Suy tư của Đức Cha Gioan B Bùi-Tuần Bài 451-500

Thứ sáu - 15/02/2019 10:20
Suy tư của Đức Cha Gioan B Bùi-Tuần Bài 451-500
Suy tư của Đức Cha Gioan B Bùi-Tuần Bài 451-500
Suy tư của Đức Cha Gioan B Bùi-Tuần Bài 451-500

Bùi-Tuần 0451: CHÂN LÝ CỨU ĐỘ 28-08-1994. 2
Bùi-Tuần 0452: Vẻ ĐẸP VĂN HOÁ 15-09-1994. 4
Bùi-Tuần 0453: ĐÀO TẠO NHÂN SỰ 23-09-1994. 7
Bùi-Tuần 0454: NGỌN LỬA THAO THỨC TRUYỀN GIÁO 28-09-1994. 10
Bùi-Tuần 0455: HOẠT ĐỘNG CủA CÁC THIÊN THẦN NƠI LOÀI NGƯỜI 12
Bùi-Tuần 0456: ĐÓN NHẬN CHÚA 31-12-1994. 14
Bùi-Tuần 0457: NƯỚC THIÊN CHÚA 25-10-1994. 17
Bùi-Tuần 0458: ĐỨC TÍNH NHÂN BẢN 26-10-1994. 20
Bùi-Tuần 0459: TRUYỀN GIÁO VÀ ĐỨC TÍNH NHÂN BẢN 29-10-1994. 22
Bùi-Tuần 0460: KHIÊM NHƯỜNG CủA PHÚC ÂM 29-10-1994. 25
Bùi-Tuần 0461: LỬA MẾN CHÚA YÊU NGƯỜI 30-10-1994. 28
Bùi-Tuần 0462: KÍNH SỢ THIÊN CHÚA 13-11-1994. 31
Bùi-Tuần 0463: CHÚC THƯ KHÔNG LỜI 16-11-1994. 34
Bùi-Tuần 0464: NÉT DỄ THƯƠNG NƠI ĐỨC KITÔ 22-11-1994. 36
Bùi-Tuần 0465: NÉT ĐẶC THÙ CủA CỘNG ĐOÀN NHỎ 24-11-1994. 39
Bùi-Tuần 0466: THÁNH ĐƯỜNG VÀ VIỆC XÂY DỰNG CỘNG ĐOÀN.. 41
Bùi-Tuần 0467: CẦU NGUYỆN VÀ TỈNH THỨC 27-11-1994. 44
Bùi-Tuần 0468: SỐNG ƠN GỌI 28-11-1994. 46
Bùi-Tuần 0469: ĐỨC TIN CủA ĐỨC MẸ 02-12-1994. 48
Bùi-Tuần 0470: TÌNH YÊU THIÊN CHÚA 03-12-1994. 50
Bùi-Tuần 0471: LÒNG THƯƠNG XÓT CHÚA 03-12-1994. 52
Bùi-Tuần 0472: ĐỨC CẬY TRÔNG 05-12-1994. 55
Bùi-Tuần 0473: ĂN NĂN TRở VỀ 06-12-1994. 58
Bùi-Tuần 0474: LẮNG NGHE CHÚA THÁNH THẦN 07-12-1994. 60
Bùi-Tuần 0475: HÃY ĂN NĂN SÁM HỐI 15-12-1994. 63
Bùi-Tuần 0476: NHỮNG TÂM TÌNH DẤU CHỈ 24-12-1994. 66
Bùi-Tuần 0477: THA THƯ 26-12-1994. 68
Bùi-Tuần 0478: ƠN ĐẶC BIỆT 27-12-1994. 71
Bùi-Tuần 0479: CÁI NHÌN 27-12-1994. 74
Bùi-Tuần 0480: TRỞ VỀ 28-12-1994. 76
Bùi-Tuần 0481: TỪ NỀN TU ĐỨC NHẬP THỂ ĐẾN NỀN TU ĐỨC TẠI GIA.. 79
Bùi-Tuần 0482: CẢM TẠ ƠN CHÚA 22-05-1994. 80
Bùi-Tuần 0483: ĐỌC BÁO 21-06-1994. 83
Bùi-Tuần 0484: CẦU NGUYỆN VÀ TỈNH THỨC 27-11-1994. 86
Bùi-Tuần 0485: NĂM MỚI VỚI THỜI CƠ VÀ NGUY CƠ 31-01-1995. 88
Bùi-Tuần 0486: CHIA SẺ VỀ GIỚI TRẺ 15-01-1995. 89
Bùi-Tuần 0487: KITÔ-HOÁ CHÍNH MÌNH 29-01-1995. 94
Bùi-Tuần 0488: LÀM CHỨNG CHO TÌNH YÊU THIÊN CHÚA 09-02-1995. 97
Bùi-Tuần 0489: HÃY BIẾT KINH NGẠC 05-02-1995. 99
Bùi-Tuần 0490: ĐIỂM TỐT NƠI MỘT CÔNG TRÌNH 28-02-1995. 102
Bùi-Tuần 0491: SỐNG KHIÊM TỐN 20-03-1995. 104
Bùi-Tuần 0492: TẤM LÒNG BÁC ÁI 21-03-1995. 106
Bùi-Tuần 0493: NHỮNG NGƯỜI DO THÁI BẢO THỦ.. 109
Bùi-Tuần 0494: ĐÓN NHẬN ƠN CỨU ĐỘ QUA LÒNG NHÂN ÁI 111
Bùi-Tuần 0495: TẠ ƠN CHÚA 29-03-1995. 113
Bùi-Tuần 0496: NHÌN LÊN ĐỨC KITÔ PHỤC SINH 16-04-1995. 116
Bùi-Tuần 0497: CHUẨN BỊ ĐÓN NHẬN ƠN CỨU ĐỘ 13-04-1995. 118
Bùi-Tuần 0498: TRUYỀN GIÁO BẰNG TRÁI TIM 20-4-1995. 119
Bùi-Tuần 0499: CON ĐƯỜNG 20 NĂM QUA 30-04-1995. 122
Bùi-Tuần 0500: HUẤN LUYỆN ĐỨC TIN 06-05-1995. 124

 

Bùi-Tuần 0451: CHÂN LÝ CỨU ĐỘ 28-08-1994


 Mc7,1-23

Thới Thuận (Bò Ót),

 

Bài Phúc Âm hôm nay, gợi ý cho tôi suy nghĩ tới những chi tiết lớn: 28-08-1994 Bùi-Tuần 451


Bài Phúc Âm hôm nay, gợi ý cho tôi suy nghĩ tới những chi tiết lớn thường có, trong các buổi lễ trọng như lễ Thêm Sức.

Bài Phúc Âm phần đầu, nói đến thói quen dân Do Thái hay rửa tay trước khi dùng bữa. Họ coi thói quen đó, là một yếu tố quan trọng trong vấn đề tương giao xã hội và trong vấn đề phượng tự tôn giáo. Nhưng Đức Kitô chỉ trích sự quá quan-trọng-hoá những nghi lễ ấy.

Chi tiết trên đây gợi ý cho tôi nghĩ đến nhiều thói quen người công giáo Việt Nam hôm nay, khi chuẩn bị lễ, khi mừng lễ cũng hay để ý đến việc sửa sang nhà thờ, may sắm quần áo, tập tành lễ nghi đi đứng. Chúng ta coi vấn đề chuẩn bị những lễ nghi bề ngoài như vậy là rất quan trọng. Nhưng nhiều nơi, sự quan trọng đó đã choáng hết thời giờ và tâm trí, không còn dành cho thời gian chuẩn bị tâm hồn.
Bài Phúc Âm hôm nay ở phần giữa, nói đến thói quen của người Do Thái xưa, cũng hay thờ phượng Chúa bằng những bài thuộc lòng. Có thể là những bài thánh ca, thánh vịnh, những bài giáo lý cũng cần phải thuộc lòng, nhưng họ coi vấn đề thuộc lòng những bài đó, hầu như là căn bản của phượng tự. Họ câu nệ vào tiêu chuẩn ấy như là một cái gì cần thiết, để làm chứng cho lòng mình đối với Thiên Chúa. Đức Kitô không hài lòng với thói quen ấy.

Chi tiết trên đây của người Do Thái xưa, gợi ý cho tôi nghĩ tới thói quen người công giáo Việt Nam hôm nay. Tại nhiều nơi, chúng ta cũng hay thường chuẩn bị lễ trọng, nhất là lễ Thêm Sức, bằng việc học thuộc lòng các bài giáo lý, nhiều thánh ca, nhiều kinh kệ. Nhiều nơi coi việc học thuộc lòng đó, như là một tiêu chuẩn cần thiết không thể thiếu được, để làm chứng cho đức tin, để làm bằng chứng cho sự lòng ta thờ phượng Thiên Chúa. Đức Kitô cũng không hài lòng với tiêu chuẩn thuộc lòng đó. Trong Phúc Âm Chúa nói: “Chúng thờ phượng ta bằng môi bằng miệng”, nghĩa là bằng những cái gì thuộc lòng mà không có lòng trí bên trong.
Bài Phúc Âm ở phần cuối, nói đến sự dân Do Thái xưa không quan tâm đủ đến việc chuẩn bị tâm hồn bên trong. Họ không để ý đến việc ăn năn thống hối, tẩy rửa trái tim mình cho khỏi những tư tưởng xấu, những ước muốn xấu, những tâm tình xấu. Chúa Giêsu kể ra rất nhiều những cái xấu trong tâm hồn, như là ganh tị, như là hận thù, như là ước muốn sự chẳng nên. Những cái đó, dân Do Thái xưa không quan tâm đủ mà loại trừ, mà tẩy rửa, để đốt lên trong lòng mình lửa mến, lửa tin, lửa cậy.

Chi tiết trên đây, cũng gợi ý cho tôi nghĩ tới thói quen của nhiều người công giáo Việt Nam hôm nay. Tuy rằng có chuẩn bị tâm hồn bằng sự đi xưng tội, nhưng xem ra vẫn chưa quan-trọng-hoá đủ việc cải thiện chính mình. Ngay cả trong những giờ phút gần nhất để dâng thánh lễ, để chịu ơn Chúa Thánh Thần cũng không chuẩn bị kỹ tâm hồn, bằng sự ăn năn thống hối, bằng sự lắng nghe lời Chúa, bằng sự khiêm tốn cầu xin.

Qua ba chi tiết trên đây, Chúa Giêsu dạy chúng ta cần để ý nhiều nhất đến việc chuẩn bị tâm hồn mình, bằng những việc bên trong. Tuy những việc bên ngoài, như học thuộc lòng, như là vấn đề sạch sẽ, đẹp đẽ, văn minh, thanh nhã cũng là cần. Nhưng mỗi một việc phải đứng ở một góc độ riêng của mình, đừng để những cái phụ, hay là những cái không cần thiết lắm, choáng hết tâm hồn mình, choắng hết thời gian của mình, rồi những việc quan trọng căn bản nhất thì lại bị lãng quên.
Tôi coi lời Chúa khuyên dạy hôm nay là một chân lý cứu độ. Chân lý cứu độ có nghĩa là, nếu chúng ta thực thi lời Chúa dạy hôm nay, thì lời Chúa dạy sẽ cứu chúng ta. Bằng nếu chúng ta không giữ lời Chúa dạy hôm nay, chúng ta không được rỗi. Nó quan trọng như vậy!

Khi nhận thức điều này, tôi kiểm điểm lại chính mình tôi, cũng như kiểm điểm lại các cộng đoàn, các họ đạo các nơi trong địa phận. Tôi vui mừng vì nhiều nơi đã thực thi lời Chúa. Nhưng tôi phải nhận, có nhiều nơi vẫn chưa thực thi đúng và đủ lời Chúa. ở chỗ là, chúng ta cũng giống như Do Thái xưa: Đọc kinh mà không cầu nguyện, nghe lời người ta mà không nghe lời Chúa, nghe lời Chúa mà không đón nhận chính Chúa. Rước lễ, chịu phép Thêm Sức nhưng không gặp gỡ được Chúa. Kết quả là sự cải thiện tâm hồn, cải thiện đời sống hầu như kém cõi.

Các cuộc lễ trọng qua đi, nhưng lòng mình vẫn trống vắng, vẫn lạnh nhạt. Cách nhìn của mình, cách đánh giá của mình, cách suy nghĩ của mình vẫn như xưa, vẫn xa Chúa như trước, vẫn xa những nguyên tắc Phúc Âm như trước. Những kết quả như vậy đáng làm cho chúng ta lo ngại. Cũng như ông đại diện giáo đoàn mới nói về những cạm bẫy, những khó khăn đang đợi chờ chúng ta, nhất là con em chúng ta trong thời buổi này, tôi rất đồng ý sự nhận định đó. Và khi tôi nhìn như vậy tôi rất lo. Nếu chúng ta không chuẩn bị tâm hồn chúng ta theo lời dạy của Đức Kitô hôm nay, mà chỉ quan tâm đến những sự bề ngoài, thì tôi rất sợ một ngày nào đó, những trào lưu xấu sẽ tràn vào đây cào bằng tất cả. Cào bằng tất cả những cái mà hôm nay, chúng ta coi là vững bền trong đức tin. Bởi vì, thực sự đức tin của ta không sâu, chỉ bám vào những việc bề ngoài.

Đức tin là một sự gặp gỡ Đức Kitô. Đức Tin là một sự đón nhận ơn Chúa Thánh Thần. Đức tin là một sự gắn bó với Đức Kitô như cành với cây. Đức tin là một sự dấn thân để xây dựng Nước Chúa là Hội Thánh.

Tất cả những cái đó, nếu chúng ta không tập ngay từ bây giờ cho bản thân mình, cho con em ta mà chỉ chú trọng đến những sự bề ngoài, thì khi thử thách đến, tôi nói lại, nó sẽ cào bằng hết. Nó như là một cơn lũ lụt, làm trôi đi hết những cái gì là mỏng manh, những cái không căn bản Phúc Âm.

Tại họ đạo này, qua những cuộc lễ như hôm nay, tôi vui mừng là anh chị em có để ý đến bề ngoài, nhưng cũng rất để ý đến bên trong tâm hồn:

Tôi nhìn thấy bầu khí cầu nguyện ở đây sốt sắng, nghiêm trang, tập trung vào Đức Kitô. Tôi nhìn thấy bầu khí ở đây trật tự, trong nhiều mối tương quan, giữa các thành phần dân Chúa. Tôi tạ ơn Chúa vì những kết quả này, đang có trong xứ đạo chúng ta. Tôi cầu mong anh chị em phát triển những kết quả tốt đang có. Để sau này, dù thời thế có khó khăn đi nữa, một khi chúng ta thực thi lời Chúa đến nơi đến chốn, với tất cả thiện chí của mình, và với tất cả tinh thần nghiên cứu cá nhân và tập thể, đức tin của chúng ta sẽ sâu, sẽ vững và sẽ toả sáng ra, giúp cho việc mở rộng Nước Chúa, và làm cho Hội Thánh được trong sạch, được đẹp đẽ.

Xin Chúa Thánh Linh giúp cho chúng ta hiểu được lời Chúa dạy hôm nay. Và ban cho chúng ta ơn khôn ngoan, để biết chọn lựa cách nào thuận lợi nhất cho việc thực thi lời Chúa dạy hôm nay. Amen.

Thới Thuận (Bò Ót), ngày 28-08-1994


 

Bùi-Tuần 0452: Vẻ ĐẸP VĂN HOÁ 15-09-1994


Lễ Thêm Sức và tạ ơn tại -Kim Hoà kinh G1,

 

Hôm kia thứ ba, tôi từ Hà Nội về Sài Gòn. Hôm qua thứ tư, tôi từ: 15-09-1994 Bùi-Tuần 452


Hôm kia thứ ba, tôi từ Hà Nội về Sài Gòn. Hôm qua thứ tư, tôi từ Sài Gòn về Long Xuyên. Và hôm nay thừ năm, tôi có mặt ở Kim Hoà, kinh G, Cái Sắn.

Sự có mặt của tôi hôm nay ở đây là một cố gắng, bởi vì tôi khá mệt mỏi. Đêm rồi trong tình trạng mệt mỏi, tôi đã nói với Chúa rằng: Con cảm thấy mình mệt quá. Con khó suy nghĩ quá. Xin Chúa giúp con biết nói với dân Chúa một vài chân lý đơn sơ, có khả năng đem lại lợi ích thiêng liêng thiết thực phần nào trong việc giữ đạo và truyền đạo của thời buổi hôm nay.

Chúa đã trả lời tôi trong lòng: Con đừng nói gì cao sâu, nhưng hãy chia sẻ những gì đã nâng đỡ tâm hồn con trong những ngày qua.

Anh chị em thân mến,

Vâng lời Chúa, giờ đây, tôi nghĩ lại thời gian Hội Nghị của các Giám Mục Việt Nam tại Hà Nội. Và tôi để ý nhiều nhất đến những gì đã bồi dưỡng tâm hồn tôi.

Sự kiện thứ nhất đã bồi dưỡng tâm hồn tôi đó là vẻ đẹp văn hoá tôi nhận thấy trong phụng vụ thánh lễ. Vẻ đẹp văn hoá nói đây là những cái đẹp, cái hay, cái đúng, cái êm đềm, cái sâu sắc. Trong những gì là nhân bản, trong những gì là dân tộc, trong những gì là khoa học, trong những gì là Phúc Âm. Tôi thấy vẻ đẹp văn hoá trong thánh lễ ở cách trang trí, ở sự xếp đặt, ở những thánh ca, ở những bài giảng, nhất là ở bầu khí trang nghiêm đầy nội tâm, ở cách chúng ta tham dự mầu nhiệm thánh lễ, như chúng ta gặp được Đức Kitô, như chúng ta chan hoà hiệp thông với tất cả Hội Thánh, tất cả những vẻ đẹp đó làm nên một sức sống, chảy ra dòng chân lý, dòng tình thương vào tâm hồn tôi. Rôi cảm tưởng gặp được Đức Kitô trong dòng sức sống ấy: Tâm hồn được nâng lên. Tâm hồn được đổi mới. Và tôi nhớ lại lời tiên tri Đavit xưa đã nói: “Con ca tụng Chúa trong đền thánh”. Trong đền thánh, tôi ca tụng Chúa, vì tôi nhìn thấy sắc đẹp, vừa của văn hoá, vừa của khoa học, vừa của dân tộc, vừa của Phúc Âm.

Một sự kiện khác đã giúp tôi đổi mới, đó là vẻ đẹp văn hoá trong những tiếp xúc. Trong những tiếp xúc, người ta có cách chào hỏi, người ta có cách góp ý, người ta có cách nghe, cách nhìn, cách nói, cách phản ứng. Trong những cách ấy, có thể phản chiếu ra sự tế nhị, sự khôn ngoan, sự khiêm nhường, sự tôn trọng chân lý, vv... Tất cả vẻ đẹp văn hoá trong những tiếp xúc như vậy trở nên một luồng gió mát đẩy tâm hồn tôi vào một chân trời, vừa xa, vừa rộng, vừa đẹp, vừa cao. Và trong lúc ấy, tôi nhớ lại lời Chúa đã tạ ơn: “Con tạ ơn Cha, vì Cha đã giấu bao điều tốt đẹp đối với những người hiền triết, mà chỉ tỏ bày cho những tâm hồn bé mọn. Tôi coi những tâm hồn bé mọn đó là những tâm hồn có vẻ đẹp của nền văn hoá, một nền văn hoá hồn nhiên, con người trong trắng, và nền văn hoá trong sạch, khiêm tốn, vị tha của Phúc Âm.
Sự kiện thứ ba cũng đã giúp tôi đổi mới tâm hồn, đó là vẻ đẹp văn hoá tôi nhận thấy trong bữa ăn. Một bữa ăn bao giờ cũng có bốn yếu tố làm nên văn hoá: Một là các món ăn. Hai là cách phục vụ. Ba là cách ăn uống. Bốn là những câu chuyện trên bàn ăn.

Bốn yếu tố này có những vẻ đẹp riêng, nhưng nhất là yếu tố thứ bốn: “Những câu chuyện trao đổi trong bàn ăn”. Nó phản ánh tinh thần tiếp thu những chân lý, tinh thần cởi mở đối với những bản thông tin, tinh thần chia sẻ đối với những ý kiến khác nhau của những người cùng bàn.

Vẻ đẹp văn hoá trong bữa ăn là một chốn giao lưu của văn hoá, nhưng đồng thời, cũng là cái trắc nghiệm đánh giá con người. Tôi thấy vẻ đẹp văn hoá trong những bữa cơm tôi tham dự. Qua những người cùng bàn, những người phục vụ, qua những bản tin trao đổi với nhau, tôi nhớ lại lời Chúa Giêsu đã phán xưa khi ăn cơm xong tại nhà ông Giakêu: “Hôm nay, sự cứu rỗi đã đến với nhà này”.

Qua những kinh nghiệm trên đây, kinh nghiệm về đời thường, tôi nhận thấy điều này: Vẻ đẹp văn hoá, qua tiếp xúc trên bàn ăn, trong thánh lễ, trong gia đình, đều là những phương tiện để con người có thể tuyên xưng đức tin, đều là một lãnh vực mà chúng ta có thể dùng để rao truyền chân lý Phúc Âm.

Từ nhận định ấy, tôi kết luận, phải xây dựng bản thân mình như con người có văn hoá. Văn hoá về nhiều mặt như tôi đã nói: Văn hoá khoa học, văn hoá dân tộc, văn hoá nhân bản, và nhất là văn hoá đức tin, văn hoá của Phúc Âm. Một nét văn hoá được thể hiện trong Đức Mẹ, là khiêm tốn biết mình, luôn tạ ơn Chúa, tuyệt đối cậy tin, và cởi mở, hy vọng đi về phía trước.

Anh chị em thân mến,

Với những chia sẻ trên đây, tôi muốn nói với anh chị em rằng: Tôi đang ở đây với anh chị em, và đã nhận thấy vẻ đẹp văn hoá ở chốn này. Tôi nhìn thấy vẻ đẹp văn hoá trong thánh lễ hôm nay, tại nhà thờ này. Biết bao nhiêu vẻ đẹp!

Tôi đã nhận thấy vẻ đẹp văn hoá trong cách tiếp xúc của anh chị em. Tôi đã nhận thấy vẻ đẹp văn hoá trong cách anh chị em phục vụ tôi, chúng tôi, và giữa chúng ta với nhau. Tôi xác tín rằng, trong thời buổi hôm nay, Hội Thánh chỉ được giới thiệu một cách xứng đáng, bởi những người có nền văn hoá như vậy. Hội Thánh hôm nay không phải là một Hội Thánh chôn chân đứng một chỗ, dù đẹp biết mấy, nhưng là một Hội Thánh di động, ở khắp nơi, ở khắp mọi nẻo đường. Và chúng ta chỉ giới thiệu khuôn mặt Hội Thánh qua chính bản thân chúng ta, qua chính con người chúng ta, với những nét văn hoá đẹp như tôi vừa nói, để bất cứ ở đâu, Hội Thánh vẫn được chúng ta giới thiệu với những người chung quanh, bằng những giá trị mà tất cả mọi người đều trìu mến.

Hôm nay, với những vẻ đẹp này, chúng ta chỉ là bước đầu đi trên con đường truyền giáo. Bước đầu thôi. Nghĩa là chúng ta còn cần phải xây dựng nữa, không phải xây dựng thánh đường này bị chôn chân tại chỗ, mà là xây dựng chính bản thân mình, xây dựng gia đình mình, xây dựng cộng đoàn mình, để có một vẻ đẹp văn hoá nhiều mặt như tôi vừa nói: “Cảm tạ Chúa về những gì chúng ta đã đạt được”. Cảm ơn Mẹ Maria, vẻ đẹp văn hoá của Phúc Âm, xin Mẹ giúp cho họ đạo chúng ta, biết theo gương Mẹ trau dồi vẻ đẹp văn hoá, để dù chỉ là một con người bình thường, trong đời thường, nhưng với vẻ đẹp văn hoá như Đức Mẹ, chúng ta sẽ là một Hội Thánh trẻ trung, một Hội Thánh tươi đẹp, một Hội Thánh chia sẻ Tin Mừng, cho đồng bào, cho quê hương đất nước chúng ta. Amen.

Lễ Thêm Sức và tạ ơn tại giáo xứ Kim Hoà kinh G1, ngày 15-09-1994


 

Bùi-Tuần 0453: ĐÀO TẠO NHÂN SỰ 23-09-1994


Long Xuyên

 

Đọc Phúc Âm, tôi thấy Chúa Giêsu rất quan tâm đến việc đào tạo: 23-09-1994 Bùi-Tuần 453


Đọc Phúc Âm, tôi thấy Chúa Giêsu rất quan tâm đến việc đào tạo. Có lúc Người đào tạo đám đông từng mấy ngàn người. Có lúc Người đào tạo nhóm nhỏ gồm vài gia đình. Thường xuyên và một cách đặc biệt, Người đào tạo nhóm 12. Chính Người trực tiếp đào tạo họ. Thêm vào đó, Chúa Thánh Thần cũng đã được sai đến đào tạo họ. Hơn chục người là một nhóm quá nhỏ. Nhưng nhóm nhỏ này được coi là nòng cốt. Họ sẽ là những người đào tạo.

Hội Thánh sơ khai được xây dựng và phát triển một cách lạ lùng giữa muôn vàn khó khăn đủ loại, chính nhờ những người đào tạo này.

Bởi vì, họ đã được đào tạo rất kỹ về mầu nhiệm cứu độ. Sự đào tạo rất kỹ mà họ đã lãnh nhận dựa trên sự họ đã gặp gỡ Đức Kitô và đã được Chúa Thánh Thần cải hoá. Họ chỉ làm chứng những gì họ đã thấy nơi Đức Kitô và những gì họ đang nếm được về hạnh phúc Nước Trời.

Sức mạnh truyền giáo của họ phát xuất từ bên trong tâm hồn họ mang đầy sự sống mới do Thiên Chúa chia sẻ cho. Vì thế, những cuộc bách hại không những đã không tiêu diệt được sức mạnh thần thiêng đó, mà còn là những dịp để các tông đồ làm chứng về Tin Mừng.

Hội Thánh sơ khai là như thế. Còn nay?

Tôi đang nhìn thấy Hội Thánh bị bách hại khắp nơi. Có nơi do áp bức thô bạo của quyền lực. Có nơi do khống chế của tiền bạc, của tinh thần tục hoá, của phong trào hưởng thụ. Có nơi do đầu độc của những phương tiện truyền thông không tôn trọng sự thật, gieo rắc chia rẽ, hận thù, cổ võ cho một lối sống thực dụng. Và cũng có nơi do sự hẹp hòi và tự mãn an phận của tinh thần chủ nghĩa cá nhân cục bộ còn khá mạnh trong một số nhân sự Hội Thánh.

Trước một tình hình phức tạp như trên, Hội Thánh các nơi đã đối phó bằng nhiều cách, nhất là bằng cách tăng cường việc đào tạo nhân sự, đặc biệt là nhân sự có nhiệm vụ đào tạo.

Để có những gợi ý thích hợp về vấn đề này, cho mục vụ tại địa phương ta, tôi xin chia sẻ một số thông tin.

Một Đức giám mục người Zaire đã cho tôi biết: Nước của ngài, từ mấy năm nay, đã là mảnh đất béo bở cho nhiều giáo phái. Với những hình thức lôi cuốn ngọt ngào, họ đã tạo ra được một sức mạnh tôn giáo xã hội rất đáng kể. Nhiều người đã trôi theo, nhưng giáo phận của ngài vốn đứng vững, nhờ các cộng đoàn nhỏ.

Cộng đoàn nhỏ nói đây là các khu xóm của họ đạo. Hằng tuần, mỗi cộng đoàn nhỏ họp nhau một lần. Họ cầu nguyện chung, suy gẫm bài Phúc Âm Chúa nhật tới theo bản in phát sẵn. Tiếp đó, họ được nhắc nhở cách sống thánh lễ đời thường, bởi vì họ ít có dịp tham dự thánh lễ bàn thờ. Sống thánh lễ đời thường là hiệp thông với Đức Kitô trong mọi chi tiết đời thường. Một trong những chi tiết đó là thực thi tình thương đối với người khác. Vì thế, trong buổi họp, họ xem xét những vấn đề thực tế của cộng đoàn, để thấy những ai cần được nâng đỡ, những trường hợp nào cần được giải quyết. Sau đó họ cùng nhau thực hiện.

Sở dĩ các cộng đoàn nhỏ đã đem lại được sức sống trẻ trung cho giáo phận, chính vì các cộng đoàn đó có những người phụ trách được đào tạo rất kỹ.

Cũng trong cái nhìn về Hội Thánh hôm nay, một vị giáo sư khoa trưởng của một đại học Công Giáo Thuÿ Sĩ đã trao đổi với tôi về việc cần thiết đào tạo một giới trí thức Công Giáo thích hợp cho thời đại này. Ngài cho biết, tại nhiều nước phương Tây, chủ nghĩa duy lý trí, chủ nghĩa duy khoa học, chủ nghĩa tục hoá đang hộ tống nền văn minh dân chủ. Dân chủ tất nhiên có nhiều điều rất tốt, nhưng cũng có nhiều điều không tốt. Những điều không tốt lại được biện minh bằng vô số chứng từ thực dụng. Thành thử đám đông ùa theo. Kết quả là một số đáng kể đã và đang lặng lẽ xa rời Hội Thánh. Tôn giáo bị đẩy dần vào phạm vi tư. Xã hội xem ra chỉ còn biết đến tôn giáo qua các nhà văn, các nhà báo, các nhà trí thức công giáo tích cực làm chứng cho Tin Mừng qua các phương tiện truyền thông đại chúng. Do đó, việc đào tạo một đội ngũ trí thức công giáo là việc rất cần thiết.

Tôi vừa đọc xong cuốn “Kỷ nguyên hậu-Thiên-Chúa-Giáo” của Emile Poulat. Sách dày 317 trang, do nhà xuất bản Flammarion phát hành tháng 4 năm nay 1994. Nội dung đã được tóm lược trong bài phỏng vấn tác giả, đăng trên tuần báo Paris Match ngày 21 tháng 7, 1994. Emile Poulat là một người công giáo, viết văn viết báo, chuyên nghiên cứu các vấn đề tôn giáo xã hội. Theo ông, Hội Thánh Công Giáo tại Âu Châu đang trở thành một di tích lịch sử. Xã hội ngày nay, ngay tại các nước Âu Châu vốn có đạo lâu năm, cũng đang phát triển theo ý riêng của họ, với những luật riêng của họ, không còn qui chiếu chút nào vào giáo lý do Hội Thánh giảng dạy. Tinh thần tục hoá thống trị khắp nơi. Đám đông hết còn gắn bó với Hội Thánh, tuy họ không từ bỏ Thiên Chúa. Nhưng đang khi đó lại xuất hiện sự sống thiêng liêng mới, bốc lên và toả ra từ các phong trào đạo đức mới, từ các cộng đoàn tu hội mới. Các khối nhỏ này, được huấn luyện rất sâu về Phúc Âm, rất sát với thực tế cuộc sống. Nên họ đang là hy vọng lớn cho Hội Thánh trên đường tiến tới năm 2000. Như vậy, Hội Thánh đang gặp nhiều thách đố lớn, và đã tìm ra cách giải đáp. Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II cũng đã tiên báo điều đó.

Trong Tông huấn “Cha sẽ cho chúng con những mục tử” (Pastores dabo vobis), Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã liệt kê một chuỗi những chủ thuyết nguy hiểm đang hoạt động trên thế giới, nhất là tại Âu Châu. Để có thể rao giảng Tin Mừng một cách hữu hiệu trong một xã hội phức tạp như hiện nay, các mục tử cần được đào tạo kỹ hơn, về các mặt nhân bản, trí thức, đạo đức và hội nhập văn hoá. Phải đào tạo kỹ, phải tái-đào-tạo, phải đào tạo trường kỳ những con người có bổn phận đào tạo, đó là ý muốn của Đức Thánh Cha.

Những thông tin trên đây cho thấy hai sự kiện sau đây: Một là trong xã hội cũng như trong cá nhân luôn có cạnh tranh giữa các khuynh hướng, cái mạnh sẽ thắng cái yếu. Hai là Hội Thánh, nếu muốn thắng những khuynh hướng mình cho là xấu trong xã hội, thì phải đào tạo những người của mình, sao cho họ có khả năng mạnh, biết dùng đời sống làm chứng được đạo giáo của mình là tốt, là hấp dẫn đối với xã hội.

Hai sự kiện trên đây gợi ý cho tôi nhìn vào thực tế Việt Nam hôm nay. Đúng là đang có cạnh tranh giữa các giá trị, giữa các khuynh hướng. Tại một số nơi, tinh thần thực dụng, tinh thần chạy theo tiền bạc, tinh thần hưởng thu, tinh thần tục hoá đang dâng cao, tràn cả vào các nơi thánh, biến hoá cả những người đạo đức trước đây khắt khe và bất khuất. Những chuyển biến này xảy ra quá sớm, quá lẹ.

Còn việc đào tạo và tái đào tạo nhân sự để có đủ khả năng làm chứng cho Chúa trong tình hình thực dụng hưởng thụ, tục hoá và tiền bạc hiện nay thì sao? Tôi không đủ khả năng đưa ra một trả lời đúng. Tôi chỉ nhìn vào bản thân tôi, một đối tượng cần được tái-đào-tạo thường xuyên và trường kỳ. Và tôi nhận thấy một khoảng cách lớn thê thảm giữa lý tưởng và thực tế. Từ sự thật đó, tôi hiểu thấm thía hơn sự được tái đào tạo là một ơn huệ của Chúa, mình chỉ có thể đón nhận bằng tất cả tấm lòng khiêm tốn, khó nghèo và tha thiết cầu nguyện. Thiết tưởng phải khởi đi từ đó, và phải thường xuyên bắt đầu lại từ đó.

Long Xuyên, ngày 23-09-1994 + Gioan B. BÙI-TUẦN giám mục phó giáo phận Long Xuyên


 

Bùi-Tuần 0454: NGỌN LỬA THAO THỨC TRUYỀN GIÁO 28-09-1994


 Lc 9,57-62

Kinh Ông Quít

 

Trong bài Phúc Âm hôm nay, Chúa Giêsu đã giới thiệu hình ảnh kẻ: 28-09-1994 Bùi-Tuần 454


Trong bài Phúc Âm hôm nay, Chúa Giêsu đã giới thiệu hình ảnh kẻ rao giảng Tin Mừng. Theo lời Chúa dạy, thì kẻ rao giảng Tin Mừng có một đặc điểm này: Đó là thao thức truyền giáo.

Thao thức truyền giáo nơi kẻ rao giảng Tin Mừng là một thao thức rất mạnh, đến nỗi lấn át tất cả mọi lo lắng khác, cho dù lo lắng ấy là chính đáng, là khẩn thiết, như đi chôn cha mình mới chết, như từ giã gia đình anh chị em ruột thịt, như mua sắm những tiện nghi tối thiểu chẳng hạn chiếc gối đầu.

Kẻ rao giảng Tin Mừng thao thức truyền giáo phải đặt nhiệm vụ truyền giáo lên hàng đầu. Chúa Giêsu đã dạy các tông đồ như vậy trong bài Phúc Âm hôm nay, và chính Người đã sống đúng như lời Người đã dạy.

Với gương sáng, với lời dạy, Chúa Giêsu đã in, đã vạch trong tâm hồn các tông đồ một định hướng rõ rệt, để các Ngài biết sống đạo. Sống đạo là phải truyền giáo.

Khi Chúa Giêsu đã về trời, Đức Chúa Thánh Thần hiện xuống đã làm cho các định hướng trở thành quyết liệt. Thao thức truyền giáo của các tông đồ trở thành một dòng lửa chảy rất mau, rất mạnh, khắp nơi, đốt lên lửa mến Chúa yêu người.

Trên đây là hình ảnh những người đi theo Chúa. Khi tôi thấy Chúa dạy các tông đồ như vậy, tôi đã hỏi Chúa rằng: Tại Việt Nam hôm nay, với những hoàn cảnh chính trị, kinh tế, văn hoá phức tạp, Chúa có muốn cho chúng con phải thao thức truyền giáo như vậy không?

Và tôi nghe Chúa trả lời: Không những Cha muốn chúng con phải có thao thức ấy, mà thao thức ấy chính là điều Cha đã truyền dạy, là điều Cha bắt buộc, là hãy đi rao giảng Tin Mừng khắp nơi. Chúng con phải thực hành mệnh lệnh ấy, chứ không phải đó chỉ là lời khuyên.

Khi nghe lời Chúa dạy trong lương tâm tôi như vậy, tôi nhìn Hội Thánh Việt Nam đó đây, xem các nơi đang thực hiện thế nào mệnh lệnh truyền giáo của Đức Kitô. Và tôi thấy khắp nơi hiện nay đang cố gắng thực hiện mệnh lệnh truyền giáo. Nơi thì cách này. Nơi thì cách kia. Phổ biến nhất là những cách sau đây: Cầu nguyện, hy sinh, học giáo lý, làm việc từ thiện, tham gia các sinh hoạt văn hoá xã hội, xây dựng những liên hệ tốt với chính quyền địa phương, với những người ngoài Công Giáo, xây dựng lại, chỉnh trang lại thánh đường của mình, đem văn hoá dân tộc vào kiến trúc, vào thánh ca, vào phụng vụ, vv...

Tôi thấy tất cả những cách trên đây, đều nhắm vào truyền giáo và những cách trên đây thật sự đã mang lại nhiều hiệu quả truyền giáo tốt đẹp, nơi nhiều nơi ít, lúc ít lúc nhiều. Nhưng nếu phải xét vì nguyên nhân đã làm nên hiệu quả truyền giáo, thì tôi thấy thế này:

Động lực truyền giáo phải khởi đi từ thao thức truyền giáo. Nhưng cách thực hiện việc truyền giáo thì phải qua sự khôn ngoan của Chúa Thánh Thần. Mình phải có sáng kiến, mình phải linh động, mình phải đa dạng, nhưng lựa chọn một cách khôn ngoan, tuỳ nơi, tuỳ thời, theo sự hướng dẫn khôn ngoan của Chúa Thánh Linh. Bởi vì có những cách thích hợp cho lúc này, nơi này, nhưng lại không thích hợp cho nơi khác, lúc khác.

Nói tới đây, tôi nghĩ tới một cách truyền giáo luôn luôn rất khôn ngoan, đó là chúng ta thường xuyên cố gắng trở về với Đức Kitô và Phúc Âm của Người. Cách đó bao giờ cũng là cách tốt nhất để truyền giáo. Cố gắng trở về với Đức Kitô và Phúc Âm của Người, đó là cách tôi vừa nói tốt nhất, luôn luôn có hiệu quả.

Nói tới đây, tôi nghĩ tới thánh Têrêxa Hài đồng Giêsu. Một cô gái nhỏ, dễ thương, hôm nay là thánh nữ quan thầy các nơi truyền giáo. Têrêxa chẳng làm gì khác ngoài sự trở về với Đức Kitô và lời khuyên của Đức Kitô. Têrêxa trở về với tinh thần thơ ấu thiêng liêng. Têrêxa trở về với giới luật yêu thương. Đó là hai giới luật nổi nhất trong Phúc Âm. Têrêxa truyền giáo như vậy đó.

Rồi ở đây, tôi cũng nhớ tới một Têrêxa khác, hiện nay còn sống, đó là mẹ Têrêxa Cancutta. Mẹ Têrêxa Cancutta cũng truyền giáo một cách rất đơn sơ, luôn luôn trở về với tinh thần khó nghèo của Phúc âm, luôn luôn trở về với giới luật yêu thương của Đức Kitô, yêu thương nhất là đối với những kẻ khốn khổ và luôn luôn nghèo khó, tức là khiêm tốn, từ bỏ chính mình, không cậy nhờ vào một nương tựa nào ngoài sức mạnh của Chúa Thánh Linh.

Nhìn hai vị Têrêxa, tôi thấy cái động lực truyền giáo của hai người đó chính là Đức Kitô tình yêu của Thiên Chúa. Và cái cách thực hiện của 2 Têrêxa chính là làm sao làm chứng cho người hôm nay thấy Thiên Chúa là tình yêu, Thiên Chúa là Đấng cứu độ, làm cho người hôm nay cảm thấy bớt khổ hơn, có hy vọng hơn, được bình an hơn. Đó là Tin Mừng cứu độ. Và những cách đó là những việc có thể thực hiện trong đời thường của chúng ta, bất cứ ai giàu hay nghèo, sang hay là cùng cực, trí thức hay là dốt nát. Đơn sơ chỉ thế thôi.

Trong thánh lễ hôm nay, tôi xin Chúa Thánh Thần ban ơn cho chúng ta được ngọn lửa thao thức truyền giáo thật mạnh và có sự khôn ngoan của Chúa Thánh Thần, biết làm chứng về Thiên Chúa tình yêu, biết làm chứng bằng những cách giúp cho con người hôm nay cảm thấy họ được thương yêu, họ được cứu độ, họ được quan tâm, bằng tình yêu của chúng ta thể hiện tình yêu của Thiên Chúa cứu độ.

Nếu lễ Thêm Sức hôm nay chỉ mang lại được ơn đó, và làm cho chúng ta biết thao thức truyền giáo theo định hướng tôi vừa giới thiệu, thì tôi tưởng, đây là phần quà rất quý Chúa gởi tặng cho họ đạo anh chị em, một họ đạo đã từng có kinh nghiệm về tình yêu Thiên Chúa bao la, một họ đạo đang cố gắng làm chứng về tình yêu Thiên Chúa.

Lạy Chúa Thánh Thần xin ban cho chúng con biết làm chứng cho tình yêu Thiên Chúa cứu độ. Amen

Kinh Ông Quít 28-09-1994


 

Bùi-Tuần 0455: HOẠT ĐỘNG CủA CÁC THIÊN THẦN NƠI LOÀI NGƯỜI


 29-09-1994

Lễ Tổng lãnh thiên thần Micae bổn mạng Đức Cha Micae Nguyễn Khắc Ngữ giám mục chánh giáo phận Long Xuyên

 

Trong bài Phúc Âm hôm nay, Chúa Giêsu phán: “Các ngươi sẽ: 29-09-1994 Bùi-Tuần 455


Trong bài Phúc Âm hôm nay, Chúa Giêsu phán: “Các ngươi sẽ thấy trời mở ra, và các thiên thần lên xuống nơi Con Người”.

Khi nghe những lời trên, tôi đã thưa với Chúa Giêsu rằng: Con chưa hề thấy trời mở ra, và con cũng không hề thấy các thiên thần lên xuống bao giờ. Lập tức, Chúa trả lời tôi: Con không thấy bằng mắt xác thịt, nhưng con đã thấy bằng mắt đức tin, bằng chứng từ các thánh và bằng chính kinh nghiệm của con.

Với ơn Chúa soi sáng, chỉ trong giây lát, tôi nhìn thấy vô số thiên thần từ trời bay xuống thế giới này, và vô số thiên thần từ thế giới này bay lên trời. Đến nỗi, có thể nói: Thế giới này không phải chỉ là nơi hoạt động của loài người, mà cũng là nơi hoạt động của các thiên thần.

Thật vậy, Kinh Thánh cho thấy các thiên thần hoạt động trên thế giới này bằng nhiều cách, với nhiều hình thức.

Trước hết như những Vị đưa tin. Thí dụ các trường hợp sau đây: Báo tin cho ông Abraham về người con sắp được sinh ra là Isaac. Báo tin cho Giakaria về người con sắp được sinh ra là Gioan Batixita. Báo tin cho Đức Mẹ về người con sắp được sinh ra là Đức Kitô, Đấng cứu độ loài người.

Rồi, các thiên thần hoạt động như những Đấng che chở. Thí dụ các trường hợp sau đây: Che chở cho Tôbia-con trên suốt hành trình dài đầy biến cố bất ngờ. Che chở cho ông Loth và gia đình khỏi cơn mưa lửa thiêu đốt. Che chở cho Đaniel khỏi sư tử cắn xé.

Rồi, các thiên thần hoạt động như những Vị dẫn đường. Thí dụ các trường hợp sau đây: Dẫn đường cho dân Do Thái đi trên sa mạc. Dẫn đường cho Đức Mẹ và thánh Giuse đi sang Ai Cập. Dẫn đường cho thánh Phêrô trốn ra khỏi tù. Dẫn đường cho thánh Phaolô đi sang Macedonia.

Rồi, các thiên thần hoạt động như những Vị chiến đấu. Thí dụ các trường hợp sau đây: Đức Tổng lãnh thiên thần Micae chiến đấu với Lucifer và các quỷ dữ. Các thiên thần chiến đấu bên cạnh dòng tộc Macabê chống lại quân Syri. Các thiên thần chiến đấu bên cạnh Giêđêon chống lại quân Mađian.

Rồi, các thiên thần hoạt động như những Đấng an ủi. Thí dụ các trường hợp sau đây: An ủi tiên tri Êlia đang mệt mỏi đói khát. An ủi bà Agar bị ruồng bỏ đang lang thang trong rừng. An ủi Đức Kitô đang sầu khổ trong vườn Cây Dầu.

Những chuyện các thiên thần hoạt động giữa loài người và cho loài người đã được kể lại khắp nơi trong mọi thời và trong mọi nền văn hoá.

Tôi nghĩ rằng, mọi người chúng ta cũng đã có phần nào kinh nghiệm về các thiên thần. Biết bao lần chúng ta đã được báo tin một cách lạ lùng, đã được che chở một cách lạ lùng, đã được dẫn dắt một cách lạ lùng, đã được vượt qua thử thách một cách lạ lùng, đã được an ủi một cách lạ lùng. Đó là vì có các thiên thần được Chúa sai đến đồng hành với chúng ta.

Các Ngài đồng hành với ta, ở bên chúng ta, giúp đỡ chúng ta. Thế mà nhiều người chúng ta đã không để ý hỏi han, cảm ơn, và tích cực hợp tác với các Ngài. Chúng ta cần sửa lại những thiếu sót đó.

Thời buổi này hơn bao giờ hết, chúng ta rất cần tích cực hợp tác với các thiên thần. Bởi vì, thời đại ta đang sống là một thời đại có nhiều khủng hoảng, như Đức Giáo Hoàng Phaolô VI và Gioan Phaolô II đã loan báo. Khủng hoảng về nhiều mặt, nhất là về mặt chân lý, luân lý và đức tin. Khủng hoảng trong xã hội, khủng hoảng trong chính nội bộ Hội Thánh, khủng hoảng cả trong lòng người.

Trong thánh lễ hôm nay, chúng ta nhớ cách đặt biệt đến Đức Cha Micae của chúng ta. Ngài đã và đang tích cực cộng tác với các thiên thần. Chính Ngài cũng là hình ảnh một thiên thần đang đồng hành với chúng ta, để giúp đỡ chúng ta trên đường sống đạo và truyền giáo.

Nguyện xin Đức thánh Micae luôn che chở Đức Cha già của chúng ta, giáo phận Long Xuyên này, và Hội Thánh Việt Nam


 

Bùi-Tuần 0456: ĐÓN NHẬN CHÚA 31-12-1994


Gioan 1,1-18

Lễ Thêm Sức  - Rạch Sâu

 

Trong bài Phúc Âm hôm nay, thánh Gioan viết: “Đức Kitô là Ngôi, Hai Thiên Chúa: 31-12-1994 Bùi-Tuần 456


Trong bài Phúc Âm hôm nay, thánh Gioan viết: “Đức Kitô là Ngôi Hai Thiên Chúa làm người, Người đã đến nhà các gia nhân của Người, nhưng các gia nhân của Người đã không nhận biết Người, đã không đón tiếp Người”.

Ngày hôm nay, ngày cuối năm 1994, tôi có cảm tưởng là Đức Kitô cũng đang hỏi tôi, và đang hỏi từng người anh chị em một câu tương tựa như bài Phúc Âm hôm nay. Câu đó là: Trong năm vừa qua, Cha đến nhà của con, Cha đã đến gõ cửa lòng con, nhưng con có nhận ra Cha không, con có tiếp nhận Cha không?

Tôi có cảm tưởng là phản ứng chung chung của chúng ta là trả lời với Chúa: Thưa Chúa có. Con có đón nhận Chúa.

Thế nhưng, một câu trả lời thuộc lòng như vậy chưa chắc đã được Chúa chấp nhận. Bởi vì, đọc Phúc Âm tôi thấy: Rất nhiều người tưởng mình đã đón nhận Chúa, đã làm sáng danh Chúa. Nhưng, sự thực trước mặt Chúa thì khác:

Chẳng hạn Phúc Âm cho chúng ta thấy một loại người đạo đức nổi tiếng xưa đã nói với Chúa rằng: “Lạy Chúa, lạy Chúa, con đã đón tiếp Chúa, con đã làm sáng danh Chúa. Bằng chứng là con ăn chay mỗi tuần hai lần, con đã lấy một phần mười của cải của con để dâng cho nhà thờ. Con không ăn trộm, không ăn cướp, không gian dâm. Nhưng, Phúc Âm cho chúng ta thấy: Chúa không nhìn nhận họ. Chúa không chấp nhận họ.

Rồi, Phúc Âm cũng cho chúng ta thấy một loại người hoạt động tôn giáo rất nổi tiếng xưa cũng đã nói với Chúa rằng: Lạy Chúa, con đã làm sáng danh Chúa biết bao, con đã nhân danh Chúa mà trừ quỷ, con đã nhân danh Chúa mà nói tiên tri, con đã nhân danh Chúa mà làm phép lạ. Nhưng, Phúc Âm cho thấy Chúa không nhìn nhận họ, bởi vì họ làm theo ý riêng mà không tuân phục thánh ý Chúa.

Rồi, trong Phúc Âm cũng cho chúng ta thấy một loại người đồng trinh cũng đã nói với Chúa rằng: Lạy Chúa, con đã đón tiếp Chúa, con đã làm sáng danh Chúa. Suốt đời con giữ mình đồng trinh. Con sống tập thể, xa thế gian, xa gia đình. Nhưng, Phúc Âm nói: Chúa không nhìn nhận họ, bởi vì họ không tỉnh thức, không đến với Chúa đúng lúc mà Chúa gọi họ.

 Rồi, Phúc Âm cũng cho chúng ta thấy một loại người quản lý rất là cẩn thận đối với những gì chủ trao cho họ. Ông ta cũng nói với Chúa: Lạy Chúa, con biết tính Chúa rồi. Chúa cẩn thận lắm, nên nén bạc Chúa trao cho con, con đâu có dám tiêu pha gì, con cất kỷ lắm. Bây giờ, con trả lại Chúa y nguyên. Nhưng Phúc Âm đã cho chúng ta thấy, Chúa không nhìn nhận họ, bởi vì họ đã không biết phát triển những ơn Chúa đã ban cho họ.

Rồi, Phúc Âm cũng cho chúng ta thấy một loại người coi như hết mình với Chúa: Ăn chay, cầu nguyện, đọc kinh, xem lễ, sám hối,... không thiếu một cái gì. Nhưng, đến ngày phán xét Chúa không nhìn nhận họ, bởi vì, Chúa nói: Những gì các ngươi không làm cho những người hèn mọn nhất vì Ta, thì Ta kể như là không làm cho chính Ta: Người ta đói, các ngươi đã không cho ăn. Người ta khổ, các ngươi đã không an ủi. Các ngươi đã đối xử với Ta như vậy, cho nên Ta không biết các ngươi là ai!

Những trường hợp trên đây cảnh cáo chúng ta, giúp chúng ta đừng có chủ quan vào ngày cuối năm, mà cả dám nói với Chúa: Con đã đón nhận Chúa suốt năm nay.

Hãy cảnh giác mình, bởi vì chúng ta rất yếu đuối, bởi vì chúng ta có nhiều thiếu sót. Riêng tôi, tôi nghĩ rằng: Tôi chẳng bao giờ dám phản bội Chúa, chẳng bao giờ muốn bất trung với Chúa, chẳng bao giờ dám xúc phạm đến Chúa. Nhưng, tôi cũng rất xác tín rằng: Mình không đủ sức để làm những điều tốt mình quyết tâm làm. Mình vẫn còn có nhiều thiếu sót cách này cách khác. Cũng như những điều đạo đức tôi vừa nói trên kia, họ cũng đã từng làm, nhưng chỉ khác là thiếu vắng sự khiêm nhường, không biết mình sai lỗi. Do đó, công phúc đã không có gì mà lại thêm tội.

Cách đây hơn một tháng, Đức Thánh Cha có gởi cho các giám mục toàn cầu một lá thư, báo tin là năm 2000, Ngài sẽ tổ chức năm toàn xá một cách đặc biệt. Đặc biệt là vì kỷ niệm 2000 năm, ngày Chúa giáng sinh. Do đó, từ năm 1995 này trở đi, các nơi cần phải chuẩn bị cho năm toàn xá đó. Một trong những cách chuẩn bị mà Đức Thánh Cha đề ra, đó là “Hãy ăn năn sám hối”.

Đọc thư của Đức Giáo Hoàng kỳ này, tôi thấy Đức Thánh Cha rất khiêm tốn: Ngài nhận rằng, con cái Hội Thánh nhiều nơi đã đi xa Phúc Âm, nhiều nơi đã không còn trung tín với sứ điệp Phúc Âm. Ngài xin mọi người hãy khiêm tốn xét mình xem: Giờ đây mình xa Phúc Âm ở điểm nào, để cố gắng trở về, để cố gắng ăn năn sám hối.

Lúc nãy, đầu thánh lễ, một em nhỏ đại diện đã nói đến vấn đề sám hối và trở về với Đức Kitô, đào sâu Phúc Âm. Tôi coi đây cũng là một dấu chỉ tốt trong ngày cuối năm, bước sang năm mới. Chúng ta cảm tạ Chúa, nhưng đồng thời chúng ta xin Chúa tha tội cho chúng ta. Chúng ta có nhiều lầm lỗi lắm. Chúng ta phải làm gì bây giờ? Trước mặt tôi đây là những em nhỏ ca hát rất hay, tâm hồn rất đơn sơ chân thành. Tôi nhìn các em nhỏ và tôi đã nói với Chúa rằng: Con không xin Chúa điều gì lớn lao đâu. Con chỉ xin Chúa giúp con thực hành được điều Chúa dạy trong Phúc Âm: “Hãy trở nên giống trẻ nhỏ, để được vào nước trời”. Con biết con không đủ sức trở nên người thánh, trở nên bậc vĩ nhân, trở nên kẻ siêu phàm. Con chỉ xin Chúa giúp con trở nên trẻ nhỏ, để ca hát Chúa, để ca hát tình yêu Chúa bằng những lời ca chân thành, để đi theo Chúa bằng những bước đi nhỏ, và nếu có vấp váp lỗi lầm, thì cậy trông vào tình yêu mến Chúa, để xin Chúa thứ tha.

Tôi nghĩ rằng, điều tôi xin với Chúa hôm nay ngày cuối năm, cũng sẽ là điều tôi xin Chúa ngày mai, ngày đầu năm, cho tới suốt đời, để dù thêm tuổi, tôi vẫn trở nên trẻ nhỏ trước mặt Chúa, sống trọn vẹn thân phận người con bé nhỏ của Chúa. Và tôi nghĩ rằng: Chúa hứa thương yêu trẻ nhỏ, tha thứ cho trẻ nhỏ, thì chắc chắn, khi chúng ta dốc tâm sống như trẻ nhỏ trước mặt Chúa, Chúa sẽ thương chúng ta, Chúa sẽ nâng đỡ chúng ta, và sẽ giúp cho gia đình chúng ta luôn luôn hạnh phúc, luôn luôn bình an. Bởi vì, trong đó có tuổi xuân, tuổi thơ của Đức Kitô, của Chúa Thánh Linh. Amen.

Lễ Thêm Sức tại Rạch Sâu ngày 31-12-1994


 

Bùi-Tuần 0457: NƯỚC THIÊN CHÚA 25-10-1994


Luca 13, 18-21

Trảng Tranh

 

Trong bài Phúc Âm hôm nay, Chúa Giêsu nói đến Nước Thiên Chúa: 25-10-1994 Bùi-Tuần 457


Trong bài Phúc Âm hôm nay, Chúa Giêsu nói đến Nước Thiên Chúa. Theo thói thường, khi nghe nói đến một nước nào, người ta thường nghĩ tới những yếu tố căn bản làm nên nước đó, những yếu tố phân biệt nước đó với những nước khác, những yếu tố đó như là: Nước đó ở lục địa nào, có biên giới thế nào, có màu cờ ra sao, có những dân tộc nào, nói thứ ngôn ngữ nào vv... Có nghĩa là, một nước phải ở trên bản đồ thế giới.

Nhưng, Nước Thiên Chúa mà Đức Kitô nói tới hôm nay, không thuộc loại những nước như vậy. Nước Thiên Chúa không có ở trên bản đồ thế giới. Một lẽ đơn giản, là vì Nước Thiên Chúa ở trong lòng con người. Có nghĩa là, những ai mang trong lòng mình những tinh thần tốt, đặc biệt là tinh thần công bình, tinh thần bác ái, tinh thần sự thật... Những người ấy thuộc về Nước Thiên Chúa.

Để biết rõ hơn về Nước Thiên Chúa, Đức Kitô trong nhiều dịp khác nhau, đã cho biết thêm, là trong mỗi người vẫn thường có những mầm mống tinh thần tốt, được gieo vào như là những hạt giống tốt. Nhưng bên cạnh những mầm mống tốt ấy cũng có những mầm mống tinh thần xấu xen vào như những hạt giống xấu. Cả hai loại hạt giống: Tốt và xấu, đều thi nhau mọc lên, đều thi nhau nảy nở. Vì thế, Thiên Chúa thường căn dặn mỗi người cần phải tỉnh thức, cần phải canh chừng, cần phải làm thế nào để những hạt giống tốt được nảy sinh cây tươi tốt, lấn át những hạt giống xấu khi nó muốn mọc lên, để khi thời gian tới, Đức Kitô đến thu hoạch mùa màng, Người sẽ hỏi mỗi người về mùa màng được thu hoạch, và mỗi người sẽ phải trả lẽ về những mùa màng mình đã đem đến với Chúa.

Đến đây, chúng ta sẽ thấy kết quả của sự Chúa phán đoán.

Tâm hồn của những ai đã trở thành thửa đất, có cây mọc lên tươi xanh, hoa trái sum suê và chim trời đến líu lo, vui hát, thì đó là tâm hồn thuộc về Nước Thiên Chúa. Họ sẽ được lên Thiên Đàng.

Còn trái lại, tâm hồn của những ai giống như thửa đất đầy cỏ rác, đầy bụi gai, nơi sinh sống của những rắn rết, thì tâm hồn đó không thuộc về Nước Thiên Chúa. Họ sẽ bị loại trừ xuống hoả ngục.

Tới đây, một câu hỏi tất nhiên sẽ đặt ra cho mỗi người chúng ta, là giờ đây, lúc này, nếu Chúa đến tra vấn lòng ta, thì liệu lòng ta có đủ điều kiện, để Chúa kết luận là ta thuộc về Nước Thiên Chúa không?

Tôi nghĩ rằng, xem xét tâm hồn mình theo tiêu chuẩn tinh thần tốt, không phải là chuyện dễ đâu. Nhưng để giúp cho chúng ta có một cái nhìn tương đối đúng sự thật, Đức Kitô đã giới thiệu hai dấu chỉ, để giúp chúng ta thực hiện bước đầu đi vào Nước Thiên Chúa:

Dấu chỉ thứ nhất là tinh thần bác ái.

Trong Phúc Âm Chúa Giêsu nói rất nhiều lần, và nói rất rõ: Hễ chúng ta có lòng thương yêu người ta thật sự, dễ tha thứ, dễ chấp nhận những yếu đuối, tội lỗi của những người chung quanh với tấm lòng bao dung, dễ đoán sự lành cho người khác, dễ vui khi thấy họ thành công, dễ phục vụ khi họ cần đến mình, thì đó là dấu ta có tinh thần bác ái. Ta đang thuộc về Thiên Chúa.

Rồi, dấu chỉ thứ hai cũng dễ thấy, cũng dễ kiểm chứng được, đó là tinh thần nhìn nhận sự thật tối thiểu, sự thật gần gũi nhất, đó là sự thật về chính mình.

Khi nhìn nhận mình là yếu đuối. Khi nhìn nhận mình là tội lỗi. Khi nhìn nhận mình là hèn mọn. Rồi từ đó ăn năn thống hối, kêu cầu Chúa cứu độ, thì đó là dấu ta tôn trọng sự thật, và đó là dấu ta có tinh thần tốt. Ta đang thuộc về Nước Thiên Chúa.

Tới đây anh chị em đã nhận thấy khá rõ, những cái gì là căn bản nhất, giúp chúng ta thuộc về Nước Thiên Chúa. Những giá trị nào là cần thiết nhất, để chúng ta có thể làm việc tông đồ trong thời đại này. Tôi xin nhắc lại, đó là những tinh thần tốt, và đặc biệt là tinh thần công bình, tinh thần bác ái, tinh thần sự thật. Mà khi chúng ta đã nhìn nhận như vậy, thì chúng ta sẽ thấy việc đào tạo mình, việc huấn luyện những người thuộc về mình để có những giá trị ấy, thời nay đang trở nên rất cần thiết và rất quan trọng.Kinh nghiệm cho tôi thấy là trong vấn đề đào tạo lương tâm, huấn luyện con người để biết bám vào những giá trị căn bản Phúc Âm của Nước Trời, chúng ta thường học giáo lý nhiều. Học giáo lý nhiều, đó là điều tốt. Nhưng chỉ học mà thôi thì không đủ. Phải làm cho những chân lý đó trở thành sự sống. Phải làm cho những chân lý đó nhập tâm. Phải làm cho những chân lý đó hướng dẫn và thống trị đời sống chúng ta, từ bên trong đến bên ngoài.

Giờ đây, tôi đang nhìn thấy tình hình Hội Thánh Việt Nam. Tôi đang nhìn thấy tình hình đất nước Việt Nam. Tôi nhìn thấy có rất nhiều tinh thần tốt đang được mọc lên. Tôi cũng đang nhìn thấy vô số tinh thần tốt, đang nảy nở khắp nơi trong tâm hồn mỗi con người, trong gia đình mỗi anh chị em, trong giáo xứ, trong cộng đoàn Hội Thánh Việt Nam chúng ta.

Nếu chúng ta không canh chừng, nếu chúng ta không phân biệt những gì là giá trị căn bản, và nhất là, nếu chúng ta không gặp gỡ được Đức Kitô là Đấng Cứu Độ, là Đấng hướng dẫn cuộc đấu tranh giữa những giá trị tốt và những giá trị xấu, không gặp gỡ được Ngài để bám vào Ngài trong cuộc chiến đấu quyết liệt hôm nay, thì tôi sợ là mai này, những tinh thần xấu sẽ làm nên một cơn lũ lụt, làm trôi đi hết những tinh thần tốt, mà ta đã lãnh nhận trong đời sống, qua các Bí Tích, qua những lớp giáo lý, qua những cơn thử thách này nọ.

Vì thế, trong lễ Thêm Sức hôm nay, tôi xin anh chị em, hãy nhìn lên Chúa Thánh Thần, hãy xin Người giúp cho chúng ta được gặp Đức Kitô. Xin Ngài mở mắt linh hồn chúng ta ra, để chúng ta nhìn thấy Đức Kitô đang hiện diện ở đây, để Đức Kitô sẽ là Đấng Cứu Độ ta, trong cuộc chiến giữa tinh thần tốt và tinh thần xấu đang diễn biến phức tạp, tại Hội Thánh hôm nay.

 Khi đã gặp gỡ được Đức Kitô, khi đã bám vào Đức Kitô, khi đã nhìn thấy dung nhan Đức Kitô thế nào rồi, chúng ta có hy vọng chắc chắn sẽ thắng được những tinh thần xấu đang dấy lên sức mạnh, để phá Nước Trời, để phá Nước Thiên Chúa.

Con em chúng ta còn dại lắm. Tôi hy vọng vào các phụ huynh, những người đã được ơn Chúa soi sáng, những người đã được Thiên Chúa thắng vượt những cơn thử thách về đức tin. Hôm nay, hãy cầu xin Chúa Thánh Thần giúp cho anh chị em đủ sức hướng dẫn con em của mình, trong cuộc chiến giữa tinh thần tốt và tinh thần xấu, đang diễn biến rất phức tạp như tôi đã nói. Để sau này, như anh chị em vừa hát: Anh chị em sẽ được sai đi, như là những người làm chứng cho những giá trị căn bản của Đức Kitô, để làm chứng về Nước Trời: Nước Trời là công bình. Nước Trời là bác ái. Nước Trời là sự thật. Nước Trời chính là Đức Kitô Cứu Độ. Amen.

Trảng Tranh Ngày 25-10-1994


 

Bùi-Tuần 0458: ĐỨC TÍNH NHÂN BẢN 26-10-1994


Luca 13,22-30

Hoà An (Hoà Hưng)

 

Trong bài Phúc Âm hôm nay, Chúa Giêsu đã nói hai điều tiên tri: 26-10-1994 Bùi-Tuần 458


Trong bài Phúc Âm hôm nay, Chúa Giêsu đã nói hai điều tiên tri:

Điều tiên tri thứ nhất, là nhiều người có đạo sẽ bị Chúa không nhìn nhận. Họ tưởng mình biết Chúa. Họ tưởng mình thuộc về nước Thiên Chúa, vì lẽ họ đã từng tham dự những buổi giảng huấn của Chúa. Nhưng, Chúa đã không nhìn nhận họ. Lý do đơn giản nhất Chúa nói trong Phúc Âm là: Họ có đạo, nhưng sống gian ác.

Điều tiên tri thứ hai, là sẽ có nhiều người không có đạo từ đông chí tây, từ nam chí bắc, sẽ được Thiên Chúa nhìn nhận, thuộc về nước Thiên Chúa, được Chúa đón nhận. Lý do Chúa không nói rõ ở đây, nhưng theo nội dung trước sau trong bài Phúc Âm, tôi thấy lý do chính được Chúa chấp nhận họ, là tuy họ không có đạo, nhưng họ sống lương thiện, không gian ác. Họ tôn trọng sự thật. Họ có lòng công bình, bác ái đối với những người chung quanh.

Hai điều tiên tri Chúa nói hôm nay, kêu mời chúng ta xét lại cái nhìn của mình về cách giữ đạo.

Nhiều người trong chúng ta nhìn vào các sinh hoạt tôn giáo, rồi căn cứ vào đó để đánh giá việc giữ đạo của mình, như trong bài Phúc Âm có nói: “Tôi đã tham dự những buổi Chúa giảng dạy. Tôi đã ăn uống trước mặt Chúa”. Nghĩa là, họ căn cứ vào những sinh hoạt tôn giáo, để cho rằng mình có giá trị trước mặt Chúa. Nhưng Chúa bác bỏ cách nhìn như vậy, cách đánh giá như vậy. Thiên Chúa không nhìn vào các sinh hoạt tôn giáo, mà nhìn vào lòng con người, nhìn vào các sinh hoạt cuộc sống, xem ở đó có lương thiện không, có sự thật không, có công bình không, có bác ái không. Chúa sẽ căn cứ vào những giá trị ấy để đánh giá việc giữ đạo của mỗi người, và để rồi phân loại: Ai sẽ được lên Nước Chúa, ai bị xua đuổi xuống hoả ngục.

Rõ ràng, bài Phúc Âm hôm nay nhấn mạnh đến những đức tính nhân bản, đặc biệt là sự lương thiện, sự công bình, sự bác ái. Chúa nhấn mạnh đến đức tính nhân bản. Và các Đức Giáo Hoàng gần đây cũng đã nhắc nhở những người đào tạo nhân sự, những giáo lý viên, những người đứng đầu cộng đoàn phải đặc biệt chú ý đến đức tính nhân bản này. Bởi vì, đây là những giá trị thích hợp nhất trong thời buổi hôm nay để loan báo Tin Mừng.

Trong thời buổi hôm nay, chúng ta đang thấy các đức tính nhân bản, như sự lương thiện, công bình, bác ái, tôn trọng sự thật, là những cái dễ thấy, dễ kiểm chứng, là những cái dễ giới thiệu thực chất của một người, dễ giới thiệu thực chất của một tôn giáo, dễ gây được cảm tình đối với những người chung quanh.

Trong mấy tuần nay và cả hôm nay, từng triệu người trên đất nước chúng ta đang theo dõi những gì xảy ra cho các nạn nhân lũ lụt. Những ai có những việc làm từ thiện, bác ái, tỏ tình liên đới với những nạn nhân lũ lụt, đều được khắp nơi ca ngợi. Những tín đồ tôn giáo nào đã tự động làm những việc có tính cách từ thiện cứu giúp những nạn nhân lũ lụt, đang gây được cảm tình tốt, không những đối với cá nhân họ, mà còn đối với cả tôn giáo của họ. Những tôn giáo nào trong mấy tuần nay, đã động viên được tín đồ của mình làm công việc bác ái, chia sẻ tình cảm, của cải, thời giờ với những nạn nhân lũ lụt, đều đã được kính trọng, đều đã dành được niềm tin tưởng nơi từng triệu người Việt Nam hôm nay.

Cũng trong mấy tuần nay, từng triệu người Việt nam, đang theo dõi mấy cuốn phim chiếu về những nhân vật đề cao đức tính nhân bản: Sự lương thiện, sự công bình, sự dũng cảm, sự suy nghĩ tốt cho những người chung quanh... Những đức tính nhân bản ấy đã có sức thuyết phục những người khó tính nhất, đã là một sức mạnh thiêng liêng làm chứng giá trị nhân bản của con người, đã là một cái giá trị có sức thuyết phục, có sức làm chứng, có sức gây tình cảm, có sức xây dựng nền móng, xã hội và gia đình.

Cũng trong mấy tuần nay, qua thư từ và phản ánh, tôi đã nhận được khá nhiều dư luận, bất mãn về cá nhân này, về cộng đoàn kia. Bởi vì, họ quá sai sót lỗi lầm trong vấn đề lương thiện, công bình, bác ái. Và cũng qua thư từ phản ánh, tôi cũng đã nhận thấy nhiều tin tức ca ngợi những cá nhân, những họ đạo, những nhà dòng đã sống lương thiện, công bình, bác ái, tôn trọng sự thật.

Qua những kinh nghiệm mới đây, tôi càng hiểu thấm thía lời Chúa phán hôm nay, một lời làm cho tôi phải suy nghĩ trằn trọc: “Bởi vì chúng bay gian ác, cho nên Ta đuổi chúng bay đi”. Chỉ vì gian ác chứ không phải là vì không có tham dự sinh hoạt tôn giáo. Gian ác, tức là thiếu những đức tính nhân bản cần thiết nhất.

Mà theo lời Chúa nói hôm nay, thì khi lỗi về đức tính nhân bản Chúa có thể ra án phạt đời đời, chứ không phải chỉ là mất mát tình cảm, mà phải xuống hoả ngục. Mất mát đời đời chỉ vì lỗi về đức tính nhân bản, vì gian, vì ác, vì sống không trung thật, không tôn trọng sự thật, không có lòng yêu thương, không có lòng liên đới.

Những điều Chúa dạy hôm nay trong Phúc Âm, cũng như những kinh nghiệm tôi nhận được trong mấy tuần qua, càng làm cho tôi xác tín rằng: Chúng ta phải nghĩ lại đường lối giáo dục của chúng ta, đường lối tự đào tạo mình và đào tạo những người thuộc về mình. Có nghĩa là chúng ta, đang khi nhấn mạnh đến những điều phải tin, đang khi khuyến khích tham dự những sinh hoạt tôn giáo đều đặn, thì chúng ta cần phải huấn luyện nhiều hơn đến những đức tính căn bản, nhất là sự sống lương thiện, sự tôn trọng sự thật, công bình, bác ái, sống liên đới, sống kính trọng người khác vv...

Khi tới đây, tôi nhận thấy các trẻ em có vẻ lễ phép, hiền hoà, nhường nhịn, vâng lời. Tôi cho đây là những đức tính nhân bản tốt, kết quả của những đường lối giáo dục tốt của gia đình, của trường học, của xã hội, của các cha, các sơ (soeur), các thầy, hội đồng giáo xứ và giáo lý viên. Những kết quả ấy cần phải được tiếp tục và phát triển thêm. Phát triển thêm, có nghĩa là chúng ta đem những đức tính nhân bản có sẵn vào các động lực của đức tin và đức ái Phúc Âm.

Khi chúng ta đem những đức tính nhân bản đó vào động lực đức tin và đức ái Phúc Âm, thì những đức tính nhân bản đó sẽ đẹp hơn, sẽ mạnh hơn, sẽ có sức thuyết phục và truyền giáo nhiều hơn.

Trong thánh lễ hôm nay, tôi xin Chúa Thánh Thần mở lòng chúng ta ra, mở mắt chúng ta ra, để chúng ta hiểu được lời Chúa dạy trong bài Phúc Âm. Hãy để ý đến những giá trị căn bản, cũng gọi là đức tính nhân bản, vì đó là những cái làm chứng cho Chúa, làm chứng cho đạo ta, dọn đường cho Chúa đến.

Trong giờ phút này, xin anh chị em sống sự thật của mình lúc này. Đó là cầu nguyện với tất cả tâm hồn. Cầu nguyện là gặp gỡ Chúa. Cầu nguyện là đón nhận Chúa. Cầu nguyện là sẵn sàng vâng theo ý Chúa. Amen.
Hoà An (Hoà Hưng), ngày 26-10-1994

 

Bùi-Tuần 0459: TRUYỀN GIÁO VÀ ĐỨC TÍNH NHÂN BẢN 29-10-1994


 Lc 14, 1.7-11

Họ Antôn, Lấp Vò

 

Qua bài Phúc Âm hôm nay, Chúa Giêsu dạy tôi nhiều điều về: 29-10-1994 Bùi-Tuần 459


Qua bài Phúc Âm hôm nay, Chúa Giêsu dạy tôi nhiều điều về truyền giáo.

Điều thứ nhất Chúa dạy tôi là Chúa có thể dùng bất cứ ai, để dọn đường cho Chúa đến rao giảng Tin Mừng.

Thực vậy, hồi đó, giới Biệt Phái bị coi là những người đạo đức giả. Chính Chúa Giêsu cũng đã nêu lên sự thật đó nhiều lần. Người ta có cảm tưởng là giữa Đức Kitô và giới Biệt Phái có một khoảng cách rất lớn, không thể nào rút gần lại được. Ấy thế mà, bài Phúc Âm hôm nay nói: Có một người Biệt Phái, đã mời Đức Kitô đến nhà mình để dùng cơm. Mà không phải người Biệt Phái tầm thường, ông ta là thủ lãnh các người Biệt Phái. Ông ta mời Chúa đến nhà mình, mời dùng bữa với mình. Đức Kitô đã nhận lời, đã đến, đã ở lại nhà người Biệt Phái, và đã trao đổi chuyện vãn với họ.

Sự kiện trên đây cho chúng ta thấy Đức Kitô, nhà truyền giáo được sai đi có một trái tim cởi mở. Ngài biết mọi người: Mỗi người đều có cái xấu, có cái tốt tương đối. Nhưng không vì thế mà Ngài có thành kiến cố định. Khi thấy người thủ lãnh Biệt Phái có một cử chỉ tốt đối với Ngài, Ngài nắm bắt ngay cử chỉ tốt đó, để đến với ông, để xây dựng một dây liên hệ thật tốt với ông.

Việc Chúa làm hôm nay, khiến chính tôi cũng như anh chị em phải có một thái độ cởi mở trong vấn đề giao tế để truyền giáo. Nhiều khi tôi xét mình, tôi thấy tôi rất yếu đuối, rất nhiều thiếu sót, rất nhiều tội lỗi, thế mà Chúa không có thành kiến, không có loại trừ, Chúa vẫn thương tôi. Thế thì tại sao tôi lại thành kiến, hẹp hòi với những chung quanh, kể cả những người mà xã hội dư luận cho là tội lỗi. Truyền giáo phải như Đức Kitô, nắm bắt mọi cử chỉ tốt của người ta, phải lợi dụng mọi cơ hội tốt để đến với con người. Đó là điều thứ nhất Chúa dạy tôi hôm nay.
Điều thứ hai Chúa dạy tôi hôm nay là Đức Kitô có thể dùng bất cứ nơi nào, để rao giảng Tin Mừng.

Hồi đó, dân Israel có thói quen chỉ nghe lời Chúa trong hội đường, chỉ suy gẫm lời Chúa trong đền thờ, chỉ bàn về nước Chúa trong sinh hoạt tôn giáo. Thế nhưng, bài Phúc Âm hôm nay cho thấy, Đức Kitô không tự hạn chế việc rao giảng Tin Mừng trong bốn bức tường hội đường. Ngài không tự hạn chế việc rao giảng Tin Mừng trong sinh hoạt tôn giáo. Bởi vì, Ngài rao giảng Tin Mừng ngay trong nhà ông thủ lãnh Biệt Phái. Nhà đó đâu có phải là hội đường. Ngài rao giảng Tin Mừng ngay trong bữa ăn. Bữa ăn đâu có phải sinh hoạt tôn giáo.

Việc Chúa làm hôm nay cho tôi thấy: Chúa Giêsu, Người truyền giáo được sai đi, rất bén nhạy, coi việc làm truyền giáo của mình là không biên giới. Chỗ nào cũng là chỗ tôi rao giảng Tin Mừng.

Chúng ta thấy, ngày hôm nay có biết bao giáo phái, có biết bao tôn giáo, đang lăn xả vào các gia đình và các hội trường, để rao giảng Tin Mừng theo ý nghĩa của họ. Và kết quả không phải là tiêu cực đâu. Họ rao giảng Tin Mừng trong các gia đình. Họ gặp gỡ ai là nói đến truyền giáo. Và kết quả như tôi nói là rất tích cực. Nhiều người đã chạy theo giáo phái. Ấy thế mà tại sao chúng ta, anh chị em cũng như tôi, lại tự hạn chế mình trong một nơi nhỏ hẹp, trong sinh hoạt tôn giáo, trong bốn bức tường nhà thờ.

Mấy tuần nay, trong cơn lũ lụt, tôi thấy biết bao nhiêu người đã nêu gương đạo đức trong những sinh hoạt cuộc sống, bằng cách bỏ tiền ra cứu giúp, bằng cách hy sinh thời giờ công sức để làm gương bác ái. Đó cũng là rao giảng, nêu cao những giá trị Phúc Âm.

Điều thứ ba Chúa dạy tôi hôm nay là Chúa Giêsu dùng bất cứ đề tài nào để rao giảng Tin Mừng.

Hồi đó, dân Israel nhất là người Biệt Phái, để ý học hỏi luật Môisen, kinh Môisen, học thuộc lòng, rồi còn viết ra, cuốn lại, đeo vào tay áo, làm chứng rằng mình gắn bó với luật Môisen. Thế nhưng, Đức Kitô, như bài Phúc Âm hôm nay nói: Ngài không nói đến luật Môisen, Ngài không nói đến giáo lý của tôn giáo. Ngài nói đến đức tính nhân bản: Đừng có kiêu ngạo, đừng có thích chỗ cao, chỗ nhất. Ngài nói về nhân bản thôi. Bởi vì, nhân bản cũng chính là đạo làm người, trước khi là đạo của Thiên Chúa. Một nền tảng nếu thiếu đi, sẽ không còn là đạo của Thiên Chúa.

Sự việc Chúa Giêsu làm hôm nay, chứng tỏ Đức Kitô, Người truyền giáo, có một cái nhìn rất rộng về tôn giáo. Điều Ngài muốn cho chúng ta học, không phải chỉ trong Kinh Tin Kính, trong kinh mục, trong cuốn giáo lý, mà là tất cả những gì giúp cho chúng ta nên một người tốt. Điều này khuyến khích tôi phải để ý nhiều hơn đến những đức tính nhân bản, mà Đức Kitô hôm nay đã nêu lên trong nhà ông thủ lãnh Biệt Phái.

Anh chị em thân mến,

Họ đạo Lấp Vò, theo như chúng ta ước lượng đã hơn 100 năm. Thế mà số giáo dân hôm nay, cũng chỉ hơn 100 người. Họ đạo chúng ta có nhà thờ đẹp, có linh mục trẻ, nghĩa là chúng ta có rất nhiều cơ hội thuận lợi để phát triển.

Tôi hỏi Chúa: Không biết Chúa có bằng lòng với họ đạo chúng con không? Riêng tôi, khi ăn năn tội ở đầu thánh lễ, tôi đã xin Chúa tha thứ tội lỗi cho tôi, có thể là do tôi đã thiếu sót trong vấn đề truyền giáo. Và tôi cũng nghĩ rằng, anh chị em cũng có thể thiếu sót trong vấn đề truyền giáo. Và cái thiếu sót nhất, theo tôi nghĩ: Đó là chúng ta thiếu lửa mến Chúa, yêu người.

ở đầu thánh lễ, khi anh chị em hát: “Hãy đốt lên lửa hồng, hãy chiếu soi lửa hồng”, tôi đã nói với Chúa rằng: “Xin Chúa đốt lên trong lòng con, trong họ đạo con lửa mến Chúa, lửa Nước Trời, để với lửa đó con sẽ ra đi”. Bởi vì, nếu thiếu lửa trong lòng mình, thì chúng ta không có sáng kiến, chúng ta không biết phải làm gì để mở mang Nước Chúa.

Trong thánh lễ hôm nay, tôi đã xin với Chúa Thánh Linh một điều này: Xin Chúa giúp cho tôi, cho anh chị em có được một trái tim nồng cháy như Đức Kitô. Người truyền giáo hôm nay, biết dùng bất cứ người nào mà Chúa cho mình thấy có thể chiếm, biết lợi dụng bất cứ nơi nào mình thấy có thể rao giảng Tin Mừng, và biết lợi dụng bất cứ đề tài nào để gieo rắc Tin Mừng chung quanh chúng ta. Tôi nghĩ rằng nếu chúng ta cầu nguyện vì danh Chúa, Chúa sẽ ban ơn cho chúng ta.

Đây là một lời khuyến khích nhắn nhủ anh chị em. Bởi vì, vấn đề truyền giáo là bổn phận chính yếu của người đã được rửa tội, đã được chịu phép Thêm Sức. Nếu chúng ta chỉ giữ đạo mà không truyền đạo, không mở đạo ra, thì chúng ta có lỗi. Mà lỗi đó không thể được Chúa tha thứ, nếu chúng ta không thật sự ăn năn, và ăn năn là sửa lại.

Xin Chúa Thánh Linh đến với chúng ta, biến đổi tâm hồn chúng ta, ban cho chúng ta có nhiều sáng kiến, nhất là ban cho chúng ta có lửa mến Chúa yêu người thật sự, và lửa truyền giáo: Biết ra đi, biết rao giảng Tin Mừng cách dũng cảm và nhiều sáng kiến. Amen

Họ Antôn, Lấp Vò, ngày 29-10-1994


 

Bùi-Tuần 0460: KHIÊM NHƯỜNG CủA PHÚC ÂM 29-10-1994


Lc 14,1.7-11

Cái Đôi

 

Trong bài Phúc Âm hôm nay, Chúa Giêsu nói về sự khiêm nhường: 29-10-1994 Bùi-Tuần 460


Trong bài Phúc Âm hôm nay, Chúa Giêsu nói về sự khiêm nhường.

Sở dĩ, Chúa đề cập đến sự khiêm nhường hôm nay là để uốn nắn lại một thói quen sai trái của giới biệt phái bấy giờ: Sai với giáo lý, trái với nhân bản.

Thật vậy, hồi đó giới Pharisêu chủ trương rằng: Tôn giáo của họ và duy trì tôn giáo của họ, mới có đầy đủ mọi chân lý. Còn các tôn giáo khác thì đầy dẫy sự sai lạc. Và trong tôn giáo của họ, giới biệt phái, và chỉ giới biệt phái mới là những người đạo đức thật, đạo đức cao, còn những người khác, tuy có đạo đức, cũng chỉ ở mức độ thua kém.

Họ chủ trương trên lý thuyết như vậy, và từ lý thuyết cực đoan ấy, họ rút ra những thực hành rất là cực đoan:

Khi đi qua một làng vô đạo, họ tránh không đi vào. Mà nếu muốn đi qua, họ phải vòng quanh, chứ không đi vào làng ngoại đạo. Khi có việc gì với một gia đình ngoại giáo, họ đứng ngoài cổng chứ không thèm bước vào. Khi có một câu chuyện phải nói với người ngoại đạo, với người tội lỗi, họ quay mặt đi mà nói.

Thói quen tự đề cao mình trên lý thuyết và trên thực hành, đã dẫn họ đến những hành động lố bịch. Chẳng hạn như bài Phúc Âm hôm nay kể: Họ tranh nhau ngồi chỗ nhất, ăn cơm mà còn tranh nhau ngồi chỗ nhất. Thấy cảnh sai trái như vậy, Chúa Giêsu đã có ý kiến để giúp họ nghĩ lại. Và để cho ý kiến của Đức Kitô được rõ, thì nhiều lần Đức Kitô đã đề cao những người ngoại giáo.

Chẳng hạn về đức bác ái, thì Đức Kitô nêu gương người Samaria, một người ngoại đạo, đã dừng lại cứu giúp nạn nhân nằm bên vệ đường; đang khi thầy tư tế, thầy Lêvi nhìn thấy nạn nhân thì ngoảnh mặt đi.

Rồi, khi nói về sự biết ơn, Đức Kitô cũng đã nêu gương sáng nơi người ngoại giáo: Mười người phong cùi được Chúa chữa khỏi, chỉ có một người trở lại cám ơn Chúa. Người đó lại là người ngoại giáo.

Rồi, khi nói về sự cầu nguyện, sám hối, Chúa lại nêu gương sáng người thu thuế, là loại người không được dư luận cho là đạo đức. Ông ta đứng cuối nhà thờ, cúi mặt xuống, đấm ngực xin Chúa thứ tha; đang khi người biệt phái đứng trước bàn thờ, phô trương công đức của mình, khinh thường người thu thuế đứng cuối nhà thờ.

Rồi, khi nói về đức tin, Chúa Giêsu lại nêu gương một người sĩ quan ngoại đạo. Chúa nói: “Tôi chưa thấy một đức tin nào mạnh bằng đức tin của ông này"; đang khi Chúa lại chê những người có đạo hồi đó, thấy phép lạ, nghe lời giảng, mà vẫn cứng lòng.

Những điều Chúa dạy về đức khiêm tốn hôm nay, khuyến khích tôi nhìn lại chính mình và nhìn lại những cộng đoàn đức tin của tôi.Nhìn chung, nhìn qua, tôi thấy chúng ta tiếp thu khá đúng lời Chúa dạy. Và trên thực tế, chúng ta cũng thực hành khá đúng, theo tinh thần Chúa dạy. Nhất là sau công đồng Vatican II, các sách báo công giáo chúng ta đã công khai nhìn nhận những giá trị của các tôn giáo khác. Và trên thực tế, từ Đức Giáo Hoàng cho đến giáo dân, đã có những thái độ cởi mở hơn, trong việc tiếp xúc, cộng tác với những người ngoài công giáo.

Thế nhưng, khi nhìn kỹ lại chính mình, khi nhìn kỹ lại cộng đoàn của tôi, tôi thấy không hoàn toàn là vô tội trước mặt Chúa, trong tinh thần vâng phục bài Phúc Âm hôm nay.

Có một hiện tượng đang chớm nở trong Hội Thánh chúng ta, đó là hiện tượng quá đề cao uy tín Hội Thánh, quá đề cao cộng đoàn của mình, quá đề cao cá nhân của mình, đến nỗi không những đẩy lùi những tôn giáo khác, mà cũng đẩy lùi cả Đức Kitô, đẩy lùi cả Phúc Âm của Đức Kitô, xuống hàng thứ yếu.

Rồi có một tinh thần tục hoá, cũng đang đề cao những việc bề ngoài quá đáng, mà quên đi sự gặp gỡ Đức Kitô, và những giá trị căn bản nhất của Phúc Âm là khiêm tốn, là sám hối, là bác ái công bình.

Anh chị em thân mến,

Nếu hiện tượng không đúng ấy cứ một mực tăng lên, thì tôi lo rằng sẽ đến một lúc nào đó, Chúa sẽ thực hiện lời Chúa cảnh cáo hôm nay: “Ai nâng mình lên sẽ bị hạ xuống”, dù đó là một Hội Thánh địa phương, là một vị lãnh đạo cộng đoàn tôn giáo, là một tổ chức đạo đức.

Những điều Chúa dạy về đức khiêm nhường, mà tôi vừa chia sẻ với anh chị em, rất cần được thực hiện trong việc truyền giáo. Đi tới đâu, gặp bất cứ ai, nhất là những người ngoài công giáo, chúng ta cần phải có một thái độ khiêm tốn, đừng phô trương mình là nắm sự thực, đừng phô trương đạo mình là luôn luôn thánh thiện, để rồi kết án và khinh rẻ những đạo khác, những người ngoài công giáo. Chỉ có Chúa mới biết rõ được. Còn chúng ta, khi giao tiếp với người khác, nhất là đứng trước mặt Chúa, chúng ta cần phải rất khiêm tốn. Rất khiêm tốn, vì Chúa đã dạy hôm nay: “Ai nâng mình lên sẽ bị hạ xuống”. Đến một lúc nào đó, nếu chúng ta có nâng mình lên, khen Hội Thánh mình, khen cộng đoàn của mình, thì Chúa sẽ cho chúng ta bẽ mặt, vì Chúa chỉ luôn nêu gương đạo đức nơi những người ngoại giáo. Lúc bấy giờ chúng ta mới thấy chúng ta sai lầm thì sợ quá trễ, quá muộn.

Xin Chúa Thánh Thần là Đấng sai chúng ta đi truyền giáo trong thời đại này, giúp cho chúng ta có một sự khôn ngoan, một sự hiểu biết, để chúng ta biết có một thái độ khiêm tốn, nhã nhặn, cởi mở, tế nhị trong vấn đề đối xử, tiếp cận, nhất là với những người ngoài công giáo.

Tôi tin rằng, trong thánh lễ hôm nay, nếu chúng ta xin Chúa ở giữa chúng ta, nếu chúng ta tập trung lòng trí lại để gặp gỡ Đức Kitô, gặp gỡ như gặp bài Phúc Âm hôm nay: Ngồi bên Ngài, nghe lời Ngài, và tiếp thu tinh thần của Ngài, thì lời Chúa sẽ đem Đức Kitô khiêm nhường và hiền lành vào trong ta, để rồi không phải ta sống, mà là Đức Kitô hiền lành, khiêm nhường sống trong ta, để chúng ta đem vinh quang lại cho Chúa, không phải bằng những chiến thắng bên ngoài, mà bằng sự khiêm nhường, bằng sự hiền lành của Phúc Âm. Amen.

Gx Cái Đôi, ngày 29-10-1994


 

Bùi-Tuần 0461: LỬA MẾN CHÚA YÊU NGƯỜI 30-10-1994


 Mc 12, 28-34

Cái Dầu

 

Đêm vừa qua, khoảng sau 12 giờ, một cơn mưa nhẹ đã đánh thức: 30-10-1994 Bùi-Tuần 461


Đêm vừa qua, khoảng sau 12 giờ, một cơn mưa nhẹ đã đánh thức tôi dậy. Tôi liền nghĩ ngay tới họ đạo của anh chị em, nơi mà sáng nay tổ chức lễ Thêm Sức.

Tôi biết là cha sở ở đây đã chuẩn bị rất chu đáo, nên riêng phần tôi, tôi cũng muốn chuẩn bị tương đối cho chu đáo. Tôi sắp xếp một vài đồ cần để trong cặp, rồi tôi tự hỏi mình chuẩn bị thế này không biết đã đủ chưa, có còn thiếu gì không? Và tôi nghe trong lòng một tiếng Chúa trả lời: Chuẩn bị như thế này chưa đủ. Còn thiếu một điều khác, đó là phải chuẩn bị tâm hồn của mình. Tôi liền mở sách Phúc Âm ra, và tôi đọc thấy Chúa dạy trong bài Phúc Âm hôm nay luật “mến Chúa yêu người”.

Qua bài Phúc Âm hôm nay, tôi hiểu Chúa muốn nhắc nhở tôi: Hãy dọn tâm hồn của mình bằng cách giục lòng mến Chúa nhiều hơn, giục lòng yêu thương người ta trong sáng hơn, mạnh mẽ hơn. Để cho tất cả mọi việc, mọi lời của tôi hôm nay ở đây, đều do động lực “mến Chúa yêu người”, đều hướng về mục đích duy nhất “mến Chúa yêu người”, và giúp cho tôi nhìn anh chị em, mọi việc anh chị em làm đều là những việc “mến Chúa yêu người”.

Nhất là lời Chúa trong bài Phúc Âm hôm nay, khuyến khích tôi hãy cầu xin cho mình, cầu xin cho họ đạo Cái Dầu thêm lửa mến Chúa, thêm lửa yêu người. Thêm sức là thêm lửa mến Chúa, thêm lửa yêu người. Tôi cảm tạ Chúa đã nhắc nhở cho tôi một điều quan trọng. Tôi cũng rất cảm tạ Chúa, vì luật “mến Chúa yêu người” đã đem lại cho tôi rất nhiều an ủi. Và tiện đây, tôi cũng muốn chia sẻ vắn tắt những tâm tình của tôi.

An ủi thứ nhất là luật “mến Chúa yêu người” đã trở nên tiêu chuẩn chắc chắn nhất, giúp tôi biết lựa chọn việc nào phải làm, việc nào không nên làm.

Thật vậy, trong đời sống thường, nhất là trong lãnh vực mục vụ, có nhiều vấn đề đặt ra cho tôi, mà vấn đề nào cũng có nhiều phương án có thể giải quyết. Mình phải chọn phương án nào? Khi còn phân vân lưỡng lự như vậy, tôi luôn lấy tiêu chuẩn “mến Chúa yêu người” để cân nhắc, để lựa chọn. Tôi sẽ chọn phương án nào nào đúng hơn với luật “mến Chúa yêu người”. Tôi sẽ chọn cách giải đáp nào, có khả năng làm chứng rõ hơn về luật “mến Chúa yêu người”. Tôi sẽ tìm cách nào, có hy vọng xây dựng được tình “mến Chúa yêu người” giữa những người chung quanh, nhất là giữa những người lương dân.

Tôi cũng đã thấy các linh mục, tu sĩ và giáo dân làm gương sáng cho tôi về sự lựa chọn như vậy.

Chẳng hạn hôm nay nhiều anh em linh mục của tôi, đáng lẽ phải ở nhà, lo việc khác cũng chính đáng, nhưng đã chọn đến đây. Tiêu chuẩn lựa chọn cũng là để mến Chúa, để làm chứng tình yêu thương đối với họ đạo Cái Dầu, đối với cha sở ở đây. Tôi cũng đã thấy giáo dân ngày hôm nay ở Long Xuyên, họ có thể ở nhà để cầu nguyện, để làm việc riêng. Nhưng có một nhóm sáng nay sau thánh lễ, lại đi cứu trợ những nạn nhân lũ lụt. Họ chọn phương án như vậy cũng vì muốn tuân luật Chúa, làm chứng cho tình “mến Chúa yêu người”.

An ủi thứ hai là luật “mến Chúa yêu người” đã là một bí quyết hữu hiệu nhất, giúp tôi vượt qua được những khó khăn, ngăn cách trong con đường truyền giáo.

Thật vậy, khi làm việc truyền giáo, tôi gặp rất nhiều khó khăn khách quan và chủ quan, nhất là khi lòng mình cảm thấy không có thiện cảm, hay là có thành kiến nào đó với những đối tượng tôi cần rao giảng Tin Mừng. Lúc ấy tôi phải làm gì? Tôi chỉ xin Chúa đốt lên trong trái tim tôi ngọn lửa “mến Chúa yêu người”. Tôi xin Chúa hãy làm cho tôi biết yêu thương người ta như yêu thương chính mình, như lời Chúa dạy trong bài Phúc Âm hôm nay. Và tôi thấy rằng: Khi Chúa ban cho tôi lửa yêu thương con người như yêu thương chính mình, thì tôi không sợ trở nên anh em với những người đó. Tôi không sợ họ sẽ là anh em của tôi, mặc dầu họ là người ngoài công giáo, mặc dầu họ là người ác cảm với công giáo. Một khi tôi đã coi họ là người anh em, yêu thương họ như chính mình tôi, thì tôi không ngại chia sẻ Tin Mừng của tôi cho họ, theo một cách nào đó thích hợp với tâm lý, hoàn cảnh.

Tôi cũng đã nhận thấy nhiều người làm gương sáng cho tôi về phương diện này: Thánh Phêrô, ngài thấy một người bại liệt, ngài nói: “Tôi không có tiền bạc gì cả, nhưng nhân danh Đức Kitô, anh hãy đứng dậy”. Rồi thánh Phêrô cầm tay người bại liệt ấy, giúp anh đứng dậy, nhập vào đoàn lũ đứng chung quanh.

Hiện nay cũng vậy, nhiều người không có tiền bạc chia sẻ, nhưng có tình mến Chúa, tình thương người. Họ đã cầm tay nhiều người khốn khó, để nâng đỡ họ đứng lên. Và tôi thấy tình thương, nhiều khi còn quan trọng hơn là vàng bạc của cải đem chia sẻ. Khi người ta cảm thấy mình được yêu thương, được kính trọng, được nâng đỡ, người ta nhận ra đó là Tin Mừng, Tin Mừng cứu độ. Tôi được Chúa yêu thương, tôi được anh em chung quanh yêu thương, đó là Tin Mừng.

An ủi thứ ba là luật “mến Chúa yêu người” đã trở nên giá trị căn bản nhất, giúp tôi tập trung lòng trí vào đó, trong đời sống bình thường.

Tôi cũng như anh chị em thấy giáo lý chúng ta rất là phong phú. Có người coi việc tra cứu, học hỏi phải tin cái gì, là giá trị căn bản. Có người lấy việc sinh hoạt tôn giáo, đi lễ đọc kinh, là giá trị căn bản. Rồi có người coi việc một chọn hướng chính trị, là giá trị căn bản.

Nhưng theo bài Phúc Âm hôm nay, giá trị căn bản chúng ta phải tập trung vào, đó là mến Chúa, đó là yêu người. Nếu tôi tin tất cả mọi sự, mà tôi không có lòng “mến Chúa yêu người”, thì không phải là điều Chúa muốn. Nếu tôi đi lễ đọc kinh, sinh hoạt tôn giáo đều đặn, mà thiếu “mến Chúa yêu người”, thì đó cũng không phải là điều Chúa muốn. Nếu tôi chọn một hướng chính trị nào đó mà tôi cho là hợp công bình bác ái, còn chính tôi thì thiếu lòng “mến Chúa yêu người”, thì đó cũng không phải là điều Chúa muốn.

Một việc rất nhỏ như bây giờ đây, đang nghe giảng mà chúng ta làm với nhiều tình mến Chúa trong lòng, với nhiều tình yêu thương nhân loại, thì một việc nhỏ đó cũng rất có giá trị cứu độ trước mặt Chúa.

Thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu đã làm chứng điều đó. Ngài nói: “Ơn kêu gọi của tôi là tình yêu. Làm cái gì, chịu cái gì, tôi đều cho vào đó tối đa tình yêu mến Chúa yêu người”. Và vì thế, Têrêxa đã trở nên người thánh.

Anh chị em thân mến,

Lúc nãy, ông đại diện có nói tình trạng của họ đạo Cái Dầu. Anh chị em sống rải rác khắp nơi. Đúng là như vậy. Nhưng nếu mỗi người anh chị em là một ngọn đèn sáng, bừng cháy lên lửa “mến Chúa yêu người”, thì đó là tốt lắm rồi, đó là truyền giáo, đó là thờ phượng Chúa, đó là thực hành luật căn bản của Phúc Âm.

Chúng ta hợp nhau đây sinh hoạt tôn giáo, để biểu dương ý nghĩa của Hội Thánh, một cộng đoàn tụ họp lại làm việc thờ phượng, có tính cách xã hội. Nhưng dù ở đâu, chúng ta hãy luôn luôn đốt trong lòng mình lửa mến Chúa thật nhiều, yêu thương người ta thật nhiều. Như vậy, anh chị em có thể an tâm được. Vì mặc dầu sống xa nhà thờ, anh em vẫn là người thờ phượng Chúa cách xứng đáng, anh chị em vẫn là người rao giảng Tin Mừng cách hữu hiệu. Và với tình mến Chúa yêu người, anh chị em sẽ là men, là bột ở trong một xã hội đầy những khó khăn, đầy những cản trở cho Phúc Âm.

Một lần nữa, tôi xin nói lại: Thêm Sức hôm nay, chủ yếu là thêm lửa “mến Chúa yêu người”. Xin anh chị em sốt sắng cầu xin Chúa Thánh Linh, để chúng ta được Chúa nhậm lời như vậy. Amen.

Họ Cái Dầu, ngày 30-10-1994


 

Bùi-Tuần 0462: KÍNH SỢ THIÊN CHÚA 13-11-1994


Mt 13,24-32

Thị Đam

 

Nghe xong bài Phúc Âm hôm nay, tôi đã tạ ơn Chúa, vì Chúa đã dạy: 13-11-1994 Bùi-Tuần 462


Nghe xong bài Phúc Âm hôm nay, tôi đã tạ ơn Chúa, vì Chúa đã dạy tôi qua bài Phúc Âm hôm nay một số điều quan trọng giúp cho tôi có sự bình an trong tâm hồn, cũng như giúp cho tôi biết xử sự trong khi thi hành chức vụ.

Điều thứ nhất Chúa dạy tôi trong bài Phúc Âm hôm nay, là tôi phải chấp nhận sự không thể hiểu hết được những sự tốt, sự xấu xảy ra trong Hội Thánh, trong xã hội.

Phúc Âm hôm nay cho biết: Người chủ gieo hạt giống tốt và mọc lên cây tốt, nhưng quỷ dữ cũng đã gieo vào ruộng những cỏ lùng và nó cũng mọc lên tốt.

Cũng vậy, Thiên Chúa đã gieo vào Hội Thánh, gieo vào xã hội những điều tốt, nhưng ma quỷ và những người xấu cũng đã gieo vào đó những cái xấu. Có điều tôi không hiểu được là tại sao Chúa lại để xảy ra như vậy. Trong Phúc Âm Chúa đã trả lời: “Cứ để vậy, chưa đến giờ nhổ cỏ”.

Điều đó khuyên tôi hãy chấp nhận sự không thể hiểu được những điều Chúa đang làm cho Hội Thánh, cho xã hội. Cái lý của mình nhiều khi khác với cái lý của Thiên Chúa; tôi tìm sự thật: Tại sao thế này? Tại sao thế kia? Nhưng sau cùng, qua bài Phúc Âm hôm nay, tôi thấy không nên hỏi mãi mình câu đó, để giày vò mình. Sự thật về xã hội, về Hội Thánh, nó sâu như biển cả, nó rộng như là bầu trời mênh mông, nó phức tạp như là một cánh rừng. Mỗi người chúng ta, kể cả tôi, chỉ nắm bắt được một phần nhỏ, rất nhỏ, những sự thật đó. Chỉ có tạo hoá mới có thể nhìn được tất cả toàn bộ sự thật. Và toàn bộ sự thật đó rất huy hoàng. Tôi không thấy được. Tôi chỉ nhìn thấy mình có giới hạn. Phải chấp nhận không thể hiểu hết được, để rồi phải biết làm những gì có thể làm được, đừng mơ ước những gì chỉ là ảo tưởng.

Điều thứ hai Chúa dạy tôi trong bài Phúc Âm hôm nay là phải chấp nhận không thể hiểu được những cái hay, cái dở, xảy ra trong chính cuộc đời mình, trong chính bản thân mình.

Tôi cũng thấy rằng: Chúa đã gieo vào lòng tôi, vào lòng anh chị em những điều tốt, nhưng ma quỷ và những hoàn cảnh xấu cũng đã gieo vào trong đó những hạt giống của cỏ lùng. Để rồi, chúng ta có những tư tưởng xấu, những ước muốn xấu, những hình ảnh xấu.

Tại sao Chúa để như vậy? Chúa là Đấng có thể cản ngăn được sự xấu. Tôi hiểu, nếu tôi cứ hỏi hoài như vậy, tôi sẽ bế tắc.

Bài Phúc Âm hôm nay dạy tôi: Chúa để sự tốt, sự dữ chen lẫn với nhau, là vì Chúa có chương trình của Chúa. Sự thật về tôi, sự thật của anh chị em, mặc dầu là của mình, nhưng vẫn vượt xa trí hiểu của mình. Của mình, mà mình không hiểu được đâu. Vì thế, Chúa dạy chúng ta trong bài Phúc Âm hôm nay là biết khiêm tốn chấp nhận giới hạn hiểu biết về chính mình để rồi dần dần nhận ra những giá trị của sự phấn đấu nội tâm.

Điều thứ ba Chúa dạy tôi trong bài Phúc Âm hôm nay, là cũng phải chấp nhận không thể hiểu được những cái hay, cái dở, trong khi mình thi hành nhiệm vụ.
Người đầy tớ trong bài Phúc Âm hôm nay, nói với ông chủ: “Cho tôi đi nhổ cỏ”. Tôi thiết nghĩ: Đó là một việc nên làm, thuộc nhiệm vụ của người đầy tớ. Ấy thế, mà ông chủ nói rằng: “Đừng, đừng nhổ cỏ, đừng tiêu diệt cỏ lúc này”. Đó là một nghịch lý, tôi không hiểu được.

Trong khi thi hành chức vụ, tôi cũng cảm thấy là tôi cần phải làm cái gì để đem lại ích lợi cho xã hội, cho Hội Thánh, cho những người xung quanh. Tôi xin sức khoẻ, Chúa lại để cho tôi đau ốm. Tôi xin của cải để bố thí, Chúa lại chỉ cho tôi một trái tim thương xót. Tôi xin một sự thành công, Chúa lại để cho tôi thất bại.

Tóm lại, trong khi thi hành chức vụ của mình, chúng ta sẽ gặp những cái nghịch lý không thể hiểu được, nhưng nhờ bài Phúc Âm hôm nay, chúng ta thấy mọi sự xảy ra như vậy, mặc dầu ngoài ý muốn của ta, đều nằm trong chương trình của Thiên Chúa, nếu chúng ta biết nhìn nó, như một dịp để phấn đấu cho sự nghiệp.

Tôi nghĩ rằng, anh chị em cũng như tôi, nhiều lần đã cố tìm hiểu: Tại sao mình cứ nghèo? Tại sao gia đình mình không vươn lên được? Tại sao cộng đoàn đức tin của mình cứ chìm mãi trong những bế tắc? Những cái đó, đôi khi làm chúng ta ray rứt. Nhưng hãy học những điều Chúa dạy hôm nay: Hãy chấp nhận, đừng tìm hiểu quá về những lý do, tại sao sự xấu, sự không tốt vẫn tồn tại.

Tôi thấy nhiều khi chúng ta muốn khôn ngoan trong sự tìm hiểu các lý do, nhưng đọc Kinh Thánh, tôi thấy sự khôn ngoan là ở chỗ này, là biết kính sợ Thiên Chúa. Đó là điều chúng ta mới nghe trong bài đọc, khi thánh tử đạo thà chết, chứ không dám làm sai luật Chúa. Ngài nói: “Vì tôi kính sợ Thiên Chúa”. Đó chính là sự khôn ngoan. Và sự thông thái theo luật của Chúa, chính là biết loại trừ, biết xa tránh tội lỗi.

Trong trường hợp mà tôi nhìn thấy sự dữ, sự lành chen lẫn nhau, thì tôi phải làm gì?
Tôi làm 3 việc đơn giản:

Việc thứ nhất: Tôi coi cơn cám dỗ muốn tìm hiểu lý do, là kẻ thù, làm mất thời giờ, làm cho mình dễ trở nên kiêu căng. Cho nên tôi rút vào một pháo đài vững chắc: Đó là sự cầu nguyện. Hãy đối diện với Chúa. Chúa sẽ chia sẻ cho tôi lý do mầu nhiệm của Chúa.

Việc thứ hai tôi làm là cậy nhờ Đức Kitô. Đức Kitô cũng đã trải qua những thử thách coi như nghịch lý. Ngài đã chấp nhận, vì Ngài chỉ muốn tuân phục thánh ý Chúa Cha.

Và điều thứ ba tôi làm là sau khi suy nghĩ cái gì hợp lý nhất, đúng thánh ý Chúa nhất, tôi làm với tất cả sự cậy trông. Có thế thôi.

Chiều hôm qua, tôi gặp một đôi vợ chồng trẻ: Chồng là bác sĩ đông y, gốc Công Giáo. Vợ là giáo viên tiếng Pháp, gốc Hoà Hảo. Hai vợ chồng đến với tôi, để chia sẻ thân phận quá nghèo của mình, quá bế tắc của mình, không xin xỏ gì. Và trong một lúc, người vợ đã nói tôi rằng: “Mặc dầu chúng con rất khổ, rất nghèo, nhưng mỗi tối trước khi nằm ngủ, chúng con chỉ cần là xem lại chính mình, xem có làm điều gì trong ngày làm cho lương tâm mất trong sáng, làm cho con cái mình mất tin tưởng và kính trọng ở cha mẹ mình không? Chúng con chỉ có thế thôi. Và bây giờ chúng con dám nói rằng: Chưa bao giờ chúng con đã làm điều gì cho tâm hồn chúng con mất trong trắng, cho con cái của chúng con mất niềm tin và lòng kính trọng đối với chúng con.

Nghe xong, tôi đã kết luận: Anh chị đã làm rất đúng, giữ được giá trị như vậy trong cảnh nghèo, đó là một nền văn minh lớn nhất, có thể đóng góp được cho địa phương, cho đất nước hôm nay. Đây là những giá trị còn quý hơn là vàng bạc. Bởi vì, nó là cái làm cho con cái sau này trở nên người thật, trở nên những người đáng kính, đáng tin.

Và một câu chuyện nhỏ như vậy, giúp cho tôi thấy: Trong một cuộc sống coi như bế tắc, thế mà đã loé sáng lên những giá trị tuyệt vời. Ai nói rằng: Đó là một cuộc sống vô nghĩa.

Anh chị em thân mến,

Tôi chỉ nhờ dịp này, để nhắn nhủ anh chị em biết làm những cái gì có thể làm được một cách hợp lý, theo thánh ý Chúa, trong cảnh thực tại của mình. Và anh chị em thấy, Chúa sẽ giúp cho anh chị em tìm được những hy vọng lớn, nền tảng cho tương lai sau này của bản thân mình, của con cái mình. Giàu sang rồi cũng sẽ qua đi. Thông thái rồi cũng sẽ có ngày sụp đổ. Nhưng đạo đức, niềm tin, sự trung tín, mới là những giá trị vững bền, giúp cho chúng ta làm người, và sẽ là người có hạnh phúc bây giờ và mãi mãi đời sau. Amen.

Thị Đam, ngày 13-11-1994


 

Bùi-Tuần 0463: CHÚC THƯ KHÔNG LỜI 16-11-1994


Thánh lễ tiễn biệt cha Tôma Trần Lê Vinh -Hàng Xanh (TP.HCM)

 

Cha Tôma đã ra đi một cách cô đơn, một sự cô đơn thanh thản nhẹ: 16-11-1994 Bùi-Tuần 463


Cha Tôma đã ra đi một cách cô đơn, một sự cô đơn thanh thản nhẹ nhàng.

Đối với tôi, cái chết cô đơn của cha Tôma là một chúc-thư-không-lời cha gởi lại cho tôi, cho các bạn bè gần xa.

Chúc-thư-không-lời này do Chúa viết ra thay cho cha.

Đọc chúc-thư-không-lời này, tôi hiểu thấm thía những thử thách, mà cha đã chấp nhận, để trung thành với lời giao ước.

Cha đã giao ước trung thành với Chúa, với ơn gọi, với cộng đoàn. Cuộc sống giao ước của cha là một hành trình dài. Trên suốt hành trình dài đó, cha đã bị thử thách.

Cha đã gặp thử thách về phía sức khoẻ: Tình trạng đau bệnh, tật nguyền bất cứ dưới dạng nào, khi kéo dài nhiều năm, vẫn là một mất mát lớn, kéo theo nhiều mất mát. Trong thử thách này, cha đã nếm được phần nào nỗi cô đơn của ông Giob, một nhân vật điển hình, bị bao thử thách.

Cha cũng đã gặp thử thách về phía cộng đoàn: Sự nghi ngờ, tuy chỉ do một số ít người, cũng đã gây nên cho cha những đau buồn cay đắng. Trong thử thách này, cha đã nếm được phần nào nỗi cô đơn của thánh vương Đavit, một người có lúc đã phải thốt lên với Chúa rằng: “Những người gần con, chính là bóng tối” (Cv. 87,19).
Cha cũng đã gặp thử thách về phía chính bản thân: Những yếu đuối tâm hồn, những giới hạn về khả năng, đó là những thánh giá hằng ngày cho chính cha. Trong thử thách này, cha đã nếm được phần nào nỗi cô đơn của thánh Phaolô tông đồ, một đấng có lần đã phải than thở với Chúa rằng: “Sự con muốn thì con lại không làm. Sự con không muốn thì con lại làm!”.

Cha cũng đã gặp thử thách về phía Chúa: Những chén đắng, cha muốn tránh, nhưng Chúa cứ trao cho cha, bảo cha phải uống, đã là những cái nghịch lý đối với trí khôn. Nhưng đó lại là những bằng chứng vâng phục đối với đức tin. Trong thử thách này, cha đã nếm được nỗi cô đơn của Đức Kitô, vị thượng tế, Đấng đã bị thử thách về mọi sự, ngoại trừ tội lỗi (Heb.4,19).

Lạy Chúa, Chúa đã thử thách con, và Chúa đã biết lòng con.

Lòng cha Tôma đã trung thành với lời giao ước. Một sự trung thành không dựa trên tính toán có đi có lại, nhưng dựa trên tình yêu dâng hiến trọn vẹn.

Lòng cha Tôma đã trung thành với lời giao ước, một sự trung thành đã bảo vệ được bằng những phấn đấu triền miên, mà động lực duy nhất là niềm tin vô điều kiện, đặt vào Đấng có thể làm được những sự không thể làm được.

Xưa, thánh Giacôbê đã viết: “Phúc cho ai chịu đựng được thử thách. Một khi giá trị của họ được nhìn nhận, họ sẽ lãnh triều thiên sự sống, mà Chúa đã hứa ban cho những người Chúa thương yêu” (1,12).

Tôi có cảm tưởng là Chúa đang thực hiện lời Chúa hứa đó cho cha Tôma. Cha đã lặng lẽ ra đi, như một người cô đơn. nhưng sự ra đi lặng lẽ bất ngờ này, lại nói lên rất nhiều tới ơn gọi trở về, Chúa dành cho những người thuộc về Chúa, luôn sẵn sàng trở về.

Lạy Chúa, con cảm tạ Chúa vì chúc-thư-không-lời nơi cái chết của cha Tôma. Chúng con hứa sẽ sống theo chúc-thư-không-lời này. Con tin rằng linh hồn cha Tôma sẽ rất vui mừng với lời hứa đó.

Bài giảng thánh lễ tiễn biệt cha Tôma Trần Lê Vinh, tại nhà thờ Hàng Xanh, thành phố Hồ Chí Minh, ngày 16-11-1994


 

Bùi-Tuần 0464: NÉT DỄ THƯƠNG NƠI ĐỨC KITÔ 22-11-1994


Lc 19,28-38

Gò Quao

 

Cách đây hai ngày, tôi cũng đã cùng với Hội Thánh mừng lễ Chúa: 22-11-1994 Bùi-Tuần 464


Cách đây hai ngày, tôi cũng đã cùng với Hội Thánh mừng lễ Chúa Giêsu Vua. Tâm tình mừng lễ Chúa Giêsu Vua vẫn còn mạnh mẽ trong tôi. Vì thế hôm nay, khi đến họ đạo An Bình (Gò Quao) đây, và khi đứng trước cảnh tưng bừng sốt sắng này, tôi đang nhìn thấy Đức Kitô Vua đến giữa chúng ta.

Đức Kitô Vua đang đến giữa chúng ta, Ngài thế nào? Tôi có thể tả chân dung Ngài bằng một câu, mà tiên tri Giacaria xưa đã nói: “Vua của con tới, Ngài là Đấng Công Chính, Ngài là Đấng chiến thắng, nhưng Ngài rất khiêm nhường”.

Đúng như vậy, Đức Kitô mà tôi đang gặp gỡ ở chỗ này, Ngài đang mặc một chiếc áo rất khiêm nhường, phủ lên trên sự chiến thắng, sự công chính của Ngài. Vì thế mà Đức Kitô tôi đang gặp gỡ đây là Ngài rất dễ thương.

Tôi thấy Ngài dễ thương ở mấy nét sau đây:

Nét dễ thương thứ nhất là Ngài đã đến không phải chỉ ở giữa chúng ta, không phải chỉ ở bên chúng ta, mà còn đến trong chúng ta. Nhất là trong những tâm hồn tan nát, trong những niềm tin suy sụp. Một cách nào đó Ngài đang thực hiện lời mà tiên tri Isaia xưa đã nói: “Ta là Đấng Tối Cao. Ta là Đấng rất thánh. Nhưng Ta đã đến trong lòng những người tan nát, những người suy sụp, để đem lại cho họ hy vọng và sự sống”.

Tôi biết, trong chúng ta, bao người đã có tâm hồn tan nát, đã có một niềm tin suy sụp, nhưng nhờ Đức Kitô đến trong lòng mình, và Ngài đã ban cho chúng ta những niềm tin, những hy vọng. Đây là cái điều tôi mừng nhất trong ngày hôm nay, vì thấy rõ Đức Kitô đến trong tâm hồn nhiều người, đặc biệt là những người đã mất niềm tin, những người đã có trái tim tan nát, vì những thất bại ê chề của cuộc sống.

Nét dễ thương thứ hai của Đức Kitô mà tôi gặp hôm nay ở đây, là ở chỗ Ngài dùng những kẻ bé mọn, những cộng đoàn bé nhỏ, để cộng tác với Ngài trong kế hoạch cứu độ. Như xưa Thiên Chúa đã chọn Đavít, là một kẻ bé nhỏ nhất, trong gia đình Giessê, để làm chứng cho quyền năng Thiên Chúa. Và như xưa Chúa đã chọn dân Do Thái là một cộng đoàn bé nhỏ nhất, để dọn đường cho Nước Trời ngự đến. Thì hôm nay tại đây, tôi cũng đang thấy Chúa chọn những người bé nhỏ nhất, những người yếu đuối nhất, những cộng đồng âm thầm nhất, để chuẩn bị cho Nước Trời đang đến.

Chúa đang đến với chúng ta qua những tinh thần tốt, qua bác ái, qua sự trở về Nước Trời đang đến, chính là nhờ những tâm hồn bé mọn, những cộng đoàn bé nhỏ.

Chúng ta là những người đâu có lớn lao gì, chỉ là nhóm người nhỏ. Hãy cảm tạ Chúa vì Chúa đang chọn cộng đoàn này.

Nét dễ thương thứ ba mà tôi gặp nơi Đức Kitô ở đây, là ở chỗ Ngài rất khiêm nhường. Tuy rất đầy đủ, nhưng Ngài coi như còn thiếu, nếu không có ta.

Sách Khải Huyền đã nói về Ngài: “Ta đến đứng ngoài cửa, gõ nhẹ, ai nghe thấy, mở cửa ra, Ta sẽ vào, và ở lại đó”. Như thế, ta thấy, hình như Thiên Chúa là Đấng còn thiếu một cái gì: Thiếu ta, thiếu tình yêu của ta thôi! Ngài không ép buộc ai cả. Ngài đứng gõ cửa. Ai nghe, mở cửa, thì Ngài mới gặp.

Đó là một thái độ rất khiêm nhường của một Thiên Chúa đến với chúng ta. Và tôi thấy rằng, trong anh chị em, không thiếu những người đã trả đáp lời mời gọi của Đức Kitô, đã nghe tiếng Ngài, đã mở cửa lòng, đã đón Ngài vào. Đức Kitô, Đấng Công Chính, Đức Kitô Đấng chiến thắng, nhưng đến với chúng ta trong cái áo khiêm nhường. Và chúng ta đã đón Ngài. Đó là điều chúng ta hôm nay phải cảm tạ rất nhiều, trong thánh lễ này.

Còn chúng ta, chúng ta đã đón Đức Kitô thế nào?

Tôi thấy anh chị em đã đón Ngài bằng một tâm hồn hân hoan, ca tụng, nhưng cũng rất khiêm nhường. Đây là nét dễ thương của anh chị em. Nét dễ thương này, là ở sự anh chị em không dựa vào một điểm tựa nào ngoài niềm tin ở Thiên Chúa tình yêu. Chúng ta đã thấy và đã có kinh nghiệm: Tiền bạc, danh vọng, uy tín, rồi sẽ qua đi, có lúc sẽ sụp đổ. Chúa muốn chúng ta phải tin trọn vẹn, vô điều kiện, vào một Thiên Chúa mà thôi, Đấng có thể làm được những sự con chiên không làm được.

Khi tin như vậy, Chúa sẽ rất hài lòng. Đúng là kết quả rất đẹp ta dâng cho Chúa, để cảm tạ Ngài. Tôi chỉ có Ngài thôi. Tôi tin vào Ngài. Tôi dựa vào Ngài. Chỉ có thế thôi. Đó là lời ca tụng đẹp đẽ nhất.

Cái nét dễ thương của anh chị em hôm nay, còn là sự khiêm tốn biết chấp nhận hoàn cảnh ở đây, lúc này, như là một nơi Chúa chọn cho mình, để có thể thực hành thánh ý Chúa, mến Chúa yêu người trong mọi việc và có hiệu lực.

Tôi biết anh chị em, trong những năm qua, mặc dầu gặp thử thách tư bề, vẫn coi chỗ này, vẫn coi thời điểm này, là chỗ Chúa sai mình đến để thực hành thánh ý Chúa. Mà thánh ý Chúa là gì? Là mến Chúa hết lòng, là yêu thương người khác như chính mình. Và thực sự, tôi đã thấy anh chị em, tuy là một số nhỏ, đã làm chứng điều đó: Không cần đi đâu hết, không cần đợi chờ ngày nào hết. Hôm nay đây, giờ phút này, tôi vẫn có thể mến Chúa hết lòng, tôi vẫn có thể phục vụ anh chị em hết lòng. Đó là thánh ý Chúa.

Nét thứ ba tôi thấy anh chị em ở đây rất dễ thương, là vì anh chị em khiêm tốn chấp nhận phấn đấu với chính mình, để luôn trung thành với Chúa, với Phúc Âm.

Tôi thiết nghĩ rằng, Chúa là Thiên Chúa, Ngài có đủ mọi sự, không cần nhà thờ đâu, không cần ở nghi thức đẹp đâu, nhưng điều Ngài muốn, là chúng ta phải phấn đấu với chính mình, để luôn luôn trung thành với Ngài. Mặc dầu thiếu thốn, mặc dầu dư giả, Chúa vẫn là hạnh phúc đời tôi, Chúa là ánh sáng đời tôi, Chúa là quà tặng cho tôi. Nếu không có Ngài tất cả đều là hư vô.

Anh chị em thân mến,

Trong giờ tạ ơn hôm nay, tôi nhìn thấy những công trình mà cha sở và anh chị em đã làm nên, những sinh hoạt tốt mà anh chị em đã thực hiện, tôi thấy những công trình đó rất đáng mừng và đang gây nhiều tiếng vang tốt. Nhưng điều tôi cảm tạ Chúa nhất hôm nay, như tôi đã nói, là sự chúng ta gặp gỡ được Đức Kitô, là sự chúng ta cam kết và gắn bó với Ngài trong mọi hoàn cảnh.

Anh chị em đã có nhiều kinh nghiệm: Đời sống sẽ qua đi, mọi sự rồi sẽ qua đi, nhưng Đức Kitô không bao giờ qua đi. Một khi gặp được Ngài, một khi gắn bó với Ngài, một khi Đức Kitô trở thành Đường, Sự Thật, Sự Sống của chúng ta, chúng ta chắc chắn Nước Trời ở trong chính lòng chúng ta rồi, để sau này chúng ta gặp được Ngài trên thiên đàng vĩnh cửu.

Trong giây phút này, một lần nữa, tôi xin cùng anh chị em tạ ơn Chúa, vì Chúa đến trong lòng chúng ta, Chúa ở lại trong lòng chúng ta, và nếu cần phải cầu xin điều gì hơn hết, thì hãy cầu xin để biết đón nhận Chúa Kitô, để biết đón nhận Ngài, và thấy được những dấu chỉ tình yêu Chúa đặc biệt dành cho chúng ta. Amen.

Gò Quao, ngày 22-11-1994


 

Bùi-Tuần 0465: NÉT ĐẶC THÙ CủA CỘNG ĐOÀN NHỎ 24-11-1994


Chợ Thủ

 

Họ đạo Chợ Thủ là một cộng đoàn nhỏ. Đối với tôi, cộng đoàn nhỏ là: 24-11-1994 Bùi-Tuần 465


Họ đạo Chợ Thủ là một cộng đoàn nhỏ. Đối với tôi, cộng đoàn nhỏ là một nơi tôi đặt rất nhiều hy vọng. Bởi vì cộng đoàn nhỏ thường có những điều kiện thuận lợi, để các người trong cộng đoàn gặp gỡ nhau, quen biết nhau, cùng nhau học hỏi, cùng nhau cầu nguyện, cùng nhau làm việc lành phúc đức, nhờ đó mà cộng đoàn nhỏ trở thành cộng đoàn truyền giáo.

Tôi đi nhiều nơi, đã thấy những cộng đoàn truyền giáo có những hoạt động truyền giáo rất khác nhau: Có nơi hoạt động truyền giáo của họ là đi thăm nhau từng gia đình, nhất là nâng đỡ những người già nua, cô đơn, bệnh tật. Có nơi hoạt động truyền giáo của họ là tham gia các công việc từ thiện xã hội, cùng với những đoàn thể tổ chức có sẵn. Có nơi hoạt động truyền giáo của họ là tổ chức những buổi tĩnh tâm, những giờ cầu nguyện, những giờ chầu Mình Thánh Chúa, những buổi chia sẻ Lời Chúa. Những hoạt động tông đồ của các cộng đoàn nhỏ thường rất đa dạng, nhưng họ có một số điểm chung.

Điểm chung thứ nhất tôi nhận thấy, là họ có một nhiệt tình truyền giáo rất mạnh.

Mỗi người là một ngọn lửa truyền giáo. Mỗi cộng đoàn là một lò lửa truyền giáo. Lửa trong họ là lửa muốn vâng phục thánh ý Chúa. Vâng phục thánh ý Chúa là phải truyền giáo: “Khốn cho tôi nếu tôi không truyền giáo”. Đó là ý Chúa rất rõ ràng, rất cần thiết.

Và lửa trong họ là lửa chia sẻ Tin Mừng. Trong cuộc sống, người ta thấy chung quanh, ai có một tin tức mới, đều loan đi, đều kể ra, đều chia sẻ. Còn người có Tin Mừng trong trái tim, tại sao lại dửng dưng, tại sao lại không loan truyền? Đúng là vì không có lửa Tin Mừng trong lòng, không coi cái Tin Mừng trong lòng là một cái tin thật sự đáng mừng. Vì thế không loan đi. Lửa Tin Mừng trong trái tim từng người, trong trái tim cộng đoàn, là lửa truyền giáo rất mạnh mà tôi nhìn thấy tại nhiều cộng đoàn nhỏ.

Điểm chung thứ hai tôi nhận thấy, là những người trong cộng đoàn nhỏ thường có một kinh nghiệm bản thân về Đức Kitô, mà họ đã gặp gỡ.

Đức Kitô mà họ đã gặp gỡ không phải là một lý thuyết, không phải là một ý thức hệ. Đức Kitô mà họ gặp gỡ là một người. Đấng ấy đã cứu họ. Đấng ấy đã nhìn họ. Đấng ấy đã đụng chạm đến đời họ. Họ có cảm nghiệm về điều đó. Cho nên họ không thể chịu nổi, nếu không kể ra những cảm nghiệm bản thân về Đức Kitô, nếu không cố gắng cùng với người khác trở về với Đức Kitô, Đấng cứu độ duy nhất của mình.

Điểm chung thứ ba tôi nhận thấy trong những cộng đoàn nhỏ, là người ta rất có lòng kính mến, ngoan ngoãn với Chúa Thánh Linh.

Bởi vì, Đấng truyền giáo đích thực là Chúa Thánh Linh. Chúa Thánh Linh làm cho chúng ta hiểu được Lời Đức Kitô, hiểu được việc Đức Kitô. Chính Chúa Thánh Linh đổi lòng, đổi trí con người. Chính Chúa Thánh Linh giúp cho chúng ta phân định được điều hay lẽ phải, cái gì nên làm, cái gì không nên làm.

Điểm chung thứ bốn tôi nhận thấy nơi các cộng đoàn nhỏ, là người ta rất cởi mở với những anh chị em chung quanh.

Họ nhìn người khác trong Đức Kitô. Họ nhìn Đức Kitô trong người khác. Họ nhìn thấy Đức Kitô rất đáng ca tụng trong những người khác. Họ nhìn thấy Đức Kitô đang bị hành hạ, đang bị khinh chê, đang bị tù đày trong nhiều tâm hồn khác. Cho nên, khi gặp người khác, họ luôn luôn nhìn thấy một lời kêu gọi của Đức Kitô. Và vì thế, họ luôn luôn có một sự kính trọng đối với những người họ gặp.

Sau cùng, một điểm chung nữa của họ mà tôi nhận thấy, là họ chấp nhận thánh giá Chúa gởi cho họ.

Thánh giá là việc bổn phận hằng ngày. Thánh giá là sự tha thứ, là sự chấp nhận nhau, là sự vui nhận những thất bại của công việc của mình, nhất là, thánh giá là sự từ bỏ chính mình.

Anh chị em thân mến,

Cộng đoàn Chợ Thủ anh chị em chỉ gồm 76 hộ. Đây là một cộng đoàn rất bé nhỏ. Nhưng với chiều kích bé nhỏ này, anh chị em có thể làm được rất nhiều việc, nếu có những điều tôi vừa mới kể.

Theo tôi nhận xét, sự mở ra về số lượng của họ đạo không được là bao, điều đó không quan trọng. Nhưng anh chị em đã có nhiều bước tiến về phẩm chất. Đây là điều quan trọng, mà anh chị em nên cảm tạ Chúa.

Anh chị em đang tập trung vấn đề truyền giáo cho những người đã rửa tội. Đây là điều rất quan trọng trong Hội Thánh hôm nay. Nhiều người rửa tội rồi, mà kể như chưa được truyền giáo. Hãy truyền giáo cho những người rửa tội trong cộng đoàn mình, để có phẩm chất những người kitô hữu.

Bên cạnh những thành công của anh chị em, còn có những cái chưa tốt, điều đó anh chị em đã nhận ra rồi. Và mong rằng, từ nay, anh chị em cố gắng hơn, để đi theo những điều tôi mới gợi ý: Gắn bó với Đức Kitô, trở về với Đức Kitô, ngoan ngoãn đón nhận ơn Chúa Thánh Thần, cởi mở trong cái nhìn đối với những người chung quanh, chấp nhận đi vào con đường thánh giá, để rồi, lửa truyền giáo sẽ được cháy lên trong từng cá nhân, trong từng gia đình, trong tất cả cộng đoàn chúng ta.

Đây cũng là điều tôi mong ước cách riêng cho những người chịu phép Thêm Sức hôm nay, cũng như cho các em rước lễ Bao Đồng, để từ nay trở đi, chúng ta thật sự là những người truyền giáo. Nhất là truyền giáo bằng lửa mến Chúa yêu người trong chúng ta, mà hôm nay Chúa chia sẻ cho chúng ta. Amen.

Chợ Thủ, ngày 24-11-1994


 

Bùi-Tuần 0466: THÁNH ĐƯỜNG VÀ VIỆC XÂY DỰNG CỘNG ĐOÀN


26-11-1994

Đài Đức Mẹ (Tân Hiệp)

 

Khi bước vào một ngôi thánh đường, nhất là khi bước vào đó để dâng: 26-11-1994 Bùi-Tuần 466


Khi bước vào một ngôi thánh đường, nhất là khi bước vào đó để dâng thánh lễ, tôi thường suy nghĩ đến vai trò của thánh đường trong việc xây dựng giáo đoàn dân Thiên Chúa. Hôm nay, bước vào thánh đường này để dâng thánh lễ tạ ơn, tôi cũng suy nghĩ đến vai trò của ngôi thánh đường này trong việc xây dựng cộng đoàn dân Thiên Chúa tại địa phương này.

Để nói về vai trò thánh đường trong việc xây dựng cộng đoàn dân Thiên Chúa, tôi sẽ không đưa ra lý lẽ nào, tôi chỉ muốn chia sẻ với anh chị em những gì tôi thường cảm nghiệm được trong lòng tôi khi tôi bước vào một ngôi thánh đường.

Khi bước vào một ngôi thánh đường, tôi thường có những cảm nghĩ, cảm tình rất khác với những cảm nghĩ, cảm tình khi tôi vào một nơi không phải thánh đường.

Chẳng hạn khi vào một nhà nào, tôi biết chắc tôi sẽ gặp, sẽ nhìn người nọ, người kia. Khi vào một cửa hàng, tôi biết chắc tôi sẽ nhìn thấy đồ này, vật kia. Nhưng, khi bước vào ngôi thánh đường, tôi lại biết chắc là tôi sẽ không nhìn thấy Thiên Chúa là Đấng thiêng liêng vô hình. Tuy nhiên, tôi vẫn cảm thấy lòng mình khát khao muốn gặp gỡ Ngài. Bởi vì, tôi tin trong thánh đường, trên bàn thờ, Thiên Chúa hằng sống đang mời gọi tôi, đang chờ đợi tôi. Tôi không biết, Người sẽ nói gì với tôi, nhưng lòng tôi khát vọng được nghe lời Người. Tôi chưa biết, Ngài sẽ muốn sửa đổi gì trong tôi, nhưng tôi khát vọng được Người sửa đổi. Tôi không biết, Ngài sẽ dạy dỗ tôi điều gì, đòi hỏi tôi điều gì, nhưng tôi khát vọng được tuân theo thánh ý Người, và hoàn toàn từ bỏ cái tôi của tôi. Tôi hoàn toàn không biết, vào nhà thờ này, Ngài sẽ dẫn tôi đi đâu, nhưng tôi khát vọng được luôn đi theo Ngài, dù con đường ấy tôi chưa hề biết, dù con đường ấy là con đường tôi muốn tránh xa.

Những khát vọng như vậy khi tôi bước vào nhà thờ, sẽ giúp tôi mở tâm hồn ra, để trở về với Chúa, để đón chờ Chúa, để vâng phục Chúa. Những khát vọng như vậy, chính là những khát vọng lành thánh. Và tôi thấy rằng, những khát vọng này được gợi lên trong tôi, một phần là do những điều kiện tốt trong nhà thờ đó.

Điều kiện tốt trong nhà thờ, có khả năng gợi lên những tư tưởng, những khát vọng lành thánh, chính là, kỹ thuật xây cất, nghệ thuật trang trí, và vẻ đẹp của các lễ nghi, nhất là bầu khí trang trọng, thinh lặng, thiêng liêng, cầu nguyện của thánh đường. Và nhất là, nhân sự trong đó có một tinh thần đức tin, có một tinh thần siêu thoát đi tìm Thiên Chúa.

Như vậy, anh chị em đã thấy, khi bước vào nhà thờ, nảy sinh ra trong tôi những khát vọng lành thánh. Và những khát vọng đó, luôn luôn vượt qua những cái tôi nhìn thấy, luôn luôn vượt qua những gì tôi nghe thấy. Nó làm cho tôi tìm Thiên Chúa trong lòng tôi, trong phép Mình Thánh, trong lễ nghi phụng vụ.

Vì thế tôi nghĩ rằng, một thánh đường có những điều kiện tốt, có khả năng gây được những khát vọng lành thánh như tôi vừa kể, sẽ được coi là một ngôi thánh đường giữ một địa vị quan trọng trong việc xây dựng cộng đoàn dân thánh Chúa.

Bởi vì, cộng đoàn dân thánh Chúa phải là những người hướng về Thiên Chúa, đi theo Thiên Chúa, lắng nghe Thiên Chúa. Mà một nhà thờ, có những điều kiện như tôi vừa nói, sẽ giúp khơi dậy những khát vọng lành thánh, để giúp cho dân Chúa sống với Chúa, tuân phục ý Chúa, đi theo chân Chúa.

Vì thế, khi xây dựng một ngôi thánh đường, khi tu sửa một ngôi nhà thờ, tôi rất mừng khi thấy các cha, hội đồng giáo xứ và những người có trách nhiệm, thường quan tâm đến vấn đề chọn những nghệ thuật nào, những kỹ thuật nào có khả năng nâng tâm hồn người bước vào thánh đường lên, giúp cho thánh đường trở nên một nơi cầu nguyện, một nơi gặp gỡ Chúa, một nơi muốn biến đổi tâm hồn mình trở nên đền thờ Thiên Chúa.

Ngoài ra, tôi còn thấy rằng, khi bước vào một ngôi thánh đường, ngôi thánh đường đó có thể giữ một vai trò trọng đại trong việc xây dựng cộng đoàn dân Thiên Chúa, ở chỗ tại ngôi thánh đường đó đã có những sinh hoạt tôn giáo, để những người trong nhà thờ, cũng như những người của cộng đoàn, biết yêu thương nhau.

Tôi đã từng gặp những người trong một cộng đoàn, trong một nhà thờ, chỉ đón tiếp tôi bằng những cái nhìn đơn sơ, nhưng đầy chân thành, nhưng đầy nhiệt tình, nhưng đầy tinh thần siêu nhiên. Thế là tôi cảm nghiệm được đó là một quà tặng của Thiên Chúa, một bó hoa rất tươi, rất thơm gởi tặng tôi, và tôi đã dâng món quà đó lên Thiên Chúa.

Do đó, tôi nghĩ rằng, một nhà thờ đã từng đi vào lịch sử của một họ đạo, đã là lịch sử của các gia đình, đã là lịch sử của từng gia đình, đã từng chứng kiến bao sự tha thứ cho nhau, sự nâng đỡ nhau, sự giúp đỡ nhau, thì nhà thờ đó đúng là một nơi xây dựng cộng đoàn dân Chúa.

Vì thế, khi tôi thấy việc xây dựng một ngôi thánh đường, hay thực hiện một công trình của giáo xứ, được các cha, hội đồng giáo xứ, và những người có trách nhiệm, tạo dịp, tạo điều kiện, để tất cả mọi người trong giáo xứ đóng góp khả năng của mình: Người góp công, kẻ góp của, để cho ngôi nhà thờ đó trở thành ngôi nhà thờ của chính mình, là hy sinh của mình, là lễ vật của mình, thì tôi rất mừng. Mừng là vì nhà thờ đó chính là nhà thờ của yêu thương, của đoàn kết, của hy sinh.

Anh chị em thân mến,

Những điều tôi vừa chia sẻ ở đây, cũng là những lý do đã thúc giục tôi đến đây chủ sự thánh lễ tạ ơn hôm nay. Tôi mong rằng những gì tôi chia sẻ hôm nay, cũng sẽ là những tư tưởng khích lệ anh chị em xa gần góp công, góp của vào việc tu sửa ngôi thánh đường này, để nó có những điều kiện tốt, giúp cho mình khơi dậy được những khát vọng lành thánh hướng về Thiên Chúa, những khát vọng lành thánh để xây dựng tình yêu thương trong giữa chúng ta.

Khi tạ ơn Thiên Chúa, tôi không nhìn những dấu bề ngoài. Tôi nghĩ rằng, tạ ơn đẹp nhất ta có thể dâng lên Chúa giờ đây, là chính tâm hồn ta, là sự ta mến Chúa hết lòng, là sự ta sẵn sàng vâng phục thánh ý Chúa, là sự ta sẵn sàng trở nên những hạt cát bé nhỏ chôn vùi đi, không ai biết đến, để trở thành những phần tử âm thầm xây dựng nước Chúa.

Tôi nói như vậy anh chị em đã hiểu. Chúa nhìn tâm hồn chúng ta, nhìn mức độ yêu thương, nhìn mức độ hy sinh, nhìn mức độ từ bỏ mình, để coi lễ vật đó là của lễ tạ ơn chính thức trước mặt Thiên Chúa.

Với những chia sẻ trên đây, tôi mong rằng lễ tạ ơn hôm nay, cũng sẽ là một khởi đầu, để chúng ta làm cho họ đạo Tân Hiệp chúng ta, hạt Tân Hiệp chúng ta, nên mới hơn: Mới trong cách nhìn nhà thờ của mình. Mới trong cách nhìn khát vọng của mình. Mới trong cách nhìn tình đoàn kết của mình. Và nhất là mới trong sự chúng ta tạ ơn Thiên Chúa, với tâm tình yêu mến, với tâm tình đoàn kết. Và nhất là với tâm tình hy sinh khiêm tốn. Amen.

Đài Đức Mẹ (Tân Hiệp), ngày 26-11-1994


 

Bùi-Tuần 0467: CẦU NGUYỆN VÀ TỈNH THỨC 27-11-1994


 Lc 21,25-28.34-36

Lễ Bao Đồng CN I Mùa Vọng C-Long Xuyên

 

Bài giảng, của Đức Cha Gioan B. Bùi-Tuần, dịp tại nhà thờ Chánh Toa: 27-11-1994 Bùi-Tuần 467


Bài giảng, của Đức Cha Gioan B. Bùi-Tuần, dịp tại nhà thờ Chánh Toà
Trong bài Phúc Âm hôm nay, Chúa nói về một hoàn cảnh có những bất ngờ lớn, gây xao xuyến, đau buồn, lo âu, sợ hãi. Trong hoàn cảnh như thế, người con Chúa phải đối phó thế nào, thì Chúa cũng đã chỉ dạy, tuy vắn tắt, nhưng rõ ràng.

Tôi thấy lời Chúa hôm nay là lời tiên tri rất cần thiết cho tôi và cho anh chị em. Lời tiên tri này đã giúp biết bao người, trong đó có tôi, vượt qua được nhiều thử thách. Đối với riêng tôi, lời tiên tri của Chúa hôm nay đúng là lời có sức cứu độ.

Vì thế, tôi xin chia sẻ đôi chút kinh nghiệm.

Thực vậy, đúng như bài Phúc Âm hôm nay báo trước, trong cuộc đời mỗi người chúng ta, đôi lúc đã xảy ra những bất ngờ làm rung chuyển vũ trụ tâm hồn. Trong lòng mình như có biển gầm, sóng vỗ. Trong lòng mình như có mặt trời, mặt trăng và các vì sao đang nổ tung tan tác. Trong lòng mình như có một bầu trời đầy mây mù phủ kín. Trong một hoàn cảnh như thế, người ta không thể nào không cảm thấy lo sợ, nặng nề, đau đớn, hoang mang.

Chúa thấy trước cảnh đó. Nên Chúa dạy ta cách đối phó. Theo bài Phúc Âm hôm nay, cách đối phó gồm hai việc sau đây:

Việc thứ nhất cần làm để đối phó là hãy cầu nguyện

Chúa khuyên ta, những khi bị thử thách, hãy ngẩng đầu lên, nhìn thẳng vào Chúa, đứng vững trước mặt Chúa và hãy cầu nguyện. Cầu nguyện với niềm tin vững vàng: Chỉ có Chúa là Đấng Cứu Độ. Giờ cứu độ sẽ đến. Chỉ Người mới biết giờ nào Người sẽ cứu ta. Hãy phó thác nơi Người. Hãy tin tưởng ở Người. Người sẽ cứu ta, không phải vì ta xứng đáng, vì ta có công phúc gì, nhưng vì ta là kẻ tội lỗi, nhưng được Chúa yêu thương và biết cậy trông nơi một mình Chúa. Ta cầu nguyện phó thác với chỉ một điều mong ước mà thôi, đó là sẵn sàng vâng phục thánh ý Chúa.

Việc thứ hai cần làm để đối phó là hãy tỉnh thức

Tỉnh thức là thái độ khiêm nhường, sẵn sàng đón nhận ý Chúa, sẵn sàng để Chúa hướng dẫn. Tỉnh thức là thái độ tỉnh táo, biết nhận ra một lời kêu gọi của Chúa cần phải đáp ứng lúc đó, một luật Chúa cần phải hết sức trung thành lúc đó, một phấn đấu và hy sinh cần phải chấp nhận lúc đó. Tỉnh thức là thái độ tạ ơn, biết nhìn thấy Chúa trong biến cố, trong cơ may, trong bàn tay giơ ra để cứu ta. Tỉnh thức là thái độ nắm bắt mau lẹ những ơn cứu độ Chúa gửi đến cho mình. Phải nắm bắt mau lẹ, bởi vì, như bài Phúc Âm hôm nay nói, ơn cứu độ có thể đến một cách bất ngờ. Những ai mải mê chuyện phù du đời này, không tỉnh thức, sẽ bỏ lỡ dịp may đón nhận ơn cứu độ. Họ sẽ phải ân hận, nhưng sẽ quá muộn.

Kinh nghiệm cho tôi thấy, những ai có thiện chí thực hành hai việc Chúa dạy hôm nay, đều đã được Chúa cứu. Chúa cứu là cứu linh hồn họ khỏi những lầm lạc, là băng bó những vết thương tâm hồn họ, là mở mắt linh hồn họ, để họ nhận ra ý Chúa và tình thương Chúa. Chúa cứu là cứu lương tâm họ khỏi những ray rứt và thay vào đó là sự bình an, tâm tình tạ ơn và niềm tin vững vàng. Chúa cứu là đưa họ ra khỏi cơn thử thách với một con người mới, trưởng thành hơn trước, tốt lành hơn trước.

Các em rước lễ Bao Đồng chiều nay nên coi nội dung chia sẻ trên đây như một món quà Chúa ban tặng. Hãy nhớ lấy nội dung này. Có lúc sẽ rất cần đến nó. Xin tạ ơn Chúa vô vàn. Amen


 

Bùi-Tuần 0468: SỐNG ƠN GỌI 28-11-1994


 Gioan 12,23-28

Lễ giỗ đầu của Cha Augustinô Phan Xuân Trọng -An Châu

 

Từ mấy ngày nay, tôi đã nhớ tới cha Augustinô. Tôi nhớ tới con người: 28-11-1994 Bùi-Tuần 468


Từ mấy ngày nay, tôi đã nhớ tới cha Augustinô. Tôi nhớ tới con người của cha. Tôi nhớ tới cuộc đời của cha.

Điều tôi nhớ về cha hơn cả là sự cha bị thử thách, nhất là do bệnh tật những năm cuối đời. Thử thách của cha là rất lớn, lớn vì mức độ đớn đau rất nặng, lớn vì thời gian đớn đau rất dài, với những thử thách triền miên cha chịu. Cha nhắc cho tôi lời Đức Kitô đã phán khi Đức Kitô nói về thành Giêrusalem bị phá: “Chính nhờ sự nhẫn nại của chúng con, mà chúng con sẽ được cứu rỗi”.

Thân xác, con người của cha Augustinô đã bị tàn phá, không phải chỉ một lúc, một ngày, nhưng là từng ngày, từng tháng, từng năm. Trong suốt cuộc đời bị thử thách như vậy, cha luôn nhẫn nhục. Sự nhẫn nhục của cha được thực hiện qua thái độ khiêm tốn, chấp nhận thân phận của mình, chấp nhận hoàn cảnh của mình, chấp nhận những gì Chúa gởi đến cho mình, chấp nhận chính Thiên Chúa khó hiểu của mình. Bởi vì cha nhớ lại lời Đức Kitô đã phán, mà chúng ta vừa nghe trong bài Phúc Âm: “Hạt lúa có thối đi thì mới trổ sinh được hoa trái”, mới làm ích cho Hội Thánh được, mới làm ích cho địa phận được, mới làm ích cho những người thân, cho cộng đoàn giáo xứ của mình được.

Sự nhẫn nhục của cha cũng đã được thể hiện trong thái độ đợi chờ Chúa đến, vì cha tin tưởng theo lời thánh vương Đavít đã nói xưa: “Con luôn nhẫn nhục trông đợi Chúa, và Chúa đã thương đến con”.

Sự nhẫn nhục của cha cũng đã được thể hiện, trong sự cha coi trọng phần rỗi của mình hơn hết. Cha cam chịu đau khổ đến tận cùng, tận cùng thời gian Chúa ấn định, tận cùng đau khổ Chúa ấn định. Bởi vì cha tin tưởng lời Chúa đã hứa xưa: “Ai nhẫn nhục đến cùng kẻ đó sẽ được cứu rỗi”.

Qua con người bị thử thách của cha, tôi nhìn thấy bóng ông Gióp, một nhân vật của Cựu Ước. Tôi cũng nhìn thấy bóng ông Lagiarô, một nhân vật của dụ ngôn Phúc Âm. Cả hai nhân vật ấy đã bị mất mát rất nhiều, nhất là đã bị thử thách về những cơn bệnh tật nguyền đau đớn. Nhưng, hai nhân vật ấy đã làm chứng về một niềm tin thật vững vàng: Tin vào sự khôn ngoan an bài của Thiên Chúa.

Cha Augustinô cũng vậy. Cha luôn tin tưởng vào sự an bài của Thiên Chúa, giữa những cơn thử thách nặng nề. Điều tôi lấy làm lạ nhất nơi những người bị thử thách được Chúa thương, là đang khi bị thử thách, họ vẫn không ngừng cảm tạ Thiên Chúa.

Cha Augustinô hằng ngày trong thánh lễ đã đọc lời kinh Tiền Tụng: “Việc cảm tạ Chúa mọi nơi, mọi lúc, là việc chính đáng, phải đạo, và sinh ơn cứu độ cho chúng con”.

Cha cảm tạ Chúa mọi nơi, kể cả trên giường bệnh đau đớn. Cha cảm tạ Chúa mọi lúc, kể cả lúc đớn đau thật nhiều, cực kỳ đau đớn. Để cha cảm tạ Chúa được như vậy, phải có một đức tin rất mạnh. Cha đã cảm tạ Chúa, những khi đau đớn trên giường bệnh, bị thử thách triền miên. Đó là một thánh lễ, mà tôi đã thấy trước mắt.

Tôi nhớ lại những thánh lễ sau cùng của cha Augustinô: Vì đau đớn, cha phải ngồi, mà không nói được lời nào thành tiếng. Cha làm lễ với tất cả sự từ bỏ mình, với tất cả sự hy sinh của mình.

Nhìn cha dâng lễ trong những ngày cuối đời, tôi có cảm tưởng là nhìn thấy thánh lễ của Đức Kitô: Thánh lễ là chính bản thân mình. Của lễ là chính bản thân mình với những đau đớn, hy sinh, tan nát. Bàn thờ là chính bản thân mình luôn vâng phục thánh ý Chúa.

Mỗi lần nghĩ tới cảnh cha dâng lễ trong đớn đau, tôi lại muốn mình, mỗi khi dâng lễ, cũng phải có một chiều sâu, một bề dầy, một chiều cao về đức tin. Và phải biết hoà sự đau đớn hy sinh của mình vào sự đau đớn và hy sinh của Đức Kitô. Đó mới là dâng lễ thực sự.

Những chia sẻ trên đây của tôi sẽ giúp cho anh chị em và tôi hôm nay đi tới mấy quyết định nhỏ.

Trước hết là trong thánh lễ này, chúng ta cùng nhau cảm tạ Chúa, vì Chúa đã cho cha Augustinô của chúng ta có một tinh thần nhẫn nhục, trong khiêm tốn, trong niềm cậy trông, trong sự chấp nhận phải thối đi như một hạt giống.

Chúng ta cảm tạ Chúa, vì họ đạo chúng ta có một người bạn đã sống ơn gọi, một ơn gọi sống đau khổ thử thách như vậy cho đến cùng.

Cùng với lời cảm tạ Thiên Chúa, chúng ta xin Thiên Chúa, vì công nghiệp của cha Augustinô hôm nay, giúp cho chúng ta biết noi gương cha Augustinô, sống trong thử thách, mà vẫn nhẫn nhục tuyên xưng đức tin với lòng khiêm tốn, với sự vâng phục thánh ý Chúa, nhất là hoàn toàn phó thác nơi Đấng đã gọi chúng ta.

Nếu chúng ta làm được mấy điều đó, thánh lễ hôm nay sẽ là một khởi đầu mới, giúp cho chúng ta sống ơn gọi của mình, một ơn gọi rất cần thiết cho việc truyền giáo hôm nay. Amen.
Lễ giỗ đầu của Cha Augustinô Phan Xuân Trọng, tại giáo xứ An Châu, ngày 28-11-1994


 

Bùi-Tuần 0469: ĐỨC TIN CủA ĐỨC MẸ 02-12-1994


Mt 9,27-31

Giu Đức (K.8b)

 

Khi đọc xong bài Phúc Âm hôm nay, tôi đã nói với Chúa Giêsu rằng: “Lạy Chúa của con, chỉ: 02-12-1994 Bùi-Tuần 469


Khi đọc xong bài Phúc Âm hôm nay, tôi đã nói với Chúa Giêsu rằng: “Lạy Chúa của con, chỉ còn mấy ngày nữa, chúng con sẽ mừng lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội. Con muốn trong ngày trọng đại ấy, con được mừng Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội bằng những tâm tình hân hoan ca tụng Thiên Chúa. Con muốn được như hai người mù nói trong bài Phúc Âm hôm nay, là “sẽ kể ra cho mọi người biết những phép lạ Chúa làm cho con”, những việc Chúa đã chữa lành tâm hồn con, và chữa lành tâm hồn những người thuộc về con.

Bài Phúc Âm hôm nay kể: “Chúa hỏi hai người mù. Chúa sờ vào mắt hai người mù. Họ được chữa lành. Họ hân hoan ca tụng Thiên Chúa”. Xin Chúa hãy làm việc đó cho con, để con sẽ là chứng nhân tình thương vô biên của Chúa.

Những lời tôi nói trên đây với Chúa rất chân thành tha thiết, và với một đức tin đơn sơ tuyệt đối. Và Chúa đã trả lời tôi: “Những điều con vừa nói là do chính Đức Mẹ soi sáng cho con. Vì thế, Cha sẽ làm cho con những điều con vừa cầu nguyện: Cha sẽ chữa lành linh hồn con, linh hồn của những kẻ thuộc về con. Giờ nào, cách nào, một mình Cha biết. Cha chỉ đòi con và những người thuộc về con một điều kiện này, là phải có lòng tin, tin vững vàng. Cha có thể làm được những sự mà người ta cho rằng không thể nào làm được.

Tới đây, tôi hiểu điều kiện Chúa đặt ra cho tôi quan trọng thế nào! Và đây cũng là việc tôi muốn chia sẻ với anh chị em vắn tắt hôm nay.

Vững tin vào Chúa, đó là điều kiện Chúa đòi. Nhưng vững tin là thế nào đây? Tôi nghĩ rằng: Vững tin vào Chúa như một điều kiện để Chúa chữa lành tâm hồn ta, là tin như hai người mù hôm nay: Họ tin vào Đức Kitô, không phải vì họ thấy mình xứng đáng, có công ích gì. Họ tin vào Đức Kitô, vì thấy mình hèn hạ, yếu đuối, bất lực, bế tắc, chỉ còn Đức Kitô là Đấng cứu độ.

Tin vững vàng vào Đức Kitô cũng là tin như Đức Mẹ xưa: Trong lời ca tán tụng Thiên Chúa, Đức Mẹ đã nói: “Chúa đã đoái nhìn đến phận hèn nữ tỳ của Chúa”. Đức Mẹ không nói rằng: “Con cảm ơn Chúa, vì đã chọn con làm Mẹ Thiên Chúa". Đức Mẹ cũng không nói rằng: “Con cảm tạ Chúa, vì đã cho con khỏi mắc tội Tổ Tông Truyền”. Không. Đức Mẹ nói rằng: “Con cảm tạ Chúa, vì Chúa đã đoái nhìn đến phận hèn kẻ tôi tớ này”.
Đức Mẹ đề cao sự mình hèn hạ, yếu đuối. Đức Mẹ đề cao tình xót thương Thiên Chúa, đoái nhìn đến những kẻ mang thân phận yếu hèn.
Tôi có cảm tưởng rằng Thiên Chúa của chúng ta, không nhìn tôi và anh chị em như những bông hoa quý mọc trên đỉnh núi cao, mà Chúa lại thích nhìn chúng ta như những cỏ dại bên đường, như những tôm tép ở sình lầy. Chúng ta càng thấy mình tội lỗi yếu hèn, biết nhìn về Chúa, thì Chúa càng thương chúng ta.

Phải tin như vậy. Tin là tin như ông Gióp, như ông Abraham xưa. Không dựa trên lý lẽ nào cả. Chúa bắt mình phải tế lễ con yêu dấu của mình. Abraham không có lý gì để chấp nhận, nhưng Abraham vẫn tin vào Thiên Chúa. Niềm tin của ta vào Thiên Chúa, không bao giờ dựa trên lý lẽ: Nó phải thế này, nó phải thế kia. Không. Đức tin chỉ dựa trên thánh ý Chúa mà thôi.

Rồi đức tin mà Chúa đòi tôi hôm nay phải là một đức tin của các tông đồ xưa. Tin Chúa là chọn Chúa, là chọn luật Chúa. Chúa dạy như vậy nên tôi vâng theo, chứ không phải cứ ngồi đó lý luận, hoặc làm bất cứ cái gì tôi thích, rồi nghĩ rằng Chúa sẽ giúp tôi! Không phải thế đâu!

Tin là phó thác mình cho Chúa và phấn đấu chấp nhận hy sinh để chọn một mình Chúa, để trung thành tuyệt đối với luật của Chúa và những gì Chúa soi sáng cho mình.

Tin, đơn sơ là gặp gỡ Chúa. Tin, đơn sơ là trao trọn vẹn tấm thân mình và cuộc đời mình cho Chúa. Nếu làm như vậy, Chúa sẽ chữa lành tâm hồn chúng ta.

Lúc nãy, ông đại diện giáo dân có nói: “Một trăm hai mươi tám em đã chuẩn bị đầy đủ, đầy đủ để lãnh phép bí tích Thêm Sức”. Khi tôi nghe câu đó, tôi hỏi lòng mình rằng: Anh chị em có hiểu rõ thế nào là chuẩn bị đầy đủ để đón nhận Chúa Thánh Thần không?

Riêng tôi, tôi rất lo sợ cho tôi, ngay khi dâng lễ, giảng dạy, tôi cứ nói với Chúa: “Con không chuẩn bị đầy đủ đâu. Xin Chúa đến giúp con, nhất là xin Chúa giúp con biết tin vào Chúa, tin vì con hèn mọn”. Có thế thôi! Cho nên bây giờ đây, điều tôi nhắn nhủ các em và anh chị em trước khi ban phép bí tích, là hãy xin Đức Kitô như các tông đồ xưa: “Lạy Thầy, xin thêm đức tin cho con”. Chính nhờ đức tin mà chúng ta đón nhận được Chúa Thánh Thần. Đức tin này khơi dậy những khát mong, vượt qua những điều ta đang xem thấy, vượt qua những điều ta đang nghe thấy, đưa ta vào gặp gỡ Đức Kitô, trong một chân trời rất mới trong cõi lòng ta.

Khi chúng ta làm như vậy, chúng ta sẽ thấy Chúa đến với chúng ta, và Ngài đến để đổi mới lòng ta, để đem tâm hồn ta trở về với Ngài. Và khi đã gặp được Ngài, và khi đã được Ngài chiếm đoạt, chúng ta sẽ nên người mới, chúng ta sẽ thấy Thiên Chúa là hạnh phúc duy nhất của ta. Ta hy sinh một, Thiên Chúa sẽ trả lại một ngàn, một vạn. Còn nếu chúng ta từ chối, muốn sống theo ý riêng mình, được một, nhưng chúng ta sẽ mất tất cả.

Anh chị em thân mến,

Gần đến ngày lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội, tôi chỉ nhắn nhủ anh chị em, là hãy dọn mình, bằng cách tin vào Đức Kitô, tin vào Chúa Thánh Thần một cách trong sáng, trọn vẹn, tuyệt đối như Đức Mẹ đã tin xưa. Và để được như vậy, hãy siêng năng cầu nguyện, hãy chấp nhận hy sinh, hãy lo lắng đến phần rỗi, hãy nhìn Chúa là tất cả đời ta.

Xin Chúa Thánh Linh, Đấng nhìn thấy tất cả sự yếu hèn của chúng ta. Xin Người hãy đến. Xin Người ở lại trong ta. Amen.

Giu Đức (Kênh 8b), ngày 02-12-94


 

Bùi-Tuần 0470: TÌNH YÊU THIÊN CHÚA 03-12-1994


Mt 9,35-10

Lộ Đức (K.8b),

 

Đêm vừa qua, tôi thức giấc lúc 11g30. Vừa thức, tôi liền nhớ ngay một: 03-12-1994 Bùi-Tuần 470


Đêm vừa qua, tôi thức giấc lúc 11g30. Vừa thức, tôi liền nhớ ngay một câu mà bài Phúc Âm hôm nay đã nói về Đức Kitô: “Người động lòng xót thương họ”. Do đó tôi có cảm tưởng, Đấng đã xót thương dân người thuở ấy, nay đến đánh thức tôi dậy. Và cảm tưởng ấy đưa tôi tới niềm tin: Tôi tin Đức Kitô đến với tôi. Tôi tin Đức Kitô gọi tên tôi. Tôi tin Đức Kitô muốn chia sẻ tâm tình với tôi. Người cũng nói, Cha xót thương dân này. Cha xót thương chính con, hôm nay, giờ này, tại đây.
Khi hiểu như vậy, tôi đã thưa lại với Chúa Giêsu rằng: Con cảm tạ Chúa đã thương xót chúng con. Xin Chúa giúp cho con biết đón nhận tình xót thương của Chúa một cách tích cực hơn. Xin Chúa giúp cho chúng con cảm nghiệm được tình Chúa xót thương chúng con một cách rõ ràng hơn. Xin Chúa giúp cho chúng con, hiểu được tình Chúa xót thương chúng con một cách đúng đắn hơn.
Liền sau đó, tôi cảm thấy trong lòng tôi tràn dâng lên một niềm tin lạ lùng, đầy phó thác nơi tình xót thương Chúa, sẵn sàng chấp nhận mọi hy sinh, miễn là thánh ý Chúa được thực hiện trọn vẹn nơi tôi.

Qua cảm nghiệm này, tôi nhận ra ngay, những cảm nghiệm này không do tự nhiên mà tới, nhưng chính là Đức Kitô đang hiện diện trong tôi. Người ban cho tôi cảm nghiệm ấy để tôi biết rằng: Chúa đang thương xót tôi. Chúa đang đổi mới tôi. Chúa đang cứu độ tôi.

Qua những cảm nghiệm trên đây, tôi hiểu thấm thía lời Phúc Âm hôm nay nói: “Nước Thiên Chúa đang đến gần”. Nước Thiên Chúa là gì?

Theo tôi, Nước Thiên Chúa là “Tình yêu Thiên Chúa”. Tình yêu Thiên Chúa đầy xót thương, muốn thanh luyện ta, muốn biến đổi ta nên mới, muốn cởi gỡ ta khỏi tội lỗi tính mê. Nhưng, vẫn tôn trọng tự do của ta. Khi mà ta sẵn sàng từ bỏ chính mình, quyết tâm đi theo Chúa, thì tình yêu Chúa tràn vào trong ta, cai trị ta, và được tự do thực hiện tất cả những chương trình cứu độ mà tình xót thương Chúa muốn thực hiện. Nước Thiên Chúa là như vậy.

Khi hiểu như vậy, khi cảm thấy như vậy, tôi thấy ngay rằng: Đón nhận nước Thiên Chúa vào lòng, đón nhận tình yêu thương xót của Chúa vào lòng, bao giờ cũng kèm theo ơn “trở về”.

Khi nói về ơn “trở về”, tôi nhớ tới Lộ Đức bên Pháp.

Mỗi lần qua Pháp, tôi đến Lộ Đức để cầu nguyện, để dâng lễ. Bài lễ riêng tại Lộ Đức, mang nội dung ơn “trở về”, nói về sự “trở về”, xin ơn “trở về”. Làm lễ nhiều lần tại Lộ Đức, tôi đã hiểu thấm thía ơn “trở về” cần thiết và quan trọng thế nào trong đời sống tôi, trong đời sống cộng đoàn dân Chúa. Ơn “trở về” là ơn “nghị lực” giúp cho chúng ta quyết tâm đi theo Đức Kitô, quyết tâm theo luật Đức Kitô. Ơn “trở về” là một ơn “can đảm” Chúa ban cho chúng ta, để biết tích cực cộng tác vào chương trình cứu độ Đức Kitô muốn thực hiện nơi chúng ta. Ơn “trở về” là một niềm hân hoan Chúa ban cho chúng ta, để chúng ta lấy làm hân hạnh vui mừng, vì được làm tất cả những gì mà Đức Kitô cho là đẹp lòng tình yêu Thiên Chúa. Ơn “trở về” là một điều tôi tha thiết cầu xin hằng ngày cho tôi, cho anh chị em.

Tới đây, anh chị em biết rồi, những gì cần cho chúng ta, những gì cần để cảm tạ Chúa, những gì cần để làm chứng cho Chúa. Theo tôi, qua kinh nghiệm, thì lòng xót thương Chúa, niềm tin vào Chúa, ơn “trở về”, là những gì cần thiết nhất cho chúng ta. Lòng xót thương Chúa, tin vào Đức Kitô, ơn “trở về”, là những gì ta cần phải tạ ơn Chúa hơn hết. Ơn “trở về”, sự tin vào Chúa, lòng xót thương Chúa, đó là những cái chúng ta cần phải làm chứng, cần phải huấn luyện con em chúng ta. Chúng ta cần phải rao giảng Tin Mừng này cho những người chung quanh ta.

Lúc nãy, đầu thánh lễ, sau khi làm phép chuông, lúc bước vào nhà thờ, tôi ngước mắt lên thấy tượng Chúa Kitô, hai tay vác con chiên. Tôi nghe từ tượng đó nói với tôi rằng: “Nếu con muốn nên người truyền giáo, con phải có một trái tim biết xót thương như Cha, và con phải biết hy sinh vác con chiên mình như Cha”. Đấy là những lời nhắn nhủ Chúa gửi cho tôi để tôi chia sẻ với anh chị em trong ngày ban phép Thêm Sức, đúng ngày thánh Phanxicô Xaviê, vị tông đồ truyền giáo. Truyền giáo là chia sẻ lửa trong lòng mình, lửa xót thương của Đức Kitô trong lòng mình. Truyền Giáo là làm chứng Đức Kitô, Đấng cứu độ đầy xót thương, hy sinh vác tội con chiên của mình, vác nỗi khổ của người khác trên vai mình.

Đó là điều tôi cầu xin hôm nay cho tất cả cộng đoàn chúng ta. Amen.

Họ Lộ Đức (Kênh 8b), ngày 03-12-94


 

Bùi-Tuần 0471: LÒNG THƯƠNG XÓT CHÚA 03-12-1994


Mt 9,35-40

Tân Bùi (K.4a),

 

Bài Phúc Âm hôm nay, có một câu nói về Đức Kitô thế này: “Đức: 03-12-1994 Bùi-Tuần 471


Bài Phúc Âm hôm nay, có một câu nói về Đức Kitô thế này: “Đức Kitô nhìn thấy đám đông bơ vơ, Người động lòng thương xót họ”. Đám đông ấy là đám đông của Israel.

Còn đối với đám đông hôm nay, tại đây, thì thế nào? Hồi nãy, khi cầu nguyện, tôi nhìn vào đám đông các trẻ em chịu phép Thêm Sức hôm nay, gần ba trăm em. Và tôi hỏi Chúa Giêsu rằng: “Chúa nhìn đám đông này, Chúa có động lòng thương xót chúng không?”. Và tôi nghe Chúa trả lời trong lòng tôi rằng: “Cha xót thương, rất xót thương chúng”. Tôi lại hỏi, vì lý do nào Chúa xót thương chúng, thì Chúa soi sáng cho tôi biết. Cha xót thương chúng, bởi vì chúng có thể sẽ rất bơ vơ như đám đông xưa tại Israel.

Bơ vơ, tự ý bơ vơ, không phải vì sau này chúng sẽ thiếu chủ chăn, nhưng vì sẽ có nhiều phong trào xấu, những thần dữ lôi cuốn chúng đi xa dần Đức Kitô là Đấng chăn chiên lành, lôi cuốn chúng đi xa dần Hội Thánh. Vì thế, chúng sẽ bơ vơ, để cho mình bị hướng dẫn bởi tà thần hưởng thụ, tà thần tự do, tà thần giả dối, tà thần dâm ô.

Tôi coi lời Đức Kitô trả lời tôi hôm nay, là một lời tiên tri Chúa muốn nói cho tôi biết, và cũng đồng thời nhắn gửi anh chị em, nhất là những bậc phụ huynh có trách nhiệm với con em của mình.

Con em chúng ta sẽ có thể rất bơ vơ, bị những tà thần lôi cuốn đi xa Đấng chăn chiên lành. Trong một tương lai như vậy, chúng ta thấy con em chúng ta rơi vào một nguy cơ rất lớn, hại cho phần rỗi mình, làm khổ cho gia đình mình, trở nên vô ích cho xã hội và cho Hội Thánh. Nguy cơ ấy, anh chị em đã thấy phần nào, đó đây, tại Việt Nam hôm nay.

Trước nguy cơ này, chúng ta phải đối phó thế nào? Tôi nghĩ, đây là điều anh chị em cũng đã suy nghĩ. Tôi xin gợi ý vài điều cần thiết.

Việc thứ nhất chúng ta nên làm để đối phó với nguy cơ làm cho con em chúng ta trở nên bơ vơ đó là: Chính chúng ta, các bậc phụ huynh cần phải được tái-Phúc-Âm-hoá.

Tái-Phúc-Âm-hoá, đó là chúng ta cần được thanh luyện tâm hồn mình, trở về với Đức Kitô và Phúc Âm của Người. Tái-Phúc-Ân-hoá nhất là về đức tin.

Đức tin không phải là chấp nhận một mớ lý thuyết. Đức tin là gặp gỡ Đức Kitô. Đức tin là trao phó trọn vẹn thân mình, cuộc đời mình trong tình yêu thương xót, cứu độ, của Đức Kitô. Đức tin là chấp nhận hy sinh, để chọn Chúa làm hạnh phúc đời mình, chọn luật Phúc Âm làm con đường đi, chọn phần rỗi là cứu cánh sau cùng.

Đức tin như vậy, không hệ tại ở những cử chỉ lễ nghi bề ngoài, mà là một sự đón nhận ơn Chúa. Tôi xin nhắc lại, đức tin là một ân huệ Chúa ban cho, chứ không phải là do chúng ta học giáo lý, đọc kinh mà có. Đức tin là một quà tặng, nhưng chúng ta phải biết đón nhận. Đón nhận với lòng khao khát, với lòng khiêm tốn, với sự sẵn sàng chấp nhận những gì Chúa soi sáng cho. Một đức tin như vậy, cần phải chăm sóc rất nhiều.

Mới rồi tôi có gặp một người trí thức, anh ta có rửa tội, nhưng đã mất đức tin. Anh ta tâm sự với tôi rằng: “Con khổ đau, vì bây giờ con không còn tin điều gì cả. Mà con biết rằng con học rất nhiều giáo lý, nghe rất nhiều bài giảng. Nhưng con không tin một cái gì cả. Xin cha giúp con để có đức tin”.

Tôi đã cầu nguyện. Xin nhiều người cầu nguyện. Và nhất là chúng tôi đã cùng nhau hãm mình hy sinh, và cũng xin anh ta cầu nguyện, hãm mình hy sinh, và biết mình tội lỗi cần đến Chúa.

Ít lâu sau anh báo tin cho tôi, anh đã tìm lại được đức tin. Đó là bằng chứng cho thấy rằng, đức tin là một ân huệ của Chúa khi biết tái-Phúc-Âm-hoá chính mình. Chúng ta cần phải để ý đến việc đó, để khi chúng ta sống đức tin, chúng ta biết chúng ta chọn lựa cái gì, và phải hy sinh cái gì một cách tuyệt đối, một cách vô điều kiện? Tin là dấn thân cho một người mình yêu, không có điều kiện gì cả. Đó mới là tin đối với Đức Kitô, Đấng cứu độ đòi hỏi chúng ta.

Mới rồi, tôi gặp một trường hợp bốn đứa nhỏ bỏ nhà ra đi. Hỏi tại sao? Thì chúng thưa rằng: Chúng mất niềm tin ở cha mẹ chúng. Cha mẹ chúng cũng là những nhân sự có địa vị, có tiếng tăm trong họ đạo. Nhưng chúng nói rằng, chúng con biết, cha mẹ chúng con sống giả hình, không đạo đức thực, cho nên chúng con không còn niềm tin, chúng con ra đời bơ vơ. Đó, kết quả của một nhóm người trẻ bỏ nhà, đi sống bơ vơ, để phản đối nếp sống thiếu đức tin trung thực của cha mẹ mình.
Vì thế,

Điều thứ nhất tôi khuyên anh chị em, là chính chúng ta cần phải được tái-Phúc-Âm-hoá, nhất là về đức tin, một đức tin chọn Chúa, chấp nhận hy sinh.

Điều thứ hai tôi gợi ý cần phải làm để đối phó trước nguy cơ con cái chúng ta trở thành bơ vơ xa lìa Chúa, đó là hãy vun trồng phát triển lòng tôn sùng Đức Mẹ.

Kinh nghiệm cho tôi thấy, những gia đình nào có lòng kính mến Đức Mẹ, thường được Đức mẹ giữ gìn đức tin từ đời cha, đến đời con, đến đời cháu.

Tôn sùng Đức mẹ, không phải chỉ là đọc kinh dâng hoa, mà là suy gẫm đời sống Đức Mẹ, nhất là suy gẫm đức tin của Đức Mẹ, một đức tin hoàn toàn phó thác, không dựa trên những cái gì mình hiểu được, mà chỉ dựa trên lời Chúa mà thôi. Mặc dù không hiểu, nhưng đức tin của Đức mẹ vẫn là một đức tin chấp nhận hy sinh. Một lần nữa tôi lại nói, một đức tin chấp nhận hy sinh: Sinh con ra, tưởng rằng con sẽ thành công, ai ngờ Giêsu con mình, suốt đời chịu khổ, sau cùng chịu chết, khổ cho Mẹ biết bao. Nhưng Đức Mẹ vẫn tin vào lời Chúa, vẫn chấp nhận hy sinh.

Tôi thấy hai điều tôi nói trên đây đều có hy sinh. Thời bây giờ, người ta ngại hy sinh lắm. Người ta nói về tình yêu, người ta nói về cầu nguyện, người ta nói về từ thiện xã hội. Nhưng, ít người nói tới hy sinh. Mà thực chất hy sinh luôn luôn đi kèm với tình yêu, sẽ là giá cứu chuộc chính ta, và sẽ là giá cứu chuộc con em chúng ta.
Anh chị em thân mến,

Trong giờ phút chúng ta gặp nhau đây, điều tôi chia sẻ với anh chị em, là điều tôi cảm thấy Chúa soi sáng cho tôi, chứ không phải tự nhiên tôi tìm ra mà nói. Chúa muốn cho anh chị em hãy để ý về đức tin của con cái chúng ta. Đừng vì chúng ta, mà con cái chúng ta sẽ trở thành bơ vơ, mất đức tin, suy giảm đức tin, xa lìa Đức Kitô, dửng dưng với Hội Thánh.

Trong lễ thêm sức này, tôi xin Chúa Thánh Thần đến trong chúng ta, đến trong con em chúng ta, làm cho con em chúng ta mở mắt ra, nhìn thấy Chúa là hoan lạc đời mình, nhìm thấy luật Chúa là đường đi của mình, nhìn thấy thánh giá của Chúa là giá chuộc mình phải cộng tác vào để được cứu độ.

Lạy Chúa Thánh Linh, xin hãy đến và ở lại trong chúng con. Amen.

Tân Bùi (Kênh 4a), ngày 03-12-94


 

Bùi-Tuần 0472: ĐỨC CẬY TRÔNG 05-12-1994


Lc 5,17-26

Cồn Trên

 

Một người tân tòng mới nói với tôi rằng: Trong địa phương này, con: 05-12-1994 Bùi-Tuần 472


Một người tân tòng mới nói với tôi rằng: Trong địa phương này, con thấy nhiều gương sáng về đức tin, nhiều gương sáng về đức ái, nhưng không nhiều gương sáng về niềm cậy trông.

Tâm sự trên đây của người tân tòng giúp cho tôi suy nghĩ về sự cần thiết phải nêu cao niềm cậy trông.

Riêng đối với tôi, niềm cậy trông đang là một điều rất cần thiết trong lúc này. Chúa biết điều ấy. Và vì thương tôi, hôm nay Chúa hướng dẫn tâm hồn tôi đến bài Phúc Âm, để nhìn thấy chân dung niềm cậy trông nơi người bất toại.

Thật vậy, người bất toại rất mong muốn được chữa lành bệnh, nhưng anh ta ở trong một hoàn cảnh coi như hoàn toàn bế tắc. Chung quanh, trong ngoài, đều là cản trở. Cản trở bên trong là chứng tật bất toại không lê đi được, rồi cản trở bên trong còn là thế giá của anh có gì đâu, công phúc của anh có gì đâu, làm sao đáng được Đức Kitô nhìn đến và chữa lành.

Còn cản trở bên ngoài thì đầy dẫy: Đám đông chen chúc, không thể nào lách qua được. Thêm vào đó, những người biệt phái có những tư tưởng, có những thái độ dị nghị khắt khe đối với Đức Kitô và đối với bất cứ ai đến xin phép lạ nơi Đức Kitô.

Anh nhìn rõ những cản trở, nhưng anh không ngã lòng. Anh tin vào lòng thương xót Chúa. Và niềm tin ấy, niềm cậy trông ấy đưa tới hành động: Anh xin thân nhân đưa anh lên mái nhà, dỡ ngói ra thả anh xuống trước mặt Đức Kitô.

Đây là một hành động đầy mạo hiểm. Nhưng mạo hiểm ấy dựa trên một niềm cậy trông thực khiêm tốn, nhưng đầy can đảm. Anh không cậy gì vào chính mình. Anh cũng coi thường tất cả những cản trở chung quanh. Anh chỉ nhìn vào trái tim đầy thương xót của Đức Kitô cứu độ. Niềm cậy trông của anh đã làm cho Đức Kitô thương anh, trọng anh. Và Đức Kitô đã chữa lành anh, không những phần xác mà còn cả phần hồn. Chúa nói: “Tội con đã được khỏi. Con đứng dậy đi”. Nghĩa là Chúa chữa lành cả phần hồn, cả phần xác, vì niềm cậy trông rất mạnh.

Nếu như muốn tìm một chân dung khác đẹp hơn về những cậy trông, tôi có thể nhìn thấy nơi Đức Mẹ.

Đức Mẹ được ơn khỏi mắc tội Tổ Tông Truyền. Đức mẹ được chọn làm Mẹ Đấng Cứu Thế. Nhưng Đức Mẹ luôn luôn bị thử thách suốt đời: Con mình là Thiên Chúa, nhưng bị biết bao chống đối, biết bao sỉ nhục, và biết bao thất bại bề ngoài. Đức Mẹ không ngã lòng. Niềm cậy trông của Đức Mẹ luôn vững, luôn cậy vào lời Chúa đã hứa. Niềm cậy trông ấy đầy can đảm và là một sự phấn đấu đầy nghị lực. Chính vì thế, Đức mẹ trở thành Đấng Đồng Công cứu chuộc loài người.

Anh chị em thân mến,

Khi đến họ đạo Cồn Trên này, tôi cũng nhìn thấy những niềm hy vọng: Những niềm hy vọng cũ đang trổ bông, và những niềm hy vọng mới đang xuất hiện. Có những niềm hy vọng cá nhân và có những niềm hy vọng tập thể.

Khi nghe tiếng chuông mới rung lên, tôi đã nghĩ rằng: Đây là một báo hiệu tốt. Nhưng niềm hy vọng trong anh chị em còn vang xa hơn tiếng chuông của họ đạo anh chị em. Nó vang tới trời. Nó vang tới trái tim Thiên Chúa. Và nó vang tới lòng con người xung quanh.

Tôi mong rằng: Họ đạo anh chị em, tuy bé nhỏ, hãy biết bảo vệ và phát huy niềm hy vọng, lòng cậy trông.

Ngày 10-11 vừa qua, Đức Thánh Cha có gửi cho các Giám Mục toàn cầu một lá thư, kêu gọi các ngài chuẩn bị cho giáo đoàn mình, để mừng năm thánh năm 2.000. Và trong các việc Đức Giáo Hoàng kêu gọi để chuẩn bị năm thánh năm 2.000 sẽ được tổ chức đặc biệt, Đức Thánh Cha nhắc tới niềm cậy trông. Ngài nói rằng: “Từ nay trở đi, (tức là ngày mồng 10-11-1994 trở đi, cho đến năm 2.000) các giáo đoàn hãy năng nhắc nhở nhau về niềm hy vọng, về niềm cậy trông”. Đó là một điều, theo Ngài nói, rất cần để chuẩn bị đón nhận ơn thánh năm 2.000.

Tôi mong rằng: Họ đạo anh chị em hãy biết đón nhận lời kêu gọi của Đức Thánh Cha. Từ nay trở đi, hãy đặc biệt chú ý những bài thánh ca, những bài giáo lý có nội dung gợi lên niềm cậy trông, với những hình ảnh gợi lên niềm cậy trông. Niềm cậy trông này, không phải chỉ hướng về những lợi ích trần thế, mà là một niềm cậy trông dựa trên lời Chúa.

Trong bài đọc thứ hai anh chị em vừa nghe, thánh Phaolô nói: Niềm cậy trông không bị hổ thẹn, bởi vì niềm cậy trông của ta dựa trên tình thương: Tình thương của Chúa đã thương chúng ta, đang khi chúng ta còn trong tội lỗi, chứ không phải vì ta có công, cũng không phải vì ta xứng đáng, mà vì Chúa thương ta vô vàn, thương ta khi ta chưa biết Ngài, thương ta khi ta còn trong tội lỗi. Và niềm cậy trông như Đức Mẹ là luôn luôn cậy trông, luôn luôn tuân phục thánh ý Chúa, chứ không phải cậy trông được khỏi bệnh, được địa vị, được danh vọng, được thành công. Không, cậy trông trên hết là thánh ý Chúa được trọn vẹn nơi chúng ta.
Tôi mong rằng Thánh Thần Chúa sẽ đến với chúng ta. Và như lời hứa của thánh Phaolô nói trong bài đọc thứ hai: “Thánh Thần Chúa sẽ ban cho chúng ta niềm cậy trông”, mà Đức Kitô đã khuyên cần phải có, như một điều kiện để đón nhận ơn cứu độ. Amen.

Cồn Trên, ngày 05-12-94


 

Bùi-Tuần 0473: ĂN NĂN TRở VỀ 06-12-1994


Mt 18,12-14

Trung Thành

 

Trong bài Phúc Âm hôm nay, Chúa cho biết: Chúa rất xót thương con: 06-12-1994 Bùi-Tuần 473


Trong bài Phúc Âm hôm nay, Chúa cho biết: Chúa rất xót thương con chiên lạc. Chúa dành cho con chiên lạc một tình xót thương đặc biệt, đến nỗi trong một đàn chiên 100 con, nếu chẳng may có một con đi lạc, Chúa sẽ bỏ 99 con trên núi, để đi tìm con chiên lạc, để đưa nó trở về.

Khi nghe bài Phúc Âm hôm nay, tôi đã thưa với Chúa rằng: “Lạy Chúa, con cảm tạ Chúa đã xót thương con chiên lạc. Chúa nói là trong một đàn chiên 100 con, nếu chẳng may có một con đi lạc, Chúa sẽ xót thương đi tìm kiếm nó. Nhưng con xin hỏi Chúa: Nếu trong một đàn chiên, không phải chỉ có một con đi lạc, mà là mấy chục con đi lạc. Hơn nữa, có thể quá một nửa là lạc, thì Chúa có còn xót thương tất cả những con chiên lạc đó không?”.

Và tôi nghe Chúa trả lời tôi rằng: “Đúng là có những đàn chiên, không phải chỉ có một, hai con đi lạc, mà là mấy chục con đi lạc, và cũng có những đàn chiên hầu hết là đi lạc. Nhưng Cha nhân lành vẫn không ngừng xót thương tất cả những con chiên lạc. Cha đi tìm tất cả. Cha muốn mọi con chiên lạc trở về. Nhưng chỉ có một số biết đón nhận ơn Cha ban để trở về”. Tôi hỏi Chúa: Như vậy, những con chiên nào sẽ được ơn trở về? Thì Chúa trả lời tôi: Những con chiên có lòng khiêm tốn.

Lời Chúa phán trên đây với tôi, gợi ý cho tôi nhớ lại những con người trở lại trong Phúc Âm: Như người thu thuế đứng cuối nhà thờ, cúi mặt xuống với thái độ sám hối ăn năn. Như Mađalêna quỳ xuống rửa chân Chúa với tâm hồn tan nát khiêm cung. Hay như thánh Phêrô đi ra khỏi dịp tội với một lòng cậy trông và với một tâm hồn sám hối. Đúng là phải có lòng khiêm tốn như là một điều kiện để có thể đón nhận ơn trở về.

Nhưng, sự khiêm nhường như điều kiện được đón nhận ơn trở về phải như thế nào?

Thưa trước hết, phải nhìn nhận mình có tội: Tội mình phạm là do chính mình, mình phải ăn năn, chứ không phải nhìn sang kẻ khác để rồi bắt lỗi, để rồi kết án người khác. Người con phung phá đã nói với cha mình: Lạy Cha, con đã phạm tội với cha và với trời.

Ăn năn tội như thế không phải là vì tội đã gây rắc rối cho mình, mà chính là vì đã làm cho cha buồn, vì đã làm sai ý cha, vì đã lỗi luật cha. Đấy là những lý do ăn năn sám hối: Biết nhận lầm lỗi về phía mình, và biết đã làm cho cha buồn. Ăn năn sám hối của kẻ khiêm nhường còn đi xa hơn nữa, tức là dựa vào lòng thương xót Chúa, lòng thương xót sẽ xoá tội, sẽ tha tội. Chúa đã chết cho con, máu Chúa đủ để xoá tội con. Chúa đã sống lại, để sự sống lại của Chúa sẽ làm cho con sống lại. Tội con nặng biết mấy, nếu con biết cậy trông, con sẽ sống lại.

Nhưng không phải chỉ dừng lại ở đó, mà kẻ khiêm nhường thống hối còn đi một bước nữa, là phó thác mọi sự trong tay Cha. Những gì Cha muốn làm nơi con, xin hãy làm cho đẹp ý Cha: “Lạy Cha, con xin phó mình nơi Cha. Xin hãy làm nơi con mọi sự đẹp ý Cha. Con sẵn sàng luôn luôn. Con chấp nhận tất cả, miễn là ý Cha được thực hiện trọn vẹn nơi con”. Đó là sự khiêm nhường thống hối của kẻ ăn năn, không chỉ xin Chúa xoá tội, tha tội. Mà còn xin vâng phục thánh ý Chúa, chỉ ý Chúa mà thôi.

Khiêm nhường ăn năn, còn là xin Chúa giúp cho mình trở về mỗi ngày, mỗi giờ. Khi tôi đọc sách đạo đức của thánh Têrêxa Mẹ, tôi thấy thánh Têrêxa Mẹ tả ra những con đường trở về: Từ lúc bỏ tội lỗi, cho đến khi bỏ tính mê nết xấu, rồi đến bỏ cái tôi của mình, rồi trở về sống mật thiết với Đức Kitô. Con đường trở về rất dài.

Vì thế, khi nghĩ tới sự tôi và anh chị em đi xưng tội, gọi là trở về, thì cái trở về đó mới chỉ là những bước đầu của con đường trở về, chứ còn trở về là phải bước vào, đi vào, đi mãi mãi không bao giờ cùng. Mà phải bắt đầu ngay từ giây phút này, không do dự, không tính toán, bởi vì Chúa gọi.

Anh chị em thân mến,

Ngày 10-11 vừa qua, Đức Thánh Cha có gởi cho các Giám Mục hoàn cầu, một lá thư loan báo sẽ có năm toàn xá vào năm 2000. Đây là năm toàn xá đặc biệt, rất đặc biệt. Vì thế, Đức Thánh Cha kêu gọi mọi người, ngay từ hôm nay, hãy chuẩn bị bước vào năm thánh 2000, bằng một số việc. Một trong những việc Ngài cho là quan trọng nhất đó là ăn năn sám hối.

Chính Đức Giáo Hoàng trong lá thư ấy đã rất khiêm tốn và can đảm nhận rằng: Hội Thánh công giáo đã có nhiều sai lầm, đã có nhiều bất trung, đã có nhiều trì trệ trong quá khứ. Cần phải nhận lỗi của mình. Cần phải trở về với Chúa.

Tôi nghĩ rằng: Anh chị em cũng rất đồng ý với Đức Thánh Cha. Bởi vì, ăn năn sám hối, như con chiên lạc trở về đàn, là một sứ điệp mà Đức Kitô khi rao giảng luôn nhấn mạnh. Đó là sứ điệp mà thánh Gioan Baotixita luôn rao giảng. Đó là sứ điệp mà Đức Mẹ, mỗi khi hiện ra ở Lộ Đức, ở Fatima, ở Lasalette đều khẩn khoản nhắc tới: “Hãy ăn năn trở lại”.

Lúc nãy, ông đại diện giáo đoàn Trung Thành có nói là: ở đây, anh chị em rất sốt sắng theo học những lớp giáo lý. Tôi rất mừng về điểm này. Nhưng tôi thấy cần phải bổ khuyết. Giáo lý mà thôi không làm cho người ta trở về, mà còn phải tu đức. Suốt đời huấn luyện các tông đồ, Đức Kitô giảng về giáo lý chỉ một phần nhỏ, nhưng Ngài để ý đến tu đức nhiều hơn. Tu đức là tập cầu nguyện, là tập sám hối, là tập hồi tâm, là tập hãm mình, là tập thinh lặng hy sinh. Tu đức sẽ giúp cho người ta ăn năn trở về, hơn là chỉ đến mà học giáo lý.

Trong thánh lễ này, tôi cũng như anh chị em, xin Chúa Thánh Linh ban cho chúng ta hiểu được ý nghĩa sứ điệp ăn năn trở về của con chiên lạc, biết đón nhận ơn trở về như Chúa đã nói trong bài Phúc Âm hôm nay, là chỉ dành cho những kẻ khiêm tốn. Amen.

Trung Thành, ngày 06-12-94

 

Bùi-Tuần 0474: LẮNG NGHE CHÚA THÁNH THẦN 07-12-1994

 Mt 11,28-30

An Dũng (K.G1),

 

Đêm vừa rồi, tôi ngủ tại nhà xứ Trung Thành, kinh 8 (chợ), phòng của: 07-12-1994 Bùi-Tuần 474


Đêm vừa rồi, tôi ngủ tại nhà xứ Trung Thành, kinh 8 (chợ), phòng của tôi ngủ rất là thanh vắng. Nhưng có một điều rất là thanh vắng, nhưng lại gây xúc động, đã đánh thức tôi dậy lúc 10 giờ 30, để rồi từ đó đến sáng, tôi không sao ngủ lại được.

Cái gì đã có sức đánh thức tôi dậy sớm như thế? Thưa là một hình ảnh đẹp về Đức Mẹ, mà Đức Thánh Cha mới nêu lên. Đức Thánh Cha nói: “Đức Mẹ là một người lắng nghe Chúa Thánh Thần”.

Đối với tôi, đây là một hình ảnh rất đẹp. Bởi vì, biết lắng nghe vốn đã là một đặc tính làm cho con người nên đẹp. Biết lắng nghe Chúa Thánh Thần lại càng là một đức tính, làm cho vẻ đẹp con người trở nên trong sáng, cao quý, tuyệt vời.

Đọc kinh thánh, đọc truyện Đức Mẹ, tôi thấy suốt cuộc đời Đức Mẹ, Đức Mẹ đã được Chúa Thánh Thần nói, và Đức Mẹ đã lắng nghe. Chúa Thánh Thần đã nói với Đức Mẹ qua Cựu Ước. Qua Cựu Ước, Chúa Thánh Thần đã nói cho Đức Mẹ con đường cứu độ Chúa sắp thực hiện. Khi nghe Chúa Thánh Thần nói, Đức mẹ đã phân định được những gì Chúa sẽ làm cho nhân loại. Những gì Chúa sẽ làm cho nhân loại thì rất khác với các quan điểm của các thượng tế, các Pharisêu, các luật sĩ thời đó.

Rồi Chúa Thánh Thần cũng đã nói với Đức Mẹ qua biến cố Truyền Tin, và những gì xảy ra sau đó. Nhờ Chúa Thánh Thần, Đức Kitô đã thụ thai trong lòng Trinh Nữ Maria, đã làm người, đã sinh ra. Nhờ lắng nghe Chúa Thánh Thần qua biến cố Truyền Tin, Đức Mẹ đã cảm nghiệm được Thiên Chúa toàn năng thực hiện những sự lạ lùng lớn lao, trong một dụng cụ hèn yếu không tên tuổi.

Chúa Thánh Thần cũng đã nói với Đức Mẹ qua cuộc đời của Đức Kitô, từ Bêlem đến Ai Cập, từ Ai Cập về Nagiarét, từ Nagiarét đến Giêrusalem. Đức mẹ lắng nghe Chúa Thánh Thần, và nhờ đó, Đức mẹ hiểu tất cả cuộc đời thiêng liêng của mình đều phải tập trung vào Đức Kitô. Chính nhờ Đức Kitô, và trong Đức Kitô, cùng với Đức Kitô, mọi sự phải quy hướng vào Đức Kitô. Chỉ có Đức Kitô là Đấng cứu độ, chỉ có Đức Kitô là Đấng mình phải tới để được ủi an, vì Người đã phán: Ách Ta thì êm ái, gánh Ta thì nhẹ nhàng.

Chúa Thánh Thần cũng đã nói với Đức Mẹ, nhất là qua biến cố Ngũ Tuần. Chúa Thánh Thần đã hiện xuống thay đổi tất cả những người trong hội đường. Đức Mẹ lắng nghe Chúa Thánh Thần. Và Ngài xác tín Đấng làm cho con người nên mới, nên thánh, chính là Chúa Thánh Thần. Và sự con người nên mới, nên thánh, biến đổi tâm hồn, là một công trình đẹp đẽ nhất, vượt hơn tất cả mọi thánh đường, mọi công trình trên thế gian này. Đó là một công trình của Thiên Chúa đáng ca tụng nhất.

Sự Đức Mẹ lắng nghe Chúa Thánh Thần đã được Phúc Âm diễn tả bằng một câu vắn tắt: Đức Mẹ ghi nhớ tất cả sự việc xảy ra trong lòng mình, và âm thầm suy gẫm, suy gẫm trong một tâm hồn thinh lặng, trong một tâm hồn cầu nguyện, trong một tâm hồn tỉnh thức.

Đức Mẹ không những lắng nghe Chúa Thánh Thần, mà còn biết cách đáp ứng lại lời Chúa Thánh Thần soi sáng một cách tế nhị và sáng tạo.

Chúng ta thấy, khi Chúa Thánh Thần gợi ý cho Đức Mẹ biết bà Êlisabét có thai, thì lập tức Đức Mẹ phản ứng, bằng cách lên đường vội vã đi thăm bà Êlisabét.

Rồi thí dụ trong bữa tiệc Cana, khi Chúa Thánh Thần soi sáng cho Đức Mẹ tình trạng bối rối của chủ nhà, Đức Mẹ lập tức có những lời kêu cầu khẩn thiết hướng về Đức Kitô, xin con mình làm phép lạ đầu tiên.

Rồi thí dụ, khi Đức Mẹ nghe Chúa Thánh Thần nói về thân phận Đức Kitô con mình, đang trở thành người đầy tớ Đức Giavê khổ nạn, nhục nhã, bị ruồng bỏ, Đức Mẹ phản ứng bằng cách lên đường, đi gặp con mình vác thánh giá, để có mặt bên con, để đồng hành với con, để nâng đỡ con trong giờ khổ nạn.

Biết lắng nghe Chúa Thánh Thần, Đức Mẹ đã có những suy nghĩ rất đúng và đã có những việc làm đẹp ý Chúa. Hình ảnh Đức Mẹ lắng nghe Chúa Thánh Thần, đang là hình ảnh khơi dậy trong Hội Thánh hôm nay một nguồn sống mới.
Tôi thấy khắp nơi bây giờ đang có một khuynh hướng trở về với tu đức, hơn là trở về với giáo lý. Và nền tu đức mà người ta đang trở về là một nền tu đức của Đức Mẹ lắng nghe Chúa Thánh Thần, và lấy Đức Kitô làm trung tâm đời sống đạo của mình.
Anh chị em thân mến,Đầu tháng này, tôi nghe Chúa Thánh Thần dạy bảo tôi: Con hãy chuẩn bị mừng lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội, bằng cách tăng cường cầu nguyện phó thác, bằng cách tăng cường hy sinh, phấn đấu với chính mình, để làm tốt bổn phận Chúa trao cho. Mỗi ngày, tôi vâng ý Chúa Thánh Thần, cố gắng làm những điều Người dạy.

Tới đây, tôi cũng gặp được các cha, anh chị em đang lắng nghe tiếng Chúa Thánh Thần soi dạy như thế. Và cũng đã cố gắng thực hiện những điều Chúa Thánh Thần dạy, để chuẩn bị mừng lễ Đức Mẹ ngày mai.

Tôi cho đây là một điều đáng mừng. Bó hoa chúng ta dâng tuy đẹp, nhưng chính tâm hồn chúng ta, những người lắng nghe Chúa Thánh Thần, còn đẹp hơn những bó hoa dâng kính trên bàn thờ Đức Mẹ. Chúng ta hát những bài ca hay, nhưng khi lòng chúng ta biết lắng nghe Chúa Thánh Thần theo gương Đức Mẹ, bản thân chúng ta, trái tim chúng ta sẽ là những bài ca tụng hay nhất dâng lên Chúa hôm nay.

Tôi nghĩ rằng, ngày mai, lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm. Đức Mẹ chỉ chờ đợi chúng ta, những đứa con, hãy bắt chước Mẹ, biết lắng nghe Chúa Thánh Thần. Và biết thực hành những gì Chúa Thánh Thần soi dạy. Từ đó, chúng ta có thể chắc chắn tương lai chúng ta, phần hồn phần xác, đời này đời sau, sẽ rất vững vàng. Nhưng điều cần thiết, là chúng ta cần phải quảng đại, chấp nhận phấn đấu, hy sinh đến cùng, như gương Đức Mẹ khi lắng nghe tiếng nói của Chúa Thánh Thần. Amen.

An Dũng (K. G1), ngày 07-12-1994


 

Bùi-Tuần 0475: HÃY ĂN NĂN SÁM HỐI 15-12-1994


Lc 7,24-30

Thanh Hải (K.D2)

 

Trong bài Phúc Âm hôm nay, Chúa Giêsu đã nói đến công việc của thánh Gioan tiền hô. Công: : 15-12-1994 Bùi-Tuần 475


Trong bài Phúc Âm hôm nay, Chúa Giêsu đã nói đến công việc của thánh Gioan tiền hô. Công việc ấy đã được loan báo trong Cựu Ước từ lâu trước, trong câu sau đây: “Này Con, Cha sai sứ thần đi trước mặt Con, và sẽ dọn đường cho Con” (Mal. 3,1).

Thánh Gioan tiền hô đã dọn đường cho Đức Kitô, bằng việc rao giảng ăn năn sám hối, lôi kéo người ta trở về.

Kết quả ra sao? Đức Kitô hôm nay làm chứng: Tất cả dân chúng đã theo lời Người, kể cả những người thu thuế cũng đã xin chịu phép rửa của Gioan, tượng trưng cho sự thanh tẩy. Chỉ trừ những người biệt phái và luật sĩ, khinh chê ý định của Thiên Chúa, nên khước từ phép rửa của Gioan.

Tôi coi bài Phúc Âm hôm nay như một sứ điệp Chúa gửi cho tôi. Trong sứ điệp này, Chúa nhắc bảo tôi: Hãy theo gương thánh Gioan tiền hô, rao giảng sự ăn năn thống hối, rao giảng sự trở về đàng lành.

Đây là một điều mà chính tôi phải thực hiện trước, đồng hành với những kẻ trở về.

Sứ điệp hôm nay, cũng trùng hợp với thông điệp của Đức Giáo Hoàng mới gửi cho Hội Thánh toàn cầu, loan báo năm toàn xá sẽ được mở năm 2000 một cách đặc biệt. Trong thông điệp này, Đức Thánh Cha hô hào: Hãy biết đón nhận Đức Kitô đến một cách đặc biệt trong năm toàn xá, năm 2000, bằng sự ăn năn thống hối trở về đàng lành.

Qua sứ điệp Phúc Âm và qua thông điệp Đức Thánh Cha, tôi thấy thánh ý Chúa thật là rõ ràng: Chúa muốn chúng ta ăn năn sám hối. Chúa kêu gọi chúng ta trở về đàng nhân đức.

Chúng ta cần phải ăn năn sám hối về những tội gì? Trong Phúc Âm, chúng ta đã thấy nói khá nhiều. Trong thông điệp mới rồi của Đức Thánh Cha cũng đã kể ra một số tội chúng ta cần phải ăn năn sám hối.

Hôm nay tôi chỉ xin trích bốn tội, mà Đức Thánh Cha đã nêu lên khuyên chúng ta ăn năn sám hối để đón chờ năm toàn xá.

- Tội thứ nhất là tội dửng dưng với lời Chúa.
- Tội thứ hai là tội chia rẽ trong nội bộ Hội Thánh.
- Tội thứ ba là tội bất công dưới nhiều hình thức.
- Tội thứ bốn là tội thiếu trao đổi, đối thoại với xã hội, hoặc là đối thoại với xã hội mà thiếu cởi mở, thiếu kính trọng, thiếu tình nghĩa.

Tôi đem bốn lời khuyên trên đây của Đức Thánh Cha, để xem xét chính bản thân mình, và xem xét Hội Thánh của mình, thì tôi thấy chúng ta còn nhiều điều chưa đúng, chưa tốt, phải ăn năn sám hối.

Lời Chúa là lời ban sự sống. Thế nhưng, hãy xét mình lại, ta thấy ta không trọng lời Chúa cho đủ. Ta không suy gẫm lời Chúa cho đúng. Ta không sống đúng theo lời Chúa, đúng theo thánh ý Chúa.

Rồi sự hợp nhất trong Hội Thánh, là dấu chỉ của sự thánh thiện Đức Kitô. Nhưng trong thực tế, Hội Thánh của ta, Kênh của ta, địa phương của ta vẫn còn nhiều chia rẽ, cách này, cách khác. Chúng ta vẫn chưa quảng đại đủ, để tha thứ, để hoà giải, để bỏ đi cái tôi quá lớn của mình.

Rồi công bình, là một đức tính căn bản, buộc ta phải làm trọn, làm đầy đủ bổn phận với mọi người chúng ta có liên đới, như gia đình, giáo xứ, giáo phận, Hội Thánh, quê hương. Nhưng xét lại chính mình, nhiều khi chúng ta thấy, chúng ta không làm đầy đủ bổn phận của ta đối với những người chúng ta có liên hệ.

Rồi trong vấn đề đối thoại với xã hội, Đức Thánh bảo: Cần phải cởi mở, cần phải kính trọng, cần phải tình nghĩa. Thế nhưng, xét lại chúng ta thấy, hoặc là chúng ta không chịu đối thoại với xã hội, hoặc là trong khi đối thoại lại không có cởi mở đủ, không có kính trọng đủ, không có tình nghĩa đủ, mà chỉ có dửng dưng, lạnh nhạt, hay hận thù.

Khi xét lại chỉ trên một số tội, chúng ta đã thấy, chúng ta còn cần phải sửa lại rất nhiều.

Khi chúng ta thực thi lời ăn năn sám hối, chúng ta thấy thế nào?

Ăn năn sám hối trở về đàng lành, đó là việc của sự rèn luyện tu đức hơn là việc học hỏi giáo lý.

Rèn luyện tu đức tức là tập sống nội tâm, đi vào tâm hồn mình, lắng nghe tiếng Chúa, gặp gỡ Chúa, ở lại với Chúa và tuân thủ thánh ý Chúa.

Rèn luyện tu đức tức là tập cho mình, biết cảm nghiệm tám mối phúc thật, những thứ hạnh phúc rất khác với sự hưởng thụ tiền bạc, xác thịt, giải trí, tình yêu thế gian.

Rèn luyện tu đức là tập tành, gọt giũa mình nên giống người môn đệ Đức Kitô, Đấng đòi hỏi: “Ai muốn trở nên môn đệ Ta, hãy từ bỏ mình, vác thánh giá mình mà đi theo Ta”.

Rèn luyện tu đức là phải tập luyện dấn thân trong các hình thức phục vụ.

Lúc nãy, anh chị em có hát bài “Chúa sai con đi loan báo Tin Mừng”. Tôi thấy đấy là một từ, mà nhiều khi làm cho chúng ta hiểu sai. Chúa sai ta đi, không phải chỉ là loan báo Tin Mừng theo nghĩa trần gian, mà là phải loan báo Tin Mừng của mầu nhiệm thánh giá. Khi chúng ta dấn thân, khi chúng ta phục vụ, chúng ta không thể không cảm thấy phải từ bỏ, phải phấn đấu, phải hy sinh rất nhiều.

Anh chị em thân mến,

Trong bài Phúc Âm hôm nay, có một điều làm cho tôi sợ hãi. Đó là điều Đức Kitô nói về những người không ăn năn sám hối. Họ là ai? Thưa, họ là những người biệt phái, là những người luật sĩ. Hai loại người này rất giỏi giáo lý, rất là thông luật. Nhưng, họ kiêu căng, họ tự mãn, nên Đức Kitô nói họ khinh chê ý định của Thiên Chúa, và đã không chịu phép rửa của Gioan.

Tôi sợ bây giờ đây, trong Hội Thánh ta cũng có những người biệt phái, cũng có những người luật sĩ tự mãn, tự phụ với những mớ kiến thức giáo lý, luật đạo của mình.

Ơn trở lại là một ơn Chúa ban, chứ không phải là một kết quả tất nhiên của sự hiểu biết giáo lý. Ơn trở lại, Chúa chỉ ban cho những tâm hồn bé nhỏ khiêm cung.

Lúc nãy, khi bước vào nhà thờ, tôi gặp một em bé nhỏ khoanh tay cười và chào tôi: Lạy cha. Tôi bước lên bàn thờ, quỳ và xin Chúa hãy giúp con, cộng đoàn của con giống như đứa trẻ con vừa gặp. Con xin Chúa giúp chúng con trở về, mà nếu chúng con không biết trở về, thì xin Chúa cầm tay con, ẵm con trở về, như đứa nhỏ con vừa gặp.

Đúng như vậy, nhiều khi chúng ta không tự mình trở về với Chúa được, bởi vì trong ta quá nặng tính mê nết xấu. Nhưng nếu chúng ta sống bé nhỏ, sống khiêm tốn, Chúa sẽ dắt ta về, Chúa sẽ bồng bế ta lên với Chúa, chỉ cần chúng ta khát vọng, chỉ cần chúng ta tha thiết cầu xin, và làm hết sức của mình. Chúa là cha. Chúa là mẹ. Cha mẹ nào cũng thương con cái, chỉ những đứa nào tự ý mình lìa bỏ cha mẹ, thì cha mẹ phải chịu thôi. Chứ nó bé nhỏ, có vấp ngã, cha mẹ vẫn thương, vẫn đưa nó về.

Anh chị em thân mến,
Trong lễ Thêm sức hôm nay, ngoài những ơn chúng ta thường cầu xin Chúa Thánh Linh, chúng ta hãy xin cho nhau ơn biết trở về, ơn biết ăn năn thống hối. Nhất là, để chúng ta biết đón nhận Đức Kitô sẽ sinh vào linh hồn chúng ta trong ngày lễ Noel sắp tới. Amen.
Thanh Hải (K.D2), ngày 15-12-1994


 

Bùi-Tuần 0476: NHỮNG TÂM TÌNH DẤU CHỈ 24-12-1994


Bài giảng lễ Noel  - Long Xuyên

 

Trong đêm Chúa giáng sinh, thiên thần đã báo cho các mục đồng biết: 24-12-1994 Bùi-Tuần 476


Trong đêm Chúa giáng sinh, thiên thần đã báo cho các mục đồng biết, họ sẽ nhìn thấy một em bé, bọc trong tấm khăn, nằm trong máng cỏ. Khi nhìn thấy một em bé như thế, họ hãy tin em bé đó chính là Đức Kitô, Đấng Cứu Thế giáng trần.

Các mục đồng đã tìm đến hang đá Bêlem. Họ đã nhìn thấy một em bé, đúng như thiên thần đã tiên báo, và họ đã tin.

Câu chuyện trên đây có một chi tiết rất đáng để ý, đó là việc nhìn các dấu chỉ, để nhận ra Đấng Cứu Thế giáng sinh. Thiên thần đã bảo các mục đồng hãy đi tìm Đức Kitô giáng sinh. Để có thể nhận ra Người, họ hãy nhìn các dấu chỉ, đó là một em bé bọc trong tấm khăn, nằm trong máng cỏ. Như vậy, theo tôi, việc đi tìm các dấu chỉ, việc nhìn vào các dấu chỉ, đó là một việc quan trọng đã được đề cao trong đêm Chúa giáng sinh.

Nhận thức trên đây thúc giục tôi cầu nguyện với Chúa. Tôi nói với Chúa rằng: Hôm nay Chúa đang giáng sinh nơi đâu? Con muốn đến đó. Xin cho con nhìn thấy các dấu chỉ giúp con nhận ra Chúa.

Chúa đã trả lời tôi. Người cho tôi biết: Nơi Chúa muốn giáng sinh hôm nay chính là tâm hồn tôi, và tâm hồn mọi người. Hãy trở về đó. Hãy nhìn trong đó, xem có những dấu chỉ không?

Thưa anh chị em, những dấu chỉ đó là gì? Tôi xin chia sẻ vắn tắt.

Dấu chỉ thứ nhất báo hiệu Chúa đang giáng sinh trong tâm hồn ta là sự xuất hiện trong ta tâm tình ngưỡng mộ nếp sống bác ái, khiêm nhường, hiền từ, bé nhỏ, một tâm tình khao khát từ nay đi vào nếp sống đó.

Thực vậy, xưa, tại Bêlem, Đức Kitô đã đến trong thân phận hài nhi dễ thương, đầy tình yêu, hiền dịu, khiêm tốn, bé nhỏ, để làm chứng “Thiên-Chúa là tình-yêu” (I Gioan 4,16), “Đấng dịu hiền và khiêm nhường” (Mt 11,21), Đấng kêu gọi mọi người hãy biết sống đơn sơ bé nhỏ (Mt 18,4). Nay Chúa vẫn đến trong một thân phận như thế. Vì vậy, nếu hôm nay, ta thấy trong ta có tâm tình ưa thích thân phận, mà Chúa đã mặc lấy và nêu gương, thì ta hãy tin tâm tình ấy là do Chúa ban. Nó là dấu chỉ đúng và chắc chắn báo hiệu Chúa đang giáng sinh trong ta.

Ta hãy nhìn vào lòng ta, xem có tâm tình dấu chỉ như thế không?

Dấu chỉ thứ hai báo hiệu Chúa đang giáng sinh trong tâm hồn ta là sự ta nhận biết mình tội lỗi, nhưng được Chúa thương yêu, đã được Chúa cứu độ và sẽ luôn luôn rất cần được Chúa cứu vớt.

Thánh Phaolô viết: “Một điều chắc chắn nhất, đáng tin, không chút hồ nghi là Chúa Giêsu Kitô đã đến trong thế gian, để cứu vớt các kẻ tội lỗi, mà người tội lỗi nhất chính là tôi” (I Timôtê, 1,15). Với lời trên đây, thánh Phaolô đã nhìn nhận mình là kẻ tội lỗi nhất, nhưng đã được Đức Kitô thương cứu vớt, nhờ sự Người đã đến trong thế gian. Nếu hôm nay ta thấy xuất hiện trong lòng ta một tâm tình nhìn nhận như thế, giống thánh Phaolô, khiến ta cảm tạ Chúa, gắn bó với Chúa, thì ta hãy tin tâm tình đó là do Chúa ban. Nó là dấu chỉ đúng và chắc chắn báo hiệu Chúa đang giáng sinh trong ta.

Ta hãy nhìn vào lòng ta, xem có một tâm tình dấu chỉ như thế không?

Dấu chỉ thứ ba báo hiệu Chúa đang giáng sinh trong tâm hồn ta là sự ta sẵn sàng tuân phục thánh ý Chúa, có nghĩa là ta sẵn sàng từ bỏ ý riêng mình, để thánh ý Chúa được trọn vẹn nơi ta.

Thánh Phaolô viết: “Khi đến trong thế gian, Chúa Giêsu phán: Chúa đã không muốn của hy tế và lễ hiến dâng, nhưng đã tạo nên cho tôi một thân xác. Chúa không nhận của lễ toàn thiêu và của lễ đền tội. Nên tôi nói: Lạy Cha, này con xin đến, để thi hành thánh ý Cha” (Hebr. 10,5-7). Với lời trên đây, thánh Phaolô cho thấy: Chúa Giêsu đã đến trong thế gian, để làm chứng sự Ngài tuân phục thánh ý Chúa Cha, sự Ngài coi thánh ý Chúa Cha là quan trọng hơn hết mọi sự, sự thực thi thánh ý Chúa Cha là điều đẹp lòng Thiên Chúa, sinh ích lợi làm sáng danh Thiên Chúa hơn mọi lễ vật, hơn mọi hành động dấn thân, hy sinh. Nếu hôm nay ta thấy trong lòng mình có những tâm tình như thế, thì ta hãy tin những tâm tình như thế là ơn Chúa ban. Nó là dấu chỉ đúng và chắc chắn báo hiệu Chúa đang đến trong tâm hồn ta.
Ta hãy nhìn vào lòng ta, xem có những tâm tình dấu chỉ như thế không?
Anh chị em thân mến,
Trong dịp lễ giáng sinh, người ta có thói quen tặng nhau lời chúc và đồ vật, thói quen này có mặt tốt của nó. Nhưng ta đừng quên điều này: Quà quí nhất ta có thể tặng nhau trong lễ Noel, chính là Đức Kitô. Chính Người mới là món quà Tình Yêu, món quà Cứu Độ, mà ta và mọi người luôn luôn cần đến. Đức Kitô muốn giáng sinh trong lòng ta. Ta hãy đón Người, bằng tâm hồn cầu nguyện, chiêm ngắm và nhạy bén với những tâm tình dấu chỉ tôi vừa trình bày. Cũng trong những tâm tình dấu chỉ đó, tôi xin thân ái chúc anh chị em một lễ Noel bình an, hạnh phúc.


 

Bùi-Tuần 0477: THA THƯ 26-12-1994


Mt 10,17-22

Thái Hoà

 

Trong bài Phúc Âm hôm nay, Chúa Giêsu nói đến cảnh chia rẽ trong: 26-12-1994 Bùi-Tuần 477


Trong bài Phúc Âm hôm nay, Chúa Giêsu nói đến cảnh chia rẽ trong nội bộ gia đình. Ngài nói về một vài chi tiết rất là ác nghiệt, bi đát. Thí dụ cảnh cha nộp con, anh nộp em, con cái nộp cha mẹ.

Trên đây là những lời tiên tri báo trước. Hôm nay tôi thấy những lời tiên tri ấy đang thực hiện. Chỉ trong ngày hôm qua, lễ Noel, tôi đã gặp một vài câu chuyện nhỏ làm tôi đau lòng, làm tôi nghĩ tới cảnh Đức Kitô tiên báo trong bài Phúc Âm hôm nay.

Buổi sáng, tôi gặp hai em bé đi lễ. Hai em đó mới mất mẹ. Bố nó đang ở với một người đàn bà, họ hàng gần với mẹ nó đã chết. Chúng cho tôi biết: Chúng đang ở trong một hoàn cảnh thiếu thốn vật chất, tinh thần. Bố thì nhu nhược, mẹ kế thì khắt khe, trọng đồng tiền hơn tình nghĩa. Chúng bị đưa đẩy vào một cuộc sống trôi dạt, thiếu thốn tình thương.

Buổi trưa, tôi gặp một cô vợ trẻ đi Honda đến nhà thờ. Tôi hỏi: Chồng con đâu, sao không đi lễ với con? Cô thưa: Chồng con đã ly dị con rồi.

Buổi tối, tôi gặp một bà mẹ. Bà tâm sự về con cái. Bà nói rằng, bà muốn đi nơi khác để khỏi phải nhìn thấy đám con bất hiếu quấy phá bà.

Chỉ mấy chi tiết trên đây trong nội một ngày lễ Noel, cũng đủ cho tôi thấy lời Đức Kitô tiên báo trong bài Phúc Âm hôm nay, về cảnh chia rẻ trong nội bộ là rất bi thảm.

Thấy cảnh tan tác như vậy, tôi đau lòng. Và tôi đã nói với Chúa rằng: “Lạy Chúa, Chúa sinh xuống thế gian này để cứu chuộc chúng con. Xin Chúa thương xót chúng con. Xin Chúa thương tha tội chia rẽ của chúng con”. Và Chúa đáp trả lời tôi:"Cha sẵn sàng tha tội chia rẽ của chúng con, với điều kiện là chúng con cũng phải tha thứ cho nhau. Nhất là tha thứ cho những người làm mất lòng chúng con”.

Điều kiện trên đây không mới mẻ gì! Bởi vì cũng là điều kiện chúng ta vẫn nói với Chúa trong kinh Lạy Cha: “Xin tha nợ chúng con, như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con”. Nhưng, từ câu thuộc lòng trên lý thuyết, đến chỗ thực lòng trên thực tế, nó có một khoảng cách lớn lao.

Tôi có hỏi những người đã có kinh nghiệm thứ tha, thì tất cả đều có hai câu trả lời chung thế này: Một là để biết tha thứ, cần phải cầu nguyện xin Chúa ban ơn tha thứ. Hai là cần phải năng suy gẫm Lời Chúa. “Nếu chúng con có tha cho kẻ khác chúng con mới được Cha thứ tha”.

Rồi thêm vào đó, người thì làm việc lành này, người thì làm việc lành khác. Thí dụ: Người cố gắng đừng bao giờ nhắc tới vết thương cũ, những lời kết án, những lời nguyền rủa, những sự suy đoán. Rồi, người thì làm những việc nho nhỏ tế nhị đối với những kẻ đã làm mất lòng mình. Rồi, người thì làm những việc hãm mình, đi đàng thánh giá, cầu nguyện bố thí, cầu cho mình, cầu cho kẻ làm mất lòng mình.

Tôi thấy tất cả những kinh nghiệm đó, là bản tóm tắt Lời Chúa trong bài Phúc Âm hôm nay.

Thứ nhất, phải tập tha thứ một cách kiên trì. Cuối bài Phúc Âm hôm nay Chúa nói: “Ai kiên nhẫn đến cùng sẽ được cứu rỗi”. Sự tha thứ cho nhau là một chuyện không phải chỉ trong một ngày một tháng, mà là một chuyện phải tập tành từng ngày, từng giờ, một cách kiên trì.

Thứ hai, tôi nhận thấy rằng, để tha thứ đối với nhiều người, cần phải có một tinh thần tử đạo. Nhiều khi tha thứ cho một người là một việc can đảm không kém việc tử đạo. Phải có đức tin rất mạnh. Phải có sự can đảm can trường. Phải có lòng đức chan hoà. Đổ máu ra, có lẽ dễ hơn là mở lòng ra tha thứ cho người khác.

Và một điểm nữa tôi nhận thấy: Hạnh phúc của chúng ta, những người biết tha thứ, là không những được người ta tha thứ, được Chúa tha thứ, mà còn biết thứ tha cho những người chung quanh, nhất là những người đã làm mất lòng chúng ta.

Hôm nay, kính lễ thánh Têphanô, một vị đã cầu xin Chúa thứ tha cho những người ném đá mình.

Hôm nay, đứng trước hang đá, chúng ta cũng đang nhìn thấy Đức Mẹ và thánh Giuse thứ tha cho dân thành Bêlem đối xử không tốt với Con Thiên Chúa, với Đức Mẹ và thánh Giuse.

Hôm nay, đứng trước tượng chuộc tội, chúng ta cũng đang đứng trước một Đức Kitô cầu xin Chúa Cha thứ tha cho kẻ giết hại mình.

Thưa anh chị em,

Lúc nãy, ông đại diện giáo xứ có cho tôi biết: Các em đã chuẩn bị chịu phép Thêm Sức bằng những lớp giáo lý. Và anh chị em coi đó là những thành công. Tôi chia sẻ thành công ấy. Nhưng tôi nhắc lại điều này: Để được chịu phép bí tích, cũng như để rước Mình Thánh Chúa, Đức Kitô chỉ đưa ra có một điều kiện này: Khi chúng con đến bàn thờ dâng lễ, mà chợt nhớ mình còn bất hoà với ai, thì hãy đi làm hoà với kẻ đó trước, rồi hãy trở lại dâng lễ sau. Chúa Giêsu ra một điều kiện ấy, như là một điều kiện cần thiết nhất, để dâng lễ, để rước lễ, để chịu phép Thêm Sức.

Giờ đây chúng ta hãy tự hỏi mình xem. Chúng ta còn bất hoà gì với những người chung quanh? Chúng ta cần phải vâng lời Chúa mà tha thứ, mà làm hoà đi!
Xứ đạo anh chị em mang tên Thái Hoà. Hãy cố gắng làm sao sống tinh thần hoà bình, cái tinh thần thái bình, cái tinh thần hoà hoãn, cái tinh thần hoà hợp, tinh thần tha thứ.

Riêng tôi, tôi vẫn thường xin Chúa tha tội cho tôi, bởi vì tôi biết tôi nhiều tội lỗi. Nhưng đồng thời, tôi luôn sẵn sàng tha thứ hết. Tôi đã qua những cơn hấp hối, và tôi nói một kinh nghiệm này, để anh chị em biết dọn mình chết.

Trước hết, trong phút hấp hối, tôi chỉ nhớ rằng: Chúa là Đấng hay thương xót, sẽ thương xót tôi.

Điều thứ hai, tôi chỉ nhớ rằng: Tha thứ cho người khác thì Chúa sẽ tha thứ cho tôi, nên tôi tha thứ hết. Tất cả những giáo lý thần học tôi học suốt đời, trong giờ hấp hối, tôi quên hết. Tôi chỉ nhớ có một điều: Phải tha thứ tất cả, để đáng Chúa tha thứ cho mình. Tôi đến trước mặt Chúa chỉ có việc đó thôi.

Và hôm nay, nhân lễ thánh Têphanô, gương mẫu của sự tha thứ, và trong hang đá Bêlem Thánh Gia cũng đã tha thứ, tôi xin nhắc lại cho anh chị em điều tôi đã cảm nghiệm.

Xin Chúa Thánh Linh ban rất nhiều ơn cho anh chị em, nhất là ơn biết tha thứ, luôn luôn tha thứ, tha thứ như Đức Kitô đã từng tha thứ cho chúng ta. Amen.

Thái Hoà, ngày 26-12-1994


 

Bùi-Tuần 0478: ƠN ĐẶC BIỆT 27-12-1994


Gioan 20,2-8

Đồng Tâm (K.3b),

 

Đêm vừa qua, tôi thức dậy lúc một giờ rưỡi. Việc đầu tiên tôi làm là: 27-12-1994 Bùi-Tuần 478


Đêm vừa qua, tôi thức dậy lúc một giờ rưỡi. Việc đầu tiên tôi làm là quỳ xuống, nhìn về phía nhà thờ này để cầu nguyện. Tôi tạ ơn Chúa, vì Chúa đã giúp tôi đến giữa anh chị em. Tôi cảm ơn Chúa, vì những ơn lành Chúa đã ban cho anh chị em trong suốt thời gian qua.

Khi đang cảm tạ Chúa như vậy, thì Chúa cho tôi nhìn thấy ba ơn đặc biệt mà Chúa đã ban cho giáo xứ anh chị em. Ba ơn đặc biệt này đều dựa trên bài Phúc Âm hôm nay.

Ơn đặc biệt thứ nhất Chúa đã ban cho giáo xứ anh chị em, là trên con đường đi tìm Chúa, trên con đường làm sáng danh Chúa, anh chị em cũng như hai môn đệ Phêrô và Gioan, đã chạy chứ không đi từng bước chậm chạp.

Đúng như vậy, bài Phúc Âm hôm nay cho thấy: Hai môn đệ trên đường đến mộ Đức Kitô, đã không vừa đi vừa giỡn, đã không đi những bước chậm chạp, mà cả hai cùng chạy, chạy với một tốc độ thật nhanh, chạy hết sức của mình.

Tôi cũng nhìn thấy hình ảnh hai môn đệ chạy trong họ đạo anh chị em. Trên con đường đi tìm Chúa và làm sáng danh Chúa, tôi biết là anh chị em đã chạy với một tốc độ rất nhanh: Người nọ lôi kéo người kia, giới này lôi kéo giới nọ, gia đình này lôi kéo gia đình khác, họ đạo này luôn kéo họ đạo khác.

Sức chạy là do sức sống đức tin của mỗi thành phần dân Chúa, cộng với sức sống đức tin của cả một tập thể, có Đức Kitô hiện diện. Chính vì vậy mà anh chị em đã đạt được nhiều kết quả tốt về tinh thần, về vật chất, về trí thức, về truyền giáo. Đó là một ơn đặc biệt mà anh chị em cần phải nhìn vào để tạ ơn Chúa.

Ơn đặc biệt thứ hai Chúa đã cho anh chị em trong giáo xứ này trong năm vừa qua, là cũng như hai môn đệ xưa, mặc dầu không nhìn thấy xác Chúa trong mồ, nhưng đã tin Đức Kitô sống lại.

Bài Phúc Âm hôm nay nói rất rõ: Hai môn đệ đến cửa mồ, nhìn vào, không thấy xác Chúa, họ liền tin Đức Kitô đã sống lại.

Anh chị em cũng thế. Anh chị em đã không muốn nhìn thấy họ đạo anh chị em như một xác chết bất động, mà anh chị em muốn nhìn thấy họ đạo của anh chị em có Đức Kitô sống lại, đang hoạt động nơi anh chị em.

Tôi biết họ đạo anh chị em đang có những hoạt động mang sức sống của Đức Kitô, đó là hoạt động các bí tích, hoạt động Lời Chúa, hoạt động giáo lý, hoạt động bác ái, hoạt động liên đới truyền giáo, giúp đỡ những nơi túng quẫn ngặt nghèo.

Tất cả những hoạt động ấy chứng tỏ quyền năng Đức Kitô sống lại đang hiện diện trong họ đạo anh chị em. Người có thể làm những sự mà người ta cho là không thể nào làm được theo sức thế gian. Người đang làm cho họ đạo anh chị em sống lại. Người đang giáng sinh trong lòng anh chị em. Đây là một ơn đặc biệt Chúa ban cho họ đạo anh chị em. Anh chị em hãy nhớ cảm tạ Chúa.

Ơn đặc biệt thứ ba Chúa cho tôi thấy Người đã ban cho giáo xứ anh chị em, là cũng như hai môn đệ xưa, khi đến mồ Đức Kitô, đã biết nhường nhịn nhau, đã biết kính trọng nhau.

Bài Phúc Âm hôm nay nói rõ Gioan đến trước, nhưng không vào, mà nhường cho Phêrô vào mồ trước. Bởi vì Phêrô được Đức Kitô đặt làm Giáo Hoàng, đứng đầu Hội Thánh, có quyền trên Gioan. Đó là một tinh thần kỷ luật, biết kính trọng nhau, biết nhường nhịn nhau.

Tôi cũng nhận thấy anh chị em trong họ đạo này có tinh thần ấy. Mặc dầu có bốn nhà thờ, mặc dầu có nhiều giới, mặc dầu có cũ có mới, nhưng Chúa ban cho anh chị em một tinh thần trọng kỷ luật: Mới biết trọng cũ. Cũ biết nhường nhịn mới. Giới này lo cho giới kia. Họ đạo này giúp họ đạo khác. Đây là một tinh thần chứng tỏ các thành phần trong thân thể mầu nhiệm Đức Kitô biết giữ địa vị của mình, biết cái gì là quyền lợi riêng mình, Biết cái gì là bổn phận phải làm. Và mỗi người, khi thi hành bổn phận riêng mình, thì cũng nhìn tới quyền lợi của những người chung quanh.

Anh chị em thân mến,

Tôi vừa trình bày với anh chị em ba ơn đặc biệt Chúa đã cho tôi nhìn thấy sáng nay, trong họ đạo anh chị em. Tôi nói như vậy để anh chị em càng xác tín: Anh chị em được Chúa thương yêu một cách đặc biệt. Nếu anh chị em biết phát triển những ơn đặc biệt này, anh chị em sẽ dọn mình xứng đáng để đón mừng năm Toàn Xá sẽ được tổ chức năm 2000.

Tôi nhận được bức thư của Đức Thánh Cha báo tin: Năm 2000, chỉ còn 5 năm nữa, Ngài sẽ tuyên bố năm Toàn Xá, năm Thánh đặc biệt. Nhưng Ngài hô hào: Từ đây cho tới năm 2000, các Giáo đoàn phải tích cực dọn mình. Và một trong những sự Đức Thánh Cha chỉ dẫn để dọn mình mừng năm Toàn Xá đặc biệt, là phải biết ăn năn hối cải, phải biết trở về, phải biết cảm tạ Chúa, phải biết nhận ra những ơn Chúa đã ban cho mình.

Lúc nãy khi các em nhỏ hát “Chúa đã cứu tôi”, thì Chúa đã soi sáng cho tôi biết những gì anh chị em và tôi và cả Hội Thánh sẽ phải làm trong năm 2000, là loan báo Tin Mừng Đức Kitô là Đấng Cứu Độ. Đấy là đề tài chính. Và tôi sẽ loan truyền như một Tin Mừng: Đức Kitô đã cứu tôi. Tôi đã cảm nhận thấy: Đức Kitô đã cứu gia đình tôi. Chúng tôi đã cảm nghiệm thấy: Đức Kitô đã cứu giáo xứ của tôi. Chúng tôi đã cảm nghiệm thấy. Chúng tôi kể lại thôi, chứ chúng tôi không nói gì hơn. Bởi vì Đức Kitô đã cứu tôi.

Rao giảng Tin Mừng như vậy đó là đề tài năm Toàn Xá, năm 2000. Nói như vậy để chúng ta thấy: Chúng ta đang có một cơ sở để đi tới năm Toàn Xá năm 2000. Tuy nhiên, chúng ta không vì thế mà tự mãn. Bởi vì từ hôm nay cho tới năm 2000, lịch sử sẽ có nhiều chuyển biến, có nhiều vấn đề đặt ra về xã hội, về tâm lý, về kinh tế, về tôn giáo. Chúng ta sẽ gặp nhiều thách đố để đáp ứng. Chúng ta cần phải có sự sáng suốt của Chúa Thánh Linh.

Vì thế, trong thánh lễ hôm nay, tôi khẩn cầu Chúa Thánh Linh cho tôi, cho các cha, cho các vị gia trưởng, và cho các em nhỏ của chúng ta, biết nhạy bén với ơn Chúa Thánh Linh soi sáng cho chúng ta trong 5 năm tới, trước năm Toàn Xá, để năm 2000 chúng ta sẽ đón nhận Đức Kitô sống lại, đón nhận Đức Kitô cứu độ. Và chúng ta ca tụng Ngài bằng cách kể ra cho mọi người thấy: Tôi đã được Đức Kitô cứu. Gia đình tôi, họ đạo tôi, Hội Thánh Việt Nam của tôi, đã được Đức Kitô cứu. Mình chỉ kể ra, chỉ kể ra những cái mình đã gặp, đã cảm nhận được, chứ không phải chỉ là những lý thuyết suông.

Trong thánh lễ hôm nay, tôi đã chia sẻ với anh chị em những cái tốt đẹp nhất mà tôi đã cảm nghiệm lúc này, nhất là từ đêm cho tới bây giờ. Tôi nghĩ rằng: Qua miệng của tôi, Chúa cũng đã gởi đến một sứ điệp cho họ đạo anh chị em, để anh chị em xác tín: Anh chị em đang được Chúa yêu thương. Anh chị em cần phải cảm tạ Chúa. Từ nay, anh chị em cần phải nhạy bén với những ơn Chúa Thánh Linh soi sáng.

Lạy Chúa Thánh Linh, chúng con trao phó tương lai của chúng con cho Chúa. Amen.

Đồng Tâm (Kinh 3b), ngày 27-12-1994


 

Bùi-Tuần 0479: CÁI NHÌN 27-12-1994


Gioan 20,2-8

Tràm Chẹt

 

Tôi gọi bài Phúc Âm hôm nay là một bài Phúc Âm đề cao những: 27-12-1994 Bùi-Tuần 479


Tôi gọi bài Phúc Âm hôm nay là một bài Phúc Âm đề cao những cái nhìn.

Thật vậy bài Phúc Âm hôm nay cho thấy: Hai môn đệ Phêrô và Gioan chạy đến mộ Chúa, thấy cái mộ trước đây chôn xác Chúa bây giờ trống trơn. Họ đã nhìn thấy. Và họ đã tin. Cái nhìn của hai môn đệ đã khám phá thấy một biến cố, biến cố đó gây sợ hãi, gây ngỡ ngàng, làm cho các ông khiêm tốn, rồi chợt nhớ lại lời Thầy đã nói trước, nên các ông đã tin Thầy đã sống lại.

Cái nhìn của hai môn đệ quả là đã đóng một vai trò quan trọng trong việc đưa các ngài tới niềm tin.

Hôm nay, tôi thấy cái nhìn cũng đang đóng một vai trò quan trọng trong việc đem lại niềm tin cho họ đạo chúng ta nói chung, và cho hơn 50 anh chị em tân tòng nói riêng.

Sở dĩ anh chị em đã quyết định hôm nay xin vào Hội Thánh Chúa, xin chịu phép Rửa tội để đón nhận đức tin, một phần vì đã lắng nghe Lời Chúa, đã đón nhận ơn soi sáng trong lòng, nhưng một phần cũng vì đã nhìn thấy những điều tốt trong Hội Thánh địa phương.

Anh chị em đã nhìn thấy những việc tốt, như là những việc có tính cách cứu độ con người, nâng cao phẩm giá con người, thăng tiến con người. Thêm vào đó, anh chị em còn nhìn thấy những người tốt, tuy không làm những việc lớn lao, nhưng chính bản thân và cuộc sống của họ đã giới thiệu sự khiêm tốn, sự hiền dịu, tinh thần liên đới, sự lương thiện vv...

Hơn nữa, cùng với con người tốt, cùng với các việc tốt, anh chị em còn nhìn thấy bầu khí tốt trong những người có đạo, trong các gia đình có đạo, trong các cộng đoàn có đạo. Một bầu khí yêu thương chan hoà, một bầu khí đoàn kết chia sẻ, một bầu khí nhường nhịn tha thứ lẫn nhau. Nhìn thấy tất cả những sự đó, anh chị em cũng như tôi, tự nhiên có một cảm tình nào đó với những giá trị cao cả. Những cảm tình ấy sẽ gợi cho chúng ta ý muốn làm sự lành lánh sự dữ. Và nhất là giúp cho chúng ta tìm thấy ý nghĩa cho cuộc đời mình, hôm nay, mai này, và nhất là đời sau.

Khi chúng ta có một tâm tình như vậy thì Chúa sẽ đến gọi chúng ta. Qua những tâm tình ấy và trong tâm tình ấy, chúng ta sẽ trả lời với Chúa: Này con xin vâng. Và chúng ta quyết định theo Chúa.

Đúng là cái nhìn của chúng ta giúp một phần lớn sự quyết định của chúng ta đón nhận ơn đức tin, để rồi hôm nay, khi nhìn thấy anh chị em tân tòng chịu phép Rửa tội, và nhìn thấy những người chịu phép Thêm Sức, chúng ta sẽ thêm đức tin.
Biết bao người nhìn thấy gương anh chị em hôm nay sẽ cảm thấy mình mến Chúa hơn, tin vào Chúa hơn. Và như vậy, xưa nay cái nhìn của anh chị em đã đưa anh chị em đến đức tin thế nào, thì hôm nay, cái nhìn của người khác đặt vào anh chị em cũng sẽ giúp cho họ thêm đức tin, đi vào đức tin. Nó có một dây chuyền đức tin đi qua những cái nhìn: Cha mẹ nhìn con. Con nhìn cha mẹ. Hàng xóm láng giềng nhìn nhau. Người tốt việc tốt. Bầu khí tốt. Những cái nhìn đó dọn đường cho đức tin.

Anh chị em quá biết: Thời buổi bây giờ là thời buổi của những hình ảnh, của những cái nhìn. Người ta không tin vào lời nói, nhưng người ta sẽ dễ bị thuyết phục do nhìn thấy những chứng từ.

Anh chị em thân mến,

Lúc nãy, ông đại diện giáo xứ có hứa với tôi là sẽ trung thành với Hội Thánh. Giáo xứ anh chị em sẽ trung thành với Hội Thánh. Điều đó tốt, nhưng tôi xin được thêm một chút, là xin anh chị em hãy hứa với tôi, hứa với Hội Thánh, hứa với Thiên Chúa hôm nay, không những trung thành với đức tin, mà còn hứa từ nay biết làm chứng cho đức tin, bằng một đời sống tốt, bằng những việc làm tốt, bằng một bầu khí tốt, trong đó, chúng ta góp phần tích cực. Chúng ta biết, họ đạo chúng ta nằm ở giữa một địa phương có nhiều tôn giáo mạnh. Các tôn giáo ấy không nhấn mạnh đến việc rao giảng bằng lời nói, mà chỉ làm chứng bằng việc làm, bằng đời sống tốt, bằng bầu khí đạo đức.

Đạo chúng ta nơi họ đạo này cũng phải đi theo con đường đó, là phải nhấn mạnh đến việc làm chứng, để người ta nhìn thấy việc tốt của ta, người tốt của ta, bầu khí tốt của ta. Nhờ đó, người ta có cảm tình với đạo. Nhờ đó, Chúa sẽ ban ơn cho họ.

Tôi thí dụ: Ngay bây giờ đây, nếu người ta, những người không có đức tin, tham dự giờ phụng vụ này, khi họ nhìn thấy bầu khí cầu nguyện trang nghiêm, bầu khí thuận hoà yêu thương trật tự, bầu khí của những người tốt làm việc tốt, thì chính bầu khí phượng tự bây giờ cũng đã là một chứng từ. Khi nhìn vào, người ta sẽ có cảm tình với Thiên Chúa và với Hội Thánh chúng ta. Chúng ta khỏi phải nói gì, chỉ cần người ta nhìn thấy chúng ta tốt, nhà thờ chúng ta tốt.

Tôi xin phép thêm một điều này: Nhà thờ chúng ta đang có nhiều giá trị khoa học kỹ thuật, nhưng cần phải có nhiều giá trị tâm linh đi kèm, thì mới có thể thuyết phục người ta mến mộ Thiên Chúa, mến mộ Hội Thánh của ta, và nhờ đó, Chúa kêu gọi họ đi về với Chúa.

Tôi cầu nguyện rất nhiều cho họ đạo anh chị em, một họ đạo đã lãnh nhận rất nhiều ơn đặc biệt trong những năm qua. Anh chị em đã thấy rõ. Và tôi tin rằng, họ đạo anh chị em có rất nhiều thiện chí và quảng đại. Anh chị em sẽ làm chứng cho Chúa bằng việc làm tốt, bằng đời sống tốt, bằng bầu khí tốt. Chúa Thánh Linh sẽ giúp anh chị em. Chúa Thánh Linh sẽ soi sáng cho anh chị em, để anh chị em phân định cái gì nên làm, cái gì chưa nên làm, cái gì không nên làm.

Với Chúa Thánh Linh, chúng ta sẽ biết làm chứng để người ta nhìn vào mà tin vào Chúa. Amen.

Tràm Chẹt, chiều ngày 27-12-1994


 

Bùi-Tuần 0480: TRỞ VỀ 28-12-1994


 Lễ các thánh Anh Hài 1

Gioan 1,5-2,2;
Mt 2,13-18

Tràm Chẹc

 

Trong thánh lễ hôm nay có 50 đôi hôn phối được hợp thức hoá. Khi: 28-12-1994 Bùi-Tuần 480


Trong thánh lễ hôm nay có 50 đôi hôn phối được hợp thức hoá. Khi nhìn thấy anh chị em được hợp thức hoá trở về, tôi rất vui mừng, và không lấy gì làm lạ. Bởi vì chính tôi, cũng như tất cả các anh chị em khác, đều trong tình trạng phải trở về, và có bổn phận phải trở về với Chúa.

Trong bài thánh thư hôm nay, thánh Gioan đã quả quyết: “Nếu chúng ta nói rằng, chúng ta không có tội, thì chúng ta lừa dối mình, và trong chúng ta không có chân lý. Còn nếu chúng ta xưng mình có tội, cần phải trở về, thì chúng ta sẽ được Chúa thứ tha và rửa sạch mọi tội ác”.

Khi tôi nghĩ đến các tội ác thường xảy ra trong lịch sử, tôi thấy cái tội ác ghê gớm nhất chính là tội ác của Hêrôđê.

Như chúng ta vừa nghe trong bài Phúc Âm hôm nay: Hêrôđê đã giết các trẻ em vô tội. Đây là một tội ác ghê gớm. Thế nhưng, tội ác này vẫn tiếp tục cho đến hôm nay.

Hôm nay, tại nhiều nơi, các trẻ vô tội vẫn đang bị giết, không phải bằng gươm giáo, mà bằng những gương mù gương xấu, bằng những sự kẻ có trách nhiệm thiếu chăm sóc, thiếu dạy dỗ, thiếu yêu thương đối với chúng.

Mới rồi, trong một lá thư gởi cho giới trẻ, Đức Thánh Cha có nói một câu làm tôi suy nghĩ. Ngài nói: “Nhiều người trẻ hôm nay, bề ngoài sống đầy sự sống, nhưng bên trong đã chết và đang chết”.

Với lời Đức Thánh Cha trên đây, tôi coi sự những người có trách nhiệm đối với các bạn trẻ, như các mục tử chúng tôi, như các bậc làm cha làm mẹ, phải biết tỉnh thức và cảnh giác: Khi thấy các người trẻ của mình vui sống, thì đừng vội lạc quan cho rằng chúng đang theo đuổi một lý tưởng tốt đẹp.

Chỉ cách đây mấy tuần, chúng tôi hội họp các bạn trẻ lại. Chúng tôi đặt ra một số câu hỏi để làm trắc nghiệm. Chúng tôi hỏi: Các bạn đến nhà thờ vì lý do nào? Phần đông đã trả lời: Vì chúng con thấy ở nhà thờ có những sinh hoạt vui, có môi trường vui, có bạn bè vui. Rất ít người trả lời: Chúng con đến nhà thờ để gặp gỡ Chúa. Chúng tôi lại hỏi một câu khác: Khi các bạn gặp một điều gì đau lòng, các bạn đã tìm cách nào để giải buồn? Phần đông đã trả lời: Chúng con tìm giải buồn ở bạn bè, ở chiếu bóng, ở vidéo, ở quán nhậu, ở hút sách, và có bạn đã trả lời: Chúng con đã có lần nghĩ đến chuyện tự tử. Rất ít người trẻ trả lời: Lúc gặp buồn phiền, con đã cầu nguyện.

Những câu trả lời trên đây rất thực tế, chứng tỏ tình trạng giới trẻ bây giờ không phải là hoàn toàn lạc quan. Bề ngoài xem như gần nhà thờ, nhưng bên trong thì lại xa Chúa. Bề ngoài coi như sống đầy sức sống tự nhiên, nhưng bên trong lại rất nghèo sự sống siêu nhiên.

Đêm vừa qua, để dọn mình dâng lễ, tôi đã ăn năn thống hối về những tội của mình, nhất là những tội sơ xuất thiếu sót. Và Chúa đã soi cho tôi thấy một trong những điều Chúa muốn, là chúng ta cần phải để ý nhiều hơn đến việc đào tạo giới trẻ. Đào tạo giới trẻ là phải tái Phúc-Âm-hoá giới trẻ. Tái Phúc-Âm-hoá giới trẻ là phải làm cho chúng xác tín: Mình phải luôn trở về với Phúc Âm.Phúc Âm của Đức Kitô có sứ điệp căn bản này, là luôn luôn trở về với Thiên Chúa bằng sự ăn năn sám hối sửa mình. Sửa mình đúng nhất, là làm thế nào để đổi mới tấm lòng của mình, sao cho lòng mình khát khao Nước Trời, sao cho lòng mình gặp gỡ được Đức Kitô, sao cho lòng mình gắn bó thật sự với Đức Kitô, đồng hành với Đức Kitô, chia sẻ kế hoạch cứu độ của Đức Kitô, đổi mới lòng mình là làm sao cho lòng mình nếm được thật sự hạnh phúc của Tám mối phúc thật.

Đây là chuyện không phải chỉ một ngày, chỉ một khoá giáo lý mà thành công. Tôi thấy nhiều nơi hiện nay để ý nhiều đến việc học giáo lý. Nhưng vấn đề đào tạo chính mình, tái Phúc-Âm-hoá chính mình, không phải đơn thuần chỉ là học giáo lý, mà cần phải có tu đức.

Tu đức là biết cầu nguyện, là biết khổ chế, là biết suy gẫm, là biết năng chầu Mình Thánh Chúa, là biết học hỏi ý Chúa trong Phúc Âm, là biết nhìn thấy Chúa trong mọi sự. Cái này giáo lý không dạy được mà chỉ có tu đức: Sống với Chúa, cầu nguyện với Chúa, Chúa sẽ soi cho.

Anh chị em thân mến,

Những điều tôi vừa tâm sự với anh chị em sẽ giúp cho những người hôm nay hợp-thức-hoá Hôn phối, và nhất là sẽ giúp cho các em rước lễ Bao đồng hôm nay, được hiểu rằng: Hôm nay, chúng ta bắt đầu đi vào chương trình đào tạo chính mình, chúng ta khởi sự chương trình Phúc-Âm-hoá chính mình, chúng ta cần phải đi vào những chi tiết cụ thể. Trung thành với Chúa, nói cách chung chung vậy không đủ đâu, mà phải trung thành trong việc cầu nguyện, trong việc rước lễ, trong việc suy gẫm, trong việc Chầu Mình Thánh Chúa, trong việc phục vụ và giúp đỡ những người chung quanh. Khi anh chị em, nhất là các em rước lễ Bao đồng hôm nay, hiểu được những chi tiết cụ thể như vậy, thì nghi thức rước lễ lần đầu, hợp-thức-hoá hôn phối, rước lễ Bao đồng, mới thực sự có ý nghĩa, và mới chứng tỏ công việc chuẩn bị của chúng ta thật sự là tốt, là chu đáo.

Cha chúc cho chúng con tất cả lãnh nhận được ơn Chúa thật nhiều, nhất là ơn biết đào tạo chính mình, biết tái Phúc-Âm-hoá chính mình, để trong mình có sự sống thực, chứ không phải chỉ có sự sống bề ngoài, còn bên trong đã chết như Đức Thánh Cha đã cảnh giác chúng ta. Amen.

Tràm Chẹc, lễ các thánh Anh Hài, ngày 28-12-1994


 

Bùi-Tuần 0481: TỪ NỀN TU ĐỨC NHẬP THỂ ĐẾN NỀN TU ĐỨC TẠI GIA


30-12-1994

Lễ Thánh Gia – Dòng Thánh Gia Cần Xây

 

Khi nhìn và những gì Ngôi Hai Thiên Chúa đã thực hiện từ lúc giáng: 30-12-1994 Bùi-Tuần 481


Khi nhìn và những gì Ngôi Hai Thiên Chúa đã thực hiện từ lúc giáng sinh cho đến lúc hy sinh, nhất là trong quảng đời ba mươi năm tại gia đình Nagiarét, tôi thấy điểm đáng suy nghĩ nhất chính là việc nhập thể của Người.

Nhập thể là mang thân phận con người có hồn có xác, phải cọ sát với mọi thứ phức tạp của dòng đời.

Nhập thể là nếm đủ mọi thử thách của cuộc sống, trừ tội lỗi. Từ mùi vị cảnh nghèo, cảnh đói, cảnh nhục, cho đếnh cảnh bị oan ức, cảnh bị loại trừ.

Nhập thể là chia sẻ tâm tình và thực tế với những tầng lớp xã hội bình dân, cả đến những người kém may mắn nhất.

Nhập thể là tham gia những lo âu khắc khoải. thao thức, trách nhiệm rất sát cuộc sống của hàng xóm, của địa phương, của dân tộc.

Nhập thể là nâng cao thân phận con người lên bằng nếp sống cầu nguyện, chiêm niệm, gắn bó với thánh ý Chúa.

Nhập thể là thanh luyện và đào tạo thân phận mình thành một dụng cụ cứu rỗi bằng nếp sống hiền từ, khiêm tốn, khổ chế, bác ái, phục vụ, đền tội.

Việc nhập thể như thế của Ngôi Hai Thiên Chúa đã và đang là một mẫu gương cho nền tu đức tại gia.

Nếu để ý quan sát, chúng ta sẽ thấy nền tu đức tại gia được phát triển mạng ở nhiều nơi, đặc biệt là ở địa phương chúng ta. Nền tu đức tại gia, mà tôi muốn nói ở đây, chú trọng rất nhiều đến hình thức nhập thể có tính cách nâng cao đạo đức con người lên và có tính cách cứu độ đồng bào.

Tôi xin đan cử một thí dụ. Nhật báo Sài Gòn Giải Phóng ra ngày 27-12-1994, mới đăng một bài tựa đề: “Nơi nấu cơm miễn phí cho bệnh nhân nghèo, ở bệnh viện Chợ Rẫy”. Bài báo cho biết: Đối diện với bệnh viện Chợ Rẫy, một khu khám bệnh ngoai giờ đã trở thành khu nấu cơm miễn phí cho các bệnh nhân nghèo. Tổ từ thiện này gồm tám người, tất cả đều từ dưới quê lên. Đứng đầu tổ là một anh thanh niên gốc Long Xuyên, ăn chay trường từ hai mươi năm nay. Cha anh là một tu sĩ tại gia, một nhà nho, một nhà làm thuốc nam, cũng ăn chay trường. Hằng ngày, tổ từ thiện của anh nấu cơm, nuôi miễn phí cho gần hai trăm bệnh nhân nghèo tại bệnh viện Chợ Rẫy. Anh còn có một tổ từ thiện khác tại Trung Tâm Chấn Thương Chỉnh Hình thành phố.

Những việc làm đạo đức như trên phát xuất từ một nền tu đức tại gia, tuy âm thầm đơn sơ, nhưng đang gây được nhiều ảnh hưởng tốt trong việc đạo-đức-hoá giới trẻ, các gia đình, cả những người trí thức, giới kinh doanh và chính trị.

Tôi coi những hiện tượng như trên đây là một dấu chỉ của thời đại và của địa phương này. Dấu chỉ này thúc giục ta, những linh mục và tu sĩ, những cộng đoàn nhà tu, những cộng đoàn giáo xứ, hãy suy nghĩ lại nền tu đức của mình. Hãy trở về với mô hình nhập thể của Đức Kitô trong Thánh Gia. Hãy trở về với nếp sống cầu nguyện, chiêm niệm của Đức Kitô nhập thể. Hãy trở về với nếp sống âm thầm, khiêm tốn, đơn sơ, khắc kỷ của Đức Kitô nhập thể. Hãy trở về với nếp sống bác ái, phục vụ yêu thương của Đức Kitô nhập thể. Một nếp sống như vậy sẽ đẹp lòng Chúa, sẽ có sức đổi mới lòng người và xã hội. Một nếp sống như vậy tự nó sẽ là một chứng từ có sức thuyết phục hơn các thứ bài giảng ồn ào, nhưng thiếu nội tâm.

Hôm nay, mừng lễ Bổn Mạng dòng Thánh Gia, và chứng kiến việc khấn trọn đời của ba tu sĩ, tôi xin Chúa cho dòng Thánh Gia nói chung và ba tu sĩ nói riêng biết phát triển nền tu đức nhập thể một cách thích hợp nhất và sát với cuộc sống nhất của địa phương chúng ta, một địa phương đang phát triển mạnh nền tu đức tại gia một cách co hiệu quả.

Xin anh chị em cũng hợp ý với tôi cầu xin ơn đó cho Nhà Dòng, cho tôi và cho Hội Thành địa phương chúng ta.


 

Bùi-Tuần 0482: CẢM TẠ ƠN CHÚA 22-05-1994

 

Đọc sách Tông Đồ Công Vụ, tôi thấy các môn đệ Đức Kitô đã rất thay đổi, sau khi khi được Chúa Thánh: 22-05-1994 Bùi-Tuần 482


Đọc sách Tông Đồ Công Vụ, tôi thấy các môn đệ Đức Kitô đã rất thay đổi, sau khi được Chúa Thánh Thần ngự đến viếng thăm.

Các ngài thay đổi về cách nhìn, về tâm tư, về thái độ. Nhiều thay đổi, và thay đổi nào cũng sâu sắc.

Có một thay đổi từ lâu vẫn kéo chú ý tôi rất mạnh, đó là sự các ngài hay cảm tạ Chúa. Các ngài cảm tạ Chúa trong mọi trường hợp, đặc biệt là những trường hợp đau đớn.

Khi các ngài bị bắt, bị đánh đòn, bị bỏ vạ cáo gian, bị đau ốm, đói khát, các ngài phản ứng bằng tâm tình cảm tạ.

Lý do khiến các ngài cảm tạ Chúa trong những trường hợp đau đớn ấy là vì các ngài thấy mình được dịp nên giống Đức Kitô hơn và có dịp phó thác trọn vẹn hơn nơi thánh ý Chúa Cha.

Trước đây, khi gặp những gì trái ý, các ngài hay cằn nhằn, bực bội, đổ lỗi bên này, trách móc bên kia. Nay các ngài bình thản, bình an, khiêm tốn đón nhận thử thách, chỉ tìm giải quyết nơi lòng thương xót Chúa mà thôi. Cảm tạ Chúa mọi nơi mọi lúc, đó là trình độ đạo đức cao, mà Chúa muốn và có sức làm sáng danh Chúa. Cảm tạ Chúa mọi nơi mọi lúc, đó cũng là động lực giúp cho con người biết tế nhị, biết ơn đối với tha nhân.

Bởi đâu các ngài đã có những thay đổi sâu sắc như vậy? Tôi thấy không do tác động từ bên ngoài, mà do tác động từ bên trong.

Kẻ tác động từ bên trong, chính là Chúa Thánh Linh. Chúa Thánh Linh đã đến, đã ngự vào trong tâm hồn các ngài. Tại đó, chính Chúa Thánh Linh đã đốt lên ngọn lửa tạ ơn, ngọn lửa cảm mến, ngọn lửa bình an, ngọn lửa tin yêu. Chính ngọn lửa đó đã làm thay đổi mặt địa cầu.

Những gì Chúa Thánh Linh đã làm xưa cho các tông đồ, thì nay cũng đang được Người thực hiện cho bao người trong Hội Thánh.

Tôi đã gặp nhiều người già yếu, ốm đau, nghèo túng, cô đơn. Tôi tưởng rằng họ sẽ than trách. Nhưng không, tôi thấy họ chịu đựng một cách can đảm phi thường, với tinh thần cảm tạ đầy đức tin trong sáng.

Tôi đã gặp nhiều người trẻ hoạt động, dấn thân. Tôi tưởng họ sẽ khoe khoang. Nhưng không, tôi thấy họ đơn sơ hồn nhiên, cũng với tinh thần cảm tạ đầy khiêm tốn chân thành.

Qua thái độ cảm tạ của đủ loại người, tôi thấy rõ ràng sự hiện diện của Chúa Thánh Linh trong Hội Thánh thời nay, trong thế giới bây giờ. Chúa đang dùng những người bình thường để xây dựng sự bình an trong các tâm hồn. Những người bình thường, trong đời thường, với các việc rất thường, nhưng có lửa mến tin cảm tạ của Chúa Thánh Linh, họ đang là những khí cụ bình an của Chúa. Họ đang là chứng nhân của lễ Hiện Xuống hôm nay.

Họ không ở xa đây. Họ đang ở trước mắt tôi. Họ là chính anh chị em.

Tôi chúc tụng Chúa, vì những người già cả, bệnh tật, khổ đau như anh chị em đang cảm tạ Chúa vì được Chúa chọn để nên giống Chúa trong mầu nhiệm thánh giá.

Tôi chúc tụng Chúa, vì những người trẻ, khoẻ mạnh như anh chị em, đang cảm tạ Chúa vì được Chúa chọn để nên giống Chúa trong mầu nhiệm nhập thể.

Tôi chúc tụng Chúa, vì Chúa đang dùng chúng ta để minh chứng mầu nhiệm hiệp thông.

Trong tinh thần cảm tạ, giờ đây chúng ta khiêm tốn xin Chúa Thánh Thần ngự xuống trên chúng ta, và đặc biệt là trên các vị già cả, bệnh tật của họ đạo ta, mà chúng ta thấy một phần khá lớn đang hiện diện nơi đây, trong thánh lễ trọng thể này.

Lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống ngày cầu nguyện cho những người già yếu bệnh tật tại Long Xuyên, ngày 22-05-1994.


 

Bùi-Tuần 0483: ĐỌC BÁO 21-06-1994

 

Đọc báo là một nhu cầu quan trọng đối với nhiều người. Nhu cầu đó càng ngày càng: 21-06-1994 Bùi-Tuần 483


Đọc báo là một nhu cầu quan trọng đối với nhiều người. Nhu cầu đó càng ngày càng mạnh. Số người đọc báo càng ngày càng tăng.

Trong việc đọc báo, mỗi người có những lý do riêng và những lựa chọn riêng. Tôi cũng thế. Trong tinh thần hiệp thông, tôi xin chia sẻ trường hợp của tôi.

Tôi đọc báo, không do sở thích tự nhiên, cho bằng do động lực “ơn gọi”. Động lực này là kết tinh của nhiều khát vọng sau đây:

Trước hết là khát vọng có một sự quân bình nhân cách

Trong tông huấn Pastores dabo vobis, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II nhắc nhở các vị chủ chăn phải trường kỳ đào tạo mình nên những người xứng đáng với chức vụ của mình. Một trong những chiều kích huấn luyện mình là đời sống nhân bản. Đức Thánh Cha viết: “Để cho chức linh mục được người ta dễ tín nhiệm và dễ chấp nhận hơn, linh mục cần rèn luyện nhân cách của mình nhằm trở nên một nhịp cầu - chớ không phải một cản trở - cho người khác gặp gỡ Chúa Kitô, Đấng cứu độ con người. Muốn theo gương Chúa Giêsu là Đấng biết có gì nơi con người ta, linh mục nhất thiết phải có khả năng hiểu biết chiều sâu tâm trí con người, trực giác về những khó khăn và những vấn đề của họ, mở đường cho gặp gỡ và đối thoại, phát biểu những nhận định bình tĩnh và khách quan. Sự giao tiếp với người khác có một tầm quan trọng đặc biệt. Đó là một nhân tố thật là thiết yếu cho kẻ được gọi đảm trách một cộng đoàn và trở nên con người hiệp thông... Ngày nay hiệp thông trở thành một trong những dấu chỉ hùng hồn nhất và một trong những con đường kiến hiệu nhất của sứ điệp “Tin Mừng”.

Kinh nghiệm mục vụ giúp hiểu hơn những lời dạy trên đây của Đức Thánh Cha. Dù trong bài giảng, dù trong tiếp xúc, người chủ chăn sẽ khó có thể có được những nhận định bình tĩnh và khách quan về chiều sâu tâm trí con người, với những vấn đề của con người, nếu không theo dõi con người qua báo chí.

Mỗi ngày các hãng thông tấn trên thế giới phát đi khoảng 35 triệu từ. Nội dung là những sự việc mới xảy ra với những bình luận. Bản tin hôm nay khác bản tin hôm qua. Luôn luôn có những cái mới. Mỗi tờ báo sẽ đăng một phần rất nhỏ, tuỳ theo lựa chọn do khả năng, chiều hướng, và các nguồn tin riêng của mình. Người đọc lựa chọn lại. Và sự lựa chọn này được thực hiện trên các trang báo mình đọc. Nghĩa là phải đọc, để có thể lựa chọn. Và trong lựa chọn hẳn phải có những suy nghĩ riêng và những khám phá riêng đàng sau các sự kiện. Những việc tinh thần như vậy sẽ góp phần huấn luyện nhân bản, cân đối những phát triển về trí thức và về tình cảm, giúp cho người chủ chăn dễ trở thành con người hiệp thông có quân bình nhân cách. Điều đó, không những mọi chủ chăn đều mong muốn có, mà các cộng đoàn tín hữu của các ngài cũng rất mong muốn các ngài phải có.

Thêm vào mong muốn đó là khát vọng gặp gỡ Đức Kitô

Tìm gặp Đức Kitô, để sống mật thiết với Người, để bắt chước gương Người, để cùng với Người tiếp tục sứ mạng Chúa Cha trao cho, đó là thao thức của người chủ chăn. Tìm gặp Đức Kitô ở đâu? Để trả lời câu hỏi này, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã nhắc lại ba con đường phải đi vào, mà Công Đồng Vatican II đã vạch ra cho các chủ chăn, đó là trung thành tâm niệm Lời Chúa, tích cực tham dự các mầu nhiệm thánh của Giáo Hội, thi hành bác ái phục vụ những người bé mọn. Đức Thánh Cha gọi con đường thứ ba này là “tìm gặp Chúa Kitô nơi con người”. (Tông huấn Pastores dabo vobis).

Tất nhiên, người chủ chăn có thể đi vào con đường thứ ba này bằng những tiếp xúc hằng ngày. Nhưng nếu chỉ bằng cách đó để thấy được Đức Kitô hôm nay đang hoạt động thế nào trong lịch sử cứu độ trên thế giới nói chung và trong đất nước Việt Nam nói riêng, thì sẽ không đủ.

Đức Kitô hôm nay cũng là Đức Kitô hôm qua. Đức Kitô đang cứu độ tại lục địa này cũng là Đức Kitô đang cứu độ tại các lục địa khác. Nhưng tại mỗi địa phương, và ở mỗi thời điểm, Đức Kitô thể hiện mầu nhiệm nhập thể của Người một cách thích hợp, để Người trở thành một Người đương thời với con người bằng ngôn ngữ thích hợp, với phong cách thích hợp.

Đọc báo chí, người chủ chăn sẽ thấy bao người tốt việc tốt, với những sáng kiến đa dạng, nhằm chia sẻ thân phận con người khổ đau, nhằm thăng tiến con người, nhằm cứu độ con người. Đọc báo chí, người chủ chăn sẽ gặp được bao tâm hồn thiện chí phấn đấu cho con người được tốt hơn, cho đời sống được đẹp hơn. Đọc báo chí, người chủ chăn cũng sẽ gặp thấy bao nạn nhân của túng nghèo, bệnh tật, dốt nát, của cường quyền áp bức, của bất công xã hội.

Qua những con người như thế, người chủ chăn gặp được Đức Kitô hôm nay. Với đức tin và nhất là với tâm thức kẻ được sai đi, người chủ chăn sẽ nghe được tiếng Đức Kitô hôm nay nhắc lại lời Người đã nói xưa với các tông đồ: “Hãy đến mà xem” (Ga 1, 37-39). Và họ cũng nghe được giọng nghẹn ngào của thầy chí thánh “Ta xót thương dân này” (Mt. 15,32).

Gặp được Đức Kitô như thế, đó là khát vọng lớn lao của người chủ chăn.

Cùng với khát vọng đó, còn có một khát vọng khác cũng lớn lao không kém, đó là khát vọng được hiểu biết thế giới mà Hội Thánh đang cùng sống với

Trong hiến chế Lumen Gentium, Công Đồng Vatican II cho thấy thế giới hiện nay đang chuyển biến sâu sắc về mọi mặt: Tâm lý, khoa học, kinh tế, xã hội, gia đình, tôn giáo. Thế giới chuyển biến của Công Đồng lúc đó là thế giới của năm 1965. Thế giới hôm nay của năm 1994 đã khác xa với thế giới năm 1965. Nước Việt Nam ta cũng thế.

Với những chuyển biến, dòng lịch sử ví như những dòng sông. Hội Thánh ví như con tàu trên dòng sông ấy. Dòng lịch sử có chiều dài, chiều rộng, chiều sâu riêng của nó. Các quãng của dòng lịch sử thường không giống nhau. Người lái tàu phải biết tình hình từng quãng dòng sông đó, với những dự báo “thời tiết” từng ngày, để có thể lái con tàu của mình qua những quãng đường một cách an toàn, và nhất là để biết gieo vãi Tin Mừng một cách thuận tiện và có hiệu quả.

Muốn được như vậy, người chủ chăn cần có một trình độ hiểu biết thích hợp, không phải chỉ trên lý thuyết, mà ngay cả trên thực tế. Cũng không phải chỉ là những hiểu biết có tầm nhìn gần, mà cũng cần có những hiểu biết có tầm nhìn xa. Báo chí sẽ cung cấp một phần đòi hỏi đó.

Tại Pháp, xét về báo chí công giáo, hoặc chính thức của Giáo Hội hoặc không chính thức của các đoàn thể công giáo, ta thấy số lượng rất dồi dào, và với hình thức rất đa dạng.

Với báo chí tầm cỡ quốc gia, công giáo Pháp có một tờ nhật báo, 05 tờ tuần báo, 14 tờ nguyệt san, và 9 tờ chuyên đề định kỳ.

Với báo chí tầm cỡ địa phương, công giáo Pháp có 95 tờ thông tin của 95 địa phận, và 28 tờ báo của các nhóm địa phương.

Qua màng lưới báo chí như trên, người chủ chăn có thể rao giảng Tin Mừng dưới nhiều hình thức, người đọc cũng sẽ thấy được khá rõ Hội Thánh địa phương của mình đang đồng hành thế nào với lịch sử đất nước của mình.

***

Mấy khát vọng trên đây là rất thời sự. Từ khát vọng đến thoả mãn khát vọng vẫn còn khoảng cách lớn. Rút ngắn khoảng cách đó lại là việc không dễ. Nhưng phải phấn đấu với ngoại cảnh, và nhất là với chính mình. Bởi vì báo chí là một vấn đề quan trọng của chức vụ người mục tử, như sắc lệnh “Inter Mirifica” của Công Đồng Vatican II đã nhận định.

Chia sẻ kinh nghiệm đọc báo của ĐC GB. BÙI-TUẦN nhân ngày báo chí quốc tế 21-06-1994


 

Bùi-Tuần 0484: CẦU NGUYỆN VÀ TỈNH THỨC 27-11-1994


Lc 21,25-28.34-36

 

Trong bài Phúc Âm hôm nay, Chúa nói về một hoàn cảnh có những bất ngờ lớn, gây xao: 27-11-1994 Bùi-Tuần 484


Trong bài Phúc Âm hôm nay, Chúa nói về một hoàn cảnh có những bất ngờ lớn, gây xao xuyến, đau buồn, lo âu, sợ hãi. Trong hoàn cảnh như thế, người con Chúa phải đối phó thế nào, thì Chúa cũng đã chỉ dạy, tuy vắn tắt, nhưng rõ ràng.

Tôi thấy lời Chúa hôm nay là lời tiên tri rất cần thiết cho tôi và cho anh chị em. Lời tiên tri này đã giúp biết bao người, trong đó có tôi, vượt qua được nhiều thử thách. Đối với riêng tôi, lời tiên tri của Chúa hôm nay đúng là lời có sức cứu độ. Vì thế, tôi xin chia sẻ đôi chút kinh nghiệm.

Thực vậy, đúng như bài Phúc Âm hôm nay báo trước, trong cuộc đời mỗi người chúng ta, đôi lúc đã xảy ra những bất ngờ làm rung chuyển vũ trụ tâm hồn. Trong lòng mình như có biển gầm, sóng vỗ. Trong lòng mình như có mặt trời, mặt trăng và các vì sao đang nổ tung tan tác. Trong lòng mình như có một bầu trời đầy mây mù phủ kín. Trong một hoàn cảnh như thế, người ta không thể nào không cảm thấy lo sợ, nặng nề, đau đớn, hoang mang.

Chúa thấy trước cảnh đó. Nên Chúa dạy ta cách đối phó. Theo bài Phúc Âm hôm nay, cách đối phó gồm hai việc sau đây:

Việc thứ nhất cần làm để đối phó là hãy cầu nguyện

Chúa khuyên ta, những khi bị thử thách, hãy ngẩng đầu lên, nhìn thẳng vào Chúa, đứng vững trước mặt Chúa và hãy cầu nguyện. Cầu nguyện với niềm tin vững vàng: Chỉ có Chúa là Đấng Cứu Độ. Giờ cứu độ sẽ đến. Chỉ Người mới biết giờ nào Người sẽ cứu ta. Hãy phó thác nơi Người. Hãy tin tưởng ở Người. Người sẽ cứu ta, không phải vì ta xứng đáng, vì ta có công phúc gì, nhưng vì ta là kẻ tội lỗi, nhưng được Chúa yêu thương và biết cậy trông nơi một mình Chúa. Ta cầu nguyện phó thác với chỉ một điều mong ước mà thôi, đó là sẵn sàng vâng phục thánh ý Chúa.

Việc thứ hai cần làm để đối phó là hãy tỉnh thức

Tỉnh thức là thái độ khiêm nhường, sẵn sàng đón nhận ý Chúa, sẵn sàng để Chúa hướng dẫn. Tỉnh thức là thái độ tỉnh táo, biết nhận ra một lời kêu gọi của Chúa cần phải đáp ứng lúc đó, một luật Chúa cần phải hết sức trung thành lúc đó, một phấn đấu và hy sinh cần phải chấp nhận lúc đó. Tỉnh thức là thái độ tạ ơn, biết nhìn thấy Chúa trong biến cố, trong cơ may, trong bàn tay giơ ra để cứu ta. Tỉnh thức là thái độ nắm bắt mau lẹ những ơn cứu độ Chúa gửi đến cho mình. Phải nắm bắt mau lẹ, bởi vì, như bài Phúc Âm hôm nay nói, ơn cứu độ có thể đến một cách bất ngờ. Những ai mải mê chuyện phù du đời này, không tỉnh thức, sẽ bỏ lỡ dịp may đón nhận ơn cứu độ. Họ sẽ phải ân hận, nhưng sẽ quá muộn.

Kinh nghiệm cho tôi thấy, những ai có thiện chí thực hành hai việc Chúa dạy hôm nay, đều đã được Chúa cứu. Chúa cứu là cứu linh hồn họ khỏi những lầm lạc, là băng bó những vết thương tâm hồn họ, là mở mắt linh hồn họ, để họ nhận ra ý Chúa và tình thương Chúa. Chúa cứu là cứu lương tâm họ khỏi những ray rứt và thay vào đó là sự bình an, tâm tình tạ ơn và niềm tin vững vàng. Chúa cứu là đưa họ ra khỏi cơn thử thách với một con người mới, trưởng thành hơn trước, tốt lành hơn trước.

Các em rước lễ Bao Đồng chiều nay nên coi nội dung chia sẻ trên đây như một món quà Chúa ban tặng. Hãy nhớ lấy nội dung này. Có lúc sẽ rất cần đến nó. Xin tạ ơn Chúa vô vàn. Amen

Bài giảng lễ Bao Đồng  tại nhà thờ Chánh Toà Long Xuyên, ngày 27-11-1994
------------------

1995

 

Bùi-Tuần 0485: NĂM MỚI VỚI THỜI CƠ VÀ NGUY CƠ 31-01-1995


Mồng một Tết Ất Hợi 1995-Long Xuyên

 

Tết này không đốt pháo. Nên bầu khí tết được yên tĩnh, thuận lợi: 31-01-1995 Bùi-Tuần 485


Tết này không đốt pháo. Nên bầu khí tết được yên tĩnh, thuận lợi cho việc gặp gỡ Chúa đầu năm.

Trong thinh lặng tâm hồn và êm ả môi sinh, tôi đã đến gặp gỡ Đức Kitô. Tôi đến gặp Người, với một chút hy sinh, và với tất cả niềm tin và trọn vẹn lòng mến. Tôi nói với Người chỉ có một điều thôi: “Xin cho thánh ý Chúa được hoàn toàn thực hiện trong con và trong mọi kẻ thuộc về con”. Đức Kitô đã trả lời tôi một cách gián tiếp, bằng cách Người cho tôi nhìn thấy năm mới này, trong việc thực thi thánh ý Chúa, sẽ có nhiều thời cơ, nhưng cũng có nhiều nguy cơ. Thời cơ nào? Nguy cơ nào? Tôi được biết đôi chút. ở đây tôi xin chia sẻ phần nào với anh chị em.

Thưa anh chị em,

Thánh ý Chúa đã được Chúa nói rõ trong Phúc Âm: Cha muốn cho mọi người được cứu rỗi. Cứu độ là một ơn Chúa ban. Ơn này được trải suốt trên cả hành trình cuộc đời ta. Cuộc đời là một chuyến đi. Chuyến đi có những quãng bình thường, và cũng có những quãng bất ngờ. Có những thời cơ và có những nguy cơ.

Nhìn vào giáo phận ta, họ đạo ta, xét về mặt thời cơ, tôi đang thấy có nhiều thuận lợi. Trong đó, thời cơ đáng kể nhất là chúng ta đang thuộc về một cộng đoàn Hội Thánh địa phương đang phát triển trong một đất nước địa phương đang phát triển.

Riêng tôi, khi để ý đến mặt phát triển hoạt động từ thiện bác ái của cộng đoàn chúng ta, tôi như nghe được tiếng Chúa nói với chúng ta: “Hỡi những kẻ được Cha Ta chúc phúc, hãy đến chia sẻ Nước Trời đã chuẩn bị cho các con từ khi tạo thành vũ trụ. Bởi vì khi Cha đói, các con đã cho Cha ăn. Khi Cha khát, các con đã cho Cha uống. Khi Cha ở trần, các con đã cho Cha mặc. Khi Cha bệnh, các con đã viếng thăm”.

Rồi, khi để ý đến mặt phát triển đời sống nội tâm, kết hợp với Chúa, qua các việc tham dự thánh lễ, suy gẫm Lời Chúa, cầu nguyện, tĩnh tâm, tôi đang thấy Chúa Kitô chỉ tay vào cộng đoàn hèn mọn chúng ta mà nói với Đức Chúa Cha: “Lạy Cha, con cảm tạ Cha, vì đã giấu những mầu nhiệm Nước Trời với những người hiền triết, nhưng đã tỏ ra với những kẻ bé mọn”.

Tôi nghĩ rằng: Thời cơ lúc này là rất lớn, rất thuận lợi cho việc cứu độ. Bởi vì chúng ta đang có nhiều điều kiện tương đối khả quan, đang đà phát triển. Nhưng bên cạnh thời cơ, tôi thấy có những nguy cơ. Những nguy cơ này có khả năng làm giảm sút sự phát triển đạo đức, và đe doạ chính phần rỗi chúng ta.

Theo tôi, nguy cơ lớn nhất và dễ có thể xảy ra nhất, chính là sự thiếu tỉnh thức Phúc Âm. Sự thiếu tỉnh thức Phúc Âm là điều Đức Kitô đã cảnh giác trong Phúc Âm nhiều lần, như trường hợp 05 người trinh nữ khờ dại, như trường hợp những đầy tớ không đợi chủ về, như trường hợp những người trong nhà không biết canh trộm ban đêm, như trường hợp các môn đệ ngủ mê trong vườn Cây Dầu.

Sự thiếu tỉnh thức Phúc Âm đang xảy ra tại một số nơi lúc này được cụ thể-hoá qua nhiều hình thức: Như không quan tâm nắm bắt các nguồn thông tin đời đạo có khả năng giúp ta biết cách sống đạo, dạy đạo và truyền đạo sao cho thích hợp và có hiệu quả. Và như không bén nhạy đủ trước tiếng Chúa gọi qua các thực tại xảy ra trong lịch sử đất nước và Hội Thánh. Và như không cảm thông đủ với Đức Kitô trong kế hoạch cứu độ của tình yêu khoan dung thương xót. Như trường hợp thiếu ý thức, thiếu ý chí, và thiếu kế hoạch trong việc tái-phúc-âm-hoá chính mình, gia đình mình và cộng đoàn đức tin của mình. Nhất là trường hợp thiếu cầu nguyện, suy gẫm.

Anh chị em thân mến,

Với nhận thức về tình hình năm mới có thời cơ và có nguy cơ, tôi cầu xin Đức Kitô khoan dung luôn thương xót tôi và anh chị em. Tôi tin tưởng nơi Người. Tôi phó thác nơi Người. Chính nhờ Đức Kitô, cùng với Đức Kitô và trong Đức Kitô, mà tôi cùng với anh chị em bước sang năm mới và tiếp tục cuộc hành trình. Và cũng nhờ Người, với Người và trong Người, mà tôi xin cầu chúc anh chị em một năm mới tốt đẹp nhất.

Long Xuyên, 31-01-1995 Mồng một Tết Ất Hợi 1995

+ GIOAN B. BÙI TUẦN


 

Bùi-Tuần 0486: CHIA SẺ VỀ GIỚI TRẺ 15-01-1995


GB. Bùi Tuần - Nhân dịp Đại-Hội Giới Trẻ Công Giáo toàn cầu tại Manilla, Phi-luật-tân, từ 10-15-01-1995

 

Hiện nay đa số giáo dân tôi thuộc thành phần trẻ. Chẳng bao lâu: 15-01-1995 Bùi-Tuần 486


Hiện nay đa số giáo dân tôi thuộc thành phần trẻ. Chẳng bao lâu nữa, tương lai Hội Thánh địa phương và Quê Hương này sẽ được chuyển giao cho họ. Cần hiểu biết họ, để đồng hành với họ. Bởi vì chúng ta có trách nhiệm với Quê Hương và Hội Thánh.

Hiểu biết của tôi rất giới hạn. Chia sẻ những hiểu biết bé nhỏ này thiết tưởng cũng là đợi chờ những hiểu biết khác.

HIỂU BIẾT TỪ ĐỜI THƯỜNG

Sống giữa các người trẻ tại mảnh đất đồng bằng miền Nam này, tôi có cảm tưởng như sống giữa một thế giới của các giọng ca điệu múa. Tuổi trẻ mà!

Họ ca tụng cuộc sống, với thiên nhiên mộc mạc là sông rạch, ruộng rẫy, cây trái, với những con người chất phác như người mẹ hiền lành, người cha tần tảo, những xóm giềng tình nghĩa đậm đà. Quê hương là gốc rễ nghèo. Tình quê hương mang bề dày cuộc sống tổ tiên gắn bó với non sông bằng nghĩa tình và phấn đấu.

Họ nâng niu những cử chỉ và việc làm bé nhỏ bảo vệ và phát triển cuộc sống thôn làng. Những cử chỉ và việc làm này không dựa trên lý sự tính toán cho bằng phát xuất từ tấm lòng hồn nhiên.

Họ không coi những bậc vĩ nhân siêu phàm là thần tượng, là mô hình của họ. Thần tượng và mô hình của họ là những con người dễ thương, đủ vững vàng để họ tựa nương, đủ mong manh để họ có thể bắt chước, đủ đa dạng để họ không bị ràng buộc vào một khuôn cứng nhắc. Thần tượng và mô hình của họ là những con người bình dị, nhưng có tinh thần văn hoá, có nhân cách, biết dung chứa những giá trị thực, biết chắt chiu mọi vốn liếng, từ kiến thức, kinh nghiệm, đến đồng tiền bát gạo, có một ý chí miệt mài, biết tìm những viên ngọc ẩn tàng trong các khối đá đời thường.

Phần đông người trẻ hôm nay coi cảm nghiệm như một trường đào tạo. Đọc các sách báo của các cây bút trẻ và qua tiếp xúc với các người trí thức trẻ, tôi thấy rất nhiều người trẻ có một ngân hàng cảm nghiệm khá phong phú. Họ tích luỹ được nhiều vốn sống, với hy vọng tự thiết kế bản thân, tự mình tìm cho mình một lối sống riêng, không rập khuôn, không vay mượn.

Trong giới trẻ, họ chấp nhận nhau một cách dễ dàng thoải mái. Họ không xếp loại nhau theo các phạm trù cũ kỹ của chính trị, tôn giáo và xã hội. Đối với đa số người trẻ hôm nay, quá khích là quá lỗi thời. Họ thích đồng tình, đồng ý, nhưng không thích đồng nhất, đồng phục, đồng loạt. Họ thích tự do của họ được kính trọng, cũng như họ kính trọng sự tự do của người khác. Họ thích một cuộc sống thoáng mát với những liên hệ chân thành, không gò bó, không câu nệ, không mặc cảm.

Nơi nhiều bạn trẻ, hạnh phúc của họ vẫn mang vẻ một hạnh phúc tự vệ. Bởi vì họ nghĩ rằng, môi trường họ đang sống vẫn còn nhiều cái đáng sợ. Sợ cái khắt khe của dự luận. Sợ cái nghiêm nhặt của tôn giáo. Sợ cái rình rập của một số con mắt hẹp hòi.

Họ khát vọng những giá trị đạo đức giản đơn. Nhưng đồng thời họ biểu lộ nhiều lo âu khắc khoải. Đôi khi họ không che giấu những nghi ngờ đối với nhiều loại hình thức đạo đức xưa và hiện nay.

Họ đánh giá tốt xấu theo cảm nghiệm nhiều hơn theo lý luận, theo ý kiến nhóm họ nhiều hơn theo ý kiến quyền trên, theo tiêu chuẩn thực tế hơn theo tiêu chuẩn lý thuyết. Nguyên tắc hướng dẫn đời họ, tuy vẫn trung thành với truyền thống, nhưng mang tính chất thực dụng với nhiều sáng tạo, với nhiều xông pha đi vào những giá trị mới.

Những giá trị mới, như giầu sang, của cải, giải trí, nghệ thuật, du lịch, tình bạn, tình yêu, thăng tiến xã hội, đang là những dòng thác lôi cuốn tâm lý người trẻ. Đi tìm và thưởng thức những giá trị mới đó, mà vẫn giữ được quân bình đạo đức, đó là một thách đố lớn. Phải biết phân định sáng suốt. Phải biết phấn đấu can đảm để thực hiện điều mình đã phân định. Không ít người trẻ đã thành công và thành nhân. Nhưng khá nhiều người trẻ đang để mình trôi dạt.

Họ thích hình ảnh của truyền hình, chiếu bóng, vidéo, và âm thanh của nhạc. Một phần vì nhu cầu mở rộng tầm nhìn, mở rộng phạm vi thưởng thức, và cũng để diễn tả những gì mình không đủ khả năng diễn tả. Một phần cũng vì nhu cầu khép kín, trốn tránh sự tĩnh lặng, không muốn nghe người khác, đôi khi cũng không muốn nghe cõi thẳm sâu lòng mình.

Trên đường lập thân, nhiều người trẻ hôm nay giống như những chiếc xe nhỏ trên mấy con đường vùng này. Đường hẹp và xấu. Các xe nhỏ thường phải nối đuôi đàng sau những xe lớn như xe bồn, xe đông lạnh, xe tải, xe đò. Các xe lớn này vừa to vừa chậm vừa lấn đường. Nhưng tới những khúc đường thuận tiện, chỉ trong vài phút, các xe nhỏ đã lách qua, vượt lên, vụt phóng. Bị nhiều áp lực của cuộc sống, người trẻ hôm nay thường hay nắm bắt cơ hội. Họ nhắm những lợi ích gần, để tiến tới những lợi ích xa. Họ sợ thua kém, hụt hẫng, nếu cứ mãi tà tà chờ đợi. Đừng vội khen họ. Và cũng đừng vội chê họ. Họ chỉ là những người ham sống, và muốn nâng cấp cuộc sống. Và để cuộc sống của họ có ý nghĩa, họ có những niềm tin thuộc tín ngưỡng.

HIỂU BIẾT TỪ NHỮNG SINH HOẠT TÔN GIÁO

Trong phạm vi tôn giáo, khi đồng hành với các bạn trẻ trên con đường đức tin, tôi thấy tôi đón nhận họ là điều cần, nhưng tôi được họ đón nhận là điều cần hơn. Họ dễ đón nhận những người hoạt động tôn giáo có khả năng làm họ vừa mến, vừa kính, vừa phục. Để được thế, một điều họ muốn thấy, đó là khi rao giảng Phúc Âm cho họ, người hoạt động tôn giáo phải rao giảng Phúc Âm cho chính mình trước đã. Đối với giới trẻ, một Hội Thánh khiêm nhường sám hối, luôn trở về với Đức Kitô và Phúc Âm của Người, là hình ảnh đáng mến phục nhất. Một Hội Thánh như thế là một Hội Thánh nghèo quyền lực, nghèo tham vọng thống trị, nghèo tự phụ tự mãn, nhưng giầu đạo đức và ân sủng, biết chuyên chăm cải đổi tâm hồn con người nên lương thiện, bác ái, công bình, hiền từ, theo gương Đức Kitô. Một Hội Thánh như thế là một Hội Thánh luôn biết tái-phúc-âm-hoá chính mình, luôn cố gắng tái-đào-tạo mình bằng tu đức Phúc Âm và sức mạnh Chúa Thánh Linh.

Giảng dạy cho giới trẻ, tôi thấy mình không phải là kẻ cho đi, cho bằng kẻ được nhận lãnh. Tôi nhận được rất nhiều cái mới của Thiên Chúa hôm nay.

Tôi thấy Chúa đi vào tâm hồn người trẻ, không luôn luôn qua những cửa tôi mở sẵn cho Người. Bởi vì rất nhiều trường hợp, Chúa đi vào đời họ, qua những cửa bất ngờ. Khi tôi gặp được họ, tôi thấy Chúa đã hiện diện và hoạt động nơi họ từ rất lâu rồi. Tôi phải rất tề nhị, kẻo, thay vì cộng tác với Người, tôi lại áp đặt những hình ảnh, quan niệm và đường lối của tôi, khiến Người trở thành một bóng mờ trong đời họ.

Tôi thấy nơi Chúa gọi họ và chờ đợi họ, không những là nhà thờ và Hội Thánh, mà còn là chính cuộc sống họ, chính tấm lòng của họ, chính gia đình, bạn bè họ, chính nền văn hoá dân tộc và địa phương của họ, chính lịch sử Đất Nước của họ. Chúa hiện diện ở những chỗ đó. Chúa gọi họ từ những điểm đó và có thể từ nhiều điểm khác.

Vì thế, trên đường cùng họ đi về Nước Trời, tôi và Hội Thánh của tôi không phải là những kẻ đồng hành duy nhất và cuối cùng của họ. Nhất là khi tôi đã biết đức tin là ơn Chúa ban, chứ không phải là kết quả tất nhiên của những hoạt động tôn giáo của tôi.
Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã gọi con người là con đường của Thiên Chúa. Tôi thấy cách gọi đó càng rất đúng, khi nhìn vào các người trẻ công giáo Việt Nam hôm nay tại địa phương này.
Không phải là họ đoạn tuyệt với quá khứ, cũng không phải họ ít lo cho tương lai, nhưng người trẻ bây giờ sống hết mình với hiện tại, bằng rất nhiều quảng đại bao dung đối với Hội thánh, gia đình, bạn bè, xã hội, và bằng rất nhiều khát vọng vươn lên phía trước, bén nhạy đối với mọi mời gọi thăng tiến bản thân.

Đối với họ, sống đức tin là biết gặp gỡ Chúa, là biết chờ đón những cái tốt, cái đẹp, cái hay của từng ngày, từng giờ. Sống đức tin là biết tổ chức mảnh không gian và thời gian của mình sao cho đẹp và thân mật với Chúa và với con người. Sống đức tin là biết đổi mới môi trường xã hội, chính trị, kinh tế của mình thành một môi trường tươi mát, chan hoà tình người. Sống đức tin là xây dựng những liên hệ tốt, là có tinh thần liên đới sâu rộng vị tha. Sống đức tin là đưa vào mọi chi tiết cuộc sống một ý nghĩa vượt trên chính cuộc sống.

Đối với người trẻ, cái bức xúc nhất là cuộc sống. Một đức tin tách rời cuộc sống sẽ không phải là một đức tin nhập thể, và do đó sẽ không có sức hấp dẫn.

Theo thói quen xưa, đã một thời, tôi tập trung mọi cố gắng vào việc xây dựng những liên hệ của con người với Chúa. Nhưng nay, nhờ một số kinh nghiệm học được nơi giới trẻ, tôi không quên để ý đến việc khám phá những cách Chúa đang hiện diện nơi con người hôm nay, và những con đường Chúa đang sáng tạo để đến với con người Châu Á nói chung, và đến với con người Việt Nam nói riêng tại mảnh đất quê hương này.

Có những dấu chỉ cho thấy tại địa phương này đang hình thành một thứ văn hoá của giới trẻ công giáo Việt Nam. Sẽ là một văn hoá có nhiều công bình bác ái Phúc Âm, có nhiều bản sắc dân tộc, có chiều kích đối thoại rộng rãi với các giá trị của các tín ngưỡng truyền thống, và có sự cởi mở trước luồng gió tu đức trẻ trung mà Chúa Thánh Thần đang khơi dậy khắp nơi trong Hội Thánh toàn cầu.

***

Với tất cả những hiểu biết trên đây, tôi ước mong Hội Thánh Việt Nam của tôi sẽ được trẻ trung hoá, theo ý nghĩa tốt đẹp nhất của từ trẻ trung. Một sức sống trẻ trung, một ngoại hình trẻ trung, một cái nhìn trẻ trung, một tình bác ái trẻ trung, và một đức tin trẻ trung. Bởi vì Thiên Chúa mãi mãi trẻ trung.

Nhân dịp Đại Hội Giới Trẻ Công Giáo toàn cầu tại Manila, Phi Luật Tân từ 10-15-01-1995


 

Bùi-Tuần 0487: KITÔ-HOÁ CHÍNH MÌNH 29-01-1995


 Lc 4,21-30

Láng Sen

 

Bài Phúc Âm hôm nay, cho thấy những người đồng hương, cùng trong: 29-01-1995 Bùi-Tuần 487


Bài Phúc Âm hôm nay, cho thấy những người đồng hương, cùng trong cộng đoàn đức tin với Đức Kitô, đã rất để ý đến việc tiên tri Êlia cứu bà hoá tại Sêrepta khỏi cơn đói khát. Họ cũng rất để ý đến việc tiên tri Êlisêô cứu ông Naaman người Syria cho khỏi bệnh phong cùi. Họ ca ngợi những việc đó. Họ muốn Đức Kitô cũng hãy làm lại những việc đó. Họ coi những việc lẫy lừng như vậy là dấu chỉ con người được Thiên Chúa sai đến. Họ coi những việc lẫy lừng đó như là tiêu chuẩn, để biết được người đến với mình là người tốt.

Còn Đức Kitô thì sao?

bài Phúc Âm hôm nay cho thấy: Đức Kitô vẫn ca ngợi những việc mà tiên tri Êlia, tiên tri Êlisêô đã làm, trong lãnh vực xã hội, cứu con người khỏi bệnh, cứu con người khỏi đói. Nhưng tiêu chuẩn Đức Kitô đưa ra hôm nay, để làm chứng mình được Thiên Chúa sai đến thì khác.

Tiêu Chuẩn đó là gì?

Thưa tiêu chuẩn đó là Kinh Thánh: “Hôm nay ứng nghiệm lời Kinh Thánh”. Đức Kitô lấy lời Chúa làm tiêu chuẩn. Ai sống đúng lời Chúa là sống đúng tiêu chuẩn.

Điều Chúa dạy hôm nay, khiến cho tôi nghĩ lại những việc mình làm trong năm vừa qua, không biết có hợp với lời Chúa như tiêu chuẩn không? Những đánh giá của tôi về người này, người nọ, có dựa trên lời Chúa như là thước đo không? Đây cũng là một vấn đề tôi cần phải suy nghĩ trong ngày cuối năm: Lời Chúa là tiêu chuẩn. Lời Chúa là thước đo. Lời Chúa là cái cân.

Chúng ta phải theo gương Đức Kitô trong bài Phúc Âm hôm nay, lấy Kinh Thánh, lấy Lời Chúa làm tiêu chuẩn đời sống của mình, cho dù khắp chung quanh người ta nghĩ khác, cho dù cả đến cộng đoàn đức tin nội bộ của mình có một cái dư luận khác. Hãy vững vàng sống theo lời Chúa, và lời Chúa sống động nhất chính là Đức Kitô, đó là Tin Mừng của chúng ta.

Sự việc những người trong nội bộ đức tin đã nghĩ khác với Đức Kitô, không phải là một sự kiện hiếm hoi.

Trong bài Phúc Âm hôm nay chúng ta thấy: Họ cũng là những người có đạo. Họ cũng là những người gần Đức Kitô. Họ cũng là những người có đức tin, nhưng não trạng của họ sai lầm, nhưng cách nhìn của họ sai lầm, nhưng cách đánh giá của họ sai lầm. Chúng ta hôm nay cũng có thể mắc phải những sai lầm như vậy trong chính bản thân ta, trong chính cộng đoàn nội bộ của ta.

Chính vì thế mà vấn đề đặt ra cho tôi hôm nay, để chia sẻ với anh chị em ngày cuối năm, là phải hưởng ứng lời Đức Thánh Cha kêu gọi: Hãy tái Phúc-Âm-hoá chính mình. Hãy tái Phúc-Âm-hoá cộng đoàn của mình. Làm sao để mình trở nên Kitô hữu thực, lấy lời Chúa làm lương thực, lấy lời Chúa làm tiêu chuẩn, lấy lời Chúa làm thước đo.

Khi tôi đến Láng Sen hôm nay, tôi đã tạ ơn Chúa vì đã cho tôi cái may mắn được cùng anh chị em dâng lễ cuối năm một cách trọng thể. Và cũng từ họ đạo Láng Sen này, tôi đang nhìn về tôi một năm qua, tôi đang nhìn về địa phận tội một năm qua, và cách riêng tôi nhìn họ đạo Láng Sen một năm qua.

Cái nhìn của tôi là thế nào?
Tôi cũng nhìn dưới ánh sáng lời Chúa. Tôi cũng đang đo đạt chiều dài, chiều rộng, chiều hẹp của Phúc Âm theo lời Chúa. Tôi cũng đang cân đo trọng lượng Phúc Âm trong năm qua theo lời Chúa. Và tôi cảm tạ Chúa về họ đạo Láng Sen của anh chị em, vì đã tương đối sống với lời Chúa.

Chính vì thế mà tôi khen ngợi anh chị em. Lời Chúa mà anh chị em đã cố gắng sống trong năm qua là: “Cha là cây nho, chúng con là cành. Cành nào kết hợp với thân cây sẽ trở thành hoa trái”.

Anh chị em đã ý thức lời Chúa như vậy, nên suốt năm qua, anh chị em đã tham dự thánh lễ tốt đẹp, đã cố gắng tham dự thánh lễ ngày thường, và dùng sự cầu nguyện suy gẫm để kết hợp với Đức Kitô là thân cây.

Rồi anh chị em cũng đã biết lời Chúa dạy: Lời Cha là lời hằng sống. Và vì thế anh chị em năm vừa qua đã học hỏi lời Chúa, đã kính trọng lời Chúa, đã đón nhận lời Chúa vào bàn thờ gia đình của mình.

Rồi năm qua, anh chị em cũng đã rất ý thức lời Chúa dạy: “Hãy ăn năn sám hối và tin vào Tin Mừng”. Anh chị em đã hằng ngày sám hối trở về, ăn năn luôn luôn, ăn năn hằng ngày, và tin vào Đức Kitô. Đức Kitô là lời Thiên Chúa, là Tin Mừng của chúng ta.

Rồi tôi thấy ở đây, anh chị em rất để ý đến một lời Chúa khác, đó là: “Cha trao cho chúng con một điều răn mới là chúng con thương yêu nhau”. Tôi thấy anh chị em đã áp dụng điều răn đó cách chi tiết, bằng cách thăng tiến con người, bằng cách để ý đến những đối tượng già yếu, nghèo túng, cô đơn, bé nhỏ, và bằng cách đi gieo rắc những giọt tình thương ở khắp nơi anh chị em gặp được.

Sau cùng, tôi thấy anh chị em cũng đã ý thức được một lời Chúa dạy: “Hãy đi rao giảng Tin Mừng khắp muôn dân”. Anh chị em đã làm việc truyền giáo qua những hình thức thích hợp nhất trong hoàn cảnh bây giờ.

Khi tôi nhìn họ đạo Láng Sen như vậy, tôi cảm thấy Chúa đã ban cho anh chị em đi vào đời sống Phúc-Âm-hoá. Tuy nhiên còn nhiều cái phải làm, để chúng ta có thể coi được là Kitô-hoá thực sự khi đi vào năm 2000. Bởi vì năm 2000 có những thời cơ, cần phải nắm bắt, mà năm 2000 cũng sẽ có những nguy cơ, cần phải cảnh giác và đẩy lùi.

Anh chị em thân mến,

Lúc nãy, trong bài đọc thứ nhất (Deut 18,15-20), chúng ta đã nghe Thiên Chúa nói: “Ta sẽ ban thần trí Ta, để khắp nơi con trai, con gái các ngươi sẽ nói tiên tri”. Đây là một lời tôi nghĩ sẽ lại thực hiện trong năm nay, năm tới. Chúng ta phải biết nhìn một cách tiên tri về quãng đường sắp tới, về Hội Thánh của ta, về gia đình của ta, mà ta phải nói tiên tri thế nào, thì trong bài đọc thứ hai lúc nãy (1 Cor 12,31-13,13), chúng ta đã nghe là chúng ta phải hiệp thông với sự đau khổ của Đức Kitô và sự sống lại của Đức Kitô để trở thành tạo vật mới. Nghĩa là chúng ta cần phải nhìn thấy thánh giá. Chúng ta chỉ có thể trở nên Kitô hữu đích thực, khi chúng ta xác tín rằng: Chúng ta chỉ có thể nên giống Đức Kitô, khi chúng ta cùng chịu đau khổ với Người, khi chúng ta biết từ bỏ mình, biết vác thánh giá mình mà theo Chúa, biết chia sẻ sự sống lại của Đức Kitô.

Chính vì thế, tôi muốn nói một lần nữa trong ngày cuối năm: Tương lai của họ đạo chúng ta, một phần lớn, còn tuỳ thuộc vào sự chúng ta biết nói tiên tri cho chính mình, cho họ đạo. Nội dung tiên tri đó tôi nhắc lại: Là phải thông hiệp với sự đau khổ của Đức Kitô, phải chia sẻ sự sống lại với Đức Kitô. Tôi vẫn xác tín trong mình rằng: Khi nào ta bị treo lên, ta sẽ kéo mọi sự lên cùng ta. Khi nào tôi, khi nào anh chị em, được cùng với Đức Kitô chịu đóng đinh trên thánh giá vì lòng mến Chúa yêu người, chúng ta sẽ kéo mọi người lên với Chúa. Nhưng không phải chúng ta sẽ ở lại thánh giá, mà sẽ sống lại với Người.

Anh chị em thân mến,

Tôi chúc anh chị em được thần trí của Thiên Chúa, để chúng ta ngày hôm nay, kết thúc năm cũ với lời cảm tạ, và đi vào mới với cái nhìn tiên tri của Chúa: “Kitô-hoá chính bản thân mình”. Amen.

Láng Sen, ngày 29-01-1995


 

Bùi-Tuần 0488: LÀM CHỨNG CHO TÌNH YÊU THIÊN CHÚA 09-02-1995


Lễ bế mạc Cấm phòng thường niên của các Linh mục-Long Xuyên- Kỷ niệm giáo phận Long Xuyên tròn 35 tuổi.

 

Chiều nay, nhà thờ chánh toà Long Xuyên đang là một nơi làm chứng: 09-02-1995 Bùi-Tuần 488


Chiều nay, nhà thờ chánh toà Long Xuyên đang là một nơi làm chứng cho tình yêu Thiên Chúa.

Trước hết, tôi nhìn linh mục đoàn hiện diện trên cung thánh. Tổng số linh mục đồng tế là 165 vị, đa số còn trẻ. Con số này rất có ý nghĩa. Bởi vì, tuổi giáo phận Long Xuyên là 35. Năm đầu, số linh mục không tới 60 vị. Qua 35 năm, với biết bao chìm nổi thăng trầm, mặc dầu số linh mục ra đi là đáng kể, linh mục đoàn Long Xuyên vẫn lớn mạnh một cách lạ lùng. Công bình mà nói, linh mục đoàn cũng như tôi, rất hợp nhất với nhau và với Đức Giám Mục giáo phận chúng ta là Đức Cha Micae. Mọi người đều cố gắng chu toàn bổn phận với tinh thần trách nhiệm. Những sự kiện này làm chứng rằng: Ơn Chúa là rất mạnh, có khả năng vượt thắng mọi khó khăn trong ngoài. Chúng tôi hết lòng cảm tạ Chúa.

Qua 165 linh mục hiện diện, tôi đang nhìn thấy các họ đạo lớn nhỏ, các nhà thờ cũ mới. Qua 35 năm, số nhà thờ đã tăng lên nhiều, số họ đạo cũng đã được nhân lên, với nhiều sinh khí mới.

Khi nhìn Hội Thánh địa phương ta như một phần của Hội Thánh toàn cầu, một Hội Thánh là mầu nhiệm, một Hội Thánh là dấu chỉ hữu hình của sự hợp nhất với Chúa và đoàn kết với nhân loại, một Hội Thánh là kẻ được sai đi rao giảng Tin Mừng, một Hội Thánh là người cộng tác vào việc xây dựng Nước Trời giữa thế gian, tôi thấy giáo phận ta là một công trình nhỏ bé, nhưng giàu sức sống làm chứng cho quyền năng tình yêu Thiên Chúa. Chúng tôi chúc tụng Chúa, vì ơn trọng đại Chúa ban cho.

Trong tâm tình cảm tạ và chúc tụng Thiên Chúa, chúng tôi không quên thống hối ăn năn. Bởi vì chúng tôi nhận biết mình đã có nhiều lỗi lầm, sai sót. Đáng lẽ chúng tôi phải có một đức tin thao thức nhiều hơn trong việc bồi dưỡng mục vụ, nâng cao trí thức, đào sâu tu đức. Đáng lẽ chúng tôi phải có một đức tin tỉnh thức nhiều hơn trong việc nắm bắt các thời cơ và cảnh giác với các nguy cơ. Đáng lẽ chúng tôi phải có một đức tin khôn ngoan nhiều hơn trong việc phân định và lựa chọn. Đáng lẽ chúng tôi phải có một đức tin giàu sức nhìn tiên tri hơn trong việc dự phóng về tương lai Hội Thánh và Đất Nước Việt Nam chúng ta. Đáng lẽ chúng tôi phải có một đức tin khiêm tốn nhiều hơn trong việc đón nhận các ơn Chúa muốn trao ban.

Nhìn nhận mình còn thiếu sót, chúng tôi đã quyết tâm tái-phúc-âm hoá chính mình, bằng những việc có khả năng Kitô hoá con người và cuộc sống của mình. Việc tái-phúc-âm hoá này được dựa trên tinh thần các văn kiện mới nhất của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II, nhất là thông điệp “Chuẩn bị cho năm toàn xá” sẽ được tổ chức năm 2.000.

Chúng tôi là những dụng cụ của Chúa, nhưng rất mong manh, rất yếu đuối. Chúng tôi là những người của anh chị em, nhưng mang trong mình biết bao giới hạn. Xin anh chị em cùng chúng tôi nhìn lên Đức Kitô, Đấng đã tử nạn và đã phục sinh. Chính nhờ Người, với Người và trong Người, mà chúng ta tái-phúc-âm hoá chính mình, để chúng ta trở thành kitô-hữu đích thực.

Lạy Đức Kitô, là Chúa và là Đấng Cứu độ của chúng con, xin cảm tạ Người, xin Người thương xót chúng con. Amen.

+ Gioan B. BÙI TUẦN


 

Bùi-Tuần 0489: HÃY BIẾT KINH NGẠC 05-02-1995

 Lc 5,1-11

lễ Thêm sức -Núi Tượng

 

Đêm rồi, tôi dậy thật sớm, khoảng 12 giờ. Việc đầu tiên tôi nghĩ: 05-02-1995 Bùi-Tuần 489


Đêm rồi, tôi dậy thật sớm, khoảng 12 giờ. Việc đầu tiên tôi nghĩ tới là việc sáng nay sẽ đến họ đạo Núi tượng này, để dâng lễ Thêm sức và thăm anh chị em.

Tôi đã quỳ xuống dâng mình cho Chúa và cầu nguyện cho họ đạo Núi Tượng. Rồi, tôi đọc sách Phúc Âm, bài Phúc Âm lễ hôm nay. Đọc xong, tôi cảm thấy Chúa Thánh Thần lôi kéo trí khôn tôi dừng lại ở một chi tiết của bài Phúc Âm hôm nay. Chi tiết đó là khi thấy mẻ cá lạ lùng, ông Simon và những người có mặt đã rất kinh ngạc.

Rồi, Chúa cho tôi thấy: Sự biết kinh ngạc trước những ơn Chúa ban cho mình, sẽ là một dấu chỉ, là một sự bén nhạy của tâm hồn đơn sơ, khiêm tốn, là một việc rất đẹp lòng Chúa.

Rồi, Chúa cắt nghĩa cho tôi hiểu: Lý do nào mà sự con người biết kinh ngạc lại làm cho con người ra dễ thương và rất đẹp lòng Thiên Chúa.

Lý do thứ nhất là vì: Khi chúng ta biết kinh ngạc trước những ơn Chúa ban cho mình, ta sẽ nhận thấy mình bất xứng, để rồi từ đó biết sống khiêm tốn hơn.

Bài Phúc Âm hôm nay thuật lại điều ấy, khi ông Simon và các bạn đồng nghiệp thấy mẻ cá lạ lùng do Đức Kitô ban cho mình, các ông đã rất kinh ngạc. Sau đó, các ông Simon sụp lạy Đức Kitô và nói: “Lạy Chúa, lạy Thầy, xin hãy đứng xa con, vì con tội lỗi”. Chính sự ngạc nhiên đã làm cho tâm hồn ông Simon nhận biết mình tội lỗi, để biết sống khiêm nhường hơn.

Lý do thứ hai: Là khi con người kinh ngạc trước những việc lạ lùng Chúa làm cho mình, thì con người sẽ biết quý trọng ơn Chúa, sẽ biết cảm tạ ơn Chúa, sẽ biết tin tưởng vào chúa, và nhờ đó sẽ được Chúa tin tưởng hơn.

Bài Phúc Âm hôm nay cũng đã chứng minh điều ấy: Khi ông Simon và các đồng nghiệp kinh ngạc trước ơn Chúa ban cho mình, các ông đã ca tụng Chúa về những gì Chúa đã cho mình. Mặc dù mình bất xứng, nhưng Chúa vẫn thương. Nên các ông đã tin tưởng tuyệt đối vào Đức Kitô, và đã được Đức Kitô tin tưởng. Vì thế, Đức Kitô nói với Simon: “Từ nay, con sẽ là người thả lưới để bắt các linh hồn”.

Rồi lý do thứ ba: Là khi chúng ta biết kinh ngạc trước những việc lạ lùng Chúa làm thường ngày, chúng ta sẽ thấy mình cần thuộc về Chúa, mình cần phải bám vào Chúa. Lúc đó, Chúa sẽ thương chúng ta hơn, Chúa sẽ ban ơn cho chúng ta nhiều hơn. Bài Phúc Âm hôm nay đã chứng minh điều ấy.

Tới đây, Chúa cho tôi thấy có một nết xấu rất tai hại, rất trầm trọng, đang xảy ra ở một số nơi trong Hội Thánh chúng ta. Nết xấu đó là sự vô cảm.

Vô cảm là một thái độ trơ trơ, thờ ơ trước những ơn Chúa ban cho mình. Vô cảm là thái độ cứng cỏi, hẹp hòi, cằn cỗi trước những biến đổi Chúa đang làm nơi mình, nơi họ đạo của mình, nơi Hội Thánh của mình, nơi lịch sử đất nước của mình. Không cảm thấy gì cả.

Rồi, vô cảm còn là thái độ lạnh lùng, hờ hững trước những tiếng Chúa gọi qua những gương sáng chung quanh mình.

Tính vô cảm là một tính làm hại chúng ta nhiều lắm, vì nó khép lòng ta lại, và làm cho tâm hồn chúng ta không thể đón nhận những ơn Chúa ban.

Với những chia sẻ trên đây, tôi muốn anh chị em hãy nhìn vào những ơn Chúa ban cho anh chị em, trong suốt cuộc đời nói chung, và trong năm vừa qua nói riêng. Hãy nhìn kỹ những ơn phần hồn, những ơn phần xác, những ơn ban cho cá nhân mình, những ơn ban cho gia đình mình, những ơn ban cho cộng đoàn đức tin của mình, những ơn ban cho đất nước, cho địa phương của mình.

Khi chúng ta nhìn thấy như vậy, chúng ta nên biết kinh ngạc trước những việc lạ lùng Chúa đã làm.

Tôi thấy: Những việc lạ lùng Chúa làm không phải là chuyện ít ỏi, hiếm hoi đâu. Nó rất nhiều. Nó rất phong phú đa dạng. Nó là chuyện thường ngày, vẫn luôn xảy ra trong cuộc đời ta, ở chung quanh chúng ta, nhất là sự Chúa đang biến đổi nhiều tâm hồn con người.

Chẳng hạn: Những người Việt Nam trước đây cứng cỏi, nay đã trở lại với Chúa, với đàng lành. Những người chung quanh chúng ta trước đây, có ác cảm với Thiên Chúa, với Hội Thánh, nay đã biến đổi. Những người như chúng ta, trước đây còn nghi ngờ ở tình xót thương của Thiên Chúa, nay đã cảm thấy vững tin hơn nơi Ngài. Đó là những sự lạ lùng Chúa đã và đang làm nơi các tâm hồn. Hãy biết nhìn. Hãy biết khám phá ra. Hãy biết ngạc nhiên, hãy biết kinh ngạc, để rồi khiêm tốn, để rồi tin tưởng, để rồi chúc tụng Thiên Chúa.

Lúc nãy, khi rước vào nhà thờ, anh chị em đã hát: “Chúng con cùng nhau đến đây để ca tụng Thiên Chúa”. Tôi hợp ý với anh chị em và đã nói thầm với Chúa: Họ đạo Núi Tượng hôm nay cùng nhau đến đây để ca tụng Thiên Chúa. Con cũng đến đây để ca tụng Thiên Chúa. Con ca tụng Thiên Chúa, nhất là vì Chúa đã khoan dung đối với con: Chúng con tội lỗi, chúng con bất xứng, thế mà Chúa vẫn khoan dung, vẫn yêu thương chúng con, vẫn che chở chúng con, vẫn tha thứ cho chúng con.

Con ca tụng Chúa với họ đạo Núi Tượng này. Bởi vì, Chúa rất nhân từ thương đến những người con bé nhỏ, những cộng đoàn nhỏ bé. Chúng con đây nghèo nàn. Chúng con đây ở nơi xa vắng. Thế nhưng, Chúa vẫn cho chúng con những phương tiện tương đối tốt, để chúng con gặp gỡ Chúa, để chúng con nghe lời Chúa. Chúng con ca tụng Chúa, vì Chúa đã ban cho chúng con trở thành những thành phần của một Hội Thánh đang phát triển.

Tôi nhìn anh chị em họ đạo này, và tôi cảm thấy qua hình ảnh này, địa phận Long Xuyên chúng ta đang phát triển tốt. Đó là một sự kinh ngạc đối với tôi. Bởi vì, cứ sự thường, với những hoàn cảnh khó khăn, chúng ta không thể được như thế này. Thế mà hôm nay, chúng ta đã được quá lòng mong ước, quá sức chúng ta có thể tưởng tượng đươc, đó là một điều tôi kinh ngạc. Và sự kinh ngạc ấy thúc đẩy tôi khiêm tốn, nhận mình bất xứng, và biết khiêm tốn ca tụng Chúa và luôn luôn tin tưởng nơi Chúa.

Anh chị em thân mến,

Sang năm mới này, tôi chỉ mong muốn anh chị em, hãy trở nên những người biết kinh ngạc trước những ơn Chúa ban cho mình. Và hãy biết dạy con em chúng ta biết ngạc nhiên trước những sự lạ lùng Chúa làm cho nó, cho gia đình, cho Hội Thánh, cho đất nước, cho đồng bào ta.

Biết kinh ngạc như thánh Phêrô và các môn đệ Chúa hôm nay, đó là một dấu chỉ tốt. Bao lâu chúng ta còn đơn sơ, khiêm tốn, biết ngạc nhiên trước những ơn Chúa ban cho mình, thì đó là một dấu rất tốt, chứng tỏ tâm hồn chúng ta lành mạnh, có khả năng đón nhận những ơn Chúa ban.

Lạy Chúa Thánh thần, xin làm cho chúng con, biết nhìn những sự lạ lùng Chúa ban cho chúng con, để chúng con biết suy nghĩ về Chúa, biết nói với Chúa, để khi nói với Chúa, Chúa sẽ đốt lên trong lòng chúng con một ngọn lửa tình yêu tin tưởng phó thác. Rồi nhờ đó, trái tim chúng con sẽ được mở ra với những người chung quanh. Bởi vì, tình yêu là một sự hiệp thông giữa Chúa và ta, giữa ta với những người xung quanh. Amen.

Núi Tượng, ngày 05-02-1995

 

Bùi-Tuần 0490: ĐIỂM TỐT NƠI MỘT CÔNG TRÌNH 28-02-1995


 Mc 10, 28-31

Lễ khánh thành nhà thờ -Tân Châu

 

Bài Phúc Âm hôm nay ghi lại những lời Chúa hứa cho những kẻ: 28-02-1995 Bùi-Tuần 490


Bài Phúc Âm hôm nay ghi lại những lời Chúa hứa cho những kẻ từ bỏ mọi sự mà theo Đức Kitô. Người nói: “Kẻ nào bỏ những thân nhân, nhà cửa ruộng vườn vì Phúc Âm, sẽ được nhận lãnh gấp trăm ngay ở đời này, và đời sau được sống vĩnh cửu”.

Trong viễn tượng ấy, có những người sau hết sẽ trở thành trước hết, và có những người trước hết sẽ trở thành sau hết.

Suy gẫm những lời Chúa hứa trên đây, rồi nhìn qua quang cảnh đại lễ bây giờ, tôi có cảm tưởng lời Chúa hứa xưa đang được thực hiện hôm nay, chỗ này.

Cách đây bốn năm, cha sở và họ đạo Tân Châu, phải từ bỏ khu nhà ở cũ, từ bỏ một nếp sống ổn định dễ chịu, cũng vì Phúc Âm. Viễn tượng đau thương nhất ấy rất là mù mịt. Nhưng hôm nay, cha sở và họ đạo đang lãnh nhận được gấp nhiều lần hơn trước. Và với những công trình đã được thực hiện, cũng như những dự định có hy vọng thực hiện được trong tương lai, tôi có thể nói họ đạo Tân Châu như là một kẻ rốt hết, bỗng đang trở thành trước hết. Bởi vì nhà thờ anh chị em có những nét đẹp độc đáo, hơn nhiều nhà thờ khác. Bởi vì khu nhà thờ anh chị em có một mặt bằng rộng, thích hợp với hoàn cảnh môi sinh, hơn nhiều khu nhà thờ khác. Bởi vì, họ đạo Tân Châu bây giờ đã có nhiều bạn bè, thân nhân mới, hơn những nhà thờ khác. Và nhất là họ đạo Tân Châu hôm nay, đang nhận được một sức sống mới trẻ trung và năng động, hơn nhiều nhà thờ khác.

Khi theo dõi công trình xây cất ở họ đạo Tân Châu, tôi nhận thấy ba điểm tốt sau đây:

Điểm tốt thứ nhất tôi nhận thấy, đó là sự phân định khôn ngoan, trong cách lựa chọn những phương tiện để dẫn tới mục đích.

Thực vậy, anh chị em họ đạo cùng với cha sở, đã nhắm vào việc xây dựng một ngôi thánh đường mới, để đáp ứng nhu cầu tâm linh của quần chúng, để ổn định tình hình địa phương, làm sáng danh Chúa, làm thăng tiến con người. Mục đích đó là rất tốt.

Nhưng không phải hễ có mục đích tốt là mình có thể tiến thẳng tới mục đích, với bất cứ phương tiện nào. Cha sở và anh chị em đã có những phân định khôn ngoan, trong việc chọn lựa nhân sự cộng tác, trong việc chọn lựa mô hình để xây dựng, trong việc chọn lựa những nguồn để đỡ nâng. Sự phân định khôn ngoan các phương tiện để dẫn tới mục đích là một điều rất đáng khen.

Điểm tốt thứ hai tôi nhận thấy, đó là việc sử dụng thông minh thời giờ Chúa ban.

Thực vậy, từ hoàn thành cho đến khởi sự, từ khởi sự cho đến hoàn thành là một thời gian dài gần bốn năm, trong thời gian đó, tôi biết cha sở và anh chị em không nóng vội, mà cũng không trì trệ, không cứng ngắc, mà cũng không thả nổi. Cha sở và anh chị em luôn rút kinh nghiệm từng ngày từng tháng, để điều chỉnh lại những gì nên sửa, cái gì nên tiết kiệm, cái gì nên rút vắn lại, vv... Sử dụng thông minh thời giờ trong một công trình, đó là một điều rất đáng khen.

Điều tốt thứ ba tôi nhận thấy, đó là sự vận dụng tích cực đức tin và đức ái trong các hoạt động của mình.

Lúc nãy cha sở có nói: “Kẻ thì gieo, người thì tưới, kẻ thì gặt, nghĩa là mọi người đều phải làm việc, mọi người đều có hoạt động. Nhưng những hoạt động đó ai cũng đều coi là phần việc của mình. Ai cũng lấy đức tin, đức ái mà làm tròn bổn phận của mình. Không ai đã nhắm việc này cao hơn, việc nọ trọng hơn. Các công việc đều có giá trị riêng của nó trước mặt Chúa, theo trọng lượng của đức tin, theo trọng lượng của đức ái.

Khi chúng ta nhận định như vậy để vận dụng đức tin và đức ái trong một công trình xây dựng, thì đó là một điều rất tốt, rất đáng khen.

Ba điểm tốt đáng khen trên đây, sẽ không được ghi trong những bằng khen, nhưng sẽ được ghi trong lịch sử mỗi người, trong lịch sử mỗi cộng đoàn, trước mặt Thiên Chúa.

Ba điều tốt đáng khen trên đây, thiết tưởng cũng nên áp dụng vào việc xây dựng con người nói chung, và việc xây dựng con người tín hữu nói riêng. Cần phải phân định khôn ngoan, cần phải sử dụng thông minh thời giờ, cần phải vận dụng tích cực đức tin và đức ái. Như vậy, những công trình vật chất như nhà thờ hôm nay, với vẻ đẹp bề ngoài, và nhất là những công trình thiêng liêng bên trong, với những vẻ đẹp thiêng liêng, sẽ là những công trình có khả năng làm chứng cho Đức Kitô phục sinh.

Đối với tôi hôm nay lúc này, thì niềm vui lớn nhất có lẽ không phải chỉ là nhà thờ mới, mà là những công trình thiêng liêng Chúa đã thành hình trong lòng con người, trong lòng dân tộc, trong lòng đồng bào. Đức Kitô phục sinh đang làm sống lại biết bao nhiêu công trình trong dân tộc, trong lòng người, bằng cách làm cho lòng người mở ra, hướng về những giá trị cao cả, làm cho lòng người mở ra, hướng về đồng bào chung quanh, để biết thương yêu nhau, để biết cảm thông với nhau, để biết sống trong một mối tình đoàn kết, có chiều sâu, có chiều cao, có chiều rộng, hợp với Đức Kitô.

Tôi chúc tụng Đức Kitô phục sinh trong công trình nhà thờ mới này. Tôi chúc tụng Đức Kitô phục sinh trong những công trình thiêng liêng, mà Ngài đang thực hiện trong các tâm hồn Việt Nam. Tôi chúc tụng Đức Kitô phục sinh vì Ngài đang làm sống lại đức tin, đức ái, và bao nhiêu giá trị cao cả nơi dân tộc mình.

Xin Chúa Thánh Linh giúp cho chúng ta và bạn bè gần xa của chúng ta, biết đón nhận ơn sống lại của Đức Kitô. Người ban ơn sống lại một cách nhưng không. Chúng ta cần phải biết đón nhận. Đón nhận bằng đức tin. Đón nhận bằng sự trở về.

Xin Chúa Thánh Linh giúp cho con em chúng ta, giờ đây chịu phép Thêm Sức, hiểu được sức mạnh tình yêu của Chúa Thánh Linh, giúp cho con người đón nhận ơn sống lại thế nào, và ơn sống lại đó đang thực hiện cụ thể ngay tại đây, trong nhà thờ này, trong các tâm hồn, trong lịch sử hôm nay, trong đó có chúng ta. Amen.

Lễ khánh thành nhà thờ Tân Châu, ngày 28-02-1995


 

Bùi-Tuần 0491: SỐNG KHIÊM TỐN 20-03-1995


 Mt 1,16-18;21;24a

Bình Châu (k.8a)

 

Mấy ngày hôm nay, hầu như lúc nào tôi cũng nghĩ tới thánh Giuse: 20-03-1995 Bùi-Tuần 491


Mấy ngày hôm nay, hầu như lúc nào tôi cũng nghĩ tới thánh Giuse.

Nhìn về thánh Giuse, tôi thấy Ngài dễ thương. Tôi thấy Ngài rất đẹp, một vẻ đẹp thinh lặng, một vẻ đẹp dễ thương, bình dị. Tôi lại gần Ngài. Tôi hỏi Ngài muốn tôi làm gì, để chuẩn bị mừng kính lễ của Ngài. Và Ngài trả lời trong lòng tôi, là để chuẩn bị mừng lễ kính Ngài, hãy cùng với Ngài đem hết tâm tình sốt mến để cảm tạ Thiên Chúa đã thương đến Ngài. Tôi vâng lời làm như vậy. Và càng làm như vậy, tôi càng cảm thấy một sự thực thấm thía này, đó đó là thánh Giuse rất khiêm nhường.

Ngài khiêm nhường, trước khi được chính thức chọn làm bạn trinh nữ Maria. Ngài khiêm nhường, sau khi được gọi làm cha nuôi Ngôi Hai Thiên Chúa làm người. Suốt đời, thánh Giuse đã sống khiêm nhường, khiêm nhường trong lời nói, khiêm nhường trong hành động, khiêm nhường trong cách đối xử, khiêm nhường nhất là trong việc Ngài tận dụng từng giây, từng phút, để cảm tạ Thiên Chúa, khiêm nhường ở sự Ngài luôn luôn chu toàn bổn phận từng chi tiết để tỏ mình là đầy tớ trung thành của Thiên Chúa.

Tôi thấy trong tâm tình khiêm tốn ấy, thánh Giuse đã nếm được tình yêu của Thiên Chúa bao la dịu ngọt, có sức cứu độ đến thế nào! Và cũng trong tâm tình khiêm tốn, thánh Giuse đã cảm nghiệm được rằng, ơn cứu độ là một ơn nhưng không Chúa ban cho Ngài và cho chúng ta. Và ơn cứu độ này là do tình yêu Thiên Chúa, chứ không phải do công trạng của chúng ta. Chúng ta chỉ có thể đón nhận ơn cứu độ bằng tấm lòng khiêm tốn. Và chúng ta cũng chỉ có thể cảm tạ Thiên Chúa bằng tấm lòng khiêm tốn.

Tôi nói những điều trên đây để chia sẻ với anh chị em những điều Chúa đã soi sáng dạy dỗ tôi, đó là hãy sống khiêm tốn. Hãy sống khiêm tốn như Đức Kitô, Đấng xưa đã nói: “Hãy học cùng Ta, là người hiền lành và khiêm nhường trong lòng”. Hãy nên khiêm tốn như Đức Mẹ, Đấng xưa đã nói: “Con là tôi tớ Thiên Chúa, xin vâng như lời thiên thần truyền”.

Khi nhận thức sự khiêm tốn là điều cần có để chuẩn bị đón nhận ơn Chúa, và là điều cần có để cảm tạ Thiên Chúa, chúng ta mới hiểu: Khi giữ đạo, khi dạy đạo, khi học đạo, khi truyền đạo, chúng ta cần phải để ý đến việc đào tạo, huấn luyện tâm hồn khiêm tốn là điều hết sức cần thiết. Không có khiêm tốn, không thể đón nhận được ơn Thiên Chúa. Không có khiêm tốn, sẽ không thể cảm tạ ơn Chúa.
Lúc nãy, khi bước vào nhà thờ này, nhìn quang cảnh anh chị em trong lễ phục đẹp đẽ nghiêm trang, tôi có nói với Chúa rằng: Con xin dâng cho Chúa tất cả đoàn chiên hôm nay, với những chuẩn bị đẹp đẽ như một của lễ con dâng. Tôi đã nghe tiếng Chúa trả lời: Cha vui nhận của lễ này, nhưng đừng quên có một của lễ khác Cha cũng mong đợi vì Cha ưa thích, của lễ ấy là “tâm hồn thống hối khiêm cung”.

Khi tôi bước trên những viên gạch để tiến lên cung thánh, tôi nghe tiếng Chúa nói trong lòng tôi rằng: Con hãy là những viên gạch vô danh, để người khác đứng trên con mà cầu nguyện, để người khác bước trên con mà tiến về cung thánh. Có nghĩa là hãy khiêm tốn, hãy chôn vùi mình trong việc phụng sự Thiên Chúa và giúp đỡ tha nhân, như những viên gạch âm thầm vô danh, chỉ có Chúa biết công trạng của mình.

Anh chị em thân mến,

Chỉ vài phút nữa đây, con em chúng ta sẽ đón nhận ơn Chúa Thánh Thần. Để đón nhận ơn Chúa ban, điều cần là phải khiêm tốn, khiêm tốn trong tư cách, mình là con Chúa, thiếu thốn mọi sự. Mọi sự đều trông vào tay khoan dung nhân hậu của Cha trên trời. Khiêm tốn ở chỗ nhận mình đã có nhiều lỗi lầm sai sót cần phải thống hối ăn ăn. Chúng ta biết: Khiêm tốn, bao giờ cũng là cái gì ở dưới. Cái chai muốn nhận nước rót vào, cái chai phải để ở dưới. Cái chai để ở trên, người ta không thể nào có thể rót nước vào được.

Cũng như cái Micro trước mặt tôi đây, để đón nhận hơi thở tiếng nói của tôi, nó phải được để ở dưới, thấp hơn cái miệng của tôi. Nếu nó được để trên cao, ngang tầm mắt của tôi, thì nó không thể nào đón nhận được lời nói của tôi. Khiêm tốn là ở dưới, là hạ mình xuống. Có như vậy, Chúa mới ban ơn cho chúng ta.

Trong giây phút này, chúng ta nhớ Chúa ở trước mặt ta. Chúa đang mang đầy ơn, và sẵn sàng ban cho chúng ta. Nhưng Chúa nhìn vào tâm hồn mỗi người. Tâm hồn nào khiêm tốn, tâm hồn nào biết thân phận mình nghèo khó, bất xứng, tâm hồn nào khiêm tốn muốn nhận ơn Chúa, để rồi ca tụng, để rồi làm ích cho Hội Thánh và cho các linh hồn, thì Chúa sẽ ban ơn cho linh hồn ấy. Trái lại, nếu chúng ta dửng dưng, nếu chúng ta coi việc lãnh nhận ơn Chúa chỉ là một hình thức bề ngoài, chúng ta sẽ không đón nhận được ơn Chúa đâu.

Lạy Chúa Thánh Linh, con tin chúa đang ở giữa chúng con. Xin Chúa, vì công nghiệp thánh Giuse chúng con mừng lễ hôm nay, cho chúng con biết sống khiêm tốn để đón nhận ơn Chúa ban lúc này. Amen.

Bình Châu (kinh 8a), ngày 20-3-1995


 

Bùi-Tuần 0492: TẤM LÒNG BÁC ÁI 21-03-1995


 Gioan 13,31-33a;34-35

Lễ khánh thành nhà thờ-Bình Châu(k.8a)

 

Khi đến khánh thành những công trình mới của giáo xứ Bình: 21-03-1995 Bùi-Tuần 492


Khi đến khánh thành những công trình mới của giáo xứ Bình Châu, tôi đã để ý đến tình hình chung, đã xem xét những diễn biến giữa những cái mới và cũ của anh chị em:

Về đường xá, tôi thấy cái mới trổi vượt hơn cái cũ một cách rõ ràng. Về trường học, tôi thấy có một cái mới đáng kể nhất, đó là bộ mặt “trường dân lập Công Giáo”, có sự tham gia quan trọng của cha xứ, đã đem lại nhiều kết quả tốt đẹp về mặt văn hoá. Về con người, tôi thấy anh chị em ăn mặc, với những y phục đổi mới theo lối sống văn minh, và đã có những cách nhìn, cách phán đoán, theo những đòi hỏi của thời đại khoa học, đồng thời vẫn giữ được cái nề nếp truyền thống của gia đình, của thôn xóm. Về xây dựng, tôi thấy khu nhà thờ này, hầu như hoàn toàn mới: Với cung thánh mới, với tháp chuông mới, với Đài Đức Mẹ mới, và với những nét đẹp mới. Về môi sinh, tôi thấy ở đây đã có những bước tiến quan trọng, trong việc gìn giữ dòng sông bớt khỏi ô nhiễm, trong việc giữ gìn bầu khí, bớt gây tiếng động ồn ào, và biết giữ sạch sẽ nơi công cộng đường xá.

Qua mấy điểm trên đây, tôi có thể nói cái mới cái tốt đang diễn tiến tốt, lấn át những cái cũ, những cái chưa tốt.

Nhưng có một cái tôi đang xem xét, cái này cũng mới, mà nó phải mới, bởi vì trong bài Phúc Âm hôm nay, Chúa Giêsu gọi nó là cái mới: “Thầy cho chúng con một điều răn mới, là chúng con thương yêu nhau, như Thầy đã thương yêu chúng con”. Tôi không nắm vững được tình hình, nhưng tôi có cảm tưởng bầu khí bác ái yêu thương ở đây tương đối là tốt:

Cũng như xưa thánh Giuse đã cùng với Đức Mẹ tập trung lòng đạo vào lòng mến, bảo vệ Đức Kitô, Ngôi Hai Thiên Chúa làm người, thì ở đây, tôi thấy nhiều người trong anh chị em cũng đang cố gắng tập trung lòng đạo vào Đức Kitô. Đức Kitô không phải chỉ ở trên cung thánh trên bàn thờ, mà Đức Kitô đang ở trong cõi lòng của mỗi người chúng ta.

Cũng như thánh Giuse xưa đã cùng với Đức Mẹ, rất tỉnh thức bén nhạy, để nghe những gì Thiên Chúa bảo ban mình, thì ở đây tôi cũng đã thấy nhiều người trong anh chị em, rất tỉnh thức với những nguồn tin đạo đời, để biết tiếng gọi của Chúa, hầu thi hành tốt thánh ý Chúa trong cuộc đời của mình.

Cũng như thánh Giuse xưa đã cùng với Đức Mẹ rất cởi mở không phải chỉ đối với những người cùng đạo với mình, mà cởi mở đối với cả những người khác đạo với mình, như Ba Vua, như dân Ai Cập. ở đây, tôi cũng thấy anh chị em có một thái độ cởi mở đối với đồng bào xa gần, không phân biệt tôn giáo, không phân biệt có tín ngưỡng hay không có tín ngưỡng.

Cũng như thánh Giuse xưa đã cùng với Đức Mẹ sống niềm tin trong mầu sắc văn hoá dân tộc của mình, thì ở đây, tôi thấy anh chị em cũng đã biểu hiện niềm tin của mình, qua những lễ nghi, qua nghệ thuật mang bản sắc dân tộc.

Và cũng như thánh Giuse xưa đã cùng với Đức Mẹ thánh hoá bản thân mình, bằng những công việc thường ngày âm thầm, thì ở đây, tôi thấy anh chị em cũng đã thánh hoá đời mình, đang cố gắng thánh hoá mình, bằng thánh lễ đời thường, ngoài thánh lễ bàn thờ.

“Thầy cho chúng con một điều răn mới”. Điều răn mới này luôn luôn mới, có nhiều đòi hỏi mới. Thí dụ năm nay năm 1995 là “năm Quốc Tế Bao Dung”, do quyết định của Liên Hiệp Quốc.

Chúng ta sống bao dung, cũng chính là chúng ta sống bác ái. Và năm nay năm 1995 cũng là “năm bảo vệ môi sinh” theo quyết định của Hiệp Hội các nước Đông Nam Á (ASEAN). Nếu chúng ta sống tinh thần bảo vệ môi sinh, tránh cho dòng nước khỏi bị ô nhiễm, tránh cho bầu khí khỏi những tiếng ồn, tránh cho nơi công cộng đường xá khỏi những rác rưởi, thì đó là chúng ta sống bác ái.

Và năm nay cũng là “thời gian truyền giáo” theo chỉ thị của Đức Thánh Cha. Nếu chúng ta biết giúp đỡ những điểm truyền giáo, nếu chúng ta biết mở lòng ta ra với những người chưa biết Thiên Chúa, thì đó cũng là sống bác ái.

Từ hôm qua đến sáng nay, nhiều người anh chị em đã hỏi tôi, Cha còn nhớ con không? Cha có biết con không? Những câu hỏi đó đã gợi trong tôi một câu mà Thiên Chúa sẽ nói với chúng ta trong ngày phán xét: “Cha cứ dấu này mà nhận biết những ai thuộc về Cha, dấu ấy là tình yêu thương bác ái”.

Đây là một câu trả lời sẽ làm điêu đứng nhiều người, sẽ làm cho chúng ta hết sức bỡ ngỡ, bởi vì lúc ấy, tất cả những gì mà nhiều người chúng ta coi là quan trọng, sẽ sụp đổ, sẽ trở thành phù du. Chỉ có lòng bác ái mới có giá trị trước mặt Thiên Chúa. Lúc ấy, mọi sự sẽ ứng nghiệm đúng như lời Đức Kitô đã nói xưa: “Rồi đây, có những kẻ rốt hết sẽ trở nên trước hết. Và có những người ở ngoài, từ Đông chí Tây, từ Nam chí Bắc sẽ được vào Nước Trời. Còn vô số người trong nhà sẽ bị loại ra, bởi vì thiếu bác ái”.

Anh chị em thân mến,

Hôm nay, mừng thánh đường mới, với những công trình mới. Đồng thời, tôi cũng mừng 25 năm cha Giuse về nhậm xứ Bình Châu. Chúng ta hãy cảm tạ Thiên Chúa vì những ơn Chúa đã ban cho giáo xứ chúng ta, cho cha xứ chúng ta.

Thiên Chúa không nhìn vẻ bề ngoài, Thiên Chúa đang nhìn tận thẳm sâu trong tâm hồn từng người chúng ta. Người đang cân đo công phúc chúng ta qua tấm lòng bác ái. Nếu lòng ta đầy tình mến Chúa, biết sống khiêm nhường, nếu lòng ta đầy lòng yêu thương chân thành đối với những người chung quanh, thì đó là của lễ rất đẹp lòng Chúa. Và của lễ ấy sẽ rất bảo đảm cho phần thưởng vĩnh viễn trên trời của chúng ta.

Xin Thánh Giuse, xin Đức Mẹ Maria ban cho chúng ta ơn luôn biết lắng nghe tiếng Chúa gọi, để chúng ta sống Lời Chúa một cách nghiêm túc, kiên trì và khiêm tốn. Amen.

Lễ khánh thành nhà thờ Bình Châu (kinh 8a) ngày 21-03-1995


 

Bùi-Tuần 0493: NHỮNG NGƯỜI DO THÁI BẢO THỦ


KHÔNG NHẬN RA ĐỨC KITÔ 29-03-1995

 Gioan, 31-47

Châu Long (k.F1)

 

Trong mùa Chay, Phụng vụ đặt ra cho ta một vấn đề rất đáng suy: 29-03-1995 Bùi-Tuần 493


Trong mùa Chay, Phụng vụ đặt ra cho ta một vấn đề rất đáng suy nghĩ. Vấn đề đó là: Đám đông Do Thái đã không tin nhận Đức Kitô. Phúc Âm thánh Gioan đoạn 5 cho thấy: Đám đông Do Thái tra cứu Sách Thánh, mà Sách Thánh làm chứng về Đức Kitô. Họ học hỏi Maisen, mà Maisen làm chứng về Đức Kitô. Họ tìm đến Gioan, mà Gioan làm chứng về Đức Kitô. Họ chứng kiến các việc Đức Kitô làm, mà các việc đó làm chứng cho Đức Kitô.

Ấy thế, mà họ vẫn cứng lòng, không tin nhận Đức Kitô. Đây là một sự thực đáng sợ. Sự thực hãi hùng này phải được cắt nghĩa thế nào? Theo tôi, lý do chính là sự bảo thủ cố chấp của họ trong cách nhìn hẹp hòi về Thiên Chúa, đang khi Đức Kitô lại rất cởi mở.

Chẳng hạn những chi tiết sau đây:

Từ xưa, họ vẫn nghĩ rằng: Muốn là người đạo đức, thì phải xa tránh tiếp xúc với những ai họ coi là tội lỗi. Còn Chúa Giêsu lại khác. Người ân cần đón tiếp các người bị dư luận loại trừ, hơn nữa Người không ngại ăn uống với loại người như thế (Luca, 15,2). Người giải thích: “Không phải kẻ khoẻ mạnh cần đến thầy thuốc, nhưng là kẻ đau bệnh” (Luca 5,31).

Từ xưa, họ vẫn nghĩ rằng: Muốn là người đạo đức, thì phải giữ thái độ xa cách đối với người ngoại đạo. Còn Chúa Giêsu lại khác. Người đàm đạo với người ngoại một cách lịch sự cởi mở, hơn nữa, Người còn làm nhiều phép lạ cho họ, như trường hợp người đàn bà xứ Cananea (Math, 15), người sĩ quan La Mã ở Caphanaum (Math, 8).

Từ xưa, họ vẫn nghĩ rằng: Muốn là người đạo đức, thì phải đề cao người đạo mình, hạ thấp người ngoại đạo. Còn Chúa Giêsu lại khác. Người khen đức tin mấy người ngoại đạo: “Tôi chưa thấy ai trong Israel đã có đức tin mạnh như ông này” (Math 8,10.13). Hơn nữa, Người còn quả quyết: Rồi đây vô số người bên đông bên tây sẽ được nhận vào Nước Trời, còn các người thừa tự Nước Trời sẽ bị ném vào chỗ tối tăm (Math 8,11-12).

Từ xưa, họ vẫn nghĩ rằng: Muốn là người đạo đức, thì phải đến đền thờ mà dâng lễ, cầu nguyện. Còn Chúa Giêsu lại khác. Người nói: “Sẽ đến thời các người thờ phượng chân chính sẽ thờ phượng Chúa Cha trong tinh thần và trong chân lý” (Gioan 4,21-23).

Từ xưa, họ vẫn nghĩ rằng: Muốn là người đạo đức, thì phải giữ tỉ mỉ luật kiêng việc ngày Sabba, rửa tay trước khi ăn, xa tránh kẻ ngoại, vv... bởi vì Chúa sẽ phán xét họ dựa theo các luật đó. Còn Chúa Giêsu lại khác. Người cho biết đến toà phán xét, Chúa sẽ xét xử mọi người căn cứ vào tinh thần bác ái: “Ta đói, các ngươi đã cho Ta ăn...” (Math 25,35 vv..).

Từ xưa, họ vẫn nghĩ rằng: Đấng Cứu Thế phải là Đấng uy quyền, sang trọng đầy vinh quang. Còn Chúa Giêsu lại khác. Người đồng hoá mình với những kẻ nghèo hèn, khổ đau, sẽ như hạt giống phải thối đi, để có thể sinh ra mầm, mọc cây, trổ hoa, kết trái (Gioan 12,24. Math 25,40-45). Ngài đưa ra hình ảnh hạnh phúc trong Tám mối phúc rất khác với những đợi chờ của đám đông.

Trên đây là mấy chi tiết cụ thể cho thấy dung mạo của Đức Kitô là một dung mạo đầy tình bác ái nhân từ, khiêm tốn, cởi mở.

Những người bảo thủ Do Thái vốn quen nhìn Thiên Chúa chỉ với dung mạo một Đấng cao sang uy quyền, sẽ không dễ dàng thay đổi cái nhìn bảo thủ đó. Vì thế, họ đứng trước Đức Kitô, mà vẫn không nhận ra Người là Đấng Cứu Thế, được Chúa Cha sai đến.

Còn chúng ta thì sao? Chúng ta đừng vội phê phán những người Do Thái bảo thủ xưa. Có thể chính chúng ta cũng đang giống như họ, cách này cách khác. Biết đâu còn tệ hơn.

Để biết mình và để sửa mình, chúng ta cần tăng cường tinh thần cầu nguyện và chay tịnh. Nếu chúng ta không xét mình trong ánh sáng của Chúa, chúng ta sẽ không nhìn rõ thực trạng của ta đâu. Cũng thế, nếu chúng ta không nhìn Chúa trong ánh sáng của Chúa, chúng ta sẽ không thể nhìn rõ dung mạo của Chúa đâu.
Xin Chúa Thánh Linh thương ban cho chúng ta ánh sáng của Người. Xin Người biến đổi cái nhìn của ta đối với Chúa, để rồi từ đó, ta sẽ biết cách sống đạo và truyền đạo, hợp với thánh ý Chúa trong hiện tình Việt Nam hôm nay.

Châu Long (kinh F1), 29-03-1995


 

Bùi-Tuần 0494: ĐÓN NHẬN ƠN CỨU ĐỘ QUA LÒNG NHÂN ÁI


11-04-1995
Lễ Truyền Dầu
Thạnh An

 

Tuần Thánh không chỉ là thời gian chúng ta kỷ niệm công cuộc cứu: 11-04-1995  Bùi-Tuần 494


Tuần Thánh không chỉ là thời gian chúng ta kỷ niệm công cuộc cứu độ của Đức Kitô, mà còn là những ngày chúng ta đón nhận ơn cứu độ của Người.

Đức Kitô đã hoàn tất công việc cứu độ, để lại nguồn ơn vô tận. Người mong muốn mọi người tận hưởng nguồn ơn quí giá ấy. Nhưng Người không ép buộc ai. Chỉ cần người ta đón nhận. Kẻ biết đón nhận sẽ được Người ban ơn dồi dào.

Đối với một ân huệ thông thường, người ta còn phải biết đón nhận. Phương chi đối với ơn cứu độ là một ân huệ không gì so sánh được.

Chẳng ai sẽ xứng đáng. Nhưng Chúa nhìn thiện chí mỗi người. Người sẽ bằng lòng với thiện chí của ta, nếu ta cố gắng thực hiện những điều Người mong muốn. Người mong muốn gì?

Có một điều Đức Kitô tỏ ý tha thiết nhất, đáng được ta coi là cần thực hiện, để đón nhận ơn cứu độ. Điều đó là giới luật yêu thương. Người dạy: “Thầy cho các con một điều răn mới là các con hãy thương yêu nhau, như Thầy đã yêu thương các con” (Gioan 13,34). Đức Kitô coi tình yêu thương nhau là đặc điểm riêng của các môn đệ Người: “Người ta cứ dấu này mà nhận biết các con là môn đệ Thầy là các con yêu thương nhau” (Gioan 13,35).

Điều quan trọng Đức Kitô nhấn mạnh là “hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương các con” (Gioan 15,12).

Tình yêu thương của Đức Kitô là tình yêu thương thăng tiến và chia sẻ. Hãy nhìn Đức Kitô trong phép Thánh Thể và hãy nhớ lại lời Người: “Thầy không gọi các con là tôi tớ nữa, vì tôi tớ không biết việc chủ làm. Thầy gọi các con là bạn hữu, vì tất cả những gì Thầy biết nơi Cha, thì Thầy đã tỏ cho các con biết” (Gioan 15,15). “Thầy đến, để các con có sự sống, và sự sống dồi dào hơn” (Gioan 10,10).

Ngoài ra, tình yêu thương của Đức Kitô là tình yêu thương khiêm tốn. Hãy nhìn Đức Kitô quì rửa chân cho các môn đệ, và hãy nhớ lại lời Người: “Nếu Thầy là Chúa và là Thầy, mà còn rửa chân cho các con, thì các con cũng hãy rửa chân cho nhau. Thầy đã làm gương để các con bắt chước mà làm như vậy cho nhau” (Gioan 13,14-15). “Các vua chúa thế gian dùng quyền lực để lãnh đạo, kẻ trị dân như thế lại tự cho mình là ân nhân của dân. Chúng con không được phép xử sự như thế. Ai lớn hơn trong các con phải kể mình như kẻ thấp kém nhất. Và kẻ nào cai trị phải coi mình như đầy tớ hầu hạ” (Luca 22,25). “Con Người đến, không phải để được hầu hạ, nhưng đến để phục vụ và hiến mạng sống mình làm giá cứu chuộc” (Marcô 10,45).

Do đó, tình yêu thương của Đức Kitô là tình yêu thương chấp nhận hy sinh đến cùng. Hãy nhìn Đức Kitô vác thánh giá, chết trên thánh giá, và hãy nhớ lại lời Người: “Không ai có tình yêu lớn hơn kẻ hy sinh mạng sống mình vì bạn hữu mình” (Gioan 15,13). “Thực, Thầy nói thực với các con, nếu hạt lúa không rơi vào đất và bị thối đi, nó sẽ chỉ đơn độc. Nhưng nếu nó thối đi, nó sẽ mang nhiều hoa trái” (Gioan 12,24).

Một tình yêu thương như thế của Đức Kitô chính là tình yêu thương hiệp nhất với Chúa Cha và với nhân loại. Hãy nhìn Đức Kitô trong thánh lễ, và hãy nhớ lại lời Người: “Thầy là cây nho, các con là ngành, ai ở trong Thầy, như Thầy ở trong kẻ ấy, kẻ ấy sẽ sinh nhiều hoa trái” (Gioan 15,5). “Lạy Cha, xin Cha gìn giữ trong danh Cha những kẻ Cha đã trao cho con để họ nên một như chúng ta” (Gioan 17,11). “Chớ chi mọi người hợp nhất nên một, như Cha ở trong con và như con ở trong Cha. Họ cũng ở trong chúng ta như vậy” (Gioan 17,21).

Tình yêu Đức Kitô như trời cao vời vợi, như biển cả bát ngát. Suy không thấu. Nói không cùng. Nhưng ít ra chúng ta cũng phải cố gắng bắt chước những gì mà Người tha thiết kêu gọi ta làm theo, những gì của tình yêu thương ấy đã biến bản thân Người thành một thánh lễ sinh hiệu quả cứu chuộc.

Chỉ khi nhìn rõ sự thực ấy, chúng ta mới biết đón nhận ơn cứu độ, và mới biết cộng tác với Chúa vào việc đem ơn cứu độ đến cho những người khác.

***

Tôi có cảm tưởng là hiện nay đã đến thời Hội Thánh Việt Nam bị thử thách về đức ái nhiều hơn là về đức tin. Hiện nay đã đến thời đức tin tại Hội Thánh Việt Nam chỉ có sức truyền giáo, khi đức tin được phiên dịch ra đức yêu thương đối với con người, nhất là đối với những kẻ lầm lỡ, khó nghèo, dốt nát, bị ruồng bỏ. Hiện nay đã đến thời, việc dạy giáo lý tại Hội Thánh Việt Nam cần để ý đến việc huấn luyện cái tâm nhiều hơn là đào sâu cái lý.

Từ mấy tháng nay, các thông tin đại chúng loan ra nhiều tin không lợi cho tôn giáo. Chẳng hạn như các cuộc chiến có dính líu đến tôn giáo, các cuộc khủng bố do giáo phái, các vụ kết án tử hình do toà án tôn giáo, các cuộc phô trương tôn giáo gây tốn phí và chia rẽ. Một tình hình như thế này thiết tưởng chỉ có thể cải thiện được bằng việc chúng ta dùng chính đời sống mình giới thiệu dung mạo một Đức Kitô đầy tình yêu thương, dung mạo một Hội Thánh của Đức Kitô đầy tình thương xót, và dung mạo một hàng giáo phẩm, giáo sĩ rao giảng lòng nhân ái, để giúp mọi người đón nhận ơn cứu độ.

Lòng nhân ái chính là cửa để đón nhận ơn cứu độ. Bởi vì Chúa hứa: “Các con đong bằng đấu nào, thì cũng sẽ được đong trả bằng đấu ấy” (Lc 6,38).

Lễ Truyền Dầu tại Thạnh An ngày 11-04-1995.

+ Gioan B. BÙI-TUẦN, giám mục phó giáo phận Long Xuyên


 

Bùi-Tuần 0495: TẠ ƠN CHÚA 29-03-1995


Gioan, 5,17-30

Ngọc Thạch (Kinh B Chợ)

 

Sáng sớm hôm qua, khoảng lúc 6 giờ 45, đang khi tôi bước lên cầu: 29-03-1995 Bùi-Tuần 495


Sáng sớm hôm qua, khoảng lúc 6 giờ 45, đang khi tôi bước lên cầu thang để về phòng làm việc, thì chợt nghe có tiếng người gọi ở sân. Tôi vội trở xuống. Tôi gặp một người thanh niên lạ mặt đứng đợi sẵn đó. Tôi hỏi: Anh ở đâu tới. Người đó thưa: Con ở xứ Cha Phổ. Tôi hỏi thêm: Anh đến đây có chuyện gì vậy? Người đó thưa: Con đi trị bệnh, hết sạch tiền bạc. Xin cha thương giúp cho đôi chút.

Cuộc gặp gỡ ngắn ngủi này đã gây trong tôi một tâm trạng buồn. Tôi buồn cho người thanh niên nghèo đó. Và nhất là tôi buồn cho chính tôi. Bởi vì đây là một yêu cầu bé nhỏ, nhưng tôi đã không đáp ứng được như lòng người ta mong ước. Cái tâm trạng buồn này gợi cho tôi nghĩ tới biết bao nhiêu người cũng đã có những khát vọng này, yêu cầu kia được Chúa gởi tới tôi, nhưng tôi đã không giải quyết, hoặc cách giải quyết của tôi đã không làm vừa lòng mọi người. Tôi có cảm tưởng là các linh mục của tôi cũng đã có kinh nghiệm buồn đó. Và tôi xin chân thành chia sẻ với anh chị em những trường hợp không vui ấy.

Nhưng điều đáng nói ở đây là chính Đức Kitô cũng đã từng trải qua những kinh nghiệm ấy.

Bài Phúc Âm hôm nay nói rõ: Đức Kitô làm phép lạ, chữa lành một người bệnh tật ngày Sabba, tưởng rằng phép lạ thăng tiến con người, sẽ là việc tốt. Nhưng ai ngờ chính vì phép lạ ấy mà Đức Kitô đã bị chỉ trích, đã bị kết án.

Trước những lời kết án ấy Đức Kitô đã phản ứng một cách nhẹ nhàng. Người chỉ nói: Rồi đây mọi người sẽ phải chết, sẽ phải đến trước toà phán xét. Đấng phán xử tối cao sau cùng chính là Thiên Chúa. Ai làm việc lành sẽ được thưởng đời đời. Ai làm việc dữ sẽ bị kết án muôn kiếp.

Rồi Đức Kitô kết luận: Tôi không làm theo ý riêng tôi. Tôi chỉ tìm làm theo ý Đấng đã sai tôi.

Khi đọc lời nói trên đây của Đức Kitô, tôi đã hỏi Đức Kitô rằng: Lạy Chúa, tìm thánh ý Chúa, Đấng sai chúng con, đó là đường hướng tu đức, đó là đường hướng mục vụ của chúng con, đó là lý tưởng, là khẩu hiệu của chúng con. Nhưng chúng con muốn biết thánh ý Chúa, Đấng sai chúng con, là thế nào? Và Chúa soi sáng trong lòng tôi cho thấy: Thánh ý Chúa, khi sai chúng tôi đi, là muốn chúng tôi làm chứng về Đức Kitô, Đấng cứu chuộc loài người, Đấng thăng tiến con người một cách hiền lành, một cách khiêm nhường, và với tất cả tình yêu thương xót.

Rồi Chúa dẫn trí khôn tôi đến ba hình ảnh trong nhà thờ: Một là hình ảnh Đức Kitô trong Nhà Tạm. Hai là hình ảnh Đức Kitô treo trên thánh giá. Ba là hinh ảnh Đức Kitô trong mười bốn chặng đàng. Cả ba hình ảnh ấy đều giới thiệu một Đức Kitô cứu chuộc loài người, một Đức Kitô thăng tiến con người, một Đức Kitô hiền lành, khiêm tốn, giàu lòng thương xót.

Rồi Chúa bảo tôi rằng: Nếu con, nếu chúng con những người được sai đi, cố gắng xây dựng con người trở thành những người giống Đức Kitô hiền lành, khiêm nhường, giàu lòng thương xót, cố gắng để được cứu độ, cố gắng làm hết sức mình để thăng tiến con người, thì Cha coi đó là những công trình cao quí nhất, là những công trình đẹp đẽ nhất. Và lúc ấy, chính các con sẽ là công trình đẹp lòng Cha nhất. Trong khi xây dựng công trình con người theo mô hình của Đức Kitô, để trở nên Đức Kitô Đấng cứu độ muôn đời, hiền lành, khiêm tốn, giàu lòng thương xót, thì tất nhiên ta cần phải được thanh luyện bằng những khổ đau, phải đi qua con đường thánh giá.

Tôi vẫn xác tín điều này: Không thể cứu độ con người, không thể thăng tiến con người, nếu không đi qua con đường thánh giá. Mà nếu trong đời mình, Chúa có gởi cho mình thánh giá, thì tôi coi đó là một hồng ân lớn, mà tôi không bao giờ quên hết lòng tạ ơn Chúa.

Tôi nói điều này trong tất cả sự chân thành. Không phải những thành công bề ngoài là những điều tôi nhớ để tạ ơn Chúa, mà thường là những cái đau buồn, những yếu đuối, những vấp ngã, những cái làm cho mình phải ê chề. Tất cả đều được tôi coi là những hồng ân Chúa ban cho, để tôi góp phần nào cứu độ con người mà Chúa đã chọn tôi làm người cộng tác.

Anh chị em thân mến,

Với cái nhìn trên đây về ơn gọi của Đức Kitô, tôi đến đây cùng dâng lễ với Cha Sêbastianô trong mục đích tạ ơn Thiên Chúa. Tạ ơn Thiên Chúa, vì Chúa đã chọn ngài cộng tác vào chương trình xây dựng con người, để chúng ta trở thành những người giống Đức Kitô. Đó là công trình đẹp nhất tôi tạ ơn Chúa cách đặc biệt. Bởi vì chính Cha Sêbastianô cũng là một công trình của Thiên Chúa, một công trình mà Chúa chọn, một công trình mà Chúa xây dựng, một công trình mà Chúa thanh luyện, một công trình mà Chúa hằng nâng đỡ ủi an.

Chúng ta hết thảy đều là những con người có công phúc, có yếu đuối lỗi lầm. Nhưng vì là con người trong thân phận người con Thiên Chúa, chúng ta không nên băn khoăn gì. Hãy luôn yêu mến Chúa hết lòng. Hãy phó thác hết mọi sự trong bàn tay thương xót của Chúa. Chúa chỉ cần thế thôi, để chúng ta biết đón nhận ơn trở về, và ơn tin vào sức mạnh phục sinh của Đức Kitô.

Lạy Đức Kitô, xin nhận lấy tấm lòng tạ ơn của chúng con. Amen.

Ngọc Thạch (Kinh B Chợ), ngày 29-03-1995


 

Bùi-Tuần 0496: NHÌN LÊN ĐỨC KITÔ PHỤC SINH 16-04-1995

lễ Phục Sinh

Long Xuyên

 

Từ vài năm nay, tại Việt Nam, nhiều nhà thờ đã trưng bày trên cung: 16-04-1995 Bùi-Tuần 496


Từ vài năm nay, tại Việt Nam, nhiều nhà thờ đã trưng bày trên cung thánh tượng Chúa Giêsu sống lại, hoặc tay cầm thánh giá nhỏ, hoặc lưng tựa vào cây thánh giá lớn. Đây là một sáng kiến gợi ý. Bởi vì sự phục sinh của Đức Kitô không tách rời khỏi thánh giá. Hơn nữa, nhờ việc Đức Kitô sống lại, cây thánh giá không còn là biểu tượng một sự thất bại, mà đã trở thành dấu chỉ một sự chiến thắng: Tình yêu Thiên Chúa đã thắng.

Thực vậy, khi các thượng tế và luật sĩ chủ mưu tiêu diệt Đức Kitô bằng bản án thập giá, họ ghét con người Đức Kitô thì ít, mà ghét chủ trương đường lối của Đức Kitô thì nhiều. Chủ trương của Người là bác ái, đường lối của Người là cởi mở, bao dung, để phản ánh dung mạo thực của Thiên Chúa là tình yêu giàu lòng thương xót. Chủ trương đường lối ấy không phù hợp với họ. Hơn nữa, chủ trương đường lối ấy đã đụng chạm tới cái tôi ích kỷ, hẹp hòi và tự mãn của họ. Đó chính là những động lực thúc đẩy họ tiêu diệt Đức Kitô. Thiết tưởng trong họ cũng có chúng ta. Đừng quên điều đó.

Dù bị kết án oan, và dù biết mình có sức thoát được cuộc tử nạn, Đức Kitô vì yêu thương vẫn để cho các làn sóng hận thù, ghen ghét vùi giập Người cho đến chết. Kiêu căng, ích kỷ xem như đã thắng. Thập giá coi như dấu ấn thất bại dành cho Đức Kitô.

Nhưng không phải thế. Cái chết trên thánh giá không là tiếng nói sau cùng. Bởi vì Đức Kitô đã sống lại vinh hiển. Khi sống lại rồi, Đức Kitô không oán thù ai, không phô trương gì. Người vẫn tiếp tục theo đuổi đường lối chủ trương bác ái, khiêm nhường, bao dung như trước. Người vẫn dạy các môn đệ Người hãy sống như Người đã dạy và đã làm gương.

Tình thương mới có sức cứu độ. Bác ái mới có sức phục sinh.

Như vậy, nhờ sự Đức Kitô sống lại, cây thánh giá đã trở thành Tin Mừng làm chứng cho một tình yêu chiến thắng. Chiến thắng bằng những phấn đấu gay go, dũng cảm và kiên trì, chống lại những tội lỗi và những khuynh hướng xấu, và bằng những việc làm bác ái cởi mở, bao dung, thăng tiến có kế hoạch, chấp nhận hy sinh.
Hiểu như thế, ta sẽ có một cái nhìn cầu nguyện về Đức Kitô phục sinh.

Nhìn lên Đức Kitô phục sinh, ta chúc tụng Người. Vì Người giảng dạy thế nào, thì Người đã sống và chết như vậy. Thiên Chúa đã làm cho Người sống lại, chứng tỏ những điều Người giảng là chân lý, cách sống của Người là con đường dẫn tới phục sinh, thánh giá của Người là nguồn ơn cứu độ.

Nhìn lên Đức Kitô phục sinh, ta tin vào Người, vì Người thương ta vô cùng. Từ nay, dù ta là ai, dù trong hoàn cảnh nào, ta vẫn có quyền tin tưởng ta được Đức Kitô lắng nghe, đón nhận và yêu thương. Người là Đấng Cứu độ giàu tình thương xót. Người đến, để ta có sự sống và được sống dồi dào.

Nhìn lên Đức Kitô phục sinh, ta nói với Người niềm vu

i của ta. Vì nhờ ơn Người, bao người như đã chết trong thất vọng nay được hy vọng, bao người như đã chết trong cảnh tối tăm lầm lạc nay được ánh sáng chân lý, bao người như đã chết trong cảnh cô đơn đoạ đày nay được chia sẻ và vươn lên.

Nhìn lên Đức Kitô phục sinh, ta cảm tạ Người. Vì theo gương Người, vô số người đã biết tha thứ, đã biết hoà giải, đã biết sống hiền lành khiêm nhường, đã biết dấn thân thăng tiến đồng bào, hồi sinh dân tộc, giúp đất nước đi về một tương lai hoà bình, văn minh, chan hoà tình liên đới.

Nhìn lên Đức Kitô phục sinh, ta cầu xin với Người. Xin Người luôn giúp ta thoát khỏi tính ích kỷ, tự mãn, hẹp hòi, trì trệ, thành kiến xấu, là những xiềng xích lôi ta tụt hậu, đi vào cõi chết tinh thần. Xin Người biến đổi trái tim ta nên nhạy bén, tế nhị, bao dung, luôn tỉnh thức, biết lợi dụng những thánh giá đời thường, để được thanh luyện, để biết cảm thông, để biết phấn đấu dũng cảm kiên trì cho mọi chương trình phục sinh. Xin Người phục sinh trong ta những nhân đức đã chết. Xin Người chia sẻ sang ta ngọn lửa bác ái của Người, để trái tim ta trở thành ngọn đèn phục sinh, thắp sáng niềm hy vọng, làm chứng cho sức mạnh tình yêu cứu độ của Đức Kitô.

Nhìn lên Đức Kitô phục sinh, ta yêu mến Người, ta hứa bước theo Người, ta hân hoan thuộc về Người.

Và giờ đây, nhìn lên Đức Kitô phục sinh, tôi xin thân ái cầu chúc anh chị em một lễ phục sinh đầy phúc lành của Thiên Chúa là Cha và là Đấng Cứu độ giàu tình yêu thương xót.

* Gioan B. BÙI TUẦN


 

Bùi-Tuần 0497: CHUẨN BỊ ĐÓN NHẬN ƠN CỨU ĐỘ 13-04-1995


 thứ năm Tuần Thánh

Long Xuyên

 

Khi bước vào tối thứ năm Tuần Thánh tôi cảm thấy đau buồn. Tôi: 13-04-1995 Bùi-Tuần 497


Khi bước vào tối thứ năm Tuần Thánh tôi cảm thấy đau buồn. Tôi thấy một bên là Chúa Giêsu và một bên là các thầy cả thượng phẩm.

Nhìn bên Chúa Giêsu, tôi thấy toàn là yêu thương và khiêm nhường. Tình yêu thương khiêm nhường của Người đã được thực hiện bằng những việc cụ thể, đó là quì xuống rửa chân cho các môn đệ, lập phép Truyền chức và phép Thánh Thể. Thêm vào đó là giới luật yêu thương và các lời giảng dạy bác ái. Sau cùng là việc tự ý nộp mình để bị bắt, hầu làm giá chuộc tội cho nhân loại.

Còn nhìn bên các thầy cả thượng phẩm, tôi thấy có nhiều hận thù và tự mãn. Lòng ghen ghét, kiêu căng của các ông được tỏ rõ qua những âm mưu đen tối, những kết án bất công, những vận động chống Đức Kitô, những thái độ hả hê trước cảnh Đức Kitô bị nhục, bị giết.

Điều tôi cho là rất đáng sợ, đó là các thầy cả thượng phẩm ấy đã nhân danh Thiên Chúa và chiếu theo luật đạo mà kết án Đức Kitô.

Có nghĩa là chính những kẻ hữu thần đã giết Đức Kitô. Họ hữu thần, họ tin thờ Thiên Chúa, nhưng họ đã tha hoá, đã thoái hoá, đã xuống cấp.

Thảm kịch này đã xảy ra cách đây gần 2.000 năm. Nhưng xem ra vẫn tiếp diễn đó đây cho đến bây giờ. Tôi nói như vậy là để anh chị em nhận ra nguy cơ lớn nhất và đáng lo ngại nhất đang đe doạ đạo Công Giáo chúng ta. Chúng ta nên tìm nguy cơ đó trong chính các kẻ hữu thần, trong chính Hội Thánh, trong chính các cộng đoàn đức tin, trong chính mình ta. Bao lâu chúng ta còn giữ thói quen kính thờ Thiên Chúa vì vụ lợi, muốn Người phục vụ những nhu cầu theo sở thích riêng của ta, bao lâu chúng ta vẫn không cố gắng bỏ đi cái tôi ích kỷ hẹp hòi tự mãn của mình, chúng ta vẫn còn đóng vai kẻ loại trừ Đức Kitô, mặc dầu chúng ta không có ý thức rõ ràng điều đó.

Cùng với nhận định trên đây, tôi xác tín rằng: Mỗi người chúng ta đều ở trong tình trạng cần phải cứu độ. Chỉ Đức Kitô là Đấng cứu độ chúng ta. Chỉ Người mới cứu được chúng ta. Chứ không phải một quyền lực chính trị nào. Càng không phải sức mạnh của tiền bạc, của hoàn cảnh hay của bất cứ kế hoạch nào.

Chúng ta sẽ đón nhận được ơn Chúa cứu độ, nếu chúng ta sám hối sửa mình, như khiêm tốn nhận mình yếu hèn tội lỗi, mở rộng lòng mình ra để sống bác ái đối với mọi người, quyết tâm sẽ không làm hại ai về của cải tinh thần và vật chất của họ, dốc lòng chu toàn bổn phận của mình, để phục vụ tối đa lợi ích chung, và nhất là nếu chúng ta hết lòng tin mến Chúa.

Mong rằng vài tư tưởng trên đây sẽ giúp chúng ta tham dự tích cực các lễ nghi Tuần Thánh, khởi sự từ lễ nghi rửa chân bây giờ.

Lạy Chúa Giêsu là Đấng cứu độ chúng con, xin Người thương rửa tâm hồn chúng con, và mở rộng lòng chúng con, để chúng con biết đón nhận ơn cứu độ, hiệp thông với Chúa đến muôn đời. Amen.

* Gioan B. BÙI TUẦN


 

Bùi-Tuần 0498: TRUYỀN GIÁO BẰNG TRÁI TIM 20-4-1995


 Lc. 24,48

Hoà Giang (Kiên Lương)

 

Các con hãy làm chứng nhân về những việc đó: Đây là một mệnh lệnh truyền giáo: 20-4-1995 Bùi-Tuần 498


“Các con hãy làm chứng nhân về những việc đó”.

Đây là một mệnh lệnh truyền giáo. Mệnh lệnh truyền giáo này được trao cho mười hai tông đồ, mà cũng được trao cho tất cả chúng ta, cho từng cá nhân, cho từng cộng đoàn.

Truyền giáo, cũng chính là cái tên của địa phương chúng ta đây. Bởi vì trong quá khứ, các họ đạo thuộc vùng này đã được thành hình do công việc truyền giáo. Và trong hiện tại, sức sống đạo của mỗi cộng đoàn tại đây được phát triển tốt, cũng là nhờ mở ra về phía truyền giáo.

Vì thế, khi đi thăm các họ đạo vùng này, tôi hay quan sát xem: Mỗi họ đạo đã thu hoạch được những kết quả nào về truyền giáo. Và những kết quả truyền giáo ấy đã được thành hình do những nguyên nhân nào?

Nói chung thì các họ đạo vùng này đều đã thu hoạch được một số kết quả tốt về truyền giáo.

Chẳng hạn như tăng số tân tòng, tăng số những người trước kia rối rắm nay được tháo gỡ, tăng số những người trước kia nguội lạnh, nay trở nên sốt sắng, tăng số những người trước kia ác cảm dửng dưng với đạo công giáo, nay trở nên có thiện cảm với chúng ta, tăng số những người trước kia không để ý gì đến đức tin công giáo, nay bỗng muốn tìm hiểu đạo công giáo.

Tôi cho những kết quả trên đây là rất đáng mừng về phương diện truyền giáo. Và tôi tự hỏi những kết quả đáng mừng này do những nguyên nhân nào mà có?

Tôi thấy có nhiều nguyên nhân, nhưng nguyên nhân chính, đó là trái tim con người đã được thay đổi.

Trong lãnh vực truyền giáo bao giờ chúng ta cũng thấy: Trước hết là quyền năng trái tim Thiên Chúa giàu lòng thương xót ban ơn cứu độ. Hai là lửa bác ái: Mến Chúa yêu người nơi các tông đồ luôn mở ra để chia sẻ Tin Mừng cứu độ cho những người xung quanh. Ba là khả năng cởi mở của đồng bào mà mình chung sống.
Như vậy khi nhìn cánh đồng truyền giáo đang có những cây xanh tươi tốt mọc lên, bao giờ tôi cũng thấy: Trước hết là Trái Tim Đức Kitô rộng mở. Bên cạnh là trái tim các tông đồ rộng mở. Liền đó là trái tim các đồng bào cũng rộng mở.

Giữa những trái tim này luôn luân chuyển, hiệp thông một sức sống bác ái từ tình yêu sung mãn nơi trái tim Chúa, chuyển đến trái tim các tông đồ, đến trái tim của những người lương, của những tân tòng. Rồi, cuối cùng lại trở về với Thiên Chúa. Dòng sông bác ái đó luôn hiệp thông với nhau và luôn phát triển.

Như vậy, truyền giáo chính là chuyện của các trái tim.

Tôi đã có dịp gặp một số tông đồ giáo dân ở đây. Qua trao đổi, tôi thấy nhiều giáo dân, tuy học hành về đạo về đời chẳng được bao nhiêu, nhưng lại có một trái tim giàu lòng mến Chúa, quảng đại yêu người, hiền lành khiêm tốn, luôn cởi mở bén nhạy trước những khổ đau của những người xung quanh, biết kính trọng nhân phẩm, tài sản, tư tưởng, quan điểm tôn giáo của những người khác, và sẵn sàng đáp ứng khi người ta có những nhu cầu.

Chính những trái tim đó đã đánh động được trái tim của những người ngoài công giáo. Cho nên có thể nói rằng: Bí quyết của truyền giáo là trái tim. Dụng cụ truyền giáo là trái tim. Chìa khoá truyền giáo là trái tim, một trái tim giống như trái tim Chúa Giêsu hiền lành, khiêm nhường, bác ái, bao dung.

Nhận định như vậy, cho nên trong Hội Thánh ngày nay vẫn tiếp tục mở những khoá tĩnh tâm dành cho những tông đồ truyền giáo. Trong những khoá tĩnh tâm này, người tông đồ được hướng dẫn, thanh luyện, tẩy rửa trái tim mình, để thoát khỏi những dơ bẩn của tính ích kỷ, của tính kiêu căng, của những ham muốn không tốt. Và trong những cuộc tĩnh tâm này, người tông đồ được hướng dẫn, chiêm ngắm tình yêu Thiên Chúa, chiêm ngắm dung mạo của Thiên Chúa tình yêu. Họ nhìn Người, tâm sự với Người, gặp gỡ Người lâu ngày, lâu giờ, để cho tâm tình cứu độ bao dung của đức Kitô thanh luyện trái tim người tông đồ, để rồi sau đó, khi ra đi đến với cánh đồng truyền giáo, người tông đồ sẽ có một cái nhìn đầy tình yêu bác ái bao dung đối với tha nhân như Đức Kitô.
Và thời gian sau những khoá tĩnh tâm như vậy, họ thường xuyên tự bồi dưỡng chính mình bằng những giờ cầu nguyện trước Mình Thánh. Họ chiêm ngưỡng Đức Kitô bé nhỏ khiêm tốn hiền lành bao dung, trong nhà thờ này, trong nhà nguyện này. Họ nhìn Đức Kitô thương yêu người ta đến nỗi phó mạng sống mình, để chịu đóng đinh vì người khác, để chịu chết thay cho người khác.

Khi trái tim người tông đồ được bồi dưỡng thường xuyên như vậy, thì theo tôi, họ sẽ là cái chìa khoá có thể mở mọi trái tim, có thể mở hết mọi tấm lòng.

Anh chị em thân mến,

ở thời đại này, Việt Nam đang phát triển. Nhưng tôi có cảm tưởng là người ta chú ý phát triển nhiều về trí óc, về văn minh, về của cải, nhưng ít chú ý phát triển về cái tâm, về trái tim.

Chúng ta cũng biết rằng: Nền văn hoá dân tộc Việt Nam có cái gốc rất sâu là lòng nhân. Cũng như nền đạo đức Phúc Âm có cái gốc rất sâu, rất chắc, là đức ái. Nhưng trong thời đại này, cả ngoài đời lẫn trong đạo, nhiều khi mình lại lãng quên việc vun trồng cái nhân, vun trồng đức ái, mà chỉ để ý đến hình thức bề ngoài, lo phát triển bề ngoài. Thành ra tôi sợ, nếu cứ đà này, tôn giáo chúng ta không chịu thức tỉnh, thì chúng ta sẽ làm mất bản chất cao quý của Tin Mừng, và sẽ có tội đối với Đức Kitô, Đấng đã trao cho chúng ta nhiệm vụ phải làm chứng cho Tin Mừng, Tin Mừng đó là tình yêu Thiên Chúa.

Đức Thánh Cha Phaolô VI, cũng như Đức Thánh Cha Gioan-Phaolô II bây giờ, luôn luôn mong muốn thiết lập trên thế giới một nền văn minh, mà các Ngài gọi là nền văn minh của tình yêu.

Tôi cũng thế thôi. Tôi chỉ mong muốn rằng: Chúng ta phát triển về nền văn minh khoa học vật chất, nhưng đừng quên phát triển một nền văn minh của trái tim, của tình yêu. Vì nếu không có tình yêu, không có bác ái, không có trái tim, tất cả những sự phát triển khác sẽ đưa nhân loại, kể cả chúng ta, và Hội Thánh chúng ta đến sự suy thoái và tự huỷ.

Anh chị em thân mến,

Trong lễ hôm nay, chúng ta thấy truyền giáo là rao giảng, là chứng cho tình yêu Thiên Chúa cứu độ.

Như tôi đã nói: Khí cụ truyền giáo là trái tim. Chìa khoá truyền giáo là trái tim. Bí quyết truyền giáo là trái tim, một trái tim được đào tạo trong trường trái tim của Chúa Giêsu, một trái tim khiêm nhường bác ái, bao dung, một trái tim không theo kiểu thế gian, mà là một trái tim có hướng đi lên tới Thiên Chúa.

Xin Chúa Thánh Linh hôm nay, giúp chúng ta hiểu được sứ mạng truyền giáo trong thời đại Việt Nam hôm nay, để chúng ta, không bao giờ phản bội lại sứ mạng truyền giáo Tin Mừng, mà luôn biết làm chứng cho tình yêu Thiên Chúa, bằng những khả năng và những sáng kiến Chúa ban cho chúng ta, với tầm mức chúng ta có thể đón nhận được, và chúng ta có thể thực hiện được. Amen.

Hoà Giang (Kiên Lương), ngày 20-4-1995

Nhà thờ Chánh Toà Long Xuyên


 

Bùi-Tuần 0499: CON ĐƯỜNG 20 NĂM QUA 30-04-1995


Long Xuyên

 

Hôm nay tôi có một chia sẻ riêng tư, xin được gửi tới anh chị em: 30-04-1995 Bùi-Tuần 499


Hôm nay tôi có một chia sẻ riêng tư, xin được gửi tới anh chị em.

Cách đây 20 năm, tức ngày 30-04-1975, tôi đã được thụ phong Giám Mục để làm phó Đức Cha Micae, phụ trách giáo phận Long Xuyên này.

Thánh lễ thụ phong đã được cử hành đơn giản tại nhà thờ nhỏ của họ đạo Long Xuyên lúc 13 giờ trưa, với khoảng 60 người tham dự. Trong thánh lễ đã đọc sắc phong của Đức Thánh Cha Phaolô VI ký ngày 15-04-1975.

Thánh lễ hôm đó đã đặt trên vai tôi một trách vụ rất khó khăn, rất bất ngờ. Tôi có cảm tưởng là Chúa trao nộp tôi cho một tình hình quá mới lạ, mà tôi không biết trước phải chuẩn bị thế nào, và cũng không biết sẽ ra làm sao.

Trong cô đơn, tôi đã hỏi Chúa: “Nếu Chúa ở trong hoàn cảnh này của con, Chúa sẽ làm gì?” Chúa đã trả lời tôi bằng cách cho tôi nhớ lại hai lời Người đã dạy các môn đệ tối thứ năm Tuần Thánh. Lời thứ nhất là: “Ai ở trong Thầy, và Thầy ở trong kẻ ấy, kẻ ấy sẽ sinh được nhiều hoa trái” (Gioan 15,5). Lời thứ hai là: “Thầy cho các con một điều răn mới, là các con hãy yêu thương nhau, như Thầy đã yêu thương các con” (Gioan 13,34).
Đó là Lời Chúa, đó là thánh ý Chúa, đó là những gì rõ nhất Chúa muốn tôi thực hiện, để đi theo Chúa với chức vụ mới, trong hoàn cảnh mới của lịch sử đất nước.

Hai Lời Chúa trên đây đã là nền tảng cho việc đào tạo nhân sự, mà tôi vốn đặt lên hàng ưu tiên trong 20 năm nay. Việc đào tạo này được cụ thể hoá bằng 05 tiêu chuẩn sau đây:

1- Lửa mến Chúa phải thực sự là nguồn gốc thúc đẩy mọi hành vi, thái độ, và lời nói.

2- Đức tin vào Lời Chúa mạc khải phải thật sự là ánh sáng soi dẫn mọi lựa chọn.

3- Hội Thánh phải ưu tiên được xây dựng và làm chứng bằng tinh thần hiệp thông bác ái giữa các thành phần dân Chúa.

4- Tinh thần truyền giáo phải được mở ra về phía đồng bào ngoài Công Giáo bằng việc thực thi bác ái, bao dung, tỉnh thức trước mọi hy vọng và khổ đau của bất cứ ai.

5- Tin Mừng cứu độ phải được chia sẻ rộng rãi bằng cách mọi người của Hội Thánh tích cực dấn thân thăng tiến đồng bào, bảo vệ quê hương, làm cho đất nước tiến lên một nền văn minh cao của trí tuệ và của trái tim.

Trên đây là con đường Chúa đã dẫn tôi đi. Tôi nghĩ là đã đến lúc tôi phải nói rõ sự thật đó.

Nếu có gì tôi phải hối tiếc, thì tôi cũng hối tiếc những gì mà Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã hối tiếc trong tông thư của Ngài, khi Ngài đề cập đến vấn đề truyền giáo trong quá khứ ở một số nơi của Hội Thánh: Đó là thiếu bao dung, thiếu công bình, thiếu nhiệt huyết, thiếu sự làm chứng cho dung mạo thực của Đức Kitô là Đấng hiền lành, khiêm nhường, đầy tình yêu thương xót (tông thư “Tiến tới thiên niên kỷ thứ ba” 1994).

Hôm nay, trong bầu khí đặc biệt của đất nước, tôi xin cảm tạ Chúa, chúc tụng Chúa vì mọi ơn lành Chúa đã ban cho Quê Hương, cho Hội Thánh Việt Nam.

Nhân dịp trọng đại này, tôi muốn nói lên niềm tin vô biên của tôi vào Thiên Chúa là tình yêu cứu độ, lòng hiệp thông của tôi trong Hội Thánh, và lòng gắn bó của tôi đối với dân tộc và đất nước.

Xin Chúa giúp cho mọi người chúng ta trở thành “Khí cụ bình an” của Chúa, trong một nước Việt Nam đang phát triển.

Giám Mục Phó Giáo Phận Long Xuyên

Gioan B. BÙI TUẦN


 

Bùi-Tuần 0500: HUẤN LUYỆN ĐỨC TIN 06-05-1995

 Gioan 6,61-70

Tân Thành (k.4b)

 

Bài Phúc Âm hôm nay kể lại chi tiết này: Sau khi nghe Đức Kitô: 06-05-1995 Bùi-Tuần 500


Bài Phúc Âm hôm nay kể lại chi tiết này: Sau khi nghe Đức Kitô giảng, một số môn đệ đã rút lui, đã bỏ Người, đã không còn tiếp tục đi theo Người.

Trước cảnh đáng buồn đó, Đức Kitô đã giải thích rằng: “Không phải mọi người đều có thể đến với Thầy, nhưng chỉ những ai được Chúa Cha ban ơn mà thôi”.

Lời Đức Kitô mạc khải trên đây đã dạy tôi điều này, đó là không phải tất cả những ai học hỏi lời Chúa, đào sâu giáo lý, sẽ tự khắc tin vào Chúa, sẽ thực thi lời Chúa, sẽ đi theo Chúa, nhưng chỉ có những ai được Chúa ban ơn mở trí mở lòng, biến đổi tâm hồn, những kẻ đó mới tin vào lời Chúa, mới biết thực thi lời Chúa, mới cảm thấy hứng thú đi theo Chúa, và mới cảm thấy có sức đi theo Chúa.

Những điều trên đây rất đúng trong kinh nghiệm: Càng suy niệm bài Phúc Âm hôm nay và càng đi sâu vào kinh nghiệm mục vụ, tôi đã thấy điều đó rất đúng, rất rõ.

Tôi thấy rằng: Sự mà các linh mục và tôi rao giảng lời Chúa, thì đó là việc chúng tôi phải làm, làm cho đúng, làm cho tốt. Còn việc lời chúng tôi giảng có thấm vào tâm hồn người ta hay không, có biến đổi được người ta nhiều hay ít, thì việc đó vượt quá khả năng của chúng tôi, vượt quá tầm tay của chúng tôi, vượt quá sự hiểu biết của chúng tôi. Việc đó còn tuỳ ở sự Chúa có ban ơn cho họ hay không, ban nhiều hay ít, và họ có biết đón nhận và cộng tác với ơn Chúa hay không.

Trong Phúc Âm, có lần Đức Kitô đã sánh ví người rao giảng như một nhà nông, như một người làm ruộng. Họ ra đồng, cày bừa, gieo giống. Sau đó, họ trở về nhà. Dù đêm hay ngày, dù họ ngủ hay họ thức, hạt giống cứ âm thần biến hoá, nảy mầm, thành cây nhỏ, rồi cây lớn, rồi trổ bông, rồi kết trái. Tất cả những diễn biến đó thật sự ở ngoài khả năng của người làm ruộng. Nó như một mầu nhiệm, mà người làm ruộng không hề làm chủ được.

Cũng vậy, lời Chúa gieo vào lòng ta cũng rất tuỳ thuộc vào Chúa và người nghe: Chúa có ban ơn cho họ hay không. Họ có đón nhận ơn Chúa hay không. Đó là chuyện riêng giữa Chúa và người nghe lời Chúa. Nếu giữa Chúa và người nghe lời Chúa có một sự kết hợp mật thiết, chặt chẽ, thì chuyện lời Chúa sẽ nẩy mầm, sinh ra kết trái là chuyện tất nhiên.

Còn nếu giữa Chúa và người nghe lời Chúa có một cái gì dửng dưng, lạnh nhạt, thì lời Chúa gieo vào đó như hạt giống được gieo vào nền gạch, vào sân xi măng, thì lời Chúa không thể mọc lên được.

Những điều tôi chia sẻ với anh chị em vừa rồi, cũng là những điều tôi đang lo lắng cho địa phận, trong việc huấn luyện đức tin.

Thời buổi này, có rất nhiều trở ngại trong việc phát triển đức tin. Chúng ta cần phải huấn luyện đức tin của chính mình, của những kẻ thuộc về mình.

Huấn luyện cách nào?

Tất nhiên, cũng như ông đại diện giáo xứ mới nói: là “Học hỏi giáo lý, tìm hiểu Kinh Thánh”.

Nhưng, nếu chỉ có bằng ấy việc thôi, thì đức tin không thể phát triển được. Cũng như Chúa Giêsu đã nói hôm nay, là nếu người ta nghe lời Chúa mà không nhận được ơn Chúa soi sáng trong lòng, thì người ta cũng sẽ rút lui, sẽ không tin vào lời Chúa. Cho nên, ngoài việc học giáo lý, ngoài việc đào sâu Kinh Thánh, thì còn có một việc nữa phải làm, đó là rèn luyện tu đức.

Hãy rèn tu đức, để chúng ta biết cầu nguyện, để chúng ta biết gặp gỡ Chúa trong đời thường, để chúng ta biết lắng nghe Chúa soi sáng trong tâm hồn, để chúng ta biết sống hạnh phúc ở bên Chúa, để chúng ta biết sống kết hợp với Chúa, là được thực thi hánh ý Chúa.

Lúc nãy, khi cùng đoàn linh mục và các em tiến vào nhà thờ, tôi đã nói với Chúa rằng: Nếu con không làm được việc gì cho Nước Chúa, mà nếu Chúa chỉ muốn con làm một cây bạch đàn, để cùng những cây bạch đàn khác, cho bóng mát những người đến với Chúa, thì con xin vâng. Và nếu Chúa bảo con hãy là một viên gạch trong nhà thờ, để người ta bước qua mà đến với Chúa, con cũng xin vâng. Bởi vì, mục đích của con là thực thi ý Chúa, chớ không phải chỉ là làm chứng nhân những việc cao sang huy hoàng vẻ vang.

Anh chị em thân mến,

Trong việc huấn luyện đức tin: Chúng ta học giáo lý, nghe lời các cha giảng dạy, nhưng chúng ta đừng quên điều tôi muốn nói, là tu đức. Hãy sống làm sao cho linh hồn mình luôn luôn kết hợp với Đức Kitô, luôn biết lắng nghe tiếng Chúa Thánh Thần soi dẫn. Không phải là tìm kiếm trong sách vỡ, mà là trong cuộc sống hằng ngày. Hằng ngày Chúa vẫn đến với ta, vẫn nói với ta, nói qua những sự kiện thường ngày xảy ra. Chúng ta hãy biết lắng nghe Người. Hãy biết thực thi ý của Người. Lúc bấy giờ, chúng ta sẽ thấy đức tin của ta có một sức sống mãnh liệt. Chúng ta sẽ cảm thấy có một bầu khí lạ lùng trong tâm hồn mình. Chúa là tất cả, là sự trường cửu. Còn mọi sự khác đều mong manh. Một khi cảm thấy được như vậy, chúng ta mới thật sự có một cảm nghiệm về Thiên Chúa, một Thiên Chúa Tình Yêu.

Từ chiều hôm qua cho đến lúc này, tôi ở giữa anh chị em, tôi quan sát nếp sống của họ đạo. Sau những trao đổi thì tôi thấy: Họ đạo anh chị em đang được huấn luyện đức tin theo những hướng đúng. Và tôi cũng thấy một số người trong anh chị em đã có một số kinh nghiệm về Thiên Chúa, một kinh nghiệm nội tâm, chớ không phải kinh nghiệm xã hội. Kinh nghiệm nội tâm sẽ giúp cho chúng ta cảm nghiệm thấy Thiên Chúa là cái gì đối với mình, Thiên Chúa chiếm chỗ nào trong tâm hồn mình, và Thiên Chúa là hạnh phúc thế nào trong đời sống của mình bây giờ, lúc này. Một cảm nghiệm như thế về Thiên Chúa, chính là kết quả của sự trường kỳ huấn luyện đức tin, trường kỳ biết lắng nghe tiếng Chúa, và luôn nhận chính Chúa Thánh Thần là Đấng huấn luyện đức tin cho mình.

Trong những chia sẻ trên đây, tôi chỉ xin anh chị em đặc biệt nhớ một điều này, là hãy biết lắng nghe tiếng Chúa trong lòng mình. Hãy biết cảm nhận Chúa qua sự cầu nguyện, tĩnh tâm. Hãy biết sống tiết độ. Hãy biết sống cởi mở. Hãy sống bác ái với những người chung quanh mà chúng ta tin: Họ cũng có Chúa trong lòng họ.

Xin Chúa Thánh Thần đến với chúng ta. Xin Ngài giúp chúng ta biết huấn luyện đức tin của chính mình và của con em chúng ta. Amen.

Tân Thành (kinh 4b), ngày 06-05-1995
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây