôn giáo bề ngoài để tìm ra hướng đi nội tâm cho con người, thì sẽ dễ lầm.
2/ Một hướng đi nội tâm rộng hơn những thao thức cục bộ
Xưa, Chúa Giêsu đã nói với người phụ nữ Samari: "Này chị, hãy tin tôi: Đã đến giờ các người sẽ thờ phượng Chúa Cha, không phải trên núi này hay tại Giêrusalem... Nhưng giờ đã đến và chính là lúc này, giờ của những người thờ phượng đích thực, sẽ thờ phượng Chúa Cha trong thần khí và sự thật. Vì Chúa Cha tìm kiếm những ai thờ phượng Người như thế" (Ga 4,21-23).
Lời Chúa phán trên đây đã giúp Hội Thánh đón nhận rộng rãi những người thiện chí và có khả năng. Tuy nhiên, tinh thần cục bộ vẫn còn. Tại Việt Nam, tinh thần cục bộ còn được nhận thấy một cách khá rõ, ở sự nhiều người vẫn câu nệ vào nhãn hiệu và gốc gác. Kinh nghiệm cho thấy có những người tốt, lợi cho Nước Chúa đã bị loại trừ. Lý do vì không cùng gốc gác và nhãn hiệu như một số người cục bộ đòi hỏi.
Tinh thần cục bộ có thể ví như một chiếc gai lẩn trong áo người mặc. Gai  nhỏ, nhưng đủ để gây nên những cơn đau và vết thương lâu dài.
Đã từ lâu rồi, tôi thấy, khi chọn nhân sự lãnh đạo, Toà Thánh thường quan tâm nhiều đến khả năng phân định của ứng viên. Với khả năng tự nhiên và với ơn Chúa, họ phân định được đâu là bóng tối, đâu là con đường từ bóng tối dẫn đến ánh sáng giải cứu cách tự nhiên và đâu là ánh sáng cứu độ siêu nhiên.
Những nhân sự như thế không bị bó buộc trong khuôn khổ cục bộ, mà phải cởi mở trong một cái nhìn rộng rãi, vừa mang tính cách trưởng thành tự nhiên, vừa được hướng dẫn bởi ơn Chúa Thánh Thần, dẫn về Đức Kitô.
3/ Một hướng đi nội tâm vượt qua những tự mãn nguy hiểm
Trong đời sống đạo thường xuất hiện nhiều thứ tự mãn. Tự mãn về trí thức, tự mãn về kinh nghiệm, tự mãn về thành công này nọ, tự mãn về tiền bạc, tự mãn về đạo đức. Người ta thích nghỉ ngơi trong cái tự mãn của mình. Cho dù tự mãn đó chỉ là ảo, chỉ là chủ quan hẹp hòi. Thế mới nguy cho sự nhận ra hướng đi nội tâm.
Một tình trạng đạo đức khá phổ thông được coi như dễ chấp nhận, nhưng thực sự lại là nguy hiểm, đó là tình trạng tầm thường. Tình trạng đó được nói đến trong sách Khải Huyền một cách rất nặng nề. Chúa phán: "Ta biết các việc ngươi  làm: ngươi chẳng lạnh mà cũng chẳng nóng. Phải chi ngươi lạnh hẳn hay nóng hẳn đi. Nhưng ngươi hâm hâm chẳng nóng chẳng lạnh, nên Ta sắp mửa ngươi ra khỏi miệng Ta. Ngươi nói: Tôi giàu có, tôi đã làm giàu, tôi chẳng thiếu thốn chi. Nhưng ngươi không biết rằng ngươi là kẻ khốn nạn, đáng thương, nghèo khổ, đui mù và trần truồng" (Kh 3,15-17).
Tôi thấy lời Chúa phán trên đây đang là thời sự của nhiều người, nhiều nơi tại Việt Nam. Thời sự đó coi như bình thường. Nhưng nó làm cho sự sống đạo dần dần trở thành máy móc, hình thức và cằn cỗi.
Một hướng đi nội tâm mở ra lý tưởng thánh thiện và truyền giáo đang được vạch ra bằng lý thuyết và nhất là bằng gương sáng. Nó cũng là một hy vọng, mà nhiều người thầm mong nơi Phái đoàn Toà Thánh.
Có lẽ ước vọng của tôi hơi nhiều, không hợp với mục đích thực tế của chuyến đi sắp tới của Phái đoàn Toà Thánh. Nhưng tôi vẫn đưa hy vọng đó vào tâm tình cầu nguyện. Biết đâu chuyến đi của Phái đoàn còn vượt quá những hy vọng trên đây của tôi.
Xin Chúa Thánh Thần cùng đi với Phái đoàn.

 

Bùi-Tuần 1058: TỈNH THỨC TRƯỚC NHỮNG XÁO TRỘN 28-05-2008

+ GB. BÙI TUẦN
 

Tỉnh thức là đức tính luôn cần cho cuộc sống con người. Riêng đối với cuộc sống đạo, tỉnh thức:28-05-2008 Bùi-Tuần 1058

Tỉnh thức là đức tính luôn cần cho cuộc sống con người. Riêng đối với cuộc sống đạo, tỉnh thức càng là điều không thể thiếu.
Một trong những lý do đòi ta tỉnh thức là để biết sáng suốt trong một tình hình có nhiều xáo trộn.
Xáo trộn trong đạo là tình hình đã được Chúa Giêsu báo trước. Ở đây, chỉ xin đưa ra ba hình ảnh do chính Kinh Thánh đã chọn.
1/ Ba hình ảnh gây xáo trộn
a) Hình ảnh cỏ lùng giữa lúa
Chúa Giêsu phán: "Nước Trời ví như chuyện người kia gieo giống tốt trong ruộng mình. Khi mọi người đang ngủ, thì kẻ thù của ông đến gieo thêm cỏ lùng vào giữa lúa, rồi đi mất. Khi lúa mọc lên và trổ bông thì cỏ lùng cũng xuất hiện. Đầy tớ mới đến thưa chủ nhà rằng: Thưa ông, không phải ông đã gieo giống tốt trong ruộng ông sao? Thế thì cỏ lùng ở đâu mà ra vậy? Ông đáp: Kẻ thù đã làm đó". (Mt 13,24-28).
Những lời Chúa phán trên đây cho ta thấy một tình hình coi bề ngoài có vẻ bình an, nhưng thực ra là rất xáo trộn. Cộng đoàn của ta là một cánh đồng lúa coi như xanh tốt, nhưng có thể là đang pha trộn nhiều cỏ lùng. Chính bản thân ta cũng là thửa ruộng có lúa và cũng có cỏ lùng. Phải tỉnh thức trong Chúa mới nhận ra được cảnh xáo trộn nguy hiểm đó. Đừng dối lừa mình bằng những ảo tưởng.
Một hình ảnh khác Chúa Giêsu đã dùng để báo về cảnh xáo trộn, đó là hình ảnh kitô giả và ngôn sứ giả.
b) Hình ảnh kitô giả và ngôn sứ giả
Chúa phán: "Thật vậy, sẽ có những ktiô giả và ngôn sứ giả xuất hiện, đưa ra những dấu lạ lớn lao và những điều thiêng, đến nỗi chúng lừa gạt cả những người đã được tuyển chọn, nếu có thể. Thầy báo trước cho anh em đấy" (Mt 24,24-25).
Những lời Chúa phán trên đây cho ta thấy: Sức mạnh của những kitô giả và ngôn sứ giả là rất lớn, rất mạnh, rất tinh vi. Nếu cả những người được tuyển chọn mà còn bị lừa, phương chi những người bình thường, ngây thơ. Phải rất tỉnh thức trong ơn Chúa, mới hy vọng thoát được những lường gạt đạo đức không bao giờ thiếu xung quanh ta. Đừng tự mãn ẩn mình trong nhận định ngây thơ.
Cỏ lùng và ngôn sứ giả là những hình ảnh gây xáo trộn một cách êm nhẹ. Còn hình ảnh sau đây sẽ gây xáo trộn một cách tàn bạo, trắng trợn.
c) Hình ảnh sói dữ
Thánh Phaolô xưa khi từ biệt các kỳ lão Hội thánh Êphêsô, ngài đã nói: "Phần tôi, tôi biết rằng: Khi tôi đi rồi, thì sẽ có những sói dữ đột nhập vào anh em, chúng không tha đàn chiên. Ngay từ giữa hàng ngũ anh em cũng sẽ xuất hiện những người giảng dạy những điều sai lạc, hòng lôi cuốn các môn đệ theo chúng" (Cv 20,29-30).
Với những lời báo trước trên đây, thánh Phaolô cho thấy: Ngài coi việc truyền giáo của ngài là rất mong manh. Ngài linh cảm kết quả truyền giáo sẽ bị chính nội bộ tàn phá. Và sự tàn phá sẽ được thực hiện  một cách dữ dằn thô bạo như kiểu chó sói. Đừng lạc quan hão huyền.
Ba hình ảnh gây xáo trộn đạo Chúa luôn xảy ra dưới mọi thời, không nhiều thì ít, dưới nhiều hình thức khác nhau.
Việc xáo trộn hiện nay càng trở nên trầm trọng. Khi mấy lời Chúa căn dặn tha thiết đang bị coi thường.
2/ Xáo trộn hiện nay
a) Do bỏ đường hẹp
Chúa phán: "Hãy qua cửa hẹp mà vào, vì cửa rộng và đường thênh thang thì đưa đến diệt vong. Còn cửa hẹp và đường chật thì đưa đến sự sống, nhưng ít người tìm được lối ấy" (Mt 7,13-14).
Chính Chúa cho thấy sẽ ít người đi vào đường hẹp. Tôi có chút kinh nghiệm về điều đó. Cách đây mấy chục năm, tôi được mời nói chuyện với vài cộng đoàn nhỏ bên Âu châu. Tôi nói về vai trò của thánh giá trong đời sống thiêng liêng. Sau đó, ít là có hai bề trên cộng đoàn đã nhắc cho tôi biết: Thời nay, nhiều nơi tại các nước phát triển, người ta không muốn nghe đến chuyện đau khổ, chuyện từ bỏ, chuyện thánh giá, chuyện khổ chế trong tu đức.
Hồi đó, tôi nghe vậy thì lấy làm lạ. Bây giờ thì não trạng sống hưởng thụ cũng đã lan tới Hội Thánh Việt Nam. Rất nhiều nơi coi tự do hưởng thụ và thi đua hưởng thụ là chuyện bình thường, thậm chí còn coi như một đòi hỏi chính đáng. Do đó mà phong trào tục hoá đã phát triển, sinh ra bao xáo trộn đau buồn.
b) Không thi hành thánh ý Chúa Cha
Một điều đang gây xáo trộn rất nhiều hiện nay là không thực thi thánh ý Chúa. Thực thi thánh ý Chúa được Chúa coi là rất quan trọng, đến nỗi Chúa phán: "Không phải bất cứ ai thưa với Thầy: Lạy Chúa, lạy Chúa, là được vào Nước Trời cả đâu. Nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời, mới được vào mà thôi" (Mt 7,21).
Thánh ý Chúa là mỗi người hãy chu toàn bổn phận của mình. Hiện nay nhiều người đã chu toàn bổn phận của mình một cách can đảm rất đáng khen ngợi. Trong những hoàn cảnh rất khó, rất khổ, họ vẫn là người cha người mẹ đảm đang, họ vẫn là người con, người cháu hiếu thảo, họ vẫn là người vượt qua chính mình, để chu toàn trách nhiệm truyền giáo.
Đang khi đó, nhiều người có những hoàn cảnh thuận tiện, lại rất thiếu sót với bổn phận của mình. Ở đây, tôi nhớ tới những lời than phiền về một số kitô hữu chúng tôi đó đây đã chểng mảng trong bổn phận tự đào tạo. Chúng tôi được kêu gọi không ngừng nâng cao hơn trình độ đạo đức và trình độ trí thức của mình. Nhưng chúng tôi ngại phấn đấu. Chểnh mảng như thế là một lỗi bổn phận, gây xáo trộn trong cộng đoàn và Hội Thánh.
c) Thiếu sót về yêu thương
Yêu thương nhau như Chúa yêu thương ta, đó là điều răn mới rất quan trọng của đạo Công giáo. Chúa phán: "Thầy ban cho các con một điều răn mới là các con hãy yêu thương nhau. Các con hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương các con. Ở điểm này, mọi người sẽ nhận biết các con là môn đệ Thầy: là các con có lòng yêu thương nhau" (Ga 13,34-35).
Tôi mới gặp mấy người ngoài Công giáo. Gia đình họ nghèo. Nghèo của cải, nhưng giàu bác ái. Hầu như cả ngày họ đều đi lo cho các người bị xã hội và gia đình bỏ rơi. Họ chia sẻ cho nhau những nỗi đau buồn và thất vọng. Thấy họ có lòng bác ái, dấn thân không mệt mỏi, tôi rất ngỡ ngàng. Tôi thầm nghĩ: Tấm lòng của họ đầy lửa yêu thương khiêm nhường, mỗi ngày của họ là những dấu chỉ sáng lạn về tình yêu quên mình của Chúa. Đời sống của họ rất lặng lẽ. Nhưng dần dà mọi người lối xóm đều biết họ là niềm hy vọng của những kẻ khốn cùng trên một địa bàn chìm sâu trong đau khổ. Nhiều người chúng ta không bằng họ.
Xáo trộn sẽ còn thêm xáo trộn. Bổn phận của mỗi người chúng ta là hãy tỉnh thức đón nhận ơn cứu độ. Ơn Chúa cứu độ sẽ được ban cho ta như những giọt máu trái tim Chúa Giêsu. Những giọt máu đó ngọt ngào yêu thương và thơm tho tâm tình khiêm tốn vâng phục thánh ý Chúa Cha.

 

Bùi-Tuần 1059: TÌM HƯỚNG PHỤC VỤ LÂU DÀI 15-08-2008

A.R.T
Adveniat Regnum Tuum
“Nguyện Nước Cha Trị Đến”
(Bài chia sẻ gởi Hội Dòng Thánh Gia Cần Xây, trong thánh lễ Đức Mẹ lên trời, ngày 15/8/2005)
 

Lễ Đức Mẹ lên trời là một lễ trọng đối với toàn thể Hội Thánh nói chung. Riêng đối với Hội Dòng 15-08-2008 Bùi-Tuần 1059

Lễ Đức Mẹ lên trời là một lễ trọng đối với toàn thể Hội Thánh nói chung.
Riêng đối với Hội Dòng Thánh Gia, lễ trọng hôm nay còn trọng thêm hơn, bởi chính ngày này là kỷ niệm thành lập Hội Dòng, hơn nữa, hôm nay lại có nghi thức tuyên khấn lại của 07 tu sĩ Hội Dòng.
 Mấy lý do nêu trên đang đánh thức lương tâm chúng ta hãy tập trung lòng  trí vào việc tạ ơn Chúa.
 Tôi xin hợp ý với Hội Dòng.
 Khi tạ ơn Chúa, chúng ta không khỏi thao thức nhìn về phía trước.
 Thao thức nhìn về phía trước là thao thức tìm ra một hướng phục vụ lâu dài, sao cho hợp với thánh ý Chúa, để mỗi tu sĩ được an tâm sống ơn gọi người tu của Hội Dòng mà mình gia nhập.
 Tôi chia sẻ thao thức đó. Nhưng tôi sẽ không đưa ra kết luận.
 Ở đây, tôi chỉ xin nêu lên một vài chỉ dẫn, mà các người có trách nhiệm và thiện chí vốn thường theo, để tìm ra hướng phục vụ hoặc cho riêng mình, hoặc cho tập thể của mình.
            Chỉ dẫn gồm 3 yếu tố :
 1/ Yếu tố thứ nhất là sự thông minh
 Lịch sử cho thấy : Mọi cuộc sống đều không luôn ổn định. Thường có va chạm, thường có xung độ, thường có thăng trầm, thường có cạnh tranh. Giữa những vật lộn như thế, kẻ tồn tại chiến thắng thường là kẻ thông minh.
 Ngoài đời, ta thấy những nền văn minh tồn tại lâu đời vẫn thuộc về những dân tộc thông minh, được chỉ huy bởi những nhà lãnh đạo thông minh, dù phải trải qua bao sống gió.
 Trong đạo, ta thấy những Dòng tu, những giáo xứ, những địa phận được hướng dẫn bởi những bề trên thông minh, và có những hợp tác viên thông minh, đã luôn phát triển dù phải chịu nhiều thử thách.
 Thông minh nói đây không nhất thiết phải học cao, nhưng chủ yếu là hiểu biết sâu rộng và nhìn tầm xa. Sâu rộng về kinh nghiệm lịch sử quá khứ, sâu rộng về chuyển biến hiện tại và dự báo được tình hình tầm xa.
 2/ Yếu tố thứ hai là đón nhận được ơn Chúa Thánh Thần.
           
Các ơn Chúa Thánh thần không phải là các nhân đức, như tin, cậy, mến. Các nhân đức là những nguồn hoạt động. Nhưng ơn Chúa Thánh Thần cốt yếu giúp ta đón nhận được cac luồng ánh sáng của Chúa, hầu hoàn thiện các tài năng của ta. Thí dụ :
 -Ơn Chúa Thánh Thần giúp ta chế ngự các giác quan của ta. Nhờ đó, mọi giác quan của ta sẽ không buông tuồng tự do tản mác, đi về bất cứ đâu, nhưng sẽ biết đặt mình yên lặng trong Chúa.
 -Ơn Chúa Thánh Thần giúp trí khôn ta biết tập trung suy nghĩ vào một điểm Chúa muốn, và biết khám phá điểm đó một cách sáng suốt.
 -Ơn Chúa Thánh Thần giúp ý chí ta biết khát khao điều Chúa muốn, và biết say mê thực hành điều Chúa muốn.
 3/ Yếu tố thứ ba là sự khôn ngoan
 Khôn ngoan là biết vận dụng hoàn cảnh thực tế một cách tốt nhất. Hoàn cảnh thực tế có những điều rất cụ thể. Hoản cảnh thực tế bao giờ cũng có giới hạn cụ thể.
 Sẽ là ảo tưởng, nếu ta muốn vượt qua những giới hạn cụ thể về thời gian, về tình hình chính trị, xã hội, kinh tế, tôn giáo và tâm lý.
 -Sẽ là dại dột, nếu ta muốn thực hiện ưu tiên điều đáng lẽ phải để ở chỗ cuối.
 Sẽ là ngây thơ, nếu chúng ta mất công tranh đấu cho mình những điều khiến chúng ta xa dần căn tính, mà Đấng sáng lập Dòng đã vạch rõ cho Dòng.
 Sẽ là nguy hiểm, nếu chúng ta không tỉnh thức với những tình huống có thể xảy ra bất ngờ.
 Nhưng sẽ là khôn ngoan nếu chúng ta biết thực hiện những điều làm được và được làm trong thứ tự sắp xếp theo tình hình thực tế, và luôn theo tinh thần Phúc âm.
 Thưa anh em Hội Dòng thân mến,
 Tuy tôi đã về hưu, tôi vẫn một lòng yêu mến anh em. Những điều tôi chia sẻ trên đây là một hy vọng chân thành, tôi thân gởi anh em.
 Chúng ta cùng nhau tin cậy vào Đức Mẹ. Tin cậy một cách rất khiêm nhường. Tin cậy một cách rất dứt khoát.
 Với lòng tin cậy đó, tôi thấy : Khi chúng ta thuộc về Chúa, biết suy nghĩ tìm tòi theo phương pháp tốt, và để Chúa biến đổi ta, thì hướng phục vụ của chúng ta sẽ hiện lên rất rõ.
 Nguyện xin Đức Mẹ ban ơn cho chúng ta biết noi gương Đức Mẹ trên con đường phục vụ lâu dài dẫn ta về quê trời.
            Có thể con đường phục vụ của chúng ta cũng sẽ âm thầm như con đường phục vụ của Đức Mẹ. Nếu đúng là thế, thì chúng ta nên lấy đó làm vinh dự, an tâm, và hết lòng cảm tạ Chúa trong tâm tình khiêm tốn vâng phục của Đức Mẹ Maria, là Đấng mà Hội Dòng chúng ta vốn tôn sùng cách đặc biệt.
 + GM. Gioan Baotixita Bùi Tuần

 

Bùi-Tuần 1060: TIẾNG GỌI CỦA CẢNH NGHÈO 04-06-2008

+ GB. BÙI TUẦN
 

Cái nghèo là một thời sự nhức nhối. Mấy tháng qua, nó trở nên nóng bỏng. Hiện nay, nó gây:04-06-2008 Bùi-Tuần 1060

Cái nghèo là một thời sự nhức nhối. Mấy tháng qua, nó trở nên nóng bỏng. Hiện nay, nó gây rất nhiều lo âu.
Ở đây, tôi chỉ nhắc đến thời sự này như một thao thức sống đạo.
1/ Một thoáng nhìn về cái nghèo hiện nay
Cái nghèo đang chia rẽ các nước khác nhau, đang chia rẽ các tầng lớp khác nhau trong cùng một nước, đang chia rẽ các thành phần khác nhau trong một gia đình.
Cái nghèo là một khối lớn trong xã hội, nhưng khối lớn này thường ẩn hiện. Phần ẩn giấu thường nghiêm trọng hơn phần hiện hình.
a) Có những cái nghèo bền vững. Đó là những người sinh ra đã nghèo. Tự thuở nọ đến thuở kia, cái nghèo đã là số phận của đời tổ tiên, đời ông bà, đời cha mẹ. Nghèo là quê hương tất nhiên của đời con cháu.
Có những cái nghèo mới phát sinh. Đó là những người sinh ra khá giả, bây giờ trở nên nghèo. Hiện tượng trở nên nghèo thường được che giấu. Có những người trở nên nghèo trầm trọng, nhưng vẫn cố giữ sĩ diện bề ngoài như không có gì xảy ra. Đang khi đó, họ đã thực sự từ tình trạng khá giả đủ ăn rơi xuống cảnh nghèo thê thảm. Nợ nần chồng chất. Thiếu thốn nhiều mặt. Sợ mất tiếng, nhiều người trong họ tự lo lấy cho mình, dù bằng những cách không tốt.
Có những người bị đe doạ trở nên nghèo. Thực sự, họ chưa đến nỗi nghèo. Nhưng cái nghèo đang rình rập họ. Nguyên do chính là cuộc sống mong manh. Hôm nay kiếm được chút tiền. Vài ngày sau, kiếm được một việc làm tạm thời. Thỉnh thoảng kiếm thêm được chiếc áo mới, đồ dùng mới. Các thứ đó không đến cùng lúc. Và khi đến cũng chỉ chút ít thôi. Cuộc sống mong manh. Hạnh phúc tạm bợ. Mong manh này cộng thêm mong manh kia, hoặc mong manh này đẻ ra mong manh nọ, đó là một lộ trình dẫn tới cảnh nghèo.
b) Những loại tuổi khác nhau gặp những nguy cơ khác nhau khiến phải nghèo. Dễ nhận thấy nhất là tuổi nhỏ và tuổi già.
Nếu không được ở trong môi trường xã hội và gia đình khá giả, những trẻ em và những người già sẽ mãi mãi ở trong cảnh nghèo. Thanh niên nghèo còn khả năng xoay xở. Còn trẻ em nghèo và người già nghèo thì hầu như vô phương. Họ hầu như không có lựa chọn nào. Nhất là khi người già lại cô đơn, thì cảnh nghèo là một thảm hoạ rất đau thương. Họ như bị loại trừ.
c) Cảnh nghèo dễ nhận thấy ở vùng quê nông thôn hơn ở vùng thành thị.
Người nông dân ít có trình độ bắt kịp nhịp đi của những bước tiến kinh tế, khoa học, kỹ thuật.
Người nông thôn dễ phải hứng chịu những hậu quả của bão gió, lụt lội, hạn hán, mất mùa, tăng giá.
Người nông thôn thường chỉ dám nuôi những giấc mơ nhỏ về hạnh phúc nhỏ. Ngay cạnh tranh về lý tưởng sống, họ cũng thường đứng sau những người thành thị.
2/ Trước những diễn biến phức tạp của cảnh nghèo
Trong cảnh  nghèo, rất nhiều người đã sống cao thượng, đạo đức.
Nhưng, không vì thế mà cảnh nghèo không có những diễn biến theo chiều hướng xấu.
Nó ảnh hưởng đến việc học hành, giáo dục của con em.
Nó gây hại nhiều đến sức khoẻ. Biết bao thứ bệnh đã chỉ thấy phát triển trong cảnh nghèo.
Nó cũng là môi trường thuận tiện cho nhiều thứ tệ nạn nguy hiểm.
Nó dễ tạo nên những cái nhìn xa cách, thậm chí bất mãn với những tầng lớp được ưu đãi, kể cả trong Hội Thánh.
Và còn nhiều diễn biến xấu khác.
Trước những diễn biến phức tạp của cảnh nghèo, Giáo Hội địa phương vẫn quan tâm đến vấn đề người nghèo.
Có nơi, sự quan tâm ấy được thể hiện như một sinh hoạt phụ.
Có nơi, quan tâm đó được thực hiện  như một sinh hoạt chính. Ưu tiên là phục vụ người nghèo. Trước hết là làm chứng cho Chúa bằng việc làm cho đời sống dân nghèo được mỗi ngày mỗi tốt hơn.
Không thiếu nơi hiện nay, người ta thấy: Làm việc cho người nghèo, làm việc với người nghèo, lựa chọn đó được coi là dấu chỉ của Tin Mừng cứu độ.
Đó là nối tiếp việc khai mạc giai đoạn loan báo Tin Mừng của Chúa Giêsu, mà thánh Luca đã thuật lại:
"Đức Giêsu đến Nadarét là nơi Người sinh trưởng. Người vào hội đường như Người vẫn quen làm trong ngày Sabát, và đứng lên đọc Sách Thánh. Họ trao cho Người cuốn sách ngôn sứ Isaia. Người mở ra, gặp đoạn chép rằng:
Thần khí Chúa ngự trên tôi,
và Chúa đã xức dầu tấn phong tôi,
để tôi loan báo Tin Mừng cho người nghèo khó.
Người đã sai tôi đi công bố
cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha,
cho người mù được biết họ được sáng mắt,
trả lại tự do cho kẻ bị áp bức.
Công bố một năm hồng ân của Thiên Chúa.
Đức Giêsu cuộn sách lại, trả cho người giúp hội đường, rồi ngồi xuống. Ai nấy trong hội đường đều chăm chú nhìn Người. Người bắt đầu nói với họ: Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh quý vị vừa nghe" (Lc 4,16-21).
Với lời Chúa Giêsu quả quyết trên đây, Người cho mọi người thấy: Việc khởi sự việc rao giảng của Người là đem Tin Mừng đến cho những người nghèo.
Chúa Giêsu cũng đã xác định điều đó, khi trả lời cho những đầy tớ thánh Gioan Baotixita. "Thầy có đúng là Đấng phải đến không, hay là chúng tôi còn phải đợi ai khác. Đức Giêsu trả lời: Các anh cứ về thuật lại cho ông Gioan những điều mắt thấy tai nghe: Người mù xem thấy, kẻ què được đi, người cùi được sạch, người điếc được nghe, người chết sống lại, kẻ nghèo được nghe Tin Mừng" (Mt 11,3-6).
Bên cạnh đường hướng mục vụ trên đây, chẳng may đang xuất hiện những đường hướng khác, đẩy Tin Mừng cho người nghèo xuống hàng thứ yếu. Tôi thực sự lo cho diễn biến nguy hiểm đó.
Cảnh nghèo vẫn là một tiếng gọi tha thiết gởi tới các lương tâm những người rao giảng đức tin tại Việt Nam hôm nay. Xin mau đáp ứng kẻo sẽ quá chậm.

 

Bùi-Tuần 1061: MỘT CON ĐƯỜNG ĐÀO TẠO 16-06-2008

 + GB. BÙI TUẦN
 

Thánh Gioan Baotixita là "Kẻ dọn đường cho Chúa đến" (Lc 7,27). Chúa đã đào tạo kẻ dọn:16-06-2008 Bùi-Tuần 1061

Thánh Gioan Baotixita là "Kẻ dọn đường cho Chúa đến" (Lc 7,27).
Chúa đã đào tạo kẻ dọn đường đó thế nào?
Tôi nhìn thấy bốn điểm nổi bật này:
1/ Sự câm lặng của người cha
Cha Gioan là thầy tư tế Dacaria. Một hôm ông Dacaria đang dâng hương trong đền thờ Chúa, thì Tổng lãnh thiên thần Gaprien hiện ra với ông. Sứ thần Chúa báo tin cho ông biết là bà Elisabet, vợ ông sẽ sinh ra cho ông một con trai. Ông phải đặt tên cho nó là Gioan. Em bé sẽ được đầy Chúa Thánh Thần, sẽ đi trước mặt Chúa, chuẩn bị cho dân sẵn sàng đón Chúa. Nghe vậy, ông Dacaria bỡ ngỡ, không muốn tin. Để làm dấu cho ông tin, sứ thần bảo: "Này đây, ông sẽ bị câm, không nói được, cho đến ngày các điều ấy xảy ra" (Lc 1,5-22). Tư tế Dacaria bị câm cho đến ngày Gioan được cắt bì.
Tôi coi sự câm lặng Chúa làm cho ông Dacaria là một yếu tố quan trọng trong việc đào tạo nên "Kẻ dọn đường cho Chúa đến".
Ngài câm lặng như một hy sinh bày tỏ sự vâng phục ý Chúa. Kẻ dọn đường cho Chúa sẽ phải là người từ bỏ mình về mọi mặt, nhất là từ bỏ ý riêng mình.
Dacaria câm lặng không phải để mà câm lặng, nhưng để trở về nội tâm mình, mà cầu nguyện và chiêm niệm chương trình của Chúa.
Câm lặng đó không phải cái gì tiêu cực, nhưng là cái gì rất tích cực. Nó giúp ông Dacaria biết mình là kẻ bất lực bất xứng trước kế hoạch cứu độ của Chúa. Nó giúp ông nhận ra lòng thương xót và quyền năng vô cùng của Chúa. Câm lặng là để rèn luyện đức tin.
Ông Dacaria vì thế đã là một nhân tố rất quan trọng đào tạo nên "Kẻ dọn đường cho Chúa đến".
2/Sự ẩn mình của người mẹ
Phúc Âm ghi lại như sau: "Ít lâu sau, bà Elisabet có thai. Bà ẩn mình năm tháng" (Lc 1,24).
Sự ẩn mình của bà Elisabet là một chi tiết đạo đức đặc biệt. Theo thói thường, người đàn bà cao tuổi, son sẻ, mà thế gian cho rằng không còn hy vọng có con, nay bỗng có thai. Đó là một tin vui cho phép nở mày nở mặt. Tin vui đó nên được khoe ra để hãnh diện.
Nhưng, bà Elisabet đã không làm thế. Bà ẩn mình trong một thời gian dài. Bà chỉ ra mặt trong tháng thứ sáu, để đón tiếp Đức Mẹ Maria cũng mới mang thai Đấng cứu thế.
Trong thời gian dài ẩn mình, bà Elisabet đã tập trung lòng trí mình vào việc tạ ơn và cầu nguyện. Bà không hiểu nhiều về chương trình cứu độ. Bà chỉ đón nhận tin vui như một ơn Chúa ban cho bà một cách nhưng không.
Trước ơn nhưng không đó, bà tạ ơn và cầu nguyện một cách khiêm nhường. Bà tin vào Chúa và nhìn về tương lai với lòng phó thác đơn sơ.
Sự khiêm nhường của đức tin nơi người mẹ đã là môi trường đào tạo nên Gioan. Môi trường ấy đã rất đạo đức trong lòng người mẹ. Thai nhi Gioan đã được cưu mang trong môi trường ẩn dật của lòng người mẹ đạo đức. Đúng là giáo dục con từ thuở còn là bào thai.

3/ Sự thánh hoá âm thầm của Đức Mẹ Maria
Phúc Âm kể: "Hồi ấy, bà Maria lên đường vội vã, đến miền núi, vào một thành thuộc chi tộc Giuđa. Bà vào nhà ông Dacaria và chào bà Elisabet. Bà Elisabet vừa nghe tiếng Maria chào, thì đứa con trong bụng nhảy lên, bà được tràn đầy Thánh Thần, liền kêu lớn tiếng và nói với Maria rằng: Em được chúc phúc hơn mọi người phụ nữ, và người con em đang cưu mang cũng được chúc phúc" (Lc 1,39-42).
Qua đoạn Phúc Âm vừa ghi, tôi thấy Đức Mẹ Maria đã giữ một vai trò hết sức quan trọng trong việc đào tạo "Kẻ dọn đường cho Chúa đến". Mẹ đã thánh hoá thai nhi một cách bất ngờ.
Sự thánh hoá bất ngờ đó đã được thực hiện  một cách rất hồn nhiên. Không có nghi thức. Chỉ có một lời chào. Lời chào đó đi kèm với sự gặp gỡ thân thương đã chuyển vào thai nhi nguồn ơn thánh đặc biệt. Thai nhi được ơn thánh hoá một cách âm thầm.
Biến cố thánh hoá xảy ra giữa hai phụ nữ thánh, và hai thai nhi thánh. Điều đó cho tôi thấy: Sự thánh hoá thường được thực hiện bởi những nhân vật thánh. Họ sống khiêm tốn, cầu nguyện và hy sinh, vững tin vào Chúa. Họ sống ẩn dật, ngoan ngoãn đặt mình trong sự dẫn dắt của Chúa Thánh Thần.
4/ Cảnh hoang địa mà Gioan được đưa vào
Phúc Âm kể về Gioan: "Cậu bé này lớn lên thì tinh thần càng vững mạnh. Cậu sống trong hoang địa cho đến ngày ra mắt dân Israel" (Lc 1,80).
Hoang địa mà Gioan được đưa vào không rõ là sa mạc hay rừng cây. Nhưng biết chắc đó là một thiên nhiên vắng vẻ. Sống trong thiên nhiên đó sẽ không có tiện nghi. Một mình phải tự lo lấy để sống từ ngày này sang ngày kia. Tất nhiên cuộc sống sẽ rất vất vả, về cái ăn, cái mặc, cái ở.
Gioan sống khắc khổ, không phải như một lối sống hoang dã, như một lối sống tu hành. Vừa lao động vừa chiêm niệm, trong một môi trường thiên nhiên vắng vẻ.
Một thoáng nhìn trên đây về con đường đào tạo "Kẻ dọn đường cho Chúa đến" cho phép tôi đi tới ba kết luận này:
a) Môi trường nhân sự là hết sức quan trọng. Ông Dacaria, bà Elisabet, Đức Mẹ Maria là những nhân sự thánh. Các người thánh sẽ góp phần đào tạo nên người thánh.
b) Môi trường thanh vắng là một yếu tố không nên coi thường. Sự thanh vắng để cầu nguyện và chiêm niệm luôn luôn có sức đào tạo nên những con người thánh.
c) Môi trường siêu nhiên là yếu tố rất cần thiết. Môi trường này là thái độ của các tâm hồn khiêm tốn, luôn đón nhận mọi ý Chúa, một cách kính trọng, để cộng tác vào kế hoạch cứu độ của Chúa một cách từ bỏ, dấn thân và phó thác.

 

Bùi-Tuần 1062: NÂNG TÂM HỒN LÊN 24-06-2008

(Bài chia sẻ trong thánh lễ kính thánh Gioan Baotixita, tại nhà nguyện Toà Giám Mục Long Xuyên, ngày 24/6/2008)
 

Vâng lời Đức Cha Giuse, tôi xin chia sẻ trong thánh lễ kính thánh Gioan Baotixita hôm nay. Thánh 23-06-2008 Bùi-Tuần 1062

Vâng lời Đức Cha Giuse, tôi xin chia sẻ trong thánh lễ kính thánh Gioan Baotixita hôm nay.
Thánh Gioan Baotixita được Chúa sai vào đời, để dọn đường cho Chúa.
Theo tôi, dọn đường cho Chúa là dọn lòng người trong một chặng đường lịch sử nhất định.

1/ Lịch sử tôn giáo thời thánh Gioan Baotixita đã xuất hiện thế nào?
Thưa, nó đã xuất hiện như một cơ chế tôn giáo ổn định.
Giai cấp lãnh đạo tôn giáo ổn định. Đó là các thượng tế, các kỳ lão, các luật sĩ, tất cả đều giữ vững địa vị của mình.
Nếp sống đạo ổn định. Đó là giữ đạo theo luật và tục lệ, từ luật ngày Sabba đến luật răng đền răng, tất cả đều vững bền.
Ranh giới đạo về lãnh thổ, về dân tộc, về đền thờ, tất cả đều rõ rệt, không thay đổi.
Ổn định trên đây đúng là nguy hiểm. Có nhiều điều cần đổi mới mà không thay đổi. Sự nguy hiểm này tạo nên một tâm lý chật hẹp và xơ cứng. Lòng người như bị trói buộc, như bị chìm xuống, như bị cằn cỗi, thiếu lửa, thiếu hồn.
Trước tình hình như vậy, thánh Gioan đã dọn đường cho Chúa thế nào?

2/ Cụ thể là bằng cách nâng tâm hồn người ta lên
Lên đâu? Thưa là sám hối từ bỏ tội lỗi, để lên với Đức Kitô, để gặp Đức Kitô, để đón nhận Đức Kitô, để sống với Đức Kitô, để cùng với Đức Kitô thực thi thánh ý Chúa Cha.

Suốt đời, thánh Gioan Baotixita đã chỉ khuyên mọi người hãy nhìn lên và nâng tâm hồn lên với Chúa Giêsu. Ngài nói: "Đây là Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xoá tội trần gian" (Ga 1,29).
Thánh Gioan Baotixita xác tín: Chỉ bằng cách nâng tâm hồn người ta lên, để sẵn sàng tin vào Đức Kitô như thế, thì mới thực sự dọn đường cho Chúa đến.
Nhưng, thánh Gioan Baotixita cũng biết: Để có thể nâng tâm hồn người ta lên, thì chính Ngài phải nhờ vào một sức thiêng từ trên xuống. Tự mình không làm được.
Sức thiêng từ trên xuống, đó là ơn thánh hoá mà Đức Mẹ Maria đã dành cho Gioan, khi Gioan còn trong lòng mẹ.

3/ Thánh Gioan Baotixita đã dọn đường cho Chúa như thế đó. Còn chúng ta thì sao?
Tôi có cảm tưởng là cách chúng ta dọn đường cho Chúa hiện nay là đa dạng. Người thì nhấn mạnh đến cách này. Người thì nhấn mạnh đến cách kia. Những cách đó có thể tốt tuỳ theo hoàn cảnh cụ thể của lịch sử. Nhưng thiết tưởng, ta không nên coi thường cách dọn đường của thánh Gioan Baotixita.
Theo kinh nghiệm suốt đời mục vụ, tôi luôn nhận thấy cách dọn đường của thánh Gioan Baotixita là hợp với Phúc Âm nhất, sinh hiệu quả nhiều nhất.
Bỏ cách đó, tôi e rằng sẽ gặp nguy. Bởi vì hiện nay, lòng người ta và lòng chúng ta dễ bị chìm xuống hố sâu chứa đựng những giá trị phù phiếm, hố sâu những khát vọng của cái tôi xác thịt, hố sâu những áp lực của muôn vàn thế lực phản Chúa. Hơn nữa, hiện tình là rất phức tạp. Lòng người cũng rất phức tạp. Nhiều người hôm nay đang bị cám dỗ ngả lòng mình về những giá trị tưởng rằng sẽ có sức cứu độ. Một tình hình như thế càng đòi chúng ta phải tỉnh táo, phải luôn tin vào Đức Kitô là Đấng Cứu chuộc duy nhất, phải luôn nâng tâm hồn lên với Người. Người là kho tàng sống động, mà ta cần gắn bó. Ta sẽ nếm được ở kho tàng đó niềm vui cứu độ, không gì sánh được.
Nhiều khi chúng ta cảm thấy lòng mình nặng nề, đi xuống. Chúng ta hãy xin Đức Mẹ giúp ta nâng tâm hồn lên với Chúa Giêsu, trong lời nói, trong việc làm, nhất là trong cuộc sống toả sáng về sự từ bỏ tội lỗi và về sức sống thiêng liêng.
Xin hết lòng cảm ơn Đức Cha Micae, Đức Cha Giuse, quý cha và tất cả anh chị em về mọi nâng đỡ đã dành cho người đầy tớ hèn mọn của Chúa đây.
Xin thánh Gioan Baotixita bầu cử cho chúng ta.
+ GM JB Bùi Tuần

 

Bùi-Tuần 1063: NHẮC NHỞ CỦA PHÁI ĐOÀN TOÀ THÁNH 29-06-2008

 + GB. BÙI TUẦN
 

Phái đoàn Toà thánh đã thăm và làm việc tại Việt Nam từ ngày 09 đến ngày 15/6/2008. Đây:29-06-2008 Bùi-Tuần 1063

Phái đoàn Toà thánh đã thăm và làm việc tại Việt Nam từ ngày 09 đến ngày 15/6/2008. Đây là một sự kiện lịch sử. Mọi thành phần Giáo Hội Việt Nam đều đón chờ tin tức. Phòng Báo chí của Toà Thánh đã đáp ứng bằng một thông cáo chính thức công bố ngày 17/6/2008.
Tôi đã đọc và rất vui mừng với từng chi tiết. Riêng mấy chi tiết sau đây đã khiến tôi suy nghĩ nhiều:
"Sự đóng góp của các tín hữu vào việc thăng tiến con người, sự phổ biến một nền văn hoá liên đới với những tầng lớp yếu thế nhất trong dân chúng, và việc giáo dục luân lý cho các thế hệ trẻ".
Phái đoàn Toà Thánh coi những chi tiết trên đây là "thuộc đời sống và hoạt động của Giáo Hội Việt Nam". Nói thế là Phái đoàn nhấn mạnh mấy chi tiết đó với xã hội Việt Nam, đồng thời cũng nhắc nhở cho chính Giáo Hội Việt Nam.
Nhắc nhở này là rất quan trọng.
1/ Đây là một bổn phận Phúc Âm
Phúc Âm đề cao bổn phận đối với những người đau khổ. Công đồng Vatican II nhấn mạnh đến phẩm giá con người, Thông điệp "Đấng Cứu chuộc con người" coi con người là con đường của Hội Thánh.
Giáo Hội Việt Nam vốn ý thức điều đó.
Thế nhưng, đối với nhiều người công giáo Việt Nam, bổn phận Phúc Âm đó vẫn chưa được quan tâm đủ và đúng cả trên thực tế lẫn trên lý thuyết.
Có một thói quen dễ làm cho người ta hiểu việc giữ đạo chỉ đơn sơ trong một khuôn khổ nhỏ, như xem lễ, đọc kinh, tham gia việc chung họ đạo, vâng lời cha xứ, đóng góp cho nhà thờ.
Có một truyền thống dễ làm cho người ta hiểu gia đình thiêng liêng của người công giáo là một ranh giới hẹp, như cùng một đức tin, cùng một phép rửa, cùng một Thiên Chúa là Cha.
Những ranh giới đó đã ổn định rồi. Vượt ra những ranh giới đó là một mạo hiểm chưa quen. Bởi vì:
Thăng tiến con người là một chân trời mênh mông. Nên rất ngại.
Văn hoá liên đới với những thành phần yếu thế nhất trong quần chúng là một cởi mở đòi nhiều dấn thân. Nên ngại.
Giáo dục luân lý cho giới trẻ là một điều đòi phải làm gương hơn là nêu lý thuyết. Đòi hỏi như thế là một thách đố lớn. Nên ngại.
Tuy nhiên, không thiếu người công giáo tại Việt Nam vẫn phấn đấu vượt qua trở ngại, để sống đạo theo hướng mở ra về phía con người. Trở ngại do xã hội, trở ngại do nội bộ, trở ngại do chính mình. Họ phấn đấu với nhiều vất vả và đau đớn. Nhưng Chúa luôn giúp đỡ họ.
Rất cảm ơn Phái đoàn Toà Thánh đã khuyến khích hướng sống đạo mở ra về con người.
Càng rất cảm ơn Phái đoàn Toà Thánh về nhắc nhở đó, vì hướng mở ra cũng đang giúp công giáo đối thoại với các tôn giáo bạn và với xã hội Việt Nam hôm nay.
2/ Đây là một địa chỉ đối thoại
Đã từ lâu, nhất là từ ngày dân chúng Việt Nam sống trong chế độ mới, các tôn giáo tại Việt Nam đã dần dần ý thức về thời điểm mới. Thời điểm mới này coi đối thoại về cuộc sống con người là cách khẳng định tốt nhất về giá trị tôn giáo của mình.
Xin phép đưa ra một kinh nghiệm sống động riêng tư:
Giáo phận Long Xuyên nằm trong vùng đồng bằng sông Cửu Long có nhiều tôn giáo. Trong đó, tôn giáo mạnh nhất là Phật giáo Hoà Hảo.
Được sống giữa các tín đồ Phật giáo Hoà Hảo, tôi thường xuyên có một sự đối thoại với các tín đồ tôn giáo bạn. Đối thoại này là đối thoại về cuộc sống con người. Đời sống con người ở đây có nhiều khó khăn về nhiều mặt. Chính đời sống đó là địa chỉ để chúng tôi gặp nhau.
Phải chân thành nói lên sự thực này là: Nói chung, các anh chị em Phật giáo Hoà Hảo thực hiện rất tốt một nền văn hoá liên đới với những người nghèo khổ, cô đơn, bệnh tật, già cả.
Người công giáo chúng ta cũng thực hiện  nền văn hoá liên đới với những thành phần yếu nhất trong xã hội. Nhưng đôi khi chưa nhiều bằng, chưa mau lẹ bằng, chưa bền bỉ bằng.
Có thể nói việc từ thiện vốn được coi là việc chính của đạo ta, nhưng đó là trên lý thuyết, chứ không luôn trên thực tế.
Vì thế, sự nhắc nhở của Phái đoàn Toà Thánh trong thời điểm này là rất quý giá. Việc truyền giáo sẽ sinh được hiệu quả nhiều hay ít, cũng tuỳ thuộc vào hướng phục vụ con người, nhất là bằng một nền văn hoá liên đới đối với những tầng lớp khổ đau.
3/ Đây là một hướng truyền bá đức tin
Năm 1937, Mahatma Gandhi, vị anh hùng dân tộc đã nói với các nhà truyền giáo: "Hãy để cho đời sống các ngài nói với chúng tôi như đoá hoa hồng không cần ngôn ngữ, mà chỉ đơn sơ để cho hương thơm của mình lan toả. Cả người mù không nhìn thấy hoa hồng mà cũng nhận ra được hương thơm của nó. Hãy để cho chúng tôi nghĩ tới sự cao cả của nhân dân các ngài, khi họ toả hương thơm đời sống. Đối với tôi, đó là tiêu chuẩn duy nhất. Tất cả những gì tôi muốn họ làm là sống đời sống Kitô hữu, chứ không phải chú giải nó".
Mẹ thánh Têrêsa Calcutta đã làm như vậy. Và Mẹ đã được dân tộc Ấn Độ tôn vinh. Ai cũng biết đời sống của Mẹ là âm thầm trong hy sinh phục vụ người nghèo và chiêm niệm lặng lẽ. Đó là đời sống đức tin đẹp lòng Chúa, và được lòng dân. Nó đã ảnh hưởng rất lớn đến việc loan báo Tin Mừng giữa một vùng đất mênh mông không Công giáo.
Tại Ấn Độ là thế, còn tại Việt Nam ta thì sao? Tôi thấy tại Việt Nam cũng thế thôi. Nhưng một hướng sống đạo khác đang lấn lướt. Đó là một hướng sống đạo ồn ào đặt nặng thành tích bề ngoài.
Hội đồng Giám mục Việt Nam nói chung và từng vị Giám mục Việt Nam nói riêng đã nhiều lần nhấn mạnh đến việc làm chứng cho đức tin bằng đời sống, cho dù âm thầm. Nay Phái đoàn Toà Thánh nhắc nhở hướng đó, thực là quý hoá.

Phái đoàn đến rồi đi. Còn Hội Thánh Việt Nam vẫn ở lại trên đất nước này một cách vui tươi trong niềm hy vọng vào Chúa.
Xin Chúa cho mỗi người tín hữu chúng ta biết thực hiện  những gì Phái đoàn nhắc nhở.
Thực hiện  là điều không dễ. Khó ở phía xã hội. Khó cũng ở phía chúng ta. Nhưng chúng ta cậy tin vào Chúa nhân lành giàu tình yêu thương xót.

 

Bùi-Tuần 1064: GẶP GỠ CHÚA GIÊSU NƠI NHỮNG TÌNH YÊU

KHIÊM NHƯỜNG 20-08-2008
"Thiên Chúa là tình yêu" (1 Ga 4,8).
 

Đó là lời Chúa. Tôi tin Lời ấy. Lời ấy đã ứng nghiệm nơi tôi. Nên tôi xin nói thêm: Không những tôi 20-08-2008 Bùi-Tuần 1064

Đó là lời Chúa. Tôi tin Lời ấy. Lời ấy đã ứng nghiệm nơi tôi. Nên tôi xin nói thêm: Không những tôi tin, mà tôi đã cảm nghiệm được niềm tin ấy một cách sâu sắc. Một thứ cảm nghiệm giống như một gặp gỡ sống động.
Xin phép được chia sẻ vài loại gặp gỡ như thế. Ở đây tôi sẽ không nói về những gặp gỡ trong các bí tích, trong cầu nguyện và suy gẫm. Nhưng sẽ chỉ nhấn mạnh đến những gặp gỡ qua những con người giàu tình yêu khiêm tốn.

1/ Tôi gặp được Chúa nơi những ai rung động trước cảnh khổ đau của con người
Đọc Phúc Âm, tôi thấy Chúa Giêsu gần gũi những người bệnh tật. Người cảm động trước cảnh bà goá thành Naim khóc thương con mình (x. Lc 7,11-17). Người nghiêng mình xuống gọi người đàn bà còng lưng nghèo khó để chữa lành cho bà (x. Lc 13-10-13). Người lắng nghe người mù ngồi ăn xin ở vệ đường và đã cho mắt anh được sáng (x. Lc 18-35-43). Người cúi mình xuống nói chuyện với người bại liệt nằm trên bờ hồ Bếtdatha đã 38 năm, và đã chữa anh khỏi tật bệnh (x. Ga 5,1-9).
Những cử chỉ như thế đã được Chúa Giêsu thực hiện thường xuyên. Tất cả đều nói lên tình yêu. Tình yêu đó rất khiêm nhường. Chính tình yêu khiêm nhường đã mạc khải về Chúa.
Nhìn thấy tình yêu khiêm nhường, người ta dễ nhận ra Chúa là tình yêu. Yêu thương mà khiêm nhường, thế mới là tình yêu đạo đức. Càng khiêm nhường trong yêu thương, càng chứng tỏ một sức thiêng đến từ Thiên Chúa.
Số người yêu thương khiêm tốn đối với những kẻ khổ đau hiện nay không phải là ít.
Bản thân tôi nhiều khi giống như người bại liệt, đau đớn cả nơi thân xác lẫn trong tâm hồn. Bất ngờ có những tiếng gọi, quen và không quen. Những tiếng gọi ấy gởi tới nhiều khích lệ. Những tiếng gọi ấy đã làm tôi như được chữa lành. Đó là những tình yêu rất khiêm nhường. Trong những tình yêu ấy tôi nhận ra Chúa, tôi gặp được Chúa là tình yêu. Xin hết lòng cảm ơn những tình yêu cao quý ấy.

2/ Tôi gặp được Chúa nơi những ai từ bỏ mình, dấn thân phục vụ con người
Phúc Âm cho thấy: Thiên Chúa là tình yêu rất mực khiêm nhường, được mạc khải nơi Đức Kitô từ bỏ mình.
Đức Kitô nghèo khổ trong hang đá Bêlem, trong đời lao động vất vả ở Galilêa, trong cảnh nhục nhã đau đớn tột độ trên thánh giá. Với sự từ bỏ mình như thế, Đức Kitô đã mạc khải Thiên Chúa là tình yêu.
Thánh Phaolô viết: "Đức Giêsu Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế. Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thánh giá. Chính vì thế, Thiên Chúa đã siêu tôn Người và tặng ban danh hiệu trổi vượt trên muôn ngàn danh hiệu. Như vậy, khi vừa nghe danh thánh Giêsu, cả trên trời dưới đất và trong nơi âm phủ, muôn vật phải bái quỳ, và để tôn vinh Thiên Chúa Cha, mọi loài phải mở miệng tuyên xưng rằng: Đức Giêsu Kitô là Chúa" (Pl 2,6-11).
Như thế, lộ trình mạc khải về tình yêu Chúa Cha là suốt cuộc đời từ bỏ mình của Chúa Giêsu. Qua lộ trình đó, Chúa Cha được giới thiệu, và chính Đức Kitô được quang vinh.
Lộ trình làm chứng như thế nay vẫn được nhìn thấy nơi nhiều cuộc đời xung quanh tôi. Họ thuộc đủ loại người. Có thể nói: Đời họ là chuỗi dài những hy sinh, chỉ vì mục đích cứu độ, phục vụ người khác theo gương Đức Kitô trên thánh giá. Trong hy sinh có từ bỏ, có đớn đau, có yêu thương và hy vọng. Chính nhờ Chúa Giêsu hiền lành và khiêm nhường hoạt động trong họ, mà họ có thể hy sinh đến như vậy.
Những cuộc sống như vậy đã làm chứng cho tình yêu khiêm nhường của Chúa. Một thứ khiêm nhường có sức cứu độ và thánh hoá.

3/ Tôi gặp được Chúa nơi những ai xót thương kẻ tội lỗi
Phúc Âm có nhiều chỗ khiến tôi xúc động. Nhưng những chỗ ghi lại tấm lòng xót thương của Chúa Giêsu đối với những kẻ tội lỗi đã khiến tôi xúc động hơn hết. Chẳng hạn những lời Chúa phán và những việc Chúa làm sau đây:
"Thầy không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi" (Mt 9,13).
"Ai có một trăm con chiên, mà có một con đi lạc, lại không để 99 con kia trên núi, mà đi tìm con chiên lạc sao? Và nếu may mà tìm được, thì Thầy bảo thật anh em, người ấy vui mừng vì con chiên đó hơn là vì 99 con không bị lạc. Cũng vậy, Cha của anh em, Đấng ngự trên trời, không muốn cho một ai trong những kẻ bé mọn này phải hư mất" (Mt 18,12-14).
Dụ ngôn người cha có hai người con đã chú ý đến người con hư đốn. Một đứa bỏ nhà ra đi sống đời phung phá. Một đứa ở lại ngoan ngoãn bên cha. Ngày nọ, đứa con phung phá nghĩ lại đã trở về. Người cha tỏ ra hết sức vui mừng, đón tiếp người con đó một cách âu yếm quảng đại. Thấy người con ngoan tỏ vẻ khó chịu, người cha đã nói: "Chúng ta phải ăn mừng và hoan hỷ, vì em con đã chết mà nay sống lại, đã mất mà nay lại tìm thấy" (Lc 15,32).
Ngày nay, lòng xót thương của Chúa dành cho những kẻ tội lỗi vẫn được thực hiện, không những qua bí tích giải tội, mà cũng qua những con người nhân hậu.
Kinh nghiệm cho thấy: Nhân hậu với những kẻ tội lỗi không luôn dễ thực hiện. Nhất là khi kẻ tội lỗi thuộc loại hư hỏng, phá phách, cứng lòng, đi quá sâu vào con đường tồi tệ. Tự nhiên, người ta cảm thấy dễ bực bội, dễ xa tránh họ. Hoặc nếu gần, thì sẽ dễ mắng nhiếc họ, kết án họ, trút lên đầu họ những giận dữ, khinh khi.
Nhưng, bên cạnh những kinh nghiệm loại trừ đó cũng có những kinh nghiệm về những tấm lòng nhân hậu đầy tình xót thương. Họ cầu nguyện rất nhiều, đền tạ rất nhiều, đau khổ rất nhiều cho tội nhân, kèm với những lời khuyên tế nhị, đầy yêu thương. Chính sự khiêm nhường đó đã có sức thiêng cứu những người tội lỗi khỏi mặc cảm và thất vọng, đưa họ vào niềm vui, chứa chan hy vọng.
Riêng đối với tôi, tôi đã gặp được Chúa trong những tình yêu nhân hậu đầy khiêm tốn đó.
"Lạy Chúa, nhờ Con Chúa hạ mình xuống, Chúa đã nâng đỡ loài người sa ngã lên" (Lời nguyện nhập lễ, CN XIV TN), này con đây là kẻ sa ngã, xin thương xót con. Tình yêu khiêm nhường của Chúa Giêsu luôn là sức cứu độ con, luôn là chốn con nương tựa, luôn là trường học của con, luôn là sự sống dẫn đưa con về cõi trường sinh muôn đời.
GM G.B. Bùi Tuần

 

Bùi-Tuần 1065: CHA MẸ CÔNG GIÁO GIÁO DỤC CON CÁI 26-07-2008

Sắp tới lễ kính hai thánh Gioakim và Anna (26/7). Dịp này, Hội Thánh tôn vinh hai đấng đa:26-07-2008 Bùi-Tuần 1065

Sắp tới lễ kính hai thánh Gioakim và Anna (26/7). Dịp này, Hội Thánh tôn vinh hai đấng đã là cha là mẹ của Đức Trinh Nữ Maria. Lễ này cũng là dịp nhắc nhở các bậc làm cha làm mẹ phải biết giáo dục con cái.
Xin nhấn mạnh đến "phải biết giáo dục con cái", nghĩa là phải giáo dục con cái sao cho đúng tinh thần Phúc Âm.
Vấn đề rất mênh mông. Tôi chỉ xin nêu lên mấy điểm rút ra từ kinh nghiệm.
Trước hết, nên nhớ rằng: Giáo dục con cái cốt ở sự giúp cho con cái mình sống càng ngày càng xứng đáng người con của Chúa hơn.
Sự giúp đó là lời dạy dỗ, gương sáng, tạo môi trường thuận lợi, nhất là kết hợp với ơn Chúa.
Tất cả sẽ giúp cho con cái thấm nhuần những lẽ sống sau đây:

1/ Người con Chúa tin Đấng tạo dựng nên mình là Thiên Chúa tình yêu
Chúa muốn mọi con Chúa cũng phần nào trở nên giống Chúa là tình yêu. Càng giống Chúa là tình yêu càng sẽ được chia sẻ hạnh phúc của Chúa là tình yêu.
Người con Chúa là con người đầy ắp tình yêu của Chúa. Tình yêu cao thiêng đó sẽ đổi mới con người. Dần dần sẽ thấy như có một con người bên trong lớn mạnh. Con người bên trong mang sự sống Chúa Giêsu.
Muốn được như vậy, người con Chúa phải liên hệ với Chúa một cách gần gũi. Bằng cầu nguyện, gẫm suy Lời Chúa, đón nhận các bí tích. Như thể mình là cành, Chúa là thân cây. Mình phải kết hợp mật thiết với Chúa Giêsu. Sự sống của Người, tình cảm của Người, ý muốn của Người được chia sẻ sang mỗi người con Chúa càng ngày càng nhiều, càng mạnh.

2/ Người con Chúa là người sống sự tự do của Chúa
Sự tự do nói đây là không bị các tính mê nết xấu và tội lỗi khống chế. Họ cũng bị cám dỗ, nhưng họ không sa chước cám dỗ. Họ sống trong thế gian có nhiều sức ép lôi kéo về đàng tà, nhưng họ không để mình bị làm nô lệ những quyền lực của sự ác.
Họ yêu thương trước những làn sóng hận thù ghen ghét. Họ tiết độ giữa những phong trào hưởng thụ.
Tự do của con cái Chúa là sự triển nở các hoa trái của Chúa Thánh Thần giữa một thế giới khô cằn.
Sự tự do của con cái Chúa là không đầu hàng hoàn cảnh phản nghịch Phúc Âm. Dù bị tước đoạt những của cải và địa vị, họ vẫn luôn biết tìm cách làm nhiều việc lành nhỏ mọn một cách thanh thản. Dù trong hoàn cảnh rất khó, họ vẫn mến Chúa, vẫn yêu người một cách chân thành.

3/ Người con Chúa là người thích phục vụ tha nhân trong yêu thương khiêm tốn
Khi phục vụ tha nhân vì động lực "vì là người con Chúa", người con Chúa sẽ mở lòng trí để nhìn thấy nhiều sáng kiến. Như cầu nguyện cho, đền tội thay, gieo rắc Lời Chúa bằng những cách trong tầm tay, giúp đỡ, chia sẻ, khích lệ, ủi an, khuyên bảo tế nhị.
Họ phục vụ mà không chờ đền đáp. Nếu bị chối từ cách này, họ vẫn tìm phục vụ bằng cách khác. Nếu bị hiểu lầm hoặc bị khinh chê, họ không vượt qua đau khổ cho bằng đón nhận đau đớn vào mình như một hy sinh.
Phục vụ tha nhân bằng yêu thương khiêm nhường đang là dấu chỉ để nhận ra ai là người con Chúa. Dấu chỉ đó được coi là tiêu chuẩn đúng. Dấu chỉ đó càng ngày càng làm xuất hiện những khuôn mặt đẹp bước ra từ những giai cấp thấp kém trong xã hội và trong Giáo Hội.

4/ Người con Chúa là người biết trả lời ơn Chúa gọi mình
Họ biết nhận ra sự Chúa đợi họ ở chỗ nào, để họ được hạnh phúc.
Họ nhận ra điều đó nhờ cầu nguyện, nhất là nhờ suy xét những biến cố xảy ra cho mình, từ tiêu cực đến tích cực, ngay trên chuỗi dài bậc thang đời sống, để đoán ra ý Chúa Quan Phòng đang muốn dẫn đưa đời họ về đâu. Những biến cố ấy là dấu Chúa gọi. Họ trả đáp với tất cả sự khiêm nhường và phó thác.
Mỗi chọn lựa của người con Chúa là một cách đáp lại ơn Chúa gọi mình. Đáp lại để chọn một bậc sống, đó là sống ơn gọi. Đáp lại để chọn một việc dấn thân, phục vụ, hay loan báo Tin Mừng, đó cũng là sống ơn gọi.

5/ Người con Chúa là người sống chiều kích đời đời một cách quyết liệt
Họ tin chắc chắn họ được tạo dựng nên, để đi vào cõi đời đời. Cõi ấy sẽ là thiên đàng dành cho những người sống xứng đáng là con của Chúa. Người con xứng đáng sẽ là kẻ sạch tội, hoặc chẳng may có tội thì đã sám hối trở về.
Để tới cõi đời đời, họ luôn cần đến ơn Chúa, cho từng ngày, từng giờ, từng phút, từng giây.
Họ bám vào Chúa. Và Chúa ở bên họ. Họ đón nhận ơn Chúa với lòng cảm tạ.
Cõi đời đời, sự sống đời đời, hạnh phúc đời đời, cái nhìn đó của đức tin mang chiều kích quyết định. Họ nhớ lại lời Chúa cảnh giác: "Nếu được mọi sự thế gian, mà đánh mất chính mình hay là thiệt thân, thì nào được ích gì" (Lc 9,25).
Trong chân lý đó, người con Chúa sẽ cân nhắc mọi việc mình làm, mọi lời mình nói, mọi sự mình muốn, cũng như mọi dự kiến của mình.
Lúc này hơn lúc nào hết, bổn phận của các phụ huynh công giáo trong việc giáo dục con cái đang là nỗi bức xúc lớn.
Nỗi bức xúc lớn hơn thiết tưởng chính là sự các bậc phụ huynh cần được đào tạo nhiều hơn trong việc tin mến Chúa, trong việc phục vụ yêu thương người khác, nhất là trong việc gỡ bỏ cái tôi đối nghịch với Chúa Thánh Thần.
+ GM JB Bùi Tuần

 

Bùi-Tuần 1066: SÙNG KÍNH ĐỨC MẸ MARIA 13-08-2008


 + GB. BÙI TUẦN
 

Lễ Mông Triệu là dịp tốt, để chúng ta chứng tỏ lòng mến yêu đối với Đức Mẹ Maria. Lòng:13-08-2008 Bùi-Tuần 1066

Lễ Mông Triệu là dịp tốt, để chúng ta chứng tỏ lòng mến yêu đối với Đức Mẹ Maria.
Lòng mến yêu của chúng ta sẽ được thực hiện  nhiều cách, như tăng cường việc dọn bàn thờ Đức Mẹ sao cho xinh đẹp, nhất là tăng cường việc dọn tâm hồn ta sao cho trong sáng.
Với mục đích dọn tâm hồn, chúng ta sẽ để ý đến vài điểm quan trọng trong việc sùng kính Đức Mẹ.
Điều căn bản hết sức quan trọng là thực thi thánh ý Chúa
Suốt cuộc đời Đức Mẹ là lời "Xin vâng" (Lc 1,38). Vâng phục ý Chúa, thực thi ý Chúa, trong mọi lúc, ở khắp nơi, với bất cứ hoàn cảnh nào.
"Xin vâng" là nền toà nhà đạo đức của Đức Mẹ. "Xin vâng" cũng chính là lương thực nuôi dưỡng Chúa Cứu thế suốt đời tại thế (x. Ga 4,34).
Khi đi vào cụ thể, thì thực thi thánh ý Chúa nên đặt nặng mấy điểm sau đây.
1/ Sống liên hệ mến tin đối với Chúa một cách rất khiêm nhường
Chúng ta nhớ lại cách Đức Mẹ giãi bày mối liên hệ của mình đối với Chúa trong kinh "Ngợi khen".
"Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa.
Thần trí tôi hớn hở vui mừng.
Vì Thiên Chúa, Đấng Cứu độ tôi.
Phận nữ tỳ hèn mọn,
Người đoái thương nhìn tới" (Lc 1,46-48).
Đức Mẹ xác tín Chúa thương mình. Chúa thương, không phải vì mình có gì đáng Chúa thương, nhưng chỉ vì Chúa "đoái thương nhìn tới".
Tính cách đoái thương mà Đức Mẹ nói đó, sau này đã được thánh Gioan tông đồ diễn tả lại như sau: "Tình yêu cốt ở điều này: Không phải chúng ta đã yêu mến Thiên Chúa, nhưng chính Người đã yêu thương chúng ta, và sai Con của Người đến làm của lễ đền tội cho chúng ta" (1 Ga 4,10).
Tình yêu của Chúa là tình yêu cứu độ, cứu độ bằng hy sinh mạng sống.
Tình yêu quý giá ấy là tình yêu Chúa ban cho ta nhưng không. Ý thức điều đó sẽ giúp chúng ta khiêm nhường. Việc khiêm nhường đầu tiên nên thực hiện  là hãy khiêm tốn cảm tạ ngợi khen Chúa. Tâm tình ngợi khen đó sẽ mãi mãi nhìn vào lòng xót thương Chúa.
Đối với những người con Đức Mẹ, tâm tình ngợi khen tình yêu xót thương Chúa phải là sinh hoạt thường xuyên. Nó ví như hơi thở. Nó giữ vai trò ưu tiên trong đời sống cầu nguyện.
Nói thế thì dễ. Nhưng thực tế không luôn dễ. Có vô số cơn cám dỗ luôn tìm cách khuấy động tinh thần cầu nguyện của ta. Vì thế Chúa Giêsu dạy chúng ta: "Hãy cầu nguyện và tỉnh thức" (Mc 14,38). Nghĩa là phải ý tứ đừng lười biếng trong việc cầu nguyện, và trong việc cầu nguyện phải ý tứ đừng để cho ý xấu xen vào.
Chúa Giêsu đã vạch trần những thứ cầu nguyện không phải là ca tụng Chúa mà là xúc phạm Chúa. Như trường hợp những người Pharisêu cầu nguyện. Cũng nên nhớ trường hợp những người thành Xơđôm và Gômôra dâng lễ cầu nguyện, mà Chúa ghê tởm. "Ta chán ghét những ngày đầu tháng, những đại lễ của các ngươi. Những thứ đó đã trở thành gánh nặng cho ta. Ta không chịu nổi nữa. Khi các ngươi dang tay cầu nguyện, Ta bịt mắt không nhìn. Các ngươi có đọc kinh cho nhiều, Ta cũng chẳng thèm nghe" (Is 1,14-15).
Lý do Chúa ghê tởm những người dâng lễ cầu nguyện đó là vì lòng họ chứa đầy tội ác, nhất là tội ác phạm đến tha nhân.
Do đó, sống thực thi ý Chúa là sống liên hệ với tha nhân một cách yêu thương khiêm nhường.
2/ Sống liên hệ với tha nhân trong tình yêu thương khiêm tốn
Đức Mẹ đã nêu gương cách sống liên hệ đó trong tiệc cưới Cana (x. Ga 2,1-12).
Đức Mẹ can thiệp, để Chúa Giêsu cứu danh dự chủ nhà. Can thiệp đó thiết tưởng không thuộc về phần rỗi linh hồn. Nhưng Đức Mẹ đã làm. Người làm việc đó một cách khiêm nhường. Đó là một cách sống liên hệ rất cao quý. Hơn là nhân đạo. Hơn là bổn phận bác ái.

Khi coi gương Đức Mẹ đã làm, tôi mới thấy yêu thương tha nhân cần mở ra một chân trời bao la, như Chúa dạy. Thí dụ "đừng xét đoán, để khỏi bị Thiên Chúa xét đoán (Mt 7,1). Phục vụ người đau khổ được kể là phục vụ chính Chúa. Không phục vụ họ bị Chúa kể là không phục vụ chính Chúa (Mt 25,31-46).
Kinh 14 mối thương xót gồm thương xác 7 mối và thương linh hồn 7 mối, nay còn đọc, nhưng xem ra chẳng còn mấy giá trị hướng dẫn cuộc sống đạo đức thường ngày.
Cũng thế, điều răn mới Chúa Giêsu truyền lại, nay xem ra cũng chỉ để nhắc nhở. "Thầy ban cho các con một điều răn mới là các con hãy yêu thương nhau, như Thầy đã yêu thương các con. Ở điểm này mọi người sẽ nhận biết các con là môn đệ Thầy là các con có lòng yêu thương nhau" (Ga 14,34-35).
Giáo lý về yêu thương tha nhân rất rộng, rất rõ. Nhưng thực thi giáo lý đó đến nơi đến chốn xem ra vẫn còn là một ước mơ.
Vì thế, trong cầu nguyện ta cần tỉnh thức, và trong liên đới với tha nhân ta cũng cần tỉnh thức.
Nếu không, kết quả sẽ thế này: Liên đới với Chúa sẽ không làm chứng cho Chúa. Liên đới với tha nhân cũng sẽ không làm chứng cho đạo Chúa và Hội thánh Chúa.
Cứ đà đó, người ta sẽ sống đạo một cách vong thân. Đến mức trầm trọng lúc nào mà không hay biết.
Biết lo điều đó sẽ là điều tốt. Để giải quyết nỗi lo chính đáng ấy, chúng ta nên nhớ lại một lời Đức Mẹ đã nói với những gia nhân tiệc cưới Cana: "Người bảo gì, các anh hãy cứ làm theo" (Ga 2,5). Nghĩa là Đức Mẹ dạy ta hãy tập trung vào Chúa Giêsu Kitô. Vì Chúa đã nói: "Chính Thầy là đường, là sự thực và là sự sống" (Ga 14,6).
Sùng kính Đức Mẹ đòi hỏi như vậy.
Rất mong, các lễ kính Đức Mẹ sẽ là những dịp chúng ta biết đón nhận ơn đổi mới. Một đàng lòng sùng kính Đức Mẹ sẽ đi vào chiều sâu. Một đàng lòng sùng kính ấy sẽ được thanh luyện.
Chúa muốn con cái Chúa sống đức tin một cách trưởng thành về mọi mặt.
Thời buổi này rất cần nhiều cảnh giác, để tránh những sai lầm, lạm dụng và cạm bẫy.
Xin Chúa Thánh Thần luôn hướng dẫn chúng ta

 

Bùi-Tuần 1067: HIỆP THÔNG VỚI CHÚA GIÊSU CẦU NGUYỆN

 14-08-2008
 

Mỗi người có thể kể ra kinh nghiệm của mình về sự cầu nguyện. Hôm nay tôi xin kể ra vài:14-08-2008 Bùi-Tuần 1067

Mỗi người có thể kể ra kinh nghiệm của mình về sự cầu nguyện. Hôm nay tôi xin kể ra vài kinh nghiệm do người khác thuật lại cho tôi. Kinh nghiệm này tập trung vào sự hiệp thông với Chúa Giêsu. Khi hiệp thông với Chúa Giêsu trong cầu nguyện, họ đã được Người chia sẻ cho tâm tình của Người.

1/ Tâm tình của Chúa Giêsu như đã được viết trong thư gởi Do Thái
"Khi còn sống kiếp phàm nhân, Đức Kitô đã lớn tiếng kêu van khóc lóc mà dâng lời khẩn nguyện nài xin lên Đấng có quyền năng cứu Người khỏi chết. Người đã được nhận lời, vì có lòng tôn kính. Dầu là Con Thiên Chúa, Người đã phải trải qua nhiều đau khổ mới học được thế nào là vâng phục; và khi chính bản thân đã tới mức thập toàn, Người trở nên nguồn ơn cứu độ vĩnh viễn cho tất cả những ai tùng phục Người" (Dt 5,7-9).
Tâm tình của Chúa Giêsu trên đây đã được một số người cảm nghiệm nơi chính bản thân họ.
Những khẩn cầu nài van của họ thường đi đôi với những tiếng khóc than. Họ cầu nguyện bằng nước mắt. Họ chịu đau đớn thân xác, đau khổ tâm hồn. Những mệt mỏi, những chán nản với tất cả những gì mà thân phận yếu đuối của họ phải nếm đều như những đắng cay sâu đậm. Họ muốn được cứu. Họ cầu nguyện và dâng những khổ đau của họ lên Thiên Chúa. Vì chỉ có Chúa mới cứu được họ.
Họ tin: Chỉ có Chúa mới cứu được họ khỏi nhiều cõi chết, mà họ đã bị ném vào. Chết vì bệnh, chết vì nghèo, chết vì nợ nần chồng chất, chết vì bị ruồng bỏ, chết vì tội lỗi.
Có những cái chết là do ngoại cảnh. Có những cái chết là do chính họ dại dột ngu đần. Họ muốn thoát ra khỏi chính họ.
Họ nhìn thấy tư bề bế tắc. Chỉ còn Chúa. Nhưng họ nghi ngờ, vì mình quá tệ, quá bất xứng, không biết Chúa còn thương mình nữa không. Họ khóc. Chính những nước mắt khổ đau ấy đã là niềm tin. Họ tin vào Chúa, cho dù họ chẳng còn gì để Chúa thương.
Như vậy, những nước mắt, những kêu khóc của họ khi cầu nguyện, được kết hợp với những nước mắt và kêu khóc của Chúa Giêsu. Nhờ đó mà họ được nâng đỡ ủi an.
Đôi khi, họ xin ơn nâng đỡ ủi an cho người khác, cho Hội Thánh, cho Quê Hương. Họ cũng cầu xin với nước mắt. Những lúc như thế, họ hiểu rõ hơn thế nào là yêu thương thực.
Cầu nguyện như thế là một cách Chúa huấn luyện tình yêu và niềm tin. Yêu thì phải đợi chờ. Yêu thì phải tin. Tin yêu vốn có khổ đau.
Với kinh nghiệm trên đây, nhiều người nhìn ảnh tượng Chúa Giêsu cầu nguyện một cách gần gũi. Hiệp thông gần gũi ấy sẽ càng sống động hơn, khi được hiệp thông với Chúa Giêsu cầu nguyện ở vườn Cây Dầu.

2/ Tâm tình của Chúa Giêsu khi cầu nguyện ở vườn Câu Dầu
Phúc Âm thánh Marcô kể: "Sau đó, Đức Giêsu và các môn đệ đến một thửa đất gọi là Ghếtsêmani. Người nói với các ông: 'Anh em ngồi lại đây, trong khi Thầy cầu nguyện'. Rồi Người đem các ông Phêrô, Giacôbê và Gioan theo. Người bắt đầu cảm thấy hãi hùng xao xuyến. Người nói với các ông: 'Tâm hồn Thầy buồn đến chết được. Anh em ở lại đây mà canh thức'. Người đi xa hơn một chút, quỳ xuống đất mà cầu xin cho giờ ấy rời khỏi mình, nếu có thể được. Người nói: 'Apba, Cha ơi, Cha có thể làm được mọi sự, xin cho con khỏi uống chén này. Nhưng xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha'. Rồi Người trở lại, thấy các môn đệ đang ngủ, liền nói với ông Phêrô: 'Simon, anh ngủ à? Anh không thể thức một giờ sao? Anh em hãy tỉnh thức và cầu nguyện kẻo sa chước cám dỗ. Vì tinh thần thì hăng hái, nhưng thể xác lại yếu đuối'. Người lại đi cầu nguyện, kêu xin như lần trước. Rồi Người trở lại, thấy các môn đệ vẫn ngủ, vì mắt họ nặng trĩu. Các ông chẳng biết trả lời làm sao với Người". (Mc 14,32-40).
Thánh Luca ghi thêm một chi tiết đáng ta chú ý: "Người lâm cơn xao xuyến bồi hồi, nên càng khẩn thiết cầu xin. Và mồ hôi Người như những giọt máu rơi xuống đất" (Lc 22,44).
Cảnh cầu nguyện trên đây là rất bi đát. Cầu nguyện mà buồn sầu, bồi hồi, xao xuyến, lo sợ. Cầu nguyện mà cảm thấy cô đơn. Tất cả muốn đề cao tâm tình vâng phục thánh ý Chúa Cha. Bản tính tự nhiên muốn cưỡng lại. Bạn bè xung quanh không ai đồng ý. Đức Kitô cô đơn giữa những người thân thiết. Qua những lo sợ bồi hồi, xác thịt cho thấy, trốn thoát khổ đau là bình thường. Thánh ý Chúa Cha không cho thấy kết quả trước mắt. Chỉ phải vâng lời. Vâng lời này đòi một sự khiêm nhường tối đa và phó thác trọn vẹn.
Nhiều người cầu nguyện cảm được phần nào cuộc chiến đấu nội tâm gay gắt. Nhưng Chúa Giêsu chiến đấu với họ. Họ cầu nguyện trong tâm tình khiêm tốn của Người.
Sự cô đơn là một thử thách lớn thường đặt ra cho những ai vâng phục thánh ý Chúa. Đôi khi cô đơn là rất lớn lao, lâu dài, sâu rộng. Cùng với Chúa Giêsu, họ biết dâng lên Chúa Cha sự cô đơn đó. Lúc ấy, cô đơn sẽ không là dấu chỉ của sự thất bại, nhưng sẽ là niềm tin vâng phục dẫn tới sự sống và sự sống lại.
Kinh nghiệm như trên không phải là tất cả mọi tâm tình của Chúa Giêsu cầu nguyện. Nó chỉ là một phần, nhưng là phần quan trọng. Hiệp thông với tâm tình quan trọng này là một đặc ân. Ta cần đón nhận với lòng khiêm tốn. Biết đâu sự đón nhận này sẽ là một chuẩn bị khôn ngoan cho tương lai của bản thân ta và của Hội Thánh, một tương lai sẽ không thiếu thử thách, để vâng phục thánh ý Chúa nhiệm mầu trong chương trình cứu độ.
+ GM JB Bùi Tuần

 

Bùi-Tuần 1068: THÁNH AUGUTINH GIẢNG DẠY 17-08-2008

+ GB. BÙI TUẦN
 

Sắp tới lễ kính thánh Augutinh (28/8). Thánh Augutinh có ba đặc điểm: - Con người trở lại: 17-08-2008 Bùi-Tuần 1068

Sắp tới lễ kính thánh Augutinh (28/8). Thánh Augutinh có ba đặc điểm:
- Con người trở lại,
- con người tiến sĩ,
- con người mục tử.
Ngài để lại ba loại tác phẩm quan trọng:
- Các sách,
- các bài giảng,
- các thư.
Các bài giảng của Ngài rất được người ta hâm mộ. Sự hâm mộ ấy chứng tỏ nội dung các bài giảng có gì đặc sắc.
Nếu muốn đưa ra mấy nét chính của nội dung ấy, chúng ta có thể giản lược vào bốn điểm như sau:
1/ Đức Kitô
Đức Kitô là nội dung nổi bật nhất của các bài giảng thánh Augutinh.
Thánh nhân giảng là có mục đích kể về Đức Kitô, giúp hiểu biết Đức Kitô, yêu mến Đức Kitô và gắn bó với Đức Kitô mỗi ngày mỗi khăng khít hơn.
Thánh nhân hay gọi Đức Kitô là thầy dạy trong nội tâm, bằng ngôn ngữ nội tâm. Người ta giảng dạy bên ngoài. Còn Đức Kitô dạy bên trong bằng những tâm sự riêng tư, những kêu mời âm thầm, những chỉ vẽ cho biết con đường phải đi.
Nhờ đó, những lời giảng về Lời Chúa trở nên lương thực bồi bổ, đầy hương vị.
Khi giảng, Ngài hết sức kéo người ta lắng nghe Chúa Kitô, chứ không có ý kéo ai gắn bó với chính mình Ngài.
Ngài giảng Lời Chúa như chia sẻ lương thực, đó là Chân lý cứu độ.
Ngài hay đưa ra lời khuyên nọ, lời chỉ dẫn kia, nhưng thường sau đó Ngài thú nhận địa vị Ngài là giới hạn, để thôi thúc mọi người hãy tìm đến Đức Kitô là thầy dạy bên trong.
Điều quan trọng Ngài hay nhấn mạnh là hãy hướng lòng mình lên Đức Kitô. Trái tim ta được Chúa dựng nên để hướng về Chúa, nên nó sẽ không được an nghỉ cho tới khi nó hướng về Đức Kitô thực sự.
Sự hướng lòng mình về Đức Kitô đòi phải qua yêu thương mọi người.
2/ Bác ái
Thánh Augutinh coi sự yêu thương người khác là phương cách để đến với Đức Kitô.
Một câu Ngài nói đã thành châm ngôn: Hãy yêu thương, rồi hãy làm sự con muốn. Nếu con thinh lặng, thì hãy thinh lặng vì yêu thương. Nếu con nói, thì hãy nói vì yêu thương. Nếu con sửa lỗi, thì hãy sửa lỗi vì yêu thương. Nếu con tha thứ, thì hãy tha thứ vì yêu thương. Ở đáy lòng con hãy có rễ bác ái. Từ rễ bác ái sẽ mọc lên mọi việc làm.
Nghe thánh nhân giảng về bác ái, người ta dễ nhớ tới thánh Gioan thánh sử, tông đồ tình yêu.
Lý tưởng tối thượng Ngài đặt ra cho dòng Ngài lập ra, là lý tưởng bác ái huynh đệ. Người ta còn thuật lại rằng: Ngài truyền viết ở tường nhà cơm Dòng câu này: "Những ai hay nói xấu kẻ vắng mặt, thì không đáng ngồi ăn trong phòng này".
3/ Tình hình đạo lúc đó
Khi giảng, thánh Augutinh cũng hay nói về tình hình đạo lúc đó.
Giáo Hội Ngài lúc đó có những người Do Thái, những người dân ngoại, những người Kitô giáo.
Khi đề cập đến các người kitô giáo, Ngài không ngại kể ra những điều xấu của họ. Ngoài những phong trào tư tưởng lầm lạc, cộng đoàn kitô giáo cũng đầy những tội lỗi. Ngài ái ngại nhất là loại người bề ngoài thì thế này, bề trong thì thế khác.
Ngài ví tình hình đạo lúc đó như lưới cá, trong đó có cá tốt và cũng có cá xấu, hoặc như ruộng lúa có cỏ lồng vực pha vào.
Làm mục vụ, thánh Augutinh luôn đề cao vai trò ơn thánh. Ơn thánh là tuyệt đối cần cho việc trở lại và thánh hoá cứu độ.
Một chi tiết Ngài tiết lộ đáng chúng ta phải sợ. Đó là Ngài kể ra gánh nặng Giám mục của Ngài một phần là do tín hữu. Có những ngày Ngài phải nghe xử kiện không còn giờ nghỉ và giờ ăn cơm. Ngài chia sẻ thánh giá của đoàn chiên.
4/ Cái "tôi"
Thánh Augutinh không ngại nói về cái tôi của Ngài như một chứng từ. Ngài nhận mình phải chiến đấu với nhiều cơn cám dỗ. Ngài nhận mình luôn phải kêu van với Chúa, để tìm nơi Chúa sự nâng đỡ. Ngài thú nhận: Ngài biết mình Ngài hơn mọi người khác biết Ngài. Nhưng Chúa biết Ngài hơn Ngài biết Ngài.
Ngài cũng chia sẻ cả những giây phút Ngài muốn trốn trách nhiệm, nhưng không trốn được lương tâm. Ngài tâm sự về sự Ngài đã lưỡng lự, khi gặp chiến tranh, hoặc ra đi, hoặc ở lại.
Ngài thú nhận Ngài có nhiều tội lỗi cần phải sám hối. Nhưng Ngài cũng tuyên xưng Ngài đã nhận được vô vàn ơn Chúa cần phải cảm tạ và ca tụng. Ngài tâm sự về Ngài một cách chân thành và khiêm tốn.
Với những đặc điểm của nội dung trên đây, các bài giảng của thánh Augutinh đã trở thành một kho tàng thiêng liêng. Biết bao người đã tìm được trong kho tàng đó những chân lý cần thiết cho phần rỗi mình và cho việc truyền giáo.
Chúng ta thấy thánh Augutinh là một tác phẩm tuyệt vời của Chúa.
Xin hết lòng cảm tạ Chúa đã ban cho Hội Thánh ơn trọng đại đó.
Cầu xin cho các mục tử được bắt chước Ngài trong việc giảng dạy và được Ngài bầu cử chở che. Ngài là con người của thời xưa, nhưng cũng là con người hợp với thời sự hôm nay.

 

Bùi-Tuần 1069: MẸ CỦA KẺ ĐI ĐƯỜNG 21-07-2008

 +GB. BÙI TUẦN
 

Cuộc đời là một chuyến đi. Dù đứng, dù ngồi, dù nằm, tôi vẫn trên đường đi. Tôi đđang đi về: 21-07-2008 Bùi-Tuần 1069

Cuộc đời là một chuyến đi. Dù đứng, dù ngồi, dù nằm, tôi vẫn trên đường đi. Tôi đang đi về cuối đời. Rồi sẽ tới sự chết. Từ sự chết, tôi bước vào cõi sau. Cõi sau là một huyền nhiệm. Hạnh phúc đời đời, khổ cực đời đời sẽ được định đoạt ở đó.
Vì thế, trong chuyến đi cuộc đời, tôi phải lo đi đúng đường. Đường đó tạm gọi là đường lành.
Đâu là đường lành, tôi đâu dễ thấy. Mà dù có thấy, tôi đâu dám nói là tôi đủ can đảm để chọn con đường đó. Và dù đã chọn, tôi đâu dám quả quyết là tôi đủ sức để luôn đi đúng con đường đã chọn.
Rất may là trong chuyến đi cuộc đời, tôi có Đức Mẹ Maria. Tôi gọi Mẹ là mẹ của tôi. Mẹ ở bên tôi. Mẹ cùng đi với tôi. Mẹ trên đường với tôi.
Hôm nay, nhân dịp mừng lễ Đức Mẹ về trời, tôi xin chia sẻ đôi điều về Mẹ.
Đường đời của tôi tới đây được kể là khá dài. Tôi đi trên đường đó với biết bao thăng trầm. Tôi luôn nhìn vào Mẹ. Và tôi đã đón nhận từ Mẹ những điều đơn sơ mà hết sức quan trọng. Dưới đây chỉ là vài kinh nghiệm của kẻ còn trên đường dương thế.
1/ Toàn cảnh trước mắt
Mẹ cho tôi biết toàn cảnh trước mắt gồm có:
Thế giới thiên đàng tràn ngập tình yêu sáng láng của Chúa. Những ai hiệp thông với tình yêu đó, sẽ được hạnh phúc đời đời bên Chúa là Cha.
Thế giới hoả ngục sôi bỏng khổ đau, cô đơn, tăm tối. Những ai bị quăng vào đó sẽ phải chịu cực hình đời đời với quỷ dữ.
Thế giới trần gian pha trộn lành dữ. Đây là nơi thử thách và phấn đấu. Ai đi đúng đường tới phút chót sẽ được về với Cha trên trời.
Để được thế, tôi phải luôn tỉnh thức đón nhận Chúa Giêsu. Người ngự vào tâm hồn tôi. Người ở lại trong tôi. Người dần dần cải đổi tôi nên con người mới. Con người mới này sẽ có những nét hơn kém giống Người. Nét đặc biệt nhất là luôn sống theo thánh ý Chúa Cha.
2/ Sống theo thánh ý Chúa Cha
Sống theo thánh ý Chúa là thao thức thường xuyên của người con Chúa đi về với Cha. Nếu không có Mẹ dạy dỗ nhắc nhở, tôi sẽ không quan tâm đủ đến đòi hỏi đó.
Mới rồi, tôi trao đổi với một người tương đối sùng đạo. Tôi thấy họ nghèo, phải vay mượn để sống. Nhưng khao khát của họ là sắm được xe sang, có đồng hồ vàng, di động loại tốt. Thao thức của họ là khẳng định mình không kém bè bạn, trong hưởng thụ và mua sắm.
Từ trường hợp đáng buồn đó, tôi lo cho những người khác và cho chính tôi. Nếu không cẩn thận, chúng ta sẽ để mình bị sai khiến bởi đam mê, bởi ý riêng, bởi những phong trào thế tục xấu, bởi bạn bè không tốt, bởi dư luận vô trách nhiệm, bởi số đông chạy theo thói đời.
Nhưng, khi tôi đến bên Mẹ, xin Mẹ giúp tôi biết chọn lựa những gì thực sự là thánh ý Chúa, tôi mới thấy phải tỉnh thức và cầu nguyện rất nhiều.
Cầu nguyện sẽ không là nói nhiều, mà là lắng nghe nhiều. Thánh Thần Chúa nói. Người nói nhỏ nhẹ tận thẳm sâu tâm hồn. Người cũng nói âm thầm qua Lời Chúa, qua những biến cố lặng lẽ của thế giới nội tâm và tình hình lịch sử.
Tiếng gọi đó là từ trên. Sứ điệp đó phát xuất từ thế giới khác. Thế giới khác ấy cho tôi nhìn thế giới này với bề dày của nó. Tôi khám phá ra chính cuộc sống thường ngày của người con Chúa. Nó có một hơi thở khác, toả ra một ánh sáng khác.
Tôi cũng thấy có nhiều cách sống đạo khác nhau. Nhưng tôi nhận ra không phải mọi cách sống đạo đều làm chứng cho Chúa.
Sự chọn lựa nào cũng đòi nhiều tỉnh thức để vâng phục Chúa Thánh Thần hướng dẫn. Mẹ sẽ giúp điều đó cho kẻ cậy trông Mẹ.
3/ Trái tim được mở rộng
Trên đường đời, tôi không đi một mình. Tôi đi với những người khác, tôi đi giữa đám đông. Tôi cảm thấy sự gần gũi, nhưng cũng cảm thấy sự khác biệt. Sự khác biệt dễ đưa tôi vào thái độ xa cách, nghi kỵ, loại trừ. Lòng tôi vì thế dễ khép lại, ẩn mình trong một ranh giới nhỏ hẹp.
Nhưng, Mẹ của kẻ đi đường dạy tôi về yêu thương. Không có yêu thương trừu tượng. Nhưng yêu thương là cụ thể hoá trên những con người cụ thể. Mẹ nhắc nhở tôi hãy bắt chước Mẹ, nhìn mọi người với tâm hồn bao dung kính trọng. Hãy thờ Chúa không phải chỉ trên núi này hay trong đền thờ nọ. Nhưng hãy thờ Chúa trong tinh thần và trong chân lý. Khi thờ Chúa như vậy, người ta sẽ thấy lòng mình mở ra, nhận ra Chúa trên những khuôn mặt nhiều người, nhất là những người đau khổ. Ánh mắt của những người đó sẽ như những cửa sổ chiếu xa về cõi đời đời. Nước Trời rộng hơn người ta tưởng.
Lúc nhận ra điều đó, tôi sẽ được tập quen biết coi thường những vẻ bề ngoài trên mỗi con người, nhưng sẽ nhìn tâm hồn họ và hoàn cảnh họ như Chúa nhìn.
Đây là một cuộc chiến đấu của tình yêu và cho tình yêu. Trong cuộc chiến đấu đó, tôi được đón nhận hơn là cho đi. Đó là đón nhận tình yêu của Chúa giấu ẩn nơi những kẻ khác, nhất là nơi những kẻ khốn cùng.
4/ Gắn chặt vào thân cây
Còn nhiều điều có thể nói về Mẹ của kẻ đi đường. Nhưng một điều vắn gọn có thể nói thay cho tất cả. Đó là Mẹ đưa những người con Mẹ vào sự sống mật thiết với Chúa Giêsu. Gắn bó mật thiết như cành cây với thân cây.
Để được như vậy, Mẹ luôn nâng đỡ, ủi an, cứu giúp. Người con Mẹ được Mẹ dạy về sự cầu nguyện, suy gẫm Lời Chúa, sự sám hối, sự đền tội, sự đứng lên sau khi vấp ngã, sự sống mầu nhiệm thánh giá và mầu nhiệm Giáo Hội.
Mẹ Maria ơi, Mẹ đã tới đích. Còn con vẫn trên đường. Mọi sự của con đều còn dang dở và rất mong manh, khó tránh được những bất ngờ. Xin Mẹ luôn ở bên con. Mẹ là nguồn đem lại cho con sức sống, chân lý, niềm tin cậy và sự bình an. Con thuộc về Mẹ. Con xin cùng với Mẹ khiêm tốn tập trung vào Đức Kitô, đi về với Chúa Cha giàu lòng thương xót.

 

Bùi-Tuần 1070: NHỚ VỀ ĐỨC CỐ HỒNG Y PHANXICÔ XAVIÊ

NGUYỄN VĂN THUẬN 24-08-2008
 + GB. BÙI TUẦN
 

Dịp Quốc Khánh, tôi nghĩ tới những gì tôi đã lãnh nhận và những gì tôi đã cho đi. Tôi thấy tôi: 24-08-2008 Bùi-Tuần 1070

Dịp Quốc Khánh, tôi nghĩ tới những gì tôi đã lãnh nhận và những gì tôi đã cho đi. Tôi thấy tôi đã cho đi quá ít, nhưng đã lãnh nhận rất nhiều.
Đối với tôi, những lãnh nhận, mà tôi phải biết ơn nhiều nhất, sẽ là những lãnh nhận về mặt tinh thần và mặt đạo đức.
Tôi đã lãnh nhận các giá trị từ Thiên Chúa của tôi. Người đã ban tặng nhiều ơn cho tôi qua nhiều phương tiện. Trong đó có những bạn bè.
Hôm nay, tôi xin nhắc tới cách riêng người bạn thân thiết của tôi. Đó là Đức Cố Hồng Y Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận.
"Chú Tuần ơi", lúc này tôi đang nghe Ngài gọi tôi. Tôi cảm nhận hơi thở ấm áp và tình yêu thân tình trong lời gọi thân thương ấy.
Những gì tôi chia sẻ ở đây về Ngài sẽ không phải là tất cả những gì tôi biết về Ngài. Cũng như tất cả những gì tôi biết về Ngài sẽ không phải là tất cả sự thực bao la về Ngài.
Tôi sẽ chỉ nói về những giá trị thiêng liêng, tôi được Ngài chia sẻ cho.
1/ Tha thứ
Đã có những đau đớn gây nên cho Ngài và gia đình Ngài trong biến cố đảo chánh tháng 11 năm 1963.
Đã có những cay đắng gây nên cho bản thân Ngài trong sự kiện Ngài được bổ nhiệm làm Tổng Giám mục phó Giáo phận Sàigòn.
Đã có những xót xa gây nên cho Ngài do thiên kiến, trong thời gian Ngài chịu thử thách ở ngoại quốc.
Ngài luôn tha thứ với lòng khoan dung.
Ngài hay kể cho tôi về một gương tha thứ đã gây ấn gượng sâu sắc đến đời Ngài, gương sáng đó là mẹ Ngài. Mẹ Ngài chịu đựng tất cả, và tha thứ tất cả.
Tôi đã gặp mẹ Ngài. Tôi thấy sự tha thứ của hai mẹ con Ngài là một chọn lựa tự do phát xuất từ động lực mến Chúa yêu người cao độ. Vì thế mà sự tha thứ của các ngài toát ra một tinh thần Phúc Am thanh thản đầy tính cách xây dựng.
Một lần Ngài kể cho tôi chuyện này: Trong một giáo xứ nọ có một bà giáo dân bỗng dưng tới cha xứ, quả quyết rằng bà đã được Chúa Giêsu hiện ra. Cha xứ trả lời là cha không tin. Nhưng để có chứng để cha tin, thì xin bà, lần tới Chúa có hiện ra, bà hãy hỏi Chúa xem Chúa có nhớ tội nào mà cha xứ mới xưng không. Vài ngày sau, bà tới cha xứ trình rằng: Chúa mới hiện ra với con, con đã hỏi Chúa như cha dặn. Chúa trả lời rằng: Cha xứ mới đi xưng tội. Nhưng Chúa quên hết mọi tội ngài xưng.
Nghe vậy, cha xứ nói: Bây giờ thì tôi tin Chúa đã hiện ra với bà. Chúa tha tội, xoá tội. Chúa không muốn nhớ lại những tội Chúa đã tha.
Theo tôi, chính ở sự tha thứ mà Đức Cố Hồng Y đã trở nên con người dễ thương và cao thượng.
Ngài thường nói với tôi: Chúng ta nên nghĩ về tương lai nhiều hơn. Nhìn xa về tương lai, Ngài khuyên tôi điều gì?
2/ Đào tạo
Đức Hồng Y Thuận hay nhìn về tương lai của Giáo Hội và Đất Nước Việt Nam. Tương lai đó sẽ ra sao, điều đó tuỳ ở những người hôm nay có biết dùng hiện tại để đào tạo nhân sự hay không. Nhân sự mà Ngài muốn đào tạo là những người sẽ phải có đủ thực lực về đạo đức, về trí thức và chuyên môn.
Thực lực là yếu tố cần để đối thoại giữa một thế giới đề cao đối thoại bằng việc làm.
Thực lực là yếu tố cần để phục vụ giữa một xã hội đòi phục vụ tốt.
Thực lực là yếu tố cần để sống còn giữa một nhân loại sống theo cạnh tranh giữa các giá trị.
Một trong những ưu tiên Ngài muốn nơi việc đào tạo nhân sự Hội Thánh là phải hiểu biết những giá trị xã hội. Những giá trị xã hội theo cái nhìn của Hội Thánh sẽ không thể nắm được, nếu việc đào tạo nghiêng về khép kín đóng khung, hình thức.
Cởi mở của tôi về phía xã hội được Ngài khuyến khích. Chân thành trung hiếu của tôi về phía Toà Thánh được Ngài ủng hộ.
Tất cả với tinh thần trách nhiệm. Tất cả với sự tự do của con cái Chúa. Tất cả với mục đích làm chứng cho triển vọng đóng góp xây dựng một Hội Thánh phát triển trong một Đất Nước phát triển theo hướng Phúc Âm và Công Đồng.
Nhờ đó, tôi được Ngài giúp, để sự cộng tác của tôi với Toà Thánh mỗi ngày mỗi khăng khít hơn. Nhờ đó, sự trân trọng của xã hội Việt Nam dành cho Ngài mỗi ngày mỗi tăng thêm.
Những năm tháng cuối đời, việc Ngài dự định về thăm quê hương Việt Nam đã được xúc tiến ở cấp cao. Tôi là nhân chứng. Chỉ còn đợi các chuẩn bị cần thiết, thì sẽ thực hiện. Nhưng Ngài qua đời trước đó, với nhận thức mình được xã hội Việt Nam quý mến, ngưỡng mộ, vì chủ trương hoà giải.
3/ Hy vọng
Nói về Đức Cố Hồng Y Fx. Nguyễn Văn Thuận là nói tới hy vọng. Hy vọng là con đường thiêng liêng Ngài đã đi.
Ngài đã khai triển con đường đó trong cuốn "Hy vọng" của Ngài. Một cuốn sách đã được dịch ra nhiều thứ tiếng và được mến chuộng rất nhiều tại Việt Nam.
Ở đây, tôi chỉ xin nhắc qua đến niềm hy vọng, mà Ngài đã chia sẻ cho tôi trong tình bạn thân thiết và trong liên đới của những người mục tử có một số hoàn cảnh giống nhau.
Mỗi lần, tôi hỏi Ngài về niềm hy vọng, thì đều được Ngài nhắc tới Tám mối phúc thật.
"Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó, vì...
"Phúc thay ai hiền lành, vì...
"Phúc thay ai sầu khổ, vì...
"Phúc thay ai khao khát nên người công chính, vì...
"Phúc thay ai xót thương người, vì...
"Phúc thay ai có tâm hồn trong sạch, vì...
"Phúc thay ai xây dựng hoà bình, vì...
"Phúc thay ai bị bách hại vì lẽ công chính, vì..." (Mt 5,10).
Ngài luôn nhắc tới những hy sinh. Khi sống hy sinh, ta hy vọng được Chúa ban cho hạnh phúc, như kinh Tám mối nói.
Nhưng Ngài khuyên tôi: Không phải khổ đau nào cũng đưa tới hạnh phúc. Nhưng chỉ những khổ đau nào được Chúa chấp nhận. Vì thế không nên quá để ý đến  những việc làm hay chịu gọi là vì Chúa, mà hãy nhìn vào chính Chúa. Chúa nhìn thấu rõ mọi sự. Chỉ Chúa là hy vọng thực và là hạnh phúc thực  của chúng ta.
Chú Thuận ơi, xin nhớ về chú.
Tôi gọi Ngài lúc này như đã gọi Ngài khi Ngài còn sống. Những tiếng gọi âm thầm, nhưng ngân xa niềm hy vọng.
Long Xuyên, ngày 25/8/2008

 

Bùi-Tuần 1071: ĐỨC MẸ SẦU BI 30-08-2008

+ GB. BÙI TUẦN
 

Trong tháng 9 có lễ kính Đức Mẹ sầu bi (15/9). Dịp này Hội Thánh nhắc cho chúng ta nhớ vai: 01-9-2008 Bùi-Tuần 1071

Trong tháng 9 có lễ kính Đức Mẹ sầu bi (15/9). Dịp này Hội Thánh nhắc cho chúng ta nhớ vai trò của đau khổ trong cuộc đời Đức Mẹ, để chúng ta cũng hiểu vai trò của đau khổ trong cuộc đời chúng ta.
I. Vai trò của đau khổ trong cuộc đời Đức Mẹ
Đức Mẹ phải đau khổ. Đau khổ vì con mình là Chúa Giêsu. Đau khổ vì nhân loại là đàn chiên Chúa muốn cứu chuộc.
Thực vậy, Chúa Giêsu là Tin Mừng đặc biệt cho Đức Mẹ. Nhưng Người cũng là nguyên nhân khiến Đức Mẹ phải đau đớn. Đau đớn vì cảnh nghèo nàn thiếu thốn, khi sinh con trong hang đá Bêlem. Đau đớn vì cảnh đi trốn nhọc nhằn, khi đem con lánh nạn sang Ai Cập. Đau đớn vì cảnh lạc mất con, khi từ đền thánh trở về. Đau đớn vì cảnh lao động lầm than mấy chục năm giữa xóm nghèo ở Nadarét. Đau đớn vì cảnh Chúa Giêsu bị bắt bớ và bị tử hình trên thánh giá ở núi Golgôta.
Những đau đớn đó phải được cắt nghĩa vì lý do cứu chuộc nhân loại. Nhân loại được Chúa đoái thương cứu chuộc. Nhiều người đã đón nhận ơn đó. Nhưng nhiều người đã từ chối ơn đó. Không những thế, họ còn xỉ vả, bắt bớ và kết án chính Đấng Cứu chuộc.
Khi thấy như thế, Đức Mẹ rất đau lòng. Mẹ nhận ra lời tiên tri Simêon xưa đã ứng nghiệm. Chúa Giêsu vừa là duyên cớ cho nhiều người được chỗi dậy, và cũng là duyên cớ cho nhiều người phải vấp ngã (x. Lc 2,34).
Đức Mẹ đã đau đớn thế nào? Tiên tri Simêon tả đau đớn đó bằng một câu rất tượng hình: "Còn chính Bà, thì một lưỡi gươm sẽ đâm thấu tâm hồn Bà" (Lc 2,35).
Khi trái tim bị gươm vật chất đâm thâu, người ta cảm thấy đau đớn như phải chết dữ dằn. Khi tâm hồn bị gươm vô hình đâm thâu, người ta cảm thấy đau khổ cũng như một thứ chết khốn cực.
Để có một cái nhìn đúng đắn về đau khổ nơi Đức Mẹ, chúng ta nên nhớ mấy điều sau đây:
a) Đau khổ của Đức Mẹ là tiếng nói sâu thẳm của tình yêu
Tâm hồn nào càng mến Chúa nhiều, càng cảm thấy đau nhiều, khi thấy tình yêu Chúa bị xúc phạm. Tâm hồn nào càng yêu người nhiều, càng cảm thấy khổ nhiều, khi thấy người khác rơi vào cõi khổ.
Đức Mẹ mến Chúa hết tâm hồn, và yêu thương nhân loại hết lòng. Nên Đức Mẹ dễ nhạy cảm trước bất cứ sự gì xúc phạm đến Chúa và làm hại cho phần rỗi loài người.
Nhạy cảm, nhạy bén là đặc tính cao độ của trái tim Mẹ. Lúc đó, đau khổ nơi Mẹ sầu bi là một tiếng nói sâu thẳm nhất của tình yêu.
Được mến yêu Chúa nhờ ơn Chúa ban, Đức Mẹ cảm thấy một thế giới mới. Xưa thánh Phaolô quả quyết: "Những gì xưa kia tôi cho là có lợi, thì nay, vì Đức Kitô, tôi cho là thiệt thòi. Hơn nữa, tôi coi tất cả mọi sự là thiệt thòi, so với mối lợi tuyệt vời là được biết Đức Kitô Giêsu, Chúa của tôi" (Pl 3,7-8).
Thánh Phaolô còn cảm thấy thế. Phương chi Đức Mẹ. Đức Mẹ được ơn hiểu thế nào là tình yêu thương xót Chúa, nên Đức Mẹ sẽ rất đau khổ, khi thấy tình yêu thương xót ấy bị người ta dửng dưng, xa tránh, chối từ, chống đối.
b) Đau khổ của Đức Mẹ là tiếng nói của người được ơn hiểu biết ý nghĩa sự tội
Sẽ là ảo tưởng, nếu nghĩ rằng học hỏi giáo lý về tội, nghiên cứu các sứ điệp về sám hối của những lần Đức Mẹ hiện ra, là sẽ hiểu biết thấu đáo ý nghĩa sự tội. Không đâu, ý nghĩa về tội sẽ chỉ hiểu được sâu sắc nhờ ơn Chúa ban, do cầu nguyện, tĩnh tâm, đổi mới tâm hồn thực sự. Thánh Gioan Baotixita xưa đã dành cả đời rao giảng về sự sám hối. Ngài nói: "Anh em hãy sinh những hoa quả xứng với lòng sám hối" (Lc 3,8). Ngài đã răn đe những ai coi thường tội lỗi. Vì Ngài hiểu biết rất rõ tội lỗi sẽ đưa con người xuống cõi khổ cực ghê gớm đời sau.
Chắc chắn Đức Mẹ còn hơn thánh Gioan Tiền Hô, nên Người phải rất đau đớn khi thấy bao người nhởn nhơ đi vào đàng tội.
c) Đau khổ của Đức Mẹ là tiếng nói của người biết sự quan trọng tuyệt đối của phần rỗi
Xưa cũng như nay, nhân loại để sự tự do lôi kéo mình vào những gì nguy hiểm cho phần rỗi. Phần rỗi không phải là một hạnh phúc trả bằng giá rẻ. Nhưng thực tế cho thấy vô số người không quan tâm đủ đến phần rỗi. Trước cảnh đó, Chúa Giêsu đã cảnh cáo: "Nếu người ta được cả thế gian, mà phải thiệt mất mạng sống, thì nào có lợi gì? Hoặc người ta sẽ lấy gì mà đổi mạng sống mình?" (Mt 16,26).
Với cái nhìn đó, Chúa Giêsu khuyên người có trách nhiệm hãy cố gắng đi tìm một con chiên lạc, hơn là quây quần với 99 con chiên ngoan (x. Mt 16,12-14).
Đức Mẹ rất hiểu thế nào là thiệt mất phần rỗi, nên Người đã rất đau khổ trước cảnh bao người không quan tâm đến phần rỗi.
Như thế, nói chung, đau khổ nơi Đức Mẹ đã giữ một vai trò hết sức quan trọng, đó là làm chứng cho tình yêu xót thương của Chúa. Đức Mẹ sầu bi vì thế sẽ là một an ủi lớn cho chúng ta, khi chính chúng ta cũng bị đau khổ trong cuộc đời.
II. Vai trò của đau khổ trong cuộc đời chúng ta
Đời là bể khổ. Riêng những người con Chúa sẽ gặp trong đời mình không thiếu nỗi đau như gươm đâm thấu tâm hồn mình.
Ở đây, tôi chi xin chia sẻ đôi chút kinh nghiệm.
Tiên vàn, chúng ta phải có một ý hướng tốt lành về những đau khổ của ta. Ý hướng tốt lành đó là muốn những đau khổ ta chịu sẽ có sức làm chứng cho tình yêu Chúa.
Để được như vậy, hằng ngày chúng ta dâng mọi thứ đau khổ của ta cho Đức Mẹ sầu bi, xin những đau khổ của Mẹ thanh luyện những đau khổ của ta. Bởi vì rất nhiều đau khổ của ta phát xuất từ tính kiêu ngạo, ghen tương, ham hố và ích kỷ muốn theo ý riêng mình.

Khi đau khổ, chúng ta dễ có khuynh hướng đổ trách nhiệm cho người khác. Nên coi đó là nghịch với đức ái khiêm nhường, tự nó lại gây đau khổ cho chính mình và cho người khác. Ở đây xin phép nhắc lại ba lời khuyên của thánh Augustinô:
a) Chớ tự coi mình là quan toà xét xử kẻ khác.
b) Xét đoán tội người khác thì phải khiêm tốn và trọng sự thật. Rất nhiều lần ta đổ cho người khác những lỗi lầm người ta thực sự không có.
c) Nếu người ta có tội, thì cũng nên nhận người ta có thể có nhiều công phúc, công khai và âm thầm.
Để đào tạo thường xuyên trái tim ta, ta nên để ý xét mình về việc ta có chia sẻ những đau khổ đủ thứ xảy đến cho đồng bào xung quanh không? Nhất là ta có hỏi Chúa về việc Chúa cùng đau khổ với bao người. Chúa đau khổ với họ, mà ta không để ý.
Đức Mẹ sầu bi sẽ cho ta thấy: Thánh giá là duyên cớ của sự vấp ngã, nhưng cũng là căn nguyên của sự vinh quang. Mẹ sầu bi sẽ làm cho những vết thương lòng của ta trở thành dòng sông thiêng liêng chuyển ơn cứu độ đến các linh hồn.

 

Bùi-Tuần 1072: SUY NGHĨ VỀ THỜI SỰ 30-08-2008

 + GB. BÙI TUẦN
 

Tình hình xã hội và Giáo Hội là chuỗi dài những thời sự. Một thời sự không xuất hiện đơn độc 30-08-2008  Bùi-Tuần 1072

Tình hình xã hội và Giáo Hội là chuỗi dài những thời sự. Một thời sự không xuất hiện đơn độc. Nhưng nó xuất phát từ những nguyên do gần xa. Nó mang nhiều liên đới phức tạp. Nó đưa tới những hậu quả lớn nhỏ dễ thấy và khó thấy.
Vì tính cách phức tạp của nhiều thời sự, chúng ta không nên quá đơn giản và quá vội vàng trong xét đoán.
Câu chuyện dưới đây là một bài học. Đó là chuyện Chúa Giêsu chữa lành một đứa con trai bị quỷ nhập. Chuyện được kể lại trong Phúc Âm thánh Marcô, đoạn 9, từ câu 14 đến câu 19. Chỉ xin tóm lược vắn tắt:
Chuyện tiêu biểu
"Thấy Đức Giêsu, lập tức tất cả đám đông kinh ngạc... Một người trong đám đông nói với Chúa: Thưa Thầy, tôi đã đem con trai tôi lại cùng Thầy. Cháu bị quỷ ám... Tôi đã nói với các môn đệ Thầy, để họ trừ quỷ cho, nhưng các ông không làm nổi... Người bảo đem nó lại với Người.
"Vừa thấy Người, nó ngã xuống đất, lăn lộn, sùi bọt mép... Cha đứa bé nói với Chúa: Nếu có thể làm gì được, thì xin chạnh lòng thương mà cứu chúng tôi. Đức Giêsu nói với ông: Sao lại nói: nếu Thầy có thể. Cái gì cũng có thể đối với kẻ có lòng tin. Lập tức, cha đứa bé kêu lên: Tôi tin. Nhưng xin Thầy giúp lòng tin yếu kém của tôi.
"Khi thấy đám đông tuốn đến, Đức Giêsu quát mắng tên quỷ: Thần câm điếc kia, Ta truyền cho ngươi phải ra khỏi đứa bé này, và không được nhập vào nó nữa. Quỷ thét lên, lay nó thật mạnh, rồi ra khỏi... Chúa Giêsu cầm lấy tay đứa trẻ, đỡ nó đứng dậy, và nó đứng lên.
"Khi Người vào nhà, các môn đệ hỏi riêng Người: Tại sao chúng con đây lại không trừ nổi tên quỷ ấy? Người đáp: Giống quỷ ấy chỉ trừ được bằng lời cầu nguyện mà thôi".
Những nhân vật
Trong chuyện kể trên, nếu đem ra phân tách, chúng ta thấy nhiều nhân vật khác nhau:
- Đứa bé bị quỷ ám,
- Tên quỷ ám,
- Cha đứa bé,
- Các môn đệ Chúa,
- Đám đông,
- Chính Chúa Giêsu.
Theo các chi tiết được viết ra, chuyện về đứa bé bị quỷ ám lại không đề cao vai trò của tên quỷ và đứa bé bị nó ám.
Những nhân vật được chú ý nhiều, trước hết là cha đứa bé. Ông thiếu lòng tin. Ông xin Chúa thêm lòng tin. Ông là người khiêm nhường chỉ đặt hy vọng vào một Chúa Giêsu mà thôi.
Nhân vật được chú ý nhiều không kém là các môn đệ Chúa Giêsu. Các ngài được nhắc đến như những người thất bại vì không trừ được quỷ. Lý do vì các ngài dùng quyền để trừ tà, mà thiếu cầu nguyện.
Các ngài được Chúa dạy cho bài học khiêm nhường. Sự ác tồn tại không phải vì ma quỷ quá mạnh, nhưng lỗi tại môn đệ Chúa thiếu cầu nguyện. Một phần cũng do người cha đứa bé đã thiếu lòng tin khi cầu nguyện.
Một vai trò nữa khá quan trọng trong chuyện trên là quần chúng. Quần chúng tuốn đến đông. Nhân cơ hội đó, Chúa Giêsu không đề cao vai trò các môn đệ Chúa, nhưng lưu ý đám đông đến đức tin, cầu nguyện và phục vụ đối với con người, vừa mặt thể xác, vừa mặt tinh thần và nhất là về mặt phần rỗi.
Sau cùng, nhân vật được đề cao trên hết là chính Chúa Giêsu. Người tỏ ra Người là Đấng cứu độ, quyền năng và giàu lòng thương xót.
Áp dụng vào thời sự hôm nay
Chuyện trừ quỷ kể trên giúp cho chúng ta biết suy nghĩ về các thời sự hôm nay.
Thời sự nào cũng gồm nhiều yếu tố. Tình hình đạo không tách khỏi tình hình đời. Cần có một cái nhìn phủ kín cả toàn thể tình hình.
Sáng Chúa nhật vừa qua, 31/8/2008, đài truyền hình Việt Nam lúc 06 giờ, mục "Chào buổi sáng", đã giới thiệu một em trai. Em bị cụt hai chân, phải đi bằng hai tay. Nhà nghèo, xa trường 7 cây số. Nhưng nhờ ý chí vượt khó, em nay đã thành nhân, có nhiều bằng cấp, trở thành thầy dạy nhiều bạn trẻ, nhất là đứng đầu lo cho các em mồi côi.
Sở dĩ được như vậy, là vì em được nhiều người giúp đỡ, trong đó có một nữ tu công giáo. Nếu em đang được coi như một phép lạ sống động, thì nữ tu đó được kể như một nhân chứng về tình thương bao la của người môn đệ Chúa Giêsu.
Sự thiện được chia ra cho nhiều nhân vật.
Khi những thời sự hiện nay được đọc dưới ánh sáng Phúc Âm, chúng ta thấy sự giao tranh giữa thiện và ác luôn diễn ra dưới nhiều hình thức phức tạp.
Ranh giới giữa thiện và ác không luôn rõ. Nhiều khi ta tưởng sự ác là hoàn toàn ở phía người khác. Nhưng sự thực không thế. Nhiều khi phía chúng ta lại thiếu sự thiện một cách trầm trọng. Như trong chuyện quỷ ám trên kia, Chúa Giêsu cho thấy sự thiếu đạo đức đã ở phía các môn đệ Chúa một cách đáng tiếc.
Sự ác sẽ bị đẩy lùi và loại trừ nhờ sức mạnh thực của sự thiện. Sức mạnh thực đó bắt nguồn từ Chúa Giêsu hiền lành khiêm nhường giàu lòng thương xót, chịu hy sinh vì phần rỗi các linh hồn.
Lịch sử luôn có những bất ngờ. Bất ngờ quan trọng nhất đối với mỗi người sẽ là phần rỗi của chính mình. Phần rỗi đó sẽ tuỳ thuộc ở sự mỗi người biết chọn đúng sự thiện và quyết xa tránh điều ác là mọi tội lỗi.
Trong mọi chọn lựa, xin hãy nhớ lời Chúa phán: "Nếu người ta được cả thế gian mà phải thiệt mất mạng sống, thì nào có lợi gì? Hoặc người ta sẽ lấy gì mà đổi mạng sống mình" (Mt 16,26).
Hậu quả sẽ sâu xa như thế đó.
Long Xuyên, ngày 01 tháng 9 năm 2008

 

Bùi-Tuần 1073: HÀNH HƯƠNG LỘ ĐỨC TẠI NHÀ 19-09-2008

+ GB. BÙI TUẦN
 

Năm nay là kỷ niệm sự kiện Đức Mẹ hiện ra ở Lộ Đức được 150 năm (1858-2008). Tại chính: 19-09-2008 Bùi-Tuần 1073

Năm nay là kỷ niệm sự kiện Đức Mẹ hiện ra ở Lộ Đức được 150 năm (1858-2008).
Tại chính Lộ Đức bên Pháp đang diễn ra nhiều sinh hoạt đạo đức. Có sinh hoạt được thực hiện  mọi ngày, suốt năm. Có sinh hoạt được tổ chức khác thường vào một số thời điểm được lựa chọn rải rác trong năm.
Từ Việt Nam số người đi Pháp hành hương Lộ Đức cũng đáng kể. Nhưng hầu hết hành hương đều tại nhà. Lý do vì hoàn cảnh kinh tế, sức khoẻ và công việc không cho phép.
Tôi cũng vào số những người hành hương tại nhà. Hành hương tại nhà cũng sẽ đạt được mục đích hành hương, khi đón nhận và thực hiện  những sứ điệp mà Đức Mẹ đã trao cho nhân loại. Tại Lộ Đức, Đức Mẹ trao sứ điệp cho một con người bé mọn.
Sứ điệp thứ nhất là cuộc sống nghèo hèn
Cuộc sống nghèo hèn, đó là bé gái Bernadette, sinh ngày 07/01/1844.
Bernadette thuộc một gia đình rất nghèo của giai cấp lao động. Ông Soubirous, cha em, là người xay bột thuê. Bà Castérot, mẹ em, là người đi giặt mướn.
Ông Soubirous, một lần đang khi xay bột, bị mảnh đá nhỏ bắn vào mắt, làm hư một mắt.
Bà Castérot, khi mới sinh Bernadette, một lần bị cháy ngực, phải đưa con đi bú nhờ.
Em Bernadette, sống trong cảnh đói rét, nên bị bệnh suyễn nặng.
Vì quá nghèo và bận kiếm sống, Bernadette không được đến trường. Để có thể được rước lễ lần đầu, em được các nữ tu nhận vào lớp miễn phí.
Bernadette vừa lớn lên đã phải đi ở đợ. Đầu tiên giúp việc cho một quán ăn. Sau đó được một gia đình quen nhận làm đầy tớ, vừa giúp việc nhà, vừa chăn heo chăn cừu và kiếm củi.
Sống nghèo, nhưng luôn lương thiện đạo đức.
Sống nghèo, nhưng luôn cần cù, xoay xở kiếm sống một cách trong sạch ngay thẳng theo lương tâm tốt lành.
Sống nghèo, nhưng luôn phục vụ người khác bằng chính con người và cuộc sống bác ái của mình, dù cách phục vụ đó chỉ là làm thuê, làm đầy tớ.
Rồi một biến cố đã xảy ra.
Ngày 11/02/1858, Đức Mẹ đã hiện ra với Bernadette, khi em đang chăn cừu và kiếm củi giữa một thiên nhiên có núi hang và suối nước lạnh.
Đức Mẹ đã chọn một em bé nghèo, thuộc một gia đình nghèo, đang sống trong cảnh nghèo.
Đức Mẹ chọn kẻ nghèo và cuộc sống nghèo để đến với nhân loại, đó là một sự kiện đáng suy nghĩ. Sự kiện này gợi ý cho chúng ta nhớ lại sự kiện Con Thiên Chúa cũng đã chọn một gia đình nghèo ở xóm nghèo Nadarét để đến trần gian.
Tất cả cho phép chúng ta kết luận: Nghèo không phải là một tai hoạ. Nhưng nó sẽ là một dấu chỉ của sự Chúa đến, khi nó diễn tả sự lương thiện, khiêm tốn, cần cù và khát mong ơn cứu độ.
Sứ điệp thứ hai là sự cầu nguyện
Những lần được thấy Đức Mẹ hiện ra, Bernadette đều nhận được một cảm xúc khác thường. Cảm xúc đó xuất phát đột ngột bởi thái độ Đức Mẹ. Người luôn trong tư thế cầu nguyện. Đeo tràng hạt, tay chắp lại, mắt nhìn lên trời.
Thái độ cầu nguyện của Đức Mẹ thu hút Bernadette. Em tự nhiên mau lẹ bắt chước cầu nguyện. Khi vừa thấy "một Bà lạ" hiện ra, Bernadette phản ứng bằng việc rút trong túi ra một tràng hạt, đọc kinh và làm dấu thánh giá. Phản ứng đó chứng tỏ em có lòng đạo một cách hồn nhiên và bền vững. Cầu nguyện lúc đó căn bản là đáp lại một tình thương đến với mình, là lắng nghe, là yêu mến vâng phục.
Lúc đó, cầu nguyện cũng là một gặp gỡ với Chúa và Đức Mẹ. Một gặp gỡ rất sống động, rất tâm tình. Một gặp gỡ có sức biến đổi con người từ nội tâm sâu thẳm.
Những người xung quanh Bernadette cũng cảm thấy có một sức thiêng nào đó đang hiện diện một cách mãnh liệt. Họ trở nên thinh lặng, cũng tự nguyện cầu nguyện với tất cả tâm hồn mình.
Còn Bernadette, không lợi dụng những giây phút cầu nguyện, để cầu xin những ơn về vật chất, như sức khoẻ, của cải, cuộc sống thoải mái hơn. Nhưng em được đưa tâm hồn vượt trên những bận tâm đó, để chỉ tìm một hạnh phúc cao thiêng.
Lần hiện ra thứ ba, tức 18/02/1858, Đức Mẹ nói với Bernadette: "Ta không hứa ban cho con hạnh phúc của thế giới này, nhưng của thế giới khác". Lời đó đã đem lại cho Bernadette một niềm vui lớn lao. Em hiểu cầu nguyện là phải biết đón nhận hạnh phúc của thế giới ấy.
Lời Đức Mẹ nói đã mở ra cho Bernadette một chân trời mới về sự cầu nguyện.
Sứ điệp thứ ba là sám hối và cầu nguyện cho những tội nhân được trở về
Lần thứ 8 hiện ra, vào ngày 24/02/1858, Đức Mẹ dạy Bernadette:
"Hãy sám hối.
"Hãy cầu nguyện cho các kẻ có tội được trở lại".
Mấy trăm người đứng xung quanh Bernadette. Họ không thấy Đức Mẹ, nhưng thấy Bernadette nước mắt tràn trụa trên khuôn mặt rất buồn.
Khi thuật lại sứ điệp trên đây của Đức Mẹ, Bernadette cho biết tâm hồn mình cảm được phần nào nỗi đau của Chúa và Đức Mẹ vì tội lỗi con người.
Thêm vào đó, Bernadette xác tín: Để sám hối và để đưa kẻ có tội trở về đàng lành, thì phải có ơn Chúa. Vì thế, mà phải cầu nguyện. Kèm theo là những việc hãm mình, như làm những việc hèn hạ khổ chế.
Lần thứ 9 hiện ra, vào ngày 25/02/1858, Đức Mẹ đề nghị những việc hãm mình cụ thể, như hôn đất, đi bằng đầu gối, ăn cỏ. Nhờ những chỉ dẫn cụ thể trên, Bernadette hiểu hơn về sự hữu ích của những hãm mình bề ngoài và thể xác.
Sau này, cách sách tu đức về Lộ Đức đã cắt nghĩa về sự sám hối như một sự đổi mới. Đổi mới cái nhìn, đổi mới cách đánh giá, đổi mới nếp sống. Đổi mới một cách sâu xa. Chứ sám hối không phải là làm đôi nghi thức sám hối, đọc vài kinh sám hối là đã đủ.
Đang khi Lộ Đức bắt đầu trở thành nơi hành hương thu hút khắp nơi trên thế giới, Bernadette lại từ biệt Lộ Đức thân yêu để ẩn mình trong một tu viện các nữ tu Bác ái tại Nevers rất xa Lộ Đức.  Chị âm thầm sống sứ điệp nơi thinh lặng đó, từ năm 1866 đến năm 1879. Lựa chọn trên đây được coi là một hy sinh hãm mình rất quý giá. Chị qua đời ngày 16/4/1879, thọ 35 tuổi.
Chị qua đi, nhưng sứ điệp vẫn còn, cả cho chúng ta nữa.
Hiện tình Hội Thánh có nhiều ánh sáng và cũng có nhiều bóng tối. Việc thực hiện những sứ điệp Đức Mẹ Lộ Đức là việc có thể thêm lên ánh sáng và bớt đi bóng tối, ngay trong chính bản thân ta.
Đức Mẹ đang đợi chờ mỗi người chúng ta.

 

Bùi-Tuần 1074: SỐNG ĐẠO TRONG THỬ THÁCH 03-10-2008

 + GB. BÙI TUẦN
 

Thử thách có nhiều loại. Chức cao quyền trọng với nhiều lợi lộc là một thử thách ngọt ngào: 03-10-2008 Bùi-Tuần 1074

Thử thách có nhiều loại.
Chức cao quyền trọng với nhiều lợi lộc là một thử thách ngọt ngào. Những người "được" dẫn vào thử thách đó thường dễ vui vẻ xin vâng.
Giàu có với nhiều tài sản là một thử thách ngon lành. Những người "được" đi vào thử thách đó thường dễ hân hoan cảm tạ Chúa.
Mất quyền chức, mất của cải là một thử thách đắng cay. Nhiều người "bị" lôi vào thử thách đó đã cảm thấy bực bội, bất bình.
Hôm nay, tôi suy nghĩ đôi chút về loại thử thách là những đớn đau. Suy nghĩ của tôi dựa trên chuyện thánh Gióp trong Cựu Ước.
1/ Một người đạo đức giàu sang phú quý
Kinh Thánh viết: "Xưa ở đất Út có một người tên là Gióp. Ông là một con người vẹn toàn và ngay thẳng, kính sợ Thiên Chúa và lánh xa điều ác.
Ông sinh được bảy người con trai và ba người con gái.
Ông có một đàn súc vậy gồm bảy ngàn chiên dê, ba ngàn lạc đà, năm trăm đôi bò, năm trăm lừa cái. Tôi tớ thì rất đông.
Ông là người giàu có nhất trong số các con cái phương Đông.
Các con trai ông có thói quen luân phiên tới nhà nhau tiệc tùng và cho người mời ba cô em gái đến để ăn uống với họ.
Mỗi khi hết vòng tiệc tùng, ông Gióp gọi họ đến để thanh tẩy họ. Rồi ông dậy thực sớm, dâng lễ toàn thiêu cho mỗi người trong họ, vì ông tự nhủ: Biết đâu các con trai ta đã phạm tội và nguyền rủa Thiên Chúa trong lòng! Lần nào ông Gióp cũng làm như thế" (G 1,1-5).
2/ Một người bị thử thách: Mất mát và đau khổ
Thiên Chúa rất hài lòng với ông Gióp. Thấy vậy, Satan xin Chúa để nó được phép thử thách ông, xem trong thử thách ông còn trung thành với Chúa không. Chúa cho phép. Satan được làm hại mọi sự ông có, nhưng không được đụng tới ông. Satan liền ra tay.
Kinh Thánh chép:
"Vậy một ngày kia, các con trai con gái ông đang ăn tiệc uống rượu ở nhà người anh cả của họ, thì một người đưa tin đến nói với ông Gióp: Trong lúc bò của ông cày ruộng và lừa cái ăn cỏ bên cạnh, dân Sơva đã xông vào cướp lấy; còn các đầy tớ, chúng dùng gươm giết chết, chỉ có mình tôi thoát nạn về báo cho ông hay.
Người ấy còn đang nói thì một người khác về thưa: Lửa của Thiên Chúa từ trới giáng xuống đã đốt cháy chiên dê và đầy tớ; lửa đã thiêu rụi hết, chỉ có mình tôi thoát nạn về báo cho ông hay.
Người này còn đang nói thì một người khác về thưa: Người Canđê chia thành ba toán ập vào cướp lấy lạc đà; còn các đầy tớ, chúng dùng gươm giết chết, chỉ có mình tôi thoát nạn về báo cho ông hay.
Người ấy còn đang nói thì một người khác về thưa: Con trai con gái ông đang ăn tiệc uống rượu trong nhà người anh cả của họ, thì một trận cuồng phong từ bên kia sa mạc thổi thốc vào bốn góc nhà; nhà sập xuống đè trên đám trẻ; họ chết hết, chỉ có mình tôi thoát nạn về báo cho ông hay" (G 1,13-19).
Tất cả các thử thách trên đây thực là khủng khiếp. Nhưng phản ứng của ông Gióp là vâng phục, sấp mình xuống đất, sụp lạy và nói:
"Thân trần truồng sinh từ lòng mẹ, tôi sẽ trở về đó cũng trần truồng.
"Đức Chúa đã ban cho, Đức Chúa lại lấy đi: xin chúc tụng danh Đức Chúa!" (G 1,21).
Khi thấy ông Gióp không hề phạm tội, cũng không buông lời trách móc phạm đến Thiên Chúa. Satan lại xin Chúa cho phép nó thêm thử thách nặng hơn. Lần này nó tấn công chính bản thân ông Gióp. Chúa cho phép.
"Vậy Satan hành hạ ông Gióp, khiến ông mắc phải chứng ung nhọt ác tính từ bàn chân cho tới đỉnh đầu. Ông ngồi giữa đống tro, lấy mảnh sành mà gãi" (G 2, 7).
3/ Một người rất mực trung thành với Chúa
Trước cảnh tàn tạ đó, người đầu tiên xỉa xói ông Gióp là vợ của ông. Nhưng ông trả lời: "Chúng ta đón nhận điều lành bởi Thiên Chúa, còn điều dữ, lại không biết đón nhận sao?" (G 2,10).
Tiếp đến là các bạn thân. Họ đến bên ông, kẻ nói thế nọ, người nói thế kia.
Sau cùng, vì quá đau đớn, ông Gióp đã than thân trách phận một cách rất tự nhiên, theo bản năng một người quá khổ.
"Phải chi đừng xuất hiện ngày tôi đã chào đời!" (G 3,2).
"Sao tôi không chết đi khi vừa mới chào đời. Sao tôi không tắt thở ngay khi lọt lòng mẹ" (G 3,11).
Rồi ông than van với Chúa, cầu nguyện và sám hối. Than van, mà không hề xúc phạm. Phó thác, mà vẫn năn nhỉ với Chúa. Sám hối thảm thiết mà vẫn hy vọng tràn trề. Trong mọi lúc, ông luôn tỏ ra vâng phục ý Chúa với tất cả tấm lòng khiêm tốn.
Sau nhiều ngày bị thử thách nặng nề, ông Gióp đã thưa với Chúa:
"Việc gì Ngài cũng làm được,
Không có gì Ngài đã định trước mà lại không thành tựu...
Phải, con đã nói mà chẳng hiểu biết gì, về những điều kỳ diệu vượt quá sức con.
Vậy, xin Ngài lắng nghe, và cho con thưa gởi đôi điều...
Trước kia, con chỉ được biết về Ngài nhờ người ta nói. Nhưng bây giờ, chính mắt con chứng kiến.
Vì thế, điều đã nói ra, con xin rút lại,
trên tro bụi, con sấp mình thống hối ăn năn" (42, 1-6).
Chúa đã thử thách ông Gióp. Ông đã trung thành.
Sau cùng Chúa đã thưởng ông. Chúa khôi phục lại tài sản cho ông. Chúa tăng gấp đôi những gì ông đã có trước kia.
Chuyện thánh Gióp là một gương sáng. Thời nào cũng có những người sống theo gương sáng đó.
Những ông Gióp thời nay vẫn xuất hiện quanh ta. Họ thuộc đủ mọi thành phần trong Giáo Hội và trong xã hội.
Có nhiều người đau khổ suốt đời, chứ không phaỉ chỉ một quãng đời.
Họ âm thầm, mà cao thượng. Họ lặng lẽ, mà vẫn làm chứng cho Chúa một cách thuyết phục.
Chúng ta đau khổ, mất mát. Nhưng chẳng thấm gì, so với những thử thách của họ.
Xin Chúa thương nâng đỡ họ và nâng đỡ chúng ta.

 

Bùi-Tuần 1075: BỊ GIAM CẦM 03-09-2008

 + GB. BÙI TUẦN
 

Bị giam cầm" là điều chẳng ai muốn. Nó là một mất mát. Nó là một nguy hiểm. Ở đây, chỉ: 03-09-2008 Bùi-Tuần 1075

"Bị giam cầm" là điều chẳng ai muốn. Nó là một mất mát. Nó là một nguy hiểm.
Ở đây, chỉ xin nói vắn tắt đến một số hiện tượng bị giam cầm xảy ra ở bên trong con người.
Sự giam cầm ở bên trong con người có thể xảy ra cả nơi những người coi như rất tự do và nơi những người coi như rất đàng hoàng.
Sự kiện đó ảnh hưởng tai hại, không phải chỉ trong ít nhiều trường hợp, mà trong cả cuộc sống, trên khắp những sự việc thường ngày.
Chúa Giêsu phán: "Cái gì từ trong con người xuất ra, cái đó mới làm cho con người ra ô uế. Vì từ bên trong, từ lòng người phát xuất những tư tưởng xấu: tà dâm, trộm cắp, giết người, ngoại tình, tham lam, độc ác, xảo trá, trác táng, ganh tị, phỉ báng, kiêu ngạo, ngông cuồng. Tất cả những điều xấu xa đó là đều từ bên trong xuất ra, và làm cho con người ra ô uế" (Mc 7,20-23).
Một trong những cắt nghĩa tại sao có những điều tội lỗi lại thường xuyên xảy ra từ bên trong con người, đó là vì bên trong con người có những sức mạnh xấu hoạt động một cách áp đảo, như khống chế, như giam cầm, xiềng xích sự tự do con người.
Chúng ta thử tìm xem những sức mạnh nào thường hay giam cầm sự tự do của con người.
1/ Bị giam cầm bởi sức mạnh Satan
Phúc Âm kể nhiều đến sức mạnh của Satan, khi nó nhập vào con người. Sức mạnh của quỷ trong con người đôi khi rất ghê gớm. Chúa Giêsu phán: "Khi thần ô uế xuất khỏi một người, thì nó đi rảo qua những nơi khô cháy, tìm chốn nghỉ ngơi. Mà vì tìm không ra, nó nói: Ta sẽ trở về nhà, mà ta đã bỏ ra đi. Khi đến nơi, nó thấy nhà được quét tước, dọn dẹp hẳn hoi. Nó liền đi kéo thêm bảy thần khác dữ hơn nó, và chúng vào ở đó. Rốt cuộc tình trạng của người ấy trở nên tệ hơn trước" (Lc 11,24-26).
Những lời Chúa phán trên đây thực đáng sợ. Người cho thấy sức mạnh của quỷ là rất mạnh. Sức mạnh đó giam cầm con người, cai trị con người. Con người khó thoát ra được. Có thể chúng ta đã có kinh nghiệm về điều đó. Chỉ có ơn Chúa mới cứu được người bị quỷ dữ giam cầm. Chúng ta phải tỉnh thức, cầu nguyện, hãm mình theo lời Chúa dạy.
2/ Bị giam cầm bởi sức mạnh tiền của
Phúc Âm kể rằng: "Đức Giêsu vừa lên đường, thì có một người chạy đến, quỳ xuống trước mặt Người và hỏi: Thưa Thầy nhân lành, tôi phải làm gì để được sự sống đời đời làm gia nghiệp? Đức Giêsu đáp: ... Hẳn anh biết các điều răn: Chớ giết người, chớ ngoại tình, chớ trộm cắp, chớ làm chứng gian, chớ làm hại ai, hãy thờ kính cha mẹ. Anh ta nói: Thưa Thầy, tất cả những điều ấy tôi đã tuân giữ từ thuở nhỏ. Đức Giêsu đưa mắt nhìn anh và đem lòng yêu mến. Người bảo anh ta: Anh chỉ thiếu có một điều là hãy đi bán những gì anh có mà cho người nghèo, anh sẽ được một kho tàng trên trời. Rồi hãy đến theo tôi. Anh ta sa sầm nét mặt vì lời đó, rồi bỏ đi, vì anh ta có nhiều của cải" (Mc 10,17-22).
Chuyện kể trên cho thấy: người thanh niên biết Chúa Giêsu yêu mến anh ta. Anh ta cũng là con người giữ đạo tốt. Nhưng khi nghe đến việc bán của cải mà phát cho kẻ nghèo, rồi theo Chúa, thì anh từ chối. Sự từ chối đó chứng tỏ anh bị giam cầm bởi sức mạnh tiền của một cách trầm trọng.
Số người bị tiền của giam cầm hiện nay gồm đủ loại.
Những người không có tiền của càng không dễ thoát được cơn ham muốn tiền bạc. Lỗi của họ là coi tiền như phương tiện duy nhất, như giá trị ưu tiên tuyệt đối. Có người nợ nần chồng chất, cũng chỉ vì quá ham muốn tiền bạc. Họ đành làm đủ chuyện bất chính, miễn sao có tiền, để đua đòi phô trương. Kinh nghiệm cho thấy: Sự ham muốn tiền của đang là một thảm hoạ gây bất ổn đau đớn trong nhiều gia đình, xã hội và tôn giáo. Đôi khi người ta coi đó là một thứ quỷ ám hung hãn đang làm cho con người trở nên mù quáng và nô lệ.
3/ Bị giam cầm bởi sức mạnh dư luận
Sức mạnh dư luận được tỏ bày qua nhiều hình thức, như:
a) Sức mạnh dư luận truyền thống. Chúa phán: "Các ông dựa vào truyền thống các ông mà huỷ bỏ lời Thiên Chúa" (Mt 15,6). Họ bảo vệ truyền thống cộng đoàn, mà coi thường lời Chúa.
b) Sức mạnh dư luận đám đông bị khích động. "Họ cứ la to, nhất định phải đóng đinh Chúa Giêsu. Tiếng la càng thêm dữ dội. Và ông Philatô chấp thuận điều họ yêu cầu" (Lc 23,23-24). Nhiều khi dư luận chỉ là luận dư, không dựa vào chân lý, chỉ hùa theo đám đông.
Quá dựa vào dư luận, quá sợ dư luận, bất chấp phải trái, đó là một hiện tượng quen thuộc của áp lực bị giam cầm.
4/ Bị giam cầm bởi các thói đời
Thói đời quy tụ ít là bốn thứ sau đây:
a) Hình thức bề ngoài. Chúa phán về các Pharisêu: "Họ làm mọi việc cốt để cho thiên hạ thấy" (Mt 23,5). Họ an tâm với những hình thức mang màu sắc đạo đức.
b) Những bận tâm thế tục. Dụ ngôn tiệc cưới cho thấy những bận tâm thế tục đã cản người ta đến dự tiệc cưới Nước Trời. Kẻ thì đi thăm trại, người thì đi buôn, họ quá quan tâm về lợi ích trước mắt (x. Mt 22).
c) Sự ghen tương, tự phụ. Chúa nói khá nhiều về ghen tương, tự phụ, như chuyện mấy người thợ làm vườn nho. "Nào tôi không có quyền sử dụng của cải của tôi như tôi muốn sao? Hoặc bởi anh ghen tương vì tôi tốt lành" (Mt 20,15). Kinh nghiệm cho thấy: Ghen tương, tự phụ là một thứ tù ngục thường giam cầm con người một cách tàn bạo.
d) Những tình cảm không kiểm soát nổi và thói quen tự tôn không chế ngự nổi.
Trên đây là thoáng nhìn về một số hình thức giam cầm con người. Thoáng nhìn đó cho thấy: Xiềng xích không luôn ở phía xã hội, cơ chế, mà thường ở trong chính bên trong mỗi người.
Nhận biết sự thực đó đòi ta phải có lòng khiêm nhường. Đừng cho mình là đạo đức, nhưng hãy nhận mình là yếu đuối, có thể đang bị giam cầm một cách thê thảm. Trong nhận thức khiêm nhường đó, ta cầu xin với Chúa bằng lời Chúa đã gợi ý xưa.
Lạy Chúa, Chúa đã phán: Không phải những người khoẻ mạnh cần đến thầy thuốc, nhưng chính là những bệnh nhân. Chúa không đến kêu gọi người công chính, nhưng người tội lỗi.
Con đây là kẻ bệnh tật và tội lỗi, xin Chúa thương đến cứu chữa con, xin giải thoát con khỏi mọi xiềng xích vô hình đang giam cầm con, để con luôn được tự do trong quyền năng của Chúa Thánh Thần.

 

Bùi-Tuần 1076: SỨC MẠNH GIẢI CỨU 22-09-2008

  + GB. BÙI TUẦN
 

Nhân dịp lễ Đức Tổng lãnh thiên thần Micae (29/9), cũng là Bổn mạng Đức Cha Cố Nguyễn: 22-09-2008 Bùi-Tuần 1076

Nhân dịp lễ Đức Tổng lãnh thiên thần Micae (29/9), cũng là Bổn mạng Đức Cha Cố Nguyễn Khắc Ngữ, vị cha già trăm tuổi của giáo phận Long Xuyên, tôi xin chia sẻ đôi chút suy niệm của tôi về sức mạnh giải cứu lịch sử.
1. Từ xa xưa, lịch sử được mô tả như một cuộc chiến đấu giữa thiện và ác.
Theo sách Khải Huyền, thì đứng đầu phía thiện là Đức Tổng Lãnh thiên thần Micae. Ngài chỉ huy một số thần lành. Còn đứng đầu phía ác là Luxiphe. Nó nắm giữ một số thần dữ.
Hai bên giao chiến ác liệt. Sau cùng, phía Đức Micae toàn thắng, phía Luxiphe thảm bại. Chúng bị xua đuổi xuống hoả ngục.
Sau này, cuộc chiến đó đã được trình bày bằng ảnh tượng, Đức Tổng Micae dùng gươm giáo đâm đầu Luxiphe, đạp nó dưới chân Ngài.
Hình ảnh đó đề cao sức mạnh của quyền lực. Như thể quyền lực là dấu chỉ của Thiên Chúa, Đấng giải cứu muôn dân.
Hình ảnh quyền lực đó đã một thời ám chỉ quyền lực của Hội Thánh.
2. Nhưng, trong Tân Ước, Chúa Giêsu đã phác hoạ hình ảnh lịch sử một cách khác.
Lịch sử vẫn là cuộc chiến đấu giữa thiện và ác. Nay đứng đầu phía thiện là Chúa Giêsu. Đứng đầu phía ác vẫn là ma quỷ.
Chúa Giêsu đã thắng ma quỷ, giải cứu con người bằng một khí cụ khác gươm giáo. Khí cụ đó là cây thánh giá.
Thánh giá của Chúa Giêsu là khiêm nhường, khó nghèo, yêu thương và hy sinh.
Từ đó, Hội Thánh ca ngợi thánh giá Đức Kitô bằng lời sau đây: "Vinh dự của chúng ta là thập giá Đức Kitô. Nơi Người, ơn cứu độ của ta, sức sống của ta và là sự phục sinh của ta".
3. Nhờ niềm tin vào sức mạnh của thánh giá Đức Kitô, Hội Thánh xây dựng sức mạnh tu đức, mục vụ và truyền giáo trên nền tảng khiêm nhường, khó nghèo, yêu thương và hy sinh từ bỏ mình.
Đường lối đó đã và đang được thực hiện  ở khắp nơi. Nơi nào thực hiện  tốt, thì kết quả tốt.
Tuy nhiên, thời nào cũng vậy, những người theo Chúa vẫn bị cám dỗ bỏ con đường thánh giá Chúa, hoặc nếu còn theo, thì lại kết hợp sức mạnh thánh giá với sức mạnh gươm giáo.
Thực tế cho thấy, nhiều người chúng ta coi nhẹ sức mạnh của nội tâm, để đặt nặng sức mạnh của quyền lực bên ngoài và những phương tiện trần thế.
Đó là một nguy hiểm lớn cho Hội Thánh. Nguy hiểm lớn nhất là sự suy sụp đời sống đức tin, như đang xảy ra tại một số nước chối từ thánh giá.
4. Khi bị cám dỗ coi thường sức mạnh của nội tâm nơi thánh giá cứu độ, tôi nhớ về Đức Cha Cố Micae Nguyễn Khắc Ngữ.
Đời Ngài là con đường thánh giá.
Con người của Ngài là khí cụ hoà bình của Chúa Giêsu.
Hình ảnh Ngài là can đảm của hy sinh, khiêm nhường, yêu thương, khó nghèo.
Sức mạnh thuyết phục của Ngài là đời sống nội tâm dạt dào đức ái.
Cái máng Ngài dùng để chuyển ơn cứu độ đến các linh hồn là thánh giá của Ngài kết hợp với thánh giá Đức Kitô.
Được ở bên Ngài, tôi thấy rõ điều này: Ngài biết buông ra những gì không cần thiết, và biết nắm vững những gì là cần phải nắm, nhất là trong những hoàn cảnh phức tạp khó khăn.
Ngài phân biệt rõ: Không phải đau khổ nào cũng là thánh giá Chúa.
Chúng ta cảm tạ Chúa đã ban cho Hội Thánh Việt Nam một vị mục tử tốt lành là Đức Cha Cố Micae.
Nguyện xin Chúa nhân lành ban cho chúng ta luôn được ơn khôn ngoan và can đảm, biết con đường nào là đúng con đường thánh ý Chúa, để làm chứng hữu hiệu cho Chúa trong thời điểm rất phức tạp mà Chúa đang sai chúng ta đi vào.

 

Bùi-Tuần 1077: NIỀM VUI TRUYỀN GIÁO 12-10-2008

+ GB. BÙI TUẦN
 

Mỗi người có một lịch sử. Lịch sử ấy thường là một bí nhiệm. Bí nhiệm lớn nhất là những niềm: 12-10-2008 Bùi-Tuần 1077

Mỗi người có một lịch sử. Lịch sử ấy thường là một bí nhiệm. Bí nhiệm lớn nhất là những niềm vui. Có những niềm vui nói ra được. Có những niềm vui không diễn tả được.
Riêng lịch sử những môn đệ Chúa nhiều năm loan báo Tin Mừng càng chứa ẩn nhiều niềm vui bí nhiệm.
Hôm nay tôi xin phép chia sẻ đôi chút về những niềm vui ấy.
Những niềm vui này rải rác ở từng cá nhân. Nhưng chúng có thể tóm lại trong hai loại dưới đây:
1/ Những niềm vui do niềm tin
Người truyền giáo ra đi vì niềm tin.
- Tôi tin Thiên Chúa là tình yêu. Chúa yêu thương tôi. Chúa yêu thương nhân loại.
- Để đem ánh sáng tình thương vào cảnh u tối của sự chết, Thiên Chúa đã sai Con Một Người xuống trần gian. Đức Kitô đã hạ mình xuống mặc lấy thân phận khó nghèo, đến độ chết trên thánh giá. Nhưng Đức Kitô đã phục sinh. Người là Đấng cứu độ, hằng sống. Người ban cho tất cả những ai tin vào Người được trở nên con Thiên Chúa.
- Đức Kitô quy tụ mọi con cái Thiên Chúa vào Hội Thánh. Trong đó, họ được thông hiệp vào sự sống của Người, nhờ lời Chúa, và các bí tích.
- Đức Kitô sai các môn đệ Người đi khắp thế gian làm chứng cho Người.
Trên đây là một số những niềm tin căn bản của người truyền giáo. Đó là nguồn vui lớn lao. Nguồn vui này là động lực thúc đẩy, là lửa nhiệt tình nung nấu tâm can, khiến họ cầu nguyện liên lỉ, và tìm mọi cách để loan báo Tin Mừng.
Niềm vui sâu xa ấy cho họ một cái nhìn lạc quan. Mọi lạc quan đều xuất phát ở niềm tin:
- Thiên Chúa là tình yêu.
- Tin Mừng là tình yêu,
- Người con Chúa là người sống cho tình yêu,
- Nhà truyền giáo phải là ngành nho gắn chặt vào cây nho là Đức Kitô, Đấng Cứu thế vô cùng hiền lành, khiêm nhường và nhân hậu.
Những niềm vui trên đây do niềm tin sẽ được tăng lên do kinh nghiệm loan báo Tin Mừng.
2/ Những niềm vui do kinh nghiệm
Khi hoạt động truyền giáo, nhiều người đã khám phá ra một lộ trình mới. Lộ trình mới đó thường có những bất ngờ, khiến họ càng vui.
Nhiều bất ngờ gây nên niềm vui khoai khoái nhẹ nhàng. Xin kể vài trường hợp sau đây:
a) Trước khi lên đường, nhà truyền giáo thường nhìn người ngoại đạo và vùng ngoại đạo với cái nhìn chủ quan. Nhưng ngay những tiếp xúc đầu tiên đã cho thấy họ là những tiềm năng tốt.
Nhà truyền giáo lúc đó sẽ nói mà không sợ sai: Trước khi tôi đến với họ, Chúa đã đến với họ lâu rồi.
Họ có những đức tính tốt, hồn nhiên. Họ tạo nên giữa họ và tôi một môi trường dễ chịu, thanh thoát. Môi trường đó nhiều khi nhẹ nhàng hơn môi trường giữa người công giáo với nhau.
Từ kinh nghiệm đó, người truyền giáo tự thấy mình có trách nhiệm khám phá những điều tốt nơi những người ngoại. Họ sẽ chứng kiến nhiều sự lạ lùng. Họ sẽ cảm tạ ơn Chúa vô vàn. Từ đó họ coi bổn phận đầu tiên của họ là biết tiếp tục những sự tốt lành ấy. Chứ không phải xoá hết, để làm mới lại hoàn toàn.
b) Trước khi lên đường, nhà truyền giáo cứ tưởng ưu tiên phải đưa mọi người trở nên con Chúa. Nhưng những tiếp xúc thực tế cho họ thấy: Nhu cầu ưu tiên là làm cho mọi người nên người nhiều hơn.
Nên người nhiều hơn là hãy biết quên mình hơn, để phục vụ người khác  nhiều hơn.
Kinh nghiệm cho thấy: Nên người nhiều hơn là một đòi hỏi căn bản và thuyết phục.
Không thiếu người công giáo rất quan tâm đến việc thờ phượng Chúa bằng nghi thức, mà không quan tâm đến việc phục vụ con người bằng việc làm. Hiện tượng đó đang gây nên dị ứng đối với người ngoài công giáo. Nhất là thời nay, nền văn minh nặng về nhân bản thường rất nhạy bén với những tôn giáo hay ý thức hệ coi thường con người.
Nhận ra điều đó, nhà truyền giáo, đang khi giới thiệu con đường trở nên con Chúa, sẽ rất tỉnh táo với việc xây dựng nhân bản. Chính người rao giảng Tin Mừng phải làm gương nhân bản ở chính mình.
Nhận thức điều đó sẽ giúp người truyền giáo coi trách nhiệm đối với việc thăng tiến con người là lớn lao. Trách nhiệm đó, khi đem ra thực hành, sẽ gây nên một niềm vui rộng mở. Giữ đạo lúc đó sẽ là việc thường ngày giữa các liên hệ, và trong mọi phục vụ rất thường.
c) Trước khi lên đường, nhiều người truyền giáo đã chuẩn bị cho mình  một lô hành trang, như phải biết tìm ra tiền, phải biết xây cất, phải biết tổ chức, phải biết giới thiệu những hoành tráng của cơ sở, phải biết phác hoạ một tương lai có nhiều phương tiện đồ sộ, v.v..
Nhưng khi đã đi sâu vào việc truyền giáo, người ta sẽ thấy hành trang tối cần thiết sẽ là cầu nguyện. Với những phương tiện nghèo, nhưng nếu có cầu nguyện, nhà truyền giáo sẽ thu lượm được nhiều kết quả thiêng liêng lạ lùng, đem lại những niềm vui đầy khích lệ. Nếu bỏ cầu nguyện, mọi mơ tưởng truyền giáo sẽ chỉ là ảo.
Họ cũng không quên tỉnh thức khôn ngoan. Nhiều khi việc truyền giáo được giải quyết tốt, nếu biết khôn ngoan đón nhận một cơ hội hay một con người, cũng như biết giới thiệu một Hội Thánh khiêm tốn phục vụ, chứ không phải một Hội Thánh quyền lực.
Chia sẻ vắn tắt trên đây về niềm vui truyền giáo không có nghĩa là nhà truyền giáo không phải chịu những đớn đau. Kinh nghiệm cho thấy: Họ phải sống mầu nhiệm thánh giá. Niềm tin cũng cho họ nhận ra: truyền giáo là việc phải gắn kết với Chúa Giêsu chịu chết và sống lại.
Nhưng dưới những đau đớn vẫn có niềm vui sâu lắng. Đó là niềm vui của sự phó thác.
Xin chúc tụng lòng thương xót Chúa đến muôn đời.
Long Xuyên, ngày 13 tháng 10 năm 2008

 

Bùi-Tuần 1078: NHÂN ĐẠO HƠN 19-10-2008

 + GB. BÙI TUẦN
 

Ai cũng muốn đời mình thành công. Thành công hệ tại ở sự gì, thì mỗi người có thể đưa ra quan: 19-10-2008 Bùi-Tuần 1078

Ai cũng muốn đời mình thành công. Thành công hệ tại ở sự gì, thì mỗi người có thể đưa ra quan điểm của mình.
Nói chung, thành công hệ tại ở sự có hạnh phúc.
Riêng đối với nhiều môn đệ Chúa Giêsu, thì hạnh phúc lớn nhất đời mình là vượt qua được chính mình, để phục vụ người khác, giúp họ được hạnh phúc vì nên người nhiều hơn và nên con Chúa nhiều hơn.
Điều quan trọng bậc nhất họ thao thức là cách đối xử với người khác. Làm sao đẩy lùi được mọi hình thức vô nhân đạo, thay vào đó là tăng mãi mức độ nhân đạo lên.
Thực tế cho thấy: Trong mỗi người vẫn có nhiều tính vô nhân đạo. Đó là sự ác theo bản năng. Người ta coi người khác như yếu tố cần để nâng đỡ đời mình. Nhưng không thiếu trường hợp, người khác bị coi như kẻ cạnh tranh, như kẻ phải loại trừ.
Thái độ quen thuộc nhất là người khác bị coi như kẻ quấy rầy.
Đôi khi họ bị coi như kẻ mình phải coi chừng.
Không thiếu trường hợp, kẻ khác bị nhìn với con mắt dửng dưng. Khổ mặc khổ. Chết để chết.
Đó là bản năng, một bản năng có nhiều ít vô nhân đạo. Vượt được bản năng đó không phải dễ.
Thêm vào đó, chính chúng ta cũng vô tình hay hữu ý sinh ra những cái vô nhân đạo. Chúng ta phải chịu trách nhiệm về những sản sinh đó. Những cách vô nhân đạo của chúng ta không xứng với đạo làm người, chứ chưa nói đến đạo làm con Chúa.
Chẳng may, những người khác cũng sản sinh nhiều thứ vô nhân đạo, đôi khi với một cách hung bạo không thể ngờ.
Thành ra, nói cho cùng, sự vô nhân đạo giữa những con người với nhau là một kẻ thù trung thành của lịch sử nhân loại.
Ở đây, chỉ xin nêu lên bốn thứ vô nhân đạo, được ghi trong Phúc Âm, và bây giờ vẫn mãi diễn lại.
1/ Tinh thần giữ lề luật một cách chật hẹp khô cứng đưa tới vô nhân đạo
Phúc Âm thánh Marcô viết: "Đức Giêsu lại vào hội đường. Ở đó có một người bị bại tay. Nhóm Pharisêu rình xem Đức Giêsu có chữa người ấy ngày Sabat không, để tố cáo Người. Đức Giêsu bảo người bại tay: Anh hãy đứng dậy, ra giữa đây. Rồi Người nói với họ: Ngày Sabat được làm điều lành hay điều dữ, cứu mạng người hay giết đi. Nhưng họ làm thinh. Đức Giêsu giận, rảo mắt nhìn họ, buồn khổ, vì lòng họ chai đá. Người bảo anh bại tay: Anh giơ tay ra. Người ấy giơ ra, và tay trở lại bình thường.
"Ra khỏi đó, nhóm Pharisêu lập tức bàn tính với phe Hêrôđê, để tìm cách giết Đức Giêsu" (Mc 3,1-6).
Cách giữ luật khô cứng của nhóm Pharisêu, đúng là thái độ vô nhân đạo. Vô nhân đạo đối với người được Chúa Giêsu chữa lành, và vô nhân đạo đối với chính Chúa Giêsu là Đấng chữa bệnh.
2/ Nghĩ sai về người khác đưa tới lời nói và việc làm vô nhân đạo
Phúc Âm Marcô nói về nhóm thân nhân của Chúa Giêsu:
"Chúa Giêsu trở về nhà và đám đông lại kéo đến, thành thử Người và các môn đệ không sao ăn uống được. Thân nhân của Người hay tin ấy, liền đi bắt Người, vì họ nói rằng Người đã mất trí" (Mc 3,20-21).
Nhóm thân nhân của Chúa Giêsu mới chỉ thấy vài việc bề ngoài, mà đã tưởng mình hiểu đúng, nên vội kết án Người. Đó là ảo tưởng. Ảo tưởng đó đã khiến họ có những lời nói và việc làm có thể nói là vô nhân đạo đối với người thân. Kết án Người là mất trí và tìm bắt Người vì mất trí, đó chẳng phải là quá vô nhân đạo sao? Trong ảo tưởng nhiều khi cũng có sự tự kiêu, dẫn tới sai lầm tàn bạo.
3/ Ghen tị khinh miệt đưa tới vô nhân đạo
Phúc Âm thánh Luca cho biết: "Đức Giêsu về Nadarét là nơi Người sinh trưởng. Người vào hội đường. Họ trao cho Người cuốn sách ngôn sứ Isaia. Người mở ra, gặp đoạn chép rằng:
Thần khí Chúa ngự trên tôi.
Vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi,
để tôi loan báo Tin Mừng cho người nghèo khó...
Rồi Người nói với họ: Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh quý vị vừa nghe" (Lc 4,16-21).
Nghe vậy, họ tỏ vẻ kinh ngạc, rồi gièm pha, rồi khinh thường Người. Vì ai cũng biết Người xuất thân ở đó. Sau cùng, tính ghen tương và khinh thường đã khiến họ đi tới một việc làm vô nhân đạo. "Họ lôi Người ra khỏi thành này được xây trên núi. Họ kéo Người lên tận đỉnh núi, để xô Người xuống vực thẳm. Nhưng Người băng qua họ mà đi" (Lc 4,29-30).
Sau này, vì ghen tương khinh miệt, dân Do Thái đã giết chính Đấng Cứu thế một cách cực kỳ vô nhân đạo (x. Mt 26,47-56).
Lịch sử đạo đời không thiếu những trường hợp, vì ghen tương và khinh thường mà người ta trở thành vô nhân đạo đối với người khác.
4/ Phúc Âm còn nói tới những thiếu sót đưa tới thái độ vô nhân đạo
Như trường hợp thầy tư tế không giúp đỡ kẻ bị cướp trấn lột và bị đánh trọng thương (x. Lc 10,29-37).
Và như trường hợp ông phú hộ sống dửng dưng bên cạnh người ăn mày Ladarô (x. Lc 16,19-31).
Suy gẫm vài trường hợp trên đây, chúng ta xin Chúa giải cứu chúng ta khỏi mọi hình thức vô nhân đạo trong đời sống với người khác. Cùng với ơn Chúa, chúng ta chiến đấu với chính mình để trở nên nhân đạo hơn trong đời sống làm người và làm con Chúa.
Nhân đạo khi xuất phát từ đức tin, sẽ là cách làm chứng cho Chúa một cách hữu hiệu.
Đang khi tôi viết bài chia sẻ này, thì cách đây vài trăm thước, đang diễn ra một đại hội. Âm thanh lớn của đại hội không ngừng tra tấn thần kinh của tôi, khiến tôi khốn khổ và sợ hãi.
Thực tế này càng cho tôi cảm nhận thế nào là nhân đạo trong đời thường.
Lạy Chúa, xin thương cho mọi nền văn minh trên trái đất này được càng ngày càng thêm nhân đạo theo thánh ý Chúa.

 

Bùi-Tuần 1079: CHÚA NÓI VỚI TÔI 15-10-2008

 + GB. BÙI TUẦN
 

Nếu có ai hỏi tôi: Sau một đời dài theo Chúa, tôi đã cảm nhận được điều gì an ủi nhất? Tôi: 15-10-2008 Bùi-Tuần 1079

Nếu có ai hỏi tôi: Sau một đời dài theo Chúa, tôi đã cảm nhận được điều gì an ủi nhất? Tôi sẽ thưa: Điều an ủi nhất, mà tôi cảm nhận được là: Chúa nói với tôi.
Chúa nói với tôi:
- qua lời Chúa,
- qua Hội Thánh của Chúa,
- qua những người thiện chí của Chúa,
- qua những biến cố có sự can thiệp của tình xót thương Chúa.
1/ Lời Chúa nói với tôi
Thiên Chúa mà tôi tôn thờ, là một người Cha. Người biết tôi yếu đuối. Nên Người nói với tôi như nói với đứa con dại khờ.
Người gọi tên tôi. Người dạy tôi về cách sống. Tôi hiểu được ý nghĩa và hướng đi đời tôi, nhờ Người bảo ban. Người nói với tôi rõ ràng về từng chi tiết quan trọng của đời sống. Như việc cầu nguyện, việc yêu thương phục vụ, việc bố thí, việc giữ chay, việc tha thứ, việc dấn thân chu toàn bổn phận.
Đức Kitô nói với tôi bằng lời của Người. Hơn nữa, Người còn nói với tôi bằng đời của Người.
Thánh giá của Người luôn ở trước mắt tôi. Thánh giá đó nói về đời yêu thương hy sinh của Người.
Người là tình yêu. Tình yêu ấy sống động, gần gũi. Tất cả tình yêu ấy đều nói với tôi rằng: Thiên Chúa yêu thương tôi. Người đã gọi tôi. Người đã chọn tôi. Người đã sai tôi đi. Không phải vì tôi xứng đáng, nhưng chỉ vì Người thương và muốn như vậy.
Những gì Chúa nói với tôi, cho dù đôi khi dưới hình thức răn đe, cũng vẫn là những lời giải thoát, cứu độ.
Chúa nói nhiều với tôi qua lời Người. Thêm vào đó, Chúa nói với tôi qua Hội Thánh của Người.
2/ Hội Thánh Chúa nói với tôi
Hội Thánh là một quy tụ, tuỳ thuộc phần nào vào dòng lịch sử. Vì thế, qua Hội Thánh, Chúa nói với tôi về dấu chỉ thời đại.
Có lúc nên nhấn mạnh đến sám hối. Có lúc nên đề cao phục vụ người nghèo. Có lúc nên quan tâm nhiều đến việc đối thoại với xã hội bằng đời sống.
Có nơi nên quy tụ lớn. Có nơi nên quy tụ nhỏ. Có nơi nên tránh những hoành tráng gây gai mắt.
Đức Hồng Y Gantin khuyên tôi: Cai quản là phải thấy trước.
Đức Hồng Y J.P. Cordes gợi ý cho tôi thấy thời nay là thời của các cộng đoàn nhỏ.
Đức Hồng Y Nguyễn Văn Thuận hay nhắc nhở tôi về việc đào tạo nhân sự cho Hội Thánh Việt Nam mới.
Qua kinh nghiệm, tôi thấy Chúa hay nói với tôi về sự phải tỉnh thức lắng nghe những dấu chỉ cấp bách.
Chẳng hạn hiện nay là thời điểm khủng hoảng kinh tế. Hội Thánh địa phương nên tìm ra những cách thích hợp để phục vụ Tin Mừng. Hiện nay cũng là thời điểm, mà nhiều đồng bào ngoài công giáo tại một số nơi không cảm thấy đạo Công giáo là cần thiết cho việc ổn định xã hội. Hội Thánh phải ý thức điều đó, để tìm cách khôn ngoan giới thiệu đạo Chúa, sao cho đạo Chúa trong thời khó khăn vẫn nói lên được Tin Mừng đích thực, khả dĩ hấp dẫn đối với những người ngoài công giáo.
Hiện nay, nhiều người đang nghe được tiếng Chúa nói về những đổi mới cần thiết cho Hội Thánh.
3/ Chúa cũng đang nói với tôi qua những người thiện chí
Những người thiện chí vẫn hiện diện trong Hội Thánh và ngoài Hội Thánh.
Họ là những người đảm đang, tận tuỵ phục vụ người khác và ích chung.
Họ là những người tìm tòi khảo cứu trong nhiều lãnh vực để đẩy lùi sự ác, tăng lên sự thiện.
Họ là những người phấn đấu không mệt mỏi, để xã hội mỗi ngày mỗi nên nhân đạo hơn.
Trước cửa sổ phòng tôi có một cây mai to. Từ mấy ngày nay, tự nhiên nó trổ nụ, nở bông. Mới tháng 9 âm lịch, ngày nào cũng có mưa. Thế mà hoa mai nở, như một xuất hiện sớm của mùa Xuân.
Nhìn những bông mai vàng đến sớm, tôi có cảm tưởng gặp được những nguồn nâng đỡ Chúa gởi đến tôi đúng lúc tôi cần. Sự nâng đỡ của họ không tuỳ thuộc vào mùa. Họ hiện diện như những trái tim tế nhị. Lặng lẽ mà đẹp. Âm thầm mà như nói rất nhiều về tình thương và sự sống. Bông hoa trái mùa nhắc nhở cho tôi sự thực này: Cho dù đời có nhiều giông gió, Chúa vẫn cho tôi gặp được những người thiện chí chính lúc không ngờ.
4/ Chúa nói với tôi qua nhiều biến cố
Tôi đã trải qua nhiều biến cố. Có những biến cố chung của Đất Nước và của Giáo Hội. Có những biến cố riêng chỉ xảy ra cho một mình tôi.
Nhìn lại, tôi thấy rõ sự can thiệp của tình thương Chúa. Mỗi biến cố là mỗi tiếng gọi của tình yêu Chúa. Mỗi biến cố là mỗi lời sám hối, tôi đáp lại tình xót thương Chúa dành cho tôi.
Mỗi biến cố là mỗi lời Chúa sai tôi đi kể lại những gì tình Chúa đã làm cho tôi.
Mỗi biến cố là mỗi cơ hội Chúa gọi tôi: Hãy trở nên bé nhỏ hơn, để Nước Chúa được lan rộng hơn.
Mỗi biến cố là dịp thôi thúc tôi: Hãy chỉ phát triển Tám mối phúc, còn bản thân mình thì nên được chôn vùi.
Chúa nói với tôi: Đó là điều an ủi rất lớn của đời tôi.
Được nghe Chúa nói, được nói với Chúa, tôi xác tín rằng: Chúa nhận tôi làm con của Chúa.
Chúa mãi thương tôi. Chúa đồng hành với tôi. Chúa ở gần tôi. Chúa ở bên tôi.
Lúc này, tôi đang nghe Chúa nói với tôi: Chính vì con yếu đuối, nên hãy tín thác mọi sự của con nơi lòng thương xót Cha.
Tôi hạnh phúc như giọt nước được trở về đại dương.

 

Bùi-Tuần 1080: DẤN THÂN CỦA NGƯỜI MÔN ĐỆ ĐỨC KITÔ 29-10-2008

 + GB. BÙI TUẦN
 

Thời nay là thời của những mẫu gương. Nhiều mẫu gương đang trở thành lý tưởng. Lý tưởng: 29-10-2008 Bùi-Tuần 1080

Thời nay là thời của những mẫu gương. Nhiều mẫu gương đang trở thành lý tưởng.
Lý tưởng trở thành một thứ thần thánh.
Thần thánh đến mức trở thành đấng cứu độ.
Trong một tình hình như thế,  người môn đệ Đức Kitô sẽ sống vững niềm tin này: Chỉ có Đức Giêsu thành Nadarét là Đấng cứu độ. Chỉ có Thiên Chúa đã được mạc khải trong Đức Giêsu thành Nadarét là Thiên Chúa duy nhất. Ngoài Thiên Chúa ấy, sẽ không có Thiên Chúa nào khác.
Trong niềm xác tín ấy, người môn đệ Đức Kitô sẽ làm chứng mình thuộc về Thiên Chúa ấy bằng đặc điểm nào?
Thưa bằng đặc điểm dấn thân.
Dấn thân này gồm ba lãnh vực:
- Dấn thân sống theo ý Chúa Cha,
- Dấn thân cho phần rỗi mọi người.
- Dấn thân cách riêng cho những người nghèo khổ.
1/ Dấn thân sống theo ý Chúa Cha
Đức Kitô nói: "Tôi sống nhờ Chúa Cha" (Ga 6,57).
"Lương thực của tôi là làm theo ý Đấng đã sai tôi" (Ga 4,34).
Vì thế, Đức Kitô thường xuyên gắn bó và liên hệ với Chúa Cha. Có thể nói: Những gắn bó và liên hệ ấy chính là những dấn thân.
Dấn thân nói đây phải được hiểu một cách sâu xa. Nó được thể hiện ít ra bằng những việc sau đây.
a) Cầu nguyện.
Cầu nguyện là sinh hoạt thường xuyên của Đức Kitô. Phúc Âm nhấn mạnh hơn đến sự Người cầu nguyện trong những biến cố quan trọng. Như trước khi bước vào giai đoạn công khai rao giảng, trước khi làm các phép lạ, trước khi chọn các tông đồ, trước khi tự nộp mình đi vào cuộc tử nạn.
Theo gương Đức Kitô, các môn đệ Đức Kitô sẽ coi việc cầu nguyện là một việc rất quan trọng. Cầu nguyện cũng là con đường mà người môn đệ Đức Kitô trở về Nguồn là Thiên Chúa tình yêu.
b) Sám hối đền tội.
Đức Kitô không sám hối và đền tội cho mình, nhưng Người sám hối và đền tội cho nhân loại vì tội lỗi nhân loại. Sám hối và đền tội của Đức Kitô được thể hiện dưới nhiều hình thức, nhất là đi vào cửa hẹp.
Sống cửa hẹp là sống hiền lành, khiêm nhường, khó nghèo, gánh tội, đền thay cho người khác. Những đau đớn Người chịu sẽ là của lễ dâng lên Chúa Cha, để đưa nhân loại sa ngã trở về Nguồn là Thiên Chúa vô cùng trong sáng.
Theo gương đó, các môn đệ Đức Kitô cũng lấy việc sám hối đền tội như hình thức dấn thân trở về với Chúa Cha.
c) Vâng lời.
Dấn thân theo ý Chúa Cha được thể hiện nhất bằng sự Đức Kitô vâng lời. Nhất là khi vâng lời đòi từ bỏ ý riêng, để bước xuống thân phận khổ cực hèn hạ.
Đức Kitô đã vâng lời bước xuống mọi bậc thang đau khổ, như mặc lấy thân phận người nghèo, bị xua đuổi, và sau cùng bị chết nhục nhã trên thánh giá.
Vâng lời của Đức Kitô là một dấn thân tuyệt vời, để gắn bó với ý Chúa Cha.
Theo gương đó, người môn đệ Đức Kitô sẽ coi việc vâng lời như một đặc điểm chính xác của dấn thân.
Bây giờ, chúng ta xem qua một hình thức dấn thân khác của người môn đệ Đức Kitô, đó là dấn thân cho phần rỗi nhân loại.
2/ Dấn thân cho phần rỗi nhân loại
Khi nói đến việc dấn thân cho phần rỗi nhân loại, người ta hay nghĩ tới sinh hoạt bí tích, Lời Chúa, nhiều thứ hoạt động, nhiều hình thức đấu tranh.
Nhưng nói cho cùng, dấn thân hợp với Đức Kitô nhất và cũng hữu hiệu nhất là lấy tích cực đẩy lùi tiêu cực. Dấn thân kiểu đó được diễn tả súc tích trong kinh Hoà Bình của thánh Phanxicô. Như:
"Đem yêu thương vào nơi oán thù.
"Đem thứ tha vào nơi lăng nhục.
"Đem an bình vào nơi tranh chấp.
"Đem chân lý vào chốn lỗi lầm.
"Đem tin kính vào nơi nghi nan.
"Chiếu trông cậy vào nơi thất vọng.
"Dọi ánh sáng vào nơi tối tăm.
"Đem niềm vui đến chốn u sầu".
Sống tích cực đẩy lùi tiêu cực bằng nhiều phương cách. Nhưng phương cách căn bản nhất vẫn là: Nhờ Đức Kitô, cùng với Đức Kitô và trong Đức Kitô. Đức Kitô trong chính người môn đệ Đức Kitô. Như thánh Phaolô khẳng định về chính mình: "Không phải tôi sống, mà là Đức Kitô sống trong tôi" (Gl 2,20). Chính Người sẽ tái sinh chúng ta vào sự sống Thiên Chúa.
Như vậy, việc dấn thân cho phần rỗi các linh hồn là công việc của đời sống nội tâm. Mọi kế hoạch hoạt động, cho dù có vẻ xả thân đến đâu, nếu thiếu một nền tu đức sống mật thiết với Chúa Giêsu, sẽ không đưa lại gì thực sự thiết thực cho phần rỗi các linh hồn.
Còn một dấn thân khác đang rất cần cho người môn đệ Đức Kitô thời nay, đó là dấn thân cách riêng cho những người nghèo khổ.
3/ Dấn thân cách riêng cho những người nghèo khổ
Lớp người nghèo khổ là một địa chỉ mà Đức Kitô rất quan tâm. Họ là những người nghèo túng, bệnh nạn, cô đơn, bị loại trừ. Họ cũng là những người tội lỗi, bị ma quỷ và các thói hư tật xấu trói buộc sai khiến. Họ là những người bị các ác thần xâm nhập hoặc toàn phần hoặc từng phần.
Trong dấn thân cho lớp người nghèo khổ, người môn đệ Đức Kitô sẽ hoan nghênh và tham gia mọi cố gắng tự nhiên và siêu nhiên, về văn hoá xã hội, và tất cả những gì có liên quan đến việc giải cứu và thăng tiến lớp người nghèo khổ.
Sau một thoáng nhìn về dấn thân nơi người môn đệ Đức Kitô, chúng ta khiêm tốn nhận rằng:
- Nơi nhiều người môn đệ Chúa tại Việt Nam hôm nay có những phản chiếu về Đức Giêsu thành Nadarét.
- Nơi nhiều cộng đoàn dòng tu và giáo xứ, giáo phận, có phảng phất hương thơm đời sống Đức Giêu thành Nadarét.
Những hành trình dấn thân theo Đức Kitô vẫn  nhiều.
Nhờ đó, mà bóng tối bớt được nhiều mảng tối. Được thế mà thôi, cũng đã là một niềm vui lớn cho chúng ta.
Xin hân hoan tạ ơn Chúa hết lòng.

 

Bùi-Tuần 1081: ĐƯỢC ĐÓN NHẬN VÀ ĐÓN NHẬN 11-11-2008

Người môn đệ Chúa, lúc về già, thường hay hồi tưởng. Hồi tưởng nhiều nhất thường về các: 11-11-2008 Bùi-Tuần 1081

Người môn đệ Chúa, lúc về già, thường hay hồi tưởng. Hồi tưởng nhiều nhất thường về các liên đới: Cho đi, được đón nhận  và đón nhận.
Riêng tôi, tôi thấy được đón nhận và đón nhận là nổi nhất.
Xin chia sẻ đôi chút về liên đới ấy của tôi.
1/ Được đón nhận và đón nhận, khi kẻ được sai đến là bất xứng
Khi được sai đến giáo phận Long Xuyên với chức vụ mới (30/4/1975), tôi còn khá trẻ. Nhưng tuổi trẻ không hẳn là vấn đề. Vấn đề là ở chỗ khác.
Thánh Phaolô viết cho giáo đoàn Corintô: "Khi đến với anh em, tôi thấy mình yếu kém, sợ sệt và run rẩy" (1 Cr 2,2). Còn tôi, tôi run rẩy và sợ sệt, không những vì yếu kém, mà còn vì quá bất xứng.
Một hình ảnh về bất xứng được vua Đavít nêu lên để nói về chính mình: "Con chỉ là sâu bọ, chứ không là người. Con bị người mắng chửi dể duôi. Thấy con ai cũng chê cười" (Tv 22,7-8).
Tuy nhiên, vẫn có những người đón nhận kẻ được sai đến, dù kẻ đó là ai, dù kẻ đó thế nào. Sự đón nhận như thế đã cho tôi một lẽ sống. Lẽ sống là thấy mình được khích lệ. Khích lệ, cho dù nhỏ mà thật, vẫn giúp đời mình vui sống. Vui sống nhất là tay trong tay đi về hướng phục vụ. Phục vụ con người và phục vụ Chúa.
Trong nhận thức đó, phục vụ thường xuyên nhất là khao khát cho mọi người biết thương yêu nhau. Thương yêu nhau bằng những liên hệ rất thường. Một cái nhìn, một lời nói, khi mang sự cho đi chính mình, một cách chân thành, sẽ rất quý đối với kẻ được nhận lẫn đối với kẻ cho đi. Nó cũng rất quý để đổi mới xã hội và Giáo Hội.
Tôi đã được đón nhận như thế. Sự được đón nhận ấy được tôi đón nhận với lòng cảm ơn vô vàn.
Tâm tình cảm tạ dừng lại lâu hơn ở một lời Chúa Giêsu đã dặn dò: "Thầy ban cho các con một điều răn mới là các con hãy yêu thương nhau. Các con hãy yêu thương nhau, như Thầy đã yêu thương các con" (Ga 13,34).
Hơn bao giờ hết, lời Chúa Giêsu trên đây đã trở nên cấp bách. Vì lúc đó là lúc mới kết thúc chiến tranh. Bấy giờ yêu thương nhau phải được coi là thuốc băng bó các vết thương tâm hồn. Nếu yêu thương nhau không bao giờ được chỉ là trừu tượng, thì để chữa các tâm hồn, nó phải rất cụ thể. Nó phải cảm thấy được. Nó phải rất thật, từ trong tâm hồn đến từng chi tiết nhỏ của thân xác.
Trên thực tế, thực hiện yêu thương lúc đó là điều rất khó. Rất khó mà vẫn phải thực hiện. Vì đó là sứ mệnh của Chúa Giêsu, một sứ mệnh Phúc Âm, một sứ mệnh truyền giáo, một sứ mệnh để làm chứng cho Chúa Giêsu.
Với ý thức đó, khi chúng tôi đón nhận nhau và đón nhận "giới răn mới của Chúa" (Ga 13,34), chúng tôi tập trung vào sự cầu nguyện. Cầu nguyện như một đợi chờ lời Chúa hứa, cầu nguyện như một niềm tin vào Chúa Giêsu đã chết và đã phục sinh.
Chúa đã đến. Chúng tôi đã đón nhận Người. Người đã đón nhận chúng tôi.
2/ Được đón nhận và đón nhận Chúa Cứu thế đến với một thực tế khác
Tình hình bấy giờ đã hoàn toàn đổi mới. Chúng tôi bỏ mọi sự, chỉ giữ lại đức tin. Đức tin lúc đó được thanh luyện. Nên sẵn sàng đón nhận Chúa Giêsu y như Phúc Âm giới thiệu.
a) Đức Giêsu hiền lành và khiêm nhường.
Phúc Âm ghi lại lời Chúa sau đây: "Tất cả những ai đang vất vả và mang gánh nặng nề, hãy đến cùng Thầy, Thầy sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng. Anh em hãy mang lấy ách của Thầy và hãy học với Thầy, vì Thầy có lòng hiền hậu và khiêm nhường. Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng. Vì ách Thầy thì êm ái, và gánh Thầy thì nhẹ nhàng" (Mt 11,28-30).
Đúng là Chúa Giêsu đã đến với chúng tôi như Đấng hiền lành và khiêm nhường. Chúng tôi để gánh nặng chúng tôi trên lòng Người. Và chúng tôi tự nhiên cũng được Người chia sẻ cho sự hiền lành và khiêm nhường của Người. Lúc đó, chúng tôi cảm nghiệm được một Đấng Cứu thế đang phục sinh chúng tôi. Người đưa chúng tôi vào một sự sống mới. Sự sống mới đó làm cho chúng tôi được nhẹ nhàng.
b) Đức Giêsu khó nghèo, chỉ tìm vâng phục thánh ý Chúa Cha để cứu nhân loại.
Hoàn cảnh lúc đó là khó nghèo. Mọi thứ của cải và địa vị đều xa vắng trong cuộc sống chứng nhân Tin Mừng. Chính trong hoàn cảnh đó, Chúa Giêsu đã đến trong hình thức nghèo khó. Gặp Người, chúng tôi thấy rất gần gũi với Người. Người trở nên giống chúng tôi. Chúng tôi cảm thấy giống như Người. Điều quan trọng chúng tôi nhận ra lúc đó là sống thực thi thánh ý Chúa. Thánh ý Người rất khác ý con người.
Thánh ý Chúa được tỏ bày là: Chúng tôi hãy làm chứng cho Tin Mừng bằng đời sống nghèo như Chúa Giêsu và lo phục vụ người nghèo như Chúa Giêsu.
Liên đới với lớp người nghèo khổ chính là ý nghĩa đời sống của người môn đệ Đức Kitô.
Đó cũng sẽ là làm chứng cho sự tự do đích thực của người môn đệ Đức Kitô.
3/ Được đón nhận và đón nhận một Hội Thánh địa phương với một hình thức mới
Hình thức mới, đó là một Hội Thánh khiêm tốn, khó nghèo và phục vụ những người nghèo khổ. Với hình thức đó, Hội Thánh sẽ rao giảng Tin Mừng kiểu mới. Tin Mừng là chính Đức Giêsu thành Nadarét khó nghèo, yêu thương. Liên hệ giữa Hội Thánh địa phương với lớp người nghèo khổ sẽ là một ý nghĩa thiết thực của Hội Thánh. Hội Thánh nghèo rao giảng Tin Mừng bằng những phương tiện nghèo.
Hội Thánh địa phương đón nhận ý nghĩa mới đó, với niềm xác tín rằng: Liên hệ với lớp người nghèo khổ cũng là thể hiện liên hệ của mình với Chúa Giêsu. Cùng với Hội Thánh địa phương như thế, người môn đệ Chúa Giêsu sẽ ưu tiên chọn những hình thức phục vụ bé nhỏ, thầm lặng. Phục vụ như người đồng hành và như "người đầy tớ" (Lc 17,10).
Khi phục vụ như thế, người môn đệ Chúa cảm thấy mình và Hội Thánh địa phương dễ được đón nhận bởi những người xa lạ với đạo Chúa, thậm chí ác cảm với đạo Chúa.
Hồi tưởng trên đây, dù vắn, vẫn đưa tôi tới tâm tình cảm tạ. Xin tạ ơn Chúa đã chỉ cho tôi một hướng đi cho một thời. Xin cảm ơn mọi người đã cùng nhau cộng tác. Trong cảm tạ có sám hối chân thành vì bao yếu đuối. Từ đây là những hơi thở phó thác: "Lạy Cha, con xin dâng phó linh hồn con trong tay Cha" (Lc 23,46).

 

Bùi-Tuần 1082: LÀM CHỨNG CHO CHÚA GIÊSU 11-11-2008

+ GB Bùi Tuần
 

Trước khi về trời, Chúa Giêsu truyền dạy các môn đệ Người một điều tâm huyết: "Các con sẽ: 11-11-2008 Bùi-Tuần 1082

Trước khi về trời, Chúa Giêsu truyền dạy các môn đệ Người một điều tâm huyết: "Các con sẽ là chứng nhân của Thầy... cho đến tận cùng trái đất" (Cv 1,8).
Đó là lời sai đi. Mọi người tin theo Chúa phải đón nhận lời sai đi ấy  như một cách giữ đạo. Phải giữ đạo Chúa cách nào để cách đó làm chứng tốt nhất cho Thiên Chúa là tình yêu.
Tất nhiên cách giữ đạo hợp lý nhất để làm chứng cho Thiên Chúa tình yêu là sống bác ái. Hợp lý vì tất cả đều có cơ sở Lời Chúa.
1/ Lời Chúa hướng dẫn chọn lựa
Người tín hữu xin dứt khoát chọn đời sống bác ái để làm chứng cho Chúa. Vì lời Chúa đã rất rõ ràng. Chỉ xin trích vài lời:
a) Chúa phán: "Mọi người sẽ nhận biết các con là môn đệ Thầy ở điều này: là các con có lòng thương yêu  nhau" (Ga 13,35).
b) Chúa gọi: "Hãy đến đây. Hỡi những kẻ Cha Thầy chúc phúc. Vì Thầy đau yếu, các con đã viếng thăm... Thầy bảo thật các con: Điều gì các con làm cho một trong những người anh em bé nhỏ nhất của Thầy là các con đã làm cho chính Thầy vậy" (Mt 25, 34.36.40).

c) Thánh Gioan dặn dò: "Chúng ta hãy yêu thương nhau, vì tình yêu bắt nguồn từ Thiên Chúa. Phàm ai yêu thương, thì đã được Thiên Chúa sinh ra, và người ấy biết Thiên Chúa. Ai không yêu thương thì không biết Thiên Chúa, vì Thiên Chúa là tình yêu" (1 Ga 4,7-8).
Những lời Kinh Thánh trên đây giúp chúng ta an tâm, khi chọn đời sống bác ái như một cách giữ đạo có sức làm chứng cho Chúa.
Nói là giúp cho chúng ta an tâm khi chọn lựa con đường bác ái. Bởi vì luôn có những lôi cuốn giục chúng ta muốn chọn lựa những con đường khác. Như chọn làm chứng bằng những quy tụ đông đảo, bằng cơ sở tôn giáo hoành tráng, bằng cơ cấu chặt chẽ, bằng lễ hội tưng bừng. Tất nhiên những chọn lựa đó cũng có lý của nó. Nhưng không thay thế được con đường bác ái yêu thương.
Tất nhiên không phải yêu thương nào cũng là bác ái làm chứng cho Chúa. Chỉ có thứ nội dung yêu thương đã được lời Chúa chỉ dạy. Vắn tắt như sau:
2/ Lời Chúa chỉ dẫn nội dung
a) "Bác ái thì nhẫn nhục, hiền hậu, không ghen tương, không vênh vang, không tự đắc, không làm điều bất chính, không tìm tư lợi, không nóng giận, không nuôi hận thù, không mừng khi thấy sự gian ác, nhưng vui khi thấy điều chân thật.
"Đức ái tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, hy vọng tất cả, chịu đựng tất cả" (1 Cr 13,4-7).
b) "Lòng bác ái không được giả hình giả dối. Anh em hãy ghét điều dữ, tha thiết với điều lành, thương mến nhau với tình huynh đệ, coi người khác trọng hơn mình, nhiệt thành không trễ nải, lấy tinh thần mà phục vụ Chúa.
"Hãy vui mừng vì có niềm hy vọng, cứ kiên nhẫn lúc gặp gian truân, và chuyên cần cầu nguyện. Hãy chia sẻ với các thánh đang lâm cảnh thiếu thốn, và ân cần tiếp đãi khách đến nhà.
"Hãy chúc lành cho những kẻ bắt bớ anh em, chúc lành chứ đừng chúc dữ, nguyền rủa. Vui với người vui, khóc với người khóc. Hãy đồng tâm nhất trí với nhau, đừng tự cao tự đại, nhưng ham thích những gì hèn mọn.
"Anh em đừng cho mình là khôn ngoan, đừng lấy ác báo ác... Hãy làm tất cả những gì anh em có thể làm được, để sống hoà thuận với nhau" (Rm 9-18)
Những lời Kinh Thánh trên đây về nội dung yêu thương cho thấy một nội tâm sâu xa phong phú. Hiểu như vậy, chúng ta sẽ thấy con đường bác ái để làm chứng cho Chúa không đơn giản chỉ là vấn đề chia sẻ, phục vụ về vật chất, mà còn là một chiều kích nội tâm thiêng liêng. Chiều kích thiêng liêng đó là một nguồn sống thiêng liêng có sức biến đổi con người và xã hội.
Một nội dung yêu thương bác ái như thế là một thực tế không dễ dàng.
3/ Lời Chúa hé mở một thực tế không dễ dàng
Sống bác ái yêu thương với nội dung đặt nặng về nội tâm đòi nhiều phấn đấu, nhiều từ bỏ, phải đi vào cửa hẹp.
Chúa Giêsu phán: "Ai muốn theo Thầy phải từ bỏ mình, vác thập giá mình mà theo" (Mt 16,24).
Đòi hỏi đó là đi vào cửa hẹp. Nhưng, đi vào cửa hẹp là điều không dễ. Chúa phán: "Tất cả những gì các con muốn người ta làm cho mình, thì chính các con cũng hãy làm cho người ta, vì Luật Maisen và lời các ngôn sứ là thế.
"Hãy qua cửa hẹp mà vào, vì cửa rộng và đường thênh thang thì đưa đến diệt vong, mà nhiều người lại đi qua đó. Còn cửa hẹp và đường chật thì đưa đến sự sống, nhưng ít người tìm được lối ấy" (Mt 7,12-14).
Lời Chúa trên đây hé mở cho thấy một thực tế không dễ dàng. Thực tế là nhân loại luôn đợi chờ một đời sống yêu thương bác ái của người công giáo, như đợi chờ một kho tàng phong phú, đầy sức hấp dẫn. Họ đợi chờ như khao khát một sức thiêng giải cứu họ cho khỏi những ích kỷ, giả dối và ghen ghét trên đời này.
Nhưng xem ra họ chưa tìm được nhiều như lòng mong ước. Họ chỉ dám thầm mong: Ước chi mọi người công giáo sống thực sự yêu thương bác ái như Chúa Giêsu. Ước chi không có khoảng cách lớn giữa lý thuyết và thực tế về bác ái yêu thương nơi các cộng đoàn công giáo.
Chúng ta cảm tạ Chúa vì nhiều người công giáo chúng ta đã và đang cố gắng đáp ứng những "ước chi" đó. Chúng ta ngợi khen Chúa vì bao sự lạ lùng Chúa đã và đang làm nơi những chứng nhân bác ái tại Việt Nam hôm nay. Đức tin của họ được phiên dịch ra bác ái. Ngôn ngữ bác ái được coi là dễ hiểu và có sức truyền giáo đối với mọi người.

 

Bùi-Tuần 1083: DIỄN TẢ TÌNH YÊU 21-12 -2008

 + GB. BÙI TUẦN
 

Tình yêu là vô hình. Vô hình nên cần được diễn tả ra bằng hữu hình. Tình yêu Thiên Chúa: 21-12 -2008 Bùi-Tuần 1083

Tình yêu là vô hình. Vô hình nên cần được diễn tả ra bằng hữu hình. Tình yêu Thiên Chúa là thiêng liêng. Thiêng liêng nên cần được diễn tả ra bằng vật chất để con người dễ hiểu.
Chúa đã diễn tả tình yêu vô hình và thiêng liêng của Người bằng cách nào? Thưa bằng sự: "Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta" (Ga 1,14).
1/ Thiên Chúa diễn tả tình yêu
Ngôi Lời nhập thể là cách Thiên Chúa diễn tả tình yêu của Người đối với nhân loại. Khi thấy con người Giêsu, nhân loại phải nhìn sâu hơn, để nhận ra đó chính là một cách Thiên Chúa diễn tả tình yêu của Người.
Trong cách diễn tả này, tình yêu Thiên Chúa đã bước xuống, chấp nhận nhập thể, để làm người. "Người đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế" (Pl 2,7).
Tình yêu được diễn tả như vậy nói lên sự từ bỏ mình vì yêu thương. Sự từ bỏ mình như thế là chọn lựa rất tự do của Thiên Chúa toàn năng, vô cùng khôn ngoan, vô cùng sáng suốt, vô cùng thông hiểu. Chính vì thế, mà chọn lựa ấy là vô cùng cao quý. Chọn lựa quý giá ấy dạy chúng ta phải biết cách diễn tả tình yêu của chúng ta.
2/ Chúng ta diễn tả tình yêu đối với Chúa
Chúng ta là loài có xác thịt, mang nặng vật chất, nên không lạ gì chúng ta phải diễn tả tình yêu chúng ta ra những dấu chỉ mang tính vật chất. Tình yêu là vô hình, nên không lạ gì chúng ta phải diễn tả tình yêu chúng ta ra những dấu chỉ hữu hình.
Thiết tưởng diễn tả đó là cần thiết. Nhưng, trong diễn tả đó, cần để ý những điểm sau đây:
a) Phải vượt qua những hình thức diễn tả.
Hình thức diễn tả chỉ có giá trị thực, khi nó quy chiếu về sự nó diễn tả. Thí dụ chúng ta làm một hang đá Belem huy hoàng, với bộ tượng sinh nhật xinh xắn. Đó chỉ là một hình thức diễn tả biến cố Chúa giáng trần đã xảy ra hơn hai  ngàn năm trước đây. Biến cố xưa ấy nói lên tình yêu Thiên Chúa đối với nhân loại.
Nếu chúng ta ngắm nhìn hang đá và bộ tượng sinh nhật như một kỳ công mỹ thuật, hoặc nhìn cảnh đó như nhìn lạnh lẽo một kỷ niệm lịch sử đơn thuần, thì cái nhìn đó của chúng ta sẽ không đọc được gì về tình yêu Thiên Chúa.
Nhìn hình thức hữu hình, để chạm được nội dung vô hình, mới đúng là đón nhận được ý nghĩa tình yêu đàng sau hình thức diễn tả.

b) Phải ý thức về khoảng cách giữa hình thức diễn tả và chính tình yêu muốn diễn tả.
Dịp lễ Sinh nhật, nhiều nơi thi nhau diễn tả tình yêu Thiên Chúa giáng trần bằng những cách khác nhau, như trang trí nhà thờ thêm đẹp, làm hang đá rực rỡ, lễ nghi phụng vụ trang nghiêm, diễn nguyện có mỹ thuật, thăm viếng nhau vui vẻ, chia sẻ số phận với những người nghèo, cô đơn, bệnh tật... Cách diễn tả nào cũng có cái hay của nó. Nhưng cách diễn tả nào cũng có một khoảng cách rất xa đối với chính tình yêu Thiên Chúa nhập thể.
Ý thức được điều đó sẽ giúp chúng ta tìm cách rút vắn khoảng cách lại. Nếu không, sẽ có những khoảng cách tệ hại, biến lễ Sinh nhật thành những lễ hội, trống vắng nội dung Phúc Âm.

c) Phải thực sự có lửa thiêng liêng, và biết đón nhận lửa ấy.
Không có gì khó diễn tả bằng tình yêu nhập thể, tình yêu cứu độ. Nhưng đã có những diễn tả đơn sơ, và đã có những người đọc được nội dung tình yêu ấy.
Nơi hang đá Belem, Chúa Hài đồng đã diễn tả tình yêu cứu độ bằng sự nhập thể trong cảnh khó nghèo, bé mọn, khiêm cung, hoà nhập. Diễn tả đơn sơ đó là rất can đảm, đầy lửa. Đức Mẹ và thánh Giuse đã đọc ý nghĩa của sự diễn tả, đã đón nhận được lửa tình yêu bằng cách diễn tả bình dị ấy.
Vấn đề đặt ra cho chúng ta là, khi diễn tả tình yêu cứu độ, chúng ta phải có tình yêu cứu độ thực nồng nàn. Có được lửa đó sẽ được kể là có hy vọng. Những người đón nhận sẽ nhiều hay ít, điều đó sẽ không là trách nhiệm của chúng ta. Trách nhiệm của chúng ta là, khi diễn tả tình yêu cứu độ, chúng ta phải thực sự có lửa tình yêu đó.

3/ Chúng ta diễn tả tình yêu đối với người khác
Hiện nay, Noel đang trở thành lễ của các liên đới. Người ta chúc mừng nhau, gởi thiệp tặng quà cho nhau.
Càng ngày, cách diễn ta tình yêu dịp Noel càng sôi động, phong phú.
Nhưng, nếu không để ý, thì cách diễn tả đó dễ trở thành máy móc lạnh, xã giao trống. Hình thức nhớ đến nhau chỉ là những con số tẻ nhạt, dễ lầm, trong một đại trà không chân dung.
Trái lại, khi có sự chân thành trân trọng, thì sẽ khác.
Dịp Noel sẽ là dịp thắp sáng lên những liên đới. Nhiều liên đới được thắp sáng, sẽ diễn tả được phần nào lịch sử một cá nhân, một cộng đoàn tôn giáo, một xã hội.
Khi những thắp sáng đó chia sẻ được tình yêu nhập thể cứu độ của Chúa giáng sinh, chúng sẽ dần dần hình thành nên một thế giới bình an. Bởi vì thế giới đó có sự hiện diện của Thiên Chúa tình yêu. Thời gian có Đấng Đời Đời.

 

Bùi-Tuần 1084: THÁNH GIUSE, CON NGƯỜI KHÔN NGOAN

19-03 -2009
 

Tại Việt Nam, thánh Giuse được tôn kính đều khắp. Nơi thì đề cao ở Ngài vai trò gia trưởng. Chỗ 19-03-2009 Bùi-Tuần 1084

Tại Việt Nam, thánh Giuse được tôn kính đều khắp. Nơi thì đề cao ở Ngài vai trò gia trưởng. Chỗ thì nhấn mạnh nơi Ngài chức vị Đấng bảo vệ Hội Thánh.
Dù với xu hướng nào, hầu như mọi người tôn sùng thánh Giuse đều nhìn Ngài là một Đấng thánh khôn ngoan. Khôn ngoan trong việc bảo vệ thánh gia. Khôn ngoan trong việc bảo vệ Hội Thánh.
Khôn ngoan nói đây là thứ khôn ngoan được ca ngợi trong sách Khôn Ngoan của Cựu Ước. Khôn ngoan đó cũng được Chúa Giêsu khuyên nhủ và khen thưởng nhiều lần trong Tân Ước.
Ở đây, suy gẫm của tôi về sự khôn ngoan nơi thánh Giuse sẽ để ý đến ba lãnh vực, mà sự khôn ngoan của Ngài được sáng tỏ:
- Khôn ngoan của nghề nghiệp.
- Khôn ngoan của Lời Chúa.
- Khôn ngoan của chiêm niệm.

1/ Khôn ngoan của nghề nghiệp
Trước hết, thánh Giuse được Kinh Thánh giới thiệu là ông thợ mộc. Dân làng gọi Ngài bằng tên một người có nghề.
Có một nghề, đó là một danh dự. Kẻ được thụ hưởng, mà không có nghề, vẫn không được kính trọng.
Nghề mộc có nhiều liên hệ tốt. Như liên hệ trực tiếp với thiên nhiên. Cây gỗ là một chất liệu của thiên nhiên. Thiên nhiên có trước nghề mộc. Người thợ mộc đẽo gọt nó thành dụng cụ, để phục vụ con người.
Khi phục vụ con người bằng nghề mộc, người ta có những liên hệ trực tiếp với đủ loại người. Những liên hệ đó không chỉ trong vấn đề tiền công, mà còn trong những lãnh vực đòi thăng tiến nghề nghiệp: Làm sao sản phẩm của mình có những tiến tới về sáng tạo, về mỹ thuật. Nó chứng tỏ phần nào óc thông minh và ý chí.
Từ những liên hệ trực tiếp với con người, thánh Giuse đã có những liên hệ về cuộc đời. Những cuộc đời khát vọng và thất vọng. Những cuộc đời nụ cười và nước mắt.
Thánh Giuse coi mình cũng như mọi người. Ngài hoà mình vào cuộc đời. Ngài ở giữa mọi người, kiếm sống như mọi người. Họ và Ngài có những liên hệ quen thân.
Từ những kinh nghiệm đó, thánh Giuse rút ra sự khôn ngoan cần thiết, để nuôi dưỡng và bảo vệ thánh gia. Những liên hệ thân thương hài hoà sẽ bảo vệ thánh gia một cách có hiệu quả.

2/ Khôn ngoan của Lời Chúa
Khi nhận được lời thiên thần báo mộng, thánh Giuse hiểu đó là ý Chúa. Chúa muốn trao cho Ngài một nhiệm vụ hết sức quan trọng. Nhiệm vụ đó là bảo vệ Đức Maria và Hài nhi Giêsu.
Mặc dù sự việc coi như có phần nghịch lý, nhưng thánh Giuse vẫn vâng phục. Ngài giữ luật đời, luật đạo, và vâng phục kế hoạch Chúa trao cho Ngài.
Ngài tin chắc Lời Chúa là con đường phải đi.
Sức mạnh xây dựng niềm tin nơi Ngài là ơn thiêng của Chúa Thánh Thần. Ơn thiêng ấy tác động từ bên trong tâm hồn, đi đôi với báo mộng. Ngài đón nhận như ơn gọi, một ơn gọi chỉ dành riêng cho Ngài.
Ngài sống ơn gọi đó một cách khiêm nhường. Khiêm nhường nên giữ kín. Khiêm nhường nên vẫn khó nghèo. Khiêm nhường là môi trường cho ơn gọi của Ngài được phát triển. Phát triển một cách sâu rộng, từ ý thức, đến tiềm thức, vô thức.
Nếu ồn ào, phô trương, Ngài sẽ không bảo vệ được thánh gia.
Chính vì Lời Chúa được đón nhận và thực hiện một cách khiêm nhường, mà thánh Giuse có được sự khôn ngoan. Sau này thánh Phaolô tông đồ gọi đó là sự khôn ngoan của thánh giá. Chính sự khôn ngoan này đã giúp thánh Giuse bảo vệ Đức Mẹ và Chúa Giêsu một cách rất hiệu quả qua biết bao thử thách.

3/ Khôn ngoan của chiêm niệm
Ngôi Hai xuống thế làm người, đó là một sự kiện. Sự kiện cao cả đó đã được Ngài nhìn thấy và chạm tới. Sự kiện ấy không xuất hiện như một sự kiện, nhưng như là một mầu nhiệm. Thánh Giuse chiêm niệm mầu nhiệm ấy, một mầu nhiệm luôn sống động bên Ngài.
Chiêm niệm đã cho Ngài khám phá thấy sự tự hạ lạ lùng của Đấng Cứu thế.
Thánh Phaolô viết: "Đức Giêsu Kitô, vốn dĩ là Thiên Chúa, mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế" (Pl 2,6-7).
Khám phá trên đây của thánh Phaolô đã là chứng kiến của thánh Giuse. Nếu tìm lý do tại sao Chúa Giêsu đã có một chọn lựa tự hạ như vậy, thì câu trả lời vẫn là: mầu nhiệm của tình yêu Chúa.
Một tình yêu dùng sự tự hạ và thánh giá, để chiến thắng tội lỗi và xây dựng Nước Trời là nước tình yêu.
Một tình yêu đơn sơ và thiết thực, để đưa người ta đi vào cuộc sống thân mật của Chúa giàu lòng thương xót.
Một khi đã được nếm sự ngọt ngào của mầu nhiệm tình yêu Chúa, thánh Giuse chỉ còn biết đi sâu vào thân phận nghèo khó, bé mọn. Ý nguyện đó được Chúa thực hiện qua đời sống kín đáo và cái chết thầm lặng của thánh Giuse. Như thế là để tập trung vào điểm chính là Đức Giêsu Kitô. Đó là sự khôn ngoan của đời chiêm niệm.
Suy gẫm trên đây khiến tôi khát khao sự khôn ngoan của thánh Giuse. Khát khao có nghĩa là chưa có. Khát khao cũng có nghĩa là đi tìm.
Tôi chưa có, nên tôi đi tìm. Trên đường đi tìm, tôi luôn cầu nguyện cho tôi gặp được thánh Giuse. Tôi tin Ngài thương tôi, bây giờ và suốt đời. Sao cho suốt đời tôi luôn được chia sẻ phần nào sự khôn ngoan, mà Chúa đã ban cho Ngài.
Chúng ta cần rất nhiều khôn ngoan để có thể bảo vệ Hội Thánh, nhất là trong những tình thế phức tạp.
+GM. Bùi Tuần

 

Bùi-Tuần 1085: NĂM LINH MỤC 22-06-2009

Lễ Thánh Tâm Chúa Giêsu năm nay là ngày khai mạc năm Linh mục. Quyết định trên đây của 22-06-2009 Bùi-Tuần 1085

Lễ Thánh Tâm Chúa Giêsu năm nay là ngày khai mạc năm Linh mục.
Quyết định trên đây của Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI kêu mời mọi tín hữu nói chung và các linh mục nói riêng hãy đến với thánh tâm Chúa Giêsu. Thánh tâm Chúa là biểu hiện tình yêu cứu độ của Chúa. Trong năm linh mục, chúng ta đến với tình yêu đầy xót thương ấy để xin ơn thánh hoá cho cho các linh mục, và xin cho chúng ta biết nâng đỡ linh mục theo thánh ý Chúa.
I.
Đến ở đây được hiểu thế nào? Tôi xin phép chia sẻ một chút riêng tư.
1/ Đến trước hết là khao khát
Khao khát Chúa, vì Chúa là tình yêu cứu độ. Khao khát chính trái tim Chúa đầy lửa tình yêu. Khao khát với niềm tin khiêm tốn.
Chúa Giêsu phán: "Ai khát, hãy đến với Thầy. Ai tin vào Thầy, hãy đến mà uống. Như Kinh Thánh đã nói: Từ lòng Người sẽ tuôn chảy ra những dòng nước hằng sống" (Ga 7,38).
Khao khát như vậy không đồng nghĩa với đi tìm. Phúc Âm cho thấy chính Chúa Giêsu đã trách một số người đi tìm Người. Bởi vì họ đi tìm Người, để thử Người, để tò mò, để tranh cãi, để bắt bớ.
Khi chúng ta đến bên Chúa với lòng khao khát thực sự, chúng ta sẽ gặp được một Đức Kitô luôn làm theo ý Chúa Cha là Đấng sai Người đi. Lúc ấy, chúng ta sẽ dần dần đọc rõ được ý nghĩa lời Người đã phán xưa: "Lương thực của Thầy là thi hành ý muốn của Đấng đã sai Thầy, và hoàn tất công trình của Người" (Ga 4,34).
Công trình của Chúa Cha trao cho Đức Kitô là cứu độ nhân loại, bằng cách tự hiến mình chịu tử nạn để "xoá tội trần gian" (Ga 1,21).
Thêm vào niềm khao khát là sự kết hợp mật thiết.
2/ Đến là kết hợp mật thiết
Chúa Giêsu phán: "Thầy là cây nho. Chúng con là cành. Ai ở lại trong Thầy, và Thầy ở trong người ấy, thì người ấy sinh nhiều hoa trái. Vì không có Thầy, chúng con không làm gì được" (Ga 15,5).
Khi đến với Chúa Giêsu mà lòng ta kết hợp với Người, thì tình yêu cứu độ của Người sẽ thanh luyện ta, để ta có thể nhận thấy Chúa hiện diện trong các bí tích, trong Hội Thánh, trong lịch sử, trong cả những biến cố tầm thường và ẩn dật xảy ra mỗi ngày của đời ta.
Tâm tình kết hợp và khao khát sẽ làm nảy sinh ra niềm tin tuyệt đối vào Đức Kitô.
3/ Đến là tin tuyệt đối
Chúa phán: "Chính Thầy là đường, là sự thực và là sự sống" (Ga 14,6). Ta xác tín như vậy. Xác tín ấy đặt các phương tiện vào chỗ của chúng, để tôn vinh Chúa Giêsu lên chỗ nhất. Chỉ có Chúa là đường, là sự thực và là sự sống. Đó là giá trị nền tảng, căn bản.
II.
Đến đây, chúng ta có thể tạm kết luận được rằng: Niềm khao khát, tâm tình kết hợp và lòng tin tuyệt đối sẽ làm nên một chiều kích thiêng liêng giúp mọi tín hữu, cách riêng các linh mục, được thuộc trọn vẹn về Chúa Giêsu.
Tuy nhiên, chiều kích thiêng liêng ấy là một ơn đặc biệt Chúa ban. Chúa sẽ ban ơn ấy cho những ai biết đón nhận qua con đường cầu nguyện, suy niệm Lời Chúa, và vâng theo ý Chúa. Với những việc đạo đức đó, chiều kích thiêng liêng đặc biệt kia sẽ dần dần đổi mới con người chúng ta.
Thời nay, phong trào thế tục cực đoan đang tàn phá dã man các giá trị thiêng liêng. Thế giới đang rơi vào một khủng hoảng trầm trọng về đạo đức.
Để cứu đời, để cứu Hội Thánh, để cứu chính bản thân chúng ta, chúng ta hãy đến với Chúa Giêsu là tình yêu cứu độ. Không phải đến một mình, mà là đến cùng với các linh mục của chúng ta. Các ngài đang rất cần ơn Chúa cứu độ cho chính bản thân các ngài, cho mục vụ của các ngài, cho việc truyền giáo của các ngài.
Tôi tin tưởng: Chúa Giêsu với tình yêu cứu độ đầy xót thương sẽ ban dồi dào ơn thánh hoá cho các linh mục. Đồng thời cũng sẽ ban cho chúng ta ơn biết nâng đỡ linh mục bằng những cách mà thánh ý Chúa mong chờ.
Xin thánh Gioan Viannê, quan thầy các cha sở, cùng với các thánh linh mục khác, cầu nguyện cho Năm Linh Mục được trở thành một năm hồng ân cho Hội Thánh Việt Nam chúng ta.
ĐGM GB Bùi Tuần

 

Bùi-Tuần 1086: TRUYỀN GIÁO NHỜ ƠN THÁNH 18-10-2009

+ GB. BÙI TUẦN
Bài giảng trong thánh lễ Truyền giáo
 

Lễ Truyền giáo tại Long Xuyên năm nay kèm theo một đại hội. Đại hội mang tên: "Kể chuyện Chúa 18-10-2009 Bùi-Tuần 1086

Lễ Truyền giáo tại Long Xuyên năm nay kèm theo một đại hội.
Đại hội mang tên: "Kể chuyện Chúa Giêsu qua gương thánh Quý và thánh Phụng tại An Giang". Đây là đại hội truyền giáo.
Để tham gia đại hội này, tôi xin phép kể chuyện của tôi.
Cách đây mấy ngày, trước ngủ đêm, tôi xin Chúa thương cho tôi biết, tôi có thể đóng góp gì cho đại hội.
Trong giấc ngủ, tôi chiêm bao thấy: Tôi được tham dự một thánh lễ. Chủ tế là Thánh Quý. Ngài bảo tôi báo cho những người tôi gặp: Hãy tìm giấy trắng đẹp, viết trên đó lời cầu truyền giáo có sẵn trong phụng vụ, rồi đem đến cho Ngài, để Ngài dâng lên Chúa trong thánh lễ.
Tôi đi hỏi người này, gặp người kia. Họ cố tìm kiếm giấy trắng đẹp. Nhưng chưa tìm được. Chỉ toàn loại giấy xấu. Tôi lúng túng, đau lòng. Chính lúc đó, tôi thức dậy.
Trong giây lát, tôi hiểu ý nghĩa giấc mơ. Ý nghĩa đó là về truyền giáo. Người truyền giáo có 3 việc phải làm:
Một là các phương tiện để viết Tin Mừng phải như tờ giấy trắng đẹp. Việc làm phải trong sáng. Lời nói phải trong sáng. Đời sống phải trong sáng.
Hai là Tin Mừng viết ra phải lấy từ Phúc Âm, từ Hội Thánh. Tin Mừng đó là Đức Giêsu Kitô. Truyền giáo là truyền sự sống Đức Kitô vào các linh hồn. Chứ không phải là xây dựng cơ sở, cơ chế hay tư lợi cho riêng mình hoặc cho cộng đoàn mình.
Ba là chính người truyền giáo phải kết hợp việc mình làm với thánh lễ Chúa Giêsu dâng mình trên thánh giá.
Nhắn nhủ trên đây là một cách nhắc lại lời thánh Phaolô: "Anh em hãy hiến dâng mình làm của lễ sống động, thánh thiện đẹp lòng Chúa. Anh em đừng rập theo thói đời này, nhưng hãy hoán cải con người anh em bằng cách đổi mới tâm hồn, hầu có thể nhận ra đâu là ý Thiên Chúa, cái gì là tốt, cái gì đẹp lòng Chúa, cái gì hoàn hảo" (Rm 12,1-2).
Như vậy, người truyền giáo phải luôn luôn đi tìm ơn thánh. Ơn thánh ở những phương tiện trong sáng thánh thiện, ở sự kết hợp với Hội Thánh, ở cầu nguyện và lễ tế của Chúa Giêsu trên thánh giá, ở sự vâng phục thánh ý Chúa.
Cách đây ít năm, gia đình Thánh Phụng có tặng tôi một hột lấy từ xâu chuỗi của Ngài. Nhìn hột gỗ đơn sơ đó, tôi thấy thánh Phụng của chúng ta đã tìm sức mạnh thiêng liêng ở kinh Mân Côi, để cùng Đức Mẹ Maria sống vâng phục ý Chúa.
Hai thánh của chúng ta đã coi ơn thánh là căn bản trong việc truyền giáo, và làm chứng cho Chúa. Ơn thánh, thánh thiện là hết sức quan trọng trong truyền giáo.
Lịch sử truyền giáo cho thấy: Người truyền giáo đích thực phải được đào tạo. Đấng đào tạo họ là chính Chúa Thánh Thần. Người đào tạo họ thường xuyên bằng những hoán cải và những phẫu thuật thiêng liêng. Nhờ đó, họ phản chiếu gương mặt của Chúa Giêsu.
Để kết bài chia sẻ này, tôi xin phép nhắc lại lời Chúa Giêsu đã phán xưa: "Không có Thầy, chúng con chẳng làm gì được" (Ga 15,5). "Và đây, Thầy sẽ ở với chúng con mọi ngày cho đến tận thế" (Mt 28,20).
Long Xuyên, ngày 18 tháng 10 năm 2009

 

Bùi-Tuần 1087: LINH MỤC VÀ TỨ CHUNG 12-10-2009

+ GB. BÙI TUẦN
Nhân năm Linh Mục
 

Tháng 11 hằng năm, tại Giáo Hội Việt Nam, thói quen cầu nguyện cho các người đã qua đời 12-10-2009 Bùi-Tuần 1087

Tháng 11 hằng năm, tại Giáo Hội Việt Nam, thói quen cầu nguyện cho các người đã qua đời vốn được thực hiện sốt sắng. Nhân dịp này, nhiều linh mục hay giảng về Tứ Chung. Tứ chung là bốn đích điểm cuối cùng. Cũng gọi là bốn chân lý sau cùng.
Chết, Chúa phán xét, thiên đàng, hoả ngục là 4 chân lý sau cùng chờ đợi mỗi người ở cuộc đời này. Chuyến đi cuộc đời sẽ kết thúc ở những chân lý sau cùng ấy. Đó là một kết thúc quyết định, một kết thúc không thay đổi, một kết thúc dẫn vào hạnh phúc đời đời, hoặc khổ cực muôn kiếp.
Vì thế, sớm hay muộn, người ta sẽ phải rất cám ơn các linh mục giúp họ dọn mình đi vào tứ chung dưới ánh sáng đức tin.
Chia sẻ này là một cách dọn mình.
Chúng ta sẽ dọn mình bằng một số việc sau đây:
1/ Cần nhận thức một số vấn đề là quan trọng thực sự
Dưới ánh sáng Phúc Âm về 4 chân lý sau cùng, người tín hữu sẽ nhận ra một số vấn đề trong cuộc sống là hết sức quan trọng, như:
Vấn đề đạo đức. Đạo đức là giá trị cao nhất, cần có trong mọi giá trị trần thế. Phát triển kinh tế, khoa học, văn hoá, xã hội là tốt. Nhưng trong mọi phát triển đó cần phải có phát triển đạo đức.
Vấn đề gốc rễ đạo đức. Theo ánh sáng đức tin, gốc rễ đạo đức là Đức Giêsu Kitô. Vì thế, giá trị đạo đức thật không lệ thuộc vào hình thức, mà tuỳ thuộc vào căn bản là con người được biến đổi nên hình ảnh sống động của Đức Kitô. Nói cho đúng, người đạo đức là người được tham dự vào sự sống Đức Kitô. Họ cùng với Đức Kitô, kết hợp với Chúa Thánh Thần, sống theo thánh ý Chúa Cha là tình yêu thương xót.
Vấn đề những đòi hỏi của đạo đức Tin Mừng Đức Giêsu Kitô. Người đạo đức nhờ Đức Kitô, cùng với Đức Kitô và trong Đức Kitô sẽ phấn đấu đẩy lùi sự ác, phát triển sự thiện. Để những phấn đấu đó được trong sáng, người tín hữu sẽ cố gắng sống Lời Chúa, trong đó có Tám mối phúc thật. Lời Chúa, Tám mối phúc sẽ soi sáng cho việc xây dựng các liên đới với con người, với quê hương, với xã hội.
Với những nhận thức trên đây, người tín hữu sẽ hiểu hơn mục đích đời mình, thế nào là sống lành để được chết lành.
2/ Cần phải biết sợ thực sự
Trong Phúc Âm, Chúa đưa ra nhiều điều phải sợ. Thí dụ:
Sự bất ngờ về giờ Chúa đến. Người ta sẽ chết cách nào, nơi nào, giờ nào, trong tình trạng nào, tất cả đều có thể xảy ra một cách bất ngờ.
Sự bất ngờ về cách đánh giá của Chúa. Nhiều việc người ta tưởng là đạo đức. Nhưng Chúa lại không nhận là đạo đức.
Nhiều tính toán người ta cho là sáng danh Chúa. Nhưng Chúa lại cho là không hợp ý Chúa.
Nhiều nhân vật người ta cho là sẽ được Chúa khen thưởng. Nhưng Chúa lại cho biết là họ đã được khen thưởng ở đời này rồi, khỏi được khen thưởng đời sau.
Nhiều người mà dư luận cho là cao trọng, hoặc hèn hạ. Nhưng trước toà Chúa, Chúa lại đảo ngược lại. Kẻ đứng nhất sẽ xuống chót. Kẻ nghèo hèn sẽ trở thành giàu sang.
Bất ngờ lớn nhất là thiên đàng và hoả ngục. Thiên đàng có những hạnh phúc mà ở đời này, không ai tưởng tượng được. Hoả ngục có những khổ cực, mà hiện nay, người thế không ai có thể nghĩ tới được.
Vào cõi sau, người ta sẽ rất bất ngờ về bậc thang giá trị. Có những việc đời này tưởng là lợi, nhưng sẽ là hại. Có những chương trình kế hoạch đời này tưởng là sẽ trở thành hành trang tốt cho chuyến vào cõi sau, nhưng sẽ là ảo.
3/ Biết cậy trông phó thác thực sự
Cuộc giao tranh giữa thiện và ác hiện nay là rất phức tạp.
Ma quỷ có thể giúp con người thành công về nhiều mặt, kể cả về mặt tiền bạc, sức khoẻ, cơ sở, cơ chế. Chỉ trừ ơn thánh, thánh thiện là ma quỷ không giúp chúng ta được. Vì thế, người tín hữu phải rất tỉnh táo phân định. Kẻo sai lầm. Để được thế, chúng ta cần cậy trông phó thác.
Cậy trông phó thác thực sự đòi một thái độ khiêm nhường. Đức Mẹ Maria khiêm nhường nhận mình là nữ tỳ hè mọn của Chúa, rồi xin vâng phó thác.
Cậy trông phó thác thực sự đòi phải nhận biết mình nhỏ bé yếu hèn. Những trẻ thơ được Chúa Giêsu đưa ra như gương mẫu để vào Nước Trời, là vì chúng nhỏ bé yếu đuối.
Cậy trông phó thác vốn đi liền với nhận thức mình đang trong nguy kịch. Trên thánh giá, Chúa Giêsu than thở: "con xin dâng linh hồn con trong tay Cha" (Lc 25,46). Chúa Giêsu nói lời đó khi Người chìm trong vực thẳm cô đơn, đau đớn, sỉ nhục.
Cậy trông phó thác thực sự sẽ là một sự bỏ mình, sự tha thứ trong khiêm hạ, sự tập trung triệt để vào lòng Chúa thương xót.

Nhân loại hôm nay rất ngại nhìn thẳng vào 4 chân lý sau cùng. Hơn nữa, nhiều người còn trốn tránh. Hiện tình đó càng thôi thúc các linh mục nên giúp mọi người dọn mình đi vào 4 chân lý sau cùng với tinh thần cầu nguyện sâu xa.

 

Bùi-Tuần 1088: LINH MỤC VÀ TỈNH THỨC 26-10-2009

+ GB. BÙI TUẦN
Nhân năm Linh Mục
 

Tỉnh thức là điều kiện cần cho bất cứ ai muốn đi về phía trước. Tỉnh thức là điều kiện bắt buộc 26-10-2009 Bùi-Tuần 1088

Tỉnh thức là điều kiện cần cho bất cứ ai muốn đi về phía trước.
Tỉnh thức là điều kiện bắt buộc cho những người giao chiến.
Tỉnh thức là điều kiện không thể thiếu cho mọi người muốn thành công trong cuộc sống.
Chúa Giêsu đã khuyên các môn đệ Người phải tỉnh thức, vì lý do phần rỗi đời đời.
Ở đây, chỉ xin phép chia sẻ một vài thứ tỉnh thức, mà các linh mục nhiều kinh nghiệm đã trải qua trong đời.
1/ Tỉnh thức trước những cơn cám dỗ
Gọi là những cơn cám dỗ tất cả những gì xấu xúi ta phạm tội. Nhân tố xúi giục là xác thịt, thế gian, ma quỷ. Sự xấu đến với ta dưới nhiều hình thức, kể cả hình thức khoác áo đạo đức. Qua tư tưởng, ước muốn, tình cảm, trí vẽ. Cũng có thể nhờ trung gian quen thuộc gần gũi, như các người thân, bạn bè.
Nếu thiếu tỉnh thức, sự dữ sẽ vào tâm hồn ta mà không bị cản trở, nhất là trong những bất ngờ.
Nếu thiếu tỉnh thức, sự dữ sẽ ở lại trong tâm hồn ta, tác động vào mọi cơ năng nội tâm ta.
Nếu thiếu tỉnh thức, sự dữ sẽ được nuôi dưỡng, càng lúc càng mạnh.
Nếu thiếu tỉnh thức, sự dữ sẽ dần dần chiếm đoạt nội tâm ta, đến mức điều khiển, sai khiến và áp đảo nội tâm ta. Lúc đó, ta sẽ trở thành nô lệ sự ác. Để tránh lộ diện, ta và sự ác sẽ chung sống dưới một bề ngoài chững chạc.
Nếu không thức tỉnh và cương quyết dứt lìa sự ác, ta sẽ bị biến thể dần dần. Cơn cám dỗ ác liệt sẽ đến, đó là an phận trong sự ác mà lại tưởng mình ngon lành, hơn nữa, đôi khi còn dám khẳng định mình đạo đức hơn người khác. Sau cùng là đức tin bị đe doạ. Chúa Giêsu đã cho thánh Phêrô biết trước sẽ có trường hợp bi đát xảy ra cho ngài. Ngài chỉ được cứu khỏi cơn cám dỗ sau cùng, nhờ lời cầu nguyện của chính Chúa Giêsu. "Simon ơi. Kìa Satan đã xin được sàng anh em như người ta sàng gạo. Nhưng Thầy đã cầu cho anh để anh khỏi mất lòng tin" (Lc 22,31).
2/ Tỉnh thức trên con đường phục vụ
Con đường, mà linh mục chọn để sống, là Đức Giêsu Kitô. Con đường ấy được cụ thể hoá ở yêu thương phục vụ. Yêu thương phục vụ trong Đức Kitô, nhờ Đức Kitô, cùng với Đức Kitô, đòi hỏi sự từ bỏ mình, đi vào đường hẹp, và chấp nhận sự đối nghịch của Tám mối phúc.
Lý thuyết là như vậy. Linh mục biết rõ lý thuyết đó. Nhưng trong thực tế, có những chủ quan và ác thần xúi linh mục không bước theo đúng hướng mình phải chọn.
Đường ngoài phố có đèn đỏ đèn xanh rõ ràng, nhắc hướng cần đi vào và cấm vượt ranh giới. Còn trong lương tâm, linh mục không thấy rõ hệ thống đèn đỏ đèn xanh. Mình phải tự phán đoán, chọn lựa. Những cố vấn tối tăm đợi ở những hoạt động đó. Kết quả là nhiều khi mình tự cho phép mình vượt đèn đỏ vô hình, và cũng không đi theo hướng đèn xanh chỉ dẫn. Vài lần thấy quen. Rồi thấy xung quanh vô số người cũng làm như vậy. Thế là thành thói quen phạm lỗi trên đường phục vụ. Đến nỗi, linh mục xa rời con đường yêu thương phúc vụ Chúa và các linh hồn, để trở thành  những người phục vụ thành thạo trong lãnh vực tiền bạc, quyền lực, mà không biết sợ. Không sợ cả việc đẩy người ta xuống hoả ngục. Chúa phán với các kinh sư và Pharisêu: "Khốn cho các ngươi. Các ngươi rảo khắp biến cả đất liền, để rủ cho được một người theo đạo. Nhưng khi họ theo rồi, các ngươi lại làm cho họ đáng xuống hoả ngục gấp đôi các ngươi" (Mt 23,15).
3/ Tỉnh thức trước lối sống nguy hiểm
Sự tội thì ta dễ cảnh giác. Còn nguy hiểm thì nhiều khi ta không tỉnh thức.
Đối với linh mục, nguy hiểm đáng sợ nhất là lối sống không trưởng thành về đàng thiêng liêng. Thí dụ:
Đặt nặng hình thức bề ngoài, còn coi thường đời sống bên trong.
Ưu tiên cho các phương tiện vật chất, còn ơn thánh thì lại hững hờ.
Lao mình vào hướng hiếu động ồn ào, còn nội tâm thì lạnh lẽo.
Dễ dãi với những hưởng thụ, còn bổn phận khắc kỷ thì cho như lỗi thời.
Bám vào những công việc của Chúa, còn chính Chúa thì chỉ lướt qua.
Hoà mình vào chủ nghĩa tục hoá, còn những giá trị thiêng liêng căn bản thì tránh né.
Những lối sống trên đây thực rất nguy hiểm. Nhưng hiểm nguy lớn nhất là không nhận ra mình đang trong tình trạng nguy hiểm. Chỉ một chút quá đà là sẽ rơi vào cảnh trống vắng nội tâm, dễ bị quỷ dữ thống trị. Chúa nói về cảnh nội tâm bị bỏ trống thế này: "Quỷ thấy nhà bỏ trống, lại được quét tước trang hoàng hẳn hoi. Nó liền đi kéo thêm bảy thần khác dữ hơn nó, và chúng vào ở đó. Rốt cuộc tình trạng của người ấy còn tệ hơn trước" (Mt 12,44-45).


Tại Việt Nam hôm nay có nhiều dấu chỉ cho thấy Chúa đang đến. Chúa đến với từng người và với mọi người. Dấu chỉ là những thuận lợi và cả những khó khăn thử thách. Ai tỉnh thức sẽ nhận ra Chúa. Hơn mọi người, các linh mục sẽ nêu gương sáng về sự tỉnh thức đón Chúa và vâng phục thánh ý Chúa.

 

Bùi-Tuần 1089: BÁC ÁI HÔM NAY 04-11-2009

+ GB. BÙI TUẦN
 

Tờ báo Tuổi Trẻ ngày 3-11-2009 đã đăng một tin vui khác thường. Nhiều bạn đọc đã hân hoan 04-11-2009 Bùi-Tuần 1089

Tờ báo Tuổi Trẻ ngày 3-11-2009 đã đăng một tin vui khác thường. Nhiều bạn đọc đã hân hoan suy nghĩ.
Ông Philipp Roesler, tân Bộ Trưởng Y tế Đức là người gốc Việt. Đứa trẻ sơ sinh mồ côi được một cơ sở Dòng Chúa Quan Phòng tại Khánh Hưng, Sóc Trăng nuôi dưỡng. Chịu trách nhiệm trực tiếp là nữ tu Sylvia Giang Thị Hương và Martha Đỗ Thị Suốn. Đến 9 tháng tuổi, đứa bé mồ côi, qua trung gian Terre des Hommes, được hai vợ chồng người Đức nhận làm con nuôi. Đứa bé mang tên Đức là Philipp Roesler. Năm nay 36 tuổi, mới được chọn làm Bộ Trưởng Y tế của chính phủ bà Angela Merkel.
Đọc tin vui này, ai cũng ngạc nhiên, hân hoan và suy nghĩ. Tôi cũng vậy. Suy nghĩ của tôi có ba hướng:
1/ Hướng về Chúa Giêsu
Tôi nghĩ tới lời Chúa Giêsu đã phán: "Ta bảo thật các ngươi: Mỗi lần các ngươi làm sự lành cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi làm cho chính Ta vậy" (Mt 24,40).
Hồi đó, các nữ tu Chúa Quan Phòng tại Sóc Trăng đã nuôi dưỡng đứa trẻ sơ sinh bị bỏ rơi. Việc làm đó là một việc từ thiện. Nhưng Phúc Âm cho thấy việc từ thiện ấy được Chúa Giêsu nhận như là việc lành dành cho chính Người.
Chúa Giêsu hoà mình vào thân phận kẻ nghèo khó bé mọn. Người đồng hành với họ trên đường lữ thứ trần gian. Những ai muốn dấn thân làm chứng cho Chúa, xin hãy tìm đến các kẻ nghèo khó bé mọn. Làm sự lành cho họ là làm cho chính Chúa.
2/ Hướng về diện mạo thực của Hội Thánh
Tin vui vừa kể nhắc cho tôi nghĩ về bộ mặt thực của Hội Thánh. Bộ mặt đó là bác ái cứu độ.
Thánh Gioan gọi "Thiên Chúa là Tình yêu" (Ga 4,8).
Thánh Matthêu nhắc lại lời thiên thần gọi Đức Kitô là "Đấng Cứu độ" (Mt 1,21).
Thánh Phaolô kêu gọi tín hữu "Hãy lấy thiện mà thắng ác" (Rm 12,21).
Mấy lời Kinh Thánh vừa kể cho tôi thấy Hội Thánh của Chúa Giêsu phải là một Hội Thánh bác ái, cứu độ, lấy thiện thắng ác. Hình ảnh đó được tôi nhìn thấy trong chuỗi bác ái sống động trên đây. Từ các nữ tu, qua tổ chức Terre des Hommes, đến hai vợ chồng người Đức. Các nhân vật này giới thiệu một Hội Thánh âm thầm đầy tình thương bác ái.
3/ Hướng về giá trị của đau khổ
Thánh Phaolô viết: "Giờ đây, tôi vui mừng được chịu đau khổ vì anh em. Những gian nan thử thách Đức Kitô còn phải chịu, tôi xin mang lấy vào thân cho đủ mức, vì lợi ích cho thân thể Người là Hội Thánh" (Cl 1,24).
Bác ái kèm theo hy sinh, vất vả, nhọc nhằn. Câu chuyện từ thiện bác ái kể trên đã làm chứng cho lời thánh Phaolô. Những hình thức hy sinh kèm theo từ thiện bác ái luôn đa dạng.
Thánh Phaolô viết: "Lòng bác ái không được giả hình. Anh em hãy gớm ghét điều dữ, tha thiết với điều lành, thương mến nhau với tình huynh đệ, coi người khác trọng hơn mình" (Rm 12,9-10). Phấn đấu để được thế sẽ phải chịu nhiều khổ cực. Sống từ thiện bác ái thực sự đòi một sự quên mình, từ bỏ mình thường xuyên. Điều đó không dễ.

Trên đây là một thoáng suy tư của tôi từ một mảng tin. Xin chân thành cảm ơn báo Tuổi Trẻ. Xin chân thành cảm ơn mọi độc giả đã chia sẻ chút suy tư bé nhỏ này.
Long Xuyên, ngày 04/11/2009

 

Bùi-Tuần 1090: LINH MỤC VÀ NGƯỜI NGHÈO 09-11-2009

Nhân năm Linh Mục
 

Xét theo giàu nghèo, chúng ta có thể nói chung chung thế này: Giáo Hội Việt Nam chia thành hai 09-11-2009 Bùi-Tuần 1090

Xét theo giàu nghèo, chúng ta có thể nói chung chung thế này:
Giáo Hội Việt Nam chia thành hai phần: Một phần gồm những giáo phận giàu và những giáo xứ giàu. Một phần gồm những giáo phận nghèo và những giáo xứ nghèo. Khoảng cách giàu nghèo là khá lớn.
Nội bộ mỗi phần thì không đồng nhất. Giữa đa số người giàu vẫn có những thiểu số người nghèo chen vào. Giữa đa số người nghèo vẫn có những thiểu số người giàu nổi lên như những hòn đảo sang trọng. Khoảng cách giàu nghèo được nhận thấy rất rõ.
Linh mục được sai đi, đem Tin Mừng đến cho mọi người. Tuy nhiên, ngài không thể quên được dấu chỉ thuyết phục nhất về sự hiện diện của Chúa chính là đem Tin Mừng cho những người nghèo.
1/ Loan báo Tin Mừng cho người nghèo là dấu chỉ sự hiện diện của Chúa Cứu Thế
Phúc Âm thánh Mátthêu viết: "Ông Gioan lúc ấy đang ngồi tù, nghe biết những việc Đức Kitô làm, liền sai môn đệ đến hỏi Người rằng: Thưa Thầy, Thầy có đúng là Đấng phải đến không, hay là chúng tôi còn phải đợi ai khác? Đức Giêsu trả lời: Các anh cứ về thuật lại cho ông Gioan những điều mắt thấy tai nghe: Người mù xem thấy, kẻ què được đi, người cùi được sạch, kẻ điếc được nghe, người chết sống lại. Kẻ nghèo được nghe Tin Mừng" (Mt 11,2-5).
Chúa Giêsu trả lời thánh Gioan bằng các việc Người làm cho kẻ nghèo khó. Những việc đó chứng minh sự hiện diện của Đấng Cứu Thế.
Phúc Âm thánh Luca cũng kể ra những việc cụ thể Chúa Giêsu làm cho kẻ nghèo để chứng minh Người chính là Đấng tiên tri Isaia đã nói trước:
"Họ trao cho Chúa Giêsu cuốn sách ngôn sứ Isaia. Người mở ra, gặp đoạn chép rằng:
Thần Khí Chúa ngự trên tôi,
vì Chúa đã xức dầu cho tôi,
để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn.
Người đã sai tôi đi công bố
cho kẻ giam cầm biết họ được tha,
cho người mù biết họ được sáng mắt,
trả lại tự do cho người bị áp bức,
công bố một năm hồng ân của Chúa.
Đức Giêsu cuộn sách lại, trả cho người giúp việc hội đường, rồi ngồi xuống. Ai nấy trong hội đường đều chăm chú nhìn Người. Người bắt đầu nói với họ: Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh quý vị vừa nghe" (Lc 4,17-21).
Chúa Giêsu quả quyết Tin Mừng cho kẻ nghèo là dấu chỉ sự Chúa Cứu Thế hiện diện.
Đã hẳn, Tin Mừng được rao giảng cho mọi người. Nhưng, những việc bác ái dành cho kẻ nghèo được coi như bước đầu của việc rao giảng Tin Mừng. Hơn nữa, những việc cụ thể liên hệ với kẻ nghèo sẽ mãi mãi kéo dài trong mọi hình thức loan báo khác của Tin Mừng.
Đừng nói: Nếu không có người nghèo thì sao? Chúa Giêsu quả quyết: "Người nghèo thì lúc nào các ông chẳng có bên cạnh mình, các ông muốn làm phúc cho họ bao giờ mà chẳng được" (Mc 14,7). Thực tế cho thấy, số kẻ nghèo truyền thống hiện nay có bớt, nhưng vẫn còn la liệt vô số kể. Hơn nữa, hiện đang xuất hiện nhiều thứ nghèo mới còn bi đát hơn thứ nghèo truyền thống.
Những lời Chúa khẳng định trên đây về Tin Mừng cho người nghèo khó đã ảnh hưởng lớn đến mục vụ và truyền giáo thời Giáo Hội sơ khai. Đến nỗi, không chỉ là giúp đỡ người nghèo, mà mọi người đã bằng lòng chia sẻ của cải cho nhau, mỗi người lãnh  nhận tuỳ theo nhu cầu.
Sách Tông đồ Công vụ viết về họ như sau: "Tất cả các tín hữu hiệp nhất với nhau, và để mọi sự làm của chung. Họ đem bán đất đai của họ, lấy tiền chia cho mỗi người tuỳ theo nhu cầu" (Cv 2,44-45).
Hiện nay, vì tình hình đổi thay, sự chia sẻ của cải như thế chỉ còn rút gọn vào mấy cộng đoàn dòng tu. Tuy nhiên bổn phận giúp đỡ người nghèo vẫn được nhắc nhở một cách nghiêm khắc.
2/ Từ chối cứu người đói là giết họ
Công đồng Vaitcan II tuyên bố: "Các Giáo phụ và các Tiến sĩ Giáo Hội dạy rằng: Mọi người có bổn phận phải nâng đỡ người nghèo, không phải chỉ bằng của cải dư thừa. Còn  những kẻ sống trong cảnh cùng quẫn cực độ, họ có quyền lấy ở của cải người khác những gì cần thiết cho mình.
"Trước con số quá lớn những người đói khổ trong thế gian, thánh Công đồng thiết tha kêu gọi mọi người và mọi chính quyền nhớ lại lời sau đây của các Giáo phụ: Hãy cho kẻ sắp chết đói ăn, vì nếu không cho họ ăn, tức là đã giết chết họ" (Cđ. Vat. II, Giáo Hội trong thế giới hôm nay, số 69,-11).
Như vậy, từ Phúc Âm cho đến Công đồng, người nghèo vẫn là địa chỉ đã được ghi rõ, để linh mục tìm đến.
Đến với người nghèo là để thực hiện 3 việc này:
- Một là trao tặng họ một cứu giúp nào đó.
- Hai là sự cứu giúp đó là do tinh thần hy sinh từ bỏ của cải và bản thân mình.
- Ba là để theo Chúa Giêsu.
Ba việc trên đây rút từ Lời Chúa nói với  người thanh niên có nhiều của cải: "Nếu anh muốn nên hoàn thiện thì hãy đi bán tài sản của anh và đem cho người nghèo. Anh sẽ được một kho tàng trên trời. Rồi hãy đến theo tôi" (Mt 19,21-22).
Người nghèo không chỉ là người lãnh nhận. Nhưng họ cũng là người cho đi. Chúa Giêsu khen họ, cho dù những gì họ cho đi chẳng được bao nhiêu. Của ít mà lòng nhiều. Chuyện Đức Giêsu khen bà goá nghèo dâng 2 đồng tiền kẽm vào thùng dâng cúng ở Đền thờ, là một bằng chứng (x. Mc 12,41-44).

Như vậy, quan hệ của linh mục đối với người nghèo là một điều quan trọng. Hãy coi sự xót thương người nghèo là một cách làm chứng cho Chúa. Cách làm chứng này được coi là rất cần cho Việt Nam của chúng ta hôm nay.

 

Bùi-Tuần 1091: TINH THẦN KHÓ NGHÈO CỦA THÁNH GIUSE

 19-03 -2010
+ GB. BÙI TUẦN
 

Ơn gọi của thánh Giuse được Phúc Âm ghi lại một cách vắn tắt như sau: "Sứ thần Chúa hiện đến 19-03 -2010 Bùi-Tuần 1091

Ơn gọi của thánh Giuse được Phúc Âm ghi lại một cách vắn tắt như sau:
"Sứ thần Chúa hiện đến báo mộng cho ông rằng: Này ông Giuse, là con cháu Đavít, đừng ngại đón nhận bà Maria vợ ông về, vì người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần. Bà sẽ sinh con trai, và ông phải đặt tên cho con trẻ là Giêsu, vì chính Người sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ" (Mt 1,20-21).
1/ Hãy đón nhận
"Hãy đón nhận bà Maria", đó là ơn gọi chính yếu. Và theo mạch văn thì "Hãy đón nhận còn là đón nhận con trẻ mà bà Maria sẽ sinh ra". Thêm vào đó "Hãy đón nhận còn phải là đón nhận Chúa Thánh Thần".
Ơn gọi của thánh Giuse có thể gói gọn trong lời: "Hãy đón nhận".
Khi nghe lời kêu gọi đó, thánh Giuse hiểu mình chẳng là gì, chẳng có gì, chẳng đáng gì. Ngài đón nhận để sống ơn gọi. Đón nhận như một người nghèo khó.
Càng đón nhận một Đức Maria khó nghèo, thánh Giuse càng thấm thía sự  khó nghèo của Nước Trời là thái độ nền tảng của việc đón nhận Tin Mừng.
Càng đón nhận Chúa Giêsu khó nghèo, thánh Giuse càng hiểu rõ chính sự khó nghèo của Chúa Giêsu sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi.
Càng đón nhận Chúa Thánh Thần, thánh Giuse càng xác tín sâu sắc về sự quý giá của đức khiêm tốn khó nghèo thiêng liêng, trong chương trình cứu độ.
2/ Tinh thần nghèo khó
Nếu được phép gọi những bước đầu cuộc sống của thánh Giuse khó nghèo là mô hình của Hội Thánh tương lai, thì Hội thánh đó cũng đã được viết ra với những đặc điểm của sự khó nghèo. Xin tạm gọi đó là Hội Thánh của thánh Giuse.
Hội Thánh của thánh Giuse rất nghèo về của cải: Hang đá Bêlem, cảnh thiếu thốn bên Ai Cập, cuộc sống vất vả giữa xóm nghèo ở Nadarét.
Hội Thánh của thánh Giuse rất khó nghèo về quyền lực: Vâng phục quyền đời đi Bêlem để đăng ký. Không đối phó với ác vương, nên âm thầm trốn sang Ai Cập. Giữ trọn luật đạo từng chi tiết nhỏ, dưới quyền các thượng tế.
Hội Thánh của Thánh Giuse rất khó nghèo về quy tụ. Chỉ có những quy tụ nhỏ với những người bé nhỏ như tại hang đá Bêlem. Chỉ có những quy tụ nhỏ với vài người già cả như dịp dâng con trong đền thờ.
Chẳng có gì là hoành tráng, sang trọng, lẫy lừng và tự mãn cả.
Sự nghèo khó của Hội Thánh thánh Giuse là một cánh cửa mở ra, để đón nhận Đức Maria, Chúa Giêsu và Chúa Thánh Thần.
Các Đấng này mới chính là kho tàng của Hội Thánh thánh Giuse.
Nhận định trên đây là do ơn Chúa Thánh Thần.
Chúa Giêsu làm sáng tỏ thêm, khi mở đầu sứ vụ rao giảng, Người nói: "Thánh Thần Chúa ngự trên tôi" (Lc 4,18).
Với sự khẳng định đó, Chúa Giêsu nói rõ đối tượng ưu tiên của việc rao giảng Tin Mừng là đến với những người nghèo khó. "Người sai tôi đi rao giảng Tin Mừng cho những người nghèo khó" (Lc 4,18). Như thế, những người nghèo khó chính là những người, mà Hội Thánh thánh Giuse sẽ tìm phục vụ một cách đặc biệt.
Sống nghèo, tận tuỵ phục vụ người nghèo, đó là những nét nổi bật của Hội Thánh thánh Giuse. Sự sống nghèo và tận tuỵ phục vụ người nghèo làm nên tinh thần khó nghèo của Tám mối phúc. Tinh thần khó nghèo ấy vốn đi đôi với mọi đổi mới trong Hội Thánh.
3/ Đổi mới Hội Thánh
Khi sự đổi mới là sự trở về với Phúc Âm, thì luôn luôn kêu gọi đến tinh thần khó nghèo. Nghĩa là Hội thánh sẽ không bị ràng buộc vào của cải, quyền lực hay áp lực thế tục nào, nhưng biết đón nhận ơn Chúa Thánh Thần, vâng theo Chúa Thánh Thần.
Lịch sử Giáo Hội làm chứng điều đó. Có những thời sa sút. Có những nơi hư hỏng. Sức sống phục hưng vực dậy những thời đó nơi đó, chính là làm sống lại tinh thần khó nghèo Phúc Âm.
Mọi gương sáng của những vị cải cách Hội Thánh đều nổi bật tinh thần khó nghèo. Nhất là các đấng sáng lập dòng tu.
Điều nên để ý là tinh thần khó nghèo nơi các vị cải cách Giáo Hội bao giờ cũng dựa trên Kinh Thánh. Các ngài đọc Kinh Thánh, suy gẫm Kinh Thánh, để Lời Chúa soi dẫn. Thánh Thần Chúa sẽ ngự trên các ngài, đưa các ngài vào tinh thần khó nghèo đích thực có sức cứu độ.
4/ Nhìn vào Hội Thánh Việt Nam
Hội Thánh Việt Nam hôm nay đang trên đà phát triển. Không thiếu những phát triển về Tám mối phúc. Nhưng cũng không hiếm những phát triển về Bảy mối tội đầu. Có những phát triển tốt đáng gọi là do ơn Chúa Thánh Thần. Nhưng cũng có những phát triển không tốt do tinh thần thế tục hướng dẫn.
Nếu một lúc nào đó, Chúa muốn thanh luyện Hội Thánh chúng ta bằng cách đưa Hội Thánh chúng ta trở về mô hình của Hội Thánh thánh Giuse, thì chúng ta nên sẵn sàng.
Sẽ nghèo đi về mặt của cải. Sẽ nghèo đi về mặt quyền lực. Sẽ nghèo đi về mặt quy tụ. Sẽ nghèo đi về mặt tự mãn. "Sự nghèo đi" nói đây chủ yếu là sự giảm đi thái độ dính bén, chạy theo, làm nô lệ.
Chúng ta sẽ không dựa vào những thứ đó để sống Tin Mừng. Nhưng chúng ta sẽ tập trung vào sự đón nhận Chúa Thánh Thần bằng tinh thần nghèo khó.
Rồi Chúa sẽ làm những sự lạ lùng nơi Hội Thánh chúng ta. Bởi vì Hội Thánh chúng ta lúc đó sẽ nối tiếp Hội Thánh thánh Giuse.
Xin thánh Giuse thương giúp chúng ta hiểu giá trị của tinh thần khó nghèo, biết yêu mến tinh thần khó nghèo, luôn thực thi tinh thần khó nghèo.
Tinh thần khó nghèo sẽ cứu Hội Thánh chúng ta.

 

Bùi-Tuần 1092: TỈNH THỨC 19-03-2010

 + GB. BÙI TUẦN
Bài giảng lễ Thánh Cả Giuse ngày 19-3-2010 Tại nhà thờ Chánh Toà Long Xuyên
 

Một đặc điểm nổi bật nơi thánh Giuse là sự tỉnh thức. Ngài tỉnh thức, mau vâng ý Chúa, trong việc 19-3-2010 Bùi-Tuần 1092

Một đặc điểm nổi bật nơi thánh Giuse là sự tỉnh thức.
Ngài tỉnh thức, mau vâng ý Chúa, trong việc đón nhận Đức Maria về với mình (x. Mt 1,18-25).
Ngài tỉnh thức, mau vâng ý Chúa, trong việc cùng Đức Maria đi sang Belem (x. Lc 2,1-5).
Ngài tỉnh thức, mau vâng ý Chúa, trong việc đưa Đức Maria và hài nhi Giêsu trốn sang Ai Cập (x. Mt 2,13-14).
Ngài tỉnh thức, mau vâng ý Chúa, trong việc cùng với Đức Maria và Chúa Giêsu trở về đất Israel qua một con đường kín đáo (x. Mt 2,19-23).
Tỉnh thức của thánh Giuse là một bài học.
Vì thế, trong thánh lễ hôm nay, chúng ta sẽ gẫm suy về tinh thần tỉnh thức của thánh Giuse.
Trước hết, sống tỉnh thức là tỉnh thức với chính bản thân mình.
1/ Tỉnh thức với chính bản thân
Chúa Giêsu dạy: "Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ mình, vác thập giá mình, mà theo tôi" (Mt 16,24).
Lời dạy trên đây đã được soi cho thánh Giuse, trước khi Chúa nói ra cho các môn đệ. Vâng lời dạy đó, thánh Giuse đã rất tỉnh thức với chính mình.
Thực sự, Ngài cũng cần đến nhiều điều kiện vật chất và xã hội, để có thể sống một cuộc đời sung túc nhàn nhã. Nhưng, khi biết ý Chúa muốn Ngài từ bỏ, thì lập tức Ngài từ bỏ.
Ngài lên đường đi Belem, sang Ai Cập, trở về Nadarét với một số hành trang tối thiểu. Tuy vất vả, nhưng lòng nhẹ nhàng thanh thản. Với sự khiêm tốn, khó nghèo, yêu thương.
Suốt đời Ngài vẫn là như thế.
Tỉnh thức của Ngài với chính bản thân mình là giữ được sự tự do thiêng liêng trong nội tâm. Luôn tự do kết hợp với Chúa. Luôn tìm thực thi ý Chúa.
Nhờ sức mạnh nội tâm ấy, thánh Giuse tỉnh thức với mọi lựa chọn và mọi thứ phản ứng của mình.
Tỉnh thức như thế của Ngài sở dĩ luôn sống động, là vì Ngài siêng năng cầu nguyện và không ngừng phấn đấu với chính mình.
Tỉnh thức với chính mình chưa đủ, thánh Giuse còn tỉnh thức với cộng đoàn đức tin của mình.
2/ Tỉnh thức với cộng đoàn đức tin
Cộng đoàn đức tin của thánh Giuse thời đó là giáo đoàn Nadarét nói riêng và dân Israel nói chung. Đó là những giáo đoàn phức tạp. Phức tạp đến nỗi Chúa Giêsu đã có lần nhìn Giêrusalem mà khóc thương. Chúa nói: "Sẽ tới ngày, quân thù đắp luỹ chung quanh, bao vây và công hãm ngươi tư bề. Chúng sẽ đè bẹp ngươi và con cái đang ở giữa ngươi, và sẽ không để hòn đá nào trên hòn đá nào, vì ngươi đã không nhận biết thời giờ ngươi được Thiên Chúa viếng thăm" (Lc 19,43-44).
Tội của cộng đoàn Israel là không nhận biết thời giờ được Chúa viếng thăm.
Tội của cộng đoàn Nadarét quê Ngài còn tệ hơn nữa. Đó là "họ phẫn nộ Chúa Giêsu, họ đã lôi Chúa Giêsu lên tận đỉnh núi, để xô Người xuống vực thẳm" (x. Lc 4,16-30).
Tỉnh thức trước tình hình cộng đoàn như thế, thánh Giuse rất xót thương. Ngài nhẫn nhục, sống đời khiêm tốn hy sinh, làm tất cả những gì Chúa muốn để tham gia vào chương trình cứu độ của Chúa.
Nhất là Ngài thinh lặng. Ngài thương họ. Ngài cầu nguyện cho họ. Ngài đền tội thay cho họ. Ngài rao giảng Tin Mừng cho họ bằng gương sáng đời sống phục vụ của con người thuộc trọn về Chúa.
Sau cùng, thánh Giuse tỉnh thức với thế gian này.
3/ Tỉnh thức với thế gian
Thế gian lúc đó thế nào? Thánh Gioan miêu tả như sau: "Ngôi Lời ở giữa thế gian, và thế gian đã nhờ Người mà có, nhưng thế gian lại không nhận biết Người. Người đã đến nhà mình, nhưng người nhà chẳng chịu đón nhận Người" (Ga 1,10-11).
Thế gian như thế là một tình hình u ám. Thánh Giuse biết rõ cảnh u ám đó. Càng biết, Ngài càng xót thương, càng tích cực tham gia vào kế hoạch cứu chuộc của Chúa Cứu Thế. Cách tham gia của Ngài là rất khiêm nhường, khó nghèo, đầy yêu thương, dấn thân, chôn vùi mình vào một cuộc đời tận hiến.

Chúng ta nên biết:
Ba sự tỉnh thức trên đây, là ba khía cạnh của sự tỉnh thức với thánh ý Chúa.
Sự cứu rỗi tuỳ thuộc vào Chúa và sự cộng tác của con người.
Bổn phận của chúng ta là phải biết cộng tác với Chúa nhất là bằng tỉnh thức. Yếu tố căn bản của tỉnh thức là tuyệt đối gắn bó với Chúa và tuyệt đối khiêm nhường.
Với nhận thức trên đây, chúng ta tha thiết cầu xin Chúa ban cho chúng ta ơn tỉnh thức.
Tình hình hiện nay phải nói là rất phức tạp về mọi phía. Nên phải rất tỉnh thức. Nếu không, hậu quả sẽ khủng khiếp khôn lường.
Hôm nay, chúng ta không những trông chờ ơn toàn xá, mà còn mong chờ ơn tỉnh thức.
Và như thế, chúng ta mừng lễ thánh Giuse trong Năm Linh Mục, Năm Thánh Việt Nam và Lễ Bổn mạng Đức Cha Giuse, Giám mục giáo phận Long Xuyên chúng ta, một cách có nhiều ý nghĩa tốt đẹp.
Lạy thánh cả Giuse, xin thương đánh thức lương tâm mọi người chúng con, để chúng con luôn biết tỉnh thức lắng nghe ý Chúa và thực thi ý Chúa. Amen.

 

Bùi-Tuần 1093: TUẦN THÁNH NĂM NAY 20-03-2010

+ GB. BÙI TUẦN
 

Tuần Thánh năm nay tại Việt Nam có những hoàn cảnh khác trước. Đó là chúng ta đang sống trong 20-03-2010 Bùi-Tuần 1093

Tuần Thánh năm nay tại Việt Nam có những hoàn cảnh khác trước. Đó là chúng ta đang sống trong Năm Thánh Việt Nam 2010, năm kỷ niệm thành lập Hàng Giáo phẩm Việt Nam, đồng thời cũng là Năm Linh Mục, thêm vào đó còn là năm đang xảy ra không thiếu vấn đề đạo đời gây bức xúc.
Những hoàn cảnh đó gợi ý cho chúng ta sống Tuần Thánh một cách đặc biệt, sao cho Tin Mừng đi vào thời cuộc một cách thiết thực hơn.
Với nhận thức đó, tôi xin được chia sẻ vài nét đặc biệt, mà tôi nghĩ là nên được để ý nhiều hơn trong Tuần Thánh này.
1/ Hội Thánh Việt Nam hãy là Hội Thánh của Chúa Giêsu Kitô
Các môn đệ Chúa tại Việt Nam, nhất là hàng Linh mục, hàng Giáo phẩm nói chung là tốt. Tất cả và từng người đã và đang đóng góp rất nhiều trong việc xây dựng, bảo vệ và phát triển Hội Thánh Việt Nam.
Còn trong việc thánh hoá bản thân thì sao? Thiết tưởng không ai dám tự hào.
Chúa phán: "Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thánh giá mình mà theo" (Mt 16,24).
Chúng tôi là các môn đệ Chúa thuộc lòng lời Chúa dạy trên đây. Hơn nữa, chúng tôi luôn phấn đấu sống lời căn dặn đó.
Nhưng, kinh nghiệm cho thấy: Trong mọi chặng đường phấn đấu, cái tôi vẫn còn đó. Nơi các môn đệ Chúa, cái tôi nhiều khi khéo ẩn mình dưới những màn che đạo đức. Sẽ không sai, nếu nói:
Cái tôi không từ bỏ mình triệt để.
Cái tôi không vác thập giá mình đúng theo ý Chúa.
Cái tôi không theo Chúa một cách tuyệt đối.
Thành ra, các môn đệ Chúa vẫn mang thân phận con người có nhiều giới hạn, và nhiều yếu đuối. Tự mãn là sai.
Nhận thức như vậy, chúng tôi khiêm nhường sám hối và luôn trở về với Đức Giêsu Kitô. Càng trở về với Đức Giêsu Kitô, chúng tôi càng cảm nhận được chính Người là Đấng cứu độ và là trung tâm cuộc đời chúng tôi. Sự cảm nhận đó có thể diễn tả được phần nào theo lời thánh Phaolô: "Tôi coi tất cả mọi sự như thua thiệt trước cái lợi tuyệt vời là được Đức Giêsu Kitô, Chúa tôi" (Pl 3,8). Vì thế, chúng tôi cũng xin mọi tín hữu hãy tập trung vào Đức Giêsu Kitô. Nhất là trong Tuần Thánh này, khi tưởng niệm việc Chúa Giêsu lập phép Bí tích Truyền chức, chúng ta tha thiết cầu xin Chúa cho các môn đệ Chúa tại Việt Nam, nhất là hàng giám mục và linh mục được thuộc trọn về Chúa Giêsu, biết phục vụ trong yêu thương khiêm nhường, như gương Chúa Giêsu.
2/ Hội Thánh Việt Nam hãy là một Hội Thánh của yêu thương quên mình
Trong bữa Tiệc ly, Chúa Giêsu nói với các môn đệ Người rằng: "Thầy ban cho anh em một điều răn mới, là anh em hãy yêu thương  nhau, như Thầy đã yêu thương anh em" (Ga 13,34).
Đây là một lời trối quan trọng. Lời trối quan trọng ấy đã trở thành đường lối, để các môn đệ làm chứng cho Chúa.
"Ở điểm này, mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy, là anh em có lòng thương yêu nhau" (Ga 13,35).
Chúa nói như thế là quá rõ. Sự quá rõ đó soi sáng cho chúng ta, để chúng ta biết làm chứng cho Chúa một cách hiệu quả nhất trong tình hình Việt Nam lúc này. Nhớ là phải yêu thương người khác như Chúa đã thương yêu ta.
Tôi được tham dự nhiều thánh lễ trọng. Xin nói thực là điều làm tôi xúc động nhất trong những dịp đó, chính là cái hồn yêu thương bác ái toả hương thơm trong phụng vụ và bầu khí cộng đoàn.
Tất nhiên, sự trang nghiêm, sự thánh thiện được diễn tả khá rõ. Nhưng yêu thương bác ái mới là cái gì thuyết phục. Yêu thương ở những nét mặt. Yêu thương ở những phục vụ dù bé nhỏ. Yêu thương ở những bài chia sẻ. Yêu thương ở những bài thánh ca. Yêu thương ở những cuộc đời đau khổ.
Tôi như được đắm mình trong những làn sống yêu thương dạt dào. Và tôi thầm mong Hội Thánh Việt Nam hãy cứ là những cộng đoàn yêu thương như thế. Tình hình càng khó khăn, thì yêu thương càng sẽ là tiếng nói Tin Mừng được lắng nghe nhất, có sức đi vào lòng người, và biến đổi lòng người.
3/ Hội Thánh Việt Nam hãy là một Hội Thánh biết lấy thiện đẩy lùi cái ác
Trong vườn Cây Dầu, Chúa Giêsu cầu nguyện với Đức Chúa Cha một cách thảm thiết. Người nói: "Lạy Cha, nếu Cha muốn, xin cho con khỏi uống chén này. Tuy vậy, xin đừng làm theo ý con, mà xin theo ý Cha" (Lc 22,42).
Ý Chúa Cha là Chúa Giêsu phải dâng mình làm của lễ đền tội cho nhân loại. Của lễ đền tội ấy nói lên sự yêu thương đến cùng.
Yêu thương khiêm nhường, để đáp lại sự độc ác kiêu căng. Yêu thương tha thứ, để đáp lại sự ghen ghét oán thù. Yêu thương nhịn nhục, để đáp lại sự bất công, vu khống. Yêu thương cầu nguyện, để đáp lại sự vô ơn phản bội ơn Chúa. Yêu thương chân thành trong chân lý, để đáp lại các thứ yêu thương hình thức và giả dối.
Chúa Giêsu đã dùng sự thiện, để đẩy lùi sự ác. Chính vì thế, mà Người chiến thắng sự chết, để rồi sống lại vinh hiển.
Sẽ là dại dột, nếu chúng ta không theo gương Chúa Giêsu.

Với những gợi ý trên đây, chúng ta sống Tuần Thánh năm nay, như những kẻ được Chúa sai đi vào một giai đoạn mới.
Một giai đoạn tế nhị, đang rất cần khiêm tốn làm chứng cho tình yêu Chúa giàu lòng thương xót.
Một giai đoạn khó khăn, đang đợi chờ cởi mở phiên dịch đức tin ra đức ái.
Một giai đoạn phức tạp, đang mời gọi dùng yêu thương hoà giải mà hàn gắn các vết thương lịch sử.
Xin Chúa Giêsu ở lại trong chúng ta. Xin Chúa Giêsu nâng đỡ chúng ta. Xin Chúa Giêsu thắp sáng lên ngọn lửa tình yêu Chúa trong lòng chúng ta. Amen.

 

Bùi-Tuần 1094: ĐẠO ĐỨC PHỤC SINH 27-03-2010

+ GB. BÙI TUẦN
 

Chúa Giêsu đã chết và đã sống lại. Phục sinh của Người là một biến cố quan trọng của lịch 27-03-2010 Bùi-Tuần 1094

Chúa Giêsu đã chết và đã sống lại. Phục sinh của Người là một biến cố quan trọng của lịch sử cứu độ. Biến cố ấy là nguồn sự sống mới.
Các tông đồ Chúa hồi đó đã nhận được từ nguồn sống mới ấy nhiều điều Chúa dạy. Chúa dạy các ngài, và cũng dạy chúng ta. Ở đây, xin được chia sẻ đôi chút, mà các môn đệ Chúa xưa và nay đã tiếp thu. Xin tạm gọi đôi chút tiếp thu đó là đạo đức Phục Sinh.
1/ Hãy thuộc trọn về Chúa Giêsu, cho dù mình rất yếu hèn
Khi Chúa Giêsu phục sinh hiện ra với các môn đệ Người, Người giải cứu họ. Giải cứu nói đây là một giải cứu thiêng liêng.
Chúa Phục Sinh giải cứu các môn đệ Người khỏi tội lỗi. Tội mới nhất là tội bất trung: Không cầu nguyện và tỉnh thức, bỏ trốn và chối Chúa.
Chúa Phục Sinh giải cứu các môn đệ Người khỏi tâm trạng sợ hãi: Sợ hãi về số phận mình trước mặt Chúa, trước dư luận, trước luật pháp đạo đời, trước tương lai mù mịt.
Chúa Phục Sinh giải cứu các môn đệ Người khỏi những đắng cay ray rứt: Vì nhận thấy mình mang bao nhiêu yếu đuối, giới hạn, tự mãn, dại dột, ảo tưởng.
Những giải cứu ấy được thực hiện một cách lạ lùng. Không một lời kết án, không một lời trách móc, không một cử chỉ trừng phạt. Chúa Phục Sinh hiện ra như một tình yêu thương xót đã được chứng minh bằng khổ đau thánh giá. Tình yêu ấy là lửa. Đốt ngay, đốt hết mọi tội lỗi và những hậu quả của tội lỗi.
Trong giây lát, các môn đệ Chúa nhận ra Chúa là Đấng cứu độ của mình.
Đấng cứu độ ấy, khi sống lại rồi, vẫn khiêm nhường. Người đến với một hiện diện đơn sơ. Không có nghi thức gì là sang trọng, hoành tráng. Không có tuỳ tùng nào là biểu dương quyền lực. Không có y phục nào gọi là giới thiệu chức tước. Người đến như một sự thinh lặng yêu thương đã chiến thắng tội lỗi bằng thánh giá. Chỉ cần lắng nghe với tâm hồn khiêm tốn.
Đấng cứu độ ấy, khi sống lại rồi, vẫn khó nghèo. Người đến tay không. Người bỏ lại tất cả. Chỉ mang lửa tình yêu đầy hy sinh. Lửa tình yêu ấy xoá bỏ khoảng cách giữa Người và các môn đệ. Người đến giữa họ. Người ở bên họ. Người chia sẻ với họ.
Trong sự khiêm tốn, khó nghèo đầy yêu thương, Chúa Phục Sinh chỉ mong cho các môn đệ được bình an. Lần nào hiện ra với các môn đệ, Chúa cũng chào họ bằng lời thân thương: "Bình an cho các con".
Sự bình an, mà Chúa Phục Sinh chào chúc, hệ tại ở sự  xa tránh hận thù, nhưng biết yêu thương phục vụ. Phục vụ đó chính là yếu tố làm cho Chúa Cứu Thế trở thành cao cả.
Sự bình an, mà Chúa Phục Sinh chào chúc, đòi một điều hết sức quan trọng nơi các môn đệ Người, đó là hãy thuộc trọn về Chúa, một Chúa hiền lành, khiêm tốn và yêu thương, tận hiến.
Hãy thuộc trọn về Chúa, cho dù vẫn mang theo nhiều yếu đuối, nhiều bất toàn. Các môn đệ Chúa, khi gặp Chúa Phục Sinh, đã không hề ảo tưởng rằng: Mình từ nay đã nên thánh. Trái lại, các ngài càng khiêm nhường nhận biết mình mong manh yếu đuối. Nhưng, dù thế, các ngài từ nay quyết tâm thuộc trọn về Chúa. Trong thinh lặng của nội tâm. Trong khiêm tốn của đời dâng hiến. Trong bình an của đời phục vụ.
Sự thuộc trọn về Chúa không vì thế mà thiếu tế nhị với con người.
2/ Hãy tế nhị thích nghi với con người
Sẽ rất sai, nếu tưởng rằng: Mình thuộc trọn về Chúa, nên được phép "ta đây" với con người.
Không được thế. Càng thuộc về Chúa, càng phải tế nhị với con người.
Khi Chúa Phục Sinh hiện ra với các môn đệ, Người không áp đặt, bắt buộc họ phải tin theo ngay tức khắc. Trái lại, Chúa thuyết phục họ từ từ, tuỳ theo trình độ và hoàn cảnh thực tế.
Thánh Tôma là con người nghi ngờ, thì Chúa thuyết phục bằng cách cho ông xỏ ngón tay vào các dấu đinh của Người.
Hai môn đệ trên đường Emmau là những con người thiếu hiểu biết về Kinh Thánh, thì Người hiện ra như một người đồng hành cùng đi một xe, cùng hướng về một bến, cùng ăn chung một bàn, rồi từ từ mở trí cho họ.
Những người Do Thái là những người dòng dõi Abraham, thì các môn đệ sẽ làm chứng theo các tiên tri.
Những người ngoài Israel là những người theo đạo khác, thì các môn đệ sẽ làm chứng cho Chúa bằng chính những giá trị, mà các đạo ấy vốn có sẵn.
Sách Tông đồ Công vụ ghi rõ sự thích nghi đó.
Có nhiều dân tộc khác nhau với những truyền thống và nền văn hoá khác nhau. Mỗi nơi có những trình độ khác nhau. Người môn đệ Chúa Phục Sinh bắt chước Chúa Phục Sinh, mà tế nhị với những khác biệt đó. Sẽ không áp đặt chân lý. Chỉ cố gắng làm cho những khác biệt đó sẵn sàng đón nhận sự hiện diện của Chúa Phục Sinh. Như thế, vấn đề đặt ra là chính các môn đệ Chúa phải mang trong mình sự hiện diện của Chúa Phục Sinh. Để người ta gặp được Chúa trong các môn đệ. Chứ không phải chỉ là nghe được những lý thuyết về Chúa Phục Sinh.
Điều phải tránh hơn hết là không làm gì, để người ta có lý tưởng rằng Hội Thánh của Chúa Phục Sinh là một Hội Thánh quyền lực, chứ không phải là một Hội Thánh phục vụ. Những cuộc thánh chiến thời nào đó, dù kết quả ra sao, vẫn để lại những vết thương đau buồn cho sứ mạng làm chứng Chúa Phục Sinh là Đấng chăn chiên lành.
Xin cảm tạ Chúa đã ban cho Hội Thánh Việt Nam nhiều gương sáng về đạo đức phục sinh. Họ như những ngọn lửa, toả sáng tình Chúa tình người. Giữa gió mưa vùi dập, những ngọn lửa ấy vẫn tồn tại. Bởi vì họ được Chúa Phục Sinh chở che nâng đỡ.
Xin hết lòng cầu xin Chúa ban cho mỗi người chúng ta cũng được trở thành ngọn lửa phục sinh như thế. Âm thầm thôi, nhỏ bé thôi, nhưng mãi mãi là lửa yêu thương nhận được từ Chúa Phục Sinh.

 

Bùi-Tuần 1095: CẢM TẠ CHÚA XÓT THƯƠNG 04-04-2010

TỪ THÂN PHẬN YẾU HÈN
+ GB. BÙI TUẦN
 

Trong Năm Thánh Việt Nam hiện nay, nhiều gương sáng về thánh thiện đã được nêu lên. Gương 04-04-2010 Bùi-Tuần 1095

Trong Năm Thánh Việt Nam hiện nay, nhiều gương sáng về thánh thiện đã được nêu lên. Gương sáng về đức tin, gương sáng về bác ái. Tất cả những gương sáng ấy đều được nhìn nhận là những tấm lòng dũng cảm làm chứng cho Thiên Chúa. Họ được tôn vinh trên bệ cao lộng lẫy oai hùng.
Bên cạnh những chứng nhận cao sang rực sáng đó, còn có những chứng nhân loại khác. Họ bé nhỏ, thầm lặng, nhiều khi sống chôn vùi. Họ cũng làm chứng cho Chúa, nhưng một cách khác. Không ở pháp trường, không ở chiến trường, nhưng ở đời thường, ngay trong thân phận yếu hèn của họ.
Dưới đây là vài chi tiết, họ xin được nói ra.
1/ Mình yếu đuối, mà vẫn được Chúa hoà nhập vào đời mình
Sự hoà nhập này của Chúa Kitô được thực hiện một cách hết sức quảng đại. Chúa hoà nhập vào đời người tội lỗi, để nhắc nhở họ hãy muốn điều lành và làm điều lành. Thực hiện nhắc nhớ đó là là chuyện khó khăn. Họ phải chiến đấu. Họ chiến đấu, Người cũng chiến đấu với họ.
Đôi lúc, sự hoà nhập như thế của Chúa đã gây tai tiếng cho Người. Nhưng Người đành chịu tai tiếng, để gần gũi thân phận con người tội lỗi. Tai tiếng đến nỗi Người bị coi như hiện thân của tội lỗi. Thánh Phaolô nói: "Đấng chẳng hề biết tội lỗi là gì, thì Thiên Chúa đã biến Người thành hiện thân của tội lỗi vì chúng ta, để làm cho chúng ta được nên công chính trong Người" (2 Cr 5,21).
Hơn nữa, do sự hoà mình quảng đại của Người, Người đành chịu bị nguyền rủa, để chúng ta khỏi bị nguyền rủa. Thánh Phaolô quả quyết: "Đức Kitô đã chuộc chúng ta cho khỏi bị nguyền rủa vì Lề Luật, khi vì chúng ta chính Người trở nên đồ bị nguyền rủa" (Gl 3,13).
Như thế, Chúa Giêsu không tách rời khỏi họ, cho dù họ rất tội lỗi. Người hoà mình, Người mang vào mình những yếu đuối của người tội lỗi.
Kinh nghiệm trên đây đã làm cho họ tin tưởng vào Chúa và gắn bó với Chúa.
Họ càng tin và gắn bó với Chúa, khi họ thấy Chúa ở bên họ, để cảm thương những yếu hèn của họ.
2/ Mình yếu hèn, mà được Chúa cảm thương
Rất nhiều người đã trải qua một cuộc đời yếu đuối. Từ sai sót này đến lỗi lầm khác. Họ thấy mình đáng khinh, đáng trách. Nhưng chính những lúc tối tăm đó, họ cảm thấy Chúa Giêsu ở bên họ. Họ đang trong vực thẳm dơ bẩn, nhưng Chúa vẫn đến bên họ. Chúa chia sẻ những mệt mỏi ưu phiền của họ, đồng thời ban cho họ niềm hy vọng và can đảm để họ tích cực hợp tác vào ơn Chúa.
Họ nhận được sự cảm thương kín đáo ấy. Họ nhận ra lời Chúa dưới đây được thực hiện nơi họ: "Vị thượng tế của chúng ta không phải là Đấng không biết cảm thương những nỗi yếu hèn của chúng ta. Vì Người đã chịu thử thách về mọi phương diện cũng như chúng ta, nhưng không phạm tội" (Dt 4,15).
Sự cảm thương của Chúa dành cho họ không làm cho họ ỷ lại, nhưng giúp họ nhìn rõ hơn thân phận yếu hèn của mình với một thái độ khiêm tốn. Nhất là khiêm tốn nhận ra ở sự cảm thương của Chúa một Đấng Cứu độ đầy tình xót thương. Tất cả đều là hồng ân Chúa. Hồng ân này dẫn tới một hồng ân khác, đó là đón nhận được sự Chúa thứ tha cứu độ.
3/ Mình sa ngã, nhưng được Chúa thứ tha cứu độ
Kinh nghiệm về thân phận yếu hèn được Chúa yêu thương sẽ như dòng nước thiêng tràn lên niềm vui chan chứa, khi người tội lỗi cảm thấy mình được Chúa thứ tha cứu độ.
Đáng lẽ họ phải bị trừng phạt, khai trừ, nhưng Chúa tha thứ cho họ, giải cứu họ, hơn nữa còn chia sẻ sự sống của Người cho họ và đổi mới họ.
Họ vui sướng, nhớ lại lời thánh Phaolô xưa: "Bẩm sinh chúng ta là những kẻ đáng phải chịu cơn thịnh nộ của Chúa, như những người khác. Nhưng Thiên Chúa giàu lòng thương xót và rất mực yêu thương chúng ta, nên dầu chúng ta đã chết vì sa ngã, Người cũng đã cho chúng ta được cùng sống với Đức Kitô. Chính do ân sủng mà anh em được cứu độ" (Ep 2,3-6).
"Do ân sủng Chúa" mà con người sa ngã của họ được chỗi dậy. Với lòng biết ơn, họ đón nhận ân sủng ấy. Họ cộng tác vào ân sủng đó.
Từ kinh nghiệm bản thân về lòng Chúa xót thương, họ sẽ dấn thân yêu thương phục vụ mọi người, như Chúa đã yêu thương họ.
4/ Mình nghèo hèn, nhưng vẫn được Chúa dùng để yêu thương phục vụ kẻ khác
Đời của họ là một chuỗi dài những kinh nghiệm về tình yêu thương xót Chúa. Từ đó, họ được Chúa sai đi, để yêu thương phục vụ kẻ khác, như Chúa đã yêu thương họ. "Anh em hãy yêu thương nhau, như Thầy đã yêu thương anh em" (Ga 13,34).
Họ biết mình không thể tự mình thực hiện được lời Chúa truyền dạy trên đây, nên họ gắn bó với Chúa, để nhờ vậy, mà yêu thương phục vụ của họ có thể sinh được kết quả tốt. "Thầy là cây nho, anh em là cành. Ai ở lại trong Thầy, và Thầy ở lại trong người ấy, người ấy sẽ sinh được nhiều hoa trái. Vì không có Thầy, anh em chẳng làm gì được" (Ga 15,5).
Nhờ gắn bó mật thiết với Chúa, họ có thể đi xa trên đường yêu thương phục vụ như lời Chúa khuyên: "Nếu ai bị vả má bên phải, thì hãy giơ cả má bên trái nữa. Nếu ai kiện anh em để lấy áo trong của anh em, thì hãy để cho họ lấy cả áo ngoài nữa" (Mt 5,39). Với lời Chúa dạy trên đây, họ hiểu yêu thương phục vụ theo gương Chúa đòi hỏi một sự từ bỏ mình quyết liệt.

Chia sẻ trên đây là chia sẻ về kinh nghiệm bản thân. Những người chia sẻ là những con người yếu đuối. Xin cảm tạ Chúa đã xót thương họ một cách đặc biệt.
Rất mong, ngày Chúa nhật mừng lễ Chúa giàu lòng thương xót, nhiều nhân chứng về lòng thương xót sẽ góp phần nhỏ vào Năm Thánh Việt Nam.
Chứng từ của họ sẽ là những kinh nghiệm sống động mang tính cách thời sự.
Tình yêu Chúa rực sáng nơi các người thánh thiện tinh tuyền và cũng sáng rực nơi bao người yếu đuối tội lỗi. Đó là một an ủi lớn lao tuyệt diệu.
Lạy Chúa, xin thương xót chúng con.

 

Bùi-Tuần 1096: XÂY DỰNG NỀN VĂN MINH TÌNH YÊU

BẰNG NHỮNG HIỆN DIỆN TÍCH CỰC 10-04-2010
 + GB. BÙI TUẦN
 

Quê Hương Việt Nam thân yêu của chúng ta đang nhộn nhịp tưng bừng với những kỷ niệm lớn 10-04-2010 Bùi-Tuần 1096

Quê Hương Việt Nam thân yêu của chúng ta đang nhộn nhịp tưng bừng với những kỷ niệm lớn của Đất Nước. Có những khí thế mới. Có những bước đi mới. Lịch sử đang sang trang.
Giáo Hội tại Việt Nam rất biết điều đó. Mọi thành phần đều muốn góp phần. Ý thức về thời cuộc là cần. Nó sẽ giúp cho việc sống đạo được thực hiện một cách có hiệu quả hơn trong giai đoạn mới của lịch sử đất nước.
Cách sống đạo của chia sẻ hôm nay xin tạm được gọi là "xây dựng nền văn minh tình yêu bằng những hiện diện tích cực".
1/ Tính cách tích cực của những hiện diện
a) Trước hết là sự hiện diện của những người khác được đón nhận một cách trân trọng.
Những người khác hiện diện trước mặt chúng ta sẽ không bị chúng ta coi như đối tượng phải khinh khi, loại trừ. Chúng ta đón nhận họ, dù họ rất khác chúng ta. Chúng ta biết: Cuộc đời mỗi người là một lịch sử rất phức tạp. Sự hiện diện của người khác là một lời kêu gọi chúng ta. Chúng ta đáp lại bằng một sự khám phá ra nơi họ một giá trị chung nào đó. Để từ đây, họ và chúng ta cùng sẽ có chung một ước muốn mà đồng hành. Trong đồng hành, có sự đối thoại và hợp tác với tinh thần kính trọng lẫn nhau.
b) Như vậy, sự hiện diện của ta cần được xây dựng bằng những nét dễ thương.
Sự dễ thương đáng được ta quan tâm hơn hết, chính là sự hiền lành và khiêm nhường, theo lời Chúa Giêsu dạy (x. Mt 11,29). Điều đó không dễ đâu. Nhưng, nếu chúng ta có thiện chí, Chúa sẽ giúp chúng ta.
Thêm vào đó, là sự sẵn sàng và nhiệt tình phục vụ. Phục vụ một cách tế nhị như người đầy tớ. Phục vụ vì họ, chứ không phải vì ta. Thánh Phaolô nói: "Tôi mắc nợ người Hy Lạp cũng như người mandi, người thông thái cũng như người dốt nát" (Rm 1,14). Nghĩa là phục vụ của người môn đệ Chúa sẽ không bị chi phối bởi những khác biệt xã hội.
Thực tế cho thấy: Chúng ta mang trong mình nhiều tính mê nết xấu, không thích hợp cho việc phục vụ vị tha. Có thể chúng ta còn phức tạp hơn những người chúng ta phục vụ. Vì thế, sự dễ thương chỉ có thể có được một cách tương đối, nhờ những phấn đấu không ngừng trong ơn Chúa. Trong sự dễ thương còn cần có sự khôn ngoan. Làm đúng việc, đúng lúc, đúng cách, mới đúng là phục vụ dễ thương.
c) Sự hiện diện của chúng ta không đơn thuần là của chúng ta, nhưng còn dựa vào Hội Thánh của Chúa Giêsu.
Hội Thánh của Chúa Giêsu phải có Chúa Giêsu là hồn. Các chi thể phải hiệp thông với nhau. Tất cả đều phải đón nhận sự sống Chúa là tình yêu. Tất cả đều được sai đi làm chứng cho Thiên Chúa là tình yêu.
Vì thế, khi chúng ta coi sự hiện diện của chúng ta như một cách xây dựng nền văn minh tình yêu, thì chúng ta không được xa rời những giáo huấn của Toà Thánh. Từ mấy chục năm nay, các Đức Giáo Hoàng: Phaolô VI, Gioan XXIII, Gioan Phaolô I, Gioan Phaolô II, Benedictô XVI đều nhấn mạnh đến Tình yêu Thiên Chúa, như nền tảng để xây dựng các tương quan xã hội.
Hơn thế nữa, sự hiện diện của chúng ta còn phải phản ánh một cách nào đó chính Chúa Giêsu, nhờ sự chúng ta kết hợp mật thiết thường xuyên với Người.
Cấu trúc những hiện diện trên đây là bước đầu của việc xây dựng nền văn minh tình yêu. Nhưng sẽ rất ngây thơ, nếu chúng ta tưởng như thế là đủ. Bởi vì việc xây dựng nền văn minh tình yêu là một lịch sử không sẽ kết thúc một ngày một năm, nhưng sẽ không ngừng phải tiếp tục với những chiến đấu cam go suốt đời.
2/ Tính cách kiên trì của việc xây dựng
Kinh nghiệm cho thấy, khi ai đã yêu và muốn duy trì tình yêu ấy, thì phải rất trung thành. Trung thành nói đây không chỉ là duy trì những gì đã có, mà còn phải tỉnh thức và sáng tạo, để vượt qua những thử thách, đồng thời có sức hấp dẫn hơn, nhờ một hiện diện dễ thương hơn.
Nền văn minh tình yêu, mà chúng ta muốn xây dựng trên đất nước chúng ta, không phải dễ dàng. Có cái khó là do ngoại tại. Nhưng nhiều khi cái khó hơn lại là do chính chúng ta. Ở đây, chỉ xin nêu ra vài việc nên làm, để giúp chúng ta thắng vượt được chính mình, trong việc xây dựng nền văn minh tình yêu.
Việc đầu tiên là hãy bước xuống vực sâu những khổ đau của bao người chung quanh. Hãy chia sẻ ít là bằng sự hiện diện cảm thương. Làm được gì giúp đỡ họ thì làm. Chúa Giêsu ở trong họ. Chúa kể bất cứ sự gì tốt làm cho họ là làm cho chính Chúa (x. Mt 25,31-46).
Nếu thực sự tìm trong những nỗi đau của con người, chúng ta sẽ gặp được vô số dịp để biểu lộ tình yêu.
Nếu thực sự cảm thương những cảnh tan nát do hận thù mù quáng gây ra, chúng ta sẽ thấy mình có bổn phận phải xây dựng tình yêu, bằng hy sinh tha thứ và cầu nguyện cho những kẻ vu khống thù ghét ta (x. Lc 6,27-28).
Nếu thực sự xấu hổ trước những cảnh suy đồi đạo đức do tranh giành, chúng ta sẽ thấy mình phải thực hiện lời Chúa dạy: "Ai muốn là kẻ nhất, thì hãy làm người rốt hết, và làm người phục vụ mọi người" (Mc 9,35). Để được thế, phải phấn đấu với chính mình nhiều lắm.
Nghĩa là lịch sử xây dựng nền văn minh tình yêu sẽ được thực hiện kiên trì dựa trên lời Chúa, với một nền tu đức từ bỏ mình. "Ai muốn là môn đệ của Thầy, hãy từ bỏ mình, vác thập giá mình, mà theo Thầy" (Mt 16,24).
Mới rồi (08/4/2010), khi nhìn các lãnh đạo Asean họp tại Hà Nội nắm chặt tay nhau, như một quyết tâm xây dựng một cộng đồng hoà bình và phát triển, cho dù khác nhau về tôn giáo, thể chế, văn hoá, xã hội, tôi tự hỏi: Hình ảnh này có thể là một gợi ý cho chúng ta.
Câu trả lời của tôi là: Hình ảnh đó đúng là một gợi ý tốt. Nhưng việc xây dựng nền văn minh tình yêu của chúng ta sẽ luôn gắn bó mật thiết với Chúa Giêsu, Đấng đã chịu chết và đã sống lại, vì yêu thương.
Giáo Hội yêu thương hiện diện, giới thiệu Chúa Giêsu yêu thương hiện diện, thiết tưởng đó là một lựa chọn tốt cho việc xây dựng nền văn minh tình yêu giữa thế giới hôm nay.

 

Bùi-Tuần 1097: ĐÓN NHẬN NHỮNG SÁNG KIẾN CỦA CHÚA 16-04-2010

+ GB. BÙI TUẦN
 

Đời người là một lịch sử. Đối với người sống đức tin, lịch sử đời mình được coi là một chuyến đi 16-04-2010 Bùi-Tuần 1097

Đời người là một lịch sử. Đối với người sống đức tin, lịch sử đời mình được coi là một chuyến đi về với Chúa. Diễn tả chuyến đi này là điều không dễ. Ở đây, chỉ xin được nói lên một nét nổi bật. Nét nổi bật đó là đón nhận được những sáng kiến của Chúa dành riêng cho mình.
1/ Nền tảng của sự đón nhận
Nền tảng của sự đón nhận là tinh thần thơ ấu thiêng liêng. Chúa Giêsu dạy: "Thầy bảo thật anh em, nếu anh em không trở nên như trẻ nhỏ, anh em sẽ không được vào Nước Trời" (Mt 18,1).
Tự bản thân trẻ nhỏ rất khó nghèo. Mọi sự đều trông cậy nơi cha mẹ. Cũng vậy, người con Chúa, dù ở tuổi nào, trong địa vị nào, cũng được khuyên là hãy sống khó nghèo, bé mọn, như trẻ thơ trước mặt Chúa. Mong muốn lớn nhất nơi họ là được sống đẹp lòng Chúa, sẵn sàng đón nhận bất cứ sự gì Chúa muốn làm nơi họ, luôn luôn phó thác mình cho Chúa, vì Chúa là Cha.
Với tâm tình thơ ấu đó, người con Chúa ra khỏi cái tôi chật hẹp, cái tôi tập trung vào chính mình. Họ mở lòng ra, hướng về Chúa bằng cầu nguyện, suy niệm Lời Chúa và đời Chúa. Họ trở nên khiêm tốn, khó nghèo và chờ đợi Chúa.
Chúa đến với họ như một sự bất ngờ. Bởi vì sự Chúa đến với họ là do Chúa chủ động. Đó là sáng kiến của Chúa.
Chúa vào lòng họ, ở lại đó, và can thiệp vào đời họ với những sáng kiến của Chúa. Trước hết, xin đề cập đến lãnh vực đức tin.
2/ Những sáng kiến trong lãnh vực đức tin
Đức tin mà Chúa ban cho họ được họ cảm nhận như một sức sống thiêng liêng. Bản thân họ đang như một căn nhà hỗn độn, đức tin đến sắp xếp lại cho có trật tự. Tư tưởng, ước muốn, tình cảm, đam mê, tất cả chỉ được tồn tại trong một trật tự được kiểm soát bởi lương tâm ngay chính. Với trật tự đó, họ được dẫn vào con đường mến Chúa yêu người theo thánh ý Chúa.
Đi trên con đường mà đức tin hướng dẫn, người con Chúa sẽ phải chiến đấu rất nhiều với chính mình, với thế gian và với ma quỷ. Nhưng chính trên chiến trường ấy, Chúa nâng đỡ họ, lúc tỏ hiện, lúc kín đáo. Tất cả đều do sáng kiến của Chúa.
Họ xác tín: Chúa của đức tin là một người Cha, là Đấng cứu độ. Họ không thấy Người. Nhưng họ như được chạm đến Người. Người là hạnh phúc của họ. Vâng lời Người, họ sống Tám mối phúc.
Người con Chúa hiểu đức tin như một gặp gỡ với Chúa. Chúa gọi tên họ, Chúa có mặt trong những biến cố riêng tư của họ. Gặp gỡ đó là rất sống động, là rất riêng tư. Gặp gỡ đó không miễn trừ cho họ khỏi phải "từ bỏ mình, vác thánh giá mình mà theo Chúa" (Mt 16,24). Nhưng chính trong mọi phấn đấu ấy, họ đón nhận được Chúa là tình yêu. Đó là một sáng kiến của Chúa mà người con Chúa phải đón nhận với lòng cảm tạ.
Hơn nữa, sự đón nhận và cảm nhận những sáng kiến của Chúa còn xảy ra trong một lãnh vực khác, đó là lãnh vực làm sáng danh Chúa.
3/ Những sáng kiến trong lãnh vực làm sáng danh Chúa
Lãnh vực làm sáng danh Chúa thường rất hỗn độn. Sẽ có vô số sáng kiến được đưa ra để gọi là làm sáng danh Chúa. Kẻ đưa ra nhiều khi lại là chính ác thần Satan. Quỷ đưa ra sáng kiến và giúp thực hiện sáng kiến, để rồi thành công trở thành dụng cụ của nó.
Người con Chúa sống tinh thần thơ ấu, khó nghèo, khiêm tốn, thường dễ nhận được ơn Chúa Thánh Thần, để phân định cái đúng cái sai.
Họ không khinh thường những việc bề ngoài. Nhưng họ nhận được sáng kiến của Chúa là ưu tiên hãy làm sáng danh Chúa bằng cách đổi mới con người của họ và của những người thuộc về họ.
Đổi mới con người thế nào, thì Phúc Âm đã nói rõ. Dưới đây là vài nét chính:
+ Chính mình thành của lễ. "Vì Thiên Chúa thương xót chúng ta, tôi khuyên nhủ anh em hãy hiến dâng mình làm của lễ sống động, thánh thiện và đẹp lòng Chúa" (Rm 12,1).
+ Của lễ là thực thi ý Chúa. Đức Kitô nói: "Hy lễ và hiến tế, lễ toàn thiêu và xá tội, Chúa đã chẳng ưa... Rồi người nói: Này con đây, con đến để thực thi ý Ngài" (Dt 10,8-9). Cũng như Đức Kitô, người con Chúa cũng phải thi hành ý Chúa Cha một cách triệt để: "Không phải bất cứ ai thưa với Thầy: Lạy Chúa! Lạy Chúa! là được vào Nước Trời cả đâu. Nhưng chỉ ai thi hành ý của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời, mới được vào mà thôi" (Mt 7,20). Họ thi hành ý Chúa Cha, nhờ gắn bó mật thiết với Chúa Giêsu (x. Ga 15,5).
Trong việc đổi mới mình như vậy, người con Chúa sẽ đón nhận được vô vàn sáng kiến đến từ Chúa, nhất là về sự từ bỏ mình. Để rồi họ trở thành một tạo vật mới Chúa dùng như dụng cụ bình an, hoà giải.
Một lãnh vực khác, mà người con Chúa thường nhận được sáng kiến của Chúa, đó là lãnh vực dấn thân.
4/ Những sáng kiến trong lãnh vực dấn thân
Dấn thân là đi vào đời. Không có đời chung chung, mà là một đời cụ thể, với không gian cụ thể. Đời cụ thể ấy có những con người. Không có những con người trừu tượng, nhưng đã là người, thì phải là người cụ thể, với những hoàn cảnh cụ thể.
Dấn thân vào một nơi cụ thể, và gặp những con người cụ thể, thì việc phục vụ họ và loan báo Tin Mừng cho họ sẽ phải sát với những cụ thể đó.
Sát thực tế là điều không dễ chút nào. Nhất là sát với thực tế  mà cũng phải sát với thánh ý Chúa.
Nơi nhiều người thực tế bên ngoài thì khác, mà thực tế bên trong thì khác. Một sự khác xa đáng sợ. Những trường hợp như thế không phải là ít. Người con Chúa sẽ kiên trì cầu nguyện. Đến một lúc nào đó Chúa sẽ soi cho họ thấy những sáng kiến của Chúa. Có những sáng kiến thực hiện được ngay. Có những sáng kiến phải ấp ủ lâu ngày. Tất cả mọi sáng kiến đều phải có Tin Mừng về tình yêu thương, hoà giải, hoà bình.
Trong bất cứ dấn thân nào, người con Chúa cũng cảm thấy chính mình phải như hạt lúa gieo vào lòng đất, phải thối đi, rồi Chúa sẽ làm cho việc dấn thân của mình có thể sinh ra kết quả (x. Ga 12,24). Kết quả nhiều khi rất bất ngờ. Ánh sáng tìm được trong bóng tối. Sự ác biến thành sự thiện.

Với một thoáng nhìn trên đây về lịch sử đời mình, người con Chúa sẽ nhận ra hành trình của mình về với Chúa luôn có những can thiệp vô hình của Chúa. Nhờ vậy, họ đón nhận được những giá trị thực của Tin Mừng. Quá khứ của họ cũng đang trong hiện tại. Một hiện tại hướng tới một tương lai sẽ không thiếu những bất ngờ.

 

Bùi-Tuần 1098: CHIẾN ĐẤU TRONG THỜI BÌNH 19-04-2010

 + GB. BÙI TUẦN
 

Ngày 30 tháng 4 năm 1975 là một biến cố quan trọng trong lịch sử đất nước Việt Nam. Ngày đó 19-04-2010 Bùi-Tuần 1098

Ngày 30 tháng 4 năm 1975 là một biến cố quan trọng trong lịch sử đất nước Việt Nam. Ngày đó chấm dứt thời chiến, mở sang thời bình.
Thời bình, tính từ ngày đó đến hôm nay, đã được 35 năm. Thời gian này vắng tiếng súng, nhưng vẫn có nhiều mồ hôi nước mắt. Bởi vì vẫn còn nhiều cuộc chiến đấu vô hình. Ở đây, tôi chỉ xin nói lên một số cuộc chiến vô hình đó.
1/ Chống lại tình trạng trống rỗng
"Trống rỗng" là hiện tượng khá quen. Trống rỗng khách quan là cuộc sống đầy đặc những lời nói và hoạt động, nhưng trống rỗng nội dung. Trống rỗng chủ quan là cuộc đời không thiếu hưởng thụ, mà vẫn cảm thấy trống rỗng nội tâm.
Cái trống rỗng nặng nề là trống rỗng ngay trong những tương quan. Bề ngoài coi như vồn vã, nhưng thực chất bên trong chỉ là trống rỗng.
Trống rỗng vừa nặng nề lại vừa đau xót vẫn có trong nhiều trường hợp yêu nhau.
Cái trống rỗng gây thất vọng nhất chính là trống rỗng trong nhiều sinh hoạt tôn giáo.
Mang trong mình cảnh trống rỗng, người ta phản ứng bằng nhiều cách. Có người lao mình vào cảnh truỵ lạc. Có người đi tìm thế giới giải trí. Có người tự tạo nên một cảnh sống ảo.
Để lấp đầy cái trống rỗng nội tâm, người ta thường hay dùng đến các hình thức nặng về dáng vẻ bề ngoài. Nhưng nội dung vẫn trống rỗng. Đó là bệnh hình thức.
Thực ra, hình thức vẫn cần, nhưng phải làm sao, để đằng sau hình thức, người ta có thể đón nhận được sự sống nào đó. Sự sống đó là do giá trị nhân bản, giá trị trí thức, giá trị đạo đức, giá trị tu đức.
Những giá trị ấy là những chân lý toả sáng và những tình yêu đốt nóng.
Trong Phúc Âm, Chúa Giêsu không ngừng cảnh cáo những cảnh sống đạo lấy hình thức làm chính. Cảnh sống đạo hình thức để lại một sự trống rỗng tệ hại.
Sự trống rỗng ấy rất tệ hại, bởi vì nó như một chứng bệnh nguy hiểm. Nó làm cho con người trở nên như người thiếu máu.
Để chống lại thứ bệnh nguy hiểm đó, thiết tưởng phải tăng cường đời sống suy tư lành mạnh và đời sống đạo đức đích thực.
Thực là vui, nếu thấy một địa phương phát triển về vật chất, mà cũng phát triển về suy tư lành mạnh và đạo đức đích thực.
Thực là mừng, nếu thấy đạo đời cùng nỗ lực chống lại tình hình trống rỗng.
Vui mừng đó chưa đều khắp, nhưng vẫn là niềm hy vọng lớn cho Đất Nước và Hội Thánh Việt Nam.
Một tình trạng nguy hiểm nữa cũng phải để ý trong thời bình, đó là tình trạng hỗn độn.
2/ Chống lại tình trạng hỗn độn
Thời bình dễ xuất hiện tình trạng hỗn độn. Hỗn độn nói ở đây là cảnh trà trộn giữa người tốt và người xấu.
Thánh Phêrô viết: "Trong dân chúng đã từng xuất hiện những ngôn sứ giả. Giữa anh em cũng vậy, sẽ có những thầy dạy giả hiệu, đó là những kẻ sẽ lén lút đưa vào những tà thuyết dẫn tới diệt vong... Vì tham lam, họ dùng lời lẽ gọt giũa để trục lợi" (2 Pr 2,1-3).
Còn thánh Gioan tông đồ thì quả quyết: "Giờ đây, nhiều tên phản Kitô đã xuất hiện" (1 Ga 2,18).
Thánh tông đồ còn nói thêm: "Nhiều ngôn sứ giả đã lan tràn khắp thế gian" (1 Ga 4,1).
Thời các thánh tông đồ đã có cảnh hỗn độn dữ dằn như thế. Thời nay cảnh hỗn độn cũng vẫn tái diễn, với nhiều hình thức, từ thô sơ đến tinh vi.
Cảnh hỗn độn thời nay có cái khó riêng của nó. Đó là khó phân biệt được rõ ràng người tốt người xấu, việc phải việc trái. Hoặc có biết, nhưng phải chấp nhận cảnh xô bồ đó.
Sự hỗn độn xảy ra ngay chính trong bản thân chúng ta. Một thí dụ dễ thường xảy ra, đó là những chọn lựa của chúng ta. Chọn lựa đó có thực do Chúa Thánh Thần soi dẫn, hay do ý riêng và biết đâu do ma quỷ? Ma quỷ thường có những kế hoạch tế nhị. Nó xúi người ta làm những việc ban đầu có vẻ đạo đức, nhưng thực ra sẽ đưa tới những hậu quả xấu, do vô vàn cái xấu lẻn vào.
Trước cảnh hỗn độn xưa và nay, Chúa dạy chúng ta phải "tỉnh thức và cầu nguyện". Nhìn chung, sự cầu nguyện và tỉnh thức vẫn sống động nơi nhiều lương tâm tại Việt Nam. Tạ ơn Chúa.
Một cảnh sau cùng, mà thời bình rất cần cảnh giác và chiến đấu, đó là cảnh đi tìm hạnh phúc một cách tuỳ tiện.
3/ Chống lại tình trạng tuỳ tiện
Con người của thời bình là con người săn tìm hạnh phúc. Hạnh phúc thời bình là một thứ siêu thị. Có nhiều thứ để chọn. Mình chọn, mà người khác không chọn, thì cũng không sao. Chẳng ai ép mình phải chọn cái này mà bỏ cái kia. Mình chọn cái mình thích.
"Chọn cái mình thích", khi trở thành chủ trương cho việc đi tìm hạnh phúc, thì tất nhiên sẽ đụng đến những nguyên tắc đạo đức. Trật tự luân lý không còn. Tu đức về vâng phục ý Chúa không còn. Giá trị về sự từ bỏ mình không còn. Đó là cảnh tuỳ tiện nguy hiểm.
Từ việc chọn sự gì mình thích như một hạnh phúc, sẽ gây nên khủng hoảng trong gia đình, và xã hội. Khủng hoảng đó nếu tồn tại, thì việc sống Phúc Âm, dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần sẽ gặp nhiều khó khăn.
Cũng may là tại Việt Nam hôm nay, tình trạng tuỳ tiện đang bị khống chế bởi nhiều sức mạnh đạo đức.

Trong thời bình tại Việt Nam hôm nay, nhiều người đã có kinh nghiệm về ba tình hình vừa kể:
- Tình hình trống rỗng,
- Tình hình hỗn độn,
- Tình hình tuỳ tiện.
Ba tình hình đó đòi chúng ta phải chiến đấu với nhiều sức sống nội tâm. Vì thế, về mặt nào đó, có thể nói: Chiến đấu trong thời bình sẽ khó hơn chiến đấu trong thời chiến. Tuy biết là khó, nhiều người vẫn quyết tâm chiến đấu một cách kiên trì. Đó là điều đáng mừng và đáng được nâng đỡ.

 

Bùi-Tuần 1099: DÂNG HOA VÀ DÂNG MÌNH 08-05-2010

+ GB. BÙI TUẦN
 

Tháng 5 là tháng dâng hoa. Việc dâng hoa kính Đức Mẹ càng ngày càng lan rộng và đi vào 08-05-2010 Bùi-Tuần 1099

Tháng 5 là tháng dâng hoa. Việc dâng hoa kính Đức Mẹ càng ngày càng lan rộng và đi vào chiều sâu. Một trong những cách đi vào chiều sâu là dâng hoa đi đôi với việc dâng mình cho Chúa theo gương Đức Mẹ.
Tháng 5 là tháng dâng hoa. Việc dâng hoa kính Đức Mẹ càng ngày càng lan rộng và đi vào chiều sâu.
Một trong những cách đi vào chiều sâu là dâng hoa đi đôi với việc dâng mình cho Chúa theo gương Đức Mẹ.
Đức Mẹ đã dâng mình thế nào? Ở đây xin phép chia sẻ một cách nhìn về sự Đức Mẹ dâng mình cho Chúa, để từ đó, chúng ta cũng bắt chước theo.
1. Trước hết, Đức Mẹ dâng mình bằng cách đi vào đời nội tâm
Đi vào nội tâm là cầu nguyện trong sâu thẳm lòng mình. Chúa Giêsu dạy: "Khi cầu nguyện, các con hãy vào phòng, đóng cửa lại và cầu nguyện cùng Cha chúng con, Đấng hiện diện nơi kín đáo. Và Cha của chúng con, Đấng thấu suốt những gì kín đáo, sẽ thưởng công cho các con" (Mt 6,6).
Đức Mẹ luôn cầu nguyện trong tâm hồn thanh vắng. Tâm hồn Mẹ là đền thờ, có Chúa ngự.
Đối với Đức Mẹ, cầu nguyện là khiêm tốn gặp gỡ Chúa trong lòng, là suy niệm lời Chúa, là lắng nghe ý Chúa, là yêu mến Chúa.
Cầu nguyện là ngoan ngoãn để Chúa biến đổi mình càng ngày càng nên giống hình ảnh Chúa.
Cầu nguyện là khiêm tốn đón nhận Chúa Thánh Thần, để Người dạy dỗ về ý nghĩa đời người nói chung và đời mình nói riêng.
Trong đời sống cầu nguyện, Đức Mẹ nhận ra hạnh phúc đời mình là được Thiên Chúa ban ơn biết yêu thương.
Không phải là một tình yêu chung chung, nhưng là một tình yêu thương xót.
Không phải là một tình yêu nâng mình lên, nhưng là một tình yêu hạ mình xuống, nhìn nhận mình hèn mọn, yếu đuối.
Không phải là một tình yêu cố gắng làm mọi sự mình muốn cho tình yêu, nhưng là một tình yêu cố gắng làm mọi sự Chúa muốn mình làm vì tình yêu.
Tình yêu của Thiên Chúa được thực hiện nơi Đức Giêsu Kitô. Vì thế, hướng đi của Đức Mẹ là chính Đức Giêsu Kitô, như chính Người đã quả quyết: "Thầy là đường, là sự thật và là sự sống" (Ga 14,6).
Với những gì Đức Mẹ đã cảm nhận được từ bên trong, Đức Mẹ coi việc gắn bó mật thiết với Chúa là ưu tiên đời mình. Nội tâm Đức Mẹ là một bài ca tụng Chúa: "Linh hồn tôi ngợi khen Chúa" (Lc 1,46).
Khi cùng với Đức Mẹ đi gặp Chúa trong nội tâm mình, chúng ta sẽ dần dần nếm được hạnh phúc được thuộc về Chúa. Hạnh phúc ấy lớn lao, độc đáo, không gì có thể sánh được.
Đi vào nội tâm, rồi sẽ ra đi, để vào đời thường, đó là chặng đường tiếp nối của việc Đức Mẹ dâng mình.
2/ Dâng mình bằng cách đi vào đời thường
Đời thường của Đức Mẹ trước hết là sự chu toàn bổn phận Chúa trao cho.
Để chu toàn bổn phận nuôi dưỡng và bảo vệ Chúa Giêsu, Đức Mẹ đã phải vất vả trăm bề.
Thức khuya dậy sớm, tần tảo làm ăn, tắm nắng dầm mưa. Đức Mẹ làm tất cả và chịu đựng tất cả với lòng mến lớn lao.
Đời thường của Đức Mẹ là sống tiếp cận với thực tế đạo đời. Thực tế ấy có nhiều cái tốt, nhưng cũng có nhiều cái xấu. Đức Mẹ phản ứng lại cảnh hỗn độn đó một cách bình thản. Một đàng Đức Mẹ tin tưởng vào lòng thương xót Chúa, một đàng Đức  Mẹ nhìn nhận sự hèn kém của mình, để rồi hết sức cầu nguyện cậy tin vào Chúa, đồng thời luôn yêu thương mọi người, kể cả những người tội lỗi. Cùng lúc, Đức Mẹ dùng mọi phương tiện có thể, để lấy sự thiện đẩy lùi sự ác.
Đời thường của Đức Mẹ là sống hợp tác đối thoại với những người xung quanh, trong tinh thần kính trọng, khiêm tốn, ôn hoà.
Đời thường của Đức Mẹ là nhẹ nhàng hoà nhập vào nền văn hoá của dân tộc mình. Đức Mẹ hay nhắc tới các bậc tổ tiên đã có công dựng Nước.
Đời thường của Đức Mẹ là sống ơn gọi "người tôi tớ Chúa" (Lc 1,38), phục vụ không ngơi nghỉ, với niềm tin vững vàng: "Đối với Chúa, không có gì là không có thể được" (Lc 1,37).
Đời thường của Đức Mẹ là luôn khiêm tốn vâng phục thánh ý Chúa. Nhưng Đức Mẹ không dừng lại ở đời thường. Đức Mẹ dâng mình cho Chúa ở chặng đường nối tiếp, đó là chặng đường hiến tế.
3/ Dâng mình bằng cách đi vào đời hiến tế
Sự hiến tế của Đức Mẹ là sự Đức Mẹ chia sẻ những khổ đau của Chúa Giêsu trong suốt chương trình cứu chuộc loài người. Những đau khổ của Mẹ tập trung vào trái tim Mẹ. Như lời tiên tri Simeon đã nói với Đức Mẹ, ngày Đức Mẹ dâng Chúa Hài đồng trong đền thờ: "Còn chính Bà, thì một lưỡi gươm sẽ đâm thâu trái tim Bà" (Lc 1,35).
Thực vậy, Đức Mẹ đau khổ, khi cùng với Chúa Giêsu, nhận vào mình thân phận con người tội lỗi.
Đức Mẹ đau khổ, khi cùng với Chúa Giêsu, sống cảnh nghèo của tầng lớp nghèo khổ. Nghèo của cải, nghèo tình thương, nghèo danh dự.
Đức Mẹ đau khổ, khi cùng với Chúa Giêsu, lủi thủi đi trốn tránh, sống nhờ vả ở đất khách quê người.
Đức Mẹ đau khổ, khi Chúa Giêsu, con mình, bị từ chối, bị săn đuổi, bị bắt bớ, bị kết án, bị giết chết một cách nhục nhã.
Trong mọi đau đớn, trái tim Mẹ vẫn giữ trọn niềm tin và tình yêu thương. Đau khổ vô tận, nhưng tin yêu vô bờ.
Hy tế của Đức Mẹ được tóm gọn vào sự từ bỏ mình một cách tuyệt đối, và phó thác mình nơi Chúa một cách trọn vẹn và khiêm tốn.
Hy tế ấy được thực hiện âm thầm. Của lễ là trái tim mình. Bàn thờ là trái tim mình. Và từ trái tim ấy sẽ chảy ra nguồn suối cứu độ.

Trên đây là phác hoạ lộ trình dâng mình của Đức Mẹ. Lộ trình đó có thể là một gợi ý cho chúng ta. Dù bằng cách nào, chúng ta nhất định phải dâng mình cho Chúa theo gương Đức Mẹ.
Thực rất buồn, khi thấy một lễ trọng với quy tụ lớn, nhiều người có trách nhiệm chỉ biết hăng say diễn tả những ý hướng nặng về trần tục, mà như dứt khoát không muốn nâng tâm hồn mình và cộng đoàn lên dâng mình cho Chúa, là Cha giàu lòng thương xót, Đấng sẽ giải quyết mọi sự theo thánh ý Người.
Chúng ta đừng quên ngày 13 tháng 5, kỷ niệm Đức Mẹ bắt đầu hiện ra ở Fatima. Đức Mẹ cảnh báo nhiều điều khủng khiếp sẽ xảy ra, nếu người ta không sám hối trở về với Chúa, sống vâng phục thánh ý Chúa.
Đừng coi nhẹ những cảnh báo đó. Kẻo khi tình hình đã trở nên trầm trọng, mới thức tỉnh, thì sẽ quá muộn.

 

Bùi-Tuần 1100: NHỮNG LỜI GIÃ TỪ 11-05-2010

+ GB. BÙI TUẦN
 

Trước khi rời Miletô, thánh Phaolô đã mời gặp riêng những người có trách nhiệm lo cho giáo 11-05-2010 Bùi-Tuần 1100

Trước khi rời Miletô, thánh Phaolô đã mời gặp riêng những người có trách nhiệm lo cho giáo đoàn Ephêsô. Ngài đã nói với họ những lời giã từ tha thiết. Với những lời giã từ đó, Ngài gởi lại tất cả tấm lòng của Ngài. Một tấm lòng yêu thương mục tử mong muốn mọi con cái mình ở lại luôn sẽ được bình an trong Chúa. Những lời giã từ ấy đã giúp rất nhiều cho các mục tử của Hội Thánh, nhất là trong những tình hình bất ổn.
Tình hình Hội Thánh tại Việt Nam hôm nay cũng rất cần đến sự soi sáng của những lời giã từ đó. Vì thế, tôi xin phép được chia sẻ suy nghĩ của tôi về vài điều, mà thánh Phaolô đã nhấn mạnh trong bài giã từ nổi tiếng ấy.
1. "Anh em hãy ân cần lo cho chính mình" (Cv 20,28)
Trong Kinh Thánh, sự ân cần có nghĩa như sự tỉnh thức. Thánh Phaolô khuyên các mục tử hãy ân cần tỉnh thức lo cho chính mình, để có thể lo cho giáo đoàn.
Mải miết lo cho giáo đoàn mà quên tỉnh thức lo cho chính mình là điều dễ xảy ra. Tình trạng đó là mất cân đối, vừa gây hại cho giáo đoàn, vừa gây hại cho chính bản thân người mục tử.
Tỉnh thức lo cho chính mình là thế nào? Thưa là cầu nguyện, suy gẫm, học hành, sống kỷ luật và làm các việc tu đức khác, nhất là tu đức của người môn đệ Chúa Giêsu: "Ai muốn theo Thầy, thì phải từ bỏ mình, vác thập giá mình mà theo Thầy" (Mt 16,24).
Nói cách khác, tỉnh thức lo cho chính mình là phải hết sức lo cho đời sống nội tâm của mình. Sao cho tâm hồn mình biết đón nhận Chúa, biết sống mật thiết với Chúa, biết thuộc trọn về Chúa, biết để Chúa đổi mới toàn thể con người bên trong của mình, nhất là biết vâng phục thánh ý Chúa.
Những mục tử thiếu tỉnh thức lo cho đời sống thiêng liêng của mình thường dễ rơi vào những tình trạng thê thảm sau đây:
a) Tình trạng nguội lạnh.
Chúa nguyền rủa tình trạng nguội lạnh như sau: "Ngươi chẳng lạnh mà cũng chẳng nóng. Phải chi ngươi lạnh hẳn hay nóng hẳn đi. Nhưng vì ngươi hâm hâm, chẳng nóng chẳng lạnh, nên Ta sắp mửa ngươi ra khỏi miệng Ta" (Kh 3,15).
b) Tình trạng dễ sa chước cám dỗ.
Các cơn cám dỗ nhắm vào mọi người thường nhiều và mạnh. Riêng các cơn cám dỗ nhắm vào các mục tử lại rất tinh vi. Chúa Giêsu luôn cảnh báo về sự chống lại các cơn cám dỗ bằng sự cầu nguyện và chay tịnh. Nếu sơ hở, ma quỷ sẽ lẻn vào tâm hồn, có khi một mình, có khi với nhiều quỷ khác. Chúng cư ngụ tại đó, làm cho tâm hồn mục tử trở nên tồi tệ (x. Lc 11,24).
c) Tình trạng biến chất.
Chúa phán: "Muối quả là cái gì tốt. Nhưng chính muối mà nhạt đi, thì lấy gì ướp nó cho mặm lại? Nó chẳng còn thích hợp để bón đất hay trộn gì nữa, nên người ta quẳng nó ra ngoài" (Lc 14,34). Mục tử ví như muối. Nếu biến chất, họ sẽ bị Chúa loại trừ.
d) Tình trạng dại khờ nguy hại.
Phúc Âm gọi những người không tỉnh thức hầu biết đón Chúa đến trong lúc bất ngờ là những người khờ dại. Hậu quả của sự khờ dại đó là sẽ bị Chúa loại bỏ (x. Mt 25,1-13).
Sau lời khuyên mục tử phải tỉnh thức ân cần lo cho chính mình, thánh Phaolô đưa ra lời khuyên tiếp, đó là phải tỉnh thức ân cần lo cho đoàn chiên.
2/ "Anh em hãy ân cần lo cho đoàn chiên" (Cv 20,28)
"Hãy ân cần lo cho đoàn chiên, mà Thánh Thần đã đặt anh em làm người coi sóc. Hãy chăn dắt Hội Thánh của Thiên Chúa, Hội Thánh mà Người đã cứu chuộc bằng máu của chính mình" (Cv 20,28).
Với những lời trên, thánh Phaolô nêu lên lý do siêu nhiên để mục tử có một cái nhìn trân trọng về đoàn chiên. Lý do thứ nhất là chính Chúa Thánh Thần đặt các ngài coi sóc đoàn chiên. Lý do thứ hai là đoàn chiên được Chúa cứu chuộc bằng máu của Người.
Chiều kích siêu nhiên đó buộc mục tử phải nuôi dưỡng, bảo vệ và phát triển đoàn chiên một cách đặc biệt về đàng thiêng liêng. Khi  nhắc đến sự đoàn chiên được Chúa cứu chuộc bằng máu của Người, thánh Phaolô rõ ràng nhìn về cuộc tử nạn của Chúa Giêsu trên thánh giá. Cái nhìn đó nhắc cho mục tử phải yêu thương đoàn chiên đến mức phải bỏ ý riêng mình, sẵn sàng hy sinh mạng sống cho đoàn chiên, như Chúa Giêsu đã yêu thương.
Trong việc hy sinh cho đoàn chiên, người mục tử phải ân cần lo cho đoàn chiên tránh được những sai lầm. "Phần tôi, tôi biết rằng, khi tôi đi rồi, thì sẽ có những sói dữ đột nhập vào anh em, chúng không tha đoàn chiên. Ngay từ giữa hàng ngũ anh em sẽ xuất hiện những người giảng dạy những điều sai lạc, hòng lôi cuốn các môn đệ theo chúng. Vì vậy anh em phải canh thức..." (Cv 20,29-30).
Những người như sói dữ thì dễ thấy. Còn những người giảng dạy những điều sai lạc lại có sức lôi cuốn, thì không dễ nhận ra. Họ là những người giảng dạy khó xa tránh, nhưng nhất định không được tin theo, vì họ nguy hiểm.
Về vấn đề này, người mục tử phải có ơn phân định thiêng liêng. Ơn phân định này rất cần để phân biệt điều đúng điều sai, người tốt người xấu. Trong một môi trường đạo đời đã bị ô nhiễm, nếu người mục tử không soi sáng cho đoàn chiên biết cái gì là phải cái gì là trái, thì còn gì là hướng dẫn đoàn chiên.
3/ "Xin phó thác cho Chúa" (Cv 20,34)
"Giờ đây, tôi xin phó thác anh em cho Chúa và cho lời ân sủng của Người, là lời có sức xây dựng và ban cho anh em được hưởng phần gia tài cùng với tất cả những người đã được thánh hiến" (Cv 20,32).
Những lời tạ từ trên đây là một tuyên xưng đức tin đầy khiêm tốn, bình an và nhung nhớ khôn nguôi.
Ra đi, nhưng hẹn sẽ gặp lại nhau trên cõi thiên đàng.
Ra đi, mà vẫn lo cho nhau trong cuộc sống còn nhiều gian khổ.
Giã từ trên đây của thánh Phaolô cũng đã và đang diễn lại nhiều nơi trong Hội Thánh khắp nơi.
Người mục tử ra đi đã làm trọn sứ vụ của mình, ngay trong chính lúc giã từ. Đoàn chiên ở lại sẽ giữ mãi hình ảnh đẹp của mục tử, ngay trong chính lời từ giã.
Đẹp thay những lời chia ly đầy sức sống đức tin.
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây