Giảng Lễ An Táng Bài 1-50: Suy nghĩ về sự chết

Thứ ba - 22/01/2019 09:01
Giảng Lễ An Táng Bài 1-50: Suy nghĩ về sự chết
Giảng Lễ An Táng Bài 1-50: Suy nghĩ về sự chết
Giảng Lễ An Táng Bài 1-50: Suy nghĩ về sự chết
AnTáng 1: HÃY TỈNH THỨC – Tgm. Giuse Ngô Quang Kiệt 2
AnTáng 2: KHÔNG KỊP TRỞ TAY.. 5
AnTáng 3: `DINH THỰ HAY QUÁN TRỌ ?. 13
AnTáng 4: LÁ THU KÊU XÀO XẠC.. 19
AnTáng 5: BỨC TRANH ĐỜI NGƯỜI 26
AnTáng 6: PHẢI BIẾT LO XA.. 32
AnTáng 7: RẮN GIÀ RẮN LỘT.. 39
AnTáng 8: HỘI CHỨNG BẬN RỘN.. 44
AnTáng 9: SỰ TỬ NHƯ SỰ SINH.. 53
AnTáng 10: ĐỘT NGỘT.. 60
AnTáng 11: TIẾNG KHÓC CUỘC ĐỜI 67
AnTáng 12: NHỮNG GÌ TÔI MANG THEO.. 74
AnTáng 13: ĐƯỜNG VÀO CÕI SỐNG.. 80
AnTáng 14: CHẾT LÀ NGÀY SINH NHẬT.. 87
AnTáng 15: ĐƠN THƯƠNG ĐỘC MÃ.. 94
AnTáng 16: CHIẾC LÁ VÀNG RƠI 99
AnTáng 17: SỐNG GỬI THÁC VỀ.. 104
AnTáng 18: CƠN ÁC MỘNG.. 112
AnTáng 19: CON VE SẦU.. 118
AnTáng 20: QUYỂN SÁCH CUỘC ĐỜI 124
AnTáng 21: THIÊN ĐÀNG ĐỊA NGỤC.. 129
AnTáng 22: SÂN KHẤU CUỘC ĐỜI 137
AnTáng 23: VỀ NHÀ CHA.. 141
AnTáng 24: NAY NGƯỜI, MAI TA.. 146
AnTáng 25: TẤM VISA.. 150
AnTáng 26: QUÁN TRỌ.. 155
AnTáng 27: LÁ RỤNG VỀ CỘI 160
AnTáng 28: HÃY NGHĨ TỚI CÙNG DÍCH.. 165
AnTáng 29: LỄ CÁC THÁNH NAM NỮ 1-11. 170
AnTáng 30: NẾU  CHÚA  CHẤP  TỘI 177
AnTáng 31: HÀNH TRÌNH VỀ NHÀ CHA.. 179
AnTáng 32: KHU VƯỜN CUỘC SỐNG.. 183
AnTáng 33: SỐNG GIÂY PHÚT HIỆN TẠI 187
AnTáng 34:  PHÁN XÉT RIÊNG.. 191
AnTáng 35: KIẾP NGƯỜI MONG MANH.. 195
AnTáng 36: CHUYỂN ĐỔI 201
AnTáng 37: HỔ TỬ LƯU BÌ 206
AnTáng 38: SINH HỮU HẠN, TỬ BẤT KỲ.. 212
AnTáng 39: TRƯỜNG SINH BẤT TỬ.. 218
AnTáng 40: CÂU CHUYỆN ĐẦU TƯ.. 224
AnTáng 41: ĐI VỀ ĐÂU (bài 2) 231
AnTáng 42: CON PHẢI TRẢ.. 237
AnTáng 43: CHUYẾN XE CUỘC ĐỜI 242
AnTáng 44: SỐNG KHÔN CHẾT THIÊNG.. 246
AnTáng 45:  HAI BÀN TAY TRẮNG.. 251
AnTáng 46: XÉT XỬ KHOAN DUNG.. 257
AnTáng 47: CHẾT ĐI ĐỂ ĐƯỢC SỐNG.. 265
AnTáng 48: HÃY SẴN SÀNG.. 270
AnTáng 49: SỨ ĐIỆP TỪ LOÀI  HOA.. 275
AnTáng 50: LẼ SỐNG CHẾT.. 281

 

AnTáng 1: HÃY TỈNH THỨC – Tgm. Giuse Ngô Quang Kiệt

HÃY TỈNH THỨC – Tgm. Giuse Ngô Quang Kiệt AnTáng 1:

2Mc 12, 43-45; Kh 21, 5a.6b-7; Lc 17, 26-37
Thánh lễ đưa chân
Bác Giuse Ngô ngọc Khiết
Đan viện Châu sơn 15-11-2013
 

Từ ngàn xưa đã có niềm tin về sự sống lại đời sau. Sách Maccabê tường thuật việc Giuđa, thủ lĩnh: AnTáng 1

Từ ngàn xưa đã có niềm tin về sự sống lại đời sau. Sách Maccabê tường thuật việc Giuđa, thủ lĩnh kháng chiến quân Do thái đã quyên được khoảng hai ngàn quan tiền, và gửi về đền thờ Giêrusalem xin dâng lễ tạ tội cho quân lính tử trận. “Ông làm cử chỉ rất tốt đẹp và cao quý này vì cho rằng người chết sẽ sống lại”. Tuy có sống lại nhưng cuộc sống sẽ khác trước. Đó là điều thánh Gioan khẳng định trong sách Khải huyền. Trong thị kiến ngài thấy trời cũ đất cũ qua đi. Trời mới đất mới xuất hiện. Đẹp xinh lộng lẫy. Nhưng tuyệt vời nhất là số phận con người được đổi mới. Không còn tang tóc, đau khổ, rên la. Vì người sống lại không còn chết nữa. Con người sống với những giá trị mới vì Thiên Chúa tuyên ngôn đổi mới mọi sự.
Tuy có niềm tin vào đời sau, vào sự sống lại. Nhưng thật đáng buồn là người ta không sống niềm tin đó.  Chúa Giêsu đã nhiều lần cảnh báo thái độ mê mải đời này. Người mời gọi mọi người tỉnh thức chờ đón Người đến đưa họ vào hạnh phúc vĩnh cửu đời sau trong các dụ ngôn Người đầy tớ tỉnh thức, Mười cô trinh nữ đi đón chàng rể. Và hôm nay một lần nữa Người dùng những dẫn chứng lịch sử là nạn hồng thủy thời tổ phụ No-e và cuộc thiêu hủy thành Sơ đôm thời tổ phụ Abraham.
Thời đó, người ta mải mê tất bật với đời sống của thể xác. Chúa Giêsu gợi ra hai nhu cầu người đời gắn bó, đó là ăn uống và mua sắm. Hoàn toàn cho đời sống thân xác. Ăn uống để nuôi xác, để tận hưởng. Mua sắm để trang điểm thân xác. Mê mải đó khiến người ta không tỉnh thức, mất cảnh giác với sự đổi thay bất ngờ ập tới. Trong lúc người ta mải mê lo việc ăn uống và mua sắm thì nước dâng lên cuốn trôi tất cả. Cuốn đi những gì người ta tưởng là giá trị vĩnh viễn. Ngay cả mạng sống còn không giữ được thì còn hưởng thụ, chăm chút thân xác sao được. Chỉ có No-e tỉnh thức, không bị đắm chìm vào thói ham mê ăn uống và mua sắm, nhưng chuyên chăm đóng tầu, mới thoát được nạn hồng thủy.
Người ta mê mẩn gắn bó với thế giới cũ với những giá trị cũ. Bà Lót đã được cứu ra khỏi thành phố đang bốc lửa. Nhưng vẫn tiếc nuối quay lại. Tiếc nuối lắm. Vì trong thành Sôđôma có biết bao dinh thự tráng lệ. Có biết bao thú vui giải trí. Riêng bà còn biết bao tài sản không kịp mang theo. Bà có biết đâu tất cả sẽ tiêu tan thành tro bụi trong chớp mắt. Bà có biết đâu vì bà chậm trễ nên chính bản thân bà cũng chẳng thoát khỏi lửa diêm sinh để mà tiếc nuối những giá trị xưa cũ. Bà có biết đâu một thành phố mới đẹp đẽ gấp trăm ngàn lần đang chờ đón bà. Bà có biết đâu trong cuộc sống mới có muôn vàn giá trị mới cao quí hơn những giá trị cũ gấp ngàn vạn lần. Vì quá gắn bó với cái cũ, bà đành mất tất cả.
Nêu lên những tấm gương tày liếp ấy, Chúa Giêsu tha thiết cảnh báo ta hãy tỉnh thức để giữ được tính mạng, để đứng vững trong ngày Chúa ngự đến. Đó là ngày bất ngờ. Chỉ những ai tỉnh thức không mê mải đời này mới được cứu thoát.
Ta tự hỏi tổ phụ No-e đã tỉnh thức thế nào để làm nên khác biệt, để trở thành người được tuyển chọn, được cứu thoát, “được đưa đi” trong ngày của Chúa?
Tổ phụ No-e cũng ăn uống, cũng mua sắm như mọi người. Nhưng trong khi mọi người coi ăn uống mua sắm như mục đích đời người thì tổ phụ chỉ coi đó như phương tiện. Ăn uống để sống mà đóng tầu cho Chúa, làm việc cho Chúa. Mua sắm để có đủ dụng cụ phục vụ việc đóng tầu theo Chúa truyền dạy. Và mua sắm những thú vật, cây cối, hạt giống chuẩn bị cho chương trình của Chúa. Tóm lại mọi người ăn uống và mua sắm cho thân xác và cho nhu cầu nhất thời và cho bản thân. Còn tổ phụ No-e ăn uống và mua sắm cho những gì thuộc về mai sau, cho chương trình lâu dài, và cho Chúa, cho người khác. Đó là điều khác biệt.
Bà Lót chết vì tiếc của. Ra đi còn ngoái cổ lại nhìn. Bà gắn bó với đời này. Còn tổ phụ No-e ra đi không quay lại. Khi Chúa truyền tổ phụ lập tức đưa mọi người lên tầu, đóng cửa tầu lại trong bốn mươi ngày. Không luyến tiếc. Không gắn bó.
Người ta ra đi luôn bất ngờ. Lời Chúa cảnh báo được chứng nghiệm tỏ tường trong những ngày này. Khắp thế giới đang sững sờ xúc động vì cơn bão Hayian tàn pháPhilippines, cuốn đi hàng vạn sinh mạng. Với những thiết bị tối tân, cơn bão đã được cảnh báo. Nhưng chẳng ai cứu được các thành phố bị cơn bão quét ngang qua. Chẳng ai cứu được những con người chìm dưới những ngọn sóng khổng lồ. Được cảnh báo trước nhưng vẫn hoàn toàn bất ngờ.
Chúa đến bất ngờ cả trong vận mệnh cá nhân. Cuộc ra đi của bác Giuse Khiết khiến ta càng phải chuyên tâm lắng nghe và thực hành Lời Chúa. Chiều ngày Chủ nhật 10-11 vừa qua, bác Giuse Khiết lái xe đưa bác gái đi viếng nghĩa địa. Khi vừa đến nghĩa địa, một cơn đau ập đến khiến bác không nói được tiếng nào. Chỉ gục đầu vào thành xe mà chịu cơn đau. Gọi xe cấp cứu. Nhưng chưa kịp đến nhà thương thì bác đã ra đi. Bác gái ngồi bên cạnh mà không hề hay biết. Quả thật giờ chết đến bất ngờ chẳng ai biết được. Hai người ở bên nhau. Nhưng một người đã ra đi.
Tuy Chúa đến bất ngờ nhưng bác Giuse Khiết đã luôn tỉnh thức. Vì không để bị những mê mải đời này cuốn đi. Tuy sống bên Mỹ là thiên đường ăn uống và mê sắm, nhưng bác không bị cuốn vào dòng thác nhu cầu tiêu thụ. Trái lại bác dành nhiều thời giờ và tiền bạc cho những công việc của Nước Trời. Ngoài những bổn phận dự lễ, đọc kinh mà bác rất chuyên chăm, bác còn tham gia phong trào tĩnh tâm Cursillos, đóng góp vào hội Bảo trợ Ơn thiên triệu, là thành viên tích cực của Gia đình Châu sơn và là hội viên của Hội Mân Côi.
Việc bác được Chúa gọi giữa lúc đi viếng nghĩa địa cầu nguyện cho người đã qua đời chứng tỏ bác tỉnh thức. Cầu nguyện và đặc biệt cầu nguyện cho người đã qua đời là một việc nói lên đức tin và đức bác ái mạnh mẽ. Bác ra đi lúc đang làm việc nghĩa. Không lo lắng cho mình, không tìm hưởng thụ cho bản thân. Đó là hành động vô vị lợi. Đó là việc làm chuẩn bị cho trời mới đất mới với những giá trị mới.
Thương nhớ bác Giuse Khiết, ta hãy nhớ lời Chúa dậy hôm nay và noi gương bác, không mê mải thế giới cũ kỹ với những giá trị mau tàn. Nhưng hãy tỉnh thức chuẩn bị cho những giá trị mới. Để khi giã từ trời cũ đất cũ này, ta được vào hưởng hạnh phúc trong trời mới đất mới.
Lạy Chúa, xin đón nhận linh hồn bác Giuse Khiết vào Nước Trời. Amen.
TGM. Gs. Ngô Quang Kiệt
Đan Viện Châu Sơn

 

AnTáng 2: KHÔNG KỊP TRỞ TAY

KHÔNG KỊP TRỞ TAY AnTáng 2


I. SUY NIỆM LỜI CHÚA.
           Chúng ta đọc : Lc 12,35-38.
           Khi ấy Chúa Giêsu phán :“Anh em hãy thắt lưng cho gọn, thắp đèn cho sẵn. Hãy làm như những người đợi chủ đi ăn cưới về, để khi chủ vừa về và gõ cửa, là mở ngay.  Khi chủ về mà thấy những đầy tớ ấy đang tỉnh thức, thì thật là phúc cho họ. Thầy bảo thật anh em : chủ sẽ thắt lưng, đưa họ vào bàn ăn, và đến bên từng người mà phục vụ. Nếu canh hai hoặc canh ba chủ mới về, mà còn thấy họ tỉnh thức như vậy, thì thật là phúc cho họ”. -  Đó là Lời Chúa.
 

Ngày xưa, người ta ít nghe thấy từ “đột tử” do đột quỵ mà ra.  Ngày nay cảnh đột tử xẩy ra nhan An táng 2

Ngày xưa, người ta ít nghe thấy từ “đột tử” do đột quỵ mà ra.  Ngày nay cảnh đột tử xẩy ra nhan nhản trước mắt nên người ta hay nói đến bệnh “đột quỵ” vì nó đưa đến đột tử hoặc chết một cách đột ngột không kịp trở tay.
          Bài Tin Mừng hôm nay rất thích hợp để chúng ta để phòng, để  biết dọn linh hồn sẵn sàng nếu cảnh đột tử xẩy đến.
          Dụ ngôn hôm nay minh hoạ sự tỉnh thức Chúa dành cho người Do Thái trong một hoàn cảnh hơi khác với chúng ta ngày nay, nhưng ý nghĩa rất thích hợp cho chúng ta hôm nay.
          Bài Tin Mừng ví chúng ta như một người đầy tớ đang đợi ông chủ đi ăn cưới về không biết sẽ về lúc nào. Tiệc cưới ở Do thái được tổ chức vào ban tối, kéo dài không biết đến bao giờ mới kết thúc, có khi kết thúc ban tối, có khi mãi tới nửa đêm hay muộn hơn nũa.
          Người đầy tớ ấy “thắt lưng cho gọn” (tư thế sẵn sàng làm việc), và “thắp đèn cho sẵn” (để khi chủ về thấy lối mà vào, tư thế sẵn sàng phục vụ). Nếu biết rõ lúc nào chủ về thì dễ hơn nhiều, vì chỉ cần chờ gần tới lúc đó mới thắt lưng và thắp đèn.  Nhưng vì không biết chừng nào chủ về nên phải sẵn sàng luôn. Vừa nghe thấy một tín hiệu nhỏ cho biết chủ sắp về tới là mau mắn làm việc và phục vụ ngay.  Như thế tỉnh thức đi kèm với sẵn sàng và nhanh nhạy.
          Tỉnh thức để làm gì ? Dụ ngôn nói :”Để đợi chủ về” có ba ý nghĩa :
          1. Đợi chờ ngày Chúa Giêsu lại đến.
          2. Ngày chết của mỗi người.
          3. Những lúc Chúa đến ban ơn cho ta.
          Trong cả ba trường hợp ấy, chỉ có ai tỉnh thức sẵn sàng và nhanh nhạy mới gặp được Chúa và được Chúa ban ân thưởng.
          Thánh Phêrô giải thích thế nào là tỉnh thức :”Đừng chiều theo những đam mê… sống thánh thiện trong cách ăn nết ở, để nên giống Đấng thánh đã kêu gọi anh em” (1Pr 1,13-16).
          Lời Chúa được ngỏ với con người xuyên qua cuộc sống mỗi ngày, nên cũng luôn mang tính bất ngờ. Chính trong những cái thường nhật, nhỏ bé, độc điệu mỗi ngày, con người được mời gọi để nhận ra lời ngỏ của Chúa. Chính trong những cái bất ngờ của cuộc sống mà con người được mời gọi để nhận ra tiếng Ngài.
          Thái độ cơ bản của người Kitô hữu, đó là tỉnh thức. Người Kitô hữu tỉnh thức vì biết rằng mỗi khoảnh khắc đều mang một ý nghĩa đối với một giai đoạn mới hoặc cần thiết cho sự trưởng thành, mỗi biến cố đều mang nặng sự hiện diện và tác động của Thiên Chúa (Mỗi ngày một tin vui).
 
II. NÓI VỀ BỆNH ĐỘT QUỴ.
          1. Đột quỵ là gì ?
          Đột quỵ là tình trạng xẩy ra khi việc cung cấp máu cho não bị ngưng hoặc bị hạn chế. Nếu lưu lượng máu lên não bị ngưng lại sẽ gây tổn thương vĩnh viễn cho não, có thể dẫn đến cái chết tức thời cho người bệnh khi trải qua một cơn đột quỵ.
          Cái chết có thể đến đột ngột qua tai nạn hoặc căn bệnh đột quỵ (hay còn gọi là tai biến mạch máu não). Hằng năm trên thế giới vẫn có nhiều người phải nhận cái chết đột ngột không được báo trước như thế.
          “Đột quỵ” là bệnh cấp cứu rất thường gặp. Đột quỵ hay còn gọi là tai biến mạch máu não là từ được dùng chung để chỉ sự tổn thương một phần não bộ. Vì não cần được cung cấp óc-xy và đường thường xuyên để có thể hoạt động được nên khi động mạch não bị tắc nghẽn, lượng máu dùng để cung cấp cho vùng não sẽ bị cản trở và một phần não sẽ ngưng hoạt động.
          Nếu không được cấp cứu kịp thời thì vùng não này sẽ bị chết và ngưng chức năng vĩnh viễn, gọi là nhồi máu não.  Theo nghiên cứu, thống kê có khoảng hơn 80% các ca đột quỵ  là do nhồi máu não.  Khi bị đột quỵ, người bệnh sẽ rơi vào tình trạng một phần não bị hư hại đột ngột do mất máu nuôi và các tế bão não sẽ bị chết dần đi. Hậu quả dẫn đến thường là  bệnh nhân bị liệt nửa người, hôn mê hoặc tử vong (Theo Internet).
 
          2. Nguyên nhân của bệnh đột quỵ.
          Có người đi ngủ bình thường sáng hôm sau không tỉnh dậy được, hoặc một người trông khoẻ mạnh nhưng lại chết đột ngột sau khi ăn xong.  Dân gian gọi những trường hợp này là tử vong do “Trúng gió”.  Nhưng theo y học, những trường hợp đột tử có thể do chứng suy tim  hoặc chứng tai biến mạch máu não.
          Nguyên nhân chính xuất phát từ thói quen sinh hoạt thiếu lành mạnh, đó là : các thói quen lạm dụng rượu bia, thuốc lá, thói quen lười vận động và chế độ ăn uống nhiều dầu mỡ. Ngoài ra, huyết áp cao cũng dễ dẫn đến đột quỵ bất cứ lúc nào. Người có tiền sử cao áp huyết sẽ có nguy cơ đột quỵ cao gấp 3 lần so với những người không bị bệnh.
          Nói chung, bệnh đột quỵ thường bị gây ra bởi :
          - Bệnh tim mạch.
          - Huyết áp cao.
          - Gan nhiễm mỡ.
          - Mỡ máu cao.

3. Đề phòng và chữa bệnh thế nào ?
          Tuy đột quỵ rất hiểm nguy nhưng có thể phòng tránh căn bệnh này  ngay từ nguyên nhân gây bệnh của nó. Ngay từ bây giờ nên thay đổi thói quen ăn uống sinh hoạt, tăng cường hoạt động thể lực, tập thể dục, đi bộ… nhằm nâng cao sức khoẻ bản thân.
          Ngoài ra, cần giữ cho chỉ số áp huyết được ổn định, thường xuyên đi thăm bác sĩ để kịp thời phát hiện bệnh.
          Bên cạnh đó, có thể sử dụng những sản phẩm thảo dược có tác dụng phòng ngừa nguyên nhân đột quỵ như cha ông chúng ta thường nói :”Cơm thì phải có rau, đau thì phải có thuốc”.

4. Những ai dễ mắc bệnh đột quỵ ?
          Nói chung, người tuổi càng cao càng dễ bị đột tử. Nam giới dễ bị đột tử hơn nữ giới. Ngoài ra, là các trường hợp người nghiện thuốc lá, hút trên 20 điếu mỗi ngày, người bị tăng huyết áp động mạch, tăng cholesterol máu, người bị béo phì, ít vận động thể lực, người bị căng thẳng thần kinh, stress tâm lý…
          Để phòng ngừa, bên cạnh việc phát hiện sớm những triệu chứng gây đau tim hay đột quỵ, mọi người nên bỏ thuốc lá, tăng cường vận động, giảm stress, hạn chế thức ăn nhiều dầu mỡ và nên ăn nhiều rau quả…
 
III. ĐỘT QUỴ TRONG ĐỜI SỐNG THIÊNG LIÊNG.
          Theo triết học Đông phương, đã có hình thì có hoại, đã có sinh thì có tử, chỉ khi nào không sinh thì mới không tử. Chúng ta đã sinh ra  thì ắt phải chết, cái chết không kiêng nể ai, cũng không ai có thể chống lại được cái chết.
          Chính Thiên Chúa đã phán với tổ tông chúng ta trong sách Sáng thế :”Ngươi là bụi tro và sẽ trở về cùng bụi tro”.  Như vậy chết là một điều chắc chắn chỉ có điều là  giờ chết đến một cách đột ngột không ai ngờ.
          Trong cuộc sống hằng ngày, mọi người phải công nhận rằng có bệnh đột quỵ dẫn đến cái chết đột ngột mà ta gọi là đột tử diễn ra hằng ngày trước mắt chúng ta nhất là những năm gần đây.
          Còn trong đời sống thiêng liêng, có đột quỵ, đột tử không ? Về phương diện này, chúng ta có thể trả lời rằng có thể có mà cũng có thể không , tùy ở từng người !  Chúng ta phải phân biệt hai trường hợp :
          Trường hợp 1 : Thực sự có cái chết đột ngột cho những người không thèm nghĩ tới linh hồn mình, họ chỉ biết sống để mà sống, không biết sống để làm gì.  Họ chỉ biết sống cho qua ngày hay chỉ biết sống để hưởng thụ càng nhiều càng tốt, nên người ta mới nói :
                                      Sống bữa nào hay bữa ấy,
                                      Hơi đâu ngồi nghĩ chuyện đâu đâu.
                                                   (Quách Tấn)
          Hoặc có người sợ cái già đang theo sau, họ phải sống cuồng sống vội,  phải hưởng thụ cho mau, cho thật nhiều trước giờ chết đến :
                                      Người ơi ! Tận hưởng mùi thế tục,
                                      Trước ngày tan nát bãi tha ma.
                                                       (Omar)
 
                                       Truyện :  Đã có dấu báo hiệu.
          Có một người đàn ông nọ qua đời vì chứng nhồi máu cơ tim. Ông phàn nàn với Chúa rằng :
          - Thưa Ngài ! Ngài gọi con về, con không chút oán hận. Nhưng tại sao trước lúc gọi, Ngài không thông báo cho con một tiếng để con chuẩn bị tâm lý và cũng để con bàn giao mọi việc với vợ con và các con của con. Ngài đã khiến con trở tay không kịp.
          Thiên Chúa trìu mến đáp :
          - Ta đã từng viết cho con 3 bức thư, nhắc cho con chuẩn bị ngày về mà !
          Người đàn ông kinh ngạc đáp :
          - Làm gì có. Con chưa hề nhận được lá thư nào.
          Thượng Đế nói :
          - Trong bức thư thứ nhất, Ta để con đau lưng. Trong bức thư thứ hai, ta để con tóc bạc đi. Và bức thư thứ ba, Ta đã khiến cho răng con rụng dần. Tất cả điều đó là tín hiệu nhắc nhở con sắp đến thời hạn quay về đấy (Nguyễn thị Anh Thư, Chút gì với Chúa, 2011, tr 168).
 
          Trường hợp 2 : Đối với những người đã chuẩn bị tâm hồn sẵn sàng thì không bao giờ có cái chết đột ngột, không có đột tử.  Đối với những người đang chuẩn bị đón nhận người yêu, khi người yêu đến thì làm gì có sự đột ngột ? Nếu một người hằng ngày hằng giờ chờ đợi Chúa đến trong ngày sau hết của đời mình, và khi Chúa đến viếng thăm thì làm gì có sự đột ngột trong sự chờ đợi !
          Như vậy, không bao giờ có cái chết đột ngột đối với những người đã được chuẩn bị sẵn sàng. Cái chết chỉ là người bạn thân mà con người đang nóng lòng mong đợi.  Không ai có thể nói “cái chết đến bất ngờ làm cho người ta không kịp trở tay”.  Giờ chết chỉ là chìa khoá vàng mà kẻ đã chuẩn bị nhận lấy để mở cánh cửa vào Nước Trời.
 
                                      Truyện : Chiếc chìa khoá vàng.
          Người ta kể : một hôm thánh Charles Boromée có ý nghĩ nhờ người ta  vẽ một bức ảnh về sự chết tại phòng ngài. Một hoạ sĩ được tuyển chọn đã trình bầy cái chết  dưới hình ảnh một bộ xương dễ sợ, với chiếc liềm trên tay.
          Thánh nhân hỏi :
          - Tại sao lại vẽ bức tranh ghê gớm thế ?
          Người nghệ sĩ trả lời :
          - Thưa, cái chết sẽ gặt hái con người. Chiếc liềm tượng trưng  cho sự tiêu diệt cuộc sống.
          Đức Hồng y đáp lại :
          - Phải, sự chết tiêu diệt sự sống trần gian, nhưng giúp con người mở cửa sự sống trên trời. Đối với một Kitô hữu, sự chết là cửa mở vào thiên đàng. Hãy cho sự chết một chìa khoá vàng, tôi muốn nhìn nó như thế.
          Cái nhìn đức tin trên đây, đã giúp Đức Hồng y  được ơn chết bình an và vui vẻ.  Renan nói về các vị thánh :”Tôi không muốn mong ước sống như họ, nhưng tôi ghen tức cái chết của họ” (Charles Lebrun, Vượt qua cõi hồng trần, tr 71-72).

IV. ĐỂ LINH HỒN CÒN KỊP TRỞ TAY.
          1. Phải biết phòng xa.
          Chết là một điều chắc chắn nhưng chỉ có một điều thắc mắc là khi nào giờ chết đến. Chúa Giêsu đã nói trong bài Tin Mừng hôm nay :”Nếu chủ nhà biết giờ nào kẻ trộm đến, ắt sẽ tỉnh thức, không để nó đào ngạch nhà mình. Cho nên các con hãy sẵn sàng : vì giờ nào các con không ngờ, thì Con Người sẽ đến” (Lc 12,39-40)..
          Văn sĩ Cervantes đã nói một cách dí dỏm khi đưa ra cho chúng ta một hình ảnh mới :”Cái chết là anh thợ gặt không biết ngủ trưa”.
          Vì thế, sách Luận ngữ viết :”Nhân vô viễn lự, tắc hữu cận ưu” : người không biết phòng xa, ắt phải gặp buồn gần.
          Người không biết lo xa là người thiếu khôn ngoan, chắc chắn họ sẽ gặp thất bại trong cuộc sống. Cổ nhân đã khuyên con người :
 
                                      Tích cốc phòng cơ, tích y phòng hàn.
                                      Phải dự trữ lúa thóc phòng khi đói kém,
                                      Tích trữ áo quần phòng khi trời lạnh.
          Cuộc sống mai hậu sẽ hoàn toàn lệ thuộc vào đời sống ở trần gian, vì người ta thường nói :”Sống sao chết vậy” hoặc “Sống khôn chết thiêng”. Chỉ có những ai biết sống, biết yêu thương trong đời này nhưng vẫn khát khao sự sống và tình yêu đời đời, chỉ những người đó mới thấy viên mãn của sự sống và tình yêu Thiên Chúa.
 
          2. Hãy sống tốt từng giây phút Chúa ban.
          Người ta nói :”Ai biết chết là biết sống”. Sống và chết có liên lạc chặt chẽ với nhau.  Hiểu được tinh thần đó, ông Montaigne đã phát biểu :”Ai dạy cho con người biết cách chết là dạy cho con người biết cách sống; bởi biết cách chết là tự giải thoát được mọi sự kiểm toả ở đời”.
          Để chuẩn bị cho ngày ra đi, ta hãy dùng hết mọi giây phút Chúa ban cho, hãy dùng hết mọi giây phút hiện tại, đừng để phi đi một giây phút nào, vì thời giờ là cái vốn Chúa ban cho mọi người  để sinh lời lãi trong đời sống thiêng liêng. Hãy cố gắng sống đời thường một cách phi thường.
          Guy de Larigaudie nói rất có lý :”Chúng ta xây dựng đời đời trong mọi hành vi của mình: đó là khả năng kỳ diệu của con người. Chúng ta xây dựng Nước Trời từng mỗi giây phút”.
          Cũng trong chiều hướng đó, linh mục Duval phát biểu :”Trời của bạn sẽ được hình thành ngay dưới đất bằng cánh tay của bạn”.  Đối với các tín hữu, với những người đang sống đức tin, trời không là cái gì hoàn toàn mới mẻ, nhưng là sự khai nở, tỏ hiện và thành toàn cái đã có sẵn trong họ.
          Mỗi người chúng  ta sẽ chết, không biết chết lúc nào. Nhưng thái độ mỗi người khi chết đều khác nhau. Có người vui vẻ đón nhận giờ chết, coi như thời giờ được đi gặp Chúa trong tình yêu thương và lãnh phần thưởng.  Có người lo sợ trước cái chết vì đây là lúc phải đến gặp Chúa để chịu phán xét và lãnh hình phạt.
          Sở dĩ có sự khác nhau là vì có người đã chuẩn bị sẵn sàng, lại có người lơ là việc linh hồn, không chút chuẩn bị. Chớ gì giờ chết là ngày sinh nhật vui vẻ của chúng ta ở trên trời.
 
                                      Truyện : Trước cái chết gần kề.
          Không đầy 48 tiếng sau khi được biết  mình sắp chết vì  ung thư tụy tạng. Đức Hổng y Joseph Bernadin, 68 tuổi, Tổng Giám mục Chicago, đã cho mọi người biết  trong một cuộc họp báo ngày 30/08/1996 :”Tôi được biết là bệnh tôi đã đến thời kỳ cuối, và tôi chỉ còn sống được không đầy một năm”.
          Về Phần mình, Đức Hồng y Bernadin chia sẻ trong cuộc họp báo trên như sau :”Tôi được cho hay là tôi vẫn còn ít nhiều thời gian để hoạt động. Lời nguyện của tôi là  tôi sẽ dùng bất cứ khoảng thời gian còn lại này một cách tích cực, nghĩa là  theo cách thức đem lại lợi ích cho các linh mục và dân chúng mà tôi được kêu gọi để phục vụ, cũng như đem lại lợi ích thiêng liêng cho chính tôi” (Theo Phạm Quốc Hưng, Trong dòng đời, 1997, tr 141).
          Qua  gương sáng của Đức Hồng y Bernadin, chúng ta thấy thái độ và phản ứng của Đức Hồng y  trước cái chết gần kề, chính là thái độ  và phản ứng của mỗi Kitô hữu chân chính  phải có khi đối diện với sự chết. Đó là thái độ chấp nhận  với lòng biết ơn và tin, cậy, mến.  Vì thánh Phaolô đã nói :”Đối với tôi, sống chính là Đức Kitô, và chết là một mối lợi lớn” (Phil 1,21), và chết là “được ở cùng Đức Kitô” (Phil 1,23).
Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt

 
 

AnTáng 3: `DINH THỰ HAY QUÁN TRỌ ?

DINH THỰ HAY QUÁN TRỌ ? AnTáng 3


I. SUY NIỆM LỜI CHÚA
           Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng : “Lòng các con đừng xao xuyến, Hãy tin vào Thiên Chúa, và tin vào Thầy. Trong nhà Cha Thầy có nhiều chỗ ở, Nếu không, Thầy đã nói với các con rồi; Thầy đi để dọn chỗ cho các con, Và khi Thầy đã ra đi và dọn chỗ cho các con rồi, Thầy sẽ trở lại đem các con đi với Thầy, Để Thầy ở đâu các con cũng ở đó, Thầy đi đâu các con đã biết đường rồi”. Ông Tôma thưa Người rằng : “Lạy Thầy, chúng con không biết Thầy đi đâu, Làm sao chúng con biết đường đi” ? Chúa Giêsu đáp : “Thầy là đường, là sự thật và là sự sống, Không ai đến được với Cha mà không qua Thầy” (Ga 14,1-6). - ĐÓ LÀ LỜI CHÚA.
 

Khi Chúa Giêsu sắp từ biệt các Tông đồ mà về cùng Cha, các ông cảm thấy lo lắng, không biết tương AnTáng 3

Khi Chúa Giêsu sắp từ biệt các Tông đồ mà về cùng Cha, các ông cảm thấy lo lắng, không biết tương lai sẽ ra sao.  Chúa Giêsu đã trấn an các ông khi Ngài nói :”Lòng các con đừng xao xuyến. Hãy tin vào Thiên Chúa, và tin vào Thầy… Thầy đi để dọn chỗ cho các con. Và khi Thầy đã ra đi và dọn chỗ cho các con rồi, Thầy sẽ trở lại đem các con đi với Thầy, để Thầy ở đâu thì các con cũng ở đó” (Ga 14,1-2).
          Chúa Giêsu sẽ ra đi và đi về đâu ? Thưa, Ngài đi về cùng Cha Ngài sau khi đã hoàn thành sứ mạng cứu chuộc nhân loại qua các chết đau thương của Ngài.  Chúa Giêsu đã về trời và hứa sẽ đem chúng ta về đó ở với Ngài vì Ngài đã dọn sẵn chỗ cho rồi. Như vậy, Chúa Giêsu sẽ đem chúng ta về trời là quê hương vĩnh cửu của chúng ta.
          Lời hứa của Chúa đã được thánh Phaolô Tông đồ minh hoạ và củng cố thêm  khi ngài nói với tín hữu Côrintô :”Chúng ta biết rằng nếu căn nhà chúng ta cư ngụ ở trần gian này bị phá huỷ đi, thì chúng ta sẽ có một nơi định cư vĩnh cửu trên trời do Thiên Chúa thiết lập, chớ không do tay người phàm làm ra” (2Cr 5,1).
          Theo tư tưởng của thánh Phaolô, căn nhà ở trần gian này có tính cách tạm bợ, không vững bền, sẽ bị phá huỷ đi, sau đó Chúa sẽ dành cho chúng ta  một nơi định cư vĩnh viễn trên trời.
          Như vậy, chúng ta có thể coi trần gian này chỉ là một túp lều hay khá hơn là một quán trọ, còn nơi ở vĩnh cửu của chúng ta được coi như một dinh thự, một lâu đài vững chắc.

II. KHÁC BIỆT GIỮA DINH THỰ VÀ QUÁN TRỌ
          Truyện : Quán trọ
          Một buổi chiều, có một lữ khách nghèo tìm đến trước một dinh thự nằm ở ven một khu rừng để xin trọ qua đêm vì lỡ độ đường.
          Không ngờ đây lại là nơi nghỉ chân của một nhà quí tôc giầu có nhưng lại nổi tiếng là keo kiệt , hết sức ích kỷ. Thế là đích thân chủ nhà ra xua đuổi không thương tiếc :
          - Đây là dinh thự của ta chứ không phải là nhà trọ mà ai muốn vào ở cũng được.
          Cánh cửa đóng xập lại ngay.  Nhưng người khách lạ vẫn kiên nhẫn đập cửa mãi cho đến khi nhà quí tộc lại phải ra mở cửa quát tháo to tiếng. Người khách vẫn từ tốn đề nghị :
          - Thưa ngài, xin ngài bình tĩnh bớt giận, xin phép cho tôi hỏi ngài 3 câu, nếu như ngài là một người thông minh trả lời được thì tôi sẽ xin đi khỏi đây ngay.
          Nhà quí tộc nổi máu tự ái  nên nhận lời, vẫn chắc mẫm mình sẽ thắng. Người khách bắt đầu câu hỏi thứ nhất :
          - Ai đã ở trong dinh thự này trước ngài ?
          Nhà quí tộc  trả lời được ngay :
          - Cha ta đã ở đây chứ ai ?
          Người khách lại hỏi câu thứ hai :
          - Thế ai đã ở đây  trước ông thân sinh của ngài ?
          Nhà quí tộc ngẩn ngơ không biết trả lời thế nào, vì cha con ông ta  chỉ mới làm chủ toà dinh thự này sau khi người chủ quí tộc trước đây đã bị phá sản rồi tự tử chết đã lâu.
          Đến đây thì người khách mới nói :
          - Nếu vậy thì cha ngài và cả ngài nữa, cũng chỉ là những người khách trọ ở đây trong một thời gian nào đó, rồi đến một ngày chính ngài cũng phải nhường lại cho một chủ nhân khác.  Hoá ra cái dinh thự nguy nga này cũng chẳng khác gì một thứ quán trọ…
          Người khách lạ nhận ra đã có sự đánh dộng sâu xa nơi nhà quí tộc, ông ta ngỏ lời :
          - Vì vậy, tôi thành thật khuyên ngài đừng quá phung phí tiền bạc để làm đẹp và chỉ bo bo giữ lấy cho riêng mình một cái quán trọ tạm bợ chóng qua như thế này.  Ngược lại, tôi nghĩ ngài nên cởi mở tấm lòng để giúp đỡ nhưng người nghèo khổ và cơ nhỡ thiếu thốn. Và như thế, chính là ngài đã biết chuẩn bị sửa soạn cho một chỗ ở vĩnh cửu đời sau trên Nước Trời… (trích “Nổi lửa cho đời” tuyển tập 2).
          Vậy Quán trọ là gì ? Chắc chắn ai cũng biết hình thức và mục đích của nó. Quán trọ là nhà cho người qua đường tạm nghỉ trong một đêm.
          Ngày xưa, quán trọ bên đường thường làm bằng tre, hay băng gỗ tạp, đồ đạc được trang bị rất đơn sơ, không có tiện nghi. Ngày nay , quán trọ có thể xây dựng bằng nhưng vật liệu cứng để thành một ngôi nhà khang trang, có tiện nghi mà người ta gọi là nhà nghỉ, nhà trọ.  Bây giờ với những phương tiên xây cất dễ dàng, người ta xây dựng những ngôi nhà cao tầng với đầy đủ tiện nghi dành cho khách nghỉ một thời gian ngắn mà người ta gọi là khách sạn : có loại khách sạn 3 sao, 4 sao, 5 sao…
          Nhưng mục đích của tất cả những thứ nhà đó cũng chỉ có mục đích dành cho khách trọ một vài đêm, đôi khi lâu hơn một chút để hoàn thành một công việc, sau đó lại rời bỏ.
          Những người thường đi du lịch đã biết rõ điều này là không ai nhận quán trọ hay khách sạn làm nơi thường trú, nơi ở vĩnh viễn của mình. Như vậy bản chất của quán trọ là tạm thời, ngắn hạn khác hẳn với dinh thự hay lâu đài có tính cách kiên cố và lâu dài.  Những người có quyền chức hay giầu có thường xây cho mình những dinh thự, những lâu đài nguy nga với mục đích ở đó lâu dài. Và đây là nơi thường trú của họ.

III. TRẦN GIAN LÀ DINH THỰ HAY QUÁN TRỌ ?
          Kinh nghiệm cho thấy, thế giới ngày nay thay đổi rất nhiều từ tinh thần đến vật chất. Chỉ trong một thời gian, cả một vung đầm lầy đã trở nên một đô thị sầm uất, một phần biển đã biến thành đất liền cho người ta xây nhà. Đời sống vật chất thay đổi, thời cuộc cũng thay đổi không ngừng. Qua những thay đổi của thời cuộc, thi sĩ Nguyễn Du đã gửi tâm sự của mình vào trong truyện “Đoạn trường tân thanh” , tức truyện Kiều, bằng 4 câu thơ :
 
                                      Trăm năm trong cõi người ta,
                             Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau.
                                      Trải qua một cuộc bể dâu,
                             Những điều trông thấy mà đau đớn lòng.
 
          Trời đất thay đổi, cảnh vật thay đổi đến con người cũng thay đổi. Có ai sống mãi trên trần gian này không ? Ngày xưa người ta nói :”Nhân sinh thất thập cổ lai hy” : Người ta sống đến 70 tuổi là hiếm, bây giờ tuổi đó không hiểm mà phải đến 100 mới hiếm. Nhưng dù có sống đến 2,3 trăm tuổi rồi cũng chết.
          Có biết bao nhiêu vĩ nhân, những anh hùng cái thế cũng đã ra đi, ngày nay chỉ còn tên tuổi của họ trong sử sách, hết thế này đến thế hệ khác đều kéo nhau ra đi, không ai sống mãi sống hoài được.
          Tần Thuỷ Hoàng là một hoàng đế thời danh, ông làm vua Trung quốc, sống trước công nguyên quãng 200 năm. Theo tạp chí National Geographic, Tần Thuỷ Hoàng rất sợ chết, ông muốn được trường sinh bất tử, nên tìm đủ mọi cách để được cải lão hoàn đồng. Một năm, các chiêm tinh gia kể cho ông nghe về một hòn đảo thần tiên ở Biển Đông, dân cư ở đây đã khám phá ra bí quyết trường sinh. Tần Thuỷ Hoàng liền phải một số tầu thuyền chất đầy châu báu lên đường, hy vọng đổi được bí quyết trường sinh. Nhưng dân chúng không đổi cho ông bí quyết trường sinh của họ.
          Cuộc đời chóng qua. Người ta ví cuộc đời như “bóng câu qua cửa sổ” (Cầu là con ngựa tơ chạy rất nhanh), hoặc với “đoá phù du sớm nở chiều tàn”.
          Một hôm, đạo sư hỏi học trò :
          - Đời người dài bao lâu ?
          - Thưa, vài ngày.
          Đạo sư lắc đầu. Trò khác đáp :
          - Đủ xong một bữa cơm.
          Đạo sư lại lắc đầu. Trò thứ ba nói :
          - Dài chừng một hơi thở.
          Đạo sư gục gặc đầu tỏ ý tán thành và chậm rải bảo các đệ tử :
          - Trong thư của thánh Giacôbê có câu này :”Các ngươi không biết cuộc đời mình ngày mai sẽ ra sao. Thật vậy, các ngươi chỉ là hơi nước xuất hiện trong giây lát, rồi lại tan biến đi”           (Gc 4,14).
          Đối với người Kitô hữu chúng ta, sự chết chẳng kiêng nể gì ai, chúng ta cũng sẽ qua đi như mọi người khác, nhưng sự chết chỉ có thể tiêu diệt được thể xác chúng ta, còn linh hồn thì đành chịu bó tay.
          Nhưng vấn đề được đặt ra : thân xác chúng ta sẽ bị tan nát hoà lẫn với bùn đất, còn linh hồn thì sẽ ra sao ?
          Chết là hết hay chết là bước vào một thế giới khác ? Có thật một sự sống sau khi từ giã cõi đời này hay đó chỉ là một hão huyền, giả tưởng ? Câu hỏi vẫn cứ được đặt ra  cho con người từ ngàn xưa đến ngàn sau.
          Từ ngàn xưa đến ngàn sau, muôn người vẫn còn thao thức và băn khoăn cho một lời giải đáp. Bởi sống – chết là một mầu nhiệm. Con người phải biết sống để khám phá mầu nhiệm đời mình.  Thao thức, cật vấn về đích điểm, tận cùng của kiếp người là gì, nghĩa là  vẫn còn trăn trở để tìm cho mình một lẽ sống.
          Đối với người tín hữu, chết không phải là đi vào hư vô trống rỗng mà chết chỉ là một sự chuyển đổi. Thực ra, chết không phải là điều tốt, nhưng nó là đoạn đường ta phải vượt qua để đi từ cuộc sống tạm thời này qua cuộc sống vĩnh cửu. Sự chết không phải là sự chết đơn thuần, không phải là con đường cụt không lối thoát. Thiên Chúa không yêu thương chúng ta vô ích, nhưng dựng nên ta để rồi biến ta ra hư vô. Chúa yêu thương ta vô hạn, đã ban chính Con Một của Ngài cho ta, không phải để cho ta thấy ta biến vào hư vô sau cái chết, nhưng để ta được sống lại và để được kết hợp với Ngài.
          Người Phật giáo cũng đồng quan niệm như chúng ta, vẫn coi cuộc đời chỉ là một thứ quán trọ,  không vững bền, không ai mọc rễ ở quán trọ được như câu thơ của một Phật tử đã diễn tả :
 
                                      Trần gian quán trọ đời mình
                                   Đến chơi một chút thình lình rồi đi.
                                      Trăm năm tay giữ được gì
                                   Có mang xuống dưới âm ty bạc vàng ?
          Chúng ta có thể nói đúng hơn : chết là về nhà Cha như bài Tin Mừng chúng ta vừa nghe.  Quê hương chúng ta ở trên trời, nơi Cha chúng ta đang đợi ở đó :”Để Thầy ở đâu, các con cũng sẽ ở đó” (Ga 14,3).
          Chết là rời bỏ quán trọ tạm thời này để về ở trong lâu đài vĩnh cửu Chúa đã dành cho mỗi người chúng ta.  Nhưng muốn được về hưởng lâu đài vĩnh cửu đó, chúng ta phải chuẩn bị ngay ở đời này.  Mỗi người phải cố gắng sống đời thánh thiện, phải lập nhiều công phúc là các việc lành phúc đức.  Tất cả những cái đó là hành trang quí giá chúng ta mang theo trên con đường về cõi trời.

          Truyện :  Ông vua khôn ngoan
          Thánh Đamascenô kể lại một câu chuyện như sau : ngày xưa ở một vùng kia, người ta có một tục lệ kỳ lạ, đó là mỗi vị vua chỉ được trị vì mười năm. Trong thời gian đó, ông ta nắm giữ mọi quyền lực, điều hành mọi công việc, mặc sức sử dụng tiền bạc… Nhưng sau thời gian ấy, người ta sẽ tước đoạt phủ việt cũng như triều thiên và đầy ải ông ta đến một hoang đảo xa xôi, để ông phải chết dần chết mòn trong cô đơn và tuyệt vọng.
          Năm ấy có một vị vua lên ngôi, nhưng ông ta khôn ngoan hơn những người đi trước. Trong thời gian trị vì, ông ta chỉ có một ý nghĩ : phải chuẩn bị cho tương lai, kiến thiết hòn đảo xa xôi nơi ông ta sẽ bị lưu đầy.  Ông truyền cho người ta xây cất cung điện, biến rừng hoang thành những vườn cây ăn trái và những cánh đồng lúa xanh tươi. Rồi ông cho chở tất cả vàng bạc châu báu của vương quốc tới hòn đảo ấy.
          Chúng ta khen ông vua này thận trọng và khôn ngoan.
          Hãy bắt chước ông vua ấy, dùng cuộc sống ngắn ngủi hiện tại mà đầu tư cho cuộc sống vĩnh cửu mai sau. Hãy gửi trước về trời những kho tàng, là những hành động bác ái yêu thương của chúng ta.
          Đừng lần lữa, nhưng hãy bắt tay vào việc nên thánh ngay từ hôm nay, bởi vì như một câu danh ngôn đã bảo :”Việc hôm nay chớ để tới ngày mai, bởi vì ngày mai biết đâu đã quá muộn, liệu còn có hay không” ?
                             Trường hợp ông X…..

          KẾT LUẬN
          Nếu trần gian chỉ là một quán trọ, thì mỗi người chúng ta cũng sẽ rời bỏ nơi đó, chỉ tạm trú một thời gian để chuẩn bị cho ngày về quê hương vĩnh cửu.
          Cuộc sống mai hậu của chúng ta  hoàn toàn lệ thuộc vào cuộc sống của chúng ta ở trần gian này.  Ở trần gian này phải gieo trồng thì sau này mới có cái mà gặt hái.
Muốn xây ngôi nhà trên trời thì ngay từ bây giờ chúng ta phải gửi vật liệu lên, nếu không có vật liệu thì lấy gì mà xây ?
          Tương lai hoàn toàn nằm ở trong tầm tay chúng ta.  Chúng ta có toàn quyền quyết định, Chúa không gây áp lực với ai. Ngài ban cho chúng ta có quyền tự do cùng với ơn trợ giúp của Ngài.
          Vậy, ngay từ hôm nay và ngay từ bây giờ, chúng ta hãy bắt tay vào việc, đừng chần chừ vì thời gian có hạn, khi giờ chết đến chúng ta không kịp sở tay, có nói như nhà thi sĩ :”Ôi thời gian, ngươi hãy ngừng bay”,  cũng vô ích ! Thời gian không có tai để nghe chúng ta.  Thánh Phaolô không ngừng lặp đi lặp lai :”Thời gian thật vắn vỏi”. Cần ý thức điều đó và hãy hành động kịp thời.
 Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim Phát
Đà Lạt

        
 

AnTáng 4: LÁ THU KÊU XÀO XẠC

LÁ THU KÊU XÀO XẠC AnTáng 4

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo thánh Luca.
          Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng : “Các con hãy thắt lưng, hãy cầm đèn cháy sáng trong tay, và hãy làm như người đợi chủ đi ăn cưới về, để khi chủ về gõ cửa, thì mở ngay cho chủ. Phúc cho những đầy tớ nào khi chủ về còn thấy tỉnh thức; Thầy bảo thật các con, chủ sẽ thắt lưng, đặt chúng vào bàn ăn,        và đi lại hầu hạ chúng. Nếu canh hai hoặc canh ba, chủ trở về mà gặp thấy như vậy,           thì phúc cho các đầy tớ ấy. Các con hãy hiểu biết điều này là nếu chủ nhà biết giờ nào kẻ trộm đến, ắt sẽ tỉnh thức, không để nó đào ngạch nhà mình. Cho nên các con hãy sẵn sàng : Vì giờ nào các con không ngờ, thì Con Người sẽ đến”. - Đó là Lời Chúa
 
I. MÙA THU LÁ RỤNG.

           1. Cảnh sắc bốn mùa.
 

Thiên Chúa đã dựng nên vũ trụ vạn vật. Không có gì ở ngoài bàn tay Thiên Chúa. Ngài đã ban AnTáng 4

Thiên Chúa đã dựng nên vũ trụ vạn vật. Không có gì ở ngoài bàn tay Thiên Chúa. Ngài đã ban cho con người năm tháng ngày giờ, thời tiết thuận hoà bốn mùa thay đổi nối tiếp nhau : hết xuân sang hạ, hết hạ sang thu, hết thu sang đông rồi lại tiếp tục mùa xuân, thời tiết cứ thế xoay vần theo quy trình Chúa đã ấn định.
           Mỗi mùa có vẻ đẹp của nó : mùa xuân cây cối đâm chồi nảy lộc, hoa lá khoe sắc thắm tươi làm vui thú lòng người. Mùa hạ cây cối phát triển rồi sinh hoa trái. Mùa thu quả cây chín mọng đem hương vị đến cho cuộc sống con người, đồng thời cũng là mùa lá vàng rơi.  Mùa đông cây cối trút lá đứng chịu tang, nhưng cũng là thời gian chuẩn bị cho mùa xuân sắp tới.
 
          2. Mùa lá rụng.
           Cây cối sinh trưởng theo mùa : mùa xuân cây đam chồi nảy lộc rồi sinh hoa kết quả. Sang đến mùa thu thì quả đã chín, đến mùa thu hoạch, nhưng đồng thời lá cây đã đổi sang màu vàng và bắt đầu rụng.
           Mùa thu cũng có vẻ đẹp riêng của nó. Vẻ đẹp của mùa thu làm ngẩn ngơ tâm hồn thi sĩ. Làn sương mỏng giăng ngang phía chân trời khi hoàng hôn về, cùng với gió chớm lạnh như hơi thở của mùa thu tạo một vẻ đẹp huyên bí, vừa thiêng liêng vừa trần tục.  Mùa thu và thi sĩ gắn kết với nhau để rồi mỗi khi thu về là thi sĩ “tức cảnh sinh tình” như một món nợ truyền kiếp.  Không có thơ cạ tụng mùa thu, thi sĩ như thiếu vắng điều gì rất thân thiết trong đời. Dường như mùa thu cũng mang món nợ đối với thi sĩ, nên mỗi năm lại mang một nét đẹp mới, tinh khôi, cao thượng làm nguồn gợi hứng vô tận  để thi sĩ trả món nợ đời mình.
          Có lẽ, thi sĩ Lưu Trọng Lư, trong một buổi chiều thu lặng lẽ đã sáng tác bài thơ “Tiếng Thu” vào năm 1939. Cho đến nay, bài thơ vẫn còn hấp dẫn đối với những người thích ngâm nga, đặc biệt khi mùa thu tới :
                              Em không nghe mùa thu,
                             Dưới trăng mờ thổn thức,
                             Em không nghe rạo rực,
                             Hình ảnh kẻ chinh phu,
                             Trong lòng người cô phụ.
           Còn gì đẹp bằng hình ảnh ngồi ngắm ánh trăng thu cho lòng mình thổn thức, cho lòng mình rạo rực.  Thi sĩ không những chỉ dùng con mắt để thưởng thức cảnh đẹp của buổi chiều thu, mà còn dùng cả tai để nghe cả được “Tiếng Thu” qua âm thanh của những chiếc là xào xạc :
                              Em không nghe rừng thu,
                             Lá thu kêu xào xạc,
                             Con nai vàng ngơ ngác,
                             Đạp trên lá vàng khô.
           Âm thanh của những chiếc lá xào xạc dưới bàn chân con nai vàng cũng đem đến cho chúng ta  một cái gì sâu lắng hơn. Tiếng kêu xào xạc của những chiếc lá nói lên rằng đã có nhiều chiế lá rụng xuống nằm đầy vườn, đầy sân; và hình ảnh ấy nhắc cho chúng ta biết đã đến “Mùa Thu lá rụng”.
           Hình ảnh mùa thu lá rụng cũng gợi cho chúng ta một thoáng suy tư : phải chăng lá rụng mùa thu là biểu tượng cho mùa thu cuộc đời của con người  ?
 
II. ĐỜI NGƯỜI CHIẾC LÁ
           Sách Giảng viên đã nói :”Có thời sinh ra, có thời để chết” (Gv 3,2). Mỗi loài thụ tạo đều có thời hạn của nó. Đời người được ví như chiếc lá mỏng manh, ngắn ngủi, không vững bền như thánh vịnh 88 đã mô tả :
                              Đời con là một kiếp phù du,
                             Loài người Chúa dựng nên thật mong manh quá đỗi,
                             Sống làm người ai không phải chết,
                             Ai cứu nổi mình, thoát quyền lực âm ty.
                                          (Tv 88, 48-49)
           Mùa xuân cây đâm chồi nảy lộc, cành lá xanh tươi, đến mùa thu lá đã già, đổi sang mầu vàng rồi từ từ rời khỏi cành cây.
           Màu vàng của lá, màu úa của cỏ, nắng nhạt gió chiều là hình ảnh đặc trưng của mùa thu. Và mùa thu cũng là mùa lá rụng. Những chiếc lá còn tươi xanh là thế, qua một thời gian tô điểm cho đời, nay đến lúc lìa cành rụng xuống. Dường như lá còn lưu luyến với cành, đến nỗi khi rụng  còn chao đảo niềm đau thương, cố vẫy vùng như nói lời chia tay sau một thời gắn bó.
           Chúng ta có cảm tưởng như chiếc lá cũng có linh hồn khi phải lìa khỏi cây.  Có những chiếc lá ra đi trong sự quằn quại đau khổ, dùng dằng bịn rịn như thể không muốn lìa cành. Có những chiếc lá “hấp hối” loạng choạng buông mình cách nặng nề nghiêng ngả trên mặt đất. Lại có những chiếc lá ra đi cách nhẹ nhàng trong dáng điệu thướt ta buông mình theo gió.  Những chiếc lá khác không bàng hoàng hối hả mà chậm rãi, thanh nhàn, an nhiên rơi mình  trên thảm cỏ xanh như thể một bông hoa say trong giấc ngủ yên lành.
           Qua hình ảnh những chiếc lá rơi, ta liên tưởng đến cuộc sống con người,  đến tâm trạng của con người ra đi khỏi đời này.  Có những người ra đi trong bấn loạn, hối tiếc, khổ đau, nặng nhọc. Lại có người ra đi về với cội nguồn một cách nhẹ nhàng thanh thản. “Lá rụng về cội”. Lá rụng bên gốc cây. Lá chờ đợi một quá trình sinh học  để trở thành chất dinh dưỡng nuôi cây. Lá góp thân xác tàn úa để trả ơn cho cây.  Đời là ngắn ngủi mà đầy ý nghĩa nhân sinh.
 
III. CHUẨN BỊ CHO MÙA RA ĐI.
           Mùa thu là mùa ra đi của những chiếc lá vàng, con người rồi cũng phải ra đi khi thời gian đã được ấn  định.  Mùa lá rụng nhắc chúng ta sự mỏng giòn của kiếp người. Lá nào rồi cũng phải rụng xuống, người nào cũng có lúc phải lìa đời. Tác giả Thánh vịnh đã cảm nhận rất sâu sắc điều này, khi ông viết :
                              Kiếp phù sinh tháng ngày vắn vỏi,
                             Tươi thắm như cỏ nội hoa đồng,
                             Một cơn gió thoảng là xong,
                             Chốn xưa mình ở cũng không biết mình.
                                          (Tv 103, 15-16)
           Người Việt chúng ta thường quan niệm rằng trong cuộc đời, mỗi người phải đi qua bốn cửa ải là sinh, lão, bệnh, tử.  Theo lẽ thường, người ta sinh ra, lớn lên, già đi rồi chết. Chết là một định mệnh bởi vì đã có sinh thì phải có tử như Kinh Thánh viết :”Ngươi là bụi tro và sẽ phải trở về cùng tro bụi”.  Tử là kết thúc cuộc đời, là hết sống, là chết.
           Nhưng còn một vấn đề quan trọng phải được đặt ra : chết rồi sẽ ra sao ?  Ngày xưa Hoài Nam Tử đã trả lời cho chúng ta câu hỏi này, đó là :”Sinh ký, tử qui” : sống là gửi, chết là về.
           Lại một câu hỏi tiếp phải được đặt ra : ”Tử qui” : chết là về, nhưng về đâu ? Trước câu hỏi này mỗi người có một câu giải đáp tuỳ theo quan niệm của họ về cuộc sống của mình.
 
          Những người không có đức tin, không có tôn giáo, những người vô thần cho rằng chết là hết, là đi vào hư vô trống rỗng. Do đó, chết là một thất bại, là một điều vô nghĩa.
           Những người có tôn giáo thì tin rằng chết là đi vào một thế giới khác, là đi về nơi chín suối, vào nơi cực lạc, vào Niết bàn hay về với ông bà tổ tiên… Như vậy, chết chưa phải là hết, chết mà vẫn còn trong một trạng thái khác  tuỳ theo quan niệm của mỗi tôn giáo, của mỗi người.
           Thi sĩ Nguyễn Du trước đây 300 năm đã nói thay cho những người đương thời về linh hồn bất tử :”Chết là thể phách, còn là tinh anh” (Truyện Kiều).
           Còn đối với chúng ta, những Kitô hữu, chúng ta tin rằng chết chưa phải là hết,  chết chỉ là một sự chuyển đổi. Đúng hơn, chúng ta phải nói rằng :”Chết là đi về nhà Cha” vì Cha chúng ta ở trên trời :”Lạy Cha chúng con ở trên trời” (Kinh Lạy Cha).
          Khi viết thư cho tín hữu Philipphê, thánh Phaolô cũng nhắc nhở cho họ tư tưởng này :”Quê hương chúng ta ở trên trời, và chúng ta nóng lòng mong đợi Đức Giêsu Kitô từ trời đến cứu chúng ta” (Pl 3,20).
           Theo tư tưởng của thánh Phaolô, Đức Giêsu Kitô sẽ đến cứu chúng ta, sẽ đem chúng ta về trời như lời Ngài Hứa :”Để Thầy ở đâu, các con cũng ở đó với Thầy”.  Nhưng khi nào Đức Giêsu mới đến đem chúng ta về trời ? Bài Tin mừng chúng ta vừa nghe đã trả lời cho chúng ta câu hỏi đó.
           Đức Giêsu đã đưa ra một dụ ngôn để nói với chúng ta :”Các con hãy thắt lưng, hãy cầm đèn cháy sáng trong tay, và hãy làm như người đợi ông chủ đi ăn cưới về, để khi chủ về gõ cửa, thì mở ngay cho chủ” (Lc 12,35-36).
           Chúa sẽ đến với chúng ta bất cứ lúc nào, không ai biết vì Ngài ví giờ chết đến bất ngờ như kẻ trộm, phải tỉnh thức.  Công việc của chúng ta là  phải chuẩn bị sẵn sàng.  Nếu Chúa đến bất ngờ mà chúng ta đã sẵn sàng đón Chúa  thì Chúa sẽ thưởng  công cho, sẽ đem vào dự bàn tiệc thiên quốc. Ngược lại, nếu chúng ta đang mê ngủ, không sẵn sàng tỉnh thức thì sẽ bị loại ra ngoài, phải vào nơi khóc lóc nghiến răng.
           Chúng ta có thể nói đời là một cuộc hành trình đi về quê trời.  Mỗi người phải làm một cuộc hành trình trong đời, không ai làm thay cho ai được, cuộc hành trình đó dài hay ngắn đều do Thiên Chúa ấn định.  Cuộc hành trình nào cũng phải được chuẩn bị kỹ càng, không ai khởi hành mà không biết mình đi đâu, không ai khởi hành mà đi với hai bàn tay không, gặp chăng hay chớ.  Ra đi mà không có chuẩn bị là một sự điên khùng.
           Trái lại, trước khi khởi sự một cuộc hành trình, bao giờ cũng phải nghĩ tới đích điểm, không lẽ lên đường mà không biết mình đi đâu. Muốn có một điểm đến là phải lựa chọn, mà lựa chọn là day dứt. Sau lựa chọn là phải quyết định mà quyết định bao giờ cũng căng thẳng bởi vì nó sẽ đưa đến một hậu quả.
           Đây là một chuyến đi quyết định và quan trọng.  Một chuyến đi vĩnh viễn không bao giờ trở lại. Một chuyến đi quyết định cho số phận đời đời của mình, ai dám khinh thường ?
           Kinh nghiệm cho hay, khi một người định đi tham quan một nước nào trong một thời gian, chắc chắn người đó phải chuẩn bị rất kỹ.  Người ấy sẽ nói nhiều về nước đó, đọc nhiều tài liệu về tập quán, phong tục của nước đó.
           Nhưng nhiều người nói rằng hy vọng một ngày kia sẽ vào Nước Trời, mà không bao giờ nói về nước ấy, cũng không đọc tài liệu hướng dẫn duy nhất là Kinh Thánh, như thế làm sao nói được là có hy vọng hay là sẽ vào Nước Trời.
 
Truyện : Không chuẩn bị.
           Một người có quyền thế danh vọng ở đời bỗng nhiên chết bất ngờ. Người quản gia vội vàng báo tin cho thuộc hạ trong nhà  tin buồn này.  Người ấy nói :
          - Theo các anh thì ông chủ của chúng ta sẽ đi về đâu ?
          Các thuộc hạ đáp :
          - Ông ấy lên trời chứ đi đâu nữa ?
          Người quản gia nói :
          - Không đâu. Tôi chắc chắn ông ta không lên trời.
          Những người thuộc hạ ngạc nhiên nói :
          - Thường thì đi đâu xa, ông chủ của chúng ta thường nói về nước sẽ đi đến và chuẩn bị rất là cẩn thận. Nước Trời là cõi xa xôi, nhưng tôi không bao giờ thấy ông chủ của mình nói gì về nước đó, cũng không thấy ông ta chuẩn bị gì cả. Làm thế nào mà ông ta vào Nước Trời được !(Giọt nuớc mắt cuối cùng, tr 12-13).
           Nhìn lá vàng rơi, ta nghĩ về cuộc đời lữ thứ. Cuộc đời sẽ có ngày chấm dứt. Suy nghĩ về sự chết không làm cho chúng ta bi quan mà còn làm cho chúng ta tin tưởng và phấn khởi vì quê hương chúng ta ở trên trời nơi Chúa đang chờ đợi chúng ta.  Ngày ra đi khỏi trần gian này không phải là đi vào hư vô trống rỗng như những người không có đức tin tưởng như thế, nhưng ngày đó là ngày phải vui mừng vì chúng ta được về nhà Cha, ngày đó phải được coi là ngày sinh nhật trên trời.
           Nhưng muốn được về nhà Cha thì phải có điều kiện, đó là chúng ta phải tỉnh  thức và sẵn sàng nghĩa là phải được chuẩn bị ngay dưới thế này.  Một lần nữa, chúng ta hãy đọc lại và suy gẫm lời Chúa dạy chúng ta trong bài Tin Mừng chúng ta vừa nghe :”Các con hãy thắt lưng, hãy cầm đèn cháy sáng trong tay,  và hãy làm như người đợi chủ đi ăn cưới về, để khi chủ về gõ cửa, thì mở ngay cho chủ” (Lc 12, 3-4).
 Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt


 

AnTáng 5: BỨC TRANH ĐỜI NGƯỜI

BỨC TRANH ĐỜI NGƯỜI AnTáng 5

I. CHUẨN BỊ ĐÓN CÁI CHẾT
 

Khi đi dự một đám tang, ai cũng có một vài suy nghĩ như người Tây phương nói : “Hodie tibi AnTáng 5

Khi đi dự một đám tang, ai cũng có một vài suy nghĩ như người Tây phương nói : “Hodie tibi, cras mihi” : nay người mai ta.  Mọi người trước sau đều phải chết vì từ xưa đến nay chưa thấy ai sống mãi sống hoài hay người ta đã tìm ra được một thứ thuốc gọi là “Trường sinh bất tử”.
           Tư tưởng này đã có từ ngàn xưa. Mọi người từ đông sang tây, từ nam chí bắc, từ cổ đến kim đều phải công nhận lời phát biểu của ông  Văn Thiên Trường là đúng, không có luật trừ :
                                       Nhân sinh tự cố thuỳ vô tử,
                                      Lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh.
                                      Ngàn xưa, người thế ai không chết,
                                      Chết, để lòng son rạng sử xanh.
           Bồi đắp cho tư tưởng của Văn Thiên Trường, thánh Phaolô trong thư gửi cho tín hữu Rôma đã khẳng định :”Cũng như do một người mà tội lỗi đã nhập vào thế gian, và do tội lỗi có sự chết, và sự chết đã truyền đến  mọi người vì lẽ rằng mọi người đã phạm tội” (Rm 5,6).
           Đúng vậy, chính vì Adong Evà mà tội lỗi đã du nhập vào thế gian và hậu quả của tội lỗi là sự chết.  Ngày xưa, Thiên Chúa đã phán với Adong sau khi ông đã phạm tội :”Ngươi là bụi đất và sẽ trở về với bụi đất” (St 3,19)… Trở về với bụi đất là chết. Lời Chúa luôn tồn tại và luôn được thi hành.
           Thánh vịnh 88 cũng khẳng định điều đó :
                              Xin nhớ rằng : đời con là một kiếp phù du,
                             Loài người Chúa dựng nên thật mỏng manh quá đỗi !
                             Sống làm người, ai không phải chết,
                             Ai cứu nổi mình thoát quyền lực âm ty.
                                            (Tv 88,48-49)
           Chết là một thực tại mà không ai có thể chối cãi được.  Nhưng tiếp theo đó, người ta lại có một câu hỏi khác : Chết rồi sẽ đi đâu ? Chết rồi sẽ ra sao ?
           Nhà văn Nhất Linh trong nhóm Tự lực văn đoàn, một ngày kia bâng khuâng, ông tự hỏi mình :
          - Chết rồi sẽ ra sao nhỉ ?
          Nghĩ ngợi một chốc, rồi ông lại tự trả lời lấy :
          - Hồi Hai Bà Trưng, tôi chưa ra chào đời. Thế khi ấy tôi ở đâu ? Chết, tức là trở về tôi hồi ấy vậy.
           Trước vấn đề này, hồi xưa ông Hoài Nam Tử đã có thắc mắc và đã tìm ra được câu trả lời giống như nhà văn Nhất Linh :”Sinh ký, tử qui” : sống là sống gửi sống nhờ, chết mới là về.
           Cho đến nay, chưa có câu trả lời dứt khoát cho câu hỏi này.  Câu trả lời phải dựa vào quan niệm của từng người và tuỳ theo quan niệm của từng tôn giáo, tuỳ theo phong tục từng địa phương.
           Đối với các Kitô hữu, chúng ta đã có câu trả lời của thánh Phaolô trong thư gửi cho tín hữu Philipphê : “Quê hương chúng ta ở trên trời, nơi đó chúng ta mong đợi Đấng Cứu Chuộc là Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta” (Phil 3,20).
           Tư tưởng trên còn được quảng diễn thêm trong thư thánh Phaolô gửi cho tín hữu Côrintô :”Nếu ngôi nhà chúng ta ở dưới đất, là chiếc lều này, bị phá huỷ đi, thì chúng ta có một nơi ở do Thiên Chúa dựng lên, một ngôi nhà vĩnh cửu trên trời, không do tay người thế làm ra” (2Cr 5,1).
           Đối với người Kitô hữu, câu trả lời cính xác cho câu hỏi “Đi về đâu” là “Chúng ta đi về quê trời”. Do đó, cuộc sống của chúng ta ở đời là một cuộc lữ hành đi về quê trời, nơi chúng ta hằng mong đợi và Chúa cũng đang mong chờ chúng ta.
           Cuộc hành trình đã có đích điểm rõ ràng. Nhưng cuộc hành trình nào cũng phải được chuẩn bị kỹ càng, nghĩa là phải có hành trang cho cuộc hành trình dài hạn.  Đây là thời gian chúng ta mong đợi Chúa đến  đem chúng ta về với Ngài theo như lời Ngài phán :”Thầy đi dọn chỗ cho các con. Nếu Thầy đi dọn chỗ cho các con, thì Thầy lại đến, và đưa các con về với Thầy, để Thầy ở đâu, các con cũng ở đó” (Ga 14,2-3)
           Chắc chắn Chúa sẽ đến đưa chúng ta về với Chúa, nhưng Ngài sẽ đến bất ngờ. Chúng ta luôn phải trong tư thế sẵn sàng. Do đó, Chúa đưa ra cho chúng ta một dụ ngôn về người đầy tớ trung thành, chăm chỉ làm việc, được chủ thưởng công  cho.  Nên Ngài phán :
 “Các con hãy thắt lưng cho gọn, thắp đèn cho sẵn. Hãy làm như những người đợi chủ đi ăn cưới về, để khi chủ vừa về tới và gõ cửa, là mở ngay. Khi chủ về và thấy đầy tớ ấy đang tỉnh thức, thì thật là phúc cho họ. Thầy bảo thật các con : chủ sẽ thắt lưng, đưa họ vào bàn ăn, và đến bên từng người mà phục vụ.  Nếu canh hai và canh ba  ông chủ mới về, mà còn thấy họ tỉnh thức như vậy, thì thật là phúc cho họ” (Lc 12,35-38).
 
II. BỨC TRANH ĐỜI NGƯỜI
           Đời người thường được chi ra thành 4 giai đoạn, có người qua hết các giai đoạn, có người chỉ qua một vài giai đoạn như người ta thường nói : sinh, lão, bệnh tử.
           Vì vậy,  một hoạ sĩ vô danh nọ  vào thời Trung cổ đã tóm tắt đời người thành 4 bức tranh xếp bên cạnh nhau :
           Bức tranh thứ nhất hoạ lại tuổi thơ. Không gì đẹp và thanh thản cho bằng tuổi thơ.  Một em bé hồn nhiên, vô tư ngồi trên một chiếc ghe buồm vừa nhổ neo ra khỏi bờ… Em bé nhìn theo sóng nước không sợ hãi vì người đang cầm bánh lái là một thiên thần. Bóng đen đang ngủ một cách dịu hiền đằng sau bánh lái.
           Sang đến bức tranh thứ hai, người ta bỗng thấy cậu bé trở thành một trang thiếu niên đang đứng nhìn chân trời xa tắp với những háo hức trước những điều mới lạ… Vị thiên thần vẫn còn cầm tay lái, nhưng sóng đã bạc đầu và bóng đen đã thức giấc.
           Bức tranh thứ ba là cảnh tuổi trưởng thành. Bầu trời đã trở nên ảm đạm, Sóng gió ập phủ tứ bề. Bánh lái đã năm trong tay của bóng đen. Vị thiên thần đã bị trói chặt trong một góc.  Nguuời đàn ông đã phải dùng tất cả sức lực của mình để chiến đấu, để chiếc ghe không bị lật úp.
           Cuối cùng, trong bức tranh thứ tư, người ta thấy nột cụ già đang ngồi ung dung giữa ghe. Sóng yên, gió lặng, mặt trời xuất hiện trở lại. Vị thiên thần đã dành lại được bánh lái, còn bóng đen thì bị trói chặt đang sau (Theo Internet).
           Đời là một cuộc haiả trình gay go. Trần gian như một biển cả mênh mông, và đời mỗi người như một con thuyền lênh đênh trên biển cả.  Biển có lúc yên như tờ, có lúc gơn sóng lăn ta9n, nhưng cũng có lúc gây sóng gió bão táp làm cho con thuyền chao đảo.
           Con thuyền đời người phải đi đến đích điểm. Đích điểm có thể là bến yên hàn và cũng có thể là vực thẳm của chết chóc.  Đến nơi yên hành hay đứt gánh giữa đường : số mệnh ấy không ai có thể định đoạt cho ta, mà chỉ có mỗi người phải biết lám chủ, biết lèo lái con thuyền đời mình cho khéo.
                  Trong ca dao tục ngữ, chúng ta cũng thấy có một câu ca dao rất hay, rất ý nghĩa và rất gây ấn tượng, đi từ cảnh thiên nhiên đến lãnh vực tâm linh :
                                       Lênh đênh trên cửa Thần Phù
                                      Khéo tu thì nổi vụng tu thì chìm.
           Theo câu ca dao đó thì ngày xưa ở Thanh Hoá có một của biển gọi là Cửa Thân Phù. Bây giờ không biết có còn không vì lâu ngày bị phù sa vùi lấp.  Đây là một cửa biển rất nguy hiểm, có một dòng nước xoáy rất mạnh, chiếc thuyên đi đến đó bị hút vào dòng xoáy, phải cứng tay chèo lái thì mới có thể vượt qua, nếu không sẽ bị chìm.
           Từ cái nhìn vật chất đến cái nhìn tâm linh. Muốn vào tới bén bình an là Thiên đang, con người phải vượt vượt qua được những cửa biến Thần Phù nguy hiểm.  Phải biết tu thân tích đức. Theo chữ Nho thì TU có nghĩa là sửa, và tu thân thì có nghĩa là sửa mình. Muốn tiển triển trên đường nhân đức thì phải biết sửa mình cho nên tốt hơn :”Nhật nhậ tân, hựu nhật tân”. Như vậy những người “khéo tu” thì được cứu rỗi !  Còn ngược lại, những người  “vụng tu” thì phải trầm luân là cái chắc.
           Co` lẽ nhiều người trong chúng ta đã quá quen thuộc với những trò chơi “Thiên đàng địa ngục” mà các em thiếu nhi thường tụ tập trước sân thánh đường để cùng biểu diễn… Các em nói lớn với nhau :”Thiên đang đại ngục hai bên, ai khéo thì về ai vụng thì sa””… Trả lời được một số câu hỏi thì được vào thiên đàng, trả lời không được thì bị chận lại ngoài cưaả.
           Tuy trò chơi đon sơ nhưng vui vẻ và có tính cách giáo dục đức tin, vừa học vừa chơi. Và trò chơi đơn sơ ấy có tác dụng gieo vào đầu chúng ta một hình ảnh về cuộc đời.  Đời là một cuộc ra đi. Hướng đi của cuộc đời tuỳ thuộc ở sự định đaot5 của mỗi người.  Con đường dẫn đến hư đốn rộng thênh thang. Con đường dẫn đến sự sống là một con đường chật hẹp, gồ ghề khúc khuỷu, đòi hỏi con người phải chiến đấu kiên cường.
 
III. MUỐN VÀO QUÊ TRỜI
           Một lần nữa, thánh Phêrô đã nhắc nhở cho các tín hữu Philipphê hãy nhớ tới quê hương của mình :”Quê hương chúng ta ở trên trời, nơi đó chúng ta mong đợi Đấng Cứu Chuộc là Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta” (Phil 3,20).
           Quê hương trần gian này chỉ là nơi tạm trú, như một quán trọ nên không ở lâu, phải tiếp tục lên đường, không được coi đó là quê hương của mình. Đừng để cho bóng mát bên đường lôi kéo chúng ta dừng lại kẻo bị trì trệ hay lạc hướng . Người Kitô hữu chúng ta luôn luôn có tâm niệm ấy mỗi khi đi dự một đáng táng. Họ phải nói lên tâm tình ấy :
                                        Con chim ở trọ cành tre,
                             Con cá ở trọ trong khe nước nguôn.
                                       Tôi nay ở trọ trần gian
                             Trăm năm về chốn xa xăm cuối trời.
           Quê hương chúng ta ở trên trời, nhưng muốn vào Nước Trời phải có điều kiện như Chúa Giêsu đã nói :”Khing6 phải cứ kêu lạy Chúa, lạy Chúa, mà được vào Nước Trời, nhưng chỉ những ai thi hành ý Cha Ta ở trên trời mới được vào” .
           Muốn thi hành ý Chúa ở trên trời, con người phải cố gắng hết mình, phải chiến dđấu kiên cường chống lại những quyến rũ của xác thịt, chống lại sự uon7 hèn của mình vì Chúa Giêsu đã phán :”Regnum coelorum vim patitur” : nước Trời chỉ có thể chiếm được bằng sức mạnh.
           Sức mạnh đây không phải là sức mạnh thể xác mà là sức mạnh của tinh thần, nghĩa là phải kiên cường chống lại sự ác, với tội lỗi để sống trung thành với Chúa.
           Ngoài ra chúng ta còn phải sắm cho mình một kho tàng trên trời, nơi mối mọt không thể đục khoét.  Kho tàng ấy gồm nhưng công việc chúng ta làm ở dưới đất với lòng yêu mến Chúa cùng với sự hy sinh hằng ngày, sẽ thành những viên ngọc sáng chói dành cho chúng ta ở trên trời.
 
          Truyện : Những Viên Sỏi
           Nhóm người nọ rủ nhau hành hương. Điểm đến là ngôi đền nhỏ cheo leo ở đỉnh một ngọn núi cao vút, tưởng như chạm tới những cụm mây lơ lửng trên bầu trời xanh ngăn ngắt
           Đường đi khó, phải mất dài ngày. Càng lên cao hành trình càng thêm vất vả… Nhưng cả nhóm quyết tâm vượt núi, vì ngôi đền từ xưa nổi tiếng linh thiêng và lão sư trụ trì là bậc chân tu đã chứng đắc chánh quả.
           Dưới chân núi dựng một nhà trạm, do vị đại đệ tử của lão sư trông coi, thường gọi là chủ trạm. Khách mộ đạo tạm trú ở đó, dưỡng sức, đồng thời chuẩn bị thêm ít lương khô và nước uống trước khi bắt đầu leo núi.
           Ngủ một đêm ở nhà trạm, sáng sớm hôm sau thức dậy, nhóm người nọ cung kính cảm tạ và từ biệt chủ trạm. Tiễn khách ra cổng, đi ngang khoảnh sân nhỏ rải đầy sỏi trắng, chủ trạm tủm tỉm cười, bảo cả nhóm:
           - Mỗi vị hãy tự tay nhặt mấy viên sỏi này mang theo. Nhiều ít tùy tâm. Không nhặt cũng tùy tâm. Ai không nhặt sẽ hối tiếc, và ai có nhặt cũng sẽ hối tiếc.
           Lời nói lạ lùng! Nghĩ đến dốc núi cao và dài, có người không muốn lưng vác thêm nặng, nên khẽ nhún vai. Có người ngần ngại, nhưng cũng cúi xuống nhặt bừa vài viên gọi là. Có người hồn nhiên ngồi thụp xuống, vốc sỏi đầy hai bàn tay…
           Có đi thì có đến. Cuối cùng cả nhóm được vào bái kiến vị lão sư tại ngôi đền thiêng trên chót núi.
          Trong chánh điện, lão sư chúc phúc cho cả nhóm rồi ôn tồn nói: “Bần đạo ở nơi non cao hẻo lánh, không có món gì xứng đáng lưu niệm chuyến đi nhọc nhằn của quý vị. Tuy nhiên, ai có sỏi thì lấy ra xem.”
           Cả nhóm sửng sốt khi thấy những viên sỏi tầm thường ở nhà trạm chân núi đã hóa thành những viên ngọc óng ánh từ lúc nào. Những người không nhặt sỏi quá đỗi hối tiếc, thầm nhiếc mắng bản thân thậm tệ. Những người đã nhặt sỏi cũng rất hối tiếc, thầm trách mình đã không chịu khó hốt thêm cho thật nhiều, thật đầy vào .
           Như vậy muốn về thiên đàng, cần phải chuẩn bị để xây dựng thiên đang ngay tận dưới đất này như cha Duval noi :”Trời của bạn sẽ được hình thành ngay dưới đaất bằng cánh tay của bạn”.
           Đối với các tín hữu, với những người đang sống đức tin, trời không là cái gì hoàn toàn mới mẻ, nhưng là sự khai nở, tỏ hiện và thành toàn cái đã có sẵn trong họ.  Vì thế :”Chúng ta xây dựng đời đời trong mọi hành vi của mình : đó là khả năng kỳ diệu của con người. Chúng ta xây dưng Nước Trời từng mỗi phút giây” (Guy de Larigaudie).
 Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt


 

AnTáng 6: PHẢI BIẾT LO XA

PHẢI BIẾT LO XA AnTáng 6

Theo quan niệm thông thường của người đời thì mọi người đều phải đi qua bốn cửa ải là sinh AnTáng 6

Theo quan niệm thông thường của người đời thì mọi người đều phải đi qua bốn cửa ải là sinh, lão, bệnh, tử. Và cũng theo triết lý Đông phương thì cái gì đã có hình thì có hoại, đã có sinh thì phải có tử.  Không ai có thể thoát được cửa tử. Sinh tử là một định luật không thể thay đổi được.
           Nhưng chết rồi sẽ ra sao ? Đây là vấn đề khiến người ta tranh cãi !  Những người không có tín ngưỡng thì cho chết là hết, là đi vào hư vô trống rỗng, như triết gia Jean Paul Sartre chủ trương.  Cho nên cái chết chẳng có ý nghĩa gì.
           Ngược lại, những người có tín ngưỡng thì cho rằng chết vẫn chưa hết, chết mà vẫn còn, chết chỉ là một sự chuyển đổi  từ cuộc sống đời này sang đời sau. Hay nói văn vẻ như ông Wolfang Goethe thì :”Con người chết là một vì sao lặn để mọc huy hoàng hơn ở một bán cầu khác”.
           Đối với chúng ta, cái chết vẫn có ý nghĩa : chết là đi về quê thật, chết là về nhà Cha như thánh Phaolô đã nói với tín hữu Philipphê :”Quê hương chúng ta ở trên trời” (Pl 3,20).  Nhưng muốn về trời thì phải biết lo xa, phải có chuẩn bị, phải có điều kiện, đừng để mình rơi vào trường hợp bi đát như người ta nói :”Nhân vô viễn lự, tắc hữu cận ưu” (Luận ngữ) : người không biết lo xa, ắt phải buồn gần.
 
I. Ý NGHĨA CỦA SỰ CHẾT
           1. Mọi người đều phải chết
           Chính ra con người được sống hạnh phúc và được hưởng phúc trường sinh bất tử với Thiên Chúa vì Chúa đã dựng nên con người giống hình ảnh Ngài. Nhưng vì sự phản bội của nguyên tổ Adong – Evà mà sự chết đã đột nhập vào thế gian, làm  cho con người mất hạnh phúc đời đời và sau cùng phải chết, như lời Thiên Chúa đã phán với nguyên tổ :”Ngươi là bụi đất và sẽ phải trở về cùng bụi đất” (St 3,19).  Như vậy cuộc sống không phải là đường thẳng mà là đường vòng.
           Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, tuy không phải là một Kitô hữu, nhưng cũng có những ý tưởng về sự hình thành con người từ bụi đất và sẽ trở về cùng bụi đất như trong sách Sáng thể , khi ông viết lời ca trong bài “Cát bụi” :”Hạt bụi nào hoá kiếp thân tôi, để một mai tôi về cùng cát bụi”. 
           Người xưa cũng nói lên kinh nhgiệm này khi thấy mọi người trên mặt đất này đều qua đi, kẻ trước người sau, cùng lắm chỉ còn lại trong sử sách :
                                       Nhân sinh tự cổ thuỳ vô tử
                                      Lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh
                                        ( Văn Thiên Tường – Đời Tống)
                   Nghĩa là :
                                      Ngàn xưa, người thế ai không chết
                                      Chết, để lòng son rạng sử xanh.
 
          2. Nhưng chết là gì ?
           Phải chăng chết là một thực tại duy nhất mà con người chỉ trải qua có một lần, trải qua cho chính mình mà không thể giải thích cái kinh nghiệm cho người còn sống.  Thường thì người đời cho chết là “hết chuyện”.  Điều ấy thật đúng với những người không có tín ngưỡng.  Sự chết thực sự là giai đoạn cuối của đời họ.  Vì vậy mà người ta sống hưởng thụ và tranh giành lấy những gì mà họ cho là tốt đẹp nhất của cõi đời… để rồi cuối cùng họ cũng phải đối diện với cái chết.
           Còn đối với người Kitô hữu thì sao ?  Chúng ta nghĩ gì về sự chết ?  Hay chúng ta cũng bị lôi cuốn  với dòng đời và không còn đủ thời giờ để nghĩ đến sự chết !  Nhưng tại sao lại phải nghĩ đến cái chết ? Suy tư về sự chết để biết rằng, đối với những người theo Chúa Kitô, chết không phải là hết, nhưng là một sự khởi đầu cho cuộc sống mới.
           John Milton đã có cái nhìn rất lạc quan về sự chết khi viết :”Sự chết là cái chìa khoá bằng vàng để mở được cánh cửa của lâu đài vĩnh cửu”.
           Thánh Phaolô nói :”Chết là giải thoát, là một mối lợi” (Pl 1,21), bởi vì ngài còn cho biết thêm :”Ở lại trong thân xác này là lưu lạc xa Chúa, vì chúng ta tiến bước nhờ lòng tin chứ không phải nhờ được thấy Chúa… Vậy, chúng ta luôn mạnh dạn, và điều chúng tôi thích hơn, đó là lìa bỏ thân xác để được ở bên Chúa” (2Cr 5,6-8).
           Thánh Augustinô đã than thở với Chúa trong cuốn “Tự thú” của mình :”Hồn con luôn bồi hồi sao xuyến cho đến khi được an nghỉ trong Chúa”.
           Thánh Phanxicô Assisi có một cái nhìn rất lạc quan về sự chết khi ngài nói trong Kinh Hoà Bình :”Chính lúc chết đi là khi vui sống muôn đời”.
 
          Thánh Catarina Sienna ước mong được chết để được về với Chúa đã đưa ra so sánh này :”Đời sống là cây cầu, hãy đi qua, chứ đừng đứng lại trên đó”.
           Nhạc sĩ thiên tài Mozart đã viết cho cha với những lời lẽ rất lạc quan :”Con không bao giờ đi ngủ mà không nghĩ rằng có thể con không còn thấy ngày mai nữa.  Sự chết là mục đích thực sự của đời sống.  Từ vài năm qua, con đã quen với người bạn tuyệt vời đó. Hình ảnh người bạn đó không còn làm con sợ mà còn cảm thấy người bạn đó hiền lành và cởi mở”.
 
          3. Sự chết đối với mỗi người
           Ngày xưa, Hoài Nam Tử có một câu nói để đời :”Sinh ký, tử qui” : sống gửi, chết về. Do đó, cuộc sống ở trần gian này chỉ là một thời lưu vong, xa quê hương, phải ở trọ nơi đất khách quê người.  Như vậy, có ai không muốn về sau những ngày lưu vong không ? Thế mà vẫn có những người còn ngần ngại khi đến lúc phải “lên đường về quê” !
           Suy nghĩ về sự chết giúp chúng ta sống trọn vẹn hơn giây phút hiện tại.  Không ai trong chúng  ta biết được ngày giờ mình sẽ chết.  Chúa Kitô đã nói về điều này :”Các con hãy sẵn sàng, vì không biết ngày giờ nào Con Người sẽ đến” (Mt 25,13).
           Cũng có một câu danh ngôn giúp chúng ta ý thức về giây phút sống :”Khi học hỏi, bạn hãy học như thể bạn sẽ sống muôn đời, nhưng bạn hãy sống như thể ngày mai là ngày cuối cùng của đời bạn”.
 
Truyện : Hãy mai táng chính mình
           Một vị linh mục nọ đã có một sáng kiến rất ngộ nghĩnh để đánh động giáo dân trong giáo xứ.  Một buổi sáng Chúa nhật nọ, dân chúng bỗng nghe một lời rao bảo như sau :”Một nhân vật trong giáo xứ vừa qua đời.Tang lễ sẽ được cử hành vào sáng thứ tư tới”.  Nghe lời loan báo ấy, cả giáo xứ nhốn nháo lên.  Người nào cũng muốn biết con người quan trọng ấy là ai.
           Đúng ngày tang lễ, mọi người trong giáo xứ nườm nượp kéo nhau tới nhà thờ.  Từ cung thánh cho đến cuối nhà thờ, không còn một chỗ trống.  Người ta đến không phải để cầu nguyện cho người quá cố cho bằng để nhìn mặt lần cuối cùng con người mà ai cũng muốn biết.
           Sau thánh lễ, vị linh mục mở nắp quan tài để cho mọi người đến chào biệt lần cuối cùng người quá cố.  Ai cũng sắp hàng để nhìn cho kỳ được người chết.  Nhưng ai cũng đều ngạc nhiên, bởi vì thay cho thi hài của người chết, mỗi người chỉ nhìn thấy trong quan tài một tấm gương và dĩ nhiên, khi cúi vào quan tài, mỗi người chỉ nhìn thấy dung nhan của mình mà thôi.
           Chờ cho mọi người làm xong nghi thức từ biệt ấy, vị linh mục mới giải thích : “Như anh chị em đã có thể nhận thấy, tôi đã cho đặt vào trong quan tài một tấm kính.  Con người mà anh chị em nhìn thấy trong quan tài không ai khác hơn là chính mỗi người trong chúng ta. Vâng, đúng thế, thưa anh chị em, mỗi người chúng ta  cần phải mai táng chính mình… Thánh lễ vừa rồi  đã được cử hành cho tất cả chúng ta”.
 
II. CHUẨN BỊ CHO CUỘC RA ĐI VĨNH VIỄN
           Chúng ta hãy có thái độ sống như chân phước giáo hoàng Gioan 23 : Khi bệnh đã đến hồi nguy kịch, mặc dầu bác sĩ không cho biết bệnh tình, nhưng ngài đã biết mình nên đã nói :”Tôi đã dọn sẵn hành trang”.
           Trong dụ ngôn mười cô trinh nữ khôn ngoan và khờ dại, Chúa Giêsu khuyên bảo chúng ta hãy sẵn sàng chờ đợi Chúa đến  đem chúng ta về với Ngài, đồng thời phải có sẵn dầu dự trữ là đời sống tốt lành và công phúc phải mang theo.
           Những người khôn ngoan phải luôn tỉnh thức trong tư thế sẵn sàng và trong cuộc ra đi này phải có sẵn hành trang.  Khởi đầu một cuộc hành trình mà không có hành trang là một người thiếu khôn ngoan. Phải chuẩn bị sẵn hành trang mà lên đường bất cứ lúc nào.
 
          1. Khôn ngoan trong việc biết lo xa.
           Kinh nghiệm trường đời cho hay những người khôn ngoan đều biết lo cho tương lai, biết lo xa, biết đề phòng mọi ách tắc, để khi có sự cố xẩy đến họ biết đối phó một cách dễ dàng và giải quyết một cách nhanh nhạy.
           Thi sĩ người Pháp, ông La Fontaine đã sáng tác một bài thơ ngụ ngôn “Con ve và con kiến” để nói lên sự khác biệt giữa người biết phòng xa, biết lo cho tương lai với người chỉ biết nhìn vào hiện tại mà quên tương lai, giữa sự cần cù làm việc và sự lười biếng.
           Vì thế, cổ nhân đã khuyên mọi người phải biết khôn ngoan trong việc :”Tích cốc phòng cơ, tích y phòng hàn” : hãy tích trữ lúa gạo đề phòng lúc đói, hãy tích trữ áo quần đề phòng khi trời lạnh.
 
Truyện : Ông vua xây lâu đài
           Thánh Đamascênô kể lại một mẩu chuyện như sau: ngày xưa ở một vùng kia, người ta có một tập tục kỳ lạ, đó là mỗi vị vua chỉ được trị vì mười năm. Trong thời gian đó, ông ta nắm giữ mọi quyền lực, điều hành mọi công việc, mặc sức sử dụng tiền bạc…Nhưng sau thời gian ấy, người ta sẽ tước đoạt phủ việt cũng như triều thiên và đày ải ông ta tới một hoang đảo xa xôi, để ông phải chết dần chết mòn trong cô đơn và tuyệt vọng.
           Năm ấy có một vị vua lên ngôi, nhưng ông ta khôn ngoan hơn những người đi trước. Trong thời gian trị vì, ông ta chỉ có một ý nghĩ: phải chuẩn bị cho tương lai, kiến thiết hòn đảo xa xôi nơi ông ta sẽ bị lưu đày. Ông truyền cho người ta xây cất cung điện, biến rừng hoang thành những vườn cây ăn trái và những cánh đồng lúa xanh tươi. Rồi ông cho chở tất cả vàng bạc châu báu của vương quốc tới hòn đảo ấy.
Chúng ta thầm khen:
-       Ông vua này quả là thận trọng và khôn ngoan.
           Hãy bắt chước ông vua ấy, dùng cuộc sống ngắn ngủi hiện tại mà đầu tư cho cuộc sống vĩnh cửu mai sau. Hãy gửi trước về trời những kho tàng, là những hành động bác ái yêu thương của chúng ta.
           Đừng lần lữa, nhưng hãy bắt tay vào việc nên thánh ngay từ hôm nay, bởi vì như một câu danh ngôn đã bảo:
     “Việc hôm nay chớ để tới ngày mai, bởi vì ngày mai biết đâu đã quá muộn, liệu còn có hay không” ?
 
          2. Khôn ngoan lo cho linh hồn mình
           Mỗi người có một linh hồn và ai nấy phải lo phần rỗi đời đời cho mình, không ai có thể thay thế được. Dụ ngôn năm cô trinh nữ khôn ngoan và năm cô khờ dại đã nói lên chân lý đó : phần rỗi của ai, người ấy lo.
           Vua Salomon sau khi đã hưởng hết các lạc thú trên đời cũng vẫn con khát và thốt ra :”Vanitas vanitatum, omnia vanitas” (Gv 1,2) :
                                         Phù hoa nối tiếp phù hoa
                                 Chi chi chăng nữa cũng là phù hoa
           Thánh Augustinô sau 30 năm đắm mình trong nhục lạc, ngài đã tìm thấy đường về cùng Chúa, và đã thốt ra những điều rất thật :”Lạy Chúa, Chúa đã dựng nên chúng con cho được hưởng Chúa, nên tâm hồm chúng con  không được bình yên cho đến khi được an nghỉ trong Chúa”.
 
Truyện : Vị cận thần của vua Charles Quint
           Một hôm, đang ngồi trong bàn giấy, vua Charles Quint thấy một vị quan vốn trung thành, đệ đơn xin từ chức.  Tưởng rằng vị quan này không được hài lòng  vì lương bổng hay bất mãn về công danh.  Nhà vua tha thiết nhìn ông, và bảo cứ ở lại, nhà vua sẽ cho như ý. Hiểu ý vua, vị đó trả lời :
          - Tôi xin rút lui để có thời giờ lo việc linh hồn.
          Nghe câu trả lời bất ngờ đó, vua cảm động và khen ngợi là người khôn ngoan biết lo xa. Chính vua Charles Quint sau cùng từ chức và vào nhà dòng dọn mình chết lành  (Trần Công Hoán, Tìm hiểu ít nhân đức, 1965, tr 59) .
 
          3. Khôn ngoan trong việc biết cho đi
           Tinh tuý của đạo chúng ta là giới răn “Mến Chúa yêu người”. Đọc Tin mừng, chúng ta thấy Chúa Giêsu nhấn mạnh đến đức bác ái đối với tha nhân.  Chúa đã nhấn mạnh :”Ngươi hãy yêu tha nhân như chính mình ngươi” (Mt 23,39 ; Mc 12,31; Lc 10,27) và ngài còn nhấn mạnh thêm :”Ngươi hãy yêu kẻ thù ngươi, và cầu nguyện cho họ” (Mt 5,44-47; Lc 6,27-35).
           Có lẽ đến ngày phán xét, Chúa Giêsu chỉ chú ý phán xét về đức bác ái đối với tha nhân, vì Ngài sẽ phán với kẻ lành ở bên phải rằng:”Nào những kẻ Cha Ta chúc phúc, hãy đến thừa hưởng Vương Quốc dọn sẵn cho các ngươi ngay từ thuở tạo thiên lập địa. Vì xưa Ta đói, các ngươi đã cho ăn; Ta khát, các ngươi đã cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi đã tiếp rước; Ta trần truồng, các ngươi đã cho mặc; Ta đau yếu, các ngươi đã viếng thăm; Ta ngồi tù, các ngươi đến hỏi han”.  Bấy giờ những người công chính sẽ thưa rằng :”Lạy Chúa, có bao giờ chúng con đã thấy Chúa đói mà cho ăn, khát mà cho uống; có bao giờ đã thấy Chúa là khách lạ mà tiếp rước; hoặc trần truồng mà cho mặc ? Có bao giờ chúng con đã thấy Chúa  đau yếu hoặc ngồi tù, mà đến hỏi han đâu” ? Đức vua sẽ đáp lại rằng :”Ta bảo thật các ngươi : mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhật của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy” (Mt 25, 34-40).
           Rồi Ngài hỏi ngược lại với những kẻ dữ ở bên trái đã không làm gì cho tha nhân để chúc dữ cho họ (x. Mt 5,41-45).
           Suy nghĩ một chút chúng ta thấy con người sinh ra với những ngón tay nắm chặt lại. Bản tính con người vốn khép kín, ích kỷ. Một đứa trẻ được nuông chiều sẽ nghĩ rằng mọi người đều có bổn phận phải phục vụ nó, nó là trung tâm của vũ trụ, cả thế giới này là của nó.  Nhưng mọi người cũng biết rằng khi chết đi, các ngón tay sẽ buông xuôi, tiền tài và danh vọng đều để lại…
           Cuộc hành trình tâm  linh là đi từ bản thân tới người khác, phải mở trái tim để yêu thương người khác, phải mở bàn tay để chia sẻ với người khác.
 
Truyện : Hai bàn tay trinh sạch
           Một người cố gắng sống trinh khiết đẹp lòng Chúa và rất tự hào về đời sống thanh sạch của mình.  Một đêm kia, họ nằm mơ thế này : Họ chết và lên trình diện Chúa. Họ giơ hai tay trinh sạch lên để trình diện Chúa để được Chúa thương. Thật thế, Chúa khen haui bàn tay trắng trẻo xinh đẹp nhưng rỗng tuếch vì chưa dùng bàn tay để giúp ích cho ai cả.
 Vì thế, Anh quốc cũng có một câu ngạn ngữ  nói về sự chia sẻ đó :
                    Điều tôi tiêu đi thì tôi có.
                   Điều tôi giữ lại thì tôi mất,
                   Điều tôi cho đi thì tôi được.
          Câu ngạn ngữ này nhắc cho chúng ta biết làm phúc bố thí vì giúp đỡ người khác là giúp đỡ chính Chúa. Đó cũng là khuôn vàng thước ngọc của Chúa Giêsu :”Cho thì có phúc hơn nhận lãnh”. Bởi vì cho người tức là cũng trao tặng cho chính mình.
           Ngoài ra chúng ta còn một câu khác được khắc trên một mộ bia, tư tưởng cũng giống như câu ngạn ngữ Anh quốc nhưng rõ ràng hơn :
                    Cái gì tôi đã tiêu xài, bây giờ không còn nữa,
                   Cái gì tôi đã mua sắm, bây giờ tôi phải để lại cho người khác,
                   Chỉ cái gì tôi đã cho đi là còn thuộc về tôi.
Lm Giuse Đinh Lập Liễm
Giáo xứ Kim Phát
Đà Lạt


 

AnTáng 7: RẮN GIÀ RẮN LỘT

RẮN GIÀ RẮN LỘT AnTáng 7

I. CHÚNG TA ĐỌC LỜI CHÚA.
          Trích : Mt 11,25-3o.
                     2Cr 5,1.6-10.
 

Bài Tin mừng chúng ta vừa nghe làm cho chúng ta tin tưởng, đầy phấn khởi và được yên ủi AnTáng 7

Bài Tin mừng chúng ta vừa nghe làm cho chúng ta tin tưởng, đầy phấn khởi và được yên ủi trước cái chết của người thân yêu ra đi về đời sau.
          Chúng ta biết rằng cuộc sống của con người trên trần gian này rất vắn vỏi, nó như bông hoa sớm nở chiều tàn, như một cơn gió thoảng qua, không có gì là vĩnh viễn. Chúng ta cũng có thể coi cuộc sống ở trần gian này là một cuộc hành trình đi về quê trời. Không có cuộc hành trình nào mà không phải vất vả, không có một lữ khách nào mà chỉ ngồi chơi xơi nước bên vệ đường mà không nỗ lực phấn đấu để tới đích.  Cuộc hành trình nào cũng có khởi đầu và kết thúc.  Chúng ta có thể ví cuộc đời chúng ta như một cuộc hành trình có ba giai đoạn :
                             SINH ra là lên đường,
                             SỐNG là chiến đấu, khắc phục,
                             CHẾT là tới quê hương.
          Hôm nay chúng ta được Chúa nói với chúng ta một cách êm ái dịu dàng :”Hỡi những ai đang vất vả và mang gánh nặng nề, hãy đến với Ta, Ta sẽ cho nghỉ ngơi bổ dưỡng” (Mt 11,26).
Ngày kết thúc cuộc hành trình ở trần gian này  là ngày chúng ta được Chúa cho nghỉ ngơi bồi dưỡng sau bao nhiều vất vả khó nhọc
          Thánh Phaolô, trong thư gửi cho tín hữu Côrintô, cũng hé mở cho chúng ta biết : “Nếu ngôi nhà của chúng ta ở dưới đất, là chiếc lều này, bị phá hủy đi, thì chúng ta có một nơi ở do Thiên Chúa dựng nên, một ngôi nhà vĩnh cửu ở trên trời, không do tay người thế làm ra”(2Cr 5,1)  Chúng ta chỉ có thể tới được ngôi nhà vĩnh cửu ở trên trời khi chúng ta kết thúc cuộc hành trình ở dưới đất này. Ngày kết thúc cuộc hành trình chính là ngày chúng ta ra đi khỏi thế gian này.  Như vậy chết là một điều kiện cần thiết để về quê trời, chết mang niềm hy vọng , yên ủi và phảng phất một niềm phấn khởi.
 
II. MỌI NGƯỜI ĐỀU PHẢI CHẾT.
          Cả hai ngành khoa học có từ lâu, liên quan tới sự sống con người. Đó là y học và dược học. Cả hai đều nhận con rắn là biểu hiệu. Con rắn cuốn trên chiếc gậy là biểu hiệu của ngành y, và con rắn cuốn trên chiếc ly có chân, đầu hướng vào miệng ly, là biểu hiệu của ngành dược. Sở dĩ cả hai ngành quan trọng này, nhận con rắn là biểu hiệu, vì người xưa, cả đông lẫn tây phương, đều coi con rắn là tượng trưng cho sức mạnh. Người ta còn lầm tưởng con rắn là loài bất tử, do hiện tượng lột xác của nó. Cả đông lẫn tây đều truyền nhau câu truyện cổ tích, về sự bất tử của con rắn.
 
                             Truyện : rắn già rắn lột.
          Thuở trời đất vừa được dựng nên, Tạo hoá muốn cho loài người đuợc bất tử, bằng cách lột xác, còn loài rắn thì tới già phải chết. Tạo Hoá liền sai sứ giả là vị Thiên lôi xuống trần nói ý định đó cho loài người : Tạo Hóa truyền Thiên lôi, khi gặp con người thì nói mệnh lệnh này (Một mệnh lệnh có phép mầu) :
                   “Người già,người lột. Rắn già chạy tuột vô săng”.
          Thiên lôi xuống trần, vừa đi vừa lẩm nhẩm mệnh lệnh của Trời, nhưng vì Thiên lôi lơ đãng, đọc đi đọc lại thế nào, mà khi xuống trần vừa gặp con người thiên lôi lại đọc :”Rắn già rắn lột. Người già chạy tuột vô săng”.
          Vì thế mà con rắn được lột xác, còn con người sinh ra, lớn lên, già, chết, rồi phải đi vào săng, đem chôn.
                   (Đỗ đình Tiệm, Lương thực hằng ngày, tr 722)
          Khi còn nhỏ, nghe câu chuyện cổ tích trên, chúng ta phàn nàn, nuối tiếc vì tính lơ đãng của ông Thiên lôi mà con rắn đã dành được quyền lột xác, còn con người khi già phải chết, chứ không được lột xác.
          Nhưng tiếc thế nào thì tiếc, mỗi người chúng ta đều phải chết, đây không phải là sự tình cờ hay ngẫu nhiên mà là một án lệnh.
          Mở sách Sáng thế ra, ta thấy ghi lại : Sau khi Ađam Evà phạm tội ăn trái cấm, Thiên Chúa đã ra án phạt cho ông bà. Đây là án lệnh của Chúa phán với Adam :”Vì ngươi đã nghe lời vợ và ăn trái cây mà ta đã truyền cho ngươi rằng :”Ngươi đừng ăn nó, nên đất đã bị nguyền rủa vì ngươi ; ngươi sẽ phải cực nhọc mọi ngày trong đời ngươi, mới kiếm được miếng ăn bởi đất mà ra. Đất đai sẽ trổ sinh gai góc cho ngươi,  ngươi sẽ ăn cỏ ngoài đồng. Ngươi sẽ phải đổ mồ hôi trán mới có bánh ăn, cho đến khi trở về với đất, vì từ đất, ngươi đã được lấy ra. Ngươi là bụi đất, và sẽ trở về với bụi đất”(St 3,17-19).  Trở về với bụi đất là chết chứ còn gì ?
          Chúa Giêsu xuống thế làm người chuộc tội cho loài người, Ngài đã xóa tội Ađam để đem chúng ta lại làm con Thiên Chúa.  Chúng ta sinh ra đều mang tội tổ tông, nhưng nhờ Bí tích Thánh tẩy, chúng ta được tha tội đó và tội riêng của mình.  Tuy đã được tha tội tổ tông nhưng hậu quả của tội vẫn còn và hậu quả sau cùng là phải chết (x. St 3,19).
          Kinh thánh cũng làm chứng về điều này. Chúng ta hãy đọc vài câu Thánh vịnh để xác tín về điều đó :
          * Tv 48,9-10 : Mạng sống người dù giá cao mấy nữa thì rồi ra cũng chấm dứt đời đời. Nào phàm nhân sống mãi được sao mà chẳng phải đến ngày tận số.
          * Tv 38,5-6 : Lạy Chúa, xin dạy cho con biết : đời sống con chung cuộc thế nào, ngày tháng đếm được mấy mươi, để hiểu rằng kiếp phù du là thế.
          * Tv 38, 7a : Ấy tuổi đời con, Chúa đo cho một vài gang tấc, kiếp sống này, Chúa kể bằng không. Đứng ở đời, thật con người chỉ như hơi thở, thấp thoáng trên đường tựa bóng câu.
          Từ xưa đến nay có hàng tỉ tỉ người đã sống trên mặt đất này mà nay còn ai đâu. Cả những bậc anh hùng cái thế, cả những vĩ nhân lừng danh ngày nay cũng chẳng còn ai, nếu người ta có nhắc tới là nhắc tới theo sử sách.  Có những người sống thọ đến mức nào nay cũng chẳng còn như ông Ađam sống tới 930 tuổi, ông Noe sống 950 tuổi, ông Mathusalem 969 tuổi, ông Bành Tổ của Trung hoa sống 800 tuổi.
 
III. CHẾT RỒI SẼ RA SAO ?
          Chết là một sự kiện, một biến cố quan trọng của cuộc đời nhưng cái nhìn về sự chết thì khác nhau : có người cho rằng chết là hết, có người cho  r ằng chết mà vẫn còn ; có người cho rằng chết là một thất bại, là đi vào ngõ cụt đâm ra bi quan ; có người cho rằng chết là một khởi điểm mở ra một chân trời mới đầy lạc quan.
          1. Một số người vô tín.
          Những người vô tín không tin có đời sau, không có thiên đàng hoả ngục để thưởng phạt. Đối với những người này, chết là hết, là tuyệt vọng.
          Karl Marx, ông tổ thuyết Mác-xít vô thần, trong một lá thư gửi cho người bạn của ông là Lassanler đã viết :
“Cái chết của đứa con trai tôi đã làm cho tôi đảo điên. Lúc nào tôi cũng cảm thấy như cái chết ấy mới xẩy ra ngày hôm qua thôi. Còn vợ tôi thì hoàn toàn ngã gục vì biến cố này”.
          Ai trong chúng ta cũng cảm thông được nỗi đau đớn tột cùng này của ông tổ thuyết Mác-xít vô thần.  Cái chết là một mất mát mà không gì có thể lấp đầy được. Sự mất mát ấy lại càng khủng khiếp hơn khi con người không còn một niềm hy vọng nào vào cuộc sống mai hậu. Chối bỏ sự sống mai hậu cũng có nghĩa là tự đọa đầy mình  vào một nỗi tuyệt vọng khủng khiếp nhất.
                   (D. Wahrheit, Phép lạ trong đời, tr 257)
 
          2. Những người có đức tin.
          Những ai có đức tin thì đều công nhận rằng có đời sau, có thiên đàng hỏa ngục để thưởng phạt và linh hồn thì bất tử. Do đó, chết không phải là mất, là hủy hoại mà là một sự chuyển đổi :”Sự sống thay đổi chớ không mất đi, và khi nơi nương náu ở trần gian này bị hủy diệt tiêu tan thì lại được một chỗ cư ngụ vĩnh viễn trên trời” (Kinh Tiền tụng lễ An táng).
          Ông Trang Tử, một nhà hiền triết Trung hoa, xuất hiện trước Chúa Giêsu, cũng có một cái nhìn rất lạc quan về sự chết, khi ông nói :
“Người ta chết là trở về với Tạo Hóa, cũng như người đi ra ngoài mà trở về nhà, thế mà ta còn theo đuổi nghêu ngao khóc lóc thì chính ta chẳng hóa ra không biết mệnh trời à ? Cho nên ta không khóc lại còn hát nữa”.
            Hoài nam Tử cũng có một ý nghĩ như Trang Tử khi ông nói :”Sinh ký tử qui” : sống là sống gửi sống nhờ, chết mới là về.  Tư tưởng này giống như của thánh Phaolô tông đồ khi viết thư gửi cho tín hữu Côrintô (x. 2Cr 5,1.6-10).
          Ông Wolfany Goethe, một thi sĩ kiêm triết gia Đức ,  còn nói một cách ví von hơn nữa :”Con người chết là một vì sao lặn để mọc huy hoàng hơn ở một bán cầu khác”.
          Với con mắt đức tin, chúng ta thấy chết không phải là đi vào hư vô, đi vào ngõ cụt, là tuyệt vọng, nhưng chết chính là phương tiện để chúng ta được về kết hợp với Chúa trên quê trời, như  thánh Phaolô nói :”Quê hương chúng ta ở trên trời và chúng ta nóng lòng mong đợi Đức Giêsu Kitô từ trời đến cứu chúng ta. Người có quyền năng khắc phục muôn loài, và sẽ dùng quyền năng ấy mà biến đổi thân xác yếu hèn của chúng ta nên giống thân xác vinh hiển của Người” (Pl 3,20-21).
 Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt

 
 

AnTáng 8: HỘI CHỨNG BẬN RỘN

HỘI CHỨNG BẬN RỘN AnTáng 8

(Chia sẻ tại nghĩa trang)
I. SUY NIỆM LỜI CHÚA
           Chúng ta đọc : Gv 3,1-8
 

Chúng ta đang sống vào những tháng cuối năm, nhất là chúng ta bắt đầu bước vào tháng 11, tháng AnTáng 8

Chúng ta đang sống vào những tháng cuối năm, nhất là chúng ta bắt đầu bước vào tháng 11, tháng các  Đẳng, và đặc biệt hơn nũa chúng ta đang đứng tại nghĩa trang này giữa những người chết đang nằm chung quanh chúng ta.
           Chúng ta cùng chia sẻ với nhau và với những người đang nằm ở đây một đề tài quen thuộc nhưng hay bị lãng quên :”Thời giờ của Chúa”.  Chúng ta đã dùng thời giờ của Chúa thế nào, có biết tận dụng từng giây phút Chúa ban cho một cách hợp lý không hay đã làm phí một cách vô ích ? Chúng ta có biết dùng thời giờ Chúa ban để tạ ơn Chúa và lo việc của Ngài không, hay đã bị rơi vào “Hội chứng bận rộn” để rồi quên Chúa, quên những người chung quanh và quên cả bản thân mình ?
           Những ngày cuối năm, chúng ta thường nói : năm cùng, tháng tận.
          Những ngày đầu năm , chúng ta thường nói : ngày rộng, tháng dài.
          Nói như vậy, xem ra chúng ta làm chủ thời gian, vì chúng ta nói : Thời giờ đã cùng tận, cũng được; mà nói : thời giờ đang rộng dài, cũng được.
          Nhưng thực tế, chúng ta không thể làm chủ được thời gian, vì, cũng như mọi loài mọi vật khác, con người chúng ta đã được Thiên Chúa dựng nên và cho sống trong một khoảng thời gian nào đó nhất định mà thôi. Vì thế sách Giảng viên mới nói :
 “Mọi sự đều có lúc, mọi việc đều có thời ở dưới bầu trời :
thời để sinh ra và thời để chết,
thời để trồng và thời để nhổ cây trồng,
thời để giết chết và thời để chữa lành,
thời để phá và thời để xây,
thời để khóc và thời để cười,
thời để than vãn và thời để múa nhảy,
thời để quăng đá và thời để lượm đá,
thời để ôm và thời để tách rời không ôm nữa,
thời để tìm kiếm và thời để thất lạc,
thời để gìn giữ và thời để vất đi,
thời để xé và thời để khâu,
thời để nín thinh và thời để lên tiếng,
thời để yêu và thời để ghét,
thời giặc giã và thời bình an” (Gv 3,1-8).
           Sách Giảng viên đã khẳng định :”Omnia tempus habent” : Mọi sự đều có lúc (Gv 3,1). Thiên Chúa đã xếp đặt mọi việc trong trời đất, mọi vật diễn tiến theo qui trình Thiên Chúa đã ấn định. Hết ngày này sang ngày khác, hết đêm lại đến ngày, hết xuân sang đông, hết đông sang hè, hết hè sang thu và hết thu sang đông, rồi lại hết đông sang xuân… Qua 365 ngày lại có một năm mới.
           Nếu Thiên Chúa đã ấn định cho mọi việc có thời có lúc thì con người cũng phải theo qui trình ấy, hết việc này sang việc nọ, không thái quá, không bất cập.  Nếu biết dùng thời giờ vào những công việc của Chúa đã ấn định thì mọi sự sẽ diễn tiến tốt đẹp và làm đẹp lòng Chúa.
          Nhưng nhiều khi con người đã làm đảo lộng chương trình của Chúa, dám cướp quyền Chúa mà làm những việc ngoài ý muốn của Ngài, đôi khi còn chống lại ý của Ngài nữa.  Ngày nay nhiều người không theo qui trình của Chúa, họ rơi vào “Hội chúng bận rộn”, theo đó, người ta loại Chúa ra ngoài cuộc sống để chỉ biết lăn xả vào công việc làm ăn, hay vui chơi, hưởng thụ…
 
II. “HỘI CHỨNG BẬN RỘN”
           1. Đà phát triển trên thế giới
           Không ai có thể phủ định được nền kinh tế thế giới phát triển đến đỉnh cao và vẫn còn phát triển không ngừng.  Khoa học đã tiến những bước nhảy vọt làm cho cuộc sống con người được thoải mái cả vật chất lẫn tinh thần. Đời sống con người được kéo dài hơn, thoải mái hơn. Các phương tiện phục vụ đời sống con người càng dồi dào.  Con người bớt vất vả trong lao động nhờ những phương tiện kỹ thuật tân tiến.
           Nói chung, nhờ khoa học và kinh tế phát triển, con người được hưởng một cuộc sống ấm nó, dễ chịu và hạnh phúc. Tuy nhiên những cái đó là con dao hai lưỡi, nó có thể nhằm phục vụ hạnh phúc con người và cũng có thể đem đến sự bất hạnh cho con người, tuỳ theo cách người ta dùng nó.
 
          2. Áp lực của công việc
           Trên nguyên tắc, với những tiến bộ của khoa học, đời sống con người được giảm tải khỏi những công việc khó nhọc, làm cho con người được nhẹ nhàng thoải mái hơn, có thời giờ nghỉ ngơi tĩnh dưỡng, có thời giơ giao lưu, thăm viếng, chia vui sẻ buồn, giúp đỡ nhau trong đời sống tinh thần và vật chất.
           Nhưng trong thực tế, người ta lại bị áp lực của công việc đè nặng, khiến người ta phải lao đầu vào công việc, không còn thời giờ để lo việc khác nữa. Người ta trở nên quá bận rộn, bù đầu bù óc, đến nỗi trở nên bạc nhược, đôi khi đi đến bệnh stress.
           Người ta còn thời giờ đâu để lo cho người khác, thậm chí người ta quên cả vợ con, chỉ còn biết chúi đầu vào công việc, họ không nghĩ rằng người vợ và con cái đang cần sự thương yêu nâng đỡ của người chồng, người cha là cột trụ của gia đình.
 
Truyện : Lời nhắc nhở chân thành
          Cậu bé 10 tuổi nói với bố :
          - Bố ơi, mỗi giờ bố làm được bao nhiêu tiền ?
          Không thích câu hỏi có tính cách tò mò, nhưng bố nó cũng trả lời :
          - Mỗi giờ bố làm được 10.000 đồng.
          - Bố cho con 5.000 đồng được không ?
          - Thì ra con hỏi bố làm được bao nhiêu tiền để xin tiền à ?
          Thằng bé bị bố tạt cho một “gáo nước lạnh”, tiu nghỉu lên võng nằm.  Thấy thương,  bó nó đến bên an ủi và bảo :
          - Bố cho con 5.000 đồng đây, con cần mua bút mực hay sách vở cứ nói, bố sẽ cho.  Thằng bé vui mừng chạy đến  chiếc cặp lấy ra 5.000 đồng nữa, tổng cộng nó có 10.000 đồng. Nó đưa cho bố và nói :
          - Đây là tiền công một giờ của bố, bố hãy đi chơi với con một giờ được không ?
           Ngạc nhiên, bố nó ôm vào lòng rồi nói :
          - Bố xin lỗi con,  bấy lâu nay bố lơ là không quan tâm đến con, bố đổ thừa cho công việc quá bận rộn.
          Thằng bé không hiểu, tròn mắt nhìn bố nó và nghĩ thầm :”Sao lại đổ thừa nhỉ” ?
          Như hiểu ý nó, bố nó nói :
          - Đi làm, bố thường đi sớm về trễ, ở nhà loanh quanh với những việc nhà, ngày lễ, ngày nghỉ cũng chỉ nghĩ đến công việc. Bố quá lo cho đời sống vật chất mà quên đi đời sống tinh thần.  Nói đến đây bố chợt nghĩ về mẹ con, mới đó mà đã 15 năm  kể từ ngày bố lấy mẹ, từng ấy năm không một chút thư thả, chưa một ngày rong chơi, bố và mẹ đã già đi rất nhiều so với số tuổi. Tất cả chỉ vì công việc !
          Im lặng một lúc, bố nói tiếp :
          - Bố hứa từ nay, bố sẽ bớt công việc, bố sẽ lo cho mẹ và con được cuộc sống đích thực, tận hưởng được những gì mà Thượng Đế ban cho, đó là cảnh vật thiên nhiên, không khí trong lành.
           Tất cả chúng ta có thể đang thật sự bận rộn hoặc đang nhiễm một hội chứng mới :”Ra vẻ bận rộn”.  Và rất nhiều người đang lấy cớ bận rộn để sống thờ ơ và lạnh nhạt trong cách sống đạo.
           Không có thời gian quan tâm đến người  khác vì lúc nào cũng có một điệp khúc trên cửa miệng :”Mình bận lắm, không có thời giờ đâu”.
           Đó gần như là câu cửa miệng của rất nhiều người trẻ.  Suốt 24 giờ, dường như là quá ít so với công việc một ngày của họ : đi học, đi làm, giao tiếp, cà phê, vi tính… đã khiến cho mọi người quên đi sự quan tâm đến bản thân mình và người xung quanh.
 
          3. Hãy phân chia thời giờ trong ngày
           a) Có thời giờ cho phần xác : một ngày có 24 giờ : có giờ làm việc, có giờ ngủ nghỉ, ăn uống, thăm nom, giải trí… Phải phân chia thế nào cho hợp tình hợp lý, nhưng đừng để cho công việc này lấn át công việc kia, làm sao cho mọi việc được trôi chảy đều hoà.  Làm việc rất cần, nhưng nghỉ ngơi cũng rất cần vì nó sẽ lấy lại sức khỏe cho thể xác, tăng cường sức dẻo dai để tiếp tục làm việc.
           b) Có thời giờ cho việc linh hồn : Là người Kitô hữu ai cũng biết : đến với Chúa để được gặp Chúa và tha nhân, được tận hưởng niềm vui, được hít thở không khí trong lành, thư giãn, quên đi những lo âu mệt mỏi…
           Hãy cố gắng giảm bớt những khoảng bận rộn bằng cách sắp xếp thời gian, bớt công việc cho khoa học, bớt đi những thú vui cho riêng mình, để chúng ta có những giây phút cận kề bên Chúa, lo cho bản thân mình, gia đình mình  và quan tâm đến những người chung quanh.
 
Truyện : Không có thời giờ
          Trong bài thơ “Sách Sự Sống” một thi sĩ khuyết danh đã viết :
          “Tôi quỳ cầu nguyện, nhưng chẳng được lâu : tôi có nhiều việc phải làm. Tôi phải cấp tốc đi làm vì hoá đơn đòi tiền chồng chất.
          Vì vậy, tôi quỳ, đọc vội một vài kinh và nhảy đứng dậy.  Việc bổn phận Kitô hữu của tôi đã làm xong và tâm hồn tôi thanh thản, bình an.
          Suốt ngày tôi không có thời giờ để buông một lời chào hỏi vui vẻ hoặc nói về Chúa Kitô cho bạn bè vì sợ họ nhạo cười tôi.
          Tôi luôn miệng la lớn : không có thời giờ, không có thời giờ, nhiều chuyện phải làm quá !  Không có thời giờ để lo cho phần rỗi linh hồn, nhưng cuối cùng giờ chết đã đến.
          Tôi trình diện trước mặt Đức Chúa : tôi đứng với đôi mắt cúi xuống, vì Đức Chúa đang cầm trong tay một cuốn sách, sách sự sống.
          Đức Chúa nhìn vào trong sách và nói : “Cha không tìm thấy tên con, vì có lần Cha dự tính viết xuống, nhưng chẳng lúc nào cha có thì giờ”.
 
III. BẠN CÓ BẬN RỘN LẮM KHÔNG ?
           1. Quên đi sự bận rộn
           Ma quỉ không cám dỗ chúng ta từ bỏ Chúa, bỏ cầu nguyện, bỏ Kinh kệ cũng như các việc lành phúc đức, mà chỉ làm sao cho chúng ta bận rộn với công việc để mỗi ngày chúng ta tự xa Chúa, bỏ kinh kệ và bỏ cả việc quan tâm đến linh hồn mình.
 
Truyện : Hội  nghị của bọn quỉ
          Sa tan mở một hội nghị thế giới. Nó khai mạc bằng cách ngỏ lời với đám ác thần
          - Chúng ta không thể ngăn cản Kitô hữu đi nhà thờ. Chúng ta không thể ngăn cản họ đọc Kinh Thánh và biết được chân lý. Chúng ta cũng không thể ngăn cản họ tạo ra mối tương quan thân mật với Đức Kitô. Nếu họ liên lạc được với Giêsu, quyền lực của chúng ta đối với họ sẽ tiêu tan.  Vì vậy, hãy cứ để cho họ đi nhà thờ, để cho họ giữ nếp sống của họ, nhưng hãy cướp lấy thời giờ của họ, hầu họ không có được tương quan thân mật với Giêsu Kitô. Đấy là điều tôi muốn các người làm, hỡi các ác thần. Hãy làm cho họ sao lãng việc tiếp xúc với Đấng Cứu Độ họ và giữ mối liên lạc ấy suốt cả ngày.
          Đám ác thần kêu lên :
          - Chúng tôi phải hành động thế nào để làm được như thế ?
          Satan trả lời :
          - Hãy làm cho họ bận rộn với những điều không thiết yếu trong cuộc đời và tạo ra thật nhiều chương trình để cho đầu óc họ không còn rảnh rỗi. Hãy xúi giục họ tiêu xài, tiêu xài, tiêu xài rồi kiếm tiền, kiếm tiền, kiếm tiền. Hãy thuyết phục các bà vợ đi làm nhiều giờ và các ông chồng đi làm 6-7 ngày mỗi tuần, 10-12 giờ mỗi ngày, để họ có thể thoải mái sống cái cuộc sống trống rỗng của họ. Hãy ngăn cản họ dành thời giờ cho con cái.  Khi vợ chồng con cái ly tán thì chẳng bao lâu  gia đình sẽ bị công việc làm áp lực !  Hãy kích thích tối đa tâm trí họ để họ không thể nghe ra tiếng nói êm dịu nhỏ nhẹ kia.
 
          2. Hãy quí trong thời giờ Chúa ban
           Thiên Chúa đánh giá thời giờ rất cao vì Ngài rất quí thời giờ.
           Khi ban thời giờ cho chúng ta sống, Thiên Chúa hết sứ tiết kiệm, chỉ ban cho chúng ta một cách nhỏ giọt : ban từng giây, ban từng phút, ban từng giờ, ban từng ngày, ban từng tuần, ban từng tháng, ban từng năm.
           Thiên Chúa lấy lại giây phút trước, rồi mới ban cho chúng ta giây phút sau. Giầu sang vô biên như Thiên Chúa, mà không bao giờ Thiên Chúa ban cho chúng ta có cùng một lúc hai giây, hai phút, hai ngày, hai tuần, hai tháng, hai năm.
           Mỗi sáng khi thức dậy, người giầu cũng như kẻ nghèo, người thông thái cũng như kẻ dốt nát, người lớn cũng như trẻ nhỏ. Ai cũng như ai, đều được Thiên Chúa ban cho có thời giờ đồng đều như nhau : ai cũng có trong túi 24 tiếng đồng hồ trong một ngày.
           Nhưng có thời giờ, không phải như có tiền.  Khi có tiền trong tay, chúng ta tiêu xài mấy ngàn, mấy vạn, mấy triệu cũng được. Trái lại, khi ban cho chúng ta sống trong một năm, Thiên Chúa ban cho chúng ta 31.536.000 giây đồng hồ (ba mươi mốt triệu, năm trăm ba mươi sáu ngàn giây đồng hồ), nhưng Ngài chỉ cho mỗi người chúng ta sử dụng từng giây đồng hồ mà thôi !
          Không gì quí bằng máu Chúa đã đổ ra để cứu chuộc chúng ta.  Mà thời giờ có thể nói được là giá Máu Chúa Giêsu đổ ra  để cứu chuộc chúng ta.  Những kẻ chịu phạt đời đời trong hoả ngục, chỉ cần được trở lại trên trần gian này để sống một ngày mà thôi, thì cũng đủ để cho họ ăn năn tội cách trọn mà lên thiên đảng.
           Thời giờ là tiền mua được nước thiên đàng.  Thời giờ rất quí báu !  Thế mà có những người phí phạm thời giờ, không dùng thời giờ để sống cho đẹp lòng Chúa.
           Theo một cuộc điều tra được tiến hành một nơi có số người sống đạo lơ là : trong một năm họ có tất cả 8.760 giờ , họ đã
          - mất 260 giờ để đi lui đi tới
          - mất 310 giờ để nói chuyện với người khác
          - mất 620 giờ để tắm rửa và sửa sắc đẹp
          - mất 930 giờ để ăn uống
          - mất 2.900 giờ để ngủ nghỉ
          - mất 3.650 giờ để làm việc
          - và họ chỉ dành ra cho các việc đạo đức có 25 giờ.
 
          3. Hãy xây dựng thiên đàng ngay ở dưới đất.
           Thánh Phaolô bảo :”Quê hương chúng ta ở trên trời”.  Thời gian ở trần gian này chỉ là một cuộc hành trình để chuẩn bị cho ngày đi về trời. Chúng ta phải xây dựng thiên đàng ngay khi còn ờ dưới đất này. Chúng ta có thể coi cuộc sống ở trần gian này chỉ là nguyên nhân và thiên đàng mới là kết quả bởi vì chúng ta gieo giống nào thì gặt giống đó.
           Linh mục Duval nói rất chí lý :”Trời của bạn sẽ được hình thành ngay dười đất bằng cánh tay của bạn”.
           Đối với các tín hữu, với những người đang sống đức tin, trời không là cái gì hoàn toàn mới mẻ, nhưng là sự khai nở, tỏ hiện và thành toàn cái đã có sẵn trong họ :”Chúng ta xây dựng đời đời trong mọi hành vi của mình : đó là khả năng kỳ diệu của con người. Chúng ta xây dựng Nước Trời tùng mỗi phút giây” (Guy de Larigaudie).
 
Truyên : Những viên sỏi.
          Nhóm người nọ rủ nhau đi hành hương. Điểm đến là ngôi đền nhỏ cheo leo ở đỉnh một ngọn núi cao vút, tưởng như chạm tới những cụm mây  lở lửng trên bầu trời xanh ngắt.
           Đường đi khó, phải mất dài ngày. Càng lên cao hành trình càng thêm vất vả… Nhưng cả nhóm quyết tâm vượt núi, vì ngôi đền từ xưa nổi tiếng linh thiêng và lão sư trụ trì là bậc chân tu đã chứng đắc chánh quả.
           Dưới chân núi dựng một nhà trạm, do vị đại đệ tử của lão sư trông coi, thường gọi là chủ trạm. Khách mộ đạo tạm trú ở đó, dưỡng sức, đồng thời chuẩn bị thêm ít lương thực và nước uống  trước khi bắt đầu leo núi.
           Ngủ một đêm ở nhà trạm, sáng sớm hôm sau thức dậy, nhóm người nọ cung kính cảm tạ và từ biệt chủ trạm. Tiễn khách ra cổng, đi ngang qua khoảnh sân nhỏ rải đầy sỏi trắng, chủ trạm tủm tỉm cười, bảo cả nhóm :
          - Mỗi vị hãy tự tay  nhặt mấy viên sỏi này mang theo.  Nhiều ít tuỳ tâm, Không nhặt cũng tuỳ tâm. Ai không nhặt sẽ hối tiếc, và ai có nhặt cũng sẽ hối tiếc.
           Lời nói lạ lùng ! Nghĩ đến dốc núi cao và dài, có người không muốn lưng vác thêm nặng, nên khẽ nhún vai.  Có người ngần ngại, nhưng cũng cúi xuống nhặt bừa vài viên gọi là.  Có người hồn nhiên ngồi thụp xuống, vốc sỏi đầy hai bàn tay…
           Có đi thì có đến. Cuối cùng được vào bái kiến  vị lão sư tại ngôi đền thiêng trên chót núi.
           Trong chánh điện, lão sư chúc phúc cho cả nhóm rồi ôn tồn nói :”Bần đạo ở nơi non cao hẻo lánh, không có món gì xứng đáng lưu niệm chuyến đi nhọc nhằn của quí vị. Tuy nhiên, ai có sỏi thì lấy ra xem”.
           Cả nhóm sửng sốt khi thấy những viên sỏi tầm thường ở nhà trạm chân núi đã hoá thành những viên ngọc óng ánh từ lúc nào.  Những người không nhặt sỏi  quá đỗi hối tiếc, thầm nhiếc mắng bản thân thậm tệ.  Những người đã nhặt sỏi cũng rất hối tiếc, thầm trách mình đã không chịu khó hốt thêm cho thật nhiều, thật đầy vào (Theo Internet).
 Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt

 
 

AnTáng 9: SỰ TỬ NHƯ SỰ SINH

SỰ TỬ NHƯ SỰ SINH AnTáng 9

Ngày thứ Tư Lễ Tro, chúng ta đã lãnh nhận được một chút tro trên đầu cùng với lời nhắc nhở :”Hỡi AnTáng 9

Ngày thứ Tư Lễ Tro, chúng ta đã lãnh nhận được một chút tro trên đầu cùng với lời nhắc nhở :”Hỡi con, hãy nhớ mình là bụi tro và sẽ trở về cùng tro bụi” (St 3,19).  Chúng ta hãy suy nghĩ về lời nhắc nhở đó để chuẩn bị cho  ngày ra đi vĩnh viễn của cuộc đời mỗi người.
 
I. SUY NGHĨ VỀ SỰ CHẾT
          NgườI ta thường nói : Ai sống trên trần gian này củng phải đi qua bốn cửa ải. Đó là sinh, lão, bệnh, tử : sinh ra, già đi, bệnh tật rồi chết.  Đôi lúc có những người chỉ đi qua hai cửa ải, đó là sinh và tử. Đây là trường hợp của những đứa trẻ chết non.
          Bình thường mỗi người đều phải đi qua bốn cửa ải đó, có người sớm, có người muộn.  Cho nên con đường sinh tử là mẫu số chung cho tất cả mọi người sống trên trần thế này.
          Vậy chết là gì ?
          Chết thông thường được xem là sự chấm dứt các hoạt động của một sinh vật hay ngưng vĩnh viễn mọi hoạt động sống (không thể phục hồi) của mọi cơ thể.
          Tuy nhiên, một định nghĩa cho sự chết còn tuỳ thuộc vào các quan điểm tôn giáo, tín ngưỡng cũng như lãnh vực liên hệ.
          Trong y học, chết là giai đoạn cuối cùng của sự sống.  Môn khoa học nghiên cứu về sự chết  đã trở thành ngành học riêng gọi là “tử vong học” (thanatology).
          Cái chết trong cái nhìn của người Việt nam thì người ta vẫn quan niệm  “sống gửi, thác về”, xem cuộc sống trên mặt đất chỉ là cõi tạm bợ, chết không phải là hết.
                                    Sống làm vợ khắp người ta
                           Khéo thay thác xuống làm ma không chồng.
                                     (Nguyễn Du, Truyện Kiều)
          Tín ngưỡng dân gian tin vào linh hồn, người chết rồi thì linh hồn sẽ sống ở cõi âm, cũng sinh hoạt như người dương thế.  Do đó, có tục lệ đốt vàng mã, nhà cửa, xe cộ, đầy tớ, áo quần, tiền đôla âm phủ v.v… để “viện trợ” cho người chết.
          Ngoài ra, rằm tháng bảy âm  lịch, trùng với lễ Vu Lan của Phật giáo, là ngày xá tội vong nhân, người ta cúng cô hồn để bố thí thức ăn cho những hồn ma lang thang.
          Người Việt nam chúng ta coi “Sự tử như sự sinh, sự vong như sự tồn” : chết mà vẫn sống, mất mà vẫn còn.
          Suy nghĩ như vậy nên người ta mới dùng những từ ngữ khác để diễn tả cái chết.  Tuy từ ngữ khác nhau, nhưng ý nghĩa thì giống nhau, đều có ý nghĩa tích cực.
          1. Qua đời : tại sao lại dùng từ “qua đời” thay vì chết ? Đó là người ta muốn nói rằng người chết đã vượt qua đời tạm này để về đời sau.  Bởi vì chết không phải là huỷ diệt nhưng là một sự chuyển đổi : mặc lấy sự bất tử (1Cr 15,51).
         2. Mất :  Từ ngữ “mất” thì vẫn còn tương đối, có thể mất nơi mình mà lại còn ở nơi người khác, ví dụ mất cái đồng hồ. Còn chữ mất ở đây diễn tả sự mất mát ở đời này nhưng còn tồn tại ở đời sau. Rõ mất mà lại còn.
          3. Sinh thì :  Sinh thì là lúc được sinh ra.  Sở dĩ gọi giờ sinh thì là chết vì lúc chết ở đời này thì đồng thời lại sinh ra ở trên trời. Cho nên có thể gọi ngày chết là ngày sinh nhật trên trời.
 
II. NHƯNG CHẾT RỒI SẼ RA SAO ?
          1. Những người ngoài Kitô giáo
          Người ngoài Kitô giáo cũng coi cuộc sống ở trần gian này là một cuộc sống tạm bợ, không chắc chắn vững bền. Cho nên, ngay từ xưa ông Hoài Nam Tử đã nói :”Sinh ký, tử qui” : sống là gửi và chết là về”.  Chết là về nhưng về đâu, ông chưa tìm được câu trả lời. Câu trả lời còn bỏ lửng cho người thời nay bàn luận.
          Nhiều người cho chết là về với ông bà tổ tiên, chết là xuống suối vàng, chết là tiêu diêu nơi cực lạc, chết là về nơi chín suối,  là vào Niết bàn… Tất cả những kiểu nói đó đều bao hàm ý tưởng là có đời sau, chứ chết chưa phải là hết.
          Thi sĩ Hồ Dzếnh  cũng xác định rằng : chết nhưng hồn vẫn còn sống và không hư nát khi ông nói :
                                   Nát thân không nát nổi hồn,
                               Lẩn trong cái chết vẫn còn cái đau.
          Nhà văn Nhất Linh, một ngày bâng khuâng, ông tự hỏi mình :
         - Chết rồi sẽ ra sao nhỉ ?
         Nghĩ ngợi một chút, rồi ông lại tự trả lời lấy :
         - Hồi hai Bà Trưng, tôi chưa ra chào đời.  Thế khi ấy tôi ở đâu ? Chết, là trở về với tôi hồi ấy.
         Nhà văn Nhất Linh chưa  tìm ra câu trả lời cho câu hỏi của mình. Bế tắc ?  Nhưng qua đó ta thấy ông không chủ trương chết là hết, chết mà vẫn còn, nhưng chưa biết còn như thế nào, chưa biết “trở về với tôi hồi ấy” ra sao !
 
         2. Đối với người không có niềm tin
          Ngày nay có một số người tin rằng :”Thiên Chúa trốn xã hội này”.  Người khác lại buông câu chắc nịch :”Thiên Chúa chết rồi”, như nhà thơ vô thần đã viết :
                                    Thượng Đế chết rồi, chỉ còn mình ta
                                   Còn cụm tre xanh với trái đất già.
                                                   (Tố Hữu)
          Nhìn ra các nước ngoài, chúng ta cũng thấy có những người chủ trương và truyền bá học thuyết :”Thiên Chúa đã chết” , ví dụ như ông Feuerbach, Karl Marx, Nietszech, Sigmund Freud, Albert Camus, Jean Paul Sartre…
          Triết gia hiện sinh vô thần Jean Paul Sartre của Pháp chủ trương : “La vie est absurde”  : đời là phi lý.  Tại sao ông ta cho đời là phi lý ? Bởi vì ông chưa tìm ra được ý nghĩa của cuộc sống.  Ông băn khoăn tự hỏi : tại sao tôi sinh ra trong đau khổ, sống trong đau khổ và chết cũng trong đau khổ ?  Nếu cuộc sống là phi lý thì cái chết lại càng trở nên vô nghĩa hơn.
 
                                   Truyện : Ông sẽ đi về đâu ?
          Sau những năm tháng cần cù, khôn khéo làm ăn, hãng của ông Hãnh đã phát triển không ngừng.  Từ một nhóm người làm việc  trong nhà xe của ông thuở trước, nay hãng ông đã thu nhận hơn trăm công nhân. Và ông, từ một đồng nghiệp cần cù, khiêm tốn, trở thành một chủ nhân ông, một CEO, quá hãnh diện với thành quả của mình đến độ trở nên kiêu hãnh, khoe khoang, và coi thường nhân viên.
          Hôm tiệc tất niên, sau khi thưởng tiền Tết cho nhân viên, và nghe lời chúc Tết trộn lẫn lời tâng bốc của đại diện nhân công, ông Hãnh cao hứng đáp lời :
         - Nếu hôm nay tôi chết, không biết hãng ta sẽ đi về đâu ?  Các bạn sẽ đi về đâu nhỉ ?
         Một anh nhân viên trai trẻ tính tình bộc trực, đáp ngay :
         - Thưa ông chủ, câu hỏi ông chủ thật thâm thuý, đáng cho toàn thể công nhân viên hãng ta suy niệm suốt năm mới. Nay năm hết, Tết đến, xin phép cho tôi mượn lời ông chủ để soạn thành hai câu đối Tết, treo ngay cổng vào hãng ta .
         - Được lắm. Vậy anh đối làm sao ?
         - Thưa ông chủ, tôi xin đối như sau :
         “Nếu hôm nay ông chết, không biết hãng ta sẽ đưa đám ai ?  Còn ông sẽ đi về đâu “?
         Ông chủ :  - ???
 
         3. Đối với người Kitô hữu
          Văn hào Paul Claudel đã thuật lại, hồi nhỏ, đã nhiều lần ông thắc mắc hỏi mẹ ông :”Chết là gì “ ?      Nhưng mẹ ông chỉ im lặng, nhìn ông mà không chịu nói gì. Thế rồi , một hôm, bên cạnh nhà ông có người chết, ông tò mò quan sát từ lúc xác người này còn ở trên giường, cho đến lúc được khâm liệm vào quan tài, và đóng nắp quan tài lại. Ông về nhà năn nỉ hỏi mẹ cho bằng được :”Chết là gì” ?
          Ông thuật tiếp :”Có lẽ, mẹ tôi cho là tôi đã đủ khôn lớn, nên mẹ tôi vào tủ sách của gia đình, lấy cuốn Thánh Kinh ra.  Mẹ tôi mở chương 13 sách Phúc âm theo thánh Gioan, mẹ tôi thong thả đọc :”Trước lễ Vượt Qua, Chúa Giêsu biết giờ của người đã đến, giờ phải rời bỏ thế gian mà về cùng Chúa Cha…” rồi mẹ tôi âu yếm nhìn tôi và nói “Con ạ, chết là bỏ thế gian để trở về với Chúa Cha”.
          Thật là một câu định nghĩa đầy tinh thần đạo đức, đầy hy vọng, đầy an ủi cho mỗi người chúng ta.  Mỗi người chúng ta sẽ chết, và sẽ được trở về với Thiên Chúa là Cha của chúng ta.  Người là Cha đang lo lắng mọi sự cho ta, và sẽ đón chúng ta, trong giây phút sau cùng, về sống cuộc đời vĩnh viễn với Ngài.
          Như vậy, chết đối với người Kitô hữu chỉ là sự chuyển đổi. Chết là lên đường về nhà Cha.  Cuộc đời con người như một cuộc hành trình về quê hương nên mới nói rằng :
         - Sinh ra là lên đường
         - Sống là tiến bước trên đường
         - Chết là tới quê hương.
          Do đó, đối với chúng ta, chết là kết thúc cuộc lữ hành ở trần gian để về nhà Cha.
          “Về nhà Cha”, cụm từ này, trước hết mang tính chất niềm tin. Nhưng cao cả hơn, nó còn là một lời tuyên xưng đức tin.  Rõ ràng khi nói “Về nhà Cha”, nghĩa là chúng ta tin rằng, sau cái chết không phải là hết. Đúng hơn, đó là một sự trở về : Từ giã cõi sống tạm này để về nhà Cha, về với Cha, về cõi vĩnh hằng, và cũng là được Cha gọi về, được Cha triệu hồi về.
          Cũng vào khoảng cuối mùa Phục Sinh, Hội thánh long trọng mừng lễ Chúa Giêsu về trời, Chúa về trời là về cùng Cha, về nhà Cha.
          Chúng ta nhớ lại, ngay trước lúc chịu tử nạn, Chúa từ giã các môn đệ :”Lòng các con đừng xao xuyến. Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy. Trong nhà Cha Thầy có nhiều chỗ ở. Nếu không, Thầy đã nói với các con rồi; Thầy đi để dọn chỗ cho các con. Và khi Thầy đã ra đi và dọn chỗ cho các con rồi, Thầy sẽ trở lại đem các con đi với Thầy, để Thầy ở đâu thì các con cũng ở đó” (Ga 14,1-3).
          Khi mà Chúa sắp bước vào cuộc thương khó, cái chết đang gần kề, lòng các môn đệ rối bời xao xuyến vì ngỡ như mình mất đi nơi nương tựa vững chắc, vậy mà chính giây phút ấy,  Chúa Giêsu lạ nói :”Lòng các con đừng xao xuyến”, rồi lại “Trong nhà Cha Thầy có nhiều chỗ ở’, để bây giờ, chính Thầy đã về nhà Cha mà dọn chỗ cho các con.  Thầy dọn chỗ như thế, là để cuối cùng, các con cũng sẽ về nhà Cha cùng với Thầy.  Những lời an ủi ấy cần thiết biết bao trong giờ phút lo âu này. Nó mang lại hơi ấm, phần nào giúp các môn đệ khỏi ngã lòng.
          Chúa Giêsu về trời, nghĩa là Ngài về nhà Cha. Ta biết mình sẽ  được về trời với Chúa Giêsu, vì thế mà biết  mình sẽ về nhà Cha như Ngài, vì Ngài đã hứa :”Thầy sẽ trở lại đưa các con đi với Thầy, để Thầy ở đâu thì các con cũng ở đó”.
          Nghĩ về cái chết, người Kitô hữu không bi quan, nhưng phải lạc quan, sự lạc quan trong đức tin. Nhờ thái độ của đức tin, họ nói về cái chết không như một kết thúc của cuộc sống, nhưng như cái đích phải đến ở phía cuối cuộc hành trình trở về nhà Cha của một đời người.
 
                                   Truyện : Vui ngày chết
          Thánh Ambrôsiô kể rằng dân chúng Thrace khóc và thốt lên những tiếng kêu thảm thiết khi có một người sinh ra, và trái lại,  họ vui mừng hát những bài ca hân hoan khi có người qua đời. Họ tin – và họ có lý -  rằng tất cả những ai đi vào trong thế giới này, một thế giới tràn đầy đau khổ, đều đáng thương hại; và khi họ thoát khỏi nơi lưu đầy buồn khổ này, người ta phải vui lên mừng cho họ.“Melior est dies mortis die nativitatis” : Ngày chết là ngày đáng ưa thích hơn ngày sinh ra.
 
III. CHUẨN BỊ CHO NGÀY VỀ NHÀ CHA
          Thi hào Victor Hugo kể rằng : một hôm vào mùa xuân, ông thấy chỉ còn có một con chim trong cái chuồng rộng lớn, ông vào bắt nó : phải vất vả lắm mới bắt được, rồi ông ra gần ban công thả nó đi. Cảm hứng trước cảnh tượng ấy, ông viết :”Nhìn con chim được phóng thích và đang bay đi. Ngắm con vật đáng thương ấy đang khuất dạng ngoài khơi, tôi trầm ngâm, bụng bảo dạ rằng : cái chết của tôi cũng như thế”.
          Trong đám tang nhà văn hào Honoré de Balzac, ông đã dõng dạc tuyên bố :”Không, tôi không chán lặp lại điều ấy, không, đó không phải là đêm tối, đó là ánh sáng. Đó không phải là tận cùng, đó mới chỉ là khởi nguyên. Đó không phải là hư vô, đó là vĩnh cửu” (Parvilliez. Niềm vui trước sự chết, tr 28).
          Sống chết là hai đầu mối của đời người : ta vào đầu này, ta ra cửa kia, không thể nào khác được.
         Triết gia Heidegger gọi hiện hữu của con người là “hiện hữu qui tử”.  Nhưng thi sĩ Tagore lại coi việc sống chết như hai bầu sữa mẹ : bú xong bên này thì bú sang bên kia :
                  “Khi mẹ giằng con khỏi vú bên này, con oà khóc,
                  “Nhưng liền đó lại thấy nguồn an ủi ở bầu vú bên kia”.
          Vì thế nên
                            Con yêu đời trong kiếp sống trần gian
                           Thì con cũng yêu cả giờ ly trần
                           Sống chết là chi, khi đời vẫn tiếp :
                           Sự sống đời đời chính Chúa tặng ban.
          Luôn tâm niệm cuộc sống ở trần gian chỉ là cuộc hành trình đi về nhà Cha, người Kitô hữu sống trong lạc quan chờ đợi.  Đau khổ và cả cái chết cũng không làm cho họ chùn bước.
          Ông Baruel  trong cuốn “Sử ký hàng giáo sĩ thời cách mạng” có ghi lại câu nói sau đây của Viollet, người đã đưa 124 linh mục lên máy chém :”Tôi thực sự không kềm nổi, tôi rất đỗi ngạc nhiên từ đó đến nay, tôi không hiểu được Linh mục của các ông đã đi tới sự chết với một vẻ bình tĩnh như thể họ đi ăn cưới vậy”.
          Chúng ta bước vào thời gian ngay lúc vừa mở mắt chào đời, và ra khỏi đó khi giờ chết đến. Khi suy nghĩ về thời gian, ta thường gặp cám dỗ chính đó là thái độ thoái thác. Tất cả chúng ta quen có cái khuynh hướng nhắm tới tương lai hay lại quay về với quá vãng một cách thái quá. Do đó, ta trở nên những kẻ bạo tợn hoặc nản lòng.
          Một thanh niên đã nói :”Lúc này ta cứ ăn chơi cho đã… sau này sẽ sống nghiêm túc hơn. Một ông già, với quá khứ rỗng không công nghiệp và đầy tràn tội lỗi, đã kêu lên :”Giờ này thật đã quá muộn ! Tôi đã làm hỏng mất cuộc đời”!
          Nhưng, trước mặt Chúa, không khi nào quá sớm, không bao giờ quá muộn… giây phút hiện tại là hồng ân  cần nắm giữ. Đó là giây phút cứu độ. Bí quyết thành công của con người, của ơn Chúa, là can đảm và tin tưởng chấp nhận thời gian trước mắt.
          Thời gian hiện tại sẽ đáp ứng nhu cầu thiêng liêng và trần thế của ta cách chính đáng hơn. Nhờ đó, ta đón nhận từng giọt sự sống và tìm cách làm phong phú đời mình.
          Phương thế hữu hiệu để khỏi làm hỏng đời mình, là dù lúc nào, tuổi nào,  ta cũng dính kết trọn vẹn vào giây phút hiện tại, như chốt cắm điện dính vào với dòng điện, để phát toả ánh sáng và sức mạnh (Charles Lebrun, Vượt qua cõi hồng trần, tr 20).
          Thi sĩ Chateaubriand nói : “Chính trong cái chết mà người Kit ô hữu chiến thắng”.
          Cái chết dưới cái nhìn đức tin, không thể là một điều khủng khiếp như người ta quen tưởng tượng.  Tín hữu cần nhìn tới khía cạnh tốt đẹp của sự chết : kết thúc cuộc lưu đầy, thoát khỏi tội lỗi, được Chúa Kitô đón tiếp.
          Nhìn như thế, cái chết xuất hiện như một ngày đẹp nhất của cuộc đời, ngày sinh nhật vào đời sống vĩnh cửu.  Thánh Têrêsa thành Avila hiểu sâu sắc điều đó, đến nỗi đôi lúc ngài tỏ ra buồn phiền vì chưa được chết. Ngài kêu lên :”Ôi cái chết, làm sao phải ngần ngại vì trong ngươi đã thấy sự sống ! Tôi chết đi được, vì chưa được chết”.
          Thánh Phaolô đã nhắc nhở chúng ta :”Quê hương chúng ta ở trên trời, và chúng ta nóng lòng chờ đợi Đức Giêsu Kitô từ trời đến cứu chúng ta” (Pl 3,20). Cuộc sống của chúng ta  là một cuộc chuẩn bị cho ngày về quê hương vĩnh cửu.  Hãy tin tưởng. Hãy phấn khởi và sẵn sàng  , nỗ lực chuẩn bị cho ngày sau hết của đời mình  : “sự tử như sự sinh, sự vong như sự tồn”.
Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt


 

AnTáng 10: ĐỘT NGỘT

ĐỘT NGỘT AnTáng 10

“Vậy các con hãy tỉnh thức
Vì các con không biết ngày nào, giờ nào” (Mt 25,13)


I. SUY NIỆM LỜI CHÚA : Mt 25,1-13
 

Chúa Giêsu đưa ra dụ ngôn mươi cô trinh nữ đi đón chàng rể để đi dự tiệc cưới có ý nhắc nhở cho AnTáng 10

Chúa Giêsu đưa ra dụ ngôn mươi cô trinh nữ đi đón chàng rể để đi dự tiệc cưới có ý nhắc nhở cho chúng ta phải có tinh thần tỉnh thức để đón chờ Chúa đến với mỗi người chúng ta trong giờ sau hết.
          Mười cô trinh nữ trong dụ ngôn, tượng trưng cho tất cả các tín hữu : nam cũng như nữ, giáo dân hay tu sĩ và giáo sĩ.  Người ta có thể khôn như năm cô khôn ngoan, hay khờ dại như năm cô khờ dại đem đèn mà không đem theo dầu.  Dụ ngôn nhấn mạnh chuyện chàng rể đến chậm, nghĩa là không biết rõ giờ nào Chúa đến, nên phải luôn sẵn sàng.
          Chúa Giêsu được ví như chàng rể, Ngài đến để gặp gỡ mọi người chúng ta. Ngài muốn đưa chúng ta vào gia đình của Ngài, tức là vào sự sống đời đời, như một hôn phu dẫn hôn thê vào gia đình mình.  Như vậy, chúng ta theo Chúa, tức là đi theo bước đi của một hôn thê hướng tới hôn phu của mình.
          Năm cô khôn ngoan cũng ngủ như năm cô khờ dại, thế mà được coi là có thái độ tỉnh thức, bởi vì tuy ngủ nhưng họ đã chuẩn bị sẵn sàng những thứ cần thiết. Như thế, tỉnh thức không phải là lúc nào cũng lăng xăng làm việc, tỉnh thức không phải là không được nghỉ ngơi.  Tỉnh thức là chu toàn trách nhiệm : khi trách nhiệm chưa xong thì phải lo cho xong, khi đã xong thì có quyền nghỉ ngơi.
          Cách sống của năm cô khờ dại là “mặc kệ tới đâu hay tới đó”, là cách sống của những người gần chết mới nghĩ tới việc linh hồn.
          Đời người là một cuộc đợi chờ, và đợi chờ nào cũng bao hàm tình yêu trong đó, bởi vì con người chỉ hết lòng đợi chờ mong mỏi người nào hay điều gì mình hết lòng yêu thương hay quí chuộng.  Người mẹ chờ đợi đứa con sắp ra chào đời bằng cách chuẩn bị tất cả những gì cần thiết để bao bọc săn sóc con mình; một người chờ đợi bạn đến thăm bằng cách chuẩn bị thật chu đáo để đón tiếp bạn.
          Chúng ta mong đợi Chúa đến.  Nhưng khi nào Ngài đến, chúng ta không biết.  Có điều chắc chắn là Ngài sẽ đến trong một cuộc viếng thăm thân tình, bởi vì chỉ những người thân tình mới dành cho nhau những cuộc viếng thăm bất ngờ (Mỗi ngày một tin vui).
 
II. CÁI CHẾT BẤT NGỜ VÀ ĐỘT NGỘT
          1. Chết, một định luật khắt khe
          Theo triết học Đông phương, đã có hình thì có hoại, đã có sinh thì có tử, chỉ khi nào không sinh thì mới không có tử.  Chúng ta đã được sinh ra thì ắt phải chết, cái chết không kiêng nể ai, cũng không ai có thể chống lại được cái chết. Đó là một thực tại hiển nhiên. Chẳng thế mà người xưa đã nói :”Nhân sinh tự cổ thuỳ vô tử” (Văn Thiên Trung) : người ta xưa nay ai mà không chết ?
         Ngoài ra, chúng ta có lời Chúa  phán với tổ tông chúng ta và mọi người chúng ta trong sách Sáng thế :”Ngươi là bụi tro và sẽ tở về cùng bụi tro”.  Như vậy chết là một điều chắc chắn chỉ có điều là giờ chết đến một cách đột ngộ không ai ngờ.
 
         2. Hình thức của sự chết
          a) Chết cách bình thường
          Cuộc sống con người thường được diễn ra trong bốn giai đoạn : sinh, lão, bệnh, tử.  Trước khi chết người ta thường phải chịu một cơn bệnh kéo dài, đôi khi phải qua một cơn bạo bệnh.  Người bệnh thường có những lời trối trăng, từ biệt rồi chuẩn bị đi vào đời sau.
          Đối với đại đa số con người, cái chết thường đi đến qua bốn giai đoạn ấy, ít khi rút ngắn giai đoạn lại.  Đó là cái chết bình thường. Còn cái chết không bình thường là cái chết đột ngột.
 
         b) Chết cách đột ngột
         Đôi khi có những cái chết đột ngột mà người ta không thế tiên đoán được vì không có một triệu chứng gì đặc biệt.  Chúng ta có thể phân biệt cái chết đột ngột về 2 phương diện : phương diện y học và phương diện tâm linh.

         * Về phường diện y học
          Cái chết có thể đến đột ngột qua tai nạn hoặc căn bệnh đột quỵ (hay còn gọi là tai biến mạch máu não). Hằng năm, trên khắp thế giới vẫn có những người phải nhận cái chết đột ngột không được báo trước như thế.
          “Đột quỵ” là bệnh cấp cứu rất thường gặp.  Đột quỵ hay còn gọi là tai biến mạch máu não là từ được dùng chung để chỉ sự tổn thương một phần não bộ.  Vì não cần được cung cấp ốc-xy và đường thường xuyên để có thể hoạt động được nên khi động mạch não bị tắc nghẽn, lượng máu dùng để cung cấp cho vùng não sẽ bị cản trở và một phần não sẽ ngưng hoạt động.
          Nếu không được cấp cứu kịp thời thì vùng não này sẽ bị chết và ngưng chức năng vĩnh viễn, gọi là nhồi máu não.  Theo nghiên cứu, thống kê có khoảng hơn 80% các ca đột quỵ là do nhồi máu não.  Khi bị đột quỵ, người bệnh sẽ rơi vào tình trạng một phần não bị hư hại đột ngột do mất máu nuôi và các tế bào não sẽ bị chết dần đi. Hậu quả dẫn đến thường là bệnh nhân bị liệt nửa người, hôn mê hoặc tử vong.
          Đột quỵ là nguyên nhân gây tử vong và tàn tật cho nhiều người (đặc biệt người lớn tuổi). Ở các nước phát triển, tỉ lệ tử vong đột quỵ chỉ đứng sau bệnh ung thư và các bệnh về tim mạch.  Theo tổ chức Y tế thế giới, tỉ lệ số người mắc chứng đột quỵ hằng năm chiếm khoảng 1,27-7,46% năm.  Trong số những người bị đột quỵ thì có khoảng 50% có khả năng phục hồi chức năng sống, còn 50% còn lại thường bị tàn phế hoặc một vài dị tật để lại.
          Chúng ta cũng nên biết nguyên nhân gây đột quỵ.  Bệnh đột quỵ thường xẩy ra ở người lớn tuổi (chiếm tỉ lệ cao hơn là nam giới).  Nguyên nhân dẫn đến đột quỵ nhiều nhất là  là do tăng huyết áp, hút thuốc lá, tiểu đường, các bệnh lý về tim (thiếu máu cơ tim), xơ vữa động mạch, nhồi máu não, bệnh mạch máu ngoại biên…
          Ngoài ra cũng có một số yếu tố khác có thể gây đột quỵ là chứng tăng mỡ máu, lười vận động thể dục, béo phì, nghiện rượu, căng thẳng thần kinh.  Nhiều nghiên cứu cho thấy có mối liên hệ chặt chẽ giữa chứng cao huyết áp thương xuyên để phòng ngừa bệnh đột quỵ (Theo internet).
 
         * Về phương diện tâm linh
          Về phương diện này, có thể có cái chết đột ngột và cũng có thể không có cái chết đột ngột tuỳ ở từng người.
          -  Có cái chết đột ngột
          Có cái chết đột ngột cho những người  không thèm nghĩ tới linh hồn mình, họ chỉ biết sống để sống, không biết sống để làm gì, họ chỉ biết sống để hưởng thụ càng nhiều càng tốt, nên người ta mới nói :
                                    Sống bữa nào hay bữa ấy,
                                   Hơi đâu ngồi nghĩ chuyện đâu đâu
                                               (Quách Tấn)
          Hoặc hưởng thụ cho mau, cho nhiều, phải tranh thủ trước giờ chết đến :
                                    Người ơi ! Tận hưởng mùi thế tục,
                                   Trước ngày tan nát cõi tha ma.
                                                  (Omar)
          -  Không có cái chết đột ngột
          Đối với những người đã chuẩn bị tâm hồn thì không bao giờ có cái chết đột ngột. Bởi vì cả cuộc đời của họ là thời gian chuẩn bị cho ngày gặp gỡ với Đấng mà mình yêu mến.  Đối với người đang chuẩn bị đón nhận người yêu, khi người yêu đến thì làm gì có sự đột ngột ? Nếu một người hằng ngày hằng giờ chờ đợi Chúa đến trong ngày sau hết của đời mình, và khi Chúa đến viếng thăm thì làm gì có sự đột ngột trong sự chờ đợi !
 
                                   Truyện : Đã dọn sẵn hành trang
          Khi Đức Giáo hoàng Gioan 23 nằm trên giường bệnh, ngài cầu nguyện và dọn mình chờ Chúa đến. Bệnh đến lúc nguy kịch mà bác sĩ không cho ngài biết bệnh tình, nhưng ngài đã biết nên ngài bình tĩnh nói :”Tôi đã dọn sẵn hành trang”.
 
III. ĐỂ KHỎI CHẾT ĐỘT NGỘT
          Chết là một điều chắc chắn nhưng chỉ có một điều thắc mắc là khi nào giờ chết đến.  Thần chết luôn rình rập con người như kẻ trộm rình rập người ngủ say, nên văn sĩ Cervantes mới nói một cách dí dỏm :”Cái chết là anh thợ gặt không biết ngủ trưa”.
 
         1. Phải biết phòng xa
          Sách luận ngữ viết :”Nhân vô viễn lự, tắc hữu cận ưu” : người không biết phòng  xa, ắt phải gặp buồn gần.
          Câu truyện ngụ ngôn giữa con ve và con kiến của La Fontaine đã nói lên sự cần thiết phải biết phòng xa : con ve chỉ biết ca hát suốt mùa hè mà không biết chuẩn bị cho mùa đông. Trái lại, con kiến miệt mài làm việc suốt mùa hè.  Khi mùa đông đến, con ve thiếu thốn chỉ còn biết đến với kiến để xin vay mượn. Còn con kiến thì sống ung dung trong tổ để hưởng thụ lương thực trong suốt mùa đông.
          Người không biết lo xa là người thiếu khôn ngoan, chắc chắn họ sẽ gặp thất bại trong cuộc sống.  Dụ ngôn mười cô trinh nữ đi đón chàng rể cũng nói lên điều đó : Phải biết lo xa. Vì thể cổ nhân đã khuyên con người :
                             “Tích cốc phòng cơ, tích y phòng hàn”
                           Phải dự trữ lúa thóc phòng khi đói kém
                           Tích trữ áo quần phòng khi trời lạnh giá.
 
         2. Gieo giống nào, gặt giống ấy
          Cuộc sống mai hậu sẽ hoàn toàn lệ thuộc vào cuộc sống ở trần gian này  vì người ta thường nói :”Sống sao chết vậy” hoặc “Sống khôn chết thiêng”.
          Thánh Phaolô cũng có ý kiến rõ ràng về vấn đề này khi ngài viết thư cho tín hữu Galata :”Ai gieo giống nào thì gặt giống ấy”(Gl 6,7).
          Sự sống và tình yêu vĩnh cửu của con người chỉ có thể có nếu chúng được gieo trong tại thế này, và sự gieo trồng ấy dĩ nhiên phải qua giai đoạn quyết liệt là hạt giống cần phải thối rữa, cần phải chết đi, nghĩa là phải “hết hiện hữu là hạt giống”.  Nhưng công việc trồng cấy đó cần có yếu tố thời gian :
                                    Nhất niên chi kế mặc như thụ cốc,
                                   Thập niên chi kế mạc như thụ mộc
                                   Bách niên chi kế mạc như thụ nhân
                                                     (Tôn Tử)
 
         Người ta chỉ có gặt khi có gieo, và gieo giống nào thì gặt giống ấy. Gieo giống tốt thì gặt lúa tốt, gieo giống xấu thì gặt lúa xấu.  Kẻ chỉ say sưa cuộc đời và tình yêu tại thế sẽ chẳng gặt được sự sống và tình yêu trong nước Chúa, bởi lẽ họ đã không gieo. Đã không gieo thì lấy gì mà gặt ?
          Chỉ có những ai biết sống, biết yêu trong đời này, nhưng vẫn khao khát sự sống và tình yêu đời đời, chỉ những người đó mới thấy viên mãn của sự sống và tình yêu Thiên Chúa (Thiện Cẩm, báo Nhà Chúa, số 8, tr 21).
 
         3. Hãy sống giây phút hiện tại
          Người ta nói :”Ai biết chết là biết sống”. Sống và chết có liên lạc chặt chẽ với nhau. Vì thế ông De Montaigne mới nói :”Ai dạy cho con người biết cách chết là dạy cho con người biết cách sống; bởi biết cách chết là tự giải thoát được mọi sự kiểm toả ở đời”.
          Không cần phải làm những việc phi thường, cứ làm những việc tầm thường với ý thức rằng mình đang làm mọi việc cho tốt để chuẩn bị cho đời sau. Do đó, công việc làm của chúng ta mới có ý nghĩa và công phúc.
          Hãy dùng hết mọi giây phút hiện tại, đừng để phí đi một giây phút nào, vì thời giờ là cái vốn Chúa ban cho mỗi người để sinh lời lãi trong đời sống thiêng liêng.
          Ngày xưa có một thầy dòng viết lên trên mặt đồng hồ những dòng chữ sau đây    
         “Dĩ vãng đã qua, tương lai chưa tới,
         Hiện tại là lúc bạn đang làm chủ,
         Phút hiện tại ấy thuộc về bạn, bạn hãy dùng cho hết.
         Làm điều có đức sẽ được thưởng, làm điều ác phải chịu phạt.
         Đó là tất cả những cái gì làm sống lại.
                  (T. Toth, Chí khí người thanh niên, tr 157)
          Mỗi người chúng ta sẽ chết, không biết chết lúc nào. Nhưng thái độ mỗi người khi chết đều khác nhau.  Có người vui vẻ đón nhận giờ chết, coi như thời giờ được đi gặp Chúa trong tình yêu thương và lãnh phần thưởng. Có người lo sợ trước cái chết vì đây là lúc phải đến gặp Chúa để chịu phán xét và lĩnh hình phạt.
           Sở dĩ có sự khác nhau là vì có người đã chuẩn bị, có người lơ là việc linh hồn, không chút chuẩn bị.  Chớ gì giờ chết là ngày sinh nhật vui vẻ của chúng ta ở trên trời.
 
                                   Truyện : Hãy chuẩn bị trước
          Một thành phố ở Hy lạp có tục lệ lạ lùng như sau : Mỗi năm họ tìm một người lạ mặt tôn lên làm vua. Xong năm đó, họ hạ bệ ông vua và lột hết quần áo, đầy ra một hoang đảo.
          Ngày kia, một người lạ mặt được bầu lên làm vua. Ông này thật khôn ngoan. Ông truyền cho đem quần áo, đồ ăn, vật dụng ra ngoài hoang đảo. Khi bị  truất phế, ông vui vẻ ra hoang đảo.
          Đó là câu chuyện do thánh Damascenô đã thuật lại.  Vua một năm, đó là chúng ta. Sống trong cuộc đời vắn vỏi này, chúng ta sẽ về hoang đảo đời đời.  Nếu chúng ta đã tích trữ những công việc lành thì chúng ta mới có phúc. Còn nếu không, chúng ta sẽ vô phúc.
 Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt


 

AnTáng 11: TIẾNG KHÓC CUỘC ĐỜI

TIẾNG KHÓC CUỘC ĐỜI AnTáng 11

I. CẤT TIẾNG KHÓC CHÀO ĐỜI
          1. Đứa bé sinh ra với tiếng khóc
 

Khi đứa bé sinh ra, bao giờ cũng cất lên tiếng khóc đầu tiên, báo hiệu một con người đã được AnTáng 11

Khi đứa bé sinh ra, bao giờ cũng cất lên tiếng khóc đầu tiên, báo hiệu một con người đã được sinh ra ở đời, báo tin vui cho những người đang chờ đợi chung quanh. Vì thế, người ta quen gọi tiếng khóc đầu tiên bằng câu thành ngữ :”Cất tiếng khóc chào đời”, nghĩa là chào đời bằng tiếng khóc chứ không bằng tiếng cười.
          Sau này, người mẹ có lần nói với đứa con thân yêu: “Câu nói ấy (cất tiếng khóc chào đời) nghe nhẹ nhàng và đáng yêu làm sao, thế nhưng khi đó con khóc làm mẹ nôn nao cả ruột.  Vừa ra khỏi lòng mẹ con bắt đầu khóc, khóc trong suốt quá trình người ta làm vệ sinh cho con, rồi trả con cho mẹ con vẫn khóc”.
          Trước câu “Cất tiếng khóc chào đời” có người đã nêu ý kiến : “Ai cũng biết rằng đứa bé vừa mới sinh ra như một hòn than còn đỏ hỏn, một cái gì đó nhỏ nhoi, mơn mởn và chan chứa một niềm hạnh phúc ngọt ngào.  Một sứ mệnh bắt đầu cho sự sống yếu ớt ấy. Và đứa bé cất tiếng khóc “oa, oa”.
          Thế nhưng có ai chú ý tới ý nghĩa của tiếng khóc ấy không ?  Đó là sự báo hiệu một điềm rằng “Cuộc đời là một bể khổ”, và con người là một sinh linh sinh ra để chịu khổ, không ai thoát khỏi cái qui luật đó cả.  Đứa bé cất tiếng khóc chào đời là cái khổ đầu tiên. Và cái khổ đầu tiên ấy báo hiệu những cái khổ cho cuộc sống sau này”.
 
         2. Phải chăng cuộc đời là buồn khổ ?
          Các thi sĩ trong nền văn học Việt nam của chúng ta hồi thế kỷ 19 thường có tinh thần yếm thế vì chịu ảnh hưởng triết lý của Phật giáo, coi đời là bể khổ, là bến mê như thi sĩ Ôn Như Hầu diễn tả :
                                   Nghĩ thân phù thế mà đau
                                   Bọt trong bề khổ, bèo đầu bến mê
          Thi sĩ Nguyễn Gia Thiều trong Cung oán ngâm khúc có câu :
                                    Thảo nào khi mới chôn nhau
                                   Đã mang tiếng khóc ban đầu mà ra
          Hoặc thi sĩ Cao Bá Quát cũng đặt dấu hỏi có tinh cách triết lý  một chút :
                                    Vừa sinh ra thì đà khóc chóe
                                   Trần có vui sao chẳng cười khì ?
          Việt nam chúng ta cũng có câu tục ngữ nói về chuyện sinh tử với câu :”Sinh dữ tử lành”, có nghĩa là nằm mơ thấy người chết thì đó là điềm tốt; còn nằm mơ thấy người chửa đẻ là điềm xấu. Dĩ nhiên niềm tin này có tính cách mê tín.
 
Truyện : Niềm tin của người xứ Thrace
          Thánh Ambrôsiô kể rằng dân chúng xứ Thrace khóc và thốt lên những tiếng kêu thảm thiết khi có một người sinh ra, và trái lại, họ vui mừng hát những bài ca hân hoan khi có người qua đời. Họ tin – và họ có lý – rằng tất cả những ai  đi vào trong thế giới này, một thế giới tràn đầy khổ đau, đều đáng thương hại ; và khi họ thoát khỏi nơi lưu đầy buồn khổ này, người ta phải vui lên mừng cho họ. Melior est dies mortis die nativitatis : ngày chết là ngày đáng ưa thích hơn ngày sinh ra.
 
II. TIẾNG KHÓC THEO BỐN NHỊP
          1. Cuộc đời và bốn cửa ải
          Nếu đọc thánh vịnh 88, chúng ta phải xác tín rằng không ai có thể tránh được cái chết được ví như cái lưới chụp xuống trên mọi người :
                            Xin nhớ rằng : đời con là một kiếp phù du
                           Loài người Chúa dựng nên thật mỏng manh quá đỗi !
                           Sống làm người, ai không phải chết,
                           Ai cứu nổi mình thoát quyền lực âm ty.
                                            (Tv 88, 48-49)
          Trong đời mỗi một con người ai mà chẳng phải trải qua giai đoạn “Sinh – Lão – Bệnh – Tử, đấy là “bốn cửa ải” con người phải đi qua.
          “Sinh” – là cái lẽ chạm ngõ đầu tiên của một con người được đặt mình vào sự sống của vũ trụ.
         “Lão” – là cái lẽ tất yếu của một quá trình biến chuyển phù hợp với qui luật của Tạo hóa.
         “Bệnh” – cũng là một yếu tố đan cài, thường trực (rình rập) trong mỗi con người từ lúc sinh ra cho đến khi trút hơi thở cuối cùng. Vẫn có thiểu số người từ lúc sinh ra cho đến lúc lìa dương thế, họ chưa một lần nếm phải bệnh tật và cơn đau, chưa một lần phải uống thứ thuốc nào gọi là “thốc bệnh”.  Song dù có là như vậy thì ai dám chắc rằng con người đó hoàn toàn không mang bệnh, nếu không là căn bệnh của thể xác thì hẳn cũng sẽ là căn bệnh của tâm lý, tinh thần. Như vậy, “Bệnh” cũng là một cửa ải mà mỗi người đều phải trải qua.
         Rồi với “Tử” thì sao ?  Tử là một “cửa ải cuối cùng” trong vòng đời của mỗi người, để rồi đưa họ về một thế giới khác, “cái thế giới không là thế giới”, cái thế giới mà người ta gọi là nơi có “sự sống vĩnh viễn”.  Tuy nhiên, vòng “tử” ứng với mỗi con người lại với một nghiệp không ai giống ai…
       
         2. Cuộc đời và bốn nhịp điệu
          Đúng là đời người có thời có nhịp.  Nhiều trường hợp tương tự có những trùng hợp lạ lùng, với những đường nét theo nhịp theo hướng nào đó trong một trật tự lớn hơn.  Như nhịp cây kia, nảy sinh vào mùa xuân, phát triển vào mùa hạ, rụng lá vào mùa thu, và năm ngủ suốt mùa đông. Kìa, điệu nhạc “Bốn mùa” của nhạc sĩ tài danh Vivaldi đang diễn tả bốn nhịp dòng đời.  Có những lúc hoa nở hân hoan thì cũng có lúc lá rụng trụi cành tàn tạ bâng khuâng.
          Đời người là một điệu vũ gồm 4 nhịp qua 4 tiếng khóc, như 4 lời tạ từ mà thăng tiến. Bà Paula, một vũ sư người Anh,  đã biểu diễn điệu vũ bốn nhịp trong một lớp học về tâm lý thực hành.
          Trước khi diễn, bà kể về những nhịp của đời bà : những lúc lên cao vời vợi, những lúc bị vứt xuống bùn đen, những lúc vật vã ghì lại, nhất là vào dịp cuối xuân xanh,  và những lúc tóc bạc lá rụng răng rụng… Bà ta diễn hay quá, diễn được những gì đang ray rứt trong tim mỗi người. Và nhiều người tham dự đã bật khóc.
          Tiéng khóc đầu tiên khi ra khỏi lòng mẹ, tạ từ nơi đầy ắp yêu thương mà sinh vào trần thế như người ta đã từng nói :”Cất tiếng khóc chào đời”.
          Tiếng khóc thứ hai khi đến tuổi phải rời mái ấm gia đình mà bước vào đời lập thân. Bao nhiêu lo lắng , bao phiền muộn , vui buồn lẫn lộn :
                                     Gái lớn ai không phải lấy chồng,
                                    Can gì mà khóc, nín đi không !
                                    Nín đi ! mặc áo ra chào họ,
                                    Rõ quí con tôi các chị trông.
                                             (Nguyễn Bính)
          Tiếng khóc thứ ba được các nhà tâm lý thời mới gọi là tiếng khóc trung niên (mid-life), khi đã vượt qua đỉnh đồi “over the hill”. Mái tóc đen nhánh thuở nào nay đã xuất hiện vài sợi bạc, rồi bắt đầu pha chút muối tiêu, và khóe mắt thấy điểm vài nét chân chim. Cũng chính là lúc giật mình thấy tuổi xuân xanh đang chớm qua đi trên đầu.
          Tiếng khóc thứ tư là tiếng khóc lá vàng rơi, giống như cặp vợ chồng già trong câu truyện “Trên Ao Vàng”, lúc mà con người thấy rõ sắp tạ từ những gì trông thấy  để đi vào một thế giới khác chưa rõ nét.  Đây là tiếng còi xe lửa tốc hành vượt bờ sinh tử mà đi về quê hương “Vĩnh Cửu”, đúng như niềm tin “Sinh ký, Tử qui” của người mình : sống gửi chết về.  Vì thế mà người Việt gọi giờ chết là sinh thì, là lúc bắt đầu sống.
          Mỗi một cuộc ra đi đều mang theo một tiếng khóc. Có khi ngắn gọn, đứt quãng, có khi dài lê thê.  Có khi phát ra thành tiếng giẫy giụa, có khi dội vào trong tim trăn trở.
          Người nhìn ra và hòa được vào nhịp thì an nhiên tự tại. Người cố ghì lại thì la hét vật vã, và nhiều khi trở thành những hiện tượng lố bịch, tạo ra những nhịp rối loạn bất ổn (Theo internet).
 
III. TIẾNG KHÓC VÀ TIẾNG CƯỜI
          1. Cuộc đời với tiếng khóc
          Không ai trên trần thế này dám nói rằng mình được hoàn toàn hạnh phúc, không phải chịu một đau khổ nào.  Trong khi đó, Phật giáo cho đời là bể khổ, là bến mê. Người Công giáo không coi đời là bể khổ, nhưng cũng coi trần gian là thung lũng nước mắt (valle lacrimarum) như trong khi Lạy Nữ Vương mà chúng ta đọc hằng ngày.  Như vậy trên trần gian này có rất nhiều đau khổ không thể xác thì tinh thần đang vây hãm con người, không ai có thể trốn thoát được.
          Trong Cựu ước, chúng ta đọc thấy một nhân vật điển hình bị chi phối bởi đau khổ : đó là ông Gióp.  Một người tốt lành, hiền đức, giầu có, nhưng rồi ông ta gặp phải nhiều nỗi gian truân và thử thach khi trận cuồng phong kéo đến, cướp đi đàn gia súc, tài sản, người hầu và con cái của ông. Bấy giờ ông Gióp trỗi dậy, xé áo mình ra, cạo đầu, sấp mình xuống đất thờ lạy và nói :”Thân trần truồng sinh ra từ lòng mẹ, tôi sẽ trở về đó cũng trần truồng.  Đức Chúa đã ban cho, Đức Chúa lại lấy đi : Xin chúc tụng danh Đức Chúa (Gióp 1, 20-21). Hình ảnh của ông Gióp cho ta thấy được một niềm tin vững vàng vào tình yêu Thiên Chúa khi gặp thử thách.
          Có hai loại đau khổ là vật chất và tinh thần. “Đau khổ vật chất” là những cảm giác mà kích thích có thể là nội tại hay ngoại tại, vật chất hay tinh thần; và có tính cách phản ngược hay am hợp với chủ thể.  Còn “đau khổ tinh thần” là những cảm thức (sentiment) do các biểu tượng tinh thần, nội tại, chủ quan, như ý tưởng, phán đoán, suy luận, quan niệm, hoặc phản ngược hoặc am hợp với các biểu tượng sở hữu, căn bản của chủ thể trong ý thức cũng như trong vô thức.
          Thường người ta dùng từ ngữ “đau đớn”để chỉ đau khổ vật chất và từ ngữ “đau khổ” để chỉ sự đau đớn tinh thần.  Đau đớn và đau khổ  luôn có tương quan với nhau, đau đớn có thể đưa tới đau khổ và ngược lại, đau khổ có thể đưa tới đau đớn.
          Con người ta ở đời dù lớn dù nhỏ, thế nào cũng phải chịu đau đớn hay đau khổ một lần rồi.  Đứa trẻ vừa mới sinh ra cũng phải đau đơn, mặc dù chưa biết đau là gì. Ngoài ra, đời con người còn phải chịu một cái định luật khắc khe là sinh, lão, bệnh , tử.  Thành ra, nếu hỏi một người : anh đã được hoàn toàn hạnh phúc chưa, nghĩa là chưa bao giờ phải chíu đau khổ hay đau đớn ? Chắc chắn người đó phải trả lời rằng : mình chưa bao giờ được hạnh phúc hoàn toàn vì còn phải trải qua đau khổ hoặc đau đớn không nhiều thì ít.
 
Truyện : Chưa có hạnh phúc hoàn toàn
         Theo truyện biến ngôn, người ta kể rằng : có một ông vua truyền đúc một cái chuông bằng bạc treo ở gác chuông lau đài nhà vua. Khi nào nghe thấy tiếng chuông vang lên thì biết rằng ngày đó nhà vua được giải thoát khỏi mọi lo lắng, và cảm thấy được hoàn toàn hạnh phúc.  Nhưng cái gì đã xẩy ra ?  Những tháng, những năm cứ tiếp tục trôi qua và người ta không bao giờ nghe thấy tiếng chuông báo hiệu cho biết vua được hoàn toàn hạnh phúc.  Chờ cho đến ngày sau hết của đời vua, người ta mới nghe thấy tiếng chuông ấy vang lên một lần (A. Filchner, audite filii, 1961, tr 176).
 
         2. Cuộc đời với  tiếng cười
          Nếu ông K.Mars nói :”Tôn giáo là thuốc phiện cùa nhân dân”, và triết gia vô thần Nietzsche tuyên bố :”Thiên Chúa đã chết rồi”, thì người ta cũng chẳng tin có đời sau, chết là hết và sự chết trở nên phi lý, vô nghĩa ! Do đó, người ta tha hồ sống buông thả, hưởng thụ cho hết mức vì không làm thế thì cũng hoài :
                                    Cuộc hành lạc bao nhiêu lãi đấy,
                                   Nếu không chơi thiệt ấy ai bù ?
                                           (Nguyễn Công Trứ)
          Những người không có tín ngưỡng coi đời chỉ là hư ảo, chóng qua, người ta chỉ sống cho qua ngày để hưởng thụ, càng nhiều càng tốt để rồi đợi chờ thần chết đến đem đi tất cả.  Họ coi chết là kết thúc cuộc đời, chết là tiêu diệt tất cả , là đi vào ngõ cụt, là đi vào hư vô và tuyệt vọng. Họ coi chết là một thất bại và hoàn toàn vô nghĩa.
          Còn nhà triết học Heiddeger thì cho rằng :”Nếu chết là hết thì đời người luôn luôn sống trong lo sợ. Bởi vì biết rằng mình sẽ chết, vậy sẽ trở về cõi hư không, thì tức là đã mang hư vô trong mình rồi. Sống làm gì nữa để mai ngày, rơi vào cõi hư vô” ?
          Chúng ta có điểm tựa cho cuộc sống để làm cho cuộc sống có ý nghĩa. Thánh Phaolô khích lệ các tín hữu Côrintô hãy tin vào đời sau :”Nếu ngôi nhà của chúng ta ở dưới đất, là chiếc lều này, bị phá hủy đi, thì chúng ta có một nơi ở do Thiên Chúa dựng lên, một ngôi nhà vĩnh cửu ở trên trời không do tay người thế làm ra” (1Cr 5,1).
          Ngài còn cho biết thêm :”Ở trong thân xác này là lưu lạc xa Chúa”, và ngài muốn rời bỏ thân xác này để ở bên Chúa (x.1Cr 5,6.8). Và ngài còn quả quyết :”Không phải tất cả chúng ta sẽ chết, nhưng tất cả chúng ta cũng sẽ được biến đổi” (1Cr 15,51).
         Chúng ta có một hình ảnh rất đẹp và rất ý nghĩa để hiểu rằng chết không phải là hết, mà chết chỉ là một sự chuyển đổi : từ đời tạm này sang đời vĩnh viễn, từ quê hương lưu đầy sang quê hương hạnh phúc.
 
Truyện : Chết là chuyển đổi
         Đại tá David Marcus bị chết trong trận chiến ở Israel tháng 6 năm 1948. Trong bóp của ông, người ta thấy một tấm thẻ ghi lại những lời thi vị hóa cái chết như sau : “Tôi đang đứng trên bờ biển. Bên cạnh tôi một con tầu đang trương buồm trắng  phất phơ trong gió sớm hướng về đại dương. Con tầu trông thật đẹp và mạnh mẽ. Tôi đứng nhìn theo nó cho đến khi  nó chỉ còn là một dải mây trắng nơi trời và nước hòa lẫn với nhau.
         Lúc đó có người đứng cạnh tôi thốt lên :
         - Kìa ! Con tầu biến mất rồi.
         - Biến đi đâu ?
         - Biến khỏi tầm mắt tôi, thế thôi ! Nó vẫn là cột buồm, là vỏ tầu rộng lớn như lúc nó rời cạnh tôi và cũng vẫn đủ khả năng mang hàng hóa tươi sống đến nơi đã định. Kích thước con tầu chỉ giảm đi trong ánh nhìn của tôi chứ không phải nơi chính nó.
         Và ngay lúc đó tiếng người cạnh tôi vang lên :
         - Kìa ! Nó biến mất rồi !
         Thì lại có nhiều tiếng khác ở chân trời đàng kia vang lên đầy hoan hỉ :
         - Kìa ! Nó đến rồi !
         Và đó chính là lúc chết.
          Tục ngữ Việt nam có câu :”Ba tháng trồng cây, một ngày trông quả”.
         Đây là kinh nghiệm của người trồng lúa : trồng trọt bón tưới cây (cây lúa) trong 3 tháng trời, đến khi có bông hạt thì chỉ một ngày là gặt xong. Cũng thế, ngày chết là ngày thu hoạch kết quả của cả một cuộc đời tại thế theo nguyên tắc :”Hữu công tắc thưởng, hữu tội tắc trừng : có công thì được thưởng, có tội thì phải phạt.
          Thánh vịnh 125 (126) đem lại cho chúng ta một niềm hy vọng vững bền, một cái nhìn lạc quan, khiến chúng ta cố gắng sống tốt hơn trng cuộc đời này để đời sau sẽ được lĩnh phần thưởng Chúa ban cho :”Người đi trong nước mắt đem hạt giống gieo trên ruộng đồng, người về miệng vui ca tay ôm bó lúa ngào ngạt hương” (Tv 125,6).
.              Bạn phải sống thế nào để biến ngày chết mang bầu khí tang tóc trở thành một ngày lễ hội tưng bừng, được rước vào triều đình thiên quốc trong tiếng ca hoan hỉ.
           Lời khuyên nhủ của ông Henri Bordeaux dưới đây đáng cho ta suy nghĩ để sống tốt lành thánh thiện hơn : “Con ơi ! Khi con cất tiếng khóc oe oe, thì những người chung quanh mỉm cười sung sướng.  Hãy sống sao cho, một ngày nào đó, con có thể mỉm cười nhắm mắt xuôi tay khi những người chung quanh con rơi lệ”.
Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt


 

AnTáng 12: NHỮNG GÌ TÔI MANG THEO

NHỮNG GÌ TÔI MANG THEO AnTáng 12

I. QUÊ HƯƠNG CHÚNG TA
 

Mỗi người chúng ta có hai quê hương : một quê hương tạm và một quê hương vĩnh cửu..  Trần thế AnTáng 12

Mỗi người chúng ta có hai quê hương : một quê hương tạm và một quê hương vĩnh cửu..  Trần thế này chỉ là nơi tạm trú chứ không phải là nơi ở vĩnh viễn.  Thánh Phaolô đã nhắc nhở cho tín hữu Philipphê nắm vững chân lý này khi ngài nói :”Quê hương chúng ta ở trên trời và chúng ta nóng lòng mong đợi Đức Giêsu Kitô từ trời đến cứu chúng ta” (Pl 3,20).
         Ngài còn nói thêm cho tín hữu Côrintô biết : thế gian này chóng qua như bóng câu cửa sổ, chỉ như túp lều tạm bợ, còn ngôi nhà vĩnh cửu của chúng ta chỉ có ở trên trời nơi Chúa dành cho chúng ta :”Nếu ngôi nhà chúng ta ở dưới đất, là chếc lều này, bị hủy diệt đi, thì chúng ta có một nơi ở do Thiên Chúa dựng lên, một ngôi nhà vĩnh cửu ở trên trời, không do tay người thế làm ra” (2Cr 5,1).
         Vì thế, cuộc sống ở trần gian này chỉ là một cuộc hành trình ngắn ngủi so với đời đời, mà cuộc hành trình nào cũng phải có điểm đến và điểm đến đó chính là quê hương trên trời.
         Cuộc hành trình nào cũng cao go, không có tiện nghi như ở nhà. Cuộc hành trình nào cũng đầy gian nan thử thách, chỉ những ai kiên tâm mới tới đích.
          Sẽ có những bóng mát bên đường lôi kéo, làm lung lạc ý chí, khiến chúng ta bỏ cuộc, không thể tới đích. Cuộc hành trình này đòi chúng ta phải có ý chí sắt đá, vượt qua mọi cản trở trên đường vì Chúa Giêsu đã nói :”Nước Trời chỉ có thể chiếm được bằng sức mạnh”(Mt 11,12).  Dĩ nhiên sứ mạnh đây là sự kiên tâm cố gắng không ngừng trong cuộc lữ hành trên trần thế này.
 
 
  1.   HÀNH TRANG TRONG CUỘC LỮ HÀNH
         Không cuộc hành trình nào mà không có hành trang, chỉ những người ngơ ngơ ngẩn ngẩn mới dám lên đường với bàn tay trắng vì họ không biết đi đâu, họ sẽ bị lạc hướng và sẽ bị chết dọc đường, không bao giờ tới đích.
         Cuộc sống ở trần gian  là một cuộc chuẩn bị hành trang cho cuộc lữ hành về quê trời.  Vậy hành trang chúng ta mang theo là những gì ?  Chắc  chắn không phải là của cải vật chất, chức quyền hay danh vọng. Tất cả những thứ đó phải để lại cho người khác.
         Tại một điểm du lịch ở nước Ý, có một khu đặc biệt lôi kéo sự chú ý của mọi người.  Du khách thán phục nhìn những tòa nhà, những khu vườn lộng lẫy treo lửng lơ như những tổ chim dọc theo dốc đá thẳng đứng.  Đúng ngay cổng vào, người ta đọc thấy chữ bằng tiếng La tinh RELINQUENDA, có nghĩa là “những vật phải để lại”.
         Không biết là người chủ, người thiết kế hay một người nào đó, đã cho đặt bảng chữ này để nói lên một triết lý sống bao hàm ý nghĩa về sự chết – mà không có ý nghĩa ấy thì sự sống trở thành vô nghĩa.
         Chúng ta phải công nhận rằng tất cả những gì chúng ta có ở trần gian này đều rời bỏ chúng ta, chúng ta sẽ ra đi một mình, cùng lắm người ta cho ta một chiếc quan tài với ba tấc đất.
         Có nhiều vị vua chúa giầu sang quyền quí truyền phải đem vàng bạc châu báu chôn xuống lòng đất với quan tài của mình, nhưng những thứ đó có giúp ích gì cho họ không ? Thực ra, tất cả những thứ đó phải để lại cho người khác, còn mình chẳng mang theo được gì.
         Người dân quê, tuy là những người đơn sơ mộc mạc, nhưng cũng có một cái nhìn về triết lý nhân sinh trong cuộc sống ở trần gian mà mọi người phải cho là một chân lý :
                                Vua Ngô băm sáu tàn vàng
                       Thác xuống âm phủ chẳng mang được gì.
         Trong số các vua chúa đầy quyền uy trên trần gian này, chúng ta thấy hoàng đế Alexandre của đế quốc Hy lạp xưa có một cái nhìn sâu sắc và sáng suốt đối với của cải ở trần gian này. Đây là những ước nguyên cuối cùng của vua khi sắp chết.
 
                              Truyện : Những lời trối trăng.
        Đại đế Alexandre cho triệu các quan trong triều đình đến để truyền đạt ba ý nguyện cuối cùng của mình. Nhà vua phán :
        1. Quan tài của ngài phải được khiêng đi bởi chính các vị ngự y (bác sĩ) giỏi nhất của thời đó.
        2. Tất cả các báu vật của ngài (vàng, bạc, châu báu…) phải được rải dọc theo con đường dẫn đến ngôi mộ của ngài, và…
        3. Đôi bàn tay của ngài phải được để lắc lư, đong đưa trên không, thò ra khỏi quan tài, và để cho mọi người đều thấy.
         Một vị cận thần của ngài, rất đỗi ngạc nhiên về những điều yêu cầu kỳ lạ này, và đã hỏi vua lý do tại sao ngài lại muốn như thế.
         Đại đế Alexandre đã giải thích như sau :
        1. Ta muốn các vị ngự y (bác sĩ) giỏi nhất phải mang quan tài của ta để cho mọi gnười thấy rằng một khi phải đối mặt với cái chết, thì chính họ (là những  người tài giỏi nhất) cũng không có tài nào để cứu chữa.
        2. Ta muốn châu báu của ta được vung vãi trân mặt đất để cho mọi người thấy rằng của cải, tài sản mà ta gom góp được ở trên thế gian này, sẽ mãi mãi ở lại trên thế gian này (một khi nhắm mắt xuôi tay từ giã cõi đời).
        3.Ta muốn bàn tay của ta đong đưa trên không, để cho mọi người thấy rằng chúng ta đến với thế giới này với hai bàn tay trắng và khi rời khỏi thế giới này chúng ta cũng chỉ có hai bàn tay trắng.
        Đến cuối cuộc đời, chúng ta sẽ nghiệm ra rằng : kho tàng quí giá nhất trên cuộc đời này là “Tình yêu thương”.
         Như vậy, những gì chúng ta có thể mang theo khi chết, đó là những việc từ thiện bác ái.
         Khi ra đi, chúng ta phải để lại tất cả, chỉ có thể mang theo  các công phúc tức là các việc lành chúng ta đã làm khi còn sống.  Có lẽ các việc lành đó  qui về việc từ thiện bác ái.  Sở dĩ chúng ta dám nói như vậy, bởi vì trong ngày phán xét, Chúa sẽ nói với người lành cũng như kẻ dữ một câu, mà sự khác nhau chỉ là người có làm hay không. Chúa nói với kẻ lành :”Nào những kẻ Cha Ta chúc phúc, hãy đến thừa hưởng Vương Quốc dọn sẵn cho các ngươi từ thuở tạo thiên lập địa.  Vì xưa Ta đói, các ngươi đã cho ăn; Ta khát, các ngươi đã cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi đã tiếp rước; Ta trần truồng, các ngươi đã cho mặc; Ta đau yếu, các ngươi đã thăm viếng; Ta ngồi tù, các ngươi đến hỏi han” (Mt 25,34-36).
         Một người đã ý thức về  điều này, đã cho khắc vào bia mộ của mình những dòng chữ đầy ý nghĩa sau đây :
                 Cái gì tôi đã tiêu xài, bây giờ không còn nữa,
                Cái gì tôi đã mua sắm, bây giờ tôi phải để lại cho người khác,
                Chỉ cái gì tôi đã cho đi là còn thuộc về tôi.
 
III. CHUẨN BỊ CHO CHUYẾN ĐI CUỐI CÙNG
         Chết là một sự đương nhiên và cần thiết. Ở đời này không có gì là bền vững.  Và kinh nghiệm người đời cho hay :
                        - Hoa nào mà không tàn phai
                       - Trăng nào mà không khuyết
                       - Nước đầy mà không vơi
                       - Ngày nào mà chẳng có đêm
                       - Yến tiệc nào mà không có lúc tàn.
         Theo triết lý Á Đông thì “Sự vật hễ có hình thì có hoại”. Do đó, có sinh thì phải có tử, nếu không có tử thì cũng chẳng có sinh.
         Nhưng đối với Kitô hữu, sự chết không phải là cái gì ghê gớm, không phải là một thất bại, không phải là đi vào hư vô trống rỗng, nhưng chết mà vẫn sống, mất mà vẫn còn, chết chỉ là một sự chuyển đổi từ cuộc sống đời này sang cuộc sống đời sau.
         Mọi người đều công nhận : khi ra đi khỏi đời này chẳng ai mang theo được một vật gì, chỉ ra đi với hai bàn tay trắng.
         Chuyện ngụ ngôn kể rằng : Một con chồn muốn vào vườn nho, nhưng vườn nho lại được rào dậu cẩn thận. Tìm được một chỗ trống, nó muốn chui vào nhưng không thể được.  Nó mới nghĩ ra một cách : nhịn đói để gầy bớt đi.
         Sau mấy ngày nhịn ăn, con chồn chui qua lỗ hổng một cách dễ dàng.  Nó vào được trong vườn nho. Sau khi ăn uống no nê, con chồn mới khám phá ra rằng nó đã trở nên quá mập để có thể chui qua lỗ hổng trở lại. Thế là nó phải tuyệt thực một lần nữa.
         Thoát ra khỏi vườn nho, nó nhìn và suy nghĩ : “Hỡi vườn nho, vào trong nhà ngươi để được gì ? Bởi vì ta đã đi vào  với hai bàn tay không, ta cũng trở ra với hai bàn tay trắng”.
        Qua câu chuyện ngụ ngôn này, ta thấy rằng  con người muốn mở rộng bàn tay để chiếm trọn mọi sự.  Khi nhắm mắt xuôi tay, cũng đành phải ra đi với hai bàn tay trắng mà thôi.
         Cuộc sống con người đáng lẽ phải hưởng thật nhiều hạnh phúc, thì lại bận tâm lo sự đời.  Lòng trí trở nên rối bời, khắc khoải, chờ đợi, tìm kiếm, nắm giữ, mất đi, buồn khổ, thất vọng, chán đời, trách Chúa.
         Thiên Chúa không dựng nên con người để hành hạ, đầy đọa, nhưng là để hưởng, như Adong Evà xưa.  Thế mà con người đâu có hài lòng, lại muốn hơn nữa, cuối cùng chính họ tự làm khổ mình. Và “cái đang có cũng bị lấy đi”. Chúa dạy :”Hãy làm giầu kho tàng ở trên trời, nơi mối mọt không làm gì được”.
         Dường như cái tâm lý chiều sâu cũng là định luật bù trừ thì phải.  Xưa nguyên tổ đánh mất, thì nay ta tìm cách lấy lại.  Lấy lại bằng bất cứ giá nào.  Nên càng cố ra sức tích trữ cho thật nhiều. Và coi đó như một bảo đảm cho đời mình.  Và khi con người vất vả gom góp, thì lúc phải chia sẻ, lìa bỏ càng khó và đau xót hơn nhiều.
         Nhạc sĩ Phạm Duy, tuy không phải là Kitô hữu, nhưng đã có những thắc mắc, những khắc khoải , những ưu tư về cái chết : khi chết sẽ mang theo được những gì :
                        Rồi mai đây tôi sẽ chết,
                       Trên đường về nơi cõi hết,
                       Tôi sẽ đem theo với tôi những gì đây ?
                       Trong lòng còn bao luyến tiếc,
                       Tôi sẽ đem theo với tôi những gì đây ?
         Trước sau mỗi người chúng ta cũng phải chết, đấy là một định luật và cũng là kinh nghiệm cá nhân trong cuộc sống.  Ra đi về đời sau sẽ chẳng mang theo được những gì trừ các công việc ta đã làm cho Chúa trong cuộc sống ở trần gian này.
         Nói khác đi, chúng ta chỉ có thể mang đi được các công phúc.  Chúa không đòi chúng ta phải làm được những công việc vĩ đại, to lớn trước mặt người đời, nhưng chỉ đòi những việc tầm thường với lòng yêu mến :”Thiên Chúa không tìm những huy chương hay bằng cấp chúng ta đạt được, nhưng Ngài đếm những vết sẹo trong cuộc đời của chúng ta” (Elbert Hubbard).
         Hãy sống thời gian hiện tại cho đầy đủ, đừng để phí đi một giây phút nào.   Thời gian hiện tại sẽ đáp ứng nhu cầu thiêng liêng và trần thế của ta cách thích đáng hơn… Nhờ đó, ta đón nhận từng giọt sự sống và tìm cách làm phong phú đời mình.  Phương thế hữu hiệu để khỏi làm hỏng đời mình, là dù lúc nào, tuổi nào, ta cũng dính kết trọn vẹn vào giây phút hiện tại,  như chốt cắm điện dính liền với dòng điện, đẻ phát triển anh sáng và sức mạnh.
         Thời gian hiện tại là thời gian vàng ta có thể xây dựng thiên đàng cho mình ngay ở đời này kẻo khi giờ chết đến thì không còn kịp :”Trời của bạn sẽ được hình thành ngay dưới đất bằng cánh tay của bạn” (Cha Duval).
         Đối với các tín hữu, với những người đang sống đức tin, trời không là cái gì hoàn toàn mới mẻ, nhưng là sự khai nở, tỏ hiện và thành toàn cái đã có sẵn trong họ :”Chúng ta xây dựng đời đời trong mọi hành vi của mình : đó là khả năng kỳ diệu của con người. Chúng ta xây dựng Nước Trời từng mỗi phút giây” (Guy de Larigaudie).
 Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt


 

AnTáng 13: ĐƯỜNG VÀO CÕI SỐNG

ĐƯỜNG VÀO CÕI SỐNG AnTáng 13

I. CHẾT : MỘT THỰC TẠI
 

Chết là một thực tại quá hiển nhiên, không cần phải chứng minh, không ai chối cãi được. Xưa nay AnTáng 13

Chết là một thực tại quá hiển nhiên, không cần phải chứng minh, không ai chối cãi được. Xưa nay chưa ai đã thoát chết. Cái chết vẫn hằng theo dõi, ám ảnh tâm trí mọi người, dù người ta muốn quên hay chối bỏ nó.  Nhưng càng xa tránh, càng chối bỏ, nó lại càng theo sát chặt chẽ.
           Ám ảnh bởi cái chết luôn rình rập ở bên, người ta đã cố gắng tìm hiểu về cái chết nhưng đều đi đến chỗ bế tắc, không giải quyết được vì, thực ra, sự sống hay cái chết là một huyền nhiệm.
           Jean Cocteau cũng đã bàn về cái chết trong phim Orphée.  Và triết gia Albert Camus cũng đã nói nhiều đến cái chết trong tiểu thuyết được xếp vào loại tiêu biểu nhất của ông : Cuốn “Dịch hạch” (La Peste). Trong hai tác phẩm này, các tác giả đã cho ta thấy chủ quyền của thần chết trên con người : Con người bất lực trước cái chết.
           Không cần phải lý luận nhiều, tổ tiên ta ngày xưa đã biết chấp nhận cái thực tại bi đát đó, nên đã cố gắng sống tốt, ăn ở ngay lành theo phương châm “Sống khôn chết thiêng”,  ra đi nhưng còn phải để lại tiếng thơm cho hậu thế :
 Nhân sinh tự cổ thùy vô tử
Lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh.
(Văn Thiên Trường)
Ngàn xưa, người thế ai không chết,
Chết, để lòng son rạng sử xanh.
           Nhiều nhà khoa học trên thế giới cố gắng tìm ra một thứ thuốc làm cho con người khỏi chết, nghĩa là ngày nào đó khám phá ra được thứ thuốc “trường sinh”.  Vì thế, báo Tuổi trẻ ngày 25/11/2002 có đăng tin trong bài “Gen đã tạo được trường thọ”, với những lời lẽ như sau :”Chúng tôi tin rằng sắp tới đây – lời một giáo sư sinh học người Nga – sẽ có công nghệ cho phép kéo dài thêm cuộc sống của con người ít nhất gấp 2-3 lần, nếu không muốn nói là vô tận”.
           Nhưng bao nhiêu nỗ lực của các nhà bác học trên thế giới chỉ còn là một “giả thuyết”.  Theo các ông thì đó là điều có thể cũng như bao điều có thể khác, vì căn cứ vào những khám phá luôn mới mẻ của trí óc con người, các ông có quyền và có lý để nghĩ như vậy.
           Nhưng đối với chúng ta là những Kitô hữu, theo Kinh Thánh, điều đó không thể nào thực hiện nổi, vì Chúa đã phán với ông bà nguyên tổ :”Người sẽ phải đổ mồ hôi trán mới có bánh ăn, cho đến khi trở về với đất, vì từ đất, ngươi đã được lấy ra. Ngươi là bụi đất, và sẽ trở về bụi đất” (St 3,19).
           Đây lá án phạt nguyên tổ phải mang vì tội không nghe lời Chúa. Án phạt này truyền sang cả con cháu. Phải chi ông bà đã không phạm tội thì đã không phải chết, và cái chết đó chắc chắn con cháu cũng không phải gánh chịu, vì Chúa đã dặn trước là  ngày nào ăn trái cây biết lành biết dữ, ngày đó ông bà sẽ phải chết :”Nhưng trái của cây cho biết điều thiện điều ác thì ngươi không được ăn, vì ngày nào ngươi ăn, chắc chắn ngươi sẽ phải chết” (St 2,17).

II. SỰ GÌ XẨY RA ĐÀNG SAU CÁI CHẾT ?
           “Có đời sau không” là một câu hỏi luôn tra vấn con người, làm cho con người phải băn khoăn, suy nghĩ để tìm ra giải đáp.
           Hay nói cách khác, chết là hết hay chết là bước vào một thế giới khác ?  Có thật một sự sống  sau khi từ giã cõi đời này hay đó chỉ là sự hão huyền, giả tưởng ? Câu hỏi đó vẫn cứ đặt ra cho con người từ ngàn xưa đến ngàn sau.
           Từ ngàn xưa đến ngàn sau, muôn người vẫn còn thao thức và băn khoăn cho một lời giải đáp. Bởi sống – chết là một huyền nhiệm.  Con người phải biết sống để khám phá huyền nhiệm đời mình. Thao thức, cật vấn về đích điểm, tận cùng của kiếp người là gì, nghĩa là  vẫn còn trăn trở để tìm cho mình một lẽ sống.
          Triết gia Heidegger cho rằng : không ai chết hai lần và cũng không ai trường sinh bất tử; không ai chết thay ai, mỗi người đều phải chết cho cái chết riêng tư của mình. Do vậy, tôi phải biết thao thức về cuộc đời, suy tư về phận người và ngẫm suy về sự chết. 
 
1. Quan niệm của người vô tín
           Có nhiều người quan niệm rằng chết là chấm hết. Đó là một sự giã từ vĩnh viễn. Sự giã từ này không luyến tiếc, không thương nhớ, chẳng khắc khoải lo âu. Vì không có bờ bên kia của sự chết. Tất cả đều đặt trong chữ “hết”. Chết là hết. Đó là qui luật, là định mệnh không thay đổi.
           Vì quan niệm đời này đã không được gì, đời sau cũng chẳng có, vậy việc gì mà không hưởng thụ, không sống cho sướng thân. Thật đúng với Aritippus (chủ nghĩa khoái lạc, 435-356 trước công nguyên) : Hãy ăn uống, tận hưởng mọi thú vui trần gian, vì rồi mai đây chúng ta sẽ chết.
 Cuộc hành lạc bao nhiêu lãi đấy
Nếu không chơi thiệt ấy ai bù ?
(Nguyễn công Trứ)
 
          2. Quan niệm của dân gian
           Đạo lý truyền thống của Việt nam quan niệm về “Nghĩa tử nghĩa tận”, bao nhiêu hờn oán đều xóa bỏ khi đối tượng đã chết, vì chết là dứt nợ trần gian.
          Một quan niệm nhân văn khác là “sinh ký tử qui”, xem cuộc đời sống ở trên mặt đất là cõi trọ tạm bợ, chết không phải là hết, mà chết là đi về.
          Vì vậy, tín ngưỡng dân gian tin vào linh hồn, người chết rồi thì linh hồn sẽ sống ở cõi âm, cũng sinh hoạt như ở dương thế. Dó đó, có tục lệ đốt vàng mã, nhà cửa, xe cộ, đầy tớ, quần áo, tiền bạc, đôla âm phủ… để viện trợ cho người chết.
           Rằm tháng 7 âm lịch, trùng với lễ Vu Lan của Phật giáo, là ngày xóa tội vong nhân, người ta cúng cô hồn để bố thí thức ăn cho những hồn ma lang thang.
 
          3. Quan niệm của Phật giáo
           Phật giáo quan niệm  : chết không phải là hết hay chấm dứt mọi cảnh khổ đau nhưng là tiếp tục cho đến khi hoàn toàn giải thoát được hết các ác nghiệp.
           Luân hồi trả nghiệp không chỉ là quan niệm Phật giáo mà còn là quan điểm của các tôn giáo khác trước khi Phật giáo ra đời như Ấn giáo, Ba-la-môn giáo. Thế nên, chết không phải là hết mà chỉ là sự thay đổi từ cảnh giới này sang cảnh giới khác.
 
III. CHẾT LÀ ĐI VÀO CÕI SỐNG
           Theo quan niệm Kitô giáo của chúng ta : người ta ai cũng nói đến cái chết, sợ chết, trốn chết, quên chết, hoặc đón nhận cái chết. Mỗi người quan niệm về sự chết một lối, nhưng mọi người phải quan niệm rằng chết là ngưỡng cửa đi vào cuộc đời hay chết là con đường đưa tới sự sống.
           Nói cách khác, chết không phải là hết, là mất mát, là đi vào ngõ cụt, đi vào cõi hư vô mà chết là một sự chuyển đổi như chúng ta thấy đọc trong kinh Tiền tụng lễ An táng :”Đối với chúng ta là những Kitô hũu, sự sống thay đổi chứ không mất đi, và khi nơi trú ngụ dưới trần bị tiêu hủy, chúng con sẽ về hưởng hạnh phúc vĩnh cửu trên quê trời”.

                                      Truyện : Chết là chuyển đổi.
           Đại tá David Marcus bị chết trong trận chiến ở Israel tháng 6 năm 1948,  Trong bóp của ông, người ta thấy một tấm thẻ ghi lại những lời thi vị hóa cái chết như sau :
           “Tôi đang đứng trên bờ biển. Bên cạnh tôi một con tầu đang trương buồm trắng phất phơ trong gió sớm hướng về đại dương.  Con tầu trông thật đẹp và mạnh mẽ. Tôi đứng nhìn theo nó cho đến khi  nó chỉ còn là một dải mây trắng,  nơi trời và nước hòa lẫn với nhau.
          Lúc đó có một người đứng cạnh tôi thốt lên :
          - Kìa ! Con tầu biến mất rồi.
          - Biến đi đâu ?
          - Biến khỏi tầm mắt tôi, thế thôi ! Nó vẫn là một cột buồm, là vỏ tầu rộng lớn như lúc nó rời cạnh tôi và cũng vẫn đủ khả năng mang hàng hóa tươi sống đến nơi đã định. Kích thước con tầu chỉ giảm đi trong ánh nhìn của tôi chứ không phải nơi chính nó.
          Và ngay lúc đó tiếng người cạnh tôi vang lên :
          - Kìa ! Nó biến mất rồi !
          Thì lại có nhiều tiếng khác ở chân trời đàng kia vang lên đầy hoan hỉ :
          - Kìa ! Nó đến rồi.
          Và đó chính là lúc chết.
           Đúng vậy, đối với người tin Chúa chết là con đường đưa tới sự sống. Khi chết con người được đi vào cõi sống trường sinh bất diệt ở một cõi đời khác, như Chúa Giêsu đã hứa cho những ai tin Ngài :”Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Thầy thì dù đã chết, cũng sẽ được sống. Ai sống và tin vào Thầy, sẽ không bao giờ phải chết” (Ga 11,25-26).
           Người tin Chúa dù có chết cũng sẽ sống. Nhưng sự sống đây không giống, và cũng không còn là sự sống, như ta đang sống hiện nay, với một không gian cư ngụ rõ rệt và những phiền hà, vui tươi, phấn khởi, lo lắng v.v… “Vì từ khi trong đám người chết sống lại, người ta không lấy vợ lấy chồng nữa, mà sẽ như thiên thần trên trời” (Mc 12,25).  Đó là lời tiên báo cuộc đời mới con người sẽ được sống, sau khi trút bỏ thân xác, đợi lúc hồn xác tái hợp trong buổi thẩm chung ngày tận thế.
           Chúng ta gọi thế giới này là xứ sở của những người sống, nhưng thật ra phải gọi là xứ sở của những người đang chết.  Nhờ Chúa Giêsu, chúng ta biết khi cái chết đến, chúng ta không rời khỏi thế giới của người sống, nhưng đi vào xứ của kẻ sống.
          Tin tưởng rằng chết là một sự chuyển đổi từ đời này sang đời sau, nhạc sĩ Gounod đã hát lên rằng :”Chết là ra khỏi đời này để đi vào cõi sống”.
           Trước khi chết, thánh nữ Têrêsa Hài Đồng cũng nói một cách tự tín và lạc quan với những chị em đang đứng chung quanh rằng :”Em không chết, em đi vào cõi sống”.
          Mary Webb cũng nói lên tư tưởng đó :”Cái chết là khung cửa mở vào đường đi lên trời”.
           Trước tư tưởng nghịch thường đó, ta tự vấn : Phải chăng đó là một câu nói quá đáng hoặc là một điều mơ mộng ?  Khi tuyên xưng : sự sống đời sau hoàn hảo hơn sự sống đời này, người tín hữu có hiểu điều mình quả quyết không ?  Dĩ nhiên giáo lý Công giáo dạy rõ ràng về những điều đó.
 
IV. CHUẨN BỊ ĐI VÀO CÕI SỐNG
           Người Việt nam biết phòng xa, không những lo cho mình nhưng còn lo tương lai cho con cháu. Trong cuộc sống hằng ngày, không những chỉ lo cho ngày hôm trước mà còn phải lo cho ngày hôm sau, không phải chỉ lo cho hiện tại mà còn phải lo cho tương lai.  Tư tưởng ấy được gói ghém trong câu tục ngữ :”Tích cốc phòng cơ, tích y phòng hàn”, nghĩa là phải lo tích trữ lúa thóc phòng khi đói kém, cũng như phải lo sắm quần áo phòng khi trời lạnh.
           Trong đời sống nông nghiệp, cha ông chúng ta  ngày xưa đã có kinh nghiệm về sự nghèo đói, túng thiếu, nhiều khi đã làm việc cật lực mà cũng không đủ ăn, vẫn túng thiếu. Để tránh sự nghèo đói, túng thiếu, các ngài đã nói lên kinh nghiệm của mình để khuyên răn con cháu :
Có cấy có trông, có trồng có ăn.
 
          Cha ông chúng ta cũng chẳng hiểu biết gì về triết học, chẳng hiểu “nguyên lý nhân quả” là gì, chẳng biết diễn tả nó thế nào, nhưng đã biết áp dụng nhuần nhuyễn nguyên lý ấy vào trong cuộc sống. Theo nguyên lý nhân quả thì nguyên nhân  sẽ sinh ra hậu quả, nguyên nhân tốt thì sẽ dẫn đến hậu quả tốt, nguyên nhân xấu thì sẽ dẫn đến hậu quả xấu. Có một mối tương quan biện chứng giữa nhân và quả. Như vậy “có cấy” là nguyên nhân và “có ăn” là hậu quả, nếu không có nguyên nhân thì không có hậu quả, nghĩa là không trồng thì không có ăn.
           Đối với người Kitô hữu chúng ta cũng thế, cuộc đời tại thế này được coi như nguyên nhân và số phận đời sống mai hậu là hậu quả.  Theo nguyên lý nhân quả thì nếu đời sống ở trần gian này tốt lành thì số phận sau này sẽ tốt đẹp, ngược lại, nếu đời sống ở trần gian mà xấu xa thì số phận trong cuộc sống mai hậu sẽ vô cùng bi đát.
           Thiên Chúa là Đấng từ bi và thương xót, nhưng cũng rất công bằng,  Ngài cũng theo nguyên tắc mà cha ông chúng ta vẫn hằng quan niệm :”Hữu công tắc thưởng, hữu tội tắc trừng” : có công thì được thưởng, có tội thì phải phạt.
           Như vậy, cuộc sống mai hậu của chúng ta hoàn toàn lệ thuộc vào cuộc sống của chúng ta trên trần gian này.  Ở trần gian này phải gieo trồng thì sau này mới có cái mà gặt hái. Muốn xây ngôi nhà trên trời thì ngay từ bây giờ chúng ta phải gửi vật liệu lên, nếu không có vật liệu thì lấy gì mà xây !
           Tương lai hoàn toàn nằm ở trong tầm tay chúng ta. Chúng ta có toàn quyền quyết định và đem ra thực hành với ơn Chúa giúp.
           Vậy, ngay từ hôm nay và ngay từ bây giờ, chúng ta hãy bắt tay vào việc, đừng chần chừ vì thời gian có hạn, khi giờ chết đến chúng ta không kịp sở tay, có nói như nhà thi sĩ :”Ôi thời gian, ngươi hãy ngừng bay”, cũng vô ích. Thời gian không có tai để nghe chúng ta.  Thánh Phaolô không ngừng lặp đi lặp lại :”Thời gian thật vắn vỏi”. Cần ý thức điều đó và hành động kịp thời.
 
                                      Truyện : Không có thời giờ
          Trong bài thơ “Sách sự sống” một thi sĩ khuyết danh đã viết :
          “Tôi quỳ cầu nguyện, nhưng chẳng được lâu : tôi có nhiều việc phải làm. Tôi phải cấp tốc đi làm vì hóa đơn đòi tiền chồng chất.
          Vì vậy, tôi quỳ gối, đọc vội một vài kinh và nhảy đứng dậy. Việc bổn phận Kitô hữu của tôi đã làm xong và tâm hồn tôi thanh thản, bình an.
          Suốt ngày tôi không có thời giờ để buông một lời chào hỏi vui vẻ hoặc nói về Chúa Kitô với bạn bè vì sợ họ nhạo cười tôi.
          Tôi luôn miệng la lớn : không có thời giờ, không có thời giờ, nhiều chuyện phải làm quá !  Không có thời giờ để lo cho phần rỗi linh hồn, nhưng cuối cùng giờ chết đã đến.
          Tôi trình diện trước mặt Đức Chuá; tôi đứng với đôi mắt cúi xuống, vì Đức Chúa đang cầm trong tay một quyển sách, sách sự sống.
          Đức Chúa nhìn vào trong sách và nói :”Cha không tìm thấy tên con, vì có lần Cha dự tính viết xuống, nhưng chẳng lúc nào Cha có thời giờ”.
 Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt


 

AnTáng 14: CHẾT LÀ NGÀY SINH NHẬT

CHẾT LÀ NGÀY SINH NHẬT AnTáng 14

I. CHẾT, NGÀY VỀ NHÀ CHA
 

Khi nói tới cái chết, nhiều người sợ không dám dùng từ ấy, phải kiêng kỵ kẻo xui, mà dùng nhiều AnTáng 14

Khi nói tới cái chết, nhiều người sợ không dám dùng từ ấy, phải kiêng kỵ kẻo xui, mà dùng nhiều từ khác thay thế, trong đó có từ MẤT. Theo nghĩa thông thường thì từ  “mất” nói lên cái gì tiêu cực, nghĩa là mình không còn sở hữu một cái gì đó, ví dụ tôi mất một chỉ vàng . Tuy thế, theo tương quan biện chứng, nó vẫn có tính cách tích cực, nghĩa là mất mà vẫn còn : đối với tôi là mất một chỉ vàng, nhưng chỉ vàng vẫn còn trong túi của thằng ăn cắp.
           Đối với sự chết cũng vậy. Với cái nhìn đức tin của người Kitô hữu, thì chết là mất sự sống ở đời này nhưng vẫn còn ở sự sống đời sau. Như vậy, chết là kết thúc cuộc sống ở đời này, nhưng là khởi điểm của cuộc sống đời sau.
           Người Việt chúng ta vẫn thường nói :”Sự tử như sự sinh, sự vong như sự tồn” : chết mà vẫn sống, mất mà vẫn con.
 
                                       Truyện : Chết là gì ?
           Paul Claudel là một viện sĩ trong Hàn Lâm viện Pháp, ông thuật lại : Hồi nhỏ, đã nhiều lần ông thắc mắc hỏi mẹ ông :”Chết là gì” ? Nhưng mẹ ông chỉ im lặng, nhìn ông mà không chịu nói gì. Thế rồi, một hôm, bên cạnh nhà ông có người chết, ông tò mò quan sát từ lúc xác người này còn ở trên giường, cho đến lúc được khâm liệm vào quan tài, và đóng nắp quan tài lại. Ông về nhà năn nỉ hỏi mẹ cho bằng được :”Chết là gì” ?
           Ông thuật tiếp :”Có lẽ, mẹ tôi cho là tôi đã đủ khôn lớn, nên mẹ tôi vào tủ sách của gia đình, lấy cuốn Thánh Kinh ra. Mẹ tôi mở chương 13 sách Phúc âm thánh Gioan, mẹ tôi thong thả đọc câu 1 :”Trước lễ Vượt Qua, Chúa Giêsu biết giờ của Người đã đến, giờ phải bỏ thế gian mà trở về với Chúa Cha ” rồi mẹ tôi âu yếm nhìn tôi và nói :”Con ạ, chết là bỏ thế gian để trở về với Chúa Cha”
           Thật là một câu định nghĩa đầy tinh thần đạo đức, đầy hy vọng, đầy an ủi cho mỗi người chúng ta.  Mỗi người chúng ta sẽ chết, và sẽ được trở về với Thiên Chúa là Cha của chúng ta.  Người Cha đang lo lắng mọi sự cho ta, và sẽ đón chúng ta, trong giây phút sau cùng, về sống cuộc đời vĩnh viễn với Ngài.
           Các hướng đạo sinh cũng hay nói về người qua đời rằng :”Họ đã về nhà Cha”. Quả vậy, đối với người Kitô hữu, phần mộ không phải là “nhà ở cuối cùng”.
           Ở nghĩa trang thành phố Lìège có khắc một hàng chữ “Domus secunda, donec veniat tertia” (đây là ngôi nhà thứ hai, trong khi chờ đợi ngôi nhà thứ ba).  Nhà thứ ba này mới là nhà sau cùng. Đấy mới thật là ngôi nhà mà người Cha đang chờ đợi ta với tình yêu phụ tử.
           Nếu nói có vẻ triết lý một chút thì khi tôi được sinh ra là khởi điểm tôi bắt đầu đi về cõi chết. Làm gì có sự chết nếu không có sự sống. Làm gì có ngày người ta chôn tôi nếu không có ngày tôi chào đòi.  Như thế, cuộc sống của tôi là chuẩn bị cho ngày tôi chết.
           Ngay từ trong bào thai của mẹ. bắt đầu có sự sống là tôi đã cưu mang sự chết rồi. Kết hợp và biệt ly ở lẫn với nhau. Trong lớn lên đã có mầm tan rã. Khi vũ trụ chào đón tôi, thì cùng một lúc, tôi bắt đầu từ giã vũ trụ từng ngày, từng giờ.
           Mỗi ngày là một bước tôi đi dần về sự chết. Bình minh mọc lên, nhắc nhở cho tôi một bước cận kề. Hoàng hôn  buông xuống thầm nói cho tôi sự vĩnh biệt đang đến.
           Tôi đang đi về cõi chết nên ngay bây giờ sự chết đã thuộc về tôi rồi. Sự sống của tôi hàm chứa sự chết, nên tôi yêu sự sống thì tôi cũng phải yêu sự chết. Vì vậy, cuộc đời có ý nghĩa vẫn chỉ là cuộc đời chuẩn bị cho ngày chết.
           Như vậy, ngày chết được gọi là “ngày về nhà Cha” :”Lạy Cha, Con muốn rằng con ở đâu, thì những người Cha ban cho  Con cũng ở đó với Con” (Ga 17,24) và “Căn nhà dưới đất bị hủy diệt, có căn nhà vĩnh cửu trên trời” (2Cr 5,1-5).
 
II. CHẾT, NGÀY SINH NHẬT
           Hội thánh xem cuộc đời tín hữu như là thời thai nghén và gọi ngày mỗi người ra đi là “Ngày Sinh Nhật”.  Đã là ngày sinh nhật thì ai cũng vui mừng vì một con người được sinh ra trên đời. Vì thế, ngày sinh nhật trên trời cũng phải là ngày vui mừng cho các thần thánh và mọi người.
           Trong nghi lễ an táng, ca đoàn thường hát Thánh vịnh nói lên niềm vui đó :
”Khi Chúa thương gọi tôi về ,
hồn tôi hân hoan như trong một giấc mơ.
Miệng tôi nức vui tiếng cười ,
lưỡi tôi vang lời ca hát ,
Toàn dân tung hô tôi thật vinh phúc.
           Thi sĩ Chateaubriand nói :”Chính trong cái chết mà người Kitô hữu chiến thắng”.
           Sự chết dưới cái nhìn đức tin, không thể là một điều khủng khiếp như người ta quá quen tưởng tượng.  Chúng ta cần nhìn tới khía cạnh tốt đẹp của sự chết : kết thúc cuộc lưu đầy, ngày được giải phóng, thoát khỏi vòng tội lỗi, được Chúa Kitô đón tiếp.
           Nhìn như thế, cái chết xuất hiện như một ngày đẹp nhất của cuộc đời, ngày sinh vào sự sống vĩnh cửu. Thánh Têrêsa Avila hiểu sâu sắc điều đó, đến nỗi ngài tỏ ra buồn phiền vì chưa được chết. Ngài kêu lên :”Ôi cái chết, làm sao phải ngần ngại vì trong ngươi đã thấy sự sống ? Tôi chết đi được vì chưa được chết”.
           Trong lễ an táng của văn hào Honoré de Balzac, thi sĩ Victor Hugo đã quả quyết :”Không, sự chết không là đêm tối, đó là ánh sáng. Đó không phải là kết thúc, nhưng là khởi điểm. Đó không là sự hư vô, mà là vĩnh cửu”.
 
                                      Truyện : Sinh dữ tử lành
           Thánh Ambrôsiô kể rằng : dân chúng xứ Thrace khóc và thốt lên những tiếng kêu thảm thiết khi có một người sinh ra; và trái lại, họ vui mừng hát những bài ca hân hoan  khi có người qua đời.
           Họ tin – và họ có lý - rằng tất cả những ai đi vào trong thế giới này, một thế giới tràn đầy đau khổ, đều đáng thương hại; và khi họ thoát khỏi nơi lưu đầy buồn khổ này, người ta phải vui lên mừng cho họ. Melior est dies mortis die nativitatis : ngày chết là ngày đáng ưa thích hơn ngày sinh ra.
           Như vậy phải chăng người Việt nam ta có câu tục ngữ :”Sinh dữ tử lành”. Sinh là đẻ, tử là chết.  Có nghĩa là nằm mơ thấy người chết sẽ gặp nhiều chuyện lành; còn nằm mơ thấy việc chửa đẻ là điềm xấu (theo mê tín ?)
           Sự chết còn được coi như là “cuộc nhập tịch” sau cùng để được làm công dân Nước Trời.
           Sự định cư của con người trên trần gian giống như hành trình của người du mục. Họ được sống trong thời đại và muốn nên giống thời đại  qua những phương tiện nổi bật nhất.
           Nhưng họ chỉ được phép nhập tịch vào một thời đại nào đó mà không có thể định cư trong mọi thời đại. Chính yếu tố không gian và thời gian quyết định cho họ phải như thế.
           Sự chết là một hành trình đưa người ta vào một cuộc nhập tịch một “thời đại” mới mà nơi ấy họ sẽ định cư vĩnh viễn chứ không phải như người du mục. “Thời đại” ấy chính là một thế giới khác mầu nhiệm đã được chuẩn bị cho con người trước khi tạo dựng vũ trụ.
           Cũng như đời sống con người phải nhập tịch vào một thởi đại rõ ràng thì sự chết cũng bắt người ta  phải nhập tịch theo một kế hoạch đã được Thiên Chúa an bài trong trật tự của Ngài.
           Đây là điều giúp con người tin tưởng vào thế giới mới không là một huyền thoại, không là một ảo ảnh, không là sự ru ngủ nhau :”Lạy Cha, Con muốn rằng Con ở đâu, thì những người Cha đã ban cho Con cũng ở đó với Con, để họ chiêm ngưỡng vinh quang mà Cha đã ban cho Con, vì Cha đã yêu thương Con trước khi thế gian được tạo thành” (Ga 17,24) là một lời mạc khải đầy vui mừng và hy vọng của Đức Giêsu cho chúng ta về hành trình con người sẽ đi tới.
           Chết chính là lúc được sinh ra và nhập tịch vào thế giới mới.  Như nước trở về nguồn để hòa tan trong một khối mênh mông nơi đó được xuất ra thì con người cũng thế, tất cả phải đi đến và trở về với Vĩnh Cửu. Vĩnh Cửu là Cha mọi loài thọ sinh. “Thầy từ Cha mà đến và Thầy đã đến thế gian. Thầy lại bỏ thế gian mà về cùng Chúa Cha” (Ga 17,28).
           Sự chết còn được gọi là một Cuộc Vượt Qua. Cuộc sống con người là những chuyến đi liên lỉ tùy theo mức độ dài ngắn khác nhau. Và kết thúc cuộc đời thì người ta phải làm chuyến đi quan trọng, vĩ đại nhất.  Lúc ấy người ta phải thực hiện bằng tất cả sự đánh đổi để dứt bỏ tất cả những thực tại trần thế nên xẩy ra sự chết.  Và chuyến đi cuối cùng này chúng ta dành cho nó một tên gọi là “Cuộc Vượt Qua”.
           Ai đã một lần thực hiện một chuyến đi xa thì dễ dàng nhận ra sự liên hệ giữa hành trang với chính bản thân mình. Càng đi xa người ta chuẩn bị hành trang càng kỹ. Chuyến đi càng dài thì người ta chuẩn bị hành trang càng chu đáo.  Hành trang chính là những gì cần thiết để mang theo mình lúc thực hiện chuyến đi.
           Thế nhưng, đôi khi những thức cần thiết ấy lại trở thành những vật cản hoặc gây trở ngại cho một cuộc hành trình. Thành thử ra, nhiều khi chúng ta phải cố gắng loại bớt đi sự cồng kềnh, rườm rà bao nhiêu có thể để bản thân được nhẹ nhõm trước những bận tâm khác.
 
III. CHẾT, NGÀY HỒI CÔNG
           Ở nơi chúng ta, có thói quen khi làm xong một ngôi nhà thì có ngày “hồi công”. Ngày đó thường được gọi là ngày ăn mừng tân gia và đồng thời cùng là ngày thanh toán tiền công cho thợ.  Nói đến ăn mừng tân gia thì hiểu ngay là ngày vui vì đã hoàn thành được ngôi nhà theo phương châm “An cư lạc nghiệp”,  muốn có việc làm thì cần phải có nhà ở đã.  Qua số tiền người ta đến ăn mừng nhà mới, gia chủ mới có sẵn tiền để trả công thợ được sòng phẳng.
           Ngày Chúa gọi chúng ta về với Chúa cũng được gọi là ngày hồi công.  Chúa sẽ thưởng công cho chúng ta nếu biết ăn ở cho xứng đáng chức vị người làm con Chúa, biết làm tròn trách nhiệm đối với Chúa và với tha nhân trong cuộc sống ở trần gian.
           Đại thi hào Ấn độ, ông Rabindranath Tagor, cung cấp cho chúng ta một cái nhìn lạc quan về ngày đó. Ông bảo rằng con người như một diễn viên được mời dự đại hội trần gian, khi vở kịch kết thúc, bức màn sân khấu khép lại, chúng ta mới sống thật vai trò của mình.
           Trên sân khấu cuộc đời, mỗi người đều có một vai diễn, người làm cha, làm mẹ, làm kỹ sư, bác sĩ, làm giáo viên, công nhân, làm ông chủ hay kẻ nô lệ… tất cả đều phải sống đúng với bổn phận, phải hoàn tất ơn gọi của mình.
           Nói một cách ví von hơn, Thượng Đế giống như người mẹ đang cho con bú, khi mẹ giằng ta ra khỏi bầu vú này, mẹ lại ban cho bầu vú khác.  Thiên Chúa lấy đi sự sống ở trần gian là để cho chúng ta  sự sống nơi thiên đàng. Vì thế, cái chết là một ngưỡng cửa rất cần thiết để chúng ta bước vào cõi sống, ở đó chúng ta không bao giờ phải chết nữa.
           Chúng ta hãy sống hoàn thiện trong từng ngày, từng phút, từng giây. Chúng ta bước vào thời gian ngay lúc vừa mở mắt chào đời, và ra khỏi đó khi giờ chết đến. Hãy sống với giây phút hiện tai cho đầy đủ.
           Khi suy nghĩ về thời gian, ta thường gặp một cám dỗ chính, đó là thái độ thoái thác. Tất cả chúng ta quen có cái khuynh hướng nhắm tới tương lai hay quay về với quá vãng một cách thái quá. Do đó, ta trở nên những kẻ bạo tợn hoặc nản lòng.
           Một thanh niên đã nói :”Lúc này tôi cứ việc ăn chơi cho đã…sau này sẽ sống nghiêm túc hơn”.  Một ông già, với quá khứ rỗng không công nghiệp và đầy tràn tội lỗi, đã kêu lên :”Giờ này thật đã quá muộn ! Tôi đã làm hỏng mất cuộc đời” !
           Thực ra, không khi nào quá sớm, cũng không khi nào quá muộn… Giây phút hiện tại là hông ân cần nắm giữ.  Đó là giây phút cứu độ.  Bí quyết thành công của con người, của ơn Chúa,  là can đảm và tin tưởng chấp nhận thời gian trước mắt.
           Thời gian hiện tại sẽ đáp ứng nhu cầu thiêng liêng và trần thế của ta  cách thích đáng hơn. Nhờ đó, ta đón nhận từng giọt sự sống và tìm cách làm phong phú đời mình.  Phương thế hữu hiệu để khỏi làm hư hỏng đời mình, là dù lúc nào, tuổi nào, ta cũng dính kết trọn vẹn vào giây phút hiện tại, như chốt cắm điện dính liền với dòng điện, để phát tỏa ánh sáng và sức mạnh (Charles Lebrun, Vượt qua cõi hồng trần, tr 24).
          Hằng ngày, Chúa vẫn gửi cho chúng ta những dòng tin nhắn để ta chuẩn bị tương lai cho một ngày viên mãn. Thái độ của chúng ta  là lắng nghe hay thờ ơ lãnh đạm.
           Chúa nhắc nhở chúng ta  bằng những lời thì thầm, nhẹ nhàng và sâu lắng qua qui luật tự nhiên, qua trật tự trong vũ trụ.  Nhìn chiếc lá vàng rơi về cội, nhìn dòng nước xuôi về nguồn, ta hiểu được rằng con người cũng phải trở về với gốc tích của mình.  Trông thấy người chết ta phải tự nhủ mình : nay người, mai ta, sẽ đến lượt tôi, tôi sẽ phải rời cõi đời này bất cứ lúc nào.
           Tất cả mọi sự vật chung quanh là lời Chúa nhắc nhở ta phải chuẩn bị cho ngày ra đi vĩnh viễn, tuy những dấu hiệu ấy không rõ ràng.
 
                                      Truyện : Lời Chúa nhắc nhở
           Có một người đàn ông nọ qua đời vì chứng nhồi máu cơ tim. Ông phàn nàn với Chúa rằng :
          - Thưa Ngài, Ngài gọi con về, con không chút oán hận. Nhưng tại sao trước lúc gọi, Ngài không thông báo cho con một tiếng  để con chuẩn bị tâm lý và cũng là để con bàn giao mọi việc với vợ và các con của con. Ngài đã khiến con trở tay không kịp.
          Thiên Chúa trìu mến đáp :
          - Ta đã từng viết cho con 3 bức thư, nhắc nhở con ngày về mà !
          Người đàn ông kinh ngạc đáp :
          - Làm gì có ! Con chưa hề nhận được lá thư nào.
          Thiên Chúa đáp :
          - Trong bức thư thứ nhất, Ta để con đau lưng. Trong bức thư thứ hai, ta để con tóc bạc đi. Và bức thứ ba, Ta khiến cho răng con rụng dần. Tất cả đều là tín hiệu nhắc nhở con sắp đến thời hạn quay về đấy.
                              Thế gian không phải là nhà
                    Thiên đàng vĩnh cửu mới là quê hương.
                             Ai ai cũng phải tìm về,
                    Bởi vì “sinh ký, tử qui” rõ ràng.

 

AnTáng 15: ĐƠN THƯƠNG ĐỘC MÃ

ĐƠN THƯƠNG ĐỘC MÃ AnTáng 15

I. SUY NIỆM LỜI CHÚA : Mc 15,33-39.
 

Đức Giêsu đã tình nguyện nhận lấy sứ mạng cứu chuộc loài người bằng cái chết trên thập giá AnTáng 15

Đức Giêsu đã tình nguyện nhận lấy sứ mạng cứu chuộc loài người bằng cái chết trên thập giá. Cả cuộc đời trần thế của Ngài là chuẩn bị cho “Giờ” đó.  Giờ của Ngài chính là cuộc tử nạn.
           Mặc dù Chúa Giêsu đã chuẩn bị tinh thần cho đến Giờ đó, nhưng với tính cách là con người như chúng ta, Ngài cũng cảm thấy sợ hãi.  Chính trong lúc hấp hối trong vườn Cây Dầu, mà Ngài đã kêu xin cùng Chúa Cha :”Lạy Cha, nếu có thể được, xin cho con khỏi phải uống chén này. Tuy vậy, xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha” (Mt 26,39).
 Khi Chúa Giêsu bị bắt, các môn đệ bỏ trốn hết, còn có mặt ông Phêrô thì ông lại chối Ngài ba lần trước khi gà gáy.  Chúa Giêsu cảm thấy thực sự cô đơn và cô độc, một mình đi vào cuộc tử nạn khủng khiếp.
           Ở dưới cây thập giá, tuy có mặt Mẹ Maria, thánh Gioan và mấy bà khác đi theo đang ngắm nhìn Ngài trên cây thập giá, nhưng, có lẽ Ngài cũng cảm thấy cô đơn trước cái chết.  Dựa vào câu sau đây, chúng ta mới biết rằng Ngài cô đơn :Eloi, Eloi, Lamasabactani” : nghĩa là Lạy Thiên Chúa, Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con” (Mc 15,34) ?
           Trong lúc hấp hối, Chúa Giêsu vẫn cảm thấy cô đơn như bị bỏ rơi, mặc dù Ngài vẫn biết Chúa Cha vẫn yêu thương và Mẹ Ngài đang đứng dưới chân thập giá để cảm thương Ngài.
           Nếu Chúa Giêsu còn cảm thấy bị cô đơn trong giờ hấp hối thì chúng ta cũng chẳng thể khác được trong lúc chờ đón tử thần đến.  Khi chết chúng ta phải từ giã mọi người và mọi người cũng từ bỏ chúng ta để một mình phải đối phó với thần chết.
           Chúng ta phải công nhận rằng đứng trước cái chết mọi người đều cảm thấy cô đơn và sợ hãi, không có bạn đồng hành để chia sẻ; ra khỏi thế gian này chỉ có một mình để rồi một mình mình biết, một mình mình hay.
           Theo kiểu nói của người đời, giờ chết của chúng ta có thể coi như “đơn thương độc mã” : nghĩa là chỉ một mình phải làm việc hoặc chiến đấu trong đơn độc, không có ai giúp đỡ.
 
II. THÀNH NGỮ “ĐƠN THƯƠNG ĐỘC MÔ.
           Trong cuộc sống hằng ngày hễ ai đó chỉ có một mình phải gánh vác, phải đương đầu với công việc nặng nhọc hoặc nguy hiểm  mà không được sự hỗ trợ của người khác, thì người ta hay dùng thành ngữ “đơn thương độc mã” để chỉ sự đơn độc đó.
           1. Giải thích thành ngữ.
           Đơn thương độc mã là thành ngữ Hán-Việt, trong đó có đơn đối độc, thương đối mã. Xét về nghĩa đen, đơn là một, là chiếc, trái với kép và đôi, còn độc có nghĩa là một mình.  Sự lấy nghĩa giữa đơn và độc trong thành ngữ nhấn mạnh sự lẻ loi, đơn độc. Các từ thương với nghĩa là ngọn giáo, mã với nghĩa là ngựa đều chỉ phương tiện võ khí chiến đấu. Tổ hợp các thành tố với nhau, ta có thành ngữ đơn thương độc mã với nghĩa đen là  “một ngọn giáo một con ngựa”.
           Đối với một người ra trận thì một ngọn giáo một con ngựa là đủ, không thiếu thốn gì. Nhưng đối với một trận chiến đấu mà một bên là cả một đội quân hùng dũng và một bên chỉ có một ngọn giáo, một con ngựa thì tương quan lực lượng quá chênh lệch và cái thế đơn độc, lẻ loi  càng bộc lộ rõ ràng
           Trong cảnh huống này thành ngữ đơn thương độc mã không còn được hiểu theo nghĩa đen là “một giáo, một ngựa” mà biểu thị một con người lẻ loi, đơn độc trong trận chiến.  Điều dễ nhận thấy là do chỗ gắn liền với gươm, giáo, gắn liền với giao tranh mà ý nghĩa của thành ngữ đơn thương độc mã chủ yếu được dùng để chỉ sự đơn độc, lẻ loi trong chiến đấu với quân thù.
           Tuy nhiên, trong sử dụng ngôn ngữ, thành ngữ này cũng được dùng để chỉ các phạm vi hoạt động khác.  Cho nên ngày nay, thành ngữ đơn thương độc mà được dùng rộng rãi trong tiếng Việt hàm chỉ tất cả những việc làm thiếu sự hỗ trợ của người khác, phải tự mình đương đầu với khó khăn, vất vả, hiểm nguy, bất kể đó là công việc trong chiến đấu, sản xuất hay hoạt động khoa học…(Hoàng văn Hành, Kể chuyện, thành ngữ, tục ngữ, tr 206).
 
          2. “Đơn thương độc mã” trước cái chết.
           Chết là từ bỏ tất cả, vĩnh biệt mọi người. Cái chết làm cho người ta sợ hãi , làm cho người ta cô đơn và lẻ loi, không còn  chỗ bám víu.
           Ingmar Bergman – một đạo diễn phim ảnh nổi tiếng người Thụy Điển – đã cố thổi vào phim “Dấu ấn thứ bảy” (Le septième sceau) tư tưởng về cái chết và coi nó như một bí nhiệm.  Trong suốt cuốn phim, chúng ta thấy thần Chết luôn luôn lảng vảng hiện hình, ngay cả khi con người ít ngờ nhất. Mọi sinh hoạt hằng ngày : vui buồn thịnh suy, thần Chết luôn đứng đó, xem xét, rình mò, chờ đợi…
           Nếu chúng ta xem phim, phân tích tường tận từng cử chỉ, lời nói, dáng điệu của các nhân vật, chúng ta mới cảm thấy  thấm thía nỗi kinh hoàng cũng như sự bất lực của con người trước cái chết.
 Tác giả Đỗ Đức Thu trong cuốn “Vỡ lòng” đã diễn tả tâm trạng một thiếu niên trước cái chết như sau :  “Chết thật ? Người thiếu niên vô cùng sợ hãi. Đột nhiên chàng thấy thần Chết đứng rình ở góc buồng, bộ xương trắng bệch nổi lên trong xó tối, cái lưỡi hái sáng quắc lăm lăm trong tay.  Thần Chết nhe hai hàm răng cười gằn và sắp sửa khoa lưỡi hái cắt đứt đời chàng.  Chàng rên lên một tiếng rất thê thảm rồi nhắm nghiền mắt lại. Trong trí chàng thần Chết và lưỡi hái càng rõ rệt hơn.
           Thiếu niên hoảng hốt, trán đẫm mồ hôi, tuy người chàng vẫn lạnh giá dưới hai làn chăn bông. Lần đầu tiên, cái chết đối với chàng có một ý nghĩa khủng khiếp”.
 Chính vì vậy, trước cái chết, người ta thấy mình hoang mang lo lắng, bị cô đơn và lẻ loi, rất nhiều người cần có một người đến an ủi, vỗ về mình trước khi nhắm mắt lìa đời.
 
 Truyện : Bạn đường phút lâm chung
           Ở Mỹ, có nhiều người sắp chết rất cần có một người đến an ủi, vỗ về để họ khỏi cô đơn khi nhắm mắt lìa đời. Khổ nỗi là đâu phải ai cũng có bạn bè, quyến thuộc ngồi an ủi mình một cách bình tĩnh trong những lúc mình cần họ nhất ?  Do cái “kẹt” này, mới đây tại Mỹ người ta phát minh ra một nghề mới đầy hứa hẹn : nghề an ủi người sắp chết, mà ta có thể gọi một cách văn vẻ là “Bạn đường phút lâm chung”.
           Người phát minh ra nghề này là ông William Roberts, 50 tuổi, người gốc California.  Cách đây mấy năm, khi ngồi thăm một người bạn sắp chết, Roberts chợt cảm nhận được nỗi cô đơn của kẻ sắp lìa đời, khi nằm trên giường bệnh một mình. Ông nói :”Tôi có cảm giác là những người sắp chết đã được đối xứ một cách lạnh lẽo”.  Và ông quyết chí đi tìm một phương cách giúp đỡ những người sắp chết tránh khỏi cảnh đó.
           Kết quả là công ty Threshold ra đời, một công ty đặt trụ sở ở Los Angeles có mục đích huấn luyện và cung cấp “Các bạn đường phút lâm chung” cho ai cần họ. Giá biểu : 7 đôla rưỡi một giờ, trong đó Người bạn đường được 3 đôla rưỡi (Theo Đông Hải, trong báo Thời nay).
 
III. MUỐN CÓ BẠN ĐƯỜNG LÚC LÂM CHUNG.
           1. Chết là từ bỏ tất cả
           Khi chết, con người phải từ bỏ tất cả không mang đi theo được gì kể cả tiền tài, danh vọng, chức quyền hay sắc dục … bởi vì khi con người vào đời với hai bàn tay trắng thì cũng ra đi với hai bàn tay trắng.  Nhân dân ta đã thấu hiểu chân lý đó khi nói
                                       Vua Ngô băm sáu tàn vàng
                             Thác xuống âm phủ chẳng mang được gì.
           Đại đế Alexandre, sau khi đã đi chinh phục một số nước Phi châu, Âu châu, các nước Cận Đông và gần nửa Á châu, trước khi chết  đã trối lại : phải để bàn tay phải của ngài ra ngoài quan tài, để mọi người biết rằng, khi bỏ cõi đời này một vị vua giầu sang, uy quyền đến thế, mà cũng không mang được gì.
 
          2. Những cái có thể mang theo
          Một hôm chồng sắp chết hỏi vợ sẽ làm gì cho ông sau khi ông chết. Người vợ trả lời sẽ làm thế này thế nọ cho ông, làm đủ thứ… nhưng cũng không làm cho ông hài lòng. Bà vợ liền la lên : Ôi, cái chết xấu xa và dễ sợ là dường nào !
           Sau cùng, người chồng bĩnh tĩnh nói :”Nhưng cái chết thật đẹp đẽ nếu người sắp chết thấy rằng trong đời sống, mình đã làm được nhiều “Việc lành phúc đức”. Nói xong, ông tắt thở bình an.
 
Truyện : Ba người bạn
           Người kia có 3 người bạn, hai người trước là bạn rất thân, người thứ ba  thường thường vậy thôi. Ngày kia, ông bị tòa bắt xử, liền xin 3 người bạn đi theo để biện hộ.  Người bạn thứ nhất từ chối ngay, viện cớ bận việc quá không đi được.  Người thứ hai bằng lòng đi đến cửa quan nhưng lại không dám vào.  Chỉ có người thứ ba tuy không được ông yêu thích nhưng tỏ ra trung thành vào tận tòa án biện hộ cho ông ta, không những trắng án mà còn được thưởng nữa.
           Người bạn thứ nhất là Tiền bạc. Khi ta chết, tiền bạc bỏ rơi ta, chỉ để lại cho ta một chiếc chiếu và một cái hòm.  Người bạn thứ hai là Bà con Bạn hữu. Họ khóc lóc đưa ta tới huyệt rồi về. Người bạn thứ ba là các Việc Lành. Chúng theo ta đến tòa phán xét, biện hộ cho ta và đưa ta vào cửa thiên đàng.
 
          3. Mang theo những gì đã gieo
           Trong cuộc sống, chúng ta đã gieo hạt giống xuống đất, cây cối mọc lên và sinh hoa kết quả.  Chúng ta hãy thu lượm những hoa quả ấy mang về đời sau vì gieo giống nào thì gặt giống ấy.
           Sự sống và tình yêu vĩnh cửu của con người chỉ có thể có nếu chúng ta đã được gieo trong tại thế này, và sự gieo trồng ấy dĩ nhiên phải qua giai đoạn quyết liệt là hạt giống cần phải thối rữa, cần phải chết đi, nghĩa là phải “hết hiện hữu là hạt giống”.  Nhưng trong việc trồng cấy đó, cần đến yếu tố thời gian :
                              Nhất niên chi kế, mạc như thụ cốc
                             Thập niên chi kế, mạc như thụ mộc
                             Bách niên chi kế, mạc như thụ nhân
           Người ta chỉ có gặt khi có gieo, gieo giống tốt thì gặt lúa tốt, gieo giống xấu thì gặt lúa xấu.  Kẻ chỉ say sưa cuộc đời và tình yêu tại thế sẽ chẳng gặt được sự sống và tình yêu trong nước Chúa, bởi lẽ họ đã không gieo. Chỉ có những ai biết sống, biết yêu trong đời này, nhưng vẫn khát khao sự sống và tình yêu đời đời, chỉ những người đó mới thấy viên mãn của sự sống và tình yêu Thiên Chúa (Thiện Cẩm, báo Nhà Chúa, số 8, tr 21).
 
          4. Phải biết chia sẻ
           Con người sinh ra  với những ngón tay nắm chặt lại.  Bản tính con người vẫn khép kín, ích kỷ.  Một đứa trẻ được nuông chiều sẽ nghĩ rằng mọi người đều có bổn phận phải phục vụ nó, nó là trung tâm điểm của vũ trụ, cả thế giới này là của nó.  Nhưng mọi người cũng biết rằng khi chết đi, các ngón tay sẽ buông xuôi, tiền tài và danh vọng đều để lại…
           Cuộc hành trình tâm linh là đi từ bản thân đến người khác, phải mở trái tim để yêu thương người khác, phải mở bàn tay để chia sẻ với người khác.
           Người ta thấy trên một mộ bia có khắc những dòng chữ này rất hay, đáng để chúng ta suy nghĩ và thực hiện trong đời sống hằng ngày để chuẩn bị cho cuộc ra đi về đời sau một cách tốt đẹp :
                    “Cái gì tôi đã tiêu xài, bây giờ không con nữa,
                   “Cái gì tôi đã mua sắm, bây giờ tôi phải để lại cho người khác,
                   “Chỉ có cái gì tôi đã cho đi là còn thuộc về tôi.
Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt


 

AnTáng 16: CHIẾC LÁ VÀNG RƠI

CHIẾC LÁ VÀNG RƠI AnTáng 16

I. MÙA TƯỞNG NHỚ
 

Hằng năm, cứ đến ngày mồng 2 tháng 11, Giáo hội tổ chức một lễ đặc biệt để nhắc nhở các tín AnTáng 16

Hằng năm, cứ đến ngày mồng 2 tháng 11, Giáo hội tổ chức một lễ đặc biệt để nhắc nhở các tín hữu hãy tưởng nhớ và cầu nguyện cho các người đã qua đời. Hôm nay được coi như ngày “Lễ Hội Các Đẳng” theo truyền thống giống như lễ Vu Lan của Phật giáo.
           Giáo hội còn dành trọn tháng 11 để tưởng nhớ cầu nguyện cho các người quá cố, cách riêng nhớ đến ông bà cha mẹ, người thân yêu đã qua đời. Làm như thế là thể hiện chữ Hiếu của con cháu đối với công ơn của ông bà tổ tiên như người ta thường dạy con cháu :
                                       Cây có gốc mới nở nghành sinh ngọn
                                      Nước có nguồn mới bể rộng sông sâu.
                                                Người ta có gốc từ đâu ?
                                      Có cha có mẹ rồi sau có mình.
                                                       (Ca dao)
           Chiều nay giáo xứ chúng ta tụ họp tại nghĩa trang này để cầu nguyện cho các tín hữu đã qua đời, cách riêng cho những người trong giáo xứ đang nằm nơi đây, họ là những người đã cùng sinh hoạt với chúng ta trên mảnh đất thân yêu này.
           Những người đang nằm ở đây rất gần gũi với chúng ta, bởi vì chúng ta biết họ. Họ đã ra đi trước, rồi đến lần chúng ta, kẻ trước người sau, cũng sẽ nằm ở đây. Chúng ta dành buổi chiều hôm nay để giao lưu với họ.
           Nghĩa trang của chúng ta có rất nhiều cây, xen lẫn hoa lá đủ mầu sắc.  Nhưng cảnh vật tại nghĩa trang hôm nay, tuy trong một bầu khí êm ả, nhưng mang một nét trầm buồn mênh mang.  Nhìn những hàng cây trút lá, những chiếc lá vàng rơi cuối thu, tự nhiên mỗi người chúng ta  đều có một vài tâm tình và ý tưởng riêng biệt.
           Đúng là tức cảnh sinh tình, cảnh vật chung quanh đã gợi hứng cho văn nhân thi sĩ sáng tác những áng văn thơ tuyệt diệu như bà Huyện Thanh Quan khi đi qua Đèo Ngang vào một buổi chiều đã sáng tác ra bài thơ “Vịnh Đèo Ngang” nổi tiếng.   Đứng trước cảnh vật tại nghĩa trang hôm nay, tôi lại liên tưởng đến bài thở rất quen thuộc của thi sĩ Lưu Trọng Lư, đó là bài “Tiếng thu” trong đó có đoạn :
                                       Em nghe không mùa thu
                                      Lá thu rơi xào xạc
                                      Con nai vàng ngơ ngác
                                      Đạp trên lá vàng khô.
           Phải chăng những chiếc lá vàng rơi, những chiếc là thu rơi xào xạc là hình ảnh tượng trưng cho kiếp người vắn vỏi và mỏng manh ? Cuộc đời như bóng câu cửa sổ ? Thánh vịnh 88 đã diễn tả cho chúng ta tư tưởng đó :
                               Đời con là một kiếp phù du,
                             Loài người Chúa dựng nên thật mong manh quá đỗi.
                             Sống làm người ai không phải chết,
                             Ai cứu nổi mình thoát quyền lực âm ty ?
                                                (Tv 88,48-49)
 
II. TẢN MẠN VỀ CHIẾC LÁ
           Chiếc lá có qui trình ngắn gọn : chiếc lá xuất hiện đầu tháng 4, cho đến tháng 10 là chuẩn bị đổi mầu để đợi cơn gió nhẹ về mơn trớn, tức thì chiếc là lìa cành, rơi xuống đất.
           Trong suốt thời gian ở trên cành, lá chỉ biết hút ánh sáng và các khí trời như nitơ, carbonic… để bào chế chất loãng hóa học, khoáng vật thành nhựa nuôi cây.  Lá làm việc âm thầm với mục đích chỉ muốn nuôi dưỡng, chăm sóc và che chở cho cây.
           Hàng năm mỗi độ thu về lá đổi sang mầu vàng, rồi từng lá. Từng lá rơi lã chã trải dài trên nền đất. Lá bị gió cuốn hút đi vào bất cứ chỗ nào.  Đời của những chiếc lá nhỏ bao giờ cũng có với bao nhựa sống tươi mát. Nắng hạ khiến lá đổi mầu, biến chất non xanh nõn nà ra mầu lá già xanh mướt và rồi tan rã đầu tiết đông.
           Mùa thu, mùa của những chiếc lá vàng.  Ngồi nhìn lá rơi, mỗi chiếc lá chọn cho mình một cách “chia tay”. Hình như mỗi chiếc lá có một linh hồn để ra đi với một sắc thái riêng.
           Có những chiếc lá ra đi trong sự quằn quại, khổ đau, dùng dằng bịn rịn như thể không muốn lìa cành.  Có những chiếc lá “hấp hối” loạng choạng buông mình cách nặng nề nghiêng ngả trên mặt đất.  Lại có những chiếc lá ra đi cách nhẹ nhàng trong dáng điệu thướt tha buông mình theo gió. Những chiếc lá khác không bàng hoàng hối hả mà chậm rải, thanh thản, an nhiên rơi mình trên thảm cỏ xanh như thể một bông hoa say trong giấc ngủ yên lành.
 
III. ĐỜI NGƯỜI VÀ CHIẾC LÁ.
           Phải chăng chiếc lá cuối thu là hình ảnh của đời người ?  Mỗi người ra đi với một cách thế khác nhau giống như lá vàng tung bay trước gió ?
           Có những người ra đi trong bấn loạn, hối tiếc, khổ đau, nặng nhọc.  Lại có người ra đi về với cội nguồn một cách thanh thản, nhẹ nhàng.  “Lá rụng về cội”.  Lá rơi bên gốc cây. Lá chờ đợi một quá trình sinh học để trở thành chất dinh dưỡng nuôi cây.  Lá góp thân xác tàn úa để trả ơn cho cây.  Đời người ngắn ngủi mà đầy ý nghĩa nhân sinh.
           Những chiếc lá lìa cành là hình ảnh của con người trong cuộc đời lữ thứ trên trần gian này. Sách Giảng viên đã gợi ý cho chúng ta về điểm này :”Mọi sự có thời của nó : có thời sinh ra, có thời chết đi” (Gv 3,1-2).
           Mọi người phải công nhận rằng con người sẽ phải chết, đây là một án lệnh phổ quát không có luật trừ.  Trong ngày Lễ Tro, chúng ta chịu xức tro trên đầu cùng với lời nhắc nhở được trích ra trong sách Sáng thế :”Ngươi là bụi đất, và sẽ trở thành bụi đất” (St 3,19).  Chúng ta là con cháu Adong Evà đều phải nhận lấy hậu quả của tội nguyên tổ. Chết là mẫu số chung của con người.
           Đời sống của một chiếc lá cũng ngắn ngủi : từ lúc xuất hiện đến lúc rụng, hơn kém cũng chỉ được một năm theo một qui trình nhất định : mùa xuân đâm chồi nảy lộc, mùa hạ lá cây xanh tươi đầy sức sống, mùa thu lá vàng úa và mùa đông thì lìa cành.
           Đời sống con người cũng thế : sinh ra, lớn lên, già đi rồi chết.  Có sống đến 100 tuổi cũng chẳng là bao, nếu so với đời đời thì quá ngắn ngủi.  Thánh vịnh 102 đã nói lên tính cách mong manh của kiếp sống con người :
                                       Đời sống con người giống như cây cỏ,
                                      Như bông hoa nở trên cánh đồng,
                                      Một cơn gió thoảng đủ làm nó biến đi,
                                      Nơi nó mọc không còn mang vết tích.
                                                  (Tv 102, 15-16)
           Cuộc sống con người vắn vỏi thật, nhưng không quan trọng.  Chúng ta có đủ thời giờ để sống cho Chúa, cho tha nhân, sống theo thánh ý Chúa, làm tròn trách nhiệm Chúa đã giao phó. Vì thế,  chết chưa phải là hết mà vẫn còn.  Chết chỉ là sự chuyển đổi từ cuộc sống trần gian này sang đời sống vĩnh cửu để hưởng vinh quang với Chúa trên cõi phúc thật.
           Chúng ta hãy là những chiếc lá. Lá lìa cành nhưng vẫn mang trong mình sức sống  vì suốt đời  lá âm thầm kết nhựa nuôi thân. Khi lìa cành chính lá vẫn còn chất sống, vẫn còn nhựa sống. Lá cho đi thì nhiều mà nhận chẳng bao nhiêu.
           Trong khi hoa khoe sắc, đón nhận thì nhiều mà không cho đi là mấy, nên khi lìa cành hoa mau tàn, chóng rữa.  Kết quả cuối cùng cho thấy “cho đi” thì tốt hơn là nhận.
           Đây chính là nhận xét của thánh Phaolô. Người Kitô hữu cho đi trong đời, khi lìa đời, hành trang mang theo là món quà tình yêu và lòng mến.  Hai nhân đức đó có sức sống trong mình nên khi đi gặp Thiên Chúa tình yêu, họ không mòn mỏi, không sợ chết thối rữa.
           Họ cho đi món quà vật chất để lãnh nhận món quà tinh thần.  Họ cho đi món quà mà mối mọt đục khoét được để lãnh nhận món quà không sâu nào đục khoét.  Họ cho đi tình yêu trần thế để lãnh nhận tình yêu Nước trời.  Họ làm vơi lòng họ để Thiên Chúa đong đầy tâm hồn.  Họ hạ mình khiêm nhường để Thiên Chúa nâng họ lên cao.  Họ từ bỏ đời sống trần thế để lãnh nhận đời sống bất diệt.  Họ chịu đau khổ vì Đức Kitô để sinh hoa kết trái trong Ngài, để mầm sống mới được nảy sinh. Họ cam lòng chịu khổ một đời để hưởng vinh quang bất diệt ngàn đời.
           Giờ phút này và tại nghĩa trang này, nhìn lá vàng rơi, ta nhận ra sự thật cay đắng nhất của đời người là sự chết. Nó chẳng trừ ai, chẳng thương tiếc ai. Nó đến bất ngờ làm ta bàng hoàng. Phải từ bỏ tất cả để ra đi, chẳng mang được gì.
           Cái chết của mỗi người là một chuyến đi cuối cùng. Một chuyến đi quyết định và quan trọng.  Một chuyến đi vĩnh viễn mà không bao giờ trở lại.  Nếu một chuyến đi đôi ba ngày mà ta còn phải chuẩn bị nhiều ngày thì trong chuyến đi vĩnh viễn và cực kỳ quan trọng này, chúng ta không chuẩn bị sao?
           Chúng ta có thể chọn lối sống của ta  như cành lá, bông hoa.  Hoa lá không có quyền chọn lựa, chúng được sinh ra trong số phận riêng của nó.  Còn ta có quyền chọn lựa lối sống cho riêng mình.  Chúng ta phải sống theo phương châm “Sống khôn, chết thiêng” ! Điều đó hoàn toàn nằm trong tầm tay lựa chọn của mỗi người.
           Cuộc sống mai hậu của chúng ta hoàn toàn lệ thuộc vào cuộc sống hiện tại.  Tương lai do chúng ta lựa chọn, không ai có thể làm thay cho chúng ta vì “Sống sao chết vậy”. Nguyên nhân thì sinh ra hậu quả và hậu quả tùy thuộc vào nguyên nhân.
           Như Đức Giêsu đã dạy :”Cây tốt thì sinh quả tốt, cây xấu thì sinh quả xấu. Cây tốt không thể sinh quả xấu, cũng như cây xấu không thể sinh quả tốt” (Mt 7,17-18). Người làm tốt sẽ được thưởng, người làm điều xấu sẽ bị phạt vì  “Đời này là nhân, và đời sau là quả”.
           Thư thánh Phaolô và sách Khải Huyền cho chúng ta biết :”Thiên Chúa sẽ thưởng phạt mỗi người tùy theo việc họ làm” (Rm 2,6 và Kh 2,23).
 Chính khi sống trọn vẹn trong ý nghĩa làm người bằng những việc tích cực, bằng Tám mối phúc thật là thể hiện niềm tin vào Đấng sống lại, Đấng đã tuyên bố :”Ta là sự sống lại và là sự sống.  Ai tin Ta sẽ không chết bao giờ, cả những ai tin vào Người Con thì được sống muôn đời” (Ga 11,25-26).
           Hôm nay và trong suốt tháng 11 này, tháng Các Đẳng, tháng cầu cho các tín hữu đã qua đời, chúng ta hãy mang một tâm niệm :
                              Tháng tình yêu đất trời hiệp nhất,
                             Lòng hiệp lòng thi thố tình yêu.
                             Đượm tình Thiên Chúa cao siêu,
                   Thương hồn thanh luyện ban nhiều hồng ân.
                             …Đời trần gian chỉ là tạm bợ,
                             Đời mai sau vĩnh cửu trường tồn.
                             Việc lành, cầu nguyện sớm hôm,
                   Hiệp thông dâng Đấng Chí Tôn nhiệm mầu.
                                       (Mạc Trầm Cung)
Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt


 

AnTáng 17: SỐNG GỬI THÁC VỀ

SỐNG GỬI THÁC VỀ AnTáng 17

I. ĐI VỀ ĐÂU ?
           Chúng ta đọc : Ga 14,1-7
 

Đời đáng sống hay không đáng sống, Sống mấy ngày mà chết sầu thương. Đời nghĩa lý hay AnTáng 17

                             Đời đáng sống hay không đáng sống,
                             Sống mấy ngày mà chết sầu thương
                             Đời nghĩa lý hay không nghĩa lý
                             Sao nói rằng : “Sinh ký, tử qui”.
 
          1. Mọi người đều phải chết.
           Chết là một thực tại hiển nhiên. Đã là người, ai cũng phải chết. Đó là điều quá rõ ràng, không cần phải minh chứng. Xưa nay ai đã thoát chết :”Nhân sinh tự cổ thùy vô tử” (Văn thiên Trường) ? Cái chết vẫn hằng theo dõi, ám ảnh tâm trí mọi người, dù người ta muốn quên hay chối bỏ nó.  Nhưng càng xa tránh, càng chối bỏ thì nó lại càng theo sát chặt chẽ.
           Phải chăng đời người chỉ gói trọn trong hai chữ “Sống và Chết” ?  Thật vậy, con người sinh ra ở đời này không phải để sống luôn mãi, nhưng sau một thời gian vắn dài, con người phải chết. Vì đã có sinh thì lại có tử, không trước thì sau, không sớm thì muộn, thần chết sẽ đến với ta một cách bất ngờ, đó là định luật của con người. Lối đi một chiều không có ngày trở lại.
 
          2. Nhưng chết rồi đi về đâu ?
           Ngay từ xưa, ông Hoài Nam Tử đã đặt câu hỏi về vấn đề sống chết để cho nó một ý nghĩa :”SINH KÝ, TỬ QUI” : sống gửi, thác về. Nhưng chết rồi thì đi về đâu thì chưa có câu trả lời.
           Đối với những người vô thần, chết là hết. Chết là đi vào hư vô trống rỗng, là đi vào ngõ cụt, là phi lý, là vô nghĩa. Họ không hiểu được ý nghĩa của cuộc sống : tại sao mình sống và tại sao mình chết.
           Luồng triết học nổi tiếng của thế kỷ 20, mệnh danh là chủ nghĩa hiện sinh, tập trung sự suy tư vào thân phận bi thương của kiếp người. Nó luôn nhấn mạnh tới tính hữu hạn và “dang dở” của đời người, mà cái chết là bằng chứng rõ nhất và cuối cùng.
           Chính vì cái chết chấm dứt cuộc đời một cách tàn bạo và ngược lại với tất cả những gì tốt đẹp mà con người khao khát và cố gắng thực hiện trên đời, mà triết gia Albert Camus đã đưa ra thuyết cuộc đời là phi lý, là vô nghĩa vì chẳng dẫn tới đâu và đầy mâu thuẫn, không có lối thoát. Những thao thức của họ chưa tìm được câu trả lời cho thỏa đáng.
           Đạo Phật quan niệm rằng “Sau khi chết, nếu khi còn sống ở đời này, người ta ăn ngay ở lành, sống từ bi hỉ xả với mọi người, thì hồn thiêng của họ sẽ được đi về cõi cực lạc”. Có thể gọi là Thiên Đàng như đạo Công giáo chúng ta.
           Vì thế, chúng ta thường thấy sau khi người thân chết, người ta hay tung hoặc đốt giấy bạc, vì họ nghĩ rằng, giấy bạc đó có thể trở thành phương tiện  sống cho người chết trong cuộc sống mới.  Còn những ai sống trong tội lỗi, phụ bạc xa hoa, thì họ sẽ đầu thai thành một con vật hoặc một người khác, để tiếp tục đền tội mình.  Tội nặng thì được đầu thai trong bậc sống thấp hơn, chẳng hạn như con giun con dế; còn tội nhẹ thì được liệt kê vào bậc cao hơn. Ác quả ác báo. Mọi sự đều được thưởng  phạt tùy theo cách sống của mỗi người , theo nguyên tắc :”Hữu công tắc thưởng, hữu tội tắc trừng” : có công thì được thưởng, có tội thì phải đền.
 
          3. Chết là đi về Nhà Cha.
           Trước cuộc khổ nạn của Chúa, các môn đệ lo âu sợ hãi, Chúa Giêsu đã trấn an các ông :”Các con đừng xao xuyến, hãy tin vào Thiên Chúa, hãy tin vào Thầy. Trong nhà Cha Thầy có nhiều chỗ ở. Thầy đi để dọn chỗ cho các con… Thầy sẽ đem các con về với Thầy, để Thầy ở đâu thì các con cũng ở đó với Thầy” (Ga 14,1-3).
           Thánh Phaolô cũng quả quyết với tín hữu Corintô :”Nếu căn nhà (thể xác) dưới đất bị hủy đi, chúng ta có căn nhà ở trên trời do Thiên Chúa làm ra… vĩnh cửu ở trên trời” (x. 2Cr 5,1-5).
           Chính Chúa Giêsu đã bước qua ngưỡng cửa của sự chết, Ngài đã sống lại, chiến thắng tử thần và trao ban sự sống mới cho nhân loại.  Mỗi người con cái Chúa cũng bước qua ngưỡng cửa của sự chết mới có thể đi vào sự sống  vĩnh hằng trong nhà Cha.  Đức Giêsu khi nói về cái chết của mình, Ngài dùng kiểu nói :”Thầy bỏ thế gian mà về cùng Cha” (Ga 16,28).  Cái chết như vậy là ngưỡng cửa bước qua để hội ngộ, Người ra đi để rồi gặp gỡ Đấng sinh thành ra mình.  Đó là một cuộc trở về Nhà Cha thật sự.  Sự chết là khởi đầu một sự sống mới, sự sống vĩnh hằng trong Nhà Cha.
           Phụng vụ diễn tả : đối với các tín hữu Chúa, sự sống thay đổi chứ không mất đi, khi thân xác tan rã trở về bụi đất, thì con người lại có một nơi ở do Chúa dựng lên, đó là ngôi nhà vĩnh cửu trên trời, không do người phàm làm ra” (x. 2Cr 5,1).
           Như vậy, ngày chết là ngày chúng ta từ bỏ ngôi nhà dưới đất để trở về nhà Cha trên trời, như lòng hằng mong ước mà thi sĩ Tagore đã diễn tả trong lời kinh tha thiết :
                             Như đàn hạc hoài hương
                             Bay thẳng về tổ ấm
                             Nguyện đời con phiêu diêu
                             Qua vùng trời thăm thẳm
                             Lên tận chốn thiên đường
                                  (x. Gitanjali, 103)
 
II. ĐI VỀ NHÀ CHA TRÊN TRỜI
           Chúng ta được nghe rất nhiều lần rằng chết là một cuộc giải thoát, là một sự chuyển đổi, là ngày sinh nhật trên trời, là cái cửa đưa vào cõi phúc trường sinh bất tử.  Những quan niệm ấy rất đúng, rất am hợp với giáo lý Công giáo.
           Hôm nay chúng ta muốn diễn tả cái chết bằng những hình ảnh rất quen thuộc, rất cụ thể đối với đời sống con người chúng ta. Hay nói rõ hơn : chết là thay đổi từ nhà này sang nhà khác.
           Người tín hữu chúng ta có 4 ngôi nhà mà từ khi sinh ra cho đến chết, không ai có thể ở ngoài những ngôi nhà ấy, dù muốn dù không.
           1. Ngôi nhà thứ nhất là “Căn nhà nơi cha mẹ ta sinh ra”. Đây là nơi chôn nhau cắt rốn của con người, nơi ta được sinh ra, được cha mẹ nuôi dưỡng, giáo dục để chúng ta lớn lên thành một con người trưởng thành để giúp ích cho xã hội và Giáo hội.  Nơi đây mọi người đoàn kết cùng nhau xây dựng một gia đình êm ấm trong yêu thương và hòa bình.
 
          2. Ngôi nhà thứ hai là “Nhà thờ giáo xứ”, nơi đây cha mẹ đem chúng ta đến lĩnh bí tích rửa tội để trở thành một thành viên trong Hội thánh và làm con Chúa.  Nơi đây ta đến gặp gỡ Chúa với anh chị em, được lãnh các bí tích Thêm sức, giải tội, bí tích hôn nhân.  Và khi ta đã nhắm mắt lìa đời thân xác ta lại được đưa đến nhà thờ lần cuối để giã biệt mọi người.
           3. Ngôi nhà thứ ba là “Nhà mồ”, là chiếc quan tài chứa đựng thân xác ta và bị chôn vùi dưới lòng đất.  Mồ mả cũng là cái nhà cuối cùng  chứa đựng thân xác ta.  Nếu đọc Thánh vịnh 48, ta phải xác định cái huyệt mồ là nhà cuối cùng của ta :”ba tấc đất mới thực là nhà”.
           Như vậy, chết là đi từ nhà sinh, qua nhà thờ đến nhà mồ.  Nhưng cả ba nhà này chỉ có tính cách tạm bợ, nhất thời. Tất cả chỉ được coi như cái quán trọ ven đường.  Đã là quán trọ thì người ta chỉ dùng qua đêm, hay một thời gian ngắn chứ không được coi như nơi thường trú.
 
          4. Ngôi nhà thứ tư là “Ngôi nhà vĩnh cửu”. Đây là nơi thường trú vĩnh viễn, nơi mà mọi người tín hữu phải nhắm tới. Chúng ta có thể gọi ngôi nhà nhà là  “Nhà Cha trên trời”.
           Trong thư gửi cho tín hữu Corintô, thánh Phaolô đã đoan chắc với họ rằng :”Nếu ngôi nhà của chúng ta ở dưới đất bị phá hủy đi, thì chúng ta có một nơi ở do Thiên Chúa dựng lên, một ngôi nhà vĩnh cửu trên trời, không do người thế làm ra” (2Cr 5,1).
           Ngôi nhà đó là nhà Cha chúng ta trên quê hương vĩnh cửu, nơi không còn khóc lóc than van, không còn đau khổ, không còn chiến tranh. Ở đó, chỉ có tình yêu, niềm vui, chỉ có bình an thuận hòa, chỉ có hạnh phúc miên trường, không bao giờ vơi, không bao giờ tàn lụi.
           John Bunyan, tác giả cuốn “Thiên lộ lịch trình”, đã nói lúc ông gần qua đời :”Các bạn đừng than khóc cho tôi, nhưng hãy khóc than cho chính các bạn. Tôi sẽ về nhà Cha đời đời nơi có Đức Chúa Trời là Cha Đức Giêsu Kitô : Ngài sẽ tiếp rước tôi dù tôi là một tội nhân bởi công lao cứu chuộc của Con Ngài. Tôi tin rằng chẳng bao lâu nữa sẽ gặp nhau trên nước sáng láng của Chúa để hát bài ca mới và sung sướng trong cõi đời đời”.
 
III. MUỐN ĐƯỢC VỀ NHÀ CHA TRÊN TRỜI
           Cả bốn ngôi nhà đó Chúa đã mở ra cho chúng ta, nhưng không phải ai cũng đến được ngôi nhà thứ tư là “Nhà Cha”. Muốn đến ngôi nhà thứ tư phải có điều kiện, phải được chuẩn bị sẵn sàng vì người ta nói :”Sống khôn, chết thiêng” sống sao thác vậy”.
 
          1. Có những người không sẵn sàng
           Chết là một thực tại hiển nhiên, chung quanh ta có nhiều người chết, nhưng không mấy người để ý tới, người ta coi chết bằng một con mắt bàng quan, lạnh lùng.
          Đời là một chuyến đi, mà chuyến đi cuộc đời có điểm đến là cái chết; nhưng không ai coi đó là cùng đích, mục tiêu cả.  Tự nhiên không ai muốn mau mau tới nơi, mà trái lại còn tìm cách lẩn tránh ngày giờ kết thúc.
           Đó là nhận xét của triết gia Blaise Pascal của Pháp thế kỷ 17.  Ông nói :”Người ta tìm kiếm mọi thú vui giải trí, người ta thậm chí lao mình vào công việc với tất cả đam mê, nhưng tựu trung đó chỉ là  những cách “đánh trống lảng” để mình khỏi nghĩ đến cái chết mà thôi.  Nhưng sớm muộn thần chết vẫn lù lù trước mặt mọi người.  Nó chấm dứt mọi cuộc vui chơi, mọi đem mê, mọi vinh quang danh vọng ở đời. Nó san bằng mọi ngăn cách giữa người với người : giầu nghèo sang hèn, vua chúa hay lê thứ, trai gái, mọi người đều bình đẳng trước thần chết”.
           Không nghĩ đến chết đối với nhiều người trong thời đại ta, âu cũng là một lối thoát, tuy giả tạo, khỏi bận tâm đến sự “rầy rà” đè nặng trên cuộc đời. Vì vậy,  mới thấy xuất hiện  lòng ham sống, yêu đời đến độ cuồng nhiệt của mọi giới, nhất là giới trẻ, trong thời bình cũng như thời chiến.
           Bởi thế, bao người muốn chôn vùi đời mình trong “canh bạc thâu đêm, trận cười suốt sáng”.  Người ta lý luận rằng, cuộc đời gang tấc, xuân thì mau qua, nếu không tìm cách hưởng thụ “cái già sồng sộc nó thì theo sau”, thì thật uổng quá. Bởi vậy :
                                       Cuộc hành lạc bao nhiêu lãi đấy
                                      Nếu không chơi thiệt ấy ai bù.
                                              (Nguyễn Công Trứ)
 
                                      Truyện : Thú vui mạnh hơn sự chết
           Ngày xưa có một dân tộc ít người có tập tục là mỗi 7 năm sẽ đề cử một người lên làm vua. Trong 7 năm làm vua, người ấy có toàn quyền muốn làm gì cũng được.  Nhưng người ấy phải cam kết chấp nhận là sau 7 năm sẽ bị giết chết để nhường chỗ cho một người khác.
          Dân tộc  ấy cứ tiếp tục sống như vậy.  Điều đáng ngạc nhiên là , nhiều người muốn đổi mạng mình để lấy quyền hành và tự do theo ý muốn trong thời gian ngắn ngủi (Giọt nước mắt cuối cùng, tr 71).
 
          2. Có những người biết sẵn sàng
           Suy niệm lời Chúa :”Ngươi là tro bụi và ngươi sẽ trở về cùng bụi tro”(St 3,19), ta thấy cuộc đời chỉ là một giai đoạn sống ở trần gian, được ví như bóng câu qua cửa sổ, cuộc đời sẽ qua đi và con người sẽ phải về đời sau, nên phải chuẩn bị cho cuộc ra đi cuối cùng ấy.
           Đại triết gia Platon đã kể lại cuộc đối thoại của Socrate với các đồ đệ về vấn đề linh hồn bất tử, ngay trong tù, trước giờ ông phải uống thuốc độc kết liễu đời mình, theo bản án của quan tòa. Socrate nói cái chết đó sẽ là một cuộc mạo hiểm đẹp. Nó chẳng có gì phải sợ. Linh hôn là bạn của những thực tại thường hằng, siêu việt. Chết là trở về với thế giới vĩnh cửu, chân thật, nơi nó đã phát xuất. 
 Ngay khi còn sống, triết gia cũng không gắn bó với thế giới vô thường, khả giác, chỉ sử dụng nó cho mức tối cần mà thôi.  Còn lúc làm triết lý, tức là khi đi tìm cái chân, thiện, mỹ đích thực, ông càng dứt với nó, càng tiến gần đến cùng đích hơn. Đối với triết gia, “sống là tập cho biết chết”.
           Tác giả Anon viết :”Tôi tin rằng chúng ta được sinh ra để chết, chết để có thể sống trọn vẹn hơn. Tôi tin rằng tôi sinh ra để chết, chết mỗi ngày một phần ích kỷ, một phần tự phụ, một phần tội lỗi” .  Một lối suy tư tuyệt vời ! Quả thật, chúng ta đang sống  nghĩa là chúng ta đang chết, khi chúng ta chết, là lúc chúng ta bắt đầu sống. Một nghịch-lý-thuận. Đó là triết lý “hiện sinh” mà chỉ người có niềm tin Kitô giáo mới khả dĩ hiểu.
          Cũng với một cái nhìn lạc quan, thi sĩ Chateaubriand nói :”Chính trong cái chết mà người Kitô hữu chiến thắng” .  Cái chết dưới cái nhìn đức tin, không thể là một khủng khiếp như người ta quá quen tưởng tượng.  Người tín hữu cần nhìn thấy khía cạnh tốt đẹp của sự chết : kết thúc cuộc lưu đầy, thoát khỏi tội lỗi, được Chúa Kitô tiếp đón.
           Nhìn như thế, cái chết xuất hiện như một ngày đẹp nhất của cuộc đời, ngày sinh nhật vào sự sống vĩnh cửu.  Thánh Têrêsa thành Avila hiểu sâu sắc điều đó, đến nỗi đôi lúc ngài tỏ ra buồn phiền vì chưa được chết. Ngài kêu lên :”Ôi, cái chết, làm sao phải ngần ngại vì trong ngươi đã thấy sự sống ? Tôi chết đi được vì chưa được chết”.

                                       Truyện : Rồi cũng phải chết
           Ngày xưa, mỗi lần vua Ấn độ ra gặp thần dân, ông ngồi trên ngai đặt trên lưng voi, có tiền hô hậu ủng.
           Viên quan đi trước xướng lên :”Đây là đấng thiên tử vĩ đại, là hoàng đế nước Ấn độ, hùng cường và đáng kính phục, sống trong cung điện, lợp bằng trăm nghìn viên hồng ngọc, và có hai vạn vòng hoa bằng kim cương.
           Lời tung hô vừa dứt, thì viên võ quan đứng sau nhà vua lại hô tiếp :”Đấng thiên tử hết sức hùng cường và hết sức vĩ đại ấy, rồi cũng phải chết… Rồi cũng phải chết . (Đỗ Đình Tiệm, Lương thực hôm nay, tr 181).
                   Hãy dọn mình để đi về đời  sau vì sống chết là hai đầu mối của đời người : ta vào đầu này, ta ra cửa kia, không thể nào khác được.
           Triết gia Heidegger gọi hiện hữu của con người là “hiện hữu qui tử”. Còn  thi sĩ Tagore lại ví von, coi việc sống chết như hai bầu sữa mẹ : bú xong bên này thì bú sang bên kia :
                               “Khi mẹ giằng con khỏi bầu vú bên này, con òa khóc.
                    “Nhưng liền đó lại thấy nguồn an ủi ở bầu vú bên kia”.
           Cha Duval viết :”Trời của bạn sẽ được hình thành ngay dưới đất bằng cánh tay của bạn”.  Đối với các tín hữu, với những người đang sống đức tin, trời không là cái gì hoàn toàn mới mẻ, nhưng là sự khai nở, tỏ hiện và thành toàn cái đã có sẵn trong họ.
           Guy de Larigaudi cũng nói :”Chúng ta xây dựng đời đời trong mọi hành vi của mình : đó là khả năng kỳ diệu của con người. Chúng ta xây dựng Nước Trời từng mỗi phút giây”.
           Đức Giêsu cũng đã dùng những dụ ngôn “Tiệc cưới và chiếc áo cưới” (Mt 22), dụ ngôn mười người trinh nữ (Mt 25) để nói về ngày Cánh chung. Ngài mời gọi chúng ta  luôn sẵn sàng tỉnh thức, khoác áo tân hôn và cầm đèn sáng, chờ đợi Ngài đến vào lúc hoàng hôn của cuộc đời.
           Sự chết và đời sau không hề nhuốm mầu đen tối hay đau thương, tang tóc, nhưng rực rỡ như hội hoa đăng, hân hoan vui mừng như tiệc cưới của hoàng tử.
Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt


 

AnTáng 18: CƠN ÁC MỘNG

CƠN ÁC MỘNG AnTáng 18

I. SUY NIỆM LỜI CHÚA
           Chúng ta đọc : Daniel chương 2;  Mt 1,20-21 ; 2,13.
 

Ngày xưa, khi Thiên Chúa muốn truyền cho con người điều gì thì Người thường dùng các tổ AnTáng 18

Ngày xưa, khi Thiên Chúa muốn truyền cho con người điều gì thì Người thường dùng các tổ phụ hay các tiên tri, nhưng Người không hiện ra trực tiếp dạy bảo nhưng lại dùng những giấc chiêm bao mà truyền dạy.
           Chúng ta còn nhớ chuyện vua Nabuchodonosor có một giấc chiêm bao kỳ quái mà các nhà thông thái trong vương quốc Babylon như những thầy phù thủy, pháp sư, đồng bóng và chiêm tinh… không thể giải thích được (x. Đaniel chương 2).
           Nhưng Thiên Chúa đã mạc khải cho Daniel điều bí mật ấy trong giấc chiêm bao ban đêm và ông đã giải thích cho nhà vua giấc chiêm bao ấy… khiến nhà vua phải tuyên xưng :”Thiên Chúa của ngươi quả là Thần của các thần, là Chúa Tể các vua và là Đấng mạc khải những điều bí ẩn; nhờ thế, ngươi mới có thể tỏ lộ điều bí ẩn này” (Dn 2,47).
           Còn trường hợp thánh Giuse, đang bối rối về việc Maria có thai, định tâm lìa bỏ bà cách kín đáo thì sứ thần Chúa hiện đến báo mộng cho ông :”Này ông Giuse, con vua Đavít, đừng ngại đón bà Maria vợ ông về, vì người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần. Bà sẽ sinh con trai và ông phải đặt tên cho con trẻ là Giêsu, vì chính Người sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ” (Mt 20,21).  Và khi tỉnh giấc, ông Giuse làm như sứ thần Chúa dạy và đón vợ về nhà.
           Trường hợp khác, khi các đạo sĩ đã ra về, sứ thần Chúa lại hiện ra báo mộng cho ông Giuse rằng :”Này ông , dậy đem Hài nhi và mẹ Người trốn sang Ai cập, và cứ ở đó  cho đến khi tôi báo lại, vì vua Hêrôđê sắp tìm giết Hài Nhi đấy” (Mt Mt 2,13).
Tức khắc, ông Giuse liền chỗi dậy, và đang đêm, đem Hài Nhi và mẹ Người trốn sang Ai cập.
           Như vậy, chiêm bao hay giấc mơ đôi khi cũng mang một sứ điệp. Một cách thông thường, những giấc mơ của chúng ta đều nói lên thao thức của chúng ta về  những ước mơ, những sự việc mà chúng ta chưa thực hiện được.
 
II. NÓI VỀ GIẤC MƠ
           Xưa nay chưa ai dám nói là mình không mơ trong lúc ngủ.  Giấc mơ có ý nghĩa và cũng cần thiết, bởi vì giấc mơ là một phần đời sống của con người.  Với khoảng 1/3 thời gian mỗi ngày dành cho việc ngủ, một giấc mơ xấu hay tốt  đều ảnh hưởng đến tâm trạng và sức khỏe của mỗi người.
           1. Vậy mơ hay giấc mơ là gì ?
           Mơ là những trải nghiệm, những ảo tưởng trong trí óc khi ngủ. Hiện tượng mơ không chỉ xẩy ra với con người mà cũng xẩy ra với các động vật có vú và một số loài chim. Tuy nhiên, khi nói đến giấc mơ thì người ta chỉ đề cập đến hiện tượng này ở con người.
          Các sự việc trong giấc mơ thường không xẩy ra được hoặc không giống với thực tế, chúng thường nằm ngoài sự điều khiển của người mơ.
 
          2. Giải thích giấc mơ
           Đến đầu thế kỷ 20, hai nhà khoa học nổi tiếng đã phát triển các ý tưởng khác nhau, đó là ông Sigmund Freud và ông Carl Jung.
           Nhà tâm thần học người Áo Sigmund Freud đã xuất bản một cuốn sách có tên “Giải thích các giấc mơ”.  Freud tin rằng con người thường mơ  về những thứ mà họ mong muốn nhưng không thể có, đặc biệt có liên quan đến dục vọng và sự ức chế dục vọng.
           Còn chuyên gia tâm thần học người Thụy Sĩ Carl Jung đã làm việc với Freud vài năm nhưng ông đã phát triển các ý tưởng hoàn toàn khác về các giấc mơ. Theo Jung, các giấc mơ có thể giúp con người trưởng thành và hiểu được chính họ. Ông tin rằng  giấc mơ cung cấp các giải pháp cho các vấn đề mà chúng ta phải đối mặt khi chúng ta tỉnh giấc.  Ông tin rằng giấc mơ nói cho chúng ta biết những điều về bản thân và các mối quan hệ với những người khác.  Ông không tin là giấc mơ ẩn chứa các ý nghĩ hay các cảm giác về dục vọng hoặc sự ức chế dục vọng.
 
          3. Cơn ác mộng
           Ngoài những giấc mộng bình thường, người ta còn gặp những cơn ác mộng.  Ác mộng là một giấc mơ khó chịu của con người, nó thường mang tính tiêu cực và gây ra sự sợ hãi cho người gặp phải.  Theo thống kê, 25% trong số những người trưởng thành thường gặp ác mộng ít nhất mỗi tháng một lần. Trong số đó, khoảng 7-8% người cho biết ác mộng đã phá vỡ giấc ngủ của họ tối thiểu một tuần một lần. Đặc biệt những cơn ác mộng luôn khiến người ta lo lắng và mệt mỏi.
 
Truyện : Gặp cơn ác mộng
          Anh nọ đang ngủ say thì gặp ác mộng, thấy bị cọp rượt, mấy lần suýt bị vồ. Chạy thục mạng, không kịp tránh vực sâu trước mặt, anh hụt chân rơi ngay xuống đó. May phước, trong lúc hốt hoảng quờ tay loạn xạ, anh chụp được một nhánh cây từ trong vách đá mọc giơ ra.  Tuy khỏi tan xương nát thịt, nhưng phải chịu treo mình lơ lửng giữa khoảng không, chẳng khác kẻ đánh đu.
           Ngước lên miệng vực, hết hồn khi thấy cọp dữ kiên nhẫn ngồi chờ. Vậy thì, dầu có leo lên được cũng không xong với nó !  Anh bèn cúi xuống nhìn và sợ vỡ mật  khi thấy một con mãng xà nằm cuộn tròn dưới đáy vực, đang ngóc cao đầu, ngoắc to miệng ngay bên dưới anh ! Chỉ còn trượt tay rớt xuống là tiêu đời.
           Anh ráng đu mình ngồi lên cành cây, rồi nhìn quanh quất chung quanh, cố nghĩ cách thoát thân.  Bỗng đâu có hai con chuột lớn, một đen một trắng, cùng bò ra thi nhau gặm  chỗ gốc nhánh cây bắt rễ trong vách đá.  Nghe hai bộ răng nhọn của chúng nhai gỗ kêu rào rào, anh hoảng vía,  chỉ sợ nhánh cây thình lình gẫy ngang.  Anh bèn nạt nộ xua đuổi, nhưng cặp chuột tinh quái vẫn lì lợm, không chịu bỏ đi.
           Chợt một giọt nước mát rượi rơi độp xuống mặt, anh giật mình ngẩng lên.  Không phải nước, mà là mật ong  đang rỏ xuống  từ một tảng ong rừng kết nơi chảng ba cây phía trên đầu anh.  Đang mệt lả người và chết khát khô, anh liền ngửa cổ, há miệng thè lưỡi, cố tìm cách hứng lấy từng giọt mật trời cho.  Chao ơi ! Sao mà ngon ngọt, thơm tho đến thế ! Anh chép miệng, mải mê nuốt từng giọt, quên béng cảnh ngộ hiểm nghèo, tính mạng đang ngàn cân treo sợi tóc.
           Đang lúc đó thì anh choàng tỉnh,mồ hôi ướt đẵm lưng áo. Không thể dỗ lại giấc ngủ,  anh thao thức nằm chờ sáng, trong đầu rối mù những ý tưởng mông lung về giấc mơ kỳ dị.
           Sáng ra, anh vội vã đi đến gặp một vị ẩn sĩ, kể rõ đầu đuôi câu chuyện và cầu xin ông phân giải.  Trầm ngâm một lúc, ẩn sĩ thong thả nói :
           - Cọp dữ là cái chết luôn bám theo anh không chịu buông tha.  Mãng xà là mộ huyệt đang chờ anh gửi xác.  Chuột đen là đêm, chuột trắng là ngày, tượng trưng thời gian  cứ lần hồi gậm mòn dần quãng đời anh. Giọt mật ngọt ngào quyến rũ anh trong cảnh huống ngặt nghèo chính là những thú vui, dục vọng cạm bẫy trần gian.  Chúng khiến anh lạc hướng, mải mê tìm cách hưởng thụ nhất thời, quên rằng không còn bao lâu nữa anh sẽ chết.
 
III. ĐÔI ĐIỀU SUY NGHĨ
           Trong ca dao tục ngữ có nhiều câu đố nói lên những điều con người không có thể thực hiện được và  cũng nói lên sự bất lực của con người. ví dụ :
                    - Đố ai biết lá mấy cây,
                   - Đố ai quét sạch lá rừng
                   - Đố ai biết mây mấy tầng
                   - Đố ai nằm ngủ không mơ.
          Câu “Đố ai nằm ngủ không mơ” cũng nói lên rằng, mọi người đều có giấc mơ trong khi ngủ, không ai có thể cưỡng lại được.  Người ta mơ đủ mọi điều, không có giới hạn.  Giấc mơ nói lên những khắc khoải của lòng mình, nói lên những ước muốn mong được thể hiện nhưng thường gặp những nghịch cảnh vì chưa thực hiện được.
           Có khi người ta nằm mơ mình chết. Vậy mơ mình chết là một điềm tốt hay xấu ?  Theo quan niệm dân gian (có pha chút mê tín), người ta nói :”Sinh dữ, tử lành”, nghìa là nếu mơ việc sinh sản là điềm xấu, còn mơ việc chết là điềm lành, điềm tốt.
           Đối với chúng ta, nằm mơ về sự chết thì chẳng tốt, cũng chẳng xấu, nó chỉ là giấc mơ. Nhưng dù sao mơ về sự chết có thể  giúp chúng ta hãy nghĩ về sự chết để chuẩn bị cho đến ngày đó, bởi vì mọi người đều phải chết, còn khi nào chết, chết ở đâu, bằng cách nào thì không ai biết.
           Người ta thường nói : con người phải đi qua 4 cửa ải là sinh, lão, bệnh, tử.  Có thể bỏ qua được hai cửa ải là lão và bệnh vì có người chết sớm,  còn hai cửa sinh và tử thì không ai bỏ được, bởi vì có sinh thì phải có tử.
           Người ta có sống tới 100 tuổi hay hơn nữa, rồi cũng chết. Có sống tới 800 tuổi như ông Bành Tổ của Trung quốc  rồi cũng chết… Người xưa đã nói chắc như đinh đóng cột :”Nhân sinh tự cổ thùy vô tử” (Văn Thiên trung) : từ xưa đến nay ai mà không chết.  Chết là một án lệnh không ai thoát khỏi. Đây là một kinh nghiệm phổ biến nơi mọi người, mọi thời.
           Tuy nhiên, mơ về sự chết hay suy nghĩ về sự chết có lợi cho chúng ta .  Khi suy niệm về sự chết, Đức ông Arthur người Mỹ, đã trích dẫn một câu nói nổi tiếng của thánh giám mục Augustinô :”Hãy để sự chết làm thầy dạy ta”.
           Đức ông nói tiếp :”Ngài (Augustinô) có ý gì khi “phong chức giáo sư” cho thần chết ?  Thưa, ngài có ý nói rằng : suy nghĩ và chiêm niệm về sự chết, chúng ta sẽ được chỉ bảo dạy dỗ “phải sống như thế nào”.
           Mọi người chúng ta phải có thầy dạy : thầy dạy toán, dạy văn, khoa học, sinh ngữ… Bây giờ chúng ta có thêm một thầy dạy đặc biệt, đó là Thầy (dạy sự) chết.  Nhưng Thầy dạy những gì ? Thưa, chủ yếu thầy dạy rằng :”Cuộc đời rồi phải kết thúc và dừng lại” :
           - Thầy dạy chúng ta sự khôn ngoan :”Xin dạy con biết đếm tháng ngày mình sống, ngõ hầu tâm trí được khôn ngoan” (Tv 90,12).
           - Thầy dạy ta biết kiếp đời mong manh :”Một cơn gió thoảng đủ làm nó biến đi, nơi nó mọc không con mang vết tích” (Tv 102,16).  Vâng, chỉ có Chúa là vĩnh cửu, trường tồn bất diệt, còn con người chỉ như hoa cỏ ngoài đồng, sớm nở chiều tàn.
           - Thầy dạy chúng ta hãy tìm kiếm những gì là bất diệt :” Anh em hãy tích trữ cho mình những kho tàng trên trời, nơi mối mọt không làm hư nát và kẻ trộm không đào ngạch, khoét vách lấy đi” (Mt 6,20).
           - Thầy dạy ta hãy sẵn sàng chờ đợi ngày Chúa gọi chúng ta ra khỏi cõi đời này :”Vậy, anh em hãy canh thức, vì anh em không biết ngày nào, giờ nào” (Mt 25,13).
 
Truyện : Một cuộc thăm dò
          Mới đây, tại Thụy Sĩ, người ta đã dùng điện thoại để phỏng vấn 1.200 người tại 20 thành phố khác nhau về việc chuẩn bị chết. Câu hỏi được đặt như sau :”Nếu bạn chỉ còn một ngày nữa để sống, bạn sẽ làm gì” ? Kết quả cuộc thăm dò được phân chia như sau :
           - 57% những người được phỏng vấn trả lời rằng họ sẽ sống ngày cuối cùng với gia đình. 12% muốn ở một mình hoặc với bạn bè.
          - 26% người đàn ông được hỏi cho biết họ sẽ sống ngày cuối cùng đó với gia đình. 45% khác thích ở một mình hoặc cùng với bạn bè.
          - 32% đàn ông lẫn đàn bà muốn được sống với gia đình trong những giây phút cuối đời.
          - 6 % người đàn ông muốn được sống bên vợ.
           Trên đây có lẽ chỉ là con số không đại diện cho ước muốn  hay suy nghĩ của tất cả mọi người. Nhưng xuyên qua kết quả đó, chúng ta cũng có thể đọc được một thái độ chung của con người  khi đứng trước sự chết : đó là sự cô đơn.
           Cái chết là một chia lìa vĩnh viễn, nhất là với những người thân của chúng ta.  Nếu câu hỏi trên đây được đặt ra cho bạn giây phút này đây, bạn sẽ làm gì ?
           Có lẽ chúng ta còn nhớ chuyện của một vị thánh trẻ khi được hỏi về cách thế chuẩn bị chết. Giữa một đám trẻ đang chơi đùa, viên giám thị đặt câu hỏi : nếu ngay bây giờ, chúng con biết mình sắp chết, chúng con sẽ làm gì ? Một số trả lời rằng sẽ đi vào nhà thờ cầu nguyện, một số cho biết sẽ đi xưng tội để dọn mình chết lành v.v… Chỉ có một cậu bé điềm nhiên trả lời :”Nếu trong giây lát tôi có chết, tôi cũng sẽ tiếp tục cuộc chơi”.
           Có lẽ đó là câu trả lời làm cho viên giám thị ưng ý nhất, bởi vì nếu giải trí lành mạnh là một bổn phận, thì việc thánh hóa trước tiên phải nằm trong bổn phận hằng ngày.
           Nếu chúng ta biết lắng nghe tiếng Chúa trong từng biến cố, nếu chúng ta biết gặp gỡ Chúa trong từng sinh hoạt, nếu chúng ta tiếp xúc với Chúa trong từng giây phút… thì cái chết chỉ là một nối dài của cuộc gặp gỡ đó. Người luôn trung thành với những gặp gỡ trong giây phút hiện tại, sẽ không phải sợ hãi trong cuộc gặp gỡ tối hậu là cái chết.
           Ngoài ra, chúng ta hãy học nơi 5 cô trinh nữ khôn ngoan mà mang theo “dầu dự trữ” là những việc lành phúc đức như của gửi về đời sau (x. Mt 25,1-13). Không thể tưởng tượng được  một người trình diện Chúa với hay bàn tay trắng.
           Văn sĩ E. Hemingway có viết một cuốn tiểu thuyết “Ngư ông và biển cả”, kể lại cuộc vật lộn uổng công của lão ngư phủ người Cuba Santiago với biển khơi. Ông câu được một con cá kình, nhưng vì cá quá to, ông đành phải cột cá bên mạn thuyền để kéo vào bờ. Khốn thay, trên đường về, lũ cá mập đã đánh ra hơi và xúm vào rỉa thịt. Khi về tới bên, cá to là thế, nhưng chỉ còn là một bộ xương mà thôi.
          Chúng ta không được trình diện Chúa với hai bàn tay trắng.
           Chúng ta không thể quên được sự thật này : đi đâu rồi chúng ta cũng sẽ đụng đến “bốn dài hai ngắn”. Đây chẳng phải là một tư tưởng bi quan yếm thế cho bằng là một chân lý của cuộc sống. Cả những triết gia nổi danh như Heidegger cũng nói rằng “sống là để chết” (être-pour-la-mort). Sự khôn ngoan của con người  là biết rằng đến một lúc nào đó sẽ dừng lại để biết chuẩn bị cho cuộc ra đi vĩnh viễn.
           Vì thế, cả cuộc đời chúng ta phải học, học đủ mọi sự, học mãi không ngừng,  nhưng chúng ta không được quên một điều căn bản này là cần phải biết “học chết” nữa (Platon, apprendre à mourir).
 Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt


 

AnTáng 19: CON VE SẦU

CON VE SẦU AnTáng 19

I. CÂU CHUYỆN CON VE SẦU
           1. Truyện con ve và con kiến
 

Hầu hết các em học sinh đã có dịp đọc thơ ngụ ngôn của La Fontaine, một thi sĩ nổi danh của Pháp AnTáng 19

Hầu hết các em học sinh đã có dịp đọc thơ ngụ ngôn của La Fontaine, một thi sĩ nổi danh của Pháp, trong đó có bài “Con ve và con kiến”, với câu mở đầu tóm kết ý nghĩa của bài thơ :
                              Ve kêu ve ve
                             Suốt mùa hè
                             Đến kỳ gió bấc thổi
                             Nguồn cơn thật bối rối.
           Đọc câu truyện này ai cũng biết ngụ ý của tác giả  là khuyên người ta phải biết lo xa, phải biết lo cho tương lai bằng cách phải chăm chỉ làm việc, nếu không, khi cơn khốn khó đến, không biết nhờ vào ai, bởi vì “nhân vô viễn lực, tắc hữu cận ưu” : người không biết lo xa, ắt phải buồn gần.
           Con ve chỉ ca hát suốt mùa hè, không chịu làm việc, không lo tích trữ, khi mùa đông đến ắt gặp khó khăn.  Trái lại, con kiến biết chăm chỉ làm việc và biết tích trữ theo phương châm “tích cốc phòng cơ”, nên trong suốt mùa đông đã có đồ ăn dự trữ, không lo thiếu thốn nữa.
           Nhưng hôm nay, chúng ta không khai thác tư tưởng đó, mà quay sang một khía cạnh khác để nói lên một tư tưởng đạo đức :  cuộc sống ở trần gian là thời gian người Kitô hữu phải chuẩn bị cho ngày qua đời để được trở thành một công dân Nước Trời.  Nói khác đi, muốn được vào Nước Trời, muốn được hưởng vinh quang vĩnh cửu chúng ta phải làm gì trong cuộc sống ở trần gian này ?
 
          2. Đời sống con ve sầu
           Ve la một loại côn trùng có đời sống đặc biệt mà nhiều người chưa biết tới.  Trên thế giới có tới 2.500 loại ve. Sự sinh hoạt của loài ve rất đặc biệt : Sau khi giao phối, những con ve cái sẽ đào những rãnh nhỏ lên các cành cây rồi đẻ trứng vào đó. Ve cái có thể làm nhiều lần như vậy cho đến khi đẻ hết vài trăm trứng mới thôi.
           Khi trứng nở, ấu trùng ve rơi xuống đất và đào sâu vào trong đất. Hầu hết các loại ve có vòng đời từ 2-5 năm, một số loài sống lâu hơn như loài Magicicada có vòng đời 17 năm và đôi khi là 13 năm.
           Phần lớn vòng đời của ve là thời kỳ ấu trùng nằm dưới đất có độ sâu khoảng 30 cm cho tới 2,5 m. Các ấu trùng ve hút nhựa từ rễ cây và có những chân trước đào bới rất khỏe.
           Khi đến giai đoạn chuyển tiếp cuối cùng để kết thúc thời ký ấu trùng, các ấu trùng ve sẽ đào một đường hầm lên mặt đất và chui lên.  Sau đó chúng lột xác lần cuối trên một cây gần đó và trở thành ve trưởng thành.  Vỏ xác ve sẽ nằm lại và gắn vào cây (Theo Internet).

II. MỘT VÀI SUY TƯ VỀ CON VE
           1. Đời sống con người.
           Người đời thường nói :”Nhân sinh thất thập cổ lai hy” : người đời sống được 70 tuổi là hiếm.  Nhưng ngày nay, nhờ khoa học tiến bộ, tuổi thọ con người đã tăng lên  :  70 tuổi mới là tuổi trung bình của con người. Ở bên Nhật tuổi trung bình còn cao hơn.
           Nhưng dù sao, người ta vẫn coi cuộc sống con người quá vắn vỏi. Đời sống con người giống như hoa sớm nở chiều tàn, cuộc sống rất mong manh, không có gì là vững chắc (x. Tv 102,15-16).
           Trên thế giới, mỗi ngày có trên 300.000 người chết, gồm có vua chúa cho đến thứ dân. Cái chết không kiêng nể ai. Nó gọi ai thì phải theo nó, không ai có thể cưỡng lại được một phút.  Có người trông thấy nó thì sợ hãi, có người lại vui vẻ đón tiếp nó như người bạn thân thiết.  Cái đó tùy ở thái độ sống của từng người, bởi vì người ta thường nói :”Sống khôn, chết thiêng”.
           Người ta thường cho cái chết đến đột ngột vào giữa lúc không ngờ. Nhưng thực ra cái chết chỉ đến đột ngột cho những ai không chuẩn bị, chỉ sống cho qua ngày, và không bao giờ nghĩ đến sự chết, họ sống một cách vô tư như những người ở thành Sođoma và Gomora xưa, khi lửa diêm sinh  bất ngờ thiêu hủy cả thành.
           Trái lại, những người đã chuẩn bị thì sự chết không được coi là đột ngột vì lúc nào cũng sẵn sàng đón tiếp nó.
           Người Á châu có một câu tục ngữ rất hay nói về việc chuẩn bị này :”Lúc hoàng hôn xuống, chớ tự hào rằng : ngày mai, bạn sẽ thức dậy như thường lệ”.
           Vì thế những người khôn ngoan luôn nhắc nhở mình bằng tư tưởng này :
                     “Bình minh tới nhắc cho tôi một bước đang đi tới,
                    “Hoàng hôn xuống nhắc cho tôi ngày vĩnh biệt sẽ gần kề”.
 
          2. Phải chuẩn bị sẵn sàng
           a) Thời gian chuẩn bị của con ve.
           Ở đây chúng ta không chú trọng đến việc con ve ca hát suốt mùa hè, không lo cho mùa đông, mà chúng ta chỉ bàn đến thời gian lâu dài con nhộng ve ở trong lòng đất trước khi trở thành con ve trưởng thành.
           Theo đó, ve cái đẻ trứng trên thân cây.  Khi trứng nở, ấu trùng ve rơi xuống đất và đào sâu vào lòng đất độ 30 cm đến 2,5m. Khi đến giai đoạn chuyển tiếp cuối cùng để kết thúc thời ấu trùng, như loài Magicicada có vòng đời 17 năm và đôi khi 13 năm, các ấu trùng ve sẽ đào một đường hầm mà chui lên. Sau đó, chúng lột xác trên một thân cây gần đó và trở thành ve trưởng thành.  Trong thời gian 5,6 tuần, ve chỉ việc đẻ trứng, sau đó thì chết (Theo Internet).
           Để ý nhận xét, chúng ta thấy con nhộng ve đã dành 17 năm trời trong lòng đất để chuẩn bị trở thành con ve trưởng thành, để đẻ trứng trong vòng 5,6 tuần lễ rồi chết, thời gian sống trên mặt đất quá ngắn.
           Thời gian ve sống trên mặt đất chỉ có 5 tuần mà đã phải chuẩn bị tới 17 năm trong lòng đất.  Thật là một thời gian khá dài cho cuộc sống ở dưới đất trong một thời gian rất ngắn trên mặt đất.
 
          b) Thời gian chuẩn bị của chúng ta.
           Cuộc sống của con người trên mặt đất này trái ngược với cuộc sống của con ve.  Cuộc sống ở trần gian này của con người là thời gian chuẩn bị để được sinh ra trong Nước Trời, để trở thành một thành viên trong đời sống vĩnh cửu, khi chúng ta từ bỏ cõi đời này.
           Thời gian chúng ta chuẩn bị trong trần gian này quá ngắn so với cuộc sống đời đời trên thiên đàng. Vậy đó, tuy thời gian chuẩn bị ở trần gian này rất ngắn ngủi nhưng cũng phải làm được cái gì đó mới có thể được hưởng hạnh phúc trường sinh, như lời Chúa Giêsu đã nói :” Không phải những ai cứ kêu Lạy Chúa, Lạy Chúa mà được vào Nước Trời, nhưng chỉ những ai thi hành ý Cha trên trời thì mới được vào” (Mt 7,21).
           Chúng ta có thể nói : Đời sống hiện tại chỉ là cái giàn khung để cho người ta xây dựng, và việc xây dựng này  có hoàn thành hay không là tùy ở từng người.
           Linh mục Sertillanges viết :”Đời sống trần gian chỉ là cái giàn khung, để giúp xây dựng tòa nhà thiêng liêng cho tinh thần”.
           Người ta có thể nhạo cười nhà thầu khoán nào đó, chỉ lo bắc giàn khung bằng vàng, bằng bạc hay bằng đồng, rồi treo những vòng hoa lúc nào cũng luôn luôn tươi mới, và cử người phục vụ mỗi tầng lầu, trong khi đó ông lại không chịu  xây cất cho xong tòa nhà.
           Ấy vậy mà nhiều người, nam cũng như nữ, vẫn hành động như thế đó !  Họ ra công tô điểm cuộc sống trần gian mà quên không xây dựng trong họ sự sống đời đời.  Họ biết rằng (nhưng họ không chịu nghĩ đến) công trình xây cất có hoàn thành hay không, thì giàn khung cũng sẽ bị bạ xuống…  Lúc đó, họ chỉ còn thấy rỗng không  (Charles Lebrun, Vượt qua cõi hồng trần, tr 20) !
           Chúng ta bước vào thời gian là lúc chúng ta vừa mở mắt chào đời, và ra khỏi đó khi giờ chết đến.
           Khi suy nghĩ về thời gian, ta thường gặp cám dỗ chính đó là thái độ thoái thác.Tất cả chúng ta quen cái khuynh hướng nhằm tới tương lai hay quay về với quá vãng một cách thái quá. Do đó, ta trở nên những kẻ bạo tợn hoặc nản lòng.
           Một thanh niên đã nói :”Lúc này tôi cứ việc ăn chơi cho đã… sau này sẽ sống nghiêm túc hơn”.  Một ông già, với quá khứ rỗng tuếch, không công nghiệp và tràn đầy tội lỗi, đã kêu lên :”Giờ này thật đã quá muộn ! Tôi đã làm hỏng mất cuộc đời”.
           Không khi nào quá muộn, không bao giờ quá muộn… giây phút hiện tại là hồng ân cần nắm giữ. Đó là giây phút cứu độ.  Bí quyết thành công của con người, của ơn Chúa, là can đảm và tin tưởng chấp nhận thời gian trước mắt.
           Thời gian hiện tại sẽ đáp ứng nhu cầu thiêng liêng và trần thế của ta cách thích đáng hơn. Nhờ đó, ta đón nhận từng giọt sự sống và tìm cách làm phong phú đời mình. Phương thế hữu hiệu để khỏi làm hỏng đời mình, là dù lúc nào, tuổi nào, ta cũng dính kết trọn vẹn vào giây phút hiện tại,  như chốt cắm điện dính liền với dòng điện, để phát tỏa ánh sáng và sức mạnh (sđd, tr 24).
           Chúa cho chúng ta sống ở trần gian này lâu hay chóng, việc đó không quan trọng.  Việc quan trong là ta làm được những gì trong thời gian ấy, thời gian nào đối với chúng ta cũng là đủ.  Chúng ta nên ghi nhận điều này :”Thời gian không tính bằng năm tháng, nhưng tính bằng những gì chúng ta làm được”.
 
                                       Truyện : Ngày sinh nhật của con.
           Một anh bạn đã tâm sự về ngày sinh nhật của mình :”Em tôi và tôi sinh cùng giờ, cùng ngày, cùng tháng, và cách nhau đúng một năm; nên năm nào anh em tôi  cũng mừng chung một ngày sinh nhật.
          Tôi nhớ hồi còn nhỏ, cứ mỗi lần đến bữa tiệc sinh nhật của chúng tôi, cha tôi cầm hai ngọn nến sáng  đặt vào lòng bàn tay của từng đứa và nói :
 “Cha đặt vào con một ước mơ, đừng tắt nến trước khi tiệc tàn, cũng như đừng chết trước khi con tắt thở”.
           Lời ấy vẫn đọng lại trong tâm trí tôi, và cho đến tận bây giờ cứ mỗi lần đời tôi gặp khó khăn, tôi lại nhớ đến những lời đẹp đẽ ấy để vượt qua, và đó cũng là kỷ niệm đáng nhớ nhất về ngày sinh của mình”.
           Và ngày sinh nhật của chúng ta là ngày đáng mừng hay đáng buồn ? Cái đó tùy ở từng người. Nếu ta đã sống theo thánh ý Chúa, sống trọn từng giấy phút  trong việc bổn phận một cách hoàn hảo thì ngày sinh nhật đó là ngày đáng mừng. Con nếu như ngược lại, thì quả là ngày đáng buồn.
           Nếu bạn chỉ thích sống nhanh, sống dễ dàng, sống bất chấp
          Thì ngày bạn sinh ra cũng chính là ngày bạn chết.
           Phải sống thế nào như ông Kazankasis đã nói rất chí lý :”Anh phải sống thế nào để ngày sinh ra, anh khóc mà mọi người phải cười, và ngày chết, anh nở một nụ cười mà người ta phải khóc, thì cuộc đời đó mới có giá trị.
 Lạy Chúa,
          Xin cho con sống trọn vẹn 24 giờ trong một ngày,
          Xin cho con sống can trường 30 ngày trong một tháng,
          Xin cho con sống thật người 12 tháng trong một năm
           Nếu được như vậy thì ngày sinh nhật của con là ngày đáng vui, đáng nhớ và đáng mừng. Và ngày con ra đi khỏi đời này cũng là ngày sinh nhật của con trên cõi vĩnh hằng, ngày sinh nhật đó cũng phải là ngày đáng mừng như lòng con hằng mong ước.
 Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt


 

AnTáng 20: QUYỂN SÁCH CUỘC ĐỜI

QUYỂN SÁCH CUỘC ĐỜI AnTáng 20

I. SUY NIỆM LỜI CHÚA
           Chúng ta đọc : Ga 17,24-26.
 

Chúa Giêsu rất thương yêu các môn đệ của Ngài.  Ngài muốn môn đệ được luôn luôn ở với AnTáng 20

Chúa Giêsu rất thương yêu các môn đệ của Ngài.  Ngài muốn môn đệ được luôn luôn ở với Ngài.  Có lần Ngài đã cầu nguyện cùng Chúa Cha :”Lạy Cha, những kẻ Cha đã ban cho Con thì Con muốn rằng Con ở đâu thì chúng cũng ở đó với Con, để chiêm ngưỡng vinh quang mà Cha đã ban cho Con” (Ga 17,24).
           Nhưng lời cầu nguyện này không phải xẩy ra trước mắt nhưng nhằm  khi Chúa Giêsu đã về trời ngự bên hữu Đức Chúa Cha.  Chúa muốn cho những người đã theo Ngài cùng được hưởng vinh quang mà Chúa Cha đã dành cho Ngài.  Nhưng muốn về với Ngài thì cần phải rời khỏi thân xác này như thánh Phaolô đã nói :”Chúng tôi luôn mạnh dạn, và chúng tôi biết rằng : ở lại trong thân xác này là lưu lạc xa Chúa… Vậy, chúng tôi luôn mạnh dạn, và điều chúng tôi thích hơn, đó là lìa khỏi thân xác để được ở bên Chúa” (2Cr 5,6-8).
           Muốn về ở với Chúa thì đòi linh hồn phải lìa thân xác , và linh hồn lìa khỏi xác là phải chết. Như vậy chết là điều kiện “ắt có” để được hưởng vinh quang với Chúa trên thiên đàng.
           Vì thế, chết là một sự đương nhiên và cần thiết. Ở đời này không có gì là bền vững. Kinh Thánh nói :”Phù hoa nối tiếp phù hoa, thế gian tất cả chỉ là phù hoa” (Kn 1,1).    Và kinh nghiệm người đời cho hay :
                               - Hoa nào mà không tàn phai.
                              - Trăng nào mà không khuyết.
                             - Nước đầy mà không vơi.
                              - Ngày nào mà chẳng có đêm.
                              - Yến tiệc nào mà không có lúc tàn.
           Theo triết lý Á đông thì “Sự vật hễ có hình thì có hoại”. Do đó , có sinh thì phải có tử, nếu không có tử thì cũng chẳng có sinh.
           Nhưng đối với Kitô hữu, sự chết không phải là cái gì ghê gớm, không phải là một thất bại, không phải là đi vào hư vô trống rỗng, nhưng chết mà vẫn sống, mất mà vẫn còn, chết chỉ là một chuyển đổi từ cuộc sống đời này sang cuộc sống đời sau.
           Mọi người đều công nhận : khi ra đi khỏi đời này chẳng ai mang theo được vật gì, ra đi với hai bàn tay trắng. Mọi sự phải để lại cho người khác :
                                       Vua Ngô băm sáu tàn vàng
                             Thác xuống âm phủ chẳng mang được gì.
                                                (Ca dao)
           Alexandre đại đế, một ông vua quyền thế và giầu có nhất thế giới, đã truyền cho các quan trong triều khi khiêng quan tài vua phải để đôi bàn tay của ngài lắc lư, đong đưa trên không, thò ra khỏi quan tài để cho mọi người trông thấy.
           Làm như thế, nhà vua có ý nói cho quần thần : Ta muốn bàn tay của ta đong đưa trên không, để cho mọi người thấy rằng  chúng ta đến với thế giới này với hai bàn tay trắng, và khi rời khỏi thế giới này chúng ta cũng chỉ có hai bàn tay trắng.
           Khi từ giã cõi đời này, tuy chúng ta chỉ đi với hai bàn tay trắng, chẳng mang được gì, nhưng chúng ta có thể và phải mang theo  quyển sổ đời mình để trình diện Chúa, trong đó chúng ta đã ghi rõ những việc lành việc dữ, những tội phúc chúng ta đã làm trong cõi đời này.
 
II. QUYỂN SÁCH CUỘC ĐỜI CỦA MỖI NGƯỜI
                   1. Mục đích quyển sách đó.
           Khi được sinh vào đời, Thiên Chúa trao cho mỗi người một quyển sách trắng tinh và một cây viết để mỗi người ghi chép  mọi việc của mình vào trong đó.  Quyển sách mới tinh, dầy hay mỏng tùy ở Chúa, nhưng đủ để ghi chép mọi công việc mình đã làm trong cuộc đời.
           Quyển sách này  đẹp tuyệt vời được đánh số từng trang cẩn thận.  Quyển sách này không giống quyển lịch treo tường để rồi cứ mỗi ngày trôi qua là có thể xé bỏ quăng đi, còn quyển sách này vẫn tồn tại mãi mãi đi theo con người.
           Quyển sách này để ghi chép toàn thể sự việc trong đời từ việc lớn đến việc nhỏ, không bỏ sót một việc nào. Chúng ta ghi lại những việc của quá khứ, của hiện tại và tương lai.  Quá khứ là những gì ta đã viết, hiện tại là những gì ta đang sống và đang viết, còn tương lai là những gì ngày mai ta sẽ viết, viết cho đến khi kết thúc cuộc đời.
 
          2. Chúng ta viết những gì ?
           Những người đã từng viết nhật ký đều biết người ta viết những gì.  Thường người ta ghi lại những biến cố, những việc quan trọng hoặc những việc đáng ghi nhớ, chỉ viết vắn tắt chứ không dài dòng.  Nhưng trong cuốn nhật ký đời mình, người ta phải ghi chép tỉ mỉ từng sự việc một, từ sáng sớm đến đêm khuya.
           Người ta sẽ ghi lại mọi việc lành, việc dữ đã làm trong tư tưởng, lời nói, việc làm và những điều thiếu sót như trong kinh Cáo mình chúng ta thường đọc trong Thánh lễ.
 
          3. Ngày trình diện quyển sách đó.
           Con người ra đi về đời sau không mang được gì chỉ có thể mang theo được một quyển sổ đời mình trong đó có ghi lại công và tội, việc lành việc dữ đã làm theo nguyên tắc :”Hữu công tắc thưởng, hữu tội tắc trừng” : có công thì được thưởng, có tội thì phải phạt.
           Trong sách Khải Huyền, thánh Gioan đã thấy một thị kiến và ghi lại :”Tôi là Gioan, tôi thấy một ngai lớn mầu trắng và thấy Đấng ngự trên đó… Rồi tôi thấy những người chết, lớn cũng như nhỏ, đứng trước ngai. Sổ sách đã mở sẵn; rồi một cuốn khác đã mở ra : đó là Sổ Trường Sinh.  Các người chết được xét xử tùy theo việc họ đã làm, chiếu theo những gì được ghi chép trong sổ sách” (Kh 20,11-12).
           Như vậy, sau khi chết, mỗi người sẽ phải trình diện Chúa Giêsu để chịu phán xét.  Và mỗi người sẽ trình cho Chúa quyển sổ cuộc đời mình do chính mình đã ghi chép.  Chúa cho mỗi người nhìn lại toàn bộ sự việc đã được ghi chép và mỗi người sẽ tự đánh giá mình.
           Theo Đức Hồng y Billot thì “Ngay khi linh hồn lìa khỏi xác, trong phút chốc thì cuốn sách lương tâm liền mở ra, làm cho ta nhận thức ngay một trật về toàn bộ các việc ta đã làm khi còn sống.
           Chính ta sẽ phán xét ta, bởi tình trạng quá hiển nhiên công khai không thể chối cãi được.  Công trạng và lỗi lầm sẽ xuất hiện trước mắt ta trong ánh sáng chói lọi, đồng thời cũng cho thấy những phần thưởng và hình phạt tương xứng với ta. Như thế, chính ta sẽ tuyên án cho ta và quan tòa khoan dung hay khắc nghiệt không có gì ảnh hưởng đến bản án đó, thiên thần và quỉ dữ có trổ tài hùng biện cũng không thể thay đổi được bản án đó (Parvilliez, Niềm vui trước sự chết, tr 57-78).
           Ta mang trong mình bản án của ta, do chính ta soạn thảo, bị phạt đến vô cùng hoặc được thưởng tức khắc đến vô cùng hoặc phải đền trong luyện ngục… Chính vào lúc chết mà ta sẽ nói lên những lời không thể rút lại được.  Và lập tức phép công thẳng vô cùng sẽ đáp ứng  bằng việc thi hành đúng phán quyết mà chính ta định đoạt (Pavilliez, ibid, tr 58-59).
           Trong cuộc sống con người, không ai có thể sống hoàn thiện được như Cha trên trời.  Con người vốn yếu đuối như cây sậy phất phơ trước gió, không thể đứng vững trước những cơn cám dỗ.  Nhưng Chúa lại thương ban đủ ơn cần thiết cho chúng ta để có thể đứng vững trước sóng gió ba đào như Ngài đã nói với thánh Phaolô :”Ơn Ta đã đủ cho con” (2Cr 2,6; 12,6).
           Trước nhan Chúa thánh thiện tuyệt đối, không ai dám tự hào là mình đã sống hoàn thiện,  chỉ biết khiêm nhường cậy vào lòng nhân từ thương xót của Chúa vì :”Nếu Chúa chấp tội, nào ai được rỗi” (Tv  130,3).  Trước thái độ khiêm tốn nài van của con người, Chúa sẽ rộng lòng tha thứ.
 
                                      Truyện : Trước cửa Thiên đàng
          Đây là câu chuyện viết trên trang web Công giáo Mỹ đại khái như sau :
          Ông nọ qua đời và hồn lên trời. Dĩ nhiên trước khi có thể bước vào cửa Thiên đàng ông phải được thánh Phêrô tính điểm.
          Thánh Phêrô giải thích :
          -  Điều kiện như thế này : con phải đạt đủ 100 điểm mới lọt qua cửa này được. Vậy hãy kể ta nghe  tất cả những việc thiện con đã làm ở thế gian.  Cứ từng việc làm ấy ta sẽ chấm điểm.  Điểm cao hay thấp tùy thuộc tính chất ấy lớn hay nhỏ. Hễ  cộng đủ 100 điểm, ta mở cửa mời con vào.
          Ông nọ mau mắn kể :
          - Thưa ngài, trong 50 năm kết hôn, con chỉ biết một người đàn bà duy nhất là vợ con và con chưa từng lừa dối nàng lần nào.
          Thánh Phêrô gật gù, cầm bút biên vào sổ :”Hết ý” ! Con đáng hưởng 3 điểm.
          - Có 3 điểm thôi ư ? Ông ta nhăn mặt,  nhưng cố kềm chế và kể tiếp : Cả đời con, Chúa nhật nào con cũng đi nhà thờ và không bao giờ trốn tránh bất kỳ công tác nào cha xứ nhờ làm.
          - Tuyệt vời ! Con được cộng thêm một điểm.
          - Thưa ngài, chỉ một điểm sao ?  Còn việc này thì mấy điểm ạ ?  Hơn 10 năm qua, mỗi tháng con đều góp tiền ủng hộ bữa cơm từ thiện giúp bệnh nhân nghèo và người vô gia cư.
          - Giỏi lắm ! Thế thì con được thêm 2 điểm nữa,
          - Hai điểm ! Lạy Chúa ! Ông ta gào lên chán nản : Nếu thang điểm mà gắt như vậy, thì con vô phương lọt qua cửa Thiên Đàng, trừ phi con được Chúa ban ơn.
          Thánh Phêrô xếp quyển sách lại, tươi cười :
          - Quả thật, lời con nói chẳng sai.
                   (Lê anh Dũng, Công giáo và dân tộc, số 1781, tr 41).
           Các nhà văn muốn viết một quyển truyện hay thường nghĩ trước phần kết của câu truyện. Cũng thế, chúng ta muốn viết quyển truyện đời mình cho hay thì phải nghĩ trước về ngày chết của mình.  Người ta nói :”Sống khôn, chết thiêng”, sống thế nào thì chết như vậy. Hãy suy nghĩ về sự chết vì thánh Augustinô đã nói :”Hãy để sự chết làm Thầy dạy ta”.
 Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt


 

AnTáng 21: THIÊN ĐÀNG ĐỊA NGỤC

THIÊN ĐÀNG ĐỊA NGỤC AnTáng 21

I. THIÊN ĐÀNG ĐỊA NGỤC Ư ?
 

Khi nói đến Thiên đàng Địa ngục, nhiều người cho là chuyện viển vông, mơ hồ, lãng mạn… thậm AnTáng 21

Khi nói đến Thiên đàng Địa ngục, nhiều người cho là chuyện viển vông, mơ hồ, lãng mạn… thậm chí có người cho là mê tín dị đoan.  Nhưng trong thực tế vẫn có người tin, có người sống với niềm tin ấy đến nỗi dám hy sinh mạng sống mình để bảo vệ niềm tin đó, và để chiếm hữu được Thiên đàng.
           Rarindra Prakarsa là một nhiếp ảnh gia người Indénosia đang sống  và đang sáng tác ở Jakarta. Ông có biệt tài sử dụng ánh sáng và mầu sắc tương phản đẹp đến huyền ảo trong các ảnh nghệ thuật, đặc biệt là ảnh trẻ con chơi đùa.
           Trong số 425 ảnh của ông, có một tấm ảnh miêu tả trẻ con Indénosia đang chơi trò chơi rồng rắn ở một làng quê. Tấm ảnh này nhắc chúng ta  nhớ tới trò chơi xa xưa của trẻ con Việt nam kèm với lời đồng dao :
                                       Thiên đàng địa ngục hai quê
                             Ai khôn thì về, ai dại thì sa.
                                      Đêm nằm nhớ Chúa, nhớ Cha
                             Đọc kinh cầu nguyện, kẻo sa linh hồn.
                                      Linh hồn phải giữ linh hồn
                             Đến khi mình chết được lên thiên đàng.
           Qua ý nghĩa bài đồng dao này chúng ta đoán được  xuất xứ của nó là các trò chơi xuất phát từ các làng Công giáo.
           Câu thứ hai, có nơi nói khác đi một chút : thay vì “Ai khôn thì về, ai dại thì sa” lại đọc là “Ai khôn thì lại, ai dại thì qua”.  Theo đó thì “Ai khôn thì lại” : lại là đến, đến thiên đàng. “Ai dại thì qua” : Qua là tới, tới địa ngục.
           Thực ra  khôn khéo hay vụng dại tùy vào cách sống. Sống sao cho linh hồn khỏi sa địa ngục là khôn ngoan. Sống mà linh hồn không được lên Thiên đàng là khờ dại…
           Trong cuốn “Góp nhặt cát đá” (Shasekishu) truyện 31, thiền sư Muju kể rằng : một người đến xin thiên sư Hakuin (1686-1768) thiên đàng và địa ngục có thật không.
          Sư hỏi :
          - Anh là ai ?
          Đáp :
          - Tôi là samurai.
          Sư ra giọng mỉa mai :
          - Kiếm sĩ ư ? Trông chẳng khác tên ăn mày.
          Tức giận, kẻ ấy đưa tay sờ vào đốc kiếm. Sư không buông tha :
          - Anh mà đủ gan cắt đầu ta ư ?
          Lập tức kiếm bèn tuốt ra. Sư ngửa cổ, bảo :
          - Đây, hãy mở cửa địa ngục.
          Bừng ngộ, kẻ kia liền tra kiếm vào vỏ, cung kính chắp tay xá .  Sư nói luôn :
          - Cửa Thiên đàng vừa mở.
 
II. LỜI DẠY CỦA CHÚA GIÊSU
          Chúa Giêsu nói rất nhiều tới Thiên đàng, nhưng Ngài dùng những từ khác để nói về Thiên đàng, chỉ có một lần Ngài nói rõ ràng  với người trộm lành :”Ngay hôm nay, con sẽ ở trên Thiên đàng với Ta” (Lc Lc 23,43).
          Còn về địa ngục (hay hỏa ngục) thì Chúa Giêsu nói rất nhiều, ví dụ :”Thà mất một phần thân thể, còn hơn là toàn thân bị ném vào hỏa ngục” (Mt 5,29; 18,9).
           Chúng ta có thể xem tiếp ở (Mt 5,22; 18,28; 25,15; Mc 9,43).
           Trong dụ ngôn người phú hộ và người nghèo Lazarô,  Chúa Giêsu nói đến số phận của hai người đều khác nhau : người nghèo khó Lazarô được đưa vào trong lòng ông Abraham tức là Thiên đàng, còn người phú hộ kia phải vào âm phủ chịu cực hình.
           Như vậy, Chúa Giêsu chỉ xác định là có sự hiện hữu của Thiên đàng và hỏa ngục, còn Ngài không mô tả thiên đàng hỏa ngục như thế nào.
           Chúa Giêsu không mô tả về Thiên đàng, có lẽ như vậy sẽ tốt hơn cho chúng ta để chúng ta sống trọn vẹn tự do và nhân phẩm của mình. Tuy nhiên, Ngài đã cho biết Ngài đi để dọn chỗ cho chúng ta. Tại sao ?  Vì Chúa muốn chúng ta được ở bên Chúa, được Chúa chăm sóc và chia sẻ hạnh phúc với Ngài :”Lạy Cha, Con muốn rằng con ở đâu thì họ cũng ở đó với Con” (Ga 17,24).  Cần phải có điều kiện nào ? Rất đơn giản :”Đây là điều răn Thầy truyền cho các con là hãy yêu thương nhau” (Ga 15,17).
           Đứng về huấn quyền của Giáo hội, chúng ta cũng không biết gì thêm. Giáo hội cũng chỉ cho chúng ta biết những nét tổng quát chứ không có chi tiết cụ thể, đến ngay thánh Phaolô được đua lên đến tầng trời thứ ba  mà cũng không thể diễn tả bằng lời nói hay chữ viết được (x. 2Cr 13,3).
           Chúng ta chỉ biết mấy nét về Thiên đàng trong sách Giáo lý Công giáo :
 “Ai chết trong ân sủng và tình nghĩa với Thiên Chúa, ai hoàn toàn được thanh luyện sẽ sống muôn đời với Đức Kitô, họ luôn luôn giống Thiên Chúa, vì họ đã thấy Ngài như Ngài hiện hữu, mặt đối mặt (1Ga 3,2)… Mầu nhiệm này vượt quá mọi hiểu biết và mọi biểu trưng : sức sống, ánh sáng, bình an, tiệc cưới, rượu thiên quốc, nhà Cha, Giêrusalem trên trời, thiên đàng : “Điều mắt chúng ta chưa hề thấy, tai chưa hề nghe, lòng chưa hướng tới, đó là nhưng gì Thiên Chúa đã chuẩn bị cho ai yêu mến Ngài” (1Cr 2,7-10) (GLCG  số 1023-1029).
           Ngoài ra chúng ta có thể biết được  vài nét về Thiên đàng qua thị kiến của thánh nữ Faustina được ghi trong nhật ký của thánh nữ :
 “Hôm nay ngày 27 tháng 11 năm 1936, tôi được ở trên Thiên đàng cách thiêng liêng.  Tôi thấy những sự đẹp đẽ không thể diễn tả, và những hạnh phúc đang chờ chúng ta sau khi chết.  Tôi thấy các tạo vật đang dâng lời ca tụng và tôn vinh Chúa không ngừng. Tôi thấy hạnh phúc trong Chúa lớn lao chừng nào, hạnh phúc lan ra mọi thụ tạo, làm cho họ sung sướng. Rồi tất cả vinh quang, ca ngợi dâng lên từ hạnh phúc này trở về nguồn là Chúa, nhập vào chiều sâu của Chúa, chìm vào cuộc sống trong Chúa Ba Ngôi, mà không bao giờ có ai hiểu hết hoặc đo lường hết được.
 Nguồn mạch hạnh phúc này không thay đổi trong bản tính nó, nhưng lại luôn luôn đổi mới trong cách diễn tả, nó lan tràn ra hạnh phúc cho mọi linh hồn.  Giờ đây tôi hiểu lời thánh Phaolô đã nói :”Mắt chưa hề thấy, tai chưa hề nghe, lòng chưa cảm thấy những gì Chúa đã dọn sẵn cho kẻ kính mến Người”.
           Chúa cho tôi hiểu rằng, chỉ có một sự có giá trị vô cùng trong mắt Người, đó là “lòng yêu mến Chúa” : Yêu, yêu và yêu. Không gì có thể so sánh  với một tác động kính mến Chúa cách tinh ròng (Thánh Faustina, Nhật ký Tình Thương, số 777).
 
III. MUỐN VỀ THIÊN ĐÀNG.
           1. Niềm hy vọng của chúng ta.
           Chúng ta biết rằng Thiên đàng là phần thưởng Chúa dành cho con cái của Ngài sau một thời gian lưu đầy nơi trần thế, đã làm trọn nhiệm vụ được giao phó một cách tốt đẹp.  Chúng ta dám tin chắc như thế, vì chính Chúa Giêsu đã hứa cho chúng ta trước khi bước vào cuộc tử nạn :”Lòng các con đừng xao xuyến. Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy. Trong nhà Cha Thầy có nhiều chỗ ở. Nếu không, Thầy đã nói với các con rồi, Thầy sẽ trở lại đem các con đi với Thầy, để Thầy ở đâu các con cũng ở đó” (Ga 14,1-3).
           Nắm chắc được tư tưởng đó, thánh Phaolô đã nói với các tín hữu Philipphê rằng :”Quê hương chúng ta ở trên trờ, và chúng ta nóng lòng mong đợi Đức Giêsu Kitô từ trời đến cứu chúng ta” (Pl 3,20).
           Trần gian này chỉ là nơi tạm trú, chứ không phải là quê hương. Đã là tạm trú thì chỉ ở một thời gian vắn và chỉ ở nơi thường trú thời gian lâu dài.  Chúng ta sẽ rời thế gian này để về quê hương thật và vĩnh cửu nơi Cha chúng ta đang ở đấy. Vì thế, Thiên đàng là của chúng ta, mọi nỗ lực của chúng ta phải  hướng về đó.
                                       Truyện : Thiên đàng là của con.
           Một cô gái bị cám dỗ rất nặng nề về sự tuyệt vọng. Với những tội lỗi của mình, cô nghĩ rằng cô đã có chỗ trong hỏa ngục đời đời, không còn hy vọng gì được Thiên Chúa yêu thương và hưởng phúc Thiên đàng nữa. Ngày kia, thánh Philipphê Nêri đến thăm cô. Sau khi nghe cô thổ lộ tâm hồn, thánh nhân nói :
          - Thật là tai hại, con gái yêu của ta, khi con tin rằng con đã được dành cho lửa đời đời, Thiên đàng mới là của con.
          Cô gái tội nghiệp nức nở thưa :
          - Cha ơi, con không thể tin được điều ấy.
          - Đó là vì con khờ dại. Cha sẽ chứng minh cho con thấy. Chúa Giêsu đã chết cho ai ?
          Cô gái đáp :
- Cho người tội lỗi.
- Đúng lắm, thế bây giờ con nghĩ con là một vị thánh sao ?
Cô gái vừa khóc vừa trả lời :
- Không, con là một kẻ đầy tội lỗi.
          - Như vậy, chính vì con mà Chúa Giêsu đã chết, và chắc chắn Chúa chết  là để cho con được vào Thiên đàng. Vậy thì  Thiên đàng là của con, bởi con đã gớm ghét tội lỗi, con đừng nghi ngờ chi nữa.
           Những lời của thánh Philipphê Nêri bắt đầu thấm vào tâm hồn cô gái. Và từ lúc ấy, lời nói “Thiên đàng là của con” đã không ngừng an ủi cô và khiến cô không mất lòng tin tưởng vào tình thương yêu vô biên của Chúa nữa.
           Về vấn đề này, thánh Anphongsô cũng khuyên nhủ chúng ta là những người tội lỗi  bất xứng :
           “Nếu vì lỗi lầm mà bạn có nhiều lý do để sợ chết bao nhiêu, thì bạn lại càng có hy vọng được sống muôn đời bấy nhiêu nhờ công nghiệp của Chúa Giêsu, công nghiệp ấy có thể cứu bạn mạnh hơn  cả ngàn vạn lần  tội lỗi làm cho bạn hư đi.  Như thế với lòng tin tưởng, chúng ta hãy chạy đến ngai tòa ân sủng để được hưởng lòng khoan dung.  Ngai tòa ấy chính là thập giá, nơi Chúa Giêsu ngự như trên một ngai vàng, để ban phát lòng nhân từ cho bất cứ ai chạy đến với Ngài “ (Thánh Anphongsô).
 
          2. Nhưng phải có điều kiện.
           Việc Chúa Giêsu về trời đem lại cho chúng ta ánh sáng và hy vọng.  Nếu không được ánh sáng phục sinh và lên trời của Chúa Giêsu soi sáng, con người chỉ có thể thấy gần mà không thể thấy xa, chỉ biết chú mục vào cuộc sống phù du đời này  mà lãng quên cuộc sống mai sau, chỉ biết vun quén của cải vật chất tạm bợ trần gian  mà không tích lũy cho kho tàng vĩnh  cửu, chỉ biết kiếm tìm lạc thú chóng qua mà lãng quên hạnh phúc vĩnh cửu muôn đời… Họ chối bỏ Trời, quay lưng lại với Thiên Chúa, khước từ thế giới thiêng liêng.
           Niềm thao thức khát khao của chúng ta phải là ngước nhìn lên, nhìn lên quê hương vĩnh cửu chứ không phải chỉ tìm những cái gì là là mặt đất. Chính thi sĩ R. Tagore đã nhắc cho chúng ta tư tưởng đó :
                                       Như đàn hạc hoài hương
                                      Bay thẳng về tổ ấm
                                      Trên đỉnh núi vút cao
                                      Nguyện đời con phiêu diêu
                                       Qua vùng trời thăm thẳm
                                      Lên tận chốn Thiên đường.
                                        (Tagore, Gitanjali, 103)
           Nhưng ao ước là một chuyện và thực hiện được ao ước ấy lại là chuyện khác.  Nói như người dân quê Việt nam :”Muốn ăn hét phải đào giun” hay : “Muốn ăn khoai phải vác mai đi đào” vì “Không có ai ngồi mát ăn bát vàng”.   Muốn lên Thiên đàng thì cũng phải làm sao chứ không tự nhiên mà có.
           Về vấn đề này Chúa Giêsu đã nói rõ :”Không phải cứ ai thưa với Thầy : Lạy Chúa ! Lạy Chúa !  là được vào Nước Trời cả đâu ! Nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời mới được vào mà thôi” (Mt 7,21; Lc 6,46; 13, 26-27).
           Muốn vào Nước Trời thì phải thi hành ý muốn của Cha trên trời, nhưng ý muốn của Cha trên trời là gì ?  Chúa Giêsu không nói rõ, không cho chúng ta biết thêm chi tiết. Ngài để cho chúng ta tìm hiểu dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần.
           Phải chăng ý muốn của Chúa Cha là theo như lời Chúa Giêsu dạy :”Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo. Quả vậy, ai muốn cứu mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai liều mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ tìm được mạng sống ấy.  Vì nếu người ta được cả thế giới mà phải thiệt mất mạng sống, thì nào có lợi gì ? Hoặc người ta sẽ lấy gì mà đổi mạng sống mình. Vì Con Người sẽ ngự đến trong vinh quang của Cha Người, cùng với các thiên thần của Người, và bấy giờ, Người sẽ thưởng phạt ai nấy xứng việc họ làm” (Mt 16, 24-27).
           “Từ bỏ mình” tức là đừng lấy thân xác  làm mục tiêu cho mọi phấn đấu, mọi nỗ lực của ta : cụ thể là không dành toàn bộ công sức, thời gian, tài năng, trí tuệ để phụng sự thân xác.
           “Vác thập giá mình” là chấp nhận khổ chế, cụ thể là khước từ những đỏi hỏi vô độ của thân xác – sự khước từ nào cũng là một thập giá, đều để lại đau thương -  để dành thì giờ và nghị lực cho sự phát triển tâm linh.
           Chúa Giêsu đã chấp nhận đời người theo hướng đó và Ngài đã đạt tới vinh hiển khải hoàn. Ngài cũng muốn chúng ta đầu tư theo hướng Ngài đã đầu tư, bước đi theo con đường Ngài đã bước, để chúng ta được vinh hiển như Ngài.
 Cứ nhìn vào hiện tại thì biết số phận của chúng ta trong đời sống mai hậu, bởi vì chúng ta đang xây dựng Nước Trời ngay ở trần gian, như thánh Phaolô đã nói :”Gieo giống nào thì gặt giống ấy” (x. 1Cr 15,38) như người Việt thường nói :”Chủng qua đắc qua, chủng đậu đắc đậu” : trồng dưa thì được dưa, trồng đậu thì được đậu.
           Về vấn đề này, chúng ta thấy có một vị sư già thuyết pháp cho các Phật tử bằng những hình ảnh rất hay :
            “Các Phật tử hãy nhìn vào một cây cao và to ở phía sau sân nhà chùa kia. Phần thân cây, đang nghiêng cùng hướng với vòm lá cây xanh um của nó. Khi có một trận động đất, hoặc một cơn giông bão ập tới, đương nhiên cây đó sẽ bị tróc gốc và ngả đùng xuống theo hướng nghiêng mà nó đang đứng đấy. Cũng vậy, nhìn vào việc làm tốt xấu của một người trong đời sống hiện tại, chúng ta sẽ đoán ra được sau khi chết linh hồn họ sẽ bay đi về đâu. Trồng cây ớt, phải hái trái ớt mà ăn. Không thể nào trồng cây me chua mà đòi ăn cho được trái ngọt ngon lành…”
                    Hạnh phúc Thiên đàng chẳng qua chỉ là thành quả của những nỗ lực phấn đấu của chúng ta ở trần gian này, là những gì chúng ta đã xây dựng ngay ở dưới đất, là những gì chúng ta đã gửi về trời khi chúng ta còn sống.
 
                                       Truyện : Ngôi nhà xinh đẹp
           Một bà giầu sang đến cửa Thiên đàng. Thánh Phêrô chỉ cho bà một căn nhà rất xinh đẹp và bảo :”Đây là nhà tài xế của bà”.
          Bà ta mừng rỡ và nghĩ thầm :”Tài xế như thế, chắc nhà mình sẽ lộng lẫy hơn nhiều”.
          Nhưng, bước xa hơn một chút, thánh Phêrô chỉ túp lều nhỏ xíu và bảo :”Nhà của bà đấy”.
          Hụt hẫng và ngỡ ngàng, bà ta vội kêu to :”Đâu được, thưa ngài làm sao con có thể ở trong đó được.
          Thánh Phêrô ôn tồn giải thích :”Rất tiếc con ạ, vật liệu con gửi lên đây chỉ đủ để xây túp lều như thế.
          Thiên đàng không có nếu con không xây,
          Hỏa ngục chẳng thấy nếu con không sắm.
          Con đừng nhọc công để đi tìm  đàng sau cuộc đời này một Thiên đàng, nếu ngay cuộc sống trần gian này con chẳng thấy Thiên đàng ló dạng. Định mệnh cuộc đời đâu phải là một lá bài may rủi. Ai cũng chết nhưng số phận khác nhau.
           Bông thẹn, cỏ may, cúc hay hồng… đều là hoa
           Vòng hoa đẹp xấu là do con kết
           Thiên đàng có được là do con sống,
          Giầu hay nghèo cũng một kiếp người,
          Muốn Thiên đàng phải sống thánh.
           Thiên đàng không trên trời cao và hỏa ngục không ở lòng sâu đất thấp – mà ở ngay chính lòng con, con có quyền chọn cho mình chứ không phải Chúa”.
 Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt


 

AnTáng 22: SÂN KHẤU CUỘC ĐỜI

SÂN KHẤU CUỘC ĐỜI AnTáng 22

I. SUY NIỆM PHÚC ÂM
           Chúng ta đọc : Ga 12,23-33
 

 Theo lời Kinh Thánh :”Ngươi là bụi tro và sẽ phải trở về cùng bụi tro”(St 3,19) thì mọi người sẽ AnTáng 22

Theo lời Kinh Thánh :”Ngươi là bụi tro và sẽ phải trở về cùng bụi tro”(St 3,19) thì mọi người sẽ phải chết. Đã là con cháu Adong Evà thì không ai có thể tránh được vì đó là một công lệ.
           Mọi người giầu nghèo, sang hèn, giỏi dốt ở bất cứ nơi đâu, làm bất cứ nghề gì, thì cũng có ngày phải rời bỏ cõi đời này để trở về với thế giới bên kia.
           Người đời cũng chủ trương : con người thường phải đi qua bốn giai đoạn “sinh, lão. Bệnh, tử”. Tử là giai đoạn kết thúc cuộc đời ở trần gian, vì đã có sinh thì phải có tử, và kết thúc này là một định mệnh khắt khe, không ai tránh được.
           Vậy chết có ý nghĩa gì không ? Phải chăng chết là một kết thúc trong thất bại ? Không, chết không phải là đi vào ngõ cụt, đi vào hư vô trống rỗng mà chết là một chuyển đổi như ngày xưa Hoài Nam Tử nói : “Sinh ký, tử qui”.
           Trong bài Tin Mừng chúng ta vừa nghe, Chúa Giêsu nói :”Nếu hạt lúa gieo vào lòng đất không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác” (Ga 12,24).  Chính lúc hạt giống mục nát ra là lúc báo hiệu một mùa thu hoạch vì hạt giống mục nát ra, đâm chồi nảy lộc thành cây và sinh hoa kết quả (x. Mt 12,24).
           Vì thế, Chúa Giêsu mới nói cho chúng ta biết giờ chết của Ngài khi Ngài nói :”Đã đến giờ Con Người được tôn vinh” (Mt 12,23).  Giờ chết của Ngài là giờ được tôn vinh vì nhờ cái chết đó Ngài cứu chuộc được tội lỗi của loài người.
           Do đó, giờ chết của chúng ta cũng là giờ được tôn vinh vì chúng ta đã làm trọn nhiệm vụ Chúa đã trao cho ở trần gian này.
 
II. SÂN KHẤU TRẦN GIAN
           Chúng ta có thể ví trần gian này như một đại sân khấu đang diễn ra một đại trường kịch. Trong đại trường kịch này có rất nhiều vai, mỗi người đóng một vai.  Có người đóng vai quan trọng, có những người đáng vai phụ chẳng mấy ai để ý tới.
           Thông thường người ta để ý đến những người đóng vai chính. Vì vậy người đóng vai chính phải cực kỳ xuất sắc nếu không sẽ bị chê, còn vai phụ thì ít bị chê.
           Nhưng khi đứng về phương diện nghệ thuật, người ta chú ý đến cách trình diễn của từng vai xem có đóng đúng vai mình không, đóng có hay không. Có khi người ta không khen người đóng vai chính mà lại khen người đóng vai phụ vì người này đóng rất đúng với vai của mình, ví dụ người đáng yêu phải làm cho người ta mến và người đáng ghét phải làm cho ngườ ta ghét.
 
Truyện :  Đóng kịch Thương Khó
           Khi xưa, lúc Đức Cha Nguyễn Bá Tòng có cho diễn tuồng Thương khó ở chủng viện Sài gòn. Hay hay dở, cứ nhìn vào trong rạp không còn một chỗ trống thì biết. Trong số các vai tuồng, ông Jacques Đức ở Mỹ tho làm Chúa Giêsu, ông biện Chức ở Tân định làm thánh Phêrô,  còn tay Giuđa về  tay… ông Cúc ở Tha La.
           Vai Giuđa hay quá xá, đến nỗi có một bà lão ở tỉnh xa miền Hậu giang lên Sài gòn xem tuồng, thấy bộ tịch Giuđa nào là tham lam, phản bội, xảo quyệt… bà ghét quá, không nói, bà đứng dậy lủi thủi lên phía sân khấu (vì bà ngồi hạng bét) sẵn trong tay cầm cái “ngoáy trầu” bà quăng cho Giuđa một cái ngay bảng mặt. Rồi bà rủa thầm :”Tao cho mày phun máu đầu ra cho biết tay ! Đồ… thằng nộp Chúa, đứa bán Thầy…”.
           May ông Cúc lanh mắt lé khỏi… và Đức Cha Tòng phải xuống “can thiệp” và “an ủi” bà lão. Nhắc cho bà nhớ lại đây chẳng qua là diễn tuồng chớ không phải là Giuđa … thật.  Hú hồn !
           Trong Hội thánh, mỗi người cũng phải đóng một vai trò, tùy theo khả năng của mình và được Thiên Chúa trao ban cho. Trong thư gửi cho tín hữu Corintô thánh Phaolô nói :”Trong Hội thánh, Thiên Chúa đã đặt một số người, thứ nhất là các Tông đồ, thứ hai là các tiên tri, thứ ba là các thầy dạy, rồi đến những người được ơn làm phép lạ, được những đặc sủng để chữa bệnh, để giúp đỡ người khác, để quản trị, để nói các thứ tiếng lạ” (1Cr 12,28).
           Toàn thể anh chị em chỉ là giáo dân, ít ai lãnh nhận một chức vụ gì trong Hội thánh, nhưng phải đóng đúng vai trò giáo dân, là những nhân chứng của Chúa Kitô vì là Kitô hữu. Dó đó phải đóng đúng vai trò là muối đất và ánh sáng trần gian  như Chúa Giêsu đã dạy :”Các con là muối đất, là ánh sáng trần gian… Ánh sáng của các con phải chiếu giãi trước mặt thiên hạ, để họ thấy những công việc tốt đẹp các con làm, mà tôn vinh Cha của các con, Đấng ngự trên trời” (Mt 5,13-16).
           Một cách cụ thể, anh chị em phải đóng đúng vai trò trong gia đình : là cha, là mẹ, là con cái. Mỗi người phải đóng đúng vai trò của mình, đừng lẫn lộn, như chương trình giáo dục của Đức Khổng Tử :”Quân, thần. phụ, tử” : vua phải ra vua, quan phải ra quan, cha phải ra cha, con phải ra con. Nếu đóng sai vai trò của mình thì gia đình sẽ tan hoang, và thế giới sẽ hỗn loạn.
           Theo thời gian, vai trò có thể thay đổi, nhưng trách nhiệm phải đóng đúng vai trò của mình thì không thay đổi, phải đóng đúng với vai trò của mình bao lâu mình còn đóng, còn thời gian không quan trọng.
           Một y sĩ nổi danh nói rằng :”Một người có thể sống mạnh đến 81 tuổi”. Dĩ nhiên với điều kiện là người ấy phải là người bình thường.
           Y sĩ này nói thêm :”Mặc dầu người ta có thể tìm ra được thuốc chữa cho những căn bệnh giết người như ung thư hay cứng động mạch, thì thiên nhiên sẽ buông một cú đánh cuối cùng, cái mà người ta gọi là “chết”.
           Bàn về câu nói trên, một tờ báo đã viết :”Điều đáng kể không phải là sống bao lâu, nhưng ta đã sử dụng thời gian như thế nào”?  Đúng như thế, vì một số những phần đóng góp quan trọng nhất của công ích nhân loại đã từng và hiện đang được thực hiện do những bộ óc trên 81 tuổi (Giọt nước mắt cuối cùng, tr 114).
           Người ta đọc tấm bia dựng trên mộ một thanh niên câu :”Anh thọ 20 tuổi”. Có người buột miệng nói :”Ít quá – Ít quá thật không ? Không ! Nếu anh ta đã sống 20 năm, đã đóng đúng vai trò của mình 20 năm theo thánh ý  của Chúa, không để phút nào phí đi, thì trong mấy năm ấy, anh làm được nhiều việc vĩ đại, một thời gian bao lâu là dài ?
 
III. SÂN KHẤU KHÉP LẠI
           Một ngày nào đó sân khấu cuộc đời của từng người sẽ khép lại : giờ chết đến.
           Đây là chân lý đức tin, là án lệnh phổ cập, không ai có thể tránh né . “Đã qui định là mỗi người phải chết một lần” (Dt 9,27). Sớm hay muộn, cách này hay cách khác, đột ngột hay dần dần, tại rủi ro hay ngẫu nhiên hay tại cơn bệnh trầm trọng hơn kém, sự chết sẽ đến, đến với mỗi phàm nhân, trong đó có chúng ta.
           Một tập tục dã man rất thịnh hành trong đạo binh Rôma lúc tao loạn mà ai ai cũng biết, là bắt thăm “mười người giết một”. Tập tục này chưa được hoàn toàn hủy bỏ trong thời cận lai.
           Đứng trước định luật phổ cập của cái chết, chúng ta có thể nói rằng : sự kiện “mười người giết một” vẫn được thi hành liên tục và được chấp hành thường xuyên, vì theo quan niệm của chúng ta, sự chết luôn luôn giữ việc tính sổ và tiêu diệt trong mọi giây phút, cứ mười giết một, và rồi nó tóm lấy người  mà lần trước đã được kiêng nể (P. Bianchi, Tĩnh tâm Linh mục, tr 103).
           Chúng ta phải luôn chuẩn bị cho cuộc rút lui khỏi sân khấu trần gian, sớm hay muộn sẽ đến. Có lẽ chúng ta nên đọc tâm sự của Mike Tyson, nhà võ sĩ quyền Anh thượng thặng, phải bị tù vì tội cưỡng dâm.  Trong tù anh viết  những dòng sau đây trong nhật ký : “Nhắm mắt xuôi tay, con người ta chỉ để lại trên bia mộ một nét gạch nối nằm giữa những con số mà gói gọn cả cuộc đời ta, thể hiện cho người đời thấy ta đã sống như thế nào và hệ quả của lối sống ấy là hạnh phúc hay bất hạnh (Thế giới mới, số 101, 1996, tr 44).
 
          KẾT LUẬN
           Qua những suy nghĩ trên, chúng ta có thể rút ra được hai bài học thực hành sau đây :
           1. Sống như sẵn sàng chết
           Tục ngữ có câu :”Sống khôn, chết thiêng”.  Câu tục ngữ ấy dạy chúng ta  rằng ai sống lành cũng sẽ chết lành, ai sống dữ cũng sẽ chết dữ.  Phải chuẩn bị sẵn sàng  vì Chúa Giêsu không phán :”Hãy dọn mình chết” nhưng lại phán :”Các con hãy sẵn sàng, vì chính giờ phút các con không ngờ, thì Con Người sẽ đến” (Mt 24,44), nghĩa là hãy luôn chuẩn bị cho cuộc kinh qua này, chúng ta phải sống như thể đã chết (Cl 3,3).
 
          2. Sống như ngày cuối cùng của cuộc đời
           Thánh Grêgôriô Cả đã nói :”Sở dĩ Chúa muốn giữ kín giờ sau hết của chúng ta, là để chúng ta không dự đoán được, thì ngày nào cũng phải sống như ngày cuối đời”(Hom. 13 in Evang).
           Vì nghĩ rằng hôm nay có thể là ngày cuối đời, nên chúng ta cũng phải thoát ly cuộc đời, thoát ly thế gian, thoát ly những sự vật và nhân vật trần thế, nhất là thoát ly và xa lánh tất cả những chi là tội.
           Chính Chúa Giêsu cũng phòng ngừa chúng ta cho khỏi điều mà những người thời ông Noe đã làm, ấy là họ cứ ăn uống, cưới vợ lấy chồng, mãi cho đến ngày ông Noe vào tầu, và hồng thủy đến mà tiêu diệt họ hết thảy.
           Cũng vào thời ông Lót thiên hạ cũng ăn uống, mua bán, trồng tỉa, xây nhà, nhưng ngày ông Lót ra khỏi Sôđôma, thì tự trời mưa lửa và diêm sinh xuống mà tiêu diệt họ hết thảy (x. Lc 17,26-29),
           Vì thế, điều hay nhất là mỗi buổi chiều chúng ta hãy nhìn lại xem đã đóng đúng vai trò của mình chưa, có đóng cho hoàn hảo không, và hãy phó dâng linh hồn mình cho Chúa, và đừng bỏ qua ngày nào mà không dọn mình chết, để đêm đến có thể vượt từ sự an nghỉ phần xác đến an nghỉ ngàn thu.
Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt

 
 

AnTáng 23: VỀ NHÀ CHA

VỀ NHÀ CHA AnTáng 23

I. CỤM TỪ “VỀ NHÀ CHA”.
 

 Nhận được một thiệp tang của anh bạn gửi từ bên Hoa kỳ, trong đó có câu : “Anh Nguyễn văn X đã AnTáng 23

Nhận được một thiệp tang của anh bạn gửi từ bên Hoa kỳ, trong đó có câu : “Anh Nguyễn văn X đã về nhà Cha”. Anh bạn đã dùng một từ đặc biệt, khác với những từ quen dùng như : chết, mất, qua đời, qui tiên, về nơi chín suối hay có thể dùng đến chữ “ngoẻo” rồi.
           Khi nghe tin “Anh đã về nhà Cha” thì không ai hiểu rằng anh đã về với cha anh ở nơi nọ nơi kia trên thế giới này, mà trái lại, ai cũng hiểu ngay ý nghĩa thiêng liêng và cao quí của nó.
           Về nhà Cha, cụm từ này, trước hết mang tính chất loan tin.  Nhưng cao cả hơn, nó còn là một lời tuyên xưng đức tin.  Bởi khi nói “Đã về nhà Cha”, nghĩa là chúng ta tin rằng, sau cái chết không phải là hết. Đúng hơn, đó là một sự trở về. Từ giã cõi sống tạm bợ này để về nhà Cha, về cõi vĩnh hằng và cũng được Cha gọi về, được Cha triệu hồi về.
           Cụm từ “Về nhà Cha” không phải là cụm từ do Giáo hội hay chúng ta đặt ra mà đã có nguồn gốc trong Thánh Kinh. Chúng ta hãy nhớ lại trước khi chụ tử nạn, Chúa Giêsu đã nói với các môn đệ :”Lòng các con đừng xao xuyến. Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy. Trong nhà Cha Thầy có nhiều chỗ ở. Nếu không, Thầy đã nói với các con rồi, Thầy sẽ trở lại đem các con đi với Thầy, để Thầy ở đâu thì các con cũng ở đó” (Ga 14,1-3).
 
II. CHẾT LÀ TRỞ VỀ NHÀ CHA.
 Khi mà Chúa Giêsu sắp bước vào cuộc thương khó, cái chết đang gần kề, lòng các môn đệ rối bời xao xuyến vì ngỡ như mình mất đi nơi nương tựa vững chắc, vậy mà chính giây phút đó, Chúa Giêsu lại nói :”Lòng các con đừng xao xuyến”, rồi lại “trong nhà Cha Thầy có nhiều chỗ ở”, để bây giờ chính Thầy sẽ về nhà Cha mà dọn chỗ cho các con.  Thầy dọn chỗ như thế là để cuối cùng, các con cũng sẽ về nhà Cha cùng với Thầy.  Những lời an ủi cần thiết bao nhiêu ngay trong giờ phút lo âu này.  Nó mang lại hơi ấm, phần nào giúp các môn đệ bớt ngã lòng.
           Chúa Giêsu về trời, nghĩa là Người về nhà Cha. Ta biết mình sẽ về trời với Chúa Giêsu, vì thế ta cũng biết mình sẽ về nhà Cha như Người, vì Người đã hứa :”Thầy sẽ trở lại đem các con đi với Thầy, để Thầy ở đâu thì các con cũng ở đó”.  Bởi ý nghĩa đó, cụm từ về nhà Cha là một cụm từ đẹp.
           Các hướng đạo sinh cũng hay nói về người qua đời rằng :”Họ đã về nhà Cha”. Quả vậy,đối với người Kitô hữu, phần mộ không phải là nhà ở cuối cùng.
           Vì thế, ở nghĩa trang thành phố Liège có khắc một hàng chữ “Domus secunda, donec veniat tertia” (Đây là ngôi nhà thứ hai, trong khi chờ đợi ngôi nhà thứ ba). Nhà thứ ba này mới là nhà sau cùng. Đấy mới thật là ngôi nhà người Cha đang chờ đợi ta với tình yêu phụ tử..
           Chết chỉ là sự chuyển đổi.  Chết không phải là hết, là đi vào hư vô trống rỗng, mà chỉ là một sự chuyển đổi từ cuộc sống trần gian này sang cuộc sống khác, như lời thánh Phaolô nói :”Sự chết thay đổi chớ không mất đi, và khi sự sống này bị hủy diệt tiêu tan thì lại được một chỗ vĩnh viễn trên trời” .
           Chúa Giêsu cũng nghĩ đến cuộc đời hầu đến, Ngài làm sống lại niềm xác tín rằng, chết chưa phải là hết.  Những lời cuối cùng của Edward “Người xưng tội” là xin đừng khóc, tôi không chết đâu, vì đang lúc tôi rời bỏ xứ của những người sống.
           Chúng ta gọi thế giới này là xứ sở của những người sống, nhưng thật ra phải gọi là xứ sở của những người đang chết.
           Nhờ Chúa Giêsu, chúng ta biết khi cái chết đến, chúng ta không ra khỏi xứ của người sống, nhưng đi vào xứ của kẻ sống.  Nhờ Chúa Giêsu, chúng ta biết mình đang trên hành trình, không phải về hướng mặt trời lặn, nhưng về phái mặt trời mọc. “Cái chết là khung cửa mở vào đường đi lên trời” (Mary Webb).
           Theo nghĩa xác thật nhất, chúng ta không ở trên con đường đi đến sự chết, mà đang trên con đường đến với sự sống.
           Đây là đoạn trích từ lá thư đề ngày 4 tháng 4 năm 1786, nhạc sĩ tài ba Mozart gửi cho một người bạn, khi ông vừa nhận được tin  thân phụ mình đang hấp hối :
 “Sự Chết, xét cho thấu, là mục đích cuối cùng của cuộc sống, cho nên từ ít năm nay, tôi đã làm quen với Người Bạn thật tình và trọn hảo nhất ấy của loài người, cho đến nỗi, hình ảnh Sự Chết không những chẳng còn gì đáng khiếp sợ đối với tôi, ngược lại, đó là một niềm thanh thản rất an ủi cho tôi.  Và tôi cảm ơn Thiên Chúa của tôi, Ngài đã cho tôi cái diễm phúc có được cơ hội để học biết  và nhìn nhận Sự Chết như là chìa khóa mở của hạnh phúc cho chúng ta”.
           Trang Tử sống trước Chúa nhiều năm, không hề biết giáo lý Công giáo, nhưng ông cũng có quan niệm về cái chết hệt như quan niệm của ta :
           Vợ Trang Tử chết.
          Huệ Tử đến viếng, thấy trang Tử ngồi duỗi xoạc hai chân ra, gõ nhịp vào bồn nước mà hát.
          Huệ Tử bảo :
          - Mình đã ăn ở với người ta, có con với người ta, bây giờ người ta già, người ta chết, mình đã không khóc cũng đủ, mà lại còn gõ bồn mà hát, chẳng là quá lắm ư ?
          Trang Tử nói :
          - Không phải thế, vợ tôi mới chết, tôi cũng lấy làm thương tiếc lắm… nhưng xét cho cùng, thì người ta chết, là trở về với Tạo Hóa, cũng như người ra ngoài về nhà, thế mà ta vẫn cứ còn theo đuổi, than van, khóc lóc, thì chẳng hóa ra ta chẳng biết mệnh trời ư ? Cho nên ta không khóc, mà lại hát.
 
III. HÃY ĐẦU TƯ VÀO NƯỚC TRỜI.
           Thánh Phaolô cho chúng ta biết quê hương chúng ta ở trên trời, nơi thường trú của chúng ta. Còn trần gian này chỉ là nơi tam trú chờ ngày Cha trên trời triệu hồi chúng ta về :”Quê hương chúng ta ở trên trời, và chúng ta nóng lòng mong đợi Đức Giêsu Kitô từ trời đến cứu chúng ta” (Pl 3,20).
           Thánh Phaolô còn nói thêm để chúng ta  xác định được tính cách tạm bợ ở trần gian này trong khi chờ đời quê hương vĩnh cửu :”Chúng ta biết rằng : nếu ngôi nhà chúng ta ở dưới đất, là chiếc lều này, bị phá hủy đi, thì chúng ta có một nơi ở do Thiên Chúa dựng lên, một ngôi nhà vĩnh cửu ở trên trời, không do tay người thế làm ra” (2Cr 5,1).
           Thiên Chúa đã dựng nên chúng ta và nhận chúng ta là con cái của Ngài. Thật là một vinh dự vô cùng lớn lao cho chúng ta.  Nhưng chúng ta không được ở ngay với Ngài vì Ngài sai chúng ta đi vào đời để làm trọn sứ mạng Ngài đã giao phó.  Với sứ mạng đã được trao ban, chúng ta phải làm sinh hoa kết quả để đem về trình diện Ngài khi Ngài triệu hồi chúng ta.
           Sứ mạng của chúng ta khi vào đời cũng không khác với sứ mạng của các Tông đồ phải thực hiện, Chúa Giêsu cũng sai các Tông đồ đi :”Như Cha đã sai Con đến thế gian, thì Con cũng sai họ đến thế gian” (Ga 17,18).  Chúa Giêsu cũng đã nhắn nhủ các Tông đồ phải đi truyền giáo và phải mang về hoa trái tốt đẹp :”Không phải các con đã chọn Thầy nhưng chính Thầy đã chọn các con và cắt cử các con để các con ra đi sinh được hoa trái và hoa trái các con tồn tại” (Ga 15,16)..
           Cha chúng ta trên trời cũng sai chúng ta vào trần gian và chu toàn sứ mạng được giao phó cách tốt đẹp, để khi trở về Nhà Cha, chúng ta sẽ dâng cho Ngài nhiều hoa trái tốt đẹp.
           Như vậy là chúng ta phải đầu tư cho cuộc sống mai sau.
           Hầu như mọi hoạt động, mọi nỗ lực của nhiều người đều qui về việc củng cố, đầu tư cho thân xác, cho cuộc đời tạm vắn vỏi này.  Cái tôi như một trung tâm điểm mà tất cả mọi năng lực bản thân đều qui về đó. 24 giờ mỗi ngày đều được người ta dành trọn vẹn cho thân xác : giờ để ăn, giờ để ngủ, giờ để giải trí vui chơi, giờ để làm việc nuôi thân xác.
           Nếu tính ra người ta dành 168 giờ mỗi tuần, 720 giờ của mỗi tháng, 8766 giờ  của mỗi năm cũng được dành cho thân xác, nuôi cái thân xác mỏng dòn này  giông như cái bong bóng trẻ con chơi, chỉ một cái “ bụp”  thì chẳng còn gì.
           Người ta cố đầu tư xây dựng cho cuộc sống đời này như những con dã tràng đua nhau xe cát, tạo nên những đụn cát nhỏ trên bãi biển bao la để rồi một lát sau sóng biển sẽ xóa đi chẳng để lại vết tích gì.
           Bao nhiêu thời gian, công sức, tiền của, tài năng, trí tuệ, nghị lực… đều được dốc ra  để đầu tư cho thân xác, cho cuộc sống tạm bợ này,  để rồi kết cục cuộc đời, theo như thi hào Nguyễn Du, chỉ còn là một nấm đất :
                                       Trăm năm còn có gì đâu,
                             Chẳng qua một nấm cỏ khâu xanh rì.
           Đầu tư hết vốn liếng và khả năng  để bồi đắp cho thân xác và xây dựng cuộc sống đời này để rồi rốt cục chỉ còn là một nấm cỏ khâu thì kiếp người đúng là một thảm kịch bi đát nhất.  Trong lãnh vực kinh tế, có ai dại dột đến nỗi đầu tư kiểu đó không ?  Chắc chắn là không !
 
                                      Truyện : Ra đi với hai bàn tay trắng
           Một con chồn muốn vào một vườn nho, nhưng vườn nho lại được rào dậu cẩn thận.  Tìm được một chỗ trống, nó muốn chui vào nhưng không thể được. Nó mới nghĩ ra một cách : đó là nhịn đói để gầy bớt đi.
           Sau mấy ngày nhịn ăn, con chồn chui qua lỗ hổng một cách dễ dàng.  Nó vào được trong vườn nho.  Nhưng sau khi ăn uống no nê, con chồn mới khám phá ra rằng nó đã trở nên quá mập để có thể chui qua lỗ hổng trở lại. Thế là nó phải tuyệt thực một lần nữa.
           Thoát ra khỏi vườn nho, nó nhìn vào suy nghĩ : “Hỡi vườn nho, vào trong nhà ngươi để làm gì ? Bởi vì ta đã đi vào với hai bàn tay không, ta cũng trở ra với hai bàn tay trắng” !
           Để tránh khỏi thảm kịch bi đát ở trên, chúng ta có thể tìm được một giải pháp nào tốt hơn không ?  Chúng ta có thể tìm được trong Lời Chúa, đó là :”Các con hãy là chứng nhân của Thầy” (x. Lc 24,48).
           Làm chứng cho Chúa là phải trở nên ánh sáng và muối đất (Mt 5,13), phải có một đời sống gương mẫu để làm nổi bật khuôn mắt Chúa Kitô trong đời sống hằng ngày như Chúa đã dạy :”Ánh sáng của các con phải chiếu giãi trước mặt thiên hạ, để họ thấy những công việc tốt đẹp các con làm, mà tôn vinh Cha các con, Đấng ngự trên trời” (Mt 5,16).
          Để chuẩn bị về nhà Cha, chúng ta phải xây dựng thiên đàng  ngay ở trần gian này như cha Duval nói :”Trời của bạn sẽ được hình thành ngay dưới đất bằng cánh tay của bạn”.
           Đối với các tín hữu, với những người đang sống đức tin, Trời không là cái gì mới mẻ, nhưng là sự khai mở, tỏ hiện và thành toàn cái đã có sẵn trong họ.
           Vì thế, Guy de Larigaudi nhấn mạnh :”Chúng ta xây dựng đời đời trong mọi hành vi của mình : đó là khả năng kỳ diệu của con người. Chúng ta xây dựng Nước Trời từng mỗi giây phút”.
           Tin rằng với một đời sống chứng tá như thế, đến cuối cuộc hành trình trần thế này, chúng ta sẽ được hạnh phúc vì cùng Chúa Kitô bước vào Nhà Cha của Người, cũng là Cha của tất cả mọi người, Cha chúng ta.
 Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt


 

AnTáng 24: NAY NGƯỜI, MAI TA

NAY NGƯỜI, MAI TA AnTáng 24

I. NGƯỜI CHẾT NỐI LINH THIÊNG VÀO ĐỜI.
 

Đứng trước thi hài người quá cố hôm nay, tôi liên tưởng đến bài hát mà thiếu nhi giáo xứ vẫn AnTáng 24

Đứng trước thi hài người quá cố hôm nay, tôi liên tưởng đến bài hát mà thiếu nhi giáo xứ vẫn hát trong buổi sinh hoạt chiều Chúa nhật, đó là bài : “Nối vòng tay lớn” của nhạc sĩ Trịnh công Sơn.  Mục đích của bài hát này nhằm thúc giục mọi người Trung Nam Bắc đoàn kết xây dựng quê hương đất nước chúng ta.
           Nhưng trong bài hát này có một câu làm tôi phải suy nghĩ, đó là “Người chết nối linh thiêng vào đời”.  Không biết rõ tác giả định nói gì ? Chắc chắn phải có một ý nghĩa thâm sâu . Tuy không hiểu hết ý nghĩa của nó, nhưng nó giúp tôi  nảy ra một ý nghĩ : người chết nối linh thiêng vào đời vì thực tại cái chết là một thực tế đặt con người đứng trước một cái gì huyền bí, đáng sợ, và khi đứng trước thi hài người chết, ai ai cũng phải đối diện với cái ý nghĩ này : nay người, mai ta.  Và tôi muốn nói với bạn :”Hodie mihi, cras tibi” : nay tôi, mai anh.  Tôi chết, anh còn sống, nhưng còn sống đối với anh chỉ là “chưa chết”. Anh chỉ được “triển hạn”, chứ không bao giờ được “miễn trừ”.
           Với những ý nghĩ như vậy mà chúng ta thường im lặng , trầm mặc đứng trước người chết, nhất là đứng trước thi hài một người thân yêu của mình.  Chúng ta im lặng, trầm mặc và buồn sầu, không chỉ vì người thân yêu không còn nữa, mà còn vì nghĩ đến cái chết  sẽ xẩy ra cho mình.  Người chết như mang theo phần nào chính chúng ta.  Trong người chết, nhất là những người ruột thịt máu mủ của chúng ta, một phần ruột thịt máu mủ của chúng ta đã ra đi.
           “Người chết nối linh thiêng vào đời” là như thế, nghĩa là người chết đặt chúng ta đối diện với một thực tại khác, một thế giới của sự im lặng, huyền bí, một thế giới của sự tôn nghiêm, đáng kính, đáng sợ…  Vì sợ người chết,  sợ sự chết, nên người ta dù muốn hay không cũng phải nghĩ đến cái chết của mình, phải chuẩn bị cho cái chết không thể tránh được.
           Người Estonia có câu ngạn ngữ :”Cái chết ở trước mặt người già và sau lưng người trẻ”.  Đây là tâm lý chung cho mọi người vì người già dễ cảm thấy mình gần đất xa trời hơn người trẻ.
           Tuy thế, nhiều khi người già cũng như người trẻ đều “tham sinh úy tử” nên ít khi nghĩ đến cái chết, nhưng khi thần chết đến thì người ta cảm thấy đã quá muộn. Vì thế, ông Henri Bordeaux nói :”Phần đông người ta chỉ mở mắt một lần, mà lần ấy lại là chính lúc tắt thở, nhưng người ta vội bóp mắt lại ngay”.
           Đồng quan điểm với ông  Henri Bordeaux, ông John C. Collins nói :”Người chết mở mắt cho người sống”,  cũng có nghĩa là người sống bóp mắt người chết.
           Ông Stephen Leacock nói :”Lạ lùng thay cái chuỗi đời người : còn nhỏ thì ước được lớn lên. Lớn lên rồi, ước đến tuổi trưởng thành. Đến tuổi trưởng thành rồi, ước được một tổ ấm.  Được tổ ấm rồi, ước làm ông nội nghỉ ngơi.  Được nghỉ ngơi rồi lại nuối tiếc  quãng đời quá khứ và cảm thấy một luồng gió lạnh đang rì rầm thổi tới.  Nhưng khi ý thức được rằng đời sống chính là ở hiện tại, ở trong ngày hôm nay, thì đã quá muộn rồi”.
 
II. HODIE MIHI, CRAS TIBI.
           Hôm nay, người chết nằm đây muốn nhắc nhở chúng ta : “Hodie mihi, cras tibi” : hôm nay phiên tôi, ngày mai đến phiên anh.  “Hôm nay” (hodie) là một ngày nhất định, rõ ràng, tại đây và lúc này, ai cũng phải công nhận rằng người thân yêu của chúng ta đã ra đi về đời sau, và lát nữa sẽ được chôn vùi trong lòng đất.
           Nhưng còn chữ “Ngày mai” (cras) là một ngày bất định, mông lung, mờ mịt không biết bao giờ mới đến như người ta nói :”Sinh hữu hạn, tử bất kỳ” (Tục ngữ).  Đây là điều bắt buộc chúng ta phải động não vì nó liên quan đến số phận đời đời của chúng ta.
           Theo tâm lý chung, người đời ai cũng “tham sinh úy tử” (ham sống sợ chết).  Người ta cũng nhận xét rằng : các cụ già thường sợ chết hơn các thanh thiếu niên.  Nhưng có một điều thực tế : không bao giờ người ta thấy mình sống lâu cả.  Dẫu đã tóc bạc da đồi mồi, đi không vững, đứng không ngay, cũng còn thấy  như mới bước chân vào đời ngày hôm qua vậy :
                                       Nhớ từ năm trước vẫn thơ ngây,
                                      Thoát chốc mà già đã tới ngay
                                                (Nguyễn Khuyến)
           Thỉnh thoảng chúng ta phải  “stop” lại để bình tĩnh đứng ra ngoài cuộc đời bề bộn, ra ngoài cái Tôi chủ quan, mà quan sát và ý thức  nhận định một cách khách quan :
                                       Tại sao tôi sống ?
                                      Sống để làm gì ?
                                      Chết rồi, ra sao ?
           Phải tìm ra ý nghĩa của cuộc sống. Có người không biết tại sao mình sống, rồi sẽ ra sao !  Cho nên họ có cái nhìn bi quan về cuộc sống bởi vì họ không tìm ra được lẽ sống.
           Ngày xưa có một ông vua, tuổi đã quá thất tuần mà vẫn chưa xem được một quyển sách nào. Bộ sách mà ông thèm khát được đọc là bộ “Lịch sử loài người”.  Nhưng vì bận rộn không có thì giờ đọc nên đã nhờ các nhà thông thái  nghiên cứu  và rút gọn lại trong một câu cho vua dễ nhớ và để làm kim chỉ nam cho cuộc sống.  Sau một thời gian, ban tu thư đã trình lên vua một câu vắn tắt :”Lịch sử loài người từ khai thiên lập địa đến giờ : loài người sinh ra  để khổ rồi chết”.  Nhà vua gật đầu. Đôi môi khô héo của nhà vua bỗng nở một nụ cười mãn nguyện… rồi tắt thở.
           Cuộc sống trên trần gian này chỉ là một cuộc hành trình có  khi dài có khi ngắn đối với mỗi người, nhưng luôn phải có điểm đến, nghĩa là cuộc hành trình phải kết thúc, chứ không phải đi đến vô tận.  Đây là một thực tế hiển nhiên, ai cũng phải công nhận.  Đã có sinh thì phải có tử, nhưng khi chết rồi người ta còn muốn để lại danh thơm tiếng tốt cho hậu thế :
                                                Người đời hữu tử hữu sinh
                                      Sống lo xứng phận, thác dành tiếng thơm.
          Napoléon Bonaparte, hoàng đế nước Pháp (1769-1821), kẻ đã làm thay đổi bản đồ Âu châu, nhà chiến lược quân sự đại tài, đã phải tâm sự : “Tôi chết trước thời hạn, và thân thể tôi lại trở về với lòng đất. Đó là số phận của con người đã từng được gọi là  Napoléon đại đế. Có một vực sâu ngăn cách giữa sự khốn cực của tôi và vương quốc bất diệt của Chúa Kitô”.
           Để chuẩn bị cho cuộc ra đi vĩnh viễn, chúng ta phải mở rộng tâm hồn ra, đừng bao giờ khép kín lại với người khác.  Con người sinh ra với những ngón tay nắm chặt lại.  Bản tính con người vốn khép kín, ích kỷ.  Một đứa trẻ được nuông chiều sẽ nghĩ rằng  mọi người đều có bổn phận phải phục vụ nó, nó là trung tâm của vũ trụ, cả thế giới này là của nó.  Nhưng mọi người cũng biết rằng khi chết đi, các ngón tay sẽ buông xuôi, tiền tài và danh vọng đều để lại…
           Cuộc hành trình tâm linh là đi từ bản thân tới người khác, phải mở trái tim để yêu thương người khác, phải mở bàn tay để chia sẻ với người khác.
 
                                      Truyện : Hãy bắt chước dòng suối.
          Có một phiến đá ở bên cạnh một dòng suối được khắc những chữ “Hãy bắt chước dong suối” .  Ba người du khách tình cờ đi đến đây, và tự hỏi không biết  dòng chữ có ý nghĩa gì.
           Một người là nhà buôn nói :
          -  Nó có nghĩa là dòng suối đưa nước tới một dòng suối khác. Suối này lại tiếp tục đưa nước tới một dòng khác lớn hơn, cho tới khi nó gặp sông, và nước sông đổ ra biển. Như thế, nó có nghĩa là : người ta nên quan tâm đến vấn đề vật chất và cố gắng làm giầu, như thế  họ mới có thể thành công và giầu có.
           Người trẻ nhất trong ba người nói :
          - Không phải như vậy. Nước của dòng suối này rất trong và sạch. Ai đi qua đây, suối cho họ thức uống làm tỉnh người. Nếu dòng nước chảy đi xa hơn, nó sẽ bị vẩn đục hơn và không uống được.  Dòng chữ có nghĩa là : Chúng ta nên giữ cho trái tim và linh hồn trong sạch, không vẩn đục, cũng như dòng suối này vậy.
           Người lớn tuổi nhất nói :
          - Người bạn trẻ nói đúng đó ! Dòng suối cho nước mát, sạch cho những ai đang bị khát.  Dòng suối cho  nhưng không đòi phải trả lại nước cho nó.  Dòng suối cho tất cả mọi người không từ chối ai cả. Nó có nghĩa là : chúng ta nên tốt với mọi người, không nghĩ đến điều họ trả ơn, hay chúng ta được ban thưởng gì  (Arthur Tonne , Stories for sermons, vol 13).
 Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt


 

AnTáng 25: TẤM VISA

TẤM VISA AnTáng 25

I. SUY NIỆM LỜI CHÚA
           Chúng ta đọc :  Ga 14,1-7
 

Khi đi truyền giáo, Chúa Giêsu hay nói với các Tông đồ về Cha Ngài và Ngài cũng báo trước là AnTáng 25

Khi đi truyền giáo, Chúa Giêsu hay nói với các Tông đồ về Cha Ngài và Ngài cũng báo trước là Ngài sẽ về cùng Cha (x. Ga 14,28). Lời tiên báo đó làm cho các Tông đồ thắc mắc không biết Cha Ngài là ai và ở đâu !  Do đó, ông Philipphê thưa cùng Chúa Giêsu rằng :”Thưa Thầy, xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha, như thế là chúng con mãn nguyện” (Ga 14,8). Nhưng Chúa Giêsu chỉ trả lời cho các ông :”Ai thấy Thầy là thấy Cha” (Ga 14,9).
           Nơi khác, Chúa Giêsu lại nói với các ông :”Trong nhà Cha của Thầy, có nhiều chỗ ở, nếu không, Thầy đã nói với các con rồi, vì Thầy đi dọn chỗ cho các con” (Ga 14,2).  Ngài đi dọn chỗ cho các ông bên Cha Ngài, nơi Ngài đang ngự bên hữu Chúa Cha. Như vậy là Ngài đã về trước để dọn chỗ cho các ông để “Thầy ở đâu các con cũng ở đó” (Ga 14,3).
           Như vậy, Chúa Giêsu đã ngự trên Thiên đàng, Ngài đã dọn sẵn chỗ cho chúng ta và chờ đợi chúng ta về với Ngài.  Nhưng muốn về với Ngài phải có điều kiện vì không ai có thể “ngồi mát ăn bát vàng’ (Tục ngữ).  Chính Chúa Giêsu đã nói lên điều đó khi Chúa nói với dân chúng :”Không phải những ai cứ kêu Lạy Chúa ! Lạy Chúa ! mà được vào Nước Trời, nhưng chỉ những ai làm theo thánh ý Cha Ta ở trên trời” (Mt 7,21).
           Muốn vào được Nước Trời phải qua một cuộc khảo hạch về cuộc sống của mình khi còn ở trần gian, nếu có đủ điều kiện mới được vào. Hay nói khác đi, mọi người phải chịu phán xét trước khi được vào Thiên đàng.
 
II. TẤM  VISA ĐỂ VÀO NƯỚC MỸ
 
  1.   Vấn đề đi du lịch các nước.
           Ngày nay ngành du lịch phát triển mạnh vì đời sống kinh tế được nâng cao, phương tiện di chuyển dễ dàng và nhanh chóng.  Không những người ta chỉ đi du lịch trong nước để tham quan danh lam thắng cảnh, thăm viếng những di tích lịch sử… mà còn muốn đi xa hơn, muốn mở rộng tầm mắt nhìn thế giới thay đổi , nhất là trong thời đại toàn cầu hóa này.  Do đó, người ta muốn đi du lịch nhiều nước xuyên quốc gia, không những đi đến những thành phố hiện đại mà còn đến những vùng xa xôi hẻo lánh, hoang vu.
 
          2. Phải có hộ chiếu (passport) để đi vào các nước.
           Muốn đi tham quan trong nước thì không cần giấy tờ gì, nhưng muốn vào một nước khác thì trước hết phải có hộ chiếu. Hộ chiếu thường có giá trị trong 5 năm, khi hết hạn cần xin lại. Tuy đã có hộ chiếu, nhưng còn tùy thuộc nước mình đến có chấp nhận cho vào hay không. Thường thường khi đi du lịch các nước, chỉ cần hộ chiếu là đủ.
 
          3. Phải có visa để đi vào Nước Mỹ.
           Muốn đi các nước khác chỉ cần hộ chiếu là đủ, nhưng muốn vào nước Mỹ thì cần phải có visa nữa. Đây là một công đoạn khó khăn, nhiều người không thể vượt qua.
           Muốn có visa cần phải đến để được phỏng vấn ở tòa đại sứ hay tòa tổng lãnh sự Mỹ. Các nhân viên phỏng vấn đặt ra nhiều câu hỏi về mọi vấn đề. Mỗi người phải trả lời hết các câu hỏi. Chỉ khi nào vượt qua được cuộc phỏng vấn này mới có visa, và mỗi visa thường có giá trị trong 3 tháng hay 6 tháng. Khi đã có visa thì chỉ việc mua vé máy bay để sang Mỹ trong thời gian thích hợp.
           Kinh nghiệm cho hay : những người đi phỏng vấn rất phấp phỏng, không biết có được hay không vì không biết dựa vào tiêu chuẩn nào. Có những người đi phỏng vấn nhiều lần mà vẫn không được. Chỉ khi nào nắm được tờ visa trong tay thì mới chắc ăn.
           Còn vấn đề nữa : những người muốn định cư và làm công dân Hoa Kỳ có visa rồi cũng chưa đủ. Muốn được hưởng các phúc lợi an sinh xã hội cho đầy đủ thì phải có quốc tịch Hoa kỳ. Vì vậy, các cộng đồng di dân đua nhau lo thủ tục xin gia nhập quốc tịch Mỹ  để có thể hưởng các quyền lợi đó.
           Trước khi được tuyên thệ và nhận chứng chỉ quốc tịch Hoa Kỳ người ta phải qua một kỳ “thi quốc tịch”,  trong đó có nhiều câu hỏi người ta đề ra thì phải học thuộc lòng để thưa lại.
           Với những người tiếng Anh lưu loát và có trí nhớ tốt, khi đủ các đòi hỏi khác, việc thi vào quốc tịch thật đơn giản, dễ dàng. Nhưng với các cụ già và những người kém tiếng Anh, việc “thi quốc tịch” là cả nỗi lo lắng lớn lao…  Nhưng dù sao, trước sau người ta cũng có thể làm công dân Hoa Kỳ.
 
III. TẤM VISA ĐỂ VÀO NƯỚC TRỜI
           Thánh Phaolô nhắc cho tín hữu Philipphê chân lý này :”Quê hương chúng ta ở trên trời” (Pl 3,20). Nếu quê hương chúng ta ở trên trời thì trần gian chỉ là nơi tạm trú, chúng ta chỉ ở đó một thời gian và kết cục sẽ trở về trời là quê hương thật.  Nhưng muốn vào quê trời thì phải có tấm visa sau khi đã được “phỏng vấn’, “khảo hạch”, “phán xét”. Nếu có đủ điều kiện thì mới có tấm visa vào quê trời, bằng không thì phải vào chốn “khóc lóc và nghiến răng” (Mt 8,12).
           Nhưng có một điều đặc biệt là tấm visa này không phải là Chúa cấp cho mà chính đương sự cấp cho mình, nghĩa là sau khi Chúa cho nhìn lại cuộc đời mình sống ở trần gian để mình tự đánh giá , để rồi chính mình cấp visa hay từ chối cấp visa cho mình.  Nói khác đi, Chúa để cho đương sự tự đánh giá mình để nhận lấy phần thưởng trên Thiên đàng hay nhận lấy hình phạt trong hỏa ngục.
           Như vậy, sau khi chết sẽ có phán xét để quyết định số phận của mỗi người như thánh Phaolô nói: “Mọi người chúng ta phải ra trước tòa án Chúa Kitô, mọi người lãnh phần thưởng hay hình phạt xứng đáng, tùy theo sự lành hay sự dữ đã làm khi còn ở trong thân xác” ((2Cr 5,10).
           Có một vở kịch xa xưa tên là Everyman. Trong kịch này, Thiên Chúa gửi thần chết đến với người hùng trong vở kịch và cho biết sự sống anh ta sắp bị lấy đi.  Sau cơn bàng hoàng, người hùng bình tĩnh xin thần chết vài phút để hỏi ý kiến những bạn của anh là ”Tiền bạc, Danh vọng,  Quyền lực và Việc lành” sẽ tháp tùng anh sang bên kia thế giới. Anh thật ngạc nhiên khi nghe những người bạn trả lời, vì chỉ có Việc  Lành là người sẵn sàng tháp tùng anh.  Tất cả những người khác đều từ chối.
           Vở kịch Everyman cho thấy một điểm quan trọng.  Khi chúng ta chết, trong niềm hy vọng nơi Chúa Kitô Phục sinh, chỉ có một điều đáng kể :  những việc lành mà chúng ta đã cố gắng làm khi còn sống ở trần gian.
           Cuộc khảo sát của tiến sĩ Elizabeth Kubler-Ross của đại học Chicago đã chứng nhận điều này. Bà phỏng vấn hàng trăm người mà nhà thương đã tuyên bố là chết phần thể lý, nhưng sau đó họ đã sống lại. Những người này tường thuật lại kinh nghiệm chết đi sống lại của họ như sau :  Họ thấy cuộc đời họ tái diễn ra trước mắt – đây cũng như “sự phán xét sau khi chết”.
 Tiến sĩ Kubler-Ross viết lại những tường thật của những người này như sau : “Khi người ta đến lúc này, họ thấy chỉ còn hai điều đáng kể : những công việc mình làm cho kẻ khác, và lòng yêu thương.  Tất cả những điều mà chúng ta nghĩ là quan trọng như danh vọng, tiền tài và quyền lực, hoàn toàn không có nghĩa lý gì”.
 
Truyện : Tìm chìa khóa Thiên đàng
           Có một ông vua rất giầu sang và quyền thế, sau khi đã chinh phục các quốc gia láng giềng và những gì vua ưa thích, vua con muốn tìm kiếm một kho tàng quí hơn nữa là chìa khóa mở cửa Thiên đàng, nhưng không một ai có thể làm thỏa mãn lòng vua được.
                  Vua sai các quan tướng đi kiếm khắp nơi trong ngước, từ trên núi cao xuống tận đáy biển, trong rừng sâu tới chốn bùn lầy nhưng cũng chỉ tốn của uổng công. Sau cùng, chính vua quyết định đích thân đi tìm chìa khóa mở cửa Thiên đàng.
           Một hôm, nhà vua cỡi ngựa đến trước bức tường cao có tháp canh, cổng sắt rất kiên cố, trước cổng cao có thiên thần canh gác rất kỹ, nhà vua tiến lại gần thân thưa :”Tôi sẽ không được bình an trong tâm hồn cho đến khi tìm được chìa khóa mở cửa Thiên đàng.
           Thiên thần cười đáp :”Thật ra trên trần gian này có hàng trăm hàng ngàn thứ chìa khóa mở cửa Thiên đàng được.  Các chìa khóa ở ngay dưới chân vua, người ta dẫm lên chúng, nhà vua có thể tìm được chìa khóa mở cửa Thiên đang  nếu nhà vua chịu khó bền tâm tìm kiếm”.
           Từ ngày đó, nhà vua xuống ngựa đi bách bộ lang thang đó đây. Năm tháng trôi qua, mặc dầu nhà vua đã mệt mỏi tìm kiếm khắp nơi trên trái đất nhưng vẫn không tìm thấy.
           Một ngày kia, đang lúc đi dạo trong rừng, nhà vua vấp ngã vào một gốc cây nhỏ bé gần như  sắp tàn héo bên vệ đường.  Vì mắt đã mờ, sức yếu nên nhà vua cũng cảm thấy tự nhiên thích quan tâm  đến những vật nhỏ bé, nhà vua nhổ cây nhỏ sắp chết đem về hoàng cung  rồi tự tay chăm bón phân đất cho cây, tưới nước hằng ngày.
           Các quan cận thần trong hoàng cung thấy vậy liền nói với nhà vua :”Tâu chúa thượng, sao chúa thượng lại phải bận tâm đến một cây bé nhỏ héo tàn như vậy ?  Chắc gì nó sống lại được, và nếu nó có sống lại được thì với tuổi tác trên vai, làm sao hoàng thượng còn hy vọng nghỉ dưới bóng cây của nó hoặc hưởng dùng hoa trái của nó được” ?
           Nhà vua thản nhiên trả lời  : “Một ngày nào đó, tuy ta không còn sống nữa, nhưng sẽ có người khác đến ngồi dưới bóng cây và họ sẽ sung sướng thưởng thức hoa trái của nó; điều đó đủ để ta cảm thấy vui sướng ngay từ lúc này rồi.”
           Vừa nói xong, nhà vua đưa chân bước đi thì kìa một chìa khóa từ dưới đất mọc lên như một cái nấm.
          Chìa khóa làm bằng một thứ kim loại rất lạ đủ mầu, xanh đỏ thêm sắc vàng.
Trong Thông điệp “Thiên chúa là tình yêu”, Đức Thánh Cha Bênêdictô 16 viết: “ Theo dòng thời gian và sự bành trướng dần dần của Hội thánh, việc thực thi bác ái được xác định như lãnh vực căn bản cùng với việc ban phát các bí tích và việc rao giảng Lời Chúa : việc thực thi bác ái đối với các góa phụ và trẻ mồ côi, với các tù nhân, với các bệnh nhân và người túng thiếu dưới mọi hình thức, thuộc về bản chất của Hội thánh cũng y việc phục vụ Bí tích và rao giảng Phúc âm” (số 22).
          Đời sống ở trần gian chỉ là một cuộc hành trình, mỗi người phải đi hết cuộc hành trình đó trong khi phải thực thi các điều răn của Chúa, làm tròn nhiệm vụ của mình , đặc biệt thi hành đức bác ái đối với tha nhân.  Chúng ta hãy tìm Nước Trời và chuẩn bị vào Nước Trời ngay ở đây và bây giờ, không phải đợi đến khi nào khác:
           Thấy người môn đệ bị ám ảnh bởi cuộc sống sau khi chết , vị Tôn Sư lưu ý anh ta :
- Tại sao con lại phung phí  khoảng  khắc hiện tại  để nghĩ tới một thế giới khác?
- Nhưng thưa Thầy, có thể không nghĩ tới được không?
- Ðược .
- Làm thế nào ạ ?
- Khi sống ở Nước Trời, ở đây và ngay bây giờ .
- Và Nước Trời ở đâu ạ ?
- Ở đây và ngay bây giờ .
Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt

 
 

AnTáng 26: QUÁN TRỌ

QUÁN TRỌ AnTáng 26

I. SUY NIỆM LỜI CHÚA
           Chúng ta đọc : Ga 17,20-26.
 

Trong bữa Tiệc ly, Chúa Giêsu không những chỉ cầu nguyện cho các môn đệ thân tín mà còn AnTáng 26

Trong bữa Tiệc ly, Chúa Giêsu không những chỉ cầu nguyện cho các môn đệ thân tín mà còn cầu nguyện cho  mọi người nhờ các ông mà tin vào Ngài.  Điều Ngài nhắm là cầu nguyện cho sự hợp nhất của Hội thánh.
           Chúng ta có thể chia đoạn Tin mừng này thànnh hai phần :
          - Chúa cầu nguyện cho sự hiệp nhất của những người tin vào Ngài.
          - Nguyện ước của Chúa Giêsu  là cho những người tin vào Ngài được ở với Ngài trên thiên đàng.
          Chúa Giêsu muốn cầu cho những người tin vào Ngài nhờ lời rao giảng và giáo huấn của các môn đệ, nghĩa là cầu cho hết mọi thành phần trong Hội thánh.  Mục đích Chúa Giêsu cầu nguyện  là để cho mọi người tin vào Chúa Giêsu được hiệp nhất với nhau. Chính sự hiệp nhất này là sức mạnh và có tính thuyết phục thế gian tin vào Chúa Giêsu là Đấng Cứu Thế.
           Sau khi đã nhìn đến các môn đệ đang sống ở trần gian, Chúa Giêsu nghĩ đến tình cảnh của họ trong tương lai nên đã cầu xin :”Lạy Cha, con muốn rằng con ở đâu, thì những người Cha đã ban cho Con cũng ở đó với Con” (Ga 17,24).
           Chúa Giêsu thấy trước rằng các môn đệ và các người tin theo Chúa  còn ở trần gian, họ sẽ gặp muôn vàn gian nan thử thách, họ có thể ngã lòng. Trước viễn tượng đó, Chúa cầu xin cho môn đệ được một ơn ngày kia đang đi theo Ngài sẽ về trời, ở bên Chúa Cha (Ga 13,17; 14,2-3).
 
II. CUỘC SỐNG TRẦN GIAN CHÓNG QUA.
           1. Đời sống con người.
           Cuộc sống trần gian được Kinh Thánh mô tả  như là một làn sương, một hơi thở và một làn khói :”Cuộc đời chúng ta trên dương thế chẳng khác gì bóng câu’ (Gióp 8,9).
           Để thấy cuộc đới chóng qua, chúng ta nên nhớ hai sự kiện :
          a) Cuộc sống cực kỳ ngắn ngủi, nếu so với chốn đời đời.
          b) Trần gian chỉ là nơi cư trú tạm thời mà thôi.
           Vì chúng ta không ở thế gian này lâu, nên đừng gắn bó với nó.  Hãy cầu nguyện như vua Đavít xưa :”Lạy Chúa, xin dạy cho con biết đời sống con chung cuộc thế nào, ngày tháng con đếm được mấy mươi để hiểu được kiếp phù du là thế”. Và thánh vương nói tiếp :”Ấy tuổi đời con, Chúa đo cho một vài gang tấc, kiếp sống này Chúa kể bằng không. Đứng ở đời, thật con người chỉ như hơi thở, thấp thoáng trên đường tựa bóng câu” (Tv 39,5-6).
 
          2. Những công trình vĩ đại.
           Những kỳ quan trên thế giới, những công trình lớn lao và ngoạn mục, tuy được người ta khen ngợi, chiêm ngắm, nhưng một ngày kia cũng chẳng còn vết tích. Còn đâu 7 kỳ quan trên thế giới  mà người ta ngưỡng mộ ?
          1. Lăng mộ của Lausolos được xây dựng năm 350 trước công nguyên.
          2. Đền thờ thần Artemis tại Êphêsô.
          3. Vườn treo Babylon.
 
  1.   Ngọn hải đăng của vua Ptolemy gần Alexandria.
          5. Tượng thần Apollo cao hơn 30 mét.
          6. Tượng thần Zeus tại thủ đô của Olympia cao hơn 12 mét.
          7. Các kim tự tháp Ai cập.
           Ngày nay, chúng ta thấy sáu trong bảy công trình này đã bị tàn phá. Ngọn hải đăng của vua Ptolemy sụp đổ sau cơn động đất, còn 5 kỳ quan kia  bị phá hủy bởi những tên cướp. Chỉ còn lại các kim tự tháp để chúng ta chiêm ngưỡng trong thán phục.
           Chúng ta có thể trầm trồ thán phục trước 7 kỳ quan này cũng như các công trình nguy nga khác của con người; nhưng đừng bao giờ quên rằng : mọi vật trên thế gian này chỉ là tạm bợ !  Rất nhiều kiệt tác kiến trúc làm hả hê những kẻ kiêu gạo, vênh vang lên mặt, khi họ tưởng rằng  các công trình này sẽ đời đời bền vững.  Thế nhưng chỉ một cơn động đất và sóng thần ở bên Nhật ngày 11/03/2011 vừa qua, hay như cơn gió lốc xoáy ở thành phố Joplin, bang Missouri, Hoa kỳ,  tối ngày 22/05/2011 vừa qua, tất cả đều tan tành, không có một lực lượng nào  có thể ngăn cản gió và nước  gieo rắc tang tương cho loài người.
           Nhìn cảnh tang thương đó chúng ta phải nghĩ ngay đến câu Kinh Thánh :” Thầy bảo thật các con : tại đây sẽ chẳng còn  hòn đá nào chồng lên hòn đá nào; tất cả đều sẽ bị phá đổ” (Mt 24,2).
 
III. TRẦN GIAN CHỈ LÀ QUÁN TRỌ.
           Trần gian không phải là căn nhà vĩnh viễn hay đích cuối cùng của chúng ta.  Chúng ta chỉ đi ngang qua, ghé qua trái đất mà thôi.  Kinh Thánh dùng những chữ như lữ khách, kẻ đi đường, người hành hương  để mô tả cuộc sống ngắn ngủi của chúng ta trên trái đất này :”Nếu anh em gọi Người là Cha, thì anh em hãy đem lòng kính sợ mà sống đời lữ khác này” (1Pr 1,17).
           Ngày nay đời sống kinh tế phát triển, phương tiện giao thông dồi dào, thuận tiện làm cho người ta thích đi du lịch. Những cuộc du lịch thường không kéo dài.  Trong suốt chuyến du lịch  người ta phải có nơi trọ qua đêm : người giầu có ngủ ở khách sạn, người nghèo thì ở nhà trọ bình dân.  Ngày nay người ta xây nhiều khách sạn 5 sao với đầy đủ tiện nghi, và mai đây có thể có khách sạn 8,9,10 sao đi nữa thì người ta cũng chỉ coi khách sạn  là nơi ngủ qua đêm để người ta có thể lên đường tham quan chỗ khác.  Dù khách sạn có sang trọng đến đâu và đầy đủ tiện nghi đến mức nào thì không ai chọn nơi ấy là quê hương của mình, không có địa chỉ thường trú ở đó.
           Như vậy, dù khách sạn 5 sao hay nhà trọ bình dân, tất cả cũng chỉ là quán trọ để du khách ngủ qua đêm. Còn trần gian này thì sao ?  Có là quán trọ không hay là nơi ở vĩnh viễn ?
 
Truyện :  Hoàng cung là quan trọ ?
           Người Ả rập có câu truyện như sau : Khi Ibrahim còn cai trị lãnh thổ Balk (nay là một vùng ở miền bắc Afhganistan) và được coi như một vị thánh vương, ngày kia có một tu sĩ thuộc  tông phái sufi đến yết kiến. Nhà vua hỏi :
          - Thầy cần gì ?
          Tu sĩ đáp :
          - Thần xin bệ hạ chỗ ngủ trong quán trọ này.
          Vua phì cười :
          - Đây là hoàng cung của ta, đâu phải quán trọ ?
          Tu sĩ tỉnh queo hỏi :
          - Trước bệ hạ, ai làm chủ nơi này ?
          - Cha ta, nhưng đã qua đời !
          - Vậy, trước tiên vương là ai ?
          - Ông nội ta, dĩ nhiên đã qua đời trước cha ta.
          - Tâu bệ hạ, như vậy nơi đây thật sự chỉ là  chỗ tạm trú một thời gian, thế nên các vị tiên vương đều phải lần lượt ra đi. Bệ hạ cũng sẽ giống y như thế mà thôi.  Vậy sao ngài cho rằng  nơi đây không phải là quán trọ ?
           Quan niệm hoàng cung là quán trọ của vị tu sĩ bên Ả rập ngày xưa  không khác giáo lý Cao Đài ngày nay.
           Đạo Cao Đài xem trần gian là chỗ tạm đến, tạm ghé,  tạm dừng chân trên hành trình tiến hóa. Thế nên một người đang sống trên đời thực ra chỉ là một “khách trần”. Mấy mươi năm sống, đời chỉ là một quãng thời gian tạm trú.
           Tòa thánh Cao Đài Tây ninh có khu đất rộng khoảng 50 mẫu dùng làm nghĩa địa, đặt tên là  Cực Lạc Thái Bình. Trước khi được thuyền Bát Nhã (xe tang) chở vào nghĩa địa, linh cữu  của khách trần được đưa vào làm lễ siêu rỗi tại một ngôi nhà gọi là “Khách Đinh”. Đình là dừng lại. Khách Đình là chỗ dừng chân của khách trần.
           Thế những phần đông chúng ta  đều nghĩ rằng mình là ông chủ, bà chủ nơi quán trọ này.  Chúng ta lao tâm khổ trí, trăm mưu ngàn kế mong tranh giành , chiếm đoạt cho lắm vào, đâu thèm nghĩ đến lúc đột ngột hết hạn tạm trú, bất kỳ khách trần nào  cũng cam đành lìa khỏi quán trọ với hai bàn tay trắng (cf Lê Anh Dũng, Công giáo và dân tộc, số 1800, tr 42).
           Hôm nay chúng ta còn sống trên mặt đất nhưng hãy có cái nhìn hướng lên trời cao. Hướng lên trời cao để biết rằng quê hương vĩnh cửu của ta ở trên trời, nơi đó có Chúa Giêsu đang ngự bên hữu Chúa Cha và nơi đó ta có “sổ đỏ”, có “hộ khẩu thường trú” đúng nghĩa.  Còn trần gian chỉ là nơi ta tạm trú. Vì không ai có địa chỉ thường trú vĩnh hằng trên trái đất này.
           Hướng lên trời cao còn là để ta  biết ái mộ những sự trên trời và biết sống niềm hy vọng một ngày nào đó sẽ được trở về với quê hương vĩnh phúc là thiên đàng hằng mong :” Chúng ta biết rằng : nếu ngôi nhà của chúng ta ở dưới đất, là chiếc lều này, bị phá hủy đi, thì chúng ta có một nơi ở do Thiên Chúa dựng lên, một ngôi nhà vĩnh cửu trên trời, không do tay người thế làm ra” ((2Cr 5,1).
 Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt


 

AnTáng 27: LÁ RỤNG VỀ CỘI

LÁ RỤNG VỀ CỘI AnTáng 27

Bài chia sẻ nơi nghĩa trang
 

Hôm nay chúng ta tụ họp nơi nghĩa trang này để cầu nguyện cho các người đã qua đời, đặc biệt AnTáng 27

Hôm nay chúng ta tụ họp nơi nghĩa trang này để cầu nguyện cho các người đã qua đời, đặc biệt cho những người nằm nơi đây, trong đó có những người thân yêu và bạn bè của chúng ta.
           Chúng ta đang đứng giữa nghĩa trang  được bao bọc bằng một rừng cây. Cảnh vật chung quanh có thể gợi cho chúng ta một vài tư tưởng để chúng ta có thể chia sẻ với nhau trong giờ cầu nguyện này.
        
I. NHÌN CẢNH LÁ RƠI.
           Hôm nay đã cuối thu sang đông, tiết trời se lạnh, gió hiu hiu thổi, nhìn những hàng cây chung quanh, tự nhiên tôi liên tưởng đến bài thơ “Tiếng thu” của thi sĩ Lưu trọng Lư, trong đó có câu :
                                        Em nghe không rừng thu,
                                      Lá thu bay xào xạc,
                                      Con nai vàng ngơ ngác
                                      Đạp trên lá vàng khô.
           Theo thời tiết trong năm, khi trời sang thu, lá cây đổi mầu, vàng úa rồi rụng xuống. Lá rơi ! Lá rơi xào xạc ! Nhìn những chiếc lá rơi, chúng ta thấy có những chiếc lá khi rụng, chao đảo vài vòng rồi nhẹ nhàng đặt mình dưới gốc cây; nhưng cũng có những chiếc lá vừa lìa khỏi cành đã bị trận bão loạn gió cuồng cuốn bay đi xa lắc.
           Nhình cảnh lá rơi, tôi lại nhớ đến câu tục ngữ của dân gian :”Lá rụng về cội”. Theo người ta giải thích, câu tục ngữ này có nghĩa là : con cháu dù đi xa, dù được ai nuôi dưỡng, lớn lên cũng tìm về, nhớ về quê cha đất tổ. Vì “cội” là gốc và quê cha đất tổ là gốc của con người.
           Tức cảnh sinh tình. Cảnh vật chung quanh như cũng có hồn, có tâm tình, nó gợi cho chúng ta những ý nghĩ  mà chúng ta không nên bỏ qua. Ngắm nhìn cảnh lá lìa cành rơi trên mặt đất, tự nhiên chúng ta nghĩ ngay đến thân phận con người, và coi đời người như những chiếc lá rơi vì ngày xưa Chúa đã nói với con người :”Ngươi chỉ là bụi đất và sẽ trở về cùng bụi đất”(St 3,19).
           Như lá được sinh ra và nuôi dưỡng từ chất nhựa từ cội là gốc rễ đưa lên cành thế nào, con người cũng được sinh ra, lớn lên sinh hoạt trong dòng đời, từ chính cội nguồn của sự sống là Thiên Chúa. Cái chết của con người cũng giống như chiếc lá lìa cành. Những chiếc lá lìa cành đó có trở về cội nguồn  hay lại bay đi đâu ?
 
II. ĐÂU LÀ CỘI NGUỒN ?
           Người Việt nam chúng ta luôn chú trọng đến chữ hiếu đối với tổ tiên ông bà cha mẹ, không ai có thể quên công ơn sinh thành dưỡng dục của các đấng ấy, vì người ta có cha có mẹ, có ai ở lỗ nẻ chui lên đâu. Vì thế, mọi người phải khẳng định rằng con người phải có căn nguyên cội nguồn :
                                       Người ta có cố có ông,
                             Như cây có cội, như sống có nguồn.
           Đành rằng ông bà cha mẹ là cội nguồn của chúng ta, nhưng nếu đi xa hơn, chúng ta phải đặt thêm câu hỏi : cội nguồn của tổ tiên ông bà cha mẹ chúng ta ở đâu và rồi chúng ta cũng sẽ đi về đâu như khi chiếc là lìa cành ?
           Đứng trước câu hỏi này, từ xưa, ông Hoài Nam Tử đã trả lời cho chúng ta :”Sinh ký, tử qui” : sống là tạm gửi , chết mới là về.  Nhưng về đâu ? Và đâu là cội nguồn ? Đó mới là vấn đề.
           Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn còn khắc khoải trong việc đi tìm cội nguồn. Ôn diễn tả khắc khoải ấy trong một bài hát trong đó có câu :
                                       Bao năm rồi còn mãi đi xa…
                                      Đi lên non cao đi về biển rộng.
                                      Trăm năm vô biên chưa từng hội ngộ
                                      Chẳng biết nơi nào là chốn quê nhà.
           Ông chưa biết nơi nào là chốn quê nhà tức là ông chưa tìm được nguồn gốc của mình để sau cùng ông sẽ trở về đó.  Người ta vẫn băn khoăn với câu hỏi : sau cùng người ta đi về đâu : Có phải về với lòng đất ? Có phải là về với hư không ? Có phải là về với tổ tiên ? Hay là về chốn bồng lai tiên cảnh ?... Điều đó tùy thuộc quan niệm và niềm tin của từng người.
           Người Công giáo chúng ta tin rằng con người có linh hồn bất tử, và khi chết, linh hồn của mình sẽ về cùng Thiên Chúa, Đấng tạo dựng nên mình. Thiên Chúa là cội nguồn. Từ Thiên Chúa, có muôn loài muôn vật, có chính mình. Bởi thế, chết là một cuộc “lá rụng về cội” lớn lao nhất, quan trọng nhất.
 
Truyện : Trở về với Tạo Hóa.
           Tuy Trang Tử sống trước Chúa Giêsu nhiều năm, không hề biết giáo lý Công giáo, nhưng ông cũng có quan niệm về cái chết giống hệt như quan niệm của ta.
          Vợ Trang Tử chết,
          Huệ Tử đến viếng, thấy Trang Tử ngồi duỗi xoạc hai chân ra, gõ nhịp vào bồn nước mà hát.
          Hệ Tử bảo :
- Mình đã ăn ở với người ta, có con với người ta, bây giờ người ta già, người ta chết, mình đã không khóc cũng đủ, mà lại còn gõ bồn mà hát, chẳng là quá lắm ư ?
Trang Tử nói :
          - Không phải thế, vợ tôi mới chết, tôi cũng lấy làm thương tiếc lắm… nhưng xét cho cùng, thì người ta chết, là trở về với Tạo Hóa, cũng như người ta ra ngoài về nhà, thế mà ta vẫn cứ còn theo đuổi, than van, khóc lóc, thì chẳng hóa ra  ta không biết mệnh trời ư ? Cho nên ta không khóc, mà lại hát.
 
III. CHUẨN BỊ VỀ VỚI NGUỒN CỘI
 
  1.     Cuộc đời chóng qua.
 Khi nhìn chiếc là lìa cành, chúng ta nghĩ ngay đến ngày chúng ta phải từ giã cõi đời này vì trần gian chỉ là nơi tạm trú, không có gì là vĩnh viễn.  Mọi người đều có cảm tưởng thời gian mau qua, vừa mới sinh ngày nào nay đã đến tuổi già, mà càng già càng cảm thấy thời gian đi mau hơn. Chúng ta hãy thưởng thức một bài thơ cổ nói về cuộc đời chóng qua thế nào và điều gì quan trọng vào giây phút cuối cùng :
           Khi tôi là một đứa trẻ, tôi cười tôi khóc, thì lúc đó thấy thời gian bỏ tôi.
Khi tôi là một thanh niên, tôi táo bạo hơn, thì thấy thời gian đi bộ.
          Khi tôi trưởng thành, tôi là một người chững chạc, thì thấy thời gian chạy.
          Cuối cùng, khi tôi bước vào tuổi chín mùi, tuổi già, thì thấy thời gian bay.
          Chẳng bao lâu nữa là tôi chết, lúc đó thời gian đã đi mất.
          Ôi, lạy Chúa Giêu, khi cái chết đến, thì ngoài Ngài ra, không còn gì là quan trọng nữa (Thiên đàng là thế đó, tr 92).
 
 
  1.     Chuẩn bị cho ngày ra đi,
 Khi quan sát chiếc lá rụng , chúng ta thấy có chiếc lá chao đảo mấy vòng rồi nằm xuống gốc cây, nhưng cũng có những chiếc lá bay vèo đi nơi xa lắc. Lá rụng nhưng đâu lá có về cội. Cũng thế, nếu lá rụng chưa chắc đã về cội thì con người khi chết cũng chưa chắc sẽ được về cùng Chúa là nguồn cội. Về được với Chúa hay không, cái đó còn tùy ở cách sống của mình, hoàn toàn tùy ở minh.
           Triết lý tử vong của người Việt chúng ta nằm trong câu tục ngữ này :
                                       Sống về mồ về mả,
                                      Chẳng ai sống về cả bát cơm.
           Đây là một quan niệm mê tín : người ta làm ăn phát đạt là nhờ mồ mả cha ông chôn cất vào nơi có địa thế tốt, kết phát.  Nhưng dầu sao, triết lý tử vong có tương quan mật thiết với triết lý nhân sinh : sinh ký, tử qui. Triết lý tử vong đem lại cho chúng ta tất cả những giáo huấn khôn ngoan, những hứng khởi sáng suốt về cuộc đời, thành thử nếu đích thực là “sống khôn chết thiêng” thì cũng đích thực là “triết lý tử vong chi phối triết lý nhân sinh”, vì chỉ có ai biết chết thiêng thì mới biết sống khôn (P. Bianchi, Tĩnh tâm Linh mục, tr 99).
           Từ quan niệm ấy, người Việt nam hình như không sợ hãi khi đối diện với cái chết. Vì thế,những cụ già xây sẵn phần mộ, mua sắm cỗ quan tài, ra vào vuốt ve ngắm nghía nó như ngắm một vật thân quí, đôi khi vào nằm thử một cách bình tĩnh.  Các cụ còn định sẵn cả chương trình cho đám táng của mình, phải tổ chức ra sao, nghi thức thế nào. Thật là một sự chuẩn bị cho một cuộc trở về.
           Mọi người giầu nghèo sang hèn, giỏi dốt ở bất cứ nơi đâu, làm bất cứ việc gì, thì rồi cũng có ngày phải rời bỏ cõi đời này để trở về thế giời bên kia. Chết là một án lệ không ai có thể trốn tránh được, chỉ có một điều là phải chuẩn bị cho ngày đó.
 
Truyện : Rồi cũng phải chết.
           Ngày xưa, mỗi lần vua Ấn độ ra gặp thần dân, ông ngồi trên ngai đặt trên lưng voi, có tiền hô hậu ủng.
          Một viên quan đi trước xứng lên :”Đây là đấng thiên tử vĩ đại, là hoàng đế nước Ấn độ, hùng cường và đáng kính phục, sống trong cung điện, lợp bằng trăm nghìn viên hồng ngọc, và có hai vạn vong hoa bằng kim cương”.
          Lời tung hô vừa dứt, thì viên võ quan đứng sau nhà vua lại hô tiếp :”Đấng thiên tử hết sức hùng cường và hết sức vĩ đại ấy, rồi cũng phải chết… Rồi cũng phải chết”.
           Cuộc sống làm nên ý nghĩa của sự chết. Cuộc sống quyết định cho đích điểm của một chuyến đi. Chuyến đi xa nhất, quan trọng nhất của đời người. Đây cũng là chuyến đi cô đơn nhất vì không ai đồng hành với ta.
           Thánh Kinh nhắc bảo chúng ta :”Con hãy nhớ : tử thần luôn sẵn sàng đó”(Hc 14,12) , nên Chúa Giêsu đã khuyên chúng ta phải nhớ và suy niệm lời Ngài :”Các con hãy sẵn sàng, vì không biết giờ nào, ngày nào Con Người sẽ tới”(Mt 24,44).
 Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt


 

AnTáng 28: HÃY NGHĨ TỚI CÙNG DÍCH

HÃY NGHĨ TỚI CÙNG DÍCH AnTáng 28

I. SUY NIỆM LỜI CHÚA
           Chúng ta đọc : Người phú hộ ngu ngốc (Lc 12,13-21.
 

Trong khi Đức Giêsu đi rao giảng Tin mừng, có một người trong đám đông đến xin Ngài phân xử AnTáng 28

Trong khi Đức Giêsu đi rao giảng Tin mừng, có một người trong đám đông đến xin Ngài phân xử việc hai anh em ruột tranh nhau phần gia tài.
           Sở dĩ họ xin Ngài phân xử là vì thời đó, người ta có thói quen thỉnh cầu các pháp sư xử những vụ tranh chấp về của cải. Xin Chúa can thiệp như vậy, là người này nhìn nhận  Chúa có quyền như các pháp sư khác.
           Nhưng Chúa từ chối  vì việc đó không thuộc sứ mạng của Ngài. Cũng nhân dịp này Ngài đưa ra một dụ ngôn về người phú hộ giầu có để ban giáo huấn hướng dẫn ta về việc xử dụng của cải; đồng thời cũng nhắc nhở mọi người hãy nghĩ tới cùng đích của mình.
           Người phú hộ này chỉ nghĩ đến việc tích trữ cho nhiều của cải. Và sức mạnh của cải vật chất lôi cuốn  nên người phú hộ chỉ chăm chú nghĩ đến mưu kế làm giầu thêm, mà không nghĩ đến kẻ nghèo. Một khi quá chú trọng đến của cải vật chất, thì nó lôi kéo con người đến chỗ hưởng thụ để thỏa mãn những khoái lạc trần thế.
           Người phú hộ ở đây bị Chúa gọi là “ngốc”, không phải vì anh ta thu tích được nhiều của, nhưng vì anh ta không biết xử dụng của cải để lập công phúc đời sau, nên khi chết, anh ta đến trước tòa phán xét với hai bàn tay trắng.
           Qua dụ ngôn người phú hộ giầu có này, Chúa dạy chúng ta mấy điều :
           1. Chúa không ngăn cấm chúng ta làm giầu, vì của cải cần thiết cho đời sống, đồng thời khi nỗ lực làm giầu là cách chúng ta cộng tác vào  công trình sáng tạo của Chúa : làm ra của cải vật chất để phục vụ con người.
          2. Nhưng cái ngu dại của người giầu có ở đây không phải vì anh có nhiều của cải, mà là vì anh ta đã không biết dùng của cải để mưu ích phần rỗi đời sau, bằng cách giúp đỡ người nghèo, bằng cách kìm hãm những hưởng dụng bất chính về của cải vật chất.
          3. Giầu hay nghèo, chúng ta phải luôn ở trong tư thế sẵn sàng ra trước tòa Chúa phán xét bất cứ lúc nào bằng cách sống theo lời sách Huấn Ca nhắc nhở :”Trong hết mọi việc con làm, con hãy nhớ đến cứu cánh của mình, thì không bao giờ vấp phạm” (Hc 7,36).
 
II. CUỘC SỐNG LÀ PHÙ DU.
           Đại thi hào Nguyễn Du đã viết kiệt tác phẩm “Đoạn trường tân thanh” mà ta gọi là truyện Kiều, đã tóm tắt cái nhìn của ông về cảnh phù du của vạn vật và con người qua bốn câu thơ :
                                       Trăm năm trong cõi người ta
                             Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau.
                                      Trải qua một cuộc bể dâu,
                             Những điều trông thấy mà đau đớn lòng.
           Theo ông, đời là một bể (biển) dâu. Biển và ruộng dâu, do chữ “thương hải tang điền”, ý nói sự thay đổi của sự đời và người đời.  Theo sách “Thần tiên truyện” : Tam thập niên vi nhất biến, thương hải biến vi tang điền”, nghĩa là cứ 30 năm lại có một lần thay đổi, biển cả hóa thành ruộng dâu, ruộng dâu hóa thành biển cả.
           Cũng trong truyện Kiều, cụ Nguyễn Du đã từng than thở về nét phù du và vô thường của cuộc đời qua câu truyện của tố nga Đạm Tiên, một người con gái đẹp, khi còn sống, người ta tấp nập ghé nhà thăm  viếng nâng niu đóa quốc sắc thiên hương. Nhưng rồi, cuối cùng cành hoa vàng ngọc cũng nằm xuống. Ngàn vàng một đóa hoa quỳnh bị vùi lấp bên đường, trở thành nấm mộ hoang cỏ dại, để rồi đúng ngày
                                       Thanh minh trong tiết tháng ba,
                                      Lễ là tảo mộ, hội là đạp thanh.
           Hai nàng Kiều cùng đi qua, thấy ngôi mộ bỏ hoang trống vắng :
                                       Sè sè nấm đất bên đàng
                                       Dầu dầu ngọn cỏ nửa vàng nửa xanh.
           Thúy Kiều mới hỏi em trai là Vương Quan :
                                       Rằng : “Sao trong tiết Thanh minh
                                       Mà đây hương khói vắng tanh thế này” ?
           Ý Thúy Kiều muốn nói : hôm nay là ngày tảo mộ mà tại sao ngôi mộ này lại hương khói lạnh tanh không nhang khói,  y như một ngôi mộ hoang ? Vương Quan mới nói với nàng Kiều là người này hôm xưa đẹp nổi tiếng, nhất cố khuynh nhân thành, tái cố khuynh nhân quốc, quay đầu liếc nhìn một cái thành quách nghiêng ngả, quay đầu liếc nhìn thêm một lần nữa, quốc gia hưng vong suy tàn lụn bại. Nhưng rất tiếc, người hoa chết sớm. Bởi không thân nhân, không thân thích, không họ hàng, cho nên thân xác của hoa lý hoa quỳnh bị chôn vùi nông cạn bên vệ đường.  Để rồi tới ngày hôm nay, ngày của tảo mộ, hội của đạp cỏ xanh, không ai nhìn ngó, không ai thương tiếc cắm cho một cây nhang cho linh hồn ở dưới cõi tuyền đài bớt tẻ lạnh. Lắng nghe câu truyện của người con gái năm xưa, Thúy Kiều đầm đìa những giọt châu sa, than ngắn thở dài cuộc sống sao quá là phù vân và vô thường như vậy !
 
III. HÃY NGHĨ TỚI CÙNG ĐÍCH.
           Cuộc sống con người dù dài dù ngắn cũng phải kết thúc bằng cái chết. Nhưng chết chưa phải là hết, chết mà vẫn sống, mất mà vẫn còn, bởi vì chết chỉ là một sự chuyển đổi, chuyển đổi từ đời sống tạm bợ này sang đời sống vĩnh cửu.
           Do đó, người khôn ngoan là người biết chuẩn bị cho cuộc sống mai hậu, một cuộc sống trường tồn và hạnh phúc đang chờ đợi chúng ta. Tương lai do ta quyết định và nằm trong tầm tay chúng ta vì Chúa không ép chung ta lên thiên đang, cũng không đẩy chúng ta xuống hỏa ngục, mà hoàn toàn do chúng ta tự do quyết định.
 
                                      Truyện : Ông Diogène bán sự Khôn ngoan.
           Một ngày nọ, triết gia Diogène của Hy lạp đã đến giữa chợ Athènes và dựng lên một căn lều có ghi đậm hàng chữ như sau : “Ở đây có bán sự khôn ngoan”.
          Một bậc khoa cử  tình cờ đi qua căn lều đọc được lời rao bảo, mới cười thầm trong bụng… Muốn biết đàng sau căn lều ấy có những gì, ông mới sai người đầy tớ cầm tiền để dò la và mua cho được cái mà người bán gọi là sự khôn ngoan.
          Người đầy tớ cầm tiền ra đi làm theo lời căn dặn của chủ… Anh đưa cho Diogène 3 hào và nói rằng chủ của anh muốn có sự khôn ngoan. Cầm lấy 3 hào bỏ vào túi, triết gia Diogène nói với người đầy tớ một cách trang trọng như sau :”Anh hãy về đọc lại cho chủ anh nghe câu này : “Trong tất cả mọi sự, hãy nghĩ đến cùng đích”.
          Vị khoa cử thành Athềnes vô cùng thích thú vì lời khôn ngoan này. Ông đã cho viết trước cửa nhà như khuôn vàng thước ngọc để chính ông suy niệm mỗi ngày và tất cả những ai đi qua trước nhà ông đều có thể đọc thấy…
           “Trong tất cả mọi sự, hãy suy nghĩ đến cùng đích”.
                   Có lẽ đó cũng là khuôn vàng thước ngọc mà Giáo hội muốn ngỏ với mọi người chúng ta trong cuộc sống hằng ngày, nhất là trong những dịp có lễ an táng. Mỗi năm qua đi : đó là hình bóng của đời người và lịch sử của thế giới này. “Trong tất cả mọi sự, hãy nghĩ đến cùng đích” : người lực sĩ nghĩ đến phần thưởng đang chờ đợi mình. Người học sinh nghĩ đến ngày đỗ đạt thành tài… Điểm thúc đẩy con người hăng say làm việc
           Thời ông Noe, mọi người ăn uống, vui chơi và cười nhạo khi ông cho đóng tầu đề phòng nạn hồng thủy.  Đối với họ, chuẩn bị để đương đầu với tai nạn, chuẩn bị để làm cuộc hành trình dài là một chuyện viển vông, là điều ngu xuẩn…
           Hãy vui hưởng cuộc sống, hãy sống như thể con người sẽ không bao giờ chết : đó là thái độ của nhiều người trong chúng ta. Sông như thế là sống không định hướng, sống như thế là sống không mục đích. Thánh Phaolô đã gọi những người đó là những người chỉ biết thờ cái bụng của mình…
           Hầu như mọi hoạt động, mọi nỗ lực của nhiều người đều qui về cuộc củng cố, đầu tư cho thân xác, cho cuộc đời tạm thời vắn vỏi này. Cái tôi như một trung tâm điểm mà tất cả mọi năng lực của bản thân đều qui về đó..
                   Người ta đã để 24 giờ mỗi ngày dành trọn vẹn cho thân xác : giờ để ăn, giờ để ngủ, giờ để giải trí vui chơi, giờ để làm việc nuôi thân xác. Người ta để 168 giờ mỗi tuần, 720 giờ mỗi tháng, 8766 giờ mỗi năm để phục vụ cho thân xác. Châm ngôn của họ là :”Tất cả cho thân xác. Tất cả cho cuộc sống đời này”. Người ta cố đầu tư xây dựng cho cuộc sống đời này như những con dã tràng đua nhau xe cát, tạo nên những đụn cát nhỏ bé trên bãi biển bao la để rồi một lát sau sóng biển sẽ xóa đi chẳng để lại một vết tích gì.
           Bao nhiêu thời gian, công sức, tiền của, tài năng, trí tuệ, nghị lực đều được dốc ra  để đầu tư cho thân xác, cho cuộc sống tạm bợ đời này, để rồi kết cuộc đời người, theo như thi hào Nguyễn Du, chỉ còn là một nấm đất :
                                                Trăm năm còn có gì đâu ?
                                      Chẳng qua một nấm cỏ khâu xanh rì !
           Chúa Giêsu đã phán :”Ai cứu mạng sống mình thì sẽ mất’(Mt 16,25; Mc 8,35; Lc 9,24); và cho dù người ta có thu tóm “được cả thế giới mà phải thiệt mất mạng sống, thì nào có lợi gì”(Mt 16,26, Lc 9,25).
           Đầu tư hết vốn liếng và khả năng để bồi đắp cho thân xác và xây dựng cuộc sống đời này để rồi rốt cục chỉ còn là “một nấm có khâu” hay đơn giản hơn “một lọ tro tàn” thì kiếp người đúng là một tấm thảm kịch bi đát.
 
          KẾT LUẬN
           Cái chết là cửa để bước vào cuộc sống mai hậu. Và cuộc sống mai hậu ấy tùy thuộc vào những tích chứa, những xây dựng của chúng ta trong cuộc sống tại thế này. Nếu trong cuộc sống này, chúng ta hướng mọi hoạt động của chúng ta  vào cùng đích ấy, nếu chúng ta hành động, suy nghĩ như thế chúng ta sẽ ra đi tức khắc, thì chắc chắn khi bước qua ngưỡng cửa ấy, chúng ta sẽ không ngỡ ngàng, sẽ không phải thất vọng…
           Nhưng dĩ nhiên, không phải tự sức mình, chúng ta có thể xây dựng cho mình tương lai vĩnh cửu ấy. Sự sống trường sinh là ân ban nhưng không của Thiên Chúa. Thiên Chúa chỉ chờ đợi nơi chúng ta sự ưng thuận và đáp trả tích cực mà thôi… Ước gì từng suy nhgĩ, từng hành động, từng gặp gỡ, từng hơi thở của chúng ta  đều là một đáp trả tích cực của chúng ta đối với lời mời gọi và sự sống bất diệt của Chúa. Ước gì trong tất cả mọi sự, sự khôn ngoan hướng dẫn chúng ta chính là cõi phúc trường sinh mà Chúa đã hứa ban cho chúng ta. Ước gì trong từng bước lữ hành về cõi phúc cấy, chúng ta có thể nếm được niềm vui và hạnh phúc đích thực ngay trong cuộc sống này.
 Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt


 

AnTáng 29: LỄ CÁC THÁNH NAM NỮ 1-11

LỄ CÁC THÁNH NAM NỮ 1-11 AnTáng 29

Hôm nay Mẹ  Hội thánh hân hoan mừng các người con của mình  đã chiến thắng vẻ vang trong cuộc AnTáng 29

Hôm nay Mẹ  Hội thánh hân hoan mừng các người con của mình  đã chiến thắng vẻ vang trong cuộc chiến ở trần gian nay đã được vinh hiển trên thiên đàng. Hội thánh mừng chung tất cả các người con của mình trong một ngày, vì trong lịch Phụng vụ, chúng ta mới mừng một số thánh  được tôn phong trên bàn thờ, trong khi đó còn biết bao vị thánh âm thần khác không được nhắc tới mà sách Khải huyền mô tả :”Một đoàn người thật đông không tài nào đếm nổi, thuộc mọi nước mọi dân, mọi chi tộc và ngôn ngữ” (Kh 7,9).
 
I. CÁC THÁNH TRÊN THIÊN ĐÀNG 
 
  1.     Các thánh là ai ?
 Đọc Thánh Kinh chúng ta thấy Thiên Chúa đã cao giọng hứa cùng ông Abraham và ông Mai sen rằng :”Ta sẽ làm cho dòng dõi ngươi đông đúc như sao trên trời” (St 22,17; Xh 27,13). Lời hứa ấy cũng trùng hợp với thị kiến của thánh Gioan tông đồ :”Tôi thấy một đoàn người thật đông không tài nào đếm nổi, thuộc mọi dân, mọi chi tộc, mọi nước và mọi ngôn ngữ. Họ đứng trước ngai và trước Con Chiên, mình mặc áo trắng, tay cầm nhành lá tiên tuế “(Kh 7.9)
           Họ là những người đã được nghĩa cùng Chúa, gồm đủ mọi dân nước trên thế giới, đủ mọi hạng người già trẻ lớn bé, mầu da, sang hèn, trong đó có cả những người thân yêu trong gia đình, trong họ hàng chúng ta.
 
 
  1.     Họ đã làm gì ? 
 Họ không phải là những con người hoàn hảo, toàn thiện, không vướng mắc lầm lỗi, thiếu sót hay tật xấu nào. Họ không phải là những siêu nhân, họ chỉ là những con người bình thường như mọi người, nhưng nhờ ơn Chúa trợ lực, họ cố gắng tiến tới mẫu mực của mình là Đức Kitô, mỗi người theo những điều kiện riêng của mình.
           Họ đã trải qua những cuộc chiến đấu nội tâm trường kỳ, những bước tiến đầy cam go thử thách. Có những thành công rực rỡ, mà cũng có những thất bại ê chề. Họ cố gắng sống tám mối phúc thật mà Chúa Giêsu đã rao giảng. Cuối cùng họ đã đạt tới đích là nhờ đã cố gắng liên lỉ và đã biết hợp tác với ơn Chúa một cách kiên cường.  Họ đã trung thành với Chúa cho đến hơi thở cuối cùng và họ đã được hưởng nhan thánh Chúa trên thiên đàng.
 
II. CHÚNG TA CÓ THỂ NÊN THÁNH KHÔNG ? 
 
  1.     Nhiệm vụ phải nên thánh
 Chúa kêu gọi mọi người nên thánh. Ngay từ Đạo Cũ, quen gọi là đạo ông Mai- sen, Thiên Chúa đã truyền cho họ phải nên thánh :”Các ngươi phải nên thánh vì Ta là Đấng thánh” (Lv 20,26).  Thế rồi trong đạo mới, Chúa Giêsu cũng căn dặn chúng ta :”Các con hãy nên trọn lành như Cha các con trên trời là Đấng trọn lành”(Mt 5,48).  Còn thánh Phaolô tóm tắt tất cả trong câu :”Thánh ý Thiên Chúa là  muốn cho anh em nên thánh” (Ep 1,4). Ngài con khuyên bảo thêm :”Anh em phải sống xứng đáng là các vị thánh”(Ep 5,3)
 
 
  1.     Nên thánh là điều có thể 
 Chúa đã kêu gọi chúng ta phải nên thánh, việc mời gọi đó chứng  tỏ nên thánh là điều có thể. Trong phạm vi triết học, chúng ta có nguyên tắc bất hủ này :”Nemo ad impossibile tenetur” : không ai bị buộc làm điều không có thể làm.
           Theo nguyên tắc này, nếu ta không nên thánh được, thời hoặc là Chúa không buộc, điều đó không đúng; hoặc là Chúa buộc vào cổ ta  một ách không thể vác được, điều đó trái với lòng lân mẫn và nhân hậu của Chúa, Đấng đã phán :”Ách của Ta thì êm ái và gánh của Ta thì nhẹ nhàng” (Mt 11,30). Điều đó còn trái với luân lý và phá hủy trách nhiệm, vì ta chỉ có trách nhiệm khi nào điều ta có thể làm mà lại không làm.
           Nói tới việc nên thánh, nhiều người có thái độ hoài nghi hoặc an phận, họ cho rằng nên thánh là chuyện của các Linh mục, tu sĩ, những người có nhiều thời giờ, có nhiều điều kiện để nên thánh, còn giáo dân chúng tôi phải lo trăm công ngàn việc không có thời giờ để lo việc nên thánh.
           Đó là một quan niệm sai lạc, bởi vì sự thánh thiện không phải là một lý tưởng dành riêng, một loại ngành chuyên nghiệp cấp cao, dân chúng đừng hòng mơ tưởng tới.  Quan niệm này có lẽ phát xuất từ một thực tế, đó là trong số những vị thánh được Giáo hội tuyên phong, thì con số giáo dân rất thấp so với các linh mục và tu sĩ. Hơn nữa,  có những thời người ta đề cao  tính chất phi thường và xuất chúng, thậm chí có lúc nhiều người thi đua nhau lập thành tích khổ chế. Rồi cùng với trí tưởng tượng, người ta đã thêu dệt thêm cho ly kỳ và hấp dẫn.
           Còn một quan niệm sai lạc khác nữa coi việc xa lánh thế gian là điều kiện cốt yếu để nên thánh. Chúng ta thường nói : tu là cõi phúc, tình là giây oan, sự thánh thiện là cái gì thuộc về cá nhân, không dính dấp gì tới cuộc đời. Không phải thế, kinh Tiền tụng Thánh lễ hôm nay đã trả lời cho họ : Khi tuyên dương công trạng các ngài, Chúa biểu dương chính những ân sủng Ngài ban. Nghĩa là các thánh không phải là những siêu nhân, nhưng là những con người bình thường, được Chúa tuyển chọn và ban cho tham dự vào sự sống của Ba Ngôi, được Chúa giúp sức để sống một cuộc sống phù hợp với Tin Mừng. Công trạng của các ngài là một đón nhận và không cản trở ân huệ của Chúa.
           Vì thế, “nên thánh” là điều có thể đối với hết mọi người, không trừ ai. Chính vì vậy thánh Augustinô dám nói :”Sao ông nọ bà kia nên thánh được, còn tôi thì lại không”.
 
III. NÊN THÁNH BẰNG CÁCH NÀO ?
 
  1.     Phải biết ước muốn mãnh liệt.
 Nên thánh là việc rất dễ nhưng cũng rất khó, vì nó đòi hỏi chúng ta phải cố gắng liên tục, giống như con thuyền lội ngược dòng nước, ngơi tay chèo thì con thuyền sẽ lui.  Nên thánh là một cuộc chiến đấu trường kỳ, một ước muốn mãnh liệt, một ý chí cao.  Tây phương có câu ngạn ngữ :”Vouloir c’est pouvoir” : muốn là được, thì trong việc nên thánh, với ơn Chúa giúp nếu chúng ta muốn là chúng ta có thể nên thánh.
           Chúng ta phải ước muốn mãnh liệt chứ không phải chì là mơ ước.  Muốn nghĩa là phải tiến tới hành động, phải thành công mới thôi. Thánh Phanxicô de Salê nghe tin phong thánh cho Phanxicô Xaviê, liền nói:”Đó là thánh Phanxicô thứ ba, tôi sẽ là Phanxicô thứ bốn”.  Quả vậy, bây giờ trong danh sách các hiển thánh, ngài là thánh Phanxicô thứ bốn.
 
 
  1.     Phải thắng được chính mình  
 Muốn nên thánh thì phải thắng chính con người mình, phải làm chủ được nó, bắt nó phải theo một kỷ luật và hướng nó vào một mục đích cao đẹp. Nhưng muốn thắng được mình thì trước tiên phải biết mình, biết sở trường sở đoản của mình để tiến tới sự thánh thiện.
           Như vậy, muốn nên thánh là phải làm chủ được mình. Muốn làm chủ được mình là phải thắng bản thân mình với tất cả những khuyết điểm, những thiếu sót của nó. Thắng được mình là một chuyện rất khó. Chính hoàng đế Napoléon đã  có kinh nghiệm này khi ông nói :”Thắng được cả Âu châu còn dễ hơn thắng được chính bản thân mình”.  Nên thánh thì phải biết những nết xấu để sửa, biết những cái hay, cái tốt để tập luyện hay dinh dưỡng.
           Thánh Phaolô thúc giục tín hữu Êphêsô nên thánh bằng cách làm một cuộc cách mạng bản thân. Ngài nói :”Anh em hãy lột bỏ con người cũ, mặc lấy con người mới. Hãy để Thánh Thần Thiên Chúa canh tân đến tận tâm linh của anh em”(Ep 4,22-24).
           Theo ý thánh Phaolô, chúng ta cần gột bỏ con người cũ tội lỗi mang đầy những tính hư nết xấu đang chi phối con người ta, làm cản bước tiến của ta, bắt ta làm nô lệ chúng, để chúng ta có thể tiến tới con người mới thánh thiện hơn.
 
Truyện : Thầy dòng dạy mãnh thú
           Một buổi chiều, Bề trên nhà dòng kia hỏi một tu sĩ :
- Hôm nay con đã làm gì ?
Cũng như các ngày khác, tu sĩ trả lời :
- Thưa cha,  con rất bận bịu mà nguyên sức con không thể nào làm nổi, ngoài sự giúp đỡ của Chúa. Ngày nào con cũng phải coi hai con chim ưng, giữ hai con nai, kìm hãm hai con diều hâu đề rèn ý chí, thắng một con sấu, trị được con gấu và săn sóc cho một bệnh nhân.
Bề trên cười hỏi lại :
-  Con nói gì thế ? Những việc như thế làm gì có trong nhà Dòng ?
- Thưa cha, thật đúng như thế ! Hai con chim ưng tức là hai mắt của con, mà con phải giữ gìn luôn để khỏi nhìn những vật cấm. Hai con nai tức là hai chân mà con phải trông coi từng bước đi để nó khỏi đi vào con đường xấu. Hai con diều hâu tức là hai bàn tay, con phải luôn luôn bắt nó làm điều phải. Con sấu tức là cái lưỡi, con phải kìm hãm hằng ngày để khỏi nói những lời vô ích và thô bỉ. Con gấu tức là trái tim con, con phải trừng trị, để khỏi phải ích kỷ và khoe khoang. Còn bệnh nhân chính là thân thể con, con phải canh phòng ráo riết để cho nhục dục khỏi phải xâm nhập vào  (T. Toth, Chí khí người thanh niên, 1957, tr 53).
 
 
  1.     Nên thánh bằng cách nào ? 
 Nên thánh là một điều cần thiết và có thể, nhưng cách nên thánh thì không ai giống ai, mỗi  người có một hoàn cảnh, mỗi người có một đường lối riêng.  Nhưng dù sao, đường lối nên thánh của ta là đường lối thông thường của nhiều người, không cầu kỳ khó khăn.
 
  1.    Tránh kiểu nên thánh đặc biệt.
 Thời trước đây có một số người nên thánh bằng những phương pháp đặc biệt mà có lẽ chúng ta không học đòi được vì nó vượt quá sức ta. Ví dụ :
 - Có người tự giam mình trong một nơi kín hằng mấy chục năm, chỉ sống nhờ vào lòng hảo tâm của dân chúng cung cấp cho ăn qua một lỗ hổng.
- Có người ẩn tu trong một ngôi mả hoang đào trên sườn núi, cạnh con sông hoặc mạch suối.
- Có một kiểu tu đặc độc đáo : Simong Cột leo lên cột đá cao dựng trên đỉnh chót vót để chiêm nghiệm huyền nhiệm thần linh và giảng dạy cho dân chúng suốt 37 năm trường. Vì thế người ta mới gọi là thánh Simong Cột.
          - Noài ra, có một số người sống một đời khắc khổ như mang trên mình xiềng xích nặng làm cho khó đi đứng, mặc áo nhặm thường xuyên, hoặc đứng yên một chỗ không xê dịch, hoặc chỉ ăn hoa quả, không hề động đến thịt, cá, trứng; hoặc đặc biệt hơn chuyên ăn thịt ươn, cá thối.
 
 
  1.    Nên thánh theo cách thông thường .
 * Theo thuyết Chính danh.
 Trong chương trình giáo dục thời xưa, chúng ta thấy Đức Khổng Tử có thuyết “Chính danh” và thuyết này có thể áp dụng vào đường lối nên thánh của chúng ta. Thuyết ấy là :”Quân quân, thần thần, phụ phụ, tử tử”, nghĩa là vua phải sống cho ra vua, tôi phải xứng với bầy tôi, cha phải sống cho ra cha và con phải sống xứng phận làm con. Nếu ai cũng làm trọn trách nhiệm của mình trước mặt Chúa  một cách trọn hảo thì có thể là thánh rồi..
           Ngoài ra,  thuyết chính danh cũng cần kèm theo với chương trinh giáo dục theo từng bậc : tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ.  Nhưng căn bản nhất vẫn là tu thân. Tu thân là sửa mình cho nên tốt, mà tu thân cần nhất phải được thực hiện ngay trong nhà mình, chứ không cần phải ở trong nhà Dòng, vào tu viện để tu thân :
                                       Thứ nhất là tu tại gia,
                                Thứ nhì tu chợ, thứ ba tu chùa.
           Phải chăng tu tại gia, làm thánh ở trong nhà, trong gia đình thì khó lắm ? Tại sao? Vì có những người đi ra khỏi nhà, ai cũng phải cảm phục về cách sống, về lối cư xử, về lời ăn tiếng nói của những người ấy. Thế nhưng khi về đến nhà thì những người trong nhà không sao chịu nổi lối sống của những người đó. Bởi ở trong gia đình mọi chân tướng đều được để lộ ra hết.
           Nên thánh ở trong gia đình là một điều khó, nhưng đó là điều có thể và lại còn bắt buộc. Chúng ta có thể và còn phải trở thành một vị thánh, và trước hết là thánh nhân trong gia đình, không cần phải đi đâu.
           Người giáo dân có thể nên thánh trong gia đình nếu vợ chồng biết thương yêu nhau, nhường nhịn nhau, chu toàn mọi nhiệm vụ của mình, cùng nhau xây dựng hạnh phúc cho gia đình và con cái, biết dưỡng dục con cái cho nên tốt… Chúng ta đã có gương sáng của một vài gia đình, trong đó cả vợ chồng được Giáo hội phong thánh.
 
Truyện : Vợ chồng được phong thánh
           Chúa nhật, ngày 28/10/2001, Đức giáo hoàng Gioan Phaolô II đã phong chân phước cho đôi vợ chồng đầu tiên là Luigi Maria Beltrane Quattrochi thành Rôma kết hôn được 50 năm và có 4 người con, một người con qua đời và 3 người còn sống. Hai con trai là linh mục Philipphê và Césare cùng đồng tế với Đức Giáo hoàng trong lễ phong chân phước cho cha mẹ họ, và một người con gái là Eurichetla. Đức Giáo hoàng đã ca tụng họ sống một đời thường rất phi thường. Ngài muốn nói rằng : sống trong đời đôi bạn gặp biết bao đau khổ, bao gian nan thử thách, họ cũng có thể làm thánh và giúp nhau làm thánh nữa.
           Và vào ngày 19/10/2008, Giáo hội lại phong chân phước cho cha mẹ của thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu. Ông Louis Martin và bà Zélie Gúerin người Pháp. Cả hai đã từng có ý định đi tu, nhưng nhận thấy không có ơn gọi tu trì nên trở về và do sự quan phòng của Thiên Chúa họ đã kết hôn với nhau. Ông bà sống với nhau thật hạnh phúc và có 9 người con.  Chết mất 4 và còn 5 người con gái đều dâng mình cho Chúa và cô con gái út đã làm thánh lớn, đó là thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu.  Phong thánh cho cả hai ông bà, Giáo hội muốn đề cao ơn gọi nên thánh trong đời sống hôn nhân và gia đình. Dù gặp nhiều đau khổ và thử thách, nhất là giáo dục con cái, nhưng họ vẫn có thể làm thánh, nếu họ trông cậy vào ơn Chúa và chu toàn bổn phận hôn nhân vì mến Chúa.
           * Đường thơ ấu thiêng liêng.
           Thánh nữ Têrêsa Hài Đồng Giêsu đã được tôn phong làm tiến sĩ Hội thánh, có lẽ vì thánh nữ đã khám phá ra một con đường nên thánh phù hợp với mọi người, nhất là trong thời đại chúng ta, đó là “đường thơ ấu thiêng liêng”.
           Theo con đường này, nên thánh không cần phải làm những việc đại sự, phi thường hay kỳ diệu mà chỉ cần làm những việc nhỏ với một lòng mến lớn lao “Communia non communiter”.
           Con đường thơ ấu thiêng liêng này không cần những việc hãm mình khác thường, không đặc sủng siêu nhiên, không có phương pháp cầu nguyện riêng, không bận rộn nhiếu công việc… nhưng có những điểm tích cực là làm việc với lòng mến cao độ, tín thác hoàn toàn trong tay Chúa, sống đơn sơ khiêm nhường như trẻ thơ và trung thành với các việc nhỏ mọn.
           Nhờ con đường thơ ấu thiêng liêng này mà Têrêsa Hài Đồng Giêsu đã trở nên vĩ đại và trở nên phi thường trong những cái tầm thường.
           Mừng lễ các thánh nam nữ hôm nay, chúng ta cảm tạ Chúa vì đã ban cho chúng ta mẫu gương sáng ngời của các thánh để khích lệ chúng ta trong việc nên thánh. Chúng ta quyết tâm phải nên thánh trong cuộc sống hằng ngày. Ngày nay chúng ta cần tới một sự thánh thiện tỏa rộng, một hình thức thánh thiện vừa bình dân, vừa gần gũi lại vừa có thể được thực hiện cho hết mọi người, thay vì một hình thức thánh thiện chọn lọc, dành riêng cho một thiểu số. Giáo Hội không phong thánh cốt để mà thờ, nhưng để tôn vinh Thiên Chúa, để khuyến khích chúng ta noi theo và bắt chước.
 Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt


 

AnTáng 30: NẾU  CHÚA  CHẤP  TỘI

NẾU  CHÚA  CHẤP  TỘI AnTáng 30

Mùa báo hiếu
(Lễ cầu cho Các Đẳng)
I. Ý NGHĨA NGÀY LỄ.
 

Hôm qua, Hội thánh hân hoan mừng các con cái mình vinh thắng đang hưởng mặt Chúa trên nởi AnTáng 30

1. Hôm qua, Hội thánh hân hoan mừng các con cái mình vinh thắng đang hưởng mặt Chúa trên nởi vĩnh phúc.
          2. Hôm nay, Hội thánh là Mẹ hiền không thể quên được những đứa con đang bị đau khổ trong nơi thanh luyện. Hội thánh phải cứu giúp để đưa họ về hưởng nhan thánh Chúa.
          3. Ta tin có sự hiện hữu của luyện ngục, nơi giam hãm để thanh luyện các tín hữu qua đời mà còn mang tội nhẹ hay đền tội chưa đủ. Qua tín điều các Thánh thông công, ta có thể cứu giúp được các linh hồn ấy.
 
 
  1.   NẾU CHÚA CHẤP TỘI.
          Ta thường đọc kinh Vực sâu tức Thánh vịnh 130 để cầu cho các linh hồn nơi luyện ngục. Ta để ý đến câu “Nếu Chúa chấp tội nào ai rỗi được” (Tv 130,3). Thiên Chúa là Đấng thánh thiện vô cùng không thể nào để người ta xúc phạm đến. Thế mà con người là tạo vật Chúa dựng nên dám cả gan phạm đến Chúa khi phạm tội, vì khi phạm tội là chống lại với Chúa. Nếu Chúa chấp tội theo sự công thẳng của Ngài thì không ai được cứu rỗi.
          Nhưng chúng ta được an ủi vững vàng khi đọc đến câu “Bởi Chúa tôi hằng có lòng lành cùng vì lời Chúa tôi đã hứa”.  Cậy trông vào lượng từ bi hải hà và tha thứ của Thiên Chúa, ta dám xin Chúa thứ tha các tội ta phạm như lời Ngài đã hứa.
          Theo tín điều các thánh hiệp thông (Giáo lý Công giáo số 962) ta có thể cầu nguyện cho các người đang bị giam phạt trong luyện ngục. Đây là một hành vi thể hiện đức bác ái giữa các thành phần trong Hội thánh.
 
 
  1.   NGÀY THỂ HIỆN ĐẠO “HIẾU”.
          Chữ “HIẾU” rất quan trọng đối với người Á đông. Người ta nâng chữ hiếu lên thành ĐẠO hiếu tức đạo làm con. Theo truyền thống Á đông, tội nặng nhất là tội bất hiếu.
                             Công cha như núi Thái sơn,
                             Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.
                             Một lòng thờ mẹ kính cha,
                             Cho trọn chữ hiếu mới là đạo con.      
                                      (Ca dao)
          Đạo làm con phải đáp đền công ơn sinh thành dưỡng dục của cha mẹ; ơn ấy người ta gọi là “ơn nghĩa cù lao”.
          Trong Kinh thi có câu: “Ai ai phụ mẫu, sinh ngã cù lao” : thương xót thay cha mẹ sinh ta khó nhọc.
          Trong bài thứ 5, dạy học trò sống cho phải đạo, sách Gia huấn ca của Nguyễn Trãi có viết :
                                      Chữ rằng sinh ngã cù lao,
                                   Bể sâu khôn ví, trời cao khôn bì.
                                             (Nguyễn Trãi)
          Trong mười giới răn của Đạo Công giáo có một giới răn nói về vấn đề này :”Thứ bốn thảo kính cha mẹ” (x. Xh 20,10). Thảo kính là yêu mến, biết ơn, vâng lời và giúp đỡ cha mẹ khi còn sống và đã qua đời (x. Giáo lý Công giáo số 2215-2218).  Giúp đỡ cha mẹ khi đã qua đời cũng là một bổn phận phải làm tròn đối với người công giáo cũng như người ngoại giáo.
          Vào rằm tháng bảy mỗi năm, người Phật tử tổ chức lễ Vu lan rất trọng thể và cảm động. Đây là lễ hội con cái báo hiếu cha mẹ. Người ta đến chùa qùy lạy trước Phật đài, đem lòng thành kính, cầu xin từ bi của Tam Bảo cứu độ cho cha mẹ được giải thoát.
          Nghĩa làm con, phụng dưỡng cha mẹ còn sống, cha mẹ mất cũng thắp đèn trời, ngày đêmkhấn nguyện.  Chữ hiếu sống cho trọn vẹn,  cao đẹp dường bao.
                             Công dưỡng dục thâm ơn dốc trả
                             Nghĩa sinh thành đạo cả mong đền,
                             Làm con hiếu hạnh vi tiên.
                                      (Kinh Vu lan bồn)
          Ở phương Tây, tuy không có tục thờ tổ tiên, tuy chữ hiếu không nâng lên thành đạo, nhưng không vì thế mà không có ngày dành riêng để nhớ đến công ơn sinh thành dưỡng dục của ông bà cha mẹ. Vì thế, thánh 11 hằng năm là tháng dành riêng để cầu nguyện cho những người đã qua đời, đặc biệt là ngày 02 tháng 11 mỗi năm. Như vậy, có thể nói thời gian tháng 11 là mùa Vu lan báo hiếu đến muộn của người Tây phương.
          Chúng ta hãy đọc lại đoạn sách GIÁO HUẤN CA 3,1-16 để hiểu biết nghĩa vụ của con cái đối với ông bà cha mẹ.
          Có hai câu đáng chú ý :
* “Hãy thảo kính cha con bằng lời nói việc làm, để nhờ người mà con dược chúc
phúc” (Hc 3,8).
* “Lòng hiếu nghĩa đối với cha sẽ không bị lãng quên và sẽ đền bù tội lỗi cho con”         
                        (Hc 3,14).
Hôm nay ông bà cha mẹ đang mong con cái thực hiện thực hiện chữ hiếu mà Chúa đã răn
dạy.  Vậy chúng ta sẽ làm được những gì trong ngày hôm nay và mãi mãi ?
Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt


 

AnTáng 31: HÀNH TRÌNH VỀ NHÀ CHA

HÀNH TRÌNH VỀ NHÀ CHA AnTáng 31

I. TRIỂN KHAI LỜI CHÚA.
          Chúng ta đọc : Ga 14,1-6.
 

Chúa Giêsu báo trước cho các Tông đồ cuộc ra đi của Ngài., nhưng Chúa yên ủi các ông : Ngài sẽ AnTáng 31

Chúa Giêsu báo trước cho các Tông đồ cuộc ra đi của Ngài., nhưng Chúa yên ủi các ông : Ngài sẽ về cùng Cha và sẽ dọn chỗ cho các ông vì nhà Cha còn có nhiều chỗ.  Cứ tin vào Ngài, Ngài đi dọn chỗ và sẽ đưa các ông đến với Ngài để Ngài ở đâu, các ông cũng sẽ ở đó.
          Ngài còn thêm :”Thầy đi đâu, các con đã biết đường rồi”
          Điều này làm cho ông Tôma thắc mắc và đã hỏi Chúa :”Thưa Thầy, chúng con không biết Thầy đi đâu, làm sao chúng con biết được đường”?
          Ngài đáp:”Chính Thầy là đường, là sự thật và là sự sống”.
          Vâng, Chúa Giêsu là đường, ta cứ theo Ngài. Theo Ngài là phải lên đường, mà lên đường là làm một cuộc hành trình, hành trình về nhà Cha.
 
II. ĐỜI LÀ MỘT CUỘC HÀNH TRÌNH
          Mỗi người phải làm một cuộc hành trình trong đời, dài hay ngắn tùy Chúa định.  Cuộc hành của con người thường có bốn giai đoạn : sinh ra, lớn lên, già đi  rồi chết.  Cuộc hành trình có thể rút ngắn lại thành hai hoặc ba giai đoạn như sinh ra và chết, đó là trường hợp của những người chết non. Nhưng bình thường, cuộc hành trình ấy diễn ra theo bốn giai đoạn :
          1. Lọt lòng mẹ : khi cất tiếng khóc chào đời là con người có mặt trên mặt đất và là khởi đầu của một cuộc hành trình trên trần gian này.
          2. Tuổi trẻ : lớn lên trong sự hồn nhiên của những ngày thơ ấu, mơ mộng và suy tư của tuổi thiếu niên và yêu đương trong tuổi trưởng thành.
          3. Tuổi trung : trong thời gian này đã lập được sự nghiệp với bao buồn vui của cuộc sống. Có người thành công vinh hiển, có người thất bại ê chề.
4. Tuổi già : lúc này con người đã xuống sức, không còn nhiệt tình như hồi còn trẻ, họ thích được an nhàn để hưởng tuổi già và cũng là thời gian chuẩn bị cho cái chết.
Người ta nói rằng :Nhân sinh tự cổ thùy vô tử” : ai sinh ra mà không phải chết ?  Cuộc đời là một cuộc hành trình và cuộc hành trình nào cũng phải có điểm đến.  Nhưng khi bắt đầu cuộc hành trình chúng ta đã nhắm đến cái đích phải đến chưa ?
          Cách đay hơn 100 năm, khi đường sắt mới được phát minh, nhu cầu đi lại mỗi lúc một nhiều,  một văn sĩ nọ, đã ghi ra một số chỉ dẫn cho hành khách.  Trong đó ông khuyên dặn như sau:
“Trước khi bắt đầu cuộc hành trình, hành khách nên quyết định : mình sẽ đi đâu, sẽ lên chuyến xe lửa nào và ở đâu, tại nơi nào sẽ đổi tầu”.
          Hoặc một nơi khác, ông khuyên người ta khi đi tầu mang ít hành lý bao nhiêu càng tốt.
          Ngày nay, xe lửa đã cải tiến nhiều, nhưng dù sao khi bước vào xe lửa, chúng ta cũng được mời gọi để tưởng đến chuyến đi của cuộc đời.  Vì cuộc đời cũng là một chuyến đi, và chúng ta cũng mang theo mình một câu hỏi : Tôi sẽ đi đâu ? Và chuẩn bị gì cho cuộc hành trình ?
          Ở Phi-luật-tân, tại một số tuyến đường liên tỉnh, người ta còn đọc được những hiệu giúp chúng ta suy nghĩ : ĐÂY LÀ CHUYẾN ĐI CUỐI CÙNG CỦA BẠN.
          Đây không phải là cái nhìn bi quan về cuộc sống, nhưng là một cái nhìn trong suốt về hướng đi của cuộc đời, để nhắc nhở chúng ta  hãy làm tốt mọi công việc như là lần cuối cùng ta làm vậy :”HÃY SẴN SÀNG LUÔN” (Lc 12,40).
          Phải công nhận rằng : cuộc hành trình nào cũng được kết thúc bằng cái chết. Chết là một công lệ của loài người vì đó là hậu quả của tội nguyên tổ. Chết là một tai hoạ nhưng là một tai họa cần thiết :”Nếu  hạt lúa gieo vào lòng đất không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu chết đi nó mới sinh được nhiều hạt khác” (Ga 12,24).
          Cũng thế, nếu không chết đi thì làm sao có thể đi về đời sau, đi vào hưởng vinh phúc trong nhà Cha ?  Cũng như Chúa Giêsu không chết đi thì làm sao có thể sống lại được để mà được tôn vinh.  Chết là một điều kiện cần thiết để được về nhà Cha.
 
III. CUỘC HÀNH TRÌNH PHẢI CÓ ĐIỂM ĐẾN.
          Trước khi khởi sự một cuộc hành trình, bao giờ cũng phải nghĩ tới điểm đến, không lẽ lên đường mà không biết đi đâu.  Muốn có một điểm đến là phải lựa chọn mà lựa chọn là day dứt ; sau lựa chọn là quyết định, mà quyết định bao giờ cũng căng thẳng bởi vì nó sẽ đưa đến hậu quả.
          Khi một người định đi tham quan một nước nào trong một thời gian, chắc chắn người đó phải chuẩn bị rất kỹ.  Người ấy sẽ nói nhiều về nước đó, đọc nhiều tài liệu về tập quán, phong tục của nước đó.
          Nhưng nhiều người nói rằng hy vọng một ngày kia sẽ vào Nước Trời, mà không bao giờ nói về nước ấy, cũng không đọc tài liệu hướng dẫn duy nhất là Kinh Thánh, như thế làm sao nói được là có hy vọng hay là sẽ vào Nước Trời..
 
                                      Truyện : Không chuẩn bị.
          Một người có quyền thế danh vọng ở đời bỗng nhiên chết bất ngờ. Người quản gia vội vàng báo tin cho thuộc hạ trong nhà  tin buồn này.  Người ấy nói :
          - Theo các anh thì ông chủ của chúng ta sẽ đi về đâu ?
          Các thuộc hạ đáp :
          - Ông ấy lên trời chứ đi đâu nữa ?
          Người quản gia nói :
          - Không đâu. Tôi chắc chắn ông ta không lên trời.
          Những người thuộc hạ ngạc nhiên nói :
          - Thường thì đi đâu xa, ông chủ của chúng ta thường nói về nước sẽ đi đến và chuẩn bị rất là cẩn thận. Nước Trời là cõi xa xôi, nhưng tôi không bao giờ thấy ông chủ của mình nói gì về nước đó, cũng không thấy ông ta chuẩn bị gì cả. Làm thế nào mà ông ta vào Nước Trời được !
                                      (Giọt nuớc mắt cuối cùng, tr 12-13)
          Giờ kết thúc cuộc hành trình không phải là quyết định chung cuộc mà chỉ là kết quả của lựa chọn và quyết định của cả ba gian đoạn kia : sinh ra, lớn lên, gìa đi.
          Đừng dựa vào phép lạ Chúa thay đổi con người vào giờ phút cuối cùng.  Đó là trường hợp họa hiếm và khác thường.  Thiên Chúa ít khi hành động khác thường mà chỉ hành động bình thường nghĩa là Chúa ban ơn, tạo điều kiện thuận lợi, con người phải hành động để đạt lấy phần rỗi. Thiên Chúa luôn luôn tôn trọng tự do của con người : lên thiên đàng hoặc xuống hoả ngục là do con người định lấy.
 
          KẾT LUẬN.
          Giờ kết thúc cuộc hành trình trên trần gian không phải mới là quyết định chung cuộc mà chỉ là hậu quả của sự lựa chọn và quyết định của cả bốn giai đoạn trước : sinh ra, lớn lên, già đi và chết.
          Đừng có không tưởng mà dựa vào phép lạ do Chúa thay đổi con người vào giây phút chót. Đó là trường hợp họa hiếm và khác thường.  Thiên Chúa ít khi hành động khác thường mà chỉ hành động một cách bình thường nghĩa là Chúa ban ơn trợ giúp, tạo điều kiện thuận lợi để con người có thể hành động : facienti id quod in se est, Deus gratiam non denegat.  Thiên Chúa luôn tôn trọng tự do con người : lên thiên đàng hay xuống hỏa ngục, đó là tự do của con người.
 Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt


 

AnTáng 32: KHU VƯỜN CUỘC SỐNG

KHU VƯỜN CUỘC SỐNG AnTáng 32

I. SUY NIỆM LỜI CHÚA.
          Chúng ta đọc : Lc 13,1-9.
 

Khi đi rao giảng Tin mừng, Chúa Giêsu lặp lại chủ đề mà chính Gioan Tẩy giả đã rao giảng :”Hãy AnTáng 32

Khi đi rao giảng Tin mừng, Chúa Giêsu lặp lại chủ đề mà chính Gioan Tẩy giả đã rao giảng :”Hãy sám hối vì Nước Trời đã gần đến” (Mt 3,2; Mc 1,14-15).
           Nhân dịp có người đến kể cho Chúa Giêsu nghe hai biến cố mới xẩy ra :
-          Biến cố thứ nhất : Quan Philatô ra lệnh giết những người Galilê nổi dậy.
-          Biến cố thứ hai : tháp Siloe đổ xuống đè chết mười tám người.
Chúa Giêsu dựa vào hai biến cố này mà khuyên nhủ mọi người hãy hối cải :”Nếu các ông không sám hối, thì các ông cũng sẽ chết như vậy”(Lc 13,3).
          Theo quan niệm nhân quả, người ta coi đó là hình phạt mà Thiên Chúa giáng xuống người tội lỗi, và những ai thoát nạn thì được coi là công chính. Đức Giêsu bác bỏ quan niệm nông cạn này (Ga 9,2-3) và chỉ cho thấy rằng, các biến cố đó là một lời cảnh cáo : mọi người đều có tội, nên đều phải sám hối.
          Qua dụ ngôn cây vả, chúng ta thấy Chúa Giêsu là Đấng nhân lành, thương xót và nhẫn nại : suốt ba năm trời vất vả giảng dạy dân Do thái, mà họ không trở lại. Tuy vậy,  Ngài xin cho họ  được thêm một năm ân huệ nữa để hoán cải.
          Chúa cũng yêu thương và nhẫn nại đối với mọi người chúng ta, đồng thời Ngài cũng kiên nhẫn đợi chờ chúng ta thanh tẩy đời sống và thánh hóa bản thân mỗi ngày. Chúng ta phải làm cho cuộc sống của chúng ta  được sinh hioa kết quả trước mặt Chúa. Cây vả trong khu vườn chúng ta  có hoa quả không ? Và chúng ta đã săn sóc khu vườn cuộc sống của chúng ta thế nào.
          Nói tới khu vườn cuộc sống, chúng ta phân ra hai loại vườn : khu vườn tự nhiên và khu vườn siêu nhiên. Chúng ta hãy chú ý tới khu vườn siêu nhiên hay hay khu vườn thiêng liêng hơn, đó là cuộc sống của linh hồn.
 
II. KHU VƯỜN TỰ NHIÊN.
          1. Ngày xưa Thiên Chúa đã dựng nên ông Adong bằng bùn đất và đặt ông vào vườn Êđen, để cầy cấy và canh giữ đất đai (x. St 2,15). Như vậy Thiên Chúa trao cho Adong nhiệm vụ phải làm cho vườn đất sinh hoa kết quả tốt.
          2. Ngày nay, Thiên Chúa cũng trao cho chúng ta  một khu vườn để canh tác, để sản xuất ra lương thực nuôi sống con người.
          Trong việc canh tác, người ta đòi hỏi bốn điều kiện bất khả khuyết để tăng năng suất, đó là nước, phân, cần, giống. Trong thiên nhiên Thiên Chúa đã ban cho con người đầy đủ những yếu tố đó. Con yếu tố “cần” là sức khỏe Chúa ban cho từng người , phù hợp với từng công việc.
          3. Con người phải lao động để tham dự vào việc sáng tạo của Thiên Chúa. Lao động tự nó không phải là hinh phạt do tội nguyên tổ, vì trước khi phạm tội, Adong đã phải làm việc theo lệnh của Thiên Chúa.  Vì thế lao động không phải là hình phạt, cũng không phải là sở thích hay một nghệ thuật, mà là một bổn phận, một trách nhiệm đòi buộc con người phải làm tròn.
          Chính Chúa Giêsu đã nói về Lao động :”Cho đến nay, Cha Ta vẫn làm việc, thì Ta cũng làm việc”(Ga 5,17).
          Thánh Phaolô còn nhấn mạnh hơn  khi nói với các tín hữu Thessalonica :”Ai không chịu làm thì cũng đừng ăn. Thế mà chúng tôi nghe nói : trong anh em có một số người sống vô kỷ luật, chẳng làm việc gì, mà việc gì cũng xen vào”(2Tx 3,10-11).
          4. Trong khu vườn có thể chỉ trồng cây lương thực để nuôi sống hay chỉ trồng hoa để thưởng thức. Mỗi loại có công dụng riêng của nó và có một ý nghĩa riêng. Tất cả đều nhằm phục vụ cho đời sống con người.
 
III. KHU VƯỜN SIÊU NHIÊN.
          1. Cuộc sống của chúng ta vừa là khu vườn tự nhiên, vừa là khu vườn siêu nhiên mà Chúa đã trao cho chúng ta săn sóc.. Trong cả hai loại vườn này Thiên Chúa đã ban cho đủ bốn yếu tố : nước, phân, cần giống, đó là những hồng ân Chúa ban : ơn Thánh hóa và ơn trợ giúp, mà Chúa đã ban cho chúng ta hằng ngày. Chúng ta phải dùng những ơn ấy mà làm cho đời sống siêu nhiên chúng ta phát triển thêm mỗi ngày.
          Hãy nhìn lại cuộc sống của đời mình, chúng ta đã dùng hết các hồng ân Chúa ban cho hay chưa ?  Chúng ta có để cho ơn Chúa trở nên vô ích không ? Chúng ta đã làm nên công phúc gì trước mặt Chúa chưa ?
          2. Phải chăm chỉ làm việc cho cuộc sống tâm linh phát triển mãi.  Như thế có nghĩa là phải sống những giây phút hiện tại.  Chắc hẳn rất nhiều người trong chúng ta biết rằng từ ngữ “Present” rất đặc biệt, nó vừa mang nghĩa là “hiện tại” vừa mang nghĩa là “món quà”.  Và có ai đó đã nói :”Quá khứ là lịch sử. Tương lai là mầu nhiệm. Và hiện tại là một món quà của cuộc sống”
          Cuộc sống chính là món quà vô giá, là tặng phẩm mà Thiên Chúa trao ban cho mỗi người chúng ta.  Quá khứ thì đã qua, tương lai thì chưa đến. Tất cả những gì chúng ta có là hiện tại.  Thước đo sự bình an tinh thần và hiệu quả của cá nhân được thể hiện ở khả năng sống cho hiện tại của chúng ta. Bây giờ là lúc chúng ta hiện hữu. Không cần biết điều gì đã xẩy ra ngày hôm qua và điều gì sẽ xẩy ra ngày mai. Từ quan điểm này, chìa khóa cho hạnh phúc chính là tập trung đầu óc chúng ta vào thời khắc hiện tại.
          Rất nhiều người trong chúng ta hay sắp đặt cho tương lai mà quên mất điều quan trọng là không ai trong chúng ta được đảm bảo là  chúng ta sống vào ngày mai, chúng ta chỉ có hôm nay thôi. Sống cho hiện tại có nghĩa là  chúng ta thích thú bất kỳ điều gì chúng ta đang làm, chứ không phải chỉ tập trung vào kết quả của nó.  Sống trong hiện tại là mở rộng tầm hiểu biết để làm cho giây phút hiện tại trở nên quí giá hơn là luôn khép kín. Sống ở khoảnh khắc hiện tại, là chúng ta hành động mà không sợ hậu quả. Đó là cống hiến nỗ lực của mình để dấn thân mà không lo là mình có được phần thưởng xứng đáng hay không.
          Hãy sẵn sàng chờ đợi Chúa đến gọi chúng ta về với Chúa và sẽ được trình diện và dâng lên Chúa những hoa quả tốt đẹp đã thu lượm được trong cuộc sống ở trần gian này. Hãy làm việc với tất cả trách nhiệm, còn Chúa đến lúc nào không cần biết. Chỉ cần biết một điều : chúng ta chăm chỉ làm việc trong tinh thần chờ đợi Chúa đến.
 
                                      Truyện : Vườn hoa xinh đẹp.
          Tại Thụy Sĩ, có một vườn hoa tuyệt đẹp, đủ loại hoa, đủ mầu sắc... Nằm giữa vườn là một vườn hoa tráng lệ.  Nhìn vườn hoa với cảnh phối trí, cắt tỉa, uốn nắn…  ai cũng phải công nhận đã có sự chăm sóc kỹ lưỡng, kèm theo một óc thẩm mỹ hiếm có của người chủ vườn. Một du khách đi qua đây, thoáng nhìn, ông đã thấy say mê. Giữa lúc đó, người làm vườn bước ra. Chủ khách chào hỏi lẫn nhau. Rồi từ chuyện hoa cỏ, cách chăm bón, trồng tỉa, sự phối hợp mầu sắc, câu chuyện đi đến chỗ thân tình.
          Du khách hỏi :
-          Xin lỗi cụ, cụ ở đây được bao lâu rồi ?
-          Khoảng 40 năm.
-          Tôi đoán, có lẽ ông chủ của cụ rất sành về nghề cảnh,  chắc giờ này ông có nhà Ông ta không có ở đây, thỉnh thoảng mới ghé qua đây thôi.
-          Ông có thư từ gì với cụ không ?
-          Không, ông ta bận lắm.
-    Ông ta không về cũng không thư từ, thì ai trả lương cho cụ ?
-    Hàng tháng tôi chỉ nhận được ngân phía từ ông ta  để chi phí mọi sự cho khu vườn này.
-    Thế tội gì ông phải săn sóc kỹ lưỡng như thế này, ông chủ có mấy khi đến thưởng ngoạn đâu
-   Tôi thì lại không nghĩ thế, mình là một gia nhân được chủ tin nhiệm được trao phó bảo quản khu vườn này, mình phải tận tụy chứ lúc nào ông chủ về cũng được, ông sẽ hài lòng với công việc của tôi. Hơn nữa, khi làm đẹp khu vườn cho chủ, chính tôi cũng được thưởng ngoạn  cảnh đẹp do chính tay mình làm nên.
3. Chúng ta không biết khu vườn cuộc sống của ông X thế nào, chỉ có Chúa biết. Với 91 năm sống ở trần gian này, hy vọng hôm nay ông sẽ vui vẻ trình lên Chúa những hoa quả tốt đẹp đã thu lượm được trong khu vườn cuộc sống ở trần gian này.
 Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt


 

AnTáng 33: SỐNG GIÂY PHÚT HIỆN TẠI

SỐNG GIÂY PHÚT HIỆN TẠI AnTáng 33

I. SUY NIỆM LỜI CHÚA.
          Khi ấy Chúa phán:“Anh em hãy thắt lưng cho gọn, thắp đèn cho sẵn. Hãy làm như những người đợi chủ đi ăn cưới về, để khi chủ vừa về tới và gõ cửa, là mở ngay. Khi chủ về mà thấy những đầy tớ ấy đang tỉnh thức, thì thật là phúc ho họ. Thầy bảo thật anh em : chủ sẽ thắt lưng, đưa họ vào bàn ăn, và đến bên từng người mà phục vụ. Nếu canh hai hoặc canh ba chủ mới về, mà còn thấy họ tỉnh thức như vậy, thì thật là phúc cho họ. Anh em hãy biết điều này : nếu chủ nhà biết giờ nào kẻ trộm đến, hẳn ông đã không để nó khoét vách nhà mình đâu. Anh em cũng vậy, hẵy sẵn sàng vì chính giờ phút anh em không ngờ, thì Con Người sẽ đến” (Lc 12, 35-40).
 

Sau khi Đức Giêsu giảng dạy dân chúng về vấn đề đừng ham mê của cải (Lc 12,13-21), hãy tin tưởng AnTáng 33 (SỐNG GIÂY PHÚT HIỆN TẠI)

Sau khi Đức Giêsu giảng dạy dân chúng về vấn đề đừng ham mê của cải (Lc 12,13-21), hãy tin tưởng vào Chúa quan phòng (Lc  12,22-32) và hãy tích trữ của cải cho đời sau (Lc 12,33-34), thì ở đây, Ngài nhắn nhủ phải thực hiện những lời giáo huấn để luôn luôn sẵn sàng cho giờ chết của mình.
          Tư tưởng ấy được minh họa qua dụ ngôn “người đầy tớ tỉnh thức” :  như người đầy tớ đang đợi ông chủ đi ăn cưới không biết sẽ về vào lúc nào vì tiệc cưới của người Do thái kéo dài không biết đến bao giờ mới kết thúc, có khi kết thúc buổi chiều, có khi mãi tới nửa đêm hay muộân hơn nữa. Người đầy tớ ấy phải  “thắt lưng cho gọn” (tư thế sẵn sàng làm việc) và “thắp đèn cho sẵn” để khi chủ về thấy lối mà vào nhà, đó là tư cách sẵn sàng phục vụ.
          Nếu biết rõ lúc nào chủ về thì dễ hơn nhiều vì chỉ cần chờ đến lúc đó mới thắt lưng, mới thắp đèn. Nhưng vì không biết chừng nào chủ về nên phải sẵn sàng luôn. Vừa nghe thấy một tín hiệu nhỏ cho biết chủ sắp về là mau mắn làm việc và phục vụ ngay. Như thế tỉnh thức đi kèm với sẵn sàng và nhanh nhạy.
          Người đầy tớ phải tỉnh thức, nhưng tỉnh thức để làm gì ? Dụ ngôn nói “để đợi chủ về”. Chúng ta có thể hiểu dưới ba ý nghĩa :
-          Nghĩa đầu tiên là đợi chờ ngày Chúa Giêsu lại đến.
-          Nghĩa thứ hai là ngày chết của mỗi người.
-          Nghĩa thứ ba là những lúc Chúa đến viếng thăm ban ơn cho ta.
Trong cả ba trường hợp ấy, chỉ có tỉnh thức, sẵn sàng và nhanh nhạy mới gặp được Chúa và được Chúa thưởng cho.
          Lời Chúa được ngỏ với con người xuyên qua cuộc sống mỗi ngày, nên cũng luôn mang tính bất ngờ. Chính trong những cái thường nhật, nhỏ bé , độc điệu mỗi ngày, con người được mời gọi để nhận ra lời ngỏ của Chúa. Chính trong những cái bất ngờ của cuộc sống mà con người được mời gọi để nhận ra tiếng Ngài… Xin Ngài ban cho chúng ta luôn có con mắt rộng mở để nhận thấy Ngài trong từng biến cố cuộc sống. Xin Ngài ban cho ta đôi tai tinh tường để biết lắng nghe tiếng mời gọi của Ngài trong từng phút giây cuộc sống. Xin Ngài cho chúng ta quả tim và đôi tay rộng mở để biết chia sẻ cho tha nhân là hiện thân của Ngài (Trích “Mỗi ngày một tin vui”).
 
II. TỈNH THỨC TRONG TỪNG GIÂY PHÚT.
          Thái độ cơ bản của người Kitô hữu là “Tỉnh thức”. Người Kitô hữu tỉnh thức vì biết rằng mỗi khoảnh khắc đều mang một ý nghĩa đối với một giai đoạn mới hoặc cần thiết cho sự trưởng thành, mỗi biến cố đều mang nặng sự hiện diện và tác động của Thiên Chúa.
          Tỉnh thức luôn tức là biết sống từng giây từng phút trong cuộc sống hiện tại.  Chúng ta thấy tiếng Anh có từ “Present” rất đặc biệt. Nó vừa mang nghĩa là “hiện tại”vừa mang nghĩa là “món quà”. Vì thế, có ai đó đã nói :”Quá khứ là lịch sử.  Tương lai là mầu nhiệm. Còn hiện tại là món quà của cuộc sống”.
          Cuộc sống chính là món quà vô giá, là tặng phẩm mà Thiên Chúa trao ban cho mỗi người chúng ta. Quá khứ thì đã  qua, tương lai thì chưa đến. Tất cả những gì chúng ta có là hiện tại.  Thước đo sự bình an tinh thần và hiệu quả cá nhân được thể hiện ở khả năng sống cho hiện tại của chúng ta. Bây giờ là lúc đang hiện hữu. Không cần biết điều gì đã xẩy ra ngày hôm qua và điều gì sẽ xẩy ra ngày mai. Từ quan điểm này, chìa khóa cho hạnh phúc chính là tập trung đầu óc chúng ta vào thời  khắc hiện tại.
          Rất nhiều người trong chúng ta hay sắp đặt cho tương lai mà quên mất điều quan trọng là không ai trong chúng ta  được bảo đảm là chúng ta sống vào ngày mai, chúng ta chỉ có hôm nay thôi.
          Sống trong hiện tại có nghĩa là chúng ta thích thú bất kỳ điều gì chúng ta đang làm,  chứ không phải là chỉ tập trung vào kết quả của nó. Tại sao chúng ta vừa không nhổ cỏ, vừa thưởng thức gió mát mơn man trên mặt, và nghe tiếng chim hót líu llo trên ngọn cây ?
          Sống trong hiện tại là  mở rộng tầm hiểu biết để làm cho giây phút hiện tại trở nên quí giá  hơn là luôn khép kín. Chúng ta có sự chọn lựa của mình, chúng ta sống và hấp thụ, xúc cảm và lôi cuốn.
          Sống ở khoảnh khắc hiện tại là chúng ta hành động mà không sợ hậu quả. Đó là sự cống hiến nỗ lực của mình để dấn thân  mà không lo là mình có được phần thưởng xứng đáng hay không ? Vậy nếu chúng ta lo lắng, bất an, hãy làm cái gì đó đi, bất kỳ cái gì để giải phóng đầu óc và tìm sự bình thản cho tâm hôn.
          Thời gian không thật sự hiện hữu, nó chỉ là một khái niệm trừu tượng trong đầu chúng ta. Hiện tại là thời gian duy nhất mà chúng ta có. Hãy làm điều gì đó vào lúc này (Theo “Being Happy” của Andrew Mathews).
          Vậy tỉnh thức đối với chúng ta không là gì khác là phải biết sống những giây phút hiện tại mà Chúa ban cho chúng ta. Chuẩn bị cho ngày chết cũng chỉ là sống những giây phút hiện tại cho hợp với ý Chúa. Sách Giảng viên nói :”Omnia tempus habent”(Gv 3,1) : mọi sự có thời giờ của nó. Nếu chúng ta biết sống đầy đủ những giây phút hiện tại, thì chúng ta không phải lo gì đến cái chết.
          Mới đây, tại Thụy sĩ, người ta đã dùng điện thoại để phóng vấn 1.200 người tại 20 thành phố khác nhau về việc chuẩn bị chết.  Câu hỏi được đặt như sau :”Nếu bạn chỉ còn một ngày nữa để sống, bạn sẽ làm gì” ? Kết quả của cuộc thăm dò được phân chia như sau :
-          57% những người được phỏng vấn trả lời rằng họ sẽ sống ngày cuối cùng với gia đình. 12% muốn ở một mình hoặc với bạn bè.
-          26% người đàn ông được hỏi cho biết họ sẽ sống ngày cuối cùng đó với gia đình. 42% khác thích ở một mình hoặc cùng với bạn bè.
-          32% đàn ông lẫn đàn bà muốn được sống với gia đình trong những giây phút cuối đời.
-          6% người đàn ông muốn được sống bên vợ.
Trên đây có lẽ chỉ là những con số  không đại diện cho ước muốn hay suy nghĩ cho tất cả mọi người. Nhưng xuyên qua kết quả đó, chúng ta cũng có thể đọc được một thái độ chung của con người khi đứng trước sự chết : đó là sự cô đơn.
          Cái chết là một chia ly vĩnh viễn, nhất là với những người thân của chúng ta. Nếu câu hỏi trên đây được đặt ra  cho bạn phút này đây, bạn sẽ làm gì ?
          Có lẽ chúng ta còn nhớ chuyện của một vị thánh trẻ khi được hỏi về cách thế chuẩn bị chết (có lẽ là thánh Gioan Berchmans). Giữa một đám trẻ đang chơi đùa, viên giám thị đặt câu hỏi : Nếu ngay bây giờ, chúng con biết mình sắp chết, chúng con sẽ làm gì ?
         Một số trả lời rằng sẽ đi vào nhà thờ cầu nguyện, một số cho biết sẽ đi xưng tội để dọn mình chết lành… Chỉ có một cậu bé điềm nhiên trả lời :”Nếu trong giây lát tôi có chết, tôi cũng sẽ tiếp tục cuộc chơi”.
          Có lẽ đó là câu trả lời làm cho viên giám thị ưng ý nhất, bởi vì nếu giải trí lành mạnh là một bổn phận, thì việc thánh hóa trước tiên phải nằm trong bổn phận hằng ngày.
          Nếu chúng ta biết lắng nghe tiếng Chúa trong từng biến cố, nếu chúng ta biết gặp gỡ Chúa trong từng sinh hoạt, nếu chúng ta biết tiếp xúc với Chúa trong từng giây phút… thì cái chết chỉ là một nối dài của cuộc gặp gỡ đó. Người luôn trung thành với những gặp gỡ trong giây phút hiện tại, sẽ không phải hãi sợ trong cuộc gặp gỡ tối hậu là cái chết.
          Một lần nữa, chúng ta khẳng định rằng :”Quá khứ là lịch sử”, mà đã là lịch sử thì không thể thay đổi được. Còn ngay mai là “một mầu nhiệm”,  nằm ngoài tầm tay chúng ta, chúng ta hãy đặt nó vào trong bàn tay quan phòng của Chúa, Ngài sẽ lo cho ngày mai của ta.  Vậy thì còn hôm nay –
Hôm nay hoàn toàn thuộc về chúng ta. Hãy nắm bắt mọi cơ hội. Hãy sống cho hiện tại. Hãy làm tất cả những gì chúng ta có trong ngày hôm nay một cách tốt nhất mà chúng ta có thể, trước khi điều mà chúng ta chờ đợi xẩy đến.
 Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt


 

AnTáng 34:  PHÁN XÉT RIÊNG

PHÁN XÉT RIÊNG AnTáng 34

I. SUY NIỆM LỜI CHÚA.
          Chúng ta đọc : Mt 25,31-46; Rm 14,7-9.10b-12).
 

Qua bài Tin mừng vừa nghe, chúng ta thấy Chúa Giêsu loan báo sẽ có ngày phán xét chung trong AnTáng 34

Qua bài Tin mừng vừa nghe, chúng ta thấy Chúa Giêsu loan báo sẽ có ngày phán xét chung trong ngày tận thế. Trong ngày đó, mọi người sẽ được sống lại để chịu phán xét. Chúa Giêsu sẽ ngự đến với tư cách là vị Vua Thẩm phán, có các thiên thần hầu cạnh, để phán xét mọi người. Ngài sẽ phân tách người ta thành hai loại : kẻ lành ở bên hữu, kẻ dữ đứng bên tả như người ta tách chiên ra khỏi dê. Ngài sẽ phán xét việc lành việc dữ của từng người trước mặt cả và thiên hạ. Sau đó, Ngài định đoạt cho số phận từng người : Kẻ lành lên thiên đàng cả hồn cả xác để hưởng vinh quang bên Chúa; ngược lại kẻ dữ thì phải vào hỏa ngục chịu hình phạt đời đời.
          Trong thư gửi cho tín hữu Rôma, thánh Phaolô nhắc nhở mọi người nhớ mình là người đã thuộc về Chúa, cho nên dù sống dù chết, không có gì ngoài Chúa. Chúng ta sẽ phải trả lẽ với Chúa, sẽ phải trả lời về chính mình trước mặt Chúa (Rm 14,10-12).  Không có gì có thể che giấu được, mọi sự sẽ phải được đưa ra ánh sáng (2Cr 5,10). Như vậy, thánh Phaolô khẳng định với chúng ta rằng sẽ có phán xét, nhưng ngài không xác định là phán xét chung hay phán xét riêng.
 
II. NÓI VỀ NGÀY PHÁN XÉT RIÊNG.
 
  1.     Theo quan niệm chung.
Người đời ai cũng tin tưởng rằng phải có thưởng phạt sau khi chết.  Người Việt chúng ta tin  theo thuyết quả báo :”Thiện ác đáo đầu chung hữu báo” : tội phúc sau cùng phải có quả báo. Từ quan niệm quả báo đó, người ta đưa ra nguyên tắc :”Hữu công tắc thưởng, hữu tội tắc trừng” : có công phúc thì được thưởng, có tôi thì phải phạt.  Như thế mới có sự công bằng, mới hợp lý.
          Vì thế, phán xét là một quan niệm lâu đời trong các tôn giáo cổ xưa. Theo quan niệm này, thần minh xét xử con người và thưởng phạt tùy theo tội phúc họ đã làm.
          Trong ý nghĩa thần học, phán xét là hành động chung quyết của Thiên Chúa, qua đó, số phận của các thụ tạo tự do được xác định vĩnh viễn.
 
 
  1.     Diễn tiến tư tưởng về phán xét riêng.
Từ ban đầu, các tín hữu đầu tiên ít quan tâm đến phán xét riêng. Mãi đến thế kỷ thứ 4, có một ý kiến phổ thông – như thánh Ambrôsiô – cho rằng có những nơi tạm trú (habitations provisoires) chờ sẵn các linh hồn sau khi lìa xác.  Chỗ tạm trú không phải mọi người giống nhau. Có người phải chịu phạt, có người lại được thưởng công.  Quan điểm cho thấy  quan niệm phán xét riêng đã được manh nha, từ đây các giáo phụ nói nhiều về phán xét riêng như thánh Hilariô, thánh Basiliô, thánh Gioan Chrysostômô, thánh Augustinô…
          Tới năm 1276, bản tuyên ngôn của Đức giáo hoàng Clêmentê II là bản kinh chính thức đầu tiên phân biệt phán xét chung và phán xét riêng. Từ đó phán xét riêng bắt đầu chiếm ưu thế trong giảng dạy và thần học.
         Một tác giả thời danh của thế kỷ này là thánh Tôma Aquinô cũng dạy : mỗi người vừa là một ngôi vị riêng biệt, vừa là thành phần của toàn thể nhân loại, nên cần có 2 cuộc phán xét. Phán xét riêng liền sau khi chết và một cuộc phán xét khác vì là thành phần của cả nhân loại.
Theo công đồng Lyon II năm 1274 và công đồng Florence năm 1439, thì liền sau khi chết, kẻ lành vào ngay thiên đàng hay luyện ngục và kẻ dữ vào ngay hỏa ngục và như vậy là có phán xét riêng.
          Sau cùng, năm 1964, trong hiến chế tín lý về Giáo hội “Lumen Gentium”, công đồng Vatican II dã dạy :”Thật vậy, trước khi ngự trị với Chúa vinh hiển, mọi người chúng ta  đều phải trình diện trước tòa Chúa Kitô”(2Cr 5,10).  Chỗ này nói về phán xét riêng, vì tiếp sau có viết :”Và ngày tận thế”, tức là có hai lần phán xét : trước tận thế và chính ngày tận thế.
 
III. NIỀM TIN CỦA CHÚNG TA NGÀY NAY.
          Phán xét riêng chưa phải là một vấn đề được định tín chính thức, vấn đề này còn bỏ ngỏ để mọi người tìm hiểu thêm, bởi vì trong Kinh Thánh không có chỗ nào nói rõ về một cuộc phán xét riêng liền sau cái chết của mỗi người.
Tuy phán xét riêng chưa phải là vấn đề buộc phải tin nhưng theo sự khôn ngoan và ích lợi cho cuộc sống, chúng ta – những người con của Giáo hội – cần tuân theo những chỉ dẫn của Mẹ Giáo hội để phần rỗi chúng ta được bảo đảm hơn.
          Sách Giáo lý Công giáo số 1021 dạy :”Cái chết kết thúc đời sống con người, nghĩa là chấm dứt thời gian đón nhận hay chốâi bỏ ân sủng Thiên Chúa được biểu lộ trong Đức Kitô. Khi đề cập đến phán xét, Tân ước chủ yếu nói về cuộc gặp gỡ chung cuộc với Đức Kitô trong ngày quang lâm, nhưng cũng nhiều lần khẳng định có sự thưởng phạt tức khắc ngay sau khi chết, tùy theo công việc và đức tin của mỗi người…”.
          Nhưng sách Giáo lý Công giáo số 1022 nói rất rõ về vấn đề này :”Ngay khi lìa khỏi xác, linh hồn bất tử sẽ chịu phán xét riêng để được thưởng hay bị phạt đời đời; tùy theo đời sống của mình trong tương quan với Đức Kitô, linh hồn hoặc phải trải qua một cuộc thanh luyện hoặc được hưởng phúc trên trời hoặc sa địa ngục vĩnh viễn”.
          Chúng ta cũng nên hiểu thêm, trong việc phán xét riêng, phần thưởng hay hình phạt không áp dụng cách máy móc, tức là chắc chắn có sự phán xét của Thiên Chúa. Theo chiều hướng thần học nói chung, con người vừa mới chết được Thiên Chúa soi sáng nhận biết rõ ràng mọi sự trong giây lát và đánh giá tổng kết  toàn bộ cuộc đời mình trên trần gian, qua đó, linh hồn nhận thấy rõ phần thưởng hay hình phạt tương ứng dành cho mình, nghĩa là chính mình quyết định  nhận lấy phần thưởng hay hình phạt cho mình.
          Về vấn đề này, Đức Hồng y Billot nói :”Ngay sau khi linh hồn lìa khỏi xác, trong phút chốc thì cuốn sách lương tâm liền mở ra , làm cho ta nhận thức ngay một trật toàn bộ các việc ta đã làm khi còn sống”.  Và Linh mục Parvilliez giải thích thêm : Chính ta sẽ phán xét ta, bởi tình trạng quá hiển nhiên công khai không thể chối cãi được. Công trạng và lỗi lầm sẽ xuất hiện trước mắt ta  trong ánh sáng chói lọi; đồng thời cũng cho thấy những phần thưởng và hình phạt tương xứng với ta. Như thế, chính ta sẽ tuyên án cho ta  và quan tòa khoan dung hay khắc nghiệt không có gì ảnh hưởng đến bản án đó, thiên thần và quỉ dữ có trổ tài hùng biện cũng không thể thay đổi bản án đó (Parvilliez, Niềm vui trước sự chết, tr 57-58).
          Trong giáo lý đạo Cao đài, ta thấy có một điểm cũng hay trong Minh Kinh Đài hay Minh Cảnh Đài, theo đó, sau khi ta lìa đời, linh hồn sẽ đến trước tấm gương này. Tất cả việc ta làm  trong kiếp sống vừa qua sẽ lần lượt tái hiện không sót mảy may trên mặt gương, y hệt những thước phim được chiếu lại trọn vẹn. Không cần ai phán xét hết. Những việc làm tốt khiến lòng ta tự dưng khoan khoái, sung sướng. Những việc làm quấy sẽ bắt ta tự xấu hổ, đau đón, ăn năn…
 
Truyện : Phán xét nhà vua.
          Người Ai cập cổ thời có một tục rất hay, khả dĩ nhắc cho các vị vua chúa biết rằng  họ có nhiệm vụ, có bổn phận, họ không thể hành động theo sở thích hay lòng ham muốn riêng của mình; nhưng phải tự coi mình như là những người bảo vệ công lý và mưu cầu hạnh phúc cho toàn dân.
          Mỗi khi có một vị vua băng hà, người ta đem bầy xác vị vua đó bên bờ một cái hồ ở nơi ranh giới của cõi sống và cõi chết. Tại đó, một tòa án được thiết lập và gồm có 43 viên thẩm phán.
          Một phát ngôn viên tiến ra và kêu lên trước xác chết :
-          Xin ông cho chúng tôi biết lúc sống ông đã làm những gì.
Một ông bộ trưởng của vị vua quá cố, đứng lên than oan cho nhà vua và kể lại những công trạng của nhà vua lúc sinh thời, những luật lệ đã ban hành, những ích lợi đã đem lại cho dân.
          Đoạn, một người dân có thể đứng ra  kết tội nhà vua và tự do kể lể  ở trước mặt 43 viên thẩm phán những điều mình oan ức muốn phàn nàn.
          Tòa cân nhắc công và tội của nhà vua. Nếu xét ra tội nhiều hơn công, tòa kết án nhà vua. Người ta đem bôi lọ tên tuổi của nhà vua đó đi, ghi vào trong sử sách; còn xác nhà vua thì, trước kia được kính trọng như một vị thần minh, bây giờ không được chôn cất, sẽ đem vứt ra bờ bãi để cho diều tha, quạ mổ  (Vũ Bằng, Đông tây cổ học tinh hoa, tr 18-19).
          Trong cuộc sống trên trần gian này, người ta thường phải trải qua bốân giai đoạn sinh, lão, bệnh, tử. Nhưng có người đi đủ 4 giai đoạn đó, có người chỉ có sinh và tử, chết yểu.
          Còn trong cuộc sống mai hậu, chúng ta phải qua 4 điều sau cùng này mà chúng ta gọi là Tứ chung, gồm sự chết, sự phán xét, thiên đàng và hỏa ngục. Sống chết là một điều bắt buộc, ai cũng phải qua, còn thiên đàng hay hỏa ngục do chính mỗi người chúng ta tự chọn.
          Để kết luận về việc phán xét riêng, chúng ta nên theo nhận định này :”Phán xét riêng được thực hiện lập tức sau cái chết, trong đó số phận vĩnh cửu của con người  được quyết định do việc luận xử của Thiên Chúa”. Đây là ý kiến chung của các nhà thần học, theo ngôn từ riêng của khoa thần học là : sententia fidei proxima, có nghĩa là ý kiến gần kề với đức tin, chứ chưa phải là một điều buộc phải tin, tức là chưa được định tín.
 Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt


 

AnTáng 35: KIẾP NGƯỜI MONG MANH

KIẾP NGƯỜI MONG MANH AnTáng 35


I. SUY NIỆM LỜI CHÚA
          Chúng ta đọc : Lc 7,11-17; Tv 90,3-6.
 

Sau khi chữa lành bệnh nguy tử cho người đầy tớ của một viên đại đội trưởng, Đức Giêsu đến thành AnTáng 35

Sau khi chữa lành bệnh nguy tử cho người đầy tớ của một viên đại đội trưởng, Đức Giêsu đến thành Naim với các môn đệ và đám đông dân chúng. Khi đến cửa thành, Ngài thấy người ta khiêng đi chôn người thanh niên duy nhất của một bà góa. Bà đang khóc nức nở theo sau quan tài con mình. Trước cảnh tượng này, Ngài thấy xúc động và nói với bà :”Đừng khóc nữa”. Ngài truyền cho bọn đô tùy dừng lại, vừa sờ vào quan tài vừa nói :”Hỡi thanh niên, Ta truyền cho anh chỗi dậy.” Anh ta đã chỗi dậïy trước sự chứng kiến của mọi người.
          Khi đọc đoạn Tin Mừng này, chúng ta thường nghĩ ngay đến lòng thương xót của Đức Giêsu, Ngài đã chia sẻ và cảm thông với nỗi đau khổ của bà khi mất người con yêu quí.  Đồng thời, sự việc xẩy ra cách công khai dưới sự chứng kiến của đám đông dân chúng và các môn đệ rằng : người thanh niên này đã chết thật; và như vậy, việc Chúa phục sinh người chết là bằng chứng cụ thể, xác thực về quyền năng và sứ vụ cứu thế của Đức Giêsu.
          Nhưng hôm nay chúng tôi muốn nói về một khía cạnh khác, đó là sự mong manh của kiếp người.  Con người có thể ra đi bất cứ lúc nào, không phải đợi đến tuổi già vì “sinh hữu hạn, tử bất kỳ”. Có khi người trẻ lại ra đi trước người già như trong bài Tin mừng hôm nay. Người ta nói :
                                      Lá vàng còn ở trên cây,
                               Lá xanh rụng xuống, có hay hỡi trời.
          Đúng vậy, chàng thanh niên này chết quá sớm, công chưa thành, danh chưa toại, trong khi người mẹ già vẫn còn sống. Sự kiện này nói lên tính cách mong manh của kiếp sống con người. Thánh vịnh đáp ca trong Thánh lễ hôm nay đã nói lên điều đó :
                             Kiếp phù sinh, tháng ngày vắn vỏi,
                             Tươi thắm như cỏ nội hoa đồng,
                             Một con gió thoảng là xong,
                             Chốn xưa mình ở cũng không biết mình.
                                         (Tv 102,15-16)
          Và Thánh vịnh 90 cũng nói lên tính cách vắn vỏi của cuộc sống như bông hoa sớm nở chiều tàn , không có gì là bền vững :
                             Ngài cuốn đi, chúng chỉ là giấc mộng,
                             Như cỏ đồng trổi mọc ban mai,
                             Nở hoa vươn mạnh sớm ngày,
                             Chiều về ủ rũ tàn phai chẳng còn.
                                         (Tv 90,3-6)

II. NHẬN XÉT CỦA NGƯỜI ĐỜI.
 
  1.     Thực tại không thể chối cãi.
          Mọi người phải công nhận rằng thời giờ cứ hững hờ trôi, hoàn toàn vô cảm, chẳng để ý đến ai. Thời giờ không kéo dài, không rút vắn vì là thời giờ vật lý, khác với thời giờ tâm lý.  Thời giờ được ví như con thoi cứ đi đi lại lại hết ngày này sang ngày khác, hết năm này sang năm khác không ngừng nghỉ :
                                      Thời giờ thấm thoát thoi đưa
                                      Nó đi đi mãi, có chờ đợi ai ?
          Ngườt ta cũng ví thời gian trôi nhanh như “én đưa thoi”. Sở dĩ người ta ví như thế là vì giống én đuôi nhọn bay với tốc độ 350km/giờ. Nhiệt độ trung bình nó cao tới 44 độ 7. Chúng ta thường nói “én đưa thoi” để ngụ ý thời gian trôi nhanh – với tốc độ trên cho ta một cảnh cáo về sự xài phí thời giờ.
          Vì thời gian trôi nhanh nên ai cũng thấy cuộc đời vắn vỏi như bông hoa sớm nở chiều tàn. Vì thế, hiền triết Eùpictète đã nói :”Mỗi người chúng ta xa lìa cuộc sống với cảm tưởng là mình vừa mới sinh ra”.
 
 
  1.     Thời gian đi không trở lại.
          Thời gian trôi, cứ trôi, trôi mãi không ngừng nghỉ, không bao giờ trở lại.  Tuy người ta nói trong ngày xuân : “Xuân khứ, xuân lại, xuân bất tận”. Nhưng thời gian không có vòng đi vòng lại như mùa xuân, cho nên chúng ta có thể nói :”Xuân bất tái lai”. Vì thế, 500 năm trước Thiên Chúa Giáng sinh, triết gia Héraclite đã nói :”Con người ta không thể tắm hai lần trên một dòng sông”, bởi vì dòng sông cứ cuồn cuộc chảy, con nước không bao giờ đứng yên một chỗ.
          Thi sĩ Xuân Diệu cũng có cùng một cảm nghĩ như vậy : xuân qua đi thì tuổi trẻ cũng sẽ qua đi, chứ không thể lấy lại được hai lần xuân rồi cuộc đời cũng chấm dứt :
                                      Lòng trời rộng, nhưng lượng trời cứ chật,
                                      Không cho dài thời trẻ của nhân gian,
                                      Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn,
                                      Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại ?
                                      Còn trời đất, nhưng chẳng còn tôi nữa…
          Nhìn thời gian phũ phàng đội nón ra đi, để người trẻ ở lại, lúc ấy chỉ còn biết ứa lệ đưa mắt nhìn theo :
                                      Thời gian rót từng giọt buồn tê héo,
                                      Sự sống đi như hương bỏ hoa chiều.
          Con người ta không thể sống mãi.  Người ta thường nói cuộc đời con người phải trải qua “sinh, lão, bệnh, tử”,  thì cuộc đời sẽ phải chấm dứt bằng cái chết.  Đã có sinh thì phải có tử.  Người ta thường nói :
                                      Người đời hữu tử hữu sinh
                             Sống lo xứng phận, thác dành tiếng thơm.
          Biết bao vị vua chúa quyền uy, bao vị vĩ nhân lừng danh, bao vị anh hùng cái thế đã xuất hiện trên trái đất này và họ cũng đã ra đi không còn ai biết tới, cùng lắm chỉ còn trong sử sách nằm trong thư viện.
          Người ta còn nói :”Hổ tử lưu bì, nhân tử lưu danh” : cọp chết để da, người ta chết để tiếng. Có người để lại danh thơm tiếng tốt để lưu danh muôn thưở. Có người để lại tiếng xấu để cho muôn người nguyền rủa.  Vì thế, bất cứ ai cũng phải sống “xứng phận” để lưu lại tiếng tốt cho các thế hệ mai sau..
          Theo kinh nghiệm thì chúng ta thấy người đời khai mạc bằng nước mắt và bế mạc trong dòng lệ.  Có thân là có khổ, có sinh thì có tử. Đó là án lệnh chung của nhân loại (x. St 3,16-20). Con người sinh ra để sống, nhưng sống là để sửa soạn chết.
          “Đời bạn là gì” ?  Chỉ là làn khói xuất hiện trong một lúc rồi tan đi” (Thánh Giacôbê)
 
III. PHẢI CHUẨN BỊ CHO NGÀY RA ĐI.
          Những  người khôn ngoan đầy kinh nghiệm trong cuộc sống đã để lại một lời khuyên rất hữu ích và cần thiết :
                                      “Nhân vô viễn lự, tắc hữu cận ưu”
                                      Người không biết lo xa, ắt phải buồn gần.
                                                     (Luận ngữ)
 
 
  1.     Phải đặt vấn đề cho cuộc sống.
          Người, vật, cỏ cây đều có sự sống, nhưng rất khác nhau. Cây cỏ có sự sống thảo mộc, động vật có sự sống cảm giác, và con người cao hơn, chẳng những có cả hai sự sống trên, mà còn có sự sống lý trí nữa.
          Căn cứ vào sự thật đó, L. Sullerot đã nói một câu rất xác đáng :”Loài người và loài vật khác nhau ở chỗ : đối với loài người đời sống là một vấn đề. Có thể nói rằng người ta chỉ là người thật một khi người ta đã bắt đầu biết nghĩ đến đời sống” (Sullerot, Problème de la vie).
 
 
  1.     Tìm ra mục đích của đời người.
          Có một lý tưởng để đeo đuổi, có một hướng đi cho cuộc đời : đó là nguồn hạnh phúc lớn lao cho con người. Một cuộc đời không có mục đích thì chẳng khác nào một công trình xây dựng không đồ án. Với tất cả mọi vật liệu, nhưng nếu không có đồ án, người ta không thể kiến thiết được bất cứ công trình nào.
          Một cuộc sống không có mục đích, một cuộc sống không lý tưởng cũng chỉ kéo thêm cay đắng, buồn sầu, bất mãn.  Chúa Giêsu đã chẳng nói với chúng ta sao :”Lời lãi cả thế gian để làm gì, nếu để mất linh hồn”.
          Sau đây là một vài điển hình chứng minh cho những điều nói trên :
          Văn sĩ nổi tiếng của Pháp là Voltaire, mặc dầu có cả một đời sống phú túc và danh tiếng vẻ vang, vẫn phải thốt lên :”Tận cùng của cuộc sống ấy là buồn thảm, khoảng giữa của cuộc sống là vô nghĩa và khởi đầu của cuộc sống ấy là thô bỉ…  Phải chi tôi đừng sinh ra thì hơn”.
          Talleyrand, một nhà chính trị nổi tiếng của Pháp vào thế kỷ 19, sau một quãng đời sống trong nhung lụa và vinh quang, đã ghi lại trong tập nhật ký của mình  nhân ngày sinh nhật 83 như sau :”83 năm của đời tôi đã đi qua, không để lại một kết quả nào khác hơn là mệt mỏi, trong thể xác lẫn tâm hồn, một đắng cay khi nhìn về tương lai và chán chường khi nhìn lại quá khứ”.
          Napoléon Bonaparte, hoàng đế nước Pháp (1769-1821), kẻ đã làm thay đổi bản đồ Aâu châu, nhà chiến lược quân sự đại tài, đã nói  khi sắp qua đời :”Tôi chết trước thời hạn, và thân thể tôi lại trở về với lòng đất. Đó là số phận của con người đã từng được gọi là Napoléon đại đế. Có một vực sâu ngăn cách giữa sự khốn cực của tôi và vương quốc bất diệt của Chúa Kitô” (Gm Arthur Tonne, Góp nhặt, tr 90).
 
 
  1.     Phải dọn mình chết lành.
          Không ai có thể tránh được cái chết. Dù muốn dù không, sự chết đến bất cứ lúc nào. Giờ chết đến bất ngờ như kẻ trộm, không ai có thể biết trước. Người đời đã có kinh nghiệm khi nói :”Sinh hữu hạn, tử bất kỳ”. Đã nói là “Tử bất kỳ” thì không ai biết được. Chúng ta chỉ còn một việc là phải chuẩn bị sẵn sàng như Chúa đã dạy.

Truyện : Dọn mình chết lành.
          Một hôm, đang ngồi trong bàn giấy, vua Charles-Quint thấy một vị quan vốn trung thành, đệ đơn xin từ chức. Tưởng rằng vị quan này không được hài lòng vì lương bổng hay bất mãn với công danh. Nhà vua tha thiết nhìn ông, và bảo cứ ở lại, nhà vua sẽ cho như ý. Hiểu ý vua, vị quan đó trả lời :
          - Tôi xin rút lui để có thời giờ lo việc linh hồn.
          Nghe câu trả lời bất ngờ đó, vua cảm động  và khen ngợi là người khôn ngoan biết lo xa.
Chính vua Charles-Quint sau cùng từ chức và vào nhà dòng dọn mình chết lành.
                   (Trần công Hoán, Tìm hiểu ít nhân đức, 1965, tr 59)
 
 
  1.     Muốn được hạnh phúc đời đời.
          Mục đích của cuộc sống con người là phải tìm đến hạnh phúc. Ở trần gian này cũng có hạnh phúc, nhưng đấy chỉ là hạnh phúc phiến diện, chóng qua và chưa làm thỏa mãn ước vọng của con người. Ai cũng muốn vươn tới hạnh phúc tròn đầy, hạnh phúc tuyệt đối có thể thỏa mãn được ước vọng của con người  Nhưng phải tìm hạnh phúc ấy bằng cách nào ?
          Có một cuốn sách cổ chỉ cho ta phương thế để được hạnh phúc. Sách rằng :
          - Muốn có hạnh phúc trong một ngày ? Hãy mua một chiếc áo mới.
          - Muốn có hạnh phúc trong một tuần ? Hãy giết một con heo.
          - Muốn có hạnh phúc trong một tháng ? Hãy được một vụ kiện.
          - Muốn có hạnh phúc trong một năm ? Hãy cưới vợ lấy chồng.
          - Muốn có hạnh phúc cả đời ? Hãy làm người tử tế.
          - Muốn có hạnh phúc đời đời ? Hãy làm người có đạo tốt.
          (T. Toth – Phêrô Thông, Tôn giáo với thanh niên, 1949, tr 268)
 Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt


 

AnTáng 36: CHUYỂN ĐỔI

CHUYỂN ĐỔI AnTáng 36

I. SUY NIỆM LỜI CHÚA.
          Chúng ta đọc : Ga 154-4,1-6; 1Cr 15,51-56.
 

Trong bữa Tiệc ly, Chúa Giêsu nói với các mơn đệ những lời tâm huyết. Những lời tâm sự mang AnTáng 36

Trong bữa Tiệc ly, Chúa Giêsu nói với các mơn đệ những lời tâm huyết. Những lời tâm sự mang đầy tính giáo huấn của Ngài đã làm cho các mơn đệ biết Ngài sắp giã biệt các ơng. Các ơng cảm thấy lo buồn và xao xuyến.  Ở đây Ngài ban lời khuyếnh khích để nâng đỡ, an ủi và tin tưởng. Để khỏi bị xao xuyến, Ngài khuyên các ơng :”Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy”(Ga 14,1) và Ngài còn cho biết Ngài về cùng Cha để dọn chỗ cho các ơng vì nhà Cha Ngài còn nhiều chỗ. Ngài còn hứa sẽ trở lại đón các ơng đến nơi đó và các ơng đã biết đường rồi.
           Ơng Tơma tò mò hỏi :”Thưa Thầy, chúng con khơng biết Thầy đi đâu, làm sao chúng con biết đường” ? Chúa Giêsu đáp :”Thầy là đường, là sự thật và là sự sống, Khơng ai đến được với Cha mà khơng qua Thầy”. Nghĩa là : mục tiêu cuộc hành trình của mọi người là về với Thiên Chúa Cha; Chúa Giêsu chính là người dẫn đường, hơn nữa, Ngài chính là con đường dẫn đến đó.
           Qua lời thánh Phaolơ khuyên nhủ tín hữu Corintơ chúng ta được biết : chết chỉ là sự chuyển đổi :”Đây tơi nói cho anh em biết mầu nhiệm này : khơng phải tất cả chúng ta sẽ chết, nhưng tất cả chúng ta sẽ được biến đổi”(1Cr 15,51).
           “Sinh ký, tử qui”, sống là gửi, chết là về. Đời này khơng phải là quê hương mà chỉ là nơi chúng ta  gửi thân xác trong một thời gian nào đó. Khi chết, chúng ta sẽ về quê hương thật. Chết là trở về nhà Cha. Đó là chân lý.
 
II. PHẢI CHĂNG CHẾT LÀ HẾT ?
           Những người khơng có tín ngưỡng coi đời chỉ là hư ảo, chóng qua, người ta chỉ sống cho qua ngày để hưởng thụ, càng nhiều càng tốt để rồi đợi thần chết đến. Họ coi chết là kết thúc cuộc đời, chết là hết, là đi vào ngõ cụt, là đi vào hư vơ và tuyệt vọng. Họ coi chết là một thất bại và hoàn toàn vơ nghĩa. Vì thế :
                                       Họ rằng : trong cuộc sinh tồn
                             Chỉ có vật chất là hơn nhất đời.
                                      Trên kia khơng có Chúa Trời
                             Kiếp sau là chuyện của người bầy ra.
                                      Sống là sản xuất tăng gia
                             Tạo thêm của cải vinh hoa phú cường.
                                      Đừng mong những chuyện thiên đường
                             Chết rồi là hết, lẽ thường xưa nay.
                                    (Lão Quê trong báo Tơng đồ 1950)
           Vì khơng tin có đời sau, thi sĩ Xuân Diệu đã diễn tả tâm lý của người hấp hối bằng những vần thơ bi đát :
                             Nhưng mà tơi sẽ chết, than ơi !
                             Tơi run như lá, tái như đơng.
                             Trán chảy mồ hơi, mắt lệ phồng
                             Năm đẩy tháng dồn tơi đã đến
                             Trước bờ lạnh lẽo cõi hư khơng
           Còn nhà triết học  Heiddeger thì cho rằng :”Nếu chết là hết, thì đời người luơn luơn sống trong lo sợ. Bởi vì biết rằng mình sẽ chết, vậy sẽ trở về cõi hư khơng, thì tức là đã mang hư vơ trong mình rồi. Sống làm gì nữa để mai ngày, rơi vào cõi hư vơ “?
 
III. PHẢI CHĂNG CHẾT CHỈ LÀ CHUYỂN ĐỔI ?
           1. Chúng ta có những điểm tựa.
           Thánh Phaolơ khích lệ các tín hữu Cơrintơ hãy tin vào đời sau :”Nếu ngơi nhà của chúng ta ở dưới đất, là chiếc lều này, bị phá hủy đi, thì chúng ta có một nơi ở do Thiên Chúa dựng lên, một ngơi nhà vĩnh cửu ở trên trời khơng do tay người thế làm ra”(1Cr 5,1). Ngài còn cho biết thêm : Ở trong thân xác này là lưu lạc xa Chúa, và ngài muốn rời bỏ thân xác này để được ở bên Chúa (x. 1Cr 5,6.8). Và ngài còn quả quyết :”Khơng phải tất cả chúng ta sẽ chết, nhưng tất cả chúng ta sẽ được biến đổi”(1Cr 15,51).
           Trong Kinh Tiền tụng lễ an táng, chúng ta được củng cố niềm tin vào sự sống đời sau :”Sự sống thay đổi chứ khơng mất đi, và khi nơi trú ngụ  dưới trần bị tiêu hủy, chúng con sẽ về  hưởng hạnh phúc vĩnh cửu trên quê trời”.
           Ơng Quinet nói rất đúng :”Người ta sinh ra để chết và chết để sống”. Đã có đầu thì phải có cuối, đã có sinh ra thì cũng phải có chết. Sinh ra thì phải chết ở đời này nhưng sẽ được sống đời sau.
           Linh mục Nguyễn tầm Thường cũng nói như thế :”Khi tơi được sinh ra là khởi điểm tơi đi về cõi chết. Làm gì có sự chết nếu khơng có sự sống. Làm gì có ngày người ta chơn tơi nếu khơng có ngày tơi chào đời. Như thế, cuộc sống của tơi  là chuẩn bị cho ngày tơi chềt.
           Ngay từ trong bào thai của mẹ, bắt đấu có sự sống là tơi đã cưu mang sự chết rồi. Kết hợp và biệt ly ở lẫn với nhau. Trong lớn lên đã có mầm tan rã. Khi vũ trụ chào đón tơi, thì cùng một lúc, tơi bắt đầu từ giã vũ trụ từng ngày từ giờ.
           Mỗi ngày là một bước đi dần về sự chết. Bình minh mọc lên, nhắc nhở cho tơi một bước đi gần kề. Hoàng hơn buơng xuống, thầm nói cho tơi sự vĩnh biệt đang đến (Nước mắt và hạnh phúc, tr 111).
 
          2. Theo suy nghĩ của người đời.
           Trong thiên nhiên, người ta thấy cái sinh và cái diệt quyện vào nhau. Đã có sinh thì ắt phải có diệt. Một thi sĩ viết :
                                      Hoa nở để mà tàn
                                      Trăng tròn để mà khuyết
                                      Mây hợp để mà tan
                                      Nước đầy để mà vơi.
           Thi sĩ Xuân Diệu cũng đồng quan điểm đó :
                                      Xuân đang tới nghĩa là xuân sẽ qua,
                                      Xuân còn non nghĩa là xuân sẽ già.
          Và thi sĩ kết luận :
                                      Trong gặp gỡ đã có mầm ly biệt.
           Như vậy, trong sự sống đã có sẵn sự chết.
           Trở lại với thánh Phaolơ trong bài đọc trên ta phải nói là sự chết chắc chắn dẫn đến sự sống lại. Dĩ nhiên chết khơng phải là điều tốt, nhưng nó là đoạn đường ta phải vượt qua để đi từ cuộc sống tạm thời này qua cuộc sống vĩnh cửu.  Sự chết khơng phải là sự chết đơn thuần, khơng phải là con đường cụt, khơng lối thoát. Thiên Chúa khơng yêu thương chúng ta vơ ích, khơng dựng nên ta  để rồi biến ta ra hư vơ. Chúa yêu thương ta vơ hạn, đã ban chính Con Một của Ngài cho ta khơng phải  để cho ta thấy ta biến vào hư vơ sau cái chết, nhưng để ta được sống lại và được kết hợp với Ngài.
           Hiểu được như vậy, ta phải lạc quan trước cái chết của người thân, ngày chết ở trần gian chính là ngày sinh nhật ở trên trời. Nhưng muốn có ngày sinh nhật tốt đẹp ở trên trời thì phải có cái chết tốt đẹp ở trần gian; mà muốn có cái chết tốt đẹp ở trần gian thì phải có cuộc sống tốt ở trần gian vì như người ta nói : “Sống khơn chết thiêng”, nhân nào thì quả đó.
           Tục ngữ Việt nam có câu : “Ba tháng trồng cây, một ngày trơng quả”.
          Đây là kinh nghiệm của người trồng lúa : trồng trọt bón tưới cây (cây lúa) trong ba tháng trời, đến khi cây có bơng hạt thì chỉ một ngày là gặt xong.  Ngày chết tức là ngày thu hoạch kết quả của cả một cuộc đời tại thế theo nguyên tắc “Hữu cơng tắc thưởng, hữu tội tắc trừng” : có cơng thì được thưởng, có tội thì phải phạt.
           Khi còn sống phải lập cơng phúc đức để chuẩn bị cho đời sau. Trong cuốn “Giải quyết vấn đề nhân sinh” cha F. Lelotte nói :”Con người phải xác nhận rằng sứ mệnh con người là sự hoàn hảo, là phát triển những tài năng tự nhiên và siêu nhiên cho thích hợp với chương trình của Thiên Chúa. Con người là như cánh đồng đã được cầy cấy, nó có bổn phận phải sản xuất dồi dào”.
           Chúng ta biết chắc mình sẽ phải chết nhưng khơng biết chết lúc nào, ở đâu và bằng cách nào. Sống trên trần gian là thời gian chuẩn bị cho đời sau với đầy cơng phúc. Ai biết chuẩn bị cho cuộc sống mai hậu thì được kể là con người khơn ngoan.
 
Truyện : Chuẩn bị cho tương lai.
           Một thành phố ở Hy lạp có tục lệ lạ lùng như sau : mỗi năm họ tìm một người lạ mặt tơn lên làm vua. Xong năm đó, họ hạ bệ ơng vua và lột hết quần áo, đầy ra một hoang đảo.
          Ngày kia, một người lạ mặt được bầu lên làm vua. Ơng này thật khơn ngoan. Ơng truyền cho đem quần áo, đồ ăn, vật dụng ra ngoài hoang đảo. Khi bị truất phế, ơng vui vẻ ra hoang đảo.
           Đó là câu truyện do thánh Damascène đã thuật lại. Vua một năm, đó là chúng ta. Sống trong cuộc đời vắn vỏi này, chúng ta sẽ về hoang đảo đời đời. Nếu chúng ta đã tích trữ những cơng việc lành thì chúng ta mới có phúc. Còn nếu khơng, chúng ta sẽ vơ phúc.
 Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt


 

AnTáng 37: HỔ TỬ LƯU BÌ

AnTáng 37: HỔ TỬ LƯU BÌ

I. SUY NIỆM LỜI CHÚA
          Chúng ta đọc : Lc 24,13-35 : Đức Kitô phải chịu đau khổ rồi mới hưởng vinh quang.
 
II. CỌP CHẾT ĐỂ DA
 

Người xưa có câu ngạn ngữ :”Hổ tử lưu bì” : cọp chết để da.  Con cọp chết đi có thể để lại bộ AnTáng 37

Người xưa có câu ngạn ngữ :”Hổ tử lưu bì” : cọp chết để da.  Con cọp chết đi có thể để lại bộ xương cho người ta nấu cao, gọi là cao hổ cốt. Nhưng người ta không chú trọng đến bộ xương mà lại để ý đến bộ da của nó. Cọp chết đi chẳng còn để lại được gì và chỉ để lại bộ da của nó, chắc chắn bộ da này quí lắm.
          Suy tư từ cái chết của con cọp, người ta liên tưởng đến cái chết của con người. Con người chết đi thì không để lại được gì, vì toàn thân thể sẽ trở thành bụi đất.  Vậy khi con người chết đi có thể để lại được gì không, như cọp chết để lại bộ da quí hiếm của nó ?  Chắc chắn không để lại được cái gì ngoài danh thơm tiếng tốt. Cho nên người ta mới nói :
                                      Cọp chết để da, người ta chết để tiếng.
          Ở thôn quê Việt nam, chúng ta hay được nghe những tiếng ru em của những cô thôn nữ vang lên trong buổi trưa hè. Những tiếng ru đó thường được dựa trên những bài ca dao, dễ hát, dễ thuộc và cũng có ý nghĩa giáo dục đạo đức trong đó, tuy nhiều bài có ý nghĩa rất xa xôi. Ví dụ :
                                      Con cò mày đi ăn đêm
                             Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao.
                                      Ông ơi, ông vớt tôi vào
                             Tôi có lòng nào, ông hãy xào măng.
                                      Có xào thì xáo nước trong
                             Đừng xào nước đục, đau lòng cò con.
          Tại sao tác giả câu ca dao lại mượn lời con cò khuyên ngư ông “hãy xào nước trong”, đừng xào nước đục” ?  Phải chăng chữ “nước trong” muốn diễn tả cái thanh danh, cái danh thơm tiếng tốt của con người ? Và “nước đục” muốn diễn tả tiếng xấu của con người ? Như vậy, có lẽ tác giả có ý nói : con người ai cũng muốn để lại danh thơm tiếng tốt của mình cho hậu thế, không ai muốn để lại tiếng xấu. Nếu ai chết đi mà để lại tiếng xấu thì làm đau lòng cho con cháu. Vì thế người ta mới mong :”Người chết nết còn”.
          Khi sống ở đời, người ta phải cố gắng sống thế nào cho mình có danh thơm tiếng tốt mặc dầu phải chịu hy sinh, thiệt thòi. Có nhiều câu tục ngữ nói lên ý tưởng này :
                                      - Tốt danh hơn lành áo.
                                      - Aên một miếng, tiếng một đời
                                      - Đói miếng hơn tiếng đời.
          Người ta ai cũng phải chết, kẻ trước người sau, nhưng khi chết phải có gì để lại cho hậu lai, không lẽ chỉ ra đi với hai bàn tay trắng. Ai cũng ước mong :
                                              Chữ rằng : Hổ tử lưu bì,
                                      Làm người phải để danh gì hậu lai.
          Vì vậy, khi ra đi, con người không đem theo được gì ngoài một nắm xương khô, nhưng rồi nắm xương khô đó cũng sẽ biến  thành bụi đất. Người ta chỉ có thể để lại cái dánh tức là cái danh dự, cái danh thơm tiếng tốt của mình :
                                                  Người đời hữu tử hữu sinh
                                      Sống lo xứng phận, thác dành tiếng thơm.
          Thi sĩ Nguyễn công Trứ là con người có chí khí hào hùng, luôn ca tụng chí nam nhi, luôn thôi thúc thanh niên phải tiến lên, phải vượt khó, phải làm được cái gì cho đời, đừng để phí phạm cuộc đời trai tráng :
                                      Đã mang tiếng trong trời đất
                                      Phải có danh gì với núi sông
                                      Đi không chẳng lẽ về không ?
 
III. MUỐN ĐƯỢC DANH THƠM TIẾNG TỐT.
          Trên thế giới này đã có biết bao bậc vĩ nhân, những anh hùng cái thế, những nhân vật làm nên lịch sử, tất cả đã qua đời. Họ cũng đã để lại cái danh trong lịch sử. Cái danh đó có thể tốt, mà cũng có thể xấu.  Người đời vẫn còn nhắc đến tên họ với thái độ trân trọng hay khinh bỉ :
                                                Trăm năm bia đá thì mòn
                                      Ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ.
          Muốn có danh thơm tiếng tốt, người ta phải hết sức nỗ lực  phấn đấu chứ không phải tự nhiên mà có. Muốn thế, với tư cách là một Kitô hữu , chúng ta phải nỗ lực sống xứng đáng trước tiên là một con người, tiếp đến là một Kitô hữu và sau cùng là công dân Nước Trời.
 
          1. Sống xứng danh con người.
          Người Đông phương chúng ta, cách riêng là người Trung hoa và Việt nam, quan niệm rằng con người sinh ra  thực sự mới có khả năng là người, còn NÊN NGƯỜI hay không là tùy vào chỗ chúng ta có chịu LÀM NGƯỜI hay không, vì Đức Khổng Tử nói :”Vi nhân nan” : làm người khó lắm.
          Nói cách khác, chúng ta được sinh ra để làm người, chứ chưa thực sự đã là người. Người Tây phương phải chờ đợi mãi đến thế kỷ 20, qua các triết gia hiện sinh, mới nói lên được rằng :”Con người là cái tự nó làm ra”(Jean Paul Sartre), và người ta đắc ý về câu nói đó lắm, coi như  một khám phá mới mẻ và vĩ đại.
          Chắc thi sĩ Trần tế Xương cũng đồng ý với quan niệm trên : nếu mọi người sinh ra đã là người đúng nghĩa rồi, sao ông lại dám chúc Tết với những câu :
                                      Bắt chước ai ta chúc mấy lời
                                      Chúc cho khắp hết cả trong đời.
                                      Vua quan sĩ thứ người trong nước
                                      Sao được cho ra cái giống người.
          Bên Đông phương, để giáo dục con người, Đức Khổng Tử đưa ra thuyết “Chính danh”. Khi vua Cảnh Công nước Tề hỏi Khổng Tử về đạo trị nước, ngài đáp :
          - Quân quân, thần thần, phụ phụ, tử tử : vua phải ra vua, quan phải ra quan, cha phải ra cha, con phải ra con.
          Cảnh Công đắc ý, đỡ lời ngay :
          - Phải, hay lắm. Nếu đúng là vua chẳng ra vua, quan chẳng ra quan… thì dẫu có thóc đó, hồ dễ ta được ngồi yên mà ăn.
          Nếu mỗi người sống đúng danh phận của mình, đúng cương vị của mình thì đó là người, đã thành nhân.
          Muốn tạo cho mình được thanh danh thì rất khó, phải nỗ lực sống là người xứng đáng “linh ư vạn vật”, còn nếu muốn mang tiếng xấu thì rất dễ, giống như chiếc xe xuống dốc.
 
Truyện : Lời ký trên mộ bia
          Sardanapa là một vị vua xứ Assyrie về thế kỷ thứ 9 trước Chúa Giáng sinh. Ôâng ham phong lưu, chơi bời, chè chén. Trong lịch sử, ông là một vị vua dâm dục, hèn nhát và mềm yếu.
          Trên mộ chí của ông, ông truyền cho con cháu khắc một lời ký xứng với cao đức của ông :
          “Tôi chỉ còn giữ được cái gì tôi ăn vào miệng, tôi chỉ còn giữ được những lạc thú mà tôi đã dùng để chiều theo thị dục của tôi. Tất cả mọi cái khác đều bỏ tôi đi, tôi đã phải từ giã biết bao nhiêu điều quí báu”.
 
          Hai nhà hiền triết Aristote và Cicéron riễu lời ký trên. Aristote bảo rằng :
          - Nếu bây giờ không làm lời ký cho một vị vua, mà làm lời ký cho một con trâu, còn có câu nào xứng hơn câu ấy ?
 
          Cicéron thì bảo :
          -  Y lấy làm hãnh diện giữ được, sau khi chết, những cái mà lúc sống  y chỉ hưởng được trong những phút giây ngắn ngủi. Một cuộc sống không có sự tiết độ, và nếu mình sướng mà không biết mình sướng thì làm sao có thể sung sướng được?
                             (Vũ Bằng, Đông tây cổ học tinh hoa, tr 107)
 
          2. Sống xứng danh Kitô hữu
          Chúng ta đã được chịu phép rửa tội, mỗi người được mang một danh hiệu mới là “Kitô hữu”, một danh hiệu cao quí vì được mang danh hiệu của Chúa Kitô. Đã mang danh hiệu là “Kitô hữu” thì phải thuộc về Chúa Kitô, phải sống nếp sống của Ngài, để có thể nói như thánh Phaolô :”Tôi sống nhưng  không còn phải là tôi, mà chính Chúa Kitô sống trong tôi”(Gl 2,20).
          Con người chúng ta phải nỗ lực hằng ngày để trở nên đồng hình đồng dạng với Đức Kitô, nếu không, chúng ta chẳng giống ai, chỉ còn là loại người “nửa người, nửa ngợm, nửa đười ươi”, không xứng danh Kitô hữu.
          Giám mục Tihamer Toth nói :”Lòng người ta, theo một nhà triết học ngày nay, giống như một tổ rắn”. Có lẽ lời nói ấy quá bạo. Nhưng ta có thể nói : giống như cánh đồng hoang vu. Đồng lầy có thể là đất tốt, nếu người ta trồng trọt, nó sẽ nảy lúa, nảy hoa và đời sống. Nhưng nếu người ta bỏ hoang, nó sẽ mọc gai, cỏ rậm và cây độc.  Bởi vậy, mỗi khoảng đất sẽ mọc gai, nảy cành khô khẳng nếu ta không chăm sóc. Mỗi tâm hồn sẽ hư hỏng nếu ta không chăm nom cho nó ăn luôn những tư tưởng tốt lành.
          Linh mục F. Lellotte, trong cuốn “Giải quyết vấn đề nhân sinh”, nói :”Con người phải xác nhận rằng sứ mệnh con người là sự hoàn hảo, là phát triển những tài năng tự nhiên và siêu nhiên cho thích hợp với chương trình của Thiên Chúa. Con người là như cánh đồng đã được cầy cấy, nó có bổn phận phải sản xuất dồi dào”.
          Chúa Giêsu cũng nói với các Tông đồ :”Các con là chứng nhân của Thầy”(Lc 24,48; 1Ga 5,6). Ngày nay chúng ta cũng phải là chứng nhân của Ngài, vì người làm chứng phải có uy tín thì người ta mới tin được. Muốn làm chứng cho Chúa thì cuộc sống của người làm chứng phải thể hiện ra những nét độc đáo của người mà mình muốn làm chứng.
          Văn sĩ John Bayern có lời từ giã vợ mình như sau :”Mình yêu dấu, trong gương mặt của mình, tôi đã nhìn thấy dung mạo của Thiên Chúa. Xin cảm ơn mình vô cùng”.
          Kitô hữu là một danh hiệu rất cao quí, danh hiệu ấy đòi buộc những ai mang nó phải sống cho xứng đáng, cuộc sống mình phải phù hợp với danh hiệu ấy, bằng không phải đổi danh hiệu khác vì danh hiệu ấy không phù hợp với cuộc sống của mình.
 
Truyện : Phải đổi tên.
           Philipphê, vua nước Tây ban nha, ngày kia người ta dẫn một tên cướp đến nộp cho vua. Vua hỏi :
          - Tên mày là gì ?
          - Tâu bệ hạ, tên con là Philipphê.
          - Trời đất ơi  ! Tên mày trùng với tên tao, thế mà mày đi cướp của giết người ! Từ nay, hoặc là mày phải đổi tên, hoặc là mày phải đổi cách sống đi, kẻo làm ô nhục cho tao.
          - Muôn tâu bệ hạ, xin bệ hạ cho con được vinh dự cứ tiếp tục mang tên của bệ hạ, và con hứa cải tạo đời sống để khỏi làm ô nhục cho bệ hạ.
 
          3. Sống xứng danh công dân Nước Trời.
           Người được làm công dân Nước Trời không phải chỉ cần chịu phép rửa tội là xong mà còn phải thể hiện những điều kiện Chúa đòi buộc.
           Người ta cho biết muốn được làm công dân Mỹ, phải qua một cuộc thi khó khăn. Với những người tiếng Anh lưu loát và có trí nhớ tốt, thì cuộc thi vào quốc tịch thật đơn giản và dễ dàng. Nhưng với các cụ già và những người kém tiếng Anh, việc thi quốc tịch là cả một nỗi lo lắng lơn lao…
           Muốn làm công danh dự Hoa kỳ lại càng khó khăn. Mới có 5 người được công nhận làm công dân danh dự của Hoa kỳ, trong đó có Mẹ chân phước Têrêsa Calcutta, người sáng lập dòng nữ Thừa Sai Bác ái đã được tổng thống Hoa kỳ Bill Clinton ký sắc lệnh trao tặng vinh dự quí giá trên vào ngày 01/10/1996.
           Muốn được làm công dân Nước Trời, Chúa đòi chúng ta phải nỗ lực phấn đấu thực hiện điều kiện Chúa đã đưa ra : Phải qua cửa hẹp.  Chúa Giêsu muốn diễn tả tư tưởng đó khi nói :”Hãy qua cửa hẹp mà vào, vì cửa rộng và đường thênh thang thì đưa đến diệt vong, mà nhiều người lại đi qua đó. Còn cửa hẹp và đường chật thì đưa đến sự sống, nhưng ít người tìm được lối ấy”(Mt 7,13-14).
           Không có ai “ngồi mát ăn bát vàng” mà chỉ có những người nỗ lực làm việc thì mới có ăn. Nước Trời là phần thưởng dành cho những ai cố gắng, vì Chúa đã nói :”Không phải bất cứ ai thưa với Thầy :Lạy Chua, Lạy Chúa, là được vào Nước Trời cả đâu ! Nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời, mới được vào mà thôi”(Mt 7,21).
           Điều kiện Chúa đã ra cho chúng ta không khó khăn lắm, luôn vừa sức ta, chỉ cần chúng ta cố gắng. Phần thưởng của chúng ta luôn được bảo đảm, thánh Phaolô đã nói thế :”Người sẽ ban vinh quang, danh dự và bình an cho tất cả những ai làm việc thiện”(Rm 2,10).
 Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt


 

AnTáng 38: SINH HỮU HẠN, TỬ BẤT KỲ

SINH HỮU HẠN, TỬ BẤT KỲ AnTáng 38

I. SUY NIỆM LỜI CHÚA
          Chúng ta đọc : Lc 12,35-40 : Hãy sẵn sàng, vì chính giờ phút các con không ngờ Thì Con Người sẽ đến.
 
II. SINH HỮU HẠN TỬ BẤT KỲ
 

Câu tục ngữ “Sinh hữu hạn, tử bất kỳ” nói lên kinh nghiệm của con người trước việc sinh tử AnTáng 38

Câu tục ngữ “Sinh hữu hạn, tử bất kỳ” nói lên kinh nghiệm của con người trước việc sinh tử. Người ta có thể chuẩn bị cho ngày sinh nhật của một trẻ sơ sinh, có thể tính ngày giờ cho một đứa trẻ chào đời, “chín tháng cưu mang” là chuyện rất bình thương.
          Nhưng trước giờ chết của một người thì ta phải nói là “tử bất kỳ”, nghĩa là người ta có thể chết bất cứ lúc nào, không ai có thể biết trước được vì Kinh thánh nói :”Giờ chết đến như kẻ trộm” (x. Lc 12,39). Vì thế, người ta chỉ có thể chuẩn bị xa, chờ đợi cái giờ phút ra đi, còn ngày giờ thì do Chúa định, không ai biết được.
          Tuy thế, ai cũng biết là “tử bất kỳ” nhưng ít ai lưu tâm đến nó. Người ta cứ sống như không bao giờ chết, nhưng chỉ khi nào thần chết đến gõ cửa thì người ta mới cuống cuồng lên, người ta lo sợ, buồn phiền, hối tiếc :
                                      Nhưng mà tôi sẽ chết than ôi !
                                      Tôi run như lá, tái như đông,
                                      Trán chảy mồ hôi, mắt lệ phồng
                                      Năm đẩy tháng dồn tôi đã đến
                                      Trước bờ lạnh lẽo cõi hư không.
                                                (Xuân Diệu)
          Người Estonia có câu ngạn ngữ :”Cái chết ở trước mặt người già, và sau lưng người trẻ”. Giới trẻ thì ít nghĩ đến sự chết vì thấy mình còn sức khỏe dồi dào, còn nhiều cao vọng tốt đẹp, còn nhiều kế hoạch lớn lao như xẻ núi lấp sông, đội đá vá trời, biến đổi thế giới thành một xã hội hanh phúc. Với những chương trình lớn lao sắp được thự hiện, làm sao người trẻ lại nghĩ tới sự chết ? Và nếu có chết thì cũng còn khuya.  Nhưng những chương trình, những kế hoạch cao đẹp không nằm trong tầm tay họ mà nằm trong tay Thiên Chúa, nên nhiều khi họ phải đột ngột ra đi như người ta nói :
                                                Lá vàng còn ở trên cây
                                       Lá xanh rụng xuống có hay chăng trời ?
          Người già thì thấy mình gần sự chết hơn vì luôn tâm niệm rằng :”Mỗi năm một tuổi như đuổi xuân đi”, nên lá vàng rụng xuống là lẽ đương nhiên : sinh, lão, bệnh, tử mà !  Tuy thế, ai cũng ham sống, ai cũng muốn sống thêm, ai cũng sợ chết nên không muốn nghĩ đến nó .
          Người đời thì ai cũng “tham sinh úy tử”. Người ta nhận xét rằng : các cụ già thường hay sợ chết hơn các thanh thiếu niên.  Không bao giờ người ta cảm thấy mình sống lâu cả. Dẫu tóc bạc da mồi, đi không vững, đứng không ngay, cũng còn thấy như mới bước chân vào đời ngày hôm qua vậy :
                                      Nhớ từ năm trước hãy ngây thơ
                                      Thoát chốc mà già đã tới ngay.
                                                (Nguyễn Khuyến)
          Một hôm, một bà đã 40 cái xuân thu trên đầu đã nói với Fontenelle, 95 tuổi rằng :
          - Thần chết đã quên chúng mình đi rồi !
          Ôâng bí thư Hàn lâm viện Pháp tròn xoe con mắt, lườm kẻ đối thoại, đặt ngón tay trỏ trên đôi môi sù sì :
          - Nói nhỏ chứ !!!
 
III. NHỊP SỐNG TÀ TÀ.
          Ngày nay kinh tế phát triển, đời sống vật chất được nâng cao, các tiện nghi dồi dào, có thể phục vụ cho đời sống một cách thoải mái. Do đó, người ta có phong trào thi đua hưởng thụ, càng nhiều càng tốt mà quên đi những cái gì vượt trên vật chất, những cái gì là thiêng liêng cao quí, những cái gì có thể nâng cao tâm hồn con người lên.
          Nếu được nhắc nhở về đời sống tâm linh, người ta tìm cách thoái thác, hoặc chần chờ không muốn đặït vấn đề. Nói cách khác, người ta muốn trì hoãn việc sửa đổi cách sống, cứ sống tà tà, được ngày nào hay ngày ấy, rồi ra sẽ hay.
 
          1. Lý do của việc trì hoãn.
          Lý do của việc trì hoãn là thời gian còn sớm, không vội, đợi một thời gian nữa rồi sẽ hay. Giới trẻ thì cho là  thời gian còn dài, đến già thì sám hối vẫn kịp. Còn người già thì cũng thích dùng kế  “hoãn binh” : đợi một thời gian nữa. Người ta đã mắc cạm bẫy của ma quỉ.
 
Truyện : Hội nghị của quỉ.
          Ngày kia Satan hỏi các đồ đệ :
          - Làm thế nào để chiếm đoạt được các linh hồn ?
          Con thứ nhất trả lời :
          - Tôi sẽ rỉ bên tai họ : không có Chúa, không có Chúa.
          - Họ đâu có tin. Nhìn vũ trụ, họ không thể nào chối không có Chúa được.
          Con thứ hai trả lời :
          - Tôi sẽ rỉ tai họ : chết là hết, chết là hết.
          - Than ôi, sự đời đời đã được khắc sâu vào chính giữa trái tim của con người!
          Satan và các độ đệ trầm ngâm nghĩ ngợi.  Bỗng một con quỉ khác từ từ đứng dậy :
          - Tôi sẽ nhắc đi nhắc lại cho loài người biết rằng Chúa có thật và chết thì chưa hết đâu. Tôi lại còn nói với họ hãy ăn năn đền tội và trở lại với Chúa, nhưng tôi sẽ rỉ tai họ : Gấp gì. Còn chán thời giờ ! Để gần chết rồi hãy ăn năn tội, để khi gặp sự nguy hiểm rồi mới lo phần hồn cũng chưa muộn gì !
          Quỷ vương Satan liền đập bàn , vỗ đùi cái đét :
          - Tuyệt ! Tuyệt ! Theo kế hoạch này, chắc chắn chúng ta sẽ thành công !
          Đấy là cơn cám dỗ mà nhiều người vấp phải và cũng là cái bẫy nguy hiểm của ma quỉ giăng ra. Ma quỉ không cám dỗ ta đừng ăn năn sám hối vì nó biết nói thế là ta không tin. Nó chỉ nói : Còn sớm, chờ đã.
 
          2. Nguy hiểm của sự trì hoãn.
          Có người lập luận rằng Chúa là Đấng từ bi và thương xót, chậm bất bình và rất mực khoan dung. Ngài nhẫn nại chờ đợi kẻ tội lỗi ăn năn sám hối.  Họ vin và trường hợp của người trộm lành (x. Lc 23,39-40), người đó chỉ xin Chúa có một câu : Khi nào lên nước thiên đàng, xin hãy nhớ đến tôi”, và Chúa đã trả lời ngay :”Ngay hôm nay ngươi sẽ ở trên thiên đàng với ta”. Như vậy, chỉ cần một giây phút cuối ăn năn sám hối thì sẽ được Chúa tha thứ và sẽ được cứu rỗi !
          Nhưng theo Kinh Thánh, trẻ đi theo lối nào thì già cũng đi theo lối ấy. Cái cây đã nghiêng về phía nào thì sẽ đổ về phía ấy.
          Theo ý kiến của nhiều nhà đạo đức và theo kinh nghiệm của một số người chết hụt thì trước khi tắt hơi thở cuối cùng, Chúa sẽ cho quay lại cuốn phim của đời mình. Nếu đời sống tốt đẹp thì sẽ vui mừng và hy vọng, còn nếu đời sống xấu xa thì sẽ sợ hãi và thất vọng.
          Cái nguy hiểm của sự trì hoãn là thời gian gấp rút, khi thần chết đến thì không kịp trở tay. Người ta chỉ biết bó tay chịu đựng, hoàn toàn bế tắc  Lần kia, đến giờ ăn tối, người ta đem đến cho Archias, bạo chúa thành Thèbes, một lá thư khẩn cấp, ông hồn nhiên trả lời :”Các việc nghiêm trọng hãy để sáng ngày mai”. Không một ai hay biết tín thư đó sẽ cáo giác một vụ mưu phản sắp bùng nổ.  Sự kiện này khiến chúng ta coi câu nói của ông không những như là một châm ngôn mà còn như một chương trình.
          Ngoài ra, người ta còn bị ảnh hưởng bởi dư luận, bị lôi cuốn bởi gương thiên hạ, bởi bầu khí công cộng, bởi các châm ngôn thông thường, bởi cả một nền giáo dục hèn nhát mà quên đi sự chết. Vì thế trong cuốn suy gẫm của cha Gratry có câu như sau :”Phong tục ngoài đạo của ta đã khiến ta sợ sệt trước sự chết. Ngay từ thơ ấu, người đời dạy ta phải kính sợ sự chết, trốn tránh sự chết với bất cứ giá nào. Người đời bảo ta đó là một huyền bí rùng rợn, không bao giờ được nói đến.  Đúng thế, chết thật là cay đắng và khó khăn, vì không ai dạy ta chết, người đời để ta chết cô đơn, khi người ta lừa gạt ta tới giây phút cuối cùng, để cản trở người hấp hối, đến lúc gần tắt thở mới biết được việc họ làm”.
         Đức Giam mục Bossuet cũng nói :”Người đời mà số phận phải chết, lại lo chôn giấu những ý nghĩ về sự chết, không kém gì lo chôn cất kẻ chết”. Đôi khi họ thành công, đến nỗi chết đến với họ hãy còn xa xăm, một giả thuyết lờ mờ.
          Còn Xavier de Maistre đã viết trong lúc đùa cợt rằng :”Tôi sẽ chết sao ? Tôi đang nói, tôi tự cảm thấy mình, tôi sờ thấy mình, tôi sẽ có thể chết sao ? Tôi hơi khó tin đấy. Vì những người khác chết xem ra tự nhiên lắm : người ta trông thấy người chết mỗi ngày, người ta đã quen đi rồi. Nhưng chính mình chết, đích thân mình chết, cái ấy hơi quá. Còn các ông, hỡi quí ông, các ông hãy coi những suy tư này như những câu văn mập mờ, các ông hãy biết cho rằng đó là cách suy nghĩ của mọi người và của chính các ông ấy”(De Parvillez, Niềm vui trước sự chết, 1996, tr 9).
 
IV. FESTINA LENTE
          Tây phương có một câu tục ngữ rất hay và hơi lạ : “Festina lente” : hãy vội vàng thư thả hay vội vàng một cách ung dung. Câu tục ngữ này xem ra mâu thuẫn, đã “vội vàng” làm sao còn “thư thả” được. Nhưng nếu phân tích một cách sâu xa thì lại thấy nó hài hòa. Người ta dùng chữ Festina để khuyên ai đã có chương trình hay kế hoạch thì hãy bắt tay vào việc ngay để thực hiện bằng được chương trình đó, đừng chần chờ, đừng để thời gian trôi đi kẻo làm hỏng kế hoạch; bởi vì người ta nói :”Cái gì có thể làm hôm nay thì đừng để đến ngày mai”.
          Nhưng phải thực hiện chương trình một cách lente thư thả, sáng suốt, bình tĩnh, đừng nôn nóng, không vội vàng hấp tấp đến nỗi :
                                              Đi đâu mà vội mà vàng
                                      Mà bỏ túi bạc mà mang túi chì.
          Thiên Chúa ban cho con người có đủ thời giờ