Suy tư của Đức Cha GB Bùi-Tuần Bài 1551-1600

Thứ bảy - 30/03/2019 05:21
Suy tư của Đức Cha GB Bùi-Tuần Bài 1551-1600
Suy tư của Đức Cha GB Bùi-Tuần Bài 1551-1600
Suy tư của Đức Cha GB Bùi-Tuần Bài 1551-1600
Bùi-Tuần 1551: Vài kinh nghiệm truyền giáo. 2
Bùi-Tuần 1552: Lời của Thiên Chúa. 7
Bùi-Tuần 1553: Suy nghĩ từ một khẩu hiệu tại Manila. 11
Bùi-Tuần 1554: Từ Thư Chung 1980: 16
Bùi-Tuần 1555: Cảm nghiệm về Chúa. 21
Bùi-Tuần 1556: Vấn đề môi trường. 25
Bùi-Tuần 1557: Thấy trước và dự phòng. 28
Bùi-Tuần 1558: Chia sẻ những cảm nghiệm trong tâm tình cảm tạ. 31
Bùi-Tuần 1559: Nghĩa tình sông nước. 34
Bùi-Tuần 1560: Tiếp cận với thời điểm phê phán. 37
Bùi-Tuần 1561: Tinh thần Giáo Hội 41
Bùi-Tuần 1562: Gợi ý cho những định hướng đầu năm.. 45
Bùi-Tuần 1563: Chuyến đi truyền giáo. 49
Bùi-Tuần 1564: Truyền giáo và Lời Chúa hứa: 51
Bùi-Tuần 1565: Phúc Âm - Dân Tộc - hiện đại 56
Bùi-Tuần 1566: Ðạo và đức. 57
Bùi-Tuần 1567: Những chuyển biến lặng lẽ. 62
Bùi-Tuần 1568: Mấy điều nhắn nhủ nghe được từ thánh giá Ðức Kitô. 67
Bùi-Tuần 1569: Chia sẻ vài ấn tượng không bao giờ quên. 70
Bùi-Tuần 1570: Trước hết, hãy là con người 74
Bùi-Tuần 1571: Học hỏi Lời Chúa qua các thực tại 77
Bùi-Tuần 1572: Thánh giá của Thánh Tâm.. 78
Bùi-Tuần 1573: Nhìn vào hình ảnh linh mục. 82
Bùi-Tuần 1574: Thoáng nhìn về những ngày toàn cầu của giới trẻ. 86
Bùi-Tuần 1575: JMJ 12 và những con đường. 89
Bùi-Tuần 1576: Hội Thánh tương lai 93
Bùi-Tuần 1577: Cầu nguyện và hành động. 98
Bùi-Tuần 1578: Thoáng nhìn về vấn đề tôn giáo trong "Cộng đồng Pháp ngữ". 100
Bùi-Tuần 1579: Kiêu căng tôn giáo và khiêm nhường Phúc Âm.. 104
Bùi-Tuần 1580: Yêu thương và phục vụ. 108
Bùi-Tuần 1581: Từ cơn bão số 5 đến hang đá Bêlem.. 110
Bùi-Tuần 1582: Chia sẻ những định hướng cho năm mới 112
Bùi-Tuần 1583: Một thoáng phản ứng. 114
Bùi-Tuần 1584: Trở về. 116
Bùi-Tuần 1585: Một chứng từ góp vào Thượng Hội đồng Giám mục Á châu. 120
Bùi-Tuần 1586: Sau Thượng Hội đồng Giám mục Á châu, 123
Bùi-Tuần 1587: Kết quả của Thượng Hội đồng các Giám mục Á châu. 127
Bùi-Tuần 1588: Cầu nguyện với Ðức Mẹ ở Lavang. 133
Bùi-Tuần 1589: Tôi đọc báo. 135
Bùi-Tuần 1590: Suy nghĩ về thời sự tôn giáo. 136
Bùi-Tuần 1591: Bồi dưỡng linh đạo. 141
Bùi-Tuần 1592: Truyền giáo là "Ra khơi". 145
Bùi-Tuần 1593: Ðạo lý lành mạnh. 147
Bùi-Tuần 1594: Những lá thư dễ đọc. 150
Bùi-Tuần 1595: Hương vị Triết học trong thông điệp. 153
Bùi-Tuần 1596: Lộ trình Lời Chúa. 156
Bùi-Tuần 1597: Mùa Vọng Maria. 159
Bùi-Tuần 1598: Cảm nghiệm Noel 162
Bùi-Tuần 1599: Tâm sự thiêng liêng về bổn phận yêu thương. 165
Bùi-Tuần 1600: Thực thi thánh ý Chúa. 168
 

Bùi-Tuần 1551: Vài kinh nghiệm truyền giáo

Tại địa phương này, trong mấy năm nay, số người vào đạo Công Giáo tăng lên đáng kể. Tôi Bùi-Tuần 1551

Tại địa phương này, trong mấy năm nay, số người vào đạo Công Giáo tăng lên đáng kể.
Tôi coi việc vào đạo chỉ là bước đầu, còn việc Phúc-Âm-hoá, thay đổi con người nên tạo vật mới, đó mới là mục đích chính yếu của việc truyền giáo.
Sau khi phân tích hành trình vào đạo và những chuyển biến nơi các người được Phúc-Âm-hoá tại địa phương này, tôi có nhận định như sau: Kết quả việc truyền giáo tuỳ thuộc rất nhiều vào một số hình ảnh trong trái tim người được truyền giáo. Trước hết là hình ảnh người truyền giáo.

 Hình ảnh người truyền giáo
Người truyền giáo ở đây được hiểu về những ai đưa người ta vào đạo, những ai dạy giáo lý cho họ, những ai huấn luyện họ về đời sống đạo.
Người truyền giáo ảnh hưởng đến người được truyền giáo qua nội dung bài vở mình giảng dạy và nhất là qua chính con người của mình.
Nội dung các sách tôn giáo rất là mênh mông. Người truyền giáo có kinh nghiệm sẽ biết nhận định những gì cần nêu lên trước và cần nhấn mạnh hơn, cũng như cần nhận thức việc truyền giáo không chỉ đơn thuần là truyền đạt các chân lý tôn giáo, mà còn là chia sẻ lửa tin yêu trong lòng mình, và nhất là biết cởi mở đón nhận ơn Chúa Thánh Thần, Ðấng soi sáng cho mình và cho người nghe hiểu đúng được những gì Ðức Kitô đã làm và đã dạy.
Lúc đó, người nghe sẽ không cảm thấy mình tiếp thu một mớ lý thuyết vô hồn, nhưng là đón nhận những chân lý sự sống, như một dòng chảy sức mạnh giải thoát tâm hồn.
Sức hấp dẫn của một chiếc máy thường phát xuất từ những hoạt động của nó. Chiếc máy không chạy sẽ chẳng hấp dẫn gì. Tương tự cũng thế, sức hấp dẫn của đức tin hoạt động của người truyền giáo đối với Chúa và đối với con người sẽ minh chứng đức tin của mình có sức hấp dẫn hay không.
Do đó, hình ảnh đẹp của người truyền giáo là hình ảnh con người làm chứng hơn là con người giảng dạy.
Bằng đời sống, họ làm chứng họ vâng lời Ðức Kitô, luôn trở về với Cha trên trời bằng những cố gắng thường xuyên bỏ đàng tội lỗi, sống đời sống mới của người con Chúa.
Khi làm chứng đúng lúc, đúng nơi, đúng cách những gì cần phải làm chứng, người truyền giáo sẽ tạo ra được một hình ảnh đẹp và dễ thương trong tâm hồn kẻ được truyền giáo. Hình ảnh này được coi là yếu tố đáng kể trong việc truyền giáo.
Bên cạnh hình ảnh này là hình ảnh cộng đoàn của người truyền giáo. Hình ảnh này cũng ảnh hưởng lớn đến người được truyền giáo.

 Hình ảnh cộng đoàn của người truyền giáo
Tất nhiên hình ảnh này cũng phải đẹp mới gây được ảnh hưởng tốt. Ðẹp ở điểm nào? Có thể ở những cơ sở vật chất văn minh, ở những tổ chức lễ lạy đông đảo, trật tự, ở những qui tụ có mục tiêu lợi ích chung. Nhưng hầu hết những người được hỏi đều nhận rằng vẻ đẹp lôi cuốn nhất có nhiều khả năng cải thiện con người là ở chỗ cộng đoàn gồm những người ưa thích đi sâu vào đời sống nội tâm, đồng thời cũng hăng hái dấn thân thực thi bác ái, tích cực giúp nhau phát triển về mọi mặt, nhất là về mặt đạo đức. Vẻ đẹp như thế sẽ toả ra được bầu khí hiệp thông, giúp con người hướng về Thiên Chúa, và gây niềm tin tưởng lẫn nhau.
Dựa vào kinh nghiệm trên đây, người truyền giáo tốt thường rất quan tâm đến việc đưa người được truyền giáo vào cộng đoàn. Cộng đoàn không nhất thiết phải lớn. Một cộng đoàn nhỏ mà tốt thường dễ lôi kéo con người về đàng lành hơn một cộng đoàn lớn mà tầm thường.
Trong cộng đoàn nhỏ thường dễ thực hiện những sinh hoạt cộng đồng có phẩm chất, và những giáo dục cộng đồng sâu sát có khả năng đi vào từng cá nhân, tạo ra được một bầu khí trẻ trung mà trưởng thành, tự do mà kỷ luật.
Cộng đoàn, dù là nhóm nhỏ, hội đoàn, giáo xứ, giáo phận, tất cả đều là những bộ phận của Hội Thánh, nhiều khi đóng vai người giới thiệu Hội Thánh, nên thường được ơn Chúa giúp, miễn là biết cởi mở đón nhận. Vì thế hình ảnh đẹp của một cộng đoàn đẹp không bao giờ mang cái đẹp riêng rẽ, nhưng luôn luôn phản ánh cái đẹp chung của Hội Thánh hiệp thông. Một hình ảnh cộng đoàn như vậy sẽ góp phần không nhỏ trong việc tái sinh con người vào đời sống mới. Việc đó Chúa đã trao cho Hội Thánh phải thực hiện khắp nơi, và được gọi là việc truyền giáo.
Trong việc truyền giáo, còn một hình ảnh khác cũng là yếu tố đáng kể, có ảnh hưởng lớn. Ðó là hình ảnh chính người được truyền giáo.

 Hình ảnh chính người được truyền giáo
Tôi có dịp được làm quen với nhiều người tân tòng, thuộc đủ loại người. Qua tiếp xúc, tôi nhận thấy mỗi người đều mang trong lòng mình nhiều hình ảnh khác nhau về chính bản thân mình: Những hình ảnh thời quá khứ. Những hình ảnh thời hiện tại. Những hình ảnh thời tương lai.
Rất nhiều hình ảnh nặng nề và thương tích, do đủ thứ mặc cảm gây nên. Thí dụ mặc cảm tự tôn tự ty, mặc cảm bị thua thiệt, bị khinh, bị bắt bớ, bị hiểu lầm, mặc cảm bất mãn, bất lực, mặc cảm về tình yêu, về tiền bạc, về danh vọng, vv... Nhiều mặc cảm có sức tác hại hơn chính các tội lỗi. Vì thế, trong truyền giáo, việc giải thoát con người khỏi gánh nặng mặc cảm là việc không nên coi thường.
Một số người truyền giáo ít hiểu biết những khoa học về con người, đã vô tình làm cho các mặc cảm nơi người được truyền giáo càng thêm sâu, tạo nên trong họ những hình ảnh về chính mình rất méo mó tội nghiệp. Với những hình ảnh như thế, người được truyền giáo dễ có những phản ứng lệch lạc trước những sự việc xảy ra, ngay cả trước những ý nghĩa của Lời Chúa.
Tôi biết có một người, sau khoá giáo lý, đã biến đổi rõ rệt, ở chỗ họ đâm ra lo lắng, sợ sệt, bối rối, mất vẻ hồn nhiên trước đây. Hỏi ra mới hay họ bị ám ảnh quá mạnh bởi các bài giáo lý về tội. Họ tự tạo ra một hình ảnh nhầy nhụa về chính họ trong lúc đó, và một hình ảnh đạo đức phải nói là bệnh hoạn, mà họ định tâm sẽ vươn tới trong tương lai. Có thể là họ đã tiếp thu không đúng những bài đã giảng dạy. Tuy nhiên, một hình ảnh như thế về chính mình, sẽ rất sai với Tin Mừng.
Theo tôi, một hình ảnh đẹp về mình đúng với Tin Mừng, mà người được truyền giáo cần có trong mình, chính là hình ảnh họ được Chúa yêu thương. Không phải họ được yêu thương cách chung chung, nhưng được yêu thương một cách riêng biệt. Ðược yêu thương, đó là hình ảnh đúng nhất và đẹp nhất, giúp họ tin tưởng trở về.
Một hình ảnh khác cũng có ảnh hưởng đến việc truyền giáo, đó là hình ảnh xã hội của người được truyền giáo.

 Hình ảnh xã hội của người được truyền giáo
Người nào cũng có gốc rễ nhất định, cũng là con cháu của một dân tộc nhất định. Họ mang hình ảnh dân tộc, quê hương, đất nước của mình. Hình ảnh đó, dù sao đi nữa, vẫn là một phần thiêng liêng và thân thương của con người họ. Kính trọng hình ảnh đó, chính là một việc hợp lý hợp tình của người truyền giáo.
Nhiều người ngoài công giáo cho biết lý do họ mến đạo Công Giáo, là vì họ thấy cộng đồng người công giáo xung quanh họ cũng giống như họ ở chỗ có lòng hiếu thảo với cha mẹ, ông bà, tổ tiên, và có lòng kính trọng biết ơn đối với giới nghèo là thành phần quan trọng trong việc xây dựng và bảo vệ Ðất Nước. Như thế có nghĩa là người được truyền giáo rất hài lòng vì được gặp gỡ người công giáo ở ngay chính những giá trị mà họ đang sống và vẫn từng tha thiết. Họ có cảm tình với đạo và bắt đầu tin vào Ðức Kitô, nhờ bước đầu đó. Một hình ảnh đẹp về xã hội của họ, với những giá trị thiêng liêng vốn có do người truyền giáo đưa ra, sẽ giúp họ hiểu sự trở về không có nghĩa là sự phủ nhận các giá trị truyền thống dân tộc cũng như những cái tốt của các tôn giáo ngoài Công Giáo.
Mới rồi, một người giảng dạy giáo lý đã có lời lẽ cường điệu sao đó, có tính cách đề cao Hội Thánh công giáo, xã hội công giáo, và hạ thấp Hội Thánh và xã hội các tôn giáo khác. Mấy ngày sau, họ nhận được một lô sách báo mang nội dung phê phán gay gắt đạo Công Giáo, Hội Thánh công giáo, và các chế độ công giáo nhất là tại Việt Nam. Tôi đã mượn đọc các tài liệu đó. Ðọc xong, tôi có ý nghĩ này: Bất cứ bên nào, khi đề cao tôn giáo mình bằng cách hạ tôn giáo khác xuống, sẽ phạm một sai lầm lớn, cả về đạo lý, cả về tâm lý. Biết kính trọng nhau, biết chấp nhận nhau, đó mới là một hình ảnh đạo đức. Muốn thể hiện điều đó, người truyền giáo phải rất tế nhị, phải rất công bình, tôn trọng mọi sự thật, trong các nhận định và trong mọi ứng xử đối với xã hội mà mình đến truyền giáo. Ðưa ra một hình ảnh thiếu trung thực về xã hội của người được truyền giáo với mục đích loan báo Tin Mừng, sẽ là điều khó có thể chấp nhận được đối với người được truyền giáo.
Một hình ảnh sau cùng, nhưng có tính cách quyết định trong việc truyền giáo, đó là hình ảnh Ðức Kitô.

 Hình ảnh Ðức Kitô
Trong một cuộc chia sẻ với giới trẻ, tôi đưa ra câu hỏi: “Ðối với con, Ðức Kitô là ai?”. Nhiều bạn trẻ trả lời khá tốt. Nhưng có một bạn đã trả lời rất đúng: “Ðối với con, Ðức Kitô là Ðấng cứu chuộc. Người cứu chuộc nhân loại và cứu chuộc con”. Trả lời đó đã cắt nghĩa động lực sâu xa của sự vào đạo nơi biết bao người.
Họ nói là họ nhận thấy mình yếu hèn, tội lỗi, cần được cứu độ. Và họ đã thấy Ðức Kitô đã đến cứu họ, đã đến biến cải họ. Ðức Kitô đã đến với họ, dưới hình ảnh Ðấng cứu độ. Ðức Kitô đang ở trong họ như một tình yêu đỡ nâng, cũng dưới hình ảnh Ðấng cứu độ. Ðức Kitô, Ðấng cứu độ là Ðấng đã bởi trời xuống thế, đã chịu tử nạn, đã sống lại và đang được vinh hiển. Ðức Kitô, Ðấng cứu độ, là Ðấng họ gặp gỡ trong đức tin, một cách sống động, gần gũi, riêng tư. Nhờ những gặp gỡ này, họ hiểu sự cứu rỗi là được Ðức Kitô cứu ra khỏi tội lỗi, được Ðức Kitô chia sẻ cho sự sống Thiên Chúa, và được Ðức Kitô đóng ấn Chúa Thánh Thần.
Hình ảnh Ðức Kitô cứu độ đã đưa họ vào mầu nhiệm cứu độ, giúp họ luôn tập trung đời sống mình vào Ðức Kitô, luôn trở về với Người và Phúc Âm của Người. Hình ảnh Ðức Kitô cứu độ càng rõ, càng sâu, càng đậm, càng sẽ có sức Phúc-Âm-hoá con người.
***
Trên đây là một vài kinh nghiệm truyền giáo. Tôi cảm tạ Chúa hết lòng. Tôi cũng chân thành cảm ơn những người đã trở lại và đang được Phúc-Âm-hoá. Chính họ đã và đang góp phần Phúc-Âm-hoá bản thân tôi, khi họ chia sẻ cho tôi những gì Chúa đã làm nơi họ.
Long Xuyên, tháng 10/1994
 

Bùi-Tuần 1552: Lời của Thiên Chúa

“Thiên Chúa đã nói với nhân loại qua Con của Người” (Heb, 1,2).

Con của Người là Ngôi Lời. Khi giáng trần, Ngôi Lời được đặt tên là Giêsu Kitô. Tuy là Ngôi Bùi-Tuần 1552

Con của Người là Ngôi Lời. Khi giáng trần, Ngôi Lời được đặt tên là Giêsu Kitô.
Tuy là Ngôi Lời, Ðức Kitô tại hang đá Bêlem đã không nói lời nào. Ðúng hơn, Người đã nói, nhưng không phải bằng lời, mà bằng chính bản thân mình.
Trước hết, Người nói bằng thân phận kẻ rốt hết.

 Thân phận kẻ rốt hết
Thực vậy, Người đã giáng sinh trong thân phận hài nhi cực kỳ khốn khổ, nằm trong một máng cỏ rơm, đặt ở góc hang đá, giữa cánh đồng, bên cạnh mấy con bò và chiên. Chỗ như thế phải kể là chỗ rốt hết. Chính chỗ rốt hết này đã là nơi chọn lựa của Thiên Chúa giáng trần.
Ở đây, tính cách rốt hết không chỉ hệ tại chỗ đó thấp hèn, mà còn ở tại sự khinh miệt người ta thường dành cho kẻ nào rơi vào chỗ đó.
Chỗ rốt hết dành cho Ðức Kitô đã được tiên tri Ðavid loan báo từ lâu trước “Tôi chọn sự khinh miệt trong nhà Chúa” (Tv. 83,11). “Tôi là kẻ bị khinh miệt nhất trong toàn dân” (Tv. 21,7).
Từ chỗ rốt hết tại Bêlem, Ðức Kitô đã tiếp tục sống ơn gọi kẻ rốt hết suốt cả cuộc đời.
Thánh Phaolô đã diễn tả cuộc đời đó như sau: “Ðức Kitô, tuy mang ngôi vị của Thiên Chúa, nhưng Người đã không nghĩ phải tranh giành cho mình chức vị đồng hàng với Thiên Chúa. Song Người đã tự huỷ mình ra không, là lãnh thân phận tôi đòi, trở thành giống hẳn người ta, đem thân mặc thân phận người phàm. Người đã hạ mình thấp hèn, trở thành vâng phục cho đến chết, và là cái chết trên thập giá” (Pl 2,6-8).
Như thế Ðức Kitô đã đi xuống. Từ xuống ít tới xuống nhiều. Từ thân phận kẻ bần cùng đến thân phận kẻ đầy tớ tôi đòi, và sau cùng tới thân phận kẻ bị án chết.
Chọn chỗ rốt hết, đó là một chọn lựa cứu độ của Ðức Kitô. Ðể cứu độ ai, sự có mặt của mình đã là một việc tốt, gần gũi họ là việc tốt hơn, chia sẻ thân phận của họ là việc còn tốt hơn nữa, và chết tủi nhục vì họ là việc không ai dám nghĩ tới. Ðức Kitô đã đi tới cùng tiến trình cứu độ ấy.
Tiến trình ấy không đơn giản chỉ có một vài thử thách, mà là mọi thử thách. Thánh Phaolô nói: “Chúng ta có một vị thượng tế không phải là không biết những yếu đuối của chúng ta. Bởi vì Người đã chịu thử thách về mọi sự, ngoại trừ tội lỗi” (Heb. 4,15).
Chịu thử thách về mọi sự, nhất là về sự bị đẩy vào các chỗ rốt hết, đó là một nét của chân dung tình yêu cứu độ, mà Ðức Kitô đã muốn mọi người nhìn ngắm, khi gặp gỡ Người.
Khi gặp gỡ Ðức Kitô, khi nhìn ngắm chân dung ấy, nhiều người đã hết muốn hỏi Người điều nọ điều kia. Chính Người là câu trả lời đầy đủ, mặc dầu Người thinh lặng. Bằng thinh lặng, Người cũng đã nói rất nhiều. Một sự thinh lặng đã được chọn lựa ngay từ hang đá Bêlem.

 Thinh lặng
Thực vậy, Ðức Kitô làm chứng nhiều hơn là rao giảng. Trước khi giảng đạo đức, Người đã sống đạo đức. Người làm chứng các chân lý đạo bằng chính cuộc sống mình. Ðể bất cứ ai, khi theo đạo Người, sẽ có thể nói: Theo đạo Ðức Kitô là đi theo Người, là sống như Người, là noi gương Người. Và để bất cứ ai, khi trích dẫn lời Người, sẽ có thể trích dẫn đời Người kèm theo.
Như thế, sự thinh lặng của Ðức Kitô không có nghĩa một tình trạng thiếu nội dung. Trái lại, nó có nghĩa một chọn lựa để làm chứng cho những giá trị cao cả.
Thinh lặng của Người là sự lặng lẽ của một hành trình dài ơn gọi “Này con xin đến, để làm theo ý Cha”, Ðấng hằng mong muốn cho mọi người được rỗi, bằng cách họ tự do đón nhận ơn Người ban cho.
Thinh lặng của Người là sự khiêm tốn của tinh thần dâng hiến. Xin làm men, làm muối, làm hạt giống chấp nhận phải thối đi, để có thể nẩy mầm, sinh cây.
Thinh lặng của Người là sự tỉnh thức của kẻ đợi chờ, kêu gọi người ta bằng sự kiên trì đầy yêu thương và bằng gương sáng, hơn là bằng những lời ép buộc.
Thinh lặng của Người là sự tĩnh mịch của tinh thần cầu nguyện, một sự cầu nguyện có nghĩa là sự gặp gỡ giữa con người với Thiên Chúa.
Thinh lặng của Người là sự dũng cảm của tinh thần sự thực, làm chứng cho chân lý bằng thực chất bản thân mình, chứ không bằng cách nói nhiều, phô trương nhiều, tố cáo nhiều, biện minh nhiều.
Thinh lặng của Người là sự chân thành của tình mến Chúa yêu người, làm chứng cho tình bác ái, cho đi âm thầm, hy sinh lặng lẽ.
Thinh lặng như thế là quê hương của kẻ mạnh. Ðể trong việc đào tạo các môn đệ sau này, Ðức Kitô sẽ coi việc tập cho họ biết giữ thinh lặng là việc quan trọng. Biết bao điều sai trái đã được nhận ra và sửa đổi, nhờ sự thinh lặng làm chứng của những người tích cực sống Phúc Âm, nêu gương sáng, sốt sắng cầu nguyện. Biết bao người đã được ơn trở lại nhờ tiếp cận với những tâm hồn thinh lặng đầy sự hiện diện của Thiên Chúa.
Thinh lặng như thế là dấu chỉ của tinh thần khắc kỷ, thường xuyên phấn đấu với chính mình, để có sự tự do tâm hồn, một sự tự do là ơn huệ của Chúa Thánh Linh và múc ra từ thánh giá. Nhiều môn đệ Ðức Kitô đã được kính trọng và tín nhiệm, nhờ khả năng thinh lặng đầy tinh thần chiêm niệm, cầu nguyện và tự chế.
Chọn lựa thinh lặng để cứu đời, đó cũng là một nét của chân dung tình yêu cứu độ, mà Ðức Kitô mời gọi mọi người nhìn ngắm, khi gặp gỡ Người.
Khi gặp gỡ Người, khi nhìn ngắm chân dung ấy, nhiều người phải lặng đi ngây ngất, và không ngừng cảm tạ Ðức Kitô. Họ sẽ lại thấy Người dễ thương quá đỗi, ở chỗ Người rất đơn sơ. Người nói qua sự đơn sơ của Người.

 Ðơn sơ
Thực vậy, khi giáng trần, Ðức Kitô đã đến một cách đơn sơ, hết sức đơn sơ, một sự đơn sơ không ai tưởng tượng nổi. Nơi Người chọn đến là một chỗ cực kỳ đơn sơ. Ðó là hang đá Bêlem. Những người gặp gỡ đầu tiên là những kẻ rất mực đơn sơ. Ðó là Ðức Mẹ, thánh Giuse và các mục đồng. Ngôn ngữ đầu tiên của Người là những cử chỉ dễ thương của hài nhi bé bỏng.
Ðơn sơ là đi thẳng vào căn bản. Theo tinh thần đó, Ðức Kitô đã giới thiệu chính bản thân Người, trước khi giới thiệu đạo lý của Người. Chính bản thân Người là quà tặng. Chính bản thân Người là Ðường, là Sự Thật và là Sự Sống. Chính bản thân Người là sự hiền từ, khiêm nhường và bác ái.
Ðơn sơ là rất thực, hoàn toàn thực. Theo tinh thần đó, Ðức Kitô đã cho thấy, Người cam chịu muôn vàn khổ cực, chắc chắn không phải để cứu thân Người, mà để cứu nhân loại. Càng không phải để theo ý riêng mình, mà để theo ý Ðấng đã sai mình đi.
Ðơn sơ là dễ hiểu. Theo tinh thần đó, Ðức Kitô đã làm chứng hơn là giảng dạy. Người làm chứng về một Thiên Chúa yêu thương, chấp nhận hy sinh đến cùng, để mọi người được biết yêu thương nhau, và cùng nhau trở về với Thiên Chúa là tình yêu vĩnh cửu.
Ðơn sơ là hồn nhiên, đón nhận. Theo tinh thần ấy, Ðức Kitô đã khẳng định, chỉ những ai trở nên giống như trẻ nhỏ, mới được vào thiên đàng (x. Mt 18,3). Và chỉ những tâm hồn đơn sơ bé mọn mới được Chúa Cha mạc khải cho biết các mầu nhiệm Nước Trời (x. Lc 10,21).
Ðơn sơ như thế là vẻ đẹp toả sáng của tâm hồn sống sự thực và phó thác khiêm nhường. Tâm hồn ấy chỉ khao khát một điều duy nhất, đó là làm vui lòng Ðấng đã thương mình và mình gắn bó vô điều kiện.
Ðơn sơ như thế là lợi dụng mọi dịp, dù bé nhỏ nhất, của giây phút hiện tại, để chứng minh lòng mình mến Chúa yêu người thực sự hết lòng, hết sức, hết linh hồn, hết trí khôn.
Ðơn sơ như thế, đó cũng là một nét của chân dung tình yêu cứu độ, mà Ðức Kitô muốn mọi người nhìn ngắm, khi gặp gỡ Người.
***
Với một chân dung đơn sơ, thinh lặng và chấp nhận chỗ rốt hết, Ðức Kitô dạy ta hãy biết đón nhận Người, hãy để Người yêu thương ta, hãy tin tưởng phó thác vào tình yêu cứu độ của Người, hãy biết mở lòng thực rộng, để Người tự do thực hiện trong ta công việc tạo dựng, cứu độ và thánh hoá.
Long Xuyên, tháng 12/1994
 

Bùi-Tuần 1553: Suy nghĩ từ một khẩu hiệu tại Manila

Khẩu hiệu của đại hội là rất quan trọng, nhất là khi đại hội có tầm cỡ lớn, nhưng chỉ mang một khẩu Bùi-Tuần 1553

Khẩu hiệu của đại hội là rất quan trọng, nhất là khi đại hội có tầm cỡ lớn, nhưng chỉ mang một khẩu hiệu duy nhất.
Khẩu hiệu duy nhất của đại hội giới trẻ Công giáo toàn cầu tại Manila, Phi Luật Tân từ ngày 10 đến 15 tháng 1/1995 là “Như Cha đã sai Thầy đi thế nào, Thầy cũng sai chúng con đi như vậy” (Ga 20,21).
Khẩu hiệu trên đây là Lời Chúa. Ðây là một lời hô hào gởi đến giới trẻ Công giáo toàn cầu. Ðây cũng là một sứ điệp gởi đến Giáo Hội Phi Luật Tân nhân dịp mừng kỷ niệm 400 năm thành lập tổng giáo phận Manila và một số giáo phận khác được tổ chức trọng thể ngày 14 tháng 1/1995. Ðây cũng là một nhắc nhở gởi đến hội nghị liên hiệp các Hội đồng Giám mục Á châu diễn ra tại Manila từ ngày 10 đến 19/1/1995.
Chính Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã chọn khẩu hiệu này. Vì thế, cần hiểu ý Ngài về sứ mạng được sai đi. Tôi đã tìm hiểu ý Ngài nhiều nhất trong thông điệp của Ngài tựa đề: “Sứ mạng sai đi của Ðấng Cứu thế” (7/12/1990). Xin tóm tắt như sau:

 Ðược sai đi để làm gì?
Ðức Kitô được Ðức Chúa Cha sai đến trần gian để công bố và thiết lập Nước Trời. Nước Trời có những đặc điểm riêng và những đòi hỏi riêng. Nó nhằm giải cứu con người khỏi mọi nỗi khổ cực của đói nghèo, bệnh tật, dốt nát, bất công, áp bức. Những giải cứu đó phải dẫn đến sự giải cứu khác sâu xa hơn, đó là giải cứu khỏi tội lỗi, để sống đạo đức, đặc biệt là sống đức ái. Qua những giải cứu này, con người được mời gọi đón nhận ơn trở về, ơn đức tin và sự sống mới. Tin vào Thiên Chúa giàu tình thương xót và sống sự sống người con Thiên Chúa. Ai càng trở về với Thiên Chúa trong sự tha thiết cầu nguyện và thực thi thánh ý Chúa Cha, người đó càng làm cho Nước Trời trong con người họ được phát triển, nhờ đó họ được cứu rỗi (Sứ mạng được sai đi của Ðấng Cứu thế, số 13).
Một Nước Trời như thế được dành cho mọi người. Ðể nhấn mạnh điều đó, Ðức Kitô đã sống gần gũi những kẻ nghèo, những kẻ khốn cùng. Người cho họ một kinh nghiệm được giải cứu, được Chúa yêu thương. Người chữa bệnh, trừ quỷ và tha thứ. Người đổi mới các quan hệ giữa con người với con người, và giữa con người với Thiên Chúa bằng cách tập trung các luật đạo vào một luật căn bản Mến Chúa yêu người. Sau cùng, để đi tới cùng con đường tình yêu, Người đã tự nguyện hiến dâng chính mạng sống mình. Nhưng rồi Người đã phục sinh, thắng vượt mọi quyền lực sự ác, chứng tỏ sức mạnh vô cùng của Thiên Chúa tình yêu. Nước Trời được hiện diện và được giới thiệu trong Ðức Kitô. Từ đó, những ai góp phần xây dựng Nước Trời cần gắn bó với Người, để có thể thành công.
Chính vì vậy, các tông đồ xưa, những kẻ được sai đi, khi rao giảng và thiết lập Nước Trời, đã luôn luôn nhấn mạnh đến biến cố Ðức Kitô. Một Nước Trời theo quan điểm các tông đồ, sẽ không phải chỉ là những giá trị căn bản của một lý tưởng hạnh phúc, mà còn phải là một sự gắn bó với Ðức Kitô, một Ðấng hữu hình là hình ảnh Thiên Chúa vô hình (Sứ mạng được sai đi của Ðấng Cứu thế, số 14-17).
Ngoài ra, kẻ được sai đi còn phải để ý đến vai trò của Hội Thánh. Bởi vì Hội Thánh được Ðức Kitô thiết lập như dấu chỉ và dụng cụ xây dựng Nước Trời. Hội Thánh giúp cho con người ăn năn trở lại, đón nhận sự sống mới. Hội Thánh thiết lập các cộng đoàn đức tin và đức ái, để phục vụ con người. Hội Thánh chia sẻ các giá trị Phúc Âm cho mọi người, bằng việc dấn thân cho các công việc công lý và hoà bình, cho các hoạt động giáo dục và từ thiện. Hội Thánh cầu nguyện và huấn luyện con người về đức tin, để họ biết đón nhận ơn Chúa. Tóm lại, Hội Thánh được Chúa ban cho những phương tiện để cứu độ và thánh hoá, nhằm xây dựng và mở rộng Nước Trời (Sứ mạng được sai đi của Ðấng Cứu thế, số 17-20).
Những điều Ðức Thánh Cha dạy trên đây cho thấy: Kẻ được sai đi có nhiệm vụ rao giảng và góp phần xây dựng Nước Trời trong Ðức Kitô, nhờ Ðức Kitô và với Hội Thánh của Ðức Kitô.
Trong chiều hướng đó, đại hội giới trẻ Công giáo toàn cầu đã được tổ chức tại Manila Phi Luật Tân, từ ngày 10 đến 15 tháng 1/1995.

 Giới trẻ Công giáo được sai đi
Từ sân bay Aquino cho đến các đường phố Manila, tôi thấy khẩu hiệu Lời Chúa có mặt khắp nơi. Ðâu đâu cũng đọc được chỉ nguyên một lời “Như Cha đã sai Thầy đi thế nào, Thầy cũng sai các con đi như vậy”. Khẩu hiệu này còn được nhìn thấy trên ác cáo sơ mi đủ màu sắc, và trên các loại ảnh đeo ảnh giấy. Ði chỗ nào cũng gặp những thanh niên nam nữ đeo hoặc gắn trước ngực loại ảnh đó.
Họ đông vô kể, chia thành nhiều nhóm, họ ở nhiều nơi, sinh hoạt tại nhiều điểm. Rất ít khi họp đại qui mô. Sinh hoạt chính của họ là học hỏi giáo lý, trao đổi và tham dự thánh lễ, thời gian rảnh họ đi tham quan.
Một buổi tối nọ, tôi đang đứng giữa đám đông xem một nhóm giới trẻ Phi Luật Tân biểu diễn văn nghệ ca múa, thì một nhóm ba cô tới chào tôi. Họ tự giới thiệu họ là người Pháp. Sau vài phút làm quen, họ cho biết cảm tưởng của họ sau mấy ngày sống tại đây. Cái đã khiến họ phải suy nghĩ, đó là những gì đã gây ấn tượng. Ấn tượng đã không đến từ những bài giáo lý và những thánh lễ, nhưng đã đến từ những con người, những cảnh sống, những thái độ đối xử. Còn nhiều nghèo khổ quá. Còn nhiều cảnh chênh lệch quá lớn giữa giàu và nghèo. Nhưng lại có rất nhiều thái độ đơn sơ, chân thành, hiếu khách của người dân thường. Tiếp đó, họ chia sẻ kinh nghiệm tu đức của họ. Họ nói một cách hăng say, nét mặt hân hoan, mắt sáng rực.
Tiếp xúc với họ, tôi có cảm tưởng họ đúng là những kẻ được sai đi. Nhưng để trở thành kẻ sai đi có tinh thần tông đồ tha thiết với Nước Trời như vậy, họ đã phải được đào tạo rất kỹ lưỡng. Không phải ai cũng biết rung cảm trước những cảnh khổ đau của con người. Không phải ai cũng nghe được những tâm tình rên xiết của con người trong cảnh cô đơn cùng cực. Không phải ai cũng nhận ra được tiếng Chúa sai đi phát ra từ chính những thực tại cuộc sống bên cạnh mình.
Một lần khác, cũng giữa đám đông, tôi thoáng nhìn thấy hai anh thanh niên có cái gì là lạ. Ăn mặc khó nghèo, thái độ khiêm tốn, nét mặt rực sáng. Tôi đoán hai anh này không phải loại thường. Tôi bước lại gần, chào thăm. Ðúng. Hai anh này thuộc cùng một cộng đoàn tu hội mới. Một anh người Mỹ, một anh người Bỉ. Ðược hỏi thăm, họ cho biết họ tình nguyện đến Phi Luật Tân từ vài năm nay. Sống giữa xóm nghèo sống như người nghèo, làm những việc thường kiếm đồng lương như người nghèo, để cảm thông với giới nghèo. Họ không nói nhiều về họ. Họ cũng chẳng phê phán trách móc ai. Nhìn họ và nghe họ chia sẻ, tôi cảm thấy lòng mình vui, như được gặp Ðức Kitô trong họ, một Ðức Kitô hiền lành, khiêm nhường, nhân ái, mà Ðức Thánh Cha đã tả trong thông điệp “Sứ mạng được sai đi của Ðấng Cứu thế”. Tôi nhìn thấy Nước Trời lung linh trong mắt họ, và tôi cảm thấy hương vị Nước Trời từ họ chia sẻ sang tâm hồn tôi.
Một buổi sáng, tôi đang đi tìm mấy người quen giữa đám đông, thì một phụ nữ sà tới. Cô tự giới thiệu cô là nhà báo, người Canada. Tôi phỏng vấn cô nhiều hơn là bị cô phỏng vấn. Sau cùng, cô dẫn tôi tới gặp lại người thanh niên đang đứng đàng xa. Qua trao đổi, tôi được biết họ là thành phần của một cộng đoàn tu đức. Họ cho biết họ đã qua nhiều khoá thần học, Kinh Thánh, nhiều tháng tĩnh tâm, nhiều kỳ thử thách giữa các người nghèo, người khác đạo, và người vô tín ngưỡng. Họ còn trẻ, nhưng có nhiều kinh nghiệm về sứ mạng của kẻ được sai đi loan báo và xây dựng Nước Trời.
Tiếp xúc với đoàn giới trẻ Việt Nam, tôi cảm thấy một bầu khí tâm tình ấm áp lạ lùng. Hơn hai chục em đến từ Hoa Kỳ. Cũng hơn hai chục đến từ Úc. Gần một chục đến từ Ðài Loan. Gần một trăm đến từ mấy trại tỵ nạn tại Phi Luật Tân. Các em rất hồn nhiên, dễ thương, ngoan hiền. Tâm sự của các em có vui, có buồn, có thất vọng và có hy vọng. Làm sao cuộc đời có được tình thương bao bọc, con người biết nâng đỡ nhau, biết chấp nhận nhau? Làm sao giữa những sóng gió cuộc đời, mình biết phó thác và cậy trông? Làm sao khi thấy cảnh gia đình mình đổ vỡ, mình vẫn tin vào Ðức Kitô như một điểm tựa? Làm sao khi thấy nhiều gương xấu về công bình bác ái trong các giới Công giáo, mình vẫn giữ được niềm tin và lòng kính trọng đối với Hội Thánh?
Nghe những khắc khoải của các em, tôi có cảm tưởng các em là những kẻ được Chúa sai đến với chúng tôi, để cho chúng tôi thấy được một cách cụ thể những gì cần phải quan tâm hơn trong việc xây dựng Nước Trời hôm nay. Ngay một việc các em tỏ bày tâm tình thao thức một cách chân thành với tinh thần khiêm tốn yêu thương cũng đã là một đóng góp đáng kể trong việc xây dựng Nước Trời.
Nhìn chung, qua đại hội giới trẻ vừa qua, tôi thấy giới trẻ Công giáo hiện nay có nhiều thiện chí, nhiều nhiệt tình. Họ muốn được sai đi. Họ sẵn sàng được sai đi xây dựng Nước Trời. Ðối với phần đông giới trẻ Công giáo hiện nay, Nước Trời được nhìn như một cuộc sống hạnh phúc phần xác và phần hồn. Họ muốn dấu chỉ của Nước Trời phải được nhận thấy trong cuộc sống. Họ muốn cái tốt, cái đẹp của Nước Trời cũng phải được thực hiện ngay trong cuộc sống cá nhân gia đình và xã hội. Nhưng cuộc sống hôm nay là cuộc sống của thời đại kinh tế thị trường, kinh tế cạnh tranh. Trong đó đồng tiền là vua. Ðồng tiền sai khiến, đồng tiền biến đổi lòng người, gia đình, xã hội, đôi lúc đến cả tôn giáo. Ðồng tiền là yếu tố rất quan trọng làm nên hạnh phúc: Trong một tình hình như vậy, sống đạo đức thì phải thế nào, nên theo mô hình nào? Cái khó xem ra không phải là đức tin, nếu hiểu đức tin là chấp nhận những tín điều Hội Thánh dạy tin. Bởi vì họ rất sẵn sàng tin tất cả những tín điều Hội Thánh dạy. Nhưng cái khó là ở phạm vi luân lý. Nhiều điều Hội Thánh coi là tội, nhưng nhiều người trẻ lại không coi là tội. Họ nghĩ khác. Họ sống khác. Nhiều điều Hội Thánh coi là đạo đức, nhưng nhiều người trẻ lại không coi là đạo đức. Họ không phản đối nhưng họ đi theo con đường riêng của họ.
Họ rất tha thiết với Ðức Kitô và Hội Thánh của Người, nhưng họ mong muốn được nhìn thấy dung mạo dễ thương, thánh thiện của Hội Thánh, và dung mạo tình yêu giàu tình thương xót của Ðức Kitô. Tức là họ có một sự không hài lòng nào đó trong việc những người có trách nhiệm đã trình bày và giới thiệu Ðức Kitô và Hội Thánh trên lý thuyết và trên thực tế.
Qua đại hội giới trẻ lần này, tôi thấy việc sai giới trẻ đi xây dựng Nước Trời là việc phải thực hiện. Nhưng trước khi họ được sai đi, họ cần được huấn luyện kỹ và sâu, theo những chỉ dẫn mà Ðức Thánh Cha đã nêu lên trong thông điệp “Sứ mạng sai đi của Ðấng Cứu thế”.
Phải quan tâm nhiều hơn đến việc đào tạo những thành phần nòng cốt cho giới trẻ. Phải biết sai họ đi đúng nơi đúng lúc. Ðó là những điều tôi học được ở đại hội giới trẻ Công giáo toàn cầu tại Manila.

 Giáo Hội Phi Luật Tân và các Giáo Hội Á Châu cũng được sai đi
Trong bầu khí trẻ trung tưng bừng của đại hội giới trẻ, Giáo Hội Phi Luật Tân đã mừng kỷ niệm 400 năm thành lập tổng giáo phận Manila và một số giáo phận của họ. Thánh lễ mừng kỷ niệm sáng 14/1/1995 là một biến cố lớn. Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II chủ tế. Ðồng tế với Ngài là mấy chục Ðức Hồng Y, mấy trăm Ðức Giám Mục, mấy ngàn linh mục, và gần 4 triệu giáo dân. Ðặc biệt là sự có mặt của đại biểu các Hội đồng Giám mục toàn Á Châu đang tham dự đại hội FABC (Federation of Asian Bishops Conferences). Thánh lễ đã được diễn tiến một cách trọng thể, trang nghiêm, sốt sắng. Vì lý do an ninh và nhất là để bảo vệ Ðức Thánh Cha, nhiều biện pháp đã được thực hiện, kể cả biện pháp khám xét. Ngay chính các linh mục, giám mục cũng bị kiểm tra rất kỹ. Khám trước khi vào phòng mặc áo lễ. Khám từ phòng mặc áo lễ đi ra. Khám khi tiến về lễ đài. Những biện pháp an ninh chặt chẽ trên đây đã một phần nào nhắc nhở cho tôi hiểu: Việc sai đi rao giảng và xây dựng Nước Trời tại Á châu, ngay cả trong Phi Luật Tân, là việc không đơn giản, dễ dàng.
Theo cuốn ATLAS des religions dans le monde, 1994, và tạp chí Peuples du monde, số đặc biệt về Á châu 271, tháng 4/1994, thì Á châu hiện nay là một khối mạnh khổng lồ, nắm quá nửa dân số thế giới, kinh tế đang lên, có khả năng trở thành trung tâm của lịch sử thế kỷ 21, làm cho các nước lớn Âu Mỹ lo ngại. Ba tôn giáo lớn coi như phủ trùm Á châu đó là Hindu của Ấn Ðộ, Islam trên Indonesia, Pakistan, Bangladesh. Phật giáo với nhiều hình thức, trên một mảng dài từ Sri Lanka qua Trung Quốc đến Nhật. Mỗi tôn giáo đều có nền văn hoá riêng. Ðạo Công giáo mạnh nhất là ở Phi Luật Tân với 87% của 61 triệu tổng dân số. Còn tính chung, đạo Công giáo Á châu chỉ vào khoảng 2%.
Tìm hiểu lý do tại sao đạo Công giáo đã không phát triển được nhiều hơn tại Á châu, tôi thấy lý do sau đây đã được cha Raymond Rossignol, Bề trên cả các cha thừa sai Paris, nêu là là đáng kể nhất: “Các tín hữu của các tôn giáo mạnh tại Á châu, có cảm nghĩ rằng tôn giáo của họ là tốt hơn hết, nên thường không cảm thấy cần phải tìm những con đường cứu độ nơi Thiên Chúa giáo” (Peuples du monde, số 271, trang 19). Thực thế, nếu xét về mặt thăng tiến con người và xã hội, thì Nhật Bản, Ðài Loan, Singapore, Ðại Hàn, với những tôn giáo truyền thống của họ, đã coi như thành công lớn, vượt hơn cả Phi Luật Tân Công giáo. Ngay hiện nay, xét về mức độ tăng triển kinh tế hằng năm, Phi Luật Tân vẫn chỉ có 1%, bị xếp vào loại các nước phát triển chậm nhất. Nếu xét về mặt trí thức, thì Ðài Loan hiện nay có số người tiến sĩ đông nhất thế giới. Nếu xét về đạo đức, thì nhiều nước Á châu với tôn giáo truyền thống của mình vẫn giữ được nề nếp tương đối tốt đẹp, công bình xã hội, nhân nghĩa lễ trí tín. Ðang khi đó, Phi Luật Tân, vẫn chưa làm chứng được tính ưu việt về đạo đức. Mặc dù Giáo Hội trên đất nước này được kể là có nhiều phương tiện truyền giáo rất đáng kể. Như hệ thống phát thanh riêng, nhiều đại học, trung học, tiểu học, nhiều bệnh viện, nhiều cơ sở từ thiện, nhiều trung tâm huấn luyện, nhiều nhân sự chuyên việc truyền giáo, nhiều giáo phận giàu, nhiều đường lối mục vụ cởi mở dấn thân vào văn hoá, chính trị và xã hội.
Ðó là một thách đố lớn, thách đố này không đơn giản. Nhưng cần phải nêu lên, nếu muốn đáp ứng một cách tích cực khẩu hiệu “Như Cha đã sai Thầy đi thế nào, Thầy cũng sai các con đi như thế” (Ga 20,21).
***
Một đại hội mà thành ra ba đại hội. Một khẩu hiệu nhưng suy nghĩ mãi không cùng. Tôi xin dừng lại ở đây, để nhìn về Ðức Kitô chịu đóng đinh trên thánh giá. Cây thánh giá dài dựng bên góc bàn thờ trên lễ đài. Ðang khi Ðức Thánh Cha được cả một rừng người hoan hô nhiệt liệt, trước lễ, trong lễ và sau lễ, thì Ðức Kitô vẫn rũ đầu xuống. Tôi thấy Người vẫn cô đơn, bị bỏ quên, như một bóng mờ.
Long Xuyên, ngày 19/1/1995
 

Bùi-Tuần 1554: Từ Thư Chung 1980:

Giáo Hội Việt Nam tiến tới thời kỳ mới của năm 2000

Trong lịch sử, Giáo Hội Việt Nam đã được khen. Những lời khen đó thường được ta coi là có Bùi-Tuần 1554

Trong lịch sử, Giáo Hội Việt Nam đã được khen. Những lời khen đó thường được ta coi là có lý hơn những lời chê. Cũng đã có những lời chỉ có tính cách ghi nhận, không khen không chê, nhưng lại rất đáng suy nghĩ.

 Vài ghi nhận đáng suy nghĩ
Trong cuốn "Le Việt Nam au XXe siècle", nghiên cứu về con đường dài Việt Nam đã đi, từ thời kỳ truyền thống đến thời kỳ bị đô hộ, cho tới thời đại Cách mạng, tác giả Pierre-Richard F'eray đã có một số ghi nhận về Giáo hội Công giáo tại Việt Nam. Theo ông, "đạo Công giáo Việt Nam làm nên một thế giới ngoài lề, như đứng cách xa cơn biến động đã từng thổi hồn vào đời sống trí thức, tôn giáo và chính trị của xứ sở từ Bắc đến Nam... Tệ hơn nữa, đạo Công giáo tại Việt Nam vẫn tiếp tục là một tôn giáo ngoại lai... Ðiều gây ấn tượng người nghiên cứu sử, đó là sự ổn định của trật tự Thiên Chúa giáo, ít là bề ngoài... Khi số đông cho phép, Giáo hội đã tổ chức thành những "ốc đảo"... Các cộng đoàn sống tách rời khỏi nhân dân còn lại. Tất nhiên, tình hình sẽ biến đổi, nhưng chậm chạp... Ðể kết, chúng ta nhìn nhận rằng: Thế giới Công giáo Việt Nam bé nhỏ là một thế giới ít biến hoá nhất trong xã hội sôi động này, tức là Việt Nam của giữa hai cuộc chiến" (Pierre-Richard F'eray, Le Việt Nam au XX e siècle, P.U.P., 1979, trang 123-126).
Những ghi nhận trên đây làm tôi suy nghĩ nhiều. Bởi vì, nếu Giáo hội Việt Nam thật sự xa rời đời sống trí thức, cách biệt các tôn giáo bạn, dửng dưng với các sinh hoạt chính trị, chỉ lo bảo vệ nề nếp nội bộ, thì còn đâu là truyền giáo?
Tôi càng suy nghĩ nhiều hơn, khi đọc thấy trong cuốn "Việt Nam Commununistes et dragons" mới xuất bản, hai nhà chuyên viên về Việt Nam, đồng tác giả cuốn sách, đã cho rằng Công giáo Việt Nam có một thủ đô thứ hai là Vatican. Thủ đô này đang đàm phán với thủ đô Hà Nội, về vấn đề chọn người thế vị Ðức Tổng Giám mục Nguyễn Văn Bình, lãnh đạo tổng giáo phận thành phố Hồ Chí Minh (Jean-Claude Pomonti, Hugues Tertras, Việt Nam Communistes et dragons, Le Monde-Editions, 1994, trang 167-168).
Những ý kiến trên đây, tuy không phản ánh toàn bộ sự thật, nhưng có thể giúp người ta hiểu được phần nào lý do tại sao Thư chung Hội đồng Giám mục Việt Nam 1980 đã nêu lên đường hướng mục vụ: Sống Phúc Âm giữa lòng dân tộc. Nhờ đường hướng này, nhiều cộng đoàn đức tin đã an tâm đồng hành với Dân Tộc, và đã chủ động khôn khéo xây dựng cho mình một chỗ đứng xứng đáng giữa đồng bào trên quê hương Việt Nam. Kết quả truyền giáo là rất đáng ghi nhận.
Giờ đây, Việt Nam đang bước sang một giai đoạn mới: Giai đoạn phát triển.
Phát triển làm nên cơn lốc tung lên nhiều cái tốt cái hay, nhưng cũng gây ra những bụi khói cái dở cái xấu. Càng tiến về tương lai, nhịp phát triển xem ra càng mạnh và nhanh, hướng phát triển càng có vẻ đột phá, trong một tình hình mới chứa nhiều khả năng tốt và xấu, nước Việt Nam chắc sẽ có được những bước tiến vững vàng, nếu biết giữ được tinh thần quốc gia, nền văn hoá dân tộc và sự quân bình nội bộ.
Ðồng hành với Dân Tộc trên đường phát triển hướng về năm 2000, Giáo hội Việt Nam "sống Phúc Âm giữa lòng dân tộc" cùng sẽ phát triển, và phải phát triển về mặt Tin Mừng. Do đó, con đường mục vụ hướng về năm 2000 thiết tưởng sẽ gặp nhiều điều kiện thuận lợi, nhưng cũng đụng phải nhiều hoàn cảnh không thuận lợi. Ðiều đó cũng dễ hiểu thôi, khi trong tình hình mới, người dân coi việc phát triển đời sống là ưu tiên số một.
Trong tim óc con người Việt Nam hôm nay, cái đang gây nhiều thao thức mạnh và thường xuyên, đó là đời sống. Làm sao cho đời sống được khá hơn. Ðời sống là cái ăn, cái mặc, cái ở, cái lợi, cái vui, cái đẹp. Ðời sống là công ăn việc làm, tài sản, lợi tức, tình bạn, tình yêu. Ðời sống là những dây liên đới làm nên chỗ đứng trong xã hội.
Phát triển đời sống vốn là tự phát. Nhưng sau một thời gian dài bị hạn chế bởi những điều kiện xã hội phức tạp, khi được mở ra, sự phát triển đời sống bùng nổ dưới nhiều hình thức, nhất là từ khi "vùng chiến tranh biến thành vùng kinh tế thị trường". Chỉ sau một thời gian mấy năm thôi, công cuộc phát triển đời sống đã đạt được nhiều kết quả rất đáng mừng. Nhưng cũng đã xuất hiện một số tình huống gây băn khoăn cho việc phát triển Tin Mừng.
Trước hết là những hiện tượng mất cân đối. Dưới đây xin nêu một ít ví dụ.
1. Mức độ phát triển ở nông thôn so với mức độ phát triển ở thành thị vốn đã xa nhau, nay càng xa nhau hơn. Cũng vì thế, đang có những cuộc di dân âm thầm. Từng hộ, có nơi từng mấy chục hộ bỏ nông thôn nghèo, tìm đến những tụ điểm kinh tế cao ở thị thành hoặc ở những vùng làm ăn có lợi tức lớn, và ở những nơi có trường lớp cho con em học lên. Do đó, một số nhà thờ vùng quê trước đây sầm uất, nay trở nên thưa thớt.
2. Một lớp người giàu đang vươn lên, tạo ra một giai cấp mới, bỏ xa cảnh nghèo của đông đảo đồng bào, gây nên một tâm lý xa cách. Trong số những người giàu mới, cũng có không ít nhân sự đứng đầu các cộng đồng tôn giáo.
3. Nơi một số người cầm quyền, cả trong xã hội lẫn trong Giáo hội, khi trình độ học thức và óc phán đoán bị coi là không cân đối với nhiệm vụ và địa vị của mình, theo đòi hỏi của phát triển đời sống, sẽ tạo ra nơi họ những mặc cảm, và nơi người xung quanh sự bớt đi kính trọng và tín nhiệm.
4. Cũng đã có nhiều cá nhân, nhiều gia đình, tiến mạnh và văn minh vật chất, nhưng lại lùi ghê gớm trong lãnh vực lương tâm, gây nên những tổn thất nặng nề về tinh thần.
5. Tinh thần cạnh tranh dễ tạo nên chủ nghĩa cá nhân. Do đó đã xảy ra không ít những mâu thuẫn đáng kinh ngạc giữa các cá nhân, ngay trong chính nội bộ gia đình, và trong cả một vài cộng đoàn tôn giáo. Không thiếu chuyện ghen tương nhau, hạ nhau xuống, loại trừ nhau, có vẻ được khuyến khích dưới những lý do đội lốt ích chung, đang khi một số những việc từ thiện bác ái, thăng tiến con người lại bị kết án, cũng căn cứ trên tinh thần gọi là bảo vệ lợi ích chung.
6. Giữa thế hệ người lớn và thế hệ trẻ đang xuất hiện một khoảng cách về cách suy nghĩ, cách đánh giá đạo đức. Ðúng là đang mất đi một thế quân bình nào đó trong xã hội. Có những cộng đoàn đức tin, trước kia khép kín, nay được mở ra, bừng thức tỉnh, thấy mình thua kém, đã không ngại phiền trách các bề trên của mình, quy lỗi cho các ngài là đã không thức thời. Sự mất quân bình trong nội bộ đôi khi trở thành căng thẳng và khủng hoảng.
Tới đây, tôi nhớ tới cuốn "Những khía cạnh xã hội của phát triển kinh tế". Trong cuốn này, tác giả đã đưa ra một số trường hợp điển hình đề cập đến vai trò của tôn giáo trong lãnh vực phát triển kinh tế. Có nơi, kinh tế đã khó phát triển, hoặc do những quan điểm khắt khe của tôn giáo, hoặc do thái độ bảo thủ hẹp hòi của mấy vị lãnh đạo cộng đoàn, và của một lớp người thế lực tôn giáo. Trái lại, có nơi, kinh tế đã phát triển tốt, nhờ sự khuyến khích của tôn giáo và những phát triển cộng đồng do các nhà lãnh đạo tôn giáo chủ xướng (Chester L. Hunt, dịch giả Lê Xuân Khoa, Tủ sách Xã Hội, 1972).
Ngoài những hiện tượng mất cân đối, còn có sự du nhập vào Việt Nam nhiều lối sống mới, nhiều cách suy nghĩ mới, do những tiếp cận mới. Hiện tượng này cũng ảnh hưởng nhiều đến việc phát triển Tin Mừng. Có những ảnh hưởng tốt, và cũng có những ảnh hưởng xấu. Sự kiện bùng nổ thông tin càng ngày càng tăng. Không thể bưng bít được những tin tức đó đây. Càng khó kiểm chứng được các nguồn tin. Chân lý và sai lầm xen lẫn nhau. Khó phân định được tốt xấu trong các quan điểm. Những tài liệu từ các nước ngoài gởi về mang nội dung chống Công giáo Việt Nam có vẻ không gây được nhiều ác cảm đối với Công giáo Việt Nam, nhưng cũng gieo rắc hoang mang. Ảnh hưởng hơn hết là các trào lưu tục hoá và phong trào hưởng thụ.
Tuy nhiên, trong tình hình mới, điều đáng ngại nhất cho việc phát triển Tin Mừng, phải tìm ngay trong chính nội bộ Hội Thánh đó là sự trì tuệ, thiếu nhiệt huyết tông đồ, thiếu năng lực và sáng kiến, nhất là những hiện tượng phản chứng trong việc phát triển đời sống, kể cả trong việc phát triển Hội Thánh.

 Dám làm chứng cho Tin Mừng
Việc phát động truyền giáo trong tình hình mới nên được khởi đi từ việc kiểm điểm lại chính mình về nhiệm vụ truyền giáo hiện nay và trong những năm qua. "Những nén bạc" Chúa trao cho để sinh lời, nay có thực sự sinh lời không? "Cây vả" Chúa đến tìm trái, nay có trái không?
Nếu mình thực sự đã có lỗi lầm, thì nên nhìn nhận. Các công cuộc phát triển, bất cứ trong lãnh vực nào, xem ra đều không tránh được lỗi lầm, cách này cách nọ. Kiểm điểm lại, để rút kinh nghiệm, đó là khôn ngoan đạo đức, và trí thức.
Những lỗi lầm trong phát triển Tin Mừng có thể bắt nguồn từ những sai lầm của những chặng đường nào đó trong lịch sử xảy ra cho đất nước. Sai lầm của nước Pháp tại Việt Nam đã được trình bày trong cuốn "Indochine, 1940-1945, La fin d'un rêve" của viện nghiên cứu Bộ Quốc phòng Pháp, Albin Michel, 1992. Sai lầm của Hoa Kỳ tại Việt Nam mới được phổ biến trong Nhật ký của cựu bộ trưởng quốc phòng Hoa Kỳ, Robert S.Mc Namara, mà báo chí đang trích đăng và bình luận (Nhật báo Nhân dân, ngày 14/4/1994, Sài Gòn Giải Phóng, ngày 17/4/1994).
Khi đề cập đến những lỗi lầm trong việc phát triển Tin Mừng, Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã viết: "Còn một trang sử đau xót nữa, mà khi đọc lại, con cái Giáo Hội không thể không mặc lấy tinh thần sám hối, đó là đã chấp nhận dùng đến những phương pháp bất khoan dung và thậm chí bạo lực trong khi phụng sự chân lý... Dẫu cho có xét đến những trường hợp giảm khinh, Giáo Hội cũng không tránh khỏi phải hối tiếc sâu sắc những yếu đuối của biết bao bao cái đã làm hỏng gương mặt mình và đã ngăn trở mình thực hiện tràn đầy hình ảnh Chúa chịu đóng đinh, chứng nhân vô song về tình yêu kiên nhẫn và lòng khiêm nhường hiền lành" (Tông thư Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II, "Tiến tới thiên niên kỷ thứ ba" số 35, 1994). Tiếp đó, Ðức Thánh Cha cũng đã nêu ra lỗi lầm của người Công giáo trong thái độ lãnh đạm tôn giáo, và những thái độ sống phản Phúc Âm. Ngài nói: "Một thách đố đang đặt ra cho con cái Giáo Hội, đó là: Còn nơi nào mà bầu khí duy-thế-tục và trào lưu tương-đối-hoá đạo đức chưa xâm lấn tới? Còn chỗ nào không thuộc trách nhiệm của họ trong hiện tượng vô tín ngưỡng ngày càng tăng, bởi lẽ họ đã không trình bày khuôn mặt đích thực của Thiên Chúa, do khiếm khuyết trong đời sống tôn giáo, luân lý và xã hội" (số 36).
Ngoài việc nhìn nhận và sám hối lỗi lầm, chúng ta nên khởi sự bằng một cái nhìn đầy hy vọng vào sức mạnh siêu nhiên. Hiến chế Vui mừng và Hy vọng của Công đồng Vatican II nói: "Chúng ta phải chắc chắn rằng Thiên Chúa, bằng những cách mà Người biết, sẽ ban tặng cho mọi người khả năng được thông hiệp vào mầu nhiệm phục sinh" (số 22,5). "Bằng việc nhập thể, Con Thiên Chúa bằng một cách nào đó đã kết hợp với mọi người" (số 22,2). Như thế có nghĩa là Thiên Chúa có những cách mà Người biết để phát triển Tin Mừng. Nhiệm vụ của ta là phải nhận ra những cách mà Thiên Chúa biết, và cộng tác vào những cách đó. Nhiệm vụ như thế đòi nhiều nghiên cứu, học hỏi, cầu nguyện và nhất là chiêm niệm để gặp Chúa, chiêm ngắm Người, hiểu ý Người, đón nhận đường lối của Người, và có được nhiệt huyết và sự khôn ngoan tông đồ. Ta có dám phát triển Tin Mừng, khởi đi từ những việc trên đây không? Tôi nghĩ là chúng ta dám. Bởi vì chỉ với những việc đó, chúng ta mới thực hiện được đường hướng mới cho giai đoạn mới: "Sống Phúc Âm là phải phát triển Tin Mừng".
Long Xuyên, tháng 4/1995
 

Bùi-Tuần 1555: Cảm nghiệm về Chúa

Những tôn giáo quá nghiêng về lý trí đang đổ vỡ thê thảm, đang khi những tín ngưỡng đưa con Bùi-Tuần 1555

Những tôn giáo quá nghiêng về lý trí đang đổ vỡ thê thảm, đang khi những tín ngưỡng đưa con người đến những cảm nghiệm thiêng liêng lại trở nên hấp dẫn lạ lùng. Ðó là nhận định của một số nhà quan sát tôn giáo và xã hội.
Nhận định trên đây phản ánh thực tế ở nhiều nơi. Nó không trở thành một tiêu chuẩn cho phép hạ giá lý trí, đề cao tình cảm. Nhưng nó là một dấu chỉ thời đại, gợi ý cho các nhà hoạt động tôn giáo suy nghĩ, để nếu cần, sẽ phải điều chỉnh lại cách sống đạo, dạy đạo và truyền đạo.

 Những cảm nghiệm tốt về Chúa
Thời nay, theo đánh giá của quần chúng, một tôn giáo tốt là một tôn giáo chuyển hoá được con người, tất nhiên về đàng lành. Trên thực tế, tại địa phương ta, hầu như ít có ai đã được chuyển hoá chỉ do sức mạnh của những lý lẽ đơn thuần. Kinh nghiệm cho thấy, có những bài giảng hùng hồn cao sâu, có những lớp giáo lý sôi nổi, lý luận sâu sắc, nhưng đã không đem lại được chút cảm nghiệm nội tâm nào cho ai, vì thế chẳng người nào đã chuyển biến. Ðang khi đó, một bầu khí chan hoà bác ái, một gương phục vụ quên mình, một tâm sự chân tình cởi mở, một bài thánh ca êm đềm hát lên với tinh thần cầu nguyện, lại đánh động được những cõi lòng. Nhờ những cảm nghiệm nội tâm khác thường, họ như gặp được một Ai đó thiêng liêng, rất xa mà lại rất gần. Và họ đã chuyển hoá.
Nói cho đúng, những chuyện như thế chẳng có gì mới lạ. Từ xưa vốn thế thôi. Trong Kinh Thánh và chuyện các thánh đã có những người kể lại những gì mình đã cảm nghiệm về Chúa, từ những sự mình đã nghe, đã thấy, đã gặp. Họ là những chứng nhân về Chúa, chứ không phải những nhà nghiên cứu về đạo Chúa.
Người ngoài, khi thấy họ, nghe họ, sẽ dễ coi họ là những người hiểu biết Chúa. Không phải vì họ có những kiến thức sâu sắc về Chúa, nhưng vì cách họ nói, cách họ sống toả ra một mùi vị thiêng liêng, hồn nhiên, tươi mát, phát ra tự đáy lòng, như thể họ có một cảm nghiệm nào đó về Thiên Chúa vô hình.
Trong những cảm nghiệm khác nhau về Chúa, hiện nay có một cảm nghiệm được nói tới nhiều, đó là cảm nghiệm về Ðức Kitô đang gần gũi chúng ta như một tình yêu phục vụ tận tâm khiêm tốn và thông minh.
Chúng ta thử dừng lại cảm nghiệm này, với ý muốn học hỏi. Từ đó hy vọng sẽ hiểu được những cảm nghiệm khác. Cảm nghiệm ấy từ đâu tới và như thế nào?
 Nhìn sâu vào cảm nghiệm về Chúa
Cảm nghiệm này khởi xuất từ những nhận thức. Có những người nhận thức sâu sắc về sự Chúa hiện diện trong lịch sử, khắp nơi, trong mọi cái tốt, cái đẹp, cái đúng, cái hay dù cũ dù mới. Với xác tín như vậy, họ dễ nhận ra hình ảnh Ðức Kitô sống động trong các người xung quanh họ.
Họ nhìn thấy hình ảnh Ðức Kitô quỳ rửa chân cho các môn đệ qua những người hôm nay tại đây, đang chăm sóc bệnh nhân, các kẻ cô đơn, cùng cực, các người mà họ phục vụ vì bổn phận và vì tự nguyện. Chính họ cảm thấy như mang trong mình nỗi khổ đau của người khác. Họ xót xa với niềm xót xa không phải chỉ là riêng tư, mà cũng đến từ một Ðấng trên cao là Cha nhân lành giàu tình thương xót.
Họ nhìn thấy hình ảnh Ðức Kitô sống mầu nhiệm nhập thể, qua những người truyền giáo hôm nay tại đây, đang mặc vào mình trọn vẹn thân phận con người địa phương, mà mình được sai đến, ngoại trừ tội lỗi, để đồng hành, để chia sẻ, để phục vụ. Chính họ cảm thấy thao thức trào lên trong lòng họ trước cảnh bao chiên lạc. Thao thức này không chỉ đến từ trách nhiệm, mà cũng đến từ một Chúa chiên lành, dám bỏ 99 con chiên lại, để đi tìm một con chiên lạc (cf. Lc 15,4).
Họ nhìn thấy hình ảnh Ðức Kitô hoà mình vào cuộc sống dân thường, qua những tông đồ hôm nay tại đây, chấp nhận mình là men, là muối, âm thầm phục vụ, giữa phố phường, thôn xóm. Chính họ cảm thấy niềm trân trọng dâng cao trong lòng họ trước gương bao người tốt xung quanh đang phục vụ đồng bào với những việc nhỏ cho những người bé mọn. Niềm trân trọng này không chỉ đến từ một lương tri, mà cũng đến từ một Ðấng đã quả quyết ai làm việc tốt, dù bé nhỏ nhất, cho một người, dù bé mọn nhất, sẽ được kể là làm cho chính Chúa (x. Mt 25,35).
Họ nhìn thấy hình ảnh Ðức Kitô đang đến để nhân loại được sự sống và được sống dồi dào, qua những người hôm nay tại đây và trên thế giới đang thăng tiến con người bằng những khám phá khoa học, sáng tạo nghệ thuật, nâng cao văn hoá và kinh tế. Chính họ cảm thấy ray rứt khôn nguôi trước cảnh bao đồng bào mình bao người trên thế giới còn đang bị đày đoạ trong cảnh túng nghèo, bất công. Ray rứt ấy không chỉ đến từ tình liên đới, mà cũng đến từ cõi lòng Ðấng xưa đã nói: “Ta thương xót dân này” (x. Mt 15,32).
Họ nhìn thấy hình ảnh Ðức Kitô đang tự hiến tế mình, qua những người đang nhẫn nhục, tha thứ, quảng đại trong cuộc sống gia đình, xã hội. Chính họ cảm thấy niềm vui sâu thẳm trước cảnh bao người hôm nay tại đây đang rất tế nhị và bao dung trong cách ứng xử đối với nhau. Niềm vui ấy không chỉ đến từ một trái tim tình người, mà cũng đến từ một Ðấng đã nói: “Cây sậy đã giập, Người không nỡ bẻ gãy. Ngọn đèn sắp tàn, Người không nỡ tắt” (Mt 12,19).
Nhất là họ nhìn Ðức Kitô đang thường xuyên cứu độ họ qua Hội Thánh, qua gia đình, xã hội với biết bao ơn lành. Người thương họ hơn họ đáng được thương. Chính họ cảm thấy tự xấu hổ trước bao ơn lành đã nhận lãnh mà không đền đáp. Sự xấu hổ ấy không chỉ đến từ một lương tâm, mà cũng đến từ Thần Linh của Ðức Kitô, giúp họ nhìn ra sự thật gần gũi nhất, đó là cái tôi nhầy nhụa của họ.
Những cái nhìn như thế dẫn tới sự gặp gỡ Ðức Kitô với những tâm tình cảm tạ, và gặp gỡ đưa tới cộng tác bằng việc làm bác ái. Họ sẽ làm những việc bác ái như Người, với Người. Bác ái có kế hoạch, có ưu tiên, có phân định.
Những chiều kích của cảm nghiệm về Chúa
Còn nhiều cảm nghiệm khác về Chúa.
Tất cả đều mang đặc tính chung này: Con người cảm nghiệm không những tiếp thu Lời Chúa mà còn cảm thụ hồn của Lời Chúa, cảm nghiệm được tâm tình của Ðức Kitô trong chính Lời Người.
Người cảm nghiệm về Chúa không những đọc Lời Chúa trong Kinh Thánh, mà cũng đọc Lời Chúa trong thời sự và lịch sử, nhất là trong cuộc đời mình. Họ hiệp thông với Chúa và cũng hiệp thông với nhân loại. Họ mở lòng mình ra về phía Chúa và cũng cởi mở về phía con người.
Như vừa thấy, trong những cảm nghiệm trên đây, trái tim và lý trí cùng phối hợp với nhau. Trái tim rất bén nhạy, và lý trí giúp trái tim ứng xử sao cho sáng suốt. Lý trí rất thông minh, và trái tim giúp lý trí suy nghĩ sao cho có tình có nghĩa.
Những cảm nghiệm như trên về Chúa đánh thức trong ta một tiềm năng quan trọng, đó là nhìn thấy hình ảnh Thiên Chúa trong mọi người. Con người là hình ảnh Thiên Chúa. Không những ta tin như thế, mà ta cũng thấy như thế. Do đó, ta nhận ra mọi người đều có một cái gì là thánh, cũng như trong lịch sử mọi người đều có một cái gì như lịch sử thánh. Biết nhìn mọi người một cách cởi mở như vậy, ta sẽ gặp được Ðức Kitô đang ở giữa nhân loại hôm nay như một tình yêu phục vụ tận tâm, khiêm nhường và thông minh. Lòng ta thanh thản, yêu thương chan hoà, tin tưởng dấn thân bên cạnh Người. Những cảm nghiệm như trên, tuy không tuyệt đối cần thiết, nhưng rất hữu ích, nhất là trong thời đại này, con người cảm thấy mệt mỏi với những lý thuyết khô cứng, những nếp sống máy móc, những tiêu chuẩn lạnh lùng, và vì thế họ đi tìm những gì linh thiêng, và huyền nhiệm.
Cản trở lớn nhất để có những cảm nghiệm tốt về Chúa, chính là cái tôi vụ lợi tự mãn với những hàng rào an toàn ích kỷ, với những bức tường thành kiến khinh miệt, ghen ghét, với những cố vấn là các dục vọng. Dù xã hội có đổi thay, dù tôn giáo có đổi mới, nếu mọi người vẫn khư khư cái tôi như thế của mình, thì đất nước này sẽ vẫn phải thống khổ, Hội Thánh này sẽ vẫn phải cảm nghiệm những đắng cay triền miên do những ích kỷ và hẹp hòi ngay trong chính nội bộ mình.
Vì thế, để có được những cảm nghiệm tốt về Chúa đưa ta và đồng bào ta đến hạnh phúc thật, chúng ta cần rèn luyện bản thân mình bằng một nền tu đức thật sự Phúc Âm. Trái Tim Chúa Giêsu chính là trường dạy nền tu đức đó.
Long Xuyên, tháng 6/1995
 

Bùi-Tuần 1556: Vấn đề môi trường

Từ xa xưa, con người tiền sử đã lặng lẽ thiết lập những liên hệ mật thiết với môi trường. Ðối với Bùi-Tuần 1556

Từ xa xưa, con người tiền sử đã lặng lẽ thiết lập những liên hệ mật thiết với môi trường. Ðối với họ, sống là sống trong môi trường, sống với môi trường, sống nhờ môi trường, sống từ môi trường.
Cũng từ rất xa xưa, nhiều nhà tư tưởng đã nghiên cứu môi trường, rút ra từ đó những nhận định về các nguyên lý cho nhân sinh quan và vũ trụ quan. Như thuyết Ngũ Hành: Kim mộc thuỷ hoả thổ, thuyết Âm dương.
Cũng từ lâu rồi, nhiều vị thánh đã gắn liền môi trường với đời sống thiêng liêng. Thánh Bênađô coi trái đất như một cuốn sách mở, để mọi người có thể đọc được sự khôn ngoan của Thiên Chúa (De Diversis, 9,1). Chia sẻ kinh nghiệm bản thân, thánh nhân tiết lộ đã học được nhiều điều hay ho ở các núi đồi, rừng rú (Epistoloe, 106,2). Thánh Tômasô tạ ơn Thiên Chúa đã trao cho loài người hai cuốn sách quý: Một là Kinh Thánh, hai là thiên nhiên (Oeuvres, Éd. Vives, t.29). Thánh Phanxicô Assisi, bổn mạng của môi trường, đã rất thoải mái hát khen Thiên Chúa qua mọi tạo vật, từ mặt trời, mặt trăng, tinh tú, cho đến chim chóc, cá mú, cây cỏ, hoa màu (Oeuvres latines, Albin Michel, 1959). Thánh Inhagiô tìm Chúa, mến Chúa, phụng sự Chúa trong tất cả mọi loài, mọi sự (Ad amorem). Những cái nhìn trên đây đầy vẻ thanh thản, mở ra một lối sống nội tâm thanh thoát, liên kết hài hoà với thiên nhiên, coi môi trường là một kho báu không những về mặt vật chất, mà cũng về mặt thiêng liêng.
Nhưng khi kho báu thiên nhiên bị lạm dụng, vấn đề môi trường đã bùng nổ dưới nhiều hình thức khác nhau.

 Bùng nổ vấn đề môi trường
Trước hết dưới hình thức khoa học. Môi trường học dần dần chiếm một vị trí cao trong nhiều đại học. Ngành này đòi phải có kiến thức của nhiều môn khoa như sinh-lý-hoá, địa. Mục tiêu môi-trường-học là nghiên cứu các tương quan qua lại giữa các vật sống và thiên nhiên xung quanh. Chẳng hạn, trong một vùng nhất định, biển, sông, núi rừng, đất đai, thời tiết đã ảnh hưởng thế nào đến các loại cây, hoa trái, mùa màng, đến các loại gia súc, chim chóc, côn trùng, đến sức khoẻ, tính tình, văn hoá con người. Và cũng trong vùng đó, các liên hệ giữa người với người, và giữa các thành viên của thiên nhiên với nhau đã biến đổi thế nào qua những tác động tương trợ hoặc đối kháng của nhau.
Bên cạnh hình thức khoa học, môi trường nổi lên mạnh mẽ dưới hình thức phong trào. Phong trào môi trường là một phản ứng trước làn sóng phát triển kỹ nghệ nói riêng và phát triển cuộc sống nói chung bất chấp môi trường. Môi trường bị xuống cấp trầm trọng. Mà môi trường, như bầu khí, giòng nước, đường sá là của chung mọi người. Kẻ tàn phá, hoặc làm ô nhiễm những mảnh môi trường đó, là phạm tới quyền lợi chung, là lỗi công bình bác ái. Vì thế, mục tiêu phong trào môi trường là cải cách xã hội trên bình diện môi trường bằng một hệ thống xử lý môi trường sao cho hợp lý.
Phong trào môi trường chia thành nhiều ngành, như xã hội môi trường, triết học môi trường, đạo đức môi trường, chính trị môi trường. Tại vài nước Âu châu, các thành viên phong trào môi trường qui tụ lại thành một đảng chính trị, để dễ đấu tranh. Có những chính phủ đã thiết lập Bộ Môi trường, đứng đầu là một bộ trưởng, hay một quốc vụ khanh.
Phong trào môi trường đã mau chóng lan rộng khắp thế giới. Về môi trường, đã có những hội nghị toàn quốc, toàn khu vực, toàn thế giới.
Càng ngày vấn đề môi trường càng trở thành quan trọng. Ðến nỗi một tác giả về môi trường mới đây đã nêu lên câu hỏi: Phải chăng bảo vệ môi trường có thể sẽ là một thứ tôn giáo mới của các xã hội văn minh?. Bởi vì vấn đề môi trường đang gợi lên những hiện tượng về tín ngưỡng, về những nghi thức phượng tự, về những cảm nghiệm thần bí (Danièle Hervieux-Léger, Religion et Ecologie, Cerf, 1993). Thực tế sau này sẽ trả lời. Còn hiện nay có một điều chắc chắn thấy được, đó là các tôn giáo đang quan tâm nhiều đến vấn đề môi trường. Cái nhìn của mỗi tôn giáo đều phát xuất từ niềm tin tôn giáo của mình.

 Ðức tin và môi trường
Thực vậy, Hội đồng đại kết các Giáo Hội từ hơn 10 năm nay đã nhân danh đức tin đặc biệt chú ý đến vấn đề môi trường.
Ðại hội đại kết lần thứ 6 tại Vancouver 1983 đã kêu gọi các tín hữu mọi tôn giáo hãy cùng nhau dấn thân bảo vệ môi trường vì 3 lý do sau đây: Một là để bảo vệ công bình, hai là để xây dựng nền hoà bình, ba là để tôn trọng công trình của Tạo Hoá. Ba lý do đó ràng buộc với nhau. Tàn phá môi trường là không tôn trọng công trình của Tạo Hoá, gây nên bất công đối với người khác, và tạo nên nguy cơ bất hoà, bất ổn trong xã hội.
Ðại hội đại kết các Giáo hội Âu châu tại Basel 1989 kêu gọi các nước kỹ nghệ xem xét lại những cách phát triển kinh tế có hại đến môi trường, nhất là trong việc khai thác tài nguyên thiên nhiên một cách ích kỷ, sử dụng năng lượng một cách xa xỉ, xử lý các chất phế thải một cách vô trách nhiệm.
Ðại hội đại kết các Giáo hội tại Séoul 1990 đã đưa ra những tuyên ngôn cam kết mạnh mẽ bảo vệ môi trường. Tuyên ngôn dựa trên niềm tin tôn giáo. Tuyên ngôn nhấn mạnh: Môi trường thiên nhiên là công trình của Tạo Hoá, mọi người đều có trách nhiệm kính trọng và bảo vệ công trình đó.
Cũng trong chiều hướng của một niềm tin như thế, tác giả Eilen P. Flynn đã có sáng kiến đưa ra 10 điều răn về môi trường. Có 4 điều “Ðừng làm”, và có 5 điều “Hãy làm”. Thí dụ: bạn đừng đối xử độc ác với các giống vật, đừng làm ô nhiễm không khí, đất đai, nguồn nước. Bạn hãy đơn giản hoá đời sống bạn bằng cách sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên (Flynn, Elien P., Environmental Responsibility, Sheed and Ward, 1991).

 Ðạo đức và môi trường
Trước vấn đề môi trường, Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã nhiều lần lên tiếng. Như trong Sollicitudo rei socialis, 1987 và Centesimus annus 1991. Ðặc biệt trong Sứ điệp hoà bình ngày đầu năm 1990. Trong sứ điệp này, Ðức Thánh Cha nhìn nhận những tổn thất gây nên do sử dụng vô lý các tài nguyên thiên nhiên thực là quá lớn. Khó có thể khắc phục được. Theo Ngài, tình trạng môi rường suy thoái là một trong những khủng hoảng lớn nhất của thời nay. Ngài quả quyết nguồn gốc tình trạng suy thoái môi trường là sự suy thoái đời sống đạo đức. Ngài nói: “Xã hội hiện tại sẽ không tìm được giải pháp cho vấn đề môi trường, bao lâu không xem xét lại lối sống của mình. Tại nhiều nơi trên thế giới, người ta đang lao mình vào lối sống lạc thú và hưởng thụ, dửng dưng với biết bao thiệt hại mình gây nên cho kẻ khác”. Ðức Thánh Cha xác định: “Mức độ nghiêm trọng của vấn đề môi trường phản ánh mức độ trầm trọng của cuộc khủng hoảng luân lý”.
Cũng trong nhận thức về mối liên hệ mật thiết giữa môi trường với cuộc sống nói chung và với đạo đức nói riêng, Ðại hội các Hội Ðồng Giám Mục Á châu tại Manila đầu năm 1995 này đã đề cập nhiều lần đến vấn đề môi trường tại Á châu, như các sự kiện phá rừng, ô nhiễm bầu khí và các nguồn nước, hiện tượng du lịch với các chứng bệnh truyền nhiễm, cảnh dân nghèo sống chui rúc trong những nơi thiếu điều kiện vệ sinh tối thiểu vv...
Ðọc qua các tài liệu của Ðại hội trên và mấy cuốn sách về môi trường, đặc biệt là cuốn Religion et Ecologie của Danièle Hervieux-Léger, và cuốn Introduction à l'Environnement của André Beauchamp, tôi có cảm tưởng là nhiều nhà nghiên cứu đã rất thán phục các tôn giáo truyền thống môi trường tại Á châu, nhất là Phật giáo, ở chỗ các tôn giáo này có một lối sống đạo đức hài hoà với thiên nhiên, hơn nữa còn biết sử dụng môi trường thiên nhiên như một trường dạy tu đức, luyện đức.
***
Dù muốn dù không, thời nay là thời điểm của vấn đề môi trường. Môi trường ảnh hưởng đến đạo đức, và đạo đức ảnh hưởng đến môi trường. Vì thế, kẻ lo đạo đức không thể không để ý đến yếu tố môi trường. Cũng thế, kẻ lo môi trường không nên quên yếu tố đạo đức. Từ nhận định trên, mỗi người hãy tự liệu cho mình một lối sống, sao cho việc sử dụng môi trường của mình được hợp đạo đức, giúp rèn luyện đạo đức, và sao cho các việc đạo đức của mình có thể cải thiện môi trường, góp phần vào việc xây dựng một cộng đoàn văn minh hài hoà, có khả năng tiên báo cho Nước Trời đang đến.
Riêng những nơi dành cho việc thờ phượng, như đền thờ, thánh đường, càng cần thực hiện nhận định trên một cách có hiệu quả nhất. Một thánh đường tuy nhỏ, nhưng có một môi trường trong ngoài tươi mát, thinh lặng, sạch sẽ, trang trọng, thường giúp cho người ta đi vào nội tâm, dễ lắng nghe tiếng Chúa, dễ gặp gỡ Chúa, hơn một thánh đường lớn, mà thiếu môi trường thích hợp.
Long Xuyên, tháng 7/1995
 

Bùi-Tuần 1557: Thấy trước và dự phòng

Thấy trước và dự phòng, đó là một đặc điểm của Ðức Kitô, mục tử tốt lành. Người thấy trước những Bùi-Tuần 1557

Thấy trước và dự phòng, đó là một đặc điểm của Ðức Kitô, mục tử tốt lành.
Người thấy trước những gì sẽ xảy ra cho các kẻ tin theo Người. Người biết trước chính bản thân mình sẽ phải đi vào cuộc tử nạn. Nên Người đã dự phòng bằng những việc hết sức khôn ngoan. Người đặt kẻ kế thừa, đào tạo nhóm mười hai, trối lại giới rắn mới, xác định hướng đi cho các môn đệ là làm chứng về Người, rao giảng sự sám hối, đón nhận Thần Linh của Người, tiên báo về Nước Trời sắp đến. Người đã đơn-giản-hoá giáo lý, tập trung đạo vào hai luật căn bản là mến Chúa hết lòng và yêu thương người khác như chính mình. Với những sắp xếp khôn ngoan, Ðức Kitô đã giúp cho các môn đệ phát triển Tin Mừng trong một thời điểm dài đầy những khó khăn phức tạp.
Với tấm gương “Thấy trước và dự phòng” của mục vụ Ðức Kitô, tôi nhìn lịch sử Giáo Hội Việt Nam từ 1945 tới nay. Tôi nhận thấy, trong 50 năm qua, các cộng đoàn đức tin đã không phát triển đồng đều. Có nơi phát triển mạnh về mọi mặt. Có nơi phát triển chậm chỉ một vài mặt. Có nơi xem ra vẫn tù mù. Có nơi tụt hậu rõ ràng thê thảm, từ trí thức đến khả năng phục vụ con người, tới tinh thần Phúc Âm theo hướng cởi mở của Công Ðồng Vatican II. Nguyên do có nhiều phức tạp. Nhưng người lãnh đạo cộng đoàn là một yếu tố quan trọng. Và trong lãnh đạo, khả năng thấy trước và dự phòng đã ảnh hưởng rất lớn và lâu dài trên số phận cộng đoàn.
Nhận xét trên đây thiết tưởng có thể giúp cho những thao thức hiện nay về Giáo Hội Việt Nam biết tỉnh táo hơn nữa, khi các cộng đoàn đang bước vào một tương lai mới.
Tương lai mới này sẽ rất khác với quá khứ 50 năm trước đây. Sẽ có nhiều bùng nổ lớn, về kinh tế, về thông tin, về văn hoá, về các hiện tượng dân chủ, tự do, dân tộc, tín ngưỡng. Nhiều nơi gia đình chưa chắc sẽ còn là tổ ấm như xưa. Các giá trị truyền thống như nhân nghĩa lễ trí tín và cả đến những giá trị tâm linh như ý thức về thiện ác chưa chắc sẽ còn được kính trọng.
Trong một tương lai như vậy, theo kinh nghiệm nhiều nước, xã hội sẽ bất cần đến những cộng đoàn tín ngưỡng tự mãn và khép kín. Ngay bây giờ, đã xuất hiện nhiều dấu hiệu cho thấy, trong tương lai mới, nhiều hoạt động mới của những hình thức tôn giáo mới sẽ tích cực hạ giá các thứ Giáo Hội quyền lực đề cao cái tôi của mình. Riêng Tam Ðiểm, nếu lập lại tại đây những hoạt động của họ ở Ba Lan mấy năm gần đây, chắc sẽ có nhiều nỗ lực tinh vi nhằm loại trừ Hội Thánh Công giáo ra khỏi mọi lãnh vực chính trị, xã hội và văn hoá, với lý do họ gán cho Công giáo là bảo thủ và độc đoán.
Trong tương lai mới này, khi tiền bạc trở thành thế lực mạnh nhất chỉ huy cuộc sống, người dân công giáo cũng sẽ chạy theo cuộc sống bị tiền bạc chỉ huy. Kẻ thì còn tinh thần Phúc Âm, kẻ thì theo tinh thần thực dụng.
Trong tương lai mới này sẽ xảy ra những khủng hoảng mới trong tôn giáo. Có những giá trị trước đây được coi là cao cả, nay bị đe doạ hạ bệ. Có những trật tự trước đây được coi là bền vững, nay bị lung lay. Có những thách đố trước đây được coi là dễ đối phó, nay được coi như không thể đối phó nổi. Có những vấn đề trước đây không hề phải đặt ra, nay phải đặt ra mà không thể không gây nên nhức nhối. Có những cách sống đạo trước đây được coi là làm chứng cho Chúa, nay bị coi là phản chứng, làm hại cho đạo.
Còn nhiều tình huống mới. Nên thấy trước, và phải thấy đúng. Nên dự phòng trước, và phải dự phòng đúng.
Trước tình hình này, các cộng đoàn đức tin nên coi việc tân-phúc-âm-hoá của Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II là một kêu gọi quan trọng, cần được quan tâm nghiên cứu và đáp ứng.
Theo Ðức Thánh Cha, tân-Phúc-Âm-hoá là sống Phúc Âm và truyền bá Phúc Âm với những nhiệt tình mới, với những phương mới và với những cách diễn tả mới.
Thế nào là mới trong những thứ đó, thì phải nghiên cứu dài dài, nhưng đã gọi là mới, thì chắc chắn không phải là chỉ lặp lại những cái cũ. Ở đây, chỉ xin đưa ra một gợi ý. Trước đây, gọi là tội những việc làm và lời nói phạm tới luật lệ, truyền thống và chức vị. Nay còn gọi là tội những thái độ phạm tới con người, như thiếu kính trọng, thiếu chân thành, thiếu bổn phận liên đới. Hiện nay, thứ tội nghịch với con người được coi là rất nặng. Bởi vì con người được thế giới hôm nay coi như là một thực tại “thánh”. Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II rất nhạy bén với khuynh hướng đó, nên Ngài hay nhắc đến quyền con người. Hơn nữa, có lần Ngài đã quả quyết: Con người là con đường của Hội Thánh. Có nghĩa là yêu thương, phục vụ và thăng tiến con người, chính là con đường Hội Thánh phải đi, để làm chứng cho lòng mến Chúa. Theo quan điểm đó, những nhiệt tình lo cho người nghèo, kẻ bị loại trừ, người bị áp bức sẽ được coi là những nhiệt tình mới, các hình thức mới để phục vụ con người sẽ được coi là những diễn tả mới của đức tin, những nhóm mới được thành lập lo đón nhận các loại người khổ cực sẽ được coi là những phương thế mới của việc sống đạo và truyền bá đức tin. Tương lai là thời điểm làm chứng cho đức tin bằng đức ái và tinh thần khiêm tốn ăn năn trở về.
Tương lai có thể có những bất ngờ. Những bất ngờ đáng buồn nhất sẽ là sự xuống dốc của những cộng đoàn cổ thụ trước đây được tiếng là sống đức tin một cách vững vàng, gắn bó với khuôn khổ. Những bất ngờ đáng lạ nhất sẽ là sự vươn lên của những cộng đoàn trẻ trung cởi mở với ơn Chúa Thánh Linh, trước đây không mấy ai để ý đến. Nên thấy trước và hãy biết dự phòng.
Long Xuyên, tháng 8/1995
 

Bùi-Tuần 1558: Chia sẻ những cảm nghiệm trong tâm tình cảm tạ

So sánh Việt Nam hôm nay với Việt Nam những năm trước đây, tôi thấy Việt Nam hôm nay có Bùi-Tuần 1558

So sánh Việt Nam hôm nay với Việt Nam những năm trước đây, tôi thấy Việt Nam hôm nay có nhiều vẻ đẹp mới. Những vẻ đẹp mới này, cùng với những vẻ đẹp cũ, đang làm cho Việt Nam trở thành một thực-tại lịch-sử được trọng nể, phát triển theo những lựa chọn riêng của mình.
Thực-tại lịch-sử này là quê hương thân thương của tôi, là môi trường tôi được Chúa sai vào để làm chứng cho Chúa là Tình yêu cứu độ.
Nhìn môi trường thân thương này đang đổi mới, tôi “cảm tạ hồng ân Thiên Chúa bao la”. Trong tâm tình cảm tạ, tôi cảm nghiệm được nhiều điều mới. Xin được chia sẻ một số cảm nghiệm đó.
 Cảm nghiệm thấy Chúa hiện diện và hoạt động trong lịch sử đổi mới của quê hương
Thực vậy, tâm hồn cảm tạ, khi mở rộng tầm nhìn, sẽ thấy nhiều việc lạ lùng Chúa làm trong thế giới các tâm hồn và trong các quan hệ xã hội. Công Ðồng Vatican II, trong hiến chế Vui Mừng và Hy Vọng đã dạy: “Chúa Thánh Thần, bằng sự quan phòng lạ lùng, vẫn hướng dẫn giòng thời gian, và đổi mới mặt địa cầu” (số 26), “Ðức Kitô phục sinh hoạt động trong lòng mọi người bằng sức mạnh Thần Linh của Người. Người gợi lên trong họ không những những khát vọng của thế kỷ đang đến, mà đồng thời cũng thanh luyện và củng cố những ước muốn quảng đại, thúc đẩy gia đình nhân loại cải thiện các điều kiện của cuộc sống, và đặt tất cả địa cầu vào mục đích đó” (số 26).
Quan điểm trên đây đã được Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II khai triển. Ngài viết: “Sự hiện diện và hoạt động của Chúa Thánh Linh không phải chỉ liên hệ tới các cá nhân, mà tới cả xã hội và lịch sử, các dân tộc, các văn hoá, các tôn giáo. Thực vậy, Chúa Thánh Thần có mặt ở nguồn gốc mọi lý tưởng cao đẹp và mọi sáng kiến tốt của nhân loại đang đi” (Thông điệp Sứ Mệnh Ðấng Cứu Thế, số 28).
Cái nhìn sâu rộng trên đây cho phép tôi ca tụng Chúa đã và đang hoạt động trong bao triệu đồng bào tôi, những người đã góp phần làm nên lịch sử đất nước. Họ thuộc đủ mọi thành phần, mọi tín ngưỡng, mọi màu sắc văn hoá.
Trong lịch sử đã có những ánh sáng lành và những ánh sáng độc, có những bóng tối đáng sợ và có những bóng tối hữu ích, có những tích cực và những tiêu cực, có những sai lầm và có những sửa sai. Nhưng cái gì cũng có thời của nó. Chỉ tình yêu Thiên Chúa là tồn tại vững bền.
Nếu hôm nay thành quả đẹp nhất là những lý tưởng hoà bình, độc lập và tình liên đới được phát triển, thì những lý tưởng đó thật sự đã không phát xuất từ những mặc cảm, nhưng từ những khát vọng tìm về một hạnh phúc lớn lao mở sang hai hướng song song: Gặp được Chân Thiện Mỹ tuyệt đối là chính Thiên Chúa, và gặp được tình chia sẻ giữa những con người biết yêu thương nhau.
Nhìn sâu vào lịch sử với đức tin và đức ái Phúc Âm, tôi thấy Chúa yêu thương mọi người mà Chúa đã tạo dựng. Họ là hình ảnh của Người. Nhiều kẻ biết đón nhận tình Chúa yêu thương, dù họ không Công giáo, đã sống tốt và phục vụ tốt hơn nhiều người khác, dù những người này là Công giáo. Ðó là sự thật để kiểm chứng. Tâm hồn tạ ơn cảm nghiệm những sự thật như thế một cách thanh thản. Cảm nghiệm này rất hữu ích. Nhất là khi cảm nghiệm thấy mình cần được nhiều người giúp đỡ.
 Cảm nghiệm thấy mình cần được nhiều người giúp đỡ để thực thi ơn gọi trên Quê Hương đổi mới
Kẻ được sai đi rất ý thức rằng: không phải người ta phải cần đến mình, nhưng chính mình phải cần đến người ta. Cần đến người khác là thế nào? Thưa là biết mình phải nhờ đến những tình thương mà mình không đáng được. Là biết mình chỉ có thể thực hiện được sứ mệnh kẻ sai đi một cách bình thường, nếu mình được xã hội chấp nhận và giúp đỡ. Là biết mình sẽ chỉ thực hiện được sứ mệnh kẻ sai đi một cách có hiệu quả, nếu mình được người xung quanh tha thứ cho những lỗi lầm của mình. Là biết mình có những thiếu sót, nên cần được tái Phúc-Âm-hoá bởi những kẻ khác, kể cả những kẻ có vẻ kém hơn mình.
Biết mình như vậy, nên khi cảm tạ Chúa, tôi không quên cảm tạ những người khác, nhất là đồng bào tôi, dân tộc tôi, đất nước tôi, cộng đoàn của tôi.
Trong tâm tình cảm tạ, có lúc tôi nhớ tới những trường hợp cụ thể, giống như vài trường hợp xưa của Ðức Kitô. Trên đường vác thập giá lên núi Sọ, Ðức Kitô đã được một người ngoại đạo xa lạ ghé vai vác đỡ thập giá thay cho Người. Bị đóng đinh trên thập giá, Ðức Kitô đã được một người ăn trộm trao gởi niềm tin và lòng mến phục. Như thế là đang khi các thượng tế trở thành những kẻ sát nhân, và các tông đồ trở nên những kẻ bỏ trốn, thì Ðức Kitô đã đón nhận được những sự giúp đỡ của kẻ ngoại đạo và của kẻ tội lỗi.
Tôi nghĩ rằng biết cần đến người khác, dù họ là ai, cũng là một cách dấn thân của đức tin và đức ái. Cho rằng mình là men, muối, thì men cũng cần đến bột, muối cũng cần đến thức ăn. Nếu không thế, thì men và muối sẽ chẳng làm chứng được gì. Hơn nữa, nếu men lại sợ bột, muối lại sợ thức ăn, thì còn đâu là phục vụ.
Ðôi khi, trong tâm tình cảm tạ Chúa và cảm tạ người khác, tôi chợt nhìn thấy những kẻ khốn cùng hèn hạ, và tôi cảm tạ họ, vì họ đã dạy tôi nhiều điều mà tôi không học được ở những người giàu sang thông thái có địa vị cao. Nhất là tôi biết ơn họ đã cho tôi cơ hội, để sau này đến toà Chúa phán xét, tôi hy vọng được Chúa xếp vào loại tốt, bởi vì: “Ta đói, con đã cho Ta ăn...”. Họ đã là một thách đố. Xem ra cách vào thiên đàng là phải giải đáp thách đố ấy.
 Cảm nghiệm thấy địa vị dành cho Hội Thánh là ở những thách đố của lịch sử Ðất Nước đang đi lên
Tôi thấy trong thời điểm hiện nay, sẽ không có những địa vị tặng không cho Hội Thánh. Phải phấn đấu mới có được. Phấn đấu bằng cách góp phần giải đáp những thách đố mà lịch sử đặt ra. Ðại để là thăng tiến con người, phát triển cuộc sống, bảo vệ độc lập và hoà bình của Ðất Nước.
Thực tế cho thấy, nhiều cá nhân, nhiều tổ chức, nhiều tôn giáo, nhiều cộng đoàn của Hội Thánh đã chứng minh bằng việc làm là họ có thiện chí và khả năng dấn thân vào những thách đố ấy, và họ có những tiềm năng đáng tin cậy để phát triển tương lai đất nước. Nhờ thế, họ được trân trọng và dành được những quyền lợi xứng đáng.
Như vậy có nghĩa là trong thời điểm này, đức tin cần được làm chứng bằng cách dấn thân đem lại hoà bình, yêu thương, công lý, phát triển cho Dân Tộc.
Chính Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã dạy: “Hơn bao giờ hết, Hội Thánh biết sứ điệp xã hội của mình sẽ được trở thành đáng tin nhờ chứng từ của các việc làm hơn là của sự đoàn kết và hợp lý nội bộ” (Thông điệp Thiên Niên Thứ Ba, số 57).
Ðể phục vụ có hiệu quả, cần phải coi việc đào tạo trường kỳ chính mình là rất cần. Việc điều chỉnh lại đường hướng và phương tiện cho thích hợp với từng thời điểm cũng là một đòi hỏi quan trọng. Có những hoàn cảnh, uy tín của Hội Thánh sẽ lên cao không phải do mãi mãi đợi chờ một hoàn cảnh mình muốn, để thực hiện những giải pháp tối ưu, mà là do biết nắm bắt thời cơ, đưa ra một giải pháp tầm thường nhưng có thể thực hiện được, với những điều kiện khó mà vẫn phát triển được Tin Mừng.
***
Việt Nam hôm nay như một con tàu đang chạy về phía trước với tốc độ nhanh. Chính con tàu này đang chở tôi. Chính con tàu này cũng đang chở những cộng đoàn bé nhỏ đức tin của tôi. Chính trong con tàu này, những cộng đoàn bé nhỏ này và tôi đang tôn thờ Thiên Chúa và đang cảm tạ Người. Bầu khí hài hoà và thông cảm. Hơn nữa, Tin Mừng cũng đang được chia sẻ rộng rãi với những đồng bào ngoài Công giáo. Chính đó đã là một Tin Mừng.
Xin cảm tạ Thiên Chúa đến muôn đời.
Long Xuyên, tháng 9/1995
 

Bùi-Tuần 1559: Nghĩa tình sông nước

CGvDT:

Khi nhắc đến giáo phận Long Xuyên, nhiều người cảm thấy thú vị về một sức sống đạo phong phú Bùi-Tuần 1559

Khi nhắc đến giáo phận Long Xuyên, nhiều người cảm thấy thú vị về một sức sống đạo phong phú, nhiệt thành và hết sức năng động... Xin Ðức Giám Mục cho biết đâu là nguyên nhân?
 ÐGM. BT: Muốn biết nguyên nhân, thiết tưởng nên tìm hiểu những khuynh hướng tôn giáo tại đây từ mấy chục năm qua.
Có ba khuynh hướng đáng kể: Một là khuynh hướng chống cộng, quan tâm đến việc đối kháng với chủ nghĩa Cộng Sản. Hai là khuynh hướng thích nghi quan tâm đến việc chọn lựa cung cách sao cho hợp với thời thế, mà vẫn giữ nguyên được giáo lý của mình. Ba là khuynh hướng trở về, quan tâm đến việc tìm về căn cốt của cuộc sống, tìm về căn bản của Tin Mừng, vì thế nỗ lực diễn tả đức tin bằng việc thực thi Ðức Ái Phúc Âm, tích cực đáp ứng những nhu cầu khẩn cấp của cuộc sống con người hôm nay.
Khuynh hướng thứ nhất kể như tàn lụi. Khuynh hướng thứ hai kể như đã ổn. Khuynh hướng thứ ba càng ngày càng mạnh. Có thể nói tại đây Ðức Ái đang là một giáng động, rất dấn thân, hoạt động đặc biệt trong các lãnh vực: hiếu thảo, liên đới với người nghèo khổ, thăng tiến con người nhất là giáo dục.
Khi thao thức sống Ðức Ái, người ta dễ cảm nghiệm thấy một sự gặp gỡ nào đó với chính Ðức Kitô, để cùng với Người sống mầu nhiệm nhập thể, loan báo Tin Mừng cứu độ và làm chứng về Nước Trời đang đến.
Ngoài ra, địa phương tôi là vùng có nhiều tôn giáo. Một số tín ngưỡng rất đơn giản về giáo lý, nhưng tập trung đời sống đạo, đức hiếu thảo và làm các việc từ thiện. Ảnh hưởng khá lớn. Các tôn giáo ấy đã có những gương sáng đời thường rất đẹp, thúc đẩy chúng tôi phải cố gắng nhiều hơn nữa trong việc thực thi Ðức Ái Phúc Âm. Nếu không, chúng tôi sẽ gặp nguy cơ là quần chúng, xã hội sẽ loại trừ chúng tôi.
Nói về Ðức Ái thì dễ. Thực thi Ðức Ái thì không gì khó bằng. Còn nhiều lỗi lầm thiếu sót. Còn nhiều tha hoá. Vì thế, phải luôn luôn tỉnh thức trở về. Trở về là công cuộc tân-Phúc-Âm-hoá trường kỳ là việc tu đức nội tâm liên lỉ, cởi gỡ mình khỏi cái tôi tự mãn, trì trệ, hẹp hòi, thành kiến, ích kỷ, đồng thời hiệp thông tích cực hơn vào sự sống đầy tình yêu và tự do của Thiên Chúa. Khó lắm đấy. Những cũng rất vui. Nhất là khi thấy sự trở về Ðức Ái đã góp phần vào việc phát triển con người và Ðất Nước. Chỉ là phần nhỏ đó thôi.
 CGvDT: Thế nghĩa là vẫn còn có những khó khăn trở ngại?
 ÐGM. BT: Ðúng thế. Tôi muốn nói tới những khó khăn trở ngại trong việc phát triển con người và cuộc sống tại đây. Chỉ vài ví dụ nhỏ: Tại một số nơi trong vùng này, có những em học sinh phải đi 18 cây số đến trường cấp III, có những em bỏ học vì quá nghèo, có những em thường trú ngoài đường, tạm trú trong nhà. Số người nghèo khá đông, họ muốn vươn lên, mà không sao đi lên được. Không có công ăn việc làm, không có vốn, không có trình độ văn hoá. Nhà ở xập xệ. Ðường đi trắc trở. Môi trường ô nhiễm. Tôi lo ngại trong tình hình, sẽ có thời cơ phát triển cảnh giàu, và cũng có nguy cơ phát triển cảnh nghèo. Khoảng cách giữa giàu và nghèo sẽ tăng. Lại sẽ nảy sinh ra những khủng hoảng mới: khủng hoảng tâm lý, khủng hoảng gia đình, khủng hoảng xã hội, khủng hoảng đạo đức.
Theo tôi trong việc phát triển Ðạo cũng như Ðời, hai yếu tố quan trọng nhất là khâu đào tạo nhân sự và bầu khí gia đình. Ấy thế mà cho đến nay, tại nhiều nơi, việc “đào tạo những người đào tạo” vẫn còn yếu kém về nhiều mặt, thêm vào đó là bầu khí gia đình vẫn mãi tẻ buồn, bệt bệt với những buông xuôi, những lo toan vô vọng, và những ngược xuôi kiếm sống, tự lực mà chẳng sao tự cường được. Tôi coi sự không hoặc chưa giải quyết được hai yếu tố quan trọng trên, là trở ngại và là khó khăn lớn cho việc phát triển hạnh phúc cho đồng bào.
 CGvDT: Bao nhiêu năm sống đạo giữa một nền văn hoá sông nước vùng châu thổ... Ðức Giám Mục có những kinh nghiệm nào để Ðạo và Ðời cùng sóng đôi?
 ÐGM. BT: Kinh nghiệm của tôi rất giới hạn. Theo nhận xét của tôi, nền văn hoá sông nước vùng châu thổ Cửu Long ở đây có nét đặc thù, đó là tình nghĩa. Tình nghĩa chân thành, tình nghĩa lê thê, tình nghĩa chan hoà, tình nghĩa đơn sơ, chất phác được hát lên trong dân ca. Tình nghĩa đậm đà được nhận thấy trong các thứ lễ gia đình. Tình nghĩa hồn nhiên sóng sánh ngay cả trong ly rượu người địa phương này.
Nền văn hoá ở đây còn có thêm nét kể nữa, đó là biết ơn. Ðược ơn sẽ đáp đền. Ơn sinh nghĩa. Ơn sinh tình. Có thể là một cách mộc mạc thôi, nhưng chân thành và lâu bền.
Khi cả Ðời lẫn Ðạo biết vận dụng yếu tố tình nghĩa và lòng biết ơn, đồng thời cả hai đều nhắm vào việc phục vụ con người, thì Ðạo Ðời đã gặp nhau ở nhiều điểm hẹn, và cùng nhau đi về phía trước một cách hài hoà.
 CGvDT: Cũng trên vùng châu thổ sông Cửu Long này, giáo phận Long Xuyên không chỉ toạ lạc trên ba đơn vị hành chánh khác nhau (An Giang, Kiên Giang, Thốt Nốt thuộc Cần Thơ) mà còn sống giữa nhiều tôn giáo bạn, cũng như sống với đồng bào Chàm, Khơme anh em, có nét văn hoá đặc thù riêng, Ðức Giám Mục có thể nói gì thêm về đời sống đạo giữa đời thường?
 ÐGM. BT: Tôi thấy các tôn giáo ngoài Thiên Chúa giáo ở đây rất chú trọng đến cái Tâm. Các tín hữu của các tôn giáo ấy thường lo rèn luyện cái Tâm trong gia đình và trong đời thường. Một cái Tâm cởi mở, khiêm hạ kính trọng các tôn giáo khác và sẵn sàng giúp đỡ mọi người, không phân biệt ai. Có lẽ vì thế mà liên hệ giữa chúng tôi rất là thoải mái. Trong thánh lễ có nhiều người lương tham dự. Có nơi ca đoàn có những anh em ngoài công giáo tham gia. Người ngoài công giáo đã giúp đỡ chúng tôi rất nhiều việc đạo. Các bài giảng của tôi được nhiều người ngoài công giáo tìm đọc.
Cách đây mấy ngày, tôi tìm được hai cuốn sách mà tôi chủ ý tìm, đó là cuốn “Ðối thoại với Giáo Hoàng Gioan Phaolô II” và cuốn “Tại sao không theo đạo Chúa”. Ðọc xong, tôi chợt nghĩ: Cần phải tỉnh táo. Cần phải bình tĩnh. Cần phải cầu nguyện nhiều hơn. Cần phải sống Ðức Ái Phúc Âm theo gương Ðức Mẹ Maria và nhờ Ðức Mẹ Maria. Tương lai Hội Thánh trong thời cởi mở sẽ gặp những thách đố mới có vẻ nặng nề hơn trước.
Rất nhiều sự kiện cho tôi thấy rằng: Một điều mà nhiều người công giáo Việt Nam thường hay bị phê phán, dễ trở thành phản chứng, làm hại đạo, đó là mặc dù phô trương tin Chúa rất mạnh, nhưng lại dễ dàng sai phạm bác ái, khiêm nhường là những gì sơ đẳng nhất của đạo làm người. Vì thế, tôi cho rằng sẽ không phải là ngoài thánh ý Chúa, nếu khuynh hướng trở về Ðức Ái Phúc Âm được khích lệ và thực thi một cách đúng đắn, như một chọn lựa ưu tiên cho việc sống đạo hiện nay, tại địa phương tôi.
Ngày 1/10/1995
 

Bùi-Tuần 1560: Tiếp cận với thời điểm phê phán

Theo dõi tình hình, tôi thấy đang xuất hiện vài sự kiện mới có ảnh hưởng khá lớn đến việc sống Bùi-Tuần 1560

Theo dõi tình hình, tôi thấy đang xuất hiện vài sự kiện mới có ảnh hưởng khá lớn đến việc sống đạo và truyền đạo tại Việt Nam. Lương tâm tôi thúc giục tôi chia sẻ với anh chị em những gì tôi nhận thấy, những dự đoán và những thái độ của tôi. Mục đích là thêm một lý do nữa để tăng cường việc cầu nguyện trong tháng Mân Côi Ðức Mẹ này.

 Vài sự kiện
1. Từ các nước ngoài đang tràn vào Việt Nam nhiều sách báo tiếng Việt mang nội dung phê phán Hội Thánh Công giáo nói chung và Hội Thánh Việt Nam nói riêng.
Các phê phán đối với Hội Thánh nói chung thường dựa vào giáo sử những thời đại giáo triều bê bối về chính trị, luân lý, tài chánh, nhất là thế kỷ XIV và XV. Như thời Borgia, thời kết án hành quyết những người rối đạo, thời mua bán chức thánh, thời thánh chiến.
Riêng đối với Ðức Giáo Hoàng đương kim Gioan Phaolô II, các phê phán đã rất nặng nề dữ dội và rất dài. Ðiểm bị phê phán nhiều nhất là những gì Ngài đã viết về Phật giáo trong cuốn “Bước qua ngưỡng cửa hy vọng”. Phản ứng lại quan điểm của Ngài về Phật giáo, tạp chí Giao Ðiểm đã xuất bản cuốn “Ðối thoại với Giáo Hoàng Gioan Phaolô II”, tháng 5/1995. Sách dày 305 trang. Ðây là một tuyển tập 14 bài của một số cư sĩ Phật giáo trí thức Việt Nam ngoài nước và trong nước.
Cũng mới xuất hiện tại Việt Nam cuốn “Tại sao không theo đạo Chúa”, tuyển tập I, do Ban nghiên cứu đạo xuất bản tại Hoa Kỳ, 1994. Sách dày 244 trang. Ngay trên trang bìa đã in một câu vắn gọn: “Một sự lừa bịp vĩ đại và những tội ác khủng khiếp”. Nội dung đề cập nhiều chuyện về giáo sử thuộc lãnh vực Toà Thánh và Hội Thánh Việt Nam.
Riêng đối với Hội Thánh Việt Nam, các phê phán thường nhắm vào hàng Giám Mục. Các điểm bị phê phán nhiều nhất là những gì bị coi là đi với ngoại bang, gây nên chia rẽ hận thù trong dân tộc, mở mang Nước Chúa bằng quyền lực.
2. Trong nước, từ ít ngày nay, cũng đã xuất hiện trên các phương tiện truyền thông vài tài liệu lịch sử. Trong đó Hội Thánh Việt Nam có ít nhiều dính líu. Như phim “Ông Cố vấn”, đã khởi chiếu trên đài truyền hình Việt Nam, cuốn sách “Việt Nam máu lửa, quê hương tôi”của cựu thiếu tướng Ðỗ Mậu đang được in lại, loạt bài “Tâm sự tướng lưu vong”, được khởi in trên Tuổi Trẻ Chủ nhật từ số 36-95 (10/9/1995).
Trước đây, tôi đã đọc “Ông Cố vấn” và “Việt Nam máu lửa, quê hương tôi”. Nội dung hai cuốn đó làm tôi suy nghĩ nhiều về những lỗi lầm lịch sử của nhiều phía đã đưa Hội Thánh Việt Nam vào những hoàn cảnh phức tạp, mà ảnh hưởng đến nay vẫn còn dây dưa. Khuôn mặt được đưa lên nhiều nhất, là Ðức Tổng Giám Mục Ngô Ðình Thục.
3. Trong nội bộ Hội Thánh Việt Nam, từ ít tháng nay cũng đã xuất hiện một số thư của người này, nhóm nọ, với nội dung phê phán hoặc một giáo sĩ, hoặc tất cả hàng linh mục, Giám Mục. Ðiểm bị phê phán nhiều nhất là khả năng lãnh đạo và cung cách phục vụ bị coi là không đáp ứng được những khát vọng của giáo dân trong tình hình mới.
Mội điều đáng chú ý là những phê phán đó có vẻ đã xuất phát từ những người, những nhóm được coi là ngoan đạo, nhiệt thành với Hội Thánh.

 Vài dự đoán
1. Theo kinh nghiệm đã và đang xảy ra tại các nước, mà tinh thần tự do dân chủ được phát triển, thì sự phê phán nhân vật công cộng được coi là việc bình thường. Sách báo ưa làm chuyện đó. Dân chúng cũng ưa đọc chuyện đó. Xã hội cũng cần việc làm đó, để có những khuyến khích tiến lên. Ðiều quan trọng là người viết cần có tinh thần trách nhiệm cao, và người đọc cần có khả năng phân định trưởng thành.
Tại Việt Nam với tình hình như hiện nay, việc phê phán các nhân vật trên sách báo rồi sẽ tăng. Các tài liệu phê phán từ nước ngoài gởi vào cũng sẽ tăng. Ai sớm làm quen với tình hình mới sẽ thấy bình thường, ai không chịu quen sẽ tự tạo cho mình sự bực bội, ai quá lo lắng đến những phê phán đó sẽ mất thời giờ. Nhưng ai coi thường những phê phán đó sẽ bị tụt hậu.
2. Theo kinh nghiệm đã xảy ra ở Ba Lan, thì sau khi chế độ Cộng Sản sụp đổ cách đây ít năm, tinh thần chống cộng được thay thế dần dần bằng tinh thần phê phán giáo sĩ và bất tuân Hội Thánh. Nhiều giáo dân tuy không bỏ đạo, nhưng sống theo chủ nghĩa tự do, bất chấp những khuyên răn của các chủ chiên.
Tại Việt Nam với tình hình đang chuyển biến như hiện nay, rất nhiều giáo dân cũng sẽ chạy theo chủ nghĩa cuộc sống, dành ưu tiên cho các vấn đề đời sống, như kinh tế, văn hoá, còn lễ lạy, giáo lý sẽ được xếp vào thứ yếu. Vì đã có thói quen chống, nên tinh thần chống cộng sẽ được thay thế bằng tinh thần chống giáo sĩ, khi giáo sĩ đóng vai trò cản ngăn một số tự do, mà người ta khao khát, hoặc trở nên kẻ lãnh đạo lỗi thời, mà người ta không muốn chấp nhận.
3. Theo truyền thống tại Á châu, việc xúc phạm đến một tôn giáo lớn, nhất là công khai trên báo chí, là điều tối kỵ. Có thể phê phán các nhân vật tôn giáo về mặt chính trị, luân lý, xã hội. Nhưng chỉ trích chính tôn giáo về mặt tín điều, sẽ thành lớn chuyện, có khả năng gây hậu quả không lường trước được.
Tại Việt Nam với tình hình hiện nay, sẽ không thể xảy ra những xáo trộn xã hội do một vài trường hợp như thế. Ðừng kể có những sơ hở để các khuynh hướng cực đoan lợi dụng bất ngờ.
4. Theo chiều hướng mục vụ của Hội Thánh nói chung và của các Hội Thánh tại Á châu nói riêng, việc đối thoại với các tôn giáo bạn phải được coi là rất quan trọng trong thời điểm này. Tại nhiều nước, việc đối thoại này đã được thực hiện một cách qui mô, từ trên xuống dưới và trong nhiều lãnh vực.
Tại Việt Nam với tình hình đang biến chuyển hiện nay, việc đối thoại với Phật giáo sẽ là một vấn đề đáng được xếp vào hàng các ưu tiên. Nhất là khi đã tung ra những bài “Ðối thoại với Giáo Hoàng Gioan Phaolô II”. Sẽ có những người tế nhị, cởi mở, hiểu biết và nghiên cứu chuyên môn. Ðừng quên có một tinh thần dân tộc sâu sắc, và nhất là có một thái độ kính trọng và dịu dàng, mà thánh Phêrô đã dạy những người đối thoại (x. 1 Pr 3,15-16).

 Vài thái độ
Thời điểm phên phán đã tới. Hội Thánh bị phê phán. Các nhân vật Hội Thánh bị phê phán. Ðường hướng mục vụ bị phê phán. Cách sống đạo và truyền đạo bị phê phán. Lịch sử Giáo Hội bị phê phán. Phê phán được coi là một yếu tố tất yếu của nền văn minh dân chủ, tự do, giúp cho việc truy tìm chân lý được dễ dàng, và đẩy xã hội tiến lên trên con đường đổi mới chính mình.
Thiết tưởng trước những chuyển biến như thế, chúng ta cần phải có một số thái độ vừa hợp với đà tiến của nền văn minh, vừa hợp với tinh thần Phúc Âm. Tôi xin được chia sẻ một vài kinh nghiệm riêng tư của tôi.
1. Cảm tạ Thiên Chúa. Ðây là thái độ đầu tiên, để phản ứng lại những phê phán nhắm vào cá nhân mình hoặc vào Hội Thánh của mình.
Quả thật là khó thực hiện một phản ứng như thế. Nhưng rồi sẽ quen, khi tập cảm tạ Chúa mọi nơi, mọi lúc, nhìn mọi sự trong Chúa, và tìm Chúa trong mọi sự.
Tôi thấy Chúa nói với chúng ta không phải chỉ qua trung gian Kinh Thánh và Hội Thánh, mà còn qua cả một hệ thống thực tại gồm có: Kinh Thánh, Phượng tự, Hội Thánh, nhân loại, thiên nhiên, cuộc sống. Trong mọi sự việc xảy ra cho ta dù coi như bất lợi nhất, vẫn có một cái gì đó ta có thể lợi dụng được, để làm cho ta nên tốt. Nếu chúng ta là những người khao khát cầu tiến thực sự theo ý Chúa, chúng ta sẽ được Chúa dạy dỗ, rèn luyện, không phải bằng những con đường ta chọn cho ta, mà bằng những con đường Chúa chọn cho ta. Ðôi lúc, ta sẽ cảm nghiệm thấy ứng nghiệm lời Ðức Kitô xưa đã nói với thánh Phêrô: “Người khác sẽ dẫn con đi và sẽ đưa con đến nơi con đã không muốn đến”.
2. Khiêm tốn lắng nghe. Ðó là thái độ mà Ðức Maria đã thực hiện suốt đời: Mẹ đã ghi giữ tất cả và suy niệm trong lòng. Mẹ đối thoại với Chúa trước khi đối thoại với con người. Mẹ ưa thích thinh lặng. Mẹ chỉ trả lời, khi thấy có nhiệm vụ phải trả lời. Không thấy Mẹ chỉ trích, kết án ai.
Có những sự thực Chúa chỉ tỏ ra cho những tâm hồn khiêm tốn. Có những sự thực chỉ tâm hồn khiêm tốn mới hiểu được. Có những sự thực chỉ tâm hồn khiêm tốn mới truyền đạt một cách chính xác được.
3. Biết kính trọng người mình đối thoại. Ðó là thái độ mà Chúa Giêsu đã làm gương khi nói chuyện bên bờ giếng Giacóp với một người khác đạo, và không mấy đạo đức, đó là người phụ nữ xứ Samaria. Người tỏ ra cần đến sự giúp đỡ của bà, khi Người xin bà cho Người chút nước uống. Người xoá bỏ ngăn cách giữa đạo của bà với đạo của Người, khi Người quả quyết sẽ đến thời mọi người sẽ thờ Chúa trong tinh thần và trong chân lý.
Không gì bất kính người mình đối thoại cho bằng tự mãn cho mình là đạo đức hơn họ, và sự đạo đức đó cho mình có quyền khinh miệt và kết án họ.
Không gì phản chứng về đạo đức cho bằng thiếu tôn trọng sự thực. Sự thực là những tương quan thường rất phức tạp. Vội vàng, chủ quan, thành kiến sẽ không tìm được sự thực, nhất là sự thực tôn giáo.
***
Ðể kết, tôi xin anh chị em hãy cùng tôi nhìn lên Ðức Mẹ Maria. Mẹ đầy ơn phúc, nhưng Mẹ vẫn xưng mình là tôi tớ Chúa. Mẹ đã hiện ra nhiều lần ở Lộ Ðức, ở Fatima. Và lần nào, Mẹ cũng nhắn nhủ chúng ta là: Hãy ăn năn trở lại, và hãy cầu nguyện. Tôi nghĩ rằng: Mọi đối thoại, mọi phê phán và đón nhận phê phán sẽ sinh hiệu quả tốt, nếu chúng ta biết vâng lời Mẹ, thực tình ăn năn trở về đàng lành, sốt sắng cầu nguyện trong tâm tình khiêm tốn, cảm tạ và bác ái vị tha.
Long Xuyên, tháng 10/1995
 

Bùi-Tuần 1561: Tinh thần Giáo Hội

Ngày 24/11/1995 là kỷ niệm 35 năm thiết lập hàng Giáo Phẩm Việt Nam (24/11/1960-24/11/1995) Bùi-Tuần 1561

Ngày 24/11/1995 là kỷ niệm 35 năm thiết lập hàng Giáo Phẩm Việt Nam (24/11/1960-24/11/1995). Ngày đó cũng là lễ kính các thánh tử đạo tại Việt Nam. Và có thể ngày đó, tại Rôma, Giáo Hội Việt Nam sẽ được chú ý đặc biệt với phái đoàn đại diện các Giám Mục Việt Nam đến viếng mộ hai thánh Tông đồ.
Ngày 24/11/1995 quả là một điểm hẹn có khả năng khơi dậy nhiều chuyện của quá khứ cũng như nhiều khắc khoải của hiện tại và nhiều vấn đề cho tương lai Giáo Hội Việt Nam.
Mỗi người tín hữu, mỗi cộng đoàn đức tin nên chọn cho mình một cách mừng kỷ niệm này, sao cho có hiệu quả tốt trong chiều hướng tân-Phúc-Âm-hoá. Riêng tôi, tôi chọn cách này là xem xét lại tinh thần Giáo Hội nơi bản thân mình và nơi các người thuộc về mình. Tôi xin được chia sẻ. Tinh thần Giáo Hội là một chuỗi dài những tình cảm, những thao thức, những lựa chọn vì Giáo Hội và cho Giáo Hội. Tất cả đều khởi đi từ những cái nhìn về Giáo Hội.
Một cách giản lược nhất, tôi nhìn Giáo Hội như một toà nhà có 4 cửa: Hai cửa vào và hai cửa ra. Ai vào đúng hai cửa để vào và ra đúng hai cửa để ra sẽ là người có tinh thần Giáo Hội.

 Cửa thứ nhất để bước vào là Cửa Mầu nhiệm
Bước vào Giáo Hội, tôi phải ý thức mình đi vào một mầu nhiệm. Bởi vì, trước khi là một tổ chức hữu hình, Giáo Hội đã là một mầu nhiệm vô hình.
Thực vậy, Giáo Hội do Thiên Chúa thiết lập, có Ðức Kitô là đầu, với thần linh của Người hướng dẫn, đưa loài người về với Chúa Cha. Vì thế, bước vào Giáo Hội, tôi phải tập trung lòng trí vào Ðức Kitô, để lắng nghe lời Người, để gặp gỡ Người, để đón nhận Người, để bước theo Người, để sống như Người. Tôi phải có một tâm hồn nghèo khó, sẵn sàng được Người chia sẻ cho tư tưởng của Người, ý muốn của Người, tình cảm của Người, để trên con đường đó, tôi sẽ biết làm chứng cho Tình Yêu Thiên Chúa cứu độ giàu lòng thương xót. Với Người, tôi sẽ có những bước xuống tự nguyện như Người đã xuống thế làm người. Với Người, tôi sẽ chia sẻ và hội nhập như Người đã mặc lấy trọn vẹn thân phận con người, chỉ trừ tội lỗi. Với Người, tôi sẽ cậy tin phó thác nơi Chúa Cha, trong lương tâm người con của Chúa. Với Người, tôi sẽ hiệp thông với Thiên Chúa Ba Ngôi và đoàn kết với nhân loại.
Như vậy, bước vào Giáo Hội là tôi đón nhận một hồng ân lớn lao. Hồng ân ấy là một Tin Mừng đem lại cho tôi hạnh phúc đời đời. Tin Mừng đó chính là Ðức Kitô, Ðấng đã chịu nạn và đã sống lại, hiện nay đang ở trong tôi. Tôi cảm tạ Người.
Thái độ tạ ơn Chúa, thái độ đón nhận Chúa, thái độ yêu thương con người như Chúa đã yêu thương, đó là một nét của tinh thần Giáo Hội, khi tôi bước vào Cửa Mầu nhiệm Giáo Hội.
Chúa đến với tôi có lúc trực tiếp, có lúc qua trung gian cơ chế của Giáo Hội.

 Cửa thứ hai để bước vào là Cửa Cơ chế
Bước vào Giáo Hội, tôi dễ thấy hình ảnh Giáo Hội là một cơ chế. Cơ chế này là một tổ chức, có mặt nổi và có mặt chìm. Mặt chìm như những điều phải tin, phải xin, phải chịu, phải giữ, thêm vào đó là những truyền thống, não trạng tâm lý tập thể và thói tục tôn giáo địa phương. Mặt nổi như các phẩm trật, nhân sự, đoàn hội, phân công sinh hoạt tôn giáo.
Cơ chế cộng đoàn thường tạo nên môi trường tâm lý, có công dụng hướng dẫn, nâng đỡ và làm nên nếp sống đạo. Muốn biết sống đạo tôi phải tích cực tham gia vào môi trường đó, để nhận lãnh và để cho đi, nhất là để cùng với cộng đoàn, làm cho Hội Thánh địa phương sáng lên lửa bác ái phục vụ con người và đức thờ phượng Thiên Chúa trong tinh thần và chân lý.
Trong cơ chế, tất nhiên có yếu tố vững bền, và có yếu tố đổi thay. Nhiều khi đổi thay là điều cần phải thực hiện, vì lợi ích chung Giáo Hội. Thí dụ khâu nhân sự, khâu não trạng, khâu hệ thống trung gian. Khi đã tiêu chuẩn hoá nhân sự theo đòi hỏi một tình hình mới, thì phải chọn lựa, đào tạo và, nếu cần, phải thay thế. Khi thấy một não trạng tập thể đã quá ù lỳ, cằn cỗi, cục bộ, tha hoá, thì phải cải cách. Khi thấy hệ thống trung gian đã quá khệnh khạng, trì trệ, thủ lợi, lạc hậu, thì phải cập nhật hoá. Tất cả các việc đổi mới đó sẽ được thực hiện theo các tiêu chuẩn Phúc Âm, Công đồng Vatican II, và thực tại xã hội. Ðó là một cách tái-Phúc-Âm-hoá cơ chế, một việc phải thực hiện kịp thời, để tránh cho Hội Thánh khỏi nguy cơ tụt hậu, tránh gây cho tương lai Hội Thánh những thiệt hại ghê gớm lâu dài.
Thế nhưng, giữa lý tưởng và thực tế bao giờ cũng có một khoảng cách, giữa thiện chí và thực hành bao giờ cũng vẫn còn chỗ cho nhiều trăn trở. Vì thế, phải biết chấp nhận những tương đối khiêm tốn, biết nương tựa vào nhau, biết cùng kéo nhau đi về phía trước, trong tinh thần liên đới, yêu thương, sẵn sàng hy sinh quyền lợi riêng mình, vì phần rỗi các linh hồn, để Tin Mừng cứu độ được lan rộng.
Như thế, trước cơ chế, tinh thần Giáo Hội vừa là hiệp thông, vừa là sám hối canh tân trong chiều hướng tân-Phúc-Âm-hoá mà Ðức Thánh Cha đã chỉ dẫn.
Sau khi đã vào Giáo Hội, tôi được sai đi. Trước hết phải ra đi truyền giáo.

 Cửa thứ ba để ra đi là Cửa Truyền Giáo
Truyền giáo là sứ mệnh Chúa trao cho mọi người tín hữu. Sứ mệnh này khơi dậy trong tôi những trăn trở triền miên về phần rỗi các linh hồn, những thức tỉnh và cầu nguyện, những khát vọng học hỏi kinh nghiệm truyền giáo đó đây, những bức xúc đợi chờ các thiện chí, các sáng tạo và các đoàn sủng.
Hiện nay, cách truyền giáo hữu hiệu nhất là làm chứng cho Tin Mừng bằng chính đời sống và các việc lành. Có ba chứng từ sống được kể là hữu hiệu nhất, đang gây được hậu quả tốt trong quần chúng Việt Nam.
Một là các đức tính nhân bản.
Hai là tinh thần bác ái Phúc Âm.
Ba là sống Tám mối phúc, biến đời thường thành thánh lễ.
Ba chứng từ sống động này toát ra một sự sống mới, qui chiếu về Ðức Kitô. Truyền giáo lúc đó là chia sẻ một sự sống mới đã được cảm nghiệm, hơn là rao giảng một giáo lý suông để mà tin theo. Trong những trường hợp như thế, kết quả đầu tiên của truyền giáo là hoán cải lòng người. Nếu trước đây, người ta ác cảm hoặc dửng dưng với đạo Chúa, thì nay họ quan tâm đến đạo với nhiều thiện cảm. Nên coi đó là một thay đổi rất đáng mừng. Tôi thấy số người như thế đang tăng lên ở nhiều địa phương. Thường do những liên hệ chan hoà tình người, những công tác từ thiện, những gương sáng đời thường của cá nhân và của gia đình. Ðang khi đó, tại một số địa phương khác, sau mấy chục năm sống bên cạnh những người Công giáo, số người ác cảm với đạo Công giáo đã tăng lên đáng kể và mức độ ác cảm cũng tăng lên đáng sợ. Thế nghĩa là gì? Nhất là sự kiện này cũng đang xảy ra gay gắt tại một số những cộng đồng người Việt ở nước ngoài, nơi có nhiều tự do truyền giáo và có đủ mọi phương tiện truyền giáo. Phải chăng vì thiếu những chứng từ sống động, hoặc vì có những phản chứng.
Vì thế, một nét của tinh thần Giáo Hội cần phải được xây dựng lúc này là nhiệt tình truyền giáo bằng đủ mọi cách thích đáng, nhất là bằng chính thái độ của mình đậm đà sức sống nội tâm của Ðức Kitô.

 Cửa thứ tư để ra đi là Cửa Dấn thân
Vì động lực đức tin và đức ái Phúc Âm, tôi ra đi, dấn thân vào việc xây dựng Quê Hương, thăng tiến đồng bào, bảo trì bản sắc văn hoá dân tộc theo những giá trị thực, hợp nhân bản, hợp Phúc Âm và hợp truyền thống Dân Tộc.
Khi dấn thân như vậy, tôi cũng sẽ góp phần vào việc phát triển Giáo Hội Việt Nam với những nét chung của Giáo Hội toàn cầu và với những nét riêng của đất nước Việt Nam. Hiến chế “Ánh sáng muôn dân” của Công Ðồng Vatican II không những cho phép, mà còn khuyến khích các Giáo Hội địa phương hãy trau dồi những khác biệt chính đáng của mình trong tinh thần hiệp nhất, để làm cho Giáo Hội toàn cầu được thêm phong phú (Lumen Gentium, 13).
Sứ mạng này chỉ thực hiện được một cách hứng khởi và chu đáo, nếu có những cố gắng để đức tin không tách rời khỏi những chuyển biến văn hoá tại đất nước mình. Bằng không, sẽ xảy ra một bi kịch cho Công giáo như Ðức Phaolô VI đã quả quyết trong bài hô hào về Phúc-Âm-hoá (tháng 12/1975, số 20).
Ngoài ra, sự dấn thân này sẽ được hưởng ứng tích cực, nếu Giáo Hội được hiểu là toàn thể Dân Thiên Chúa, trong đó giáo dân giữ một vai trò quan trọng có những phần việc và những trách nhiệm đáng kính, không ai thay thế được.
Thêm vào đó, sự dấn thân này cũng sẽ sinh được hậu quả tốt, nếu việc đối thoại và những dây liên hệ với những tôn giáo bạn tại địa phương và với các tầng lớp nhân dân được xây dựng theo hướng tích cực.
Hiện nay, nhiều người Việt Nam ngoài công giáo đã mến Hội Thánh, vì lý do thấy được những việc tốt người công giáo làm cho Ðất Nước và cho những người Việt Nam ngoài Công giáo, chứ không phải vì lý do thấy được những việc tốt người Công giáo làm cho nội bộ tôn giáo của mình.
Như thế, một nét quan trọng mà tinh thần Giáo Hội không được phép thiếu lúc này là dấn thân theo hướng cởi mở có trách nhiệm và theo mô hình nhập thể của Ðức Kitô, để dù với một cách khiêm tốn, chúng ta được hướng dẫn bởi ơn tiên tri, vẫn loan báo về một Nước Trời đang đến.
***
Trên đây chỉ là những gợi ý qua một hình ảnh được chọn để dễ hiểu, chứ không để hợp lý. Bằng những suy nghĩ này, tôi đón chờ ngày 24/11/1995, để đi về phía trước, với tinh thần Giáo Hội của Ðức Kitô, Ðấng Cứu độ duy nhất mà tôi tuyên xưng bằng tất cả con người và cuộc đời của tôi.
Long Xuyên, tháng 11/1995
 

Bùi-Tuần 1562: Gợi ý cho những định hướng đầu năm

Một trong những việc cần làm trong những ngày đầu năm của mọi thành phần Dân Chúa là chọn Bùi-Tuần 1562

Một trong những việc cần làm trong những ngày đầu năm của mọi thành phần Dân Chúa là chọn những định hướng mục vụ cho thời gian tới.
Công việc đó thường diễn tiến như sau:
1. Ðề ra những định hướng mục vụ theo nhu cầu của tình hình mới.
2. Chọn một vài định hướng ưu tiên.
3. Tìm cách thực hiện những định hướng ưu tiên đã được chọn.
Một diễn tiến như trên sẽ dựa trên những hiểu biết về tình hình cụ thể. Tình hình gồm những chuyển biến mới trong nội bộ Giáo Hội và những chuyển biến mới ngoài Giáo Hội về các mặt xã hội, kinh tế, văn hoá, chính trị và các tôn giáo ngoài Công giáo.
Nắm bắt tình hình với những phân tích khảo sát, tìm hiểu nhận xét, đánh giá và dự báo là công việc không được coi thường trong mục vụ, nhất là trong chọn lựa và thực hiện định hướng mục vụ.
 Ðịnh hướng mục vụ chung hiện nay là đổi mới theo Công đồng Vatican II và tân-Phúc-Âm-hoá theo Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II.
Về phía Công đồng và về phía Toà Thánh, những định hướng chung đó đã được trình bày và khích lệ trong rất nhiều tài liệu chính thức. Về phía các Giáo Hội tại mỗi nước, những định hướng chung đó sẽ được áp dụng, không phải một cách sáng tạo với sự nghiên cứu kỹ càng hoàn cảnh địa phương và thời điểm.
Chúng ta cũng làm như thế. Một công việc không đơn giản chút nào. Ðể góp phần vào việc làm đó, tôi xin đưa ra một số gợi ý rút ra từ những nghiên cứu tình hình đó đây. Hy vọng những gợi ý cho các Giáo Hội địa phương khác cũng báo cho chúng ta về những hướng đi mục vụ chúng ta nên chọn cho chính Giáo Hội chúng ta lúc này.
* Cuốn "Les pouvoirsdans l'Eglise, Etude du gouvernement d'une Eglise locale: l'Eglise de Québec", NXB Paulines, 1993, 522 trang, là một công trình nghiên cứu về tình hình giáo phận Québec. Tác giả là linh mục Giiles Routhier, giáo sư thần học tại Ðại học Laval, Canada.
Sau khi đã khảo sát tỉ mỉ các tài liệu, các sinh hoạt, các điều hành giáo đoàn và những kết quả mục vụ của giáo phận Québec, từ sau Công đồng Vatican II đến nay, tác giả đã đưa ra những nhận xét có tính cách gợi ý sau đây:
 1. Một Giáo Hội địa phương cần phải là Giáo Hội của địa phương mà mình mang tên. Nó cần tìm ra những hình thức cơ chế và cách diễn tả đức tin có khả năng được chấp nhận vào văn hoá của xã hội địa phương mình. Những người của Giáo Hội địa phương cần có những liên hệ tốt với xã hội địa phương, nhất là với giới trí thức địa phương, cần có những hiểu biết các vấn đề của địa phương, và cần có những tham gia vào việc xây dựng xã hội địa phương.
 2. Một Giáo Hội địa phương cần phải là Giáo Hội của thời đại mà địa phương đang vươn tới. Những người của Giáo Hội địa phương cần có khả năng đối thoại về các giá trị mới của thời đại mới.
 3. Một Giáo Hội địa phương cần phải là Giáo Hội của Tin Mừng. Nó cần có thiện chí và khả năng cống hiến ơn thánh cứu độ, làm cho con người và cuộc sống nên tốt hơn, và làm cho những mối tương quan xã hội được công bình bác ái hơn.
 4. Một Giáo Hội địa phương cần phải là Giáo Hội của hiệp thông. Nó cần có những liên hệ nhận lãnh và cho đi với Toà Thánh và với các Giáo Hội tại các địa phương.
Một Giáo Hội địa phương như thế không nên đợi chờ và thực hiện những định hướng mục vụ làm sẵn do trên truyền xuống hay do thói quen truyền lại, nhưng phải nghiên cứu và phải biết sáng tạo.
* Cuốn "L'Eglise catholique en France, Approches sociologiques" NXB Desclée de Brouwer, 1994, 220 trang. Tác giả là linh mục Julien Potel, một nhà xã hội học.
Sau khi xem xét các mặt khác nhau của tình hình Giáo Hội Pháp, ngài đã đưa ra năm chiều kích của đức tin như sau:
- Tin là tham dự các nghi thức, lễ lạy tôn giáo.
- Tin là chấp nhận hệ thống chân lý Hội Thánh dạy.
- Tin là cộng tác với các nhân sự của cơ chế Hội Thánh.
- Tin là đi vào những mầu nhiệm Ðức Kitô.
- Tin là sống trung thực với những gì đạo dạy nhất là trong đời thường.
Theo tác giả, rất ít người có đủ năm chiều kích kể trên. Hơn nữa, rất nhiều người có đạo chỉ mang tên thánh, còn trên thực tế họ không có một đức tin mang chiều kích thánh nào cả. Và đó là băn khoăn lớn của Giáo Hội Pháp hiện nay. Ðể giúp hiểu nguyên nhân cơn khủng hoảng, tác giả cho thấy Giáo Hội Pháp cần nhận thức là mình đang đứng trước những thực tế sau đây:
 1. Xã hội đang phát triển với sự tự lập của mình, không cần đến Giáo Hội.
 2. Nhiều tôn giáo ngoài Công giáo và nhiều giáo phái đang phát triển với những giá trị riêng của họ, có nhiều sức lôi cuốn.
 3. Nhiều loại "hướng dẫn viên tinh thần" không phải là giáo sĩ Công giáo đã xuất hiện và đang hoạt động, được quần chúng tín nhiệm.
 4. Có nhiều cộng đoàn Công giáo đã gây được ảnh hưởng tốt, nhờ có khả năng đối phó với những thách đố của thời đại, với nền văn hoá mới và những đối với thiết thân về đời sống hôm nay.
* Cuốn "Vraie et fausse réforme dans l'Eglise", NXB Cerf, 1950, 648 trang. Tác giả là Yves M.J. Congar, O.P., đã được phong Hồng Y.
Ðây là một công trình nghiên cứu rất công phu về lịch sử các cuộc cải cách liên quan đến Giáo Hội Công giáo.
Ðể giúp chọn định hướng mục vụ và tìm cách thực hiện định hướng mục vụ với mục đích đổi mới, tôi chỉ tóm tắt bốn điều kiện do tác giả nêu lên:
 1. Trong đổi mới, phải ưu tiên cho đức ÁI và cho mục vụ. Một đổi mới nào chỉ lo sao cho hợp lý, sao cho ăn khớp với một hệ thống quan điểm mình coi là đúng, sẽ là một đổi mới không tốt. Trái lại, một đổi mới tốt phải phát xuất từ đức Ái, từ khát vọng nên thánh, từ nhu cầu mục vụ: muốn Chúa được nhiều người mến tin hơn và người ta được yêu thương nhau hơn.
 2. Trong đổi mới, phải cố gắng duy trì tinh thần hiệp thông. Lịch sử cho thấy nhiều cuộc đổi mới sinh hiệu quả tốt đã xuất phát không từ trung ương và từ những cấp cao của Hội Thánh, mà từ những địa phương xa, bé nhỏ, như những cộng đoàn cơ bản hiện nay tại nhiều Giáo Hội Phi châu, Á châu và Nam Mỹ, và từ những nhân vật khiêm tốn như anh Charles de Foucauld, chị Chiara, mẹ Têrêsa Calcutta. Sở dĩ những đổi mới ấy đã gây được nhiều ảnh hưởng Phúc Âm sâu rộng, là vì đã có nhiều cảm thông của giáo quyền dành cho những người khởi xướng, và những người này giữ được sự hiệp thông tích cực với giáo quyền và các thành phần của Hội Thánh.
 3. Trong đổi mới, phải quan tâm trở về nguồn là trở về với Ðức Kitô. Một sự trở về với Ðức Kitô như vậy sẽ bắt đầu bằng việc đổi mới chính bản thân mình theo mô hình Ðức Kitô là tình yêu cứu độ. Vì thế, mọi đổi mới nào do động lực không phải là tình yêu Ðức Kitô, và dùng phương tiện không phù hợp với tình yêu Ðức Kitô đều là những đổi mới không tốt.
 4. Trong đổi mới, phải biết kiên trì. Ðổi mới nào cũng cần có thời gian. Nhất là đổi mới não trạng, đổi mới cách nhìn, và đổi mới cách đánh giá. Rồi từ sự biết đúng đến sự làm đúng cũng cần có thời gian. "Tinh thần thì nhanh lẹ, nhưng xác thịt thì nặng nề". Vì thế, vội kết án, vội xét đoán, vội loại trừ, là những điều không nên có trong những chương trình đổi mời.
Ðể chuẩn bị cho tuần tĩnh tâm sắp tới, mỗi người chúng ta nên dựa theo những gợi ý trên đây cùng với những nhận xét riêng của mình về tình hình Việt Nam nói chung và của địa phương nói riêng, để tự mình đề ra cho mình những định hướng mục vụ, tiếp đó là sắp xếp chọn lựa định hướng ưu tiên, rồi tìm cách thực hiện định hướng ưu tiên mình chọn lựa.
Có làm như thế, chúng ta mới thấy rõ được nhiệt tâm khả năng và phương cách đáp ứng của chúng ta trước lời mời gọi đổi mới của Hội Thánh.
Cộng đoàn được trao phó cho chúng ta sẽ tiến hay lùi, một phần do sự chúng ta biết đáp ứng lời gọi tha thiết đó.
Long Xuyên, tháng 1/1996
 

Bùi-Tuần 1563: Chuyến đi truyền giáo

Mấy ngày nay, tôi hay nhìn lại 21 năm qua. Thời gian 21 năm là một chặng đường dài. Ðây là Bùi-Tuần 1563

Mấy ngày nay, tôi hay nhìn lại 21 năm qua. Thời gian 21 năm là một chặng đường dài. Ðây là một quãng đường rất mới đối với lịch sử Việt Nam.
Cùng với đồng bào cả nước, chúng ta đã đi vào lịch sử mới, với nhiều cố gắng mới, với nhiều hy vọng mới.
Nếu muốn đặt một tên cho chuyến đi 21 năm qua của giáo phận Long Xuyên, tôi xin phép được gọi đó là CHUYẾN ÐI TRUYỀN GIÁO. Sở dĩ đặt tên đó, là vì trong những năm qua, đức tin đã phát triển sâu rộng và tương đối mau, đã có những kết quả lớn lao và bất ngờ, đặc biệt là những gì có liên quan đến các điểm truyền giáo.
Hôm nay, nhìn chung tình hình giáo phận về phương diện phát triển đức tin, tôi dám quả quyết là: Chúa đã làm những sự lạ lùng, qua những dụng cụ bé nhỏ.
Ði sâu vào tình hình đạo, tôi thấy có một vấn đề đáng suy nghĩ, một vấn đề đã đặt ra, đang đặt ra và sẽ còn đặt ra cho công cuộc truyền giáo tại địa phương chúng ta. Vấn đề đó là: Trong mọi chuyến đi truyền giáo, cần phải biết khéo léo với những khác biệt.

Tôi xin chia sẻ vắn tắt.
 1/ Trước hết, phải biết tế nhị trước những khác biệt nơi các người cùng trên con đường truyền giáo
Tất cả đều có những giới hạn nhất định. Nhưng tất cả đều có những khả năng phục vụ hoặc nhiều hoặc ít, hoặc về mặt này hoặc về mặt nọ. Nên coi những khác biệt đó là một kho tàng phong phú có lợi cho truyền giáo. Kinh nghiệm cho thấy không thiếu người coi như khô khan, nhưng đôi lúc đã được Chúa dùng để làm những việc có lợi cho Nước Trời. Có những lãnh vực các giáo sĩ đi vào được, và có những lãnh vực Hội Thánh phải nhờ giáo dân và những chuyên viên để có thể hiện diện. Hội Thánh là Dân Thiên Chúa. Mỗi cá nhân, mỗi nhóm, mỗi cộng đoàn có thể nhận được những đoàn sủng riêng, để phục vụ Nước Trời. Biết lợi dụng những khác biệt để hướng về một mục đích chung, đó là cách vừa phát triển truyền giáo, vừa xây dựng mối hiệp nhất tốt đẹp trong Hội Thánh.
 2/ Ngoài ra, phải biết cởi mở trước những khác biệt của hoàn cảnh truyền giáo
Hoàn cảnh mỗi địa phương có những đặc điểm riêng, về phong tục, về văn hoá, về tín ngưỡng. Một điều kiện quan trọng mà chúng ta không được coi thường khi truyền giáo là phải biết kính trọng những khác biệt đó. Tôi thấy nhiều tôn giáo bên cạnh chúng ta rất khác đạo chúng ta, nhưng nhiều tín đồ của các tôn giáo ấy đã nêu những gương sáng về đạo đức, về nhiều giá trị cao cả, mà người công giáo chúng ta nên bắt chước. Tôi nghĩ rằng quyền năng Chúa Kitô phục sinh, sức mạnh sáng tạo của Chúa Thánh Thần, tình thương của Chúa Cha giàu lòng thương xót không chỉ hoạt động trong ranh giới Hội Thánh bé nhỏ chúng ta. Khi có một cái nhìn khiêm tốn cởi mở như vậy theo Công đồng Vatican II, chúng ta mới thấy việc học hỏi thêm về Thần học, Kinh Thánh và về các tôn giáo khác là điều hữu ích, để có một thái độ cởi mở an tâm trước những khác biệt của từng hoàn cảnh truyền giáo.
 3/ Sau cùng, phải biết tỉnh táo trước những khác biệt của các phương tiện truyền giáo
Trong truyền giáo, có những phương tiện truyền thống buộc ta phải thực hiện, như cầu nguyện, bác ái, chia sẻ, vv..., đồng thời trong truyền giáo cũng có những phương tiện hiện đại, tuy không buộc dùng, nhưng dùng thì có lợi hơn. Thí dụ thời nay, để truyền giáo, Toà Thánh dùng con đường ngoại giao với các Chính phủ, tiếp xúc với các tôn giáo khác, sử dụng các đài phát thanh, sách báo, nghệ thuật thánh, phượng tự, thánh ca. Trong tương lai, những ai nắm bắt được thông tin, sẽ có nhiều khả năng gây được ảnh hưởng. Ý kiến đó đang được chứng minh trên các lãnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá. Tôi có cảm tưởng là ý kiến đó cũng sẽ đúng, ít là phần nào, trên lãnh vực truyền giáo.
Với mấy chia sẻ vắn tắt trên đây, tôi đã trình bày rõ hướng đi của chúng ta là hướng truyền giáo, cái khó chung của chúng ta là phải xử lý khéo những khác biệt, và cái khó riêng của mỗi người chúng ta chính là bản thân chúng ta, những con người yếu đuối, hèn mọn. Riêng tôi, tôi rất ý thức về thực tại yếu đuối của thân phận mình. Nên trên chuyến đi truyền giáo, tôi luôn luôn nhớ tới tinh thần thơ ấu thiêng liêng của Thánh nữ Têrêsa Hài Ðồng Giêsu. Phó thác trọn vẹn nơi Thiên Chúa là tình yêu, bước đi những bước đi nhỏ, với những việc lành nhỏ, và không ngừng tìm tòi thêm và phấn đấu thêm. Amen.
Long Xuyên, ngày 30/4/1996
 

Bùi-Tuần 1564: Truyền giáo và Lời Chúa hứa:

"Thầy sẽ ở lại với các con..."

Trước khi về trời, Chúa Giêsu đã truyền dạy các tông đồ hãy đi rao giảng Tin Mừng cho mọi dân tộc Bùi-Tuần 1564

Trước khi về trời, Chúa Giêsu đã truyền dạy các tông đồ hãy đi rao giảng Tin Mừng cho mọi dân tộc. Rồi Ngài hứa: “Thầy sẽ ở lại với các con mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28,20).
Vâng lệnh Chúa Giêsu và tin vào lời hứa của Ngài, các cộng đoàn truyền giáo lớn nhỏ xưa rầy đã loan báo Tin Mừng bằng đủ cách có thể. Họ là những cộng đoàn xuất hành, dấn thân. Trong quá trình truyền giáo, họ đã có kinh nghiệm về lời Chúa hứa.
“Thầy sẽ ở lại với các con mọi ngày cho đến tận thế”. Lời hứa đó gởi cho cộng đoàn truyền giáo. Nó thuộc về cộng đoàn hơn là về cá nhân. Mà phải là cộng đoàn truyền giáo, chứ không phải bất cứ cộng đoàn nào. Cũng vì thế, lời hứa của Chúa Giêsu đã được thực hiện trong các hoạt động mang tính cách truyền giáo. Chính Chúa Giêsu đã nói về một số hoạt động mà Ngài sẽ hiện diện. Kinh nghiệm truyền giáo cũng cho thấy sự hiện diện của Chúa Giêsu thực rõ ràng trong các hoạt động được Chúa báo trước đó.
Những hoạt động nào ? Thưa, sáu trường hợp sau đây:
1. Khi phục vụ những kẻ nghèo khó, bé nhỏ, chúng ta sẽ gặp Chúa Giêsu hiện diện. Xin đọc Phúc âm thánh Matthêu, đoạn 25. "... Lúc đó, Vua phán cùng các kẻ ở bên phải rằng: Hỡi những kẻ được Cha Ta chúc phúc, hãy đến mà nhận lấy nước thiên đàng đã sắm cho anh em, từ lúc tạo thành trời đất. Vì khi Ta đói, anh em đã cho ăn; khi Ta khát, anh em đã cho uống; khi Ta không có chỗ trú ngụ, anh em đã cho trọ; khi Ta trần trụi, anh em đã cho mặc; khi Ta ốm đau, anh em đã thăm viếng; khi Ta bị tù, anh em đã hỏi han. Bấy giờ họ thưa rằng: Lạy Chúa! có khi nào chúng con thấy Chúa đói mà cho ăn, khát mà cho uống, không nơi trú mà cho trọ, trần trụi mà cho mặc, ốm đau hay bị cầm tù mà đến viếng thăm đâu ? Chúa phán cùng họ: Ta bảo thật, mỗi lần anh em làm những sự ấy cho một kẻ hèn mọn trong anh em Ta, thì được kể như làm cho chính Ta vậy” (Mt 25,31-40).
Vì Chúa Giêsu đã xác định rõ ràng như thế, nhiều cộng đoàn truyền giáo đã chọn việc phục vụ kẻ khó nghèo và yếu đuối là hoạt động ưu tiên số một. Phục vụ kẻ nghèo hèn yếu đuối không phải chỉ là cho đi, mà còn chia sẻ thân phận của họ, như Ðức Kitô đã nêu gương, khi Ngài nhập thể, chia sẻ trọn vẹn thân phận con người hèn yếu, chỉ trừ tội lỗi. Kinh nghiệm cho thấy, khi hoạt động bác ái như vậy, người truyền giáo đã gặp được Chúa Giêsu, và kẻ nghèo hèn yếu đuối đã gặp được Tin Mừng.
2. Khi đón nhận những người được sai đi truyền giáo, chúng ta gặp được Chúa Giêsu hiện diện. Xin đọc Phúc âm thánh Matthêu, đoạn 10. "... Ai không vác thập giá mình mà theo Thầy thì không đáng là môn đệ Thầy. Ai muốn giữ mạng sống mình thì sẽ mất sự sống, ai hy sinh mạng sống vì Thầy thì sẽ được sống. Ai tiếp đón chúng con là tiếp đón Thầy. Ai tiếp đón Thầy là tiếp đón Ðấng đã sai Thầy. Ai tiếp đón một tiên tri vì là tiên tri thì sẽ được phần thưởng tiên tri. Ai tiếp đón người công chính vì là công chính thì sẽ được phần thưởng người công chính. Và ai cho một trong những người bé mọn này, dù chỉ một chén nước lã, vì người ấy là môn đệ Thầy, thì Thầy bảo thật, kẻ ấy chẳng mất phần thưởng” (Mt 10,38-42).
Lời Chúa trên cho thấy bất cứ ai, từ người tiên tri, người công chính đến người kém tài kém đức kể như kẻ bé mọn, khi là môn đệ Chúa được sai đi, đều được Chúa hiện diện.
Nếu mình mong muốn được đón nhận vì mình là môn đệ Chúa có Chúa hiện diện, thì mình cũng phải biết đón nhận và biết cộng tác với những người khác cũng là môn đệ Chúa và có Chúa ở cùng họ. Những môn đệ Chúa, những người truyền giáo loại trừ nhau vì lý do đạo đức hẹp hòi sẽ chỉ là một phản chứng cho việc truyền giáo.
3. Khi tha thứ, chúng ta sẽ gặp được Chúa hiện diện. Xin đọc Phúc âm Matthêu, đoạn 18. Có một người đầy tớ mắc nợ với Vua, không có gì trả nợ, Vua thương tha nợ cho anh. Anh đầy tớ này có một người bạn mắc nợ với anh chỉ một số tiền nhỏ. Con nợ quá nghèo, không có gì để trả, van xin khất nợ. Nhưng bị anh khước từ, bị mắng chửi, bị bắt giam. Nghe tin, Vua rất buồn phiền, đòi tên đầy tớ độc ác kia lại bắt giam. Vua nói: “Ta đã tha hết nợ cho anh vì anh xin Ta. Phần anh, anh lại không thương bạn anh, như Ta đã thương anh. Vậy nếu các con không thật lòng tha lỗi cho nhau, thì Cha trên trời cũng đối xử với các con như vậy” (x. Mt 18,23-35).
Ðoạn Phúc âm trên đây cho thấy khi chúng ta không tha thứ cho kẻ khác thì chúng ta xúc phạm đến chính Chúa. Trái lại khi chúng ta tha thứ, chúng ta gặp được Chúa đến tha thứ cho chúng ta.
Sự tha thứ có Chúa hiện diện không chỉ đóng khung trong những trường hợp tha thứ khi mình bị xúc phạm, mà còn phải mở sang những trường hợp bao dung, biết kính trọng những khác biệt. Thánh Phaolô đã khai triển ý hướng đó khá dài trong các thư của ngài, thí dụ thư gởi giáo đoàn Rôma, đoạn 14: “Anh chị em hãy đón nhận những kẻ yếu đức tin và đừng bác bỏ ý kiến của họ... Chẳng ai trong chúng ta sống cho mình, cũng chẳng ai chết cho mình. Chúng ta sống là sống cho Chúa, chúng ta chết là chết cho Chúa. Sống hay chết, chúng ta đều thuộc về Chúa. Vì Chúa Kitô đã chết và đã sống lại, là để làm Chúa các kẻ sống và các kẻ chết. Vậy, bạn ơi, bạn xét đoán anh chị em làm gì ? Bạn khinh chê anh chị em làm gì ? Vì ai nấy sẽ phải ra trước toà Thiên Chúa... Ta đừng xét đoán nhau nữa” (Rm 14,1-13).
Tấm lòng bao dung, khả năng phục vụ, khả năng tha thứ, khả năng biết qui tụ những khác biệt trong tình hiệp nhất yêu thương, đó là những dụng cụ được trọng dụng để truyền giáo trong xã hội Việt Nam hôm nay.
4. Khi cầu nguyện chung với nhau, chúng ta sẽ gặp Chúa hiện diện. Xin đọc Phúc âm thánh Matthêu, đoạn 6: "... Thầy bảo thật các con. Nếu có hai người trong các con hợp ý với nhau mà xin bất cứ sự gì, thì Cha Thầy ở trên trời sẽ ban cho họ. vì ở đâu có hai hay ba người họp nhau vì danh Thầy, thì Thầy ở giữa họ” (Mt 6,19-20).
Nếu những người truyền giáo cùng nhau cầu nguyện theo nội dung “Kinh Lạy Cha” Chúa Giêsu đã dạy thì họ có quyền tin rằng: Chúa Giêsu hiện diện trong những lời cầu của họ. Cầu xin bất cứ sự gì tốt, hợp ý Chúa, chứ không phải bất cứ sự gì, kể cả sự xấu, hoặc tốt nhưng không hợp ý Chúa. Ðiều luôn luôn được kể là tốt và hợp ý Chúa, mà cộng đoàn truyền giáo thường cùng nhau cầu xin, đó là biết phấn đấu với chính mình. Bởi vì họ biết kẻ thù đáng ngại nhất của người truyền giáo không phải người nọ, thế lực kia, mà chính là cái tôi xấu trong chính mình họ, một cái tôi mà thánh Phaolô đã khiêm nhường diễn tả một cách chân thành và bi đát: “Sự lành tôi muốn thì tôi không làm, còn sự dữ tôi không muốn thì tôi lại làm. Khi tôi làm điều tôi không muốn, thì không phải tôi làm mà là tội lỗi ở trong tôi chủ động. Như vậy, tôi có kinh nghiệm này là: Khi tôi muốn làm sự lành thì sự dữ đã hiện ra bên cạnh tôi. Trong thâm tâm tôi, tôi vốn yêu mến lề luật Chúa. Nhưng tôi thấy xuất hiện trong tôi một lề luật khác, chống đối lề luật nơi lương tâm tôi và lôi cuốn tôi sa vào cạm bẫy của tội lỗi trong mình tôi” (Rm 7,19-23).
Ðể biết phấn đấu với chính mình, để biết từ bỏ mình, để nên giống Ðức Kitô, để nên dụng cụ truyền giáo của Ðức Kitô, đó là những điều mà cộng đoàn truyền giáo nên cầu xin chung với nhau. Mỗi khi cầu nguyện như vậy, họ gặp được Ðức Kitô hiện diện.
5. Khi bị khổ đau vì truyền giáo, chúng ta cũng sẽ gặp được Chúa Giêsu hiện diện. Xin đọc Phúc âm thánh Matthêu, đoạn 10. "... Khi bị bắt giam, chúng con đừng lo phải nói thế nào, nói điều gì, vì chính lúc ấy chúng con sẽ được cho biết phải nói những gì. Không phải chúng con nói, mà là Thánh Linh của Chúa Cha nói trong chúng con” (Mt 10,19-20).
Nên hiểu những cảnh giam cầm và khổ đau của người truyền giáo không đơn thuần chỉ do những kẻ ghét đạo chủ tâm, mà cũng có thể do chính nội bộ Hội Thánh gây nên. Ngay thời thánh Phaolô, cảnh đau buồn đó đã xảy ra, khiến ngài đau đớn. Trong thư thứ II gởi Timôtê, thánh Phaolô đã nói lên phần nào nỗi buồn sâu sắc của ngài trước một tình hình nội bộ sa sút: “Ông hãy nhớ điều này, trong những ngày cuối cùng sẽ có những thời kỳ khó khăn. Người ta sẽ trở nên những kẻ ích kỷ, tham lam, khoe khoang, kiêu ngạo, vu khống, bất phục tùng cha mẹ, vô ơn và gian ác, dửng dưng, gian dối, gièm pha, sa đoạ, dữ tợn, bất nhân, phản bội, ngổ ngáo, ham mê chơi bời hơn là kính mến Chúa. Chỉ có vẻ đạo đức bề ngoài, nhưng thực ra chẳng có nhân đức gì” (II Tim, 3,1-5).
Khi bị khổ đau thực sự vì truyền giáo, dù do bất cứ nguyên do nào, mà không kiêu căng thù ghét, chúng ta tin chắc chắn Chúa Giêsu ở bên chúng ta. Ngài hiện diện trong những hoàn cảnh khổ đau của chúng ta.
6. Khi truyền giáo, dạy cho người ta giữ những điều Chúa Giêsu đã truyền, chúng ta gặp được Ðức Kitô hiện diện. Xin đọc Phúc âm thánh Matthêu, những dòng chót: “Chúa Giêsu phán với các môn đệ rằng: Thầy được toàn quyền trên trời dưới đất. Vậy, các con hãy đi giảng cho mọi dân và hãy làm phép rửa cho họ: Nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa thánh Thần. Hãy dạy họ giữ những điều Thầy đã dạy cho các con. Phần Thầy, Thầy sẽ ở lại với các con mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28,18-20).
Ðiều quan trọng nhất Chúa Giêsu đã truyền lại cho các môn đệ, là giới luật yêu thương. Truyền giáo bằng việc thực thi rộng rãi giới luật yêu thương, bằng việc cổ võ lòng bao dung, hiếu thảo, bằng việc xây dựng tinh thần phục vụ kính trọng con người, bằng việc gắn bó với những giá trị cao quý của Dân Tộc, đồng hành với lịch sử đi lên của Ðất Nước, thiết tưởng đó là những hoạt động có Chúa hiện diện.
Kinh nghiệm truyền giáo mấy chục năm qua cho thấy: Những nơi truyền giáo thành công là những nơi truyền giáo bằng tình thương phục vụ. Không gì phản Phúc Âm cho bằng truyền bá Phúc âm bằng những hoạt động gọi là tôn giáo, nhưng lại thiếu tình người, thiếu công bình bác ái, khiêm nhường.
***
Tình hình truyền giáo tại Á Châu suốt 20 thế kỷ qua vốn mãi khiêm tốn. Từ khi Chúa Giêsu lên trời và Chúa Thánh Thần hiện xuống đến nay, Á Châu vốn mãi là một lục địa không công giáo. Á châu chiếm quá nửa dân số toàn cầu. Ða số dân Á châu đều thuộc các tôn giáo ngoài Công giáo. Tại Á Châu, Công giáo chỉ được 2% tổng số dân.
Hiện nay phong trào dân-tộc-hoá và khu-vực-hoá đang lên mạnh tại Á Châu. Trong một tình hình như thế, nếu việc truyền giáo không nhìn xa và biết đổi mới, thì sẽ gặp nhiều khó khăn mới.
Trong cuốn “Dynamique de la mission chrétienne”, tác giả David J. Bosch đã trích một phát biểu vắn của một đại diện tôn giáo tại Mã Lai. Phát biểu vắn mà đầy ý nghĩa đáng ngại: “Việc phục vụ lớn lao nhất mà người truyền giáo trong cơ chế hiện nay có thể mang lại cho các người Á châu chúng tôi là họ hãy trở về nhà họ” (NXB Labor et Fides, Genève, 1995, trang 693). Ðúng là có vấn đề cho truyền giáo khi khuynh hướng dân-tộc-hoá và khu-vực-hoá lên cao.
Chúng ta không nên coi thường lời phát biểu trên. Tôi nghĩ là chúng ta có thể vượt qua được mọi khó khăn cũ mới, nếu chúng ta biết dựa vào thần lực của Lời Chúa hứa: “Thầy sẽ ở lại với các con mọi ngày cho đến tận thế”. Muốn được Chúa hiện diện, ở lại với chúng ta, chúng ta phải thực tình dấn thân truyền giáo bằng những hoạt động, mà chính Chúa đã chỉ cho.
Hơn bao giờ hết, chúng ta cần “tỉnh thức và cầu nguyện” (Lc 21,36).
Long Xuyên, tháng 5/1996
 

Bùi-Tuần 1565: Phúc Âm - Dân Tộc - hiện đại

CGvDT:

Trên bước đường đi hoạt động mục vụ, Ðức Giám Mục đã từng nhiều lần đến họ đạo Cần Ðăng Bùi-Tuần 1565

Trên bước đường đi hoạt động mục vụ, Ðức Giám Mục đã từng nhiều lần đến họ đạo Cần Ðăng. Lần này là để khánh thành ngôi nhà thờ mới, Ðức Cha có thể cho độc giả CGvDt một vài cảm nghĩ.
 ÐGM.BT: Nhìn nhà thờ mới này, cùng với một cây tháp chuông mới kia, giữa một công viên mới xanh tươi, tôi thấy đây là kết quả lớn của những phấn đấu lâu dài và của biết bao tấm lòng hảo tâm xa gần.
Tôi biết, những công trình trên đây chỉ là một phần của một chương trình phát triển rộng lớn hơn nhiều. Bởi vì đã và đang có những phát triển về các công việc từ thiện, xã hội, văn hoá, giáo lý, bí tích, với những dự án nhỏ nhằm xoá dốt, giảm bệnh. Ở đây tôi nghĩ cách riêng tới bầu khí hài hoà thông cảm giữa đồng bào lương giáo, giữa đạo và đời, giữa chính quyền và họ đạo. Ðặc biệt tôi nghĩ đến tình nghĩa chia sẻ và gắn bó giữa cộng đoàn họ đạo Cần Ðăng với những nhóm anh chị em tín hữu trong ruộng đồng, xa đây nhiều cây số, với một cuộc sống đời, đạo vất vả.
Nhìn chung, tôi thấy họ đạo Cần Ðăng đã có những bước tiến rất đáng khen ngợi. Nhất là vì những bước tiến đó đã được thực hiện trong những hoàn cảnh không phải là không có những khó khăn phức tạp.
 CGvDT: Ðể có những kết quả trên, Ðức Cha đã thao thức trăn trở như thế nào về con đường truyền giáo của giáo phận?
 ÐGM.BT: Tôi nhìn tình hình. Tôi suy nghĩ. Tôi cầu nguyện. Thế rồi tôi thấy hiện lên trong trí tôi một mô hình hoạt động truyền giáo. Mô hình này không trả lời trực tiếp câu hỏi đã đặt ra. Nhưng gợi ý cho tôi thấy là người truyền giáo tại Việt Nam hôm nay phải tìm tòi, nghiên cứu, phấn đấu sao cho cộng đoàn của mình, qua hoạt động và đời sống của mình, có thể giới thiệu được với xã hội Việt Nam một chân dung đẹp của Hội Thánh Công giáo Việt Nam. Một chân dung đẹp của Hội Thánh Việt Nam mà tôi mơ ước sẽ có ba yếu tố này: Một là yếu tố Phúc Âm, hai là yếu tố Dân Tộc, ba là yếu tố hiện đại. Cả ba yếu tố này sẽ phối hợp với nhau trong mọi lãnh vực tôn giáo, như trang trí, thánh ca, phụng tự, nếp sống vv...
Tôi thí dụ: nhìn tổng thể khu thánh được mới này, tôi đọc thấy ba yếu tố Phúc Âm ở chỗ biết tập trung vào Ðức Kitô, tôi nhận ra yếu tố dân tộc ở một số nét kiến trúc truyền thống phổ biến cổ kính của Dân Tộc và tôi nhận ra yếu tố hiện đại ở vẻ thanh thoát, tân kỳ của khoa học kỹ thuật, mỹ thuật mới.
Một thí dụ khác: Nhìn nếp sống một họ đạo hay một người công giáo, tôi sẽ nhận thấy yếu tố Phúc Âm ở chỗ họ có tinh thần người con thảo đối với Cha trên trời và có tinh thần yêu thương huynh đệ đối với mọi người; tôi cũng dễ nhận thấy nơi họ yếu tố dân tộc, ở chỗ họ gắn bó với Ðất Nước, đồng hành với Dân Tộc, tôi cũng dễ nhận thấy nơi họ yếu tố hiện đại, ở chỗ họ phấn đấu để trình độ văn hoá, trí thức của họ và những người thuộc về họ mỗi ngày một cao hơn, và thức thời hơn.
 CGvDT: Mô hình truyền giáo này có thể nhân rộng ra?
 ÐGM.BT: Khi một người Công giáo Việt Nam, một cộng đồng Công giáo Việt Nam, nhất là một người truyền giáo của Hội Thánh Công giáo Việt Nam biết sống với những yếu tố kể trên, trong tình mến Chúa yêu người thực sự tha thiết chân thành vị tha, họ có thể làm chứng rằng: Hội Thánh Công giáo Việt Nam là một cộng đồng vươn tới giá trị cao đẹp, có lợi cho Dân Tộc, làm đẹp cho Ðất Nước.
 CGvDT: Trở lại với giáo phận Long Xuyên, việc truyền giáo đã trở nên dễ dàng thong dong?
 ÐGM.BT: Thời nào, việc truyền giáo cũng gặp khó khăn, như Chúa Giêsu đã từng loan báo trong Phúc Âm. Gặp khó khăn là chuyện bình thường, không lạ gì trong bất cứ việc nào của cuộc sống, phương chi việc truyền giáo. Nhưng trong thời nào, việc truyền giáo cũng vẫn thực hiện được. Không cách này thì cách khác. Họ đạo Cần Ðăng cũng như nhiều giáo điểm khác trong giáo phận Long Xuyên đang cho thấy sự thực này là: công việc truyền giáo đã tiến triển hơn trước nhiều. Một phần do những người được sai đi có nhiệt tâm, có thao thức, có kế hoạch, có nghiên cứu, tìm tòi, xoay xở, phấn đấu và dấn thân.
 CGvDT: Xin cám ơn Ðức Giám Mục về những chia sẻ, trao đổi trên đây.
Trả lời phỏng vấn nhân dịp khánh thành nhà thờ Cần Ðăng, ngày 22/5/1996
 

Bùi-Tuần 1566: Ðạo và đức

Hiện nay, trong nhiều lãnh vực xã hội, đồng bào Việt Nam để ý nhiều đến người đạo đức, mặc Bùi-Tuần 1566

Hiện nay, trong nhiều lãnh vực xã hội, đồng bào Việt Nam để ý nhiều đến người đạo đức, mặc dầu người tài người giỏi vẫn được quý trọng.
Trong lãnh vực tôn giáo, đồng bào Việt Nam càng để ý nhiều hơn đến người đạo đức. Theo suy nghĩ chung, đạo đức là một đòi hỏi tất nhiên của tôn giáo. Có đạo thì phải có đức. Sống đạo là phải sống đức. Ðạo lý không tách lìa khỏi đạo đức. Ðạo đức làm chứng cho đạo lý.
Nói chung, đạo đức khách quan là một hệ thống những nguyên tắc, những luật lệ, những gì cấm làm, những gì buộc làm, những tiêu chuẩn để đánh giá, lý tưởng nên vươn tới, tinh thần cần thấm nhuần. Hệ thống này giúp cho con người càng ngày càng nên người hơn, giúp cho xã hội càng ngày càng tiến bộ hơn, để đi dần tới hạnh phúc đích thực.
Ai sống theo hệ thống đó sẽ được gọi là người đạo đức.
Khi cách sống như vậy được giải thích bằng nhãn quan tôn giáo, thì đạo đức trở thành biểu hiện của tôn giáo. Ðạo đức giới thiệu tôn giáo.
Trên thực tế, người ta mến phục một tôn giáo nào, thường không vì thấu hiểu đạo lý của tôn giáo đó, cho bằng mến phục đời sống đạo đức của những tín đồ tôn giáo đó. Ðạo đức nói đây gồm nhiều thứ như: Ðạo đức nhân bản, đạo đức dân tộc, đạo đức nghề nghiệp, đạo đức tín điều.
Dựa theo kinh nghiệm truyền giáo, tôi thấy đạo đức là một yếu tố làm chứng cho Phúc Âm không gì thay thế được, và trong đạo đức có khả năng làm chứng như thế, điều được chú ý nhiều nhất là khiêm tốn biết mình, kiên trì phấn đấu Phúc-Âm-hoá chính mình, để biết sống tốt với người khác.
Lần nọ, tôi đến thăm một địa điểm truyền giáo trong tận vùng sâu. Giáo điểm này không có linh mục ở thường xuyên. Hầu hết dân vùng này đều ngoài công giáo. Qua thăm hỏi, tôi thấy đồng bào lương giáo sống rất hài hoà với nhau. Ðặc biệt, mọi người đều khen nhóm 3 nữ tu sống thường trú tại đây, giữa xóm nghèo. Theo ý kiến chung, các nữ tu này luôn khiêm tốn, tỏ ra trân trọng trước bất cứ sự giúp đỡ nào của bất cứ ai, không phân biệt lương giáo, đồng thời luôn tỏ ra ân cần phục vụ mọi người không loại trừ ai. Ai cũng khen nhóm nữ tu này là sống khiêm tốn, tiết độ, âm thầm phục vụ, vui vẻ, sống nghèo như dân nghèo, phấn đấu giúp đỡ dân nghèo. Cũng nhờ biết cộng tác với địa phương, nhóm nhỏ nữ tu này đã làm được nhiều việc thăng tiến đồng bào xung quanh. Những công việc nhỏ bé thôi, nhưng ảnh hưởng sâu đậm đến lòng trí con người.
Nhận xét trên đây cũng như nhiều kinh nghiệm khác thu lượm được trên đường truyền giáo cho phép tôi nghĩ rằng: Một điều rất quan trọng của đạo đức truyền giáo tại Việt Nam hôm nay là biết sống với. Biết sống với đồng bào địa phương, với nền văn hoá địa phương, với các tôn giáo tại địa phương, với môi trường địa phương, với các vấn đề và thách đố của cuộc sống địa phương.
Biết sống với là khi cọ sát cái tôi cá nhân và cái tôi tập thể của mình với cái tôi cá nhân và cái tôi tập thể địa phương, mình không những không gây hại cho người khác và cho Nước Trời, mà trái lại luôn biết gây lợi cho người ta, nhất là cho Nước Trời. Biết sống như vậy đòi cái tôi phải đạo đức.
Cái tôi đạo đức là cái tôi không ngừng phấn đấu với chính mình, để có một nội tâm tự do. Nghĩa là không bị xiềng xích vào những thành kiến hẹp hòi, không bị áp lực bởi những động cơ ích kỷ vụ lợi, không bị lừa dối bởi những ảo tưởng tự mãn, không bị sai khiến bởi những dư luận dựa dẫm vô trách nhiệm, không bị ràng buộc vào những khuôn khổ tự coi là cố định. Cái tôi như thế sống nền tu đức tự do nội tâm, mục đích để có thể đón nhận sự tự do của Chúa Thánh Linh, Ðấng vừa trung thành với những giá trị ngàn đời, vừa sáng tạo nên những giá trị mới.
Cái tôi đạo đức là cái tôi phản tỉnh, không để mình buông trôi, nhưng suy nghĩ, tỉnh táo, cân nhắc, vừa nhìn thực tế cuộc đời dưới ánh sáng Lời Chúa, vừa đọc Lời Chúa trong thực tại cuộc đời.
Cái tôi đạo đức là cái tôi biết quên mình, luôn coi mình chỉ là dụng cụ bé nhỏ của Thiên Chúa, tập trung mọi tâm thức vào Ðức Kitô, để như Người, thực thi thánh ý Chúa Cha và như Người, quan tâm đến con người.
Cái tôi đạo đức là cái tôi thận trọng. Thận trọng trong những đánh giá người, việc và tình hình. Thận trọng trong những chọn lựa đường hướng cho mình và cho cộng đoàn mình. Thận trọng nhờ nghiên cứu sâu rộng và cầu nguyện khiêm tốn.
Cái tôi đạo đức không chỉ có thế. Nhưng ít ra phải thế, như một phong cách thường xuyên bao trùm nếp sống.
Mới rồi, tôi dâng thánh lễ ở một họ đạo. Trên bàn thờ đặt một cây nến lớn, cháy mạnh, bốc khói ngùn ngụt. Khói đen lúc tạt vào hướng này, lúc toả sang hướng khác. Bó cúc vàng bên cạnh bị lem. Riêng tôi gần đó bị ngộp thở.
Thấy thế, tôi thoáng nghĩ: Nếu tôi chỉ là một cây nến của nghi lễ thôi, thì cũng đáng buồn rồi. Và trong nghi lễ lại toả khói mù mịt thế kia, thì càng đáng buồn hơn nữa. Rồi tôi cầu xin Chúa cho có nhiều người biết sống đạo đức như những cây nến, toả sáng chứ không toả khói, trong nhà thờ và nhất là trong xã hội, giữa đời, giữa thế gian.
Ánh sáng, sức nóng, khói của một cây nến, dù bé nhỏ, đều ảnh hưởng đến môi trường xung quanh. Tương tự cũng thế, thái độ, hành động, lời nói của một người đều ảnh hưởng đến các tương quan xã hội. Dù muốn dù không, cuộc sống mỗi người đều mang chiều kích xã hội, vì thế mỗi người đều cần có một số đức tính xã hội nhất định, như công bình, trung thực, tế nhị.
Thời nay, chiều kích xã hội với những đức tính xã hội đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá con người. Một người có đức tin-cậy-mến rất mạnh đối với Chúa, nhưng nếu thiếu những đức tính xã hội đối với người xung quanh, sẽ bị đánh giá thấp về đạo đức.
Chiều kích xã hội với những đức tính xã hội cần thiết của nó đòi con người phải bén nhạy với những khác biệt về thời gian, về không gian và về con người.
Có những việc trong thời gian xưa được coi là tốt, nhưng trong thời gian hiện nay bị coi là không thể được phép tái diễn. Thí dụ cuộc thánh chiến mà Ðức Giáo Hoàng Urbanô II cuối thế kỷ 11, đã chủ xướng, để chống lại Hồi giáo Thổ Nhĩ Kỳ. Và thí dụ các thứ toà án của Công giáo nhằm trừng trị những ai bị coi là theo tà giáo, thịnh hành trong các thế kỷ XIII, XIV, XV tại Âu Châu, nhất là tại Tây Ban Nha.
Có những sự kiện được coi là làm sáng danh Hội Thánh ở nơi này, nhưng lại bị coi là gây hại cho thanh danh Hội Thánh ở nơi kia. Thí dụ xây dựng một nhà thờ đồ sộ sang trọng ở đô thị thì có thể được coi là việc làm có lợi cho Hội Thánh, nhưng xây dựng một nhà thờ như thế giữa vùng quê nghèo sẽ bị dị nghị, và không thuận lợi cho việc truyền giáo.
Có những việc xảy ra trong cùng một địa phương và cùng trong một thời gian, nhưng hợp với người công giáo mà không hợp với người đạo khác, thậm chí còn gây khó chịu cho họ, khiến họ ác cảm với Công giáo.
Như thế, khi đi vào các vấn đề cụ thể, chúng ta thấy đạo đức không phải là thuộc lòng các bài đạo đức để biết tuôn ra bất cứ lúc nào, đạo đức cũng không phải là áp dụng một cách máy móc các giải pháp đạo đức có sẵn ngàn đời. Biết bén nhạy trước những khác biệt, đó là một nét đạo đức làm chứng cho tôn giáo hiện nay. Ðể được như thế, tất nhiên phải lo đào luyện cái trí, và nhất là cái tâm. Những việc đó không đơn giản chút nào.
Và càng sẽ thấy việc đào tạo con người đạo đức là không đơn giản, khi biết mọi người đều phải mang gánh nặng lịch sử của mình: Gánh nặng của dòng tộc, của cấu trúc tâm sinh lý, của môi trường gia đình xã hội, của nền giáo dục, của các lựa chọn riêng của mình. Có những cái đã rơi vào vô thức, nhưng vốn đủ mạnh để ảnh hưởng đến những lựa chọn ý thức của con người. Có những cái còn trong dòng ý thức, nhưng hỗn độn, cái đúng với cái sai, cái mờ với cái tỏ, cái đã trưởng thành và cái chỉ còn là mầm mống. Tất cả làm nên một tổng hợp xây dựng nên cá tính, bản lãnh, với những cái giống người khác và những cái không giống ai.
Mang trong mình biết bao phức tạp, con người thường sống với 3 cái tôi. Cái tôi thứ nhất là cái tôi xuất hiện trước người khác. Cái tôi thứ hai là cái tôi thực chất, một mình trước chính bản thân mình. Cái tôi thứ ba là cái tôi đáng lý ra phải là, với những cái đúng lý ra phải có, sẽ phải xuất hiện trước toà án Thiên Chúa.
Tuy chẳng tới được lý tưởng hoàn thiện, nhưng ít ra sự kiên trì phấn đấu với chính mình để mỗi ngày mỗi nên tốt hơn, cùng với sự khiêm tốn nhận biết những giới hạn của mình, và nhờ kinh nghiệm đó biết nhìn người khác bằng tấm lòng khiêm hạ, kính trọng, vừa đòi hỏi và cũng vừa thông cảm bao dung, thiết tưởng đó cũng là biết sống một cách đạo đức. Cách sống đạo đức này rất cần cho việc làm chứng cho tôn giáo. Nó không được phép thiếu vắng nơi người truyền giáo.
Cách sống đạo đức này là kết quả của một nền tu đức nhắm rèn luyện cái tôi theo tinh thần mầu nhiệm nhập thể và mầu nhiệm thánh giá của Chúa Giêsu.
Lời nguyện cầu sau đây của một linh mục truyền giáo sẽ giúp chúng ta thấy được phần nào nền tu đức đó, và cũng sẽ giúp cho mỗi người chúng ta tìm được một kết luận riêng cho chính bản thân mình:
Lạy Chúa, xin để danh Chúa được rạng rỡ vinh quang, xin rộng ban cho con ân huệ này, là chỉ đau khổ vì đã làm cho người khác đau khổ, và chỉ vui mừng vì đã giúp anh em con bớt cực khổ hơn.
Và để giúp anh em con bớt cực khổ hơn, xin ban cho con một tinh thần mềm dẻo, để con chấp nhận tỏ ra mình yếu đuối hoặc không người bênh đỡ, hơn là làm phiền lòng hay chà đạp người khác.
Xin ban cho con một tinh thần ngay thẳng, để con không bao giờ hiểu theo nghĩa xấu một điều người khác đã làm cho con phiền lòng.
Xin ban cho con một tinh thần đơn sơ, để con không trở nên gánh nặng cho những người đang sống chung quanh con.
Xin ban cho con một tấm lòng hăng hái, để con luôn luôn cởi mở đối với những người có thể ghét bỏ, ganh tỵ, phân bì con.
Xin ban cho con một tấm lòng khiêm tốn, để con không trở nên cứng cỏi trước những lời chỉ trích, trước những việc làm không ngay thẳng, trước những lời kết án nghiệt ngã hay vội vàng.
Xin ban cho con một tâm hồn rộng mở, để con chịu đựng những ai có óc hẹp hòi, những người ích kỷ đến độ không sao chịu nổi.
Xin ban cho con một ý chí vững vàng, để con mãi kiên tâm, dầu có phải mỏi mệt, dầu có gặp thái độ vô ơn.
Xin ban cho con một ý chí dai bền, để anh em con được hạnh phúc, dầu họ có khuyết điểm, dầu họ có yếu đuối.
Xin ban cho con một ý chí luôn toả sáng, để chung quanh con, không có ai chán nản, không có ai ngã lòng.
Xin ban cho con đừng bao giờ phê phán khi chưa đủ bằng cớ. Và khi phải phê phán, thì luôn luôn khoan hậu, nhân từ.
Xin ban cho con đừng bao giờ tin vào điều xấu, mà có người đã nói về những ai vắng mặt, và nhất là đừng bao giờ lặp lại điều xấu đó.
Và trên hết mọi sự, xin Chúa dạy con biết để tai nghe, biết đón ý người khác, biết tha thứ không ngừng.
Lạy Chúa, xin ban cho con những ân huệ đó, để anh em con bớt cực khổ vì con.
Long Xuyên, tháng 6/1996
 

Bùi-Tuần 1567: Những chuyển biến lặng lẽ

Trong tháng sáu, 1996, tại Việt Nam đã xuất hiện một “thế giới” mới. Nó tự hình thành. Thế giới Bùi-Tuần 1567

Trong tháng sáu, 1996, tại Việt Nam đã xuất hiện một “thế giới” mới. Nó tự hình thành. Thế giới mới này gồm những người cùng sống những rung cảm như nhau, do cùng một ham mộ, hướng về cùng một chân trời. Họ canh thức từng đêm. Họ bình luận mỗi ngày. Họ sung sướng theo dõi từng giây từng phút trên màn ảnh nhỏ. Họ hoà mình vào thế giới Euro '96. Họ là từng triệu người tại Việt Nam.
Tâm hồn họ đi vào một thế giới mới, vượt ngoài biên giới Việt Nam. Họ được thu hút bởi những giá trị mới: Cái đẹp cái thực của những chính xác, tốc độ, kỹ thuật, phong cách, điệu nghệ, thể lực và chiến thuật. Với những hào hứng mới, họ sống thoải mái hồn nhiên trong những bầu trời mới rất xa nhưng rất thân mật, khiến cho những gì rất gần bên họ vì không gây được hào hứng, đã trở thành rất xa, hờ hững.
Sự hình thành những “thế giới” như trên đang xảy ra dưới nhiều dạng khác nhau. Ðây là những chuyển biến âm thầm, nhưng ảnh hưởng sâu rộng đến tương lai Ðất nước và Hội Thánh. Ở đây, tôi xin được chia sẻ mấy nhận xét của tôi về vài chuyển biến như thế.
Chuyển biến quan trọng nhất là sự chuyển hướng tâm lý. Trước đây rất nhiều người thực sự hăng say với lý tưởng thay đổi thế giới, nay chính họ đang ồ ạt tự động đổi sang một thế giới mới, đó là thế giới cuộc sống.
Cuộc sống hiện nay của con người có nhiều đòi hỏi. Ðòi hỏi này đẻ ra đòi hỏi khác. Từ những nhu cầu để tồn tại đến những điều kiện để phát triển. Từ những phương tiện để phục vụ đến những yêu sách để tiến thân, để không bị coi là thua kém bạn bè, để có giá trước mặt xã hội.
Sống trong những hoàn cảnh như thế là phải phấn đấu, phải cạnh tranh, phải chạy theo trào lưu. Trào lưu xã hội với những ngành chuyên môn của nó hoạt động giống như một hệ thống các bánh xe. Các bánh xe đều quay. Quay mạnh, quay lẹ, quay không ngừng. Ai muốn tiến, phải chạy theo nó và cùng chiều với nó. Ai chậm và đi trệch sẽ bị văng ra.
Ðích trước mắt của những kẻ chạy trên cuộc đời là thành đạt. Thành đạt về học vấn, về công ăn việc làm, về chỗ đứng, nhất là về kinh tế.
Kinh tế đang lên ngôi vua, thống trị tất cả, chi phối tất cả. Từ đó nảy sinh ra nhiều chuyển biến khác. Thí dụ:

 1/ Chuyển biến về sự bỏ quê về thành
Nói sao thì nói, giữa thành thị và nông thôn, khoảng cách văn minh còn rất lớn. Tại những vùng sâu vùng xa, phần đông chưa có ý niệm gì về công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Thành thị vẫn là nơi hấp dẫn. 20 năm về trước, nhiều người bỏ thành thị đổ về miền quê lập nghiệp. Nay thì ngược lại. Nhiều gia đình không đủ khả năng về thành, đã phân tán mỏng. Số học sinh gửi lên Sài Gòn và các thành thị có chi nhánh đại học càng ngày càng đông, mặc dù việc học rất căng và tốn phí. Ngoài ra, dân số mỗi năm mỗi tăng. Ðất không tăng, trường vẫn thế. Ruộng được mùa, nhưng sản phẩm hiện giờ ít bán được, và với giá hạ. Chính vì thế mà nhiều người, khi muốn tiến thân, thậm chí khi muốn kiếm sống qua ngày, đã bỏ quê tìm cách lên thành thị.
Hiện tượng trên đây đặt ra nhiều vấn đề. Như vấn đề giáo dục đạo đức và tôn giáo cho các thanh thiếu niên, vì cuộc sống, phải xa nhà, xa họ đạo. Vấn đề phát triển cộng đồng trong họ đạo, giúp phần nào cho giáo dân ổn định cuộc sống. Vấn đề đào tạo giáo dân về mặt trưởng thành nhân bản và đức tin, để dù ở đâu họ tự mình phân định được những cái tốt xấu, và tự mình khám phá được tình thương của Chúa trong các hoàn cảnh khác nhau trên đường đời. Vấn đề đầu tư nhân sự cho họ đạo, kẻo rồi cứ ai thành đạt là ra đi, mặc dầu họ đạo có nhà thờ đẹp, tháp chuông cao, lễ lạy linh đình. Vấn đề lo cho cuộc sống cách nào, mà không vì thế lơ là với đức tin và Hội Thánh.

 2/ Chuyển biến về sự chọn môn học
Trước đây, đã có một thời, ai được vào Sư phạm là một vinh dự. Tới thời mở cửa, cả mấy năm dài, câu “nhất Y, nhì Dược, tạm được Bách khoa, tránh xa Sư phạm” được coi như một bậc thang chọn ngành của các học sinh tốt nghiệp phổ thông, thi vào Ðại học. Nhưng nay thì “nhất Kinh, nhì Luật, tam Tài, tứ Tin” đang trở thành châm ngôn. Lý do giải thích là vì học sinh muốn đi vào những ngành có nhiều khả năng dẫn đến các nghề dễ kiếm ra nhiều tiền.
Hiện tượng trên đây gây băn khoăn cho những ai tha thiết với sự bảo tồn văn hoá Dân Tộc và nghiên cứu khoa học.
Óc thực dụng tập trung vào việc kiếm tiền không khỏi ảnh hưởng đến đời sống đức tin. Nguy cơ kinh tế hoá tôn giáo không phải là không có. Thậm chí thánh lễ cũng có thể bị kinh tế chi phối.
Chuyển biến trên đây của óc thực dụng có vẻ đang gây nhiều hậu quả xấu cho việc truyền giáo. Tình hình này rất cần đến những gương sáng về phong cách đạo đức, chiếu toả sự từ bỏ mình, sự tự do nội tâm đối với tiền của, và nêu cao Tám Mối phúc bằng chính thái độ sống bình an, bình dị, bình thản, trong đơn giản và tiết độ.

 3/ Chuyển biến về sự hình thành các giai cấp
Sự hình thành các giai cấp lúc này là một hiển nhiên. Cũng do sự sôi động của cuộc sống. Có một giai cấp những người giàu đáng trân trọng. Họ giàu từng bước, giàu do chắt chiu, bằng mồ hôi, bằng những phấn đấu cật lực. Có một giai cấp những người giàu đáng bị thắc mắc. Họ giàu tắt, giàu mau, giàu dễ dàng, quá đầy đủ, quá hưởng thụ, nên quá sợ mất. Có một giai cấp những người nghèo đáng kính đáng thương. Họ muốn có công ăn việc làm, nhưng không sao tìm được. Họ hết sức tần tảo tiết kiệm, nhưng không sao lên được. Có một giai cấp những người nghèo đáng ngại. Họ sống buông trôi, không có gì để mất, nên chẳng sợ gì.
Một số giai cấp trên đây có thể trở thành những vấn đề cho trật tự và phát triển xã hội. Lịch sử nhiều nước cho thấy nếu sự hình thành các giai cấp là do những bất công xã hội và thiếu giáo dục, thì tai hoạ sẽ dài dài.
Ðiều đáng thấy trước ở đây, là trong Hội Thánh nên tránh tạo nên những giai cấp do tiền của và quyền lực.

 4/ Chuyển biến về phân hoá các lương tâm tập thể
Trước đây, một họ đạo, một Giáo hội địa phương, một cộng đồng xã hội làm thành những lương tâm tập thể. Hầu như mọi người già trẻ trên dưới giàu nghèo đều có những niềm tin như nhau, đều có những cách đánh giá đạo đức như nhau, đều có những thao thức về cuộc đời như nhau. Nhưng nay không còn như thế nữa. Cuộc sống hiện nay đang phân hoá họ. Lớp người già cả có thể vẫn suy nghĩ với những phạm trù xưa, đang khi thế hệ trung niên lại suy nghĩ với những cái nhìn khác. Còn lớp trẻ thì thoáng quá chừng. Chúng ta đang chứng kiến một tình hình cuộc sống chuyển hoá sang đa dạng, đa phương, đa hệ, đa năng. Tình hình lương tâm tập thể cũng thế. Ngay trong một gia đình, giữa ông bà, cha mẹ, con lớn, con nhỏ, con ở tỉnh, con ở nông thôn, lương tâm tập thể cũng đang phân hoá.
Hiện tượng đó cũng đang xảy ra trong các cộng đoàn đức tin. Ðể biết cách xử lý, những người có trách nhiệm cần học hỏi thêm, nhất là về Kinh thánh, thần học, giáo hội học, tu đức, và các môn khoa học có liên hệ đến con người hôm nay.
Theo thiển ý của tôi, sự phân hoá các lương tâm tập thể trong các cộng đoàn đức tin có thể do phần nào thiếu nền móng của nếp sống đạo. Ðúng lý ra, nền móng đó phải là truyền thống các tông đồ, Phúc Âm và tu đức của kẻ theo Ðức Chúa Giêsu Kitô. Thế nhưng, trên thực tế, ba yếu tố đó có phần suy yếu tại nhiều cộng đoàn.
Truyền thống các tông đồ bị phủ đầy bởi những lớp truyền thống phi Phúc Âm của nhiều thế hệ địa phương, của nhiều cá nhân và tập thể. Các truyền thống linh tinh đó làm ngột ngạt truyền thống các tông đồ, đến mức nhiều khi chúng lấn lướt và cản ngăn truyền thống các tông đồ.
Lời Kinh Thánh, đặc biệt là lời Phúc Âm, ít được học, nên bị nhợt nhạt đi và lệch lạc đi trước từng loạt các lời của nhiều nguồn khác, cho dù các nguồn đó là những vị đạo đức, thông thái.
Tu đức của kẻ theo Ðức Kitô đúng ra là phải tập trung vào Ðức Kitô, qui chiếu về Ðức Kitô, gặp gỡ Ðức Kitô, bắt chước Ðức Kitô, đồng hành với Ðức Kitô, thì lại để ý quá đáng đến hình thức, đến cử hành, đến lễ nghi, kinh kệ, đến thuộc lòng các bài chằng chịt những ý tưởng, mà quên đi chính Ðức Kitô.

 5/ Chuyển biến về hành trình nội tâm
Cuộc sống rộn ràng hôm nay có khuynh hướng kéo người ta hướng ngoại. Nhưng không thiếu người vẫn quan tâm trở về nội tâm. Ðối với họ, thánh thiện không chủ yếu hệ tại ở sự con người cho đi, làm được gì lớn, nhưng chủ yếu ở tại sự biết đón nhận ơn Chúa Thánh Thần, để ơn Người thấm nhập vào nội tâm, qua mọi tài năng, tận các tầng lớp sâu thẳm nhất, hầu đổi mới tất cả, biến con người nên mới, giống hình ảnh Ðức Kitô, luôn tuân phục thánh ý Chúa Cha.
Vì thế, hằng ngày khi trí khôn, trí nhớ, trí vẽ, ý chí, tình yêu, tình cảm mở rộng lãnh vực của mình trên cuộc sống, những lãnh vực đó được đặt ngay trong tư thế đợi chờ đón nhận ơn Chúa Thánh Linh. Những lãnh vực ấy giống như những thửa ruộng. Ðể các hạt giống ơn thánh gieo vào đó dễ đâm rễ và nảy nở, các mảnh ruộng ấy cần được chuẩn bị kỹ. Chuẩn bị nói đây là những việc thanh luyện và cầu nguyện mang mầu nhiệm thánh giá và phục sinh. Chuẩn bị nói đây cũng còn là khiêm tốn lắng nghe tiếng Chúa, hân hoan tỉnh thức đón nhận ơn Chúa, mau lẹ mở cửa lòng mình để Chúa vào ngự trị nội tâm. Một nội tâm không hề bao giờ dám nhận mình là đạo đức, nhưng chân thành sám hối, nhận mình bé nhỏ, yếu đuối. Nhờ vậy họ được chứng kiến và cộng tác vào những công việc tạo dựng mới, những công việc cứu chuộc mới, những công việc thánh hoá mới của Chúa Ba Ngôi ngay nơi chính họ, ngay giữa cuộc đời hôm nay.
***
Tôi có cảm tưởng là, với nội tâm như trên, chúng ta sẽ đồng hành với cuộc sống hôm nay một cách có trách nhiệm.
Từ cuộc sống hôm nay đang bùng nổ ra những chuyển biến đa dạng. Có những chuyển biến ồn ào và có những chuyển biến lặng lẽ. Có những chuyển biến chậm chạp và có những chuyển biến đột ngột. Nhiều khi những chuyển biến lặng lẽ và đột ngột lại gây ra những hậu quả lớn, không hề thấy trước.
Trong cuộc sống đang bùng nổ như thế, mục vụ và truyền giáo sẽ gặp nhiều thách đố mới. Tương tự như trên sân banh. Ðể đối phó có hiệu quả, ý chí mà thôi không đủ, nhìn xa thấy rộng cũng không đủ, biết ta, biết người, biết tình thế cũng không đủ. Nhưng phải tập luyện thường xuyên, và tự mình đào tạo. Bằng những học hỏi, bằng một nền thần học trở về với Ðức Kitô, và bằng một nếp linh đạo gắn bó với Chúa Thánh Thần.
Ðược như vậy, chúng ta sẽ khám phá thấy ngay trong cuộc sống phức tạp hôm nay nhiều chứng từ tươi đẹp của Nước Trời. Chúng ta sẽ như nhìn thấy Ðấng Vô Hình hiện diện giữa đồng bào chúng ta với dung mạo Người Cha giàu lòng thương xót. Ðể rồi, cùng với Ðức Mẹ, chúng ta cảm tạ Chúa, đến muôn thuở muôn đời.
Long Xuyên, tháng 7/1996
 

Bùi-Tuần 1568: Mấy điều nhắn nhủ nghe được từ thánh giá Ðức Kitô

Tôi thường đọc lịch sử cứu độ trong thời sự, và nhìn thời sự trong ánh sáng lịch sử cứu độ. Hôm Bùi-Tuần 1568

Tôi thường đọc lịch sử cứu độ trong thời sự, và nhìn thời sự trong ánh sáng lịch sử cứu độ. Hôm nay cũng vậy. Tôi nhìn một biến cố mới xảy ra trong thời sự Giáo Hội địa phương, và đọc thấy trong đó vài điều, mà thánh giá Chúa Giêsu cùng với Ðức Mẹ đứng bên thánh giá muốn nhắn nhủ chúng ta.

Trước hết, biến cố mới xảy ra là gì ?
Thưa đó là một đám tang. Cách đây ít ngày, tức thứ tư, 10.09.1996, tôi đã chủ sự một thánh lễ an táng tại nhà thờ thị xã Cao Lãnh. Ðây là một thánh lễ an táng khác thường. Khác thường ở chỗ có rất nhiều người tham dự. Khác thường ở chỗ người chết là một linh mục còn rất trẻ, mới 29 tuổi. Khác thường ở chỗ linh mục trẻ này đã chết quá đột ngột, một cách tức tưởi, đau đớn. Theo dư luận, ngài đã bị đánh chết trên đường đi xe hai bánh từ quê về họ đạo Cao Lãnh, nơi ngài phục vụ trong chức vụ phụ tá.
Thực ra, tối ngày 04.09.1996, cha có thể ở lại nhà, vì trời đã tối. Nhưng cha nhất định về, với ý định sáng sau dâng thánh lễ dịp khai trường niên học mới cho các học sinh giáo xứ. Chẳng may, trên một quãng đường nhỏ vùng quê, xe cha đụng vào ba đứa bé đang giỡn chơi giữa đường.
Thực ra, trong trường hợp như vậy, cha có thể tạm lánh vài phút, để tránh những phản ứng nóng nảy của một số người. Nhưng cha đã dừng xe, xuống ôm lấy đứa bé bị nặng nhất. Chính lúc đó, một người trong xóm đã dùng cây đánh cha cho tới bất tỉnh. Vài ngày sau, cha đã chết. Ðó là linh mục Phanxicô Nguyễn Văn Hùng.
Vì ngày 10.09.1996, cả Hai Ðức cha Mỹ Tho đều mắc bận, nên tôi đã được mời chủ sự lễ an táng đặc biệt này.
Mọi người đều xúc động trước hình ảnh một linh mục trẻ bị đánh chết trên đường mục vụ, vì yêu thương các em học sinh, và chết trong cử chỉ yêu thương em bé bị nạn.
Riêng tôi, tôi nhìn biến cố này trong mầu nhiệm thánh giá. Tôi thấy thánh giá Chúa Giêsu và Ðức Mẹ sầu bi đứng bên thánh giá đã nhắn nhủ tôi ba điều sau đây:
Lời nhắn nhủ thứ nhất là Hội Thánh Việt Nam đừng quên mình là Hội Thánh “bị thử thách” (Ga 15, 20).
Thực vậy, bất cứ ở đâu, bất cứ thời nào, Hội Thánh truyền giáo bao giờ cũng phải trải qua chuyến đi từ Galilê lên Giêrusalem. Theo các thánh sử, nhất là thánh sử Luca, chuyến đi của Chúa Giêsu từ Galilê lên Giêrusalem có nghĩa là chuyến đi bước vào những thử thách (x. Lc 9, 51-56). Những thử thách là những trở ngại, là cuộc thương khó, là cuộc tử nạn. Chúa Giêsu đã trải qua quãng đường đó.
Các môn đệ Chúa không chỉ là nhân chứng, kể lại quãng đường Chúa đã đi, mà còn phải là những người cùng đi, đã đi, đã nếm vị đắng của chuyến đi ấy.
Cùng đi vào một tuyến đường, cùng nếm những khổ đau trên một tuyến đường, những việc đó phải xảy ra. Nhưng điều quan trọng là thái độ của mình. Ðức Kitô và Ðức Mẹ đã đi tuyến đường ấy với thái độ hiền từ, khiêm hạ, đầy bác ái.
Tôi thấy trong đám tang vừa qua, gia đình cha Hùng, cha sở, cộng đoàn công giáo Cao Lãnh và giáo đoàn địa phương đã sống biến cố đau thương một cách can đảm, với tinh thần đức tin trưởng thành, nhất là với đức ái gương mẫu. Chính thái độ đạo đức ấy đang gây nên những ảnh hưởng tốt lan rộng ra nhiều nơi, và thấm sâu vào nhiều tâm hồn. Tôi thấy thử thách và đau khổ tự nó không là hạt giống của đức tin, hạt giống chính là tình yêu thương chân thành trong khổ đau và thử thách.
Lời nhắn nhủ thứ hai là Hội Thánh Việt Nam đừng quên mình là Hội Thánh “xin vâng” (Lc 1,38).
Chúa Giêsu Kitô đã chết, vì vâng phục thánh ý Chúa Cha, để chứng tỏ Thiên Chúa là tình yêu. Ðức Mẹ suốt đời, nhất là đứng bên thánh giá, đã vâng phục thánh ý Chúa Cha. Thánh ý Chúa Cha đã được mạc khải qua Ðức Kitô. Thánh ý Chúa rất rõ ràng, tập trung vào bác ái: “Hãy làm ơn cho những kẻ ghét mình, hãy chúc phúc cho những kẻ nguyền rủa mình, hãy cầu nguyện cho những kẻ vu khống mình. Các con hãy ở nhân từ như Cha các con là Ðấng nhân từ. Ðừng xét đoán, thì các con sẽ khỏi bị xét đoán. Ðừng kết án, thì các con sẽ khỏi bị kết án. Hãy tha thứ, thì các con sẽ được thứ tha” (Lc 6). Ðức Mẹ đã xin vâng.
Trong bữa tiệc ly, Chúa Giêsu trối lại: “Thầy cho chúng con một điều răn mới là chúng con yêu thương nhau” (Ga 13, 34). Ðức Mẹ đã xin vâng.
Trên thánh giá, Chúa Giêsu đã cầu nguyện: “Lạy Cha, xin tha tội cho họ, vì họ lầm không biết” (Lc 23, 34). Ðức Mẹ đã xin vâng.
Hình ảnh xin vâng của Ðức Mẹ là rất đẹp, có sức lôi cuốn các tâm hồn, và đổi mới nhiều người.
Tôi thấy trong biến cố vừa qua nhiều cái nhìn đã được đổi mới, nhiều phán đoán đã được đổi mới, nhiều hành động đã được đổi mới. Ðổi mới ở chỗ phản ánh tinh thần Phúc Âm, làm cho biến cố đau thương trở thành sứ điệp của tình yêu cao thượng. Và đổi mới ở chỗ nhiều người đã theo gương Ðức Mẹ “cẩn thận giữ các sự kiện trong lòng và âm thầm suy niệm” (Lc 2, 51).
Lời nhắn nhủ thứ ba là Hội Thánh Việt Nam đừng quên mình là Hội Thánh phải “tỉnh thức” (Mc 13, 35).
Xưa, dưới chân thánh giá, Ðức Mẹ đã có một tâm hồn tỉnh thức. Nhờ đó, Ðức Mẹ đã nhìn thấy bao việc lạ lùng Chúa đã làm một cách bất ngờ cho phần rỗi các linh hồn.
Thực vậy, Chúa đã dùng những con người bất ngờ, như kẻ trộm bị đóng đinh bên hữu Chúa, như Madalena, như vị sĩ quan chỉ huy việc đóng đinh Chúa. Ai ngờ những người này lại được Chúa chọn để trở thành những người tuyên xưng niềm tin vào tình yêu Thiên Chúa.
Chúa đã dùng những sự việc bất ngờ coi như hèn yếu, coi như thất bại, như cái chết của chính Ngài, để biến chúng trở thành nguồn ơn cứu độ.
Chúa đã dùng những địa điểm bất ngờ, những nơi rất là đời, như dinh Philatô, con đường lên núi Sọ và chính núi Sọ, để thực hiện ở đó bao việc lớn lao trong kế hoạch cứu độ của Ngài.
Chúa đã dùng những thời điểm bất ngờ, những ngày giờ không báo trước, để tế lễ mình, đổ hết máu mình ra vì phần rỗi nhân loại.
Chúa có những sáng kiến độc đáo của riêng Ngài, vượt ngoài mọi cơ cấu, mọi tục lệ.
Trong biến cố vừa qua, Chúa Giêsu cũng đã làm những việc rất bất ngờ. Chỉ có những tâm hồn tỉnh thức theo gương Ðức Mẹ mới thấy được. Họ đã ca ngợi Thiên Chúa.
***
Ba lời nhắn nhủ trên đây là quan trọng. Nhưng những tiên báo sau đây cũng nên được chú ý:
Trong tương lai, Hội Thánh Việt Nam sẽ bị thử thách về đức bác ái nhiều hơn là về đức tin, đang khi đức tin cũng sẽ bị thách đố gay gắt bởi nhiều vấn đề cuộc sống, và bởi nhiều giá trị mới của các trào lưu mới.
Trong tương lai, Hội Thánh Việt Nam vẫn dễ xin vâng trước những nhu cầu tuyên xưng đức tin truyền thống, nhưng nhiều nơi sẽ không dễ xin vâng trước những đòi hỏi thực hành bác ái.
Trong tương lai, Hội Thánh Việt Nam sẽ bị cám dỗ dễ tỉnh thức trước những mời gọi của tiền bạc và quyền lực, nhưng nhiều nơi sẽ không tỉnh thức trước những nhu cầu khẩn cấp Phúc Âm trong những người nghèo, tại các giáo điểm truyền giáo và trong các lãnh vực xã hội. Nhất là nhiều nơi sẽ không tỉnh thức để cầu nguyện và lắng nghe thánh ý Chúa.
Ðó là những báo động từ thánh giá Chúa Giêsu.
Long Xuyên, tháng 10/1996
 

Bùi-Tuần 1569: Chia sẻ vài ấn tượng không bao giờ quên

về Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II

Nhân dịp kỷ niệm 50 năm thụ phong linh mục (1/11/1946 - 1/11/1996) của Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II Bùi-Tuần 1569

Nhân dịp kỷ niệm 50 năm thụ phong linh mục (1/11/1946 - 1/11/1996) của Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II, tôi xin chia sẻ vài ấn tượng của tôi về vị Giáo Hoàng thứ 264 đầy uy tín, người cha chung kính mến của Hội Thánh toàn cầu.
Trong các kỷ niệm khác nhau về Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II, tôi nhận thấy có một loại kỷ niệm đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến đời sống mục vụ và truyền giáo của tôi. Ðó là những kỷ niệm đồng tế với Ðức Thánh Cha.
Tôi được may mắn đồng tế với Ðức Thánh Cha nhiều lần. Có những lần số giám mục đồng tế tới vài trăm vị, như lần tôi đồng tế với ngài trong một thánh lễ thứ Năm Tuần Thánh tại Ðền thờ thánh Phêrô, và như lần tôi đồng tế với ngài trong thánh lễ cho giới trẻ toàn cầu tại Manila. Có lần số giám mục đồng tế là vài chục vị, như lần tôi đồng tế với ngài trong thánh lễ dịp các Ðức Giám mục Việt Nam đến viếng mộ hai thánh Tông đồ. Có lần số giám mục đồng tế chỉ là hai hoặc ba vị, như những lần tôi được đồng tế với ngài trong những thánh lễ dành cho các nhóm nhỏ tại nhà nguyện riêng của ngài.
Ở đây, tôi nhớ lại những kỷ niệm loại sau cùng, tức là những thánh lễ tại nhà nguyện riêng của ngài. Nhà nguyện nhỏ, bàn thờ nhỏ, với vài nhóm nhỏ, cùng với vài vị đồng tế đứng cạnh bên Ðức Thánh Cha. Ðã năm lần tôi được hân hạnh có mặt trong số nhỏ đó. Nói chung, những gì tại đó đã để lại trong tôi những hương vị thiêng liêng, gây ấn tượng mạnh, chính là những vẻ đẹp khác thường, ít gặp được ở những nơi khác.
 Vẻ đẹp thứ nhất là hình ảnh sự gắn bó khiêm tốn mật thiết của Ðức Thánh Cha với Ðức Kitô
Hình ảnh này được nhận thấy nơi Ðức Thánh Cha, khi ngài cầu nguyện trước thánh lễ, sau thánh lễ, và nhất là trong thánh lễ. Những lần đứng bên cạnh Ðức Thánh Cha trên bàn thờ, tôi không những nhìn thấy, mà còn cảm được phần nào niềm tin mến sống động của Ðức Thánh Cha đối với Chúa Giêsu. Nếu sống đạo là phải tuyên xưng Ðức Kitô là Chúa và là Ðấng Cứu độ, thì thái độ cầu nguyện của Ðức Thánh Cha chính là một cách tuyên xưng hùng hồn. Nhìn ngài cầu nguyện, tôi hiểu được thấm thía lời Ðức Kitô dạy xưa: “Thầy là thân cây nho, các con là ngành nho. Ai ở trong Thầy và Thầy ở trong kẻ ấy, thì kẻ ấy sinh hoa quả. Không có Thầy, chúng con không thể làm gì được” (Ga 15,5). Từ hình ảnh Ðức Thánh Cha cầu nguyện trong thánh lễ, tôi nhớ tới thông điệp đầu tiên của ngài về Ðức Kitô, Ðấng Cứu độ loài người (Redemptor hominis). Tập trung vào Ðức Kitô, gặp gỡ Ðức Kitô, bước theo Ðức Kitô, học hỏi lời Ðức Kitô, đó là một chân lý ngọt ngào đã đi vào lòng tôi, và thấm sâu vào đời tôi. Kết quả đó một phần là do những lần đồng tế với Ðức Thánh Cha.
Trong các thánh lễ, dù với những nhóm nhỏ, Ðức Thánh Cha chỉ cầu nguyện theo các kinh và các công thức in sẵn trong sách lễ Rôma. Ngài không thêm không bớt, dù một câu một chữ. Ðiều đó chứng tỏ ngài cầu nguyện theo Kinh Thánh và theo những lời của Hội Thánh. Nhưng trong thánh lễ, Ðức Thánh Cha đã có những phút thinh lặng, trước thống hối, trước các lời cầu: nhập lễ, tiến lễ và hiệp lễ. Nhất là ngài thinh lặng lâu sau bài Phúc Âm và sau rước lễ.
Tôi hiểu là trong những thinh lặng đó, ngài cũng như mỗi người dâng lễ, đều suy gẫm và cầu nguyện riêng. Mỗi người sẽ đón nhận Ðức Kitô và Thánh Linh của Ngài, có thể một cách giống nhau, và cũng có thể nhiều cách khác nhau, tuỳ theo sự quan phòng khôn ngoan của Chúa Cha giàu tình yêu thương xót, trong kế hoạch xây dựng Nước Trời. Những lúc đó tôi thấy Ðức Thánh Cha đúng là biểu tượng của Hội Thánh, dấu chỉ và là dụng cụ của sự hiệp nhất. Thực là một biểu tượng đẹp.
 Vẻ đẹp thứ hai là hình ảnh sự hiệp thông ưu ái của Ðức Thánh Cha với các Giáo Hội địa phương
Những hình ảnh như thế nhỏ thôi, nhưng rất đẹp và sống động. Tôi nhớ lại những lần có một vài vị giám mục nước khác cùng với tôi đồng tế với Ðức Thánh Cha. Một lần là Ðức Hồng y Paris, Pháp; một lần là Ðức Giám mục Nam Tư; một lần là một Ðức Giám mục Lào; một lần là một Ðức Giám mục Nam Mỹ. Tôi có cảm tưởng là, qua mỗi người chúng tôi, Ðức Thánh Cha nhìn thấy tất cả Giáo hội địa phương của mỗi người. Ngài nhìn thấy với những cảm thông, với những chia sẻ, với tất cả tấm lòng yêu thương ưu ái.
Tôi cảm nhận được sự thực đó, nhất là trong thánh lễ, khi Ðức Thánh Cha ôm hôn từng vị, chúc bình an cho từng vị, trao Mình Thánh cho từng vị, và cuối lễ, mời các giám mục đồng tế cùng ngài ban phép lành chung cho các cộng đoàn.
Những phút trao đổi thân tình sau thánh lễ, và thỉnh thoảng khi đồng bàn với Ðức Thánh Cha, tôi thấy ngài tuy xa, nhưng rất gần gũi các Giáo hội địa phương. Ngài lắng nghe, thích tiếp nhận những ý kiến và luôn kính trọng những khác biệt. Một nét rất đẹp của ngài về phương diện này là thái độ đơn sơ khiêm tốn hiền lành đầy nhân ái. Thái độ đó được tỏ hiện một cách tự nhiên. Tôi nhìn thái độ dễ mến đó của ngài như một dấu chỉ “Chúa ở trong ngài”. “Ðâu có tình yêu thương, ở đó có Ðức Chúa Trời”. Thái độ dễ mến đó của ngài cũng nhắc tôi nhớ tới bài ca bác ái của thánh Phaolô (x. 1Cr 13), một bài hùng ca, một bài trường ca cho những bước đi của người truyền giáo.
 Vẻ đẹp thứ ba là hình ảnh thánh giá nơi Ðức Thánh Cha, trong sứ mạng truyền giáo và tái truyền giáo
Mỗi lần đứng bên Ðức Thánh Cha trên bàn thờ, tôi cảm thấy phần nào con đường thánh giá của ngài: Thánh giá đủ thứ đến từ nội bộ Giáo hội. Thánh giá đủ loại đến từ ngoài Giáo hội. Thánh giá do những gánh nặng trách nhiệm. Thánh giá do những giảm sút về sức khoẻ v.v.
Tôi thấy những đau đớn thường hiện lên trên nét mặt Ðức Thánh Cha, những khi ngài cử hành thánh lễ. Trong vẻ khoan thai xem ra vẫn có nhiều thúc bách gai góc đợi chờ. Trong vẻ bình lặng xem ra vẫn ẩn chứa nhiều lo âu khắc khoải. Trong vẻ hân hoan hình như vẫn thoáng chợt lộ ra những ray rứt của trái tim tông đồ trước những thực tại phũ phàng nơi này nơi nọ.
Những hiện tượng đó nơi Ðức Thánh Cha làm tôi nhớ lại tấm huy hiệu giáo hoàng của ngài: một thánh giá bao trùm bề dài và bề rộng chiếc huy hiệu. Như thể thánh giá sẽ trải khắp cuộc đời giáo hoàng của ngài. Phải chăng khi chọn huy hiệu đó, Ðức Thánh Cha đã thấy trước những thánh giá đời mình? Tình hình hiện nay trên thế giới đang báo hiệu những thánh giá mới trong tương lai Hội Thánh. Nhưng những thánh giá nào giống thánh giá Ðức Kitô sẽ có giá trị cứu độ nhân loại.
Một lần tôi hỏi Ðức Thánh Cha về những thử thách đau đớn, mà ngài phải chịu, Ðức Thánh Cha đã trả lời: “Tôi quen rồi”. Tôi hiểu cái quen của Ðức Thánh Cha là do tình mến Chúa yêu người và do sự cậy trông vào Ðức Mẹ Maria. Cái đẹp của thánh giá là ở chỗ đó. Sức mạnh cứu độ của thánh giá là vì có những yếu tố đó kèm theo. Sự khôn ngoan của thánh giá, mà thánh tông đồ Phaolô ca tụng là sự khôn ngoan của một thánh giá diễn tả tình yêu Thiên Chúa (x. 1 Cr 1, 17-25).
***
Tôi còn nhiều kỷ niệm đẹp về Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II. Hôm nay, tôi xin chia sẻ chừng đó thôi. Tôi hy vọng, để tỏ lòng thương mến ngài, chúng ta không những sốt sắng cầu nguyện cho ngài, mà còn nỗ lực thực thi ý muốn của ngài là đẩy mạnh việc tân Phúc âm hoá và tái Phúc Âm hoá chính mình, cộng đoàn của mình và mọi lãnh vực đời sống của mình, nhất là bằng việc trở về với Ðức Kitô và Phúc Âm của Người.
Long Xuyên, tháng 11/1996
 

Bùi-Tuần 1570: Trước hết, hãy là con người

Khi nhìn vào con người linh mục của tôi, tôi thấy biết bao tiếng gọi “hãy là” như: Hãy là linh mục Bùi-Tuần 1570

Khi nhìn vào con người linh mục của tôi, tôi thấy biết bao tiếng gọi “hãy là” như :
Hãy là linh mục của Thiên Chúa Tình Yêu, sống đúng thân phận người con hiếu thảo của Thiên Chúa là Cha giàu lòng thương xót.
Hãy là linh mục của Hội Thánh Ðức Kitô, dấn thân cho Tin Mừng cứu độ.
Hãy là linh mục của thế giới thứ ba, nơi mà đức tin không được phép tách rời khỏi cuộc sống đang trên đà phát triển giữa nhiều phức tạp.
Hãy là linh mục của nền văn hoá Á Châu, một thứ văn hoá vừa nặng yếu tố lý trí, vừa giàu yếu tố tâm linh.
Hãy là linh mục của nước Việt Nam độc lập, biết có một bản lĩnh hợp lý trong các tương quan quốc tế.
Hãy là linh mục của địa phương tôi, nơi có nhiều tôn giáo nổi về công việc từ thiện, tinh thần Dân Tộc và tình hiếu thảo đối với tổ tiên.
Hãy là linh mục của cuối thế kỷ 20, một thời đại đang nhiều chuyển biến lớn lao và mau lẹ về kinh tế, khoa học, xã hội, văn hoá và tôn giáo, đòi hỏi một tân-Phúc-Âm-hoá thích hợp.
Chỉ bằng ấy tiếng gọi thôi cũng đủ khiến tôi cảm thấy mình rất mực là nghèo. Phải học thêm, phải tìm tòi thêm, phải làm việc thêm.
Tiếng gọi nào cũng khẩn cấp cả. Nhưng giữa những khẩn cấp ấy, tôi nghe một tiếng gọi nhỏ nhẹ mà rất thiết tha, rất khẩn cấp : “Trước tiên, hãy là con người”.
Ðúng là như vậy. Phải là con người xứng danh con người đã. Phải học làm người với những đức tính làm người đã. Nhân ái, nhân bản, nhân cách, nhân đạo, nhân phẩm, nhân hậu, nhân nghĩa, nhân tâm, nhân trí, nhân văn, vv.
Ðừng tưởng đã là linh mục thì việc phục vụ sẽ hữu hiệu chỉ bằng chức năng linh mục, không cần đến các điều kiện con người. Không đâu, sẽ đến thời tục quyền, tục hoá trở nên mạnh và lan rộng như trên các nước Thiên Chúa giáo tại Âu Châu. Lúc đó người ta sẽ ít để ý đến chức này quyền nọ, mặc dù đó là chức thánh và thần quyền, nhưng người ta sẽ đánh giá linh mục nhiều hơn theo các khả năng nhân bản. Là người như thế nào? Có thái độ nào trong các tương quan giữa người với người? Thiện chí phục vụ và khả năng phục vụ thế nào đối với đồng bào, với người dưới, người trên, người nghèo khổ, người bệnh tật, người bị bỏ rơi? Khả năng nhạy bén, nắm bắt tình hình có sâu sắc không? Khả năng ứng xử với các bất ngờ có đủ sáng suốt không? Khả năng phấn đấu với chính mình và với các nghịch cảnh có kiên cường và khôn ngoan không? Cách đi đứng, cách nói năng, cách ăn uống có tế nhị, tự trọng, lịch sự, xứng với một trình độ văn hoá có thể chấp nhận được không? Có chính xác không trong các thông tin? Có lương thiện không trong các phán đoán? Có bao dung khiêm tốn trong những cái nhìn về các giá trị mới mà mình chưa quen, chưa hiểu không?
Nói chung, hãy sống cho ra người với trình độ cao nhất của tính người, mà mình có thể vươn tới được. Rồi từ đó sẽ xây dựng lên toà nhà thánh thiện với các nhân đức siêu nhiên.
Với những kinh nghiệm bản thân, tôi đọc lại những giáo huấn của Toà Thánh về vấn đề giáo dục những đức tính nhân bản nơi người linh mục. Tôi thấy sự nhắc lại và thực thi những giáo huấn này là rất cần thiết tại Việt Nam hôm nay. Xin trích vài đoạn :
“Linh mục không được quên mình là con người được chọn giữa nhiều người, để phục vụ con người.
Ðể thánh hoá mình và để thành công sứ mạng linh mục, các ngài phải trình diện mình với một hành trang gồm nhiều đức tính nhân bản giúp họ xứng đáng được đồng bào mình quý mến.
Cách riêng, linh mục sẽ phải thực thi tính nhân ái của con tim, đức kiên nhẫn, tính dễ thương, sức mạnh tâm hồn, lòng yêu mến sự công chính, cảm thức được về sự quân bình, sự trung tín trong lời hứa, sự biết ăn khớp với những dấn thân tự nguyện.
“Cũng cần linh mục suy nghĩ về thái độ xã hội của mình, về sự đúng đắn trong các hình thức quan hệ giữa người với người, về giá trị tình bạn, về tính cách khác biệt của cách sống của mình.” (Bộ Giáo Sĩ, Chỉ nam về tác vụ và đời sống linh mục, số 77, 1994).
“Ðược kêu gọi trở nên hình ảnh sống động của Chúa Giêsu là Ðầu và là Mục tử của Giáo Hội, linh mục phải tìm cách phản ánh trong mức độ có thể sự hoàn thiện nhân bản chiếu toả từ Con Thiên Chúa làm người và biểu lộ với một hiệu quả khác thường qua thái độ đối xử với tha nhân … Do đó, huấn luyện nhân bản cho linh mục mang một tầm quan trọng đặc biệt đối với mối quan hệ giữa linh mục và những đối tượng của sứ vụ linh mục. Ðể cho linh mục được người ta dễ tín nhiệm và dễ chấp nhận hơn, linh mục cần rèn luyện nhân cách của mình…
Linh mục nhất thiết phải có khả năng hiểu biết chiều sâu tâm trí con người, trực giác về những khó khăn và những vấn đề, mở đường cho gặp gỡ và đối thoại, tạo được sự tín nhiệm và sự hợp tác, phát biểu những nhận định bình tĩnh và khách quan…
Do đó, cần thiết phải giáo dục lòng quý trọng sự thực, lòng thành tín, lòng tôn trọng con người, ý thức công bình, giữ lời hứa, lòng thương cảm, tính mạch lạc và đặc biệt là tính quân bình trong phán đoán và trong đối xử.
Thiếu huấn luyện nhân bản đầy đủ, toàn bộ công cuộc đào tạo linh mục sẽ mất đi nền móng cần thiết”. (Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II, Tông huấn Pastores Dabo Vobis, số 43, 1992)
Những nhận định trên đây là rất xác đáng, cần chúng ta suy nghĩ, để có kế hoạch tự giáo dục mình về nhân bản.
Các chuyển biến xã hội hiện nay cho thấy : Rồi đây, trong việc truyền giáo và mục vụ, con người sẽ là yếu tố rất mực quan trọng.
Hãy là con người tốt với đầy đủ các đức tính nhân bản cần thiết. Hãy biết kính trọng và yêu thương con người. Hãy biết sống tình nghĩa với con người và cộng tác với con người. Hãy biết phục vụ con người, bằng cách đem lại cho con người những gì họ cần họ thiếu, chứ không phải là cách phân phát cho họ những gì mình có. Hãy làm chứng chiều kích thiêng liêng trong chính việc phục vụ con người.
Tôi có cảm tưởng này là thời nay một linh mục sống và chết trong tinh thần kinh Tin Kính của Hội Thánh sẽ không gây được mấy ảnh hưởng nơi dân chúng cho bằng một linh mục sống và chết trong tinh thần kinh Hoà Bình của thánh Phanxicô. Lý do rất dễ hiểu. Bởi vì tinh thần kinh Hoà Bình là cả một bầu trời gặp gỡ và phục vụ con người, trong đó có một tình thương tự nhiên và siêu nhiên, rạng ngời đằm thắm, mà ai cũng kiểm chứng được. Người ta nhìn thấy, người ta cảm nhận và nhờ đó người ta tin.
Long Xuyên, tháng 3/1997
 

Bùi-Tuần 1571: Học hỏi Lời Chúa qua các thực tại

Mấy ngày gần đây, tôi đã đi thăm nhiều họ đạo nhỏ, nghèo, tại vùng xa, vùng sâu, vùng biên giới Bùi-Tuần 1571:

Mấy ngày gần đây, tôi đã đi thăm nhiều họ đạo nhỏ, nghèo, tại vùng xa, vùng sâu, vùng biên giới. Tôi cũng đã đi thăm nhiều người đau bệnh, trong bệnh viện và ở gia đình.
Tôi coi những cuộc đi thăm như thế là một chuyến hành hương. Xin nói ngay là cuộc hành hương đó đã rất bổ ích cho tôi. Một trong những lợi ích đáng kể nhất là lương tâm mình được đánh thức, và tâm hồn mình được đổi mới, do những tiếng gọi thiết tha vang vọng từ những thực tế rất sống động.
Trước hết là thực tế của những con người kiếm tìm sự sống.
Tiếp xúc với những người hấp hối, bệnh tật, nghèo túng, cô đơn, tôi thấy điều họ vật vã kiếm tìm nhất chính là sự sống. Sự sống, mà họ kiếm tìm, không phải chỉ là sức khoẻ và những gì cần để bảo tồn sự sống, mà còn là một sự bình an tâm hồn, một hy vọng, một niềm tin, một tình thương, một điểm tựa tinh thần cho hành trình cuộc sống. Tâm hồn họ, một mặt như bám chặt vào gốc rễ đời mình, với những mảnh vụn hạnh phúc và với những mảnh đời tan vỡ, một mặt lại cố vươn lên khoảng rộng mênh mông, nơi mà họ hy vọng có một Ðấng cứu độ, thực tình thương họ, có sức cứu độ họ, có quyền năng ban cho họ một sự sống mới bao trùm trọn hảo.
Trước thực tế này, những ai sống ơn gọi sứ giả Tin Mừng cứu độ hẳn phải băn khoăn, hẳn phải muốn hoà nhịp vào cảnh sống của cõi đời này, để chia sẻ được chút nào hay chút đó.
Thực không an tâm chút nào, nếu không làm gì cho những người kiếm tìm sự sống như thế. Và thực không đơn giản chút nào, khi muốn thắp lên trong lòng họ ngọn lửa tin yêu, để họ có thể đón nhận được sự sống Thiên Chúa sẽ là hạnh phúc cho họ đời đời.
Một thực tế khác, đó là những con người đang phấn đấu để sống tốt nhờ tín ngưỡng, nhờ niềm tin tôn giáo.
Ði sâu vào dân mới cảm nghiệm được nhiều sự thực xót xa. Có những người rất khổ. Bất hạnh theo đuổi họ như bóng theo người. Bế tắc nối tiếp bế tắc. Họ như bị xích vào một số kiếp, mà họ không sao bứt ra được. Họ câm lặng. Nhưng họ không ngừng phấn đấu một cách đạo đức, để lo hạnh phúc cho người khác trước khi lo cho mình. Họ phấn đấu nhờ niềm tin. Họ tin có một Ðấng thiêng liêng thấy rõ thân phận họ. Họ tin nếu cái tâm của họ trong sáng, lương thiện, bác ái, chấp nhận hy sinh, thì dù đời họ coi như bất hạnh, họ vẫn được nhận vào cõi phúc. Nhờ niềm tin, họ thấy đời họ có ý nghĩa và có hướng đi. Tôi thấy niềm tin của họ dung dị mộc mạc, nhưng rất mạnh, khiến tôi phải tự hỏi mình: Tôi có được một niềm tin mạnh như thế không? Và tôi phải làm gì, để giúp cho niềm tin ấy của họ trở thành sự gặp gỡ sống động thân tình với Thiên Chúa là tình yêu.
Một thực tế nữa, đó là những người dấn thân cứu độ con người hiện nay rất đông.
Họ thuộc đủ thành phần: không có tín ngưỡng, có tín ngưỡng, công giáo, các tôn giáo khác, giáo phái vv... Những người cứu độ được dân tin, dân mến thường là những người biết hiểu dân, biết gần gũi với dân, biết thương dân, biết phục vụ dân bằng những việc thiết thực trong khiêm tốn vị tha, nhất là với tinh thần cộng tác, liên đới. Khi tôi cứu độ ai, thì tôi thực hiện việc cứu độ với những người khác. Những người mà tôi cứu độ có thể lại là những kẻ cứu độ tôi. Vừa cho đi và vừa lãnh nhận. Phải khiêm tốn, khôn ngoan và tỉnh thức, kẻo chúng ta trở nên như thừa, lạc lõng.
Ba thực tế trên đây giúp tôi hiểu thêm thánh ý Chúa qua lời Kinh Thánh: “Thánh Thần Chúa ở cùng tôi. Người sai tôi đi rao giảng Tin Mừng cho người nghèo khó” (Lc 4,18). Những người nghèo khó sẽ là những người công bố Tin Mừng. Những người nghèo khó sẽ là những người làm chứng cho Tin Mừng. Tôi chỉ có thể trở thành kẻ rao giảng Tin Mừng, khi tôi trở thành nghèo khó, biết đón nhận Tin Mừng trước khi rao giảng Tin Mừng.
Long Xuyên, ngày 18/5/1997
 

Bùi-Tuần 1572: Thánh giá của Thánh Tâm

Ảnh tượng Thánh Tâm Chúa Giêsu đang được nhiều người, nhiều nơi mộ mến. Yếu tố thu hút Bùi-Tuần 1572

Ảnh tượng Thánh Tâm Chúa Giêsu đang được nhiều người, nhiều nơi mộ mến. Yếu tố thu hút chính là sự đề cao một trái tim có lửa bốc cháy, trên cắm một cây thánh giá nhỏ. Ðây là một biểu tượng đẹp mang ý nghĩa Thánh Kinh.
Trái tim đó là một nhắc nhở về tình yêu Thiên Chúa, một “Thiên Chúa là Tình Yêu” (1 Ga 4,8; 4,16).
Lửa đó là biểu tượng lửa tình yêu cứu độ, mà Thiên Chúa muốn đốt lên trong mọi tâm hồn, như Ðức Kitô đã tỏ ý. “Ta đem lửa từ trời xuống thế gian, và Ta khắc khoải chỉ mong cho lửa ấy cháy rộng ra” (Lc 12,49).
Thánh giá đó là dấu chỉ hy sinh. Mọc lên từ trái tim bốc cháy, thánh giá ấy được coi như một lời công bố của tình yêu Thiên Chúa nơi Ðức Kitô. Ngài yêu thương, nên đã chấp nhận hy sinh đến cực độ (x. Ga 13,1). Chúng ta dừng lại ở đây để suy gẫm.

 Ðức Kitô đã hy sinh cho ai?
Thưa cho chúng ta. “Cho chúng ta” là cụm từ đã trở thành điểm thần học, mà tín lý và tu đức đang đào sâu. Các tông đồ đã diễn tả ý “cho chúng ta” bằng nhiều cách khác nhau.
Thánh Marcô ghi: “Cho nhiều người” (Mc 14,24).
Thánh Luca ghi: “Cho anh chị em” (Lc 22,19).
Thánh Gioan ghi: “Cho toàn dân” (Ga 11,50).
Thánh Phaolô ghi: “Cho tất cả mọi người” (Rm 8,32).
“Cho tôi” (Gl 2,20).
“Cho Hội Thánh” (Ep 5,25).
“Cho cả nhân loại” (Dt 2,9).
Dù với cách diễn tả nào, Thánh Kinh cho thấy hy sinh của Ðức Kitô là rất vị tha cao cả. Hy sinh ấy là vì tôi, vì bạn, vì mọi người chúng ta. Hy sinh ấy được ban như quà tặng. Nó gây nên một liên đới ân tình, một giao ước tình yêu. Nó khiến chúng ta phải cảm phục, ca ngợi, tạ ơn. Nhất là khi chúng ta hiểu được hy sinh của Ðức Kitô.

 Ðức Kitô đã hy sinh thế nào?
Chỉ xin nhắc đến vài việc mà thôi. Hy sinh của Ngài là mang vào mình trọn vẹn thân phận con người nghèo hèn. “Ngài rất cao sang, thế mà Ngài đã tự ý sống nghèo túng vì anh chị em” (2 Cr 8,9).
Hy sinh của Ngài là tự ý vác lấy gánh nặng như người đầy tớ thay cho chúng ta. “Chính các khổ nhục Ngài đã vác, chính các đau đớn Ngài đã mang” (Is 53,4).
Hy sinh của Ngài là đón nhận sự chúc dữ thay cho chúng ta. “Chúa Giêsu đã cứu chúng ta khỏi sự chúc dữ của lề luật, khi Ngài chịu chúc dữ vì chúng ta” (Gl 3,13).
Hy sinh của Ngài là cảm nghiệm sâu sắc cảnh bị cô đơn, cảnh bị loại trừ. “Lạy Cha sao Cha nỡ bỏ con” (Mt 27,46).
Hy sinh của Ngài là vâng phục thánh ý Cha trao phó Ngài cho thế gian tội lỗi. “Thiên Chúa đã yêu thương thế gian, đến nỗi đã trao phó Con Một mình cho thế gian” (Ga 3,16). “Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta cách đặc biệt, khi chúng ta còn sống trong tội lỗi” (Rm 5,8).
Hy sinh của Ngài là tự hiến mạng sống mình vì chúng ta. “Ta hy sinh mạng sống vì các chiên của Ta” (Ga 10,15).
Hy sinh của Ngài là chấp nhận trở thành kẻ bị chống đối, khi Ngài phấn đấu để làm nhẹ đi sự hà khắc của các luật đạo đời lúc ấy (x. Lc 2,33).
Sẽ là quá dài và như vô tận, nếu phải kể hết các hy sinh mà Ðức Kitô đã chịu vì chúng ta. Sự thực đó khiến chúng ta càng phải tìm hiểu Ngài hơn. Chỉ như vậy, “Chúng ta mới có thể hiểu lòng yêu thương của Chúa rộng, dài, cao, sâu đến mức nào, và nhận ra lòng yêu thương của Chúa Giêsu vượt quá trí loài người” (Ep 3,18-19). Tình yêu chấp nhận bao hy sinh như thế nhắm đến mục đích là làm cho chúng ta được hạnh phúc.
Hy sinh của Ðức Kitô đưa chúng ta đến hạnh phúc nào?
Thưa hạnh phúc vì được cứu chuộc khỏi ách ma quỷ, bằng một giá rất cao là chính mạng sống và máu Ðức Kitô.
Ðể hiểu điều đó, chúng ta nên đọc lại những lời Kinh Thánh sau đây: “Ai phạm tội thì thuộc về ma quỷ” (1Ga 3,8). “Anh chị em được cứu chuộc bằng một giá rất cao” (1Cr 6,20; 7,23). “Con Người đến không phải để được hầu hạ, nhưng để hầu hạ và hiến mạng sống mình hầu cứu chuộc muôn dân” (Mt 20,28). “Ðức Kitô đã vào nơi Cực Thánh một lần thay cho tất cả mọi lần, không mang theo máu dê bò, nhưng mang theo chính máu mình, sau khi đã lập công cứu chuộc đời đời cho chúng ta” (Dt 9,12).
Hạnh phúc vì được giải thoát khỏi các quyền lực tối tăm: của tội lỗi, của thế gian, của ma quỷ. Bởi vì “Ai phạm tội thì làm nô lệ tội lỗi” (Ga 8,34). “Anh chị em đã chết với Ðức Kitô để thoát khỏi thói tục thế gian này” (Cl 2,20). “Thiên Chúa đã giải thoát chúng ta khỏi uy quyền của tối tăm” (Cl 1,13).
Hạnh phúc vì được giao hoà với Thiên Chúa. “Mọi ơn đều bởi Thiên Chúa ban, Ðấng đã dùng Ðức Kitô để hoà giải với chúng ta” (2 Cr 5,18).
Hạnh phúc vì được công chính hoá nhờ sự được gia nhập vào sự sống Chúa Ba Ngôi, được gọi Thiên Chúa là Cha (x. Ga 4,16; Gl 4,5), được chia sẻ sự tự do của Chúa Thánh Linh (x. Gl 5,13), được dự phần vào ơn nghĩa tử của Ðức Kitô (x. Ep 1,4-5; 1Cr 12; Ep 4).
 Ðức Kitô muốn các môn đệ bắt chước Ngài
Những điều trên đây là những sự thực. Ðừng đọc những sự thực đó trên giấy. Nhưng hãy đọc nó nơi chính Ðức Kitô. Nhìn ngắm, suy gẫm những sự thực ấy nơi Ðức Kitô, rồi sẽ thấy tình yêu và hy sinh quan trọng thế nào trong việc sống đạo, trong mục vụ, trong truyền giáo.
Chúa Giêsu lấy tay chỉ vào trái tim Ngài bốc cháy, trên mang thánh giá, như giới thiệu thực chất của Ngài: Ngài là Tình Yêu hy sinh cho mọi người. Tay Ngài không chỉ lên đầu Ngài để nói: Ta là lý trí, Ta là lề luật. Mặc dầu Ngài vẫn trọng lý trí và lề luật, Ngài muốn nhấn mạnh đến tình yêu hy sinh.
Môn đệ Ðức Kitô cũng sẽ phải như thế. Ðặc điểm của họ là tình yêu thương: “Người ta cứ dấu này mà nhận biết các con là môn đệ của Ta, là chúng con thương yêu nhau” (Ga 13,15).
Ðặc điểm của họ còn là biết hy sinh, biết từ bỏ mình. “Ai muốn là môn đệ Ta, hãy từ bỏ mình” (Mt 16,24).
Thời nào cũng sống được hai đặc điểm đó một cách sâu sắc. Thiết tưởng, trong tình hình hiện nay mà phong trào tục hoá, cá nhân hoá và cạnh tranh hưởng thụ đang phát triển mạnh, người môn đệ Ðức Kitô sẽ chỉ có thể làm chứng cho Ðức Kitô một cách xứng đáng, nếu có hai đặc điểm đó với mức độ cao, nhất là trong cuộc sống phục vụ con người. Phục vụ với hai đặc điểm đó, họ sẽ giúp bảo tồn và phát triển chiều kích tâm linh nơi đồng bào Việt Nam, tránh cho Ðất Nước nguy cơ xuống dốc về đạo đức.
Nếu tôi có mọi sự, làm đủ mọi việc, cho dù đạo đức, nhưng thiếu một trái tim bốc lửa mến Chúa yêu người mọc lên thánh giá hy sinh, thì tôi nên tự coi mình là vô hiệu, vô dụng, vô ích.
Và cho dù tôi có lửa mến và có hy sinh này nọ, nhưng nếu thiếu sự khiêm nhường và hiền lành của trái tim Chúa Giêsu, phải chiếu tình yêu hy sinh cứu độ, tôi cũng phải tự coi mình là còn rất xa mô hình đạo đức Phúc Âm.
Cuộc sống là một chuyến đi. Phải bước đi mãi bằng những tập luyện, đào tạo, giáo dục chính mình. Nhìn vào trái tim Chúa như mô hình, cậy tin vào trái tim Chúa như sức mạnh, gắn bó với trái tim Chúa như hạnh phúc, đón nhận tình yêu hy sinh nơi trái tim Chúa như suối nguồn.
Sống tình yêu hy sinh của Ðức Kitô, các môn đệ Ngài có thể bị coi như mềm yếu. Nhưng “chính khi yếu lại là lúc mạnh” (2Cr 12,10). Bởi vì kẻ thực thi ý Chúa sẽ tìm được sức mạnh tuyệt vời nơi chính Chúa. Và như thế, họ sẽ góp phần không nhỏ vào việc đổi mới Giáo Hội và xã hội.
Long Xuyên, tháng 6/1997
 

Bùi-Tuần 1573: Nhìn vào hình ảnh linh mục

Tháng Bảy này, nhiều nơi sẽ tổ chức lễ phong chức linh mục và lễ tạ ơn sau thụ phong. Trong tinh Bùi-Tuần 1573

Tháng Bảy này, nhiều nơi sẽ tổ chức lễ phong chức linh mục và lễ tạ ơn sau thụ phong. Trong tinh thần hiệp thông, tôi xin được nói lên niềm vui và ước nguyện của tôi. Niềm vui có thêm số linh mục. Ước nguyện các tân linh mục sẽ khởi đầu đời linh mục của mình bằng những bước tích cực hướng về mục đích Năm Thánh 2000.
Theo Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II, mục đích Năm Thánh 2000 là làm cho Hội Thánh nên mới hơn, bằng cách mọi thành phần Hội Thánh cố gắng thuộc về Ðức Kitô nhiều hơn. Các linh mục, những thành phần quan trọng của Hội Thánh, hẳn phải ý thức rõ điều đó. Nên các ngài sẽ nêu gương cố gắng thuộc về Ðức Kitô hơn, ngay từ cái nhìn về con người linh mục của mình.
Ðã có nhiều hình ảnh về linh mục. Ở đây chỉ nói về vài hình ảnh tốt quen thuộc có cơ sở Kinh Thánh. Trong số này, có nhiều hình ảnh cũ đang được làm mới lại, và có nhiều hình ảnh mới đang gây ấn tượng mạnh.
 Những hình ảnh cũ đang được làm mới lại
Linh mục, đấng có quyền tế lễ (x. Lc 22,9; 1 Cr 11,24-25; LG. 28; PO. 5), đó là một hình ảnh phổ biến đã lâu đời. Nó đề cao chức trọng quyền cao của linh mục. Nhưng nay, hình ảnh đó không còn gây được nhiều uy tín cho linh mục.
Bởi vì quan niệm về Hội Thánh đã thay đổi. Hội Thánh là Dân Thiên Chúa. Tất cả mọi thành phần Hội Thánh đều tham dự vào chức tư tế của Ðức Kitô. Tất nhiên, trong cái nhìn mới này, linh mục vẫn giữ một chức năng đặc biệt. Nhưng cách quá đề cao chức năng đặc biệt của linh mục trong việc tế lễ có thể gây những hiểu lầm thiệt hại về phía những người không có chức linh mục.
Nhất là khi linh mục lại được giới thiệu như một bậc trên có quyền ban phát, còn giáo dân là một bậc dưới có bổn phận đón nhận, thì việc đề cao chức quyền dễ gây ra dị ứng.
Hơn nữa, trong một tình hình mà phong trào tục hoá lên mạnh, người ta không còn quan trọng thánh lễ và các bí tích như xưa, thì hình ảnh linh mục, đấng tế lễ, sẽ chỉ gây được một ảnh hưởng hạn hẹp. Ðối với người ngoài Công giáo, hình ảnh ấy sẽ khó gợi ý được nhiều. Biết đâu nó lại làm cho họ nghĩ rằng linh mục là loại người không có ích lợi gì cho họ.
Vì thế, hình ảnh linh mục, thầy tế lễ, đang được đổi mới, bằng cách gắng thêm vào đó việc linh mục tế lễ chính mình với những từ bỏ tự nguyện, và với những hy sinh của tình yêu phục vụ. Thánh lễ đời thường của ngài gắn thêm vào đó sẽ là một vẻ đẹp có sức thuyết phục. Vẻ đẹp này phải có thực chất, dễ thấy chứ không phải chỉ là biểu tượng. Và đây chính là một thách đố lớn cho linh mục.
Linh mục, nhà truyền giáo (x. Mt 28,19-20; Mc 16,15; LG 28; PO 4), trên đây cũng là một hình ảnh quen thuộc, đã gây được cảm tình trong nhiều thời đại. Nhưng nay cũng cần làm mới lại.
Bởi vì, theo quan niệm mới về Hội Thánh, thì toàn thể Hội Thánh phải là truyền giáo. Trên thực tế, nhiều giáo dân đang thực hiện tốt sứ mệnh truyền giáo. Trong nhiều hoàn cảnh, họ giữ vai trò truyền giáo một cách hữu hiệu hơn các linh mục.
Hơn nữa, trong những xã hội và trong những thời điểm có nhiều phức tạp, việc giới thiệu hình ảnh linh mục dấn thân truyền giáo sẽ không thích hợp. Hơn nữa, nó có thể gây rắc rối cho linh mục nói riêng và cho Hội Thánh nói chung.
Vì thế, hình ảnh linh mục, nhà truyền giáo, cũng đang được làm mới lại. Bằng cách nhấn mạnh việc truyền giáo không phải chỉ là rao giảng, mà chủ yếu là chia sẻ Tin Mừng bằng các việc làm và chính cuộc sống. Cụ thể là, qua cách sống, linh mục trở thành dấu chỉ sống động của Thiên Chúa, giàu tình yêu thương xót. Và qua việc đồng hành với dân tộc, linh mục trở nên dụng cụ đoàn kết giữa các con người với nhau và giữa con người với Thiên Chúa. Chia sẻ Tin Mừng kiểu đó đòi hỏi linh mục phải có rất nhiều chất người, nhưng lại phải đặc biệt thuộc về Thiên Chúa, với một tự do nội tâm vững mạnh nhờ biết phấn đấu, không để mình bị khống chế bởi tính hư thói xấu, tội lỗi, và các thành kiến hẹp hòi, và nhờ biết cộng tác với ơn Chúa Thánh Thần. Ðó cũng là một thách đố lớn cho linh mục.
 Những hình ảnh mới đang gây ấn tượng mạnh
Linh mục, người mục tử tốt lành (GA 10,11; LG 28; PO 6) có đặc điểm là yêu thương đoàn chiên đến hy sinh mạng sống mình vì đoàn chiên. Ðoàn chiên nói đây được hiểu rất rộng. Ðó là hình ảnh rất đẹp, có sức thuyết phục, dễ gây xúc động và giàu giá trị quy tụ.
Tình yêu chấp nhận hy sinh được thực hiện hằng ngày bằng đời sống phục vụ. Phục vụ là thăng tiến từng người, để họ càng ngày càng nên người hơn. Phục vụ là xây dựng từng cộng đoàn thành những cộng đoàn huynh đệ nối kết với nhau bằng dây bác ái, sống chan hoà tình thương và chân lý. Phục vụ là góp phần lành mạnh hoá các lĩnh vực xã hội và các liên đới giữa những con người. Phục vụ là đáp ứng những nhu cầu tâm linh chính đáng của con người. Phục vụ là đánh thức những tiềm năng tốt nơi con người, biết tỉnh thức để cảnh báo trước những nguy cơ tha hoá con người và xã hội. Còn bao việc khác nữa.
Phục vụ hằng ngày như thế đòi phải hy sinh nhiều lắm, đặc biệt đòi phải từ bỏ cái tôi trung tâm, để biết sống tinh thần vị tha quảng đại. Chính vì thế mà hình ảnh linh mục người mục tử tốt lành, đã kéo được nhiều chú ý. Không những người Công giáo quý mến, mà nhiều người không Công giáo cũng trọng nể.
Linh mục, chứng nhân về sự phục sinh qua thử thách của thánh giá (x. Lc 24,47-48; Cv 1,8). Ðây cũng là một hình ảnh linh mục đang được mộ mến. Linh mục làm chứng cho sự phục sinh, không phải căn cứ vào những gì mình đã họcï, đã đọc, đã biết, mà căn cứ vào những gì mình đã trải qua và đã cảm nghiệm.
Ngài làm chứng bằng tác phong. Chẳng hạn bằng một cách tỏ lộ tâm tình khiêm tốn ca ngợi Thiên Chúa đã bao lần làm cho chính bản thân linh mục được sống lại một cách thiêng liêng. Và chẳng hạn bằng một thái độ sống chan hoà tình xót thương đối với những người cần được sống lại nhưng chưa sống lại được. Và chẳng hạn một lối sống có kỷ luật và cầu tiến, luôn biết vượt qua cái không tốt, để vươn tới cái tốt, và cái tốt hơn.
Ngài làm chứng bằng khả năng. Chẳng hạn khả năng sám hối, biết nhìn nhận lỗi lầm thiếu sót, có thiện chí sửa mình. Và chẳng hạn khả năng khám phá được những mầm mống phục sinh trong những con người coi như đã chết về mặt thiêng liêng. Và chẳng hạn khả năng dùng sự tốt để đẩy lùi sự xấu. Và chẳng hạn khả năng sống Tám Mối phúc, khơi tìm được hạnh phúc ngay trong những khổ đau. Và chẳng hạn khả năng nhận ra những nẻo đường, mà Chúa đang dùng, để đem ơn phục sinh đến cho nhân loại hôm nay.
Ngài làm chứng bằng nhân đức. Chẳng hạn nhân đức khiêm nhường, trở nên bé nhỏ, để có thể đón nhận được ơn phục sinh. Và chẳng hạn nhân đức nhẫn nại, biết kiên trì tin tưởng chờ đợi sự sống lại ngay trong những tình huống u ám nhất. Và chẳng hạn đức ái, biết lấy yêu thương để thắng hận thù, lấy bao dung để quy tụ rộng rãi.
Ngài làm chứng bằng định hướng. Chẳng hạn chọn cho mình con đường phục vụ như người đầy tớ, mà theo Kinh Thánh kể lại, chính Ðức Kitô đã chọn, để đi tới phục sinh. Và chẳng hạn chọn cho mình con đường truyền thống Phúc Âm với những sáng tạo dưới sự hướng dẫn của Thánh Linh, để đồng hành với Ðức Kitô Ðấng cứu độ, trong lịch sử hôm nay đầy chuyển biến, hầu đưa nhân loại tới phục sinh, theo mô hình hợp ý Chúa Cha.
***
Bốn hình ảnh linh mục trên đây được công nhận là đẹp. Vẻ đẹp này do những giá trị thiêng liêng, trong đó có tình yêu phục vụ cho dù phải hy sinh. Thiết tưởng linh mục sẽ chẳng còn là gì, nếu thiếu tình yêu quảng đại bao dung chân thành, nếu không phục vụ nhiệt tình vị tha, nếu không chấp nhận khiêm tốn hy sinh, từ bỏ chính mình. Nơi linh mục, chiều kích thiêng liêng là hết sức quan trọng. Chiều kích này được xây dựng nhờ thường xuyên trở về với Chúa để được chia sẻ sự sống của Ngài, thường xuyên trở về với con người để chia sẻ cho con người những Tin Mừng cứu độ bằng ngôn ngữ của con người, và thường xuyên phấn đấu với chính mình để trở nên con người mới với những giá trị mới.
Với những suy nghĩ trên đây, tôi mong các cuộc lễ có liên quan đến việc mừng chức linh mục sẽ được tổ chức hợp lý và hợp hoàn cảnh. Tránh mọi nội dung và hình thức xa lạ với Phúc Âm. Tránh những thói quen phô trương, gây tổn phí, và gây ảo tưởng về uy tín linh mục và vinh quang Hội Thánh, làm cớ cho người ta có một cái nhìn tục hoá về chức linh mục và Hội Thánh. Nhất là hiện nay lại đang xuất hiện trong dư luận nhiều nơi những hình ảnh đáng buồn về các loại linh mục tha hoá.
Hãy thuộc về Ðức Kitô một cách đích thực hơn, bằng cách cố gắng thực hiện nghiêm túc lời Ngài đã dạy, và cố gắng sống theo gương Ngài để lại.
Có như thế, chúng ta mới góp phần làm mới lại Hội Thánh, và đi đúng đường dẫn tới mục đích Năm Thánh 2000.
Long Xuyên, ngày 6/7/1997
 

Bùi-Tuần 1574: Thoáng nhìn về những ngày toàn cầu của giới trẻ

Chỉ còn một tháng nữa là tới “Những ngày toàn cầu của giới trẻ”. Bên này gọi tắt là J.M.J. (Journées Bùi-Tuần 1574

Chỉ còn một tháng nữa là tới “Những ngày toàn cầu của giới trẻ”. Bên này gọi tắt là J.M.J. (Journées mondiales de la jeunesse). Ba chữ này đã trở thành một từ quốc tế. Ðây là JMJ thứ 12. Lần này sẽ diễn ra tại Paris. Thời gian dài một tuần, từ 18 đến 24 tháng 8 năm 1997.
Trong tinh thần hiệp thông, tôi xin chia sẻ với anh chị em ít nét quan trọng của JMJ thứ 12 tại Paris này. Những chia sẻ dưới đây đều dựa trên những tài liệu tại chỗ.

 Tình trạng giới trẻ hôm nay
Các bạn trẻ hôm nay thuộc về một thế hệ đã và đang chứng kiến nhiều đổi thay và khủng hoảng. Những chuyển biến này xảy ra đều khắp. Chúng thuộc đủ loại như văn hoá, kinh tế, xã hội, khoa học, tôn giáo. Chúng ở trong mọi lãnh vực, từ nhỏ đến lớn, như gia đình, quốc gia, quốc tế, Hội Thánh. Tại Pháp, Ý, Ðức, người ta ước lượng: Cứ hai người trẻ thì hơn một người là không có Ðức Tin hoặc mất Ðức Tin. Cứ ba cặp vợ chồng thì hơn một cặp là trong tình trạng bỏ nhau.
Trước tình hình này, giới trẻ mất phương hướng. Họ hoài nghi đối với xã hội, đối với Giáo Hội, đối với chính bản thân mình. Họ cảm thấy mình xa cách với các thế hệ đi trước, và với Giáo Hội. Ðức Hồng Y Ratzinger, Tổng trưởng Bộ Giáo Lý Ðức Tin cho rằng: Với những chuyển biến như hiện nay, Hội Thánh Công Giáo đang và sẽ trở thành Hội Thánh của những thiểu số, của những nhóm nhỏ. Ðám đông rã dần.
 Mục đích của JMJ 12
Trước hiện tình như thế, JMJ sẽ được tổ chức cho giới trẻ, với mục đích gây ấn tượng đem lại cho họ phấn khởi, sức sống và hy vọng.
JMJ sẽ giúp cho những bạn trẻ tìm được những điểm chung của giới trẻ. Sẽ giúp cho họ có can đảm để sống cuộc sống thường ngày, biết phấn đấu với chính mình và với thực tại. Sẽ giúp cho họ ý thức về những trách nhiệm khác nhau, từ việc ngắm nhìn Ðức Kitô đến việc dấn thân cho phát triển xã hội. Sẽ giúp cho họ biết gặp gỡ Ðức Kitô một cách sống động. Sẽ giúp cho họ làm chứng về căn tính tôn giáo của mình mà không loại trừ ai. Và qua việc tham dự các buổi phượng tự chung, các bạn trẻ sẽ diễn tả tinh thần hiệp nhất chung quanh Ðức Thánh Cha. Ðó là một hình ảnh Hội Thánh hiệp nhất với những khác biệt. Một hình ảnh Hội Thánh không mang nét hoài niệm nhớ về quá khứ, nhưng mang nét hy vọng hướng về tương lai.

 Cách tổ chức của JMJ 12
Sẽ có nhiều thời giờ tự do cho những cuộc gặp gỡ tự phát, tự do. Một số buổi sáng sẽ dành cho việc nghe giáo lý, được diễn giảng do những Hồng y, Giám mục, Linh mục được chỉ định. Sẽ có những buổi tối dành cho những cuộc liên hoan giới trẻ. Nội dung mang tính cách nghệ thuật, lịch sử. Ðỉnh chót chương trình là thánh lễ do Ðức Thánh Cha cử hành tại trường đua Longchamp ngày 24-8-1997. Cụ thể chương trình sẽ diễn tiến, vắn tắt như sau:
Thứ hai, 18-8: Ðón nhận các bạn trẻ tới JMJ tại các sân bay, các nhà ga, các xa lộ.
Thứ ba, 19-8: Thánh lễ khai mạc JMJ 12 do Ðức Hồng Y Jean Marie Lustiger Tổng Giám Mục Paris cử hành tại quảng trường tháng Ba (Champ de Mars).
Thứ tư, 20-8: Sáng có những giờ giáo lý về đề tài Ði tìm dung mạo Ðức Kitô. Từ trưa trở đi là liên hoan giới trẻ.
Thứ năm, 21-8: Sáng có những giờ giáo lý về đề tài Ðức Kitô trong Lời Chúa. Sau trưa, đến trường đua Longchamp để đón Ðức Thánh Cha.
Thứ sáu, 22-8: Sáng có những giờ giáo lý về đề tài Ðức Kitô trong Bí tích Thánh Thể. Chiều đi Ðàng Thánh Giá tại một số nơi trong thủ đô.
Thứ bảy, 23-8: Sáng có thánh lễ tại các nhóm. Sau đó hành hương về trường đua để gặp Ðức Thánh Cha. Chiều, giới trẻ cùng với Ðức Thánh Cha tham dự buổi cầu nguyện canh thức.
Chúa nhật, 24-8: Tại trường đua Longchamp, Ðức Thánh Cha cử hành thánh lễ bế mạc.

 Khẩu hiệu của JMJ 12
Ðức Thánh Cha đã chọn cho JMJ 12 một khẩu hiệu rất gợi ý. Ðó là một câu rút từ Phúc Âm thánh Gioan: “Thưa Thầy, Thầy ở đâu? - Hãy đến mà xem!” (Ga 1, 38-39). Xưa, người trẻ đã hỏi Ðức Kitô như thế, và Ngài đã trả lời họ như vậy. Nay, người trẻ sẽ hỏi Ðức Kitô như vậy và Ngài cũng sẽ trả lời họ như thế.
Trong các buổi giáo lý, các bạn trẻ sẽ được mời gọi đi tìm Ðức Kitô cách đặc biệt trong Lời Chúa và trong Bí tích Thánh Thể.

 Chuẩn bị cho JMJ 12
Giáo Hội Pháp rất tích cực chuẩn bị cho JMJ 12. Nhiều người quảng đại góp tiền cho cuộc lễ. Nhiều giáo phận sốt sắng hưởng ứng đón các đoàn giới trẻ ngoại quốc về thăm giáo phận mình. Nhiều tu viện, cộng đoàn, tổ chức, sẵn sàng đón các đoàn giới trẻ tới sinh hoạt và nghỉ ngơi tại khu vực của mình. Họ cố gắng giúp cho JMJ tạo được một bầu khí tình nghĩa, cầu nguyện và huấn luyện.
Một cuộc lễ lớn thường gồm ba giai đoạn: Giai đoạn trước Lễ, giai đoạn chính Lễ và giai đoạn sau Lễ. Trong ba giai đoạn ấy, giai đoạn trước Lễ được coi là quan trọng hơn cả. Nếu đúng là như vậy, thì Giáo Hội Pháp đang rất quan tâm đến giai đoạn chuẩn bị. Ðiều đáng mừng và coi như đã khởi sự thành công, đó là tinh thần liên đới, tinh thần Hội Thánh đang lên cao và đang lan rộng. Nhất là tinh thần hiếu khách, trọng khách. Tinh thần này đã được Ðức Hồng Y Paris, vị chủ nhà, diễn tả trong mấy lời ngài gởi tới các bạn trẻ các nước sắp đến Paris dự JMJ. Theo ngài, sự hiện diện của các bạn trẻ các nước tại Paris sẽ đem lại cho Giáo Hội Pháp nói chung và cho giáo phận Paris nói riêng những niềm vui: Vui vì được biết các bạn, đất nước các bạn, Giáo Hội các bạn; Vui vì được chia sẻ với các bạn những thử thách và những can đảm của các bạn; Vui vì được cùng với các bạn nghĩ về một tương lai có hoà bình, hoà giải, nhờ sức mạnh tình mến của Ðức Kitô; Vui vì được cùng nhau dìm mình vào suối nguồn ơn thánh, làm cho mọi người gần gũi lại với nhau; Vui vì được sum họp chung quanh Ðức Thánh Cha và cảm nghiệm được mầu nhiệm hiệp nhất của Hội Thánh.

 Paris, địa chỉ của JMJ 12
Paris thủ đô nước Pháp sẽ chờ đón một lượng người đông đảo tới dự JMJ, thành phố này có rất nhiều đặc sắc. Ðặc biệt, đây là nơi mà nhiều nhân vật nổi tiếng đã sống và đã hoạt động. Nổi tiếng về khoa học, về văn học, về chính trị, về nghệ thuật. Riêng về triết học, về thần học, về tu đức, về thánh thiện, Paris đã có nhiều cây cao lớn, nhưng vẫn có nhiều hạt giống đang nẩy nở, hứa hẹn mùa xuân mới. Thủ đô này, với hơn 10 triệu dân, lại có một thánh bổn mạng là một thánh nữ, đó là thánh Genevière. Năm 491, thánh nữ đã có công lớn trong việc giải thoát Paris khỏi cuộc xâm lăng của quân Huns. Thủ đô này, với chừng 20 triệu du khách tới hàng năm, và với chừng 6 triệu bưu phẩm gởi vào bưu điện mỗi ngày, vẫn là nơi có nhiều liên hệ với Ðất Nước Việt Nam và Giáo Hội Việt Nam.
Khi viết vội gần xong bài chia sẻ này, tôi đã liếc nhìn lên tượng Chúa Giêsu chịu đóng đinh trên thánh giá trước mặt tôi, tôi hỏi Chúa Giêsu: “Lạy Chúa, Chúa ở đâu?”. Và tôi nghe Ngài trả lời: “Cha đang ở trên cây thánh giá!”. Bỗng nhiên tôi nhìn về JMJ 12 với một cái nhìn mới, rất khó diễn tả...
“Lạy Chúa Giêsu Kitô, xin thương xót chúng con”.
Viết tại Paris ngày 18-7-1997
 

Bùi-Tuần 1575: JMJ 12 và những con đường

Những ngày này, nhiều đoàn người đã bắt đầu lên đường đi Paris. Họ đến thủ đô Pháp, để dự Bùi-Tuần 1575

Những ngày này, nhiều đoàn người đã bắt đầu lên đường đi Paris. Họ đến thủ đô Pháp, để dự Ðại hội Giới trẻ (18 đến 24/8/1997). Giữa thành phố mênh mông này, người ta vẫn dễ nhận ra họ. Nón đội trên đầu, ảnh gài trước ngực, túi đeo sau lưng, xách mang trong tay: Tất cả các thứ đó đều gắn một huy hiệu đồng nhất, trên có hình tháp Eiffel đội cây thánh giá, dưới có hàng chữ JMJ 12, Paris 1997 (Journées mondiales de la jeunesse: Những ngày toàn cầu của giới trẻ).
Số bạn trẻ của JMJ 12 vào khoảng 300.000. Họ đến từ 142 nước. Những người đi theo tham dự ước chừng nửa triệu. Có đại diện các Hội đồng Giám mục các Giáo hội địa phương trên khắp thế giới. Ðức Thánh Cha chủ toạ phần bế mạc.
Tưng bừng, tươi trẻ, JMJ 12 là một thời sự lớn của Giáo Hội được tổ chức quy mô. Những người chủ xướng, những người tổ chức, những người tham dự đều có thể nhắm tới một số hướng như những mục tiêu. Trong các hướng ấy, tôi để ý nhiều đến hướng làm chứng.
Làm chứng cho giá trị này, giới thiệu một chọn lựa kia. Tôi tạm gọi những hướng đó là những con đường.

 1/ Ðức Thánh Cha và con đường Ðức Kitô
Qua JMJ 12, Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II kêu mời giới trẻ nói riêng và toàn thể Hội Thánh nói chung hãy đi vào con đường Ðức Kitô và làm chứng con đường đó. Ngài chọn cho JMJ 12 một lời Kinh Thánh "Thưa Thầy, Thầy ở đâu? Hãy đến mà xem" (Ga 1,38-39).
Trong thư đề ngày 15/8/1996 gởi JMJ 12, Ðức Thánh Cha khẳng định con đường Ðức Kitô là con đường dẫn tới sự sống, hoà bình, hạnh phúc. Ðọc thư này, người ta có thể thấy hành trình đi trên con đường Ðức Kitô gồm sáu điểm:
a) Ði tìm Ðức Kitô với lòng khao khát.
b) Gặp gỡ Ðức Kitô với sự thích thú ở lại bên Ngài và thích lắng nghe Ngài.
c) Ði theo Ðức Kitô, với quyết tâm từ bỏ mình, chấp nhận thánh ý Ngài.
d) Phục vụ Ðức Kitô theo lời Ngài đã nói: Khi các con làm sự lành cho kẻ khác, thì Thầy kể như chúng con phục vụ cho chính Thầy. Do đó, theo Ðức Thánh Cha gợi ý, phục vụ Ðức Kitô là phục vụ những người nghèo khó, khổ đau, những người xung quanh, những người có thiện chí, những người góp phần xây dựng hoà bình hợp nhất, và những cộng đoàn Hội Thánh.
e) Làm chứng cho Ðức Kitô với một tâm hồn được soi sáng bởi Lời Chúa, được mạnh sức bởi phép Thánh Thể, được sốt nóng bởi lửa bác ái Phúc Âm.
f) Yêu mến Ðức Kitô như gương Ðức Mẹ Maria, thánh nữ Têrêsa Hài Ðồng Giêsu. Lòng mến Ðức Kitô sẽ được phiên dịch ra bằng tình thương đối với mọi người, một tình thương quảng đại, vô vị lợi, như tình thương Thiên Chúa đã dành cho chúng ta.
Ðức Thánh Cha ước mong con đường Ðức Kitô với sáu đặc điểm trên sẽ được nhiều người suy gẫm, tự chọn và nhất là làm chứng bằng chính cuộc sống của mình.

 2/ Hội đồng Giám Mục Pháp và con đường Huynh đệ
Ðọc các tài liệu của HÐGM Pháp về JMJ 12 nhất là các phát biểu của Ðức Hồng Y Jean Marie Lustiger, Tổng Giám mục Paris, và Ðức Tổng Giám mục Louis-Marie Billé, Chủ tịch HÐGM Pháp, tôi nhận thấy các ngài quan tâm nhiều đến tình huynh đệ. JMJ 12 là biểu tượng cho tình huynh đệ, JMJ 12 là một mời gọi sống tình huynh đệ. Tình huynh đệ là một đặc điểm làm chứng cho Hội Thánh Ðức Kitô. Tình huynh đệ là dấu chỉ của người môn đệ Ðức Kitô.
Các bạn trẻ thuộc nhiều nước, với bao nhiêu những khác biệt, nhưng vẫn có thể hợp nhất được trong tình huynh đệ đằm thắm. Các giờ chia sẻ, gặp gỡ, những buổi liên hoan sẽ làm chứng sự thực đó. Trưa thứ bảy, 23/8/1997, lúc 11 giờ dọc theo đại lộ các Thống Soái (Boulevard des Maréchaux) các bạn trẻ sẽ tổ chức dây chuyền Huynh đệ. Gần nửa triệu người trẻ, thuộc năm châu nắm tay nhau, trang nghiêm quay về bốn phương trời. Họ thinh lặng cầu nguyện, đang khi các chuông của hơn 300 nhà thờ Paris đổ hồi suốt 15 phút. Sau đó, đoàn thanh niên muôn màu ấy đi về trường đua Longchamp, để gặp Ðức Giáo Hoàng. Dây chuyền huynh đệ là một biểu tượng, muốn làm chứng cho khả năng sống tình huynh đệ giữa những khác biệt.
"Hãy đứng lên và bước đi. Ðừng sợ". Ðó là những hàng chữ được đọc thấy khắp nơi trên các báo chí, chương trình, về JMJ 12. Ðức Hồng Y Lustiger hay hô hào điều đó. Bởi vì giới trẻ bây giờ xem ra sợ tương lai, sợ cô đơn, sợ người khác. Họ hoang mang về ý nghĩa cuộc đời. Họ chán nản về cảnh đổ vỡ của nhiều gia đình, về tình trạng khô cằn của nhiều cộng đoàn Hội Thánh.
Nhật báo Le Croix, ngày 24/7/1997 cho biết: Sự bi quan hôm nay của giới trẻ là nặng nề sâu thẳm. Số người trẻ từ 15 đến 24 tuổi tự tử trong năm rồi là hơn 1000. Theo nhật báo Libération, ngày 15/12/1994 thì tại Pháp mỗi ngày có khoảng 400 cặp vợ chồng ly dị trước toà án.
Thư chung của Hội đồng Giám mục Pháp, 6/11/1996, công nhận: Hiện tình người Công giáo Pháp đang bị khủng hoảng về ba mặt này: Giảm sút số người giữ đạo, mất đi ký ức Kitô giáo, và khó khăn vươn lên. Các Giám mục khuyên các bạn trẻ đừng sợ, đừng nản, nhưng hãy đứng dậy và can đảm bước đi. Hãy nắm lấy tay nhau, cùng nhau vun trồng tình huynh đệ, cùng nhau đi tìm Ðức Kitô, cùng nhau phục vụ đồng bào và nhân loại, cùng nhau xây dựng một thế giới và một Hội Thánh giàu tình huynh đệ.
Thực ra, tình huynh đệ chính là một hình thái của giới luật yêu thương, mà Ðức Kitô đã trối lại cho các môn đệ Ngài (x. Ga 13,34). Sống giới luật yêu thương, đó là cách làm chứng đắc lực nhất về Ðức Kitô.

 3/ Các hiệp hội giới trẻ ngoài Công giáo và con đường Sống-Chung
Tháng 5 vừa qua, Hiệp hội các phái Tin Lành tại Pháp đã tỏ bày ý muốn góp phần nào vào JMJ 12, bằng việc đưa ra một sáng kiến có tính cách tượng trưng cho tinh thần Ðại kết. Họ tung ra một tài liệu được đặt tên là Hiến chương Sống-Chung.
Tài liệu mang chữ ký của đại diện giới trẻ Tin Lành, giới trẻ Do Thái giáo, giới trẻ Chính Thống giáo, giới trẻ Hồi giáo. Nội dung Hiến chương trình bày một sự thực cần được mọi người chấp nhận, đó là không phải chỉ có một giới trẻ, mà có nhiều giới trẻ thuộc nhiều nền văn hoá khác nhau, cũng như thuộc nhiều tín ngưỡng và tôn giáo khác nhau. Tuy khác nhau, các giới trẻ nhận thấy mình có thể sống chung với nhau được. Vì thế một số giới trẻ đã ký vào một bản Hiến chương, cam kết sống chung, trong tinh thần bao dung không loại trừ nhau, biết kính trọng những khác biệt, cùng nhau xây dựng một thế giới hoà bình.
Hiến chương Sống Chung được gởi lên Ðức Thánh Cha, kèm một lá thư riêng. Trong thư này có đoạn viết: "Ngày 24/8/1997 sẽ đánh dấu buổi kết thúc những ngày toàn cầu thứ 12 của giới trẻ. Ngày 24/8 cũng là ngày Saint-Barthélémy, một ngày còn gợi lại cho nước Pháp biến cố đẫm máu của năm 1572, thời mà thiếu bao dung tôn giáo đã dẫn tới cuộc thảm sát mà người ta quá biết. Vậy đang khi Ðức Thánh Cha mời gọi giới trẻ toàn cầu bước tới Năm Thánh 2000, chúng con xin Ðức Thánh Cha kết hợp kỷ niệm thảm khốc St-Barthélémy với những thảm kịch mới hơn, như ở Algérie, Burundi, Ái Nhĩ Lan, Ruanda, Sudan, Thibet, Nam Tư cũ, Congo vv... Ngay hiện thời, sự không bao dung tôn giáo và chính trị vẫn chia rẽ đàn áp và tàn sát.
Hơn bao giờ hết, chúng ta cần phải học sống chung với nhau trong sự kính trọng những khác biệt và chia sẻ những xác tín của nhau. Vì thế, chúng con muốn đệ lên Ðức Thánh Cha một Hiến chương về sự chung sống... Chúng con đề nghị giới trẻ Hội Thánh Công giáo Rôma hợp ý với chúng con bằng cách ký vào bản Hiến chương này...".
Tưởng cũng nên biết, St-Barthélémy mà lá thư trên nhắc tới là một kỷ niệm rùng rợn của lịch sử Pháp trong thời kỳ chiến tranh tôn giáo. Sáng sớm ngày 24/8/1572, được lệnh cấp chỉ huy chính trị, các người Công giáo đã đột kích xông vào các gia đình Tin Lành, số người Tin Lành bị giết hôm đó khoảng 3000 (Encyclopédie Universelle, trang 1701).
Hai tài liệu trên đây của các giới trẻ các tôn giáo bạn đã được đăng trên tập bán nguyệt san SNOP, cơ quan thông tin chính thức của HÐGM Pháp, số 1012, 20/6/1997. Ðiều này chứng tỏ việc sống chung là một hướng làm chứng cho đức tin tôn giáo, được JMJ 12 chia sẻ.

 4/ Chính phủ Pháp và con đường Dân-chủ Nhân-đạo
Theo Hiến pháp, quốc gia Pháp là một quốc gia thế tục, tách rời khỏi tôn giáo. Vì thế dịp này, chính phủ Pháp tỏ ra rất thận trọng, không để mình sai phạm nguyên tắc phân ly giữa Nhà nước và các Giáo Hội theo luật 1905. Tuy nhiên về mặt xã hội, chính phủ Pháp đã mời Ðại tướng Philippe Morillon phối hợp các khâu cần thiết, để đảm bảo cho JMJ 12 bốn mặt sau đây: Trật tự, an ninh, vệ sinh và thoải mái. Trên tuần báo "Paris Notre-Dame" ra ngày 16/1/1997, Ðại tướng phát biểu: Ông hy vọng nhờ JMJ 12 mà hình ảnh nước Pháp sẽ được lớn hơn. Ông sẽ cố gắng làm chứng cho nền dân chủ nhân đạo của Pháp, để mọi người tới JMJ 12 được thấy nền dân chủ này có những lý tưởng cao đẹp, có một quá khứ hào hùng, có những giá trị ưu việt. Nước Pháp không phải chỉ cho đi, nhưng cũng sẽ tiếp nhận được nhiều. Ông tin tưởng JMJ 12 sẽ tạo ra luồng gió hy vọng mới, có sức quét đi những ích kỷ, hẹp hòi, và cực đoan, để mọi người và mọi dân tộc biết cùng nhau chia sẻ lý tưởng tự do, bình đặng và huynh đệ.
***
Con đường Ðức Kitô, con đường Huynh-Ðệ, con đường Sống Chung, con đường Dân-chủ Nhân-đạo, đó là bốn con đường tôi cho là sẽ được làm chứng tại JMJ 12 Paris, cách này hay cách khác. Liệu có thành công không? Ðức Giám Mục Michel Dubost, Tổng Tuyên uý Quân đội Pháp, đặc trách JMJ 12 nói: "Những ngày toàn cầu của giới trẻ sẽ là một thành công, nếu những ngày đó là một cuộc gặp gỡ với Ðức Kitô. Chúng ta cùng nhau cảm nhận điều đó và cùng nhau hướng về Ðức Kitô" (Tuần báo Paris Notre-Dame, số 664, 16/1/1997).
Long Xuyên, ngày 10/8/1997
 

Bùi-Tuần 1576: Hội Thánh tương lai

Cuối tháng 7 vừa qua, tôi trở lại Lisieux để thăm thánh nữ Têrêsa. Không biết lần thăm này là lần Bùi-Tuần 1576

Cuối tháng 7 vừa qua, tôi trở lại Lisieux để thăm thánh nữ Têrêsa. Không biết lần thăm này là lần thăm thứ mấy. Chỉ biết lần này mang tính cách đặc biệt hơn. Bởi vì cuối tháng 9 này sẽ là kỷ niệm 100 năm ngày qua đời của thánh Têrêsa (30/9/1897 - 30/9/1997).
Trong nhà nguyện Dòng kín Carmel, trước di hài vị nữ tu trẻ này, chết hồi 24 tuổi, tôi suy nghĩ về Hội Thánh tương lai. Tôi mong ước trong tương lai, Hội Thánh của tôi sẽ trẻ đẹp, rất dễ thương. Suy nghĩ của tôi được khơi dậy bởi thánh Têrêsa, người mà tôi đang tiếp xúc, và bởi Ðức Kitô, Ðấng mà chúng tôi đang gặp gỡ.
Nhìn về tương lai, tôi thấy Hội Thánh cần để ý hơn đến mấy điều sau đây:

 1/ Thần học về sự bé nhỏ
Thiên Chúa đã chọn những gì bé nhỏ, yếu hèn. Nhìn sâu vào mầu nhiệm nhập thể, mầu nhiệm thánh giá, mầu nhiệm Thánh Thể, chúng ta thấy Thiên Chúa đã chọn những con đường rất khiêm hạ. Thiên Chúa mặc khải chính mình trong những hình thức không chút gì là quyền lực. Chúa mặc khải tình yêu của Ngài. Tình yêu là một thứ sức mạnh mà không một phạm trù nào về quyền lực có thể diễn tả được, nhưng lại rất hùng hồn khi tự hạ hy sinh.
Chúa chọn những sứ giả tình yêu để họ cộng tác vào việc xây dựng Nước Tình yêu của Ngài. Ðây cũng là những chọn lựa do lòng thương xót của Ngài, chứ không do công phúc và áp lực của bất cứ ai. Ngài có thể chọn những con người bé mọn yếu hèn. Trong cuốn Tự Thuật, Têrêsa kể lại: Một hôm, trong phòng, Têrêsa tình cờ mở Phúc Âm và gặp ngay đoạn viết: “Chúa Giêsu lên núi, Ngài kêu gọi những kẻ Ngài muốn; và họ đã đến với Ngài” (Mc 3,13). Ðó là mầu nhiệm ơn gọi của tôi... và mầu nhiệm về mọi ơn Chúa ban cho tôi... Chúa đã không gọi những người xứng đáng, nhưng kêu gọi những người Chúa muốn, như thánh Phaolô đã viết: “Chúa thương xót người Chúa ưa thích và Chúa xót thương kẻ Chúa muốn xót thương. Như thế sự được ơn không phải là công trình của kẻ muốn hoặc kẻ chạy chọt, nhưng là của Chúa thương xót mà thôi” (Rm 9,15-16).
Têrêsa rất ý thức chân lý đó. Ngài còn đi xa hơn, khi khẳng định rằng: Chúa thương ngài không phải vì ngài có công phúc gì, mà chính vì sự yếu đuối bé nhỏ của ngài. Hơn nữa Têrêsa còn quả quyết: “Cuối đời, con sẽ tay không ra trước mặt Chúa. Bởi vì, lạy Chúa, con không xin Chúa đếm các việc con làm. Con biết tất cả các việc công chính của chúng con đều mang vết nhơ trước mặt Chúa”. Têrêsa nhận biết sự khó nghèo thiêng liêng và bé nhỏ của mình, ngài chỉ trông cậy vào ơn thương xót Chúa mà thôi.
Về điểm này, mới rồi Ðức Hồng Y Godfried Danneels, Tổng Giám Mục Malines-Bruxelles, Bỉ, đã cảnh báo về sự đang xuất hiện trong Hội Thánh một hiện tượng, mà ngài cho là một thứ kiêu ngạo tinh vi, hoàn toàn phản Kitô giáo và phản Phúc Âm, một hiện tượng mang nguy cơ của bè rối Pêlagianô. Hiện tượng đó là sự đề cao công phúc của mình, sự quan trọng hoá ý chí của mình, sự thiếu xác tín về vai trò cần thiết tuyệt đối của ơn thánh (Tạp chí 30 Jours, no 57 Mai 1997, trang 26-34).
Qua thánh nữ Têrêsa, Chúa đang kêu gọi mọi người, nhất là những người tự mãn cho mình là đạo đức, hãy trở về tinh thần khiêm tốn, khó nghèo và bé mọn. “Ai hạ mình xuống như trẻ này, người ấy là kẻ lớn nhất trong Nước Trời” (Mt 18,4). Lời Chúa trên đây ghi lớn trên trần nhà nguyện Dòng kín Carmel là một bài thần học rất quan trọng cho Hội Thánh tương lai.

 2/ Tu đức cho những tâm hồn bé nhỏ
Tôi nghĩ trước mặt Chúa, trong lãnh vực siêu nhiên, tất cả mọi người chúng ta đều yếu đuối, thấp kém, bé mọn. Vì thế, hiểu Chúa là điều rất khó. Nhận ra Chúa và trở về với Chúa là điều càng khó hơn. Vậy Têrêsa đã nhờ đâu để khám phá ra “con đường bé nhỏ” dẫn đưa mình đến với Chúa?
Thưa không phải do những lý lẽ thuyết phục, cũng không phải do lý trí được soi sáng, nhưng do ơn thánh ban sức mạnh qua một chuỗi những sự việc cụ thể xảy ra, những khuôn mặt cụ thể được gặp, những nơi chốn cụ thể được gửi tới. Ơn thánh ban sức mạnh đến qua những tuyến đường cụ thể đó. Như một lịch trình có ghi ngày giờ. Têrêsa đã biết đón nhận ơn Chúa, đã đọc được ý Chúa, đã cảm nghiệm được tình thương của Chúa. Nhờ đó Têrêsa được biến đổi.
Xin nêu lên vài ví dụ. Môi trường thân thương của gia đình đã là một khởi đầu thuận lợi giúp Têrêsa nếm được tình Chúa dành cho mình. Rồi ngày 10 tháng 5 năm 1883 sự lạ “tượng Ðức Mẹ mỉm cười” đã chữa Têrêsa khỏi bệnh. Rồi ơn lễ Noel 1886 làm cho cô bé được trưởng thành hơn về đàng thiêng liêng, vv...
Qua những sự việc như trên, Têrêsa không những nhận được ánh sáng, mà nhất là còn nhận được sức mạnh để tiến trên đường đạo đức. Ðối với Têrêsa, sức mạnh đó chính là tình yêu do gặp được Thiên Chúa Tình yêu.
Têrêsa tin Thiên Chúa là Tình yêu. Bởi vì thánh nữ đã thấy Chúa đi vào lịch sử nói chung, và đi vào lịch sử Têrêsa nói riêng, để tìm gặp Têrêsa, chỉ vì thương yêu. Cho nên Têrêsa tin tưởng nơi Chúa, và đáp lại tình thương Chúa bằng tình mến trọn vẹn đối với Ngài và bằng đời sống phục vụ yêu thương chan hoà dành cho mọi người. Theo Ðức Hồng Y Ratzinger, niềm tin như trên đây là yếu tố căn bản của đạo Công giáo. Thực vậy người theo đạo Công giáo không tin theo một hệ thống chân lý, nhưng tin vào một thực tại, biến cố Thiên Chúa Tình yêu đi vào thế gian (Le sel de la terre, Cerf, 1997, trang 20-21).
Nếu đây là cốt lõi của đạo Chúa, thì những tâm hồn bé mọn, không đủ sức bay cao lên vùng trời tư tưởng cao xa, sẽ nắm chắc lấy cốt lõi đó. Họ tin vững vàng Thiên Chúa là Tình yêu. Họ đón nhận tình yêu Chúa ngay trong cuộc đời của mình. Họ đáp lại tình yêu Chúa cũng qua các chi tiết đời thường. Dù chỉ làm được ít, dù chỉ làm được việc nhỏ, hay cho dù phải khốn khó khổ đau không thể làm được gì, họ cũng vẫn yêu mến Chúa với hết tâm hồn họ. Ðối với mọi người họ cố gắng bao dung. Họ yêu thương người khác, không phải như chính mình, nhưng như Chúa đã yêu thương họ. Tu đức của họ là tình yêu. Trong cuốn “Ton amour a grandi avec moi. Un génie spirituel Thérèse de Lisieux”, Cha P. Marie Eugène de l'Enfant-Jésus đã viết về con đường tu đức đó, mà chính cha đã sống. Thực là hấp dẫn, con đường tu đức của vị thánh nữ trẻ đẹp đã tỏ ra vui mừng được ra trước mặt Chúa, “tay không”. Thực sự khó nghèo, rất mực khiêm nhường, hết tình phó thác, hết sức dấn thân, nhưng trọn vẹn sống Lời Chúa dạy: “Không có Thầy, chúng con không làm gì được” (Ga 15,5).

 3/ Mục vụ và truyền giáo của các tông đồ bé nhỏ
Càng lui tới Lisieux, tôi càng xác tín điều này: người tông đồ mà Hội Thánh cần, phải biết rao giảng các chân lý, phổ biến các tư tưởng tốt, nhưng chủ yếu phải biết chia sẻ một sự sống, một tình yêu. Sự sống thiêng liêng ấy đang ở trong hồn mình. Tình yêu thiêng liêng ấy đang cháy trong tim mình. Một tình yêu bao la. Một sự sống chan hoà. Họ chia sẻ một cách khiêm tốn, với những kế hoạch bé nhỏ, với những bước đi nhẹ nhàng tế nhị.
Tôi nhìn vào các cộng đoàn bé nhỏ sống đời chiêm niệm, âm thầm phục vụ các linh hồn, bằng cầu nguyện, hy sinh. Thí dụ nhà dòng kín Carmel đây. Từ cộng đoàn bé nhỏ này đã toả ra một bầu khí thiêng liêng. Những ai lại gần sẽ cảm thấy một sự bình an nào đó, một niềm hy vọng nào đó và một sự vui mừng nào đó. Những cộng đoàn bé nhỏ âm thầm như thế này không hoạt động ồn ào, nhưng lại tạo ra được một luồng gió thiêng, thổi nhẹ vào các tâm hồn, dọn đường giúp họ đón nhận quyền năng Chúa Thánh Thần đến đổi mới nội tâm họ.
Tôi nhớ đến các nhóm nhỏ tu hội, vừa chiêm niệm, vừa hoạt động giữa đời. Thí dụ nhóm các nữ công nhân truyền giáo tại Buenos-Aires, nước Argentina, đứng đầu là chị Têrêsa L. người Việt Nam. Nhóm này, từ 2 năm nay, phục vụ truyền giáo cho một nhà tù, chứa hơn 1000 nam tù nhân và hơn 50 nữ tù nhân. Trải qua bao khó khăn gian khổ, nhục nhã, các chị đã hoạt động thành công. Các chị đã đem vào đó niềm hy vọng giải phóng tâm hồn. Biết bao tù nhân nay đã trở nên người tốt. Ðến nỗi, các chị phải tự hỏi: không biết ai Phúc-Âm-hoá ai? Các chị tưởng mình đi Phúc-Âm-hoá họ, nhưng ai ngờ trong một số trường hợp, nay chính nhiều tù nhân đã Phúc-Âm-hoá các chị, do những gương sáng họ nêu lên về sự đón nhận ơn Chúa. Các người tốt được nhân lên.
Tôi nghĩ về những cụm nhỏ “tận hiến” giữa đời. Thí dụ một cụm đang hoạt động tại Paris, mà tôi mới gặp. Họ được huấn luyện rất kỹ. Họ cầu nguyện liên lỉ trong khi làm việc. Họ có mặt trong nhiều lãnh vực xã hội. Bề ngoài như một người thường, nhưng thực ra họ đã khấn hứa dâng mình cho Chúa và được Ðức Giám mục sai đi. Rất kín đáo, khiêm hạ khi sống cũng như khi chết. Họ ẩn dật, tự chôn vùi hơn cả những giáo dân thường. Nhưng họ là những cụm hoa thiêng liêng sống động, toả thơm những giá trị tâm linh, có sức đẩy lùi tội lỗi, và hướng lòng người về cõi thiêng liêng đổi mới tâm hồn.
Ðể được như thế, các tông đồ nhỏ luôn chú trọng đến việc chiêm niệm. Bởi vì, khi dấn thân tham gia các hoạt động mục vụ và truyền giáo, họ ý thức mình đang làm những việc, mà tác nhân chính là Thần Linh Ðức Kitô phục sinh, nguồn mạch sự sống mới và tình yêu cứu độ. Họ coi việc thường xuyên gắn bó mật thiết với Ðấng sai họ đi là việc hết sức quan trọng, Ðấng đã hứa: “Thầy sẽ ở lại với chúng con mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28,20).
Hội Thánh của tương lai đang hiện lên rõ nét. Những người có khả năng yêu mến đang làm nên tương lai của Hội Thánh. Yêu mến như Têrêsa yêu mến. Với tâm tình của người con bé nhỏ trước mặt Cha trên trời, và với thái độ khiêm tốn phục vụ đối với mọi người.
***
Khi tôi đang lên xe từ giã Lisieux, thì một người cùng đi gọi tôi, chỉ lên hàng cờ tại công trường trước Ðại thánh đường thánh Têrêsa và nói lớn: Kìa, cờ Nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam! Tôi nhìn lên. Ðúng là cờ đỏ sao vàng chen giữa các cờ quốc tế. Tất cả mọi sắc cờ cùng tung bay theo một chiều gió. Tôi liên tưởng tới luồng gió Chúa Thánh Linh. Và tôi thầm cầu nguyện.
Long Xuyên, tháng 9/1997
 

Bùi-Tuần 1577: Cầu nguyện và hành động

Mấy ngày nay, có ba vấn đề đã kéo tôi chú ý, bắt tôi suy nghĩ. Một là trước tình hình Ðất Nước Bùi-Tuần 1577

Mấy ngày nay, có ba vấn đề đã kéo tôi chú ý, bắt tôi suy nghĩ.
Một là trước tình hình Ðất Nước có Quốc Hội mới, có các vị lãnh đạo mới, Hội Thánh Việt Nam nói chung và giáo phận chúng ta nói riêng sẽ đồng hành với lịch sử Dân Tộc thế nào?
Hai là trong hội nghị các giám mục Việt Nam sắp họp từ 6 đến 11 tháng 10 này, chúng tôi sẽ chủ động góp phần đáp ứng các nguyện vọng chính đáng của Dân Chúa thế nào, chẳng hạn trường hợp các giáo phận chưa có giám mục chánh toà?
Ba là trước tình hình sức khoẻ đang suy giảm của Ðức Cha chánh Micae, và trước tình hình nghèo túng của nhiều họ đạo tại các vùng sâu vùng xa trong giáo phận Long Xuyên này, tôi cần có những dự kiến nào cho giáo phận chúng ta?
Ðang khi ba vấn đề trên đây trở thành những câu hỏi gây băn khoăn cho tôi, thì bài Phúc Âm thánh lễ kính các Tổng lãnh thiên thần ngày 29/9, đã đem lại cho tôi một Tin Mừng. Tin Mừng đó là giới thiệu cách giải quyết các vấn đề khó khăn phức tạp.
Bài Phúc Âm có câu: “Các thiên thần lên xuống trên Con Người”. Ðọc câu đó, tự nhiên tôi nghĩ tới hai việc Chúa muốn tôi thực hiện để giải quyết các vấn đề trên. Việc thứ nhất là đi lên. Việc thứ hai là đi xuống. Ði lên là lên với Chúa. Ði xuống là xuống với thực tế cuộc đời. Ði lên cầu nguyện với Cha trên trời. Ði xuống là hành động với con người và cho con người sống dưới thế này.
Hai việc trên đây phải đi đôi với nhau. Nếu chỉ cầu nguyện mà thiếu học hành nâng cao kiến thức đạo đời, thiếu tìm tòi, thiếu theo dõi tình hình và suy nghĩ trên các thông tin và dự báo, thiếu phấn đấu loại bỏ trong mình những cái xấu, nhất là thiếu dấn thân chủ động phát triển tình liên đới với xã hội và con người, thì chúng ta sẽ rất xa rời thực tế và rất lạc lõng trong cuộc sống, kể cả cuộc sống làm chứng cho Tin Mừng. Thiếu hành động là đi sai Phúc Âm. Sau khi rửa chân cho các môn đệ, Chúa Giêsu đã dạy: “Sự gì Thầy đã làm cho các con, thì các con cũng hãy làm cho nhau như vậy”. Nghĩa là Chúa đòi dấn phục vụ bằng hành động. Nhưng nếu chúng ta chỉ dấn thân hành động mà thiếu cầu nguyện, thì hành động của chúng ta sẽ không chuyển tải được sự sống Chúa Ba Ngôi, và các giá trị thiêng liêng, nhất là sẽ không giống các hành động của Chúa Giêsu có sức cứu độ.
Cầu nguyện kiên trì sốt sắng, và hành động đúng đắn thích hợp, đó là cố gắng trong đường lối mục vụ và truyền giáo của tôi.
Ở đây, tôi xin dừng lại một chút ở việc cầu nguyện. Bởi vì theo kinh nghiệm của tôi, việc cầu nguyện là yếu tố rất quan trọng trong cuộc đời nói chung và trong cuộc đời mục vụ truyền giáo nói riêng.
Cầu nguyện đích thực theo Phúc Âm bao giờ cũng cần mấy điều kiện này: Một là nhờ Chúa Thánh Linh mà cầu nguyện. Hai là luôn tìm thánh ý Chúa, chứ không xin Chúa thực hiện chương trình của ta. Ba là đến với Chúa trong thân phận kẻ bé mọn, khó nghèo, do đó phải từ bỏ mọi tự mãn, mọi thành kiến.
Khi cầu nguyện như thế, chúng ta sẽ thấy, có một lúc nào đó, ánh sáng của Chúa sẽ chiếu vào lòng ta, giúp ta nhận ra đâu là những giá trị đích thực mà Chúa muốn chúng ta phát triển và chia sẻ, để rồi từ đó chúng ta sẽ có những quyết định được chọn lựa trong sự bình an tâm hồn. Tôi thấy quyết định đầu tiên bao giờ cũng là sự phải tái Phúc Âm hoá chính mình, làm sao mỗi ngày chúng ta bớt đi được những cái tiêu cực, và mỗi ngày được thực chất Phúc Âm thấm sâu hơn và lan rộng hơn trong mọi lãnh vực, từ cách ăn uống, nói năng, cho đến phong cách ứng xử, tới các hoạt động tri thức, tình cảm, ước muốn, ý chí, trí nhớ, trí vẽ của chính mình. Sau đó là quyết định phúc âm hoá cộng đoàn của mình theo hướng tân Phúc Âm hoá. Tiếp theo là chia sẻ các giá trị chung nhất của Tin Mừng cho xã hội qua các phương tiện thích hợp.
Lịch sử luôn có những cơ may và những nguy cơ. Nếu biết tỉnh thức và phấn đấu chủ động theo sự khôn ngoan của Thần Linh Ðức Kitô, chúng ta sẽ nắm bắt được những cơ may và sẽ tránh được tự gây nên những nguy cơ, để chúng ta trở thành những dụng cụ bình an của Chúa, góp phần xây dựng nền văn minh của tình yêu trên Quê Hương Việt Nam yêu quý của chúng ta.
Nguyện xin các thiên thần Chúa, nhất là các vị Tổng lãnh thiên thần, giúp chúng ta biết đi lên và đi xuống như các ngài trong việc phụng sự Chúa và phục vụ con người.
Ngày 26/09/1997
 

Bùi-Tuần 1578: Thoáng nhìn về vấn đề tôn giáo trong "Cộng đồng Pháp ngữ"

Từ ít tháng nay, trên báo chí và đài truyền hình với nhan đề “Cộng đồng Pháp ngữ” (Francophonie) Bùi-Tuần 1578

Từ ít tháng nay, trên báo chí và đài truyền hình với nhan đề “Cộng đồng Pháp ngữ” (Francophonie). Mục đích để chuẩn bị cho một sự kiện lịch sử quan trọng sắp xảy ra trên đất nước ta. Sự kiện lịch sử này gọi tắt là “Hội nghị thượng đỉnh Cộng đồng Pháp ngữ”, còn theo đúng từ chính trị thì gọi là: “Hội nghị thượng đỉnh lần thứ bảy của các nguyên thủ quốc gia và chính phủ những nước có chia sẻ Pháp ngữ”. Hội nghị thượng đỉnh này sẽ được tổ chức tại thủ đô Hà Nội trong ba ngày 14, 15, 16 tháng 11 năm 1997.
Tò mò, tôi thử nhìn vấn đề thời gian trong cộng đồng Pháp ngữ xem sao. Chắc chắn trong tổ chức này, tôn giáo không là vấn đề để bàn, nhưng vẫn là vấn đề có thể để suy nghĩ cho những ai quan tâm hơn. Dưới đây là một vài suy nghĩ của tôi.

 1/ Trong cộng đồng Pháp ngữ có đủ mặt các tôn giáo lớn và lâu đời
Theo tập “la Francophonie, Aide Mémoire Septembre, 1996”, tài liệu của Bộ Ngoại giao Pháp, thì cộng đồng Pháp ngữ gồm 49 nước, thuộc đủ năm châu, đông nhất là ở châu Phi. Chất “xi măng” gắn các nước cộng đồng Pháp ngữ lại với nhau là sinh ngữ Pháp và đôi chút liên hệ tới lịch sử, chứ không phải văn hoá, cũng không phải tôn giáo.
Bởi vì, các tôn giáo trong cộng đồng Pháp ngữ rất khác nhau. Ðặc biệt có bốn tôn giáo lớn và lâu đời, đó là Phật giáo, Công giáo, Chính Thống giáo và Hồi giáo.
Phật giáo như tại Lào, Campuchia, Việt Nam.
Công Giáo như tại Pháp, Bỉ, Canana.
Chính Thống giáo như tại Bulgari, Rumani, Maldovi ở Ðông Âu.
Hồi giáo như tại Tunisi, Maroc, Môritani và nhiều nước khác ở Phi châu.
Sự kiện tôn giáo trên đây chứng tỏ, trong cộng đồng Pháp ngữ, không nước nào là mô hình tôn giáo cho các nước khác. Nhưng nó nói lên vai trò tôn giáo trong cộng đồng Pháp ngữ là rất lớn. Tôn giáo đã đồng hành lâu đời với các nước trong cộng đồng. Tại nhiều nước, tôn giáo và dân tộc đã cùng chung một lịch sử. Tôn giáo có thể được coi là một tiềm năng thiêng liêng của cộng đồng Pháp ngữ

 2/ Trong cộng đồng Pháp ngữ tình hình tôn giáo hiện nay đang có những chuyển biến
Nói chung Hồi giáo đang phát triển khá mạnh. Ngay như tại Pháp và Bỉ, Hồi giáo nay cũng đã giành được một chỗ đáng kể (xem Encyclopédie de l'Europe, Seuil, 1993, và Atlas des religions dans le monde, 1994). Ðang khi đó tại hai nước trên, Công giáo lại đang suy giảm, đến mức báo động (xem Thư chung HÐGM Pháp 1996, và Julien Potel, l'Eglise catholique en France, Desclée de Brouwer 1994).
Những chuyển biến như trên tại nhiều nước trong cộng đồng Pháp ngữ cho thấy sự lựa chọn tôn giáo ngày nay mang nhiều tính cách trách nhiệm tự do cá nhân. Phát triển do chuyển biến xã hội như di dân, dân số, chính trị. Còn suy giảm không có nghĩa là chết đi, nhưng có thể để rồi tìm cách đổi mới lại, cấu trúc lại, hầu thích ứng hơn với văn hoá, xã hội mới. Và suy giảm là suy giảm đối với mô hình truyền thống, chứ thực tế cho thấy nhiều người vẫn sống với tín ngưỡng nhưng bằng những cách khác. Ở đây tôi nghĩ tới trường hợp của cố Tổng thống Pháp Francoi Mitterand. Ông hầu như không lui tới nhà thờ, nhưng đời sống của ông cho thấy ông vẫn tin Thiên Chúa và cố gắng thực thi công bình bác ái của đạo Chúa. Cũng như Victor Hugo trước đây đã để lại một chúc thư vắn như sau:
“Tôi cho những người nghèo 50.000 fr
Tôi ước mong tôi được chở đến nghĩa trang trong cỗ xe tang của những người nghèo.
Tôi từ chối lời cầu nguyện của mọi nhà thờ.
Tôi xin một lời cầu nguyện cho tất cả mọi linh hồn.
Tôi tin ở Thiên Chúa”
Viết ngày 2/8/1883, Victor Hugo (Anthologie de l'oeuvre de Victor Hugo, Edicef, 1987, trang 181).
Ngày nay số người coi như xa lìa Hội Thánh nhưng vẫn còn tin Chúa theo con đường tự do kiểu Victor Hugo không phải là ít.
Với nhiều hình thức khác nhau, tôn giáo vẫn là một dòng chảy qua các thế hệ, qua các ranh giới trong cộng đồng Pháp ngữ.

 3/ Trong cộng đồng Pháp ngữ, các nơi thờ tự, như chùa chiền, nhà thờ, thánh thất, đều được coi trọng
Theo ý hướng của những người sáng lập cộng đồng Pháp ngữ, thì cộng đồng này muốn theo đuổi và phổ biến những giá trị tinh thần cao đẹp. Những giá trị đó như tự do, bình đẳng, huynh đệ, công lý, hoà bình, tiến bộ. Nhưng giá trị này muốn làm nên một nền văn minh của tinh thần, của nhân văn, khác với nền văn minh chỉ biết đề cao kỹ nghệ và sản xuất.
Trong nền văn minh trọng tinh thần này, các nơi thờ tự được coi là những dấu chỉ của sự phục vụ đa dạng cho nhu cầu tinh thần. Tại Pháp, chỉ trong vòng 10 năm trở lại đây, số chùa chiền của Phật giáo Việt Nam đã tăng nhiều một cách mau lẹ. Ðọc cuốn “Où prier à Paris? Guide pratique, Cert, 1997”, tôi thấy chỉ trong thủ đô Paris mà thôi đã có 310 nhà thờ, nhà nguyện lớn nhỏ. Với số lượng nhà thờ, nhà nguyện như thế rải rác khắp nơi trong thủ đô Pháp, bên cạnh những cơ sở từ thiện xã hội của đạo, tôn giáo được coi là một hệ thống văn hoá của nền văn minh tinh thần đón tiếp bất cứ ai, bất cứ lúc nào. Thiết tưởng đó là một chứng từ văn minh đáng tự hào.
Trên thực tế, đối với mọi người, nhất là đất nước những người trọng cuộc sống tinh thần, nhu cầu nội tâm vẫn có thể xảy đến bất ngờ. Họ muốn tìm đến một nơi thờ tự, để cho lòng mình lắng xuống, để hồi tâm, để tìm sự thanh thản và quân bình tâm hồn, để tham quan. Tôi giả thiết, trong thời gian Hội nghị thượng đỉnh cộng đồng Pháp ngữ tại Hà Nội, có những người ngoại quốc, đặc biệt là những nhân vật lớn, tỏ ý muốn đến những nơi thờ tự, với tư cách riêng, hoặc để tham quan, hoặc để cầu nguyện, thì sự đáp ứng thoả đáng yêu cầu đó của họ chắc chắn sẽ được đánh giá cao.

 4/ Trong cộng đồng Pháp ngữ, công cuộc nghiên cứu của xã hội về các tôn giáo đang có chiều hướng đi lên
Như đã nói ở trên, tôn giáo là một thực tại quan trọng trong cộng đồng Pháp ngữ. Trong bất cứ hoàn cảnh nào, mỗi tôn giáo đều có sức mạnh riêng của mình. Do niềm tin, nhận thức hành động và liên đới, tôn giáo có ảnh hưởng đến cá nhân, gia đình, xã hội. Không phải nó chỉ là một lăng kính, qua đó con người nhìn các thực tại và chọn lọc những cảm nhận hằng ngày, mà nó còn là hệ thống tư tưởng, tâm tình xác tín và hy vọng có khả năng định hình lịch sử cho hôm nay và cho tương lai.
Hiểu được tôn giáo nói chung và một tôn giáo cụ thể nói riêng là việc hết sức khó. Vì nó mênh mông, sâu xa, và đi vào những lãnh vực giá trị không nắm bắt được bằng các phương pháp khoa học. Ngay một sự hiểu đúng và dùng đúng các danh từ của một tôn giáo cũng đã là một thách đố. Vì thế, hiện nay việc nghiên cứu về tôn giáo thường chỉ giới hạn trong sự tìm hiểu và đánh giá ảnh hưởng của tôn giáo đối với xã hội, văn hoá, nghệ thuật, chính trị.
Trong cộng đồng Pháp ngữ, việc nghiên cứu như thế có vẻ đang được quan tâm. Có những sách báo chuyên môn. Có những tổ chức chuyên môn. Có những trung tâm quốc gia nghiên cứu chuyên môn. Có những người đặc biệt chuyên môn. Nhìn qua trung tâm nghiên cứu, như Centre national de la recherche scientifique (CNRS) Centre d’études interdisciplinaines du fait religieux (CEIFR) và đọc qua những tác phẩm nghiên cứu trong vòng ba chục năm nay đủ thấy. Như Etudes de sociologie religieuse; Sociologie des religions; Archives de Sociologle des religions vv...
Tại Việt Nam, cuốn “Ảnh hưởng của các hệ tư tưởng và tôn giáo đối với con người Việt Nam hiện nay” của Nhà Xuất bản Chính Trị Quốc Gia, 1997, cũng như cuốn “Nho giáo và phát triển ở Việt Nam” của Vũ Khiêu, do Nhà Xuất bản Khoa Học Xã Hội, 1997, là những thí dụ cho thấy ảnh hưởng của tôn giáo trong xã hội Việt Nam hiện nay vẫn là một vấn đề cần được nghiên cứu kỹ.
Việc nghiên cứu về tôn giáo tại Việt Nam càng trở nên quan trọng, khi Việt Nam vừa là thành viên của khối Ðông Nam Á (ASEAN) vừa là thành viên của khối cộng đồng Pháp ngữ (Francophonie). Bởi vì trong cả hai khối này, tôn giáo đều có một trọng lượng khu vực và quốc tế đáng phải chú ý đến.
***
Ðổi mới và phát triển, tiến bộ và công bình, độc lập và hạnh phúc, văn minh và đạo đức, ổn định và hợp tác, những giá trị như thế mà xã hội nhắm tới. Cũng là những mục tiêu và là những động lực của tôn giáo. Trong toàn bộ những giá trị ấy, đồng bào và Tổ quốc vẫn là trung tâm để được thăng tiến, để được phục vụ. Với cái nhìn đó, những người hoạt động tôn giáo có lý do để quan tâm đến hội nghị thượng đỉnh cộng đồng Pháp ngữ sắp diễn ra tại thủ đô Hà Nội.
Ngày 28/10/1997
 

Bùi-Tuần 1579: Kiêu căng tôn giáo và khiêm nhường Phúc Âm

Kiêu căng tôn giáo”, đó là một điều phải tránh. Ðức Hồng Y Saldarini đã nhẹ nhàng nhắc tới vấn Bùi-Tuần 1579

“Kiêu căng tôn giáo”, đó là một điều phải tránh. Ðức Hồng Y Saldarini đã nhẹ nhàng nhắc tới vấn đề này trong một bài giảng tuần tĩnh tâm mùa Chay dành cho giáo triều Vatican (Vivre c'est le Christ, Desclée de Brouwer, 1996, trang 83).
Kiêu căng tôn giáo đã là một hiện tượng tôn giáo-xã hội-chính trị rất nổi một thời xa xưa. Ðức Kitô đã đề cập tới hiện tượng này tại quê hương Ngài, khi nói về giới Biệt phái (x. Mt 23).
Khởi đi từ khẳng định: “Chỉ một tôn giáo chúng tôi là duy nhất đúng và duy nhất thánh thiện”, nhiều người không ngần ngại đi tới khẳng định: “Chỉ chúng tôi mới là những người thực sự đạo đức”.
Phát xuất từ những khẳng định dữ dội đó, một số người đã đi xa hơn. Họ khinh khi, hạ giá những ai không cùng tôn giáo với mình, hoặc không cùng quan điểm tôn giáo như mình.
Họ cho rằng những chủ trương như thế là đúng, và các thái độ hành động như vậy là đạo đức. Những phán đoán ấy dựa trên một niềm tin nào đó, chứ thực tế đâu có đơn giản như vậy. Người tốt việc tốt đâu chỉ tìm được trong biên giới nhất định của một tôn giáo, của một giới, của một nhóm, của một địa phương.
Khi kiêu căng tôn giáo trở thành não trạng tập thể trong một xã hội nào, thì xã hội đó có nguy cơ bị chia rẽ, chính tôn giáo đó cũng tự gây ra nguy cơ bị tha hoá một cách thảm hại. Bởi vì, lúc đó, tôn giáo sẽ thiếu một điều kiện quan trọng để được chấp nhận, để có thể phát triển. Ðiều kiện đó là khiêm nhường.
 Cần khiêm nhường để đi theo Ðức Kitô
Trong Phúc Âm, Ðức Chúa Giêsu Kitô đã rất nhấn mạnh đến khiêm nhường. Ngài giảng nhiều về khiêm nhường. Nhất là Ngài nêu gương sáng về khiêm nhường.
Máng cỏ tại hang đá Belem, thánh giá trên núi Sọ, đó là những chỗ rốt hết mà Ðức Kitô đã chọn. Ngài đã sống trong thân phận kẻ yếu hèn, kẻ khốn cùng, kẻ bị chối từ, kẻ bị thương tích về danh dự, kẻ phục vụ đến hy sinh mạng sống. Ngài chọn cuộc sống như thế, để có thể gần gũi với những người khổ đau yếu hèn, và để làm chứng cho tình yêu thương xót.
Với lời giảng và gương sáng, Chúa Giêsu khuyên dạy chúng ta hãy học với Ngài đức hiền lành khiêm tốn. Nhưng xem ra phần đông chúng ta chỉ để ý đến việc tin kính Ngài, chứ không để ý đến việc bắt chước Ngài. Thậm chí nhiều người chưa hề đã coi đức khiêm nhường là một yếu tố quan trọng để có thể đón nhận ơn Chúa, Ðấng chỉ ban ơn cho những người khiêm tốn, và chống lại những kẻ kiêu căng tự phụ. Thực là đau xót, khi không còn tìm được dung mạo Chúa Giêsu Kitô hiền lành và khiêm nhường trong những cách mà nhiều nơi đang dùng để rao giảng và làm chứng cho Ngài, Ðấng cứu chuộc và chính là Tin Mừng.
Khiêm nhường là nền tảng mọi nhân đức. Nếu trên thực tế, cho dù bản thân chúng ta nói riêng và các cộng đoàn tôn giáo chúng ta nói chung có quan tâm nhiều đến đức tin, đức cậy, đức mến và đủ mọi nhân đức khác, nhưng lại bỏ quên đức khiêm nhường, thì toà nhà nhân đức của chúng ta sớm muộn sẽ bị sụp đổ.
Khiêm nhường và bác ái thương xót là những dấu chỉ chắc chắn của người môn đệ Ðức Kitô, Ðấng phục vụ một cách khiêm nhường và đầy tình thương xót. Cũng như kiêu căng và ghen ghét là hơi thở của quyền lực Satan, kẻ đã mất khả năng khiêm tốn và bác ái xót thương, chỉ còn kiêu ngạo và ghen ghét như bản chất riêng của mình.
Thời nào, khiêm tốn cũng là một yếu tố quan trọng để diễn tả vẻ đẹp nhân bản, giá trị nhân cách và sức mạnh nội tâm của những người tin theo Ðức Kitô, Ðấng đã khiêm tốn chọn mầu nhiệm thánh giá để giải thoát con người khỏi xiềng xích tội lỗi và để dẫn con người vào ánh sáng phục sinh.
 Khiêm nhường để tồn tại và phát triển
Thời nay, chỗ nào rồi cũng sẽ chịu ảnh hưởng của sức mạnh toàn-cầu-hoá. Vì thế, đồng bào ta dù ở chỗ nào, cũng sẽ nhìn thế giới như một thứ siêu thị lớn, nơi trưng bày đủ mọi thứ giá trị, kể cả các giá trị của tôn giáo này, tôn giáo nọ. Trong tình hình như vậy, nếu chúng ta khiêm tốn lắng nghe, quan sát, theo dõi, để biết người biết ta, để học những cái hay mới, tìm ra những cách mới để trình bày đức tin, thì đạo ta sẽ được trân trọng, chấp nhận và phát triển.
Thời nay, lịch sử nhân loại nói chung và lịch sử dân tộc Việt Nam nói riêng chuyển biến rất mau lẹ, hầu như từng ngày. Lịch sử đi về tương lai như con tàu siêu tốc. Nếu chúng ta khiêm tốn bước lên con tàu nhân loại và dân tộc, cho dù nó chưa vừa ý chúng ta, để đồng hành, để làm chứng cho Tin Mừng, thì Chúa sẽ ở bên chúng ta và sẽ giúp chúng ta. Còn nếu chúng ta kiêu căng, không thèm đi lên con tàu đó, cứ đợi chờ một con tàu mà chúng ta cho là lý tưởng, thì sợ rằng chúng ta sẽ mất đi quá nhiều thời giờ. Con tàu lý tưởng mà ta đợi chỉ là con tàu hoang tưởng. Chúng ta sẽ lỡ tàu.
Thời nay, thị trường tự do biến cuộc sống nhân loại và dân tộc thành một thứ sân banh. Phải cạnh tranh, phải so tài, phải đọ sức, trước con mắt từng triệu người chứng kiến. Nếu chúng ta không đủ khiêm tốn rèn luyện chính mình và nhân sự của mình đúng cung cách, và không đủ khiêm tốn để đổi thay đúng lúc, chúng ta sẽ bị loại trừ.
 Cần khiêm nhường để thích nghi với tương lai
Mới rồi, khi phân định thời sự mục vụ và truyền giáo cho Hội Thánh tương lai, Ðức Hồng Y Joseph Ratzinger, Bộ trưởng Bộ Ðức Tin, đã rất khiêm tốn. Ngài có vẻ khuyên mọi người trong Hội Thánh hãy khiêm tốn trước những thực tại mới (xem Le sel de la terre, Flammarion, Cerf, 1997).
Theo Ngài, Hội Thánh tương lai nên ý thức mình là Hội Thánh của những thiểu số, nên mềm dẻo để có thể chấp nhận nhiều đổi thay về tư tưởng và luật lệ sẽ xảy ra trong xã hội (tr. 214); phải coi tính khách quan, tính lương thiện và tính chân thật là những nhân đức rất quan trọng (tr. 215); phải biết chấp nhận tình trạng đa văn hoá trong nội bộ (tr. 252); nên sẵn sàng coi những khám phá mới của thần học là việc có thể xảy ra (tr. 248); cần nghĩ đến cách rao giảng mới, đó là người rao giảng vừa là người của Phúc Âm vừa là người của thời đại mình đang sống, nên đơn giản hơn và cần có nội tâm hơn (tr. 251); Hội Thánh nên tự tổ chức một cách khiêm tốn hơn (tr. 246). Ngài quả quyết một cách xác tín một điều mà Ngài coi là căn bản nhất, đó là ý Chúa muốn Hội Thánh hãy yêu mến. Ý Chúa chỉ đơn giản là: Chúng ta trở thành những con người yêu mến, có khả năng yêu mến và có can đảm yêu mến như Ðức Kitô. Sau cùng, lịch sử chỉ là sự đối đầu giữa tình yêu thương xót và ghen ghét hận thù. Chúng ta phải dám nói “có” với tình yêu thương xót, và dám nói “không” với ghen ghét hận thù. Lịch sử đó ở trong chính bản thân chúng ta, trong Hội Thánh chúng ta, trong dân tộc chúng ta, trong thế giới chúng ta (tr. 274).
Phân định trên đây chỉ có thể được chúng ta đón nhận, nếu lòng chúng ta thực sự khiêm nhường. Từ đó, sự khiêm nhường vẫn còn rất cần cho chúng ta trong các việc tiếp theo, như: Khiêm nhường trong nhận thức về mình, về cộng đoàn của mình. Khiêm nhường trong phán đoán về người khác. Khiêm nhường trong việc cởi gỡ những thành kiến sai trái. Khiêm nhường trong việc đổi mới lại các cách nhìn và đánh giá. Khiêm nhường trong việc để những kiến thức thông thái của thần học đứng sau sự khôn ngoan của thánh giá. Khiêm nhường để những lo lắng về lợi ích tư riêng của mình và của cộng đoàn nhường bước cho những thao thức về Hội Thánh và Nước Trời. Khiêm nhường để đón nhận Tin Mừng từ những kẻ nghèo hèn, bé mọn. Khiêm nhường trong việc chọn những phương án nhỏ, những phương tiện nghèo. Khiêm nhường trong cầu nguyện thinh lặng và chiêm niệm âm thầm.
***
Tôi vẫn thường suy gẫm lời sau đây của thánh Phaolô: “Chính khi tôi yếu lại là lúc tôi mạnh” (2 Cr 12,10). Những kinh nghiệm mục vụ và truyền giáo của tôi giúp tôi cảm nghiệm lời đó như một chân lý ngọt ngào. Ðến nỗi nhiều khi tôi đã nghĩ rằng: Chỉ còn sự yếu đuối mới là sức mạnh của tôi, và yếu đuối có thể coi như một cơ may, một ân huệ.
Ðúng là như thế. Vì nhiều lý do. Ở đây chỉ xin nêu ra một lý do này: Yếu đuối giúp khiêm nhường.
Thực vậy, nó giúp người thiện chí biết nương tựa nơi Chúa. Nó giúp họ biết cần đến sự đỡ nâng của những người khác. Nó giúp họ biết thông cảm và sống liên đới với những ai bị thương tích do những yếu đuối của mình. Nó giúp họ biết trân trọng bất cứ sự gì tốt lớn nhỏ mà Chúa, Hội Thánh và xã hội làm cho họ là những người bất xứng. Nó giúp họ thanh luyện mình. Nó giúp họ, trong những xung đột nội tâm, biết bắt chước Chúa Giêsu cầu nguyện: “Lạy Cha, xin đừng theo ý con nhưng xin theo ý Cha mọi đàng” (Mt 26,39). Nó giúp họ, trong những năm dài tăm tối đầy thử thách, biết cùng với Chúa Giêsu trên thánh giá, không ngừng cầu nguyện cho những người yếu đuối: “Lạy Cha, xin tha cho họ vì họ lầm không biết” (Lc 23,34). Nó giúp họ, từng giờ từng ngày, với ý thức mình yếu đuối, luôn nhìn về Chúa là Cha, để nói với Cha: “Trong tay Cha con xin phó dâng linh hồn con” (Lc 23,46).
Yếu đuối là một sự thực gần gũi nhất. Nhìn nhận sự thực đó chỉ là tôn trọng sự thực. Nếu gọi đó là khiêm nhường, thì cũng có thể coi đó là một tinh thần đơn sơ, dũng cảm mà Chúa muốn nơi người môn đệ Chúa. Và như thế chính là chân lý, là tinh thần lạc quan, là sức mạnh, là sự sống, là phục sinh đến từ Chúa Giêsu, Ðấng cứu độ của chúng ta.
Long Xuyên, tháng 11/1997
 

Bùi-Tuần 1580: Yêu thương và phục vụ

Tổng giáo phận thành phố Hồ Chí Minh có một nguồn nhân lực đáng kể, đó là các tu sĩ nam nữ Bùi-Tuần 1580

Tổng giáo phận thành phố Hồ Chí Minh có một nguồn nhân lực đáng kể, đó là các tu sĩ nam nữ. Nguồn nhân lực này, nếu được đào tạo đúng, và được bồi dưỡng tốt, sẽ trở thành những nhân tố quan trọng trong việc phát triển con người, xã hội và Hội Thánh địa phương. Do đó, việc đào tạo và bồi dưỡng là những nhiệm vụ nặng nề luôn đặt ra cho các dòng tu.
Ðề cập đến việc đào tạo và bồi dưỡng các dòng tu, tôi nghĩ rất nhiều đến hai điểm này: Yêu thương và phục vụ. Vì những lý do đơn giản sau đây:
Có yêu thương và phục vụ, các tu sĩ mới được nhìn nhận là những môn đệ đích thực của Ðức Kitô.
Có yêu thương và phục vụ, các tu sĩ mới có thể đồng hành được với Dân Tộc Việt Nam hôm nay.
Xin nói thiệt điều này: Vì lương tâm trách nhiệm, chính tôi cũng rất ngại đón nhận vào giáo phận tôi những tu sĩ nào bị chứng minh là thiếu khả năng yêu thương và thiếu khả năng phục vụ. Trái lại tôi rất mong muốn và hoan hỷ đón nhận những tu sĩ nào được xác định là những người giàu tình yêu thương và biết phục vụ. Thiết tưởng, trong đạo ngoài đời ai cũng có những chọn lựa tương tự như thế.
Yêu thương và phục vụ phải như hơi thở của người tu, phải như sự sống thấm nhập vào mọi khía cạnh của đời tu. Ðể rồi, dù hoạt động, dù lặng lẽ, con người tu vẫn có thể góp phần thiết thực vào việc phát triển con người, xã hội, dọn đường cho Nước Trời.
Ðối với tôi, yêu thương là yêu thương như Chúa Giêsu đã yêu thương. Cũng thế, phục vụ là phục vụ như Chúa Giêsu đã phục vụ. Do đó, việc đào tạo và bồi dưỡng người tu phải tập trung vào Ðức Kitô: Học hỏi về Ngài, nhất là gặp gỡ chính Ngài.
Khi gặp gỡ Ðức Kitô, chúng ta sẽ thấy yêu thương và phục vụ là những gì mình phải biết đón nhận và phải biết cho đi.
Chúng ta đón nhận tình yêu thương và tinh thần phục vụ từ nơi Ðức Kitô. Ðón nhận một cách cởi mở, khiêm nhường và khao khát. Nhờ Ðức Kitô và trong Ðức Kitô, chúng ta đã được yêu thương và đã được phục vụ bởi Hội Thánh ta, bởi Tổ Quốc ta, bởi Ðồng Bào ta. Chúng ta ý thức những sự thực đó không những với tinh thần cảm tạ, mà còn với quyết tâm sẽ phải cho đi.
Cho đi khởi sự từ việc nhìn nhận Ðồng Bào ta, Quê Hương ta, Hội Thánh ta là những đối tượng được Chúa yêu thương và phục vụ. Ngài đã yêu thương và phục vụ thế nào, chúng ta cũng phải yêu thương và phục vụ như vậy.
Như thế là trong yêu thương và phục vụ, chúng ta rất để ý đến Chúa, nhưng cũng rất quan tâm đến con người. Nếu phải nói đến những con người cụ thể, thì trong đồng bào, chúng ta quan tâm nhiều hơn đến những người hèn yếu, túng nghèo, cơ cực, khổ đau, nhất là những kẻ bị loại trừ.
Yêu thương phải có chất lượng, nghĩa là không phải chỉ là cho đi những gì mình có, mà còn là cho đi chính mình. Phục vụ phải đúng là phục vụ, nghĩa là đáp ứng đúng nhu cầu bằng đúng việc, vào đúng lúc, với đúng cách. Vì thế, việc đào tạo và bồi dưỡng tinh thần yêu thương và phục vụ thường chỉ đạt được kết quả, nhờ học hỏi, nhờ chiêm niệm và nhờ hoạt động thực tế. Mở rộng cái trí, rèn luyện cái tâm và tập tành cách ứng xử.
Hiện nay, yêu thương và phục vụ đang là những giá trị được trân trọng, nhưng cũng đang có nguy cơ trở thành những nhãn hiệu để lợi dụng cho tiền bạc, và danh vọng, uy tín riêng tư. Tôi thực sự lo ngại sự lợi dụng sẽ xảy ra trong các dòng tu với những hình thức tinh vi. Xin hãy tỉnh thức, kẻo rồi tinh thần dòng sẽ bị tha hoá và dần dần tự huỷ. Sóng gió đe doạ tinh thần dòng hiện nay là phong trào tục hoá và nền văn minh hưởng thụ. Trong những trường hợp này, chúng ta nhớ lại lời kêu của thánh Phêrô hướng về Chúa Giêsu: “Lạy Thầy, nếu đúng là Thầy, xin truyền cho con đi trên nước mà đến với Thầy” (Mt 14,28). Và Chúa Giêsu đã truyền cho Phêrô: “Hãy đến” (Mt 14,29).
Chúng ta hãy đến với Chúa Giêsu. Hãy đi trên những mỏng manh đời mình mà đến với Chúa Giêsu, nhưng với một niềm tin tưởng phó thác tuyệt đối trọn vẹn vững vàng của người con bé nhỏ.
Long Xuyên, ngày 22/11/1997
 

Bùi-Tuần 1581: Từ cơn bão số 5 đến hang đá Bêlem

Trong hai tháng nay, tôi sống với những thời sự của cơn bão số 5. Tới Kiên Giang, tôi đã nghe Bùi-Tuần 1581

Trong hai tháng nay, tôi sống với những thời sự của cơn bão số 5. Tới Kiên Giang, tôi đã nghe, đã thấy và đã sống phần nào biến cố hãi hùng.
Thấy thì hơn là nghe. Nhưng thấy vẫn không bằng sống với biến cố. Biến cố bão số 5 đã làm nhiều người khốn khổ. Những người quá khổ thường ít nói. Họ đã mất mát quá nhiều. Họ như sợ, nếu nói nhiều, sẽ lại mất thêm cả niềm tin. Vì thế, mọi hình thức chia sẻ với họ, nếu thiếu tế nhị, sẽ là lạc lõng, đôi khi trở thành xúc phạm.
Cơn bão số 5 là một chuyển biến quá đột ngột. Chuyển biến thời tiết này đã gây nên một chuyển biến tâm lý cũng rất đột ngột. Chuyển biến tâm lý nói đây là những người vùng này nay đồng loạt đánh giá mọi người bằng một tiêu chuẩn rất bình dân, đó là tấm lòng tốt.
Theo địa phương tôi bây giờ, người làm chính trị tốt là người có lương tâm tốt, thực sự quan tâm đến các người cùng khổ với tấm lòng nhân ái. Người sống tôn giáo tốt là người có thiện tâm, nhạy cảm trước những khổ đau của người khác, và mau lẹ cứu giúp những người cơ cực. Người hoạt động văn hoá tốt là người có thực tâm, biết suy nghĩ đúng sự thực, biết nói đúng sự thực, biết làm đúng sự thực, sự thực nói đây là chu toàn tốt trách nhiệm liên đới, phải cho sự thực đó chính là sự thiện. Người có giáo dục tốt là người có từ tâm, biết thương người như thể thương thân.
Xem ra mọi con mắt đều tập trung vào cái tâm. Những cái tâm loé sáng sự thiện. Những cái tâm ngạt ngào nhân ái. Những cái tâm rạng rỡ tính chất anh hùng.
Một người đàn ông được cứu từ biển cả kinh hoàng, đã kể lại: Khi tàu bị vỡ, ông và một thanh niên nhỏ tuổi cùng bám vào một cái phao. Hai người đều là nhân viên của tàu, mới biết nhau nhưng chưa quen nhau. Sau nhiều giờ vật lộn với sóng cao gió lớn, ông cảm thấy đuối, mà phao thì mong manh. Bỗng người thanh niên hỏi thăm ông về gia cảnh. Ông cho biết ông còn vợ và bốn con nhỏ. Không ngần ngại, người thanh niên nói: “Bác phải sống để nuôi vợ con. Cháu chưa lập gia đình”. Nói xong, anh buông tay, nhường chiếc phao cho ông. Ðược cứu vào bờ, ông đi tìm xác người thanh niên. Ðối với ông, người thanh niên là là một đại ân nhân, một đại anh hùng vẫn sống mãi trong gia đình ông.
Sau cơn bão, nhiều bà vợ trở thành goá bụa. Mất chồng là mất lao động chính, điểm tựa của gia đình. Trước tương lai nhạt nhoà, các bà đã tỏ ra rất can đảm với bổn phận người mẹ, dù biết rằng phải lận đận long đong. Một bà, sau ngày chôn xác chồng, đã bước vào ngày sinh con. Nhà quá nghèo, lại đông con, hàng xóm khuyên bà cho đi đứa bé mới sinh. Nhưng bà không chịu, cương quyết sẽ tần tảo nuôi con. Ðặt tên cho đứa bé là Danh Bão, bà quyết tâm sẽ chăm sóc nó, hy vọng qua nó, người chồng quá cố sẽ là gốc rễ trổ cành xanh tươi, nở hoa sinh trái. Ðẹp thay những tấm lòng bà mẹ Việt Nam.
Cơn bão đã đánh thức từng triệu lương tâm. Ngay từ ngày đầu và cho đến hôm nay, biết bao người trong nước cũng như ngoài nước đã gởi tặng phẩm để cứu trợ các nạn nhân trực tiếp và gián tiếp. Của cải gởi tới họ thiết tưởng chẳng thấm vào đâu đối với những gì họ đã mất. Nhưng cái lợi thấy được và đáng suy nghĩ nhất chính là những tấm lòng tốt được khám phá và được nhân lên. Có rất nhiều thiện tâm, hảo tâm, thành tâm, từ tâm, thực tâm.
Có những tấm lòng tốt như tự phát hướng về sự thiện, như tự nhiên khao khát sự thiện, như tự động làm việc từ thiện, như tự ý chọn lựa điều thiện. Họ coi việc phục vụ cứu giúp người khác chính là một chân lý căn bản của ơn gọi làm người, một sự thiện nền tảng của đạo làm người, một vẻ đẹp quý giá của con người, một ý nghĩa cao cả của đời người.
Ðang khi đó, cũng trong thời gian này, các phương tiện truyền thông đã phổ biến rộng rãi một nhận xét can đảm của Quốc Hội, đó là năm nay tình trạng tội phạm và tệ nạn xã hội trong nước tăng cao một cách trầm trọng.
Như thế là bên cạnh những tấm lòng tốt vẫn còn nhiều những tấm lòng xấu, những ác tâm, những tà tâm, những xảo tâm. Cùng với cơn bão số 5 tàn phá người và của, đã và đang có những cơn bão vô hình tàn phá nền đạo đức Dân Tộc.
Sẽ không đúng với thực tế, nếu nói rằng: Những cơn bão sự ác đó đã không đủ để làm rung chuyển nền đạo đức Dân Tộc, chỉ bởi vì trên nguyên tắc nền đạo đức này là kết tinh bởi tinh thần cộng đồng truyền thống của Dân Tộc, cộng thêm tinh hoa của nhiều hệ tư tưởng văn hoá và của các tôn giáo lớn.
Sẽ là ảo tưởng, nếu tin rằng: Các cơn bão sự ác đó sẽ được chặn lại, nhờ tăng cường hệ thống pháp luật.
Sẽ là quá ngây thơ, nếu tưởng rằng: Các cơn bão sự ác đó sẽ không ảnh hưởng nhiều đến việc phát triển kinh tế, việc bảo vệ nền độc lập và việc xây dựng hạnh phúc gia đình.
Vấn đề cốt lõi là lương tâm. Quyền lực sự thiện và quyền lực sự ác giao tranh thường xuyên trong lương tâm từng người. Nếu có một sức thiêng đi sâu được vào trong đó và được đón nhận, thì lương tâm sẽ sáng suốt, sẽ mạnh, để chọn lựa sự thiện, đẩy lùi sự ác, và ngay bây giờ sẽ giúp cho việc phân phối cứu trợ và khắc phục hậu quả cơn bão được công bình và nhanh chóng.
Theo hướng suy nghĩ trên, tôi nhìn vào hang đá Bêlem. Tại đây, tôi gặp được Chúa Giêsu. Ngài là Thiên Chúa nhập thể. Qua việc nhập thể, Ngài đã vượt qua vực thẳm những phân cách, để xuống với nhân loại. Không phải để chinh phục, nhưng để chia sẻ và phục vụ. Qua việc nhập thể, Ngài đã hoà mình vào nhân loại, để đồng hành một cách đặc biệt với những thân phận khốn cùng. Gặp được Ngài là gặp được một Tình yêu cứu độ, một Tình yêu đem sự thiện vào tâm hồn, đi vào nội tâm, có sức đổi mới lương tâm làm cho nó nên thiện tâm. Những ai đã gặp được Ngài, biết đón nhận Ngài, và cộng tác với Ngài chắc đã cảm nghiệm được thấm thía lời ca thiên thần trong đêm Noel:
 Vinh danh Thiên Chúa trên trời,
 Bình an dưới thế cho người thiện tâm.
Long Xuyên, tháng 12/1997
 

Bùi-Tuần 1582: Chia sẻ những định hướng cho năm mới

Khi nhìn hang đá Bêlem, tôi đã thấy gì? Thưa tôi thấy các tượng ảnh thánh giữa những trang trí Bùi-Tuần 1582

Khi nhìn hang đá Bêlem, tôi đã thấy gì? Thưa tôi thấy các tượng ảnh thánh giữa những trang trí đẹp. Qua những tượng ảnh đó, bằng đức tin tôi đã gặp chính Chúa Giêsu. Ngài vô hình, nhưng hiện diện kín đáo. Nơi Ngài, tôi nhận ra một số chân lý mới mẻ. Những chân lý này soi sáng cho tôi trong việc sống đạo và truyền đạo. Tôi xin phép được chia sẻ những cảm nhận đó, như những định hướng cho hôm nay và cho năm mới.
Chân lý đầu tiên tôi cảm nhận là Chúa Giêsu đến với nhân loại, để chu toàn công việc phục vụ được Chúa Cha trao phó.
Chúa Giêsu đến với tư cách người được sai đi. Ngài phục vụ nhân loại với ý thức làm một công việc được Chúa Cha sai làm. Với tâm thức đó, Chúa Giêsu luôn hiệp thông với Ðức Chúa Cha. Ngài đón nhận sức mạnh thiêng liêng từ Chúa Cha. Ngài tìm sáng kiến cứu độ nơi Chúa Cha. Vì thế, ngay từ hang đá Bêlem, thái độ sống của Ngài đã rất thanh thoát. Ngài đi vào thế gian một cách thanh bần. Ngài từ giã cõi đời cũng một cách thanh bần. Suốt đời Ngài là như vậy. Nơi Ngài, mọi sự đều chứng tỏ Ngài không hề dựa vào của cải, danh vọng, địa vị và chính trị, để thực thi chương trình cứu độ.
Ơn cứu độ đến từ sự hiệp thông với Chúa Cha. Ơn này được thông ban cho những ai khiêm tốn, thực lòng tìm thấy ý Chúa Cha, để thực thi thánh ý đó với tất cả thiện chí của mình. Thánh ý Chúa Cha trong kế hoạch cứu độ thường rất khác ý của người phàm, kể cả ý của những người coi như đạo đức, nhưng chỉ thích lo bảo vệ tôn giáo mà không sẵn sàng đón nhận Tin Mừng. Phải thực sự được sai đi, phải thực sự làm những việc phục vụ được sai làm, phải thực sự gắn bó với Ðấng sai mình, đó là một chân lý có sức cứu độ, mà Ðức Kitô đã làm chứng, ngay từ phút đầu Ngài giáng sinh tại hang đá Bêlem. Những ai tin theo Ðức Kitô cũng phải sống như vậy.
Cùng với chân lý trên đây có một chân lý khác cũng rất quan trọng được đề cao tại hang đá Bêlem, đó là sự Chúa Giêsu mong muốn mọi người hãy có thiện tâm.
Thực vậy, khi giáng sinh tại Bêlem, Chúa Giêsu đã không làm gì, nói gì, để chinh phục. Ngài không áp đặt một luật lệ nào. Ngài không buộc ai phải tin theo Ngài. Ngài ẩn mình kín đáo trong thân phận con người, dưới dạng một hài nhi. Trong nhiều điều kiện như thế, qua lời ca thiên thần, Ngài khen ngợi những người thiện tâm. Lời ca khen đó có nghĩa như một lời kêu gọi.
Hãy thiện tâm như Ðức Mẹ và thánh Giuse bên Hài nhi Giêsu. Thiện tâm của các ngài là cởi mở, hướng về sự thiện. Trí khôn cởi mở, không tự giam mình vào những thành kiến hẹp hòi, nhưng khao khát những sự thực giải thoát và cứu độ. Tấm lòng cởi mở, không bị xiềng xích vào những đam mê, nhưng tìm kiếm những điểm tựa cho hạnh phúc đích thực. Ý chí cởi mở, không lười biếng, ù lỳ, buông xuôi, nhưng sẵn sàng phấn đấu để mình được cứu độ, và để mình có khả năng góp phần cứu độ kẻ khác.
Những tâm hồn cởi mở như thế sẽ dễ đón nhận ơn Chúa và đón nhận chính Chúa. Một khi ơn Chúa hoạt động trong mình, chúng ta sẽ thấy thiện tâm không phải là một thế ổn định, nhưng là một cuộc sống không ngừng phải chiến đấu với chính mình, với ma quỷ và với các thế lực sự ác, để thường xuyên sửa mình, hằng ngày đổi mới, thành con người mới, với những giá trị mới.
Do đó, một chân lý quan trọng nữa được nhận thấy tại hang đá Bêlem, đó là sự Chúa Giêsu kêu gọi đổi mới bằng sự tập trung vào bác ái, dấn thân.
Thực thế, bằng việc nhập thể giáng sinh làm người tại hang đá Bêlem, Chúa Giêsu đã chủ động đổi mới cách sống đạo vào truyền đạo. Một sự đổi mới đầy can đảm, táo bạo. Ðể nêu gương sống đạo và truyền đạo, Ngài đã nhập thể, trở nên người, như mọi người, trừ tội lỗi. Ngài liên đới tích cực với lịch sử. Ngài đồng hành chân thành với dân tộc. Ngài hiện diện yêu thương giữa mọi người. Ngài dấn thân đem Tin Mừng đến cho những người nghèo khổ. Ngài bước xuống thân phận những kẻ khốn cùng, Ngài ở giữa họ, chia sẻ khổ đau nhục nhã với họ, để họ thấy rằng được Chúa yêu thương bằng một tình yêu cứu độ và thăng tiến, chấp nhận hy sinh vì hạnh phúc của họ. Sự đổi mới đó chính là Tin Mừng. Sống Tin Mừng này, đạo Công giáo sẽ được giới thiệu như một tình yêu dấn thân. Với bộ mặt dễ thương ấy, Hội Thánh sẽ phản ánh một cách hữu hiệu dung mạo thực sự của Thiên Chúa là Tình Yêu.
Ðầu năm 1964, Ðức Thánh Cha Phaolô VI, khi hành hương Bêlem, đã phát biểu tại đó những suy nghĩ của ngài về sự đổi mới trong Hội Thánh. Ngài nói: "Sứ mạng đạo đức của Hội Thánh đòi phải có những đổi thay trong các cơ chế của mình, mà trước đây được coi là thích hợp và cần thiết...". Mặc dầu sự đổi mới đôi khi làm chúng ta khó chịu, nhưng Hội Thánh phải biết sàng lọc truyền thống cơ chế và luật lệ, để ưu tiên giữ lại những gì là căn bản và có sự sống.
Hôm nay, trước hang đá Bêlem, tôi trân trọng nhắc lại suy nghĩ đó của Ðức Thánh Cha Phaolô VI. Tôi nghĩ rằng: ba chân lý tôi giới thiệu trên kia chính là những gì rất căn bản và có sức sống.
Ước chi toàn bộ ba chân lý đó được chúng ta chấp nhận như những định hướng cho việc sống đạo và truyền đạo trong năm mới, một thời điểm được báo hiệu là sẽ có nhiều thách đố.
Long Xuyên, tháng 1/1998
 

Bùi-Tuần 1583: Một thoáng phản ứng

Tối hôm qua, từ đài Vatican tôi được biết Toà Thánh Vatican đã chính thức đặt Ðức Cha Gioan Baotixita Bùi-Tuần 1583

Tối hôm qua, từ đài Vatican tôi được biết Toà Thánh Vatican đã chính thức đặt Ðức Cha Gioan Baotixita Phạm Minh Mẫn làm Tổng Giám mục Tổng giáo phận thành phố Hồ Chí Minh.
Tất nhiên việc bổ nhiệm này đã được Nhà nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam chấp thuận.
Tiếp nhận tin này, tôi tự nhiên tưởng nhớ tới Ðức Cố Tổng Giám mục Phaolô Nguyễn Văn Bình. Tôi cũng không thể không suy nghĩ về Ðức Tổng Giám mục Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận và Ðức Giám mục Nicôla Huỳnh Văn Nghi.
Thế là kết thúc một thời kỳ. Nhưng đây lại là khởi đầu cho một giai đoạn không phải là không thiếu những khó khăn.
Những khó khăn tôi đang thoáng nhìn thấy trở nên rõ nét hơn, khi đối chiếu giai đoạn mới này với những thời điểm lịch sử cứu độ xưa, mà các người đứng đầu dân Chúa phải vượt qua. Chỉ xin nêu ra vài thời điểm.

 Thời Samuel
Tiên tri Samuel được sai vào một thời kỳ có ba xuống dốc: xuống dốc về tôn giáo; xuống dốc về luân lý; xuống dốc về quyền bính xã hội.
Nguyên do các xuống dốc đó là sự hợp thức hoá các sai lầm và tội lỗi. Nếu tội lỗi sai lầm được nhìn nhận là do yếu đuối thì dễ sửa lại. Nhưng khi tội lỗi sai lầm được hệ thống hoá, được biện minh, được hợp thức hoá, được bênh vực bằng lý luận, được cấp trên là gia đình Êli bao che, thì các thứ xuống dốc phải xảy ra.
Tiên tri giữa một tình hình như thế không tránh được các thứ chống đối đủ loại.

 Thời Giêrêmia
Tiên tri Giêrêmia được sai vào một thời kỳ, mà đám đông sống buông thả không sẵn sàng nghe lời cảnh báo của Chúa. Trách nhiệm thuộc về các vua quan và các thầy cả. Họ không đạo đức hơn dân. Vì thế Giêrêmia trở thành tiên tri cô đơn.
Cô đơn vì bị khinh thường. Cô đơn vì bị chỉ trích. Cô đơn vì bị cô lập. Cô đơn vì bị quấy nhiễu. Cô đơn vì bị hiểu lầm là con người bi quan hay đe doạ.

 Thời Môsê
Lãnh tụ Môsê được sai vào một thời điểm mà đức tin Dân Chúa, cần được thanh luyện qua chặng được dài trong sa mạc, trước khi được giải phóng và đưa vào Ðất Hứa. Nhiều lần ông cảm thấy mình thất bại trước nhà vua, trước dân mình, và trước lương tâm chính mình. Nhưng chính trong những tình huống thê thảm nhất, ông đã được Chúa cho thấy Thiên Chúa thương ông và thương Dân Người, Thiên Chúa sai ông đi mặc dù ông bất xứng, và Thiên Chúa có kế hoạch cứu độ riêng của Người.

 Thời Phaolô
Tông đồ Phaolô được sai vào một thời kỳ hết sức khó khăn. Khó khăn từ bên ngoài là tôn giáo mới chưa được xã hội chấp nhận. Khó khăn từ bên trong là những lủng củng yếu đuối trong nội bộ.
Những lời sau đây cho thấy một phần tâm trạng của Phaolô: "Giờ đây, bị Thánh Thần trói buộc, tôi lên Giêrusalem, mà không biết những gì sẽ xảy ra cho tôi tại đó. Trừ ra điều này là tôi đến thành nào, thì Thánh Thần cũng khuyến cáo tôi rằng: xiềng xích và gian truân đang chờ đợi tôi. Nhưng mạng sống tôi, tôi coi thật chẳng giá trị gì. Miễn sao tôi chạy hết chặng đường, chu toàn chức vụ mà tôi đã lãnh nhận từ Chúa Giêsu, là long trọng làm chứng cho Tin Mừng về ân sủng của Thiên Chúa" (Cv 20,22-25).
***
Những cái nhìn trên đây đánh thức trong tôi tinh thần liên đới, hiệp thông. Tôi thương Dân Tộc của tôi. Tôi gắn bó với Hội Thánh của tôi. Tôi thấy cần phải nâng đỡ Ðức tân Tổng Giám mục Gioan Baotixita Phạm Minh Mẫn, người ngồi vào chiếc toà đã chứng kiến biết bao niềm vui và đau đớn.
Vâng lời Ðức Kitô chúng ta "Hãy tỉnh thức và cầu nguyện" (Lc 21,36).
Long Xuyên, ngày 10 tháng 3 năm 1998
 

Bùi-Tuần 1584: Trở về

Ðể chuẩn bị bước vào Mùa Chay và Tuần Thánh, tôi xin chia sẻ vài suy nghĩ về sự trở về. Sự trở Bùi-Tuần 1584

Ðể chuẩn bị bước vào Mùa Chay và Tuần Thánh, tôi xin chia sẻ vài suy nghĩ về sự trở về.
Sự trở về nói đây được giới hạn trong lãnh vực này là : Từ bỏ những ảo tưởng nguy hại trong đời sống đạo, để chân thành sống với những thực tế cần thiết cho việc trưởng thành đức tin.
Những gợi ý tôi chọn ở đây sẽ rút ra từ kinh nghiệm thánh Phêrô tông đồ, một nhân vật được nhắc tới nhiều trong Tuần Thánh.
Thánh Phêrô là người rất nhiệt thành. Ngài có nhiều ảo tưởng. Những ảo tưởng này sẽ rất bất lợi, nếu không được thanh luyện. Nhưng khi được thanh luyện rồi, những ảo tưởng cũ sẽ là những kinh nghiệm càng làm sáng lên ơn trở về.

 1/ Ảo tưởng về sự xứng đáng của mình
Xem ra thánh Phêrô có nhiều công phúc. Chỉ xin nêu lên vài việc ngài đã làm. Thí dụ việc ngài tuyên xưng một chân lý mới: “Thầy là Ðấng Kitô của Thiên Chúa” (Lc 9, 20). Ngài nói điều đó về Ðức Kitô, khi chưa ai đã nói. Việc tuyên xưng như thế là một điểm son cho ngài. Một thí dụ nữa, đó là việc ngài tỏ bày tâm tình phục vụ Chúa Giêsu. Dịp Chúa Giêsu biến hình trên núi và đàm đạo với ông Môisê và Êlia, ngài đã nói với Chúa Giêsu: “Thưa Thầy, chúng con ở đây thực là hay. Chúng con xin dựng ba cái lều, một cái cho Thầy, một cái cho ông Môisê, và một cái cho ông Êlia” (Lc 9, 33). Có nghĩa là Phêrô tình nguyện sẽ nằm đất ngoài trời, để phục vụ các Ðấng. Lại thêm một điểm son nữa cho vị trí của ngài.
Vị trí của Phêrô càng được nâng cao, khi Chúa Giêsu dành ưu ái đặc biệt cho ngài: “Thầy đã cầu nguyện cho con, để con khỏi mất lòng tin. Phần con, một khi đã trở lại, con hãy làm cho các anh em của con nên vững mạnh” (Lc 22, 31-34). Ðược Thầy cầu nguyện riêng cho và được Thầy trao phó trách nhiệm nâng đỡ anh em, đó là một tín nhiệm đáng vui mừng.
Nhưng nếu vui mừng này sinh ra tự mãn, thì tự mãn ấy dựa trên ảo tưởng. Ảo tưởng ở chỗ tưởng mình xứng đáng vì có nhiều công phúc nên sẽ là người lớn nhất trong nhóm (x. Lc 22, 23). Ðến khi chối Chúa rồi, ngài mới thấy rõ mình không xứng đáng chút nào.

 2/ Ảo tưởng về sức mạnh của mình
Xem ra thánh Phêrô cũng tin rằng mình mạnh và can đảm vượt bậc. Nhiều lần ngài quả quyết điều đó: “Lạy Thầy, với Thầy con sẵn sàng vào tù, dù có chết cũng cam” (Lc 22, 33). “Dù tất cả có vấp ngã vì Thầy đi nữa, thì con đây sẽ chẳng bao giờ vấp ngã” (Mt 26, 33). “Dù có phải chết với Thầy, con cũng không chối Thầy” (Mc 14, 31). Những phát biểu trên đây có thể là do tấm lòng đạo đức thật sự, nhưng cũng có thể là do tính tự đắc. Ngài tự coi mình là vững mạnh, hơn bất cứ ai. Khẳng định như thế đã dựa trên ảo tưởng. Bởi vì vừa bị thử thách, ngài đã chối Thầy một cách mạnh mẽ và quả quyết.
Trong thử thách, Chúa Giêsu đã không tựa vào sức riêng mình, mà chỉ tựa vào Thiên Chúa Cha: “Lạy Cha, con xin dâng phó linh hồn con trong tay Cha” (Lc 23, 46). Vì thế Chúa Giêsu đã luôn vững vàng. Còn Phêrô, cậy vào sức riêng mình, nên đã mất tinh thần, sợ hãi, và té ngã.
Trong thử thách, Chúa Giêsu đã tỉnh thức cầu nguyện và tìm thánh ý Chúa Cha: “Lạy Cha, xin đừng theo ý con nhưng xin cứ theo ý Cha” (Mc 14, 16). Nhờ thế, Chúa Giêsu đã lướt thắng sợ hãi và được bình an. Còn Phêrô không cầu nguyện, cứ bám chặt lấy ý riêng mình, nên đã rất cô đơn và mau trở thành con người phản bội.

 3/ Ảo tưởng về ý tốt của mình
Xem ra thánh Phêrô vẫn thích coi mình là kẻ bảo vệ Thầy, là người cứu Thầy, là ân nhân của Thầy. Ðể chứng tỏ ý tốt đó, trong vườn Cây Dầu, ngài đã tuốt gươm chém đứt tai kẻ đến bắt Thầy.
Muốn bảo vệ Thầy, muốn cứu Thầy, đó là ý tốt. Nhưng khi một ý tốt làm mờ đi sự thực căn bản này là chính mình mới là người cần được Thầy bảo vệ và cứu độ, thì ý tốt đó sẽ trở thành ảo tưởng, cần tháo gỡ.
Ý tốt, khi chỉ là ảo tưởng, nếu không được tháo gỡ, sẽ gây ra nhiều hậu quả không thể đổ cho ai được.
Lúc Phêrô đã chối Thầy, ngài có thể nhớ lại lời Thầy đã nói xưa: “Khi người ta đưa anh em ra trước hội đường, trước mặt những người lãnh đạo và những người cầm quyền, thì anh em đừng lo phải bào chữa làm sao, hoặc phải nói gì. Vì ngay trong giờ đó, Thánh Thần sẽ dạy cho anh em biết những điều phải nói” (Lc 12, 11-12). Nhưng trước mặt những kẻ ghét Chúa, Phêrô đã chối Chúa. Không lẽ lời chối đó lại do Thánh Thần soi sáng sao?
Khi Phêrô đã chối Thầy, ngài cũng có thể nhớ lại lời Thầy đã nói xưa: “Ai chối Thầy trước mặt thiên hạ, thì Thầy sẽ chối họ trước mặt các Thiên Thần của Chúa” (Lc 12, 9). Phêrô đã chối Chúa. Nếu phải hợp lý, thì Chúa sẽ từ chối Phêrô. Ý nghĩ đó thực là khủng khiếp.
Trong đau buồn sâu sắc vì đã chối Thầy, Phêrô mới khám phá thấy ý tốt mà Chúa muốn Phêrô thực thi hơn cả, chính là sám hối khiêm nhường, như người thu thuế đứng cuối nhà thờ cầu nguyện “Lạy Chúa, xin thương xót con”.

 4/ Ảo tưởng về tình hình tương lai
Cái nhìn của Phêrô về tình hình tương lai đã quá đơn sơ, mặc dù Chúa Giêsu đã cảnh báo nhiều lần là sẽ xảy ra cuộc tử nạn. Phêrô vẫn coi thường. Ngay giờ phút cuối cùng, Chúa Giêsu tỏ rõ nỗi lo âu của Ngài là rất lớn, các môn đệ cần thông cảm thức tỉnh với Ngài, thế mà Phêrô vẫn ngủ ngon.
Xem ra ngài tưởng rằng: Tuy tình hình có khó khăn, nhưng sẽ chẳng đến nỗi nào. Có Thầy nắm trong tay quyền năng vô biên, tình hình sẽ không thể tệ hại được.
Nhưng rồi quân dữ kéo tới. Giuđa phản bội, Thầy phản ứng một cách không thể ngờ: “Ðây là giờ của các ông và quyền lực của tối tăm” (Lc 22, 53). Như thế là chính Thầy tự ý nộp mình. Còn gì đâu! Phêrô đã không bao giờ dự đoán một tình hình diễn biến bi đát như vậy. Mọi thẩm định tình hình trước đây đều đã sai lầm. Thẩm định đó dựa trên ảo tưởng. Ngài tưởng rằng Thiên Chúa luôn đắc thắng bằng quyền lực vinh quang. Nghĩ như thế là ảo tưởng. Bởi vì Thiên Chúa do Ðức Kitô mặc khải không phải là một Thiên Chúa chinh phục bằng quyền lực, mà là một Thiên Chúa làm chứng tình yêu thương xót.
 Kết
Các ảo tưởng của thánh Phêrô đã được thanh luyện. Do việc Phêrô chối Thầy, tất cả mọi ảo tưởng của ngài đều đổ vỡ: “Tôi không biết người ấy” “Tôi thề là tôi không biết người ấy” (Mt 26, 69-74).
Chối Thầy rồi, Phêrô đâm ra lúng túng, rụng rời, lương tâm tan nát. Ðúng lúc ấy Chúa Giêsu đưa mắt nhìn Phêrô. Phêrô trực diện với một Ðức Kitô trong thân hình tiều tuỵ nhục nhã. Lúc đó, Phêrô mới hiểu thấm thía: Ai đang cứu ai. Chính Phêrô đã phạm tội, đáng bị loại trừ, đáng bị trừng phạt. Nhưng Ðức Kitô đang chịu khổ và đang chết thay cho Phêrô. Giờ đây đối với Phêrô, tin mừng lớn nhất chính là mình được Chúa tha thứ, được Chúa yêu thương, mặc dù mình tội lỗi bất xứng.
Như vậy, điều quan trọng chúng ta cần thực hành là phải bỏ đi các ảo tưởng tai hại, biết đón nhận tình yêu của Chúa bằng tấm lòng khiêm tốn, vâng phục, phó thác. Theo gương Ðức Kitô, chúng ta dấn thân phục vụ con người, dù phải đi trên đường thánh giá, nhất là hãy dành yêu thương đặc biệt cho những người nghèo khổ. Tóm lại, hãy thực thi điều răn mới của Ðức Kitô một cách triệt để và chân thành (x. Ga 15, 12). Ðó là trở về.
Tự mình chúng ta sẽ rất khó thực thi được những việc ấy. Chúng ta rất cần ơn Chúa giúp. Hãy làm những việc chúng ta có thể làm. Và nếu Chúa để xảy ra những biến cố khiến các ảo tưởng của chúng ta phải bị đổ vỡ, thì hãy rút ra từ các đổ vỡ ấy những gì thiêng liêng nhất. Tôi nghĩ rằng những đổ vỡ như thế sớm muộn sẽ phải xảy đến. Ðể thức tỉnh chúng ta hãy trở về.
Long Xuyên, tháng 3/1998
 

Bùi-Tuần 1585: Một chứng từ góp vào Thượng Hội đồng Giám mục Á châu

Miền Nam Việt Nam chính thức bước vào chế độ Cộng Sản ngày 30-04-1975. Cũng chính ngày Bùi-Tuần 1585

Miền Nam Việt Nam chính thức bước vào chế độ Cộng Sản ngày 30-04-1975. Cũng chính ngày 30-04-1975 đó, tôi được thụ phong giám mục, để cộng tác vào việc phụ trách giáo phận Long Xuyên.

Phát triển Tin Mừng trong những điều kiện rất khó
Thế là tôi được sai vào một thời điểm và một địa điểm có những nét đặc biệt. Thời điểm là những tháng năm khẳng định sức mạnh chiến thắng của Cách mạng Xã Hội Chủ Nghĩa. Ðịa điểm là một địa phương mà đa số dân là những tín đồ Phật giáo Hoà Hảo trung kiên. Những hoàn cảnh như thế có những thách đố nhất định cho việc tồn tại và phát triển Tin Mừng.
Tuy nhiên, sau 23 năm, thực tế cho thấy Tin Mừng không những đã tồn tại rất vững, mà còn đã phát triển một cách lạ lùng. Chỉ xin nêu lên đây vài minh chứng cụ thể:
1- Thêm 16 giáo điểm mới.
2- Thêm 90 linh mục mới.
3- Thêm nhiều tân tòng.
4- Thêm nhiều người, nhiều nhóm dấn thân làm các việc từ thiện xã hội.
5- Thêm nhiều người, nhiều nhóm cầu nguyện, học hỏi Lời Chúa.
6- Tỷ số người đi lễ Chúa nhật là rất cao, khoảng 95% ở vùng quê và 85% ở thành thị.
7- Bầu khí giữa Công giáo và các tôn giáo bạn cũng như với Cách mạng nay được thông cảm hài hoà.
8- Tinh thần hiệp thông trong giáo phận được nảy nở dưới nhiều hình thức.
 Nguyên nhân của sự phát triển Tin Mừng
Nếu tìm hiểu nguyên nhân của sự phát triển Tin Mừng, thì tôi xin khẳng định: Tác nhân chính là Ðức Kitô. Tôi cảm nghiệm điều đó từ thâm tâm. Tôi nhận thấy sự thực đó như một sự hiển nhiên. Không do lý luận, nhưng do kinh nghiệm. Chính Ðức Kitô qua Thánh Linh của Ngài đã là nguồn mạch của sự phát triển Tin Mừng. Các cộng đoàn đức tin và các vị chủ chăn chúng tôi chỉ là những dụng cụ cộng tác. Nếu cần xác định những cách chúng tôi cộng tác với Ðức Kitô, thì xin nêu lên mấy việc chính yếu sau đây:
1- Khiêm hạ nhận thức nhân loại, Hội Thánh cần được cứu độ, nhất là chính bản thân mình khao khát được cứu độ hơn ai hết. Ðấng Cứu độ duy nhất là Ðức Kitô. Tập trung vào Ðức Kitô, Ðấng Cứu độ, là điểm được thực hiện trong kiến trúc nhà thờ, trong nghi thức phụng vụ, trong giáo lý, trong giảng giải.
2- Ðơn sơ góp phần vào chương trình cứu độ của Ðức Kitô bằng tình yêu. Một tình yêu hết sức chân thành vừa là cho đi, vừa là lãnh nhận từ Chúa Thánh Linh. Riêng tôi, tôi chọn khẩu hiệu cho đời giám mục của tôi là: “Mandatum novum”.
Tình yêu góp phần như thế được đốt nóng bằng cầu nguyện chiêm niệm, được thanh luyện bằng tu đức khắc kỷ, được phiên dịch ra bằng những giá trị nhân bản. Tình yêu này không phải chỉ là sự gắn bó với học thuyết Phúc Âm, mà chủ yếu là kết hợp với Ðức Kitô. Trong mọi trường hợp, tình yêu cộng tác này luôn tìm ý Chúa, tỉnh thức phân định, sẵn sàng thực thi ý Chúa trong việc cụ thể hoá yêu thương và phục vụ. “Xin đừng theo ý con, nhưng xin theo ý Cha”. (Lc 22,42)
3- Chân thành mến yêu những thánh giá vốn thường đi theo tình yêu cứu độ. Chấp nhận vác thánh giá và sự khôn ngoan của thánh giá, nhất là trong sự từ bỏ mình khi yêu thương và phục vụ, đó là ơn gọi thường ngày.
Ba việc cộng tác trên đây đã giúp chúng tôi đón nhận cho mình ơn cứu độ, và chia sẻ ơn ấy cho những người Chúa muốn. Ơn cứu độ được cảm nghiệm như ơn vững tin vào Thiên Chúa giàu tình yêu thương xót, gây nên thao thức thường xuyên trở về với Ðức Kitô, để đổi mới chính mình và cùng với Ðức Kitô ra đi yêu thương và phục vụ những người khác, theo ý Chúa Cha dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần.
 Những kết quả khác của sự phát triển Tin Mừng
Kinh nghiệm cho thấy, những việc cộng tác trên đây với ơn Chúa Cứu độ cũng đã dọn đường để Tin Mừng đi vào nhiều lãnh vực như:
a) Ðối thoại với các tôn giáo tại địa phương. Bởi vì các tôn giáo này đều nhấn mạnh đến sự cứu độ, lòng nhân ái, việc tu thân khắc kỷ, việc cầu nguyện và công tác từ thiện. Khi Công giáo cũng nhấn mạnh đến những điểm đó trong lý thuyết và trong thực hành, thì hai bên sẽ dễ gần lại nhau, dễ thông cảm với nhau.
b) Hội nhập vào nền văn hoá dân tộc. Bởi vì nền văn hoá dân tộc là một nền văn hoá tâm linh, chú trọng nhiều đến nhân ái và xây dựng các dây liên đới. Khi Công giáo đề cao tâm linh, bác ái và phát triển tình liên đới, thì Công giáo sẽ không xa lạ gì với văn hoá dân tộc, hơn nữa sẽ có thể tặng thêm những giá trị mới.
c) Ðồng hành với các người không tin trên bình diện những giá trị nhân bản. Những giá trị nhân bản là rất dễ nhận thấy, như tình người, tính lương thiện, sự chân thành, tinh thần trách nhiệm. Khi người công giáo và người không tín ngưỡng cùng dựa trên những tiêu chuẩn đó, để đồng hành trong cuộc sống, thì sẽ thấy có nhiều lãnh vực có thể cộng tác với nhau.

 Những xác tín
Qua kinh nghiệm, tôi xác tín rằng: Dù trong những hoàn cảnh rất khó khăn, người của Hội Thánh vẫn có thể cộng tác với Ðức Giêsu là Ðấng Cứu độ.
Bằng sự lựa chọn đức ái vào vị trí ưu tiên, cùng với thánh giá đi kèm, nhất là bằng sự kết hợp với chính Ðức Kitô, bất cứ người môn đệ nào của Ðức Kitô, dù yếu đuối và bất toàn, đều có thể công bố Tin Mừng, rao giảng Tin Mừng và làm chứng cho Tin Mừng, không cách này thì cách khác. Những cách bé nhỏ, khiêm nhường thường thích hợp cho tình thế chúng tôi. Ðiều quan trọng là phải có lửa mến trong lòng và tỉnh thức. Tôi thấy Chúa đang đến với những sáng tạo mới mẻ bất ngờ, như những phục sinh mới và như những lễ Ngũ Tuần mới.
Qua kinh nghiệm, tôi cũng xác tín rằng: Sự cộng tác như thế của các môn đệ Chúa bao giờ cũng hữu hiệu, khi các môn đệ Chúa thực hành nhiệm vụ cộng tác nhân danh kẻ được Hội Thánh sai đi chỉ nhắm vào Nước Trời. Kết quả có thể là một mùa lúa chín, và cũng có thể là những hạt lúa bé nhỏ được gieo vào lòng người. Dù kết quả mặc hình thức nào, sự cộng tác với Chúa Giêsu trong việc cứu độ bằng yêu thương và phục vụ đã thực sự đem lại cho tôi và cho những người của tôi một sự sống mới, và sự sống ấy là rất dồi dào.
Qua kinh nghiệm, tôi cũng xác tín rằng: Ðể việc cộng tác với Ðức Kitô cứu độ được chuẩn bị tốt, các môn đệ Ðức Kitô cần quan tâm nhiều đến một nền tu đức chiêm niệm, khắc kỷ, khiêm nhường và bác ái, tập trung vào gương sáng và Lời Ðức Kitô, nhất là phải có một sự tỉnh thức tìm tòi và biết đón nhận những cái mới mẻ của Tin Mừng, mà Chúa Thánh Thần đang giới thiệu qua lịch sử Hội Thánh và các dấu chỉ của thời đại. Trong những mới mẻ đó có việc sửa lại một cách khiêm nhường những lỗi lầm của chúng ta trong lãnh vực truyền giáo và trong bổn phận liên đới của chúng ta đối với những người nghèo.
 Kết luận
Phải chăng những chứng từ trên đây của tôi không những đã nói lên những gì rất riêng của địa phận tôi, mà còn có thể cũng đã phản ánh một số đặc điểm chung của Hội Thánh tại Việt Nam và tại Á Châu.
Với những chứng từ này, tôi cho là yếu tố hết sức quan trọng cho sự phát triển Tin Mừng chính là sự gặp gỡ Ðức Kitô. Phải là một sự gặp gỡ sống động, bản thân và đón nhận, dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần.
Long Xuyên, tháng 5/1998
 

Bùi-Tuần 1586: Sau Thượng Hội đồng Giám mục Á châu,

những chọn lựa ưu tiên

Thượng Hội Ðồng (THÐ) các Giám mục Á Châu là một biến cố lịch sử. Số người tham dự chỉ vài Bùi-Tuần 1586

Thượng Hội Ðồng (THÐ) các Giám mục Á Châu là một biến cố lịch sử. Số người tham dự chỉ vài trăm. Thời gian họp tương đối dài. Chương trình làm việc khá nặng, nhiều khi gây mệt mỏi. Thế nhưng, khi rời THÐ về nước, tôi cảm thấy nhớ nhung. Tôi nhớ cách riêng mấy loại người. Có những đấng như những đền thờ. Có những vị như toà nhà thư viện. Có những người như là vườn hoa. Có những bản lĩnh như những bức tường thành kiên cố. Có những bóng dáng như làn gió nhẹ. Ðặc biệt tôi nhớ bầu khí THÐ: Một bầu khí đạo đức, tình nghĩa, trí thức, hiệp thông, lắng nghe và suy tìm.
Tôi coi đây là dịp thuận lợi để tôi tự đào tạo thêm chính mình. Trong THÐ, chẳng ai dạy ai phải thế này thế nọ, chẳng bài nào khẳng định điều đó là đúng, điều kia là sai. Mỗi người phải tự suy nghĩ, tự khám phá, tự chọn lấy cho mình những gì mình thấy hữu ích cho mục vụ và truyền giáo của mình.
Tôi đã cố gắng tiếp thu nhiều điều mới. Tôi cũng đã hứng thú rút ra nhiều điều hay từ những gì mình đã nghe đã thấy. Ở đây tôi chỉ xin chia sẻ một số lựa chọn ưu tiên của tôi theo cái nhìn riêng tư. Những lựa chọn này có thể là những khởi đầu thích hợp.

 Khiêm nhường
Lựa chọn đầu tiên của tôi là sống khiêm nhường. Công giáo tại Á Châu là một thực tại rất bé nhỏ. Trong tổng số 3.456.280.000 người, chỉ có 101.210.000 là công giáo, tức khoảng 3%. Trừ Phi Luật Tân, còn tất cả các nước Á Châu đều coi Giáo hội Công giáo trong nước của mình là cộng đoàn nhỏ. Nhiều nghị phụ cho biết tình trạng bé nhỏ của Giáo hội địa phương các ngài là một sự kiện đáng buồn. Bởi vì trước đây các Giáo hội ấy đâu có bé nhỏ. Nhưng do các diễn biến chính trị, xã hội và văn hoá, đạo Công giáo tại đó dần dần hầu như bị bó buộc phải trở thành thiểu số yếu. Trước tình hình này, các Giáo hội tự thấy mình phải khiêm tốn. Chính nhờ khiêm tốn mà được chấp nhận và tồn tại.
Cũng với tinh thần khiêm tốn, nhiều nghị phụ đã công khai khen ngợi những giá trị thiêng liêng của nhiều tôn giáo truyền thống, như Phật giáo, Khổng giáo, Lão giáo, Hồi giáo, Ấn giáo. Cái nhìn kính trọng đó kèm theo những thông tin về sự tăng trưởng khác thường hiện nay của Phật giáo và Hồi giáo tại chính các nước Thiên Chúa giáo lâu đời ở Châu Âu khiến chúng tôi càng khiêm tốn hơn.
Trước tình thế đó, nhiều vấn đề đã được đặt ra, như hội nhập văn hoá, đối thoại, cải cách phụng vụ, đổi mới giáo lý, tăng cường hệ thống thông tin. Tất nhiên đó là những vấn đề phải suy nghĩ và đào sâu. Nhưng nhiều đại biểu nghĩ rằng: cho dù những vấn đề đó có được giải quyết tốt, thì sẽ không vì thế mà đạo tự động tiến triển về lượng và phẩm. Bằng chứng là Công giáo tại nhiều nước Âu Châu, dù có đầy đủ những điều kiện đó, cũng đang trở thành thiểu số.
Với nhận thức ấy, các nghị phụ đã khiêm nhường sám hối, coi việc tái Phúc Âm hoá chính bản thân mình và cộng đoàn của mình là đòi hỏi chính đáng.
Riêng tôi nghĩ rằng: mình bé nhỏ thì hãy sống tinh thần khiêm nhường bé nhỏ. Thánh nữ Têrêsa thành Lisieux, quan thầy các nơi truyền giáo, đã nêu lên con đường thơ ấu thiêng liêng. Khi sống tình yêu một cách chân thành, đơn sơ, khiêm tốn, người môn đệ Ðức Kitô sẽ giảm nhẹ được tính cách nặng nề của cơ chế tôn giáo, để cởi mở, hợp tác và hiệp thông, làm cho bộ mặt Hội Thánh trở thành đáng yêu, dễ được chấp nhận.

 Khôn ngoan

Lựa chọn thứ hai của tôi là sống khôn ngoan.
Khi nghe các phát biểu trong THÐ, tôi nhận thấy rải rác nhiều phản ánh về các loại khôn ngoan. Ðáng kể nhất là khôn ngoan triết học, khôn ngoan thần học, khôn ngoan thần bí và khôn ngoan ứng xử. Ở đây chỉ xin cắt nghĩa đôi chút.
Khôn ngoan triết học được tỏ lộ qua những nhận định thông minh sâu sắc về con người, về thế giới và về thời cuộc. Khôn ngoan triết học nhắm vào sự thực. Truy tìm sự thực. Nói đúng sự thực. Suy nghĩ đúng sự thực. Phê phán đúng sự thực. Ðối tượng là con người và thế giới.
Khôn ngoan thần học không phải là có được một hệ thống tư tưởng đúng đắn về đức tin, nhưng là nhìn con người đúng là một tạo vật mang hình ảnh Thiên Chúa. Từ đó sẽ hiểu con người theo cái nhìn của Thiên Chúa là Cha. Sự hiểu biết như vậy đòi phải có chiêm niệm.
Khôn ngoan thần bí gồm những thứ cảm nghiệm thiêng liêng về Tám Mối phúc, về mầu nhiệm thánh giá, về sự từ bỏ chính mình,v.v.
Khôn ngoan ứng xử là sự khéo léo trong tiếp xúc, xử sự.
Tôi thấy bốn loại khôn ngoan trên đây đã giữ một vai trò quan trọng trong mọi chặng đường lịch sử của các Giáo hội địa phương. Nhất là khi mình chỉ là thiểu số, và thời cơ lại rất hiếm hoi. Xin đưa ra một thí dụ xa xa. Tại THÐ, trong các buổi họp toàn thể, mỗi nghị phụ chỉ được phát biểu một lần. Thời gian phát biểu không được quá 8 phút. Phải gói ghém vào 8 phút đó những gì đáng nói nhất. Thành công nhiều hay ít cũng tuỳ sự khôn ngoan của người phát biểu. Bản lĩnh người phát biểu có thể được nhìn nhận chỉ qua 8 phút đó.
Tôi nghĩ rằng nơi mỗi người, thái độ sống của mình nói chung và từng việc làm của mình nói riêng cũng là những thứ phát biểu. Nếu những phát biểu đó có nhiều tình tiết khôn ngoan, thì lý tưởng phục vụ vẫn có thể thực hiện được, không cách này thì cách khác.

 Yêu thương và phục vụ
Lựa chọn thứ ba của tôi là sống yêu thương và phục vụ.
Trong một tháng tham dự THÐ, qua các bài tham luận và tiếp xúc, tôi nhận thấy các nhạy cảm đã rất khác nhau. Thí dụ các đại diện thuộc các Giáo hội vùng Vịnh đã rất nhạy cảm với tình trạng khổ đau của Irak bị cấm vận. Các đại diện thuộc các Giáo hội Trung Ðông đã rất nhạy bén trước thái độ của Israel đối với Palestine và khối Ảrập. Các Giám mục các Giáo hội Ðông Phương rất nhạy cảm trước một hiện tượng mà các ngài coi là tập trung quyền bính của Toà Thánh. Các Giám mục thuộc các nước Phật giáo, Hồi giáo rất nhạy cảm trước đòi hỏi phải quan tâm nhiều tới người nghèo, và chiều kích thiêng liêng của cuộc sống.
Những nhạy cảm khác nhau trên đây khiến tôi suy nghĩ nhiều về sự phải làm chứng cho Ðức Kitô và giới thiệu Hội Thánh Công giáo bằng yêu thương và phục vụ.
Nếu chọn cách làm chứng và giới thiệu này, thì phải rèn cái tâm, để nó biết nhạy cảm. Từ những người xung quanh đến Dân Tộc mình, chỗ nào cũng có những đợi chờ. Họ đợi chờ được yêu thương và được phục vụ. Một mình lý trí không thấy rõ được những đợi chờ đó. Nhưng những trái tim nhạy cảm sẽ cảm thấy được. Họ cảm thấy, họ cảm nhận và họ cảm thương. Nội dung yêu thương và phục vụ là quan trọng. Nhưng cách yêu thương và phục vụ còn quan trọng hơn. Nhiều khi biết đón nhận cũng là một cách yêu thương và phục vụ.
Trong tổ làm việc của tôi, có một giáo dân, ông hiện là giáo sư nổi tiếng thuộc các trường đại học của Liban. Ngồi cạnh tôi, ông tâm sự về khả năng nhạy cảm của người giáo dân trước các hiện tượng văn hoá, chính trị và kinh tế trong xã hội. Nhờ khả năng nhạy cảm đó, người giáo dân có thể góp một phần đáng kể vào sự làm chứng cho Ðức Kitô và giới thiệu Hội Thánh. Theo ông, các giám mục, linh mục, tu sĩ, nếu không đi sâu vào tu đức và thực tế, sẽ dễ nhạy cảm về các vấn đề thuộc cơ cấu: cơ cấu Hội Thánh, cơ cấu giáo phận, giáo xứ, nhà dòng. Ðôi khi vì thế mà các ngài có thể trở thành lạnh lùng xơ cứng, ít nhạy cảm trước các thực tại của cuộc sống dân thường. Nhận xét của ông đãù khiến tôi nghĩ ngợi.
***
Thượng Hội Ðồng đã được bế mạc bằng một thánh lễ trọng thể. Khi Ðức Thánh Cha và đoàn đồng tế tiến vào nhà thờ, ca đoàn đã hát bài Ðức Kitô trối xưa: “Thầy cho các con một điều răn mới là các con hãy yêu thương nhau, như Thầy đã yêu thương các con” (Ga 13,34). Sau thánh lễ là bữa tiệc được tổ chức ngay tại toà nhà chúng tôi trọ. Trong bữa tiệc, tôi tình cờ gặp Ðức Hồng Y Ratzinger, Bộ Trưởng Bộ Ðức Tin. Tôi nói với ngài rằng: “Nếu con không lầm, thì trong cuốn sách mới nhất của Ðức Hồng Y, ngài đã nói đại khái là ngài không hy vọng nhiều ở các Thượng Hội Ðồng. Nhưng ngài đặt nhiều hy vọng ở các người thánh. Người thánh có rất nhiều khả năng đổi mới Hội Thánh, nhiều khi hơn các THÐ. Ðúng thế không?” Ðức Hồng Y Ratzinger thưa: “Ðúng, tôi có ý nghĩ đó.” Tôi lại hỏi thêm: “Thưa Ðức Hồng Y, con nhớ là ở trong cuốn sách mới xuất bản của Ðức Hồng Y, ngài Bộ Trưởng Bộ Ðức Tin đã quả quyết là: Ðức ái phải được đặt lên hàng ưu tiên trong đời sống đạo. Hãy sống yêu thương như Ðức Kitô đã dạy và đã làm gương. Ðó là điều hết sức quan trọng. Ðúng thế không?” Ðức Hồng Y Bộ Trưởng Bộ Ðức Tin thưa: “Ðúng như vậy”.
Bâng khuâng, tôi nhìn THÐ như một khoảnh khắc của tình yêu. Một tình yêu nồng nàn bao giờ cũng biết sáng tạo, vượt qua mọi ranh giới và vươn lên vĩnh cửu, khi tình yêu ấy xuất phát từ Thánh Thần Tình Yêu.
Long Xuyên, tháng 6/1998
 

Bùi-Tuần 1587: Kết quả của Thượng Hội đồng các Giám mục Á châu

Ngày bế mạc Thượng Hội Ðồng (THÐ) các Giám mục Á Châu tại Rôma, một vị cao cấp của Toà Bùi-Tuần 1587

Ngày bế mạc Thượng Hội Ðồng (THÐ) các Giám mục Á Châu tại Rôma, một vị cao cấp của Toà Thánh đã nói với tôi: “Bế mạc THÐ lớn ở trung ương, để rồi sẽ khai mạc các THÐ nhỏ ở các địa phương. Thứ THÐ nhỏ này cũng rất quan trọng”.
Thứ THÐ ám chỉ ở đây là việc trao đổi tại các địa phận về những kết quả của THÐ vừa qua (19/4 đến 14/5/1998) tại Rôma.
Theo tôi, kết quả của THÐ không chủ yếu gồm những bản tuyên ngôn, đề nghị, nghị quyết, mà còn là những gì mới mà người tham dự THÐ đã trải qua và đã tiếp thu ở THÐ. Những cái mới đó thiết tưởng là những kinh nghiệm mới, những cái nhìn mới, những thao thức mới.
Nếu đúng như vậy, thì những thứ mới ấy nơi tôi là rất giới hạn. Với ý thức đó, tôi xin vắn tắt chia sẻ.
 Những kinh nghiệm mới
 Kinh nghiệm thứ nhất là việc chọn người.
Tổng số người tham dự THÐ là 252. Tổng số này được chia ra như sau:
67 vị là thành phần phải tham dự vì nhiệm vụ, thí dụ các Hồng Y tại chức ở Á châu, các vị chủ tịch các HÐGM các nước Á châu, các vị đứng đầu các bộ của giáo triều...
98 vị là thành phần được bầu chọn ở các HÐGM Á châụ
23 vị là thành phần được Ðức Thánh Cha chỉ định.
18 vị là chuyên viên được Ðức Thánh Cha phê chuẩn.
40 vị là dự thính viên được Ðức Thánh Cha chấp thuận.
06 vị là khách thuộc các tôn giáo bạn.
Ðọc qua chức vụ của các thứ thành phần trên đây, tôi thấy các khác biệt sẽ rất phong phú và sẽ được trân trọng, nhưng đồng thời trật tự cơ chế cũng rất được bảo đảm.
Riêng nhóm chuyên viên được đánh giá rất tốt. Họ là những người có trình độ cao về trí tuệ, đạo đức và có kinh nghiệm làm việc theo khoa học. Họ biết sàng lọc các ý kiến, để cấu trúc mau lẹ các bản văn theo những tiêu chuẩn vững chắc.
Sự chọn lựa kỹ lưỡng nhân sự tham gia THÐ là một yếu tố quan trọng cho sự sống động và thành công của THÐ.
 Kinh nghiệm thứ hai là việc xây dựng bản đề nghị chung.
Ngày đầu, các thành viên THÐ nhận được một tập in gọi là tài liệu làm việc. Tập tài liệu này phác ra sơ quát tình hình Công giáo tại Á châu với các thực tại và yêu cầu của nó. Bản tài liệu làm việc này phản ánh những câu trả lời và các nhận xét của các HÐGM các nước Á châu gởi về Toà Thánh để chuẩn bị THÐ.
Tiếp nối bản văn thứ nhất này là bản văn thứ hai, gọi là bản báo cáo trước tham luận. Bản này nêu lên những điểm quan trọng trong bản văn thứ nhất cần được chú ý đặc biệt.
Sau 14 phiên họp toàn thể với hơn 150 bài tham luận, THÐ nhận được bản văn thứ ba, gọi là bản báo cáo sau tham luận. Bản này hệ thống hoá gọn gàng các bài tham luận, và đưa ra những điểm cần đào sâu ở các phiên họp tổ.
Sau 4 phiên họp tổ, là 2 phiên họp toàn thể, để nghe các tổ báo cáo. Một bản văn thứ 4 được thành hình, gọi là bản gợi ý đưa ra các đề nghị. Các tổ thảo luận bản văn này trong 5 phiên họp và đưa ra những nội dung được nhất trí. Tiếp đó là 2 phiên họp toàn thể, để hệ thống hoá các đề nghị do các tổ đưa ra. Bản này là Bản văn thứ 5, gồm nội dung các đề nghị được thống nhất.
Bản văn thứ 5 này lại được đưa xuống các tổ để bàn bạc. Lần này tập trung vào việc tìm hình thức để xây dựng các nội dung đã chấp thuận. Sau 3 phiên họp tổ, mọi ý kiến được đúc kết lại thành các đề nghị hoàn chỉnh cả về nội dung lẫn hình thức.
Bản văn thứ 6 được in ra. Bản văn này được phát cho các thành viên để kiểm lại lần chót tại phiên họp toàn thể.
Sau khi sửa chữa đôi chút, bản này được thay thế bằng một bản mới. Bản sau cùng này được đưa ra bỏ phiếu từng câu một, và trở thành bản đề nghị thống nhất và duy nhất, sẽ được đệ trình Ðức Thánh Chạ Ngài sẽ căn cứ vào đó để soạn ra một bản văn khác mang tên là “Tông Huấn về Công giáo tại Á châu”. Bản này sẽ được Ðức Thánh Cha công bố trong thời gian tới tại một hay nhiều nước ở Á châu.
Một tiến trình như thế để xây dựng bản đề nghị chung về Công giáo tại Á châu cho thấy thái độ thận trọng đầy trách nhiệm của THÐ. Qua những dịp làm việc chung trên suốt tiến trình này, tôi tự nhủ mình rằng: Mình phải cố gắng tự học thêm rất nhiều, để có thể đóng góp hữu hiệu hơn cho công ích.
 Kinh nghiệm thứ ba là việc tạo ra được bầu khí hiệp thông.
THÐ không phải chỉ toàn là những giờ tham luận và thảo luận. Còn nhiều thời giờ khác dành cho nhiều chi tiết khác, như phụng vụ, tiếp xúc, nghỉ ngơi, ăn uống vv... Kinh nghiệm cho thấy nhiều thứ linh tinh không tên đôi khi lại có ảnh hưởng lớn đến việc tạo dựng bầu khí hiệp thông. Về mặt này, ban tổ chức THÐ đã rất chu đáọ Tôi nghĩ là tôi sẽ không lầm, nếu tôi quả quyết: yếu tố quan trọng nhất có sức quyết định, tạo nên sự hợp nhất ở THÐ chính là Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II và Chúa Thánh Linh.
 Những cái nhìn mới
Trong một tháng tham dự THÐ, tôi được nghe nhiều, đọc nhiều và tiếp xúc nhiều. Qua tổng hợp và phân tích, cũng như qua lý luận và trực cảm, tôi đã nhìn các Giáo hội địa phương ở Á châu với những cái nhìn khác nhau.
1. Nếu căn cứ vào các con số để so sánh, thì có thể xếp các Giáo hội địa phương thành 3 loại:
a/. Loại tăng số, gồm những nơi hằng năm số người theo đạo tăng lên. Hiện nay trong loại này có một số nước đáng kể, như Việt Nam, Ấn Ðộ, Indonesia, Nam Triều Tiên, Phi Luật Tân, Ðài Loan.
b/. Loại giảm số, gồm những nơi hằng năm số người có đạo giảm sút. Loại này hiện nay lan rộng ra hơn chục nước, tập trung ở miền Trung Ðông, như Iran, Irak, Giordani, Syri, Liban, Thổ Nhĩ Kỳ, Ai Cập…
c/. Loại tận số, gồm những nơi trước đây có đông người công giáo, nay kể như không còn gì. Loại này cũng khá đông, như Afghanistan, Arap-Sêut, những Giáo hội của các thánh tông đồ thuở xưa như Êphêsô, Antiokia, Laodicia, Ciliciạ
2. Nếu căn cứ vào dung mạo Hội Thánh được nhận thấy ở từng Phúc Âm, thì có thể xếp các Giáo hội địa phương thành 4 loại như sau:
a/. Hội Thánh rao giảng theo Phúc Âm thánh Matthêu. “Anh em hãy đi rao giảng cho muôn dân” (28,19). Chẳng hạn Giáo Hội tại Phi Luật Tân, với một hệ thống phong phú mạnh mẽ về phát thanh, báo chí, trường sở đào tạo, rất nổi về việc rao giảng.
b/. Hội Thánh hoạt động cứu độ theo Phúc Âm thánh Marcô: “Nhân danh Thầy, họ sẽ đuổi được ma quỷ... chữa lành các bệnh nhân” (16,15-18). Chẳng hạn Giáo Hội tại Nam Triều Tiên rất nổi về các hoạt động xã hội, lo cho người nghèọ
c/. Hội Thánh chứng nhân theo Phúc Âm thánh Luca: “Nhân danh Người, sự ăn năn và tha thứ sẽ được công bố cho muôn dân. Chúng con là chứng nhân đối với tất cả những việc đó” (24,47-48). Chẳng hạn Giáo Hội tại hầu hết các nước Hồi giáọ
d/. Hội Thánh mầu nhiệm theo Phúc Âm thánh Gioan: “Chúa Cha đã sai Thầy thế nào, thì Thầy cũng sai các con như vậy... Các con hãy nhận lấy Chúa Thánh Thần” (20,21-22). Chẳng hạn Giáo Hội tại Việt Nam sống vững niềm tin vào sức mạnh của Chúa Ba Ngôi.
3. Nếu căn cứ vào màu sắc thần học, thì có thể thấy đang chớm nở ở một số nơi tại Á châu những khuynh hướng mới về thần học. Như thần học về hội nhập văn hoá, thần học về đối thoại, thần học về đối chiếu, thần học về các sự kiện xã hội lịch sử Thiên Chúa giáo, thần học tu đức Á châu, thần học tu đức truyền giáo, thần học về cộng đồng cơ sở, vv... Các Hội Thánh địa phương có thể cung cấp các thông tin loại này là: Ấn Ðộ, Sri Lanca, Indonesia, Phi Luật Tân, Nam Triều Tiên, Ðài Loan.

 Những thao thức mới
Khi nhìn sâu vào tình hình Công giáo tại Á châu với những cái nhìn mới trên đây, chúng tôi đã trao đổi với nhau về những gì cần làm theo lương tâm tông đồ. Ðã có nhiều ý kiến và nhiều đề nghị. Từ những ý kiến và đề nghị đó, đã nảy sinh trong tôi nhiều thao thức mớị
 a/. Bổn phận đối với sự thực
Theo tôi thì người có đạo, nhất là người chủ chiên và nhà truyền giáo trước hết phải biết tôn trọng sự thực, phải biết phân biệt trong các cách sống đạo đâu là thực, đâu là không thực, cái gì là phụ cái gì là chính.
Khi không đồng hoá Hội Thánh với Nước Trời, thì sẽ thấy có nơi Hội Thánh bị rút hẹp lại, nhưng thực sự Nước Trời lại đang mở rộng. Khi hiểu tôn giáo không luôn đồng hoá với Tin Mừng, thì sẽ thấy nhiều nơi thực sự Tin Mừng vốn được trân trọng, đang khi tôn giáo lại bị khước từ. Khi không dám coi ý riêng mình cũng là thánh ý Chúa, thì sẽ thấy nhiều nơi đạo không phát triển theo thánh ý Chúa mà thực sự chỉ theo ý riêng mình. Khi biết tách rời những cái phụ ra khỏi cái chính, thì sẽ thấy nhiều nơi chỉ phát triển những cái phụ mà thực sự không phát triển yếu tố căn bản của đạo.
Trên lý thuyết phải có những quan điểm đúng sự thực, và trên thực tế phải có những lượng giá đúng sự thực. Nếu không, chúng ta sẽ rơi vào những sai lầm trầm trọng. Chúa Giêsu đã ám chỉ những trường hợp như thế, khi Người nói về những ai tự phụ thuộc về Chúa, nhưng sẽ bị Chúa trả lời: “Ta không biết các ngươi là ai”.
 b/. Bổn phận đối với việc đào tạo
THÐ nhìn nhận các tôn giáo truyền thống Á châu có nhiều giá trị thiêng liêng cao đẹp. THÐ nhận thấy đặc điểm của con người Á châu là hướng về tu đức, mến yêu đạo đức, coi trọng những gì là thiêng liêng. THÐ cũng nhận định rằng những cảm nghiệm tôn giáo là yếu tố quan trọng đối với người Á châụ THÐ cũng nhìn nhận rằng ở Á châu, đạo thường không được đánh giá theo lý thuyết, mà chủ yếu theo thực tế, vẻ đẹp của đạo không tập trung vào những lý lẽ, mà ở những trong sáng của cái tâm. THÐ cũng nhìn nhận rằng đạo ở Á châu không thể tách rời khỏi sự cảm thương và chia sẻ với người nghèo.
Chính vì những lý do trên, mà việc đào tạo các môn đệ Chúa ở Á châu không nên rập khuôn theo kiểu Tây phương. Theo hướng đó, THÐ đã nêu lên những chỉ dẫn cho việc đào tạo các giảng viên Ðại chủng viện, cho việc rèn luyện các chủng sinh, cho việc huấn luyện các giáo dân, đặc biệt là giới trẻ.
 c/. Bổn phận đối với chức năng tiên tri
THÐ cũng đã nêu lên những gì là thách đố, là nguy cơ, là hy vọng cho Hội Thánh ở Á châụ Sẽ có phong trào toàn cầu hoá, phong trào tôn giáo cực đoan, phong trào tự do phóng túng, phong trào hưởng thụ ăn chơi, phong trào tôn thờ lạc thú, tiền bạc, vv... Nhưng cũng có những phong trào học hỏi Thánh Kinh, phong trào cầu nguyện chiêm niệm, phong trào dấn thân, phong trào cộng đồng cơ bản, vv... Khó khăn bao giờ cũng có. Nhưng hy vọng lúc nào cũng nhiều.
THÐ khẳng định : Trong mọi tình huống thực tế phức tạp, sứ mạng truyền giáo ở Á châu cần có những người thánh: Giám mục thánh, linh mục thánh, tu sĩ thánh, giáo dân thánh. Người thánh ở đây là người có lửa mến trong lòng. Như Mẹ Têrêsa Calcutta, người được THÐ trân trọng nhắc tớị Truyền giáo không phải là chuyển giao các tư tưởng, mà là chia sẻ lửa mến. Mình không có lửa, thì không thể đốt nóng được gì.
Trong thánh lễ bế mạc THÐ (14/5/1998) Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã giảng: “Ðây là chân lý cứu độ Chúa Giêsu đã truyền cho các môn đệ của Ngài, đây cũng là điều răn của Ngài “Chúng con hãy yêu thương nhau, như Thầy đã yêu thương các con” (Ga 15,13)... Là người kế vị các thánh tông đồ, tôi hân hạnh nhắc lại những lời đó... Sứ mạng truyền giáo của Hội Thánh ở Á châu chính là phục vụ của tình yêu”.
Theo tôi, trong một Á châu có nhiều khác biệt và có nhiều chuyển biến, lời căn dặn trên đây của Ðức Thánh Cha dựa trên lời Ðức Kitô phải được coi là một chỉ hướng tiên tri. Cần tập trung vào đó. Cần thực thi chỉ đạo đó một cách khôn ngoan, sát thực tế xã hội, tâm lý, văn hoá, kinh tế, nhất là trong sự gắn bó mật thiết với Chúa Giêsu, dưới sự chỉ dẫn của Chúa Thánh Thần, trọn vẹn hướng về Thiên Chúa là Cha.
**
Như vậy có thể nói: vấn đề quan trọng nhất mà THÐ và Ðức Thánh Cha đặt ra mãi mãi và hàng đầu cho Công giáo Á châu chính là lửa tình yêu. Trong lòng chúng ta, có lửa đó không? Lửa đó có thực trong sáng không? Lửa đó có phát xuất từ lửa Thiên Chúa Ba Ngôi không? Chúng ta có tỉnh thức đón nhận lửa đó hằng ngày không? Chúng ta có cộng tác với lửa đó để thanh luyện chính mình không?
Long Xuyên, tháng 7/1998
 

Bùi-Tuần 1588: Cầu nguyện với Ðức Mẹ ở Lavang

Một chiều mưa, tôi đến Lavang, để cầu nguyện ở nơi được gọi là chỗ Ðức Mẹ đã hiện ra cách đây Bùi-Tuần 1588

Một chiều mưa, tôi đến Lavang, để cầu nguyện ở nơi được gọi là chỗ Ðức Mẹ đã hiện ra cách đây 200 năm.
Trong thanh vắng, tôi đã gặp Ðức Mẹ. Nói cho đúng, thì Ðức Mẹ đã đến trong tâm hồn tôi. Cuộc gặp gỡ là rất tư riêng, linh thiêng, nhưng cảm nghiệm được một cách sâu sắc.
Diện mạo của Mẹ mang những nét gây rất nhiều cảm xúc. Nói chung đó là những nét về người mẹ.
Tôi đã từng xúc cảm trước hình ảnh mẹ tôi, người mẹ nghèo đầy yêu thương bình dị, thầm lặng hy sinh cho gia đình.
Tôi đã từng xúc cảm trước hình ảnh bà mẹ Việt Nam, người phụ nữ vốn được văn chương và nghệ thuật mô tả là một bà mẹ nghèo, chân chất, dạt dào yêu thương, âm thầm chịu mọi mất mát, để lo cho gia đình, dân tộc, đất nước.
Nhưng, khi gặp Ðức Mẹ Maria tại Lavang, tôi có cảm tưởng là các xúc cảm trên đây bỗng nhẹ đi, nhường chỗ cho những xúc cảm mới.
Ðức Mẹ đến với tôi cũng chính là mẹ Chúa Giêsu được kể trong Phúc Âm. Người mẹ nghèo, đơn sơ, bao dung, xót thương và đau khổ. Hình ảnh cụ thể đã hiện rõ nét nhất và lâu nhất trong tâm hồn tôi là hình ảnh Ðức Mẹ đứng dưới cây thánh giá.
Mẹ khổ đau, lặng lẽ đứng đó.
Ở đó đầy nhục nhã, Mẹ chia sẻ đau khổ với Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa, đang mặc khải tình yêu vô biên Thiên Chúa, qua thân phận người đầy tớ Ðức Giêsu, như tiên tri Isaia đã nói xưa.
Ở đó đầy cô đơn, Mẹ tuân phục ý Chúa trong chương trình cứu độ của Ðức Kitô, Ðấng tình nguyện gánh tội trần gian, như thánh Gioan tiền hô đã loan báo.
Ở đó đầy cơ cực, Mẹ cảm nghiệm một cách sâu sắc lời tiên tri Simeon đã nói với Mẹ 33 năm về trước.
Ở đó đầy bóng tối, Mẹ đã lặp lại lời xin vâng, đáp lại ơn truyền tin thứ hai, lần này là trao Gioan cho Mẹ.
Chúa Giêsu trên thánh giá là chứng từ cho một trái tim quá yêu, yêu quá. Ðức Mẹ đứng bên thánh giá Chúa Giêsu cũng là một chứng từ của một tấm lòng người mẹ quá thương, thương quá.
Cuộc gặp gỡ trên đây diễn ra không lời, đã gây ra nhiều tan vỡ trong tôi.
Nhiều mô hình kẻ được sai đi bị đổ vỡ, bởi vì chúng hầu như không có nét nào giống Chúa Kitô và Ðức Mẹ.
Nhiều chương trình làm vinh danh Thiên Chúa tự rã tan, bởi vì chúng bề ngoài coi như những phương tiện chuyển ơn thánh nhưng thực sự lại là những chướng ngại cản trở ơn thánh.
Nhất là nhiều loại cái tôi bị suy sụp. Cái tôi hời hợt, cái tôi hẹp hòi ích kỷ, cái tôi tìm hưởng thụ. Cái tôi bị trói buộc bởi xiềng xích những thói hư tật xấu. Cái tôi khôn ngoan theo lối thế gian, không dựa trên Lời Chúa và mầu nhiệm thánh giá. Cái tôi còn nệ hình thức đạo đức, nhưng lạnh lùng, thiếu vắng lửa yêu thương.
Những đổ vỡ trên đây đem lại cho tôi chân lý sâu thẳm bình an vững bền.
Tôi hiểu con đường cứu độ phải khởi đi từ thánh giá, mới đi vào được cõi phục sinh. Tôi xác tín rằng : những thành công rực rỡ bề ngoài không là những tiêu chuẩn chính xác của sự phát triển Nước Trời. Nguồn lực phát triển Nước Trời là lửa mến được nung nấu bằng những thánh giá lớn nhỏ đủ loại do Chúa gởi đến. Ðức Kitô trên thánh giá và Ðức Mẹ dưới chân thánh giá đã lặng lẽ sản sinh Hội Thánh bằng cách đó. Và cũng phải bằng cách đó, Hội Thánh mới có thể cộng tác vào chương trình cứu độ của Chúa, hầu đem lại cho Dân Tộc ta sự sống, và sự sống đó là rất dồi dào.
Những kỷ niệm trên đây về Lavang là của quá khứ.
Hôm nay, nhìn về Lavang giữa một vùng, mà đồng ruộng hầu như khô cạn, mà độ nóng đang tăng cao gay gắt, mà nhiều người dân đang lâm vào cảnh túng nghèo, tôi tự hỏi : ngày 15 tháng 8 năm 1998 này, trước những đám đông khác thường quy tụ tại Lavang để cầu nguyện, Ðức Mẹ sẽ nhắn nhủ gì. Nhưng chắc chắn chỉ những ai được Chúa thánh Thần mở lòng mở trí, mới hiểu được sứ điệp của Mẹ, và mới có can đảm đón nhận, thực thi sứ điệp của Mẹ.
Long Xuyên, ngày 1/8/1998
 

Bùi-Tuần 1589: Tôi đọc báo

Là môn đệ của Chúa Giêsu, tôi tìm yêu mến Ngài. Là môn đệ Chúa của thời đại hôm nay, tôi Bùi-Tuần 1589

Là môn đệ của Chúa Giêsu, tôi tìm yêu mến Ngài. Là môn đệ Chúa của thời đại hôm nay, tôi muốn sống đạo, làm chứng cho đạo một cách thông minh, sáng suốt.
Ðể được thế, tôi cần cởi mở về phía con người, dân tộc và thế giới. Sự cởi mở nói đây là tìm hiểu các vấn đề lớn của đời sống và thời cuộc. Có thế, khi đồng hành với mọi người, nhất là với những ai không cùng tín ngưỡng, tôi mong nói được với họ một ngôn ngữ xứng hợp với những suy tư hoàn toàn thuộc về bình diện con người hôm nay. Khởi đi từ nhận định ấy, tôi đặt cho mình trách nhiệm suy tìm, theo dõi sự thực về con người, về đời người trong thế giới hôm nay. Một trong những phương tiện tôi dùng để suy tìm theo dõi là báo chí.
Ðọc nhiều báo, tôi thấy mỗi báo có những cái nhìn riêng. Sự thực ở các báo được trình bày với những mức độ khác nhau. Với tinh thần triết học tôi coi những bài viết đó như các tài liệu, để làm việc. Tôi thường suy nghĩ trên các tài liệu đó.
Trong quá trình suy nghĩ, vận hành tư tưởng của tôi thường rất thận trọng. Với những phân tích, tháo gỡ, nối dệt, tôi cố gắng đi tới một sự thực tương đối phong phú về nhiều mặt và ở nhiều mức độ. Sự thực có nhiều cấp bậc.
Thí dụ, khi đứng ở ven đường, tôi chỉ nhìn được một quãng ngắn của con đường. Khi đứng trên nóc ngôi nhà nhiều tầng, tôi có thể thấy một quãng dài của con đường. Nhưng khi trên máy bay nhìn xuống, tôi thấy được toàn diện hình dạng con đường, từ đầu đến cuối, với những chiếc cầu trên lưng nó, với những dòng sông và làng mạc nó đi qua, với những ruộng vườn, nhà cửa chạy dài hai bên nó.
Sự thực về một con đường đâu có đơn giản, huống chi sự thực về một con người, về một đời người, về một dân tộc, về một tôn giáo. Biết đề cập đến những thực tại đó một cách thông minh, sáng suốt, đó cũng là một cách sống đạo tốt.
Thông minh, sáng suốt đòi nhiều điều kiện về lý trí, nhưng cũng đòi những điều kiện đạo đức, thí dụ như thái độ nhìn là phải kính trọng, và mục đích nhắm tới là phải tìm yêu thương và phục vụ.
Nghe bình luận về báo, tôi thấy có những người không thực sự yêu thương con người, không thực sự phục vụ con người, mà chỉ yêu thương và phục vụ một hệ thống tư tưởng có sẵn, một cơ chế quyền lợi đang nhắm tới. Chính vì thế mà dễ có những sai lầm trong ứng xử. Sai lầm cá nhân, sai lầm tập thể, sai lầm cơ chế. Những sai lầm và những sự thực nhiều khi hiện diện bên nhau một cách hỗn độn. Chúng trải dài và rộng trên lịch sử. Nhiều người bị trói buộc vào đó như một định mệnh. Ðịnh mệnh như một cỗ xe lôi con người đi. Trong hoàn cảnh ấy, con người khó có một cái nhìn toàn diện về sự thực, nhất là không dễ có một cái nhìn tự dọ Ðó là điều bi đát. Nhưng điều bi đát hơn đó là có những người lại tỏ ra tự hào, vì được trói buộc vào chế độ nô lệ tư tưởng, hơn nữa còn sung sướng tự mình trói buộc mình vào cảnh nô lệ tư tưởng. Kết quả thực là tai hại.
Khi nhìn những sự kiện trên, tôi thấy bổn phận tôn trọng sự thực, truy tìm sự thực, giới thiệu sự thực là cực kỳ quan trọng đối với người viết báo. Ðó cũng là bổn phận đối với người đọc báo. Thiết tưởng đó cũng là bổn phận đối với người bình luận về báo, và đối với mọi người muốn sống trưởng thành chiều kích nhân bản.
Thiết tưởng ánh sáng triết học và ánh sáng tôn giáo có khả năng đóng góp nhiều trong việc thi hành bổn phận cao quý ấy, để biết phân định, chọn lựa những gì là có khả năng thực sự giải phóng con người, thăng tiến con người, cứu độ con người.
Long Xuyên, ngày 16 tháng 7 năm 1998
 

Bùi-Tuần 1590: Suy nghĩ về thời sự tôn giáo

Mấy tháng qua có những thời sự tôn giáo rất đáng suy nghĩ. Chúa muốn nói gì với chúng ta qua Bùi-Tuần 1590

Mấy tháng qua có những thời sự tôn giáo rất đáng suy nghĩ. Chúa muốn nói gì với chúng ta qua những thời sự ấỷ Ðó là những điều tôi xin được chia sẻ.
 Những thời sự tôn giáo đáng suy nghĩ.
Tại Hàn Quốc, Hội Thánh Công giáo đang cùng với Nhà Nước đối phó với cuộc khủng hoảng kinh tế xã hội trầm trọng.
Bởi vì từ mấy tháng nay, sự suy thoái kinh tế đã kéo theo nhiều suy thoái khác. Số người tự tử tăng 200%. Khoảng 30 vụ tự tử mỗi ngàỵ Trong số người tự tử có những bà mẹ thất vọng vì không đủ tiền nuôi con, có những người cha tủi hổ vì không sao trả được nợ. Tăng số trẻ sơ sinh bị cho đi. Tăng số người ly dị (Báo Le Monde diplomatique, tháng 7, 1988).
Tại Brésil, giáo phái phát triển mạnh. Nước Brésil trước đây kể như toàn tòng Công giáo, nay đang trở thành nơi sản sinh các thứ giáo phái. Một giáo phái mệnh danh là “Hội Thánh phổ quát của Nước Thiên Chúa” mới thành lập năm 1977, nay đã qui mộ được khoảng 5 triệu tín đồ. Giáo phái này hiện có trên 300 giáo sĩ, 2500 đền thờ, 270 nhà thương, có chi nhánh tại 64 nước trên thế giới. Mỗi năm họ chi ra một số tiền khổng lồ tương đương với 600 tỷ Francs Pháp. Hàng năm có từng mấy trăm ngàn người công giáo bỏ Hội Thánh Công giáo để gia nhập giáo pháị Giáo phái này sống đạo trên nền tảng Kinh Thánh, tổ chức hành hương, kính mến Ðức Mẹ và công kích Hội Thánh Công giáo Rôma (Báo La Vie số 2756, tháng 7, 1988).
Tại Áo quốc, phong trào giáo dân bất bình với Toà Thánh đang bùng nổ lớn và âm ỷ tại nhiều nơi.
Họ cho rằng Toà Thánh đã có những sai lầm trong một số quyết định, trong đó có việc chọn người vào các chức vụ cao tại Giáo hội địa phương. Họ cho rằng các vị này vị nọ đạo đức một cách bệnh hoạn, thiếu trưởng thành về nhân bản và về đời sống thiêng liêng. Cụ thể là trường hợp Ðức Hồng Y Groer, Tổng Giám Mục Viennẹ Bất bình sinh ra bất kính và chống đối. Cuộc viếng thăm Áo của Ðức Thánh Cha tháng 6 vừa qua, đã chứng kiến tình hình lộn xộn (La Vie, 2755, tháng 6, 1988). Sự không hài lòng với cơ chế cồng kềnh của giáo triều cũng đã được chính Ðức Hồng Y Ratzinger nói lên trong phát biểu của ngài tại Thượng Hội Ðồng các Giám Mục Á châu vừa qua. Trong Thượng Hội đồng này, nhiều vị Giám Mục Á châu cũng đã chân thành và lịch sự trình bày sự chưa hài lòng của mình về nhiều vấn đề đối với Trung ương Rôma (Báo 30 jours, tháng 6, 1998).
Tại Bắc Ái Nhĩ Lan, vẫn còn tình hình căng thẳng giữa hai cộng đồng Tin Lành và Công giáo.
Tình hình bất hoà đã có từ 3 thế kỷ, và đã trở nên căng thẳng từ 3 chục năm naỵ Mặc dầu hai bên đã đạt được hiệp định hoà bình tại Belfast ngày 10 tháng 4 năm 1998, nhưng tình hình lại đột nhiên trở lại căng thẳng. Bởi vì gần đây, “dòng Cam” Tin Lành cương quyết tổ chức diễu hành khiêu khích qua khu vực người công giáo, để tưởng niệm chiến thắng Boyne, nơi vua Guillaume d’Orange đè bẹp cuộc nổi dậy của người công giáo năm 1690. Những người công giáo bị khiêu khích chuẩn bị sẽ ra tay (Báo La Vie, số 2751, tháng 5, 1998).
Tại Pháp, tình hình thiếu giám mục trở thành vấn đề nhức nhối.
Hiện nay tại Pháp có 7 Toà Giám Mục trống ngôi. Ðầu năm 1999 sẽ có 13 giám mục chánh toà về hưu vì tới tuổi. Ðây tới đó, Toà Thánh sẽ phải lo bổ nhiệm 20 Giám Mục chánh toà, và chọn một số giám mục phó và phụ tá. Nhu cầu này sẽ không thể dễ dàng giải quyết, và do đó số Toà Giám Mục trống ngôi sẽ tăng lên.
Vấn đề này, khi được đặt bên cạnh 3 điểm suy thoái của Giáo hội Pháp, mà thư chung Hội Ðồng Giám Mục Pháp, 1996 đã nêu ra, đó là: giảm bớt số người giữ đạo, mất đi ký ức Kitô giáo, khó khăn vươn lên, thì tình hình chung của Giáo hội Pháp sẽ bị coi là khá gay gắt (Báo La Croix, 25 tháng 5, 1998).
Khi suy nghĩ về những thời sự trên đây, tôi có cảm tưởng là Chúa đang dùng những thời sự đó, để nhắn nhủ chúng ta. Riêng tôi, tôi nghĩ tới một số thái độ sống đạo, mục vụ và truyền giáo nên chọn lựa cho thời điểm hiện naỵ
 Những thái độ tu đức, mục vụ, truyền giáo nên chọn lựa

1. Trước kết cần khiêm nhường
Khiêm nhường nói đây là đừng vội xét đoán những thời sự tôn giáo. Nếu không, sẽ là nông nổi và vô trách nhiệm. Sự thực luôn phức tạp. Ơn cứu độ là một mầu nhiệm. Chúa ban ơn cứu độ theo phán đoán của Chúa, chứ không theo phán đoán của chúng ta.
Khiêm nhường cũng là đừng tưởng rằng những thời sự như thế sẽ không bao giờ xảy ra tại Việt Nam. Lịch sử đã chứng kiến nhiều chuyển biến bất ngờ. Ai ngờ những nước xưa dân chúng rất gắn bó với Công giáo, nay họ đã trở nên dửng dưng nhạt lạnh, hoặc phần nào chống đối. Ai ngờ những miền đất xưa đã được tưới bằng mồ hôi và máu chính Chúa Giêsu, cũng như hầu hết các Giáo hội sơ khai được xây dựng bởi chính các tông đồ nay không còn thuộc về Công giáo nữa, mà đang thuộc về Do Thái giáo, Hồi giáo và Chính Thống giáo.
Khiêm nhường là nên bỏ đi việc kết án các đối tượng cứu độ, mà hãy nhìn nhận chính bản thân chúng ta và Giáo Hội chúng ta mới là những đối tượng cần được cứu độ hơn hết.
Khiêm nhường là hãy rút ra từ những thời sự suy thoái kể trên bài học về các phương tiện trần thế. Nên coi tất cả những thứ phương tiện đó, kể cả chúng ta, đều là những dụng cụ rất giới hạn, rất tương đối. Ðể rồi, trong sống đạo, mục vụ và truyền giáo, phải tuyệt đối tìm về ơn thánh Chúa và tìm tuân phục thánh ý Chúa.
Thánh ý Chúa rất nhiệm mầu. Nhiều khi khủng hoảng lại là hồng ân thanh luyện, tạo cơ hội cho những đổi thay tốt đẹp.

2. Cần thay đổi
Phải thay đổi những gì không thể chấp nhận được. Ở đây tôi muốn nói về những lối sống đạo không thể chấp nhận được, bởi vì đã bị Chúa Giêsu kết án.
Thí dụ lối sống đạo Pharisêu. Ðó là lối sống ưa lợi dụng tôn giáo để phô trương khoe khoang, để kiếm tiền bạc, danh vọng địa vị, ưa căn cứ vào các luật phụ để bắt bẻ, ưa nhân danh Chúa để gây chia rẽ hận thù.
Thí dụ lối sống đạo có vẻ hiến dâng, hay xưng mình thuộc về Chúa, nhưng lại không được Chúa nhìn nhận, bởi vì họ làm các việc đạo đức theo chương trình riêng của mình, chứ không thực tình bước theo Ðức Kitô.
Trong cuốn “La vie de Jésus Christ après sa mort” mới xuất bản tháng rồi, tác giả André Coutin đã nói về một Ðức Giêsu Kitô đang bị đau khổ và hấp hối hiện nay trong Hội Thánh của Ngài. Ông kể ra tâm tình nhiều người đối với Hội Thánh tại địa phương họ. Họ buồn nản ra đi. Bởi vì họ thấy một Hội Thánh tuy chững chạc về mặt tôn giáo, nhưng lại khô cằn về mặt thiêng liêng. Hội Thánh đó sống rất khác với Ðức Kitô được kể lại trong Phúc Âm, một Ðức Kitô nghèo, sống giữa dân nghèo, cảm thương số phận kẻ nghèo, luôn giảng dạy và sống yêu thương, phục vụ, tha thứ, khiêm nhường. Ðang khi, theo họ nhận định, Hội Thánh địa phương của họ xem ra không muốn chấp nhận Ðức Kitô đó và không thể làm chứng cho Ðức Kitô đó.

3. Cần chấp nhận
Phải chấp nhận những gì không được thay đổi. Ở đây tôi cũng chỉ nói về những chân lý cứu độ.
Có những chân lý không thể thay đổi như: Sống đạo là phải tập trung vào Ðức Kitô, là phải đặt lên hàng ưu tiên số một điều răn bác ái của Ðức Kitô, là phải đi vào con đường hẹp của mầu nhiệm thánh giá, là phải trở nên bé mọn thiêng liêng, như trẻ nhỏ, như tấm men, như chút muối, như hạt lúa chôn vùi và thối đi trong lòng đất.
Ðức Kitô đã cứu chuộc nhân loại không phải chỉ bằng những lời rao giảng, bằng việc thiết lập các bí tích, bằng các phép lạ cứu người cùng khổ. Mà còn bằng cuộc đời khổ chế, khó nghèo, vác thánh giá lên Núi Sọ, để chịu đóng đinh trên đó, trước khi sống lạị.
Ðó là những chân lý, không phải chỉ để chúng ta học và tuyên xưng, nhưng nhất là để chúng ta biết mà đi theo Ðức Kitô trên con đường đón nhận ơn cứu độ và chia sẻ ơn cứu độ. Những chân lý đó là bền vững, luôn có giá trị. Không thể đổi thaỵ
Phải khiêm tốn chấp nhận những gì không thể thay đổị Và phải khiêm nhường thay đổi những gì không thể chấp nhận.

4. Cần cầu nguyện
Cần cầu nguyện rất nhiều. Cần suy niệm thực sâu. Trong tình hình hiện nay, điều quan trọng nhất cần năng suy gẫm và cầu xin, chính là lửa mến. Ðể gợi ý, xin đọc lại quan niệm sau đây của thánh Phaolô: “Dù tôi nói được các thứ tiếng của loài người và của các thiên thần, nếu tôi không có đức bác ái, thì tôi chỉ là khua chuông gõ mõ. Dù tôi nói tiên tri, dù tôi thấu suốt mọi mầu nhiệm cùng mọi khoa học, hay dù tôi có đức tin mạnh mẽ khiến được núi non di chuyển, nếu tôi không có đức ái, thì tôi chỉ là hư vô. Dù tôi phân phát mọi của cải cho người nghèo khó, dù tôi hiến thân tôi cho lửa thiêu đốt, nếu tôi không có đức bác ái, thì những hy sinh ấy cũng thành vô ích” (1 Cr 13,1-3). “Ðức tin, đức cậy, đức mến, cả ba đều cần, nhưng cao trọng hơn cả là đức mến” (1 Cr 13).
Bài ca đức ái của thánh Phaolô trong 1Cr, từ câu 4 đến hết câu 8. Và bài ca hoà bình của thánh Phanxicô Assisi thiết tưởng sẽ có thể góp phần không nhỏ vào việc đốt lên lửa mến trong chúng ta và trong Hội Thánh chúng ta.

5. Cần biết sợ
Khi tham dự Thượng Hội Ðồng các Giám Mục Á châu, tôi được nghe nhiều vị nói về hai điều quan trong Hội Thánh địa phương mà các ngài sợ. Một là thái độ dửng dưng, hai là thái độ quá khích. Thực tình, tôi cũng sợ như các ngài. Riêng tôi, ngoài hai điều sợ đó, tôi còn sợ một điều nữa, đó là sợ những thứ đạo đức không đúng thánh ý Chúa. Chính sự sợ đó đã thúc đẩy tôi năng chạy đến với Chúa Thánh Thần, để xin Ngài giúp phân định. Tôi có cảm tưởng là nhiều người thời nay đã đánh mất ơn kính sợ Chúa. Ðây là một vấn đề cần suy nghĩ thêm.
Long Xuyên, tháng 8/1998
 

Bùi-Tuần 1591: Bồi dưỡng linh đạo

Một dấu chỉ thời đại rất rõ nhận thấy hiện nay là sự chuyển biến. Chuyển biến trong mọi lãnh vực Bùi-Tuần 1591

Một dấu chỉ thời đại rất rõ nhận thấy hiện nay là sự chuyển biến. Chuyển biến trong mọi lãnh vực, chuyển biến sâu xa, chuyển biến mau lẹ, chuyển biến bất ngờ.
Sống trong dòng đời đầy chuyển biến đó, con người dễ bị cám dỗ để mình trôi dạt, tới đâu thì tới. Trôi theo dòng chảy là một lựa chọn dễ. Dễ, nhưng có hợp lý không? Rác rưởi cũng trôi như thế. Xác chết cũng trôi như vậy.
Có trách nhiệm về đời mình, có trách nhiệm góp phần xây dựng đạo đức chung, chúng ta nên cố gắng tỉnh thức về đạo hạnh, dù đôi khi vì thế mà phải lội ngược dòng. Có nghĩa là chúng ta phải chắc chắn về linh đạo, về đường thiêng liêng, vừa chặt chẽ trên lý thuyết, vừa toả sáng trên thực hành.
Ðây là một vấn đề cấp bách, một thách đố lớn. Cách giải quyết sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển Hội Thánh và Ðất Nước. Uy tín chúng ta cũng sẽ tuỳ thuộc vào đó.
Trong tâm thức ấy, tôi xin chia sẻ một vài kinh nghiệm về bồi dưỡng linh đạo. Những kinh nghiệm này có phần diễn tả được, có phần không diễn tả được. Ở đây, phần có thể diễn tả sẽ được hệ thống hoá, gọn gàng. Chỉ như những gợi ý mời gọi mà thôi.
Ðối với tôi, chiếc chìa khoá đã mở ra cho tôi các kho tàng để bồi dưỡng là niềm thao thức tuân phục ý Chúạ Trong mọi sự, trong mọi việc, tôi đi tìm ý Chúa, để mà thực thi.
Vậy Chúa muốn linh đạo hôm nay phải được bồi dưỡng thế nàỏ Ðể biết, tôi phải đi tìm. Tìm ở đâu?  Công đồng Vatican II và các nhà đạo đức nổi tiếng đã chỉ cho tôi hướng phải đi tìm. Theo hướng đó, tôi đã gặp được các kho tàng. Tôi đã mở ra. Tôi đã thấy. Và tôi đã tin.
Dưới đây là mấy kho tàng chính.

 Kho tàng triết học
Kho tàng triết học đã bồi dưỡng tôi rất nhiều. Ðang khi xu hướng thời nay muốn đặt tiền của lên hàng ưu tiên số một, thì triết học khuyên tôi hãy đặt con người vào số những ưu tiên đáng phải quan tâm hơn hết. Ðang khi hiệu nghiệm kinh tế được thời nay coi là giá trị cao nhất, thì triết học dạy tôi chân lý mới là giá trị cao nhất. Ðang khi thời nay lo tìm các phương tiện, thì triết học giúp tôi xác định các mục đích, nhất là mục đích đời người. Ðang khi thời nay lôi kéo con người dồn sức vào việc thiết lập trật tự cho xã hội, thì triết học giúp tôi thiết lập trật tự nội tâm. Ðang khi xu hướng thời nay là tìm thắng thế trong các lãnh vực xã hội, thì triết học lưu ý tôi đến việc thắng thế chính mình trong cuộc chiến giữa thiện và ác thường xuyên diễn ra trong bản thân tôi.
Cái nhìn triết học là cái nhìn với, cái nhìn trong, cái nhìn thấu. Là nhìn con người với những người xung quanh, vì thế mà có vấn đề trách nhiệm liên đới. Là nhìn con người trong thời gian và không gian cụ thể, vì thế mà có vấn đề môi trường, xã hội. Là nhìn con người thấu qua các cấu trúc tâm sinh lý. Chẳng hạn những hoạt động chìm trong tiềm thức và vô thức, những mặc cảm, những dồn nén, những phóng chiếu, những bù trừ vv... Vì thế mà có vấn đề nghiên cứu tính tình, xếp loại tâm lý vv... trong giáo dục.
Triết học giúp suy tư, lý luận, tìm tòi, theo những định luật nghiêm khắc.
Chừng đó thôi cũng đủ cho thấy kho tàng triết học và các ngành hữu quan có khả năng giúp tôi thực hiện việc tu thân, một việc cao quý không phải chỉ đối với đạo, mà cũng cần thiết đối với đời. Từ khởi điểm tu thân đó, tôi sẽ có một linh đạo sáng suốt hơn, tế nhị hơn trong việc đồng hành với những người khác, với Ðất Nước và Hội thánh.

 Kho tàng thần học
Khi tôi hiểu thần học như một hành trình diễn tả đức tin trong những chặng đường lịch sử cụ thể, thì ngoài thần học hệ thống, tôi vẫn thường tìm đến kho tàng thần học thực hành.
Loại thần học này hiện đang rất dồi dào. Thí dụ:
Thần học về đau khổ
Thần học về người nghèo
Thần học về đối thoại tôn giáo
Thần học về hội nhập văn hoá
Thần học về hiệp thông
Thần học về cứu độ tại Á châu
Thần học về đổi mới.
Thần học về những phép lạ, những hiện tượng gọi là sự hiện ra.
Thần học về môi trường.
Ðọc qua các sách báo về thần học thực hành như trên, tôi rất sửng sốt trước những mới mẻ của thần học. Từ ý thức về sự phong phú ấy, tôi nghĩ rằng: Thần học, khi được vận dụng đúng, sẽ giúp người công giáo Việt Nam sống đức tin một cách thích hợp và chất lượng hơn tại Việt Nam hôm nay.
Theo tôi, Chúa muốn sống đức tin tại Việt Nam hôm nay không chủ yếu sống với các tư tưởng, các cử hành, các kỷ luật cho bằng sống với Chúa.
Do đó, khi thần học biết tập trung vào Ðức Kitô, giới thiệu Người như mô hình tu thân đậm nét khiêm nhường, yêu thương, từ bỏ mình, đồng thời người công giáo cũng nỗ lực gắn bó với mô hình đó, thì ngay một lối sống thường ngày như vậy cũng đã là một hương thơm, một vẻ đẹp, không cần phải thuyết minh.
Hơn nữa, nếu nhờ thần học, mà mô hình tu thân đó lại mang động lực dấn thân vào đời với tất cả tinh thần liên đới, trách nhiệm, thì người công giáo sống đức tin sẽ đưa được Tin Mừng vào nhiều lãnh vực.
Nếu không có các sách thần học thực hành in sẵn mà mình mong muốn, thì chính mình, tự mình cố gắng suy tìm và có những chọn lựa đúng đắn khôn ngoan, để làm nên thần học thực hành cho sống đạo của mình. Tất nhiên phải dựa trên Kinh Thánh, nhất là đời sống Ðức Kitô. Một vốn liếng thần học như thế sẽ góp phần rất lớn vào việc bồi dưỡng linh đạo của chính mình. Trước là ích cho chính mình, sau là lợi cho những người mà chúng ta có trách nhiệm đồng hành.

 Kho tàng tu đức
Tu đức là cách mà mỗi người chọn, để sống ơn gọi nên thánh theo Thánh Linh. Mỗi người thường tìm bắt chước sự thánh thiện của Ðức Kitô về một nhân đức cách riêng. Vì thế mà có nhiều tu đức. Thí dụ tu đức của thánh Ðaminh, tu đức của thánh Phanxicô, tu đức của thánh Inhaxiô. Ngoài ra còn có những tu đức khác nhau do chức vụ và do hoàn cảnh. Tu đức của tôi là tu đức người môn đệ Ðức Kitô.
Dù thuộc loại nào, các tu đức vẫn giống nhau ở chỗ là những con đường, có nhiều chặng, dẫn vào sự sống mới.
Theo tôi thấy, thì những chặng đường sau đây trên con đường tu đức, có thể là những cái mốc để chúng ta bồi dưỡng linh đạo.
Chặng khám phá hương vị đời sống Hội Thánh, qua những tiếp xúc và tham gia sinh hoạt cộng đoàn Hội Thánh.
Chặng khám phá ra bóng dáng Thiên Chúa qua một số nhân vật trong Kinh Thánh, trong các thánh xưa, trong Hội Thánh hiện nay.
Chặng gặp gỡ các việc làm và sứ điệp của Ðức Kitô qua Phúc Âm.
Chặng thích lắng nghe Lời Ðức Kitô vang vọng trong đời sống riêng mình.
Chặng trực tiếp gặp gỡ chính Ðức Kitô bằng bí tích, cầu nguyện, chiêm niệm.
Chặng tình nguyện giao ước với Ðức Kitô về những từ bỏ, những dấn thân. Như thế, Con đường tu đức là một hành trình tái sinh, nhờ lửa Chúa Thánh Thần.
Trong mọi chặng đường tu đức, tôi thấy một điều rất quan trọng phải cố vượt qua, đó là lột bỏ con người cũ. Ðể phục sinh, cái nắp quan tài chôn con người phải được tháo gỡ, các lớp vỏ cứng bọc con người phải được phá đi, lớp màng che khuất con ngươi phải được bóc ra. Nếu không, thì sẽ nhìn mà không thấy, nghe mà không hiểu, gặp mà không nhận ra. Ðể cộng tác với Chúa trong những việc đó, chúng ta sẽ phải khiêm tốn rất nhiều.
***
Những việc trên đây về bồi dưỡng, tuy dù chẳng được bao nhiêu, nhưng dễ thực hiện. Thực hiện thường xuyên, đều đặn và kiên trì. Mỗi ngày có những giờ dành riêng cho việc đọc sách báo triết học, thần học, tu đức. Ðọc nhiều, không ngừng tự học thêm, thích suy tư nguyện gẫm. Tất cả đều do thao thức. Có thể là sẽ chẳng làm được gì mớị Nhưng chính bản thân chúng ta sẽ luôn được đổi mới theo thánh ý Chúa. Ðổi mới là do ơn Thánh Linh, nhưng cũng đòi sự cộng tác của con ngườị Nhờ đổi mới thường xuyên, linh đạo của chúng ta sẽ có thể tạo ra được một nền văn hoá mới, nổi về tự giác, tự thức, tự trọng và tự do.
Long Xuyên, tháng 9/1998
 

Bùi-Tuần 1592: Truyền giáo là "Ra khơi"

CGvDT:

Trải dài trên địa bàn sông nước ba tỉnh An Giang, Kiên Giang, Cần Thơ vùng đồng bằng sông Cửu Long Bùi-Tuần 1592

Trải dài trên địa bàn sông nước ba tỉnh An Giang, Kiên Giang, Cần Thơ vùng đồng bằng sông Cửu Long với khoảng 84 giáo xứ và hàng chục giáo điểm trong đó không ít trong số này thuộc vùng sâu vùng xa, thưa ÐGM, phải chăng giáo phận Long xuyên đã và đang mang đậm màu sắc của một vùng truyền giáo?
ÐGM Bùi Tuần: Trong môi trường như thế, quả thực việc truyền giáo vẫn được coi là một hoạt động ưu tiên tại Long Xuyên với sự tham gia của giáo sĩ, tu sĩ, giáo dân. Nhiều người đã thực sự "ra khơi". Tại đây, phương thức truyền giáo linh nghiệm nhất là tiếp xúc cá nhân trong tình nghĩa, công tác bác ái và sách báo Công giáo. Và một yếu tố hết sức quan trọng là tinh thần cầu nguyện, bác ái, khó nghèo, khiêm tốn.
CGvDT: Với những con người ra khơi và hành trang như thế, ÐGM đã có thể hài lòng về những nhà truyền giáo của mình chưa?
ÐGM Bùi Tuần: Theo tôi, truyền giáo là một trong ba kết quả tốt về mục vụ của giáo phận Long Xuyên hiện nay. Kết quả trong công cuộc này rất đa dạng. Nhiều người hiểu Công giáo hơn trước, nhiều người bắt đầu có thiện cảm với Công giáo, nhiều người quan tâm đến đạo đức hơn và cũng có nhiều người tự nguyện xin theo Ðức Kitô. Truyền giáo là khám phá và là nguồn sinh lực, do vậy, một tác dụng hỗ tương phát sinh là chính những người truyền giáo nhờ "ra khơi" nên cũng đã được thêm Phúc Âm hoá.
CGvDT: Thưa ÐGM, ngoài khía cạnh truyền giáo, hai khía cạnh mục vụ khác được những kết quả tốt là những khía cạnh nào?
ÐGM Bùi Tuần: Hai khía cạnh còn lại là tâm tình tiến tới Năm Thánh 2000 và sự thăng tiến rõ nét trong lĩnh vực giáo dục. Tiến tới Năm Thánh 2000, chúng tôi nhấn mạnh một số nét chính như Sám hối, tăng cường đón nhận sự sống siêu nhiên từ Chúa Ba Ngôi, tái Phúc Âm hoá chính mình bằng sự siêng năng suy gẫm Lời Chúa, cùng với Ðức Kitô đi vào đời, hành hương nhỏ tới các điểm nghèo.
CGvDT: Ðây phải chăng là những gì bàng bạc?
ÐGM Bùi Tuần: Không hẳn như thế. Chỉ cần chăm chú đôi chút, người ta cũng có thể nhận ra rằng nhiều người, nhiều cộng đoàn đã thực hành đúng và tích cực những hướng Năm Thánh trên đây - đó là những phát triển chiều sâu về lòng đạo đôi khi không thể diễn tả cụ thể bằng những số liệu. Riêng trong lãnh vực giáo dục, người ta có thể nhận biết rõ hơn như bên cạnh nhà thờ thường có phòng đọc sách báo, mở lưu xá tại thị thành cho học sinh vùng sâu vùng xa có chỗ trọ học, mở trường dân lập, yểm trợ học bổng cho học sinh nghèo, giúp phương tiện để đi học. Nói chung, số tiền dành cho công việc giáo dục là khá lớn. Và kết quả rất đáng mừng. Số sinh viên Công giáo theo các đại học tăng nhiều. Có những họ đạo nghèo năm nay có được mấy chục em lên đại học. Nhờ trình độ học thức cao, khả năng phấn đấu tốt và đạo đức khả quan, giới trẻ Công giáo của giáo phận đã có mặt tại nhiều lĩnh vực xã hội, để phục vụ đồng bào, xã hội.
CGvDT: Thưa ÐGM, tại giáo phận Long Xuyên, ngoài những kết quả tốt đẹp được ghi nhận trên đây, trong đời sống rộng lớn của Giáo Hội và xã hội, giáo phận có ưu tư thêm về điều gì không?
ÐGM Bùi Tuần: Còn có nhiều điều nhưng tôi thấy có ba chuyển biến đáng quan tâm. Ðiều đáng kể đầu tiên là sự phân hoá giàu nghèo trong giáo phận gây ra do nền kinh tế tự do và cạnh tranh. Có những họ đạo giàu và có những họ đạo nghèo. Ngay trong một họ đạo, cũng có cảnh giàu cảnh nghèo rõ rệt và khoảng cách giữa hai bên thường rất lớn. Mặt khác, để thăng tiến cuộc đời, nhiều gia đình bỏ quê lên thị thành. Do vậy, mục vụ giáo xứ lúc này đang quan tâm nhiều đến bổn phận sống liên đới.
CGvDT: Bên cạnh sự phân hoá, ÐGM còn nhận ra điều gì?
ÐGM Bùi Tuần: Một điều đáng quan tâm khác đó là đời sống văn minh vật chất hưởng thụ. Qua chính sách mở cửa, văn minh vật chất từ trong và từ ngoài tràn vào nông thôn lẫn thành thị mau hơn văn minh tinh thần. Khuynh hướng hưởng thụ, vụ lợi, thực dụng đua nhau nẩy nở. Chủ nghĩa cá nhân vùng lên dưới nhiều hình thức. Ðâu đâu cũng có vẻ tự hào với nền văn minh vật chất tiêu thụ và hưởng thụ. Kể cả các nhà tu, tuy với ý thức cảnh giác. Tại một ít nơi, tệ nạn xã hội đã phát sinh, lòng đạo cũng đã trở nên vụ lợi, theo một thứ lương tâm dễ dãi. Ðể giữ cho tinh thần Phúc Âm khỏi biến chất, mục vụ đang nhằm vào việc đào tạo "những tấm men". Báo chí Công giáo tháng 9/1998 cho biết Ba Lan với 95% Công giáo, trước đây rất sùng đạo nay chỉ còn 30% giữ đạo. Ái Nhĩ Lan cũng là một nước trước đây nổi tiếng tốt đạo, nay phải đóng cửa năm chủng viện vì số người đi tu ngày càng giảm. Những thông tin đó cảnh báo rằng văn minh vật chất hưởng thụ là rất mạnh. Ðể có thể sống tốt đạo thời nay, cần phải chú ý đến việc đào tạo chiều sâu.
CGvDT: Thưa ÐGM, việc đào tạo chiều sâu cần phải có thời gian, bề dày và một số điều kiện thích hợp và tương ứng, đâu là những điều kiện thích hợp?
ÐGM Bùi Tuần: Trên toàn quốc từ ít tháng nay đã phát động mạnh mẽ phong trào trở về với văn hoá truyền thống Việt Nam. Theo tôi, đây cũng là một trong ba chuyển biến đáng quan tâm. Trước phong trào này, theo ý kiến của nhiều người trong lĩnh vực văn hoá, xã hội và chính trị thì văn hoá truyền thống Việt Nam gồm văn hoá truyền thống dân tộc cộng với văn hoá truyền thống Phật giáo. Ý kiến đó ngày càng được khẳng định trên lý thuyết và trên thực hành. Trước sự kiện này, mục vụ trong giáo phận đang quy chiếu vào Thượng Hội Ðồng Giám mục Á châu, các nghiên cứu thần học của khu vực Ðông Nam Á và của địa phương để có một sự hội nhập văn hoá, vừa khôn khéo với thực tế và vừa hợp với giáo huấn của Toà Thánh.
Long Xuyên, tháng 10/1998
 

Bùi-Tuần 1593: Ðạo lý lành mạnh

Từ ít lâu nay, tôi lo âu nhiều về bổn phận rao giảng. Tôi tự hỏi mình: Ðạo lý tôi rao giảng có thực Bùi-Tuần 1593

Từ ít lâu nay, tôi lo âu nhiều về bổn phận rao giảng. Tôi tự hỏi mình: Ðạo lý tôi rao giảng có thực sự lành mạnh không? Ðang khi băn khoăn như vậy, tôi nhận được một cuốn sách của Ðức Hồng Y Carlo Maria Martini. Cuốn sách mang tựa đề: "Cùng đi đường với Timôthê".
Trong cuốn sách dày 200 trang này, Ðức Hồng Y Martini đã suy gẫm hai thư thánh Phaolô tông đồ gởi cho môn đệ Timôthê, người đồng hành thân cận của Ngài. Nội dung suy gẫm của Ðức Hồng Y Martini đã đem lại cho tôi nhiều xác tín mới và nhiều nghị lực mới. Món quà Ngài gởi cho tôi đã đến đúng lúc, đáp ứng đúng nhu cầu.
Tưởng cũng nên nhắc lại: Ðức Hồng Y Carlo M. Martini là một nhà Kinh Thánh học nổi tiếng, một nhà chuyên môn về tu đức, hiện là Tổng Giám mục giáo phận Milăng, Italia.
Dưới đây tôi xin chia sẻ vài nhận định của tôi về đạo lý lành mạnh dựa theo lời suy gẫm của Ðức Hồng Y Martini.

 Ðặc điểm của đạo lý lành mạnh
Rao giảng đạo lý là một nhiệm vụ chính yếu của người chủ chăn. Tất nhiên đạo lý đó phải lành mạnh. Lành mạnh nói đây có nghĩa là khả năng mang lại sự sống, bồi bổ tâm hồn.
Theo những lời căn dặn của thánh Phaolô gởi cho Timôthê, thì một đạo lý được gọi là lành mạnh nếu nó đề cao mấy điểm sau đây:
 a) Vai trò tối thượng của ân sủng và lòng thương xót Chúa
Thánh Phaolô viết: "Thiên Chúa đã cứu độ và kêu gọi chúng ta không phải vì công kia việc nọ chúng ta làm, nhưng là do kế hoạch và ân sủng của Ngườị Ân sủng đó, Người đã ban cho chúng ta tự muôn thuở trong Ðức Giêsu Kitô" (2 Tim 1,9).
"Ðức Kitô đã đến thế gian, để cứu chuộc những người tội lỗi, mà kẻ đầu tiên là tôị Sở dĩ tôi được thương xót, là vì Ðức Giêsu Kitô muốn tỏ bày tất cả lòng độ lượng của Người nơi tôi là kẻ đầu tiên, cho những ai sẽ tin vào Người, để được sống muôn đời" (1 Tim 1,15-16).
Những tuyên xưng trên đây đưa tới hệ luận trực tiếp này là nhận thức khiêm nhường. Cách nghĩ, cách làm, cách giữ đạo, cách giảng đạo phải được diễn tả bằng những thái độ khiêm tốn. Trước hết là nhìn nhận chính mình tội lỗi, bất xứng. Tiếp liền đó là tin nhận ơn cứu độ không phải chủ động do mình làm ra được. Mình chỉ đón nhận mà thôi. Ơn cứu độ là một ân sủng do lòng thương xót Chúa. Vì thế cần siêng năng cầu nguyện trong tâm tình sám hối, khó nghèo và tạ ơn.

 b) Vai trò trung tâm của Ðức Giêsu Kitô
Thánh Phaolô hay nói: ân sủng, đức tin, lòng thương xót được ban trong Ðức Giêsu Kitô.
"Chỉ có một Thiên Chúa, chỉ có một Ðấng trung gian giữa Thiên Chúa và loài người: Ðó là một con người, Ðấng đã tự hiến làm giá cứu chuộc mọi người" (1 Tim 2,5-6).
"Mầu nhiệm đạo thánh thực là cao cả, đó là Ðức Giêsu Kitô xuất hiện trong thân phận người phàm" (1 Tim 3,16).
"Nếu tôi cùng chết với Người, tôi sẽ cùng sống với Người" (2 Tim 2,11).
Những xác quyết trên đây đưa tới đòi hỏi này là lòng đạo phải tập trung vào Ðức Giêsu Kitô. Tin nơi Người, gặp gỡ Người, đón nhận Người, bắt chước Người, bước theo Người, có những ý muốn tâm tình cảm nghiệm theo Người. Do đó, sống ơn cứu độ nhận được nơi Chúa là phải sống những nguyên tắc luân lý căn bản mà Ðức Kitô tự hạ, tự hiến đã sống, như tinh thần trọng sự thực khó nghèo, từ bỏ mình, khoan dung, nhẫn nhục, yêu thương phục vụ, chấp nhận các thứ khổ đau của thánh giá, để hiệp thông với Ðấng Cứu thế, nhất là tuyệt đối tuân phục thánh ý Chúa Cha.
Người rao giảng đạo lý lành mạnh cần phải chuyên cần học hỏi. Nơi Sách Thánh (x 2 Tim 3,15), nơi Lời Ðức Giêsu Kitô (x. 1 Tim 6,3), nhờ đặc sủng (x. 1 Tim 4,14), nhờ kết hợp với Ðức Giêsu Kitô và ánh sáng Chúa Thánh Thần (x. 2 Tim 1,13-14).
 Dấu chỉ báo hiệu tình hình sa sút về đạo lý lành mạnh
Ngay thời kỳ đó, thánh Phaolô đã thấy đạo lý lành mạnh bắt đầu gặp nguy cơ biến chất. Ngài kể ra một loại dấu chỉ:
"Anh hãy biết điều này: Vào những ngày sau hết sẽ có những lúc gay gọ Quả thế, người ta sẽ ra ích kỷ, ham tiền bạc, khoác lác, kiêu ngạo, nói lộng ngôn, không vâng lời cha mẹ, vô ơn bạc nghĩa, phạm thượng, vô tâm vô tình, tàn nhẫn, nói xấu, thiếu tiết độ, hung dữ, ghét điều thiện, phản trắc, nông nổi, lên mặt kiêu căng, yêu khoái lạc hơn mến Thiên Chúa, hình thức của đạo thánh thì họ còn giữ, nhưng cái chính yếu thì họ đã chối bỏ" (2 Tim3,1-5).
"Kẻ không theo sát các lời lành mạnh là các lời của Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, và không theo sát giáo lý phù hợp với đạo thánh, thì lại hay lên mặt kiêu căng, không biết gì nhưng lại mắc bệnh ham tranh luận và thích cãi chữ. Do đó sinh ra ganh tị, tranh chấp, lộng ngôn, nghĩ xấu, đấu khẩu liên miên giữa những người đầu óc lệch lạc" (1 Tim 6,3-5).
"Sẽ đến thời người ta không còn chịu nghe giáo lý lành mạnh, nhưng theo những dục vọng của mình mà kiếm tìm hết thầy này đến thầy khác... Họ sẽ ngoảnh tai đi không nghe chân lý, nhưng hướng về những chuyện hoang đường" (2 Tim 4,3-4).
"Vào những ngày cuối cùng, một số người sẽ bỏ đức tin mà theo tà thần giả dối và các lý thuyết ma quỷ. Họ bị quyến rũ bởi những kẻ man trá giả hình mà lương tâm đã bị in dấu tội ác" (1 Tim 4,1-2).
Tất cả các hình thức sa sút về đạo lý lành mạnh đều rất nguy hiểm. Nếu xét về nguyên nhân phát sinh, thì có thể gom vào hai địa bàn này:
Một là địa bàn lý thuyết. Nhiều lý thuyết đạo đức đã xa rời hai đặc điểm của đạo lý lành mạnh, nhất là không tập trung vào Ðức Kitô.
Hai là địa bàn thực hành. Trong thực tế, những trường hợp dưới đây không phải là hiếm: Quen sống đạo một cách nguội lạnh, hời hợt. Sùng đạo, nhưng một cách bệnh hoạn. Ðề cao Hội Thánh, nhưng một cách sai lạc. Sinh hoạt tôn giáo sầm uất, nhưng trống vắng Tin Mừng. Nhiệt tình việc đạo, nhưng lại không cảm thương thân phận con người. Hành hương, nhưng lại không đi về hướng Nước Trời. Ðọc kinh mà không cầu nguyện. Ði lễ rước lễ mà không gặp gỡ Chúa. Nghe sách thánh mà không lắng nghe ý Chúa. Bênh vực đức tin nhưng lại bằng những cách trái với đức công bình bác ái, và tinh thần tôn trọng sự thực.
***
Mấy tóm lược trên đây có thể giúp chúng ta biết rõ phương hướng để cố gắng trưởng thành hơn trong nhiệm vụ huấn luyện lòng đạo của người khác cũng được trưởng thành hơn.
Tình hình đạo đức tại nhiều cộng đoàn đang có những dấu chỉ báo hiệu một sự sa sút nào đó, mà thánh Phaolô đã cảnh báo. Biết đâu sự sa sút ấy đã bắt đầu nơi chính chúng ta và đang trở nên trầm trọng.
"Xin Thiên Chúa là Cha và xin Ðức Giêsu, Chúa chúng ta, ban cho anh em ân sủng, lòng thương xót và sự bình an" (1 Tim 1,2).
Long Xuyên, ngày 23 tháng 10 năm 1998
 

Bùi-Tuần 1594: Những lá thư dễ đọc

Mỗi người thường có một cái nhìn về ý nghĩa đời mình. Cái nhìn đó ảnh hưởng đến mọi lựa chọn Bùi-Tuần 1594

Mỗi người thường có một cái nhìn về ý nghĩa đời mình. Cái nhìn đó ảnh hưởng đến mọi lựa chọn suốt hành trình cuộc sống .
Riêng tôi luôn xác tín điều này: Con người được tạo dựng do tình yêu Thiên Chúa. Mọi người đều được mời gọi đi về Thiên Chúa tình yêu. Ði về bằng những cố gắng phát triển các giá trị tốt đẹp. Ðặc biệt hơn hết là phải phát triển tình yêu. Làm sao để tình yêu của mình dần dần nên giống tình yêu Thiên Chúa.
Tiềm năng yêu thương được gieo vào lòng người như một hạt giống. Ơn gọi yêu thương cũng được thấm vào con người rất sâu rộng, từ vô thức, tiềm thức đến ý thức.
Con người phải nghe theo ơn gọi đó mà làm cho hạt giống yêu thương lớn lên hợp theo ý Chúa.
Nhưng con người dễ quên sứ mệnh cao quí ấy do nhiều nguyên nhân do chủ quan và khách quan. Vì thế Cha trên trời thường tìm cách nhắc nhở.
Tôi đã nhận được rất nhiều nhắc nhở, qua nhiều cách khác nhau. Ở đây tôi xin chia sẻ mấy phương tiện thông thường, Chúa đã dùng đối với tôi. Tôi gọi những phương tiện đó là những lá thư dễ đọc.

 Các loài cây
Ðứng trước bất cứ loại cây nào, tôi thường có cảm tưởng là đứng trước một bài học về tình yêu. Các cây thường phải hứng chịu nhiều thứ độc hại như khói bụi, nhiều thứ khắc nghiệt của thời tiết như gió mưa nắng hạn thất thường, nhưng chúng vẫn âm thầm góp phần vào việc phục vụ con người. Môi trường xanh mát, không khí trong lành, những thứ ấy cây tặng cho con người. Từ đó cây xứng đáng có mặt trong kinh tế, văn chương nghệ thuật, cả trong những nơi thờ phượng quen gọi là nơi thánh.
Trong nhiều trường hợp, cây đã là nơi gặp gỡ giữa con người và tình yêu Thiên Chúa. Tổ phụ Abraham đã gặp Chúa, khi ông đang đứng bên một cây cổ thụ. Tiên tri Êlia, tiên tri Giona đã gặp được thiên thần Chúa, khi các ông đang nghỉ dưới bóng cây. Ðức Giêsu Kitô đã cầu nguyện ở vườn cây Dầu, tại đó Người đã gặp thiên thần Chúa Cha sai đến an ủi Người.
Tháng 5 vừa qua, suốt một tháng dự Thượng Hội Ðồng các Giám Mục Á Châu tại Rôma, trong những giờ rảnh, tôi thường một mình ngồi ở góc một vườn cây lớn tại Vaticăng. Tôi nhìn lá rụng. Tôi nghe lá rụng. Tôi suy nghĩ về lá rụng. Tôi hiểu vai trò của lá rụng. Những gì không còn sự sống sẽ rụng đi, để những gì mang tiềm năng sự sống sẽ mọc lên. Cây là thế. Mọi người đều phải thế. Hội thánh là Dân Thiên Chúa cũng phải như vậỵ Khi rụng xuống vì tình yêu, và khi mọc lên cho tình yêu, thì cả hai việc sẽ cùng chung làm nên một bài ca. Trên thực tế, xem ra đó là một bài, quên không bao giờ ca!

 Những loài hoa
Chúa Giêsu Kitô dạy: “Hãy nhìn xem hoa mọc ngoài đồng” (Mt 6,28). Vâng lời Chúa, tôi hay nhìn hoa, đặc biệt là những hoa mọc chung với cỏ ở ngoài đồng, ở bên đường, ở giữa những đống rác. Những khi tâm hồn bị căng thẳng, tôi hay tới gần những hoa ấy, ngắm hoa, lắng nghe hoa. Dần dần, tâm hồn tôi được thư giãn, bình an. Tiếp xúc với các hoa mọc ở bên đường, tôi cảm nghiệm được những sự thực êm đềm về tình yêu Thiên Chúa. Những cây hoa ấy không hề phàn nàn cự nự về số phận mình. Chúng cứ âm thầm thích nghi với môi trường, và đã mọc lên với những vẻ đẹp tuyệt vờị Chúa nói: “Áo vua Salomon cũng không đẹp bằng” (Mt 6,29).
Tôi hiểu niềm tin vào tình yêu Thiên Chúa là rất quan trọng. Cho dù hoàn cảnh xem ra có những bế tắc, niềm tin của tôi vào Chúa Quan Phòng phải tuyệt đối, phải trọn vẹn. Tôi phó thác nơi Chúa, Ðấng yêu thương con người gấp bội lần hơn các loài hoa.
Cách đây ít năm, tôi nằm trị bệnh ở một nhà thương bên Cộng Hoà Liên Bang Ðức. Ðau đớn thể xác, đau khổ tâm hồn thi nhau ghìm tôi xuống vực thẳm cô đơn. Nhiều thuốc tốt, nhiều chăm sóc tốt. Nhưng thú thực, tôi không quên được sức thiêng đã đỡ nâng tôi, chính là những bông hoa tươi. Lúc nào phòng bệnh của tôi cũng có nhiều hoa tươi. Hoa thường, hoa quý và hoa rất quý. Ngắm hoa, suy gẫm về hoa, cùng với hoa tạ ơn Chúa. Dần dần tôi như được tái sinh. Tôi hiểu rõ hơn ơn cứu độ. Tôi đón nhận ơn gọi với mọi chi tiết của thực tại trong tinh thần phó thác. Ơn gọi ấy như cây hoa nhỏ giữa cánh đồng, một cánh đồng không chút gì giống vườn cảnh, vườn hoa. Như cây hoa phó thác, tôi tin vào tình yêu Thiên Chúa. Nay tôi thấy ứng nghiệm nơi tôi lời Chúa hứa và bài học loài hoa.

 Những nhóm nhỏ
Tôi đã gặp được nhiều nhóm nhỏ. Các nhóm nhỏ này khác nhaụ Các người trong một nhóm cũng khác nhau về nghề nghiệp, tuổi tác, trình độ, đôi khi cả về niềm tin. Nhưng họ rất hợp nhất với nhau, ở chỗ tất cả họ đều là những “con ong” làm nên mật. Mật là những công trình rao truyền chân lý, mật là các vẻ đẹp nghệ thuật, mật là các việc từ thiện. Họ làm việc. Họ học hành. Họ nghiên cứụ Họ giao tiếp. Họ chia sẻ. Họ cầu nguyện, suy gẫm. Họ giữ thinh lặng. Nhất là họ lấy cuộc sống mình làm chứng cho tình yêu Thiên Chúa.
Tất cả đều đi tìm một ý nghĩa cho đời mình, và câu trả lời đã đến với họ từ trên cao và qua cộng đoàn yêu thương.
Tiếp xúc với những nhóm nhỏ này, tôi cảm nhận được sự chân thành và sâu sắc, tôi cảm hứng được những giá trị mới, tôi cảm thông được những thao thức của lửa mến yêu nồng nàn đối với Chúa và đối với đồng bào, nhất là tôi nếm hưởng được hương vị đơn sơ khiêm tốn của tinh thần thơ ấu thiêng liêng. Sống với họ, tôi không thể không cảm tạ Chúa, vì “Chúa đã giấu nhiều điều với kẻ khôn ngoan, nhưng đã mạc khải cho những kẻ bé mọn” (Mt. 11,25). Ðiều quý giá nhất, cao cả nhất, sâu thẳm nhất mà Chúa đã mạc khải cho họ, chính là tình yêu Thiên Chúa.
Những nhóm nhỏ, những loài hoa, những loại cây là những lá thư tôi thường đọc để nhờ đó tôi được nhắc nhở, được đánh thức về con đường tình yêu dẫn lên Thiên Chúa. Tôi đã đọc các loại thư trên đây với đức tin, với lý trí và với tâm hồn. Tôi xin nhấn mạnh đến vai trò của tâm hồn. Cái tâm là rất quan trọng. “Hãy nâng tâm hồn lên”. Lời hô hào đó trong thánh lễ phải được thực hiện một cách sống động, khi đón nhận những nhắc nhở của Chúa. Ngay chính lúc này.
Long Xuyên, ngày 01/11/1998
 

Bùi-Tuần 1595: Hương vị Triết học trong thông điệp

"Ðức Tin và Lý Trí"

Triết lý là môn học có công dụng lớn trong đời sống. Nó góp phần quan trọng trong nhiều môn khoa Bùi-Tuần 1595

Triết lý là môn học có công dụng lớn trong đời sống. Nó góp phần quan trọng trong nhiều môn khoa, đặc biệt là trong Thần học. Bởi vì triết lý chuyên đi tìm chân lý, nhất là chân lý về con người. Con người là gì? Ðâu là ý nghĩa cuộc sống? Ðời người phải đi theo hướng nào?
Những thao thức trên đây luôn thấy phảng phất trên các trang của bức thông điệp dài, mà Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II mới công bố trong tháng 10, 1998 vừa qua. Thông điệp mang tựa đề “Ðức tin và Lý trí”. Ðức tin trong phẩm phục Thần học. Lý trí trong y phục Triết lý.
Ðức Thánh Cha ví đức tin và lý trí như hai chiếc cánh giúp cho tinh thần con người bay lên để ngắm nhìn chân lý. Chân lý sau cùng là Thiên Chúa. Khi biết Chúa và yêu mến Chúa, con người sẽ biết sự thực về chính mình.
Tất nhiên, trong hành trình bay lên chân lý đó, đức tin với thần học của mình phải giữ vai trò chủ yếu. Nhưng lý trí với triết lý của mình cũng có một vai trò hết sức quan trọng. Ðể minh chứng, Ðức Thánh Cha đã có những vận dụng rất là triết học.
Ở đây, tôi xin phép được trình bày vài nhận xét khiêm tốn của tôị
 Những dấu ấn trên dòng suy tư triết của thông điệp
Trước hết, suy tư triết của Ðức Thánh Cha chuyển tải cả một kho tàng triết học truyền thống kinh viện. Ngài trích Socrates, Platon, Aristote, Origène, Augustinô, Anselmô. Riêng thánh Tôma Aquinô, được Ngài nhắc tới 7 lần. Chứng tỏ triết gia này được Ngài rất ngưỡng mộ và đề cao.
Triết học hiện đại với các trường phái khác nhau cũng không xa lạ gì với Ðức Thánh Cha. Ngài nói về thuyết duy lựa chọn, thuyết duy lịch sử, thuyết duy khoa học, thuyết duy thực dụng. Những triết thuyết này tương đối mới, nếu so với thuyết vô khả tri và thuyết tương đối cũng được đề cập tới.
Khi để ý tới khuynh hướng suy tư triết của Ðức Thánh Cha, tôi có cảm tưởng là Ngài quan tâm nhiều đến triết học về con người và triết học về giá trị. Ba cuốn sách triết của Ngài được xuất bản trước khi Ngài làm Giáo Hoàng cũng chứng minh điều đó. Cuốn thứ nhất là “Khả năng xây dựng một nền đạo đức Kitô giáo trên những nền tảng của Max Scheler”. Cũng nên biết Max Scheler là một triết gia Ðức chuyên về triết lý các giá trị. (Xem La Philosophie de Max Scheler, 2 cuốn, PUP, 1959). Cuốn thứ hai là “Tình yêu và trách nhiệm” và cuốn thứ ba là “Con người và hành động”. Trong cả hai cuốn sách này, con người là vấn đề chiếm địa vị ưu tiên trong suy tư của Ðức Thánh Cha.
Dòng suy tư triết của Ðức Thánh Cha còn nói lên điều này: Ðức Thánh Cha rất yêu thương con người, cởi mở về phía con người, gần gũi với thân phận con người, một con người cụ thể với những chiều kích chung và riêng của nó.
Hơn nữa, những suy tư triết của Ðức Thánh Cha chứng tỏ Ngài là một người sống đức tin một cách trí thức, thông minh và sáng suốt.
Ngoài ra, những suy tư triết của Ðức Thánh Cha cũng cho thấy sự ham thích của Ngài về triết học.
Một hôm, trong bữa cơm tư riêng với Ðức Thánh Cha tại Vatican, khi trình bày với Ngài về việc học vấn, tôi có nhắc đến Linh mục Bochenski là giáo sư triết sử tại đại học Fribourg, Thuỵ Sĩ, và cũng là thầy dạy cũ của tôi, Ðức Thánh Cha chuyển ngay câu chuyện sang lãnh vực triết sử. Ngài đi xa. Tôi rất ngạc nhiên và hết sức khâm phục kiến thức triết học của Ngàị

 Sức mạnh của suy tư triết trong thông điệp
Ðọc thông điệp “Ðức tin và Lý trí”, tôi thấy, Ðức Thánh Cha giữ một thái độ suy tư chững chạc, mang một sức mạnh tinh thần cao. Tất cả các môn triết truyền thống đều có mặt.
Ði tìm chân lý, mà biết lý luận chặt chẽ với những bố cục vững vàng, thì đó là sức mạnh của luận lý học.
Ði tìm chân lý, mà biết phân tách, tổng hợp các sinh hoạt nội tâm của con người, như những khát vọng đi tìm tuyệt đối, những khả năng suy tư sự thực, thì đó là sức mạnh của tâm lý học.
Ði tìm chân lý, mà biết cân nhắc các thứ giá trị, kiểm tra phê phán các mục đích mà con người nhắm tới, thì đó là sức mạnh của đạo đức học.
Ði tìm chân lý, mà có được những cái nhìn trừu tượng phổ quát với những phạm trù về hữu thể, để khám phá ra chiều kích thiêng liêng, siêu hình của con người, thì đó là sức mạnh của siêu hình học.
Tất cả những sức mạnh ấy, sở dĩ Ðức Thánh Cha có được, không phải vì Ngài đã trình bày đúng các sự thực, mà vì Ngài đã hiểu và sống các sự thực ấy. Hơn nữa, vì Ngài đã trở về chính tận nguồn. Nguồn là thánh Tôma Aquinô, và từ đây Ngài trở về với Augustinô, Aristote và Denys. Rồi từ các nguồn ấy, Ðức Thánh Cha lại trở xuống các thực tại của hôm nay, để đụng chạm, lắng nghe và tìm trả đáp.
Như vậy, chân lý của Ðức Thánh Cha trình bày vừa do Ngài tìm ra, vừa do Ngài đã tin vào những người khác, và những người đó là hoàn toàn đáng tin. Những suy tư như thế có sức mạnh đặc biệt riêng của nó.
Một hôm, dịp thăm Ðức Hồng Y Paul Poupard, Bộ Trưởng Bộ Văn Hoá của Toà Thánh, tôi được Ðức Hồng Y dẫn đi thăm thư viện của Ngài. Tới một tủ kính lớn, Ngài chỉ vào một hàng sách, và nói với tôi: “Ðây là những sách triết của Élienne Gilson, Ðức Thánh Cha đã mượn đọc và mới gởi trả tôi”. Câu chuyện nhỏ trên đây gợi ý cho tôi thấy: Rất nhiều tư tưởng triết của nhiều triết gia đã được chuyển sang Ðức Thánh Cha, và rồi nhờ một đức tin trong sáng và một trí khôn sắc sảo, Ðức Thánh Cha đã làm mới lại những tư tưởng đó để chúng có thêm sức mạnh.

 Những hy vọng của Ðức Thánh Cha về triết học
Ðức Thánh Cha đề cao triết lý, nhất là siêu hình học. Ngài mong muốn các vị chủ chăn quan tâm nhiều hơn đến môn triết. Ngài hô hào các nhà thần học hãy dùng triết học một cách sâu sắc hơn và thường xuyên hơn trong khi trình bày Thần học. Ngài khuyên các nhà triết học hãy đào sâu hơn siêu hình học, để có thể có một nền tảng chắc chắn đúng đắn cho các chân lý triết.
Theo Ðức Thánh Cha, triết học sẽ là địa bàn thích hợp nhất để đối thoại với các nền văn hoá và các người ngoài Hội Thánh. Ngài cho rằng sự phục hưng triết học là cần thiết cho việc Tân Phúc Âm hoá. Cũng theo Ngài, triết học được phục hưng sẽ là phương tiện tốt để đối phó với những thách đố của thế kỷ 21.
***
Ðọc xong thông điệp “Ðức tin và Lý trí”, tôi cảm tạ Chúa đã ban cho Hội Thánh một vị Giáo Hoàng triết gia hiếm có là Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II. Một câu hỏi tự nhiên hiện ra trong tôi: Những hô hào trên đây của Ðức Thánh Cha về triết sẽ nhận được những hồi âm nào từ Hội Thánh Việt Nam?
Tôi không dám nghĩ thêm nữa.
Long Xuyên, ngày 15/11/1998
 

Bùi-Tuần 1596: Lộ trình Lời Chúa

Một trong những việc, mà người phục vụ Dân Chúa cần làm cuối năm, là xem xét lại nhiệm vụ Bùi-Tuần 1596

Một trong những việc, mà người phục vụ Dân Chúa cần làm cuối năm, là xem xét lại nhiệm vụ rao giảng của mình. Mình đã thực hiện thế nào? Diễn biến ra sao? Kết quả nhiều hay ít?
Với tất cả lương tâm trách nhiệm, tôi đã xét mình về nhiệm vụ đó. Khi nhìn xuyên suốt quãng đường dài một năm, tôi khám phá thấy một lộ trình Lời Chúa. Lộ trình này ví như một con đường có những chặng, hay một chuyến đi có nhiều giai đoạn. Chia sẻ sau đây sẽ trình bày vắn tắt.

 Lời Chúa được công bố
“Hội Thánh lắng nghe Lời Chúa. Hội Thánh vâng phục Lời Chúa. Hội Thánh tuân giữ Lời Chúa”, đó là tuyên ngôn của Công đồng Vatican II trong hiến chế Lời Chúa (Verbum Dei). Vì thế Lời Chúa phải được đặt ở vị trí cao nhất trong phụng vụ, mục vụ truyền giáo và rao giảng.
Lời Chúa nói đây là Lời Chúa ghi trong Phúc Âm, và cũng chính là Ðức Giêsu Kitô, Ngôi Lời của Thiên Chúa tình yêu.
Khi trung thành với Lời Chúa, chúng ta thấy đức ái được nhấn mạnh hơn hết. Ðức ái là dây ràng buộc con người với Thiên Chúa và với người khác. Ðức ái là một bảo đảm chắc chắn cho sự tự do Phúc Âm đối với lề luật và nghi lễ. Một đức ái đích thực sẽ đưa đến bổn phận phục vụ con người với những việc cụ thể dưới sự hướng dẫn của Thần Linh Ðức Kitô, theo ý Chúa Cha giàu lòng thương xót.
Phải rao giảng Lời Chúa toả sáng tình thương, rực lửa đức ái. Nhiệt tình với nhiệm vụ đó, chính là một tiêu chuẩn để đánh giá một cộng đoàn, một mục tử, một tín hữu.

 Lời Chúa gây vang vọng
Lời Chúa được loan đi một cách thích hợp, khi tới người nghe người đọc, sẽ gây ra trong họ những vang vọng. Họ cảm thấy Lời Chúa như nguồn sáng, như nguồn an ủi, như ngọn lửa, như sức sống. Những vang vọng sẽ rất cụ thể, bởi vì họ cảm thấy Lời Chúa gửi riêng cho họ, soi dẫn họ về những việc riêng của đời họ.
Khi đi vào con người cụ thể và cuộc đời cụ thể, Lời Chúa được con người đón nhận như một cái gì họ vốn từng mong đợi trong thẳm sâu tâm hồn. Và như thế, Lời Chúa từ ngoài vào làm cho Lời Chúa in trong lòng người được sáng tỏ lên.
Nhưng có được vang vọng hay không, nhiều hay ít, thì còn tuỳ ở mỗi người. Nếu lòng người đó là căn nhà nền bê tông đóng kín do tự phụ, dửng dưng, thì Lời Chúa sẽ không gây vang vọng nào thực sự hữu ích. Trái lại, nếu lòng người này cởi mở, mềm mại do khiêm tốn khó nghèo, thì Lời Chúa sẽ gây ra nhiều vang vọng lành thánh. Từ đó sẽ hiện ra những chân lý soi vào thời sự, dẫn họ tới việc đón nhận chương trình cứu độ của Thiên Chúa dành cho họ.

 Lời Chúa lan rộng
Lời Chúa được đón nhận nơi một người, sẽ thành lửa, ánh sáng và sự sống. Lửa lan ra. Ánh sáng lan ra. Sự sống lan ra. Lời Chúa từ đó sẽ làm cho nhiều người gặp gỡ nhau, gần lại với nhau. Họ sống chung trong cùng đức ái và đi về cùng một mục đích phục vụ. Họ làm nên những cộng đoàn đức ái. Nâng đỡ nhau, cùng nhau tìm ra những cái nhìn mới về lịch sử, về Quê Hương Tổ Quốc, về đồng bào và về chính họ.
Phong cách đạo đức của họ là dùng tình yêu đối với tha nhân để đáp lại tình yêu Thiên Chúa dành cho họ. Họ sống mạnh mẽ đức tin. Họ thực hiện đức tin bằng đức ái. Tình yêu là mặt diễn tả đức tin. Bởi vì tin là đón nhận tình yêu Thiên Chúa, tin là vâng phục Thiên Chúa được mặc khải là tình yêu, tin là phó thác lòng muốn của mình vào thánh ý Thiên Chúa tình yêu, Ðấng đã yêu thương chúng ta trước khi chúng ta nhận biết Người.
Khi nhìn vào nội bộ Hội Thánh và nhìn xa vào xã hội, tôi thấy Lời Chúa đang được thực hiện qua nhiều cách tại khắp nơi. Sự thực ấy giúp tôi hiểu rằng: Mình chỉ là một dụng cụ bé nhỏ của Lời Chúa. Không ai độc quyền về Lời Chúa. Không rao giảng Lời Chúa cũng là người phải học Lời Chúa, ngay nơi cộng đoàn mình rao giảng. Bởi vì bất cứ tâm hồn bé nhỏ nào cũng có thể đón nhận được Thánh Thần Ðức Kitô, để trở thành những nhân chứng cho Thiên Chúa là Cha giàu tình yêu thương xót.
Những chặng đường trên đây chứng tỏ hoạt động của Lời Chúa hiện nay trong Hội Thánh và trong xã hộị Hoạt động đó âm thầm, nhưng rất mạnh.
Nhận định này cho phép tôi nghĩ rằng: Càng gần tới năm thánh 2000 càng cần phải trở về với Lời Chúa. Nên coi đây là một quyết tâm của chúng ta cho năm mới 1999.

Long Xuyên, ngày 21/12/1998
 

Bùi-Tuần 1597: Mùa Vọng Maria

Lễ Noel là lễ rất trọng. Chúng ta thường có nhiều chuẩn bị để mừng lễ rất trọng nàỵ Thiết tưởng các Bùi-Tuần 1597

Lễ Noel là lễ rất trọng. Chúng ta thường có nhiều chuẩn bị để mừng lễ rất trọng nàỵ Thiết tưởng các chuẩn bị thiêng liêng phải được đặc biệt quan tâm. Ở đây tôi xin gợi ý về một Mùa Vọng Maria. Có nghĩa là sống một Mùa Vọng với tâm tình Ðức Mẹ Mariạ

 Kín đáo
Thánh sử Luca, sau khi kể các chi tiết về biến cố Noel, đã có một lời kết vắn gọn, nhưng súc tích về Ðức Mẹ: “Còn bà thì giữ lại các sự việc ấy và gẫm suy trong lòng” (Lc 2,19).
Trước hết chúng ta nhìn vào Ðức Mẹ giữ lại các sự việc trong lòng mình.
“Giữ lại trong lòng” là một cách nói để chỉ thái độ kín đáọ Kín đáo là thái độ phục tùng khôn ngoan của đức tin. Ðức Mẹ biết: Tất cả những gì đã xảy ra cho mình đều do sáng kiến của Chúạ Chính Chúa xếp đặt. Ðức Mẹ đón nhận, Ðức Mẹ tin, nhưng Ðức Mẹ chưa biết những gì còn sẽ xảy ra sau nàỵ Ðức Mẹ phải phấn đấu nhiều lắm với chính mình để giữ vững niềm tin. Bởi vì tin vào lời thiên thần truyền chính là một mạo hiểm ghê gớm. Ðức Mẹ giữ lại, giữ lấy, giữ kín. Mãi khi Chúa Giêsu sống lại, lên trời, và Chúa Thánh Thần hiện xuống, Ðức Mẹ mới nhìn thấy toàn bộ kế hoạch cứu độ. Lúc đó, Ðức Mẹ mới có thể kể lại cho các tông đồ một ít điều riêng về mình, mà Ðức Mẹ cho là nên nói ra.
Thực vậy, cuộc sống đức tin là một hành trình dàị Có những quãng đường rực sáng và cũng có những quãng đường dầy đặc bóng tối. Có những điều coi là hợp lý và cũng có những điều xem ra nghịch lý. Phải phối hợp đức tin với lý trí, và phải có cái nhìn toàn thể mới hiểu được. Vội phô ra, vội khen, vội trách là không khôn. Nên kín đáo, dè dặt.
Kín đáo cũng là một điều rất quý trong tình yêu. Nó là một vẻ đẹp. Tình yêu nào cũng có bí mật của nó. Thiên Chúa thương chọn Ðức Maria, thì đó là một bí nhiệm của Chúa, trước khi là bí nhiệm của Ðức Mẹ. Ðể bảo vệ đặc ơn Chúa ban, Ðức Mẹ đã giữ thái độ kín đáo. Kín đáo là dấu chỉ đáng tin của người được Chúa thương chọn. Giả sử hồi đó, Ðức Mẹ đã tổ chức lễ tạ ơn, ăn mừng vì ơn gọi của mình, thì Ðức Mẹ sẽ ra sao, sẽ còn gì?
Kín đáo vì thế cũng là dấu chỉ của người có tinh thần trách nhiệm, có bản lãnh chín chắn, có chiều sâu khôn ngoan.

 Gẫm suy
Ði liền với thái độ kín đáo là việc gẫm suy. Ðức Mẹ gẫm suy trong lòng (x. Lc 2,19).
Gẫm suy là đối chiếu. Ðối chiếu sự việc xảy ra cho mình với các sự việc đã xảy ra nơi nhiều người được kể trong kế hoạch cứu độ. Ðối chiếu biến cố của mình với Lời Chúa. Theo thánh Phaolô, thì Ðấng giúp linh hồn suy gẫm như vậy chính là Chúa Thánh Thần.
Nhờ Chúa Thánh Thần, gẫm suy của Ðức Mẹ đã giúp cho Ðức Mẹ cảm nghiệm được mình được Thiên Chúa yêu thương (x. Lc 1,28). Từ cảm nghiệm ấy, Ðức Mẹ khám phá thấy Thiên Chúa chính là Ðấng giàu tình yêu thương xót. "Chúa đã đoái nhìn đến con bằng một cái nhìn đầy tình thương xót" (x. Lc 1,48). Ðức Mẹ đã nhìn thấy bầu trời rạng rỡ ấy, và đã diễn tả phần nào trong kinh tự phát Tạ Ơn Mangificat.
Biến cố + Lời Chúa + Trái tim mình, đó là 3 điểm mà gẫm suy của Ðức Mẹ đi qua đi lại. Ðức Mẹ đọc biến cố dưới ánh sáng Lời Chúa. Ðức Mẹ dùng Lời Chúa soi vào biến cố. Qua biến cố cùng với Lời Chúa, trái tim Ðức Mẹ cảm thấy Chúa đến với mình, để sai mình cộng tác vào kế hoạch cứu độ.
Nhờ suy gẫm, Ðức Mẹ có đức tin một cách sâu sắc. Thần học nơi Ðức Mẹ không phải là những kiến thức về Chúa, mà là chính sự sống có Chúa, một Chúa gần gũi, một Chúa ở cùng.
Nhìn hình ảnh Ðức Mẹ thinh lặng suy gẫm trong cõi thẳm sâu lòng mình, tôi coi đó là một mô hình người đẹp với những giá trị tuyệt vời, hấp dẫn. Hội Thánh đang rất cần những khả năng suy tư, những trái tim chiêm niệm theo gương Ðức Mẹ.

 Khiêm hạ
Trong tinh thần chiêm niệm, Ðức Mẹ đã thấy rõ một sự thực: Mình chỉ là tôi tớ Chúạ Và Ðức Mẹ đã nói lên sự thực đó “Này tôi là tôi tớ Chúa” (Lc 1,29).
Khi xưng mình là tôi tớ Chúa, Ðức Mẹ đã đi vào truyền thống Thánh Kinh. “Abraham, đầy tớ của Ta” (St 26,24). “Moisen, đầy tớ của Ta” (Dân số 12,7). “Đavid, đầy tớ của Ta” (2 Sam 7,8). Thanh niên Samuel, khi nghe Chúa gọi, đã trả lời: “Xin hãy nói, vì đầy tớ Chúa đang lắng tai nghe” (1 Sam 3,9).
Ðầy tớ có nghĩa là người vâng phục chủ, người sẵn sàng làm việc chủ sai bảo làm, người phục vụ chủ. Hơn nữa, khi Ðức Mẹ nhìn nhận mình là người đầy tớ của Chúa, thì người đầy tớ ở đây còn có ý nghĩa sâu xa hơn. Nó đồng nghĩa với người nô lệ. Thánh Phaolô đã diễn tả ý đó về Ðức Giêsu Kitô:
"Ðức Giêsu Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa, mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân phận nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần. Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết trên thánh giá” (Pl 2,6-8).
Thân phận người đầy tớ-nô lệ trên đây cũng đã được Ðức Kitô nói về chính mình Người: “Con Người đến không phải để được phục vụ, nhưng để phục vụ và hiến mạng sống mình làm giá cứu chuộc cho nhiều người” (Mc 10,49).
Người đầy tớ-nô lệ của Ðức Giavê là Chúa Giêsu Kitô đã phải như thế, phương chi Ðức Mẹ. Ðức Mẹ khi xưng mình là tôi tớ Chúa, đã ý thức sự thực ấy, và đã sống sự thực ấỵ Khiêm hạ là sống đúng sự thực về mình.
Hiểu biết sai, hiểu biết ít, hiểu biết nông, hiểu biết kém các chân lý về Chúa, về Hội Thánh, về mình, về thánh giá, thường dễ dẫn đến kiêu căng.
Trong Thông điệp Ðức tin và lý trí mới được công bố, Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II nhận định: Nhân loại hiện nay đang sống trong khủng hoảng về chân lý. Do đó mà dễ sinh ra tự phụ, tự đắc, tự kiêu, tự mãn. Ngài khuyên các người của Hội Thánh hãy tìm chân lý nơi Ðức Giêsu Kitô, dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần, theo gương Ðức Mẹ Maria.

 Hiến dâng
Trong các chân lý cứu độ, có những điều hiểu được và có những điều chỉ phải tin. Có những điều để gắn bó và có những điều để làm nên giao ước, để lên đường. Ðức Mẹ đã “xin vâng” (Lc 1,38).
Lời xin vâng của Ðức Mẹ là một tự nguyện hiến dâng. Hiến dâng chính mình và đời mình, để đồng hành với Ðức Giêsu Kitô trên hành trình cứu thế.
Con đường cứu độ sẽ dài, có nhiều thử thách. Tiên tri Simeon đã báo trước cho Ðức Mẹ về những thử thách đó: “Con bà sẽ là dấu chỉ bị nhiều người chống báng. Còn Bà, thì trái tim Bà sẽ bị gươm sắc thâu qua” (Lc 2,34-35).
Gươm nói đây là những bắt bớ nhắm vào Ðức Kitô, như tiên tri Zacaria đã nói trước: “Gươm ơi, mày sẽ thức dậy chống lại người chủ chăn. Mày đánh chém chủ chăn, và các chiên sẽ bỏ trốn” (Zacaria 13,7).
Gươm là những nhục nhã, khổ đau mà Ðức Kitô sẽ phải chịu, như tiên tri Isaia đã nói trước: “Con Người bị gươm sắc thâu qua vì những tội ác của chúng ta” (Is 53,6).
Gươm là tất cả cuộc tử nạn của Ðức Kitô. Thánh Phaolô đã dám nói: “Những gian nan thử thách Ðức Kitô còn phải chịu, thì tôi xin mang lấy vào thân cho đủ mức, vì lợi ích cho thân thể Người là Hội Thánh” (Cl 1,24). Phương chi Ðức Mẹ Maria càng đã sống tâm tình hiến dâng như vậy.
Ðức Mẹ hiến dâng, vì Ðức Mẹ mến yêu Thiên Chúa và xót thương loài người.
Sự hiến dâng như thế được gắn liền vào cuộc sống đời thường với những chi tiết cụ thể của thực tại, nên sự biểu hiện tình xót thương đối với đồng bào xung quanh là điều tất nhiên phải có. Khi nhìn Mẹ Têrêsa Calcutta chăm sóc những bệnh nhân nghèo với tất cả tình thương, tôi hiểu hơn sự hiến dâng của Ðức Mẹ Maria xưa.
***
Những tâm tình trên đây, nếu được nội tâm hoá, sẽ có sức đổi mới con người chúng ta. Trong tiến trình nội tâm hoá, xin đừng quên điều này: Có tin mới hiểu. Có hiểu mới tin. Xin thêm điều này nữa: Càng tin và hiểu thì càng từ bỏ mình. Càng từ bỏ mình thì càng dễ gặp gỡ Ðức Kitô.
Long Xuyên, tháng 12/1998
 

Bùi-Tuần 1598: Cảm nghiệm Noel

Sự sống đời đời, đó là họ nhận biết Cha là Thiên Chúa duy nhất và chân thật, và nhận biết Ðấng Cha Bùi-Tuần 1598

"Sự sống đời đời, đó là họ nhận biết Cha là Thiên Chúa duy nhất và chân thật, và nhận biết Ðấng Cha đã sai đến là Ðức Giêsu Kitô" (Ga 17,3).
Lời trên đây là Lời Chúa ghi trong Phúc Âm. Tôi đã đọc lời đó nhiều lần. Không thấy vang vọng nào. Không gợi nên thắc mắc nào.
Năm ấy, dịp Noel, một mình trước hang đá, tôi dùng lời Kinh Thánh đó để cầu nguyện. "Lạy Chúa Cha, con tin Cha là Thiên Chúa duy nhất và chân thật. Lạy Chúa Giêsu Kitô, con tin Chúa là Ðấng Chúa Cha sai đến với con". Tôi cầu nguyện nhiều lần tự đáy lòng, với tất cả tâm hồn khát khao Chúa. Lúc đó tôi đang lo âu nhiều chuyện.
Bỗng, một lần chuyển biến xảy ra. Tôi thấy cùng một lúc bốn sa mạc. Một là sa mạc mà dân Israel đã đi qua để đến đất Hứa. Hai là sa mạc địa lý mà Ðức Kitô đã ẩn mình để cầu nguyện. Ba là sa mạc cuộc đời cô đơn, bị chống đối của Ðức Kitô đã dẫn Người đến thánh giá và phục sinh. Bốn là sa mạc mà tôi đã và đang đi. Trong tất cả các sa mạc ấy, tôi đều thấy có sự can thiệp của Thánh Thần Chúạ Người dẫn đưa, ủi an và đồng hành.
Một thoáng nhìn trên đây đã gây trong tôi ấn tượng rất mạnh về Thiên Chúa là Chúa duy nhất và chân thật về tình yêu. Tôi cảm thấy. Tôi nếm được.
Ấn tượng này cho phép tôi vững tin và hiểu rõ hơn: Thiên Chúa là tình yêu thương xót cứu độ. Người yêu thương tôi. Người cứu độ tôi. Người ở bên tôi. Hãy nhìn Người. Chính dung mạo Người đã xua đuổi mọi bóng tối ra khỏi linh hồn tôi. Chính dung mạo Người đã chữa lành các vết thương lòng tôi. Chính dung mạo Người đã đem lại sự bình an sâu xa cho hành trình đời tôi.
Dung mạo của Chúa Cha giàu tình yêu thương xót được tiếp tục mặc khải cho tôi qua Ðức Giêsu Kitô, Ðấng Chúa Cha sai đến, để cứu độ, theo thánh ý Chúa Cha.
Những gặp gỡ trên đây khi kéo dài, đã cho tôi cảm nghiệm xa hơn: Thiên Chúa là nguồn sự sống vĩnh cửu. Sự sống này toàn là tình yêu. Tình yêu này là tuyệt đối, chân thực. Nước Thiên Chúa là những gì dạt dào sự sống, là những gì ấm áp tình yêu, là những gì sáng ngời chân lý.
Với ý thức như vậy, tôi nhận ra những lễ nghi, lễ hội nào trống vắng sự sống, những quan hệ nào còn nhẹ tình thương, những việc làm và lời nói nào quá ít sự thực. Phải sửa lại.
Sự trở về như thế sẽ không chủ yếu do bỏ được sai lầm, tội lỗi, mà do gặp gỡ thân mật với Chúa Giêsu. Gặp gỡ Người để đón nhận ơn Người cứu độ chúng ta. Gặp gỡ Người để đi theo Người. Gặp gỡ Người để đón nhận ơn gọi sai đi mà Người chọn cho mỗi người chúng ta.
Từ đó, tôi cảm nhận thấy sự cần thiết phải có một đức tính, đó là biết đón nhận.
Muốn đón nhận, thì phải thức tỉnh, cởi mở, với lòng thao thức khát khao tình yêu Chúa cứu độ.
Thời Ngôi Hai Thiên Chúa giáng trần có ba loại người nổi nang trong đạo. Nhưng cả ba loại này đã không đón nhận Ðức Kitô.
Các luật sĩ chỉ thao thức về luật.
Các thượng tế chỉ nhạy bén về đền thờ.
Các kỳ lão chỉ lo lắng về truyền thống.
Loại nào cũng sống tự mãn trong những cơ chế phức tạp cứng nhắc. Họ bám chặt vào những cơ chế đó như những cơ chế có sức cứu độ.
Chúa Giêsu đến không qua các cơ chế ấy, nhất là đến dưới hình thức tình thương, chứ không dưới hình thức quyền lực vinh quang mà họ mong muốn nên họ đã không đón nhận. Còn các mục đồng và ba vua thì lại hân hoan đón nhận, bởi vì họ khát khao và thao thức đi tìm một tình thương cứu độ.
Nhận thức mình là kẻ đón nhận hơn là kẻ ban phát sẽ giúp môn đệ Chúa khiêm nhường.
Khi đón nhận, thiết tưởng không nên quên đón nhận những soi sáng, và tìm những sáng kiến về sự cho đi. Phục vụ, dấn thân, hy sinh, sao cho trong sáng, vô vị lợi. Chỉ cần Chúa được vinh danh, Ðồng Bào được thăng tiến, còn mình nên lu mờ đi.
Những cảm nghiệm trên đây tuy nhỏ bé, cũng cho tôi nếm được phần nào hương vị cõi sống đời tôi. Sự sống đời đời đã bắt đầu rồi. Nó có mặt trong cuộc sống hôm nay trên cõi đời này. Nó không phải là phần thưởng cho các nhân đức, nhưng là kết quả của một lựa chọn theo thánh ý Thiên Chúa, một Thiên Chúa là Tình Yêu, mà tôi tin thờ.
Tôi biết tôi tin vào ai, tôi biết đời tôi phải đi theo hướng nào, tôi biết cái gì làm cho đời mình có giá trị thực. Như thế cảm nghiệm của tôi nói đây có nghĩa là sự gặp gỡ Chúa, sự trở về với Chúa, sự đón nhận ơn Chúa, sự ra đi phục vụ con người theo ơn gọi sai đi.
Tôi cảm nghiệm rất rõ ơn gọi sai đi của tôi. Nó khởi đi từ ơn gọi sai đi của Chúa Giêsu nhận từ Chúa Cha. Ơn gọi đó là rao giảng và làm chứng cho những chân lý căn bản có sức cứu độ. Ðó là:
a) "Thiên Chúa là Tình Yêu" (1 Ga 4,8). Với bản tính tình yêu, Người đúng là Thiên Chúa duy nhất và chân thật.
b) Niềm tin vào Thiên Chúa tình yêu phải được diễn tả và làm chứng bằng sự thực thi nghiêm túc giới răn mới của Ðức Kitô: "Thầy cho các con một điều răn mới là các con hãy yêu thương nhau, như Thầy đã yêu thương các con" (Ga 13,33).
c) Chỉ có yêu thương mới là dấu chỉ đích thực của người môn đệ Ðức Kitô: "Người ta cứ dấu này mà nhận biết các con là môn đệ Thầy là các con thương yêu nhau" (Ga 13,34).
d) Yêu thương thế nào thì hãy đi theo Ðức Kitô, sống theo lời dạy của Ðức Kitô, làm theo gương của Ðức Kitô. Cụ thể là gương vì con người mà giáng sinh trong hang đá và hy sinh trên thập giá (x. 1 Ga 3,16).
Từ những cảm nghiệm trên đây và theo dõi tình hình, tôi có thể đưa ra dự báo này: Thế kỷ XXI, số người tin vào Thiên Chúa tình yêu sẽ tăng. Nhưng số người tín nhiệm vào các thành phần Hội Thánh sẽ giảm, nếu tất cả Hội Thánh không cố gắng thực thi đúng ơn gọi sai đi của mình, bằng cách phát huy tích cực hơn nữa tình liên đới yêu thương phục vụ, tính tự do chính đáng đầy trách nhiệm, và tinh thần hiệp nhất trong sự tôn trọng những khác biệt. Thiên Chúa tình yêu muốn con cái của Người hãy sống chiều kích xã hội mang Tin Mừng một cách chân thật. Thiện tâm của Noel là thế.
Ðó là một thách đố lớn đặt ra cho Hội Thánh hôm nay và thế kỷ XXI.
Long Xuyên, tháng 12/1998
 

Bùi-Tuần 1599: Tâm sự thiêng liêng về bổn phận yêu thương

“Nếu tôi phải viết một cuốn sách đạo đức, cuốn sách đó sẽ dày 100 trang. 99 trang sẽ để trắng. Trang cuối cùng, tôi sẽ viết: ‘Tôi chỉ biết duy một bổn phận, đó là yêu thương’”.

Lời trên đây được in trong cuốn “Hạnh phúc bằng 36 nhân đức”. Tác giả sách là Jacques Duquesne. Bùi-Tuần 1599

Lời trên đây được in trong cuốn “Hạnh phúc bằng 36 nhân đức”. Tác giả sách là Jacques Duquesne. Nhưng tác giả câu nói trên là Albert Camus. Sách mới xuất bản tháng 12 năm 1998.
Ai cũng hiểu người nói và người trích dẫn không đơn giản đến mức đó. Họ nói thế, chỉ để đề cao bổn phận yêu thương. Ðề cao là rất đúng. Chúa Giêsu đã truyền dạy như thế. Hội Thánh vẫn rao giảng như vậy.
Mến Chúa yêu người là lược tóm toàn thể nếp sống đạo. Từ nhỏ, tôi đã thuộc lòng chân lý ấy. Nhưng chân lý ấy đã được hiểu thế nào, cảm nghiệm ra sao, thực thi cách nào. Cần xem xét lại.
Tôi lợi dụng chuyến đi Rôma - Paris đầu năm 1999 mới rồi, để phần nào xem xét lại bổn phận quan trọng nhất đời mình.
Trong gần một tháng, tôi phấn đấu đọc một số sách mới nhất trong năm 1998 đề cập đến bổn phận yêu thương.
Về cơ sở của bổn phận yêu thương, tôi đọc trong cuốn “Thiên Chúa là Cha của tình xót thương” do Uỷ Ban Toà Thánh chỉ đạo Năm Toàn Xá 2000, (tháng 10, 1998).
Về việc xây dựng Nước Tình Yêu, tôi đọc trong cuốn “Lạy Cha, nguyện Nước Cha ngự đến” của Ðức Giám Mục André - Mutien Léonard, (tháng 10, 1998).
Về gương mẫu yêu thương, tôi đọc trong cuốn “Thiên Chúa, Ðấng toàn năng” của Jean-Pierre Batut, nói về gương thánh nữ Têrêsa Lisieux mến Chúa yêu người, (tháng 11, 1998).
Về sự kính trọng những khác biệt khi yêu thương, tôi đọc trong cuốn “Còn Thầy, Thầy không kết án ai” của Lytta Basset, (tháng 9, 1998).
Về sự biết thương cảm những người khổ đau, tôi đọc trong cuốn “Cảm thương, yêu đến cùng” của Odile Terra, (tháng 3, 1998).
Về ơn biết cầu nguyện với Thiên Chúa tình yêu, tôi đọc trong cuốn “Lạy Cha, xin ban cho con ơn cầu nguyện” của Jean Lafrance, (tháng 01, 1998). Về những chứng từ sống động yêu thương, tôi đọc trong cuốn “Sáng tạo mùa thu” của André Sêve, (tháng 7, 1998).
Về việc vun trồng tình liên đới, tôi đọc trong cuốn “Dịp cuối thiên niên kỷ, chúng ta hãy làm nên một giấc mơ” của Ðức Hồng Y Carlo M. Martini, (tháng 9, 1998).
Về những phấn đấu nội tâm trong bổn phận yêu thương, tôi đọc cuốn “Cầu nguyện đời mình” của Isabelle Prêtre – Krug, (tháng 11, 1998), và cuốn “Chỉ nam cho những khó khăn đời thường” của Pierre Descouvemont, (tháng 7, 1998).
Càng đọc tôi càng thấy bổn phận yêu thương là vấn đề rất mênh mông, các ý kiến đưa ra thực là phong phú. Ðang khi đó, nhìn ra xã hội, tôi thấy bổn phận yêu thương là cả một thời sự đa dạng, đầy phức tạp. Có những người tốt việc tốt về yêu thương, những cơ quan từ thiện, những phong trào cứu đói giảm nghèo, những hội nghị hội thảo về hoà bình v.v. Nhưng cũng có những xung đột đẫm máu, những tranh chấp gay gắt, những cuộc bạo động, những vụ trộm cướp, những vụ ly dị, ngoại tình, những tham ô lừa dối, những ghen tương, kiêu căng bỏ vạ cáo gian v.v.
Khi nhìn vào chính mình, tôi thấy bổn phận yêu thương là một chuỗi dài những cuộc bắt đầu. Bắt đầu rồi lại bắt đầu. Như thể giá trị của người sống bổn phận yêu thương chỉ là có can đảm bắt đầu, có khả năng bắt đầu lại, biết khiêm tốn tiếp tục bắt đầu mãi mãi.
Cách đây gần 40 năm, tôi đã làm hai luận án ở Ðại Học Fribourg, Thuỵ Sĩ. Cả hai đều đề cập đến tình yêu: “Nguồn gốc của tình yêu” và “Nguồn gốc đau khổ của tình yêu”. Nội dung thuộc triết lý của tình yêu. Ðể làm hai luận án đó, tôi đã đọc khá nhiều sách. Lâu nay, những khi có dịp, tôi tìm đọc thêm các sách triết về tình yêu. Tôi thấy những sách triết xưa và nay về tình yêu có thể soi sáng nhiều cho bổn phận yêu thương trong lĩnh vực đạo đức.
Tuần vừa qua, tôi đi thăm mấy nơi vùng sâu vùng xa. Tôi thấy cuộc sống nói chung có khá hơn trước. Nhưng nhiều người vẫn lầm than, nhiều hộ vẫn đói nghèo, nhiều nơi vẫn thiếu học, nhiều môi trường vẫn ô nhiễm trầm trọng. Tất cả cần được quan tâm. Có chính sách, luật pháp, chủ trương, nhưng nếu thiếu những tấm lòng thực sự yêu thương, thì các giải quyết sẽ chẳng sâu xa được.
Yêu thương không đơn giản chút nào. Nó là một công trình phải xây dựng hằng ngày, trên mọi lãnh vực, trong mọi chiều kích. Phải học. Phải tập. Phải rèn luyện. Phải phấn đấu. Phải tìm tòi sáng tạo.
Yêu thương là một giá trị tâm linh. Nó có ảnh hưởng rất lớn. Thịnh suy của một nền văn hoá, của một tôn giáo, của một dân tộc, tuỳ thuộc ở đó.
Mùa xuân vĩnh cửu mỗi người cũng tuỳ thuộc ở đó.
Long Xuyên, ngày 02 tháng 02 năm 1999
 

Bùi-Tuần 1600: Thực thi thánh ý Chúa

Ngày 30 tháng 4 năm 1975 là ngày đánh dấu những sự kiện quan trọng trong lịch sử Dân Tộc Việt Bùi-Tuần 1600

Ngày 30 tháng 4 năm 1975 là ngày đánh dấu những sự kiện quan trọng trong lịch sử Dân Tộc Việt Nam. Ngày đó chấm dứt chiến tranh tại Việt Nam. Ngày đó khởi sự thống nhất Ðất Nước trong chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa.
Phải nói thiệt là ngày đó, Hội Thánh địa phương này đã rất dao động. Rất nhiều hoang mang bàng hoàng, rất nhiều lo âu.
Chính trong hoàn cảnh đó, tôi đã được thụ phong Giám mục và được bổ nhiệm làm Phó Ðức Cha Micae trong trọng trách lèo lái giáo phận Long Xuyên.
Những ai trong Hội Thánh địa phương đã từng sống thực tế ngày 30 tháng 4 năm 1975 chắc sẽ rất thông cảm với tôi, khi tôi nói rằng: Tôi nhận chức Giám mục và sự bổ nhiệm ngày 30-04-1975 là nhận một thánh giá rất nặng.
Với thánh giá nặng trên vai, tôi đã chỉ quan tâm đến một điều, đó là tìm sự thực về thánh ý Chúa:
Ðâu là sự thực về thánh ý Chúa trong việc giới thiệu Ðức Kitô giữa những chuyển biến mới. Ðâu là sự thực về thánh ý Chúa trong việc làm sáng danh Chúa giữa nền văn hoá mới. Ðâu là sự thực về thánh ý Chúa trong việc tìm cho Hội Thánh địa phương một chỗ đứng giữa xã hội mới. Ðâu là sự thực về thánh ý Chúa trong việc góp phần nâng cao cuộc sống con người Việt Nam và trong việc góp phần giúp cho Ðất Nước được an hoà an lạc.
Khi đang thao thức đi tìm những sự thực về thánh ý Chúa như vậy, tôi thấy thánh ý Chúa lại là: Tiên vàn Hội Thánh địa phương và chính bản thân tôi phải được đổi mới, phải được tái-Phúc-Âm-hoá, phải được tái sinh. Mọi kế hoạch mục vụ và truyền giáo phải khởi đi từ đó.
Tôi vâng ý Chúa như trên. Dần dần tôi thấy trong Hội Thánh địa phương xuất hiện ba tinh thần đạo đức sau đây:
Một là tinh thần người con hiếu thảo đối với Thiên Chúa là Cha. Tinh thần này có đặc điểm là khiêm nhường tuân phục ý Chúa Cha.
Hai là tinh thần người môn đệ Ðức Kitô. Tinh thần này có đặc điểm là đi theo Ðức Kitô, thực thi điều răn yêu thương, mà Ðức Kitô truyền lại, với sự dấn thân phục vụ cứu độ con người.
Ba là tinh thần tình nghĩa anh em của những người cùng là con Chúa. Tinh thần này có đặc điểm là hiệp nhất trong tình yêu tái sinh của Chúa Thánh Thần.
Sau 24 năm cuộc đời Giám mục, cho đến hôm nay, tôi vẫn thấy việc đào tạo chính mình và nội bộ Hội Thánh địa phương là hết sức quan trọng, luôn luôn quan trọng. Phải tiếp tục đào tạo, phải thường xuyên đào tạo.
Trong quá trình đào tạo, một điều nên chú ý là phải dứt khoát xác định Thiên Chúa mà chúng ta tôn thờ là Thiên Chúa do Ðức Kitô mặc khải trong Phúc Âm, chứ không phải một Thiên Chúa được tạo ra do truyền thống sai lầm, do dư luận vô trách nhiệm, hoặc do chính con người dốt nát tội lỗi của chúng ta. Ðiều xác định này đòi hỏi chúng ta phải học hỏi Phúc Âm nhiều hơn, phải tập sống Phúc Âm nhiều hơn.
Ngày 30-04-1999 rất khác với ngày 30-04-1975. Hôm nay có nhiều đổi mới, nhiều triển vọng mới, nhưng cũng có những thách đố mới. Chính vì thế, mà khi nhìn về phía trước, tôi thấy việc đào tạo chính mình sẽ cần được nghiên cứu thêm, sao cho đáp ứng với thời điểm mới. Tôi coi đây là một sự thực về thánh ý Chúa.
Với cái nhìn trên đây, tôi mừng kỷ niệm ngày thụ phong Giám mục của tôi với tâm tình cảm tạ và phó thác, để cùng với cộng đoàn thân yêu lại lên đường, thực thi thánh ý Chúa.
Lễ 30 tháng 4 năm 1999 tại nhà thờ Chánh Toà Long Xuyên

 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây