Suy tư của Đức Cha GB Bùi-Tuần Bài 1801-1850

Chủ nhật - 22/09/2019 06:56
Suy tư của Đức Cha GB Bùi-Tuần Bài 1801-1850
Suy tư của Đức Cha GB Bùi-Tuần Bài 1801-1850
Suy Tư của Đức Cha GB. Bùi Tuần Bài 1801-1850

Bùi-Tuần 1801: Thao thức trước biến chuyển đời tu. 2
Bùi-Tuần 1802: Tập trung vào Ðức Kitô. 4
Bùi-Tuần 1803: Ðón nhận tin vui 7
Bùi-Tuần 1804: Thánh hoá Linh Mục trong những gặp gỡ. 10
Bùi-Tuần 1805: Nhìn vào lời cầu của Linh Mục. 13
Bùi-Tuần 1806: Linh Mục ca tụng Chúa từ những yếu đuối 16
Bùi-Tuần 1807: Linh Mục tâm sự về đức tin. 18
Bùi-Tuần 1808: Linh Mục với những chủ quan. 21
Bùi-Tuần 1809: Linh Mục và các tiêu cực trong cộng đoàn. 24
Bùi-Tuần 1810: Linh Mục nâng tâm hồn lên với Chúa. 26
Bùi-Tuần 1811: Linh Mục với những cái nhìn đổi mới 29
Bùi-Tuần 1812: Linh Mục hiểu về quyền năng Chúa. 31
Bùi-Tuần 1813: Linh Mục với những người đau khổ. 34
Bùi-Tuần 1814: Linh Mục và những tự hào nguy hiểm.. 37
Bùi-Tuần 1815: Linh Mục và định hướng. 39
Bùi-Tuần 1816: Nhìn lại năm qua. 42
Bùi-Tuần 1817: Tin Mừng cứu độ. 45
Bùi-Tuần 1818: Năm Thánh nhìn xuống. 48
Bùi-Tuần 1819: Hành hương. 50
Bùi-Tuần 1820: Tâm tình Noel 53
Bùi-Tuần 1821: Dự báo tôn giáo. 56
Bùi-Tuần 1822: Của lễ hành hương cứu độ. 59
Bùi-Tuần 1823: TĨNH LẶNG.. 61
Bùi-Tuần 1824: TÍNH SỔ LINH HỒN.. 63
Bùi-Tuần 1825: TỪ BÊN TRONG.. 67
Bùi-Tuần 1826: ĐỨC MẸ LÊN TRỜI TẠI VIỆT NAM HÔM NAY.. 69
Bùi-Tuần 1827: NHỮNG CẢNH BÁO.. 73
Bùi-Tuần 1828: MƠ ƯỚC ĐẦU XUÂN.. 75
Bùi-Tuần 1829: SÁM HỐI 78
Bùi-Tuần 1830: HIẾN TẾ CHÍNH MÌNH.. 81
Bùi-Tuần 1831: TÂM TÌNH VỀ ĐỨC TỔNG GIÁM MỤC.. 84
Bùi-Tuần 1832: NIỀM VUI PHỤC SINH NƠI CHÚNG TA.. 87
Bùi-Tuần 1833: CHÚT TÂM TÌNH VỀ ƠN PHÂN ĐỊNH.. 90
Bùi-Tuần 1834: KHAO KHÁT CHÚA.. 92
Bùi-Tuần 1835: CHÚA ĐANG ĐẾN VỚI TÔI 96
Bùi-Tuần 1836: TRUYỀN TIN CHO ĐỨC MẸ.. 99
Bùi-Tuần 1837: DÂNG HOA NHƯ MỘT HÀNH TRÌNHTRỞ VỀ VỚI CHÚA.. 102
Bùi-Tuần 1838: TÌNH YÊU CÓ HÌNH THÁNH GIÁ.. 104
Bùi-Tuần 1839: ĐỜI LINH MỤC PHẢI LÀ MỘT CUỘC CHIẾN KÉO DÀI 107
Bùi-Tuần 1840: NGUY HIỂM TỪ NỘI BỘ.. 110
Bùi-Tuần 1841: ÂM THẦM... 113
Bùi-Tuần 1842: ĐỨC MẸ MARIA trong đời sống thánh Gioan Baotixita. 115
Bùi-Tuần 1843: TIẾNG KÊU TRONG SA MẠC.. 117
Bùi-Tuần 1844: ĐÔI LỜI VỀ "DẤU ẤN". 120
Bùi-Tuần 1845: XIN ĐỨC MẸ LÊN TRỜI CỨU GIÚP HIỆN TÌNH ĐỨC TIN.. 121
Bùi-Tuần 1846: TÌNH YÊU GIÀU LÒNG THƯƠNG XÓT.. 124
Bùi-Tuần 1847: SỐNG ĐỨC TIN TRONG ĐỜI THƯỜNG.. 127
Bùi-Tuần 1848: NHỮNG KHÓ KHĂN PHỨC TẠP. 129
Bùi-Tuần 1849: VÀI CHỌN LỰA ƯU TIÊN.. 132
Bùi-Tuần 1850: SUY NGHĨ VỀ TRÍ THỨC.. 135

 

Bùi-Tuần 1801: Thao thức trước biến chuyển đời tu

 

Ði tu là đáp lại tiếng gọi của Chúa, chứ không phải để thi hành một luật của Chúa. Theo mạc Bùi-Tuần 1801


1/ Ði tu là đáp lại tiếng gọi của Chúa, chứ không phải để thi hành một luật của Chúa.

Theo mạc khải và kinh nghiệm, thì trong các điều Chúa mời gọi người tu, có 3 điều quan trọng.

 Ðiều thứ nhất là đời sống nội tâm, tương quan của ta với Chúa

Chúa gọi ta, để dâng mình cho Chúa, ta hãy đi theo đường hẹp: “Ai muốn theo Thầy, hãy từ bỏ mình, vác thánh giá mình mà theo Thầy” (Mt 17,24). “Hãy đi vào cửa hẹp” (Mt 7,13).

Dâng mình cho Chúa, thì phải sống mật thiết với Chúa. “Thầy là cây nho, các con là cành” (Ga 15,5).

 Ðiều thứ hai là đời sống phục vụ đồng bào

Xưa Chúa phán: “Ta thương xót dân này” (Mt 15,32). “Hãy cho họ ăn” (Mt 14,16). Chúa muốn và kêu gọi chúng ta hãy thương xót dân, và cứu họ khỏi đói.

Họ đói của ăn vật chất, và càng đói của ăn thiêng liêng, tức là tình thương, các chân lý cứu độ, nhất là sự sống của Chúa, gương sáng về đạo đức, đặc biệt là gương hối cải, trở về.

 Ðiều thứ ba là đời sống tiến thân

Chúa trao cho mỗi người chúng ta một số nén bạc (x. Mt 25,14-30), tức là đức tin đời tu, thời giờ, sức khoẻ, địa vị, kiến thức, hoàn cảnh tốt, và bảo chúng ta phải sinh lời, với những bước tấn tới cho đời sống riêng và chung.

Trên thực tế, một số người tu đã đáp lại tiếng Chúa gọi. Họ trả lời bằng những cố gắng tích cực.

Họ tích cực tham gia vào cộng đồng người tu trong bổn phận thánh hoá.

Họ tích cực tham gia vào cộng đồng tín hữu trong bổn phận làm chứng cho Chúa giữa dòng lịch sử.

Họ tích cực tham gia vào cộng đồng các bề trên của mình trong việc lèo lái con tàu đức tin giữa biển đời đầy giông bão.
Nhưng, cũng có một số người tu đã chỉ đáp lại bằng việc đi tu, nhưng trong đời tu, họ không đáp lại đòi hỏi của đời tu.

2/ Lỗi phạm của họ là thế nào?

Tiên tri Isaia gọi lỗi phạm của họ là sự vô ơn của người con đối với người cha (x. Is 64,7-8).

Cũng tiên tri Isaia còn gọi lỗi phạm đó là sự bất hiếu của người con đã quên tình mẹ cưu mang (x. Is 49,15).

Tiên tri Osê thì gọi lỗi phạm đó là sự bất trung đối với người yêu (x. Os 2).

Nghĩa là, khi người ta không đáp lại những lời Chúa kêu mời họ, thì ta xúc phạm đến tình yêu Chúa. Xúc phạm đến tình yêu Chúa, chứ không hẳn là xúc phạm đến luật Chúa. Và như vậy, khi sám hối ăn năn, người tu nên để ý đến sự mình xúc phạm đến tình yêu Chúa. Ðể được vậy, phải rất cần đến ơn nếm được tình yêu Chúa quý giá cao cả dường nào.

Mọi sám hối ăn năn của người tu đều là những khiêm tốn bắt đầu lại.

3/ Nếu người tu không sám hối ăn năn, sửa mình, thì kết quả sẽ thế nào?

Thưa, họ sẽ đi vào tình trạng nguội lạnh (x. Kh 3,15). Kinh Thánh mô tả nguội lạnh là không nóng, không lạnh. Kết quả là sẽ bị Chúa mửa họ ra. Họ sẽ rơi vào những thảm hoạ sau đây:

a) Mất dần ý thức về tội. Coi những bất trung là bình thường. Coi vô cảm trước trách nhiệm là bình thường.

b) Ðời sống nội tâm ra trống vắng. Họ hay lấp cái trống vắng đó bằng đời sống nghiêng về hình thức, ồn ào.

c) Nhiều khi họ đánh lạc hướng bằng sự tự mãn vì một số thành tích thành công bề ngoài.

Kết quả là: Người tu sẽ làm gương xấu cho xã hội, gây hại cho Ðạo Chúa. Họ đánh mất sự bình an.

***

Đến đây, chúng ta có thể có một cái nhìn tổng quát về một chuyển biến nguy hiểm đang xảy ra ở nơi này người nọ trong đời tu tại Việt Nam. Hình ảnh người tu ở một số nơi không còn được sáng về nhiều nét tu tốt đẹp.

Cái nhìn trên đây sẽ giúp cho những người có trách nhiệm đào tạo.

Ðào tạo người tu thành những người biết tổ chức, biết hoạt động hội đoàn, là điều tốt. Nhưng điều tốt hơn, sẽ là đào tạo họ nên những người bén nhạy với những mời gọi của Chúa kể cả khi Chúa gọi qua những dấu chỉ của thời đại, và biết đáp ứng lại những mời gọi ấy.

Người tu chúng ta hãy cầu nguyện nhiều và hãy cộng tác vào việc đào tạo mình, để ta có cái tâm biết thuộc về Chúa, biết gắn bó với Chúa, biết dấn thân cho tình yêu Chúa.

Nếu không, đời tu sẽ xuống dốc thê thảm.

Rất may là Chúa vẫn đánh thức lương tâm người tu chúng ta. Rất mừng là con đường sám hối vẫn rộng mở.

Lạy Chúa, xin thương xót chúng con là những người yếu đuối mọn hèn, rất cần được Chúa cứu độ.

Long Xuyên, ngày 7 tháng 7 năm 2009


 

Bùi-Tuần 1802: Tập trung vào Ðức Kitô


Năm Linh Mục

 

Trong Năm Linh Mục, đã có nhiều người đưa ra đấng thánh này, nhân vật nọ, để nêu gương. Những Bùi-Tuần 1802


Trong Năm Linh Mục, đã có nhiều người đưa ra đấng thánh này, nhân vật nọ, để nêu gương.

Những gương đó, nếu để noi theo, thì cũng vì những gương đó quy chiếu về Chúa Giêsu. Bởi vì chính Chúa Giêsu đã phán: “Chính Thầy là đường, là chân lý và là sự sống” (Ga 14,6). Vì thế, năm Linh mục kêu mời mọi người, nhất là các linh mục, hãy trở về nguồn là chính Ðức Kitô.

Trên lý thuyết, ai trong chúng ta cũng tuyên xưng Ðức Kitô là nguồn mạch cuộc đời mình. Nhưng trên thực tế, nhiều khi chúng ta lại sống xa cách nguồn mạch đó, một phần do áp lực của các phong trào xung quanh.

Chúng ta nên khiêm tốn nhìn vào thực tế đáng buồn ấy.

 1/ Chúa Giêsu là đường

Chúng ta không hề chối điều đó trên lý thuyết. Chúng ta còn thuộc lòng những lời Chúa Giêsu nói về con đường môn đệ Chúa phải đi, như: “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo” (Mt 16,24). Hơn nữa. Chúng ta còn nhớ thêm lời khác Chúa dạy: “Hãy qua cửa hẹp mà vào, vì cửa rộng và đường thênh thang đưa đến diệt vong” (Mt 7,13).

Nhưng hiện nay, cuộc cách mạng kỹ thuật và đời sống hưởng thụ muốn đi con đường khác. Hưởng thụ thì muốn đi đường thênh thang. Kỹ thuật thì không muốn chấp nhận những vất vả, đi chậm, từng bước lặn lội trên đường hy sinh, từ bỏ mình.

Vì thế, trên thực tế, Chúa Giêsu không còn là con đường cho một số người chúng ta nữa.

 2/ Chúa Giêsu là chân lý

Chúng ta vẫn tin những lời Chúa Giêsu dạy về tội phúc, về phán xét, về thiên đàng hoả ngục.

Nhưng hiện nay, cuộc cách mạng khoa học muốn cái gì cũng phải có lý. Ảnh hưởng của nó cũng đã tràn vào lãnh vực mạc khải. Nên không thiếu người đã lý-trí-hoá các chân lý mạc khải. Như chủ trương rằng: Nhiều điều mà mạc khải gọi là tội xét ra là không có lý. Phán đoán đó dẫn đưa tới não trạng không còn ý thức về tội theo mạc khải. Tình trạng này đang phát triển mạnh ở khá nhiều nước đã phát triển về khoa học. Tại đó, tội bị hiểu một cách sai lạc, đức tin cũng bị cắt nghĩa một cách tự do, theo những tiêu chuẩn thuần tuý lý luận khoa học.

Tại Việt Nam, đã thấy rồi một hướng đi đòi mọi sự phải hợp lý theo lý trí và khoa học.

 3/ Chúa Giêsu là sự sống

Ðối với phần đông, cái làm nên sự sống chính là hạnh phúc. Mà hạnh phúc chỉ có được, khi người ta đạt được điều mình muốn.

Cuộc cách mạng văn hoá thực dụng tại nhiều nơi đang coi điều mình muốn có sức làm nên hạnh phúc, chính là cái gì trước mắt, như tiền bạc, uy tín hơn người, khoái lạc hiện tại.

Trong một xã hội, mà văn hoá thực dụng trở thành lẽ sống, tìm hạnh phúc trước mắt, thì bất cứ sự sống truyền thống nào cũng sẽ bị đe doạ. Nhất là khi sự sống lại là chính Chúa Giêsu. Chúa Giêsu chính là sự sống do Tám mối phúc giới thiệu, dẫn về hạnh phúc đời đời trong Thiên Chúa là tình yêu.

Trên đây, tôi gọi những chuyển biến kỹ thuật, hưởng thụ, khoa học và văn hoá thực dụng là những cuộc cách mạng, vì những chuyển biến đó có sức mạnh thay đổi. Có những thay đổi tốt. Có những thay đổi không tốt. Vì thế, trở về nguồn là việc không dễ dàng.

Vậy phải làm gì?

Xin phép chia sẻ một số kinh nghiệm.

Trước hết, chúng ta luôn tin Chúa Giêsu là Ðấng Cứu độ. Chúa phán: “Người khoẻ mạnh không cần đến thầy thuốc, người đau ốm mới cần... Thầy đến không để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi” (Mt 9,12-13).

Chúng ta là những người đau ốm, là người tội lỗi. Trong niềm xác tín khiêm nhường đó, chúng ta suy gẫm lời thánh Phaolô đã viết xưa về bản thân mình: “Thật vậy, muốn sự thiện thì tôi có thể muốn, nhưng làm thì không. Sự thiện tôi muốn thì tôi không làm, nhưng sự ác tôi không muốn thì tôi cứ làm... Tôi thật là một người khốn nạn. Ai sẽ giải thoát tôi khỏi thân xác phải chết này? Tạ ơn Thiên Chúa, nhờ Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta” (Rm 7,19-24).

Ðiều gì thánh Phaolô nói về bản thân ngài, thì ta cũng nói về bản thân ta. Nói với lòng khiêm tốn nhận mình yếu đuối. Ðể rồi nhờ Chúa Giêsu giải cứu cho.

Thêm vào đó, chúng ta lại xin Chúa Giêsu ban ơn cho ta biết phân định cái gì là tốt, cái gì là xấu trên đời này, nhất là ơn không rập theo thói đời, nhưng luôn biết đổi mới tâm hồn. Thánh Phaolô viết: “Anh em đừng có rập theo thói đời này, nhưng hãy cải biến con người anh em bằng cách đổi mới tâm hồn, hầu có thể nhận ra điều gì là ý Chúa, cái gì là tốt, cái gì là đẹp lòng Chúa, cái gì là hoàn hảo” (Rm 12,2).

***

Trên đây là một thoáng nhìn về một chương trình trở về nguồn trong năm linh mục. Nguồn là Chúa Giêsu. Trở về với Chúa Giêsu là nhìn nhận mình yếu đuối, để hết lòng tin cậy nơi Chúa Giêsu là Ðấng Cứu độ.

Lạy Chúa Giêsu, xin thương xót chúng con.

Long Xuyên, ngày 13 tháng 7 năm 2009


 

Bùi-Tuần 1803: Ðón nhận tin vui

 

Ngày 26-7-2009 vừa qua, Toà Thánh công bố bốn bổ nhiệm giám mục cho Giáo Hội Việt Nam Bùi-Tuần 1803


Ngày 26-7-2009 vừa qua, Toà Thánh công bố bốn bổ nhiệm giám mục cho Giáo Hội Việt Nam. Tin đó được loan đi rộng rãi trên khắp nước Việt Nam trong những ngày qua. Mẩu tin vắn, nhưng được đón nhận như một tin quan trọng. Nội bộ Hội Thánh vui mừng. Xã hội Việt Nam quan tâm.

Lắng nghe dư luận và lắng nghe lòng mình, tôi thấy mấy cảm nhận sau đây:

 1/ Người của Chúa

Dân Chúa tại Việt Nam vẫn có lòng tôn trọng sâu sắc đối với các Ðức Giám mục. Lòng tôn trọng ấy được xây dựng trên một niềm tin. Niềm tin ấy nhuốm màu tu đức. Một tu đức rút ra từ Thánh Kinh. Tôi tin các Ðức Giám mục là những người được Chúa gọi, được Chúa chọn, được Chúa yêu thương, được Chúa thánh hoá, được Chúa sai đi. Các ngài kế vị các thánh tông đồ.

Các ngài là người của Chúa. Tôn trọng các ngài sẽ được Chúa thưởng. Xúc phạm đến các ngài sẽ bị Chúa phạt.

Sự tôn trọng các Ðức Giám mục luôn đi kèm với sự nâng đỡ dành cho các ngài. Vì dân Chúa rất biết các ngài vẫn là những người yếu đuối. Các ngài chứa đựng ơn Chúa trong thân phận của chiếc bình sành dễ vỡ.

Ơn mà Chúa ban cho các ngài là ơn làm chủ đoàn chiên. Ơn ấy đòi sự cộng tác của các ngài. Sự cộng tác ấy không miễn trừ cho các ngài khỏi sự từ bỏ mình, vác thánh giá mình mà theo Chúa. Hơn thế, sự dấn thân của các ngài là một lễ tế. Giống như hạt lúa phải chôn vùi và phải thối đi lặng lẽ trong lòng đất, dưới bước chân mọi người đi qua.

Tại Việt Nam, người công giáo quen gọi Ðức Giám mục là Ðức Cha. Ðức Cha là một cách nói thân thương. Chữ Cha để gọi các Ðức Giám mục có một phần tham gia vào danh dự Chúa Cha trên trời, và một phần chia sẻ sự gần gũi người Cha trong gia đình dưới đất.

Người Cha như thế là người được tín nhiệm. Tín nhiệm mà con chiên đặt nơi chủ chiên là tin tưởng và hy vọng trong lãnh vực giữ đạo và truyền giáo. Lãnh vực đó gồm ba hoạt động chính:

Một là rao truyền Lời Chúa.
Hai là phượng tự thờ Chúa.
Ba là yêu thương bác ái phục vụ con người.

Kinh nghiệm cho thấy: Nếu được hướng dẫn, đoàn chiên sẽ biết thực hiện ba việc nói trên một cách chân chính theo thánh ý Chúa. Trái lại, nếu không được hướng dẫn một cách cụ thể, đoàn chiên có thể sẽ đi lạc. Hậu quả sẽ rất tai hại. Vì thế, người hướng dẫn là chủ chăn, phải rất sáng suốt, vì thực tế cuộc đời là rất phức tạp.

 2/ Người của thời cuộc

Khi được chọn và được sai đi, Ðức Giám mục sẽ đi vào thời cuộc.

Tình hình năm 2009 không giống tình hình những năm trước. Có những chuyển biến lớn và nhỏ. Chuyển biến trong mọi lãnh vực như tâm lý, kinh tế, văn hoá, chính trị, xã hội, môi trường. Có những chuyển biến chung cho cả nước. Có những chuyển biến riêng ở từng địa phương. Vì thế, khi được sai đi, vị Giám mục luôn mang tên một địa danh nhất định. Ðịa danh nhất định đó là địa bàn được trao phó. Ðịa danh đó đòi Giám mục được sai đến, phải là người biết xây dựng liên đới mật thiết với địa danh.

Chăn dắt đoàn chiên giữa dòng lịch sử phức tạp, vị Giám mục Việt Nam hôm nay phải là người bám sát thời cuộc, để có những chọn lựa thích hợp đúng đắn.

Bài diễn văn của Ðức Thánh Cha Bênêđictô XVI đọc dịp tiếp Hội đồng Giám mục cuối tháng 6 vừa qua có nhiều nhắc nhở về định hướng mục vụ trước thời cuộc hiện nay của Việt Nam.

Tất cả các bài giảng, trả lời phỏng vấn của các Ðức Giám mục tại Rôma mới rồi đều phảng phất những thao thức về phong cách cần có trước thời cuộc tại Việt Nam hôm nay. Tình hình là rất tế nhị.
Theo thiển ý của tôi, vị Giám mục, khi là người của thời cuộc, sẽ có những nét sau đây:

 Một là tỉnh thức.

Ngài nhìn biến cố một cách riêng rẽ, nhưng lại biết nhìn nó đang cùng với các biến cố khác đi về một định hướng chung nào đó.

Ngài nhìn thấy các bóng tối, nhưng cũng khám phá ra những tia sáng trong cõi âm u.

Ngài nhìn thấy những thất vọng, nhưng lại tìm ra con đường hy vọng chính trong hoàn cảnh bế tắc.

Ngài nhìn thấy bề mặt, nhưng cũng thấu suốt bề sâu. Những sóng ngầm nhiều khi nguy hiểm hơn những cản trở ở bề mặt.

 Hai là thấy trước.

Dẫn đường thì phải thấy trước. Chỗ nào an toàn. Quãng nào nguy hiểm.

Có những người đứng ở Ðiện Biên Phủ năm ấy, mà đã thấy trước tương lai Giáo Hội hôm nay.

Có những người đang đứng ở năm 2009 này mà đã linh cảm về bộ mặt của Công giáo Việt Nam những năm sắp tới.
Có những chủ chăn phác hoạ một chương trình cặn kẽ cho tương lai, nhưng đã phần nào đoán trước những bất ngờ có thể xảy ra, nên dè dặt.

 Ba là biết chọn lựa.

Với cái nhìn vừa rộng, vừa sâu, vừa xa, người chủ chăn biết mình phải có những chọn lựa thích hợp.

Ðã hẳn là phải rao giảng Lời Chúa, phượng tự thờ Chúa, phục vụ yêu thương con người. Nhưng hoàn cảnh khác nhau, thì sự chọn lựa thích hợp cũng không đòi phải giống nhau. Hoàn cảnh này thì nên đề cao việc phượng tự thờ Chúa. Hoàn cảnh nọ thì nên nhấn mạnh đến việc rao giảng Lời Chúa. Hoàn cảnh khác thì dứt khoát phải ưu tiên cho việc yêu thương phục vụ con người, nhất là con người nghèo khổ. Mỗi hoàn cảnh nên vượt qua với nhiều sáng kiến do Chúa Thánh Thần.

Trên đây là một thoáng nhìn:

Vị Giám mục tại Việt Nam hôm nay, phải là người của Chúa, đồng thời cũng phải là người của thời cuộc Việt Nam hôm nay.

Ngài có một cái nhìn của lý trí.
Ngài có một cái nhìn của trái tim.
Ngài có một cái nhìn của Chúa Thánh Thần.

Với thoáng nhìn trên đây, chúng ta cầu chúc các vị Giám mục mới được bổ nhiệm sẽ luôn là người chủ chăn tốt lành như lòng Chúa mong muốn.

Long Xuyên, ngày 29-7-2009


 

Bùi-Tuần 1804: Thánh hoá Linh Mục trong những gặp gỡ


Nhân Năm Linh Mục

 

Trong Năm Linh Mục, Giáo Hội Việt Nam chú trọng nhiều đến việc thánh hoá Linh mục. Thánh hoá Bùi-Tuần 1804


Trong Năm Linh Mục, Giáo Hội Việt Nam chú trọng nhiều đến việc thánh hoá Linh mục. Thánh hoá Linh mục là bổn phận của các linh mục, và cũng là bổn phận của mọi tín hữu.

Phải nói là: Bầu khí cầu cho các linh mục tại Việt Nam được nên thánh hiện nay rất sốt sắng, rất chân thành, rất thiết tha.

Từ bầu khi thiêng liêng ấy, tôi tự hỏi: Linh mục Việt Nam cần được thánh hoá một cách cụ thể ở lãnh vực nào hơn cả. Với kinh nghiệm, tôi tạm trả lời: Linh mục Việt Nam cần được thánh hoá hơn hết trong lãnh vực gặp gỡ.

Tôi xin được phép chia sẻ vắn tắt.

Con người nói chung thường được đánh giá ở những mối tương quan, ở những cuộc gặp gỡ. Càng ngày, những cuộc gặp gỡ càng giúp xây dựng phẩm giá, càng gây được ảnh hưởng gần xa, càng làm nên hình ảnh con người.

Riêng đối với linh mục, những gặp gỡ đang trở thành những phương tiện cho mục vụ, cho truyền giáo. Vì thế có thể nói gặp gỡ nào của linh mục cũng cần được thánh hoá. Tôi bắt đầu từ những gặp gỡ chớp nhoáng.

 1/ Những gặp gỡ chớp nhoáng

Gặp gỡ chớp nhoáng là những gặp gỡ rất vắn, thường là bất ngờ. Những gặp gỡ sau thánh lễ ở sân nhà thờ. Gặp bất ngờ ở ngoài đường, giữa phố. Chỉ bằng một lời chào, một bắt tay, một cái nhìn. Những gặp gỡ như thế thường rất hồn nhiên, nhưng nhiều khi gây một ấn tượng không bao giờ quên. Cho đến bây giờ, tôi vẫn còn nhớ rõ một số gặp gỡ chớp nhoáng trên mọi chân trời. Những người ấy đã để lại trong tôi nhiều tình cảm nâng đỡ quý giá.

 2/ Những gặp gỡ xã giao

Linh mục không tránh được những cuộc gặp gỡ xã giao. Như với các chức sắc của chính quyền, của các tôn giáo bạn, của các đoàn thể xã hội. Cách đối xử, cách quan tâm đến những gì khách làm, khách sống, các trao đổi về các vấn đề đặt ra. Tất cả đều có thể gởi gắm cho họ lòng kính trọng và tình yêu thương. Họ không thấy linh mục làm gì nói gì trong nhà thờ. Họ chỉ gặp linh mục trong những khoảnh khắc xã giao. Nhưng khoảnh khắc đó nhiều khi đã nói được nhiều tâm sự, nếu linh mục có Chúa Thánh Thần hướng dẫn.

 3/ Những gặp gỡ huấn luyện tu đức

Ðó là những gặp gỡ nhắm mục đích huấn đức, giảng dạy. Nhiều linh mục đã dành một số thời giờ đáng kể đời mình cho những gặp gỡ đó. Chuẩn bị là một công việc vất vả. Phải đọc sách, phải sưu tầm, phải chọn lựa, phải quan sát, phải cầu nguyện, phải viết ra. Ðến chính lúc gặp gỡ, thì phải kết hợp với Chúa để mình không phải chỉ nói lên tư tưởng, mà còn chuyển tải sự sống Chúa vào lòng người khác.
Nhiều khi được tham dự những cuộc gặp gỡ huấn luyện tu đức, tôi có cảm tưởng như mình được nâng tâm hồn lên với Chúa, được Chúa chia sẻ cho sự bình an từ trời.

Trái lại, sẽ rất nản khi những gặp gỡ gọi là huấn luyện tu đức lại trống vắng bầu khí nội tâm.

 4/ Những gặp gỡ làm việc

Có những hội họp, mà linh mục phải chủ trì hay tham dự. Sự hiện diện của linh mục tại các cuộc họp đó vốn được tôn trọng. Ðược tôn trọng không phải chỉ vì danh dự do người của cơ chế, mà còn vì trình độ của ngài. Trình độ đạo đức, trình độ trí thức, trình độ nghiên cứu, trình độ suy tư, trình độ khôn ngoan.

Ngài khôn ngoan, không phải vì chọn ý kiến của đa số, mà vì chọn ý Chúa một cách thuyết phục và tế nhị.

Ngài khôn ngoan, ở chỗ khéo biến những khác biệt thành những yếu tố bổ túc cho sự hợp nhất vì ích chung.

Ngài khôn ngoan, ở chỗ khéo để cho mọi người tham dự đều được đóng góp ý kiến của mình với tinh thần trách nhiệm.

Ngài khôn ngoan, ở chỗ đưa cuộc họp làm việc trở thành một dịp đào tạo, để có nhiều cộng tác viên trưởng thành.

 5/ Những gặp gỡ với tư cách đại diện đoàn chiên

Tôi muốn nói tới những gặp gỡ của linh mục trong các thánh lễ của ngài. Khi dâng thánh lễ, linh mục gặp gỡ dân, cùng dân đến với Chúa, ngài lại gặp gỡ Chúa, để cùng Chúa đến với dân. Khi hiểu như vậy, tôi coi những gặp gỡ đó như mang tư cách của người đứng đầu đoàn chiên. Linh mục lúc đó phải là người được thánh hoá. Sự thánh thiện đòi một mức độ sâu bên trong tâm hồn. Sự thánh thiện cũng chờ đợi được toả sáng ra bên ngoài. Ở dung mạo ngài, ở thái độ cử chỉ của ngài.

Tôi được hạnh phúc đứng bên cạnh Ðức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II trong nhiều thánh lễ. Tôi cảm thấy rõ sự thánh thiện toả ra trong giọng nói của Ngài, trong cái nhìn của Ngài. Một sự thánh thiện của người chủ chiên nhân ái khiêm nhường, sẵn sàng đền tội cho đoàn chiên. Một sự thánh thiện của người đứng đầu đang ôm vào lòng những người nghèo khổ, tội lỗi, bệnh tật, cô đơn, bị áp bức, hèn mọn. Một sự thánh thiện phản chiếu Thiên Chúa là tình yêu giàu lòng thương xót.

 6/ Những gặp gỡ gián tiếp

Khi linh mục đọc báo, nghe đài, xem truyền hình, theo dõi báo cáo, là lúc ngài gặp gỡ những chuyển biến của tình hình địa phương, đất nước, thế giới và Hội Thánh. Gặp gỡ đó là gián tiếp, vì qua các phóng viên và bao người khác có liên quan.
Linh mục lúc đó có thể được phép giữ thái độ dè dặt. Kinh nghiệm cho thấy những hạn chế của các gặp gỡ gián tiếp. Thái độ dè dặt của ngài phát xuất từ một sự thánh thiện và trình độ nhân bản.

 7/ Những gặp gỡ đời thường

Ðó là những chào hỏi, trao đổi, ở đời thường, về đời thường, như một người thường, với những người thường. Nội dung gặp gỡ có lúc mới mẻ, có lúc quen thuộc, có lúc chỉ là máy móc.

Linh mục trong những lúc đó sẽ biết đón nhận và cho đi những gì giúp xây dựng sự hiệp thông, sự hiệp nhất. Tuyệt đối tránh bất cứ sự gì gây bất hoà, nghi kỵ. Do đó, gặp gỡ đời thường cũng không được coi thường. Nhiều khi những gặp gỡ đời thường lại giúp thánh hoá con người một cách kín đáo, tế nhị, nhưng có hiệu quả.

***

Hình ảnh linh mục Việt Nam hôm nay là hình ảnh một con người gặp gỡ. Mọi tình hình đạo đời đều không đơn giản. Vì thế gặp gỡ nào cũng không nên giản đơn. Một trình độ nhân bản, trí thức, đạo đức và thánh thiện sẽ giúp linh mục gặp gỡ mọi người trong chân lý và tình yêu của Thiên Chúa giàu lòng thương xót.

Viết để mừng kỷ niệm 35 năm Linh Mục của Ðức Cha Giuse Trần Xuân Tiếu

(10/8/1974-10/8/2009)

Long Xuyên, ngày 7 tháng 8 năm 2009


 

Bùi-Tuần 1805: Nhìn vào lời cầu của Linh Mục


Nhân Năm Linh Mục

 

Trong đời sống thiêng liêng, việc cầu nguyện giữ một vai trò quan trọng. Cầu nguyện của linh Bùi-Tuần 1805


Trong đời sống thiêng liêng, việc cầu nguyện giữ một vai trò quan trọng. Cầu nguyện của linh mục có phần chung của mọi tín hữu, và có phần riêng dành cho linh mục. Phần riêng cho linh mục đôi khi có công thức. Thường thì để tự ý linh mục. Mỗi linh mục có thể cầu nguyện những gì có liên quan đến chức vụ của mình. Cầu nguyện như thế tạm gọi là lời cầu của linh mục. Nếu chia sẻ, thì có thể thấy những gì riêng tư. Nhưng những riêng tư ấy cũng hy vọng gặp gỡ được nhiều tâm hồn. Dưới đây là một trường hợp.

 1/ Cầu nguyện cho đoàn chiên

Khi cầu nguyện cho đoàn chiên, linh mục ghi nhận và cảm nhận tình hình thực tế cuộc sống của đoàn chiên. Ghi nhận đúng. Cảm nhận sâu sắc. Thực tế cuộc sống gồm nhiều mặt. Từ thực tế đó, linh mục thường sẽ cầu nguyện Chúa hai việc sau đây:

a) Xin giúp nuôi dưỡng đoàn chiên

Lương thực nuôi dưỡng đoàn chiên thuộc lãnh vực vật chất, tinh thần và đạo đức. Nhưng ưu tiên là đạo đức. Ðạo đức thì bao la. Có đạo đức thuộc con người nói chung. Có đạo đức thuộc người con Chúa nói riêng. Thứ đạo đức nuôi dưỡng người con Chúa là thứ đạo đức đặc biệt. Ðó là chính sự sống của Chúa được chia sẻ cho.

“Thầy là cây nho, các con là ngành” (Ga 16,5). Ngành được nuôi dưỡng bằng sự sống của thân cây. Hiểu như thế, linh mục làm hết sức mình, để nuôi dưỡng đoàn chiên mình bằng sự sống của Thiên Chúa. Sự sống ấy được ban ra qua Lời Chúa, các phép Bí Tích, sự cầu nguyện và các việc lành. Ðể nuôi dưỡng đoàn chiên bằng các nguồn đó, chính linh mục cũng phải được nuôi dưỡng mình như vậy.

Nếu chẳng may, từ đoàn chiên đến chủ chiên lại tự an tâm với những lương thực khác, thí dụ các hình thức giữ đạo bề ngoài, các sinh hoạt ồn ào trống rỗng, các hội họp phô trương thành tích, các đua đòi thế tục, vv... thì sẽ không tránh được thảm cảnh suy thoái. Thảm cảnh đáng sợ nhất là mình gầy ốm, bệnh tật thiêng liêng, mà vẫn không cảm nhận được sự thực nguy khốn đó do chính mình tạo ra.

Vì thế, linh mục sẽ rất cảm tạ Chúa, khi thấy đoàn chiên cũng như chính mình biết đón nhận sự sống của Chúa. Ngài càng rất cảm tạ Chúa, vì Chúa đã giúp ngài và nhiều linh mục biết góp phần nuôi dưỡng đoàn chiên hằng ngày bằng những bài giảng dọn kỹ, bằng những thánh lễ sốt sắng, bằng những mẩu đời thường đạo đức.

b) Xin giúp giải thoát đoàn chiên

“Xin cứu chúng con khỏi mọi sự dữ”. Cùng với mọi tín hữu, linh mục đọc lời cầu trên đây của kinh Lạy Cha. Nhưng với kinh nghiệm đời linh mục, linh mục sẽ cầu xin Chúa giải thoát đoàn chiên khỏi một số sự dữ, mà ngài thấy là quá nguy hiểm. Trong số đó, phải nói tới thói quen tự mãn dưới nhiều hình thức tinh vi, chẳng hạn một số thành kiến về tôn giáo, xã hội và chính trị, một số mê hoặc chạy theo ngẫu thần.

Linh mục nhớ lời Kinh Thánh nói: “Thiên Chúa chống lại kẻ kiêu ngạo, nhưng ban ơn cho kẻ khiêm nhường” (Pr 5,5). Thực vậy, kiêu ngạo là đầu mối của mọi hình thức con người chống lại Chúa, khiến Chúa phải chống lại con người.

Kiêu ngạo có thể khởi sự bằng một vài việc nhỏ. Nhưng khi tiếp tục nhiều lần, nó sẽ dễ trở thành não trạng tự mãn. Nó dần dần xâm chiến trí khôn, ý muốn, trí vẽ, trí nhớ, ảnh hưởng đến mọi phán đoán và chọn lựa. Con người lúc đó sẽ trở thành nơi trú ngụ của quỷ thần. Họ bị xiềng xích. Họ bị điều khiển. Họ rất cần được giải thoát.

Giải thoát một người khỏi quyền lực của Satan là việc rất khó. Linh mục rất hiểu điều đó. Nên ngài đưa điều đó vào lời cầu nguyện của ngài. Xin Chúa thương giải thoát đoàn chiên và chính ngài khỏi mọi sự dữ, nhất là khỏi tính tự mãn hay ẩn náu trong nhiều việc đạo đức thiếu tỉnh thức, và nhiều thành kiến nguy hiểm.
Thêm vào lời cầu nguyện, ngài coi việc khiêm nhường sám hối trở về hằng ngày với Chúa là một thứ nài van khẩn khoản.

Ðồng thời, ngài quan tâm khuyến khích những người sống hy sinh âm thầm, chấp nhận chôn vùi, cởi mở, dấn thân trong phục vụ con người và phượng thờ Chúa.

Tôi rất cảm tạ Chúa, khi thấy Chúa đã dùng nhiều linh mục đạo đức để giải thoát từng cá nhân và cả cộng đoàn khỏi bầu khí tự mãn thế tục dùng Chúa như một phương tiện. Thay vào bầu khí đó là bầu khí bình an, khiêm hạ, toả hương bác ái trong ánh sáng chân lý dịu hiền.

 2/ Cầu cho chính mình

Khi cầu cho chính mình, linh mục thường rất đơn sơ vắn gọn. Với tất cả tâm hồn, linh mục chỉ xin cho mình một điều là: Ðược thuộc trọn về Chúa, được dần dần nên giống Chúa, được luôn luôn thực thi ý Chúa.

Ý hướng cầu nguyện đó luôn phảng phất trong mọi giờ, mọi phút. Nhưng nhiều khi nó được diễn tả ra bằng những lời cầu vắn tắt quen thuộc trong Phúc Âm. “Lạy Chúa, xin thương xót con. Lạy Chúa, con tin cậy phó thác nơi Chúa. Lạy Chúa, xin thương đỡ nâng con”.

Cầu nguyện như thế, linh mục cảm thấy mình bé nhỏ, đồng thời cảm thấy Chúa gần gũi. Cảm nhận đó giúp linh mục yêu thương con người, nhất là lớp người nghèo khổ.

***

Linh mục cầu nguyện sốt sắng để rồi khiêm tốn phục vụ con người, đó là một hình ảnh đẹp rất bình dân của linh mục. Qua hình ảnh đẹp đó, người ta có thể thấy được phần nào Thiên Chúa và Hội Thánh của ta.

Long Xuyên, ngày 14 tháng 8 năm 2009


 

Bùi-Tuần 1806: Linh Mục ca tụng Chúa từ những yếu đuối


Nhân Năm Linh Mục

 

Ca tụng Chúa là việc thường ngày của linh mục. Lý do ca tụng thì vô vàn. Sách kinh dạy. Sách Bùi-Tuần 1806


Ca tụng Chúa là việc thường ngày của linh mục. Lý do ca tụng thì vô vàn. Sách kinh dạy. Sách lễ dạy. Tu đức dạy.

Ngoài ra, còn những lý do riêng. Như từ một công trình đã hoàn tất, từ một phát triển đã thành công, từ một bậc thang địa vị được bước lên, nhất là từ người phàm được phong lên chức linh mục.

Nhưng không thiếu những linh mục đã ca tụng Chúa từ những lý do rất riêng tư, kín đáo. Ở đây, xin chia sẻ về hình ảnh linh mục ca tụng Chúa từ những yếu đuối của mình. Ngài bắt chước thánh tông đồ Phaolô.

 1/ Từ vực sâu tội lỗi

“Ðây là lời đáng tin cậy và đáng mọi người đón nhận. Ðức Kitô đã đến trong thế gian để cứu những người tội lỗi, mà kẻ đầu tiên là tôi. Sở dĩ tôi được thương xót, là vì Ðức Kitô muốn tỏ bày tất cả lòng đại lượng của Người nơi tôi là kẻ đầu tiên, mà đặt tôi làm gương cho những ai sẽ tin cậy Người, để được sống đời đời” (1 tm 1,15-16).

Nhận thức sâu xa về tình hình tội lỗi của mình, linh mục ca tụng Ðức Kitô cứu độ. Trong tâm tình ca tụng, có lòng sám hối và cảm tạ Chúa. Tội lỗi giúp ngài sống liên đới với mọi người tội lỗi. Ngài là một người như họ. Ngài đứng giữa họ. Ngài cùng đi với họ. Ơn cứu độ là do Chúa xót thương, kết nối ngài vào chuỗi dài những kẻ sẽ tin cậy Chúa.

Ngài thú nhận mình là kẻ tội lỗi. Không phải chỉ bằng công thức “kinh Cáo Mình”, mà còn bằng tất cả thái độ sống của mình. Thái độ sống ấy là sự khiêm nhường. Không bao giờ khinh miệt loại trừ kẻ tội lỗi. Không bao giờ dám vỗ ngực tự nhận mình là kẻ đạo đức hơn người. Nếu được phép giới thiệu mình, ngài sẽ không ngại xưng mình là kẻ đến từ vực sâu tội lỗi. Chúa đã cứu độ ngài, chỉ do lòng thương xót của Chúa mà thôi.

 2/ Từ chiến trường ác nghiệt

“Thực vậy, muốn sự thiện thì tôi có muốn, nhưng làm thì không. Sự thiện tôi muốn thì tôi không làm, nhưng sự ác tôi không muốn thì tôi cứ làm... Nếu tôi cứ làm điều tôi không muốn, thì tôi không còn phải là chính tôi làm điều đó, nhưng là tội vẫn ở trong tôi. Bởi đó, tôi khám phá ra rằng: Khi tôi muốn làm sự thiện, thì lại thấy sự ác xuất hiện ngay” (Rm 7,18-21).

Linh mục rất xót xa, khi phải nhìn nhận bản thân mình không luôn là một tình hình ổn định, nhưng là một chiến trường ác liệt. Có điều thiện bị chối từ. Có điều ác lại được tiếp đón. “Thật tôi là một người khốn nạn! Ai sẽ giải thoát tôi khỏi thân xác phải chết này? Tạ ơn Thiên Chúa, chính nhờ Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta” (Rm 7,24). Linh mục rất cảm tạ ngợi khen Chúa Giêsu. Chúa ở bên ngài giữa chiến trường ác nghiệt, để giải cứu ngài.

 3/ Từ thân phận chiếc bình sành

“Những kho tàng ấy, chúng tôi lại chứa đựng trong những bình sành, để chứng tỏ quyền năng phi thường phát xuất từ Thiên Chúa, chứ không phải từ chúng tôi” (2 Cr 4,7).

Linh mục bảo vệ những kho tàng vô giá của Tin Mừng Chúa đã ban cho ngài. Nhưng ngài chỉ là một chiếc bình sành. Mong manh dễ vỡ. Có trường hợp chiếc bình đã rạn nứt. Có trường hợp chiếc bình đã thực sự vỡ. Nhưng Chúa đã thương sửa chữa lại.

Hồi tâm, sám hối, đi xưng tội, đó là những việc linh mục thực hiện hàng tháng, có khi hàng tuần.

Mong manh, mỏng giòn, hình ảnh ấy trở thành một thực tế. Thực tế ấy vốn mãi mãi giữ nguyên thực trạng, cho dù linh mục trải qua nhiều biến chuyển về tuổi tác, về sức khoẻ, về trách niệm, về nơi chốn. Ngài phó thác nơi Chúa. Nhưng phó thác không miễn cho ngài phải tỉnh thức và phấn đấu trong tinh thần khiêm tốn.

 4/ Từ thực tế luôn bị đinh đâm

“Thân xác tôi như bị một cái đinh đâm vào, một thủ hạ của Satan được sai đến vả mặt tôi, để tôi khỏi tự cao tự đại. Ðã ba lần, tôi xin Chúa cho tôi thoát khỏi nỗi khổ này. Nhưng Chúa quả quyết với tôi: Ơn của Thầy đã đủ cho con, vì sức mạnh của Thầy được biểu lộ trọn vẹn trong sự yếu đuối. Vì thế, tôi rất vui mừng về những yếu đuối của tôi để sức mạnh của Ðức Kitô ở mãi trong tôi. Vì vậy, tôi cảm thấy vui mừng khi mình yếu đuối, khi bị sỉ nhục, hoạn nạn, bắt bớ, ngặt nghèo vì Ðức Kitô. Vì khi tôi yếu, chính là lúc tôi mạnh” (2 Cr 12,7-10).

Những lời trên đây trấn an linh mục rất nhiều. Thân phận linh mục bị đinh đâm vào, đó là một kinh nghiệm sống. Không phải một chiếc đinh, mà nhiều chiếc đinh đâm cùng một lúc. Ðinh lớn có, đinh nhỏ có. Những gì gây nên khổ đau cho linh mục dấn thân thường rất nhiều và rất phức tạp. Nhưng Chúa đã cứu ngài. Không phải cứu cho khỏi những đớn đau, nhưng khỏi những cám dỗ từ những đau đớn. Chúa giúp ngài hiểu ý nghĩa nhiệm mầu của những đau đớn xảy ra trong đời linh mục, nhất là từ những yếu đuối của ngài.

***

Với những tâm tình trên đây, linh mục sẽ mừng năm linh mục của mình theo hướng ca tụng Chúa một cách âm thầm thân mật. Nếu việc ca tụng cảm tạ Chúa được tổ chức thành lễ lạy, thì hướng nội tâm này vẫn hiện diện, như một yếu tố căn bản của kẻ được Chúa sai đi, mặc dầu với nhiều yếu đuối, mỏng manh.

Long Xuyên, ngày 19 tháng 8 năm 2009


 

Bùi-Tuần 1807: Linh Mục tâm sự về đức tin

Nhân Năm Linh Mục


 

Linh mục sống đức tin, giảng về đức tin, làm chứng cho đức tin. Nếu hỏi đức tin là gì, linh mục Bùi-Tuần 1807


Linh mục sống đức tin, giảng về đức tin, làm chứng cho đức tin.

Nếu hỏi đức tin là gì, linh mục sẽ dễ trả lời theo bài bản dạy sẵn trong thần học, giáo lý. Trả lời như thế xem ra dễ. Nhưng hiểu được đức tin thì không dễ.

Người ta thường hiểu đức tin phần nào nhờ những tâm sự. Có nhiều tâm sự rất phong phú và rất riêng tư về đức tin. Trong những khác biệt riêng tư, người ta có thể tìm được những gì là chung, giúp người ta thấy được đôi chút hình ảnh và hành trình của đức tin.

Thực vậy, đức tin nơi mỗi người có một khuôn mặt và một hành trình.

 1/ Gắn bó với một Ðấng thiêng liêng hằng sống

Ðức tin là một ơn Chúa ban. Chúa ban ơn này một cách tự do, nhưng không, do Chúa chủ động.

Khởi đầu là một tiếng Chúa gọi.

Về phía Chúa, tiếng gọi đó là quà tặng gởi đến mỗi người. Chúa gọi qua nhiều ngã, như phép Rửa tội, cha mẹ, nhà thờ, sách báo, vv...

Về phía con người, tiếng gọi đó phải được nghe thấy. Quà tặng phải được đón nhận. Sự cởi mở khiêm tốn là điều kiện tốt để đón nhận ơn Chúa.

Gọi và nghe, tặng và đón nhận, tất cả không xảy ra chỉ một lần, nhưng là nhiều lần.

Thời gian đầu, con người thường được nghe Lời Chúa, kèm theo là được xem những lễ nghi thờ phượng Chúa. Họ được thu hút và gắn bó với những giá trị đó.

Nhưng dần dần, với thời gian, con người vượt qua những gì đã nghe và đã xem, để gặp được một Ðấng thiêng liêng vô hình. Họ nói như thánh Gioan Tiền Hô: “Ðây Ðấng xoá tội trần gian” (Ga 1,29). Từ đó, đức tin đối với họ không phải là chấp nhận những chân lý đạo, nhưng là gắn bó với một Ðấng thiêng liêng vô hình, Ðấng hằng sống nói. Con người lắng nghe, và đón nhận. Những gì đón nhận phải được vun trồng. Như những hạt giống lớn lên trong mảnh đất được chăm sóc.

Ðức tin càng được chăm sóc bởi tấm lòng khiêm cung cầu nguyện, con người càng thấy Chúa là chân lý, là tình yêu, là tuyệt đối, tuyệt vời, đầy lòng thương xót.

Ðức tin lúc đó trở thành một thứ hương vị thiêng liêng. Hương vị ngọt ngào ấy làm nên một môi trường hạnh phúc. Ðược ở trong đó, con người cảm thấy có sự trong sáng bình an.

Nhờ đó, người sống đức tin dễ phân biệt được cái gì là căn bản và những gì là phù du, phụ thuộc.

Cũng vì thế, người sống đức tin thực sự sẽ không quá câu nệ vào những hình thức bên ngoài trống rỗng, như các Pharisêu xưa. Nhưng họ thấy rõ giá trị đức tin lan toả ở những nội tâm đạo đức, dù đó là nơi thô sơ, hồn nhiên, hèn mọn.

 2/ Tìm nói lên và thực thi thánh ý Chúa

Hành trình của đức tin diễn tiến không ngừng. Một trong những điều mà hành trình đức tin tìm kiếm là nhận ra thánh ý Chúa và thực thi thánh ý Chúa.

Ðức Mẹ đã xin vâng. Lời xin vâng của Ðức Mẹ ngày truyền tin sẽ mãi mãi hướng dẫn đời sống đức tin của Ðức Mẹ.

Tìm kiến thánh ý Chúa để xin vâng thực thi trọn vẹn là điều người sống đức tin luôn thao thức.

Thánh ý Chúa sẽ được soi cho họ qua nhiều ngã. Thí dụ qua một Lời Chúa, ngay cả qua một biến cố coi như không thuận lợi.

Thời đó, dân chúng ra đi, bỏ Chúa Giêsu. Cảnh đó đáng buồn. Càng đáng buồn hơn, khi một số môn đệ cũng bỏ đi. Nhưng chính trong cảnh rất đáng buồn đó, thánh Phêrô đã nhận được thánh ý Chúa là hãy hết lòng tuyên xưng. Chúa Giêsu hỏi: “Cả anh em nữa, anh em cũng muốn bỏ đi sao? Ông Simon Phêrô liền thưa: Thưa Thầy, bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai? Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời đời” (Ga 7,67-68).

Hiện nay, cảnh bỏ đạo đang xảy ra đó đây. Nhưng chính trong cảnh buồn đó, không thiếu người đã nhận được thánh ý Chúa là phải tuyên xưng niềm tin vững mạnh vào Chúa, cho dù phải cô đơn khốn khố.

Trong một thời điểm, mà nhiều người tưởng thánh ý Chúa chỉ sẽ dành cho những người nổi nang, thông thái, thì không thiếu người đã nghe được lời Chúa Giêsu nói với Chúa Cha: “Con tạ ơn Cha, vì đã mạc khải những điều ấy cho những kẻ bé mọn” (Lc 10,21).

Thánh ý Chúa rất khác ý người ta.

Trong một thời điểm, mà hầu hết mọi người đều coi những người giàu sang quyền thế là những người được hạnh phúc, thì họ lại được nghe Ðức Mẹ nói: “Chúa hạ bệ những ai quyền thế. Người nâng cao mọi kẻ khiêm nhường. Kẻ đói nghèo, Chúa ban của đầy dư. Người giàu có lại bị đuổi về tay không” (Lc 1,52-53).

Khi thánh linh mục Gioan Vianney đến xứ Ars, ngài thấy một cảnh khô khan đáng sợ. Chính trong tình hình đó, ngài đã nhìn thấy ý Chúa gởi cho ngài là bản thân ngài hãy tập trung vào đời sống đạo đức, khó nghèo, khiêm tốn, cầu nguyện, dạy giáo lý và sám hối. Ngài đã thực thi.

Khi thánh nữ Têrêsa Calcutta lo truyền giáo ở Ấn Ðộ, ngài thấy xung quanh hầu như toàn là ngoài công giáo. Chính trong cảnh đó, ngài nhận ra ý Chúa là hãy làm chứng cho Chúa bằng đời sống khó nghèo, khiêm tốn, cầu nguyện và hoà mình phục vụ lớp người nghèo khổ. Ngài đã thực thi.

Ðức tin giúp mỗi người khám phá và sáng tạo trong những hoàn cảnh cụ thể. Nhưng họ biết không phải phục vụ nào cũng là ý Chúa.

***

Trên đây là tâm sự về đức tin của nhiều linh mục Việt Nam hôm nay. Xin tạ ơn Chúa vì những tâm sự như thế. Từ những tâm sự này, chúng ta có thể thấy sự thực đức tin không là việc dễ. Biết đáp lại tiếng Chúa gọi, gắn bó với Chúa, thực thi ý Chúa, tất cả đều không dễ chút nào. Nên phải rất khiêm nhường cầu xin ơn Chúa.

Long Xuyên, ngày 25 tháng 8 năm 2009


 

Bùi-Tuần 1808: Linh Mục với những chủ quan


Nhân Năm Linh Mục

 

Mỗi linh mục có những khác biệt riêng. Những khác biệt riêng đó làm nên một số chủ quan nơi Bùi-Tuần 1808


Mỗi linh mục có những khác biệt riêng. Những khác biệt riêng đó làm nên một số chủ quan nơi mỗi linh mục. Có những chủ quan tốt. Có những chủ quan vô hại. Có những chủ quan đáng ngại. Ở đây, tôi xin chia sẻ suy nghĩ của tôi về một số chủ quan đôi khi gây ảnh hưởng bất ngờ đáng ngại cho chức vụ linh mục. Tôi dựa vào Phúc Âm.

 1/ Chủ quan, khi nghĩ quá tốt về mình

Phúc Âm thánh Matthêu ghi lại chi tiết sau đây về thánh Phêrô:

“Hát thánh vịnh xong, Ðức Kitô và các môn đệ ra đi lên núi Ôliu.

Bấy giờ Ðức Kitô nói với các ông:

Ðêm nay tất cả anh em sẽ vấp ngã vì Thầy... Ông Phêrô liền thưa: Dầu tất cả có vấp ngã vì Thầy đi nữa, thì con đây cũng chẳng bao giờ vấp ngã. Ðức Giêsu bảo ông: Thầy bảo thật anh: Nội đêm nay, gà chưa kịp gáy, thì anh đã chối Thầy ba lần. Ông Phêrô lại nói: Dầu có phải chết với Thầy, con cũng không chối Thầy” (Mt 26,30-35).

Quả quyết của thánh Phêrô là rất chân thành. Nhưng ngài chỉ thấy một, mà không thấy mười. Ngài không thấy tình hình bên ngoài đang xấu đi một cách bi đát. Quyền đạo nhất định loại trừ Chúa Giêsu một cách quyết liệt. Ðang khi đó, các môn đệ Chúa, trong đó có thánh Phêrô, đang tới lúc mệt mỏi, không còn muốn cầu nguyện và thức nổi với Thầy. Tất cả đều là sự thực. Nhưng thánh Phêrô không nhận ra. Ngài chủ quan. Ngài nghĩ quá tốt về mình. Chủ quan đó là tai hại. Bởi vì nó dẫn tới việc Phêrô chối Chúa. Ðó là một bất ngờ đau đớn. Nguyên do là quá chủ quan về mình, cho mình là vững mạnh, mà thực ra là quá yếu.

Chủ quan trên đây của thánh Phêrô cũng có thể xảy ra cho bất cứ linh mục nào. Ðôi khi sự suy sụp vấp ngã không do những chủ quan lớn, nhưng do những chủ quan nhỏ.

 2/ Chủ quan, khi tưởng ý muốn của mình là hợp ý Chúa

Phúc Âm thánh Matthêu kể: “Từ lúc đó, Ðức Giêsu Kitô bắt đầu tỏ cho các môn đệ biết: Người phải đi Giêrusalem, phải chịu nhiều đau khổ do các kỳ mục, các thượng tế và kinh sư gây ra, rồi bị giết chết, và ngày thứ ba sẽ sống lại.

Ông Phêrô liền kéo riêng Người ra và bắt đầu trách Người: Xin Thiên Chúa thương đừng để Thầy gặp phải chuyện ấy. Nhưng Ðức Kitô quay lại bảo ông Phêrô rằng: Satan, lui lại đàng sau Thầy. Anh cản lối Thầy. Và tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài người” (Mt 16,21-23).

Chúa Giêsu nặng lời với thánh Phêrô. Chúa cho ngài biết tư tưởng của ngài coi như tốt, nhưng thực sự không tốt vì không hợp ý Chúa. Không hợp ý Chúa xem ra không có gì quá tệ, thế mà Chúa Giêsu mắng Phêrô là Satan. Thiết tưởng đó là một cách Chúa dùng, để dạy thánh Phêrô nhận ra rằng: Không gì nguy hiểm cho bằng chủ quan nghĩ rằng: tư tưởng của mình là tư tưởng của Chúa.

Chủ quan nguy hiểm trên đây cũng có thể xảy ra cho các linh mục. Chủ quan đó dễ làm an tâm chính bản thân linh mục, đồng thời cũng dễ trấn an thuyết phục người khác, khi thực hiện các chương trình do linh mục đề xướng.

 3/ Chủ quan, khi dùng những cách không xứng để bảo vệ Chúa

Phúc Âm thánh Matthêu kể:

“Bấy giờ, họ tiến đến, tra tay bắt Ðức Kitô. Và kia, một trong những kẻ theo Ðức Giêsu liền vung tay tuốt gươm của mình ra, chém phải tên đầy tớ của thượng tế, làm nó đứt tai. Ðức Giêsu bảo người ấy: Hãy xỏ gươm vào vỏ, vì tất cả những ai cầm gươm sẽ chết vì gươm. Hay anh tưởng là Thầy không thể kêu cầu với Cha Thầy sao? Người sẽ cấp ngay cho Thầy hơn 12 đạo binh thiên thần! Nhưng như thế, thì lời Kinh Thánh ứng nghiệm sao được” (Mt 26,50-54).

Theo các vị cắt nghĩa Kinh Thánh, thì người tuốt gươm bảo vệ Chúa Giêsu chính là thánh Phêrô. Lại một lần nữa, ngài chủ quan, tưởng rằng dùng vũ lực để bảo vệ Chúa là việc phải làm. Nhưng lại một lần nữa, Chúa Giêsu cho ngài biết: Việc ngài làm như thế là sai. Chúa Giêsu không những không khen, mà còn trách.

Chủ quan trên đây của thánh Phêrô cũng có thể xảy ra nơi các linh mục. Các ngài phản ứng trước những xúc phạm đến Chúa, đến Hội Thánh Chúa, bằng nhiều cách. Ðôi khi cũng bằng bạo lực, bạo ngôn và mưu lược bất xứng. Những chủ quan như thế đều không được Chúa Giêsu chấp nhận.

 4/ Chủ quan, khi giới thiệu Chúa một cách sai lầm

Thời Chúa Giêsu, các người lãnh đạo tôn giáo hay giới thiệu Thiên Chúa như một Thiên Chúa nghiêm khắc, xa cách, hay kết án, luận phạt. Ý thức điều đó, Chúa Giêsu đã nói với ông Nicôđêmô:

“Quả vậy, Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng để thế gian, nhờ Con của Người mà được cứu độ” (Ga 3,17). Với lời trên đây, Chúa Giêsu đã đưa hình ảnh Thiên Chúa xót thương ra, để đẩy lùi mọi thứ hình ảnh chủ quan, sai lạc về Thiên Chúa. Thời nay linh mục cũng có thể đôi khi rơi vào thứ chủ quan nguy hại đó.

 5/ Ðể tránh các chủ quan nguy hiểm

Thời nay, những thứ chủ quan trong lãnh vực tu đức, mục vụ, truyền giáo xem ra càng ngày càng nhiều. Rất cần phân định những chủ quan nào là vô hại và những chủ quan nào là nguy hiểm. Phân định không dễ. Nhưng chúng ta có hy vọng tránh được nhiều chủ quan nguy hiểm, nếu chúng ta cầu nguyện hằng ngày. Cầu nguyện không dừng lại ở đọc kinh, mà còn đi vào chiêm niệm. Ðể những hiểu biết về Chúa Giêsu thấm sâu vào tâm tình của ta, đến mức dung mạo sống động Chúa Giêsu dần dần thay đổi tâm hồn ta.

Việc tự đào tạo thường xuyên đó nên được kèm với việc bồi dưỡng trình độ văn hoá trí thức đạo đời. Bởi vì trình độ văn hoá trí thức cao và sâu, cũng giúp con người bớt được nhiều thứ chủ quan nguy hại.

Long Xuyên, ngày 31 tháng 8 năm 2009


 

Bùi-Tuần 1809: Linh Mục và các tiêu cực trong cộng đoàn


Nhân Năm Linh Mục

 

Nhiều cộng đoàn đức tin tại Việt Nam đang phát triển. Có phát triển tốt và có phát triển xấu. Trong Bùi-Tuần 1809


Nhiều cộng đoàn đức tin tại Việt Nam đang phát triển. Có phát triển tốt và có phát triển xấu. Trong phát triển xấu nên nói tới vài điều sau đây.

 1/ Những tệ nạn

Tệ nạn trong cộng đoàn là chuyện xưa và nay.

Thời các thánh tông đồ, sử sách ghi lại một chuỗi dài những tệ nạn. Trong thư gởi môn đệ Timôthê, thánh Phaolô viết: “Anh hãy biết điều này: Vào những ngày sau hết sẽ có những lúc gay go. Quả thế, người ta sẽ ra ích kỷ, ham tiền bạc, khoác lác, kiêu ngạo, nói lộng ngôn, không vâng lời cha mẹ, vô ân bạc nghĩa, phạm thượng, vô tâm vô tình, tán nhảm, nói xấu, thiếu tiết độ, hung dữ, ghét điều thiện, phản trắc, nông nổi, lên mặt kiêu căng, yêu khoái lạc hơn yêu Thiên Chúa, hình thức đạo thì họ còn giữ, nhưng cái chính yếu thì đã chối bỏ. Anh hãy xa lánh những người ấy” (2 Tm 3,1-5).

Thuở xưa là như vậy. Thời nay cũng vẫn thế thôi, mặc dù có đôi chút tân trang. Thêm vào đó là những tệ nạn hoàn toàn mới, rải rác đó đây như: đua đòi, buôn thần bán thánh, chủ nghĩa cực đoan, chủ nghĩa cục bộ, chủ nghĩa hưởng thụ, chủ nghĩa tương đối, chủ nghĩa tục hoá, phong trào phô trương thành tích, phong trào sống theo khẩu hiệu.

Có những tệ nạn rõ mặt. Có những tệ nạn giấu mặt. Chúng như những thứ cỏ dại mọc chen vào lúa trong cánh đồng tôn giáo.

Bên cạnh những tệ nạn là những thói đòi.

 2/ Những thói đòi

Thánh Phaolô khuyên giáo đoàn Rôma: “Anh em đừng rập theo thói đời này” (Rm 12,2).

Tôi hiểu thói đời này là một cách nói hơi tiêu cực về một số thói quen xã hội. Thí dụ một số cách ăn mặc, một số cách nói năng, một số cách đãi đằng, một số cách biểu lộ niềm vui, một số cách giải trí, một số cách đối xử.

Ðáng lẽ, những thói đời đó phải dừng lại ở ngưỡng cửa đời tu. Nhưng nhiều nơi chúng đã vượt qua và được đón nhận.

Ðáng lẽ, những thói đời đó phải dừng lại ở cửa nhà thờ. Nhưng nhiều nơi chúng đã vượt qua, đi vào trong nhà thờ, thậm chí đi lên cả tới cung thánh.

Những cảnh như vậy đã làm mất vẻ đẹp thiêng liêng của đời tu, của nhà thờ và của cung thánh. Giữa thói đời và thói đạo hình như không còn ranh giới. Từ thực tế đó, lương tâm con người dễ đi dần vào thói quen tự cho phép mình làm bất cứ sự gì mình thích, không thấy cần phân biệt cái gì tốt nên chọn, cái gì xấu nên tránh.
Tệ nạn và thói đời có lúc như những bùng nổ. Nghĩa là chúng có sức mạnh khác thường. Nhìn cảnh đó, linh mục rất xót xa, nhưng không vội kết án ai, kẻo kết án người lại là kết án chính mình.

 3/ Phải làm gì?

Thường linh mục biết ba điều này:

Một là ảnh hưởng của tiêu cực trên đời sống con người có đạo rất sâu xa. Nó sẽ thay đổi con người, từ phong hoá, tính tình đến đức tin.

Hai là tẩy rửa mình khỏi ảnh hưởng những tiêu cực là chuyện không dễ.

Ba là nếu tiêu cực vẫn tồn tại trong con người, thì không có nghĩa là linh mục sẽ không làm gì. Ngài vẫn chống tiêu cực với kinh nghiệm tu đức.

Kinh nghiệm cho thấy: Ðẩy lùi các tiêu cực sẽ phải thực hiện liên tục một cách khôn ngoan và kiên trì. Ðang khi đó phải vun trồng và phát triển những gì là tích cực. Bởi vì, một đàng, nếu đối phó với các tiêu cực một cách không khéo, thì tiêu cực có thể sẽ mạnh thêm, có khi lại làm nảy sinh ra những tiêu cực mới. Ðàng khác, nếu con người chỉ lo tránh các tiêu cực mà không phát triển những giá trị tích cực, thì sẽ không thể gọi được là tiến triển. Rất nhiều trường hợp những giá trị tích cực, khi mạnh lên, sẽ làm yếu đi những cái tiêu cực.

***

Tại Hội Thánh Việt Nam hôm nay, việc phát triển những giá trị tích cực vẫn tiếp tục mạnh, tuy dù đó đây những tiêu cực vẫn như muốn kiến trúc nhiều cơ sở vững bền.

Vì thế, đối với phần đông linh mục, các tiêu cực trong đạo, như các tệ đoan và những thói đời, vẫn mãi là những thách đố lớn.

Với lòng khiêm nhường và tinh thần khó nghèo, linh mục sẽ cộng tác với Chúa, để giải quyết những thách đố ấy. Không đợi chờ ở sức riêng mình, linh mục chỉ trông đợi mọi sự nơi tình yêu thương xót Chúa. Người sẽ không nỡ bỏ rơi những tâm hồn sám hối trở về.

Trong cậy trông và sám hối, linh mục sẽ không quên thực hiện lời khuyên của thánh Phêrô: “Anh em hãy sống tiết độ và tỉnh thức, vì ma quỷ, thù địch của anh em, như sư tử gầm thét, rảo quanh tìm mồi cắn xé” (1 Pr 5,8).
Linh mục cũng luôn nhớ lời dặn dò của thánh Gioan: “Hỡi anh em là những người con bé nhỏ, hãy tránh xa các tà thần” (1 Ga 5,21).

Như thế, trong tiêu cực có hoạt động của ma quỷ, tà thần.

Long Xuyên, ngày 7 tháng 9 năm 2009


 

Bùi-Tuần 1810: Linh Mục nâng tâm hồn lên với Chúa


Nhân Năm Linh Mục

 

Một nét đẹp của người linh mục là nâng tâm hồn mình lên với Chúa. Ngài thực hiện việc đó không Bùi-Tuần 1810


Một nét đẹp của người linh mục là nâng tâm hồn mình lên với Chúa. Ngài thực hiện việc đó không chỉ trong thánh lễ, mà suốt cả đời mình, ngay trong đời thường hằng ngày.

Nâng tâm hồn lên với Chúa là một việc đạo đức, có phần nhìn thấy được, có phần không nhìn thấy được, nhưng lại cảm nhận được phần nào.

Nâng tâm hồn lên với Chúa là một việc tu thân, một việc mục vụ, một việc truyền giáo.

Nâng tâm hồn lên với Chúa là việc linh mục làm và cũng do Chúa làm. Với tâm tình cảm tạ, linh mục có thể nói lên vắn tắt những yếu tố chính làm nên việc không dễ đó.

 1/ Học hỏi về Chúa và cầu nguyện với Chúa

Cách học hỏi tốt nhất về Chúa là đọc Kinh Thánh. Ðọc Kinh Thánh với những cắt nghĩa Kinh Thánh do những người có thẩm quyền. Ðặc biệt là trong thái độ cầu khẩn Chúa Thánh Thần.

Ban đầu, con người tìm trong bản văn Kinh Thánh những yếu tố chính. Những câu, những từ đáng quan tâm hơn.

Hiểu biết đó dẫn tới việc tìm những giá trị thiêng liêng phong phú, mà bản văn chứa đựng. Những giá trị thiêng liêng ấy sẽ áp dụng vào cuộc đời.

Người học hỏi không dừng lại ở trình độ đó, nhưng sẽ cầu nguyện trên những gì đã khám phá được, để chiêm niệm về Ðức Giêsu. Chiêm ngắm chính Chúa Giêsu, dung mạo của Người, cuộc đời của Người, gương sáng của Người, tình yêu của Người. Chiêm niệm đó là một gặp gỡ thiêng liêng. Gặp gỡ này sẽ là nguồn chia sẻ. Chúa Giêsu chia sẻ cho linh mục sự sống của Người, ý muốn của Người.

Khi linh mục đã có được một thói quen gặp gỡ Chúa Giêsu qua học hỏi và cầu nguyện như thế, thì lời Hội Thánh kêu mời “hãy nâng tâm hồn lên” sẽ là những nhắc nhở, thôi thúc, để cuộc xuất hành đi lên của tâm hồn sẽ được tiếp tục với những bước tiến mới.

Như vậy, việc học hỏi về Chúa và cầu nguyện với Chúa là những việc cần được phát triển không ngừng, để thực hiện việc nâng tâm hồn lên với Chúa. Thêm vào đó là sự giữ kỷ luật.

 2/ Sự giữ kỷ luật

Kỷ luật nói đây bao gồm cả một lãnh vực sâu rộng của con người và đời người linh mục. Thí dụ kỷ luật trong việc sử dụng thời giờ, tiết độ trong việc ăn uống, giải trí; kiểm soát trí vẽ, các đam mê, các thái độ; đón nhận những gì trợ giúp cho mình có khả năng phục vụ tốt hơn, như những sách báo tốt, những gặp gỡ tốt.

Thói quen buông thả, tự mãn, phô trương, nhàn rỗi, là những tảng đá đeo vào tâm hồn, kéo tâm hồn xuống thay vì nâng lên.

Kỷ luật trong đời sống cũng được nhấn mạnh ở sự biết giữ bình tĩnh trước những thách thức và hỗn loạn thường xảy ra trong dư luận.

Linh mục sẽ theo gương Chúa Giêsu, khi Người bắt đầu rao giảng tại Nadarét. Thánh Luca ghi lại dư luận của quần chúng hôm đó. Lúc đầu là hoan nghênh. “Mọi người đều tán thành và thán phục những lời hay ý đẹp thốt ra từ miệng Người” (Lc 4,22).

Tiếp đó là thách thức. “Tất cả những gì chúng tôi nghe nói ông đã làm ở Caphanaum, ông cũng hãy làm tại đây, tại quê ông xem nào” (Lc 4,23).

Sau cùng là loại trừ. “Mọi người đều phẫn nộ. Họ đứng dậy, lôi Người ra khỏi thành, thành này được xây trên núi. Họ kéo Người lên tận đỉnh núi, để xô Người xuống vực” (Lc 4,28-29). Nhưng Chúa Giêsu bình tĩnh. “Người băng qua giữa họ mà đi” (Lc 4,30).

Trước những bạo ngôn, bạo hành, bạo lực của quần chúng nếu xảy ra, linh mục nào biết giữ thái độ bình tĩnh, thì linh mục đó đã sống một kỷ luật tự kiềm chế cao, có sức nâng tâm hồn bao người lên với Chúa.

Một yếu tố nữa cũng cần để giúp nâng tâm hồn lên với Chúa, đó là tập trung Tin Mừng vào Ðức Giêsu Kitô.

 3/ Tập trung Tin Mừng vào Ðức Giêsu Kitô

“Chúa Giêsu là đường, là sự thực và là sự sống” (Ga 14,5). Người là Tin Mừng của linh mục, nên linh mục thường xuyên nâng tâm hồn lên với Người.

Chính Chúa Giêsu sai linh mục đi, “như Chúa Cha đã sai Thầy, Thầy cũng sai các con đi” (Ga 20,21). Do đó, linh mục thường xuyên nâng tâm hồn lên với Người.

Chính nhờ việc linh mục thường xuyên nâng tâm hồn lên với Chúa Giêsu, mà mọi người sẽ tin rằng: Linh mục được Chúa Giêsu sai đi.

Kẻ được Chúa Giêsu sai đi sẽ gắn bó với Ðấng đã sai mình. Kẻ được Chúa Giêsu sai đi sẽ chỉ làm những gì Người dạy mình làm và dạy mình nói. Tất cả những sự đó đều trong tâm tình khiêm nhường, hiền từ và yêu thương của Ðấng đã sai linh mục.

Nâng tâm hồn lên với Chúa Giêsu, linh mục sẽ thấy con đường cứu chuộc của Người rất khác những con đường tự nhận là giải cứu hiện nay.

Và vì thế, nhiều linh mục đã tăng cường việc nâng tâm hồn mình lên với Chúa, với một động lực mới. Ðó là các ngài nhìn nhận mình yếu đuối. Nhìn nhận đó rất chân thành. Nên chính việc nâng tâm hồn mình lên với Chúa cũng được các ngài cậy nhờ vào Chúa.

Các ngài xác tín: Nếu Chúa không giúp, các ngài cũng không tự mình nâng tâm hồn mình lên được như Chúa muốn.

Thực sự Chúa là Cha giàu lòng thương xót đã thương những người con bé mọn, yếu đuối, cậy trông vào Chúa. Tâm hồn những người con đó đã được chính Chúa nâng lên bên Chúa, để họ biết dâng mình làm của lễ sống động đẹp lòng Chúa, có khả năng góp phần vào chương trình cứu độ của Chúa cho nhân loại hôm nay.

Long Xuyên, ngày 14 tháng 9 năm 2009


 

Bùi-Tuần 1811: Linh Mục với những cái nhìn đổi mới


Nhân Năm Linh Mục

 

Dù con người bên ngoài của chúng tôi có tiêu tan đi, thì con người bên trong của chúng tôi ngày Bùi-Tuần 1811


“Dù con người bên ngoài của chúng tôi có tiêu tan đi, thì con người bên trong của chúng tôi ngày càng đổi mới” (2 Cr 4,16). Thánh tông đồ Phaolô nói về con người bên ngoài và con người bên trong. Ðó là một kinh nghiệm mà các linh mục cần có.

Với kinh nghiệm của mình, linh mục có thể kể ra đôi chút về sự đổi mới con người bên trong của mình. Ở đây, xin nói về một dấu chỉ của sự tiến triển của con người bên trong, đó là cái nhìn.

 1/ Cái nhìn càng ngày càng bao quát, tổng hợp

Linh mục càng có kinh nghiệm mục vụ và truyền giáo, càng nhìn cộng đoàn giáo xứ, giáo phận và Hội Thánh của mình với một cái nhìn cởi mở, bao quát.

Ngài nhìn thấy những đốm sáng làm chứng cho Chúa ở nhiều loại người. Có những người âm thầm như Ðức Mẹ và thánh Giuse. Sống chôn vùi, nhưng lại sáng rực vinh quang Thiên Chúa.

Có những người bình dân phục vụ những việc nhỏ, như thánh Matta và thánh Maria Madalena. Nhưng lại toả sáng niềm tin yêu gây được nhiều ảnh hưởng tốt.

Có những người đơn sơ, thấp kém, như các mục đồng Belem. Nhưng lại được Chúa chọn để loan báo Tin Mừng Chúa Cứu thế giáng trần.

Có những người dân ngoại lại nêu gương sáng về sự biết ơn Chúa, đức tin và bác ái như nhiều trường hợp xưa được Chúa khen trong Phúc Âm.

Có những người đau bệnh, mang trong mình nhiều thứ khổ cực, chống chọi hằng ngày với các thử thách. Nhưng họ đã một mực sống tinh thần dâng hiến.

Và còn bao nhiêu người vẫn thường xuyên sống trong cảnh tăm tối của sự nghèo túng, vất vả. Nhưng từ những mảng đời đó lại loé sáng những gương lành về tình liên đới và niềm cậy trông.

Nhìn những đốm sáng trên đây, rồi quy chiếu vào những lời Chúa trong Phúc Âm, linh mục liên kết lại thành một toàn cảnh nói lên sức mạnh của ơn thánh Chúa. Cái nhìn đó khiến linh mục khiêm tốn. Ngài sẽ nói như thánh Phaolô: “Không phải vì tự chúng tôi, chúng tôi có khả năng để nghĩ rằng mình làm được gì. Nhưng khả năng của chúng tôi là do ơn Chúa” (2 Cr 3,4). Sự khiêm tốn là một thứ ánh sáng nội tâm giúp cho linh mục nhìn rộng và nhìn đúng.

Nhìn đúng ở đây là nhìn thấy ơn cứu độ và vinh quang nơi thập giá. Như lời thánh Phaolô quả quyết: “Ước chi tôi chẳng hãnh diện về điều gì ngoài thập giá Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta” (Gl 6,14).

 2/ Cái nhìn càng ngày càng sát với lòng thương xót Chúa

Thời đại nào của nơi nào cũng chuyển biến. Ðọc những chuyển biến ấy, linh mục có thể nhìn được thánh ý Chúa về mục vụ và truyền giáo. Chuyển biến của thời đại là một dấu chỉ, một tiếng gọi. Theo nhiều người đạo đức, dấu chỉ thời đại hiện nay là: Hãy đi theo hướng tình yêu thương xót Chúa.

Trước hết, khi linh mục đọc lại đời mình, ngài dễ nhận ra những dấu ấn của lòng thương xót Chúa.

Lòng thương xót Chúa không phải là đã bịt mắt linh mục để không nhìn thấy những yếu đuối của ngài, nhưng đã giúp ngài nhìn nhận thực tế cái tôi của ngài một cách bình thản, với những khích lệ sám hối và tin cậy vào Chúa mà đứng lên.

Lòng thương xót Chúa không phải là đã cho linh mục cảm tưởng mình đạo đức, nhưng đã giúp ngài tin rằng mình được Chúa yêu thương, để yên tâm phấn đấu với những mặt yếu kém của mình trong sự vâng phục ý Chúa.

Lòng thương xót Chúa không phải là đưa ngài vào một cảnh sống đạo đức ồn ào, hiếu động, để quên đi chính mình, nhưng đã giúp ngài ở thinh lặng trong nội tâm và trong ngoại cảnh. Ngài sống trước mặt Chúa. Trong thinh lặng đó, lòng thương xót Chúa cho ngài khám phá ra những cái xấu ẩn khuất trong ngài. Khám phá ấy là kết quả của sự tỉnh thức thinh lặng.

Ngoài ra, khi linh mục đọc lại những liên đới của ngài, ngài cũng nhận ra sự hướng dẫn của lòng thương xót Chúa.

Lòng thương xót Chúa không phải chỉ yêu cầu linh mục chúc bình an cho những người đau khổ cô đơn, nhưng còn phải có những thái độ rất nhân từ đối với họ. Nghèo khổ cô đơn là những đợi chờ.

Lòng thương xót Chúa không phải chỉ thôi thúc linh mục nghiên cứu sâu rộng về việc hiệp thông với các tầng lớp Hội Thánh và xã hội, nhưng nhất là phải đặt nặng việc thực hiện đức ái một cách thiết thực.

Bác ái đầy xót thương, quên mình sẽ góp phần xây dựng một quê hương tự do, thịnh vượng và chân lý. Bác ái ấy phải kết hợp với tình yêu thương xót sống động trong trái tim Chúa Giêsu hiền từ và khiêm nhường.

***

Với những cái nhìn không ngừng được đổi mới trên đây, linh mục cảm thấy mình được an ủi rất nhiều.

An ủi đến từ các Lời Chúa gởi cho ngài.
An ủi đến từ những việc Chúa làm cho ngài.
An ủi đến từ chính Chúa sống động trong ngài.

Linh mục có thể nói như thánh Phaolô: “Chúc tụng Thiên Chúa là thân phụ Ðức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta. Người là Cha giàu lòng từ bi lân ái, và là Thiên Chúa hằng sẵn lòng nâng đỡ ủi an. Người luôn nâng đỡ ủi an chúng ta trong mọi cơn gian nan thử thách, để sau khi được Thiên Chúa nâng đỡ, chính chúng ta cũng biết an ủi những ai lâm cảnh gian nan khốn khó” (2 Cr 1,3-4).

Long Xuyên, ngày 21 tháng 9 năm 2009


 

Bùi-Tuần 1812: Linh Mục hiểu về quyền năng Chúa


Nhân Năm Linh Mục

 

Thánh lễ Chúa nhật 26 thường niên mở đầu bằng lời cầu nguyện thế này: “Lạy Chúa, khi Chúa Bùi-Tuần 1812


Thánh lễ Chúa nhật 26 thường niên mở đầu bằng lời cầu nguyện thế này: “Lạy Chúa, khi Chúa thương xót và tha thứ, chính là lúc Chúa biểu lộ quyền năng cách tỏ tường hơn cả”.

Lời nguyện cầu trên đây của Hội Thánh được linh mục đọc như lời tuyên xưng về một niềm tin, về một kinh nghiệm, về một đường hướng mục vụ và truyền giáo.

 1/ Một niềm tin

Kinh Thánh cho thấy: Lòng thương xót và tha thứ của Chúa được nhận ra ở sự khiêm nhường tột bậc của Chúa Giêsu. Thánh Phaolô đã mô tả sự khiêm nhường nơi Chúa Giêsu như một chiếc thang có nhiều bậc bước xuống. “Ðức Giêsu Kitô, tuy là thân phận Thiên Chúa, đã không nghĩ phải dành cho được ngang hàng với Thiên Chúa. Trái lại, Người huỷ bỏ chính mình, mà nhận lấy thân phận tôi đòi, đã trở nên giống như loài người, với cách thức bề ngoài như một người phàm. Người đã tự mình mà vâng lời cho đến chết và chết trên thập giá” (Pl 2,6-8).

Sự khiêm nhường trên đây là một sức mạnh của quyền năng Chúa. Ðến nỗi, sau này, “Khi nghe danh thánh Giêsu, mọi loài trên trời dưới đất và trong hoả ngục phải quỳ gối xuống” (Pl 2,10).

Sự khiêm nhường chứa đựng tình yêu thương xót và tha thứ của Chúa đã làm cho nhiều người trở lại. Ðến nỗi, Chúa Giêsu đã có lần cả quyết một điều quá lạ lùng: “Tôi bảo thật các ông, những người thu thuế và gái điếm sẽ vào Nước Thiên Chúa trước các ông. Bởi vì ông Gioan đã đến chỉ đường công chính cho các ông, mà các ông không tin ông ấy. Còn những người thu thuế và những cô gái điếm lại tin” (Mt 21,31-32).

Hai thánh tông đồ Phêrô và Phaolô đã trở lại nhờ sự Chúa Giêsu tỏ bày sự khiêm nhường của Người chứa đầy tình xót thương và tha thứ. Hai ngài đã trở lại, hơn nữa, đã trở thành hai cột trụ của Hội Thánh Chúa Giêsu, một Hội Thánh khiêm nhường, xót thương và hay tha thứ.

 2/ Một kinh nghiệm

Linh mục càng đi sâu vào đời linh mục, càng cảm thấy rõ hai điều này:

a) Gặp gỡ Chúa Giêsu thương xót và tha thứ sẽ khám phá thấy Chúa Giêsu khiêm nhường hơn hết mọi người.

Gặp gỡ đó đem lại cho linh mục sự bình an, một sự bình an sâu thẳm. Sự bình an ấy được cảm nghiệm như một sự dìm mình vào nguồn tình yêu Chúa, đầy khiêm nhường, xót thương và tha thứ. Chính tình yêu ấy chữa lành, vực dậy và đổi mới.

Lúc ấy, tâm hồn linh mục cảm thấy nhận được an ủi vô vàn. Nguồn an ủi đó làm cho tâm hồn lắng xuống. Càng lắng sâu, càng thấy mình bé nhỏ. Trong sự bé nhỏ ấy, tâm hồn linh mục nhận ra rằng:

Khiêm nhường là một sức mạnh cứu độ.
Thương xót là một sức mạnh thuyết phục.
Tha thứ là một sức mạnh chiến thắng chính mình.

b) Từ kinh nghiệm tình yêu Chúa khiêm nhường, xót thương và tha thứ đối với mình, linh mục cảm nhận thêm điều này là: Nếu muốn có sự bình an bền vững, thì chính linh mục cũng phải đối xử với người khác như Chúa đã đối xử với mình, nghĩa là hãy khiêm nhường, thương xót và tha thứ.

Ðến đây, tự nhiên tôi nghĩ tới Ðức Cố Hồng Y Phanxicô Xavie Nguyễn Văn Thuận. Nhiều lần tâm sự với nhau, tôi nhắc tới những chống báng, kết án, dèm pha đã tấn công ngài từ nhiều phía đời đạo, ngài bình tĩnh trả lời: Khiêm tốn, xót thương và tha thứ là con đường dẫn tới bình an và hy vọng. Rồi, ngài khuyên tôi đừng quá nghĩ ngợi. Nghe lời bạn khuyên, tôi tập sống như thế. Và tôi được bình an.

 3/ Một đường hướng

Không những linh mục sẽ được bình an trong tâm hồn, mà còn sẽ gặt hái được nhiều kết quả tốt, khi coi khiêm nhường, thương xót và tha thứ như một định hướng cho mục vụ và truyền giáo.

Mục vụ và truyền giáo đôi nơi đôi lúc đã tự hào về sự phục vụ một tôn giáo quyền lực chủ trương loại trừ và theo đuổi đắc thắng. Nhưng tại nhiều nơi và ở nhiều thời, cả trong thời nay, đường hướng mục vụ và truyền giáo được xuất hiện như một thái độ mở ra và dựa trên Thần Khí. “Chính Thần Khí mới ban sự sống” (2 Cr 3,6).

Sự sống mà Chúa Thánh Thần ban cho là sự sống của Chúa Giêsu, Ðấng khiêm nhường, thương xót và tha thứ.

Linh mục được ơn Chúa Thánh Thần như thế, sẽ là một dấu chỉ của Chúa cứu độ, Ðấng đã cứu nhân loại nhờ thánh giá khiêm nhường, xót thương và tha thứ.

Linh mục được ơn Chúa Thánh Thần như thế, sẽ chứng tỏ mình là kẻ được sai đi bởi Thiên Chúa, chứ không bởi một động lực nào khác.

Linh mục được ơn Chúa Thánh Thần như thế, sẽ biết phân định thế nào là những giá trị Phúc Âm trong tình hình cụ thể, để rồi biết có những chọn lựa thích hợp. Lựa chọn của ngài tựu trung sẽ là chọn chính Chúa Giêsu, Ðấng khiêm nhường, xót thương và tha thứ.

Linh mục được ơn Chúa Thánh Thần như thế, sẽ không ngừng cầu nguyện để có khả năng đón nhận sự khôn ngoan của Chúa Thánh Thần, cho dù “phải từ bỏ mình, vác thánh giá mình mà theo Chúa” (Mt 16,24).

***

Việt Nam hôm nay có nhiều linh mục như thế. Các ngài đáng được kính trọng, vì các ngài là hình ảnh của Chúa Giêsu khiêm nhường, xót thương và hay tha thứ. Quyền năng Chúa được biểu lộ ở hình ảnh dễ thương đó. Với các ngài, Hội Thánh Việt Nam có hy vọng đi về một tương lai tươi sáng.


Long Xuyên, ngày 28 tháng 9 năm 2009


 

Bùi-Tuần 1813: Linh Mục với những người đau khổ


Nhân Năm Linh Mục

 

Ðau khổ là một thực tế huyền nhiệm. Không gian và thời gian của nó là bao la. Mọi thời mọi nơi Bùi-Tuần 1813


Ðau khổ là một thực tế huyền nhiệm. Không gian và thời gian của nó là bao la. Mọi thời mọi nơi, nó là một kêu gọi thảm thiết.

Thế mà, linh mục lại được sai đi đem Tin Mừng cho những người đau khổ. Sứ mạng đó rất cao cả và khó khăn. Ngài sẽ bắt đầu từ đâu? Sẽ phải làm gì? Với kinh nghiệm của những người đi trước, của những anh em xung quanh và của riêng mình, ngài có thể chia sẻ đôi chút.

 1/ Chính mình cảm được nỗi đau của người khác

Những thảm hoạ gây chết chóc tang thương mất mát ném nhiều người vào cảnh khốn khổ. Nhìn cảnh đó, linh mục không khỏi xót xa bàng hoàng.

Những tội ác vùng dậy thi nhau tàn phá các giá trị luân lý, đẩy bao người xuống vực sa đoạ. Nhìn cảnh đó, linh mục cảm thấy lòng mình tan nát.

Sự dại khờ không những xô đẩy các đam mê xấu vào lối sống mù quáng, mà nhiều khi cũng làm hư hỏng cả những việc thiện chí một cách thê thảm. Nhìn cảnh đó, linh mục không khỏi lo âu.

Sự sụp đổ của nhiều niềm tin tôn giáo, đưa bao người vào con đường tự do đầy những nguy hiểm hãi hùng. Nhìn cảnh đó, linh mục cảm thấy lòng mình như bị thương tích.

Sự vật vã của bao cuộc đời bế tắc, khiến họ như bị hành hình thường xuyên trong một thứ hoả ngục vô hình. Nhìn cảnh đó, linh mục như nghe được chính lòng mình tan vỡ.

Sự thiếu vắng những gì thân thiết nơi bao người, đã xô họ vào cõi vắng cô đơn không sao an ủi được. Nhìn cảnh đó, linh mục cảm thấy đắng cay nặng nề.

Ðau nỗi đau của người khác, linh mục như mở lòng mình ra. Ngài gặp được những người cùng hoàn cảnh như ngài. Bởi vì chính ngài cũng đã từng đau khổ bởi những thảm hoạ, những tội ác, những dại khờ, những sụp đổ, những vật vã, những thiếu vắng.

Ðau khổ cho phép ngài gần gũi hơn với mọi người. Nhờ vậy, ngài cảm thấy như mình và mọi người đều cùng chung một người mẹ. Mẹ chung ấy là Ðau Khổ.

Ðồng cảm là một khởi đầu tốt. Về mặt nhân bản, đó là một thức tỉnh những liên đới cao đẹp thuộc đạo làm người. Vì thế, đối với linh mục, khả năng đồng cảm nhạy bén trước những đau khổ của người khác phải được coi là một điều kiện cần thiết cho ơn gọi. Nhìn những người đau khổ, linh mục nhiều khi cảm thấy mình thua xa họ về mặt can đảm, cao thượng và trách nhiệm.

 2/ Phải cầu nguyện và dâng hy sinh

Tiếp đó là việc cầu nguyện cho họ, và giúp họ cầu nguyện. Cầu nguyện lúc đó sẽ hết sức vắn gọn. Sẽ chỉ là lời kêu cầu khiêm tốn. Như người con kêu tên cha mẹ một cách hồn nhiên tha thiết lúc gặp gian nan.

Kinh nghiệm cho thấy: Những cầu nguyện hồn nhiên, khiêm nhường, tha thiết cho những người đau khổ và với những người đau khổ luôn mang lại những hiệu quả lạ lùng. Ðó là người đau khổ sớm nhận thấy Chúa đến với họ, Chúa hiện diện bên họ. Họ được bình tĩnh hơn, hy vọng hơn.

Chính linh mục sẽ được sai đi xa hơn trên đường phục vụ. Ngài nhớ lại lời thánh tông đồ Gioan: “Căn cứ vào điều này, chúng ta biết được tình yêu là gì: Ðó là Ðức Kitô đã thí mạng sống vì anh em. Như vậy, cả chúng ta nữa, chúng ta cũng phải thí mạng sống vì anh em” (1 Ga 3,16). Lời trên đây thúc giục linh mục sẵn sàng hy sinh thí mạng sống mình vì con chiên, đồng bào. Như vậy, cầu nguyện của ngài cũng sẽ đi kèm việc dâng hy sinh cho Chúa. Hy sinh rõ nhất là thực hiện điều Chúa Giêsu đã làm xưa. Ðó là “Dầu là Con Thiên Chúa, Người đã phải trải qua nhiều đau khổ mới học được thế nào là vâng phục” (Dt 5,8).

Như vậy, với trình độ yêu thương cao thuộc nhân bản, kèm theo trình độ yêu thương cao thuộc đạo đức Phúc Âm, linh mục sẽ được nhận ra là người Chúa sai đến với họ. Người đau khổ thường dùng trực giác và cảm nhận hơn là lý luận. Với cách tiếp cận đó, họ sẽ nhận ra dễ dàng tình thương của linh mục, khi linh mục có tình thương phong phú dành cho họ. Nhờ đó, họ sẽ hiểu được phần nào ý nghĩa của đau khổ.

Linh mục sẽ không dừng lại ở đó, nhưng ngài vẫn tìm mọi cách để cứu con người khỏi khổ, ít là được bớt khổ.

 3/ Phải cứu khổ bằng việc cụ thể

Trong Phúc Âm, Chúa Giêsu nói rõ nhiệm vụ cứu khổ khi sai các tông đồ đi: “Ðức Giêsu tập họp nhóm 12, ban cho các ông năng lực và quyền phép để trừ mọi thứ quỷ và chữa các bệnh tật” (Lc 9,1).

Chính Chúa Giêsu cũng được nhận ra là Ðấng Cứu thế, ở những việc Người cứu người ta khỏi khổ đau. “Các anh cứ về thuật lại cho ông Gioan những điều mắt thấy tai nghe: Người mù xem thấy, kẻ què được đi, người cùi được sạch, kẻ điếc được nghe, người chết sống lại, kẻ nghèo được nghe Tin Mừng” (Mt 11,4-5).

Chúa đòi hỏi bác ái phải được thực hiện bằng việc cụ thể, kịp thời. Người nói rõ điều đó trong dụ ngôn người Samari tốt lành (x. Lc 10,29-37). Người cũng rất rõ ràng về điều đó, khi nói về “Cuộc phán xét chung” (Mt 25,21-46).

Trong khi thực hiện bác ái, linh mục không quên việc làm phải thích hợp và cách làm phải tế nhị, khôn ngoan. Nhất là không phân biệt lương giáo.

***

Tại Việt Nam hôm nay, cứu khổ đang là một thách đố lớn. Các tôn giáo bạn đang trả lời bằng nhiều việc cụ thể. Công giáo sẽ được đánh giá từ những biến cố khổ đau của đồng bào. Linh mục nắm bắt tình hình, hẳn sẽ cố gắng đổi mới chính bản thân mình, để trở nên bạn của những người đau khổ, trong họ có Chúa Kitô.
Long Xuyên, ngày 3 tháng 10 năm 2009


 

Bùi-Tuần 1814: Linh Mục và những tự hào nguy hiểm


Nhân Năm Linh Mục

 

Thánh tông đồ Phaolô viết: “Ðể tôi khỏi tự cao tự đại về những mạc khải phi thường tôi đã Bùi-Tuần 1814


Thánh tông đồ Phaolô viết: “Ðể tôi khỏi tự cao tự đại về những mạc khải phi thường tôi đã nhận được, thân xác tôi như đã bị một cái dằm đâm vào, một thủ hạ của Satan được sai đến vả mặt tôi, để tôi khỏi tự cao tự đại” (2 Cr 12,7).

Tâm sự trên đây cho thấy: Chúa không chấp nhận những tự hào, tự cao, tự đại của các môn đệ Chúa, cho dù vì lý do đã lãnh nhận được đặc ân Chúa ban. Hơn nữa, để giúp môn đệ Chúa biết tự hạ, Chúa còn để cho những đau đớn và sỉ nhục xảy ra cho họ cách này cách nọ.

Tuy nhiên, trên thực tế, môn đệ Chúa khó tránh được những cám dỗ về tự hào. Có một sự ưa thích ngấm ngầm do tính tự nhiên. Lại có những bơm hơi tự hào do đoàn chiên và xã hội. Dần dà, sẽ kết thành thói quen tự hào, coi đó là bình thường, đến mức nguy hiểm cho phần rỗi.

Nhận thức đó thục giục linh mục cảnh giác với mọi tự hào. Ở đây, chỉ xin nêu lên một số tự hào nguy hiểm, mà Phúc Âm chỉ rõ.

 1/ Tự hào về các việc coi như đạo đức

Chúa Giêsu phán: “Không phải bất cứ ai thưa với Thầy: Lạy Chúa, lạy Chúa là được vào Nước Trời cả đâu. Nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Ðấng ngự trên trời, mới được vào mà thôi. Trong ngày ấy, nhiều người sẽ thưa với Thầy rằng: Lạy Chúa, lạy Chúa, nào chúng tôi đã chẳng từng nhân danh Thầy mà nói tiên tri, nhân danh Thầy mà trừ quỷ, nhân danh Thầy mà làm nhiều phép lạ đó sao? Và bấy giờ Thầy sẽ tuyên bố với họ rằng: Ta không hề biết các ngươi. Xéo đi cho khuất mắt Ta, hỡi bọn làm điều gian ác” (Mt 7,21-23).

Những việc nói tiên tri, trừ quỳ, làm phép lạ nhân danh Chúa coi như đáng tự hào. Thế mà Chúa lại nhìn khác.

Mạc khải đó làm linh mục phải suy nghĩ. Ngài cũng sẽ phải suy nghĩ hơn, khi đọc lại dụ ngôn người Pharisêu và người thu thuế. Người Pharisêu tự hào “ăn chay mỗi tuần hai lần, dâng cho Chúa một phần mười thu nhập” (Lc 18,12). Chúa quả quyết rằng người tự hào đó không được Chúa chấp nhận (x. Lc 18,14).

 2/ Tự hào vì được trao quyền cai quản

Chúa trao quyền cai quản gia nhân cho ai, là để người đó “cấp phát lương thực cho họ đúng giờ đúng lúc” (Mt 24,45). Nếu kẻ được trao quyền lợi dụng quyền, không lo phục vụ đúng việc đúng thời, sẽ bị Chúa loại và sẽ bị trừng phạt như những tên đạo đức giả (x. Mt 24,48-51).

Ðoạn Phúc Âm trên đây cho linh mục thấy: Ðược Chúa trao quyền cai quản là một trách nhiệm lớn. Cho dù biết thi hành trách nhiệm đó như người đầy tớ “trung tín và khôn ngoan”, thì cũng chẳng dám tự hào. Phương chi nếu không trung tín và khôn ngoan.

 3/ Tự hào vì những của cải vật chất

Không thiếu nơi, vẫn có những người tự hào về linh mục của mình được giàu sang. Chính linh mục giàu sang thì không dám tự hào, nhưng có khi lại khôn khéo khẳng định sự giàu sang của mình là chính đáng. Nhưng sẽ đáng ngại hơn, khi linh mục không biết dùng của cải vật chất của mình, để chia sẻ cho những người bần cùng, thiếu thốn.

Dụ ngôn người phú hộ và ông ăn mày Ladarô (Lc 16,19-31) cảnh cáo những người phú hộ thiếu chia sẻ, luôn thúc bách linh mục phải chia sẻ trong khả năng của mình. Thiếu sự chia sẻ mà Chúa muốn là một điều không ổn cho linh mục đời này và đời dau.

 4/ Tự hào vì con đường thoải mái

Sống thoải mái trong tự do và hưởng thụ là một chủ trương của bao người đời. Chắc chắc không linh mục nào lại dại dột chủ ý tìm cho mình lối sống đó. Nhưng không thiếu linh mục bị cám dỗ đi vào lối sống ấy, vì lý do này hoặc lý do nọ.

Chúa Giêsu phán: “Hãy qua cửa hẹp mà vào (thiên đàng), vì cửa rộng và đường thênh thang thì đưa tới diệt vong, mà nhiều người lại đi qua đó. Còn cửa hẹp và đường chật thì đưa đến sự sống, nhưng ít người tìm được lối ấy” (Mt 7,13-14).

Ít người tìm được lối ấy, đó là sự thực. Không biết trong số ít ấy, có đủ mọi người môn đệ Chúa không. Linh mục khiêm tốn sẽ tự vấn. Câu trả lời có thể sẽ là kêu gọi sám hối sửa mình.

 5/ Tự hào vì xum xê lá cành

Nhiều trường hợp, đời linh mục có vẻ như cây cành cao rộng, lá xanh tươi. Nhưng Phúc Âm cho biết: Chúa đến để tìm trái, chứ không tìm lá cành. Nếu không có trái, cây sẽ bị chặt đi (x. Mt 21,18-19). Nếu không có trái thiêng liêng, linh mục cũng vậy, sẽ tự gây nên tai hoạ. Linh mục biết điều đó, nên cố gắng chu toàn bổn phận. Ngài sẽ chú trọng nhiều đến những gì là căn bản, chứ không đổ sức vào những gì bề ngoài coi thì tốt tươi, nhưng chỉ là lá cành xum xuê. Trong tu đức, mục vụ và truyền giáo, tự hào về những vẻ bề ngoài là quá dại.

***

Thế giới hôm nay rất ồn ào với đủ thứ tự hào. Linh mục cần biết phân định thứ tốt thứ xấu. Ngài sẽ không ngại nói như thánh Phaolô: “Nếu phải tự hào, thì tôi sẽ tự hào về những yếu đuối của tôi” (2 Cr 11,30). Nghĩa là:

Tôi tội lỗi, nhưng được Chúa tha thứ.
Tôi mỏng manh, nhưng được Chúa đỡ nâng.
Tôi hèn mọn, nhưng được Chúa đoái nhìn.

Không phải vì tôi, nhưng chỉ vì lòng thương xót Chúa.

Long Xuyên, ngày 9 tháng 10 năm 2009


 

Bùi-Tuần 1815: Linh Mục và định hướng


Nhân năm Linh Mục

 

Giáo Hội chúng ta đang giàu lên, hay đang nghèo đi? Giàu lên ở những mặt nào, và nghèo đi ở Bùi-Tuần 1815


Giáo Hội chúng ta đang giàu lên, hay đang nghèo đi? Giàu lên ở những mặt nào, và nghèo đi ở những mặt nào?

Linh mục nên biết những sự thực đó. Những sự thực đó có thể là khải hoàn ca, và cũng có thể là bi kịch. Dù thực tế là thế nào, chúng ta vẫn phải từ đó, mà định hướng cho tương lai.

Ðịnh hướng thế nào? Ðây là công việc đòi nhiều nghiên cứu. Nhưng nghiên cứu một định hướng cho mục vụ và truyền giáo sẽ không thể thực hiện được, nếu không có ơn thánh Chúa. Dưới đây là một chia sẻ.

 1/ Ðịnh hướng cần ơn Chúa Thánh Thần
Chúa có chương trình cho từng thực tế lịch sử. Chương trình ấy sẽ được Chúa chia sẻ cho những người khiêm tốn khát khao đón nhận. Nhất là các linh mục. Các ngài biết phải đón nhận từ Chúa Thánh Thần.

Chúa Giêsu phán: “Ðấng Bảo Trợ là Thánh Thần, Chúa Cha sẽ sai đến nhân danh Thầy. Ðấng đó sẽ dạy anh em mọi điều, và sẽ làm cho anh em nhớ lại mọi điều Thầy đã nói với anh em” (Ga 14,26).

“Khi nào thần khí sự thật đến, Người sẽ dẫn anh em đến sự thực toàn vẹn. Người sẽ không tự mình nói điều gì, nhưng tất cả những gì Người nghe, Người sẽ nói lại. Người loan báo cho anh em biết những điều sẽ xảy đến” (Ga 16,13).

Thánh tông đồ Phaolô làm chứng: “Thần khí thấu suốt mọi sự, ngay cả những gì sâu thẳm nơi Thiên Chúa... Không ai biết được những gì nơi Thiên Chúa, nếu không phải là thần khí của Thiên Chúa” (1 Cr 2,10-11).

Kinh nghiệm cho thấy: Những ai đến với Chúa Thánh Thần và được Người ngự đến, thường cảm nhận được ba biến cố thiêng liêng này:

Một là cảm động tạ ơn Chúa.
Hai là cảm động sám hối lỗi lầm.
Ba là cảm động muốn nên thánh.

Những cảm động trên đây ùa vào tâm hồn từ Thánh Linh. Những chuyển động đó xảy ra như những biến cố thay đổi con người một cách sâu xa. Ðồng thời Chúa Thánh Thần nói với họ một cách cụ thể hơn bằng cách đưa họ tới Lời Chúa.

 2/ Ðịnh hướng cần dựa trên Lời Chúa

Lời Chúa, mà Chúa Thánh Thần đưa họ tới, đã có sẵn rất nhiều trong Kinh Thánh. Nhưng Chúa Thánh Thần sẽ đưa họ dừng lại ở một hay vài đoạn mà Người muốn. Những đoạn đó, hoặc những lời đó sẽ có chung một nội dung này là sự thánh thiện. Linh mục phải biết đón nhận sự thánh thiện, và phải biết cho đi sự thánh thiện.
Sự thánh thiện cốt yếu ở sự được chia sẻ sự sống của Ðức Kitô, Ðấng luôn vâng phục thánh ý Chúa Cha là Cha giàu lòng thương xót, và luôn yêu thương phục vụ con người theo Lời Chúa.

Lời Chúa, khi trở thành nền tảng cho định hướng mục vụ và truyền giáo, sẽ không chỉ là Lời Chúa được nghiên cứu học hỏi trong trường lớp, mà sẽ là một nguồn sống thiêng liêng. Nguồn sống thiêng liêng này sẽ ngấm sâu vào con người linh mục, biến đổi ngài từ đáy thẳm sâu tâm hồn. Biến đổi ngài nên chứng từ sống động của Tám mối phúc, của người mục tử theo lòng Chúa mong ước.

Linh mục càng được Lời Chúa biến đổi, càng chứng minh mình có sự tự do thực sự.

Sự biến đổi này là kết quả của sự lắng nghe Lời Chúa trong thinh lặng, cầu nguyện và suy gẫm.

 3/ Ðịnh hướng cần đối chiếu với hoàn cảnh thực tế

Thực tế cho thấy nơi nào cũng đợi chờ những giá trị đạo đức, cộng đoàn nào cũng mong muốn linh mục của mình là người thánh thiện. Nhưng hình thức nào sẽ được coi là thuận tiện hơn cho lúc này nơi ấy.

Sự đối chiếu với thực tế cụ thể là rất cần, để việc thực hiện định hướng mang lại hiệu quả.

Chẳng hạn hiện nay, sự thánh thiện của linh mục nơi thánh lễ, bài giảng và thi hành bổn phận, đang rất được đợi chờ.

Cũng như hiện nay, sự thánh thiện dưới hình thức Tám mối phúc vẫn đang được coi là thích hợp:

- Tâm hồn nghèo khó,
- Hiền lành,
- Buồn khổ,
- Khát khao sự công chính,
- Xót thương người,
- Xây dựng hoà bình,
- Tâm hồn trong sạch,
- Chịu bách hại vì sống công chính (x. Mt 5,1-10).

Khi sự thánh thiện được thực hiện dưới nhiều hình thức, linh mục sẽ vui mừng nhận thấy cộng đoàn của mình có thể có nhiều người thánh. Họ không là những thánh được phong, nhưng là những người đưa đức tin đến nhiều người, và làm chứng cho Chúa giữa đời hôm nay một cách âm thầm mà hữu hiệu.

Hoàn cảnh thực tế có những gương đạo đức nơi các tôn giáo bạn và cả nơi những người sống theo tín ngưỡng truyền thống dân gian. Thực tế đó khiến linh mục không được chủ quan, để mình và cộng đoàn mình khỏi bị thua kém.
Hoàn cảnh thực tế cho thấy có những thắng lợi mà thành thất bại thua lỗ về mặt đạo đức.

Những thực tế trên đây kêu gọi linh mục phải có nhiều điều chỉnh trong lựa chọn định hướng.

***

Một thoáng nhìn trên đây về định hướng cho thấy linh mục phác hoạ định hướng phải có nhiều điều kiện. Linh mục sống theo định hướng đúng càng phải có nhiều phấn đấu. Giàu hay nghèo về mặt thiêng liêng một phần là ở đó.

Long Xuyên, ngày 02 tháng 11 năm 2009


 

Bùi-Tuần 1816: Nhìn lại năm qua


Nhân năm Linh Mục

 

Năm Phụng vụ vừa hết. Liền đây, năm Dương lịch sẽ hết theo. Không lâu sau, năm Âm lịch cũng Bùi-Tuần 1816


Năm Phụng vụ vừa hết. Liền đây, năm Dương lịch sẽ hết theo. Không lâu sau, năm Âm lịch cũng hết luôn.

Ðứng ở cuối năm, chúng ta nên nhìn lại năm qua với mục đích xét mình. Thời gian qua là một chặng đường dài. Sau chặng đường đó, đời sống thiêng liêng của ta nay ra sao?

Xét về một mặt nào đó, cuộc sống thiêng liêng của ta trên cõi đời này ví được như một cuộc chiến. Nói chung là chống lại cái ác. Mà cái ác vây quanh ta khắc nghiệt.

Chúa Giêsu phán với các môn đệ Người: “Này, Thầy sai các con đi, như chiên đi vào giữa bầy sói. Vậy các con phải khôn ngoan như con rắn và đơn sơ như bồ câu” (Mt 10,16).

Trên thực tế, ta đã thấy bầy sói gồm những thứ ác nào? Và khôn ngoan cũng như đơn sơ, mà Chúa muốn, được hiểu ra sao?

 1/ Bầy sói gồm những thứ ác nào?

Trước hết sói là những thứ tội lỗi.

Có tội lỗi là riêng tư.
Có tội lỗi thuộc chung một đoàn thể.
Có tội lỗi gắn liền với cơ chế.

Ðọc một tờ nhật báo, người ta có thể thấy: tội riêng tư chiếm đa số, tội đoàn thể cũng khá nhiều, tội cơ chế không phải là hiếm.

Sau tội lỗi, sói là những quỷ dữ. Trong Phúc Âm, chúng ta thường gặp chuyện quỷ dữ phá phách bách hại con người. Chúng rất đông. Trong một người quỷ ám, có đến cả một sư đoàn quỷ chen chúc trú ngụ (x. Lc 8,30). Chúng có kế hoạch. Lúc phản công cách này (x. Lc 11,24). Lúc dụ dỗ cách kia. Người ta chỉ có thể trừ được chúng nhờ cầu nguyện và ăn chay (x. Mc 9,29).

Cùng với ác quỷ, sói cũng là những ác nhân mà Chúa Giêsu gọi là mãng xà, rắn độc (x. Mt 23,33). Phúc Âm thường nhắc tới những loại người đạo đức giả, dạy điều sai trái, thích bắt bẻ, ham tranh luận một cách kiêu căng, mắc thói quen nhìn thấy cái rác nơi mắt người khác, còn cái xà trong mắt mình thì lại không thấy (x. Lc 6,41).

Sau cùng, sói là những gương xấu trong thế gian. Như những lạm dụng quyền chức, lạm dụng của cải, lạm dụng thời giờ, lạm dụng đền thờ, lạm dụng quần chúng, lạm dụng tự do.

Trên đây chỉ là một liệt kê sơ lược về các loại sói vô hình. Có thể một vài sói cũng ở trong ta. Nếu xét về mức độ ác độc, thì phải nói ngay là quỷ dữ có khả năng làm hại con người hơn bất cứ loại sói nào. Hiểm nguy lớn nhất là chúng luôn giấu mặt, thậm chí còn làm cho con người tưởng rằng không có chúng. Nhờ đó, chúng rất tự do hoành hành, rất ung dung hiện diện, kể cả trong những sinh hoạt tôn giáo, phượng thờ.

Tình hình cuộc chiến là như thế. Chúa Giêsu biết rõ các môn đệ là ai, nhưng Người vẫn sai họ vào một thế trận không dễ. Khí giới Người trao cho là một lời khuyên: Hãy khôn ngoan và hãy đơn sơ.

Khôn ngoan và đơn sơ nói đây thiết tưởng vượt xa hình ảnh con rắn và bồ câu. Hai hình ảnh này được mượn để gợi ý ban đầu mà thôi.

 2/ Chống lại bầy sói dữ bằng sự khôn ngoan

Người môn đệ Chúa phải khôn ngoan. Khôn ngoan trước hết là nhìn nhận thực tế. Thực tế có nhiều cám dỗ, có nhiều thử thách. Chúng là một phần không thể thiếu của đời người môn đệ Chúa. Như cây không thể tránh gió, dù gió mạnh. Cũng thế, người môn đệ Chúa không thể chạy trốn khỏi những thử thách. Họ kêu cầu: “Xin Chúa đừng để chúng con sa chước cám dỗ”. Nghĩa là họ biết họ phải chiến đấu. Chỉ xin đừng để thua. Bởi vì họ chiến đấu với khí giới của Chúa.

Lúc đó, khôn ngoan là biết cầu nguyện. Phải cầu nguyện không ngừng. Cầu nguyện giúp cho môn đệ Chúa tránh được cách làm việc thiếu suy nghĩ. Nếu mọi việc ta làm đều được nâng đỡ bởi sự cầu nguyện, thì hy vọng sẽ tránh được những nông nổi, nhưng sẽ được Chúa chúc phúc.

Cầu nguyện không ngừng đòi một thói quen thích tĩnh lặng. Nhiều khi ta quá ồn ào, quá phí phạm sức lực, thành ra không nghe được tiếng Chúa, không đón nhận được sự bình an và tình yêu của Chúa. Thiếu những ơn ấy, chúng ta không thanh luyện được tư tưởng, tình cảm, và các động lực hoạt động của ta. Bởi đó, các cám dỗ dễ lừa dối ta, đưa ta vào những con đường xa Chúa.

Vì thế, khôn ngoan là luôn gần gũi Chúa. Ta sống trước thánh nhan Chúa. Tư tưởng và tình cảm của ta luôn ở trong Chúa. Chúa ban cho ta sức mạnh. Sức mạnh của Chúa vượt xa mọi thứ sức mạnh của bất cứ kẻ thù nội ngoại nào tấn công ta. Trong Chúa, người môn đệ Chúa được che chở. Họ ở trong tay Chúa. Họ lấy thiện để thắng ác.

 3/ Thắng bầy sói dữ bằng sự đơn sơ

Trong Phúc Âm, Chúa Giêsu quả quyết: “Thầy bảo thật anh em: Ai không đón nhận Nước Trời như một trẻ em, thì sẽ chẳng được vào Nước Trời” (Mc 10,15).

Chúa nói về sự đơn sơ thiêng liêng.

Ðơn sơ là sống bé nhỏ, nhận mình hèn mọn. Ðặc biệt là biết cậy trông vào ơn Chúa. “Nếu không có Thầy, chúng con chẳng làm gì được” (Ga 15,5).

Ðơn sơ là khiêm nhường nhận mình tội lỗi. Ðây không phải chỉ là một lời khuyên đạo đức, mà cũng vì mình nhận thấy mình có cả một đống tội. Ðống tội đó như đống cát giấu đầy trong một bao bên ngoài đạo đức. Nhưng khi bao bị thủng, cát vung vãi khắp nơi mà không hay biết, cứ lo hò hét.

Ðơn sơ còn là biết đón nhận những gì mang lại sự bình an. Nhất là Lời Chúa, và luôn luôn trở về. Biết sửa sai, biết bắt đầu lại, luôn tìm vâng phục thánh ý Chúa là Cha giàu lòng thương xót.

Với tinh thần đơn sơ khiêm nhường, chúng ta sẽ nói như thánh Phaolô: “Không phải và tự chúng tôi, chúng tôi có khả năng để nghĩ rằng mình làm được việc gì, nhưng khả năng của chúng tôi là do ơn Thiên Chúa, Ðấng ban cho chúng tôi khả năng phục vụ Giáo ước mới, không phải Giao Ước căn cứ trên chữ viết, nhưng dựa vào Thần Khí” (1 Cr 3,5-6).

Với tinh thần đơn sơ bé nhỏ, sám hối, chúng ta cảm tạ Chúa vì đã ban cho chúng ta một năm qua với nhiều biến chuyển tốt, hứa hẹn một tương lai sẽ có nhiều biến chuyển tốt hơn.

Long Xuyên, ngày 12 tháng 11 năm 2009


 

Bùi-Tuần 1817: Tin Mừng cứu độ

 

Từ ít lâu nay, chúng ta được biết những tai hoạ đủ thứ đang xảy ra khắp nơi. Thiên tai, bệnh tật Bùi-Tuần 1817


Từ ít lâu nay, chúng ta được biết những tai hoạ đủ thứ đang xảy ra khắp nơi. Thiên tai, bệnh tật, tai nạn, suy thoái, tội ác, xung đột, chết chóc, mất mát, tang thương.

Tình hình đó giống như một bầu khí đang nóng dần lên, đe doạ đến sự tồn tại của xã hội, Giáo Hội và của chính chúng ta.

Trước đe doạ đó, nhiều sức mạnh đang xuất hiện, mang theo hứa hẹn cứu độ. Là một thành phần của nhân loại và của Ðất Nước, chúng ta không dửng dưng với những sức mạnh hứa hẹn đó. Nhưng là người có đức tin, chúng ta còn biết sức mạnh cứu độ của chúng ta là Chúa Giêsu. Người là Tin Mừng cứu độ.

 1/ Ðức Kitô là Tin Mừng cứu độ

Kinh Thánh dạy chúng ta: Chúa Giêsu là Ðấng Cứu thế.

Người cứu thế gian bằng:

- Yêu thương
- Khiêm nhường
- Nghèo khó
- Vâng lời Chúa Cha.

Từ hang đá Bêlem đến núi Calvariô, Chúa Giêsu luôn sống như thế. Cả về hình thức, cả về tinh thần.

Thánh Phaolô tả cuộc đời cứu thế của Chúa Giêsu như sau:

“Ðức Giêsu Kitô
vốn dĩ là Thiên Chúa,
mà không nghĩ phải nhất thiết duy trì
địa vị ngang hàng với Thiên Chúa,
nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang
mặc lấy thân nô lệ,
trở nên giống phàm nhân
sống như người trần thế.
Người lại còn hạ mình,
vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết,
chết trên cây thánh giá” (Pl 2,6-8).

Chúa Giêsu chọn con đường trên đây, chỉ vì mục đích cứu chuộc nhân loại.
Những năm đầu của Giáo Hội, con đường đó được thực hiện sâu sắc và đều khắp, từ trên xuống dưới. Ðâu đâu cũng yêu thương, khiêm nhường.

Nhưng, từ khi Giáo Hội được xã hội dành cho nhiều đặc ân, nhất là khi đi sâu vào cơ chế, ban bệ, tổ chức, tinh thần thế tục và quyền lực, thì con đường cứu độ yêu thương, khiêm nhường của Chúa Giêsu không còn được nhận rõ ở đời sống nhiều nơi trong Giáo Hội nữa. Ðó là điều đáng tiếc. Từ điều đáng tiếc đó, nhân loại hiện nay xem ra đa số không còn nhìn Ðức Kitô là Tin Mừng cứu độ. Lỗi một phần cũng tại phía công giáo, ở cá nhân, ở cộng đoàn và ở cơ chế.

Trước thực tế phức tạp đó, chúng ta phải làm gì? Thiết tưởng phải chấn chỉnh lại việc loan báo Tin Mừng.

 2/ Tin Mừng hôm nay

Tin Mừng hôm nay vẫn dựa trên Tin Mừng xưa. Nghĩa là các người tin Chúa sẽ loan báo Tin Mừng cứu độ của Ðức Kitô bằng con đường khiêm nhường xót thương cứu giúp mọi kẻ khốn khó, như Chúa Giêsu đã làm gương.

Gương Chúa Giêsu thế nào?

Xưa, Chúa Giêsu tỏ ra xót thương những kẻ mà Người nhìn thấy đang trong cảnh khốn cùng. Người là ông Samarita nhìn thấy một kẻ bị cướp trấn lột đánh trọng thương, nằm ở vệ đường. Ông liền xót thương cứu giúp, coi việc giúp đó như một bổn phận (x. Lc 10,29-37).

Xưa, Chúa Giêsu tỏ ra xót thương những kẻ trong cảnh cơ cực kêu gọi đến Người. Hai người mù ngồi ở vệ đường, vừa nghe Ðức Kitô đi ngang qua, liền kêu lên: “Xin dủ lòng thương chúng tôi”, Người đã chữa họ (x. Mt 20,29-34).

Xưa, Chúa Giêsu tỏ ra lòng xót thương với kẻ Người gặp gỡ trong nước mắt thất vọng. Gặp đám tang con trai một bà goá thành Naim, Chúa đã làm phép lạ cho người chết sống lại (x. Lc 7,11-17).

Xưa, Chúa Giêsu tỏ ra xót thương kẻ, mà Người cảm thấy đang có vấn đề trong thẳm sâu tâm hồn. “Tội của chị đã được tha rồi” (Lc 7,36-50).

húa Giêsu có một tấm lòng nhạy bén gần gũi thân phận con người.

Người đã có những thái độ và việc làm xót thương đối với những kẻ khổ đau. Thái độ của Người và những việc làm của Người đã đào tạo các môn đệ. Ðể họ trở thành những người có tâm hồn bén nhạy trước những khổ đau của con người. Ðể trở thành những người có trách nhiệm trước những cơ cực của con người. Ðể họ trở thành những người có khả năng biết chọn lựa những việc phải làm trước những hoàn cảnh cụ thể.

Biết xót thương người khác, đó là một tin mừng dễ hiểu, gần gũi con người. Nhất là khi xót thương ấy được thực hiện với sự khiêm nhường, từ bỏ mình, hoàn toàn vị tha, phản ánh tình Chúa bao la.

Rất may là tại Việt Nam hôm nay, nhiều tín hữu vẫn loan báo Tin Mừng Chúa Cứu thế bằng con đường phục vụ xót thương con người. Nhưng cũng không thiếu người vẫn chỉ làm chứng cho Chúa Cứu thế bằng con đường đền thờ mà thôi. Thiết tưởng sẽ là đáng mừng, nếu hai con đường trên đây được bổ túc cho nhau.

Ðúng ra, con đường đền thờ nói chung, và thánh lễ chay tịnh nói riêng, cũng luôn phải kèm theo bác ái đối với những kẻ nghèo khổ. Nếu không, Chúa sẽ không chấp nhận. Ngôn sứ Isaia đã quả quyết: “Thôi, đừng đem dâng những lễ vật vô ích nữa. Ta ghê tởm khói hương. Ta không chịu nổi ngày đầu tháng, ngày Sabát, ngày đại hội, không chịu nổi những người cứ phạm tội ác, rồi lại cứ lễ lạt linh đình” (Is 1,13). Tội ác là thiếu công bình bác ái đối với kẻ khổ đau (x. Is 1,17).

Hôm nay, Chúa Hài đồng trong hang đá Bêlem cũng đang âm thầm nhắc lại lời ngôn sứ Isaia.

Nếu kẻ nghèo không được xót thương, thì biết đâu Chúa Giêsu trong hang đá hôm nay vẫn cảm thấy cô đơn trước những lễ nghi hoành tráng linh đình và giữa những dòng người đông đảo tấp nập.

Xin cầu chúc cho nhau một Noel, mà nhiều người khổ đau sẽ cảm nhận Chúa Giêsu là Tin Mừng cứu độ của họ.

Long Xuyên, ngày 16 tháng 11 năm 2009


 

Bùi-Tuần 1818: Năm Thánh nhìn xuống

 

Xét về mặt tổ chức, Năm Thánh có nhiều cái nhìn lên. Như nhìn lên Toà Thánh, các Toà Giám Mục Bùi-Tuần 1818


Xét về mặt tổ chức, Năm Thánh có nhiều cái nhìn lên. Như nhìn lên Toà Thánh, các Toà Giám Mục và các nhà thờ. Như nhìn lên các thánh trên trời và Ðức Thánh Cha, hàng giáo phẩm dưới đất. Như nhìn lên những tháp chuông và các thánh lễ, các cuộc hành hương và những khẩu hiệu... Tổ chức thì thường phải thế thôi.

Nhưng xét về mặt tâm tình, Năm Thánh có nhiều cái nhìn xuống. Tâm tình thì tự do. Tự do này nói lên sự phong phú của Năm Thánh.

Ở đây, xin phép được chia sẻ vài cái nhìn xuống, theo tâm tình gắn bó với Năm Thánh.

 1/ Nhìn xuống những con người thấp kém

Thời gian mới rồi khi khai mạc Năm Thánh, tôi có dịp gặp một số linh mục, tu sĩ sống ở những vùng sâu vùng xa. Họ xuống đó, dựng vài nhà tạm bợ. Từ đó, họ xuống với những thân phận các người nghèo khổ. Sự gần gũi thân tình và những tình thương chân thành của họ xuống sâu vào các khu xóm nghèo. Tất cả đều âm thầm. Sự hiện diện của họ giữa những người nghèo khổ cô đơn được địa phương đón nhận như một tin mừng.

Kèm theo sự hiện diện thân thương là những giúp đỡ nho nhỏ, như cơm áo, thuốc men, dạy chữ, dạy nghề. Phục vụ không điều kiện. Giúp đỡ với tấm lòng bao la.

Còn có những nhóm đi xuống khác nữa. Họ làm từ thiện ngay trong các thành thị. Họ bước xuống những thân phận khổ đau, thấp kém, bị bỏ rơi, cô đơn, bế tắc. Về mặt nào đó, những thân phận đó bị coi như những đống rác, khiến bao người xa tránh. Những người từ thiện đi kiếm tìm họ. Chia sẻ lớn nhất là chia sẻ tình thương. Giữa cảnh cô đơn, tình thương là quà quý nhất.

Khi bước xuống, người từ thiện sẽ khám phá ra một thế giới mới. Thế giới của nghèo túng, nợ nần, bệnh nạn, chia rẽ, hận thù, thất vọng. Sao mà nó mênh mông đến thế. Sao mà nó thê thảm đến thế.

Sự bước xuống, sự nhìn xuống đã giúp cho tầm nhìn của người sống đức tin sát thực tế hơn. Thực tế là ở giữa cuộc đời, chứ không ở trong các tài liệu văn bản. Thực tế là đức tin phải được phiên dịch ra bác ái bằng những việc cụ thể đối với con người, chứ không phải là một đức tin dễ an lòng với các nghi thức tuyên xưng.

 2/ Nhìn xuống những thi thể chôn trong lòng đất

Ngoài những người đi xuống vùng sâu vùng xa, để hoà mình vào cảnh khổ của bao đồng bào, chúng ta còn thấy những người sống Năm Thánh bằng cái nhìn xuống sâu vào lòng đất. Họ nhìn hài cốt của những ân nhân đức tin. Ân nhân của đức tin có thể là những người thân thuộc quen biết, và có thể là những người không phải họ hàng, quen biết.

Ơn đức tin đã được Chúa ban cho mỗi người, qua Hội Thánh. Hội Thánh gồm mọi thành phần dân Chúa ở khắp mọi nơi. Những thành phần ấy là đa dạng. Có những người sống trên quê hương ta. Có những người sống ở đất nước khác. Nhiều người nay đã qua đời. Trong chân lý, họ đã gắn bó với ơn đức tin của ta. Có những người đã được phong thánh. Có những người sẽ mãi mãi vô danh. Thi hài họ chôn trong lòng đất. Hồn họ trên thiên đàng vẫn đồng hành với chúng ta.

Ðức tin là một chuyến đi. Chuyến đi không cô đơn, nhưng với nhiều người. Nhiều người đã nâng đỡ ta, mà ta không hay biết.

Ta trân trọng công ơn của mọi người xa gần đã góp phần vào đời sống nói chung và đời sống đức tin nói riêng của ta.

Trong nhận thức đó, ta cũng gặp thấy những người quá cố của mọi thế hệ, đã có công dựng Nước, giữ Nước và phát triển Ðất Nước. Họ thuộc lịch sử mấy ngàn năm. Nhờ họ, mới có Ðất Nước này, nơi Hội Thánh Công giáo được đón nhận như một nhân tố đồng hành.

 3/ Nhìn xuống những dòng chảy của quê hương

Ðất Nước Việt Nam có những cánh đồng và có những con sông. Những cánh đồng bao la ấy nuôi dưỡng mọi người. Những con sông dài ấy tắm gội mọi cuộc đời. Chúng không là công giáo. Chúng là dòng chảy qua nhiều thế hệ, đem lương thực đến cho mọi người Việt Nam. Lịch sử của chúng kéo dài từng ngàn năm. Chúng là niềm tự hào của mọi người dân trên đất Việt. Mỗi miếng cơm, mỗi ngụm nước ta hưởng hằng ngày, đều phát xuất từ những môi trường sinh thái ấy.

Cùng với môi trường sinh thái ấy là những giá trị truyền thống. Những giá trị truyền thống ấy cũng là những dòng chảy được dân tộc Việt Nam bảo vệ suốt chiều dài lịch sử, để khẳng định bản lãnh của mình. Các tôn giáo lớn trên đất nước Việt Nam cũng đã hoà nhập vào những dòng chảy đó để tồn tại và phát triển. Hội Thánh Công giáo cũng đã làm như vậy. Ðó là một điểm quan trọng mà Năm Thánh sẽ không quên nhìn lại và nhấn mạnh. Thời gian này rất phức tạp, nhưng cũng là một cơ hội tốt, để Hội Thánh Công giáo Việt Nam có thể xây dựng cho mình một địa vị được trân trọng trong lòng Ðất Nước.

 4/ Nhìn xuống tội lỗi của mình

Ngay từ đầu Năm Thánh, nhiều người đã nghe được tiếng Chúa gọi là hãy nhìn xuống tội lỗi của mình, để sám hối. Sám hối không những là xin ơn tha tội, mà còn xin ơn đổi mới, nhờ lòng thương xót Chúa.

Với lòng khiêm nhường, chúng ta cúi đầu xin Chúa xót thương:

Xin cho Năm Thánh này đem lại nhiều an ủi cho những tâm hồn đau khổ.
Xin cho Năm Thánh này đem lại cho chúng con ơn biết tỉnh thức và cầu nguyện.
Xin cho Năm Thánh này đưa Hội Thánh Công giáo Việt Nam đi sâu vào con đường nhập thể của Chúa Giêsu.

Xin cho Năm Thánh này sẽ đốt nóng lên tình liên đới trong mọi tâm hồn Việt Nam đang sống ở bất cứ đâu, nhất là trên quê hương thân yêu này.

Long Xuyên, ngày 25-11-2009


 

Bùi-Tuần 1819: Hành hương


Nhân năm Linh Mục

 

Năm Thánh có mục hành hương. Những ai đi viếng các nhà thờ được Ðấng Bản Quyền chỉ định Bùi-Tuần 1819


Năm Thánh có mục hành hương. Những ai đi viếng các nhà thờ được Ðấng Bản Quyền chỉ định sẽ được ơn toàn xá. Truyền thống Năm Thánh là như vậy.

Thêm vào hành hương Năm Thánh là hành hương tu đức. Hành hương này không có mục đích hưởng ơn toàn xá, mà có mục đích hưởng ơn bình an sâu sắc. Loại hành hương này có thể thực hiện thường xuyên mọi ngày. Nếu được nhấn mạnh trong Năm Thánh, những hành hương đó sẽ làm cho Năm Thánh nên phong phú và lan rộng.
Ở đây, chỉ xin phép nói về vài thứ hành hương đó.

 1/ Hành hương riêng tìm về ngôi nhà nội tâm, nơi Chúa tình yêu hứa ngự đến

Hành hương này đi trên cuộc đời. Ðời mỗi người là một chuyến đi. Chuyến đi cuộc đời, đối với tôi, là một cuộc hành hương. Có thể nói, hành hương này là tìm về ngôi nhà, có Chúa tình yêu ngự trị.

Ðộng lực thúc đẩy tôi đi tìm ngôi nhà ấy là những cơn đói khát trong lòng tôi.

Tôi đói khát được yêu thương. Nhưng không ai trên đời có khả năng lấp đầy cơn đói khát ấy. Vì nó quá thẳm sâu.

Tôi đói khát được ủi an nâng đỡ. Nhưng cuộc đời vẫn nhiều quãng cô đơn. Cô đơn về mọi mặt.

Tôi đói khát được tha thứ. Nhưng những tha thứ trên đời không xoá được mọi lỗi lầm đủ thứ.

Tôi đói khát được chữa lành. Nhưng bao vết thương lòng vẫn còn đó. Những vết thương ấy ăn sâu vào các lớp tâm sinh lý, đến tận vô thức, tiềm thức và chiều kích thiêng liêng.

Những cơn đói khát trên đây luôn thúc giục tôi đi tìm. Tôi cầu nguyện.

Cầu nguyện đem lại cho tôi nhiều kinh nghiệm và cảm nghiệm. Dần dần, Chúa cho tôi khám phá thấy ngôi nhà có Chúa tình yêu ngự trị. Ngôi nhà ấy ở ngay trong nội tâm tôi.

Chúa Giêsu phán: “Ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy. Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy. Cha của Thầy và Thầy sẽ đến và ở lại với người ấy” (Ga 14,23).

Chúa Giêsu lại phán thêm: “Chúng con hãy ở trong Thầy, như Thầy ở trong chúng con” (Ga 15,4).

Như thế, chính Chúa đã cho tôi thấy ngôi nhà, mà Người muốn chọn để ở với tôi. Ngôi nhà đó là chính nội tâm tôi. Tại đó, tôi cảm thấy được yêu thương, được nâng đỡ, được tha thứ, được chữa lành. Ðó là một ơn gọi. Tôi biết rõ ơn gọi ấy. Nhưng tôi không biết rõ tôi đã vào được ngôi nhà đó chưa. Tuy sao, cuộc hành hương của tôi từ nay đã có một định hướng rõ, đó là làm sao biến nội tâm tôi nên ngôi nhà được Chúa ngự.

Nhận thức đó khiến cuộc hành hương cuộc đời của tôi trở thành ý nghĩa. Tôi phải nhìn những gì là thời gian trong ánh sáng của chân lý đời đời. Tôi phải đem niềm vui thiêng liêng của tình yêu Chúa rọi vào những thực tại chóng qua, phù du, tạm bợ.

Tôi không còn phát xuất chuyến đi cuộc đời từ điểm này điểm nọ, nhưng từ niềm tin ở tình yêu vô biên của Thiên Chúa giàu lòng thương xót.

Nói một cách cụ thể, tôi đi về ngôi nhà nội tâm, nơi Chúa hẹn gặp tôi, một cách rất khiêm nhường, rất hèn mọn. Ði về đó, như một người con phung phá trở về với Cha (x. Lc 15,11-32). Tất cả đều tin cậy nơi Cha. Tất cả đều đón nhận từ tình yêu thương xót Cha.

Thế là tôi được bình an. Cuộc hành hương cuộc đời sẽ không tránh được nhiều trắc trở. Nhưng tôi sẽ an tâm. Tôi sẽ nói với thánh vương Ðavít: “Chúa chăn nuôi tôi, tôi chẳng thiếu thốn chi” (x. Tv 22).

 2/ Hành hương chung cùng với những người khác tìm về Thiên Chúa giàu lòng thương xót

Từ kinh nghiệm nội tâm riêng tư, tôi sống với nhiều người khác. Cuộc sống chung ấy, đối với tôi, cũng là một hành hương.

Hành hương tập thể gồm nhiều hạng người khác nhau. Nếu xếp loại một cách đơn giản theo dụ ngôn một người cha có hai người con trong Phúc Âm thánh Luca (15,11-15), thì có thể nói: Cộng đoàn thường gồm 2 loại người. Một loại gồm những người con đàng hoàng, một loại gồm những người con phung phá. Phần tôi, tôi tự nguyện đi chung với loại người con phung phá. Cùng với họ, tôi trở về với Cha, và đón nhận ơn tha thứ. Cùng với họ, tôi xưng tụng rằng: Chúng tôi, mặc dù tội lỗi, nhưng đã được Chúa yêu thương, đã được Chúa nâng đỡ, đã được Chúa thứ tha, đã được Chúa chữa lành.

Dụ ngôn người con phung phá cho thấy: Người con đàng hoàng, khi nghe nói đứa em phung phá được Cha đón nhận vào nhà với niềm vui chan chứa, thì buồn giận, không muốn vào nhà. Thành ra, cuộc trở về của người này, lại làm cớ cho cuộc ra đi của người kia. Kẻ ra đi lại là kẻ trước đây coi như đàng hoàng! Thực đáng buồn khi thấy: Chính Chúa không cản ta trở về với Chúa. Nhưng kẻ cản ta lại là một loại con nào đó của Chúa.

Khi hành hương chung, tôi thấy loáng thoáng như vậy. Thực tế đó dạy tôi điều này là: Trong mọi hành hương, phải có rất nhiều khiêm nhường. Nếu thiếu khiêm nhường, thì bất cứ hành hương nào cũng không đưa ta trở về với Cha giàu lòng thương xót.

Nếu hành hương là một chuyến đi trở về với Cha giàu lòng thương xót, thì ta phải khiêm tốn nhận mình tội lỗi, muốn được tha thứ, muốn được ủi an, muốn được yêu thương, muốn được chữa lành.

Như thế, hành hương là chuyện đón nhận. Càng khiêm tốn càng có khả năng đón nhận.

Nhưng vô số người đã không đón nhận. Chúa Giêsu nói về họ thế này: “Ðã bao lần Ta muốn tập họp con cái các ngươi lại, như gà mẹ tập họp gà con dưới cánh, mà các ngươi không chịu” (Mt 23,37). Họ không đón nhận ơn trở về, vì họ có tự do. Ðón nhận hay không đón nhận là quyền tự do mỗi người.

Thiết tưởng, nếu quyền tự do ấy được sử dụng một cách khiêm nhường đối với Chúa và đối với người khác, thì chắc chắn sẽ là tự do đón nhận ơn trở về.
Như vậy, khiêm nhường vẫn là một điều quan trọng trong mọi hành hương. Khiêm nhường sám hối, khiêm nhường cầu nguyện, khiêm nhường phục vụ, khiêm nhường phó thác, khiêm nhường chấp nhận mầu nhiệm thánh giá.

Long Xuyên, ngày 02 tháng 12 năm 2009


 

Bùi-Tuần 1820: Tâm tình Noel

 

Ðời mỗi người môn đệ Chúa thường được chi phối bởi một vài biến cố. Những biến cố ấy đã Bùi-Tuần 1820


Ðời mỗi người môn đệ Chúa thường được chi phối bởi một vài biến cố. Những biến cố ấy đã gây nên cảm xúc mạnh. Cảm xúc mạnh ấy làm nên những đợt sóng tâm tình riêng tư chảy qua bề sâu suốt cuộc đời họ. Chảy qua để nhuộm đời sống họ thành một màu nào đó của Tin Mừng.

Ở đây, xin phép chia sẻ kinh nghiệm đó.

 1/ Lời Chúa

Chúa Giêsu phán: “Tất cả những ai đang vất vả và mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi. Tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng. Anh em hãy mang lấy ách của tôi, và hãy học với tôi vì tôi có lòng hiền lành và khiêm nhường. Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng. Vì ách tôi thì êm ái, và gánh tôi thì nhẹ nhàng” (Mt 11,28-30).

Vất vả của tôi, gánh nặng của tôi là những gì?

Thưa nhiều thứ lắm. Chỉ xin lướt qua một số dễ nhận ra, như:

- Những thất bại, những nhục nhã, những cô đơn.

- Những tội lỗi, và thói hư tật xấu. Bảy mối tội đầu luôn là những gánh nặng gây áp lực.

- Những đau đớn hồn xác. Những nặng nề trong trái tim. Những bóng tối trong nhiều liên hệ.

- Những mù quáng trong nhận định. Những ngây ngô trong chọn lựa. Những vụng về trong thực hành.

Trên đây là những gánh nặng có tên. Còn nhiều gánh nặng nữa không tên, như:

Những phấn đấu chống lại các thứ cám dỗ muốn đưa tôi vào những hy vọng ảo, những nghỉ ngơi giả.
Những đớn đau do cảm nhận được những đau đớn của những người khác.
Những bất lực trước bao số phận trôi dạt trong những sóng gió của thực tế cuộc đời chìm nổi.
Những thao thức về bao vấn đề đặt ra cho lương tâm nhân loại.
Những xót xa, khi thấy bao người coi cuộc đời như vô nghĩa.

Khi tất cả những gánh nặng có tên và không tên đè nặng chồng chất ngày này sang ngày khác, thì thời gian lại trở thành một gánh nặng mới thách thức khả năng chịu đựng.

Nhận thức về các thứ gánh nặng đời mình và đời người khác được tôi cảm nhận như một nhận thức đạo đức. Nhận thức như thế đẩy tôi đi tìm một chỗ tựa thiêng liêng.

Tôi lên đường, vượt qua nhiều trắc trở. Sau cùng tôi gặp được Chúa Giêsu. Tôi gặp Chúa trong lời Chúa. Cuộc gặp gỡ được thực hiện trong cầu nguyện và tĩnh mạc. Lời Chúa đưa tới gặp gỡ là: “Tất cả những ai đang vất vả và mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi. Tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng” (Mt 11,28).

Tôi tin vào lời Người. Tôi đặt nơi Người mọi gánh nặng của tôi. Người đón nhận. Người chia sẻ. Chia sẻ của Chúa là bước đầu làm tôi vơi nhẹ. Chia sẻ đó khiến tôi cảm động, một cảm động mang tính cách thiêng liêng.

Tôi còn được gặp Chúa nơi hang đá Bêlem.

 2/ Hang đá Bêlem

Tại hang đá Bêlem, tôi thấy Lời Chúa hiện hình nơi một hài nhi nghèo.

Trong thân phận một hài nhi nghèo, Chúa chia sẻ thân phận con người một cách cụ thể đầy xúc động.

Chia sẻ ở đây có một đặc điểm lạ lùng, đó là sự từ bỏ.

Chúa Giêsu từ bỏ mọi vinh quang, để chia sẻ kiếp người khốn cùng.
Chúa Giêsu từ bỏ cảnh sống dư đầy, để chia sẻ thân phận con người túng nghèo đói khát.
Chúa Giêsu từ bỏ ý riêng mình, để chia sẻ cuộc đời vâng phục.

Khi tôi gặp được Chúa Giêsu từ bỏ và chia sẻ, tôi thấy Người là tình yêu dâng hiến.

Dâng hiến để đền tội thay.
Dâng hiến để giúp con người tái sinh vào cuộc sống mới của người con Chúa.

Tôi gặp được Chúa Giêsu như vậy trong cầu nguyện và tỉnh thức. Tôi đặt nơi Người mọi gánh nặng của tôi, nhất là những cản trở khiến tôi không muốn từ bỏ mình. Chúa không cất đi mọi gánh nặng của tôi, nhưng Người ban ơn nâng đỡ ủi an. Tình yêu hiến dâng của Người khiến tôi xúc động. Có một cái gì thiêng liêng trào lên trong tôi.

Tôi còn gặp được Chúa nơi những người thiện tâm.

 3/ Những người thiện tâm

Tôi thấy Chúa hiện diện nơi các người thiện tâm. Dấu chỉ thiện tâm là sự chia sẻ phục vụ trong hiền lành khiêm nhường.

Gương những thiện tâm là Ðức Mẹ, thánh Giuse, và những mục đồng ở Bêlem. Ðó là người xưa. Trong mọi thời và hiện nay vẫn có những người thiện tâm nhiều ít như thế.

Họ chia sẻ phục vụ trong mọi lãnh vực, như văn hoá, kinh tế, từ thiện, chính trị. Chia sẻ phục vụ con người và công ích một cách hiền lành khiêm tốn.

Tôi gặp được Chúa nơi họ, khi tôi khiêm nhường, cởi mở.

Tại Việt Nam hôm nay, đang có nhiều Lời Chúa, đang có nhiều hang đá Bêlem và cũng đang có nhiều người thành tâm. Ðó là những điểm ta dễ dàng gặp được Chúa, mặc dù còn những điểm khác.

Tại những điểm đó có sự chia sẻ, có sự từ bỏ mình, có sự phục vụ hiền lành và khiêm nhường.

Tới đây, tôi nghĩ tới cuộc gặp của Cụ Chủ tịch Nước Nguyễn Minh Triết với Ðức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI tại Vatican trước Noel này.

Tôi hiểu cuộc gặp này mang nhiều chia sẻ đầy hy vọng. Tôi xác tín cuộc gặp lịch sử này sẽ mang một sứ điệp hoà bình. Ðây cũng là một quà Noel quý giá cho cả hai phía đạo đời.

Nhận thức như vậy, chúng ta sẽ hân hoan hát bài ca Noel truyền thống:

“Vinh danh Thiên Chúa trên các tầng trời.
Bình an dưới thế cho người thiện tâm”.

Long Xuyên, ngày 6 tháng 12 năm 2009


 

Bùi-Tuần 1821: Dự báo tôn giáo

 

Dịp đầu năm, người ta hay đưa ra các thứ dự báo. Dự báo về chính trị, về kinh tế, về giáo dục Bùi-Tuần 1821


Dịp đầu năm, người ta hay đưa ra các thứ dự báo. Dự báo về chính trị, về kinh tế, về giáo dục, về các thứ chủ nghĩa, về các loại phong trào, về các lựa chọn tôn giáo. Ở đây, tôi xin giới hạn trong nội bộ Giáo Hội Công giáo Việt Nam.

Nói chung, Giáo Hội Công giáo Việt Nam vẫn là một cộng đoàn những người Việt Nam tin theo Chúa, cùng nhau hành hương trên dòng lịch sử. Lịch sử di chuyển giữa những yếu tố phức tạp của con người, và của xã hội. Phức tạp gồm những cái tốt và cái xấu, cái cũ và cái mới. Mỗi người có tự do chọn, và phải chịu trách nhiệm về tự do của mình. Phúc Âm mô tả cảnh phức tạp đó bằng hình ảnh dễ nhớ. Một người cha có hai người con. Một đứa phung phá, nhưng rồi trở về. Một đứa đàng hoàng, nhưng rồi ra đi có thể chỉ một thời gian (x. Lc 15,11-31).
Theo cái nhìn trên đây, tôi thử có những dự báo sau đây:

 1/ Trong lãnh vực tu đức sẽ có hai hướng nội ngoại cạnh tranh gay gắt

Hướng nội là để ý ưu tiên đến nội tâm. Sao cho đời sống nội tâm được biến đổi thực sự. Biến đổi trên nền tảng Lời Chúa. Luôn tìm vâng phục thánh ý Chúa. Càng ngày càng đón nhận ơn thánh hoá. Ðược Chúa chia sẻ sự sống của Người, nên luôn tiến triển trên đường làm con bé nhỏ của Chúa Tình yêu. Lý tưởng là chính Ðức Giêsu Kitô. Người con bé nhỏ đi về với Chúa Cha, trong tâm tình phượng thờ và phục vụ khiêm tốn dưới ánh sáng của Chúa Thánh Thần.

Còn hướng ngoại trong tu đức là chỉ để ý đến những hình thức bề ngoài. Giống như kiểu giữ đạo của lớp người đạo đức Pharisêu xưa. Theo ý riêng hơn ý Chúa. Tìm lợi riêng hơn lợi chung. Ðọc kinh nhiều, nhưng lòng trí thì xa Chúa.

 2/ Trong lãnh vực mục vụ và truyền giáo hai hướng nội ngoại cũng sẽ đua nhau phát triển

Hướng ngoại là chỉ để ý đến tổ chức, ban bệ, tiền bạc, luật lệ, quyền bính. Chỉ chạy theo thành công bề ngoài, xây dựng uy tín cá nhân và phô trương quyền lực.

Bên cạnh hướng ngoại, vẫn có hướng nội. Hướng nội được ưu tiên thực hiện trong mục vụ và truyền giáo, là hoàn toàn tin cậy vào các ân sủng Chúa Giêsu ban cho: “Chính Người đã ban ơn cho kẻ này làm tông đồ, người nọ làm ngôn sứ, kẻ khác làm người loan báo Tin Mừng, kẻ khác nữa làm người coi sóc và dạy dỗ” (Ep 4,11).

Làm tông đồ,
Làm ngôn sứ,
Làm người rao giảng Tin Mừng,
Làm người coi sóc,
Làm người dạy dỗ.

Năm việc trên đây có nơi được nhấn mạnh như những sứ vụ, có nơi được đề cao như những đặc sủng, có nơi được coi như những công việc hành chánh thông thường. Cách nhìn đúng nhất là nhìn như các ơn đặc sủng. Mà đã là đặc sủng thì phải gắn bó mật thiết với Chúa Thánh Thần.

 3/ Trong lãnh vực hội nhập, hai hướng nội ngoại vẫn sẽ đồng hành, nên phải cảnh giác

Hướng nội là quan tâm nhiều đến những giá trị của dân tộc, của địa phương. Ðể đối thoại, hợp tác với tinh thần bác ái khiêm nhường. Hơn nữa, hướng nội còn là coi trọng những cố gắng của giáo hội địa phương trong việc giữ đạo và truyền đạo. Những cố gắng đó bao gồm mọi góp phần của các tầng lớp, dù là những tầng lớp hèn mọn.

Hướng ngoại là hướng quá đề cao các thứ giá trị từ ngoại quốc. Cái gì tốt cũng phải cậy nhờ vào ngoại quốc, đó là một hướng ngoại quá đáng.

 4/ Trong lãnh vực hy vọng, hai hướng nội ngoại cũng là một thách đố

Mọi sự sẽ không luôn trôi chảy. Nhưng sẽ có những thất bại bề ngoài, sẽ có sự thinh lặng của Thiên Chúa, sẽ có những bóng tối hiện ra phủ kín đường đi. Những trường hợp như vậy sẽ là những thử thách. Nhiều người trong thử thách sẽ trung thành đặt hy vọng vào ơn cứu độ của Chúa Giêsu, Ðấng sẽ ở với con cái Người cho đến tận thế. Nhưng cũng không thiếu người trong thử thách sẽ bỏ Chúa mà đi tìm nương tựa ở những gì ngoài Phúc Âm và phản Phúc Âm.

Sự đứt đoạn với truyền thống Phúc Âm có thể sẽ xảy ra đó đây. Nhưng chúng ta sẽ cùng với Ðức Mẹ Maria luôn đợi chờ Lời Chúa hứa. Với Ðức Mẹ, chúng ta sẽ âm thầm suy nghĩ trong lòng, đặt mình trong tình yêu thương xót của Chúa. Ở lại trong Chúa, đó là hướng đúng, phải dứt khoát chọn.

***

Hướng nội chủ yếu là trở về. Hướng ngoại chủ yếu là ra đi. Trở về, rồi lại ra đi. Ra đi, rồi lại trở về. Sẽ không có ổn định hoàn toàn và bền vững. Cũng không có tốt xấu rõ ràng dứt khoát. Vì thế, không được hiểu một cách máy móc theo nghĩa đen. Bởi vì theo một nghĩa nào đó, có mức độ hướng ngoại phải được coi là cần, và có thứ hướng nội phải nên tránh. Lịch sử luôn có những bất ngờ.

Do đó, tương lai sẽ là nơi đào tạo sự tự do sáng suốt, để chọn lựa khôn ngoan. Hãy học sống tự do trong ánh sáng Phúc Âm. Thứ tự do đó sẽ đem lại cho chúng ta sự bình an của Chúa nhân lành.

Thiết tưởng đã đến lúc, nhân đức làm chứng cho Chúa mạnh mẽ nhất và có sức lôi cuốn người Việt Nam về với Chúa sẽ không là đức tin đơn thuần, mà sẽ là một đức tin được phiên dịch ra đức ái chan hoà đối với tha nhân.

Long Xuyên, ngày 26 tháng 12 năm 2009


 

Bùi-Tuần 1822: Của lễ hành hương cứu độ

Bài chia sẻ trong thánh lễ Báo Hiếu các linh mục hưu
1.
 

Thánh lễ tại Cần Xây hôm nay được gọi là thánh lễ Báo Hiếu các linh mục hưu của giáo phận Long Bùi-Tuần 1822


Thánh lễ tại Cần Xây hôm nay được gọi là thánh lễ Báo Hiếu các linh mục hưu của giáo phận Long Xuyên.

Các linh mục hưu của giáo phận Long Xuyên hiện ở nhiều nơi. Nhưng phần đông đang ở nhà hưu dưỡng chung tại giáo xứ Cần Xây này. Báo hiếu các ngài là một niềm an ủi cho các thế hệ đi sau. Vì thế, mới có quy tụ hôm nay.

Trong các cha hưu, có những cha già yếu và có những cha bệnh tật. Nhìn các ngài, tôi nhớ tới lời thánh Phaolô xưa:

“Dù con người bên ngoài của chúng tôi có tiêu tan đi, thì con người bên trong của chúng tôi vẫn ngày càng đổi mới” (2 Cr 4,16).

Tôi có cảm tưởng là lời trên đây của thánh Phaolô lúc già yếu cũng hợp với mọi linh mục hưu nói chung và từng linh mục hưu tại đây nói riêng.

Bên ngoài thì tiều tuỵ.
Bên trong thì đổi mới.

 2.

Hôm nay, tôi xin chia sẻ vắn tắt về sự đổi mới đó. Dựa trên nền tảng Kinh Thánh và trên kinh nghiệm của nhiều vị về hưu.

Sự đổi mới nói đây phải hiểu là về mặt thiêng liêng. Chủ yếu là biến đổi chúng tôi thành những của lễ trước mặt Chúa.

Của lễ đền tạ,
Của lễ khấn xin.
Của lễ tình yêu.

Chính Chúa biến đổi chúng tôi. Nhưng Chúa đòi chúng tôi phải cộng tác vào công việc biến đổi đó.

Biến đổi đó là một thứ thanh luyện. Cho dù chúng tôi hết sức cộng tác vào việc thanh luyện, thì thanh luyện cũng vẫn gây nên đau đớn.

Ðau đớn thân xác, đau đớn tâm hồn.

Không thiếu trường hợp đau đớn ấy được cảm nhận như được chia sẻ lời tiên tri Isaia đã nói về những người được tham dự ơn gọi Ðấng Cứu Thế: “Người chẳng còn dáng vẻ, chẳng còn oai phong... Phải đau đớn triền miên và nếm mùi bệnh tật” (Is 53,2-3).

Chính vì thế, mà thanh luyện không là chuyện dễ. Nên chúng tôi rất cần ơn Chúa phù giúp. Rất khát khao được Hội Thánh nâng đỡ. Rất trân trọng mọi thông cảm của anh chị em.

 3.

Cái khó hơn cả trong việc chấp nhận thanh luyện là thanh luyện đã đau đớn mà còn kéo dài, như một hành hương trên đường cứu độ. Nhiều khi chuyến đi hành hương đó lại rất cô đơn, và phải mang theo những khổ đau của bao người khác. Vì thế, xin đừng lấy làm lạ, nếu đôi khi nghe chúng tôi nói như Chúa Giêsu: “Lạy Cha, sao Cha nỡ bỏ con” (Mc 15,34).

Tuy vậy, trong việc thanh luyện đau đớn và hành hương vất vả, giữa những phấn đấu âm thầm, chúng tôi thường được ơn vâng phục, phó thác ở lòng thương xót Chúa. Xin tạ ơn Chúa vô vàn.

 4.

Thiết tưởng chia sẻ trên đây sẽ được coi là một chúc mừng thân thiết gởi tới hai cha Phaolô Vũ Sửu và Phêrô Nguyễn Ðức Thiêm, dịp hai cha mừng Kim Khánh linh mục.

Hai cha là hai ơn gọi đang được Chúa đổi mới, để thành của lễ hành hương cứu độ. Ðó là một vinh dự.

Hai cha sẽ nói như thánh Phaolô: “Ước chi tôi chẳng hãnh diện về điều gì, ngoài thập giá Ðức Kitô, Chúa chúng ta” (Gl 6,14).

Xin Chúa Giêsu là hồn của lễ hành hương cứu độ luôn ở với hai cha, để hai cha nếm được những gì sâu xa nhất của Năm Linh Mục.

Nguyện chúc đời sống hai cha nói riêng và các cha hưu nói chung luôn là bài ca: “Chúa là gia nghiệp đời con”, trong lạc quan, hân hoan và cảm tạ Chúa giàu lòng thương xót.

Nhà thờ Cần Xây, ngày 27/12/2009


 

Bùi-Tuần 1823: TĨNH LẶNG

 

Nên thánh là một lời mời gọi gởi tới mọi người tin theo Chúa. Rất mừng là nhiều người Công giáo Bùi-Tuần 1823


Nên thánh là một lời mời gọi gởi tới mọi người tin theo Chúa.

Rất mừng là nhiều người Công giáo Việt Nam đang lắng nghe và đáp lại.

Càng rất mừng là nhiều người đã ý thức việc nên thánh trong thời điểm này là việc rất quan trọng.

Càng hết sức mừng là việc rất quan trọng đó đang được thực hiện bằng nhiều cách. Trong tâm tình đó, tôi xin được chia sẻ vài mong ước của tôi dịp xuân mới. Những mong ước này có nền tảng Kinh Thánh và tính cách thời sự.

 1/ Tĩnh mạc cầu nguyện với Chúa

Sách Thánh luôn kêu gọi con người đến nơi tĩnh mạc, để cầu nguyện.

Nơi tĩnh mạc cầu nguyện có thể là căn phòng đóng kín. Chúa Giêsu dạy: "Khi cầu nguyện, hãy vào phòng, đóng cửa lại, và cầu nguyện cùng Cha của anh, Đấng hiện diện nơi kín đáo. Và Cha của anh, Đấng thấu suốt những gì kín đáo, sẽ trả công cho anh" (Mt 6,6).

Nơi tĩnh mạc cầu nguyện có thể là sa mạc. Phúc Âm thánh Luca kể: "Đức Giêsu được đầy Thánh Thần, từ sông Giođan trở về, và được Thánh Thần dẫn vào hoang địa, ở đó 40 ngày, chịu quỷ cám dỗ" (Lc 4,1-2). Phúc Âm thánh Matthêu thêm: "Người ăn chay ròng rã 40 đêm ngày" (Mt 4,1-2).

Nơi tĩnh mạc cầu nguyện có thể là ngọn núi. Phúc Âm thánh Luca kể: "Trong những ngày ấy, Chúa Giêsu đi lên núi cầu nguyện. Người đã thức suốt đêm cầu nguyện cùng Thiên Chúa" (Lc 6,12).

Nơi tĩnh mạc có thể là khu đất vườn rộng. Phúc Âm thánh Marcô viết: "Sau đó, Đức Kitô và các môn đệ đến một thửa đất gọi là Ghétsemani. Người nói với các ông: anh em ngồi lại đây, trong khi Thầy cầu nguyện" (Mc 14,32).

Tất cả những nơi trên đây đều là chốn tĩnh mạc xét theo địa lý. Có nghĩa là môi trường địa lý tĩnh mạc phải được coi là một điều kiện quan trọng cho việc cầu nguyện.

Nhưng điều kiện quan trọng hơn cho việc cầu nguyện chính là sự tĩnh mạc nội tâm. Sự tĩnh mạc nội tâm này mô tả qua việc tiên tri Elia gặp Chúa trên núi Khôrép.

"Chúa nói với Elia rằng: Hãy ra ngoài hang và đứng trên núi trước mặt Chúa. Kìa Đức Chúa đang đi qua. Gió to bão lớn xé núi non, đập vỡ đá tảng trước nhan Chúa. Nhưng Đức Chúa không ở trong gió bão. Sau đó là động đất. Nhưng Đức Chúa không ở trong động đất. Sau động đất là lửa. Nhưng Đức Chúa cũng không ở trong lửa. Sau lửa có tiếng gió hiu hiu. Vừa nghe tiếng đó, ông Elia lấy áo choàng che mặt, rồi ra ngoài đứng ở cửa hang. Bấy giờ có tiếng hỏi ông: Elia, ngươi làm gì ở đây?" (1 V 19,11-13).

Chuyện trên đây cho thấy: Chúa đến với Elia và nói với ông trong tiếng gió nhẹ. Tiên tri đang ở trên núi tĩnh mạc, nhưng ngài còn phải có một nội tâm tĩnh mạc, mới gặp được Chúa và nghe được Chúa, vì tiếng Chúa nhỏ nhẹ phát ra từ cõi tĩnh mạc bao la sâu lắng.

Thời nào, sự tĩnh mạc địa lý và nội tâm cũng vẫn cần cho việc cầu nguyện. Thời nay xem ra càng cần hơn. Bởi vì thế giới hiện nay đang quay cuồng trong muôn vàn thứ náo động. Nếu những người công giáo nói chung và những người lãnh đạo cộng đoàn tín hữu nói riêng lại tự mình xa lánh cõi tĩnh mạc, để lao mình vào những luồng náo động thế tục, thì việc cầu nguyện không tránh được sa sút. Tai hại sẽ khôn lường.
Một việc thiêng liêng khác cũng rất cần tĩnh mạc, đó là suy tư về tình hình phần rỗi.

 2/ Tĩnh mạc suy tư

Phần rỗi của mỗi người là rất quan trọng. Phần rỗi của gia đình mình, của Giáo Hội mình phải là mối quan tâm thường xuyên của ta. Tình hình của những phần rỗi đó hiện nay ra sao? Hiểu biết những tình hình đó là vấn đề sống còn của ta. Nhất là trong những thời điểm Chúa mời gọi cách riêng, như dịp bị thử thách. Phúc Âm nêu lên một gương mẫu. Đó là hai môn đệ trên đường Emmau.

Hai môn đệ đã trông chờ ở Chúa Giêsu một cuộc cứu độ vinh quang hoành tráng. Nhưng Chúa Giêsu đã tự nộp mình chịu khổ hình, để lại cho các môn đệ một nỗi buồn sầu thất vọng lớn lao. Hai trong các môn đệ đó đã đi về Emmau trong tâm trạng xuống tinh thần ghê gớm. Chính lúc đó, Chúa Giêsu hiện đến dưới hình một người đi đường. Ngài lại gần hai môn đệ. Ngài không nói ngay cho các ông con đường cứu độ của Ngài. Nhưng Ngài hỏi han, chia sẻ, dựa trên Kinh Thánh, giúp các môn đệ tự khám phá ra sự thật. Chúa vừa soi sáng trí khôn họ, vừa đốt nóng trái tim họ. Sau một thời gian đồng hành, Chúa mới cho hai môn đệ nhận ra Chúa và chương trình cứu độ của Chúa (x. Lc 24,13-35).

Hai môn đệ đã sống một thời gian tĩnh lặng bên Chúa, đã lắng nghe được ý Chúa, đã đón nhận được lửa tình yêu Chúa. Chính trong những giây phút tĩnh lặng sâu xa, mà các ngài đã nhìn thấy con đường phần rỗi. Con đường đó là phải trải qua thử thách, là phải bám chặt vào ơn thánh Chúa, là phải đón nhận chính Chúa Giêsu, là phải kết hợp mật thiết với Người.

Hiện nay, thời gian tĩnh lặng trên đường Emmau xem ra ít còn tìm thấy. Chất nặng, ồn ào, náo động đang muốn trở thành chủ trương. Tệ hơn nữa, nhiều khi người ta lại tục hoá những nơi và thời gian cầu nguyện suy gẫm. Nếu lòng đạo vì thế sẽ suy tàn, thì trách nhiệm về ai?

****

Có những tĩnh lặng mang giá trị thiêng liêng cao quý. Có những tĩnh lặng để ta gặp lại chính mình, để ta gặp gỡ Chúa, để ta đón nhận được tình yêu cao cả. Có những tĩnh lặng đưa ta đến hạnh phúc thực sự vững bền.

Xin cầu chúc cho nhau sang năm Canh Dần được những tĩnh lặng như thế.

Long Xuyên, ngày 4/1/2010


 

Bùi-Tuần 1824: TÍNH SỔ LINH HỒN


Nhân năm Linh Mục

 

Dịp giáp năm, mỗi môn đệ Chúa nên tính sổ linh hồn mình. Sổ linh hồn là sổ ghi lại những đòi hỏi Bùi-Tuần 1824


Dịp giáp năm, mỗi môn đệ Chúa nên tính sổ linh hồn mình. Sổ linh hồn là sổ ghi lại những đòi hỏi của Chúa và mình đã đáp lại ra sao. Ở đây, tôi xin phép gợi ý một số điểm, mà Phúc Âm cho là quan trọng trong tu đức, mục vụ và truyền giáo.

 1/ Sống mật thiết với Chúa

Trong bữa tiệc ly, Chúa Giêsu nhắn nhủ các môn đệ điều này là: Hãy sống mật thiết với Người. Người tả cuộc sống mật thiết ấy bằng những lời như sau:

"Hãy ở lại trong Thầy
như Thầy ở lại trong anh em.
Cũng như cành nho không thể
tự mình sinh hoa trái,
nếu không gắn liền với cây nho,
anh em cũng thế,
nếu không ở lại trong Thầy.
Thầy là cây nho, anh em là cành.
Ai ở lại trong Thầy
và Thầy ở lại trong người ấy,
thì người ấy sinh nhiều hoa trái,
vì không có Thầy,
anh em chẳng làm gì được" (Ga 15,4-5).

Sống mật thiết với Chúa đòi phải có đức tin. Nhưng tin ở đây không phải chỉ là chấp nhận những điều Chúa dạy, nhưng chủ yếu là thiết lập một liên hệ riêng tư, sống động với chính Đức Giêsu Kitô. Liên hệ ấy là một sự dấn thân trọn vẹn cho Người.
Đôi khi chúng ta hiểu sự sống mật thiết với Chúa là một thứ vượt qua chính mình, để bắt đầu lại hằng ngày. Không hẳn là thế. Thực sự, sống mật thiết với Chúa là để Chúa dẫn ta đi. Ta như đứa con nhỏ bé phó thác trong tay Người.

Sự sống mật thiết, mà Chúa nói đây, phải là sự sống sản sinh ra trái thiêng liêng.

Trái thiêng liêng đầu tiên là chính bản thân ta được biến đổi, được thấm nhuần, được nên mới nhờ suy niệm và lắng nghe Lời Chúa.

Một trái thiêng liêng khác luôn được cảm nghiệm thấy, đó là sự ta biết cầu nguyện. Lúc đó, chúng ta sẽ là những người thờ phượng Chúa thực sự, nghĩa là "trong tinh thần và trong chân lý" (Ga 4,23). Bởi vì chúng ta sẽ "cầu nguyện trong Chúa Thánh Thần" (Rm 8,26).

Một trái thiêng liêng khác thường được thấy nơi người sống mật thiết với Chúa, là Thánh thần của Chúa Cha sẽ nói trong họ, khi họ phải rao giảng Tin Mừng (x. Mt 10,19-20).
Sự sống mật thiết với Chúa, như vừa mô tả vắn tắt, là một ơn rất quý Chúa hứa ban cho các con cái Chúa. Nhưng thực tế cho thấy: có người nhận được ơn đó, có người không nhận được ơn đó. Thái độ khiêm nhường, khát khao là điều kiện cần để đón nhận. Trong năm qua, chúng ta có đón nhận ơn đó không?

 2/ Nhận ra Thiên Chúa là Tình yêu giàu lòng thương xót với những hệ luỵ

Phúc Âm luôn có những cái mới mẻ. Một cái mới mẻ của Phúc Âm là càng ngày người ta càng khám phá ra tình yêu bao la của Thiên Chúa.

Thánh tông đồ Gioan quả quyết: "Thiên Chúa là Tình yêu" (1 Ga 4,8).
Tình yêu ấy có mấy đặc điểm. Thí dụ:

- Thiên Chúa yêu thương chúng ta trước (1 Ga 4,10).
- Thiên Chúa yêu thương chúng ta, đến nỗi đã sai Con của Người đến làm của lễ đền tội cho chúng ta (1 Ga 4,10).

Chính ở điểm "Chúa Giêsu dâng mình làm của lễ đền tội cho nhân loại" mà một chuỗi những mâu thuẫn đã xảy ra. Một số người nhận ra tình yêu vô biên của Chúa trong cuộc tử nạn của Chúa. Nhưng một số người lại coi cuộc tử nạn đó là một sự yếu kém, đáng khinh chê, không thể chấp nhận được.

Trên thánh giá, Chúa Giêsu bị trêu chọc nhục mạ bởi những quân lính (x. Mt 27,49), bởi những người qua đường (x. Mc 15,29), bởi những nhà đạo đức thông thái (x. Lc 23,35), bởi tên trộm cướp (x. Lc 23,39).

Những hậu quả mâu thuẫn gây nên do tình yêu tự hạ của Chúa xưa là thế. Mà nay cũng vậy. Năm đã qua và đang qua cũng đã chứng kiến những sự kiện đó.

Một phong trào muốn bản thân mình và Hội Thánh Chúa ở Việt Nam phải luôn được vinh quang bằng chiến thắng. Một phong trào khác chấp nhận con đường tự hạ từ bỏ để làm chứng cho Thiên Chúa là tình yêu giàu lòng thương xót. Phong trào này có nơi bị khinh chê, ruồng bỏ. Đang khi phong trào trên có nơi được đề cao, ca tụng.

Đó là một thử thách, Chúa đòi chúng ta phải lựa chọn. Chúng ta đã chọn phong trào nào, như một ơn Chúa ban?

 3/ Giới răn yêu thương

Một điều rất tha thiết Chúa Giêsu trối lại cho các môn đệ là: Giới răn yêu thương: "Thầy ban cho anh em một điều răn mới, là anh em hãy yêu thương nhau, như Thầy đã yêu thương anh em" (Ga 13,34).

Yêu thương nhau là dấu ấn của người môn đệ Đức Kitô: "Ở điểm này, mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ Thầy là anh em có lòng thương yêu nhau" (Ga 13,35).

Yêu thương nhau là dấu chỉ của sự yêu mến Thiên Chúa: "Ai yêu mến Thiên Chúa, thì cũng yêu thương anh em mình" (1 Ga 4,21).

Yêu thương nhau là phản ảnh ánh sáng cứu độ: "Ai yêu thương anh em mình thì ở lại trong ánh sáng" (1 Ga 2,10).

Nói thế không có nghĩa là yêu thương là việc dễ. Thực tế cho thấy: Có nhiều người làm việc trong các cơ quan từ thiện bác ái một cách hăng say, nhưng lại không có tâmhồn bác ái. Nhiều khi chỉ là máy móc, hoặc đơn thuần là dịch vụ, hoặc vì tư lợi.

Thiết tưởng điều quan trọng trong yêu thương phục vụ là làm như Chúa Giêsu đã yêu thương phục vụ. Nói cách khác, đó là phải yêu thương phục vụ theo thánh ý Chúa, theo lương tâm tốt lành.

Không thiếu trường hợp, yêu thương phục vụ đã làm hư người được phục vụ, hay đã làm hư chính người phục vụ. Yêu thương mà không hy sinh là yêu thương giả. Hy sinh mà thiếu yêu thương là hy sinh thừa.

Hiện nay, yêu thương phục vụ đang trở thành một khủng hoảng cả trong đạo lẫn ngoài đời. Trong năm qua, chúng ta đã làm gì đối với khủng hoảng đó?

Một thoáng nhìn trên đây về sổ linh hồn sẽ giúp chúng ta biết sự thực về tình hình sức khoẻ linh hồn. Xin Chúa thương ban cho chúng ta ơn bình an, trên con đường trở về với Chúa. Ơn bình an của Chúa sẽ được ban cho ta, khi ta , ít là tạm thời, bỏ cuộc sống đôn đáo và phân tán, để tập trung vào một mình Chúa mà thôi.

Long Xuyên, ngày 8/1/2010


 

Bùi-Tuần 1825: TỪ BÊN TRONG

 

Nơi con người, nội tâm là điều quan trọng. Nếu nội tâm giữ địa vị quan trọng trong mọi lĩnh vực Bùi-Tuần 1825


Nơi con người, nội tâm là điều quan trọng. Nếu nội tâm giữ địa vị quan trọng trong mọi lĩnh vực, thì riêng trong lĩnh vực đạo đức, nội tâm càng phải được quan tâm một cách đặc biệt. Bởi vì đạo đức là chuyện làm lành tránh tội. Mà thiện ác xét về phương diện nào đó là tự nội tâm.

Chúa Giêsu phán: "Cái gì từ trong con người xuất ra, cái đó mới làm cho con người ra ô uế. Vì từ bên trong, từ lòng người, phát xuất những ý định xấu: Tà dâm, trộm cắp, giết người, ngoại tình, tham lam, độc ác, xảo trá, trác táng, gạnh tỵ, phỉ báng, kiêu ngạo, ngông cuồng. Tất cả những điều xấu xa đó đều từ bên trong xuất ra, và làm cho con người ra ô uế" (Mc 7,20-23).

Tất cả những thứ kể trên đây đều dễ nhận ra là tội. Chỉ nghe tên cũng biết là xấu. Tất cả đều từ bên trong mà thành tội.

Nhưng, có một số việc phát xuất từ bên trong không dễ nhận ra là sai. Nhưng trước mặt Chúa, chúng thực là sai. Hậu quả rất tai hại.

Ở đây, tôi xin nêu lên mấy sự kiện như thế, đã được kể trong Phúc Âm.

 1/ Tưởng là nhiệt tình tốt

Phúc Âm thánh Matthêu viết: "Từ lúc đó, Đức Giêsu Kitô bắt đầu tỏ cho các môn đệ biết: Người phải đi Giêrusalem, phải chịu nhiều đau khổ do các kỳ mục, các thượng tế và kinh sư gây ra, rồi bị giết chết và ngày thứ ba sẽ sống lại. Ông Phêrô liền kéo riêng Người ra và bắt đầu trách Người: 'Xin Thiên Chúa thương đừng để Thầy gặp phải chuyện ấy'. Nhưng Đức Giêsu quay lại bảo ông Phêrô: 'Satan, hãy lui lại đằng sau Thầy! Anh cản lối Thầy. Tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài người'" (Mt 16,21-23).

Tư tưởng của thánh Phêrô xem ra diễn tả một nhiệt tình chân thực đối với Thầy mình. Nhưng Chúa Giêsu đã cho ngài rõ nhiệt tình ấy không do Thiên Chúa, hơn nữa phải xếp nó vào loại xấu thuộc Satan và thế tục.

Lời Chúa mạc khải trên đây cũng có thể áp dụng cho chúng ta. Biết bao lời nói việc làm của ta, tưởng là nhiệt tình đối với Chúa, với Giáo Hội, với người khác. Nhưng Chúa lại thấy trong đó có vết nhơ. Vết nhơ ấy cũng phát xuất từ bên trong. Đó là sự tự tin quá đáng, không dựa vào ánh sáng của thánh ý Chúa.

 2/ Tưởng là vững vàng

Cũng Phúc Âm thánh Matthêu cho thấy: Sau khi Chúa Giêsu báo trước cho các môn đệ biết là họ sẽ vấp ngã vì Thầy, thì thánh Phêrô cương quyết trả lời: "Dầu tất cả có vấp ngã vì Thầy đi nữa, thì con đây cũng chẳng bao giờ vấp ngã" (Mt 26,33). Lời nói trên đây của thánh Phêrô chứng tỏ tấm lòng trung tín bền vững. Nhưng kết quả ra sao, chúng ta đã biết. Vì thế, Chúa đâu có khen thánh Phêrô. Vì trong cái tưởng là cương quyết trung thành đó có pha chút tự đắc, coi mình hơn người.

Xét mình, chúng ta thấy chuyện của thánh Phêrô vẫn thường xảy ra nơi chúng ta. Chúng ta có những tuyên ngôn và nghi thức nói lên lòng trung thành vững bền. Nhưng thực sự trước mặt Chúa những lời hứa đó chỉ để khẳng định mình. Cái tự hào nào đó cũng phát xuất từ bên trong, mà ta không hay biết.

 3/ Tưởng là đạo đức

Trong Phúc Âm thánh Matthêu, Chúa phán: "Không phải bất cứ ai thưa với Thầy: Lạy Chúa! lạy Chúa! là được vào Nước Trời của đâu. Nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời, mới được vào mà thôi. Trong ngày ấy, nhiều người sẽ thưa với Thầy rằng: Lạy Chúa, lạy Chúa, nào chúng tôi đã chẳng nhân danh Thầy mà nói tiên tri, nhân danh Thầy mà trừ quỷ, nhân danh Thầy mà làm phép lạ đó sao? Và bấy giờ Thầy sẽ tuyên bố với họ rằng: Ta không hề biết các ngươi. Xéo đi cho khuất mắt Ta, hỡi bọn làm điều gian ác" (Mt 7,21-23).
Những lời Chúa phán trên đây cho thấy nhiều việc coi như rất đạo đức, nhưng thực sự lại rất xấu trước mặt Chúa. Mạc khải đó làm ta phải sợ. Bởi vì không thiếu việc bề ngoài coi như đạo đức, nhưng bên trong lại do động lực xấu, như kiêu căng, phô trương, lợi dụng đạo để xây dựng uy tín và tìm tư lợi.

 4/ Tưởng là truyền giáo

Cũng trong Phúc Âm thánh Matthêu, Chúa phán: "Khốn cho các ngươi, hỡi các kinh sư và Pharisêu giả hình! Các ngươi rao khắp biển cả đất liền, để rủ cho được một người theo đạo. Nhưng khi họ theo đạo rồi, các ngươi lại làm cho họ đáng xuống hoả ngục gấp đôi các ngươi" (Mt 23,15).

Thực tế cho thấy: Không phải tất cả mọi bước chân truyền giáo đều như vậy. Nhưng có những trường hợp đúng là như thế. Nhiều người sau khi theo đạo đã cảm thấy nặng nề, hoặc trở nên xấu hơn trước, do những gương xấu và những luật lệ tuỳ tiện mà họ gặp trong đạo.

Tiện nói về truyền giáo, cũng nên nhắc tới một số nơi có đạo đã làm những việc tưởng là truyền giáo, nhưng thực sự lại gây ác cảm đối với người ngoài công giáo.

 5/ Tưởng là Chúa không ở đó

Khi nói về cuộc Phán xét chung, Chúa Giêsu nói rõ là: "Mỗi lần các ngươi làm như thế (bác ái) cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy... Mỗi lần các ngươi không làm như thế (từ thiện) cho một trong những người bé nhỏ nhất đây, là các ngươi đã không làm cho chính Ta vậy" (Mt 25,40-45). Họ thưa là họ đâu có thấy Chúa.

Chúng ta thường tìm Chúa trong thánh đường, trong các nghi thức thánh. Còn tìm Chúa ở nơi người nghèo khổ bé mọn, thì không mấy khi. Đó cũng do một sai lầm phát xuất từ bên trong.

***

Đến đây, chúng ta có thể kết luận là: Bên trong chúng ta có thể có những sai lầm nguy hiểm. Nguy hiểm lớn nhất là chúng ta có lương tâm sai, mà lại tưởng mình có lương tâm tốt lành, luôn hợp với ý Chúa.

Đổi mới từ bên trong, đó là việc cần làm. Thời giờ không trong quyền của ta. Lịch sử luôn có những bất ngờ. Giờ Chúa đến ai mà biết được. Nếu Chúa ban cho chúng ta hôm nay một cơ hội, thì chúng ta nên nắm bắt để chấn chỉnh mình.

Lạy Chúa, xin thương giúp chúng con tránh khỏi mọi thứ ảo, mọi thứ sai lầm dễ làm hư hỏng lương tâm yếu đuối chúng con.

Long Xuyên, ngày 16/1/2010


 

Bùi-Tuần 1826: ĐỨC MẸ LÊN TRỜI TẠI VIỆT NAM HÔM NAY


1.

 

Đã gần 40 năm rồi, tôi cùng với vài linh mục đã đến thăm giáo xứ Hòn Chông, một giáo xứ ven Bùi-Tuần 1826


Đã gần 40 năm rồi, tôi cùng với vài linh mục đã đến thăm giáo xứ Hòn Chông, một giáo xứ ven biển thuộc Kiên Giang.

Từ Hòn Chông, chúng tôi đi thăm giáo xứ Rạch Đùng cũng vùng hẻo lánh. Trên đường đi, chúng tôi ghé lại xóm Rẫy mới. Nơi đây lúc đó chỉ còn vài gia đình rải rác ở sườn núi.

Điểm đáng chú ý là nơi đây còn dấu vết một ngôi nhà thờ nhỏ. Tất cả đều đã bị bom tàn phá. Còn trơ lại vài bức tường đổ nát, cỏ cây trùm phủ um tùm.

2.

Giữa chốn hoang vu ấy, chúng tôi ngạc nhiên thấy một tượng Đức Mẹ đứng giữa cỏ cây rêu phủ.

Ngạc nhiên tiếp nối ngạc nhiên, khi chúng tôi đọc thấy trên bức tường đá gần bên một bài thơ ghi khắc sâu bằng vật nhọn:

“Mẹ đứng ở đây một góc trời.
Đôi mắt nhân từ nhìn muôn nơi.
Hai tay ban xuống muôn hồng phúc.
Cho kẻ tin yêu chạy đến Người” (Bảo Sơn).

3.

Có thể tác giả là một người lính hành quân qua đường trong thời chiến. Anh đã được Đức Mẹ ban ơn. Anh đã xúc động. Nên đã ghi khắc trên đá một niềm tin bao quát như vậy.

Tôi không hiểu sứ điệp anh gởi đã tới những ai. Nhưng ít ra, niềm tin đầy xúc động ấy đã ảnh hưởng lớn đến tôi.

4.

Cho tới bây giờ, tượng Đức Mẹ chốn hoang vu đó và bài thơ nặng tình trên bức tường rêu phong đó đã luôn gợi ý cho tôi.

Tôi nghĩ là chính Đức Maria đã gợi ý cho tôi thế này:

Tại Việt Nam hôm nay, Mẹ vẫn đợi chờ mọi con cái Mẹ ở những nơi bị tàn phá, bị bỏ rơi, vùng sâu, vùng xa. Mẹ vẫn đợi chờ với đôi mắt nhân từ và với hai tay ban ơn. Mẹ vẫn đợi chờ được ôm vào lòng những đứa con nghèo khổ bơ vơ, để cùng Mẹ lên Trời hưởng tình yêu trọn vẹn muôn đời.

5.

Gợi ý trên đây đã trở thành một tiếng gọi đối với tôi. Đức Mẹ gọi tôi từ những cảnh khổ đau, cô đơn.

Khi đến với những cảnh đó, tôi đã gặp được Đức Mẹ. Mẹ đã ở đó từ lâu rồi. Mẹ và những người khổ đau làm nên một gia đình của niềm tin và của tình thương.

Bên Mẹ nhân từ, tôi thấy biết bao con người lầm than. Họ khổ lắm. Họ lầm than lắm. Họ bị hắt hủi, bị loại trừ. Chỉ còn Mẹ là nơi họ tựa nương. Mẹ đón nhận họ với tất cả tấm lòng người mẹ đầy thương xót.

6.

Năm đó, tôi đi Lavang. Tại đây, tôi đã thầm nói với Đức Mẹ nhiều điều, kể cả những tâm tình, mà tôi vừa chia sẻ trên đây. Mẹ tại Lavang cho tôi nhớ lại những năm chiến tranh, những tháng đói nghèo, mà tôi đã trải qua. Suốt thời gian đó, Mẹ đã là nguồn an ủi vô cùng quý giá cho tôi. Một cách âm thầm, mà hữu hiệu.

Hồi đó, tại nơi tôi ở không có nhà thờ, không có thánh lễ, không có cộng đoàn quy tụ. Rất nhiều khi, chỉ có một mình, với tấm lòng đầy niềm tin và trông cậy đặt ở Mẹ.

7.

Bên Mẹ, nhờ Mẹ và với Mẹ, trong thời loạn ly đói khổ, tôi có kinh nghiệm phần nào về sự Đức Mẹ xưa đã sống nghèo giữa những người nghèo, ở những địa phương nghèo, để âm thầm chia sẻ cuộc sống của họ, nhờ đó mà đưa họ về với Tin Mừng.

8.

Hiện nay, ơn gọi theo gương Mẹ âm thầm bác ái ở Nagiarét vẫn đang sống động bằng nhiều cách ở nhiều nơi.

Khi qua Hungari, Liên Xô, Đức, Pháp và ngay tại Đất Thánh, tôi vẫn được gặp những hình ảnh sống động của Đức Mẹ lặng lẽ giữa những lớp người nghèo chật vật trong những hoàn cảnh rất khó khăn.

Mấy ngày nay, qua báo chí và truyền hình, tôi thấy tình hình tại những nơi Chúa Giêsu và Đức Mẹ, thánh Giuse và các thánh tông đồ xưa đã rao giảng Tin Mừng, đang trở thành nơi xung đột đẫm máu.

Chính tại những nơi này và chính trong thời điểm này, sự hiện diện âm thầm của những hình ảnh sống động Mẹ Maria nhân ái đang giúp ích rất nhiều cho các linh hồn.

Họ là những nhóm nhỏ, sống nghèo, giữa những người nghèo. Đặc điểm của họ, là cùng với Đức Mẹ, đưa Chúa Giêsu đến với mọi người, qua những gặp gỡ và gần gũi thân thương.

9.
Tôi cũng đang thấy như vậy tại Việt Nam. Tuy không đều khắp, nhưng những cá nhân và những nhóm nhỏ của Đức Mẹ tại Nagirét đang đi về vùng sâu vùng xa và bước sâu vào những vùng tăm tối ngay giữa các thành thị.

10.

Họ rất cần được đào tạo.

Sẽ rất lầm, nếu đào tạo họ bằng cách cho họ thấy họ sẽ là kẻ sẽ được chức cao quyền trọng, lời lớn lộc nhiều, như một lớp người lãnh đạo.

Sẽ rất lầm, nếu đào tạo họ bằng cách chiều chuộng họ với một cuộc sống đi theo con đường rộng rãi thênh thang, như một lớp người hưởng thụ.

11.

Đào tạo cần thiết nhất cho họ cũng như cho tôi là một thứ biến đổi theo lời Chúa Giêsu phán: “Nếu các con ở lại trong Thầy, và lời Thầy ở lại trong các con, thì muốn gì, các con hãy xin, các con sẽ được như ý” (Ga 15,7). Ta ở lại trong Chúa và lời Chúa ở lại trong ta, đó sẽ là một sự biến đổi, như đã xảy ra xưa nơi Đức Mẹ.

Tôi đang thấy Chúa biến đổi nhiều người tại Việt Nam thành hình ảnh Đức Mẹ, nhờ sự ở lại trong Chúa và trong lời Chúa. Họ đang được Chúa chuẩn bị cho một tương lai, mà tình hình đạo sẽ sáng lên ở những vùng sâu vùng xa, nơi ở của những lớp người nghèo khổ. Đức Mẹ đưa họ lên trời từ những cuộc sống phấn đấu chân thành và âm thầm cho niềm tin và tình yêu thương bác ái.

Lạy Mẹ Maria, con khốn khổ yếu đuối lắm, con đến với Mẹ, con tin ở Mẹ. Xin Mẹ thương cho con được theo Mẹ lên trời từ vực sâu tội lỗi của con. Xin Mẹ cũng thương đến tất cả những ai chân thành tìm đến với Mẹ.

Long Xuyên, ngày 9.8.2014


 

Bùi-Tuần 1827: NHỮNG CẢNH BÁO

 

Những lời Chúa cảnh báo về tương lai đều đáng quan tâm. Có những sự đã đến. Có những sự sẽ Bùi-Tuần 1827



Những lời Chúa cảnh báo về tương lai đều đáng quan tâm. Có những sự đã đến. Có những sự sẽ đến. Có những sự đang đến. Đến cho từng cá nhân. Đến cho tất cả tập thể.

Chúa nói trước về cuộc phán xét, phân loại kẻ lành kẻ dữ. Đó là một tương lai hết sức quan trọng.

Chúa đã cảnh báo thế nào?

 1/ Cảnh báo chung cho mọi người

Đời sống mỗi người sẽ kết thúc bằng cuộc Chúa phán xét. Cuộc phán xét gồm hai việc: Một là phân biệt kẻ lành người dữ. Hai là số phận dành cho hai loại sẽ rất khác nhau.

Kẻ lành người dữ được mô tả dưới nhiều hình ảnh. Như lúa tốt và cỏ lùng, cá xấu và cá tốt, chiên và dê.

a) Lúa và cỏ

"Nước Trời ví như chuyện người ta gieo giống tốt trong ruộng mình. Khi mọi người đang ngủ, thì kẻ thù của ông đến gieo thêm cỏ lùng vào giữa lúa, rồi đi mất. Khi lúa mọc lên và trổ bông, thì cỏ lùng cũng xuất hiện. Đầy tớ mới đến thưa chủ nhà rằng: Thưa ông, không phải ông đã gieo giống tốt trong ruộng sao? Thế thì cỏ lùng bởi đâu mà ra vậy? Ông đáp: Kẻ thù đã làm đó! Đầy tớ nói: Vậy ông có muốn chúng tôi ra đi gom lại không? Ông đáp: Đừng. Sợ rằng khi gom cỏ lùng, các anh làm bật luôn rễ lúa. Cứ để cả hai cùng lớn lên cho tới mùa gặt. Đến ngày mùa, tôi sẽ bảo thợ gặt: Hãy gom cỏ lùng lại, bó thành bó mà đốt đi. Còn lúa thì hãythu vào kho lẫm cho tôi" (Mt 13,24-30).

Thế giới ví như một cánh đồng bao la. Tốt xấu chen nhau. Nhưng rồi sẽ đến lúc phân loại tốt xấu. Xấu bị đốt đi. Tốt được để nơi trân trọng. Giờ quyết định đó sẽ đến và phải đến. Đến cho từng người cho và cho tất cả.

b) Cá tốt và cá xấu

"Nước Trời lại giống như chuyện chiếc lưới thả xuống biển, gom được đủ thứ cá. Khi lưới đầy, người ta kéo lên bờ, rồi nhặt cá tốt cho vào giỏ, còn cá xấu thì vứt ra ngoài. Đến ngày tận thế, cũng sẽ xảy ra như vậy. Các thiên thần sẽ xuất hiện và tách biệt kẻ xấu ra khỏi hàng ngũ người công chính, rồi quẳng chúng vào lò lửa. Ở đó, chúng sẽ phải khóc lóc nghiến răng" (Mt 13,47-50).

Sự phân tách kẻ lành kẻ dữ chắc chắn sẽ phải xảy ra. Các thiên thần Chúa sẽ thực hiện việc đó theo lệnh Chúa. Sau đó kẻ lành được đưa về một nơi, kẻ dữ bị ném vào một chốn. Hai nơi chốn đó hết sức xa cách nhau, với những hạnh phúc hay khổ cực không sao đảo ngược được.

c) Chiên và dê

"Khi Con Người đến trong vinh quang của Người, có tất cả các thiên sứ theo hầu, bấy giờ Người sẽ ngự lên ngai vinh hiển của Người. Các dân thiên hạ sẽ được tập hợp trước mặt Người. Người sẽ tách biệt họ với nhau, như mục tử tách biệt chiên và dê. Người sẽ cho chiên đứng bên phải Người, còn dê ở bên trái.

"Bấy giờ Đức Vua sẽ phán cùng những người đứng ở bên phải rằng: Nào, những kẻ Cha Ta chúc phúc, hãy đến thừa hưởng vương quốc dọn sẵn cho các ngươi từ tạo thiên lập địa...

"Rồi Đức Vua sẽ phán cùng những kẻ ở bên trái rằng: Quân bị nguyền rủa kia, đi đi cho khuất mặt Ta mà vào lửa đời đời, nơi dành sẵn cho tên Ác Quỷ và các thần của nó" (Mt 25,31-46).

Trên đời này, người lành kẻ dữ sống trà trộn bên nhau. Không dễ phân biệt. Nhưng sẽ đến ngày Chúa phân tách họ. Người tốt được chúc lành và được đưa lên thiên đàng cùng các thánh. Người xấu bị chúc dữ và phải quăng vào địa ngục sống chung với ác quỷ.

Những cảnh báo trên đây phải được coi là hết sức quan trọng. Bởi vì sẽ đến một lúc tình trạng sẽ trở thành quyết định. Không còn được thay đổi. Hoặc hạnh phúc muôn đời. Hoặc khổ cực muôn kiếp.

Để đón hạnh phúc đời đời, cũng như để tránh khổ cực kiếp kiếp, chúng ta phải để ý sống lành, tránh tội trong suốt đời ta.

Tội tai hại nhất là tội cứng lòng. Nghĩa là cố tình không đón nhận ơn Chúa, cố tình làm điều xấu, cố tình làm ngơ trước những cảnh báo, cố tình làm theo ý riêng mình, bất chấp những răn đe của Chúa.
Chúa răn đe cảnh báo bằng những lời Chúa trong Kinh Thánh, và cũng bằng những gì xảy ra trong thời sự. Thời sự hiện nay có những bất ngờ kinh hoàng, như các thiên tai khủng khiếp, những đau khổ chồng chất, những hận thù bùng nổ, những sợ hãi bao phủ, những độc ác lan tràn.

 2/ Cảnh báo riêng cho người công giáo

Riêng về nội bộ những người tin Chúa, cũng đang xảy ra nhiều tình hình, khiến người ta nhớ lại lời Chúa phán sau đây: "Tôi nói cho các ông hay: Từ phương đông phương tây, nhiều người sẽ đến dự tiệc cùng các tổ phụ Abraham, Isaac và Giacóp trong Nước Trời. Nhưng con cái Nước Trời sẽ bị quăng ra chỗ tối tăm bên ngoài" (Mt 8,11-12).

Theo cảnh báo trên đây, thì trong công giáo có nhiều người xấu, đang khi ở ngoài công giáo lại có nhiều người tốt. Sự phân loại ấy do Chúa khẳng định. Nên đó là một sự thực khiến ta phải suy nghĩ rất nhiều.

Trong dòng suy nghĩ, nhiều khi tôi sợ hãi, nên dùng một lời cầu nguyện xưa của Chúa Giêsu mà than thở: "Lạy Cha, nếu được, xin cho chén này rời khỏi con. Nhưng xin đừng theo ý con, một xin theo ý Cha" (Mt 26,29).

Xin theo ý Chúa mọi đàng. Đó là một niềm tin chứa chan hy vọng.

Tôi hy vọng Chúa sẽ làm cho chúng ta những gì tốt đẹp nhất, kể cả trong những cảnh báo nghiêm khắc, quyết liệt.

Ở Fatima, Đức Mẹ Maria cũng đã gởi tới chúng ta nhiều cảnh báo, bằng những lời tha thiết và bằng những hiện tượng khủng khiếp.

Chúng ta biết mình phải ăn năn trở lại. Việc đó không dễ. Chúng ta sẽ khiêm tốn nói như thánh Phaolô: "Điều lành tôi muốn thì tôi lại không làm" (Rm 7,15). Nhưng Chúa Giêsu kêu gọi chúng ta: "Hãy đến cùng Ta, hỡi tất cả những ai mang gánh nặng nề" (Mt 2,28).

Long Xuyên, ngày 22/1/2010


 

Bùi-Tuần 1828: MƠ ƯỚC ĐẦU XUÂN

 

Xuân Canh Dần trùng với Xuân Năm Thánh Việt Nam 2010. Nhiều mong ước xuất hiện trong tôi Bùi-Tuần 1828


Xuân Canh Dần trùng với Xuân Năm Thánh Việt Nam 2010. Nhiều mong ước xuất hiện trong tôi. Tất cả đều đẹp như những bông hoa Tết.

Một hương sắc đã lôi cuốn tôi. Đó là mong ước phát triển đạo đức. Đạo đức là hương thơm sắc đẹp. Phát triển hương sắc ấy là điều kiện cần thiết cho mọi phát triển các giá trị khác.

Ở đây, tôi xin nói qua về phát triển đạo đức, theo tu đức Phúc Âm.

 1/ Những chặng đường

Đạo đức ví như một hạt giống. Nó được gieo trồng trong tâm hồn. Nó cần được phát triển trong thời gian. Thời gian của nó chia ra từng chặng.

a) Chặng đường thanh luyện

Trong chặng này, con người sẽ làm hết sức mình, để thoát ra khỏi tội lỗi. Đầu tiên là phải nhìn nhận mình tội lỗi (x. 1 Ga 9). Nhận mình tội lỗi là một khám phá lương thiện. Tự sức mình, ta không dễ đi sâu vào khám phá khó chịu đó. Rất cần ơn Chúa.
Với ơn Chúa, chúng ta sẽ nhận ra tính cách phức tạp của đạo đức. Có hạt giống tốt trong ta. Và trong ta cũng có hạt giống xấu. Như tính ích kỷ, tính kiêu căng, tính ghen tương, tính ham mê những điều xấu. Những tính xấu ấy qua thời gian đã đưa ta đến tội. Thanh luyện mình khỏi các tội và cội rễ của tội là việc cần làm. Ta làm việc đó nhờ ơn Chúa. Nhờ ơn Chúa, chúng ta cũng sẽ nhận ra Đấng Cứu độ ta chính là Đức Giêsu Kitô.

b) Chặng đường đi theo Chúa

Ra khỏi đường hầm tội lỗi, chúng ta sẽ nghe tiếng Chúa Giêsu gọi: "Hãy đi theo Thầy". Để đi theo Chúa Giêsu, chúng ta phải từ bỏ mình, vác thánh giá mình mà đi theo (x. Mt 16,24).

Khi từ bỏ mình và vác thánh giá mình mà đi theo Chúa Giêsu, chúng ta chỉ mưu tìm một sự, đó là vinh quang Chúa. Chúa sẽ soi sáng cho ta biết phải trở nên giống Chúa. Dấu ấn đẹp nhất của sự trở nên giống Chúa Giêsu là hiền lành, khiêm nhường (x. Mt 11,29). Lúc đó, chúng ta sẽ sống khó nghèo, luôn mở lòng ra về phía tình yêu Thiên Chúa.

c) Chặng đường kết hợp với Chúa

Chúa Thánh Thần sẽ đưa chúng ta vào tình yêu Chúa. Người giúp chúng ta ở lại trong tình yêu ấy (2 Ga 15,9). Lúc đó, chúng ta như được biến thành tình yêu. Mến Chúa hết lòng, và yêu thương tha nhân như Chúa yêu thương ta. Thương người và mến Chúa chỉ là hai mặt của một tình yêu.

Sống trong tình yêu Chúa, chúng ta chỉ muốn làm mọi sự theo thánh ý Chúa. Nhất là khi được tình yêu Chúa thúc đẩy, chúng ta sẽ dấn thân vào việc phục vụ dưới mọi hình thức.

Ba chặng đường trên đây sẽ được thực hiện dần dần từ từ trong thời gian. Không thể nóng vội. Muốn nên đạo đức ngay lập tức là điều không đạo đức. Phải kiên nhẫn với thời gian. Nhất là phải kiên nhẫn với những thử thách.

 2/ Những thử thách

Thử thách có thể là những biến cố xảy ra, đụng chạm đến ta. Gặp biến cố, có người trở nên tốt hơn. Nhưng cũng có người trở thành xấu hơn.

Thử thách là một cách huấn luyện. Dù thử thách xuất hiện dưới hình thức nào, con người tin Chúa chỉ có một cách đối phó là cầu nguyện và tỉnh thức (x. Mc 14,38). Với tinh thần đó, chúng ta bám chặt vào Chúa, lắng nghe tiếng Chúa, bước theo con đường cứu độ của Chúa.

Chúa Giêsu đã gặp thử thách. Có lúc thử thách sập xuống Ngài một cách thê thảm. Ngài cô đơn. Ngài đau đớn. Ngài chỉ biết phó thác nơi Chúa Cha.

Nhiều khi chúng ta cũng bị ném vào những hoàn cảnh hết sức bi đát. Ngày nào cũng gặp trở ngại. Phút nào cũng cảm thấy mong manh. Hướng nào cũng đụng vào giới hạn. Đó là những đêm tối kinh hoàng.

Trong tình trạng như thế, chúng ta, theo gương Đức Mẹ, luôn tin tưởng vào lời Chúa: Phải trải qua đau khổ thánh giá, để đi đến Phục Sinh (x. Lc 24,26). Tin như thế, chúng ta sẽ thấy thánh giá trong thử thách là vinh quang.

Chấp nhận thánh giá vì tình yêu, đó là việc của sự tự do được đức tin soi sáng. Khi tự do được đức tin chỉ dẫn, con người sẽ không đành làm nô lệ bất cứ thế lực nào, mà chỉ chọn một Chúa mà thôi. Lựa chọn đó mới chính là sự tự do đích thực. Bởi vì chọn Chúa là chọn tình yêu tuyệt đối được ban tặng cho chúng ta. Nhờ vậy, chúng ta sẽ biết yêu thương phục vụ người khác một cách vị tha, dù phải hy sinh chồng chất.

***

Năm mới sẽ có thời cơ và nguy cơ. Xin Chúa thương giúp chúng ta biết dùng mọi sự xảy ra, để tiến triển trên đường đạo đức.

Năm mới sẽ có nhiều phức tạp, chúng ta sẽ luôn phát triển đạo đức, chỉ trên nền tảng Đức Giêsu Kitô mà thôi, để chúng ta có thể nói như thánh Phaolô: "Tôi sống, nhưng không phải là tôi, mà là Đức Kitô sống trong tôi" (Gl 2,20).

Năm mới sẽ có nhiều tổ chức để thờ phượng Chúa. Nhưng cách thờ phượng Chúa tốt nhất là "Hãy hiến dâng thân mình làm của lễ sống động, thánh thiện và đẹp lòng Chúa." (Rm 12,1).

Với chia sẻ trên đây, tôi xin hết lòng cảm tạ Chúa đã ban cho tôi được phục vụ anh chị em.

Cũng xin tận tình cảm ơn anh chị em đã giúp tôi hiểu rõ hơn ơn gọi của tôi, và đã nâng đỡ tôi sống tốt ơn gọi đó.

Xin Chúa giàu tình yêu thương xót ban muôn phước lành cho tất cả chúng ta.

Long Xuyên, ngày 25/1/2010


 

Bùi-Tuần 1829: SÁM HỐI

 

Xin cảm tạ Chúa đã truyền dạy chúng ta phải sám hối. Vì sám hối là con đường cứu chúng ta khỏi Bùi-Tuần 1829


Xin cảm tạ Chúa đã truyền dạy chúng ta phải sám hối. Vì sám hối là con đường cứu chúng ta khỏi tội lỗi, thoát hình phạt hoả ngục, dẫn về với Chúa và hạnh phúc thiên đàng.

Xin cảm tạ Chúa đã thúc giục chúng ta mau mau sám hối. Vì nếu không, hoàn cảnh sẽ phức tạp thêm, các vấn đề sẽ khó khăn thêm, tội lỗi sẽ lan tràn thêm, hình phạt sẽ mau đến hơn.

Xin cảm tạ Chúa đã ban cho chúng ta nhiều gương sám hối sửa mình. Những gương sám hối đó nhắc nhở cho chúng ta hãy khiêm nhường đặt mọi gánh nặng tội lỗi của mình nơi trái tim Chúa giàu tình yêu thương xót. Tình yêu Chúa có thể làm những sự lạ lùng, vượt xa mọi sức loài người.

Với tâm tình cảm tạ như trên, chúng ta xin Chúa thương giúp chúng ta biết phải sám hối về những thứ tội nào cách riêng. Nhất là trong những hoàn cảnh sa sút đạo đức như hiện nay.

Để gợi ý, tôi xin dựa vào tiên tri Giêrêmia:

"Thiên Chúa Israel phán như sau: Này Ta sắp giáng tai hoạ xuống nơi đây, khiến cho bất cứ ai nghe nói cũng phải ù cả hai tai.

+ Bởi vì chúng đã lìa bỏ Ta.
+ Chúng đã biến nơi này thành nơi xa lạ.
+ Tại chính nơi này chúng còn dâng hương kính các thần khác.
+ Chúng đã làm cho nơi này ngập máu người tội lỗi" (Gr 19,4).

Lời Chúa trên đây nhắm vào một số tội của dân Chúa thời đó. Những thứ tội ấy cũng đang tái diễn ở thời nay.

 1/ Lìa bỏ Chúa

Lìa bỏ Chúa là một hiện tượng khá phổ biến dưới nhiều hình thức khác nhau, tại những nơi đã biết Chúa.

Nhiều người không còn tin Chúa. Họ chỉ tin những gì hợp ý họ, chứ không tin tất cả mọi điều Chúa dạy.

Nhiều người không chối bỏ Phúc Âm. Nhưng họ thờ Chúa một cách hời hợt. Số người không thực hành đạo hiện nay chiếm một phần khá lớn, nhất là tại Tây phương.

Nhiều người không nhận Chúa một cách tuyệt đối. Chúa không là hạnh phúc tuyệt đối của họ, không là con đường duy nhất của họ, không là mục đích chính của họ.

Nhiều người giữ đạo coi như kỹ lưỡng, nhưng thực sự chỉ là hình thức bề ngoài, theo kiểu Pharisêu.

Ý thức về tội càng ngày càng giảm. Nhận thức về mầu nhiệm thánh giá càng ngày càng yếu.

Đúng là dân Chúa nhiều nơi đang lìa bỏ Chúa cách này hay cách khác.

 2/ Biến nơi này thành nơi xa lạ

Nơi, mà Chúa nói đây là những nơi chốn đáng lẽ phải thuộc về Chúa. Nhưng tội lỗi đã biến chúng thành xa lạ đối với Chúa, nghĩa là chúng đã thuộc về thế gian và ma quỷ.

Thời đó là thế. Thời nay cũng vậy.

Tục hoá đã xâm chiếm nhiều thánh đường. Tục hoá cũng đang lan tới nhiều cung thánh. Tục hoá còn tràn lên cả nhiều bàn thánh. Đáng buồn nhất là nhiều bài giảng thánh lễ đã trở nên xa lạ với tinh thần phượng tự, do tục hoá.

Không thiếu những cơ sở mang tên tu trì, nay đang bị chi phối bởi khuynh hướng tục hoá, nếp sống thực dụng và hưởng thụ.

Tại nhiều nơi, tục hoá, thực dụng và hưởng thụ đang xâm chiếm tinh thần những cộng đoàn đức tin. Cách suy nghĩ, cách đánh giá đã trở nên xa lạ đối với Phúc Âm.

 3/ Dâng hương kính các thần khác

Mọi thứ thần ngoài Thiên Chúa, mà người ta cho là có quyền cai quản họ, và họ có bổn phận phải quy phục tôn thờ, thường được gọi chung là các ngẫu thần. Các thần đó được người ta coi như là thần của họ. Họ hết lòng tôn kính vâng phục các thần đó.

Trong nghĩa ấy, tất cả những gì người ta say mê, tùng phục, chạy theo một cách quá đáng, đều có thể gọi là các thứ thần. Như tiền của, danh vọng, rượu chè, sắc dục, quyền lực.

Cũng trong nghĩa đó, khi người ta tôn thờ thành công và tự mãn, thì thành công và tự mãn cũng gọi là những thứ thần. Lúc đó, cái tôi trở thành thần cho chính con người.

 4/ Làm cho nơi này ngập máu người vô tội

Nơi ngập máu người vô tội có thể hiểu về các thứ giết người, như giết thai nhi, giết danh dự, hận thù, vu oan, khinh chê kẻ nghèo nàn, áp bức, bất công.

Nơi ngập máu người vô tội cũng có thể hiểu về những thái độ vô tâm trước những đau khổ của người khác.

Nơi ngập máu người vô tội cũng có thể hiểu về những liều lĩnh sa vào các thứ tệ nạn, như cờ bạc, mãi dâm, say sưa, giết chết phẩm giá con người.

Xét cho cùng, tất cả các hành động và thái độ độc ác trên đây đều là vô nhân đạo. Vô nhân đạo là điều đang làm bao người bức xúc, bởi vì nó đang diễn ra ngang nhiên đó đây, hoặc một cách thô bạo, hoặc một cách tế nhị.

***

Khi nhìn vào mình, cộng đoàn của mình và xã hội của mình, theo sự chỉ dẫn của Lời Chúa trong Giêrêmia trên đây, chúng ta sẽ thấy một thực tế đáng sợ. Tội lỗi hoành hành khắp nơi.

Phản ứng sợ hãi sẽ không làm chúng ta trốn tránh, từ chối trách nhiệm, và đổ lỗi cho những người khác. Nhưng sẽ giúp chúng ta khiêm nhường ăn năn.

Chúng ta ăn năn tội lỗi của những người khác và của chính chúng ta.

Trong sám hối, chúng ta nhớ lại lời Chúa phán: "Nay Ta sắp giáng tại hoạ xuống nơi đây" (Gr 19,4).

Chúng ta tha thiết nhìn lên Chúa Giêsu chịu đóng đinh trên thánh giá, Đấng đã chịu chết để đền tội cho chúng ta. Chúng ta cầu xin Người lấy máu của Người rửa hết mọi tỗi lỗi chúng ta.

Với hết lòng tin cậy, chúng ta xin Chúa là Cha giàu tình yêu thương xót thương ôm chúng ta vào lòng, như những đứa con hư trở về. Xin Người thương ban ơn cho chúng ta biết sửa mình, dù phải đớn đau, để chúng ta luôn luôn được thuộc về Chúa, mãi mãi trung thành thực thi thánh ý Chúa, không ngừng ca ngợi lòng thương xót Chúa đến muôn đời. Lạy Chúa, xin thương xót chúng con.

Long Xuyên, ngày 15/2/2010


 

Bùi-Tuần 1830: HIẾN TẾ CHÍNH MÌNH

 

Tội lỗi là một sự dữ ác độc. Tội lỗi là một tai hoạ khủng khiếp. Vì thế, người tin theo Chúa phải Bùi-Tuần 1830


Tội lỗi là một sự dữ ác độc. Tội lỗi là một tai hoạ khủng khiếp.
Vì thế, người tin theo Chúa phải làm hết sức để khỏi sa vào tội lỗi.
Nếu đã bị tội lỗi khống chế, thì phải làm hết sức để được giải thoát.
Nếu đã bị tội lỗi làm hư hại mình và kẻ khác, thì phải làm hết sức để sửa lại.
Những ý thức trên đây thường đi kèm với kinh nghiệm.

Kinh nghiệm là: Không sa vào đường tội được cảm nghiệm như một hạnh phúc.
Giải thoát khỏi xiềng xích tội lỗi được cảm nghiệm như một sự gặp gỡ Chúa cứu thế.
Sửa lại đời mình bằng đền tội được cảm nghiệm như một sự thuộc về Chúa.

Tham gia vào công trình cứu độ lấy thiện thắng ác, được cảm nghiệm như một hy lễ.

 1/ Sứ mệnh dâng mình làm hy lễ nơi Chúa Giêsu

Những ý thức trên đây cũng như những cảm nghiệm trên đây đều phát sinh từ sự chúng ta được tham gia vào sứ mệnh cứu độ của Chúa Giêsu.

Chúa Giêsu được Chúa Cha sai xuống trần gian là để cứu nhân loại khỏi tội lỗi, đưa loài người về hạnh phúc thực.

Người cứu nhân loại bằng những lời giảng, bằng những đào tạo, bằng những gương sáng. Nhưng đặc biệt nhất là bằng sự hy sinh mạng sống mình, để đền tội cứu chuộc.

"Đức Kitô là của lễ đền tội cho chúng ta. Không những vì tội lỗi chúng ta mà thôi, mà còn vì tội lỗi cả thế gian nữa" (1 Ga 2,2).

Phạm tội thì phải đền tội. Đền tội là việc rất nặng nề. Nhưng vì thương xót, Thiên Chúa đã sai chính Con của Người đền tội thay cho chúng ta. "Tình yêu cốt ở chỗ này, không phải chúng ta đã yêu mến Thiên Chúa, nhưng chính Người đã yêu thương chúng ta, và sai Con của Người đến, làm của lễ đền tội cho chúng ta" (1 Ga 4,10).

Để làm của lễ đền tội, Chúa Giêsu đã hiến dâng mạng sống mình, chịu khổ hình, chịu chết trên thánh giá.

"Tôi hy sinh mạng sống cho đoàn chiên" (Ga 10,15).

Hy sinh mạng sống mình là một việc tự nguyện. "Chính tôi tự ý hy sinh mạng sống mình" (Ga 10,18).

Hy sinh mạng sống mình là tình yêu vô cùng cao cả, có sức mạnh thiêng liêng vô giá, rất đẹp lòng Chúa. "Sở dĩ Chúa Cha yêu mến tôi, là vì tôi hy sinh mạng sống mình" (Ga 10,17).

Sứ mạng trên đây của Chúa Giêsu là một khích lệ cho mọi người, nhất là cho các môn đệ Chúa.

 2/ Sứ mạng dâng mình làm hy lễ nơi các người Chúa chọn

Sứ mệnh hy sinh mạng sống mình để cứu chuộc và đền tội cho người khác được in trong Phúc Âm. Sứ mệnh đó cũng được in trong lòng chúng ta. Sứ mệnh đó in trong lòng chúng ta, trở thành tiếng gọi tha thiết, sống động. Tiếng gọi vừa thúc bách, vừa ngọt ngào. Tiếng gọi đó đi liền với sự hiện diện của Chúa Giêsu. Nó thoát ra từ một tình yêu cứu độ. "Không tình yêu nào cao cả cho bằng tình yêu người hy sinh mạng sống mình vì bạn hữu mình" (Ga 15,13).

Như thế, trong sự ta dâng mình làm của lễ cứu chuộc và đền tội, ta thấy có tình yêu đối với Hội Thánh, với những người thân yêu, với dân tộc mình.

Chiều kích hiến tế được tỏ rõ như một chiến thắng của tình yêu, có sức đẩy lùi sự dữ.

Phản ứng tự nhiên của chúng ta trước chiều kích hiến tế đó là sự sám hối và thanh luyện.

Càng đi sâu vào tinh thần hiến tế, chúng ta càng cảm thấy ý nghĩa của sự đau đớn. Đau đớn lúc đó hiện lên như một sự thiện tham gia vào những đớn đau của Chúa cứu thế, có sức giải thoát và đền tội. Nó là một sự chiến thắng của tình yêu.

 3/ Hy lễ trong Hội Thánh Việt Nam hôm nay
Tới đây, tôi nhớ tới những người đang sống tinh thần hiến tế tại Việt Nam hôm nay.

Tinh thần hiến tế được thực hiện với nhiều mức độ và với nhiều khuôn mặt khác nhau.

Đáng để ý nhất là những người tự ý hiến tế mạng sống mình thường xuyên trong những cảnh sống phục vụ âm thầm lặng lẽ. Sự sống của họ không là cái gì có sẵn, nhưng là một sự giải thoát khỏi tội lỗi, vượt qua chính mình và hy sinh cho người khác.

Họ được Chúa yêu thương một cách đặc biệt. Họ thuộc về Chúa một cách sâu sắc. Họ tham gia vào chương trình cứu độ của Chúa một cách quảng đại.

Họ đang ở giữa chúng ta. Chúng ta nên biết ơn họ. Biết đâu chúng ta cũng phải nhờ họ phần nào mà được ơn Chúa cứu độ.

Cùng với họ, chúng ta nhìn sang Đức Mẹ Maria đang đứng dưới chân thánh giá. Mẹ là mẹ khổ đau. Mẹ lặng lẽ chia sẻ cơn hấp hối của Chúa Giêsu. Mẹ cảm nhận tất cả những khổ đau tinh thần và thể xác của Chúa Giêsu.

Chính trong tình trạng đó, Chúa Giêsu đã trối chúng ta cho Mẹ. Mẹ trở thành mẹ của chúng ta trong những đớn đau hiến tế.

Chúng ta được Mẹ ôm vào lòng, để hấp thụ một sự sống mới. Mẹ biết những yếu đuối của chúng ta. Nhưng Mẹ cũng biết tình yêu vô biên của Chúa có sức cứu độ chúng ta.

Mẹ Maria đứng dưới chân thánh giá từ nay và mãi mãi sẽ là nơi chúng ta ở lại, để đón nhận ơn cứu độ và ơn trở thành hiến tế.

Chính từ đó, tôi nhận ra sứ mạng của nhiều người trong Hội Thánh Việt Nam hôm nay. Được cùng với Đức Mẹ đứng dưới chân thánh giá, họ "ra khơi" một cách thiêng liêng. Họ xác tín rằng: Ơn cứu độ không đến với con người nhờ các hoạt động trần thế, nhưng nhờ mầu nhiệm thánh giá. Từ thánh giá, họ cùng Đức Mẹ Maria loan báo Tin Mừng của Thiên Chúa giàu tình yêu thương xót.
Long Xuyên, ngày 21/2/2010


 

Bùi-Tuần 1831: TÂM TÌNH VỀ ĐỨC TỔNG GIÁM MỤC


PHAOLÔ NGUYỄN VĂN BÌNH

 

Trước năm 1980, tôi được quen biết Đức Tổng Giám Mục Phaolô Nguyễn Văn Bình một cách Bùi-Tuần 1831


Trước năm 1980, tôi được quen biết Đức Tổng Giám Mục Phaolô Nguyễn Văn Bình một cách bình thường. Nhưng biến cố sau đây đã khiến tôi mến phục Ngài sâu sắc, kèm theo sự gần gũi thân tình.

 1/ Một lý tưởng khôn ngoan

Biến cố đó xảy ra ở Rôma, khi các Đức Giám Mục Việt Nam đến Toà Thánh, với bức Thư Chung mục vụ 1980.

Thời gian lưu lại Rôma khá dài. Một ngày nọ, Đức Tổng Phaolô Nguyễn Văn Bình gặp riêng tôi. Ngài nói với tôi: "Toà Thánh có dự định đưa Đức Cha về Sàigòn làm Phụ tá, dự phòng cho tương lai phức tạp. Sau một thời gian cân nhắc, tôi đã trình với Toà Thánh là theo tôi dự kiến đó không thích hợp. Vì lý do sức khoẻ, Đức Cha nên ở lại Long Xuyên. Vừa sẽ có lợi cho Hội Thánh, vừa sẽ có lợi cho tất cả Đất Nước. Toà Thánh đã đồng ý rút lại dự định".

Qua tâm sự trên đây, tôi thấy Đức Tổng Phaolô đặt vấn đề trong hai cái lợi Ngài nhắm tới. Vừa có lợi cho Hội Thánh, vừa có lợi cho Đất Nước. Phải lợi cho cả hai bên, đó là lý tưởng của Ngài.

Gặp gỡ trên đây với tâm sự chân thành của Đức Tổng Phaolô đã làm tôi gần gũi Ngài với tinh thần cộng tác. Càng gần gũi Ngài, tôi càng thấy Ngài luôn trung thành với lý tưởng tìm kiếm lợi ích vừa cho Hội Thánh vừa cho Đất Nước. Động cơ nung nấu lý tưởng đó là tình mến Chúa nồng nàn. Chúa yêu thương Hội Thánh Việt Nam. Chúa yêu thương Quê Hương Việt Nam.

 2/ Một cuộc sống bình dị

Đường hướng trên đây không được Đức Tổng Phaolô cắt nghĩa nhiều trên lý thuyết, nhưng được Ngài thực hiện cụ thể hằng ngày trong đời sống mục vụ và truyền giáo.

Đời sống của Đức Tổng Phaolô là một đời sống bình dị, xuề xoà, dễ thương. Tiếp xúc với Ngài, mọi người đều cảm nhận được tình thương và sự trân trọng, kèm theo một sự khiêm tốn, hiền lành.

Có lần, tôi nói với Ngài: "Con được tháp tùng Đức Tổng trong nhiều cuộc tiếp tân, cả đời cả đạo. Con thấy đức Tổng đôi lúc ngủ gục. Nhưng khi phải phát biểu, Đức Tổng nói một cách tỉnh táo. Ai cũng khen". Ngài trả lời tôi: "Có gì lạ đâu. Tôi nói thực lòng tình cảm của tôi. Tình cảm của tôi là tất cả sự trân trọng, tất cả lòng yêu mến. Lúc thức cũng thế. Khi ngủ cũng vậy". Tôi hiểu Ngài nói dí dỏm, nhưng dí dỏm đó mang nhiều thận trọng.

Đức Tổng Phaolô đúng là một tấm lòng cao cả. Đề cao cái tâm của Ngài không có nghĩa là coi thấp cái trí của Ngài. Thực sự, cái tâm của Ngài đã dựa trên nền tảng Phúc Âm và Công đồng Vatican II, cũng như được hỗ trợ bởi một nền tu đức có nhiều kinh nghiệm.

 3/ Những tự hào chính đáng

Với cái vốn thiêng liêng đó, Đức Tổng Phaolô tự hào vì được thuộc về Hội Thánh Công giáo và được thuộc về Đất Nước Việt Nam.

Với những tự hào chính đáng đó, Đức Tổng Phaolô đã can đảm giữ một địa vị quan trọng trong việc đưa Hội Thánh Việt Nam đi vào giai đoạn mới: "Đồng hành với đất nước, sống Phúc Âm giữa lòng dân tộc".

Lối sống ấy nay đã phổ biến và trở thành lựa chọn dấu ấn quan trọng trong lịch sử đạo Công giáo tại Việt Nam.

Kết quả là Hội Thánh Việt Nam thời ngài đã được trân trọng, phát triển và có một chỗ đứng đáng vị nể trong Đất Nước Việt Nam có nhiều giá trị cũ mới.

 4/ Một giáo đoàn cởi mở
Sẽ là một thiếu sót lớn, nếu tôi không nói tới một nâng đỡ đặc biệt của Đức Tổng Phaolô. Nâng đỡ đó là giáo phận thành phố Hồ Chí Minh.

Giáo phận thành phố Hồ Chí Minh ví tựa một cánh đồng hoa tươi thắm. Có nhiều hương tu đức. Có nhiều sắc trí thức. Sức sống như những dòng chảy hướng về biển cả mông mênh. Nên cách suy nghĩ thường cởi mở, chan hoà.

Thực tại như thế là một khát vọng "ra khơi" một cách hiền hoà, yêu thương, phục vụ, sáng tạo. Đức Tổng Phaolô đã được đặt làm người đứng đầu thực tại phong phú đó. Ngài phục vụ như người đầy tớ, đúng tinh thần người mục tử tốt lành. Ngài biết đoàn chiên và thương đoàn chiên. Đoàn chiên nghe Ngài và thương mến Ngài.

Thêm vào đó, Đức Tổng Phaolô cũng đã được xã hội cảm phục. Các nhà cầm quyền coi Ngài như một người bạn đáng tin. Như thế, Ngài là một lợi ích lớn lao cho Hội Thánh, đồng thời cũng là lợi ích đáng kể cho Đất Nước.

Thời gian cuối đời của Đức Tổng Phaolô là những tháng ngày đau đớn. Tôi hay đến thăm Ngài. Tôi đọc được nơi Ngài lời Chúa Giêsu phán xưa: "Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ và hiến dâng mạng sống mình làm giá chuộc muôn người" (Mt 20,28).

 5/ Một tượng đài trân trọng

Hôm nay, nhớ về Đức Cố Tổng Giám mục Phaolô Nguyễn Văn Bình, tôi hết lòng cảm tạ Chúa đã cho Hội Thánh và Đất Nước tôi một người mở đường.

Ngài vừa có cái tâm, vừa có cái tầm. Cái tâm của Ngài là tấm lòng nhân ái bao dung đầy tinh thần hoà giải. Cái tầm của Ngài là cái tầm nhìn xa, xuyên suốt các trở ngại, hướng về một tương lai an bình, yêu thương, hợp tác chân thành trong bác ái giữa Đạo và Đời.

Trong tôi có hình ảnh của Ngài. Như một tượng đài làm chứng cho bác ái Phúc Âm.

Long Xuyên, ngày 3/3/2010

Để mừng kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Đức TGM. Phaolô Nguyễn Văn Bình (01-9-1910/01-09-2010)


 

Bùi-Tuần 1832: NIỀM VUI PHỤC SINH NƠI CHÚNG TA

 

Chúa Giêsu phục sinh là nguồn vui vô tận cho chúng ta. Chúng ta rất vui, khi hy vọng Người cho Bùi-Tuần 1832


Chúa Giêsu phục sinh là nguồn vui vô tận cho chúng ta.

Chúng ta rất vui, khi hy vọng Người cho chúng ta cũng sẽ được sống lại như Người.

Chúng ta rất vui, khi tin rằng: Chúa phục sinh đang ở trước mặt ta. Người ở bên ta, để dẫn ta trên con đường đi tới phục sinh.

Chúng ta rất vui, khi cảm nhận được sự hiện diện của Chúa phục sinh trong ta. Người ở trong chính ta. Niềm vui ấy sẽ trọn vẹn, khi ta có thể nói: "Không phải tôi sống, nhưng Chúa Kitô sống trong tôi" (Gl 2,20). Người là Chúa Kitô phục sinh.

Niềm vui phục sinh là một ơn huệ Chúa ban. Chúa ban ơn đó cho những ai biết đón nhận.

Ở đây, xin nhắc tới một số điều kiện cần có, để đón nhận ơn phục sinh.

 1/ Phải chiến đấu chống sự ác

Phục sinh của Chúa Giêsu là một chiến thắng sự chết. Để chiến thắng, chúng ta phải chiến đấu chống lại sự tội và những gì gây ra tội lỗi.

a) Trước hết là chiến đấu chống lại sự mù quáng của xác thịt.

Sự mù quáng của xác thịt thường rất nặng nề. Thánh Phaolô mô tả tình hình đó trong vài câu tâm sự sau đây: "Điều tôi muốn, thì tôi không làm, còn điều tôi ghét thì tôi lại làm" (Rm 7,14). Ngài cắt nghĩa: "Vẫn biết rằng Lề luật là bởi Thần Khí, nhưng tôi thì lại mang tính xác thịt, bị bán làm tôi cho ma quỷ" (Rm 7,14). Tuy vậy, khi chúng ta nhờ Đức Kitô mà chiến đấu, thì chúng ta sẽ thắng. Chiến thắng đó đem lại niềm vui. Niềm vui này có thể gọi là niềm vui phục sinh.

b) Ngoài xác thịt, chúng ta phải chiến đấu chống các thần dữ.

Các thần dữ, tuy bị Chúa phạt, nhưng vẫn có nhiều khả năng làm những chuyện đáng sợ. Một trong những chuyện đáng sợ, là gây hại cho người ta bằng nhiều cách, từ thô lỗ đến tinh vi.

Phúc Âm nói nhiều đến những trường hợp quỷ ám. Con người bị quỷ khống chế dã man. Thời nay quỷ ám, quỷ nhập vẫn xảy ra, nhưng một cách khá kín đáo. Cách thông thường nhất mà quỷ dùng để hại con người là cám dỗ. Phúc Âm thuật lại chuyện quỷ cám dỗ Chúa Giêsu trong sa mạc (x. Mt 4,1-11). Nó xúi Ngài làm những việc kiêu ngạo phô trương vì mục đích làm sáng danh Thiên Chúa. Chứng tỏ nó rất mưu mô.

Hiện nay những cơn cám dỗ của quỷ có thể nói là rất tâm lý và văn minh. Khi chúng ta nhờ ơn Chúa mà chiến đấu với quỷ và thắng được những cám dỗ của nó, thì chúng ta sẽ nếm được niềm vui. Niềm vui ấy đáng gọi là niềm vui phục sinh. Bởi vì phục sinh ấy chính là chiến thắng sự chết vô hình và lực lượng ác thần gây ra sự chết.

c) Trong mặt trận đòi ta chiến đấu, còn có thế gian gian tà.

Thế gian gian tà nói đây là những con người gian trá, những nét văn hoá giả dối, những dư luận gian ác, những lý luận gian giảo, những thói quen gian manh. Những cái xấu ấy xen vào những cái tốt, làm cho xã hội trở thành một cuộc nội chiến giữa ác và thiện.

Chúng ta phải nhờ ơn Chúa để biết phân định xấu tốt, rồi phải chiến đấu dùng thiện đẩy lùi sự ác.

Khi chúng ta nhờ ơn Chúa mà chiến thắng, chúng ta sẽ cảm nhận được niềm vui thiêng liêng và tự nhiên. Niềm vui đó là niềm vui phục sinh. Bởi vì chúng ta thắng được những gì là sự chết vô hình, và những gì đưa tới sự chết đó.

 2/ Phải chiến đấu với chính mình

Chúa Giêsu phán: "Ai muốn theo Thầy, thì phải từ bỏ mình, vác thập giá mình mà theo" (Mt 16,24).

Từ bỏ mình, từ bỏ cái tôi là chuyện tu đức cần cho mọi người. Kinh nghiệm cho thấy: Cái tôi nếu không được chế ngự, kiểm soát và từ bỏ, thì con người sẽ dễ trở thành người đạo đức giả, ngôn sứ giả, đôi lúc cũng dám tự phong mình như một thứ lãnh đạo, nhưng lãnh đạo giả. Chiến đấu với cái tôi là chuyện không dễ.

Nếu vác thánh giá mình là chu toàn việc bổn phận mình, thì phấn đấu làm việc bổn phận mình không phải là dễ.

Nếu theo Chúa Giêsu là phục vụ Chúa và phục vụ con người trong tinh thần vâng phục Chúa Cha, thì những việc ấy đâu phải dễ.

Có thể nói: Sự từ bỏ mình đòi nhiều phấn đấu. Vác thánh giá mình cũng đòi rất nhiều phấn đấu. Bước theo Chúa Giêsu cũng đòi muôn vàn phấn đấu. Phục vụ Chúa và phục vụ con người càng đòi nhiều thứ phấn đấu. Nhưng những phấn đấu ấy sẽ mang lại niềm vui phục sinh.

Rồi chúng ta sẽ được Chúa dùng để tham gia vào việc phục sinh bao người khác.

 3/ Phải chiến đấu để ở lại trong Chúa

Được ở lại trong Chúa Giêsu, đó là một niềm vui phục sinh rất lớn lao. Chúa Giêsu phán: "Anh em sẽ biết rằng: Thầy ở trong Cha Thầy. Anh em ở trong Thầy, và Thầy ở trong anh em" (Ga 14,20).

Chiến đấu để được ở lại trong Chúa Giêsu một cách thân mật, đó là một thứ chiến đấu riêng biệt.

Nó đòi phải siêng năng cầu nguyện, suy gẫm, chiêm niệm và tỉnh thức. Nếu chúng ta phấn đấu làm những việc đó một cách nhiệt tình trung tín, chúng ta sẽ nếm được một niềm vui thiêng liêng. Niềm vui đó rất đáng gọi là niềm vui phục sinh với tất cả ý nghĩa của mầu nhiệm phục sinh.

***

Những suy niệm trên đây cho phép xác định rằng: Cuộc đời người sống đức tin là một cuộc chiến đấu cam go. Cuộc chiến đấu ấy sẽ đem lại nhiều niềm vui phục sinh cho mình và cho kẻ khác.

Như vậy, chúng ta không nên đi tìm bất cứ niềm vui nào. Có những niềm vui phục sinh, nhưng cũng có những niềm vui giết phần rỗi mình và giết linh hồn kẻ khác.
Xin cảm tạ Chúa đã ban cho nhân loại nhiều chứng nhân về niềm vui phục sinh.

Hội Thánh Việt Nam hôm nay rất cần những chứng nhân như thế.

Long Xuyên, ngày 10/3/2010


 

Bùi-Tuần 1833: CHÚT TÂM TÌNH VỀ ƠN PHÂN ĐỊNH


1.

 

Khi nhắc tới lễ kính hai thánh tông đồ Phêrô và Phaolô, tôi luôn nhớ lại những tiếp xúc, mà tôi Bùi-Tuần 1833


Khi nhắc tới lễ kính hai thánh tông đồ Phêrô và Phaolô, tôi luôn nhớ lại những tiếp xúc, mà tôi may mắn có được với các Đức Giáo Hoàng cận đại, đặc biệt là với Đức Gioan Phaolô II, Đức Bênêdictô XVI, và Đức Phanxicô.

2.

Qua những tiếp xúc khác nhau, tôi học được nơi các ngài một điều quan trọng rất cần cho tôi và những ai kế vị các tông đồ, nhất là tại Việt Nam hôm nay. Điều quan trọng rất cần đó là: “sống trong ánh sáng của Chúa, biết phân định, để có những lựa chọn đúng trong tình hình càng ngày càng phức tạp”.

3.

Đức thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II coi một bề trên xin lỗi thì tốt hơn một bề trên kết án.

4.

Đức Bênêdictô XVI coi việc cầu nguyện và gặp gỡ Chúa để có phân định đúng, hơn là họp cho đông, cho lâu, cho hoành tráng.

5.

Đức Phanxicô coi việc mục vụ có tính cách xây cầu hơn là mục vụ có tính cách xây tường.

6.

Tuy có những cách hướng dẫn khác nhau, tất cả ba Đức Giáo Hoàng đều dạy tôi về sự phải biết phân định, để có những lựa chọn theo đúng thánh ý Chúa.

7.

Chúa dạy tôi về thánh ý Chúa qua lời Chúa phán xưa: “Các con hãy vào qua cửa hẹp, vì cửa rộng và đường thênh thang là lối đưa đến diệt vong, nhưng có nhiều kẻ đi lối ấy. Cửa và đường đưa tới sự sống thì chật hẹp, và ít kẻ tìm đến” (Mt 7, 13-14).

8.

Hồi đó, Chúa Giêsu cũng đã thấy là số người đi vào đường hẹp cửa hẹp thì là số ít, còn số người đi vào đường thênh thang và cửa rộng, thì là số đông. Do vậy, phân định theo ý Chúa, sẽ là đừng theo số đông, mà hãy theo số ít.

9.

Bây giờ cũng vậy. Số đông không phải là tiêu chuẩn để tôi bắt chước làm theo.

10.

Nhưng, cho dù số ít, thì số ít cũng có thể sai. Muốn chọn đúng, thì phải phân định. Mà phân định đúng, thì đòi phải có ơn Chúa. Chúa ban cho chúng ta ơn phân định, khi chúng ta cầu nguyện, hồi tâm trong thinh lặng, khiêm tốn.

11.

Nghĩa là phân định đúng theo ý Chúa không phải là cứ làm theo sở thích của mình, với một vài lý do có vẻ đạo đức bề ngoài. Nhiều phong trào đạo đức bình dân hiện nay có vẻ đang lạc vào con đường thênh thang và cửa rộng, mà không chịu nhận là mình sai.

12.

Khốn thay, là không thiếu những trường hợp, nhiều vị hướng dẫn cũng phân định sai. Người mù lại dắt người mù.

13.

Vì thế, mà ơn phân định phải được coi là rất cần cho mọi tín hữu, cách riêng cho những người kế vị các thánh tông đồ.

14.

Satan đang phá Hội thánh bằng nhiều cách, đặc biệt là bằng cách xúi các tín hữu mắc vào những đạo đức giả. Do vậy, mà lúc này hơn bao giờ hết, ơn phân định nên được nhắc đi nhắc lại.

15.

Cách riêng, các Đấng bậc có trách nhiệm hướng dẫn đời sống đức tin, càng phải tỉnh thức về vấn đề phân định, kẻo lỡ ra hướng dẫn sai, một ly đi một dặm, thì khốn khổ cho mình và cho dân Chúa.

16.

Nguyện cầu hai thánh tông đồ Phêrô và Phaolô thương giúp chúng ta biết sống ơn phân định trong tình hình phức tạp này.

17.

Riêng tôi, về vấn đề phân định, tôi đã có nhiều vết thương, do những yếu kém của tôi. Tôi không xin Chúa băng bó cho tôi những vết thương đó, nhưng xin cho những vết thương đó trở thành những lỗ sâu có khả năng chảy ra niềm hy vọng và niềm vui của Chúa cho tôi và cho nhiều người khác.

18.
Cách đặc biệt, tôi xin Chúa thương đến tôi và các linh mục yêu dấu của tôi, để chúng tôi biết đi vào đường hẹp, cửa hẹp mà Chúa đã mời gọi.

19.

Tình hình đạo đức hiện giờ đang rối lắm rồi. Nếu thiếu phân định đâu đúng đâu sai, thì tương lai sẽ bỏ ngỏ cho mọi mưu đồ ác độc của Satan. Hội thánh tại đây sẽ không thể không có trách nhiệm.

Long Xuyên, ngày 25.6.2019


 

Bùi-Tuần 1834: KHAO KHÁT CHÚA


+ GB. Bùi Tuần (Long xuyên 14.7.2019)

1.

 

Khao khát Chúa là điều tôi đã có từ rất lâu. Nhưng nay, khao khát đó trở nên rất mạnh. Tôi cảm Bùi-Tuần 1834


Khao khát Chúa là điều tôi đã có từ rất lâu. Nhưng nay, khao khát đó trở nên rất mạnh. Tôi cảm thấy mình khao khát Chúa từng giờ, từng phút, từng giây.

2.

Khao khát Chúa được tôi cảm nhận như một luồng gió thiêng liêng rót vào hồn tôi, một tâm hồn nhiều lúc không nóng, không lạnh, chỉ là khô khan.

3.

Khao khát Chúa được tôi cảm nhận như một tia lửa bén vào hồn tôi, khiến tôi rực nóng.

4.

Khao khát Chúa cũng được tôi cảm nhận như một loạt tiếng gõ nhẹ vào tâm hồn tôi, đang khi tôi mải mê tất bật với những bận tâm kéo tâm hồn tôi vào tình trạng trống rỗng.

5.

Như thế nghĩa là sự khao khát Chúa đã và đang đến với tôi. Đến từ đâu? Tôi nghĩ là từ Chúa Thánh Thần.

6.

Riêng đối với tôi, Chúa Thánh Thần đã thổi luồng gió khao khát Chúa vào hồn tôi qua nhiều ngả, nhưng mạnh nhất là qua ngả Lời Chúa, các chứng nhân và nhiều biến cố xảy ra trong cuộc đời.

7.

Cho dù qua ngả nào, luồng gió khao khát Chúa bao giờ cũng đưa tôi đến sự nhận ra Chúa với dung nhan là Tình Yêu cứu độ giàu lòng thương xót.

8.

Thực vậy, Chúa cứu tôi khỏi cảnh đời mất hướng đi, mất ý nghĩa, nhưng thay vào đó là cảnh đời rực rỡ hướng đi và ý nghĩa, đó là tình thương, vì có Chúa.

9.

Chúa cứu tôi khỏi cảnh đời mất hy vọng phục vụ kẻ khác, nhưng thay vào đó là cảnh đời tràn trề sức sống phục vụ, biết thương xót kẻ khác, nhờ có Chúa ở với tôi.

10.

Chúa cứu tôi khỏi những thất vọng và những ảo vọng về tôi và về kẻ khác, nhưng thay vào đó là những niềm vui và hy vọng thực sự, nhờ có Chúa ở với tôi.

11.

Chúa cứu tôi khỏi cảnh chỉ vơ vét cho hạnh phúc đời này, nhưng thay vào đó là cảnh đầu tư cho hạnh phúc đời sau, mà tôi xác tín, nhờ có Chúa ở với tôi.

12.

Được Chúa cứu như vậy, tôi hiểu tôi cần tập trung vào Chúa Giêsu. Tập trung vào Chúa Giêsu là sống thân mật với Người, yêu mến Người, và bắt chước Người.

13.

Điều mà tôi cảm thấy Chúa Giêsu mong muốn nhất nơi các môn đệ Chúa là hãy yêu thương nhau, như Chúa đã yêu thương.

14.

Hiểu như vậy, nên tôi cho là sẽ rất sai lầm, nếu tôi lo làm những công việc khác, cho dù những việc đó coi như có vẻ cần thiết, mà thiếu sót về bổn phận xây dựng cuộc sống yêu thương là điều căn bản mà Chúa muốn.

15.
Một Tòa Giám Mục, một tu viện, một nhà xứ, nếu thường xuyên thiếu vắng bầu khí yêu thương, mà thay vào đó là cảnh lạnh lẽo, xa vắng nhau, thì thiết tưởng đó sẽ là một dấu chỉ không tốt, đưa tới những hậu quả khó lường.

16.

Tới đây, tôi hiểu rõ hơn sự khao khát Chúa đang là một lời kêu gọi đi sâu vào đời sống thiêng liêng, để cùng với Chúa Giêsu mà nâng đỡ nhau trong tình yêu thương, trong liên đới với những kẻ cô đơn, túng thiếu, khổ đau, thất vọng. Đó mới là làm chứng cho Chúa trong hiện cảnh hiện nay.

17.

Khao khát Chúa, như tôi vừa trình đây, cũng sẽ là một cách làm cho đời mình có một kho tàng tích lũy và phát triển số vốn sống Chúa trao ban.
Tôi coi số vốn sống như những lượng vàng Chúa trao cho để sinh lời. Nó là số vốn để sống và để tăng trưởng. Nếu biết dùng số vốn đó, thì tôi càng ngày càng nên người hơn, càng ngày càng sẽ là người thuộc về Chúa hơn, càng ngày càng sẽ là người có ích cho Hội Thánh và cho Đất Nước hơn.

18.

Khao khát Chúa, như vừa trình bày, đang được tôi nâng niu ngây ngất như một kẻ tội lỗi đang được Chúa là Cha giàu lòng thương xót yêu thương, an ủi, giải cứu một cách nhưng không. Cảm nghiệm đó làm tôi sung sướng.

19.

Khao khát Chúa, như vừa trình bày, đang được tôi bảo vệ hết mình như một dụng cụ tuyệt vời trong cuộc chiến cam go hiện giờ giữa Chúa và Satan. Và đó cũng là dấu ấn, mà tôi nhớ nhung về những trăng trở trập trùng trên nhiều chặng đường khổ đau.

20.

Khao khát Chúa, như vừa trình bày, đang được tôi trân trọng âu yếm như của ăn đường trên đường đời đầy trắc trở và nguy hiểm hiện nay. Của ăn này là rất bổ dưỡng, rất hấp dẫn, rất ngọt ngào. Và đây cũng là kỷ niệm tôi xin gửi lại cho những người thân yêu, khi tôi từ biệt.

21.

Hiện giờ, tôi đang khao khát Chúa, như trẻ bé thơ, mong cha đợi mẹ lúc bóng đêm về. Đơn sơ là thế thôi. Khao khát Chúa, chính là một tiếng kêu cấp cứu của tôi. Chúa đang đến với tôi. Tạ ơn Chúa. Giữ gìn con, Chúa ơi.

Long xuyên, ngày 14.7.2019


 

Bùi-Tuần 1835: CHÚA ĐANG ĐẾN VỚI TÔI


+ GB. Bùi Tuần (Long xuyên 06.7.2019)

1.

 

Chúa là Đấng đồng hành mà tôi gắn bó nhất. Ngài đang đến với tôi qua những bất ngờ, mà chính Bùi-Tuần 1835


Chúa là Đấng đồng hành mà tôi gắn bó nhất. Ngài đang đến với tôi qua những bất ngờ, mà chính Ngài để xảy ra.

Bất ngờ lớn nhất là tôi càng ngày càng nhận thấy tôi rất mong manh, rất yếu đuối, cả phần xác lẫn phần hồn. Đó là một sự thực, mà tôi cảm nhận thấm thía.

2.

Sự thực đó đè nặng thân tôi. Nhiều lúc, tôi cảm thấy buồn chán. Đôi lúc buồn chán đến nỗi không còn muốn sống.

Nhưng đúng trong tình trạng xem như thất vọng như thế, thì Chúa đã đến.

3.

Tôi nhận ra Chúa đến với tôi, vừa do cảm nhận, vừa do đức tin.

4.

Tôi nhận ra Chúa dưới dạng một tình yêu ấp ủ dành cho đứa con yếu đuối, bơ vơ, thất vọng.

Tình yêu ấp ủ đó được diễn tả bằng một hình ảnh do chính Chúa đã chọn. Chúa phán: “Giêrusalem, Giêrusalem, đã bao lần Ta muốn ấp ủ con cái ngươi, như gà mẹ tập họp đàn con dưới cánh, mà các ngươi không chịu.” (Mt, 23, 37)

5.

Còn tôi thì lại rất muốn, rất mong được như gà con được Chúa như gà mẹ đến ấp ủ. Và thực sự Chúa đã và đang đến. Chúa đến để ấp ủ, để chở che, để an ủi tôi, để giải cứu tôi.

6.

Gặp Chúa Giêsu như thế, tôi nhận ra rằng: Làm linh mục không phải chỉ để giảng dạy, mà cốt yếu là cùng với Chúa Giêsu làm công việc của Người. Đó là đem yêu thương đến cho những kẻ khổ đau, những kẻ thất vọng, những kẻ túng nghèo.

7.

Yêu thương như thế là ở giữa họ, là hòa mình vào cuộc sống khổ đau, lầm than của họ.

Yêu thương như thế là sống liên đới với những kẻ túng nghèo, những kẻ bị loại trừ.

8.

Lúc này, Chúa đang đến với tôi qua những soi sáng như trên. Những soi sáng đó đòi tôi phải sửa mình lại.

9.

Sửa mình là khiêm tốn nhận ra sự mình được chức nọ quyền kia không phải là dấu chỉ Chúa đến với mình.

Satan có đủ sức đưa những người của nó lên chức nọ quyền kia một cách ngoạn mục. Ngay thời Giáo Hội sơ khai, các thánh tông đồ đã cảnh báo hiện tượng xuất hiện một thứ người tự xưng là người của Chúa, nhưng thực sự chúng là người của Satan, là những phản – Kitô (x. 1Ga 2, 18-19). Thời nay cũng vậy.

Dấu hiệu của thứ người như thế là hay tự hàovề chức quyền họ có và coi quyền lợi riêng của họ là một thứ đạo đức mà họ bảo vệ bất cứ giá nào.

10.

Sửa mình là tỉnh thức, đừng coi những gì mình làm nhân danh Chúa đều là những việc đạo đức được Chúa chấp nhận. Chúa đã có những lời nghiêm khắc về vấn đề này. “Trong những ngày ấy, nhiều người sẽ thưa với Thầy rằng: Lạy Chúa, lạy Chúa, nào chúng tôi chẳng nhân danh Chúa mà nói tiên tri, mà trừ quỷ, mà làm nhiều phép lạ đó sao? Bấy giờ Ta sẽ tuyên bố với họ: “Ta không hề biết các ngươi là ai. Hãy xéo đi cho khuất mình Ta, hỡi bọn làm điều gian ác.” Lý do là vì họ không làm theo ý Chúa, mà làm theo ý riêng (Mt, 7, 33-35).
Tôi có vậy không?

11.

Sửa mình là khiêm nhường, đừng coi mình là kẻ có nhiều công phúc, là kẻ thanh sạch, nên đáng được Chúa thương. Dụ ngôn Chúa nói về hai người cầu nguyện. Ông Pharisêu thì kể công mình. Ông thu thuế thì nhận tội mình. Kết quả là người thu thuế thì được Chúa thương, còn người Pharisêu thì bị Chúa từ bỏ (Lc, 18, 9-14).

Còn tôi thì giống ai trong hai người đó?

12.

Như vậy là Chúa đến ấp ủ tôi, để tôi sửa mình. Người đến để giải cứu tôi khỏi những sai lầm và tội lỗi.

Nhờ vậy, mà tôi trở nên đơn sơ, bé nhỏ, không mang trong mình chút hào quang nào, mà chỉ mang lòng thương xót Chúa mà thôi.

13.

Với tinh thần thơ ấu đơn sơ, tôi sinh hoạt với những kẻ đơn sơ bé mọn.

Địa bàn thiêng liêng, mà tôi sinh hoạt, trong tâm trí tôi, sẽ nhỏ bé, nghèo nàn, như một xóm nghèo của Nước Trời mênh mông.

Trên địa bàn thiêng liêng đó, những kẻ bé mọn là một số đáng kể. Chúng tôi gần gũi nhau. Chúng tôi biết gọi nhau. Chúng tôi biết đợi chờ nhau. Chúng tôi biết cùng nhau đi về nhà Chúa.

14.

Thì ra, Chúa đến với tôi, là để tôi cùng với những kẻ bé mọn khác, đi theo Chúa mà về thiên đàng.

15.

Chúa đang đến với tôi là như thế đó. Sẽ là sai sót nếu tôi quên điều này: Trong mọi sinh hoạt của chúng tôi hiện giờ đều có Đức Mẹ.

Sự hiện diện của Mẹ là rất âm thầm, mà rất ngọt ngào, đầy sức sống.

16.
Tới đây, tôi hiểu cửa hẹp với đường hẹp, mà Chúa nói xưa chính là cuộc sống bé mọn của yêu thương khiêm nhường, hiền từ, để đón Chúa.
Lạy Chúa, này con đây.

Long xuyên, ngày 06.7.2019


 

Bùi-Tuần 1836: TRUYỀN TIN CHO ĐỨC MẸ

 

Đúng 9 tháng trước lễ Sinh nhật là lễ Truyền tin cho Đức Mẹ (25-3/25-12). Truyền tin là biến Bùi-Tuần 1836


Đúng 9 tháng trước lễ Sinh nhật là lễ Truyền tin cho Đức Mẹ (25-3/25-12).

Truyền tin là biến cố hết sức quan trọng. Nếu không có biến cố Truyền tin, thì cũng sẽ không có biến cố Sinh nhật, Phục sinh.

Hội Thánh mừng biến cố truyền tin bằng thánh lễ trọng thể, với phụng vụ phong phú. Nhiều lời cầu nguyện. Nhiều đoạn Thánh Kinh. Nhiều bài giảng dạy. Nhiều cuộc tĩnh tâm, hội thảo và thánh ca.

Những người con bé nhỏ của Đức Mẹ sẽ không bỏ qua lễ trọng này. Họ mừng lễ với tất cả tấm lòng bé nhỏ. Chia sẻ tấm lòng bé nhỏ của mình về Mẹ của mình cũng là một cách mừng lễ. Dưới đây là một thứ chia sẻ.

Trong biến cố truyền tin, Đức Mẹ bỗng chốc trở nên khác thường.

 1/ Mẹ là một tình yêu dâng hiến

Đức Tổng lãnh thiên thần Gabriel chào kính Đức Mẹ bằng một lời hết sức mới lạ: "Mừng vui lên, hỡi Đấng đầy ân sủng, Thiên Chúa ở cùng bà" (Lc 1,28).

Thế nào là đầy ân sủng? Và thế nào là Thiên Chúa ở cùng bà? Thiết tưởng sẽ không sai, nếu có ai hiểu đầy ân sủng là đầy tình yêu của Chúa. Nhất là khi lại thêm: Thiên Chúa ở cùng bà, mà "Thiên Chúa chính là tình yêu" (1 Ga 4,8).

Tin vui đầu tiên, mà Đức Mẹ nhận được từ Đức Tổng Lãnh thiên thần là: Đức Mẹ được Chúa chia sẻ chính sự sống của Người là tình yêu của Người cho Đức Mẹ.
Tin đó không phải là lời chào chúc, mà chính là một chứng thực. Thực Thiên Chúa tình yêu đang ở trong Đức Mẹ. Thực Đức Mẹ đang được đón nhận một nguồn tình yêu lạ từ Thiên Chúa.

Đức Mẹ không những tin, mà còn cảm được mình đã thuộc về Chúa. Tình yêu Chúa bao phủ Mẹ. Tình yêu Chúa biến đổi Mẹ. Mẹ trở nên một tình yêu từ Thiên Chúa tình yêu.

Tin ấy được cảm nhận như một cái nhìn mới, đem lại hạnh phúc ngập tràn. Bên cạnh hạnh phúc sâu xa, cái nhìn mới ấy cũng cho Đức Mẹ hiểu những đặc tính của tình yêu Thiên Chúa.

Những gì mà thánh Phaolô sau này mô tả trong "Bài ca đức mến" chắc cũng đã được Chúa cho Đức Mẹ thấy một cách nào đó, ngay lúc Mẹ được trở nên một tình yêu tuyệt vời của Chúa.

"Đức mến thì nhẫn nhục, hiền hậu... hy vọng tất cả, chịu đựng tất cả" (1 Cr 13,4-7).

Đặc biệt, những dâng hiến đến cùng, mà sau này Chúa Giêsu sẽ thực hiện, chắc cũng được Chúa cho Đức Mẹ thấy trước.

Như vậy, tình yêu nơi Đức Mẹ trong biến cố truyền tin là một tình yêu dâng hiến. Dâng hiến như Chúa Giêsu dâng hiến. Vì mến Chúa Cha và vì thương nhân loại.
Nhận thức đó không làm cho Đức Mẹ tự hào chút nào. Trái lại, nó đã làm cho Đức Mẹ nên khiêm nhường tự hạ.

 2/ Đức Mẹ là một tình yêu khiêm hạ

Sự khiêm nhường của Đức Mẹ được diễn tả vắn tắt bằng câu trả lời: "Xin vâng, này tôi là nữ tỳ của Chúa" (Lc 1,38).

Lời "xin vâng" lúc đó của Đức Mẹ mở đường cho cả một cuộc đời đầy những từ bỏ. Một phần nào đó, Đức Mẹ biết trước những đau đớn về các từ bỏ của Chúa Giêsu trên đường cứu độ.

Thánh Phaolô viết về Chúa Cứu Thế: "Đức Giêsu Kitô, vốn dĩ là Thiên Chúa, nhưng không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa. Nhưng đã hoàn toàn từ bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế.

"Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập giá" (Pl 2,6-8).

Tinh thần khiêm hạ đã luôn đi kèm tình yêu dâng hiến. Nơi Chúa Giêsu là thế. Nơi Đức Mẹ cũng vậy.

Sự khiêm nhường tự hạ làm đẹp cho việc dâng hiến. Hơn thế nữa, nó còn có giá trị cứu chuộc các linh hồn.

Dâng hiến mà không khiêm nhường tự hạ có thể được người đời cho là việc anh hùng, nhưng không có thể được Chúa cho là việc đạo đức có giá trị cứu rỗi.

Nhìn ngắm tình yêu dâng hiến đầy khiêm nhường tự hạ nơi Đức Mẹ, những người con bé nhỏ của Đức Mẹ sẽ rất hân hoan vì những bé nhỏ thấp hèn của mình.

 3/ Một tình yêu phục vụ

Ngay sau biến cố truyền tin, Đức Mẹ "đã vội vã lên đường, đến miền núi, vào một thành thuộc chi tộc Giuđa" (Lc 1,39). Mục đích là để viếng thăm bà Elisabét. Cuộc viếng thăm này đã được Chúa dùng để thánh hoá thai nhi trong lòng bà Elisabét. Thai nhi đó chính là thánh Gioan Baotixita (x. Lc 1,41-45).

Tình yêu Chúa trong Đức Mẹ đã thúc đẩy Đức Mẹ lên đường phục vụ. Phục vụ kín đáo. Phục vụ cá nhân. Nhưng phục vụ đó đã được thực hiện trong tinh thần vâng theo thánh ý Chúa. Đức Mẹ đã làm một việc bác ái với đúng những điều kiện của phục vụ. Đó là làm đúng việc, cho đúng đối tượng, đúng lúc, đúng cách mà Chúa muốn.

Phục vụ như thế của Đức Mẹ sẽ được Đức Mẹ thực hiện suốt cuộc đời mình.

Qua việc phục vụ ấy, người ta nhìn thấy một tấm lòng bao la cao cả, và cảm nhận được một tình yêu nhưng không vô bờ.

***

Chúng ta hết lòng cảm tạ Chúa đã chọn Đức Mẹ để mạc khải tình yêu cứu độ.

Đức Mẹ là một bản tin ngọt ngào của Chúa.

Chúng ta vui mừng vì được là con Đức Mẹ. Cho dù chúng ta rất thấp hèn, rất yếu đuối, nhưng chúng ta tin: Đức Mẹ sẽ thương giúp chúng ta luôn biết đón nhận Thiên Chúa tình yêu.

Chúng ta hy vọng Đức Mẹ sẽ đồng hành với chúng ta mọi bước trên đường làm chứng cho Chúa giàu lòng thương xót.

Chúng ta sẽ ca ngợi Chúa đã thực hiện nơi Đức Mẹ lời Chúa phán xưa: "Ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên" (Lc 18,14).

Long Xuyên, ngày 12/3/2010


 

Bùi-Tuần 1837: DÂNG HOA NHƯ MỘT HÀNH TRÌNHTRỞ VỀ VỚI CHÚA

 

Tháng năm là tháng dâng hoa kính Đức Mẹ. Truyền thống đạo đức này đã có từ rất xưa. Nó xuất Bùi-Tuần 1837


Tháng năm là tháng dâng hoa kính Đức Mẹ. Truyền thống đạo đức này đã có từ rất xưa. Nó xuất phát từ lòng mến mộ bình dân đối với Đức Mẹ. Con cái Mẹ, thì muốn tỏ lòng kính yêu Mẹ, một người Mẹ gần gũi, chăm chú đến từng người con, nhất là những đứa con yếu đuối, bệnh tật, nghèo hèn.

Như thế, cái hồn của việc dâng hoa kính Đức Mẹ chính là tấm lòng con thảo. Tấm lòng con thảo sẽ là những đoá hoa thiêng đẹp hơn, thơm hơn, nếu nó được Phúc Âm hoá một cách sâu xa.

Một cách có thể đưa tới mục đích đó, là hãy dâng hoa như một hành trình trở về với Chúa.

Hành trình đó sẽ được thực hiện thế nào?

Thưa, trước hết hãy tin vào Chúa Giêsu Kitô.

 1/ Tin vào Chúa Giêsu Kitô

Các thánh tông đồ luôn khuyên nhủ mọi người hãy tin vào Chúa Giêsu, như điều kiện đầu tiên để đón nhận ơn Chúa.

Sách Tông đồ Công vụ kể chuyện thánh Phêrô chữa lành một người què từ bẩm sinh nằm bên cửa Đền Thờ. Dân chúng thấy phép lạ, đã rất ngạc nhiên. Thánh Phêrô cắt nghĩa là: Người què đó được khỏi, không phải nhờ quyền năng riêng hay do lòng đạo đức của ngài nhưng nhờ lòng tin. "Chính nhờ lòng tin vào danh Đức Kitô, mà danh Người đã làm cho kẻ anh em đang nhìn và biết đây trở nên cứng cát. Chính lòng tin Người đã ban cho anh này được khỏi hẳn như thế ngay trước mặt tất cả anh em" (Cv 3,16).

Thánh Phaolô quả quyết: "Người ta được nên công chính vì tin, chứ không phải vì làm những gì Luật dạy" (Rm 3,28). Tin vào ai? Thưa là tin vào Chúa Giêsu Kitô, Đấng đã chịu đóng đinh vào thập giá, để cứu chuộc chúng ta. "Chính Đức Kitô như thế là sức mạnh và là sự khôn ngoan của Thiên Chúa" (1 Cr 1,24).

Phải tập trung niềm tin nơi Đức Giêsu Kitô chịu đóng đinh vào thập giá mà sống đạo (x. 1 Cr 2,2). Phải dựa vào Đức Giêsu Kitô chịu đóng đinh trên thập giá mà tự hào (1 Pl 3,8). Phải lấy Đức Kitô chịu đóng đinh trên thánh giá làm nền tảng mà tu đức (x. 1 Cr 3,11). Đó là sự khôn ngoan đích thực.

Niềm tin trên đây phải được coi là rất cần cho việc Phúc Âm hoá và tái Phúc Âm hoá, nhất là trong thời nay. Thời nay đức tin xem ra xa vắng, cả trong những hoạt động tôn giáo ở nhiều nơi thuộc Hội Thánh Công giáo chúng ta. Hoặc đức tin vẫn còn, nhưng đang bị chi phối bởi tinh thần thế tục, và phân tán ra một cách không kiểm soát nổi.

Nhận thức như thế, chúng ta coi việc dâng hoa kính Đức Mẹ là một dịp may, để chúng ta Phúc Âm hoá và tái Phúc Âm hoá lòng đạo chúng ta, khởi đi từ niềm tin vào Đức Giêsu Kitô, Đấng Cứu độ chúng ta.

Thêm vào niềm tin ấy, chúng ta sẽ để ý nhiều đến việc sám hối, từ bỏ tội lỗi.

 2/ Sám hối, từ bỏ tội lỗi

Sau khi khuyên nhủ dân chúng tin vào Chúa Giêsu, thánh Phêrô đã dạy họ phải sám hối. Ngài nói: "Vậy anh em hãy sám hối và trở lại cùng Thiên Chúa, để Người xoá bỏ tội lỗi cho anh em" (Cv 3,18).

Khi nói về việc sám hối, từ bỏ tội lỗi, thánh Phaolô đã rõ ràng hơn. Ngài nói: "Chúng ta hãy tẩy rửa hồn xác cho sạch mọi vết nhơ, và đem lòng kính sợ Thiên Chúa, mà lo đạt tới mức thánh thiện hoàn toàn" (2 Cr 7,1).

Với lời khuyên trên, thánh Phaolô kêu gọi những người sám hối, không những đừng phạm tội nữa, mà còn lo tẩy rửa cho sạch mọi vết nhơ do tội, đồng thời lo trở nên thánh thiện mỗi ngày mỗi thêm.

Lời kêu gọi như thế nhắm tới một cuộc sống tu đức thanh luyện và kết hợp với Chúa.

Phải thanh luyện mình bằng đời sống kỷ luật, khổ chế.

Phải kết hợp với Chúa bằng đời sống cầu nguyện, tỉnh thức, luôn tìm vâng phục ý Chúa.

Trong vâng phục thánh ý Chúa, Phúc Âm nhấn mạnh đến bác ái, yêu thương, phục vụ.

Thánh Gioan viết: "Căn cứ vào điều này, chúng ta biết được tình yêu là gì: Đó là Đức Kitô đã thí mạng vì chúng ta. Như vậy, cả chúng ta nữa, chúng ta cũng phải thí mạng vì anh em... Chúng ta đừng yêu thương nơi đầu môi chót lưỡi, nhưng phải yêu thương cách chân thật và bằng việc làm" (1 Ga 3,16-18).

Như vậy, sám hối, trở về với Chúa không được phép hiểu một cách quá đơn giản. Càng không được phép thực hiện một cách qua loa, hời hợt. Thực sự, đây chính là một cuộc chiến đấu cam go, với chính mình, với thế gian và với ác thần Satan. Cuộc chiến đó sẽ rất khó khăn. Mỗi người con cái Mẹ Maria đều biết như thế. Nên họ cậy trông nơi Mẹ nhân lành.

***

Một thoáng nhìn trên đây về hành trình trở về với Chúa sẽ không vô ích cho việc sống đạo, nếu chúng ta khiêm nhường.

Nó càng không vô ích cho việc dâng hoa kính Đức Mẹ, nếu chúng ta áp dụng nó vào nội dung việc đạo đức ấy.

Thời gian chúng ta đang sống có nhiều thử thách về đạo đức. Đức Mẹ hôm nay vẫn là Đức Mẹ đã hiện ra ở Fatima. Đức Mẹ cảnh báo nhiều tai hoạ sẽ xảy ra, nếu nhân loại không bỏ đàng tội lỗi, mà trở về đàng lành.

Chúng ta đừng vô cảm trước những cảnh báo đó. Hãy đến với Mẹ trong tháng dâng hoa này, như một hành trình trở về với Chúa.

Long Xuyên ngày 8/4/2010


 

Bùi-Tuần 1838: TÌNH YÊU CÓ HÌNH THÁNH GIÁ

 

Khi lãnh nhận chức vụ giám mục, tôi đã chọn khẩu hiệu: "Điều răn mới". "Điều răn mới" là một Bùi-Tuần 1838


Khi lãnh nhận chức vụ giám mục, tôi đã chọn khẩu hiệu: "Điều răn mới".

"Điều răn mới" là một lời Chúa trích từ câu: "Thầy ban cho các con một điều răn mới, là các con hãy yêu thương nhau" (Ga 13,34).

Lời Chúa trên đây đã hướng dẫn tôi suốt cuộc đời 35 năm giám mục. Hôm nay, trong bầu khí gia đình, tôi xin chia sẻ vắn tắt kinh nghiệm của tôi về sự hướng dẫn đó.

Nói chung, điều răn yêu thương đã đến với tôi từ nhiều nguồn. Nhưng nguồn quan trọng nhất chính là từ thánh giá Chúa.

 1/ Trước hết, thánh giá Chúa dạy bài học yêu thương

Bài học về yêu thương, mà thánh giá Chúa rất nhấn mạnh với tôi, đó là: Yêu thương như Chúa Giêsu, thì phải mang vào mình thân phận con người tội lỗi, và phải đội trên đầu mình gánh nặng hình phạt thay cho người tội lỗi. Chính Chúa Giêsu đã làm như thế, khi Người dâng mình trên thánh giá.

Chấp nhận sự thực đó không dễ chút nào. Thực hiện sự thực đó càng không dễ chịu chút nào. Bởi vì sẽ phải đón nhận nhiều đau đớn. Cho dù với tinh thần dâng hiến, tôi thấy đau đớn nào cũng vẫn là đau đớn.

Những cái đau của chính mình. Cộng thêm những cái đau của bao người khác. Lại thêm những cái đau của Chúa Giêsu. Những thứ đau đớn ấy đổ vào cuộc đời, làm nên một chén đắng. Chúa Giêsu xưa đã cầu xin với Đức Chúa Cha: "Nếu có thể, thì xin cho con khỏi uống chén này, nhưng xin đừng theo ý con, một xin theo ý Cha mà thôi" (Lc 22,42). Đôi khi tôi cũng cầu xin như vậy. Nhưng Chúa cho tôi biết: Yêu thương, thì phải uống chén đắng Chúa trao cho.

Khi vâng ý Chúa mà uống chén đắng, tôi thấy thánh giá Chúa đã nâng đỡ tôi.

 2/ Thánh giá Chúa nâng đỡ

Thánh giá Chúa nâng đỡ tôi bằng nhiều cách. Một trong những cách đó là Chúa cho tôi cảm thấy sự hiện diện của Chúa. Chúa đến với tôi. Chúa ở bên tôi. Chúa ngự trong tôi. Sự hiện diện của Chúa lúc thì tỏ rõ, lúc thì ẩn giấu. Lúc thì quen thuộc, lúc thì bất ngờ.

Sự hiện diện của Chúa thường đem lại cho tôi một sự phấn chấn với ba nhận thức này:

- Một là nhận thức về sự yếu đuối của mình.
- Hai là nhận thức về lòng thương xót Chúa.
- Ba là nhận thức về trách nhiệm chia sẻ những khổ đau của Hội Thánh, và của đồng bào.

Với những nhận thức đó, sự hiện diện của Chúa cho tôi một sự sống mới. Sự sống ấy được cảm nhận như một sự sai đi. Chúa sai tôi đi loan báo Tin Mừng này là: Tôi đã gặp được Chúa. Người là tình yêu cứu độ. Tình yêu của Người có hình thánh giá. Tôi được sai đi với ơn đổi mới.

 3/ Thánh giá Chúa ban ơn đổi mới

Khi nhận lãnh chức giám mục, tôi thấy sự đổi mới tình hình là việc rất cần thiết.

Đổi mới thế nào, thì lời Chúa trả lời là: "Hãy yêu thương nhau, như Chúa đã yêu thương" (Ga 13,34).

Càng vâng lời Chúa, mà yêu thương như Chúa đã yêu thương trên thánh giá, tôi càng thấy rõ rằng: Công việc đổi mới phải bắt đầu từ đổi mới trái tim, và phải tập trung vào việc đổi mới trái tim.

Để trái tim biết yêu thương như Chúa yêu thương, thì phải gắn kết trái tim mình vào Trái Tim Chúa và phải thường xuyên tập luyện.

Trong diễn tiến tập luyện chính mình và những kẻ thuộc về mình, tôi khám phá ra đổi mới trái tim là việc khó. Bởi vì trái tim thường bị nhiều chứng bệnh khống chế. Như sự cứng lòng, sự dửng dưng, sự mê hoặc, sự ham mê những thứ phù du. Vì thế, sự đổi mới trái tim cần dựa vào ơn Chúa qua việc cầu nguyện, hãm mình, sám hối và tu đức "Từ bỏ mình, vác thánh giá mình, mà theo Chúa" (Mt 16,24).

***

Trên đây là vắn tắt những gì mà khẩu hiệu Lời Chúa về yêu thương đã hướng dẫn tôi.

Tôi xin anh chị em hãy cùng tôi cảm tạ Chúa. Tôi thuộc về Chúa, đồng thời cũng thuộc về anh chị em, nên xin anh chị em cũng vui nhận lời tôi cảm ơn thân tình gởi tới từng người anh chị em.

Trong tâm tình cảm tạ, chúng ta tha thiết cầu xin Chúa ban ơn đổi mới cho Hội Thánh và cho Quê Hương Việt Nam. Nếu việc đổi mới Hội Thánh và Đất Nước vẫn phải bắt đầu từ yêu thương, thì xin Chúa giúp cho mỗi người chúng ta biết bắt đầu từ chính mình chúng ta.

Lạy Chúa, xin thương xót chúng con.

Long Xuyên ngày 21/4/2010

Bài chia sẻ trong thánh lễ kỷ niệm thụ phong Giám Mục (30-4-1975/30-4-2010)


 

Bùi-Tuần 1839: ĐỜI LINH MỤC PHẢI LÀ MỘT CUỘC CHIẾN KÉO DÀI

 

Năm Linh mục đã gần bế mạc. Bế mạc năm linh mục, nhưng cuộc đời linh mục vẫn tiếp tục. Tiếp Bùi-Tuần 1839


Năm Linh mục đã gần bế mạc. Bế mạc năm linh mục, nhưng cuộc đời linh mục vẫn tiếp tục. Tiếp tục nhiều thứ thuộc chức vụ linh mục. Nhưng một việc cần tiếp tục không ngừng, từng ngày, từng giờ, từng phút, đó là chiến đấu nội tâm.

Ở đây, tôi xin chia sẻ đôi chút kinh nghiệm về những chi tiết của cuộc chiến đấu nội tâm nơi mọi người theo Chúa, nhất là nơi linh mục.

 1/ Cuộc chiến chống ba cơn cám dỗ trong hoang địa

Phúc Âm kể rằng: "Đức Giêsu được Thần Khí dẫn vào hoang địa, để chịu ma quỷ cám dỗ" (Mt 4,1). Ở đó, quỷ cám dỗ Chúa bằng ba thứ ngon ngọt.

Một là hãy truyền cho những hòn đá hoá thành bánh.
Hai là hãy nhảy từ nóc đền thờ xuống, để được Chúa đỡ nâng.
Ba là hãy quỳ lạy quỷ, thì quỷ sẽ cho tất cả thế gian.

Nói theo danh từ dễ hiểu, thì cám dỗ thứ nhất nhắm vào quyền lực kinh tế. Cám dỗ thứ hai nhắm vào quyền lực thần thiêng. Cám dỗ thứ ba nhắm vào quyền lực chính trị.
Chúa Giêsu đã dứt khoát chối từ cả ba quyền lực. Người đã thắng ma quỷ.

Hiện nay, ba quyền lực trên đã và đang được quỷ đề nghị với nhiều người và nhiều cộng đoàn trong Hội Thánh, nhất là với các linh mục.

Những cơn cám dỗ đó kéo dài dưới nhiều hình thức và với nhiều kế hoạch. Kế hoạch tinh vi nhất là làm cho người ta tưởng rằng: Có trong tay ba quyền lực đó, thì sẽ có phương tiện làm sáng danh Chúa. Nếu tỉnh thức và cầu nguyện, chúng ta sẽ thắng quỷ. Nhưng trên thực tế, cuộc chiến đã để lại biết bao yếu đuối. Yếu đuối đáng sợ nhất là sự chiến đấu nửa vời.

 2/ Cuộc chiến để sống hạnh phúc từ bài giảng trên núi

"Bài giảng trên núi" là "bài giảng Tám mối phúc" được Chúa Giêsu giảng trên núi (x. Mt 5,1-8).

Chúa hứa hạnh phúc cho những ai sống tám điều Chúa dạy sau đây:

- Nghèo khó trong tâm hồn.
- Hiền lành.
- Chịu sầu khổ vì Chúa.
- Khát khao nên người công chính.
- Tâm hồn trong sạch.
- Xây dựng hoà bình.
- Bị bách hại vì sống công chính.

Tám điều trên đây làm nên những giá trị đạo đức căn bản. Để có bất cứ giá trị nào trong danh sách trên đây, người ta phải chiến đấu nhiều lắm.

Thế nhưng, hiện nay, nếp sống hưởng thụ, chủ trương thực dụng, thói quen trọng hình thức là những sức mạnh thế tục đang tiến công các giá trị đó.

Có những lương tâm chấp nhận chiến đấu. Nhưng có những lương tâm buông xuôi. Chiến trường đạo đức có những tấm gương anh dũng, nhưng không thiếu những suy yếu đau lòng. Linh mục cũng trong cảnh đó. Suy yếu hay xảy ra nhất là sự nguội lạnh nội tâm.

 3/ Cuộc chiến để sống điều răn mới Chúa dạy trong bữa tiệc ly

Trong bữa tiệc ly, Chúa Giêsu đã trối lại một điều răn mới, đó là điều răn yêu thương.

"Thầy ban cho các con một điều răn mới là các con hãy yêu thương nhau, như Thầy đã yêu thương các con" (Ga 13,34).

Yêu thương như Chúa Giêsu đã yêu thương là một dấu chỉ làm chứng ai thuộc về Chúa ai không.

Thế nhưng, trên thực tế, nhiều người chúng ta không tập trung vào dấu chỉ đó. Từ lời nói cho đến lo toan, từ ước muốn cho đến hành động, nhiều người chúng ta vẫn sống đạo theo những hướng khác ngoài điều răn yêu thương.

Sống yêu thương như Chúa Giêsu yêu thương đòi phải chiến đấu rất nhiều. Mà chiến đấu thì không tránh được thương tích. Chiến đấu này đang nêu lên nhiều gương quảng đại, nhưng cũng phơi bày bao gương xấu đau lòng. Cả trong hàng ngũ linh mục. Cũng vậy, yêu thương thiếu hy sinh. Hy sinh mà không yêu thương.

 4/ Cuộc chiến để sống bài học vâng phục ý Chúa từ vườn Cây Dầu

Trước khi nạp mình chịu chết để cứu chuộc nhân loại, Chúa Giêsu đã vào vườn Cây Dầu để cầu nguyện.

Trong giờ phút nghiêm trọng đó, Chúa Giêsu đã rất cô đơn, lo buồn. Vì nhìn thấy bao tội lỗi loài người và bao cực hình Người sẽ phải chịu thay. Người cầu nguyện: "Lạy Cha, nếu Cha muốn thì xin cho con khỏi uống chén này. Tuy vậy, xin đừng làm theo ý con, mà xin theo ý Cha mà thôi" (Lc 22,42).

Vâng phục thánh ý Chúa trong mọi sự, nhất là phải chấp nhận những đau đớn, điều đó không đơn giản chút nào.

Vâng phục thánh ý Chúa ở mọi nơi, nhưng ở những nơi mà tiền của, chức quyền, danh vọng, luôn mời gọi và cho không, thì sự từ bỏ đâu có dễ dàng.

Phải chiến đấu nhiều lắm. Nhiều người đã thắng. Nhiều người đã thua. Thắng thua cũng xảy ra trong các linh mục. Biết bao chọn lựa không hợp thánh ý Chúa.

 5/ Cuộc chiến để sống bài học dâng hiến từ thánh giá Chúa

Trên thánh giá, Chúa dạy bài học tự hiến mình làm của lễ dâng lên Chúa Cha. Của lễ là sự từ bỏ mình, là chấp nhận những nhục nhã đớn đau để cứu các linh hồn, là tha thứ cho những ai làm khổ mình, là phó thác mình cho Chúa Cha.

Bài học đó đã đốt lên trong lòng nhiều tín hữu lửa mến Chúa yêu người. Từ đó, họ làm hết sức mình, để gắn bó với vinh quang thánh giá, như thánh Phaolô đã quả quyết: "Ước chi, tôi chẳng hãnh diện về điều gì, ngoài thánh giá Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta" (Gl 6,14).

Nhưng trên thực tế hiện nay, bao người chúng ta đã không thực sự sống đời sống hiến tế, đã không trọn vẹn dâng mình làm của lễ cho Chúa, đã không dứt khoát tìm vinh quang mình nơi thánh giá Chúa. Linh mục chúng ta cần khiêm tốn nhìn nhận sự thực đó, để chiến đấu nhiều hơn với chính mình, nhờ gắn bó mật thiết hơn với Chúa Giêsu.

***

Tới đây, tôi nhìn vào Hội Thánh Việt Nam. Tôi cảm tạ Chúa đã ban cho nhiều tín hữu, trong đó có nhiều linh mục, được ơn biết chiến đấu, để có một đời sống nội tâm phong phú. Họ đã biết dùng ơn Chúa ban. Đời họ là một cuộc chiến kéo dài. Trong một không gian khô hạn, những người như thế sẽ là những dòng sông nhỏ chuyển tải Nước hằng sống từ Thiên Chúa vào các linh hồn.

Long Xuyên ngày 5/5/2010



 

Bùi-Tuần 1840: NGUY HIỂM TỪ NỘI BỘ

 

Đời sống đức tin không tránh được nguy hiểm. Nguy hiểm đến từ nhiều phía. Những nguy hiểm Bùi-Tuần 1840


Đời sống đức tin không tránh được nguy hiểm. Nguy hiểm đến từ nhiều phía. Những nguy hiểm đến từ ngoài Hội Thánh phải kể là nhiều và nặng. Nhưng những nguy hiểm đến từ nội bộ Hội Thánh cũng không ít. Chúng rất ác nghiệt. Cảnh báo trước mối hoạ đó là điều cần.

Thời các thánh tông đồ, việc cảnh báo như thế đã được thực hiện. Ở đây, xin nhắc lại những cảnh báo thời đó, để hiểu hơn cảnh báo thời nay.

 1/ Nguy hiểm từ nội bộ

a) Suy thoái đạo đức.

Thánh Phaolô viết cho môn đệ Timôthê về cảnh suy thoái đạo đức sẽ xảy ra như sau:

"Anh hãy biết điều này: Vào những ngày sau hết sẽ có những lúc gay go. Quả thế, người ta sẽ ra ích kỷ, ham tiền bạc, khoác lác, kiêu ngạo, nói lộng ngôn, không vâng lời cha mẹ, vô ơn bạc nghĩa, phạm thượng, vô tâm vô tính, tàn nhẫn, nói xấu, thiếu tiết độ, hung dữ, ghét điều thiện, phản trắc, nông nổi, lên mặt tự đắc, yêu khoái lạc hơn yêu Thiên Chúa.

Hình thức của đạo thì họ còn giữ, nhưng những cái chính yếu thì họ chối bỏ" (2 Tm 3,1-5).

Thánh Phaolô kể ra tỉ mỉ các tính xấu trên đây, để cho môn đệ ngài thấy sự suy thoái đạo đức là trầm trọng. Lòng con người bị tàn phá thê thảm. Bi đát nhất là sự giữ đạo, chỉ còn là hình thức. Bỏ những gì là chính yếu của đạo thì kể như bỏ đạo rồi.

Cảnh suy thoái đạo đức xảy ra tràn lan, tự do tung hoành theo truỵ lạc. "Chúa họ thờ là cái bụng, và cái họ lấy làm vinh quang lại là cái đáng hổ thẹn. Họ là những người chỉ nghĩ đến những sự thế gian" (Pl 3,19).

b) Xuất hiện những ngôn sứ giả.

Thánh Phêrô cảnh báo trong thư thứ hai của ngài: "Trong dân cũng đã từng xuất hiện những ngôn sứ giả. Giữa anh em cũng vậy, sẽ có những thầy dạy giả, đó là những kẻ sẽ lén lút đưa vào những tà thuyết dẫn tới diệt vong... Nhiều người sẽ học đòi các trò dâm đãng của họ. Và vì họ, con đường sự thật sẽ bị phỉ báng. Vì tham lam, họ dùng lời lẽ gạt gẫm anh em để trục lợi" (2 Pr 2,1-3).

Xuất hiện các thầy dạy giả là điều nguy hiểm. Nhưng điều nguy hiểm hơn là sự nhiều người lại ham nghe theo các thầy dạy giả đó. Thánh Phaolô viết: "Thật vậy, sẽ đến thời, người ta không còn chịu nghe giáo lý lành mạnh, nhưng theo những dục vọng của mình, mà kiếm hết thầy này đến thầy kia, bởi ngứa tai muốn nghe. Họ sẽ ngoảnh tai đi không nghe chân lý, nhưng hướng về những chuyện hoang đường" (2 Tm 4,3-4).

Những chuyện bịa đặt kiểu hoang đường lại được nhiều người nghe và truyền tai nhau. Ngôn sứ giả, thầy dạy giả được tiếp đón. Họ bịa đặt là họ có ơn Chúa Thánh Thần. Thế mới lại là một thách thức dễ bực mình.

Theo thánh Gioan tông đồ cảnh báo thì: "Đã có nhiều ngôn sứ giả lan tràn khắp thế gian" (1 Ga 4,1). Chúng lôi kéo được nhiều người: "Các ngôn sứ giả đó thuộc về thế gian. Vì thế, chúng nói theo thế gian, và thế gian nghe theo chúng" (1 Ga 4,5).

Đọc những cảnh báo trên đây, chúng ta thấy các thánh tông đồ đã rất khiêm tốn và thành thực nhìn nhận những nguy cơ đến từ nội bộ cộng đoàn. Cảnh báo về sự trầm trọng của những nguy cơ đó được các thánh tông đồ coi là bổn phận của những người đứng đầu có trách nhiệm.

Những nguy hiểm đến từ nội bộ, mà các thánh tông đồ đã cảnh báo cho thời các ngài, cũng đang xảy ra cho thời chúng ta. Nơi nhiều nơi ít. Tại Việt Nam, nguy hiểm tuy chưa trầm trọng, nhưng đã bắt đầu phức tạp.

Các thánh tông đồ đã cảnh báo, đồng thời cũng dạy cách đối phó. Cách đối phó tốt nhất vẫn lấy từ lời Chúa. Lời Chúa về vấn đề này tóm lại ba việc phải làm: Cầu nguyện, chay tịnh và tỉnh thức.

 2/ Đối phó với những hiểm nguy về đường thiêng liêng

Cách thứ nhất là cầu nguyện.

Khi cầu nguyện, chúng ta xin Chúa Thánh Thần đến ngự trị trong ta, và trải lửa mến khắp tâm hồn ta. Lửa mến càng mạnh càng sâu, sẽ càng tạo nên trong ta một bầu khí thinh lặng, chờ đón. Trong bầu khí lửa mến đó, chúng ta sẽ thấy rõ những gì phải tránh, những gì nên chọn, những gì là thánh ý Chúa, những gì là ơn gọi của ta. Chúng ta sẽ đón nhận những sự đó trong bình tĩnh, yêu thương.

Lửa mến Chúa được Chúa Thánh Thần đốt lên trong giờ cầu nguyện sẽ cho chúng ta một cái nhìn về tình hình hợp ý Chúa. Không thiếu trường hợp, chúng ta sẽ cảm nhận được sự yếu hèn bất lực của mình trước tình hình. Nhưng, từ những cảm nhận đó, chúng ta khiêm nhường phó thác nơi Chúa. Chúa chỉ đòi ta mến Chúa hết lòng. Rồi Chúa sẽ giúp ta cách đối phó với tình hình. Nhưng quan trọng là ta phải hợp tác với ơn Chúa. Bởi vì ta vẫn có tự do làm sai sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần.
Cách thứ hai là hãm mình.

Hãm mình là một việc đạo đức, mà Phúc Âm luôn coi là cần thiết, nhất là để xua đuổi ma quỷ.

Những việc hãm mình chúng ta nên làm và có thể làm, là những việc hãm mình nhỏ và trong kín đáo âm thầm. Thí dụ: Chịu khó thêm một chút trong việc cầu nguyện, suy gẫm, đọc sách thiêng liêng, trong việc phục vụ những người xung quanh, trong việc chịu đựng những khổ đau, trong việc kính trọng người khác, nhất là trong việc tự đào tạo mình.

Cách thứ ba là tỉnh thức.

Thực tế tình hình là nguy hiểm, thì phải nhận là nguy hiểm. Trấn an mình và người khác bằng lời "không sao đâu", là không đúng đòi hỏi của tỉnh thức. Có nguy hiểm nội bộ mà không nhận ra, đó mới là nguy hiểm đáng sợ. Biết đâu chính chúng ta lại là một mối nguy giấu ẩn.

Thực tế tình hình là nguy hiểm có dấu hiệu phát xuất từ ma quỷ, thì phải dùng đến những phương cách thiêng liêng có sức chống lại ma quỷ, như Phúc Âm dạy. Chứ đừng chống lại chúng bằng những thứ đạo đức giả, mà cứ dối mình là do ơn Chúa Thánh Thần soi dẫn.

Thực tế tình hình là nguy hiểm cho Hội Thánh, thì nên liên kết với những người thực sự tha thiết với Hội Thánh. Chứ đừng liên kết với những người chống phá Hội Thánh.

***

Tới đây, rất có thể chúng ta đã tự nhận ra điều này là: Chính bản thân chúng ta cũng có thể đã góp phần vào mối nguy cho Hội Thánh. Chúng ta không chủ ý. Nhưng tội lỗi của ta, tính xấu của ta, gương xấu của ta, trình độ thiếu chất lượng của ta có thể vô tình làm cho ta nên mối nguy cho cộng đoàn. Nhận thức này sẽ giúp chúng ta khiêm tốn, sám hối, và chấn chỉnh chính mình. Đó là khởi đầu tốt.

Long Xuyên ngày 8/6/2010


 

Bùi-Tuần 1841: ÂM THẦM

 

Âm thầm là một giá trị. Có những tia nắng âm thầm. Âm thầm mà vẫn soi sáng dưỡng nuôi. Có Bùi-Tuần 1841


Âm thầm là một giá trị.

Có những tia nắng âm thầm. Âm thầm mà vẫn soi sáng dưỡng nuôi.
Có những dòng nước âm thầm. Âm thầm mà vẫn tưới gội bồi bổ.
Có những ngọn núi âm thầm. Âm thầm mà vẫn chở che, làm nên hùng vĩ.
Có những những con người âm thầm. Âm thầm mà vẫn dạy dỗ, đỡ nâng, cứu độ, phấn đấu.
Có những nơi chốn âm thầm. Âm thầm mà vẫn là nơi Chúa ưa thích tìm đến con người, gặp gỡ con người và tỏ mình ra cho con người.

Chúa muốn chúng ta có những âm thầm lành mạnh. Nên Người đã gởi đến chúng ta nhiều sứ đệp về sự âm thầm.

 1/ Sứ điệp về âm thầm qua Lời Chúa

Phúc Âm thánh Matthêu ghi lại những lời Chúa Giêsu khuyên dạy các môn đệ phải âm thầm, khi làm các việc lành. Người nhấn mạnh đến sự âm thầm. Âm thầm là một giá trị không thể thiếu. Người phán:

"Khi làm việc lành phúc đức, anh em phải coi chừng, chớ có phô trương cho thiên hạ thấy. Bằng không, anh em sẽ chẳng được Cha của anh em, Đấng ngự trên trời, ban thưởng.

Vậy khi bố thí, đừng có khua chiêng đánh trống, như bọn đạo đức giả hình thường biểu diễn trong hội đường và ngoài phố xá, cốt để người ta khen.

Thầy bảo thật anh em: Chúng đã được thưởng công rồi. Còn anh em, khi bố thí, đừng cho tay trái biết việc tay phải làm, để việc anh em bố thí được kín đáo. Và Cha của anh em, Đấng thấu suốt những gì kín đáo, sẽ trả công cho anh em" (Mt 6,1-4).

Tiếp đó, Chúa Giêsu nói đến việc cầu nguyện và ăn chay. Chúa cũng khuyên đừng phô trương. Ai phô trương sẽ được coi là đã được phần thưởng rồi. Phần thưởng đó là tiếng khen của thế gian. Còn Chúa, Người sẽ ban thưởng cho kẻ làm việc lành trong âm thầm. Phần thưởng cao quý nhất là được tha tội, được cứu rỗi (x. Lc 18 và 9-14), được lớn lên trong đời sống thiêng liêng. Lời Chúa khuyên dạy về sự âm thầm rất cần cho chúng ta hiện nay.

Hiện nay, lời Chúa sau đây cũng đang là điểm tựa âm thầm cho tôi và cho nhiều người. Lời đó là lời Chúa Giêsu nói với thánh Phêrô: "Thầy bảo cho con biết, con là Phêrô, nghĩa là Tảng Đá. Trên tảng này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi" (Mt 16,18). Lời Chúa phán trên đây là nền tảng chắc chắn, để chúng tôi mến yêu nâng đỡ Đức Thánh Cha, và hàng giáo phẩm hiệp thông với Ngài.

Trong mọi trường hợp, các ngài vẫn theo gương Chúa Giêsu: "Phần tôi, tôi không tìm vinh quang cho mình. Có Đấng tìm cho tôi và xét xử cho tôi" (Ga 8,50). Lương tâm như thế luôn hướng về Chúa một cách trọn vẹn và tuyệt đối. Lương tâm ấy sẽ phải chiến đấu rất nhiều. Rất âm thầm, nhưng rất cam go. Dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Linh.

Như vậy, người âm thầm trong Thánh Linh sẽ rất năng động, nhưng sâu lắng. Một sự sâu lắng tự nó có sức làm chứng cho Chúa.

 2/ Sứ điệp về âm thầm qua nhóm nhỏ

Nhiều nhóm nhỏ cũng được Chúa dùng như những sứ điệp về sự âm thầm. Tiêu biểu là Thánh Gia.

Thánh Gia là một nhóm nhỏ chỉ gồm 3 người: Thánh Giuse, Đức Mẹ và Chúa Giêsu. Sự sống đạo đức của nhóm nhỏ này là rất âm thầm. Đạo đức của nhóm khởi đi từ những việc nhỏ của đời thường. Nhưng tất cả mọi việc nhỏ đó đều hướng về Thiên Chúa tình yêu. Hướng về bằng đức tin, đức cậy, đức ái.

Có thể nói, cầu nguyện là hồn của Thánh Gia. Cầu nguyện để xin ơn. Cầu nguyện để tạ ơn. Sẽ không sai, nếu nói rằng: đời sống Thánh Gia là một lời cầu nguyện kéo dài. Cầu nguyện liên lỉ. Cầu nguyện không ngừng. Bởi vì tâm trí lúc nào cũng yêu mến Chúa, lúc nào cũng sống vâng phục thánh ý Chúa. Âm thầm như thế là nguồn ơn thánh.

Sống thánh như thế giữa đời thường, Thánh Gia có những liên đới với mọi người xung quanh đủ mọi giai cấp đạo đời. Những liên đới đó mang sự sống đạo đức vào xã hội một cách âm thầm.

Từ Thánh Gia của Phúc Âm đến nay, trải qua bao thế hệ, Chúa đã dùng biết bao nhóm nhỏ kiểu Thánh Gia, để gởi sứ điệp về âm thầm cho Hội Thánh và xã hội. Những nhóm nhỏ đó là những gia đình đạo đức, là những tu hội nhỏ sống đời thánh hiến giữa đời, là những nhóm cầu nguyện phục vụ những người nghèo khổ, bệnh tật, cô đơn.

Cả đến những nhóm nhỏ vô danh suốt đời chỉ lo chu toàn bổn phận của mình, với lương tâm đạo đức, chấp nhận quên mình. Những nhóm nhỏ đó sống đời bé nhỏ, làm những việc nhỏ, nhưng đầy tình mến Chúa, yêu người, trung thành với Hội Thánh và tổ quốc. Họ sống cuộc đời ẩn dật với Thiên Chúa ẩn dật. Âm thầm mà đầy chân lý và tình yêu.

***

Thời nay là thời tái truyền giáo. Thiết tưởng đã đến lúc chúng ta nên khẳng định lại vai trò của âm thầm trong việc giữ đạo, bênh đạo và truyền đạo. Nếu đó là thánh ý Chúa, thì những phấn đấu để có sự âm thầm chính đáng phải được coi là một ơn gọi của chúng ta.

Sẽ là một lỗi lầm nguy hiểm, nếu chúng ta không vâng ý Chúa, để biết sống khiêm tốn âm thầm, như một ơn gọi làm chứng cho Chúa giữa thế giới ồn ào náo động hiện nay, với những tham vọng quyền lực và tham vọng thống trị đầy toan tính của Satan.

Long Xuyên ngày 11/6/2010


 

Bùi-Tuần 1842: ĐỨC MẸ MARIA trong đời sống thánh Gioan Baotixita

 

Thánh Gioan Baotixita có hai người mẹ. Mẹ đẻ là thánh nữ Isave. Mẹ thiêng liêng là Đức Mẹ Bùi-Tuần 1842


Thánh Gioan Baotixita có hai người mẹ. Mẹ đẻ là thánh nữ Isave. Mẹ thiêng liêng là Đức Mẹ Maria.

Khi bà Isave mang thai Gioan được 6 tháng, thì Đức Mẹ Maria đến viếng thăm bà. Lúc đó Đức Mẹ mới chịu thai Đức Giêsu.

Ngay trong giây phút đầu tiên Đức Mẹ cất tiếng chào bà Isave, thì hài nhi Gioan đã đón nhận được ơn thánh hoá đến từ Chúa Giêsu. Sự kiện đó cho thấy: Thánh Gioan đã gặp được Chúa Cứu Thế nhờ Đức Mẹ và qua Đức Mẹ. Từ đó, ơn gọi của thánh Gioan Tiền Hô luôn theo con đường Đức Mẹ Maria.

1. Thực vậy, thánh Gioan đã đón nhận Đức Kitô suốt đời Ngài trong một trái tim giống Trái tim Đức Mẹ Maria.

Đức Mẹ đón nhận Đức Kitô hằng ngày suốt đời mình trong trái tim cầu nguyện và suy niệm của Mẹ.

Thánh Gioan cũng có một trái tim cầu nguyện và suy niệm giống Đức Mẹ. Việc cầu nguyện và suy niệm của Ngài được thực hiện trong những tháng năm sống trong đền thờ với cha mẹ, và trong thời gian dài một mình ở sa mạc thanh vắng.

Nhờ cầu nguyện và suy niệm, trái tim thánh Gioan trở thành một thứ đất tốt, sẵn sàng đón nhận hạt giống Đức Kitô. Ngài tiếp nhận những tâm tình của Chúa, Ngài hiểu kế hoạch cứu độ của Chúa, Ngài biết thực thi thánh ý Chúa. Trái tim như thế luôn sống khiêm nhường, thanh vắng, tập trung vào Đức Kitô.

2. Ơn gọi của thánh Gioan không phải chỉ là đón nhận Đức Kitô, mà còn là dọn đường cho Đức Kitô đến với mọi người. Ngài cũng thực hiện việc dọn đường cho Đức Kitô bằng một trái tim như Đức Mẹ.

Đức Mẹ đã dọn đường cho Đức Kitô đến với mọi người bằng một trái tim luôn sống từ bỏ mình, luôn xin vâng, vâng đến cùng, vâng đến như chết lặng dưới cây thánh giá Chúa, để cùng với Đức Kitô cứu chuộc nhân loại.

Thánh Gioan cũng có một trái tim như Đức Mẹ. Từ bỏ mình, sống khổ hạnh, dấn thân. Ngài giới thiệu Chúa Cứu Thế không chỉ bằng lời rao giảng sám hối, mà nhất là bằng đời sống hy sinh, hy sinh đến cùng, hy sinh chính mạng sống, để cùng với Đức Kitô cải thiện nhân thế.

Thánh Gioan khi đón nhận Đức Kitô và dọn đường cho Đức Kitô, Ngài đã tuyên xưng Đức Kitô là Tin Mừng cứu độ, là trung tâm của đời Ngài. Ngài đi trước và mời gọi chúng ta đi theo.

3. Nếu cầu nguyện và suy niệm là con đường Đức Mẹ và thánh Gioan đón nhận Tin Mừng, thì những việc đó phải được chúng ta quan tâm và dành cho những thời gian trân trọng.

Nếu từ bỏ mình, sống vâng phục ý Chúa là cách Đức Mẹ và thánh Gioan dọn đường cho Tin Mừng đến với mọi người, thì chúng ta phải luôn kèm những việc đó với lời rao giảng của ta.

Tất cả những việc đó đều không dễ, nhưng dứt khoát không thể thay thế được. Chúng ta hãy nhờ Đức Mẹ, Đức Mẹ sẽ đào tạo chúng ta.

Đức Mẹ đào tạo chúng ta, không phải một lúc một ngày, nhưng là thường xuyên.

Đức Mẹ sẽ gởi tới từng người chúng ta ánh sáng của Mẹ. Mẹ gởi qua nhiều ngả khác nhau, như một lời Chúa, một đoạn sách báo đạo đức, một gương sáng, một cuộc tiếp xúc, vv...

Khi chúng ta cảm thấy đó là ánh sáng của Mẹ, chúng ta hãy dừng lại trong tâm tình cầu nguyện. Nhờ cầu nguyện, ánh sáng ấy sẽ trở nên mạnh hơn, rõ hơn, đụng tới đời ta một cách thấm thía hơn và cho ta có một cái nhìn cởi mở hơn. Nhờ đó, ý muốn của ta sẽ được tác động, giúp chúng ta biết chọn lựa một cách cụ thể một thái độ, một lời nói, một hành động có sức đón nhận Tin Mừng một cách sâu sắc hơn và dọn đường cho Tin Mừng một cách thiết thực hơn.

Trong mọi trường hợp, những người được Đức Mẹ đào tạo sẽ luôn ngoan ngoãn với ơn Chúa Thánh Thần, để làm chứng cho Chúa, ưu tiên bằng đời sống nội tâm của mình giống Trái tim Đức Mẹ Maria.

Chúng ta hãy năng xin Đức Mẹ đến với ta và ở lại với ta.

Nguyện xin thánh Gioan Baotixita cầu bầu cho chúng ta biết sống thân mật với Đức Mẹ Maria, để nhờ Mẹ, chúng ta biến đón nhận Tin Mừng và dọn đường cho Tin Mừng là Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta. Amen.

Bài chia sẻ trong thánh lễ Sinh nhật thánh Gioan Tẩy Giả tại nhà nguyện Toà Giám Mục Long Xuyên, Ngày 24/6/2010


 

Bùi-Tuần 1843: TIẾNG KÊU TRONG SA MẠC


 1.

 

Khi phái đoàn dân Do Thái đến hỏi thánh Gioan: Ông là ai? Thì Ngài chối Ngài không là Đấng Bùi-Tuần 1843


Khi phái đoàn dân Do Thái đến hỏi thánh Gioan: Ông là ai? Thì Ngài chối Ngài không là Đấng Kitô, không là Êlia, không là bất cứ ngôn sứ nào. Ngài chỉ nhận mình là "tiếng kêu trong sa mạc, dọn đường cho Đức Chúa đến" (x. Ga 1,19-23).

"Tiếng kêu trong sa mạc", lời đó không do thánh Gioan tự đặt ra, nhưng là lời trích từ sách tiên tri Isaia.

Với cái tên "tiếng kêu trong sa mạc", thánh Gioan nhận mình là người rao giảng. Các Phúc Âm, khi nói về thánh Gioan, đều nhấn mạnh đến việc rao giảng của Ngài như một sứ vụ đặc biệt.

Ngài rao giảng ở hội đường thì ít, mà rao giảng giữa đời thì nhiều. Không gian Ngài đi rao giảng là cả một vùng rộng mênh mông, như một sa mạc bát ngát. Rao giảng của Ngài vang lên trong xã hội như tiếng kêu vang dội trong sa mạc.

 2.

Việc rao giảng của thánh Gioan có ba đặc điểm sau đây. Xin kể vắn tắt:

Đặc điểm thứ nhất là tập trung vào việc giới thiệu Đức Giêsu là Đấng Cứu thế. Đức Kitô phải được tôn vinh. Còn Gioan thì tự hạ quên mình.

Đặc điểm thứ hai là nhấn mạnh đến việc sám hối. Mọi người phải bỏ đàng tội. Nếu không, sẽ bị hình phạt nặng nề đời sau.

Đặc điểm thứ ba là lời rao giảng của thánh Gioan đã được kèm theo gương sáng đời sống cầu nguyện, suy gẫm, nhất là tinh thần khổ chế, khó nghèo, tĩnh lặng, hy sinh.

Ba đặc điểm trên đây đã làm cho lời rao giảng của thánh Gioan trở thành thức ăn thiêng liêng có chất lượng cao. Chúa Thánh Thần hoạt động trong lời thánh Gioan giảng. Phần thánh Gioan, Ngài cũng đã góp phần mình cộng tác với ơn Chúa. Trong sự cộng tác với ơn Chúa, thánh Gioan đã chấp nhận nhiều đau đớn. Đau đớn thể xác lẫn đau đớn tâm hồn. Đau khổ sau cùng là sự Ngài bị bắt, và bị giết chết.

Như vậy, thánh Gioan đã dọn đường cho Chúa, qua lời rao giảng, qua đời sống rao giảng, và qua cái chết rao giảng.

 3.

Thánh Gioan Baotixita là gương cho chúng ta noi theo.

Mọi người chúng ta, dù ở địa vị nào, đều có thể trở thành những người rao giảng. Rao giảng thời nay có nhiều cách. Nhưng bất cứ cách nào cũng đừng quên ba đặc điểm về Tin Mừng của thánh Gioan.

"Khốn cho tôi, nếu tôi không rao giảng Tin Mừng" (1 Cr 9,10). Tin Mừng là Đức Kitô, Đấng Cứu thế giàu lòng thương xót. Tin Mừng là sự sám hối để được ơn tha tội. Tin Mừng là đời sống thánh thiện kết hợp với Chúa là hạnh phúc vô biên.

Để biết rao giảng Tin Mừng như thế, chúng ta cần được Chúa Thánh Thần đào tạo. Đào tạo hằng ngày. Đào tạo thường xuyên.

Một trường đào tạo tuyệt vời, mà Chúa Thánh Thần dành cho các người Chúa chọn, là trái tim Đức Mẹ. "Một trái tim bị lưỡi gươm thâu qua" (Lc 2,35). Đức Mẹ là mẹ thiêng liêng của thánh Gioan Baotixita.

Khi chúng ta sống thân mật bên Đức Mẹ, Đức Mẹ sẽ thanh luyện trái tim chúng ta, để nó dần dần được nên giống trái tim Đức Mẹ. Để rồi, trái tim chúng ta sẽ biết đón nhận Đức Kitô với tất cả tâm tình của Người, cả với cuộc tử nạn của Người. Nhờ vậy, mà chúng ta sẽ thành của lễ dâng lên Chúa. Sống là của lễ. Chết cũng là của lễ. Tất cả đều dọn đường cho Chúa.

 4.

Chúng ta tất cả đều là những người yếu đuối hèn mọn. Nhưng tất cả đều được Chúa gọi hãy trở thành người rao giảng Tin Mừng trong môi trường mình sống. Lời gọi đó là khẩn thiết.

Cảm tạ Chúa, vì hiện nay Hội Thánh Việt Nam đang có nhiều người đáp lại lời Chúa gọi. Họ là giáo sĩ, là tu sĩ, là giáo dân. Họ rao giảng theo khả năng của họ, trong hoàn cảnh của họ. Người thì công khai. Người thì âm thầm. Trong nhiệm vụ rao giảng, họ luôn luôn xin Chúa Thánh Thần hướng dẫn, để biết phân biệt những gì là Tin Mừng đích thực, những gì là Tin Mừng giả. Vì thời thế hiện nay là rất phức tạp. Họ xác tín lời Chúa "Không có Thầy, chúng con chẳng làm gì được" (Ga 15,5,).

Xin hết lòng cảm tạ Chúa đã thương ban cho Hội Thánh một "tiếng kêu trong sa mạc" chứa đầy Tin Mừng. Tiếng kêu ấy không ngừng sinh ra cho Hội Thánh vô vàn hoa trái thiêng liêng, dọn đường cho Chúa đến.

Cúi xin thánh Gioan Baotixita là "tiếng kêu trong sa mạc" cầu bầu cho tất cả chúng ta, để chúng ta biết tham gia vào việc rao giảng của Ngài một cách thích hợp theo thánh ý Chúa trong hoàn cảnh Việt Nam hôm nay.

Bài chia sẻ trong thánh lễ Sinh nhật thánh Gioan Baotixita tại nhà nguyện Toà Giám Mục Long Xuyên, Ngày 24/6/2010


 

Bùi-Tuần 1844: ĐÔI LỜI VỀ "DẤU ẤN"

 

Suốt mấy tháng nay, tuần báo "Công giáo và Dân Tộc" được nhiều độc giả quan tâm đặc biệt Bùi-Tuần 1844


Suốt mấy tháng nay, tuần báo "Công giáo và Dân Tộc" được nhiều độc giả quan tâm đặc biệt, nhờ loạt bài "Dấu ấn 50 năm Hàng Giáo Phẩm Việt Nam" của nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu.

Loạt bài đó đã khơi dậy trong tôi nhiều kỷ niệm. Tôi nhớ về thời gian 50 năm, mà tác giả đề cập tới. Tôi đã sống trong thời gian ấy. Đời linh mục và Giám mục của tôi dính liền với những biến cố suốt chặng đường lịch sử quan trọng đã qua.

50 năm là thời gian không dài. Nhưng đây là thời gian đầy những chuyển biến. Trong thời gian đó, đạo và đời cùng sống chung một lịch sử. Có lúc hai bên gần nhau. Có lúc hai bên xa nhau. Thậm chí có lúc hai bên xung khắc nhau kịch liệt.

Có những điều không viết ra được trên giấy. Nhưng đã ghi khắc trong lòng, làm thành những vết thương lâu lành.

Tuy nhiên, không phải bầu khí gay gắt nghi kỵ đau thương đã là tất cả. Bởi vì vẫn xuất hiện nhiều thiện chí thiện tâm. Họ giúp cho hai bên gần lại bên nhau, gắn kết lại với nhau.

Riêng về phía Công giáo, động lực hoà giải gồm nhiều yếu tố. Như lời Kinh Thánh, tư tưởng thần học, nền tảng tu đức, những văn kiện mục vụ. Yếu tố quan trọng hơn cả là những con người có cái tâm và cái tầm. Tâm là lòng tốt. Tầm là tầm nhìn xa rộng. Và đó là những dấu ấn đẹp.

Nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu đã phác hoạ dấu ấn đẹp đó qua hình ảnh Hàng Giáo Phẩm Việt Nam. Thật là một công phu đáng mừng. Với công trình này, tác giả được coi là một chứng nhân lịch sử, yêu Hội Thánh và yêu Tổ Quốc. Cho tới tuổi ngoài 90, tác giả hôm nay vẫn là con người xây dựng hoà giải.

Xin thân ái chúc người bạn già nhiều thành công mới.

Giám Mục GB. Bùi Tuần

Long Xuyên, ngày 22/6/2010


 

Bùi-Tuần 1845: XIN ĐỨC MẸ LÊN TRỜI CỨU GIÚP HIỆN TÌNH ĐỨC TIN

 

Đức Mẹ Maria đã được hồn xác lên trời. Trời nói đây là thiên đàng. Thiên đàng là quê hương, mà Bùi-Tuần 1845


Đức Mẹ Maria đã được hồn xác lên trời. Trời nói đây là thiên đàng. Thiên đàng là quê hương, mà mọi người con Chúa đều nhắm tới. Được vào thiên đàng là hạnh phúc sau cùng, mà mọi người tin Chúa đều mong đợi nhất.

Để được lên thiên đàng, phải đi đúng đường. Đường đó đã được đức tin dạy.

Giáo lý đức tin không thay đổi. Nhưng thế giới những người tin đã và đang thay đổi.

 1/ Khủng hoảng đức tin

Mới rồi, tại Fatima, ngày 12 tháng 5 năm 2010, Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI đã nói: "Thời nay, đức tin tại nhiều vùng rộng lớn đang trong nguy cơ tàn lụi". Đức Thánh Cha muốn nói tới những nơi đã có đức tin. Những nơi ấy là những vùng rộng lớn. Chúng ta được phép hiểu đó là những châu lục, những nước, những miền, những giáo phận. Lời cảnh báo của Đức Thánh Cha đáng được chúng ta suy nghĩ.

Thực rất đau lòng, khi phải nhận rằng: Đang có khủng hoảng về đức tin trong Hội Thánh. Khủng hoảng đó có những mức độ khác nhau. Nơi thì đổ vỡ như một toà nhà bị phá. Nơi thì khô cạn, như một dòng sông thiếu nước. Nơi thì hoang vu, như một cánh đồng nhiều cỏ ít lúa.

Khủng hoảng nặng nhất về đức tin hiện nay có thể nhận thấy ở mấy điểm này đang xảy ra ở nhiều nơi:

- Sự kiêu căng và đời sống buông thả.
- Mất ý thức về tội.
- Giảm bớt lòng tin đối với các bí tích.
- Nghi ngờ sự hiện hữu của thiên đàng, hoả ngục.
- Trốn tránh mầu nhiệm thánh giá.
- Coi nhẹ đời sống nội tâm.
- Sự cứu độ nhân loại sẽ được thực hiện bằng nhiều cách, mà không cần đến Thiên Chúa.
- Hạ giá các vấn đề đạo đức, mà chỉ trọng các vấn đề kinh tế và hưởng thụ.
- An tâm với những hình thức giữ đạo bề ngoài, còn trọng tâm Phúc Âm thì bỏ.

Tại Việt Nam, khủng hoảng về đức tin còn nhẹ, nhưng không vì thế mà được chủ quan coi thường.

 2/ Nguyên nhân khủng hoảng

Nếu tìm hiểu nguyên nhân sự sa sút của tình hình đức tin và đạo đức, chúng ta có nhiều cái nhìn.

Theo cái nhìn của các thánh tông đồ xưa, tình hình sa sút đức tin và đạo đức là do Satan, các ngôn sứ giả và các thói xấu chung của tập thể và tính yếu đuối của con người.

Theo cái nhìn của các bậc có trách nhiệm hiện nay, tình hình sa sút phần lớn là do sự xuất hiện và bành trướng các chủ thuyết xấu, các phong trào tệ hại trong xã hội. Như chủ thuyết thế tục hoá, tương đối hoá. Như phong trào hưởng thụ, thực dụng, kiêu căng tự đắc.

Nguyên nhân phổ thông nhất là sự bỏ dần việc cầu nguyện. Sự phát triển tính kiêu căng, tính ác độc và thói sống buông thả cũng là nguyên nhân đáng kể của sự suy thoái đức tin.

 3/ Hậu quả cuộc khủng hoảng

Dù nguyên nhân là gì, thì sự sa sút về đức tin và về đạo đức cũng chắc chắn sẽ đưa tới tình trạng nguy hiểm, đó là tội lỗi sẽ tăng, do đó hình phạt cũng sẽ tăng và sẽ mau xảy tới.

Kinh Thánh quả quyết: Hậu quả dành cho kẻ phạm tội sẽ là hình phạt. Hình phạt nặng nhất sẽ là không được lên thiên đàng, hơn nữa còn phải bị ném xuống hoả ngục, chịu hành hạ muôn đời muôn kiếp.

Hình phạt bởi tội là rất khủng khiếp. Khủng khiếp ở đời sau, và cũng có thể ngay ở đời này.

Chúa Giêsu xuống thế làm người, là để cứu con người khỏi sa vào đàng tội, kẻo sẽ phải chịu khổ cực, nhưng sẽ được lên thiên đàng.

Đức Mẹ, những lần hiện ra ở La Salette, Lộ Đức, Fatima, đều khuyên nhủ loài người hãy sám hối, bỏ đàng tội, trở về với Chúa. Cùng với lời khuyên đó, Đức Mẹ cảnh báo nhiều hình phạt sẽ tới, nếu người ta cứ tiếp tục đi sâu vào con đường tội lỗi.

 4/ Những việc nên làm

Mặc dù có những khuyên răn và cảnh báo, tình hình sa sút về đức tin và đạo đức vẫn tiếp tục tồn tại và phát triển. Trước tình hình này, chúng ta nên làm gì?

Thiết nghĩ, việc đầu tiên ta nên làm là hãy đến bên Đức Mẹ, cầu nguyện với Đức Mẹ, ở lại với Đức Mẹ, khiêm tốn hỏi Đức Mẹ và lắng nghe Đức Mẹ.

Chúng ta sẽ được Đức Mẹ cho biết: Chính bản thân ta cũng rất cần nhạy bén về nguy cơ suy thoái đức tin và đạo đức. Biết đâu chính ta đã và đang góp phần vào tình hình suy thoái hiện nay.

Tác giả sách Khải Huyền cho thấy: Nguyên nhân góp phần vào việc suy thoái đạo đức và đức tin nhiều khi không phải là những tội ghê gớm, mà mới chỉ là những tình trạng không đủ tích cực. Như sự nguội lạnh (x. Kh 3,16), sự dung túng những kẻ bê bối (x. Kh 2,20), sự chấp nhận những thầy dạy điều sai lạc (x. Kh 2,15), sự đánh mất tình yêu thuở ban đầu (x. Kh 2,4), thiếu tỉnh thức (x. Kh 3,2).

Việc thứ hai nên làm tiếp đó là khẩn khoản xin Đức Mẹ ban ơn giúp chúng ta đón nhận ơn đức tin.

Thực chất đức tin không phải là chấp nhận suông một hệ thống tín điều, mà là khiêm tốn đón nhận Lời Chúa, tình yêu Chúa, ý Chúa, đời sống của Chúa và chính Chúa Giêsu. Thái độ mở lòng ra, khiêm tốn đón nhận, để rồi gắn bó với Chúa Giêsu, sẽ làm cho ta cảm nhận được ánh sáng và ngọt ngào thiêng liêng. Từ đó đời sống đức tin của ta sẽ là dấn thân đi trên con đường dẫn tới thiên đàng một cách có bảo đảm chắc chắn.

Việc thứ ba thiết tưởng nên làm là xin Đức Mẹ giúp chúng ta được nên giống Đức Mẹ ở thái độ "xin vâng ý Chúa". Chúa Giêsu phán: "Không phải những người thưa với Thầy: Lạy Chúa, lạy Chúa, là được vào Nước Trời cả đâu. Nhưng là những người thi hành ý muốn của Cha Thầy, là Đấng ngự trên trời, mới được vào mà thôi" (Mt 7,21). Ý muốn rõ ràng nhất và quan trọng nhất của Chúa là chúng ta yêu thương nhau và ở lại trong tình yêu của Chúa. Với mọi dấn thân, mà bác ái đòi hỏi.

Sau cùng, chúng ta cần nhận thức điều này:

Đức tin là một hồng ân của Chúa. Hồng ân đó kèm theo một chương trình của Chúa. Những người được Chúa ban ơn đức tin cũng nhận được một sự Chúa sai đi. Qua đời sống thường ngày, chúng ta sẽ làm chứng về Đấng mà chúng ta tin. Vì "Tôi biết tôi tin vào ai" (2 Tm 1,12).

Cúi xin Đức Mẹ trên trời thương cứu giúp tình hình đức tin của đoàn con đang hành hương trên cuộc sống trần gian khổ ải này.

Long Xuyên, ngày 11/7/2010


 

Bùi-Tuần 1846: TÌNH YÊU GIÀU LÒNG THƯƠNG XÓT

 

Theo truyền thống đạo Công giáo chúng ta, Thiên Chúa được trình bày và giới thiệu dưới nhiều Bùi-Tuần 1846


Theo truyền thống đạo Công giáo chúng ta, Thiên Chúa được trình bày và giới thiệu dưới nhiều hình ảnh, như:

Thiên Chúa là Đấng tự hữu,
Thiên Chúa là Đấng tạo thành,
Thiên Chúa là Chúa các đạo binh,
Thiên Chúa là Đấng phán xét, thưởng phạt,
Thiên Chúa là Đấng toàn năng.
vv...

Tất cả những hình ảnh đó đều đúng và đẹp. Tuy nhiên, nếu muốn chọn một hình ảnh nào thích hợp nhất cho thời đại này và cho Việt Nam hôm nay, thì thiết nghĩ hình ảnh đó sẽ là "Thiên Chúa tình yêu giàu lòng thương xót" (1 Ga 4,8; Ep 2.4)

Nhân loại thời nay rất cần tình yêu. Tương quan xã hội hiện nay kêu gọi lòng xót thương đối với những kẻ khổ đau, nghèo khó, bệnh tật, cô đơn.

Nói chung, thời đại này khát khao một Thiên Chúa là tình yêu thương xót. Để họ tôn thờ. Để họ tựa nương. Để họ tìm được ý nghĩa cuộc đời.

Chúng ta nên coi khát vọng trên đây là một dấu chỉ của thời đại. Từ nhìn nhận đó, chúng ta sẽ chấn chỉnh lại đời sống đạo của chúng ta, nhất là trong các lãnh vực như: cử hành đức tin, mục vụ, truyền giáo và đào tạo.

 1/ Lãnh vực cử hành đức tin

Cử hành đức tin gồm những hình thức chủ ý tuyên xưng đức tin, tạ ơn đức tin, quảng bá đức tin, nêu gương sáng đức tin.

Trong mọi hình thức cử hành thường có kinh đọc, bài hát, bài giảng, lời nguyện, lời tuyên xưng, lời tuyên hứa, cách sắp xếp, trật tự.

Tất cả mọi chi tiết đó đều nhắm vào một hướng chung, đó là giới thiệu Thiên Chúa của lòng tin. Chúng ta giới thiệu Thiên Chúa, mà chúng ta tin, dưới hình ảnh nào? Thiết nghĩ, sẽ rất hợp với dấu chỉ thời đại, nếu chúng ta giới thiệu Thiên Chúa, mà chúng ta tin, là Thiên Chúa tình yêu giàu lòng thương xót.

Những chứng từ chúng ta sẽ trình bày đều rút ra từ Phúc Âm, từ quá khứ lịch sử Hội Thánh, nhất là từ đời sống hiện tại của con cái Chúa. Đời sống cá nhân, đời sống cộng đoàn, tất cả đều mang dấu ấn tình yêu xót thương của Chúa. Dấu ấn về sự Chúa xót thương chúng ta. Dấu ấn về sự chúng ta thương yêu nhau. Dấu ấn về sự chúng ta xót thương những kẻ đau khổ, theo gương của Chúa.

Tuyên xưng đức tin bằng lời nói và bằng việc làm có thực chất tình yêu thương xót như thế sẽ được Chúa chấp nhận và dễ lôi kéo được lòng người.

 2/ Lãnh vực mục vụ

Mục vụ theo dấu chỉ của thời đại hiện nay là xây dựng những tương quan đậm đà tình yêu thương xót.

Hình ảnh đẹp của mục vụ tình yêu xót thương là hình ảnh người Samaritanô tích cực chăm sóc một nạn nhân nằm ở vệ đường (x. Lc 10,29-37).

Hình ảnh thuyết phục của mục vụ tình yêu xót thương là hình ảnh người cha đón nhận đứa con phung phá trở về (x. Lc 15,11-32).

Hình ảnh cảm động của mục vụ tình yêu xót thương là hình ảnh người chủ chiên đi tìm con chiên lạc (x. Lc 15,4-7).

Những hình ảnh sống động về mục vụ của tình yêu xót thương đang xuất hiện tại Việt Nam hôm nay là khá phong phú. Nơi nhiều nơi ít. Nếu so sánh những dạng công khai với những dạng âm thầm, chúng ta có thể quả quyết là dạng âm thầm khá mạnh và đem lại nhiều hiệu quả rất tốt.

Âm thầm giúp đỡ những người nghèo khổ. Âm thầm nâng đỡ những người thất vọng. Âm thầm chia sẻ nỗi lòng của những cuộc đời bị bỏ rơi. Biết bao chi tiết âm thầm như thế của mục vụ tình yêu xót thương đang làm cho nhiều nơi của Hội Thánh Việt Nam trở thành một mùa xuân thiêng liêng đầy hứa hẹn.

 3/ Lãnh vực rao giảng Tin Mừng

Lãnh vực rao giảng Tin Mừng ám chỉ lãnh vực truyền giáo. Việc truyền giáo được thực hiện bằng nhiều cách. Một trong những cách đang được nói tới nhiều hiện nay là phát triển con người và xã hội.

Trong việc phát triển con người và xã hội, nhiều môn đệ Chúa đã để ý đặc biệt đến việc xây dựng những tương quan tình yêu thương xót đối với những tầng lớp nghèo khổ. Những tương quan đó được thực hiện trên nền tảng Lời Chúa:

"Thần Khí Chúa ngự trên tôi,
vì Chúa đã xức dầu cho tôi,
để tôi loan báo Tin Mừng cho người nghèo khó.
Người đã sai tôi đi công bố Tin Mừng
cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha,
cho người mù biết họ được sáng mắt
trả lại tự do người bị áp bức.
Công bố một năm hồng ân của Chúa" (Lc 4,18-19).

Kinh nghiệm cho thấy: Liên đới với những người nghèo khổ, cứu giúp những người bất hạnh, nâng cao đời sống tầng lớp thấp kém, xây dựng tương quan tình yêu với mọi người, tất cả những từ thiện bác ái như thế đối với con người đã chứng tỏ được sức mạnh của Tin Mừng.

Lúc đó, lãnh vực rao giảng Tin Mừng là rất rộng. Khả năng rao giảng Tin Mừng là rất bất ngờ. Nhiều người quê mùa lại có một cái tâm giàu tình thương xót hơn nhiều người học cao chức trọng.

 4/ Chiều sâu của các việc bác ái

Khi thấy các hình thức tình yêu thương xót phát triển trong các lãnh vực truyền giáo, mục vụ và cử hành đức tin, chúng ta có lý do để mừng. Nhưng, đó mới là những hiện tượng. Cần đi vào chiều sâu, để sự vui mừng của chúng ta được vững bền.

Chiều sâu của những hình thức tình yêu thương xót, sẽ là thế này: Giá trị của những việc chúng ta làm tuỳ thuộc rất nhiều ở ơn thánh Chúa kèm theo những việc đó. Hơn nữa, giá trị đó còn tuỳ thuộc rất nhiều ở sự Chúa Giêsu sống trong ta và hành động trong ta và qua ta.

Chiều sâu như thế đòi hỏi chúng ta phải có một nền tu đức chiêm niệm đi đôi với nền tu đức hoạt động.

Thiếu chiều sâu của chiêm niệm, nhiều biểu dương hoành tráng về đức tin đã trở thành những lễ hội, nhiều việc từ thiện đã trở thành những cạnh tranh, nhiều tương quan xã hội đã trở thành những thành tích của nền văn hoá thế tục, hoặc phương tiện xây dựng lợi ích tư riêng.

Nhìn ngắm Chúa, lắng nghe Chúa, tỉnh thức đón Chúa, hít thở sự sống của Chúa, bắt chước Chúa. Tất cả những việc đó sẽ được thực hiện thường xuyên. Sự sống mật thiết với Chúa như vậy sẽ làm nên chiều sâu cần thiết cho mọi lãnh vực mang tên "tình yêu xót thương" của chúng ta.

Như vậy, vấn đề quan trọng đặt ra cho Hội Thánh Việt Nam chúng ta là đào tạo những người làm chứng cho Chúa giàu tình yêu thương xót. Đào tạo chiều sâu và chiều rộng. Thiết tưởng đào tạo này nên có chỗ trong mọi chương trình giáo lý và tu đức.

Long Xuyên, ngày 14/7/2010


 

Bùi-Tuần 1847: SỐNG ĐỨC TIN TRONG ĐỜI THƯỜNG


Dịp lớp Vô Nhiễm (1965), cựu chủng sinh Long Xuyên Họp mặt tại Toà Giám Mục Long Xuyên, Ngày 8 tháng 8 năm 2010

1.

 

Cuộc họp lớp hôm nay là một biến cố hiếm hoi và quý báu. Có thể nói: Đây là một dịp may, trước Bùi-Tuần 1847


Cuộc họp lớp hôm nay là một biến cố hiếm hoi và quý báu. Có thể nói: Đây là một dịp may, trước đây chưa hề có, và có lẽ sau này chẳng có lần thứ hai. Ít là đối với tôi, người thầy cũ, năm nay đã 83 tuổi.

Vì thế, để đánh dấu cuộc gặp gỡ thân tình này, tôi muốn chia sẻ với anh em một kinh nghiệm riêng của tôi. Kinh nghiệm này đã giúp tôi rất nhiều trong suốt cuộc đời. Hy vọng nó cũng giúp anh em trong mọi ngả đường anh em sinh sống.

Đề tài chia sẻ là: Một cách sống đức tin trong đời thường.

 2.

Đời thường là đời sống thường ngày. Mỗi ngày đối với tôi đều có giá trị đời đời, nhờ ở sự tôi sống đức tin.

Sống đức tin thường ngày của tôi diễn tiến thế nào? Xin trình bày vắn tắt như sau:
Tôi nói với Chúa bốn lời chân thành tha thiết:

a/ Con tin con được Chúa yêu thương

Tôi nói lời đó một cách âm thầm với tâm tình một kẻ hèn hạ. Tôi xin Chúa Thánh Thần cho tôi được nhìn thấy tình yêu Chúa dành cho tôi. Dần dần, Chúa cho tôi nhìn thấy tình yêu ấy dưới nhiều hình thức cụ thể, với nhiều dấu ấn còn rõ nét trong mọi chặng đường đời tôi. Cái nhìn đó đã làm cho tôi càng vững tin rằng: Chúa yêu thương tôi. Tôi cảm tạ Chúa.

b/ Con tin con được Chúa cứu độ

Tôi nói với Chúa lời đó như một lời cầu nguyện âm thầm với tâm tình một kẻ khốn khổ. Chúa Thánh Thần mở lòng trí tôi, và tôi nhìn thấy công trình Chúa cứu độ tôi. Chúa đã cứu tôi khỏi muôn vàn khốn khó về mọi mặt. Có thể nói: Chúa đã cứu tôi một cách đặc biệt, để tôi có ngày hôm nay. Cái nhìn đó khiến tôi tín thác mình nơi Chúa.

c/ Con tin con được Chúa thánh hoá

Tôi nói lời đó với Chúa trong tâm tình một kẻ tội lỗi. Chúa Thánh Thần mở mắt linh hồn tôi, tôi nhìn thấy sự xấu xa hèn hạ của tôi đã được Chúa gột rửa. Bằng Lời Chúa, bằng các bí tích, và bằng nhiều cách riêng tư. Tôi khám phá thấy sự sống của Chúa đã được Chúa chia sẻ cho tôi. Tôi ngợi khen Chúa.

d/ Con tin con được Chúa kêu gọi

Tôi nói lời đó với Chúa trong tâm tình một kẻ bất xứng yếu hèn. Chúa Thánh Thần mở lòng trí tôi. Tôi nhận ra tiếng Chúa đã từng gọi tôi trong lương tâm. Chúa thúc giục tôi làm việc lành này, tránh sự xấu kia. Tôi được Chúa kêu gọi dấn thân cho những bổn phận về gia đình, về Hội Thánh, về quê hương đất nước. Tôi cảm tạ Chúa.

 3.

Bốn câu tôi nói trên đây là một thứ kinh Tin Kính của tôi. Với bốn câu đó, tôi cảm thấy đức tin là một sự đón nhận Chúa, là một sự gắn bó với Chúa, là một tương quan mật thiết với Chúa.

Đức tin được tôi cảm nhận như một cuộc gặp gỡ thân mật với Chúa, để đón nhận sự sống của Chúa. Từ đó, tôi xác tín là tôi thuộc về Chúa.

Khi xác tín như thế, tôi thấy đời tôi mang ý nghĩa cao đẹp. Đời tôi là một chuyến đi về với Chúa. Trên suốt chuyến đi này, tôi cố gắng thực thi ý Chúa. Ý Chúa rõ ràng nhất là: Chúa đã yêu thương chúng ta thế nào, chúng ta cũng hãy yêu thương nhau như vậy.

Điều sau cùng tôi xin được nói lên, đó là: Đức tin là một ơn huệ lớn nhất Chúa ban cho chúng ta. Với đức tin, chúng ta được hưởng một hạnh phúc tuyệt vời, cao quý.

Chúng ta phải biết đón nhận.
Chúng ta phải biết cảm tạ.
Chúng ta phải biết cộng tác.
Chúng ta phải biết đền đáp.

Xin chúc cho nhau luôn là những chứng nhân của đức tin về Thiên Chúa tình yêu.

Xin Đức Mẹ Maria Vô nhiễm nguyên tội thương che chở chúng ta trong mọi hoàn cảnh, nhất là trong những bất ngờ xảy đến thử thách đức tin của chúng ta.

Xin Thiên Chúa chúc lành cho tất cả chúng ta.

Long Xuyên, ngày 8 tháng 8 năm 2010

+ GB. Bùi Tuần

Long Xuyên, ngày 8/8/2010


 

Bùi-Tuần 1848: NHỮNG KHÓ KHĂN PHỨC TẠP


CẦN BIẾT TRONG VIỆC TRUYỀN GIÁO

 

Truyền giáo đang là đề tài được nói đến nhiều trong Hội Thánh Việt Nam hiện nay. Nói nhiều không Bùi-Tuần 1848

Truyền giáo đang là đề tài được nói
đến nhiều trong Hội Thánh Việt Nam hiện nay. Nói nhiều không có nghĩa là thực hiện nhiều. Bởi vì thực hiện việc truyền giáo là chuyện không dễ.

Đôi khi có những thông tin vẻ ra cảnh truyền giáo nơi này nơi kia là rất phấn khởi, nhiều người xin theo đạo, những người truyền giáo được đón tiếp nồng hậu, xây cất nhà thờ và các cơ sở tôn giáo được diễn tiến tốt đẹp, lễ lạy được tổ chức tưng bừng.

Những thông tin rực rỡ đó, tuy lạc quan, nhưng thiết tưởng nên đón nhận một cách thận trọng. Thận trọng nghĩa là kết quả tốt đẹp hôm nay chưa chắc sẽ còn tốt đẹp trong tương lai. Tốt đẹp dễ dãi của nơi này không thể là bằng chứng để khen người này chê chốn khác. Tốt đẹp ở bề mặt chưa chắc đã là tốt đẹp ở chiều sâu.

Dứt khoát không phải bi quan là điều tốt trong việc truyền giáo. Tất nhiên chúng ta luôn phải sống trong hy vọng. Nhưng hy vọng lành mạnh không miễn trừ cho chúng ta khỏi chính xác trong cái nhìn về thực tại truyền giáo. Ở đây chỉ xin đề cập tới thực tại truyền giáo thời Chúa Giêsu. Thực tại đó có rất nhiều khó khăn phức tạp.

Có thể nói là: Ba năm rao giảng của Chúa Giêsu là thời gian Chúa Giêsu truyền giáo. Người truyền giáo cho dân Israel. Việc truyền giáo của Người đã gặp nhiều khó khăn. Hiểu biết những khó khăn của Chúa Giêsu sẽ giúp cho chúng ta hiểu biết những khó khăn của chúng ta trên đường truyền giáo.

 1/ Đời truyền giáo của Chúa Giêsu gặp khó khăn phức tạp

Nhìn chung, chúng ta thấy khó khăn nặng nề nhất, mà Chúa Giêsu đã gặp trên đường truyền giáo, là tính cách phức tạp của những con người.

a) Những người cùng quê với Người vùng Nagiarét ban đầu đã rất phấn khởi khi nghe Người giảng. Nhưng dần dần họ đổi lòng đổi dạ. Họ đâm ra thắc mắc về Người. Rồi tỏ vẻ khinh dể Người. Sau cùng họ giận dữ, lôi Người ra khỏi thành, dẫn Người lên đỉnh núi, định xô Người xuống vực thẳm cho chết đi (x. Lc 4,16-29).

b) Nhóm người Pharisêu khi nghe Chúa Giêsu giảng và thấy Người làm nhiều phép lạ, thì bực tức. Họ bắt bẻ, tranh luận, khích bác. Họ đặt cho Người nhiều tên xấu xa, như người bị quỷ ám, tên tội lỗi. Họ kết án Người. Sau cùng họ tìm cách giết Người.

c) Dân chúng theo Chúa phải kể là rất đông. Nhưng Chúa Giêsu có lần đã nói thẳng, nói thật: "Dân này kính Ta bằng môi miệng, còn tâm hồn họ thì xa Ta" (Mc 7,6). Chúa Giêsu còn nói tới sự dân của Người đã loại trừ Người (x. Mc 12,10).
Và thực sự một số đông dân chúng đã loại trừ Người một cách tàn bạo, khi họ đồng thanh hô to trước dinh quan Philatô: "Hãy đóng đinh nó vào thập giá" (Mc 15,13-14).

d) Chính 12 tông đồ là những người được Chúa đào tạo cách riêng cũng đã có những lời nói, việc làm và thái độ làm cho Chúa Giêsu buồn, khiến Người phải mắng trách họ là chậm hiểu, chưa hiểu, không chịu hiểu (x. Mc 8,17.19.21).

Như vậy, nhóm người nào cũng phức tạp. Phức tạp nào cũng cản ngăn Tin Mừng. Cản ngăn nhiều cách. Cách ác độc nhất là loại trừ kẻ rao giảng Tin Mừng bằng việc đóng đinh Người trên thập giá.

Chúa Giêsu đã cho thấy tính cách phức tạp trong truyền giáo bằng đời của Người.

 2/ Lời Chúa cắt nghĩa thêm về những khó khăn phức tạp trong thực tại truyền giáo
Chúa Giêsu đưa ra dụ ngôn người gieo giống (x. Mc 4,3-9). Người gieo giống gặp nhiều thứ khó khăn trong chính cánh đồng, mà mình gieo giống.

Có ba khó khăn:

Khó khăn thứ nhất là lòng người như đất vệ đường. Hạt giống gieo trên đó, chưa kịp bám vào đất, thì đã bị Satan lấy đi. Biết bao người đón nhận Tin Mừng với ý muốn lợi dụng Tin Mừng như một phương tiện để gây uy tín và lợi ích cá nhân. Satan nhờ đó, mà cướp đi Tin Mừng.

Khó khăn thứ hai là lòng người như đất trộn nhiều sỏi đá. Hạt giống gieo vào đó, không ăn rễ sâu được, nên bị chết héo. Biết bao người đón nhận Tin Mừng một cách hời hợt. Họ chẳng bao giờ gắn bó sâu vào tình yêu Chúa, nhất là họ tránh mầu nhiệm thập giá.

Khó khăn thứ ba là lòng người như đất đầy cỏ và gai góc. Hạt giống gieo vào đó, bị ngột ngạt, mà chết dần. Biết bao người đón nhận Tin Mừng, rồi bỏ lãng quên, chỉ lo toan bận bịu với những quan tâm theo các lôi kéo trần thế.

Thiết tưởng ba loại lòng người trên đây chỉ là bức tranh mộc mạc cho bình dân nông thôn dễ hiểu. Chứ trên thực tế, lòng người mang nhiều khả năng tiêu cực khó mà tả cho hết. Có thứ âm thầm dồn nén. Có thứ bùng nổ. Tin Mừng bị chính những phức tạp của lòng người phá hoại.

 3/ Thực tại hôm nay

Thực tại truyền giáo hiện nay tại Việt Nam cũng không khác gì thời Chúa Giêsu.

Nếu thực tại được nhìn như một xã hội, thì xã hội truyền giáo hôm nay cũng gồm nhiều loại, nhiều nhóm, nhiều tầng lớp. Nói chung, loại nào, nhóm nào, tầng lớp nào cũng có những phức tạp trong việc đón nhận Tin Mừng.

Nếu thực tại được nhìn như một cách đồng, thì cánh đồng truyền giáo hôm nay cũng gồm nhiều loại đất. Nói chung, loại đất nào cũng có một số phức tạp, trong việc đón nhận Tin Mừng.

Điều nên nói thêm là chính những người đi truyền giáo hôm nay cũng không thiếu phức tạp. Đôi khi, có những người nói là nhà truyền giáo, lại tỏ ra phức tạp còn hơn những người, mà họ đến truyền giáo.

Một thoáng nhìn trên đây thúc giục chúng ta phải rất khiêm tốn trong việc truyền giáo hôm nay. Phải chăng, khiêm tốn chính là điều kiện đầu tiên phải được đào tạo nơi bất cứ ai muốn dấn thân vào sứ vụ truyền giáo.

Long Xuyên, ngày 12/8/2010


 

Bùi-Tuần 1849: VÀI CHỌN LỰA ƯU TIÊN

 

Đối với người tín hữu, cuộc sống là một chuyến đi. Chuyến đi nhắm tới một đích điểm. Đích điểm Bùi-Tuần 1849


Đối với người tín hữu, cuộc sống là một chuyến đi. Chuyến đi nhắm tới một đích điểm. Đích điểm đó là về với Cha trên trời.

Trong chuyến đi dài là suốt cuộc sống, họ phải có những chọn lựa đúng, dẫn về đúng đích.

Lời Chúa giúp chúng ta chọn lựa đúng. Chuyến đi càng phức tạp, chúng ta càng cầu xin Chúa Thánh Thần giúp, để chúng ta biết tìm được ánh sáng từ Lời Chúa, hầu có thể chọn lựa khôn ngoan, thiết thực.

Tính cách khôn ngoan và thiết thực cho chuyến đi hôm nay đang được Chúa ban cho nhiều tâm hồn tín hữu trong Hội Thánh Việt Nam.

Dưới đây là một chia sẻ của họ về một số chọn lựa ưu tiên.

 1/ Lo cứu các linh hồn hơn cứu các quyền lợi trần thế của Hội Thánh
Kinh Tin Kính tuyên xưng rằng: "Vì loài người chúng tôi và để cứu rỗi chúng tôi, Người đã từ trời xuống thế". Ngôi Hai xuống thế, nhập thể, đã sống chết thế nào, để cứu các linh hồn? Thánh Phaolô viết:

"Người đã trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế. Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi chịu chết, chết trên cây thánh giá" (Pl 2,7-8).

Còn thánh Phêrô thì viết: "Anh em đã được cứu chuộc nhờ máu châu báu của Con Chiên vẹn toàn, vô tì tích, là Đức Kitô" (Pr 1,19).

Chính Chúa Giêsu khẳng định: "Tôi là mục tử nhân lành. Mục tử nhân lành hy sinh mạng sống cho đoàn chiên" (Ga 10,11).

Nhìn lên Chúa Giêsu chịu treo trên thánh giá, chúng ta thấy Chúa coi việc cứu chúng ta và các linh hồn là một chọn lựa cao cả thế nào. Chúa hy sinh tất cả và hy sinh đến cùng, để cứu độ.

Tất nhiên, chúng ta nên và phải bảo vệ những quyền lợi trần thế của Hội Thánh địa phương.

Nhất là khi nơi ở và lối sống của những người trong Hội Thánh địa phương vẫn giữ được mức độ đơn sơ thanh thoát, hợp với bậc tu trì, thì các ngài vẫn có uy tín, việc các ngài bảo vệ những quyền lợi trần thế của Hội Thánh địa phương do nhu cầu lợi ích chung, sẽ được coi là trong sáng.

Cho dù được như vậy, việc cứu các linh hồn vẫn luôn phải đặt lên hàng ưu tiên, nếu hoàn cảnh bắt phải chọn lựa. Lịch sử Công giáo tại nhiều nước trên thế giới hiện nay làm chứng như vậy. Chúa Chúa Giêsu và các thánh tông đồ đã nêu gương sáng đó. Sau cùng, nếu gọi là thua, thì thua mà lại được lợi hơn gấp muôn ngàn lần.

Chúng ta càng hiểu điều đó, nếu chúng ta thấy, biết bao nhiêu linh hồn xung quanh ta đang bị ma quỷ lôi kéo vào chốn tối tăm. Họ kêu gọi chúng ta cứu họ. Chúng ta sẽ chỉ có thể cứu họ, bằng cách cộng tác với Chúa cứu thế, và dùng những phương tiện thiêng liêng, mà Chúa cứu thế đã dùng.

 2/ Lo cho đời sống bác ái hơn lo cho đời sống tổ chức cơ chế của Hội Thánh
"Thiên Chúa là tình yêu" (1 Ga 4,9). Trước khi về trời, Chúa Giêsu trối lại điều răn yêu thương: "Thầy ban cho chúng con một điều răn mới, là chúng con hãy yêu thương nhau, như Thầy đã yêu thương chúng con" (Ga 13,34).

Thánh Phaolô ca tụng đức ái bằng những chi tiết cụ thể:

"Giả như tôi nói được các thứ tiếng của loài người và của các thiên thần đi nữa, mà không có đức ái, thì tôi cũng chẳng khác gì thanh la inh ỏi.

Giả như tôi được ơn nói tiên tri, và được biết hết mọi điều bí nhiệm, mọi lẽ cao siêu, hay có được tất cả đức tin đến chuyển núi dời non, mà không có đức ái, thì tôi cũng chẳng là gì.

Giả như tôi có đem hết gia tài cơ nghiệp mà bố thí, hay nộp cả thân xác tôi để chịu thiêu đốt, mà không có đức ái, thì cũng chẳng ích gì cho tôi" (1 Cr 13,1-3).

Rồi, thánh Phaolô mô tả nội dung bác ái như sau:

"Đức ái thì nhẫn nhục, hiền hậu, không vênh vang, không ghen tương, không tự đắc, không làm điều gì bất chính, không tìm tư lợi, không nóng giận, không nuôi hận thù, không mừng khi thấy sự gian ác, nhưng vui khi thấy điều chân thật. Đức ái tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, hy vọng tất cả, chịu đựng tất cả" (1 Cr 13,4-7).

Đức ái quan trọng là như thế, phong phú là như vậy. Nhận thức đó khiến chúng ta hãy cố gắng sống đức ái theo Lời Chúa.

Đã hẳn lo cho Hội Thánh địa phương có một cơ chế với những phân công thích hợp là điều tốt. Nhưng quan tâm đó không được lấn lướt quan tâm về đời sống đức ái. Nhất là khi cơ chế lại theo phong trào, phát sinh ra nhiều thứ ban bệ, nhiều thứ tổ chức. Nếu thiếu tỉnh thức, đời sống cơ chế như thế sẽ dễ trở nên ồn ào, hình thức, đụng chạm. Khi nhiều người nhập vai các địa vị đạo đức một cách vụng về và trần tục, thì coi rất tội nghiệp. Lúc đó Hội Thánh địa phương sẽ vô tình tự tố cáo mình là thiếu những nhân chứng đáng tin cậy. Và đó là một tổn thất lớn tự mình gây nên.

Đề cập đến đức ái, người ta không thể không nghĩ tới bổn phận chúng ta đối với những người nghèo. Thái độ những người của Hội Thánh đối với các người nghèo được coi là yếu tố quan trọng trong việc làm chứng cho Chúa. Đây là một lãnh vực rất nhạy cảm hiện nay. Nếu chúng ta không tỉnh táo trong vấn đề người nghèo, chúng ta sẽ làm cho Hội Thánh vốn đắc thắng trong lãnh vực đức tin, lại trở thành thất bại trong lãnh vực đức ái. Mà nếu thất bại thực sự trong lãnh vực đức ái, thì Hội Thánh, dù với cơ chế mạnh đến đâu, cũng sẽ không thể loan báo Tin Mừng được một cách có hiệu quả, trên đất nước Việt Nam hôm nay.

***

Hội Thánh Việt Nam đang đứng trước nhiều thách đố. Trả lời đúng, thì tương lai sẽ sáng sủa. Trả lời sai, thì tương lai sẽ mù mịt. Thiết tưởng, muốn trả lời đúng, chúng ta phải bám vào Chúa, vâng phục ý Chúa, thực thi ý Chúa. Hãy cầu nguyện, sám hối với niềm tin phó thác trọn vẹn, và hết sức khiêm nhường.

Long Xuyên, ngày 14/8/2010


 

Bùi-Tuần 1850: SUY NGHĨ VỀ TRÍ THỨC


Nhân lễ kính thánh Augutinh(28-8-2010)

 

Thánh Augutinh là một giám mục Phi châu, đứng đầu một giáo phận nhỏ thuộc Phi châu. Ngài sống Bùi-Tuần 1850


Thánh Augutinh là một giám mục Phi châu, đứng đầu một giáo phận nhỏ thuộc Phi châu. Ngài sống từ năm 354 đến năm 430. Như thế, lịch sử thánh nhân thuộc về một địa lý nhỏ và một thời gian đã xa.

Thế mà, ngài đã ảnh hưởng sâu rộng trên khắp toàn cầu và qua mọi thời đại. Nguyên nhân ảnh hưởng là trình độ trí thức của ngài. Trí thức trong tư tưởng và trí thức trong đời sống.

 1/ Trí thức trong lãnh vực tư tưởng

Tư tưởng của thánh Augustinh để lại trong 252 cuốn sách lớn nhỏ, 509 bài giảng đủ loại, và 207 lá thư xa gần. Những tư tưởng bất hủ của ngài thường được trích từ ba cuốn sách nổi tiếng của ngài sau đây: Những thú nhận, Thành trì của Thiên Chúa, về Chúa Ba Ngôi.

Nội dung tư tưởng phần lớn tập trung vào ba lãnh vực: Triết học, thần học, linh đạo.

Hình thức ngài dùng để diễn tả nội dung là rất phong phú. Tất cả đều mang dấu ấn của một người học cao về văn chương và hùng biện.

Đọc những tác phẩm của thánh Augutinh, người nghiên cứu thấy: Phần, mà ngài nhận được bởi người khác, là rất đa dạng. Phần, mà ngài tự suy nghĩ ra, là rất sâu sắc.

Ngài đã là giáo sư ở Thagaste, ở Carthage, ở Roma, ở Milan.

Ngài có quan hệ mật thiết với nhiều bạn bè trí thức, trong đó có thánh Ambrôsiô.

Trí thức của thánh Augutinh được nhận thấy ở điểm chung này là: Say mê đi tìm sự thật, lẽ phải và đức khôn ngoan. Đối tượng là Thiên Chúa và con người.

Sau khi đã mải miết đi tìm ở các trường phái, các trường học, các học giả, thánh nhân đã đi tìm nơi Đức Kitô. Ngài thú nhận: Chỉ Đức Kitô mới cho ngài thấy rõ sự thực, lẽ phải và sự khôn ngoan. Chỉ Đức Kitô mới là thầy chỉ cho ngài thấy con đường phần rỗi. Đức Kitô dạy ngài qua gương đạo đức của mẹ ngài là thánh Monica, qua Lời Chúa và trong nội tâm sâu thẳm của ngài.

Ngài ghi lại tất cả cuộc đời thăng trầm của ngài một cách rất khiêm nhường.

Với những tư tưởng trí thức trộn vào những kinh nghiệm bản thân, thánh Augutinh đã phản bác các bè rối một cách trí thức và đạo đức. Cũng với trí thức và đạo đức, ngài đã lập cộng đoàn tu viện ở Thagaste, đã sống đời mục vụ khi làm giám mục ở Hippone. Tại đây, ngài cũng đã trí thức trong lối sống của ngài.

 2/ Trí thức trong lãnh vực đời sống

Nhận ra trình độ trí thức trong lãnh vực tư tưởng thì tương đối dễ. Nhận ra trình độ trí thức trong lãnh vực đời sống thì không luôn dễ. Không dễ, nhưng vẫn nhận ra được, nếu dựa vào tiêu chuẩn sau đây:

Biết phân định cái đúng cái sai.

Biết chọn lựa điều nào tốt, điều nào trước, điều nào nên.

Với tư cách người mục tử và thầy dạy, thánh Augutinh phân định người nào đi lên, kẻ nào đi xuống trên đường đạo đức theo thái độ của họ đối với ba đối tượng này: Tạo vật, bản thân, Thiên Chúa. Người nào không dính bén tạo vật, trở về với mình và vượt qua mình, để tìm kiếm Chúa, người đó được kể là người đi lên. Trái lại, kẻ nào bỏ xa Chúa, theo ý mình, để bám vào tạo vật, kẻ đó là kẻ đi xuống.

Theo thánh Augutinh, đi xuống thì tự mình làm. Còn đi lên thì phải nhờ đến ơn thánh Chúa.

Căn cứ theo các thái độ đó, người mục tử đánh giá được tình trạng thiêng liêng của từng con chiên, từng cộng đoàn đức tin, từng hoạt động tôn giáo.

Một chọn lựa đã được thánh Augutinh hay nhắc tới, đó là đời sống bên trong hơn đời sống bên ngoài. Chúa Giêsu xưa khi còn ở trần thế, đã lo cho đời sống bên ngoài của con người, nhưng lo cho đời sống bên trong nhiều hơn. Trong mục vụ, thánh Augutinh lo cho đời sống bên ngoài của con chiên bằng nhiều cách, nhất là bằng cách dạy bảo, cảnh báo, khuyên răn. Nhưng điều quan trọng hơn ngài luôn cố gắng là, lo cho con chiên đi vào nội tâm mình, để gặp gỡ Đức Kitô. Trong cố gắng ấy, ngài thường nhấn mạnh đến đời sống phục vụ trong yêu thương, tình nghĩa theo gương Đức Kitô.

Chính Đức Kitô mới là Đấng dạy dỗ nội tâm và đổi mới con người bên trong. Vì thế, mục đích sau cùng, mà ngài nhắm tới trong mọi bài giảng, là dẫn con người đến với Đức Kitô.

Có thể nói, những phân định và lựa chọn trên đây phải được coi là rất trí thức. Áp dụng vào đời sống bản thân là việc trí thức. Áp dụng vào đời sống mục vụ cũng là việc trí thức.

 3/ Nhìn vào Hội Thánh Việt Nam

Thánh Augutinh là niềm tự hào của giáo phận Hippone, của Hội Thánh Phi châu, của Hội Thánh toàn cầu.

Nếu nhìn Hội Thánh Việt Nam qua gương trí thức của ngài, chúng ta sẽ thấy chúng ta còn nhiều điều phải cố gắng thêm.

Bước đầu của trí thức là biết nhận thấy vấn đề.

Trong lãnh vực tư tưởng cũng như trong lãnh vực đời sống, trí thức vẫn là một tiếng gọi. Dù đối thoại, dù đối kháng, chúng ta cần phải trí thức. Nhất là trí thức Phúc Âm. Những chọn lựa đạo đức, nếu thiếu chiều sâu trí thức, sẽ khó có thể làm cho Chúa được vinh quang trên đất nước Việt Nam hôm nay một cách hữu hiệu và lâu bền.

Trên đất nước Việt Nam hôm nay và ngày mai, trí thức đang và sẽ phát triển ở mọi tầng lớp. Trí thức cũng đang được khát khao ngay ở thôn quê bình dân nghèo túng.

Ước mong Công giáo Việt Nam khi hiện diện và đồng hành, sẽ không thiếu một đội ngũ trí thức tầm cỡ đi đầu. Vừa trí thức trong đạo, vừa trí thức ngoài đời. Khối trí thức ấy sẽ sát cánh kề vai với các trí thức xã hội, để cùng với tất cả đồng bào, xây dựng quê hương chung là Việt Nam yêu mến của chúng ta.

Chúng ta thành khẩn dâng lên Chúa mong ước trên đây với tâm tình cầu nguyện khiêm cung.

Long Xuyên, ngày 20/8/2010
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây