Suy tư của Đức Cha Gioan B Bùi-Tuần Bài 251-300

Thứ hai - 11/02/2019 05:51
Suy tư của Đức Cha Gioan B Bùi-Tuần Bài 251-300
Suy tư của Đức Cha Gioan B Bùi-Tuần Bài 251-300
Suy tư của Đức Cha Gioan B Bùi-Tuần Bài 251-300

Bùi-Tuần 0251: PHỤC VỤ 23-11-1991. 2
Bùi-Tuần 0252: CHÂN LÝ CỨU ĐỘ 24-11-1991. 5
Bùi-Tuần 0253: TINH THẦN THỰC DỤNG 27-11-1991. 7
Bùi-Tuần 0254: HÌNH ẢNH ĐỨC MẸ TRONG TỘI 09-12-1991. 10
Bùi-Tuần 0255: ĐỨC TIN CỨU ĐỘ 15-12-1991. 13
Bùi-Tuần 0256: LÀM THEO THÁNH Ý CHÚA 20-12-1991. 15
Bùi-Tuần 0257: TUÂN PHỤC THÁNH Ý CHÚA 22-12-1991. 17
Bùi-Tuần 0258: TIN VÀO CHÚA 24-12-1991. 20
Bùi-Tuần 0259: THIÊN CHÚA CÓ TỰ DO CủA NGÀI 28-12-1991. 21
Bùi-Tuần 0260: NIỀM VUI SIÊU NHIÊN 31-12-1991. 23
Bùi-Tuần 0261: GƯƠNG BÀ ANNA 31-12-1991. 26
Bùi-Tuần 0262: CUỘC HÀNH TRÌNH NỘI TÂM GIÁO HỘI VIỆT NAM (tt) 28
Bùi-Tuần 0263: DẤU CHỈ CẦU NGUYỆN 01-03-1991. 30
Bùi-Tuần 0264: NHỮNG CHIA SẺ KINH NGHIỆM VỀ CHỨC LINH MỤC.. 39
Bùi-Tuần 0265: NHỮNG SUY NGHĨ CủA NHÀ TRUYỀN GIÁO 03-01-1992. 51
Bùi-Tuần 0266: LINH MỤC GIỜ THỨ CHÍN 04-01-1992. 54
Bùi-Tuần 0267: LƯƠNG THỰC HẰNG NGÀY 09-01-1992. 55
Bùi-Tuần 0268: LINH MỤC LÀ NGƯỜI LUÔN ĐÓN NHẬN 02-01-1992. 56
Bùi-Tuần 0269: CHUỖI MÂN CÔI THIÊNG LIÊNG 16-01-1992. 58
Bùi-Tuần 0270: MÙA XUÂN GIÁO HỘI 30-01-1992. 58
Bùi-Tuần 0271: NGƯỜI GIEO TIN MỪNG 31-01-1992. 59
Bùi-Tuần 0272: CẢM TƯỞNG Kẻ ĐƯỢC SAI ĐI 01-02-1992. 62
Bùi-Tuần 0273: VIỆC LÀM CủA ĐỨC TIN 21-02-1992. 65
Bùi-Tuần 0274: PHỤC VỤ ĐỨC TIN 5-02-1992. 68
Bùi-Tuần 0275: LỜI CẦU NGUYỆN ĐẸP LÒNG CHÚA 28-02-1992. 71
Bùi-Tuần 0276: NGƯỜI TÔNG ĐỒ XƯA VÀ NAY 14-04-l992. 74
Bùi-Tuần 0277: ĐƯỢC PHONG CHỨC THÁNH 16-04-1992. 76
Bùi-Tuần 0278: SỰ TỰ DO 18-04-1992. 79
Bùi-Tuần 0279: NHIỀU NGƯỜI CHƯA ĐƯỢC SỐNG LẠI 18-04-1992. 80
Bùi-Tuần 0280: CHỮ KÝ ĐỨC KITÔ 16-04-1992. 81
Bùi-Tuần 0281: NHÌN LẠI MỘT CHẶNG ĐƯỜNG 30-04-1992. 83
Bùi-Tuần 0282: TIN MỪNG ĐÍCH THỰC 12-03-1992. 84
Bùi-Tuần 0283: ĐỨC KITÔ CHỈ ĐẠO 17-03-1992. 87
Bùi-Tuần 0284: XIN VÂNG TRONG TƯƠNG LAI 25-03-1992. 89
Bùi-Tuần 0285: TÁI TRUYỀN GIÁO 01-04-1992. 91
Bùi-Tuần 0286: YÊU MẾN CHÚA THỰC SỰ 02-04-1992. 95
Bùi-Tuần 0287: THAO THỨC 14-04-1992. 97
Bùi-Tuần 0288:14-08-1992 BT24: CHÂN LÝ PHảI TIN.. 102
Bùi-Tuần 0289: CÁI NHÌN CủA CHÚA14-08-1992. 104
Bùi-Tuần 0290: RA KHỏI MỒ 19-04-1992. 105
Bùi-Tuần 0291: NHỮNG ĐIỀU ĐÁNG MỪNG 08-07-1992. 107
Bùi-Tuần 0292: ĂN NĂN THỐNG HỐI 09-07-1992. 111
Bùi-Tuần 0293: ĐẠO ĐỨC ĐƠN SƠ 09-07-1992. 113
Bùi-Tuần 0294: LÀM CHỨNG CHO CHÚA 10-07-1992. 116
Bùi-Tuần 0295: CHÚA CHA GIÀU LÒNG THƯƠNG XÓT 10-07-1992. 119
Bùi-Tuần 0296: SẴN SÀNG 26-07-1992. 121
Bùi-Tuần 0297: NHỮNG CHỌN LỰA ĐÚNG 30-07-1992. 124
Bùi-Tuần 0298: CHỜ ĐỢI CHÚA ĐẾN 05-08-1992. 127
Bùi-Tuần 0299: CỘNG ĐOÀN LỜI CHÚA 07-08-1992. 130
Bùi-Tuần 0300: CON THUỘC VỀ CHÚA 09-08-1992. 132

------------------------
Phân cách bài ĐC Bùi Tuần

Bùi-Tuần 0251: PHỤC VỤ 23-11-1991

Matthêu 20,25-28
Lễ Các Thánh Tử Đạo Việt Nam K.A2

Khi mừng lễ Các Thánh Tử Đạo Việt Nam, có lần tôi đã suy nghĩ: 23-11-1991 Bùi-Tuần 251


Khi mừng lễ Các Thánh Tử Đạo Việt Nam, có lần tôi đã suy nghĩ trong lòng rằng: Nếu máu của Các Thánh Tử Đạo là hạt giống tốt sinh ra người Công Giáo, thì mình thử xin với Chúa, làm cho nhiều quyền lực thế gian ra tay bắt bớ đạo, thẳng tay cấm cách đạo, hầu tạo điều kiện cho có nhiều vị tử đạo và hy vọng khi đó máu tử đạo tăng lên, thì số hạt giống đức tin cũng tăng lên, sinh sản ra nhiều cánh đồng đức tin tốt đẹp và mở rộng những cánh đồng đức tin.

Tôi suy nghĩ như vậy là để suy nghĩ mà thôi, chứ tôi chẳng xin Chúa điều đó. Bởi vì lời xin như vậy không hợp lý.

Thực đúng là máu Các Thánh Tử Đạo có khả năng làm hạt giống sinh ra người tín hữu. Nhưng theo Kinh Thánh, thực chất làm cho một người, một việc trở thành hạt giống đức tin, đó là lời Chúa và những kẻ sống lời Chúa, vâng theo lời Chúa. Chúa phán: “Lời Ta là lời ban sự sống”. Nếu Các Thánh Tử Đạo Việt Nam có là hạt giống sinh ra người Công Giáo, thì chính những giọt máu ấy đã đổ ra do những người sống lời Chúa. Lời Chúa mới là hạt giống sinh ra người Công Giáo tốt.

Ngoài ra việc bách hại đạo Chúa là một việc xấu. Mà việc xấu thì chẳng bao giờ Chúa khuyến khích.

Khi tôi nhận định như vậy, thì tôi thấy rằng, trong ngày lễ kính Các Thánh Tử Đạo Việt Nam, ngoài sự tôi cảm tạ Chúa vì đã ban ơn tử đạo cho Các Thánh Tử Đạo Việt Nam và ban các thánh Việt Nam cho Giáo Hội chúng ta, tôi còn cần phải xin Chúa, vì công nghiệp các thánh ban cho tôi, cho những người thuộc về tôi, cho Giáo Hội tôi, biết cách nào thích hợp nhất, có hiệu quả nhất, để diễn tả đức tin, để truyền bá đức tin trong thời buổi hôm nay.

Thực vậy, mỗi thời có cách diễn tả đức tin và truyền bá theo thời của nó. Nội dung đức tin trước sau vẫn là một. Nhưng cách diễn tả đức tin, cách truyền bá đức tin, phải thay đổi tùy nơi, tùy thời, hợp với tâm lý của con người, hợp với trình độ tiến hoá của từng nơi.

Có nơi, nhất là những nơi bị bách hại, thì cách tốt nhất để diễn tả đức tin và truyền bá đức tin là chấp nhận đổ máu mình ra, chết cho đức tin. Có nơi, có thời không bị bách hại, có nhiều tự do, thì cách tốt nhất để truyền bá đức tin, để diễn tả đức tin là sống đạo cho tốt. Mình sống đạo cho tốt, con cái mình sẽ bắt chước. Mình sống đạo cho tốt, người lương thấy sẽ có cảm tình với Hội Thánh.

Nhưng thế nào là sống đạo tốt. ở đây, tôi chỉ nhắc lại 3 điều này cách vắn tắt:

Điều thứ nhất để sống đạo tốt, chúng ta hãy biết đón nhận Đức Kitô cứu độ.

Tôi nói đón nhận Đức Kitô cứu độ, bởi vì Chúa Kitô đến với ta, hơn là ta đến với Người. Đức Kitô tìm ta, hơn là ta tìm Người. Hãy đón nhận Đức Kitô cứu độ với tâm hồn khiêm tốn, sám hối, như những người phong cùi trong Phúc Âm khiêm nhường, như những người tội lỗi trong Phúc Âm sám hối. Hãy đón nhận Đức Kitô cứu độ. Bởi vì sự cứu độ là một tình thương nhưng không, do chính Chúa chủ động, chứ không phải do công nghiệp của chúng ta. Không phải chúng ta cố gắng, cố gắng rồi sẽ tìm được Chúa mà bổn phận chúng ta là hãy đón nhận Đức Kitô cứu độ đến với mình, bằng tâm hồn khiêm nhường thống hối.

Rồi thái độ khác để đón nhận Đức Kitô cứu độ đến với chúng ta đã được Đức Kitô nhắc lại nhiều lần, đó là tỉnh thức và cầu nguyện. Tỉnh thức và cầu nguyện như 5 người trinh nữ khôn ngoan. Tỉnh thức và cầu nguyện như những người đầy tớ trung tín, luôn nghĩ về Chúa, luôn kết hợp với thánh ý Chúa, luôn thao thức tìm làm đẹp lòng Chúa. Tỉnh thức và cầu nguyện để đón nhận Đức Kitô đến với lòng mình. Đó là việc thứ nhất để sống đạo đức.

Điều thứ hai để sống đạo là thực thi bác ái. Bác ái là điều kiện căn bản của giáo lý Phúc Âm. Chúa Giêsu đã nói: “Giới răn thứ hai cũng giống như giới răn thứ nhất, đó là hãy yêu thương kẻ khác như chính mình”.

Như chính mình nói lên sự quên mình. Tôi thấy đời sống bác ái của chúng ta cũng có rất nhiều điều hay, nhưng thường thiếu một điều hay nhất, đó là sự quên mình, mà đây là thứ bác ái Chúa Giêsu đòi nơi chúng ta. Hãy nhìn lên thánh giá Chúa Giêsu chịu đóng đinh. Vì thương yêu ta, Ngài quên mình. Hãy nhìn Chúa Giêsu trên chặng đường thánh giá. Vì yêu thương ta, vác thánh giá để cứu chuộc ta, Ngài quên mình.

Hãy tập quên mình, trong những công việc bác ái, trong những tình cảm bác ái, và trong những suy nghĩ bác ái. Đó là việc thứ hai để sống đạo tốt.

Điều thứ ba để sống đạo tốt là hãy tích cực xây dựng Hội Thánh.

Hội Thánh trước mặt chúng ta là giáo xứ mình, là địa phận mình. Hội Thánh này ở trong ta, phải do ta xây dựng. Thế nào là xây dựng Hội Thánh? Theo tôi, trong thời buổi này, xây dựng một Hội Thánh địa phương là hãy làm cho Hội Thánh địa phương mình trở thành một đoàn thể, có thiện chí phục vụ, có khả năng phục vụ.

Bây giờ anh chị em biết, người ta đánh giá lãnh đạo, đánh giá cán bộ, đánh giá cá nhân theo thiện chí phục vụ và khả năng phục vụ.

Giáo xứ cũng vậy, địa phận cũng vậy, Giáo Hội cũng thế. Hãy xây dựng một Giáo Hội địa phương có thiện chí phục vụ, có khả năng phục vụ. Phục vụ Thiên Chúa, phục vụ Hội Thánh, phục vụ đất nước, phục vụ đồng bào, phục vụ lẫn nhau.

Mà nói về khả năng phục vụ trong thời buổi này, ta phải nói về rất nhiều điều kiện, như là có lương tri, như là có lương tâm tốt, lương tâm trách nhiệm, như là phải có một trình độ học vấn cao, học vấn về đạo, học vấn về đời, như là phải có một trình độ khoa học nào đó, để biết tổ chức, để biết sắp xếp.

Khả năng phục vụ là một điều ta cần phải để ý trong việc xây dựng họ đạo mình, để xem trong họ đạo mình những người nào có khả năng phục vụ, và nếu chưa đủ, cần phải chuẩn bị khả năng đó cho tương lai sau này. Bởi vì như tôi vừa nói, người ta đánh giá chúng ta, đánh giá đạo chúng ta, đánh giá giáo xứ chúng ta theo khả năng phục vụ, người ta sẽ coi thường chúng ta, và đạo chúng ta sẽ không có chỗ đứng trong xã hội tương lai này. Xây dựng Giáo Hội là xây dựng cộng đoàn với những cá nhân có thiện chí phục vụ, có khả năng phục vụ cao.

Anh chị em thân mến,

Để sống đạo tốt trong thời buổi này, giáo xứ ta, cá nhân mọi người chúng ta cần phải có chất lượng, không phải chỉ là hình thức bề ngoài là đủ, không phải chỉ là nhà thờ, hay là cung thánh bề ngoài là đủ. Chính chúng ta cần phải có chất lượng. Chất lượng đó là đời sống nội tâm, có Đức Kitô sống trong ta. Chất lượng đó là bác ái đối với tha nhân. Chất lượng đó là khả năng phục vụ. Nếu chúng ta để ý 3 điểm đó, tôi nghĩ, giáo xứ chúng ta sẽ không thua kém ai, và cả chúng ta nhất là con em chúng ta sau này, sẽ trở nên những người hữu ích được kính nể trong Hội Thánh và được kính nể trong xã hội hôm nay.

Xin Chúa Thánh Thần là Đấng ban sự khôn ngoan, xin giúp chúng ta biết nhìn về tương lai, đọc được những ý nghĩa của các tín hiệu Chúa loan báo cho chúng ta về năm 2.000, về tương lai, để chúng ta chuẩn bị sống đạo cho tốt, để xây dựng Hội Thánh, để mở rộng Hội Thánh theo ngôn từ hữu hiệu nhất, thích hợp nhất trong thời buổi hôm nay.
Lạy Chúa Thánh Thần, xin trợ giúp chúng con.
Lễ Các Thánh Tử Đạo Việt Nam tại kênh A2 Giáo xứ Kitô Vua, ngày 23-11-1991

 

Bùi-Tuần 0252: CHÂN LÝ CỨU ĐỘ 24-11-1991


- Gioan 18,33-37

 Thánh lễ Bao Đồng- lễ Chúa Kitô Vua Long Xuyên
 

Khi nói về Chúa Giêsu Vua, nhiều người đã hỏi Chúa Giêsu là vua: 24-11-1991 Bùi-Tuần 252

Khi nói về Chúa Giêsu Vua, nhiều người đã hỏi Chúa Giêsu là vua nước nào? Câu hỏi đó đã được Chúa Giêsu trả lời trong bài Phúc Âm hôm nay, Chúa nói với Philatô rằng: “Nước tôi không thuộc về thế gian. Tôi đến trong thế gian để làm chứng cho công lý. Ai thuộc về chân lý thì nghe tiếng tôi”.

Câu trả lời ấy cho thấy: Đâu không phải là Nước Chúa, và đâu là Nước Chúa? Nước Chúa không thuộc về thế gian, có nghĩa là bất cứ nước nào, bất cứ chế độ nào, với nền văn minh nào, cũng không thể đồng hoá với Nước Chúa. Vậy, Nước Chúa ở đâu?

Thưa, Nước Chúa ở trong các tâm hồn, những tâm hồn khao khát chân lý, tôn trọng chân lý, và nhất là đón nhận chân lý. Như vậy, Nước Chúa gồm tất cả các tâm hồn yêu chuộng chân lý. Do đó, Nước Chúa rộng hơn Hội Thánh, bởi vì ngoài Hội Thánh, vẫn có biết bao nhiêu người yêu chuộng chân lý. Đang khi đó, trong Hội Thánh cũng có thể có nhiều người không thuộc về Nước Chúa, bởi vì họ không yêu chuộng chân lý, không đón nhận chân lý.

Nhưng chân lý là gì? Quan Philatô đã hỏi điều đó với Chúa Giêsu. Chúa Giêsu không đáp lại bằng lời nói, mà bằng chính việc Người đang thực hiện trước quan Philatô. Việc đó là: Thực hiện việc của tình yêu cứu độ. Người vô tội, nhưng vì yêu thương nhân loại, đã cam lòng chịu chết để đền tội cho nhân loại. Chân lý là như thế đó. Đó là chân lý cứu độ. Đó là cái chân lý mà Chúa Giêsu muốn làm chứng, muốn nói tới.

Đọc Phúc Âm, chúng ta nghe lời Chúa, thì thấy căn bản của chân lý cứu độ là như vậy. Và nếu giờ này đây, nhìn chung quanh, trong nhà thờ này, các ảnh tượng Chúa, chúng ta cũng thấy chân lý cứu độ là như vậy. Chúa Giêsu trên cây thánh giá, Chúa Giêsu trong phép Mình Thánh. Chúa Giêsu trong chặng đường thánh giá. Chúa Giêsu trái tim. Tất cả đều nói lên tình yêu cứu độ.

Tình yêu ấy ban cho nhân loại, chỉ cần con người đón nhận tình yêu ấy.

Đón nhận bằng cách nào? Thưa không phải bằng hai tay thu tích các công nghiệp cho riêng mình, mà bằng một tâm hồn khiêm tốn, khao khát tình yêu cứu độ, và bằng tâm hồn mở rộng ra, yêu thương bác ái đối với những người chung quanh. Chân lý cứu độ như vậy, nói lên thì đơn sơ dễ dàng, nhưng thực hiện chân lý cứu độ ấy, thực là phức tạp và khó khăn, nhất là trong thời buổi này.

Khó khăn thứ nhất là cuộc sống hôm nay, một cuộc sống chật vật, đầu tắt mặt tối, đầy lo toan khốn khổ, dễ đẩy con người rơi xuống ích kỷ, khó khăn, thấp hèn.

Khó khăn thứ hai là những tương quan trong xã hội hôm nay.

Ngày xưa con người sống với nhau thì lấy sự nhường nhịn nhau, hòa thuận với nhau làm phương châm. Nhưng bây giờ, ở nhiều nơi, nhiều người, phương châm lại là đấu tranh, lại là lấn lướt, lại là trở tráo, lại là lừa lọc, lại là loại đi, nhiều khi bằng cả những thủ đoạn độc địa thô bỉ.

Khó khăn thứ ba là chính bản thân con người hôm nay, ý chí bị suy yếu, không còn đủ sức sống chân thật những giá trị thiêng liêng mình theo đuổi. Đồng thời, sự khôn ngoan Phúc Âm lại không được coi trọng bằng sự khôn ngoan thế gian. Người ta sùng bái vật chất, và theo đuổi những lợi ích trước mặt.

Ba cái khó khăn ấy làm cho tâm hồn con người trở nên chật chội, trở nên ích kỷ và trở nên khép kín, mệt mỏi, không dễ mở ra về phía tình yêu cứu độ, càng không dễ mở ra về phía con người với những đòi hỏi bác ái Phúc Âm. Tôi có cảm tưởng rằng, trong nhiều tâm hồn chúng ta, vì những khó khăn đó nên đã không tìm được một không gian nội tâm, đủ rộng để thở hít không khí Phúc Âm, nắm bắt tình yêu cứu độ là chân lý và là hương thơm Nước Chúa.

Anh chị em thân mến,

Không biết tâm hồn chúng ta có thuộc loại những tâm hồn đó không? Tôi nghĩ là chúng ta hết thảy là những con người yếu đuối, chịu ảnh hưởng của thời cuộc không ít thì nhiều, cũng thấy tâm hồn mình không đủ khả năng để mở ra đón nhận tình yêu cứu độ như Chúa đã muốn cho chúng ta mở ra.

Trong lễ hôm nay, với nhận thức như vậy, tôi cầu xin cho tôi, cho anh chị em và nhất là các trẻ Rước Lễ Bao Đồng hôm nay, biết đón nhận tình yêu cứu độ của Phúc Âm. Đón nhận bằng tâm hồn khiêm tốn, cảm tạ, khao khát Chúa. Và đón nhận bằng sự quảng đại mở ra về phía những người chung quanh. Đón nhận tình yêu ấy, tức là đón nhận chân lý cứu độ. Và đón nhận chân lý cứu độ như vậy là đón nhận Nước Cha trị đến trong lòng mình.

Lạy Chúa Giêsu là Vua, xin hãy là Vua trong tâm hồn chúng con.

Giảng lễ Bao Đồng dịp lễ Chúa Kitô Vua, tại Long Xuyên, ngày 24-11-1991.


 

Bùi-Tuần 0253: TINH THẦN THỰC DỤNG 27-11-1991


- Mt 20,25-28

 Lễ Thêm Sức  Châu Long, K.F1

 

Từ chiều qua đến nay nhiều anh chị em đã kể lại cho tôi những hậu: 27-11-1991, Bùi-Tuần 253


Từ chiều qua đến nay nhiều anh chị em đã kể lại cho tôi những hậu quả của cơn lụt vừa qua. Hậu quả trên đồng lúa, hậu quả trên nhà cửa, hậu quả trên vườn tược, đường xá. Và chính mắt tôi cũng còn trong thấy những tai hại do lũ lụt gây ra. Hình ảnh trên đây gợi ý cho tôi nghĩ tới một cơn lụt khác, một cơn lụt vô hình đang tràn vào Việt Nam nói chung, và con người có đạo nói riêng. Cơn lụt đó là tinh thần thực dụng do nền văn minh vật chất đưa đến.

Công bình mà nói thì nền văn minh vật chất cũng có nhiều giá trị cao quý, cũng có nhiều khả năng tích cực, giúp cho đời sống con người, nhất là nền kinh tế đi lên. Nhưng cũng phải công bình mà nói, thì nền văn minh vật chất cũng mang theo rất nhiều cám dỗ, rất hấp dẫn, có khả năng phá hủy đức tin.

Một trong những nguy cơ đó là tinh thần thực dụng. Tinh thần thực dụng là gì?

Nói một cách bình dân là thói quen đánh giá các sự việc theo cái lợi vật chất trước mắt. Nếu tinh thần thực dụng như vậy tràn vào tâm hồn con người thấm vào lương tâm con người, thống trị não trạng con người thì không sớm thì muộn, các giá trị đức tin sẽ bị yếu đi, sẽ bị tàn phá, sẽ bị xuống cấp. Tôi thí dụ trường hợp Tám Mối Phúc Thật.

Sở dĩ tám cái khó sinh ra Tám Mối Phúc Thật, là vì ta tin vào lời Chúa, và nhờ đức tin mà thấy được hạnh phúc đời sau đàng xa. Nếu bây giờ theo tinh thần thực dụng, chỉ nhìn cái lợi vật chất trước mặt thì không còn gì là Tám Mối Phúc Thật nữa. Đọc lên để mà đọc thôi, như thế là một mớ lý thuyết trên bầu trời lý tưởng xa vời. Còn thực tế, chẳng mấy ai coi cái nhịn nhục, cái nghèo khó, sự hòa thuận, sự bắt bớ vì lẽ ngay là hạnh phúc.

Cũng do tinh thần thực dụng đang tràn lan, tôi thấy nhiều nơi bỏ đi lễ, bỏ học giáo lý, bỏ học ở trường, bỏ tham gia xây dựng họ đạo, là bởi vì, càng mở ra, dễ làm giàu, càng có nhiều cơ hội hưởng thụ, thì vì tinh thần thực dụng tìm cái lợi trước mắt, người ta đã lơ là những bổn phận đức tin.

Trong mấy tuần qua, tôi gặp thấy mấy mẫu tin làm tôi lo buồn:
Mẫu tin thứ nhất là tin được loan đi trên đài truyền hình Việt Nam, cho biết theo thống kê thất học năm nay, thì số em bỏ học rất đông nhất là trong những vùng Thiên Chúa Giáo và vùng dân tộc ít người. Sở dĩ có như vậy, tôi nghĩ, cũng là vì tinh thần thực dụng bỏ học, chỉ vì tìm cái lợi trước mắt mà không nhìn cái lợi đàng xa.

Mẫu tin thứ hai đã được loan báo ở một nơi khác, báo Công Giáo, xuất bản tháng vừa rồi, cho biết tình trạng suy đồi của Giáo Hội Ba Lan, một Giáo Hội trước đây phồn thịnh nổi tiếng. Theo điều tra bây giờ, thì dưới thời Cộng Sản, số người Ba Lan đi lễ Chúa nhật có tới 98%. Bây giờ số người đi lễ Chúa nhật chỉ còn có 50%. Cách đây 2 năm, số người Công Giáo ủng hộ, tán thành, hoan nghênh những hoạt động các Đức Giám Mục, các linh mục tại Ba Lan và vấn đề xã hội, cao tới 98%. Bây giờ số người Công Giáo ủng hộ hàng Giám Mục, linh mục xuống còn 28%. Nguyên do, cũng vì cái tinh thần thực dụng, chỉ chạy theo cái lợi của trước mắt, mà không nhìn theo cái nhìn của đức tin.

Mẫu tin thứ ba cũng được loan đi trên một tạp chí khác, Công Giáo và Giáo Hội Brasil (Nam Mỹ) cho biết chỉ trong mấy năm vừa qua, số người Công Giáo bỏ Hội Thánh lên tới gần một triệu, và một số giáo phái lên tới gần 250.

Dịp Đức Thánh Cha thăm Brasil vừa qua, chính quyền cho các trường, các công sở được nghỉ, để đón và tham dự lễ Đức Giáo Hoàng, nhưng người ta lợi dụng phép rộng ấy, để đi tắm biển hơn là đi dự lễ Đức Thánh Cha.

Sự suy đồi ấy chứng tỏ, sức mạnh của tinh thần thực dụng. Người ta chỉ đi tìm cái lợi vật chất trước mắt.

Mẫu tin thứ tư được loan đi ở tạp chí Đại Đoàn Kết tuần vừa rồi cho biết, một địa phương Công Giáo gần thành phố Hồ Chí Minh nổi tiếng là lừa đảo, gian dối, trong vấn đề khai báo lập hồ sơ con lai. Cũng vì tinh thần thực dụng, chỉ ham cái lợi trước mắt, mà không để ý đến cái lợi của đức tin.

Trước tình hình này, tôi nghĩ rằng, những gì đã xảy ra ở các nơi khác, cũng có thể xảy ra ở địa phương ta, ở họ đạo ta.

Để đối phó với nguy cơ làm suy yếu đức tin, tôi xin nhắc nhở anh chị em hai điều này:

Điều thứ nhất tôi xin nhắc nhở là chúng ta hãy sống ơn tiên tri của dân Chúa. Ơn tiên tri của dân Chúa là dùng ơn đức tin, mà nhìn nhận những nguy cơ làm suy yếu đức tin, và nói lên những nguy cơ đó, để những người chung quanh biết mà đề phòng. Trong Cựu Ước, đã có nhiều tiên tri lên tiếng cảnh cáo báo động về nguy cơ sụp đổ lòng đạo. mặc dầu có một số người không tin, và mặc dầu giáo quyền bấy giờ phản đối vì tự ái, nhưng vẫn có một số người đã tin lời tiên tri để ăn năn sám hối, để cầu nguyện ăn chay, nhờ đó mà dân Chúa được cứu độ. Hôm nay, trước một viễn tượng có nguy cơ không phải là tưởng tượng, mà có thực, chúng ta cần phải sống ơn tiên tri của dân Chúa, để nhận rõ những nguy cơ cho đức tin, làm hại cho đức tin, và biết báo động cho người chung quanh, nhất là cho con em của mình.

Chúng ta đừng để cho con em chúng ta, cho những người chung quanh, và cho chính mình trở thành những con thiêu thân, hễ thấy ánh đèn là bay tới, để tự vận đức tin. Hãy có một sự sáng suốt trong đức tin.

Điều thứ hai tôi muốn nhắc nhở anh chị em trong lúc này, là hãy tích cực xây dựng Hội Thánh nói chung và cho giáo xứ của chúng ta nói riêng, bằng cách làm cho cộng đoàn ta, cá nhân ta trở thành những người có thiện chí phục vụ. Phục vụ Hội Thánh và phục vụ đất nước.

Như chúng ta đang thấy, lịch sử bây giờ đánh giá Hội Thánh, đánh giá một cộng đoàn, đánh giá một cá nhân, theo tiêu chuẩn phục vụ. Người tốt là người có thiện chí phục vụ, có khả năng phục vụ.

Muốn có khả năng thiện chí phục vụ, chúng ta cần tập quên mình và biết nhạy bén. Muốn có khả năng phục vụ, chúng ta cần phải mở rộng học thức, đào sâu kiến thức. Muốn có khả năng phục vụ chúng ta cũng cần xây dựng đạo đức.

Và trong việc xây dựng đạo đức, tôi xin nhắc điều này: Là xây dựng một nền đạo đức dựa trên lời Chúa, hơn là dựa trên tập truyền. Một nền đạo đức có cái nhìn đức tin trong sáng, chứ không phải nhìn theo cái cảm tính tự nhiên của mình. Một nền đạo đức, thao thức đón nhận Chúa Kitô, chứ không phải thao thức chấp nhận những giáo lý, hay là những tục lệ xưa, những hình thức rầm rộ bên ngoài.

Anh chị em thân mến,

Khi bước chân vào nhà thờ này lúc nãy, tôi nghe các em hát: “Chúa là hạnh phúc của con, Chúa là hoan lạc đời con”. Khi nghe lời đó, tôi cầu nguyện với Chúa rằng: “Lạy Chúa, nếu Chúa đến với chúng con, trong những điều kiện bắt chúng con phải vác thánh giá theo Chúa, với những điều kiện đòi chúng con phải đóng đinh mình vào bổn phận, với những điều kiện đòi chúng con phải sống đơn sơ bé nhỏ như tấm bánh trong nhà chầu, thì những lúc ấy xin Chúa ban cho chúng con một đức tin rất mạnh, để chúng con vẫn nhìn Chúa là hạnh phúc của con, Chúa là hoan lạc đời con. Vì những lúc ấy, chỉ có một đức tin thật mạnh mới có thể thấy Chúa là hạnh phúc, mới nhìn thấy Chúa là hoan lạc, chứ còn bình thường, theo tinh thần thực dụng bây giờ, người ta chỉ nhìn thấy Chúa trong những hào nhoáng, trong những thành công, trong những đẹp đẽ bề ngoài, chứ không theo đức tin trong sáng, đích thực.

Trong lễ hôm nay, chúng ta xin Chúa Thánh Thần thêm ơn cho chúng ta có một đức tin trong sáng, vững mạnh. Nhờ đức tin ấy mà chúng ta mới có thể nhìn thấy Chúa là hạnh phúc, là hoan lạc, mặc dù cuộc đời có đầy gian truân, có đầy thử thách. Và nhất là cái thử thách ngọt ngào của nền văn minh vật chất, của cái não trạng thực dụng, sẽ là cái thử thách rất nặng, rất cam go, khó mà cưỡng được, nếu không có một đức tin mạnh.

Lạy Chúa Thánh Thần, xin Chúa thương đến trong lòng chúng con. Amen.

Lễ Thêm Sức tại nhà thờ Châu Long, Kênh F1, ngày 27-11-1991.


 

Bùi-Tuần 0254: HÌNH ẢNH ĐỨC MẸ TRONG TỘI 09-12-1991


 Lc 1,26-36

 Lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội Tham Buôn

 

Trong các loại lịch treo tường được bày bán đó đây, năm nay có: 09-12-1991 Bùi-Tuần 254


Trong các loại lịch treo tường được bày bán đó đây, năm nay có “Lịch Công Giáo năm 1992”. Lịch treo tường này có 6 tờ, khổ lớn, mang 6 bức ảnh Đức Mẹ. Đức Mẹ của 6 bức ảnh này được vẽ theo hình dáng người phụ nữ Việt Nam. Rất nhiều người ưa chuộng những bức ảnh đó. Nhất là những người hâm mộ nghệ thuật. Nhưng cũng không ít người không thích những ảnh tượng đó. Lý do họ đưa ra là những ảnh đó không giống Đức Mẹ.

Khi tôi nghe lý do họ đưa ra như vậy, thì tôi hiểu rằng những bức ảnh Đức Mẹ được vẽ trên giấy đó, nó không hợp với hình ảnh Đức Mẹ trong tâm hồn họ, không hợp với hình ảnh Đức Mẹ đã được giữ trong bộ nhớ của họ, do tập truyền, do thói quen.

Khi nói rằng ảnh Đức Mẹ không giống Đức Mẹ thì có nghĩa là Đức Mẹ ấy không giống như mình nghĩ, chứ không có nghĩa là những bức ảnh đó không giống như Đức Mẹ thật, bằng xương bằng thịt, đã sống ở trần gian xưa, và nay ở trên trời. Bởi vì những người ấy, cũng như tôi, cũng như anh chị em, chẳng ai thấy Đức Mẹ bằng xương bằng thịt bao giờ. Tôi cũng vậy, tôi chưa bao giờ thấy Đức Mẹ thiệt bằng xương bằng thịt, tôi chỉ có hình ảnh Đức Mẹ trong tôi. Và tôi xin chia sẻ với anh chị em hình ảnh Đức Mẹ đó.

Hình ảnh Đức Mẹ trong tôi mà tôi hằng ngày nhìn tới, và nhiều lần trong ngày nhìn tới, đó là hình ảnh Đức Mẹ đang “Cầu cho tôi là kẻ có tội, khi này và trong giờ lâm tử”. Hình ảnh Đức Mẹ ấy đã đến với tôi rất sớm, thuở bình sinh đời tôi. Khi cha mẹ tôi, gia đình tôi đọc kinh Mân Côi, khi tới kinh Kính Mừng “Thánh Maria”, thì tôi nghĩ đến một hình ảnh một Đức Mẹ đang cầu cho tôi là kẻ có tội. Tôi chỉ nghĩ trống vậy. Và hình ảnh đó là hình ảnh sâu đậm nhất, bởi vì mỗi lần, mỗi ngày đọc kinh Kính Mừng, thì là mỗi lần như tô lại bức ảnh đó trong tôi thêm đậm, như là ghi tạc bức ảnh đó trong tôi cho sâu hơn. Đức Mẹ đang cầu cho tôi là kẻ có tội, đó là bức ảnh trong tôi mà tôi ưa chuộng nhất.

Lý do thứ nhất là vì tôi thấy bức ảnh đó là do chính Hội Thánh trình bày. Những bức ảnh người ta vẽ về Đức Mẹ trên giấy, trên ảnh, trên lịch, thì do các nghệ sĩ vẽ ra, nhưng hình ảnh Đức Mẹ đang “Cầu cho tôi là kẻ có tội, khi này và trong giờ lâm tử” thì là do chính Hội Thánh trình bày và phổ biến trên khắp năm châu, từ thế kỷ này sang thế kỷ khác. Tôi đã đi các nơi trong nước Việt Nam, cũng như bên ngoại quốc, những người văn minh, cũng như những người còn đang mở mang, khắp nơi, đều nhìn vào hình ảnh Hội Thánh đã trình bày đó là hình ảnh Đức Mẹ “Cầu cho chúng ta là kẻ có tội”.

Lý do thứ hai khiến tôi ưa chuộng hình ảnh Đức Mẹ đang “Cầu cho tôi là kẻ có tội”, là chính Chúa Kitô đã gợi ý vẽ nên bức ảnh đó.

Khi Chúa Giêsu trên thánh giá nói với Đức Mẹ: “Đây là con Mẹ”, và nói với thánh Gioan: “Đây là Mẹ con”, thì Chúa Giêsu đã muốn cho chúng ta nhìn Đức Mẹ như là người mẹ đang cầu xin cho các con mình là kẻ có tội. Chúa Giêsu muốn chúng ta nhìn Đức Mẹ như là Đấng đang cộng tác với Chúa Giêsu chịu đóng đinh, để cứu độ nhân loại, trong đó, có chúng ta là kẻ có tội.

Lý do thứ ba khiến tôi ưa chuộng hình ảnh Đức Mẹ “Cầu cho tôi là kẻ có tội” là vì chính Đức Mẹ đã thường đưa ra những hình ảnh đó.

Mỗi lần hiện ra, hoặc là ở La Salette, hoặc là ở Fatima, hoặc là ở Lộ Đức, bao giờ Đức Mẹ cũng nhắn nhủ: “Mẹ cầu nguyện cho kẻ có tội. Chúng con hãy cầu nguyện cho được ơn trở lại. Và chúng con hãy cầu nguyện cho thế giới trở lại”. Như vậy, là Đức Mẹ rất tha thiết với hình ảnh: Đức Mẹ cầu cho chúng ta là kẻ có tội.

Lý do thứ tư khiến tôi rất ưa chuộng hình ảnh đó, là hình ảnh đó hợp với thực tế.

Thực tế rõ ràng nhất, áp đảo nhất, trở thành một chân lý đúng nhất, đó là chúng ta là kẻ có tội. Không cách này thì cách khác, không nhiều thì ít, chúng ta hết thảy đều là kẻ có tội, như mỗi ngày chúng ta đọc kinh Cáo Mình trước thánh lễ.

Và một thực tế khác cũng rất rõ ràng: Đó là chúng ta rất yếu đuối. Chúng ta biết mình tội lỗi, muốn cải thiện để trở nên thánh thiện, nhưng chúng ta không làm được tự sức mình. Chúng ta muốn có một trái tim mới trong trắng, đẹp đẽ, quảng đại, nhưng tự sức mình không đổi được trái tim vốn có của mình. Chúng ta muốn trở nên con người có tính tình khác, đẹp đẽ hơn, dễ chịu hơn, nhưng ta phải gánh chịu tính tình tự nhiên của mình như một thập giá, Chúa đặt trên vai, không đổi được tự sức mình. Cho nên phải cầu xin Đức Mẹ là Đấng đã cầu cho chúng ta là kẻ có tội, bởi vì Đức Mẹ rất yêu thương chúng ta, và rất có quyền thế, uy tín trước mặt Thiên Chúa.

Vậy, nếu hình ảnh Đức Mẹ đang cầu cho ta là kẻ có tội, là một hình ảnh có nền tảng Kinh Thánh, nền tảng Hội Thánh, nền tảng thực tế, thì mỗi khi chúng ta mừng lễ kính Đức Mẹ, bất cứ dưới tước hiệu nào, chúng ta đừng quên đi vào một kết luận là: Hãy nhìn vào Đức Mẹ “Đang cầu cho ta là kẻ có tội”, để rồi xin Đức Mẹ cầu nguyện cho ta đổi mới tâm hồn trở về với Chúa. Chẳng hạn hôm nay, lễ kính Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội, chúng ta có thể suy gẫm ơn vô nhiễm của Đức Mẹ, chúng ta có thể tìm hiểu lý do tại sao Chúa ban ơn vô nhiễm cho Đức Mẹ, nhưng điều cần thiết nhất, điều lợi ích nhất đó là: Hãy xin Đức Mẹ Vô Nhiễm cầu cho ta là kẻ có tội.

Anh chị em thân mến,

Cách đây hai năm cũng trong ngày lễ kính Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội, tôi làm lễ ở hang đá Lộ Đức bên Pháp. Khi tôi đọc bài lễ dành cho bàn thờ trước hang Lộ Đức, tôi thấy bài lễ đó có nội dung kêu gọi người ta trở về với Chúa, bài đọc cũng vậy, Phúc Âm cũng vậy, lời nguyện cũng vậy, thì tôi hiểu rằng, sự trở về với Chúa, sự xin Đức Mẹ cầu bầu cho ta là kẻ có tội được bỏ đàng tội, chính là cách ngợi khen Thiên Chúa tốt nhất, đó là của lễ đẹp nhất chúng ta dâng lên Thiên Chúa, đó là lời tạ ơn tốt nhất chúng ta dâng lên Thiên Chúa, đó là cách truyền giáo có hiệu nghiệm nhất, chúng ta có thể làm trong thời điểm hôm nay.

“Đức Mẹ cầu cho chúng con là kẻ có tội”. Tôi nghĩ đây là lời nguyện của thế kỷ XX, thế kỷ của chúng ta. Bởi vì, chúng ta đang chứng kiến sự sa sút về đàng đạo đức, trong đạo, ngoài đời. Chúng ta đang chứng kiến những cảnh trong gia đình, ngoài xã hội xào xáo nhau, sống bất hòa với nhau. Chúng ta đang nghe tiếng gọi đau đớn của Đức Giáo Hoàng, trước cảnh những nước có đạo bỏ Hội Thánh ra đi, chạy theo những cái hưởng thụ thế trần. Hãy xin Đức Mẹ cầu cho chúng ta, cầu cho Hội Thánh, cầu cho nhân loại là kẻ có tội. Tôi nói là: Đây là lời cầu của thế kỷ XX, đây là một lời cầu Chúa muốn chúng ta đọc hằng ngày. Và đây là một lời cầu dễ dàng nhất, ai cũng có thể cầu nguyện được.

Trong thánh lễ hôm nay, khi hướng về Đức mẹ, tôi vẫn nhìn thấy hình ảnh Đức Mẹ đang cầu nguyện cho tôi, cho anh chị em, cho Hội Thánh ta, cho đất nước ta, được thoát những tội lỗi và những kết quả của tội lỗi.

Xin Chúa Thánh Thần đổi mới tâm hồn chúng ta và giúp cho chúng ta, từ nay có một quyết tâm trông cậy với Đức Mẹ nhiều hơn, và với một quyết tâm trở về với Chúa một cách thành thực hơn, để tạ ơn Chúa, để làm việc truyền giáo một cách hữu hiệu hơn. Amen.

Lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội, tại nhà thờ Tham Buôn, ngày 09-12-1991.


 

Bùi-Tuần 0255: ĐỨC TIN CỨU ĐỘ 15-12-1991


 Lc 3,10-18

Lễ Thêm Sức- MV3-C Rạch Giá

 

Trong bài Phúc Âm hôm nay, thánh Gioan Baotixita loan báo rằng: 15-12-1991 Bùi-Tuần 255


Trong bài Phúc Âm hôm nay, thánh Gioan Baotixita loan báo rằng: “Chúa sẽ đến đầy uy quyền như một người vê lúa, sàng gạo. Lúa gạo tốt thì để vào kho lẫm, rơm, trấu thì bỏ, ném vào lửa”. Đây là những lời tiên tri, những lời tiên tri ấy loan báo cho chúng ta biết, Chúa sẽ đến với từng người, Chúa sẽ gặp mỗi người chúng ta, Chúa sẽ đến phân loại người ta, Chúa phân loại như người vê lúa, sàng gạo. Ai là người lành như hạt lúa tốt, hạt gạo đẹp, thì được để vào kho lẫm, là thiên đàng. Ai là kẻ xấu như cọng rơm, vỏ trấu, thì bị ném vào lửa, lửa hỏa ngục.

Khi đọc những lời tiên tri trên đây, tôi thật sự lo sợ. Tôi lo sợ cho tôi. Tôi lo sợ cho anh chị em. Bởi vì có những điều tôi rất chắc chắn và có những điều tôi không chắc chắn chút nào. Điều tôi chắc chắn là có một ngày, tôi, anh chị em sẽ chết. Tôi chắc chắn điều là khi chúng ta vừa chết, Chúa sẽ đến ngay. Tôi chắc chắn điều nay, là khi Chúa đến gặp chúng ta, ta sẽ nhìn thấy rất rõ suốt cả cuộc đời, với mọi chi tiết, từng tư tưởng từng tình cảm, từng ước muốn, từng lời nói, từng bước đi, từng việc làm, và những giá trị của nó. Đó là điều tôi chắc chắn sẽ xảy ra.

Nhưng có điều tôi không chắc chắn chút nào, đó là tình trạng thực sự của tôi, cuộc đời tôi và những việc làm của tôi. Có thể tôi tưởng bản thân tốt, nhưng trước mặt Chúa, biết đâu lại là không tốt.

Tôi tưởng rằng anh chị em là những hạt lúa tốt, là những hạt gạo đẹp, nhưng biết đâu trước mặt Chúa, chúng ta chỉ là những cọng rơm, những vỏ trấu, có thể bị loại ra, ném vào lửa. Chính những cái không chắc chắn như vậy làm cho tôi rất lo sợ. Nhưng biết lo sợ, chính là ân huệ của Chúa. Chính vì chúng ta biết lo cho số phận đời đời của ta, mà ta thêm tin vào Chúa. Phúc Âm đã kể lại nhiều lần lời Chúa phán: “Đức tin sẽ cứu con”.

Đức tin cứu tôi là đức tin nào? Thưa đức tin cứu độ tôi là đức tin đầy khiêm nhường. Tôi phải nhận thức rằng tôi tội lỗi, tôi yếu đuối, tôi thấp hèn,tôi bất lực, tôi bất xứng.

Đức tin cứu độ tôi là đức tin nào? Thưa là đức tin đầy phó thác, tin tưởng vào Chúa, tin tưởng việc rỗi, tin tưởng trọn vẹn, tin tưởng không điều kiện, tin tưởng vì Chúa là Cha quyền năng, giàu lòng thương xót, chứ không phải tin tưởng vì chúng ta có công trạng gì.

Rồi đức tin cứu độ là đức tin nào? Thưa là đức tin đầy tình bác ái, như Chúa đã thương tôi thế nào, tôi cũng phải thương kẻ khác như vậy.

Đức tin như vậy không phải là sự chấp nhận những giáo điều, cũng không phải là sự tuân giữ các lễ nghi, cũng không phải là sự tuân giữ các giới luật bề ngoài, cũng không phải chỉ là tin có Chúa, mà đức tin như vậy là một đức tin vào Chúa.

Đức tin vào Chúa, có nghĩa là một thái độ bỏ mình, đi ra khỏi mình, để đến với Chúa, để đi vào trái tim Chúa, để đặt mình trong tay Chúa. Một đức tin như vậy đúng là một sự gặp gỡ Chúa. Gặp gỡ Chúa như là một Đấng cứu độ, gặp gỡ Chúa như một Đấng quyền năng giàu lòng thương xót, gặp gỡ Chúa như một Tin Mừng cứu độ.

Như vậy, chúng ta thấy, đức tin mà tôi vừa kể, là một lý tưởng mà chúng ta phải hằng ngày đi tới.

Trong thánh lễ bây giờ, không biết Chúa nhìn đức tin chúng ta thế nào? Nếu chúng ta coi đức tin chỉ là giữ lễ nghi, đọc đủ kinh. Không phải chỉ là đức tin đâu! Nó chỉ là cái bề ngoài rất dễ rơi rụng.

Vì thế, trong lễ hôm nay, điều mà tôi cầu xin cách chung cho tất cả mọi người, trong đó có tôi, và cầu xin cách riêng cho con em chúng ta chịu phép Thêm Sức có được một đức tin sống động, gặp gỡ Chúa, đi vào trái tim Chúa, biết từ bỏ mình, một đức tin khiêm nhượng, phó thác và bác ái.

Anh chị em thân mến,

Hồi nãy trước Phúc Âm, anh chị em đã hát câu: “Lạy Chúa Thánh Thần, xin đổi mới bộ mặt trái đất”.

Khi tôi nghe anh chị em hát câu đó, tôi nghe tiếng Chúa nói trong lòng tôi: “Hãy xin Chúa Thánh Thần, đổi mới đức tin chúng con”. Cái đó cần hơn, bởi vì đức tin của chúng ta còn hời hợt, còn nông nổi, và trong một thời gian tới sẽ có nhiều thử thách đến với chúng ta. Nếu đức tin chúng ta chỉ là lễ nghi, chỉ là kinh kệ, chỉ là giáo lý, chỉ là tin có Chúa mà không phải là một đức tin có Chúa trong lòng mình và có Chúa là tin mừng tuyệt đối của mình, thì trong thời điểm sắp tới đức tin sẽ dễ bị suy thoái, nhiều người sẽ bỏ đức tin. Trong thánh lễ bây giờ, anh chị em cũng như tôi, sốt sắng nhìn vào Chúa Kitô. Xin Chúa Kitô, nhờ ơn Chúa Thánh Thần, đổi mới đức tin của chúng ta, ban cho con em chúng ta một đức tin sống động, đầy khiêm nhường, đầy phó thác, đầy bác ái, một đức tin gặp gỡ chính Chúa trong lòng mình. Amen.

Lễ Thêm Sức tại Rạch Giá, ngày 15-12-1991. MV3-C


 

Bùi-Tuần 0256: LÀM THEO THÁNH Ý CHÚA 20-12-1991


 Lc 1,26-28

Làm phép chuông Tân Hiệp

 

Từ khi còn nhỏ, tôi đã thấy có một thói quen trong họ đạo tôi, đó là: 20-12-1991 Bùi-Tuần 256


Từ khi còn nhỏ, tôi đã thấy có một thói quen trong họ đạo tôi, đó là mỗi ngày tiếng chuông nhà thờ được vang lên ba lần: Buổi sáng, buổi trưa và buổi tối. Mỗi lần nghe tiếng chuông nhà thờ vang lên, tôi thấy mọi người trong gia đình tôi điều làm dấu Thánh Giá, đọc kinh Truyền Tin. Khi lớn lên, tôi nhận thấy thói quen ấy là một thói quen đều khắp họ đạo của tôi. Không phải chỉ riêng gia đình tôi, xóm ngõ tôi mà tất cả họ đạo tôi cùng đọc kinh Truyền Tin, mỗi khi nghe tiếng chuông nhà thờ.

Rồi khi là chủng sinh, là linh mục, là Giám Mục, được đi đây đó, tôi nhận thấy thói quen ấy là một thói quen chung của Hội Thánh. Khắp nơi trong nước Việt Nam và khắp nơi trên khắp thế giới đều làm như vậy. Ngay trong thời gian ở Rôma, gần Đức Giáo Hoàng, tôi thấy tiếng chuông 12g vừa đổ, thì Đức Thánh Cha cũng đọc kinh Truyền Tin y hệt như ta đã làm ở Việt Nam.

Khi đọc kinh Truyền Tin mỗi khi chuông nhà thờ đổ, tôi thường nhớ tới bài Phúc Âm lễ hôm nay, một bài Phúc Âm kể lại rành rọt, đầu đuôi câu chuyện thiên thần hiện đến truyền tin cho Đức Mẹ.

Nhưng có một điều quan trọng mà tôi nhớ cách riêng trong khi đọc kinh Truyền Tin, đó là lời kết của bài Phúc Âm hôm nay, đó là lời Đức Mẹ nói với thiên thần: “Xin vâng như lời thiên thần truyền”. Xin tuân phục thánh ý Chúa. Nếu có một cái chân lý nào gọi là quan trọng nhất của đời Đức Mẹ thì chân lý quan trọng nhất đó là câu: “Xin tuân phục thánh ý Chúa”. Và nếu có một chân lý nào được coi là quan trọng nhất của cuộc đời Chúa Kitô, thì cái chân lý quan trọng ấy cũng là “Con đến để làm theo thánh ý Chúa Cha”.

Nếu Chúa Giêsu, nếu Đức Mẹ đã chọn chân lý cho đời sống mình là vâng phục thánh ý Chúa, thì chân lý ấy cũng phải là một chân lý quan trọng nhất của đời sống đức tin, của đời tu đức của tôi. Và không phải chân lý ấy chỉ dành cho riêng tôi, mà cũng là một chân lý dành cho tất cả mọi người anh chị em.

Do đó, mỗi khi đọc kinh Truyền Tin, khi nghe tiếng chuông nhà thờ, tôi vẫn cảm thấy như tiếng Chúa gọi “Con hãy làm theo thánh ý Chúa”. Và tất nhiên, câu trả lời tôi phải nói lên lúc ấy là: “Này con đến, để làm theo thánh ý Chúa”.

Nhưng thánh ý Chúa là gì? Đối với tôi thánh ý Chúa rõ rệt nhất, chắc chắn nhất, đó là hãy trở về với Chúa hằng ngày. Nếu chưa tốt thì hãy cố gắng tốt hơn. Nếu đã tốt rồi, hãy cố gắng tốt hơn nữa.

Thánh ý Chúa rõ rệt nhất, chắc chắn nhất, còn là hãy chu toàn bổn phận của mình. Mỗi ngày, chúng ta có những bổn phận rõ rệt đối với Chúa, đối với gia đình, những người chung quanh, đối với họ đạo, đối với xã hội, đối với Hội Thánh. Khi tôi hiểu thánh ý Chúa gồm hai điều như vậy thì mỗi khi tôi đọc kinh Truyền Tin, lúc nghe chuông nhà thờ đổ, tôi cảm thấy cần phải xin Chúa ban ơn cho tôi, ơn được trở về hằng ngày với Chúa, ơn được chu toàn bổn phận của mình.

Anh chị em thân mến,

Hôm nay tôi làm phép hai quả chuông cho nhà thờ họ đạo anh chị em, tôi muốn chia sẻ cho anh chị em những điều suy nghĩ vừa nói. Tôi đọc thấy khẩu hiệu ở cuối nhà thờ “Tiếng chuông là tiếng Chúa gọi”. Tiếng Chúa gọi đối với tôi, như anh chị em vừa nghe, đó là: “Hãy làm theo thánh ý Chúa”. Lời ấy là lời kết quả của bài Phúc Âm hôm nay.

Thánh ý Chúa là muốn chúng ta trở về với Chúa, là muốn chúng ta chu toàn bổn phận của mình, lợi dụng mọi cơ hội Chúa gởi đến hằng ngày để làm sáng danh Chúa, để cứu rỗi các linh hồn. Nếu hôm nay anh chị em chỉ nhớ một điều đó thôi, và nếu anh chị em hôm nay và mãi mãi sau này chỉ thực hiện được một điều đó thôi, thì tiếng chuông nhà thờ anh chị em sẽ trở nên một lời nhắn nhủ, có ý nghĩa quan trọng mà chúng ta cần phải biết ơn Chúa. Và ngày hôm nay, ngày làm phép chuông cho họ đạo, sẽ trở thành kỷ niệm đầy ý nghĩa.

Bởi vì nó nhắc nhở cho chúng ta từ nay, mỗi ngày hãy lắng nghe tiếng Chúa gọi, qua tiếng chuông nhà thờ: “Hãy làm theo thánh ý Chúa”. Lạy Chúa, xin giúp cho mỗi người chúng con, luôn biết làm theo thánh ý Chúa. Amen.

Làm phép chuông tại Tân Hiệp, ngày 20-12-1991


 

Bùi-Tuần 0257: TUÂN PHỤC THÁNH Ý CHÚA 22-12-1991


 Lc 1,46-56

 Lễ Thêm Sức Núi Tượng

 

Bài Phúc Âm hôm nay nói rằng: “Đức Maria vội vã lên đường, ...Khi nghe những lời trên đây của : 22-12-1991 Bùi-Tuần 257


Bài Phúc Âm hôm nay nói rằng: “Đức Maria vội vã lên đường, lên miền núi, vào một thành xứ Giuđêa, rồi vào nhà ông Giacaria để viếng thăm bà Isave”. Khi nghe những lời trên đây của Phúc Âm, tôi đã tưởng tượng ra chuyến đi của Đức Mẹ. Tôi thấy Đức Mẹ lên đường đi bộ. Cũng có thể là Đức Mẹ ngồi trên lưng một con lừa, do ông thánh Giuse dắt đi. Chuyến đi của Đức Mẹ rất vất vả, vì phải đi lên miền núi. Rồi khi lên núi. Đức Mẹ chẳng thấy ai đón mình. Rồi khi vào thành Đức Mẹ cũng chẳng thấy ai đợi mình. Chỉ khi nào vào nhà ông Giacaria, Đức Mẹ mới gặp được niềm vui, đó là được trao đổi với người dì của mình. Nhưng đây cũng chỉ là một niềm vui giữa hai người mà thôi.

Đức Mẹ là Mẹ Thiên Chúa, là Đấng rất thánh, thế mà chuyến đi của Đức Mẹ đơn sơ như thế. Rồi tôi nghĩ đến chuyến đi của chúng tôi lên giáo xứ Núi Tượng này. Tôi và các cha, so với Đức mẹ chỉ là những người thấp hèn, tội lỗi, thế mà khi tới đây, chúng tôi đã được anh chị em dành cho những vinh dự, những niềm vui khác thường, những vinh dự và những niềm vui, chúng tôi không trông chờ.

Nhưng khi thấy những sự này, tôi hiểu ngay, tất cả những sự anh chị em làm hôm nay cho chúng tôi là vì anh chị em có đức tin, mọi sự chỉ vì đức tin, mọi sự chỉ do đức tin. Vì thế, tôi muốn dùng tinh thần của bà Isave hôm nay, để nói với anh chị em rằng: Phúc cho anh chị em, vì đã tin vào Chúa, vì đã tin lời Chúa.

Trong niềm tin của anh chị em và cũng là niềm tin của chúng tôi, rõ ràng là có sự gặp gỡ Chúa. Vì trong sự chúng ta mừng nhau, có sự chúng ta mừng Chúa, trong sự chúng ta yêu thương nhau có sự chúng ta thương mến Chúa, trong sự chúng ta nhìn nhau, có sự Chúa đang nhìn ta. Chúa đang ở giữa chúng ta. Chúa đang đến với chúng ta. Chúa đang đi vào mỗi lòng người chúng ta. Chúng ta hiến dâng cho Chúa lời cảm tạ, những lời kinh, những tiếng hát, những bông hoa, những hy sinh, những tâm hồn quý mến.

Nhưng chúng ta đừng quên điều này, là lễ vật đẹp lòng Chúa nhất chính là làm theo thánh ý Chúa, như lời thánh thư hôm nay đã nói về Chúa Kitô, khi Ngài đến thế gian. Thánh thư nói: “Chúa không muốn của lễ toàn thiêu, cũng không chấp nhận của lễ đền tội, nên tôi đến và thưa với Chúa Cha: Này con đến để làm theo thánh ý Chúa Cha”. Và cũng như lời đáp ca hôm nay nhắc lại lời Đức Mẹ: “Tôi xin vâng như lời thiên thần truyền”. Nếu sự làn theo thánh ý Chúa là mục đích duy nhất của Chúa Kitô khi đến trong thế gian, và nếu sự tuân phục thánh ý Chúa là mục đích của Đức Mẹ, khi nhận cộng tác vào chương trình cứu độ của Chúa, thì tuân phục thánh ý Chúa cũng phải là mục đích của đời ta. Ta không thể chọn một con đường nào khác được.

Khi suy nghĩ về sự làm theo thánh ý Chúa, tôi thấy có ba điều này rất rõ rệt, rất chắc chắn thuộc về ý Chúa.

Thứ nhất: Ý Chúa muốn chúng ta hãy trở về với Chúa hằng ngày, trở về đường lành, trở nên tốt hơn.

Thứ hai: Ý Chúa muốn là hằng ngày chúng ta chu toàn bổn phận của mình, làm nên những việc phải làm, chịu nên những việc phải chịu. Hằng ngày vác thánh giá mình, là chu toàn bổn phận, và lợi dụng tất cả những sự việc xảy ra cho mình, để làm vinh danh Chúa.

Thứ ba: Ý Chúa muốn là hằng ngày chúng ta làm những việc bác ái cho những người xung quanh. Tối thứ sáu vừa qua, tôi xem đài truyền hình Cần Thơ, thấy một phóng sự tả lại cảnh những người đập đá trên núi Côtô. Anh chị em ở đây, phần đông cũng làm nghề đập đá.

Khi nhìn thấy những cảnh đập đá, tôi nghĩ tới ba việc trên đây, mà tôi vừa nói với anh chị em, thuộc về sự làm theo thánh ý Chúa. Tôi nghĩ rằng, bản thân tôi, bản thân mỗi người chúng ta, có lẽ còn nặng hơn là phiến đá. Làm cho bản thân ấy nên tốt hơn không phải là việc dễ dàng.

Rồi tôi nghĩ rằng, bổn phận hằng ngày của tôi, của anh chị em, nhiều khi cũng trơ trơ như những tảng đá. Chu toàn bổn phận bác ái đối với họ, nhiều khi không phải là chuyện dễ dàng.

Có nghĩa là làm theo thánh ý Chúa không dễ gì. Thế nhưng, Chúa không đòi chúng ta làm cái gì quá sức mình. Chúa chỉ cần chúng ta có thiện tâm, thiện chí. Hãy làm vừa sức mình, và hãy dâng tất cả những cố gắng của ta, cũng như những thất bại của ta, cho Chúa. Sự Chúa đòi không phải là thành công, nhưng sự Chúa đòi là thành tâm.

Anh chị em thân mến,

Trong thánh lễ hôm nay, khi làm phép Thêm Sức, khi cầu nguyện cho anh chị em, khi nhớ tới tân linh mục của anh chị em, tôi chỉ cầu xin điều này là: “Xin Chúa cho mọi người chúng ta, biết làm theo thánh ý Chúa”. Việc lớn, việc nhỏ, ở đây hay nơi khác, luôn luôn ta chỉ nhằm làm theo thánh ý Chúa, luôn trở về với Chúa, luôn cố gắng chu toàn bổn phận của mình, luôn làm hết sức để thực thi bác ái Phúc Âm.

Tuy không dễ dàng nhưng nhờ ơn Chúa giúp, chúng ta sẽ dâng lên Chúa lời cảm tạ đẹp lòng Chúa nhất: “Cố gắng làm theo thánh ý Chúa Cha”.

Lạy Chúa Thánh Thần, xin ban ơn cho chúng con biết nhìn thấy thánh ý Chúa trong mọi ngày, và xin giúp cho chúng con biết luôn luôn tuân phục thánh ý Chúa.

Lễ Thêm Sức ở Núi Tượng, ngày 22-12-1991.


 

Bùi-Tuần 0258: TIN VÀO CHÚA 24-12-1991


Lễ Giáng Sinh Long Xuyên

 

Nhìn quang cảnh lễ Noel, với số người đông đảo trên các nẻo đường: 24-12-1991 Bùi-Tuần 258


Nhìn quang cảnh lễ Noel, với số người đông đảo trên các nẻo đường, với bao rực rỡ tưng bừng khắp mọi nơi trên đất nước, ai cũng thấy lễ Chúa Giáng Sinh đã trở thành một ngày hội vui của mọi người.

Riêng đối với tôi và những người tin, lễ này không những là ngày của niềm vui, mà còn là ngày của niềm tin. Niềm tin tăng thêm niềm vui.

Thực vậy, còn gì vui bằng được sự đón tiếp Thiên Chúa đến trong thế gian. Khi đến, Ngài đã không chọn địa chỉ nào, ngoài con người. Và khi chọn con người, Ngài đã không chọn một người có những hoàn cảnh giàu sang danh tiếng, nhưng đã chọn thân phận một hài nhi yếu hèn nghèo khó, sinh ra bởi một phụ nữ bình dân, chất phát. Và mặc dầu Thiên chúa là Đấng uy quyền vô cùng, Ngài lại giáng sinh, mặc lấy số kiếp một con người bị hạn chế bởi vô vàn thứ luật, từ luật thiên nhiên, đến luật xã hội, tôn giáo. Những lựa chọn như vậy thực là khó hiểu.
Nhưng tôi tin, nên tôi đã hiểu. Tôi hiểu rằng: Chỉ vì yêu thương loài người, chỉ vì muốn cứu chuộc loài người, mà Thiên Chúa đã giáng sinh trong những hoàn cảnh đầy khiêm tốn và đầy hy sinh.

Sự hiểu biết ấy đổi mới niềm tin. Niềm tin tôi không còn chỉ là tin có Chúa, mà là TIN VÀO CHÚA. Tin vào Chúa là tin tưởng ở tình yêu vô biên đầy quyền năng cứu độ của Chúa. Tin vào Chúa là một sự ra đi nội tâm, là một xuất hành thiêng liêng, con người từ bỏ mình để đi vào trái tim Chúa, để đặt mình trong bàn tay cứu độ của Chúa.

Tin vào Chúa là tâm hồn đi vào con đường vâng phục thánh ý Chúa, với tất cả tấm lòng phó thác cậy trông, tin tưởng đồng hành với Chúa Giêsu, Đấng đã đến với nhân loại trong tâm tình hiến dâng mình cho thánh ý Chúa Cha: “Lạy Cha, này Con đây, Con đến để làn theo thánh ý Cha” (Hebr 5,10).

Tin vào Chúa là khỏi cái tôi ích kỷ hẹp hòi, để dấn mình vào kế hoạch cứu độ Thiên Chúa.

Kẻ tin như vậy bao giờ cũng có ý thức về Chúa là tình yêu cứu độ đầy quyền năng, và ý thức về mình là kẻ có tội lỗi yếu đuối cần được cứu độ. Tin vào Thiên Chúa là ném bực thấp hèn của mình vào vực thẳm tình yêu thương xót của Chúa cứu độ.

Tin vào Chúa như vậy là đi vào cõi bình an mà Chúa dành cho kẻ thiện tâm.

Niềm tin vào Chúa mà tôi vừa gợi ý sẽ là một tiếng hát ngọt ngào, mà Chúa muốn nghe, sẽ là một bó hoa thơm đẹp mà Chúa muốn nhận. Vì thế, lời tạ ơn hôm nay tôi dâng lên Chúa là: “Lạy Chúa, xin cho con và mọi người biết luôn luôn tin vào Chúa, nhất là trong những hoàn cảnh ngặt nghèo có nhiều thử thách”.

Với niềm tin trên đây, tôi chân thành cầu chúc mọi người, và mỗi người anh chị em một lễ Giáng Sinh vui vẻ trong tình yêu Chúa Giêsu, Đấng cứu độ loài người.

Bài giảng lễ Giáng Sinh tại Long Xuyên, ngày 24-12-1991.


 

Bùi-Tuần 0259: THIÊN CHÚA CÓ TỰ DO CủA NGÀI 28-12-1991


 Lễ Thêm Sức K. Đ2

 

Đêm Sinh Nhật vừa qua, tại nhà thờ Chánh Toà Long Xuyên, sau : 28-12-1991, Bùi-Tuần 259


Đêm Sinh Nhật vừa qua, tại nhà thờ Chánh Toà Long Xuyên, sau thánh lễ, giữa một đám đông, có một thanh niên lạ đến hỏi Đức Cha D9ng: “Chúa là Đấng có quyền, có phép, Ngài đã giáng sinh gần 2.000 năm nay rồi, thế mà tại sao Ngài không làm được cho tất cả nhân loại nhận biết Ngài, tôn thờ Ngài, trở về với Ngài?”

Đức Cha già trả lời cho người thanh niên đó rằng: “Thưa, vì Thiên Chúa trọng sự tự do của con người”. Câu trả lời ấy cũng là câu trả lời tôi hay dùng để cắt nghĩa những thắc mắc, những cái khó hiểu tương tự, như cái khó hiểu trong bài Phúc Âm hôm nay, đó là: Tại sao Chúa quyền phép vô cùng, lại không ngăn cản vua Hêrôđê, khi ông định giết những trẻ em vô tội? Chúa không ngăn cản vì Chúa trọng sự tự do của vua. Đó là một cách trả lời.

Nhưng tôi cũng vẫn thường hay dùng cách khác nữa, để trả lời cho những trường hợp như vậy. Tôi nói: “ Chúa để xảy ra như vậy, vì Chúa có quyền tự do của Chúa, và cách sử dụng sự tự do của Chúa như vậy sẽ có lợi rất nhiều cho nhân loại, cho chúng ta”.

Thực vậy, nếu chúng ta để ý nhìn mấy chi tiết về sự Chúa Giáng Sinh, cho đến khi Chúa trốn sang Ai Cập mà bài Phúc Âm hôm nay nhắc nhở, thì chúng ta sẽ thấy điều đó. Chúa cao cả vô cùng, Ngài có thể không giáng sinh, Ngài có thể giáng sinh làm con một vì vua, sinh ra trong đền đài, hoặc là làm con một vị thượng tế sinh ra trong đền thờ. Nhưng Chúa đã dùng quyền tự do của Chúa mà chọn giáng sinh làm một hài nhi bé nhỏ, khó nghèo, hầu chứng tỏ rằng: Vì loài người chúng ta và để cứu rỗi chúng ta. Chúa đã cam nhận hy sinh tột độ như vậy đó.

Rồi Chúa là Đấng uy quyền vô cùng. Ngài có thể ra tay trừng trị dân thành Bêlem, đã không cho Thánh Gia trú trọ, để đến nỗi Đức Mẹ phải hạ sinh Đức Giêsu trong một hang đá giữa đêm đông giá lạnh, như một kẻ khốn cùng trong xã hội. Nhưng Chúa đã dùng quyền tự do của mình, để chọn lựa sinh ra trong máng cỏ, hầu cho chúng ta thấy rằng: Đấng Cứu Thế đến, không phải để kết án, mà là để tha thứ, mà là để cứu độ.

Rồi Chúa là Đấng có quyền, có phép. Ngài có thể trói tay vua Hêrôđê lại, không cho ông ra lệnh giết các trẻ em vô tội. Nhưng Chúa đã dùng quyền tự do của mình, hầu cho các trẻ em bị giết hôm ấy, trở nên những vị thánh cộng tác vào công việc cứu độ của Chúa Kitô.

Rồi Chúa là Đấng khôn ngoan vô cùng, Ngài có thể ở lại Bêlem mà Hêrôđê không nhận thấy Ngài. Nhưng Ngài đã dùng quyền tự do của mình, để khiến Thánh Gia trốn sang Ai Cập như một kẻ yếu hèn, như một kẻ thua, để chứng minh rằng: Muốn cứu nhân loại, muốn cứu chúng ta, Chúa Kitô đã phải hiến dâng mình làm của lễ, từ bỏ mình, hy sinh mạng sống, trong một quãng đời dài 33 năm, từ hang đá Bêlem cho đến thánh giá trên Núi Sọ.

Rồi khi tôi nhìn gần hơn nữa, tôi thấy rằng, Chúa thông biết mọi sự, Chúa thánh thiện vô cùng, Chúa thừa biết tôi đâu có thánh thiện đạo đức gì, đâu có xứng đáng gì, thế mà Chúa đã dùng quyền tự do của Chúa mà chọn tôi, mà thương yêu tôi, mà nâng đỡ tôi, để tôi, sau cùng nhận ra rằng: Thiên Chúa là Đấng xưa đã dùng bụi đất mà dựng nên ông Adong, thì hôm nay Người vẫn có thể dùng một tạo vật bất xứng để làm nên dụng cụ của Ngài.

Rồi nếu nhìn gần hơn nữa, tôi cũng nhận thấy rằng: “Những ngưòi xa gần, có thể dựa trên lý do này, lý do khác, để có những thái độ lựa chọn không tốt đối với tôi. Nhưng Chúa đã hướng dẫn sự tự do của họ, để họ có những chọn lựa tối đối với tôi, hầu cho tôi thấy rằng, đâu đâu, trong bất cứ sự gì, tôi vần có thể nhận thấy được tín điều của tình yêu Chúa dành cho tôi.

Vậy qua mấy sự việc vừa nêu trên đây, tôi có thể thấy rõ rằng, mọi sự xảy ra trong thế gian này, trong cuộc đời ta, đều do quyền tự do của Chúa cho phép, hầu giúp cho chúng ta được cứu độ. Và nếu chúng ta có đức tin, thì bất cứ sự gì, kể cả những cái bất lợi nhất, cũng có khả năng trở thành giá cứu chuộc ta, trở thành giá cứu chuộc nhân loại.

Đó là cái nhìn của đức tin, đó là cái nhìn do đức tin. mà chúng ta cần phải có để tạ ơn Chúa về mọi ơn lành Chúa đã ban cho chúng ta trong suốt cuộc đời, dù những sự việc coi như thuận lợi, dù những sự việc coi như bất lợi.

Với cái nhìn đó, tôi thấy rằng, vấn đề quan trọng đặt ra cho mỗi người chúng ta, là phải biết huấn luyện mình, huấn luyện những người thuộc về mình, để biết sử dụng tự do Chúa ban cho mình, theo gương Chúa là Đấng đã sử dụng cái tự do của mình cho phần rỗi chúng ta, dù Ngài phải chấp nhận hy sinh, thua thiệt, đau đớn suốt đời.

Trong thánh lễ hôm nay, tôi cầu xin Chúa Thánh Thần cho chúng ta có một cái nhìn của đức tin. Và cho chúng ta có một chương trình, biết huấn luyện mình, huấn luyện con người của mình, biết sử dụng sự tự do Chúa ban cho mình, biết cứu độ người khác, biết thăng tiến người khác, biết làm cho người khác nên tốt hơn, như Chúa Giêsu đã làm trong mầu nhiệm giáng sinh, kể cả hôm nay Người trốn sang Ai Cập, để chấp nhận cuộc hiến dâng mình làm của lễ cứu chuộc nhân loại.
Lạy Chúa Thánh Thần, xin giúp cho chúng con có một cái nhìn đức tin, và xin Chúa giúp chúng con biết huấn luyện con người chúng con, để chúng con biết sử dụng sự tự do của chúng con trong hướng cứu chuộc những người Chúa đã trao phó cho chúng con . Amen.

Lễ Thêm Sức tại kênh Đ2, ngày 28-12-1991


 

Bùi-Tuần 0260: NIỀM VUI SIÊU NHIÊN 31-12-1991


 Gioan 1,1-18

Lễ Thêm Sức Thị Đam

 

Từ chiều hôm qua cho đến bây giờ, tôi được sống giữa anh chị em: 31-12-1991 Bùi-Tuần 260


Từ chiều hôm qua cho đến bây giờ, tôi được sống giữa anh chị em trong một thời gian ngắn ngủi, tôi nhận thấy có một điều mà tôi cho là rõ ràng nhất, chắc chắn nhất nơi anh chị em, đó là niềm vui, một niềm vui đơn sơ, một niềm vui chân thành, nhưng là một niềm vui sâu sắc.

Thấy vậy, tôi cảm tạ Chúa, đã cho tôi có dịp chia sẻ niềm vui ấy với anh chị em. Tôi suy nghĩ, và tôi tìm hiểu xem nguyên do nào đã gây nên niềm vui nơi anh chị em. Có phải là một nguyên nhân tự nhiên, hay là do những nguyên nhân siêu nhiên.

Khi nghe bài Phúc Âm hôm nay, tôi đã khám phá thấy câu trả lời mà tôi đang tìm kiếm. Câu trả lời đó là: “Niềm vui của anh chị em, là do những nguyên nhân siêu nhiên, hơn là những nguyên nhân tự nhiên”. Thực vậy, nguyên nhân thứ nhất gây nên niềm vui nơi anh chị em hôm nay là vì anh chị em nhận biết Đức Kitô, và biết đón nhận Đức Kitô đến với anh chị em.

Trong bài Phúc Âm hôm nay, thánh Gioan tông đồ phàn nàn rằng: “Ngôi Lời ở giữa nhân loại, nhưng nhân loại đã không nhận biết Người. Ngôi Lời đã đến nhà các gia nhân của Người, nhưng các gia nhân của Người đã không tiếp nhận Người”.

Sự không nhận biết Đức Kitô và sự không tiếp nhận Đức Kitô, là sự đã xảy ra thời thánh Gioan, và bây giờ còn đang xảy ra tại nhiều nơi trên thế giới. Nhưng sự âý không xảy ra ở họ đạo chúng ta. Chúng ta nhận biết Đức Kitô, và chúng ta tiếp nhận Đức Kitô thường xuyên, nhất là khi chúng ta chịu các phép bí tích, như trong thánh lễ bây giờ. Đặc biệt, chúng ta đã tiếp nhận Đức Kitô một cách long trọng và đầy hoan lạc trong dịp lễ Noel vừa qua, và trong thánh lễ hôm nay.

Khi tiếp nhận Đức Kitô đến với chúng ta, chúng ta đã nhìn nhận Ngài là Đấng Cứu Thế đầy tình thương xót, đầy quyền năng. Đồng thời, chúng ta cũng nhận biết bản thân chúng ta là những kẻ yếu hèn, tội lỗi, cần được Chúa cứu độ.

Vì thế, chúng ta có một niềm vui, giống như những người đau ốm tật nguyền xưa, đã được Chúa Giêsu cứu khỏi đau ốm bệnh tật, chúng ta cũng được một niềm vui, giống như những người phụ nữ tội lỗi trong Phúc Âm, đã được niềm vui khôn tả, khi được Chúa Giêsu chữa cho khỏi tội lỗi và khỏi mặc cảm.

Chúng ta cũng được một niềm vui giống như các thanh thiếu niên ở thành Giêrusalem, đã ra đón tiếp Đức Kitô. Bởi vì, các thanh thiếu niên ấy, nhìn Đức Kitô như là một người đem lại hy vọng và an ủi cho cuộc đời của họ.

Chúng ta vui mừng thực sự trong lòng, như người trộm lành đã vui khi Đức Kitô hứa cho anh nước thiên đàng.

Niềm vui của chúng ta, đúng là niềm vui siêu nhiên do sự chúng ta biết đón nhận Đức Kitô đến với chúng ta. Đó là nguyên nhân thứ nhất.

Nguyên nhân thứ hai là, vì chúng ta là con Thiên Chúa.

Trong bài Phúc Âm hôm nay, thánh Gioan nói rằng: “Những ai tiếp nhận Đức Kitô, thì được quyền trở nên con Thiên Chúa”. Là con của Thiên Chúa. Đó là một vinh dự lớn lao, đem lại cho chúng ta biết bao an ủi và những hy vọng tuyệt vời.

Riêng tôi chẳng hạn, khi thấy mình yếu đuối, lỗi lầm, mệt mỏi, tôi thường hay nhìn lên Chúa. Nhìn Ngài là Cha của tôi, và tôi chỉ nói với Ngài một lời đơn sơ: “Lạy Cha, xin thương xót con”. Và khi tôi nói với Chúa như vậy, tôi đã đặt tất cả niềm tin vào Ngài. Ngài là Cha. Cha thì thương con. Lý do để tôi phó thác nơi Ngài, không phải là công nghiệp nơi tôi, mà chỉ là tình yêu người cha đối với ngưòi con, phó thác tuyệt đối. Phó thác trọn vẹn. Phó thác không điều kiện. Bởi vì Chúa là Cha, mình là con của Cha trên trời.

Rồi chẳng hạn, khi tôi muốn làm điều gì theo ý riêng tôi, hay khi tôi không muốn tiếp nhận một cái gì trái ý tôi, thì tôi lại nhìn lên Chúa. Nhìn Ngài là Cha của tôi. Tôi là con của Ngài. Và tôi đã nói với Chúa lời mà Ngôi Lời đã nói với Đức Chúa Cha: “Này Con đây, Con đến để làm theo thánh ý Cha”. Bởi không có một của lễ nào đẹp lòng Thiên Chúa cho bằng sống và làm theo ý Chúa.

Là con Thiên Chúa, tôi thấy đó là điều an ủi nhất cho chúng ta. Đặc biệt là vì con Chúa thì sẽ được Chúa đem lên thiên đàng, được ở bên Chúa muôn thuở, muôn đời, như lời Chúa Giêsu đã hứa: “Ta ở đâu, thì kẻ tin Ta sẽ ở đấy”.

Anh chị em thân mến,

Trên bàn thờ, có những bông hoa đẹp, có những cây đèn sáng. Tôi liên tưởng đến trái tim anh chị em. Tôi nghĩ rằng, trái tim anh chị em còn đẹp hơn những bông hoa trên bàn thờ, còn sáng hơn những ngọn nến đang cháy trên bàn thờ. Bởi vì trái tim anh chị em có tình mến chân thành của người con Thiên Chúa. Tôi nghĩ rằng Chúa đang nhìn từng trái tim anh chị em. Và Chúa cũng rất vui lòng nhìn những trái tim anh chị em, đơn sơ, hồn nhiên, chấp nhận những gì xảy ra, vui, buồn, trong cuộc sống hằng ngày.

Trong thánh lễ hôm nay, cũng là thánh lễ cuối năm, năm 1991, chúng ta cảm tạ Chúa đã ban cho chúng ta niềm tin, biết đón nhận Đức Kitô, và được làm con Thiên Chúa. Nhìn sang năm 1992, tôi thấy bầu trời không phải luôn sáng sủa. Anh chị em hãy giữ vững niềm tin, hãy luôn nhớ, chúng ta có Đức Kitô là Đấng cứu độ chúng ta. Quê hương chúng ta là ở trên trời.

Mặc dầu bầu trời không luôn sáng sủa, nhưng với đức tin chúng ta nhìn lên Cha trên trời, nhìn vào Đức Kitô cứu độ ở giữa chúng ta, để chúng ta biết sống. Và để một ngày nào đó, chúng ta, con cái chúng ta, thân nhân chúng ta, được tụ hợp trên nhà Cha trên trời. Đó là hạnh phúc lớn lao nhất, là mục đích sau cùng của đời sống chúng ta.

Xin Chúa Thánh Linh mở lòng chúng ta, để chúng ta giờ đây biết đón nhận ơn Chúa Thánh Thần. Amen.

Lễ Thêm Sức ở Thị Đam, ngày 31-12-1991


 

Bùi-Tuần 0261: GƯƠNG BÀ ANNA 31-12-1991


 Luca 2,30-40

Lễ Tạ Ơn cuối năm nhà thờ Bãi

 

Thánh lễ bây giờ là thánh lễ cuối năm 1991. nghe bài Phúc Âm hôm nay: 31-12-1991 Bùi-Tuần 261


Thánh lễ bây giờ là thánh lễ cuối năm 1991. nghe bài Phúc Âm hôm nay, tôi có ba suy nghĩ để chia sẻ với anh chị em.

Suy nghĩ thứ nhất là hãy chúc tụng Chúa như bà Anna đã làm xưa.

Theo bài Phúc Âm, bà Anna, sau bao nhiêu năm cầu nguyện trông chờ, đã gặp được Đấng Cứu Thế. Bà đã vui mừng khôn xiết, đã hết lời ca tụng Thiên Chúa.

Anh chị em hãy nhìn họ đạo bé nhỏ của anh chị em đây. Về cơ sở vật chất, về sinh hoạt tôn giáo, về nhân sự, mọi cái đều tốt trong năm nay. Và nhất là Chúa đã đến viếng thăm anh chị em qua các bí tích, qua những lời giảng Phúc Âm. Và Chúa đã đến viếng thăm anh chị em tận gia đình, khi con em anh chị em chịu phép Rửa Tội, khi trong gia đình có người chịu phép Hôn Phối, khi trong gia đình có người hấp hối, hoặc tang gia.

Tóm lại, trong suốt năm nay, năm 1991, Chúa đã ban cho anh chị em rất nhiều ơn, phần hồn, phần xác, như là anh chị đã trông chờ, và nhiều trường hợp Chúa ban ơn hơn là anh chị em mong đợi.

Hãy theo gương bà Anna mà ca ngợi Chúa. Ca ngợi bằng lòng mến mộ, lòng khao khát, lòng gắn bó với Chúa nhiều hơn. Và luôn tạ ơn Chúa, bằng sự quyết tâm sau này sống tốt hơn trong lề luật đạo Chúa.

Suy nghĩ thứ hai tôi muốn chia sẻ với anh chị em là hãy theo gương bà Anna, là nói cho nhiều người khác biết về con trẻ Giêsu.

Bài Phúc Âm hôm nay nói rằng: SAu khi gặp Chúa Giêsu rồi, bà Anna ca tụng Thiên Chúa. Rồi gặp ai bà cũng kể về con trẻ Giêsu. Đó là một gợi ý tốt cho tôi. Gợi ý đó là hãy nói cho người khác biết về Chúa Kitô.

Khi tôi đến họ đạo anh chị em, nhìn ngôi thánh đường, nhìn các anh chị em đi lễ, đọc kinh, tôi coi đó là một sự anh chị em nói về Chúa Kitô. Tôi cũng nghĩ rằng, mỗi tối anh chị em đọc kinh trong gia đình, đó cũng là một cách anh chị em nói về Chúa Kitô cho những người trong gia đình mình, cho những người trong xóm ngõ mình. Nhưng chưa đủ.

Hãy nói về Chúa Kitô, bằng đời sống của mình, bằng chính cái gương Chúa Giêsu đã làm, mình làm theo như vậy. Rồi nhất là, cần phải có sự sống Chúa Giêsu trong chính mình ta, để những lời ta nói, những việc ta làm, những thái độ ta có, thảy đều phản ánh tinh thần của Đức Kitô, đến cho những người lương, người giáo xung quanh ta, khi thấy chúng ta sống, khi nghe chúng ta nói, khi xem việc chúng ta làm, thì cảm thấy một Tin Mừng tỏa ra chung quanh chúng ta. Mà Tin Mừng đó chính là Đức Kitô.

Tôi nghĩ rằng, cuộc sống anh chị em giữa vùng đồng bào khác tôn giáo, cần phải có một tinh thần đời sống Đức Kitô. Nếu chúng ta sống tốt, thì đó là một cách truyền giáo tốt nhất, để nói về Đức Kitô, để kể về Đức Kitô.

Suy nghĩ thứ ba tôi muốn chia sẻ với anh chị em, là theo gương hài nhi Giêsu mà lớn lên, đầy sức mạnh, đầy ơn khôn ngoan, và đầy ơn nghĩa với Thiên Chúa.

Bài Phúc Âm hôm nay đã nói về hài nhi Giêsu là: Hài nhi GIêsu càng lớn lên, thì càng đầy sức mạnh, càng đầy ơn khôn ngoan, và càng đầy ơn nghĩa với Chúa. Câu đó là một gợi ý tốt cho tôi trong ngày hôm nay. Gợi ý đó là tôi muốn chúc họ đạo bé nhỏ anh chị em nói chung, và từng anh chị em nói riêng, sang năm mới, năm 1992, hãy lớn lên, đầy sức mạnh, đầy khôn ngoan, và đầy ơn nghĩa Chúa. Lớn lên đây, không phải là lớn lên về thể xác, mà là lớn lên về mọi phương diện, nhất là về phương diện tinh thần.

Khi tôi để ý mấy câu kinh thánh nói về hài nhi Giêsu đầy sự khôn ngoan, đầy ơn nghĩa Chúa và đầy sức mạnh, thì tôi cầu chúc cho anh chị em, mỗi người chúng ta, cũng được như vậy, và mỗi người chúng ta, cũng được như vậy, và mỗi người chúng ta cũng cần được như vậy. Nhất là khi tôi nhìn thấy trước mắt tôi, một thời gian tương lai, sẽ có nhiều thử thách. Thử thách về mặt tinh thần, thử thách về mặt đức tin, thử thách về cuộc sống vật chất. Cần phải có nhiều sức mạnh, cần phải có nhiều khôn ngoan, cần phải có nhiều ơn nghĩa Chúa, để có thể, không những đứng vững trong năm mới này, mà còn có thể phát triển được về nhiều mặt khác nhau.
Anh chị em thâm mến,

Trên đây là ba suy nghĩ tôi rút ra từ bài Phúc Âm hôm nay để gởi lại anh chị em: Hãy chúc tụng, hãy cảm tạ Chúa. Hãy nói về Đức Kitô như Đức Kitô là một tin mừng của chúng ta. Và hãy biết lớn lên đầy khôn ngoan, đầy ơn nghĩa Chúa.

Trng thánh lễ này, tôi cầu xin Chúa Thánh Linh giúp cho chúng ta biết đón nhận ơn khôn ngoan, ơn sức mạnh, và ơn nghĩa Chúa rất cần cho tương lai chúng ta. Như vị đại diện đã nói: “Họ đạo anh chị em bé nhỏ lắm”. Rất bé nhỏ. Cho nên trong một thời gian khó khăn, anh chị em cần phải có sức mạnh thiêng liêng, cần phải có ơn khôn ngoan rất nhiều, cần phải có ơn nghĩa Chúa rất nhiều, để có thể đứng vững trong đức tin, để có thể đưa gia đình mình, đưa cộng đoàn mình đến bến đức tin là thiên đàng mà Chúa mong chờ.

Lạy Chúa Thánh Thần, xin Chúa đến trong lòng mỗi người chúng con. Xin Chúa đến ban phúc lành cho họ đạo chúng con. Amen.

Lễ tạ ơn cuối năm ở nhà thờ Bãi, ngày 31-12-1991


 

Bùi-Tuần 0262: CUỘC HÀNH TRÌNH NỘI TÂM GIÁO HỘI VIỆT NAM (tt)


02-02-1991

TINH THẦN HOÀ GIẢI LÀ DẤU CHỈ CỦA MỘT TÍN HỮU TỐT

GB. Bùi-Tuần- tuần báo CG&DT số 802

 

Dịp các Đức Cha sang Toà Thánh, là dịp tốt nhất để có một số: 02-02-1991 Bùi-Tuần 262


Dịp các Đức Cha sang Toà Thánh, là dịp tốt nhất để có một số liệu tương đối chính xác về số người Công giáo của từng giáo phận. Cộng tất cả, thì tổng số người Công giáo hiện nay tại Việt Nam là vào khoảng 4 triệu người.

Với 4 triệu người trong tổng số 65 triệu dân, Giáo Hội Việt Nam là một thiểu số bé nhỏ. Lượng là thế, còn phẩm thì sao? Dĩ nhiên mình cho là mình tốt, với mức tương đối cao. Nhưng với hơn 60 triệu người đồng bào ngoài Công giáo có đánh giá Giáo Hội Việt Nam ta như ta tự đánh giá không. Còn nếu theo dư luận thu lượm được từ các tiếp xúc thì có khen, có chê, có thiện cảm, và có nhiều dửng dưng bất cần.

Dư luận chung quanh cho rằng: Công giáo Việt Nam rất tốt ở chỗ đông người đi lễ, nhiều người thuộc kinh, và dễ qui tụ theo một nề nếp có sẵn, được tổ chức chặt chẽ, vững vàng. Đang khi đó, Công giáo Việt Nam lại rất bị chỉ trích về tinh thần công bình bác ái. Mà nếu tinh thần công bình bác ái lại được coi là một tín hiệu có sức lôi kéo người ta đến với Đức Kitô, thì ta phải nghĩ sao đến những cộng đoàn dễ an tâm và hãnh diện với thói quen đi lễ đọc kinh đông nhưng lại đứng nhất nhì về chuyện trái đức công bình bác ái? Không thiếu cộng đoàn đúng là như thế, và nếu thói quen suy nghĩ đó đã trở thành một não trạng, một cơ chế, thì còn gì là bản chất đạo Công giáo, và làm sao đạo Công giáo có thể được đồng bào ngoài Hội Thánh nhìn nhận là một ngôi sao dẫn đường về Thiên Chúa được?

Ở đây, tôi nhớ tới một ý của Simone Weil: Người thời nay đánh giá đức tin kẻ có đạo không ở thái độ và lời nói của người đó đối với chúa, mà là thái độ và lời nói của người đó đối với người khác.

Ở đây, tôi cũng nhớ tới một đoạn trong bản Tuyên ngôn của Hội nghị VII Hội đồng các giáo phận Á Châu (CCA): “Tại Á Châu đang nảy sinh một tình trạng mới của tinh thần, đó là sự thức tỉnh của quần chúng. Một lịch sử mới đang được viết ra trong thời đại chúng ta. Những điểm chính của lịch sử không còn là những cuộc chiến thắng và nhờ khám phá của các quyền lực, nhưng là những hoạt động sâu rộng của tinh thần con người, cũng như sự liên đới giữa các người trong dân chúng với nhau”.

Nếu để ý theo dõi tình hình tại Việt Nam, chúng ta cũng phải thấy một sự thức tỉnh của quần chúng đang trở thành một sức mạnh tinh thần mỗi ngày mỗi lớn mạnh. Quần chúng Việt Nam hôm nay đang đọc lịch sử hôm nay với cái nhìn mới.

Theo tôi thấy, thì đồng bào Việt Nam hôm nay cũng rất mong muốn và hoan nghênh những hành động sống tình thương như Đức Kitô, nhưng đâu là những dấu chỉ sống động cộng tác vào ơn mạc khải của Chúa? Hội Thánh phải là dấu chỉ, mỗi cộng đoàn đức tin phải là dấu chỉ. Nhưng trên thực tế, dấu chỉ đó chưa được rõ nét. Tôi không có tham vọng được thấy ở Giáo Hội Việt Nam nhiều dấu chỉ rực sáng như Mẹ Têrêxa Calcutta, nhưng tôi khát mong ít là các giáo sĩ, tu sĩ và các tông đồ giáo dân quyết tâm rèn luyện chính mình và đào tạo những kẻ thuộc về mình theo gương Mẹ Têrêxa. Đó là ngôi sao Phúc Âm đích thực.

Trong bài diễn văn đọc trước Hội đồng Giám mục Việt Nam ngày 29-11-1990, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II quả quyết: “Không ai có thể nghi ngờ rằng người Công giáo không thật sự sẵn sàng hiến thân phục vụ các người nghèo khổ, các người xấu số, các bệnh nhân, trong viễn tượng một xã hội có công lý, tình yêu thương, và nền thịnh vượng”. Lời khẳng định trên đây của Đức Thánh Cha là một lời khen và là một lý tưởng.

Nhưng cách đây ít ngày, tôi đã nghe một số người cả Lương lẫn Giáo phát biểu là họ thật sự nghi ngờ về lòng bác ái công bình của người Công giáo Việt Nam đối với những kẻ mình không ưa, kể cả không ưa chỉ vì lý do khác quan điểm, khác gốc gác, và vì những thành kiến hẹp hòi. Cách trả lời tốt nhất cho những nghi ngờ như thế là hãy tỏ ra mình thực sự công bình bác ái qua những việc làm và thái độ cụ thể.

Một trong những việc cụ thể, mà Đức Thánh Cha đã nhấn mạnh trong bài diễn văn trên, là việc hoà giải. Ngài nói: “Ước gì các tín hữu luôn luôn hành động cho việc canh tân Giáo Hội và xứ sở họ, trong tinh thần hoà giải giữa các người Công giáo tại những nơi cần đến hoà giải, giữa người Công giáo và những người đồng hương thuộc các tín ngưỡng khác nhau tại những nơi còn có những chống đối gay gắt. Đừng để lại một sự cắn đắng nào giữa anh chị em của một dân tộc. Tất cả mọi người hãy cởi mở tâm hồn tiếp theo giáo huấn mới mẻ của Phúc Âm, và tiến đến hy vọng về một thế giới được hoà giải trong bình an”.

Tôi cảm tạ Đức Thánh Cha đã nói lên ý đó. Đây là những lời nhắc nhở ân cần có liên hệ mật thiết đến mục vụ tại Việt Nam lúc này. Tôi nghĩ rằng đã đến thời điểm mà tinh thần hoà giải sẽ được coi là dấu chỉ của một tín hữu tốt. Đã đến thời điểm, mà một giáo sĩ thiếu tinh thần hoà giải sẽ bị coi là phản chứng, phản lại Phúc Âm và phản lại Hội Thánh.

Sự hoà giải đích thực phải xuất phát từ lòng trung tín trưởng thành đối với Đức Kitô và Phúc Âm Người, và từ lòng trung tín trưởng thành đối với Tổ quốc Việt Nam, cũng như từ lòng trung tín trưởng thành đối với mọi sự thực.

Long Xuyên ngày 2-2-1991  (Trích báo CG&DT, số 802, ngày 14-4-1991).


 

Bùi-Tuần 0263: DẤU CHỈ CẦU NGUYỆN 01-03-1991


(Bài nói chuyện của Đức Cha GB. Bùi Tuần với các Linh mục tu sĩ, tháng 03-1991)

 

Nhân ngày lễ thánh Giuse 19-03-1991 là bổn mạng Giáo hội Việt Nam 01-03-1991 Bùi-Tuần 263


Nhân ngày lễ thánh Giuse 19-03-1991 là bổn mạng Giáo hội Việt Nam sắp đến, tôi xin nhắc lại mấy ước vọng về Giáo hội Việt Nam mà Đức thánh Cha Gioan-Phaolô đã đưa ra trong diễn văn của Ngài, dịp tiếp các Đức giám Mục Việt Nam ngày 24-11-1990. Theo nguyên văn, thì các ước vọng này được Đức thánh Cha đặt nơi Hội đồng Giám mục Việt Nam, nhưng theo ý nghĩa, thì thiết tưởng các ước vọng ấy cũng được đạt cho Giáo hội Việt Nam nói chung, và cho từng Giáo phận Việt Nam nói riêng, đặc biệt là cho mọi người giáo sĩ chúng ta
.
Vậy xin tóm lược những ước vọng mà Đức thánh Cha đã nói lên như sau:

1- ƯỚC VỌNG THỨ NHẤT:

Đào sâu những suy tư của mình về các dấu chỉ thời đại, về các nhu cầu của tín hữu, về các linh-hoạt phụng vụ, và về các phương tiện huấn luyện cần được dự phòng.

Đây là những đề tài Đức thánh Cha kêu gọi chúng ta phải suy nghĩ và phải đào sâu những suy nghĩ đó. Tôi thấy ngay các vấn đề gọi là suy tư về dấu chỉ thời đại, mình vẫn chưa làm đúng, chưa làm nhiều. Nếu hỏi chúng ta rằng: Hiện nay, tại Việt Nam, những gì là dấu chỉ thời đại, chưa chắc chúng ta đã nắm bắt được, nói chi đến việc đào sâu suy tư về những dấu chỉ đó.

Rồi Đức thánh Cha ước vọng đào sâu suy tư về những nhu cầu của tín hữu. Chúng ta cũng ít để ý nhu cầu khách quan, nhu cầu chủ quan, từng nơi, từng địa phương, từng thời điểm.

Rồi về các linh-hoạt phụng vụ. Phụng vụ phải làm sao cho đẹp, cho hay, cho có hồn, cho hấp dẫn, từ bài giảng cho đến những lễ nghi. Những cái đó, không biết chúng ta đã để ý, đã đào sâu chưa.

Rồi về những phương tiện huấn luyện cần được dự phòng. Những phương tiện thuộc về cơ cấu, như là các lớp giáo lý, các bài giảng trong nhà thờ, tất nhiên chúng ta phải quan tâm để ý. Nhưng cũng cần phải để ý đến những phương tiện huấn luyện ngoài cơ chế nữa, như là những nhóm cầu nguyện, những nhóm chia sẻ, những nhóm học hỏi Lời Chúa. Không biết chúng ta có để ý đến những vấn đề mà Đức thánh Cha đã gợi lên không. Mà Ngài nói, phải để ý và dự phòng, để khi thời thế mở ra, chúng ta có sẵn những phương tiện và những người để huấn luyện. Đó là ước vọng thứ nhất trong vấn đề đào sâu suy tư.

2- ƯỚC VỌNG THỨ HAI:

Đức thánh Cha mong muốn, là phát triển đời sống bên trong của Giáo hội Việt Nam.

Đời sống bên trong không phải là các kỷ luật mà thôi, cũng không phải chỉ là học những chân lý về thần học, Kinh thánh. Đời sống bên trong mà Đức thánh Cha muốn, thiết nghĩ chính là đời sống Đức Kitô, đời sống của Thiên Chúa, đời sống bắt gặp được những bước đi, những suy tư, những tâm tình của Đức Kitô đối với Đức Chúa Cha, đối với nhân loại. Điều đó, nhiều khi chúng ta vẫn chưa làm đúng, vẫn chưa làm đủ theo nguyện vọng của Đức thánh Cha.

3- ƯỚC VỌNG THỨ BA:

Của Đức thánh Cha về Giáo hội Việt Nam, về từng Giáo phận, về từng giáo đoàn, là hãy hiểu rõ hơn vị trí của Giáo hội địa phương mình trong xã hội mình sống, và biết đặt Giáo hội địa phương của mình đúng chổ của nó trong cuộc sống dân tộc. Thí dụ như bây giờ Tòa giám mục Longxuyên, giáo xứ Longxuyên, giáo xứ Cần Sây,giáo xứ Thới Thạnh vv...Chúng ta cần phải hiểu xem, mình là men, là muối, là ánh sáng, thì địa vị của mình, chỗ đứng của mình trong xã hội hôm nay phải như thế nào, để đúng là men là muối, là ánh sáng. Đức Giáo Hoàng kêu gọi chúng ta phải biết địa vị của mình trong xã hội mà mình được sai đến làm chứng cho Chúa. Không phải chỉ hiểu biết, mà còn phải biết cách đặt cộng đoàn của mình vào đúng vị trí của nó.

4- ƯỚC VỌNG THỨ TƯ:

Mà Đức Giáo Hoàng đặt ra cho chúng ta, là phải góp phần hàn gắn những vết thương quá khứ và xây dựng cuộc sống chung của đất nước.
Những vết thương của quá khứ tại Việt Nam nói chung, tại
 từng địa phương nói riêng thì rất nhiều. Những vết thương ở trong lòng mỗi người, do chiến tranh để lại, do hận thù chia rẽ, nghi kỵ để lại, do những vết thương trên cầu cống, trên đường xá, trên nhà trường vẫn còn đó. Rồi vết thương trong nếp sống, những hủ tục, những thói quen xấu vẫn chưa sửa được. Có nhiều vết thương, mà Đức thánh Cha nói rằng: Giáo hội Việt Nam, chung cũng như từng địa phương, phải nghĩ đến vấn đề góp phần hàn gắn những vết thương đó, xoa dịu những vết thương đó, và phải góp phần xây dựng cuộc sống chung của đất nước Việt Nam hôm nay.

5- ƯỚC VỌNG THỨ NĂM:

Của Đức thánh Cha gởi cho Việt Nam, là hãy làm thế nào để lôi cuốn mọi người vào phong trào cầu nguyện sốt sắng.

Khi nói đến vấn đề cầu nguyện, tôi nghĩ: Đức Giáo Hoàng nghĩ sâu hơn vấn đề đọc kinh bằng môi bằng miệng. Cầu nguyện sốt sắng, thiết tưởng theo ý Đức thánh Cha, là một sự gặp gỡ Thiên Chúa, và mở rộng về phía con người, theo sự cầu nguyện của Đức Kitô, và nếu Đức thánh Cha đã đưa ra vấn đề đó như là một ước vọng, tất nhiên là Đức thánh Cha thấy chúng ta đọc kinh nhiều, nhưng chưa chắc là đã cầu nguyện.

6- VÀ ƯỚC VỌNG SAU CÙNG:

Của Người đặt ra cho Giáo hội Việt Nam chúng ta, là hãy hoạt động cho việc canh tân Giáo hội trong tinh thần hòa giải giữa các người Công giáo với nhau, và giữa các người Công giáo và người đồng hương ngoài Công giáo.

Về vấn đề này, ước vọng của Đức thánh Cha là chính đáng và khẩn cấp. Ngài coi việc hoà giải giữa các người Công giáo với nhau và giữa các người Công giáo và người đồng hương ngoài Công giáo, như là một sự canh tân Giáo hội Việt Nam.

Vậy hôm nay, trong tinh thần muốn đáp lại những ước vọng trên của Đức thánh Cha, tôi xin chia sẻ một vài suy tư của tôi về dấu chỉ thời đại tại Việt Nam lúc này.

Tất cả những ước vọng của Đức thánh Cha mà tôi vừa trình bày, sẽ là chương trình để chúng ta suy nghĩ cả năm nay trong các kỳ cấm phòng tháng. Nhưng hôm nay, tôi bắt đầu bằng sự chia sẻ suy tư của tôi về dấu chỉ thời đại Việt Nam lúc này.

I. DẤU CHỈ THỨ NHẤT.

Theo tôi, là hiện tượng cầu nguyện đang bùng lên khắp nơi trong các người ngoài Công giáo ở Việt Nam. Một hiện tượng đang bùng lên, đang bùng nổ, đang lan ra khắp nơi trong các người Công giáo, và trong các đồng bào ngoài Công giáo.
Cách đây mấy ngày, tôi ở thành phố Hồ chí Minh, và nhân dịp rằm tháng giêng (1991), tôi đã được chứng kiến, đúng là một sự bùng nổ về cầu nguyện của người Phật tử. Khắp các chùa chiền đầy ních những người. Khắp các đường phố đầy những người đi lại đến các chùa chiền cầu nguyện. Hiện tượng cầu nguyện của những người ngoài Công giáo được nhận thấy ít lâu nay khắp nơi. Hoặc là tại các nơi thờ tự, hoặc là tại các gia đình, hoặc là tại các nghĩa trang, và trong mọi cơ hội: Như lễ tang, lễ giỗ, lễ cưới, ngày đầu năm.

Những người ngoài Công giáo ở Việt Nam hôm nay cầu nguyện rất nhiều. Họ có thói quen cầu nguyện hằng ngày trong gia đình. Trước “Nhà ma” của tôi, tối nào tôi cũng được thấy cảnh mấy gia đình người Phật giáo cầu nguyện ban chiều. Cứ đến giờ đó, tôi thấy họ thắp nến, thắp nhang, mặc áo dài, và quì lạy đọc kinh, trước mặt mọi người qua lại.

Những người đi chùa cầu nguyện, phần đông lại là giới trẻ. Đây cũng là một hiện tượng có tính cách khác thường. Mà giới trẻ này gồm đủ mọi thành phần: Không thiếu những người văn minh, không thiếu những người giàu sang, không thiếu những người có học. Tâm tình cầu nguyện, cũng đã nhận thấy xuất hiện ở nhiều kịch bản tôi đã xem: Ở tivi, ở nhiều bài thơ, ở nhiều bài hát, và ở nhiều tiểu thuyết hiện nay. Người ta chen vào những nét văn nghệ bây giờ những lời than thở, những lời cầu nguyện hoặc là với trời đất, hoặc là với thần linh nào đó. Những tâm tình cầu nguyện đó đã thấy xuất hiện khắp nơi, nơi những người ngoài Công giáo.

Nói chung, thì việc cầu nguyện được thực hiện một cách tự phát, hồn nhiên, đơn sơ. Trong đạo mình thường cầu nguyện theo công thức, theo những kinh đã thuộc, còn hiện tượng đang bùng nổ trong những người ngoài Công giáo ở Việt Nam thì có tính cách tự phát hồn nhiên, đơn sơ, hoặc là để thề hứa một điều gì, hoặc là để xin một ơn gì, hoặc là để tạ ơn thần linh. Xem ra phần đông người Việt Nam có tính dễ dàng trong vấn đề cầu nguyện với thần thánh. Họ cầu nguyện với bất cứ thần thánh nào, mà họ nghĩ rằng có quyền năng hỗ trợ cho họ, bất cứ thần thánh đó thuộc về tôn giáo nào. Điều này khác với não trạng của người Công giáo.

Trước đây, tại nhiều nơi, việc cầu nguyện bị bài bác. Nhưng hôm nay, việc cầu nguyện xem ra được coi như bình thường và được kính nể. Đấy là tôi vừa nói tất cả những cái đó, gói trọn trong cái từ “Hiện tượng cầu nguyện bùng nổ” như một dấu chỉ thời đại. Hiện tượng cầu nguyện đang lan rộng ra ở các người ngoài Công giáo, đây, phải được coi là một dấu chỉ tốt. Nhìn hiện tượng này, tôi thấy Chúa Thánh thần đang hoạt động mạnh mẽ trong lịch sử. Người làm việc một cách hết sức tự do, ngoài mọi khuôn khổ, ngoài mọi cơ chế. Đức thánh Cha Gioan-Phaolô 2, khi giải thích việc người cầu nguyện chung với các đại diện các tôn giáo tại Assisie năm 1988 cho hòa bình, thì Ngài nói rằng: “Mọi việc cầu nguyện chính đáng, chân thành từ lương tâm, đều do thánh Linh” Và điều đó cũng hợp quan điểm của cộng đồng Vatican 2:” Bất cứ sự gì tốt, đều do Thánh linh mà ra”. Chúa Thánh Thần hoạt động như một luồng gió, muốn thổi đâu thì thổi, để đổi mới con người, theo lương tâm của họ. Vậy đứng trước dấu chỉ thời đại đang bùng nổ tại Việt Nam, đó là hiện tượng cầu nguyện lan tràn, thì chúng ta, các Linh mục, tu sĩ, cần nhạy bén và suy nghĩ trước hiện tượng đó.

Trước hết, qua dấu chỉ hiện tượng cầu nguyện, chúng ta hiểu Chúa muốn chúng ta phải để ý hơn đến việc cầu nguyện của chính chúng ta. Những người ngoài Công giáo đang bắt đầu cầu nguyện nhiều hơn, thì tại sao chúng ta lại lơ là việc cầu nguyện. Họ cầu nguyện tự phát, từ đáy lòng mình, thì tại sao chúng ta lại cầu nguyện bằng môi bằng miệng mà không để tâm hồn vào trong sự cầu nguyện.

Qua dấu chỉ thời đại này, Chúa muốn chúng ta chỉnh đốn lại việc cầu nguyện của chính chúng ta. Cầu nguyện làm sao để trở thành sự gặp gỡ Chúa bằng Đức tin, Đức cậy, Đức mến, bằng sự phó thác đơn sơ. Nhưng đồng thời, cầu nguyện cũng là nâng tâm hồn lên tới Chúa và mở tâm hồn ra về khía cạnh khác. Thường khi cầu nguyện chúng ta chỉ chú ý tới hướng tâm hồn lên tới Chúa. Nhưng suy nghĩ kỹ về cách Chúa Kitô cầu nguyện với Đức Chúa Cha, chúng ta thấy, ngoài việc nâng tâm hồn lên với Chúa Cha, Đức Kitô còn mở tâm hồn mình ra về phía kẻ khác:” Lạy Cha, xin Cha tha tội cho chúng, vì chúng lầm không biết”. Một đàng thì nâng tâm hồn lên với Đức Chúa Cha. Nhưng một đàng mở tâm hồn ra về phía kẻ khác. Phúc âm nói: Chúa Kitô ngước mắt lên trời cầu nguyện:” Lạy Cha, con cầu nguyện cho những người sẽ tin con”.

Qua dấu chỉ cầu nguyện đang bùng nổ nơi những người ngoài Công giáo Việt Nam hôm nay, chúng ta cũng hiểu Chúa muốn nhắn nhủ chúng ta, hãy lưu ý hơn nữa các tín hữu của ta quan tâm đến việc cầu nguyện. Nhiều người bỏ cầu nguyện, nhiều người cầu nguyện bằng môi bằng miệng, nhiều người chỉ cầu nguyện với Chúa mà quên mở tâm hồn mình ra với con người, nhiều người mở tâm hồn mình ra với con người, nhưng lại quên nâng tâm hồn lên tới Chúa. Chúa kêu gọi chúng ta lưu ý đến tín hữu của ta về việc cầu nguyện.

Tại bên Tây bây giờ, để tái Phúc-âm-hóa những nơi bỏ đạo, Đức Thánh Cha nhấn mạnh đến những nhóm cầu nguyện tự phát. Ngài muốn cho những người tin Chúa hẵy cầu nguyện tự đáy lòng mình. Không phải bỏ những công thức kinh kệ có sẵn thuộc lòng. Nhưng cũng khuyên người ta, ngoài những công tác đó, hãy năng cầu nguyện riêng, cầu nguyện vắn tắt, cầu nguyện khắp nơi, cầu nguyện gắn liền với cuộc sống và nhịp sống, để sự cầu nguyện trở thành lương thực thường xuyên của linh hồn.

Tôi đi nhiều xứ thấy rằng, giáo dân của mình thuộc kinh nhiều, đọc kinh nhiều nhưng hễ rời những công thức đó ra, là không biết cầu nguyện, không biết làm gì khi chưa xướng kinh, chưa “Nhân danh Cha ...” Họ không biết làm gì, là bởi vì họ chưa được huấn luyện đầy đủ về sự cầu nguyện riêng. Họ chỉ biết đọc kinh mà không cầu nguyện.

Đề cập đến việc cầu nguyện, tưởng cũng nên tạo những điều kiện thuận lợi, để nhà thờ chúng ta, để lễ lạy của ta, tượng ảnh của ta, thánh ca của ta có sức hấp dẫn, gúp cho các người ngoài Công giáo dễ cầu nguyện với ta, theo lương tâm của họ.

Tôi đi nhiều nơi và ngay tại chính Longxuyên này, tôi nhận thấy rằng, một số người ngoài Công giáo đã đến dự lễ của ta, cầu nguyện với ta, đa số là thanh niên. Lý do một phần là vì nhà thờ chúng ta có một cái gì hấp dẫn, là vì phụng vụ chúng ta có cái gì hấp dẫn, là vì bài giảng của vị chủ lễ có một cái gì hấp dẫn, là vì ảnh tượng của chúng ta, thánh ca của chúng ta, có một cái gì hấp dẫn. Vậy, hãy tạo ra điều kiện thuận lợi, để những phương tiện cầu nguyện của chúng ta