Suy tư của Đức Cha Gioan B Bùi-Tuần Bài 1-50

Thứ ba - 29/01/2019 10:41
Suy tư của Đức Cha Gioan B Bùi-Tuần Bài 1-50
Suy tư của Đức Cha Gioan B Bùi-Tuần Bài 1-50
Suy tư của Đức Cha Gioan B Bùi-Tuần Bài 1-50

Bùi-Tuần 0001: ĐOÀN KẾT YÊU THƯƠNG 02-09-1975. 2
Bùi-Tuần 0002: SỐNG THANH BẦN PHÚC ÂM 28-12-1975. 4
Bùi-Tuần 0003: TÁC PHẨM KHÔNG NHÃN HIỆU 31-01-1976. 6
Bùi-Tuần 0004: HAI HƯỚNG NHÌN 31-01-1976. 9
Bùi-Tuần 0005: MỘT ƠN GỌI 06-03-1976. 12
Bùi-Tuần 0006:  ĐỌC LỜI CHÚA 03-04-1976. 14
Bùi-Tuần 0007:  BÀN THÁNH 15-04-1976. 15
Bùi-Tuần 0008: NGÀY VINH THẮNG18-04-1976. 17
Bùi-Tuần 0009: ĐÔI TAY QUÍ GIÁ01-05-1976. 19
Bùi-Tuần 0010: SỰ HỢP NHẤT VÀ CHÚA THÁNH THẦN06-06-1976. 21
Bùi-Tuần 0011: MỘT TƯƠNG LAI ĐẸP 12-08-1976. 24
Bùi-Tuần 0012: SỰ TẾ NHỊ02-09-1976. 27
Bùi-Tuần 0013: MỘT ĐỨC TIN MẠNH 04-09-1976. 29
Bùi-Tuần 0014: CỘNG TÁC VỚI ƠN CHÚA THÁNH THẦN 19-09-1976. 31
Bùi-Tuần 0015: HÃY LÀ MỘT BÔNG HOA18-02-1977. 33
Bùi-Tuần 0016: LINH MỤC LÀ NGƯỜI PHỤC VỤ 04-04-1977. 36
Bùi-Tuần 0017: ĐỨC TIN SỐNG ĐỘNG LÀ MỘT BẬN TÂM17-04-1977. 39
Bùi-Tuần 0018: YÊU NƯỚC LÀ MỘT BỔN PHẬN 02-09-1977. 41
Bùi-Tuần 0019: NÓI VỚI TUỔI TRẺ VỀ TÌNH YÊU18-12-1977. 44
Bùi-Tuần 0020: HÀNH TRÌNH PHỤC SINH 29-03-1977. 47
Bùi-Tuần 0021: Sự Can Đảm Và Sáng Suốt 28-01-1978. 49
Bùi-Tuần 0022: Một Tôn Giáo Tin Yêu 14-05-1978. 52
Bùi-Tuần 0023: Một Mẫu Người Đơn Sơ 01-10-1978. 54
Bùi-Tuần 0024: Dấu Chỉ Của Thời Đại 07-10-1978. 57
Bùi-Tuần 0025: Những Lợi Ích Của Niềm Tin Tôn Giáo 15-10-1978. 60
Bùi-Tuần 0026: Đừng Sợ Chúa 24-12-1978. 62
Bùi-Tuần 0027: VUI MỪNG VÀ HY VỌNG 28-01-1979. 65
Bùi-Tuần 0028: LỄ HIỆP NHẤT26-03-1979. 67
Bùi-Tuần 0029: CHÚA GIÊSU CON THIÊN CHÚA HẰNG SỐNG12-04-1979. 69
Bùi-Tuần 0030: CÓ ƠN CHÚA THÁNH THẦN 03-06-1979. 71
Bùi-Tuần 0031: GIÁO DỤC CÁI ĐẸP17-06-1979. 74
Bùi-Tuần 0032: CON NGƯỜI CỦA RANH GIỚI 24-O6-1979. 76
Bùi-Tuần 0033: GIA NHẬP ĐỜI TU29-06-1979. 78
Bùi-Tuần 0034: LÀM ĐIỀU TỐT 02-09-1979. 80
Bùi-Tuần 0035: SỐNG ĐẠO09-09-1979. 82
Bùi-Tuần 0036: HIỂU ĐƯỢC Ý CHÚA 08-12-1979. 85
Bùi-Tuần 0037: TINH THẦN ĐÓN TIẾP 23-12-1979. 87
Bùi-Tuần 0038: MỘT LIÊN HỆ MẬT THIẾT 24-12-1979. 88
Bùi-Tuần 0039: MỘT SỰ THỰC ĐAU XÓT 25-12-1979. 90
Bùi-Tuần 0040: HÃY KHIÊM TỐN 26-12-1979. 92
Bùi-Tuần 0041: ĐƯỢC CHÚA THƯƠNG 27-l2-l979. 92
Bùi-Tuần 0042: HẠNH PHÚC GIA ĐÌNH 30-12-1979. 94
Bùi-Tuần 0043: CÓ LÒNG TỐT 05-01-1980. 96
Bùi-Tuần 0044: RAO GIẢNG TIN MỪNG 06-01-1980. 98
Bùi-Tuần 0045: GIÁO DỤC ĐỨC TIN 18-01-1980. 100
Bùi-Tuần 0046: VÀI NÉT VỀ TINH THẦN GIA ĐÌNH 15-02-1980. 103
Bùi-Tuần 0047: GIA ĐÌNH LÀ MỘT CON ĐƯỜNG 24-02-1980. 104
Bùi-Tuần 0048: MỘT MẪU GƯƠNG TẬN TỤY PHỤC VỤ 10-03-1980. 109
Bùi-Tuần 0049: CẦN LO NGHĨ XA HƠN 14-03-1980. 111
Bùi-Tuần 0050: TRÁCH NHIỆM LINH MỤC 17-03-1980. 113
-------------------
 

Bùi-Tuần 0001: ĐOÀN KẾT YÊU THƯƠNG 02-09-1975

 

Những lời dặn dò trước khi chết, bao giờ cũng là những lời tâm huyết nhất, nói tự đáy lòng, nói để: 02-09-1975 Bùi-Tuần 1


Những lời dặn dò trước khi chết, bao giờ cũng là những lời tâm huyết nhất, nói tự đáy lòng, nói để người khác ghi lòng tạc dạ. Chúa Giêsu trong bữa tiệc ly, trước khi chịu chết, cũng đã có những lời dặn dò rất mực tha thiết. Ngài nhắc đi nhắc lại một điều này là: Hãy đoàn kết yêu thương nhau. Ngài khuyên nhủ đoàn kết yêu thương, bằng những lời trăn trối khẩn thiết. Ngài làm gương sự đoàn kết yêu thương, bằng việc rửa chân và lập phép Thánh Thể. Ngài cầu nguyện cho sự đoàn kết yêu thương, bằng lời nguyện thống thiết: “Xin Cha cho chúng hoàn toàn nên một, như Cha với con là một”.

Hôm nay, nhân dịp Quốc Khánh, tôi xin được cùng anh chị em suy niệm vắn tắt về sự đoàn kết yêu thương. Vì thiết tưởng, vấn đề này rất cần cho nền độc lập của Quê Hương, và hạnh phúc cho toàn chúng ta.

Anh chị em thân mến,
Đoàn kết yêu thương là một yếu tố cần thiết, một lý tưởng đẹp. Chấp nhận điều đó không khó lắm. Điều khó nhất là làm sao thực hiện được sự đoàn kết yêu thương trong thực tế. Để giúp giải quyết, chúng ta nên mổ xẻ vấn đề ra nhiều khía cạnh.

1. Khía cạnh thứ nhất của đoàn kết yêu thương, là khía cạnh pháp luật: Có nghĩa là luật pháp là một yếu tố cần, để xây dựng đoàn kết yêu thương.

Đã hẳn, đoàn kết yêu thương là vấn đề tình, nhưng trước hết phải là vấn đề lý. Phải có cái lý xác đáng, vạch rõ lý do chung buộc phải đoàn kết yêu thương. Phải có lý mạnh, nhìn nhận và bảo đảm quyền lợi và nghĩa vụ từng người, từng khối trong cộng đồng xã hội. Mà để thực hiện các lý đó, thì phải có những luật pháp công bình, sáng suốt và phải biết áp dụng những luật pháp đó một cách công minh và tế nhị. Có thế mới tránh được những bất công, nghi kỵ, thường gây nên sự chia rẽ và hận thù nhau.

2. Khía cạnh thứ hai của đoàn kết yêu thương, là khía cạnh tâm lý. Có nghĩa là cách đối xử với nhau là một yếu tố cần, để xây xựng đoàn kết yêu thương.

Con người không phải là cọng rau, một thanh sắt, cứ lấy luật pháp ra buộc là thành đoàn kết. Nhưng con người có tự do, có tình cảm. Mà tự do tình cảm là những thứ nội tâm không thể ép buộc. Nếu bị ép buộc, thì kết quả chỉ có bề ngoài. Để có kết quả tốt bên trong, thì cách đối xử với nhau, không nên coi thường. Những lời nói nhã nhặn, sự đi lại thân hữu, sự xử sự cởi mở chân thành, nhiều khi gây được thiện cảm để xây dựng đoàn kết yêu thương, hơn là những lời lẽ hão dựa trên pháp luật.

3. Khía cạnh thứ ba của đoàn kết yêu thương, là khía cạnh đạo đức. Có nghĩa là nhân đức là yếu tố cần, để xây dựng đoàn kết yêu thương.

Kinh nghiệm cho chúng ta thấy rằng: Một ngăn trở lớn hay phá đoàn kết yêu thương, là tính kiêu căng ích kỷ. Muốn người khác yêu thương mình và đoàn kết với mình, còn mình thì không đoàn kết yêu thương ai, thì kết quả thường là bi đát. Yêu thương là biết cho đi. Cho đi sự tha thứ, sự nhịn nhục, sự kính trọng, sự nâng đỡ, sự thông cảm. Mà cho đi như thế, chỉ có người đạo đức, khiêm tốn và quảng đại, mới làm tới nơi tới chốn đoàn kết yêu thương.

4. Khía cạnh thứ tư của đoàn kết yêu thương, là khía cạnh tôn giáo. Có nghĩa là sự tin tưởng và cầu nguyện với Đấng Thượng Đế, là yếu tố rất hữu ích, để xây dựng đoàn kết yêu thương.

Khi tôi quan niệm rằng: Mọi người đều là con một Cha chung trên trời, rằng phục vụ người khác là phục vụ Chúa trong họ, thì tự nhiên tôi được thúc đẩy một cách sâu xa hơn, việc xây dựng và thanh luyện tình thương.

Khi tôi cầu nguyện và dâng hy sinh cầu cho kẻ khác, tôi tin rằng Chúa sẽ ban cho họ những ơn lành hồn xác, mà tôi không có khả năng làm, thì một đàng niềm tin đó sẽ khuyến khích tôi yêu thương họ hơn, và một đàng thực sự Chúa sẽ làm cho tình thương của tôi, được quảng đại và hữu hiệu hơn. Ngoài ra, phải nhờ tới những phương tiện siêu nhiên, mới có thể khắc phục được những khó khăn, để có được một sự đoàn kết yêu thương chân thành, sâu xa, và rộng rãi.

Anh chị em thân mến,

Để xây dựng đoàn kết yêu thương, chúng ta nên để ý tới 4 yếu tố vừa kể: Pháp lý, tâm lý, đạo đức và tôn giáo. Hãy dùng những yếu tố đó để xây dựng đoàn kết yêu thương, trong lòng mình và trong lòng người khác.

Yêu thương là một chuyện phải nói với nhau bằng trái tim và hy sinh, hơn là lời nói. Đoàn kết là một chuyện phải tính với nhau bằng hành động cụ thể, gây được niềm tin, hơn là bằng hứa suông.

Trong thánh lễ hôm nay, chúng ta hãy xin Chúa Giêsu cho chúng ta một trái tim biết hy sinh, một đời sống quên mình, để chúng ta biết yêu thương đoàn kết, một cách chân thành và quảng đại, hầu góp phần tạo hạnh phúc cho mọi đồng bào yêu quí nước ta, và tạo nên một nền hòa bình an ổn, vui tươi, tràn lan trong mọi tâm hồn. Amen.

Lễ Quốc Khánh tại Long Xuyên, ngày 02/9/1975

 

Bùi-Tuần 0002: SỐNG THANH BẦN PHÚC ÂM 28-12-1975


Đi tu dòng là gì?
 

Có nhiều câu trả lời. Nhưng một cách vắn tắt đại khái, ta có thể thưa: Đi tu dòng là nối tiếp viec: 28-12-1975 Bùi-Tuần 2


Có nhiều câu trả lời. Nhưng một cách vắn tắt đại khái, ta có thể thưa: Đi tu dòng là nối tiếp việc tận hiến của Chúa Kitô.

Nối tiếp một cái gì, là gắn liền với cái đó, và phải giống như cái đó. Đời sống tu của chúng ta, nếu muốn là một sự nối tiếp đời tận hiến của Chúa Kitô, thì tất nhiên, phải ăn khớp với đời tận hiến của Ngài, phải giống đời tận hiến của Ngài.

Vì thế, đời tu của ta phải có hai cái nhìn:


+ Một cái nhìn vào Chúa Kitô, để lấy Ngài làm gương mẫu.

+ Và một cái nhìn vào chính mình ta, để, để tâm thực hiện gương mẫu đó một cách cụ thể.

Hôm nay, tôi muốn gợi ý về hai cái nhìn đó. Vì những lý do thực tiễn, tôi muốn giới hạn những cái nhìn của chúng ta ở đây, vào phạm vi một đặc điểm, lúc này được coi là quan trọng của đời tận hiến. Đó là thanh bần.

Anh em thân mến,

1. Trước hết chúng ta hãy nhìn vào Chúa Kitô, để lấy Ngài làm gương mẫu.

Nhìn tổng quát, ta thấy đời Chúa Kitô là đời thanh bần. Nếu phân tích, thì đời thanh bần đó chia thành 3 mức độ, tùy theo 3 hoàn cảnh:

- Hoàn cảnh thứ nhất: Là những năm tháng sống ở Nagiarét. Ngài sinh sống thanh bần theo lối sống của giới thợ thuyền lao động. Còn nhỏ, thì sống nhờ vào công ăn việc làm tần tảo của cha mẹ. Lớn lên, thì sống nhờ công lao động của chính mình. Trong hoàn cảnh như thế, đời thanh bần của Ngài được gọi là bình thường.

- Hoàn cảnh thứ hai: Là những năm tháng Ngài đi giảng Tin Mừng. Thời gian đó, Ngài thôi làm thợ, sống chung với một số môn đệ đánh chài lưới, nay đây mai đó, không có nhà ở riêng, không có hành trang bộn bề. Cảnh sống nghèo của Ngài, được phác họa trong câu: “Con chồn có hang, con chim có tổ, Con Người không có nơi gối đầu”. Và trong câu: “Hãy bán hết gia tài đi, phân phát cho người nghèo, rồi trở lại theo Ta”. Trong hoàn cảnh như thế, đời sống thanh bần của Ngài, gọi được là khác thường.

- Hoàn cảnh thứ ba: Là cảnh Ngài sinh ra và chết. Sinh ra thiếu thốn, ở hang lừa. Mà hang đó cũng không phải là của mình. Chết trần trụi trên thập giá, chôn ở mồ của người khác. Trong hoàn cảnh như thế, sự thanh bần của Chúa Kitô được gọi là tột đỉnh.

Ba hoàn cảnh thanh bần, với ba mức độ thanh bần. Đó là đời Chúa. Sự thanh bần của Chúa, là do sự tự ý từ bỏ của cải, và sống phó thác nơi Chúa quan phòng. Vì thế sự thanh bần của Chúa là một nhân đức. Nhân đức đó đã được diễn tả, từ mức độ bình thường đến mức độ khác thường, và sau chót tới mức độ anh hùng. Thanh bần của Chúa, không phải là thường xuyên thiếu thốn, nhưng là thường xuyên khổ hạnh, tự ý, dứt lìa mọi vương vấn của cải, để sống cậy trông vào Chúa Quan Phòng.

2. Bây giờ, ta hãy nhìn vào mình ta, để tìm thực hiện gương Chúa một cách cụ thể.

Trước hết, phải nói ngay rằng, để làm chứng tá cho sự thanh bần của Chúa Kitô, thì một sự dứt lìa của cải bằng tinh thần và trong tinh thần chưa đủ, mà phải có sự dứt lìa thực sự bề ngoài phần nào.

Phần nào đó là thế nào? Bao nhiêu?

Thưa, ta không thể xác định một cách máy móc, mà phải uyển chuyển, tùy hoàn cảnh nơi mình ở, chức vụ mình giữ, thời đại mình sống. Trong mỗi hoàn cảnh, sự thanh bần được tham định do mức sống và do lối sống. Mức sống thì căn cứ vào số lượng tiêu dùng. Cùng trong một hoàn cảnh, ai tiêu dùng nhiều thì có mức sống cao, ai tiêu dùng ít thì có mức sống thấp. Còn lối sống thì căn cứ vào cách sống của ta, có ăn hợp, có thích nghi với môi trường mình sống hay không, từ công việc làm, cách ăn uống, đồ dùng, nhà ở, hòa đồng với xã hội chung quanh hay là khác biệt, chênh lệch. Hoàn cảnh xã hội thay đổi, thì mức sống và lối sống của ta phải thay đổi, để nét thanh bần của người chúng ta được nhận ra.

Mức sống cũng như lối sống đó, mình thẩm định một phần, mà cũng do dư luận một phần. Nó áp dụng cho từng cá nhân, mà đồng thời cũng áp dụng cho tập thể nhà dòng. Vì đã gọi là chứng tá về sự thanh bần của Chúa Kitô, thì không phải chỉ cá nhân người tu làm chứng điều đó, mà cả cơ cấu nhà dòng cũng phải làm chứng điều đó, để thế gian thấy được rằng: Người tu sống thanh bần, mà chính nhà dòng cũng là một tổ chức, một cơ cấu thanh bần.

Anh em thân mến,

Hoàn cảnh xã hội đã thay đổi nhiều. Trong hoàn cảnh mới, cá nhân người tu cũng như cơ cấu nhà dòng, phải có một sự thích ứng, để xã hội nhìn thấy rằng, cá nhân từng người sống thanh bần.

Thường xuyên chúng ta cố gắng sống mức độ thanh bần bình thường, theo gương Chúa Kitô. Nhưng nếu có lúc nào đó, Chúa muốn chúng ta sống thanh bần ở mức cao độ, và tới mức anh hùng, như hoàn cảnh hai và ba của Chúa, thì chúng ta cũng hãy sẵn sàng. Dù trong hoàn cảnh nào, điều quan trọng là hãy có thái độ dứt lìa một cách quả cảm, đừng cay đắng, đừng chua xót, bực bội. Nhưng trong thanh bần, ta sẽ được dịp thực sự, sống cậy trông thường xuyên vào Chúa hơn.

Lễ Tuyên Hứa tại tu viện Thánh Gia Cần Xây ngày 28/12/1975.
 

 

1976

Bùi-Tuần 0003: TÁC PHẨM KHÔNG NHÃN HIỆU 31-01-1976

 

Các đồ vật người ta chế tạo ra, thường có in “marque”, ghi rõ người nào, nước nào đã làm ra: 31-01-1976 Bùi-Tuần 3


Các đồ vật người ta chế tạo ra, thường có in “marque”, ghi rõ người nào, nước nào đã làm ra nó. Chỉ có một thứ tác phẩm, tuy xuất xứ thật siêu kỳ, nhưng không hề in “marque”. Đó là những tác phẩm do phép lạ.

Những chiếc bánh lạ xưa đã nuôi 5 ngàn người, cũ

ng giống như những chiếc bánh khác. Rượu lạ xưa ở tiệc cưới Cana, cũng như các thứ rượu quen dùng. Chỉ lạ ở chỗ do Chúa làm phép lạ mà có. Nhưng chúa làm phép lạ mà không in “marque”. Chúa làm phép lạ mà không hề tuyên bố đó là phép lạ. Vì thế, người ta rất khó nhìn thấy. Nhưng tinh thần có thể nhận ra, nếu suy nghĩ, nếu biết truy tầm. Điều này có thể áp dụng vào ngày hôm nay.

1. Nếu hôm nay, quay nhìn lại một trăm năm về trước, ta theo dõi bóng áo dòng Providence, từ ngày 12-01-1876 tới bây giờ, và từ mảnh đất Cù Lao Giêng này, tới khắp nơi Giáo Hội miền nam Việt Nam, ta sẽ thấy nhiều tác phẩm bên chiếc áo dòng thân mến đó, không hề in “marque”. Bề ngoài cũng chỉ là tự nhiên giống như mọi sự tự nhiên khác. Nhưng nhìn kỹ, người ta không thể chối, đó là những kỳ công của Chúa Quan Phòng.

Từ một con số nhỏ bé, đã nảy sinh ra một đoàn thể đông đúc. Từ một căn nhà chật hẹp, đơn côi, Đã vươn tới những cơ sở vững chắc, rải rác khắp nơi. Khắc phục khó khăn vật chất, lướt thắng thử thách tinh thần, bóng áo dòng Providence vẫn cứ nảy nở, vẫn cứ đi xa, vẫn cứ lan rộng, vẫn cứ in ấn tích trên nhiều lãnh vực.

Có những cơ sở bắt buộc phải chú ý. Có những con số nhân sự bắt buộc phải quan tâm. Nhưng không quan trọng cho bằng những cái không thấy, và không đếm được. Đó là vô số những cô nhi và những người già yếu, đã được nuôi dưỡng, bao nhiêu bệnh nhân đã được chăm sóc, bao nhiêu học sinh đã được huấn luyện, bao nhiêu tấm lòng đã được gia nhập dân Chúa, bao nhiêu chủng sinh, linh mục đã được nâng đỡ, bao nhiêu tín hữu đã được dắt dìu.

Tất cả đều là tác phẩm không in “marque”. Nhưng nếu cho đó là những phép lạ của Chúa Quan Phòng, thì cũng không phải là quá đáng.

2. Nhưng nói như thế, không phải chỉ nói lên một tiếng Amen, tin nhận đó là ơn Chúa, hay một tiếng Magnificat cảm tạ, mà là nhắc cho chúng ta, nhờ đó vững lòng phó thác hơn ở Chúa quan phòng trong tương lai, vì tương lai đang là mối bận tâm lớn của chúng ta.

Trong tương lai, chắc sẽ có nhiều thử thách. Nhưng ta nên nhớ rằng: Chỉ có một thử thách tệ hại nhất qua cuộc sống, đó là sống mà không hề bị thử thách. Có nghĩa là, thử thách là luật chung của cuộc sống. Thử thách bình thường, là nguy hiểm cần thiết cho việc huấn luyện con người. Đối với người tu, đã tình nguyện chấp nhận con đường Thánh Giá, thì thử thách là điều không thể tránh được. Đàng khác, thử thách của ta, chắc gì đã lớn hơn thử thách của những người đi trước. Họ đã biết lợi dụng. Họ đã vượt thắng, để trao lại cho ta sự nghiệp hôm nay. Tại sao ta không làm được thế?

Hơn nữa, dù trong hoàn cảnh nào, ta nên xác tín: Chúa không hề để ta bị thử thách quá sức mình. Chúa không gọi chúng ta để rồi lại bỏ rơi chúng ta dọc đường. Chúa cũng không đòi chúng ta phải thành công, mà chỉ đòi chúng ta làm việc vừa sức, rồi hãy phó thác cho Chúa Quan Phòng.

3. Mặc dầu ta nên nhìn lại quá khứ, để giục lòng ta tin cậy vào Chúa trong tương lai. Nhưng không nên vì thế mà nhìn lại hoài quá khứ, hay lo nghĩ hoài đến tương lai. Hãy để ý hơn hết đến hiện tại. Thời gian tốt nhất, đẹp nhất, đó là hiện tại, vì chỉ lúc này, ta mới thực hiện và đang thực hiện được ý Chúa.

Trong hiện tại, mỗi người đều có bổn phận của mình. Nhưng dù với bổn phận nào, các chị em hãy cố chu toàn 4 điểm sau đây, mà Đức Phaolô đã nói về Đức Mẹ:

a/ Đức Mẹ là trinh nữ lắng nghe.

Cũng như Đức Mẹ đã luôn lắng nghe tiếng Chúa thế nào, chị em cũng hãy biết lắng nghe tiếng Chúa như vậy, qua ơn soi sáng trong lòng, qua Bề Trên, qua biến cố, qua những đau khổ của tha nhân.

b/ Đức Mẹ là trinh nữ nguyện cầu.

Cũng như Đức Mẹ đã suốt đời cầu nguyện, chị em cũng hãy biến đời mình thành những lời kinh liên tiếp.

c/ Đức Mẹ là trinh nữ sinh sản.

Cũng như Đức Mẹ đã sinh Chúa Giêsu cho nhân loại, chị em cũng hãy đem Chúa Giêsu đến cho người khác, bằng sự phục vụ, bằng đời sống kết hợp mật thiết với Chúa.

d/ Đức Mẹ là trinh nữ hiến dâng.

Cũng như Đức Mẹ đã dâng trọn đời cho Chúa, để đồng công cứu chuộc loài người, chị em cũng hãy thực sự sống đời hiến dâng. Đã cho đi, thì đừng lấy lại. Đã dâng là dâng trọn, dâng mãi, dù có phải hy sinh.

Các chị em thân mến,

Trăm năm của một cá nhân thì là tuổi thọ. Trăm năm của một nhà dòng thì còn rất trẻ. Dòng Chúa Quan Phòng tại Việt Nam được 100 năm, có nghĩa là dòng Chúa Quan Phòng tại Việt Nam đang thời xuân trẻ. Tuổi trẻ là tuổi của vẻ đẹp, là tuổi của những ước mơ, sáng kiến, là tuổi hăng hái, là tuổi dấn thân, là tuổi trên đà phát triển. Chúng ta giờ đây, cùng nhau tạ ơn Chúa đã cho dòng cái tuổi phong phú đó, và cầu xin Chúa chúc lành cho tuổi trẻ đó được vững bước trong hiện tại, được phát triển trong tương lai.

Một ngày cảm tạ cho 100 năm sẽ là quá ít. Một ngày cầu nguyện cho cả một tương lai dài sẽ là quá hẹp. Nghĩa là hôm nay chỉ là cái mốc, chỉ là nơi gặp gỡ, chỉ là thời gian hẹn. Nơi đây không phải là chỗ dừng. Hôm nay sẽ qua đi. Nhưng ta vẫn tiếp tục cảm tạ và cầu xin Thiên Chúa. Với ý thức đó, giờ đây ta hãy dàn trải tất cả lòng ta trên bàn thờ dâng lễ, để rồi sẽ vẫn tiếp dàn trải lòng ta trên bàn thờ cuộc sống, không ngừng cảm tạ và cầu xin, phó thác mình cho Chúa Quan Phòng thương yêu là Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Amen

Lễ tạ ơn tại tu viện Cù Lao Giêng, ngày 12/01/1976, kỷ niệm đệ nhất bách chu niên ngày thành lập nhà dòng Chúa Quan Phòng ở Việt Nam.

 

Bùi-Tuần 0004: HAI HƯỚNG NHÌN 31-01-1976

 

Chúng ta vừa bước qua ranh giới năm cũ, và đang ở đầu ranh giới năm mới. Năm cũ là một: 31-01-1976 Bùi-Tuần 4


Chúng ta vừa bước qua ranh giới năm cũ, và đang ở đầu ranh giới năm mới. Năm cũ là một chặng đường dài. Năm mới cũng là một chặng đường dài. Đứng ở giáp ranh hai chặng đường dài, thì ta có hai hướng nhìn: Một cái nhìn lại, một cái nhìn đi, thì cái nhìn nào của ta cũng là cái nhìn về những sự đụng chạm tới ta.

Những cái nhìn đụng chạm vào đời ta trong năm cũ chắc là nhiều. Những cái sẽ đụng vào đời ta trong năm mới, chắc không phải là ít. Những cái đụng đó làm ta vui, buồn, lo, sung sướng, nhiều ít thì mỗi người cứ nghe lòng mình sẽ thấy. Mà chỉ mình biết rõ lòng mình, chứ chưa chắc gì người khác sẽ biết được đúng lòng ta. Cũng như chưa chắc gì ta sẽ biết được lòng người khác.

Vì thế, ở đây tôi không muốn nói tới màu sắc, tâm trạng của con người trong ngày xuân mới hôm nay, mà chỉ đưa ra một vài suy tư nhỏ bé, với hy vọng được anh em chia sẻ.

Suy tư của tôi là hai câu hỏi sau đây:

1. Khi nhìn lại, tôi nghe gọi sao?

2. Khi nhìn đi, tôi nghe gọi gì?

Tiếng gọi của quá khứ, tiếng gọi của tương lai. Hai tiếng gọi đó thế nào.
Anh chị em thân mến,

1. Khi nhìn lại tôi nghe gọi sao?

Thưa tôi nghe gọi: Hãy biết ơn. Hãy biết ơn những gì ta đã lãnh nhận. Nếu suy nghĩ kỹ, ta sẽ thấy trong năm qua, sự ta cho đi chẳng được là bao. Nhưng sự ta nhận lãnh thì thực là nhiều. Mà nhận nhiều, là vì ta luôn là kẻ thiếu thốn, phải cần đến người khác. Cần để sống, cần để nên người. Từ một lời chào đến một lời khuyên răn an ủi. Tất cả, và bất cứ sự gì ta lãnh nhận, đều là những viên gạch xây dựng đời ta.

Đừng chỉ coi những gì sung sướng hay lớn lao mới là ơn.

Dù đời ta có như chiếc xe đò, ồn ào đông đảo, chen nhau chiếm cứ, nhưng sau cùng xe lại trống trơn, thì ta cũng đừng cho mình là cô đơn, chẳng được nhờ ai. Vì thực sự, ta cũng đã nhận nhiều, và chính sự cô đơn cũng là một ân huệ.

Dù đời ta có như cành mai, báo hiệu ngày xuân, nhưng chính mình lại không có mùa xuân, vì mau tàn và vội héo, thì cũng đừng cho mình là phù hoa, chẳng chịu ơn ai. Vì thực sự, ta cũng đã nhận nhiều, và chính sự phù hoa cũng là một ân huệ.

Dù đời ta có như  Saolê, ngã ngựa trên đường Đamas, thì cũng đừng coi mình là vô phước. Vì thực sự ta đã nhận nhiều, và chính sự ta ngã đau cũng là một ân huệ.

Dù đời ta có như một quảng của giòng sông cả, nuôi dưỡng bao nhiêu đồng ruộng cây cỏ, có sức tràn ngập đất đai bao la, thì cũng đừng kiêu hãnh, cho mình là chỉ có mình. Bởi vì, quảng sông sau, bao giờ cũng mắc nợ những dòng sông trước, và nhất là mắc nợ với nguồn mạch nguyên thủy.

Dù đời ta có như ngôi nhà lộng lẫy, thì cũng đừng tự đắc, cho mình là do mình mà có. Bởi vì ngôi nhà, vẫn mắc nợ với từng hạt cát, với từng viên gạch, với từng giọt mồ hôi, với biết bao công khó.

Tóm lại, đời ta là kết tinh của bao công ơn. Chịu ơn thì phải biết ơn. Mà biết ơn là biết nhìn nhau với đôi mắt khiêm tốn, là biết gần lại với nhau trong thái độ hiền hòa, là biết nói với nhau bằng những lời thân ái, là biết tặng nhau cảm tình nồng thắm.

Hãy biết ơn như thế. Đối với ai, thì mỗi người có thể tự trả lời. Hãy biết ơn. Đó là tiếng gọi ta nghe được khi nhìn lại quá khứ. Còn khi nhìn đi tương lai, ta nghe gọi gì.
2. Thưa, khi nhìn tương lai, ta nghe gọi:

Tiến bộ là không ngừng ở một chỗ, mà hãy bước thêm. Con người hướng về tuyệt đối, thì tuyệt đối là đích điểm xa vời. Nên chỗ nào trong đời sống cũng là tương đối. Lúc nào ta cũng có thể bước thêm. Bước thêm là tiến lên, là tiến bộ. Tiến về mọi phương diện: Tiến bộ về sản xuất, tiến bộ về hiểu biết, tiến bộ về ý chí cương quyết kiên trì. Nhưng nhất là tiến bộ về cái nhìn, về trái tim và về đức tin.

Tiến bộ về cái nhìn, là biết nhìn cuộc đời với con mắt thực tế hơn, khoa học hơn, tự tín hơn, không để mình bị mê hoặc bởi những ảo vọng hão huyền, những mê tín dị đoan, những mặc cảm sai trái. Là biết nhìn các lập trường và đường lối khác với mình bằng thái độ cởi mở hơn, để khiêm tốn xét lại, để sửa sai, để bổ túc cho mình.

Tiến bộ về trái tim, là biết tránh kỷ hơn về nghi kỵ, về những hiểu lầm làm ta xa cách anh em đồng hành, là biết đoàn kết hơn, là biết thực thi bác ái yêu thương tích cực và rộng rãi hơn, đối với người đồng đạo, đối với các anh em không cùng tín ngưỡng.

Tiến bộ về đức tin, là biết tin cậy mến Chúa nhiều hơn, biết rút ra ở cuộc đời những bài học bổ ích cho linh hồn, biết bám víu vào Đấng có thể an ủi mình ở đời này, và ban cho mình hạnh phúc đời sau, là biết thu tích những sự thiêng liêng sẽ không bao giờ hư hao mất mát.

Muốn tiến bộ, cần phải được an tâm và tin tưởng. Cái gì sẽ giúp ta an tâm và tin tưởng. Thưa lòng đạo. Lòng đạo không phải chỉ là một ý thức hệ, nhưng là một sự sống tan hòa trong một sự sống, tức là sự sống của con người tín hữu, thông dự vào sự sống của Thiên Chúa. Lòng đạo không phải chỉ là tín điều, kinh kệ, lễ nghi, nhưng là sự gặp gỡ của một tình yêu với một tình yêu. Nghĩa là sự gặp gỡ của linh hồn với Thiên Chúa. Vì thế, lòng đạo đi vào sâu thẳm con người. Ai biết tôn trọng và vun trồng lòng đạo, sẽ bước được nhiều bước tiến bộ cả về vật chất, lẫn về tinh thần.

Anh chị em thân mến,

Quá khứ gọi ta hãy biết ơn.

Tương lai gọi ta hãy tiến bộ.

Ta nghe tiếng gọi đó. Ta chấp nhận tiếng gọi đó. Ta muốn thực thi tiếng gọi đó. Vì thế, giờ đây, chúng ta cùng bên nhau, chung quanh Chúa nhân từ, để tìm nồng nàn thêm cho lòng biết ơn, và để tìm động lực thêm cho bước tiến bộ. Xin hãy cầu cho riêng mình, cho người thân, cho Quê Hương dân tộc. Xin cầu cho nhau. Để ít ra trong giờ phút đầu tiên của năm mới, chúng ta cũng làm được một việc có ý nghĩa. Amen.

Lễ Đầu Năm Xuân Bính Thìn, ngày 31/01/1976  tại nhà thờ chánh toà Longxuyên,.

 

Bùi-Tuần 0005: MỘT ƠN GỌI 06-03-1976

 

Cứ bề ngoài mà nhìn, thì cha Phaolô đã sống bình thường và đã chết bình thường: Cha sống: 06-03-1976 Bùi-Tuần 5


Cứ bề ngoài mà nhìn, thì cha Phaolô đã sống bình thường và đã chết bình thường: Cha sống bình thường, vì cha sống cuộc sống của mọi người và như phần đông mọi người: Sống không làm phép lạ, không có những phép lạ lẫy lừng hay những thành tích vẻ vang. Cha cũng chết bình thường, vì cha chết cái chết của mọi người và như phần đông mọi người: Cũng chết trên giường, chết vì bệnh, chết hao mòn, chết sau một cơn hấp hối nhẹ nhàng, chết với những đoạn đứt hơi chậm rãi.

Nhưng trong cuộc sống bình thường và cái chết bình thường đó, con người cha Phaolô có phải bình thường không. Điều đó không thể trả lời được. Chỉ một mình Chúa biết. Vì lý đoán của Chúa rất khác lý đoán của loài người: Người ta xét việc bề ngoài, còn Chúa xét thâm sâu bên trong.

Tuy nhiên, một điều khá rõ rệt, ta có thể nói về cha Phaolô, mà không sợ lầm, đó là sự cha đã được Chúa yêu thương rất nhiều. Tình thương yêu đó đã được thể hiện đặc biệt, nhất là trong ơn kêu gọi của ngài.

Chắc chắn Chúa đã biết trước mọi sự về con người của cha Phaolô. Chúa biết trước cha Phaolô là con người yếu đuối, hay ốm đau, mang nhiều chứng bệnh nhiều năm. Và nếu thánh Phaolô Tông đồ, bổn mạng của cha, đã dám nhận mình yếu đuối phần hồn, thì huống hồ cha Phaolô. Nếu nói Ngài cũng yếu đuối cả phần hồn, thì thiết tưởng không có gì là xúc phạm.

Mặc dầu cha là con người yếu đuối, nhưng Chúa đã dành cho cha một tình thương bao la. Suốt 68 năm, cha đã được Chúa gọi liên tiếp: Từ một em bé ngoài đời, được gọi vào chủng viện, rồi từ chủng sinh gọi lên linh mục, rồi từ giáo sư chủng viện đến phó xứ, quản sở, chánh xứ, và sau chót tới chức vụ Tổng đại diện giáo phận Long Xuyên. Trong mọi chức vụ, cha đã không có mọi hoạt động nào rầm rộ. Nhưng chính sự âm thầm, khiêm tốn, nhẫn nhục của cha cũng lại đã là một thứ ngôn từ, chỉ có tình yêu mới hiểu nổi.

Sau ơn kêu gọi linh mục, thì ơn kêu gọi về nhà Cha nơi cha Phaolô, cũng mang tính cách yêu thương đặc biệt. Chúa đã gởi tới Ngài ơn đó một cách rõ rệt, một cách lâu dài, một cách khẩn thiết, một cách êm đềm, để Ngài chuẩn bị tối đa chuyến đi vận mệnh.

Chúa gọi một cách rõ rệt, bằng cách cho Ngài cảm thấy những chứng bệnh nan y, những tình trạng suy giảm sức khoẻ mỗi ngày mỗi thêm trầm trọng. Ngài đã có thể nhìn thấy sự chết đến một cách chắc chắn sát gần.

Chúa gọi về, và tiếng gọi đó lại là tiếng gọi kéo dài. Bao nhiêu tháng nằm bệnh, là bấy nhiêu tháng Chúa gọi dọn mình. Bao nhiêu cơn đau đớn, là bấy nhiêu tiếng gọi dứt lìa, để tìm về trọn vẹn với Chúa.

Tiếng gọi càng lâu, càng trở nên khẩn thiết. Ban đầu chỉ là những thử thách còn mang hy vọng vượt qua. Nhưng dần dần, với tình trạng suy tàn tuyệt vọng, Chúa đã gọi Ngài một cách cấp thiết hơn, để Ngài dồn hết tâm tình và ý chí chấp nhận vâng theo ý Chúa, để tinh luyện trước khi ra đi.

Tuy đau đớn, nhưng tiếng gọi của Chúa vẫn êm đềm. Vì suốt thời gian bị thử thách, Ngài vẫn liên tiếp được an ủi bởi những chăm sóc tế nhị tận tình của gia đình ruột thịt và thiêng liêng, của địa phận và của các người thân yêu quen thuộc.
Được dọn mình chết và được chết như Ngài, quả là một điều quý giá đáng ước ao. Chúa đã yêu thương cha trong ơn kêu gọi linh mục. Chúa đã yêu thương cha trong ơn kêu gọi về quê Trời. Hai ơn kêu gọi đó hôm nay đã dứt. Cha đã trả lời.

Hôm nay, cha chết như một người về nơi an nghỉ, vì đã làm xong công việc nặng nhọc trao phó. An nghỉ vì đã quá mệt mỏi. An nghỉ vì chỉ có chết mới là chốn an toàn vĩnh viễn.

Cha chết như là một kẻ giã từ. Giã từ kiếp sống phù du quá nhiều nước mắt. Giã từ cảnh đời trần ai quá nhiều gian khổ đớn đau buồn phiền.

Cha chết như một kẻ sang chốn đợi chờ. Đợi chờ ngày sống lại. Đợi chờ ngày tái hợp với những người thân yêu quen thuộc. Đợi chờ lời cầu nguyện của những kẻ thân mến.

Vâng, giờ đây thưa cha Phaolô, cha đã an nghỉ. Nhưng trong an nghỉ, xin cha hãy là ngọn đèn canh thức của hồn thiêng cha vẫn tiếp tục phục vụ cho Hội Thánh.

Giờ đây, cha đã giã từ. Nhưng trong giã từ, xin cha hãy là bông hoa hy vọng. Như hạt lúa có thối đi mới sinh được cây trổ bông, thì cha chết đi, xin hãy để trong lòng kẻ ở lại một vài hy vọng như những bông hoa, dù chỉ là bé nhỏ, nhưng cũng sẽ bớt được phần nào cho cuộc đời cằn cỗi phũ phàng, đắng cay u buồn.

Giờ đây, cha đang ở chốn đợi chờ. Nhưng trong đợi chờ, xin cha hãy là tiếng ca cầu nguyện, cho quê hương được đẹp, cho mọi người được an ổn và thương yêu nhau.

Và, tất cả chúng ta đây, trong lễ tiễn biệt cha Phaolô, chúng ta cầu nguyện cho linh hồn cha, và cũng hãy cầu nguyện cho chính mình, để ta biết sống trong sự chết, và biết sống trong sự chết như một mầu nhiệm Phục Sinh, và như lễ Misa chúng ta cùng dâng bây giờ.

Lễ an táng cha Phaolô Trần Ngọc Quý, Cha Chính giáo phận Long Xuyên, cử hành tại Cần Xây, ngày 6/3/1976.

 

Bùi-Tuần 0006:  ĐỌC LỜI CHÚA 03-04-1976

 

Tác vụ đọc sách, không thuộc về bí tích Truyền Chức. Nhưng được Giáo Hội coi là tác vụ quan: 03-04-1976 Bùi-Tuần 6


Tác vụ đọc sách, không thuộc về bí tích Truyền Chức. Nhưng được Giáo Hội coi là tác vụ quan trọng, nhất là sau khi Công đồng Vaticăn II ban hành phụng vụ mới, đề cao việc suy tôn Lời Chúa. Tầm quan trọng của chức vụ đọc sách gắn liền với việc suy tôn Lời Chúa.

Đọc sách, thì sách đây thì phải hiểu là Sách Thánh. Đọc sách ở đây, phải hiểu là đọc cho người khác, cho cộng đoàn, nhất là trong lễ nghi, tại nhà thờ.

Vì đọc sách cho người khác, cho cộng đoàn, nên cái tương quan này tất nhiên đặt ra vấn đề: Đọc để làm gì?

Nếu đọc chỉ để cho người ta nghe, thì mục đích quá đơn giản. Nếu đọc không những để cho người ta nghe, mà còn để cho người ta hiểu, thì cũng đã khá. Nhưng xem ra chưa đủ.

Khi phân tích tâm trạng chính mình ta, khi nghe Lời Chúa, ta thấy rằng: Ta muốn nghe Lời Chúa, nhưng ta vẫn thầm ước một cái gì khác nữa.

Thực mà nói, ta không muốn đợi và tìm Lời Chúa giúp ta giải quyết một vấn đề tư tưởng. Ta cũng không có khuynh hướng muốn phân tích Lời Chúa ra từng điểm, như phân tích một bài phát biểu, một bài văn. Ta cũng không có ý tổng hợp, xếp đặt Lời Chúa thành một hệ thống. Ta nghe Lời Chúa như một cái gì toàn diện, như kiểu hình-tâm-thuyết trong tâm lý học. Ta mong chờ ở Lời Chúa một cái gì sống động đến với ta. Ta mong chờ ở Lời Chúa một cái gì có tính cách thời sự, cho hôm nay, cho chính con người sống động của ta.

Đời sống ta đang bị dằn vặt, trôi dạt, thất vọng, ta nghe đọc Lời Chúa, gặp một câu nào đó thích hợp, tự nhiên ta cảm thấy như một cái gì linh thiêng vừa tan vào hồn ta, ta cảm thấy nhẹ nhàng hơn, vững tâm hơn, trong trắng hơn. Ta cảm thấy trong Lời Chúa, có bàn tay Chúa đặt vào đời sống ta. Chúa có mặt, Chúa gần ta, Chúa trực bên ta. Ta gặp được Chúa rồi. Đúng như lời sắc lệnh Phụng Vụ của Công đồng nói: “Chúa Kitô hiện diện trong lời Ngài”. Chính Ngài nói khi người ta đọc Sách Thánh.
Nếu người nghe đọc Sách Thánh chờ đợi một gặp gỡ như thế, thì người đọc Sách Thánh cho ngời ta nghe, phải tự thấy mình có bổn phận đáng lo, đáng kính thế nào.

Phải đọc sao cho thể hiện được sự Chúa hiện diện trong Lời Ngài. Phải đọc sao cho thực hiện được sự chính Chúa nói, khi ta đọc Lời Ngài.

Như thế, tác vụ đọc sách vừa có nhiệm vụ chuẩn bị người nghe, vừa có nhiệm vụ chuẩn bị chính mình. Nhưng chuẩn bị chính mình vốn là việc cần hơn. Chuẩn bị không những chỉ bằng cách đọc dễ dàng, cung kính, với thái độ nghiêm trang, khiêm tốn, mà nhất là bằng tâm hồn sống với Chúa, bằng sự gẫm suy cho Lời Chúa ngấm sâu vào tâm thức và trở thành động lực.

 Bổn phận người làm tác vụ đọc sách vì thế không phải là nhỏ để có thể coi thường.

Giờ đây, nếu chúng con biết cộng tác với ơn Chúa, thì lễ nghi ban tác vụ sẽ cho chúng con nhiều lắm, và chúng con sẽ nhờ tác vụ này mà cho đi được nhiều lắm.

Đây là nén bạc Chúa trao cho, phải dùng để sinh lời. Sẽ có ngày Chúa hỏi lại, và sẽ tính theo cách dùng nén bạc này, để có thể trao thêm các tác vụ lớn hơn cho tới chức linh mục.

Lễ ban tác vụ Đọc sách tại Long Xuyên, ngày 3/4/1976.

 

Bùi-Tuần 0007:  BÀN THÁNH 15-04-1976

Kính thưa quí cha thân mến,
Thưa anh chị em thân mến,
 

Chúng ta gặp nhau cũng đã nhiền lần. Nhưng lần gặp nhau tại đây hôm nay có ý nghĩa sâu sắc đặc: 15-04-1976.Bùi-Tuần 7


Chúng ta gặp nhau cũng đã nhiền lần. Nhưng lần gặp nhau tại đây hôm nay có ý nghĩa sâu sắc đặc biệt.

Giờ đây, ta gặp nhau chung quanh bàn thánh. Mà bàn thánh là nơi cử hành bí tích tình yêu. Nên ta dự đây, tức là ta muốn cùng nhau chia sẻ một tình thương mến: Cùng mến Chúa, cùng thương nhau, cùng trao gởi cho nhau sự thông cảm, sự tha thứ, sự kính trọng lẫn nhau.

Ta gặp nhau chung quanh bàn thánh. Mà bàn thánh là nơi diễn lại cách mầu nhiệm cuộc khổ nạn của Chúa. Nên ta dự đây, tức là muốn cùng nhau chia sẻ với Chúa những giờ đen tối đau buồn ở vườn Giếtsêmani, muốn cùng chia sẻ với Chúa những sự sỉ nhục và bị bỏ vạ ở dinh Philatô và Hêrôđê, muốn cùng chia sẻ với Chúa những giờ mệt mỏi kiệt sức trên thập giá, và muốn cùng chia sẻ với Chúa giờ chết đau đớn cùng cực trên núi Calvariô.

Ta gặp nhau đây chung quanh bàn thánh. Mà bàn thánh là nơi dâng lễ đền tội. Nên ta dự đây, là muốn cùng nhau ăn năn thống hối, dứt lìa tội lỗi, muốn nhờ máu Chúa mà đền bù tẩy rửa muôn vàn tội ta phạm, và bao tội kẻ khác phạm vì ta.

Các linh mục chúng ta, anh chị em giáo dân, cả tôi nữa, chúng ta hết thảy, đều là những người tội lỗi. Điều đó không lạ.

Vị tông đồ thứ nhất vừa là Phêrô hăng hái theo Thầy, nhưng cũng là Simon yếu đuối nhát sợ. Vị tông đồ thứ hai vừa là Phaolô can trường rao giảng đức tin, nhưng cũng là Saolê lầm lỡ và đau khổ, vì điều mình muốn làm thì không làm, mà điều không muốn làm thì lại làm.

Phương chi chúng ta, những người còn xa hai vị đại thánh tông đồ. Điều quan trọng, không phải thấy mình đã thánh. Nhưng là nhận mình yếu đuối tội lỗi, và quyết tâm cố gắng cộng tác với ơn thánh Chúa.

Vì thế, trong thánh lễ này, chúng ta sẽ nói lên quyết tâm đó, và cũng sẽ khiêm tốn kêu xin sự nâng đỡ của những người chung quanh.

Chúng ta đã hợp nhất với nhau trong tình thương. Chúng ta đã hợp nhất với nhau trong sự đau đớn. Chúng ta đã hợp nhất với nhau trong sự đền tội, thì chúng ta cũng phải hợp nhất với nhau trong lời cầu nguyện.

Xin hãy cầu nguyện cho nhau rất nhiều, thực nhiều. Nhờ lời cầu nguyện mà chúng ta nâng đỡ nhau, sẽ nương tựa vào nhau mà sống.

Và để càng thắt chặt sự hợp nhất giữa chúng ta trong thánh lễ này, chúng ta sẽ cùng nhau tham dự việc làm phép dầu thánh được dùng trong nhiều bí tích.

Lễ Truyền Dầu tại nhà thờ Chánh Tòa Long Xuyen, ngày 15/4/1976.

 

Bùi-Tuần 0008: NGÀY VINH THẮNG18-04-1976

 

Đối với người Công Giáo, lễ Phục Sinh là một lễ lớn, là một lễ trọng, là một lễ vui mừng. Tại sao thế?: 18-04-1976 Bùi-Tuần 8


Đối với người Công Giáo, lễ Phục Sinh là một lễ lớn, là một lễ trọng, là một lễ vui mừng.
Tại sao thế?

Tất nhiên có nhiều lý do.

Ở đây chúng tôi không muốn bàn tới lý do lễ Phục Sinh là ngày hoàn tất việc Chúa cứu chuộc nhân loại. Tôi cũng không muốn nói tới lý do: Lễ Phục Sinh là ngày hứa hẹn và bảo đảm hạnh phúc bất diệt đời sau cho những ai tin tưởng đi theo đường thánh giá Chúa. Ở đây, tôi chỉ xin nhắc tới vắn tắt một lý do rất nên chú ý, đó là lý do: Phục Sinh, chính là ngày Chúa vinh thắng. Chúa Kitô đã vinh thắng những sự gì?

Thưa anh chị em,

1. Sự thứ nhất mà Chúa Kitô đã toàn thắng vinh hiển trong ngày Phục Sinh, đó là sự chết.

Thắng được sự chết, đó là cuộc vinh thắng đặc sắc nhất, chưa hề có ai làm được. Người ta có thể dùng thuốc để kéo dài sự sống. Các thánh có thể nhờ phép Chúa, mà làm cho người chết sống lại. Nhưng không ai có thể tự sức mình, làm cho xác mình đã chết được sống lại. Không ai đã làm được, nhưng Chúa đã làm được.

Như chúng ta đã biết, xác Chúa Kitô đã chết thực, chết không phải vì thất bại, nhưng chỉ vì Ngài tình nguyện, muốn tự hiến mình chịu chết đau khổ, để cứu rỗi nhân loại. Xác Ngài chết, nhưng hồn Ngài và bản tính Thiên Chúa nơi Ngài vẫn sống. Thế rồi, đến ngày thứ ba, hồn xác Ngài lại kết hợp với nhau trong cùng một sự sống. Ngài đã tự mình làm cho mình sống lại. Không phải chỉ sống lại như trước, mà là sống lại với một sự sống còn tốt đẹp hơn trước bội phần.

Bằng sự tự mình, làm cho mình sống lại, Chúa chúng ta đã tỏ ra Người là Đấng làm chủ sự sống, là Đấng Tạo hóa, và chỉ có Ngài mới làm được sự sống.

Thực vậy, chúng ta thử coi những sự sống đơn giản, như con giun, con bướm. Thực là đơn giản, thế mà chẳng ai đã làm được. Hay những sự sống còn đơn giản hơn nữa, như cây cải, trái chanh, thực rất là đơn giản, thế mà chẳng khoa học nào đã làm nổi. Chỉ có Tạo Hoá làm được các sự sống và làm một cách tài tình khôn tả. Ta thấy một cây xoài, một cây chuối, cả hai cũng chỉ hút đất, nước và ánh sáng mặt trời như nhau, thế mà rồi cây này sinh ra được trái xoài, cây kia sinh ra được trái chuối. Tất cả đều là những sự sống ngon lành tươi tốt. Hỏi rằng, có nhà máy nào trên thế giới, để có thể chỉ dùng đất và nước biến chế thành trái xoài, trái chuối. Chắc là không. Vì thế có thể nói, chỉ một cây chuối mà thôi do Tạo Hoá làm ra, cũng đã là một nhà máy tối tân nhất của bất cứ khoa học hiện đại nhất của loài người.

Sự sống do Tạo Hoá. Tạo Hoá là chủ sự sống. Sự Chúa tự mình sống lại nhắc cho ta điều đó.

2. Sự thứ hai mà Chúa Kitô đã thắng cách vinh hiển trong ngày Phục Sinh, đó là sự hận thù.

Một người đã hoàn thắng sự chết một cách vinh hiển như Chúa Giêsu, tất phải là Đấng có dư quyền năng để trị tội những ai đã hại Ngài, có dư quyền năng để làm cho toàn dân Do Thái, từ trên xuống dưới, phải cúi đầu bẽ bàng qui phục Ngài, có dư quyền năng để dằn mặt những ai sỉ nhục Ngài, có dư quyền năng để mắng trách những ai đã từ chối và trốn bỏ Ngài.

Nhưng Chúa Giêsu sống lại đã không làm thế. Trước đó, bao người đã xử tệ với Ngài, nhưng khi sống lại, Ngài không hề nói một lời nào cay đắng, phiền rầy bất cứ ai. Vừa mới sống lại, Ngài đã vội gởi lời chào thăm những người trước đó mấy hôm đã chối bỏ Ngài. Ngài gọi họ là anh em. Lời đầu tiên Ngài chào họ, là lời chào chúc bình an. Ngài trấn an họ đừng có sợ.

Còn đối với những người cầm quyền đã kết án Ngài, thì Ngài giữ thái độ hoàn toàn thinh lặng. Và sự thinh lặng của Ngài trong hoàn cảnh đó, có nghĩa như một sự tha thứ, một sự hoà giải, một sự bảo vệ trật tự xã hội, một sự tôn trọng quyền bính.

Nếu phải là một người khác, thì khó tránh được sự báo thù, hạ nhục, ra oai, lên mặt. Nhưng Chúa Giêsu sống lại đã vô cùng cao thượng, Ngài đã muốn chịu chết vì yêu thương. Ngài muốn dùng tình thương để cảm hoá và lôi kéo lòng người, chứ không muốn dùng một thứ áp lực nào, dù chỉ là áp lực của một sự phô trương quyền bính.

Sức mạnh của Ngài là tình thương. Ngài dùng sức mạnh tình thương để xây dựng một nước tình thương, mà lãnh thổ là những trái tim tự do, chân thành.

Anh chị em thân mến,

Thắng được sự chết, là điều quá khó. Thắng được hận thù là điều quá hiếm. Chúa chúng ta toàn thắng hai sự khó khăn và họa hiếm đó trong sự sống lại: Ngài đã thắng sự chết. Ngài đã thắng hận thù.

Ngài sống lại, và không còn chết nữa. Ta theo đạo Công Giáo, chính là theo Ngài, Đấng luôn bảo vệ và hiện nay vẫn sống bên ta. Ta hãy tin tưởng vào Ngài. Có ngày rồi ta sẽ chết. Nhưng nếu ta vững tin và phụng sự Ngài, Ngài sẽ cho ta được tham dự vào sự sống lại vinh hiển của Ngài. Lúc đó, ta sẽ thấy rõ, theo đạo và giữ đạo của Ngài thực là con đường tốt nhất, thỏa mãn được mọi khác vọng sâu xa nhất của lòng ta. Amen.

Lễ Phục Sinh tại nhà thờ Chánh Tòa Long Xuyên, ngày 18/4/1976.

 

Bùi-Tuần 0009: ĐÔI TAY QUÍ GIÁ01-05-1976

 

Nhìn một người, chúng ta có thể đoán được họ là giáo dân lao động hay không lao động, hoặc: 01-05-1976 Bùi-Tuần 9


Nhìn một người, chúng ta có thể đoán được họ là giáo dân lao động hay không lao động, hoặc là lao động tinh thần hay lao động thể xác. Ta đoán thường đúng, nhờ ở sự nhận xét nét mặt, cách đi đứng, nói năng của họ, nhất là nhờ sự quan sát một đặc điểm tập trung rõ rệt nhất, đó là bàn tay. Cách riêng, để nhận ra lao động, thì bàn tay là bằng chứng khá chắc chắn.

Cũng theo luật đó, khi giới thiệu thánh Giuse Thợ, người ta vẽ Ngài có bàn tay rắn rõi, cầm đục, cầm búa, chứ không với bàn tay nõn nà cầm bông huệ. Có nghĩa là bàn tay Ngài chứng minh Ngài là thợ, là dân lao động. Đặc điểm lao động của Ngài là ở bàn tay. Giá trị lao động của Ngài cũng ở bàn tay. Lao động nhờ bàn tay. Bàn tay làm lao động.

Vì thế, bài lễ hôm nay, có hai lần nhắc tới bàn tay. Ca nhập lễ nói: “Kết quả tay bạn làm ra, bạn được an hưởng”. Đáp ca thì nói: “Xin cũng cố sự nghiệp do tay chúng con làm ra”.

Nói thế, có phải ngày hôm nay chúng ta kính thánh Giuse Thợ, vì giá trị của bàn tay Ngài hay không? Thưa phải, nhưng phải hiểu đúng và đủ những giá trị, gồm trong 3 lý do sau đây:

1. Vì bàn tay Ngài là bàn tay lao động.
2. Vì bàn tay Ngài là bàn tay cho đi.
3. Vì bàn tay Ngài là bàn tay cầu nguyện.

Đó là ba điểm tôi sẽ vắn tắt trình bày bây giờ.

Anh chị em thân mến.

1. Thánh Giuse Thợ, được tôn kính vì lý do thứ nhất: Bàn tay Ngài là bàn tay lao động, để sản xuất nuôi mình.

Chúng ta biết: Lao động là một giá trị cao quí. Nhờ lao động, con người được tham gia vào quyền năng sáng tạo của Chúa. Nhờ lao động, con người thực hiện được quyền làm chủ thiên nhiên, do Chúa ban cho, như sách Sáng Thế vừa kể (St 2,15). Nhờ lao động, con người được góp phần vào việc quan phòng của Chúa. Nhờ lao động, con người được đảm đang nghĩa vụ nuôi mình, như thánh Phaolô nói trong Tông Đồ Công Vụ.

Chúa đã muốn như thế, và thánh Giuse đã thực hiện đúng thánh ý đó. Ngài không có nhiều của, nhưng có nghề. Có nghề để sinh sống. Đó là một vinh dự, một lợi điểm, một giá trị, một bảo đảm tốt.

2. Thánh Giuse thợ được tôn kính, vì còn lý do thứ hai: Đó vì là bàn tay Ngài là bàn tay cho đi, để thực hiện yêu thương bác ái.

Chúng ta biết: Giá trị con người ở ta là biết cho đi, hơn là biết thu vén. Nhờ cho đi, ta mới góp phần mình vào công việc tập thể. Nhờ cho đi, ta mới thực hiện được giới răn căn bản của đạo là yêu thương bác ái. Nhờ cho đi ta mới tỏ ra được là con Thiên Chúa, Đấng có tên gọi là Tình Yêu.

Dùng tay cho đi của cải. Dùng tay cho đi tâm tình. Ngay một cái bắt tay, một cái vẫy tay, một sự cầm tay, nhiều khi cũng đã là những cách cho đi, để chuyển sang nhau những gì hữu ích, nâng đỡ cuộc đời.

Thánh Giuse đã dùng bàn tay lao động mình để cho đi. Ngài cho đi, khi Ngài dùng cánh tay làm lụng nuôi sống gia đình, khi dùng bàn tay chăm sóc âu yếm những người thân yêu, khi dùng chính tay che chở nâng đỡ những đồng bào chung quanh, khi dùng bàn tay chu toàn nghĩa vụ công dân đối với tổ quốc.

3. Thánh Giuse Thợ, còn được tôn kính vì lý do thứ ba, đó là vì: Bàn tay Ngài là bàn tay cầu nguyện, để tìm về tuyệt đối.

Chúng ta biết: Lúc ông Maisen cầu nguyện đắc lực nhất, là lúc ông giơ hai tay lên trời. Trong thánh lễ, linh mục cầu nguyện lúc giơ tay, lúc chắp tay, lúc đấm ngực. Những cử chỉ đó của bàn tay biểu lộ sự khiêm tốn, một sự vươn lên, một sự cầu cứu, một sự tìm về tuyệt đối.

Thánh Giuse đã có bàn tay cầu nguyện, không những vì bàn tay Ngài thực hiện những lễ nghi đạo đức, mà còn vì sự Ngài đã biết hướng việc lao động và sự cho đi của Ngài vào mục đích phụng sự Chúa và tìm gặp Chúa.

Anh chị em thân mến,

Chúng ta vừa cùng nhau tìm hiểu ba lý do tại sao thánh Giuse được tôn vinh: Vì bàn tay Ngài là bàn tay lao động để sản xuất nuôi mình. Vì bàn tay Ngài là bàn tay cho đi để thực thi yêu thương bác ái. Vì bàn tay Ngài là bàn tay cầu nguyện để tìm về tuyệt đối.

Bàn tay Ngài là thế, còn bàn tay ta thì sao? Cái ta cần bắt chước Ngài, không phải chỉ là những việc làm hình thức bề ngoài. Nhưng nhất là những ý nghĩa xuất phát tự tận đáy lòng. Huấn luyện bàn tay cũng là chuyện huấn luyện ý chí lương tâm, tâm hồn. Việc đó không phải là chuyện một ngày, một tháng. Nhưng là chuyện phải làm suốt đời. Ta hãy làm hết sức, và hãy xin Chúa giúp ta, nhờ công nghiệp của thánh Giuse Thợ, mà chúng ta kính nhớ trong ngày lễ Lao Động hôm nay.

Lễ thánh Giuse Lao Động tại Long Xuyên, ngày 1/5/1976.

 

Bùi-Tuần 0010: SỰ HỢP NHẤT VÀ CHÚA THÁNH THẦN06-06-1976

 

Ngày Thánh Linh hiện xuống là một ngày lạ: Lạ vì đột nhiên có một nguồn gió lạ từ đâu thổi mạnh: 06-06-1976 Bùi-Tuần 10


Ngày Thánh Linh hiện xuống là một ngày lạ: Lạ vì đột nhiên có một nguồn gió lạ từ đâu thổi mạnh, vào nhà các tông đồ. Rồi lạ vì đột nhiên một khối lửa từ trời, xuống chia nhỏ ra thành từng mảnh, như hình chiếc lưỡi, tới đậu trên đầu mỗi người, bốc cháy bừng bừng mà không đốt chi, dù chỉ là một sợi tóc. Rồi lạ nữa, vì đột nhiên các tông đồ trở nên người mới: Khôn ngoan, quả cảm, nhân đức phi thường, khác hẳn trước đó.

Còn một sự lạ nữa, một sự rất đáng chú ý, đó là sự ngàn người, bỗng nhiên hợp nhất nên một. Bao người từ các nước về hợp tại Giêrusalem bỗng cảm thấy mình như anh em một nhà, nói tiếng khác nhau, mà hiểu được nhau, xa lạ nhau, mà nên thân nhau, khác quê hương, mà như chung một gia đình. Họ hợp nhất với Chúa Giêsu, hợp nhất với các tông đồ, và hợp nhất với nhau. Đó là một sự hợp nhất hết sức kỳ diệu, một sự hợp nhất được hình thành một cách nhẹ nhàng, êm thắm, sâu xa, từ những hoàn cảnh khó khăn phức tạp.

Chúa Thánh Linh đã làm thế nào để xây dựng sự hợp nhất kỳ diệu đó. Đó là vấn đề tôi muốn cùng anh chị em tìm hiểu, để rồi nhờ đó, tìm giải quyết mọi vấn đề hợp nhất, rất cần của chúng ta.
Anh chị em thân mến,
Chúa Thánh Linh đã làm thế nào, để xây dựng sự hợp nhất kỳ diệu giữa muôn người ngày Hiện Xuống...

1. Thưa việc trước hết Người đã làm, là cho họ một cái nhìn mới về Chúa và về tha nhân.

Trên đời, có hai quyển sách khó hiểu nhất: Quyển khó hiểu thứ nhất là Kinh Thánh mang Lời Chúa. Quyển khó hiểu thứ hai là con người ta. Các người Do Thái, từ dân đến các thầy cả, luật sĩ, thường hiểu Kinh Thánh một cách phất phơ theo nghĩa chữ. Chính các tông đồ, mặc dầu được Chúa Giêsu huấn luyện 3 năm liên tiếp, cũng vẫn không hiểu rõ các Lời Chúa. Họ hiểu Chúa cách hẹp hòi, theo kiểu trần thế.

Nhưng khi Thánh Linh hiện xuống ban ơn, họ mới thấy Chúa không giống như họ tưởng trước kia. Lúc đó họ mới nhận ra, Chúa Giêsu không đến vì mục đích chính trị nào, cũng không vì mục đích tranh giành ảnh hưởng với ai. Nhưng Ngài đã đến, chỉ vì mục đích hoàn toàn tôn giáo, hoàn toàn vị tha, trong thái độ hoàn toàn tôn trọng trật tự xã hội và quyền bính. Lúc đó, họ mới nhận định rõ, đạo Chúa chỉ là con đường bác ái yêu thương, và Thiên Chúa chính thực là Cha và là Đấng cứu độ đầy nhân ái.

Nhờ Chúa Thánh Linh, họ đã biết được cuốn sách khó hiểu nhất. Đến cuốn sách khó hiểu thứ hai là tha nhân, thì Chúa Thánh Linh hôm nay cũng giúp họ hiểu đúng hơn.

Trước đó, họ hiểu người khác, nếu là người lạ thì phải dò xét. Nếu là bạn thì nên lợi dụng, nếu thù thì phải trả oán: “Răng đền răng mắt đền mắt”. Ngay sự các tông đồ trong bữa tiệc ly còn tranh luận ai ngồi trên, ai ngồi dưới, thì đủ cho thấy cái nhìn của các Ngài đối với người khác hẹp hòi thế nào.


Nhưng khi Thánh Linh hiện xuống, họ đổi mới cái nhìn của mình về người khác. Bây giờ, họ nhìn người khác thực là anh em, con cùng một Cha chung, mình phải cư xử với họ như cư xử với chính mình.

Nhờ Chúa Thánh Linh giúp hiểu được Chúa và hiểu được người khác như thế, nên mỗi người hôm nay đã cảm thấy gần lại với Chúa và gần lại với nhau hơn. Xưa kia, những người xây tháp Babel cùng nói một thứ tiếng, cùng xây một tháp, nhưng sau cùng công cuộc đã kết thúc tệ hại: Đang nói một thứ tiếng thì bỗng chẳng ai hiểu được ai, để rồi phải chia ly, và chia ly trở thành chia rẽ.

Trái lại, ngày Chúa Thánh Linh hiện xuống, ngàn người nói nhiều thứ tiếng khác nhau, mà hiểu được nhau, để rồi sau đó phải chia tay, nhưng vẫn hợp nhất. Điều đó chứng tỏ, sự hợp nhất không phải chỉ do nhìn thấy nhau, đứng bên nhau, làm việc với nhau, cùng nói một tiếng, cùng có một phát biểu như nhau. Nhưng căn bản là do ở sự biết nhìn nhau với lòng khiêm tốn, huynh đệ, quảng đại, và biết cư xử với nhau như anh em. Sự hiểu biết đó, các tông đồ hôm nay đã được Chúa Thánh Linh thông ban cho một cách dồi dào phong phú.

2. Việc thứ hai Chúa Thánh Linh đã làm, để xây dựng hợp nhất, là làm cho họ yêu thương nhau bằng một tình yêu mới.

Chúng ta thừa biết: Hợp nhất là chuyện của trái tim nhiều hơn là của lý trí. Đã hẳn có hiểu mới thương. Nhưng cũng vì có thương mới hiểu. Càng hiểu, càng thương. Càng thương, càng hiểu. Ngài cũng là lửa tình yêu Thiên Chúa, làm cho thương yêu.

Khi Thánh Linh hiện xuống, thấu nhập vào các môn đệ, các Ngài bỗng cảm thấy thấm thía Thiên Chúa chính thực là tình yêu. Chúa không còn là ai xa lạ. Nhưng là một người thân, một người gần gũi, một người của mình, một người thương mình, và là một người mình thương. Giữa Ngài với mình không còn khoảng cách. Đúng như kinh nghiệm thánh Phaolô: “Không phải tôi sống, nhưng là Chúa Kitô sống trong tôi”. Khi sự sống hòa tan vào nhau, trở nên một, để con người sát nhập tâm hồn, ý muốn hoàn toàn vào Chúa. Thực là một sự hợp nhất không gì sánh được. Do sự yêu mến thân mật với Chúa như thế, tâm hồn các môn đệ được mở rộng, trở nên quảng đại, trong sạch, quả cảm và tốt đẹp hơn trước bội phần.

Rồi cũng với tâm hồn tốt đẹp đó, các môn đệ Chúa đã lại yêu thương kẻ khác. Do đó mà tình thương mới tuyệt vời. Tuyệt vời vì rất mực hy sinh. Tuyệt vời vì rất mực chân thành bền vững. Và nhất là tuyệt vời vì hoàn toàn chỉ dùng sức mạnh cảm hóa, và hoàn toàn tôn trọng sự tự do lựa chọn của mỗi người.

Tình thương như thế chỉ tìm tha thứ, chỉ tìm cảm thông, chỉ tìm phục vụ, chỉ tìm cho đi. Tất cả đều nhằm xây dựng và duy trì hợp nhất.

Chính vì những tính cách cao siêu hoàn hảo trên đây mà tình yêu thương nơi các môn đệ Chúa hôm nay đã trở thành mới mẽ.

Anh chị em thân mến.

Hợp nhất là điều rất cần trong xã hội. Gia đình cần hợp nhất. Giáo Hội cần hợp nhất. Tổ quốc cần hợp nhất. Nhưng hợp nhất là công việc hết sức tế nhị. Vì đây là việc nối kết lòng người, đây là việc qui tụ các tự do cá nhân. Để nối kết lòng người, chỉ có dây tình thương mới nối kết nổi. Để qui tụ các tự do cá nhân, chỉ có sự hiểu biết và cảm hoá mới qui tụ được.

Chúng ta đã xây dựng sự hợp nhất theo gương Chúa Thánh Thần. Đó là: Hãy có một cái nhìn mới mẽ, quảng đại, đúng đắn như các tông đồ, vì Chúa và vì người khác. Rồi hãy yêu thương nhau bằng một tình thương mới mẽ, quảng đại và chân thành.

Hai việc đó không phải dễ. Nhận khó mới là lương thiện, để rồi ta biết phải khiêm tốn nhờ vào sự trợ giúp của kẻ khác, nhất là biết phải khiêm tốn nhờ sự trợ giúp của Chúa Thánh Linh. Lửa Thánh Linh hôm nay vẫn nóng. Gió Thánh Linh hôm nay vẫn mạnh. Ai biết tìm kiếm sẽ thấy. Ai biết đón nhận sẽ được. Xin Đức Mẹ giúp ta biết khiêm tốn tìm kiếm và tỉnh táo đón nhận Thánh Linh. Có lẽ Ngài đang đến qua lối cửa ta không mở sẵn, trong những biến cố không chờ đợi, trong những lời u buồn tăm tối, trong những dáng người ta chẳng mấy quen. Nhưng xin Ngài cứ đến, và cho chúng con biết nhận ra Ngài. Amen.

Lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống tại Long Xuyên, ngày 6/6/1976.


 

Bùi-Tuần 0011: MỘT TƯƠNG LAI ĐẸP 12-08-1976

 

Lễ hôm nay, có thể gọi là lễ của tuổi trẻ. Vì ngoài một số rất ít người lớn chịu phép Thêm Sức, còn bao: 12-08-1976 Bùi-Tuần 11


Lễ hôm nay, có thể gọi là lễ của tuổi trẻ. Vì ngoài một số rất ít người lớn chịu phép Thêm Sức, còn bao nhiêu người rước lễ Bao Đồng hôm nay, đều là thanh niên nam nữ.

Tuổi trẻ ví như buổi sáng. Tuổi già ví như buổi chiều. Người tới buổi chiều thì đã qua buổi sáng. Còn kẻ chỉ mới tới buổi sáng, thì chưa biết buổi chiều. Chưa biết nên mới mộng mơ. Vì thế, người trẻ thường mơ tới tương lai, đang khi người già thì nghĩ về dĩ vãng. Tương lai mà người trẻ thường nghĩ tới là tương lai của mình, tương lai cuộc đời mình, tương lai của bản thân mình.

Ai mà chẳng muốn một tương lai đẹp cho bản thân mình. Nhưng bằng con đường nào. Câu hỏi đó có thể chưa là vấn đề đặt ra rõ rệt cho một số người trẻ ở đây. Nhưng rồi có lúc sẽ phải đặt ra: Đời tôi rồi sẽ ra sao? Câu đó sớm muộn sẽ là một mối bận tâm, một mối băn khoăn cho mỗi người trẻ.

Để giúp mỗi người trẻ có mặt đây giải quyết tương lai đời mình, hôm nay tôi muốn nhắn nhủ mấy nguyên tắc cần thiết.

Anh chị em thân mến,

1. Nguyên tắc thứ nhất là: Để tương lai đời mình được tốt đẹp, ta hãy chọn con đường chắc chắn nhất.

Chúng ta biết rằng: Cái khó giải quyết nhất là chính cuộc đời. Nhưng cuộc đời lại là vấn đề cần phải giải quyết nhất. Hôm nay như thế này, nhưng mai sẽ ra sao? Nhất là chết rồi, ta sẽ như thế nào? Có người bảo, chết rồi là hết. Nhưng lỡ ra không hết, mà thực sự không hết, thực sự sẽ có đời sau, thực sự sẽ có thưởng phạt vô cùng thì sao? Đợi lúc chết mới nhận ra thì đã quá muộn. Nên muốn khôn, thì ngay bây giờ và mãi mãi, ta phải chọn con đường chắc chắn nhất. Đó là tin mến Chúa, vì Chúa là Đấng có quyền đời này và đời sau.

Và ngay trong chính cuộc đời này, ta vẫn khát vọng một hạnh phúc, không phải chỉ là cơm, chỉ là áo, chỉ là vật chất, mà là một hạnh phúc làm bằng những gì cao quí hơn, tinh vi hơn, sâu xa hơn.

Thí dụ, tôi lỡ phạm tội, tôi bị lương tâm ray rứt, ai sẽ có quyền tha tội cho tôi, ai sẽ đem lại an ổn cho lương tâm tôi. Tôi ăn ngay ở lành, tôi chịu khó hy sinh. Ai sẽ thấy được những công khó của tôi, ai sẽ thưởng công cho tôi, ai sẽ giải oan cho tôi. Có người bảo là cơm áo, là người ta. nhưng lỡ ra cơm áo và người ta không thể xoá được tội trong lương tâm tôi, không thể thấy rõ được linh hồn tôi thì sao. Mà chắc là thế. Nên nếu muốn khôn, thì ngay bây giờ và mãi mãi, ta phải chọn đường chắc ăn nhất. Đó là tin mến Chúa, vì Chúa là Đấng thấu suốt mọi sự, công bình và hay thương xót vô cùng, sẽ thưởng phạt cân xứng cho mọi người đời sau.

Tin mến Chúa, không phải là việc chỉ có chúng ta mới chọn, mà là bao nhiêu người đã chọn. Đã có từng triệu triệu người tin mến Chúa. Đã có từng triệu nhà trí thức tin mến Chúa. Đã có từng ngàn vạn nhà khoa học tin mến Chúa. Cả một lịch sử mấy ngàn năm nhân loại đã tin mến Chúa.

Chúng ta cho đường chúng ta chọn là chắc chắn nhất, vì chính Thiên Chúa làm người để chỉ dạy, bao vị thánh đã đi theo, và đã được chứng minh bằng bao nhiêu phép lạ.

Tất nhiên, con đường chắc chắn nhất, không có nghĩa là con đường rõ nhất, và mắt thấy được, tay sờ được. Tôn giáo có nhiều điều ta không thể thấy, không thể hiểu. Nhưng không vì thế nói được rằng, những điều đó không chắc. Tuổi trẻ còn nhỏ lắm. Là người lớn, dù thế nào cũng vốn là nhỏ. Bao nhiêu điều ta đâu có thấy, ta đâu có hiểu, mà vẫn phải tin là chắc có. Các sự dưới đất, mình hiểu chẳng thấu, phương chi các sự trên trời, các sự tôn giáo.

2. Nguyên tắc thứ hai là: Để tương lai đời mình được đảm bảo tốt đẹp, ta hãy chọn con đường có lợi nhất.

Nói đến lợi, thì phải tính lợi gần, mà cũng tính lợi xa, phải nghĩ đến lợi vật chất, mà cũng phải nghĩ tới lợi tinh thần, phải lo tới lợi đời này, mà cũng phải lo tới lợi đời sau. Nếu bỏ lợi xa, để lo lợi gần, để rồi lợi xa đã mất, mà lợi gần cũng chẳng được, thì thực là dại.

Con đường lợi nhất về mọi phương diện, thiết tưởng vẫn là con đường tin mến Chúa. Thực vậy, sự tin mến Chúa, không ngăn trở công việc làm ăn. Trái lại, còn làm cho ta được an tâm mà gia tăng sản xuất. Sự tin mến Chúa, không hại gì cho quê hương đất nước. Trái lại, còn huấn luyện lương tâm ta biết sợ tội, biết sống lương thiện, trong trật tự và yêu thương, và càng hăng say dấn thân phục vụ.

Nhờ sự tin mến Chúa, con người sẽ thấy bớt cô đơn, bớt trống trải tâm hồn và nhất là sẽ thấy đời mình có ý nghĩa, và sau cùng, sẽ được hưởng cái lợi to lớn, là hạnh phúc vô cùng trên nước Chúa ở đời sau.

Ở đây, chúng ta đừng lầm tưởng rằng: Con đường lợi nhất là con đường dễ nhất. Điều đó không đúng. Ngay trong việc làm ăn, con đường dễ nhất đâu có phải là con đường lợi nhất, phương chi con đường đời sống! Chúa đã bảo trước rồi: Phải đi vào con đường hẹp. Chính Chúa đã đi con đường Thánh Giá, để ta, nếu gặp khổ, thì đừng vội nản.

Anh chị em thân mến,

Tuổi trẻ là tuổi của mơ ước.
Tuổi trẻ là tuổi của vẻ đẹp.
Tuổi trẻ là tuổi của tình yêu.
Tuổi trẻ đang hăng hái đi vào cuộc đời.

Nhưng để tương lai đời mình được đảm bảo tốt đẹp, ta hãy chọn con đường chắc chắn nhất. Đó là tin mến Chúa.

Lễ Bao Đồng Trọng Thể tại Rạch Giá, ngày 12/8/1976.
 

Bùi-Tuần 0012: SỰ TẾ NHỊ02-09-1976

 

Ngày Quốc Khánh là ngày trọng đại. Về lịch sử và về ý nghĩa của ngày trọng đại này, chúng: 02-09-1976 Bùi-Tuần 12


Ngày Quốc Khánh là ngày trọng đại. Về lịch sử và về ý nghĩa của ngày trọng đại này, chúng ta đã được nghe đầy đủ, do các cơ quan công quyền. Ở đây, trong lễ nghi tôn giáo, tôi muốn cùng anh chị em, hướng suy tư về nội tâm êm đềm, để tìm làm đẹp quê hương ta từ chính nội tâm mình. Tôi muốn nói tới một đức tính, mà theo thiển ý tôi, nếu không phải là quan trọng, thì cũng gọi được là đáng kể trong việc làm nên lịch sử vẻ vang của đất nước chúng ta hôm nay. Đức tính đó là sự tế nhị trong quan hệ với nhau.

Tế nhị trong quan hệ đối với nhau là gì? Và tại sao tế nhị đó lại là yếu tố giúp xây dựng hạnh phúc cho dân tộc ta. Đó là hai câu hỏi gợi ý suy tư trong lễ hôm nay.

Anh chị em thân mến,

I. Tế nhị trong sự quan hệ với nhau là gì?

Để diễn tả, tôi xin phân tích bốn đặc điểm của sự tế nhị:

1/- Đặc điểm thứ nhất của sự tế nhị là biết kính trọng người khác.

Trọng kính ai, là nhìn nhận người ấy có những giá trị nào đó. Mỗi người đều rất có nhiều giá trị. Nhưng giá trị nơi người khác, không phải là những cái hay cái tốt, do ta gán cho họ tùy ý ta. Nhưng là cái hay cái tốt khách quan của họ. Ta chỉ nhìn thấy những giá trị đó, khi tâm hồn ta bình lặng khiêm tốn, không thiên kiến và giàu tình huynh đệ. Sự nhìn nhận như thế sẽ được biểu lộ ra bên ngoài, bằng thái độ lịch sự, bằng lời nói lễ phép, bằng sự cư xử nhã nhặn. Trọng kính như thế, không những đối với cá nhân, mà còn đối với tập thể, đối với tín ngưỡng hay vô tín ngưỡng, ai biết kính trọng thì chính mình đáng được người khác trọng kính.

2/- Đặc điểm thứ hai của sự tế nhị là có tâm hồn hiểu biết.

Hiểu biết ai, là đặt mình vào hoàn cảnh của người đó, là biết thông cảm với hoàn cảnh của họ, là biết lắng nghe tiếng nói thực sự và đầy đủ của họ và về họ, chứ không chỉ nghe tiếng nói một chiều của người nghi kỵ, chuyên môn nói xấu họ. Tâm hồn hiểu biết, tất nhiên phải là một tâm hồn sáng suốt, nhìn xa thấy rộng, đoán được tâm lý kẻ khác, một tâm hồn quảng đại, biết chia sẻ với người khác niềm vui nỗi buồn và sẵn sàng đem lại cho họ sự nâng đỡ có thể.

3/- Đặc điểm thứ ba của sự tế nhị là quan tâm, làm vui lòng kẻ khác.

Ta có thể làm vui lòng kẻ khác bằng thái độ, lời nói, bằng cách cư xử của ta. Đừng tưởng phải có nhiều phương tiện mới có thể làm vui được lòng nhau. Thực ra, ai cũng có thể cho đi thực nhiều, mà không cần phải mất mát. Chẳng ai quá nghèo, đến nỗi không thể cho người khác một lời chào, một lời khen, một nụ cười, một cái nhìn thiện cảm, một cử chỉ nhã nhặn. Không thiếu sự để cho đi. Không thiếu cách để cho đi. Chỉ thiếu sự tế nhị mà thôi.

4/- Đặc điểm thứ bốn của sự tế nhị là phải chân thành.

Chân thành là không giả dối, không đóng kịch, không dừng lại ở lý do xã giao bề ngoài, mà là phát xuất từ tận tâm hồn đơn sơ, thành thực. Sự chân thành là yếu tố quyết định cho việc lượng giá sự tế nhị đối với nhau. Nghĩa là có tất cả đẹp đẽ bề ngoài, mà thiếu chân thành, thì vẫn quá thiếu. Trái lại, thiếu quá nhiều vẻ đẹp bên ngoài, nhưng có chân thành, thì vẫn là đáng quí.

II. Với bốn đặc điểm trên đây, sự tế nhị thiết tưởng là một yếu tố đáng kể, giúp xây dựng hạnh phúc cho dân tộc ta. Tại sao?

Thưa vắn tắt, là vì nó giúp xây dựng tình đoàn kết dân tộc.

Cũng như dịp Quốc Khánh năm ngoái, tôi đã nói ở đây rằng: Vấn đề đoàn kết, không phải là vấn đề pháp lý, vấn đề xã hội, mà còn là vấn đề tâm lý. Hôm nay, tôi xin nhắc lại tư tưởng đó: Đoàn kết là một vấn đề tâm lý, đòi phải có giải quyết hợp tâm lý. Bởi vì, đoàn kết là nối kết các tâm hồn. Mà nối kết các tâm hồn, thì tốt nhất là dùng dây tâm lý. Mà dây tâm lý bền chặt nhất là sự tế nhị, biết trọng kính nhau, hiểu biết nhau, làm vui lòng nhau và chân thành với nhau.

Có tế nhị, chúng ta sẽ tránh những lời nói xúc phạm, bôi lọ, chê bai, chỉ làm chia rẽ nghi kỵ.

Có tế nhị, chúng ta sẽ tránh những thái độ lạnh nhạt khinh khi, chỉ làm nên xa cách.

Có tế nhị, chúng ta sẽ tránh những xử sự thiếu thông cảm, chỉ làm nên hiểu lầm tai hại.

Anh chị em thân mến,

Lịch sử vinh quang của đất nước ta, được xây dựng một phần nhờ sự đoàn kết dân tộc. Hạnh phúc của dân tộc ta cũng đang và sẽ được xây dựng một phần nhờ sự đoàn kết dân tộc. Các vị lãnh đạo đất nước của thời đại ta đã rất tế nhị để có sự đoàn kết đó. Chúng ta mong muốn đoàn kết. Nhưng mong muốn mà thôi không đủ. Còn cần phải tích cực thường xuyên xây dựng nó bằng một sự tế nhị tối đa. Dân tộc ta là một dân tộc nổi tiếng tế nhị: Tế nhị ở ngôn ngữ, tế nhị ở nghệ thuật, tế nhị ở lễ nghi phong tục, tế nhị ở đức tính. Tế nhị nào cũng tốt. Nhưng tế nhị trong quan hệ với nhau lại càng rất tốt. Ta nên vun trồng và phát triển nó.

Với sự tế nhị đó, mỗi người chúng ta sẽ văn minh ngay tự chính mình, mỗi người chúng ta sẽ nên giàu có ngay tại chính lòng mình, mỗi người chúng ta sẽ có thể cho đi rất nhiều ngay tự kho tàng của chính lòng mình, và mỗi người chúng ta sẽ hưởng được phần nào hạnh phúc thanh cao ngay tại chính lòng mình.

Xin Thiên Chúa là Đấng vô cùng tế nhị, giúp hết thảy chúng ta biết đem ra thực hành những điều chúng ta vừa suy nghĩ.

Lễ Quốc Khánh tại nhà thờ Chánh Tòa Long Xuyên, ngày 02/9/1976.

 

Bùi-Tuần 0013: MỘT ĐỨC TIN MẠNH 04-09-1976

 

Một trong những mục đích của phép Thêm Sức là làm cho đức tin được mạnh. Mục đích đó được: 04-09-1976 Bùi-Tuần 13


Một trong những mục đích của phép Thêm Sức là làm cho đức tin được mạnh. Mục đích đó được nhắc tới bằng sự tuyên xưng đức tin trước Xức Trán và cầu cho đức tin sau Xức Trán. Nhưng thế nào là một đức tin? Để hiểu phần nào, thiết tưởng là nên nhìn vào đức tin trong cái chết anh hùng tử đạo. Nhìn vào cái chết anh hùng tử đạo, ta thấy những đặc điểm nào?

Anh chị em thân mến,

1. Đặc điểm thứ nhất là các vị tử đạo đã thực sự tha thiết với những gì khác với thực tại hữu hình.

Những sự đó là Thiên Chúa, là thiên đường, là linh hồn, là kiếp sau... Mặc dầu không trông thấy, nhưng các Ngài tin. Sự tin của các Ngài, không phải là nhìn nhận những gì hiển nhiên, cũng không hẳn là kết luận của những lý luận, mà chính là một sự lựa chọn dứt khoát hợp với lòng mình.

Lòng các Ngài lương thiện, khiêm tốn, nên gặp được ơn Chúa. Ơn Chúa tác động trên những tâm hồn thiện chí các Ngài, làm các Ngài khám phá, thấy những thực tại vô hình. Các Ngài thấy những thực tại ở trong chính mình, ở bên mình, ở trên đầu mình. Những thực tại đó tỏ hiện một cách sống động, gần gũi, và được sát nhập vào đời sống các Ngài. Thiên Chúa là Chúa của tôi. Thiên đàng là quê hương tôi. Vì là của tôi, nên tôi tha thiết. Vì là những thực tại đem lại hạnh phúc tối hậu cho tôi, nên tôi sẵn sàng hy sinh tất cả, để gắn bó trung thành. “Được mọi sự thế gian, mà mất linh hồn, thì được ích gì”. Lời Chúa dạy đó, hướng dẫn sự lựa chọn quyết liệt của các Ngài.

2. Đặc điểm thứ hai là các vị tử đạo đã tự mình bảo trì đức tin của mình.

Trước đây trong lúc bình thường, các Ngài thường bảo trì đức tin của mình nhờ nhiều nương tựa, thí dụ nhờ họ đạo, gia đình, hội đoàn, cha, thầy... Nhưng khi bị bắt nhất là khi bị giết, các Ngài phải xa lìa hẳn mọi yếu tố nương tựa đó. Chỉ còn một mình. Trước mặt và xung quanh, toàn là những người ghét đạo. Một mình trực diện với sức mạnh đối nghịch. Mình đã trở nên quá bé nhỏ, hèn yếu. Tuy nhiên, khi chấp nhận cái chết hơn là bất trung, các Ngài đã chứng tỏ mình mạnh. Khi một mình bảo trì đức tin của mình, các Ngài đã chứng tỏ mình anh dũng. Chọn cái chết hơn là phản bội Thiên Chúa. Cái chết đó, không phải là cái chết thua, nhưng là cái chết bảo vệ sự trung tín. Trung tín với Thiên Chúa. Trung tín với quê hương. Vì nếu dám phản bội Thiên Chúa, thì rồi cũng sẽ dám phản bội bất cứ ai.

3. Đặc điểm thứ ba là các vị tử đạo đã tỏ hiện một đức tin thuần khiết.

Trước đây, lúc bình thường, các vị tử đạo, cũng như ta bây giờ, thường giữ đạo với nhiều hình thức, như đi lễ, đeo ảnh, đọc kinh... Nhưng khi phải lựa chọn: Một là bỏ đạo, hai là phải chết. Các Ngài hiểu đạo ở đây chính là Thiên Chúa sống động. Bây giờ mọi hình thức đạo xem ra lu mờ. Lúc đó, trước mắt các Ngài, trung tín với đạo có nghĩa là trung tín với một người. Giữ đạo, không còn là giữ một học thuyết, một ý thức hệ, nhưng là giữ lòng tin yêu đối với một người, một người thân mật với mình, đang thương mình, đang chăm sóc mình. Lúc đó, đạo chính là gặp gỡ, là sống với Chúa. Khi chọn chết vì đạo, các Ngài đã sống trong cái nghĩa đích thực của đức tin, đã đi vào căn bản của một đức tin thuần khiết.

Anh chị em thân mến,

Đức tin mạnh nơi các anh hùng tử đạo là đức tin với 3 đặc điểm kể trên. Đức tin của ta có 3 đặc điểm đó không? Tôi nghĩ là có, kẻ ít người nhiều. Nhưng đừng dừng ở mức độ đang có. Hãy tiến cao hơn. Hãy tập cho mình và cho con em chúng ta biết thiết tha với những thực tại vô hình của đức tin. hãy tập cho mình và cho con em của chúng ta quen tự mình giữ đạo một cách chủ động và tích cực. Hãy tập cho mình và cho con em của chúng ta quen đi sâu vào căn bản của đức tin là gặp được Chúa và thực sự sống với Chúa. Tập cho quen, là bắt đầu đi, bắt đầu lại. Tập cho quen là làm đi làm lại nhiều lần. Chúng ta đừng ngần ngại bắt đầu ngay tại đây, trong thánh lễ Thêm Sức của chúng ta bây giờ.

Lễ Thêm Sức tại nhà thờ Năng Gù, ngày 4/9/1976.

 

Bùi-Tuần 0014: CỘNG TÁC VỚI ƠN CHÚA THÁNH THẦN 19-09-1976

 

Chúng ta tin nhận rằng: Phép Thêm Sức ban thêm ơn Chúa Thánh Thần cho chúng ta. Điều: 19-09-1976 Bùi-Tuần 14


Chúng ta tin nhận rằng: Phép Thêm Sức ban thêm ơn Chúa Thánh Thần cho chúng ta. Điều đó đúng. Nhưng không có nghĩa là cứ chịu phép Thêm Sức là tự nhiên mình sẽ ngoan đạo, sẽ mạnh tin. Không phải hoàn toàn thế đâu. Phép Thêm Sức có ban ơn thánh cho ta, ban thêm nhiều lắm, nhưng để ơn thánh đó xâm nhập vào ta, biến đổi đời ta, thì còn cần một điều nữa, một điều quan trọng khác nữa, một điều về phía ta. Điều đó là gì. Thưa là cộng tác của ta với ơn Chúa Thánh Thần.

Ơn Chúa Thánh thần, ví như đồ dùng tốt Chúa trao ban, nhưng nếu ta không dùng hay không biết dùng, thì cũng bằng không. Ơn Chúa Thánh Thần ví như hạt giống tốt Chúa gieo vào lòng ta, nhưng nếu ta không vun tưới, thì không dễ gì nẩy sinh bông trái. Vậy ta phải cộng tác với Chúa Thánh Thần thế nào? Đó là vấn đề tôi muốn nói chuyện hôm nay.

Anh chị em thân mến,

1. Việc thứ nhất chúng ta phải cộng tác với ơn Chúa Thánh Thần, là thường xuyên hướng lòng mình lên những sự tốt lành cao thiêng.

Phúc Âm thánh Gioan ghi lời Chúa Kitô nói: “Ai làm sự dữ thì ghét ánh sáng và không tới được ánh sáng... Ai hành động trong chân lý, sẽ tới được ánh sáng” (Gio 3,21). Nói cách khác, phải yêu ánh sáng trước, mới tìm được ánh sáng sau. Phải yêu chân lý trước, mới tìm được chân lý sau.

Đúng thế, kẻ yêu vật chất thì sẽ đi tìm vật chất. Kẻ yêu nhân đức thì sẽ chọn nhân đức. Có nghĩa là lòng hướng về đâu thì tìm về đó. Lòng thích cái gì thì chọn cái đó. Động lực bên trong thúc đẩy kẻ này tìm sự ác, kẻ kia tìm sự thiện là chính cái tâm hướng, tức là cái xu hướng của tâm hồn. Cái động lực hầu như quyết định sự lựa chọn của ta, lựa chọn điều lành cũng như điều dữ, cũng tại ở cái tâm hướng, tức là cái khát vọng ta muốn thực hiện cho cuộc đời mình. Vì thế cái mấu chốt tâm lý của đời sống đức tin, đời sống đạo đức là cái tâm hướng. Phải để ý tới nó rất nhiều. Do đó, muốn biết tìm và chọn nguồn ánh sáng và nguồn chân lý của Chúa, cũng như muốn biết tìm và chọn những sự tốt lành hợp với ơn Chúa Thánh Thần, thì cần phải huấn luyện cái tâm hướng, sao cho nó ngã về đàng lành, khát khao những sự nhân đức. Việc huấn luyện đó đòi các hành vi tâm linh như: Năng tìm hiểu những giá trị tốt đẹp của nó, xác tín về những ích lợi lớn lao của nó trong đời hiện tại và mai ngày, biết lượng giá đúng lý tưởng nhân đức.

Tâm hồn có xu hướng như thế, sẽ là thửa đất tốt giúp cho ơn Chúa Thánh Thần nảy nở.

2. Việc thứ hai chúng ta phải cộng tác với ơn Chúa Thánh Thần, là năng làm việc lành phúc đức.

Chúng ta biết con dao ít dùng sẽ mau han gỉ. Cái xe ít đi sẽ mau khô dầu. Con người ít hành nghề sẽ dễ sút giảm tài nghệ. Cũng thế, người ít làm việc đức tin, sẽ dễ làm yếu đức tin. Ngược lại, ai càng năng làm các việc đức tin, sẽ làm đức tin thêm mạnh. Mà làm là làm thiệt, bằng hành động cụ thể, với ý hướng tìm Chúa thật sự, chứ không phải chỉ làm bằng mơ ước, tính toán và chiếu lệ.

Khi bão, ta đâu có tranh luận với cơn bão, nhưng đóng cửa lại. Khi nắng, ta đâu có tranh luận với mặt trời, nhưng đội nón lên. Khi đói, ta đâu có tranh luận với cơn đói, nhưng đi tìm cơm ăn. Cũng thế, khi thấy những gì có hại cho đời sống đạo đức, ta đừng mất công tranh luận, nhưng hãy tránh, hãy đề phòng. Khi thấy việc gì có tính cách bồi dưỡng cho đời sống ơn Chúa Thánh Thần, thì cũng đừng chỉ ngồi đó ước mơ, tính toán, nhưng hãy làm đi. Làm một cách thản nhiên, với lòng phấn khởi xác tín.

Những việc lành phúc đức làm như thế, sẽ là những dòng nước tốt tưới cho ơn Chúa Thánh Thần trong ta được phát triển mau lẹ và tốt đẹp.

3. Việc thứ ba chúng ta phải cộng tác với ơn Chúa Thánh Thần, là năng giao tiếp với ơn Chúa Thánh Thần.

Chúa Thánh Thần là tình yêu, mà đã là tình yêu thì không bao giờ áp đặt. Ngài tôn trọng sự tự do của con người, của mỗi người. Ngài cho, nhưng còn tùy ta có nhận hay không. Ngài gọi, nhưng còn tùy ta có thưa lại hay không. Ngài giơ tay ra, nhưng còn tùy ta có nắm lấy tay Ngài hay không. Sự đáp ứng của ta là yếu tố cần thiết, là sự cộng tác quan trọng. Vì thế, ta phải năng giao tiếp với Chúa Thánh Thần, để biết đáp ứng một cách ngoan ngoãn mau lẹ. Giao tiếp với Ngài, bằng cách năng cầu xin ơn Ngài, năng cảm tạ Ngài, năng giục lòng tin mến Ngài, năng bàn hỏi với Ngài, năng lắng nghe tiếng Ngài nhắn nhủ trong lương tâm và qua các biến cố, các gương lành và lời giảng dạy, khuyên răn.

Anh chị em thân mến,

Ba việc làm trên đây, chưa phải là tất cả và chỉ có thế, trong nhiệm vụ cộng tác với ơn Chúa Thánh Thần. Ta hãy thực hiện các việc đó trong đời sống bản thân mình, và trong việc giáo dục các con em của chúng ta. Ta hãy khởi sự thực hiện ngay bây giờ, bằng cách tập trung lòng trí lại, hướng lòng lên Chúa, giục lòng tin cậy mến, để tuyên xưng lại đức tin .

Lễ Thêm Sức tại nhà thờ Cù Lao Giêng, ngày 19/9/1976.
 

 

1977

Bùi-Tuần 0015: HÃY LÀ MỘT BÔNG HOA18-02-1977

 

Ngày Tết, người ta có thói quen làm đẹp, làm đẹp nhà ở, làm đẹp mâm cơm, làm đẹp con: 18-02-1977 Bùi-Tuần 15


Ngày Tết, người ta có thói quen làm đẹp, làm đẹp nhà ở, làm đẹp mâm cơm, làm đẹp con người. Tượng trưng cho việc làm đẹp là Bông Hoa. Phương tiện làm đẹp cũng là Bông Hoa. Ngày Tết, hầu như nhà nào cũng ráng chưng vài chậu kiểng, cắm vài bông hoa. Thiệp Tết tặng nhau cũng là thiệp in hình bông hoa.

Làm đẹp bằng bông hoa là việc mọi người, mọi nơi, mọi thời đều làm. Nó mang nhiều ý nghĩa. Vì thế, suy tư của tôi muốn đem ra để anh chị em chia sẻ ngày đầu năm hôm nay là:

1. Ước nguyện mỗi người chúng ta hãy là một bông hoa.

Anh chị em thân mến.

Trước hết, mỗi người hãy là một bông hoa nhưng là hoa tươi , chứ đừng hoa giả.

Hãy là một bông hoa thơm, đẹp từ tâm hồn mình, do các tư tưởng hợp chân lý, do ý muốn hợp sự thiện, do tâm tình hợp sự lành. Hãy là một bông hoa thơm, đẹp do lương tâm trong sạch ngay thẳng, và do các đức tính tốt.

Nhưng nếu đã muốn là bông hoa, thì hãy là hoa tươi, chứ đừng là hoa giả. Bông giả còn được. Đồ vật giả là đồ bất đắc dĩ. Đến con người mà giả thì thật là điều bi đát. Chẳng ai ưa người giả dối. Thế thì, chính mình đừng bao giờ nên giả dối. Đừng giả dối trong lời nói. Đừng giả dối trong thái độ. Đừng giả dối trong việc làm.

Giả dối là tự mình khinh mình và làm cho mình bị người khác khinh chê xa tránh. Và khi giả dối trở thành lừa đảo nhằm mục đích hại người, thì giả dối sẽ là tội ác và phải xét xử trước lương tâm và Thiên Chúa.

Về điểm này, ta nên nhớ lời Chúa dạy: “Ta nói thật, nếu các con không giống như trẻ nhỏ, các con không được vào Nước Trời”. Trẻ nhỏ là bông hoa tươi, không giả dối. Đó là hình ảnh đẹp, Chúa đưa ra, để người lớn chúng ta bắt chước.

Hãy là bông hoa, nhưng là hoa tươi chứ đừng là hoa giả.

2. Ngoài ra, mỗi người hãy là bông hoa cho người khác, hơn là cho chính mình.

Bông hoa chưng trên bàn thờ, là để làm đẹp cho bàn thờ, chứ không để làm đẹp cho chính bông hoa. Chậu kiểng để ở trước nhà, là để làm đẹp cho căn nhà, chứ không phải là để làm đẹp cho chính chậu kiểng. Tính cách của bông hoa là phục vụ. Con người cũng phải như bông hoa, đừng chỉ sống cho mình, nhưng hãy sống cho kẻ khác.

Hãy sống cho người khác bằng sự trọng kính đối với nhau. Dù kẻ khác là người thế nào đi nữa, cũng hãy kính trọng họ, vì họ là người. Dù kẻ khác là một con trẻ chưa mở mắt, chưa biết khóc, thì nó cũng có quyền được kính trọng bảo vệ, vì nó cũng là người. Đừng trọng của hơn người, vì làm như thế là tự hạ giá mình và chỉ gây hận thù cho kẻ khác. Mà sống trong hận thù thì còn đâu là hạnh phúc.

Rồi hãy là bông hoa sống cho kẻ khác bằng sự lấy đức thương yêu mà đối xử với nhau. Thương yêu là biết cho đi. Cho đi sự tha thứ. Cho đi sự thông cảm. Cho đi sự nâng đỡ. Khi cuộc đời đã trở nên thanh bần, chẳng còn nhiều của cải đồ vật để tặng nhau, thì càng nên thương yêu nhau hơn. Để cuộc đời có được bóng mát, và vẫn xây dựng được cho nhau.

Cũng chính vì thế, mà đối với nhau, hãy gây tình thương, hơn là gây khiếp sợ, hận thù, nghi kỵ. Vì chỉ có tình thương mới là dây bền chặt liên kết con người lại với nhau.

Muốn liên kết, thì tình thương phải quảng đại. Bông hoa nào chỉ muốn chấp nhận duy có mầu hoa của mình, và muốn loại trừ các màu sắc khác ra khỏi vườn hoa, thì đó là bông hoa ích kỷ, và làm cho mình trở nên nghèo nàn cô độc. Cũng vậy, khi sống trong xã hội, nếu ta muốn mọi người cũng phải giống hệt như ta về tư tưởng, tâm tình và lựa chọn, thì ta tự mình làm cho mình nhỏ hẹp.

Xưa trên Thánh Giá, đang khi người đời tàn nhẫn với Chúa chúng ta, Ngài đã êm đềm nhỏ nhẹ nói với Đức Chúa Cha: “Lạy Cha, xin Cha tha tội cho chúng, vì chúng lầm không biết”. Tha thứ yêu thương đến cùng như thế mới là tột đỉnh, và đó là hình ảnh một bông hoa lý tưởng cho người khác.

3. Sau cùng, mỗi người hãy là một bông hoa của mùa xuân vĩnh cửu, chứ đừng là một bông hoa của một mùa xuân phù du, mau tàn.

Hoa nở rồi tàn, điều đó không ai trách. Vì nó là vật chất. Kiếp hoa có lẽ cũng đẹp vì có nở, có tàn. Nhưng con người sinh ra không phải cho một mùa xuân, hay cho những mùa xuân, mà là cho cả mùa xuân trường tồn, cho mùa xuân vĩnh cửu. Mùa xuân trường tồn là hạnh phúc thiên đường. Mùa xuân vĩnh cửu là cuộc sống thân mật đời đời với Thiên Chúa là Cha toàn năng nhân lành.

Đã hẳn, con người cũng có lần phải chết, như bông hoa có lúc phải tàn. Nhưng xác chết mà hồn còn sống mãi ở kiếp sau. Kiếp sau mới thực sự quan trọng, vì nó là thời gian thưởng phạt, vì nó không bao giờ cùng, nó không bao giờ thay đổi. Nên phải nhìn vào kiếp sau để biết kiếp sống này.

Chính vì tin có thưởng phạt đời sau, nên con người mới dễ gắng công ăn ở ngay lành. Chính vì tin có một Đấng thiêng liêng nhìn rõ mọi sự bí ẩn và sẽ xét xử công minh trong ngày chung cuộc, nên con người mới chịu khó sống đạo đức, xa tránh tội lỗi. Chính vì con người tìm về tuyệt đối, mà mọi sự trần gian chỉ là tương đối, nên con người mới tìm đến Thiên Chúa là Cha toàn năng, Đấng tạo thành trời đất, sẽ có thể cho con người được thỏa mãn mọi ước vọng chính đáng.

Xưa Chúa phán: “Được mọi sự thế gian, mà mất linh hồn mình, nào được ích gì”. Với lời đó, Chúa nhắn nhủ chúng ta, đang khi hưởng mùa xuân dưới đất, thì đừng quên tìm kiếm mùa xuân trên trời. Bởi vì chúng ta là những bông hoa được dựng nên cho mùa xuân bất diệt.


Anh chị em thân mến,

Tôi vừa nói:

- Mỗi người hãy là một bông hoa, nhưng là hoa tươi chứ đừng là hoa giả.

- Mỗi người hãy là một bông hoa cho người khác hơn là cho chính mình.

- Mỡi người hãy là một bông hoa cho mùa xuân vĩnh cửu, chứ đừng là một bông hoa cho mùa xuân phù du, chóng tàn.

Đó là ước nguyện ngày đầu xuân. Một ước nguyện đẹp, một ước nguyện chính đáng. Thiết tưởng ước nguyện đó sẽ làm đẹp cho bản thân ta, cho đoàn thể ta, cho Quê Hương đất nước ta. Muốn ước vọng đó được thực hiện, ta cần phải cố gắng. Cây trước khi trổ bông, đã phải phơi sương, dãi nắng, đã phải chịu cắt tỉa. Tương tựa cũng thế, ta muốn là bông hoa, thì cũng phải chấp nhận khó khăn. Khó khăn nào cũng là khó khăn, mà bản thân ta thì yếu đuối, nên ta hãy phó thác mình nơi tình thương bao la của Cha trên trời. Hãy luôn luôn sống đơn sơ như người con nhỏ bé, để được thương yêu, để được dắt dìu.

Lạy Chúa,

Chúa là đường,là sự thật và là sự sống. Chúa là sự thật, xin giúp con luôn là bông hoa tươi. Chúa là đường, xin giúp con luôn ở trên đường phục vụ người khác. Chúa là sự sống, xin giúp con luôn là bông hoa sống mãi trong mùa xuân bất diệt, bên cạnh tình Chúa vô biên đời đời. Amen.

Lễ Đầu Năm Xuân Đinh Tỵ tại nhà thờ Chính Tòa Long Xuyên, ngày 18/02/1977.

 

Bùi-Tuần 0016: LINH MỤC LÀ NGƯỜI PHỤC VỤ 04-04-1977

 

Lễ hôm nay, quen gọi là lễ Truyền Dầu. Các dầu này sẽ được dùng trong nhiều bí tích. Người được phép:04-04-1977 Bùi-Tuần 16


Lễ hôm nay, quen gọi là lễ Truyền Dầu. Các dầu này sẽ được dùng trong nhiều bí tích. Người được phép sử dụng các dầu này phải là người có Chức Thánh. Duy chỉ có các vị đó được phép sử dụng các dầu này khi ban các bí tích mà thôi. Đến nỗi có thể nói: Có Linh Mục thì có thể có Dầu Thánh, mà không có Linh Mục thì cũng bằng không.

Vì thế, cao điểm của lễ hôm nay là chức Linh Mục. Để ý thì thấy: Các kinh nguyện, các lời Kinh Thánh trong lễ hôm nay đều tập trung vào chức Linh Mục. Khi nói về Linh Mục, Giáo Hội trong lễ hôm nay đã nhắc đi nhắc lại đến 3 lần một câu Kinh Thánh. Câu đó thế này: “Thánh Thần Chúa ngự trên tôi. Người đã sai tôi đem Tin Mừng cho người nghèo khó”. Sở dĩ, nhắc đi nhắc lại câu đó, vì chính câu đó nói lên bản chất đích thực của Linh Mục.

Anh chị em thân mến,

“Thánh Thần Chúa ngự trên tôi. Người đã sai tôi đem Tin Mừng cho người nghèo khó”. Câu đó giúp cho người ta nhìn vào Linh Mục và giúp Linh Mục nhìn mình cho đúng.

Linh Mục là ai?

- Thưa là người được sai đi.

Ai sai đi?

-Thưa là Thánh Thần Chúa, qua các Bề Trên Giáo Hội.

Sai đi để làm gì?

-Thưa, sai đi để gieo vãi Tin Mừng cứu độ, qua các bí tích và lời rao giảng.

Sai đến với ai?

-Thưa, đến với những người nghèo khó: Nghèo của, nghèo tình thương, nghèo chân lý, nghèo ơn nghĩa Chúa.

Vì Linh Mục là kẻ được sai đi, nên Ngài phải hoàn toàn lệ thuộc vào kẻ sai mình.

Vì Linh Mục là kẻ được sai đi đến với những người nghèo, nên đời Ngài phải là đời phục vụ.

Khi nói Linh Mục lệ thuộc vào Chúa, thì không phải chỉ là lệ thuộc trong luật lệ giáo lý và tổ chức Giáo Hội, nhưng nhất là phải lệ thuộc vào sự sống Chúa, như cành với cây, tới mức có thể nói như thánh Phaolô: “Tôi sống, nhưng không phải tôi sống, mà là chính Chúa Kitô sống trong tôi”.

Khi nói Linh Mục phục vụ anh em, thì phục vụ không phải là trợ giúp bất cứ sự gì, mà là đáp ứng đúng lúc nhu cầu thích thời của anh em, trong khả năng và quyền hạn của mình.

Nghĩ như thế, nên tôi nhiều khi ví Linh Mục như một con kênh. Con kênh tốt là con kênh thường xuyên ăn thông và lệ thuộc vào chính nguồn không bao giờ cạn, để lúc nào cũng có nước chảy đi chảy lại. Cũng thế, Linh Mục tốt là người thường xuyên gắn bó với Chúa là nguồn mạch vô biên, để lúc nào cũng có trong mình dồi dào ơn Thánh Chúa.

Con kênh tốt là con kênh có nước trong lành, để người ta uống và tắm rửa, cũng như cho hoa màu luôn mọc tươi xanh. Cũng thế, Linh Mục tốt là người không sống và làm việc cho mình, nhưng thực sự sống và làm việc để phục vụ người khác, đem lại sự sống siêu nhiên và an vui cho các linh hồn.

Phải nhận thật nhiều, để rồi cho đi thật nhiều. Phải mở thật rộng hướng về phía Chúa. Phải mở thật rộng hướng về phía anh em. Đó là lý tưởng Linh Mục.

Ai cũng hiểu Linh Mục như thế rồi, thì sẽ biết ý kiến phê phán cho rằng: “Linh Mục là người tuyên truyền một ý thức hệ. Không. Linh Mục không phải là người theo và tuyên truyền một ý thức hệ. Phải nói rằng: Linh Mục là người thông truyền một sự sống, sự sống của Thiên Chúa. Chính tôn giáo mà Linh Mục giữ và giảng cũng không phải là một ý thức hệ, nhưng là một cuộc gặp gỡ sống động và thân tình giữa một người với Đức Kitô hiền lành và khiêm nhường trong lòng.

Chính vì thế, mà chức vụ Linh Mục không có gì đáng cho ai phải nghi ngờ gì cả. Trái lại, đây là trái tim, một khối óc, một bàn tay có thể đóng góp rất nhiều trong việc xây dựng hạnh phúc cho đồng bào, cho đất nước.

Tuy nhiên, khi hàng Linh Mục chúng tôi ý thức về tính cách cao cả và những đòi hỏi khó khăn của chức Linh Mục, chúng tôi cũng đồng thời nhận biết sâu xa sự yếu đuối của mình. Sự yếu đuối của bản thân mình chính là một gánh nặng khổ đau, thêm vào bao nhiêu gánh nặng khổ đau, cay đắng khác đè trên vai chúng tôi.

Nhưng càng biết mình yếu đuối, chúng tôi càng tin tưởng phó thác nơi Thiên Chúa, Đấng đã kêu gọi và chọn chúng tôi, mặc dầu chúng tôi yếu đuối.

Trong lễ hôm nay, mọi người linh mục, cũng như giáo dân, chúng ta sốt sắng cảm tạ Chúa đã ban chức Linh Mục và các linh mục cho chúng ta. Các Dầu Thánh sẽ nhắc lại bao nhiêu bí tích chúng ta đã nhận qua chức Linh Mục. Tất cả đều là chứng tích của tình yêu Chúa. Nhìn vào tình yêu đó, để đáp lại bằng tình yêu.

Lạy Chúa,

Xin cho con gặp được cái nhìn yêu thương của Chúa hôm nay, để con ý thức sâu xa hơn nữa rằng: “Thánh Thần Chúa ngự trên con, Người đã sai con đem Tin Mừng cho người nghèo khó”. Amen.
Lễ Truyền Dầu tại nhà thờ Ngọc Thạch (Kênh B chợ), ngày 4/4/1977

 

Bùi-Tuần 0017: ĐỨC TIN SỐNG ĐỘNG LÀ MỘT BẬN TÂM17-04-1977

 

Trong lễ Thêm Sức, có một sự, được nhắc đi nhắc lại nhiều lần, có một sự được đề cao, có một sự : 17-04-1977 Bùi-Tuần 17


Trong lễ Thêm Sức, có một sự, được nhắc đi nhắc lại nhiều lần, có một sự được đề cao, có một sự được nhấn mạnh, sự đó là đức tin. Nhắc đi nhắc lại nhiều lần cách như vậy, là để chúng ta nhận biết cho rõ mục đích của phép Thêm Sức, là làm cho đức tin được thêm mạnh mẽ. Nói cách khác, Thêm Sức là tăng cường ơn thánh trong ta, để đức tin của ta được thêm sống động.

Đức tin sống động. Những tiếng đó ta đã nghe nhiều lần, ta đã nói nhiều lần. Nhưng điều quan trọng ta cần biết ở đây, trong vấn đề này, là ta có đức tin sống động hay không? Sống động như thế nào?

Để giúp mỗi người chúng ta nhận ra mình có đức tin sống động hay không, và đồng thời cũng để hiểu rõ sống đức tin là gì? Hôm nay, tôi xin diễn tả đức tin sống động bằng vài nét tâm lý.

Anh chị em thân mến,

Về mặt tâm lý, đức tin sống động có thể coi như là một sự bận tâm thường xuyên. Bận tâm do những việc gì?

1. Thưa, bận tâm trước hết là do việc kính sợ Chúa.

Thật vậy, việc thứ nhất làm bận tâm người sống đức tin là kính sợ Chúa.

Nếu tôi có đức tin sống động, thì giờ đây tôi nhận biết thực rõ và thực chắc chắn rằng: Lúc này đây, Chúa đang nhìn tôi, tôi đang ở trong cái nhìn của Chúa. Cái nhìn của Đấng Thánh trên mọi Đấng Thánh, Đấng mà thánh Phêrô xưa đã quỳ lạy và van xin: “Xin Chúa lui xa con, vì con tội lỗi quá”. Cái nhìn của Đấng thấu suốt mọi sự, Đấng đã đọc rõ ý nghĩ trong đầu Simon, đã biết trước âm mưu thâm độc của Giuda. Tôi đang ở trong cái nhìn của Đấng quyền uy vô cùng, Đấng đã tạo thành trời đất, muôn vật hữu hình và vô hình. Tôi biết, tôi được nhìn bởi một Đấng sẽ phán xét tôi, và cũng là Đấng yêu thương tôi vô biên. Ngài đã yêu thương tôi, trước khi tôi yêu mến Ngài.

Sự tôi biết Chúa nhìn tôi, không thể không làm tôi bận tâm, vì bàng hoàng, vì kính, vì sợ. Tôi kính vì tôi thấy mình quá bé nhỏ. Tôi sợ vì tôi thấy mình quá bất xứng. Tôi kính sợ, vì lo lỡ ra tôi làm gì phiền buồn cho Ngài. Kính sợ, đó là việc làm bận tâm người có đức tin sống động.

2. Việc thứ hai làm bận tâm người sống đức tin là hy vọng.

Thực vậy, một khi ý thức rõ rệt và chắc chắn Chúa là một người sống động, gần gũi, sát kề, thân mật với ta, ta tự nhiên sẽ quay nhìn Ngài với tất cả hy vọng.

Xưa Ngài tha thứ cho Mađalêna, cho Simon, cho kẻ trộm lành, nên ta hy vọng, nay Ngài cũng tha thứ cho ta, dù ta tội lỗi muôn vàn.

Xưa Ngài đã làm cho nước lã nên rượu, cho năm chiếc bánh nuôi năm ngàn người, nên ta hy vọng, nay Ngài cũng dư sức giúp ta giải quyết công việc làm ăn.

Xưa Ngài đã làm cho kẻ chết sống lại, đã làm cho bão gió phải yên, đã trừ quỷ, thì ta hy vọng Ngài cũng có dư quyền năng để giúp ta vượt thắng ba thù.

Xưa Ngài đã đứng bên Mađalêna, khi bà một mình khóc bên nấm mộ hoang lạnh, nên ta hy vọng, nay Ngài sẽ an ủi ta trong cảnh cô đơn, buồn khó.

Hy vọng vào Chúa như thế là quay về phía Chúa, là nghiêng mình về Ngài. Và do đó.

3. Việc thứ ba làm bận tâm người sống đức tin là tìm bước gần lại Chúa.

Vì ta cảm thấy Chúa thu hút ta. Vì ta xác tín tình thương và quyền năng Chúa có thể nâng đỡ ta trong cuộc hành trình, là cuộc sống trần gian này, để đi tới hạnh phúc bất diệt vĩnh cửu đời sau, nên đức tin sống động thúc giục ta tìm cách bước lại gần Chúa.

Tìm bước lại gần Chúa, bằng cách đi vào đường hẹp, vì Chúa phán: “Cửa và đường đưa tới sự sống thì hẹp”.

Tìm bước lại gần Chúa, bằng cách chấp nhận gian nan, đau khổ, vì Chúa phán: “Ai muốn theo Ta, hãy từ bỏ mình, vác Thánh Giá mình mà theo Ta”.

Tìm bước lại gần Chúa bằng sự ăn năn thống hối, vì Chúa phán: “Nếu chúng con không sám hối, chúng con tất cả sẽ phải hư mất đời đời”.

Tìm bước lại gần Chúa bằng sự cầu nguyện vì Chúa phán: “Ai gõ sẽ mở cho, ai xin sẽ được”.

Tìm bước lại gần Chúa, nhất là bằng các việc làm bác ái, vì Chúa phán: “Bất cứ sự gì chúng con làm cho kẻ khác vì danh Ta, thì Ta kể như là làm cho chính Ta”.
Tìm bước lại gần Chúa như vậy là một sự bận tâm đầy xao xuyến. Nhưng đó chưa phải là bận tâm sau cùng. Vì:

4. Việc thứ tư làm bận tâm người có đức tin sống động là lo gắn bó với Chúa.

Gắn bó mật thiết như cành với cây, theo lời Chúa phán: “Ta là thân cây nho, chúng con là cành”. Gắn bó mật thiết như Chúa và ta chỉ là một, theo lời thánh Phaolô nói: “Tôi sống nhưng không phải tôi sống, mà là Chúa sống trong tôi”. Gắn bó mật thiết như cuộc sống Chúa chan hoà trong ta và ta tan hoà trong Chúa, theo như lời thánh lễ nói: “Chính nhờ Người, với Người và trong Người” mà ta sống và ta làm việc.

Anh chị em thân mến,

Đức tin sống động là một bận tâm thường xuyên. Bận tâm do bốn việc này: Là kính sợ Chúa, là hy vọng vào Chúa, là tìm bước lại gần Chúa, là gắn bó với Chúa.

Như thế, đức tin sống động là một mối bận tâm, vận động tất cả con người. Một mối bận tâm bao trùm toàn thể đời sống. Chúng ta căn cứ vào bốn đặt điểm vừa nói mà xét đức tin của ta có sống động không và sống động tới mức nào?

Trong thánh lễ Thêm Sức hôm nay, ta xin Chúa thương ban ơn cho ta, nếu đức tin đã sống động, thì được sống động thêm. Nếu chưa có gì sống động, thì được khởi sự sống động. Amen.

Lễ Thêm Sức tại nhà thờ Chánh Tòa Long Xuyên, ngày 17/4/1977

 

Bùi-Tuần 0018: YÊU NƯỚC LÀ MỘT BỔN PHẬN 02-09-1977

 

Nhân ngày lễ Quốc Khánh, chúng ta chiều nay đến đây tham dự một thánh lễ cầu nguyện. Hành: 02-09-1977 Bùi-Tuần 18


Nhân ngày lễ Quốc Khánh, chúng ta chiều nay đến đây tham dự một thánh lễ cầu nguyện. Hành vi tôn giáo này của chúng ta không hề làm giảm bớt chút gì những ý nghĩa cao cả và những sự trang trọng huy hoàng của ngày Quốc Khánh. Trái lại, nó là việc tốt, ý đẹp mà đức tin Công Giáo thêm vào cho người tín hữu, để tinh thần ngày Quốc Khánh càng thâm sâu hơn vào tâm hồn ta.

Trong tinh thần ấy, hôm nay tôi muốn nhắn nhủ anh chị em về một bổn phận rất cao quí, rất cần thiết chúng ta phải có. Đó là bổn phận yêu nước.

Yêu nước, không phải chỉ là một lời khuyên, nhưng chính là một điều buộc của đạo ta. Điều đó ai cũng công nhận. Vì thế, vấn đề nên đặt ra không phải là: Có cần yêu nước không?, mà là Yêu nước phải thế nào.

Anh chị em thân mến,

Thế nào là yêu nước? Có thể trả lời một cách vắn tắt: Yêu nước là gắn bó với dân tộc.

1. Trước hết, gắn bó với dân tộc, là tha thiết với giang sơn, với đất nước, với bầu trời và cảnh vật của dân tộc Việt Nam ta. Chỉ có giang sơn của dân tộc ta mới là quê hương ta. Chỉ có đất nước ta là nhà của ta. Ta quyết mãi mãi ở lại giang sơn này. Bởi vì, ta nhìn quê hương ta như một Đất Hứa. Và bởi vì ta biết, ơn gọi làm người dân Việt Nam và làm Kitô hữu Việt Nam chỉ có ý nghĩa sâu đậm khi hơi thở và mồ hôi của ta thực sự hòa tan vào đất nước của ta.

2. Ngoài ra, gắn bó với dân tộc cũng là yêu mến đồng bào trong tình bác ái chân thành quảng đại. Đồng bào, dù là người có tín ngưỡng hay không tín ngưỡng, cũng điều là anh em trước mặt Chúa. Hãy biết lấy tình thương mà nhìn nhau, lấy tế nhị mà đối xử với nhau. Đừng kỳ thị nhau. Đừng kết luận cho nhau qua cặp kính màu thiên kiến. Đừng đặt trên vai nhau những khổ đau không cần thiết. Hãy đặc biệt chăm lo những đồng bào nghèo. Hãy biết trọng con người đồng bào, hơn của cải đồng bào. Dù no hay đói, hãy biết phục vụ và chia sẻ như lời Chúa dạy: “Các con hãy yêu thương nhau, như Cha yêu thương các con” .

3. Hơn nữa, gắn bó với dân tộc, cũng là biết lắng nghe và kính trọng tiếng nói của dân tộc. Tiếng nói của dân tộc, không phải chỉ là những câu khuôn khổ đã làm sẵn, nhưng còn là vô vàn những lời bộc phát, tự lương tri con người Việt Nam. Tiếng nói của dân tộc, không phải chỉ là những nhận xét của các người có chức vụ, mà là những ý nghĩa âm thầm của các đám đông lặng lẽ. Có những tiếng nói, chỉ có tình thương mới nghe thấy. Có những tâm trạng, chỉ có trái tim mới hiểu được.Có những nét mặt, chỉ có bác ái mới đọc được ý nghĩa. Ta hãy bắt chước Thiên Chúa, Đấng nghe những ý nghĩa không lời, những khát vọng âm thầm, từ thâm sâu tâm hồn người ta, để biết đáp ứng lại bằng tình thương bác ái.

4. Rồi, gắn bó với dân tộc còn là bảo vệ nền độc lập của dân tộc ta, dứt khoát và mạnh mẽ chống lại mọi kẻ thù hại dân, hại nước. Hết sức tránh cho dân tộc ta mọi hình thức nô lệ, bất cứ từ đâu tới, và bất cứ trong lãnh vực nào. Ta hiên ngang với chỗ đứng hiện tại của Tổ Quốc Việt Nam ta, và biết ơn sâu sắc tất cả những vị anh hùng, đã cống hiến đời sống, máu xương, để làm nên lịch sử quang vinh của nước ta. Ta tin Chúa Thánh Thần vẫn hiện diện và hoạt động trong lịch sử hôm nay. Ta góp phần xây dựng lịch sử cứu rỗi, và xây dựng lịch sử cứu rỗi trong lịch sử nước ta.

5. Lại nữa, gắn bó với dân tộc, cũng là biết quan tâm đến những thực tế của dân tộc. Dân tộc ta có những thực tế riêng mà các dân tộc khác không có. Những thực tế đó như: Thực tế truyền thống, thực tế văn hóa, thực tế tín ngưỡng, nhất là thực tế tâm lý. Chính những thực tế đó là những nét độc đáo làm nên lịch sử của dân tộc. Có những thực tế cần bảo vệ và phát triển. Có những thực tế cần được cải tạo. Nhưng việc bảo vệ, phát triển và cải tạo một thực tế, là điều đòi rất nhiều tế nhị và nhiều cộng tác. Chúng ta hãy nhìn cách làm việc của Chúa Thánh Thần trong việc bảo vệ, phát triển và cải tạo Hội Thánh Chúa, để ta biết thế nào là quan tâm đến những thực tế của dân tộc ta.

6. Không những thế, gắn bó với dân tộc còn là biết luôn luôn thăng tiến dân tộc. Dùng mọi cách làm cho đồng bào càng ngày càng giàu hơn, càng ngày càng văn minh hơn, càng ngày càng hạnh phúc hơn. Hạnh phúc không phải chỉ do sự sung túc vật chất mà còn do sự thảnh thơi thoải mái của tâm hồn và sự trong sạch, đạo đức của lương tâm. Để xây dựng hạnh phúc ấy, ta đừng quên những lời Chúa dạy trong Tám Mối Phúc Thật của Phúc Âm.

7. Sau chót, gắn bó với dân tộc còn là tôn trọng luật pháp, cộng tác với chính quyền trong mọi việc xây dựng công ích, chấp hành nghiêm túc mọi chính sách ích quốc lợi dân, đặt niềm tin vào tình người đối với nhau, và tình Chúa đối với con người. Trong khi gặp khó khăn, thì biết thông cảm với nhau. Khi phải cảnh giác thì không để nghi ngờ gây nên chia rẽ.

Anh chị em thân mến,

Yêu nước là gắn bó với dân tộc. Tất nhiên gắn bó với dân tộc, không phải chỉ có những cách trên đây vừa kể. Tuy nhiên, những cách đó, cũng gợi lên một số nét chính, để khởi đi từ đó, chúng ta có những bước đi dứt khoát trên con đường rõ ràng yêu nước. Ta gắn bó với dân tộc ta, bởi vì ta là người công dân Việt Nam. Ta càng gắn bó với dân tộc ta, bởi vì ta là người Công Giáo Việt Nam.

Lễ hôm nay là lễ cầu nguyện trong tinh thần tin yêu và khiêm tốn. Ta cầu nguyện cho Tổ Quốc, cho chính quyền các cấp, cho hết mọi đồng bào thân yêu. Chúng ta tin Chúa đang nhìn ta. Ngài đang ngự giữa chúng ta. Chúng ta hướng trọn về Ngài.

Thay thế kinh Tin Kính và lời nguyện giáo dân, chúng ta giờ đây cùng nhau tuyên xưng lòng yêu thương bác ái của chúng ta qua bài Kinh Hòa Bình sốt sắng.

Lễ Quốc Khánh  tại nhà thờ Chánh Tòa Long Xuyên, ngày 2/9/1977

 

Bùi-Tuần 0019: NÓI VỚI TUỔI TRẺ VỀ TÌNH YÊU18-12-1977

 

Tình yêu cũ như trái đất, nhưng vẫn mới như mỗi mùa xuân. Rất nhiều người nói tới. Rất : 18-12-1977 Bùi-Tuần 19


Tình yêu cũ như trái đất, nhưng vẫn mới như mỗi mùa xuân. Rất nhiều người nói tới. Rất nhiều người nghĩ tới. Rất nhiều người muốn tránh nó.

Nhưng tránh nó là đã gặp nó. Mà tránh nó sao được khi nó là một yếu tố cần thiết đi liền cuộc sống.

Tình yêu đâu phải là một thứ xa xí phẩm. Nó làm nên đời sống và ở trong cuộc sống. Nó là chuyện của mỗi người.

Tuy nhiên, tôi rất ngại đề cập đến tình yêu. Tất nhiên phải có lý do để ngại. Hôm nay, tôi muốn nói tới một số những lý do đó.

Lý do ngại đầu tiên là gì tôi không chắc chúng ta có cùng hiểu tình yêu mhư nhau không.

Bạn nói tình yêu, họ nói tình yêu, tôi nói tình yêu. Nhưng nếu mỗi người hiểu tình yêu mỗi cách, thì chỉ là sự gặp gỡ danh từ chứ chưa có sự gặp gỡ tư tưởng. Sẽ không có khởi điểm chung. Sẽ không có căn bản chung. Sẽ chỉ là một cuộc đối thoại hình thức của những độc thoại nội dung. Sẽ có những hiểu lầm và những lạm dụng.

Ngay mấy câu hỏi tôi quả quyết trên kia: “Tình yêu không phải là một thứ xa xí phẩm”. Nó là một yếu tố cần thiết đi liền cuộc sống đã được bạn hiểu thế nào? Nếu bạn trích những câu đó, để biện minh cho thứ tình dâm dật chẳng hạn, thì oan cho tôi rồi.

Không có gì dễ hiểu cho bằng tình yêu.

Nhưng không có gì khó định nghĩa cho bằng tình yêu. Dễ hiểu, vì ai cũng có yêu không nhiều thì ít. Nhưng khó định nhgĩa, bởi vì tình yêu rất phức tạp.

Tình yêu nói chung đã chia thành ba mặt: Mặt tâm lý, mặt siêu hình và mặt luân lý.

Tình yêu lại có nhiều loại. Aristote đã chia 3. Thánh Tôma chia 2. Max Scheler chia 5. Féris chia 8. Đó chỉ là một con số tác giả tượng trưng.

Người ta có thể không đồng ý về số loại tình yêu, nhưng người ta không thể cho rằng chỉ có một thứ tình yêu duy nhất. Không thể, thì làm gì có vấn đề tốt xấu đặt ra trong tình yêu.

Phân tích tình yêu trong lý thuyết đã là điều không dễ. Nhưng phân tích tình yêu trong chính cuộc sống lại càng khó hơn. Sự kiện đó, đưa tới lý do thứ hai khiến tôi ngại nói tới tình yêu. Đó là vì tôi không chắc chúng ta có thể hiểu được tình yêu người khác nhất là tình yêu của chính ta không?

Nói lý thuyết là để hiểu thực tế. Nhưng tình yêu thực tế rất khó nhận diện. Bởi vì không có tình yêu trống vậy, không có tình yêu hiện thân, nghĩa là không có tình yêu ngoài người yêu và người được yêu. Mà tình yêu thì không mùi không sắc, không đo lường được. Nó ở trong con người và của con người, nên nó cũng phức tạp như con người.

Đã hẳn theo lý thuyết thì tình yêu có thể là một trong những loại sau đây: Tình yêu siêu nhiên với đối tượng siêu nhiên, tình yêu siêu nhiên với đối tượng tự nhiên, tình yêu lý trí tự nhiên, tình yêu tình cảm, tình yêu cảm giác, tình yêu nhục dục, tình yêu tính dục, tình yêu nhân tính, tình yêu thú tính.

Tuy nhiên, trong thực tế không bao giờ có một thứ tình yêu nào được hoàn toàn thuần túy chỉ thuộc riêng một loại. Tình yêu cao siêu nhất vẫn gây ảnh hưởng trong thân xác. Tình yêu nhục dục thấp nhất cũng không hoàn toàn chỉ là thú tính.

Khi yêu là yêu với tất cả con người, mặc dầu hướng đi có khác nhau. Tình yêu giống như một hòa âm, nên không dễ phân biệt cung điệu nào là chính.
Nếu tôi đứng ngoài nhìn vào tình yêu của bạn, tôi sẽ dễ lầm. Bởi vì tôi là người ngoài cuộc, chỉ nhìn vào bề ngoài khách quan, rồi đoán ra, chứ không thấy được trực tiếp tình yêu của bạn. Mà tình yêu có hình dáng gì đâu mà thấy được. Tình yêu diễn tả bằng thái độ và ngôn ngữ. Nhưng thái độ và ngôn ngữ là những thứ đa diện đa năng, mỗi người đều có thể cho chúng những ý nghĩa tự mình. Nếu căn cứ vào những cái đó để đoán tình yêu người khác, ta thường dễ rơi vào chủ quan ở chỗ “Suy bụng ta ra bụng người”. Không khéo khoa phân tâm học lại cho những xét đoán của ta là sự xuất hiện trá hình của những thèm muốn bị dồn nén của chính ta.

Nhưng nếu bạn là người trong cuộc, thì bạn cũng khó nhận ra bộ mặt thực của tình yêu bạn. Bởi vì, lúc đó bạn dễ thiên vị, và dễ bị tình cảm, đam mê làm mù quáng. Tình yêu là một kết tinh, như Standahl nói. Nhiều khi nó là một thứ pha trộn giữa thực tại và ảo ảnh. Bao lần người ta đã yêu người trong mộng, trước khi gặp người yêu thực. Yêu người trong mộng nên mới dừng lại một người yêu thực, để rồi lại yêu người yêu thực qua hình ảnh trong mộng. Qua mộng đến thực, và nhìn thực qua mộng, nhưng lại không phân biệt được thực và mộng ở chỗ nào, thì làm sao hiểu rõ được tình yêu của mình? Chỉ hiểu được khi tình đã chết. Lúc đó đã đứng ngoài cuộc rồi.
Tính cách phức tạp vừa kể trên của tình yêu lại dẫn tới lý do thứ ba khiến tôi ngại nói về tình yêu, đó là vì tình yêu rất nặng tính cách chủ quan.

Tìm một kết luận khách quan đã là khó lắm. Phương chi lại đứng trong một vấn đề chằng chịt những tính cách chủ quan.

Đã hẳn, theo thánh Tôma, thì ba yếu tố tâm lý cần thiết để nhóm lên lửa tình yêu là biết, tốt và hạp. Nhưng thế nào là biết, là tốt, là hạp. Cho dù có ngàn sách dạy về sự tốt, sự đẹp, sự hạp, thì trong thực tế, khi bạn yêu ai, người đó có thể chỉ tốt cho bạn, đẹp cho bạn, hợp với bạn chứ đâu có phải họ tốt đẹp và hạp cho tất cả mọi người. Họ có thể xấu và không hợp đối với người khác, nhưng tốt và hợp đối với bạn. Nếu gọi là duyên nợ, thì duyên nợ là ở chỗ đó. Nó đầy tính cách chủ quan riêng cho từng người và riêng cho từng trường hợp.

Khởi đi từ những yếu tố chủ quan vừa kể, tình yêu đi về đích điểm nào? Nó dừng lại người yêu, hay lại qua người yêu để trở lại chính ta. Nó cho đi mà chẳng cần nhận lại, hay là tình yêu nào cũng mong mỏi hai chiều. Ước mong nhận lại và hai chiều, có phải là vị kỷ hay không?

Bao sách đạo đức đã cho rằng yêu không mong được yêu mới là tốt. Nhưng M. Nédancelle đã không đồng ý. Tôi nghĩ ông có lý với điều kiện. Thực ra, cả hai quan niệm cùng đúng. Nhưng bên nào cũng đúng theo cái nhìn chủ quan của mình. Thế mới nguy!

Nhiều chuyện tình tôi coi như vô lý. Nhưng nó không có lý cho tôi, mà lại có lý cho người trong cuộc. Tôi không phải họ, họ đâu phải là tôi. Họ khác, tôi khác. Thế mới rắc rối! Mỗi tình có cái lý riêng của mình. Cái lý của tình, không mấy ai hiểu nổi ngoài người chủ của tình yêu. Nhưng bao lần chính họ cũng chẳng nắm vững được cái lý của tình mình. Tình yêu có quá nhiều tính cách chủ quan, nên lại một lý do nữa khiến tôi ngại nói về tình yêu. Đó là vì tình yêu bao la quá!

Bao la thì dễ hồ đồ. Hồ đồ thì khó xác thực. Tình yêu nghe như vấn đề nhỏ bé, nhưng thực sự nó mênh mông khôn tả.

Bạn thử hỏi mỗi người nghĩ gì về tình yêu. Bạn thử đọc các sách nói về tình yêu. Bạn thử khảo cứu những tác giả chuyên về tình yêu. Bạn thử viết một tác phẩm đầy đủ về tình yêu... Bạn thế nào, tôi không rõ. Riêng tôi, tôi nhận là tôi không đọc xuể, không hiểu thấu và không viết nổi.

Tình yêu bao la vì tình yêu muôn mặt.

Người tình của Kinh Thánh trong Ca Đệ Nhất chỉ mới là một mặt của tình yêu. Tình của Trọng Thủy và Mỵ Nương lại là mặt khác. Tình của Lan và Điệp lại là một mặt khác nữa. Tình của Roméo và Juliette, không giống tình của Tristan và Iseut. Đến chuyện ly kỳ của hoàng đế Edouard VIII đã cam lòng từ nhiệm ngôi vua để cưới một người đàn bà không còn trong trắng thì tình yêu lại xuất hiện với bộ mặt vừa chân thành vừa bi đát lạ thường làm xúc động cả thế giới.

Còn bao nhiêu bộ mặt khác của tình yêu.

Ngay cơ cấu tâm lý của tình yêu cũng đã là vấn đề quá rộng, chứ chưa nói gì tới hàng trăm vấn đề nằm trong tình yêu. Phạm vi bát ngát, mà lại muốn đơn giản, thì khó tránh được thiếu sót đáng ngại.

Tình yêu rất bao la. Tìm hiểu nó bằng lý trí và sách vở đã vậy, nhưng thiết tưởng cũng cần phải hiểu nó bằng trái tim và sự trưởng thành của kinh nghiệm. St.Exupéry nói: “Chỉ với trái tim, người ta mới thấy được rõ”. Câu nói đó đúng trong phạm vi tình yêu.

Tình yêu được dựng nên cho con người, và con người được dựng nên cho tình yêu, để tất cả được trở về tình yêu nguyên thủy và sau cùng là Thiên Chúa. Vì thế, khi nói về tình yêu, tôi vẫn lo tôi không cung kính đủ, không phân loại đủ, và không hướng về Chúa đủ.

Nếu bạn chia sẻ với tôi về những lý do kể trên khiến tôi ngại nói về tình yêu, thì bạn sẽ dễ đoán được tình yêu là vấn đề tế nhị thế nào, và cần phải dè dặt, cân nhắc thận trọng lắm, để khỏi có những nông cạn, thiếu sót và lầm lẫn.

Nếu đi tới được kết luận đó, thì cũng đã là một kết quả tốt rồi.

Tôi chỉ mong có thế!

Nói với giới trẻ Long Xuyên, ngày 18/12/1977

 

Bùi-Tuần 0020: HÀNH TRÌNH PHỤC SINH 29-03-1977

Lễ Phục sinh là một kỷ niệm lớn. Một kỷ niệm để nhớ lại. Một kỷ niệm để vui mừng.
 

Trong lễ này, có nhiều cách nhớ lại, có nhiều cách vui mừng. Một trong nhiều cách đó là: 29-03-1977 Bùi-Tuần 20


Trong lễ này, có nhiều cách nhớ lại, có nhiều cách vui mừng. Một trong nhiều cách đó là đến gặp chính Đức Kitô. Ngài đã sống lại. Nhưng Ngài còn ở lại một cách vô hình giữa chúng ta.

Hãy đến gặp Ngài. Vì Ngài rất muốn. Trong gặp gỡ thân mật giữa cõi lòng thanh vắng, Đức Kitô sẽ cho thấy: Điều quan trọng trong lễ Phục sinh không phải là nhớ đến Ngài, cũng không phải là mừng Ngài, nhưng là mỗi người hãy lo cho chính mình được phục sinh.

Phục sinh là một hành trình. Đời ta dài bao nhiêu, hành trình phục sinh cũng dài bấy nhiêu. Phục sinh là một hành trình đầy khó khăn. Đường đời pha trộn nhiều cái thiện với nhiều cái ác. Chính bản thân mỗi người cũng mang trong mình nhiều tiềm năng tốt và nhiều xu hướng xấu. Vì thế:

Cần có những nhận định đúng,
Cần có những ước mơ tốt,
Cần có những chọn lựa thực hành thích hợp,
Cần có những phấn đấu kiên trì.

Xin phép chia sẻ một vài kinh nghiệm về những điểm nêu trên.

1-- Để có được những nhận định đúng trong suốt hành trình cuộc đời, chúng ta cần thường xuyên làm sống lại sứ điệp ban đầu. Sứ điệp đó là “mến Chúa và yêu người”. Sứ điệp này được Chúa ghi vào lòng mỗi người, dưới nhiều dạng khác nhau. Nó dần dần được rõ nét nhờ giáo dục và tiếp xúc. Sứ điệp này là tiếng gọi từ nội tâm. Nó làm nên niềm hứng khởi để xây dựng những tương quan. Nó làm cho cuộc đời có ý nghĩa cao đẹp. Nó làm cho cuộc sống có một hướng đi đúng đắn. Sứ điệp căn cốt này không luôn rực sáng. Nó có thể bị che phủ, và bị chôn vùi bởi những sứ điệp giả dối tạo nên do thế giới quỷ dữ và các đam mê xấu. Cần làm sống lại sứ điệp ban đầu và căn cốt của Chúa bằng chính Lời Chúa ghi trong Kinh Thánh, bằng Lời Chúa được hiện thân nơi Đức Kitô, và bằng Lời Chúa được sống động trong Hội Thánh.

2-- Cùng với những nhận định đúng, chúng ta cần làm sống lại những ước mơ tốt. Ước mơ tốt là khát vọng được mến Chúa và yêu người như thánh ý Chúa, như gương Đức Kitô để lại.  Những ước mơ thánh thiện đó nhiều khi chỉ xuất hiện thoáng qua, hời hợt, không ăn rễ sâu vào tiềm thức và vô thức. Chúng nhạt nhoà, yếu sức. Cần phải thường xuyên làm sống lại. Chiêm niệm, cầu nguyện và cởi mở nhìn vào những gương sáng xung quanh để đánh thức những ước mơ tốt. Đó cũng là một điều kiện cần của hành trình phục sinh.

3-- Nhưng nếu ước mơ tốt chỉ vẫn mãi là những ước mơ tốt không đưa tới thực hành, thì sẽ không thể phục sinh được chính mình. Cần có những thực hành cụ thể được chọn lựa thích hợp. Biết lãnh nhận sự tốt một cách khiêm tốn, kể cả từ những người hèn mọn nhất. Biết cho đi sự tốt một cách vị tha, kể cả trong những phục vụ kéo nhiều chú ý. Biết vui mừng một cách chân thành khi thấy người khác thành công. Biết xót xa một cách sâu sắc khi thấy người khác phải thiếu thốn, khổ đau. Biết chấp nhận những yếu đuối của mình một cách từ tốn, nhất là khi những yếu đuối ấy bị phê phán khắt khe. Những thực hành cụ thể với tinh thần như thế đòi nhiều khôn ngoan. Chúa Thánh Thần sẽ ban ơn khôn ngoan đó cho những ai đặt mình trong tay Ngài. Vì thế cần phải phục sinh thường xuyên thái độ ngoan ngoãn đối với Chúa Thánh Thần.

4-- Sau cùng, cho dù có những nhận định đúng, những ước mơ tốt, những thực hành được chọn lựa một cách khôn ngoan thích hợp, nếu thiếu tinh thần phấn đấu kiên trì, hành trình phục sinh cũng sẽ có thể bị đứt quãng, sẽ không dứt điểm. Vì thế cần làm sống lại tinh thần phấn đấu. Bằng cách luôn đốt nóng lên tình yêu, luôn thắp sáng lên niềm tin. Hãy nhìn vào chính Đức Kitô, nói lời “xin vâng” một cách vô điều kiện. Nếu vấp ngã, hãy đứng dậy và tiếp tục đi. Nếu rơi vào những bế tắc, hãy vẫn luôn tìm về Chúa bằng tình mến Chúa thiết tha và yêu người vị tha. phải luôn phấn đấu, để luôn vượt qua sự ác.

Trên đây là một thoáng nhìn phục sinh. Nếu phục sinh là một hành trình, thì chúng ta có đang trên hành trình đó không? Hy vọng là có.

Hôm nay, gặp Đức Kitô Phục sinh và nhìn Đức Kitô Phục sinh, tôi nói với Ngài rằng: Trước đây con đã bắt đầu, hôm nay con bắt đầu lại, ngày mai và suốt đời, con vẫn bắt đầu lại mãi. Hành trình phục sinh của con là một chuỗi dài những bắt đầu. Xin Chúa thương xót con. Xin cảm tạ Chúa muôn đời.

Lễ Phục Sinh tại nhà thờ Chánh Toà Long Xuyên, ngày 29-3-1977.

1978
 

Bùi-Tuần 0021: Sự Can Đảm Và Sáng Suốt 28-01-1978

 

Khi suy nghĩ về thánh Tôma, tôi thấy Ngài có nhiều điểm rất nổi, rất hay, rất đáng đề cao. Thí dụ, sự: 28-01-1978 Bùi-Tuần 21


Khi suy nghĩ về thánh Tôma, tôi thấy Ngài có nhiều điểm rất nổi, rất hay, rất đáng đề cao.

Thí dụ, sự nghiệp văn học của Ngài, với 23 cuốn sách lớn bàn về những vấn đề cao sâu. Sự nghiệp đó cho đến nay vốn được coi là một kho tàng tư tưởng quí báu.
Rồi thí dụ, sự thinh lặng thẳm sâu của thánh Tôma, đã trở thành danh tiếng, đến nỗi các bạn của Ngài đã tặng cho Ngài một danh hiệu hài hước là: “Con bò câm”.
Rồi thí dụ, sự thông thái lừng danh của thánh Tôma đã làm cho Ngài được mời dạy học tại nhiều Đại Học: Napoli, Milan, Rôma ở Ý, Cologne ở Đức, Lyon và Paris ở Pháp.
Những điểm đó đẹp, nhưng nghĩ tới để mà khen, hơn là để
bắt chước.

Bên cạnh những điểm đó, tôi thấy có vài điểm, tuy âm thầm kín đáo nơi thánh Tôma, nhưng có thể dạy cho chúng ta nhiều bài học thực tế:
Điểm thứ nhất là những chối từ can đảm nơi thánh Tôma
Có thể nói, thánh Tôma là một vị thánh của những chối từ can đảm vì những lựa chọn cao quí.

Khi tới tuổi thanh niên, Tôma được cha mẹ tỏ ý muốn đi sâu vào con đường công danh. Tôma đã chối từ, chối từ can đảm, vì một lựa chọn cao quí hơn. Đó là đi tu.

Tôma biết thế nào cha mẹ cũng sẽ làm áp lực đủ cách, bắt mình theo ý cha mẹ, nên Tôma lén bỏ nước Ý, trốn sang Pháp. Cha mẹ cho quân đội đuổi theo bắt về. Trong thời kỳ bị giam, Tôma đã phải đối đầu với muôn vàn thử thách. Nhưng dù thế nào, Tôma vốn một mực chối từ, chối từ can đảm vì một lựa chọn dứt khoát: Sống tận hiến cho Thiên Chúa trong bậc sống đời tu.

Cũng trong thời gian đó, Tôma cũng phải đối phó với một cám dỗ lớn về đức trong sạch trước một dịp rất gần và cố tình lôi kéo. Nhưng Tôma cũng đã chối từ, chối từ can đảm vì một lựa chọn cao đẹp hơn. Đó là lý tưởng dâng hiến toàn thân cho Thiên Chúa.

Những chối từ đó tuy ngắn ngủi, nhưng đã quyết định tất cả cuộc đời của Tôma. Những chối từ đó đã là bước quyết liệt, đưa Tôma vào một con đường dứt khoát đi về lý tưởng.

Những chối từ đó, tuy chỉ nói lên bằng vài tiếng, nhưng thực sự vẫn nói đi nói lại hoài trong ý thức và trong ý chí, ngày cũng như đêm, cho đến hơi thở sau cùng.
Chối từ không luôn dễ, nhất là khi không phải chối từ sự vật, mà là chối từ con người, chối từ với cha mẹ, với anh chị em, với những người thân yêu nghĩa thiết.

Vì thế, chối từ thường chấp nhận hy sinh vì những lựa chọn cao quí hơn. Có sống thực sự với những chối từ đó, người ta mới thấy nổi bật ý nghĩa của hy sinh, hy sinh nhiều khi rướm máu.

Điểm thứ hai, là những dang dở nơi thánh Tôma

Thánh Tôma đang hăng say xây dựng những tác phẩm văn học cần thiết cho Hội Thánh, thì bất ngờ Ngài chết, để lại những tác phẩm dang dở, như bản nhạc bị cắt đứt nửa vời.

Thánh Tôma được gọi đi làm việc cho Công Đồng Lyon. Trên đường đi, thình lình Ngài bị đau nặng. Ngài đã chết ở một nơi không phải nhà của mình, giữa những người không phải bà con thân thuộc với mình. Chuyến đi của Ngài trở thành một chuyến đi dang dở, như thể người lữ hành bị gọi đi vội vã về một quê hương khác.

Rồi, những công việc Ngài dự định đóng góp cho Công Đồng Lyon cũng đã bị dang dở Ngài gởi lại Công Đồng những luyến tiếc xót thương, thay vì những điểm tựa cần thiết.

Và vì thế, chính đời sống Ngài cũng đã trở thành cuộc đời dang dở. Ngài chết lúc 49 tuổi. Như thế, đời Ngài không cần chi đến số năm và đến những công việc Ngài làm .

Dang dở không do Ngài lựa chọn, nhưng là chọn lựa của Chúa và do Chúa. Tuy nhiên, nó cũng nói lên sự sẵn sàng, chấp nhận vốn có nơi thánh Tôma. Nó gây cho kẻ ở lại những bất ngờ và đau xót.

Chính vì dang dở để lại những khoảng trống không thể lấp đầy, những luyến nhớ không nguôi, những ước nguyện không thể thành đạt, mà giá trị của thánh Tôma được nhận thức một cách sâu sắc, và thúc đẩy những người ở lại phải cố vươn lên.

Tôi nghĩ rằng: Con người thánh không hẳn tất nhiên phải là một tác phẩm hoàn thành. Có thể chỉ là một tác phẩm dang dở. Xong hay không xong, điều đó không cần thiết. Điều cần thiết là quyết tâm và nổ lực cộng tác với ơn Chúa. Xây dựng con người của mình thành một tác phẩm của tình yêu Chúa.

Chối từ và dang dở, là hai điểm nơi thánh Tôma, có thể dạy ta nhiều điều hữu ích. Để biết chối từ, để biết sẵn lòng chấp nhận dang dở, ta cần nhiều sáng suốt và can đảm. Điều đó đặt ta thành vấn đề, chứ không là một giải quyết. Bởi vì, đòi một người mù phải sáng, và đòi một người yếu phải can đảm, là chỉ đòi họ đi tìm một ánh sáng không phải của họ, tìm một sức mạnh không phải của họ. Tức là phải giải quyết ở người khác. Người khác nói đây là chính Chúa.

Lạy Chúa,  Xin vì công nghiệp của thánh Tôma giúp chúng con biết can đảm và sáng suốt, trong những chối từ cần thiết, biết can đảm và sáng suốt trong những chấp nhận sẵn sàng dang dở theo ý Chúa, để mỗi người chúng con trở thành những tác phẩm Tình yêu Chúa muôn đời. Amen.

Lễ thánh Tôma, ngày  28/1/1978

 

Bùi-Tuần 0022: Một Tôn Giáo Tin Yêu 14-05-1978

 

Đạo Thiên Chúa có ngay từ khi có loài người. Đạo đó đã được Chúa Kitô xuống thế đổi mới lại: 14-05-1978 Bùi-Tuần 22


Đạo Thiên Chúa có ngay từ khi có loài người. Đạo đó đã được Chúa Kitô xuống thế đổi mới lại. Nhưng sự đổi mới ấy chỉ được thực sự triển khai mạnh mẽ từ ngày Chúa Thánh Thần Hiện Xuống. Có thể nói, chính nhờ có sự can thiệp của Chúa Thánh Thần, mà đạo Chúa mới được những chuyển biến sâu sắc phi thường. Một trong những chuyển biến to lớn nhất, đó là làm cho đạo Chúa trước đây nặng về lề luật và hình thức, nay xuất hiện với bộ mặt mới của một tôn giáo tin yêu.

Thiên Chúa Giáo là một tôn giáo tin yêu. Điều đó hiểu thế nào? Đó là vấn đề tôi muốn trình bày vắn gọn trong mươi phút, mong giúp chúng ta phần nào trong đời sống đạo.

Anh chị em thân mến,

1 Thiên Chúa Giáo là một tôn giáo tin yêu. Tin yêu ở đây trước hết được hiểu như một sự gặp gỡ sống động và thân mật với Chúa

Thực thế, Thiên Chúa Giáo không phải là một chủ thuyết, cũng không phải là một ý thức hệ. Thiên Chúa Giáo là một cuộc sống, cuộc sống tin yêu. Cuộc sống ấy khởi đi từ một cái nhìn. Nhìn nhận một Đấng thực sự là Cha, là nguyên thủy và là cùng đích của con người.

Nhìn nhận đó dẫn tới tin yêu. Tin yêu là cái gì vừa sống động, vừa thân mật. Nó đơn sơ nhưng nồng nàn, như một bàn tay nắm lấy một bàn tay thân yêu. Nó nhẹ nhàng nhưng quyết liệt như sự cam kết của một quả tim với một quả tim chọn lựa. Nó bình thường nhưng có tính cách bản thân riêng biệt, như sự gặp gỡ của một người với một người thương mến nhất.

Tin yêu, tất nhiên là tin yêu trong lòng xuất phát từ lòng trí, được chất chứa trong lòng, có cơ sở là trong tâm hồn. Vì thế, Thiên Chúa Giáo là một tôn giáo hướng về nội tâm. Tôi nói nội tâm chứ không phải duy tâm. Bởi chưng Thiên Chúa Giáo không chấp nhận duy tâm, và vẫn chống đối duy tâm. Hướng về nội tâm, là cố gắng cải thiện con người từ bên trong theo đòi hỏi của tin yêu. Nội tâm như một bận tâm thường xuyên, để mỗi ngày mỗi sống thân mật với Chúa. Nội tâm như những thao thức triền miên, để niềm tin yêu từ trong tâm hồn, phát sinh ra những thái độ tin yêu bên ngoài. Chiều hướng nội tâm như thế là một chiều hướng ngược lại với lối sống nặng về hình thức và trình diễn.
Có một điều quan trọng rất cần thiết là trong đời sống tin yêu hiểu như một sự gặp gỡ sống động và thân mật với Chúa, người Kitô hữu chúng ta phải đẩy mạnh sự tin yêu đến mức độ sâu thẳm, nhất là tích cực thông dự vào chính cuộc sống siêu nhiên, vượt ngoài phạm vi hiểu biết của mọi khoa học và sức hiểu biết của loài người. Chỉ với sự sống đó và trong sự sống đó, người ta mới hiểu được đúng sự tin yêu cao cả đó mà thôi.
2. Ngoài ra, Thiên Chúa Giáo là một tôn giáo tin yêu. Tin yêu ở đây còn phải hiểu là một cuộc sống phục vụ tha nhân
Thực vậy, phục vụ tha nhân là một yêu cầu thuộc bản chất của đạo Chúa. Nó đã khởi đi từ một cái nhìn: Nhìn họ như Chúa nhìn ta, nghĩa là nhìn bằng trái tim thương mến, để rồi biến thương mến thành phục vụ.

Phạm vi phục vụ là toàn diện con người, cả hồn, cả xác, nhưng nhất là trong phạm vi lương tâm, giúp họ nhìn thấy chân lý Tin Mừng và sống Tin Mừng, để đạt tới sự cứu rỗi đời đời.

Theo quan điểm tôn giáo, thì cứu gỡ con người khỏi đói rách là một đòi hỏi khẩn thiết của phục vụ tha nhân. Đòi hỏi đó, người tín hữu phải đáp ứng tích cực, bằng đủ mọi cách. Nhưng cứu gỡ con người khỏi tội lỗi và lầm lạc trong lương tâm, còn là một đòi hỏi phải được coi là rất mực khẩn thiết, mà người có đạo phải quan tâm đặc biệt. “Được mọi sự thế gian này, mà mất linh hồn mình, thì nào được ích gì”. Đó là một cái nhìn xa, nhưng đúng đắn và thực tế nhất.

Phục vụ như thế, tất nhiên không bao giờ có tính cách dành ảnh hưởng với ai. Nó triệt để tôn trọng tự do của mỗi người trong tinh thần tuân thủ luật pháp của Nhà Nước.

Dùng tin yêu để đem lại tin yêu, hầu sống với tin yêu phục vụ đó, rõ ràng là một thứ phục vụ phải chấp nhận khiêm tốn, cởi mở và quên mình. Khiêm tốn như hạt muối bé nhỏ trong đồ ăn. Cởi mở như làn gió nhẹ giữa bầu trời, và âm thầm hy sinh, như hột men tan hòa giữa thùng bột.

Anh chị em thân mến,

Tóm tắt những điều tôi vừa nói trên với anh chị em là: Nhờ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống mà đạo Chúa được xuất hiện với bộ mặt mới của một tôn giáo tin yêu.
Tin yêu được hiểu như một sự gặp gỡ sống động và thân mật với Chúa. Tin yêu được hiểu như một cuộc sống phục vụ tha nhân.

Thiên Chúa Giáo không đơn giản chỉ có thế. Tuy nhiên, đó là mấy nét lớn làm cơ sở cho đời sống đạo.

Nếu khởi điểm lại đời sống đạo của ta theo mấy nét vừa trình bày, chúng ta không khỏi có những thiếu sót lỗi lầm. Chúng ta thành thực hối tiếc về những thiếu sót và lỗi lầm ấy. Hối tiếc để rồi quyết tâm sửa lại. Để thực hiện quyết tâm đó, chúng ta hãy tích cực cộng tác với ơn Chúa Thánh Thần, bằng lời cầu nguyện, bằng thái độ ngoan ngoãn trước những tác động tế nhị của Ngài.

Chúa Thánh Thần là Ngôi Thiên Chúa không bao giờ nói, nhưng không ngừng làm việc. Ngài là thinh lặng cao cả, nhưng lại là sức mạnh hành động vô biên. Cúi xin Ngài đổi mới chúng con, và canh tân Giáo Hội theo thánh ý Ngài. Cúi xin Ngài tái diễn trên chúng con một lễ Hiện Xuống mới, để chúng con biết sống tin yêu mãnh liệt trong vui mừng và hy vọng như các thánh tông đồ xưa. Amen.

Lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống, Long Xuyên ngày 14/5/1978

 

Bùi-Tuần 0023: Một Mẫu Người Đơn Sơ 01-10-1978

 

Đã từ lâu, khi suy nghĩ về thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu, tôi muốn tìm nơi Ngài một hình ảnh: 01-10-1978 Bùi-Tuần 23


Đã từ lâu, khi suy nghĩ về thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu, tôi muốn tìm nơi Ngài một hình ảnh nào đó có màu sắc của con người hôm nay.

Nếu tôi muốn tìm nơi Ngài hình ảnh một con người đã phải phấn đấu cam go để có cơm ăn, để có áo mặc, thì tôi sẽ không thấy. Vì Ngài đã sinh sống giữa một cuộc đời êm đềm dư giả.

Nếu tôi muốn tìm nơi Ngài hình ảnh một con người đã trải qua những kinh nghiệm sóng gió của tình yêu, thì tôi cũng không thấy. Vì đời sống tình cảm của Ngài đã được ổn định rất sớm, rất gọn từ khung cảnh gia đình, đến nếp sống nhà tu.

Nếu tôi muốn tìm nơi Ngài hình ảnh một con người đã phải đối đầu bi đát với những áp lực tinh thần và vật chất, để giữ trọn niềm tin tôn giáo, thì tôi cũng sẽ không thấy. Vì đức tin của Ngài đã được nuôi dưỡng và bảo trì trong những hoàn cảnh có thể gọi được là ưu đãi.

Tôi không thấy những hình ảnh đó nơi thánh Têrêxa. Nhưng tôi an tâm. Vì tôi không muốn Ngài phải như tôi, và tôi cũng không muốn tôi phải như Ngài.

Nhưng nếu suy nghĩ kỹ, tôi thấy nơi Ngài có một hình ảnh thực đẹp, thực đáng làm gương cho tôi, cho chúng ta, cho mọi người hôm nay đó là hình ảnh con người đơn sơ. Têrêxa, con người đơn sơ, đó là hình ảnh mà tôi muốn cùng anh chị em nhìn qua ít phút trong thánh lễ này.

Trước hết, thánh Têrêxa rất đơn sơ trong cái nhìn tôn giáo của Ngài. Đối với Ngài, tôn giáo không phải là một ý thức hệ, không phải là một hệ thống tư tưởng, không phải là một thế lực tranh dành ảnh hưởng, cũng không phải là một khuôn khổ luật lệ và lễ nghi. Đối với Ngài, tôn giáo chính là sự gặp gỡ sống động của Ngài với Thiên Chúa. Thiên Chúa thế nào. Cũng đơn sơ thôi. Thiên Chúa của Ngài không phải là một Đấng nào xa lạ trên chín tầng mây xa thẳm. Nhưng Thiên Chúa là Cha, Cha trên mọi người cha, Cha chung mà cũng rất là của riêng mình. Người Cha rất gần gũi, người Cha rất mực thương yêu, người Cha là nguồn gốc và là cùng đích của Ngài.

Vì luôn luôn nhìn Thiên Chúa là Cha, nên Têrêxa lo sống làm sao cho đúng địa vị người con. Nghĩa là tương quan của Têrêxa với Chúa là một tương quan đơn sơ nhưng thân mật.

Thí dụ, nơi Ngài, cầu nguyện chỉ là tâm sự một cách đơn sơ với Chúa với tất cả tấm lòng trên môi.

Thí dụ nơi Ngài, niềm tin đối với Chúa cũng đơn sơ nhẹ nhàng như một cái nhìn trao yêu, cũng đơn sơ gắn bó như bàn tay nắm lấy một bàn tay, cũng quyết liệt và dễ hiểu như một cam kết của một trái tim với một trái tim.

Thí dụ nơi Ngài, sám hối chủ yếu không phải là nhìn lại đàng sau, để ray rứt bối rối trên đống tro tàn dĩ vãng, nhưng là đơn sơ nhìn về đàng trước với tin yêu, với hy vọng.

Thí dụ nơi Ngài, mọi sự, nhất là đức tin và phần rỗi đều được nhìn nhận một cách đơn sơ, như những ân huệ của Chúa trao ban.

Thí dụ nơi Ngài, làm việc lành không phải là để lập công, cũng không phải để đền tội, nhưng đơn sơ chỉ là để làm vui lòng Chúa.

Và thí dụ nơi Ngài, làm vui lòng Chúa không phải bằng những việc lớn lao, nhưng đơn sơ bằng việc chu toàn bổn phận, những hãm mình hy sinh nho nhỏ, và nhất là bằng sự chân thành thực thi giới răn căn bản của Phúc Âm. Đó là giới luật yêu thương bác ái.

Tình yêu thương của thánh Têrêxa đối với tha nhân, cũng đơn sơ như cái nhìn của Ngài, là biết cho đi, là biết phục vụ, là thông cảm, là chia sẻ, là tha thứ, là nâng đỡ, là giải thoát đối tượng khỏi tội lỗi, lo sợ, mặc cảm và tất cả những gì dẫn đến tội lỗi, hay đi kèm theo tội lỗi.

Với cái nhìn đơn sơ như trên của thánh Têrêxa, đạo trở nên nhẹ nhàng nhưng sâu sắc, êm đềm nhưng quyết liệt và mạnh mẽ vô song.

Khi cái nhìn tôn giáo đã đơn sơ, thì cái nhìn về cuộc đời cũng không thể phức tạp. Bởi vì đức tin chia phối tất cả cuộc đời. Thánh Têrêxa không phải không ý thức những cái phức tạp của cuộc đời. Cũng không phải Ngài muốn giản đơn là trốn tránh những vấn đề lắc léo trập trùng trong cuộc sống. Ngài rất thực tế. Ngài rất nhân loại. Nhưng tính cách đơn sơ về tôn giáo của Ngài giúp Ngài đơn giản hóa được thái độ nội tâm của Ngài đối với cuộc đời.

Thực vậy, ánh sáng đức tin đã cho Ngài thấy rõ một cách chắc chắn chỉ có Chúa là tuyệt đối, nên Ngài qui hướng mọi sự về đỉnh tuyệt đối đó, và phán đoán mọi sự theo quan điểm tuyệt đối đó.

Ngoài ra, sức mạnh của đức cậy, cho Ngài niềm lạc quan vô biên, để vận dụng mọi khả năng với tình phó thác, trong nỗ lực đạt tới phần rỗi đời đời.

Hơn nữa, sự nồng nàn của đức mến cho Ngài nếm được hương vị đặc biệt của Thiên Chúa trong đời sống thường ngày và cho Ngài cảm nghiệm được đời sống mình thực là ý nghĩa muôn vàn cao quí.

Xem như thế, chúng ta thấy rằng, sự đơn sơ của thánh Têrêsa không phải là một sự đơn sơ của nghèo nàn, nhưng là một sự đơn sơ của tâm hồn trong trắng, tự do phong phú, dồi dào ơn Chúa Thánh linh. Sự đơn sơ đó xuất phát do ơn thánh, làm cho Ngài hiệp thông với bản tính Thiên Chúa là Đấng đơn sơ vô cùng. Ngài đơn sơ vì Ngài sống với Chúa, và Chúa sống trong Ngài.

Tôi rất cảm mến tinh thần đơn sơ của thánh Têrêsa. Tôi mong muốn tinh thần đơn sơ ấy sống động mạnh mẽ trong tôi, trong anh chị em, trong mọi người thiện chí của cuộc sống hôm nay. Hiện nay, chúng ta đang có những hoàn cảnh thuận lợi để sống đơn sơ: Đơn sơ trong đời sống vật chất, đơn sơ trong đời sống xã hội, đơn sơ trong đời sống đạo.

Thế nhưng, tôi e rằng đời sống thì đơn sơ mà con người thì không đơn sơ. Hay con người thì có đơn sơ, nhưng lại là thứ đơn sơ thiếu khôn ngoan sáng suốt. Chúng ta biết rằng điều đơn sơ nhất, nhưng quan trọng nhất của một chuyến đi, không phải là đi xe đẹp, đi xe xấu, nhưng là đi tới đích.

Thí dụ, nếu tôi muốn đi Thành Phố Hồ Chí Minh, mà ra đường thấy có xe đẹp, còn chỗ tốt, có người mời, là tôi cứ leo lên, bất cần để ý xem xe có đi đâu, để rồi sau cùng, xe đó chở tôi về miệt Cà Mau xa hút, thì tôi không phải là người đơn sơ, mà là người khờ dại.

Tương tựa cũng vậy, cuộc đời là một chuyến đi dài. Điều đơn sơ nhất của chuyến đi đó, không phải là được quyền lợi này, được danh dự kia ở giữa đường, mà là đạt được phần rỗi đời đời bất diệt. Đơn sơ có thế. Đó là đơn sơ sáng suốt, đơn sơ khôn ngoan. Đó là sự đơn sơ tối thiểu, mà mọi người chúng ta ai cũng phải bắt chước nơi thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu.

Lạy Thiên Chúa toàn năng, là Cha nhân lành. Vì tình thương đối với thánh Têrêsa, xin giúp chúng con biết sống đơn sơ. Đơn sơ trong ý hướng. Đơn sơ trong tình cảm. Đơn sơ trong lựa chọn, đơn sơ trong tương quan với Chúa và với tha nhân. Xin cho chúng con thứ đơn sơ sáng suốt, thứ đơn sơ khôn ngoan, thứ đơn sơ của Chúa Thánh Linh, là Đấng đã thánh hóa thánh nữ Têrêsa trước đây, và đang tiếp tục thánh hóa chúng con trong cuộc sống hôm nay. Trong Chúa, chúng con tin tưởng, chúng con hy vọng, chúng con khiêm tốn đơn sơ phó thác hoàn toàn. Amen.

Lễ thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu, Long Xuyên ngày 01/10/1978

 

Bùi-Tuần 0024: Dấu Chỉ Của Thời Đại 07-10-1978

 

Cái chết bất ngờ của Đức Thánh Cha Gioan-Phaolô I đã gây bàng hoàng trên khắp thế giới. Cái chết: 07-10-1978 Bùi-Tuần 24


Cái chết bất ngờ của Đức Thánh Cha Gioan-Phaolô I đã gây bàng hoàng trên khắp thế giới. Cái chết quá sớm và quá đột ngột của Ngài đã làm xúc động Giáo Hội toàn cầu hơn mọi bài diễn văn, hơn mọi thông điệp của các Đức Giáo Hoàng.

Người ta có thể nhìn cái chết đó theo những quan điểm khác nhau. Còn tôi, theo quan điểm mục vụ, tôi nhìn cái chết đó, như một dấu chỉ quan trọng của thời đại. Nghĩa là chúng ta có thể coi cái chết của Đức Thánh Cha Gioan-Phaolô như một dấu chỉ, mà Chúa muốn dùng để nhắn bảo chúng ta một hướng đi cần thiết cho đời sống đạo thời nay. Cái chết của Ngài là dấu chỉ bảo cho ta thấy một mẫu người Công Giáo thích hợp với những năm sau cùng này của thế kỷ 20.

Cái chết của Đức Giáo Hoàng Gioan-Phaolô I là một dấu chỉ thời đại, đó là đề tài suy niệm, tôi chia sẻ với anh chị em trong lễ hôm nay.

Dấu chỉ thứ nhất trong cái chết của Đức Thánh Cha Gioan-Phaolô, là lời mời gọi ta sống phó thác

Đức Thánh Cha là người được coi như đầy đủ tất cả, nhưng đã chết thiếu tất cả. Người ra đi nghèo nàn, bởi vì Ngài đã chết không được ai cấp cứu, không được một chút thuốc men. Đó là một cái chết nghèo nàn tức tưởi. Ngài ra đi nghèo nàn, bởi vì ngài đã chết không được một ai từ biệt, và chính Ngài cũng không nói được với ai một lời trăn trối. Đó là một cái chết cô đơn bi đát. Ngài ra đi nghèo nàn, bởi vì Ngài đã chết không được chịu phép Xức Dầu, không được xưng tội lần cuối, không được rước Mình Thánh Chúa như của ăn đàng. Đối với người có đạo, đó là một cái chết nghèo nàn thê thảm. Ngài ra đi nghèo nàn bởi vì Ngài đã chết chưa kịp làm gì đáng kể. Bao hy vọng vừa nhen nhúm đã bị tắt đi. Bao dự định còn đang suy tính đã bị dập vùi. Đối với lịch sử, thì triều đại Gioan-Phaolô I là một sự nghèo nàn rất đáng tiếc.

Nhưng chính sự ra đi nghèo nàn như thế của Đức Thánh Cha lại là dấu chỉ một sự nghèo nàn mà nhiều người đang có và sẽ có.

Nếu có cuộc đời nào nghèo nàn đến nỗi không sao gặp được bí tích, hay dù có gặp được, thì cũng hãy nhìn vào cái chết của Đức Giáo Hoàng để nhớ rằng: Sau cùng, chỉ có niềm tin mến và phó thác nơi tình thương Chúa mới là hành trang cần thiết nhất người ta phải có mang theo mình. Bí tích cần đó, nhưng căn bản vẫn là lòng tin mến.

Rồi nếu có cuộc đời nào nghèo nàn, đến nỗi không còn ai để hy vọng, hay dù vẫn có người để hy vọng, thì cũng hãy nhìn vào cái chết của Đức Gioan-Phaolô, để nhớ rằng: Sau cùng, Chúa vẫn là nơi nương tựa cần thiết nhất, người ta phải bám chặt lấy với lòng phó thác. Dù giữa trăm triệu bạn bè, người ta vẫn có thể cô đơn trơ trụi, nhưng trong trơ trụi bao giờ cũng có thể tìm được Chúa.

Rồi nếu có cuộc đời nào, được bảo đảm tối đa, đến nỗi xem ra không thể nào bị ngã xuống đất bất ngờ, thì cũng hãy nhìn vào cái chết của Đức Gioan-Phaolô, để nhớ rằng: Con người vốn mong manh, kiếp người vốn vắn vỏi, thân phận con người vốn nghèo nàn. Bảo đảm nào cũng chỉ là tương đối. Bởi vì bất cứ ai cũng có thể trở nên nghèo nàn trơ trụi một cách dễ dàng đột ngột trong mọi phương diện.

Như thế, là sự ra đi nghèo nàn của Đức Thánh Cha vừa là sự chia sẻ với những kẻ chết nghèo, vừa là dấu chỉ hướng đi khó nghèo phó thác, nhắn gởi con người hôm nay.

Dấu chỉ thứ hai trong cái chết của Đức Thánh Cha Gioan-Phaolô, là mời gọi ta sống đạo và truyền đạo bằng chính bản thân

Thực vậy, trong 32 ngày làm Giáo Hoàng Đức Gioan-Phaolô chỉ mới bắt đầu tập sự và làm quen với một chức vụ quá cao, quá lạ, mà Ngài không bao giờ nghĩ tới. Vỏn vẹn chỉ 32 ngày, thì tất nhiên chẳng làm được nhiều, chẳng nói được nhiều. Nhưng ảnh hưởng của Ngài trên thế giới lại không nhỏ. Ngài đã chinh phục được thiện cảm của dân chúng và của các Giáo Hội bạn một cách mau lẹ, còn hơn là Đức Gioan XXIII, còn hơn là Đức Phaolô VI. Nhờ nụ cười hồn nhiên của Ngài, nhờ thái độ khiêm tốn hiền hậu cởi mở của Ngài, nhờ sự chân thành và vui tính của Ngài.
Tóm lại, là nhờ chính bản thân Ngài. Chính bản thân dễ thương dễ mến của Ngài đã đem lòng con người đến gần Tin Mừng một cách nhẹ nhàng mau lẹ. Chính bản thân dễ thương dễ mến của Ngài đã chiếu giãi ánh sáng Chúa Kitô vào thế giới một cách trực tiếp và kỳ diệu. Chỉ từng ấy thôi cũng đã đủ để mở đường cho Giáo Hội của thời đại hôm nay.

Trong một thời gian quá đặt nặng đạo đức vào lời nói và vào hoạt động, thì cái chết của Đức Thánh Cha Gioan-Phaolô I là một dấu chỉ muốn nói lên rằng: Giá trị bản thân còn trọng hơn giá trị hoạt động và lời nói. Trong một thời đại đang tìm kiếm xem phương pháp nào thích hợp hơn để truyền bá Tin Mừng cho con người hôm nay, thì cái chết của Đức Gioan-Phaolô I là một dấu chỉ muốn nói lên rằng: Phương pháp thích hợp nhất để truyền bá Tin Mừng cho con người hôm nay là chính bản thân người tông đồ. Người tông đồ nào dễ thương, dễ mến sẽ có sức mạnh hơn bất cứ tông đồ nào.

Và thực sự, điều cần thiết nhất cho con người hôm nay là biết trở về với bản thân mình, biết ưu tư lo xây dựng bản thân mình nên đạo đức, làm sao để bản thân mình đúng là của mình, để mình có thể thương được mình và cũng được người khác yêu thương.

Anh chị em thân mến,

Ngôi sao Sinh Nhật đã xuất hiện có một lần, trong thời gian rất vắn, rồi vội biến đi. Nó vội biến đi sau khi đã làm xong nhiệm vụ chỉ đường cho các người thiện chí đến Bêlem gặp Chúa Cứu Thế. Đức Giáo Hoàng Gioan-Phaolô cũng là một vì sao Sinh Nhật xuất hiện rất bất ngờ, rồi lại biến đi mau chóng. Ngài ra đi mau lẹ âm thầm như vì sao Sinh Nhật sau khi đã làm xong nhiệm vụ chỉ đường cho các tâm hồn thiện chí tìm về với Chúa Kitô.

Chúng ta cầu nguyện cho Ngài. Và xin Ngài cầu nguyện cho ta.

Lễ cầu nguyện cho ĐGH Gioan-Phaolô I từ trần 28/9/1978,

Long Xuyên ngày 7/10/1978.

 

Bùi-Tuần 0025: Những Lợi Ích Của Niềm Tin Tôn Giáo 15-10-1978

 

Mọi người chúng ta đang có nhiều lo nghĩ: Lo nghĩ về nạn lụt và những hậu quả của nó, lo : 15-10-1978 Bùi-Tuần 25


Mọi người chúng ta đang có nhiều lo nghĩ: Lo nghĩ về nạn lụt và những hậu quả của nó, lo nghĩ về các nghĩa vụ công dân phải chu toàn, lo nghĩ về cơm ăn áo mặc trong hiện tại và tương lai, lo cho bản thân, lo cho gia đình, lo cho Đất Nước. Những lo nghĩ đó làm ta bận tâm, có khi làm ta chới với. Trong hoàn cảnh như thế lại có cuộc Rước Lễ và Xức Trán này. Một buổi lễ như thế này, trong hoàn cảnh như thế này! Phải chăng đây là một việc làm lạc lõng, không ăn nhằm gì với cuộc sống thực tế của ta.

Tôi không nghĩ như thế, và tôi chắc anh chị em cũng không nghĩ như thế. Trái lại, tôi nghĩ, lễ Thêm Sức này nói riêng và các việc đạo đức nói chung, nếu được sắp xếp hợp lý, vốn là những việc rất có lợi cho đời sống thực tế của ta. Ở đây, tôi chỉ xin nêu lên một vài lợi ích.

Là người có đạo, chúng ta thừa biết: Cuộc lễ hôm nay, hay bất cứ việc đạo đức nào khác, chẳng bao giờ đem lại cho ta một phép lạ, nhằm giải quyết cấp kỳ các nhu cầu sinh sống. Ta đâu có tin rằng: Cứ đi lễ đọc kinh là tức khắc nước lụt sẽ rút đi, lúa đồng sẽ mọc tốt, bệnh nạn sẽ được khỏi không cần đến thuốc men. Nếu có ai nghĩ nhảm nhí như thế, thì chắc không phải là người Công Giáo. Đạo Công Giáo không bao giờ dạy như thế. Bởi vì chúng ta biết lắm chứ: Phải làm mới có ăn, phải nổ lực đề phòng và khắc phục hậu quả thiên tai, mới tránh được sự suy sụp kinh tế. Ai cũng thế thôi.

Nhưng có điều này đáng nói, là kẻ tin mến Chúa, cũng trong một hoàn cảnh như bao người khác, lại được diễm phúc tìm được sự nâng đỡ thiêng liêng riêng biệt, một sự nâng đỡ êm đềm mà vững mạnh, chia phối tất cả cuộc đời thực tế. Thí dụ, khi tôi vất vả, tôi cũng cảm thấy mệt nhọc như ai, nhưng trong sự mệt nhọc, tôi vẫn có thể tìm thấy một ý nghĩa cứu độ, do ánh sáng đức tin mang lại làm tôi phấn khởi. Khi tôi đau buồn, tôi cũng cảm thấy cực khổ như ai, nhưng trong cực khổ, tôi vẫn có thể tìm được niềm an ủi thiêng liêng của tình thương Chúa để tôi vươn lên. Khi tôi thất vọng, tôi cũng cảm thấy chới với như ai, nhưng trong chới với tôi vẫn có thể tìm được bàn tay Chúa, như chiếc phao để tôi bám vào mà không chìm xuống tuyệt vọng. Khi tôi bị lương tâm giày vò, tôi cũng bị ray rứt như ai, nhưng trong sự ray rứt, tôi cũng có thể tìm được lối về bình an, bằng sự ăn năn trở về với Chúa.

Như thế, thì niềm tin mến của ta đối với Chúa, mà ta thực hiện và bồi dưỡng bằng các việc đạo, không làm cuộc sống ta phải mất mát gì. Trái lại, nó còn là một điểm tựa rất quí cho cuộc sống ta.

Ngoài ra, nếu xét đến những tương quan của ta với đồng bào và Quê Hương, thì niềm tin tôn giáo của ta cũng không phải là một cái gì dư thừa, trái lại, nó chính là một sức sống được thêm vào để giúp cho những tương quan đó càng tốt đẹp hơn.

Tôi vốn biết thương người là điều tự nhiên tốt, nhưng nhờ niềm tin tôn giáo, tôi còn biết thêm rằng: Yêu thương kẻ khác được kể như yêu thương chính Chúa. Nên tôi càng lo thực thi giới luật yêu thương một cách quảng đại hơn. Tôi vốn biết phạm tội là điều tự nhiên xấu. Nhưng nhờ niềm tin tôn giáo tôi còn biết thêm rằng: Chúa thấu suốt mọi sự, ai làm điều tội lỗi sẽ bị Chúa phạt, chẳng đời này thì đời sau. Nên tôi càng phải lo ăn ngay ở lành, tuân thủ luật pháp của nhà nước, tôn trọng công bình, bảo vệ trật tự xã hội và an ninh chính trị. Tôi vốn biết yêu nước là điều tự nhiên tốt. Nhưng nhờ niềm tin tôn giáo, tôi còn biết thêm rằng: Chúa hiện diện trong lịch sử Đất Nước tôi. Nên tôi càng phải lo bảo vệ và xây dựng Tổ Quốc tôi cho thực tốt đẹp.

Hôm qua, khi đọc báo, thấy nhiều tổ chức các Giáo Hội Thiên Chúa Giáo trên thế giới gởi tiền bạc và lương thực đến nước ta, để cứu trợ đồng bào bị nạn lụt, tôi có cảm tưởng là những việc đó đã được thúc đẩy bởi niềm tin tôn giáo, một niềm tin làm cho họ biết cảm thông những tai họa của những người xa xôi họ không hề quuen biết.

Như thế thì niềm tin tôn giáo mà chúng ta thực hiện và bồi dưỡng bằng các việc đạo cũng không làm hư hao gì mối tương quan của ta với đồng bào và Đất Nước. Trái lại, nó càng làm cho những tương quan đó nên đặc sắc hơn.

Sau chót, phải kể tới lợi ích khác to lớn nhất và quan trọng nhất của niềm tin tôn giáo, đó là niềm tin ấy cho thấy rõ địa vị của ta rất cao sang, bởi chưng ta là con cái Cha cả trên trời, và nó cũng làm cho ta thấy rõ mục đích cuối cùng của ta rất mực cao quí, bởi chưng thiên đàng là hạnh phúc bất diệt dành cho ta ở cuối cuộc đời thử thách. Cuộc sống ta do đó mà có ý nghĩa tuyệt vời cao cả.

Anh chị em thân mến,

Để niềm tin tôn giáo sinh được những ích lợi nói trên và muôn vàn ích lợi khác, thì ta cần phải có một thái độ thích hợp. Đó là khiêm tốn, nhiệt thành tìm kiếm và đón chờ Chúa. Thái độ đó ta vốn thường có. Nhưng hôm nay, trong lễ này ta cần có một cách mãnh liệt và sống động hơn. Nhờ Chúa Thánh Linh, đức tin của ta sẽ được bồi dưỡng. Chúa Thánh Linh là Thiên Chúa và là Đấng ban sự sống. Ngài ở gần ta. Ngài yêu thương ta. Ngài sẵn sàng ban ơn cho ta, nếu ta khiêm tốn nhiệt thành tìm đến với Ngài. Giờ đây ta hướng tâm hồn về Ngài, giục lòng tin Ngài, mến Ngài, cậy trông Ngài, xin Ngài thương đến chúng ta.

Lạy Chúa Thánh Linh, con không xin cơm áo. Con không xin tiền bạc. Con chỉ xin cho con niềm tin vào Chúa. Một niềm tin trung thực, tuyệt đối, quảng đại, vững mạnh và can đảm. Với niềm tin đó, con chắc chắn đời con sẽ có ánh sáng đặc biệt và sức mạnh vô biên, để lạc quan bước đi cho tới tận cùng cuộc đời trần thế lao lung, Và sau cùng, được hưởng hạnh phúc bên Chúa trên thiên đàng đời đời. Amen.

Lễ Thêm Sức tại Bò Ót, ngày 15/10/1978.

 

Bùi-Tuần 0026: Đừng Sợ Chúa 24-12-1978


Anh chị em thân mến,
 

Đối với những người hiểu biết, thì lễ Chúa Giáng Sinh là một sinh hoạt tôn giáo bình thường: 24-12-1978 Bùi-Tuần 26


Đối với những người hiểu biết, thì lễ Chúa Giáng Sinh là một sinh hoạt tôn giáo bình thường và trọng đại.
Lễ này có tính cách lịch sử, bởi vì đây là một kỷ niệm quan trọng làm nguồn gốc cho niên lịch, cho lịch Công Nguyên.

Lễ này có tính cách quốc tế, bởi vì mọi nước văn minh đều nhìn nhận lễ này là một ngày vui truyền thống đáng được tôn trọng.

Lễ này có tính cách quần chúng, bởi vì lễ này được đông đảo dân chúng tham gia cách này hay cách khác.

Noel thường bao giờ cũng vui. Nhưng có điều này nên nói là: Lễ thì vui, mà Chúa thì nhiều khi ta sợ. Có khi ta sợ biết Ngài. Có khi ta sợ tin cậy Ngài. Sợ như thế dưới nhiều hình thức.

Chúa rõ điều đó. Nên trong đêm Sinh Nhật, Thiên Thần báo tin mừng cho các mục đồng, đã khởi sự bằng hai tiếng trấn an: Đừng sợ!

Đừng sợ! Đừng sợ Chúa! Đó cũng là lời tôi xin mượn làm đề tài cho bài suy tư vắn tắt bây giờ.

Anh chị em thân mến,

Đừng sợ Chúa, nếu là sợ biết Ngài và sợ tin yêu Ngài. Bởi vì sợ như thế sẽ không bao giờ là một giải quyết tốt

Suy nghĩ kỹ, tôi thấy rằng: Nếu tôi sợ Chúa như thế, có thể chỉ vì tôi sợ biết tôi. Bởi vì khi tôi biết Ngài, Ngài sẽ soi cho tôi thấy rõ hình ảnh thực sự tâm hồn tôi, một hình ảnh không mấy tốt đẹp mà tôi thường trốn tránh.

Nếu tôi sợ Chúa như thế, cũng có thể chỉ vì tôi sợ khám phá thấy những trách nhiệm đạo đức tôi phải chu toàn, những trách nhiệm, mà tính yếu đuối của tôi vốn không ưa thích.

Nếu tôi sợ Chúa như thế, cũng có thể chỉ vì tôi sợ phải gánh chịu một số mất mát danh lợi trần gian, mà tôi đang kiếm tìm và bám víu.

Nếu tôi sợ Chúa như thế, cũng có thể chỉ vì tôi đã có những quan niệm sai lầm về Ngài. Mặc dầu những sai lầm đó không hẳn là do ác ý.

Tất cả những ai đang sợ Chúa như thế thì giờ đây, xin hãy đón nhận lời Thiên Thần đêm Noel như lời gởi riêng cho mình.

- Đừng sợ! Xin đừng sợ Chúa! Bởi vì Ngài đến không phải như một người tranh dành quyền lợi. Nhưng Ngài đến như một Đấng Cứu Độ

Ngài đến giúp những người thiện chí giải thoát mình khỏi tội lỗi. Tội là một sự có thực, rất độc, rất tai hại cho số phận hiện tại và tương lai con người. Tội là gánh nặng lương tâm, là vấn đề vượt khả năng giải quyết của con người. Chính để cứu con người khỏi tội mà Ngài đã đến. Thế thì có gì mà phải sợ Chúa.

- Đừng sợ! Xin đừng sợ Chúa! Bởi vì Ngài đến không phải như một người làm Chúa. Nhưng Ngài đến như một Chúa làm người


Để nâng con người lên tới đỉnh cao tuyệt vời là nên giống chính Thiên Chúa, biết cộng tác với Ngài trong việc làm chủ vũ trụ. Và được tham dự vào vinh quang vĩnh cửu của Ngài. Ngài đến giúp lý trí con người nhìn xa hơn chân trời khoa học. Giúp trái tim con người biết cảm được những giá trị còn cao hơn phạm vi nghệ thuật, mỹ thuật và kỹ thuật. Giúp lòng con người biết thương người, yêu nước, bằng những động lực còn sâu đậm hơn là tình tự nhiên. Giúp cho ý chí con người biết tìm đến một cõi phúc còn quí trọng hơn hạnh phúc tột đỉnh của đời này. Như thế, thì có gì mà phải sợ Chúa.

- Đừng sợ! Xin đừng sợ Chúa! Bởi vì Ngài đến không phải như một người, hứa hẹn phiêu lưu. Nhưng Ngài đến như một người, tự mình đủ khả năng đem lại hy vọng toàn diện cuộc sống con người, đời này cũng như đời sau

Chúng ta biết: Có những lo âu lớn lao hơn cả con người. Có những tình yêu mênh mông hơn cả vũ trụ. Có những khát vọng, cao thiêng hơn cả muôn vàn ánh sáng. Để giải đáp cho tất cả, Chúa đã đến với những ai khiêm tốn chân thành. Như thế, thì có gì mà phải sợ Chúa.

- Đừng sợ! Xin đừng sợ Chúa! Bởi vì Ngài đến không phải như một vị thần nghiêm khắc.

Nhưng Ngài đến như một tình thương sống động thân mật, để chia sẻ trọn vẹn thân phận con người, đem an bình trong sáng, dịu ngọt đến các tâm hồn biết đón nhận Ngài. Ngài đến như một tiếng mời gọi êm đềm. Mời gọi mà không cưỡng ép. Vì Ngài chính là tự do, và Ngài tôn trọng tự do của mỗi người. Như thế, thì có gì mà phải sợ Chúa.

Anh chị em thân mến,

Sợ mà tưởng mình không sợ. Không sợ đang khi đúng lý phải sợ. Đó là những điều đáng sợ, Thấy được điều đó không phải là chuyện dễ. Dù sao, chúng ta cũng hãy nhìn vào Chúa Giêsu Hài Đồng giáng sinh đêm nay. Ngài đến với hình thức đơn sơ dễ thương nhất, để không gây bất cứ một sự sợ hãi nào cho bất cứ ai. Hãy nhìn vào Ngài với lòng chân thành cảm mến. Hãy nhìn Ngài với lời cầu nguyện âm thầm.

Nhờ Ngài, qua Ngài và với Ngài, chúng ta nguyện chúc cho nhau được bình an, cho Đất Nước ta được thanh bình, thịnh vượng, cho mọi người thân yêu của ta được an vui, hạnh phúc. Đó cũng là những điều tôi thân ái nguyện chúc cho từng người anh chị em trong lễ hôm nay. Amen.

Lễ Giáng Sinh, nhà thờ Chánh Toà Long Xuyên ngày 24/12/1978


1979
 

Bùi-Tuần 0027: VUI MỪNG VÀ HY VỌNG 28-01-1979

 

Trong bài Phúc Âm chúng ta vừa nghe, Chúa đã nói tới hạnh phúc. Hôm đó không phải vì : 28-01-1979 Bùi-Tuần 27


Trong bài Phúc Âm chúng ta vừa nghe, Chúa đã nói tới hạnh phúc. Hôm đó không phải vì ngày Tết. Nhưng hôm đó, mỗi người đều cảm thấy vui mừng và hy vọng, còn tươi đẹp hơn ngày Tết bội phần. Vui mừng và hy vọng đó bởi đâu. Vui mừng và hy vọng đó có thể trở thành vui mừng và hy vọng cho mỗi người chúng ta trong năm mới này không? Thiết tưởng một chút suy tư về những điểm gợi ý đó, sẽ ảnh hưởng tốt đến cuộc đời ta trong năm Kỷ Mùi này.

Anh chị em thân mến,

1.- Bởi đâu đám đông, khi nghe Chúa nói về Tám Mối Phúc Thật, đã cảm thấy vui mừng và hy vọng.

Thưa bởi vì họ gặp được một người có đủ thẩm quyền nói với họ về cuộc đời của họ, một người có đủ khả năng giải quyết những khát vọng sâu xa nhất của họ, một người có đủ sáng suốt và tình thương, thấu suốt mọi hoàn cảnh khổ đau của họ. Họ đã tìm một người như thế. Và họ đã gặp một người như thế. Người ấy là Đức Kitô.

Đức Kitô đang đứng trước mặt họ, đang nói với họ cũng là một người thôi, rất khiêm tốn và bình dị giữa trăm ngàn người. Nhưng người ta cảm thấy nơi Ngài một sức mạnh huyền diệu của một Đấng quyền uy khả ái.

Ngài nói với đám đông, nhưng là nói với từng người. Mỗi người đều cảm thấy Ngài đi vào đời mình như một tình thương, như một sức sống, như một hy vọng.

Ngài nói về hạnh phúc, không phải những thứ người ta quen nói, nhưng là những thứ cao quí hơn, bền vững trọn hảo tuyệt vời không sao sánh kịp.

Ngài nói về hạnh phúc, không phải như những người khác. Những người khác chỉ dám chúc cho nhau hạnh phúc. Còn Ngài, Ngài không chúc mà Ngài dám hứa. Hứa, nghĩa là có quyền thực hiện.

Nhờ tin vào Ngài và tin vào lời Ngài, họ nhìn thấy rõ cuộc đời của họ chứa đầy ý nghĩa, con người của họ bỗng dưng được nâng lên địa vị vô cùng cao quí. Dù phải sống nghèo, dù phải bách hại, dù phải khổ đau, hoàn cảnh nào cũng có thể trở thành con đường dẫn tới hạnh phúc vô song.

Họ chắc chắn không bao giờ sẽ bị bơ vơ lạc lõng trên đường đời. Bởi vì họ biết, có Chúa Kitô bên cạnh họ và sẽ chờ đợi họ ở cuối con đường, để trao ban cho họ hạnh phúc bất diệt.

Chính vì thế mà họ vui mừng. Chính vì thế mà họ hy vọng. Vui mừng và hy vọng trong niềm tin và nhờ niềm tin.

2.- Vui mừng và hy vọng đó của họ, có thể trở thành vui mừng và hy vọng của mỗi người chúng ta trong năm mới này không?

Thưa dĩ nhiên là rất có thể. Bởi vì Đức Kitô ngày xưa vẫn là Đức Kitô hôm nay và mãi mãi. Hôm nay Ngài nói với tất cả chúng ta, nhưng là Ngài nói với tất cả từng người. Hạnh phúc Ngài hứa trao ban cũng là thứ hạnh phúc thực tế và trường cửu.

Nhưng một điều ta cần có, để được vui mừng và hy vọng do lời Ngài, là ta phải tìm gặp được Ngài. Tìm gặp Ngài bằng sự khát khao chân lý. Tìm gặp Ngài bằng sự tín nhiệm khiêm tốn đặt nơi Ngài. Tìm gặp Ngài bằng lời cầu nguyện. Và tìm gặp Ngài bằng quyết tâm chấp nhận cộng tác với ơn thánh của Ngài.

Ngài hứa trao hạnh phúc cho ta, nhưng đừng vì thế mà ta thụ động, cứ ngồi đó mà chờ. Trái lại, Ngài đòi ta phải làm hết sức mình. Ngài đòi ta phải kiên cường phấn đấu, can đảm với chính mình, với cuộc đời khó khăn, với trăm nghìn thử thách. Hạnh phúc là việc của ta, nhưng là ân huệ của Ngài. Phải làm hết sức mình, mhư ta chỉ có một mình. Nhưng phải khiêm tốn bám víu vào Chúa, như kết quả chỉ tuỳ thuộc ở một mình Chúa.

Anh chị em thân mến,

Nếu lúc này Chúa hiện ra hỏi tôi: Năm mới con muốn xin gì? Tôi sẽ thưa: Con xin cho mọi người thuộc về con được hạnh phúc. Và nếu Chúa hỏi thêm: Con muốn xin gì nữa. Tôi sẽ thưa: Con xin cho mọi người thuộc về con được vui mừng và hy vọng. Và nếu Chúa có hỏi lần thứ ba, hay hơn nữa, chắc tôi cũng chỉ thưa lại chỉ từng ấy thôi. Bởi vì tôi biết lắm: Hạnh phúc, vui mừng và hy vọng, là những thứ rất cần, nhưng lại rất thiếu.

Lạy Chúa,

Con tin Chúa đang ở giữa chúng con. Chúa thấy từng người. Chúa hiểu từng người.

Chúa có mặt trong lịch sử dân tộc của con. Hôm nay, con không xin gì cho con. Con chỉ xin cho người thuộc về con, cho dân tộc của con. Xin cho tất cả được hạnh phúc, được vui mừng được hy vọng trong suốt năm và suốt đời. Amen.

Lễ Xuân Kỷ Mùi  tại nhà thờ Chánh Toà Longxuyên, ngày 28/01/1979.

 

Bùi-Tuần 0028: LỄ HIỆP NHẤT26-03-1979

 

Lễ hôm nay, thường được gọi là lễ Truyền Dầu. Đó là một kiểu gọi bình dân, căn cứ vào một: 26-03-1979 Bùi-Tuần 28


Lễ hôm nay, thường được gọi là lễ Truyền Dầu. Đó là một kiểu gọi bình dân, căn cứ vào một việc khác thường, đặc biệt trong lễ này, là việc thánh hiến trọng thể ba bình dầu Oliu. Nhưng nếu nhìn xa hơn việc truyền dầu, ta có thể gọi lễ hôm nay bằng một danh từ có ý nghĩa hơn, đó là lễ Hiệp Nhất.

Anh chị em thân mến,

1.-Trước hết, lễ này nói lên sự hiệp nhất các bí tích trong năm và trong giáo phận.

Bởi vì, các dầu thánh được làm phép trong lễ hôm nay, sẽ được phân phát cho các linh mục khắp nơi trong toàn giáo phận, để dùng vào các bí tích. Bất cứ bí tích nào cần đến dầu thánh, đều phải dùng dầu thánh làm phép trong lễ hôm nay. Dầu làm phép trong lễ hôm nay sẽ dùng cho cả năm, từ hôm nay cho tới lễ Truyền Dầu năm tới. Do đó, các người ban bí tích, cũng như những người chịu bí tích, đều có thể nhớ lại rằng, bí tích mình ban, cũng như bí tích mình chịu, đều có liên hệ đến thánh lễ hôm nay, đến Thiên Chúa vô hình, là nguồn sự sống được trao ban trong các bí tích, đến người đã thánh hiến dầu, đến những người cùng ban và cùng chịu bí tích như mình. Dây liên hệ đó, nếu được nhận thức đầy đủ, sẽ giúp xây dựng sự hiệp nhất trong Giáo Hội.

2. Ngoài ra, lễ hôm nay cũng nói lên sự hiệp nhất giữa các linh mục với vị Giám Mục giáo phận, và với Chúa Kitô, là Thầy Cả thượng phẩm tối cao và duy nhất của chúng ta.

Bởi vì lễ hôm nay tưởng niệm long trọng việc Chúa Kitô lập bí tích Truyền Chức Thánh. Ngày ấy, khi lập bí tích truyền chức, Ngài đã nghĩ tới từng người chúng tôi. Mỗi linh mục chúng tôi đã được Ngài kêu gọi đích danh từ thuở đời đời. Duy chỉ mình Ngài mới có thể dành cho chúng tôi một tình yêu quá đặc biệt như thế. Một tình yêu quá đặc biệt, mà đôi khi chúng tôi phải hết sức ngỡ ngàng, và nếu được phép nói như kiểu thế gian, thì đó là một tình yêu liều lĩnh. Bởi vì chúng tôi biết mình là những người vô cùng bất xứng. Dù bất xứng, nhưng khi mang chức Linh Mục, là chúng tôi tham dự vào chức Linh Mục của Chúa Kitô. Khi chúng tôi sống chức Linh Mục, là chúng tôi tiếp tục chính cuộc đời cứu thế của Chúa Kitô. Ngài đang dùng chúng tôi, để tiếp tục cuộc đời cứu thế của Ngài, trong hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam hôm nay. Chúng tôi hiệp nhất với Chúa Kitô, không phải chỉ một Chúa Kitô lịch sử quá khứ 2.000 năm về trước, nhưng cũng là một Chúa Kitô đang sống, đang có mặt, đang hoạt động trên đất nước này, trong hoàn cảnh lịch sử cụ thể của xã hội hôm nay. Chúng tôi ý thức về một sự hiệp nhất cụ thể như vậy, để sự trung tín của chúng tôi với Ngài trong hoàn cảnh hôm nay, không làm cho Ngài trở nên con người bị tông đồ từ bỏ. Đang khi sự từ bỏ Ngài, là một cơn cám dỗ đối với nhiều môn đệ yếu đuối, và chủ đích đối với vô số những người ghét Ngài.

Linh Mục hợp nhất với Chúa, với bề trên, và với nhau, là một đòi hỏi quan trọng của ơn kêu gọi, một đòi hỏi có liên hệ đến hoạt động tông đồ, đến phần rỗi mình và phần rỗi những người thuộc về mình.

3.- Sau cùng, lễ hôm nay cũng nói lên sự hiệp nhất của mọi tín hữu với Giáo Hội và với Chúa Kitô.

Bởi vì, nếu lễ hôm nay là điểm tập trung các bí tích, thì bí tích là để kết hợp các tín hữu lại thành một đoàn chiên, và kết hợp họ lại với Chúa. Nếu hôm nay là lễ kỷ niệm chức Linh Mục, thì chức Linh Mục là để phục vụ cho dân Chúa, hiệp nhất họ trong một đức tin, một phép rửa, một Thiên Chúa là Cha. Ngoài ra, chính các tín hữu, mặc dầu không có chức Linh Mục, nhưng nhờ chịu các bí tích, họ cũng được tham dự vào chức tư tế chung của Chúa Kitô, để cùng với Ngài ca tụng Thiên Chúa, tự hiến mình làm của lễ thánh thiện đẹp lòng Chúa, và dùng đời sống công bình bác ái làm chứng về Ngài. Sự tham dự chức tư tế chung của Chúa Kitô như thế, là nền tảng sâu xa cho sự hiệp nhất với nhau và với Chúa.

Anh chị em thân mến,

Sự hiệp nhất nào cũng đòi sự quên mình. Sự hiệp nhất với Chúa Kitô và với nhau cũng thế, vì Chúa Kitô còn đòi một sự biến đổi chính bản thân mình. Nếu các hạt Oliu không chịu biến đổi, thì không thể thành dầu. Dầu là kết tinh của vô vàn hạt Oliu đã bị dập nát, đã bị nấu, đã bị gạn lọc.

Tương tự như thế, sự hiệp nhất của chúng ta nên được nuôi dưỡng và phát triển, từ ý thức nhận ra chắc chắn và rõ rệt, tiếng Chúa gọi ta phải từ bỏ mình, để nên giống Ngài, và để cộng tác với Ngài. Rồi từ ý thức đó ta cần chấp nhận can đảm, để mặc cho Ngài tự do dùng ta trong bất cứ hoàn cảnh nào, để mặc cho Ngài nhào nặn ta trong bất cứ hình thức thử thách nào, và dù thế nào, ta vẫn tin vào sức mạnh tình yêu vô biên của Chúa đối với bản thân ta, bất chấp những khó khăn của lịch sử và của đời sống.

Ta cũng đừng quên, sự hiệp nhất thường được xây dựng hữu hiệu trong những giây phút thinh lặng cầu nguyện cho nhau, trong những giây phút nhỏ mọn làm vui lòng nhau. Trên thực tế, nhiều khi hiệp nhất là việc của trái tim biết thông cảm và khiêm tốn, hơn là một việc của lý trí ưa nhận xét sâu xa và suy luận thông thái.

Hiệp nhất là việc của ơn thánh siêu nhiên, nhưng cũng là việc của con người tự nhiên. Đã hẳn, đừng chỉ để ý đến hiệp nhất tự nhiên, như thể sự hợp nhất siêu nhiên là vô dụng. Nhưng cũng đừng quá hướng về một sự hiệp nhất siêu nhiên, không thể thực hiện, để trốn tránh một sự hiệp nhất tự nhiên có thể dễ thực hiện. Hãy sống với nhau đơn giản như những con người có tình nhân loại, có nhân đạo tính. Đừng đòi ai phải là thiên thần, và cũng đừng coi ai là ma quỉ. Hiệp nhất phải được khởi sự như một vấn đề bình thường, với một đối xử nhân loại bình thường, giữa những con người được coi nhau bình thường. Hiệp nhất không phải là sống gần nhau, nhưng là sống cho nhau. Bởi vì đôi khi xa nhau cũng là một điều kiện để hợp nhất với nhau.

Dầu Oliu đây không được sử dụng cho dầu,nhưng dầu được sử dụng như một chất liệu để phục vụ, thì cũng vậy, tinh thần hiệp nhất hướng về phục vụ: Phục vụ Chúa và phục vụ anh em.

Lạy Chúa Thánh Thần, là Đấng sẽ thánh hiến các dầu trong lễ hôm nay, xin đoái thương chia sẻ cho chúng con tinh thần hợp nhất của Chúa, để nhờ đó chúng con được hạnh phúc không những đời sau, mà phần nào cả đời này nữa. Amen.

Lễ Truyền Dầu tại nhà thờ Năng Gù, ngày 26/3/1979.

 

Bùi-Tuần 0029: CHÚA GIÊSU CON THIÊN CHÚA HẰNG SỐNG12-04-1979

 

Trong những người đang hiện diện nơi đây, có những người đã biết Chúa Giêsu, và có những: 12-04-1979 Bùi-Tuần 29


Trong những người đang hiện diện nơi đây, có những người đã biết Chúa Giêsu, và có những người chưa biết Ngài, có những người hiểu đúng về Chúa Giêsu, và có những người không hiểu đúng về Ngài, có những người đã tin vào Chúa Giêsu, và có những người chưa tin vào Ngài.

Với tất cả những ai đã đến đây, bất cứ vì lý do gì, tôi xin giới thiệu đơn sơ vắn tắt, một chút căn bản về Chúa Giêsu, là Đấng mà tôi và Giáo Hội Công Giáo tôn thờ, mến yêu, bằng tất cả niềm tin hiên ngang và tha thiết.

Anh chị em thân mến,

Chúa Giêsu là ai?

Tôi xin trả lời ngay: Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa hằng sống, vì yêu thương nên đã đến trong thế gian, để cứu khỏi tội những ai muốn được cứu rỗi. Tôi xin nhắc lại: Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa hằng sống, vì yêu thương nên đã đến trong thế gian, để cứu khỏi tội những ai muốn được cứu rỗi.

Chúa Giêsu là như thế đó. Ngài là thế thì xin nhìn Ngài đúng như thế.

1. Một khi nhìn Ngài đúng như thế, ta mới thấy rằng, tất cả những ai muốn được cứu rỗi đều phải cần đến Ngài. Cứu rỗi là việc hết sức cần thiết của mỗi người chúng ta. Bởi vì, trong ta, ai mà không mang tội. Tội nguyên tổ và tội riêng mình. Ai trong ta mà không có lần lo cho số phận đời đời của mình, cái số phận chờ ta ở ngưỡng cửa sự chết, hoặc phải khổ cực muôn kiếp, hoặc được hạnh phúc vô cùng... Do sự được giải thoát khỏi tội lỗi hay không. Cuộc giải thoát chính đáng nào cũng tốt. Nhưng không có cuộc giải thoát nào quan trọng bằng giải thoát mình khỏi xiềng xích tội lỗi, khỏi xiềng xích ma quỷ, khỏi xiềng xích hoả ngục. Đây là vấn đề đòi ta phải nhìn vào tâm hồn mình.

Nếu có chút khiêm tốn, ta sẽ thấy tâm hồn ta, dù có sạch thì cũng sạch như bàn chân ta thôi. Thánh Phêrô tưởng chân mình đã sạch nên không chịu cho Chúa rửa. Nhưng sau mới hiểu, rửa chân là một dấu hiệu rửa tâm hồn. Mình tưởng mình sạch, nhưng đâu có sạch. Rửa chân thì ai cũng rửa được, còn rửa tâm hồn thì một mình Chúa mới rửa được. Bởi vì Ngài là Đấng Cứu Thế, chỉ mình ngài là Con Thiên Chúa hằng sống, vì yêu thương nên đã đến trong thế gian, để cứu khỏi tội những ai muốn được cứu rỗi.

2. Một khi nhìn Ngài đúng như thế, ta mới lại thấy rằng ta phải đến gặp Ngài, ta phải để cho Ngài gặp ta. Ta có thể gặp Ngài bằng nhiều lối, nhưng đặc biệt bằng 3 lối này:

a/ Bằng bí tích Thánh Thể, mà Ngài thiết lập trong Bữa Tiệc Ly. Nhờ bí tích này Ngài ở trong ta và ta ở trong Ngài.

b/ Bằng thực thi giới luật yêu thương, mà Ngài đã trối lại trong Bữa Tiệc Ly, sau khi rửa chân cho các môn đệ. Có tha thứ thì mới được thứ tha. Có không xét đoán thì mới không bị xét đoán. Có cho đi thì mới được lãnh nhận.

c/ Bằng việc từ bỏ mình, can đảm chấp nhận những thử thách như Ngài đã chịu sau Bữa Tiệc Ly, khi Ngài bước vào vườn Cây Dầu, để chịu sầu muộn đau đớn cho tới đoạn chót cuộc khổ nạn, là cái chết trên Thánh Giá. Ngài đã đi con đường Thánh Giá để cứu chuộc ta, thì ta cũng phải đi con đường Thánh Giá để đón nhận ơn cứu độ của Ngài.

Khi đi trên 3 con đường vừa nói: Một là bí tích Thánh Thể, hai là giới luật yêu thương, ba là Thánh Giá, ta hãy luôn luôn nhìn Chúa Giêsu và tìm về Ngài theo đúng hình ảnh của Ngài. Đó là hình ảnh Đấng Cứu Thế, Con Thiên Chúa hằng sống, vì yêu thương, nên đã đến trong thế gian, để cứu khỏi tội những ai muốn được cứu rỗi.

Hãy nhìn Ngài đúng như thế, để ta không xin Ngài ơn huệ nào, ngoài những ơn xét ra có lợi cho việc giải thoát ta khỏi tội. Để ta khỏi buồn Ngài, nếu đời ta đầy dẫy những thử thách đau thương. Để ta càng tin mến Ngài khi ta cảm thấy mình yếu đuối hèn hạ tội lỗi. Để ta càng quảng đại cộng tác với Ngài, kiên trì phấn đấu để giải thoát ta khỏi tội lỗi, khỏi những hoàn cảnh đưa ta tới tội lỗi, và khỏi những hậu quả tệ hại của tội lỗi.

Anh chị em thân mến,

Tôi vừa mới giới thiệu Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa hằng sống, vì yêu thương nên đã đến trong thế gian, để cứu khỏi tội những ai muốn được cứu rỗi.

Khi tôi giới thiệu Chúa Giêsu với anh chị em, tôi tin Ngài ở bên tôi. Ngài đang có mặt ở đây. Vô hình, nhưng thực sự Ngài đang ở đây lúc này. Ngài nhìn từng người. Và Ngài muốn tự giới thiệu với từng người, trong tâm hồn từng người. Xin hãy âm thầm đón Ngài và nói với Ngài. Ngài sẽ tự giới thiệu, miễn là Ngài gặp được tâm hồn có đủ thinh lặng để nghe Ngài, có đủ thiện chí để nhận Ngài, có đủ khiêm tốn để nhìn Ngài.

Giờ đây, để tưởng niệm Ngài, tôi đi rửa chân cho các môn đệ.

Xin Ngài rửa tâm hồn từng người anh chị em. Xin Ngài rửa tâm hồn tội lỗi của tôi, trong tình yêu vô biên của Ngài. Amen.

Thánh lễ Tiệc Ly  tại nhà thờ Chánh Toà Long Xuyên, ngày 12/4/1979

 

Bùi-Tuần 0030: CÓ ƠN CHÚA THÁNH THẦN 03-06-1979

 

Để biết một gia đình, một địa phương có sung túc hay không, tôi thường quan sát ba điểm này: 03-06-1979 Bùi-Tuần 30


Để biết một gia đình, một địa phương có văn minh hay không, tôi không mấy quan tâm đến nhà cửa đồ vật của họ, nhưng tôi thường để ý đến con người của họ, với trình độ hiểu biết, với cách thức đối xử của họ. Bởi vì văn minh là ở con người.

Đó là những tiêu chuẩn để tôi nhận định.

Cũng thế, để biết một đời sống, một sáng kiến, một phong trào tôn giáo nào có thực sự do ơn Chúa Thánh Thần hay không, tôi cũng dựa vào một số tiêu chuẩn. Những tiêu chuẩn dùng đây không phải của tôi, mà của Đức Giáo Hoàng Phaolô 6. Nói cho đúng thì cũng không phải của Đức Giáo Hoàng, mà là của Thánh Phaolô tông đồ. Đức Giáo Hoàng đã nhắc lại những tiêu chuẩn này cho những người sùng kính Chúa Thánh Linh, khắc khoải muốn canh tân Giáo Hội. Những tiêu chuẩn này phải được coi là rất cần thiết để phân biệt cho đúng đâu là ơn Chúa Thánh Linh, đâu không phải là ơn của Ngài. Nhất là vì hiện nay, có nhiều hình thức nói là sống đạo, cũng như có nhiều ý kiến và việc làm đó đây, nói là để làm đẹp đạo Công Giáo chúng ta.

Hôm nay, tôi xin trình bày vắn tắt mấy tiêu chuẩn đó:

1.- Tiêu chuẩn thứ nhất là trung thành với đạo lý chân chính của đức tin.

Có nghĩa là, điều nào đi ngược với giáo lý chân chính của đức tin, thì không phải phát xuất từ Chúa Thánh Thần. Bởi vì giáo lý là do Ngài, đạo đức cũng do Ngài, canh tân Giáo Hội cũng do ơn Ngài, thì tất nhiên, tất cả phải ăn hợp với nhau. Nói rõ hơn, mọi tư tưởng và việc làm, muốn được gọi là đạo đức xây dựng Giáo Hội, thì không thể trái ngược với giáo lý, là mẫu mực và là nền tảng, một giáo lý chỉ có thể do giáo quyền minh định.

Nếu đem tiêu chuẩn trên đây ra để xét các ý kiến được phát biểu đó đây, có liên quan đến việc cải tiến đạo Công Giáo chúng ta, chúng ta sẽ không thiếu những ý kiến phải bị loại trừ. Bởi vì nó trái ngược với giáo lý chân chính của đức tin, trái ngược với Chúa Thánh Thần.

2.- Tiêu chuẩn thứ hai là tình yêu bác ái.

Có nghĩa là điều nào trái ngược với tình yêu bác ái, thì không thể phát xuất từ Chúa Thánh Thần. Bởi vì xem quả biết cây. “Hoa quả Chúa Thánh Thần là tình yêu bác ái” (Gal 5,21). Tình yêu bác ái như Đức Thánh Cha Phaolô 6 nói, không phải chỉ là một ân huệ của Chúa Thánh Thần, nhưng còn là chính sự hiện diện sống động của Chúa Thánh Thần trong tâm hồn tín hữu. Tình yêu bác ái này là đỉnh chót mà mọi ân huệ của Chúa Thánh Thần đều qui hướng về, bởi vì “Chỉ tình yêu mới xây dựng” (Cor 8,1). Tình yêu bác ái này phải được cụ thể hơn trong đời sống thực tế, chứ không phải chỉ trong lý thuyết. Nó làm nên sự hiệp thông sâu đậm giữa các tâm hồn, thúc đẩy người ta chia sẻ tình yêu Thiên Chúa với những người chung quanh trong ý chí phục vụ. Đây là tiêu chuẩn bảo đảm nhất và có tính cách quyết định.

Nếu đem tiêu chuẩn này ra để kiểm tra các lối sống đạo, ta sẽ thấy nhiều lối sống đạo khó có thể được nhận là có ơn Chúa Thánh Thần. Bởi vì các lối sống đó, mặc dầu gần gũi nhà thờ kinh lễ, nhưng lại thiếu tình thương bác ái.

3.- Tiêu chuẩn thứ ba là lòng biết ơn.

Có nghĩa là điều nào cản trở tâm hồn ta tạ ơn Thiên Chúa, thì không phải phát xuất từ Chúa Thánh Thần . Lòng biết ơn là tâm hồn khiêm tốn, biết nhìn đúng thân phận bé nhỏ của mình đồng thời với sự cao cả của Thiên Chúa. Tâm hồn ấy sống trong tương quan sống động của niềm xác tín: “Không có Cha, con không thể làm gì”. Nhưng “Con có thể làm được tất cả trong Đấng làm cho con nên mạnh”. Vì thế, họ gắn bó với Ngài, cởi mở với Ngài bằng tinh thần tạ ơn và cầu nguyện. Tâm hồn đó biết mình được Chúa yêu thương, nên phấn khởi tìm kiếm đón tiếp Đấng yêu thương mình, và trung thành quảng đại với những đòi hỏi dấn thân cho tình yêu tuyệt đối đó, bằng cách xây dựng ích chung.

Nếu đem tiêu chuẩn này ra để nhận xét tâm hồn các tín hữu, ta có lý để lo ngại cho một số tâm hồn. Vì lòng biết ơn nơi họ đối với Chúa quá phôi phai lợt lạt.

Anh chị em thân mến,

Tôi vừa trình bày ba tiêu chuẩn để phân biệt đâu là ơn Chúa Thánh Linh, và đâu không phải là ơn của Ngài. Với ba tiêu chuẩn này tôi thấy, mặc dầu Giáo Hội ta có nhiều yếu đuối, nhưng vẫn chứa đầy hy vọng. Bởi vì Giáo Hội này là của ta, nhưng trước tiên Giáo Hội này là của Chúa Thánh Thần. Mà Chúa Thánh Thần là sức mạnh vượt trên mọi ranh giới, mọi tính toán, mọi khả năng trần thế và địa ngục. Ngài thinh lặng, nhưng để nói sâu vào lòng từng người. Ngài nhẹ nhàng, nhưng đề biến cải mạnh mẽ từng thế hệ. Ngài vô hình, nhưng để có mặt khắp nơi, trong mọi lịch sử, trong tâm hồn những ai thiện chí.

Ta hãy tin tưởng vào Ngài, hãy phó thác nơi Ngài, hãy cầu nguyện với Ngài. Ngài là sức mạnh, là tình yêu, là nguồn an ủi. Xin hãy đến và ở lại mãi mãi trong Giáo Hội ta, và trong lòng ta. Amen.

Lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống tại nhà thờ Chánh Toà Long Xuyên, ngày 3/6/1979

 

Bùi-Tuần 0031: GIÁO DỤC CÁI ĐẸP17-06-1979

 

Người ta nói: Trên đời có ba cái đẹp, một là ánh sao trên trời, hai là sắc hoa tươi, ba là cái: 17-06-1979 Bùi-Tuần 31


Người ta nói: Trên đời có ba cái đẹp, một là ánh sao trên trời, hai là sắc hoa tươi, ba là cái nhìn của trẻ nhỏ. Cả ba cái đẹp đó đều đẹp, vì nó đơn giản mà rất dễ thương. Nó trong sạch mà rất lôi cuốn. Nó tự nhiên mà rất thanh cao.

Hôm nay ánh sao trên trời vẫn thế. Sắc hoa tươi vẫn thế. Còn cái nhìn của trẻ nhỏ, tôi thấy nhiều khi không còn như thế. Nghĩa là nó không còn đẹp. Có những cái nhìn buồn khổ. Có những cái nhìn sợ sệt. Có những cái nhìn héo hắt. Có những cái nhìn gian dối. Cái nhìn không còn đẹp, bởi vì cuộc đời không còn đẹp. Khi thấy những cái nhìn như thế của trẻ nhỏ, tôi đau xót vô vàn. Và câu hỏi đặt ra cho tôi là: Phải làm gì đây cho đời các em đẹp, cho cái nhìn các em đừng tăm tối.

Câu hỏi đó giờ đây tôi cũng muốn đặt thành vấn đề cho các bậc phụ huynh, vú bõ. Vấn đề không đơn giản, thì giải quyết cũng không đơn giản. Tuy nhiên, để góp phần giải quyết, tôi xin nói vắn tắt một vài gợi ý nho nhỏ.

1.- Để đời các em đẹp, thì việc thứ nhất ta giúp các em là dạy cho các em biết tự trọng chính mình.

Động lực mạnh mẽ nhất giúp ta tự trọng là nhận biết địa vị của mình. Địa vị của các em và của chúng ta là địa vị con người của Chúa. Ta là người được Chúa tạo dựng, được Chúa cứu chuộc, được Chúa yêu thương, được Chúa kêu gọi đến hạnh phúc đời đời. Người con của Chúa thì nhìn Chúa là Cha, và nhìn cuộc đời như một chuyến đi về Cha của mình, một chuyến đi không cô đơn vì có Cha, một chuyến đi đầy ý nghĩa cũng vì có Cha.

Ai nhận biết mình là con của Chúa, sống dưới cái nhìn yêu thương của Chúa, sẽ biết tự trọng, để sống an tâm trong khiêm tốn, trong sạch trong kỷ luật, chân thành ngay chính trong lương tâm, tế nhị và tin tưởng, hiên ngang trong niềm tin sắt đá.

Một trẻ em được giáo dục biết tự trọng như thế sẽ là con người sau nầy có đủ khả năng đối phó với mọi cảnh huống của cuộc đời, dù cuộc đời có lúc trở nên bi đát.

2.- Ngoài ra, để đời các em đẹp, thì điều thứ hai ta giúp các em là dạy cho các em biết trọng người khác.

Lý do sâu sắc nhất đạo ta dùng để xây dựng tương quan giữa người với người cũng là Chúa. Ta có thương người khác thì Chúa mới thương ta. Ta có tha cho người khác, thì Chúa mới tha cho ta. Ta có đối xử tốt với người khác thì Chúa mới đối xử tốt với ta.

Phải trọng người khác từ cái nhìn của mình, từ tư tưởng của mình, cho đến thái độ lời nói, hành vi. Không phải chỉ trọng những kẻ kính trọng ta, những kẻ có đức, có tài, có của, có quyền, có thế, mà cũng phải biết trọng những kẻ không trọng ta, những kẻ nghèo tài đức, nghèo của cải, nghèo danh vọng, nghèo tình thương và nghèo chân lý.

Tôi biết những trẻ em vì quá nghèo, quá khổ nên đã can tâm trở thành lừa đảo, gian dối, hận thù. Nhưng tôi cũng biết có những đứa trẻ trở thành lưu manh độc ác vì ảnh hưởng xấu của những người lớn. Một đứa trẻ không còn biết trọng người khác, dù nguyên nhân nào thì cũng là một tai họa cho gia đình, xã hội và cho chính nó. Mà nếu sự gian dối, nghi kỵ, hận thù đối với nó đã trở thành một luật sống, thì đó là một thảm họa. Chưa chắc nó đã bị kết án, mà người sẽ bị kết án có thể là ta, là xã hội, bởi vì chúng ta thiếu sót trong trách nhiệm giáo dục. Trái lại, một người từ nhỏ biết chân thành kính trọng kẻ khác, thì đó là một kho tàng đầy hy vọng.

Anh chị em thân mến,

Một đứa trẻ biết tự trọng chính mình và trọng kẻ khác vì những lý do và động lực tôi vừa gợi ý tất nhiên sẽ là đứa trẻ biết mến Chúa và yêu Tổ Quốc.

Lễ Xức Trán hôm nay, tuy rất hữu ích cho các em, nhưng không thay thế công việc giáo dục. Vì thế lễ này đòi có mặt vú bõ và phụ huynh, một sự có mặt không phải hình thức nghi lễ và tình cảm, nhưng là một sự có mặt của trách nhiệm. Và nếu suy rộng ra, thì đối với các em chịu Thêm Sức hôm nay, hết thảy chúng ta đều có trách nhiệm, kẻ nhiều người ít.

Với ý thức trách nhiệm, giờ đây chúng ta cùng với các em nhìn vào Chúa Thánh Linh, để gặp Ngài, để cầu nguyện với Ngài, để chờ đợi nơi Ngài. Sự gặp gỡ nào nếu muốn chân tình, cũng phải khởi sự từ niềm tin. Sự cầu nguyện nào, nếu muốn sống động, cũng phải xuất phát từ niềm tin. Sự chờ đợi nào, cũng phải dựa vào niềm tin. Hãy tin vào Chúa. Hãy tin vào Chúa.

Lạy Chúa Thánh Linh, con tin ở Chúa. Con xin gởi gắm các người chịu phép Thêm Sức chiều nay cho Chúa. Con cũng xin gởi gắm chính mình con cho Chúa. Xin giúp chúng con luôn biết tự trọng và trọng người khác vì Chúa, nhờ Chúa và để được Chúa là lẽ sống và là hạnh phúc đời con. Amen.

Lễ Thêm Sức tại nhà thờ Chánh Toà Long Xuyên, ngày 17/6/1979

 

Bùi-Tuần 0032: CON NGƯỜI CỦA RANH GIỚI 24-O6-1979

 

Cho đến hôm nay, tôi vẫn nhớ dòng sông Giôđan trên đất thánh. Quãng sông tôi thấy không: 24-O6-1979 Bùi-Tuần 32


Cho đến hôm nay, tôi vẫn nhớ dòng sông Giôđan trên đất thánh. Quãng sông tôi thấy không lớn lắm. Hai bên bờ là những bãi cỏ và những bụi lau. Người hướng dẫn khách hành hương chỉ quãng sông

Cho đến hôm nay, tôi vẫn nhớ dòng sông Giôđan trên đất thánh. Quãng sông tôi thấy không lớn lắm. Hai bên bờ là những bãi cỏ và những bụi lau. Người hướng dẫn khách hành hương chỉ quãng sông này mà nói với tôi: Chính tại con sông này và chính tại khúc sông này, thánh Gioan Baotixita đã làm phép rửa cho dân chúng. Và cũng chính tại đây, thánh Gioan Baotixita đã gặp Chúa Giêsu lần đầu tiên, đã giới thiệu Ngài với dân chúng, và đã làm phép rửa cho Ngài theo lời Ngài yêu cầu.

 Những hình ảnh lịch sử trên con sông lịch sử ấy gợi ý cho tôi nhìn thánh Gioan Baotixita bằng một nét vắn gọn: Tôi nhìn Ngài như con người của ranh giới. Thánh Gioan Baotixita là con người của ranh giới. Gọi như thế có nghĩa gì?

1.- Thánh Gioan Baotixita là con người của ranh giới: Trước hết có nghĩa: Ngài là nơi gặp gỡ giữa hai ranh giới đạo cũ và đạo mới.

Thánh Gioan Baotixita được sinh ra trong đạo cũ, có những quan niệm tôn giáo nhiệm nhặt. Đọc lại những lời giảng ban đầu của thánh Gioan Baotixita còn ghi lại trong Phúc Âm, ta thấy Gioan Baotixita là con người khe khắt. Kẻ có tội đến xin thanh tẩy, Ngài giáo dục họ bằng những lời trách mắng đe loi khá nặng. Ngài nói: “Nòi rắn độc, ai mách cho các ngươi trốn cuộc thịnh nộ sắp đến. Kìa lưỡi rìu đã đặt sẵn ngay gốc cây rồi. Cây nào không quả sẽ bị chặt ngay mà quăng vào lửa. Người đến sau tôi sẽ thanh tẩy các ngươi bằng Thánh Thần và lửa. Cái rê lúa sẵn trong tay, Ngài sẽ rê sạch lúa. Lúa tốt thì thu vào lẫm. Lúa lép thì cho vô lửa để mà đốt đi”.

Với những lời đó, thánh Gioan Baotixita muốn vẽ ra một hình ảnh nào đó của Đấng Cứu Thế đến sau Ngài, một Đấng Cứu Thế nghiêm khắc đến để kết án, đến để luận phạt.

Khi Gioan Baotixita nghe tin Chúa xuất hiện với thái độ hiền hậu, không kết án, không luận phạt, không nghiêm khắc, thì Gioan Baotixita thực sự hoang mang thắc mắc. Gioan liền cho hai môn đệ mình đến với Chúa Giêsu: “Ngài có phải là Đấng Cứu Thế phải đến, hay chúng tôi còn phải đợi ai khác”. Chúa Giêsu nói với hai môn đệ hãy trở về thưa lại với Gioan rằng: “Kẻ mù được sáng, kẻ què được đi, kẻ phong cùi được khỏi bệnh, kẻ điếc được nghe, kẻ chết sống lại và kẻ nghèo được nghe Tin Mừng. Phúc cho người nào không vấp phạm vì tôi”.

Với những lời đó, Chúa Giêsu đã trả lời Gioan một cách tế nhị, để Gioan thấy Đấng Cứu Thế không đến để luận phạt, mà chỉ để tha thứ và ban ơn. Mong Gioan đừng vì thế mà buồn. Thật sự, Gioan Baotixita đã không buồn, không vấp phạm, Ngài đã đón nhận sự thực. Ngài thuộc thế hệ cũ, nhưng Ngài không bảo thủ, không cố chấp, không khép kín. Ngài đã có những chuyển biến nội tâm quan trọng, nên khi gặp Chúa Giêsu, Gioan giới thiệu với quan niệm đổi mới: “Đây Chiên Thiên Chúa đây Đấng xóa tội trần gian”. Có nghĩa: Đây là Đấng Cứu Thế hiền lành như con chiên, không đến để kết án, nhưng đến để xóa tội trần gian. Gioan đã từ ranh giới đạo cũ, bước sang ranh giới đạo mới, giới thiệu đạo mới nhưng với uy tín của nền đạo cũ.

Gioan Baotixita là con người của ranh giới.

2.- Gioan Baotixita là con người của ranh giới còn có nghĩa là: Ngài dứt khoát sống trong ranh giới địa vị chức năng của mình.

Ngài biết mình được sinh ra do đặc ân của Thiên Chúa. Ngài biết tên Gioan Ngài mang cũng phát xuất từ một biến cố bởi trời. Ngài biết mình được thánh hóa nhờ sự Đức Mẹ đến viếng thăm. Ngài biết mình có sứ mạng làm tiền hô cho Đấng Cứu Thế. Ngài dứt khoát trong phạm vi ranh giới đó.

Có hai sức ép muốn bảo Ngài ra khỏi ranh giới đó. Trước hết là sức ép của quần chúng ái mộ. Họ muốn tôn vinh Ngài còn hơn là vị tiên tri. Nhưng Ngài cương quyết xác định một cách khiêm tốn: “Tôi chỉ là tiếng kêu trong sa mạc. Tôi không đáng cởi dây giày cho Đấng Cứu Thế”. Ngược lại, lại có sức ép của nhà cầm quyền. Họ muốn Gioan từ bỏ chức năng rao giảng những điều đạo đức không vừa ý họ. Nhưng Gioan khiêm tốn xác định một cách cương quyết: “Tôi phải san phẳng đường đi, để đón Chúa đến”.

Gioan không bước lên quá ranh giới địa vị, cũng không lùi xuống quá ranh giới chức năng. Gioan là con người của ranh giới.

3.- Gioan Baotixita là con người của ranh giới, còn có nghĩa sau chót là Ngài can đảm bênh vực ranh giới đạo đức mà không được quyền xúc phạm.

Hồi đó, đạo đời có nhiều lạm dụng. Gioan can đảm cảnh cáo những lạm dụng đó. Với những người thu thuế lạm dụng, Ngài bảo họ chớ đòi gì quá mức đã định. Với binh lính lạm dụng, Ngài bảo họ đừng khảo của người ta, đừng vu oan kiếm lợi. Vua Hêrôđê lạm dụng, Ngài bảo Vua: Nhà Vua không được phép cướp vợ người khác. Với những người chức sắc tôn giáo lạm dụng, Ngài bảo họ: Đừng bảo mình là con cái Abraham mà tự tôn.

Bảo vệ ranh giới là điều khó tránh được đụng độ. Vì thế, Gioan Baotixita đã bị bắt và sau cùng đã bị nhà vua ra lệnh chém đầu. Chém được đầu Gioan Baotixita nhưng không chém được tinh thần bất khuất của Gioan Baotixita. Vì thế, qua gần 2000 năm, Gioan Baotixita đã trở thành con người sáng chói của lịch sử.
Anh chị em thân mến,

Tôi vừa giới thiệu chân dung của thánh Gioan Baotixita như một người của ranh giới:

- Bởi vì Ngài là nơi gặp gỡ giữa hai ranh giới đạo cũ và đạo mới.

- Bởi vì Ngài dứt khoát sống trong ranh giới địa vị chức năng của Ngài.

- Bởi vì ngài can đảm bênh vực ranh giới đạo đức, không ai được quyền vượt qua.

Đời mỗi người đều bị chi phối bởi những ranh giới vô hình. Giữ được những ranh giới vô hình ấy là nên người, là nên thánh. Tôn trọng những ranh giới vô hình ấy là có bình an, là có hiệp nhất.

Xin Chúa nhân lành, nhờ lời cầu bầu của Đức Mẹ và thánh Gioan Baotixita giúp chúng ta luôn biết tôn trọng những ranh giới vô hình chi phối đời ta. Amen.

Lễ thánh Gioan Baotixita tại Long Xuyên, ngày 24/6/1979.

 

Bùi-Tuần 0033: GIA NHẬP ĐỜI TU29-06-1979

 

Muốn được nhập vào đạo thì phải có một số điều kiện. Muốn được nhập vào nhà tu thì ngoài: 29-06-1979 Bùi-Tuần 33


Muốn được nhập vào đạo thì phải có một số điều kiện. Muốn được nhập vào nhà tu thì ngoài những điều kiện chung của người giáo dân, còn phải thêm một số điều kiện khác nữa. Những điều kiện đó là gì: Thưa, tuỳ mỗi nhà tu. Nhưng tất cả những điều kiện nhập tu của bất cứ nhà tu nào, đều phải có nhiều ít dựa trên những điều kiện mà chính Chúa Giêsu đã áp dụng cho nhóm 12 thầy tu đầu tiên của Ngài.

Hôm nay, tôi xin nói vắn tắt về những điều kiện căn bản ấy.

1. Điều kiện thứ nhất phải là được Chúa gọi.

Thánh Marcô kể chuyện một người thanh niên miền Giêra được Chúa trừ quỉ ám. Anh xin ở lại theo Chúa, nhưng Chúa không nhận (Mc 5,18). Thánh Luca cũng kể, khi Chúa đi giảng ở miền Samari, thì có một người đến thưa với Chúa rằng: Thầy đi đâu con xin theo đó. Nhưng Chúa cũng không nhận (Lc 9,56). Người ta có lòng sốt sắng, tình nguyện đi tu, thế mà Chúa không nhận.

Vậy thì Chúa nhận ai?

Thưa Chúa chỉ nhận những người Chúa gọi. Nhưng ai là kẻ Chúa gọi? Thánh Marcô nói rõ: “Ngài gọi những ai Ngài muốn” (3,16). Chính Chúa Giêsu cũng xác định điều đó trong Bữa Tiệc Ly: “Chẳng phải các con chọn Thầy, nhưng chính Thầy đã chọn các con” (Gio 15,15).

Đọc Phúc Âm, ta thấy điều đó được thực hiện trong từng trường hợp cụ thể: Gặp Anrê và Simon, Chúa gọi: “Hai anh hãy theo tôi” (Mt 4). Chúa gọi đích danh họ, chứ không hô hào chung chung đám đông, rồi ai đến tình nguyện thì ghi tên. Gặp Giacôbê và Gioan, Chúa cũng gọi: “Hai anh hãy theo tôi” (Ib.). Ngài chủ động lên tiếng gọi họ. Sáng kiến là của Ngài. Khi họ chưa ngỏ ý gì với Ngài về chuyện đi tu. Gặp Lêvi ngồi trước bàn thu thuế Ngài dừng lại, nhìn ông và bảo: “Hãy đi theo tôi”. Lời Ngài gọi ở đây phải nói là táo bạo, làm cho Lêvi thực sự bàng hoàng.

Như thế được gọi là điều kiện số một để trở thành người tu. Điều kiện đó, không thể thay thế được. Người ta chỉ có thể trở nên người tu trên căn bản ơn gọi mà thôi. Vì thế, dù có thiện chí cao độ, có nhiều nhân đức nổi nang, nếu không được gọi, thì vẫn kể là thiếu điều kiện nhập tu. Phương chi ý hướng đi tu lại lệch lạc, pha trộn nhiều ham muốn tư lợi trần tục.

2. Điều kiện thứ hai là phải vâng theo ơn gọi với tất cả sự dấn thân trọn vẹn.

Vâng theo tất cả sự dấn thân trọn vẹn trước hết có nghĩa là vâng ngay, vâng không trì hoãn, không tín toán, không dè dặt. Theo Phúc Âm thì khi được gọi, Anrê và Sion đã lập tức bỏ chài lưới mà đi theo Chúa. Giacôbê và Gioan đã tức khắc giã từ thân phụ và nghề cá để theo Chúa. Lêvi cũng đứng dậy ngay, bỏ lại tiền bạc và đi theo Chúa. Lời Chúa gọi là ân huệ hơn là một lệnh truyền. Chúa muốn kẻ được gọi phải biết giá trị lời Ngài gọi, một giá trị quá đẹp quá cao không có gì sánh kịp. Nên đừng có tín toán, đừng có hững hờ, đừng có trì hoãn, đừng có nửa theo nửa không. Ngài nói lên ý đó, khi Ngài loan báo: Dù là về mai táng cha mẹ, dù là về từ giã người thân, thì cũng đừng vịn vào lý do đó mà chần chừ. Ngài đòi một thái độ quyết liệt, một sự vâng theo dứt khoát, một sự dấn thân trọn vẹn.

Rồi sự vâng theo dấn thân trọn vẹn đó còn là phải hoàn toàn chấp nhận tư tưởng và đường lối Chúa. Tư tưởng và đường lối của Chúa nhiều khi khó hiểu và khó chấp nhận. Nhưng Ngài đòi môn đệ phải tin theo vững bền. Lý do chỉ vì tư tưởng và đường lối của Ngài không phải là của Ngài nhưng là của Chúa Cha Đấng đã sai Ngài. Chính Ngài đã vâng phục Chúa Cha cho đến chết.

Hơn nữa, sự vâng theo dấn thân trọn vẹn đó cũng là quyết tâm tham gia hoạt động của Chúa. Hoạt động của Ngài là hoạt động của kẻ thừa sai, của kẻ được sai đi rao giảng Tin Mừng và dẫn đưa loài người đến ơn cứu độ. Sự quyết tâm này, Chúa đòi phải mãnh liệt hết sức, đến nỗi người được gọi phải từ bỏ chính mình: “Ai muốn theo Ta, hãy từ bỏ mình vác thánh giá mà theo Ta. Ai muốn theo Ta mà không ghét chính mình, thì không đáng là môn đệ Ta.” (Luca 14,25). Nghĩa là người được gọi phải trong tư thế sẵn sàng để Chúa dùng cho bất cứ việc gì Ngài muốn.

Sau cùng, sự vâng theo dấn thân trọn vẹn đó là sẵn sàng chia sẻ số phận của Chúa Kitô. Một số phận nghèo: “Con chim có tổ, con cáo có hang, con người không có nơi gối đầu”. Một số phận bị bắt bớ và bị ghen ghét: “Đầy tớ không trọng hơn Thầy. Nếu thế gian ghét các con, thì bởi vì họ đã ghét Thầy trứơc. Nếu họ khủng bố Thầy, thì họ cũng sẽ hành hạ các con”. Số phận của Chúa Kitô chính là Thánh Giá, thì số phận người tu muốn chia sẻ với Chúa cũng sẽ là Thánh Giá.

Anh chị em thân mến,

Tôi vừa trình bày hai điều kiện nhập tu của nhóm 12 tông đồ: Một là phải được Chúa gọi. Hai là phải vâng theo ơn gọi với tất cả sự dấn thân trọn vẹn.

Hồi đó đi tu là như thế. Bây giờ đi tu vẫn phải như thế. Để được thế, thì đời tu phải có một đức tin mạnh, để rồi như thế, đời tu sẽ là một tuyên xưng liên tục và sống động theo đức tin sắt đá nồng nàn.

Lễ hôm nay, chúng ta cầu nguyện đặc biệt cho các tu sĩ đây được sống đời tu đầy đủ ý nghĩa như một sự dấn thân trọn vẹn theo các điểm nói trên. Xin Chúa luôn ở giữa các thầy và xin hoàn thành bao công việc tốt đẹp Chúa đã khởi sự nơi các thầy. Amen.

Lễ khấn dòng tại tu viện Thánh Gia Cần Xây, ngày 29/6/1979.

 

Bùi-Tuần 0034: LÀM ĐIỀU TỐT 02-09-1979

 

Các thánh tử đạo Việt Nam mà chúng ta mừng kính hôm nay là một số rất đông, gồm đủ mọi: 02-09-1979 Bùi-Tuần 34


Các thánh tử đạo Việt Nam mà chúng ta mừng kính hôm nay là một số rất đông, gồm đủ mọi thành phần: Nam nữ, già trẻ, sĩ nông công binh, giáo dân, Linh Mục, Giám Mục, xưa đã sống và chết trên đất nước Việt Nam này vì một niềm tin cao cả.

Mỗi vị tử đạo đều có những hoàn cảnh riêng cũng như có những đau đớn riêng. Nhưng tất cả đều chung đặc điểm này: Các Ngài đã chọn làm điều tốt, đã dám làm điều tốt và đã cố gắng làm điều tốt trong mọi hoàn cảnh dù gặp khó khăn trắc trở.

Hôm nay, tôi muốn nhìn các thánh tử đạo Việt Nam bằng đặc điểm đó, để bắt chước các Ngài, chúng ta cũng sẽ là những người biết chọn làm điều tốt, dám làm điều tốt và gắng làm điều tốt, trong chính cuộc sống hiện nay và luôn mãi về sau này.

1.- Trước hết, các thánh tử đạo Việt Nam là những người đã biết chọn làm điều tốt.

Điều tốt các Ngài đã chọn là mến Chúa trên hết mọi sự, và đồng thời cũng yêu quê hương Việt Nam với tất cả lòng mình. Các Ngài đau xót vì phải bất tuân nhà vua. Nhưng không thể làm khác. Các Ngài thừa biết: Vua không phải là Tổ Quốc. Khi chưa có vua, thì đã có Tổ Quốc. Vua muốn đồng hoá mình với Tổ Quốc, đó là lạm dụng. Và khi vua ra lệnh bắt dân bỏ đạo thì việc đó cũng là một lạm dụng phạm đến quyền con người và quyền người dân. Việc đó xấu xa, bất công và tàn ác, các Ngài không thể vâng theo, và không được phép vâng theo. Trong sự bất tuân đó, lòng trung thành của các Ngài đối với Tổ Quốc vốn nguyên vẹn. Đối với các Ngài cũng như đối với mọi người Công Giáo, không có vấn đề: Phải chọn hoặc là Tổ Quốc, hoặc là Thiên Chúa. Bởi vì không thể có mâu thuẩn giữa lòng mến Thiên Chúa và lòng yêu Tổ Quốc. Mến Chúa và yêu Tổ Quốc chỉ là hai mặt của một giới răn. Đặt vấn đề phải chọn một trong hai là xúc phạm đến đạo, và là một bất ngờ ghê tởm cho những người Công Giáo vẫn nghĩ tốt cho nhà vua.

Các thánh tử đạo Việt Nam đã trung thành với Chúa và Tổ Quốc. Đó là điều tốt các Ngài đã chọn.

2.- Không những các Ngài đã chọn, mà còn đã dám làm điều mình đã chọn.

Dám làm, nghĩa là các Ngài vẫn can đảm một mực giữ đạo, vẫn can đảm một mực phục vụ đồng bào xây dựng quê hương. Các Ngài dám làm, vì các Ngài hiểu điều mình làm là lẽ phải, là chân lý. Dám làm như thế trong hoàn cảnh bây giờ không phải là dễ. Các Ngài biết lắm, dám làm thì phải dám chịu. Chịu mất nhiều quyền lợi vật chất, chịu chê bai, chịu bắt bớ, chịu đánh đập, chịu mất sự sống, chịu nhiều ảnh hưởng không tốt xảy đến cho gia đình mình. Nhưng các Ngài cũng biết rõ ràng rằng chắc chắn sẽ có những hậu quả vô cùng to lớn hơn nữa, do sự can đảm trung thành của mình đem lại cho bản thân, cho gia đình, cho quê hương và cho Giáo Hội. Hậu quả vô cùng to lớn ấy là hạnh phúc đời đời, là sự phát triển cứu độ, là sự hiên ngang can đảm trung tín và tinh thần hào hùng bất khuất để lại cho người chung quanh và cho hậu thế.

3.- Với ý thức đó, các Ngài không những đã dám làm, mà còn gắng làm cho tới cùng điều tốt đã chọn.

Gắng làm, nghĩa là dùng mọi cách để làm là làm hết sức mình, làm cho tới tận cùng khả năng của mình, để Chúa được tôn thờ, để mọi người được thương yêu và để đất nước được an bình thịnh vượng.

Người ta chỉ hiểu được sự cố gắng này khi người ta hiểu được sức mạnh của đức tin. Sức mạnh của đức tin nơi người Công Giáo tử đạo Việt Nam không phải chỉ là sức mạnh tâm lý phản ứng lại những bất công đối với quyền lợi thiêng liêng cao cả của mình, mà sức mạnh đó còn là sức mạnh siêu nhiên của ơn thánh Chúa. Chính sức mạnh siêu nhiên đó đã làm cho các Ngài vừa can đảm, vừa bình tĩnh hiền từ với những kẻ bách hại mình. Các Ngài chịu khó với Chúa Kitô, để cùng với Chúa Kitô Phục Sinh đi vào hạnh phúc bất diệt, như Ngài đã hứa.

Anh chị em thân mến,

Tôi vừa phác họa vắn tắt hình ảnh người Công Giáo Việt Nam tử đạo. Họ là những người biết chọn làm điều tốt, đã dám làm điều tốt, đã gắng làm tốt, cả trong những hoàn cảnh khó khăn trắc trở. Hình ảnh đó, cũng là hình ảnh kêu gọi chúng ta trong ngày Quốc Khánh hôm nay. Mỗi người chúng ta hãy chọn làm điều tốt, dám làm điều tốt và gắng làm điều tốt, trong tất cả những gì có tính cách xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc ta, nghĩa là cả trong phạm vi tôn giáo, cả trong phạm vi xã hội kinh tế, văn hoá, an ninh chính trị.

Bằng cách đó, chắc chắn mọi người chúng ta sẽ tốt hơn. Tổ Quốc Việt Nam cũng sẽ đẹp hơn, Giáo Hội Việt Nam cũng sẽ vững vàng. Đó là điều tôi cầu mong, cầu chúc và cầu nguyện trong thánh lễ hôm nay.

Lễ các thánh tử  đạo Việt Nam tại Long Xuyên, ngày 02/9/1979

 

Bùi-Tuần 0035: SỐNG ĐẠO09-09-1979.

 

Lễ hôm nay là một sinh hoạt bình thường theo thông lệ tôn giáo. Sinh hoạt bình thường này nói: 09-09-1979 Bùi-Tuần 35


Lễ hôm nay là một sinh hoạt bình thường theo thông lệ tôn giáo. Sinh hoạt bình thường này nói lên sức sống tôn giáo đồng thời cũng diễn tả thực tế êm đẹp của sự tự do tín ngưỡng tại địa phương ta. Người Công Giáo chúng ta chú ý tham dự lễ này cũng như các lễ khác của các tôn giáo một cách kính cẩn, một sự kính cẩn tự nguyện, đầy ý thức trách nhiệm và sùng mộ. Thái độ đó là tất nhiên đối với chúng ta. Bởi vì nó phát xuất tự nhiên do tâm hồn sống đạo. Sống đạo, đó là vấn đề then chốt cắt nghĩa mọi sinh hoạt tôn giáo và mọi thái độ tôn giáo. Chính vì thế mà hôm nay, nhân dịp một số thanh niên Rước Lễ Bao Đồng, tôi muốn nói tới vấn đề sống đạo. Vấn đề đặt ra cho các em, nhưng cũng là vấn đề chung cho mọi người, để hiểu đạo hơn, để giữ đạo tốt hơn... Sống đạo là vấn đề bao la. Tôi chỉ nói đơn sơ vắn tắt một vài nét, không đủ để cắt nghĩa đạo, nhưng hy vọng đủ để chỉ hướng cho đời sống đạo.

Vậy sống đạo là gì?

1.- Trước hết, sống đạo là gặp gỡ một người. Người ấy là Đức Kitô.

Gặp ai là nhìn thấy người đó, là quan tâm phần nào đến họ, là cảm thấy họ hiện diện một cách nào đó trong ý thức tôi. Gặp Chúa cũng thế. Lúc này tôi gặp Chúa là tôi nhìn Chúa. Tôi đang nhìn Chúa, Chúa đang nhìn tôi. Ngài nhìn tôi không phải với cái nhìn chung chung, nhưng với cái nhìn riêng biệt. Như Ngài đã nhìn Giakêu giữa đám đông. Ngài nhìn tôi không phải với cái nhìn hờ hững, nhưng với cái nhìn thăm hỏi, như Ngài đã nhìn dân thợ chài trên bờ hồ Tibêriat. Ngài nhìn tôi không phải với cái nhìn kết án, nhưng với cái nhìn tha thứ yêu thương, như Ngài đã nhìn Mađalêna mang thân phận một kẻ trở về.

Và tôi nhìn Ngài không phải bằng con mắt nhân loại này. Nhưng bằng trái tim, trong ánh sáng đức tin, và bằng đức tin trong sức nóng trái tim.

Đó là sự gặp gỡ sống động và thân mật. Sự gặp gỡ sống động và thân mật này là căn bản cho mọi lời cầu nguyện, cho mọi tham dự bí tích, cho mọi sinh hoạt tôn giáo.

Gặp gỡ như thế là bước đầu sống đạo. Ta hãy làm như thế mỗi ngày khi đọc kinh, mỗi khi chịu bí tích, mỗi khi làm việc đạo đức. Và hãy làm như thế thường xuyên để trở thành một việc bình thường.

2.-Sống dạo là chọn một người. Người đó Đức Kitô.

Chọn ai là nhìn nhận giá trị của người đó, là gắn bó với người đó, là cam kết với người đó.

Chọn Chúa cũng vậy. Tôi chọn Chúa là tôi nhìn nhận Ngài là Đấng tạo dựng và cứu chuộc tôi và là Đấng có quyền làm cho tôi sống lại sau này. Tôi nhìn nhận Ngài là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống của tôi. Tôi nhìn nhận Ngài là sức mạnh, là hy vọng và là hạnh phúc sau cùng của đời tôi. Tôi chọn Chúa là tôi đáp lại tình Người đã chọn tôi, đã thương tôi, đã chọn tôi, đã tha thứ cho tôi. Chọn Chúa cũng là gắn bó chặt chẽ với Ngài, như con với Cha, như cành với cây, theo lời Chúa dạy: “Thầy là cây nho, chúng con là nghành. Chúng con hãy ở trong tình mến Cha”. Xưa Chúa Giêsu hỏi Phêrô 3 lần: “Con có mến Cha không?” Phêrô thưa lại 3 lần. Cam kết là 3 lần xác định sự quyết chọn của lòng mình. Cam kết sống cho Ngài, chết cho Ngài. Cam kết là chấp nhận làm mọi sự và chịu mọi sự, suốt đời trung tín với Ngài. Ngài sẽ là hạnh phúc muôn đời cho những ai trung tín.

Chọn Chúa như trên, đó là sống đạo. Ta hãy làm như thế trong mọi hoàn cảnh của đời ta, nhất là những khi gặp thử thách muốn kéo ta xa Chúa. Sống đạo là chọn Chúa.

3.- Sau cùng, sống đạo là sống với một người. Người đó là Đức Kitô.

Sống với ai là chia sẻ đời sống với họ, là có kinh nghiệm về họ, là có trách nhiệm về họ. Sống với Chúa cũng vậy.

Ta sống với Ngài là ta tham dự phần nào vào đời sống Ngài, là ta chia sẻ số phận lịch sử của Ngài, xưa đã chịu khổ đau rồi mới sống lại. Sống với Chúa là sống chia sẻ tư tưởng và hành động của Ngài, cùng với Ngài dấn thân phục vụ. Xưa Chúa đã cầu nguyện: “Như Cha ở trong con, và con ở trong Cha, xin cho chúng cùng hiệp nhất cùng ta như vậy”. Sống với Chúa đưa đến sự hiệp nhất lý tưởng. Đó chính là khác vọng của ta, để ta cũng nói được như thánh Phaolô: “Tôi sống, nhưng không phải tôi sống, mà là Chúa Kitô sống trong tôi”.

Sống với Chúa cũng là có kinh nghiệm về Ngài. Một cách nào đó, chính mình ta cảm nghiệm được Chúa là tình yêu ngọt ngào, là bàn tay quan phòng khôn khéo, chính mình ta nếm được sự bình an sâu thẳm trong tâm hồn, mà ngoài Chúa ra không ai có thể ban cho ta được. Chỉ ai sống thực sự với Chúa mới có kinh nghiệm thực sự về Chúa. Chính những kinh nghiệm bản thân đó càng làm cho ta nhận rõ trách nhiệm phải chu toàn với Chúa: Trách nhiệm phải làm cho nhiều người biết Chúa và mến Chúa, trách nhiệm phải làm chứng cho Ngài và phải bênh vực Ngài.

Sống đạo không phải là theo một ý thức hệ, không phải là giữ một số lễ nghi. Sống đạo là gặp gỡ một người, người đó là Đức Kitô. Sống đạo là chôn một người, người đó là Đức Kitô. Sống đạo là sống với một người, người đó là Đức Kitô.

Sống đạo như thế là một cố gắng của con người, nhưng đồng thời cũng là một ân huệ của Chúa. Khi hiểu sống đạo như thế, ta sẽ thoải mái, hiên ngang và an tâm vô cùng. Bởi vì đối với ta, đạo là một thực tại cao cả vô giá, và sống đạo chính là một cuộc sống vô cùng ý nghĩa. Tôi tha thiết cầu nguyện cho các em Rước Lễ Bao Đồng hôm nay hiểu rõ được điều đó, luôn nắm vững được điều đó, và kiên trì thực hiện điều đó hôm nay và mãi mãi sau này.

Lễ Bao Đồng Trọng Thể tại Long Xuyên, ngày 9/9/1979.

 

Bùi-Tuần 0036: HIỂU ĐƯỢC Ý CHÚA 08-12-1979

 

Cù Lao Giêng có một người giáo dân nổi tiếng, đó là thánh Emmanuel Lê văn Phụng. Nhà thờ : 08-12-1979 Bùi-Tuần 36


Cù Lao Giêng có một người giáo dân nổi tiếng, đó là thánh Emmanuel Lê văn Phụng. Nhà thờ Cù Lao Giêng lại nhận một người giáo dân hết sức nổi tiếng làm bổn mạng, đó là Đức Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội. Đức Mẹ là một giáo dân, mặc dầu Ngài là Mẹ Thiên Chúa. Đức Mẹ là một giáo dân: Đó là cách tôi nhìn Đức Mẹ, và tôi thấy cách nhìn đó làm cho tôi gần gũi Đức Mẹ.

Đời sống giáo dân của Đức Mẹ có một điểm làm tôi chú ý. Đó là sự Đức Mẹ tìm hiểu thánh ý Chúa, tìm hiểu lẽ đạo, tìm hiểu mầu nhiệm cứu độ.

Chắc chắn Đức Mẹ hiểu rất nhiều về đạo. Nhưng cũng có điều Ngài không hiểu biết: Khi Thiên Thần chào kính Đức Mẹ đầy ơn phúc, Đức mẹ tự hỏi: “Lời chào đó có nghĩa gì?”. Ngài hỏi vì Ngài không hiểu. Khi Thiên Thần trình bày ý muốn của Thiên Chúa muốn chọn Đức Mẹ làm Mẹ Đấng Cứu Thế, Đức Mẹ đã thắc mắc hỏi lại: “Điều đó xảy ra thế nào được?”. Ngài hỏi vì Ngài không hiểu. Khi Đức Mẹ đi tìm con sau ba ngày, thấy con trong đền thờ, Đức Mẹ vừa hỏi vừa trách con mình: “Tại sao con làm thế?”. Ngài hỏi vì Ngài không hiểu.

Đọc Phúc Âm, tôi có cảm tưởng Đức Mẹ là người hay hỏi. Hỏi nghĩa là không hiểu. Nhưng hỏi, cũng có nghĩa là muốn tìm hiểu. Hỏi là muốn làm quen. Hỏi là khởi sự gặp gỡ. Thắc mắc về đạo bao giờ cũng tốt hơn dửng dưng với đạo. Đặt câu hỏi về Chúa là dấu tâm hồn đang được Chúa gõ cửa. Đặt câu hỏi về Chúa, lại là dấu con người đang đáp lại sự mời gọi của Người. Đức Mẹ đã hỏi Chúa và hỏi Thiên Thần là đại diện của Chúa.

Chúa đã trả lời và Thiên Thần đã trả lời. Những câu hỏi vắn gọn. Thí dụ Đức Mẹ hỏi: “Điều đó xảy ra thế nào được?”, thì Thiên Thần trả lời thế này: “Thánh Thần Chúa ngự trên cô. Quyền năng Đấng tối cao sẽ bao phủ cô. Vì thế, Đấng cô sẽ sinh ra là Đấng Thánh. Kìa chị Isave đã có thai khi đã già cả. Người mà thiên hạ gọi là son sẻ, nay đã thụ thai được sáu tháng.. Đối với Chúa, có gì là không thể làm được đâu?”. Nhưng câu trả lời trên đây của Thiên Thần thực vắn gọn không có tính cách học thuyết. Thiên Thần chỉ đưa ra nguyên tắc nền tảng và một sự kiện thực tế chứng minh nguyên tắc đó là bà Isave son sẻ già nua mà đã có thai, do phép lạ của Chúa.

Thiên Thần nói chỉ có thế mà Đức Mẹ đủ hiểu. Thiên Thần nói chỉ có thế mà Đức Mẹ cũng đã tin. Đó là điều tôi lấy làm lạ. Ngay một cái nguyên tắc căn bản mà Thiên Thần đưa ra đó cũng đã được các nhà thần học thông thái bàn luận dài dòng từng mấy pho sách chưa rồi. Người đọc chưa chắc gì đã hiểu hết, và chưa chắc gì người ta vì thế mà tin. Trái lại, Đức Mẹ đã chỉ nghe sơ một câu vắn gọn, Ngài đã hiểu và Ngài đã tin. Lý do tại đâu?

Tôi thiết nghĩ, chính tâm hồn cởi mở bình an trong trắng của Đức Mẹ có khả năng để đón nhận chân lý, và để đón nhận ơn Chúa Thánh Thần tác động bên trong. Một con đường nhỏ hẹp, lại quanh co um tùm, ban đêm dù có trăng, đường đó vẫn thấy tối. Tương tự cũng thế: Một tâm hồn khép kín, quanh co phức tạp thì dù có một hay hai ba mặt trời chân lý mọc lên, tâm hồn đó vẫn âm u. Đức Mẹ trái ngược hẳn, Ngài ngay thẳng mà khiêm tốn, cao thượng mà đơn sơ, nên dễ ngoan ngùy trước ơn Chúa Thánh Linh soi sáng thúc đẩy để nhận ra ý Chúa và để hiểu ý Chúa.

Ngài hiểu, không phải để mà hiểu. Nhưng Ngài hiểu để mà tin. Thánh Isave đã nói với Đức Mẹ: “Phúc cho em vì em đã tin”. Chứ không nói: Phúc cho em vì em đã hiểu. Tin Chúa và tin lời Chúa. Đó là kết thúc sự Đức Mẹ tìm hiểu giáo lý. Hiểu để rồi tin. Hiểu hơn để rồi tin hơn. Càng hiểu Chúa nhiều, càng tin Chúa nhiều. Nhưng, đức tin là một ân huệ của Chúa, chứ không nhất thiết là một hậu quả tất nhiên của sự hiểu biết. Nhiều người hiểu giáo lý mà vẫn không tin, hoặc đức tin vẫn yếu. Bởi vì, như tôi đã nói, đức tin mặc dầu đòi cố gắng của con người, nhưng sau cùng vẫn là một ân huệ của Chúa. Để tin Chúa thì phải nhờ Chúa. Do đó, tìm hiểu về Chúa cũng phải tìm hiểu với Chúa.

Anh chị em thân mến,

Đức Mẹ đã tìm hiểu ý Chúa, để rồi tin vào Chúa. Do niềm tin gắn bó thiết tha đó Đức Mẹ đã cộng tác quảng đại với Chúa Giêsu trong việc cứu chuộc nhân loại. Tuy là một giáo dân, Đức Mẹ cũng đã góp phần hết sức lớn lao vào chương trình cứu thế. Ngài đã cộng tác với Chúa Giêsu, là con mình, và cũng là thầy cả Thượng Phẩm. Rồi Ngài đã cộng tác với các tông đồ là những Giám Mục, Linh Mục do con mình phong chức. Đặc biệt, Ngài đã cộng tác với thánh Gioan, là tông đồ của Chúa Kitô trối lại cho Ngài. Đức Mẹ cộng tác với các Đấng bằng tình thương yêu đằm thắm, bằng những an ủi khích lệ, bằng những giúp đỡ thường ngày mà một người đàn bà có thể làm được. Chưa chắc gì hồi đó, các tông đồ và giáo dân đã biết Đức Mẹ được ơn Vô Nhiễm Nguyên Tội. Còn bây giờ, thì chúng ta biết rõ. Biết để tin Ngài hơn, yêu thương Ngài hơn, gắn bó với Ngài hơn.

Lạy Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội, xin đưa mọi người họ đạo chúng con vào con đường tìm hiểu Chúa, để tin Chúa và để cộng tác với Chúa như Mẹ đã làm xưa. Amen.

Lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội tại Cù Lao Giêng, ngày 8/12/1979

 

Bùi-Tuần 0037: TINH THẦN ĐÓN TIẾP 23-12-1979

 

Tối hôm qua, tôi đọc lại một tạp chí tiếng ngoại quốc, có bài nói về Mùa Vọng, (4 C)  đề cập tới tinh: 23-12-1979 Bùi-Tuần 37


Tối hôm qua, tôi đọc lại một tạp chí tiếng ngoại quốc, có bài nói về Mùa Vọng, đề cập tới tinh thần đức tin. Trong đó họ định nghĩa tinh thần đức tin là tinh thần đón tiếp. Người sống tinh thần đức tin là người biết tiếp đón Chúa Kitô vào lòng mình, vào đời mình.

Hồi nãy, tới đây, tôi được anh chị em dành cho một sự đón tiếp rất ân cần thân thiết. Vì anh chị em nhờ tinh thần đức tin đã nhìn tôi như Người đại diện chính thức của Hội Thánh. Sự kiện đó, làm tôi suy nghĩ: Tinh thần đức tin đúng là tinh thần đón tiếp. Người sống tinh thần đức tin là người không những biết đón tiếp Chúa Kitô, mà cũng biết tiếp đón Hội Thánh của Người.

Rồi trong Phúc Âm vừa nghe, tôi thấy Đức Mẹ đi thăm bà Isave. Bà Isave đã đón tiếp Đức Mẹ rất đổi thân tình. Hai người đón mừng nhau. Hai người tiếp đãi nhau. Vì tin vào lời Chúa, vì tin vào hạnh phúc của nhau. Sự kiện đó lại làm tôi suy nghĩ thêm: Tinh thần đức tin đích thực là tinh thần đón tiếp. Người sống tinh thần đức tin là người không những biết đón tiếp Chúa Kitô, không những biết đón tiếp Hội Thánh Chúa, mà cũng biết đón tiếp tha nhân vì danh Thiên Chúa.

Anh chị em thân mến,

Trước hết, người sống tinh thần đức tin là người biết đón tiếp Chúa Kitô vào lòng mình, vào đời mình. Tiếp đón ai thân tình là biết chia sẻ ý muốn của họ, là biết chìu theo sở thích của họ, là biết làm theo ước vọng của họ. Thánh Phaolô đã diễn tả thái độ tiếp đón đó nơi Chúa Kitô đối với Đức Chúa Cha, trong một câu ta vừa nghe đọc trong Thánh Thư: “Lạy Cha, này con xin đến, để làm theo thánh ý Cha”. Lời đó, ta cũng nên nói với Chúa, mỗi khi ta đón tiếp Ngài, khi ta dự lễ, xưng tội, rước lễ, đọc kinh và làm các việc đạo đức khác. Với lời đó, tôi xin cúi đầu vâng phục chương trình Chúa muốn về tôi. Tôi xin chấp nhận mọi thánh giá Chúa gởi cho tôi. Tôi xin sẵn sàng từ bỏ những gì không hợp ý Chúa. Tôi xin cố gắng thực thi mọi việc Chúa muốn tôi làm. Lạy Cha, con đến, để làm theo thánh ý Cha.

Nhưng Chúa không đến một mình. Ngài đến với Giáo Hội. Người có tinh thần đức tin không những đón tiếp Chúa Kitô, mà cũng đón tiếp Giáo Hội Ngài. Giáo Hội là các tông đồ và các vị đại diện tại các địa phương. Giáo Hội là giáo huấn, luật lệ, chỉ thị của Tòa Thánh, của công đồng. Giáo Hội là sinh hoạt tôn giáo của địa phận, của xứ đạo. Giáo Hội là các giáo hữu ở khắp mọi nơi, cụ thể là cộng đoàn họ đạo của mình. Đón tiếp Giáo Hội Chúa Kitô là hãy biết sống kỷ luật và quảng đại trong tinh thần hiệp nhất. “Lạy Cha, xin hãy cho mọi người hiệp nhất nên một. Như Cha ở trong con và như con ở trong Cha. Xin Cha cho mọi người, nên một trong chúng ta, để cho thế gian tin rằng Cha đã sai con”. Lời nguyện hiệp nhất đó Chúa Kitô không những chỉ cầu một lần trong Bữa Tiệc Ly, mà vẫn cầu hằng ngày trong Hội Thánh và qua Hội Thánh, để sự hiệp nhất trở thành một dấu chỉ cho thái độ đón tiếp Chúa Kitô, gây được tác động truyền giáo giữa thế gian mọi thời.

Chúa Kitô không tách rời khỏi Hội Thánh. Cũng thế, Chúa Kitô không tách rời khỏi tha nhân. “Bất cứ sự gì các con làm cho kẻ khác, vì danh Cha, thì Cha kể như là làm cho chính mình Cha”. Kẻ khác là ai? Thưa là tất cả mọi người, không phân biệt ai. Nhưng đặc biệt là những kẻ túng nghèo, đau khổ và các trẻ nhỏ. Như thế, rõ ràng Chúa không còn xa lạ. Ngài đã trở nên cụ thể và gần gũi.

Anh chị em thân mến,

Tượng Chúa Kitô Vua trên đài, trước nhà thờ, là một biểu tượng của tinh thần đón tiếp. Đón tiếp với hai cánh tay rộng mở, như mời gọi, như đón chờ, như sẵn sàng ôm lấy. Đón tiếp với trái tim nồng nàn, trái tim tha thứ, trái tim chung thuỷ. Ta hãy đến với Ngài và hãy có tinh thần đón tiếp theo gương Ngài. Con đường trước nhà thờ, mới được tu bổ, rộng rãi, sạch sẽ, bằng phẳng, cũng nói lên phần nào tinh thần đón tiếp của xứ đạo Thạnh An. Xin Chúa trả công bội hậu cho các người đã góp phần làm các biểu tượng tinh thần đón tiếp này.

Xin Chúa cho chúng ta hết thảy, biết sống tinh thần đón tiếp, để thực hiện tinh thần đức tin trong hôm nay, trong lễ Chúa Giáng Sinh sắp tới và trong cả cuộc đời. Amen.

Chúa nhật 4 Mùa Vọng C tại Thạnh An, ngày 23/12/1979.

 

Bùi-Tuần 0038: MỘT LIÊN HỆ MẬT THIẾT 24-12-1979

 

Nếu để ý một chút, chúng ta dễ thấy điều này: Noel nào cũng vậy, số người thăm hang đá bao giờ:24-12-1979 Bùi-Tuần 38


Nếu để ý một chút, chúng ta dễ thấy điều này: Noel nào cũng vậy, số người thăm hang đá bao giờ cũng đông hơn số người dự thánh lễ. Người ta coi hang đá. Người ta nói về hang đá. Người ta hỏi về hang đá. Từ những câu hỏi tầm thường tò mò, đến những câu hỏi sâu xa nghiêm túc. Người ta hỏi nhau. Còn hang đá thì không nói gì. Nhưng chính hang đá lại trở thành một câu hỏi âm thầm, nhưng quan trọng, nhỏ nhẹ mà ray rứt, một câu hỏi cho hết mọi người. Câu hỏi đó là: “Người có nhận ra mối liên hệ của người với Chúa Giáng Sinh trong hang đá không?”.

Anh chị em thân mến,

Nếu suy nghĩ kỹ, ta sẽ thấy rằng: Mọi người đều có liên hệ đến Chúa Giáng Sinh trong hang đá. Đó là một liên hệ khách quan, có thực một liên hệ mật thiết, một liên hệ ảnh hưởng đến số phận đời đời.

Thực vậy, Hài Nhi nằm trong hang đá, chính là Con Thiên Chúa: “Ngài là Thiên Chúa bởi Thiên Chúa, ánh sáng bởi ánh sáng, Thiên Chúa thật bởi Thiên Chúa thật, được sinh ra mà không phải tạo thành, đồng bản tính với Đức Chúa Cha. Nhờ Người mà muôn vật được tạo thành”. Chính Ngài là Chúa vũ trụ, Chúa của loài người. Tự muôn thuở đã có Ngài.

Qua bao ngàn năm, Ngài đã dùng các tiên tri loan báo việc Ngài xuống thế. Khi tới gần thời gian đã định, Ngài sai Thiên Thần đến với trinh nữ Maria, để cho trinh nữ biết tin trinh nữ được chọn làm Mẹ Ngài. Việc Ngài xuống thế không phải là chuyện bất ngờ.

Ngài giáng sinh, có nghĩa là Ngài từ trời sinh xuống trần gian. Ngài giáng sinh, vì Ngài muốn. Để làm gì? Tất cả lý do được diễn tả trong một câu của kinh Tin Kính: “Vì loài người chúng tôi và để cứu rỗi chúng tôi Người đã từ trời xuống thế”.

Ngài xuống thế, không phải vì Ngài, nhưng vì loài người chúng tôi. “Vì loài người chúng tôi” là thế nào? Thưa là Ngài đến không phải chỉ để thăm viếng chúng tôi, mà cốt là để cứu rỗi chúng tôi. Ngài đến vì mục đích cứu chuộc. Ngài đến với tư cách Đấng Cứu Thế. Cứu mọi người thiện chí. Cứu những ai muốn được Ngài cứu.

Thành thật mà nói thì đã là người, ai cũng cần được giải thoát khỏi tội lỗi, khỏi những bất ổn nội tâm, khỏi những tình trạng suy thoái nhân phẩm. Đã là người, thì ai cũng cần được vun tưới cuộc sống an ổn, ngay chính, công bình, trong sạch và yêu thương nhất là cần tránh được hỏa ngục, được vào thiên đàng hạnh phúc vô biên.

Chúa Giáng Sinh đến, để giúp con người những chuyện đó. Chỉ có Ngài giúp được, vì Ngài là Thiên Chúa toàn năng và đầy tình thương xót.

Như thế, rõ ràng con người phải cần đến Ngài, chứ không phải Ngài cần đến con người. Và cũng rõ ràng, Ngài đến không gây mất mát gì cho ai. Trái lại, Ngài đến là để cho thêm, cho con người được tốt hơn, cho đời người được đẹp hơn, cho kiếp người được hạnh phúc hơn, cho tình yêu đối với quê hương dân tộc được trong sáng và mạnh mẽ hơn. Ngài đến để nâng con người lên địa vị làm con Thiên Chúa để mọi người cùng có một Cha chung trên trời, nhờ đó, tình huynh đệ đoàn kết cùng có ý nghĩa sâu sắc đậm đà.

Đến đây, ta có thể nhận ra mối liên hệ của ta với Chúa Giáng Sinh trong hang đá. Khi đã nhận ra, ta mới thấy Chúa Giáng Sinh là một món quà vô giá, một ân huệ quí báu, một hy vọng lớn lao, một niềm vui cao cả. Ai biết đón nhận ngài thì được lợi ích muôn vàn. Ai không đón nhận Ngài thì mất đi một dịp may.

Đã hẳn, mọi người đều có tự do để không tin Ngài. Nhưng lỡ Ngài có thực thì sao? Mọi người đều có tự do để chối từ Ngài. Nhưng lỡ Ngài là Đấng nắm quyền xét xử mọi người sau này thì sao? Mọi người đều có tự do để coi thường Ngài. Nhưng lỡ thời gian Ngài đợi chờ ta sắp hết thì sao?

Tốt hơn, ta nên chọn phần chắc. Phần chắc đó là vững tin vào Ngài, khiêm tốn tìm gặp Ngài, chăm chú lắng nghe Ngài, quảng đại sống theo lời Ngài. Chính hôm nay, hãy biết để ý tới Ngài với tình mến, với lời cầu nguyện, với những việc lành cho anh chị em đồng bào, với những việc tốt làm cho quê hương tổ quốc.

Giờ đây, chúng ta hướng về Ngài, đơn sơ và hiên ngang tuyên xưng mối liên hệ của ta với Ngài, một mối liên hệ thiêng liêng cao cả mà ta tin, mà ta kính với tất cả trái tim, với tất cả trí khôn, với tất cả tâm hồn đầy niềm tin kính. Amen.

Lễ Giáng Sinh tại nhà thờ Chánh Toà Long Xuyên, ngày 24/12/1979.

 

Bùi-Tuần 0039: MỘT SỰ THỰC ĐAU XÓT 25-12-1979

 

Đêm qua, tôi chủ sự thánh lễ Giáng Sinh tại Long Xuyên. Tôi thấy số người dự thánh lễ: 25-12-1979 Bùi-Tuần 39


Đêm qua, tôi chủ sự thánh lễ Giáng Sinh tại Long Xuyên. Tôi thấy số người dự thánh lễ rất đông. Số người thăm hang đá lại càng đông hơn. Từ tối tới khuya, khu nhà thờ và các đường phố bên nhà thờ đều đông nghẹt, đủ màu sắc, đủ thứ người, ồn ào vui vẻ. Nhìn đoàn lũ đông đảo đó, tôi dạt dào thương mến họ, trong niềm vui chung. Nhưng tôi tự nói với mình: Còn Chúa Giáng Sinh, Chúa có vui không? Tôi không rõ.

Trưa nay, tôi đi thăm Năng Gù, chủ sự khai mạc Đại Hội Thánh Ca. Tôi đã thấy một quang cảnh vui nhộn khác thường. Bảy đoàn từ nhiều nơi họp lại, tạo thành một thế giới trẻ đẹp, đẹp ở y phục, đẹp ở tiếng hát, đẹp ở tuổi xanh. Nhìn thế giới trẻ đẹp hân hoan đó, tôi không thể không chia sẻ niềm vui của họ. Nhưng tôi cũng tự nói với mình: Còn Chúa Giáng Sinh, Chúa có vui không? Tôi không rõ.

Tôi đang suy nghĩ thẩn thơ như thế, thì vừa rồi bài Phúc Âm đã đọc lên một câu đại ý “Chúa đã đến trong thế gian, nhưng thế gian không đón tiếp Ngài. Chúa đã đến với những người thân của Ngài, nhưng những người thân của Ngài đã không nhận ra Ngài”. Nghe những câu đó, tôi thiệt tình lo sợ. Bởi vì những câu đó không phải chỉ nói về quá khứ, mà cũng nói về thực tại hôm nay: Nói cho thế gian, và cũng nói cho Giáo Hội, nói cho người không Công Giáo, và cũng nói cho người Công Giáo chúng ta.

Sự mà Phúc Âm thánh Gioan đã than, đúng là một sự thực, một sự thực đau xót. Khi Chúa Giáng Sinh, được mấy ai đã nhận ra Ngài. Chính các Thầy Tư tế, các luật sĩ chuyên giảng Kinh Thánh, cũng không đón tiếp Ngài. E rằng hiện tại cũng thế thôi! Điều ta nên suy nghĩ không phải là sự người khác không nhận ra Chúa, không đón tiếp Chúa, mà là sự chính ta không nhận ra Ngài, không đón tiếp Ngài.

Có thể chúng ta đã nhận ra Chúa và đón tiếp Chúa, khi Ngài đến trong lúc ta đọc kinh xem lễ, xưng tội rước lễ. Nhưng ta đã không nhận ra Ngài và không đón tiếp Ngài, khi Ngài đến trong các biến cố xảy ra, biến cố chung của đất nước, biến cố riêng của đời ta. Có thể chúng ta nhận ra Chúa và đón tiếp Chúa, khi Ngài đến trong may mắn vui sướng, vừa ý. Nhưng ta đã không nhận ra Ngài, đã không đón tiếp Ngài khi Ngài đến trong những rủi ro, khó khăn, thử thách. Có thể chúng ta đã nhận ra Chúa và đón tiếp Chúa khi Ngài đến qua Tòa Thánh và Đức Thánh Cha, nhưng ta đã không nhận ra Ngài, không đón tiếp Ngài, khi Ngài đến qua các đại diện Ngài tại các địa phương. Có lẽ ta nhận ra Chúa và đón tiếp Chúa, khi Ngài đến với ta trong những giờ phút một mình suy niệm, nhưng ta không nhận ra Ngài, đã không đón tiếp Ngài khi Ngài đến trong tha nhân, qua người khác, kể cả những người làm ta khó chịu.

Sự nhận ra Chúa và đón tiếp Chúa đã trở thành một vấn đề đặt ra cho lương tâm mỗi người chúng ta. Vấn đề đó, nếu ta muốn hiểu và muốn giải quyết, thì Chúa sẽ giúp ta, miễn là ta khiêm tốn cầu xin Ngài.
Lễ Giáng Sinh tại nhà thờ Cái Đôi (Hòa Bình), ngày 25/12/1979
 

Bùi-Tuần 0040: HÃY KHIÊM TỐN 26-12-1979

 

Niềm vui Giáng Sinh là niềm vui lớn. Người ta tự nhiên có khuynh hướng muốn kéo dài niềm: 26/12/1979 Bùi-Tuần 40


Niềm vui Giáng Sinh là niềm vui lớn. Người ta tự nhiên có khuynh hướng muốn kéo dài niềm vui đó sang những ngày sau lễ Noel. Nhưng phụng vụ đã không làm thế. Lễ hôm nay đã gợi lên hình ảnh máu đổ thịt rơi. Phúc Âm mở đầu không bằng những tin vui như hôm qua, mà bằng những lời cảnh giác nghiêm trọng: “Chúng con hãy coi chừng người đời. Họ sẽ nạp chúng con cho công nghị. Họ sẽ đánh đòn chúng con trước hội đường...”

Lời cảnh giác rất đúng sự thực. Tất cả 12 tông đồ đều đã bị bắt và bị hành hạ. Hầu hết đã chết tử vì đạo. Nhưng chúng ta đừng vì lời Chúa cảnh giác, và vì sự 12 tông đồ đã bị bách hại mà tạo nên thành kiến, để rồi nhìn người đời bằng đôi mắt nghi kỵ kết án, và để rồi, bất cái gì xấu cho ta, cho họ đạo đều do tại người đời. Thành thực mà nói thì không phải mọi người đều xấu. Có những người đời rất tốt. Sự người đời bách hại tông đồ, chỉ vì có chuyện xảy ra trong một nơi, một thời nào đó, chứ không phải là một quy luật tất yếu phải xảy ra mọi nơi, mọi thời.

Nhiều khi có những khốn khó, nhưng không phải do người đời, mà do chính người có đạo. Bài Sách Thánh hôm nay nói rõ điều đó. Thánh Stêphan bị bắt, bị hạch hỏi, bị ném đá chết do ai. Không phải do những người vô đạo, cũng không phải do chính quyền nghịch đạo. Nhưng là do những người có đạo, những người đồng đạo.

Chuyện thánh Stêphan đã qua rồi. Nhưng những chuyện như thánh Stêphan vẫn có thể xảy ra với nhiều hình thức.

Nghe thế, ta tự nhiên có khuynh hướng muốn nghĩ Stêphan là ta, và kẻ ném đá chính là kẻ khác. Xin đừng nghĩ vậy. Vì có thể ngược lại. Tốt hơn, ta nên khiêm tốn nhớ lời Chúa dạy ở cuối bài Phúc Âm hôm nay: “Ai bền chí đến cùng sẽ được cứu rỗi”. Bền chí cầu nguyện. Bền chí cậy trông Chúa. Bền chí cố gắng trở về với Chúa. Bền chí thực thi yêu thương bác ái. “Bền chí đến cùng”, đó là điều chúng ta xin Chúa cho nhau trong thánh lễ bây giờ.

Lễ thánh Stêphanô tại nhà thờ Ông Chưởng (Chợ Mới), ngày 26/12/1979

 

Bùi-Tuần 0041: ĐƯỢC CHÚA THƯƠNG 27-l2-l979

 

Trong Phúc Âm, có ít nhất là bốn chỗ nhắc đến một môn đệ nào đó có đặc điểm là “Môn đệ: 27-l2-l979 Bùi-Tuần 41


Trong Phúc Âm, có ít nhất là bốn chỗ nhắc đến một môn đệ nào đó có đặc điểm là “Môn đệ được Chúa yêu thương”. Phúc Âm không nêu rõ tên. Chỉ nói trống. Nhưng từ thời Chúa Giêsu cho tới bây giờ, ai cũng tin “Người môn đệ được Chúa yêu thương” đó chính là Gioan tông đồ.

Tôi nghĩ là Chúa Giêsu thương tất cả các môn đệ, không trừ ai. Nhưng nếu thiên hạ đặt tên cho Gioan là môn đệ được Chúa yêu thương thì hẳn có nghĩa là Gioan đã được thương nhiều, thương hơn hết thảy.

Tại sao Chúa Giêsu đã thương Gioan hơn các môn đệ khác. Câu hỏi đó thiết tưởng không nên đặt ra, không cần đặt ra. Nhất là đừng suy diễn chủ quan. Thí dụ cho rằng, Gioan được thương hơn vì đã giữ mình trinh khiết. Suy diễn như thế sợ không đúng lắm, vì không có cơ sở Phúc Âm. Đàng khác, cũng tội nghiệp cho mấy tông đồ có vợ. Tình yêu là một tặng phẩm. Người ta có quyền tự do, muốn tặng ai tùy ý. Phương chi Chúa.

Tôi biết chắc điều này là Gioan đã được Chúa yêu thương nhiều lắm. Đó là một sự thực. Ban đầu tôi có cảm tưởng: Được Chúa yêu thương nhiều là được cưng chìu nhiều. Có lẽ cũng đúng. Nhưng sự Chúa cưng chìu Gioan đã không miễn cho Gioan những khó khăn vất vả. Bởi vì, nếu suy gẫm những câu Phúc Âm có liên quan đến Gioan, tôi thấy tình yêu của Gioan là một chuyến đi dài của một niềm tin, qua những đoạn thăng trầm.

Phúc Âm ghi lại vắn tắt lần gặp gỡ ban đầu: Chúa Giêsu đang đi, quay lại thấy Gioan theo sau. Ngài hỏi: “Con tìm gì?” Gioan thưa bằng một câu hỏi lại: “Thưa Thầy, Thầy ở đâu?”. Chúa không trả lời thẳng, chỉ nói: “Đến mà xem”. Với lời đó, Chúa bắt Gioan còn phải đi nữa.

“Thầy ở đâu?”. Lời đó Gioan cũng đã nức nở kêu lên khi cùng Mađalêna và Phêrô chạy đến mồ trống vắng. Thầy ở đâu? Lời Gioan cũng là lời của tôi và của anh chị em đã nhiều lần gọi Chúa trong những hoàn cảnh ta đi tìm Ngài, nhưng Ngài xem ra vẫn xa vẫn vắng. Như thế yêu Ngài là phải chấp nhận những bước đi ngậm ngùi u uất.

Phúc Âm lại ghi cảnh tiệc ly, Gioan gục đầu vào ngực Chúa. Ngay lúc đó, Phêrô làm dấu gọi Gioan, bảo Gioan hỏi Chúa xem ai nộp Ngài. Giây phút êm đềm của tình yêu bị khuấy động. Sự thân mật của Gioan đã trở thành cơ hội cho người ta nhờ vả.

Rồi trên đường tới mộ Chúa, Gioan không chạy một mình, có Phêrô chạy theo. Và mặc dầu đến trước, Gioan đã nhường cho Phêrô vô mồ trước. Như thế Gioan muốn nói lên rằng: Ngài yêu Chúa, nhưng chính vì thế mà Ngài chấp nhận và nhún nhường tha nhân. Tình yêu cho Chúa là chuyến đi đón nhận đồng hành. Có những đồng hành dễ chịu, mà cũng có những đồng hành khó chịu.

Phúc Âm cũng đã ghi lần các môn đệ đánh cá ở hồ Têbêriat. Suốt đêm chẳng được con cá nào. Họ định cuốn luới chèo về. Bỗng có người lạ đứng trên bãi nói vọng ra: Quăng lưới bên phải sẽ có cá. Họ làm như thế và cá vô đầy lưới. Lúc đó Gioan nhận ra người lạ đó là Chúa sống lại hiện đến, liền bảo Phêrô: “Chúa đó!”. Thực là bất ngờ. Sao Chúa không hiện ra trong nhà thờ. Sao Ngài không hiện ra khi các tông đồ đọc kinh suy niệm. Sao Ngài không nói chuyện về mầu nhiệm cao siêu và chuyện đạo đức. Mà lại nói chuyện làm ăn tầm thường trên bãi biển, trong giờ các tông đồ lao động. Như thế, Ngài dạy Gioan và chúng ta rằng: Phải biết nhận ra Ngài trong mọi hoàn cảnh tầm thường. Đừng chỉ mong đợi Chúa trong những khuôn khổ khép kín. Đừng chỉ muốn nhận ra Chúa trong những hình thức nhất định. Đến với ta là sáng kiến của Ngài. Ta đừng đặt luật cho Ngài.

Phúc Âm lại ghi những phút giây Chúa hấp hối. Ngài thấy Đức Mẹ và môn đệ Ngài yêu. Ngài trối Đức Mẹ cho môn đệ đó, và trao môn đệ đó cho Đức mẹ. Chúa ra đi, trao phó cho Gioan một người của Chúa, thay vì chính Chúa. Như thế Chúa dạy Gioan: Trên cuộc đời này Chúa vẫn là Chúa ẩn dật. Yêu Ngài thì hãy phục vụ Hội Thánh Ngài, hãy chăm sóc những kẻ thuộc về Ngài.

Anh chị em thân mến,

Hồi nãy, trên đường đến đây, tôi ghé thăm các bà dòng Chúa Quan Phòng nhà hưu dưỡng Gioan ở Cù Lao Giêng. Có một bà đang hấp hối. Tôi cầm tay bà và tự nhủ lòng mình: Bà dòng đáng kính đây sắp kết thúc một chuyến đi dài. Chuyến đi của niềm tin theo một tình yêu. Chuyến đi của một tình yêu theo một niềm tin. Tôi nghĩ tới thánh Gioan. Tôi nghĩ tới cuộc đời của tôi. Tôi nghĩ tới anh chị em. Tôi cầu xin cho tôi, cho tất cả được như thánh Gioan, sống cuộc đời tìm Chúa như một chuyến đi của tình yêu theo một niềm tin. Một chuyến đi của một niềm tin theo một tình yêu.

Lễ thánh Gioan tông đồ tại  Cồn Phước, nhân ngày bổn mạng giáo xứ, ngày 27/l2/l979

 

Bùi-Tuần 0042: HẠNH PHÚC GIA ĐÌNH 30-12-1979

 

Tôi mới đọc một quyển sách nhỏ, do Tòa Thánh soạn để chuẩn bị cho Thượng Hội Đồng Giám: 30-12-1979 Bùi-Tuần 42


Tôi mới đọc một quyển sách nhỏ, do Tòa Thánh soạn để chuẩn bị cho Thượng Hội Đồng Giám Mục thế giới, sẽ họp vào cuối năm 1980. Tập đó nói về gia đình. Theo thống kê được trình bày trong tập đó, thì hiện tình gia đình tại nhiều nơi trên thế giới rất đáng ngại. Có những nơi tới một phần ba hôn nhân đã kết thúc bằng ly dị. Nghĩa là cứ ba đôi vợ chồng thì có một đôi bỏ nhau. Cứ ba gia đình thì một gia đình chính thức thất bại. Ngoài ra, tất cả các nước hiện nay, kể cả những nước mang tên là toàn tòng Công Giáo, đều chấp nhận luật cho phép ly dị. Sự kiện đó, tuy không thể minh chứng được rằng: Cách giải quyết khủng hoảng gia đình bằng cho phép ly dị là cách giải quyết tốt, nhưng đã minh chứng rõ ràng điều này là: Rất nhiều gia đình đã có những khó khăn, đã có những khủng hoảng.

Đó chuyện gia đình bình thường. Còn gia đình thánh thì sao?

Gia đình thánh số một là gia đình Đức Mẹ, thánh Giuse và Chúa Giêsu, cũng không tránh được những chuyện không vui. Chuyện không vui là chuyện thánh Giuse định bỏ Đức Mẹ mà trốn đi. Chuyện không vui là chuyện hai ông bà vất vả đi tìm con mất ba đêm ngày. Đã có những nghĩ ngợi cho nhau. Đã có những buồn bã vì nhau. Đã có những nước mắt, tại chưa hiểu nhau.

Những thực tế trên đây, cho phép tôi nghĩ rằng: Gia đình của anh chị em cũng có những khó khăn, cũng có những chuyện không dễ tìm được câu kết hân hoan.

Do đó, thiết tưởng trong đời sống gia đình, nên coi khó khăn là bình thường, không khó khăn mới là bất thường. Nhất là, đừng coi hạnh phúc gia đình là một món quà làm sẵn, như là một công trình phải xây dựng. Gia đình không phải là một an nghỉ, nhưng là một hành trình. Đời sống gia đình không phải là một kết thúc, nhưng là những bắt đầu.

Khi đề cập đến vấn đề gia đình, tôi không muốn chỉ nghĩ tới phương thế siêu nhiên, kẻo lối giải quyết đó trở thành quá dễ trên lý thuyết, nhưng lại quá khó trên thực hành. Tốt hơn, chúng ta nên đi từ tự nhiên.

Trước hết, trong việc đi vào đời sống gia đình và xây dựng đời sống gia đình, người ta cần suy nghĩ, cân nhắc, đắn đo. Sự ngập ngừng của thánh Giuse đối với Đức Mẹ, là một thái độ của người suy nghĩ. Việc Đức Mẹ thắc mắc tự hỏi mình khi nghe Thiên Thần chào cũng như câu Đức Mẹ hỏi lại Thiên Thần khi được báo tin Ngài làm Mẹ Đấng Cứu Thế, cũng là thái độ của con người suy nghĩ. Không bước đi nào quan trọng cho bằng bước đi vào cuộc sống gia đình. Hãy theo gương Đức Mẹ mà suy nghĩ, mà tìm hiểu.

Điều phải suy nghĩ và tìm hiểu nhiều nhất là khả năng thích hợp, nghĩa là xét xem những gì cụ thể mình muốn chọn có hợp với mình không, và những gì là những cái cụ thể mình có thể làm, để mình hợp với người khác, và người khác được hợp với mình. Đức Mẹ chỉ quyết định, sau khi biết rõ sự mình làm Mẹ Đấng Cứu Thế vẫn hợp với lý tưởng giữ mình đồng trinh của mình. Thánh Giuse cũng đã chỉ quyết định sau khi thấy rõ trinh nữ Maria là con người đạo đức, hợp với mẫu người mà mình mơ ước.

Gia đình ví như cái nhà. Cái nhà này được coi là đẹp, vì mọi cái làm nên nó đều cân đối, hợp với nhau. Nếu đem hai cánh cổng ngoài kia, ráp vào cửa nhà này, nhà sẽ xấu, vì nó không hợp. Nếu đem cái ghế để ngoài sân đặt vô đây, nhà cũng sẽ xấu, vì nó không hợp.

Tương tự như thế, trong gia đình hạp nhau là điều kiện rất cần. Bởi vì đó là điều kiện tâm lý tự nhiên quan trọng mà giải pháp đạo đức thường không thay thế được. Nếu chỉ có giải pháp đạo đức, mà thiếu giải pháp tâm lý tự nhiên, thì trường hợp thành công cũng có, nhưng trường hợp không thành công cũng rất nhiều. Người ta sẽ dễ mất quân bình, sẽ dễ căng thẳng, để rồi người chẳng ra người, thánh chẳng ra thánh.

Sau chót, trong mọi vấn đề gia đình, đạo đức bao giờ cũng là tiêu chuẩn phải hướng dẫn mọi lựa chọn, mọi việc làm, và chi phối toàn diện cuộc sống. Nếu cuộc sống đang an vui, thì đạo đức sẽ làm cho thêm êm đềm đằm thắm. Nếu cuộc sống chưa có khó khăn, thì đạo đức sẽ giúp tránh được phần nào những khó khăn không cần thiết. Nếu cuộc sống đang khó khăn, thì đạo đức sẽ giúp vượt qua được khó khăn đó.

Trên đây là những gợi ý, tôi muốn nói lên, để góp phần nhỏ mọn vào vấn đề gia đình. Hãy coi tất cả đều là ân huệ của Chúa, để ta luôn biết tán tụng, cảm tạ, bằng lời nói, bằng tâm tình và bằng chính đời sống, để ơn cứu chuộc của Chúa Giáng Sinh được tới nhiều linh hồn qua các gia đình gương mẫu thánh thiện, đạo đức, như Thánh Gia. Amen.

Lễ Thánh Gia tại nhà thờ Cần Xây, ngày 30/12/1979.


1980
 

Bùi-Tuần 0043: CÓ LÒNG TỐT 05-01-1980

 

Hôm lễ Chúa Giáng Sinh, trong buổi chủ tọa Đại Hội Thánh Ca tại Năng Gù, tôi đã có cảm: 05-01-1980 Bùi-Tuần 43


Hôm lễ Chúa Giáng Sinh, trong buổi chủ tọa Đại Hội Thánh Ca tại Năng Gù, tôi đã có cảm tưởng là: Ca đoàn nhà thờ Cầu Số Hai không thua kém ai. Đã có những đóng góp đẹp, hay và giỏi như bất cứ một ca đoàn có giá. Hôm nay tới đây, tôi cũng có một cảm tưởng tương tự về họ đạo này. Họ đạo Cầu Số Hai, tuy bé nhỏ, hẻo lánh, nhưng không thua kém các họ đạo khác. Cũng có những bước tiến rất đáng tự hào. Sở dĩ được như thế, là vì anh chị em có thiện chí, có thiện tâm, có lòng tốt. Thiện chí cũng là thiện tâm, cũng là lòng tốt. Đó là một điều mà các Thiên Thần đêm Giáng Sinh đã hát lên: “Vinh danh Thiên Chúa trên trời, bình an dưới thế cho người thiện tâm”. Lòng tốt của anh chị em đã là một trong những sức mạnh xây dựng họ đạo, thì cũng chính lòng tốt của anh chị em sẽ là một trong những sức mạnh bảo vệ và phát triển họ đạo này. Vì thế, hôm nay, tôi muốn cùng anh chị em suy nghĩ đôi chút về thiện tâm, về lòng tốt.

Chắc hẳn, mọi người chúng ta đều mong muốn được Chúa và được thiên hạ coi là người có lòng tốt. Như thế nào là người có lòng tốt. Chúng ta nên nhìn vào các mục đồng đêm Noel.

Phúc Âm ghi lại: Thiên Thần Chúa đã hiện ra với các mục đồng canh thức và coi giữ đoàn chiên của mình. Khi đọc câu đó, tôi tự hỏi: Tại sao Thiên Thần không hiện ra với mấy người đang cầu nguyện trong nhà thờ, mà lại hiện ra với mấy mục đồng ở ngoài ruộng. Tôi nghĩ là Chúa làm như thế để cho thiên hạ thấy rằng: Những người lo lắng làm ăn đúng bổn phận mình, là những người có lòng tốt được Chúa viếng thăm. Lòng tốt của mục đồng là sự chu toàn bổn phận. Lòng tốt của họ là sự cẩn thận lo lắng canh giữ đoàn chiên của họ. Lòng tốt của họ là sự họ làm đúng lương tâm nghề nghiệp của họ.

Phúc Âm kể lại: “Khi Thiên Thần hiện ra họ rất sợ hãi. Thiên Thần bảo họ: Đừng sợ. Đây là tin rất vui. Hôm nay, Đấng Cứu Thế sinh ra cho muôn dân trong thành Đavid. Và đây là dấu để nhận ra: Một hài nhi bọc trong khăn, đặt nằm trong máng cỏ”. Phúc Âm không nói mục đồng có thắc mắc gì. Đó là điều làm tôi ngạc nhiên. Vì hồi đó, hầu hết dân chúng đều nghĩ Đấng Cứu Thế sắp đến sẽ là Vua. Vua thì phải sinh ra xứng đáng, đâu lại sinh ra trong máng cỏ. Thế mà mục đồng cũng tin. Lòng tốt của họ là sự đơn sơ chất phác, không có thiên kiến, không bị ràng buộc vào những khuôn khổ tin tưởng cứng nhắc, như các luật sĩ và Pharisêu đã có về Đấng Messia. Lòng tốt của họ là sự họ dễ đón nhận Tin Mừng một cách chân thành khiêm tốn.

Phúc Âm ghi lại: “Các mục đồng nói với nhau rằng: Nào chúng ta đi sang Bêlem và hãy xem lời Chúa đã tỏ cho chúng ta”. Họ gọi nhau đi. Họ chia sẻ niềm vui với nhau. Họ lên đường với nhau. Lòng tốt của họ là sự đồng hành, là sự đi chung với người khác. Lòng tốt của họ là tinh thần huynh đệ, là tình đoàn kết.

Phúc Âm ghi lại: “Họ vội vã lên đường và họ đã thấy Đức Mẹ Maria và thánh Giuse và con trẻ nằm trong máng cỏ. Thấy thế, họ nhận ra đúng thực như lời đã nói về con trẻ”. Kẻ vội vã là kẻ nôn nóng, là kẻ thiết tha. Họ có thể trì trệ, thong thả. Nhưng họ dứt khoát lên đường. Lòng tốt của họ là họ thực sự đi tìm gặp Chúa. Lòng tốt của họ là sự vâng nghe Tin Mừng, mau lẹ làm theo tiếng gọi.

Phúc Âm ghi: “Các mục đồng trở về ngợi khen, tán tụng Thiên Chúa trong mọi sự họ đã nghe và đã thấy”. Tôi tưởng là trên đường về họ có thể bàn tán, đùa giỡn. Nhưng không. Họ đã ngợi khen ca tụng Thiên Chúa. Trên đường đến Bêlem, họ mang niềm tin khát vọng. Trên đường từ Bêlem về, họ mang niềm vui cảm tạ. Chuyến đi là của niềm tin. Chuyến về là niềm biết ơn. Lòng tốt của họ là lòng biết ơn. Lòng tốt của họ là sự họ biết cảm tạ Thiên Chúa.

Anh chị em thân mến,

Tới đây, tôi thấy ngôi nhà cha sở đã dành một căn để nhà nước sử dụng làm trường học. Tôi cũng được nghe rằng linh mục và giáo dân họ đạo ta đã có nhiều đóng góp tích cực vào các chương trình xã hội của địa phương. Những việc đó, tuy khiêm tốn, nhưng cũng nói lên một cách cụ thể lòng tốt của họ đạo. Tôi coi những việc đó là những việc đời và cũng là những việc đạo. Bởi vì những việc ấy cũng phát xuất từ Tin Mừng, và thể hiện một lối sống đạo thích hợp và gắn bó với căn bản Phúc Âm. Tôi tin Chúa đang hướng dẫn anh chị em. Tôi cảm tạ Chúa đã và đang chọn anh chị em vào số những tâm hồn tốt, có thiện chí, có lòng tốt, để cộng tác vào chương trình cứu độ của Chúa. Amen.

Lễ Thêm Sức tại nhà thờ Cầu Số Hai, ngày 5/01/1980

 

Bùi-Tuần 0044: RAO GIẢNG TIN MỪNG 06-01-1980

 

Nói tới họ đạo Cầu Số Tư là nói tới họ đạo coi như xa lạ đối với rất nhiều người. Giáo phận Long: 06-01-1980 Bùi-Tuần 44


Nói tới họ đạo Cầu Số Tư là nói tới họ đạo coi như xa lạ đối với rất nhiều người. Giáo phận Long Xuyên có trên 140 Linh mục. Tôi nghĩ có thể tới 140 linh mục không hề bước chân tới họ đạo Cầu Số Tư này. Họ đạo này bé nhỏ, với những người sống đời đơn giản. Họ đạo này xa xôi trên con đường đi về Bảy Núi, nên tự nhiên tới đây, tôi liên tưởng tới Bêlem. Nhưng giống Bêlem ở chỗ đơn nghèo mà lại có Chúa. Điều khiến tôi muốn nhìn đây như một Bêlem, đó là khả năng có thể loan báo Tin Mừng cho các nơi chung quanh.

Tin Mừng Chúa Giáng Sinh là Tin Mừng cần phải được loan đi rộng rãi. Tin Mừng Chúa Giáng Sinh không phải là một Tin Mừng chỉ dành riêng cho ta. Chúa đến với ta, và Ngài muốn qua ta, để đến với người khác. Ngài đã mời gọi Ba Vua qua ngôi sao, để rồi Ba Vua lại nói lại tin lạ cho vua Hêrôđê, cho các thầy cả và cho muôn vàn người khác. Chia sẻ Tin Mừng là một trách nhiệm. Thánh Phaolô ý thức trách nhiệm đó, và Ngài đã diễn tả ý thức đó bằng một câu ray rứt: “Khốn cho tôi, nếu tôi không rao giảng Tin Mừng”. Trong thời gian qua, trách nhiệm rao giảng Tin Mừng đã được anh chị em lo và có kết quả tốt. Xin anh chị em tiếp tục, với tất cả nhiệt tình và bằng mọi cách thích hợp.

Muốn rao giảng Tin Mừng một cách thích hợp, ta nên học cách Chúa đã làm cho Ba Vua, đó là dùng dấu chỉ. Ngôi sao là dấu chỉ Chúa đã dùng, để hướng dẫn Ba Vua đến Bêlem. Dấu chỉ không nói gì. Nhưng nó gây nên thắc mắc, gây nên suy nghĩ, thúc đẩy tìm kiếm, giục giã lên đường.

Hôm nay, chúng ta cũng cần dùng đến dấu chỉ. Dấu chỉ nào? Chúa nói: “Người ta cứ dấu này mà nhận biết chúng con là môn đệ Cha, là chúng con yêu thương nhau”. Trong bữa Tiệc ly Chúa cũng đã cầu nguyện: “Lạy Cha xin hãy cho mọi người hiệp nhất nên một, như Cha ở trong con, và như con ở trong Cha. Xin Cha cho mọi người nên một trong chúng ta, để cho thế gian tin rằng Cha đã sai con”. Như thế, dấu chỉ Chúa muốn ta dùng, để người khác tin nhận Chúa, là yêu thương, hiệp nhất. Ta hãy yêu thương nhau. Hãy yêu thương đồng bào ta. Hãy yêu Tổ Quốc ta. “Đâu có tình yêu thương, ở đấy có Đức Chúa Trời”. Khi ta tỏ ra tế nhị phục vụ kẻ khác với bác ái chân thành, Chúa sẽ ở trong ta và trong hành động của ta. Ngài sẽ tác động tâm hồn kẻ ta yêu thương, phục vụ, để họ nhìn thấy chân lý và tình thương cứu độ của Thiên Chúa.

Ngoài bác ái đối với tha nhân, ta còn một dấu chỉ khác rất tốt, để hướng con người về tin yêu, đó là thái độ sùng mộ của ta đối với Chúa. Sự ta năng đọc kinh sốt sắng tại gia đình và nhà thờ, sự ta chuyên chăm đi dự thánh lễ, sự ta chịu khó học hỏi giáo lý, sự ta chăm sóc ảnh tượng trên bàn thờ đặt tại gia đình. Tất cả đều là những dấu chỉ có thể gây nhiều suy nghĩ cho các tâm hồn thiện chí.

Anh chị em thân mến,

Tôi biết anh chị em là những người nghèo suốt ngày phấn đấu với ruộng đồng, sông rạch để có cơm ăn áo mặc. Cuộc sống anh chị em thật là đơn giản. Nhưng lòng anh chị em quảng đại. Tôi vốn nghĩ rằng: Nguồn lực thiêng liêng làm tươi mát Giáo Hội, thường phát xuất từ những cộng đoàn bé nhỏ, âm thầm, nghèo túng, hơn là từ những nơi giàu có rầm rộ. Tôi tin Chúa ngự giữa anh chị em. Tôi cầu nguyện, xin Chúa luôn ở với anh chị em. Amen.

Lễ Hiển Linh, tại Cầu Số Tư, ngày 6/01/1980

 

Bùi-Tuần 0045: GIÁO DỤC ĐỨC TIN 18-01-1980

 

Một sự kiện rõ rệt nhận thấy nơi giới tín hữu trưởng thành, là sự chênh lệch giữa các cá nhân về trìn: 18-01-1980 Bùi-Tuần 45


Một sự kiện rõ rệt nhận thấy nơi giới tín hữu trưởng thành, là sự chênh lệch giữa các cá nhân về trình độ tôn giáo. Có những mức độ khác nhau về lòng mộ đạo, về hiểu biết giáo lý, về thói quen lui tới nhà thờ và lãnh nhận bí tích. Sự chênh lệch được hình thành do nhiều hoàn cảnh khác biệt, như nền giáo dục quá khứ, tập quán, số tuổi, và ảnh hưởng xã hội. Với những chênh lệch, đời sống đức tin của họ có những diễn biến khác nhau và có thể đi theo những chiều hướng khác nhau.

Thêm vào đó, là ảnh hưởng của cuộc sống hôm nay. Trong môi trường văn hoá và chính trị tích cực vô thần, người lớn phải có những lựa chọn về tín ngưỡng. Họ sẽ can đảm, hoặc sẽ sợ sệt trong việc xưng đạo, hành đạo, bênh đạo và truyền đạo. Chính sách kinh tế với kế hoạch phân bố lao động, và với cách làm ăn tập thể, mặc dầu không nhắm vào tôn giáo, nhưng cũng ảnh hưởng nhiều đến việc hành đạo. Khó tránh được những hạn chế về thời giờ, về phương tiện đi lễ đọc kinh. Cuộc sống mới dần dần cũng tạo nên lương tâm mới. Người ta dễ dàng phạm tội.

Tuy nhiên, chính vì gặp khó khăn thử thách, nhiều người lớn đã trở nên tốt hơn khi họ nhận ra chỉ có Chúa là Đấng cứu độ, đem lại hy vọng và lẽ sống. Nhiều người có suy nghĩ, khi nhìn thấy Giáo Hội Việt Nam hiện nay đang sống thực sự đời sống của mình với tinh thần khó nghèo, với lòng tin bất khuất, với niềm cậy trông trơ trụi, và với nỗ lực vươn lên không ngừng, thì càng lạc quan vững tin vào Chúa hơn nữa.

Chưa bao giờ đạo Công Giáo Việt Nam, được đại chúng chú ý như ngày nay. Được chú ý hay bị chú ý cũng vẫn tốt hơn là bị quên lãng trong dửng dưng, lạnh nhạt.

Tình hình tổng quát trên đây cho thấy việc giáo dục đức tin cho giới trưởng thành là việc rất khó, nhưng phải cố gắng thực hiện.

Giáo dục cách nào? Đó là vấn đề đặt ra để suy nghĩ. Hoàn cảnh rất phức tạp. Đưa ra một kế hoạch qui mô phức tạp là điều không thực tế. Dưới đây là mấy gợi ý cho hoàn cảnh Việt Nam hôm nay. Áp dụng được nhiều ít là tùy nơi, tùy người.

1.- Tại Việt Nam hôm nay, giáo dục đức tin người lớn, là đưa họ vào một cộng đoàn, để đức tin của họ được nuôi dưỡng nâng đỡ trong cộng đoàn, nhờ cộng đoàn.

Mặc dầu sống đức tin là nổ lực của bản thân mỗi người, để gặp gỡ Chúa, chọn lựa Chúa và sống với Chúa. Nhưng nổ lực cá nhân nếu muốn hữu hiệu, cần được hỗ trợ bởi nhiều người. Bình thường là thế. Cộng đoàn môi trường là gầy dựng, là sức mạnh bảo vệ. Cộng đoàn nói đây, cụ thể là một họ đạo, một xóm đạo, một nhóm bạn hữu. Chúa Kitô đã qui tụ những kẻ tin Ngài, để họ nương tựa vào nhau mà sống. Ecclesia là qui tụ, là hội lại. Tông huấn Evangeli Nuntiandi (1975), đề cao vai trò của những cộng đoàn trong việc loan báo Tin Mừng (số 58). Xã hội Việt Nam càng ngày càng đi sâu vào chế độ tập thể. Đời sống đức tin cũng nên đi sâu vào sức sống cộng đoàn, trong tinh thần hiệp nhất và hiệp thông. Hoàn cảnh càng khó, người Công Giáo càng cần gắn bó với cộng đoàn, nhất là gia đình.

Giáo dục đức tin người lớn là tìm đưa họ vào một điểm tụ. Dù ở nông trường, dù ở cơ quan, dù ở trại lính, dù ở vùng kinh tế mới, đi đâu, họ cũng tìm những người cùng tín ngưỡng, để quen, để biết nhau, để chia sẻ với nhau về cuộc sống, về tư tưởng và những sinh hoạt đạo đức.

2.- Tại Việt Nam hôm nay, giáo dục đức tin người lớn là vun trồng nơi họ một lòng sùng mộ bình dân nào đó.

Như mộ mến lần chuỗi Mân Côi, tôn sùng Đức Mẹ, làm việc Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, mặc áo Đức Mẹ, tôn kính thánh cả Giuse, thương giúp các linh hồn... Tông huấn Evangeli Nuntiandi khuyến khích điều đó như một phương cách giáo dục đức tin (số 48). Cách này rất có hiệu nghiệm tại nhiều địa phận Việt Nam. Trong những hoàn cảnh khó khăn, nhiều người giữ được đức tin chỉ nhờ có thế.

3.- Tại Việt Nam hôm nay, giáo dục đức tin người lớn là phải dùng lễ Chúa Nhật như một phương tiện thuận lợi nhất.

Hiện nay, mọi sinh hoạt tôn giáo, thường thu gọn trong nhà thờ. Tại đây, linh mục gặp được giáo dân. Nhưng phần đông người lớn chỉ đến nhà thờ lễ Chúa Nhật. Vì thế, tất cả chương trình giáo dục tôn giáo cần được tập trung trong lễ đó: Vừa cầu nguyện, học hỏi giáo lý, vừa có phụng vụ Lời Chúa, vừa có bí tích, vừa có chia sẻ bác ái. Để được kết quả, thiết tưởng ngày Chúa Nhật:

- Về kinh đọc trước lễ, nên chọn những kinh có nhiều nội dung tín lý, luân lý và dạy cách sống đạo.

- Về giáo lý, nên chọn vắn gọn, rõ ràng trong sáng, hợp thời, để mọi người có thể đọc chung đối đáp thuộc lòng.

- Về giảng huấn, nên vắn gọn trong sáng, để tất cả mọi hạng người: Ngoan đạo, khô đạo, vô đạo và nghịch đạo, đều có thể tiếp thu, và tiếp thu đúng.

- Về phụng vụ, nên tổ chức lễ thật gọn, đẹp và nghiêm trang sốt sắng.

- Về bác ái, nên đem ý hướng xây dựng tinh thần yêu thương đoàn kết vào những gặp gỡ, trò truyện, và các sinh hoạt huynh đệ trước, sau buổi lễ.

4.- Tại Việt Nam hôm nay, giáo dục đức tin người lớn phải chú trọng đến việc giáo dục gia đình.

Chương trình có thể nhấn mạnh mấy điểm sau đây:

- Cần chuẩn bị kỹ hơn cho các đôi hôn phối để họ sống tốt và hạnh phúc trong đời sống gia đình.

- Hằng ngày, cần quan tâm đúng mức các buổi kinh tối, kinh sáng. Nên đọc chung với nhau.

- Nên tổ chức những ngày lễ của gia đình: Lễ bổn mạng, ngày sinh nhật, ngày giỗ. Nên chuẩn bị bằng việc xưng tội rước lễ.

5.- Sau hết, tại Việt Nam hôm nay, giáo dục đức tin người lớn là phải quan tâm đến việc phát huy đức ái chân thành, quảng đại đối với dân tộc quê hương.

Đảng và chính quyền thường đánh giá đời sống đạo của ta, qua đời sống công dân của ta, tôn trọng lòng mến Chúa của ta qua lòng yêu Tổ Quốc của ta, và áp dụng chính sách tự do tín ngưỡng tùy theo mối liên hệ thực tế giữa đạo và đời. Trong hoàn cảnh như thế, lòng yêu Tổ Quốc chân thành và tích cực xây dựng quê hương là ngôn ngữ dễ hiểu nhất và mạnh mẽ nhất của Phúc Âm. Tích cực trong việc làm và xây dựng những liên hệ tốt, đó là một trách nhiệm mục vụ quan trọng, có ảnh hưởng lớn đến đời sống đức tin của mình và của cộng đoàn.

Trên đây là những gợi ý rút từ kinh nghiệm. Kinh nghiệm nhỏ bé, thì gợi ý cũng hạn hẹp. Hoàn cảnh càng giới hạn, thì việc giáo dục đức tin càng phải là một cố gắng. Còn những thiện chí trung kiên. Nhưng giải đáp sau cùng vẫn trong tay Chúa.

Bài nói chuyện với giới trưởng thành tại giáo xứ Long Xuyên, ngày 18/01/1980

 

Bùi-Tuần 0046: VÀI NÉT VỀ TINH THẦN GIA ĐÌNH 15-02-1980

 

Ngày Tết là ngày lễ gia đình. Tôi nghĩ tới các gia đình anh chị em. Có những gia đình đón Tết: 15-02-1980 Bùi-Tuần 46


Ngày Tết là ngày lễ gia đình. Tôi nghĩ tới các gia đình anh chị em. Có những gia đình đón Tết như một nguồn vui. Có những gia đình chờ Tết như một bổn phận. Dù trong hoàn cảnh nào, khi bước sang năm mới, ai cũng mang hy vọng. Có những hy vọng để mà hy vọng. Có những hy vọng để mà phấn đấu. Những hy vọng để mà phấn đấu chính là những hy vọng tôi lựa chọn cho năm mới của tôi. Và khi lựa chọn cho tôi, tôi cũng đã phần nào lựa chọn cho anh chị em, vì anh chị em và tôi có liên hệ với nhau trong tình thương và trong trách nhiệm. Hy vọng của tôi được trở thành hy vọng của anh chị em. Nó là hy vọng của chúng ta. Hy vọng mà tôi lựa chọn trong năm mới này là mong muốn cho “Tinh thần gia đình” được phát triển tốt đẹp nơi mọi người chúng ta, trong mọi cộng đoàn và trong mọi hình thức xã hội đạo đời.

Tinh thần gia đình là gì?

1- Trước hết, tinh thần gia đình là lòng thiết tha lo lắng cho sự sống mỗi người và mọi người thuộc gia đình mình. Tôi biết trong năm qua, anh chị em đã phải vất vả lắm để có của cải vật chất nuôi sống gia đình. Dầu vậy, nhiều gia đình vẫn túng thiếu. Năm mới này là năm đòi nhiều cố gắng để có thể giữ được mức sống cần thiết cho nhân phẩm. Trong hoàn cảnh hiện nay, sự cần kiệm và chịu khó làm việc là cách cộng tác khẩn thiết Chúa đòi, để đạt được lời cầu: “Xin Cha cho chúng con hôm nay lương thực hằng ngày”.

Mặc dầu phải làm việc, nhưng ta đừng quên điều này: Làm việc chỉ là phương tiện, con người mới là mục đích. Nghĩa là phải làm việc với lương tâm đạo đức. Bởi vì con người không phải chỉ sống cho cuộc đời hôm nay, mà còn phải tìm về cuộc sống đời sau vô cùng.

2- Cũng vì thế mà tinh thần gia đình đòi ta, ngoài việc lo cho sức khỏe thể xác, cũng phải lo cho sức khỏe tâm hồn những người trong gia đình mình. Lo sao cho các tâm hồn được lạc quan, được an ổn, được trong sạch, cao thượng, công bình bác ái. Không cay đắng với hiện tại, không u hoài với quá khứ, không ảo tưởng về tương lai, nhưng biết lọc ra từ thực tại hằng ngày những niềm vui nhỏ, những ý nghĩa đẹp, để gặp được Chúa trong mọi hoàn cảnh, và tạo nên được những bước đi bình thản, trẻ trung và hiên ngang trên con đường lịch sử chung của đất nước và của Giáo Hội Việt Nam chúng ta.

Sức khỏe tâm hồn của ta và của gia đình phải được luôn luôn xây dựng, bảo vệ và bồi dưỡng bằng niềm tin gắn bó vào tình yêu Thiên Chúa. Tin vững vàng, tin mạnh mẽ, tin vô biên rằng: Chúa thương ta, vì ta là con người, vì Ngài là Cha của ta.

3- “Thiên Chúa là Cha chúng con”. Chính vì thế, mà chúng ta cần được đối xử với nhau trong tinh thần gia đình thực sự . Đối xử với nhau trong tinh thần gia đình có nghĩa là đối xử với nhau một cách tình nghĩa chân thành, cảm thông nhau, chứ không kết án nhau, bổ túc cho nhau, chứ không loại trừ nhau, hiệp nhất với nhau, chứ không chia rẽ nhau. Đối xử nhau trong tinh thần gia đình có nghĩa là cho đi với tình thương thành thực . Bởi vì cho mà không thương là một xúc phạm, cũng như thương mà không cho là một giả dối. Trong một thế giới có quá nhiều giả tạo, lường gạt, sự chân thành thương yêu là một báu vật, giúp cho con người trở nên văn minh và tiến bộ.

Tôi vừa nêu lên vài nét về tinh thần gia đình như một hy vọng chọn lựa cho năm mới. Tôi mong ước tinh thần đó được phát triển trong mọi gia đình, trong họ đạo, trong địa phận, trong khắp quê hương Việt Nam cao quí chúng ta. Hy vọng đó có thể thành được, miễn là mỗi người khởi sự xây dựng tinh thần đó ngay tại chính trái tim mình. Xây dựng chính trái tim mình, bằng những kiểm điểm và quyết tâm hằng ngày, bằng cố gắng hoàn thiện không ngừng, nhất là bằng cầu nguyện bền vững: “Không có Cha, chúng con không làm gì được”. Tin nhận Lời Chúa phán dạy, chúng ta hãy gởi gấm hy vọng của ta cho Chúa. Và giờ đây, cùng với thánh lễ đầu năm chúng ta dâng lên Chúa với hy vọng của ta, bản thân ta và gia đình ta.

Xin Chúa thương đến con, để con bước sang năm mới với tất cả can đảm hy vọng và phó thác. Con tin trên đường con đi, Chúa vẫn là kẻ đồng hành cùng đi với con, cùng đi bên con, cùng chia sẻ số phận của con. Chúa là của con. Con là của Chúa. Hôm nay, trong suốt năm nay và mãi mãi đời đời.Amen.

Thánh lễ Xuân Canh Thân, tại nhà thờ Chánh Tòa Long Xuyên, ngày 15/02/1980

 

Bùi-Tuần 0047: GIA ĐÌNH LÀ MỘT CON ĐƯỜNG 24-02-1980

 

Anh chị em tới đây là có mục đích. Mục đích rõ rệt. Nếu ai hỏi đến đây làm gì? Anh chị em : 24-02-1980 Bùi-Tuần 47


Anh chị em tới đây là có mục đích. Mục đích rõ rệt. Nếu ai hỏi đến đây làm gì? Anh chị em không ngần ngại thưa đến đây để Tĩnh Tâm.

Tĩnh tâm không phải là một sự tĩnh mịch cho tâm hồn, để rồi an nghỉ trong đó như một quê hương thanh thản. Đừng nghĩ như vậy! Tĩnh tâm, đúng là một thời gian tĩnh, nhưng không tĩnh như một mục đích, mà tĩnh như một phương tiện, để có suy nghĩ những vấn đề quan trọng, liên quan đến vận mệnh đời đời.

Vấn đề được chọn để suy nghĩ lần tĩnh tâm này là gia đình. Gia đình là đề tài quá quen. Nhưng quen mà không thừa. Vì gia đình vốn là mối lo âu thường xuyên và nặng nề của xã hội, của Giáo Hội và của chúng ta.

Có người gọi gia đình là tổ ấm. Trên nguyên tắc gọi thế là rất đúng. Nhưng trên thực tế không luôn đúng. Có người gọi gia đình là trường học. Trên nguyên tắc gọi thế cũng rất đúng. Nhưng trên thực tế không luôn đúng. Có người gọi gia đình là kho tàng tình yêu. Trên nguyên tắc gọi thế rất đúng. Nhưng trên thực tế không luôn đúng.

Còn tôi, tôi gọi gia đình là một con đường. Gọi thế đúng hay không đúng. Đừng vội kết luận. Nhưng nếu đúng, thì cũng không tuyệt đối. Bởi vì đó chỉ là một hình ảnh, tôi chú ý gợi lên, dựa theo kinh nghiệm thông thường, theo phân tích có tính cách xã hội học hơn là thần học.

Bài tôi nói đây không phải là một bài giảng nhưng mà là một bài nói chuyện thân mật. Sẽ xít xoát nửa giờ, đừng mong sớm hơn. Đừng sợ dài hơn. Bài tôi nói gồm hai phần chính:

1. Gia đình là con đường thế nào?

2. Cái nhìn như thế về gia đình hướng tới những lựa chọn nào?

I.- GIA ĐÌNH LÀ CON ĐƯỜNG THẾ NÀO?

1.- Trước hết, gia đình là con đường Chúa đến gặp ta, và ta đến gặp Chúa.

Thực vậy, nếu tôi nhìn lại đời tôi, tôi thấy rõ điều tôi nói là đúng. Hồi tôi còn là đứa bé sơ sinh, tôi đâu biết gì. Gia đình tôi đã ẵm tôi đến nhà thờ, để tôi lãnh nhận bí tích Rửa Tội. Phép Rửa Tội làm tôi thuộc về Chúa. Chúa đến với tôi. Chúa ngự trong tôi. Tôi sống trong sự sống của Ngài. Ai là trung gian thực hiện sự gặp gỡ đó. Thưa là gia đình. Gia đình ví như con đường đưa tôi đến với Chúa, và Chúa đến với tôi.

Rồi khi miệng tôi vừa bập bẹ biết nói, gia đình dạy cho tôi đọc kinh Kính Mừng, Lạy Cha. Khi mắt tôi vừa biết phân biệt sự vật, tôi đã nhìn thấy các tượng ảnh được tôn kính ở gian giữa nhà tôi. Khi tay tôi vừa biết làm được những động tác cứng cát, gia đình tôi dạy tôi làm dấu Thánh Giá. Khi tai tôi vừa biết ý nghĩa của lời nói, tối nào tôi cũng nghe gia đình tôi đọc kinh chung, gồm 50 kinh Môi Khôi, kinh Cầu, kinh Ông Thánh Giuse, kinh Quan Thầy, kinh Vực Sâu và kinh Cám Ơn. Khi tôi đã biết dậy sớm, tôi đã thấy sáng nào cũng thế, từ lúc trời còn tối, hoặc cha, hoặc mẹ tôi đi chân không, lặn lội từ nhà tới nhà thờ chánh để xem lễ. Và vừa khi chân tôi biết bước đi vững chãi, mỗi khi có người ăn xin ngoài ngõ, gia đình tôi thường đưa tôi bát cơm lon gạo, để tôi đưa ra cho kẻ ăn mày.

Tất cả những việc đó, nhỏ lắm, thường lắm, nhưng đã tạo nên trong tôi một cái nhìn về Chúa và một nếp sống. Tôi nhìn Chúa là Đấng cao thiêng, quyền năng yêu thương. Và nếp sống của tôi là nếp sống của tin yêu. Tôi được như thế là nhờ ai? Thưa nhờ gia đình. Gia đình là con đường đưa tôi tới Chúa.

Rồi khi lớn lên, tôi thấy có nhiều Cha, Thầy năng lui tới thăm gia đình tôi. Các ngài quí mến gia đình tôi. Rồi các ngài biết tôi và gọi tôi đi tu. Bước đầu đơn giản có thế thôi! Đơn giản, có nghĩa là ơn Chúa gọi tôi được thực hiện qua mối liên hệ quen thân của gia đình tôi với các Cha, các Thầy. Gia đình tôi là con đường Chúa đã đến gọi tôi.

Tôi xin lỗi, vì đã nói về mình. Nhưng nói, để gợi ý cho mỗi người cũng nhìn lại chính mình. Nếu nhìn lại đời mình, hầu hết anh chị em cũng phải nhận rằng: Mình được Rửa Tội, Thêm Sức, Rước Lễ Vỡ Lòng, được biết giữ đạo, một phần khá lớn là nhờ gia đình, thường là nhờ gia đình mình, một ít trường hợp là nhờ gia đình khác. Tựu chung cũng là nhờ gia đình, do bàn tay gia đình, do tiếng gọi gia đình.

Rồi nói chung, mỗi khi con người lãnh nhận một chân lý, một tình thương, một nhân đức, một ân huệ nào bất cứ, là chính lúc họ lãnh nhận ơn Chúa viếng thăm. Mà biết bao nhiêu chân lý, tình thương, ân huệ con người lãnh nhận từ gia đình. Do đó, gia đình đúng là con đường chuyển trao ơn Chúa.

Hiện nay, hằng ngày, tôi sống chung với một số người dưới mái một nhà, đó là gia đình với những tên gọi khác nhau. Khi tôi làm việc gì có tính cách bác ái yêu thương, phục vụ, thì là mỗi bước tôi đến với Chúa và Chúa đến với tôi. Một nụ cười, một lời khích lệ, một sự giúp đỡ nho nhỏ, một lời hỏi han, khi tôi làm vì bác ái, thì những việc đó, vẫn có sức làm cho sự sống của Chúa thêm dồi dào hơn trong tôi. Tất cả đều là sinh hoạt bình thường của gia đình. Ai ngờ sinh hoạt bình thường đó lại có thể biểu lộ gia đình thành một con đường dẫn ta lại gần Chúa.

2.- Ngoài ra, gia đình còn là một con đường để người khác đến với ta, và ta gặp gỡ người khác.

Có người sẽ thắc mắc câu tôi nói đó, bởi vì biết bao nhiêu người đến với ta mà đâu có qua gia đình ta. Ở đây, tôi muốn nói tới những chuyện tìm đến có tính cách nghiêm chỉnh, những chuyện đứng đắn, do những người biết suy nghĩ đắn đo.

Tôi thường nghe có những cha mẹ nói với nhau: Con chúng ta có thể đi lại với nhau được đó, vì gia đình nó đàng hoàng, đạo đức. Ta thường nghe những anh chị khuyên em: Em đừng đi lại với đứa đó, vì gia đình nó không mấy đàng hoàng, không được lương thiện. Khi nói những câu như thế, người cha mẹ, người anh chị đã đánh giá một người qua gia đình họ. Căn cứ vào gia đình mà phán đoán.

Suy nghĩ cách đó là một suy nghĩ cũng rất tự nhiên thôi. Nếu tôi thấy người cha ăn ở lem nhem, rồi lại thấy đứa con lớn ăn ở lèm nhèm, rồi lại thấy đứa em nó nhiều ít lẹm nhẹm, thì tự nhiên tôi dè dặt với nhũng đứa con khác của gia đình đó. Dè dặt là dĩ nhiên.

Người nào cũng mang rất nhiều dấu vết của gia đình mình. Dấu vết thể xác và dấu vết tâm lý. Người nào cũng chịu ảnh hưởng rất nhiều của nếp sống gia đình mình. Vì thế, người ta nhìn ta trong cái nhìn về gia đình ta. Tình cảm và lựa chọn người ta dành cho ta, thường được quyết định một phần lớn, do ảnh hưởng của cái nhìn của họ đối với gia đình ta.

Con người ví như một cây, cây có nhiều rễ tốt là cây tốt. Con người cũng có rễ, rễ theo nghĩa bóng, rễ là ông bà, cha mẹ, anh chị. Một người có nhiều rễ tốt, thì thường được coi là cây tốt. Người ta đến với mình, vì gia đình mình. Do đó, gia đình là một con đường. Đường đẹp, đường tốt, tự nó đã là một giới thiệu sáng giá. Cũng thế, gia đình tốt là con đường tốt, có sức lôi cuốn những người muốn tìm đến những giá trị chắc chắn nhiều bảo đảm.

Một khi nhìn gia đình như một con đường người khác đến với ta, cũng như nhìn gia đình như một con đường đưa đến gặp gỡ Chúa, ta tự nhiên thấy ta phải có lựa chọn. Đó là phần hai của bài nói chuyện.

II.- TA PHẢI CÓ NHỮNG LỰA CHỌN NÀO?

1.- Lựa chọn thứ nhất ta nên có là buộc mình làm mọi cách để gia đình mình trở thành con đường tốt.

Làm mọi cách là những cách nào? Ở đây tôi nói một cách mà thôi. Đó là cố gắng làm cho chính bản thân ta nên tốt hơn. Mà thế nào là nên tốt hơn. Thưa là hãy quảng đại hơn với Chúa và hãy quảng đại hơn với người khác.

Quảng đại hơn với Chúa là dành cho Ngài nhiều tình cảm hơn, nhiều tôn trọng hơn, nhiều thời giờ hơn.

Hôm nọ, tôi đi đường, mặc áo dòng, thấy một người giáo dân. Từ xa, không rõ họ thấy tôi không? Nhưng tới gần họ quay đi. Nếu thực sự đó là một hành động chủ ý, thì có khi vì họ sợ liên lụy. Tôi không buồn chuyện đó. Nhưng lập tức, tôi nghĩ trong lòng: Nếu đối với cha mẹ tôi và đối với Chúa, tôi không dám nhìn nhận, sợ liên lụy, thì chắc là cha mẹ tôi buồn lắm. Chúa tôi cũng buồn lắm và chính tôi cũng sẽ rất buồn vì thấy mình đánh mất nét làm cho mình đáng quí. Đó là sự quảng đại trong niềm tin trung thành. Quảng đại thời nào cũng cần, nhưng khi hoàn cảnh khó khăn, quảng đại càng cần hơn, càng quí hơn.

Con người tốt là con người quảng đại, không những chỉ làm bổn phận tối thiểu mà còn tự ý làm thêm những gì tốt không bó buộc phải làm. Thí dụ, ngoài lễ Chúa Nhật là bổn phận bó buộc, họ sẽ tự ý đến dự một vài thánh lễ ngày thường, đó là quảng đại. Ai chỉ giữ sự tối thiểu, thì có lúc sự tối thiểu cũng sẽ bị cắt giảm đi, để chỉ còn là hình thức.

Rồi quảng đại hơn với Chúa còn là biết cộng tác với Ngài, chia sẻ niềm tin và hy vọng cho các người chung quanh, đặc biệt là những người trong gia đình mình. Bằng những lời nói, thái độ và hành động yêu thương bác ái, cầu nguyện cá nhân và cầu nguyện tập thể.

Chúa Giêsu đang có mặt trong Giáo Hội hôm nay, trong địa phận Long Xuyên, trong họ đạo chúng ta. Hằng ngày, Ngài vẫn vác thánh giá đi lại qua các con đường đủ loại và qua các gia đình. Xin hãy quảng đại nâng đỡ Ngài trong các người nghèo khổ, trong các vị đại diện Chúa, trong các sinh hoạt họ đạo.

Rồi quảng đại hơn với người khác là hãy yêu thương họ như yêu thương chính mình.

Mình không nghĩ xấu cho mình, thì mình cũng đừng nghĩ xấu cho ai. Mình không muốn mình phải sự dữ, thì mình đừng muốn sự dữ cho ai. Mình không nói xấu mình, thì mình đừng nói xấu kẻ khác. Mình muốn được người khác kính trọng mình, phục vụ mình, thì mình cũng hãy kính trọng và phục vụ kẻ khác. Mình muốn người khác coi mình là người có tư cách, thì mình hãy cố gắng ăn ở lịch sự như một người biết tự trọng.

Một hôm, tôi đến một cơ sở ở thành phố Hồ Chí Minh, tôi mặc y phục đi đường, người gác cổng có vẻ cứng cỏi, cộc cằn với tôi. Mấy phút sau, ông chủ nhiệm tới, cả cơ sở nhận ra tôi, người gác liền chạy lại xin lỗi tôi vì thái độ lúc nãy, lý do vì không biết tôi là ai. Tôi không buồn chuyện đó. Nhưng tôi tự nghĩ, chính tôi có lẽ sẽ phải xin lỗi nhiều với Chúa, vì nhiều khi không nhận ra Chúa nơi người khác. Do đó, đã không có thái độ quảng đại xứng đáng. Chúng ta dễ quên lời Chúa: Khi con làm cho kẻ khác, là con làm cho Cha.

2.- Lựa chọn thứ hai là tránh đừng đi vào những con đường gia đình không bảo đảm. Trái lại, lựa chọn những gia đình tốt nhiều bảo đảm.

Mới rồi, tôi đi Chương Thiện. Từ Cần Thơ đến Hòa Long, đường quá tệ: Xe đi chậm, rất ý tứ. Thế mà cũng bị bể bánh hai lần. Sự kiện đó làm tôi liên tưởng đến một số trường hợp lựa chọn về hôn nhân và nghề nghiệp.

Bao người đã khuyên cáo các cô các cậu hãy đắn đo suy nghĩ cho thật kỹ, vì người đó nghề thuộc môi trường không tốt. Nhưng các cô cậu đó không tin, cứ bước vô. Sau cùng, cũng như chiếc xe đi hoài trên đường xấu, cuộc đời họ dễ bị bể. Bể mộng, bể niềm tin, bể lý tưởng, bể lời cam kết.

Gia đình không tốt, là con đường không tốt. Chọn đường không tốt là một mạo hiểm dại dột. Trong việc chọn lựa, đừng quá chủ quan, nhìn qua lăng kính tình cảm và thiện kiến ngây thơ. Cũng đừng quá tin vào khả năng có thể thay đổi tình trạng xấu nên tình trạng tốt. Khoa tâm lý dạy rằng: Con người có hai thứ rất khó đổi, một là tính tình, hai là thói quen. Cả hai thứ đó, con người nhận được do gia đình.

Lát nữa, anh chị em ra về. Từ nhà thờ tới nhà, anh chị em sẽ qua mấy quảng đường. Tới nhà là dừng chân. Dừng chân, chứ không dừng cuộc sống. Cuộc sống sẽ tiếp tục đi hoài dưới mái gia đình. Gia đình lúc đó chính là con đường. Con đường cho cuộc sống bước đi. Con đường đó mang tên anh chị em. Nếu đường tốt, ta sẽ dễ gặp Chúa và những người thiện chí tốt lành. Thánh Gioan Baotixita đã giảng: “Hãy sửa đường cho Chúa đến”. Tôi cũng nhắc lại lời thánh bổn mạng của tôi: Hãy sửa đường cho Chúa đến. Đường là gia đình. Hãy sửa lại cho Chúa Phục Sinh đến.

Với lời đó của thánh Gioan Baotixita, tôi xin kết thúc lời nói chuyện của tôi.

Tĩnh tâm Mùa Chay cho giới gia trưởng, tại Long Xuyên, ngày 24/02/1980

 

Bùi-Tuần 0048: MỘT MẪU GƯƠNG TẬN TỤY PHỤC VỤ 10-03-1980

 

Cha cố Phêrô Mai Trí Thuật giờ đây không còn đứng đồng tế với chúng tôi. Ngài nằm đâ: 10-03-1980 Bùi-Tuần 48


Cha cố Phêrô Mai Trí Thuật giờ đây không còn đứng đồng tế với chúng tôi. Ngài nằm đây, thinh lặng, như một lễ vật đã trọn vẹn dâng hiến. Ngài nằm đây, an nghĩ như một thánh lễ đã kết thúc bình an.

Chính tại nhà thờ này, 9 ngày trước đây Cha cố đã bỏ dở thánh lễ, vội vã đáp lại Lời Chúa gọi, bước từng bước đớn đau mệt mỏi, đi dần vào sự chết. Ngài đã bỏ dở thánh lễ trên bàn thờ, để tiếp tục thánh lễ trong chính bản thân Ngài. Thánh lễ trong chính bản thân Ngài không phải chỉ là những khổ cực trong 5 ngày trọng bệnh, mà còn là tất cả tinh thần tận hiến trong suốt cuộc đời dài, với những lo âu vất vả của bổn phận, với những phấn đấu nội tâm âm thầm, với những cố gắng vượt qua khó khăn trở ngại, với những bước đi dứt khoát tin tưởng vào Chúa, với những nổ lực không ngừng phục vụ Giáo Hội và quê hương. Tất cả đều là dâng hiến, đều là cảm tạ, đều là cầu nguyện, để trở thành thánh lễ sống động trong chính bản thân mình.

Thánh lễ bỏ dở hôm ấy là thánh lễ từ biệt. Ngài được gọi từ biệt ngay chính lúc Ngài đang giảng. Chi tiết đột ngột đó in sâu vào lòng kẻ sống hình ảnh một linh mục luôn tận tụy với việc giảng lời Chúa và dạy giáo lý. Ai quen biết Cha cố không thể không nhìn nhận mối quan tâm thường xuyên của Ngài vì bổn phận đó. Bài Phúc Âm thánh lễ bỏ dở hôm đó có mẫu chuyện về thánh Phêrô trên núi Tabor. Phêrô đã nói những lời đơn sơ, phát biểu những ý kiến đơn sơ, cũng giống tính tình vốn đơn sơ của mình. Tôi liên tưởng tới Cha cố Phêrô một người cũng rất đơn sơ trong lời giảng, cũng như rất đơn sơ trong nếp sống và tính tình.

Trong thánh lễ từ biệt hôm đó, Cha cố đã quị xuống trước cộng đoàn đông đảo giáo dân, như một mục tử can đảm và tận tụy, sống cho đoàn chiên và chết cho đoàn chiên, một đoàn chiên Ngài chăm sóc mấy chục năm, với tất cả nhiệt tâm phục vụ, với tất cả với trái tim hiền lành khiêm tốn, với tất cả tinh thần xây dựng bình an và hiệp nhất. Ngài đã nêu cao tinh thần bình an và hiệp nhất, không phải chỉ bằng sự Ngài yêu thương hòa hợp giáo dân, mà cũng bằng chính sự Ngài luôn kính yêu vâng phục và nâng đỡ các Giám Mục, bề trên của Ngài.

Anh chị em thân mến,

Công đồng Vaticăng II trong sắc lệnh về “Đào tạo linh mục” đã mô tả linh mục lý tưởng theo 3 khía cạnh:

1. Linh mục là Đấng Tế lễ.
2. Linh mục là thầy giảng dạy Lời Chúa.
3. Linh mục là kẻ chăn chiên.

Cả 3 khía cạnh đó đã thấy rất rõ nơi Cha cố trong những giờ phút quyết định vận mệnh của Ngài. Ngài đã được Chúa gọi về trời đang khi Ngài tế lễ, đang khi Ngài giảng dạy, và đang khi đứng giữa đoàn chiên.

Đó là hình ảnh nhiều gợi ý. Nhưng không vì thế mà có ý thánh hóa Cha cố thân yêu. Thực vậy, Cha cố đã là con người, mang thân phận yếu đuối, với những thiếu sót, với những bất toàn. Theo một cái nhìn nào đó, đôi khi những yếu đuối của Ngài lại làm cho con người của Ngài nên dễ thương hơn, nên gần gũi hơn. Tuy nhiên, thiếu sót nào cũng gây nên trong lương tâm linh mục nhiều ân hận hối tiếc. Vì thế, trong tờ di chúc đề ngày 4/02/1971 để ở Tòa Giám Mục, Cha cố đã viết: “Tôi xin lỗi những ai đã mích lòng hoặc xích mích với tôi”.

Hôm nay Ngài đã chết. Ngài nằm đây, tôi thay mặt Ngài nói lên lời Ngài xin lỗi đó.

Ngài cũng đã hằng ngày xin lỗi Chúa với tất cả ý thức về những thiếu sót của mình. Nhưng biết đâu, những lỗi lầm của Ngài cũng liên hệ tới ta, bởi vì do ta làm dịp cho Ngài, do ta đã xử không tốt với Ngài, hoặc do vì Ngài đã quá thương ta, quá nể ta.

Vì thế, trong tinh thần liên đới và bác ái, tôi xin anh chị em cầu nguyện nhiều cho Ngài.

Tôi cũng xin Ngài cầu nguyện cho chúng ta.

Thánh lễ giờ đây cầu nguyện cho Ngài. Từ biệt mà không phải từ biệt. Bởi vì ta tin tưởng Ngài và ta vẫn thông hiệp với nhau trong tình mến thương và trong sức sống thiêng liêng của một Thiên Chúa Ba Ngôi là Cha và Con và Thánh Thần. Amen.

Lễ an táng cha Phêrô Mai Trí Thuật, tại Vạn Đồn ngày 10/3/1980.

 

Bùi-Tuần 0049: CẦN LO NGHĨ XA HƠN 14-03-1980

 

Chúng ta thấy con em chúng ta hôm nay mặt mày vui vẻ, áo quần sạch sẽ, thái độ thảnh thơi: 14-03-1980 Bùi-Tuần 49


Chúng ta thấy con em chúng ta hôm nay mặt mày vui vẻ, áo quần sạch sẽ, thái độ thảnh thơi tươi đẹp. Chúng ta mừng cho con em chúng ta. Nhưng chúng ta thừa biết niềm vui của con em ta và của ta lúc này chỉ là giai đoạn. Nó không kéo dài mãi mãi. Bởi vì rồi đây, ta vẫn phải lo lắng nhiều lắm về đạo đức của con em chúng ta. Chúng ta mặc dầu tin tưởng vào hiệu quả muôn vàn của bí tích Thêm Sức, nhưng không vì thế mà chúng ta cho rằng: Phép Thêm Sức hôm nay sẽ làm cho con em chúng ta, từ nay không thể phạm tội, từ nay chắc chắn sẽ sống trong sạch, đạo đức, thánh thiện. Vấn đề đạo đức đâu có được giải quyết đơn giản bằng một bí tích Thêm Sức, hoặc bằng một vài ba việc lành. Để giúp cho con người sống đạo đức, Chúa đòi chúng ta phải nghĩ xa hơn. Nhưng thế nào là nghĩ xa hơn?

1- Nghĩ xa hơn, trước hết là nghĩ tới đời sống vật chất, với những điều kiện tối thiểu, để con người có thể sống đạo, mà không đến nổi quá khó khăn.

Tôi biết có những người quá nghèo túng, đêm ngày vất vả làm ăn, không còn thời giờ học giáo lý, đọc kinh xem lễ. Tôi có biết có những người ở xa nhà thờ, không có tiền đi xe, không có sức đi bộ, nên đành phải xa lìa các bí tích. Tôi biết có những người nghèo quá, không có những áo quần lành để đi lễ ban ngày. Tôi biết có những người quá thiếu thốn, nên đâm ra trộm cắp, tham lam, gian dối. Tôi cũng biết có những gia đình đâm ra lục đục, gây gỗ, bất hòa, cũng vì lâm cảnh nghèo túng, chật vật. Lý do không luôn đơn giản, nhưng phải nhận rằng: Đời sống vật chất thiếu thốn lâu dài, thường là một môi trường gây ảnh hưởng không tốt cho đời sống đạo đức.

2- Ngoài đời sống vật chất vừa nói, muốn giúp sống đạo đức, ta còn nên nghĩ xa hơn. Đó là nghĩ tới môi trường xã hội. Môi trường xã hội nói đây là gia đình, là bạn bè, là tất cả nếp sống và tư tưởng chung quanh.

Chúng ta biết có một số đông thanh niên giờ đây, sống không bám víu vào một mục tiêu cao thượng nào, không theo đuổi và phấn đấu cho một lý tưởng tốt đẹp nào. Họ sống qua ngày, tới đâu hay tới đó, sống thả nổi, buông xuôi, hời hợt. Thái độ sống đó, phải nói là một phần khá lớn do ảnh hưởng của môi trường ảm đạm, của cuộc sống chung quanh. Do tháng ngày nghe mãi những lời nói chán nản, cay đắng, buồn phiền. Do hằng ngày tiếp xúc với những bạn bè nông nổi, bi quan lừa lọc. Do hằng ngày phải sống qua những quảng đời thiếu công bằng, thiếu yêu thương, thiếu chân thành, thiếu hy vọng và thiếu gương can đảm, lạc quan và đời sống Tin Mừng. Môi trường như thế không thể không ảnh hưởng xấu đến đời sống đạo đức của con người.

Vì thế, hằng ngày Giáo Hội cầu xin: “Xin sai Thánh Thần Chúa đến, và xin canh tân bộ mặt trái đất”. Canh tân bộ mặt trái đất có thể hiểu là: Đổi mới môi trường sống của con người trên thế giới.

3- Ngoài môi trường này, để giúp con em ta sống đạo đức, ta cũng còn nên nghĩ xa hơn nữa. Đó là nghĩ việc xây dựng môi trường tôn giáo của mình, sao cho thích hợp với thực tế hôm nay.

Thích hợp không phải là chuyện đọc kinh vắn, đọc kinh dài, làm lễ ngoài nhà thờ hay trong nhà thờ vv... Mà thích hợp là chuyện cần phải mở một con đường mới, mới mà đúng, vừa phù hợp với Tin Mừng, vừa hợp với hoàn cảnh mới của đất nước và của Giáo Hội. Làm sao cho con em ta nhìn nhận ra được sự có mặt của Chúa trong lịch sử bây giờ. Làm sao để con em ta an tâm bước đi với Chúa theo con đường cứu độ trong chính cuộc sống hôm nay nhiều gian khổ. Làm sao để con em ta hăng say làm tông đồ, chia sẻ Tin Mừng cho đồng bào mình một cách tế nhị, dù gặp khó khăn. Làm sao để con người hôm nay, đã mang sẵn nhiều gánh nặng trên vai, sẽ tìm thấy ở tôn giáo ta không phải những gánh nặng khác, nhưng là vô số tự do, yêu thương và an ủi.

Công đồng Vatican II kêu gọi chúng ta phải quan tâm đến việc thích nghi này một cách nghiêm túc, để môi trường tôn giáo được cải thiện sẽ là điều kiện tốt giúp cho việc xây dựng, bảo vệ và phát triển đời sống đạo đức.

Để giúp cho con em chúng ta sống đạo đức, tôi vừa nói 3 môi trường: Môi trường vật chất, môi trường xã hội, môi trường tôn giáo. Cải thiện 3 môi trường đó là việc quá lớn, ta khó làm được. Nhưng ta phải cố làm. Mỗi người hãy làm tốt bất cứ sự gì có thể trong phạm vi của mình. Được bao nhiêu hay bấy nhiêu. Cải thiện 3 môi trường đó cũng là công việc Chúa Thánh Thần mong muốn ta làm. Phép Thêm Sức sẽ chấm dứt với lễ nghi này, nhưng Chúa Thánh Thần là một công trình kéo dài, đòi ta phải góp phần cộng tác. Tôi làm bí tích Thêm Sức, nhưng anh chị em là những người cộng tác với ơn Thêm Sức của Chúa Thánh Thần. Cộng tác không phải chỉ bằng lời cầu nguyện, mà còn là bằng sự cố gắng, tạo nên những môi trường tốt, thuận lợi cho đời sống đạo đức.

Còn các con thân mến, các con biết: Bao người lo lắng cho các con được nên đạo đức. Chúa Thánh Thần cũng lo cho các con. Ngài thương các con nhiều lắm. Các con hãy xin Ngài tiếp tục thương các con mãi mãi. Thương thật nhiều. Nếu các con xin Ngài, Ngài sẽ nghe và sẽ cho. Hãy nói bây giờ và lát nữa, và sau này.

Lạy Chúa Thánh Thần,
Xin thương con mãi mãi,
Thương con thật nhiều. Amen.

Lễ Thêm Sức tại Hòa Bình Thạnh, ngày 14/3/1980

 

Bùi-Tuần 0050: TRÁCH NHIỆM LINH MỤC 17-03-1980

 

Trong lễ hôm nay, số linh mục đồng tế đông khác thường. Nhưng đây chỉ là con số tượng trưng: 17-03-1980 Bùi-Tuần 50


Trong lễ hôm nay, số linh mục đồng tế đông khác thường. Nhưng đây chỉ là con số tượng trưng khiêm tốn. Chứ đúng ra, số linh mục đồng tế hôm nay phải đông gấp ba bốn lần, nghĩa là phải có đủ tất cả các linh mục trong địa phận. Bởi vì theo truyền thống ngàn đời của Giáo Hội, lễ Truyền Dầu muốn nói lên lễ hiệp thông khắng khít qua toàn thể hàng linh mục với nhau, và với Đức Giám Mục địa phận của mình. Nói lên mối hiệp thông đó bằng sự: Tất cả các linh mục địa phận cùng với Đức Giám Mục làm chung một thánh lễ kỷ niệm việc Chúa lập bí tích Truyền Chức, bằng sự cùng nhau làm phép các thứ dầu sẽ dùng trong một số nghi thức tôn giáo, bằng sự cùng nhau nhắc nhớ ơn Chúa gọi mình và những cam kết của mình ngày thụ phong linh mục.

Giờ đây, trong giây phút kỷ niệm ngày trọng đại các linh mục được gặp nhau, gặp giáo dân, gặp Chúa. Anh em linh mục chúng tôi thực sự lo âu về trách nhiệm linh mục của mình trong hoàn cảnh hôm nay.

1- Trách nhiệm thứ nhất: Là trách nhiệm phục vụ các nhu cầu tôn giáo của đồng bào tin Chúa và cần tìm về với Chúa.

Nhu cầu tôn giáo là nhu cầu thiêng liêng thuộc tinh thần, thuộc tâm linh, như chân lý, như tình thương, như lương tâm, không thể giảm lược vào vài ba lễ nghi bề ngoài. Nhu cầu tôn giáo là nhu cầu thường xuyên, như một nếp sống, như một lương thực hằng ngày, chứ không phải chỉ là việc của ngày Chúa Nhật và đôi ba ngày khác trong năm. Nhu cầu tôn giáo là những nhu cầu chỉ có thể được giải quyết thỏa đáng do những người chuyên môn, có quyền chức do Thiên Chúa và Giáo Hội trao ban. Những nhu cầu tôn giáo như thế hiện nay không bớt đi, mà càng ngày càng tăng thêm. Vì số linh mục thì ít, số đồng bào thì đông, tâm hồn con người càng ngày càng đói khát chân lý thực, tình thương thực và hạnh phúc thực, xứng với phẩm giá con người.

2- Ngoài trách nhiệm đáp ứng nhu cầu tôn giáo, chúng tôi cũng rất lo cho trách nhiệm thứ hai của mình, là trách nhiệm hiện diện giữa thế giới hôm nay như một dấu chỉ của Tin Mừng Cứu Độ.

Tin Mừng là một món quà hết sức bổ ích cho bất cứ ai mang số phận sống, rồi sẽ chết. Tin mừng bổ ích đó, linh mục mang theo, với sự hiện diện của mình. Dù làm lễ trong nhà thờ, dù lao động ở vườn ruộng, dù trên xe dưới đò, dù nói hay thinh lặng, dù dưới bộ áo nào. Sự có mặt của linh mục vẫn là một dấu hỏi về ý nghĩa cuộc đời, vẫn là một dấu chỉ về thế giới bên kia. Nếu được khen hay bị chê, nếu được hiểu đúng hay bị hiểu lầm, dấu chỉ linh mục vẫn phải luôn luôn là dấu chỉ của Tin mừng Cứu Độ, dấu chỉ âm thầm nhưng bất khuất.

3- Cùng với những trách nhiệm trên, anh em linh mục chúng tôi cũng rất lo cho trách nhiệm thứ ba của mình, đó là trách nhiệm xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc.

Xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc, không những bằng những đóng góp tinh thần, vật chất như bất cứ ai, nhưng nhất là bằng khả năng chuyên môn của mình, như huấn luyện lương tâm tín hữu được biết ăn ngay ở lành, biết sống hòa hợp đoàn kết, biết tuân thủ luật pháp, tôn trọng trật tự xã hội và an ninh chính trị.

Anh chị em thân mến,

Ba trách nhiệm vừa kể trên đây là những thánh giá vinh quang, những vinh quang mang thánh giá. Chúng tôi biết mình yếu đuối, bất toàn, hằng ngày hết sức cố gắng, nhưng hằng ngày vẫn mong chờ sự nâng đỡ của cộng đoàn giáo dân. Linh mục là của giáo dân. Giáo dân là của linh mục. Linh mục và giáo dân cùng làm nên một Giáo Hội. Tất cả đều qui hướng về một Thiên Chúa.

Giờ đây, qui hướng về Ngài, với tất cả niềm tin, cậy trông, phó thác. Chúng ta lại một lần nữa làm mới lại ý chí phục vụ của ta, nhân danh Chúa, trong tay Chúa và chỉ vì Chúa. Amen.

Lễ Truyền Dầu tại nhà thờ Rạch Giá, ngày 17/3/1980

 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây