Suy tư của Đức Cha GB Bùi-Tuần Bài 1601-1650

Chủ nhật - 07/04/2019 09:09
Suy tư của Đức Cha GB Bùi-Tuần Bài 1601-1650
Suy tư của Đức Cha GB Bùi-Tuần Bài 1601-1650

Suy tư của Đức Cha GB Bùi-Tuần Bài 1601-1650
Bùi-Tuần 1601: Thư chia sẻ. 2
Bùi-Tuần 1602: Mới mẻ Tin Mừng. 7
Bùi-Tuần 1603: Trả lời phỏng vấn. 9
Bùi-Tuần 1604: Lời Chúa Trên Mọi Chặng Ðường. 13
Bùi-Tuần 1605: Chọn Người 15
Bùi-Tuần 1606: Hãy Sang Bờ Bên Kia. 17
Bùi-Tuần 1607: Một Mẫu Gương Ra Khơi 19
Bùi-Tuần 1608: NHÂN THÁNG CẦU CHO NHỮNG NGƯỜI ÐÃ QUA ÐỜI 23
Bùi-Tuần 1609: Mẹ Maria Cầu Nguyện,Một Hình Ảnh Ðẹp. 26
Bùi-Tuần 1610: Mang Thương Tích Với Lòng Thương Xót Và Niềm Hy Vọng. 29
Bùi-Tuần 1611: Khóc Than Và An Ủi 32
Bùi-Tuần 1612: Ðời Sống Nội Tâm, 34
Bùi-Tuần 1613: Phấn Ðấu Vượt Qua. 37
Bùi-Tuần 1614: Ðức Mẹ Của Những Người Nghèo. 42
Bùi-Tuần 1615: Người Tu Làm Chứng Cho Chúa. 45
Bùi-Tuần 1616: Ðôi Dòng Tâm Sự. 49
Bùi-Tuần 1617: Tâm Tình Gởi Các Thành Phần Dân Chúa. 52
Bùi-Tuần 1618: NHÂN LỄ SUY TÔN THÁNH GIÁ.. 53
Bùi-Tuần 1619: Bài chào mừng lãnh đạo Tỉnh An Giang. 57
Bùi-Tuần 1620: Người Ngoại Giáo Tốt 58
Bùi-Tuần 1621: Tin Mừng Cho Người Ngoại Biên. 61
Bùi-Tuần 1622: Trả Lời Phỏng Vấn. 64
Bùi-Tuần 1623: Một Chút Tâm Tình. 65
Bùi-Tuần 1624: Năm Mới Và Sức Khoẻ. 67
Bùi-Tuần 1625: Bác Ái Cho Truyền Giáo Và Mùa Chay. 70
Bùi-Tuần 1626: Tâm Sự Về Ơn Bình An. 73
Bùi-Tuần 1627: 30 Tháng Tư Và Sự Thanh Vắng. 77
Bùi-Tuần 1628: Cầu Xin Ơn Thánh Hoá Các Linh Mục. 81
Bùi-Tuần 1629: Nhớ Về Lễ Mở Tay Cách Ðây 49 Năm.. 84
Bùi-Tuần 1630: Cầu Nguyện Của Người Ðau Khổ. 87
Bùi-Tuần 1631: Nghèo Và Ðói 91
Bùi-Tuần 1632: Một Cảm Nghiệm Về Ðức Tin. 95
Bùi-Tuần 1633: Thách Ðố Mới Trên Ðường Truyền Giáo. 99
Bùi-Tuần 1634: Xáo Trộn. 102
Bùi-Tuần 1635: Chỗ Của Tôi 106
Bùi-Tuần 1636: Sau Một Năm Hưu. 109
Bùi-Tuần 1637: Tháng Mân Côi 112
Bùi-Tuần 1638: Tháng 10 Và Fatima. 116
Bùi-Tuần 1639: Hãy Khát Khao Ðức Kitô. 119
Bùi-Tuần 1640: Sống Trong Trái Tim Mẹ Maria. 121
Bùi-Tuần 1641: Sám Hối Của Người Canh Gác Nhà Chúa. 124
Bùi-Tuần 1642: Hãy Biết Sợ. 128
Bùi-Tuần 1643: Hành Trình Về Cõi Sau. 131
Bùi-Tuần 1644: Của Ăn Ðàng. 134
Bùi-Tuần 1645: Một Gặp Gỡ Buồn. 137
Bùi-Tuần 1646: Tình Nghĩa. 140
Bùi-Tuần 1647: Năm Mới Và Những Suy Tư. 144
Bùi-Tuần 1648: Gặp gỡ Chúa Giêsu. 147
Bùi-Tuần 1649: Tĩnh tâm trước Tết 150
Bùi-Tuần 1650: Cầu chúc. 153

 

Bùi-Tuần 1601: Thư chia sẻ

Kính gởi các linh mục, tu sĩ, giáo dân giáo phận Long Xuyên
Và các bạn hữu xa gần
 

Tôi hân hoan chia sẻ tin vui: Ngày 18 tháng 6 năm 1999, Toà Thánh chính thức thông báo: Ðức Bùi-Tuần 1601

Tôi hân hoan chia sẻ tin vui:
Ngày 18 tháng 6 năm 1999, Toà Thánh chính thức thông báo: Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã bổ nhiệm hai linh mục Long Xuyên vào những trọng trách mới.
Linh mục Giuse Trần Xuân Tiếu, 55 tuổi, Tổng Ðại Diện, làm Giám Mục Phó Giáo phận Long Xuyên, với quyền thế vị.
Linh mục Giuse Ngô Quang Kiệt, 47 tuổi, Thư Ký Toà Giám Mục, làm Giám Mục Chánh Toà Giáo phận Lạng Sơn.
Chính phủ Nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam đã đồng ý với những bổ nhiệm này.
Ðây là những sự kiện đặc biệt của Giáo Hội địa phương.
Dịp này, chúng ta sẽ sống Tin Mừng thế nào?
Tôi xin chia sẻ mấy gợi ý như sau, giúp chúng ta suy gẫm, và cầu nguyện.
 1/ Một hình ảnh người đứng đầu Giáo Hội địa phương
Ðọc Tông đồ công vụ và các thánh thư, chúng ta thấy các môn đệ Ðức Kitô phụ trách các cộng đoàn là những bản lãnh có nhiều khác biệt, nhưng tất cả đều có 4 nét chung:
a) Các Ngài dâng phó cuộc đời cho danh Ðức Kitô (x. Cv 15, 25-26).
b) Các Ngài diễn lại lịch sử Ðức Kitô trong chính cuộc đời mình, theo cách thức riêng của mình (x. Cv 19, 11-12), nhất là trong sự cảm thương thân phận con người đau khổ.
c) Các Ngài đi về phía trước với một dự án về hướng đi của Giáo Hội địa phương, mà các Ngài phụ trách. Dự án quan trọng nhất là loan báo Tin Mừng (x. 2 Tim 4, 17-18, Cv 28, 23-31).
d) Các Ngài ngoan ngoãn vâng phục Thánh Linh, hợp tác với Thánh Linh:
+ Trong những sáng tạo để làm nên các tạo vật mới (x. 2 Cor 5, 17).
+ Trong những công trình xây dựng các liên đới tốt đẹp (x. Rm 8,16).
+ Trong những đào tạo đi vào chiều sâu (x. Rm 8,6, Ga 5,22).
+ Trong những khám phá các sự lạ lùng Chúa làm nơi những người ngoài Hội Thánh (x. Cv 10, 44-46, Cv 11, 15-17).
Những nét trên đây về người môn đệ Ðức Kitô đứng đầu cộng đoàn sẽ thanh luyện và giải thoát não trạng chúng ta khỏi những ảo tưởng về quyền chức thánh. Hiểu rõ những đòi hỏi cao cả trên đây, chúng ta sẽ biết chia sẻ trách nhiệm những người đứng đầu cộng đoàn. Sự đi lên hoặc sự đi xuống của cộng đoàn một phần lớn tuỳ thuộc ở những người đứng đầu của họ có cố gắng thực hiện 4 điều kể trên hay không.
 2/ Một hình ảnh thánh lễ thụ phong
Lễ Phong chức hai Tân Giám Mục sẽ được tổ chức gọn nhẹ tại Nhà thờ Chánh Toà Long Xuyên, ngày lễ hai thánh tông đồ Phêrô và Phaolô, 29-06-1999.
Lễ này được thực hiện theo hướng đi tới năm Thánh 2000.
Thông điệp “Thiên Niên Kỷ thứ Ba đang tới” (Tertio Millennio Adveniente) của Ðức Thánh Cha Gioan Phaolô II nêu lên nhiều điểm. Ở đây tôi lựa chọn 4 điểm thích hợp nhất sẽ hướng dẫn việc tổ chức lễ thụ phong.
a/) Cần tránh những gì gọi là để làm chứng cho chân lý đức tin nhưng lại trở thành phản chứng và gương mù (số 33). Tôi muốn nói tới những hình thức lễ lạy biến chất, nặng về phô trương trình diễn, lễ hội hơn là lễ thánh, chú trọng đến gặp gỡ nhau hơn là gặp gỡ Ðức Kitô, hoặc trình bày bộ mặt tôn giáo chỉ như một tổ chức, nhưng thiếu vắng Tin Mừng, hoặc lợi dụng thần thánh để tìm tư lợi, tôn sùng cá nhân quyền chức.
b) Diễn tả sự hiệp thông trong nội bộ và hiệp nhất với Ðức Thánh Cha, Ðấng nhân danh Chúa bổ nhiệm và sai đi (số 47).
c) Tập trung vào việc tuyên xưng Thiên Chúa là tình yêu, đề cao đức ái (số 50).
d) Tạo bầu khí cầu nguyện và tình nghĩa liên đới với những người thiếu thốn (số 51).
Yếu tố địa phương cũng đáng quan tâm. Giáo phận Long Xuyên ở giữa một địa phương có nhiều tôn giáo, trong đó có tôn giáo mạnh về tinh thần dân tộc, tinh thần tu thân, tinh thần từ thiện, phát triển cộng đồng. Ðây là những giá trị cao đẹp, góp phần không nhỏ vào văn hoá đồng bằng sông Cửu Long. Nếu Công giáo địa phương này, ngoài những giá trị riêng, cũng còn mạnh về những giá trị văn hoá địa phương, thì cộng đoàn chúng ta sẽ là một hiện diện thân thương, được chấp nhận và giúp đỡ giữa đại gia đình địa phương mến yêu này.
Những điểm trên đây, khi được quan tâm tốt trong một thánh lễ, sẽ làm cho cuộc lễ được sốt sắng, phong phú về các giá trị thiêng liêng, gây dư âm về sự sống dồi dào đến từ Thiên Chúa.
Nhà thờ Chánh Toà Long Xuyên tương đối nhỏ, sân nhà thờ hẹp, nên số người dự lễ phong chức sẽ phải tự hạn chế. Ðể bù lại, tinh thần cuộc lễ sẽ đến từng họ đạo, từng gia đình trong giáo phận một cách sâu rộng.
Từ ngày 22-06-1999 trở đi, tất cả các họ đạo trong giáo phận sẽ sốt sắng làm tuần bảy ngày tạ ơn và cầu nguyện. Xin Chúa ban cho giáo phận nói chung và hai Tân Giám Mục nói riêng được tinh thần của hai thánh tông đồ Phêrô Phaolô, luôn biết lắng nghe Ðức Kitô, luôn đi theo Ðức Kitô, luôn làm chứng cho Ðức Kitô, nhất là bằng sự thực thi điều răn mới của Người.
 3/ Một hình ảnh Giáo phận Lạng Sơn, nơi vị Tân Giám Mục trẻ nhất trong Hội Ðồng Giám Mục Việt Nam được sai đến phục vụ
Giáo phận Lạng Sơn thuộc vùng thượng du, gồm tỉnh Lạng Sơn, tỉnh Cao Bằng và một phần tỉnh Hà Giang. 80% đất đai là rừng núi. Phần lớn dân cư là các dân tộc ít người.
Số giáo dân dưới 5.000 người. Hầu hết là những người từ đồng bằng lên đó lập nghiệp đã nhiều năm nay. Họ sống rải rác. Nhiều tập tục. Nhiều khuynh hướng.
Số giáo xứ là 16. Nhiều giáo xứ không còn nhà thờ, nhà xứ. Nhiều giáo xứ tuy còn nhà thờ, nhưng đã đổ nát. Có những giáo xứ chỉ còn vài chục giáo dân.
Toàn giáo phận hiện nay chỉ có một linh mục trên 95 tuổi.
Trong hoàn cảnh khó khăn, đa số các thành phần Dân Chúa vẫn trung thành với đức tin theo truyền thống gia đình, tập thể. Vấn đề hôm nay phải sớm giải quyết là tạo nên một bầu khí hiệp nhất trên cơ sở Phúc Âm và Công Ðồng Vaticăng II. Rất cần một làn gió tu đức truyền giáo mới và một phong cách mới của chứng nhân Tin Mừng. Tại địa bàn bao la này các giá trị về Nước Trời đang đợi được khám phá với cái nhìn cởi mở rực sáng lửa mến của Chúa Thánh Thần. Phải chăng đời sống đạo cũng nên được tân Phúc Âm hoá. Cần có thêm nhiều linh mục tu sĩ, đó là nhu cầu xem ra hợp lý, khẩn thiết và đều khắp. Nhưng phải chăng hễ có thêm nhiều linh mục tu sĩ thì tất nhiên Công giáo sẽ phát triển, nhất là chắc chắn số người sống Tin Mừng sẽ tăng lên? Lịch sử không chứng minh được điều đó. Cần suy nghĩ xa hơn.
Nhìn hình ảnh Giáo phận Lạng Sơn, tự nhiên tôi nhớ lại tình hình nhiều Giáo Hội địa phương, mà tôi được nghe trong Thượng Hội Ðồng Các Giám Mục Á Châu tại Rôma năm rồi (1998). Như Giáo Hội tại Trung Quốc, tại A-rập Sê-út, tại Pakistan, tại Myanmar. Nhiều tình hình rất đáng được nghiên cứu một cách đặc biệt và toàn diện.
Trước những tình hình như thế này, Kinh Thánh dạy chúng ta hãy có một lựa chọn khôn ngoan. Sách Ông Gióp nêu lên lựa chọn đó. Ðừng cố tìm những giải nghĩa hợp lý trong lý thuyết. Cũng đừng gắng tìm những giải pháp ưu việt cũng chỉ trong lý thuyết. Nhưng hãy bước vào thực tế lịch sử. Tại đây lúc này, với tất cả thực tại hiện có, tôi có thể làm gì để tận hiến cho Thiên Chúa của tôi. Tại đây lúc này, tôi sẽ dấn thân thế nào để phục vụ đồng bào của tôi bằng một tình yêu tối đa chân thành nhất. Rồi hãy nhảy vào dòng lịch sử một cách can đảm và hãy hoạt động bắt đầu từ bao nhiêu điều tốt lành sẵn có ở địa phương đáng trân trọng này. Luôn luôn với tình yêu thương chan hoà dành cho con người (x. Mc 8,2) và niềm tin tưởng phó thác trọn vẹn nơi Thiên Chúa tình yêu. Trong tinh thần cầu nguyện và tỉnh thức (x. Lc 21, 36).
Giáo phận Long Xuyên là một giáo phận biên giới phía Nam sẽ hỗ trợ Giáo phận Lạng Sơn là một giáo phận biên giới phía Bắc bằng tất cả những khả năng của mình.
4/ Một hình ảnh mới của Hội Ðồng Giám Mục Việt Nam
Tất nhiên, mỗi Giám Mục đều được chỉ định phục vụ một Giáo phận nhất định. Nhưng mỗi Giám Mục đều là người kế vị các thánh tông đồ. Mọi Giám Mục tại chức đều là thành viên của Hội Ðồng Giám Mục Giáo Tỉnh và Toàn Quốc. Sự đóng góp của mỗi thành viên trong Hội Ðồng Giám Mục Giáo Tỉnh và Toàn Quốc là rất quan trọng.
Trong nhiều trường hợp, các Giám Mục trẻ, các Giám Mục phụ trách các giáo phận nhỏ, khi có năng lực, sẽ có nhiều cơ hội giúp ích chung cho Hội Ðồng Giám Mục Giáo Tỉnh và Toàn Quốc. Tôi không loại trừ hai người môn đệ Ðức Kitô, Tân Giám Mục của chúng ta, ra khỏi hy vọng chính đáng ấy.
Tôi coi sự bổ nhiệm hai Tân Giám mục từ Long Xuyên này là một dấu chỉ đáng suy nghĩ về thời đại mới. Thời đại này đòi Giáo Hội địa phương phải chú trọng nhiều đến việc đào tạo nhân sự lãnh đạo. Ðể bất cứ tình huống nào xảy tới, Giáo Hội địa phương đã có sẵn những nhân sự mới thích hợp. Thời đại này cũng cần Giáo Hội địa phương phải khôn khéo và tích cực hỗ trợ công việc ngoại giao của Toà Thánh trong việc bổ nhiệm giám mục, nhất là khi quốc gia rất quan tâm đến việc bảo vệ chủ quyền và giữ quân bình giữa các thế lực tôn giáo trong nước và trong khu vực.
Sự một linh mục trẻ của Long Xuyên, miền cực Nam, được Toà Thánh bổ nhiệm làm Giám mục Lạng Sơn, miền cực Bắc, và được Nhà Nước Việt Nam chấp thuận mau lẹ là một biến cố có ý nghĩa lớn. Hy vọng từ nay các ranh giới cục bộ địa phương sẽ nhẹ đi, mở đường tiến tới một chân trời ích chung không ranh giới. Các ranh giới hẹp hòi vẫn còn tồn tại đó đây trong lòng Dân Tộc và cả trong lòng nội bộ Hội Thánh Việt Nam. Nhiều người công giáo vẫn để ý đến tư lợi hơn để ý đến lợi chung Hội Thánh. Hoặc chỉ để ý đến lợi ích trước mắt của Hội Thánh mà không để ý đến lợi ích sâu xa của Nước Trời. Chúng ta phải cố vượt qua.
Và như thế, cùng với các vị Tân Giám Mục mới được bổ nhiệm trong những năm tháng vừa qua, Hội Ðồng Giám Mục Việt Nam đang được thêm nhiều sức sống mới, dần dần mang tầm vóc mới. Hy vọng sẽ có nhiều khả năng phục vụ mới, thích hợp với thời điểm mới có nhiều chuyển biến quan trọng trong đạo ngoài đời, một thời điểm mà Công Giáo tại Á Châu, đặc biệt là tại khu vực Ðông Nam Á, đang và sẽ gặp nhiều thách đố lớn.
Nhìn vào Hội Ðồng Giám Mục Việt Nam với các thành viên cũ mới, tôi thấy rất cần kết hợp chặt chẽ với Ðức Kitô mà cầu nguyện cho sự hiệp nhất trưởng thành, nhiệt thành và chân thành trong Hội Thánh Việt Nam, thao thức với ơn đổi mới, hướng về Nước Trời. “Xin cho tất cả nên một, như Cha ở trong con và con ở trong Cha, để họ cũng ở trong Chúng Ta. Như vậy, thế gian sẽ tin rằng Cha đã sai con” (Ga 17,21)
***
Lạy Chúa, chúng con cảm tạ Chúa, chúng con chúc tụng Chúa. Xin Chúa thương xót chúng con.
Long Xuyên, ngày 19 tháng 06 năm 1999

 

Bùi-Tuần 1602: Mới mẻ Tin Mừng

Năm Thánh được chú ý bởi những việc khác thường dễ thấy. Như một số cử hành khác thường, một Bùi-Tuần 1602

Năm Thánh được chú ý bởi những việc khác thường dễ thấy. Như một số cử hành khác thường, một số hành hương khác thường, một số kinh đọc khác thường. Những việc trên đây được kể là tốt.
Nhưng nếu coi Năm Thánh là năm nhằm mục đích cứu độ và đổi mới, thì đừng quên những việc bình thường khó thấy. Kinh nghiệm cho thấy, việc cứu độ và đổi mới thường là kết quả của sự thực hiện những việc bình thường khó thấy, suốt chuỗi dài những ngày thường.
Với nhận thức đó, tôi nghĩ rằng: Suốt những ngày thường trong Năm Thánh này, chúng ta cố gắng làm những việc bình thường nhưng với chất lượng cao. Một trong những việc đó là khám phá ra những cái mới mẻ của Tin Mừng hôm nay, để rồi thực hiện.
Với ánh sáng Lời Chúa và tình yêu Chúa, khi chăm chú nhìn Việt Nam hôm nay, chúng ta có thể khám phá thấy nhiều mới mẻ của Tin Mừng. Dưới đây là một ví dụ.
 Bắt chước Chúa Giêsu yêu thương và phục vụ
Từ lâu nay, đường hướng mục vụ và truyền giáo nhiều nơi hiện lên khá rõ. Ðường hướng đó là yêu thương và phục vụ. Lựa chọn này đặt nền móng trên Phúc Âm, đáp ứng đúng nhu cầu khẩn cấp của thực tại.
Nhu cầu Phúc Âm khẩn cấp tại Việt Nam hôm nay là làm chứng cho Thiên Chúa bằng sức mạnh thiêng liêng. Theo tôi, sức hấp dẫn thiêng liêng đưa người ta về với Chúa sẽ không phải từ bản thân ta, nhưng từ sự chúng ta vâng lời Ðức Kitô, bước theo Ðức Kitô, bắt chước Ðức Kitô, kết hợp với Ðức Kitô.
Ðức Kitô đã yêu thương và phục vụ để đổi mới cứu độ nhân loại thế nào thì chúng ta cũng thực hiện như vậy. Yêu thương chân thành, phục vụ khiêm tốn đến độ hy sinh trên thánh giá.
Tới đây, tôi nghĩ tới lời thánh Phaolô quả quyết : “Tất cả lề luật được nên trọn trong điều răn duy nhất là: Ngươi phải yêu mến tha nhân như chính mình” (Gl 5,14).
Lời thánh Phêrô sau đây sẽ giúp cho việc yêu thương và phục vụ chọn được cách thực hiện tốt nhất: “Anh em hãy lấy đức khiêm nhường mà đối xử với nhau, vì Thiên Chúa chống lại kẻ kiêu căng, nhưng ban ơn cho kẻ khiêm nhường” (1 Pr 5,5).
Hình ảnh sống động nhất nói lên yêu thương và phục vụ một cách khiêm nhường là việc Chúa Giêsu rửa chân cho các môn đệ chiều thứ năm Tuần Thánh. Rửa xong, Chúa phán : “Nếu Thầy là Chúa và là Thầy mà còn rửa chân cho anh em, thì anh em cũng phải rửa chân cho nhau. Thầy đã nêu gương cho anh em, để anh em cũng làm cho nhau như Thầy đã làm cho anh em” (Ga 13,14-15).
Bắt chước Chúa trong yêu thương và phục vụ còn đòi tâm tình cảm thương và xót thương. Một sự cảm thương và xót thương không thiếu vắng tâm thức sẵn sàng hy sinh, chấp nhận một sự chia sẻ nào đó thân phận những người mà mình yêu thương và phục vụ.
Nhiều khi chúng ta yêu thương và phục vụ, nhưng đã không gieo vào lòng người hạt giống Tin Mừng như một hy vọng tươi xanh. Nguyên do có thể là vì yêu thương và phục vụ đó chưa thực sự gắn bó với gốc rễ là Ðức Kitô.
Trái lại, khi ta yêu thương và phục vụ với Ðức Kitô, trong Ðức Kitô, như Ðức Kitô, thì dù bị hiểu lầm và bị chống đối, những việc chúng ta làm sẽ không trở nên vô ích.
Nhiều khi các cản trở lại có lợi cho mục vụ, truyền giáo và cho chính bản thân ta. Bản thân ta sẽ được thanh luyện, để rồi từ đó có thể ta sẽ nhận ra được lời mời gọi của Chúa Giêsu là: Bắt chước Người dùng những phương tiện rất nghèo nhưng chất lượng thiêng liêng rất cao.
 Bắt chước Chúa Giêsu dùng những phương tiện nghèo
Những phương tiện mà Chúa Giêsu đã dùng để giảng dạy là hang đá Bêlem, là cuộc sống âm thầm tại Nagiarét và sau cùng là thánh giá. Những phương tiện ấy, nếu được gọi bằng các tên đạo đức, thì sẽ là khó nghèo, từ bỏ, chôn vùi, bị bắt bớ, bị nhục nhã, bị cực hình, bị loại trừ, bị tử hình.
Những phương tiện đó không bao giờ sẽ cũ và lỗi thời. Nếu tôi nhận Ðức Kitô là mẫu gương duy nhất, thì không những tôi vâng theo những gì Người truyền buộc tôi làm, mà tôi cũng sẽ vâng theo những gì Người chỉ mời gọi tôi chấp nhận. Vâng theo như vậy là chắc chắn nhất cho tôi. Lúc đó, những việc vâng theo ấy sẽ không còn là của tôi hèn mọn riêng rẽ, mà là của tôi có sự sống Ðức Kitô. Những việc như thế sẽ luôn luôn chuyển tải sức thiêng. Kết quả có thể không thấy được lúc này và tại đây như chúng ta muốn, nhưng chắc chắn sẽ hiệu nghiệm theo cách Chúa muốn.
Dám áp dụng đường hướng yêu thương và phục vụ với những phương tiện nghèo vào những nơi và những thời coi như rất bất lợi, đó là một mới mẻ có sức thuyết phục của Tin Mừng. Và càng là một mới mẻ hết sức tốt đẹp, khi việc thực hiện ấy đang thực sự dọn đường để Nước Trời đi vào những nơi và thời điểm cực kỳ khó khăn tại Việt Nam hôm nay.
Bí quyết của những mới mẻ như thế của Tin Mừng là rất đơn sơ. Ðó là bắt chước Chúa Giêsu, Ðấng cứu độ của chúng ta. Bắt chước Người không phải là sao chép một mẫu gương, mà chủ yếu là đón chính Người vào tâm hồn ta, để Người trở nên sự sống của ta. Thần Linh của Người sẽ hướng dẫn ta, để ta yêu thương và phục vụ một cách sáng tạo.
Dù với những phương tiện nghèo, việc làm chứng cho Tin Mừng như thế đang là một bài ca mới gây vang vọng trong từng triệu tâm hồn.
Long Xuyên, ngày 10-3-2000

 

Bùi-Tuần 1603: Trả lời phỏng vấn

Hỏi: Thưa Ðức Cha,
 

Ðức Cha là vị Giám Mục Việt Nam duy nhất được phong chức đúng vào ngày quan trọng của lịch Bùi-Tuần 1603

Ðức Cha là vị Giám Mục Việt Nam duy nhất được phong chức đúng vào ngày quan trọng của lịch sử đất nước (30/4/1975). Có nhiều cách nhìn về sự trùng hợp này, nhưng đâu là cái nhìn riêng của Ðức Cha?
Thưa: Tôi nhớ lại biến cố trùng hợp ấy. Qua giữa tháng 4 năm 1975, vào một ngày thứ sáu, khoảng 03 giờ trưa, Ðức Cha Micae Nguyễn Khắc Ngữ đến phòng tôi, cho tôi biết Ðức Thánh Cha Phaolô VI bổ nhiệm tôi làm Giám Mục phó Long Xuyên. Tôi bàng hoàng. Thế rồi, sau đó hơn mười ngày, trưa ngày 30/4/1975, lễ thụ phong được cử hành rất đơn sơ tại nhà thờ cũ nhỏ bé của họ đạo Long Xuyên. Khoảng 50 người tham dự. Tôi lo sợ.
Trước chức vụ mới, tôi thấy mình quá mong manh. Lúc đó, cảm nghĩ của tôi là: Xưa, thánh Gioan Baotixita, bổn mạng tôi, đã là chiếc cầu giữa Cựu Ước và Tân Ước. Nay, Chúa sai tôi vào thời mới này, biết đâu Chúa cũng muốn tôi là một chiếc cầu nào đó. Thế thì mình sẽ cố gắng là một chiếc cầu nhỏ. Người ta qua cầu, chứ chẳng ai dừng lại trên cầu.
Hỏi: Thưa Ðức Cha, cái nhìn đó được cụ thể hoá như thế nào?
Thưa: Làm chiếc cầu mà tôi nói đây, chủ yếu là giúp người ta vượt qua những vết thương của quá khứ, để bước sang thời kỳ tập trung vào Chúa Giêsu. Bởi vì, đối với tôi, Ðấng cứu độ không phải là chủ thuyết này, chủ thuyết nọ, nhưng là chính Ðức Kitô. Cần hiểu biết Người, bước theo Người, gắn bó với Người. Tư tưởng đó xâm nhập hồn tôi và được hình ảnh hoá. Sự việc xảy ra thế này: Vài ngày sau thụ phong, một đêm, tôi chiêm bao gặp Chúa Giêsu. Tôi đang đi giữa cánh đồng lúa, thì thấy từ xa một người đi tới. Tôi nhận ra ngay người ấy là Chúa Giêsu. Người dẫn tôi đến phố, vào một bệnh viện lớn. Người dắt tôi qua các phòng bệnh nhân. Tôi thấy bệnh nhân nằm la liệt. Chúa Giêsu tỏ nét mặt đăm chiêu, thương xót, buồn sầu. Tôi xiết chặt tay Người. Và tôi tỉnh lại. Chiêm bao đó đã gây ấn tượng mạnh trong tôi. Cho đến bây giờ tôi vẫn còn nhớ rất rõ dung mạo Chúa Giêsu.
Từ đó, các suy nghĩ và hoạt động mục vụ của tôi được diễn tiến qua ba mấu chốt này:
Một là lý trí phải luôn mở rộng ra về bầu trời sự thực bao la sâu thẳm. Sự thực về Chúa Giêsu, sự thực về Hội Thánh của Chúa Giêsu, sự thực về con người và đời người.
Hai là đức tin phải là gặp gỡ sống động với Chúa Giêsu, gắn bó mật thiết với Người, bước đi theo Người.
Ba là mối dây nối kết lý trí và đức tin phải hướng mọi hoạt động về yêu thương và phục vụ đồng bào một cách thiết thực, nhất là những người đau khổ, để họ có được sự sống dồi dào.
Hỏi: Có lẽ không cần nhắc lại ở đây những thành quả tốt đẹp, mà Ðức Cha đã xây dựng được ở giáo phận Long Xuyên. Vậy đâu là những bí quyết cho những thành quả ấy?
Thưa: Một trong những thành quả tôi thích nhất là thành quả về đào tạo nhân sự như hai Tân Giám Mục từ Long Xuyên, rồi chẳng hạn các người trong giáo phận tôi đã đạt được điều, mà Ðức Hồng Y Etchegaray đã cầu chúc, trong bài giảng của Ngài tại nhà thờ Chánh Toà Long Xuyên. Ngài nói:
Hãy tự hào mình là người công giáo,
Hãy tự hào mình là người Việt Nam.
Phải, chúng tôi tự hào mình là người công giáo, luôn trung thành với Hội Thánh Công giáo. Chúng tôi tự hào mình là người Việt Nam, luôn trung thành với Tổ Quốc Việt Nam.
Bí quyết của các thành quả là tỉnh thức giữ gìn lương tâm tông đồ, luôn sống tuỳ thuộc vào Ðấng đã sai mình.
Hỏi: Kỷ niệm 25 năm Giám Mục của Ðức Cha, Ðức Thánh Cha có một “thông điệp” nào cho cá nhân Ðức Cha?
Thưa: Có. Ðức Thánh Cha đã gởi một bức thư riêng. Ðây là một bất ngờ lớn đối với tôi. Bức thư mở đầu thế này:
“Vào chính ngày Chúa nhất thứ II Phục sinh trong năm Ðại toàn xá này, Ðức Cha hân hoan mừng kỷ niệm 25 năm ngày thụ phong Giám Mục của Ðức Cha. Quả thật kỷ niệm đẹp đẽ này nhắc lại muôn vàn công ơn của Thiên Chúa từ nhân, mà trong ngày này Ta cũng muốn ca ngợi và truyền rao. Phần Ðức Cha, Ta chắc chắn rằng, Ðức Cha sẽ mừng trọng thể lễ Ngân Khánh của Ðức Cha cùng với các anh em trong chức vụ Giám Mục và cùng với toàn thể cộng đồng giáo phận Long Xuyên.
Ta muốn gởi đến Ðức Cha lá thư này như hiện diện bằng tinh thần và như dấu chỉ chân thật của tâm tình của Ta trong ngày lễ vui mừng của Ðức Cha. Xin Ðức Cha tin chắc rằng, trong chính ngày đó, ở Rôma trước đền thờ Thánh Phêrô, Ta cùng với các tín hữu sẽ cử hành các nghi thức phụng vụ và liên kết với Ðức Cha trong tình bác ái huynh đệ”.
Sau khi kể lại những chặng đường ơn gọi, mà Ðức Thánh Cha cho rằng “đã không dễ dàng gì”, Ðức Thánh Cha kết luận bức thư bằng những lời nhắn nhủ thân thương: “Xin Ðức Cha hãy canh tân sức mạnh của Ðức Cha và trong cuộc chiến đức tin, Ðức Cha hãy “đồng lao cộng khổ như một người lính giỏi của Ðức Giêsu Kitô” (2 Tim 2,3).
Sau cùng, xin hãy nhận lá thư này với tất cả tâm tình của Ta, đồng thời Ta rộng ban phép lành Toà Thánh với bao ơn phúc bởi trời, trước tiên cho Ðức Cha, rồi cho các Giám Mục, các Linh mục, Tu sĩ cùng toàn thể giáo dân liên kết với Ðức Cha trong mối dây tình yêu”.
Tôi hết lòng cảm tạ Ðức Thánh Cha về tấm lòng ưu ái đặc biệt Ngài dành cho tôi và giáo phận tôi.
Tiếp nhận bức này của Ðức Thánh Cha, và nhớ lại những liên kết tích cực đa dạng của tôi với Toà Thánh, tôi nhìn thấy mờ mờ hình dáng một chiếc cầu giữa đây và đó.
Hỏi: Ðức Cha cũng là vị Giám Mục viết nhiều nhất trên tờ Công giáo và Dân tộc. Ðức Cha nghĩ gì, khi chọn diễn đàn này làm nơi chia sẻ những suy tư về đức tin của mình?
Thưa: Khi chia sẻ suy tư và cảm nghiệm của tôi về đức tin trên tờ Công giáo và Dân tộc, tôi thường nghĩ tới lời thánh Phaolô “Những kho tàng ấy, chúng tôi lại chứa trong những bình sành, để chứng tỏ quyền năng phi thường phát xuất từ Thiên Chúa, chứ không phải từ chúng tôi” (2 Cor 4,7). Tờ báo cũng như tôi, chỉ là những chiếc bình sành, nhưng nếu từ đó vang lên được một chút tâm tình tuyên xưng Chúa từ nhân, qua việc loan đi Lời Chúa và những hoạt động yêu thương phục vụ của Hội Thánh đó đây, thì dù vang lên trong sa mạc, như thánh Gioan Baotixita nói, tôi vẫn thấy vui.
Thiết tưởng, đây cũng là chuyện của một chiếc cầu nhỏ. Có thể là một số người đã qua cầu.
Rất may là chẳng ai đứng lại trên cầu. Nhưng tất cả họ cũng như tôi, đều là những người vượt qua thời cuộc, đều được Ðức Mẹ Maria dẫn về phía trước đến với Chúa Giêsu, là Ðấng cứu độ của chúng ta.
Tháng 4-2000

 

Bùi-Tuần 1604: Lời Chúa Trên Mọi Chặng Ðường

Từ mấy ngày nay, chúng tôi, các Giám mục và các linh mục giáo phận Long Xuyên đã qui tụ Bùi-Tuần 1604

Từ mấy ngày nay, chúng tôi, các Giám mục và các linh mục giáo phận Long Xuyên đã qui tụ trong khu nhà thờ nhỏ. Mục đích là để tĩnh tâm.
Trong mấy ngày tĩnh tâm này, chúng tôi đọc lại cuộc đời mình. Cuộc đời toàn quá khứ nói chung và cuộc đời năm qua nói riêng.
Chúng tôi chăm chú đọc từng chặng đường mà mình đã sống. Chúng tôi đọc dưới ánh sáng Lời Chúa.
Càng đọc kỹ, chúng tôi càng khám phá thấy Lời Chúa luôn sống động trong cuộc đời chúng tôi. Lời Chúa kêu gọi. Lời Chúa đánh thức. Lời Chúa ủi an. Lời Chúa dẫn đưa. Lời Chúa đem lại hy vọng và sự sống.
Trong chặng đường đầu tiên của cuộc đời, chúng tôi nghe thấy tiếng Chúa gọi “Các con hãy sống thánh thiện, vì Ta là Ðấng Thánh” (1Pr 1,18). Rồi có một lúc, chúng tôi lại nghe thấy Chúa gọi: “Các con hãy theo Ta” (Mt 5,19). Vâng lời Chúa, chúng tôi đã ra đi theo Chúa.
Trên chặng đường đầu tiên đi theo Chúa, chúng tôi đã bước mau lẹ, vui vẻ. Chúng tôi tưởng tất cả cuộc đời theo Chúa sẽ là mùa Xuân.
Nhưng không lâu, chúng tôi bước vào những chặng đường thử thách. Trong phấn đấu, chúng tôi khám phá thấy nơi mình vô vàn khuyết điểm, yếu đuối và giới hạn. Nhiều lúc, chúng tôi đã phải than như thánh Phaolô xưa: “Tôi đã không làm sự tôi muốn. Nhưng lại đã làm sự tôi không muốn” (Rm 7,19). Kinh nghiệm trên đây của vị thánh cả đã làm cho chúng tôi khiêm nhường và cảm thấy bớt cô đơn.
Khi những chặng đường như thế hiện lên với quá nhiều bóng tối, chúng tôi thấy mình mệt mỏi, đau đớn. Nhiều lúc, chúng tôi đã cầu nguyện bằng chính lời của Chúa Giêsu xưa trên thánh giá: “Lạy Cha, sao Cha nỡ bỏ con?” (Mc 15,34). Không phải đợi lâu, Chúa đã đến an ủi và giúp chúng tôi can đảm nói lên lời phó thác: “Lạy Cha, nếu Cha muốn, xin Cha cất chén đắng này xa con. Nhưng xin đừng theo ý con, một hãy theo ý Cha” (Lc 22,42).
Có lúc, chúng tôi đi vào những chặng đường dài, mà trách nhiệm phục vụ trở thành gánh nặng. Chúng tôi không biết xoay xở ra sao. Chính lúc đó, Lời Chúa lại nhỏ nhẹ trong lòng chúng tôi “Hỡi những ai đang vất vả và mang gánh nặng nề, hãy đến với Ta, Ta sẽ cho nghỉ ngơi và bồi dưỡng cho” (Mt 11,18).
Có lúc, chúng tôi đi vào những chặng đường mà hoàn cảnh và tính tình xui chúng tôi muốn chọn những thái độ, hoặc khắt khe, hoặc hẹp hòi, hoặc tự ái. Chính lúc đó, Lời Chúa khuyên chúng tôi hãy nhớ lại điều răn căn bản của đạo chỉ là: Mến Chúa hết lòng và yêu thương người khác như chính mình (Mc 12,30). Lời Chúa đã giúp chúng tôi biết cân nhắc, biết phân định, biết chọn lựa sao cho hợp thánh ý Chúa.
Không thiếu trường hợp, chặng đường mà cuộc sống chúng tôi đi vào, đã rải khắp những thất vọng. Chúng tôi khám phá thấy những tội lỗi, những tầm thường ở những nơi đáng lẽ không được phép có. Nhưng chính lúc đó, Lời Chúa lại nhắc nhở: “Ta đến không để kêu gọi người công chính, nhưng để kêu gọi người tội lỗi” (Mt 8,12). Và thực, Chúa đã đến chữa lành, như lời Chúa hứa.
Trong cuộc đời, có lúc chúng tôi nhận thấy mình và cộng đoàn mình quá khờ dại, non yếu. Nhưng chính trong tình hình như thế, Lời Chúa lại vang lên trong lương tâm chúng tôi: “Hãy để trẻ em đến với Ta, vì Nước Thiên Chúa là của những ai giống như trẻ nhỏ” (Mc 10,14).
Trong cuộc đời, có lúc chúng tôi ray rứt, khi phải đối mặt với những bất xứng của mình. Chính lúc đó, Chúa gọi chúng tôi nhìn vào gương người thu thuế cầu nguyện ở cuối nhà thờ: “Lạy Chúa, xin thương xót con là kẻ có tội” (Lc 28,13).
Tắt một lời, trong suốt cuộc đời, chúng tôi thấy Lời Chúa luôn sống động trong chúng tôi.
Riêng đối với tôi, Lời Chúa đã giúp tôi khám phá ra đường đi về với Chúa. Không phải đường của người công chính, nhưng đường của con người tội lỗi được tha thứ, đường của một trẻ nhỏ tay không. Với Lời Chúa, tôi được an tâm nói: “Lạy Cha, con xin phó thác linh hồn con trong tay Cha” (Lc 23,48).
Thưa anh chị em,
Chia sẻ trên đây của tôi là một chứng từ về tình yêu thương xót Chúa. Nó cũng là một chút tâm tình ca ngợi cảm tạ Thiên Chúa là Cha giàu tình thương xót. Nó cũng là một lời kêu gọi gởi tới anh chị em: Hãy năng đọc Lời Chúa. Hãy siêng nghe Lời Chúa. Hãy chăm chú suy gẫm Lời Chúa. Vì Lời Chúa là lời ban sự sống đời đời. Miễn là chúng ta nghe, đọc và suy gẫm Lời Chúa, không phải chỉ theo từng chữ bên ngoài, nhưng cần phải theo sự hướng dẫn bên trong của Chúa Thánh Thần.
Chúng ta tiếp tục cầu nguyện cho nhau, tiếp tục cộng tác với nhau, để sống Lời Chúa trở thành một nếp sống đạo có sức giới thiệu Tin Mừng. Tôi tin rằng: Sống Lời Chúa chính là một cách ra khơi thả lưới tình thương giữa biển cả thời đại hôm nay.
Bài giảng thánh lễ đồng tế dịp tĩnh tâm linh mục tại Nhà thờ Chánh Toà Long Xuyên, ngày 28/02/ 2002

 

Bùi-Tuần 1605: Chọn Người

Trong đạo ngoài đời, mọi thời và bất cứ đâu, vấn đề chọn người để gánh vác việc chung cũng được Bùi-Tuần 1605

Trong đạo ngoài đời, mọi thời và bất cứ đâu, vấn đề chọn người để gánh vác việc chung cũng được coi là rất quan trọng.
Các việc chung, khi được cụ thể hoá, sẽ là một chuỗi những việc cao hơn việc riêng, khó hơn việc riêng, nhắm vào ích chung hơn là ích riêng. Vì thế, những người gánh vác khối nặng nề đó cần phải có nhiều điều kiện về học thức, về tài năng, về đạo đức.
Riêng về phương diện đạo đức, tôi thiết tưởng chúng ta cần phải rất thận trọng. Thận trọng là để ý xem: Ðạo đức đó thực chất là gì, được thể hiện thế nào trong lời nói, việc làm và cách sống riêng, nhất là cách sống với xã hội.
Nếu chúng ta không thận trọng hết sức mình trong việc xét duyệt đạo đức, khi chọn người đảm trách việc chung, thì hậu quả sẽ không lường trước được.
Nhận thức đó thúc đẩy tôi chia sẻ một số tiêu chuẩn đã giúp tôi xưa rày. Ðây là những tiêu chuẩn rút ra từ Phúc Âm. Nhiều người đã dùng những tiêu chuẩn đó như ánh sáng soi dẫn các lựa chọn và các đánh giá về nhân sự. Nhất là trong lãnh vực nhân sự tham gia việc lãnh đạo cộng đoàn, Hội Thánh và xã hội. Một cách nào đó, các tiêu chuẩn này cũng sẽ giúp cho bản thân mỗi người chúng ta biết giới thiệu Tin Mừng trong cách phục vụ giữa xã hội hôm nay.
Xin kể vắn tắt những tiêu chuẩn quan trọng nhất.
1/ Quyền chức là để phục vụ, chứ không phải để thống trị. “Ai lớn nhất trong anh em thì phải nên như người nhỏ tuổi nhất. Và kẻ đứng đầu thì phải nên như người phục vụ” (Lc 22,26). Lời Chúa trên đây đã đi kèm với gương sáng của Chúa. Chúa Giêsu tuy là Ðấng vô cùng cao cả, nhưng đã tự hạ để phục vụ. Phục vụ của Người là rất khiêm nhường, tình nghĩa.
2/ Trong phục vụ, phải ưu tiên tôn trọng phẩm giá con người, giúp cho con người được thăng tiến, được sống xứng đáng phẩm giá con người. “Ngày sabát được làm ra vì con người, chứ không phải con người vì ngày sabát” (Mc 2,27). Lời Chúa trên đây đã đi kèm với gương sáng của Chúa. Người đã cho phép các môn đệ bứt lúa để ăn cho đỡ đói khi đi đường, trong ngày sabát, mặc dù việc bứt lúa trong ngày sabát bị các người biệt phái kết án là sai luật đạo.
3/ Trong phục vụ, phải để ý cách riêng đến những người nghèo khổ, yếu đuối, bị bỏ rơi, bị loại trừ. “Ta bảo thật các ngươi: Mỗi lần các ngươi giúp đỡ cho một trong những anh em bé mọn nhất của Ta, là các ngươi đã làm cho chính Ta” (Mt 26,40). Và “Ta bảo thật các ngươi: Mỗi lần các ngươi đã không giúp đỡ cho một trong những người bé nhỏ nhất đây, là các ngươi đã không làm cho chính Ta vậy” (Mt 26,45). Lời Chúa trên đây được chính Chúa minh hoạ bằng hình ảnh người đói, người khát, người khách lạ, người rách rưới, người bệnh tật đau yếu, người ngồi tù (Mt 26,35. 42-43).
4/ Trong phục vụ, phải quan tâm đến việc cảm thương và phân phối của cải một cách công bình bác ái hợp lý, tránh việc phân hoá xã hội và Hội Thánh thành giai cấp giàu nghèo: “Nếu ai có của cải thế gian khi thấy anh em mình trong cảnh túng thiếu, mà chẳng động lòng thương, thì làm sao tình yêu Thiên Chúa ở trong người ấy được” (1 Ga 3,17).
5/ Trong phục vụ, phải luôn luôn sống điều răn mới của Chúa và luôn luôn làm chứng cho điều răn mới của Chúa. “Thầy ban cho các con một điều răn mới là các con hãy yêu thương nhau. Các con hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương các con. Ở điểm này, mọi người sẽ nhận biết các con là môn đệ của Thầy, là các con có lòng thương yêu nhau” (Ga 14,24-25).
“Tất cả những gì các con muốn người ta làm cho các con, thì chính các con cũng hãy làm cho người ta” (Mt 7,12).
6/ Trong phục vụ, cần tập luyện để có những tâm tình của Chúa Giêsu. “Ðừng làm chỉ vì ganh tị hay vì hư danh, nhưng hãy lấy lòng khiêm nhường mà coi người khác hơn mình. Mỗi người đừng tìm lợi ích cho riêng mình, nhưng hãy tìm lợi ích cho người khác. Giữa anh em với nhau, anh em hãy có những tâm tình như chính Chúa Giêsu” (Ph 2,3-5).
Mấy tiêu chuẩn Lời Chúa trên đây tất nhiên không phải là một nền tảng để chúng ta đưa ra những việc đạo đức cứng nhắc. Trái lại đây là bầu khí đạo đức cần được tạo nên, trước tiên là nơi chính bản thân ta và cộng đoàn ta.
Có nghĩa là: Trước khi chọn người và đánh giá người khác theo những tiêu chuẩn nêu trên, thì chính chúng ta đã phải thực sự sống những Lời Chúa trên đây, ít ra với nhận thức rõ và với thiện chí cố gắng thực hiện.
Sống những Lời Chúa trên đây là một cách trở về với Chúa. Sự trở về này, khi đã biến thành bầu khí nội tâm, sẽ làm cho chúng ta năng động, biết sáng tạo trong những dấn thân mới, để phục vụ con người và xã hội. Phục vụ lúc đó sẽ là đổi mới. Ðổi mới con người, cộng đoàn và xã hội. Không phải nhờ sức riêng ta, nhưng cùng với ơn phục sinh của Chúa Giêsu.
Ðôi khi chúng ta chê trách những người được chọn một cách khắt khe trên những tiêu chuẩn do con người đặt ra, đang khi chính chúng ta lại không thực sự sống những tiêu chuẩn do Lời Chúa đòi hỏi.
Tôi thiết nghĩ: Khi chúng ta chọn người và đánh giá người phục vụ, thì cũng chính là lúc Chúa đánh giá chúng ta và có muốn chọn chúng ta vào Nước Trời của Người hay không.
Long Xuyên, ngày 8 tháng 4 năm 2002

 

Bùi-Tuần 1606: Hãy Sang Bờ Bên Kia

Hôm nay là lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống. Theo thói quen tại giáo xứ nhà thờ Chánh Toà Long Bùi-Tuần 1606

Hôm nay là lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống. Theo thói quen tại giáo xứ nhà thờ Chánh Toà Long Xuyên, thì chiều ngày lễ này sẽ dành cho các quí ông bà cao tuổi, nhất là các cụ già yếu bệnh tật.
Thói quen tốt lành đó hôm nay lại được tiếp tục, với sự hưởng ứng rộng rãi và nồng nhiệt của cộng đoàn. Ðó là dấu chỉ tốt về sự hiệp thông, về tình nghĩa và về niềm tin.
Nhân cơ hội này, tôi xin chia sẻ vắn tắt một Lời Chúa đã và đang là đề tài suy gẫm cho những người già cả, bệnh tật. Lời Chúa này cũng sẽ giúp nhiều cho mọi người tin theo Chúa, bất cứ là ai.
Lời Chúa mà tôi xin kính cẩn nêu lên ở đây là: “Hãy sang bờ bên kia” (Mc 4,35). Chúa Giêsu nói lời đó với các môn đệ. Ngài bảo họ xuống đò, vượt qua một hồ rộng lớn và sâu, giống như biển, để sang bờ bên kia. Ðang khi đi, thì một trận cuồng phong nổi lên. Sóng ập vào đò. Mọi người sợ hãi, vội kêu cầu Chúa Giêsu. Chúa liền truyền cho sóng gió lặng im. Bão gió liền tắt. Mặt nước trở nên phẳng lặng. Môn đệ bước lên bờ bình an. Từ đó, họ xác tín Chúa là Ðấng quyền năng và thương xót, chỉ có Ngài là nơi vững chắc họ tựa nương.
Khi nhìn lại đời mình, bao người, nhất là những người cao tuổi, sẽ thấy Lời Chúa trên đây và các diễn tiến sau đó đã thực sự xảy ra cho mình, cách này hay cách khác.
Ðáng kể là hai trường hợp sau đây:
Trường hợp thứ nhất là: Một bến bờ để nhận ra Chúa. Thực vậy, nhiều người đã thấy có những năm tháng đời mình giống như cuộc vượt biển đầy gian nan. Với sóng gió dữ dội. Với nguy cơ chết chìm. Lúc đó, họ đã cầu nguyện, và Chúa đã cứu họ. Và họ nhận ra rằng: Chúa đồng hành với họ. Chúa là Ðấng quyền năng và hay thương xót. Từ nay họ quyết tâm chọn Chúa làm nơi nương tựa, dù trong hoàn cảnh nào. Niềm tin này là kết quả của sự họ vâng lời Chúa phấn đấu vượt qua biển đời đầy thử thách và vì họ đã cầu nguyện. Tới một bến bờ mà Chúa muốn, họ đã được lửa thiêng Chúa ban. Họ vừa nhận ra Chúa một cách rõ hơn, vừa mến Chúa một cách nồng nàn hơn, vừa tin vào Chúa một cách vững vàng. “Con tin Thầy là Ðức Kitô, Ðấng phải đến trong thế gian” (Ga 11,27).
Trường hợp thứ hai là: Một bến bờ để nhận ra ý Chúa. Thực vậy, nhiều người đã thấy có những thời gian mình trôi nổi trên dòng đời tự ái, tự phụ với những ý riêng mình. Nhưng rồi, thử thách tới với những đớn đau, với những thất bại. Như một cuộc bơi lội sắp chìm giữa biển mênh mông. Lúc đó, họ cầu nguyện Chúa cho họ qua. Khi qua rồi, họ mới khám phá ra sự thực Lời Chúa đã phán xưa: “Tư tưởng của các ngươi không phải tư tưởng của Ta. Ðường lối của các ngươi không phải đường lối của Ta. Như trời xa cách đất thế nào, thì đường lối của Ta cũng xa cách đường lối của các ngươi như vậy, và tư tưởng Ta cũng cách xa tư tưởng của các ngươi cũng như thế” (Is 55,8-9). Nhận ra chân lý đó là kết quả của sự họ vâng lời Chúa phấn đấu vượt qua dòng đời đầy thử thách đớn đau và vì họ đã cầu nguyện. Tới một bến bờ mà Chúa muốn, họ đã nhận được lửa thiêng Chúa ban. Họ thấy rõ hơn cái tôi và ý riêng mình là tệ hại. Ðồng thời họ thấy Chúa và thánh ý Chúa là khôn ngoan cao cả, và có sức cứu độ.
Hai trường hợp trên đây chỉ là điển hình, để cho ta thấy: Cuộc đời đức tin có những bổn phận khó khăn giống như cuộc dấn thân vượt biển đầy sóng gió. Lòng ta đôi lúc lâm vào cảnh bối rối sợ hãi. Tưởng như chắc chắn là phải chết chìm trong thất vọng. Nhưng khi ta vâng lời Chúa dấn thân phấn đấu và cầu nguyện, thì Chúa đã cứu ta. Lúc đó, lòng ta như nhận được một thứ lửa thiêng mới. Ta được đổi mới. Ta khám phá thấy rằng: Trước khi dấn thân phấn đấu và cầu nguyện, ta như ở trên một bến bờ nguội lạnh, tự đắc và ấu trĩ. Nhưng sau khi đã trải qua những khó khăn với niềm tin, lòng ta như tới một bến bờ khác. Ta trở nên khiêm tốn hơn, sốt sắng hơn, mến Chúa yêu người hơn, chín chắn hơn, trưởng thành hơn.
Ðây là những kinh nghiệm sống đức tin rất quí báu. Nhiều người, nhất là những người già, đã trải qua và đã kể lại. Kể lại cho những người khác, kể lại cho Chúa, kể lại cho chính mình. Ðể tạ ơn Chúa vì ơn được thử thách, vì ơn được cứu độ, vì ơn đã tới bến bờ, mà Chúa chỉ dạy phải tới.
Giờ đây, trong thánh lễ này, chúng ta cũng hãy làm như vậy. Hãy tạ ơn Chúa với tâm tình biết ơn. Trong tâm tình biết ơn và tin cậy, ta sẽ nhớ rằng: Sớm muộn ta cũng sẽ còn phải sang một bờ bên kia rất lạ. Bờ bên kia rất lạ đó là cuộc sống đời sau. Phải vượt qua cái chết để tới đó. Nhưng hãy vững tin: Chúa đồng hành với ta, Chúa luôn ở bên ta, Chúa luôn thương xót ta. Vì thế, lời Chúa: “Hãy sang bờ bên kia” là một lời cứu độ, là một thứ lửa thanh luyện, là một ơn gọi Chúa dành cho những người mà Ngài yêu mến xót thương.
Bài giảng thánh lễ dành cho người già cả, đau yếu,
ngày lễ Chúa Thánh Thần
tại nhà thờ Chánh Toà Long Xuyên ngày 19 tháng 5 năm 2002

 

Bùi-Tuần 1607: Một Mẫu Gương Ra Khơi

Hiện nay, trong Hội Thánh tại Việt Nam, vấn đề truyền giáo đang trở thành thời sự. Có hô hào Bùi-Tuần 1607

Hiện nay, trong Hội Thánh tại Việt Nam, vấn đề truyền giáo đang trở thành thời sự. Có hô hào, có cầu nguyện, có hội thảo, có lên đường. Với nhiều khẩu hiệu. Với nhiều hành động. Với nhiều ồn ào. Tất cả xem ra đều tốt.
Tuy nhiên, sẽ không dư thừa, nếu chúng ta nhìn lại những bước đầu truyền giáo của thánh Phêrô. Những bước đầu truyền giáo của Ngài được phác hoạ từ việc Ngài ra khơi bắt cá. Phúc Âm thánh Gioan đoạn 21 rất gợi ý. Xin rút ra những chi tiết quan trọng:
 Ra khơi.
“Ông Simon Phêrô, ông Tôma còn gọi là Ðidymô, ông Nathanaen người Cana miền Galiêa, các người con ông Dêbêđê và hai môn đệ khác nữa. Tất cả đang ở với nhau. Ông Simon Phêrô nói với các ông: “Tôi đi đánh cá đây”. Các ông đáp: “Chúng tôi cùng đi với anh”. Rồi mọi người ra đi, lên thuyền. Nhưng đêm ấy họ không bắt được gì cả.
“Khi trời đã sáng, Ðức Giêsu đứng trên bãi biển, nhưng các môn đệ không nhận ra đó chính là Chúa Giêsu. Người nói với các ông: “Này các con, không có gì ăn sao?”. Các ông trả lời: “Thưa không”. Người bảo các ông: “Hãy thả lưới xuống bên phải mạn thuyền, thì sẽ bắt được cá”. Các ông thả lưới xuống, nhưng không sao kéo lên nổi, vì lưới đầy những cá. Người môn đệ được Chúa Giêsu thương mến nói với ông Phêrô: “Thầy đó!”. Vừa nghe nói “Thầy đó!”, ông Simon Phêrô vội khoác áo vào, vì đang ở trần, rồi nhảy xuống biển…
“Bước lên bờ, các ông nhìn thấy có sẵn than hồng với cá, đặt ở trên và có cả bánh nữa. Ðức Giêsu bảo các ông: “Ðem ít cá mới bắt được tới đây”… Ðức Giêsu nói: “Anh em hãy đến mà ăn”. Không ai trong các môn đệ dám hỏi: Ông là ai?”, vì các ông biết rằng đó là Chúa…
“Khi các môn đệ đã ăn xong, Ðức Giêsu hỏi ông Simon Phêrô: “Này Simon, con ông Gioan, con có mến Thầy hơn các anh em này không?”. Ông đáp: “Thưa có. Thầy biết con yêu mến Thầy” (Ga 21,1-15).
Qua đoạn Phúc Âm trên, chúng ta thấy nhà truyền giáo Phêrô có mấy đặc điểm kéo chú ý sau đây:

 1/ Ngài khởi đầu đơn sơ dứt khoát, cho dù có vẻ đơn độc
Thánh Phêrô không khởi sự bằng việc phê phán những anh em vắng mặt. Nhóm gồm 11 người, tại sao chỉ có bảy. Ngài cũng không bàn tới bàn lui, trách móc thời thế. Ngài cũng không áp đặt ý mình cho tập thể. Nhưng ngài nói: “Tôi đi đánh cá đây”. Ngài khởi sự bằng việc bắt chính bản thân mình ra đi. Chính ngài dấn thân. Chính ngài ra khơi. Không phải bằng lời nói, mà bằng việc làm. Khởi động của ngài đơn sơ chỉ có thế.
Bước khởi đầu này nơi Phêrô phải coi là đơn độc. Một mình dám ra khơi. Dám một cách dứt khoát. Ngài chịu trách nhiệm một mình.
Sau này, Phêrô cũng lại khởi đầu đi về phía dân ngoại một cách dứt khoát, cho dù đơn độc. Giữa một não trạng tôn giáo khép kín, ngài cương quyết đến thành Xêdarê, vào nhà ông Conêliô là người ngoại, để rửa tội cho ông (Cv 10,1-18).
Phong cách dấn thân của thánh Phêrô khởi đi từ sự mau mắn, bắt tay vào việc, cho dù đơn độc. Ðơn độc một cách khiêm tốn, thanh thản và xác tín. Phong cách đó là một mẫu gương.
Nhưng liền sau đó đã có đáp ứng: “Chúng tôi cùng đi với anh”. Mặc dù đáp ứng đó chỉ là của một nhóm nhỏ.

 2/ Ngài cộng tác với một nhóm nhỏ
Nhóm nhỏ này chỉ gồm 6 người. Sáu người này là sáu lịch sử khác nhau. Ông Tôma nổi tiếng với câu nói hoài nghi: "Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không đặt tay tôi vào cạnh sườn Người, thì tôi không tin" (Ga 20,25). Còn ông Nathanaen đã để lại một câu nói khích: “Từ Nagiarét nào có gì tốt bởi đó mà ra được” (Ga 1,46). Hai anh em con ông Dêbêđê thì ngoan ngoãn. Họ có một người mẹ cả gan xin Chúa Giêsu cho hai con mình, đứa ở bên hữu, đứa ở bên tả, trong Nước của Người. Hai môn đệ còn lại không được nêu tên. Chứng tỏ họ chẳng có gì đặc biệt.
Sáu ông này tình nguyện cộng tác với ông Phêrô: “Chúng tôi cùng đi với anh”. Phêrô hoan nghênh sự cộng tác đó.
Khởi sự từ tôi đi, đến chúng tôi cũng đi, là một chặng đường nhiều khi chỉ qua được bằng nhiều bàn bạc, cân nhắc và kiên trì thuyết phục. Nhưng ở đây, chặng đường đó rất vắn. Họ đã có sẵn một ước muốn chung, đó là kiếm cá để ăn. Họ cũng đã có sẵn một qui ước chung, đó là nhận Phêrô làm người trưởng nhóm. Họ tin vào một người trưởng nhóm có nhiệt tâm, quên mình và quyết đoán. Còn trưởng nhóm Phêrô thì tin vào anh em là những người chân thành. Tất cả bảy người đều biết mình được Chúa Giêsu yêu thương, và tất cả đều mến yêu Chúa Giêsu. Thế là đủ để họ tin nhau và cộng tác với nhau. Cả trong việc đạo cũng như trong cuộc sống.
Phêrô và nhóm nhỏ đó không đợi số đông mới ra khơi. Họ bắt đầu với con số nhỏ có sẵn. Ðược bao nhiêu thì làm bấy nhiêu. Chuyện làm ăn sinh sống là thế. Chuyện mục vụ và truyền giáo sau này cũng vậy.
Ðó cũng là một mẫu gương.

 3/ Ngài luôn thao thức thực thí ý Chúa và tìm gặp Chúa
Ðược huấn luyện coi trọng ý Chúa, thánh Phêrô sống trong thao thức vâng phục ý Chúa. Lần này cũng vậy. Khi thấy trên bờ có một người đứng đợi lên tiếng hỏi một cách thân thương: “Các con có gì ăn không?”. Phêrô cảm thấy người đứng xa đó là một người rất thân. Có thể theo linh tính, Phêrô đã ngờ ngợ người đó là Chúa Phục sinh lại hiện ra. Nên khi Chúa bảo Ngài: Hãy thả lưới bên phải mạn thuyền, ngài tin đó là ý Chúa. Ngài đã làm đúng như vậy. Kết quả là lưới đầy cá. Khiến ngài khao khát muốn mau gặp người đứng trên bờ. Và khi Gioan vừa nói: Ðó là Chúa, thì Phêrô vội bỏ thuyền nhảy xuống nước, bơi vào bờ.
Chứng tỏ Phêrô không còn màng chi đến thuyền, đến lưới, đến cá, mà chỉ để ý đến một điều, đó là gặp được Chúa.
Thấy vậy, Chúa Giêsu đã hỏi Phêrô: Con có yêu mến Thầy hơn các anh em này không? Phêrô thưa: Có. Câu trả lời đó là hết sức chân thành. Hỏi ba lần. Thưa ba lần.
Sức mạnh mục vụ và truyền giáo là ở câu trả lời quyết đoán đó. Và Chúa đi tới kết luận: “Từ nay con sẽ chăn dắt các chiên của Thầy” (Ga 21,17).
Từ nay, Phêrô ra khơi với sức mạnh mới. Tôi với chúng tôi, cùng với Chúa chúng tôi, cả ba sẽ liên kết thành một khối tình yêu, để tìm chiên bằng tình yêu, để chăm sóc chiên bằng tình yêu, để dẫn dắt chiên về Thiên Chúa tình yêu.
 Hình ảnh thánh Phêrô hôm nay.
Sau khi nhìn ngắm thánh Phêrô ra khơi và gặp Chúa trên bờ hồ Tibêria, tôi đi tìm hình ảnh của ngài tại Việt Nam hôm nay. Tôi vui mừng thấy hình ảnh đó nơi nhiều người. Họ cũng có ba đặc điểm:
1/ Họ tham gia vào việc mục vụ truyền giáo bằng hành động tích cực. Không chỉ trích, không kêu trách, không bàn suông, không đợi người khác làm rồi mình mới làm. Họ khởi sự bằng việc làm. “Tôi đi bắt cá đây”. Chính họ làm. Chính họ ra khơi. Chính họ vào đời để tìm các linh hồn về cho Chúa.

2/ Họ bằng lòng với nhóm nhỏ. Làm việc với nhóm nhỏ. Liên lạc với nhóm nhỏ. Âm thầm thôi. Nhóm nhỏ đó có thể đa dạng. Ðiều quan trọng là họ biết nghề, quen nơi, thuộc tiếng của nhau, ăn ý với nhau.
3/ Họ lắng nghe ý Chúa và khao khát tìm gặp Chúa trong mọi nơi mọi lúc. Họ làm mọi việc vì mến Chúa mà thôi.
Tôi nhìn thánh Phêrô ra khơi thuở đó. Tôi nhìn những hình ảnh thánh Phêrô ra khơi hôm nay. Và tôi tự hỏi: Còn tôi thì sao?
Tôi nghĩ rằng: Hôm nay tôi muốn trả lời sao cũng được. Cũng có thể không trả lời. Nhưng khi tôi đến trước toà Chúa phán xét, chính Chúa sẽ đưa ra câu trả lời chính xác. Và hiệu quả có thể sẽ rất bất ngờ. Bất ngờ đáng vui. Và cũng có thể bất ngờ đáng buồn, đáng sợ.
Ðó là điều tôi nên nghĩ trước ngay từ bây giờ.
Long Xuyên, ngày 22 tháng 10 năm 2002

 

Bùi-Tuần 1608: NHÂN THÁNG CẦU CHO NHỮNG NGƯỜI ÐÃ QUA ÐỜI

Nhìn Về Sự Chết
 

Tháng 11 hằng năm, Phụng vụ kêu gọi người đang sống hãy nghĩ đến người đã chết. Kêu gọi Bùi-Tuần 1608

Tháng 11 hằng năm, Phụng vụ kêu gọi người đang sống hãy nghĩ đến người đã chết. Kêu gọi này rất hợp với tâm lý người công giáo Việt Nam. Vì thế, trong tháng 11 này, khắp nơi, sẽ có những buổi cầu nguyện cho những người đã qua đời. Cầu nguyện tại nhà thờ, ở nhà tư, ở nghĩa trang, ở các hài cốt đường.
Khi cầu nguyện cho người đã qua đời, chúng ta thường nghĩ tới cái chết của họ và đời sống của họ. Rồi từ đó, chúng ta nghĩ sang hiện tình của họ trong cõi đời sau. Họ đang ở đâu? Ðược hạnh phúc hay còn bị thanh luyện? Chỉ nghĩ thế thôi. Nghĩ với đức tin và niềm hy vọng.
Nghĩ tới những người đã qua đời, đó là một bổn phận cao đẹp ta phải chu toàn. Nhưng tiếp đó, chúng ta cũng nên nghĩ tới cái chết của chính mình ta. Thiết tưởng đó cũng là một bổn phận quan trọng, chúng ta không nên né tránh.
 Chết là một chấm dứt kèm theo đóng ấn.
Cái chết của mỗi người là việc sau cùng của cuộc sống. Nhất định nó phải tới. Nó là một phần của cuộc sống. Một phần hết sức quan trọng.
Cuộc sống là một hành trình. Cái chết là việc chấm dứt hành trình cuộc sống. Sự chấm dứt này không giống bất cứ sự chấm dứt nào. Chết không có nghĩa là hết sống. Nhưng nó là một kết thúc cuộc sống này và là một khởi đầu cho cuộc sống khác.
Một cách nào đó, cái chết, khi kết thúc một dòng đời, sẽ đóng ấn vào đó. Ðể theo dấu ấn ấy, con người sẽ đi vào cõi sau theo một hướng nhất định.
Nếu một dòng đời là những chuỗi chọn lựa tốt lành đạo đức, thì khi cái chết đến chấm dứt nó, sẽ có một dấu ấn đẹp xinh được đóng vào cuộc đời ấy. Dấu ấn xinh đẹp này cho phép người quá cố đi vào nơi lãnh nhận phần thưởng cao quý.
Nếu một dòng đời là những chuỗi chọn lựa tội lỗi xấu xa, thì khi cái chết đến chấm dứt nó, sẽ có một dấu ấn ghê tởm đóng vào cuộc đời ấy. Dấu ấn kinh khủng này sẽ buộc người quá cố phải đi vào nơi lãnh chịu hình phạt rất đáng sợ.
Cái nhìn trên đây chỉ là một cách suy nghĩ bình dân của người có tín ngưỡng.
 Chết là việc Chúa Giêsu đến tỏ bày sự thực.
Riêng đối với người sống đức tin, thì cái chết được hiểu như sự Chúa Giêsu đến với từng người.
Chúa Giêsu đến tìm mỗi người chúng ta. Ngài đến lúc nào, nơi nào, cách nào, thì đó là việc của thánh ý Ngài. Trong Phúc Âm, Ngài cảnh báo là giờ Ngài đến thường sẽ bất ngờ: “Anh em phải canh thức, vì anh em không biết khi nào chủ nhà đến” (Mc 13,35).
Ngay từ giây phút đầu, khi gặp Chúa Giêsu, mỗi người sẽ thấy Ngài hiện ra rõ ràng. Ngài đúng thực là tình yêu. Ngài đúng thực là sự sống. Ngài đúng thực là sự khiêm tốn vâng phục ý Chúa Cha. Ngài đúng là Ðấng cứu chuộc loài người.
Do đó tất cả những ai có nét giống như Chúa Giêsu, sẽ tự nhiên được thu hút vào Ngài. Ðó là những ai suốt đời đã để ý gieo vãi tình thương, thực hiện giới răn yêu thương. Ðó là những ai suốt đời đã cố gắng phục vụ sự sống, luôn tìm cách đem lại cho mọi người sự sống, sự sống dồi dào. Ðó là những ai trọn đời khiêm tốn vâng phục ý Chúa. Ðó là những ai suốt đời khao khát đón nhận ơn cứu chuộc của Ngài và nhiệt tình cộng tác vào công việc cứu chuộc của Ngài.
Và cũng chính do đó, tất cả những ai không có nét nào giống như Chúa Giêsu, sẽ bị đẩy xa khỏi Ngài. Không muốn nên giống như Ngài, không cố gắng đi theo Ngài, không muốn đón nhận ơn Ngài. Tất cả những thứ người như thế sẽ bị loại. Bị loại một cách như tự nhiên, tự động.
Có thể nói, trước mặt Chúa Giêsu là sự thực, mỗi người sẽ được thấy rõ mọi chi tiết sự thực về mình. Sự thực về mình là toàn bộ lịch sử đời mình,
Với những chọn lựa của mình để sống tốt hay không tốt giới răn căn bản là yêu thương bác ái,
Với những chọn lựa của mình để thực thi tốt hay không tốt bổn phận riêng đã được trao cho mình,
Với những chọn lựa của mình để diễn tả tốt hay không tốt sứ mạng làm người của mình,
Với những chọn lựa của mình để dùng tốt hay không tốt các ơn chung riêng Chúa đã ban tặng. Tất cả sẽ được hiện rõ với những hoàn cảnh của lịch sử đời mình.
Như thế sự chết sẽ cho mỗi người thấy rõ những sự thực đời mình, đồng thời cũng cho thấy những sự thực đời mình sẽ dẫn mình về đâu. Như vậy, có thể nói, dưới ánh sáng Ðức Kitô, mỗi người sẽ tự phán xét mình. Sự phán xét đó nằm trong chính cuộc sống của mình.
 Dọn mình chết lành.
Khi hiểu sự chết là như thế, chúng ta thấy rõ hơn một bổn phận hết sức quan trọng, đó là phải lo cho cái chết của mình. Sao cho cái chết đó được gọi là chết lành. Lo bằng cách nào? Thưa bằng cách cố gắng sống lành. Nếu đối với ta, sống lành không thể là chu toàn hoàn chỉnh suốt đời mọi ý Chúa về ta, thì ít là ta có lòng khiêm tốn biết mình lầm lỗi, hết lòng ăn năn sám hối, cố gắng sửa mình, và tin cậy vào lòng thương xót Chúa. “Anh em hãy sám hối và tin vào Tin Mừng” (Mc 1,15).
Kinh nghiệm cho thấy, tất cả những việc đưa tới sự tái sinh sẽ rất khó thực hiện, nếu không có ơn Chúa. Vì thế, rất cần phải cầu nguyện. Cầu nguyện để được ơn biết mình. Cầu nguyện để được ơn sám hối. Cầu nguyện để được ơn sửa lại lỗi lầm. Cầu nguyện để được ơn tin cậy vào Chúa. Nhất là cầu nguyện để được ơn làm cho cái tôi xấu xa trong ta được chết đi dần dần. Ðó là cái tôi kiêu căng, cái tôi biếng lười, cái tôi giả hình, cái tôi mê say trần tục, cái tôi trống rỗng mà huênh hoang, cái tôi nặng ý riêng mình.
Hãy cầu nguyện như người bệnh tật. Cầu nguyện như người hèn mọn. Cầu nguyện như người yếu đuối. Cầu nguyện như người tội lỗi. Rất khiêm tốn. Rất kiên trì.
Nếu đời sống ta luôn luôn mang đậm dấu ấn cầu nguyện sám hối và tin tưởng vào lòng thương xót Chúa, thì đó là cách tốt nhất để dọn mình chết lành.
Ðừng dối lòng mình về bốn điều sau hết, đó là sự chết, sự phát xét, thiên đàng và hoả ngục. Bốn điều sau cùng này quen gọi là tứ chung. Kinh Thánh kêu gọi mọi người hãy năng nghĩ tới tứ chung đó.
Mỗi người sẽ có phần, có chỗ trong tứ chung. Tứ chung của ta sẽ đến với riêng ta. Năng nghĩ như vậy, để ta biết lo cho phần rỗi của ta. Phần rỗi của ta bắt đầu từ hôm nay, trong từng ngày, từng giây phút. Bằng sự quyết tâm sống lành, làm lành theo hết khả năng của ta.
Và như vậy, dọn mình chết lành chính là để biết sống có chất lượng hơn, có ý nghĩa hơn, có giá trị hơn. Theo lời Chúa dạy: “Nếu hạt lúa mì gieo vào lòng đất mà không thối đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình. Còn nếu nó chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác” (Ga 12,24).
Long Xuyên, ngày 27 tháng 10 năm 2002

 

Bùi-Tuần 1609: Mẹ Maria Cầu Nguyện,Một Hình Ảnh Ðẹp

Ðể Ðón Mừng Chúa Giáng Sinh Làm Người
 

Hình ảnh đẹp nhất của Mẹ Maria là hình ảnh Mẹ cầu nguyện. Mẹ cầu nguyện cũng là hình ảnh Bùi-Tuần 1609

Hình ảnh đẹp nhất của Mẹ Maria là hình ảnh Mẹ cầu nguyện.
Mẹ cầu nguyện cũng là hình ảnh hấp dẫn nhất và thân mật nhất.
Mẹ cầu nguyện cũng là hình ảnh gây ấn tượng nhất.
Nhớ về Mẹ ở hang đá Belem là trước hết nhớ về Mẹ cầu nguyện.
Gặp gỡ Mẹ bên Chúa Hài đồng là bao giờ cũng gặp một tinh thần cầu nguyện.
Hỏi han Mẹ ẵm Chúa Hài đồng là chắc chắn nhận được lời khuyên về cầu nguyện.
Cầu nguyện được coi như hồn của các đức tính, diễn tả con người của Mẹ. Những đức tính đẹp này sẽ đón mừng Chúa giáng sinh làm người, và sẽ giới thiệu Ngài là Tin Mừng cứu độ.

 Ðức tính tâm linh
Mẹ coi hạnh phúc của mình ở tại sự có Chúa ở cùng. Có Chúa trong mình là ân phúc trọng đại nhất. Có Chúa trong mình là vẻ đẹp cao quý nhất.
Mẹ nhìn nhận Chúa của Mẹ là một Chúa rất khiêm nhường, khó nghèo, đầy yêu thương, chấp nhận hy sinh để cứu chuộc loài người.
Mẹ nhận thức thánh ý Chúa là muốn Mẹ sống cuộc đời như Chúa cứu thế. Vâng phục ý Chúa như vậy là lẽ sống cuộc đời của Mẹ.
Trong tinh thần vâng phục ý Chúa, Mẹ luôn vững tin vào Chúa, luôn ca tụng Chúa, luôn làm chứng cuộc đời hiến dâng trọn vẹn cho Chúa. Cả trong những bất ổn. Dù trong những bất an. Cho đến trong những bất ngờ.
Những đức tính trên đây không nói lên cái trí cho bằng cái tâm. Cũng không đề cao tâm lý cho bằng đề cao tâm linh. Mẹ có sự sống linh thiêng. Mẹ có cái nhìn do Thần linh Chúa ban. Ta hiểu các đức tính tâm linh của Mẹ chỉ được phần nào nhờ cầu nguyện. Bởi vì các đức tính tâm linh đó toát ra từ tâm hồn cầu nguyện.
Tinh thần cầu nguyện cũng toả sáng nơi các đức tính xã hội của Mẹ.

 Ðức tính xã hội
Mẹ sống chung một cách hoà nhã, tế nhị. Mẹ phục vụ một cách khiêm nhường.
Mẹ bén nhạy trước những thao thức thầm kín của người khác. Mẹ cảm thương và chia sẻ một cách cụ thể, một cách khiêm tốn, một cách liên đới.
Mẹ đi viếng thăm với phong độ khiêm tốn, với thái độ sẵn sàng và tiên liệu.
Mẹ xuất hiện giữa đám người nghèo khổ, giữa những cảnh khốn cùng, trong những trường hợp con mình bị nhục nhã.
Mẹ khôn khéo đem sự bình an vào từng tâm hồn Mẹ gặp, vào khắp nơi Mẹ tới.
Mẹ ca ngợi dân tộc Israel của Mẹ, một dân tộc được Chúa xót thương.
Mẹ chăm chú tìm nắm bắt ý Chúa trong các dấu chỉ của tình hình, để biết giới thiệu Tin Mừng một cách khôn ngoan.
Ðức tính xã hội của Mẹ là một trường dạy đạo đức. Giá trị đạo đức ấy phát xuất từ cầu nguyện. Tinh thần cầu nguyện đưa vào mọi đức tính xã hội của Mẹ một vẻ đẹp thiêng liêng, một sức sống linh thiêng.
Tiếp xúc với Mẹ, người ta cảm được một hương thơm thiêng liêng, có sức nâng tâm hồn lên một thế giới thiêng liêng huyền nhiệm.
Tinh thần cầu nguyện không những có mặt trong các đức tính tâm linh và các đức tính xã hội của Mẹ, mà cũng có mặt trong các đức tính cá thể của Mẹ.

 Ðức tính cá thể
Trong các đức tính cá thể của Mẹ, có một đức tính được kể là rất nổi, đó là tính thận trọng.
Thận trọng nơi Mẹ là biết khiêm nhường kín đáo. Mẹ bảo vệ các ơn Chúa ban cho Mẹ bằng đức tính thận trọng kín đáo. Không khoe khoang. Không phô trương. Nhưng luôn bao bọc đặc ơn Chúa ban trong thái độ kín đáo khiêm tốn, thanh bần, bình dị.
Thận trọng nơi Mẹ là rất dè dặt, rất vắn gọn, rất ít lời trong việc kể ra những gì Chúa đã nói với Mẹ.
Thận trọng nơi Mẹ là thinh lặng trước những dư luận về Mẹ và về con Mẹ.
Thận trọng nơi Mẹ là tìm bình an nơi Chúa. Chúa trong nội tâm mình. Chúa ở bên mình.
Thận trọng nơi Mẹ là thích lui vào bóng tối, để Chúa trở thành trung tâm của việc thờ phượng và tạ ơn.
Nhìn đức tính thận trọng của Ðức Mẹ, người ta gặp được tinh thần cầu nguyện. Cầu nguyện trong tâm hồn khiêm tốn và phó thác. Cầu nguyện với thao thức thường xuyên của một con người thuộc về Chúa. Ðó là thao thức làm đẹp lòng Chúa. Thao thức được ơn nghĩa với Chúa. Thao thức mở rộng Nước tình yêu Chúa. Thao thức muốn cho mọi người được yêu mến Chúa.
***
Tình hình hiện nay là một tình thế xô bồ về các giá trị khác nhau. Có những cạnh tranh. Có những xung đột. Có những mâu thuẫn. Có những đua chen. Có những cọ sát. Có những lẫn lộn. Tình hình như một cánh đồng có lúa tốt, nhưng cũng chen lẫn đủ thứ cỏ xấu. Tình hình như một dòng sông có nước sạch, nhưng cũng không thiếu bao thứ nước dơ.
Tôi sống trong tình hình như thế. Một tình hình sẽ mãi mãi hơn kém là như thế. Trong tình hình đó, tôi phải sống nên người với những đức tính tốt đẹp. Xứng đáng là người con của Chúa.
Ðể biết sống nên người, theo gương Thiên Chúa giáng sinh làm người, tôi cần sống với Mẹ Maria. Mẹ khiêm nhường. Mẹ cầu nguyện. Nhờ vậy mà ơn thánh sẽ được ban xuống, sẽ được đón nhận. Tôi xác tín rằng: Một cuộc đời không quan tâm đến cầu nguyện, sẽ không bao giờ thực sự thành công về các đức tính người con của Chúa, cho dù được suôn sẻ bề ngoài. Một cuộc lễ đạo không chú trọng đến cầu nguyện, sẽ khó có Tin Mừng. Người dự lễ không cầu nguyện sẽ không gặp được Tin Mừng. Ai đón mừng Noël mà không cầu nguyện, sẽ không nhận được gì đáng gọi là thực chất Tin Mừng.
Hãy đến mà xem Mẹ cầu nguyện và “suy gẫm trong lòng” (Lc 2,51), chúng ta sẽ thấy cầu nguyện quan trọng thế nào cho một cuộc lễ, cho một cuộc đời, nhất là cho một cuộc đời giới thiệu Tin Mừng và làm chứng cho Tin Mừng qua những đức tính cụ thể của chính mình.
Long Xuyên, ngày 4 tháng 12 năm 2002

 

Bùi-Tuần 1610: Mang Thương Tích Với Lòng Thương Xót Và Niềm Hy Vọng

Trong bài Phúc Âm thánh lễ hôm nay (Ga 20,19-23), thánh Gioan đã thuật lại việc Chúa Giêsu sai Bùi-Tuần 1610

Trong bài Phúc Âm thánh lễ hôm nay (Ga 20,19-23), thánh Gioan đã thuật lại việc Chúa Giêsu sai các môn đệ đi. Ðây là một biến cố đầy những bất ngờ.
Bất ngờ ở sự Chúa Giêsu đã hiện đến với các môn đệ, khi các cửa phòng còn đóng kín.
Bất ngờ ở sự Chúa Giêsu đã chào chúc bình an cho các môn đệ, khi các ngài đang co ro sợ hãi.
Bất ngờ ở sự Chúa Giêsu đề cao sự sai các môn đệ đi, khi Chúa nói: “Như Chúa Cha đã sai Thầy thế nào, Thầy cũng sai các con đi như vậy” (Ga 20,21).
Bất ngờ hơn cả là ở sự Chúa Giêsu đã chỉ vào các vết thương ở tay và cạnh sườn Ngài, để các môn đệ thấy rõ những thương tích trên mình Ngài, khi Ngài sai các môn đệ đi. Phúc Âm kể: “Nói xong, Chúa cho các ông xem tay và cạnh sườn Ngài” (Ga 20,20).
Một Chúa mang thương tích đã sai các môn đệ đi. Ðây là một chi tiết rất gợi ý.
Hôm nay tôi xin dừng lại ở chi tiết gợi ý này, để suy nghĩ về mọi môn đệ được sai đi nói chung, và về các linh mục nói riêng.
Trước hết, khi nhìn những thương tích mà Chúa Giêsu chủ ý cho thấy vẫn còn ghi sâu trên mình Ngài, các môn đệ hiểu các thương tích đó nhắc đến sự gì? Thưa, nhắc đến tội của nhân loại, và cũng nhắc đến tội của chính các môn đệ. Chính các môn đệ, những người đã được Chúa đào tạo kỹ lưỡng, lại đã phản bội Ngài. Thế nhưng, Ngài đã tha thứ. Hơn nữa Ngài lại sai họ đi. Họ đã cảm nhận được lòng Chúa xót thương một cách đặc biệt. Nhờ đó khi được sai đi, họ sẽ phải làm chứng cho Thiên Chúa là tình yêu thương xót.
Ngoài ra, khi được sai đi bởi Ðấng mang thương tích trên mình, các môn đệ tự cảm thấy mình rồi cũng sẽ bị thương tích như Ðấng sai mình. Tôi thấy, khi Chúa sai ai đi, Chúa cũng cho họ khả năng chịu nhiều thương tích. Khả năng chịu khổ nơi họ, có thể sẽ bén nhạy hơn khả năng chịu khổ nơi những người khác. Nhờ đó, họ có thể làm chứng được họ được sai đi, không phải để rao giảng lòng thương xót bằng lý thuyết suông, nhưng bằng chính con người của họ. Họ luôn toát ra lửa xót thương qua từng thái độ và từng cử chỉ cuộc sống thường ngày. Họ cảm thương. Họ đồng cảm. Họ thương và xót xa cùng với những ai đau khổ.
Hơn nữa, khi trao sứ mạng ra đi làm chứng cho Tin Mừng, Chúa Giêsu, không những trao cho các môn đệ một khả năng bén nhạy trước những thương tích của nhân loại, mà còn thực sự cũng trao cho các môn đệ một số thương tích của chính Ngài. Ðể các môn đệ tiếp tục thực sự, ít là phần nào, cuộc tử nạn cứu độ của Ðấng Cứu thế, trên mọi chặng đường lịch sử, dù bất cứ thời nào, dù bất cứ nơi đâu. Ðược cùng đau khổ với Chúa Giêsu, được cùng đau khổ với Hội Thánh Chúa Giêsu, thiết tưởng đó cũng là một ơn gọi mang nhiều thương tích.
Sau cùng, khi được sai đi bởi Ðấng mang thương tích, các môn đệ tự hiểu sự gây thương tích cho Chúa, cho Hội Thánh, cho người khác, là điều các ngài phải hết sức tránh. Cũng như các ngài hiểu sự băng bó, chữa lành những thương tích của cộng đoàn, của đồng bào, của những người xung quanh, là một sứ mạng khẩn thiết. Cũng như các ngài hiểu sự đền tạ những thương tích của Chúa là một đòi hỏi chính đáng Chúa muốn các ngài thực hiện. Cũng như sự phải kiên trì mang những thương tích gây nên do chính những dại dội, tội lỗi của mình, đó là một sự đền tội không thể trốn tránh.
Với mấy suy nghĩ như trên, tôi có một cái nhìn rất gần gũi về linh mục Chúa. Theo tôi, linh mục Chúa là người mang thương tích, được Chúa Giêsu mang thương tích sai đi, để làm chứng cho lòng thương xót và niềm hy vọng.
Với một người như vậy, linh mục sẽ rất gần gũi với Chúa Giêsu, và cũng sẽ rất gần gũi với mọi người mang thương tích trong thân xác và trong tâm hồn.
Thương tích kêu gọi lòng thương xót. Nếu ta cầu nguyện, ta sẽ được Chúa là Cha giàu tình yêu thương xót đến cứu chữa ta.
Thương tích kêu gọi niềm hy vọng. Nếu ta tin cậy, ta sẽ được Chúa Giêsu phục sinh dắt ta qua cơn khốn khó để tới ngày sống lại.
Thương tích là số phận chung của mọi người. Nhưng để thương tích trở thành cơ may cho sự trở về, cho sự cứu rỗi, cho sự thanh luyện, cho sự đổi mới bản thân và nhân loại, chúng ta rất cần lửa Chúa Thánh Thần. Lửa đó sẽ đốt lên trong các linh mục, để mọi linh mục sẽ là linh mục của trái tim Chúa Giêsu, linh mục của trái tim Ðức Mẹ Maria là những trái tim bốc cháy lửa tình yêu thương xót.
Giữa dòng đời có nhiều thứ lửa tốt xấu chen lấn nhau, người linh mục Chúa sẽ chỉ có được lửa thực sự của Chúa Thánh Thần, khi tỉnh thức phân định và phấn đấu thường xuyên bằng ánh sáng và sức mạnh của Ðấng đã sai mình.
Lòng thương xót và niềm hy vọng là những giá trị cứu độ mà Chúa sai các linh mục đi rao giảng và làm chứng bằng cuộc sống của mình.
Lòng thương xót và niềm hy vọng là món quà cao quý, mà Chúa muốn những người tin theo Chúa nói chung, và các linh mục nói riêng, hãy biết đón nhận mỗi ngày bằng cầu nguyện khiêm nhường và bằng chân thành cộng tác vào kế hoạch cứu độ của Chúa.
Lòng thương xót và niềm hy vọng trong bình an của Chúa, đó cũng chính là điều, chúng ta thân ái cầu chúc và thiết tha cầu nguyện cho thầy Phêrô Nguyễn Thanh Dũng sắp được phong lên chức linh mục trong thánh lễ này.
Bài giảng thánh lễ Tạ Ơn dịp tĩnh tâm linh mục giáo phận Long Xuyên tại nhà thờ Chánh Toà Long Xuyên, ngày 23 tháng 01 năm 2003

 

Bùi-Tuần 1611: Khóc Than Và An Ủi

Khi còn nhỏ, tôi vẫn nhìn các linh mục là những người có phúc lớn. Lý do là vì các ngài được làm Bùi-Tuần 1611

Khi còn nhỏ, tôi vẫn nhìn các linh mục là những người có phúc lớn. Lý do là vì các ngài được làm nhiều việc, mà những kẻ khác không được phép làm. Do đó, các ngài lại có phúc thêm, vì được giáo dân từ già tới trẻ cung kính mến yêu.
Khi lớn tuổi, nhất là khi tôi được tiếp cận nhiều với các linh mục cao niên, hơn nữa, khi chính tôi đi sâu vào đời linh mục của mình, tôi lại khám phá thấy một lý do mới, khiến linh mục trở thành người có phúc. Ðiều mới đó hơi lạ, nếu nói ra. Nhưng thiết tưởng nên nói ra, vì đó là một sự thực Phúc Âm. Tôi xin phép nói sự thực Phúc Âm đó. Ðây chính là Lời Chúa Giêsu phán: “Phúc thay những ai khóc lóc, vì họ sẽ được Thiên Chúa ủi an” (Mt 5,5).
Thực vậy, những linh mục khóc vì mến Chúa yêu người là những người thực sự có phúc. Các vị đó là những người giàu khả năng hiệp thông với Chúa Giêsu và các tông đồ.
Xưa, Chúa Giêsu đã khóc khi cầu nguyện, như tác giả thư gởi Do Thái viết: “Khi còn sống kiếp phàm nhân, Ðức Kitô đã lớn tiếng kêu van khóc lóc mà dâng lời cầu nguyện” (Dt 5,7). Cũng vậy, nhiều linh mục cũng đã kêu van khóc lóc khi cầu nguyện cho dân và cho chính mình.
Xưa, Chúa Giêsu đã khóc, khi nhìn thấy trước cảnh Giêrusalem sẽ bị tàn phá. Cũng vậy, nhiều linh mục đã khóc, khi nhìn thấy những tai hoạ đã, đang và sẽ xảy ra cho đoàn chiên, cho Hội Thánh và cho Ðất Nước.
Xưa, Chúa Giêsu đã khóc, trước cảnh tang tóc vì Lagiarô chết. Cũng vậy, nhiều linh mục đã khóc trước những cái chết phần xác và phần hồn của những người Chúa đặt vào phạm vi trách nhiệm của mình.
Xưa, thánh Phêrô đã khóc, khi thấy Chúa Giêsu nhìn ngài một cách yêu thương, sau khi ngài đã ba lần chối Chúa. Cũng vậy, nhiều linh mục cũng đã khóc, khi thấy Chúa vẫn thương mình, mặc dầu mình bất trung.
Xưa, thánh Phaolô đã viết: “Tôi phục vụ Chúa với tất cả lòng khiêm nhường và đã nhiều lần trong nước mắt” (Cv 20,19). Cũng vậy, nhiều linh mục đã vì phục vụ, mà phải khóc. Có những nước mắt âm thầm, có những khổ đau câm nín.
Như vậy, có những nước mắt, có những khóc than do động lực đạo đức và nhắm mục đích đạo đức. Những nước mắt và khóc than đó sẽ là những lời cầu nguyện khiêm nhường, sốt sắng.
Những linh mục như thế được kể là những người có phúc. Bởi vì chính Chúa Giêsu đã hứa: Các ngài sẽ được ủi an.
Những ủi an đó là rất khác thường. Không những sẽ nhận được ở đời sau, mà nhiều khi cũng nhận được ngay ở đời này. Thí dụ: Khi các ngài được thấy những phát triển lặng lẽ của Nước Trời tại nơi mình phục vụ, khi cảm nhận được sự bình an sâu xa bao bọc tâm hồn mình, khi được chứng kiến sự chiến thắng tội lỗi nơi đoàn chiên của mình, khi được đón nhận tình nghĩa chân thành vị tha của bao người gần xa đối với mình, khi được thấy chính Chúa Giêsu là Ðấng cứu độ đầy tình xót thương, luôn ban Thánh Thần tình yêu cho mình, và luôn dắt mình về với Chúa Cha giàu lòng thương xót.
Tôi có cảm tưởng là những ủi an đó đã thực sự được Chúa ban dồi dào cho Cha Cố Phaolô Ðỗ Văn Lịch, nhất là hôm nay mừng 50 năm linh mục.
An ủi đáng nói hơn cả là Cha Cố được thông hiệp với tâm tình Ðức Mẹ nhiều năm và nhiều cách.
Là Cha Sở 28 năm của giáo xứ Ðài Ðức Mẹ giữa vùng Cái Sắn này, Cha Cố đã nhận được sâu sắc tình thương xót của Ðức Mẹ. Tình thương xót gồm bao niềm vui, thương, mừng và ánh sáng trong chuỗi Mân Côi. Không phải Cha Cố đã nhận được cho riêng Cha Cố, mà cũng đã nhận được cho giáo xứ, cho từng gia đình, cho từng người, và cho toàn giáo hạt và cho giáo phận. Nhờ vậy chính Cha Cố đã là niềm an ủi lớn lao cho bao người.
Với nhận thức đó, chúng ta cùng nhau dâng thánh lễ này, để tạ ơn Chúa, trong cái nhìn yêu thương của Mẹ nhân lành. Xin Chúa giàu lòng thương xót tiếp tục ban ơn an ủi cho Cha Cố. Mặc dù trên con đường ơn gọi, người môn đệ Chúa sẽ phải như hạt lúa, không tránh được những mỏi mòn và bao thử thách theo lời Chúa dạy (Ga 12,27).
Thiết tưởng cuộc đời như thế cũng chính là thánh lễ tạ ơn đầy giá trị cứu rỗi, mà Cha Cố và chúng ta dâng lên Chúa. Không phải chỉ hôm nay, mà hằng ngày, từng giờ, từng phút. Trong sự hiệp thông với Chúa Giêsu, Ðấng Cứu độ duy nhất của chúng ta. Amen.
Bài giảng thánh lễ mừng 50 năm linh mục
của Cha Cố Phaolô Ðỗ Văn Lịch
ngày 30 tháng 5 năm 2003
tại nhà thờ Ðài Ðức Mẹ Tân Hiệp, Kiên Giang.

 

Bùi-Tuần 1612: Ðời Sống Nội Tâm,

Một Ưu Tiên Của Môn Ðệ Chúa
 

Tại Việt Nam hôm nay, nhiều cộng đoàn đức tin đang tự hào với những phát triển của mình. Phát Bùi-Tuần 1612

Tại Việt Nam hôm nay, nhiều cộng đoàn đức tin đang tự hào với những phát triển của mình. Phát triển về cơ sở, về của cải, về nhân sự, về các hoạt động tôn giáo và xã hội.
Nhưng trước những phát triển đó, không thiếu người lại lo về một sự kiện không được phát triển đủ. Sự kiện đó là đời sống nội tâm.
Lịch sử quá khứ cho thấy: Ðời sống nội tâm nghèo là một yếu tố đã làm suy tàn biết bao giáo đoàn và tu viện. Lịch sử hiện tại cũng đang báo động: Ðời sống nội tâm không được ưu tiên chăm sóc đang là sự kiện đưa một số cộng đoàn đức tin ra khỏi chức năng làm men làm muối Tin Mừng cho xã hội hôm nay.
Tôi cũng đang rất lo như thế cho chính bản thân tôi.
Vì thế, tôi xin chia sẻ rất vắn tắt về một ít điều, tôi đang lo cho đời sống nội tâm của tôi.
 Ý thức về đời sống nội tâm
Tôi khởi sự hiểu về vai trò ưu tiên của đời sống nội tâm, từ câu Chúa Giêsu phán: “Chúng con đừng lo lắng tự hỏi: ta sẽ ăn gì, uống gì, hay mặc gì đây. Cha chúng con trên trời thừa biết chúng con cần tất cả những thứ đó. Trước hết, hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Người, còn tất cả những thứ kia, Người sẽ thêm cho” (Mt 6,31-33).
Với lời trên đây, Chúa Giêsu không dạy chúng ta đừng lo cho các chi tiết đời sống. Nhưng điều Người muốn dạy là: Hãy ưu tiên tìm kiếm một điều quan trọng nhất. Người muốn chúng ta thay đổi trọng tâm của các lo âu, xác định đâu là lo âu ưu tiên chính yếu của mình, đâu là chỗ ta phải đặt trái tim ta vào, như nhà ở ổn định của ta.
Trung tâm quan trọng đó, ưu tiên chính yếu đó, nhà ở ổn định đó được Chúa Giêsu gọi là Nước Thiên Chúa. Dựa trên Phúc Âm, tôi hiểu một cách mộc mạc thế này:
Nước Thiên Chúa là chính Chúa Giêsu, Ðấng luôn vâng phục thánh ý Chúa Cha, luôn sống thông hiệp mật thiết với Chúa Cha, trong hoạt động yêu thương của Chúa Thánh Thần.
Như vậy, Nước Thiên Chúa không phải là một địa lý, một hệ thống quyền lực, nhưng là một Ðấng sống động, một tình yêu chan hoà, một hoạt động đầy ánh sáng chân lý phát xuất từ Thiên Chúa.
Tôi gọi sự sống đó là sự sống thiêng liêng. Và sự sống thiêng liêng đó, khi chi phối nội tâm, sẽ chính là sự sống nội tâm.
 Ðặc điểm của đời sống nội tâm
Trình bày trên đây của tôi là hết sức đơn giản, thô sơ, nhưng hy vọng cũng có thể cho thấy đặc điểm của người có đời sống nội tâm dồi dào.
Một đặc điểm nổi bật của họ là luôn cố gắng hiệp thông với Chúa Giêsu, để có thể nói như thánh Phaolô: “Tôi sống, nhưng không phải là tôi sống, nhưng chính Ðức Kitô sống trong tôi” (Gl 2,20). Sự hiệp thông này phải thực sự ở trong Chúa Thánh Thần, dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần. Chúa Thánh Thần là lửa yêu thương. Người giúp cho cuộc đời ta được phong phú, được đổi mới, được biết sáng tạo theo kế hoạch cứu độ của Chúa.
Một đặc điểm dễ thấy nữa nơi người sống nội tâm là luôn tìm thánh ý Chúa Cha, luôn đón nhận thánh ý Chúa Cha, luôn cộng tác với thánh ý Chúa Cha.
Họ biết rằng: Chúa Giêsu đã cứu chuộc loài người, không phải chỉ nhờ lời nói việc làm yêu thương dành cho nhân loại, mà chính vì Người đã nói, đã làm, đã sống theo ý Chúa Cha. Sự vâng phục thánh ý Chúa Cha là trung tâm cuộc đời Ðấng Cứu thế.
Một đặc điểm nữa cũng dễ nhận thấy nơi người sống nội tâm là tha thiết với việc loan báo Tin Mừng. Tin Mừng, mà họ loan báo là tất cả những niềm vui khôn tả, họ đã lãnh nhận từ Thiên Chúa là tình yêu vô biên: Chúa Cha tạo dựng giàu lòng thương xót, Chúa Giêsu là Ðấng cứu độ khiêm nhường nhân ái, Chúa Thánh Thần là nguồn sống đổi mới ban an ủi và bình an.
Chính nhờ một Tin Mừng như thế, mà người sống nội tâm có một tấm lòng tha thiết quan tâm đến mọi người. Càng là những người nghèo khó bất cứ về phương diện nào, họ càng là đối tượng gần gũi của những người sống dồi dào sức sống nội tâm.
 Kỷ luật của người sống nội tâm
Ðời sống nội tâm là một ơn Chúa ban. Nhưng không phải vì thế mà chúng ta có quyền nhận một cách thụ động. Chúa Giêsu nói rõ: “Các con hãy tìm kiếm” (Mt 6,33).
Tìm kiếm không có nghĩa chỉ là ước muốn, mà còn phải quyết tâm đi tìm. Ði tìm với mọi cố gắng cần thiết.
Tìm đời sống thiêng liêng của Nước Trời là một việc không dễ. Có lần Chúa Giêsu đã phán: “Những người có của thì khó vào Nước Chúa biết bao” (Mc 10,23).
Chúa Giêsu lại nói thêm: “Ai muốn theo Thầy, hãy từ bỏ mình, vác thánh giá mình mà theo Thầy” (Mt 16,24).
Ðó là một khung kỷ luật của người đi tìm đời sống nội tâm. Ở đây, tôi chỉ xin nhắc qua một trong những việc quan trọng trong khung đó chính là sự tĩnh mạc và cầu nguyện nội tâm: “Hãy vào phòng, đóng cửa lại và cầu nguyện cùng Cha của con, Ðấng hiện diện nơi kín đáo. Và Cha của con, Ðấng thấu suốt những gì kín đáo, sẽ trả công cho con” (Mt 6,6).
Cầu nguyện không phải chỉ là nói với Chúa, mà còn là lắng nghe Chúa. Biết thánh ý Chúa và thực thi ý Chúa trong thời buổi này là việc rất cần. Bởi vì rất nhiều người hay nói và làm theo ý riêng, ngược lại ý Chúa. Thói quen này gây nhiều tai hại.
Rất nhiều khi, Chúa cũng nói với ta về thánh ý Ngài qua cộng đoàn đạo đức, qua những người có lương tâm trách nhiệm, và qua những dấu chỉ thời đại. Một sự lắng nghe khiêm tốn với ơn phân định của Chúa Thánh Thần sẽ dẫn đưa ta tới những lựa chọn khôn ngoan, thích hợp, có khả năng làm chứng cho Nước Trời giữa một xã hội đầy phức tạp.
Tiêu chuẩn đời sống nội tâm luôn phải là Chúa Giêsu. Mọi sự trong đời sống nội tâm phải được hướng dẫn bởi Thần Linh của Ðức Giêsu.
***
Chia sẻ trên đây của tôi tất nhiên không nói lên đủ đời sống nội tâm. Nhưng cho dù chỉ là “tiếng kêu trong sa mạc” (Mt 3,3) nó vẫn mang một hy vọng được góp phần nào vào những công trình của các đời sống nội tâm đang hoạt động đó đây. Những đời sống nội tâm ấy tuy âm thầm, nhưng rất phong phú và mạnh mẽ, thuộc nhiều thành phần khác nhau trong nhân loại nói chung và tại quê hương Việt Nam nói riêng.
Ðược Thần Linh Ðức Kitô hướng dẫn, họ đang cùng nhau đi về hướng tương lai rạng rỡ “sự công chính của Thiên Chúa” (Mt 6,33).
Long Xuyên, ngày 10 tháng 6 năm 2003

 

Bùi-Tuần 1613: Phấn Ðấu Vượt Qua

Linh hồn tôi khao khát Chúa”, đó là lời than thở của thánh vịnh 63. Tâm tình khao khát ấy cũng sôi Bùi-Tuần 1613

“Linh hồn tôi khao khát Chúa”, đó là lời than thở của thánh vịnh 63. Tâm tình khao khát ấy cũng sôi động trong tôi. Tôi thực sự khao khát Chúa. Chúa là Ðấng yêu thương đầy tình thương xót. Tình yêu Người như biển cả, không bờ không bến.
Trên đường đi tìm tình yêu ấy, đã có những lúc tôi sai lầm. Tôi dừng lại ở những sông rạch cạn, ở những hồ ao tù, thậm chí ở những vũng nước dơ.
Tôi đã không biết vượt qua, đôi khi còn không muốn vượt qua. Biển cả tình yêu vẫn nhẫn nại đợi chờ. Nhưng tôi không tới. Do nhiều thứ cản.

 Cần vượt qua cản trở
Ðể giúp ta vượt qua cản trở trên đường đến Chúa, Hội Thánh thường xuyên nhắc nhở và giúp đỡ ta. Ðặc biệt có những thôi thúc khẩn thiết hơn và những trợ giúp tha thiết hơn được tập trung vào một thời gian nhất định. Thời gian này là mùa Chay và mùa Phục Sinh. Tôi gọi chung là mùa Vượt Qua.

Vượt qua được hiểu thế nào?
Thưa, trước hết để nhớ lại những sự kiện lịch sử. Trong Cựu Ước, Chúa cho dân Chúa vượt qua Biển Ðỏ, để vào Ðất Hứa. Chúa cho dân Chúa vượt qua chế độ nô lệ, để vào chế độ tự do. Trong Tân Ước, Chúa Giêsu vượt qua cuộc sống thế trần để về với Chúa Cha. Người vượt qua cái chết đau khổ để đi vào Phục sinh với cuộc sống mới.
Ngoài ra, cuộc vượt qua mà tôi muốn nói ở đây, còn mang một ý nghĩa thiêng liêng áp dụng cho chính chúng ta. Ðó là vượt qua những gì làm ta nô lệ tội lỗi, để đi vào sự tự do của con cái Chúa. Vượt qua những gì là sự chết, để được tham dự vào một sự sống mới do Thiên Chúa chia sẻ cho.
Cụ thể, có thể đưa ra vài ví dụ: Ta phấn đấu vượt qua mây mù ích kỷ hẹp hòi. Vượt qua để bước sang một bầu trời tình yêu rộng mở hướng về phục vụ, tha thứ và thăng tiến.
Ta vượt qua nhà tù tự mãn, cho mình là có nhiều của cải về tinh thần, về đạo đức. Vượt qua để bước vào tấm lòng khiêm tốn, nhận biết mình hèn mọn, nghèo nàn về mọi mặt, hầu có thể đón nhận được nhiều ơn Chúa.
Ta vượt qua đêm dài của tính biếng lười, ngủ mê trong an phận, an tâm với tính dửng dưng. Vượt qua để bước vào bình minh của sự dấn thân, biết chia sẻ những trăn trở thao thức của Hội Thánh và của đồng bào.
Trên đây chỉ là vài ví dụ. Mỗi người đều có kinh nghiệm về những cản trở chung và riêng gây nên do xác thịt, thế tục và ma quỷ.
Xác thịt vốn là một nguồn gây sức cản ghê gớm.
Thế tục cũng có vô số cạm bẫy, những cách suy nghĩ và cách sống sai lạc với qui mô lớn.
Ma quỉ luôn là kẻ tinh khôn hăng hái trong việc cản chúng ta đi về với Chúa.
Cho dù cuộc sống là một cuộc chiến, và cuộc đời là bãi chiến trường, chúng ta vẫn phải vượt thắng những sự xấu dẫn ta đến hư hỏng. Phải vượt qua để bước vào sự lành dẫn tới Chúa là hạnh phúc của ta.
Vượt qua bằng cách nào?
 Phương cách vượt qua
Phúc Âm chỉ dạy nhiều phương cách. Nhưng trong những ngày sắp tới, Hội Thánh nhấn mạnh đến 4 phương cách này:

 1/ Giữ chay.
Giữ chay không phải chỉ là bớt ăn bớt uống, nhưng chủ ý là giải thoát ta khỏi những gì trói buộc mình vào con đường lầm lạc. Xin đưa ra một thí dụ về xiềng xích trói buộc này. Ðó là những định kiến về đạo đức nơi những người Pharisêu. Họ mang trong mình bản kết án làm sẵn về Chúa Giêsu. Cho dù Chúa Giêsu có làm phép lạ như những dấu làm chứng Người bởi Thiên Chúa mà đến, họ vẫn một mực chống đối, không tin vào những chứng từ đó.
Ðiển hình là trường hợp Chúa Giêsu làm phép lạ chữa người mù từ thuở mới sinh. Dù biết chắc chắn phép lạ đó là có thực, họ vẫn quả quyết: “Ông ta không thể là người của Thiên Chúa được, vì không giữ ngày Sabát” (Ga 9,16). Sau đó, họ lại khẳng định thêm: “Chúng tôi biết ông ấy là người tội lỗi” (Ga 9,24). Ðịnh kiến do kiêu căng tự xưng mình biết đúng, đã làm cho họ nên như người mù. Mù mà vẫn khẳng định mình sáng mắt. Nên Chúa Giêsu phán: “Nếu các ông đui mù, thì các ông đã chẳng có tội. Nhưng giờ đây các ông nói rằng: Chúng tôi thấy, nên tội các ông vẫn còn” (Ga 9,41).
Ðức tin vốn là một ân huệ Chúa ban. Người được ơn đó thường tỏ ra khiêm tốn, bình tĩnh, không tự phụ kết án chê bai người không tin như mình. Gỡ bỏ được những định kiến kiêu căng về đạo đức có thể gọi được là một cách giữ chay rất nên nhắc nhở.

 2/ Cầu nguyện.
Cầu nguyện thường được hiểu là ta nói với Chúa. Nhưng đúng ra, cũng phải hiểu thêm là ta nghe Chúa nói với ta.
Ðể nói với Chúa, nhất là để nghe Chúa nói với ta, chúng ta rất cần thinh lặng và khiêm tốn.
Trong tâm trạng khó nghèo, tôi thường nghe tiếng Chúa gọi: “Tất cả những ai đang vất vả mang gánh nặng nề, hãy đến cùng Thầy, Thầy sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng” (Mt 12,28).
Tôi tin lời Chúa. Tôi đến với Người. Tôi là gì, tôi có gì, tôi thế nào, thì tôi đến với Chúa như vậy. Và tôi sám hối thầm nói với Chúa “Trong tay Chúa, lạy Chúa, con xin phó thác linh hồn con” (Mc 25,46).
Tôi có cảm tưởng là tay Chúa nhân lành ghi dấu thánh giá trên trán tôi và trong trái tim tôi. Những dấu thánh giá đó tuôn trào ra ơn bình an, trong dòng chảy của tình yêu thương xót. Người cho tôi hiểu rằng tình yêu thương xót đó dành cho tôi, để tôi đổi mới tâm hồn và nếp sống một cách triệt để, đến mức tôi có thể nói như thánh Phaolô: “Tôi sống, nhưng không phải là tôi sống, mà là Ðức Kitô sống trong tôi” (Gl 2,20). Con người được đổi mới theo mô hình Ðức Kitô sẽ là dấu chỉ của Tin Mừng, và sẽ là người cộng tác đắc lực vào công việc truyền giáo.

 3/ Chia sẻ.
Chia sẻ ở đây không phải chỉ giới hạn ở sự chia sẻ của cải. Như làm các việc từ thiện, công tác xã hội, phục vụ người nghèo, mà còn là chia sẻ tình thương, kiến thức, suy nghĩ, nhất là Tin Mừng.
Tới đây, tôi xin phép chia sẻ một chi tiết nhỏ tư riêng, có ảnh hưởng nhiều đến đời tôi.
Sau thụ phong Giám mục được ít ngày, một đêm, trong giấc ngủ, tôi thấy mình đi giữa một cách đồng lúa bao la. Ðột nhiên, tôi thấy từ xa phía trái, có một người đang đi về phía tôi. Ráng vượt qua nhiều quãng gồ ghề lầy lội, bé nhỏ, tới một chỗ, tôi nhận ra người lạ đó là Chúa Giêsu. Tôi cố gắng đi nhanh về phía trước. Sau cùng, Người gặp tôi, tôi gặp Người.
Người cầm tay tôi, dẫn vào thành phố, đi thẳng vào một bệnh viện. Bệnh viện rộng lớn, người bệnh nằm la liệt. Chúa dẫn tôi thăm hết giường bệnh nhân này, tới giường bệnh nhân khác. Càng thăm, tôi càng cảm thấy một tình cảm xót thương lạ lùng nảy sinh và tăng lên trong tôi. Tôi quay sang nhìn Chúa, thì tôi tỉnh dậy. Lòng tôi tràn ngập cảm thương. Lập tức, tôi hiểu rằng: Trong tay Chúa, tôi sẽ được Chúa chia sẻ cho tình xót thương. Tình xót thương, sự đồng cảm với những người đau khổ, đó là một dấu chỉ thích hợp của thời đại truyền giáo tại Việt Nam hiện nay. Chúa muốn tôi nhận thức rõ điều đó.
Trong thực tế, tôi thấy dấu chỉ đó đã chuyên chở ơn thánh vào nhiều người, nhờ những người truyền giáo biết vượt qua chính mình để kết hợp với Chúa Giêsu, Ðấng đã trao cho chúng ta một lời trối: “Các con hãy yêu thương nhau, như Thầy thương yêu các con” (Ga 14,34).
Dấu chỉ đó là rất bình dân. Mọi người đều hiểu. Nó không phải là một lý thuyết đạo đức. Nó không phải là một hệ thống chân lý. Nó là tình yêu sống động, làm chứng cho một Ðấng Cứu thế đã chết vì tình yêu và đã sống lại cho tình yêu.

 4/ Tỉnh thức.
Tỉnh thức nói đây chủ yếu là cảnh giác, không để mình bị lôi cuốn vào những sai lầm, nhưng nhạy bén với những gì thánh ý Chúa muốn về ta. Hiện nay có nhiều điều phải cảnh giác.
Thánh Phêrô tiên đoán: “Trong dân cũng đã từng xuất hiện những ngôn sứ giả. Giữa anh em cũng vậy, sẽ có những thầy dạy giả dối” (2 Pr 2,1).
Thánh Phaolô cảnh báo mạnh hơn: “Vào những ngày sau hết sẽ có những lúc gay go... Hình thức của đạo thì họ còn giữ, nhưng những gì chính yếu thì họ chối bỏ. Con hãy tránh xa những người ấy” (2 Tim 3,1-5).
Thánh Gioan quả quyết: “Có nhiều ngôn sứ giả lan tràn khắp thế giới” (1 Ga 4,1).
Ngôn sứ giả không hẳn là những cá nhân, mà còn là những tập thể, những não trạng, những cách suy nghĩ và đánh giá của cả một vùng, một nền văn hoá.
Ngay chính bản thân ta, nếu không tỉnh thức với ơn Chúa Thánh Thần, ta cũng dễ sa vào những sự xấu. Thí dụ khi tổ chức một cuộc lễ tôn giáo, chúng ta ít ra cũng có ba yếu tố này:
Một là nội dung.
Hai là kế hoạch.
Ba là ý hướng.
Nếu trong nội dung dành cho Lời Chúa, lời Hội Thánh, và các hành vi thánh, tôi để chen vào những lời nói và những hành vi mang tính cách tục hoá, thì sẽ là một lỗi lầm tai hại.
Nếu trong kế hoạch thực hiện việc tổ chức lễ, tôi dùng những nhân sự thiếu khôn ngoan và thiếu phong cách đạo đức, với những phương tiện tồi tệ, thì cũng sẽ là một lỗi lầm phản chứng.
Nếu mọi sự được trôi chảy bề ngoài tốt đẹp, nhưng ý hướng bên trong của tôi là không trong sáng, như để phô trương, để lợi dụng kinh tế, để cạnh tranh uy tín, thì cũng sẽ là một lỗi lầm phá huỷ giá trị đạo đức.
Nếu ta biết thánh ý Chúa muốn về ta lúc này tại đây là dấn thân truyền giáo, ít nhất là bằng sự hiện diện bác ái, xót thương, đồng cảm đối với những người thiếu thốn khổ đau, nhưng ta vẫn dửng dưng, thì đó là một lỗi lầm gây hiệu quả xấu cho ta và cho Hội Thánh.
Những lỗi lầm trên đây do thiếu tỉnh thức đã và đang xảy ra. Nếu không sửa, những lỗi lầm ấy sẽ dẫn ta từng bước đi sâu vào diệt vong.
**
Tới đây, chúng ta đã có thể thấy được phần nào những gì chúng ta phải vượt qua. Chúa biết ta luôn yếu đuối. Người sẽ giúp ta, nếu ta khiêm tốn đón nhận ơn Người cứu độ. Hơn nữa, chúng ta tin tưởng vào Ðức Mẹ Maria là Mẹ nhân từ của chúng ta. Mẹ đã vượt qua, để giúp con cái Mẹ vượt qua.
Ta càng có tinh thần khiêm tốn, nghèo khó, hèn mọn, bé nhỏ, ta càng được Ðức Mẹ dắt dìu với tất cả tình thương của người mẹ. Với Mẹ, ta sẽ đi trọn hành trình vượt qua, tới được đến cuộc sống mới chứa chan hạnh phúc, bên Thiên Chúa là tình yêu giàu lòng thương xót, mà ta khao khát được hưởng, đến muôn thuở muôn đời.
Long Xuyên, ngày 3 tháng 8 năm 2003

 

Bùi-Tuần 1614: Ðức Mẹ Của Những Người Nghèo

Nhà thờ Chánh Toà Long Xuyên năm nay được 30 tuổi, tính từ ngày được thánh hiến (22.8.1973 Bùi-Tuần 1614

Nhà thờ Chánh Toà Long Xuyên năm nay được 30 tuổi, tính từ ngày được thánh hiến (22.8.1973 – 22.08.2003.
Cuối nhà thờ này có tượng Ðức Mẹ dựng cao, sát bên cạnh cây tháp. Tượng này thường được gọi là tượng Ðức Mẹ Maria, Nữ Vương Hoà Bình, bởi vì nhà thờ Chánh Toà Long Xuyên nhận Ðức Mẹ Nữ Vương Hoà Bình làm Bổn Mạng.
Tượng mang tên đó. Nhưng trên thực tế, mỗi người có thể nhìn Ðức Mẹ với danh hiệu nào mà mình ưa thích. Chẳng ai cấm nhìn Ðức Mẹ Maria là Mẹ Ðấng Cứu thế, Mẹ Hội Thánh, Mẹ các tông đồ...
Riêng tôi, tôi hay nhìn kính tượng Mẹ Maria và thầm gọi Mẹ bằng một lời chẳng mấy cao sang. Tôi gọi Mẹ là Mẹ của những người nghèo.
Tôi gọi như vậy vì nhiều lý do riêng tư. Nhưng cũng dựa trên một sự kiện Ðức Mẹ hiện ra đã được Toà Thánh công nhận.
Vắn tắt chuyện như thế này:
Tại nước Bỉ có một họ đạo nhỏ hơn 300 người, tên là Banneux. Trong họ đạo này có một gia đình nghèo, đông con. Ðứa lớn nhất là Mariette. Năm 1933, Mariette được 11 tuổi. Em bị cha sở loại không cho rước lễ lần đầu, vì do hoàn cảnh, em hay bỏ học giáo lý và bỏ lễ Chúa nhật.
Tối ngày 15-01-1933, Mariette mở cửa sổ xem em mình đi từ trưa đã về chưa. Trời lạnh và tối. Bỗng em thấy một bà lạ toả sáng đứng ở vườn nhà mình. Bà ra hiệu gọi em xuống. Em hoảng chạy đến mẹ mình. Bà mẹ cũng thấy như thế. Bà còn sợ hơn em. Bà đóng cửa, khoá lại, cấm con xuống. Riêng Mariette, em thấy lòng mình thay đổi hẳn.
Sáng sau, Mariette đi lễ. Cha sở lấy làm lạ. Ngài càng lạ hơn nữa, khi trong giờ giáo lý, ngài nghe Mariette trả lời thông thạo giáo lý, mặc dù đã bỏ 32 lớp và bỏ lễ 3 Chúa nhật liên tiếp.
Cách mấy ngày, tức tối 18-01-1933, Mariette ra con đường nhỏ gần nhà, quỳ cầu nguyện, thì đột nhiên Bà lạ hiện đến. Bà bảo em đi theo Bà. Trên đường đi, em té ngã 3 lần. Lần nào té ngã, Bà lạ cũng dắt em đứng dậy. Lát sau, tới một suối nước, Bà bảo em thọc tay vào nước. Nước rất lạnh. Bà nói: Ðây là suối của Bà và của mọi người. Rồi Bà lạ biến đi.
Tối ngày 19-01-1933, trời rất xấu. Mariette ra con đường cũ, thì lại gặp Bà lạ. Em hỏi Bà là ai? Bà lạ thưa: Ta là Mẹ của những người nghèo. Rồi Bà lại dẫn em đến suối nước, và bảo em thọc tay vào nước như lần trước.
Sự lạ xảy ra 8 lần trong nhiều tháng. Nội dung tương tự như nhau. Nhiều người tới đó, cầu nguyện và thọc tay xuống suối nước. Họ đã được nhiều ơn khấn xin.
Năm 1942, sau điều tra cẩn thận, Ðức Giám mục giáo phận đã công nhận việc tôn sùng Ðức Mẹ là Mẹ của người nghèo.
Năm 1949, Ngài công nhận chính thức tám sự kiện hiện ra là có thực.
Chính Ðức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã tới Banneux ngày 21-05-1985. Ngài đã đi theo con đường Mariette đã đi để đến suối. Ngài cũng đã thọc tay vào dòng suối. Rồi tại một nhà nguyện ở đó, Ngài đã dâng thánh lễ. Có hơn 100.000 người tham dự, chen chúc trong ngoài. Phần đông là nghèo túng, khuyết tật và đau yếu.
Bản cắt nghĩa chính thức về sự Ðức Mẹ hiện ra với Mariette ở Banneux đã nêu lên mấy điểm sau:
1/ Ðức Mẹ đến thăm một gia đình người nghèo và khô khan để mời gọi. Mục đích để mọi người nghèo đều tìm được hy vọng nơi Mẹ.
2/ Lần nào, Ðức Mẹ cũng dẫn Mariette đến suối. Suối ám chỉ Chúa Giêsu.
3/ Trên đường đến suối, Mariette té ngã nhiều lần. Nhưng Ðức Mẹ bảo em hãy cầu nguyện, rồi Mẹ đỡ em dậy, và cùng em lại bước đi. Sự kiện này có ý dạy: Trên đường đến với Chúa, có thể người ta sẽ vấp ngã. Nhưng đừng ngã lòng. Hãy can đảm, đứng lên và tiếp tục dấn thân. Hãy cầu nguyện nhiều. Mẹ sẽ đỡ nâng và đồng hành.
Với những ý tưởng trên đây, tôi nghĩ về giáo phận Long Xuyên của tôi. Tôi nhìn thấy khắp nơi một cảnh sống giản dị, thậm chí có nơi còn rất nghèo. Nhưng tất cả đều dễ thương. Dễ thương nhất là ở chỗ đâu đâu cũng có lòng sùng kính Ðức Mẹ Maria. Có thể nói chính Ðức Mẹ đã đến với từng gia đình, để mời gọi, để ủi an, để đồng hành với họ trên con đường cuộc sống nhiều khi bao phủ bóng tối, lạnh lẽo và lo âu. Những ai theo Mẹ tới tận nguồn suối là Ðức Giêsu đều được hạnh phúc.
Riêng Ba Giám Mục chúng tôi và các linh mục Long Xuyên đều là những người nghèo, nhưng được Ðức Mẹ thương.
Ðặc biệt là Ðức Cha Miace Nguyễn Khắc Ngữ, vị giám mục tiên khởi rất đáng mến, nay đã về hưu. Ðồng thời với Ngài là Cha Piô Nguyễn Hữu Mỹ, nguyên là Cha Sở nhà thờ này, nhưng đang đau bệnh. Ðức Cha Micae và Cha Piô là những gương sáng quí giá của chúng ta. Tôi coi hai ngài là những cây thu lôi thiêng liêng, che chở cho họ đạo này.
Kế tiếp Ðức Cha Micae là tôi. Nay tôi cũng đã được phép về hưu. Tôi hết lòng và hân hoan tạ ơn Chúa vì ơn trọng đại đó.
Nay, Ðức Cha Giuse Trần Xuân Tiếu sẽ đảm nhận trọng trách đứng đầu giáo phận. Ngài đã được chuẩn bị kỹ và kịp thời.
Chúng ta tạ ơn Chúa vì giáo phận luôn là một gia đình đầm ấm, nơi những thế hệ kế tiếp nhau hài hoà, hiệp nhất.
Tất cả chúng ta đều đã đi, đang đi và sẽ đi cùng với giáo phận về Suối Nguồn, là Ðức Kitô. Té ngã là chuyện nhiều khi khó tránh được. Nhưng điều quan trọng là chúng ta năng cầu nguyện và vững tin vào Ðức Mẹ của người nghèo. Ðức Mẹ rất gần ta. Ðức Mẹ rất thương ta. Ðức Mẹ đồng hành với ta, dù trong đêm tối, lạnh lùng, cô đơn.
Lạy Mẹ của những người nghèo, xin thương ban cho mọi người cộng tác với Mẹ trong mục vụ có được một trái tim biết xót thương người nghèo, biết đến với người nghèo, biết chia sẻ và thông cảm với người nghèo, biết nâng đỡ người nghèo và dắt dìu họ về Suối Nguồn cứu độ là Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng con.
Long Xuyên, ngày 10 tháng 8 năm 2003

 

Bùi-Tuần 1615: Người Tu Làm Chứng Cho Chúa

Làm môn đệ Chúa trong đời tu là một ơn gọi. Mỗi người được ơn gọi đó có thể nêu cao một lý Bùi-Tuần 1615

Làm môn đệ Chúa trong đời tu là một ơn gọi. Mỗi người được ơn gọi đó có thể nêu cao một lý tưởng tu rút từ Phúc Âm.
Những người tu nào được thêm ơn gọi mang chức thánh sẽ phải chu toàn một số bổn phận thánh được qui định, như dâng thánh lễ, ban phát các mầu nhiệm thánh, phục vụ bàn thánh, qui tụ dân thánh Chúa, rao giảng lời Kinh Thánh vv... Những nhiệm vụ đó luôn đáng trân trọng. Nhờ vậy, người môn đệ Chúa được mang nhiều chức danh cao sang.
Nhưng, trong một xã hội đa tôn giáo và đang chịu ảnh hưởng rất mạnh bởi làn sóng văn minh vật chất cùng với lối sống hưởng thụ, tôi vẫn thích nhìn các môn đệ Chúa sống đời tu với chức danh người làm chứng cho Chúa. Chính Chúa Giêsu đã chọn hình ảnh đó: “Các con hãy là chứng nhân của Thầy... cho đến tận cùng trái đất” (Cv 1,8).
Chúng ta làm chứng cho Chúa Giêsu bằng nhiều con đường. Ðường do vị thánh sáng lập cộng đoàn mình đã chọn. Ðường do cá nhân mình được phép chọn, theo ơn Chúa soi sáng để đáp ứng hoàn cảnh đổi thay. Nhưng tất cả luôn luôn phải là những nẻo đường của Phúc Âm.
Dù bằng nẻo đường nào, người làm chứng cho Chúa Giêsu không thể bỏ qua những yếu tố cụ thể mà Chúa Giêsu đã nêu lên trong đời của Người.
Những yếu tố đó, nếu được gọi bằng những từ đơn giản, thì sẽ là:

1/ Hiến thân,
2/ Tu thân,
3/ Dấn thân.

 Hiến thân
Hiến thân của Chúa Giêsu là hiến mình vâng phục thánh ý Chúa Cha. Lời Chúa dưới đây trong thư gởi Do Thái gợi ý về sự hiến thân theo hướng đó:
”Khi vào trần gian, Ðức Kitô nói: Chúa đã không ưa hy lễ và hiến tế, nhưng đã chọn cho con một thân thể, Chúa cũng chẳng thích lễ toàn thiêu và lễ xá tội. Bấy giờ con mới thưa: Lạy Thiên Chúa, này con đây, con đến để thực thi ý Chúa, như sách thánh đã chép về con” (Dt 10,5-7).
Suy gẫm những lời trên đây, tôi có cảm nghĩ là một số hình thức lễ lạy, mà người ta bám vào, tưởng rằng sẽ làm chứng cho Chúa, đã và đang bị Chúa chê chối. Lễ mà Chúa muốn là lễ trong con người chúng ta. Một con người sẽ là của lễ đẹp lòng Chúa, khi con người đó tự ý chọn sự vâng phục thánh ý Chúa, dù thánh ý Chúa là những gì mình chẳng hiểu, hoặc mình cho là vô lý theo sự khôn ngoan và thông minh thế gian.
Sự vâng phục thánh ý Chúa có thể sẽ gây nhiều đau đớn trong con người chúng ta. Nhưng nó sẽ có sức góp phần vào chương trình cứu độ của Chúa Giêsu. Thư gởi Do Thái có đoạn viết:
“Dầu là Con Thiên Chúa, Người (Chúa Kitô) đã phải trải qua nhiều đau khổ, mới học được thế nào là vâng phục. Và khi chính bản thân đã tới mức thập toàn, Người trở nên nguồn ơn cứu độ vĩnh cửu cho những ai tùng phục Người” (Dt 5,8-9).
Như vậy, vâng phục thánh ý Chúa Cha là một việc hiến thân không dễ dàng. Nó đòi một sự phấn đấu can đảm và rất cam go. Ở vườn Cây Dầu, chính Chúa Giêsu đã diễn tả cuộc phấn đấu đó bằng lời cầu thảm thiết: “Lạy Cha, nếu Cha muốn, xin cho con khỏi uống chén này. Tuy vậy, xin đừng làm theo ý con, nhưng hãy làm theo ý Cha” (Lc 22,43).
Nếu sự hiến thân được hiểu ít là như vậy, thì sự làm chứng cho Chúa bằng hiến thân phải được thực hiện đúng. Nếu nói là mình hiến thân trong đời tu, nhưng cứ sống theo lối sống mình thích và làm những gì mình thích, chứ không uốn mình theo ý Chúa, thì sẽ là một phản chứng đầy xúc phạm đến ơn gọi thiêng liêng cao quý Chúa dành cho mình.
Một hình thức hiến thân nền tảng trong đời tu là thực sự tu thân.

 Tu thân
Tu thân là một cách sống được hầu như mọi người Việt Nam kính phục. Xem ra dân chúng không lạ lẫm gì với hình ảnh người tu. Người tu được hiểu như người tự ý từ bỏ nhiều cái mình có quyền được hưởng, tự nguyện sống trong một hệ thống kỷ luật, vì ý nghĩa một cuộc sống cao đẹp hơn đời thường.
Ðọc Phúc Âm, ta thấy, khi chọn môn đệ để làm chứng cho Chúa, Chúa đã gọi họ hiến thân vào một đời từ bỏ. “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thánh giá mình mà theo” (Mt 16,24).
Ðời tu này còn có một đặc điểm khác được gói ghém trong lời này: “Thầy là cây nho, các con là cành. Ai ở trong Thầy và Thầy ở trong người ấy, thì người ấy sinh nhiều hoa trái” (Ga 15,5).
Người tu đích thực, chính vì kết hợp với Chúa Giêsu một cách mật thiết, nên luôn sống bé nhỏ khiêm tốn, siêng năng cầu nguyện. Như lời Chúa Giêsu đã nói với Chúa Cha là Chúa yêu thương và “mạc khải cho những người bé mọn” (Lc 10,21).
Tôi thiết nghĩ bốn yếu tố trên đây, tức từ bỏ, gắn bó với Chúa, khiêm tốn và cầu nguyện là những gì tối thiểu làm nên chất tu đích thực. Chất tu này sẽ là những chuẩn bị tốt, để Chúa Thánh Thần dùng người tu như ngọn đèn thắp sáng niềm tin, đem lại hy vọng cho những nơi tăm tối.
Trái lại, người tu mà lòng trống vắng cuộc sống nội tâm, không toả sáng được tinh thần từ bỏ, sự khiêm tốn, tinh thần cầu nguyện và dung mạo Chúa Giêsu bác ái ngự trong mình, thì sẽ rất nghèo khả năng làm chứng cho Chúa, dù có lao mình vào những hoạt động rầm rộ bên ngoài. Phương chi, nếu chẳng may, người tu lại bị tiếng là người tìm hưởng thụ, thích tự do thoải mái, chủ trương tận hưởng các thứ sướng vui có được, thì sẽ là một tai hoạ cho truyền giáo và nguy cho chính mình. Sẽ không thể làm chứng cho Chúa. Trái lại còn làm đau lòng Chúa.
Rất may là loại người tu mất phẩm chất như thế, nếu có, cũng thường đã biết trở về. Hơn nữa, họ còn nêu gương sáng về sám hối và dấn thân. Qua cuộc trở về và dấn thân, họ thực hiện lời thánh Phaolô viết: “Dù sống, dù chết, chúng ta vẫn thuộc về Chúa” (Rm 14,8).

 Dấn thân
Dấn thân là một cách hay nhất để làm chứng cho Chúa. Dấn thân có nhiều hình thức. Một hình thức căn bản của dấn thân là theo gương Chúa Giêsu dấn thân. Chúa Giêsu đã dấn thân thế nào? Ta hãy nghe bài ca thánh Phaolô về dấn thân của Chúa Giêsu.
“Ðức Giêsu Kitô
vốn dĩ là Thiên Chúa
mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì
địa vị ngang hàng với Thiên Chúa.
Nhưng Người đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang
mặc lấy thân phận nô lệ,
trở nên giống phàm nhân
sống như người trần thế.
Người lại còn hạ mình,
vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết,
chết trên thánh giá” (Pl 2,6-8).
Như vậy, dấn thân của Chúa Giêsu là khiêm nhường bước xuống. Không phải chỉ xuống một bước, mà xuống nhiều bước trên một con đường dài, từ cảnh nghèo hang đá Belem cho đến cảnh nhục nhã đớn đau của thánh giá ở đồi Calvariô.
Chúa Giêsu dấn thân, để sống cảm thông với người nghèo, để chia sẻ nỗi đau của kẻ khốn khó, để tìm cứu người tội lỗi, để chết đền tội thay cho một nhân loại đã loại trừ Người.
Nói cho cùng, mọi dấn thân của Chúa Giêsu đều do tình yêu, và làm chứng cho tình yêu.
Trên thánh giá, tuy cảm thấy như bị chính Chúa Cha từ bỏ, Người vẫn tha thiết tin yêu Chúa Cha: “Cha ơi, con xin phó linh hồn con trong tay Cha” (Lc 23,46). Người làm chứng tình yêu của Người đối với Chúa Cha là tuyệt đối.
Cũng trên thánh giá, tuy bị quyền đời quyền đạo và dân chúng loại trừ một cách độc ác chỉ vì ghen tuông, Chúa Giêsu vẫn một mực yêu thương họ. Người xin Chúa Cha tha tội cho họ: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ lầm không biết” (Lc 23,34). Người làm chứng tình yêu của Người đối với nhân loại là bao la, không bờ không bến. Người coi yêu thương là cách làm chứng tốt nhất.
Vì thế, trong giờ phút vĩnh biệt, Người trối lại một giới răn mà Người gọi là mới: “Thầy cho các con một điều răn mới, là các con hãy yêu thương nhau như Thầy yêu thương các con” (Ga 14,34). Người gọi điều răn đó là mới. Mới ở chỗ: “Hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương các con”.
***
Nhìn qua ba yếu tố quan trọng trên đây của người môn đệ Chúa được mời gọi làm chứng cho Chúa, chúng ta sẽ thấy ngay nhu cầu đào tạo nhân sự làm chứng cho Chúa hiện nay đang trở thành một vấn đề khẩn cấp. Hiến thân, tu thân và dấn thân phải thực sự có phẩm chất cao và vững. Nếu không, làn sóng vong thân sẽ dần dần đẩy tới hư thân. Làm chứng bằng phong cách sống tu hơn bằng các lễ lạy, nghi thức và sự sang trọng của đền thờ.
Rất may là tại Hội Thánh Việt Nam chúng ta, nhận thức đó đang đánh thức nhiều lương tâm. Chúa Thánh Thần đang thổi vào những tâm hồn đơn sơ một sức sống đầy nhiệt tình mới. Người sẽ làm nên những bất ngờ cho Hội Thánh. Hãy tin vào Người.
Long Xuyên, ngày 20 tháng 8 năm 2003

 

Bùi-Tuần 1616: Ðôi Dòng Tâm Sự

Ðời tôi là một hành trình. Có những cái mốc dễ nhớ: 28 tuổi thụ phong Linh mục, 48 tuổi thụ Bùi-Tuần 1616

1/ Ðời tôi là một hành trình. Có những cái mốc dễ nhớ:
28 tuổi thụ phong Linh mục,
48 tuổi thụ phong Giám mục.
Năm nay được 48 tuổi linh mục và 28 tuổi giám mục.
Riêng gánh nặng sứ vụ giám mục được bắt đầu ngày 30 tháng 4 năm 1975, và được nhẹ đi ngày 02 tháng 9 năm 2003.
Cả hai ngày trên tại Việt Nam đều rợp cờ phất phới.
2/ Giáo phận Long Xuyên của tôi có những vẻ đẹp thiên nhiên thường được nói tới trong Phúc Âm. Ðó là ruộng, vườn, sông, núi, biển. Xưa, Chúa Giêsu hay qua lại những nơi đó. Ngài cũng hay nhắc tới những nơi đó trong các bài giảng của Ngài.
3/ Do đó, hoạt động mục vụ truyền giáo của tôi cũng chịu ảnh hưởng. Có thể tóm tắt vào mấy việc mang hình ảnh này:
- Gieo,
- Trồng,
- Thả lưới,
- Xây dựng trên núi.
* Tôi gieo Lời Chúa khắp nơi có thể.
* Tôi trồng các cộng đoàn nhỏ Hội Thánh ở mọi vùng sâu vùng xa.
* Tôi thả lưới tình thường vào khắp địa phương và xã hội qua mọi liên hệ tốt nhất.
* Tôi xây dựng những cột đèn trên núi, để người ta nhìn được ánh sáng Phúc Âm từ xa.
4/ Thực sự, tôi, gieo, trồng, thả lưới và xây dựng không chỉ một mình, nhưng cùng với nhiều môn đệ Chúa và với nhiều người thiện chí. Nhất là với Ðức Mẹ, với Chúa.
5/ Công việc chẳng dễ dàng gì. Nhưng dù bị muôn vàn khó khăn, chúng tôi vẫn cố gắng lên đường. Ðiều quan trọng đối với tôi là mang theo lửa thao thức: Mến Chúa, yêu người, cậy trông và tỉnh thức.
Tất cả phải được nung nấu trong thực chất Phúc Âm và thực tế cuộc sống.
Sáng nào, tôi cũng suy gẫm Phúc Âm.
Sáng nào, tôi cũng đọc và nghe tình hình thế giới, Việt Nam và địa phương.
Nhìn vào hai phía đó cho thực rõ, thực sâu, để chọn hướng đi và điều chỉnh hướng đi cho thích hợp với sứ vụ.
Ngủ trong tự mãn và lười biếng, dửng dưng trước những đổi thay của cuộc sống, coi thường những làn sóng ngầm trong thời cuộc. Ðó là những nội thù rất tai hại cho mục vụ truyền giáo, mà tôi cố tránh và cố dẹp.
6/ Cho đến tuổi này, tôi vẫn thấy mình còn rất dốt, rất dại khờ, rất nông về Phúc Âm, nên tôi không ngừng phấn đấu để khá hơn thêm một chút. Tôi xin Chúa nhìn thiện chí của tôi. Chứ hoa trái thì chẳng có gì đáng nói.
7/ Càng ngày, tôi càng thấy làn sóng đi tìm hưởng thụ và tục hoá càng mạnh và càng rộng khắp. Nó đi kèm với não trạng thực dụng.
Nhìn chung, tôi thấy nó đang gây nên hai hậu quả này:
Một là mỗi người đều muốn khẳng định mình phải tự sức đi tìm hạnh phúc riêng cho mình, tại đây và lúc này.
Hai là sự khát khao hạnh phúc và sự khẳng định đó đang bị cám dỗ vượt giới hạn gia đình, xã hội và Giáo Hội, khi những nhân tố này bị coi là rào cản. Nhất là khi những yếu tố này không còn giữ được nề nếp đạo đức đủ uy quyền đứng làm gương mẫu cho những giá trị cao đẹp.
Một tình hình như vậy đang là những làn sóng ngầm dưới một bề mặt tình hình coi như ổn định. Nhưng thực sự đây là một tình hình rất đáng ngại cho những ai còn tâm huyết đối với Hội Thánh và Quê Hương Ðất Nước.
8/ Vì thế, theo thiển ý tôi, việc quan trọng trong mục vụ truyền giáo là làm chứng cho đức tin vào Thiên Chúa của chúng ta.
Một lần, khi nói chuyện với nhóm anh chị em ngoài công giáo về hiện tượng đổi đạo, tôi bất ngờ nghe một người phát biểu: Ai dại gì lại đổi cái tốt mình đang có để lấy cái xấu.
Ở đây, xấu tốt ám chỉ đời sống của những người theo đạo. Một người có đức tin mạnh, nhưng đời sống luân lý thì kém, thiện chí phục vụ thì chẳng hơn ai, khả năng chuyên môn thì thấp. Một người như vậy sẽ bị đánh giá là xấu. Xấu không phải là đức tin. Nhưng xấu do đời sống luân lý, phục vụ và chuyên môn. Thí dụ một thầy cô công giáo có đức tin rất anh hùng, nhưng thiếu lương tâm bác ái và trách nhiệm, thiếu trình độ nghề nghiệp, thì khó làm chứng cho Chúa, cho đức tin anh dũng của mình.
9/ Vì tình hình đổi thay và sẽ còn đổi thay về hướng rất phức tạp, nên tôi nghĩ người làm chứng cho Chúa phải có ít nhất một số giá trị chung, mà mọi người và mọi tôn giáo đều kính trọng. Những giá trị đó như tu thân, hiến thân, dấn thân, xả thân vì tình yêu cao thượng.
Tôi đang thấy hiện tượng vong thân và hư thân bắt đầu có chỗ đứng trong đạo ngoài đời tại Việt Nam ta.
10/ Cũng vì thế, tôi muốn nhấn mạnh và đề cao khát vọng của tôi được về với Chúa. Không phải về với Chúa có nghĩa là chết, nhưng là cố gắng thuộc về Chúa, gắn bó với Chúa, đi về với Chúa, sống trong Chúa và Chúa sống trong tôi.
Ðược như vậy, việc tôi làm chứng cho Chúa sẽ có ý nghĩa thực sự, sẽ có chất lượng thực sự. Nhất là nhờ đó, việc tôi rao giảng Tin Mừng cho người nghèo khó mới được Chúa nâng đỡ.
Giờ phút tôi giã từ sứ vụ Giám Mục Chính Toà mở ra cho tôi những nẻo đường mới, để làm chứng cho Chúa. Nhưng những nẻo đường đó đều sẽ gắn liền với con đường Chúa Giêsu đã đi, để làm của lễ. Và vì thế tất nhiên, luôn luôn sẽ có rất nhiều tình yêu và thánh giá. Vác thánh giá vì tình yêu. Giàu tình yêu nên ôm lấy thánh giá.
Long Xuyên, ngày 24 tháng 8 năm 2003

 

Bùi-Tuần 1617: Tâm Tình Gởi Các Thành Phần Dân Chúa

Giáo Phận Long Xuyên
 

Tôi xin hết lòng cảm ơn Cha đại diện vì những lời chân tình nói lên thay cho cộng đoàn nhân dịp Bùi-Tuần 1617

Tôi xin hết lòng cảm ơn Cha đại diện vì những lời chân tình nói lên thay cho cộng đoàn nhân dịp lễ Tạ Ơn vì tôi được phép về hưu.
Thực tình, tôi không muốn gì ngoài lời tạ ơn Chúa, cảm ơn giáo phận và tất cả mọi ân nhân, mọi người cộng tác xa gần. Nhưng tôi thiết nghĩ sẽ là một thiếu sót, nếu lời cảm ơn của tôi không kèm theo một vài chia sẻ, mà anh chị em có quyền biết.
Tôi chỉ xin chia sẻ vài điều vắn tắt.
1/ Cách đây 28 năm, tôi được Toà Thánh bổ nhiệm làm Giám mục Phó giáo phận Long Xuyên. Tôi không muốn chút nào, tôi lo sợ, tôi đã xin từ chối, vì thấy rõ mình không đủ khả năng gánh một trách nhiệm rất nặng trong một hoàn cảnh quá khó. Nhưng sau, vì vâng lời, tôi đã xin nhận với muôn vàn lo lắng.
2/ Trong suốt 28 năm qua, tôi đã được Chúa dắt dìu, đã được Ðức Mẹ ủi an, đã được Toà Thánh yêu thương, đã được toàn thể giáo phận nâng đỡ, đã được xã hội chấp nhận. Ðó là những ơn quí giá đặc biệt. Tôi xin hết lòng tạ ơn Chúa. Tôi tận tình cảm ơn mọi người, đặc biệt là Ðức Cha Micae đáng kính, người cha chung của chúng ta.
3/ Sức mạnh hằng ngày thúc đẩy tôi phục vụ chính là những thao thức từ những gì tôi chưa làm được cho Hội Thánh và cho Quê Hương hơn là những gì tôi đã làm được. Những thao thức đó đã ảnh hưởng nhiều đến sức khoẻ của tôi vốn đã mong manh.
4/ Khi cảm thấy mình khó có thể tiếp tục gánh vác trách nhiệm, tôi đã xin Ðức Giáo Hoàng cho tôi được về hưu, theo đúng giáo luật. Ðức Giáo Hoàng đã rất thông cảm và chấp thuận. Tôi rất vui vì ơn trọng đại đó.
5/ Trước khi chính thức được về hưu, tôi xin mọi người tha thứ cho tôi những lỗi lầm thiếu sót. Riêng tôi, tôi không buồn phiền bất cứ một ai. Trái lại, tôi nhìn mọi người trong Chúa tình yêu, và nhìn Chúa tình yêu trong mọi người.
6/ Trong tương lai, tôi sẽ tiếp tục cộng tác với Ðức Cha Giuse với tất cả khả năng của tôi. Xin anh chị em cũng hãy làm như vậy.
7/ Sau cùng, tôi xin chân thành nói với anh chị em về thao thức lớn nhất của tôi lúc này. Ðó là được về với Chúa như một của lễ hèn mọn. Về với Chúa là về với Chúa Cha giàu lòng thương xót, nhờ Chúa Giêsu là Ðấng Cứu chuộc, dưới ánh sáng bình an của Chúa Thánh Thần, và trong tay Mẹ Maria là Mẹ nhân lành vốn luôn che chở những đứa con bé nhỏ yếu đuối.
Long Xuyên, ngày 22 tháng 8 năm 2003

 

Bùi-Tuần 1618: NHÂN LỄ SUY TÔN THÁNH GIÁ

Thông Phần Ðau Khổ Của Chúa Giêsu
 

Tôi không thích đau khổ. Nhưng khi nhìn những đau khổ của Chúa Giêsu, tôi cảm thấy xót xa Bùi-Tuần 1618

Tôi không thích đau khổ.
Nhưng khi nhìn những đau khổ của Chúa Giêsu, tôi cảm thấy xót xa, trân trọng.
Lúc nhận ra rằng: Người chịu đau khổ vì tình yêu, tôi tự nhiên gần lại đau khổ, với cảm xúc thân thương.
Cho tới khi tôi gặp Người đang đau khổ đi tìm tôi, để cứu chuộc tôi, tôi ôm lấy Người, và tất nhiên cũng ôm lấy đau khổ của Người.
Từ đó, những đau khổ mà Người chia sẻ cho tôi mang một ý nghĩa mới, gây nên những tình cảm mới, mời gọi những dấn thân mới. Thứ đau khổ ấy trở thành một giá trị hết sức lớn lao và quan trọng.
Có thể cũng từ những cảm nghiệm như thế, mà thánh Phaolô đã ước ao “được thông phần những đau khổ của Chúa Giêsu” (Pl 3,10).
Ước ao trên đây của thánh Phaolô là một chỉ hướng cho tôi trước vấn đề “được thông phần đau khổ của Chúa Giêsu”. Tôi cho đây là nguồn ơn gọi cao quý.
 Những ơn gọi cao quý
Trước hết đau khổ là vinh dự đi kèm với ơn gọi làm môn đệ Chúa Giêsu.
Chúa phán: “Ai muốn theo Thầy, hãy từ bỏ mình, vác thập giá mình mà theo Thầy” (Mt 16,24). Ba điều kiện: từ bỏ mình, vác thập giá mình, bước theo Chúa Giêsu, tất cả đâu là chuyện dễ. Phải phấn đấu nhiều, phấn đấu thường xuyên. Những phấn đấu ấy bao giờ cũng gây nên nhiều khổ đau thể xác và tinh thần. Nhưng, chấp nhận những đau đớn ấy để nên môn đệ Chúa, tôi cho là một vinh dự , một lời lãi.
Nhất là vì thế, mà người môn đệ Chúa lại được gọi bước lên một bậc nữa, đó là ơn gọi trở nên giống Thầy mình. Thánh Phaolô đã diễn tả ơn gọi đó bằng câu nói sau đây: “Nên đồng dạng đồng hình với Chúa Giêsu trong cái chết của Người” (Pl 3,10).
Cái chết của Chúa Giêsu là cái chết thế nào? Thưa là tụ điểm của mọi thứ xúc phạm, mọi thứ khích bác, mọi thứ nhục hình tấn công Người.
Tôi nghĩ rằng, Chúa không gọi tôi nên giống Chúa trong cái chết thê thảm tột độ đó, vì tôi quá yếu đuối. Nhưng, nếu Chúa gọi tôi chia sẻ phần nào, để cũng được kể là đồng dạng đồng hình với Chúa Giêsu, thì tôi cho đó là một ơn gọi quí giá, một ân huệ lớn lao.
Thực ra, yếu tố làm cho đau khổ của Chúa trở thành cao quý, chính vì nó là một mặt của tình yêu cao quý. Vì yêu mà chịu khổ. Vì xót thương mà chịu chết. Chịu khổ, chịu chết để đền tội thay, để làm giá cứu độ nhân loại.
Chính từ đó, mà thánh Phaolô nhìn thấy được thông phần đau khổ của Chúa Giêsu với “hy vọng sẽ được sống lại từ trong cõi chết” (Pl 3,11). Ơn gọi sẽ được sống lại với Chúa Giêsu, đó là một ơn gọi có tính cách ban thưởng sau cùng.
Khi nhìn đau khổ trong ơn gọi làm môn đệ Chúa Giêsu trong ơn gọi nên nên giống Người để cứu chuộc nhân loại, cũng như trong ơn gọi được cùng với Người vào cõi sống lại, tôi nhìn đau khổ với một cái nhìn của đức tin và của đức ái. Nhờ vậy, mà tôi bớt sợ đau khổ, sẵn sàng thông phần đau khổ của Chúa Giêsu. Trong tư thế đó, tôi đi gặp Chúa Giêsu.
 Gặp gỡ Chúa Giêsu đau khổ
Tôi gặp Chúa Giêsu trong lịch sử 2000 năm về trước. Lịch sử này được ghi trong Phúc Âm và truyền thống.
Tôi cũng gặp Người trong lịch sử hôm nay. Lịch sử này đang là dòng thời sự. Tôi tạm dừng lại ở dòng thời sự hôm nay.
Trong dòng thời sự hôm nay, tôi thấy Chúa Giêsu cũng đang đau khổ.
Người đau khổ trước hết trong chính Hội Thánh của Người. Chỉ một hiện tượng này thôi cũng đã làm Người đau khổ rất nhiều. Ðó là hiện tượng nhiều người tín hữu mang một thứ đức tin chết. Thánh Giacôbê nói: “Ðức tin không có hành động là đức tin chết” (Gc 2,17) ... “Nhờ hành động mà con người được nên công chính, chứ không phải chỉ nhờ đức tin mà thôi” (Gc 2,24). Những hành động mà Chúa Giêsu nhấn mạnh là bác ái và phục vụ khiêm nhường. Nhưng thực tế cho thấy những hành động đó còn rất thiếu tại nhiều nơi, nhiều người trong Hội Thánh.
Ngoài ra, trong lịch sử hôm nay, Ðức Kitô cũng đau khổ trong những người nghèo nàn cùng khổ. Xưa cũng như nay, Người vẫn khẳng định: “Ta bảo thật các ngươi, mỗi lần các ngươi không thương giúp một trong những người bé nhỏ nhất đây, là các ngươi đã không làm cho chính Ta vậy” (Mt 25,45).
Hơn nữa, trong thế giới hôm nay, Chúa Giêsu vẫn đau khổ, vì một số người số nơi không nhỏ luôn khăng khăng từ chối Tin Mừng. Chúa phán: “Giả như Thầy không làm giữa họ những việc không một ai khác đã làm, họ đã không có tội. Nhưng nay họ đã thấy, mà vẫn ghét cả Thầy lẫn Cha Thầy” (Ga 15,24).
Chính vì sự cố tình từ chối Tin Mừng, nhiều người đã đánh mất tình người, thậm chí đánh mất cả tính người, để rồi từng bước đi vào cái chết thê thảm. Họ sống giả trong cái chết thực. Chúa Giêsu đau đớn, vì thấy sự tự do, mà Thiên Chúa ban cho họ, đã bị lạm dụng. Thay vì chọn con đường lên cõi phúc đời đời, cho dù con đường đó hẹp và lầy lội, họ đã chọn con đường xuống cõi khổ muôn kiếp, chỉ vì con đường đó rộng và bằng phẳng.
Gặp Ðức Kitô hôm nay, tôi thấy đau khổ vẫn vây quanh Người. Người vẫn là Ðức Kitô hôm qua và thuở trước. Ðau khổ vì yêu. Nhờ đau khổ vì yêu, mà hy vọng kéo được nhiều thiện chí về với Tin Mừng.
Thấy thế, tôi ao ước được thông phần đau khổ với Người.
 Cách thông phần đau khổ với Chúa Giêsu
Tôi thực hiện ao ước này, trước hết bằng sự chính tôi phải cố gắng hết sức mình, đừng làm cho Ðức Kitô phải khổ.
Sám hối, cầu nguyện và phấn đấu làm việc bổn phận mình một cách tốt nhất có thể.
Thực tình mà nói, trong một địa vị nào bất cứ, người ta muốn sung sướng theo ý riêng, thì vẫn có cách để sung sướng, còn muốn tận tuỵ, lo hết việc này đến việc nọ, cho Nước Trời theo ý Chúa, thì vẫn không tránh được vất vả, thậm chí phải đón nhận cả đến những khổ đau. Nhưng thiết nghĩ, thà mình được đau khổ vì Chúa và vì Hội Thánh, còn hơn là được sung sướng, thoải mái vì tư lợi cho mình.
Ngoài ra, thông phần đau khổ của Chúa trong thời sự hôm nay còn là thông phần đau khổ của nhân loại nói chung, và của những người nghèo, người bệnh tật, người bị áp bức nói riêng. Thông phần với họ không phải chỉ là tìm cách cứu giúp, mà nhất là bằng sự chia sẻ đời sống của họ qua sự đồng hành, đồng cảm, đồng khổ, đồng phấn đấu.
Theo kinh nghiệm mục vụ, tôi thấy khả năng nhạy cảm là một yếu tố cần cho sự thông phần đau khổ của Chúa và của những người xung quanh.
Khả năng nhạy cảm đó thường do trực giác. Trực giác rung động cảm giác. Cảm giác đánh thức cảm xúc. Cảm xúc thúc đẩy cái tâm. Cái tâm ảnh hưởng đến lý trí và ý chí, để đưa ra ngôn ngữ, và hành động thích hợp.
Như vậy, có thể nói, vấn đề thông phần đau khổ của Chúa, của Hội Thánh Chúa, và của tha nhân tuỳ thuộc rất nhiều ở cái tâm.
Huấn luyện cái tâm của mình trong trường trái tim Mẹ Maria là một quyết định sơ khởi của những ai muốn thông phần đau khổ của Chúa Giêsu. Bởi vì trái tim Mẹ có rất nhiều kinh nghiệm về ơn gọi cao quý đó.
Long Xuyên, ngày 5 tháng 9 năm 2003

 

Bùi-Tuần 1619: Bài chào mừng lãnh đạo Tỉnh An Giang

Thay mặt cho Giám Mục Trần Xuân Tiếu và Toà Giám Mục, tôi xin phép có một phát biểu vắn. Bùi-Tuần 1619

Thay mặt cho Giám Mục Trần Xuân Tiếu và Toà Giám Mục, tôi xin phép có một phát biểu vắn.
Trước hết, chúng tôi rất vinh dự được đón tiếp các vị lãnh đạo Tỉnh An Giang và Thành phố Long Xuyên tại căn phòng nhỏ bé này của chúng tôi.
Nhân dịp hiếm có này, tôi xin trân trọng gởi Quí vị một bó hoa tinh thần của tôi. Bó hoa tinh thần này chỉ có 04 bông hoa.
1/ Bông hoa thứ nhất là tâm tình cảm ơn. Xin hết lòng cảm ơn Quý vị vì những quan tâm giúp đỡ của Quý vị đã dành cho đạo Công giáo, từ cá nhân đến các cộng đoàn, cách riêng đối với Toà Giám Mục và bản thân tôi.
2/ Bông hoa thứ hai là tâm tư khát vọng. Suốt đời tôi, nhất là trong 28 năm phục vụ tại đây, tôi chỉ nung nấu trong lòng những khát vọng đơn sơ:
- Ðồng bào được thăng tiến về mọi mặt.
- Ðất nước nói chung, và địa phương ta nói riêng được an ninh an bình.
- Khoảng cách giàu nghèo, đời đạo được dần dần rút nhỏ lại.
Hôm nay, tôi về hưu. Nhưng những khát vọng trên đây không nghỉ hưu.
3/ Bông hoa thứ ba là cái nhìn lạc quan. Nhìn địa phương, tôi thấy có nhiều tiến triển rất tốt. Riêng, đạo Công giáo đã tiến triển về nhiều mặt, từ mặt nhân sự, đến mặt cơ sở. Nói chung, đạo làm người cũng rất tiến triển, ở chỗ phát triển tình liên đới và tinh thần trách nhiệm đối với lợi ích chung.
4/ Bông hoa sau cùng là lương tâm trách nhiệm. Trong 28 năm vừa qua, tôi đã cố gắng làm hết sức mình để phục vụ cho lý tưởng tốt đời đẹp đạo. Nhưng, nếu có lúc nào, tôi đã thiếu tinh thần trách nhiệm, thì tôi xin Quý vị và nhân dân tha thứ cho.
Với bó hoa nhỏ có bốn bông hoa tinh thần này, tôi xin kết thúc phát biểu của tôi.
Xin trân trọng cảm ơn Quý vị.
Long Xuyên, ngày 8 tháng 9 năm 2003

 

Bùi-Tuần 1620: Người Ngoại Giáo Tốt

Ðọc Phúc Âm, chúng ta thấy nhiều trường hợp Chúa Giêsu khen người ngoại giáo. Theo thói quen Bùi-Tuần 1620

Ðọc Phúc Âm, chúng ta thấy nhiều trường hợp Chúa Giêsu khen người ngoại giáo.
Theo thói quen nội bộ, người ngoại giáo được hiểu là người ngoài Thiên Chúa giáo. Cách gọi đó chỉ do thói quen đơn giản, chứ không do một cái nhìn bất kính nào.
Mà bất kính sao được, khi bao người ngoại giáo đã sống rất tốt. Nhất là khi họ được chính Chúa Giêsu khen ngợi, đề cao như những gương sáng. Thí dụ:
- Gương sáng đức tin mạnh và đức khiêm nhường sâu của người đàn bà xứ Canaan (Mt 15,21-28).
- Gương sáng lòng biết ơn của người phong cùi được Chúa chữa lành (Lc 17,11-18).
- Gương sáng lòng thương người vô vị lợi của người Samari đối với một nạn nhân nằm bên vệ đường (Lc 10,29-37).
Tất cả những người nói trên đều là ngoại giáo.
Hôm nay, do nhìn lại con đường mục vụ tương đối dài đã qua, tôi thấy thấp thoáng hình ảnh một người ngoại giáo xưa đã được kể trong Phúc Âm, đang lại hiện ra trong nhiều người ngoại giáo, mà tôi được gặp.
 Một người ngoại giáo được kính trọng xưa kia
Người ngoại giáo, mà tôi có ý nói ở đây là viên đại đội trưởng ở thành Caphácnaum (Lc 7,1-10; Mt 8,5-13).
Theo các nhà chú giải Kinh Thánh, thì viên đại đội trưởng này là người ngoại giáo.
Phân tách các bài Phúc Âm nói về ông, người ta có thể ghi nhận nơi ông những đức tính tốt sau đây:
- Ông có lòng xót thương, chăm sóc những người dưới quyền ông.
- Ông có thiện cảm với những người tin thờ Thiên Chúa.
- Ông có lòng tốt giúp xây dựng hội đường cho những người tin thờ Thiên Chúa.
- Ông có lòng tin vững mạnh vào quyền năng và lòng nhân lành của Chúa Giêsu.
- Ông tuyên xưng: Chúa Giêsu chỉ phán một lời, thì đủ để chữa lành đầy tớ ông.
- Ông có lòng khiêm tốn, nhận mình bất xứng, không đáng được Chúa Giêsu đến nhà ông.
Xúc động trước một tấm lòng rất tốt như ông, Chúa Giêsu đã làm phép lạ chữa lành đầy tớ ông.
Ðồng thời với phép lạ đó, Chúa Giêsu đã phán những lời sau đây khiến chúng ta phải giật mình: “Tôi bảo thật các ông: Tôi không thấy một người Israel nào có lòng tin như thế.
Tôi nói cho các ông hay: Từ phương Ðông phương Tây, nhiều người sẽ đến dự tiệc cùng các tổ phụ Abraham, Isaác và Giacóp trong Nước Trời.
Nhưng con cái Nước Trời sẽ bị quăng vào chỗ tối tăm bên ngoài, nơi đó người ta sẽ phải khóc lóc nghiến răng” (Mt 8,10-12).
Những lời Chúa phán trên đây đã đi xa hơn mục đích khen ngợi lòng tốt của viên đại đội trưởng.
Chúa nhìn rộng, nhìn xa. Không biết tôi và chúng ta sẽ được Chúa xếp vào nhóm từ ngoài được vào trong, hay nhóm từ trong bị đuổi ra ngoài.
Phần tôi, tôi chỉ tin cậy vào tình yêu Chúa sẽ thương chấp nhận tôi, chứ tôi chẳng có gì xứng đáng, để mà dám đòi hỏi.
 Những người ngoại giáo đáng kính trọng hôm nay
Tôi coi hình ảnh ông đại đội trưởng kể trên đây là một ngọn đèn sáng. Ngọn đèn sáng như thế đang được nhân lên khá nhiều trong địa phương tôi. Từ thành thị đến thôn quê, cho đến những vùng sâu vùng xa, họ cùng với những người công giáo tốt đang cùng nhau thắp sáng lên những giá trị thiêng liêng.
Tôi đã gặp những người ngoại giáo sống đời tu nhiệm nhặt trong cảnh ẩn dật.
Tôi đã gặp những người ngoại giáo dấn thân vào các hoạt động từ thiện dưới nhiều hình thức.
Tôi đã gặp những người ngoại giáo chan hoà thiện cảm đối với các người công giáo.
Tôi đã gặp những người ngoại giáo giúp của giúp công xây dựng nhà thờ công giáo, và các cộng đoàn đức tin.
Tôi đã gặp những người ngoại giáo cầu nguyện Chúa và Ðức Mẹ với tấm lòng tin tưởng đơn sơ khiêm nhường.
Gặp những người ngoại giáo trên đây, tôi chỉ biết trân trọng, và nhìn họ là những người được Thiên Chúa yêu thương. Từ cái nhìn đó, tôi gần gũi họ, họ gần gũi tôi, để cùng nhau sống tình yêu thương và dấn thân với một niềm tin siêu việt thăm thẳm trong lương tâm mình.
Qua đối thoại bằng cuộc sống với họ, tôi nhận thấy giữa chúng tôi có những điểm giống nhau, đó là:
- Ðể ý đến sự mình là gì, hơn sự mình có gì.
- Ðể ý đến sự mình sống cho người khác, hơn là sự mình sống cho chính mình.
Từ những nhận thức như trên, chúng tôi khao khát sự công chính chân thật. Một sự công chính chân thật trong các liên hệ xã hội, trong các hành vi của bản thân, trong bổn phận đối với Ðấng Tối Cao.
Phải chăng đó là một hy vọng Chúa đang gieo vào địa phương chúng ta, và chúng ta có bổn phận phải đón nhận với tâm hồn cởi mở tỉnh thức và biết ơn.
Trên con đường truyền giáo, sự trân trọng những người ngoại giáo tốt không những là một việc hợp tâm lý, mà còn là một việc hợp chân lý. Nó có sức xây dựng đoàn kết, nâng tâm hồn mọi người lên, để ca tụng Thiên Chúa là Cha chung giàu tình yêu thương xót.
Long Xuyên, ngày 10 tháng 9 năm 2003

 

Bùi-Tuần 1621: Tin Mừng Cho Người Ngoại Biên

Thuở còn nhỏ, tôi đã sớm nhận thấy sự khác biệt giữa người giàu và người nghèo. Lớn lên, tôi Bùi-Tuần 1621

Thuở còn nhỏ, tôi đã sớm nhận thấy sự khác biệt giữa người giàu và người nghèo.
Lớn lên, tôi cảm được sâu sắc cảnh nghèo. Nghèo thì hèn. Nghèo thì khổ. Cái Nghèo, cái Hèn, cái Khổ dính vào nhau khăng khít. Ðồng thời, tôi cũng nhìn được cảnh giàu. Giàu thì sang. Giàu thì có. Cái Giàu, cái Sang, cái Có đồng hành ung dung.
Khi đi qua nhiều nơi, ở lại nhiều nước, tôi lại thấy giàu nghèo làm thành những giai cấp. Giàu là giai cấp cao. Nghèo thuộc giai cấp thấp. Cấp cao, cấp thấp đều có nhiều bậc. Ðôi khi, người nghèo khổ bậc dưới không thể và cũng không dám nhìn người giàu sang ở bậc trên. Vì khoảng cách quá xa về địa lý, nhất là về tâm lý.
 Trung tâm và ngoại biên
Ðể đơn giản hoá tình trạng chênh lệch giữa giàu và nghèo, tôi tạm chọn cho mình một hình ảnh gợi ý. Hình ảnh đó là Trung tâm và Ngoại biên.
Trung tâm có thể áp dụng về nhiều mặt. Như trung tâm kinh tế, trung tâm văn hoá, trung tâm chính trị, trung tâm tôn giáo. Những ai được ở trong hoặc gần những trung tâm đó thường được coi là những người hưởng nhiều may mắn về phát triển, về danh dự, về cuộc sống.
Ngoại biên cũng được hiểu về nhiều lãnh vực như trên. Những ai ở ngoại biên kinh tế, văn hoá, xã hội, tôn giáo thường phải chịu nhiều mất mát, thua thiệt, kém cỏi.
Trung tâm và ngoại biên không hẳn chỉ là địa lý, mà còn là tâm lý và pháp lý.
Thời Chúa Giêsu giáng thế, theo truyền thống lâu đời, thì Giêrusalem là trung tâm chính trị, văn hoá và kinh tế, còn đền thờ là trung tâm tôn giáo. Ðền thờ này cũng toạ lạc tại Giêrusalem.
Giêrusalem là nơi tập trung những người có địa vị, nắm quyền lực, sống trong phẩm trật và được ưu đãi.
Ðền thờ là nơi thờ phượng của người có đạo. Gian trên dành cho các chức sắc. Gian giữa dành cho các đàn ông Do Thái. Gian cuối dành cho phụ nữ và trẻ con. Ngoài hè dành cho các người ngoại giáo, các kẻ tội lỗi và những ai tàn tật.
 Chúa Giêsu đi về ngoại biên
Trong một tình hình như thế, Thiên Chúa có những lựa chọn lạ lùng.
Thực vậy, Chúa Giêsu xuất hiện ở Galilêa. Xứ này là vùng biên, xa trung tâm Giêrusalem.
Người sinh ra trong một gia đình làm nghề mộc, thuộc dạng nghèo.
Như vậy, Người mang thân phận kẻ nghèo để chia sẻ với thế giới những người ngoại biên.
Khi đi rao giảng Tin Mừng, Người ưu tiên để ý đến những người nghèo, người người tội lỗi và những người cùng khổ. Người áp dụng vào chính mình những lời tiên tri Isaia xưa đã nói:
“Thần Khí Chúa ngự trên tôi,
Chúa đã xức dầu tấn phong tôi.
Sai tôi đi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn” (Lc 4,17-20).
Người cũng đã xác định: “Thầy đến không phải để kêu gọi người công chính, nhưng để kêu gọi người tội lỗi” (Mt 9,13).
Người muốn dạy cho mọi người thấy: Trước mặt Chúa không có vấn đề ưu đãi cho trung tâm và bỏ quên hoặc loại trừ những ngoại biên. Người nói rõ ràng với người phụ nữ ngoại giáo xứ Samaria:
“Này chị, hãy tin tôi: Ðã đến giờ, các người sẽ thờ phượng Chúa Cha, không phải trên núi này hay tại Giêrusalem... Nhưng giờ đã đến, và chính là lúc này đây, giờ những người thờ phượng đích thực sẽ thờ Chúa Cha trong tinh thần và trong sự thực. Vì Chúa Cha tìm kiếm những ai thờ phượng Người như thế” (Ga 4,21-24).
Suốt đời, Chúa Giêsu đã sống gần gũi những người ngoại biên, Người đến với họ, Người chia sẻ những nỗi đau của họ, Người được kể như người ngoại biên. Người cho họ thấy Người rất thương họ, và tình thương đó là vô hạn, vô cùng. Thương đến đổ máu mình ra, chết cho họ, chết thay cho họ, và cho mọi người.
Người hiến thân đến tột cùng vì tình yêu. Chính ở điểm hiến thân trên thánh giá, mà Người làm vinh danh Chúa Cha, và chính Người được tôn vinh. Người đã nói trước khi tự nạp mình chịu chết: “Lạy Cha, giờ đã đến. Xin Cha tôn vinh Con Cha, để con Cha tôn vinh Cha” (Ga 17,1).
Người muốn các môn đệ Người cũng hãy theo gương Người, mà đem Tin Mừng đến cho người nghèo khổ như vậy. Muốn được thế, các ngài cần đón nhận sẵn tình thương cứu độ của Người. Ðể đón nhận, các môn đệ phải rất khiêm nhường trong phục vụ. Gương phục vụ khiêm nhường sau cùng Người trối lại là chính Người quỳ xuống rửa chân cho các môn đệ. Sau đó, Người truyền dạy : « Thầy đã nêu gương cho các con, để các con cũng làm như Thầy đã làm cho các con » (Ga 13,15).
Phục vụ rất khiêm nhường là một cách tốt nhất để mở cửa lòng, đón nhận lửa tình yêu của Chúa, một thứ lửa đầy ánh sáng chân lý và yêu thương. Nhờ đó, môn đệ Chúa có thể ra đi ngoại biên, đem Tin Mừng cho mọi người, ưu tiên cho những người nghèo khổ.
 Vui buồn về thực tế truyền giáo
Ðem mấy tư tưởng Phúc Âm trên đây chiếu dọi vào thực tế truyền giáo tại địa phương, tôi thấy có những điều đáng mừng và có những điểm đáng lo ngại.
Những điểm đáng mừng là từng triệu những người nghèo khổ vẫn đón chờ Tin Mừng, và vẫn sẵn sàng đón nhận Tin Mừng. Nhiều nơi, nhiều người đã gặp được Tin Mừng, nhờ gặp được những người môn đệ Chúa đến với họ, thương cảm đời họ, phục vụ họ một cách khiêm nhường, và dấn thân hy sinh vì họ. Các môn đệ như thế thuộc mọi thành phần, trong đó các nữ tu và giáo dân giữ một vai trò quan trọng.
Những điểm đáng buồn là ở nhiều nơi còn thiếu gương sáng về truyền giáo.
Trên đường đời, không thiếu trường hợp, người có đạo chúng ta thuộc đủ cấp bậc, đã xử sự lạnh lùng với người ngoại biên. Thái độ của ta cũng giống thái độ thầy tư tế và Lêvi xưa trước nạn nhân nằm quằn quại bên vệ đường. Mặc người ngoại Samaria lo cho người ngoại biên (Mt 12,41-44). Ta cứ an tâm đi về đền thờ là trung tâm.
Trong cuộc sống, không thiếu trường hợp, người có đạo chúng ta thuộc đủ cấp bậc, cũng đã xua đuổi người ngoại biên, không cho họ đến gần Chúa. Giống như các môn đệ Chúa xưa đã muốn xua đuổi người đàn bà xứ Canaan. Khi bà cứ lẽo đẽo sát lại bên Chúa Giêsu, để xin Người chữa con bà bị quỉ ám (Mt 15,21-28). Ta bảo vệ Chúa là trung tâm bằng cách loại trừ ngoại biên, tức những ai ta coi là bất xứng.
Trong những công việc chung, không thiếu trường hợp người có đạo chúng ta thuộc đủ cấp bậc, cũng đã đánh giá thấp người ngoại biên. Không giống cách Chúa Giêsu xưa đã đánh giá rất cao người đàn bà goá nghèo, đã dâng cúng vào đền thờ chỉ một đồng xu (Mt 12,41-44). Ta tôn vinh con người theo tiêu chuẩn tiền bạc và địa vị, như thể tiền bạc và địa vị là giá trị của trung tâm đạo.
***
Hiện nay, Mẹ thánh Têrêsa Calcutta đang được đề cao như một gương mẫu rao giảng Tin Mừng cho người ngoại biên. Mẹ không làm việc gì khác ngoài đi theo đường lối mà Chúa Giêsu đã đi trước. Ðiều đáng ngợi khen nhất nơi Mẹ là Mẹ làm, chứ không chỉ nói. Với những việc làm yêu thương cụ thể, Mẹ là một người mẹ âm thầm hy sinh, trước khi là thánh vinh quang.
Khi tôn vinh Mẹ Têrêsa, Toà Thánh muốn tôn vinh một tinh thần truyền giáo sáng ngời, một phương cách truyền giáo khôn ngoan, đã rất hữu hiệu, đã gây được nhiều thiện cảm ở các xã hội và tôn giáo đa dạng, tại Ấn Ðộ nói riêng và Á châu nói chung.
Qua đời sống của mình, Mẹ Têrêsa Calcutta đã giới thiệu dung mạo một Hội Thánh dễ thương, dễ mến. Một Hội Thánh dịu dàng, khiêm tốn phục vụ, đầy tình xót thương, luôn đi tìm những người nghèo khổ, tội lỗi, bị loại trừ, sống trong bế tắc, để đưa họ vào tình Chúa bao la.
Ước gì mọi người truyền giáo chúng ta cũng theo gương Mẹ, để bất cứ ai, nhất là các người ngoại biên, đón nhận được hy vọng là Tin Mừng nơi Chúa là Cha giàu lòng thương xót.
Long Xuyên, ngày 4 tháng 10 năm 2003

 

Bùi-Tuần 1622: Trả Lời Phỏng Vấn

Hỏi:
 

Ðức Cha có cảm nghĩ gì, trước việc Ðức Tổng Giám Mục Gioan Baotixita Phạm Minh Mẫn được Bùi-Tuần 1622

Ðức Cha có cảm nghĩ gì, trước việc Ðức Tổng Giám Mục Gioan Baotixita Phạm Minh Mẫn được vinh thăng Hồng Y?
Thưa: Khi vừa được tin Ðức Tổng Giám Mục Gioan Baotixita được vinh thăng Hồng Y, tôi lập tức điện thoại cho Ngài. Nội dung vui và vắn. Như sau:
1/ Nếu Ðức Tổng được mời đi bầu Giáo Hoàng, thì xin Ðức Tổng ráng đi. Ðược bầu Giáo Hoàng là một quyền rất hiếm.
2/ Nếu Ðức Tổng được thế giới bầu làm Giáo Hoàng, thì xin Ðức Tổng ráng nhận. Chức vị Giáo Hoàng là một quyền hết sức lớn lao.
3/ Nếu lúc đó Ðức Tổng muốn chọn một hiệu toà, thì tôi đề nghị hiệu toà: Gioan Phaolô III.
Bởi vì Gioan là tên thánh Ðức Tổng.
Phaolô là tên thánh Ðức Tổng Nguyễn Văn Bình.
Hiệu toà đó nói lên quyền tự do của Ðức Tổng.
Tôi nghe Ðức Tổng cười trong điện thoại. Ngài xin tôi cầu nguyện cho Ngài.
Long Xuyên, ngày 9 tháng 10 năm 2003

 

Bùi-Tuần 1623: Một Chút Tâm Tình

Dịp Gặp Gỡ Nhà Văn Nguyễn Quang Sáng
Tác Giả “Dòng Sông Thơ Ấu”
 

Ðời tôi ví tựa một dòng sông. Nếu cần đặt tên cho dòng sông đời tôi, thì tôi xin phép gọi nó Bùi-Tuần 1623

Ðời tôi ví tựa một dòng sông. Nếu cần đặt tên cho dòng sông đời tôi, thì tôi xin phép gọi nó là “Dòng sông tình yêu”.
Bởi vì:
Tôi được sinh ra bởi tình yêu. Tôi được dưỡng dục trong tình yêu. Tôi được trưởng thành từng bước nhờ tình yêu. Tôi được ở trong dòng chảy của tình yêu mỗi ngày mỗi mới.
Cái làm cho một tình yêu mỗi ngày mỗi mới, đó là khả năng sáng tạo.
Tất nhiên, tình yêu nói đây là tình yêu đẹp, có sức thay đổi con người nên tốt hơn, mỗi ngày mỗi nên người hơn, mỗi ngày mỗi xứng đáng là người con của Chúa hơn.
Khả năng sáng tạo của tình yêu có thể thực hiện trong ba lãnh vực này:
Lãnh vực cho đi tình cảm chia sẻ.
Lãnh vực cho đi việc làm phục vụ.
Lãnh vực cho đi chính mình bằng những hy sinh.
Sự cho đi trong mỗi lãnh vực đều tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố khách quan và chủ quan. Yếu tố khách quan rất đa dạng và rất thay đổi. Yếu tố chủ quan cũng rất đổi thay và cũng rất dễ bị hạn chế.
Vì thế mà tình yêu không tránh được đau khổ.
Hồi còn thanh niên, tôi đã suy nghĩ nhiều về vấn đề này. Tôi cũng đã làm một luận án tiến sĩ triết học đệ trình Ðại học Fribourg, Thuỵ Sĩ, về vấn đề đó. Luận án mang tựa đề “Nguồn gốc đau khổ của tình yêu” (1960).
Phải nói thật là luận án này, tuy chỉ là một công trình khiêm tốn, nhưng đã được viết với nhiều nghiên cứu và nhiều kinh nghiệm tâm linh. Vì đó cũng là đòi hỏi của những giáo sư trong hội đồng chấm thi luận án tiến sĩ triết học.
Kinh nghiệm tâm linh như nỗi nhớ quê hương.
Hồi còn du học nước ngoài, có lúc trời mưa tuyết, tôi một mình thầm hát bài “Làng Tôi” và “Ðàn Chim Việt”. Tim se lại, lòng đau buốt. Sau này, tôi kể lại chuyện đó cho nhạc sĩ Văn Cao. Ông đã rất xúc động.
***
Dòng sông tình yêu của tôi hiện nay đã được báo trước là chặng sau cùng. Bởi vì tuổi đã cao, sức khoẻ càng ngày càng sút giảm. Nên tôi gọi quãng sông tình yêu của tôi hiện giờ là Quãng sông tuổi tác.
Ở chặng sông này, tôi nhìn về mọi nơi mà dòng sông đã đi qua, để cảm ơn, nhớ nhung và báo hiếu.
Cũng ở chặng sông này, tôi nhìn vào tôi, để nhận ra cái hay cái dở, mà dòng sông đã chuyên chở. Có lúc nước trong, có lúc nước đục. Có đoạn êm đềm, có đoạn sóng gió. Tôi nhìn lại, để chấn chỉnh nội tâm.
Và cũng ở chặng sông này, tôi chuẩn bị để dòng sông chảy về Ðại dương một cách thanh thản. Ðại dương nói đây là Thiên Chúa của tôi, của chúng ta. Bản tính của Người là tình yêu. Người sai tôi đi rao giảng tình yêu là giới răn mới, mà Ðấng Cứu thế trối lại.
Tôi trở về với Người. Như nước trở về nguồn. Với tâm tình phó thác, đơn sơ và tin tưởng của “Dòng sông tình yêu” bé nhỏ.
Long Xuyên, ngày 19 tháng 12 năm 2003

 

Bùi-Tuần 1624: Năm Mới Và Sức Khoẻ

Ngày đầu năm 2004, lợi dụng lúc thấy mình dễ chịu về sức khoẻ, tôi đọc lại những tấm thiệp tôi Bùi-Tuần 1624

Ngày đầu năm 2004, lợi dụng lúc thấy mình dễ chịu về sức khoẻ, tôi đọc lại những tấm thiệp tôi đã nhận được từ nhiều nơi xa gần.
Hình thức các tấm thiệp rất khác nhau. Nội dung các lời chúc không có gì mới lạ. Nhưng điều giống nhau nhất là chúc tôi sang năm mới được nhiều sức khoẻ.
Trong lúc đang bệnh, tôi coi những lời chúc sức khoẻ như những tâm tình liên đới đầy thân thương, tế nhị.
Sức khoẻ là một giá trị lớn.
Sức khoẻ là một vấn đề mênh mông trong đạo ngoài đời.
Tôi không chuyên môn. Nên tôi xin phép mạo muội nói lên vấn đề này chỉ một chút thôi.
Những thứ sức khoẻ
Có bốn thứ sức khoẻ thường được nhắc đến:

 1/ Sức khoẻ thân xác
Sức khoẻ thân xác tuỳ thuộc vào sự hài hoà giữa các yếu tố làm nên sự sống một người. Như các hệ thống não, tim, phổi, thận, gan, bao tử, ruột, vv...
Thêm vào đó, nó còn tuỳ thuộc vào môi trường xung quanh. Như không khí, thời tiết, đồ ăn thức uống, tính tình những người cùng chung sống, vv...
Có cái nó phải hấp thụ. Có cái nó phải thích nghi. Có cái nó phải kháng lại. Sức hấp thụ, thích nghi và kháng lại còn tuỳ ở ý chí và tự do, tập quán của từng người.

 2/ Sức khoẻ tâm thần
Sức khoẻ tâm thần cũng là một sự quân bình gồm những yếu tố làm nên sự sống tâm thần. Nếu một người chỉ đề cao lý trí, muốn nó trở thành như một cái máy sản xuất tư tưởng, hay quá đề cao trí nhớ như một thư viện lưu trữ hoài niệm, còn cái tâm bị bỏ quên, thì sức khoẻ tâm thần sẽ gặp nguy lớn.
Ðời sống tâm thần cũng bị ảnh hưởng nhiều bởi môi trường mình sống. Những dư luận, những hình ảnh, những lối sống, những cảnh an tĩnh hay náo động, luôn gây sức ép trên đời sống tâm thần. Có lúc mình phải thích nghi, có lúc mình phải đón nhận, có lúc mình phải kháng lại. Nhưng đâu luôn dễ.

 3/ Sức khoẻ xã hội
Sức khoẻ xã hội cũng là một sự hài hoà giữa những khuynh hướng trong một cộng đoàn. Như tính cá nhân, tính tập thể, khuynh hướng tự do, khuynh hướng trật tự, tinh thần trách nhiệm, tinh thần liên đới.
Sự điều chế và phát triển cân đối các mặt đạo đức, kinh tế, văn hoá, an ninh, trật tự, các thái độ đối với người bệnh, người già, người tàn tật, người mồ côi, vv... là những dấu chỉ về sức khoẻ một xã hội.

 4/ Sức khoẻ thiêng liêng
Sức khoẻ thiêng liêng hệ tại ở sự con người thông hiệp vào sự sống của Thiên Chúa và biết thực thi thánh ý Thiên Chúa.
Sức khoẻ này như vậy là rất khác ba sức khoẻ nói trên. Nó cần nhờ ơn thiêng. Nhưng ơn thiêng đòi phải có sự cộng tác của con người, bằng cầu nguyện, suy niệm và trung thành bước theo con đường Chúa gọi, để được vào Nước Trời.
Trên đây chỉ là một thoáng nhìn. Rất sơ sài, nhưng cho phép tôi đoán được nhiều vấn đề khó khăn chằng chịt trong một sự sống.
Có vấn đề mình giải quyết được.
Có vấn đề quá sức hiểu biết của mình và giải quyết của mình.
Một chọn lựa
Tôi nhận biết mình quá yếu đuối trong các vấn đề sức khoẻ. Ngay lúc này, ngày đầu năm 2004, tôi cũng chẳng khoẻ hơn ngày cuối năm 2003.
Tôi cảm thấy sức khoẻ tôi là rất mong manh. Ðã mong manh, lại còn giảm sút dần dần. Tôi không buồn. Trái lại, tôi cảm tạ Chúa về sức khoẻ còn lại và về những yếu đau.
Nói tới mong manh, tự nhiên tôi nhớ lại sự kiện hãi hùng xảy ra ngày 11 tháng 9 năm 2001, tại Hoà Kỳ.
Hai toà nhà tháp cao Manhattan, nơi được gọi là trung tâm kinh tế toàn cầu, tại Hoà Kỳ, đã sụp đổ một cách khủng khiếp.
Một công trình vĩ đại tưởng sẽ vững bền mãi mãi, bỗng trở thành chứng từ của sự mong manh.
Hơn nữa, sự kiện đó cũng như muốn nói lên điều mà Kinh Thánh luôn nhắc nhở là: Phải hoán cải đời sống, phải ưu tiên tìm sức khoẻ thiêng liêng. Nếu không, mọi công trình tự kiêu, tự hào, sẽ bị sụp đổ như tháp Babel kể trong Kinh Thánh.
Sự kiện tháp Babel bị sụp đổ đã được ghi lại trong sách thánh (quyển Sáng Thế) đoạn 11, câu 9.
Hai tháp Manhattan lại bị sụp đổ cũng đúng vào những con số đó. Tức ngày 11 tháng 9.
Phải chăng những con số này là một trùng hợp có ý nghĩa. Theo tôi, những sự kiện bất ngờ trên muốn đưa ra một cảnh báo rằng: Sức khoẻ thế giới đã tới giai đoạn nguy hiểm.
Sức khoẻ thế giới cũng liên đới với sức khoẻ Hội Thánh và sức khoẻ từng người chúng ta.
Vì thế, khi nhìn vào sức mạnh của tháp Babel bị sụp đổ được kể trong đoạn 11 câu 9 sách Sáng Thế, và khi nhìn thấy sức mạnh của tháp đôi Manhattan bị tàn phá ngày 11 tháng 9 năm 2001, tôi có một chọn lựa nhỏ cho riêng tôi.
Tôi quyết tâm luôn gắn bó với Thiên Chúa. Người là sự sống của tôi. Chính Người ban cho tôi hy vọng thực sự giữa muôn vàn thất vọng. Chính Người ban cho tôi sự bình an giữa những sụp đổ. Chính Người ban cho tôi ánh sáng và tình yêu giữa những quãng đường tối tăm đầy hận thù, sợ hãi. Chính Người là hạnh phúc bền vững của tôi giữa những phù du và mong manh.
Tôi xác tín mình rất yếu đuối về mọi mặt. Tôi thành thực nhận biết mình cần được cứu độ, cần phải sám hối, cần được tái truyền giáo. Tôi tin Chúa Giêsu là Tin Mừng cứu độ sẽ luôn là sự sống cứu độ của tôi.
Tôi nhìn Mẹ Maria là Ðấng đồng công cứu chuộc, là Ðấng trung gian, là trạng sư bầu chữa cho những người tội lỗi, sẽ luôn che chở tôi trong mọi hoàn cảnh, cho dù trong tôi mọi thứ sức khoẻ đều đang có vấn đề.
Tôi tin rằng: Có Mẹ Maria ở bên, ta sẽ an tâm. Dù sức khoẻ, dù bệnh tật đau yếu của chúng ta cũng có thể trở thành giá trị thiêng liêng. Mẹ có thể dùng cả những thành công lẫn những thất bại của ta để góp phần vào chương trình cứu độ của Thiên Chúa giàu lòng thương xót. Nhưng điều quan trọng không nên coi thường, đó là Ðức Mẹ kêu gọi ta hoán cải, sám hối, đổi mới chính mình. Có điều đó, thì sức khoẻ hay bệnh tật đều trở nên khí cụ bình an của Chúa.
Long Xuyên, ngày 3 tháng 01 năm 2004

 

Bùi-Tuần 1625: Bác Ái Cho Truyền Giáo Và Mùa Chay

Hồi Chúa Giêsu xuống trần, phần đông những người tin thờ Chúa thường sống đạo trong những thói Bùi-Tuần 1625

Hồi Chúa Giêsu xuống trần, phần đông những người tin thờ Chúa thường sống đạo trong những thói quen sẵn có.
Tập quán sẵn có đã do những thế hệ trước để lại và do cơ chế tôn giáo đương thời đặt ra. Cái gì cũng rõ ràng. Nhưng nhiều cái rõ ràng mà sai.
Người ta cứ thế mà sống đạo an tâm. Như thể đã có người khác suy nghĩ thay mình.
Chúa Giêsu đến để cứu đời, bằng cách cứu đạo. Người cứu đạo khỏi những gì tha hoá đạo, đem đạo vào nền tảng đích thực, vào bản chất chính đáng.
 Bản chất đích thực của đạo
Bản chất đó, nền tảng đó là mến Chúa yêu người. Chúa Giêsu phán: “Ngươi phải yêu mến Ðức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn. Ðó là điều răn lớn nhất và là điều răn đứng đầu. Còn điều răn thứ hai, cũng giống điều răn ấy là: Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình. Tất cả Luật Môisê và các sách ngôn sứ đều tuỳ thuộc vào hai điều răn ấy” (Mt 22,37-40).
Nhưng, để làm rõ mục đích quan trọng của đạo là cứu con người khỏi cảnh lầm than, đem lại cho con người tình thương cứu độ, Chúa Giêsu, trước khi lìa đời đã đặt nặng giới răn yêu thương. Người phán: “Thầy ban cho các con một điều răn mới là chúng con hãy yêu thương nhau, như Thầy đã yêu thương các con” (Ga 13,34).
Hơn nữa, Chúa Giêsu còn quả quyết: Yêu thương nhau, đó mới là dấu chỉ đích thực của người môn đệ của Người. Người nói rõ: “Ở điểm này, mọi người sẽ nhận biết các con là môn đệ của Thầy, là các con có lòng yêu thương nhau” (Ga 13,35).
 Nhấn mạnh đến giới răn yêu thương
Sau này, khi khai triển giới răn yêu thương, thánh sử Gioan đã coi yêu người là dấu chỉ mến Chúa. Ngài nói: “Nếu ai nói: Tôi yêu mến Thiên Chúa mà lại ghét anh em mình, người ấy là kẻ nói dối. Vì ai không yêu thương người anh em mà họ trông thấy, thì không thể yêu mến Thiên Chúa mà họ không trông thấy” (1 Ga 4,20-21).
Khi truyền giáo, thánh Phaolô đã hết lời ca tụng đức ái. Ngài dám đưa ra những so sánh bất ngờ, để quả quyết vị trí cao nhất của yêu thương bác ái. Ngài viết:
“Giả như tôi nói được các thứ tiếng của loài người và của các thiên thần đi nữa, mà không có đức ái, thì tôi cũng chẳng khác gì thanh la phèng phèng, chũm choẹ xoang xoảng.
“Giả như tôi được ơn nói tiên tri và được biết hết mọi điều bí nhiệm, mọi lẽ cao siêu, hay có được tất cả đức tin đến chuyển núi dời non, mà không có đức ái, thì tôi cũng chẳng là gì.
“Giả như tôi có đem hết gia tài cơ nghiệp mà bố thí, hay nộp cả thân xác tôi để chịu thiêu đốt, mà không có đức ái, thì cũng chẳng ích gì cho tôi” (1 Cr 13,1-3).
Khi đi vào những chi tiết cụ thể của đức ái, thánh Phaolô đã nêu lên những điều thu lượm từ kinh nghiệm truyền giáo: “Ðức ái thì nhẫn nhục, hiền hậu, không ghen tương, không vênh vang, không tự đắc, không làm điều bất chính, không tìm tư lợi, không nóng giận, không nuôi hận thù, không mừng khi thấy sự gian ác, nhưng vui khi thấy điều chân thật.
“Ðức ai tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, hy vọng tất cả, chịu đựng tất cả” (1 Cr 13,4-7).
Giáo Hội sơ khai đã tập trung lòng đạo vào những lời dạy trên đây của Chúa Giêsu và của các môn đệ Chúa.
Phải nhận là sống đức ái, mến Chúa yêu người, với những đòi hỏi như trên là điều rất khó. Nhưng khó, mà vẫn thực hiện được, nhờ vào ơn Chúa, nhất là bằng sự kết hợp mật thiết với Chúa Giêsu, như lời Người đã hứa: “Thầy là cây nho, các con là cành. Ai ở lại trong Thầy, và Thầy ở lại trong người ấy, thì người ấy sinh nhiều hoa trái. Vì không có Thầy, các con không làm gì được” (Ga 15,5).
Kết hợp với Chúa Giêsu, là bước theo Người, cùng đau khổ với Người, cùng được đóng đinh mình một cách nào đó vào thánh giá với Người, để được phục sinh với Người.
 Vai trò của bác ái trong truyền giáo
Bầu khí bao trùm các giáo đoàn của Hội Thánh sơ khai là bác ái của Chúa Giêsu. Người đời cứ nhìn các cộng đoàn sống đạo như thế, mà nhận ra chân dung của Chúa Giêsu. Một Ðấng đầy tình yêu thương xót. Hơn nữa người đời, khi tiếp xúc với các cộng đoàn sống đạo như thế, đã cảm nếm được phần nào hương vị ngọt ngào của Nước Trời. Một Nước Trời ở trong nội tâm con người tự do, thoát lìa khỏi mọi xiềng xích tội lỗi và tính mê nết xấu, có Chúa Tình yêu ngự trị. Một Nước Trời đầy bình an hạnh phúc do chính sự sống của Chúa chia sẻ cho.
Bầu khí bác ái bao trùm Hội Thánh sơ khai đã là một chứng từ đầy thuyết phục của truyền giáo.
Nhưng rồi, thời gian trôi, nhiều giá trị tốt vì không được bảo vệ cũng trôi theo. Qua nhiều biến chuyển của lịch sử, Hội Thánh tại nhiều nơi không còn giữ được bầu khí bác ái thuở ban đầu. Do đó, không còn phản chiếu được hình ảnh đích thực của Chúa Giêsu.
Tôi nghĩ rằng: Nhiều người thời nay rất đói những giá trị thiêng liêng, nhất là một tình thương chân thực, vô vị lợi, có sức đổi mới tâm hồn họ và đời sống họ.
Tôi cũng thấy rằng: Nhiều người thời nay rất khát mong một Ðấng thiêng liêng dám thương yêu họ, mặc dầu họ bất xứng. Ðấng ấy biết chia sẻ cảnh đời đau thương của họ. Ðấng ấy có quyền năng và lòng thương xót dẫn họ tới những chân lý cứu độ.
Tôi xác tín rằng: Nhiều người thời nay, từ thẳm sâu tâm hồn, vẫn rất mong chờ một cuộc sống bình an trong yêu thương liên đới chân tình.
Tôi đau buồn cũng xin nói thực về một nguy cơ có thật. Ðó là tại nhiều nơi có những cá nhân, và có cả những cộng đoàn, bề ngoài xem như giữ đạo đầy đủ, nhưng bên trong lại rất thiếu bác ái. Thiếu trong suy nghĩ và phán đoán. Thiếu trong việc làm. Thiếu trong lời nói. Thiếu trong trách nhiệm liên đới.
Những trường hợp thiếu bác ái không phải hiếm hoi. Ðôi khi thiếu bác ái trở thành một tình trạng bình thường. Thế mới nguy. Thế mới phản chứng trầm trọng.
Với những suy nghĩ xác tín và nhận xét trên đây, tôi chọn một đề tài cho truyền giáo và Mùa Chay. Ðề tài đó là Bác ái. Một bác ái dựa trên Phúc Âm:
- Lời Phúc Âm dạy,
- Việc Chúa Giêsu làm,
- Cuộc đời Chúa Giêsu từ Belem đến Calvariô.
- Nhất là Thánh giá Chúa Giêsu, nơi tình yêu cứu độ được thể hiện qua hy sinh mạng sống thành lễ vật đền tội cho nhân loại.
Tôi hy vọng sự lựa chọn của tôi sẽ được Chúa chúc lành, và cũng sẽ được nhiều tâm hồn thiện chí đỡ nâng.
Long Xuyên, ngày 17 tháng 02 năm 2004

 

Bùi-Tuần 1626: Tâm Sự Về Ơn Bình An

Sau khi Chúa Giêsu sống lại, Người hiện ra với các môn đệ. Lời đầu tiên Người nói với những người Bùi-Tuần 1626

Sau khi Chúa Giêsu sống lại, Người hiện ra với các môn đệ. Lời đầu tiên Người nói với những người thân đang sợ hãi là: “Bình an cho các con” (Ga 20,19).
Tám ngày sau, Người lại hiện ra trong căn nhà đóng kín. Các môn đệ đang họp ở đó. Lời chào của Người vẫn là : “Bình an cho các con” (Ga 20,26).
Khi Chúa Giêsu gởi lời chào bình an, thì đồng thời Người cũng trao ban ơn bình an. Ðây là một sự bình an đặc biệt Người ban tặng. Như Người đã hứa: “Thầy để lại bình an cho các con. Thầy ban cho các con sự bình an của Thầy. Sự bình an mà Thầy ban cho các con không giống sự bình an mà thế gian trao tặng” (Ga 14,27).
Ngoài các tông đồ, rất nhiều người đã nhận được ơn bình an của Chúa. Kẻ được nhiều, người được ít. Nếu tất cả mọi người được ơn đều biết tả ra những gì mình đã cảm nghiệm về ơn bình an Chúa ban cho mình, thì bài ca tạ ơn sẽ rất dài, rất đa dạng. Nhưng thiết tưởng vẫn chưa sao đủ.
Ở đây, tôi chỉ xin góp một phần yếu ớt trong muôn vàn cảm nghiệm của hàng triệu người đang tạ ơn Chúa về ơn bình an.
Trong ơn bình an, tôi thấy có những chỉ dẫn sau đây:

 1/ Nhận biết mình tội lỗi
Ơn bình an đã cho tôi một nguồn ánh sáng riêng để nhìn vào chính mình. Dưới ánh sáng đó, tôi thấy bản thân tôi mắc nhiều tội lỗi. Ðó là sự thật. Ở đây, tôi nhớ lại lời thánh Gioan viết: “Nếu chúng ta nói là chúng ta không có tội, chúng ta tự lừa dối mình, và sự thật không ở trong chúng ta. Nếu chúng ta thú nhận tội lỗi, Thiên Chúa trung thành và công minh sẽ tha tội cho chúng ta, và sẽ thanh tẩy chúng ta sạch mọi điều bất chính” (Ga 1,8-9).
Ðúng là Chúa vừa tha tội và vừa thanh luyện. Tha thứ là việc vắn. Thanh luyện là việc lâu, kéo dài có khi suốt cả cuộc đời.
Khi càng nhận biết mình yếu đuối, tội lỗi, và càng sám hối, khát khao được tha thứ và thanh luyện, tôi càng rõ những giới hạn của mình. Sớm hay muộn, tôi cũng phải đụng vào những giới hạn đó. Như giới hạn về sức khoẻ, giới hạn về khả năng làm việc, nhất là giới hạn về trí thức, kinh nghiệm và đạo đức.
Khi biết khiêm tốn chấp nhận những giới hạn đó trong tâm tình phó thác, tôi được bình an.

 2/ Nhận biết mình được sai đi
Thú thực là đôi khi tôi bị cám dỗ muốn tìm cho mình một lối sống an nhàn trong đời linh mục và giám mục. Nhưng đang lúc đó ơn Chúa đến dạy tôi về sứ mạng kẻ được sai đi. Tôi nhận ra rõ chính Chúa đã gọi tôi, đã trao cho tôi sứ mạng làm linh mục, rồi làm giám mục, để ra đi làm chứng cho Chúa trong những giai đoạn khó khăn.
Ơn gọi không đến từ tôi. Tôi không bao giờ dám và cũng chẳng bao giờ muốn tự tạo ra ơn gọi đó cho tôi. Trái lại, tôi rất sợ. Nhưng khi nhận thức sáng kiến về ơn gọi của tôi là hoàn toàn do Chúa, tôi xin vâng. Ðây lại là một ơn nhưng không, nên tôi cảm nghiệm sâu xa sự bình an đến trong một tâm hồn xin sấp mình vâng phục.
Với sự bình an sâu xa này, tôi tin chắc Chúa dắt dìu tôi trong con đường ơn gọi rải rác muôn vàn trắc trở, bao phủ sự thinh lặng của thánh giá. Với ơn của Người, tôi nhận được khả năng cộng tác với Người từng ngày và trong mỗi việc. Trách nhiệm của tôi được nhận từ tay Chúa.
Mỗi ngày, tôi tự xét mình: Hôm nay tôi có sống đúng ơn gọi sai đi của tôi không? Mỗi ngày là một phấn đấu mới trong tinh thần đơn sơ bé nhỏ.
Hơn nữa, khi nhận thức mình được Chúa sai đi, tôi cũng nhận thức mình không cô đơn một mình. Tôi tin có nhiều người được Chúa sai đi đồng hành với tôi. Họ là những người cộng tác, thuộc đủ các thành phần, hoặc đi trước tôi, hoặc đang đi cùng tôi, hoặc sẽ đi sau tôi. Sự hiệp thông đó khiến tôi thêm can đảm, và cho tôi nhiều ủi an. Sự hiệp thông đó rất rộng, trải dài qua nhiều vùng, nhiều nước, nhiều Giáo Hội địa phương. Nhận thức đó tăng cường sự bình an trong tôi.

 3/ Nhận biết sức mạnh của Lời Chúa
Theo kinh nghiệm của tôi, điều mà tôi cho là hết sức quan trọng để có sự bình an thực sự trong tâm hồn, đó là tuyệt đối tin vào Lời Chúa.
Chúa Giêsu phán: “Ai nghe những lời Thầy nói, mà không tuân giữ, thì không phải Thầy sẽ xét xử người ấy, vì Thầy đến, không phải để xét xử thế gian, nhưng để cứu thế gian. Ai từ chối và không đón nhận lời Thầy, thì có quan toà xét xử người ấy. Chính lời Thầy đã nói sẽ xét xử người ấy trong ngày sau hết” (Ga 12,47-48).
“Ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy. Cha của Thầy sẽ yêu mến người ấy. Cha của Thầy và Thầy sẽ đến ở lại với người ấy” (Ga 14,23).
Nhận thức trên đây là một tiêu chuẩn. Khi giảng, tôi ưu tiên giảng Lời Chúa. Khi phải chọn một trong nhiều phương án, tôi chọn phương án nào hợp với Lời Chúa nhất. Cho dù khi thực hiện phương án đó, tôi sẽ phải cô đơn. Nhưng kinh nghiệm cho tôi thấy: cách chọn đó đem lại cho tôi sự bình an và thanh thản. Do đó, tôi xác tín chọn Lời Chúa chính là chọn thánh ý Chúa và thực hành thánh ý Chúa.

 4/ Nhận biết mình phải thận trọng trong bổn phận xét đoán người khác
Tôi có kinh nghiệm này là: Ơn bình an rất dễ bị rút đi hoặc một phần hoặc tất cả, do tội bất tuân thánh ý Chúa, khi dám xét đoán người khác ngoài thẩm quyền. Chúa dạy: “Các con đừng xét đoán, để khỏi bị Thiên Chúa xét đoán. Các con xét đoán thế nào, thì các con sẽ bị Thiên Chúa xét đoán như vậy. Các con đong đấu nào, thì Thiên Chúa cũng sẽ đong đấu ấy cho các con. Sao các con thấy cái rác nơi mắt người anh em, mà cái xà trong con mắt mình thì lại không để ý tới” (Mt 7,1-3).
Ðiều Chúa muốn nhắn nhủ trên đây nhiều nhất, chính là tránh sự kiêu căng và thiển cận trong cách nhìn và đánh giá người khác.
Rất nhiều người đã đánh mất sự bình an nơi chính mình, do việc cướp quyền xét xử của Chúa, một Thiên Chúa thông biết mọi sự và giàu lòng thương xót đối với từng người theo hoàn cảnh riêng cụ thể của họ. Không những phải tránh xét đoán nông nổi ngoài thẩm quyền, mà còn phải đi vào bổn phận tích cực của một bác ái, như lời Chúa dạy: “Thầy ban cho các con một điều răn mới, là các con hãy yêu thương nhau, như Thầy đã yêu thương các con” (Ga 13,34). Yêu thương nhất là bằng cảm thương tha thứ và phục vụ khiêm tốn.

 5/ Nhận biết sự cần thiết kết hợp mật thiết với Chúa
Tôi kinh nghiệm: Ðây là một nhận biết đầy an ủi . Tôi hay nhìn các cây trồng xung quanh tôi, để nhớ lại một lời Chúa Giêsu phán: “Thầy là cây nho thật và Cha Thầy là người trồng nho. Cành nào gắn liền với Thầy, mà không sinh hoa trái, thì Người chặt đi. Còn cành nào sinh hoa trái, thì Người cắt tỉa, cho nó sinh nhiều hoa trái hơn... Hãy ở lại trong Thầy, như Thầy ở lại trong anh em. Cũng như cành nho không thể tự mình sinh hoa trái, nếu không gắn liền với cây nho. Các con cũng thế, nếu các con không ở lại trong Thầy” (Ga 15,1-4).
Khi sống những lời Chúa dạy trên đây, tôi thấy sự kết hợp mật thiết thường xuyên với Chúa và sự sinh ra hoa trái từng ngày là những yếu tố đem lại sự bình an sâu xa cho đời tôi.
Ðặc biệt là, khi tôi biết nhìn Chúa là tình yêu giàu lòng thương xót, tôi sẽ cảm nghiệm được sự ngọt ngào của sự đi tìm Chúa, kết hợp với Chúa, và thực thi thánh ý Chúa.
***
Hơn bao giờ hết, hiện nay ơn bình an được coi là rất quí, rất cần cho xã hội, cho Giáo Hội, cho gia đình và cho mỗi người chúng ta.
Chúa luôn sẵn sàng ban ơn bình an cho chúng ta. Nhưng chúng ta cần biết đón nhận và cộng tác vào ơn đó, ít là bằng những điều vừa kể trên đây.
Ðược bình an thì khó.
Mất bình an thì dễ. Sự mất dễ dàng này cũng dễ đưa tới bao nhiêu những mất mát khác.
Lạy Chúa, xin thương cho chúng con ơn bình an của Chúa.
Long Xuyên, ngày 15 tháng 4 năm 2004

 

Bùi-Tuần 1627: 30 Tháng Tư Và Sự Thanh Vắng

Tôi thụ phong Giám mục ngày 30/4/1975. Lễ phong chức trưa đó đã rất đơn sơ. Nhớ lại kỷ Bùi-Tuần 1627

Tôi thụ phong Giám mục ngày 30/4/1975. Lễ phong chức trưa đó đã rất đơn sơ. Nhớ lại kỷ niệm lịch sử này, nhiều khi tôi cảm thấy một niềm vui riêng, vì được tham gia phần nào vào sự đơn sơ của việc Chúa Giêsu sai các môn đệ xưa.
Chúa Giêsu đã sai các ngài đi. Không với lễ nghi. Không trước quần chúng. Nơi tuyên bố lời sai đi là một căn nhà nhỏ (Ga 20,19-21). Bầu khí thực thanh vắng.
Riêng tôi, từ giây phút được sai đi với tư cách Giám mục, tôi đã cảm nghiệm trong tôi một sự thanh vắng nhiệm mầu. Hình như thanh vắng là một tiếng gọi lên đường trong hoàn cảnh lúc ấy.
Những bước đi đầu tiên của tôi xem ra tìm về hướng đó. Xin phép tóm lại vắn tắt như sau:
- Khám phá những vùng xa vắng.
- Lắng nghe những ngọn lửa âm thầm.
 1/ Khám phá những vùng xa vắng
Vùng xa vắng nơi đây được hiểu về những vùng sâu vùng xa có đạo, nhưng lâu năm vắng bóng linh mục.
Khi tới được những nơi đó, tôi quên mọi mỏi mệt. Tôi cảm động nhận thấy đạo ở những nơi đó rất yếu về hình thức, nhưng rất mạnh về hồn Phúc Âm.
Những người có đạo ở đây không biết mình thuộc quyền linh mục nào, và ở trong phạm vi giáo xứ nào. Nhưng họ xác tín họ thuộc về Chúa. Trong nhà họ chỉ có tượng ảnh Chúa và Ðức Mẹ, một cuốn Phúc Âm hoặc một sách kinh, và xâu chuỗi.
Sinh hoạt quan trọng nhất của họ là cầu nguyện. Cầu nguyện trong mọi trường hợp. Cầu nguyện với đức tin rất mạnh. Cầu nguyện theo công thức và theo tâm tình của họ. Những lúc lòng họ đầy thất vọng, đầy đau đớn, đầy cô đơn, họ càng cầu nguyện.
Tiếp xúc với họ, tôi nhớ lại lời Chúa Giêsu đã nói xưa: “Chẳng lẽ Thiên Chúa lại không bênh vực những kẻ Người đã tuyển chọn, ngày đêm hằng kêu cầu với Người, dù Người có trì hoãn. Thầy nói cho các con biết: Chúa sẽ mau chóng bênh vực họ” (Lc 18,6-8).
Tôi thấy đức tin của nhiều người ở những vùng xa vắng đó thuộc loại đức tin rất vững mạnh, hiếm có. Làm tôi nhớ lại lời Chúa Giêsu phán xưa: “Nhưng khi Con Người ngự đến, liệu Người còn thấy lòng tin trên mặt đất nữa không” (Lc 18,8).
Tôi không dám nghĩ điều Chúa nói đó sẽ xảy ra ở đây. Vì thực sự chính tại những nơi xa vắng này, tôi được thêm đức tin.
Một hôm, tôi đi sâu vào vùng núi rừng. Người dẫn đường dắt tôi trèo qua một khu đổ nát. Tôi ngạc nhiên hết sức, khi khám phá thấy một tượng Ðức Mẹ Maria đứng giữa đống gạch vụn rong rêu. Gần tượng có một bức tường xiêu vẹo, đã vỡ ra từng mảnh. Nhìn kỹ, chúng tôi đọc được trên một mảnh tường bài thơ sau đây:
“Mẹ đứng ở đây một góc trời,
Ðôi mắt nhân từ nhìn muôn nơi.
Hai tay ban xuống muôn hồng phúc,
Cho kẻ tin yêu chạy đến Người”.
Dưới ký tên Bảo Sơn.
Tác giả chắc không là người ở đây. Cũng chỉ dừng lại chỗ này một thoáng qua. Nhưng sự ngậm ngùi của tác giả vẫn như nói giùm với Mẹ thay cho tôi và cho nhiều người giữa núi rừng thanh vắng.
Tượng Ðức Mẹ thực là đẹp. Nhất là đôi mắt Mẹ. Tôi tự hỏi: Ai đặt tượng Mẹ ở đây? Trong cảnh tàn phá do chiến tranh, sao Mẹ vẫn đứng trên đống hoang tàn thanh vắng này?
Tôi nghĩ bất cứ ai, dù công giáo, dù không công giáo, khi nhìn Mẹ, đều tức khắc tin yêu Mẹ. Mẹ chắc chắn ban cho họ muôn hồng phúc.
Thì ra Chúa và Mẹ vẫn đợi chờ ta. Dù cảnh đời là những tan vỡ, và đời sống là những bước đi trong thanh vắng cô đơn.
 2/ Lắng nghe những ngọn lửa âm thầm
Một hôm, tôi đi về vùng quê nghèo. Chiếc xa Ladalat của tôi ì ạch lâu giờ trên đường cái lởm chởm những hố to nhỏ. Ðến một quãng, thấy đường trước mắt là một thách đố lớn, tôi xin tài xế cho xe chạy xuống cánh đồng. Ðất ruộng lúc đó còn khô, nên xe đi có vẻ thoải mái hơn đi trên đường. Lúc lại leo lên đường, để tiếp tục đi, tôi thấy quá mệt, nên dừng lại, ngồi nghỉ ở một gốc cây lớn vệ đường.
Một người đi qua, biết tôi là giám mục, vội về xóm loan tin. Chỉ một lát sau, nhiều người chạy tới thăm. Họ làm nên một đám đông cản đường.
Chúng tôi xuống ruộng, ngồi thoải mái trên đất ải. Qua thăm hỏi, tôi nhận ra phần đông những người tới đây là những người công giáo.
Ðã nhiều năm, vì hoàn cảnh, họ chưa bao giờ gặp được một linh mục nào. Nhưng không vì thế, mà họ thiếu trưởng thành về đạo. Hiểu biết của họ về đạo thì không sâu, không rộng. Nhưng cái tâm của họ thì đẹp như ngọn lửa lung linh. Với cái tâm đó, họ sống những liên đới đẹp với xóm làng, với các người ngoài công giáo. Trò chuyện thân mật với họ, tôi có cảm tưởng họ đang làm thành một bó hoa thơm đẹp. Một thứ hoa mà lại như những ngọn lửa. Họ đi thắp sáng tình thương, sự hoà giải, sự cảm thương, sự chia sẻ, đùm bọc lấy nhau, không phân biệt tôn giáo hay giàu nghèo.
Trong ngạc nhiên cảm động, tôi cảm tưởng nghe lại lời Chúa Giêsu nói với ông Nicôđêmô về Chúa Thánh Thần: “Gió muốn thổi đâu thì thổi, ông nghe tiếng gió, nhưng không biết gió từ đâu đến và thổi đi đâu. Ai bởi Thần Khí mà sinh ra thì cũng vậy” (Ga 3,8).
Thực vậy, tôi đang nghe tinh thần yêu thương phục vụ của họ, và tôi hiểu tinh thần ấy do Chúa Thánh Thần ban cho họ. Do đó, tôi tin, trước khi tôi tới đây, Chúa Thánh Thần đã hiện diện và vẫn hoạt động ở đây lâu rồi.
Tôi cũng tin rằng: trong một môi trường xã hội như môi trường của họ, cách sống đạo thích hợp nhất để làm chứng cho Chúa, chính là sống giới răn yêu thương, như Chúa Giêsu đã trối lại: “Thầy ban cho các con một điều răn mới là các con hãy yêu thương nhau, như Thầy đã yêu thương các con. Ở điều này, mà mọi người sẽ nhận biết các con là môn đệ Thầy, là các con có lòng yêu thương nhau” (Ga 19,24-25).
Giữa một nơi thanh vắng, như cánh đồng mênh mông ấy, tôi vui mừng được Chúa nhắc nhở bài học quan trọng của Phúc Âm. Xưa Chúa giảng Tin Mừng. Nhưng nay những người nhắc lại cho tôi Tin Mừng chính là những người dân quê, đơn sơ, chất phác. Họ đã lâu năm không là đàn chiên của ai, mà là của chính Chúa.
***
Từ 30 tháng 4 năm 1975 tới nay, tình hình các nơi xa vắng, tôi vừa kể, đã đổi thay rất nhiều.
Nhưng thanh vắng vẫn mãi là nhà của tâm hồn tôi.
Tôi cầu nguyện ở đó. Tôi dâng hiến chính mình ở đó. Tôi vẫn gặp gỡ, yêu thương và phục vụ mọi người tại đó và từ nơi đó.
Thanh vắng cũng là con đường Chúa dẫn tôi đi.
Thanh vắng là bàn thờ di động tôi mang theo mình, suốt cả đời tôi.
Thiết tưởng thanh vắng cũng là thái độ đời sống thiêng liêng, mà hiện nay Chúa muốn đưa chúng ta vào. Mục đích là được lắng nghe thánh ý Chúa về truyền giáo tại Việt Nam, trong hoàn cảnh đất nước của 30/4/2004.
Phải thanh vắng rất sâu trong tinh thần cầu nguyện rất khiêm tốn, chúng ta mới có hy vọng phân định được thực sự những điều gì là đúng ý Chúa, trong một tình hình, mà các giá trị thiêng liêng đạo đức đang bị đe doạ xuống cấp trầm trọng, cả ngoài đời lẫn trong tôn giáo.
Long Xuyên, ngày 19 tháng 4 năm 2004

 

Bùi-Tuần 1628: Cầu Xin Ơn Thánh Hoá Các Linh Mục

Từ lâu nay, lễ kính Trái tim Chúa Giêsu được kèm theo một nhắc nhở đặc biệt. Toà Thánh nhắc nhở Bùi-Tuần 1628

Từ lâu nay, lễ kính Trái tim Chúa Giêsu được kèm theo một nhắc nhở đặc biệt. Toà Thánh nhắc nhở toàn thể Giáo Hội hãy nhớ cầu xin ơn thánh hoá cho các linh mục.
Nhắc nhớ này cho phép tôi nghĩ rằng: Thánh hoá các linh mục là một trong những thao thức lớn của Hội Thánh.
Khi nói “thánh hoá các linh mục”, thì linh mục được hiểu về tất cả những ai mang chức linh mục. Dù người đó có thêm chức tước nào, ở địa vị nào, với tuổi tác nào, trong hoàn cảnh nào.
Trong bài chia sẻ có giới hạn này, tôi xin vắn gọn với những giới hạn của tôi. Tôi tự giới hạn vào kinh nghiệm hơn về lý thuyết.
 Ơn thánh hoá linh mục nói chung
Nếu ai hỏi: Trong suốt cuộc đời gần 50 năm linh mục của tôi, tôi đã tha thiết với những gì, khi cầu xin ơn thánh hoá cho tôi và cho các linh mục?
Thì tôi xin thưa: Nói chung, tôi tha thiết cầu xin cho chúng tôi được luôn tỉnh thức lắng nghe thánh ý Chúa và luôn vâng phục nỗ lực thi hành thánh ý Chúa.
Vâng phục thi hành thánh ý Chúa, đó là thao thức suốt đời của tôi. Thánh ý Chúa về bổn phận đối với riêng tôi. Thánh ý Chúa về bổn phận đối với những người mà Chúa trao phó cho tôi trong chức vụ mục vụ và truyền giáo.
Thánh ý rõ nhất đến với nhận thức của tôi là: Chúa muốn các môn đệ của Người sống hạnh phúc.
Con đường đến với hạnh phúc mà Chúa muốn đã được Chúa vạch rõ trong bài giảng trên Núi. Chúng ta thường gọi đơn sơ là Tám mối phúc.
Phúc Âm thánh Matthêu viết: “Ðức Giêsu lên núi. Người ngồi xuống. Các môn đệ đến gần bên. Người mở miệng dạy họ rằng:
“Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó, vì Nước Trời là của họ.
Phúc thay ai hiền lành, vì họ sẽ được Ðất Hứa làm gia nghiệp.
Phúc thay ai sầu khổ, vì họ sẽ được Thiên Chúa ủi an.
Phúc thay ai khao khát nên người công chính, vì họ sẽ được Thiên Chúa cho thoả lòng.
Phúc thay ai xót thương người, vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương.
Phúc thay ai có tâm hồn trong sạch, vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa.
Phúc thay ai xây dựng hoà bình, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa.
Phúc thay ai bị bách hại vì sống công chính, vì Nước Trời là của họ” (Mt 5,1-10).
Tôi đã gặp được nhiều linh mục sống Tám mối phúc. Các ngài sống Tám mối phúc như sống với một ơn thánh đặc biệt. Ơn thánh ấy thay đổi các ngài, từ thái độ bên ngoài, đến tâm tư bên trong. Cái tâm các ngài toả ánh sáng và hương vị thanh cao, như báo hiệu Nước Trời. Các ngài đúng là men, là muối, là ánh sáng giữa một thế giới đua nhau chạy tìm những hạnh phúc thiếu thực chất đáp ứng ý nghĩa cuộc đời.
Hạnh phúc của các người sống Tám mối phúc cũng dễ nhận thấy, khi nhìn họ mang những hoa quả của Chúa Thánh Thần. “Các hoa quả của Chúa Thánh Thần là bác ái, hoan lạc, bình an, nhẫn nhục, từ tâm, trung tín, hiền hoà, tiết độ” (Gl 5,22-23). Những hoa quả quí giá ấy làm ích rất nhiều cho cộng đoàn, xã hội.
Tuy nhiên, bên cạnh những ngày sống Tám mối phúc, chúng tôi có thể cũng đã có những ngày sống nhiều mối phúc khác sai với ý Chúa. Ðó là điều chúng tôi phải sám hối.
 Ơn thánh hoá linh mục nói riêng
Biết sống Tám mối phúc và có được những hoa quả của Chúa Thánh Thần, đó là điều tôi tha thiết cầu xin chung cho các linh mục.
Thêm vào lời cầu xin chung đó, tôi thường cầu xin cho các linh mục, mỗi vị được những ơn riêng cần thiết.
Thánh Phaolô dạy: “Thần Khí tỏ mình ra nơi mỗi người một cách, là vì ích chung. Người thì được Thần Khí ban cho ơn khôn ngoan để giảng dạy, người thì được Thần Khí ban cho ơn hiểu biết để trình bày. Kẻ thì được Thần Khí ban cho lòng tin; kẻ thì cũng được chính Thần Khí duy nhất ấy ban cho những đặc sủng để chữa bệnh. Người thì được ơn làm phép lạ, người thì được ơn nói tiên tri; kẻ thì được ơn phân định thần khí; kẻ khác thì được ơn nói các thứ tiếng lạ; kẻ khác nữa lại được ơn giải thích các tiếng lạ. Nhưng chính Thần Khí duy nhất ấy làm ra tất cả những điều đó và phân chia cho mỗi người mỗi cách, tuỳ theo ý của Người” (1 Cr 12,7-11).
Những lời dạy trên đây của thánh Phaolô đã được ứng nghiệm khá rõ trong thực tế mục vụ và truyền giáo, mà tôi được tham dự.
Tôi thấy: Khi mỗi người chúng tôi biết lo cho ích chung và do đó biết cầu nguyện, thì Chúa thường ban cho mỗi người những ơn cần thiết, để thực hiện bổn phận riêng của mình một cách thích hợp.
Nhiều người được đặt vào những hoàn cảnh riêng biệt, với những nhu cầu riêng biệt. Nhưng khi biết cầu xin, thì Chúa thường ban ơn riêng, tuỳ theo ý Chúa, để họ đem lại kết quả tốt nhất nhiều khi thực bất ngờ.
Tuy nhiên, biết bao trường hợp chúng tôi đã không biết đón nhận ơn riêng Chúa ban và không biết dùng ơn riêng đó theo ý Chúa. Ðó cũng là thiếu sót chúng tôi phải ăn năn.
 Ơn thánh hoá linh mục một cách đặc biệt
Có một ơn, tôi phải cầu xin thực nhiều cho các linh mục chúng tôi. Tôi gọi ơn ấy là ơn đặc biệt. Ðó là ơn biết học với Trái tim Chúa Giêsu hiền lành và khiêm nhường. Chúa phán: “Các con hãy học với Thầy, vì Thầy có lòng hiền lành và khiêm nhường” (Mt 11,29).
Khiêm nhường và hiền lành là nền tảng đời nhân đức. Nhưng xem ra khiêm nhường hiền lành là một bài người ta sợ học, ngại học, làm biếng học. Ðang khi đó, ma quỉ lại tìm mọi cách để các môn đệ Chúa quen với nếp sống kiêu ngạo, cứng cỏi, hoặc đi vào khiêm nhường hiền lành giả tạo.
Tuy nhiên, tôi đã được thấy nhiều vị linh mục sống khiêm nhường và hiền lành thực đáng kính phục.
Vì khiêm nhường hiền lành, các ngài luôn cầu nguyện, để được ơn nhận ra đâu là thánh ý Chúa. Thánh ý Chúa trong việc làm, trong cách làm, trong cách nói, với từng cử chỉ, từng thái độ.
Vì khiêm nhường hiền lành, các ngài luôn nhận mình yếu kém, nên chịu khó phấn đấu, để mỗi ngày mỗi cộng tác với ơn Chúa một cách trưởng thành hơn.
Vì khiêm nhường hiền lành, các ngài luôn cảm tạ Chúa, biết ơn Hội Thánh, Tổ Quốc, dân tộc của mình, và mọi người đã nâng đỡ mình.
Vì khiêm nhường hiền lành, các ngài luôn biết bắt đầu lại mỗi ngày, sao cho tốt hơn, cho dù tính tự nhiên dụ các ngài an phận hoặc tự mãn.
Vì khiêm nhường hiền lành, các ngài biết khích lệ những anh em làm được việc tốt, biết an ủi những anh em sầu khổ, vấp ngã, biết nâng đỡ tất cả mọi người thiện chí.
Vì khiêm nhường hiền lành, các ngài đã hết sức phấn đấu với chính mình, để “từ bỏ mình, vác thánh giá mình, mà theo Chúa” (Mt 26,24). Nhờ vậy, các ngài “hiến dâng chính mình làm của lễ sống động, thánh thiện và đẹp lòng Chúa” (Rm 12,1). Cho dù của lễ đó là bản thân mình mang bệnh tật và những khổ đau.
***
Trên đây là một chút tâm sự về sự cầu xin ơn thánh hoá cho các linh mục. Thánh hoá linh mục là việc không đơn giản, dễ dàng. Xin anh chị em thương cầu nguyện nhiều cho chúng tôi, được là “mục tử nhân lành” theo gương Chúa Giêsu (Ga 10,14).
Long Xuyên, ngày 6 tháng 6 năm 2004

 

Bùi-Tuần 1629: Nhớ Về Lễ Mở Tay Cách Ðây 49 Năm

(11-7-1955)
 

Khi sức khoẻ càng xuống, tuổi càng già, tôi càng ưa thích được sống bình lặng.Trong thanh Bùi-Tuần 1629

Khi sức khoẻ càng xuống, tuổi càng già, tôi càng ưa thích được sống bình lặng.
Trong thanh vắng, tôi thấy quá khứ mình trở về hiện tại. Nhiều hoài niệm rất xa xưa nay sống lại dần dần. Êm đềm nhất là những kỷ niệm đầu tiên của đời linh mục.
Hôm nay, tôi xin phép chia sẻ kỷ niệm thánh lễ đầu tiên của tôi. Thánh lễ đầu tiên của tân linh mục quen được gọi là “lễ mở tay”. Thánh lễ này của tôi đã diễn ra tại một trại di cư, trong nhà thờ xứ Long Phước thôn di cư, Biên Hoà.
Thánh lễ được tổ chức rất đơn sơ. Nhưng nó đã in vào lòng tôi ba ấn tượng sâu sắc. Ảnh hưởng của nó trải dài suốt cuộc đời tôi.

 1/ Chia sẻ cuộc sống nghèo của đoàn chiên
Từ Hồng Kông về nước, để dâng lễ mở tay, tôi thấy một quê hương mới. Dân di cư sống rất nghèo. “Nhà thờ”, nơi tôi dâng thánh lễ, là một nhà dựng tạm. Hai mái che bằng những tấm bạt lớn. Nền đất, chỗ cao chỗ thấp.
Giáo dân rất đông. Ai cũng như ai. Tất cả đều nghèo. Nhưng bầu khí xứ đạo rất là ấm cúng.
Chúng tôi chẳng có quà tặng nhau. Chỉ có những ánh mắt thân thương, những nụ cười hồn nhiên, những bàn tay nối kết nghĩa tình.
Riêng tôi cũng chẳng sắm sửa gì. Áo lễ mượn. Chén lễ mượn. Không ảnh kỷ niệm. Không chụp hình.
Ngoài giáo xứ, gia đình và mấy linh mục quen thân, Cha Cố của tôi không mời ai hôm đó. Mọi sự đều đơn giản, kể cả bữa ăn.
Cảnh nghèo của thánh lễ mở tay đã gây trong tôi một suy nghĩ đẹp. Suy nghĩ đẹp đó là Chúa muốn linh mục chia sẻ cuộc sống nghèo của đoàn chiên. Chia sẻ đó phải tích cực, chân thành, từ tâm tình bên trong đến nếp sống bên ngoài. Chia sẻ như thế là một vinh dự. Không chia sẻ sẽ không hợp với ơn gọi của mình.

 2/ Trong tay Ðức Mẹ “xin vâng”
Thánh lễ mở tay thường mang một nét nổi. Ðó là bài giảng. Linh mục, mà Cha Già Cố và tôi đã mời giảng trong lễ mở tay của tôi là một linh mục quen thân, đạo đức. Ðó là Cha Minh Ðăng.
Bài giảng hôm đó của ngài nhấn mạnh đến sự linh mục cần sống trong tay Ðức Mẹ, một Ðức Mẹ “xin vâng”, một Ðức Mẹ khiêm nhường, một Ðức Mẹ suốt đời chỉ vâng phục thi hành thánh ý Chúa.
Cha Minh Ðăng mang lửa mến trong trái tim ngài, nên cha giảng hùng hồn, với giọng truyền cảm.
Ngài đã truyền cảm sang tôi, không phải chỉ qua bài giảng hôm đó, mà còn qua chính cuộc sống của ngài. Tôi tiếp nhận hình ảnh linh mục ngài đưa ra hôm ấy. Cuộc đời linh mục là sống trong tay Ðức Mẹ luôn xin vâng thi hành thánh ý Chúa.
Thánh ý Chúa sẽ được Chúa soi sáng không phải ngay một lúc. Nhưng dần dần. Có thể là từng ngay, từng lúc, từng giai đoạn lịch sử và từng hoàn cảnh cuộc sống. Ðiều cần thiết là phải tỉnh thức, khiêm nhường, biết từ bỏ ý riêng, biết đón nhận ý Chúa với tinh thần phó thác của Ðức Mẹ.
Trong bài giảng, Cha Minh Ðăng không giới thiệu ai, không nhắc đến ai, ngài chỉ tập trung vào hình ảnh linh mục trong tay Ðức Mẹ “xin vâng”.
Tôi có cảm tưởng là mọi người dự thánh lễ hôm đó đều được nâng tâm hồn lên với Chúa. Mọi người đều nhận mình là tôi tớ Chúa, như Ðức Mẹ đã tự xưng. Cái nhìn đó đã làm mờ nhạt cái nhìn linh mục như một chức cao quyền cả, tách rời khỏi dân, đứng trên dân, để ban phát, để quản trị.
Riêng đối với tôi, bài giảng của Cha Minh Ðăng trong lễ mở tay hôm ấy đã được ghi sâu vào lòng tôi. Nó chìm vào tiềm thức tôi, để chi phối ý thức tôi, suốt mọi ngày trong đời sống tôi.

 3/ Bước theo Chúa Giêsu, Ðấng cứu độ
Nhân nói về bài giảng Cha Minh Ðăng trong lễ mở tay của tôi, tôi muốn tiết lộ một chi tiết quan trọng giữa chúng tôi trong thánh lễ này.
Trước thánh lễ, ngay tại phòng mặc áo lễ, tôi đã xin ngài ban phép giải tội cho tôi. Liền sau đó, chúng tôi tâm sự với nhau về tình trạng linh mục có thể rơi vào những hiểm nguy khiến mình sa sút về đạo đức.
Trong lúc xúc động, tự nhiên chúng tôi đi tới một ước vọng. Ước vọng đó là: Ðể góp phần nào vào việc thánh hoá linh mục, nếu Chúa muốn, chúng tôi xin sẵn sàng đón nhận cho mình những cái chết đau thương. Những cái chết như thế chẳng qua cũng chỉ là một bước đi theo Chúa Giêsu, Ðấng đã chịu chết đớn đau, để cứu độ nhân loại.
Hai anh em chúng tôi đã trao đổi với nhau về ước vọng ấy. Sau đó chúng tôi đã cùng nhau dâng ước vọng đó lên Chúa. Lúc đó là sáng ngày 11 tháng 7 năm 1955.
Sau này, Cha Minh Ðăng vào dòng Ðức Mẹ Ðồng Công. Ngài đã chết một cách thảm thương trên đường làm việc tông đồ ngày 31/10/1981. Khi nghe tin đó, tôi biết ngay là ước vọng của Cha đã được Chúa nhậm lời và thực hiện.
Còn ước vọng của tôi gói chung vào ước vọng của Cha xem ra cũng đã được Chúa nhậm lời. Tôi đã và đang được chết những cái chết đau thương khác, một cách nhẹ hơn, vì Chúa biết tôi yếu đuối.
***
Hôm nay, khi nhớ về lễ mở tay trong ngày 11 tháng 7 cách đây 49 năm, tôi làm 4 việc này:
Một là tạ ơn Chúa về mọi ơn Chúa ban cho tôi, ngay từ thánh lễ mở tay.
Hai là tạ tội với Chúa, về mọi lỗi lầm, sai sót của tôi trong suốt 49 năm qua.
Ba là tạ đền trước Chúa. Ðền ơn, và đền tội.
Bốn là tạ từ mọi tấm lòng tốt đã nâng đỡ tôi. Như Cha Minh Ðăng chẳng hạn. Và như những độc giả Công Giáo và Dân Tộc đã có lòng tốt khích lệ tôi chia sẻ về tu đức. Tạ từ như một đáp từ cảm ơn, biết ơn và ghi ơn.
Thiết tưởng thánh lễ cuộc đời là rất quan trọng, đối với linh mục và mọi tín hữu. Mặc dù thánh lễ bàn thờ vốn là quí giá.
Nếu chẳng may, cả thánh lễ bàn thờ lẫn thánh lễ cuộc đời đều bị coi thường, thì đó sẽ là một tai hoạ lớn cho Hội Thánh. Hy vọng trường hợp như thế sẽ không xảy ra.
Long Xuyên, ngày 4 tháng 7 năm 2004

 

Bùi-Tuần 1630: Cầu Nguyện Của Người Ðau Khổ

Cầu nguyện là nhiệm vụ căn bản của người sống đức tin. Họ cầu nguyện với Chúa thường xuyên. Họ Bùi-Tuần 1630

Cầu nguyện là nhiệm vụ căn bản của người sống đức tin. Họ cầu nguyện với Chúa thường xuyên. Họ cầu nguyện như một nhu cầu, với những mục đích thiết thân: Như để tìm nhan thánh Chúa, để mình trở thành người của Chúa, người của mọi người, người của chính mình với nội tâm luôn tìm thực thi ý Chúa.
Riêng đối với người đau khổ, cầu nguyện còn là một an ủi.
Mỗi người đau khổ có thể cầu nguyện với tâm tình riêng tư. Dù rất riêng tư, những tâm tình đó thiết tưởng có thể tập trung vào bốn loại. Bốn loại này thường đi chung với nhau, chen kẽ vào nhau, nối tiếp nhau, lúc mạnh lúc yếu. Và cứ thế, cầu nguyện của người đau khổ ví được như một dòng sông chuyên chở những tâm tình rất chân thành của mình về Chúa là biển cả tình yêu giàu lòng thương xót.
Bốn loại tâm tình đó tạm mang tên sau đây:

 1/ Than vãn
Than vãn là một hình thức tâm sự, giãi bày tình trạng thiếu thốn, cần được giúp đỡ. Ðây là một thực tế gây nên nhiều xúc động trong thi ca, văn học và tôn giáo.
Khi người đau khổ than vãn với Chúa, thì than vãn đó là một hình thức cầu nguyện khiêm tốn, thiết tha.
Kinh Thánh ghi lại rất nhiều hình thức cầu nguyện như thế. Ở đây tôi chỉ xin được nêu lên vài thí dụ:
Thánh Gióp kêu:
“Ôi, phải chi ai cảm được nỗi sầu của con, và đặt lên bàn cân nỗi đau con đang chịu!” (G 6,1).
Vua David than:
“Rên xiết đã nhiều, nên con mệt mỏi:
trên giường ngủ, những thổn thức năm canh,
từng giọt vắn dài, lệ tuôn đẫm gối,
mắt hoen mờ vì quá khổ đau” (Tv 6,7-8).
Chính Chúa Giêsu trong vườn Cây Dầu cũng đã than van thảm thiết: “Linh hồn Thầy đau buồn đến chết được” (Mt 26,38).
Thấy một người bị đau khổ hành hạ, khi họ than vãn với Chúa, ta đừng vô cảm, hoặc phán đoán sai về họ. Họ là thầy dạy ta nhiều bài học về thân phận con người, về liên đới, về đức tin. Những bài học đó rất sống động. Phải học bằng trái tim biết tế nhị, nhạy cảm và bác ái.

 2/ Cầu cứu
Ðứng trước đau khổ, nhất là bị chìm vào đau khổ, bản năng bảo vệ sự sống nơi mỗi người đều phản ứng như nhau: Phản ứng đó là muốn thoát khỏi đau khổ.
Chính Chúa Giêsu đã có phản ứng như thế. Trước giờ chịu nạn, trong vườn Cây Dầu Chúa Giêsu đã cầu cứu với Ðức Chúa Cha: “Cha ơi, nếu được, xin cho chén đắng này rời khỏi con. Nhưng xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha!” (Mt 26,39).
Một lát sau, Người lại cầu cứu thảm thiết: “Lạy Cha, nếu chén này không thể rời khỏi con, nhất định con phải uống, thì xin cho ý Cha được thể hiện” (Mt 26,42).
Sự kiện trên cho thấy: Cầu xin Chúa cứu ta khỏi đau khổ, nếu đẹp ý Chúa, đó là việc nên làm. Hoặc cầu xin Chúa giúp ta chịu đau khổ một cách tốt nhất theo ý Chúa, đó cũng là việc nên làm.
Ðọc Phúc Âm, tôi thấy nhiều trường hợp Chúa Giêsu muốn cứu người ta khỏi đau khổ, miễn là người ta biết cộng tác vào ơn cứu độ của Chúa bằng sự khiêm nhường cầu xin khẩn khoản. Thí dụ trường hợp Chúa chữa hai người mù ngồi ở vệ đường ngoài thành Giêricô. Nghe tiếng dân ồn ào theo Chúa đi ngang qua, hai người mù vội la lên: “Lạy Ngài, lạy con vua David, xin dủ lòng thương chúng tôi”. Chúa Giêsu dừng lại, gọi họ và hỏi: “Các anh muốn tôi làm gì cho các anh?”. Họ thưa: “Lạy Ngài, xin cho mắt chúng tôi được mở ra”. Ðức Giêsu chạnh lòng thương, sờ vào mắt họ. Tức khắc, họ nhìn thấy được và đi theo Ngài (Mt 20,32-34).
Như vậy, việc người đau khổ cầu khấn ơn được trút khỏi gánh nặng đau khổ là việc bình thường. Cũng có thể gọi việc như thế là việc đạo đức Chúa muốn và Chúa đợi ta làm.

 3/ Tín thác tạ ơn
Khi con người cảm thấy rõ nơi bản thân sự sống của mình càng ngày càng xuống dốc, họ chỉ còn cách bám vào Chúa là nguồn sự sống. Họ than vãn, họ cầu cứu. Và Chúa ban cho họ những an ủi khích lệ. Có khi họ thấy bớt được khổ đau. Có khi họ cảm được khổ đau của họ mang một giá trị cứu độ, cho họ và cho người khác. Như dòng sông bên lở bên bồi, đau khổ của họ nhiều khi cũng có giá trị đền bồi. Nhận thức đó khơi dậy tâm tình tạ ơn và tin tưởng. Thánh vương David đã nhìn lên Chúa và loan báo Tin Mừng:
“Hỡi ai nương tựa Ðấng Tối Cao, và núp bóng Ðấng quyền năng tuyệt đối. Hãy thưa với Chúa rằng:
Lạy Thiên Chúa, Ngài là nơi con ẩn náu, là đồn luỹ che chở, con tin tưởng vào Ngài" (Tv 91,1-2).
Chính Chúa Giêsu, trong giây phút khổ đau nhất, đã nói một lời mang tính cách tin tưởng tuyệt đối và tạ ơn tuyệt đối: “Lạy Cha, con xin phó thác hồn con trong tay Cha” (Lc 25,46).
Khi đến Lộ Ðức và nhiều nơi hành hương, tôi được đọc rất nhiều tấm bảng ghi lời tạ ơn của những người khấn cầu có liên quan đến đau khổ của họ. Hiện tượng này cho phép tôi nghĩ rằng: Rất nhiều người đau khổ đã cầu nguyện và họ đã được Chúa và Ðức Mẹ ban ơn, không ơn này thì ơn khác. Tất nhiên chỉ một số người đã ghi lời tạ ơn trên bia đá, nhưng tất cả những người được ơn đều đã tạ ơn Chúa và Ðức Mẹ bằng những cách thích hợp và tuỳ khả năng.

 4/ An tĩnh
Kinh nghiệm cho tôi thấy: Rất nhiều trường hợp, người đau khổ không than vãn, không xin cầu cứu, không nói lời cảm tạ. Họ chỉ an tĩnh nhìn Chúa, nhìn Ðức Mẹ. Ðó cũng là cầu nguyện. Bởi vì cái nhìn an tĩnh đó chìm vào tình yêu của Chúa, của Mẹ.
An tĩnh đó là một thứ dứt bỏ những gì là phù phiếm, mau qua, sóng gió, để hoà mình vào một tình yêu vĩnh cửu, đầy bình an, êm đềm, hạnh phúc.
An tĩnh đó là “ở lại trong tình thương của Chúa” (Ga 15,9). Ðau đớn vẫn còn, nhưng nó chỉ giúp con người đi sâu vào tình thương Chúa mà thôi.
***
Mấy chia sẻ vắn tắt trên đây chắc chắn còn nhiều thiếu sót. Nhưng hy vọng, nhờ đó, những ai đau khổ bất cứ vì lý do nào, cũng có thể nhặt được một chút nào đó giúp ích cho mình.
Số người đau khổ hiện nay rất đông. Họ sẽ không trở thành dư thừa, trái lại họ sẽ có khả năng góp phần cứu độ, nếu họ biết sống đau khổ một cách có ý nghĩa.
Long Xuyên, ngày 16 tháng 7 năm 2004

 

Bùi-Tuần 1631: Nghèo Và Ðói

Có một sự thực luôn rên rỉ trong suốt lịch sử nhân loại. Sự thực đó là một thực tế không ngừng kêu Bùi-Tuần 1631

Có một sự thực luôn rên rỉ trong suốt lịch sử nhân loại. Sự thực đó là một thực tế không ngừng kêu gọi các lương tâm.
Sự thực ấy đã đến với tôi rất sớm. Tôi càng thêm tuổi, nó càng hiện rõ. Tới lúc này, nó vẫn là một đề tài sống động. Suy tư thường xuyên đề tài này được tôi coi như một bổn phận.
Sự thực tôi muốn nói lên ở đây là NGHÈO và ĐÓI.
Biết mình nghèo những thứ gì, rồi phải biết đói những thứ đó, để rồi biết tìm cách bớt nghèo, bớt đói những gì mình nghèo đói, đó là một hướng sống hợp lý hợp tình.

 Nghèo
Có nhiều thứ nghèo, như:
- Nghèo những nhu cầu vật chất để đủ sống.
- Nghèo những kiến thức cần thiết để nhìn xa biết rộng, biết mình, biết người, biết thời thế.
- Nghèo những đức tính nhân bản để làm người.
- Nghèo những khả năng phục vụ để biết sống liên đới và xây dựng liên đới.
- Nghèo những nhân đức để nên người hướng thiện.
- Nghèo những sáng tạo cần cho việc phát triển các giá trị đạo đời.
Còn nhiều thứ nghèo khác, tôi vẫn thấy hiện diện nơi tôi. Thấy mình nghèo, đã là một khởi sự tốt.
Nhưng cái nghèo làm tôi quan tâm nhiều nhất, đó là nghèo những điều kiện của người môn đệ Chúa Giêsu.
Có nhiều điều kiện chung cho mọi người muốn làm môn đệ Chúa Giêsu. Tôi để ý nhất đến điều kiện “Thi hành ý muốn Chúa Cha”. Chúa Giêsu dạy rõ: “Không phải bất cứ ai thưa với Thầy: Lạy Chúa, lạy Chúa là được vào Nước Trời cả đâu. Nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Ðấng ngự trên trời, mới được vào mà thôi” (Mt 7,21).
Rõ ràng điều kiện quan trọng là thi hành ý Chúa. Thi hành được hiểu là làm. Chứ không phải chỉ biết đúng, chỉ hiểu sâu, chỉ nói rõ là đủ.
Vậy Chúa muốn gì nơi chúng ta, là những người tin theo Chúa, nhất là những người có nhiệm vụ truyền giáo?
Thưa ý Chúa là chính mình ta hãy sống theo cách sống của Chúa Giêsu, và hãy tìm cách phổ biến cách sống của Chúa Giêsu. Có nghĩa là chính cuộc sống của ta, và tất cả cuộc sống của ta phải phản ảnh và rao giảng cuộc sống của Chúa Giêsu. Chúa Giêsu phán: “Hãy dạy bảo muôn dân giữ những gì Thầy đã truyền dạy cho các con” (Mt 28,20).
Cách sống, mà Chúa truyền dạy có nhiều vẻ đẹp. Ở đây, tôi để ý đến năm vẻ đẹp này:

1/ Sống tha thiết với Tám mối phúc.
Thí dụ:
- Tâm hồn nghèo khó, khiêm nhường.
- Thái độ hiền từ.
- Biết chịu đau khổ với tinh thần đạo đức.
- Khát khao sự công chính.
- Biết xót thương người khác.
- Giữ tâm hồn trong sạch.
- Lo xây dựng hoà bình.
- Trung thành với Chúa, khi bị bách hại (Mt 5,1-10).
2/ Ði vào cửa hẹp để có thể được vào Nước Trời (Lc 13,23-24).
3/ Sống yêu thương người khác, như Chúa yêu thương ta (Ga 13,34).
4/ Tìm sự công chính và phần thưởng nơi Chúa, chứ không nơi người đời. Vì thế, hãy làm việc bố thí, việc ăn chay và việc cầu nguyện một cách âm thầm, tránh mọi hình thức phô trương (Mt 6,1-34).
5/ Sám hối, cầu nguyện và tỉnh thức (Lc 13,1-6,21. 34-36).
Trên đây, chỉ là mấy cách sống mà tôi hay để ý thực hành trong đời sống thường ngày.
Thú thực là khi xét mình, tôi thấy mình còn rất nghèo những cách sống đó. Nghèo cả bên trong nội tâm, cả thái độ bên ngoài.
Ðiều tôi lo sợ, là biết đâu mình thực sự nghèo những thứ cần thiết đó, nhưng vẫn ảo tưởng mình có đủ, có dư. Ðể rồi an phận, tự mãn.
Tới nay, tôi còn nhớ rõ hình ảnh những người nghèo, tôi đã gặp trong hành trình đời tôi.
Có những người quá nghèo, coi như những bộ da bọc xương, đói rách, khốn khổ.
Từ những hình ảnh đó, tôi nghĩ về hình ảnh người nghèo những giá trị tinh thần, nhất là nghèo những cách sống đẹp của Chúa Giêsu.
Chắc chắn là hình ảnh đó xác xơ thê thảm.

 Ðói
Nhưng có một điều an ủi tôi, đó là nếu tôi biết mình là như thế, và biết đói những gì Chúa muốn về tôi, thì Chúa không bỏ tôi. Trái lại, Chúa sẽ thương tôi rất nhiều. Người thương, chính vì tôi nhận biết mình nghèo và biết đói ơn thánh của Người.
Lúc đó, chính tình thương xót Chúa sẽ đoái nhìn đến thân phận khó nghèo của tôi. Tình xót thương đó sẽ là biển cả dạt dào ơn thánh, để tôi được dìm mình trong đó.
Nếu, chẳng may, thay vì tìm về Biển cả, tôi lại tìm những giếng cạn, hay những vũng bùn, thì khốn khổ cho tôi.
Vì thế, điều tôi luôn nhớ, để tạ ơn Chúa suốt đời, là cảm nghiệm được cái nghèo của mình, cái đói của mình, và biết khao khát Chúa.
Rất nhiều khi rà soát lại quá khứ đời mình, tôi thấy sự thực này: Ðó là tôi đã gặp được Chúa và nghe được tiếng Chúa gọi tôi, không qua những lễ nghi linh đình, những nhà thờ to lớn, những qui tụ đông đảo ồn ào, những chức tước cao sang, nhưng lại qua những gì âm thầm nhỏ bé.
Nói thế không có nghĩa là những gì to lớn, sang trọng là không cần thiết. Tôi nhận sự hữu ích của chúng trong một số trường hợp.
Tôi chỉ nói về thực tế của riêng tôi. Những thực tế âm thầm nhỏ bé đã ảnh hưởng đến tôi trước hết là những con người có những cách sống đẹp. Họ cầu nguyện lặng lẽ. Họ phục vụ tế nhị. Họ đi vào các con đường bé nhỏ, làm những việc lành không tên. Họ là những người thuộc dạng nghèo và đói thiêng liêng, nhưng rất biết mình đúng là như vậy. Vì thế họ được Chúa Thánh Thần dẫn đưa về suối nguồn tình thương vĩnh cửu. Cách sống của họ giữa đời đúng là men trong bột (Lc 13,20).
Tôi cũng gặp được Chúa, khi nhận ra sự mong manh của cuộc đời trần thế. Như lời thánh vịnh nói:
“Kiếp phù sinh, tháng ngày vắn vỏi,
tươi thắm như cỏ nội hoa đồng.
Một cơn gió thoảng là xong,
chốn xưa mình ở cũng không biết mình.
Nhưng ân tình Chúa thiên thu vạn đại,
dành cho kẻ nào hết dạ kính tôn” (Tv 102,15-17).
Nhiều khi tôi buồn, nhận thấy cái nghèo thiêng liêng được lấp liếm bằng những hiếu động phô trương. Cũng nhiều khi cái trống vắng nội tâm lại được che bằng những hình thức đạo đức khuôn khổ màu mè bên ngoài. Thiết tưởng đó không phải là những sự thực đẹp lòng Chúa, dẫn tới một tương lai có thực chất của Tin Mừng.
Trái lại, biết mình nghèo, biết đói Chúa, và biết đón nhận tình thương của Chúa một cách khiêm nhường và phấn đấu cộng tác. Ðó mới là một tình trạng nghèo và đói dẫn tới hạnh phúc trường sinh. Thiên Chúa giàu lòng thương xót đã cho tôi niềm xác tín đơn sợ và quí giá đó.
Long Xuyên, ngày 25 tháng 7 năm 2004

 

Bùi-Tuần 1632: Một Cảm Nghiệm Về Ðức Tin

Mỗi ngày, tôi sống với niềm tin. Càng già, tôi càng cảm thấy niềm tin là cần thiết.Niềm tin Bùi-Tuần 1632

Mỗi ngày, tôi sống với niềm tin. Càng già, tôi càng cảm thấy niềm tin là cần thiết.
Niềm tin tự nhiên, như tin vào những người thân; tin vào người giúp việc; tin vào thầy thuốc; tin vào sự chân thành và thông cảm của những người quen xa gần, vv...
Niềm tin siêu nhiên, như tin vào ơn thiêng đến qua việc cầu nguyện, việc bác ái, việc hy sinh; tin vào tâm tình sám hối khiêm cung; tin sự khát khao những điều tốt lành cho mọi người vẫn là một đóng góp có sức gây nên môi trường đạo đức xã hội.
Niềm tin mà tôi xác tín là quan trọng nhất cho tôi, chính là tin vào đức tin.
Ðức tin là một nhân đức. Nó không là kết quả của những lý luận. Nó là một ơn do Chúa thương ban.
Người thương ban ơn đức tin bằng nhiều cách. Mỗi người được ơn đức tin có thể kể lại kinh nghiệm của riêng mình.
Với mục đích làm chứng cho Chúa, tôi xin phép kể lại kinh nghiệm của riêng tôi. Vài yếu tố sau đây vốn có trong thời tôi còn trẻ, nay càng rõ và mạnh trong thời tôi già yếu.

 Tin là một gặp gỡ và đón nhận
Ðức tin của tôi không chỉ được cảm nghiệm như một sự tin có Chúa và tin kính Chúa, hoặc tin nhận một hệ thống tín lý và luân lý do Hội Thánh dạy. Tất nhiên đức tin đòi những tin nhận đó.
Nhưng, khi nói về tin Chúa như một cảm nghiệm về Chúa, tôi thấy lời thánh tông đồ Gioan viết xưa là rất sống động.
Ngài viết: “Người (Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa) đã đến nhà mình, nhưng người nhà chẳng chịu đón nhận. Còn những ai đón nhận, tức là những ai tin vào danh Người, thì Người cho quyền trở nên con Thiên Chúa” (Ga 1,11-12).
Như vậy, theo cách diễn tả của thánh Gioan, tin Chúa là đón nhận Chúa Giêsu. Ðón nhận chính Chúa Giêsu. Ðó là việc chủ yếu, mà tôi cảm nghiệm.
Tôi đón nhận Chúa Giêsu với tất cả con người của tôi, khi tôi tin Người. Tôi cậy trông nơi Người. Tôi hy vọng nơi Người. Tôi tin tưởng vào Người. Tôi yêu mến Người.
Tôi đón nhận Chúa Giêsu vào mọi cơ năng của tôi. Tôi đón nhận Người vào trái tim tôi, vào trí khôn tôi, vào trí nhớ của tôi, vào ý chí của tôi, vào trí tưởng tượng của tôi. Tôi xin Người ngự vào ý thức của tôi, tiềm thức của tôi, vô thức của tôi.
Tôi đón nhận Chúa Giêsu với tất cả mọi lời của Người, tất cả đời Người đã sống, tất cả gương Người để lại, tất cả các nẻo đường Người đã đi, tất cả mọi ý muốn của Người về tôi, về Hội Thánh và về kế hoạch cứu độ nhân loại.
Ðón nhận như thế là một gặp gỡ thân mật. Lúc đó, tin không lạnh khô như trong lãnh vực giáo thuyết.
Kết quả trực tiếp của đức tin như thế là một sự đổi mới con người.

 Tin là đổi mới chính mình
Thánh Gioan quả quyết: “Những ai đón nhận Chúa Giêsu, tức là tin vào danh Người, thì Người cho họ được quyền trở nên con Thiên Chúa” (Ga 1,12).
Ðược quyền trở nên con Thiên Chúa, đó là một sự đổi mới cao quý lạ lùng.
Sự đổi mới này được tôi cảm nghiệm một cách đơn sơ nhất là ở ba điểm sau đây.

1/ Cái nhìn được đổi mới.
Thánh Gioan xác nhận: “Ngôi Lời là ánh sáng thật” (Ga 1,9). Nhờ ánh sáng của Chúa Giêsu, tôi nhìn thấy bậc thang giá trị theo Phúc Âm rất khác bậc thang giá trị theo thế gian. Thí dụ: Theo thế gian, việc từ thiện, ăn chay, cầu nguyện thường được phô ra, để tìm kiếm tiếng khen. Còn theo ánh sáng của Chúa Giêsu, thì làm việc đạo đức kiểu đó tuy được phần thưởng do thế gian, nhưng rất có thể sẽ mất phần thưởng của Cha trên trời (x. Matthêu 6,1-18).
Một thí dụ nữa: Theo thế gian, người sống thoải mái, đi trên đường đời rộng thênh thang, được kể là người may mắn và hạnh phúc. Còn theo ánh sáng của Chúa Giêsu, thì trái lại (x. Matthêu 7,13-14).
Ðặc biệt là, nhờ ánh sáng đức tin đến từ Ðức Kitô, tôi nhận ra mình là kẻ tội lỗi, yếu hèn, kém cỏi, bất xứng với những ơn Chúa thương ban cho tôi.
Ngoài cái nhìn được đổi mới, người con Chúa còn cảm nghiệm một đổi mới khác nữa, đó là giới răn mới.

2/ Giới răn mới.
Sống đức tin là đón nhận chính Chúa Giêsu, nên tôi cảm nghiệm thấy giới răn quan trọng bậc nhất của đạo chính là yêu thương. Sự cảm nghiệm về bổn phận yêu thương là rất mạnh. Mạnh đến nỗi nó khiến tôi nghĩ rằng: Tin Chúa dù kiên vững đến đâu, nếu thiếu yêu thương con người, thì vẫn không là đón nhận Chúa. Bởi vì Thiên Chúa là tình yêu. Ðức Giêsu xuống thế làm người, chịu nạn chịu chết, cũng để làm chứng cho tình yêu.
Thực sự, nếu đức tin không được phiên dịch ra bác ái yêu thương con người, thì đức tin đó dễ trở thành một thứ phản chứng. Nhưng yêu thương nói đây không phải là bất cứ thứ yêu thương nào, mà là thứ yêu thương, như Chúa Giêsu đã yêu thương chúng ta.
Chính nhờ thứ yêu thương đó, mà tôi lại có thêm một cảm nghiệm nữa về đức tin. Ðó là một hy vọng mới.

3/ Một hy vọng mới.
Hy vọng mới này dựa trên một Tin Mừng lớn lao, do gặp gỡ và đón nhận Chúa. Tin Mừng lớn lao đó là tình thương xót Chúa dành cho những kẻ yếu đuối, bé mọn.
Lòng thương xót bao la này để ý đến từng việc lành bé nhỏ âm thầm, để thưởng công.
Lòng thương xót vô cùng này cúi xuống đỡ nâng từng người đau khổ, thất vọng, khi họ tỏ thiện chí.
Lòng thương xót mênh mông này dịu dàng gọi tên từng người lầm lạc đang đi trong bóng tối, và đời chờ họ trở về.
Tôi cảm nghiệm sâu sắc về lòng thương xót Chúa luôn hiện diện ở từng giây phút đời tôi, để mỗi giây phút đó có thể mang giá trị đời đời, do tôi biết đặt mình vào lễ tế của thánh giá Chúa. Và như vậy, đức tin đòi hỏi một sự cảnh giác cao độ đối với mọi thứ tà thần vốn thù địch với đức tin.
 Tin là biết cảnh giác với các tà thần
Thánh Gioan tông đồ kết thúc lá thư thứ nhất của Ngài bằng câu: “Các con hãy tránh xa các tà thần” (1 Ga 5,21).
Tà thần được hiểu là những tinh thần cản ngăn việc đón nhận Chúa và sự đổi mới mình ta, dẫn đưa ta xa dần đức tin. Thí dụ: Tinh thần kiêu ngạo tự mãn; tinh thần mê danh vọng, phô trương quyền chức; tinh thần chạy theo tiền bạc; tinh thần lười biếng; tinh thần nguội lạnh; tinh thần hưởng thụ, buông thả theo tự do quá trớn; tinh thần thích sống đời an nhàn, sang trọng; tinh thần ghen tuông ưa chỉ trích, gièm pha; tinh thần giả hình đạo đức; tinh thần tự cao, thiếu nhịn nhục chịu khó vì Chúa.
Những tinh thần xấu như thế chính là những tà thần.
Ðể cảnh giác, ta phải biết nhận ra chúng hiện diện bên ta, biết tránh xa các dịp kết thân với chúng, biết chiến đấu bằng cầu nguyện, hãm mình, hồi tâm.
***
Trên đây là chút cảm nghiệm yếu ớt của tôi về đức tin. Nó có tính cách riêng tư. Nhưng hy vọng nó cũng có thể gợi cho mọi người sống đức tin nói lên một cách nào đó về cảm nghiệm đức tin của mình.
Những cảm nghiệm đó, khi thực lành mạnh, và kèm theo ơn Chúa sẽ có sức làm chứng cho Chúa. Làm chứng một cách nhẹ nhàng tế nhị, nhưng với nhiều thực chất.
Tình hình xã hội văn hoá sẽ còn nhiều biến chuyển. Những biến chuyển đó sẽ là những thách đố lớn. Ta cần nhiều sáng kiến về cách làm chứng cho Chúa. Theo thiển ý của tôi, những cảm nghiệm sống động của mỗi người chúng ta về đức tin có thể sẽ là những sáng kiến đáng kể. Chúng cũng sẽ đưa lại cho ta niềm an ủi, và sự bình an trên đường phục vụ con người và làm sáng danh Chúa.
Long Xuyên, ngày 4 tháng 8 năm 2004

 

Bùi-Tuần 1633: Thách Ðố Mới Trên Ðường Truyền Giáo

Truyền giáo là một thao thức lớn của tôi. Thao thức này giống như một tiếng gọi âm thầm mà Bùi-Tuần 1633

Truyền giáo là một thao thức lớn của tôi. Thao thức này giống như một tiếng gọi âm thầm mà tha thiết.
Tôi đã trả lời tiếng gọi ấy bằng nhiều cách. Bất cứ cách nào, tôi cũng thực hiện cùng với Hội Thánh địa phương.
Hội Thánh địa phương của tôi đã đi qua nhiều chặng, trên đường truyền giáo.
Nhìn lại, tôi thấy có chặng ít khó khăn, có chặng chồng chất thách đố và cản trở.

Chặng hiện nay thế nào?
Tôi thấy khác những chặng đã qua về nhiều điểm.
Ở đây, tôi chỉ xin phép nêu lên vài khác biệt, mà tôi nhận ra trong xu hướng của con người thời nay có liên quan tới tôn giáo. Do đó việc truyền giáo bị ảnh hưởng nhiều. Những xu hướng này không phát sinh đồng loạt đều khắp. Nhưng đã có những dấu chỉ, đủ để cảnh báo.

 1/ Xu hướng đòi tính hợp lý
Trước đây, bề trên trong đạo dạy điều gì, thì bề dưới vâng theo một cách ngoan ngoãn. Lý do vâng theo là vì bề trên đã dạy.
Còn nay, bề trên trong đạo dạy điều gì, thì bề dưới không dễ dàng vâng theo. Họ đòi tính hợp lý.
Trước hết tính hợp lý về bản thân người dạy. Người ta tin bề trên đó vì bề trên đó có thực chất đời tu, có thực chất về trình độ đào tạo đạo đời, có thực chất về sự đổi mới bản thân, đúng danh người môn đệ Chúa. Chứ không tin chỉ vì ngài mang chức, mang quyền, mang phẩm phục. Nhưng những thực chất mà người ta đòi, nhiều khi lại dựa vào quan niệm chủ quan của họ.
Nhất là họ tin ngài, vì ngài dạy điều đạo đức ngài vốn sống. Chứ không dạy điều mà chính ngài không giữ.
Rồi điều dạy cũng phải có tính hợp lý. Tất nhiên, trong lãnh vực tôn giáo, lý lẽ tự nhiên không luôn là động lực chính. Nhưng không phải vì thế, mà tính hợp lý của khoa học hoặc triết học và xã hội học được hoàn toàn vắng mặt. Ðặc biệt là trong lãnh vực tổ chức, xây cất, đối xử, sắp xếp. Riêng trong thống kê và thông tin, sự không chính xác là một bất hợp lý tai hại.
Tôi quen một nhà khoa học Công giáo, người Thuỵ Sĩ, thành viên của Hàn lâm viện Toà Thánh. Trong một gặp gỡ, ông chia sẻ cho tôi cái nhìn của ông về những gì, mà dân gian vội cho là phép lạ. Ông rất tin Chúa, ông tin có phép lạ. Nhưng ông rất dè dặt xem xét, khi làm những hồ sơ mà Toà Thánh trao cho ông góp ý, kiểm tra các sự lạ về mặt khoa học.
Trên đường truyền giáo, tôi cũng đã thấy tính hợp lý nhiều khi bị nhiều người lợi dụng hoặc hiểu một cách méo mó, để làm khó và cản ngăn việc truyền giáo.
Tuy nhiên, xu hướng đòi tính hợp lý đang phát triển mạnh, ngay trong nội bộ các cộng đoàn tín hữu trước đây dễ tính.

 2/ Xu hướng tự chủ cá nhân
Trước đây, khi đề cập đến ý nghĩa cuộc đời và hướng đi cuộc đời, tôi thấy cộng đoàn gia đình, cộng đoàn giáo xứ, cộng đoàn nhà tu vẫn giữ được uy tín lớn. Cộng đoàn nghĩ sao, cá nhân theo như vậy.
Nhưng nay, tại nhiều nơi, tình hình đã đổi khác. Nhiều cá nhân xem ra tự chọn cho mình ý nghĩa đời mình, hướng đi đời mình, hạnh phúc đời mình, bất chấp truyền thống của cộng đoàn.
Chung chung, nhiều cá nhân không dễ dàng chịu sự áp đặt của cộng đồng. Họ tự chọn và tự nhận lấy trách nhiệm.
Sự hiệp nhất trước đây quen được hiểu như một khối do nhiều người cùng nghĩ như nhau, cùng làm như nhau. Nhưng nay, sự đồng loạt như thế bị coi như một cản trở của sự phát triển sáng tạo. Hiệp nhất nay được hiểu là yêu thương, kính trọng nhau trong những khác biệt. Chứ không là xoá bỏ những giá trị riêng của nhau.
Tuy nhiên, tôi thấy xu hướng tự chủ cá nhân cũng là một điều dễ bị lạm dụng trong đạo đức, trong tôn giáo. Nếu nó không được hướng dẫn bởi ơn Chúa Thánh Thần, xu hướng này sẽ tạo ra một tình hình xáo trộn. Thực tế cho thấy nhiều nơi đang xảy ra những xáo trộn giữa thiện và ác. Tình hình đạo xấu đi một cách trầm trọng.
Sự kiện này làm tôi nhớ lại lời Chúa Giêsu phán xưa: “Sẽ đến giờ, người ta giết các con, mà cho rằng việc ác đó là việc thờ phượng Thiên Chúa” (Ga 16,2-3).

 3/ Xu hướng dửng dưng
Trước đây, tôi thấy hễ sự gì thuộc về đạo Chúa, Hội Thánh Chúa, thì hầu như mọi người tín hữu đều quan tâm.
Nhưng nay thì khác. Phần khá đông chỉ quan tâm đến những gì có liên quan đến cuộc sống của riêng mình, kể cả những gì về tôn giáo. Cuộc sống của mình mới là cái gì được họ quan tâm nhiều nhất. Mà cuộc sống hôm nay càng ngày càng đẻ ra các thứ nhu cầu. Lo để đáp ứng một số nhu cầu thiết yếu cũng đã đủ mệt.
Tôn giáo tuy vẫn được coi là một nhu cầu của cuộc sống. Nhưng đối với nhiều người, nhu cầu đó có thể bị để ở một vị trí thấp. Họ dửng dưng không phải đối với mọi việc tôn giáo. Nhưng họ chỉ dành sự quan tâm của họ cho một số việc tôn giáo, mà họ coi là còn cần cho cuộc sống họ, hoặc về mặt tâm linh, hoặc về mặt xã hội.
Xu hướng dửng dưng này đang dâng cao ở nhiều nơi. Nhất là tại những nơi, mà nếp sống hưởng thụ tràn vào các não trạng, hướng dẫn các lựa chọn của con người.
Ba xu hướng trên đây đang làm lung lay đức tin nơi nhiều người có đạo.

Ba xu hướng này cũng đang phát triển mạnh nơi những người ngoài Công giáo. Việc truyền giáo càng trở nên khó khăn, khi nền văn minh vật chất tăng tốc với nhiều hấp dẫn.
***
Trên đây là những thách đố mới do nền văn minh hiện thời gây nên. Trước những thách đố này, người truyền giáo phải mang thực chất Tin Mừng.
Hơn bao giờ hết, người truyền giáo ý thức về vai trò của ơn thánh. Ơn thánh qua việc gắn bó với Chúa. “Không có Thầy, chúng con không làm gì được” (Ga 15,5).
Tin là thực sự gắn bó với Chúa. Gắn bó tuyệt đối. Gắn bó vô điều kiện.
Như đức tin của Abraham. “Này con đây, lạy Chúa” (St 22,1).
Như đức tin của Môsê: “Lạy Chúa, con đây” (Xh 3,4).
Như đức tin của Samuel: “Con đây, lạy Chúa” (1 Sm 3,4-10).
Như đức tin của Ðức Mẹ Maria: “Này con là nữ tỳ của Chúa, con xin vâng” (Lc 1,38).
Khởi đi từ sự gắn bó với Chúa, người truyền giáo hôm nay, với thái độ khiêm nhường trông cậy, sẽ dần dần được Chúa hướng dẫn. Họ sẽ thấy phải làm gì thêm trên đường rao giảng Tin Mừng tại Ðất Nước thân yêu này.
Long Xuyên, ngày 13 tháng 8 năm 2004

 

Bùi-Tuần 1634: Xáo Trộn

Ngày 11 tháng 9 năm 2001, tháp đôi Manhattan tại Trung tâm thương mại bên Hoa Kỳ bị phá Bùi-Tuần 1634

Ngày 11 tháng 9 năm 2001, tháp đôi Manhattan tại Trung tâm thương mại bên Hoa Kỳ bị phá.
Sự kiện khủng khiếp này gây nên nhiều hậu quả đáng buồn. Tôi chỉ cảm được chung chung những nỗi buồn lo ấy.
Ðến khi đọc một cuốn sách tiếng Pháp mới xuất bản, tôi giật mình về một hậu quả không những đáng buồn, mà còn đáng sợ. Sách mang tựa đề: “Ðối thoại với thiên thần bổn mạng của tôi”. Tác giả là Henri Tisot. Theo tác giả kể, thì thiên thần bổn mạng của ông đã nói với ông về nhiều vấn đề. Trong đó có biến cố ngày 11 tháng 9 năm 2001.
Tất nhiên nội dung đối thoại này là chuyện riêng tư. Toà Thánh không có ý kiến gì. Nhưng nếu chúng ta biết, thì cũng không phải một hiểu biết dư thừa.
Ở đây, tôi chỉ xin rút ra đôi chút.
 Trùng hợp
Thiên thần bổn mạng của ông Tisot cho ông hay: Một hậu quả quan trọng của biến cố 11 tháng 9 năm 2001 có thể đọc thấy trong Kinh Thánh, quyển Sáng Thế, đoạn 11 câu 9.
Những con số 11.9 về hai biến cố rất xa nhau lại trùng nhau.
Tôi mở Sáng Thế, đoạn 11 câu 9, thì đọc thấy những lời Kinh Thánh như sau:
“Bởi vậy, người ta đặt tên cho thành ấy là Baben. Vì tại đó, Ðức Chúa đã làm xáo trộn tiếng nói của mọi người trên mặt đất. Và cũng tại đó, Ðức Chúa đã phân tán họ ra khắp nơi trên mặt đất” (St 11,9).
Trước mấy dòng trên đây, Sáng Thế kể lại chuyện người ta thời bấy giờ tập trung ở Sina. Họ đổ công sức, xây một thành phố và một tháp có đỉnh cao chọc trời. Ý đồ của họ là muốn lưu danh tiếng mình lại lẫy lừng đến muôn đời (x. St 11,4).
Như vậy, theo chỉ dẫn của thiên thần, tháp Baben xưa bị sụp đổ đã gây hậu quả là làm xáo trộn và phân tán. Nay tháp đôi kia bị phá đổ cũng gây nên hậu quả như thế.
Tôi để ý đến Xáo trộn và thấy đúng. Hiện tượng đó đang xảy ra ở nhiều lãnh vực tại nhiều nơi. Chẳng hạn như:

 Hiện tình
Nhiều an ninh bị xáo trộn.
Nhiều trật tự bị xáo trộn.
Nhiều sự thực bị xáo trộn.
Nhiều giá trị bị xáo trộn.
Nhiều gia đình và cộng đoàn bị xáo trộn.
Ở đây, tôi chú tâm đến lãnh vực đạo đức. Tôi thấy đó đây đang bắt đầu có những dấu chỉ của sự xáo trộn đạo đức:

1/ Xáo trộn ở chỗ tìm rập theo thói thế gian hơn tìm thực thi ý Chúa.
Thánh Phaolô khuyên: “Anh em đừng có rập theo thói đời này, nhưng hãy cải biến con người anh em bằng cách đổi mới tâm hồn, hầu có thể nhận ra đâu là ý Thiên Chúa: Cái gì là tốt, cái gì đẹp lòng Chúa, cái gì hoàn hảo” (Rm 12,2).
Lời khuyên trên đây vốn được một số người tín hữu thực hiện, nhưng cũng đang bị một số tín hữu bỏ ngoài tai. Ðiều đáng buồn đó đang trở nên bình thường.
Trong một đất nước mở ra, nhiều trào lưu mới xuất hiện. Những trào lưu mới này vừa có cái tốt, vừa có cái xấu. Cái xấu cái tốt xáo trộn vào nhau. Người sống Phúc Âm thực sự biết phân biệt trong chọn lựa khôn ngoan dưới ánh sáng Phúc Âm. Còn người sống hời hợt hễ thấy người ta sao thì mình cũng muốn vậy, yêu theo thế gian, ghét theo thế gian. Ðối với họ, sự rập theo thói thế gian được coi là hợp thời. Ðôi khi còn cho là làm sáng danh đạo Chúa, có sức truyền giáo.
Thứ đạo đức “theo thói thế gian” đang được viết ra trong vài sinh hoạt tôn giáo nặng nề hình thức phô trương, lợi dụng danh Chúa để kiếm lợi cho cái tôi của mình.
Thực là xáo trộn!

2/ Xáo trộn ở chỗ chạy theo tiền của hơn tìm đến người nghèo.
Sách Thánh nói về Chúa Giêsu: “Thần Khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu cho tôi, sai tôi đi rao giảng Tin Mừng cho người nghèo khó” (Lc 4,18).
Lời Kinh Thánh trên cũng được áp dụng cho Hội Thánh nói chung và cho các người truyền giáo của Hội Thánh nói riêng.
Nhiều nơi, nhiều người vẫn sống theo tinh thần Lời Chúa đó. Không để nơi mình ở, và chính bản thân mình trở thành hình ảnh một Hội Thánh giàu có, chạy theo người giàu sang, đang khi người nghèo chỉ được đoái nhìn đến một cách miễn cưỡng, theo công thức.
Họ sợ cảnh xáo trộn, vì người của Hội Thánh Chúa bị sai khiến bởi tiền bạc, danh vọng.
Nhưng trên thực tế, những cái mà họ lo xáo trộn như vậy cũng đã xảy ra, nơi này nơi nọ, với một mức độ khác nhau.
Thực có xáo trộn.

3/ Xáo trộn ở chỗ làm điều ác nhân danh Chúa.
Chúa Giêsu nói với các môn đệ của Người rằng: “Sẽ đến giờ, kẻ nào giết anh em cũng tưởng đó là phụng thờ Thiên Chúa” (Ga 16,2).
Tôi có cảm tưởng là giờ đó đã đến cho nơi này nơi nọ. Có nơi bị chia rẽ trầm trọng. Bên phá cũng phá nhân danh Thiên Chúa. Họ tưởng việc mình trừ khử bên kia là một việc thờ phượng Chúa.
Cũng do xáo trộn.
Xáo trộn ở chỗ cắt nghĩa sai Lời Chúa.
Xáo trộn ở chỗ hiểu sai thánh ý Chúa.
Xáo trộn ở chỗ lòng mình không có Thánh Thần của Ðức Kitô.
Xáo trộn ở chỗ mình biết ít mà ảo tưởng mình biết sâu hiểu rộng.
Xáo trộn ở chỗ họ không có đức tin đích thực.
Phải chăng đó là tình hình Chúa Giêsu muốn ám chỉ, khi Ngài than thở một lời bi quan: “Khi Con Người trở lại, liệu Ngài còn thấy đức tin trên mặt đất này không?” (Lc 18,8). Tôi nghĩ trên mặt đất sẽ còn nhiều người tin, nhưng niềm tin của họ không là đức tin đích thực.

 Hiểm nguy và hy vọng
Cảnh xáo trộn mà tôi sợ nhất chính là cảnh xáo trộn trong lòng con người. Bề ngoài coi như bình an, ổn định. Nhưng bên trong lại đầy dẫy những xáo trộn. Những xáo trộn này giống như những làn sóng ngầm. Lúc nào đó bất ngờ, chúng sẽ dâng trào thành hỗn loạn.
Ngày 11 tháng 9 năm 2001 là một bi kịch. Nó chỉ là khởi đầu cho một tình hình. Nhiều xáo trộn sau đó không dính dáng gì đến ngày buồn thảm kia. Nhưng dù phát xuất từ đâu, các thứ xáo trộn đã đang và sẽ không là những cánh nhạn báo tin về một mùa Xuân đang tới. Ðừng kể trường hợp chúng ta biết sám hối đón nhận Chúa, Ðấng giàu lòng thương xót, đang tìm chúng ta. Chúa là nguồn bình an. Chính Người là hy vọng cho những ai muốn phấn đấu, vượt qua các thứ xáo trộn, để tìm bình an đích thực.
Long Xuyên, ngày 19 tháng 8 năm 2004

 

Bùi-Tuần 1635: Chỗ Của Tôi

Chỗ của tôi là nơi tôi đứng, tôi ngồi, tôi nằm. Dù đứng trong phẩm phục, dù ngồi giữa cộng đoàn Bùi-Tuần 1635

Chỗ của tôi là nơi tôi đứng, tôi ngồi, tôi nằm. Dù đứng trong phẩm phục, dù ngồi giữa cộng đoàn, dù nằm liệt trên giường, tôi vẫn có chỗ riêng của tôi.
Chỗ riêng của tôi không là một địa vị, một không gian, nhưng là một vị trí trước mặt Thiên Chúa.
Chỗ riêng đó của tôi là chỗ dành cho kẻ tội lỗi, giữa những người tội lỗi, yếu hèn.

 Tôi thú nhận
Tôi nhận cho mình chỗ kẻ tội lỗi, khi tôi đọc kinh Cáo Mình. “Tôi thú nhận cùng Thiên Chúa toàn năng và cùng anh chị em: Tôi đã phạm tội nhiều trong tư tưởng, lời nói, việc làm và những điều thiếu sót. Lỗi tại tôi, lỗi tại tôi, lỗi tại tôi mọi đàng".
Tôi đọc những lời trên đây với hết lòng chân thành. Nếu chỗ của tôi là trong vực thẳm dành cho những kẻ tội lỗi, thì tôi không ngại nhận chỗ nào sâu nhất. Nếu chỗ của tôi là trong hàng ngũ dài vô kể những người tội lỗi, thì tôi không lạ, khi phải đứng chỗ sau cùng.
Tôi nhận mình là kẻ tội lỗi, trong tâm tình sám hối của Vua David xưa:
“Vâng, con biết tội mình đã phạm, lỗi lầm cứ ám ảnh ngày đêm.
Con đắc tội với Chúa, với một mình Chúa, dám làm điều dữ trước mắt Ngài” (Tv 50,5-6).
Dám làm điều dữ trước mắt Chúa, đó là một sự thực của tôi. Nhưng tôi không tỉ mỉ kể ra trước Chúa đủ mọi điều xấu đó. Tôi nghĩ Chúa không muốn như vậy. Trong sám hối, tôi thường để ý nhất đến điều này là: Không tỉnh thức và chiến đấu nội tâm đủ, để đón nhận Thánh Thần của Ðức Kitô và sống theo Thánh Thần của Người.
Tôi xác tín rằng: Cả những khi làm những việc rất đạo đức, tinh thần thế tục do xác thịt, thế gian, ma quỷ vẫn có thể lẻn vào, để biến chất chúng.
Thậm chí, mọi việc cầu nguyện cũng đều cần được Thánh Thần Ðức Kitô hướng dẫn. Nếu không, chúng ta có thể sẽ cầu nguyện những gì nghịch ý Chúa. Thánh Phaolô khuyên: “Có Thánh Thần giúp đỡ chúng ta là những kẻ yếu đuối, vì chúng ta không biết cầu nguyện thế nào cho phải. Nhưng chính Thánh Thần cầu thay nguyện giúp chúng ta bằng những tiếng rên xiết khôn tả. Và Thiên Chúa, Ðấng thấu suốt tâm can, biết Thánh Thần muốn nói gì, vì Thánh Thần cầu thay nguyện giúp cho các thánh theo đúng ý Thiên Chúa” (Rm 8,26-27).
Biết vai trò của Thánh Thần Ðức Kitô quan trọng là thế trong đời sống, tôi thường lo mình đã có nhiều lầm lỗi trong việc cộng tác vào sự hướng dẫn của Người. Tôi sám hối cũng nhờ vào ơn Thánh Thần của Người.
Theo hướng dẫn đó, sám hối của tôi không dừng lâu ở sự xét mình. Trái lại tôi nhẹ nhàng đưa lòng trí lên Thiên Chúa giàu lòng thương xót.

 Tôi tin cậy
Tôi xin Chúa thứ tha mọi lỗi lầm. Thứ tha của Chúa không chỉ là tha tội, xoá bỏ lỗi lầm, mà còn ban thêm nhiều ơn khác. Thí dụ:
Ơn khác là rửa hồn tôi. Như thánh vương David nguyện cầu: “Xin rửa con cho sạch, con sẽ trắng hơn tuyết” (Tv 50,9).
Ơn khác còn là tạo cho tôi một tấm lòng mới mẻ: “Lạy Chúa Trời, xin tạo cho con một tấm lòng trong trắng, đổi mới tinh thần, cho con nên chung thuỷ” (Tv 50,12).
Ơn khác nữa sẽ là niềm vui được cứu độ: “Xin ban cho con niềm vui vì được Chúa cứu độ, và lấy tinh thần quảng đại đỡ nâng con” (Tv 50,19).
Với những ơn trên như thế, tôi cảm thấy bình an trong chỗ của tôi. Và, cùng với tâm tình vua David, tôi thỏ thẻ với Chúa:
“Lạy Chúa Trời, xin mở miệng con,
Cho con cất tiếng ngợi khen Ngài” (Tv 50,17).
Tôi ngợi khen Chúa, vì với tuổi già, yếu đuối, đau đớn, bệnh nạn, tôi càng nhìn rõ tình thương cứu độ của Chúa. Người ban cho tôi biết nhận ra đúng chỗ của tôi.

 Xin khẩn cầu cho tôi
Mới rồi, trong thánh lễ kính Ðức Mẹ Nữ Vương Hoà Bình, Bổn Mạng Nhà thờ Chánh Toà Long Xuyên, 22/8/2004, tôi được mời giảng.
Lễ xong, tôi ra về trong tay một người dắt. Giữa đám đông, một bà bỗng chặn tôi lại, nhìn tôi từ chân lên đầu và nói: “Sao Ðức Cha bây giờ già quá vậy”. Bà khác thêm: “Lụm khụm rồi, tội nghiệp”. Tôi cúi chào các bà, rồi tiếp tục đi, mệt mỏi.
Tới xe, một bà khác sát lại, nhỏ nhẹ nói: “Ðức Cha bệnh, nhưng xin Chúa cho Ðức Cha sống mãi, để Ðức Cha giảng cho chúng con nghe”. Tôi nhìn bà, cảm ơn và lên xe.
Tôi âm thầm đón nhận những lời chân thành và những tấm lòng đơn sơ. Ðúng là trong cái nhìn của mỗi người, chỗ của tôi đã rất xuống ở một góc độ nào đó.
Tôi nhớ lại một lời trong Kinh Cáo Mình để thầm nói với mọi người: “Xin khẩn cầu cho tôi trước toà Thiên Chúa, Chúa chúng ta”.
Tôi khẩn cầu với Hội Thánh trên trời, với Hội Thánh dưới đất, với Hội Thánh trong luyện ngục.
Càng ngày tôi càng xác tín: tôi rất cần được đỡ nâng.
Thánh Phaolô viết: “Bổn phận của chúng ta, những người có đức tin vững mạnh, là phải nâng đỡ những người yếu đuối” (Rm 15,1).
“Anh em hãy đón nhận nhau, như Ðức Kitô đã đón nhận anh em, để làm rạng danh Thiên Chúa” (Rm 15,17).
Nâng đỡ và đón nhận những người yếu đuối, cho dù họ ở chỗ nào, đó là hy vọng tha thiết của tôi. Tôi cảm nhận rõ điều đó, khi tôi hiệp thông với mọi thứ người yếu đuối: Yếu đuối về thể xác, yếu đuối về tâm lý, yếu đuối về khả năng phục vụ, yếu đuối về đàng thiêng liêng.
Ðể kết, tôi mượn lời thánh vương David: “Từ vực thẳm, con kêu lên Chúa. Xin Chúa nghe tiếng con. Dám xin Chúa lắng tai để ý. Nghe lời con tha thiết nguyện cầu” (Tv 130,1).

Tôi nguyện cầu:
Ở đáy vực thẳm, con vẫn nhìn lên Cha. Từ chỗ ấy, con vẫn ca tụng lòng thương xót Cha là Ðấng cứu độ con. Con tin một ngày nào đó, Cha sẽ đưa con vào một chỗ trên Nhà Cha. Chỗ ấy chắc cũng là chỗ bé nhỏ nhất. Dù ở chỗ nào trong Nhà Cha, con sẽ mãi được kêu lên “Ab-ba! Cha ơi” (Rm 8,15). Và như thế là hạnh phúc cho con rồi.
Long Xuyên, ngày 30 tháng 8 năm 2004

 

Bùi-Tuần 1636: Sau Một Năm Hưu

Ngày chịu chức linh mục (02/7/1955) tôi đã lo sợ hơn là vui mừng. Sau đó tôi không dâng lễ Bùi-Tuần 1636

Ngày chịu chức linh mục (02/7/1955) tôi đã lo sợ hơn là vui mừng. Sau đó tôi không dâng lễ Tạ ơn, mà chỉ dâng thánh lễ cầu khẩn xin ơn bền đỗ.
Ngày chịu chức Giám mục (30/4/1975), tôi đã sợ hãi và rất cô đơn. Sau đó tôi không dâng lễ Tạ ơn, mà chỉ dâng thánh lễ với dâng chính mình làm của lễ.
Ngày được về hưu (02/9/2003), tôi thực sự sung sướng. Tôi đã dâng thánh lễ Tạ ơn với tâm hồn nhẹ nhõm, hân hoan.
Hoàn cảnh mỗi người mỗi khác.
Hôm nay, sau một năm được hưu, tôi xin được phép chia sẻ đôi chút tâm tình:
 Một sự đồng cảm đầy yêu thương
Trong thư báo tin Ðức Thánh Cha chấp thuận đơn xin về hưu của tôi, Ðức Hồng Y Sepe, Bộ Trưởng Bộ Phúc Âm hoá các dân tộc đã viết: “Sau khi chú tâm xem xét những gì Ðức Cha trình bày với Ðức Thánh Cha về sức khoẻ của Ðức Cha và về khả năng của Ðức Cha Giuse Trần Xuân Tiếu, Giám mục phó của Ðức Cha, Ðức Thánh Cha đã chấp thuận lời thỉnh cầu của Ðức Cha”.
Tôi coi sự chấp thuận của Ðức Thánh Cha là một sự đồng cảm đây yêu thương và rất khôn ngoan. Bởi lẽ nó hợp lý hợp tình. Mỗi thời có những đặc điểm riêng.
Từ lâu, tôi đã thấy, lịch sử càng ngày càng bước vào giai đoạn mới.
Giai đoạn của những biến chuyển.
Giai đoạn của những di chuyển.
Giai đoạn của những chuyển đổi.
Giai đoạn của những chuyển rời.
Hơn nữa, sẽ đến giai đoạn có những bất ngờ và những bùng nổ.
Vì thế, cũng đã từ lâu, tôi nghĩ việc ưu tiên của người lãnh đạo là phải tiên liệu một thế hệ kế thừa.
Thế hệ kế thừa này vừa mang một tiềm thức về chặng đường lịch sử đã qua, vừa ý thức được những gì đang xảy tới. Tỉnh táo, nắm bắt, sáng tạo, mà không đứt đoạn với những giá trị truyền thống đạo đời.
Mơ ước đó của tôi đã được Chúa cho thực hiện kịp thời.
Ðó cũng do ơn kính sợ Thiên Chúa. Ðể tôi trả lẽ với Chúa về những sứ mạng Chúa trao.
Nhất là khi sức khoẻ của tôi càng ngày càng xuống. Thiện chí không thay thế được khả năng phục vụ.
 Chỉ thay đổi mục vụ
Thư Toà Thánh cho phép về hưu đã nhấn mạnh: “Ðức Cha rất thân mến, tôi luôn cầu nguyện để Ðức Cha cảm thấy rõ ràng rằng: Sứ vụ mục tử của Ðức Cha không phải đã chấm dứt, nhưng chỉ thay đổi. Giáo Hội truyền giáo có thể hưởng nhờ những phẩm chất mục tử cao quý của Ðức Cha. Giáo Hội ấy chắc chắn vẫn tiếp tục tin cậy vào Ðức Cha, tuy theo một cách khác, để theo đuổi việc phục vụ Tin Mừng, mà Ðức Cha đã cống hiến với biết bao nhiệt tình”.
Những lời dặn dò trên đây của Toà Thánh đã vạch cho tôi một hướng sống trong cảnh về hưu.
Theo đó, tuy hưu, tôi vẫn làm mục vụ, với một cách khác.
Với tôi, cách khác của mục vụ đó vẫn là bắt chước thánh Gioan Baotixita. Ðó là giữ vai trò “Tiếng kêu trong hoang địa, dọn đường cho Ðấng Cứu thế” (Ga 1,23).
Dọn đường bằng cách rao giảng “Sự sám hối” (Mt 3,1) và giới thiệu Chúa Giêsu là Chiên Thiên Chúa, Ðấng xoá tội trần gian (Ga 1,29).
Tôi làm những việc trên đây trong tinh thần hiệp thông với Hội Ðồng Giám mục Việt Nam, nhất là với Ðức Giám mục giáo phận của tôi và linh mục đoàn.
Ngoài ra, cách khác của mục vụ mà tôi tha thiết thực hành trong những tháng ngày hưu còn là hết sức cầu nguyện cho các mục tử. Ðừng bao giờ và đừng nơi nào phải nghe lời khiển trách nghiêm khắc của Chúa về một tình hình mục tử như đã xảy ra ở một thời trên đất Israel xưa. Xin trích nguyên văn:
“Có lời Ðức Chúa phán với tôi rằng: Hỡi con người, hãy tuyên sấm hạch tội các mục tử chăn dắt Israel, hãy tuyên sấm. Hãy nói với chúng, với các mục tử đó: Ðức Chúa là Chúa Thượng phán thế này: Khốn cho các mục tử Israel, những kẻ chỉ biết lo cho mình! Nào mục tử không phải chăn dắt đàn chiên sao? Sữa các ngươi uống, len các ngươi mặc, chiên béo tốt thì các ngươi giết, còn đàn chiên lại không lo chăn dắt. Chiên đau yếu, các ngươi không làm cho mạnh; chiên bệnh tật, các ngươi không chữa cho lành; chiên bị thương, các ngươi không băng bó; chiên đi lạc, các ngươi không đưa về; chiên bị mất, các ngươi không chịu đi tìm. Các ngươi thống trị chúng một cách tàn bạo và hà khắc. Chiên của Ta tán loạn vì thiếu mục tử và biến thành mồi cho mọi dã thú, chúng tán loạn. Chiên của Ta tản mác trên các ngọn núi, trên mọi đỉnh đồi. Chiên của Ta tản mác trên khắp mặt đất, thế mà chẳng ai chăm sóc, chẳng ai kiếm tìm” (Ed 34,1-6).
Tôi suy gẫm đoạn Kinh Thánh trên đây mà lo sợ cho chính mình trước hết và nhiều nhất. Lo sợ, để rồi thêm sám hối và thêm tỉnh thức. Về hưu, mà cũng còn phạm bao lỗi lầm mục vụ. Còn hoi hóp sống, tôi vẫn còn khả năng phạm tội.
 Cầu nguyện cho Giáo Hội
Cuối thư báo tin hưu, Toà Thánh đã đưa ra một lời mời gọi:
“Như Môsê cầu nguyện trên đỉnh núi trong khi Giôsuê chiến đấu với quân Amalếch (x. Xh 17,10-13), Ðức Cha được mời gọi chuyển cầu cho Giáo Hội, trong khi Giáo Hội loan báo Tin Mừng của Ðức Kitô, Con Thiên Chúa và là Ðấng Cứu Ðộ duy nhất của trần gian”.
Việc cầu nguyện cho Giáo Hội là việc tôi vẫn làm từ xưa. Nay việc đó được làm một cách đặc biệt hơn, khi tôi đã về hưu.
Cầu nguyện của người về hưu như hoàn cảnh của tôi có thể khác cầu nguyện của nhiều người. Ðối với tôi, lúc này, cầu nguyện thường đi đôi với những đớn đau. Tôi khởi đầu từ việc xin ơn Chúa Thánh Thần. Xin Ngài cầu nguyện trong tôi để tôi cầu nguyện sao cho hợp thánh ý Chúa.
Liền đó, cầu nguyện cho Giáo Hội thường là cầu cho Giáo Hội được loan báo Tin Mừng bằng đời sống chứng tá, bằng sự hiện diện toả Tám mối phúc, bằng những việc phục vụ hiền lành và khiêm tốn, bằng yêu thương chân thành với hy sinh tận tuỵ...
Nhất là cầu cho Giáo Hội là dân Thiên Chúa mỗi ngày mỗi biết trở về Chúa giàu tình yêu thương xót. Mỗi người con Chúa hãy thực sự đón nhận ơn đổi mới chính mình, để rồi biết kể lại cho người khác ơn đổi mới ấy cho người khác.
***
Chia sẻ vắn tắt và chân thành trên đây của tôi có tính cách như một bài ca tạ ơn Chúa, cảm ơn Toà Thánh và biết ơn mọi người đã nâng đỡ tôi.
Một năm hưu như thế là một hành trình không nghỉ, nhưng vẫn là một chuỗi dài những bước nhỏ. Bước mà được đỡ nâng. Nhưng rồi cũng tới ngày, dù được đỡ nâng, tôi cũng không còn bước thêm được bước nhỏ nào nữa. Hy vọng tôi cùng với bao người, sẽ được Chúa đưa về Nhà Cha chung là nguồn hạnh phúc trường sinh muôn đời.
Long Xuyên, ngày 12 tháng 9 năm 2004

 

Bùi-Tuần 1637: Tháng Mân Côi

Và Việc Tái Truyền Giáo Chính Mình
 

Tháng Mười quen được gọi là Tháng Ðức Mẹ Mân Côi. Trong tháng này, Giáo Hội, đâu đâu Bùi-Tuần 1637

Tháng Mười quen được gọi là Tháng Ðức Mẹ Mân Côi. Trong tháng này, Giáo Hội, đâu đâu cũng được nhắc nhở dâng lên Ðức Mẹ chuỗi kinh Mân Côi. Chuỗi kinh Mân côi ví như bó hoa hồng thiêng liêng hái từ vườn Phúc Âm.
Riêng tại Giáo Hội Việt Nam, tháng Mân Côi bao giờ cũng là một luồng gió đạo đức, thổi sức sống thiêng liêng vào từng gia đình, từng tâm hồn lớn nhỏ.
Năm nay là năm Truyền giáo, tháng Mân Côi nên được vận dụng cho việc truyền giáo. Theo thiển ý của tôi, việc truyền giáo nên luôn luôn khởi sự từ chính mình.
Việc tái truyền giáo chính mình có thể sẽ được thực hiện rất tốt nhờ chuỗi kinh Mân côi. Bởi vì chuỗi kinh Mân côi kể lại vắn tắt dung mạo Chúa Cứu thế và con đường Người đã đi.
Con đường đó cũng là con đường Ðức Mẹ đã đi, theo tinh thần “xin vâng”, để trở thành Ðấng đồng công cứu chuộc loài người. Riêng tôi, khi suy gẫm các mầu nhiệm trong chuỗi kinh Mân côi, tôi nhận ra việc tái truyền giáo chính mình tập trung vào ba điểm sau đây:

 1/ Nhìn rõ hơn những nét quan trọng của chân dung Chúa Cứu thế và con đường Người đi
Chân dung Chúa Cứu thế có những nét nổi bật, như: Khiêm nhường từ trời bước xuống, khiêm nhường mặc lấy thân phận kẻ nghèo hèn, vâng lời Chúa Cha trong mọi sự, yêu thương đến hy sinh mạng sống mình, khó nghèo từ sinh ra đến lúc chết.
Con đường Người đi cũng thế. Thánh Phaolô đã tóm tắt như sau:
“Ðức Giêsu Kitô, vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa. Nhưng Người đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế. Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên thập giá. Chính vì thế, Thiên Chúa đã siêu tôn Người” (Pl 2,6-9).
Con Thiên Chúa xuống thế làm người là như thế đó. Ðể gần gũi những người nghèo. Ðể chia sẻ thân phận những người khổ đau. Ðể làm chứng lòng Chúa thương xót chúng ta, và để chúng ta hiểu tội lỗi chúng ta được đền bằng một giá cao đến thế nào.
Tôi thấy một giáo lý đơn sơ thiết thực về Chúa Cứu thế như vậy thường dễ đánh động lòng chúng ta, giúp chúng ta gần lại Người hơn, và dễ đặt hy vọng vào Người hơn. Nhất là khi ta cảm thấy mình quá tội lỗi, yếu hèn, trên bờ vực thẳm.
Truyền giáo chủ yếu là truyền một lối đi gặp được Chúa tình thương, cứu độ. Nếu lối đi đó chẳng may là những lý thuyết cao vời, thì sẽ không hấp dẫn. Trái lại, một lối đi cụ thể là chân dung và cuộc sống của Con Chúa nhập thể như trên, dễ thương, dễ gần gũi, dễ đồng cảm với những khổ đau của con người, thì đó là lối đi hấp dẫn, nên chọn.
Trên thực tế, chính tôi đã thường xuyên tái truyền giáo chính mình bằng chọn con đường đó, qua chuỗi Mân côi.

 2/ Chỉnh đốn lại nếp sống chính mình sao cho càng ngày càng nên xứng là con Ðức Mẹ
Chúng ta truyền giáo bằng sách báo, bằng các lớp giáo lý, bằng các lễ nghi, bằng các cơ sở tôn giáo và hoạt động tôn giáo. Thực tế đó phải kể là cần. Nhưng cách truyền giáo hữu hiệu nhất là chính nếp sống đạo đức của ta nổi về yêu thương, khiêm nhường, phục vụ.
Nếp sống gồm nhiều thứ, như: Cách suy nghĩ, cách phán đoán, cách chọn lựa, cách đối xử, cách phản ứng, cách dùng thời giờ, cách dùng sức khoẻ và của cải, cách sử dụng địa vị, cách vận dụng vốn liếng trí thức, cách hiện diện, cách phục vụ, cách nói năng, cách ăn uống, cách giải trí, cách sống chung, cách giảng dạy vv...
Nếp sống của mỗi người, với các chi tiết như trên, rất cần phải được rèn luyện. Ðể rèn luyện nếp sống đó thành một bài Phúc Âm sống có sức giới thiệu Ðức Kitô, chúng ta rất có thể nhờ chuỗi Mân côi. Khi chúng ta sống bé nhỏ trong tình Mẹ. Tình Mẹ sẽ dẫn chúng ta bước đi từng bước nhỏ trên đường vâng phục thánh ý Chúa. Dần dần, ta sống trong Chúa, và Chúa sống trong ta.
Có thể nói: Nhờ vậy mà sắc đẹp của bông hồng thiêng sẽ nở trên môi miệng ta, trong ánh mắt của ta. Cũng nhờ vậy, mà hương thơm của hoa hồng thiêng sẽ toả ra trong tư tưởng của ta, trong tình cảm của ta. Bởi vì nhựa sống của hoa hồng thiêng chứa đầy trong trái tim ta, giúp ta cảm thương và xót thương. Nếp sống của ta sẽ dần dần trở nên giống phần nào Hoa Hồng mầu nhiệm, một tước hiệu thân thương của Ðức Mẹ ta vẫn đọc trong kinh cầu Ðức Mẹ.
Tôi thiết nghĩ, khi nếp sống của ta phảng phất sắc đẹp và hương thơm hoa hồng mầu nhiệm, thì dù ở đâu, nếp sống ấy cũng đã là truyền giáo.

 3/ Tăng cường cầu nguyện và hy sinh
Ðiểm sau cùng để tái truyền giáo chính mình học được trong việc lần chuỗi Mân côi là: Phải tăng cường cầu nguyện và hy sinh.
Nếu cần dựa trên tính cách cầu nguyện trong việc lần chuỗi Mân côi, thì tôi xin chia việc cầu nguyện đó ra ba loại:
Một là cầu nguyện mang tính cách tạ ơn. Như lời kinh Ðức Mẹ đã dâng lên Chúa tại nhà bà thánh Isave.
Hai là cầu nguyện mang tính cách phó thác. Như lời Ðức Mẹ đã nói với thiên thần ngày xảy ra biến cố truyền tin Con Thiên Chúa xuống thai làm người.
Ba là cầu nguyện mang tính cách đền tạ. Như thái độ đớn đau của Ðức Mẹ dưới chân thánh giá Chúa Giêsu. Trong việc cầu nguyện đền tạ bao giờ cũng có tâm tình sám hối sâu xa.
Ba loại cầu nguyện trên đây đều đi đôi với hy sinh. Cả ba rất cần cho việc tái truyền giáo chính mình chúng ta.
Trong một thời buổi mà tính hiếu động, biếng lười và hưởng thụ dễ làm cạn đời sống nội tâm, thì việc cầu nguyện và hy sinh phải được coi là rất cần. Nhất là đối với những nhà truyền giáo.
Xin phép nhắc lại: Truyền giáo không chủ yếu là truyền một giáo thuyết, nhưng là tặng cho người ta lối đi và những cái máng có khả năng truyền vào hồn họ dòng ơn thánh thiêng. Nhờ đó người ta mở lòng ra đón nhận được Chúa Cứu độ.
Chiếc máng hiệu nghiệm nhất chính là cầu nguyện kèm theo hy sinh.
Lần chuỗi Mân côi, ta sẽ thấy suốt chặng đường dài, từ ngày Mẹ được truyền tin đến ngày Mẹ lên trời, chỗ nào Mẹ cũng cầu nguyện hy sinh. Cầu nguyện hy sinh âm thầm. Cầu nguyện hy sinh liên lỉ. Truyền giáo cũng là con đường dài cầu nguyện hy sinh như thế.
***
Chúng ta đang bước vào một tình hình có nhiều bất lợi cho việc truyền giáo. Nhưng, nếu chúng ta biết tái truyền giáo chính mình nhờ kinh Mân côi, thì chúng ta có quyền lạc quan. Lạc quan, nhất là vì chúng ta được trở về với lửa Phúc Âm, rất khao khát Chúa và luôn thao thức được cùng với Chúa tìm chia sẻ tình thương và làm chứng cho tình thương cứu độ.
Long Xuyên, ngày 14 tháng 9 năm 2004

 

Bùi-Tuần 1638: Tháng 10 Và Fatima

Trong Giáo Hội Việt Nam, tháng 10 là tháng kính Ðức Mẹ cách đặc biệt. Ðặc biệt ở việc lần chuỗi Bùi-Tuần 1638

Trong Giáo Hội Việt Nam, tháng 10 là tháng kính Ðức Mẹ cách đặc biệt. Ðặc biệt ở việc lần chuỗi Mân Côi đều khắp. Ðặc biệt còn ở chỗ sốt sắng nhớ về biến cố Ðức Mẹ hiện ra ở Fatima.
Ðức Mẹ hiện ra ở Fatima nhiều lần. Lần hiện ra sau cùng là vào ngày 13 tháng 10 năm 1917.
Ở Fatima, Ðức Mẹ đã cho con cái Mẹ nhìn thấy một tình hình khủng khiếp. Nhưng đồng thời cũng đem lại cho đoàn con niềm hy vọng cứu rỗi. Những gì Ðức Mẹ nhắn nhủ ở Fatima chỉ là nhắc lại những điều căn bản của Phúc Âm. Toà Thánh đã công nhận biến cố Fatima.
Trước tình hình thế giới hiện nay có khả năng bùng nổ nhiều bất ổn bất ngờ, tôi thiết nghĩ sự nhắc lại sứ điệp Fatima là điều hữu ích, cần làm.
Những gì tôi nhắc lại dưới đây về biến cố Fatima đều được rút ra từ tài liệu chính thức phát hành ở Fatima. Ðó là tạp chí nói về hai Á thánh Phanxicô và Giaxinta, số mới nhất tháng 9/2004. Tất nhiên đây là những thông tin, không buộc phải tin, nhưng nên tiếp thu suy gẫm.

 Những cảnh khủng khiếp
Theo tiết lộ của Lucia được viết ra trên giấy, để nộp cho Giáo quyền và đã được Toà Thánh cho phép công bố năm 2000, thì Ðức Mẹ hiện ra tại Fatima đã cho ba trẻ thấy hai cảnh khủng khiếp này:
Một cảnh khủng khiếp xảy ra cho Hội Thánh ở thế gian này.
“Một Giám mục mặc y phục trắng (chúng con có cảm tưởng đó là Ðức Giáo Hoàng) tiếp theo là nhiều giám mục khác, nhiều linh mục, nhiều tu sĩ nam nữ, trèo lên một ngọn núi hiểm trở. Trên ngọn núi ấy có một cây thánh giá lớn coi vẻ như làm bằng cây gỗ sến còn nguyên vỏ. Trước khi tới được thánh giá, Ðức Thánh Cha phải đi qua một thành phố nửa hoang tàn, nửa hoảng sợ. Ngài bước đi thất thểu, mệt mỏi vì khổ đau buồn sầu. Ngài cầu nguyện cho những hồn người bỏ mạng nằm ngổn ngang trên đường. Khi tới đỉnh núi, Ngài quỳ xuống dưới cây thánh giá. Lập tức Ngài bị một đội lính bắn nhiều phát súng và cung tên vào Ngài.
Cùng chết như Ngài, là một số giám mục, linh mục, nam nữ tu sĩ và nhiều giáo dân, đàn ông, đàn bà thuộc nhiều tầng lớp khác nhau.
Dưới hai cánh thánh giá, có hai thiên thần, mỗi vị cầm một chén thuỷ tinh hứng lấy máu các vị tử đạo, và rảy xuống trên các linh hồn đang đến gần Chúa”.
Trên đây là một cảnh khủng khiếp có thể đã, đang và sẽ xảy ra chỗ này nơi nọ, dưới nhiều hình thức độc ác khác nhau, do những động lực không nhất thiết giống nhau.
Thêm vào cảnh khủng khiếp trên đây xảy ra trên cõi đời này, là cảnh khủng khiếp xảy ra trong cõi đời sau. Ðó là hoả ngục.
Trong thư Lucia viết cho Ðức Cha giáo phận của chị, theo lệnh của Ngài, chị trình rõ: Ba trẻ đã được Ðức Mẹ cho thấy cảnh hoả ngục.
“Chúng con thấy một biển lửa. Bị giữ trong đó là những quỷ và những hồn bọn bị kết án. Những hồn này hình người, màu đen. Họ lềnh bềnh trong biển lửa. Các ngọn lửa lúc tung họ lên, lúc ném họ xuống, giống như những tàn lửa giữa đám khói mù. Họ gào thét, rên xiết với những giọng đau đớn, thất vọng và sợ hãi...
Còn các quỷ thì mang hình những thú vật dữ tợn, ghê tởm, đen như những cục than lửa đỏ”.
Thời gian ba trẻ xem thấy cảnh hoả ngục chỉ rất vắn, nhưng ba trẻ đã quá sợ. Nếu thị kiến kéo dài thêm, chắc ba trẻ sẽ chết, vì không chịu nổi cảnh khủng khiếp như vậy.

 Những ngả đường để được cứu
Cùng với sự cho thấy những cảnh khủng khiếp, Ðức Mẹ cũng đã cho ba trẻ nhận ra những ngả đường được cứu khỏi những cảnh kinh khủng đó. Ðức Mẹ nhấn mạnh đến ba ngả đường:
- Một là sám hối, đền tội.
- Hai là tôn sùng trái tim vô nhiễm Ðức Mẹ.
- Ba là cầu nguyện bằng chuỗi Mân Côi.
Ở Fatima, Ðức Mẹ nói rất vắn về ba ngả đường trên.
Nhưng dần dần, sự thực hành đã được hướng dẫn. Thí dụ:
Khi sám hối, đền tội, con người cần ý thức về việc phạm tội của mình xúc phạm nặng nề đến Chúa và gây hại vô vàn cho chính mình. Cần dốc lòng sửa mình để đón nhận ơn tha thứ. Còn đền tạ thì không gì bằng thực thi bác ái hy sinh.
Khi tôn sùng trái tim vô nhiễm Ðức Mẹ, con người cần tựa nương vào tình khiêm tốn “xin vâng” của Mẹ, để phát triển mình theo đúng hướng đi lên những giá trị trong sáng.
Khi cầu nguyện bằng chuỗi Mân Côi, con người sẽ nhớ mình cần được Chúa Thánh Thần hướng dẫn, để được Chúa Giêsu và Ðức Mẹ đồng hành với mình. Và như thế, dù trên những chặng đường khó khăn nhất, họ tin tưởng có ngày sẽ qua được chặng đường thánh giá, để được Phục sinh với Chúa Giêsu, trở về Nhà Cha giàu tình yêu thương xót.
Càng thực hành những gì Ðức Mẹ dạy ở Fatima, người ta càng có cảm tưởng Ðức Mẹ rất gần gũi mình, dù mình bé mọn, tội lỗi. Một cảm tưởng rất mạnh và rất rõ họ cảm nhận được, đó là mình không thể dửng dưng, quay lưng hoặc chạy trốn Ðức Mẹ được.

 Kinh nghiệm riêng
Ðã từ lâu, nhưng nhất là từ mấy năm nay, khi tuổi tác và bệnh tật làm kiệt sức tôi về mọi phương tiện, tôi đã thực hành ba mệnh lệnh Fatima một cách vắn gọn. Tôi chỉ nhìn ảnh hoặc tượng Ðức Mẹ Trái Tim và cầu nguyện vắn tắt: “Xin Mẹ thương xót con. Xin Mẹ cầu bầu cho con, là kẻ có tội, khi nay và trong giờ lâm tử. Con không tự mình đứng dậy được. Con không tự mình bước đi được. Xin Mẹ thương dìu con trên đường thánh giá, để được Phục sinh với Chúa Giêsu”.
Thiết tưởng sự khẩn cầu như thế chính là sám hối, là mến yêu, là gắn bó, phó thác và vâng phục.
Sự van nài như thế sẽ cứ mãi được tiếp tục, nhất là trong hoàn cảnh bi đát. Có những lúc quá tối tăm mệt mỏi. Có những lúc bị cám dỗ thay thế việc nài xin khẩn cầu bằng những hoạt động theo ý riêng.
Vì thế chúng ta hãy khẩn cầu Mẹ cho chúng ta luôn biết khẩn cầu Mẹ. Nhất là khi chúng ta bị rơi vào guồng máy của nếp sống xa Phúc Âm, bị trói chặt vào vòng quay của nó, đồng thời nó lại tạo cho ta một ảo tưởng là mình đang được an toàn trong đạo đức.
Tình hình đang biến chuyển phức tạp. Xin Mẹ thương ban cho chúng ta ơn luôn biết khẩn cầu với Mẹ, biết luôn sống theo tinh thần sứ điệp mà Mẹ đã thương gởi đến từ Fatima. Thực ra Mẹ Fatima, một cách nào đó, đang ở bên ta.
Long Xuyên, ngày 20 tháng 9 năm 2004

 

Bùi-Tuần 1639: Hãy Khát Khao Ðức Kitô

Hôm nay (26/9/2004), nhân dịp Chúa nhật, có đông đảo giáo dân quy tụ, chúng ta mừng sớm lễ Bùi-Tuần 1639

Hôm nay (26/9/2004), nhân dịp Chúa nhật, có đông đảo giáo dân quy tụ, chúng ta mừng sớm lễ Bổn Mạng Ðức Cha Micae Nguyễn Khắc Ngữ, vị cha chung mến yêu của chúng ta.
Nhân dịp này, tôi xin chia sẻ vắn tắt hai điều:
- Các thiên thần là ai?
- Ðức Cha Micae muốn gì nơi chúng ta?

 1/ Các thiên thần là ai?
Thưa các thiên thần là những vị thần sáng ở gần Chúa. Các ngài bay đi, khi được Chúa sai đi. Các ngài được sai đi, để thi hành ý Chúa, như giữ trật tự, chuyển đạt ý Chúa, bảo vệ con người.
Vai trò của các thiên thần được nhắc đến nhiều lần trong Kinh Thánh. Ngay từ khởi thuỷ, Ðức Tổng Lãnh Micae đã lãnh đạo các thần lành đánh đuổi Lucife và các thần phản loạn. Ngay từ khởi đầu Phúc Âm, Ðức Tổng Lãnh Gabriel đã hiện đến truyền tin cho Ðức Mẹ.
Hiện nay, các đấng thiên thần vẫn được sai đến từng người, từng cộng đoàn. Sai đến vì mục đích nào?
Theo tôi nhận xét qua các giáo huấn Công đồng, qua các huấn dụ Toà Thánh, qua các phong trào tu đức mới, qua các lòng đạo của khắp nơi, thì một trong những mục đích lớn, mà các thiên thần đang thực hiện theo thánh ý Chúa, là kêu gọi mọi người hãy khát khao Ðức Giêsu Kitô, là Ðấng Cứu độ duy nhất.
Dù kêu gọi cách nào, các thiên thần hôm nay cũng đang nhấn mạnh đến lời Chúa Giêsu phán xưa:
“Ai khát, hãy đến với Ta. Ai tin Ta, hãy đến mà uống. Như Kinh Thánh nói: Từ lòng Người, sẽ tuôn chảy nước hằng sống” (Ga 7,38). Thánh Gioan cắt nghĩa: “Ðức Giêsu muốn nói về Thánh Thần, mà kẻ tin Người sẽ lãnh nhận” (Ga 7,39).
Tôi nghĩ rằng: Thời buổi này, quỷ dữ đang tìm mọi cách lôi cuốn người ta vào những cơn khát xấu xa mê hoặc, thiếu đạo đức, lợi dụng đạo đức, phản đạo đức. Ðể chống lại ác quỷ, Thiên Chúa giàu lòng thương xót đang sai các thiên thần của Người đến với chúng ta, kêu gọi mọi người hãy khát khao Ðức Kitô. Chính Ðức Kitô mới là Ðấng cứu độ.
Ðây cũng là điều chính Ðức Cha Micae đã thấy.

 2/ Ðức Cha Micae muốn gì nơi chúng ta?
Khẩu hiệu của Ðức Cha Micae là “Ðức Kitô trong anh chị em”. Ðức Cha Micae viết khẩu hiệu này không những trên giấy, nhưng nhất là trên chính cuộc đời Ngài. Một cuộc đời dài luôn giảng về Ðức Kitô, luôn làm chứng về Ðức Kitô, luôn đi đến với Ðức Kitô, luôn khao khát Ðức Kitô, luôn cầu nguyện và hy sinh với Ðức Kitô.
Khao khát của Ðức Cha là chính Ðức Kitô ngự trong từng người chúng ta. Ðức Cha mong mỗi người chúng ta hãy sống lời Ðức Kitô, tin cậy Ðức Kitô, ở lại trong tình yêu của Ðức Kitô, gắn bó tuyệt đối với Ðức Kitô, đón nhận thánh giá của Ðức Kitô.
Tôi có cảm tưởng là Ðức Tổng Lãnh Micae đã và đang hoạt động trong Ðức Cha Micae, để kêu gọi và hướng dẫn chúng ta trong cuộc sống. Trong cuộc sống hôm nay nhiều người đang mất hướng. Chạy theo những khát vọng sai lầm là tự huỷ. Ðón nhận Ðức Kitô là đón nhận chính Ðấng đã phán: “Ta là Ðường, là Sự Thực và là Sự Sống” (Ga 14,6).
Với chia sẻ vắn tắt trên đây, tôi thiết tha xin anh chị em, khi cầu nguyện cho Ðức Cha Già Micae, hãy đón nhận lời các thiên thần đang kêu gọi và điều Ðức Cha Già Micae hằng mong muốn.
“Hãy khao khát Ðức Kitô”. “Hãy đón nhận Ðức Kitô vào trong lòng chúng ta”. Amen.
Bài giảng thánh lễ mừng kính Ðức Tổng Lãnh Thiên Thần Micae
Bổn Mạng Ðức Cha Nguyễn Khắc Ngữ.
Long Xuyên, ngày 23 tháng 9 năm 2004

 

Bùi-Tuần 1640: Sống Trong Trái Tim Mẹ Maria

Ảnh Ðức Mẹ càng ngày càng xuất hiện dưới nhiều hình thức. Hình thức nào cũng đẹp. Nhưng nói Bùi-Tuần 1640

Ảnh Ðức Mẹ càng ngày càng xuất hiện dưới nhiều hình thức. Hình thức nào cũng đẹp. Nhưng nói về mặt hấp dẫn, thì ảnh Ðức Mẹ Trái Tim xem ra được người công giáo Việt Nam yêu mến hơn. Người ngoài công giáo cũng vậy. Tôi cũng thế.
Lý do đơn giản nhất là vì trực giác của người Việt Nam. Theo trực giác Việt Nam, người mẹ vốn được cảm nhận là tình thương. Phương chi một người mẹ lại giới thiệu trái tim mình. Chẳng cần cắt nghĩa gì, trực giác con người bình thường vừa thoáng nhìn, là cảm được một cái gì cao đẹp, linh thiêng, gần gũi.
Với trực giác đó, khi nghe sứ điệp Ðức Mẹ ở Fatima về việc tôn sùng Trái Tim Mẹ, tự nhiên tôi vui như được một ơn tái sinh nhiệm mầu.
Tôi dâng mình cho Trái Tim Mẹ. Coi Trái Tim Mẹ như nguồn hy vọng của mình. Ðơn sơ vậy thôi. Tôi ở lại trong đó. Tình Mẹ dạy dỗ uốn nắn và dưỡng dục tôi. Mẹ tái sinh tôi.
Ở đây, tôi chỉ xin được chia sẻ mấy điều. Xưa thánh Phaolô đã nói về mấy điều ấy trên đường Ngài phục vụ (x. Cl 1,24-29). Nay tôi cũng nói về mấy điều ấy trên đường tôi phục vụ, nhưng được Trái Tim Mẹ cùng chia sẻ với tôi.

 1/ Chịu đau khổ
Thánh Phaolô viết: “Giờ đây, tôi vui mừng được chịu đau khổ vì anh em. Những gian nan thử thách Ðức Kitô còn phải chịu, thì tôi xin mang lấy vào thân cho đủ mức, vì lợi ích cho thân thể Người là Hội Thánh” (Cl 1,24).
Thánh Phaolô đã nói rất thực. Những đau khổ Ngài phải chịu cũng rất thực.

Hôm nay, sau những năm dài phục vụ trong những hoàn cảnh rất khó khăn, tôi thấy các môn đệ Ðức Kitô tại Việt Nam cũng hơn kém cảm thấy những lời thánh Phaolô tâm sự xưa đã như nói thay cho mình.
Có nhiều thứ đau khổ. Của riêng mình. Của người khác. Của cộng đoàn mình.
Ðau cái đau của Hội Thánh.
Khổ cái khổ của Quê Hương.
Buồn cái buồn của người nghèo.
Lo cái lo của người bệnh.
Có những thân phận bị nhận chìm, không ngóc đầu lên được. Có những trái tim tan vỡ, không sao gắn lành lại được. Có những cuộc đời bị trói lại, bị kéo đi trên những nẻo đường tăm tối, không bao giờ thoát ra được.
Bao thứ khổ đau như thế bước vào tâm hồn tôi, thân mật như những người bạn tìm nơi trú ngụ.
Tôi đón nhận, như một phần sứ vụ Chúa Giêsu dành cho tôi. Thú thực, đau khổ vẫn là đau khổ. Chẳng sung sướng gì. Nhưng khi tôi ẩn mình trong Trái Tim Mẹ, tôi được Mẹ chia sẻ, ủi an, nâng đỡ. Tôi được Mẹ cho nhìn thấy, một cách nào đó, ý nghĩa của những đau khổ, kể cả những đau khổ vô danh, không chân dung, lặng lẽ trong tôi.

 2/ Rao giảng Lời Chúa cho trọn vẹn
Thánh Phaolô viết: “Tôi đã trở nên người phục vụ Hội Thánh, theo kế hoạch Thiên Chúa đã uỷ thác cho tôi, liên quan đến anh em: Ðó là tôi phải rao giảng Lời Chúa cho trọn vẹn” (Cl 1,25).
Thánh Phaolô xác tín việc rao giảng Lời Chúa cách trọn vẹn là một sứ vụ quan trọng Chúa uỷ thác cho Ngài.
Các môn đệ Chúa tại Việt Nam xưa rày cũng xác tín như vậy. Nhưng cách rao giảng có khác nhau, tuỳ theo hoàn cảnh.
Tôi đã trải qua nhiều chặng đường rất khác nhau của lịch sử Quê Hương và Hội Thánh Việt Nam. Cùng với việc phục vụ trong nhiều thời gian khác nhau và ở nhiều địa phương khác nhau, tôi học hỏi nơi Trái Tim Mẹ cách rao giảng Lời Chúa sao cho thích hợp.
Mẹ cho biết: Nói chung, cách thích hợp nhất là Lời Chúa trước tiên phải thấm nhập vào chính bản thân người rao giảng. Khi diễn tả ra, nó phải ngấm đậm ơn Chúa Thánh Thần qua việc cầu nguyện, gẫm suy và hy sinh.
Chính Mẹ đã là người rao giảng Lời Chúa một cách thích hợp.
Giảng qua cuộc sống “xin vâng” thánh ý Chúa.
Giảng qua cuộc đời biết sống với những người xung quanh một cách tế nhị.
Giảng qua một hiện diện âm thầm, mang ấn tín mọn hèn của người nữ tỳ của Chúa.
Giảng qua một nếp sống bén nhạy toả ánh sáng và tình thương của trái tim người Mẹ coi nỗi khổ của đàn con như chính nỗi đau của chính mình.
Giảng qua những tu đức coi tội lỗi như cực hình xúc phạm nặng nề sự trong trắng của Trái Tim Mẹ và sự cực thánh của Thiên Chúa.
Giảng qua một cuộc đời tu thân có chiêm niệm và dấn thân.
Nhất là giảng qua một cuộc đời luôn tập trung vào Ðức Kitô. Như thánh Phaolô quả quyết: “Chính Ðức Kitô đang ở giữa anh em, Ðấng ban cho chúng ta niềm hy vọng đạt tới vinh quang” (Cl 1,27).

 3/ Vất vả phấn đấu
Thánh Phaolô viết thêm: “Chính vì mục đích ấy, mà tôi phải vất vả và chiến đấu, nhờ sức lực của Người hoạt động mạnh mẽ trong tôi” (Cl 1,29).
Vất vả và phấn đấu trên đường phục vụ, đó là cảm nghiệm sâu sắc của các môn đệ Chúa tại Việt Nam.
Riêng tôi, sự vất vả và phấn đấu nặng nề nhất là đối với chính bản thân tôi. Tôi phải phấn đấu không ngừng với chính mình tôi. Tôi phải vất vả cảnh giác không ngơi với những cái xấu trong tôi.
Tôi thấy vất vả và phấn đấu như thế luôn rất cần để đón nhận được ơn Chúa.

Nhưng những vất vả và phấn đấu của tôi luôn được Trái Tim Ðức Mẹ chia sẻ. Hoặc trực tiếp, hoặc gián tiếp qua những trung gian Mẹ gởi tới.
Phải nói thực rằng: Từ bỏ mình, vác thánh giá mình và theo chân Chúa Giêsu là điều không dễ chút nào.
Nhất là khi Chúa Giêsu bảo tôi theo Người vào tâm trạng cô đơn, xao xuyến, hãi hùng, tăm tối mà Người đã trải qua ở vườn Cây Dầu.
Nhưng, rất may, là trong chính những trường hợp bi đát như thế, Trái Tim Ðức Mẹ lại cầu bầu tha thiết cho tôi. Hơn nữa, tôi có cảm tưởng là chính Ðức Mẹ cũng cùng khóc với tôi. Người lau nước mặt tôi bằng hơi ấm của tình Mẹ.
***
Chia sẻ vắn tắt trên đây là một sự kể lại chân thành. Hy vọng nó sẽ góp được phần nào nhỏ bé vào việc cổ động cho việc thi hành sứ mạng Fatima: “Hãy tôn sùng Trái Tim Mẹ”.
Hoàn cảnh hiện nay đang xuất hiện nhiều dấu chỉ về một tương lai ảm đạm cho đức tin. Nên sự tôn sùng Trái Tim Ðức Mẹ phải được coi là một thuốc mầu. Ðức Mẹ đã dạy như thế. Nhiều người đã cảm nghiệm rõ, Chính tôi là một chứng nhân.
Long Xuyên, ngày 30 tháng 9 năm 2004

 

Bùi-Tuần 1641: Sám Hối Của Người Canh Gác Nhà Chúa

Có hai lý do khiến tôi chọn đề tài này để chia sẻ: Lý do thứ nhất là để đáp ứng lời kêu gọi của Bùi-Tuần 1641

Có hai lý do khiến tôi chọn đề tài này để chia sẻ:
Lý do thứ nhất là để đáp ứng lời kêu gọi của Ðức Mẹ Fatima về Sám hối. Ðáp ứng một cách cụ thể. Ở Fatima, Ðức Mẹ kêu gọi sám hối cách chung chung. Ở đây, chúng ta sẽ suy nghĩ về sám hối của người canh gác Nhà Chúa. Người canh gác Nhà Chúa được hiểu là các mục tử, nhưng cũng có thể được hiểu rộng ra là cả các tu sĩ, các gia trưởng và mọi người có trách nhiệm giữ gìn những giá trị thiêng liêng.
Lý do thứ hai là để báo động về một tình hình đạo đời có vẻ như đang phát triển theo khuynh hướng bình thường hoá một số tội lỗi.
Xin phép đi vào nội dung và sẽ trình bày cách vắn gọn.

 I/ Kinh Thánh nói gì về trách nhiệm người canh gác Nhà Chúa?
Tôi chỉ xin trích 2 đoạn:
- Trong Cựu Ước, sách tiên tri Êdêkien đoạn 3, ghi những lời rõ ràng nghiêm khắc sau đây về người canh gác:
“Vậy, có lời Ðức Chúa phán với tôi rằng: “Hỡi con người, Ta đã đặt người làm người canh gác cho nhà Israel. Ngươi sẽ nghe lời từ miệng Ta phán ra, rồi thay Ta báo cho chúng biết. Nếu Ta phán với kẻ gian ác rằng: ‘Chắc chắn ngươi sẽ phải chết’, và nếu ngươi không báo cho kẻ gian ác đó biết, không nói để cảnh cáo nó từ bỏ lối sống xấu xa, cho nó được sống, thì chính kẻ gian ác ấy sẽ phải chết vì tội lỗi của nó, nhưng Ta sẽ đòi ngươi đền nợ máu nó. Ngược lại, nếu ngươi đã báo cho kẻ gian ác, mà nó không từ bỏ hành vi gian ác và lối sống xấu xa của nó, thì nó sẽ phải chết vì tội của nó; còn ngươi, ngươi sẽ cứu được mạng sống mình. Nếu như kẻ công chính từ bỏ lẽ công chính của mình mà làm điều bất chính, thì Ta sẽ đặt chướng ngại trước mắt nó; nó sẽ phải chết, bởi vì ngươi đã không báo cho nó. Nó sẽ phải chết vì tội lỗi của nó và người ta sẽ không còn nhớ đến việc công chính nó đã làm; nhưng Ta sẽ đòi ngươi đền nợ máu nó. Ngược lại, nếu ngươi đã bảo cho kẻ công chính để nó không phạm tội và chính nó không phạm tội, thì chắc chắn nó sẽ được sống; vì nó đã được báo cho biết; còn ngươi, ngươi sẽ cứu được mạng sống mình” (Ed 3,16-21).
- Trong Tân Ước, Phúc Âm thánh Matthêu, đoạn 24 ghi dụ ngôn sau đây cũng ám chỉ người canh gác:
“Vậy thì ai là người đầy tớ trung tín và khôn ngoan mà ông chủ đã đặt lên coi sóc gia nhân, để cấp phát lương thực cho họ đúng giờ đúng lúc? Phúc cho đầy tớ ấy nếu chủ về mà thấy anh ta đang làm như vậy. Thầy bảo thật anh em, ông sẽ đặt anh ta lên coi sóc tất cả tài sản của mình. Nhưng nếu tên đầy tớ xấu xa ấy nghĩ bụng: ‘Còn lâu chủ ta mới về’, thế rồi hắn bắt đầu đánh đập các đồng bạn, và chè chén với những bọn say sưa, chủ của tên đầy tớ ấy sẽ đến vào ngày hắn không chờ, vào giờ hắn không biết, và ông sẽ loại hắn ra, bắt chung số phận với những tên giả hình: ở đó, người ta sẽ phải khóc lóc nghiến răng” (Mt 24,45-51).
Như vậy, cả trong Cựu Ước, cả trong Tân Ước, Chúa răn đe nghiêm khắc những người canh gác Nhà Chúa đã không cố gắng chu toàn bổn phận.

 II/ Kinh Thánh báo trước những tính hư tật xấu nào, mà người canh gác Nhà Chúa phải để ý ngăn chặn:
Tôi xin trích thư thánh Phaolô gởi cho môn đệ Timothê (2 Tm 3,1-5).
“Anh hãy biết điều này: Vào những ngày sau hết sẽ có lúc gay go. Quả thế, người ta sẽ sa vào những tính xấu này:
1. Ích kỷ                     2. Ham tiền bạc
3. Khoác lác                4. Kiêu ngạo
5. Nói lộng ngôn          6. Không vâng lời cha mẹ
7. Vô ơn bạc nghĩa       8. Phạm thượng
9. Vô tâm, vô tính        10. Tàn nhẫn
11. Nói xấu                 12. Thiếu tiết độ
13. Hung dữ                14. Ghét điều thiện
15. Phản trắc               16. Nông nổi
17. Lên mặt, phô trương
18. Yêu khoái lạc hơn yêu Thiên Chúa
19. Hình thức của đạo thì còn giữ, nhưng cái chính yếu thì chối bỏ”.
Hơn nữa, thánh Phaolô còn nhấn mạnh đến cội rễ sinh ra các tội lỗi. “Cội rễ sinh ra mọi điều ác là lòng ham muốn tiền bạc. Vì buông theo lòng ham muốn đó, nhiều người đã lạc xa đức tin, và chuốc lấy bao nhiêu nỗi đau đớn xấu xa” (1 Tm 6,10).
Khi đọc những đoạn kể tội trên, tôi có cảm tưởng là thánh Phaolô đã viết về thời sự hôm nay một cách rất đúng, tuy chưa đầy đủ.
Thời sự hôm nay cho thấy tình trạng dung dưỡng những tật xấu đó, phạm những tội xấu đó, nay không coi là xấu, mà được coi là chuyện bình thường.
Ngoài đời, có khuynh hướng bình thường hoá nhiều thứ tội, nhiều nết xấu.
Trong đạo, nhiều nơi cũng có khuynh hướng bình thường hoá nhiều thứ tội, nhiều tính xấu.
Cả trong nhà tu, dần dần đó đây cũng đang bắt đầu xuất hiện hiện tượng bình thường hoá nhiều thứ tội, nhiều thói xấu.
Trước một tình hình như vậy, những người canh gác Nhà Chúa có thể cũng đã lỗi trách nhiệm của mình một cách nào đó.

 III/ Kinh Thánh nói gì về sự sám hối của người canh gác Nhà Chúa?
Khi đọc thư thánh Phaolô gởi cho Timôthê, tôi nghĩ những lời khuyên của Ngài có thể được chúng ta vận dụng cho việc sám hối của người canh gác.
Sám hối kiểu đó sẽ nhấn mạnh đến những việc tích cực sau đây:
“Hãy luyện tập sống đạo đức” (1 Tm 4,8).
“Hãy nêu gương sáng cho các tín hữu về lời ăn tiếng nói, về cách cư xử, về đức ái và lòng trong sạch” (1 Tm 4,12).
“Hãy bảo toàn giáo lý được trao cho anh. Tránh những chuyện nhảm nhí, trống rỗng, những vấn đề của trí thức giả hiệu” (1 Tm 6,20).
“Hãy thận trọng trong mọi sự. Hãy chịu đựng đau khổ, làm công việc của người loan báo Tin Mừng và chu toàn chức vụ của mình” (2 Tm 4,3-5).
Thực hành những điều thánh Phaolô dạy trên đây tức là một cách sám hối thiết thực và hữu hiệu của người canh gác.
***
Ðể kết, tôi mong mọi người hãy tha thiết vâng lời Ðức Mẹ kêu gọi Sám hối. Riêng những người có trách nhiệm canh gác nên quan tâm nhiều hơn đến việc sám hối vì mình đã có nhiều thiếu sót lỗi lầm.
Nếu những người canh gác biết khiêm nhường sám hối thực sự, thì hy vọng tình hình đời sống luân lý và trật tự của các giá trị cao đẹp sẽ bớt bị xáo trộn. Bằng không, tình hình đạo đức sẽ xấu đi dần dần. Ðến một lúc nào đó, sự ác sẽ được bình thường hoá khắp nơi. Hậu quả sẽ rất tồi tệ. Những người canh gác sẽ phải trả lẽ trước Chúa đời này và đời sau. Chuyện quan trọng đó, nếu ta coi thường, sẽ tạo nên bản án tự ta khoác vào thân ta, ngay từ đời này.
Xin Mẹ Maria cầu bầu cho ta được luôn là người canh gác tỉnh thức, khôn ngoan, kiên trì và can đảm dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần.
Long Xuyên, ngày 4 tháng 10 năm 2004

 

Bùi-Tuần 1642: Hãy Biết Sợ

Tháng 11, khi viếng mộ những người đã chết, tôi hỏi thăm họ. Hồn họ nay ở thế giới bên kia Bùi-Tuần 1642

Tháng 11, khi viếng mộ những người đã chết, tôi hỏi thăm họ. Hồn họ nay ở thế giới bên kia.
Trong thinh lặng, tôi nghe như họ trả lời. Họ âm thầm khuyên tôi vắn tắt. Vắn tắt nhưng rõ ràng.
Thiết tưởng những lời khuyên của họ không chỉ liên quan tới tôi, nhưng cũng liên quan tới mọi người. Vì thế, tôi xin phép chia sẻ. Những lời khuyên vắn tắt của họ xoay quanh một ý chính: “Hãy biết sợ”.
Sống đời này, ai biết sợ, sẽ tránh được một kiếp sau khủng khiếp.
Biết sợ ở đây đã được Chúa nói trong Kinh Thánh. Các hồn người chết chỉ nhắc lại.

 1/ Hãy biết sợ Chúa
Chính Chúa Giêsu đã phán rõ ràng: “Anh em hãy sợ Ðấng có thể tiêu diệt cả hồn xác trong hoả ngục” (Mt 10,28).
Tôi tin việc Chúa tiêu diệt cả hồn lẫn xác một người trong hoả ngục là việc bất đắc dĩ. Chúa không muốn ai phải như vậy. Nhưng chính họ đã dùng sự tự do Chúa ban, để không vâng phục và đón nhận Ðấng có thể cứu họ khỏi hoả ngục.
Ðể cứu họ, Chúa đòi họ phải có thiện chí thanh luyện chính mình.
Ðể thực hiện việc thanh luyện đó, con người cần nhận biết mình có rất nhiều điều xấu. Sự nhận biết này đòi một thái độ khiêm tốn chân thành.
Nhận biết mình cần phải được thanh luyện vẫn chưa đủ, còn phải nhận biết sức mình thanh luyện mình không nổi. Phải nhờ đến ơn Chúa.
Vì thế, biết kính sợ Chúa là biết dìm mình xuống vực thẳm khiêm nhường.
Khiêm nhường cầu nguyện và mở lòng ra đón nhận ơn biết mình.
Khiêm nhường mở lòng ra để vâng phục đón nhận ơn thanh luyện.
Khiêm nhường như thế là cầu nguyện phó thác, khát khao ơn trở về.
Trong sự lựa chọn khiêm nhường để rèn luyện việc kính sợ Chúa, chúng ta hãy coi chừng những thứ an tâm lừa dối, như:
Tôi đâu có gì sai phạm nặng nề, mà cần phải thanh luyện.
Tôi thanh luyện tự mình bằng những việc làm đạo đức của tôi, thế là đủ rồi!
Tôi còn đạo đức hơn nhiều người, tôi có nhiều công phúc, cần chi đặt vấn đề phải sợ Chúa ném tôi vào hoả ngục!
Tôi chỉ cần thanh luyện một thời gian như ý tôi, và bằng cách theo ý tôi ở đời này, vì lương tâm tôi cho thế là hợp lý.
Những cách nghĩ như thế chính là những lừa dối chính mình. An tâm như thế sẽ càng thêm tội vì kiêu căng.
Muốn tránh cho Ðấng có quyền tiêu huỷ ta trong hoả ngục không làm việc đó, ta chỉ có cách là cậy trông vào lòng thương xót của Người. Mà để được Người thương xót ta, thì ta phải rất khiêm nhường, nghèo hèn, bé nhỏ, cậy trông. Bất cứ một sự kiêu căng nào cũng sẽ là cản ngăn, không đón nhận được lòng thương xót Chúa.

 2/ Hãy biết sợ hoả ngục
Hoả ngục là điều Chúa nói rất nhiều lần trong Phúc Âm. “Hỡi quân bị nguyền rủa kia, đi đi cho khuất mắt Ta, mà vào lửa đời đời, nơi dành sẵn cho tên Ác Quỷ và các sứ thần của nó” (Mt 25,41)... “Thế là họ ra đi, để chịu cực hình muôn kiếp” (Mt 25,46).
Ta chưa thấy hoả ngục. Nhưng tin vào Lời Chúa, ta không thể không sợ.
Tù ngục ở đời này vốn là hình phạt gây sợ hãi. Hoả ngục ở đời sau sẽ là hình phạt rùng rợn không thể tả. Hình phạt đó sẽ không bao giờ quen được. Khổ đau luôn mới. Khổ nhất là nó không bao giờ chấm dứt. Sẽ kéo dài đời đời. Bởi vì giao ước của tình yêu đã bị phá vỡ. Con người không chịu ăn năn sám hối, thì chính mình trở thành kẻ thù của Chúa.
Chúa Giêsu đã tự hy sinh, để giao hoà loài người với Thiên Chúa. Nhưng mỗi người phải góp phần của mình vào công việc giao hoà đó. Ít là qua sự khiêm nhường đón nhận ơn giao hoà bằng sám hối ăn năn.
Cuộc sống không biết trả lời tiếng Chúa tình yêu kêu gọi, sẽ phải trả giá rất mắc. Giá đó là bị ném vào nơi chẳng bao giờ có tình yêu. Ðó là hoả ngục.

 3/ Hãy biết sợ đi sai đường
Chúa phán: “Hãy qua cửa hẹp, vì cửa rộng và đường thênh thang thì đưa đến diệt vong, mà nhiều người lại đi qua đó. Còn cửa hẹp và đường chật thì đưa đến sự sống, nhưng ít người tìm được lối ấy” (Mt 7,13-14).
Lời Chúa là sự thực.
Trên thực tế, nhiều người chọn sai đường. Không những không biết sợ, mà còn hãnh diện. Nếu cả đến người môn đệ Ðức Kitô, mà lại sống đời hưởng thụ ở mức độ cao, ít cầu nguyện, nghèo bác ái, ngại dấn thân, không thường ngày tập luyện nhân đức, không nhận thấy sự có Chúa trong mình và thực thi ý Chúa mới là tài sản lớn nhất của mình, thì còn đâu là chứng nhân cho sự lựa chọn con đường Chúa muốn. Hơn nữa, con đường thênh thang lại được người môn đệ Chúa bình thường hoá, thì người đời sẽ dễ bị dụ dỗ theo gương sai lầm đó.
Chính mình đi sai đường, lại khuyến khích người khác đi theo mình. Sự kiện này rất nguy hiểm.
Hồn những người đã chết nói với tôi lời sau cùng trích từ sách Khải Huyền: “Ðây, chẳng bao lâu nữa Chúa sẽ đến, và Chúa đem theo lương bổng để trả cho mỗi người tuỳ theo việc người ấy làm... Phúc thay những kẻ giặt áo mình, để được quyền hưởng dùng cây Sự Sống và qua cửa mà vào thành! Những quân chó má, làm phù phép, gian dâm, sát nhân, thờ ngẫu tượng, cùng với mọi kẻ thích điều gian dối và ăn gian nói dối, sẽ phải đuổi ra ngoài” (Kh 22,12-15).
***
Chia sẻ trên đây xem ra không có gì lạ. Ðiều sẽ đáng lạ là, nếu chúng ta nghe, mà không quan tâm suy nghĩ. Suy nghĩ trong nội tâm đặt mình trước thiên nhan Chúa.
Thế giới hiện nay đang đi vào tình trạng không biết sợ những điều đáng sợ. Không sợ tội, không sợ Chúa, không sợ hoả ngục, không sợ tiếng lương tâm. Tình hình như thế sẽ đưa xã hội về đâu?
Ước chi chúng ta biết sợ. Biết sợ những điều đáng phải sợ, đó là một lo sợ lành mạnh, dọn lòng đón nhận ơn cứu độ của lòng thương xót Chúa.
Hồn những người đã chết nhắn chúng ta điều đó.
Long Xuyên, ngày 26 tháng 10 năm 2004

 

Bùi-Tuần 1643: Hành Trình Về Cõi Sau

Tháng 11, khi nhớ về các người đã chết, tôi thường liên tưởng đến cái chết của tôi. Tôi chưa chết Bùi-Tuần 1643

Tháng 11, khi nhớ về các người đã chết, tôi thường liên tưởng đến cái chết của tôi. Tôi chưa chết, nhưng sẽ chết. Ðó là một sự thực chắc chắn. Ðây là một biến cố quan trọng nhất đối với tôi.
Chết lúc nào, chết ở đâu, chết cách nào, tất cả những điều ấy có thể làm tôi lo. Nhưng điều tôi lo nhất chính là chết rồi, hồn tôi sẽ về đâu. Nỗi lo quan trọng ấy sẽ chỉ giải quyết được nhờ đức tin. Bây giờ còn sống, thì phải sống theo đức tin, để có hy vọng chết là bước vào hạnh phúc đời đời. Vậy đức tin cho tôi thấy:

1/ Ðịa chỉ, mà Chúa muốn tôi đi tới.
2/ Con đường Chúa dạy tôi phải đi, để tới địa chỉ đó.
3/ Cách mà Chúa khuyên tôi thực hiện, khi đi trên con đường đó.
Xin nói ngay: Ðức tin là lãnh vực mênh mông và sâu thẳm. Ở đây, tôi chỉ xin chia sẻ một chút đức tin, theo sự đón nhận hạn hẹp của tôi.
 Ðịa chỉ, mà Chúa muốn tôi đi tới
Nhiều khi, tôi nhìn quê Trời là địa chỉ, mà hành trình cuộc sống đời này của tôi phải nhắm tới.
Cũng nhiều lúc, tôi nói: Cuộc sống đời này của tôi là đi về Nhà Cha.
Cách nhìn và cách nói như trên cho thấy cuộc đời tôi có hướng đi, và hướng đi đó là đúng.
Nhưng cách nhìn và cách nói, mà tôi cho là rõ hơn sẽ rút ra từ Phúc Âm thánh Gioan: Cuộc sống đời này của tôi là hành trình đi về với Cha.
Trong Phúc Âm thánh Gioan, Chúa Giêsu thường nói: "Thầy đi về với Cha". Những ngày trước cuộc khổ nạn, Người nói như thế đến 7 lần. Ðịa chỉ này không là một nơi, mà là một Ðấng thiêng liêng. Ðấng ấy không xa, nhưng gần gũi. Gần không vì không gian, nhưng vì liên đới. Liên đới mật thiết và sâu thẳm.
Ðể tránh mọi nghi ngờ, Chúa Giêsu xác định: "Thầy về với Cha của Thầy, cũng là Cha của chúng con" (Ga 20,17).
Xác định đó đem lại cho tôi những an ủi ngọt ngào khôn tả. Ngọt ngào nhất là cảm nghiệm được tình Cha. Cha là tình yêu. Cha là Ðấng giàu lòng thương xót. Cha yêu thương tôi cũng trong tình thương đối với Chúa Giêsu. Cha sai tôi đi vào thế gian. Và Cha đợi tôi trở về với Cha.
Tin chắc chắn như vậy, nên tôi không ngừng hướng về Cha. Hướng về Cha với lòng khao khát. Khao khát này là tuyệt đối. Khao khát từng ngày, từng giờ. Khao khát này bỏ lại đàng sau mọi khao khát khác. Thiện chí của tôi là như vậy, mặc dầu thực tế đôi khi không được như vậy. Tôi phải chiến đấu nội tâm và đó là điều tôi phải tỉnh thức.
 Con đường nào Chúa dạy tôi phải đi để về với Cha
Con đường Chúa dạy tôi phải chọn, đó là Ðức Giêsu Kitô. Chính Chúa Giêsu Kitô phán: "Chính Thầy là con đường, là sự thực và là sự sống" (Ga 14,6).
Khi tin như vậy, tôi thấy điều quan trọng để thực thi Lời Chúa dạy trên, là biết khiêm tốn đón nhận Ðức Kitô.
Tôi đón nhận Ðức Kitô vào trong tâm hồn tôi, để sự thực và sự sống của Người trong tôi làm tôi nên người. Ðể nên người mà thôi, thiết tưởng cũng cần có yếu tố siêu nhiên ấy.
Tôi đón nhận Ðức Kitô vào tâm hồn tôi, để tôi biết thực thi ý Chúa Cha. Chúa Cha có kế hoạch riêng về tôi, khi sai tôi vào đời. Sự chu toàn thánh ý Chúa Cha nơi mỗi người làm nên sự thánh thiện của họ. Sự thánh thiện như thế đã được Chúa Giêsu tỏ cho thấy khi Người phán: "Lương thực của Thầy là thực thi thánh ý Chúa Cha" (Ga 4,34). Ðức Mẹ Maria cũng có tư tưởng như vậy, trong lời "Xin vâng" trong ngày truyền tin (x. Lc 1,38).
Tôi đón nhận Ðức Kitô vào lòng, để tôi có thể yêu thương người khác, theo giới răn mới, mà Người trối lại: "Thầy ban cho các con một điều răn mới là các con hãy yêu thương nhau, như Thầy đã yêu thương các con" (Ga 14,24). Không có Người trong tôi, làm sao tôi có thể yêu thương người khác, như Người yêu thương tôi.
Tôi đón nhận Ðức Kitô vào tâm hồn tôi, để tôi có thể trở thành của lễ do tình yêu và hy sinh, để làm chứng cho Thiên Chúa tình yêu. Của lễ đời tôi và con đường cuộc sống tôi đi về với Cha là thánh giá, bởi vì thánh giá là biểu tượng cho tình yêu chấp nhận đớn đau. Chúa Giêsu đã chọn thánh giá làm biểu tượng con đường hiến tế cho tình yêu đối với Chúa Cha và đối với loài người. Tôi cũng chọn lựa như Người. Nhưng, tôi quá yếu đuối. Tôi phải kết hợp với Người trong lựa chọn quan trọng đó. Người đã nói: "Không có Thầy, các con không thể làm gì được" (Ga 15,5).
Khi kết hợp với Ðức Kitô là con đường để về với Cha, tôi thấy cách đi trên con đường đó không đơn giản.
 Cách mà Chúa khuyên tôi thực hiện khi đi trên đường về với Cha
Theo kinh nghiệm bé nhỏ của tôi, đi đứng cũng có cách đẹp cách xấu, cách gây được thiện cảm, và có cách gây nên ác cảm.
Cách đi trên con đường Ðức Kitô cũng vậy. Muốn có cách đi tốt đẹp, tôi phải nhờ đến ơn Chúa Thánh Thần.
Thí dụ để "thờ phượng Chúa Cha trong Thần Khí và sự thật", như Ðức Kitô dạy (Ga 4,23) thì phải có ơn Chúa Thánh Thần. Chúa Thánh Thần sẽ giúp tôi phân định loại giữ đạo nào chỉ là trôi nổi theo hình thức, và loại nào là giữ đạo theo bề sâu.
Chúa Giêsu phán: "Khi nào Thần Khí sự thật đến, Người sẽ dẫn các con đến sự thật toàn vẹn" (Ga 16,13). Lời Chúa phán trên đây đang ứng nghiệm trên cánh đồng truyền giáo. Bởi vì có những chuyện, cả trong lãnh vực đạo, chỉ mang lại một vài phần trăm sự thực. Chính vì thế mà những người tin theo bị sai lầm trầm trọng.
Một trong những ơn Chúa Thánh Thần thiết tưởng được coi là cần thiết cho việc truyền giáo hiện nay tại Việt Nam này, là ơn hiểu biết và ơn khôn ngoan. Vì thiếu hai ơn đó, nhiều người mang danh nhà truyền giáo có thể đã không đưa người ta về với Cha.
Theo nhận xét nhỏ bé của tôi, nếu có ơn hiểu biết và ơn khôn ngoan, chúng ta sẽ nhận ra một hiện tượng xã hội mới đang nổi lên đều khắp. Hiện tượng mới đó là dân chúng bắt đầu mến phục và "bỏ phiếu" cho những người đạo đức có bề sâu được chứng minh rõ ràng chắc chắn. Nhất là trong một tình hình đạo đức đang bị xáo trộn buông thả trầm trọng. Hiện tượng mới này là một dấu chỉ thời đại. Chúng ta nên coi đó là một thức tỉnh lương tâm trên đường đi về cõi sau.
***
Trên đây là hành trình của tôi đi về đời sau. Một hành trình đòi nhiều cầu nguyện, nhiều hy sinh, nhiều phấn đấu. Tôi không dám cho đây là hành trình mẫu. Bởi vì tôi chắc chắn: Chúa nhân lành có muôn vàn cách, để chia sẻ hạnh phúc của Người cho những người thiện chí sống theo lương tâm ngay chính.
Trong ý nghĩ đó, tôi mong chia sẻ trên đây của tôi cũng là một thái độ thiện chí của một lương tâm ý thức về bổn phận liên đới không thể coi thường.
Long Xuyên, ngày 01 tháng 11 năm 2004

 

Bùi-Tuần 1644: Của Ăn Ðàng

Trong đạo chúng ta, người sắp chết thường rất mong chịu Mình Thánh Chúa. Những người thân Bùi-Tuần 1644

Trong đạo chúng ta, người sắp chết thường rất mong chịu Mình Thánh Chúa. Những người thân của họ luôn tìm mọi cách để thực hiện cho được nguyện vọng đạo đức ấy.
Tất cả mọi tín hữu đều coi Mình Thánh Chúa trong thời điểm đó là "của ăn đàng". Người ta tin Mình Thánh là lương thực thiêng liêng giúp cho người sắp chết được đủ sức đi nốt chặng đàng quan trọng nhất của cuộc đời này, để bước vào cõi sau một cách bình an.
Tôi chia sẻ niềm tin cao quý ấy. Nhưng tôi không giới hạn Mình Thánh Chúa chỉ là của ăn đàng trong thời điểm con người sắp chết. Trái lại, tôi tin Mình Thánh Chúa là của ăn đàng cho suốt đời tôi.
Với niềm tin đó, tôi đón Mình Thánh Chúa vào lòng tôi mỗi ngày, như của ăn đàng cao quý và cần thiết cho tất cả đời tôi, bất cứ tôi đang ở chặng nào của cuộc đời.
Khi rước Mình Thánh Chúa như của ăn đàng hằng ngày, tôi có những tâm tình đa dạng. Nếu cần tìm ra những tâm tình chính yếu, tôi có thể xác quyết là: Những gì chính yếu đều rút ra từ Phúc Âm.
Tôi xin phép chia sẻ.

 1/ Của ăn đàng để sống ơn gọi kẻ được sai đi
Tôi nhớ lời Chúa Giêsu phán xưa: "Không phải các con đã chọn Thầy, nhưng chính Thầy đã chọn các con, và cắt cử các con, để các con ra đi, và sinh được hoa trái" (Ga 15,16).
Khi Chúa Giêsu phán những lời trên đây, Chúa đã nghĩ đến tôi. Thời gian tôi được sai đi là rất cụ thể, chứ không chung chung. Ðịa điểm tôi được sai vào cũng rất cụ thể. Trên thực tế, thời điểm tôi được sai vào là thời điểm rất đề cao tinh thần dân tộc. Trên thực tế, địa điểm tôi được sai vào là một địa phương theo một tôn giáo rất sùng ba giá trị thiêng liêng này: Cầu nguyện, ăn chay và từ thiện. Ba giá trị thiêng liêng ấy được coi như căn bản của đạo bạn. Ðạo bạn không cần đến đền thờ, tư tế. Mọi tín đồ đều hợp nhất trong những niềm tin đơn sơ và những việc lành thấy được, tin được.
Giữa những thực tế đó, thánh ý Chúa là thế nào, khi tôi được sai vào, để tôi sinh hoa trái?
Tôi nhớ lại lời Chúa Giêsu phán: "Lương thực của Thầy là thi hành ý muốn của Ðấng đã sai Thầy" (Ga 4,34).
Ðể hiểu được phần nào thánh ý Chúa về tôi, tôi phải lắng nghe Phúc Âm, và lắng nghe địa phương, rồi lắng nghe Chúa trong Của ăn đàng. Ý Chúa trong của ăn đàng hằng ngày giúp tôi bước đi với những thăng trầm của lịch sử, với những thách đố của tình hình, với những dấu chỉ của thời đại.
Hành trình của người được sai đi thường gặp khó khăn trắc trở. Riêng tôi, tôi hay bị mỏi mệt, chán nản, cô đơn, sợ hãi. Nhưng nhờ của ăn đàng hằng ngày, tôi được nâng đỡ, ủi an.
Nhất là khi hành trình đó lại muốn trở thành một thánh lễ kéo dài.

 2/ Của ăn đàng để sống đời hiến tế
Trong thư gởi Do Thái, Chúa Giêsu nói: "Này con đây, con đến để thực thi ý Chúa" (Dt 10,9). Rồi tác giả lá thư lại thêm: "Dầu là Con Thiên Chúa, Người đã phải trải qua nhiều đau khổ mới học được thế nào là vâng phục" (Dt 5,8).
Chính sự vâng phục của Ðức Kitô trong đau khổ đã làm cho đời Người trở thành lễ tế, chứng minh cho tình yêu. Tình yêu gắn bó đối với Chúa Cha. Tình yêu cứu độ đối với loài người. Ðau khổ sau cùng là hiến tế chính mình trên thánh giá.
Cuộc đời Chúa Giêsu là một hiến tế. Người bước đi từng ngày tới thánh giá. Bước đi với tình yêu và hy sinh.
Cuộc đời của các môn đệ Chúa cũng phải thế. Tôi không là một luật trừ. Nhưng tôi quá yếu đuối. Nên trong cuộc đời hiến tế của tôi, tôi cần của ăn đàng.
Nhờ của ăn đàng hằng ngày, tôi biết đón nhận những đớn đau xảy tới. Chẳng có việc làm vĩ đại. Chẳng có hy sinh anh hùng. Chỉ có những đớn đau nho nhỏ, tình yêu âm thầm, hợp với khả năng bé nhỏ của một người môn đệ mọn hèn của Chúa Cứu thế. Dầu vậy, tôi thấy: Phải có của ăn đàng hằng ngày là phép Thánh Thể, tôi mới góp được phần nào vào lễ tế, mà Chúa muốn về tôi.

 3/ Ðiều kiện để phép Thánh Thể là của ăn đàng hằng ngày
Ðôi khi tôi nghe nói: Khi chịu phép Thánh Thể, người ta phải nhớ lại lễ tế xưa của Chúa Giêsu. Nói vậy không đúng hẳn. Theo tôi, điều kiện thực đúng không phải chỉ là nhớ lại, mà là đón nhận chính Chúa Giêsu, Ðấng xưa đã trọn đời vâng ý Chúa Cha. Ðấng xưa luôn trở về với Cha bằng tấm lòng khao khát Cha. Ðấng xưa đã hiến tế mình trên thánh giá như bước sau cùng trở về với Cha.
Vì thế, của ăn đàng của tôi là phép Thánh Thể. Tôi đón nhận phép Thánh Thể là đón nhận chính Chúa Giêsu trong đó, với lòng khiêm tốn tôn thờ, tạ ơn và cầu nguyện.
Với niềm tin ấy, tôi nhớ lại lời Chúa Giêsu phán "Hãy ở lại trong Thầy, như Thầy ở lại trong các con. Cũng như cành nho không thể tự mình sinh hoa trái, nếu không gắn liền với cây nho. Các con cũng thế, nếu không ở lại trong Thầy... Không có Thầy, các con không làm gì được" (Ga 15,4-5).
Lời Chúa phán trên là chân lý. Chân lý này đã soi sáng suốt đời tôi. Tôi đã cảm nghiệm được sự thực đó trong mọi chặng đường. Sự thực đó cho tôi thấy rõ: Tôi chẳng là gì, tôi chẳng đáng gì, tôi chẳng làm được gì trong ơn gọi sai đi và hiến tế, nếu không đón nhận của ăn đàng hằng ngày là Chúa Giêsu trong phép Thánh Thể.
***
Hy vọng chia sẻ trên đây của tôi trong năm Thánh Thể sẽ là một chứng từ của một môn đệ Ðức Kitô tại Việt Nam đã trải qua những chặng đường lịch sử phức tạp. Dù phức tạp, lịch sử vẫn hé mở chân trời cứu độ cho những ai đón nhận của ăn đàng hằng ngày là Chúa Giêsu trong phép Thánh Thể. Miễn là phải biết đón nhận với tất cả tấm lòng tin mến, khiêm cung và khát khao được tái sinh trong Người.
Long Xuyên, ngày 10 tháng 11 năm 2004

 

Bùi-Tuần 1645: Một Gặp Gỡ Buồn

Từ kho tàng kỷ niệm, trong ký ức của tôi, có một hình ảnh hay bất chợt hiện ra. Ðó là hình ảnh Bùi-Tuần 1645

Từ kho tàng kỷ niệm, trong ký ức của tôi, có một hình ảnh hay bất chợt hiện ra. Ðó là hình ảnh một cảnh chết tang thương.
Tôi chứng kiến cảnh chết này, lúc tôi còn rất trẻ. Cảnh chết này đã đào sâu con người tôi. Tôi muốn quên mà không quên được. Suy đi nghĩ lại, tôi cho rằng: Có những đau buồn, mình nên nhớ, mình dám nhớ, mình cần nhớ.
Ðối với tôi, đây không là một hình ảnh để tả lại, nhưng là một ray rứt để gẫm suy.
Tháng Ba năm ấy, nay quen gọi là tháng Ba đói của năm Ất Dậu, 1945, tôi đang sống tại đất Bắc. Phải nói là cảnh đói bấy giờ khủng khiếp không thể tưởng. Ðúng là một một chặng đường lịch sử ảm đạm, âm u, sầu thảm. Nhiều người đói quá, đã chết vì đói. Nhiều người đói quá, nên đành bỏ nhà, bỏ quê.

 Một gặp gỡ buồn
Chiều hôm ấy, tôi đi bộ từ Thái Bình về Thượng Phúc. Ðường vắng. Thỉnh thoảng tôi gặp những thân người tiều tuỵ ốm o, lê bước, ngẩn ngơ, mệt mỏi. Họ đi kiếm ăn. Ði một mình, hoặc đi chung gia đình. Họ tìm bới hy vọng ở những đám cỏ, ở những đống rác bụi cây.
Ðến gần một bờ sông, tôi thấy ba người gầy guộc nằm bất động. Một phụ nữ trẻ đã chết, tay vẫn ôm đứa con nhỏ. Ðứa con nhỏ cũng đã chết, miệng còn ngậm vú người mẹ đã chết. Một người đàn ông trẻ nằm sát bên kia đứa nhỏ đã chết, tay như đang cố với tìm chiếc chiếu rách cạnh bên, để đắp cho vợ con. Anh ngấp ngoáy chết. Tôi nghẹn ngào ngồi lại. Anh nhìn tôi. Vài phút sau, anh tắt thở.
Tôi không có gì để giải quyết cảnh tang thương đó. Tôi tiếp tục tiếp nối cuộc sống họ để lại. Với tình cảm xót thương dạt dào, tôi cảm nhận nỗi khổ đau và tuyệt vọng họ trối lại cho tôi.
Tôi tự an ủi mình là những người này đã được an táng trong trái tim tôi. Họ như những người thân đồng hành với tôi. Thỉnh thoảng họ có những nhắn nhủ nhẹ nhàng, thân thương, để giúp tôi biết sống. Sống sao cho xứng là người. Sống sao cho xứng là môn đệ Ðức Kitô. Một trong những điều kiện để được thế, là hãy biết thương cảm, xót thương.
 Biết thương cảm, để nên người
Ðã từ lâu, nhưng nhất là từ cuộc gặp gỡ đau buồn ấy, tôi tự nhiên phân định: Ai là người mà không nên người. Ai là người mà xứng là người. Khác nhau ở chỗ biết xót thương người hay không.
Dần dần, tôi xác định với tôi: Biết xót thương người là một chiều kích tâm linh làm cho một người trở nên người đích thực.
Ðến một kinh nghiệm trưởng thành hơn, tôi dám nghĩ rằng: Phải biết xót thương người, để có thể biết suy tư về con người.
Nếu những suy tư và cách suy tư của một người phác hoạ nên chân dung của chính người suy tư, thì tâm tình xót thương của họ sẽ là dây chỉ vàng xuyên suốt dòng suy tư của họ. Nhờ đó chân dung người suy tư sẽ toát ra được nét đẹp của cái tâm nhân hậu.
Cuộc đời không thiếu những dữ dằn. Lịch sử có vô số những độc ác. Nhưng nếu mọi người hay ít là phần đông con người tại quê hương ta có một chiều kích nội tâm nặng tình xót thương, thì loài người nói chung, và đồng bào ta nói riêng, sẽ nên người hơn. Nếu không, thì cho dù văn minh tiến, văn hoá cao, kinh tế mạnh, con người sẽ ít nên người. Và như vậy, khủng hoảng sẽ nẩy sinh thêm khủng hoảng. Một dây chuyền khủng hoảng, từ tư tưởng đến đời sống, sẽ đưa lịch sử giật lùi về phía sau: Con người chưa phát triển tính người. Hậu quả sẽ rất tệ hại, nhất là khi đem cảnh đó soi dưới ánh sáng Phúc Âm.
Trong Phúc Âm thánh Matthêu, khi nói về ngày phán xét chung, Chúa Giêsu nhắm đặc biệt đến những người có tình xót thương. Xót thương kẻ đói khát. Xót thương kẻ rách rưới. Xót thương người bệnh, người tù. Chúa Giêsu nói rõ: "Ta bảo thật, mọi việc các con làm cho một người trong những kẻ bé mọn nhất của Ta, là các con làm cho Ta" (Mt 25,40).
Tất nhiên, xót thương nói đây là xót thương thực sự bằng tình cảm và việc làm, chứ không phải chỉ xót thương trong lý thuyết hoặc bằng lời nói suông. Biết xót thương và sống xót thương chính là phát triển tính người nơi ta.
Hơn nữa, biết xót thương và sống xót thương còn là đặc điểm người môn đệ Chúa Kitô.
 Biết xót thương, để nên môn đệ Ðức Kitô
Qua mấy xác chết tôi gặp chiều xưa ấy, Chúa vẫn đánh thức lương tâm tôi trên đường sống ơn gọi của người môn đệ Ðức Kitô tại Việt Nam hôm nay.
Tại Việt Nam hôm nay, tôi thấy có những người đang đói. Họ đói nhiều thứ lương thực cần thiết. Số người đang đói lương thực Tin Mừng là rất đáng kể.
Cùng với Hội Thánh Việt Nam, tôi cố gắng góp phần bé nhỏ của tôi, để phục vụ những người đang nghèo đói, nhất là trong lĩnh vực Tin Mừng. Rất nhiều người đang làm gương cho tôi về việc đó.
Tuy nhiên, xem ra phần đông đồng bào chúng ta chưa nhận ra những người công giáo là chứng nhân thực sự của "Thiên Chúa tình yêu" (1 Ga 4,6). Rất nhiều người cũng vẫn chưa nhận ra cả nơi các môn đệ Ðức Kitô sức sống của giới răn mà Ðức Kitô tha thiết để lại. Ðó là "yêu thương nhau, như Chúa đã yêu thương" (Ga 14,34). Rất nhiều người cũng vẫn chưa nhận ra đặc điểm của người tin theo Chúa là yêu thương phục vụ con người vì Chúa (x. Ga 13,35).

Lỗi tại đâu?
Từ ít lâu nay, tôi thấy trong Hội Thánh tại Việt Nam đang rộ lên tưng bừng những lễ lạy, những mở mang, những bồi dưỡng, những quy tụ, những tổ chức, những biểu dương quyền chức. Ðiều đó đáng quan tâm. Nhưng cũng đáng ngại, nếu những phát triển đó không cân đối với sự phát triển lòng xót thương, tình bác ái. Theo tâm lý, sự phát triển khập khiễng đó sẽ làm yếu đi sức thu hút thiêng liêng của đạo. Theo đạo đức, với sự kiện như thế, nhiều hoạt động tôn giáo sẽ dần dần không còn là máng chuyên chở ơn thánh vào các linh hồn.
Thực đáng buồn, nếu cảnh những người chết đói Tin Mừng lại diễn ra, ngay trong hoàn cảnh có nhiều người được nhận chức rao giảng Tin Mừng và có nhiều phương tiện làm chứng cho Tin Mừng qua 8 mối phúc và 14 mối thương xót.
Nhiều người sống đói, túng nghèo, cơ cực, cô đơn. Trước cảnh đó, thương cảm hay vô cảm của chúng ta sẽ được Chúa phơi bày rõ rệt và phân xử công minh trong ngày phán xét (x. Mt 25,31-46).
Long Xuyên, ngày 13 tháng 11 năm 2004

 

Bùi-Tuần 1646: Tình Nghĩa

Nhìn hang đá Belem, tôi thấy nhiều điều nên suy nghĩ. Như sự Chúa giáng sinh tự chọn cảnh nghèo Bùi-Tuần 1646

Nhìn hang đá Belem, tôi thấy nhiều điều nên suy nghĩ. Như sự Chúa giáng sinh tự chọn cảnh nghèo. Như sự những người sống đạo ở Belem bấy giờ đã không quan tâm đủ đến kẻ lỡ đường xin trọ. Như những người mục đồng làm thuê làm mướn lại được phúc gặp Chúa Cứu thế sớm nhất.
Nhưng có một điều nho nhỏ nơi hang đá Belem cũng đã lôi cuốn tôi. Ðiều nho nhỏ đó là tình nghĩa.
 Vai trò tình nghĩa trong đời Chúa Giêsu
Tình nghĩa là bầu khí bao trùm Hài nhi Giêsu. Ngoài Ðức Mẹ và Thánh Giuse vây quanh hài nhi, tôi thấy còn có các mục đồng và ba vua. Cả con lừa và mấy con chiên cũng đứng sát vào một cách thân yêu. Những hơi thở, những ánh mắt, những cử chỉ của người và vật đều diễn tả tình nghĩa thân thương đối với Hài Nhi.
Nhìn cảnh này, tôi có cảm tưởng: Ðây không phải là một sự tình cờ, nhưng là một điều Chúa muốn. Người muốn tình nghĩa nên được hiểu là một điều tốt. Chúa quý mến tình nghĩa. Tình nghĩa là một nâng đỡ quý giá đồng hành với Chúa Cứu thế từ hang đá Belem đến thánh giá trên núi Sọ.
Thực vậy, căn cứ vào Phúc Âm, tôi thấy Chúa Cứu thế đã có những tình nghĩa mặn nồng nâng đỡ sứ mạng của Người suốt hành trình dài.
Ðầu tiên là thánh Gioan Batixita. Tình nghĩa của Gioan đối với Chúa Giêsu nổi bật ở hai điểm này:
Một là Gioan khiêm tốn, tự nhận mình chỉ là kẻ dọn đường cho Chúa Cứu thế.
Hai là Gioan giới thiệu giá trị đích thực của Chúa Giêsu ở tại việc hy sinh gánh tội trần gian, và tự nguyện chịu chết để đền tội cho nhân loại. "Ðây Chiên Thiên Chúa, đây Ðấng xoá tội trần gian" (Ga 1,29). Lời giới thiệu đó nói lên một tình nghĩa đi vào căn bản.
Sau thánh Gioan Baotixita, tôi thấy tình nghĩa của gia đình chị em Matta, Maria và Ladarô. Gia đình này nâng đỡ Chúa Giêsu về mọi mặt, tinh thần và vật chất, tình cảm và làm chứng. Họ làm chứng về niềm tin Chúa Giêsu là Ðấng cứu thế.
Sau cùng là tình nghĩa của các môn đệ Chúa, nhất là thánh Phêrô và thánh Gioan tông đồ.
Tình nghĩa của thánh Phêrô nổi bật ở điểm nhiệt thành, táo bạo trong tuyên xưng đức tin.
Tình nghĩa của thánh Gioan đậm nét ở chỗ được Chúa yêu thương, chia sẻ cho những sự sâu kín nhiệm mầu về đời sống Chúa Ba Ngôi, nhất là ở chỗ được Chúa cho thấu hiểu sâu xa điều răn mới là yêu thương nhau.
Trên đây là những tình nghĩa thường xuyên đậm đà. Cũng còn một vài tình nghĩa vắn, trong các trường hợp đặc biệt. Như trên đường vác thánh giá lên núi Sọ, Chúa được nâng đỡ bởi bà Veronica,một số phụ nữ và ông Simon, người nông dân.
Sau cùng, ở núi Sọ, dưới chân thánh giá, số người nâng đỡ Chúa chỉ còn một số rất nhỏ.
Nói chung, những tình nghĩa đã nâng đỡ Chúa Giêsu khi Người vừa sinh ra ở Belem cho tới khi Người tắt thở trên thánh giá ở núi Sọ, đều rất khiêm tốn, âm thầm. Dầu vậy, những tình nghĩa đó phải được coi là rất quý giá.
Với nhận thức đó, tôi nhìn vào các môn đệ Ðức Kitô, xưa và đặc biệt là hôm nay.
 Vai trò của tình nghĩa nơi các môn đệ Ðức Kitô
Trên đường bước theo Chúa Cứu thế, môn đệ Chúa cũng gặp được những nâng đỡ. Nếu "đầy tớ không trọng hơn Thầy" (Ga 15,20), thì những nâng đỡ dành cho các ngài cũng rất giới hạn. Tất nhiên nâng đỡ nói đây phải hiểu là nâng đỡ chính đáng.
Cũng vẫn là nâng đỡ của số ít như tại hang đá Belem. Cũng vẫn là nâng đỡ của một số ít làm chứng cho niềm tin hơn là cho cá nhân người môn đệ. Cũng vẫn là nâng đỡ của một số ít như ở Calvariô.
Riêng tôi, tôi coi những tình nghĩa đó là những ơn đặc biệt Chúa ban cho đời tôi.
Kinh Thánh nói: "Người bạn trung thành là một nơi nương tựa vững chắc. Ai gặp được người bạn như thế là gặp được kho tàng. Không gì đổi lấy được một người bạn trung thành, và giá trị của người bạn ấy không cân nào lường được" (Hc 6,14-15).
Trung thành ở đây phải được hiểu là trung thành trong những trường hợp không mấy ai muốn chọn. Như trường hợp sau đây:
Ngày 19 tháng 9 năm 1997, tại một nhà thờ ở Berne, thủ đô Thuỵ Sĩ, có lễ an táng một nữ tu. Nữ tu này tên là Rosalba, dòng Tiểu Muội.
Khi còn sống, chị nữ tu này là bạn trung thành của những bệnh nhân mắc bệnh ung thư. Chị thường xuyên thăm họ. Ngoài ra, chị cũng là bạn trung thành của những nữ phạm nhân đã hết hạn tù. Chị thường xuyên liên lạc với họ. Ðặc biệt, chị là bạn trung thành của những nữ phạm nhân còn bị giam trong tù. Chị tình nguyện và được phép sống chung với họ trong tù, chịu chế độ tù y như các phạm nhân thực sự. Có chị Rosalba ở trong tù, mỗi phạm nhân như cảm thấy một lễ Noel đến với mình mỗi ngày.
Ngày an táng chị là ngày của những nước mắt. Nước mắt của những người bệnh ung thư, của những nữ tù nhân đã được tha, của những nữ tù nhân còn bị giam giữ. Họ khóc một người bạn trung thành. Chị nữ tu này đã tìm tình nghĩa nơi những người bị loại trừ. Nhiều người nức nở tiễn biệt chị bằng những lời liên quan đến đức tin như: "Thưa chị, nếu thực có thiên đàng, khi lên đó rồi, xin chị vẫn hãy là bạn của em". Những nước mắt trong lễ hôm ấy gieo vào biết bao lòng người những hạt giống khao khát đi tìm dung mạo thực của Thiên Chúa tình yêu, mà chị dòng Tiểu Muội đã giới thiệu chỉ bằng đời sống tình nghĩa của chị đơn sơ, khó nghèo, phục vụ.
 Một cái nhìn về tình nghĩa hôm nay
Tôi đã tìm tình nghĩa với kẻ túng nghèo như ở Belem. Tôi đã tìm tình nghĩa với kẻ bị loại trừ như ở chân thánh giá trên núi Sọ.
Tôi đã thấy. Tôi đã gặp. Tôi hết lòng cảm ơn họ.
Những tình nghĩa ấy đã nâng đỡ tôi. Qua những nâng đỡ đó, tôi cảm nhận được Chúa ở bên tôi. Chúa giáng sinh đến với tôi không phải để tôi bớt khổ, nhưng để chia sẻ nỗi khổ đời tôi.
Người chịu khổ cùng với tôi, chịu nhục cùng với tôi, chịu vất vả cùng với tôi, chịu thử thách cùng với tôi. Tôi cảm nhận được sự thực đó. Tôi coi đó cũng là gương, để tôi biết sống như thế với những người đau khổ.
Trên thực tế hôm nay, cuộc sống đang phơi bày khoảng cách giữa người nghèo và người giàu, giữa người bệnh tật và những khoẻ mạnh, giữa người có quyền chức và người dân thường. Nhiều khoảng cách rất lớn. Nhìn vào, tôi thấy vừa choáng váng và vừa xót xa.
Trong thực tế này, đang nảy sinh những lo âu, những phũ phàng, những ganh tỵ, những tranh giành, những nghi kỵ, những phe nhóm và những mưu lược, những chịu đựng xót lòng. Có đủ thử giả, kể cả tình nghĩa. Cả những tự tử, như bước đường cùng.
Tôi áy náy, không biết Hội Thánh Việt Nam, trong năm truyền giáo này, đã đóng góp được nhiều hay ít trong việc cải thiện thực tế đáng ngại đó, mà ai cũng đang thấy.
Với những cảm nhận như thế, tôi rất mong và rất trân trọng những tình nghĩa. Cho dù đó chỉ nhỏ hẹp khiêm tốn âm thầm như tình nghĩa ở hang đá Belem.
Chớ chi tình nghĩa xưa tại hang đá Belem sẽ là một thời sự của hôm nay. Mong thời sự hôm nay sẽ hứa hẹn một cuộc sống mới, không phải chỉ giàu hơn về văn hoá, nhưng nhất là giàu hơn về tình nghĩa trung thành và tình thương chân thành.
Riêng tôi, trong hoàn cảnh nào, tôi vẫn ghi sâu trong lòng mọi tình nghĩa và tình thương của bất cứ ai dành cho Hài nhi Giêsu luôn hiện diện lặng lẽ trong tôi và cuộc đời tôi.
Long Xuyên, ngày 6 tháng 12 năm 2004

 

Bùi-Tuần 1647: Năm Mới Và Những Suy Tư

Trong năm, tôi gặp nhiều người, tôi đọc nhiều sách báo, tôi nghe nhiều phát biểu, tôi nhận nhiều Bùi-Tuần 1647

Trong năm, tôi gặp nhiều người, tôi đọc nhiều sách báo, tôi nghe nhiều phát biểu, tôi nhận nhiều thư từ.
Qua những tiếp xúc đó, rất nhiều tư tưởng có liên quan đến Ðạo ta chảy vào tâm trí tôi.
Các tư tưởng đó mang nhiều màu sắc. Nhưng khi lọc kỹ các màu sắc ấy, tôi có thể xếp các tư tưởng kia thành hai loại:
Một loại thao thức liên hệ đến các tương quan kỹ thuật và lợi ích cho cuộc sống tôn giáo giữa xã hội.
Một loại đề cập đến ý nghĩa đời người, bản tính con người, mục đích cuộc sống và thánh ý Chúa.
Loại trên chiếm đa số. Loại dưới không nhiều, đến mức coi như lẻ loi.
Xét mặt bề ngoài, tôi thấy loại dưới thường êm đềm ổn định, đi vào chiều sâu, căn bản. Còn loại trên thường ồn ào, mạo hiểm, tôi xin phép gọi là lang thang, lận đận.

 Suy tư lang thang, lận đận
Lang thang lận đận ở chỗ đòi tìm tòi, luôn luôn phải chạy theo kỹ thuật, tiền bạc, và theo dõi những biến chuyển xã hội.
Lang thang phiêu bạt ở những kiếm tìm khám phá, sao cho đạt hiệu quả.
Tới đây, tôi nhớ tới lời Chúa phán với Cain: "Ngươi sẽ lang thang phiêu bạt trên mặt đất" (St 4,12).
Lang thang của Cain là một hình phạt. Chúa phạt Cain vì đã giết em ruột mình là Aben.
Còn lang thang của một phần tư tưởng thời nay là một sinh hoạt bình thường. Nó tốt khi biết tự chế và có định hướng. Nếu không, nó sẽ tự mình là hình phạt cho chính mình.
Nhiều khi lang thang phiêu bạt của một dòng suy tư cũng là một cống hiến lớn cho lợi ích chung.
Biết lang thang phiêu bạt loại đó không phải chuyện dễ. Nó đòi người suy tư nhiều điều kiện, trong đó phải có một sức khoẻ tinh thần và thân xác tương đối tốt, một sự dấn thân đôi khi rất vất vả, một kinh nghiệm và trình độ hiểu biết đã tôi luyện qua nhiều thử thách.
Nhưng, nếu lang thang phiêu bạt vô duyên, cơ hội, lại gieo rắc sai lầm, thì người suy tư loại đó sẽ không tránh được tai hoạ cho mình và cho xứ sở.
Ở đây, tôi nhớ lại thời kỳ dân Israel bị những suy tư lang thang phiêu bạt xấu xa quấy phá, dẫn đến nhiều điều đồi bại.
Trước tình trạng chung đó, Chúa đã sai tiên tri Hôsê mắng trách dân chúng những lời nghiêm khắc sau đây:
"Hỡi con cái Ít-ra-en, hãy nghe lời Ðức Chúa, vì Ðức Chúa sẽ kiện dân cư xứ này:
Quả thật trong xứ này, chẳng có tín thành, chẳng có ân nghĩa, cũng chẳng có sự hiểu biết Thiên Chúa.
Chỉ có bội thề, dối trá, sát nhân và trộm cướp, áp bức với ngoại tình, các cuộc đổ máu cứ nối tiếp nhau.
Chính vì thế mà xứ sở tang thương, dân cư tàn tạ, ngay thú vật ngoài đồng, cũng như chim trời cá biển, tất cả đều chết hết" (Hs 4,1-3).
Mong rằng loại suy tư lang thang, tội lỗi, nếu có trong Hội Thánh tại đất nước chúng ta, cũng không đến nỗi quá liều, đến nỗi phải bị Chúa đe phạt nặng nề đến thế.
 Suy tư ổn định, đi vào chiều sâu
Tôi hiểu loại suy tư ổn định, đi vào chiều sâu, là những tư tưởng dựa trên nền tảng Lời Chúa. Nó mang hồn sự sống, vì nó là chân lý. Nó làm cho người ta nhớ lại nguồn gốc của mình. Nó gợi nên một giao ước giữa con người với Thiên Chúa. Nó xây dựng nên những tương quan mới mẻ.
Một thí dụ loại suy tư đi vào chiều sâu đó là dòng suy tư tạ ơn của Ðức Mẹ Maria:
"Linh hồn tôi ngợi khen Ðức Chúa,
thần trí tôi hớn hở vui mừng vì Thiên Chúa,
Ðấng cứu độ tôi.
Phận nữ tỳ hèn mọn,
Người đoái thương nhìn tới;
từ nay, hết mọi đời
sẽ khen tôi diễm phúc.
Ðấng Toàn Năng đã làm cho tôi
biết bao điều cao cả" (Lc 1,44-49).
Suy gẫm dòng tư tưởng trên đây của Ðức Mẹ, ta có thể thấy Ðức Mẹ suy nghĩ, và suy nghĩ của Ðức Mẹ đặt thành vấn đề. Ðó là điều bao người suy nghĩ đã không thể làm được. Vấn đề được nhận ra từ đức tin. Từng bước đi vào những liên hệ mới, những giao ước mới. Cuộc đời Ðức Mẹ trở thành một lộ trình nằm trong hệ thống cứu độ bao la do ý định của Thiên Chúa sắp đặt.
Những suy tư nền tảng như trên, vẫn xuất hiện tại Việt Nam trong những năm qua. Nhưng, theo thiển ý tôi, loại suy tư đó vẫn chưa phát triển đủ.
***
Bước sang năm mới 2005, tôi cứ bị ám ảnh bởi những tư tưởng được phổ biến trong Hội Thánh Việt Nam những năm 1955 và 1975.
Những thời đó, đã có những suy tư lang thang đầy đau thương, và đã có những suy tư căn bản chưa được mở đủ.
Năm 2005 này, sẽ ra sao? Tôi cầu mong trong lãnh vực suy tư, sang năm mới này, Hội Thánh Việt Nam ta sẽ có nhiều tiến triển tốt.
Riêng tôi, tôi nhận thức những giới hạn của mình, nhất là trong việc suy tư, viết lách. Càng thêm tuổi và sức khoẻ càng xuống, tôi càng gần giới hạn chót. Nhưng, là người con Chúa, tôi sẽ phục vụ Chúa, Hội Thánh của Người, và Quê Hương tôi, bằng những khả năng âm thầm còn lại, nhất là bằng cầu nguyện và kết hợp với thánh ý Chúa mỗi ngày mỗi trọn vẹn hơn.
Long Xuyên, ngày 22 tháng 12 năm 2004

 

Bùi-Tuần 1648: Gặp gỡ Chúa Giêsu

Năm thánh Thánh Thể tại Việt Nam đang có nhiều chuyển biến tốt. Số người đi dự thánh lễ có Bùi-Tuần 1648

Năm thánh Thánh Thể tại Việt Nam đang có nhiều chuyển biến tốt. Số người đi dự thánh lễ có nơi càng ngày càng đông. Số người đến chầu Thánh Thể cũng có tháng càng ngày càng tăng.
Nhiều nhà thờ tổ chức chầu Thánh Thể vào những giờ trưa, tối và đêm. Vì chỉ những lúc đó, người ta mới rảnh việc. Tất nhiên, ai muốn tới thì tới. Thế mà vẫn không thiếu người tới. Âm thầm mà sốt sắng.
Ðể góp phần nào vào các sinh hoạt kể trên, tôi xin phép đưa ra một kinh nghiệm. Kinh nghiệm này được rút ra từ bản thân, nhưng nhất là từ các người đã sống phép Thánh Thể và các sách đạo đức ghi lại những lời dạy của các vị thánh.
Kinh nghiệm đó là: Mỗi khi tới phép Thánh Thể, hãy để ý đến việc gặp gỡ thực sự với Chúa Giêsu.
Việc gặp gỡ đó diễn tiến thế nào, dưới đây tôi xin vắn tắt tạm diễn tả.

 1/ Gặp gỡ khởi sự từ Kinh Thánh
Trong Kinh Thánh, Chúa Giêsu được mạc khải dưới nhiều dung mạo. Như: Ðấng cứu độ, Chủ chiên nhân lành, Ðấng xoá tội trần gian, Nguồn nước hằng sống, vv...
Riêng tôi, tôi hay gặp gỡ Người dưới dung mạo: Người yêu thương tôi.
Chính Chúa Giêsu phán: “Như Chúa Cha đã yêu thương Thầy thế nào, thì Thầy cũng yêu thương các con như vậy” (Ga 15,9).
Người còn tả tình yêu thương của Người bằng một lời dâng hiến, khiến ta không thể nghi ngờ: “Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người hy sinh mạng sống vì bạn hữu mình” (Ga 1513).
“Thiên Chúa là Tình yêu” (1 Ga 4,16).
Với niềm tin vào những lời trên đây của Kinh Thánh, tôi gặp gỡ Chúa Giêsu. Lúc đó, tôi thấy một Chúa Giêsu rất sống động, rất gần gũi, rất thân thương.
Nét đặc biệt của tình thương nơi Người là hiến mạng sống vì tôi, như lời thánh Phaolô viết: “Hiện nay tôi sống trong xác phàm, là sống trong niềm tin vào Con Thiên Chúa, Ðấng đã yêu mến tôi và hiến mạng sống vì tôi” (Gl 2,20).

 2/ Gặp gỡ trong cầu nguyện
Tôi tin những lời Kinh Thánh trên đây. Nhưng chỉ tin mà thôi không đủ. Tôi phải cầu nguyện và gẫm suy. Tôi gẫm suy Lời Chúa và cầu nguyện với Chúa dựa trên những gì tôi tin. Cầu nguyện và gẫm suy có thể cụ thể hoá trong các việc sau đây:

1. Việc tạ ơn,
2. việc sám hối, phạt tạ,
3. việc xin tăng cường đức tin cho mình và cho mọi người.
4. việc xin cho ta biết yêu thương người khác như Chúa yêu thương ta.
Lúc đó, gẫm suy và cầu nguyện đều diễn tiến trong ơn thánh. “Không có Thầy, các con không làm gì được” (Ga 15,5). Lời Chúa khẳng định đó sẽ giúp chúng ta khiêm tốn từ bỏ sức riêng mình, để việc gặp gỡ Chúa trở thành một sự thờ phượng từ nội tâm. Ðể ta có thể nói như thánh Phaolô xưa: “Tôi sống, nhưng không phải tôi sống, nhưng là Ðức Kitô sống trong tôi” (Ga 2,20).
Càng cầu nguyện trong tâm thức đó, chúng ta càng sẽ cảm nghiệm sự gặp gỡ Chúa Giêsu thúc đẩy ta trở về với Chúa và thay đổi con người tội lỗi của mình. Nhất là ta sẽ dốc lòng bỏ thói quen
- dửng dưng đối với tình yêu Chúa,
- lợi dụng tình yêu Chúa,
- xúc phạm đến tình yêu Chúa.
Sau cùng ta dâng hiến mình cho Chúa Giêsu.

 3/ Gặp gỡ trong dâng hiến
Ta dâng hiến mình, là xin Chúa Giêsu cầm lấy chìa khoá đời ta, để ta được Người làm cho nên giống Người, Ðấng luôn vâng phục ý Chúa Cha. Như Người đã nói: “Thế gian hãy biết rằng: Thầy yêu mến Chúa Cha, và làm đúng như Chúa Cha đã truyền cho Thầy” (Ga 14,31).
Từ sự dâng hiến này, ta như xuất hành, bước đi theo Chúa Giêsu, trên đường Người muốn ta đi và đến nơi Người muốn ta tới.
Ðó chính là sự đổi mới chính mình một cách dứt khoát với tinh thần phạt tạ, phó thác và phục vụ.
Trong dâng hiến, ta sẽ tự ẩn mình, tự xoá mình, tự vùi mình trong âm thầm, để Chúa Giêsu được tỏ mình ra, tuỳ ý Người muốn nơi ta, cho dù ta sẽ phải chịu đóng đinh cùng với Người một cách nào đó. Như lời thánh Phaolô quả quyết: “Tôi cùng chịu đóng đinh với Ðức Kitô vào thánh giá” (Gl 2,19). Dâng hiến tới mức đó là để phục vụ tới mức tối đa.
***
Rất mong chia sẻ vắn tắt trên đây sẽ giúp cho việc dự thánh lễ và chầu Thánh Thể của mỗi người chúng ta đi vào chiều sâu. Nếu không đi vào chiều sâu, tôi sợ Năm Thánh Thể sẽ dần dần qua đi, mà bản thân chúng ta không được biến đổi, không được dâng hiến thực sự cho Chúa.
Tôi sợ như vậy là có căn cứ. Bởi vì, không thiếu trường hợp, sau chầu Thánh Thể, nhất là sau thánh lễ, nhiều người chỉ nhớ quang cảnh buổi lễ, hoặc vị chủ lễ. Họ nhớ và kể lại chỉ những cái bề ngoài, như trong lòng họ chỉ còn đọng lại có thế thôi. Chứ không hề có dấu gì về sự họ gặp gỡ thực sự chính Chúa Giêsu.
Thực là đáng tiếc.
Cái gì cũng có thể bị lợi dụng, kể cả những sinh hoạt mang nhãn hiệu thánh. Chúng ta quá biết rồi. Ma quỷ càng biết rõ điều đó hơn ta.
Vì thế, tôi hết sức hy vọng, trong năm Thánh Thể này, chúng ta hãy chú tâm vào sự gặp gỡ Chúa Giêsu. Một sự gặp gỡ thực sự
trong đức tin,
trong cầu nguyện,
trong dâng hiến.
Nếu chúng ta thực tâm khao khát, thì Chúa sẽ giúp chúng ta thực hiện được sự gặp gỡ như vậy. Nhờ sự gặp gỡ thường xuyên này, chúng ta sẽ sống trong tinh thần phục vụ và tiết chế, là những đức tính hiện nay được coi là cần thiết, để cải thiện một tình hình, mà đạo đức xem ra đang xuống dốc một cách bình thường!
Ngày 5 tháng 01 năm 2005

 

Bùi-Tuần 1649: Tĩnh tâm trước Tết

Xuân mới càng lúc càng tới gần. Nhưng nhiều nơi đã bắt đầu chuẩn bị mừng Tân Xuân. Trong Giáo Bùi-Tuần 1649

Xuân mới càng lúc càng tới gần. Nhưng nhiều nơi đã bắt đầu chuẩn bị mừng Tân Xuân.
Trong Giáo Hội tại Việt Nam, nhiều nơi có thói quen thực hiện một chuẩn bị tốt, ít ra cho hàng giáo sĩ. Chuẩn bị tốt đó là tĩnh tâm vài ngày.
Hiệp thông với chuẩn bị tốt lành đó, tôi cũng tĩnh tâm riêng.
Ðang lúc mới bước vào tĩnh tâm, tôi nhận được tập nội san cuối năm của nhóm huynh đệ gởi từ Pháp.
Trong tập nội san lần này, có một bài chia sẻ độc đáo, đơn sơ, nhưng đầy gợi ý cho người tĩnh tâm.
Bài chia sẻ là một câu chuyện nhỏ. Tóm tắt thế này:
 Câu chuyện nhỏ
Một người da đen có người bạn da trắng. Hai người ở xa nhau. Một hôm, người da đen bỏ quê nghèo của mình đến thăm người bạn da trắng. Người da trắng sinh sống giữa phố phường sang trọng.
Một buổi chiều hai người đi dạo trò chuyện trên đường phố. Bỗng dưng, một lúc bất ngờ, người da đen tỏ vẻ ngạc nhiên, ngưng nói, chăm chú lắng nghe gì đó xa xôi. Rồi anh nói với người bạn da trắng: Tôi nghe như có tiếng chim sâu gần đây. Ông bạn da trắng trả lời: Anh nói lạ! Ðây là phố. Tôi chỉ nghe tiếng các xe lăn bánh.
Tiến xa hơn một quãng, ông bạn da đen chỉ cho ông bạn da trắng thấy: Kìa bên đường có một khu nhà cũ, có vườn cây, và thực sự có một con chim sâu đang hót. Ông bạn da trắng khen: Anh có thính giác tốt hơn tôi! Ông bạn da đen thưa: Không phải thế đâu. Thính giác của tôi cũng như thính giác của anh. Chỉ khác nhau ở chỗ tôi ở vùng quê, quen với tiếng chim kêu, thích tiếng chim hót. Nên dễ nhận ra.
Rồi, anh da đen mở túi tiền của anh, mở ra, lấy ba đồng cắc, ném mạnh xuống đường. Lập tức, mấy người đi trước, quay lại, tìm những đồng tiền tưởng ai mới đánh rơi.
Anh bạn da đen nói với ông bạn da trắng: Anh thấy chưa. Họ quen nghe tiếng tiền, nên tai họ nhạy bén với tiền.
Tất cả là do lòng mình thích nghe gì, quen nghe gì, chờ đợi nghe gì.
 Áp dụng câu chuyện
Vị linh mục, tác giả bài chia sẻ trên, không kết luận gì. Nhưng tôi hiểu ngài muốn gởi cho bạn bè một gợi ý.
Ý được gợi lên trong tôi là ý đạo đức. Xin tóm tắt ý đó như sau:
Chúng ta đang sống trong một nền văn minh vật chất cao. Tại nhiều nơi, nền văn minh đó đang hướng con người vào một mục đích mới. Ðó là sống để hưởng thụ. Hưởng thụ về các thứ sung sướng do khoa học, danh vọng, chức quyền đem lại.
Sống trong bầu khí văn minh đó, với mục đích cuộc đời như thế, con người sẽ chỉ nhạy bén với tiền và với những phương tiện đem lại hưởng thụ.
Một tình hình như vậy đang tiến lên rất mau. Nó có đem lại một số giá trị tích cực, nhưng đồng thời nó cũng gây nên nhiều tiêu cực. Nhất là khoảng cách giữa giàu với nghèo càng ngày càng sâu rộng hơn. Khoảng cách đó sẽ không tránh được những bất công. Bất công sẽ gây nên bất mãn. Hậu quả có thể sẽ rất tồi tệ cả về an toàn xã hội lẫn về phát triển đạo đức.
Khi một tình hình như thế trở thành nguy cơ lớn cho nhân loại, thì cần đến một sự cứu độ.
Trong việc cứu độ, Chúa kêu gọi Hội Thánh nói chung, và các giáo sĩ nói riêng hãy là những cộng tác viên của Chúa.
Chúa kêu gọi nhỏ nhẹ. Chỉ những ai có cõi lòng thanh vắng hướng về Chúa mới nghe được.

 Hai lời kêu gọi
Tiếng Chúa gọi chúng ta trong tình hình hiện nay mang tính khẩn thiết. Nếu hỏi: Chúa kêu gọi khẩn thiết sự gì? Thì có thể trả lời: Chúa chỉ nhắc lại những gì Chúa đã kêu gọi xưa, mà Phúc Âm còn ghi. Những kêu gọi đó rất cần cho lúc này.
Tôi nghĩ tới hai lời kêu gọi sau đây:
Lời kêu gọi thứ nhất là: Môn đệ Chúa cần đổi mới bản thân.
Chúa phán rõ điều đó với ông Nicôđêmô: “Thật, tôi bảo thật ông. Không ai có thể thấy Nước Thiên Chúa, nếu không được sinh lại bởi ơn trên” (Ga 3,5). Chúa Giêsu nhấn mạnh đến vai trò của Chúa Thánh Linh trong sự tái sinh này (x. Ga 3,8).
Nhờ sự tái sinh này, môn đệ Chúa sẽ gắn bó chặt chẽ với Chúa Giêsu như cành với cây. Chúa phán: “Thầy là cây nho, các con là cành nho” (Ga 15,5). Cũng nhờ sự đổi mới này, người môn đệ Chúa sẽ phản ánh chân dung một Chúa Giêsu khó nghèo, hy sinh ở Belem, ở Nagiarét, ở núi Sọ, và được phục sinh trong sự sống mới.
Lời kêu gọi thứ hai là: Môn đệ Chúa hãy biết thương cảm, đồng cảm với những người khổ đau, và những người mang trách nhiệm nặng nề.
Chúa luôn kêu gọi các môn đệ Chúa hãy biết thương cảm, đồng cảm đối với người đau khổ. Lời kêu gọi rõ nhất là khi Chúa nêu gương người Samarita tốt lành, ông này thương cảm trong lòng, ngoài miệng và bằng hành động cụ thể. Rồi, gương ông Simon vác đỡ thánh giá cho Chúa Giêsu (x. Lc 23,26).
Tại Việt Nam hôm nay, trong đạo ngoài đời, số người nghèo chiếm đa số. Những người mang trách nhiệm nặng cũng khá đông. Nếu chẳng may có những người môn đệ Chúa lại được nhìn như thuộc giai cấp giàu, nhàn hạ, hoặc thiếu thương cảm, thiếu chia sẻ, thì sẽ khó tránh được những suy nghĩ không mấy thiện cảm của người dân đối với đạo ta.

 Hướng về tương lai
Tôi nghĩ rằng: Nhiều môn đệ Chúa tại Việt Nam đã nghe được hai tiếng gọi khẩn thiết trên đây. Các ngài đang cố gắng đáp lại lời Chúa gọi. Các ngài đúng là người của Chúa, mang Chúa trong lòng, và đưa Chúa là Tin Mừng đến cho nhiều người. Tình hình nhờ đó mà được cải thiện.
Nhưng, chẳng may, xem ra cũng còn một số môn đệ Chúa chưa tiếp thu được hai lời kêu gọi khẩn thiết trên. Hoặc có biết, nhưng không cố gắng đáp ứng. Do đó, tình hình nhiều nơi vẫn chuyển biến xấu.
Tương lai sẽ là bãi chiến trường rộng lớn giữa sự thiện và sự ác. Cuộc chiến đó sẽ rất cam go.
Nếu các môn đệ Chúa biết lắng nghe tiếng Chúa và thi hành ý Chúa, thì một mùa Xuân thiêng liêng sẽ đến với Quê Hương Việt Nam và Hội Thánh Việt Nam.
Câu hỏi để kết thúc là: Lòng ta có nghe được tiếng Chúa gọi không?
Hạnh phúc cho ta, nếu ta biết nghe thánh ý Chúa và để thánh ý Chúa dẫn đưa đời ta.
Ngày 10 tháng 01 năm 2005

 

Bùi-Tuần 1650: Cầu chúc

Tết là thời gian bộn bề. Ðủ thứ chuyện phải lo. Ðối với hầu hết mọi người, chuyện không thể không Bùi-Tuần 1650

Tết là thời gian bộn bề. Ðủ thứ chuyện phải lo.
Ðối với hầu hết mọi người, chuyện không thể không lo trong ngày Tết, là chuyện Mừng Tuổi.
Ðối với riêng tôi, mừng tuổi không chỉ là mừng tuổi mới, mà còn là cầu chúc.
Nội dung cầu chúc của tôi là chúc và cầu cho mọi người được hưởng hạnh phúc thường ngày.
Hạnh phúc thường ngày nói đây lệ thuộc một phần vào trình độ đạo đức luân lý.
 Trình độ thứ nhất là tránh phạm tội.
Các tội thường nằm ở tư tưởng, ở lời nói, ở việc làm, ở thiếu sót.
Trong những loại tội kể trên, tội thiếu sót, nhiều khi không được ta xét tới, nhưng đôi khi lại nặng.
Thí dụ trường hợp người phú hộ mà Chúa Giêsu nói tới trong dụ ngôn “Nhà giàu có và ông Ladarô ăn mày” (x. Lc 16,19-31).
Nhà phú hộ vô cảm thiếu xót thương và giúp đỡ ông Ladarô. Ông này ngày đêm sống khổ sở ngay ngoài cổng ông phú hộ. Sự thiếu sót đó đã bị Chúa coi là nặng. Nên ông phú hộ đã phải xuống hoả ngục.
Ðoạn nói về ngày phán xét chung, Chúa Giêsu cũng nhấn mạnh đến tội thiếu sót bác ái. Những người phạm tội thiếu sót đó sẽ bị phạt rất nặng (x. Mt 25,31-46).
Một tội thiếu sót khác, ta thường coi như nhẹ, nhưng Chúa cho là nặng. Ðó là tội lười biếng, không dùng những ơn Chúa ban để làm ra lời. Xin xem dụ ngôn những nén bạc. Người đầy tớ biếng nhác đã bị phạt rất nặng (x. Mt 25,24-30).
 Trình độ thứ hai là đời sống có hướng đi đúng.
Một đời sống được gọi là có hướng đi đúng, khi thường xuyên thao thức với trách nhiệm Tám mối phúc, mà Chúa Giêsu đã tuyên bố như Hiến chương Nước Trời.
- “Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó,
vì Nước Trời là của họ.
- Phúc thay ai hiền lành,
vì họ sẽ được Ðất Hứa làm gia nghiệp.
- Phúc thay ai sầu khổ,
vì họ sẽ được Thiên Chúa ủi an.
- Phúc thay ai khát khao nên người công chính,
vì họ sẽ được Thiên Chúa cho thoả lòng.
- Phúc thay ai xót thương người,
vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương.
- Phúc thay ai có tâm hồn trong sạch,
vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa.
- Phúc thay ai xây dựng hoà bình,
vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa.
- Phúc thay ai bị bách hại vì sống công chính,
vì Nước Trời là của họ.
- Phúc cho anh em khi vì Thầy
mà bị người ta sỉ vả, bách hại
và vu khống đủ điều xấu xa.
Anh em hãy vui mừng hớn hở,
vì phần thưởng dành cho các con ở trên trời thật lớn lao (Mt 5,1-12).
Nếu tôi không lầm, thì Tám Mối Phúc hiện nay không có một chỗ đứng xứng đáng trong cơ chế nhiều cộng đoàn và trong tâm trí nhiều người mang danh môn đệ Chúa.
Cầu xin cho sự kiện đáng buồn đó sớm được sửa lại.
 Trình độ thứ ba là được Chúa Thánh Thần dạy dỗ.
Chúa Giêsu hứa: “Ðấng Bảo trợ là Thánh Thần, Chúa Cha sẽ sai đến nhân danh Thầy. Ðấng đó sẽ dạy các con mọi điều, và làm cho các con nhớ lại mọi điều mà Thầy đã nói với các con” (Ga 14,26).
“Khi nào Thần Khí sự thật đến, Ngài sẽ dẫn các con đến sự thật toàn vẹn” (Ga 16,13).
Trong đời sống đạo đức, con người rất cần hiểu đúng ý Chúa, trong những gì ghi trong Phúc Âm, trong các sự xảy ra hằng ngày, nhất là trong các việc ta muốn làm nhân danh đạo đức. Thực tế cho thấy đủ thứ ảo trong đạo đức.
Ảo trong việc hiểu ý Chúa,
Ảo trong việc hiểu Lời Chúa,
Ảo trong chọn lựa những việc làm sáng danh Chúa.
Vì thế, chúng ta rất cần được Chúa Thánh Thần dạy dỗ, phân định.
Nếu cần có một cái nhìn tổng quát về 3 trình độ đạo đức trên, tôi xin phép tạm đưa ra một hình ảnh:
Trong trình độ thứ nhất, ta bước đi và tránh đạp vào những gai góc, đồ dơ bẩn và rơi xuống hố.
Trong trình độ thứ hai, ta bước đi với những bông hoa thơm đẹp.
Trong trình độ thứ ba, ta bước đi can đảm và tỉnh thức phấn đấu với mọi kẻ thù, biết ứng xử khôn ngoan với bất cứ sự gì xảy ra đến cho ta.
Nội dung đạo đức như trên là lý tưởng, nhưng không dễ có được. Vì thế, tôi chúc và đồng thời tôi phải cầu. Tôi cầu nguyện, và mong có được nhiều người càng cầu nguyện, để nâng đỡ cho lời chúc đó và nâng đỡ cho chính chúng ta.
Ngoài việc chúc, và việc cầu nguyện, tôi cũng còn nghĩ đến việc đào tạo. Ðào tạo chính mình và những người có phận sự đem đạo đức vào xã hội.
Ðể kết, tôi xin kể một kỷ niệm nhỏ. Hồi tôi tham dự Thượng Hội đồng các Giám mục Á châu tổ chức tại Vatican. Một hôm, giờ giải lao, tình cờ tôi gặp linh mục Tổng quyền một dòng lớn. Tôi hỏi ngài: Nếu Chúa Giêsu lát nữa hiện xuống, bước vào phòng hội nghị này, thì sẽ ra sao? Linh mục Tổng quyền, như hiểu ý tôi, liền trả lời lập tức: Ngài sẽ bị mời ra khỏi đây ngay tức khắc. Bởi vì Ngài không mặc áo như Giáo Hoàng, như Hồng Y, như Giám Mục, như Linh mục, như tu sĩ. Nhất là Ngài không đeo phù hiệu của người được mời. Ði vào cơ chế thì phải chịu luật của cơ chế chứ.
Chúng tôi cười. Hai người cùng hiểu đây là một trao đổi đùa, nhưng ám chỉ hy vọng này: Cơ chế Hội Thánh luôn bảo vệ Chúa, chứ không bảo vệ chính mình.
Hôm nay, dịp Xuân về, tôi cầu chúc có những đổi mới cơ chế bên ngoài. Nhưng nhất là cầu chúc có sự đổi mới cơ chế bên trong tâm hồn mỗi người chúng ta. Tức là mọi suy nghĩ, mọi khát khao, mọi chọn lựa của ta luôn được dựa trên các tiêu chuẩn thực sự Phúc Âm. Nhờ vậy, khi Chúa đến, dù dưới hình thức nào, ta vẫn nhận ra Người và đón nhận Người.
Năm mới này sẽ có những sóng thần vô hình, nhỏ mà mạnh. Nếu ta không bám chặt vào Chúa là Ðấng cứu độ ta, những sóng thần đó sẽ ập vào tàn phá các cộng đoàn, các gia đình, các lòng người và chính mình ta.
Tôi cầu chúc thiết tha mọi người được ơn sáng suốt nhận ra mối đe doạ đó, ngay từ đầu xuân mới.
Ngày 14 tháng 01 năm 2005
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây