Suy tư của Đức Cha Gioan B Bùi-Tuần Bài 351-400

Thứ ba - 12/02/2019 10:50
Suy tư của Đức Cha Gioan B Bùi-Tuần Bài 351-400
Suy tư của Đức Cha Gioan B Bùi-Tuần Bài 351-400
Suy tư của Đức Cha Gioan B Bùi-Tuần Bài 351-400

Bùi-Tuần 0351: TÂM TÌNH CẦU NGUYỆN 22-01-1993. 2
Bùi-Tuần 0352: CHIẾC KHĂN 01-01-1993. 3
Bùi-Tuần 0353: XÂY DỰNG CON NGƯỜI TRÁCH NHIỆM 07-01-1993. 5
Bùi-Tuần 0354: NHỮNG ĐỨC TÍNH NHÂN BẢN 07-01-1993. 8
Bùi-Tuần 0355: SỐNG LỜI TIÊN TRI 03-02-1993. 12
Bùi-Tuần 0356: NHỮNG VIỆC LÀNH TOẢ SÁNG 07-02-1993. 14
Bùi-Tuần 0357: CHẠM TỚI ĐỨC KITÔ 08-02-1993. 17
Bùi-Tuần 0358: NHẬN ĐỊNH VỀ TRUYỀN GIÁO 09-02-1993. 21
Bùi-Tuần 0359: TUYÊN XƯNG SỰ SỐNG LẠI 21-03-1993. 24
Bùi-Tuần 0360: ĐẶC ĐIỂM CủA ĐỜI TU 14-02-1993. 26
Bùi-Tuần 0361: XỨNG ĐÁNG LÀ BIẾT MÌNH BẤT XỨNG 06-04-1993. 29
Bùi-Tuần 0362: TIẾNG NÓI CủA HAI BÀN TAY ĐỨC KITÔ 08-04-1993. 31
Bùi-Tuần 0363: SỰ SỐNG LẠI CỦA ĐỨC KITÔ.. 33
Bùi-Tuần 0364: HUẤN LUYỆN ĐỨC TIN 14-04-1993. 35
Bùi-Tuần 0365: Vẻ ĐẸP TRẻ TRUNG CủA ĐỨC KITÔ 23-03-1993. 38
Bùi-Tuần 0366: THÁNH Ý CHÚA CHA 24-03-1993. 41
Bùi-Tuần 0367: TUYÊN XƯNG VIỆC CHÚA SỐNG LẠI NGÀY HÔM NAY.. 45
Bùi-Tuần 0368: ĐỪNG SỢ, HÃY CẬY TRÔNG 14-04-1993. 47
Bùi-Tuần 0369: SỰ KHIÊM TỐN ĐỨC KITÔ 22-04-1993. 49
Bùi-Tuần 0370: CÁI NHÌN KHÔN NGOAN 02-05-1993. 52
Bùi-Tuần 0371: ƠN GỌI TRở VỀ …..1993. 55
Bùi-Tuần 0372: TUÂN GIỮ ĐIỀU CHÚA DẠY 13-05-1993. 59
Bùi-Tuần 0373: HÌNH THỨC MỚI CủA TÂN PHÚC ÂM HOÁ14-05-1993. 62
Bùi-Tuần 0374: NHÂN CHỨNG CủA ĐỨC TIN 15-05-1993. 66
Bùi-Tuần 0375: TRở VỀ VỚI CHÚA 23-05-1993. 67
Bùi-Tuần 0376: MANG TÌNH YÊU THIÊN CHÚA 26-5-93. 71
Bùi-Tuần 0377: LỬA CHÚA THÁNH LINH 30-05-1993. 74
Bùi-Tuần 0378: CHIẾC LƯỚI 02-06-1993. 77
Bùi-Tuần 0379: ĐẤNG AN ỦI 30-5-1993. 78
Bùi-Tuần 0380: SÁM HỐI TRỞ VỀ VỚI THÁNH TÂM 18-06-1993. 81
Bùi-Tuần 0381: DỌN ĐƯỜNG CHO CHÚA 24-06-93. 83
Bùi-Tuần 0382: SỰ HẤP DẪN NƠI ĐỨC KITÔ 07-07-1993. 85
Bùi-Tuần 0383: ƠN ĐÓN NHẬN ĐỨC KITÔ 14-07-1993. 88
Bùi-Tuần 0384: ĐỔI MỚI TÂM HỒN 29-07-1993. 89
Bùi-Tuần 0385: ĐIỀU CHÚA PHIỀN TRÁCH 05-08-1993. 92
Bùi-Tuần 0386: TRÁI TIM ĐỨC KITÔ 06-08-1993. 94
Bùi-Tuần 0387: ƠN ĐỨC TIN 07-08-1993. 96
Bùi-Tuần 0388: TRỞ VỀ VỚI ĐỨC KITÔ 10-08-1993. 99
Bùi-Tuần 0389: VINH QUANG LỚN NHẤT 14-08-1993. 101
Bùi-Tuần 0390: HOA TÌNH THƯƠNG 15-08-1993. 104
Bùi-Tuần 0391: MẾN CHÚA YÊU NGƯỜI 20-08-1993. 106
Bùi-Tuần 0392: PHỤC VỤ TRONG KHIÊM TỐN 21-08-1993. 108
Bùi-Tuần 0393: PHỤC VỤ LỚN NHẤT.. 111
Bùi-Tuần 0394: NÉT DỄ THƯƠNG 21-08-1993. 113
Bùi-Tuần 0395: TINH THẦN VATICĂNG II 115
Bùi-Tuần 0396: SÁNG KIẾN BẤT NGỜ 22-08-1993. 118
Bùi-Tuần 0397: NIỀM HY VỌNG 05-09-1993. 121
Bùi-Tuần 0398: NIỀM CẬY TRÔNG 28-10-1993. 123
Bùi-Tuần 0399: CẢM TƯỞNG VỀ MỘT SỰ ĐỔI MỚI 02-11-1993. 125
Bùi-Tuần 0400: NHIỆM VỤ LINH MỤC 04-11-1993. 127
------------------------
 

Bùi-Tuần 0351: TÂM TÌNH CẦU NGUYỆN 22-01-1993


Long Xuyên Thánh lễ Đầu Năm Quí Dậu
 

Trong những ngày giáp Tết và giờ phút Đầu Năm Mới, tôi được thấy: 22-01-1993 Bùi-Tuần 351


Trong những ngày giáp Tết và giờ phút Đầu Năm Mới, tôi được thấy biết bao vẻ đẹp. Đâu cũng thấy hoa đẹp. Đâu cũng thấy áo quần đẹp. Đâu cũng thấy đồ vật đẹp. Đâu cũng thấy những thái độ đẹp.

Trước muôn vẻ đẹp, tôi đã hỏi Chúa rằng: Ngày Tết tại địa phương này, đối với Chúa, cái gì là đẹp nhất? Sau một thoáng cầu nguyện, tôi nghe Chúa trả lời: Cái được coi là đẹp nhất chính là tâm tình cầu nguyện. Và tôi hiểu tâm tình cầu nguyện mà Chúa nói đây gồm mọi thứ cầu nguyện, không loại trừ hình thức nào: Cầu nguyện tự phát hay cầu nguyện theo công thức. Cầu nguyện riêng hay cầu nguyện chung. Cầu nguyện tại gia đình hay tại nhà thờ, chùa chiền, thánh thất. Miễn là tâm tình cầu nguyện có sự chân thành. ở đây tôi nhớ lại lời Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã quả quyết: “Mọi lời cầu nguyện, nếu là chân thành, đều do Chúa Thánh Thần thúc đẩy”. Ngài nói lời đó, khi đề cập đến các giá trị thiêng liêng của các người ngoài Hội Thánh Công Giáo.

Giờ đây, những giá trị thiêng liêng do tâm tình cầu nguyện nơi những người công giáo và nơi những người không công giáo đang làm nên một mùa Xuân hiệp thông trên địa phương ta. Có vô vàn hoa thiêng của mùa Xuân hiệp thông đang nở trong các trái tim. Có vô vàn ánh sáng nhiệm mầu của mùa Xuân hiệp thông đang loé lên từ các tâm hồn.

Riêng nơi anh chị em, tâm tình cầu nguyện là rất chân thành. Chân thành với nhận thức cần mở tâm hồn ra hướng về Thiên Chúa, để đón nhận tình yêu cứu độ của Ngài. Chân thành với nhận thức cần mở tâm hồn ra hướng về Tổ Quốc, Tổ Tiên, Ông Bà, Cha Mẹ và các ân nhân, để tỏ lòng hiếu thảo và biết ơn. Chân thành với nhận thức cần mở tâm hồn ra hướng về mọi người xung quanh, để chia sẻ và trao đổi tình thương phục vụ.

Trong mọi tâm tình cầu nguyện đều có đón nhận và đều có cho đi. Vì thế, cũng trong tâm tình cầu nguyện ngày đầu Xuân, mỗi gia đình anh chị em sẽ lãnh nhận một bản lời Chúa như một món quà Chúa gởi tặng. Lời Chúa là nguồn ban sự sống. Và cũng trong tâm tình cầu nguyện ngày đầu Xuân, chúng ta sẽ cho nhau những gì là cứu độ, là thăng tiến, và là bình an.

Một cách đặc biệt chúng ta nghĩ tới những người nghèo túng, cô đơn, bệnh tật. Từ mấy ngày nay, chúng tôi nhận được nhiều lời kêu cứu. Bởi vì, số gia đình không đủ gạo ăn ngày tết là rất đáng kể. Tại các vùng quê và ngay tại thị xã. Tình cảnh này báo hiệu một năm mới có nhiều khó khăn mới bên cạnh nhiều hy vọng mới.

Chính vì thế, mà tâm tình cầu nguyện càng cần thiết cho chúng ta trong năm mới này. Giờ đây tôi xin dâng lên Chúa tâm tình cầu nguyện của chúng ta. Tôi hy vọng, nhờ ơn Chúa giúp, tâm tình cầu nguyện sẽ mãi mãi là hành trang cho mỗi người chúng ta trên suốt hành trình cuộc sống nói chung, và trên suốt quãng đời Năm Mới này nói riêng, để nhờ đó, trong mọi người và trong mọi biến cố, chúng ta sẽ gặp được Chúa là Đấng Cứu Độ đầy tình yêu thương xót.

Lạy Chúa, xin thương đỡ nâng con suốt cuộc đời. Lạy Mẹ Maria, Mẹ nhân lành, xin cầu cho chúng con là kẻ có tội khi nay và trong giờ lâm tử. Amen.

Thánh lễ Đầu Năm Quí Dậu tại nhà thờ Long Xuyên, ngày 22-01-1993.

 

Bùi-Tuần 0352: CHIẾC KHĂN 01-01-1993


Lễ Đức Mẹ là Mẹ Thiên Chúa -  Luca 2,16-22

Lễ Thêm Sức Cần Thay
 

Đêm vừa qua, tôi chợt tỉnh giấc lúc 12 giờ, và đột nhiên tôi nhớ, lúc: 01-01-1993 Bùi-Tuần 352


Đêm vừa qua, tôi chợt tỉnh giấc lúc 12 giờ, và đột nhiên tôi nhớ, lúc này là giây phút đầu tiên của năm mới 1993. Tôi dâng mình và địa phận cho Chúa và Đức Mẹ. Tôi nói với Chúa rằng: Sang năm mới, con xin Chúa giúp con và những người thuộc về con, biết sống một đời sống có ích lợi cho Hội Thánh và cho đồng bào.

Khi nói lời cầu ấy tôi cảm thấy lạnh do thời tiết nửa đêm, tôi liền đi tìm một cái khăn để quấn cổ. Tự nhiên, tôi nghĩ tới chiếc khăn đã làm cho Chúa Kitô trong hang đá được ấm áp. Và do cử chỉ đó, tôi nghĩ rằng: Trong hang đá Bêlem, chiếc khăn, tuy đơn sơ bé nhỏ, nhưng đúng là một cái gì có lợi. Nó có lợi cho Hài Nhi Giêsu, vì giúp cho Hài Nhi Giêsu được ấm áp, khỏi rét lạnh. Nó có lợi cho Đức Mẹ, vì cái khăn là một vật dụng thông thường, cần thiết cho các người mẹ khi chăm sóc đứa con bé bỏng của mình. Rồi, nó có lợi cho các mục đồng, vì nó là dấu chỉ để các mục đồng nhận ra Đấng Cứu Thế. Bởi vì thiên thần đã nói với họ: Khi các anh gặp thấy một Hài Nhi, quấn trong chiếc khăn và đặt trong máng cỏ, thì các anh biết đó là Đấng Cứu Thế.

Những hình ảnh thoáng qua trên đây đã đưa tôi đến kết luận rằng: để đời mình trở nên có ích lợi cho Hội Thánh, cho đồng bào, thì mình hãy trở nên như chiếc khăn trong tay Đức Mẹ. Đơn sơ thế thôi.

Và qua những tư tưởng vắn gọn trên đây, tôi có cảm tưởng Chúa muốn nói với tôi rằng: Sang năm mới 1993, cái cách sống mà Chúa muốn tôi và những người cộng tác với tôi thực hiện để làm ích cho Hội Thánh Việt Nam, cho đồng bào Việt Nam, là sống đơn sơ, khiêm tốn, nhưng có chất lượng, nặng phần mến Chúa, yêu người.

Với cái nhìn trên đây, tôi thấy chúng ta đã và đang được Chúa dẫn vào con đường Chúa chọn. Tôi đang thấy hình ảnh đơn sơ đạo đức, nhưng đầy chất lượng này có mặt ở khắp nơi trong địa phận, nhất là những cộng đoàn nhỏ, những nhóm nhỏ, những con người sống tinh thần bé nhỏ.

Ngay tại họ đạo Cần Thay đây, tôi cũng đã từng nhìn thấy hình ảnh đơn sơ bé nhỏ nhưng đầy chất lượng đó.

Cuộc lễ hôm nay sốt sắng trang nghiêm, nhưng hình thức đơn sơ khiêm tốn.

Khi bắt đầu rước vào nhà thờ tôi nghe anh chị em hát: “Con muốn là bông hoa nhỏ. Con muốn là con đường nhỏ. Con muốn là ngôi sao nhỏ”. Khi nghe những lời hát ấy tôi nhận ra ngay: Con đường Chúa muốn chúng ta đi tại họ đạo này là: Đơn sơ bé nhỏ nhưng đầy chất lượng.

Khi nghe những lời hát ấy, tôi đã nói với Chúa rằng: Nếu con không xứng đáng là bông hoa nhỏ, nếu con không xứng đáng là ngôi sao nhỏ, nếu con chưa xứng đáng là con đường nhỏ, thì con sẵn sàng là tấm khăn nhỏ để Chúa lau cho những người tội lỗi, cho những người khổ đau, cho những người cô đơn. Chiếc khăn nhỏ sẽ được Chúa dùng để lau sạch những bụi bặm của người khác, rồi Chúa vất đâu thì vất, miễn là phục vụ được các linh hồn.

Tôi nghĩ rằng: Đơn sơ, khiêm tốn, bé nhỏ, đó là một bài học đạo đức mà Chúa dạy rất rõ, qua những biến cố, và nhất là qua bài Phúc Âm hôm nay: Con Thiên Chúa giáng trần trong hình thức đơn sơ, khiêm tốn. Đức Maria, Mẹ Thiên Chúa sống một cách đơn sơ khiêm tốn. Phúc Âm hôm nay nói: “Ngài ghi nhận và suy nghĩ trong lòng”. Rất âm thầm, rất khiêm tốn, rất ẩn dật. Nhìn thấy các việc Chúa làm cho mình, nhưng không muốn nói ra, cứ để trong lòng, suy nghĩ để tạ ơn Thiên Chúa.

Trong thánh lễ Thêm Sức hôm nay, cũng là ngày lễ đầu năm, tôi thấy Chúa Quan Phòng đã muốn tôi đến giữa anh chị em, một cộng đoàn nhỏ, một nơi khó nghèo, một nơi đơn sơ, với những tâm hồn khiêm tốn, nhưng có một tình bác ái vị tha chan hòa với nhau, thì đây là một dấu chỉ cho tôi và anh chị em, cũng như cho mọi người thiện chí biết rằng: Khởi đầu bằng con đường hôm nay, đơn sơ, bé nhỏ, phục vụ, vị tha, thì sẽ tiếp tục con đường ấy trong năm này. Tôi tin chắc đó là con đường Chúa muốn. Và nếu chúng ta trung thành với con đường khởi sự hôm nay: Đơn sơ, khiêm tốn, phục vụ, vị tha, thì chắc chắn vinh quang của Chúa sẽ tràn ra, và đây là thứ vinh quang, đi vào tận trái tim từng người. Bởi vì, ơn thánh của Chúa Thánh Linh đến với tâm hồn con người để đổi mới con người chứ không phải chỉ đổi mới nhà thờ, đổi mới áo quần, đổi mới cách mặc. Chỉ có con đường đó, là con đường Chúa đến với trần gian. Chỉ có con đường đó, là con đường Đức Mẹ đã làm vinh quang Thiên Chúa, mặc dầu Ngài là Mẹ Thiên Chúa.

Trong thánh lễ hôm nay, tôi chia sẻ với anh chị em những tư tưởng đầu tiên của năm mới 1993, và tôi cầu xin Chúa Thánh Linh giúp cho những tư tưởng này nảy sinh thành những mầm sống thiêng liêng, sẽ làm cho Hội Thánh và cho địa phận chúng ta nói chung, cộng đoàn chúng ta nói riêng, được luôn luôn phát triển, theo chiều hướng Chúa Thánh Linh hôm nay đã khơi dậy trong chúng ta. Amen.

Lễ Thêm Sức tại Cần Thay, dịp lễ Đức Mẹ là Mẹ Thiên Chúa, ngày 01-01-1993 .

 

Bùi-Tuần 0353: XÂY DỰNG CON NGƯỜI TRÁCH NHIỆM 07-01-1993


Kim Hòa (Kênh G1) Lễ Đặt Viên Đá đầu tiên và Làm Phép chuông
 

Sáng ngày mồng một, đầu năm mới dương lịch 1993, tôi đã chủ sự: 07-01-1993 Bùi-Tuần 353


Sáng ngày mồng một, đầu năm mới dương lịch 1993, tôi đã chủ sự làm phép viên đá đầu tiên để xây dựng nhà thờ Cần Thay, thuộc tỉnh An Giang. Sáng hôm nay, cũng thuộc về những ngày đầu năm 1993, tôi lại chủ sự làm phép chuông và làm phép những viên đá tượng trưng để tiếp tục xây dựng thánh đường Kim Hòa, thuộc tỉnh Cần Thơ. Chiều hôm nay, cũng là những ngày đầu năm mới 1993, tôi lại làm phép tượng và chủ sự nghi thức làm phép những viên đá để tiếp tục xây dựng và tu sửa nhà thờ Kitô Vua, kênh A2, thuộc tỉnh Kiên Giang. Như vậy, chỉ trong bảy ngày đầu năm, địa phận Long Xuyên đã có những nghi thức để xây dựng tu sửa, chỉnh trang những nhà thờ mới thuộc ba tỉnh của địa phận nhà.

Với ba nghi lễ làm phép, xây dựng và tu sửa thánh đường trên đây, tôi không nghĩ rằng: Năm 1993 này, chúng ta sẽ đặt trọng tâm vào việc xây dựng cơ sở vật chất các họ đạo. Nhưng tôi quả quyết rằng: Việc xây dựng cơ sở vật chất, chỉ là tiêu biểu và là phương tiện cho một trọng tâm khác, đó là xây dựng con người.

Xây dựng con người, đây mới là một trách nhiệm quan trọng mà Chúa đòi, mà Chúa hỏi, mà Chúa sẽ căn cứ vào để phán xét chúng ta. Xây dựng con người, đó là thánh ý Chúa, đó là điều chắc chắn nhất, không thể nào chối cãi.

Sáng nay, khi quỳ cầu nguyện trước Mình Thánh, suy gẫm về trách nhiệm xây dựng con người của bản thân mình trong năm mới, và trách nhiệm xây dựng con người của giáo phận Long Xuyên, tôi đã hỏi Chúa: “Đây là một trách nhiệm Chúa trao phó cho con. Vậy theo ý Chúa, khi xây dựng con người của bản thân con, của giáo phận con, Chúa muốn con nhấn mạnh đến điểm nào hơn hết? Nhất là trong thời điểm Việt Nam hôm nay?”. Tôi cầu nguyện, tôi chờ đợi, và một lát sau Chúa trả lời khá rõ trong lòng tôi rằng: “Con đang nghĩ đến trách nhiệm của con, thì đó, chính trách nhiệm là điều Chúa Thánh Linh đang gợi ý và đang hướng dẫn con. Có nghĩa là: Khi xây dựng con người, con hãy nhấn mạnh đến tinh thần trách nhiệm, để biết sống cho ra người, biết sống cho ra người Kitô hữu, biết sống cho ra người môn đệ của Chúa”.

Tôi nghĩ: Trách nhiệm, thì mỗi người đều có phần riêng của mình.

Nhìn hang đá Bêlem, tôi thấy Đức Mẹ có trách nhiệm riêng của người mẹ. Tôi thấy thánh Giuse có trách nhiệm riêng của người cha. Tôi thấy các mục đồng có trách nhiệm riêng của những người đến viếng Chúa, rồi lại ra đi. Tôi thấy trách nhiệm của Ba Vua, là những người đi tìm Chúa, rồi lại vâng lời thiên thần, trở về lối khác. Mỗi người có những trách nhiệm riêng. Đừng bắt chước trách nhiệm người khác, mà hãy nhìn vào trách nhiệm riêng của mình. Có những trách nhiệm thay thế được. Có những trách nhiệm không ai thay thế được.

Hôm qua, khi trao đổi với một số anh em linh mục của tôi về cuộc cấm phòng tuần tới, một cha đã nói với tôi là trong tuần tới Ngài bận rất nhiều công việc. Tôi gợi ý cho Ngài, nếu thực sự bận nhiều công việc, hoặc vì lý do bệnh hoạn, thì cha có thể được chuẩn chước. Nhưng cha ấy trả lời rằng: Đi cấm phòng, thì cũng như đi chịu phép Thêm Sức thiêng liêng. Đi cấm phòng là đi gặp Chúa, để lãnh ơn Chúa, để được Chúa Thánh Linh đổi mới. Đó là một trách nhiệm không ai thay thế con được, không có lý do gì, nếu không nghiêm trọng, thì con không thể bỏ đi cấm phòng.

Qua lời nói trên đây của một vị linh mục đạo đức, tôi thấy rằng: Mỗi người có những trách nhiệm riêng mà không ai thay thế được. Chẳng hạn như: Trách nhiệm phải nên thánh, trách nhiệm phải đón nhận ý Chúa, trách nhiệm phải mỗi ngày mỗi nên khôn ngoan hơn trong Thần Linh của Thiên Chúa. Trách nhiệm này không thể thay thế được bằng trách nhiệm khác, hay là nhờ người khác làm thay mình được.

Tối hôm qua, trên đài truyền hình có phổ biến chỉ thị của Thủ Tướng Chính Phủ. Chỉ thị ấy có đoạn nói về trách nhiệm đạo đức. Theo đó, khi tổ chức lễ lạc, sắm sửa, hãy để ý đến cảnh nghèo của đồng bào mình, để mà tự hạn chế.

Khi tôi nghe đến đoạn văn ấy, tôi nghĩ ngay đến dụ ngôn người phú hộ và người ăn mày Lagiarô. Chúa đòi người phú hộ phải có một cái nhìn liên đới với kẻ nghèo. Đó là một trách nhiệm, bởi vì khi người phú hộ không thực hiện trách nhiệm liên đới với kẻ nghèo, nên sau khi chết, ông bị kết án trong hỏa ngục đời đời.

Đây cũng là một suy nghĩ Chúa gợi ý cho tôi để khi suy nghĩ và thực hiện trách nhiệm của mình, cũng như là khi dạy dỗ đoàn chiên của mình, thì đừng quên cái nhìn liên đới, cái nhìn trách nhiệm, cái nhìn cảm thông.

Trong thánh lễ hôm nay, tôi đang nhìn thấy tinh thần liên đới và hiệp thông: Các cha ở chỗ khác tới, vì lý do liên đới hiệp thông. Các ân nhân xa gần, đang có mặt nơi đây, cũng vì lý do liên đới hiệp thông. Đây là một đức tính quan trọng, khi chúng ta thực hiện tinh thần trách nhiệm.

Trong một cuộc họp để trao đổi về một số vấn đề, tôi đã để ý có những người đã phát biểu rất vắn gọn, nhưng cũng rất rõ ràng. Họ có những cái nhìn sâu, rộng, đầy đủ, nắm bắt các sự kiện rất mau, và đã đưa ra những phương án rất khoa học. Những người như vậy là những người có trách nhiệm, nhưng trách nhiệm ấy đã được hun đúc, tạo thành do học hành, do kiến thức, do sự nâng cao trình độ văn hóa.

Trái lại, cũng trong cuộc họp, tôi nghe có nhiều người trình bày vấn đề luộm thuộm, không rõ, nắm bắt vấn đề rất chậm, và có những cái nhìn hẹp hòi, cũng như đưa ra những phương án mơ hồ, những lựa chọn viễn vông. Thường những người như vậy, tuy có tinh thần trách nhiệm cao, nhưng vì ít học, vì trình độ kiến thức nông, thành ra khi thực hành trách nhiệm của mình, họ không đạt được kết quả mong muốn.

Kinh nghiệm đó dạy cho tôi điều này là: Muốn sống tinh thần trách nhiệm nhất là trong thời buổi hôm nay, cần phải nâng cao học vấn, cần phải có trình độ kiến thức và chuyên môn. Cho nên, không đơn thuần trách nhiệm chỉ là thiện chí, chỉ là nhiệt tình, chỉ là đạo đức, mà trách nhiệm còn là nâng cao trình độ học thức lên.

Tôi mong rằng: Tất cả những điều mà tôi vừa chia sẻ với anh chị em hôm nay, sẽ gợi ý cho chúng ta đi vào năm mới, với một cái nhìn mới hơn.

Khi tôi đến đây, nhìn quang cảnh nhà thờ, thấy có nhiều cái mới, cái đẹp: Từ đầu lễ đến bây giờ, tôi nhìn thấy cách anh chị em sắp xếp, đi đứng, ca đoàn, có những cái mới, có những cái đẹp. Trong nét mặt của anh chị em, tôi nhận thấy có những cái mới, có những cái đẹp. Và những cái đó gợi ý cho tôi biết rằng, mình phải phấn đấu làm sao, để khi thi hành trách nhiệm, dù là một trách nhiệm thông thường, ta sẽ thi hành với một cách mới, với một màu sắc mới, với một sức sống mới. Để không phải mỗi năm sẽ là một bản tin mới, mà là mỗi tháng, mỗi tuần, mỗi ngày, mỗi người chúng ta đều viết nên một bản tin mới, đầy hân hoan, đầy hy vọng trước mặt Chúa, trước mặt Hội Thánh, và trước mặt lương dân.

Xin Chúa Thánh Linh, là Đấng luôn có những sáng tạo, giúp cho công trình xây dựng của chúng ta hôm nay được tiến triển cùng nhịp với sự đổi mới xây dựng con người, với tinh thần trách nhiệm cao, nhất là với một tinh thần mà Chúa sẽ soi sáng cho chúng ta thực hiện một cách bất ngờ. Bởi vì Chúa Thánh Linh luôn luôn sáng tạo, và nhiều khi không báo trước cho chúng ta những sáng tạo của Chúa. Chúng ta cần phải đón nhận. Chúng ta cần phải biết ngoan ngoãn. Chúng ta cần phải biết khiêm tốn thực hiện ý Ngài. Tôi cầu chúc cho tất cả anh chị em Kim Hòa được có những bước tiến hợp với thánh ý Chúa trong tinh thần trách nhiệm. Tôi cũng cầu chúc cho mọi ân nhân hôm nay, xa, gần, đóng góp công, của, vào công cuộc tu sửa thánh đường Kim Hòa, được đầy ơn Chúa, và sang năm mới được lãnh phép lành của Chúa trong mọi ngày, mọi phút. Amen.

Lễ Đặt Viên Đá đầu tiên và Làm Phép chuông tại Kim Hòa (Kênh G1), ngày 07-01-1993.

 

Bùi-Tuần 0354: NHỮNG ĐỨC TÍNH NHÂN BẢN 07-01-1993


nhà thờ Kitô Vua k.A2,Lễ Đặt Viên Đá tu sửa
 

Lần này tới đây, tôi nhận thấy có nhiều cái mới đẹp nơi giáo xứ Kitô: 07-01-1993 Bùi-Tuần 354


Lần này tới đây, tôi nhận thấy có nhiều cái mới đẹp nơi giáo xứ Kitô Vua của anh chị em: Thí dụ như cổng nhà thờ, mái nhà thờ. Những cái mới đẹp này đã góp phần làm đẹp bề ngoài của giáo xứ. Thêm vào đó, hôm nay ,chúng ta khởi công tu sửa phần còn lại của thánh đường, tức là mặt tiền và cây tháp. Đây là những cố gắng mới, mang theo những hứa hẹn mới. Tôi nghĩ rằng: Bên cạnh những cái đang làm đẹp bộ mặt bề ngoài của giáo xứ, anh chị em cũng đang thực hiện nhiều việc có tính cách làm đẹp linh hồn giáo xứ nói chung, và làm đẹp linh hồn mình nói riêng.

Đề cập tới những việc như vậy, tôi đã nghĩ tới các nhân đức siêu nhiên. Nhưng tự nhiên tôi bị thúc đẩy cần nói với anh chị em về một số đức tính nhân bản có khả năng làm đẹp linh hồn giáo xứ nói chung, và làm đẹp linh hồn mình nói riêng. Những đức tính ấy không cao siêu, không siêu nhiên, mà chính là những đức tính căn bản của con người.

Theo tôi, thì hiện nay, người ta để ý rất nhiều đến những đức tính nhân bản. Và những người có đức tính nhân bản, thực tế, đã làm được nhiều việc tốt lành trong xã hội, kể cả trong vấn đề đổi mới con người, đổi mới xã hội, thậm chí cả trong việc truyền giáo.

Đức tính thứ nhất thuộc về đức tính nhân bản mà hiện nay đang được đề cao: Đó là tinh thần trách nhiệm.

Tôi nhìn thấy gương tinh thần trách nhiệm nơi thánh Giuse.

Kinh Thánh đã nói rõ, khi Thiên Thần dạy Ngài: Hãy đem Mẹ, Con sang Ai Cập, thì lập tức Ngài chỗi dậy và lên đường. Trong hai, ba trường hợp như vậy, Phúc Âm đều nói: “Lập tức Ngài thi hành”.

Thánh Giuse là người có tinh thần trách nhiệm. Khi biết Chúa trao cho mình một trách nhiệm nào, Ngài làm ngay, không trì hoãn, làm đúng việc, làm đúng lúc, làm đúng cách, gọn ghẽ, rõ ràng và chu toàn tốt đẹp. Đây là một đức tính rất cần cho người tín hữu. Bởi vì, nếu chúng ta thiếu tinh thần trách nhiệm, dù trong những công việc thường ngày, tại gia đình, tại sở, tại giáo xứ, trong xã hội, thì chúng ta không thể nào làm chứng được cho đức tin là một giá trị siêu nhiên.

Đức tính nhân bản thứ hai, mà tôi cho là rất cần trong cuộc sống hiện tại bây giờ, đó là sự biết dấn thân cho những giá trị cứu độ.

Tôi nhìn thấy gương của đức tính dấn thân này nơi các mục đồng và Ba Vua. Khi các Ngài nhận thấy có một người đã sinh ra, người ấy là Đấng Cứu Độ, đem lại niềm vui, và hy vọng cho mình, cho nhân loại, thì lập tức các vị ấy lên đường dấn thân, chịu thương, chịu khó, để gặp được Đấng Cứu Độ của mình. Sự dấn thân vì những giá trị cứu độ, cũng đang là một đức tính nhân bản, có sức lôi kéo rất nhiều người, từng triệu người hiện nay.

Khi đọc báo, khi xem đài, tôi thấy người ta thường nêu lên những mẫu người dấn thân. Thí dụ tối hôm kia, đài truyền hình Cần Thơ phát đi một chương trình nhỏ, nêu gương một người, tôi không biết tôn giáo nào, đã dấn thân nuôi các trẻ mồ côi quận 8, thành phố Hồ Chí Minh. Khuôn mặt dấn thân ấy, đã cứu các em nghèo khổ, đã gây xúc động, đã làm chứng cho Phúc Âm, biết đâu còn hơn là những lễ nghi tôn giáo của chúng ta. Nó có sức khơi dậy trong lương tâm từng triệu con người Việt Nam. Bởi vì người ta đã dấn thân, đã quên mình, để phục vụ cho những giá trị cứu độ.

Đức tính nhân bản thứ ba mà tôi cho là rất cần cho thế giới hiện nay, và cũng là một đức tính có khả năng làm chứng cho Phúc Âm, đó là tinh thần liên đới.

Tôi nhận thấy gương tinh thần liên đới nơi Đức Mẹ.

Đọc Phúc Âm, tôi không thấy thiên thần bảo Đức Mẹ phải đi viếng bà Isave. Thiên thần chỉ gợi ý, nói xa, nhưng Đức Mẹ cảm thấy mình có trách nhiệm phải đi thăm bà Isave. Đức Mẹ bị thôi thúc bởi tinh thần liên đới.

Rồi lần dự tiệc cưới. Có ai bắt buộc Đức Mẹ phải lên tiếng xin Chúa Giêsu làm phép lạ cho nước trở nên rượu đâu. Nhưng Đức Mẹ lên tiếng yêu cầu, vì Đức Mẹ có tinh thần liên đới. Thấy một người trong hoàn cảnh khó khăn, thấy một người trong hoàn cảnh bế tắc, Đức Mẹ cảm thấy như chính mình có trách nhiệm. Đó là tinh thần liên đới.

Hằng ngày, đọc báo, nghe đài, tôi cũng thấy nhan nhản những người đang thực hiện những việc do tinh thần liên đới: Thấy những người nghèo khổ, dốt nát người ta không ngại mở những lớp tình thương. Thấy những trẻ mồ côi, không cha, không mẹ, không nơi nương tựa, nhiều người đã cảm thấy không thể an tâm, ngồi yên nên phải ra đi, làm một việc gì cho những em đó. Tinh thần liên đới là một tinh thần, có tính cách Phúc Âm.

Đọc Phúc Âm, đoạn Chúa Giêsu phán xét, phân biệt kẻ dữ, người lành, tôi thấy Chúa Giêsu căn cứ vào tinh thần liên đới. Ai làm sự lành cho kẻ khác, thì Chúa kể là làm cho chính mình Chúa, tức là Chúa để ý đến tinh thần liên đới: Kẻ đói được ăn, kẻ khát được uống, kẻ rách rưới được ăn mặc, kẻ tù đày được thăm viếng, kẻ dốt nát được dạy dỗ. Ai làm những việc lành, tuy nhỏ mọn cho những đối tượng ấy, thì được kể như làm cho chính Chúa, và Chúa kể là những việc đáng lên thiên đàng. Đó là tinh thần liên đới.

Rồi cũng trong Phúc Âm, Chúa phạt người phú hộ vì đã sống ích kỷ, khộng chia sẻ của cải, bữa ăn cho người ăn mày Lagiarô, khi chết người phú hộ phải xuống hỏa ngục. Bởi vì không có tinh thần liên đới.

Liên đới chỉ là một đức tính nhân bản, nhưng rất quan trọng, kể cả đối với phần rỗi linh hồn.

Rồi một đức tính khác thuộc về nhân bản, cũng rất quan trọng trong cuộc sống hôm nay, đó là sự chân thật, trong sáng.

Tôi nhìn thấy gương cư xử của Thánh Gia và các người tại hang đá Bêlem đã làm nổi bật các đức tính nhân bản đó: Các ngài cư xử với nhau bằng tấm lòng chân thành, bằng trái tim đầy nhựa sống, mến Chúa hết lòng, yêu thương người khác như chính mình. Các ngài đối xử với nhau, mục đồng với Đức Mẹ, Đức Mẹ với mục đồng, Ba Vua với Chúa Kitô, đối xử rất đơn sơ, không dựa trên những công thức, không dựa trên những lễ nghi trống rỗng, mà trao đổi cho nhau tình thương chân thành. Tất cả đều trong sáng.

Anh chị em thân mến,

Tôi vừa chia sẻ với anh chị em một vài đức tính nhân bản, có khả năng làm đẹp linh hồn giáo xứ chúng ta nói chung, và làm đẹp linh hồn cá nhân mỗi người chúng ta nói riêng.

Trong việc truyền giáo hiện nay, tôi có kinh nghiệm này là cần phải lồng những đức tính siêu nhiên vào những đức tính nhân bản, thì mới lôi kéo được con người hôm nay.

Con người hôm nay không đánh giá chúng ta qua đức tin, đức cậy, đức mến, mà đánh giá chúng ta qua các đức tính nhân bản.

Đấy là một điều chúng ta cần phải nhớ. Và theo kinh nghiệm ấy, thì khi xây cất những thánh đường, những cây tháp, chúng ta đừng bao giờ quên rằng: Xây dựng những cơ sở ấy chỉ là chuẩn bị những phương tiện, chỉ là xây dựng những dấu chỉ, những biểu tượng. Còn cái chính phải xây dựng, đó là con người.

Tôi cho rằng: Làm người, là đẹp lắm rồi. Làm người cho đúng làm người là đẹp lắm rồi. Vì thế, Chúa mới xuống thế làm người. Tiếc là chúng ta không làm người cho xứng là người, thành ra mới xấu. Chứ còn làm người cho đúng là người, với những đức tính nhân bản, thì đó là một hình ảnh đẹp đẽ, phản ánh Chúa Ba Ngôi. Rồi, nếu thêm vào đó, chúng ta có những đức tính siêu nhiên, tin, cậy, kính mến, thì sức mạnh của con người chúng ta, của giáo xứ chúng ta, của Hội Thánh chúng ta, sẽ tuyệt vời.

Trong năm mới này, tôi cầu chúc cho giáo xứ anh chị em nói chung và từng anh chị em nói riêng, hãy là người với những đức tính căn bản thuộc về con người, cho thực cao, cho thực sâu, cho thực đẹp, giống như lời kinh đã nói về Chúa Kitô: “Ngài xuống thế làm người”. Amen.

Lễ Đặt Viên Đá tu sửa nhà thờ Kitô Vua (kinh A2) ngày 07-01-1993.

 

Bùi-Tuần 0355: SỐNG LỜI TIÊN TRI 03-02-1993


Vinh Sơn K.A2, Lễ Mãn Tang cha Antôn Mai-Xuân-Khoa- Matthêu 5,1-12ª
 

Sáng sớm hôm nay, trước 4 giờ, tôi vào nhà nguyện của tôi, tôi quỳ: 03-02-1993 Bùi-Tuần 355


Sáng sớm hôm nay, trước 4 giờ, tôi vào nhà nguyện của tôi, tôi quỳ trước Mình Thánh, tôi cầu nguyện cho cha Antôn, và xin cha Antôn cầu nguyện cho tôi.

Trong giờ phút thinh lặng ấy, có lúc tôi đã nói với Chúa rằng: Cha Antôn là một linh mục rất tốt, đời linh mục của cha có nhiều nét đẹp, nếu Chúa coi Ngài là một mẫu gương để nhiều người bắt chước, thì theo ý Chúa, nét đạo đức nào của Ngài sẽ là cái nét chúng con cần để ý nhiều hơn?

Đột nhiên, hình ảnh Đức Mẹ dâng con xuất hiện nơi tôi: Một Đức Mẹ biết lắng nghe những lời tiên tri đã nói về mình và tương lai của con mình, một Đức Mẹ đón nhận những lời tiên tri loan báo, một Đức Mẹ suy nghĩ những lời loan báo của tiên tri, một Đức Mẹ chuẩn bị theo hướng của tiên tri, để đi về tương lai, với một tâm hồn vâng phục thánh ý Chúa.

Rồi từ hình ảnh Đức Mẹ đó, tôi nghĩ đến cha Antôn. Chúa cho tôi thấy Ngài cũng là tâm hồn biết đón nhận những loan báo của Thiên Chúa: Loan báo về tương lai riêng của Ngài, và loan báo về những gì chung cho tương lai của Hội Thánh đã giao phó cho Ngài tại những giáo điểm.

Thực vậy, suốt cuộc đời linh mục của cha Antôn là những tiếng gọi của Chúa, là những đáp lại của Ngài. Qua ý bề trên, cha đã hiểu Chúa loan báo cho Ngài phải ra đi để phục vụ giáo đoàn, một giáo đoàn nghèo xa lạ, xa quê hương. Cha đón nhận lời loan báo ấy và đã ra đi với tinh thần phục vụ, với tinh thần dấn thân, với tinh thần vâng phục.

Rồi tiếp đó, qua ý bề trên, cha đã đón nhận những lời loan báo về ý Chúa muốn cho Ngài ra đi, để phục vụ những giáo điểm khác nhau trong địa phận Long Xuyên này. Ngài đã đón nhận những loan báo ấy và đã ra đi, trong những hoàn cảnh khác nhau, tới những giáo điểm khác nhau, với những phức tạp khác nhau, luôn với một tâm hồn khiêm tốn, vâng phục và dấn thân. Bề trên dạy cho Ngài tới chỗ nào thì Ngài đến chỗ đó. Bề trên chọn cho Ngài ở chỗ nào thì Ngài phục vụ hết mình ở chỗ đó. Không bao giờ Ngài phiền trách bề trên. Không bao giờ tôi nghe Ngài phiền trách con chiên của mình.

Rồi, về cuối đời, qua những bệnh tật nan y, cha Antôn đón nhận lời Chúa loan báo về sự Ngài sẽ ra đi vĩnh viễn. Cha đón nhận lời loan báo ấy với tinh thần khiêm tốn, vâng phục. Cha đã chuẩn bị thật kỹ và đã ra đi vĩnh viễn.

Cái điều quan trọng hơn, trong thái độ đón nhận những loan báo của Thiên Chúa gởi cho Ngài, đó là cha Antôn nắm bắt được những ý nghĩa của các dấu chỉ thời đại, qua bề trên, qua những chuyển biến, qua thời cuộc, qua con người, để rồi cha suy nghĩ, và cha chuẩn bị cho mình, cha chuẩn bị cho giáo đoàn mình đi về phía trước, với sự trưởng thành của đức tin.

Như anh chị em đã thấy, cha Antôn đặt ưu tiên mục vụ của Ngài ở sự xây dựng con người, xây dựng nhân sự. Cha Antôn vì nhìn xa thấy rộng, do những loan báo của Chúa về tương lai Hội Thánh, nên đã tập cho giáo đoàn của mình sống trưởng thành, giáo dân tự lo lấy việc chung, sắp xếp việc chung. Rồi cũng vì nhìn thấy trước những điều Chúa loan báo về tương lai Hội Thánh, cha Antôn đã nhấn mạnh đến việc đào sâu giáo lý, học hỏi Thánh Kinh. Có một điều tôi rất để ý đến mục vụ của cha Antôn, đó là: Cha biết thiết lập những dây liên đới, bình yên, hòa thuận, yêu thương, giữa các gia đình, giữa các cá nhân, giữa các khu xóm và trong toàn thể giáo đoàn.

Anh chị em thân mến,

Cha Antôn không nói những lời tiên tri, nhưng cha sống những lời tiên tri, và đời sống của cha chính là một lời tiên tri, để loan báo cho chúng ta thấy rằng, con người đi theo Đức Kitô luôn luôn phải bén nhạy với những ơn soi sáng của Chúa Thánh Linh. Chúa làm nơi ta, Chúa làm nơi Hội Thánh, Chúa làm nơi lịch sử, Chúa làm mà không cần trình báo với ta. Nhưng nhiệm vụ của chúng ta là phải biết bén nhạy, đón nhận những đổi mới của Chúa Thánh Linh, những cảnh cáo của Chúa Thánh Linh, để chúng ta biết sống đạo, làm sao cho ánh sáng của đức tin chiếu giãi ra, làm chứng cho Nước Trời.

Lúc nãy, khi nghe đọc bài Phúc Âm nói về Tám Mối Phúc Thật, tôi nghĩ rằng, đời cha Antôn, đúng là một lời tiên tri nói về Tám Mối Phúc. Chúng ta hãy noi gương Ngài, biết đón nhận những lời loan báo của Chúa, và biết hiểu sâu, hiểu đúng những gì Chúa loan báo cho chúng ta về bản thân ta, về gia đình ta, về Hội Thánh của ta. Chúa loan báo hàng ngày, và Chúa loan báo những điều rất mới. Chỉ khổ tội là chúng ta không nắm bắt được, bởi vì chúng ta dửng dưng, thiếu một thái độ khiêm nhường, thiếu một thái độ vâng phục, thiếu một thái độ trẻ thơ như Thiên Chúa mong muốn.

Hôm nay, ngày giỗ cha Antôn, tôi cầu xin Chúa cho tinh thần sống lời tiên tri của cha Antôn được sống lại nơi chúng ta, những người thừa kế cha, những người biết ơn cha, những người thương nhớ cha.

Hãy biết sống lời tiên tri, và chính đời mình, hãy là lời tiên tri về Tám Mối Phúc, về Nước Trời. Có như vậy, lễ giỗ của chúng ta mới thực sự có ý nghĩa.

Xin cha Antôn, người đang hưởng biết bao hạnh phúc vì đã sống lời tiên tri và đã biến đời mình nên lời tiên tri, giúp cho chúng ta biết theo Ngài sống lời tiên tri, đón nhận lời tiên tri, và biến đời mình nên những lời loan báo Tin Mừng cho những người đang sống và cho thế hệ mai sau.

Lạy Chúa Kitô, Đấng đã sai chúng con đến với thế gian, để làm chứng những điều Chúa đã loan báo, xin cho chúng con, cùng với cha Antôn, đi theo Chúa. Amen.

Lễ Mãn Tang cha Antôn Mai-Xuân-Khoa tại giáo họ Vinh Sơn (Kênh A2), ngày 03-02-1993.

 

Bùi-Tuần 0356: NHỮNG VIỆC LÀNH TOẢ SÁNG 07-02-1993


Hoà Giang, Đất Hứa, K.I, Lễ Thêm Sức- Matthêu 5,13-16
 

Đêm rồi, lợi dụng hoàn cảnh thanh vắng, có lúc tôi đã thức dậy để làm: 07-02-1993 Bùi-Tuần 356


Đêm rồi, lợi dụng hoàn cảnh thanh vắng, có lúc tôi đã thức dậy để làm việc. Tôi đã mở sách lễ, đọc trước bài Phúc Âm hôm nay. Đọc xong rồi, tôi đã nói với Chúa Giêsu rằng: “Trong bài Phúc Âm hôm nay, Chúa đã truyền dạy: sự sáng của các con phải chiếu giãi ra trước mặt thế gian, để người ta thấy các việc lành của các con làm, mà ngợi khen Cha các con ở trên trời. Lời Chúa phán đó là chung chung. Vậy con xin hỏi Chúa một điều này là: Họ đạo Hoà Giang đây nói riêng, và các cộng đoàn Công giáo của Hoà Điền nói chung đây, có những việc lành nào toả sáng ra, để thiên hạ thấy mà ngợi khen Cha trên trời?”.

Tôi hỏi như vậy. Rồi tôi cầu nguyện, và Chúa trả lời tôi. Tự nhiên, tôi nhìn lên trời, tôi thấy trời đêm trăng rằm, thực là trong sáng, êm đẹp. Từ hình ảnh ấy, tôi nhìn sang bầu trời thiêng liêng của Hoà Giang, của Hoà Điền, và tôi thấy có những gì thực là tươi đẹp, trong sáng, êm đềm, do một số nếp sống mà tôi cho là đẹp và toả sáng ra.

Thực vậy, nếp sống đầu tiên mà tôi cho là đẹp và toả sáng ra nơi đây, chính là nếp sống lương thiện.

Lương thiện, đó là điều tôi đã được nghe nhiều người nói tới về địa phương chúng ta. Và tôi cũng có được may mắn nhìn thấy tận mắt: Nhà thờ đây, nhà xứ kia, ngày cũng như đêm, cửa không cần khóa, nhà không cần giữ, vườn không cần rào. Thế mà, không mất mát. Đúng là tại đây có một nếp sống lương thiện.

Và tôi được biết rằng, không chỉ riêng nhà thờ, nhà xứ, mà các nhà tư tương đối cũng được kính trọng như vậy. Kính trọng từ của cải cho đến con người.

Nếp sống lương thiện. Đó là một giá trị rất đẹp, rất quí. Một cá nhân, một gia đình, một cộng đoàn, dù cho có nghèo, dù cho có ít học, nhưng có lương thiện thì cũng kể như có một nền văn hoá cao, và có một tinh thần Phúc Âm căn bản. Bởi vì văn hoá là cái gì đẹp, cái gì đúng, cái gì tốt, cái gì hay. Và Phúc Âm căn bản chính là công bình, bác ái.

Từ nhận xét ấy, tôi nghĩ rằng: Việc xây dựng nhân bản như là đức tính lương thiện, không thể tách rời khỏi việc xây dựng đức tin. Đây là một ngọn đèn sáng, nếu những người lớn, nhất là cha mẹ, có một đời sống lương thiện, thì đời sống lương thiện ấy sẽ là một ngọn đèn sáng, chiếu vào con cháu của mình. Và nếu mỗi một gia đình chúng ta, chòm xóm chúng ta, là những chòm xóm gia đình lương thiện, thì đó là một ngọn đèn rất sáng, toả ra chung quanh địa phương ta, để nhờ đó, người ta nhận ra Cha trên trời.

Nếp sống thứ hai mà tôi cho là đẹp và toả sáng nơi đây, chính là tình liên đới phục vụ trong anh chị em.

Đây cũng là một điều tôi đã từng nghe nói về địa phương này, trong những liên đới giữa họ đạo với nhau, trong liên đới giữa những người có đạo và những người khác đạo, trong liên đới giữa họ đạo chúng ta với các họ đạo chung quanh... Tất cả đều có một mối tình người sâu sắc, chân thành, hồn nhiên và cụ thể.

Hôm qua, tôi ở Đất Hứa, và Cha sở Đất Hứa dẫn tôi đi xem nghĩa trang mới. ở đấy, tôi được thấy: Nghĩa trang tuy là của họ đạo, nhưng vẫn sẵn sàng đón tiếp người khác đạo. Và có nhiều trường hợp, họ đạo vẫn sẵn sàng cung cấp phương tiện, giúp đỡ cho những người lương an táng tại nghĩa trang người có đạo. Đó là một tinh thần liên đới cao, và làm chứng cho Thiên Chúa là Tình Yêu.

Rồi cũng tại đây tôi được biết: Là cách đây không lâu, khi họ đạo Hòn Chông được xây cất lại, thì hơn 50 người địa phương chúng ta, Hoà Giang, Đất Hứa, đã tự nguyện, tự túc, đến giúp cho họ đạo Hòn Chông. Đấy cũng là một cái tình liên đới, thắm thiết, cụ thể và chân thành.

Rồi tôi cũng được biết, trong địa phương chúng ta, khi thấy có những gia đình lâm cảnh túng nghèo, hoạn nạn, anh chị em đã tự phát quyên tiền giúp đỡ, làm cho những người anh em đồng bào của mình, cảm thấy được nâng đỡ, ủi an.

Phục vụ nói đây, không phải chỉ là cho đi, mà còn hệ tại ở thái độ. Thái độ trọng kính nhau, thái độ nhường nhịn nhau, thái độ thông cảm lẫn cho nhau.

Chiều hôm qua, tôi được tiếp xúc với các hiền mẫu, với Hội đồng giáo xứ, với các em nhỏ. Tôi nhận thấy một điều làm tôi vui mừng, đó là nét mặt, trong ánh mắt, trong nụ cười, trong thái độ của anh chị em, toả ra một cái gì là hồn nhiên, là đơn sơ chất phác, là rất chân thành, thoáng qua nhưng mà thăm thẳm, đơn sơ nhưng mà chất lượng. Đấy là một tinh thần liên đới nói lên tình người, nói lên tinh thần phục vụ Phúc Âm. Chính cái đó là những ngọn đèn, làm sáng lên họ đạo chúng ta, để nhờ đó, người ta ngợi khen Cha trên trời.

Nếp sống thứ ba nà tôi cho là rất đẹp và rất toả sáng, đó là lòng tin của anh chị em.

Đó là sự anh chị em đón chờ và biết nhận lãnh các ơn Chúa ban cho, với một tâm tình khiêm tốn, khát khao và biết ơn.

Qua những tiếp xúc, tôi biết đời anh chị em ở đây, nhất là những người lớn tuổi, đã phải trải qua biết bao gian truân: Từ miền Bắc đã tới Phú Quốc, và từ Phú Quốc tới đây. Rồi biến cố 1978 với bao tang tóc, với bao mất mát. Thế nhưng, anh chị em vẫn vững lòng tin ở Chúa, mặc dầu kinh nghiệm cho thấy mọi sự đều mong manh, nhưng mà niềm tin vẫn vững vàng như núi đá không bao giờ lay chuyển. Và vì thế, khi nhận được những ơn lành của Chúa, anh chị em đã không ngừng cảm tạ ơn Chúa.

Tôi cũng nhớ tới tâm sự của những người tân tòng ở đây, kể lại ơn Đức Mẹ Núi Trầu (Đất Hứa) đã ban cho mình, và nhờ đó tâm tình của mình được đổi mới, kể cả tâm tình tín ngưỡng. Đây cũng là một thái độ nói lên niềm tin biết lãnh nhận, biết đón chờ ơn Chúa.

Anh chị em thân mến,

Hôm nay, khi tôi nhìn chung quanh tình hình tôn giáo ở đây như vầy, tôi thấy ứng nghiệm lời Chúa phán trong bài Phúc Âm hôm nay: Ánh sáng của các con cần chiếu giãi ra, để người ta thấy những việc lành chúng con làm, mà ngợi khen Cha các con ở trên trời.

Việc lành anh chị em cũng nhỏ thôi, nhưng mà trước mặt Chúa là rất to lớn. Bởi vì giá trị của nó không cân đo bằng những việc lành mình làm, mà cân đo bằng tâm tình bên trong, nhất là sự sáng trong chúng ta, trong anh chị em, và trong tôi, chính là Đức Kitô.

Khi chúng ta có Đức Kitô trong lòng, thì tự nhiên các việc chúng ta làm, và chính con người chúng ta đều toả sáng ra. Nhờ đó, thiên hạ sẽ nhận ra dấu chỉ của Nước Trời.

Giờ đây, tôi nhìn về phía trước, tôi thấy tương lai là rạng rỡ. Nhưng, tôi cũng nhìn thấy những đám mây mù đang kéo lên, những cơn giông sắp nổi lên. Tôi cũng nhìn thấy tương lai như là một cánh đồng tươi tốt, nhưng tôi cũng nhìn thấy những đợt sâu rầy đang công phá mùa màng, và những dòng nước ô nhiễm sẽ làm chết đi những hạt lúa tốt. Tôi nói như vậy để anh chị em thấy tương lai có hy vọng, nhưng cũng có nhiều mong manh, để chúng ta càng phải tin vào Thiên Chúa nhiều hơn. Thêm sức là thêm đức tin. Thêm sức là thêm lòng khiêm tốn cậy trông. Thêm sức là thêm lòng khiêm tốn, tự biết mình có giới hạn, để hoàn toàn phó thác nơi sức mạnh và quyền năng tình yêu Thiên Chúa.

Lạy Chúa Thánh Thần, xin hãy đến thêm sức cho chúng con, để chúng con trở nên những ngọn đèn chiếu sáng, hầu mọi người nhìn ra Thiên Chúa, mà ngợi khen Chúa là Cha trên trời. Amen.

Lễ Thêm Sức tại Hoà Giang (Đất Hứa, Kênh I) ngày 07-02-1993.

 

Bùi-Tuần 0357: CHẠM TỚI ĐỨC KITÔ 08-02-1993


Gò Quao  -Lễ Thêm Sức- Marcô 6,53-56
 

Sáng nay, tôi đã mở trước bài Phúc Âm hôm nay, tôi đọc và suy: 08-02-1993 Bùi-Tuần 357


Sáng nay, tôi đã mở trước bài Phúc Âm hôm nay, tôi đọc và suy gẫm. Tôi thấy bài Phúc Âm hôm nay thuật lại cảnh các bệnh nhân, những người tật nguyền kéo đến Đức Kitô.

Chắc là vùng ấy có nhiều người bệnh, có nhiều người đau ốm, có nhiều người tật nguyền. Và theo Phúc Âm nói, thì những người ấy nằm la liệt hai bên vệ đường và khắp các công trường. Bất cứ ai chạm đến Đức Kitô, đều được Đức Kitô chữa lành.

Khi đọc bài Phúc Âm trên đây, tôi nảy ra một sự thèm muốn. Tôi muốn gặp được Đức Kitô, để Đức Kitô chữa những bệnh tật của đức tin tôi và đức tin của những người thuộc về tôi. Để Ngài cứu đức tin chúng tôi cho khỏi những nguy cơ.

Tôi nhận thức như vậy và tôi nhìn lên trời hỏi Chúa: “Lạy Chúa, bây giờ Chúa ở đâu, để chúng con đến với Ngài, để chúng con chạm tới Ngài, để chúng con được Ngài cứu chữa khỏi những bệnh tật của đức tin, để chúng con được Ngài giải thoát khỏi những nguy cơ đức tin?”.

Chúa đã trả lời tôi, Chúa nói trong lòng tôi rằng:"Nếu chúng con có lòng tin, nếu chúng con có lòng mến thực đối với Cha, thì chúng con hãy đến một nơi gần nhất ở đây. Nơi gần nhất ở đây chính là những người nghèo khổ, những người bệnh tật, những kẻ bé mọn. ở đó, sẽ gặp được Cha và Cha sẽ cứu đức tin chúng con”.

Khi nghe Lời Chúa nói trong lòng tôi như vậy, tôi cảm thấy hơi bất ngờ. Nhưng suy nghĩ kỹ, tôi đã lấy lại được bình tĩnh. Bởi vì tôi thấy, lời Chúa nói với tôi, cũng chỉ là nhắc lại những lời Đức Kitô đã nói xưa và có ghi trong sách thánh: “Ai làm bất cứ sự gì tốt cho những kẻ bé mọn vì danh Thầy, thì Ta kể như là làm cho chính mình Ta”.

Đàng khác, sự thực mà Chúa nói với tôi hôm nay cũng là những điều tôi cảm nghiệm được trong cuộc sống tu đức, mục vụ.

Thực vậy, cảm nghiệm đầu tiên của tôi về lời Chúa hôm nay, đó là: Qua những sự tiếp xúc với những người nghèo túng, bệnh tật, khổ đau, Chúa sẽ cứu đức tin chúng ta cho khỏi những nguy cơ, lạc lõng trong cuộc sống hiện tại.

Cách đây không lâu, nhất là trong những tháng vừa qua, tôi có dịp tiếp xúc với nhiều người, tại nhiều nơi, và phần đông những người tôi tiếp xúc là loại bình dân. Qua những tiếp xúc này, tôi nhận ra một sự thực rất là bẽ bàng, đó là: Số người nghèo trên địa phương chúng ta rất là đông, và trong số những người nghèo ấy, có những người lầm than, không thể nào vươn lên được, số ấy đáng kể.

Khi nhìn thấy những người nghèo túng lầm than như vậy, tôi cảm thấy như nghe được lời đám đông nói với Hội Thánh Việt Nam: Hội Thánh Việt Nam vẫn tuyên bố đem Tin Mừng cho người nghèo khó. Vậy, chúng tôi, từng triệu người, là những người nghèo khó, chúng tôi đang chờ đợi Tin Mừng Hội Thánh, nhưng nhiều nơi chúng tôi chưa được rao giảng Tin Mừng. Chúng tôi sẵn sàng đón nhận Tin Mừng nhưng chúng tôi chưa thấy ai đem lại Tin Mừng cho chúng tôi. Chúng tôi chưa cảm nghiệm được đạo Công Giáo là đạo Tin Mừng đối với chúng tôi.

Khi tôi nghe thấy những tiếng dội đó, tôi cảm thấy ray rứt, và con mắt đức tin của tôi bắt tôi nhìn về cuộc sống thực tế của người dân, của đồng bào.

Cách đây hai ngày, tôi đi làm phép Thêm Sức ở Đất Hứa. Trên quãng đường từ Hòn Đất đến Kiên Lương, xe của tôi gặp hai em bé. Hai em nhỏ đó ngoắc xe xin quá giang. Tôi cho dừng xe lại đón hai em bé. Trên xe, chúng tôi được biết: Mẹ của chúng bị bệnh. Ba của chúng đã chết. Bà ngoại nuôi chúng rất nghèo. Từ nhà đến trường là 10 cây số. Cảnh rất là đau thương. Và hôm qua khi trở về Rạch Giá, chúng tôi cố đi tìm gia đình hai em bé ấy, và thực tế cho thấy cảnh còn tang thương hơn nhiều.

Qua những cảnh trên đây, tôi nghe thấy như Chúa nói với chúng tôi rằng: Đức tin nếu chỉ lo cho Chúa, mà quên lo cho con người, thì đức tin ấy là đức tin bệnh hoạn. Một đức tin chỉ cần an nghỉ, trốn tránh dấn thân cho con người, thì đức tin ấy là đức tin tật nguyền. Rồi nếu một đức tin chỉ chăm lo cho uy tín của Hội Thánh, mà coi thường quyền lợi, cuộc sống dân nghèo, thì đó là một sự trốn tránh, là một tai họa cho Hội Thánh.

Chính vì thế, mà khi tiếp xúc với những người nghèo, đức tin của chúng ta, nếu thực sự tin vào Chúa sẽ được giải thoát khỏi nguy cơ tách lìa cuộc sống thực tế của con người.

Cảm nghiệm thứ hai của tôi về lời Chúa hôm nay, đó là tiếp xúc với những người nghèo túng bệnh tật, sẽ cứu đức tin chúng ta khỏi cái bệnh dửng dưng với sự gặp gỡ Đức Kitô và không sống thân mật với Đức Kitô.

Trước mặt tôi đây, là anh chị em. Tất cả đều nghèo túng. Trước mặt tôi đây, có những người tới từ các cộng đoàn xa, kinh tế mới, xa từ hơn 10 cây số. Tất cả đều nghèo túng. Nếu xét về của cải, anh chị em cũng đã dâng cho Chúa và chia sẻ cho nhau những của cải, nhưng không đáng kể gì lắm. Nếu xét về công sức ấy cũng chẳng đáng kể gì lắm. Cái đáng kể nhất, mà tôi thấy hôm nay, anh chị em đang dâng lên Chúa, và chia sẻ cho nhau, đó là tấm lòng. Cũng như bài phát biểu mới rồi của ông đại diện: Tấm lòng chân thành của anh chị em, đó là của lễ quý giá nhất. Một tấm lòng đơn sơ, chân thành, khiêm tốn, tin tưởng và hy vọng. Nhìn tấm lòng của anh chị em, tôi nhớ lại lời của Đức Kitô nói về sự thơ ấu thiêng liêng, một thái độ nội tâm dễ đón chờ Nước Trời: “Nếu các con không giống như trẻ nhỏ, các con sẽ không đón nhận được Nước Trời”. Đó là thái độ nội tâm đơn sơ, khiêm tốn, đầy hy vọng, sẵn sàng đón nhận Nước Trời.

Nước Trời là sự bình an nội tâm mà không một ai trên trần gian này có thể ban tặng cho chúng ta.

Nước Trời là hy vọng sống lại mà không một ai trên trần gian này, có thể thực hiện được cho chúng ta.

Nước Trời là tình thương cứu độ, cao cả vô biên, dành cho những người thiện chí, cần được cứu độ, không ai có thể ban cho chúng ta ngoài Thiên Chúa.

Nước Trời chính là Đức Kitô. Do đó, khi nhìn anh chị em với tấm lòng đơn sơ, chân thành, khiêm tốn, sẵn sàng đón nhận Nước Trời, tôi cảm thấy rằng, tôi đang gần gũi Đức Kitô và Đức Kitô đang ở giữa chúng ta, Đức Kitô đang đến trong lòng chúng ta và đó là một ân huệ lớn lao, quí giá.

Lúc nãy, ông đại diện có nói tới hy vọng: Anh chị em sẽ là một chút muối, một chút men, một đóm lửa giữa địa bàn truyền giáo này. Nhưng lúc này, tôi thấy không phải toàn là hy vọng mà chính là sự thực: Anh chị em đang là muối, đang là men, đang là những đóm sáng, mặc dầu còn giới hạn.

Anh chị em thân mến,

Tôi đang nhìn về tương lai: Tương lai của tôi, tương lai của anh chị em, tương lai ấy sẽ có đoạn đường đẹp và thẳng như con đường trước mắt tôi đây. Nhưng cũng sẽ có những đoạn đường rất là khó khăn, rất là gồ ghề, rất là sỏi đá, rất là chật hẹp. Tương lai, nhất là của đức tin sẽ như vậy đó, vì thế, mặc dầu chúng ta phấn khởi và hy vọng, vì những quãng đường đức tin đẹp đẽ trong tương lai, chúng ta cũng đừng quên cảnh giác với những khó khăn sẽ tới cho đức tin trong tương lai.

Vì thế, chúng ta sốt sắng cầu xin, nhất là cho con em chúng ta, và những người tân tòng hôm nay, được chịu phép Rửa và Thêm Sức, được giữ vững đức tin, giữ vững một tâm hồn khiêm tốn, đơn sơ, chân thành, sẵn sàng đón nhận Nước Trời mà Chúa ban cho.

Lạy Chúa Thánh Linh, xin đến với chúng con. Con cảm tạ Chúa. Amen.

Lễ Thêm Sức tại Gò Quao, ngày 08-02-1993.

 

Bùi-Tuần 0358: NHẬN ĐỊNH VỀ TRUYỀN GIÁO 09-02-1993


Ông Dèo -Lễ Thêm Sức- Marcô 7,1-13
 

Trong mấy ngày nay, tôi đã được đi thăm 6 giáo điểm, thuộc huyện Hà: 09-02-1993 Bùi-Tuần 358


Trong mấy ngày nay, tôi đã được đi thăm 6 giáo điểm, thuộc huyện Hà Tiên, thuộc huyện Gò Quao và huyện Giồng Riềng. Giáo điểm Ông Dèo đây là giáo điểm chót, trong chặng đường tôi đi. Qua những tiếp xúc và quan sát tại chỗ, tôi có một số nhận định về truyền giáo, muốn được chia sẻ vắn tắt với anh chị em hôm nay.

Nhận định thứ nhất của tôi là tại các giáo điểm này, việc truyền giáo rất phong phú, rất linh động và thích ứng.

Bởi vì mỗi nơi, có những hoàn cảnh khác nhau, ngay về mặt thiên nhiên, mỗi nơi đều có những khác nhau đáng kể: Cũng là đất, nhưng đất Hà Tiên dễ đón nhận một số cây trồng nhất định, như cây tràm, cây bạch đàn. Cũng là nước, nhưng nước ở Gò Quao, có những dòng sông, chỉ đón nhận được một số tôm cá nhất định. Cũng là đường, nhưng đường ở Ông Dèo là đường sông, chỉ đón nhận được xuồng ghe, không thể đón nhận được xe hơi, xe honda tới đây.

Về mặt tâm lý, về mặt xã hội, về não trạng chính trị, mỗi nơi cũng có những cái khác nhau đáng kể.

Vì thế, truyền giáo ở mỗi nơi là phải căn cứ, cân nhắc những cái khác biệt. Nếu truyền giáo là trồng Hội Thánh vào một địa phương, thì Hội Thánh đó phải ở diện nào mới dễ được đón nhận. Nếu truyền giáo là gieo Tin Mừng, thì Tin Mừng ấy phải là hạt giống thế nào, để địa phương dễ đón nhận.

Tôi thấy ở đây, đang thực hiện sự lựa chọn thông minh, đạo đức tế nhị, thích hợp, khôn ngoan. Địa điểm của anh chị em có nhiều cái khác biệt, không những với những địa phương chung quanh, mà cả với những giáo điểm khác của địa phận và của các địa phận khác.

Như anh chị em đã biết: Cha Sở và anh chị em, đã nhờ cùng làm việc chung với nhau để tìm những lựa chọn khôn ngoan, tế nhị, thông minh và đạo đức, rút ra từ những kinh nghiệm bản thân mình, và nhất là rút ra từ nguồn Chúa Thánh Linh, cho nên mới có một nếp sống đức tin và cách truyền giáo tại đây thích hợp.

Cái tốc độ phát triển ở đây không giống tốc độ phát triển của các giáo điểm khác. Điều đó cũng dễ hiểu thôi.

Lúc nãy, đi từ Gò Quao tới đây, tuy xuồng máy của tôi rất tốt, nhưng tôi thấy, có những quãng phải đi rất chậm, để tránh những thuyền nhỏ đi qua, để tránh những cảnh hỗn tạp ở giữa chợ, hoặc để tránh những dòng sông có sương mù bao phủ, không thể đi nhanh được. Đi nhanh là không khôn ngoan.

Việc truyền giáo cũng vậy, mặc dầu anh chị em cũng như cha sở và chúng tôi, đều muốn tiến hành với một tốc độ mạnh, nhanh. Nhưng thực tế, nhiều khi đòi hỏi chúng ta phải có những bước đi chậm chạp, âm thầm. Đó là một sự khôn ngoan của Thánh Linh. Chính Chúa Kitô cũng đã làm như vậy khi Ngài rao giảng Tin Mừng. Chúa Kitô có thể làm nhanh hơn, mau hơn, sâu hơn việc truyền giáo của Người. Nhưng Thánh Linh đã hướng dẫn Đức Kitô đi từng bước âm thầm, coi như chậm, mà phát triển lâu dài.

Nhận xét thứ hai của tôi là tại mỗi nơi truyền giáo, các cha và anh chị em giáo đoàn đã đặt ưu tiên cho vấn đề phát triển con người, và cuộc sống con người.

Đâu đâu tôi cũng thấy anh chị em hợp tác với các cha để nâng cao đời sống của mình và của giáo đoàn mình lên: Từ việc nâng cấp nhà thờ, nhà xứ, cho đến việc xây dựng tu sửa đường đi, trường học, giếng nước, cầu cống vv... Tất cả những cái đó đều ở trong chương trình truyền giáo mà Công đồng Vatican II và Tòa Thánh đã gợi ý cho chúng ta.

Đặc biệt, tôi thấy tại các nơi truyền giáo, các cha và anh chị em để ý nhiều hơn đến việc phát triển tinh thần, làm cho tinh thần của anh chị em, của con em chúng ta mở rộng ra những chân trời khoa học, kỹ thuật, văn hóa. Bởi vì như chúng ta đang thấy: Chúng ta đang đi về một tương lai cạnh tranh về khoa học, về trí thức nghệ thuật. Nếu họ đạo chúng ta không có những người có khả năng hướng về những chuyên môn ấy, thì việc truyền giáo khó mà phát triển được.

Hơn nữa, tôi thấy các cha và anh chị em tại các nơi truyền giáo cũng rất quan tâm đến việc xây dựng con người về mặt đạo đức, từ nhân bản trở đi.

Tại giáo điểm này, tôi rất mừng vì nhận thấy công việc xây dựng đạo đức, phát triển nhân bản đang trên đà tiến triển tốt. Có những dấu chỉ cho tôi vui mừng vì ở đây có một nếp sống lương thiện, có một tinh thần liên đới càng ngày càng tốt hơn, càng ngày càng sâu sắc hơn. Họ đạo anh chị em bị vây hãm trong một cảnh thiên nhiên, sông rạch, khó có bề giao thương với bên ngoài. Thế nhưng, anh chị em đã cố vươn lên, để cho tầm nhìn của mình vượt qua được những hàng rào cản trở, giúp cho tâm hồn của mình, bắt gặp con người trở thành những công trình ca ngợi Thiên Chúa và giúp phục vụ đắc lực cho đồng bào đất nước chúng ta.

Nhận xét thứ ba của tôi tại các nơi truyền giáo và ở chính nơi đây là thấy giáo đoàn chúng ta tập trung đức tin vào Đức Kitô cứu độ.

Cũng như một lời chúng ta vừa nghe trong bài đọc thứ hai “Các thánh tông đồ luôn luôn nhấn mạnh đến sự tin vào Đức Kitô là Đấng Cứu Độ”, thì hôm nay, việc truyền giáo khắp nơi tại địa phương ta, cũng đang tập trung vào sự tin Đức Kitô là Chúa và là Đấng Cứu Độ: Trong nhà thờ, cách trang trí trên bàn thờ hướng về Đức Kitô. Các bài thánh ca hướng về Đức Kitô. Những lời rao giảng hướng về Đức Kitô. “Chính nhờ Người, với Người và trong Người, mà mọi chúc tụng đều hướng về Chúa là Cha, hiệp thông với Chúa Thánh Thần”. “Chỉ có Người là Đấng Thánh, chỉ có Người là Đấng Tối Cao”. Tất cả nếp sống đức tin của chúng ta, dựa trên Đức Kitô và phải phát triển trên nền tảng Đức Kitô.

Tương lai Hội Thánh chúng ta sẽ còn gặp nhiều khó khăn, và có những khó khăn xảy đến bất ngờ. Vì thế mà hôm nay, việc xây dựng đức tin trên nền tảng Đức Kitô và gặp gỡ Đức Kitô là rất quan trọng, để có thể ứng phó với những hoàn cảnh khó khăn sẽ tới sau này.

Anh chị em thân mến,

Trong giờ phút trọng đại của thánh lễ hôm nay, các linh mục và tôi sẽ cùng với anh chị em cảm tạ Thiên Chúa, vì đã ban cho họ đạo chúng ta những bước phát triển tốt về nhiều mặt, và hãy cầu xin Chúa Thánh Thần giúp cho chúng ta vững bước và tiến mãi trên con đường Chúa đã chọn cho chúng ta đi.

Cách riêng, chúng ta hãy cầu nguyện cho con em chúng ta. Bởi vì tương lai thuộc về giới trẻ. Nếu giới trẻ hôm nay của họ đạo được chuẩn bị tốt, thì tương lai của chúng, của gia đình ta, của họ đạo ta, của địa phương ta sẽ rất tốt. Bằng nếu ngược lại, con em chúng ta không được chuẩn bị tốt, thì sợ rằng tương lai của chúng và của chúng ta sẽ bị tai hại.

Lạy Chúa Thánh Thần, xin hãy đến với chúng con. Lạy Chúa Thánh Thần, xin hãy ở lại trong chúng con. Amen.

Lễ Thêm Sức tại Ông Dèo, ngày 09-02-1993.

 

Bùi-Tuần 0359: TUYÊN XƯNG SỰ SỐNG LẠI 21-03-1993


Láng Sen -Lễ Kỷ Niệm 45 năm linh mục cha già cố Giuse Nguyễn Hưng và 20 năm thành lập họ đạo Láng Sen- TN7-A- Matthêu 5,38-48

Kính thưa cha già cố và các cha.

Anh chị em thân mến,
 

Khi tôi muốn đánh giá một linh mục, tôi thường xem linh mục ấy có là: 21-03-1993 Bùi-Tuần 359


Khi tôi muốn đánh giá một linh mục, tôi thường xem linh mục ấy có là dấu chỉ của sự sống lại không? Linh mục ấy có là dụng cụ của sự sống lại không? Tôi nghĩ rằng, Ngài sẽ là dấu chỉ của sự sống lại, nếu chính Ngài đã vượt qua được những thử thách đau đớn muốn chấm dứt Ngài như sự chết, để vươn lên đời sống chan hoà sự bình an cứu độ. Ngài sẽ là một dấu chỉ của sự sống lại, nếu chính Ngài, nhờ ơn Chúa giúp, từ vực thẳm yếu đuối tối tăm ê chề, mà vươn lên được, sự sống đầy ánh sáng Chúa Thánh Linh. Ngài sẽ là dụng cụ của sự sống lại, nếu Ngài nhờ ơn Chúa giúp, đổi mới được các linh hồn, đánh thức được các lương tâm, làm mới lại não trạng, cái nhìn, của nhiều cá nhân và nhiều cộng đoàn.

Hôm nay, tôi nhìn cha già cố thân yêu của tôi, và tôi thấy tôi có đủ lý do để coi Ngài là một dấu chỉ của sự sống lại và là một dụng cụ của sự sống lại.

Tất nhiên, tôi không coi thường sự Ngài lướt thắng được những thử thách về vật chất và về sức khoẻ. Nhưng tôi để ý nhiều hơn sự Ngài vượt qua được những khó khăn tâm lý và xã hội, để có được hôm nay một đời sống nội tâm thanh thản, một đời sống xã hội cởi mở và thích ứng.

Và tất nhiên, tôi cũng không để ý nhiều đến những đổi mới về những phong cảnh họ đạo, cơ sở vật chất, tổ chức giáo đoàn, nhưng tôi để ý nhiều hơn đến những việc mà Ngài đã làm để đổi mới tinh thần họ đạo, để đổi mới lại sự sống tâm hồn.
Tôi cũng không coi thường số lượng giáo dân tăng lên, nhưng tôi để ý nhiều hơn đến tính chất lòng đạo của giáo dân, tính chất xã hội của giáo đoàn.

Đặc biệt, tôi để ý đến những việc bé nhỏ mà Chúa Giêsu trong Phúc Âm hôm nay đã nhắc đến như là một chứng từ của một tình yêu vô biên giới, làm chứng cho sự trọn lành của Cha trên trời, những điểm bé nhỏ mà Chúa Giêsu hôm nay nhắc lại rất là giản đơn: Sự chào hỏi nhau, sự viếng thăm nhau, sự chia sẻ cho nhau tình thương và hy vọng, sự thông cảm tha thứ cho nhau. Tất cả đều là những việc đời thường, nhưng đối với Chúa, nếu phát xuất do lòng tin yêu “Mến Chúa, yêu người”, không phân biệt ai, thì nó có giá trị. Bởi vì nó là những cách để nên giống như Cha trên trời là Đấng làm cho mặt trời mọc lên, mưa xuống cho mọi người, không phân biệt lành dữ, không phân biệt vùng lương, vùng giáo.

Tôi thấy rằng, mỗi một người chúng ta cũng giống như một cây, và mỗi họ đạo chúng ta cũng giống như một cánh đồng trồng lúa. Muốn cho cây và ruộng lúa được tốt, khỏi chết, thì cần phải tưới nước, cần phải bơm nước vào.

Trong lãnh vực thiêng liêng cũng vậy, cần phải tưới, cần phải bơm nước vào. Nước tốt nhất làm cho cây đức tin triển nở, đó là nước tình yêu: Tình yêu vị tha, tình yêu quảng đại, tình yêu cho đi quên mình.

Giờ đây, tôi đang nhìn thấy dòng nước tình yêu ấy trong họ đạo Láng Sen của anh chị em và của tôi đây. Có một tình yêu quảng đại rộng rãi, không phân biệt lương hay giáo. Có một tình yêu quảng đại chân thành không phân biệt người đã ở lâu và người mới đến. Có một tình yêu quảng đại đằm thắm, không phân biệt gốc Nam, gốc Bắc, gốc Trung. Đây là một tình yêu nói lên một sự đổi mới, một sự sống lại, một khả năng có thể làm sống lại nhiều đức tin, nhiều đức cậy, nhiều đức mến.

Sự sống lại là chuyện hôm nay, là chuyện đời thường, là chuyện của mỗi người. Khi chúng ta đang sống với cái tình yêu có khả năng làm sống lại như vậy, chúng ta đang tuyên xưng sự sống lại.

Đối với tôi, tuyên xưng sự sống lại không phải là sự đọc lên một công thức trong kinh Tin Kính hay là trong lễ Misa, mà là lấy đời sống nói lên rằng: Sự chết và những cái giống như sự chết, không phải là lời cuối cùng, bởi vì sau cái chết, và sau những cái hầu như sự chết vẫn có sự sống lại. Chính chúng tôi đây, đã trải qua sự chết cách này cách nọ, để đến được ngày hôm nay, như một ngày sống lại.

Tuyên xưng đức tin, cũng không phải chỉ là chờ đợi một kiếp sau sẽ đến sau này mà là nói lên rằng sự sống lại đang thực hiện trong đời sống trước mắt chúng ta và đang ở trong ta. Hôm qua, năm trước, tôi đang như trong vực thẳm, yếu đuối, tối tăm về mặt này, mặt khác. Hôm nay, tôi đã sống lại. Sự sống lại là chuyện hôm nay.

Rồi tuyên xưng đức tin, không phải nói lên chuyện của chúng mình, của chúng ta, nhưng là nói lên chuyện của Thiên Chúa trên trời. Chính Ngài ban ơn cho chúng ta được sống lại.

Anh chị em thân mến,

Tôi vừa chia sẻ với anh chị em một cái nhìn thoáng qua về cha già cố, về họ đạo chúng ta. Cái nhìn thoáng qua này thiết tưởng cũng đang gợi ý cho chúng ta nhìn về tương lai để biết chọn đúng hướng, đồng thời cũng đang gợi cho chúng ta biết nhìn về ơn Chúa đã ban cho chúng ta. Tôi nghĩ rằng không gì đẹp, không gì quí cho một linh mục, bằng sự mình được Chúa chọn là dấu chỉ cho sự sống lại và được Chúa chọn như một dụng cụ của sự sống lại. Không gì đẹp, không gì quí cho một họ đạo, khi họ đạo ấy được Chúa chọn, để làm chứng cho sự sống lại. Đó là một điều hôm nay chúng ta đã nhận thấy trước mắt chúng ta, trong thâm tâm chúng ta.

Vì thế, chỉ có cách là chúng ta tạ ơn Thiên Chúa. Thánh lễ Tạ Ơn sẽ qua đi, nhưng thánh lễ cuộc đời sẽ tiếp tục. Và tôi mong rằng tâm tình tạ ơn không phải chỉ dừng lại trong thánh lễ bàn thờ, mà sẽ tiếp tục trong thánh lễ cuộc đời với biết bao hồng ân, với biết bao tạ ơn, với biết bao hy sinh.

Lạy Chúa, xin đến với chúng con. Xin ở giữa chúng con. Amen.

Lễ Kỷ Niệm 45 năm linh mục cha già cố Giuse Nguyễn Hưng và 20 năm thành lập họ đạo Láng Sen, ngày 21-03-93.

 

Bùi-Tuần 0360: ĐẶC ĐIỂM CủA ĐỜI TU 14-02-1993


Thánh Gia (Cần Xây) -Lễ Khấn Dòng
 

Cách đây một tháng, trong dịp dâng lễ tạ ơn tại kênh Đ2, tôi thấy có: 14-02-1993 Bùi-Tuần 360


Cách đây một tháng, trong dịp dâng lễ tạ ơn tại kênh Đ2, tôi thấy có treo ở cuối nhà thờ một tấm vải mang hàng chữ “Phụng sự Chúa trong mọi người”. Khi đọc hàng chữ ấy tôi thấy ngay rằng: Đây có thể là một lý tưởng cho con người tu, dâng hiến đời mình cho Chúa.

Nhưng theo tôi, lý tưởng này tuy rất đẹp, nhưng vẫn còn trống, vẫn còn chung chung, nó chưa nói lên được cái đặc điểm, cái nét riêng của người tu sĩ. Tôi vẫn thắc mắc điều đó. Sáng hôm nay tôi đọc cuốn “A la suite de Jésus” (Đi theo Đức Giêsu) của cha Voillaume, thì thắc mắc của tôi được giải quyết.

Cha Voillaume là đấng sáng lập hình thức Dòng tu theo chân cha Charles de Foucauld. Trong những cuốn sách của ngài viết, mà nhất là cuốn sách tôi vừa nói, cha cho tôi thấy nét riêng của người tu sĩ:

- Đặc điểm của người đi tu là theo Đức Kitô cứu độ, Đấng đã gắn liền con người cứu độ với thánh giá.

- Đặc điểm của người tu là bắt chước Đức Kitô cứu độ, Đấng không bao giờ tách rời sự cứu độ ra khỏi thánh giá.

Nét đẹp của người tu là sống mật thiết với Đức Kitô cứu độ, Đấng đồng hóa sự cứu độ với thánh giá.

Đọc Phúc Âm chúng ta thấy rõ điều cha Voillaume đã nêu lên: Sự cứu độ của Đức Kitô đã được ngài xác định một cách rất rõ, một cách quyết liệt bằng lời nói, bằng việc làm. Chúng ta thấy Chúa Giêsu bằng nhiều cách, nhiều nơi, đã cho chúng ta thấy rằng: Đời cứu độ của Ngài là phải từ bỏ, là phải chịu nhục nhã, là phải chịu bắt bớ, là phải chịu đóng đinh trên thánh giá. Con đường cứu độ của Ngài là con đường bi thảm, bi thảm đến nỗi thánh Phêrô, con người gần gũi Đức Kitô, khi nghe những lời đó đã can Thầy: “Thưa Thầy, Thầy đừng đi con đường đó!” Nhưng Đức Kitô đã trách mắng thánh Phêrô: “Satan, hãy lui ra! Ta phải vâng phục thánh ý Chúa Cha!”.

Ngoài những lời xác quyết của Đức Kitô, Ngài còn chứng minh con đường của Ngài là con đường Thánh Giá, bằng cách Ngài đã thực sự đi vào con đường thánh giá: Sinh ra tại Bêlem, trốn sang Ai Cập, 30 năm sống âm thầm, ẩn dật, đơn sơ, rồi đi giảng, sống nghèo, nay đây mai đó, sau cùng bị bắt và chết trên cây thánh giá tất tưởi. Con đường cứu độ của Đức Kitô đầy hy sinh, bây giờ vẫn còn nhắc nhở chúng ta nhớ là chặng đường thánh giá đầy những khổ đau, Thánh Giá Chúa chịu nạn đầy những vết máu, thánh lễ trên bàn thờ với Đức Kitô bé nhỏ trong hình bánh đầy sự khiêm tốn.

Phần Đức Kitô, con đường cứu độ nó là như vậy. Còn phần các môn đệ Chúa, những người tu sĩ hôm nay thì thế nào?

Chúa phán: “Môn đệ không trọng hơn Thầy”. Chúa nói đến chén đắng. Có một lần môn đệ hỏi Chúa: Ai ngồi trên, ai ngồi dưới? Chúa Giêsu không trả lời mà chỉ hỏi rằng: “Con có uống được chén đắng Cha trao cho con không?”.

Rồi một lần khác, Chúa nói với những người Chúa gọi: “Nếu không từ bỏ mình, không vác thánh giá mình, thì không đáng gọi là môn đệ của Ta!”

Và lúc nãy, trong Phúc Âm Chúa trả lời thánh Phêrô: Kẻ theo Chúa bây giờ sẽ được nhiều lắm, cộng với sự bắt bớ ở đời này.

Vậy, ta đã thấy rõ đặc điểm của người được Chúa gọi là phải cộng tác với Đức Kitô trong con đường cứu độ, tức thánh giá. Tôi nói điều này để cho chính tôi, cho các Linh mục, các tu sĩ và giáo dân nhận thức rõ về đặc điểm người Chúa gọi để hiến thân.

Về điểm này, lý thuyết thì chúng ta biết, nhưng lý thuyết ấy nhiều khi không nội-tâm-hóa được: Nó trôi qua mà không nhập tâm, bởi vì nó bi đát, nó khó nghe, nó khó hiểu! Chính các tông đồ đến phút chót, mà vẫn không hiểu! Cho nên cần phải có một sự sống nội tâm, năng cầu nguyện, năng suy gẫm, có lòng khiêm tốn, đón nhận những sứ điệp Chúa gửi đến cho mình, thì mới hiểu được các đặc điểm đời tu, và hiểu ơn Chúa gọi nó là thế nào?

Hiện nay, cái tinh thần tục hóa đang tràn lan khắp nơi, và cái tinh thần tục hóa ấy, cũng đang tràn lan vào các nhà tu, để làm mờ đi cái đặc điểm cao nhất của đời tu, để thay vào tinh thần cứu độ của Đức Kitô bằng những cái màu sắc lòe loẹt khác. Đây cũng là lúc ta cần phải làm sáng lên đặc điểm của người Chúa gọi.

Riêng Dòng chúng ta, quá khứ đã được chứng minh, bằng sự Chúa chọn chúng ta cộng tác với Ngài trên con đường cứu độ, bằng thánh giá với những mất mát, với những khổ đau, với những hy sinh tâm hồn và thể xác. Chúng ta đừng coi đó là một sự bất hạnh, mà hãy coi đó là một hồng ân, và nhìn về phía trước, chúng ta vẫn đón nhận những ơn Chúa ban cho, qua những may mắn và qua những thánh giá hy sinh sẽ xảy đến cho toàn thể và cho từng cá nhân. Hãy biết tạ ơn Chúa vì những thánh giá. Hãy biết cầu xin để khi thánh giá tới, chúng ta biết đón nhận như một ơn gọi quí giá.

Bởi vì càng ngày càng có nhiều tổ chức làm việc từ thiện, làm việc bác ái: Hòa Hảo cũng làm, Tin Lành cũng làm, Giáo Phái cũng làm, Công Giáo cũng làm, Cộng Sản cũng làm. Do đó, nếu chỉ làm việc từ thiện, bác ái, phụng sự mọi người, thì chưa chắc đã là đặc điểm của người môn đệ Chúa. Một người phụng sự Chúa trong mọi người, vẫn từ bỏ, vẫn khiêm tốn, vẫn chôn mình trong lặng lẽ, để làm chứng con đường cứu độ, không tách rời khỏi thánh giá Chúa Kitô, thì quả thật, ơn cứu độ đang dẫn tới Nước Trời, thứ hạnh phúc thật, chứ không phải thứ hạnh phúc tạm đời này.

Trong thánh lễ hôm nay, chúng ta cùng cầu nguyện cho nhau được thấu hiểu, và được trung thành với ơn gọi sống mật thiết với Đức Giêsu Đấng Cứu Độ, không tách rời con đường cứu độ ra khỏi thánh giá, và hãy nguyện xin cuộc đời chúng ta trở thành một thánh lễ kéo dài, với những hy sinh, với những lời ca tụng không ngừng.

Dù hoàn cảnh có xảy ra thế nào đi nữa, đời con vẫn là Thánh Lễ kéo dài. Amen!

Lễ Khấn Dòng tại tu viện Thánh Gia (Cần Xây), ngày 14-02-1993.

 

Bùi-Tuần 0361: XỨNG ĐÁNG LÀ BIẾT MÌNH BẤT XỨNG 06-04-1993


Trung Thành (K. 8 chợ)  - Lễ Truyền Dầu
 

Một trong những mục đích của thánh lễ hôm nay là tái-huấn-luyện tâm: 06-04-1993 Bùi-Tuần 361


Một trong những mục đích của thánh lễ hôm nay là tái-huấn-luyện tâm hồn tông đồ của các linh mục chúng tôi.

Trong mục đích này có việc các linh mục tuyên hứa lại một số điều quan trọng.

Cũng trong mục đích này có sự các linh mục tham gia vào việc làm phép các dầu sẽ được dùng trong một số bí tích.

Và cũng trong mục đích này có sự cộng đoàn cầu nguyện đặc biệt cho các linh mục chúng tôi.

Những việc trên đây đều rất nhẹ nhàng, chẳng thấm gì với những cách huấn luyện mà Chúa Giêsu đã thực hiện đối với các tông đồ thuở xưa.

Để huấn luyện các tông đồ, Chúa Giêsu thường dùng những việc cụ thể, đặc biệt là để giúp các tông đồ nhận biết sự hèn kém của mình, từ bỏ cái tôi của mình, hầu dễ trở thành dụng cụ cứu độ trong tay Chúa.

Để có một ý niệm về đường hướng huấn luyện của Chúa Giêsu, tôi xin nêu lên ở đây trường hợp thánh Phêrô trong chính buổi chiều Ngài được thụ phong. Đó là chiều thứ năm Tuần Thánh.

Chiều ấy, Chúa Giêsu phong Ngài lên chức Giám mục, để rồi sẽ là vị Giáo Hoàng đầu tiên của Hội Thánh Công Giáo.

Nhưng cùng với việc phong chức thánh cho Phêrô, Chúa Giêsu đã vạch ra cho Phêrô thấy 4 cái kém cỏi của chính Phêrô.

Cái kém cỏi thứ nhất mà Chúa Giêsu vạch ra cho Phêrô thấy là trình độ hiểu biết của Phêrô còn rất thấp.

Thực vậy, khi thấy Chúa Giêsu quỳ xuống rửa chân cho mình, Phêrô tỏ ra rất lúng túng, không hiểu gì cả. Chúa Giêsu nói: “Việc Thầy làm cho con lúc này, con không hiểu. Nhưng rồi đây con sẽ hiểu”.

Với lời nói trên đây, Chúa Giêsu cho Phêrô thấy rõ trình độ hiểu biết của mình không khá đâu. Một việc cụ thể, đơn sơ như thế mà phải đợi sau này mới hiểu được ý nghĩa, thì phương chi các mầu nhiệm phức tạp. Thấy được cái kém cỏi của mình về hiểu biết, Phêrô sẽ bước xuống được một bước của chiếc thang khiêm nhường.

Cái kém cỏi thứ hai mà Chúa Giêsu vạch ra cho Phêrô thấy, là mức độ tín nhiệm Chúa dành cho Phêrô chưa cao.

Thực vậy, khi Phêrô muốn hỏi Chúa Giêsu xem ai sẽ phản bội Thầy, thì Phêrô không dám hỏi trực tiếp, mà phải nhờ Gioan. Bởi vì ai cũng biết Gioan được Thầy thương yêu nhất, được tín nhiệm nhất. Và trong bữa tiệc ly, Gioan được ngồi cạnh bên Thầy. Thấy được cái thua kém của mình về sự tín nhiệm, Phêrô sẽ bước xuống thêm một bước nữa của chiếc thang khiêm nhường.

Cái kém cỏi thứ ba mà Chúa Giêsu vạch ra cho Phêrô thấy, là tình trạng cầu nguyện và tỉnh thức của Phêrô còn quá yếu.

Thực vậy, trong vườn Cây Dầu, Chúa Giêsu bảo các môn đệ hãy chịu khó tỉnh thức và cầu nguyện. Các Ngài xin vâng. Nhưng chỉ ít phút sau, các Ngài quay ra ngủ. Chính Phêrô là đầu nhóm, cũng không hơn gì các người khác. Ngủ đang khi Thầy cầu nguyện. Vô lo đang khi Thầy lo buồn đến đổ mồ hôi máu ra. Sự kiện đó thực là thê thảm. Thấy được cái kém cỏi của mình về sự tỉnh thức và cầu nguyện, Phêrô lại bước xuống thêm một bước nữa của chiếc thang khiêm nhường.

Cái kém cỏi thứ bốn mà Chúa Giêsu vạch ra cho Phêrô thấy, là lời hứa của Phêrô không đáng giá bao nhiêu.

Thực vậy, Phêrô đã thề hứa là dù mọi người bỏ Thầy, Ngài cũng sẽ không bao giờ bỏ Thầy. Thế nhưng, chỉ vài giờ sau Phêrô đã thất hứa. Ngài đã chối Thầy một cách quyết liệt. Chối đến ba lần. Sự kiện này là một nhục nhã ê chề, là một yếu đuối rất nặng nề. Thấy được cái kém cỏi của mình về sự trung tín, Phêrô lại bước xuống thêm một bước nữa của chiếc thang khiêm nhường.

Như vậy, Chúa Giêsu đã bắt Phêrô phải bước xuống nhiều bậc của chiếc thang khiêm nhường. Mỗi bậc bước xuống là mỗi bậc từ bỏ mình, để có thể đón nhận thêm ơn cứu độ. Và cứ thế, người tông đồ Phêrô sẽ hiểu rằng mình được lãnh nhận chức thánh là để ra đi làm chứng về tin mừng Chúa thương yêu mình là kẻ tội lỗi, làm chứng về tin mừng Chúa cứu độ mình là kẻ bất xứng.

Những sự trên đây xảy ra cho thánh Phêrô khiến tôi nghĩ rằng, khi huấn luyện các tông đồ, Chúa Giêsu chú trọng đặc biệt đến đức khiêm nhường. Ngài coi đức khiêm nhường như là điều kiện căn bản để được thụ phong. Như thể, để xứng đáng chịu chức, thì phải thành thực nhận biết mình bất xứng.

Tôi có cảm tưởng là hiện nay, trong mục đích tái-huấn-luyện tâm hồn tông đồ của các linh mục, Chúa cũng rất muốn chúng tôi để ý nhiều hơn đến đức khiêm nhường. Khi hiểu như vậy, tôi sẽ không lấy làm lạ trước những gì xảy ra khiến chúng tôi phải bước xuống các bậc thang khiêm nhường. Tôi tin rằng đức khiêm nhường là một bề sâu tâm linh, mà Chúa muốn, và đa số con người Việt Nam vốn trân trọng, vốn mộ mến, vốn tìm kiếm. Cái bề sâu tâm linh của các linh mục sẽ là một dấu chỉ của chức thánh và cũng sẽ là một vẻ đẹp của Nước Trời đang đến.
Tôi xin anh chị em cầu nguyện cho chúng tôi được biết làm chứng Tin Mừng Cứu Độ qua đức khiêm nhường là dấu chỉ của Hội Thánh thời đại hôm nay.

Lễ Truyền Dầu tại giáo xứ Trung Thành (Kinh 8 chợ), ngày 06-04-1993.

 

Bùi-Tuần 0362: TIẾNG NÓI CủA HAI BÀN TAY ĐỨC KITÔ 08-04-1993


Long Xuyên -Thánh lễ Tiệc Ly thứ năm Tuần Thánh
 

Chúa Giêsu là Đấng Cứu Thế. Ngài diễn tả tình thương của Ngài qua diện 08-04-1993 Bùi-Tuần 362


Chúa Giêsu là Đấng Cứu Thế. Ngài diễn tả tình thương của Ngài qua diện mạo, qua cái nhìn, qua lời nói, qua nhiều cách khác nữa. Có một cách diễn tả của Ngài mà tôi cho là thành công nhất: Đó là diễn tả bằng hai bàn tay.

Thực vậy, suốt đời, Chúa Giêsu đã dùng hai bàn tay để đem lại sự lành cho kẻ khác. Tay Ngài chạm đến tai người điếc, chạm đến mắt người mù, chạm đến chân tay người bất toại, chạm đến xác người chết. Để chữa họ, để cứu họ, để ban ơn lành cho họ.

Trong những giờ sau hết, Chúa Giêsu cũng đã dùng hai bàn tay để diễn tả tình thương của Ngài. Bài Phúc Âm hôm nay và bài Thương Khó ngày mai đã nêu lên bốn hình ảnh ý nghĩa của hai bàn tay Ngài.

Hình ảnh thứ nhất là hình ảnh hai tay Đức Kitô trao bánh và rượu cho các tông đồ.
Phúc Âm cho thấy: Chúa Giêsu đã cầm lấy bánh, bẻ ra và trao cho các môn đệ và nói: “Này là Mình Thầy, hãy cầm lấy mà ăn”. Rồi Ngài cũng trao chén rượu cho các môn đệ và nói: “Này là Máu Thầy, hãy cầm lấy mà uống. Hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy”.

Với cử chỉ trên đây, hai bàn tay Đức Kitô đã nói lên tiếng nói của một trái tim quan phòng. Ngài biết mình sắp ra đi, nên để lại bí tích Thánh Thể, để các môn đệ có thể gặp được Ngài dưới một hình thức khác, âm thầm hơn, dễ dàng hơn. ở đây, tiếng nói của hai bàn tay Đức Kitô thực là cảm động. Miệng Ngài chỉ nói vài lời vắn tắt. Nhưng tay Ngài đã nói những tâm tình không sao tả được.

Hình ảnh thứ hai là hình ảnh hai tay Đức Kitô rửa chân cho các tông đồ.

Phúc Âm kể lại: Giữa bữa ăn, Chúa Giêsu đứng dậy, cởi áo ngoài ra, lấy khăn thắt lưng, đổ nước vào chậu, rồi đi rửa chân cho các môn đệ, và lấy khăn mà lau.

Với cử chỉ trên đây, hai bàn tay Đức Kitô đã nói lên tiếng nói của một trái tim khiêm nhường, phục vụ. Tiếng nói ấy muốn nhắn nhủ chúng ta điều này là phục vụ nhau, đó là một thứ bí tích của đời thường có sức đón nhận và chia sẻ ơn cứu độ. Phục vụ thì nhiều lúc phải dơ tay, phải cực đến thân mình, nhưng đó là việc phải đi liền với sự lãnh nhận bí tích Thánh Thể. ở đây, tiếng nói của hai bàn tay Đức Kitô là một bài ca tình ái rót sâu vào tâm hồn ta ý nghĩa giới luật yêu thương, khích lệ ta cùng với Đức Kitô dấn thân phục vụ những người xung quanh một cách cụ thể.

Hình ảnh thứ ba là hình ảnh hai tay Đức Kitô vác thập giá trên vai.

Phúc Âm ghi rằng: Chúa Giêsu vác thập giá đi đến nơi gọi là Núi Sọ.

Với cử chỉ này hai tay Đức Kitô đã nói lên tâm sự của một trái tim đầy tình liên đới. Tiếng nói ấy muốn nhấn mạnh điều này là: Đấng Cứu Thế không chỉ đến như một người giảng dạy giáo lý mới, nhưng đến như một người đồng hành với những kẻ khổ đau, để chia sẻ với họ, để cùng vác thánh giá với họ. ở đây, tiếng nói của hai bàn tay Đức Kitô là một lời kêu gọi phó thác cậy trông vào tình thương chia sẻ của Ngài. Khi ta vác thánh giá mình là những nhọc nhằn, những bệnh tật , những túng thiếu, những yếu đuối, những cô đơn, thì hãy nhớ rằng Đức Kitô sẵn sàng nâng đỡ ta, bằng trái tim Ngài, bằng đôi tay Ngài.

Hình ảnh thứ bốn là hình ảnh hai tay Đức Kitô bị đóng đinh vào thánh giá.

Phúc Âm cho biết: Quân lính đóng đinh Chúa Giêsu vào thập giá cùng với hai người trộm cướp.

Với sự chịu đựng tột độ này, hai bàn tay Đức Kitô đã nói lên tiếng nói của một trái tim yêu thương đến cùng. ở đây, tiếng nói của hai bàn tay Đức Kitô làm chứng rõ: Giá trị của bàn tay không luôn luôn dựa trên tiêu chuẩn chuyên môn và sản xuất, nhưng còn phải dựa trên tình yêu. Có những bàn tay bại liệt, có những bàn tay không thể làm gì được, có những bàn tay như bị đóng đinh vào thập giá, nhưng lại kéo được vô vàn ơn thánh xuống các tâm hồn. Bởi vì, những bàn tay ấy là tiếng nói của những trái tim cầu nguyện và dâng hiến.

Anh chị em thân mến,

Bàn tay là dấu chỉ của trái tim. Trái tim cứu độ của Chúa Giêsu đang và sẽ nói với chúng ta bằng hai bàn tay Ngài đầy quan phòng, đầy khiêm tốn phục vụ, đầy chia sẻ, và đầy tình thương dâng hiến.

Để cảm tạ Đức Kitô và để đón nhận ơn cứu độ của Đức Kitô, chúng ta hãy bắt chước Ngài. Mến Chúa yêu người không phải chỉ bằng các tâm tình, bằng các lời kinh mà còn phải bằng các việc làm, bằng hai bàn tay.

Để thuyết phục thánh Tôma, có lần Chúa Giêsu đã giơ hai bàn tay Ngài ra mà nói: “Con hãy nhìn hai bàn tay Thầy đây”. Cũng vậy, Chúa muốn chúng ta làm chứng cho đức tin bằng hai bàn tay chúng ta. Phải có những bàn tay thực sự làm việc bác ái, để tuyên xưng Đức Kitô, để ca tụng Đức Kitô, và để tưởng nhớ lại lời trăn trối của Đức Kitô: “Thầy ban cho chúng con một điều răn mới là chúng con thương yêu nhau” . Hãy cầu nguyện bằng hai bàn tay bác ái. Hãy diễn tả đức tin bằng hai bàn tay bác ái. Hãy sống tinh thần Tuần Thánh bằng hai bàn tay bác ái.

Thánh lễ Tiệc Ly thứ năm Tuần Thánh, Long Xuyên ngày 08-04-1993.

 

Bùi-Tuần 0363: SỰ SỐNG LẠI CỦA ĐỨC KITÔ


LÀ MẪU GƯƠNG NHỮNG SỰ SỐNG LẠI HÔM NAY 11-04-1993

Lễ Phục Sinh Chánh tòa Long Xuyên
 

Khi suy gẫm về sự Đức Kitô sống lại, như được kể trong các bài Phúc: 11-04-1993 Bùi-Tuần 363


Khi suy gẫm về sự Đức Kitô sống lại, như được kể trong các bài Phúc Âm lễ hôm nay và những lễ kế tiếp, tôi nhận thấy có hai điều sẽ giúp tôi hiểu những sự sống lại, mà Chúa đang thực hiện trong Hội Thánh hôm nay.

Điều thứ nhất tôi nhận thấy, đó là sự sống lại của Đức Kitô không đến từ những cuộc đấu tranh quyền lợi theo tinh thần thế tục, nhưng đã đến từ một cuộc hiến tế chính mình, đầy hiền từ nhân ái.

Thực vậy, từ khi sinh ra cho đến lúc chết, và nhất là từ nhà Tiệc Ly cho đến núi Sọ, không lúc nào, không nơi nào, Đức Kitô đã xuất hiện như một người đấu tranh quyền lợi, theo tinh thần thế tục, nhưng luôn luôn và khắp nơi, Ngài giữ diện mạo và thái độ của một kẻ hiến tế chính mình. Đúng hình ảnh kẻ làm chứng cho tình yêu vô cùng của Thiên Chúa. Sự chết của Ngài là một lễ tế tình yêu.

Chính từ đó Ngài đã sống lại. Như một hạt giống tốt bị thối đi, để nảy sinh ra sự sống mới, đầy sức phát triển.

Tiến trình sống lại trên đây của Đức Kitô giúp tôi hiểu những gì đang xảy ra tại nhiều nơi trong Hội Thánh. Có nơi dấn thân vào những cuộc đấu tranh quyền lợi theo tinh thần thế tục, nhưng từ những cuộc đấu tranh ấy, đức tin và đạo đức đã không sống lại, hơn nữa nó càng xấu đi. Trái lại, có nơi can đảm sống tinh thần hiến tế theo gương Đức Kitô. Và từ cuộc sống ấy, đức tin và đạo đức đã sống lại và phát triển lạ lùng.

Tôi rất mừng là nhiều người, nhiều gia đình, nhiều cộng đoàn trong giáo phận chúng ta đang đi theo con đường sống lại ấy.
Điều thứ hai tôi nhận thấy, đó là sau khi sống lại Đức Kitô có một cách sống khác, chứ không trở về với cách sống trước kia.

Thực vậy, sau khi sống lại, bản thân Đức Kitô trở nên thiêng liêng, nhẹ nhàng, linh động. Maria đi tìm Ngài trong mồ, thì lại gặp Ngài đứng ngoài mồ. Maria chạy lại ôm Ngài, thì Ngài cản lại. Như thế, Chúa sống lại có một cách sống mới, và Ngài muốn các môn đệ Ngài cũng phải tham dự phần nào vào sự sống lại của Ngài bằng một lối sống mới. Đó là sống đức tin trưởng thành hơn, không vụ lợi, là ra đi làm chứng cho sự sống lại của Ngài.

Sự việc xảy ra trên đây giúp tôi nhận ra người nào, cộng đoàn nào hiện nay đang được Chúa cho sống lại thực sự về đức tin và đạo đức. Nếu đức tin và nếp sống đạo của họ có đổi mới, nhưng đổi mới chỉ là trở về những hình thức cũ, những não trạng cũ, thì những đổi mới ấy không phải là sự sống lại mà Chúa muốn. Còn nếu đức tin và nếp sống đạo của họ có đổi mới, nhưng đổi mới là trở vào tinh thần Phúc Âm sâu hơn, trở vào mầu nhiệm phục sinh của Đức Kitô một cách tích cực hơn, thì những đổi mới như vậy chính là sự sống lại thực mà Chúa đang thực hiện.

Một lần nữa, tôi xin nói lên niềm vui của tôi là nhiều người, nhiều gia đình, nhiều cộng đoàn trong giáo phận chúng ta đang thực sự sống lại như vậy.

Trong niềm vui mừng của Chúa đã sống lại và của nhiều tâm hồn, nhiều cộng đoàn đang sống lại, tôi cầu xin Chúa cho sự sống lại của Hội Thánh, của Quê Hương, của tất cả đồng bào. Với tất cả tâm tình yêu thương, tôi xin cầu chúc anh chị em một lễ Phục Sinh vui tươi đầy hy vọng sống lại, đầy ơn lành sống lại của Đức Kitô Phục Sinh.

Lễ Phục Sinh, tại nhà thờ Chánh tòa Long Xuyên, ngày 11-04-199314-04-1993- kinh Rivêra

 

Bùi-Tuần 0364: HUẤN LUYỆN ĐỨC TIN 14-04-1993


  Luca 24,13-35

Lễ Làm Phép chuông- Thứ 4 tuần bát nhật Phục Sinh kinh Rivêra
 

Trong mấy tháng vừa qua, có vài bài báo, đăng trên các báo ngoại: 14-04-1993 Bùi-Tuần 364


Trong mấy tháng vừa qua, có vài bài báo, đăng trên các báo ngoại quốc, nói về tình hình Việt Nam, đã làm cho tôi suy nghĩ rất nhiều.

Bài báo thứ 1 đăng trên tờ La Vie, một tuần báo của Pháp. Khi mô tả tình hình Công Giáo tại Việt Nam, tác giả, một người Pháp mới đi Việt Nam về, đã viết và có một nhận xét sau đây: Tại nhiều nơi, người ta đầu tư quá nhiều vào việc xây cất nhà thờ, mà đầu tư quá ít vào việc đào tạo và huấn luyện đức tin.

Bài báo thứ 2 đăng trên tờ Témoignage Chrétien, ngày 27-3 mới rồi. Khi đưa ra những khuynh hướng sống đạo ở Việt Nam hôm nay, tác giả là một nhà văn nổi tiếng ở Pháp mới ở Việt Nam về, đã viết như sau: Tôi thấy tại một số nơi ở Việt Nam, người ta đã xây cất những cái xét ra không cần thiết cho đời sống cộng đoàn. Và việc đó dẫn đưa tới chỗ là thu vén tiền bạc, là đi tới những nguy hiểm mà đồng tiền thường gây nên cho Hội Thánh khắp nơi. Sau đó, tác giả lại viết: Nếu cứ đà này, có lẽ, Giáo Hội Việt Nam sẽ mất đi tình cảm của những người ngoài Công Giáo. Và có lẽ, Giáo Hội Việt Nam sẽ tự đặt mình ra ngoài lề xã hội Việt Nam.

Tất cả những ý kiến trên đây đã làm tôi suy nghĩ, đã làm tôi nhức nhối.

Riêng tôi, tôi nghĩ rằng: Khi các cha, khi Hội đồng giáo xứ, khi một họ đạo tiến hành xây cất, tu sửa nhà thờ, tháp chuông, tượng đài, thì chắc chắn đã có những cân nhắc cẩn thận, chắc chắn đã có một tâm hồn chấp nhận hy sinh: Hy sinh sức khỏe, hy sinh tiền bạc, và nhiều khi hy sinh đến cả uy tín của mình. Nhất là, khi tiến hành làm những việc xây cất ấy, các cha cũng như anh chị em đã có một ý muốn sớm chấm dứt những công trình ấy, để có thể tiếp tục chương trình huấn luyện con người về đức tin. Tất cả những điều trên đây, tôi đang thấy nơi giáo xứ anh chị em.

Tôi biết là anh chị em, trước khi làm những công việc xây cất, đã cân nhắc đắn đo, đã suy nghĩ thật kỹ, và cũng đã sẵn sàng chấp nhận mọi hy sinh. Nhất là cũng đã cố gắng để mau chấm dứt cái giai đoạn xây cất các cơ sở vật chất, hầu có thể tập trung tiềm năng tinh thần, vật chất, vào việc đào tạo đức tin.

Vì thế, hôm nay, tôi coi như một ngày lễ Vượt Qua. Chúng ta đã vượt qua được cái giai đoạn chúng ta đã đặt ra, để rồi chúng ta bước vào một giai đoạn mới: Giai đoạn huấn luyện đào tạo đức tin, mà chương trình được Chúa Kitô phát họa trong bài Phúc Âm hôm nay.

Như chúng ta vừa nghe, khi Chúa Giêsu huấn luyện đức tin hai môn đệ trên đường về làng Emaus, Ngài đã dùng nhiều cách khác nhau:

- Cách thứ nhất là Chúa Giêsu giúp cho các môn đệ chịu đựng những thất bại, chịu đựng những đau buồn nhục nhã.

Thật vậy, hai môn đệ cảm thấy mình thất vọng, cảm thấy mình phải nhục nhã ê chề, cảm thấy sự trông đợi của mình trở nên mong manh. Họ vừa đi vừa nói với nhau về sự thất bại của Thầy mình, cảm thấy mình đau khổ, cảm thấy mình thất bại yếu đuối. Đó là những việc Chúa không bao giờ miễn trừ cho các người tin Chúa. Việc huấn luyện đức tin bao giờ cũng phải trải qua những thất vọng, phải biết nội tâm hóa những đau buồn nhục nhã, để nên giống Chúa Kitô. Đó là việc thứ nhất.

- Việc thứ hai mà Chúa đã phác họa ra trong chương trình huấn luyện đức tin hôm nay, là hướng dẫn theo Thánh Kinh.

Phúc Âm kể lại: Chúa Giêsu cắt nghĩa Thánh Kinh cho hai môn đệ từ các tiên tri, cho đến sau này. Có nghĩa là hai môn đệ ấy đã thuộc Thánh Kinh, còn Đức Kitô đến là để cắt nghĩa thêm. Học hỏi Thánh Kinh. Đào sâu Thánh Kinh. Đó là con đường tất yếu bó buộc trong vấn đề huấn luyện đức tin. Kinh Thánh không phải là giáo lý. Giáo lý không phải là Kinh Thánh. Hay là nói đúng hơn: Giáo lý không phải là tất cả Kinh Thánh. Muốn huấn luyện đức tin, phải tập trung vào sự học hỏi Kinh Thánh.

- Việc thứ ba mà Chúa Giêsu đã phác họa trong chương trình huấn luyện đức tin hôm nay, là Ngài đốt lên trong tâm hồn hai môn đệ trên đường Emaus cái hứng khởi lắng nghe Lời Chúa và cái hứng khởi được hiểu Lời Chúa.

Cái việc này chỉ có thể đạt được bằng sự cầu nguyện. Còn bình thường chúng ta không làm được, không đốt lên được ngọn lửa ấy, nếu không có Chúa Thánh Linh.

- Việc thứ tư mà chúng ta thấy Chúa Giêsu đã làm hôm nay trong chương trình huấn luyện đức tin cho hai môn đệ trên đường Emaus, là cho các Ngài tham dự tích cực vào sự hiệp thông với Thầy và sống bác ái với kẻ khác, trong thái độ bẻ bánh chia cho nhau.

Đức tin phải được huấn luyện, không phải chỉ qua bí tích Thánh Thể, nghi thức, mà còn qua cuộc lễ trong cuộc đời mình: Hiệp thông với Chúa, chia sẻ hợp nhất với nhau.

Và sau cùng, một việc Chúa Giêsu đã dạy các môn đệ để huấn luyện đức tin hôm nay, là biết trở về với Đức Kitô, là biết từ bỏ những gì mình muốn dự tính, không hợp với Chúa Kitô, để đi chia sẻ Tin Mừng cho những người chung quanh.

Anh chị em thân mến,

Chương trình huấn luyện đức tin là một chương trình rất phức tạp. Nó cần nhiều nghị lực tâm linh như chúng ta vừa thấy. Nó đòi từ bỏ chính mình, từ bỏ những ý riêng mình.

Cũng như bài Phúc Âm hôm nay cho thấy: Hai môn đệ nhìn thấy chính Đức Kitô hiện hình, đứng bên mình, ngồi bên mình, nói chuyện với mình, mà mình không nhận ra Ngài. Phương chi chúng ta, nếu chỉ nhìn cây tháp, chỉ nhìn thánh đường làm sao nhận ra Chúa được, nếu không có một sức mạnh thiêng liêng trong tâm hồn mình?

Vì thế, khi tôi nhìn anh chị em trong lễ hôm nay, tôi thấy tâm hồn anh chị em đang nhìn vào một số hình ảnh: Hình ảnh cuộc lễ, hình ảnh thánh đường, hình ảnh tháp chuông. Những cái đó là rất tự nhiên, nhưng theo sự huấn luyện đức tin, chúng ta phải vượt qua những hình ảnh ấy để gặp được Đức Kitô trong mình ta, để nhận ra Đức Kitô là Đấng Cứu Độ đã chết và sống lại trong đời của ta. Chỉ khi chúng ta vượt qua những hình ảnh mong manh, phù du, để gặp được Đức Kitô, để sống trọn vẹn với Ngài, để dấn thân với Ngài, thì đó mới là sống đức tin. Cuộc sống hôm nay có rất nhiều thử thách: Việt Nam càng mở rộng ra, chúng ta càng gặp rất nhiều thử thách cho đức tin. Khi đó chỉ có một đức tin mạnh, sâu, đó là gặp được Đức Kitô, thì chúng ta mới vững, và chúng ta mới thực là những Kitô hữu có Đức Kitô trong mình.

Đây là nguyện vọng của tôi. Đây là lời cầu nguyện của tôi hôm nay. Mong rằng, sau cuộc lễ này, những hình ảnh cuộc lễ hôm nay tuy còn đó, nhưng chỉ là một dấu chỉ để chúng ta gặp được Đức Kitô trong chính đời sống chúng ta. Đó mới là sự sống lại của Đức Kitô trong chính chúng ta. Amen.

Lễ Làm Phép chuông ở kinh Rivêra, ngày 14-04-1993

 

Bùi-Tuần 0365: Vẻ ĐẸP TRẻ TRUNG CủA ĐỨC KITÔ 23-03-1993


Xẻo Dầu - Lễ Thêm Sức-  Gioan 5,1-3.5-16
 

Trong bài Phúc Âm hôm nay, có ba nhân vật chính: Một là người bại liệt: 23-03-1993 Bùi-Tuần 365


Trong bài Phúc Âm hôm nay, có ba nhân vật chính: Một là người bại liệt 38 năm, hai là Đức Kitô chữa lành người bại liệt đó, ba là những người Do Thái chỉ trích việc làm của Đức Kitô.

Trong ba nhân vật ấy, tôi thấy Đức Kitô có một vẻ đẹp trẻ trung khác thường. Ngài rất trẻ, vì tuổi đời lúc ấy là 33. Ngài rất trẻ, vì tư tưởng của Ngài rất trẻ. Đang khi những người xung quanh chú trọng đến việc diễn tả đức tin bằng sự thực thi lề luật một cách câu nệ, thì Ngài có sáng kiến tiến bộ, phiên dịch đức tin ra tình yêu thương, dành cho một người bị xã hội loại trừ. Ngài rất trẻ, vì trái tim của Ngài rất trẻ, tình yêu của Ngài mạo hiểm, dám tiến tới một người mà mọi người không thương, và dành cho họ một đặc ân, để rồi mình phải lãnh đủ những phức tạp do xã hội gây nên. Khi ngắm nhìn vẻ đẹp trẻ trung của Đức Kitô trong bài Phúc Âm hôm nay, tôi thấy Ngài dễ thương. Tôi thương Ngài và tôi nói với Ngài: “Con xin hỏi Chúa 1 điều: Họ đạo Xẻo Dầu mà con thăm viếng hôm nay, có được nét nào phản ánh vẻ đẹp trẻ trung của Chúa không?” Tôi hỏi như vậy, và Chúa trả lời tôi. Không phải bằng một cách trực tiếp, nhưng một cách gián tiếp: Chúa đưa trí khôn tôi dừng lại ở những sự kiện của họ đạo anh chị em. Những sự kiện có phần nào phản ánh vẻ đẹp trẻ trung của Đức Kitô để tự tôi kết luận lấy.

Thưa anh chị em,

Cái nét thứ nhất của anh chị em phản ánh vẻ đẹp trẻ trung của Đức Kitô đó là: Thiện chí và khả năng mở ra đón nhận nền văn hoá nhân bản.

Thực vậy, khi tới đây, tôi có cảm tưởng là tôi chạm tới một bầu khí văn hoá nhân bản tương đối tốt. Tôi nhìn thấy những phương tiện mở mang văn hoá nhân bản, những chương trình học, những nơi học, những nơi sinh hoạt, những sách, những báo, những nhân sự. Công việc mở mang văn hoá nhân bản, tuy âm thầm nhưng đều đặn. Kết quả tuy không rạng rở, nhưng rất đáng kể. Và tôi nhận thấy kết quả đó trong nếp sống từng cá nhân mà tôi gặp. Nhất là tôi thấy kết quả ấy trong những tương quan xã hội, như: Sự kính trọng nhau, sự thông cảm với nhau, và tình liên đới dành cho nhau.

Khi nhìn thấy những kết quả của nền văn hoá nhân bản đang được phát triển nơi đây, tôi càng xác tín rằng: Mở mang những giá trị nhân bản, đó là một yêu cầu của cuộc sống đức tin. Nó là một vẻ đẹp hữu hình để giới thiệu vẻ đẹp siêu nhiên của Thiên Chúa tình yêu. Và tôi thấy rằng: Một hoàn cảnh dù rất khó khăn cũng không thể cản ngăn được sự phát triển những giá trị nhân bản. Chỉ cần chúng ta có một điều kiện, đó là tinh thần trẻ trung, ham muốn những giá trị văn hoá nhân bản, và cố gắng mở ra, để đón nhận những giá trị ấy cho mình, và để thăng tiến những người xung quanh.

Khi nhìn thấy những kết quả tương đối này, tôi nhớ lại một lời rất trẻ của Phúc Âm, nói về người trẻ Giêsu. Kinh thánh nói: “Ngài lớn lên trong sự khôn ngoan và ân sủng”. Chớ gì cộng đoàn Xẻo Dầu đây, cũng sẽ lớn lên, lớn mãi trong đà tiến nền văn hoá nhân bản để làm chứng cho đức tin.

Cái nét thứ hai của anh chị em phản ảnh được phần nào vẻ đẹp trẻ trung của Đức Kitô, đó là thiện chí và khả năng mở ra, để đón nhận Chúa Thánh Linh.

Tôi nghĩ rằng, cái làm cho một giáo đoàn được trẻ trung, không phải chỉ là sự biết sắp xếp nhân sự, sự biết canh tân cơ chế, sự biết đổi mới lễ nghi và kinh kệ, mà chủ yếu là biết đón nhận Chúa Thánh Linh. Bởi vì, Chúa Thánh Linh là nguồn mạch sự sống thiêng liêng, tươi trẻ. Ngài đổi mới con người từ nội tâm. Ngài đổi mới trong trái tim. Ngài đổi mới trong trí khôn. Ngài đổi mới trong ý muốn. Ngài đổi mới trong tình cảm. Ngài đến với những ai khát khao Ngài, với lòng khiêm tốn, với lòng phó thác, với lòng yêu thương bác ái.

Càng nhận biết mình bé nhỏ hèn mọn, càng cậy trông Ngài, càng có tình yêu thương thông cảm với những người xung quanh, càng sốt sắng cầu nguyện, thì càng dễ đón sự thăm viếng của Ngài.

Hôm nay, tôi được chủ sự và chứng kiến buổi cầu nguyện này, tôi nhận thấy anh chị em có được một số điều kiện mà tôi vừa nói: Bầu khí cầu nguyện giờ đây thực là đẹp. Không phải chỉ đẹp vì có trật tự, vì có màu sắc, vì có những bài hát hay, vì có những người khách quí mà đẹp nhất là, vì bầu khí cầu nguyện nơi đây, lúc này, đang tỏa ra một sự linh thiêng, do sự có mặt của một Đấng thiêng liêng, vô hình. Ngài đang ở giữa chúng ta. Ngài đang ngự giữa chúng ta. Ngài đang gọi tên chúng ta. Ngài đang yêu thương chúng ta. Tôi tin rằng, trong giờ phút cầu nguyện này, mỗi người chúng ta sẽ gặp được Ngài một cách nào đó, trong tâm hồn mình.

Khi nhìn cái bầu khí cầu nguyện sốt sắng này, tôi nhớ lại một lời rất trẻ của Phúc Âm. Chúa phán: “Đến một lúc nào đó, người ta sẽ thờ phượng Thiên Chúa trong tinh thần và trong chân lý”. Tôi cảm thấy điều đó đang khởi sự lúc này đây. Rất trẻ, bởi vì chúng ta vượt qua được những hình thức để gặp Chúa trong tâm hồn mình.

Nét thứ ba của anh chị em phản ánh vẻ đẹp trẻ trung của Đức Kitô, đó là thiện chí và khả năng mở ra để đón nhận người khác.

Tôi vẫn nghĩ rằng, cái làm cho một giáo đoàn trẻ trung, không phải là sự mình bó chặt vào một cái khung lề luật và nghi thức, để rồi co ro trong đó, để rồi câu nệ vì đó. Mà trẻ trung, vì biết mở ra, hướng về con người nhất là những con người nghèo khổ, những con người tội lỗi, những con người bị xã hội khinh chê, nghi kÿ.

Điều này tôi cũng đang thấy nơi giáo đoàn anh chị em một sự cởi mở: Như tại đây, sự huấn nghiệp và đào luyện con người được đặt trên ưu tiên, trên cả những việc xây dựng cơ sở vật chất. Và như tại đây, tôi thấy sự gặp gỡ giữa người lương, người giáo đã trở thành một sinh hoạt bình thường của nếp sống đạo. Và như tại đây, tôi nhìn thấy tình người và tình nghĩa xóm làng, giữa những cá nhân đã trở thành một vẻ đẹp không thể nào thiếu. Và như tại đây, tôi thấy sự hồn nhiên chân thành, anh chị em dành cho những người khách đến thăm anh chị em, đã trở thành một kỷ niệm không bao giờ quên.

Nhìn cái thái độ cởi mở và đón nhận những giá trị của người khác như vậy, tôi nhớ tới một lời rất trẻ của Đức Kitô, Ngài nói: “Không phải con người vì ngày Sabat mà ngày Sabat là vì con người”. Ngài đặt con người lên trên tất cả, để biết vận dụng nghi thức cho lợi ích con người.

Anh chị em thân mến,

Trong lãnh vực địa lý, Xẻo Dầu chúng ta không thể nào mở thêm những con đường đi ra, bởi vì toàn là sông, toàn là rạch. Nhưng trong lãnh vực thiêng liêng, Xẻo Dầu chúng ta có thể mở thêm những con đường đi lên, đi lên Thiên Chúa, đi lên Đức Mẹ, đi lên Hội Thánh, và đồng thời, Xẻo Dầu chúng ta cũng vẫn có khả năng mở thêm những con đường đi vào: Đi vào lòng người, đi vào nội tâm.

Tôi mong rằng trong thánh lễ này, chúng ta ý thức được ơn Chúa ban cho chúng ta một vẻ đẹp trẻ trung của Phúc Âm, để rồi chúng ta lại bắt đầu phát triển thêm những vẻ đẹp khác, để cho sự trẻ trung của Hội Thánh tại địa phương chúng ta, sẽ trở thành một ngọn đèn sáng, dần dần đổi mới lại địa phương ta, đổi mới lòng người và góp phần đổi mới đất nước chúng ta.

Xin Chúa Thánh Linh đến trong lòng chúng ta. Xin Ngài ban cho chúng ta vẻ đẹp trẻ trung của Đức Kitô. Amen.

Lễ Thêm Sức tại Xẻo Dầu ngày 23-03-1993.

 

Bùi-Tuần 0366: THÁNH Ý CHÚA CHA 24-03-1993


Hòa Hưng - Lễ Thêm Sức-  Gioan 5,17-30
 

Nghe xong bài Phúc Âm hôm nay, tôi cảm thấy lo sợ. Lý do lo sợ là vì tôi: 24-03-1993 Bùi-Tuần 366


Nghe xong bài Phúc Âm hôm nay, tôi cảm thấy lo sợ. Lý do lo sợ là vì tôi thấy: Tôi và nhiều người thuộc về tôi, nhiều khi đã không sống đúng theo gương mẫu của Đức Kitô, trong việc thi hành Thánh ý Chúa Cha.

Phúc Âm hôm nay nói lên sự Chúa Kitô luôn luôn thao thức về Thánh ý Chúa Cha. Thánh ý Chúa Cha, đó là động lực khiến Ngài bỏ trời xuống thế gian. Thánh ý Chúa Cha, đó là lương thực hằng ngày của Đức Kitô. Thánh ý Chúa Cha, đó là cách để Đức Kitô đã làm sáng danh Thiên Chúa. Thánh ý Chúa Cha, đó là lý do tại sao Đức Kitô phó mình chịu nạn, chịu chết. Đức Kitô làm gì, đi đâu, nói gì đều qui hướng vào Thánh ý Chúa Cha.

Còn chúng ta thì sao?

Phải nói thực rằng, những thao thức thường xuyên, nhất là những thao thức lớn nhất chiếm đoạt tâm hồn ta, nhiều khi không phải là tìm Thánh ý Chúa Cha. Cả khi chúng ta nói rằng: Tôi làm theo ý Thiên Chúa, thì nhiều khi cũng chỉ là nói theo công thức, nói theo thói quen, chứ Chúa Cha không hề được chúng ta hỏi ý kiến. Mà thực sự, Thánh ý Chúa rất khác với ý của ta.

Tôi lo sợ, vì nếu chúng ta cứ tiếp tục sống và hoạt động theo một hướng khác, ngoài Thánh ý Chúa, thì sớm hay muộn Giáo Hội địa phương chúng ta sẽ không tránh được một tương lai bi thảm. Và sớm hay muộn giáo hội địa phương chúng ta, sẽ còn phải trải qua một thời kỳ thanh luyện đau đớn, cho đến khi nào chúng ta thực sự trở về với Thánh ý Chúa Cha.

Riêng Giáo Hội địa phương chúng ta thì sao?

Tôi nhận định chưa rõ lắm, nhưng cảm tưởng của tôi tương đối lạc quan. Sự lạc quan của tôi dựa trên một số dữ kiện mà tôi nhận thấy:

Dấu chỉ lạc quan thứ nhất mà tôi nhận thấy trong Giáo Hội địa phương chúng ta, là nhiều người hiện nay đã quan tâm đến sự cầu nguyện, để tìm Thánh ý Chúa Cha.

Thánh ý Chúa thì rất chung chung: Chúng ta biết rằng, Thiên Chúa sẽ đến cứu dân Người. Nhưng cứu ngày nào, cứu qua biến cố nào, cứu từ đâu, thì không có sách nào trong đạo đã vạch ra rõ. Chẳng hạn, nếu chúng ta mở Cựu Ước ra, thì chúng ta không thấy trang nào báo trước rằng, đến ngày 25 tháng 3 năm thứ nhất. Chúa sẽ sai Tổng Lãnh Thiên Thần Gabriel đến truyền tin cho Đức Mẹ. Biến cố truyền tin, là một biến cố xảy ra bất ngờ. Chúa đến với nhân loại qua con đường không được vạch trước. Chỉ có những ai tỉnh thức và cầu nguyện như Đức Mẹ thì mới nhận ra ý Chúa, và có thể đón nhận Thiên Chúa đến với mình.

Rồi chúng ta cũng chỉ biết chung chung là Đức Mẹ rất thương Hội Thánh của Người. Nhưng tất cả các sách giáo luật, giáo lý ra từ trước, đâu có trang nào báo trước rằng ngày 25 tháng 3 năm 1958, Đức Mẹ sẽ hiện ra ở Lộ Đức, để xưng tên mình là Đấng Vô Nhiễm Nguyên Tội. Biến cố là một biến cố bất ngờ và Chúa đã đi trên con đường không vạch trước, để đến với nhân loại. Chỉ có những người tỉnh thức và cầu nguyện, mới nhận ra ý Chúa, và mới nhận được sự viếng thăm của Đức Mẹ.

Chẳng hạn, lễ hôm nay, chúng ta chỉ biết chung chung Thánh ý Chúa là Đấng thương yêu chúng ta, Ngài đến với chúng ta. Nhưng mà để biết cụ thể, chúng ta phải tổ chức lễ này thế nào, phải trao đổi với nhau đề tài nào, nội dung ra sao, hát những bài nào, đọc những bài nào cho hợp Thánh ý Chúa, thì chúng ta chỉ phải hỏi ý kiến của Ngài. Phải gặp Chúa, phải hỏi Chúa, phải bàn định với Chúa thì mới biết được Thánh ý Ngài thế nào, trong các việc cụ thể.

Điều tôi mừng hiện nay, là chúng ta bắt đầu cầu nguyện, cầu nguyện trong nội tâm mình. Tôi thấy nhiều người hiện nay say mê cầu nguyện. Cầu nguyện có nghĩa là gặp gỡ Thiên Chúa trong nội tâm mình. Cầu nguyện có nghĩa là lắng nghe Chúa nói với mình, hơn là mình nói với Chúa. Cầu nguyện có nghĩa là sống mật thiết với Chúa như lời Chúa dạy: “Cha là thân cây nho, chúng con là cành”. Cầu nguyện có nghĩa là thờ phượng tạ ơn Thiên Chúa là tình yêu.

Kinh nghiệm về cầu nguyện hiện nay thì rất nhiều, trong vô số linh hồn bé nhỏ thầm lặng đi tìm Chúa. Đấy là một dấu chỉ lạc quan đối với tôi.

Dấu chỉ lạc quan thứ hai, đó là tôi thấy, nhiều người trong địa phương chúng ta, quan tâm nhiều hơn đến lời Chúa. Và qua lời Chúa, người ta tìm thấy Thánh ý Chúa một cách cụ thể.

Tôi vẫn tin rằng: Lời Đức Mẹ, lời các thánh, lời các Đức Giáo Hoàng, lời các vị đạo đức đều rất đáng kính. Nhưng chỉ có lời Chúa mới mang lại sự sống. Tôi vẫn cảm nghiệm điều này: Khi tôi đọc một lời Chúa, thì chính lời Chúa ban sự sống cho tôi. Điều quan trọng nhất mà tôi đề cao và tập trung vào khi rao giảng là giới thiệu dung mạo Đức Kitô là tình yêu cứu độ.

Dung mạo này, tôi không tìm được ở các sách tín lý, ở các sách luân lý, ở các sách giáo luật, ở các sách giáo lý, ở các sách phụng vụ, mà tôi chỉ tìm được ở Phúc Âm.

Đọc Phúc Âm, tôi cảm thấy Chúa thương yêu chúng ta thế nào: Chúa thương yêu chúng ta trước khi chúng ta biết Người. Chúa thương yêu chúng ta từ khi chúng ta còn trong tội lỗi. Chúa dành tình yêu cho những người bé mọn, bị loại trừ. Chỉ khi đọc Phúc Âm, chia sẻ lời Chúa, ta mới hiểu được Tin Mừng lớn nhất mà Chúa muốn chúng ta rao giảng trong thế giới hôm nay, và để đáp lại khát vọng của nhân loại hôm nay, đó là dung mạo Thiên Chúa tình yêu. Phải tìm trong Phúc Âm, phải suy gẫm Phúc Âm.

Hiện nay, tôi thấy số người mến mộ lời Chúa rất đông.

Đầu năm nay, sau thánh lễ đầu năm, tôi thấy ở Long Xuyên có tặng mỗi gia đình một câu lời Chúa. Và kết quả thật bất ngờ: Các gia đình đều đem câu lời Chúa về nhà mình, mở ra đọc chung với nhau, rồi dán ở một nơi trang trọng nhất, để suốt năm suy gẫm và sống theo lời Chúa. Có rất nhiều người đã chia sẻ cảm tưởng với tôi rằng: “Khi chúng con nhận được câu lời Chúa tặng chúng con, như món quà đầu xuân, chúng con cảm thấy: Đúng là một lá thư Chúa gửi riêng cho gia đình chúng con”.

Không biết tại sao câu ấy rất đúng với hoàn cảnh mỗi người chúng con, và chúng con cảm thấy lời Chúa là sự sống hiện diện trong gia đình chúng con.

Tôi cũng vừa mới đi thăm một xứ đạo ở vùng sâu. Tại đây, tôi thấy thanh thiếu niên có thói quen vào thứ sáu, họp nhau lại từng nhóm, để học Phúc Âm, để chia sẻ lời Chúa, không có Linh mục. Kết quả là sự chia sẻ lời Chúa như vậy đã biến đổi được tâm hồn thanh thiếu niên, là cho họ trở nên rất tốt, là cho tất cả họ đạo trở nên như một cánh đồng hoa xuân, tươi đẹp, sốt sắng, thương yêu nhau.

Kính trọng, mến mộ lời Chúa, đó là một dấu chỉ lạc quan báo hiệu Nước Trời gần đến.

Dấu chỉ lạc quan thứ ba, đó là tôi thấy nhiều người hiện nay quan tâm đến những dấu chỉ thời đại.

Chúng ta vừa nghe trong bài đọc sách thánh. Trước khi Chúa Thánh Thần hiện xuống, thì các tông đồ nghe như có tiếng gió thổi, có một cái gì lay động mạnh, có một làn gió lạ thổi vào trong phòng mình.

Bernadette ở Lộ Đức cũng cảm thấy như vậy: Trước khi nhìn thấy Đức Mẹ, thì cô Bernadette cảm thấy như có một luồng gió bão thổi mạnh làm lắc lư chung quanh.
Hiện nay cũng đang thấy đang có những luồng gió thiêng liêng đang thổi vào Hội Thánh: Những luồng gió ấy là những lớp người đang làm chứng cho Tin Mừng: Họ không rao giảng. Họ nói rất ít. Họ là những người bé mọn, những giáo dân bình thường. Họ là những người sống ân thầm. Họ là những linh mục già yếu. Họ chỉ chuyên làm chứng cho Chúa mà thôi: Làm chứng bằng một đời sống thầm lặng cầu nguyện. Làm chứng nhất là bằng đời sống dấn thân, quên mình, lo cho kẻ khác. Sự làm chứng cho Chúa trong thời đại này, tôi coi là một luồng gió, mà Chúa Thánh Linh đang thổi vào thế giới, để chuẩn bị Chúa đến.

Hiện nay có rất nhiều người làm chứng cho Chúa như vậy ở khắp nơi, ở ngoại quốc, ở Việt Nam. Khi tôi gặp những người như vậy, tôi cảm thấy nội tâm của họ có một bề sâu thăm thẳm. Họ mang trong mình thao thức về Nước Trời, về sự cứu độ. Tôi cảm thấy một tình thương vô biên. Tôi cảm thấy một trái tim tươi mát sẵn sàng dấn thân. Tôi cảm thấy một trái tim luôn lắng nghe lời Chúa và sẵn sàng ra đi theo tiếng gọi, tiếng sai của Chúa. Làm chứng âm thầm. Làm chứng mà không cần phải nói.

Anh chị em thân mến.

Thánh ý của Chúa Cha là muốn cho chúng ta đón nhận Nước Trời. Chúa không buộc chúng ta xây dựng Nước Trời, mà Chúa muốn chúng ta đón nhận Nước Trời. Nước Trời sẽ đến trong lòng chúng ta, khi nào chúng ta chuẩn bị xứng đáng: Chuẩn bị tỉnh thức cầu nguyện, bằng sự suy gẫm lời Chúa, bằng sự làm chứng cho Chúa qua những việc lành, qua đời sống bình thường của mình.

Hôm nay, tôi cầu xin Chúa Thánh Linh soi sáng và thúc đẩy chúng ta, biết thao thức tìm kiếm Thánh ý Chúa Cha, can đảm thực thi Thánh ý Chúa Cha.

Nếu chúng ta biết khiêm tốn, biết lắng nghe, biết từ bỏ mình và biết luôn luôn sống như Chúa, như Đức Mẹ, thì chúng ta sẽ thấy được Thánh ý Chúa rất rõ nơi bản thân ta, nơi xã hội ta.

Chúng ta tạ ơn Chúa vì hôm nay Chúa đã chia sẻ với chúng ta Thánh ý của Ngài. Amen.

Lễ Thêm Sức tại Hòa Hưng ngày 24-03-93

 

Bùi-Tuần 0367: TUYÊN XƯNG VIỆC CHÚA SỐNG LẠI NGÀY HÔM NAY

 01-04-1993

 (Trích “Đôi dòng tâm sự đời linh mục")
 

Trong thánh lễ bàn thờ, tôi tuyên xưng việc Chúa sống lại bằng lời tung: 01-04-1993 Bùi-Tuần 367


Trong thánh lễ bàn thờ, tôi tuyên xưng việc Chúa sống lại bằng lời tung hô. Còn trong thánh lễ cuộc đời, tôi tuyên xưng việc Chúa sống lại bằng các việc làm.

Việc làm trước hết của tôi để loan truyền việc Chúa sống lại là chính tôi được sống lại mỗi ngày nhờ Đức Kitô.

Tôi sống lại là tôi phải chỗi dậy mỗi khi sa ngã, là tôi phải thức tỉnh mỗi khi biết mình nguội lạnh, là tôi đổi mới não trạng khép kín thành não trạng cởi mở. Còn nhiều điểm khác nhau trong tôi cần được sống lại.

Thực vậy, tôi đâu dám chắc rằng lòng sốt sắng ban đầu của tôi nay đã tăng lên, bởi vì xem ra nó đang nguội dần. Tôi đâu dám nghĩ rằng những điều tôi long trọng thề hứa trong lễ thụ phong nay vẫn còn cảm động, bởi vì tôi thấy chỉ còn là kỷ niệm. Tôi đâu dám tin rằng sắc đẹp của đức khiêm nhường và đức khiết tịnh của tôi thuở mới chịu chức nay càng đậm đà. Bởi vì tôi có cảm tưởng sắc đẹp ấy nay đã có vết nhăn. Tôi thấy trong tôi có nhiều ơn Chúa xem ra bị chôn vùi, cần được hồi sinh.

Còn lương tâm tôi thì sau?

Tôi không thấy rõ lương tâm tôi còn sống hay đã chết, khoẻ mạnh hay bệnh hoạn. Nhưng tôi đoán được phần nào, qua những phản ứng, khi tôi cọ sát với thực tại cuộc sống. Nếu trước cảnh bao người bỏ Chúa, xa Chúa, tôi cảm thấy xót xa, muốn dấn thân đi tìm chiên lạc, thì đó là một phản ứng tốt, báo hiệu tình trạng lương tâm tốt. Nếu trước cảnh bao đồng bào đang bị đói khổ bất công, vô vọng, tôi cảm thấy thương tâm, biết mình có trách nhiệm liên đới, muốn góp phần cứu độ, thì đó là phản ứng nhạy bén, báo hiệu tình trạng lương tâm lành mạnh.

Điều làm tôi kinh hoàng và ghê tởm, đó là thấy một trái tim được Chúa chọn, không còn thao thức đến phần rỗi các linh hồn, nhưng lại rất rung động trước bất cứ những gì mang tín hiệu tiền bạc, khoái lạc và quyền lợi tư riêng.

Nhìn sâu vào wời mình, tôi thấy có nhiều điểm cần được sống lại. Đời mình là luôn nỗ lực bắt đầu làm lại.

Hiệp thông với sự sống lại của Đức Kitô, các sự sống lại trong đời thường sẽ là những chứng từ về sự sống lại của Đức Kitô, và cũng là những chứng từ về niềm tin con người ta sẽ sống lại đời sau. Qua sự tôi sống lại trong đời thường, tôi mời gọi mọi người hãy hy vọng vào lời Chúa Giêsu hứa: “Ta là sự sống lại và là sự sống. Ai tin Ta, sẽ không chết muôn đời”. Qua những sự kiện sống lại xảy ra mỗi ngày, người ta có thể thấy được sự sống lại không luôn là chuyện phải chờ đợi sau cái chết đời này, nhưng cũng là chuyện thấy được hôm nay, ngay trên chính con người của họ.

Một việc khác tôi làm để loan truyền việc Chúa sống lại, là tôi giúp những người khác sống lại.

Tôi chẳng bao giờ dám nghĩ đến chuyện xây dựng một địa phương lý tưởng hoàn toàn hạnh phúc. Nhưng tôi nghĩ rằng để mặc địa phương mình trôi dạt theo sức đẩy của các lực lượng thô bạo dẫn tới sự chết là một tội ác. Các lực lượng vô lý ấy là lối sống an phận trong khuôn khổ dốt nát túng nghèo, là bầu khí xã hội ô nhiễm chất độc kiêu căng, nghi kÿ hận thù, là thứ tinh thần đạo đức cuồng tín vong thân, là những hệ thống sản xuất ra nhiều cảnh nghèo khổ cơ cực.

Là linh mục, tôi phải cải thiện những gì phải cải thiện và có thể cải thiện. Tôi không đụng tới những việc lớn lao vượt quá khả năng của tôi. Tôi cố thực hiện những việc nhỏ. Việc nhỏ ưu tiên tôi có thể làm là đổi mới cách nhìn, cách suy nghĩ, cách lựa chọn của những người trong địa phương mà tôi thấy cần phải sống lại. Đổi mới theo tinh thần công bình bác ái. Đổi mới trong sự hiệp thông với Đức Kitô, Đấng Cứu Chuộc loài người, Đấng đã hy sinh chịu chết cho nhân loại và đã sống lại.

Không phải tôi coi nhẹ việc xây cất các cơ sở, nhưng tôi chú trọng nhiều hơn đến việc xây dựng con người, xây dựng những con người để họ tự phát triển và có khả năng phát triển người khác.

Tôi vẫn đinh ninh rằng, đến toà Chúa phán xét, Chúa sẽ định đoạt số phận đời đời cho tôi, tuỳ theo sự tôi có chu toàn thánh ý Ngài về bổn phận đối với con người hay không. Bài Phúc Âm về ngày phán xét đã báo trước rất rõ những gì Chúa đã tập trung tra vấn tôi.Đó là bác ái đối với những kẻ bị loại trừ dưới nhiều hình thức. Giúp họ sống lại là chính tôi sống lại. Và bằng cách ấy, tôi tuyên xưng sự Phục Sinh của Đức Kitô.

(Trích “Đôi dòng tâm sự đời linh mục") tháng 01-04-1993.

 

Bùi-Tuần 0368: ĐỪNG SỢ, HÃY CẬY TRÔNG 14-04-1993


Thạnh An -Lễ Mở Tay tân linh mục Giuse Đinh-Văn-Vũ
 

Hiện nay trong giáo phận Long Xuyên nói chung, và trong giáo hạt: 14-04-1993 Bùi-Tuần 368


Hiện nay trong giáo phận Long Xuyên nói chung, và trong giáo hạt Thốt Nốt này nói riêng, thánh lễ tạ ơn của tân linh mục không còn là một biến cố lớn lao kéo được nhiều chú ý, bởi lẽ từ tháng 5-1975 tới giờ giáo phận Long Xuyên đã phong chức được 78 vị, trong đó giáo hạt Thốt Nốt này đã có 19 vị.

Tuy nhiên lễ tạ ơn hôm nay của tân linh mục có một màu sắc riêng, ở chỗ tân linh mục, cha Giuse Đinh Văn Vũ là linh mục thuộc dòng Đaminh, dòng Đaminh là dòng giảng thuyết. Vì thế, khi cầu nguyện cho cha mới, tôi xin Chúa giúp cho ngài trở nên một linh mục giảng thuyết tốt nhất trong thời điểm hôm nay.

Đêm rồi, tôi thức dậy thật sớm để tâm sự với Chúa Kitô về Cha mới và về chức linh mục của chúng tôi. Trước mặt tôi là tượng Chúa Kitô chịu đóng đinh và bài Phúc Âm hôm nay. Có lúc, tôi hỏi Đức Kitô rằng: Trong thời điểm hôm nay, tại Việt Nam chúng con, Chúa muốn cha mới và linh mục chúng con dùng cách nào để mà giảng thuyết, và cần nhấn mạnh đến những điểm nào trong giảng thuyết?

Sau một thoáng cầu nguyện, tôi nghe Đức Kitô trả lời tôi qua bài Phúc Âm hôm nay: Đó là, trong thời điểm hôm nay, tại đất nước này, cách giảng thuyết tốt nhất là làm chứng qua các việc mình làm, qua các kinh nghiệm đời sống Phúc Âm của mình, hơn là qua lý thuyết suông.

Còn những điểm cần nhấn mạnh trong giảng thuyết hôm nay, đó là “Đừng sợ, Thầy đây”, có nghĩa là hãy cậy trông vào Đức Kitô.

Đây chính là những điều tôi sẽ chia sẻ với Cha mới và anh chị em lúc này.

Thực vậy, thời nay, vô số người đang rơi vào những cảnh đời cay đắng. Họ phải chịu đựng cay đắng, do những thất bại, do tình đời, do rủi ro, do những phán đoán của người khác. Lúc ấy, linh mục nên nhớ rằng: Mình được sai đến với họ, để nói với họ rằng: “Đừng sợ” hãy cậy trông vào Đức Kitô. Bởi vì, Đức Kitô rất thông cảm với những người sống đời cay đắng. Chính Ngài đã sống đời cay đắng hơn chúng ta, đến nỗi có lúc Ngài đã cầu nguyện với Đức Chúa Cha rằng: Lạy Cha, nếu đẹp lòng Cha, xin Cha cất xa khỏi con chén cay đắng này.

Chính tôi cũng vậy. Các linh mục chúng tôi cũng đã từng nếm những cay đắng cuộc đời. Và chúng tôi cũng đã được Đức Kitô chia sẻ và nâng đỡ. Kinh nghiệm ấy, chúng tôi nói lại với anh chị em.

Rồi thời nay, vô số người đang sống cảnh cô đơn thăm thẳm. Cô đơn vì mất mát, cô đơn vì thiếu vắng, cô đơn vì những loại trừ. Lúc ấy, linh mục hãy nhớ mình được sai đến với họ, để nói với họ rằng: Đừng sợ, hãy cậy trông vào Đức Kitô. Bởi vì Đức Kitô rất thông cảm với những cảnh cô đơn như vậy. Chính Ngài đã phải sống những giây phút cô đơn cùng cực, đến nỗi Ngài đã phải cầu nguyện với Đức Chúa Cha rằng: “Lạy Cha, sao Cha nỡ bỏ con như thế này!”

Tôi cũng vậy, các linh mục chúng tôi cũng đã từng nếm những giờ phút cô đơn. Và chúng tôi cũng đã được Đức Kitô chia sẻ và nâng đỡ. Tôi xin trao lại kinh nghiệm ấy cho anh chị em.

Rồi thời nay, vô số người đang rơi vào những hoàn cảnh bế tắc: Cuộc sống của họ như lao vào một đường hầm tăm tối không có lối thoát. Họ như người bị treo lên lơ lửng: Đầu không chạm trời, chân không chạm đất. Lúc ấy linh mục nên nhớ rằng, mình được sai đến với họ để nói với họ rằng: Đừng sợ, hãy cậy trông vào Đức Kitô, vì Đức Kitô rất thông cảm cho những người đang sống cảnh bế tắc, với tâm hồn xao xuyến bồi hồi lo lắng. Chính Ngài cũng đã từng gặp những cảnh như vậy, đến nỗi Ngài đã phải cầu nguyện với Đức Chúa Cha rằng: “Giờ đây, tâm hồn con xao xuyến quá. Xin Cha cứu con khỏi giờ này!”

Linh mục chúng tôi cũng vậy, cũng đã phải nếm những cảnh bồi hồi, xao xuyến, những cảnh bế tắc. Và kinh nghiệm cho thấy Đức Kitô đã chia sẻ, đã nâng đỡ chúng tôi.

Rồi vô số người thời nay, đang rơi vào những cảnh tủi nhục, tủi nhục do những độc ác của người khác làm cho mình, do những dửng dưng của người khác đem lại cho mình, do những hiểu lầm người khác gây nên cho mình. Lúc ấy, linh mục nên nhớ rằng: Mình được sai đến với họ để nói với họ rằng: Đừng sợ, hãy cậy trông vào Đức Kitô, vì chính Đức Kitô cũng trải qua cảnh tủi nhục như anh chị em, đến nỗi, Ngài đã có một thái độ can đảm: “Lạy Cha xin tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm”.

Chúng tôi cũng thế, cũng đã từng nếm những giây phút tủi nhục. Và kinh nghiệm cho thấy: Khi gặp được Đức Kitô, Ngài đã chia sẻ, Ngài đã nâng đỡ chúng tôi.
Sau cùng, chúng ta biết, thời nay, có vô số người, trong đó có chúng ta, đang chết đi từng ngày, từng giây, từng phút. Chết trong lòng mình, chết trong hy vọng, chết ở nụ cười, chết trong khuôn mặt. Lúc ấy, linh mục hãy nhớ rằng: Mình được sai đến với họ, để nói với họ rằng: Đừng sợ, hãy cậy trông vào Đức Kitô. Bởi vì, chính Đức Kitô Con Thiên Chúa hằng sống cũng đã phải chết trong cái cảnh cùng cực như vậy. Và trong hoàn cảnh ấy, Ngài đã cầu nguyện với Đức Chúa Cha: “Lạy Cha, con xin phó dâng tâm hồn con trong tay Cha”.

Chúng tôi cũng vậy, cũng đã có lúc cảm thấy cái chết từng ngày, từng giây, từng phút. Và kinh nghiệm cho chúng tôi thấy, khi gặp được Đức Kitô, Ngài đã chia sẻ, Ngài đã nâng đỡ chúng tôi.

Anh chị em thân mến, năm lời cầu nguyện của Đức Kitô trên đây đã phác họa hình ảnh thân phận linh mục theo gương Đức Kitô. Và năm lời cầu nguyện trên đây của Đức Kitô cũng là những nét đậm của đời sống con người Việt Nam hôm nay.

Thưa Cha mới.

Nếu đời linh mục của cha, cha biết sống trọn vẹn ý nghĩa năm lời cầu nguyện trên đây của Đức Kitô, thì tôi tin rằng, đời linh mục của cha sẽ rất tốt. Và trong đời sống mục vụ của cha, nếu cách giảng thuyết của cha là chia sẻ, để giúp cho người khác biết sống tinh thần năm lời cầu nguyện trên đây của Đức Kitô, thì tôi đoan chắc rằng, cách giảng thuyết của cha sẽ rất tốt. Và cả cha, cả những người cha chia sẻ, sẽ dần dần khám phá được khuôn mặt dễ thương của Đức Kitô. Đấng đã đến với con người, để chia sẻ, để cứu độ, theo thánh ý của Chúa Cha giàu lòng thương xót. Và rồi, tất cả chúng ta sẽ khám phá thấy rằng: Sống đức tin, chủ yếu là gặp được Đức Kitô như vậy,trong lòng mình, trong đời sống của mình.

Cha đừng sợ. Cha sẽ đạt được điều ấy, nếu cha biết sống khiêm tốn, biết sống bé nhỏ, biết sống đơn sơ. Vì Chúa đã hứa Ngài sẽ mạc khải chính Ngài cho những kẻ sống bé mọn, khiêm tốn, đơn sơ.

Đó là điều tôi cầu nguyện hôm nay cho cha. Và đó là điều tôi cầu chúc cha được thành công suốt đời. Amen.

Lễ Mở Tay tân linh mục Giuse Đinh-Văn-Vũ tại Thạnh An, ngày 14-04-1993.

 

Bùi-Tuần 0369: SỰ KHIÊM TỐN ĐỨC KITÔ 22-04-1993


Kênh 3B,  Lễ Khánh Thành nhà thơ- Gioan 3,31-36
 

Bài Phúc Âm hôm nay thuật lại những lời Đức Kitô đã nói với ông: 22-04-1993 Bùi-Tuần 369


Bài Phúc Âm hôm nay thuật lại những lời Đức Kitô đã nói với ông Nicôđêmô. Đại khái, Đức Kitô đã nói với ông: “Tôi là Đấng từ trời mà xuống. Tôi được Chúa Cha yêu thương, được Chúa Cha ban cho mọi sự. Tôi có Thần Linh khôn lường. Tôi được sai đến để làm chứng những gì tôi đã nghe và đã thấy nơi Thiên Chúa Cha”.

Với những lời trên đây,Đức Kitô đã mạc khải cho Nicôđêmô thấy Ngài là ai? Sứ mạng Ngài là gì? Ngài là Đấng đầy vinh quang. Sứ mạng Ngài đầy vinh quang. Khi nghe những lời trên đây, tôi nghĩ bụng rằng: Để huấn luyện đức tin cho Nicôđêmô, để thuyết phục ông, để truyền giáo cho ông thiết tưởng Đức Kitô nên triển khai đường lối mà Ngài đã đi, để cho vinh quang của Ngài, sứ mạng của Ngài được đầy đủ lôi cuốn Nicôđêmô.

Thế nhưng, tôi thấy Đức Kitô đã không triển khai con đường vinh quang của Ngài, mà đột nhiên Ngài đổi hướng. Ngài đã nói một câu có khả năng làm sụp đổ tất cả những lời vinh quang của Ngài. Ngài nói: “Những lời tôi làm chứng chẳng ai chấp nhận”.

Đây là một thú nhận đầy bi quan. Nhưng chính vì thế mà đầy khiêm tốn. Có nghĩa là: “Tôi thực là Con Thiên Chúa Cha, được Chúa Cha trao ban mọi sự, đầy Chúa Thánh Thần. Thế mà, tôi làm chứng, không ai tin tôi cả”.

Khi thấy Đức Kitô đem ra một lời nói đầy bi quan và khiêm tốn như vậy, tôi thấy Ngài đã dùng những cách để huấn luyện đức tin, để truyền giáo, mà thông thường, người ta không thích dùng tới.

Thông thường, khi truyền giáo, khi huấn luyện đức tin, chúng ta thích đề cao thế giá của Lời Chúa. Chẳng hạn, Lời Chúa hôm nay đang trở thành ánh sáng muôn dân, được mọi người đón nhận, được mọi dân tộc tin theo. Thế mà, Đức Kitô lại nói dứt khoát rằng: “Lời tôi làm chứng chẳng ai chấp nhận”. Huấn luyện đức tin cho Nicôđêmô, thuyết phục Nicôđêmô theo Ngài, mà Ngài lại nói một câu bi quan như vậy, tôi nghĩ sẽ làm nản lòng Nicôđêmô. Thế nhưng, chính vì câu khiêm tốn như vậy, mà Nicôđêmô đã tin vào Đức Kitô.

Nicôđêmô là một người trí thức, thích những cái gì là sự thực. Mặc dù sự thực ấy là chua chát, phũ phàng. Khi ông thấy Đức Kitô nói lên một câu bi quan, như thú nhận sự thất bại của mình, đầy khiêm tốn, đầy chân thành, Nicôđêmô đã nhận ra Đức Kitô.

Truyền giáo, huấn luyện đức tin bằng con đường chân thành, khiêm tốn, tôn trọng chân lý, đó cũng là con đường thánh Gioan tông đồ đã đi theo.

Bài Phúc Âm lúc nãy, chúng ta vừa nghe, là trích Phúc Âm thánh Gioan. Thánh Gioan viết Phúc Âm của Ngài ở một địa điểm rất xa thành Giêrusalem từng ngàn cây số, tức là thành Êphêsô hay là Patmos. Và ở một thời điểm rất xa Đức Kitô, chừng 60 năm. Khi ấy, Đức Kitô đã lên trời. Có nghĩa là Gioan viết Phúc Âm cho những người chưa từng thấy Đức Kitô bao giờ.

Theo thói thường, người ta dễ cường điệu, dễ phô trương kết quả của Thầy mình. Nhưng không, Gioan đã bắt chước Đức Kitô, đã nói thực về Đức Kitô, như ngài đã viết hôm nay: “Lời Thầy tôi dạy, chẳng ai tin”. Ngay chính đầu Phúc Âm thánh Gioan đã có một câu chua chát: “Đức Kitô đến trong nhà Người, mà gia nhân không đón nhận Ngài”. Đúng là Gioan đã đi theo con đường của Đức Kitô mà huấn luyện tín hữu của Ngài. Không cường điệu, không phô trương, rất chân thành. Có sao nói vậy, để giúp cho người tín hữu luôn hướng về chân lý, luôn tôn trọng sự thực, bằng tất cả tâm hồn khiêm tốn, để mở đường đón nhận Đức Kitô là chân lý.

Con đường khiêm tốn mà Đức Kitô đã đi để huấn luyện tín hữu, con đường khiêm tốn mà thánh Gioan đã thực hiện, để huấn luyện cộng đoàn của Ngài, cũng đang được thực hiện tại nhiều nơi trong Hội Thánh hôm nay. Cụ thể là giáo đoàn chúng ta.

Tôi nhìn thấy tinh thần khiêm tốn nơi anh chị em, trong quá trình xây dựng nhà xứ, nhà thờ. Tôi nhìn thấy tinh thần khiêm tốn của anh chị em trong việc đóng góp công của cho nhà Chúa, cho nhà xứ, âm thầm, khiêm tốn. Tôi nhận thấy tinh thần khiêm tốn ngay trong cuộc lễ tạ ơn hôm nay. Tôi nhìn thấy tinh thần khiêm tốn trong bài phát biểu của ông đại diện cộng đoàn, khi nói lên những điều thiếu sót, những điều còn cần phải vươn lên mà chưa có khả năng đạt tới. Tôi nhận thấy tinh thần khiêm tốn nơi các ân nhân xa gần, những người đã cho rất nhiều, mà bề ngoài vẫn như là một người không cho, để giấu tên, để giấu thanh thế, chỉ vì Chúa mà thôi.

Anh chị em thân mến,

Cái cản trở đón nhận đức tin là sự kiêu ngạo. Kẻ thù phá hoại Hội Thánh là kiêu ngạo. Cái đã làm cho chúng ta được cứu chuộc là sự khiêm tốn Đức Kitô. Sự khiêm tốn chính là một lễ vật để dâng lên Chúa, tạ ơn Ngài xứng đáng nhất. Khiêm tốn, đó là điều kiện căn bản để đón nhận ơn đức tin.

Tôi mong rằng, trong khi chúng ta huấn luyện đức tin cho chính mình và cho con em chúng ta, chúng ta đừng quên nhấn mạnh đến sự khiêm tốn, nhất là trong thời buổi hiện nay. Người văn minh thời nay thường để ý đến đức tính nhân bản, tôn trọng sự thực, và một phản ảnh của tinh thần ấy là sự khiêm tốn. Khiêm tốn, chúng ta sẽ xây dựng Hội Thánh. Khiêm tốn, chúng ta sẽ sống đức tin một cách chân thật. Khiêm tốn, chúng ta sẽ truyền đạt Chúa cho những người chung quanh.

Tôi nghĩ rằng, anh chị em cũng như chúng tôi, các linh mục, không nhìn vào những thành công, mà chỉ làm việc, bởi vì Đức Kitô sai đi, cũng như Đức Kitô đã nói: “Tôi được sai đi làm những công việc như vậy, nhưng chẳng ai tin tôi”. Có thể một lần nào đó, tôi, các linh mục, cũng sẽ nói như vậy với tất cả sự chân thành, khiêm tốn. Nhưng tôi tin rằng, khi biết tôn trọng sự thực một cách khiêm tốn thì đó là chu toàn sứ mạng mà Chúa trao phó cho mình. Còn kết quả, thì Chúa biết.

Lạy Chúa Giêsu, hiền lành và khiêm nhượng trong lòng, xin nhìn đến những lễ vật khiêm tốn là tâm hồn chúng con hôm nay, để xin làm phép lành cho tất cả chúng con. Amen.

Lễ Khánh Thành nhà thờ Kênh 3B ngày 22-04-1993.

 

Bùi-Tuần 0370: CÁI NHÌN KHÔN NGOAN 02-05-1993


Thức Hoá -Lễ Khánh Thành nhà thờ- Gioan 10,1-10
 

Cách đây 2 ngày, tôi được đọc 1 đoạn thư của 1 Linh mục bạn từ Mỹ: 02-05-1993  Bùi-Tuần 370


Cách đây 2 ngày, tôi được đọc 1 đoạn thư của 1 Linh mục bạn từ Mỹ gởi về. Trong đoạn thư ấy, Linh mục cho tôi biết tin này: Trong giáo phận mà Ngài đang ở, có 6 nhà thờ rất lớn rất đẹp, nay mai sẽ phải đóng cửa, và sẽ phải bán đi, vì số người lui tới nhà thờ mỗi ngày mỗi thưa thớt, dân chúng vùng đó bỏ đi hầu hết. Thêm vào đó, Đức Giám Mục địa phận cũng vừa tuyên bố: Trong giáo phận của Ngài sẽ có 21 nhà thờ nữa đang đi vào con đường lâm nguy như vậy, nghĩa là sẽ phải đóng cửa, sẽ phải bán đi.

Đang khi tôi bàng hoàng về cái tin ấy thì sáng hôm qua, 1 đài phát thanh quốc tế Công giáo đã loan tin: Tại Canada, số nhà thờ bây giờ bị bỏ trống quá nhiều, vì người ta không còn đi lễ ngày thường, thậm chí Chúa nhật, có nơi chỉ còn 5% đi lễ.

Tôi nghĩ rằng: Không phải vô tình mà Chúa đã để cho các tin tức trên đây đến với tôi, trước ngày tôi đến chủ sự khánh thành nhà thờ mới ở Thức Hóa này. Và tôi nghĩ rằng: Giờ đây, tôi không cần bình luận thêm điều gì từ những tin tức ấy, mà chỉ cần loan báo lại cho anh chị em những tin tức ấy, để với sự nhạy bén của anh chị em vốn có, anh chị em có thể nhìn về tương lai của mình, của họ đạo mình một cách khôn ngoan, hợp với thánh ý Chúa, hợp với tình hình chuyển biến khắp nơi.

Tôi hy vọng vào cái nhìn khôn ngoan của anh chị em hướng về tương lai. Bởi vì, tôi biết, anh chị em có sự khôn ngoan trong hiện tại, đã được chứng minh trong nhiều trường hợp. Chẳng hạn: Sự khôn ngoan của anh chị em được thấy trong việc anh chị em chấp nhận thay đổi chương trình khánh thành nhà thờ hôm nay: Đổi ngày, đổi giờ, đổi cung cách tổ chức. Lý do là vì muốn thích hợp với tình hình chuyển biến, và để giữ được 1 bầu không khí thuận lợi, thông cảm giữa đạo và đời, là 1 điều kiện rất cần để chứng minh đức tin, trong 1 thời điểm lịch sử khó khăn.

Rồi sự khôn ngoan của anh chị em được thấy ở việc anh chị em xây cất ngôi thánh đường này, khu nhà xứ kia, trong 1 thời điểm vắn, gọn, để có thể tiết kiệm của cải, tiết kiệm thời giờ, hầu bắt đầu 1 việc khác, cũng quan trọng không kém.

Và sự khôn ngoan của anh chị em, cũng được nhận thấy, trong việc anh chị em đang hướng về những giáo điểm truyền giáo, cụ thể là giáo điểm Tân Lập sẽ xây dựng trong nay mai, với nhà nguyện mới, với nhà trường mới, với trạm xá mới, trên khu đất mới.

Nhất là sự khôn ngoan của anh chị em được thể hiện nơi sự anh chị em biết đầu tư cho con người, biết xây dựng con người, biết phát triển con người, và dùng những phương tiện tiền bạc, của cải thời gian, để giúp cho con em mình có một tương lai, thích ứng kịp thời với những chuyển biến trong thời điểm tới.

Khôn ngoan, đó là điều Chúa Kitô truyền dạy các môn đệ Ngài phải có:” Các con hãy đơn sơ như chim bồ câu. Nhưng hãy khôn ngoan như con rắn”.

Khôn ngoan, thiết tưởng là điều kiện rất quan trọng, mà người Công giáo Việt Nam hiện nay, mà nhất là trong địa phương này cần phải có, để biết sống đạo, để biết truyền đạo.

Đêm rồi, khi suy nghĩ về sự khôn ngoan mà Chúa truyền dạy tôi, các linh mục và anh chị em phải có. Tôi đã cầu nguyện rất nhiều, xin Chúa soi sáng cho chúng ta biết, để sống khôn ngoan trong thời buổi này, cần phải nhấn mạnh đến điều gì hơn?

Chúa đã trả lời tôi bằng cách đưa trí khôn tôi vào nội dung bài Phúc Âm hôm nay, đại khái Chúa phán: “Ta là cửa duy nhất của chuồng chiên”. Với những lời Phúc Âm hôm nay, Chúa xác định Đức Kitô là môi giới duy nhất, là cửa duy nhất đi vào Nước Trời.

Với những lời dạy ấy, tôi hiểu rằng sự khôn ngoan mà Chúa muốn tôi, các linh mục, và anh chị em, thực hiện trong thời buổi này là: Hãy biết luôn luôn trở về với Đức Kitô; hãy biết thường xuyên gắn bó mật thiết với Đức Kitô trong lòng mình; hãy biết nỗ lực đi theo con đường của Đức Kitô, noi gương Đức Kitô.

Khi tôi bước vào thánh đường này, tôi thấy nhà thờ sắp xếp đúng hướng, tức là tập trung vào Đức Kitô. Trên cung thánh, nhà tạm của Đức Kitô, thánh giá của Đức Kitô, tượng ảnh nói lên Đức Kitô, tất cả lòng đạo của chúng ta tập trung vào Đức Kitô. Sắp xếp thế là rất đúng, nhưng chưa đủ. Điều quan trọng mà Chúa đòi sự khôn ngoan của chúng ta hôm nay phải thực hiện, đó là phải sống thực điều Chúa dạy.

Qua kinh nghiệm riêng của tôi, khi sống Lời Chúa dạy hôm nay để có được sự khôn ngoan trong thời điểm này, tôi thấy có hai hướng rất rõ rệt:

1- Hướng thứ nhất là phải đi vào lòng mình, đi sâu vào nội tâm của mình, đi thực sâu vào đời sống nội tâm. Đúng như lời Đức Kitô nói:” Hãy ở lại trong tình mến của Cha”. Đấy là hướng thứ nhất: Đi vào nội tâm.

2-Hướng thứ hai là cùng với Đức Kitô đi ra, để dấn thân, cứu độ những người xung quanh, bằng tất cả những gì có thể, và bằng sự khôn ngoan của Chúa Thánh Linh.
Anh chị em thân mến,

Tôi nghĩ rằng: Tình hình không phải mãi thế này đâu. Khi nhìn các em Thêm Sức hôm nay, tôi có cảm tưởng rằng: Năm 2000 trở đi, những em mà tôi Thêm Sức hôm nay, có thể sẽ không lui tới nhà thờ này, mà sẽ lui tới những nhà thờ khác, nhất là ở chốn thành thị.

Và cũng có thể các em này sẽ không còn lui tới nhà thờ thường xuyên, nhưng các em sẽ đi vào nội tâm của mình nhiều hơn, để gặp Đức Kitô, không phải chỉ trong nhà thờ bằng gạch, bằng gỗ, mà trong nhà thờ nội tâm của trái tim mình. Rồi các em này cũng sẽ theo Đức Kitô, đi ra ngoài đường, đi trong bệnh viện, đi trong các trạm xá, đi ngoài chợ để chia sẻ tình yêu cứu độ. Tôi nghĩ là tình thế sẽ như vậy. Mà nếu được như vậy, tôi nghĩ cũng là tốt lắm.

Điều quan trọng của những người lớn chúng ta hôm nay, là phải biết chuẩn bị cho con em Thêm Sức chúng ta biết đi vào nội tâm của mình, và phải biết dấn thân cùng với Đức Kitô, chấp nhận kế hoạch cứu độ của Ngài.

Sáng nay, trước khi lên đường, tôi đọc lại lời hiệu triệu của Đức Thánh Cha gởi Hội Thánh, nhân dịp lễ cầu nguyện cho các ơn kêu gọi hôm nay. Trong lời hiệu triệu ấy, Đức Thánh Cha cũng nhấn mạnh đến hai hướng tôi vừa kể trên: Hướng đi vào nội tâm để sống thân mật với Đức Kitô, như cành với cây. Và hướng dấn thân đi ra ngoài để cứu độ nhân loại như lời Đức Kitô nói: “Hãy đi làm vườn nho của Cha.”

Tôi thấy Đức Thánh Cha kêu gọi chúng ta. Tôi thấy Đức Kitô kêu gọi chúng ta. Cho nên sự khôn ngoan là hãy vâng lời Đức Kitô, hãy vâng lời Đức Thánh Cha mà sống hai hướng đó: Trở về với Đức Kitô trong lòng mình, sống mật thiết với Ngài, và cùng với Đức Kitô dấn thân cứu độ loài người, trong khả năng của mình.

Nếu hôm nay trong lễ tạ ơn, chúng ta chỉ có thể nói được với Đức Kitô lời hứa rằng: “từ nay, con sẽ sống mật thiết hơn với Chúa trong lòng con. Từ nay, con sẽ cùng với Đức Kitô dấn thân để cứu độ những người chung quanh, nhất là những người xấu số, những kẻ bị loại trừ”.

Nếu nói được những lời hứa ấy với Đức Kitô đang hiện diện trước mặt chúng ta bây giờ, thì thiết tưởng đây là một lễ tạ ơn rất ý nghĩa, và với lòng thành này, Chúa sẽ làm phép lành cho tương lai con cái chúng ta, cho tương lai họ đạo chúng ta.

Lạy Đức Kitô, xin tạ ơn Ngài. Amen.

Lễ Khánh Thành nhà thờ Thức Hoá ngày 02-05-1993.

 

Bùi-Tuần 0371: ƠN GỌI TRở VỀ …..1993


Gioan 10,22-30
 

Cho đến Chúa nhật vừa qua, tôi vẫn cứ băn khoăn, không biết sẽ phải: 1993 Bùi-Tuần 371


Cho đến Chúa nhật vừa qua, tôi vẫn cứ băn khoăn, không biết sẽ phải nói gì với một cử toạ gồm nhiều thành phần khác nhau, gồm nhiều tuổi khác nhau, trong một cuộc họp mặt bất thường như hôm nay? Tôi đã chạy đến bên Chúa và tôi đã cầu xin Chúa giúp đỡ tôi. Rồi tôi mở sách lễ đọc bài Tông đồ công vụ và bài Phúc Âm hôm nay (thứ ba sau CN V PS). Đọc xong, tôi nghe Chúa nói trong lòng tôi rằng: Sách Tông đồ công vụ hôm nay nói: Phaolô và Barnaba đã thuật lại cho cộng đoàn, những gì Chúa đã làm cho các Ngài. Vậy con cũng hãy làm như vậy cho cộng đoàn nghe con hôm nay. Có nghĩa là Chúa muốn tôi thuật lại cho anh chị em, những gì Chúa đã làm cho tôi trên đường sống ơn gọi.

Nói về mình, đó là một điều thiết tưởng không tế nhị đối với anh chị em, và càng không tế nhị chút nào đối với cha Đaminh Thảo, người mời tôi đến đây. Nhưng tôi xin báo trước rằng, những gì tôi thuật lại về sự Chúa làm cho tôi, cũng sẽ là những gì Chúa đã làm cho anh chị em.

Thưa anh chị em thân mến,

Tất cả những gì Chúa đã làm cho tôi, đều có thể tóm tắt lại trong một câu vắn tắt thế này: “Chúa huấn luyện tôi nên kẻ trở về. Chúa đào luyện tôi nên kẻ trở về”. Ơn gọi của tôi là ơn gọi trở về. Suốt đời của tôi, 60 năm dài, 38 năm linh mục, 18 năm Giám Mục, đều là một trường Chúa huấn luyện tôi , để tôi sống tốt ơn gọi trở về.
Vậy Chúa đã đưa tôi trở về những điểm nào?

Điểm thứ nhất mà Chúa đưa tôi trở về, chính là một lương tâm mới: Tôi trở về với một lương tâm người con Thiên Chúa.

Thực vậy, khi tôi còn nhỏ, khi tôi còn trẻ và lớn lên, tôi hay xét mình, hay ăn năn tội theo lương tâm tự nhiên. Tôi nhận biết mình tội lỗi. Tôi ray rứt vì mình yếu đuối. Nhưng dần dần, qua Kinh Thánh, qua chuyện các thánh và qua kinh nghiệm tu đức, Chúa đưa tôi tới một lương tâm mới. Lương tâm đó là một lương tâm ăn thông với lương tâm Đức Kitô, một lương tâm kết hợp mật thiết với lương tâm Đức Kitô. Đức Kitô là Con Thiên Chúa hằng sống, là Đấng đẹp lòng Chúa Cha mọi đàng, là Đấng đã vâng phục Chúa Cha cho đến chết, để đền tội cho tôi, là Đấng đã luôn luôn cầu bầu cho tôi trước mặt Chúa Cha, là Đấng hoàn toàn trọn lành, luôn hướng về Chúa Cha.

Khi tôi hiệp thông với lương tâm Đức Kitô, thì lương tâm của tôi trở nên mới. Có thể nói, lương tâm ấy là lương tâm người con Thiên Chúa. Bởi vì lương tâm của tôi bấy giờ gắn chặt vào và hiệp thông vào lương tâm của Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống.

Nói đúng ra, lương tâm ấy là chút lương tâm Đức Kitô trao ban cho tôi. Tôi đón nhận lương tâm ấy bằng đức tin. Tôi càng tin thì lương tâm ấy càng lớn lên.

Với lương tâm mới này, tôi không nhìn tôi cho bằng nhìn Thiên Chúa hằng sống. Hơn nữa, với lương tâm mới này, tôi nhìn thân phận tội lỗi yếu đuối của tôi, với một con mắt cảm tạ yêu mến Chúa. Bởi vì tôi thấy, chính khi mình được yêu thương, trong khi mình còn tội lỗi, thì tôi mới hiểu được lời thánh Phaolô nói về tình yêu chan hoà vô biên của Thiên Chúa. Và khi mình được tha thứ, trong khi mình bất xứng, thì mình mới hiểu thế nào là trái tim người cha giàu lòng thương xót.

Tôi nghĩ rằng, lương tâm mới này, ai cũng có ít nhiều ở trong dạng hạt giống tốt, ở trong dạng kho báu tiềm tàng. Nhiều khi hạt giống ấy bị chôn vùi trong trái tim ta, như là bị chôn vùi trong đồng ruộng. Đó là một kho báu, nhưng mà kho báu ấy, theo Đức Kitô nói, nó chìm trong ruộng. Thí dụ nơi thánh Madeleine, nơi người trộm lành, nơi thánh Phêrô.

Cây lương tâm mới này, nó bừng sáng lên, nó rực sáng lên và nó xuất hiện một cách tươi tốt.

Còn chung chung nơi chúng ta, thì lương tâm mới này, nó dần dần được thành hình và lớn lên. Nó trở thành trung tâm.

Lúc nãy, trước khi huấn đức, tôi quỳ đây, tôi cầu nguyện và tôi hỏi Chúa Kitô trong Nhà Tạm xem: Con, những người nghe con hôm nay, đến đây, được hướng dẫn bởi lương tâm tự nhiên, hay bởi lương tâm người con Thiên Chúa. Và Chúa trả lời tôi: Hầu hết là có lương tâm tự nhiên tốt, và đa số là có lương tâm người con Thiên Chúa tốt. Nhưng mức độ tốt không giống nhau: Có người rực sáng, có người mờ nhạt. Đó, cho chúng ta hiểu, sự trở về một lương tâm tốt, lương tâm mới, lương tâm người con Thiên Chúa, là điều phải làm mãi mãi, hoài hoài, không bao giờ dừng, và đấy là một ơn gọi, để rồi nhờ đó Chúa sẽ gọi thêm.

Điểm thứ hai mà Chúa đưa tôi trở về, đó là một cái nhìn mới: Tôi trở về với cái nhìn mới của tuổi trẻ.

Thực vậy, khi còn nhỏ, khi còn thanh niên, tôi nhìn phía trước tôi, đầy những hình ảnh vĩ nhân, đầy những lý tưởng anh hùng thánh thiện. Và tôi tưởng, một ngày nào đó, tôi sẽ vươn tới mô hình như vậy. Nhưng dần dần, Chúa đưa tôi tới một mô hình mới, một mô hình mà Ngài đã nói trong Phúc Âm: “Nếu các con không trở nên giống như trẻ nhỏ, các con sẽ không được vào Nước Trời”. Đó là sự trở về của tôi, trở về với mô hình trẻ nhỏ Phúc Âm. Và khi trở về với trẻ nhỏ Phúc Âm, đó là trở về với cái nhìn mới.

Với cái nhìn mới của trẻ nhỏ trong Phúc Âm, tôi nhìn mình, một cái gì mới lắm: Tôi chẳng là gì. Tôi chẳng có gì. Tôi chẳng làm gì đáng công đáng giá. Tất cả đều do Cha trên trời. Tất cả đều do Chúa Kitô.

Với cái nhìn mới của trẻ nhỏ trong Phúc Âm, tôi nhìn tôi, luôn luôn là một tâm hồn cần phải học thêm. Tuổi nhỏ là tuổi đi học. Tôi cũng vậy. Dù bao tuổi đời, dù bao tuổi tu, trẻ thơ vẫn là trẻ phải đi học thêm. Và khi mình đi học như vậy, thì mình mở lòng mình ra, nhưng người đứng giữ cửa lòng mình là Đức Kitô. Cần phải có nhiều sáng kiến khi học hành, nhưng người duyệt xét các sáng kiến ấy là Đức Kitô.

Chính vì thế, mà tôi tưởng rằng những người đã sống tinh thần thơ ấu Phúc Âm sẽ hiểu: Thơ ấu Phúc Âm không phải chỉ là phó thác, đợi chờ, mà là một sự học hỏi sáng kiến trong một không gian tự do, được duyệt xét, được chăm sóc bởi Thiên Chúa.

Và nhất là, với cái nhìn của tuổi thơ, tôi tin vào Đức Kitô như là một trẻ nhỏ tin vào lời cha mẹ nói. Đối với tôi, niềm tin vào lời Đức Kitô, là một hạnh phúc tuyệt vời.

Bài Phúc Âm hôm nay có nói: “Cha nói trước cho các con biết, để khi sự việc xảy ra, các con sẽ tin”.

Đối với tôi, Chúa cũng dạy như vậy, cũng huấn luyện tôi như một đứa nhỏ như vậy. Nhiều khi Chúa báo cho tôi trước những việc xảy ra một cách nào đó, để khi sự việc xảy ra tôi tin vào lời Chúa phán.

Một việc cụ thể tôi xin kể: Tôi thụ phong Linh Mục ngày 2 tháng 7 năm 1955 tại Hồng Kông. Hồi đó, mồng 2 tháng 7 vẫn còn là lễ Đức Mẹ đi viếng bà thánh Isave. Trong lễ, khi vừa nghe đọc bài đọc 1, tôi tự nhiên nhớ ngay bài đọc này tôi đã nghe 4 năm về trước tại Nam Định, trong ngày bế mạc cấm phòng. Lúc ấy, Chúa cho tôi có linh cảm bài Cựu Ước ấy áp dụng cho tôi. Nó là một sứ điệp Chúa gửi riêng cho tôi. Lúc ấy, tôi chưa hiểu lắm, chỉ biết rằng, nó là một sứ điệp riêng cho tôi.

Khi tôi chịu chức trong ngày đó, nghe lại bài Cựu Ước đó, tôi hiểu ngay lời Đức Kitô nói: “Cha đã nói trước cho con, để khi sự việc xảy ra, con sẽ tin vào Cha”.

Tôi có nhiều trường hợp như vậy. Cho nên tôi vừa nói, tôi tin vào Đức Kitô, và coi niềm tin ấy là niềm vui tuyệt vời.

Tháng 5 vừa qua, tôi sang Pháp, đến Lisieux viếng thánh nữ Têrêxa. Tôi vào thăm dòng Kín, gặp bà Bề Trên. Lúc từ giã, Mẹ Bề Trên tặng tôi một chút quà. Mà anh chị em có đoán được món quà đó là món quà gì không? Thưa là một sợi tóc của thánh nữ Têrêxa, khi tôi nhận sợi tóc của thánh nữ Têrêxa, tôi có cảm tưởng là trên trời, Têrêxa đang mỉm cười, vì hiểu rằng Têrêxa gửi gấm rất nhiều điều trong sợi tóc ấy. và tôi cũng hiểu rằng, tôi đang nhận rất nhiều tâm tình của Têrêxa qua sợi tóc ấy.

Những chuyện nho nhỏ như vậy, gợi ý cho tôi hiểu rằng: Đối với Chúa, cái quan trọng của tinh thần thơ ấu là tình yêu, là trái tim, chứ không phải những việc to lớn bề ngoài. Làm một việc bây giờ, hôm nay, do tất cả lòng mình. Đó là những bông hoa tốt nhất, ta dâng lên cho Thiên Chúa: Trở về với tâm tình trẻ nhỏ.

Điều thứ ba mà Chúa đưa tôi trở về, đó là trở về với một giới luật mới: Tôi trở về với giới luật yêu thương.

Thực vậy, khi còn nhỏ và cả khi lên trường LaTinh, trường Lý đoán, tức là Đại chủng viện, tôi thường coi trọng tất cả mọi lề luật: Luật đọc kinh chiều hôm ban sáng, luật đọc sách thiêng liêng, luật giữ thinh lặng. Nhưng dần dần, Chúa đưa tôi đến một giới răn mới để tôi tập trung lòng trí lại: Giới răn ấy là giới luật yêu thương: “Thầy ban cho chúng con một điều răn mới là chúng con thương yêu nhau”.

Khi tôi chọn khẩu hiệu ấy cho đời Giám Mục của tôi, tôi chỉ muốn đây là một dấu chỉ của sự trở lại Phúc Âm. Nhưng dần dần tôi mới thấy rằng: Giới luật yêu thương đang là một tiếng gọi khẩn cấp cho mục vụ hôm nay, nhất là tại Việt Nam bây giờ.
Các tôn giáo bây giờ đều thi nhau làm việc từ thiện bác ái, để qua đó mà khẳng định niềm tin của mình. Đức tin dịch ra đức ái.

Tối hôm qua, tôi đọc một bài báo của Pháp, có tựa đề “Le Boudhisme en France” (đạo Phật tại Pháp hôm nay). Tác giả đưa ra hiện tượng Phật giáo tại Pháp bây giờ đang phát triển và có một nhận xét này: “Phật giáo đến với Giáo Hội Công Giáo Pháp, nêu gương từ bi thương xót và thanh luyện nội tâm”. Cái nhận xét của tác giả trên đây cũng là cái nhận xét của tôi, đối với một số tín hữu, tu sĩ. Và cái nhận xét trên đây, cũng là một gợi ý để cho tôi nhớ rằng: Sống bác ái bây giờ, cần phải có một nội tâm được thanh luyện.

Khi tôi làm việc từ thiện bác ái, những việc ấy, cần phải được thúc đẩy, bởi một nội tâm được thanh luyện.

Một nội tâm được thanh luyện tức là một nội tâm biết từ bỏ mình, biết để cho Đức Kitô sống trong mình, và để cho Đức Kitô trao tặng tình yêu của Người qua những việc bé nhỏ từ thiện của ta.

 

Bùi-Tuần 0372: TUÂN GIỮ ĐIỀU CHÚA DẠY 13-05-1993


Lễ Thêm Sức Kinh A1
 

Bài Phúc Âm hôm nay gồm toàn những lời tâm tình mà Chúa Giêsu: 13-05-1993 Bùi-Tuần 372


Bài Phúc Âm hôm nay gồm toàn những lời tâm tình mà Chúa Giêsu đã nói với các môn đệ của Người trong bữa Tiệc Ly.

Tôi có cảm tưởng là Chúa Giêsu không chỉ nói những lời ấy cho các môn đệ hôm đó, mà cũng muốn nói những lời ấy cho chúng ta hôm nay. Người đang nói riêng với tôi. Người đang nói riêng với từng người chúng ta. Trong những lời quí báu của bài Phúc Âm hôm nay, có một câu làm tôi suy nghĩ, câu đó là: “Nếu các con tuân giữ những điều Thầy dạy, thì các con sẽ ở trong tình yêu của Thầy”.

Khi đọc câu đó xong, tôi đã hỏi Chúa Giêsu rằng: “Lạy Chúa, thế nào là tuân giữ những điều Chúa dạy. Bởi vì thực sự, con không hiểu nó”.

Tôi cầu nguyện và đột nhiên, Chúa trả lời cho tôi bằng sự gợi ý cho tôi tìm lại một đoạn văn mà Đức Thánh Cha mới gửi cho Hội Thánh. Đoạn văn ấy giải thích về sự cần phải tuân giữ những điều Chúa dạy.

Để tuân giữ những điều Chúa dạy, thì Đức Thánh Cha nói cần 2 điều kiện sau đây:

Điều kiện thứ nhất là phải có thiện chí muốn những điều Chúa muốn.

Chúa muốn cho tôi làm việc gì, làm việc đó ở đâu, làm việc đó cách nào, thì tôi phải có thiện chí muốn đúng như vậy. Thí dụ: Thánh ý Chúa muốn hôm nay là tôi đến xứ đạo anh chị em. Và việc Chúa muốn tôi làm hôm nay ở đây là dâng thánh lễ, là giảng dạy. Và thánh ý Chúa muốn cho tôi làm việc đó một cách tốt nhất.

Tôi cần phải có thiện chí muốn đúng điều Chúa muốn, muốn đúng nơi Chúa muốn, muốn đúng cách Chúa muốn. Đấy là điều kiện thứ nhất.

Điều kiện thứ hai là phải có khả năng thực hiện những điều Chúa muốn.

Chẳng hạn, để làm tốt điều Chúa muốn hôm nay, tôi cần phải chuẩn bị, cần phải suy nghĩ, cần phải sắp xếp, cần phải cầu nguyện, để cho việc dâng lễ, để cho bài giảng... tất cả những việc tôi làm được tốt hết sức, theo khả năng của mình và theo ý nguyện của Chúa.

Hai điều kiện trên đây làm sáng tỏ việc tuân giữ những điều Chúa dạy. Nhưng chúng ta biết rõ, để tuân giữ những điều Chúa dạy theo hai điều kiện ấy, thì không dễ dàng đâu.

Không phải tự nhiên mà chúng ta làm được những việc ấy. Không phải tự nhiên mà chúng ta có đủ thiện chí muốn đúng điều Chúa muốn. Bởi vì nhiều khi, Chúa muốn những điều ta tự nhiên không muốn. Cũng không phải tự nhiên chúng ta làm được những điều như Chúa muốn. Có nghĩa là, để có thiện chí muốn những điều Chúa muốn, để có khả năng làm tốt những điều Chúa muốn, thì cần phải được huấn luyện, cần phải được đào tạo.

Về điểm này, Đức Thánh Cha đưa ra ba vấn đề cần phải huấn luyện:

Vấn đề thứ nhất là phải huấn luyện về đạo đức.

 Huấn luyện về đạo đức là thế nào? Thưa vắn tắt là: Học giáo lý, học kinh, học cầu nguyện, học cách dâng lễ, học cách rước lễ, học cách từ bỏ mình, học cách dâng mình cho Chúa, học cách chấp nhận thánh ý Chúa. Cái quá trình đào tạo về mặt đạo đức như vậy, nó thúc đẩy chúng ta trở về với một lương tâm mới, lương tâm của người con Thiên Chúa và trở về với giới răn mới là giới luật yêu thương.

Rồi trở về với một mô hình mới, đó là Đức Kitô có một cái nhìn mới, có một tâm hồn mới, để mình có thể nói như thánh Phaolô: “Tôi sống nhưng không phải tôi sống, mà Đức Kitô sống trong tôi”. Vắn tắt, đó là huấn luyện về đạo đức.

Việc huấn luyện thứ hai Đức Thánh Cha vừa nêu là phải huấn luyện về văn hoá.

Huấn luyện về văn hoá là gì? Thưa vắn tắt là đào tạo mình, để có những kiến thức rộng, kiến thức sâu về đạo, về đời, giúp cho mình có những khả năng phán đoán thông minh, có những lựa chọn khôn ngoan để chứng minh rằng: Người con Thiên Chúa là người con phát triển theo nhu cầu của con người văn hoá.

Việc thứ ba Đức Thánh Cha gợi lên để huấn luyện, đó là huấn luyện nhân bản.

Huấn luyện nhân bản là gì? Thưa vắn tắt là rèn luyện mình để có tư cách, để có phẩm chất, làm sao cho bản thân mình được kính trọng, được đáng tin, được có một chỗ đứng trong cộng đồng xã hội, để có một giá trị phục vụ những người chung quanh.

Cách huấn luyện ba mặt trên đây: Đạo đức, văn hoá, nhân bản, đều là những cách đòi hỏi nhiều thời gian và đòi hỏi nhiều kiên trì, nhất là trong thời điểm hôm nay.

Anh chị em thân mến,

Mấy tối vừa qua, tôi theo dõi cuộc đua xe đạp từ Hà Nội về thành phố Hồ Chí Minh. Tôi thấy các tay đua có những trình độ rất giỏi: Có người trình độ rất cao. Có người trình độ vừa phải. Có người trình độ hơi kém. Nhưng tất cả, những tay đua ấy đều đã được qua những trường huấn luyện.

Sự kiện trên đây gợi ý cho tôi nghĩ rằng: Tại Việt Nam hôm nay và sau này, cuộc sống sẽ là một cuộc chạy đua, cạnh tranh về ba mặt: Mặt đạo đức, mặt văn hoá, mặt nhân bản.

Người nào đã được đào luyện có trình độ, người đó sẽ thành công, và sẽ có khả năng xây dựng Hội Thánh, xây dựng hạnh phúc cho bản thân mình, cho con em, cho gia đình. Những ai không chuẩn bị, những ai không chịu huấn luyện đào tạo mình, những ai không đầu tư ngay từ bây giờ vào việc đào luyện văn hoá, đào luyện nhân bản, đào luyện đạo đức, thì tôi e rằng sau này những người ấy sẽ tự loại mình, và sẽ bị xã hội loại trừ.

Lúc nãy, tôi đến đây, tôi nhìn thoá

ng qua, bộ mặt vật chất và bộ mặt tinh thần của giáo xứ anh chị em. Tôi có cảm tưởng, đây là một trường huấn luyện, đây là một trường đào tạo về ba mặt: Đạo đức, văn hoá và nhân bản. Tôi cũng đã nhận thấy những kết quả tương đối, và cũng đã nhìn thấy tương lai có hứa hẹn. Tôi mong rằng anh chị em hãy biết nhìn xa, hãy biết nghe tiếng Chúa gọi hôm nay: Vâng giữ Lời Chúa dạy bằng cách đào luyện mình, huấn luyện con em của mình về ba mặt, để có thể muốn những điều Chúa muốn.

Được như vậy, con em chúng ta và chính chúng ta sẽ được ở trong tình yêu của Đức Kitô, như Lời Chúa hứa hôm nay.
Lạy Chúa Thánh Thần, Chúa sắp đến với chúng con, xin Chúa đổi mới tâm hồn chúng con, để chúng con nhìn thấy tiếng Chúa gọi trong hôm nay, biết chấp nhận những gì Chúa muốn nơi chúng con, cảm nghiệm những đau đớn Chúa gởi đến, để huấn luyện chúng con. Xin Chúa giúp đỡ chúng con, nhất là giúp con em chúng con, biết đi vào con đường huấn luyện của Chúa, để sau này, chúng con, con em chúng con, trở nên những người biết tuân giữ những điều Chúa dạy, hầu được ở mãi trong tình yêu của Chúa. Amen.

Lễ Thêm Sức tại Kinh A1, ngày 13-05-1993.

 

Bùi-Tuần 0373: HÌNH THỨC MỚI CủA TÂN PHÚC ÂM HOÁ14-05-1993


 Gioan 15,12-17

Lễ Ngân Khánh Linh Mục Cha Phêrô Nguyễn-Văn-Vũ Kênh A1
 

Giáo xứ Trinh Vương hôm nay đang mừng những kỷ niệm lớn. Kỷ: 14-05-1993 Bùi-Tuần 373


Giáo xứ Trinh Vương hôm nay đang mừng những kỷ niệm lớn. Kỷ niệm 37 năm thành lập giáo xứ, kỷ niệm hôn nhân của gần 200 gia đình, và nhất là kỷ niệm 25 năm linh mục của cha chánh xứ.

Những kỷ niệm này đang được mừng một cách trang trọng và sốt sắng trong một khung cảnh có nhiều xây cất mới, có nhiều sắp xếp mới. Thực là đẹp. Đẹp về hình thức. Đẹp về tinh thần. Nhìn qua vẻ đẹp bề ngoài, đầu tiên, tôi có cảm tưởng rằng: Giáo xứ Trinh Vương đang tiến triển trong một chiều hướng có vẻ ổn định. Ổn định về trật tự. Ổn định về cách nhìn. Ổn định về nếp sống.

Nhưng sau khi suy nghĩ, tôi lại có cảm tưởng hơi ngược

lại. Tôi có cảm tưỏng là tình trạng có thể ổn định, nay đang sang tình trạng chuyển biến. Chắc rồi đây, theo tôi nghĩ, những cái gì ta cho là ổn định, sẽ không còn mãi ổn định: Lương tâm con người sẽ thay đổi, cái nhìn của con người cũng sẽ đổi thay. Và nếp sống đạo, cách sống đạo, cũng sẽ đổi thay. Sẽ có những thay đổi đáng ngại, và sẽ có những thay đổi đáng mừng. ở đây, tôi chỉ muốn nói tới những thay đổi đáng mừng đang thấy xuất hiện ở nhiều nơi, trong đó có giáo xứ chúng ta. Những thay đổi ấy, đó là những hình thức mới để đáp lại ơn Chúa gọi.

Ơn gọi, về căn bản, vẫn là Lời Chúa, mà chúng ta vừa nghe trong bài Phúc Âm hôm nay: “Chính Thầy sai các con đi, để các con đem lại hoa trái và hoa trái các con tồn tại”.

Căn bản ơn gọi vẫn luôn luôn là như thế, nhưng cách đáp ứng lại ơn gọi đó sẽ có những hình thức khác nhau, nhất là trong thời điểm hôm nay.

Chính Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II cũng đã gợi ý đến những hình thức mới để đáp lại ơn gọi trong thời điểm bây giờ và tương lai năm 2000. Tất cả những hình thức mới ấy được Đức Thánh Cha gói gọn lại trong từ Tân-Phúc Âm-hóa. Riêng trong giáo xứ Trinh Vương này, tôi nhận thấy đang xuất hiện vài hình thức mới của Tân-Phúc-Âm-hóa.

Hình thức mới nhất là làm đẹp và trong sạch hóa môi trường.

Vấn đề này đã được Đức Thánh Cha nêu lên nhiều lần, và đặc biệt, là trong mùa Chay vừa qua. Theo Ngài, làm đẹp môi trường và trong-sạch-hóa môi trường, đó là bổn phận về công bình, về bác ái, đối với xã hội, đối với sức khỏe tinh thần và thể xác của tha nhân.

Tôi thấy anh chị em ở đây, đang đáp ứng lời kêu gọi của Đức Thánh Cha về điểm này, trong chương trình Tân-Phúc-Âm-hóa. Chỉ nhìn qua con đường của kênh, nhìn qua công viên, nhìn qua xung quanh thánh đường, nhìn qua khu nhà văn hóa mới xây, tôi có cảm tưởng là cha xứ và anh chị em đã bén nhạy nắm bắt được nhu cầu đáp ứng lại lời Đức Thánh Cha kêu gọi về Tân-Phúc-Âm-hóa.

Hình thức mới thứ hai của Tân-Phúc-Âm-hóa mà tôi nhận thấy đang thiết thực ở đây, đó là: Mục vụ gia đình.

Mục vụ gia đình cũng đã được Đức Thánh Cha của chúng ta nêu lên và nhấn mạnh, nhất là trong thông tư về huấn luyện giáo dân. ở đây, tôi đã nhận thấy khá nhiều dấu về mục vụ gia đình: Đặc biệt như hôm nay, lễ mừng kỷ niệm hôn nhân của 200 gia đình. Chiều hôm nay, khi làm lễ, tôi nghe các em, đọc một kinh cầu nguyện riêng cho cha mẹ, làm tôi nghĩ tới sự anh chị em, đã đáp ứng một cách nhạy bén lời kêu gọi của Đức Thánh Cha kêu gọi về Tân-Phúc-Âm-hóa.

Mục vụ gia đình là rất quan trọng. Một Hội Thánh tốt, một xã hội tốt, phần lớn là do có những gia đình tốt.

Hình thức mới thứ ba về Tân-Phúc-Âm-hóa mà tôi nhận thấy xuất hiện ở đây, đó là trở về với Đức Kitô và Phúc Âm của Người.

Sáng nay, tôi đọc lại một văn thư của Đức Thánh Cha. Ngài nhấn mạnh rất nhiều lần đến sự cấn thiết phải trở về với Đức Kitô. Ngài nói rằng: Muốn Tân-Phúc-Âm-hóa chính mình, giáo xứ của mình, thì cần phải biết trở về với Đức Kitô, biết đón nhận Ngài vào con người của mình, vào đời sống của mình là biết gặp gỡ Ngài,biết sống thân mật với Ngài, biết tin vào lời Ngài, biết hiểu lời Ngài, và nhất là biết theo gương Ngài.

Rồi trở về Phúc Âm căn bản là biết trở về với giới luật mà chúng ta vừa nghe trong Phúc Âm (thứ VI vọng Phục sinh) “Thầy ban cho chúng con một điều răn mới là chúng con thương yêu nhau”.

Hãy trở về với Phúc Âm là hãy tham gia tích cực vào công cuộc truyền giáo.

Anh chị em ở đây đã thực hiện được phần nào cái hình thức quan trọng ấy: Trở về với Đức Kitô và trở về với Phúc Âm của Ngài.

Tôi mới đọc một tờ báo có một bài mang tựa đề “Thời điểm của sự trống rỗng” có nghĩa là tại nhiều nơi hôm nay, tại nhiều người hôm nay, sau cái bề ngoài hoạt động, thì trong lòng trống rỗng, một sự trống rỗng hoang dã, một sự trống rỗng nặng nề, một sự trống rỗng đáng sợ. Vì thế, chỉ có cách là hãy trở về với Đức Kitô, không phải là chỉ học Lời Ngài học giáo lý của Ngài, mà là gặp gỡ Ngài, và sống thân mật với Ngài, và để cho Ngài chuyển biến tâm hồn, biến đổi lương tâm, biến đổi cái nhìn, biến đổi đời sống chúng ta.

Cách đây mấy ngày, tôi tham dự lễ kỷ niệm Ngân Khánh Linh Mục của một Linh Mục bạn. Tôi đang cầu nguyện thì đàng xa vọng lại bên tai tôi một bài hát, mà bài hát đó có vẻ không nhập cuộc vào hoàn cảnh mừng lễ Ngân Khánh. Bài đó là “Hỡi người hãy nhớ mình là bụi tro, một mai người sẽ trở về bụi tro”. Chung quanh tôi bấy giờ là cảnh nhộp nhịp kèn trống, áo quần. Nhưng khi nghe bài hát ấy, tự nhiên tôi trở về với chính mình. Tôi gặp lại được sự bình an sâu lắng. Tôi nghe lại được tiếng Chúa trong lòng. Rồi tôi nhớ lại một hình thức mới về Tân-Phúc-Âm-hóa bây giờ, đang xuất hiện ở nhiều nơi, đó là: Sống âm thầm, quên mình, vùi mình vào quên lãng, để hiền lành, khiêm tốn, sám hối theo lời gọi của Phúc Âm.

Lúc nãy, nghe cha chánh xứ phát biểu, tôi có cảm tưởng là Ngài cũng đang thực hiện cái hình thức về Tân-Phúc-Âm-hóa, sống sám hối, sống khiêm nhường, nhớ mình là bụi tro.

Cách đây mấy hôm, tôi đọc một cuốn sách gồm hai tập, dày hơn 700 trang, in tại Hoa Kỳ. Nội dung là những lời phê phán Hội Thánh Công Giáo chúng ta, trong đó có Hội Thánh Công Giáo tại Việt Nam. Những lời phê phán rất gay gắt, những lời phê phán nhiều khi làm tôi sửng sốt. Phê phán là vì nhiều đấng bậc trong Hội Thánh Việt Nam đã mất tính chất Phúc Âm, đã đánh mất tính chất dân tộc. Khi đọc những trang đó, tôi đã nghĩ rằng: Nếu tôi không tự mình nhớ mình là bụi tro, trở về với thân phận khiêm tốn của bụi tro, thì sau này sẽ có những áp lực của dư luận, của quần chúng, để bắt mình cũng phải trở về khiêm tốn trong thân phận bụi tro của mình.

Anh chị em thân mến, tôi nghĩ rằng, nếu bản thân chúng ta chỉ giống như chiếc xe cũ kỹ, rẻ tiền, và con đường lịch sử của Quê Hương, của Giáo Hội chúng ta hôm nay cũng có nhiều chỗ khó như các đường lộ ngoài kia và các đường trong kinh, thế mà chúng ta đã tới được một trạm nghỉ, có nhiều kết quả như hôm nay, thì đó là một điều rất đáng mừng, một điều đáng tạ ơn Chúa, và rất đáng chia sẻ với nhau.

Tôi đến đây cũng để cùng anh chị em, nhất là để cùng cha xứ, cảm tạ Thiên Chúa, vì qua 25 năm chúng ta đã tới được chỗ đáng ngợi khen.

Trước mặt tôi là cây nến cháy, là những bông hoa tươi. Cây nến này rồi sẽ tắt. Những bông hoa tươi này rồi sẽ tàn. Nhưng tôi nhìn các Linh Mục, nhất là các Linh Mục của tôi trước mặt Chúa, sẽ là những bông tươi không bao giờ tàn, sẽ là những cây nến cháy không bao giờ tắt. Càng thêm tuổi và càng sống mầu nhiệm thánh giá, những bông hoa tâm hồn này càng tươi thắm, những cây nến cháy này càng sáng thêm.

Đó là điều tôi cầu chúc cho cha sở hôm nay, cho tất cả anh chị em giáo xứ hôm nay.

Lạy Chúa Kitô, xin ngự giữa chúng con.

Lạy Chúa Kitô xin nhậm lời chúng con. Amen.

Lễ Ngân Khánh Linh Mục Cha Phêrô Nguyễn-Văn-Vũ tại kênh A1, ngày 14-05-1993

 

Bùi-Tuần 0374: NHÂN CHỨNG CủA ĐỨC TIN 15-05-1993


Gioan 16,20-23

Ông Chưởng -Lễ an táng bà cố Anna Bùi-Thị-Bộ thân mẫu cha Phaolô Lê-Thành-Đạo (thứ 7- VI PS)
 

Trong bài Phúc Âm hôm nay, Chúa phán: “Có những nỗi buồn sẽ trở: 15-05-1993 Bùi-Tuần 374


Trong bài Phúc Âm hôm nay, Chúa phán: “Có những nỗi buồn sẽ trở thành niềm vui”. Chẳng hạn, nỗi buồn của người mẹ trước khi sinh con sẽ trở thành niềm vui cho bà khi đã sinh con. Và chẳng hạn, nỗi buồn của người môn đệ xa Thầy sẽ trở thành niềm vui cho họ khi đã gặp lại Thầy. Tôi thấy những lời Chúa phán hôm nay đang ứng nghiệm nơi bà cố Anna.

Thực vậy, bao nhiêu nỗi lo, bao nhiêu nỗi buồn của bà cố Anna trên suốt một cuộc đời 90 năm, nay đang trở thành những niềm vui vô tận. Đây là sự thực. Tôi nhìn rõ sự thực ấy. Tôi nhìn thấy bên kia thế giới, bà cố Anna đang được hưởng những niềm vui lạ lùng khôn tả. Bà vui, vì thấy những đứa con mà bà đã sinh ra nay đang là niềm vui và niềm hy vọng cho gia đình, cho bà con thân thuộc, cho bao nhiêu người xa gần. Bà vui vì thấy họ đạo của mình mà bà đã từng gắn bó bao nhiêu năm tháng, nay đang sống trong tinh thần hiệp nhất yêu thương, trở thành niềm vui và niềm hy vọng cho con cháu, cho địa phương, cho địa phận. Bà đang vui vì thấy ngôi thánh đường của họ đạo, nơi mà bà đã lãnh nhận và được huấn luyện về đức tin, về nhân bản và cả về văn hóa, nay đã đổi mới khang trang đẹp đẽ, trở thành một niềm vui và niềm hy vọng cho tất cả đồng bào xung quanh, nhất là cho cộng đồng dân Chúa. Bà đang vui, vì thấy Đức Kitô mà xưa bà chỉ nhìn qua đức tin, bây giờ đã hiện rõ trước mặt bà, và bà cảm thấy: Ngài chính là hạnh phúc, là niềm cậy trông, là niềm vui phục sinh và là hy vọng sống lại của Hội Thánh, của Quê Hương. Và nhất là bà vui vì thấy trước đây đức tin của bà chỉ là những hứa hẹn, bây giờ những hứa hẹn ấy trở thành sự thực, những sự thực đẹp đẽ lạ lùng vượt quá những điều mình không dám mơ ước khi còn sống.

Chính vì thế, khi tôi chủ sự lễ an táng bà cố Anna bây giờ, tôi biết là tôi đang đứng trước mặt một chứng nhân của đức tin. Bà đã tin vào Thiên Chúa. Bà đã tin vào lời Chúa phán. Bà đã tin vào tình yêu Thiên Chúa. Bà đã tin vào quyền năng Thiên Chúa. Bà đã tin vào Hội Thánh của Chúa. Bà đã tin vào những vị đại diện của Hội Thánh Chúa. Bà đã tin vào con cái, cháu chắt, gia đình thân thuộc. Bà đã tin vào đồng bào của mình, dân tộc của mình, quê hương của mình. Đức tin của bà rất vững. Niềm tin của bà rất mạnh. Tất cả điều đơn sơ, chân thành. Và tất cả điều đã xuyên qua một cuộc đời 90 năm lặng lẽ âm thầm. Đức tin ấy đã đưa bà tới hạnh phúc trên trời hôm nay.

Đêm rồi, tôi thức dậy thật sớm, tôi vào nhà nguyện riêng của tôi để cầu nguyện cho bà cố Anna. Trong thinh lặng, tôi hỏi linh hồn bà cố, có muốn nói gì với tôi không? Trong thinh lặng, tôi nghe bà cố nói nhẹ với lòng tôi rằng: “Con hết sức cảm tạ Chúa vì đã ban cho con ơn đức tin. Bây giờ con thấy rõ ràng ơn đức tin là một quà tặng quí giá vô cùng, lớn lao vô cùng”.

Chính vì vậy, khi tôi chôn cất thân xác cố Anna, tôi nghĩ rằng, tôi đang trồng một hạt giống đức tin vào cánh đồng truyền giáo hôm nay. Tôi đem trồng hạt giống đức tin rất tốt này vào cõi lòng từng người con cái, từng người cháu chắt và trong từng người những bà con thân thuộc.

Tôi có cảm tưởng rằng, hạt giống đức tin này bé nhỏ thôi, âm thầm thôi, rất khiêm tốn, nhưng mai này, sẽ nẩy ra được nhiều mầm non đức tin.

Trong cái nhãn quan này, tôi muốn nói với anh chị em rằng, nhất là với gia đình bà cố Anna đây, chúng ta hết thảy, thay vì thương tiếc bà cố, chúng ta cũng hãy hợp ý với bà cố mà biết đón nhận ơn đức tin và biết sống ơn đức tin như bà cố đã sống: Âm thầm ,lặng lẽ, nhưng đầy can đảm bằng đời sống thường, bằng những việc thường, nhưng trước mặt Chúa, đó là những bước đi vững về Cha trên trời.

Lạy Đức Kitô, trong tinh thần hiệp thông với linh hồn bà cố Anna, và trong tinh thần hiệp thông với họ đạo, với gia đình, con xin cảm tạ Chúa đã ban ơn đức tin cho bà cố Anna. Và ơn đức tin ấy giờ đây đã biến thành niềm vui cho bà cố và trở nên niềm hy vọng cho tất cả chúng con. Lạy Chúa Kitô xin nhậm lời chúng con. Amem.

Lễ an táng bà cố Anna Bùi-Thị-Bộ thân mẫu cha Phaolô Lê-Thành-Đạo, tại Ông Chưởng ngày 15- 05-1993

 

Bùi-Tuần 0375: TRở VỀ VỚI CHÚA 23-05-1993


 Matthêu 28,16-20

Lễ Thêm Sức- Lễ Thăng Thiên Vàm Cống (Chợ Mới)
 

Chúng ta vừa nghe trong bài Phúc Âm Chúa truyền dạy cho các môn đệ: 23-05-1993 Bùi-Tuần 375


Chúng ta vừa nghe trong bài Phúc Âm Chúa truyền dạy cho các môn đệ rằng: “Chúng con hãy đi loan báo Tin Mừng cho muôn dân. Hãy đi rửa tội cho họ: Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần. Và hãy đi dạy người ta tuân giữ các điều Thầy đã dạy các con”.

Khi nghe những lời trên đây của bài Phúc Âm, tôi đã thưa Chúa Giêsu rằng: “Lạy Chúa, chắc chắn những lời trên đây là những lời Chúa truyền dạy các tông đồ xưa. Chúa truyền các ngài phải đi loan báo Tin Mừng cho muôn dân. Chúa truyền cho các ngài phải đi rửa tội cho muôn dân. Chúa truyền cho các ngài phải đi dạy cho muôn dân tuân giữ những điều Chúa dạy. Vậy, những lời truyền ấy có dành cho chúng con hôm nay không?

Chúa không trả lời tôi trực tiếp, nhưng Chúa trả lời tôi vắn tắt và gián tiếp bằng những tài liệu của Công Đồng, bằng những lời dạy của Tòa Thánh, của Đức Thánh Cha.

Thực vậy, Công Đồng Vatican II nhắc đi, nhắc lại bổn phận quan trọng nhất của Hội Thánh là phải loan báo Tin Mừng. Bổn phận quan trọng nhất của một người chịu phép Rửa Tội là phải đi chia sẻ Tin Mừng cho những người chưa biết Chúa. Bổn phận ấy, không trừ một ai. Từ Đức Thánh Cha đến các Giám Mục, Linh Mục, tu sĩ, giáo dân, kẻ giàu cho đến người nghèo. Mỗi một người trong chức vụ của mình, trong khả năng của mình, trong hoàn cảnh của mình, phải thực sự đáp ứng lại lời truyền dạy của Đức Kitô.

Riêng Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II, những năm gần đây, ngài nhấn mạnh đến việc truyền giáo, đến việc đi loan báo Tin Mừng. Các Đức Thánh Cha gần đây cũng vậy, các ngài nhấn mạnh đến bổn phận khẩn cấp của Phúc Âm hôm nay, đó là: “Đừng ngồi một chỗ, đừng chỉ xây dựng nội bộ của mình, mà phải biết ra đi, phải biết lên đường, phải biết qua bờ sông bên kia, để loan Tin Mừng cho những người chưa biết Chúa.

Lời dạy của Đức Kitô trong bài Phúc Âm hôm nay rất rõ ràng và những lời kêu gọi của Đức Thánh Cha cũng rất quyết liệt.

Trên thực tế, những lời ấy đã được đáp ứng ra sao?

Tôi thấy các nơi, mọi người, điều đã cố gắng đáp ứng lại lời dạy của Đức Kitô và lời kêu gọi của Đức Thánh Cha.

Thí dụ, ngay ở đây, tôi đang nhìn thấy anh chị em đang sốt sắng phụng vụ thánh lễ, và nhiệt tình góp phần của mình vào những công việc chung của họ đạo. Đó chứng minh rằng Tin Mừng cứu độ mà anh chị em đang muốn loan báo, đó là tinh thần hiệp thông: Hiệp thông với Thiên Chúa. Hiệp thông với Hội Thánh. Hiệp thông với họ đạo. Hiệp thông với tất cả mọi người chung quanh.

Rồi ở đây, tôi cũng đang thấy anh chị em tại chính nơi nầy và những anh chị em đến từ những nơi khác, đã góp công, góp của, góp sức, để tu sửa ngôi thánh đường nhỏ bé này, giúp cho nó trở nên một nơi tương đối xứng đáng hợp với tâm lý tôn giáo của quần chúng hôm nay. Điều đó cũng chứng minh rằng: Tin Mừng cứu độ mà anh chị em đang sống và cũng đang muốn loan báo cho mọi người biết, đó là: Tinh thần thờ phượng và tạ ơn Thiên Chúa. Bởi vì Ngài đã cho chúng ta rất nhiều về tinh thần và vật chất, nên nay chúng ta thờ phượng Người, tạ ơn Người bằng những công việc đóng góp nhỏ mọn, tinh thần và vật chất cho họ đạo, cho nhà thờ của Ngài.

Rồi nơi đây, tôi cũng đang thấy anh chị em, mặc dầu là một cộng đoàn bé nhỏ, nhưng cũng đang nổ lực xây dựng tinh thần đoàn kết đạo đời, giữa lương với giáo, giữa những người tin và những người không tin, để tất cả đồng bào chúng ta, sống trong một sự thông cảm lẫn nhau, kính trọngg lẫn nhau, chấp nhận lẫn nhau, nâng đỡ lẫn nhau. Đó là một Tin Mừng cứu độ, thiết tưởng rất cần cho thời điểm hôm nay và cho địa phương chúng ta hôm nay.

Rồi tại đây, tôi cũng thấy trước mặt tôi, sự phát triển của con người nơi anh chị em: Phát triển về mặt nhân bản, phát triển về mặt văn hóa, và phát triển về mặt thiêng liêng. Đó cũng là một điều để chứng minh: Tin Mừng cứu độ mà chúng ta muốn loan báo cho mọi người biết, đó là: Sự phát triển toàn diện của con người. Tin vào Chúa và gắn bó với Hội Thánh.

Tất cả những điều tôi nói trên đây, đều là những thực tại mà anh chị em kiểm chứng được qua mắt thấy, qua tai nghe, qua cảm nghiệm sống động ngay phút bây giờ.

Nhưng có một điều tôi muốn nói ở đây; đó là ngoài ra những điều chúng ta đang làm và đã làm có kết quả chúng ta cần một điều khác để loan báo Tin Mừng, điều đó là trở về với Chúa.

Trở về với Chúa, đó là điều Đức Kitô luôn nhắc lại trong Phúc Âm. Khi nào Ngài nói đến Tin Mừng cứu độ thì bao giờ Ngài cũng nói đến trở về với Chúa. Như thể sự trở về với Chúa là một Tin Mừng, là một điều kiện để đón nhận Tin Mừng.

Đức Kitô quả quyết Tin Mừng cứu độ là sự trở về với Chúa.

Đức Mẹ mỗi khi hiện ra, nhất là trong những thời điểm gần đây đều nhắc đi nhắc lại sự cần thiết phải trở về với Chúa. Tôi không nghĩ rằng: Trở về với Chúa là một việc dễ dàng, tôi cũng nghĩ rằng anh chị em có thừa kinh nghiệm để nhận thấy sự trở về với Chúa là một việc khó khăn, đòi nhiều cố gắng, đòi nhiều thời gian.

Tuy nhiên, tôi lại nghĩ rằng, mặc dầu sự trở về với Chúa là việc khó khăn, nhưng đây là một việc cần, không thể bỏ qua được, vì đó chính là Tin Mừng đích thực.

Ai đã đi vào con đường trở về thường xuyên với Chúa, sẽ cảm được sự ngọt ngào của tình thương xót của Chúa bao la. Người trở về thường xuyên với Chúa sẽ nhìn thấy vẻ đẹp bao la của trái tim Đức Kitô cứu độ. Người trở về thường xuyên với Chúa sẽ khám phá được thế nào là sự sâu thẳm nhất, phong phú nhất của tình yêu Thiên Chúa và đó mới là Tin Mừng cứu độ. Ai đã trải qua con đường trở về, hoặc đang đi trên con đường trở về sẽ có kinh nghiệm sống động để loan báo Tin Mừng cứu độ cho muôn dân, không phải trên lý thuyết, mà qua kinh nghiệm mình đã sống.

Anh chị em thân mến,

Tôi không nhìn được rõ, nhưng qua nét mặt và thái độ của anh chị em lúc này. Tôi nhìn thấy: Anh chị em có sự khiêm tốn. Anh chị em có sự phó thác nơi Chúa. Anh chị em có thiện chí. Đó là những dấu chắc chắn nhất của sự trở về.

Trong sự trở về, Chúa không cân nhắc kết quả cho bằng lòng khiêm tốn, cho bằng sự phó thác, cho bằng thiện chí của chúng ta.

Anh chị em đang có những điều kiện cần thiết nhất của sự trở về. Và tôi nghĩ rằng khi Thiên Chúa là Cha, Người sẽ coi tấm lòng của chúng ta như vậy là những bó hoa thiêng đẹp nhất của ngày hôm nay, là những bài ca hay nhất của ngày hôm nay, và đó là một cái của lễ Chúa muốn nhất trong ngày hôm nay.

Anh chị em quá biết, tình hình lúc này không đơn giản, về đạo cũng như về đời. Chúng ta cần phải trở về với Chúa trong tâm tình khiêm tốn, trong tâm tình phó thác, trong thiện chí tối đa. Và chúng ta dâng con em chúng ta hôm nay cho Chúa, qua tâm tình khiêm tốn, phó thác, thiện chí của chúng ta, để không những chúng ta, mà nhất là con em chúng ta hôm nay chịu phép Thêm Sức, Rước Lễ Lần Đầu, gặp được Thiên Chúa tình yêu, gặp được Đấng cứu độ, để sau này, chúng biết loan truyền Tin Mừng cứu độ, Tin Mừng đó là Đức Kitô cứu độ mà chúng ta gặp được hôm nay, trong lòng chúng, và sẽ gặp được mãi trong đời của chúng.

Lạy Đức Kitô, Người đã lên trời, nhưng Người đã hứa sẽ ở lại mãi với chúng con, xin Chúa ở lại mãi với chúng con mãi mãi, từng ngày, từng phút trong đời sống chúng con. Amen.

Lễ Thêm Sức tại Vàm Cống (Chợ Mới) ngày 23-05-1993

 

Bùi-Tuần 0376: MANG TÌNH YÊU THIÊN CHÚA 26-5-93


 Gioan 15,1-8

Lễ Thêm Sức-   (Thứ tư-tuần V Phục Sinh) Cao Thái (TP Hồ-Chí-Minh),
 

Mong tốt lành. Chẳng hạn như lời: “Con mong ước bản thân con: 26-5-93 Bùi-Tuần 376


Mong tốt lành. Chẳng hạn như lời: “Con mong ước bản thân con trở nên đền thờ của Chúa”. Và trong đời, cũng đã rất nhiều lần, chính tôi cũng đã dâng lên Chúa lời cầu xin tha thiết. Chẳng hạn như lời cầu: “Con cầu xin Chúa cho bản thân con, cho những người thuộc về con được trở nên đền thờ của Chúa”.

Thế nhưng, sau nhiều năm kinh nghiệm, tôi nhận thấy rằng: Những ước vọng trên kia, tuy rất tốt, nhưng vẫn mãi là ước vọng. Những lời cầu trên kia, tuy rất trong sáng, nhưng vẫn mãi là những lời cầu. Bởi vì, trên thực tế, bản thân tôi, cũng như bản thân anh chị em và các tín hữu, còn lâu lắm mới có thể trở nên đền thờ của Chúa. Và cũng chắc gì, bao giờ sẽ trở nên đền thờ của Chúa.

Tôi thấy thực tế ấy rất rõ ràng, phũ phàng, và đầy phức tạp.

Bởi vì, bất cứ lúc nào, khi chúng ta nhìn vào lòng mình, chúng ta vẫn thấy lòng mình như một cái chợ, cái chợ này tuy có vẻ yên tĩnh nhưng thực ra rất ồn ào. Trong cái chợ lòng ta, có trưng bày đủ thứ các giá trị, từ những giá trị thực cao và rất thiêng liêng, như các nhân đức, như các lời Chúa, như các chân lý tôn giáo, cho đến các chân lý giá trị tầm thường, rất thấp, như cái ăn cái mặc, lời của thiên hạ, vv... Đúng là lòng ta giống như một cái chợ nhỏ của một cái chợ lớn cuộc đời, bao la, mênh mông, ồn ào, mà trong đó ít thấy có tiếng của Chúa.

Rồi, bất cứ lúc nào, khi nhìn sâu vào lòng mình, chúng ta cũng thấy lòng ta giống như một con đường, con đường này không thênh thang rộng rãi như xa lộ ngoài kia, mà là một con đường phức tạp, có chỗ tối có chỗ sáng, có chỗ phẳng phiu, có chỗ gồ ghề. Và trên con đường đó, biết bao cái đi tới, đi lui, hình ảnh này tới, hình ảnh kia lui, đi dọc đi ngang. Đúng là lòng mỗi người chúng ta, đều giống như một con đường nhỏ của cuộc đời, là một hệ thống đường sá rất phức tạp mà trong đó, nhìn kỹ mà xem, chưa chắc đã tìm được ý Chúa.

Rồi, nhìn kỹ vào lòng mình, bất cứ lúc nào, tôi cũng thấy lòng ta giống như một kho lẫm phức tạp: Không phải là một kho vàng, kho bạc, mà trong kho tàng linh hồn mình, lương tâm mình, có chứa chất đủ thứ, tốt có xấu có, bao nhiêu ước vọng tuổi ngọc nào đó, bao nhiêu đắng cay còn ở lại đó, bao nhiêu niềm vui nước mắt còn ở lại đó. Một kho lẫm trong lòng mình, của một kho lẫm cuộc đời bao la, phức tạp, mà trong đó, nhìn kỹ mà xem, chưa chắc đã tìm được Thiên Chúa.

Thế thì, các lời ước nguyện của chúng ta muốn trở thành đền thờ của Chúa còn xa vời.

Khi nhìn thấy như vậy, tôi hỏi Chúa rằng: “Làm sao đây? Con sống giữa đời, mà đời con là một con đường phức tạp, con tìm sao được Chúa?

Tôi cầu nguyện. Chúa trả lời tôi: “Thế gian này là như vậy. Con là một cái chợ nhỏ phức tạp, trong cuộc đời phức tạp, như một cái chợ lớn lao ồn ào nhưng con vẫn có thể gặp được Cha”.

Đời con như một con đường phức tạp giữa một hệ thống đường sá phức tạp nhưng con vẫn có thể tìm thấy Cha.

Đời con giống như một kho lẫm phức tạp của cuộc đời, là kho lẫm đầy phức tạp, nhưng con vẫn tìm thấy sự an vui của thánh ý Cha, với điều kiện này là con phải mang trong mình tình yêu Thiên Chúa.

Đó là điều mà trong bài Phúc Âm hôm nay, Chúa Giêsu đã nhắc lại: Tình yêu Thiên Chúa trong ta không phải chỉ là những giáo lý, cũng không phải chỉ là những tâm tình, cũng không phải chỉ là những tuyên hứa. Tình yêu Thiên Chúa trong ta như bài Phúc Âm hôm nay nói, đó là sự gắn bó mật thiết với Đức Kitô: “Như Cha ở trong con và con ở trong Cha thì mọi người thuộc về con cũng hãy ở trong chúng ta”.

Sống thông hiệp, sống kết hợp với Thiên Chúa như vậy mới là mang tình yêu Thiên Chúa.

Tôi nghĩ rằng: Cái thiếu nhất trong đời sống Công Giáo chúng ta, nhất là trong thời văn minh vật chất này, đó là thiếu lửa mến Chúa trong lòng.

Hôm qua, tôi có dịp trao đổi với một mục sư Tin Lành. Mục sư tâm sự với tôi. Ông nói: Thời Giáo Hội sơ khai chỉ có 12 tông đồ, thế mà 12 vị ấy đã đi đốt cháy cả thế giới. Còn bây giờ, biết bao nhiêu mục sư, biết bao nhiêu linh mục, giám mục, tông đồ giáo dân, mà không đốt lên được lửa mến Chúa yêu người trong thế giới, trong nước Việt Nam, trong địa phương này. Cái thiếu của chúng ta là thiếu tình mến Chúa thực sự trong lòng.

Sáng hôm nay, tôi đến dòng Kín SG để cầu nguyện trước thánh nữ Têrêxa, cho tôi, cho anh chị em. Và trong giờ cầu nguyện, thánh nữ Têrêxa cũng tâm sự với tôi: Bí quyết làm cho một người nên thánh đó là tình mến Thiên Chúa trong lòng. Têrêxa không làm gì. Têrêxa không đi đâu. Têrêxa không dạy điều gì. Nhưng trái tim Têrêxa là một lò lửa mến Chúa hừng hực sôi lên, thao thức đầy ước vọng mến chúa.

Anh chị em thân mến, khi biết như vậy, tôi hằng ngày chỉ cầu xin một điều cho tôi và cho những kẻ thuộc về tôi, đó là xin Chúa hãy đốt nóng lên tình yêu Chúa trong tôi, trong anh chị em. Một khi có tình mến Chúa cháy lên rồi thì tất cả sẽ được giải quyết.

Hiện nay, những trào lưu thế tục đang tràn vào Việt Nam, muốn làm cho ngọn lửa mến Chúa tắt đi, và thêm vào đó là ngọn lửa thế tục, yêu mến những sự trần gian, chạy theo tiền bạc danh vọng, chạy theo hưởng thụ. Sau cùng, đạo chỉ còn là hình thức, đạo chỉ còn là lễ nghi. Còn lửa mến Chúa trong lòng tắt đi rồi.

Trước một đe dọa như vậy, tôi chỉ xin anh chị em hãy biết cảnh giác cho đức tin của mình, không phải vững mạnh ở chỗ tin những điều Hội Thánh dạy tin, mà còn là phải có lửa nóng trong lòng mình, để lửa ấy sẽ giúp đốt lên tình mến Chúa yêu người nơi các con em chúng ta.

Hằng ngày, hãy cầu xin Chúa đốt nóng lên tình mến Chúa trong ta, và hằng ngày hãy xin Chúa tắt đi trong lòng ta những ngọn lửa thế tục, những ngọn lửa trái nghịch với điều răn của Chúa.

Tôi nghĩ rằng nếu chúng ta có thành công, nếu chúng ta có lòng thực sự yêu mến Chúa thì Chúa sẽ đốt lửa mến Chúa trong lòng ta. Và vấn đề quan trọng của chúng ta là biết đón nhận lửa mến Chúa chứ nếu Chúa đốt, mà ta không nhận, thì Chúa cũng trọng sự tự do chối từ của ta.

Xin anh chị em hãy chia sẻ những thao thức này của tôi: Tình hình rất tế nhị. Tình hình rất phức tạp cho đức tin. Ngoài Chúa ra, tự mình chúng ta không tạo dựng được đức tin cho chính mình, cho con em mình. Hãy cậy trông Chúa Thánh Thần. Xin Ngài đốt lửa kính mến Chúa trong lòng chúng ta. Amen

Lễ Thêm Sức tại Cao Thái (TP Hồ-Chí-Minh), ngày 26-5-93

 

Bùi-Tuần 0377: LỬA CHÚA THÁNH LINH 30-05-1993


 Gioan 20,19-23

Lễ Thêm Sức- (Lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống) Lộ Đức (K.Ông Quít)
 

Trong các bài Phúc Âm những tuần lễ vừa qua thường nhắc đi nhắc: 30-05-1993 Bùi-Tuần 377


Trong các bài Phúc Âm những tuần lễ vừa qua thường nhắc đi nhắc lại việc Chúa Giêsu truyền cho các môn đệ phải đi loan báo Tin Mừng cho muôn dân. Đặc biệt, trong bài Phúc Âm Chúa Giêsu lên trời Chúa Nhật trước và bài Phúc Âm lễ Chúa Thánh Thần trong Chúa Nhật này, lệnh Chúa truyền môn đệ ra đi loan báo Tin Mừng đã được đề cao, đã được nhấn mạnh, đã được công bố một cách long trọng. Chính bài đọc Tông Đồ Công Vụ hôm nay cũng đã nhắc lại sự kiện các tông đồ Chúa, sau khi lãnh nhận ơn Chúa Thánh Thần, đã thực hiện lệnh Chúa truyền. Ra đi loan báo Tin Mừng, bằng cách giảng Tin Mừng cho đám đông thuộc nhiều dân tộc.

Những bài Sách Thánh trên đây nhắc cho tôi thấy: Việc loan báo Tin Mừng là bổn phận quan trọng, rất quan trọng, Chúa đã trao cho các tông đồ thời ấy, và cũng đã và đang trao cho các tông đồ thời nay. Có nghĩa là tất cả chúng ta, không trừ một ai, đều có bổn phận phải loan báo Tin Mừng cho những người chung quanh, nhất là những người chưa biết đến Thiên Chúa là Tin Mừng cứu độ của mình. Phải thực hiện bổn phận ấy, tùy chức vụ của mình, tùy hoàn cảnh cụ thể của mình, trong bất cứ hoàn cảnh nào, dù khó, dù dễ, cũng phải tìm ra cách để thực hiện bổn phận loan báo Tin Mừng.

Thời các thánh tông đồ xưa, hoàn cảnh giữ đạo, hoàn cảnh truyền đạo rất là khó khăn. Các chính quyền lúc ấy đều tỏ ra lạnh nhạt, e dè, thậm chí cấm cách đạo Đức Kitô. Còn các vị đứng đầu tôn giáo lúc ấy, nhất là trong đạo Do Thái, thì đã tỏ ra thái độ quyết liệt, đàn áp và chống đối đạo lý Đức Kitô.

Hoàn cảnh bên ngoài khó khăn như vậy, còn hoàn cảnh bên trong Hội Thánh thì sao?

Cũng rất khó khăn: Số tông đồ rất ít. Ai trở lại thì phải chấp nhận đủ thứ thiệt thòi. Những người tin Chúa không có phương tiện để giữ đạo tự do, không có nhà thờ để hội họp, không có sách báo để đọc lời Chúa, không có tiền bạc để phát triển con người. Mọi cái đều rất khó khăn. Họ chỉ bám vào lời Chúa. Họ chỉ tăng cường cầu nguyện. Họ chỉ đẩy mạnh việc bác ái. Thế rồi, cứ thế, năm này sang năm khác, bao trăm năm liền, dưới hoàn cảnh cực kỳ khó khăn, Tin Mừng Đức Kitô cứ lan mãi ra. Lan tới đâu, ăn rễ tới đó, đi sâu vào lòng người, đi sâu vào nền văn hóa địa phương.

Những sự kiện trên đây cho phép tôi nghĩ rằng: Cái bí quyết đã làm cho Tin Mừng của Chúa lan rộng và sâu, đó là: Lửa Chúa Thánh Linh chứ không nhất thiết là những phương tiện xã hội và những phương tiện tôn giáo. Mặc dầu những cái đó cũng quan trọng, nhưng không phải là nhất thiết quan trọng. Chính lửa Chúa Thánh Linh đã đốt nóng lòng các tông đồ và các tín hữu thời đó, gây nên trong họ những thao thức bừng bừng: Cần phải đi loan báo Tin Mừng. Chính lửa Chúa Thánh Linh đã giúp cho cộng đoàn tín hữu thời đó trở thành những cộng đoàn đức tin, cộng đoàn hy vọng, cộng đoàn tình thương. Chính lửa Chúa Thánh Linh đã làm cho những người tin Chúa hồi đó luôn luôn thường xuyên biết trở về: Trở về với giới luật mới là giới luật yêu thương. Trở về với lương tâm mới, đó là lương tâm người con của Thiên Chúa. Trở về với con đường hạnh phúc mới, đó là con đường Tám Mối Phúc Thật.

Có lửa Chúa Thánh Linh trong lòng, trong cộng đoàn, thì dù hoàn cảnh có khó khăn đi mấy, đạo vẫn giữ được tốt, đạo vẫn lan ra được rộng và sâu. Còn nếu thiếu lửa Chúa Thánh Linh, thì dù hoàn cảnh có dễ dàng đi nữa, đạo vẫn có thể đi xuống, đạo vẫn có thể lùi lại.

Tiện đây, tôi muốn thông tin cho anh chị em một tình hình đức tin tại một nước có rất nhiều hoàn cảnh để phát triển, nhưng lại không phát triển về đức tin, đó là Giáo Hội tại nước Pháp bây giờ.

Theo tuần báo Le Point xuất bản ngày 15-5-1993 mới rồi, thì tình hình giữ đạo và truyền đạo tại nước Pháp hôm nay rất đáng e ngại. Theo thống kê thì: Số người Công Giáo tại Pháp hiện nay, đi lễ Chúa Nhật chỉ còn 8%. Số người Công Giáo tại Pháp rất đông ơn kêu gọi làm linh mục nhưng từ 1980 trở về đây số ơn kêu gọi linh mục bớt dần. Hằng năm, số linh mục chết đi và về hưu, trung bình là 800 vị, thế nhưng số được chịu chức linh mục mỗi năm chỉ còn từ 100 đến 130.

với những con số trên đây xảy ra trong một Giáo Hội có rất nhiều tự do, có rất nhiều tiền bạc, có rất nhiều sách vở đạo, có rất nhiều phương tiện thuận lợi để giữ đạo và phát triển đạo, những con số ấy cho phép tôi nghĩ rằng: Đạo ở Pháp hiện nay, không thể gọi được là một Hội Thánh đang tiến triển, đang phát triển. Đúng là có một cái gì đang lụi tàn. Đúng là có một cái gì đang nguội đi trong một hoàn cảnh đầy tự do, đầy thoải mái đầy sung túc, cái đang nguội đi, cái đang lụi tàn theo tôi chính là lửa Chúa Thánh linh.

Người ta quá lo phát triển về mặt vật chất, về cái mặt văn minh, khoa học, kỹ thuật, nhưng lại lơ là trong việc phát triển lửa Chúa Thánh Linh.

Để cứu vãn một xã hội như vậy, tôi thấy Chúa đang làm mọc lên những nhóm nhỏ, những cá nhân, những cộng đoàn đầy lửa Thánh Linh, dấn thân vào đời sống nội tâm, nhưng đồng thời cũng dấn thân vào đời sống xã hội, giúp đỡ những người đau khổ.

Tình hình tại xã hội Pháp là như vậy còn tình hình tại Giáo Hội Việt Nam thì sao?

Tôi thấy tình hình chung là tốt. Nhưng điều đó không cho phép thiếu cảnh giác và thiếu khiêm tốn. Tốt nhất là chúng ta thường xuyên đón nhận Chúa Thánh Linh vào tâm hồn ta. Tu sửa nhà thờ là việc tốt, tu sửa nếp sống trong cộng đoàn nên tốt hơn, đó là một việc tốt hơn để loan báo Tin Mừng. Nhưng nhất là ta tu sửa chính bản thân mình để nên tốt hơn, đó là cách tốt nhất để loan báo Tin Mừng. Tất cả những việc trên đây đang được anh chị em thực hiện một cách tương đối có kết quả.

Tôi xin cảm tạ Chúa vì những kết quả ấy và nhất là xin cảm tạ Chúa vì nhiều anh chị em đã nhận ra cái hướng để loan báo Tin Mừng trong hoàn cảnh đất nước hôm nay của chúng ta.

Anh chị em thân mến, tình hình không đơn giản. Tình hình đang có nhiều phức tạp, tình hình đang có nhiều tế nhị. Vì thế, từ sáng tới giờ, nhất là khi gặp anh chị em, tôi cũng cầu xin Chúa Thánh Thần soi sáng cho tôi, soi sáng cho các Linh Mục, soi sáng cho anh chị em biết thế nào là việc cần làm, là việc nên làm, là việc nên nhấn mạnh lúc này để loan báo Tin Mừng. Bởi vì, có rất nhiều việc trước mặt cần phải làm, nhưng khả năng chúng ta có giới hạn. Chúng ta cần chọn lấy một số vấn đề để thực hiện, chứ không phải chúng ta làm tất cả, bởi vì nó quá nhiều và tình hình rất phức tạp.

Trong thánh lễ hôm nay, tôi xin cảm tạ Chúa cùng với anh chị em về những sự Chúa đã làm qua anh chị em, và vì Chúa đã thực hiện những lời Chúa hứa xưa: Chúa mặc khải cho những kẻ bé mọn.

Anh chị em là những người bé mọn, Chúa đang dùng anh chị em để loan báo Tin Mừng. Và tôi thấy cách loan báo Tin Mừng của anh chị em cũng rất khiêm tốn thôi. Nếu anh chị em tiếp tục sống khiêm tốn, tự biết mình là bé mọn, nghèo hèn, yếu đuối thì Chúa Thánh Thần sẽ tiếp tục ban ơn cho anh chị em. Hơn nữa, Ngài sẽ ban thêm, thêm nữa những ơn của Ngài, để anh chị em biết thực hiện lời Chúa truyền hôm nay là loan báo Tin Mừng cho muôn dân.

Lạy Chúa Thánh Linh, xin đến với chúng con.

Lạy Chúa Thánh Linh xin ở lại chúng con. Amen.

Lễ Thêm Sức tại nhà thờ Lộ Đức (Kinh Ông Quít), ngày 30-05-1993

 

Bùi-Tuần 0378: CHIẾC LƯỚI 02-06-1993


 Marcô 1,14-20

Lễ Kim Khánh cha cố Phêrô Trần-Minh-Tân Hiếu Thuận (K.H),
 

Bài Phúc Âm hôm nay đã in đậm trong tâm trí tôi hai hình ảnh: Hình: 02-06-1993 Bùi-Tuần 378


Bài Phúc Âm hôm nay đã in đậm trong tâm trí tôi hai hình ảnh: Hình ảnh thứ nhất là vá lưới, và hình ảnh thứ hai là thả lưới.

Hai hình ảnh này gợi ý cho tôi nhìn vào con người linh mục. Theo cái nhìn của tôi, linh mục cũng là một chiếc lưới, chiếc lưới này cũng dễ rách, cũng dễ mau cũ, dễ mau mòn.

Nhưng cái dễ thương của chiếc lưới không ở chỗ nó cứ mãi bền chắc, cứ mãi mới đẹp, mà ở chỗ nó, khi bị rách thì chịu để vá lại, và khi nó cũ thì chịu để tân trang.

Cũng như cái dễ thương của chiếc lưới vá và tân trang đó không ở chỗ nó sẽ được thả vào những dòng sông lớn có nước trong, có nhiều tôm cá, mà ở chỗ nó khiêm tốn chịu thả xuống những con kênh nhỏ hẹp, nước đục, ít tôm ít cá.

Tôi có cảm tưởng thánh Phêrô xưa cũng là một chiếc lưới dễ thương như vậy. Chiếc lưới Phêrô luôn ngoan ngoãn để Chúa vá lại và tân trang lại. Chiếc lưới Phêrô luôn sẵn sàng để Chúa thả xuống những dòng lịch sử đầy khó khăn.

Hôm nay tôi cũng có một cảm tưởng tương tự như thế về cha cố Phêrô. Cha là một chiếc lưới dễ thương. Chiếc lưới này dễ thương, vì luôn sẵn sàng để Chúa đổi mới, để Chúa vá lại khi cần.

Cha thụ phong linh mụcc được 50 năm. Có nghĩa là cha được đào tạo trong một nền giáo dục tương đối cũ. Thế nhưng, cha không ngừng đổi mới, thường xuyên tân trang, sẵn sàng chịu vá lại những gì là cũ rách. Rồi chiếc lưới này dễ thương, vì lúc nào cũng sẵn sàng dấn thân vào những địa điểm khó khăn nhất. Kinh H này, trước khi cha tới, vẫn còn là mảnh đất đợi chờ. Nay đã trở thành một giáo xứ với 3 nhà thờ, có nề nếp, phát triển về mọi mặt đạo đời.

Nếu hôm nay, tôi nhìn cha Phêrô, để nói với anh chị em lời thánh vương Đavit: “Hãy đến và hãy nhìn xem, Chúa tốt lành dường bao” (cv 34,9). Thì lời đó của tôi chính là một lời cầu-nguyện-chứng-từ, tuy hướng về cha Phêrô và cộng đoàn nhưng thực sự lại nói về Thiên Chúa.

Lời cầu-nguyện-chứng-từ này mời gọi cộng đoàn hãy chia sẻ sự vui mừng, vì Chúa nhân từ đang đến qua một tạo vật khiêm tốn.

Lời cầu-nguyện-chứng-từ này là một nhận định về một ơn Chúa ban cho một người nhưng lại trở thành một ơn chung Chúa ban cho tất cả cộng đoàn.

Tôi biết là cha Phêrô đang cảm tạ Chúa. Và tôi nghĩ rằng cha cảm tạ, không phải vì cha đã tuân giữ giới răn Chúa cho bằng cha đã tuân phục chính Chúa. Cha cảm tạ, không phải vì cha đã gặp được thánh ý Chúa cho bằng cha đã gặp được chính Chúa. Để rồi từ đó cha cũng hiểu thấm thía sống ơn gọi là biết đón nhận kế hoạch cứu độ Chúa dành cho mình, và biết cộng tác tích cực vào kế hoạch cứu độ ấy.

Lạy Chúa, cha Phêrô là chiếc lưới hèn mọn và dễ thương trong tay Chúa. Xin ngợi khen và cảm tạ quyền năng và tình yêu Chúa đến muôn đời.

Lễ Kim Khánh cha cố Phêrô Trần-Minh-Tân, nhà thờ Hiếu Thuận (Kênh H), ngày 02-06-1993

 

Bùi-Tuần 0379: ĐẤNG AN ỦI 30-5-1993


Thánh lễ cầu nguyện cho bệnh nhân- dịp lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống Chánh Toà Long Xuyên
 

Hồi nãy, tôi mở sách lễ ra, tôi đọc bài lễ hôm nay (Chúa nhật lễ Chúa: 30-5-1993 Bùi-Tuần 379


Hồi nãy, tôi mở sách lễ ra, tôi đọc bài lễ hôm nay (Chúa nhật lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống). Trong bài lễ hôm nay có câu này: “Chúa Thánh Linh là Đấng an ủi”. Tôi thấy câu này có một cái gì sống động, liên quan tới tôi, nên tôi vội gấp sách lại và tôi nói với Chúa Thánh Thần rằng: “Lạy Chúa, Hội Thánh gọi Chúa là Đấng an ủi. Con, giáo dân của con, nhất là những người đang đau khổ do bệnh tật, do cô đơn, do túng nghèo, đang cần được Chúa an ủi. Xin Chúa đến an ủi chúng con”.

Tôi cầu nguyện như vậy với tất cả lòng chân thành đơn sơ. Rồi tự nhiên tôi thắc mắc, không biết Chúa sẽ an ủi tôi và an ủi những người đau khổ của tôi thế nào đây?

Đang khi tôi phân vân như vậy, thì Chúa đem trí khôn tôi nghĩ tới thánh lễ hôm nay. Tôi nghĩ tới từng con người già cả đau bệnh, hoặc là có mặt trong nhà thờ này, hoặc là đang ở nhà theo dõi thánh lễ này. Rồi tôi nghe Chúa nói trong lòng tôi rằng: Con hãy xem những người đau khổ đang được ủi an thế nào do thánh lễ, do cộng đoàn của con hôm nay! Và con hãy xem, chính cộng đoàn của con hôm nay cũng sẽ được an ủi do sự hiện diện của những người đau yếu, những người già cả.

Thực sự, bây giờ đây, tôi đang nhìn thấy những an ủi ấy. Những an ủi ấy rất là lớn lao và tôi biết những an ủi ấy được ban cho tôi, cho anh chị em qua những người đau yếu, những người già cả. Tôi thấy đây chính là những người tích cực tham dự thánh lễ, và là những người dâng lễ một cách thực tế nhất.

Chúng ta nhìn lên Chúa Kitô chịu đóng đinh trên Thánh Giá kia. Ngài dâng lễ. Ngài không nói gì. Ngài không làm gì. Bởi vì tay Ngài, chân Ngài bị đóng đinh vào Thánh Giá. Ngài chỉ dâng đau khổ và tình yêu làm của lễ.

Cũng vậy, tôi thấy những vị già cả, những người đau bệnh không nói gì. Tay chân họ, bản thân họ như bị đóng đinh vào tuổi già, như bị đóng đinh vào đau bệnh. Nhưng, họ chính là những người đang dâng lễ. Họ chính là những người giống Chúa Kitô, đang dâng chính bản thân mình, đau khổ của mình, mạng sống của mình, và nhất là tình yêu của mình.

Thánh lễ của hy sinh, của tình yêu ấy mới là thánh lễ cứu độ. Cứu độ cho chính mình, cứu độ cho gia đình mình, và cứu độ cho Hội Thánh, cho quê hương của mình.

Nhiều khi tôi làm lễ, nhìn thấy những lễ nghi rất đẹp, nhìn thấy những sắc áo rất đẹp, nhưng tôi tự nhủ: Nếu chỉ có thế mà thôi, thì chưa phải thánh lễ.

Thánh lễ chính là những người đang dâng tình yêu và hy sinh làm của lễ, hợp với của lễ Đức Kitô. Chính vì nhận thấy điều ấy nơi anh chị em có mặt hôm nay và đang ở tại gia đình mình, tôi mới thấy tôi được an ủi rất nhiều và họ đạo chúng ta cũng đang được an ủi rất nhiều, do những người dâng lễ cùng với Đức Kitô một cách thiết thực và tích cực như vậy.

Rồi tôi cũng thấy một an ủi khác do Chúa Thánh Thần ban cho tôi và ban cho anh chị em, đó là chúng ta có một cái gì để sống cho nhau. Đây là một ân huệ. Đây là một cơ may. Người già sống cho người trẻ. Người trẻ sống cho người già. Người khoẻ sống cho người đau. Người đau sống cho người khoẻ. Chúng ta cầu chúc cho nhau bằng lời cầu nguyện, bằng gương sáng, bằng những thứ tha, bằng những lời nguyện.

Trong đời ta có những bài ca không thể hát một mình, mà phải hát chung với những người khác.

Trước lễ, tôi thấy các em dâng hoa rất hay, rất đẹp. Tôi có cảm tưởng rằng: Chúa rất bằng lòng với những em ấy. Nhưng tôi cũng nghĩ rằng sẽ còn rất thiếu, nếu bên cạnh những bông hoa sống động ấy không có những trái, những cây, những rễ. Đó là những bậc làm cha, làm mẹ, những người già yếu đã làm nên những bông hoa sống động hôm nay. Bổ túc cho nhau, sống cho nhau, làm ích cho nhau, đó là ân huệ và ủi an Chúa ban cho chúng ta, dù chúng ta hay những người thân chúng ta có đau yếu hay là khoẻ mạnh.

Anh chị em thân mến,

Khi tôi nhìn những người đau yếu, những người già cả, tôi có cảm tưởng là họ là những người tiên tri. Họ đang báo trước cho tôi biết con đường tôi phải đi qua để đón Chúa, để vào Nước Trời. Sớm muộn, tất cả đều phải đi qua những con đường tương tự như vậy, để gặp được Đức Kitô sống lại.

Vì thế, các người già cả, những người đau yếu, chính là những sứ giả Thiên Chúa gửi đến cho chúng ta. Nếu biết nhìn với đức tin, chúng ta sẽ thấy các vị ấy chính là những ân nhân quý giá của chúng ta.

Trên đây chỉ là một số an ủi tượng trưng tôi đưa ra để nói về Chúa Thánh Linh là Đấng an ủi. Ngoài những an ủi đó, Chúa Thánh Linh còn an ủi chúng ta rất nhiều. Tôi không thể nói ra hết ở đây.

Lát nữa, các cha sẽ xức dầu cho các bệnh nhân, chúng ta theo dõi dấu chỉ đó với lòng khiêm tốn, với lòng cầu nguyện, để xin Chúa Thánh Linh, qua dấu chỉ xức dầu, đem lại ơn an ủi cho những người già cả, cho những người đau yếu và cho chính bản thân chúng ta.

Lạy Chúa Thánh Thần, là Đấng an ủi, xin đến và an ủi chúng con. Amen.

Thánh lễ cầu nguyện cho bệnh nhân, dịp lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống tại nhà thờ Chánh Toà Long Xuyên ngày 30-5-1993

 

Bùi-Tuần 0380: SÁM HỐI TRỞ VỀ VỚI THÁNH TÂM 18-06-1993


 Luca 15,3-7

Lễ Thêm Sức và đặt viên đá xây dựng Đất Hứa  (Lễ Thánh Tâm năm C)-
 

Hôm nay, đến với anh chị em, tôi cảm thấy niềm vui của anh chị em: 18-06-1993 Bùi-Tuần 380


Hôm nay, đến với anh chị em, tôi cảm thấy niềm vui của anh chị em đang tràn sang tôi. Tôi nghĩ rằng niềm vui của chúng ta là chính đáng. Bởi vì chúng ta đang sống cho Chúa và sống cho nhau. Trong niềm vui chung này, hồi nãy, có lúc tôi đã nói với Chúa Giêsu rằng: “Lạy Chúa, đối với chúng con, lễ Thêm Sức là một niềm vui lớn, và đối với chúng con, việc đặt viên đá đầu tiên để xây dựng nhà thờ mới cũng là một niềm vui lớn. Còn đối với Chúa thì sao?”.

Tôi không nghe Chúa trả lời tôi, nhưng liền đó, tôi đọc qua bài Phúc Âm lễ Thánh Tâm hôm nay, tôi nhận ra rằng, Chúa đang trả lời tôi qua bài Phúc Âm chúng ta vừa nghe.

Theo nội dung bài Phúc Âm, Chúa cho chúng ta biết: Niềm vui lớn đối với Chúa là thấy chúng ta trở về với Chúa. Chúa cho biết: Một người chăn chiên có 100 con, khi thấy một con đi lạc cũng cảm thấy lòng mình xót xa đau đớn. Ông chạy đi tìm. Và khi tìm thấy con chiên lạc, ông mừng rỡ khôn xiết, ôm con chiên vác lên vai mà về, và mời mọi người cùng vui với mình. Rồi Chúa phán: “Trên trời cũng thế, khi thấy một người ăn năn trở về, thì tất cả Thiên Đàng đều vui mừng, hơn là thấy những người công chính không cần ăn năn sám hối”.

Khi tôi nhận thấy rằng: Niềm vui lớn đối với Chúa là thấy tôi, thấy anh chị em, thấy những người chung quanh sám hối trở về, thì tôi không thể nào không dâng cho Chúa những niềm vui như vậy. Cho nên, trong thánh lễ hôm nay, ngay đầu lễ, tôi đã chân thành và sốt sắng ăn năn sám hối tội lỗi của mình. Và cũng rất chân thành sốt sắng cầu xin cho mình, cầu xin cho tất cả anh chị em, và những người chung quanh được ơn sám hối trở về với Chúa.

Đối với tôi, trở về với Chúa chủ yếu là trở về với Thánh Tâm Chúa Kitô, là trở về với tình yêu trọn vẹn và tuyệt đối nơi tình yêu đầy thương xót của Thiên Chúa. Tôi trở về với Chúa là tôi quay cái nhìn của tôi hướng về Trái Tim Chúa, để tôi nhìn Đấng đang nhìn tôi đầy yêu thương, để tôi nhìn Đấng đang gọi tôi đầy nhân ái. Tôi trở về với Chúa là tôi bỏ khỏi lòng tôi tất cả những gì cản ngăn, để tôi đón nhận Đức Kitô vào trong lòng tôi, vào trong đời tôi. Tôi trở về với Chúa là tôi nhận biết mình chẳng là gì hết, chẳng có gì hết, nhưng tình yêu Thiên Chúa là tất cả cho tôi, là tất cả vì tôi như lời Thánh Kinh đã nói mà chúng ta vừa nghe: “Tình yêu Chúa là thế này: Ngài đã yêu con người chúng ta trước khi chúng ta biết Ngài, đang khi chúng ta còn nằm trong tội lỗi”. Ngài yêu như thế đó. Cho nên trở về với Chúa là trở về với niềm tin tuyệt đối ấy.

Tình yêu Chúa là tất cả, mạnh hơn tội lỗi, mạnh hơn sự yếu đuối, lớn hơn Hội Thánh, lớn hơn tất cả mọi sự. Tình yêu Chúa là lẽ sống cứu độ đời tôi.

Năm rồi, đúng một năm, cũng trong ngày lễ Thánh Tâm Chúa, tôi đến đền thờ Mont-Martre ở Paris bên Pháp để cầu nguyện. Đây là một đền thờ kính Thánh Tâm Chúa, đã được xây dựng để kính nhớ sự Chúa Kitô hiện ra với thánh nữ Magarita à la Coque và mạc khải cho thánh nữ kho tàng tình yêu của trái tim Người.

Đền thờ rất đẹp, nhìn thấy từ xa. Mỗi ngày có cả trăm xe hành hương tuôn đến. Và mỗi giờ đều có những người cầu nguyện trước Mình Thánh. Mặc dầu người ta đi đi lại lại, ra vào tấp nập, thánh đường vẫn giữ được bầu khí thinh lặng. Nó mời gọi tôi trở về với chính mình. Nó mời gọi tôi trở về với Thiên Chúa, lắng nghe Ngài nói tự đáy lòng mình. Hơn nữa, bên cạnh thánh đường ấy có những căn phòng đón những ai muốn ở lại tĩnh tâm. Có những linh mục, tu sĩ sẵn sàng đón nhận giúp đỡ những người tĩnh tâm, tôi cầu nguyện rất nhiều trong đền thờ Thánh Tâm ấy. Và một trong những cảm nghĩ tôi rút ra được từ cuộc hành hương ấy, đó là một đền thờ, nếu biết xây dựng đẹp và khéo sẽ là nơi giúp cho biết bao nhiêu người được ơn trở lại.

Cái cảm nghĩ ấy hôm nay, tôi muốn chia sẻ với anh chị em. Và với cảm nghĩ này, tôi mong muốn nhà thờ mà chúng ta khởi sự hôm nay, cũng sẽ là nơi nhắm vào mục đích giúp cho người ta trở về với Chúa. Và nếu với mục đích ấy, nhà thờ sẽ phải được xây dựng thế nào để có một bầu khí cầu nguyện, một bầu khí gặp gỡ Chúa, một bầu khí lắng nghe ý Chúa, một bầu khí sống tình yêu thương hiệp thông của Trái Tim Chúa.

Đêm rồi, khi tôi thấy trận mưa lớn có vẻ đe dọa cuộc lễ hôm nay, tôi đã nói với Chúa rằng: Giáo dân Đất Hứa ở đây là một dân đã phải thử thách rất nhiều. Cuộc đời của họ là một cuộc hành hương về Đất Hứa đầy thử thách cam go, nhưng họ đã giữ được niềm tin vững vàng vào tình yêu Thiên Chúa. Con xin Chúa giúp họ xây được một nhà thờ biểu tượng cho đức tin ấy, để thế hệ con cháu của họ sau này, nhìn vào nhà thờ này sẽ biết trở lại niềm tin tuyệt đối ở lòng xót thương của Thiên Chúa.

Tôi muốn anh chị em cũng hãy hiệp ý như vậy để cầu nguyện với Chúa hôm nay và tôi nghĩ rằng: Lời cầu ấy của chúng ta sẽ đẹp lòng Chúa. Bởi vì, tôi nói lại: Nhà thờ mà chúng ta khởi sự xây hôm nay sẽ là biểu tượng của đức tin vào tình yêu Thiên Chúa. Và nhờ đó, con em chúng ta nhìn vào mà trở về với niềm tin tình yêu Thiên Chúa bao la.

Tôi cũng nghĩ rằng: Ngoài thánh đường, Chúa còn nhiều cách để giúp chúng ta trở về. Cho nên khi chúng ta cầu nguyện, khi chúng ta xây cất thánh đường mới, chúng ta hãy ngoan ngoãn vâng phục thánh ý Chúa, nếu Chúa gởi đến cho chúng ta những thử thách có thể thấy trước, và những thử thách rất bất ngờ không thấy trước được.
Trong nhận thức ấy, chúng ta hôm nay sốt sắng cầu xin cho chính chúng ta và nhất là cho con em chúng ta để bất cứ trong hoàn cảnh nào, cũng giữ được niềm tin vào lòng thương xót Chúa.

Tôi nghĩ: Đây là hành trang lớn nhất và quan trọng nhất của chuyến đi cuộc đời, dù ở đây, dù ở chỗ khác, dù hoàn cảnh dễ, dù hoàn cảnh khó, nếu con em chúng ta luôn vững tin vào Thánh Tâm Chúa đầy lòng thương xót, thì niềm tin ấy sẽ hướng dẫn con em chúng ta, sẽ cứu rỗi con em chúng ta, sẽ đem lại hạnh phúc cho con em chúng ta.

Trong niềm tin ấy, chúng ta xin Chúa Thánh Thần đến với chúng ta. Amen.

Lễ Thêm Sức và đặt viên đá xây dựng nhà thờ Đất Hứa ngày 18-06-1993

 

Bùi-Tuần 0381: DỌN ĐƯỜNG CHO CHÚA 24-06-93


Lễ thánh Gioan Baotixita, bổn mạng Đức Cha Gioan Baotixita Bùi Tuần Chánh Tòa Long Xuyên –
 

Cách đây đúng một năm, ngày 24-06-1992, tôi đang ở Rôma: 24-06-93 Bùi-Tuần 381


Cách đây đúng một năm, ngày 24-06-1992, tôi đang ở Rôma.

Ngày 24-06 năm rồi, đối với tôi là một ngày không thể nào quên. Bởi vì trong ngày ấy, tôi đã học được nhiều điều tốt lành, giúp tôi biết cách dọn đường cho Chúa theo gương thánh Gioan Baotixita. Hôm nay tôi xin chia sẻ vắn tắt với anh chị em.

Điều tốt lành thứ nhất tôi học được trong ngày ấy, đó là tinh thần cầu nguyện.

Thực vậy, sáng hôm ấy, lễ bổn mạng của tôi, tôi được hân hạnh đồng tế với Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II, tại nhà nguyện riêng của Ngài. Ngài đứng giữa, tôi đứng cạnh Ngài bên tay mặt. Nhìn Ngài cầu nguyện trong thánh lễ, tôi có cảm tưởng Ngài gặp gỡ chính Đức Kitô: Từ kinh Cáo Mình đọc đầu thánh lễ, cho đến phép lành ban cuối lễ, Ngài luôn tỏ mình ra như một vị thượng tế đầy khiêm tốn. Đồng thời cũng tỏ mình ra như một của lễ đầy đớn đau. Hình ảnh Đức Thánh Cha cầu nguyện với tôi trong lễ bổn mạng hôm ấy, gợi cho tôi nhớ hình ảnh thánh Gioan Tiền Hô trong sa mạc: Một mình với Chúa, chỉ Chúa với mình trơ trọi, hoặc hoàn toàn lắng nghe tiếng Chúa, tập trung vào sự đón nhận tâm tình của Chúa.

Sự kiện trên đây nhắc nhở tôi rằng: Dọn đường cho Chúa đến, là phải biết coi trọng sự cầu nguyện, coi sự cầu nguyện như bầu không khí để thở, như ánh sáng để nhìn, như lương thực để nuôi sống mình. Đấy là điều thứ nhất tôi học được trong ngày lễ mừng thánh Gioan năm ngoái.

Điều tốt lành thứ hai tôi học được hôm ấy, đó là tinh thần đối thoại bác ái.

Hôm đó cũng là ngày diễn ra cuộc đàm phán giữa phái đoàn Toà Thánh và phái đoàn nhà nước Việt Nam lần đầu tiên ở Vatican. Tôi có mặt trong ngày ấy.

Một chi tiết đã kéo chú ý của tôi rất nhiều, đó là: Trong thời gian đàm phán, Toà Thánh đã mời phái đoàn Việt Nam đến thăm một số cơ quan từ thiện Công Giáo, và chứng kiến tận mắt những việc lành Hội Thánh đã dành cho kẻ nghèo túng.

Sự kiện trên đây gợi ý cho tôi cách rao giảng Tin Mừng của thượng tế Giacaria, thân phụ thánh Gioan Tiền Hô, mà Phúc Âm hôm nay nhắc tới. Ông rao giảng Tin Mừng, không phải bằng cách đưa ra các lý lẽ, nhưng bằng cách đối thoại viết ra trên giấy sự Chúa đã soi cho mình, và nhất là bằng cách giới thiệu hài nhi Gioan, là một công trình của ân huệ Thiên Chúa cứu độ.

Tôi nghĩ rằng: Kẻ dọn đường cho Đức Kitô trong thế giới hôm nay, cũng phải có tinh thần đối thoại, nhất là bằng cách giới thiệu những việc bác ái cụ thể, để thuyết phục, để chia sẻ, để giúp cho mọi người nhận ra Tin Mừng cứu độ. Đấy cũng là một bài học mà tôi thiết tưởng rất cần cho tôi trong cương vị dọn đường cho Chúa đến.

Điều tốt lành thứ ba tôi học được trong ngày hôm ấy, đó là: Tinh thần khiêm tốn thượng võ.

Theo chương trình đã dự định trước, tôi sẽ bỏ Rôma để về Paris ngay chiều 24.06. Chuyến bay dự báo khởi sự từ 4 giờ chiều. Nhưng gần đến giờ bay xảy ra một sự cố tại sân bay, thông báo khẩn cấp báo rằng: Chuyến bay Paris bị hoãn lại đến 7 giờ tối. Đó là một sự rủi ro bất ngờ, làm xáo trộn tất cả các chương trình của tôi tại Paris. Hơn thế nữa, gần đến giờ bay 7 giờ, lại một thông báo khẩn cấp báo lên, chuyến bay về Paris sẽ hoãn lại tới 9 giờ đêm, tôi lại cảm thấy bơ vơ. Khi máy bay của tôi tới Paris, thì đã gần nửa đêm. Các phòng đợi vắng lặng. Những người đến đón tôi đã trở về hết. Tôi lại quên số điện thoại nhà tôi trọ. Tôi đành gọi một xe nhỏ, anh tài xế lại không biết đường đi. Phố tôi trọ là một phố nhỏ chưa in trên bản đồ thành phố Paris. Nhưng biết làm sao? Đành phải mạo hiểm. Một mình trong xe, với một người tài xế lạ lẫm, trên một quãng đường dài trên 60 cây số, để tìm căn nhà mình muốn tới.

Trong chuyến đi đêm ấy, trên máy bay cũng như trên xe, tôi cảm thấy rất bơ vơ, rất cô đơn, rất yếu đuối, rất bất lực, rất bé nhỏ. Và sự kiện ấy gợi lại cho tôi nhớ tới lời thánh Phaolô nói trong bài Thánh Thư hôm nay về Gioan rằng: Cuối chuyến đi của Ngài, Gioan chủ trương mình phải bé nhỏ lại để Đức Kitô lớn lên. Và tôi suy nghĩ rằng: Kẻ dọn đường cho Đức Kitô cũng phải luôn luôn sẵn sàng đón nhận sự Chúa thanh luyện mình bằng sự cô đơn, bằng những thánh giá, bằng những rủi ro, bằng những yếu đuối.

Nhưng chính trong thời gian thanh luyện ấy, tinh thần phó thác và khiêm tốn sẽ được phát triển nhiều hơn.

Anh chị em thân mến.

Sở dĩ hôm nay tôi chia sẻ những điều tôi đã học ngày 24-6 năm rồi tại Vatican, là vì tôi nghĩ rằng: Tất cả anh chị em đều là Gioan Baotixita, có bổn phận dọn đường cho Chúa đến. Gioan là những cá nhân, Gioan là những cộng đoàn, những tập thể.

Chúng ta dọn đường cho Chúa, nhưng thực ra, chính Chúa dọn đường cho chính chúng ta, như chúng ta đã thấy Chúa dọn đường cho Gioan Baotixita, và như kinh nghiệm tôi vừa kể với anh chị em: Chính Chúa dọn đường cho tôi.

Vì thế, bổn phận của chúng ta là hãy biết đi vào đúng con đường Chúa chọn cho mình. Chúa đang đưa chúng ta vào con đường cầu nguyện, Chúa đang đưa chúng ta vào con đường khiêm tốn, cậy trông, phó thác. Chúng ta đi vào đó là chúng ta dọn đường cho Chúa, và chúng ta sẽ gặp được Đức Kitô là Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa tội cho ta, Đấng đền tội cho ta, Đấng tha tội cho ta. Amen.

Lễ thánh Gioan Baotixita, bổn mạng Đức Cha Gioan Baotixita Bùi Tuần tại nhà thờ Chánh Tòa Long Xuyên, ngày 24-06-93

 

Bùi-Tuần 0382: SỰ HẤP DẪN NƠI ĐỨC KITÔ 07-07-1993


 Matthêu 10,1-7

Lễ Thêm Sức  Rạch Giá
 

Bài Phúc Âm hôm nay cho chúng ta thấy tình cảm dân chúng dành cho: 07-07-1993 Bùi-Tuần 382


Bài Phúc Âm hôm nay cho chúng ta thấy tình cảm dân chúng dành cho Đức Kitô rất lớn lao, rất mạnh mẽ, rất lạ lùng: Nghe Đức Kitô giảng ở đâu, quần chúng lũ lượt tuôn đến đó. Tình cảm này phải có nguyên nhân. Nguyên nhân nào? Tôi thử tìm hiểu xem, và tôi thấy một số nguyên nhân như sau:

Nguyên nhân thứ nhất đã lôi cuốn quần chúng đến với Đức Kitô, đó là vì dân chúng nhận thấy Ngài có khả năng khám phá được thế giới bí ẩn của nội tâm từng người.
Thế giới bí ẩn của nội tâm, đó là những khát vọng thầm kín, những ý tưởng câm lặng, những nhân đức ẩn sâu, những tính mê nết xấu được che đậy. Thiên hạ bề ngoài không thấy, nhưng Đức Kitô có khả năng thấu suốt tất cả.

Chẳng hạn như trong bài Phúc Âm hôm nay cho thấy: Giới luật sĩ tư tế, là loại người được thiên hạ cho là đạo đức lắm, và họ cũng tự nhận mình là rất đạo đức. Bề ngoài thì vậy đấy. Nhưng Đức Kitô thấu suốt từng nội tâm. Ngài cho họ biết, dưới cái vỏ bề ngoài đạo đức ấy là một vực thẳm chứa đầy kiêu căng, tự mãn, ghen tương, hận thù, hẹp hòi, khép kín.

Rồi cũng trong bài Phúc Âm hôm nay, Chúa Giêsu nhìn thấy đám đông, coi như quê mùa, coi như ít học. Bề ngoài là như vậy. Nhưng bề trong sâu thẳm là những tiềm năng tốt, mang sự khiêm tốn, đơn sơ, chân thành, có khả năng đón nhận ơn cứu độ, có khả năng đón nhận ơn tha thứ.

Đức Kitô khám phá thấy những bí ẩn trong nội tâm từng người, để giúp cho từng người biết mình, hầu có thể sám hối, hầu có thể trở về, hầu có thể cải thiện. Chính vì vậy, mà dân chúng hâm mộ, đến với Đức Kitô, Đấng nhìn thấy mọi sự trong tâm hồn mỗi người.

Nguyên do thứ hai khiến dân chúng bị thu hút đến với Đức Kitô, đó là vì họ thấy Đức Kitô có một lòng trắc ẩn hơn người.

Bài Phúc Âm hôm nay cho thấy: Khi Đức Kitô nhìn thấy đám đông như đoàn chiên bơ vơ, Ngài động lòng xót thương. Câu đó vỏn vẹn chỉ có mấy chữ, nhưng gói ghém tất cả cuộc đời Đức Kitô: Sống cho kẻ khác, chết cho kẻ khác. Việc làm của Ngài là việc làm cứu độ đầy trắc ẩn. Trong bài Phúc Âm hôm nay đã tỏ ra: Người đến với những người mù, Người đến với những kẻ phong cùi, Người đến với những kẻ đói khát, Người đến với những kẻ có tội. Đức Kitô là Đấng xóa tội trần gian, là Đấng gánh tội trần gian, là Đấng đền tội cho trần gian. Đó là trái tim đầy trắc ẩn. Và khi quần chúng nhận thấy như vậy thì quần chúng tự nhiên muốn đến với Người, kẻ thương loài người.

Nguyên nhân thứ ba đã lôi cuốn quần chúng đến với Đức Kitô, đó là vì họ cảm thấy Đức Kitô có một kinh nghiệm sâu sắc về Thiên Chúa là Cha.

Trong bài Phúc Âm hôm nay, Chúa nói: Lúa chín đầy đồng, các con hãy cầu xin Cha trên trời sai thợ gặt đến.

Khi nói việc ấy, Đức Kitô ý thức rất rõ: Thợ gặt trong cánh đồng của Ngài là một nhân vật không phải dễ dàng tạo dựng được. Đây là một việc rất khó, nhưng Đức Kitô cũng nhận thức rằng: Bất cứ một cái gì khó, khó đến đâu, đối với Thiên Chúa là Cha giàu lòng thương xót, thì cũng có thể thực hiện được. Khó như Ngôi Hai xuống thế làm người, mà cũng đã thực hiện được do quyền năng của tình yêu xót thương, của Cha trên trời, thì vấn đề sai thợ gặt đến giữa cánh đồng bao la truyền giáo, tuy khó đấy, nhưng với Cha trên trời cũng sẽ thực hiện được, miễn là chúng ta biết cầu nguyện, chúng ta biết tin tưởng, chúng ta biết phó thác.

Anh chị em thân mến,

Trong bài Phúc Âm hôm nay, Chúa ao ước có những thợ gặt đến cánh đồng của Chúa. Tôi nghĩ rằng thợ gặt đây không phải chỉ là chúng tôi: Giám mục, linh mục, mà cũng là các tu sĩ nam nữ, các tín hữu, các người thiện chí. Tất cả chúng ta, dù ở địa vị nào, dù trong tuổi nào, đều được Chúa gọi làm thợ gặt của Chúa.
Chúng ta nhận thức như vậy, để trong lễ hôm nay, chúng ta hãy nghe tiếng Chúa sai chúng ta đi để gặt lúa trong cánh đồng cuộc đời của ta. Chúng ta gặt lúa cho Chúa bằng lòng tin, cậy, phó thác nơi Chúa, bằng sự chúng ta có Đức Kitô trong lòng.

Lúc nãy, khi mất điện, tôi nghĩ tưởng đến hình ảnh một tâm hồn không có Đức Kitô, sống trong tối tăm, nên lời của mình nói ra, không vọng tới được linh hồn kẻ khác.

Còn trái lại, khi có Đức Kitô trong tâm hồn mình, thì mình trở nên ánh sáng, trở nên tiếng Phúc Âm và có tiếng vọng nơi các linh hồn.

Anh chị em có Đức Kitô. Hãy làm cho Đức Kitô sống động trong tâm hồn mình, để rồi, dù đi đâu, dù làm gì, dù gặp ai, mỗi người chúng ta sẽ là thợ gặt của Đức Kitô, được gởi đến cho Việt Nam hôm nay.

Lạy Đức Kitô, xin sai Thánh Thần đến với chúng con, để chúng trở thành những thợ gặt của Chúa. Amen.

Lễ Thêm Sức tại Rạch Giá, ngày 07-07-1993

 

Bùi-Tuần 0383: ƠN ĐÓN NHẬN ĐỨC KITÔ 14-07-1993


Marcô 9,9-13

Lễ Thêm Sức Cồn Phước  CN X TN.A
 

Nghe bài Phúc Âm hôm nay xong, tôi đã nói với Chúa Giêsurằng: 14-07-1993 Bùi-Tuần 383


Nghe bài Phúc Âm hôm nay xong, tôi đã nói với Chúa Giêsu rằng: Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã quả quyết: Chúa là Đấng cứu độ. Chúa đến, không phải cho người thánh thiện công chính, mà cho người tội lỗi yếu hèn. Chúa cũng đã quả quyết: Chúa là thầy thuốc thiêng liêng. Chúa đến không phải cho người lành mạnh, mà cho người đau yếu. Vậy, con chính là người đau yếu thiêng liêng. Con chính là người tội lỗi muôn vàn. Xin Chúa đến với con, để chữa trị con, để cứu độ con.

Tôi nói với Chúa những lời như vậy, với cả tấm lòng chân thành, và với cả niềm tin vào lời Chúa hứa. Tôi trông đợi Chúa đến, tôi khát khao Chúa đến. Và thật sự Chúa đã đến với tôi. Chúa đến một cách thiêng liêng. Và cũng với một cách thiêng liêng, tôi nhìn thấy Chúa đến với tôi. Tôi nhìn thấy Chúa trước mặt tôi. Tôi nhìn thấy Chúa đang nhìn tôi. Tôi nhìn thấy Chúa và nghe tiếng Chúa gọi tên tôi. Tôi cảm thấy Chúa đang chữa trị tôi. Tôi cảm thấy Chúa đang xoá tội cho tôi. Ngài chính là thầy thuốc thiêng liêng. Ngài chính là Đấng cứu độ nhân loại.

Và trong một phút, tôi cảm thấy trong tôi có một sự bình an lạ lùng, một sự bình an sâu thẳm, mà không một ai trên thế gian này có thể ban tặng cho tôi. Tôi cảm thấy rằng, tình yêu Đức Kitô lớn hơn tội lỗi của tôi, mạnh hơn mọi thế lực hoả ngục. Ngài chính là Đấng cứu độ.

Kinh nghiệm trên đây cho tôi thấy rằng: Nếu trong đời tôi, nếu có một ơn gì tôi phải cần cầu xin nhiều nhất cho tôi, thì ơn đó, phải là ơn gặp được Đức Kitô, là ơn biết đón nhận Đức Kitô vào đời sống của tôi, vào trong con người của tôi. Chính kinh nghiệm bản thân này, lại gợi ý cho tôi thấy rằng: Một lời nguyện cầu tốt nhất tôi dâng lên Chúa cho ai, đó là nguyện cầu cho họ gặp được Đức Kitô, và đón nhận Ngài vào trong lòng mình. Và lời chúc tốt nhất, tôi sẽ gửi đến cho mọi người tôi thương, đó là: Họ gặp được Đức Kitô, và biết đón nhận Đức Kitô vào đời sống của mình.

Chính vì thế, khi đến với anh chị em hôm nay, tôi cũng nguyện cầu với Chúa ơn ấy cho anh chị em, tôi cũng nguyện chúc ơn chúc ấy cho anh chị em là được đón nhận Đức Kitô, là được gặp Đức Kitô.

Trước khi đến đây để gặp gỡ anh chị em, tôi cũng đã phải có những chuẩn bị tâm hồn và sức khoẻ. Cũng vậy, tôi biết, để gặp gỡ tôi và các cha hôm nay, anh chị em cũng đã có những chuẩn bị bên trong, bên ngoài. Phương chi để gặp gỡ Đức Kitô, để đón nhận Đức Kitô vào lòng mình, chúng ta cần phải có những chuẩn bị chu đáo. Chuẩn bị ấy như tôi mới gợi ý, là phải có thái độ khiêm tốn, nhận mình tội lỗi yếu hèn và phải phó thác tuyệt đối nơi lòng thương xót Chúa.

Thái độ ấy, chúng ta có do thiện chí. Nhưng nhờ ơn Chúa Thánh Thần, thái độ chuẩn bị của chúng ta sẽ nên tốt hơn.

Chúa Thánh Thần là Đấng ban ơn khôn ngoan. Theo tôi, ơn khôn ngoan nhất đó là: Nhận ra Đức Kitô, Đấng cứu độ tôi, gặp được Đức Kitô là thầy thuốc thiêng liêng chữa trị linh hồn tôi, là biết đón Ngài với lòng khiêm tốn, cậy trông, phó thác.

Đó là sự khôn ngoan nhất đối với tôi, con người tin vào Đức Kitô.

Chính vì vậy, trong thánh lễ này, tôi xin Chúa Thánh Linh ban cho tôi, cho anh chị em, nhất là cho các trẻ non dạ, có được một ơn khôn ngoan, sâu sắc, mạnh mẽ, bền vững. Ơn khôn ngoan đó, tôi nhắc lại là: Nhận biết Đức Kitô là Đấng cứu độ của mình, đón nhận Đức Kitô vào trong lòng mình, với thái độ khiêm tốn, cậy trông và phó thác.

Tôi biết là anh chị em, nhất là các con em chúng ta hôm nay đã có những chuẩn bị tương đối tốt. Nhưng tôi mong rằng, việc chuẩn bị tốt nhất vẫn phải là thực hiện trong tâm hồn mình. Nhất là trong giờ phút trọng đại bây giờ, Chúng ta phải hết lòng khát khao gặp gỡ Chúa, hết lòng phó thác nơi tình yêu Chúa, và hết lòng khiêm tốn đón nhận Chúa vào lòng mình.

Nếu có những thái độ ấy, tôi tin rằng Đức Kitô sẽ đến với chúng ta, sẽ ở lại với chúng ta, sẽ là Đấng cứu độ chúng ta.

Lạy Chúa Thánh Linh, xin đến với chúng con, để giúp chúng con có ơn khôn ngoan đón nhận Đức Kitô. Amen.

Lễ Thêm Sức tại Cồn Phước, ngày 14-07-1993

 

Bùi-Tuần 0384: ĐỔI MỚI TÂM HỒN 29-07-1993


 Marcô 8,13-31

Lễ Thêm Sức kinh F2
 

Đêm vừa qua, tôi dậy thật sớm để chuẩn bị làm lễ Thêm Sức hôm nay. Tôi chuẩn bị bằng cách đọc: 29-07-1993 Bùi-Tuần 384


Đêm vừa qua, tôi dậy thật sớm để chuẩn bị làm lễ Thêm Sức hôm nay. Tôi chuẩn bị bằng cách đọc bài Phúc Âm mà anh chị em vừa nghe. Tôi đọc đi đọc lại bốn 5 lần. Và sau đó, tôi nói với Đức Kitô trước mặt tôi rằng: “Lạy Chúa, bài Phúc Âm hôm nay nói về sự Chúa báo trước Chúa sẽ chịu muôn vàn cực khổ”.

Thực vậy, Chúa đã chịu cay đắng nhục nhã do các vị Thượng Tế chối từ, kết án. Chúa đã chịu cô đơn, tủi buồn do các đầy tớ ruồng bỏ. Chúa đã chịu đau đớn do bị đánh đòn, hành hạ, đóng đinh trên thập giá. Nhưng Chúa đã chịu tất cả những đau đớn ấy để gánh tội cho nhân loại, để đền tội cho nhân loại, để xoá tội cho nhân loại. Trong nhân loại, có con đây.

Con tin rằng: Công nghiệp của Chúa lớn lao vô cùng, lớn hơn những tội lỗi chúng con. Công nghiệp của Chúa cũng như tình thương cứu độ của Chúa mạnh vô cùng, mạnh hơn tất cả sự yếu đuối chúng con. Vì thế, con xin Chúa hãy giúp cho chúng con, và giúp cho riêng con được tham dự vào sự sống lại của Chúa.

Tôi nói với Chúa một cách rất tự nhiên như vậy. Và dần dần tôi cảm thấy có một cái gì xảy đến trong tôi. Tôi cảm thấy tâm hồn mình nhẹ nhàng hơn trước, sáng sủa hơn trước, bình an hơn trước. Tôi cảm thấy tôi sẵn sàng hơn để từ bỏ mình, để vác thánh giá mình mà theo Đức Kitô. Tôi cảm thấy có một sự gì đang chuyển biến trong tâm hồn tôi, có một cái gì đang đổi mới trong tôi, một cách nhẹ nhàng nhưng sâu sắc. Sự đổi mới này không đến với tôi từ việc đọc Kinh Thánh để mà nghiên cứu, để mà học hỏi, nhưng đến từ việc đọc Kinh Thánh để mà cầu nguyện, một việc cầu nguyện do tin vào lời Chúa, một sự cầu nguyện dựa trên lời Chúa, một sự cầu nguyện phó thác nơi Đức Kitô, một sự cầu nguyện chính là gặp gỡ Đức Kitô. Và trong lúc ấy, tôi hiểu thắm thía lời Chúa dạy: “Cha là cây nho, chúng con là cành”. Khi cành kết hợp với cây thì cành sẽ cảm thấy một sự sống chung, một thao thức chung, một nhiệt tình chung với thân cây.

Qua kinh nghiệm bản thân trên đây, tôi càng xác tín điều này là Đấng có khả năng đổi mới tâm hồn chúng ta, Đấng có khả năng làm cho người ta trở lại đàng lành, Đấng ấy là Đức Kitô. Ngài biến đổi con người một cách nhẹ nhàng, nhưng sâu sắc từ bên trong, do các ơn thánh của Ngài tác động. Mà muốn được như vậy, cần phải đến với Ngài, cần phải cầu nguyện với Ngài, cần phải tin vào lời Ngài, cần phải hiệp thông với công nghiệp của Ngài.

Tôi chia sẻ kinh nghiệm của tôi như vậy là để nhấn mạnh điều này với anh chị em, đó là hãy quan tâm đến sự đổi mới tâm hồn. Điều quan trọng mà chúng ta mong muốn hôm nay đó là muốn cho lòng mình được đổi mới, muốn cho gia đình mình được đổi mới, muốn cho thân thuộc mình được đổi mới, muốn cho họ đạo và Hội Thánh được đổi mới, đổi mới từ bên trong tâm hồn.

Lúc nãy, ca đoàn hát: “Đổi mới mặt địa cầu”. Tôi nghĩ: Đó chỉ là một hình ảnh, còn sự đổi mới mà chúng ta cần phải chăm chú, đó là đổi mới chính tâm hồn mình, làm cho tâm hồn của mình nên bác ái hơn, nên công bằng hơn, có tinh thần khiêm tốn hơn, biết đón nhận lời Chúa hơn, biết yêu thương mọi người như chính mình hơn. Đổi mới tâm hồn, đó mới là điều mà chúng ta nhắm trong thánh lễ hôm nay.

Nhưng, như tôi vừa chia sẻ, Đấng có khả năng đổi mới tâm hồn chúng ta và con em chúng ta chính là Đức Kitô. Và Đức Kitô chỉ làm việc ấy nếu chúng ta cộng tác với Ngài bằng sự cầu nguyện.

Nói như vậy thực dễ, nhưng nhiều khi chúng ta lại không thực hiện.

Chúng ta không thực hiện vì chúng ta quên hai điều này:

Một là chúng ta không để ý đến việc đổi mới tâm hồn. Chúng ta dự lễ như là dự một cuộc vui, như là dự một nghi thức mà không nhắm đến mục đích sau cùng là đổi mới tâm hồn.

Hai là chúng ta không cầu nguyện đủ, không cầu nguyện tha thiết, không cầu nguyện từ trong tâm hồn mình. Vì thế, Chúa không đến với ta, ta không gặp được Chúa.

Trong lễ Thêm Sức, chúng ta xin Chúa Thánh Thần đến với chúng ta để giúp cho chúng ta biết cầu nguyện và để giúp cho chúng ta gặp được Đức Kitô.

Lúc này, nhìn thấy anh chị em đang dự thánh lễ một cách nghiêm trang sốt sắng, tôi coi đó là một thái độ chuẩn bị tốt, để đón Chúa Thánh Thần. Nếu Ngài thấy chúng ta khát mong đón Ngài, để nhờ Ngài giúp chúng ta cầu nguyện, để nhờ Ngài giúp chúng ta gặp được Đức Kitô, để nhờ Ngài giúp chúng ta đổi mới cuộc đời ta, thì tôi tin chắc Ngài sẽ đến với chúng ta, và sẽ ở lại trong lòng ta.

Lạy Chúa Thánh Thần, xin thương đến với chúng con.

Lễ Thêm Sức tại kinh F2 ngày 29-07-1993

 

Bùi-Tuần 0385: ĐIỀU CHÚA PHIỀN TRÁCH 05-08-1993


 Matthêu 16,13-19

Lễ Thêm Sức Ninh Cù (Rivêra)
 

Đọc xong bài Phúc Âm hôm nay, tôi đã hỏiChúa Giêsu rằng: ‘’Lạy: 05-08-1993 Bùi-Tuần 385


Đọc xong bài Phúc Âm hôm nay, tôi đã hỏi Chúa Giêsu rằng: “Lạy Chúa, xưa Chúa đã phiền trách Phêrô vì Ngài chỉ biết những sự thuộc về loài người, mà không hiểu biết những gì thuộc về Thiên Chúa. Nay, Chúa có phiền trách chúng con như vậy không?”.

Tôi hỏi Đức Kitô như vậy, và tôi suy nghĩ. Một lát sau, Chúa Giêsu đã trả lời tôi, bằng cách Ngài soi sáng trong trí khôn tôi lời Ngài phán dạy. Ngài phán dạy tương tự thế này: “Ngày nay, Cha vẫn phiền trách chúng con. Cha phiền trách, bởi vì chúng con không biết những gì thuộc về Thiên Chúa, mà Cha cũng phiền trách chúng con, vì chúng con cũng chẳng hiểu những sự thuộc về loài người. Chúng con còn thiếu sót rất nhiều trong những sự hiểu biết về Thiên Chúa và cũng còn thiếu sót rất nhiều trong sự hiểu biết những điều thuộc về loài người. Vì thế, chúng con thua kém về mặt đạo, chúng con thua kém về mặt đời”.

Những lời Chúa soi sáng trong tâm hồn tôi như vậy đã làm tôi giật mình, sửng sốt. Bởi vì tôi nghĩ rằng: Chúng ta đã qua nhiều lớp giáo lý, chúng ta đã học hỏi nhiều điều trong đạo, nên chúng ta tưởng mình đã hiểu biết khá nhiều về Thiên Chúa.

Rồi chúng ta có học có hành, trường này cấp nọ, đã đọc sách này báo kia, nhất là chúng ta đã có kinh nghiệm về trường đời, nên chúng ta tưởng mình có những hiểu biết về con người.

Thế mà, Chúa bảo chúng ta: Điều về Thiên Chúa cũng chẳng hiểu, mà điều về loài người cũng chẳng rành. Đạo cũng thiếu. Đời cũng thua. Thế có nghĩa là gì?

Tôi suy nghĩ và tôi thấy lời Chúa phiền trách chúng ta có cơ sở. Bởi vì, thực sự chúng ta có học hỏi về đời, về đạo. Nhưng chúng ta thấy, hoặc là với chính mình, hoặc là nơi những người chung quanh, có những điều căn bản nhất về Thiên Chúa, chẳng hạn: Dung mạo thực của Đức Kitô là gì? Điều răn căn bản nhất của đạo là gì? Cầu nguyện là gì? Mầu nhiệm Thánh Giá là gì? Thì nhiều người trong chúng ta đã không hiểu.

Rồi về loài người, chúng ta cũng đã học hỏi khá nhiều. Nhưng có những điều căn bản nhất cho cuộc sống: Thí dụ, những giá trị về nhân bản, những giá trị về khoa học, những giá trị về văn hoá xã hội, nhiều khi chúng ta còn quá thiếu sót.

Và vì vậy, Chúa khiển trách ta. Và cái đáng buồn cho chúng ta là do thiếu sót trong vấn đề hiểu biết đời đạo, nên chúng ta không thành công trong việc giữ đạo, trong việc truyền giáo, trong việc làm ăn sinh sống.

Trong bài phát biểu của ông đại diện giáo xứ lúc nãy, và qua thực tế trước mắt, tôi nhìn thấy anh chị em đã có nhiều bước tiến trong vấn đề hiểu biết đạo đời. Nhưng, cũng như ông đại diện đã nhận: Những bước tiến đó còn là rất khiêm tốn! Chúng ta còn cần phải cố gắng thêm nữa trong việc học hỏi, trong việc nâng cao trình độ văn hoá trí thức, trong việc học hỏi thánh ý Chúa, những gì là ý Chúa.

ở đây, tôi cũng muốn nhấn mạnh với anh chị em điều này: Không phải chúng ta cứ thuộc lòng giáo lý là chúng ta hiểu biết về Chúa. Có những điều chúng ta chỉ hiểu biết được về Chúa, khi chúng ta cầu nguyện, khi chúng ta suy gẫm lời Chúa, nhất là khi chúng ta sống lời Chúa, khi chúng ta gặp gỡ Đức Kitô. Có những điều Chúa chỉ mạc khải cho chúng ta khi chúng ta kết hợp với Ngài trong sự thinh lặng nội tâm, khi chúng ta làm việc bác ái thứ tha, khi chúng ta quảng đại phục vụ kẻ khác.

Tôi nhìn thấy tương lai của Đất Nước, của Hội Thánh, của xứ đạo chúng ta. Tương lai đó, có rất nhiều thử thách, có rất nhiều phức tạp, có rất nhiều cám dỗ, có rất nhiều cạnh tranh. Nếu hôm nay, chúng ta không chuẩn bị cho con em chúng ta có những hiểu biết về những gì là đẹp, là đúng, là hay, là tốt thuộc về Thiên Chúa, thuộc về con người, thì tôi sợ ít năm nữa con em chúng ta không đủ khả năng để bơi lội trong nền văn minh sắp tới.

Tôi thấy nhiều nơi, thanh niên, thiếu nữ đã bắt đầu rục rịch bỏ vùng quê để đi thành phố. Tôi nghĩ rằng: Ít năm nữa, số thanh niên thiếu nữ bỏ quê lên tỉnh sẽ tăng lên. Nếu chúng ta, ngay bây giờ, không tổ chức giáo đoàn của mình có những cái đẹp, có những cái hay, có những cái tốt, để thu hút giới trẻ, con em chúng ta, gắn bó với gia đình, gắn bó với họ đạo!

Tôi xin Chúa Thánh Linh hôm nay đến với chúng ta, giúp cho chúng ta biết nhìn về tương lai đang tới với một cái nhìn băn khoăn, với một cái nhìn khám phá, để hiểu biết những gì thuộc về Thiên Chúa, nhất là những gì Chúa muốn cho chúng ta làm hôm nay, để sáng danh Người, để chúng ta biết những gì thuộc về loài người đang tới, với những khó khăn của nó, với những đấu tranh của nó, với những khắc khoải của nó, để chúng ta và con em chúng ta, biết đi vào xã hội mới văn minh đa dạng, với một niềm tự hào của đức tin người Công Giáo, đã được chuẩn bị, đã được sẵn sàng, nhờ biết học hỏi, nhờ biết cố gắng, nhất là biết trong nhờ vào Chúa Thánh Linh.

Lạy Chúa Thánh Linh, xin đến với chúng con, xin dạy dỗ chúng con, xin hướng dẫn chúng con, và nhất là xin biến đổi chúng con nên những người có tinh thần tiên tri của Đức Kitô, đi vào thế hệ Việt Nam đang đến với chúng con.

Lễ Thêm Sức tại Ninh Cù (Rivêra) ngày 05-08-1993

 

Bùi-Tuần 0386: TRÁI TIM ĐỨC KITÔ 06-08-1993


 Matthêu 14,13-21

Lễ Thêm Sức Thánh Tâm (Kinh B2),
 

Bài Phúc âm hôm nay có thể coi như làmột bức tranh thời sự vẽ lại: 06-08-1993 Bùi-Tuần 386


Bài Phúc Âm hôm nay có thể coi như là một bức tranh thời sự vẽ lại cảnh sống người dân những năm xa xưa, thời Chúa Cứu Thế.

Nhìn bức tranh thời sự đó, tôi thấy có những vùng trời tăm tối và có những vùng đất ảm đạm. Bởi vì có những người nghèo không đủ cơm ăn, có những người nghèo không đủ áo mặc, có những người nghèo không có nhà ở, có những người nghèo không có thuốc trị bệnh. Cái vùng tối tăm ảm đạm ấy không những bao trùm lên từng lớp cá nhân, mà cũng trùm phủ cả một vùng, một làng, một địa phương, khiến cho cả một thời điểm lịch sử bấy giờ trở nên tăm tối lầm than, khổ sở.

Nhưng giữa cảnh tối tăm ấy, tôi thấy đã xuất hiện một luồng sáng cứu độ. Luồng sáng ấy hấp dẫn con người, lôi cuốn con người, bởi vì luồng sáng ấy đã làm cho những người nghèo khổ bớt nghèo khổ, những người thất vọng có hy vọng. Luồng sáng ấy là Đức Kitô.

Như chúng ta vừa nghe: Người đã làm cho 5.000 người nghèo được ăn no. Người đã chữa bệnh cho những người phong cùi. Người đã an ủi những người cô đơn. Đó là bức tranh thời sự nếp sống người dân thời xa xăm.

Còn cảnh sống hôm nay thế nào? Bức tranh thời sự hôm nay có giống xưa hay là khác xưa?

Để tìm trả lời, tôi đọc báo chí, tôi xem truyền hình, tôi nghe đài phát thanh, nhất là tôi nhìn thực tế trước mắt ở chung quanh, tôi thấy: Cảnh sống người dân hôm nay cũng chẳng khác gì lắm cảnh sống người dân thời Chúa Cứu Thế: Vẫn còn nhiều người đói khổ, vẫn còn nhiều người lạc hậu dốt nát, vẫn còn nhiều người bệnh tật, vẫn còn nhiều người không có nhà ở, vẫn còn bao người cô đơn, khổ cực, thất vọng. Và cảnh tăm tối này, cũng như xưa, vẫn bao trùm nhiều cá nhân, trùm phủ cả một vùng.

Nhưng một câu hỏi đặt ra cho tôi lúc này, đó là: Hồi xưa, trong cảnh tối tăm, đã xuất hiện Đức Kitô là luồng sáng cứu độ, còn hôm nay, trong cảnh ảm đạm cuộc sống, Hội Thánh Đức Kitô có xuất hiện một luồng sáng cứu độ không?

Để trả lời, tôi nhìn đó đây xa gần, và tôi thấy trong nhiều địa phương, nhiều Hội Thánh địa phương, nhiều họ đạo trong một vùng, cũng đã thấy xuất hiện những luồng sáng cứu độ. Bởi vì tại những nơi ấy, có những linh mục, có những tu sĩ, có những giáo dân giàu tình thương xót như Đức Kitô xưa, khi nhìn đám đông đã xót thương họ, và đã có những người không những có tâm tình xót thương đối với kẻ nghèo, kẻ bất hạnh, mà còn có những thái độ bác ái, và có những hoạt động từ thiện dành cho những người xung quanh.

Tôi thấy rằng: Một Hội Thánh địa phương, một giáo xứ, khi thấy xuất hiện những trái tim đầy tình bác ái như Đức Kitô, thì đó là một hình ảnh đẹp nhất, và thích hợp nhất, để tuyên xưng đức tin, để làm sáng danh Chúa.

Hồi nãy, tôi nghe em bé đọc bài Sách Thánh. Khi tới câu: “Ngài sẽ lấy sự hiền lành mà xét xử những người nghèo khó”, thì tôi nghĩ rằng: Nếu hôm nay Chúa Thánh Linh đến với chúng ta, thì xin Người cũng giúp cho chúng ta có được tinh thần hiền lành, để biết nhìn những người nghèo túng, những người khổ đau, những người cô đơn một cách hiền lành, bao dung, quảng đại.

Khi hát bài đáp ca, các trẻ em đã hát: “Chúa sai tôi đi đến với những người nghèo khó”. Đúng như vậy. Chúa đã không sai tôi đến với những người giàu có, mà Chúa sai tôi đến với những người nghèo khó. Các con vừa hát. Các con hãy nhớ lại. Hãy nhớ mãi câu ấy trong suốt cả đời các con, để nhận định rằng: “Chúa đã sai tôi đến với những người nghèo khó, để cứu giúp, để chia sẻ, để nâng đỡ, để ủi an”. Đó là tinh thần của Chúa Thánh Linh.

Khi tới giáo xứ này, tôi thấy cha xứ có lòng mộ mến trái tim Đức Kitô, và có lòng mộ mến trái tim vẹn sạch Đức Mẹ. Tôi rất mừng, và nghĩ rằng: Giáo dân xứ này cũng hãy bắt chước cha xứ, để mà bắt chước Đức Kitô có một trái tim thương xót, bắt chước Đức Mẹ có một trái tim tế nhị đối với những người đau khổ.

Tôi mong rằng: Khi anh chị em cầu nguyện, nhất là khi chầu Mình Thánh, hãy nhớ cầu nguyện nhiều hơn cho những người nghèo khổ, hãy nhớ cầu nguyện nhiều hơn cho những người cô đơn, vì đây là điều Chúa muốn nhất. Và không những cầu nguyện cho họ, mà còn thực thi bằng thái độ, bằng việc làm bên ngoài dành cho họ.

Trong lễ Thêm Sức hôm nay, tôi xin anh chị em, nhớ những gợi ý của Phúc Âm, hãy nài xin Chúa Thánh Thần đốt trong lòng ta lửa tình mến Chúa, được diễn tả bằng tình bác ái đối với nhau, và nhất là đối với kẻ nghèo túng về mọi mặt, tinh thần, vật chất, văn hóa, xã hội, tình thương.

Lạy Chúa Thánh Linh, xin đến với chúng con, xin biến đổi trái tim chúng con nên giống trái tim Đức Kitô giàu tình thương xót. Amen.

Lễ Thêm Sức tại giáo xứ Thánh Tâm (Kinh B2), ngày 06-08-1993

 

Bùi-Tuần 0387: ƠN ĐỨC TIN 07-08-1993


 Matthêu 17,14-19

Lễ Tạ Ơn Thánh Tâm (Kinh B2),
 

Trong bài Phúc Âm hôm nay, tôi thấy vấn đề đức tin đã được đặt ra ngay: 07-08-1993 Bùi-Tuần 387


Trong bài Phúc Âm hôm nay, tôi thấy vấn đề đức tin đã được đặt ra ngay trong thời Chúa Cứu Thế. Có những người đã được Đức Kitô khen là có đức tin mạnh, và có những người đã bị Đức Kitô phiền trách là có đức tin yếu. Trường hợp những người mà bài Phúc Âm hôm nay đề cập tới, là trường hợp những người bị Chúa chê trách. Chúa chê trách họ nặng lời. Chúa chê trách họ, vì họ yếu đức tin. Chúa nói rằng họ ở với Chúa đã lâu năm rồi mà đức tin vẫn còn yếu quá.

Nhìn họ, rồi tôi nhìn tôi và nhìn những người thuộc về tôi. Tôi tự hỏi rằng: Tôi, anh chị em, có thuộc về loại người bị Chúa Giêsu chê trách là yếu đức tin không?

Để có một câu trả lời đúng, tôi hỏi mình, rồi lại hỏi Chúa, và Chúa đã trả lời tôi. Chúa cho tôi biết rằng: Chúng ta, nhiều khi đã thuộc về loại người yếu đức tin. Người thì yếu nhiều, kẻ thì yếu ít.

Đây là một câu trả lời làm tôi không thể an tâm. Tôi thử tìm xem mình yếu ở điểm nào? Đoàn chiên của mình yếu đức tin ở những chỗ nào?

Tôi xem xét rồi lại hỏi Chúa, thì tôi thấy: Đúng là chúng ta yếu đức tin về nhiều điểm. Trong đó, có một điểm tôi muốn nhấn mạnh ở đây, cũng là điểm Chúa Giêsu muốn tôi nói ở đây hôm nay, đó là: Chúng ta thực sự không tin đúng và không tin đủ và không tin mạnh vào lời Chúa đã phán xưa: “Ai làm ơn cho kẻ nghèo khó bé nhỏ, thì chính là làm ơn cho chính Ta”, tức là chính Chúa.

Nhiều khi chúng ta vẫn chưa thực sự tin vào lời Chúa về sứ mạng của ta. Sứ mạng của ta là được sai đi cùng với Đức Kitô, rao giảng Tin Mừng cho người nghèo khó. Chúng ta xét lại, thì thấy thực sự chúng ta chưa tin chắc chắn, đúng đắn vào lời Chúa phán trên đây. Đối với tôi, những điều Chúa phán về những liên hệ của Chúa với kẻ nghèo và những liên hệ của chúng ta với những kẻ nghèo, là những chân lý tu đức, là những chân lý thần học, và đối với tôi: Đấy cũng là những chân lý của đức tin.

Hơn nữa, đây là những chân lý đức tin quan trọng, có liên hệ đến phần rỗi. Nó là những chân lý chìa khóa để mở cửa thiên đàng.

Hãy nhớ lại những gì Đức Kitô đã nói về ngày phán xét chung: Cho người đói ăn là cho Đức Kitô ăn, vì thế sẽ được thưởng trên thiên đàng.

Cái nhìn trên đây về những chân lý mà Chúa đã dạy, giúp cho tôi có một cái nhìn mới về các sinh hoạt đạo đức: Chẳng hạn giờ đây, tôi cùng với anh chị em vào nhà thờ cầu nguyện. Tôi nói với Chúa rằng: Con tin chắc mọi ngày Chúa vẫn rao giảng Tin Mừng cho người nghèo khó. Chúng con là những người nghèo khó, hôm nay đến với Chúa, xin Chúa giúp cho chúng con nhận ra Tin Mừng của Chúa hôm nay. Xin Chúa giúp cho chúng con biết đón nhận Tin Mừng của Chúa hôm nay dành cho kẻ nghèo là chúng con đây.

Rồi khi tôi gặp gỡ các cha, anh chị em, tôi thấy chúng ta trao đổi cho nhau tình thương, chia sẻ cho nhau mối huynh đệ. Tôi nói với Chúa rằng: “Lạy Chúa, con tin lời Chúa dạy, sự gì chúng con làm cho nhau, là chúng con làm cho Chúa. Vậy bây giờ đây, chúng con đang trao đổi cho nhau tình thương, hy vọng và niềm vui. Xin Chúa giúp cho chúng con nhìn thấy Chúa trong anh chị em chúng con. Xin giúp cho chúng con gặp được Đức Kitô trong anh chị em chúng con.

Rồi giờ đây, chứng kiến một ngôi nhà thờ tương đối khang trang tốt đẹp, tôi cũng nói với Chúa theo cái nhìn đó: “Lạy Chúa Kitô, con tin Chúa xưa đã sống rất nghèo, đã chết rất nghèo. Ngôi nhà thờ này được dựng lên để thờ phượng một Đức Kitô nghèo, và đồng thời, cũng để phục vụ những anh chị em của Đức Kitô nghèo, giúp cho họ thăng tiến đời sống, giúp cho họ nhận được Tin Mừng của Đức Kitô”.

Như vậy, anh chị em đã thấy: Lễ hôm nay, đối với tôi, không phải đơn thuần chỉ là tạ ơn vì đã hoàn thành một ngôi thánh đường mới, mà là tạ ơn vì ơn đức tin. Tạ ơn Chúa vì đã ban cho chúng ta ơn đức tin. Do đó, chúng ta đã góp phần xây dựng thánh đường này là nhờ ơn đức tin. Nhờ đức tin chúng ta đã vượt qua được bao thử thách trong gần 30 năm trời, để có một ngôi nhà thờ khang trang đẹp đẽ hôm nay.

Tôi có cảm tưởng một số người chúng ta quen nhìn bộ mặt họ đạo, chỉ qua khuôn mặt thánh đường, chỉ qua khuôn mặt linh mục.

Riêng tôi, tôi vẫn đề cao thánh đường và linh mục, nhưng bộ mặt một họ đạo, chính là tinh thần vâng phục thánh ý Chúa, vâng phục lời Chúa. Cho nên không những xây dựng thánh đường vật chất, mà còn cố gắng xây dựng thánh đường thiêng liêng, đó là phát triển con người, dấn thân phục vụ những người chung quanh, đặc biệt là những người nghèo khó.

Bộ mặt của một cộng đoàn đức tin, không phải chỉ là những nghi lễ, mà chính là tinh thần cầu nguyện. Cầu nguyện là gặp gỡ Chúa, cầu nguyện là lắng nghe lời Chúa trong thinh lặng tâm hồn.

Đối với tôi, bộ mặt của một cộng đoàn giáo xứ, đã hẳn là cha sở, nhưng cũng là sự góp mặt và tích cực tham gia của toàn dân Chúa trong họ đạo. Mọi người đều tích cực tham gia, từ trong nhà thờ ca hát đọc kinh, cho đến tham gia tích cực trong những công việc từ thiện xã hội chung quanh.

Tôi mong rằng trong lễ tạ ơn hôm nay, chúng ta nhớ hướng đến ơn đức tin, những gì Chúa đã ban cho chúng ta trong những năm qua và đừng quên xin ơn đức tin, để chúng ta có những hướng sống đức tin trong thời điểm mới. biết tuyên xưng đức tin không phải bằng thánh đường, mà bằng chính con người của ta, được phát triển về nhân bản, về trí thức, về xã hội, về đạo đức tôn giáo. Chúng ta sẽ tuyên xưng đức tin không phải bằng các nghi lễ, mà bằng việc bác ái từ thiện dành cho những người chung quanh, nhất là cho những người bất hạnh.

Hãy tạ ơn Chúa và hãy cầu xin Chúa về ơn đức tin, vì đây là một điều tôi cho là rất quan trọng trong thời buổi đang đến. Thời đang đến sẽ là thời thử thách về đức tin. Nếu chúng ta không có ơn đức tin và không biết sống đúng hướng đức tin, để tuyên xưng đức tin trong một xã hội cạnh tranh thị trường, trong một xã hội đầy phức tạp thử thách, cám dỗ, đức tin của chúng ta sẽ trở thành nguội lạnh trống rỗng, và sẽ không làm gương sáng được cho thế hệ mai sau.

Lạy Chúa, chúng con cảm tạ Chúa vô vàn, vì ơn đức tin đã ban cho chúng con. Và chúng con xin Chúa tiếp tục ban cho chúng con ơn đức tin vững mạnh. Amen.
Lễ Tạ Ơn tại giáo xứ Thánh Tâm (Kinh B2), ngày 07-08-1993

 

Bùi-Tuần 0388: TRỞ VỀ VỚI ĐỨC KITÔ 10-08-1993


 Matthêu 18,1-5.12-14

Lễ Thêm Sức Long Bình (Kinh G2)
 

Đêm vừa qua, tôi thức giấc lúc 1giờ30. Thấy mình đã bớt mệt, tôi nghĩ: 10-08-1993 Bùi-Tuần 388


Đêm vừa qua, tôi thức giấc lúc 1giờ30. Thấy mình đã bớt mệt, tôi nghĩ việc dọn mình làm lễ. Giờ đây trong bầu khí đạo đức và trong tinh thần gia đình, tôi muốn chia sẻ với anh chị em những việc tôi đã dọn mình để làm lễ hôm nay. Tôi nghĩ đây cũng là những việc mà chúng ta, người nhiều người ít, cũng đã làm và cần phải làm.

Tôi chuẩn bị làm lễ bằng cách: Tôi mở sách lễ ra, đọc đi đọc lại bài Phúc Âm hôm nay. Đọc xong, tôi nhìn lên Chúa Kitô, tôi nói với Chúa rằng:

“Lạy Chúa, con tin những lời Chúa phán dạy con trong bài Phúc Âm hôm nay. Con coi những lời Chúa phán là những kho tàng quí giá hơn vàng, hơn bạc, hơn mọi của cải thế gian. Con xin Chúa giúp cho con nhận thấy những lời Chúa phán dạy trong bài Phúc Âm hôm nay chính là Tin Mừng Chúa gởi cho con thực sự hôm nay. Xin Chúa giúp con nhận ra và cảm nghiệm thấy kho tàng lời Chúa hôm nay là một nguồn sức mạnh ban sự sống cho con. Xin Chúa giúp cho con nhận thấy lời Chúa hôm nay là một sức mạnh thiêng liêng đổi mới con người của con và cộng đoàn của con. Đây là lá thư Chúa gởi riêng cho con, cho xứ đạo Long Bình của con”.

Tôi nói với Chúa một cách rất tự nhiên, và tôi cảm thấy Chúa đến với tôi.

Tôi cảm thấy sự đó do tôi nghiệm thấy Chúa giúp tôi cầu nguyện thêm, và bằng sự tôi cảm thấy Chúa giúp tôi đi từng bước trên con đường đón nhận Đức Kitô.

Bước đầu Chúa giúp tôi khao khát thực thi lời Chúa. Bài Phúc Âm dạy: Hãy trở về tinh thần thơ ấu. Hãy trở về với Chúa như con chiên lạc. Tôi coi mình như một cây lớn, khô cứng, cằn cỗi, muốn trở về tinh thần thơ ấu bé nhỏ như một mầm mống tươi xanh. Nhưng không sao được. Mình cổ thụ quá rồi. Mình cứng cỏi quá rồi. Mình cằn cỗi quá rồi. Tôi nhìn thấy rõ sự thực ấy. Rồi tôi coi mình như một con chiên lạc, nằm dưới vực thẳm, muốn lên để gặp Chúa ngự trên cao, nhưng không sao được, bởi vì mình kiệt sức, bởi vì mình không có thể nào ngoi lên được khỏi vực thẳm.

Nhưng bấy giờ, Chúa soi sáng cho tôi nhớ lại lời Chúa phán: “Không có Cha, con không làm gì được”. Và tôi nhớ lại một lời khác trong Phúc Âm: “Đối với Chúa, không có gì là không thể thực hiện được”. Chúa dẫn tôi đến bước phó thác cậy trông. Tôi phó thác hoàn toàn nơi Chúa, bởi vì tôi tin hoàn toàn nơi lời Chúa phán. Chúa đã phán: “Ai trông cậy Ta, sẽ không phải hổ ngươi. Ai tin vào Ta, sẽ được sống lại đời sau, và ngay từ hôm nay, từ đời này”.

Tôi cậy trông hoàn toàn vô điều kiện, không dựa vào công phúc của mình, chỉ dựa vào lòng thương xót và quyền năng của Thiên Chúa. Tôi dựa vào niềm tin ở lời Chúa. Tôi vẫn tin rằng: Cái gì Chúa đã hứa thì Chúa sẽ thực hiện. Lời Chúa là nguồn ban sự sống. Lời Chúa là nguồn đem sự sống lại.

Khi tôi trông cậy Chúa như vậy, tôi cảm thấy được bình an trong tâm hồn: Có một sự gì biến đổi trong tôi. Tôi cảm thấy như mình trút khỏi cái tôi của mình, để hòa tan trong Chúa. Và lúc ấy, tôi cảm nghiệm là đang gặp Đức Kitô. Tôi đang chia sẻ sự sống của Người. Và kinh nghiệm ấy cho tôi hiểu thấm thía điều này: Trở về với Chúa, trở về với tinh thần thơ ấu thiêng liêng không phải là trở về với một lý thuyết, một chương trình, một kế hoạch, mà là trở về với một người, có một trái tim đầy tình thương xót, với một người có tên là Giêsu.

Trở về với Ngài, đón nhận Ngài vào tâm hồn mình, để Ngài biến đổi mình, để Ngài làm chủ đời mình. Đó là trở về. Trở về rất đơn giản như vậy. Tức là đón nhận Ngài. Đón nhận Ngài hoàn toàn cho mình. Sống với Ngài, như lời Chúa phán: “Thầy là cây nho, chúng con là cành, cành cần phải kết hợp với thân cây, để nhựa sống của thân cây tràn vào khắp cành”.

Và cũng từ kinh nghiệm nội tâm đó, tôi nhìn thấy rất rõ điều này: Việc quan trọng nhất trong một thánh lễ tạ ơn, trong một thánh lễ Thêm Sức, đó là cầu nguyện. Bởi vì ngoài sự cầu nguyện ra, chúng ta không gặp được Chúa, ta không đón nhận được Chúa, dù chúng ta chuẩn bị nghi lễ, dù chúng ta tập hát, dù chúng ta trang trí, tất cả đều đẹp đều cần nhưng rất tương đối.

Cầu nguyện mới là việc quan trọng nhất trong một thánh lễ. Bởi vì, cầu nguyện là mở lòng ra, là nhận biết mình bé nhỏ tầm thường yếu đuối, là nhận biết Chúa là Đấng toàn năng, giàu lòng thương xót và chỉ cần thế thôi Chúa sẽ đến vào lòng ta, và chính Ngài sẽ biến đổi lòng ta. Nếu không có sự cầu nguyện và cầu nguyện như tôi vừa nói: Cầu nguyện trên thực trạng hôm nay, lúc này, của chính mình, chứ không dựa ở trên những kinh thuộc sẵn. Mình có sao, nói với Chúa như vậy. Lắng nghe lời Ngài. Đón nhận lời Ngài. Nếu không cầu nguyện như vậy, sẽ không có sự biến đổi tâm hồn. Mà không có sự biến đổi tâm hồn, thì một thánh lễ sẽ không đạt được kết quả mong muốn.

Trên đây là những điều tôi muốn chia sẻ với anh chị em trong thánh lễ hôm nay.

Khi ca đoàn hát về tình yêu: “Yêu người như yêu Chúa”. Tôi thấy đây là một cái lý tưởng đẹp lắm. Và tôi thầm nói với Chúa rằng: Trong bằng này người hát câu đó, có ai thực sự cầu nguyện với Chúa không? Hay chỉ là hát thôi. Và lời Chúa có thấm vào trong tâm hồn mình, để khi ra ngoài đường, về nhà, ra công sở, trường học, mình cũng sẽ yêu người như yêu Chúa, bởi vì Chúa ở trong mình, bởi vì sự sống Chúa ở trong mình. Cái quan trọng là ở chỗ đó.

Rồi lúc nãy, ông đại diện giáo xứ có nói tới những thành quả tích cực và những hy vọng còn mong muốn. Tôi cũng chia sẻ tất cả những ý tưởng đó. Và cái tôi hy vọng, mong muốn nhất cho xứ đạo anh chị em ở đây, là hãy tiếp tục nuôi dưỡng tinh thần cầu nguyện, từ cha cố hồi xưa để lại, và cha sở hiện nay vẫn tiếp tục và tăng trưởng. Tôi nghĩ rằng: Thời buổi chúng ta có nhiều cái phức tạp, nhất là thời buổi đang đợi chờ con em chúng ta. Nó phức tạp hơn trước rất nhiều. Nếu không có sự cầu nguyện, dựa theo lời Chúa, tin vào lời Chúa hướng dẫn, chúng ta khó có thể giữ được một đời sống đức tin cho vững vàng, chúng ta khó có thể sống với lý tưởng yêu thương mà lúc nãy chúng ta đã cùng hát lên.

Tôi mong rằng, trong lễ Thêm Sức hôm nay, chúng ta cầu xin đặc biệt với Chúa Thánh Linh giúp cho chúng ta tăng trưởng tinh thần cầu nguyện: Tinh thần cầu nguyện dựa theo lời Chúa. Tinh thần cầu nguyện có lời Chúa hướng dẫn. Tôi nhấn mạnh điều đó, bởi vì không phải kinh nào cũng hướng dẫn bởi lời Chúa. Phải cầu nguyện theo sự hướng dẫn của lời Chúa, thì chúng ta tin rằng: Với ơn Chúa Thánh Thần, giáo xứ chúng ta sẽ luôn đổi mới, và chính con người của chúng ta cũng sẽ được đổi mới theo thánh ý Chúa. Được như vậy, thì thánh lễ Thêm Sức hôm nay, vừa là một kết quả đẹp, vừa là một hy vọng đẹp cho tất cả chúng ta.
Lạy Chúa Thánh Thần, xin đến với chúng con. Xin giúp chúng con gặp được Đức Kitô. Amen.

Lễ Thêm Sức tại Long Bình (Kinh G2), ngày 10-08-1993

 

Bùi-Tuần 0389: VINH QUANG LỚN NHẤT 14-08-1993


 Luca 11,27-28

Lễ Thêm Sức  Chợ Mới  dịp lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời
 

Trong bài Phúc Âm hôm nay, có một câu lời Chúa đã làm một thước đo: 14-08-1993 Bùi-Tuần 389


Trong bài Phúc Âm hôm nay, có một câu lời Chúa đã làm một thước đo, để giúp tôi đánh giá chính bản thân mình, và đánh giá những người khác. Câu đó là lời Chúa phán: “Những ai nghe lời Thiên Chúa và giữ lời Thiên Chúa thì có phước hơn là kẻ sinh ra Đức Kitô”.

Lời Chúa phán trên đây cho phép tôi nghĩ rằng: Bản thân tôi tuy được coi là một người sinh ra Đức Kitô một cách thiêng liêng trên bàn thờ, nhưng nếu chỉ có thế thôi, thì tôi sẽ bị Chúa đánh giá thấp hơn là bất cứ ai, tuy không sinh ra Đức Kitô một cách thiêng liêng, nhưng biết lắng nghe lời Chúa, và biết tuân giữ lời Chúa.

Lời Chúa phán trên đây cũng cho phép tôi nghĩ rằng: Rất nhiều người trong anh chị em, tuy không có khả năng để học hỏi Kinh Thánh, không có khả năng hiểu mau, hiểu rộng lời Chúa, nhưng cố gắng nghe lời Chúa, đọc câu nào thì để cho câu đó lọt vào tâm hồn mình, thấu vào lương tâm mình và cố gắng thực thi lời Chúa đó, tôi nghĩ, những người như vậy, sẽ được Chúa cho là có phước, và những người như vậy chính là anh chị em mà tôi đang nhìn thấy trước mắt tôi.

Tôi nghĩ rằng: Anh chị em họ đạo Chợ Mới ở đây, là những người có phước, bởi vì anh chị em nghe lời Chúa và tin lời Chúa dạy: “Thầy là cây nho, chúng con là cành”. Anh chị em đã cố gắng tuân giữ lời ấy, đã tin vào lời ấy, bằng cách siêng năng cầu nguyện, chăm chỉ lui tới nhà thờ dự thánh lễ. Vì thế, Chúa đang cho anh chị em được phước lành to lớn. Phước lành to lớn đó là được Chúa thương yêu, không phải một cách bình thường, mà một cách khác thường đặc biệt, ở sự Chúa chăm sóc anh chị em: Về nhân sự, anh chị em tương đối có đầy đủ; về phát triển, anh chị em có những bước tiến về tinh thần, về vật chất.

Rồi tôi cũng thấy anh chị em thuộc họ đạo Chợ Mới nhỏ bé này đúng là được Chúa cho hạnh phước, bởi vì anh chị em đã nghe lời Chúa và tin vào lời Chúa dạy: “Thầy cho chúng con một điều răn mới là chúng con thương yêu nhau”. Anh chị em đã cố gắng thực hiện lời Chúa dạy, bằng cách sống yêu thương nhau, nâng đỡ nhau, thông cảm cho nhau, phục vụ cho nhau, về vật chất, về tinh thần, về lý trí đời sống, về tình cảm yêu thương. Vì thế, Chúa ban hạnh phước cho anh chị em, vì đã tin, đã tuân giữ lời Chúa dạy, bằng cách Chúa ban cho họ đạo anh chị em một bầu khí bình an, bình an trong gia đình, bình an trong xã hội, nhất là bình an trong tâm hồn. Một sự bình an mà Thiên Chúa nói: “Thế gian không ban tặng được”.

Rồi tôi cũng thấy: Anh chị em họ đạo Chợ Mới nhỏ bé này đang được Chúa cho phước lộc lớn, bởi vì anh chị em đã tin vào lời Chúa, đã nghe lời Chúa dạy: “Không phải những ai kêu cầu danh Chúa “Lạy Chúa, lạy Chúa” là được vào Nước Trời, mà chỉ có những ai tuân giữ lời Chúa, theo thánh ý Ngài, thì mới được”. Anh chị em đã tuân giữ lời ấy, bằng cách làm tốt những bổn phận hằng ngày của mình: Bổn phận trong gia đình, bổn phận đối với xã hội, bổn phận đối với Giáo Hội một cách có tinh thần trách nhiệm, có tinh thần liên đới, có sự chân thành, có sự khiêm tốn. Vì thế, Chúa đã thưởng công cho anh chị em, làm cho anh chị em được phước, có uy tín đối với đồng bào chung quanh. Người ta cho anh chị em là những người có thể tin được vì có tinh thần trách nhiệm, có lương tâm khi làm việc với bổn phận của mình.

Rồi tôi cũng đang thấy: Anh chị em là những người có phước, bởi vì anh chị em đã nghe lời Chúa, tin vào lời Chúa dạy: “Ai muốn theo Thầy hãy từ bỏ mình, vác thánh giá mình mà theo Thầy”. Anh chị em đã tuân giữ lời ấy, bằng sự chấp nhận chịu khó, chịu hy sinh, chịu vất vả, để giữ niềm tin, để diễn tả đức ái. Vì thế, Chúa đã thưởng công cho anh chị em, làm cho anh chị em được phước, là làm cho những người chung quanh nhìn thấy anh chị em mà nhìn thấy khuôn mặt của Thiên Chúa cứu độ.

Anh chị em thân mến,

Hãy lắng nghe lời Chúa. Hãy tuân giữ lời Chúa. Tôi biết anh chị em phải cơ cực để kiếm ăn, để kiếm sống, không có nhiều phương tiện, không có nhiều thời giờ để học hỏi nhiều về giáo lý. Nhưng những cái ít oi mà anh chị em cần học từ lời Chúa, phải là một cái gì căn bản nhất, phải là cái gì quan trọng nhất như những lời tôi vừa nhắc ở trên. Hãy để cho những lời đó của Chúa thấm vào lòng mình, tan vào lòng mình và cố gắng thực thi cái ít oi cần thiết đó. Chúa chỉ mong có vậy thôi, và Chúa sẽ thưởng công cho chúng ta.

Trong đầu thánh lễ, khi tôi cầu nguyện lời cầu của Hội Thánh, tôi đã thấy Hội Thánh ca ngợi Đức Mẹ là tôi tớ khiêm nhường. Các lời kinh hôm nay đều ca tụng Đức Mẹ là đầy tớ khiêm nhường. Tôi cũng muốn ca tụng họ đạo anh chị em như vậy. Tôi không ca tụng anh chị em về một vinh quang nào khác ngoài sự khiêm nhường của Đức Mẹ: Họ đạo bé nhỏ. Họ đạo âm thầm. Nhưng chính sự khiêm tốn của họ đạo anh chị em phản ánh sự khiêm nhường của Đức Mẹ, bổn mạng của họ đạo. Đó là một vinh quang lớn nhất, bởi vì chúng ta giống Mẹ của chúng ta: Mẹ chúng ta khiêm tốn. Con cái, là chúng ta, cũng khiêm tốn như Mẹ chúng ta.

Rồi từ khiêm tốn đó, chúng ta xin vâng như Đức Mẹ đã nói suốt đời: “Xin vâng”.

Chúng ta cũng thế thôi: Khiêm nhường. Suốt đời xin vâng: Xin vâng lời Chúa. Xin vâng giữ lời Chúa. Xin đi theo con đường của Chúa.

Tôi mong rằng: Trong thánh lễ hôm nay, chúng ta tha thiết cầu xin Chúa Thánh Thần giúp cho chúng ta được bắt chước Đức Mẹ: Xin vâng một cách khiêm tốn, để vâng phục lời Chúa dạy, lời Chúa hướng dẫn chúng ta. Xin Đức Mẹ là Mẹ của chúng ta: Người Mẹ giống Đức Kitô, giống Thiên Chúa, cũng sẽ làm cho chúng ta, nên giống Mẹ của chúng ta: Xin vâng. Khiêm nhường trong lời Chúa. Amen.

Lễ Thêm Sức tại Chợ Mới, dịp lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời, ngày 14-08-93

 

Bùi-Tuần 0390: HOA TÌNH THƯƠNG 15-08-1993


Luca 1,39-56

Lễ Thêm Sức Thanh Đa (TP.Hồ-Chí-Minh) dịp lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời
 

Giờ đây, tôi xin được phép chia sẻ với anh chị em những gì tôi đã chuẩn: 15-08-1993 Bùi-Tuần 390


Giờ đây, tôi xin được phép chia sẻ với anh chị em những gì tôi đã chuẩn bị tâm hồn để dâng thánh lễ bây giờ. Mong rằng: Những chia sẻ chân thành này cũng sẽ giúp cho anh chị em dọn tâm hồn đón tiếp Chúa.

Thưa anh chị em,

Hôm qua, trên đường từ Long Xuyên đến đây, tôi đã nhìn thấy rất nhiều người, rất nhiều cảnh. Các hình ảnh đó đã qua đi, không để lại gì. Tuy nhiên, có một người tôi chỉ nhìn thấy thoáng qua, nhưng hình ảnh người ấy vẫn cứ ám ảnh hồn tôi, tôi không thể quên được, đó là hình ảnh một người phụ nữ nghèo chân không, một tay ẵm đứa nhỏ sát vào ngực mình, và một tay cầm chiếc nón lá che trên đứa con thơ của mình. Chị ấy đi rất chậm, dưới ánh nắng chang chang, trên con đường lầy lội. Chị ấy ôm đứa con mình như ôm một báu vật.

Tôi không ngờ hình ảnh ấy đã giúp tôi cầu nguyện. Bởi vì đêm rồi, tôi thức dậy thật sớm, để chuẩn bị tâm hồn dâng thánh lễ. Tôi mở Phúc Âm ra, đọc bài anh chị em vừa nghe. Tôi muốn cùng Đức Mẹ tạ ơn Thiên Chúa. Và tự nhiên, hình ảnh người phụ nữ hôm qua hiện ra trước mặt tôi.

Hình ảnh ấy gợi cho tôi nghĩ rằng thân phận tôi cũng bé bỏng, yếu đuối, hèn mọn như một người con thơ trong tay Thiên Chúa là Cha của mình, là Mẹ của mình. Mình chẳng có gì. Mình chẳng là gì. Nhưng Chúa là tất cả cho mình. Và Chúa làm mọi sự cho mình. Thế rồi, những lời tạ ơn của tôi theo tinh thần kinh Magnificat bài Phúc Âm chỉ là những lời nói lên niềm cậy trông phó thác vô điều kiện vào tình thương Thiên Chúa. Lời tạ ơn của tôi trong tinh thần Đức Mẹ hôm nay chỉ là những lời nói lên niềm xác tín tuyệt đối, rằng: “Lạy Chúa, con không thể sống hạnh phúc, nếu không có Chúa ở bên con, nếu không có Chúa ở trong con”.

Khi tôi nói những lời tạ ơn chân thành với Chúa như vậy, tôi có cảm tưởng là Đức Mẹ chia sẻ sang tôi cái nhận thức của Đức Mẹ về tình thương Thiên Chúa. Tôi thấy rằng: Đức Mẹ nhận thức về tình thương Thiên Chúa cũng giống như thánh Phaolô đã nhận thức xưa. Thánh Phaolô nói: “Tình thương Thiên Chúa là thế này: Chúa đã thương tôi, khi tôi còn chìm sâu trong tội lỗi. Chúa đã thương tôi, khi tôi chưa biết Chúa. Chúa đã thương tôi, khi tôi chưa hề nghĩ đến chuyện phải mến Chúa”.

Nhận thức trên đây về tình yêu Chúa đã giúp tôi hiểu thế nào là “Phục vụ trong yêu thương”, một khẩu hiệu mà tôi đang đọc trước mắt tôi, trong nhà thờ này. Tôi hiểu: Tình thương là quan trọng nhất. Tình thương phải đi trước phục vụ. Tình thương phải đi theo phục vụ. Tình thương phải tồn tại sau khi phục vụ chấm dứt.

Sự thực trên đây là một sự thực tôi cảm thấy rất rõ ràng. Chẳng hạn như: Ai cho tôi một món quà, nhưng trong lòng chẳng thương yêu tôi, thì món quà đó đâu có nhiều giá trị. Trái lại, một người yêu thương tôi thiết tha, tuy chẳng có gì để cho tôi, nhưng chính tình thương thiết tha ấy đã là món quà tặng vô giá.

Tôi hiểu rằng: Cái đã làm cho lời kinh Tạ Ơn của Đức Mẹ hôm nay được giá trị chính là tình thương trong trái tim Mẹ. Sắc đẹp tươi thắm của kinh Tạ Ơn hôm nay là do tình thương của Đức Mẹ. Mùi hương thơm của kinh Tạ Ơn hôm nay là tình thương trong lòng Đức Mẹ.

Nhận định trên đây, tôi coi là một Tin Mừng lớn nhất mà Chúa gởi cho tôi hôm nay, để rồi, tôi có một quyết định:

Quyết tâm của tôi hôm nay, không phải là đưa ra một cái gì dốc lòng lớn lao. Chẳng hạn: Con quyết tâm làm chiến sĩ Phúc Âm, mở rộng Nước Trời. Đối với tôi, quyết tâm ấy lớn lao quá! Mà quyết tâm của tôi hôm nay chỉ là nói nhẹ nhàng với Đức Mẹ: “Xin Mẹ chia sẻ sang cho con thêm mãi tình thương của Mẹ, để với tình thương ấy, qua các việc làm nhỏ bé con làm, con sẽ cắm hoa tình thương trên suốt dọc đường đời sống của con. Những hoa tình thương loan báo tình thương Thiên Chúa. Những bông hoa tình thương chỉ lối đi về Nước Trời”.

Đây cũng là lời nguyện tôi dâng lên Chúa cho các em hôm nay: Rước Lễ Lần Đầu, Thêm Sức và Rước lễ Bao Đồng. Và đây cũng là những lời cầu chúc tôi gởi tới tất cả anh chị em họ đạo Thanh Đa. Tôi cầu chúc rằng, tôi nguyện chúc rằng: Mọi người chúng ta hãy thêm tình thương trong trái tim mình. Hãy thêm tình thương trong ánh mắt mình. Hãy thêm tình thương trong nụ cười mình. Hãy thêm tình thương trong tay của mình. Hãy thêm tình thương trong bước đi của mình, để mỗi ngày, chúng ta gieo rắc những bó hoa tình thương. Và chính chúng ta, bản thân chúng ta cũng sẽ là bông hoa tình thương. Và như vậy, tuy âm thầm, chúng ta sẽ làm công việc truyền giáo một các đắc lực và hữu hiệu trong hoàn cảnh hôm nay của đất nước Việt Nam phức tạp và có nhiều khó khăn tế nhị.

Xin Thiên Chúa giúp cho lời cầu nguyện của tôi hôm nay được thành đạt. Nếu hôm nay, cuộc lễ có qua đi và anh chị em chỉ nhớ được câu này là: “Chủ lễ hôm nay mong ước cho mọi người trở thành bông hoa tình thương, và biết cắm hoa tình thương trong suốt mọi ngày, trong mọi nẻo đường cuộc sống”. Nếu nhớ được như vậy, và cố gắng được như vậy, và cầu nguyện với Chúa để được như vậy, thì tôi nghĩ: Cuộc lễ hôm nay sẽ là cuộc lễ có kết quả lớn. Tôi tin rằng: Với thiện chí, Đức Mẹ sẽ cầu bầu cho chúng ta, và chúng ta sẽ thấy: Được lên trời không phải phức tạp lắm, không khó khăn lắm, chỉ cần rất nhiều tình thương trong những phục vụ hằng ngày.

Lạy Chúa Thánh Linh, xin đến với chúng con. Lạy Mẹ Maria, xin hướng dẫn chúng con đi về trời qua “Phục vụ trong yêu thương”. Amen.

Thêm Sức tại Thanh Đa (TP.Hồ-Chí-Minh) dịp lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời ngày 15-08-1993

 

Bùi-Tuần 0391: MẾN CHÚA YÊU NGƯỜI 20-08-1993


Matthêu 22,34-40

Lễ khánh thành nhà thờ  Ông Quít (Năng Gù).
 

Nhiều người, khi nghe hay đọc ten nhà thờ Lộ Đức, có thể hiểu rằng: Lộ: 20-08-1993 Bùi-Tuần 391


Nhiều người, khi nghe hay đọc tên nhà thờ Lộ Đức, có thể hiểu rằng: Lộ là con đường. Đức là đạo đức. Như thế Lộ Đức có thể hiểu là con đường nhắc nhở đạo đức, là con đường kêu mời đạo đức.

Suy nghĩ như vậy hẳn không đúng về mặt nguồn gốc. Bởi vì, Lộ Đức là một danh từ phiên dịch từ “Lourdes”, một địa danh tại Pháp, nơi Đức Mẹ hiện ra.

Tuy nhiên suy nghĩ như trên có thể đúng về mặt nội dung. Bởi vì, nội dung sứ điệp Lộ Đức là nội dung kêu gọi đạo đức.

Thực vậy những điều Đức Mẹ nhắc nhở ở Lộ Đức là những lời kêu mời đạo đức, là sự Đức Mẹ khuyên nhủ người ta trở về con đường đạo đức, trở về với Đức Kitô và trở về với Tin Mừng của Đức Kitô.

Nhưng Tin Mừng của Đức Kitô là gì?

Bài Phúc Âm hôm nay trả lời rất rõ: Tin Mừng của Đức Kitô là: Mến Chúa, yêu người. Mến Chúa, yêu người là cốt lõi Tin Mừng. Mến Chúa, yêu người là vẻ đẹp đạo đức, mến Chúa, yêu người là hương thơm đạo đức.

Tôi nghĩ rằng: Hiểu như vậy là đúng chân lý Phúc Âm. Vì thế, hôm nay lúc này, khi tôi chủ sự lễ Tạ Ơn, tôi nhìn thánh đường Lộ Đức này theo sự hướng dẫn của chân lý Phúc Âm đó. Tôi nhìn thấy động lực đã thúc đẩy việc xây dựng thánh đường mới này phải là một động lực của tinh thần mến Chúa yêu người. Tôi đang nhìn thấy nội dung những gì sẽ giảng dạy trong nhà thờ Lộ Đức này phải là một nội dung hướng về tinh thần mến Chúa yêu người. Tôi đã nhìn thấy bầu khí bao trùm nhà thờ Lộ Đức này phải là một bầu khí tỏa hương thơm tình mến Chúa yêu người. Tôi đang nhìn thấy tất cả những gặp gỡ trong nhà thờ mới này, chung quanh nhà thờ mới này, đều là những gặp gỡ trong tình mến Chúa yêu người. Và tôi cũng đang nhìn thấy những sinh hoạt của nhà thờ mới này đều là những sinh hoạt phục vụ cho lý tưởng mến Chúa yêu người.

Với nhận thức trên đây, tôi thấy rằng: Có một nhà thờ đẹp đẽ khang trang là một điều rất đáng mừng, nhưng cái điều đáng mừng hơn chính là có những người tốt, mang vẻ đẹp Phúc Âm: Mến Chúa yêu người.

Khi tôi nhận thức như vậy, tôi mới hỏi Chúa rằng: Tại đây, trong nhà thờ Lộ Đức này, trong giáo đoàn Lộ Đức này, con có thể thấy được những người tốt đó không? Và Chúa trả lời tôi, cho tôi nhìn thấy số người đạo đức đó:

Tôi nhìn thấy ở đây có những người tốt như bà góa trong Phúc Âm đã được Chúa Giêsu khen ngợi: Bà cho đi một số tiền rất nhỏ, nhưng gói ghém trong số tiền ấy là tất cả trái tim bà, dạt dào tình mến Chúa yêu người.

Tôi đang nhìn thấy ở đây có những người tốt như người Samaritanô, trên đường Giêrusalem đến Giêricô: Ông ta không có đạo Do Thái, nhưng ông ta sống tinh thần tôn giáo của Thiên Chúa, bằng sự ông chăm sóc lo lắng cho những người nghèo túng trong tinh thần bác ái yêu người.

Tôi đang thấy ở đây có những người tốt như những trẻ em mà Đức Kitô đã khen ngợi trong Phúc Âm: Chúng chẳng có tiền để cho, chúng chưa có tay để làm, nhưng chúng đã tặng cộng đoàn chúng ta một sự tươi mát của tâm hồn thanh lặng đơn sơ, do lòng mến Chúa yêu người hồn nhiên mang lại.

Rồi tôi cũng thấy những người tốt như gia đình Lagiarô, Matta, Mađalêna, được Chúa yêu mến kính trọng. Họ nghèo, nghèo tiền của. Nhưng giàu, giàu tình mến Chúa yêu người: Họ không kể một cái gì, không sợ một cái gì, không ngại một việc gì để phục vụ Chúa, để phục vụ Hội Thánh, để phục vụ đồng bào chung quanh.

Cái nhìn trên đây mà tôi đang thấy, giúp cho tôi nhận thức rằng: Vẻ đẹp của một Hội Thánh địa phương không phải chỉ là có một cơ chế vững chắc như một thánh đường kiên cố, mà vẻ đẹp đó là vì Hội Thánh có một sức sống, một sức sống như một giòng sông, chảy tình thương đến tận các tâm hồn, đến mọi nơi, không loại trừ ai, không chê một người nào.

Vẻ đẹp của một Hội Thánh địa phương không hệ tại ở một công trình xây cất vật chất, mà ở công trình xây cất tinh thần phục vụ, xây cất những liên đới có tính cách Phúc Âm, trong họ đạo với nhau, giữa họ đạo với lương dân, giữa họ đạo với những tôn giáo bạn.

Chính vì thế, trong lễ tạ ơn hôm nay, tôi cùng với anh chị em vui mừng: Vui mừng, vì có một nhà thờ tốt đẹp. Mà nhất là vui mừng, vì chúng ta có những người tốt.

Trong lễ tạ ơn hôm nay, tôi tạ ơn Chúa không phải chỉ vì xây dựng được cơ sở vật chất này, mà tạ ơn, vì chúng ta đã, đang dấn thân xây dựng những công trình khác, đó là những tinh thần phục vụ mến Chúa yêu người, những dây liên hệ Phúc Âm có tính cách truyền giáo. Chúng ta hãy tạ ơn Chúa hôm nay, lúc này, với trái tim Đức Mẹ: Một trái tim đầy tình mến Chúa yêu người và khiêm tốn. Nếu chúng ta có tâm tình của Đức Mẹ để tạ ơn Chúa, thì tôi nghĩ rằng: Hôm nay, mới chỉ là khởi đầu của việc xây cất khác, có tính cách tinh thần mến Chúa yêu người, âm thầm hơn, rộng khắp hơn, và sâu xa hơn.

Nếu đúng được như vậy, thì nhà thờ Lộ Đức này, sẽ là con đường nhân đức dẫn tới nhân đức: Một đạo đức có thực chất: Mến Chúa yêu người. Amen.

Lễ khánh thành nhà thờ kinh Ông Quít (Năng Gù), ngày 20-08-1993

 

Bùi-Tuần 0392: PHỤC VỤ TRONG KHIÊM TỐN 21-08-1993


Matthêu 23,1-12

Lễ Thêm Sức Cần Xây.
 

Chúa nhật vừa qua, trong dịp lễ làm tại thành phố Hồ-Chí-Minh, tôi có: 21-08-1993 Bùi-Tuần 392


Chúa nhật vừa qua, trong dịp lễ làm tại thành phố Hồ-Chí-Minh, tôi có đọc thấy một khẩu hiệu được treo trong nhà thờ. Khẩu hiệu đó là: “Phục vụ trong yêu thương”. Tôi hiểu đây là một khẩu hiệu vạch ra một cách sống đạo đức. Muốn sống đạo đức thì hãy phục vụ nhau trong yêu thương. Muốn sống đạo đức thì hãy hướng về con người, tiến tới con người, phục vụ họ với tâm tình yêu thương chân thành.

Rồi ngày thứ hai, tôi đi Xuân Lộc, tới một phòng khách, tôi đọc thấy một khẩu hiệu khác được ghi một cách trân trọng, khẩu hiệu đó là: “Phục vụ Chúa trong hân hoan”. Tôi cũng hiểu đây là một lý tưởng được chọn lựa. Theo lý tưởng đó, thì muốn sống đạo đức, hãy hướng về Chúa, hãy làm các việc cho Chúa trong tâm tình vui vẻ hân hoan.

Còn hôm nay, muốn có một khẩu hiệu rút ra từ bài Phúc Âm mà chúng ta vừa nghe, thì khẩu hiệu đó sẽ là: “Phục vụ trong khiêm tốn như Đức Kitô”.

Phúc Âm cho chúng ta thấy: Đức Kitô phục vụ con người một cách rất khiêm tốn. Ngài chứng tỏ tinh thần phục vụ ấy bằng thái độ, bằng lời nói, và bằng nhiều việc làm. Chúng ta có thể thấy ngay trước mắt gương phục vụ của Chúa Kitô dành cho chúng ta: Chúng ta hãy nhìn phép Thánh Thể. Tại đây, Đức Kitô phục vụ chúng ta, bằng cách tự nguyện trở nên lương thực cho chúng ta ăn, và bằng một hình thức khiêm tốn, một tấm bánh nhỏ mọn, để ở trong một nhà nguyện nhỏ mọn, trong một Nhà Tạm nhỏ mọn. Đây là một thứ hình thức phục vụ rất khiêm tốn.

Rồi trước mắt chúng ta là tượng Chúa Kitô chịu đóng đinh, là chặng đàng Thánh Giá. Đây cũng là một gương phục vụ của Đức Kitô dành cho chúng ta một cách khiêm tốn. Ngài tự nguyện phó mình chịu chết để chuộc tội cho loài người. Ngài từ bỏ tất cả, kể cả uy tín, danh vọng. Ngài chấp nhận chịu nhục nhã, bằng lòng chịu chết, để cứu loài người, cứu những người đã làm khổ Ngài, cứu những người đã từng hành hạ Ngài. Đúng là phục vụ một cách rất khiêm tốn.

Khi tôi đến đây, nhìn vào họ đạo anh chị em, tôi thấy có nhu cầu phục vụ theo gương Đức Kitô là rất lớn lao, là rất khẩn cấp: Tôi thấy họ đạo anh chị em cần phải được cứu độ, phải cứu anh chị em ra khỏi nếp sống khô khan, ra khỏi đời sống nghèo túng, ra khỏi đời sống dốt nát, ra khỏi đời sống lạc hậu.

Cần phải cứu độ và cần phải cứu độ một cách khẩn cấp. Bởi vì, tất cả bây giờ đều đang nghĩ đến vấn đề vươn lên, bước ra khỏi cảnh lầm than tinh thần, đạo đức, kinh tế, văn hóa.

Khi tôi thấy như vậy và tôi đã hỏi Đức Kitô: Chúng con phải làm gì bây giờ đây, để tham gia vào chương trình cứu độ Chúa dành cho họ đạo Cần Xây. Và Chúa trả lời tôi, bằng cách giúp cho tôi nhìn thấy cái hướng phải phục vụ trong họ đạo chúng ta.

Hướng thứ nhất là: Phải làm mọi cách để chúng ta gặp được Đức Kitô trong lòng chúng ta.

Gặp được Đức Kitô, không phải là đi lễ đọc kinh, đơn thuần như bây giờ, mà là cảm nghiệm được sự Đức Kitô đến tâm hồn chúng ta, ở lại tâm hồn chúng ta, biến đổi tâm hồn chúng ta, để chúng ta cảm thấy sự thực này: Nếu không có Chúa ở trong ta, ta không thể nào sống hạnh phúc được. Phải gặp được Đức Kitô như vậy, đó là điều Đức Kitô mong muốn nhất, khi nghĩ đến sự cứu độ chúng ta.

Với cái hướng này, tôi nhìn anh chị em: Ngay trong cuộc lễ bây giờ, tôi thấy một phần khá lớn chưa chuẩn bị được tâm hồn để đón Đức Kitô, để gặp được Đức Kitô. Thánh lễ cũng sẽ diễn tiến tốt đẹp về mặt nghi thức, về vẻ bề ngoài. Nhưng trong tâm hồn có thực sự chúng ta gặp được Đức Kitô như là một vị khách quí, như là một người yêu, như là tất cả tài sản của chúng ta không? Bởi vì, một khi gặp được Đức Kitô, chúng ta sẽ có một thái độ rất khác khi tham dự thánh lễ, khi chúng ta đối xử với nhau. Đó là hướng thứ nhất: Làm sao gặp được Đức Kitô trong lòng mình, trong đời sống mình.

Hướng thứ hai tôi thấy bây giờ là cần phải làm thế nào để chúng ta, từng cá nhân và cả tập thể họ đạo, có thể đứng lên tự mình đi được, vào xã hội hôm nay một cách hiên ngang, với một nhân bản tốt, với một văn hóa tốt, với một trình độ trí thức tốt, với một mức độ chuyên môn tốt.

Phải làm sao để chúng ta có thể ngẩng đầu lên, bước đi hiên ngang trong đời sống xã hội hôm nay, nhất là mai này. Mà muốn được như vậy, tất nhiên cũng cần phải có sự nâng đỡ của Chúa, sự trợ giúp của bao người, và có thiện chí cố gắng nổ lực của chính chúng ta.

Tôi biết là từ ít lâu nay, các cha cũng đã giúp anh chị em rất nhiều trong hai hướng đó: Hướng gặp được Đức Kitô và hướng đứng lên để đủ khả năng tương đối đi vào cuộc sống xã hội. Kết quả tương đối là tốt. Nhưng đó chỉ là khởi đầu. Chúng ta cần phải tiếp tục, chúng ta cần phải nổ lực hơn. Chúng ta không thể thành công trong một ngày, một tháng, một năm. Cái gì cũng phải có thời gian, nhất là khi chúng ta thiếu thốn tiền bạc, thiếu thốn nhân sự, thiếu thốn hoàn cảnh thuận lợi. Chúng ta càng cần phải biết xoay xở, càng cần phải có sáng tạo, phải biết tận dụng những nguồn lực trong tầm tay mình.

Và ở đây tôi thấy: Về phương diện tìm gặp Đức Kitô, chúng ta có thể làm được mà không cần đến tiền bạc, miễn là chúng ta có một thiện chí, khiêm tốn, năng cầu nguyện, đón nhận lời Chúa, sống lời Chúa, sống tinh thần bác ái yêu thương, thì Chúa sẽ đến với chúng ta, sẽ dạy bảo chúng ta, sẽ ở lại với chúng ta. Và dù chúng ta chưa đủ khả năng để đi vào đời sống xã hội hôm nay một cách hiên ngang, thì ít là, khi có Chúa ở trong lòng mình, chúng ta vẫn có một cái hạnh phúc sâu xa, thầm kín.

Đó là cái điều mà tôi muốn nói với anh chị em hôm nay theo cái khẩu hiệu gương sáng của Đức Kitô phục vụ trong khiêm tốn. Nếu chúng ta sống theo khẩu hiệu đó thì chúng ta, thế nào, cũng có một cái hạnh phúc mặc dầu tương đối, nhưng đó là một thành công lớn, và đó là một Tin Mừng lớn cho chúng ta, cho con em chúng ta.

Xin Chúa Thánh Thần ngự đến với chúng ta, giúp cho chúng ta nhận thức được cái khẩu hiệu Tin Mừng mà Đức Kitô gởi đến cho chúng ta hôm nay “Phục vụ trong khiêm tốn như Đức Kitô”. Amen.

Lễ Thêm Sức tại nhà thờ Cần Xây sáng ngày 21-08-1993

 

Bùi-Tuần 0393: PHỤC VỤ LỚN NHẤT


 Matthêu 23,1-12.

Lễ Thêm Sức Cầu Số Hai.
 

Cách đây không lâu, cha sở anh chị em có ngỏ ý với tôi là muốn làm một: 21-08-1993 Bùi-Tuần 393


Cách đây không lâu, cha sở anh chị em có ngỏ ý với tôi là muốn làm một chiếc cầu tại một xóm vùng sâu gần đây, để giúp cho đồng bào đi lại, phục vụ việc học hành của con em, phục vụ cho việc sinh sống của đồng bào nghèo.

Tôi thấy đây là một ý định tốt, hợp với lời Chúa phán, mà chúng ta vừa nghe qua bài Phúc Âm: Người có quyền thì cần phải phục vụ cộng đoàn hơn mọi người khác. Và ý hướng đó cũng rất hợp với lời tiên tri Isaia, mà anh chị em lúc nãy đã hát trong bài đáp ca: “Chúa sai tôi đi rao giảng Tin Mừng cho người nghèo khó”.

Ý muốn của cha sở đã được thực hiện. Và kết quả hiện nay được ghi nhận là rất tốt về nhiều mặt, nhất là về mặt mục vụ, về mặt xã hội. Nhờ chiếc cầu ấy mà cái mối quan hệ giữa đạo và đời được phát triển tốt đẹp hơn. Tôi có cảm tưởng là nhờ sự chúng ta biết phục vụ người nghèo, thì chúng ta, một Hội Thánh nhỏ bé trong địa phương này, đã có thể bắt những chiếc cầu tâm lý để đi vào lòng người địa phương. Và nhờ chiếc cầu tâm lý ấy đức tin đã đi vào văn hoá địa phương.

Quan sát nền văn hóa địa phương này, tôi thấy: Nền văn hóa địa phương chúng ta đặt nặng vấn đề liên hệ tốt. Liên hệ tốt có nghĩa là sống cho nhau, sống nhờ nhau, sống nâng đỡ nhau, sống đồng hành với nhau, sống chia sẻ cuộc đời vui buồn có nhau.

Khi chúng ta hiểu nền văn hoá địa phương được nói lên bằng những dây liên hệ tốt như vậy, và chúng ta cũng đưa đức tin qua ngôn ngữ nền văn hoá đó, thì đức tin được đồng bào địa phương dễ hiểu hơn, và được đồng bào địa phương chấp nhận như là một yếu tố quan trọng, tham gia vào nền văn hoá địa phương. Đức tin của chúng ta bấy giờ không lẻ loi, không là cái gì đứng ngoài nền văn hoá, mà trái lại, được coi như là một yếu tố cấu thành và tham gia nền văn hoá địa phương.

Đây là điều mà chúng ta cần phải nhớ. Nó là một sự nhân đạo sâu đậm nhất. Nó là một nhân đức tối thiểu nhất, để chúng ta sống đức tin trong một hoàn cảnh mới. Sống đức tin theo Chúa dạy trong bài Phúc Âm hôm nay, không chỉ là đọc kinh, xem lễ, học giáo lý, mà còn là phục vụ người khác trong tinh thần khiêm tốn và bằng những việc làm cụ thể.

Lúc nãy, khi tôi tới đây, có một em nhỏ đến cầm tay tôi, chào tôi, cười với tôi. Tôi thấy em nhỏ đó không có tiền bạc hay bánh trái cho tôi. Em chỉ tặng tôi nụ cười hồn nhiên. Em chỉ tặng tôi cái nhìn chất phác. Và tôi cảm thấy rằng: Chỉ thế thôi, em đã phục vụ cho tôi rất nhiều, em đã làm cho tâm hồn tôi bớt căng thẳng. Tôi trở lại được với đời sống tự nhiên.

Sự kiện tôi vừa kể, giúp cho tôi hiểu rằng: Phục vụ nhau, quan trọng nhất là tấm lòng đơn sơ, chân thành. Không có của cải để cho nhau, không có chức tước chia sẻ cho nhau, nhưng nếu có tâm tình yêu thương tặng cho nhau, thì đó là phục vụ lớn nhất, quí nhất.

Đầu lễ, anh chị em đã hát “Xin Chúa Thánh Linh đổi mới mặt địa cầu”. Khi hát với anh chị em câu đó, tôi thầm nói với Chúa Thánh Linh: Đổi mới mặt địa cầu, đổi mới mặt trái đất đối với con là đổi mới trái tim, là đổi mới các dây liên hệ. Đó là cái nguồn để làm nên hạnh phúc, để làm nên sự đoàn kết, để làm nên sự an bình.

Lúc nãy, ông đại diện giáo xứ có nhắc đến vấn đề xây cất nhà thờ. Tôi cũng nghĩ như vậy. Nhưng khi tôi ngồi đây, dưới cơn mưa, trong một nhà thờ nhỏ bé, tôi nói với Chúa rằng: “Nếu trong hoàn cảnh này, với cảnh thiếu thốn này, con được đồng bào địa phương coi chúng con là những người đang chia sẻ thân phận nghèo túng của họ, thì con xin dâng cảnh túng thiếu này. Bởi vì chấp nhận cảnh túng thiếu, đó cũng là một cách chia sẻ, đó cũng là một cách xây dựng tình liên đới với đồng bào địa phương.

Anh chị em thân mến,

Những tư tưởng trên đây rút ra từ bài Phúc Âm hôm nay, và rút ra từ những thực tế cuộc sống của họ đạo chúng ta, tôi coi là một Tin Mừng lớn mà Chúa gởi cho chúng ta hôm nay, để chúng ta tiến tục sống Tin Mừng ấy. Tin Mừng là xây dựng những liên hệ tốt với người chung quanh, bằng những việc phục vụ nhỏ bé hằng ngày, nhưng đặc biệt là với trái tim chân thành đầy yêu thương, đầy khiêm tốn.

Xin Chúa Thánh Linh đến với chúng ta và xin đổi mới tâm hồn chúng ta, để chúng ta đọc được trọn vẹn ý nghĩa Tin Mừng mà Chúa nhắn gởi chúng ta hôm nay. Amen.

Lễ Thêm Sức tại nhà thờ Cầu Số Hai, trưa ngày 21-08-1993

 

Bùi-Tuần 0394: NÉT DỄ THƯƠNG 21-08-1993


Matthêu 23,1-12

Lễ Thêm Sức  Trái Tim
 

Khi tôi đến nhà thờ này, tôi thấy đây là một nhà thờ nghèo, bên cạnh: 21-08-1993 Bùi-Tuần 394


Khi tôi đến nhà thờ này, tôi thấy đây là một nhà thờ nghèo, bên cạnh một nhà xứ nghèo. Nhưng trong cảnh nghèo này, tôi cảm thấy có một cái gì dễ thương. Dễ thương bởi vì có một sự gần gũi giữa linh mục và giáo dân. Dễ thương bởi vì có một sự giống nhau giữa giáo dân và linh mục ở nếp sống đơn sơ chất phác. Và dễ thương, bởi vì tất cả chúng ta cùng giống nhau trong cái cương vị phục vụ với lòng khiêm tốn. Nét dễ thương này giúp cho tôi hiểu hơn bài Phúc Âm hôm nay.

Theo bài Phúc Âm hôm nay thì Đức Kitô dạy chúng ta hãy biết phục vụ trong khiêm tốn theo gương của Ngài. Ngài nói như vậy, bởi vì chính Ngài đã thực hiện như vậy. Tại đây, tôi nhớ lại cảnh sống của Đức Kitô tại Galilê, tại Bêlem, tại Nagiarét. Đức Kitô sống như mọi người dân, mọi người dân nghèo. Ngài sống giữa những người nghèo. Ngài hòa mình vào đám dân nghèo. Ngài chia sẻ thân phận của người nghèo. Và như vậy, Ngài đã phục vụ con người trong khiêm tốn. Nhưng, không phải chỉ vì sống nghèo, hòa mình vào người nghèo, chia sẻ thân phận người nghèo, đó đã là một bài học mà Chúa đã dạy chúng ta. Bởi vì bài học Chúa dạy chúng ta còn sâu sắc hơn nhiều, đòi hỏi hơn nhiều.

Năm rồi, tại Pháp, tôi có dịp đi thăm một cộng đoàn nữ tu tại khu ngoại ô thành Lyon. Khu ngoại ô đó, hầu hết là dân lao động nghèo, gốc Phi Châu. Giữa đám dân nghèo đó, có một cộng đoàn ba nữ tu: Nhà của họ rất nghèo. Một nữ tu trẻ làm nghề khuân vác ở chợ. Một nữ tu khác làm công nhân viên ở một siêu thị, và một nữ tu khác làm y tá cho vùng đó. Ăn mặc như một người lao động. Sống giữa những người lao động. Nhà cửa nghèo túng.

Nhưng có một điểm đáng chú ý là các chị được nhiều người kính trọng, từ những người trí thức cho đến những người ít học, từ những người giàu cho đến những người nghèo. Hễ có việc gì, họ đều tìm đến ba nữ tu ấy. Có cả trường hợp những người muốn tự tử, trước khi tự tử đã tìm đến ba chị nữ tu ấy để tâm sự, và ba chị nữ tu ấy đã được dịp cứu được một số người. Như vậy, tôi mới hiểu rằng: Sống hòa mình vào cảnh nghèo của kẻ khác, không phải là cái yếu tố quan trọng nhất để trở nên người mục tử của Đức Kitô, mà phải sống giữa cảnh nghèo như là men, như là ánh sáng, như là sức mạnh để lôi kéo.

Tôi tìm hiểu ba chị nữ tu ấy thì biết: Chị trẻ làm nghề khuân vác ở chợ, là một người đã đậu cử nhân đại học, chứ không phải là một người thường. Còn chị làm công nhân viên ở trong siêu thị cũng là một người có cử nhân đại học. Mỗi tối, khi trở về nhà, các chị đều quì trước Nhà Chầu, cầu nguyện suy gẫm đúng một giờ. Và ngày nào cũng vậy, các chị cũng học hỏi thêm, trau dồi kiến thức.

Thật ra, cái men đó có một tư cách văn minh, có một trái tim bốc lửa, có một trí khôn đầy văn hóa, có sức tỏa lan ra khắp vùng chung quanh, để gây ảnh hưởng, để lôi kéo mọi người. Kinh nghiệm đó cho tôi thấy, chúng ta cần phải phát triển bản thân mình về mọi mặt: Nhân bản, trí thức, đạo đức, để dù trong hoàn cảnh nào, dù trong cảnh giàu, dù trong cảnh nghèo, chúng ta vẫn có thể là men, là ánh sáng, là sức mạnh, là sự sống, là chân lý.

Cái sức mà chúng ta đang muốn có trong chúng ta chính là Đức Kitô. Chúng ta phải sống thế nào, để có thể nói như thánh Phaolô: “Tôi sống, nhưng không phải tôi sống, mà là Đức Kitô sống trong tôi”. Tôi nghĩ rằng, anh chị em chưa có nhiều hoàn cảnh để phát triển con người về mặt văn hóa, về mặt kinh tế, nhưng anh chị em có phương tiện để phát triển chính bản thân mình, gia đình mình, con em mình, về mặt đạo đức, về mặt đức tin:

Anh chị em có Mình Thánh, anh chị em có linh mục. Xin anh chị em hãy tận dụng những phương tiện Chúa ban cho ngay trong tầm tay của mình, để phát triển đạo đức của bản thân, của gia đình.

Tôi có cảm tưởng rằng: Rồi đây, sẽ có những tình trạng xuống cấp về con người. Nhà cửa xuống cấp thì chúng ta sẽ dễ tân trang xây dựng lại. Nhưng con người xuống cấp, nhất là xuống cấp về mặt nhân cách, xuống cấp về mặt đạo đức, thì rất khó vực lên được, nếu chúng ta không nhận thức và không có quyết tâm, không có kế hoạch để đứng lên.

Trong thánh lễ hôm nay, ca đoàn đã xin Chúa Thánh Thần đổi mới mặt địa cầu lại. Khi nghe câu đó, tôi thường nói với Chúa rằng: Con không có tham vọng đổi mới mặt địa cầu, con chỉ có một ước mơ nhỏ bé là đổi mới chính con và đổi mới tâm hồn đoàn chiên của con, để tâm hồn ấy có thể đón nhận được Chúa, gặp gỡ được Chúa. Nếu chúng ta có thành tâm cầu xin với Chúa như vậy, thì tôi nghĩ, thế nào Chúa cũng đổi mới tâm hồn ta. Và một khi Chúa đổi mới tâm hồn ta để biết đón nhận ơn Chúa Thánh Linh, gặp gỡ Chúa Kitô, thì chúng ta sẽ là men, là muối trong xã hội Việt Nam nói chung, và trong địa phận chúng ta nói riêng.

Lạy Chúa Thánh Thần xin thương đến với chúng con và ở lại trong chúng con. Amen.

Lễ Thêm Sức tại nhà thờ Trái Tim, chiều ngày 21-08-1993

 

Bùi-Tuần 0395: TINH THẦN VATICĂNG II


TRONG CỘNG ĐOÀN LONG XUYÊN 22-08-1993

Lễ bổn mạng Đức Maria Trinh Nữ Vương và kỷ niệm nhà thờ Chánh Toà tròn 20 tuổi (Long Xuyên)
 

Nội dung bài giảng này cũng nhắm gợi ý cho các giáo xứ trong giáo phận Long Xuyên dịp Tĩnh Tâm: 22-08-1993  Bùi-Tuần 395


Nội dung bài giảng này cũng nhắm gợi ý cho các giáo xứ trong giáo phận Long Xuyên dịp Tĩnh Tâm linh mục tu sĩ tháng 09-1993

Nhà thờ cũng có tuổi. Với tuổi 20, nhà thờ Long Xuyên còn rất trẻ. Nét trẻ của nhà thờ Long Xuyên không do tuổi nó trẻ cho bằng sinh hoạt của nó càng ngày càng trẻ.

 Tôi gọi một sinh hoạt tôn giáo là trẻ trung, khi sinh hoạt ấy nói lên sức sống trẻ do Công Đồng Vaticăng II khơi dậy.

Công đồng vạch ra bốn hướng, để Hội Thánh các nơi theo đó mà đón nhận và cho đi sự sống cứu độ. Tôi thấy cả bốn hướng ấy đều có mặt trong các sinh hoạt của nhà thờ Long Xuyên này. Lúc mờ lúc tỏ.

Hướng thứ nhất là Hội Thánh tập trung vào Đức Kitô.

Tôi không thể không nhận thấy hướng tập trung ấy tại đây, khi tôi nhìn vào cách sắp xếp tượng ảnh trong nhà thờ này, nhất là khi tôi quan sát các giờ phượng tự thánh lễ.
Tất cả đều đề cao Đức Kitô: Chính nhờ Đức Kitô, cùng với Đức Kitô, và trong Đức Kitô, các thánh lễ được diễn tiến trong bầu khí cầu nguyện, trong bầu khí lắng nghe lời Chúa, trong bầu khí nội-tâm-hoá Tin Mừng, trong bầu khí đón chờ Chúa đến.
Mọi nghi thức cũng âm thầm là những lời cầu nguyện.

Điều đáng nói ở đây là trong bầu khí siêu nhiên ấy, nhiều người không những đã đón nhận được lời Chúa, mà còn gặp được chính Chúa. Chúa đến với họ, ở lại trong họ, và họ cảm thấy họ không thể có hạnh phúc nếu thiếu vắng Ngài.

Đôi khi tôi có cảm tưởng nhà thờ Long Xuyên này cũng giống như giếng nước Giacob xưa, nơi người đàn bà Samaria đã gặp Đức Kitô. Bà đến giếng, mục đích không phải để tìm gặp Đấng Cứu Thế, mà chỉ để kín nước. Thế nhưng, Đức Kitô đã đón sẵn ở đó. Chỉ sau vài phút trò chuyện, bà đã tin vào Đức Kitô. Bà mến Ngài, tin Ngài, trước khi nghe và hiểu giáo lý của Ngài.

Tôi thấy nhiều người đã gặp được Đức Kitô tại đây như vậy. Họ đến đây, không chủ ý theo đạo, nhưng rồi họ đã gặp được Chúa, qua những con người dễ mến của Chúa, qua những sinh hoạt dễ thương về Chúa. Họ tin Chúa, trước khi học hỏi giáo lý của Ngài.

Kinh nghiệm trên đây cho phép tôi nghĩ rằng: Gặp gỡ Đức Kitô là điều quan trọng hơn là học hỏi về Đức Kitô. Và đúng như lời Chúa đã dạy, Chúa chỉ tỏ mình ra cho những ai khiêm nhường, bé mọn.

Hướng thứ hai là Hội Thánh gồm toàn thể dân Chúa.

Để có một hình ảnh gợi ý về Hội Thánh là dân Thiên Chúa, tôi hay nghĩ tới nhà tiệc ly. Tại đó, người đứng đầu triệu tập và chủ toạ là Đức Kitô. Các môn đệ hiệp thông với Ngài và hiệp thông với nhau. Bằng việc lắng nghe lời Chúa. Bằng việc nhận lấy bánh rượu từ tay Ngài trao cho để rồi lại chuyền cho nhau những phần của cũng một tấm bánh đó, của cũng một chén rượu đó. Và bằng việc chứng kiến việc Chúa rửa chân cho mọi môn đệ, không trừ một ai.

Tôi thấy hình ảnh đó thường hiện lên sống động trong nhà thờ Long Xuyên này, để rồi lại toả ra trong khắp họ đạo.

Chúng ta, gồm các giáo dân, tu sĩ, linh mục, giám mục, đều là dân Chúa. Chúng ta gắn bó với Chúa như lời Chúa dạy: “Thầy là cây nho, các con là cành”. Và giữa chúng ta là dân Chúa, chúng ta luôn thực hiện lời Chúa dạy: “Thầy cho các con một điều răn mới, là các con yêu thương nhau, như Thầy đã yêu thương các con”. Thực hiện bằng các việc phục vụ nhau trong yêu thương và khiêm tốn.

Nói tới điểm này, tôi nghĩ ngay tới Đức Cha Micae. Tôi coi đời sống thường ngày của Ngài là mẫu gương đáng chúng ta noi theo: Rất phục vụ, rất yêu thương và rất khiêm tốn.

Cùng với mẫu gương ấy, tôi đã nhận thấy nhiều người trong anh chị em: Rất giàu tinh thần phục vụ, trong yêu thương chân thành và với thái độ khiêm tốn sâu xa.

Hướng thứ ba là Hội Thánh được sai đi loan báo Tin Mừng.

Trong hướng này, tôi nhớ lại các lễ phong chức linh mục tại đây. Trong số 78 linh mục được thụ phong từ sau ngày 30-4-1975 tới nay, phần đông được thụ phong trong nhà thờ Long Xuyên này. Các vị ấy cũng như mọi linh mục khác đều đã được sai đi truyền giáo. Mọi giáo dân cũng đã được sai đi chia sẻ Tin Mừng cứu độ.
Tôi thấy một trong những cách thực hiện sứ mệnh sai đi, đó là hội nhập văn hoá.

Văn-hoá địa phương ta có một nét riêng đặc biệt. Đó là coi trọng tình nhân ái và các liên hệ của tình nhân ái. Cụ thể như tình xót thương đối với kẻ nghèo khổ, tình hiếu thảo đối với cha mẹ, ông bà, tổ tiên, tình chia sẻ thân thương đối với chòm xóm, tình người đối với mọi người.

Khi Tin Mừng cứu độ được nói lên qua việc phát triển những dây liên hệ nặng tình nhân ái đó, đồng bào địa phương ta, dù khác tín ngưỡng, thường dễ hiểu đức tin của ta, và dễ chấp nhận đức tin của ta vào nền văn hoá địa phương.

Từ kinh nghiệm trên đây, tôi nghĩ rằng: Khi truyền giáo, nếu người của Hội Thánh không quan tâm đến tình hình tâm-lý xã-hội, để đưa đức tin hội nhập vào văn hoá, mà chỉ để ý đến quyền lợi riêng của Hội Thánh mình, thì việc truyền giáo sẽ khó thành công.

Sở dĩ giáo phận Long Xuyên đã tăng thêm số địa điểm truyền giáo một cách mau lẹ từ 20 năm nay, cũng một phần vì việc truyền giáo được thực hiện bằng cách hội nhập văn-hoá như nói ở trên.

Hướng thứ bốn là Hội Thánh dấn thân tham gia xây dựng xã-hội.

Trong hướng này, tôi thấy anh chị em đang có mặt trên mọi lãnh vực xã hội: Văn hoá, văn nghệ, kinh tế, khoa học, y tế, thể thao v.v... Anh chị em dấn thân với tinh thần trách nhiệm, tinh thần cầu tiến, tinh thần sáng tạo.

Qua thái độ dấn thân, họ đạo Long Xuyên đang giới thiệu một Hội Thánh cởi mở, một đức tin đối thoại.

Cũng qua thái độ dấn thân, mỗi người anh chị em đang chứng tỏ mình là con người phục vụ: Phục vụ cho chân lý. Phục vụ cho tự do. Phục vụ cho tình bác ái, đoàn kết, thăng tiến con người.

Chân lý, mà anh chị em phục vụ và làm chứng, không chỉ là một hệ thống tín lý và luân lý, mà nhất là chính Đấng là chân lý, đó là Đức Kitô.

Theo tôi thấy, thì thời nay điểm nóng có khả năng đốt lên đôi chút thiện cảm và kính nể đối với Hội Thánh trong lòng người ngoài công giáo, sẽ không còn là việc ta đọc kinh dự lễ, mà chính là thái độ chúng ta dấn thân xây dựng các giá trị trần thế, một cách có trách nhiệm và có nhiều khả năng. Nhận xét trên đây của tôi đã do chính những kinh nghiệm của anh chị em đem lại.

***

Với bốn đường hướng trên đây do Công Đồng Vaticăng vạch ra, họ đạo Long Xuyên đã và đang sống đạo và truyền đạo một cách trẻ trung. Nhưng, phải hân hoan nhận rằng: Nhiều họ đạo khác trong và ngoài giáo phận Long Xuyên còn tốt hơn họ đạo Long Xuyên nhiều. Họ đạo Long Xuyên còn nhiều thiếu sót. Biết vui vẻ nhận mình thiếu sót, để cố vươn lên, đó cũng là một nét dễ thương chứng tỏ sức sống trẻ trung nơi những cá nhân và những cộng đoàn đức tin đi theo Công Đồng Vaticăng II.

+ GB Bùi-Tuần, GM.LX

 

Bùi-Tuần 0396: SÁNG KIẾN BẤT NGỜ 22-08-1993


Matthêu 16,13-23

Lễ Thêm Sức Năng Gu
 

Trong bài Phúc Âm hôm nay tôi thấy có hai sáng kiến bất ngờ do chính: 22-08-1993 Bùi-Tuần 396


Trong bài Phúc Âm hôm nay tôi thấy có hai sáng kiến bất ngờ do chính Chúa Giêsu chủ động đưa ra.

Sáng kiến thứ nhất là Đức Kitô truyền cho các môn đệ Ngài đừng nói Ngài là Đấng Cứu Thế, là Con Thiên Chúa hằng sống.

Đây là một sáng kiến rất bất ngờ, bởi vì các tông đồ có quyền và có bổn phận phải nghĩ rằng: Mình phải đi loan báo cho mọi nơi biết Thầy mình là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống. Ấy thế mà bây giờ, chính Thầy mình lại cấm cản, không cho mình nói với ai điều đó. Đây là một sáng kiến bất ngờ, khó hiểu, khó chấp nhận.

Sáng kiến thứ hai cũng rất bất ngờ, đó là Đức Kitô tỏ cho các môn đệ Ngài biết: Ngài sẽ tự nạp mình để bị bắt, để bị giết đi.

Đây cũng là một sáng kiến quá bất ngờ. Bởi vì các môn đệ vẫn nghĩ rằng: Sứ mệnh của Thầy mình, Đức Kitô là rất quan trọng. Để chu toàn sứ mệnh ấy, Thầy mình phải có chức cao quyền trọng, cần phải đầu tư nhiều uy tín, cần phải gây ảnh hưởng tối đa. Ấy thế mà bây giờ Thầy mình lại muốn đi nạp mình để chịu chết. Thế là đổ vỡ tất cả: Đổ vỡ hy vọng, đổ vỡ tương lai, đổ vỡ Giáo Hội.

Khi tôi thấy chính Đức Kitô đã đưa ra sáng kiến khó hiểu, khó chịu, và khó chấp nhận như vậy cho các tông đồ xưa, thì tôi đã nói với Chúa Giêsu rằng: Lạy Chúa, nếu Chúa cũng dành cho con và cho Hội Thánh Việt Nam của con những sáng kiến tương tự như vậy, thì xin Chúa giúp con hiểu được ý nghĩa những sáng kiến bất ngờ và khó chịu đó. Nhất là cho con và cho Hội Thánh Việt Nam của con biết chấp nhận những sáng kiến khó chấp nhận đó.

Tôi nói với Chúa Giêsu như vậy. Tôi nhìn lên Ngài. Tôi tin vào Ngài. Và Ngài trả lời tôi rằng: Đúng, có nhiều sự kiện sẽ xảy ra cho con, cho Hội Thánh Việt Nam của con một cách bất ngờ, rất khó hiểu, rất khó chấp nhận. Trong những trường hợp như vậy con không cần phải hiểu tại sao, mà con chỉ cần tin vào Chúa: Tin mạnh mẽ, tin tuyệt đối như Abraham xưa, như Đức Mẹ xưa. Chỉ có thế thôi. Bởi vì trong một giai đoạn của lịch sử cứu độ sẽ thường xảy ra những trường hợp bất ngờ khó chịu như vậy.

Rồi tự nhiên, tôi nhớ tới những trường hợp bất ngờ khó chịu, khó hiểu, đã xảy ra trong chính họ đạo Năng Gù này. Đó là trường hợp cha Thánh Phêrô Đoàn Công Quí. Thuở ấy, Giáo Hội Việt Nam nói chung và vùng Châu Đốc này nói riêng, rất hiếm linh mục. Cha Đoàn Công Quí về làm cha sở họ đạo Năng Gù này. Ngài còn trẻ. Ngài đạo đức. Ngài hoạt động. Cha Đoàn Công Quí đúng là nhân vật quí và rất cần cho Hội Thánh, cho xứ đạo Năng Gù bấy giờ. Ấy thế mà Chúa đã cho Ngài bị bắt, bị giết, để cho đoàn chiên Năng Gù và tất cả vùng Long Xuyên-Châu Đốc bơ vơ. Đúng là một sáng kiến bất ngờ khó hiểu quá, khó chấp nhận quá.

Rồi mới đây, trường hợp cha Phêrô Phan văn Khả, cha sở xứ đạo Năng Gù này. Hội Thánh bây giờ đang cần những linh mục chuyên về Kinh Thánh. Cha là một người chuyên về Kinh Thánh rất cần cho chủng viện Thánh Quí, Cái Răng (Cần Thơ). Ấy thế mà Chúa để cho Ngài bị tai nạn xe, bị chết bất ngờ, bị chết thảm thương. Đây cũng là một sự xảy ra khó hiểu, khó chấp nhận.

Nhưng đến đây, Chúa soi sáng cho tôi thấy rằng:

Tất cả mọi phương tiện đều là tương đối, dù phương tiện ấy là một nhân vật quan trọng, dù phương tiện ấy là một sinh hoạt tôn giáo quan trọng, dù phương tiện ấy là một thánh đường quan trọng, dù phương tiện ấy là sự tự do quan trọng, dù phương tiện ấy là tiền bạc quan trọng... Tất cả mọi phương tiện đều tương đối, chỉ có Thiên Chúa là tuyệt đối. Chỉ có đức tin là cần tuyệt đối. Chính đức tin sẽ cứu thoát con. Chính đức tin sẽ cứu Hội Thánh của con. Chính đức tin sẽ lan tỏa Nước Trời ở Việt Nam, chứ không phải những phương tiện mà nay con cho là cần thiết.

Khi tôi hiểu được như vậy, tôi mới khám phá ra Tin Mừng đàng sau những thử thách. Tin Mừng mà Chúa gởi cho tôi, cho Hội Thánh Việt Nam chúng ta, đó là đức tin cứu thoát chúng ta, chứ không phải quyền lực nào sẽ cứu thoát chúng ta, dù là quyền lực kinh tế, dù là quyền lực văn hóa, dù là quyền lực chính trị. Tin Mừng Chúa gởi cho chúng ta hôm nay đó là đức tin sẽ được thanh luyện, không phải chỉ qua những bí tích, những lớp giáo lý, những kinh đọc, mà nhất là bằng những thử thách bắt chúng ta phải khiêm tốn, buộc chúng ta phải khó nghèo, ép chúng ta phải từ bỏ đi tất cả, kể cả chính bản thân mình. Tin Mừng của tôi là Chúa cho, đó là Hội Thánh Việt Nam sẽ sống lại vinh quang nếu biết chấp nhận đi vào con đường Thánh Giá, khiêm tốn, khó nghèo như Đức Kitô đã làm gương, đã dạy trong bài Phúc Âm hôm nay. Sự sống lại chỉ xảy ra sau đường Thánh Giá. Đường Thánh Giá là con đường ta chấp nhận đi vào, chứ không phải con đường ép buộc đi vào.

Anh chị em thân mến,

Nhìn anh chị em đi lễ, đọc kinh sốt sắng, tôi rất mừng. Đó là những phương tiện bồi dưỡng đức tin. Nhưng ngoài ra, còn có phương tiện khác thanh luyện đức tin. Đó là những thử thách cam go, như những thiếu thốn, như đớn đau. Những phương tiện thanh luyện này sẽ làm cho đức tin trở nên trong sáng, để chúng ta chỉ biết bám vào Chúa thôi, chứ không bám vào tiền bạc, không bám vào danh vọng, không bám vào bất cứ quyền lực nào. Trong thánh lễ này, anh chị em cùng với tôi cầu nguyện. Cầu nguyện cho chính bản thân mình, cầu nguyện cho họ đạo, cầu nguyện cho địa phận và Giáo Hội Việt Nam. Nhất là cầu nguyện cho thế hệ trẻ hôm nay biết nhận ra Tin Mừng của Chúa vừa cho chúng ta hôm nay và Tin Mừng ấy một khi chấp nhận rồi chúng ta sẽ hân hoan vì Thiên Chúa.

Lạy Chúa Thánh Linh xin đến với chúng con, xin dạy chúng con biết được Tin Mừng của Chúa hôm nay. Amen.

Lễ Thêm Sức tại Năng Gù, sáng ngày 22-08-1993

 

Bùi-Tuần 0397: NIỀM HY VỌNG 05-09-1993


Matthêu 18,15-20

Lễ khai giảng năm học mới Long Xuyên 1993-1994
 

Trong bài Phúc Âm hôm nay, Đức Kitô giới thiệu với chúng ta: 05-09-1993 Bùi-Tuần 397


Trong bài Phúc Âm hôm nay, Đức Kitô giới thiệu với chúng ta ba niềm hy vọng.

Niềm hy vọng thứ nhất mà Đức Kitô giới thiệu với chúng ta, đó là: Chính con người.

Chúa đưa ra một người lầm lỗi, nhưng Chúa không loại trừ họ. Chúa nói rằng: “Nếu tự họ không sửa được, thì nhờ người khác sửa họ”. Chúa đặt hy vọng ở họ. Họ vẫn là niềm cậy trông của Đức Kitô.

Đọc Phúc Âm, chúng ta thấy Đức Kitô luôn đặt hy vọng nơi những người lầm lỗi. Như thánh Phêrô, như thánh Phaolô, như thánh Mađalena, như ông Giakêu, như người đàn bà Samaria ở giếng Giacóp. Họ là những người đã có một thời lầm lỗi, nhưng Đức Kitô vẫn hy vọng ở họ. Và thật sự, họ đã được đổi mới nên người thánh.

Qua cách nói của Đức Kitô, tôi thấy rằng: Trong mỗi một người chúng ta dù thế nào đi nữa vẫn có một khả năng đổi mới, vẫn có một khả năng tiến triển tốt. Do đó, dù tôi là ai, dù chúng ta thế nào, chúng ta vẫn có quyền cậy trông: Chúng ta là niềm hy vọng của Đức Kitô. Đức Kitô hy vọng nơi chúng ta, những người có thể nên tốt hơn.

Niềm hy vọng thứ hai mà Đức Kitô giới thiệu với chúng ta hôm nay là các cộng đoàn.

Chúa nói: “Nếu người anh em chúng con sai lỗi, chúng con hãy nhờ cộng đoàn giúp đỡ sửa mình”.

Qua lời nói của Đức Kitô, tôi hiểu cộng đoàn ở đây là những bạn bè tốt, là gia đình tốt, là nhà trường tốt. Những môi trường ấy cũng giống như bàn tay của thánh Phêrô cầm tay kẻ bất toại giúp họ đứng lên, đi được trong xã hội, đối thoại với mọi người.

Cộng đoàn tốt mà Đức Kitô giới thiệu cách riêng hôm nay, đó là: Những nhóm cầu nguyện. Đức Kitô nói: “Nếu hai người chúng con họp nhau cầu nguyện thì Cha ở giữa chúng con”.

Rồi cộng đoàn mà Đức Kitô giới thiệu hôm nay để khi lỗi lầm, chúng ta hãy tới, đó là: Hội Thánh. Đức Kitô nói: “Sự gì chúng con tha thứ dưới đất, trên trời cũng tha thứ”. Nghĩa là: Nếu tôi, nếu anh chị em, nếu bất cứ ai có lỗi lầm, hãy đến với Hội Thánh, Hội Thánh sẽ nhân danh Đức Kitô mà tha thứ.

Niềm hy vọng thứ ba mà Đức Kitô giới thiệu với chúng ta hôm nay, chính là Đức Kitô.

Ngài nói: “Nếu chúng con nhân danh Thầy mà xin sự gì cùng Chúa Cha, thì Chúa Cha sẽ ban cho chúng con”. Nhân danh Đức Kitô, đó là niềm hy vọng lớn nhất. Chúng ta vẫn nghe Hội Thánh tuyên xưng niềm hy vọng này trong thánh lễ: “Chúng con cầu xin, nhờ Đức Kitô, Chúa chúng con... Chính nhờ Đức Kitô và trong Đức Kitô, cùng với Đức Kitô”. Đó là những từ nói lên niềm hy vọng tuyệt đối của chúng ta.

Riêng tôi, tôi luôn nhìn Đức Kitô là niềm hy vọng độc nhất của tôi. Bởi vì Ngài đã thương tôi đến nỗi đã gánh tội cho tôi, đã đền tội cho tôi, đã tha tội cho tôi, đã xóa tội cho tôi, thế thì Ngài còn tiếc gì với tôi, nên tôi luôn tin tưởng nơi Đức Kitô.

Anh chị em thân mến,

Với ba niềm hy vọng trên đây, chúng ta có quyền lạc quan. Với niềm lạc quan ấy, chúng ta, các phụ huynh, các thầy cô, hôm nay đưa các con em chúng ta vào niên học mới. Chúng ta nhìn nhau với niềm hy vọng, mỗi người là hy vọng của nhau, và nhất là chúng ta nhìn vào Hội Thánh là niềm hy vọng, và chúng ta nhìn vào Đức Kitô là nguồn hy vọng độc nhất tuyệt đối của chúng ta.

Xin Đức Kitô chúc lành cho chúng ta, chúc lành cho niên học mới của con em chúng ta. Xin Đức Kitô là nhà giáo dục của niềm hy vọng, ban cho chúng ta luôn luôn có hy vọng để tiến tới, luôn luôn có hy vọng để bước lên, nhất là trong những thời điểm đầy khó khăn phức tạp.

Lạy Đức Kitô, xin đến với chúng con và ở giữa chúng con mãi mãi, vì Chúa là niềm hy vọng tuyệt đối của chúng con. Amen.

Lễ khai giảng năm học mới 1993-1994 tại nhà thờ Chánh Tòa Long Xuyên, ngày 05-09-1993

 

Bùi-Tuần 0398: NIỀM CẬY TRÔNG 28-10-1993


Luca 1,26-38

Lễ khánh thành nhà thờ Ông Chưởng
 

Trong bài Phúc Âm hôm nay, có một lời đã gợi ý cho tôi: 28-10-1993 Bùi-Tuần 398


Trong bài Phúc Âm hôm nay, có một lời đã gợi ý cho tôi nghĩ tới nhà thờ này. Lời đó là lời Đức Mẹ nói với Thiên Thần: “Việc đó làm sao có thể thực hiện được. Việc đó sẽ xảy ra như thế nào được”.

Thực vậy, cách đây 3 năm, cha sở Antôn Nguyễn Tâm có ngỏ ý với tôi về chuyện tu sửa lại nhà thờ Ông Chưởng này. Tôi hân hoan chấp nhận vì nghĩ rằng: Tu sửa ở đây có nghĩa là sửa chữa đôi chút. Chứ nói tu sửa có nghĩa là đổi mới hoàn toàn thì tôi rất lo âu. Bởi vì chuyện đó làm sao có thể thực hiện được. Việc ấy sẽ xảy đến thế nào được, bởi vì nó quá khả năng nhỏ bé của chúng ta.

Thế nhưng, việc mà tôi tưởng sẽ không xảy đến được thì nay đã thực hiện đầy đủ, tốt đẹp.

Chúng ta đang chứng kiến một ngôi nhà thờ mới, nhỏ bé nhưng xinh đẹp, đơn sơ mà khang trang, có bầu khí cầu nguyện và có bầu khí văn minh.

Tôi thấy rằng: Bí quyết thành công của anh chị em Ông Chưởng, đó là niềm cậy trông. Tôi thấy sức mạnh đã thường xuyên thúc đẩy anh chị em luôn tiến tới cũng chính là niềm cậy trông: Cậy trông vào lòng thương xót Chúa, cậy trông vào sự thông cảm của các vị lãnh đạo đời, đạo, cậy trông vào lòng tốt, lòng quảng đại của anh chị em lương giáo, xa gần.

Chính niềm cậy trông này đang làm cho chúng ta cảm nghiệm được sự vui mừng vì đã góp phần của ta, dù nhỏ bé, vào một công việc chung to lớn của Thiên Chúa. Và sự góp phần này của ta cũng chính là một cách đầu tư vào phần rỗi bản thân mình, vào hạnh phúc của con em mình, vào hạnh phúc của đồng bào Việt Nam chúng ta. Chính niềm cậy trông này, cũng đang làm cho chúng ta cảm nghiệm được sự vui mừng thanh thản, vì được Thiên Chúa yêu thương, dù chúng ta, cá nhân cũng như họ đạo là rất nhỏ bé. Thánh đường mới là một quà tặng rất quí, nhưng tình thương Thiên Chúa còn là một quà tặng quí giá hơn nhiều.

Anh chị em thân mến.

Thánh đường đã thành công, nhưng niềm hy vọng vẫn tồn tại và cần phải tồn tại. Bởi vì chúng ta còn cần phải xây dựng những nhà thờ mới. Đó là nhà thờ bản thân ta. Đó là nhà thờ Hội Thánh của ta. Đó là nhà thờ tâm hồn con cái của ta. Đó là nhà thờ hạnh phúc của dân tộc ta. Khi xây dựng những nhà thờ thiêng liêng này, chúng ta cần rất nhiều niềm cậy trông.

Nhiều khi tôi nghĩ: Xây dựng một nhà thờ vật chất, tuy khó khăn đấy, nhưng tương đối dễ. Còn xây dựng nhà thờ thiêng liêng là một công trình rất khó khăn, và tôi tự nói với mình: “Cái chuyện này thế nào mà thực hiện được? Cái việc này làm sao mà có thể xảy ra được”. Nhưng, tôi nhớ lại lời Thiên Thần đã nói với Đức Mẹ, mà chúng ta vừa nghe lúc nãy: “Đối với Chúa, không có gì mà không thể thực hiện được”.

Do đó, tôi vững vàng cậy trông. Niềm cậy trông của tôi cũng như niềm cậy trông của anh chị em đôi lúc mỏng manh, và vì thế cần phải tựa nương vào Đức Mẹ, Mẹ Thiên Chúa và Mẹ chúng ta.

Nên, trong thánh lễ này, lời cảm tạ của chúng ta chính là những niềm cậy trông, ta cùng với Đức Mẹ tạ ơn Chúa, và cùng với Đức Mẹ không ngừng cậy trông.

Từ mấy ngày nay, nhất là từ hôm qua đến sáng nay, trước tình hình mưa gió, anh chị em đã rất cầu nguyện, và đã rất cậy trông. Tôi cho rằng chính niềm cậy trông ấy là những lời tạ ơn đẹp lòng Chúa nhất. Chính những niềm cậy trông ấy là một sự thúc đẩy chúng ta càng đi tới mãi trong việc xây dựng những thánh đường thiêng liêng.

Lạy Chúa, cùng với Đức Mẹ, chúng con tạ ơn Chúa, cùng với Đức Mẹ, chúng con cậy trông Chúa. Xin cho niềm cậy trông sẽ là hành trang suốt đời của chúng con mãi mãi. Amen.

Lễ khánh thành nhà thờ Ông Chưởng, Long Điền B, Chợ Mới, An Giang, ngày 28-10-1993

 

Bùi-Tuần 0399: CẢM TƯỞNG VỀ MỘT SỰ ĐỔI MỚI 02-11-1993


 Luca 4,16-22

Lễ Thêm Sức Mong Thọ
 

Đi từ Long Xuyên đến Hà Tiên, tôi thấy các nhà thờ, các nhà xứ: 02-11-1993 Bùi-Tuần 399


Đi từ Long Xuyên đến Hà Tiên, tôi thấy các nhà thờ, các nhà xứ ở hai bên đường đều đã được đổi mới. Riêng họ đạo Mong Thọ chúng ta, nhà thờ, nhà xứ đều đã được đổi mới hoàn toàn.

Trước sự đổi mới này, tôi có những cảm tưởng sau đây:

Cảm tưởng thứ nhất của tôi là: Cha sở và anh chị em họ đạo Mong Thọ đây, đã có một sự khôn ngoan của Chúa Thánh Thần, biết nắm bắt đúng thời điểm để làm đúng việc cần làm.

Tôi thấy rằng, mỗi một thời điểm có những khẩn trương của nó. Nếu chúng ta biết nhạy bén, đáp ứng lại những nhu cầu khẩn cấp ấy, thì đó là sự khôn ngoan. Những năm vừa qua, đúng là thời điểm cần phải tu sửa nhà thờ, nhà xứ. Còn bây giờ, và trong những năm tới, sẽ có nhiều nhu cầu khác, để rồi nhu cầu tu sửa nhà thờ, nhà xứ, có thể bị xếp vào loại thứ nhì, thứ ba. Và biết đâu lúc ấy, không phải thời thế đóng lại, mà chính là lòng người đóng lại, trước việc tu sửa nhà thờ, nhà xứ.

Cho nên hôm nay, nhìn thấy công trình anh chị em đã thành công, tôi ca ngợi Thiên Chúa nơi anh chị em.

Cảm tưởng thứ hai của tôi về họ đạo anh chị em là: Đang khi anh chị em xây dựng những cơ sở vật chất, thì anh chị em cũng không quên xây dựng những cơ sở tinh thần.

Tôi đã nhận thấy trong những năm tháng vừa qua, lòng tin cậy đối với Chúa nơi anh chị em không những không suy giảm, mà còn tăng lên. Và cùng với lòng mến Chúa, sự hòa hợp, đoàn kết yêu thương giữa nội bộ họ đạo và với những người lương chung quanh, đồng bào khác đạo cũng đã được tăng trưởng một cách đáng kể. Đúng là chúng ta đã theo ơn Chúa Thánh Thần, không những khôn ngoan trong những vấn đề tăng trưởng đức mến, đức bác ái, là những căn bản của đạo chúng ta.

Cảm tưởng thứ ba của tôi, đó là: Anh chị em họ đạo này có một cái nhìn về tương lai, và cái nhìn ấy đang chia sẻ những lời nhắn gởi tiên tri của Đức Kitô, đó là mở rộng hoạt động truyền giáo, bằng những việc từ thiện, bằng tấm lòng bác ái, bằng tinh thần chia sẻ.

Truyền giáo. Đó là lời mời gọi thật khẩn thiết mà Chúa qua Đức Giáo Hoàng đã nhắn gởi chúng ta. Anh chị em cũng đã bắt đầu công việc truyền giáo cách này, cách nọ. Và theo tôi biết, xong công việc xây dựng cơ sở vật chất, anh chị em sẽ bắt đầu tăng cường hơn những công việc có tính cách truyền giáo.

Thưa anh chị em,

Qua những cảm tưởng trên đây của tôi, tôi thấy rằng: Lễ Chúa Thánh Linh, không phải chỉ là hôm nay, mà đã thường xảy ra trong họ đạo này. Mỗi khi anh chị em cảm thấy mình được đổi mới, được vui mừng hơn, được kính mến Chúa hơn, được yêu thương người ta hơn, thì đó là lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống.

Như vậy, trong họ đạo chúng ta, những năm tháng vừa qua đã có biết bao nhiêu lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống trong tâm hồn mỗi người và trong cộng đồng chúng ta. Chúng ta có quyền tin tưởng vào tương lai, tương lai theo tôi sẽ không dễ dàng. Những năm tháng vừa qua, với những thành đạt, tuy là tương đối. Có thể chỉ là những ơn an ủi để chuẩn bị cho chúng ta bước vào tương lai, có những thánh giá, có những bóng tối, để chúng ta bước theo gương Đức Kitô, tin vào Chúa Cha một cách tuyệt đối, không nương tựa vào ai, không còn tiền bạc, không còn tình nghĩa, hoàn toàn chỉ còn tin vào tình thương Chúa Cha mà thôi.

Chúng ta cần phải chuẩn bị tâm hồn và nhất là chuẩn bị con em chúng ta, để biết sống đức tin một cách tuyệt đối như vậy trong một thời điểm tương lai gần tới.

Chúa Thánh Linh sẽ ở với chúng ta mọi ngày cho đến tận thế, nhất là những ngày chúng ta cô đơn, nhất là những ngày chúng ta buồn khổ, nhất là những ngày chúng ta cảm thấy bị bỏ rơi tư bề. Hãy chuẩn bị tâm hồn mình đang khi Chúng ta còn có thời gian, để hưởng sự vui mừng của Chúa Thánh Linh như hôm nay.

Chúng ta cầu xin rất nhiều cho con em chúng ta, những tâm hồn non yếu, những tâm hồn chưa quen chiến đấu, để chúng ra đi giữa đời đầy gai góc, mà biết xưng tụng đức tin, mà biết yêu mến Thiên Chúa, mà biết yêu thương mọi người, dù chính mình sẽ phải gánh chịu nhiều thiệt thòi bề ngoài tạm thời.

Lạy Đức Kitô, xin giữ lời Người đã hứa là ban Chúa Thánh Thần cho chúng con hôm nay, để chúng con luôn luôn biết ca ngợi những kỳ công Chúa đã làm và sẽ làm cho chúng con. Amen.

Lễ Thêm Sức tại Mong Thọ, ngày 02-11-1993

 

Bùi-Tuần 0400: NHIỆM VỤ LINH MỤC 04-11-1993


 Luca 15,1-10

Lễ mở tay sáu tân linh mục Thạnh An
 

Trong bài Phúc Âm hôm nay, Đức Kitô cho thấy ước vọng lớn nhất: 04-11-1993 Bùi-Tuần 400


Trong bài Phúc Âm hôm nay, Đức Kitô cho thấy ước vọng lớn nhất của Ngài, đó là con chiên lạc được trở về, kẻ tội lỗi được cứu rỗi.

Ước vọng đó của Đức Kitô là rất thiết tha. Nó là niềm thao thức triền miên của suốt đời Đức Kitô.

Để thực hiện ước vọng đó, Ngài đã tình nguyện sống thân phận con người nghèo hèn, cam chịu muôn vàn hy sinh, sau cùng chịu nạn và chịu chết khổ nhục trên thập giá.

Khi thấy Đức Kitô đã sống và chết với lòng xót thương đầy hy sinh vì phần rỗi các linh hồn như vậy, tôi mới nhận ra vấn đề lớn nhất của tôi, của các tân linh mục, và của cả Hội Thánh, đó là bản thân mình phải trở về với Chúa, đồng thời phải cộng tác với ơn thánh, giúp cho mọi người xung quanh cũng biết trở về.

Trong vấn đề trở về với Chúa, tôi có kinh nghiệm này là phải có ơn thánh giúp, người ta mới trở về được.

Bằng chứng rõ ràng nhất đã được ghi rõ trong bài Phúc Âm hôm nay. Đó là trường hợp các biệt phái và luật sĩ. Họ nhìn thấy Đức Kitô tận mắt. Họ nghe lời Ngài giảng tận tai. Họ biết rõ các phép lạ Ngài làm từng việc, từng chi tiết. Ấy thế mà họ vẫn cứng lòng, không trở lại. Lý do là vì họ thiếu ơn Chúa, họ không đón nhận ơn trở lại.

Trái lại, Phúc Âm cho thấy nhiều người không được am tường đạo lý bằng các vị đó, thế mà lại nhận ra Đức Kitô, và đã trở lại. Thí dụ người đàn bà Samaria trên bờ giếng Giacob, người trộm bị đóng đinh bên hữu Đức Kitô. Lý do là vì những người ấy có ơn thánh. Họ đã biết đón nhận ơn trở về.

Vì thế, tôi nghĩ rằng nhiệm vụ lớn nhất của linh mục là phải kéo ơn thánh xuống các linh hồn, nhất là các linh hồn tội lỗi.

Ngài kéo ơn thánh xuống bằng lời giảng, bằng lời cầu nguyện và bằng các bí tích mà thôi không đủ. Ngài còn phải kéo bằng chính cuộc đời hy tế của Ngài. Đức Kitô đã làm như vậy, Ngài cũng phải làm như vậy, theo gương Đức Kitô.

Vì thế, mỗi lần dâng thánh lễ, tôi thường nói với Chúa rằng: Con dâng chính bản thân con làm của lễ. Của lễ bản thân con là mọi công việc bổn phận thường ngày, là những niềm vui, những hy vọng, và những khó khăn, những yếu đuối, những khổ đau của đoàn chiên con và của chính con.

Với tâm tình như thế, giờ đây tôi dẫn sáu tân linh mục lên Bàn Thánh. Và tôi biết rằng dẫn các Ngài lên Bàn Thánh có nghĩa là dẫn lên núi Calvariô để cùng Đức Kitô hiến tế chính mình.

Và tôi có cảm tưởng Đức Kitô đang hỏi từng tân linh mục một câu mà xưa Ngài đã hỏi các tông đồ: “Con có uống nổi chén đắng Cha sẽ trao cho con không?”.

Khi nghe Đức Kitô hỏi câu đó, tôi mới thấy tâm tình Đức Kitô đang mong chờ gì nơi các linh mục. Và tôi cũng thấy những lễ tạ ơn của linh mục phải được tổ chức thế nào, để không trở thành vô duyên, vô nghĩa, trước mắt Đức Kitô đang chịu treo trên thánh giá, để đền tội và cầu bầu cho các tội nhân được ơn trở về.

Lạy Đức Kitô, xin thương đỡ nâng con suốt cuộc đời, để con được đi theo Chúa, trở thành hy lễ cho phần rỗi các linh hồn.

Lễ mở tay sáu tân linh mục tại Thạnh An, ngày 04-11-1993
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây