Giảng Lễ An Táng Bài 101-142: Suy nghĩ về sự chết

Thứ ba - 22/01/2019 09:21
Giảng Lễ An Táng Bài 101-142: Suy nghĩ về sự chết
Giảng Lễ An Táng Bài 101-142: Suy nghĩ về sự chết
Giảng Lễ An Táng Bài 101-142: Suy nghĩ về sự chết
AnTáng 101: Sự thanh luyện cần thiết 2
AnTáng 102: Đức Gioan Phaolô II suy tư về Ý nghĩa Sự Sống. 6
AnTáng 103: 'Một Mai Tôi Sẽ Chết, Trên Đường Về Cõi Hết...' 7
AnTáng 104: Lễ các Đẳng. 9
AnTáng 105: Mùa báo hiếu—Mùa tình yêu hiệp thông. 15
AnTáng 106: Nguồn gốc lễ Cầu hồn và tháng Các linh hồn. 18
AnTáng 107: Lời kinh cầu hồn trong văn hóa Việt Nam.. 21
AnTáng 108: Cha Thánh Padre Pio chăm lo cho các linh hồn mồ côi 26
AnTáng 109: Cha Thánh Padre Pio tình nguyện chịu đau khổ. 27
AnTáng 110: Sự đau đớn mà linh hồn phải chịu ở luyện ngục. 29
AnTáng 111: Tôi Đã Gặp Một Linh Hồn Hiện Về Từ Lửa Luyện Tội 31
AnTáng 112: Tháng 11, Nghĩ Về "Các Thánh Thông Công". 36
AnTáng 113: Cầu Nguyện Cho Các Đẳng Linh Hồn. 39
AnTáng 114: ÐTC Bênêđitô XVI nói về sự hiệp thông với các thánh. 41
AnTáng 115: Có hỏa ngục hay không?. 44
AnTáng 116: "Giêsu - Maria - Giuse, Con Mến Yêu, 49
AnTáng 117: Hiệu quả thực tiễn của một câu chuyện giả tưởng ! 52
AnTáng 118: Hy Sinh Và Cầu Nguyện. 54
AnTáng 119: ĐGH nói rằng “Người Kitô hữu không nên sợ chết”. 56
AnTáng 120: LỄ CÁC ĐẲNG LINH HỒN.. 57
AnTáng 121 : Luyện Tội: Lửa Thanh Luyện. 60
AnTáng 122 : NHÂN THÁNG CÁC LINH HỒN.. 64
AnTáng 123 : ĐGH nhấn mạnh sự cần thiết cầu nguyện. 66
AnTáng 124 : Tháng 11 - THÁNG CÁC LINH HỒN.. 68
AnTáng 125 : Nói thêm về việc xin lễ và cầu nguyện cho các Linh Hồn. 69
AnTáng 126 : Ý nghĩa việc cầu nguyện cho những người thân yêu. 74
AnTáng 127 : Thánh trong đời sống chúng ta. 76
AnTáng 128 : Thiên Đàng—Luyện Ngục & Hỏa Ngục. 80
AnTáng 129 : BÍ MẬT Ở ĐÀNG SAU NHỮNG ĐAU KHỔ.. 84
AnTáng 130 : CHẾT LÀ TRỞ VỀ CUỘC SỐNG.. 87
AnTáng 131: CHẾT TRONG CHÚA.. 89
AnTáng 132: CÁI CHẾT, LỜI MỜI GỌI CỦA NGÔN NGỮ TÌNH YÊU.. 90
AnTáng 133: Lễ an táng bà cố Anna: Hãy chỗi dậy, vui lên. 92
AnTáng 134: LỄ CÁC ĐẲNG 2.11. 94
AnTáng 135: LỄ AN TÁNG.. 97
AnTáng 136: LỄ CÁC LINH HỒN.. 99
AnTáng 137: NHỚ ĐẾN CỘI NGUỒN.. 102
AnTáng 138: XIN NHỚ ĐẾN TÔI 104
AnTáng 139: MỌI SỰ RỒI SẼ QUA ĐI 106
AnTáng 140: CẦU CHO CÁC TÍN HỮU ĐÃ QUA ĐỜI 108
AnTáng 141: GIÁO HỘI ĐAU KHỔ.. 111
AnTáng 142: SỎI ĐÁ CŨNG CẦN CÓ NHAU.. 115

 

AnTáng 101: Sự thanh luyện cần thiết

Sự thanh luyện cần thiết AnTáng 101

Lm Giuse Nguyễn Hữu An
LỄ NGÀY 2/11
 

Hôm qua ngày lễ Các Thánh, Giáo hội vui mừng với những con cái của mình đã được hưởng vinh AnTáng 101

Hôm qua ngày lễ Các Thánh, Giáo hội vui mừng với những con cái của mình đã được hưởng vinh quang thiên quốc. Hôm nay trong tinh thần hiệp thông, Giáo hội tưởng niệm và cầu nguyện cho mọi tín hữu đã qua đời hiện đang còn thanh luyện trước khi hưởng hạnh phúc vĩnh cửu.
1. CÁC LINH HỒN CẦN ĐƯỢC THANH LUYỆN.
Những tín hữu đã chết trong ơn nghĩa Chúa nhưng chưa sạch hết mọi tội và chưa đền tội bằng những hình phạt tạm thời này thì không thể vào thẳng thiên đàng được, chưa xứng đáng hưởng nhan thánh Chúa nên họ phải chờ đợi thanh luyện xong mới vào thiên đàng. Thời gian đó là thời gian xa cách Chúa. Công đồng Floren đã định tín: có luyện ngục để thanh luyện các linh hồn. Các linh hồn ra khỏi trần gian không còn có thể làm được việc gì lành để cứu mình nên chỉ trông cậy vào những người còn sống lập công cầu nguyện cho mình để rút ngắn thời gian thanh luyện. Vì thế mà Giáo hội kêu gọi tín hữu cầu nguyện cho các linh hồn nơi luyện tội. Đặc biệt là việc dâng thánh lễ, dành tháng 11 cầu nguyện cho họ. Giáo hội còn mở kho tàng ân xá là công nghiệp của các Thánh để nhường cho các linh hồn nơi luyện tội. Giáo hội khuyến khích việc đi viếng các nghĩa địa, sửa sang mồ mả và cầu nguyện cho các linh hồn theo câu tục ngữ: mồ thật chôn các người chết là trái tim người sống.
Công đồng Vatican II đã xác tín lại tín điều Giáo hội cùng thông công giữa ba thành phần: lữ hành, thanh luyện và vinh thắng. Cả ba thành phần đều hiệp thông với nhau trong đức mến và truyền thông cho nhau những của cải thiêng liêng:Trong số những môn đệ của Chúa, có những kẻ tiếp tục cuộc hành trình nơi dương thế, có những kẻ hoàn tất cuộc sống này nhưng đang được thanh luyện, và có những người đang được chiêm ngưỡng “rõ ràng Thiên Chúa duy nhất trong Ba Ngôi như Ngài hằng có”…Sự hiệp nhất giữa những người còn sống trên dương thế với các anh em đã yên nghĩ trong bình an Chúa Kitô không hề bị gián đoạn. Nhưng trái lại, Giáo hội xưa nay luôn tin rằng sự hiệp nhất đó còn được vững mạnh hơn nhờ việc truyền thông cho nhau những của cải thiêng liêng. Quả thực, nhờ kết hiệp mật với Chúa Kitô hơn, các người ở trên trời cũng cố toàn thể Giáo hội vững bền hơn trong sự thánh thiện, làm cho việc thờ phượng mà hiện nay Giáo hội tại thế dâng lên Thiên Chúa được cao cả hơn, và họ góp phần phát triển Giáo hội rộng rãi hơn bằng nhiều cách (Lumen Gentium, chương 7, số 49).
Trong số 50, Hiến Chế Lumen Gentium viết: nhận biết sự đúng đắn sự hiệp thông này trong toàn Nhiệm Thể Chúa Giêsu Kitô, ngay từ buổi đầu của Kitô giáo, Giáo hội lữ hành hết lòng kính nhớ, dâng lời cầu nguyện cho những người đã chết vì “cầu nguyện cho những người đã chết để họ được giải thoát khỏi tội lỗi là một việc lành thánh tốt đẹp” ( 2 Mac 12,46).
Việc lành thánh tốt đẹp ấy được nói đến trong Thánh kinh và giáo huấn của Giáo hội.
A. Thánh kinh:
Hai đoạn văn thường được nhắc đến là 2 Macabê12,39-46 và 1Côrintô 3,10-15. Một bản văn thuộc Cựu ước và một thuộc Tân ước.
Sách Macabê II: sách được viết vào khoảng năm 124 trước công nguyên, đánh dấu nhiều bước tiến trong mạc khải cánh chung. Ở chuơng 7, chúng ta gặp thấy chứng tích về niềm tin vào sự sống lại dành cho các vị tử đạo. Chương 11, chúng ta lại thấy chứng tích về việc cầu nguyện cho người đã qua đời được thúc đẩy bởi niềm tin vào sự phục sinh.
Thư thứ nhất Côrintô: bản văn nói đến sự thanh luyện. Đoạn văn đã được sử dụng để nói tới sự phân biệt ba hạng ngưởi sau khi chết: những người lành được lên thiên đàng, những người xấu phải xuống hoả ngục, hạng người thứ ba được cứu rỗi nhưng cũng cần được thanh luyện bằng lửa, tức là lửa thanh luyện.
Trong bối cảnh tổng quát của mạc khải, có thể biện minh sự hiện hữu của việc thanh luyện tội lỗi sau khi chết với ba lý chứng sau đây: sự thanh sạch cần thiết để được đến gần Chúa ( x.Xh 29,4; Lêvi 11; Tv 24,3-4; Is 35,8.52,1; Mt 5,8.48; Kh 21,27); trách nhiệm cá nhân trong việc đền tội (x. 2Sm 12,13-15); và giá trị của sự cầu nguyện cho người qua đời (x. 2Macabê 12,40; 1Cor 15,29; 2 Tim 1,16-18).
B. Giáo huấn giáo hội:
Công đồng Vatican II bàn đến tình trạng thanh luyện sau khi chết ở chương VII của hiên chế Lumen Gentium. Số 49, Công đồng nhìn nhận rằng “có những tín hữu đã qua đời và đang được thanh luyện”. Số 50, đạo lý về sự thông hiệp giữa hết mọi phần tử Giáo hội được dựa trên thói tục bắt nguồn từ thưở ban đầu Kitô giáo về sự tưởng niệm người chết và cầu nguyện cho họ. Phần kết chương VII trình bày về đường hướng mục vụ, Công đồng tái khẳng định đạo lý cổ truyền của Giáo hội: “ Thánh Công Đồng kính cẩn đón nhận niềm tin cao trọng của tiền nhân chúng ta trong việc hiệp thông sống động với các anh em được vinh hiển trên trời hay còn phải thanh luyện sau khi chết, và lấy lại các sắc lệnh của thánh Công đồng Nicêa II, Firence, Trento ( số 51 a)”
C. Sách giáo lý Giáo hội Công giáo
Các số 1030 -1032 bàn đến sự thanh luyện. Có thể tóm lại trong các điểm sau:
- Các linh hồn cần được thanh luyện để hoàn tất sự thánh thiện cần thiết để được vào thiên đàng (sô1030). Lưu ý là sự thanh luyện được hiểu về trạng thái hơn là một ‘nơi chốn’, lại càng không thể nói “thời gian” bao lâu.
Các linh hồn có thể được chúng ta giúp đỡ bằng lời càu nguyện (số 1032)
Luyện ngục không phải là một hoả ngục ngắn hạn (số 1031), luyện ngục hoàn toàn khác xa hoả ngục.
Sách giáo lý có trích dẫn cụm từ ‘lửa thanh luyện” (x. 1Cor 3,15; 1Pr 1,7) nhưng không nói là phải hiểu theo nghĩa đen hay nghĩa bóng ( số 1032)
2. CÁC LINH HỒN ĐƯỢC THANH LUYỆN BẰNG CÁCH NÀO?
Truyền thống Giáo hội nói rằng: các linh hồn được thanh tẩy bằng lửa, lửa tình yêu (x. Dc 8,7), lòng khát khao thấy Thiên Chúa. Sự đau khổ trong day dứt hối hận tột độ. Các linh hồn mong hưởng nhan thánh Chúa nhưng lại chưa được vì mình chưa trong sạch xứng đáng nên phải thanh luyện bằng sự hối hận đầy lòng mến. Thánh Tôma cho rằng nguyên sự nôn nao muốn về thiên đàng cũng đã đủ tạo nên cực hình rồi (x. IV Sent, d.21, q.1 de Purgatorio,a.3). Thực vậy, nếu các tội nhân hoả ngục đau đớn vì mãi mãi lìa xa Chúa, thì các linh hồn đang thanh luyện phải trải qua một thứ cực hình khác: họ mong mỏi mau đựoc về với Chúa. Sự náo nức vì chờ đợi kẻ thân yêu cũng đã đủ “thiêu đốt tâm can” rồi ! Dù sao, một khi họ biết được lý do vì sao họ chưa được vào thiên đàng, họ sẽ đau buồn vì trước kia họ chưa mến Chúa cho đủ, họ đã coi nhẹ việc thống hối đền tội.
Do đó có thể hiểu rằng nổi thống khổ của các linh hồn thanh luyện tuy cực độ nhưng đượm màu hân hoan và tràn trể hy vọng. Đức Cha Tihaner quan niệm rằng:luyện ngục là một hoả ngục đầy hân hoan, là một thiên đàng đầy đau khổ. Chính linh hồn ý thức tình trạng bất xứng của mình trước sự thánh thiện của Thiên Chúa, vì thế tự nguyện được thanh tẩy. Giống như khi ta vào nhà nào lát gạch men bóng loáng, thì tự nhiên để dép ở ngoài. Nếu chân ta dính nhiều bùn đất mà muốn vào phải rửa chân cho sạch. Chính linh hồn muốn trở nên thanh khiết hơn, trưởng thành hơn, trong sáng hơn để được hiệp nhất với Thiên Chúa nên đón nhận những đau khổ do việc thanh luyện như là một phương thế cần thiết. Bởi đó trong luyện ngục hạnh phúc đã bắt đầu chớm nở. Đây là một thứ đau đớn làm sung sướng hay một thứ hạnh phùc pha lẫn đau khổ. Nhìn dưới lăng kính tình yêu, các linh hồn đau đớn do hình phạt đền tội, do sự khắc khoải vì chưa được lên thiên đàng. Nhưng họ vui sướng bởi vì chính tình yêu Chúa đang thanh luyện họ, họ đang tập “yêu mến” cách trọn hảo hơn, cắt đứt những ràng buộc với thọ tạo. Họ cũng vui sướng vì họ đã được đảm bảo về phần rỗi, bởi vì họ chắc chắn rằng mình sống trong ân sủng và đức ái.
Sự thanh luyện nói lên lòng lân tuất của Thiên Chúa: Ngài muốn chúng ta nên hoàn thiện, thanh sạch ngõ hầu xứng đáng chiêm ngắm nhan Ngài. Sự thanh luyện cũng nói lên tình yêu của Thiên Chúa: Ngài muốn cho chúng ta dành trọn cả mối tình cho Ngài chứ không quyến luyến với thọ tạo nào.

3. CẦN PHẢI CẦU NGUYỆN CHO CÁC LINH HỒN
Sự thanh luyện thuộc về “cánh chung trung thời” bởi vì nó sẽ không tồn tại sau ngày tận thệ thế nữa. Luyện ngục chỉ là thời gian tạm trú. Không ai có hộ khẩu thường trú ở đó cả. Luyện ngục chỉ là một chuyến đò ngang. Thiên Chúa mới là bến bờ. Đời sống vĩnh cửu mới là cùng đích, là phần thưởng Thiên Chúa hứa ban.
Đạo lý về sự thanh luyện thúc giục chúng ta cầu nguyện cho các linh hồn đã qua đời. Tập tục này đã có từ cuối thời Cựu ước và trong suốt lịch sử Giáo hội (x. GLCG số 1032; 958; 1371; 1689). Ngoài những hình thức cầu nguyện riêng tư, phụng vụ Giáo hội khuyến khích tục lệ này. Khởi đầu từ Thánh lễ, nơi đó Giáo hội hiệp thông với Các Thánh trên trời cũng như với các linh hồn còn đang chịu thanh luyện. Hằng năm, ngày 2 tháng 11 được dành để cầu nguyện cho tất cả các linh hồn đã qua đời tiếp sau lễ kính Các Thánh. Giáo hội còn dành cả tháng 11 nhớ đến các linh hồn và mời gọi con cái mình cầu nguyện, hy sinh hãm mình, làm việc bác ái như là nghĩa cử biểu lộ lòng yêu thương đối với họ cũng như tình hiệp thông trong nhiệm thể Chúa Kitô.

 

AnTáng 102: Đức Gioan Phaolô II suy tư về Ý nghĩa Sự Sống.

Đức Gioan Phaolô II suy tư về Ý nghĩa Sự Sống. AnTáng 102

Bài huấn dụ của Ðức Gioan Phaolô II:
Suy tư về ngày các Linh Hồn

ÐÔ Nguyễn Quang Sách
VATICAN (Zenit.org) - Toàn văn bài huấn đức của Đức Gioan Phaolô II hôm Chúa Nhật 2/11, ngày lễ cầu cho các tín hừu đã qua đời, trước khi đọc kinh Truyền Tin với các người hành hương tập hợp trong Quảng trường Thánh Phêrô.
* * *
Anh chị em thân mến!
 

Sau khi cử hành lễ Chư Thánh hôm qua, ngày 2/11 chúng ta hướng tới cầu nguyện tới những người AnTáng 102

1. Sau khi cử hành lễ Chư Thánh hôm qua, ngày 2/11 chúng ta hướng tới cầu nguyện tới những người đã từ bỏ cõi đời này và đang hờ đợi bước vào thành thánh trên trời. Giáo hội luôn luôn khuyến khích cầu nguyện cho các người đã qua đời. Giáo hội mời các tín hữu nhìn xem mầu nhiệm sự chết không phải như lời nói cuối cùng của vận mạng con người, nhưng như sự đi tới cuộc sống đời đời. "Và khi nơi trú ngụ dưới trần gian lưu đầy bị tiêu hủy," chúng ta đọc trong linh Tiền tụng hôm nay, "chúng con được về hưởng hạnh phúc vĩnh cửu trên quê trời."
2. Điều quan trọng và thích hợp là cầu nguyện cho những người đã qua đời bởi vì, mặc dầu họ chết trong ân sủng và tình bạn với Chúa, có lẽ họ còn cần một sự thanh luyện hơn để vào niềm vui trên trời (x. GLHTCG, No.1030). Sự cầu bàu cho họ được diễn tả qua nhiều cách khác nhau, trong số đó cũng có việc viếng nghĩa trang. Viếng những nơi thánh này là một dịp thuận tiện đê suy nghỉ vế ý nghĩa sự sống đời này và nuôi dưỡng, đồng thời, niềm hy vọng vào sự đời đời được chúc phúc trên Thiên đàng.
Xin Đức Maria, Cửa Thiên đàng, giúp chúng ta không bao giờ quên hay mất thấy quê trời, mục đích cuối cùng của cuộc hành hương chúng ta dưới thế
Sau khi đọc kinh Truyền tin, Đức Giáo hoàng chào những người hành hương như sau:
Tôi chân tình chào những người hành hương đã đến đọc với chúng ta kinh Truyền tin, chúng ta dâng kinh này cầu cho những người đã qua đời, cách riêng nhất là cho những người bị quên lãng.
Tôi chúc tất cả anh chị em hiện diện nơi đây một ngày Chúa Nhật an lành!

 

AnTáng 103: 'Một Mai Tôi Sẽ Chết, Trên Đường Về Cõi Hết...'

Mai Tôi Sẽ Chết, Trên Đường Về Cõi Hết...' AnTáng 103: 'Một

Lm Vĩnh Sang, DCCT
Nguồn: Ephata #291
 

Tôi vừa đi bệnh viện thăm một người anh em Linh Mục, vốn là một bác sĩ lâu năm trong nghề. Ngài AnTáng 103

Tôi vừa đi bệnh viện thăm một người anh em Linh Mục, vốn là một bác sĩ lâu năm trong nghề. Ngài từng chăm sóc cho biết bao nhiêu người tại bệnh viện, nhưng lần này thì chính ngài lại được đưa vào bệnh viện cấp cứu. Những chẩn đoán ban đầu của y khoa cho biết: ngài bị ung thư đại tràng và đã di căn vào gan. Đến bên giường bệnh, nhìn ngài nằm yên lặng mệt mỏi, nghe đâu mất máu nhiều lắm, đã phải truyền hơn 5 đơn vị máu rồi. Người anh em nói trong hơi thở nhẹ nhàng mong manh: “Phú thác cho Chúa thôi!” Người bác sĩ chữa trị, cũng là người con tinh thần của ngài, nói với chúng tôi qua hai con mắt đỏ hoe: “Trễ quá rồi!”
Mới mấy hôm trước anh em chúng tôi còn gặp nhau, còn cười nói, còn trao đổi, còn suy tư với nhau nhiều điều trăn trở, hôm nay ngài nằm đó, người bác sĩ Linh Mục đã không chẩn đoán kịp bệnh trạng của chính mình. Anh em trong Nhà thở dài: “Dao sắc không gọt được chuôi!”
Tôi trở về và dọn bài cho ngày mồng 2 tháng 11. Ngồi nghiền ngẫm với bài đọc thứ hai của giờ Kinh Sách, Thánh Ambrosio viết về cái chết nhân dịp ông Satiro (anh của ngài) qua đời: “Chớ gì mỗi ngày chúng ta tập làm quen và yêu mến sự chết, để nhờ sự tách biệt này, linh hồn chúng ta học cho biết đoạn tuyệt với các dục vọng thể xác, và một khi được đặt ở chốn cao siêu, nơi các ham muốn trần tục không thể tới cũng không khuyến dụ được nó, linh hồn đón nhận được hình ảnh của sự chết, để khỏi phải chịu hình phạt của sự chết.” (Bản dịch của nhóm Các Giờ Kinh Phụng Vụ).
Lời tuyên xưng đức tin và từ bỏ ma quỷ, từ bỏ những quyến rũ, từ bỏ những sự sang trọng của Thần Dữ ấy, chúng ta sang sảng công bố trong ngày lãnh Bí Tích Thánh Tẩy, và hằng năm trong đêm Vọng Phục Sinh ta vẫn long trọng lập lại lời tuyên bố ấy, nhưng có lẽ chưa bao giờ chúng ta mạnh mẽ đủ để thực hiện điều ấy, chúng ta luôn bị ràng buộc với những quyến rũ của thế gian, của dục vọng và đam mê. Quyền lực, tiền bạc, tình ái, hận thù, danh vọng, ...cứ mãi đeo bám ta như bóng với hình, đúng hơn như một thứ đỉa đói hút lấy máu Sự Sống của ta mà ta cứ ngỡ mình thong dong tự do ghê lắm!
Tập làm quen với cái chết, yêu mến cái chết là phương kế mà Thánh Ambrosio đề nghị chúng ta thực hành để đạt được lời cam kết. Chúng ta thường ra nghĩa địa với tâm trạng của một người sống đi cầu nguyện cho người chết, của một người con ra thăm để báo hiếu cha mẹ, của một người bạn đến thăm để vẹn nghĩa bằng hữu... chúng ta thiếu mất một cơ may để chiêm nghiệm sự chết, để yêu mến sự chết, và vì thế cũng thiếu luôn một dứt khoát với những quyến rũ của thế gian.
Cha Quang Uy biết được những ngày này tôi vẫn đang đắm mình trong mạch ý niệm suy về Sự Sống và Sự Chết nên đã tìm gửi cho tôi một bộc bạch tâm sự của nhạc sĩ thiên tài Mozart, người có tên gọi là “Amadeus”, nghĩa là “người được Thiên Chúa yêu thương”. Đây là một đoạn trích từ lá thư đề ngày 4.4.1786, Mozart gửi cho một người bạn, khi ông vừa nhận được tin thân phụ mình đang hấp hối:
”...Vì Sự Chết, xét cho thấu, là mục đích cuối cùng của cuộc sống, cho nên từ ít năm nay, tôi đã làm quen với Người Bạn thật tình và trọn hảo nhất ấy của loài người, cho đến nỗi, hình ảnh Sự Chết không những chẳng còn gì đáng khiếp sợ đối với tôi, ngược lại, đó lại là một niềm thanh thản rất an ủi cho tôi. Và tôi cảm ơn Thiên Chúa của tôi, Ngài đã cho tôi cái diễm phúc có được cơ hội để học biết và nhìn nhận Sự Chết như là chìa khóa mở cửa Hạnh Phúc cho chúng ta...
Tôi không bao giờ đi ngủ mà không nghĩ đến có thể ngày mai đây, mặc dù tôi vẫn còn trẻ trung đấy, tôi cũng sẽ không còn sống nữa! Ấy vậy mà trong tất cả những ai quen biết tôi, chẳng có ai có thể bảo rằng tôi âu sầu hay buồn chán trong lúc trò chuyện...
Mỗi ngày tôi đều cám ơn Đấng Tạo Hóa của tôi về niềm hạnh phúc ấy, và tôi cũng thành thật mong muốn cho anh em đồng loại của tôi có được diễm phúc này...”
Ngày 31.10.2006, báo Phụ Nữ có đăng một bài phỏng vấn ông Đỗ Đức Cường, người sáng chế ra máy rút tiền ATM mà ngày nay chúng ta đang quen dần với nó trên mọi ngã đường của các đô thị. Phóng viên hỏi ông: “Thời gian làm việc tại Sài-gòn, ông có hay về quê ?” – “Tôi rất thích về quê, nơi đó làm cho tôi thanh thản. Cuối mỗi tuần tôi thường về quê của các nhân viên và mỗi hai tháng lại về Quảng Ngãi quê tôi. Tôi thích ngồi cạnh mộ mẹ tôi và thích nhìn ngắm ngôi mộ của tôi đã xây bên cạnh đó...”
Phóng viên lại hỏi: “Ông bị bệnh tim, nhưng lại làm việc mỗi ngày từ 14 – 16 giờ. Phải chăng ông đang cố chạy đua với thời gian ?” – “Tôi luôn cảm thấy, nếu hôm nay mình không xong việc thì ngày mai không biết có còn cơ hội nữa không! Tôi đã chuẩn bị và biết rằng sẽ có một giấc ngủ mà tôi không thức dậy nữa. Cho nên những ngày sống một mình ở đây, tôi cũng tạo cho mình một thói quen mặc quần áo tử tế khi đi ngủ. (Bài phỏng vấn tiến sĩ Đỗ Đức Cường, “Với tôi, mẹ như một viên thuốc an thần!”, ký giả Minh Nhật, báo Phụ Nữ số 84 ra ngày 31.10.2006).
Vâng, ngồi nhìn ngắm mộ của cha hoặc mẹ, ngồi nhìn ngắm mộ của... chính mình, lòng chúng ta được thanh thản và dễ dàng chuẩn bị cho một cuộc ra đi vĩnh viễn.
Chúng ta đã ra nghĩa trang hàng trăm lần, đã bao giờ chúng ta ngồi nhìn ngắm ngôi mộ của người thân để chiêm nghiệm về cái chết và về một sự ra đi cho thanh thản lòng mình ? Nhạc sĩ Phạm Duy ôm đàn ghi-ta tự hỏi: “Một mai tôi sẽ chết, trên đường về cõi hết, tôi sẽ đem theo với tôi những gì đây ?...”
Lời Chúa vẫn cứ còn đấy, hãy tỉnh thức và sẵn sàng luôn!

 

AnTáng 104: Lễ các Đẳng

Lễ các Đẳng AnTáng 104

Lm. Stêphanô Huỳnh Trụ
 

Một lần nọ, trước ngày lễ cầu cho các tín hữu đã qua đời, cha sở thông báo: “Ngày mai là lễ AnTáng 104

Một lần nọ, trước ngày lễ cầu cho các tín hữu đã qua đời, cha sở thông báo: “Ngày mai là lễ các đẳng, chúng ta nhớ cầu nguyện cho các đẳng”. Thế rồi, công an xã mời cha đến xã làm việc một tuần lễ, với lý do là “Chúng ta chỉ có một đảng, sao linh mục kêu gọi cầu nguyện cho các đảng?” [1]!
Lễ ngày 2 tháng 11 có nhiều cách gọi. Cuốn “Những ngày lễ Công Giáo” chính thức của giáo phận ghi là: “Lễ cầu cho các tín hữu đã qua đời”, người ta thường gọi là “Lễ các đẳng linh hồn”, hay vắn tắt hơn thì gọi là “Lễ các đẳng”.

1. Nguồn gốc
Việc cầu nguyện cho những người đã qua đời có nguồn gốc từ Cựu Ước: “Ông Giuđa quyên được khoảng hai ngàn quan tiền, và gửi về Giêrusalem để xin dâng lễ đền tội; ông làm cử chỉ rất tốt đẹp và cao quý này vì cho rằng người chết sẽ sống lại. Thực thế, nếu ông không hy vọng rằng những chiến binh đã ngã xuống sẽ sống lại, thì cầu nguyện cho người chết quả là việc dư thừa và ngu xuẩn. Nhưng vì ông nghĩ đến phần thưởng rất tốt đẹp dành cho những người đã an nghỉ trong tinh thần đạo đức. Đó là lý do khiến ông đến dâng lễ tế đền tạ cho những người đã chết, để họ được giải thoát khỏi tội lỗi” (2Mcb 12,43-46).
Giáo hội từ những thế kỷ đầu cũng đã có cầu nguyện cho các tín hữu đã qua đời. Thánh Augustinô, thế kỷ IV, đã nói: “Nếu chúng ta không lưu tâm gì đến người chết, thì chúng ta sẽ không có thói quen cầu nguyện cho họ.” Các dòng tu đặc biệt quan tâm đến việc này. Thánh Ôđilô, Tu viện trưởng Dòng Cluny, vào giữa thế kỷ XI (1048) đã có sáng kiến cho dòng của ngài cầu nguyện cho những người đã qua đời vào ngày 2/11, ngay sau lễ Các Thánh. Sáng kiến này được Giáo Hội đưa vào lịch Phụng vụ Rôma. Công Đồng Triđentinô (1545-1563) nhấn mạnh rằng lời cầu nguyện của người sống có thể rút bớt thời gian thanh luyện của linh hồn người chết. Công Đồng Vaticanô II cũng dạy: "Giáo Hội lữ hành hết lòng kính nhớ, dâng lời cầu cho những người đã chết, vì cầu nguyện cho họ được giải thoát khỏi tội lỗi là một việc lành thánh..." (GH 50), về sự bầu cử của các đẳng linh hồn, Công Ðồng dạy: "Khi được về quê trời và hiện diện trước nhan Chúa... các thánh lại không ngừng cầu bàu cho chúng ta bên Chúa Cha..." (GH 49). Sự trao đi nhận lại đó vừa là một việc bác ái vừa là một bổn phận thảo hiếu phải đáp đền, đã thực sự củng cố Giáo Hội thêm vững bền trong sự thánh thiện. Ngày cầu nguyện cho các tín hữu đã qua đời liên quan đến niềm tin về luyện ngục và các thánh thông công.

2. Thuật từ tiếng Latin
Lễ này tiếng Latin là “Commemoratio omnium Fidelium Defunctorum”, tiếng Anh gọi là “Commemoration of all the Faithful Departed”, có khi cũng gọi là All Souls’ Day (Lễ các linh hồn) hay Defuncts’ Day (Lễ các người đã qua đời). Uỷ Ban Phụng Tự dịch là “Lễ cầu cho các tín hữu đã qua đời” là đúng, nhưng bình dân vẫn gọi là “Lễ các đẳng”. Vậy chúng ta tìm hiểu từ vựng này

3. Nghĩa của các, đẳng
3.1. Các: Có chín chữ Hán, ở đây là chữ, nghĩa là (đại từ). (1) Mỗi một: Các bất tương đồng (không ai giống ai). (tt). (2) Khác: Các biệt. (3) Tất cả, hết thảy: Các vị (quý vị).
3.2. Đẳng: có hai chữ Hán, ở đây là chữ, nghĩa là (dt.) (1) Thứ bậc: Thượng đẳng (bực trên nhất); Trung đẳng (bực giữa); Hạ đẳng (bực dưới nhất, hạng bét). (2) Phức số: Ngã đẳng (Nhóm chúng tôi). (3) Bậc thang: Thổ giai tam đẳng (Cầu thang đất có ba bậc). (đt.) (4) Ðợi chờ: Đẳng đãi (Chờ đợi). (5) Bằng nhau, đều: Đại tiểu bất đẳng (Lớn nhỏ không đều). (6) Cân lường. (tt.) (7) Hạng: Nhĩ thị hà đẳng nhân (Anh là hạng người nào). (pht.) (8) Vân vân: Đẳng đẳng.

4. Nghĩa của từ “các đẳng"
Các đẳng là tất cả thứ bậc. Thuật từ “Các đẳng linh hồn” để chỉ tất cả các linh hồn người quá cố trong luyện ngục [2] (thuộc thành phần Hội thánh đau khổ), phân biệt với “Các thánh nam nữ” là các phúc nhân trên thiên đàng (Hội Thánh vinh quang). [3] Có người cho rằng quan niệm về “linh hồn mồ côi” và “các đẳng linh hồn” v.v. chịu ảnh hưởng tư tưởng “cô hồn các đẳng” của ngoại giáo. Như Phật Giáo chia địa ngục ít nhất có 18 tầng và quỷ cũng có nhiều cấp bậc. Trong “Phật thuyết quỷ vấn Mục Liên kinh” [4] có rất nhiều thứ quỷ: quỷ đau đầu, quỷ mặc áo rách, quỷ ngủ bờ ngủ bụi, quỷ đói, quỷ nam căn [5] bị thối rửa… Hay trong xã hội loài người cũng chia làm nhiều giai cấp, tức là thứ bậc khác nhau trong xã hội: sĩ, nông, công, thương, binh... Trong tác phẩm “Thập Giới Cô Hồn Quốc Ngữ Văn” [6] đề cập đến 10 hạng “cô hồn”: Thiền tăng, nho sĩ, đạo sĩ, thiên văn địa lý, lương y, quan liêu, tướng quân, hoa nương, thương cổ và đãng tử. Trong “Văn Tế Thập Loại Chúng Sinh” [7] cũng nói đến 10 loại: Vua chúa, tể thần, đại tướng, kẻ ham giàu, kẻ ham danh, thương nhân, binh lính, quý nữ, kỹ nữ, bần nhân gặp nạn chết oan... Con số 10 chỉ là số phiếm chỉ cho tất cả các loại cô hồn tồn tại trong “lục đạo” [8] mà thôi. Phải chăng, chính những hoàn cảnh này đã ảnh hưởng đến cách suy nghĩ của chúng ta?
Thực ra, trong xã hội trần gian bao giờ cũng có nhiều thứ bậc, đẳng cấp, giai tầng... Khi lìa trần, người ta không thể mang theo mình bất cứ của cải vật chất nào. Mọi thứ bậc, đẳng cấp, địa vị của con người ở trên đời không có ý nghĩa gì trước Tòa Phán Xét. Thiên Chúa xét xử con người theo “công trạng” [9] nó đã làm ra. Chúa không hỏi chúng ta là ai, thuộc giai cấp nào trên thế gian, nhưng Chúa sẽ hỏi chúng ta về “nén bạc” (ân sủng và tình yêu) mà Chúa giao phó đã được sinh lợi thế nào. Như Thánh Gioan Kim Khẩu đã nói: “Nên nhớ Người sẽ không khiển trách họ về hạnh kiểm, tội lỗi hay lời báng bổ; mà chỉ vì không ích lợi gì cho ai. Như kẻ đã chôn nén của bạc mình, đời sống y không có gì khiển trách, nhưng y không làm ích gì cho ai khác.” [10]
Vì vậy, khi nói “các đẳng linh hồn”, chúng ta nghĩ tới tất cả các linh hồn của mọi hạng người trên đời này đã quá cố và đang còn phải thanh luyện trong luyện ngục. Họ có thể là ông bà, tổ tiên, thân nhân, bạn hữu của chúng ta hay là những người xa lạ. Khi còn ở đời này, có thể họ là người giàu sang quyền quý hay nghèo khó mọn hèn. Họ có thể là những Kitô hữu hữu danh hoặc “Kitô hữu vô danh”. [11] Tất cả họ đều là chi thể của Chúa Kitô, giờ đây đang thuộc về Giáo Hội đau khổ và cần đến lời cầu nguyện của chúng ta.
“Các đẳng linh hồn” không có nghĩa là trong luyện ngục các linh hồn vẫn có sự phân chia đẳng cấp, điạ vị như khi còn ở thế gian hay trong Luyện Ngục có bao nhiêu đẳng cấp, thứ hạng linh hồn. Trong Luyện Ngục, tình trạng thanh luyện của họ có thể khác nhau, nhưng được “phân cấp” như thế nào thì chúng ta không biết.
Khi nói “linh hồn mồ côi”, chúng ta nghĩ tới linh hồn của hạng người phải đơn độc trong cuộc lữ hành đức tin khi còn ở trên đời. “Đơn độc”, “cô quả”, “mồ côi”.... hiểu theo nghĩa đời thường là không có người thân thích, bạn bè, không có ai đồng hành để được quan tâm, nâng đỡ đời sống đức tin. Họ có thể là những tín hữu cô nhi, quả phụ hay kẻ cơ bần sống đời đơn chiếc. Họ cũng có thể là những tín hữu giàu sang, con đàn cháu đống, bạn hữu tứ phương mà thực ra những người quen biết xung quanh họ không ai có niềm tin Công Giáo như họ để xin lễ hay cầu nguyện cho họ. Và nay, những linh hồn đó đang ở trong Luyện Ngục, đang cần đến lời cầu nguyện từ Giáo Hội chiến đấu [12].
“Linh hồn mồ côi” không phải là linh hồn không được Chúa đoái trông chăm sóc, ít được Chúa yêu thương hay bị Ngài lãng quên. Điều đó hoàn toàn sai lầm. Mọi linh hồn đều được Thiên Chúa tạo dựng. Mọi người đều được Chúa yêu thương bằng một tình yêu riêng biệt, không ai giống ai, Ngàivẫn không ngừng gọi chúng ta bằng chính tên riêng của từng người: “Người ta sẽ gọi ngươi bằng tên mới, chính là tên miệng Đức Chúa đặt cho” (Is 62,2) và tình yêu đó luôn luôn đầy tràn: “Ơn của Ta đủ cho ngươi” (2Cr 12,9).
Bản văn Công Giáo đầu tiên sử dụng từ “các đẳng” mà chúng tôi được biết là “Văn Tế Các Đẳng Linh Hồn” của cha Gioakim Đặng Đức Tuấn (1806-1874): “Nhớ các đẳng xưa: Tay Chúa dựng hình, tính thiêng gởi xác. Di luân tài mạng chịu thiên tư, lý dục thị phi đầy địa bộ...”. Cụm từ “các đẳng”, “các đẳng linh hồn” đã được sử dụng từ lâu trong Giáo hội tại Việt Nam để chỉ các tín hữu đã qua đời đang còn thanh luyện chờ ngày hưởng phúc thanh nhàn bất diệt. Lịch phụng vụ của Roma xưa nay ghi lễ ngày 02/11 là “Commemoratio omnium Fidelium Defunctorum”. Lịch phụng vụ ởViệt Nam thì dịch là: “Lễ Các Linh Hồn” [13], “Lễ Linh Hồn” [14], “Lễ Cầu Cho Mọi Tín Hữu Qua Đời” [15], sau này dịch là “Lễ Cầu Cho Các Tín Hữu Đã Qua Đời”. Thiết nghĩ cách dịch “Lễ Cầu Cho Các Tín Hữu Đã Qua Đời” thì sát nghĩa với nguyên bản, nhưng nên hiểu đó vẫn là nói tắt, vì đầy đủ phải là Lễ Cầu Cho Các Tín Hữu Đã Qua Đời Đang Còn Thanh Luyện (hay đang ở luyện ngục). Cách nói “Lễ các đẳng” cũng là cách nói tắt, mang âm hưởng văn hóa bản địa về “cả thảy vong linh” thuộc “thập loại chúng sinh” gồm cả “cô hồn các đẳng”! Phải chăng các tiền nhân của chúng ta đã hội nhập văn hóa trong khi tạo ra cụm từ này để phiên dịch?
Trường hợp những ngày lễ Feria V in Cena Domini, Feria VI in Passione Domini, chúng ta dịch là Lễ Tiệc Ly (Thứ Năm Tuần Thánh), Lễ Tưởng Niệm Cuộc Thương Khó của Chúa (Thứ Sáu Tuần Thánh), nhưng người bình dân vẫn quen gọi là “Lễ Rửa Chân”, “Lễ Hôn Chân”... vừa đơn giản, tượng hình lại dễ nhớ. Tất nhiên không đủ nghĩa, không nên sử dụng nữa.

Kết luận
Giáo dân Việt Nam chúng ta có thói quen xin lễ cho các linh hồn tổ tiên nội hay ngoại, linh hồn thân nhân, linh hồn mồ côi, linh hồn ngoại đạo, thai nhi, linh hồn người chết vì tai nạn… và trong Thánh lễ hàng ngày, Hội Thánh luôn cầu nguyện cho mọi người đã qua đời. Đó là những thực hành rất tốt để tưởng nhớ người đã qua đời, thực thi bổn phận “hợp thông cùng các thánh”.
Ngày “Commemoratio omnium Fidelium Defunctorum”, chính xác là ngày “Lễ Cầu Cho Các Tín Hữu Đã Qua Đời”. Còn “Lễ Các Đẳng” là cách nói vắn tắt, hiểu theo giáo lý Công Giáo như đã trình bày, thì không đúng cho lắm, những nếu đặt trong bối cảnh văn hoá Việt Nam thì việc tiếp tục sử dụng nó cũng không có gì ngăn trở.
_______________________________________________
Ghi chú :
[1] Trong văn nói, một số người Nam bộ phát âm “các đẳng” thành “các đảng”, cũng như “cô hồn” thành “cu hồn”, nên “cúng cô hồn các đẳng” thì nói là: “cúng cu hồn các đảng”.
[2] Lưu ý là luyện ngục không phải là một hoả ngục ngắn hạn, luyện ngục hoàn toàn khác xa hoả ngục và sự thanh luyện được hiểu về trạng thái hơn là một ‘nơi chốn’, lại càng không thể nói ‘thời gian’ bao lâu (x. GLCG số 1030-1032).
[3] Thời xưa chưa có mục từ “tất cả”. Các danh từ chỉ tổng lượng thời xưa là: Cả, cả và, cả thảy, hết cả, hết thảy.
[4] Phật thuyết quỷ vấn Mục Liên kinh, gồm 17 chuyện, theo truyền thuyết thì do An Thế Cao dịch, nhưng được ghi nhận là thất dịch, thuộc đời lưỡng Tấn.
[5] Tức bộ phận sinh dục.
[6] Còn gọi là “Phật kinh thập giới”, không rõ tác giả, viết dưới thời vua Lê Thánh Tôn (1442-1497), là áng văn viết bằng chữ Nôm cổ theo thể biền ngẫu.
[7] Tác phẩm của Nguyễn Du (1765-1820), được làm theo thể song thất lục bát, gồm 184 câu thơ chữ Nôm. Theo Trần Thanh Mại trên “Đông Dương tuần báo” năm 1939, thì Nguyễn Du viết bài văn tế này sau một mùa dịch khủng khiếp làm hàng triệu người chết, khắp non sông đất nước âm khí nặng nề, và ở khắp các chùa, người ta đều lập đàn cầu siêu để giải thoát cho hàng triệu linh hồn.
[8] Theo giáo lý Phật Giáo, con người chúng ta do lực của nghiệp và phiền não của chính bản thân mà cứ mãi luân hồi chuyển sinh trong 6 chủng loại thế giới sinh tồn đầy những khổ đau, gọi là lục đạo đó là: thiên, a-tu-la, nhân, súc sinh, ngạ quỷ và địa ngục.
[9] Xem BGCN, Số 07/2010, tr. 106.
[10] Thánh Gioan Kim Khẩu, Bài giảng XX sách Công Vụ tông đồ (Jean Comby, Để đọc lịch sử Giáo Hội, q.I, tr.115).
[11] Có những người vì lý do nào đó mà không lãnh nhận bí tích Rửa Tội được, nên không trở thành Kitô hữu. Nhưng nếu họ sống theo những giá trị của Phúc Âm thì, nói theo từ ngữ của nhà thần học Karl Rahner, họ cũng là những “Kitô hữu vô danh” (Chrétien anonyme).
[12] Công đồng Florence (1431) đã định tín: Có luyện ngục để thanh luyện các linh hồn. Các linh hồn ra khỏi trần gian không còn có thể làm được việc gì lành để cứu mình nên chỉ trông cậy vào những người còn sống lập công cầu nguyện cho mình để rút ngắn thời gian thanh luyện. Vì thế mà Giáo hội kêu gọi tín hữu cầu nguyện cho các linh hồn nơi luyện tội.
[13] Niên Giám 1964, tr.11.
[14] Địa phận Hà Nội, Sách Lễ, Nxb Hiện Tại, 1967.
[15] Sách Lễ Giáo Dân, 1971, tr. xxix và tr. 1572. Cách dịch này rất dễ hiểu lầm là: Lễ cầu cho mọi tín hữu chết hết (!)

 

AnTáng 105: Mùa báo hiếu—Mùa tình yêu hiệp thông

Mùa báo hiếu—Mùa tình yêu hiệp thông AnTáng 105

Nữ tu Maria Nguyễn Thị Tuyệt
 

Tháng 11, nỗi bật lên tâm tình của toàn thể Giáo Hội nhớ đến bậc tổ tiên, những người đã khuất AnTáng 105

Tháng 11, nỗi bật lên tâm tình của toàn thể Giáo Hội nhớ đến bậc tổ tiên, những người đã khuất bóng trên cõi đời nầy, những vị đã về Nhà Cha...
Ngày 01.11, Lễ trọng kính các Thánh Nam Nữ, các ngài đã được vinh hiển nhờ tình thương của Chúa nhân lành, các ngài được chia sẻ hạnh phúc sung mãn của Chúa. Giờ đây, trên trời, các ngài được chiêm ngưỡng thánh nhan Chúa, đồng thời các ngài cũng đang cầu bầu và chờ đợi chúng ta. Các ngài là Giáo Hội khải hoàn, Giáo Hội vinh thắng sau cuộc chiến ở trần gian.
Ngày 02.11. Lễ cầu cho các linh hồn đang phải thanh luyện trong luyện hình, toàn thể Giáo Hôị dâng thánh lễ, cầu nguyện, hy sinh cho các linh hồn đã qua đời, đó là tổ tiên ông bà cha mẹ, mà hôm nay chúng ta thương nhớ tưởng niệm, hiệp thông để cầu nguyện trong lòng tin, thể hiện niềm thảo kính ấy, "vì tưởng nhớ, cầu nguyện cho những người đã an nghỉ được giải thoát khỏi tội lỗi là một việc đạo đức và thánh thiện" (2Mcb 12,53-45)
Công đồng Vatican II trong Hiến Chế Vui Mừng và Hy Vọng, viết: " Chúa Kitô đã đem lại chiến thắng ấy khi Người sống lại, và nhờ cái chết của Người, Người đã giải phóng con người khỏi sự chết... đồng thời, còn cho con người có khả năng hiệp thông với những người anh chị em thân yêu đã chết trong Chúa Kitô và làm cho chúng ta hy vọng rằng những người ấy đã được sống thực trong Thiên Chúa." ( HC / GH số 18b).
Về điều nầy thì chính Thánh Phaolô Tông đồ đã mang cho chúng ta sứ điệp của niềm hy vọng khi ngài viết cho tín hữu Thesalônica:"Vì nếu chúng ta tin rằng, Đức Kitô đã chết và đã sống lại, thì chúng ta cũng tin rằng những người đã an nghĩ trong Đức Giêsu, sẽ được Thiên Chúa đưa về cùng Đức Kitô. Dựa vào lời Chúa, chúng tôi nói với anh chị em điều nầy là chúng ta, những người đang sống, những người còn lại vào ngày Chúa quang lâm, chúng ta sẽ chẳng đi trước nhứng người đã an giấc ngàn thu đâu; vì khi lệnh ban ra, khi tiếng Tổng Lãnh Thiên Thần và tiếng kèn của Thiên Chúa vang lên, thì chính Chúa sẽ từ trời ngự xuống, và những người đã chết trong Đức Kitô sẽ sống lại trước tiên, rồi đến chúng ta là những người đang sống, những người còn lại, chúng ta sẽ được đi trên đám mây cùng với họ, để nghênh đón Chúa trên không trung. Như thế, chúng ta sẽ được ở cùng Chúa mãi mãi." (1Thes. 4, 14-16).
Như thế, việc tưởng nhớ người thân yêu đã qua đời cũng chuẩn bị cho chúng ta nhớ đến quê trời và cảm nghiệm được tình yêu của Thiên Chúa: Đấng Hằng Sống và Đấng Ban Sự Sống cho chúng ta, dù chúng ta chết hay đang sống, vẫn luôn hiện diện trong Chúa và trước tôn nhan Người... Người là Chúa kẻ sống và cũng là Chúa của những người đã chết, nên chúng ta hãy sống xứng đáng với Người và sống tốt đẹp với nhau.
Hôm nay, chúng ta đang đứng trước một huyền nhiệm rất sâu thẳm mà cũng rất hiện thực, sự sống và sự chết không có ranh giới. Cái chết là ngưỡng cửa mở ra cho chúng ta bước vào cuộc sống mới, sự sống chân thật, sự sống vĩnh cữu...
Cầu nguyện cho những ngưòi đã khuất là chúng ta đang làm trọn Đạo Hiếu, Đạo Yêu Thương mà các ngài đang khát khao mong đợi... để ngày sau, trên quê hương Nước Trời, chúng ta sẽ sum họp cùng các Thánh, gia tộc thiêng liêng, những người thân yêu, mà ca tụng lòng từ bi lân tuất Chúa không hề ngơi...
Sự sống mà sau khi chúng ta từ biệt ngôi nhà thân xác bụi đất nầy, thì chỉ có nơi Thiên Chúa, Thiên Chúa Hằng Sống, Thiên Chúa Tình Yêu. Tình yêu làm cho con người trở nên bất tử và vĩnh cữu cả đời nầy lẫn đời sau. Đời nầy, con người sống trong tình yêu: tha thứ, khoan dung, nhân hậu... thì đời sau, khi bước qua ngưỡng cửa sự chết, con người cũng sẽ ở trong tình yêu sung mãn, trong cung lòng của Đấng mệnh danh là Tình Yêu; nên cái chết cũng không phải làm cho con người quá sợ sệt, khiếp hãi, vì  trong tình yêu thì không có sự sợ hãi.  Con người đã sống trong tình yêu, tương quan mật thiết với chính Đấng Yêu Thương. Vì tình yêu, Thiên Chúa đã ban Con Một Người cho trần gian, Đức Giêsu xuống thế làm người, chết và sống lại, để cứu và đem con người vào vương quốc Tình yêu của Thiên Chúa; nên sứ điệp mà chúng ta phải lắng nghe, đón nhận, đó là sứ điệp Tình Yêu.
Chúng ta đang sắp đi vào tuần cuối của năm Phụng vụ năm B, và cũng là Tháng Các Linh Hồn, chúng ta sẽ nghe lại đoạn Tin Mừng về điều răn trọng nhất, là Mến Chúa  Yêu người: "Ngươi phải yêu mến Đức Chúa...và yêu người thân cận như chính mình."(Mc 12, 28b-34). Thiên Chúa muốn chúng ta hiệp nhất với Ngài và với anh chị em trong cùng một tình yêu. Sứ điệp Tình Yêu là sợi giây xuyên suốt, hướng dẫn, đồng hành với chúng ta trên dương gian và theo ta về thế giới hằng sống.
Vậy, để đáp lại ân sâu nghĩa nặng và lòng trân quý đối với bậc tiền bối, chúng ta hãy tham dự Thánh lễ, cầu nguyện, hy sinh, cũng như quyết tâm sống xứng đáng với những công đức và di sản các vị để lại, và hãy cùng nhau xây dựng đời sống thánh hảo, tài bồi sản nghiệp đức tin công giáo cho tình yêu gia tộc ngày thêm vững mạnh, thắm thiết, tình yêu tha nhân thêm mặn mà, để đem lại cho nhau niềm hy vọng tin yêu vào cuộc sống hơn.
Có như vậy, nén hương chúng ta thắp lên trong Mùa Báo Hiếu, Mùa Tình Yêu Hiệp Thông nầy sẽ có ý nghĩa hơn bởi lòng thành kính đối với những Người Đã Ra Đi... Các linh hồn được thanh luyện để về Quê hương Vĩnh Hằng trước... các vị cầu nguyện và chờ đợi chúng ta trong niềm Hiệp thông, gắn bó Yêu Thương, củng cố cho chúng ta là Giáo Hội lữ hành, được kiên vững trong đức tin mà nổ lực sống thánh thiện, để rồi mai ngày, chúng ta sẽ gặp các đấng mà ca tụng lòng từ bi lân tuất Chúa muôn đời.
Lời kinh Hiệp Thông trọn vẹn được đọc trong phụng vụ thánh lễ, kinh nguyện Thánh Thể III: Hội Thánh giao chiến ở  trần gian cầu nguyện cho chính mình, cho thế giới và cầu nguyện cho Hội Thánh luyện hình, Nhờ - Với - Trong  Hy Tế của Đức Giêsu:
" Nguyện xin của lễ hoà giải nầy đem lại bình an và cứu độ cho tất cả thế giới. Xin ban cho Hội Thánh Chúa trên đường lữ thứ trần gian được vững mạnh trong đức tin, đức mến, cùng với Đức Thánh Cha, các Đức Giám Mục chúng con và giáo sĩ khắp nơi và tất cả Dân riêng Chúa... Lạy Cha nhân từ, xin thương đoàn tụ mọi con cái Cha đang tản mác khắp nơi, xin thương cho ông bà, cha mẹ, anh chị em chúng con đã qua đời, và tất cả những ai đã ly trần trong ơn nghĩa Chúa, được vào Nước Chúa, nơi chúng con hy vọng sẽ tới, để cùng nhau tận hưởng vinh quang Chúa muôn đời..."
Lời kinh đẹp như một tình yêu tròn đầy, huyền nhiệm. Lời Tình Yêu Hiệp thông trong Đại Gia Đình Hội Thánh. Một tình yêu gắn kết sắt son không thể chia lìa, vì trong tình yêu Hiệp Thông ấy, Hội Thánh Khải Hoàn trên trời vui mừng, Hội Thánh Lữ Hành trần gian tin tưởng, lớn lên, Hội Thánh Luyện Hình hy vọng chờ đợi, trong Tình yêu của Đấng Chịu Đóng Đinh, Sống lại và Vinh Thắng.
Lạy Chúa, chúng con mong chờ Ngày Chúa trở lại! Amen - Allêluia.

 

AnTáng 106: Nguồn gốc lễ Cầu hồn và tháng Các linh hồn

Nguồn gốc lễ Cầu hồn và tháng Các linh hồn AnTáng 106

Theo Xuanha
 

Theo sách vở ghi lại, thì thánh Odilo (962- 1048) là viện phụ đan viện Cluny. Đan viện này thời AnTáng 106

Theo sách vở ghi lại, thì thánh Odilo (962- 1048) là viện phụ đan viện Cluny. Đan viện này thời đó nằm trong phần đất của đế quốc Germany.
Ngài là người thánh đức, thường cầu nguyện, hi sinh , và dâng lễ cầu cho các linh hồn đã qua đời.

Truyện kể rằng:
Một hôm, một đan sĩ Dòng ngài đi viếng Đất thánh Giêrusalem. Trên đường trở về Đan viện Cluny. Tàu chở đan sĩ bị bão đánh giạt vào một hòn đảo. Tại đó, đan sĩ gặp một ẩn sĩ và được ẩn sĩ cho biết:
"Trên đảo này có nhiều hang lửa, trong hang có nhiều người bị hành hạ, đánh đập. Tôi thường nghe các tên quỉ phàn nàn với nhau về Viện phụ Odilo và các đan sĩ Dòng của ngài rằng: ngày nào họ cũng giải thoát một số linh hồn ra khỏi hang lửa đó. Vì thế, xin thầy về nói với cha Odilo và các anh em trong Dòng cứ tiếp tục cứu giúp các linh hồn đau khổ. Đó cũng là niềm vui cho các thánh trên Thiên đàng và là sự đau khổ cho quỉ dữ dưới Hỏa ngục".
 Sau khi nghe biết sự việc này, cha Odilo đã lập lễ Cầu hồn vào ngày 2 tháng 11 và trước hết cử hành trong đan viện Cluny của ngài vào năm 998 (có sách nói năm 1030). Về sau lễ cầu hồn đã được truyền sang nuớc Pháp, và tới giữa thế kỉ 10, Đức Giáo hoàng Gioan 14 đã lập lễ Cầu hồn trong Giáo hội Rôma.
Từ thời đó, nhiều nơi đã có thói quen cầu nguyện tuần chín ngày cho các linh hồn, họ đi thăm viếng, sửa mồ mả cha ông. Vào buổi chiều lễ Các Thánh, có những người đi từng nhà xin quà cho các linh hồn, họ hát những bài ca cổ truyền cổ động cầu cho các linh hồn mau ra khỏi Luyện ngục.
- Tại nước Hungary, người ta gọi ngày 2/11 là "Ngày người chết". Ngày đó, người ta có thói quen tụ họp các trẻ mồ côi tới gia đình họ rồi cho chúng ăn, cho quần áo, cho quà bánh, đồ chơi.
- Tại miền quê nước Poland, người ta kể: nửa đêm lễ Cầu hồn, người ta thắp sáng nhà thờ giáo xứ, để các linh hồn trong xứ đã qua đời về quanh bàn thờ cầu ơn giải thoát khỏi luyện ngục. Người ta nói là, sau đó trở lại thăm lại nhà mình, thăm nơi mình quen thuộc, làm việc mình đã làm khi còn sống. Và để đón tiếp những linh hồn này, người ta để cửa sổ mở suốt đêm mùng 2.
...........
- Tại Việt nam, nhất là miền Bắc, trước Công đồng Vaticanô 2 (62-65) người ta thường sửa mồ mả cha ông vào dịp Tết Nguyên đán đầu năm Âm lịch, tính theo mặt trăng, còn lễ Cầu hồn, người ta đi viếng các nhà thờ chung quanh suốt ngày lễ Các Thánh để lãnh ân xá chỉ cho các linh hồn đã qua đời. Cảnh người lớn trẻ em tấp nập ra vào rất vui vẻ. Người ta dự lễ và xin lễ rất nhiều để cầu cho Tổ tiên, Ông bà, Cha mẹ sớm về hưởng phước Thiên đàng.
--------------------------
*Thương nhớ người quá cố, nhất là cha mẹ, anh chị em trong gia đình là chuyện tự nhiên của con người.
*Ao ước cho người thân mình được "nghỉ yên muôn đời trong nơi mát mẻ hạnh phúc" cũng là tâm lí thông thường.
*Do đó việc cầu cho người thân đã qua đời là việc cần thiết, vừa cho linh hồn người chết được cứu thoát khỏi Luyện ngục, vừa cho người sống được tỏ lòng hiếu thảo đền ơn.
Những điều trên không những hợp lòng người, mà còn hợp giáo lí trong đạo. Giáo lí Công giáo do Đức Thánh cha Gioan Phaolo 2 ban hành năm 1992 có 3 số như sau:
- Số 1030: Cần có Luyện ngục:
"Những ai chết trong ân sủng và ân nghĩa của Thiên Chúa, nhưng chưa được thanh tẩy cách trọn vẹn, thì tuy được bảo đảm về ơn cứu độ muôn đời của mình, vẫn phải chịu một sự thanh luyện sau khi chết, hòng đạt được sự thánh thiện cần thiết để bước vào niềm vui thiên đàng.
- Số 1031: Luyện ngục để thanh tẩy:
"Giáo Hội gọi là luyện ngục là sự thanh luyện sau cùng này của các người được chọn, hoàn toàn khác với hình phạt của những kẻ bị án phạt. Giáo Hội đã trình bày giáo lý của đức tin về Luyện ngục, nhất là tại các Công đồng Florentia (xem DS 1304) và Trentô (xem DS 1820; 1580).
 Dựa vào một số bản văn của Thánh Kinh (Chẳng hạn 1 Cr 3,15; 1 Pr 1,7), Truyền thống của Giáo Hội nói đến một thứ lửa thanh luyện:"Đối với một số những lỗi lầm nhẹ, ta phải tin có một thứ lửa thanh tẩy trước ngày Phán xét, theo như những gì mà Đấng là Chân lý đã dạy khi Ngài nói rằng nếu ai nói lời phạm thánh chống lại Chúa Thánh Thần, thì sẽ không được tha cả đời này lẫn ở đời sau" (Mt 12,31). Theo lời quyết đoán này, chúng ta có thể hiểu rằng một số lỗi lầm có thể được tha ở đời này, nhưng một số lỗi khác thì được tha ở đời sau" (Th. Gregoriô Cả, Dial. 4,39).
 - Số 1032: Người sống cứu người chết:
"Giáo huấn này cũng dựa vào cách cầu nguyện cho kẻ chết, như được nói đến trong Thánh Kinh: "Đó là lý do tại sao ông Giuđa Macabê đã truyền phải dâng hy lễ đền tội này cho các người đã chết, để họ được giải thoát khỏi tội lỗi của mình" (2 Mcb 12,46).
 Ngay từ những thời gian đầu, Giáo Hội đã tôn kính việc tưởng niệm các người đã qua đời, và dâng kinh lễ để cầu cho họ, nhất là dâng Thánh lễ( xem DS 856), để họ được thanh tẩy và tiến vào nơi chiêm ngưỡng Thiên Chúa. Giáo Hội cũng khuyên làm việc bố thí, hưởng các ân xá và thi hành những việc đền tạ để giúp các người đã qua đời:
Chúng ta hãy cứu giúp họ và hãy tưởng nhớ họ. Nếu các con ông Gióp đã được thanh tẩy nhờ lễ hy sinh của cha họ( xem G 1,5), tại sao chúng ta lại có thể hoài nghi rằng những của lễ của chúng ta dâng cầu cho người chết sẽ không mang lại ủi an cho họ? Vậy chúng ta đừng ngần ngại cứu giúp những người đã ra đi, và dâng những kinh nguyện cầu cho họ (Th. Gioan Kim khẩu, Hom. in 1 Cr 41,5).
* Ngày 10 tháng 8 năm 1915, Trong một Tông hiến, Tòa thánh cho các linh mục được dâng 3 lễ vào ngày lễ Cầu hồn: 1 cầu như ý người xin, được lấy bổng lễ, 1 cầu theo ý ĐTC (không bổng) và 1 cầu cho các linh hồn (không bổng). Giáo hội cũng xác định dành trọn tháng 11 dành để cầu cho các linh hồn Luyện ngục.
* Ngày 1 tháng 11 năm 1967, ĐTC Phaolô 6, trong Tông huấn Ân xá đã ban một đại xá với điều kiện thường lệ (xưng tội, rước lễ, cầu theo ý ĐGH) cho những ai "viếng nhà thờ vào Chúa nhật trước hoặc sau, hoặc chính lễ Các Thánh (số 67), và những ai viếng nghĩa địa trong 8 ngày đầu tháng 11 để cầu cho các linh hồn (số 13).
--------------
Tháng cầu hồn ta lo cứu giúp,
Các linh hồn luyện ngục chờ mong,
Thoát ra khỏi ngọn lửa hồng,
Vui về bên Chúa trả công cứu người.
---------------------
Trong mầu nhiệm các thánh thông công, chúng ta cầu cho các linh hồn Luyện ngục, để
khi về Thiên đàng, các Ngài sẽ cầu lại cho ta trước tòa Chúa.

 

AnTáng 107: Lời kinh cầu hồn trong văn hóa Việt Nam

Lời kinh cầu hồn trong văn hóa Việt Nam AnTáng 107

Gm Vũ Văn Thiên
 

Tại một số giáo phận miền Bắc, nhất là các Giáo phận do các Thừa sai dòng Đa-minh truyền giáo AnTáng 107

Tại một số giáo phận miền Bắc, nhất là các Giáo phận do các Thừa sai dòng Đa-minh truyền giáo trước đây, nhiều tín hữu rất quen thuộc với kinh “ Phục Rĩ” cầu nguyện cho người đã qua đời. Có thể nói đây là một cố gắng tuyệt vời của ông cha ta để “hội nhập văn hóa” trong kinh nguyện. Với cung giọng ngân nga trầm bổng, lúc khoan lúc nhặt, lời kinh đưa chúng ta vào một bầu khí linh thiêng, siêu thoát. Với những âm vang nghiêm trang sâu lắng, lời kinh dẫn chúng ta về tham dự một lễ tế cổ xưa. Có người cho rằng kinh Phục Rĩ của người Công giáo đã được soạn thảo với sự cộng tác của một vị sư phật giáo trở lại Đạo[1], nhờ đó mà nội dung và cung giọng rất gần với những bài tế cô hồn.
nghiadia
Một bài văn tế thường gồm bốn phần :
Lung khởi: mở đầu, thường bắt đầu bằng chữ Hỡi ôi, sau đó là lời than vãn
Thích thực: mở đầu bằng chữ “Nhớ linh xưa” sau đó là phần tuyên xưng công trạng của người đã quá vãng
Ai vãn: mở đầu bằng “khá thương thay” sau đó là niềm thương tiếc và cảm phục.
Kết: nói lên tâm tình thương tiếc và rút bài học cho người còn sống.
Kinh Phục Rĩ cũng được soạn thảo theo đúng dàn bài trên, nhưng điều tuyệt tác của cha ông chúng ta là làm cho lời kinh trở thành một lời tuyên xưng đức tin, tạo cho “bài tế” mang một nét rất mới mẻ. Người viết không dám đi sâu hơn vào lãnh vực văn chương mà chỉ mạo muội so sánh sự khác biệt giữa nội dung một bài tế và kinh Phục Rĩ trong hai phần mở đầu (Lung khởi) và nội dung chính (Thích thực).
Trong phần mở đầu, nếu bài tế người qua đời mở đầu bằng lời than vãn trước sự ra đi của một người thân hoặc một nhân vật anh hùng, thì kinh Phục Rĩ lại mở đầu bằng lời tuyên xưng đức tin, tôn vinh Thiên Chúa là Đấng Tối Cao, Đấng ngự trên chín tầng trời. Ngài là chủ của sự sống, là Chúa của muôn loài muôn vật. Chúng ta cùng so sánh lời mở đầu giữa hai bài tế của Cụ đồ Chiểu với kinh Phục Rĩ:

Hỡi ôi ! súng giặc đất rền, lòng dân trời tỏ
Mười năm công vỡ ruộng, chưa chắc còn danh nổi tơ phao: một trận nghĩa đánh Tây, tuy là mất tiếng vang như mõ. (Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc, năm 1861)
Hoặc:
Hỡi ôi !
Tủi phận biên manh
Căm loài gian tặc
Ngoài sáu tỉnh hãy gợi câu án đổ, dân nhờ vua đặng lẽ sống vui
Trong một phen sao mắc chữ lục trầm, người vì nước rủ nhau chết ngặt (Điếu lục tỉnh Nam Kỳ sĩ dân văn).
 
Trước vong linh người đã chết, người tín hữu Công giáo lại mở đầu bằng lời kinh ca tụng và tôn thờ:
“Phục rĩ: Chí tôn chân Chúa cửu trùng cao ngự chi thiên,
Khả tiểu phàm phu, vạn vật hữu sinh chi địa”.
Chiếu lâm bất sảng, phú tại vô tư
Dịch: Lạy Chúa chí tôn
Thiên Chúa cửu trùng cao ngự thiên cung
Thẩm nhận đoàn con – phàm hèn giữa muôn tạo vật
Chúa soi thấu cả, chẳng có đơn sai.[2]
nghia-trang-nam1Phần “Lung khởi” của Kinh Phục Rĩ khá dài vì tiếp theo đó là lời tuyên xưng đức tin vào Chúa Ba Ngôi: Chúa Cha sáng tạo muôn loài, Chúa Con chịu khổ chịu nạn để cứu chuộc trần gian, Chúa Thánh Thần hiện xuống và ở cùng Giáo Hội...
Như thế, nếu bài văn tế nhằm than vãn trước sự ra đi của người thân, thì kinh Phục Rĩ lại nhấn mạnh trước hết đến Thiên Chúa là nguồn mạch của sự sống. Ngài là Đấng Tối Cao trên cả vạn vật.
Cũng trong chiều hướng đó, cách nói về một người đã nằm xuống cũng rất khác biệt. Trong Phần “Thích thực” là nội dung chính của bài tế, người ta kể lể công trạng của người đã chết, để tuyên dương ca ngợi những việc họ đã làm. Cụ Đồ Chiểu trong bài “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc” đã ca ngợi những người nông dân suốt đời chân lấm tay bùn, hiền lành là vậy, mà khi có giặc ngoại xâm đã bỗng chốc trở nên anh hùng. Chúng ta cùng so sánh:
Nhớ linh xưa
Côi cút làm ăn; toan lo nghèo khó
Chưa quen cung ngựa đâu tới trường nhung; chỉ biết ruộng trâu ở trong làng bộ...
Ấy vậy mà khi quân xâm lăng đến, họ bỗng trở nên mạnh mẽ:
Bữa thấy bòng bong che trắng lốp, muốn tới ăn gan
Ngày xem ống khói chạy đen sì, muốn ra cắn cổ.
 
Khi tưởng niệm một người qua đời, kinh Phục Rĩ lại không nhấn mạnh đến công lao của người quá vãng. Quả vậy, đối với tín hữu Kitô, những gì chúng ta làm ở đời này chỉ là hư không: “Đối với anh em, khi đã làm tất cả những gì theo lệnh phải làm, thì hãy nói: chúng tôi là những đầy tớ vô dụng” (Lc 17,10). Con người chẳng có chi mà khoe khoang, vì trước nhan Chúa, họ chỉ là hư vô, “các quốc gia như thể giọt nước bám miệng thùng, khác nào hạt cát dính st-jeromebàn cân” (Is 40,15). Khi nhắm mắt xuôi tay vĩnh biệt cõi đời này, con người đến trình diện Đấng Tối Cao với hai bàn tay trắng. Họ chẳng mang được gì theo, trái lại, họ còn nhiều yếu đuối và tội lỗi cần được Chúa thanh tẩy. Ta hãy cùng đọc:
Thiết niệm linh hồn (mỗ)
Tự tòng sinh tiền, chí kim tự hậu
Thụ Thiên Chúa cực đại chi ân. Lự thử hồn vô tình chi vật.
Dịch: Nhớ lại linh hồn...
Khi còn sinh thời đến khi lâm mệnh
Chịu ơn Chúa thực đã bao nhiêu – thật quả hồn vô tình chi vậy.
Hơn thế nữa, vào lúc một người đã chết, nhìn lại chặng đường đã qua, xem ra họ chẳng làm được gì đáng kể. Thời giờ Chúa ban hầu như đã trở nên vô dụng, như dòng nước trôi đi không trở lại. Kinh Phục Rĩ là lời cầu nguyện sám hối chân thành thống thiết:
Bình sinh cư thế, bất thức bất vụ bất sự lực khuy
Vãng nhật đa khiên, hoặc tư hoặc ngôn hoặc hành hữu mậu
Hoặc bị linh hồn ký hãm minh ngộ, ái dục tam năng
Đa vị biệt dung bất chuyên ức chuyên mộ chuyên tư; hoặc bị phục thân nhĩ mục khẩu tuỵ thủ túc tứ thể, vọng các tha kỳ, mãn tuyến kính tuyền tuân tuyền phụng”
Dịch: bình sinh trên thế, chẳng biết, chẳng giữ, chẳng cứ việc ngay
Lỗi phạm bao nhiêu, hoặc suy hoặc nghe hoặc làm sự tội
Hoặc tại linh hồn mắc điều gian nịnh thiếu sự khôn ngoan, bao nhiêu trọng tội
Chính không nhớ không mộ không suy; hoặc tại phần thân xác nặng chẳng tìm nẻo chính lối phải.
Chẳng cứ tâm thành, chẳng vì kính vì vâng vì trọng.
Cũng chính vì ý thức sự yếu hèn của mình mà lời kinh kêu nài ơn tha thứ nhờ công nghiệp của Đức Giêsu Kitô, đồng thời nhờ lời cầu bầu của Đức Maria, các thiên thần, thánh Bổn mạng, thiên thần hộ thủ và toàn thể chư thánh cùng bầu cử trước tòa Chúa cho người đã qua đời được siêu thoát:
Á thân Chúa Da-tô, thục tội thi ân chi đại nhân từ Thánh Mẫu vị kỳ xá quá cho đa.
Dịch: Ôi lạy Chúa Giê-su, chuộc tội ban ơn khôn lượng, cậy nhờ Thánh mẫu, nguyện cầu khẩn Chúa thương tha.
 Trung thành với luật hành văn của một bài tế, kinh Phục Rĩ cũng có một lối kết mang tính “cẩn cáo”, nhưng nội dung lại là một lời cầu xin và mở ra niềm hy vọng. Ta hãy so sánh:
Nước mắt anh hùng lau chẳng ráo, thương vì hai chữ thiên dân; cây hương nghĩa sữi thắp thêm thơm, cám bởi một câu vương thổ.
Hỡi ôi thương thay
Có linh xin hưởng” (Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc)
Kinh Phục Rĩ lại kết thúc như sau:
Nguyện thử linh hồn, khiết thăng thiên quốc,
Xuân đài tự tại, chân hưởng phúc chi vô cùng
Thọ vực tiêu rao tín thường sinh chi hữu vinh
Kinh văn sở đảo thỉnh chúng đồng âm. Amen
Dịch: Nguyện cầu thanh tẩy linh hồn chóng lên thiên quốc
Muôn đời cực lạc, an hưởng phúc vui vô cùng
Nguyện được Cha ban phúc trường sinh nơi vĩnh viễn
Trông mong khẩn khoản, hết thày đồng tâm. Amen.
 Như đã nói trên, nội dung của lời cầu nguyện đã được thay đổi. Tác giả đã khéo léo lồng vào một bài văn tế quan niệm nhân sinh của Tin Mừng. Tâm tình cậy trông, sám hối và hy vọng được nêu rõ trong lời kinh. Chính nhờ đó mà kinh Phục Rĩ vừa gần gũi với tầng lớp bình dân, vừa dễ đi vào lòng người vì nó mang theo cái hồn của văn chương Việt Nam, dễ hướng những người tham dự hướng về tiên tổ, với tâm tình cầu nguyện hoàn toàn mới mẻ.
––––––––––––––––––––––––––––––––––
[1] Theo nhà thơ Lê Đình Bảng, tác giả của kinh Phục Rĩ có thể là một thày giảng có tên là Phan-xi-cô, xuất thân là một vị Hòa Thượng tiến sĩ, làm quan lớn trong phủ Chúa Trịnh, khoảng năm 1632. Có tài liệu cho rằng sau này Thày Phan-xi-cô đã chịu tử đạo năm 1640  (Xem Lê Đình Bảng trong http://dunglac.org/)
[2] Phần dịch nghĩa Kinh Phục Rĩ trích từ bản dịch của Đức Ông Phạm Hân Quynh, Gp Hải Phòng. Vì chú trọng đến âm vận để đọc chung trong cộng đoàn, nên có nhiều chỗ dịch không hoàn toàn sát nghĩa bản chữ Hán.

 

AnTáng 108: Cha Thánh Padre Pio chăm lo cho các linh hồn mồ côi

Cha Thánh Padre Pio chăm lo cho các linh hồn mồ côi AnTáng 108

Trích trong Holy Souls, LM Alessio Parente
Kim Hà dịch thuật

 

Các linh hồn bị người đời quên lãng thì lại được cha Thánh Padre Pio chăm sóc kỹ lưỡng. Họ có AnTáng 108

Các linh hồn bị người đời quên lãng thì lại được cha Thánh Padre Pio chăm sóc kỹ lưỡng. Họ có một chỗ đứng quan trọng trong đời của cha Padre Pio. Hàng ngày, ngài luôn cầu nguyện và dâng Thánh lễ chỉ cho các linh hồn này. Trong một buổi nói chuyện với các tu sĩ về tầm quan trọng của các lời cầu nguyện, cha Padre Pio nói:
“Rất nhiều các linh hồn người chết đang ở luyện ngục và họ thường leo lên núi này để dự thánh lễ mà tôi dâng và họ xin lời cầu nguyện của tôi. Số người chết này đến còn đông hơn là số người còn sống đến dự lễ.”
Câu nói này của cha Padre Pio làm cho chúng tôi ngạc nhiên. Trong suốt 52 năm ngài sống ở vùng San Giovanni Rotondo, hàng triệu người đến viếng ngài. Vậy mà ngài nói rằng linh hồn người chết đến thăm ngài còn nhiều hơn người sống.
Hiển nhiên, các linh hồn ngày hiểu rõ rằng trái tim ngài giống như một núi lửa rực cháy vì yêu thương những ai đau khổ. Cha Padre Pio viết như sau:
“Khi tôi biết một người đang đau khổ trong linh hồn hay đang đau đớn trong thể xác, tôi phải làm mọi cách để xin Chúa giải thoát họ khỏi nỗi thống khổ ấy. Tôi muốn nhận chịu hết mọi sự đau khổ của họ để họ được cứu thoát. Và tôi muốn trao tặng họ những ơn ích của sự đau khổ, nếu Thiên Chúa cho phép tôi làm điều ấy!”
Tình yêu tha nhân sâu đậm của cha Padre Pio đôi lúc ảnh hưởng đến sức khỏe của cha. Ngài mong ước họ được cứu thoát và được hạnh phúc trên hết mọi sự, đến nỗi ngài thừa nhận rằng:
“Tôi vội vàng sống vì các anh chị em và sẵn sàng nhận chịu tất cả các nỗi thống khổ của họ, nên tôi đau khổ mà không than van.”

Trong lá thư thứ 615, ngài viết:
“Tôi thường nói cùng ông Môsê để thưa lên Thiên Chúa, Đấng Thẩm Phán rằng:
-Lạy Chúa, xin tha thứ mọi tội lỗi của họ hay xin Chúa loại trừ con ra khỏi sách Hằng Sống của Ngài!
Thưa các bạn đọc, nếu chúng ta muốn theo gương cha Thánh Padre Pio, thì tôi xin phép lập lại lời của cha rằng: “Xin hãy làm những gì tôi đã làm. Hãy cầu nguyện và luôn cầu nguyện cho các linh hồn của người thân đã qua đời!”
Để kết luận, tôi xin chúng ta hãy nhớ rằng, chúng ta có thể xây một cầu thang của Chúa cho các linh hồn đáng thương nơi luyện ngục, bằng những lời cầu nguyện và các hành vi bác ái để dâng lên Chúa nhằm cầu nguyện cho các ý chỉ của các linh hồn.

 

AnTáng 109: Cha Thánh Padre Pio tình nguyện chịu đau khổ

Cha Thánh Padre Pio tình nguyện chịu đau khổ AnTáng 109

Để cứu các linh hồn
Kim Hà
 

Vào ngày 29 tháng 11 năm 1910, cha Padre Pio đã viết cho cha linh hướng của ngài là LM Benedetto để AnTáng 109

Vào ngày 29 tháng 11 năm 1910, cha Padre Pio đã viết cho cha linh hướng của ngài là LM Benedetto để giải thích về những sự đánh phá của ma qủy và ngài muốn được giải thoát khỏi sự thử thách ấy. Nhưng sau đó, cha Pio xin phép cha linh hướng để được trở nên một nạn nhân đền tội cho các người tội lỗi và cho các linh hồn ở luyện ngục. Cha viết như sau:
“Thưa cha linh hướng, con xin phép cha để trình bày một việc. Đôi lúc, con cảm thấy có nhu cầu dâng hiến chính mình con lên Chúa như là một nạn nhân để đền tội cho các người tội lỗi và cho các linh hồn ở luyện ngục. Mong ước này lớn mạnh trong trái tim con, đến nỗi con phải gọi là một nỗi đam mê vô biên. Con đã dâng lên Chúa lời thỉnh nguyện này rất nhiều lần. Con cầu xin Chúa cho con gánh chịu mọi sự trừng phạt mà Chúa đã chuẩn bị dành cho các người tội lỗi và cho các linh hồn ở luyện ngục. Xin Chúa hãy trừng phạt con và cho con chịu đau khổ gấp trăm lần để cho các người tội lỗi được ơn hoán cải, và để cho các linh hồn được sớm lên Thiên Đàng. Nhưng con biết, con phải xin phép cha để trở nên của lễ hy sinh. Con cảm thấy Chúa Giêsu rất muốn con làm điều này. Con chắn chắn rằng cha sẽ không gặp khó khăn khi cho phép con.”
Qua sự dâng hiến vô điều kiện để hứng chịu mọi sự trừng phạt gấp trăm lần, hầu mong các người tội lỗi được ơn hoán cải và các linh hồn được giải thoát khỏi luyện ngục, cha Padre Pio đã trao ban cho chúng ta một chìa khóa để hiểu được mầu nhiệm của tình yêu và đau khổ. Cha Benedetto đã cho phép cha Padre Pio làm việc ấy.
Trong lá thư đề ngày 1 tháng 12 năm 1910, cha Benedetto viết:
“Xin cha hãy dâng hiến những gì cha đã nói, và điều này sẽ được Chúa nhận lời. Xin cha hãy mở rộng đôi tay và thánh giá của cha. Bằng cách dâng hiến sự hy sinh, cha hiệp thông với Chúa Cứu Thế, cha hãy chịu đau khổ và cầu nguyện cho những kẻ ác nhân trên trần gian và cho các linh hồn tội nghiệp, là những người đáng cho chúng ta thương xót vì họ đang nhẫn nại chịu đau khổ mà không kể xiết được.”
Nhân danh sự vâng lời, cha Pio đã trở nên một nạn nhân cho giáo hội chiến đấu và cho giáo hội đau khổ. Sự dâng hiến này có thể giải thích bằng các cơn bịnh bí mật, những thử thách, những cuộc chiến đấu với ma qủy. Nhân loại luôn cần sự tha thứ và giáo hội đau khổ luôn cần sự đền tội. Cha Padre Pio trở nên một nạn nhân, vác thánh giá và bị đóng đinh vào cây thánh giá vô hình như Chúa Giêsu đã bị đóng đinh để cứu rỗi nhân loại, Chúa Giêsu đã xuống ngục tối để giải thoát những ai mong chờ sự cứu độ. Chúa Cứu Thế đã ban cho họ sự tự do và đưa họ lên Trời.
Cha Padre Pio qủa là một linh hồn anh hùng và quảng đại. Ngài luôn nghĩ đến tha nhân, cầu bầu cho họ, dâng hiến chính mình ngài như là một nạn nhân cho người khác được ơn cứu độ, những người trong giáo hội chiến đấu và giáo hội đau khổ. Đau khổ và thương yêu là hai con đường mà cha Padre Pio đã dùng để bắt buộc bản thân mình chịu thống khổ. Cha nói:
“Tôi cảm thấy mình ngụp lặn trong đại dương mênh mông của Đấng Hằng Yêu Thương. Tôi luôn sống trong tình yêu ấy.”
Kề từ khi cha Padre Pio được phép trở nên một nạn nhân, và từ khi cha tình nguyện dâng hiến bản thân mình thì các linh hồn người chết hiện về với cha nhiều vô số kể. Qua lời kể của cha Padre Pio, chúng ta có thể thấy những cuộc hiện ra này xẩy ra rất nhiều lần, và điều này không làm cho cha Pio sợ hãi hay bực mình.

 

AnTáng 110: Sự đau đớn mà linh hồn phải chịu ở luyện ngục

Sự đau đớn mà linh hồn phải chịu ở luyện ngục AnTáng 110

 Kim Hà
 

Theo giáo lý Công giáo, loài người phải chịu sự phán xét tùy theo cách thức họ sống khi ở AnTáng 110

Theo giáo lý Công giáo, loài người phải chịu sự phán xét tùy theo cách thức họ sống khi ở trần gian. Phần thưởng hay sự trừng phạt sẽ là Thiên Đàng, Luyện ngục hay Hỏa ngục. Chúng ta thử tìm hiểu tình trạng của những nơi này, dựa theo các mặc khải của các thánh.
Thánh Frances thành Roma kể rằng Luyện ngục giống như môt phần của Hỏa ngục, và được chia ra nhiều phần. Thánh Tôma kể cho ta nghe rằng lửa của Luyện ngục cũng giống như lửa của Hỏa ngục, và Luyện ngục cũng là một phần của Hỏa ngục. Những nhận xét này giống như lời cha Thánh Padre Pio nói với Cleonice Morcaldi, một người con gái thiêng liêng của cha:
“Con gái ơi, có một số điểm ở Luyện ngục giống như Hỏa ngục.”
Tuy nhiên, công lý của Thiên Chúa có thể cho phép các linh hồn đền tội nơi mà họ đã phạm tội, như những câu chuyện về các linh hồn và về cha Pio mà sẽ được trình bày sau:
Tùy theo công lý của Thiên Chúa, Ngài sẽ cho một số linh hồn đền tội ở những nơi đặc biệt theo Ý của Ngài, để có thể dạy người còn sống và để giúp cho các linh hồn đã qua đời.
Nói về những nỗi thống khổ của Luyện ngục: sau khi Chúa đã kết án thì linh hồn phải đi về nơi nào đó, việc thanh tẩy đến với linh hồn ấy, và linh hồn biết rằng đau khổ là cách thức mau chóng nhất để sớm vào Thiên Đàng. Và nỗi thống khổ bắt đầu!
Theo Thánh Tôma thì sự đau đớn của Luyện ngục không nặng nề như đau khổ nơi Hỏa ngục. Khi ở Hỏa ngục thì thời gian đau khổ vô tận. Các nhà thần bí cũng xác nhận như vậy. Thánh Catherine thành Genoa kể cho chúng ta nghe:
“Các linh hồn ở trong tình trạng bị thanh tẩy thì đau đớn đến nỗi không lời nào có thể diễn tả nổi, không có một trí thông minh nào có thể hiểu được, trừ khi Chúa muốn cho họ hiểu, qua ơn sủng của Ngài. Có hai nỗi thống khổ ở Luyện ngục: đó là mong mỏi được gần Chúa và đau khổ cùng một lúc.”
Giáo hội không tuyên bố về bản chất của sự đau khổ trong các nơi chốn đó, nhưng đời sống của các bậc thánh thiện kể lại nhiều câu chuyện và thị kiến rõ ràng hơn.
Sau đây là câu chuyện của cuộc đời linh mục Stanislaus Chascoa, môt tu sĩ Dòng Đa Minh. Môt ngày kia, khi ngài đang cầu nguyện cho người chết, ngài nhìn thấy một linh hồn đang bị lửa bao bọc toàn thân. Ngài hỏi linh hồn ấy xem lửa có giống như lửa trên trần gian không. Linh hồn trả lời:
“Than ôi, tất cả lửa trên trần gian mà so sánh với lửa Luyện ngục thì giống như làn gío nhẹ.”
Cha Stanislaus hỏi làm sao diễn tả thì linh hồn xin cha hãy thò tay thử vào lửa ấy. Vị linh mục đặt tay ngài vào bụi tro rớt ra từ người tội nhân ấy, và ngay lập tức, ngài khóc lên và té xuống đất. Ngài rất hoảng sợ và kinh hãi. Các anh em tu sĩ vội vàng đến giúp ngài. Khi hoàn hồn, ngài kể lại câu chuyện kinh hoàng ấy cho mọi người nghe, và cha kết luận như sau:
“Ôi! các anh em ơi, nếu mỗi chúng ta hiểu được sự nghiêm trọng của việc trừng phạt, chúng ta sẽ không dám phạm tội đâu. Hãy đền tội mình trong đời sống này, để khi chết khỏi bị đền tội, bởi vì những cơn thống khổ ấy khủng khiếp quá. Chúng ta hãy chống trả lại các tật xấu, hãy để ý và sửa sai những sự bất toàn của mình, bởi vì Thiên chúa, vị Thẩm phán công minh, ghi nhận tất cả mọi sự chúng ta làm. Chúa Thánh Thiện vô cùng nên Ngài không thể chịu được một lỗi nhỏ của những kẻ được tuyển chọn.”
Thầy Modestino của thành Pietrelcina đã sống rất lâu với cha Thánh Padre Pio và luôn đi theo cha Thánh. Thầy kể lại câu chuyện sau:
Năm 1945, tôi ở tại San Giovanni Rotondo để gíup đỡ cha Padre Pio. Tôi luôn muốn ghi nhận những lời nói khôn ngoan phát ra từ cửa miệng của cha Thánh và cất dấu trong tim tôi như một món quà thiêng liêng. Một buổi tối kia, cha Padre Pio đi ra phòng ca đoàn sau khi đã chúc lành buổi tối, tôi cùng đi với cha đến ngang hành lang dẫn tới phòng cha. Tự nhiên, tôi buột miệng hỏi cha:
“Thưa cha, cha có thể nói về lửa ở Luyện ngục được không ạ?”
Cha Padre Pio đáp:
“Nếu Chúa cho phép một linh hồn đi từ lửa Luyện ngục để đến ngọn lửa nóng nhất trên trần gian, thì giống như đi từ nước nóng đến nước lạnh.” -Đó chính là những lời mà cha Padre Pio đã nói với tôi.
Trong một trường hợp khác, bà Birulli của thành Cerignola hỏi cha Padre Pio rằng:
“Thưa cha, xin cho con biết thêm về Luyện ngục.”
Cha Pio đáp:
“Con à, các linh hồn ở Luyện ngục muốn ném mình họ vào giếng lửa thế gian, bởi vì tình trạng ấy giống như một giếng nước lạnh.”
Rất nhiều nguời trong chúng ta không biết sự đau đớn của Luyện ngục. Nếu ta suy gẫm về nơi này, ta sẽ tránh những lỗi lầm mà ta không để ý, chúng ta sẽ cầu nguyện nhiều hơn cho các linh hồn đáng thương trong cuộc sống hàng ngày của ta.

 

AnTáng 111: Tôi Đã Gặp Một Linh Hồn Hiện Về Từ Lửa Luyện Tội

Tôi Đã Gặp Một Linh Hồn Hiện Về Từ Lửa Luyện Tội AnTáng 111

R.E.T. Cindy O
Dịch:Thuận Hà
 

Đây là câu chuyện của một linh hồn hiện về từ Lửa Luyện Tội, xin cống hiến bạn đọc vì Lửa AnTáng 111

Đây là câu chuyện của một linh hồn hiện về từ Lửa Luyện Tội, xin cống hiến bạn đọc vì Lửa Luyện Tội có thật. Đức Mẹ khi hiện ra ở Mễdu, Mẹ đã cho Vicka, Jacob thấy Thiên Đàng, Lửa Luyện Tội, và Hỏa Ngục. Các linh hồn bị giam trong Lửa Luyện Tội để được thanh tẩy trước khi về Thiên Đàng cũng có thật. Trong lịch sử Giáo Hội, Chúa đã nhiều lần cho phép các linh hồn hiện về với người trần thế mục đích xin người sống giúp đỡ để họ mau chóng thoát khỏi cảnh đọa đày và mau được về hưởng nhan Thánh Chúa. Trong Phúc Âm, LC 12,59, có nhắc đến: “Tôi bảo cho anh biết: anh sẽ không ra khỏi đó trước khi trả hết đồng xu cuối cùng .” Và 1COR: 3, 13-15 “Nhưng công việc của mỗi người sẽ được phơi bày ra ánh sáng. Thật thế, ngày của Chúa sẽ cho thấy công việc đó, vì ngày ấy tỏ rạng trong lửa; chính lửa này sẽ thử nghiệm giá trị công việc của mỗi người.”
Giúp đỡ các linh hồn là việc phải làm. Giúp người là giúp mình. Chúa đã chằng nòi: “Khi các con làm một việc gì cho ai là các con làm cho chính bản thân Ta.” đó sao? Giúp đỡ họ có nhiều cách, chằng hạn như lần hạt Mân Côi, Thánh Lễ, ăn chay, hãm mình, bố thí v..v.. Xin lễ cho các linh hồn là việc làm cao quí nhất, vì chỉ có Máu Cực Thánh Chúa Giêsu mới xóa bỏ được mọi hình phạt cho họ. Song song với những lời cầu nguyện và các việc lành phúc đức; còn một phương thức khác không kém phần quan trọng để giúp đỡ họ là những ‘ƠN XÁ’ của Giáo Hội ban cho chúng ta. Chúng ta có thể dùng những ơn xá này giúp đỡ họ. Chỉ có chúng ta, những người còn sống trên thế gian mới có khả năng giúp đỡ các linh hồn bởi vì họ không thể giúp họ được, nhưng họ có thể cầu nguyện rất đắc lực cho chúng ta. Hơn thế nữa khi về thiên đàng họ sẽ trả ơn cho chúng ta bằng cách cầu nguyện cho chúng ta đến muôn đời.
Có hai loại ơn xá là: Tiểu xá và đại xá. Tiểu xá thì tha một phần. Đại xá tha hết. Chúng ta có thể dùng những ơn xá này cho mình hoặc nhường lại cho các linh hồn. Những ơn xá là kho tàng vô giá có thể đền bù sự công chính của Thiên Chúa trong đặc ân thương xót của Ngài cho những ai có lòng tin và chuyên cần làm việc để lãnh nhận những ơn xá. Có nhiều người không hiểu biết mấy về giá trị và đặc tính của ơn xá nên đã thờ ơ trước những kho tàng vô giá này.
Cha Schouppe, Dòng Tên đã kể lại một câu chuyện trong cuốn lửa luyện tội: “Chân phước Mary ở Quito, trong lúc ngất trí đã được thấy ở giữa một khoảng trống vĩ đại có một cái bàn to lớn mênh mông được bao phủ với những ngọc ngà, châu báu, kim cương, vàng bạc…Cùng lúc đó bà nghe được tiếng nói, ‘Những châu báu này là của mọi người, ai cũng có thể tới lấy, bao nhiêu cũng được tùy họ mong muốn,’ Chúa cho bà biết rằng, rừng châu báu này là biểu tượng của những ơn xá. Ơn xá giúp chúng ta giầu có phong phú về phần tâm linh, muốn bao nhiêu tùy thuộc ở chúng ta. Những linh hồn trong tình trạng đầy ơn sủng sẽ giúp đỡ các linh hồn một cách đắc lực hơn. Nếu chúng ta không biết dùng những ơn xá này đúng chỗ thì thật đáng tiếc. Còn một điều đáng lưu ý nữa là những lời cầu nguyện, những đau khổ bệnh tật dâng lên Chúa vì lòng yêu mến Chúa và thương yêu tha nhân trong cuộc sống hằng ngày sẽ giúp chúng ta lãnh nhận thêm công trạng đời sau, sẽ tăng thêm ơn sủng cho chúng ta. Chúng ta càng bác ái bao nhiêu thì chúng ta càng sống gần Chúa bấy nhiêu vì đó là thể hiện lòng mến Chúa yêu người. Hãy xót thương để được Chúa thương xót, có như vậy chúng ta sẽ bớt được những khổ hình đời sau. 
Bây giờ kính mời bạn đọc theo dõi câu chuyện sau đây.
“Đó là ngày Thứ Hai, năm 1996, trước lễ Noel. Tôi đang ngồi tại văn phòng soạn lại xấp báo cáo, chợt nhớ ra phải đi xưng tội. Có lẽ đã hơn một tháng rồi tôi chưa tới tòa giải tội. Tôi bắt đầu xét mình và tự hỏi sao kỳ này lại để lâu quá như vậy, vì càng để lâu thì càng ngại ngùng và khó khăn hơn. Tôi lấy viết ghi lại những tội đã phạm và coi lại vài lần xem có quên hay bỏ xót tội nào không?
Tôi lái xe tới thánh đường gần đó. Đậu xe vô bãi và bước vô nhà thờ nhưng thật ngạc nhiên khi chỉ thấy chỉ có chừng 25 người ngồi chờ xưng tội mà thôi. Tôi kiếm một chỗ ngồi ở đàng sau và bắt đầu đọc Kinh Ăn Tội. Bất chợt một người đàn ông chạc 70 tuổi đang ngồi trong góc đối diện bật tiếng khóc thật lớn. Tôi nghĩ, chắc có điều gì đau khổ xảy ra cho ông nên ông mới khóc lóc đau đớn như vậy. Tôi lại nghĩ, có lẽ những người ở đây đang cầu nguyện cho ông. Người đàn ông đau khổ kia vẫn cúi gầm mặt khóc không ngừng.
Các linh mục bước vô tòa giải tội. Tôi cũng vô xếp hàng chờ xưng tội. Lúc đó, tôi không có thì giờ để coi lại mảnh giấy kê khai tội lỗi nữa, tôi đành cầm miếng giấy vô tòa cáo giải, bởi vì tôi không muốn quên hay bỏ xót một tội nào. Sau khi xưng tội xong, tôi đọc Kinh Ăn Năn Tội một lần nữa và đọc kinh đền tội. Tôi quì trước nhà tạm để cám ơn Chúa cho sự thứ tha của Ngài. Sau đó ra về, tôi nhận thấy rằng người đàn ông ngồi khóc khi nãy đã ra ngoài trước tôi. Tôi lấy nước thánh làm dấu rồi bước ra cửa nhưng hình như ông ta đang giữ cửa và chờ tôi.
Khi ra khỏi cửa, tôi hỏi ông:
- Ông không có gì chứ?
Ông trả lời, “Không có gì.”
Tôi hỏi tên ông. Ông nói: “Tôi tên John.”
John bước chậm rãi hầu như không có vẻ gì vội vã cả.
Tôi lại hỏi: “Ông ở gần đây không?”
Ông dừng lại trước khi trả lời:
- Không, tôi từ Lửa Luyện Tội tới đây.
Trong tíc tắc, tôi đứng lại không bước đi được nữa và nhìn ông sửng sốt:
 - Thấy ông giống như những người thường thôi.
Tôi tiếp: “Ồ mà tại sao ông lại lên đây đi nhà thờ?”
 Ông dừng lại nói: “Thiên Chúa tốt lành đã cho phép tôi tới đây viếng Chúa Giêsu trong nhà tạm. Khi các người tới dự thánh lễ thì chúng tôi cũng tới dự thánh lễ cùng với các Thiên Thần Bản Mệnh, và thường thì có những ghế trống cho chúng tôi, những chỗ trống đó luôn luôn đầy những linh hồn như chúng tôi, và các Thiên Thần thì bay lơ lửng phía trên đầu chúng tôi, cũng giống như Thiên Thần bản mệnh của các người vậy. Giây phút đó trong nhà thờ đầy kín những vinh quang, huy hoàng của Thiên Chúa.”
 - Tại sao ông khóc trong nhà thờ?
 Ông trả lời: “Đó là những giọt nước mắt vui mừng lẫn đau khổ. Vui vì chúng tôi được vinh dự chúc tụng Ngài trong Thánh Thể; còn đau khổ vì những gì mình đã xúc phạm tới lòng nhân lành và tình yêu của Thiên Chúa.”
 - Ông đau khổ nhiều không?
 - Có chứ, nhưng tôi vui mừng vì được đền tội mình, và trông đợi ngày giờ được hưởng nhan Thánh Chúa trên Thiên Đàng. Thiên Thần Bản Mệnh đã giúp tôi trả lời những câu hỏi của ông. Trong Lửa Luyện Tội chúng tôi không có quyền cầu nguyện cho mình nhưng được phép cầu nguyện cho gia đình thân quyến, và cho tất cả những phần tử trong Giáo Hội trên hoàn vũ. 
- Lửa Luyện Tội như thế nào?
- Tất cả có 13 tầng. Tầng thứ 13 là tầng chót và gần địa ngục; địa ngục ở giữa trái đất. Đó là nơi được gọi là ‘Phòng giam công lý’. Những tầng dưới trong Lửa Luyện Tội là những tầng vô cùng đau đớn, và những linh hồn ở trong tầng này đều phải đền tội lâu năm mới được lên tới những tầng giữa. Ở tầng giữa, các linh hồn đền tội cho những tội đặc biệt hay bỏ sót. Họ cũng đau khổ rất nhiều nhưng không bằng những tầng dưới. Tôi dã ở dưới Lửa Luyện Tội 15 năm nay và tôi đang trông đợi được lên tầng thứ năm bởi vì Đức Mẹ thường tới thăm các linh hồn trên năm tầng trên. Khi Đức Mẹ tới, tất cả những đau đớn đều ngưng vì sự hiện diện của Mẹ. Tầng trên cùng là tầng các linh hồn không còn đau khổ nữa, họ chỉ cầu nguyện và chờ ngày về Thiên Đàng. Tầng thứ tư, Chúa Giêsu hỏi các linh hồn nếu họ muốn ở lại tầng đó để cứu người thân của họ trên trái đất. Khi họ đã chịu đau khổ đủ, cầu nguyện đủ thì họ về Thiên Đàng thẳng không cần phải đi qua ba tầng trên nữa.
 Khi ông đi xưng tội với tấm lòng ăn n ăn đau đớn, Thiên Chúa tha tội cho ông nhưng còn những vết nhơ trong hồn thì phải được tẩy sạch bằng cách ăn chay, cầu nguyện, đền tội, hy sinh, hãm mình. Thật sự những việc này dễ dàng hơn nếu làm được trên trái đất. Trong Lửa Luyện Tội sẽ phải đau đớn hơn nhiều và mất nhiều năm để thanh tẩy. Tôi là một người buôn bán khi còn sống cũng giống như ông vậy. Nghề nghiệp của tôi đã choán hết cuộc sống của tôi nên tôi chểnh mảng về đức tin và sự cầu nguyện, và nếu không phải vì Lòng Thương Xót Chúa; và bằng những lời cầu nguyện, hy sinh, đền tội, hãm mình, thánh lễ của người giúp việc đã làm cho tôi thì tôi đã mất linh hồn từ lâu rồi. Khi tôi chết, bà ta đã xin thánh lễ an táng cho tôi, và xin cho tôi 30 thánh lễ liên tục trong một tháng (Gregorian Masses). Tôi cũng đã có mặt dự trong lễ an táng đó. Phải, Thiên Chúa cho phép các linh hồn được dự các đám tang của họ. Thiên Chúa vô cùng tốt lành nhưng buồn thay, ngày nay con cái không còn nhớ làm lễ an táng cho cha mẹ cũng như những người thân của họ nữa. Họ đã đổ đi biết bao ơn sủng dành cho thân quyến của họ, những ơn sủng vô giá và những an ủi lớn lao đáng lý những người thân của họ được hưởng. 
Trong Lửa Luyện Tội, linh hồn con người cũng giống như thân xác, với đầu mình, chân tay…Ông có thể thấy được, ngửi được, và cảm được nóng lạnh, đau đớn còn bén nhậy hơn thân xác nữa. Thiên Thần Bản Mệnh của tôi bảo tôi nói cho ông biết là khi một người đến trước tòa phán xét đối diện với Thiên Chúa, linh hồn đó thấy rõ các tội lỗi mình, những tội mà họ xúc phạm tới Chúa. Lúc đó là lúc Thiên Chúa xét sử công minh. Ngài sẽ lấy những kinh nguyện, thánh lễ người ta dành cho linh hồn đó, và ngay lúc đó linh hồn ấy sẽ biết mình phải đền tội ở tầng nào trong Lửa Luyện Tội.
 Những người tự kết liễu đời mình hay nhờ kẻ khác kết liễu đời mình là một sự sai lầm, vì chỉ có Thiên Chúa mói có quyền quyết định mạng sống con người. Kẻ nào cướp quyền Thiên Chúa sẽ phải đau đớn và đền tội rất lâu. Tất cả những đau khổ đời này là một cách đền tội, thanh tẩy linh hồn mình cho cuộc sống đời sau.
 Thiên Thần Bản Mệnh bảo tôi nói cho ông biết: “Chúng tôi đến nhà thờ và thấy tất cả những gì xảy ra nơi đây. Mọi người nên ăn mặc cho đàng hoàng đứng đắn trước mặt Thiên Chúa. Thánh Đường là nhà của Chúa, là nơi cầu nguyện, chúng ta phải tỏ vẻ tôn kính đối với Thiên Chúa, không nên nói chuyện, cười cợt trong nhà thờ, tốt nhất khi muốn nói chuyện thì nên ra ngoài. Những cách ăn mặc không đứng đắn hoặc thiếu tôn kính trong nhà thờ cần phải đi xưng tội và đền tội xứng đáng. Những người che kín đầu trước mặt Thiên Chúa sẽ được phần thưởng đời sau.”
Chúng tôi đi bộ chừng vài dãy nhà và đến một lối vào của một nghĩa trang Công Giáo. John nói: “Những gì ông học được ngày hôm nay là do Thiên Chúa ban cho ông vì một lý do nào đó. Một trong những lý do đó là Nước Thánh và Chuỗi Mân Côi.”
Ông nói xong, bước vô nghĩa trang rồi biến mất trước con mắt của tôi.
Tôi nói: “Tôi sẽ cầu nguyện cho ông, John.”
Tôi đi bộ về lại nhà thờ, bước vô trong và tạ ơn Chúa về những gì vừa xảy ra. Tôi lần hạt để tạ ơn Chúa và đồng thời cầu nguyện cho linh hồn ông.
Khi còn nhỏ, mẹ tôi thường hay dẫn đến nghĩa trang. Bà luôn luôn đem theo nước thánh khi đi thăm mộ những người thân hoặc bạn bè, rồi đọc một Kinh Lạy Cha, Kinh Kính Mừng và cầu cho kẻ chết. Rồi bà lấy nước thánh rẩy trên mộ phần người quá cố. Bà bảo tôi, những linh hồn trong Lửa Luyện Tội sẽ được an ủi rất nhiều với nước thánh này. Bà cũng thường hay làm vậy ở nhà mỗi tối cho các linh hồn, cách riếng cho những linh hồn người thân của bà. Những năm sau này, trong sự tưởng nhớ mẹ tôi, tôi cũng làm những việc đó như mẹ tôi đã làm, và tôi cũng lần hạt cầu nguyện cho các linh hồn trong Lửa Luyện Tội.
Sau cuộc gặp gỡ lạ lùng này, tôi làm một cái hẹn cới một linh mục và xưng tất cả những tội lỗi tôi đã phạm trong đời để biết chắc rằng tất cả tội lỗi của tôi đều được tha thứ. Sau đó, tôi đi xưng tội mỗi tuần một lần hoặc hai tuần một lần. Tôi viếng Thánh Thể và bắt đầu dâng tất cả những công việc làm, những đớn đau, bệnh tật, buồn bực, chán nản, ngay cả việc lái xe của tôi cho Trái Tim Cực Thánh Cúa Giêsu, với Chúa Giêsu va trong Chúa Giêsu qua Trái Tim Vẹn Sách Mẹ Maria lên Chúa Cha để đền bù tội lỗi mình.

 

AnTáng 112: Tháng 11, Nghĩ Về "Các Thánh Thông Công"

Tháng 11, Nghĩ Về "Các Thánh Thông Công" AnTáng 112

Clara Nguyễn Diễm Trang
Nguồn: tgmmt.org
Các bạn giáo lý viên (GLV) thân mến trong Đức Kitô,
 

Dòng đời cứ mãi trôi, và sẽ trôi mãi về đâu? Đời sống của mỗi chúng ta trên thế gian này là AnTáng 112

Dòng đời cứ mãi trôi, và sẽ trôi mãi về đâu? Đời sống của mỗi chúng ta trên thế gian này là một cuộc hành trình rất dài. Cuộc hành trình đó, chúng ta không độc hành trên xa lộ tối đen, nhưng chúng ta hiệp thông sâu đậm trong Đức Kitô để cùng nhau tiến bước: “Hết thảy mọi người chúng ta, từng cấp bậc và cách thức khác nhau, đều hiệp thông trong cùng một đức mến Chúa yêu người, cùng hát lên một bài ca chúc tụng vinh quang Thiên Chúa chúng ta” (GLCG số 954). Đó là một khía cạnh trong niềm tin Kitô giáo mà chúng ta vẫn thường tuyên xưng trong Kinh Tin Kính: “Tôi tin có Hội Thánh hằng có ở khắp thế này, các thánh thông công”. Xin được chia sẻ vài tư tưởng về tín điều các thánh thông công trong tháng 11 này để chúng ta ý thức hơn về cuộc sống của mình trong mối hiệp thông với mọi phần tử trong Nhiệm Thể Chúa Kitô.

1. Các thánh thông công:
Suy nghĩ về tín điều các Thánh thông công, tôi chọn cho mình một hình ảnh rõ ràng, gần gũi, và dễ hiểu nhất: Thập Giá ( + ) mà trong đó mối tương quan ngang - dọc đều như nhau cho mọi phần tử, thống nhất, liên hệ, và bổ sung đồng đều cho nhau làm thành Hội Thánh Chúa Kitô: hội thánh khải hoàn được xem như nửa trên của +, là các thánh và những linh hồn thánh thiện đang hưởng mặt Chúa trên Thiên Đàng; hội thánh đau khổ được xem như nửa dưới của +, là những linh hồn còn đang thanh luyện trong luyện ngục; và thanh ngang của + là hội thánh chiến đấu (hay còn gọi là hội thánh lữ hành), bao gồm tất cả các tín hữu trên khắp hoàn cầu, đang còn phấn đấu liên tục trên cuôc hành trình đức tin. Tất cả mọi tín hữu nhờ bí tích Thánh Tẩy được sát nhập vào Chúa Kitô là đầu nhiệm thể và hiệp thông với nhau trong một tình yêu và một sự sống bắt nguồn từ Chúa Kitô.
Các thánh thông công có nghĩa là “hiệp thông trong các sự thánh (hiệp thông trong đức tin, trong bí tích, trong đức ái, và trong sự cầu nguyện…) và hiệp thông giữa những người thánh (trong ba giáo hội hàng dọc và hàng ngang theo hình thánh giá vừa nêu trên)”. Là thành phần của dân Chúa, trong hội thánh chiến đấu của Ngài, chúng ta đã sống hiệp thông với nhau, với các thánh trên trời và với các linh hồn trong luyện nguc cách đầy đủ chưa?

2. Hiệp thông với giáo hội khải hoàn (các thánh trên trời):
Mỗi người trong chúng ta đều đã chọn (hoặc cha mẹ chọn) cho mình những vị thánh quan thầy khi chịu phép rửa tội và thêm sức để cầu bàu cho ta trước mặt Chúa và để làm gương sáng cho ta. Nếu vì bận rộn hay lơ là mà chúng ta đã quên đi vai trò các ngài trong đời sống mình thì dịp tháng 11 về, ngày Lễ các thánh nam nữ, chúng ta hãy nhớ đến các ngài, mở lại sách hạnh thánh để nhìn lại gương nhân đức của các ngài. Sau cùng xin các ngài cầu thay nguyện giúp vì “các ngài đã phục vụ Chúa trong mọi sự và hoàn tất trong thân xác mình những gì còn thiếu sót trong cuộc khổ nạn của Chúa Kitô, hầu mưu ích cho Thân Thể Người là Hội Thánh” (Cl. 1, 24).
Dịp này ta có thể cho các em lớp giáo lý của mình thử viết xuống giấy tên Thánh bổn mạng của các em và ngày kính vị Thánh bổn mạng là ngày nào? Nếu các em không biết là dấu chỉ các em chưa sống khắn khít với vị Thánh bổn mạng của mình. GLV hãy cho các em mang về nhà hỏi bố mẹ và ghi xuống giấy như là một bài tập để tuần sau mang vào nộp lại cho thầy cô. Nếu các lớp lớn thì giáo lý viên có thể mở rộng ra thêm bằng cách cho các em ghi xuống giấy tên thánh bổn mạng và ngày kính vị thánh bổn mạng đó của tất cả những người trong gia đình của các em. Sau đó, GLV trả giấy đó về cho các em và dặn các em treo chỗ nào để mọi người trong gia đình đều thấy được và tưởng nhớ cách đặc biệt vị thánh bổn mạng của mình vào ngày nào đó trong năm.

3. Hiệp thông với giáo hội đau khổ (các linh hồn trong luyện ngục):
Chắc hẳn trong mỗi gia đình chúng ta đều đã có người ra đi trước: ông bà, cha mẹ, chồng vợ, chú bác, cô dì, anh chị em…Chúng ta dâng kinh nguyện và những việc lành phúc đức hằng ngày của mình để cầu cho các linh hồn thân nhân và hết các linh hồn đang cần đến lời cầu của chúng ta. Ngay từ buổi đầu của Kitô giáo, Hôi Thánh lữ hành đã “kính nhớ, dâng lời cầu nguyện cho những người đã chết vì cầu nguyện cho những người đã chết để họ được giải thoát là một ý nghĩa lành thánh và hiếu thảo” (2Mcb 12, 46). Lời cầu nguyện ấy không những giúp ích người đã chết được giải thoát khỏi tội lỗi, nhưng chính chúng ta cũng được hưởng nhờ lời chuyển cầu của các ngài sau khi các ngài về trời.
Để giúp cho các em lớp giáo lý của mình luôn nhớ bổn phận cầu nguyện và hy sinh cho các linh hồn, chúng ta có thể hỏi các em về những người đã qua đời trong gia đình các em, tên thánh của họ và ngày về với Chúa là ngày nào. Nhắc các em là cũng nhắc chính chúng ta, luôn nhớ đến ngày chết của người thân ruột thịt của mình. Thiết nghĩ chúng ta nên ngồi nhớ lại và viết xuống tên họ, tên Thánh và ngày ra đi của người thân trong gia đình mình để nhớ xin Lễ, cầu nguyện, và dâng nhiều việc hy sinh cho người thân mình trong những ngày đó. Ta cũng có thể xem đây là một bài tập để các em thực hành và năng cầu nguyện cho các linh hồn. Riêng tháng 11 này, chúng ta nên nhắc các em lớp lớn nhớ xưng tội, rước lễ sốt sắng và cầu nguyện theo ý Đức Giáo Hoàng để hưởng ơn đại xá và nhường lại cho các linh hồn. Các em cũng có thể làm nhiều việc hy sinh, hãm mình nhỏ bé như nhặt rác, giúp Mẹ… để dâng lên Chúa và cầu nguyện cho các linh hồn. Hoặc ta hướng lòng các em nhớ đến Chúa và các linh hồn rồi cho các em tập dâng lời nguyện tắt này nhiều lần trong ngày: “Giêsu, Maria, Giuse, con mến yêu, xin cứu các linh hồn”. Cho các em ghi xuống giấy mỗi ngày dâng nguyện tắt được bao nhiêu lần và cuối tháng tổng kết lại cho GLV.

4. Hiệp thông với nhau trong giáo hội chiến đấu (các tín hữu trên khắp thế gian):
Nói trên khắp thế gian thì nghe có vẻ bao la quá, chúng ta hãy trở về với thực tại gần gũi nhất trong đời sống mình là mái ấm gia đình mình, là cộng đoàn, là giáo xứ, là hãng xưởng làm việc, là hàng xóm láng giềng của mình. Qua sự đoàn kết yêu thương và giúp đỡ lẫn nhau, qua cử hành phụng vụ, qua việc chia sẻ của cải thiêng liêng cũng như vật chất, chúng ta cùng nhau xây dựng cuộc sống tươi vui, hạnh phúc. Đời sống thánh thiện và gương sáng của mỗi người sẽ ảnh hưởng đến người khác rất nhiều. Cuộc sống hiệp thông sâu rộng đó sẽ là phương cách tốt nhất để giới thiệu và làm chứng Tin Mừng Đức Giêsu: “Ở điểm này, mọi người sẽ nhận biết anh em là môn đệ của Thầy: là anh em có lòng yêu thương nhau” (Ga 13, 35)
Thiết nghĩ, bài thực hành sống động nhất là cho các em mỗi ngày thực hiện ít nhất một nghĩa cử yêu thương trong gia đình hoặc làm một việc bác ái cho tha nhân. Nhưng trước khi bảo người khác làm, chúng ta cũng nên thực hành trước, kẻo không sẽ bị mang tiếng là “dám đốc” chứ không “dám làm”!
Nguyện xin Chúa và Mẹ Maria giúp chúng ta sống hiệp thông trong giáo hội thật trọn vẹn và đầy đủ ý nghĩa, nhất là trong tháng 11 này. Cũng cầu xin Chúa nhắc nhở chúng ta đừng quên hướng dẫn các tâm hồn nhỏ bé biết luôn sống đức tin trong mối dây hiệp nhất thiêng liêng với các Thánh trên trời và các linh hồn đang ngày đêm chờ lời cầu nguyện rất đơn sơ bé nhỏ nhưng đầy hiệu lực của các em.

 

AnTáng 113: Cầu Nguyện Cho Các Đẳng Linh Hồn

Cầu Nguyện Cho Các Đẳng Linh Hồn AnTáng 113

Sr. Jean Berchmans Minh Nguyệt
Bà Maria Agatha Simma
 

Bà Maria Agatha Simma sinh ngày 5-2-1915 tại Sonntag, nước Áo, trong một gia đình nghèo thật AnTáng 113

Bà Maria Agatha Simma sinh ngày 5-2-1915 tại Sonntag, nước Áo, trong một gia đình nghèo thật nghèo. Maria Agatha là con thứ hai trong số 8 người con. Vì gia cảnh quá nghèo, tất cả các anh em của Maria Agatha đều phải làm việc ngay khi tuổi còn thơ. Con trai thì làm thuê làm mướn, con gái thì giữ trẻ cho các gia đình giàu.
Từ lúc nhỏ, Maria Agatha tỏ ra cô bé đạo đức, chuyên cần theo học các buổi dạy giáo lý trong giáo xứ. Cô bé cũng có lòng đặc biệt thương xót các Linh Hồn nơi Lửa Luyện Ngục. Maria Agatha cầu nguyện và hy sinh hãm mình, lãnh nhận các ân xá cho các Linh Hồn. Tâm tình yêu mến giúp đỡ các Đẳng Linh Hồn, một phần lớn Maria Agatha nhận lãnh từ hiền mẫu. Bà Aloisia nói với các con:
- Khi các con muốn xin một điều gì quan trọng, các con hãy nhờ các Linh Hồn nơi Luyện Ngục cầu xin dùm các con. Chắc chắn các con sẽ nhận được điều các con cầu xin.
Lớn lên, Maria Agatha ước ao dâng mình cho Chúa trong tu viện. Cô thử vào dòng ba lần, nhưng cả ba lần đều thất bại. Cuối cùng cô phải từ bỏ ý định, một phần vì gia cảnh quá nghèo, phần khác vì sức khoẻ quá yếu kém.
Từ đó, dù phải sống giữa đời, Maria Agatha quyết định giữ mình trinh khiết vì lòng yêu mến Đức Mẹ MARIA và vì lòng thương xót các Linh Hồn nơi Lửa Luyện Ngục. Maria Agatha giúp đỡ các Linh Hồn bằng nhiều cách: bằng lời cầu nguyện, bằng các hy sinh đền tạ và bằng việc cổ võ cầu nguyện cho các Linh Hồn.
Có lẽ chính vì các việc lành này mà THIÊN CHÚA chọn bà Maria Agatha làm vị tông đồ giúp đỡ các Linh Hồn. Chúa cho phép các Linh Hồn nơi Luyện Hình hiện về với bà để xin bà cầu nguyện hoặc làm việc đền bù phạt tạ thay cho các ngài. Bà Maria Agatha Simma kể.
Năm 1940, lần đầu tiên một Linh Hồn nơi Luyện Ngục hiện về với tôi.
Vào một đêm khuya, nghe tiếng một người đi lại trong phòng, tôi bỗng giật mình thức giấc. Tôi mở mắt nhìn, xem ai là người đang đi lại trong phòng mình.
Tôi có tính gan dạ, không sợ hãi bất cứ người nào. Nhìn kỹ, tôi thấy một người đang chậm chạp đi lại trong phòng. Tôi lấy giọng cứng cỏi, hỏi gằn từng tiếng:
- Làm sao mà ông lại vào được phòng này? Ông mất cái gì, ông tìm cái gì?”
Người lạ ra như không nghe thấy gì, cứ tiếp tục đi lại trong phòng. Tôi tức-tối hỏi tiếp:
- Ông làm cái gì vậy?
Thấy người lạ không thèm trả lời, tôi tức-giận nhảy ra khỏi giường, nhảy chồm tới, định đấm vào người ông. Nhưng tôi chỉ đánh vào khoảng không, không có bóng dáng ai trong phòng cả!
Tôi trở về giường, thì cùng lúc đó, tôi nghe tiếng người đàn ông đi đi lại lại trong phòng. Tôi thắc mắc tự hỏi:
- Lạ quá, mình thấy rõ ràng ông này, nhưng tại sao mình lại không đấm được vào người ông?
Không chịu thua, tôi ra khỏi giường, tiến chầm chậm về phía người đàn ông, định chặn bước ông đi. Nhưng một lần nữa, tôi chạm phải khoảng không trước mặt.
Tôi trở vào giường, lòng hoang mang. Lúc ấy vào khoảng 4 giờ sáng. Người đàn ông không xuất hiện nữa, nhưng tôi không tài nào chợp mắt.
Sáng hôm ấy, sau khi tham dự Thánh Lễ, tôi kể lại đầu đuôi câu chuyện cho Cha Linh Hướng nghe. Cha vắn tắt giải thích với tôi:
- Nếu còn xảy ra câu chuyện tương tự như vậy, thì con đừng hỏi: ”Ông là ai?”, nhưng chỉ hỏi: “Ông muốn tôi giúp gì?”
Quả thật, đêm sau, người đàn ông lại xuất hiện. Nhớ lời Cha Linh Hướng dặn, tôi cất tiếng hỏi:
- Ông muốn tôi làm gì cho ông?
Ông ta trả lời:
- Xin dâng ba Thánh Lễ cầu cho tôi và tôi sẽ được giải thoát!
Tôi nói lại với Cha Linh Hướng và Cha giải thích cho tôi hiểu đó chính là Linh Hồn hiện về từ Lửa Luyện Ngục.
Cha cũng cẩn thận khuyên tôi đừng bao giờ loại trừ một Linh Hồn nào, trái lại, hãy quảng đại chấp nhận mọi hy sinh để cứu vớt các Linh Hồn nơi Lửa Luyện Ngục, giúp các ngài sớm về hưởng Thánh Nhan THIÊN CHÚA.
(Maria Simma, ”Les Âmes du Purgatoire m'ont dit”, Editions du Parvis, 1990).

 

AnTáng 114: ÐTC Bênêđitô XVI nói về sự hiệp thông với các thánh

ÐTC Bênêđitô XVI nói về sự hiệp thông với các thánh AnTáng 114

và cầu nguyện cho các đẳng
VietCatholic News (02/11/2005) ÐTC Bênêđitô XVI nói về sự hiệp thông với các thánh trên trời cầu nguyện cho các đẳng linh hồn trong giờ kinh Truyền Tin trưa ngày mùng 1 tháng 11 năm 2005.
Tin Vatican (Vat 1/11/2005) –
 

Ngày 1 tháng 11 năm 2005 là ngày lễ Các Thánh Nam Nữ. Ngày này là ngày lễ nghỉ của hầu AnTáng 114

Ngày 1 tháng 11 năm 2005 là ngày lễ Các Thánh Nam Nữ. Ngày này là ngày lễ nghỉ của hầu hết các nước ở Âu Châu. Ngày lễ này nhắc nhở mọi người tưởng nhớ đến tất cả những anh hùng hiền triết, qua mọi thời đại, từ cổ xưa đến hiện đại, những người thân trong gia đình đã qua đời, và đã được nên thánh. Nhờ vào những gương sáng mà họ đã để lại cho chúng ta, giúp chúng ta đi theo con đường nên thánh giống như họ. Ngày 2 tháng 11 là ngày cầu nguyện cho các đẳng linh hồn. Ngày này cũng là ngày lễ nghỉ của nhiều quốc gia ở Âu Châu. Ngày này tương tự như ngày lễ Thanh Minh (Ngày Tảo Mộ) trong văn hóa Á Ðông. Là ngày nhắc nhớ mọi người cầu nguyện cho các linh hồn đã qua đời, đặc biệt là những thân nhân của chúng ta những người đã khuất, để xin Chúa nhân từ sớm cho họ được hưởng phúc trên Thiên Ðàng.
Vào trưa ngày 1 tháng 11 năm 2005, tuy bầu trời Rôma mây đen che kín, với một vài trận mưa nhỏ đổ xuống, nhưng những người hành hương và dân chúng Rôma vẫn tập trung đông đảo, (khoảng hơn 10,000 người), tại quãng trường Thánh Phêrô, để chờ đợi đọc kinh truyền tin với Ðức Thánh Cha. Bài huấn đức của Ðức Thánh Cha Bênêđitô XVI trước giờ kinh Truyền Tin tuy không dài lắm, nhưng nội dung rất phong phú. Ngoài những lời chào thăm, ngài nhắc đến sự hiệp thông với các thánh trên trời trong ngày lễ các thánh Nam Nữ mùng 1 tháng 11 và ý nghĩa của việc cầu nguyện cho các linh hồn trong ngày lễ các đẳng vào mùng 2 tháng 11.
Ðức Thánh Cha nói như sau: "Ngày hôm nay chúng ta mừng lễ các Thánh Nam Nữ. Ngày lễ này giúp chúng ta nhận ra niềm vui mừng được trở thành những thành viên trong đại gia đình Dân Chúa, như lời thánh Phaolô đã viết trong thư gửi các tín hữu Côlôxê: "Anh em hãy vui mừng cảm tạ Chúa Cha, đã làm cho anh em trở nên xứng đáng chung hưởng phần gia nghiệp của các thánh trong cõi đầy ánh sáng." (Col 1,12). Ngày lễ hôm nay cũng nhắc lại niềm vui mừng hớn hở trong thư của thánh Gioan Tông Ðồ khi ngài viết: "Anh em hãy xem, Chúa Cha yêu chúng ta dường nào, đến nỗi chúng ta được gọi là con Thiên Chúa, mà thực sự chúng ta là con Thiên Chúa." (1Gio 3,1). Ðúng vậy, chúng ta được nâng lên bậc làm con của Thiên Chúa, và từ đó chúng ta có cơ hội để trở nên thánh. (xem Eph 1,5; Rom 8,14-17).
Ðức Thánh Cha nói tiếp: "Thiên Chúa muốn Con Một của Ngài xuống thế làm người, chịu chết và sống lại, để cho nhân loại được đổi mới và được chia sẻ với sự sống đời đời. Ai tin vào Ðức Giêsu Kitô, thì người đó được tái sinh, người đó được sinh ra trong ơn Chúa Thánh Thần. (xem Gio 3,1-8). Mầu nhiệm này đã được hiện thực nhờ vào bí tích Rửa Tội. Qua bí tích Rửa Tội, giáo hội đã sinh ra các vị thánh."
Ðức Thánh Cha đã giải thích việc tái sinh trong bí tích Rửa Tội như sau: "Qua bí tích Rửa Tội, chúng ta được tái sinh trong một cuộc sống mới, không còn bị giới hạn trong quyền lực của sự chết hay của hư nát. Ðối với những người sống trong Ðức Kitô, cái chết chỉ như là một cuộc lữ hành để đi từ cuộc sống hiện nay bước qua một cuộc sống mới trên Thiên Ðàng mà thôi, ở đó, Thiên Chúa Cha sẽ tiếp đón mọi người, không phân biệt quốc gia, chủng tộc, ngôn ngữ, tựa như trong chương 7 Sách Khải Huyền mà chúng ta đã đọc. Bởi thế, sau khi chúng ta mừng kính các thánh Nam Nữ trong ngày hôm nay, thì ngày mai chúng ta sẽ cử hành lễ cầu nguyện cho các đẳng linh hồn, điều này là một điều rất có ý nghĩa, và có tương quan với nhau.
Ðức Thánh Cha giải thích ý nghĩa của việc cầu nguyện cho những người đã qua đời như sau: "Các thánh thông công, như chúng ta đã tuyên xưng trong Kinh Tin Kính, ngày nay các ngài thực sự đã trở nên thánh. Còn chúng ta, khi chúng ta được diện kiến với Thiên Chúa trong đời sống mai sau, thì lúc đó chúng ta cũng sẽ được thiện toàn. Ðiều này nói lên một sự thực là, sự hiệp thông trong một đại gia đình, làm cho những người đã qua đời cũng luôn hiện diện trong cuộc lữ hành của chúng ta ở đời này và tất cả kết hiệp với nhau. Sự kết hiệp này là một thần bí, và cũng là một sự thật, qua sự cầu nguyện và việc tham gia Mầu Nhiệm Bí Tích Thánh Thể. Trong Nhiệm Thể của Chúa Kitô, các linh hồn của các tín hữu luôn liên đới với nhau, kết hiệp với nhau, trong mầu nhiệm yêu thương thông công với nhau. Trong đời sống đức tin, cùng với những hy sinh dâng hiến, những hiệp ý cầu nguyện, đặc biệt là việc cử hành và tham dự thánh lễ tưởng niệm mầu nhiệm Vượt Qua của Chúa Kitô, các tín hữu đang mở cửa thông công với đời sống vĩnh hằng".
Ðức Thánh Cha cũng nói với tất cả những người hiện diện tại quảng trường như sau: "Tâm hồn của cha cùng hiệp nhất với tất cả các tín hữu đang đi viếng các phần mộ của các người thân tại các nghĩa trang, để cầu nguyện cho tất cả những người đã qua đời. Chiều ngày mai, cha cũng sẽ đi xuống dưới tầng hầm của Ðền Thánh Phêrô, để cầu nguyện trước các phần mộ của các vị Giáo Hoàng. Phần mộ của các ngài nằm chung quanh phần mộ của Thánh Phêrô. Cha cũng sẽ đặc biệt tưởng niệm đến đức cố giáo hoàng thân yêu Gioan Phaolô II của chúng ta".
Cuối cùng, Ðức Thánh Cha kêu gọi mọi người rằng: "Anh chị em thân mến, hy vọng trong những ngày này, theo truyền thống quen thuộc, khi chúng ta đi viếng mộ và cầu nguyện cho các người đã qua đời, thì cũng giúp chúng ta không còn sợ hãi với cái chết, và giúp chúng ta luôn có thái độ tỉnh thức, chuẩn bị sẵn sàng với trọn tâm hồn để đối diện, mỗi một khi giờ chết đến với chúng ta. Bây giờ, tất cả chúng ta, với tâm tình là những người con của Ðức Trinh Nữ Maria, chúng ta hãy cầu nguyện, nguyện xin Ðức Mẹ phù hộ chúng ta trong giờ lâm tử. Amen."

 

AnTáng 115: Có hỏa ngục hay không?

Có hỏa ngục hay không? AnTáng 115

Lm Nguyễn Hữu Thy
 

Ở Âu Châu, tháng mười một là một tháng u buồn ảm đạm nhất trong năm : Khí trời mới vào đông AnTáng 115

Ở Âu Châu, tháng mười một là một tháng u buồn ảm đạm nhất trong năm : Khí trời mới vào đông tuy chưa có tuyết rơi, nhưng rất lạnh lẽo giá buốt, sương mù dăng dăng dầy đặc và những làn mưa phùn bay phất phơ trong từng cơn gió lạnh, làm thấm ướt cả áo măng-tô của các khách bộ hành qua lại trên phố xá. Và cũng chính tháng mười một đã được Giáo Hội chọn làm Tháng Các Linh Hồn, nghĩa là thời gian dùng để kính nhớ và cầu nguyện cho các người đã quá cố.
Hành động đó đã minh nhiên chứng minh rằng chết không phải là hết, nhưng sau khi chết con người còn tiếp tục sống và sống một cuộc sống vĩnh cửu. Nhưng ở đây một câu hỏi được đặt ra là sau khi từ bỏ cõi đời này, chỉ có Thiên Đàng là nơi vĩnh cửu duy nhất sẽ đón nhận các các người đã quá cố hoặc còn có nơi nào khác nữa, hay nói rõ hơn, có hỏa ngục hay không?
Theo tâm lý tự nhiên ngày nay, đa số người đương thời có khuynh hướng muốn được yên thân sống thoải mái dễ dãi, chứ không muốn nhắc đến luân lý, đạo đức hay tội lỗi nữa. Vì thế họ cũng không muốn đề cập tới vấn đề hỏa ngục, nếu không nói là họ phủ nhận sự hiên hữu của hỏa ngục.
Nhưng ít nhất vẫn còn có Sting, tên thật là Gordon Summer (1951), một ca sĩ nhạc Rock nổi tiếng người Anh, luôn tin có hỏa ngục, một nơi có mặt của mọi thành phần xã hội : từ các quan tòa, các luật sư, các Hồng Y, Giám Mục, các nhạc sĩ, các ca sĩ, v.v…! Trong một bài hát thuộc loại nhạc kích động với tựa đề bằng tiếng Anh: «Saint Augustine in Hell» (Thánh Augustinô ở trong hỏa ngục), Sting đã hát: «They’re all here,You’re not alone» (Tất cả họ đều có mặt ở đây. Chứ không phải một mình anh đâu). Bài hát đề cập tới việc vị thánh nhân đã ra sức vất vả chống lại sự cám dỗ về đức trong sạch khi phải đứng trước một người phụ nữ nhan sắc đầy quyến rủ.
Thật cả là một hiện tượng quá ngạc nhiên, hoàn toàn vượt quan niệm thường tình: Trong hỏa ngục cũng có cả sự hiện diện của những bậc vĩ vọng, những người khi còn sống đã từng đóng vai trò người bảo vệ luân lý, đạo đức và công bằng, và theo sự phán đoán bình thường nhân loại, thì họ là những người sau khi chết sẽ được bay thẳng về Thiên Đàng. Còn hỏa ngục là nơi chỉ dành cho những kẻ đã phạm những tội ác nặng nề chống lại nhân loại, như: Hitler, Stalin, Mao Trạch Đông, Pol Pot, Nero, Giu-đa, Napoléon, hay những bọn khủng bố, nhửng kẻ giết người như ngóe, bọn phản bội hại người hay những kẻ cực đoan đã gây nên bao tang thương đau khổ và chết chóc cho hàng triệu người vô tội, tiêu hủy cả một nền văn hóa của nhân loại, và không ngừng gieo rắc hận thù, ghen ghét trên khắp thế giới.

Cái hố sâu trong hỏa ngục
Vâng, theo quan niệm đại chúng thì những kẻ đã gây nên những tội ác như thế cần phải được trừng phạt một cách đích đáng, và - dựa theo luật công bằng - sự trừng phạt đó có thể vượt sang cả bên kia thế giới vĩnh cửu nữa.
Tuy nhiên, trong cuộc sống cụ thể, người ta thường dùng danh từ «hỏa ngục» như một cách so sánh hay có tính cách ẩn dụ, để ám chỉ những khó khăn to nhỏ trong cuộc sống hằng ngày. Ví dụ: Trong một chuyến đi nghĩ hè xa mà phải ngồi chờ cả ngày tại phi trường hay tại nhà ga xe lửa, hết ngồi rồi lại đứng, bởi vì máy bay hay tàu bị trục trặc hay vì một sự cố nào đó xảy ra, nên phải hủy chuyến bay hoặc phải đến trể; khi khởi công xây nhà mà trời cứ mưa tầm tả cả ngày; khi con cái và mọi người trong nhà đau ốm liên miên, nhưng tiền dành dụm lại không còn, vay mượn thì không ai cho; hay: cảnh phải lam lũ vất vả cả ngày mà kiếm không đủ cơm nuôi gia đình; nhất là khi cuộc sống trong gia đình hoàn toàn thiếu đầm ấm, bất hạnh phúc, vợ chồng lục đục bất hòa với nhau suốt ngày v.v… Bấy giờ đó quả là «hỏa ngục!» và người ta mới cảm nhận được sự đau đớn và thất vọng chua xót trong lòng trước niềm khao khát được cơm no áo ấm, được một cuộc sống ấm êm, hạnh phúc.
Nhưng cả khi phải đối mặt với những thử thách và khó khăn vất vả như thế, người ta cũng chưa hẳn tin hỏa ngục như là một nơi có thực. Trái lại, người ta đã tương đối hóa hỏa ngục và sử dụng nó như một kiểu chơi chữ, như một nơi giả tưởng để diễn tả một sự chịu đựng đắng cay nào đó mà thôi. Đó chính là điều mà các nhà tâm lý học, triết gia và văn họa sĩ của thế ký XX vừa qua đã làm, và quan điểm đó của họ đã để lại một ảnh hưởng sâu rộng trong ngôn ngữ cũng như trong tư tưởng của các tầng lớp xã hội.
Quả vậy, nhà phân tâm học Sigmund Freud và giáo sư tâm lý học C.G. Jung đã diễn tả ý niệm «hỏa ngục» chỉ còn như là cái vực sâu thẳm nhất của nội tâm con người; còn trong cuốn tiểu thuyết nổi danh «Doctor Faustus» của ông, văn hào Thomas Mann đã coi «hỏa ngục» như là biểu hiệu cho sự man rợ ghê tởm, xảy ra dưới chế độ diệt chủng Đức Quốc Xã; trong khi đó, triết gia Jean-Paul Sartre - bằng một hình thức hiện sinh nhẹ nhàng – lại cho thấy rằng «hỏa ngục» luôn luôn là «những người khác». Hỏa ngục được coi như một nơi hoàn toàn và tuyệt đối không có sự hiện diện của Thiên Chúa, dù một lời nói hay một dấu hiệu cũng hoàn toàn không.
Tuy nhiên, điều đó không luôn luôn như vậy. Đặc biệt nhất là các bức hình thời trung cổ trình bày về ngày Phán Xét Chung - mà ngày nay người ta còn tìm thấy trên trần các nhà thờ chánh tòa và vương cung thánh đường cỗ hay trong bản văn Sách Khải Huyền của thánh Gioan tông đồ - đã vẽ lên một cách rõ ràng và đầy ấn tượng tình trạng của những kẻ bị kết án trầm luân trong hỏa ngục. Trong khi đó, chữ «hỏa ngục» trong tiếng Do-thái là «Ge hinnom», hoàn toàn chỉ có nghĩa là vùng thống trị của ma quỷ mà thôi; khác với chữ «âm phủ» (nước của những kẻ chết) mà trong tiếng Do-thái là «Scheol» và cũng khác với các quan niệm Hy Lạp thời thượng cổ về nước của kẻ chết, tức thế giới của tối tăm.
Những trình bày về hỏa ngục chỉ muốn nhắm cảnh giác và làm cho người xem động lòng lo sợ, hầu họ biết ăn năn sám hối và cải thiện cuộc sống, dựa trên ý nghĩa Kinh Thánh và những lời dạy của Chúa Cứu Thế, ví dụ: «Thà cụt tay cụt chân mà được vào cõi sống, còn hơn là có đủ hai tay hai chân mà bị ném vào lửa đời đời. Nếu mắt anh làm cớ cho anh sa ngã, thì hãy móc mà ném đi; thà chột mắt mà được vào cõi sống, còn hơn là có đủ hai mắt mà bị ném vào lửa hỏa ngục.» (Mt 18,8-9)
Trong vùng ảnh hưởng nền văn hóa Tây phương nói chung, những hình ảnh trình bày về hỏa ngục hay những suy diễn tưởng tượng về hỏa ngục rất đa dạng. Vâng, có khi hỏa ngục được coi như một nơi của thù oán; có khi lại được coi như một lò lửa cháy bừng bừng đến vô tận; và nhiều khi còn được coi như núi hỏa ngục. Trong cuốn tiểu thuyết nổi danh «La Divina Commedia» của ông, Dante Alighieri (1265-1321), một thi hào người Ý, còn trình bày hỏa ngục như một cái hố sâu mà Satan đã gây ra khi y bị rơi từ Thiên đàng xuống.
Còn các danh họa Kitô giáo, như Hieronymus Bosch (1450-1516), Peter Paul Rubens (1577-1640), Sandro Botticelli (1445-1510), hay Michelangelo (1475-1564), đều trình bày hỏa ngục như chặng đường cuối cùng của cuộc sống con người, chứ không còn là nơi thanh luyện hay cải hóa nữa. Và có lẽ đó cũng là quan niệm chung của các nền văn hóa và các tôn giáo khác.
Điều đó cũng nói lên rằng các danh họa Kitô giáo trên đã luôn luôn trung thành với các giáo huấn truyền thống của Giáo Hội. Bởi vì dựa theo lời Đức Giêsu trong Phúc Âm, nhiều thánh Giáo phụ từ thế kỷ I cho tới thế kỷ III, ví dụ như Clemens de Rom, Irenée de Lyon, đã khẳng định rằng người ta không được phép đùa giỡn với một cuộc sống bên kia biên giới sự chết được, vì đó là một sự thật minh nhiên. Và sau cái chết chỉ còn lại hai nơi cư ngụ duy nhất cho con người: Hoặc Thiên đàng hoặc hỏa ngục, có lẽ tạm thời còn có một nơi tạm trú thứ ba, đó là Lửa Luyện Tội. Ngoài những chỗ đó ra, tuyệt đối không còn bất cứ nơi chốn nào khác nữa.
Thế nhưng, bổng nhiên Origênê (185-254), thuộc hàng Giáo phụ, lại giới thiệu một suy tư thần học mới : Thuyết «Apocatastase» - sự cứu vớt muôn loài muôn vật. Origênê cho rằng sau cuộc sống đời này, tất cả mọi tạo vật đều được trở về cùng Thiên Chúa Tạo Hóa, còn hỏa ngục hoàn toàn trống rỗng. Đó quả là một quan điểm có thể được coi là hấp dẫn, mang tính cách nhân bản và tiến bộ. Vì thế, nhiều Giáo phụ thuộc thế kỷ IV và thế kỷ V, như Gregoire de Nyssan đã chấp nhận thuyết đó.
Nhưng thuyết Apocatastase của Origênê chỉ kéo dài đến năm 553 thì hoàn toàn chấm dứt. Công đồng đại kết Constantinople II đã tuyên cáo: «Nếu ai nói hay nghĩ rằng hình phạt dành cho ma quỷ và những kẻ vô đạo chỉ có tính cách tạm thời và trong một lúc nào đó sẽ được chấm dứt hay sẽ có sự hồi phục lại cho ma quỷ và những kẻ vô đạo, thì bị dứt phép thông công.»
Lời khẳng định: Từ hỏa ngục không hề có con đường nào dẫn tới cùng Thiên Chúa, là một quan điểm trải qua bao thế kỷ đã được chứng thực bởi các thị kiến của nhiều vị thần bí, như Anna Catharina Emmerick, Anna Schäfer hay chân phước Padre Piô, v.v…và trên nguyên tắc, mãi cho tới nay Giáo Hội vẫn không chối bỏ. Trái lại, trong cuốn Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo (SGLHTCG), được phát hành năm 2005, còn được xác định: «Giáo Hội dạy rằng có hỏa ngục và án phạt đời đời. Sau khi chết, linh hồn kẻ còn mang tội trọng sẽ xuống hỏa ngục chịu cực hình ‘lửa đời đời’» (SGLHTCG phần 1, đoạn 2, chương 3, mục 12, số 1035). Chính Đức Thánh Cha Bênêđíctô XVI trong cuốn sách mới nhất của Người «Chúa Giêsu thành Na-da-rét» cũng đã xác nhận rằng có hỏa ngục, và là một nỡi vĩnh viễn dành cho những ai chối từ tình yêu Đức Kitô.

Án phạt đời đời
Tuy nhiên, ở đây người ta cũng có thể chân thành nêu lên câu hỏi: Ngày nay còn có bao nhiêu người và bao nhiêu cơ quan đoàn thể trong Giáo Hội thực sự coi trọng những phát biểu đó nữa? Trong thời đại ngày nay, ai còn đầy xác tín nói về hoả ngục và về án phạt đời đời? Và nếu trường hợp có người còn can đảm dám làm chuyện đó, thì anh ta sẽ quả quyết thế nào về hỏa ngục: là một nơi chốn, một tình trạng hay chỉ là một cảm giác?
Thế hệ của những nhà thần học cũng như những vị giáo phẩm trong Giáo Hội ngày nay, xem ra có một sự đồng thuận cho rằng, hỏa ngục không phải là một nơi chốn dành để trừng phạt những kẻ có tội với các đau khổ thể xác, nhưng là một điều có tính cách trừu tượng, hay nói đúng hơn, đó là sự «xa lìa Thiên Chúa», như chính ĐTC Gioan Phaolô II khi sinh thời cũng đã từng phát biểu. Nhưng nói chung, tất cả những nhà thần học này đều trung thành với giáo huấn của Giáo Hội về hỏa ngục.
Nhưng bên cạnh đó còn có những nhà thần học khác đã tìm cách dựa theo khoa chú giải Kinh Thánh có tính cách phê bình sử quan, để đưa ra một con đường trung dung khác, thay vì quan điểm «sự cứu rỗi cho muôn loài muôn vật» và «sự hiện hữu của hỏa ngục». Theo quan điểm thứ ba này thì hỏa ngục hiện hữu thực sự và như một «khả hữu thực tiễn» (Karl Rahner). Nhưng điều đó không có nghĩa là sẽ có một linh hồn nào đó sẽ bị lạc đường sa vào chỗ ấy, bởi lẽ tình yêu và lòng từ bi của Thiên Chúa thì bao la vô tận.

Sự chia lìa vĩnh cửu với Thiên Chúa
Đặc biệt tại đa số các cộng đoàn Kitô giáo thuộc vùng lãnh thổ nói tiếng Đức, xem ra người ta có khuynh hướng chọn lối cắt nghĩa thứ hai. Các giáo sĩ ngày nay ít đề cập đến hỏa ngục trong các bài giảng của mình, vì họ thường quan niệm rằng: trong vấn đến tín ngưỡng, nên tôn trọng sự tự do chọn lựa của con người, hay nói rõ hơn, nên để giáo dân tự do sống đạo theo sự ý thức của họ, chứ không nên giữ đạo vì do sợ hãi khỏi phải xuống hỏa ngục. Phải chăng đây là một quan niệm hoàn toàn đúng đắn?
Một điều không thể phủ nhận được là quan niệm trên đã từ từ làm cho người ta quên đi sự nguy hiểm về cuộc sống xa lìa vĩnh cửu với Thiên Chúa, nguồn sống và nguồn mọi hạnh phúc của con người. Đồng thời nó cũng dẫn tới một hậu quả khác nữa, đó là khuynh hướng tương đối hóa tội lỗi, nghĩa là chỉ có tội nhẹ, chứ không còn có tội trọng nữa; và điều đó cũng muốn nói rằng con người không còn nguy hiểm sợ mất sự sống vĩnh cửu nữa.
Hay sự im lặng không muốn đề cập tới hỏa ngục như thế còn có những lý do khác nữa? Phải chăng sự im lặng đó còn nhắm tránh cho người tín hữu mặc cảm tội lỗi, bởi vì trong nhiều thế kỷ qua, các bài giảng về hỏa ngục đã làm cho các tín hữu đâm ra áy náy sợ hãi, vì lo mất linh hồn? Hoặc: phải chăng vì do những lý do quyền lực, kinh tế hay chính trị, v.v… mà người ta đã từng làm cho cuộc sống tâm linh của các tín hữu trở thành lệ thuộc và mất tự do, khi trình bày cho họ hình ảnh về hỏa ngục?
Nếu sự thể thực sự là như vậy, thì cần thiết phải tìm cách giải quyết ngay cái mặc cảm phiền phức đó. Nhưng phải chăng để làm cho công cuộc Phúc Âm hóa của Giáo Hội, mà Đức Gioan Phaolô II cũng như Đức Bênêđíctô XVI đã khởi động và cổ vũ, trở nên khả tín và khả thi, nếu khi người ta trình bày công cuộc Cứu Rỗi của Đức Kitô và viễn tượng về Nước Trời, tuyệt đối không được đả động tới những thực tại ngược lại, hay nói rõ hơn, không được đề cập tới hỏa ngục?
Nếu sứ mệnh của Giáo Hội không chỉ dừng lại nơi những hoạt động thiêng liêng và từ thiện được dành cho mọi tầng lớp xã hội như các đoàn thể từ thiện khác vẫn làm, thì Giáo Hội cần phải tái khám phá ra sự hiện hữu của hỏa ngục như một biểu hiệu sự công bằng của Thiên Chúa, chứ không phải như một dụng cụ để hành hạ hay trả thù. Vâng, mặc dù nói đến hỏa ngục là một điều ít ai muốn nghe, nhưng sự hiện diện của hỏa ngục cũng góp phần vào việc sống trọn tinh thần Phúc Âm.

 

AnTáng 116: "Giêsu - Maria - Giuse, Con Mến Yêu,

Giêsu - Maria - Giuse, Con Mến Yêu, AnTáng 116:

Xin Cứu Rỗi Các Linh Hồn"
Hồng-Việt Sưu tầm
 

Tầm quan trọng của câu kinh vắn tắt nhưng rất hiệu lực này được chính Chúa Giêsu bảo đảm trong AnTáng 116

Tầm quan trọng của câu kinh vắn tắt nhưng rất hiệu lực này được chính Chúa Giêsu bảo đảm trong những lần Ngài tâm sự với Chị Consolata Bêtrone, một nữ tu ở Tertona Ý, liên tiếp trong những năm 1934-1946. Xin đọc lại đôi lời trích dẫn.
Lần đầu tiên, Chúa Giêsu căn dặn chị Consolata.
"Cha chỉ xin con một kinh Mến Yêu liên lỉ: "GIÊSU - MARIA - GIUSE, Con Mến Yêu, Xin Cứu Rỗi Các Linh Hồn."
"Hỡi Consolata, con hãy yêu mến Cha! Con sẽ làm cha sung sướng, khi con đọc kinh ấy. Con hãy nhớ rằng chỉ đọc một kinh nầy đủ định đoạt phần rỗi muôn đời của một linh hồn. Bởi vậy con phải tập biết ân hận mỗi khi con bỏ đi một lần không đọc "GIÊSU - MARIA - GIUSE, Con Mến Yêu, Xin Cứu Rỗi Các Linh Hồn."
Quả là kỳ diệu gần như khó tin khi Chúa Giêsu tuyên bố lời kinh vắn tắt này làm hoan lạc lòng Ngài và chỉ một kinh định đoạt phần rỗi vĩnh cửu của một linh hồn...
Lời kinh vắn tắt này là gì nếu không phải là phương thế trọng đại được Thiên Chúa nhân lành đầy thương xót ban tặng cho chúng ta để yêu mến Ngài, để làm cho Ngài được hạnh phúc và cứ mỗi lần như vậy cứu được một linh hồn đưa vào vĩnh cửu....
Chúa Giêsu nhắc đi nhắc lại nhiều lần lời hứa đầy an ủi này là: "Hỡi con đừng để thời giờ trôi qua vô ích, bởi lẽ mỗi một kinh MẾN YÊU là một linh hồn đấy, con ạ..."
Ngày 10-10-1935. Rất Thánh Trinh Nữ cho Chị biết về giá trị của Kinh nầy: "Chỉ trên Thiên đàng, con mới thấy giá trị phong phú của nó đối với các linh hồn."
Chúa Giêsu hết lòng mong muốn lời kinh vắn tắt này được dâng lên không ngừng, hàng chục hàng trăm lần mỗi ngày, Ngài tỏ ý muốn ấy cánh rõ ròng ngày 15-10-1934: "Hỡi Consolata, Cha có quyền trên con, nên Cha muốn con đọc không ngừng: "GIÊSU - MARIA - GIUSE, Con Mến Yêu, Xin Cứu Rỗi Các Linh Hồn." Nó phải là lời kinh mỗi sáng và cũng là câu kinh cuối cùng của mỗi đêm. Cha muốn như vây.
Không còn cách phát biểu nào rõ ràng hơn Ngài đã nói: "Từ sớm mai khi thức dậy cho đến tối khi đi ngủ" Nói cách khác, chúng ta có đọc đến bao nhiêu lần cũng không thể cho là đủ. Bởi nó chính là bằng chứng "tình" chúng ta yêu mến Ngài, muốn cho Ngài được vui thích, và mỗi lần như vậy, cứu được một linh hồn vào cõi đời đời.
Trong cuộc nội chiến ở Tây Ban Nha, 6-9-1936 Ngài đã nhắc lại lời hứa với Chị là: "Quả đúng tất cả mọi giải quyết đều được gồm tóm trong kinh MẾN YÊU này. Nhờ nó Cha sẽ trao cho con chiến thắng ớ Tây Ban Nha để thế giới biết Cha yêu thích kinh MẾN YÊU liên lỉ ấy ngần nào."
Chị Consolata đã cầu nguyện nhiều năm cho một trong các anh em của chị là cậu Nicolas được ơn trở lại. Tháng 6 năm 1936, Chúa Giêsu cho chị biết: "Cha ban cho Nicolas lại cho con không phải nhờ những đền tội hy sinh của con, nhưng chính để thưởng con và đà không ngưng dâng lên cho Cha lời nguyện TÌNH YÊU này. Bởi điều Cha trông chờ nơi tạo vật là: "Chúng yêu mến Cha."
Kinh MẾN YÊU này cũng có giá trị đền tội (8-10-1935): "Cha chẳng muốn con ngâm nga nhiều kinh, bởi lẽ tác dụng TÌNH YÊU thì phong phú hơn. Chỉ một: "GIÊSU - MARIA - GIUSE, Con Mến Yêu, Xin Cứu Rỗi Các Linh Hồn," đủ đền bù ngàn lời lộng ngôn. Một lần khác ngài tỏ rõ sở thích của mình: "Hỡi Consolata, con đem đặt trên giá cân; một bên tất cả những việc làm đạo đức trong suốt ngày và bên kia một ngày trôi qua với duy một kinh "MẾN YÊU" nhưng liên tục, Cha sẽ chuộng giá cân sau hơn tất cả mọi lễ dâng khác."
Ngày 13-9-1936: "Con hãy giữ vũng lập trường đừng bao giờ ngừng đọc kinh này. Cha chỉ muốn có thế. Hãy trung thành với nó bằng cách thỉnh thoảng đọc đi đọc lại. Hỡi Consolata Cha sè ban cho con mọi sự."
Để giúp Chị mừng lễ Đức Mẹ Vô nhiễm (1935). Chúa Giêsu đã khuyên chị: "Con sẽ làm tuần cửu nhật nao dâng cho Mẹ Cha? Này, con hãy dâng cho Người một kinh đọc không ngừng "GIÊSU - MARIA - GIUSE, Con Mến Yêu, Xin Cứu Rỗi Các Linh Hồn." Vì như vậy là dâng cho Người tất cả rồi đấy."
Còn về những kinh phụ thêm vào luật định Chúa dạy Chị (12-12-1935): "Cha thích con đọc kinh MẾN YÊU này hơn mọi kinh." Ngài đã giải thích thêm cho Chị rằng lời cầu xin cho các linh hồn trong kinh này bao gồm tất cả các linh hồn (20-06-1940): "GIÊSU - MARIA - GIUSE, Con Mến Yêu, Xin Cứu Rỗi Các Linh Hồn," hàm chứa tất cả các Đẳng Linh Hồn trong luyện ngục cũng như hết các linh hồn trong Giáo Hội chiến đấu; các linh hồn tội lỗi cũng như các linh hồn vô tội, những người hấp hối, những kẻ vô thần..."
Kinh MẾN YÊU liên lỉ không phải là một cái gì sơ thiển một công thức máy móc, nhưng là một khúc ca tình yêu đích thực không buộc phải đọc bằng miệng môi mấp máy, vì kinh MẾN YÊU không chỉ là một câu để đọc ngoài miệng. Nó là một hành vi nội tâm của tâm trí suy nghĩ để yê thương, của ý chí muốn yêu và đang yêu. Kinh MẾN YÊU liên lỉ là hành động bộc lộ liên tục trong thinh lặng chan chứa tình ta yêu Chúa, yêu Mẹ, yêu Cha Thánh Giuse và yêu các linh hồn. Chính Chúa Giêsu giới thiệu và bảo đảm giá trị giáo lý của kinh MẾN YÊU liên lỉ này (16-11-1935): "Nếu tạo vật nào thành tâm muốn yêu mến Cha và biến đổi họ từ sớm mai cho đến chiều tối thành một kinh MẾN YÊU độc nhất - lẽ dĩ nhiên với tất cả tấm lòng Cha sẽ sẵn sàng chấp nhận mọi điên dại vì linh hồn này. con hãy ghi nhớ lời này."
Vì thế phải yêu mến không ngừng với tất cả tấm lòng. Linh hồn có thể sẽ không nếm thấy cái hương vị ngọt ngào của nó. Nhưng linh hồn chỉ cần muốn yêu là đủ rồi.

 

AnTáng 117: Hiệu quả thực tiễn của một câu chuyện giả tưởng !

Hiệu quả thực tiễn của một câu chuyện giả tưởng ! AnTáng 117

Lm Nguyễn Hữu Thy
 

Tôi còn nhớ hồi còn nhỏ, để động viên chúng tôi siêng năng "đi viếng nhà thờ" (*) để cầu nguyện AnTáng 117

Tôi còn nhớ hồi còn nhỏ, để động viên chúng tôi siêng năng "đi viếng nhà thờ" (*) để cầu nguyện cho các linh hồn vào tháng 11 – Tháng Các Linh Hồn, bà nội tôi thường kể cho anh em chúng tôi nghe câu chuyện sau đây:
"Ở một xứ đạo nọ, có một người đàn ông sống đạo rất khô khan. Ít khi anh ta tự đi nhà thờ đọc kinh xem lễ một mình. Anh chỉ đi nhà thờ, khi nào đứa con trai cưng độc nhất của anh mới lên bảy đòi đi nhà thờ mà thôi. Số là vào một buổi chiều trong Tháng Các Linh Hồn, khi đứa con thấy bạn bè mình đều được cha mẹ dẫn đi "viếng nhà thờ" để đọc kinh cầu nguyện cho ông bà tổ tiên đã qua đời, nó cũng đòi đi cho bằng được, để cầu nguyện cho ông bà nội đã qua đời. Sau khi đưa hết lý lẽ để cản ngăn con đừng đi nhà thờ mà không thành công, anh ta bèn chiều lòng con và đưa nó đến nhà thờ. Nhưng khi đến nhà thờ, anh ngồi chờ con ngoài hành lang nhà thờ, chứ không vào đọc kinh trong nhà thờ với con. Anh dặn con : "Khi nào con đọc kinh xong thì ra, ba sẽ đưa con về !"
Nhưng vì ngồi chờ con quá lâu ở ngoài nhà thờ, anh ta đã ngủ quên và không biết giờ kinh đã xong lúc nào. Trong khi ngủ, anh mơ thấy một đoàn các Thiên Thấn đông vô kể, từ trên trời bay xuống, vị nào cũng ì ạch mang đầy những bao bị chứa đầy những thứ có màu trắng như bông và bốc mùi thơm ngon không thể diễn tả được. Quá tò mò, anh chạy theo một vị Thiên Thần và hỏi nhỏ đó là thứ gì vậy. Vị thiên Thần trả lời đó là các ơn thánh mà các người trên thế gian đã kiếm được qua việc đọc kinh lần hạt và "đi viếng nhà thờ", và gửi xuống cho các linh hồn thân nhân của họ đang bị giam trong Ngục Luyện Tội. Bây giờ các Thiên Thần được lệnh của Chúa đi giao cho mỗi người. Nghe thế anh cũng rón rén đi theo các Thiên Thần và thấy các linh hồn rất vui mừng khi nhận được rất nhiều quà "ơn thánh" mà bà con thân thuộc của họ gửi đến và cám ơn rối rít. Sau cùng, còn lại một món quà nho nhỏ, các Thiên Thần tìm đến một phòng giam trông rất hoang vắng và gõ cửa : "Này, ông bà cụ có quà của cháu nội gửi cho đây, ra lãnh" ! Bổng nhiên anh nghe có tiếng trong nói vọng ra vừa vui mừng vừa ngạc nhiên : "Trời ơi, chúng tôi mà còn có người tưởng nhớ tới chăng ! Vì từ khi chết cho tới nay đã bao năm rồi mà chúng tôi đâu có ai gửi quà gì cho đâu ! Thật đứa cháu nội quý hóa biết chừng nào !» Nhưng khi mở cửa tù ra lãnh quà "ơn thánh" của đứa cháu nội gửi, hai ông bà trông dáng người hốc há gần còm, nhưng rất mừng và cám ơn các Thiên Thần rối rít. Sau đó, khi hai ông bà trông thấy anh chàng đi theo các Thiên Thần là chính con trai mình, ông bà quá tức giận, bèn lấy cái gậy đang cầm trong tay phang vào đầu anh ta một cái thật mạnh và quát lớn : "Thằng con bất hiếu, mi còn mò tới đây làm gì nữa ! Mi quả là đứa con vô phúc ! Mi coi gương đứa con của mi mà ăn ở cho phải đạo … !" Bị đánh một cú quá bất ngờ và đau điếng cả người, anh chàng bèn tỉnh giấc và thấy ông từ coi nhà thờ đang đứng trước mặt và la : "Mi là ai mà giờ này còn nằm trước cửa nhà thờ ngủ như thế này ?"
Bấy giờ anh ta mới biết là mình mơ. Và cú gậy vừa rồi là do ông từ đánh, chứ không phải ba mẹ anh đánh. Vì sau khi tan giờ đọc kinh thì trời cũng đã khuya, nên ông từ phải đi đóng cửa nhà thợ lại, và khi đi ngang thấy có người đàn ông nằm ngủ quên trước cửa nhà thờ như thế, ông từ đã lấy cây gậy đang cầm trong tay gõ vào đầu để đánh thức !
Trên đường lủi thủi về nhà, người đàn ông đã suy nghĩ về giấc mơ rất nhiều. Cuối cùng anh ta cương quyết đổi đời, cương quyết sống đạo đức hơn, siêng năng đi xem lễ thường xuyên hơn và cầu nguyện cho cha mẹ anh ta nhiều hơn !"
Ðối với cá nhân tôi, câu chuyện đó đã để lại một ảnh hưởng rất mạnh trên tuổi trẻ của tôi, nhất là nó đã động viên tôi rất nhiều trong việc cầu nguyện cho các linh hồn, vì các ngài đang chờ đợi nơi những người còn sống chúng ta "quà ơn thánh" mà Thiên Chúa sẽ ban cho họ qua các việc lành, qua kinh nguyện và nhất là qua Thánh Lễ chúng ta dâng lên Người, trong sự thông hiệp với công trình cứu chuộc của Ðức Kitô, Con Một Người ! Ðó chính là sự thật được gói ghém trong lối diễn tả đơn sơ và cụ thể của câu chuyện.
----------
(*) Thời trước Công Ðồng Vatican II, vào chiều ngày lễ Các Thánh và ngày lễ Các Ðẳng Linh Hồn, tất cả các xứ đạo đều có truyền thống "Ði Viếng nhà Thờ" để cầu cho các linh hồn, tức : Vào nhà thờ làm dấu thánh giá, đọc một kinh Lạy Cha, ba kinh Kính Mừng và một kinh Sáng Danh. Sau đó lại đi ra khỏi cửa nhà thờ, và lại tiếp tục đi vào nhà thờ đọc các kinh như trước đó, và lại đi ra khỏi cửa nhà thờ, rồi lại đi vào nhà thờ. Và cứ lặp đi lặp lại như thế mãi, tùy theo khả năng và thời gian của mỗi người cho phép. Với sự thâm tín rằng mỗi lần ra-vào nhà thờ đọc kinh như thế sẽ mang lại ân xá cho các linh hôn !

 

AnTáng 118: Hy Sinh Và Cầu Nguyện

Hy Sinh Và Cầu Nguyện AnTáng 118

Cho Các Linh Hồn Trong Lửa Luyện Tội
Sr. Jean Berchmans Minh Nguyệt
 

Chúa nhật 30-11-1919, bà Mechtilde Thaller, nhũ danh Von Schoenwerth, tín hữu Công Giáo Đức AnTáng 118

Chúa nhật 30-11-1919, bà Mechtilde Thaller, nhũ danh Von Schoenwerth, tín hữu Công Giáo Đức, êm ái trút hơi thở cuối cùng, hưởng dương 51 tuổi. Sau khi tắt thở, gương mặt bà biểu lộ niềm hạnh phúc và an bình khôn tả.
Trong số di vật của bà, người ta tìm thấy cuốn ”Nhật Ký” ghi lại các đặc ân bà nhận lãnh. Một trong những đặc ân đó là được tiếp xúc thân mật và thường xuyên với các Thiên Thần, khởi đầu là Thánh Thiên Thần Bản Mệnh của bà. Bà cũng có liên hệ với các Linh Hồn nơi Lửa Luyện Ngục. Bà nhận lệnh cầu nguyện và hy sinh cho các Linh Hồn. Bà viết:
Một buổi tối, Thiên Thần Bản Mệnh hỏi xem tôi có bằng lòng bắt mối giây liên lạc chặt chẽ với các Linh Hồn nơi Lửa Luyện Hình không. Tôi trả lời phải xin phép Cha Linh Hướng trước đã. Thiên Thần nói:
- Được, hãy hỏi ngay đi, càng sớm càng tốt, vì sáng tinh sương ngày Lễ Nến, ta sẽ đến để biết câu trả lời. Từ đây tới đó, Cha Linh Hướng có đến 9 ngày để suy nghĩ. Nhưng nên nhớ rằng: nếu nhận lời, chị phải chịu mất hết niềm vui, ngoại trừ trong lúc cầu nguyện. Rồi chị sẽ phải chịu nhiều nỗi đau đớn đắng cay, nhưng chị không nên than phiền gì hết, trái lại, nên chấp nhận tất cả, giống y như các Linh Hồn trong chốn Luyện Hình. Thánh giá của chị sẽ còn nặng hơn gấp trăm! Hãy suy nghĩ về tất cả điều đó, rồi chọn lựa!
Sau khi Cha Linh Hướng cho phép, tôi thưa vâng với Thánh Thiên Thần Bản Mệnh.
Chiều nay vào lúc 5 giờ, tôi ngồi trước bức ảnh Thánh Tâm Đức Chúa GIÊSU và cầu nguyện cho các Linh Hồn, bỗng chốc tôi thấy Thiên Thần Bản Mệnh đứng cạnh tôi. Bằng giọng hối hả ngài nói:
- Hãy chuẩn bị và đừng sợ hãi gì cả!
Có tiếng gõ cửa, tôi lo lắng trả lời:
- Mời vào!
Cha Phó quá cố bước vào phòng. Dáng điệu ngài trông thật thảm thương và tiều tụy. Bằng một giọng yếu ớt, ngài nói:
- Mãi đến hôm nay tôi mới tới được nhà chị. Tôi sung sướng không tả xiết. Mọi người đều quên tôi, ngoại trừ chị. Vì lòng mến Chúa, xin chị nói với Cha Sở đừng quên hẳn tôi. Mỗi ngày tôi đều mong chờ lời cầu nguyện của Cha Sở, và ngài bắt đầu quên tôi. Phần tôi tôi luôn tha thiết cầu nguyện cho ngài. Nhưng giờ đây, hoàn cảnh chắc hẳn sẽ khả quan hơn, vì tôi có thể đích thân đến nhà ngài!
Tôi liền hỏi Cha Phó còn phải chịu đau khổ lâu không, bởi vì người ta đã xin không biết bao nhiêu Thánh Lễ cầu nguyện cho Cha rồi mà! Cha vừa khóc nức nở vừa trả lời:
- Trong tất cả Thánh Lễ này, tôi chỉ nhận được một. Bởi vì, khi còn sống, tôi đã cử hành Thánh Lễ vào những giờ giấc thất thường, khiến nhiều người không tham dự được, vì không biết giờ nào. Và THIÊN CHÚA Công Minh giữ lại tất cả các Thánh Lễ dâng cầu cho Linh Hồn tôi, cho đến khi nào những người hụt tham dự Thánh Lễ ngoài ý muốn, được đền bù cân xứng!
Tôi hỏi Cha Phó quá cố xem tôi phải giúp ngài bằng cách nào. Ngài trả lời:
- Bằng sự kiên nhẫn và lời cầu nguyện!
Tôi hứa với Cha tôi sẽ chịu đau khổ cho ngài ngay đêm nay và sẽ cầu nguyện cho đến khi nào ngài được giải thoát khỏi Lửa Luyện Ngục. Tôi cũng hỏi Cha nước mắt Cha đổ ra tràn trề có thoa dịu phần nào nỗi khổ phải chịu không, Cha đáp:
- Có, có chứ, bởi vì những giọt nước mắt này thanh luyện Linh Hồn tôi. Có điều nó làm tôi đau lắm. Tất cả đau khổ trên toàn thế giới, gọp chung lại, từ tạo thiên lập địa cho đến tận thế, cũng không là gì, nếu đem so sánh với một giây phút chịu khổ trong Lửa Luyện Tội!
Tôi liền chào từ biệt Linh Hồn tội nghiệp đáng thương.
Thật là đẹp đẽ và cảm động biết bao khi thấy vị Thiên Thần Bản Mệnh của tôi cung kính tháp tùng Linh Hồn vị Linh Mục quá cố ra tới cửa. Linh hồn biến đi và Thiên Thần Bản Mệnh trở lại với tôi. Cả hai chúng tôi cùng cầu nguyện thật sốt sắng.
Khi Linh Hồn Cha Phó được rước vào Thiên Đàng, tôi thấy một Phụ Nữ cao lớn đẹp đẽ bước vào trước. Bà giơ cao một hộp bằng ngà và mở ra. Một làn mưa nhẹ, những giọt sương óng ánh tuyệt đẹp, nức mùi thơm ngào ngạt, tuôn đổ trên đầu vị Linh Mục. Gương mặt ngài rạng rỡ vui tươi. Trong giây phút cực kỳ vui sướng, ngài giang hai tay ra. Người phụ nữ lộng lẫy lại quỳ xuống và xỏ vào chân vị Linh Mục đôi giày óng ánh như vàng. Tôi liền hỏi:
- Bà là ai?
Bà đáp:
- Ta là Bà Chúa Nhân Từ! Vị Linh Mục này là một trong những kẻ luôn bước theo vết chân ta. Chính vì thế ta xức cho ngài dầu thơm hoan lạc và đưa ngài vào hưởng phúc trường sinh. Suốt cuộc đời trần thế, vị Linh Mục luôn thực thi ”đức từ bi”. Do đó, ngày hôm nay, chính ta là ”Bà Chúa Nhân Từ”, ta đến gặp vị Linh Mục nơi cửa Thiên Đàng!
(Frédéric de Lama, ”LES ANGES”, Editions Christiana, 1987, trang 76-78).

 

AnTáng 119: ĐGH nói rằng “Người Kitô hữu không nên sợ chết”

ĐGH nói rằng “Người Kitô hữu không nên sợ chết” AnTáng 119

Lm. Trần Công Nghị - Vietcatholic.net
VietCatholic News (02/11/2005) Vatican - Vào hôm Lễ Các Thánh trong cuộc gặp gỡ với các tín hữu, ĐGH Benedictô XVI đã nói rằng: “người Kitô hữu không nên sợ cái chết”.
 

Khi nói về truyền thống cầu nguyện cho các người thân nhân đã qua đời, đặc biệt trong tháng 11 kính AnTáng 119

Khi nói về truyền thống cầu nguyện cho các người thân nhân đã qua đời, đặc biệt trong tháng 11 kính nhớ các linh hồn, ĐGH nhận định rằng việc thực hành cầu nguyện cho các linh hồn cho chúng ta cơ hội tưởng niệm đến cái chết, biết chắc rằng tất yếu nó sẽ đến, và học biết cách đương đầu vvới sự kiện này trong tinh thần lắng đọng và tin tưởng vào Chúa”.
Ngài nói thêm: “Tôi hợp ý trong tinh thần với những ai đang đi tới các nghĩa trang để cầu nguey65n cho người quá cố”. Ngài cũng cho biết trong ngày, Ngài sẽ xuống hầm mộ đền Vatican để viếng mồ của các đáng Tiền Nhiệm, đặc biệt đức cố Giáo Hoàng John Paul II.
Ngày hôm nay có từng hàng khách hành hương đã xếp hàng dài chờ vào viếng mộ các vị Giáo Hoàng, nhất là ĐGH John Paul II. Có rất đông các nhóm hành hương người Ba Lan. Vì hôm nay là cũng là ngày mà Đức John Paul II kỉ niệm chịu chức linh mục cùng ngày vào năm 1946 trước đây.

 

AnTáng 120: LỄ CÁC ĐẲNG LINH HỒN

LỄ CÁC ĐẲNG LINH HỒN AnTáng 120

Rev. Anthony Nguyễn Tin, SDD
 

Cứ mỗi độ tháng các linh hồn tôi lại nhớ đến câu chuyện “xin lễ” cười ra nước mắt của một linh AnTáng 120

Cứ mỗi độ tháng các linh hồn tôi lại nhớ đến câu chuyện “xin lễ” cười ra nước mắt của một linh mục kể lại năm nao. Câu chuyện kể về một bà góa nghèo ở một giáo xứ nọ, một hôm bà lão chống gậy khập khiễng đến gặp cha chánh xứ để xin lễ. Bước vào văn phòng giáo xứ, bà cụ mở lời: Xin cha cho con “xin lễ đời đời.”
Vừa nghe hết câu, cha xứ trợn mắt nhìn bà cụ đang đứng trước mặt mình, ăn mặc sơ sài, dáng dấp già yếu làm cha xứ thoạt nhớ đến hình ảnh bà góa nghèo ở trong Tin Mừng của Thánh Mácô, có điều bà cụ này không đến với vài đồng xu, mà trên tay cầm cả một phong thư dầy cộm và chắc có lẽ đây cũng là cả gia tài mà bà cụ gom góp được bấy lâu nay.
Sau một thoáng xúc động, cha chánh xứ hỏi: “Cụ à, cụ xin lễ đời đời là ý gì vậy?”
Bà cụ thật thà trả lời: “Là khi nào con qua đời, cha làm lễ cho con, bây giờ xin cha giữ tiền trước giùm con”
Cha xứ cũng thành thật nói: “Sao vậy cụ! Cụ có dư giả gì đâu, xin cụ cứ mang tiền về đi để lo mua thức ăn, thuốc men bổ dưỡng cho cụ.”
Bà cụ mở mắt tròn xoe, và nói: “Thế còn lễ cho con?”.
Cha xứ lại phải cố gắng để trấn an bà: “Lo gì bà! Con cháu sẽ lo cho bà. Bà yên tâm đi.” Bà cụ vẫn cố nài nỉ: “Nhưng lỡ nếu con cháu không lo xin lễ cho con thì thật là khốn khổ cho thân con.”
Lần này cha xứ phải giải thích cặn kẽ hơn: “Bà yên tâm, nếu nhỡ con cháu có quên thì còn có Chúa. Chúa là Cha của chúng ta mà. Nếu con cháu có quên bà cụ thì Chúa sẽ không quên bà đâu. Không ai thương bà bằng Chúa. Chúa thương lo cho bà còn hơn cả bà lo cho chính mình nữa đó. Chúa đã nói rồi mà: có bà mẹ nào nỡ lòng bỏ rơi con mình đã cưu mang đâu, nhưng giả như có bà mẹ nào như thế thì Chúa cũng không bao giờ bỏ rơi bà đâu.”
Bà cụ mở mắt tròn xoe, tay nắm chặt, gật gật đầu như bắt đầu thấm ý.
Cha quản xứ nói tiếp: “Bà cứ nghe tôi đi, bà cụ cầm cái gói tiền này đem về đi. Nhớ để cho Chúa lo. Tôi cũng không bảo đảm đâu. Nếu lỡ tôi cũng quên, cũng sơ sót thì sao? Chỉ có Chúa thương bà cụ là bảo đảm nhất thôi.”
Bà cụ đứng tần ngần một hồi lâu rồi mới chịu cầm lại gói tiền, không quên cám ơn cha rồi ra về. Cha chánh xứ nhìn theo dáng đi tiều tụy của bà cụ mà thấy thương, chợt nghĩ trong lòng: “Không khéo bà cụ lại đem gói tiền tới một nhà thờ khác để “xin lễ đời đời” thì thật là thương cho bà cụ.”
Nghĩ đến cái chết của mình, lắm lúc chúng ta chỉ nghĩ đến Luyện Ngục mà vì thế chúng ta thường quên đi Thiên Chúa là Cha giàu lòng thương xót. Chúng ta thường biến Thiên Chúa thành ông chủ nợ khắt khe lo đòi cho tới đồng xu cuối cùng mới chịu buông tha cho con nợ của mình. Vì thế, thay vì sống phó thác trong vòng tay yêu thương của Thiên Chúa thì lại tính toán, muốn sòng phẳng, đôi khi ỷ lại vào chính mình và tìm những bảo đảm cho đời sau của mình nơi chính những khả năng của mình từ những việc lành phúc đức, cho đến việc đầu tư xin lễ v.v và v.v.
Thánh Teresa đã nói “Luyện Ngục là nơi của tình yêu” và Ngài bảo “Nếu tôi vào luyện ngục tôi rất bằng lòng. Tôi sẽ làm như 3 trẻ Do Thái ở trong lò lửa, tôi vừa đi dạo trong lửa cháy vừa hát thánh ca của tình yêu.” Nếu hiểu luyện ngục là nơi “thanh luyện của tình yêu”, là nơi để con cái Thiên Chúa cởi bỏ hết những gì là tham lam bất chính, những gì là tội lỗi trần tục còn xót lại trước khi nhắm mắt lìa đời để mặc lấy áo vinh quang trong ngày ra trình diện Thiên Chúa là Cha yêu thương là Đấng tốt lành thì chúng ta có lý do để hy vọng rằng Thiên Chúa hằng yêu thương chúng và “muôn ngàn đời Chúa vẫn trọn tình thương” cho dù chúng ta ở nơi dương thế hay ở trong chốn luyện hình.
Vì thế, lòng tin của chúng ta đối với Thiên Chúa và lòng tin thương nhớ những người đã ra đi trước chúng ta phải là lòng tin yêu cảm tạ và hy vọng. Nói như lời Thánh Phaolô tông đồ, chúng ta không được buồn sầu như những người không có đức tin, những kẻ không có hy vọng. Bởi vì nếu chúng ta chết là chết trong Đức Kitô, là “Được an nghỉ trong Đức Kitô” và trước sau gì “Thiên Chúa cũng đem họ đi làm một với Ngài” (1 Tx 4:13). Chính niềm tin này mang đến cho ta niềm hy vọng rằng cho dù những người thân yêu quá cố của chúng ta còn hay hết thời gian thanh luyện nơi chốn luyện hình thì họ cũng đã thuộc về Đức Kitô, và họ chỉ có một con đường để đi về: đó là con đường về cùng Thiên Chúa là Cha yêu thương của họ và của tất cả chúng ta.
Bởi vậy, lòng thương nhớ của chúng ta phải dẫn đưa chúng ta đến những việc làm cụ thể để tỏ lòng quan tâm và cũng để tỏ lòng bác ái đối với những người đã khuất. Thánh Teresa Thành Avila đã nói: “Không có việc bác ái nào lớn hơn việc bác ái dành cho những người đã chết.” Và không có lời cầu nguyện nào tha thiết và cao quí hơn cho bằng lời cầu nguyện chúng ta dâng lên Thiên Chúa Cha nhờ Đức Giêsu Kitô, qua hy tế Thập Giá của Ngài được tái diễn trên bàn thờ mỗi ngày. Qua Thánh Lễ và Thánh Thể chúng ta được liên kết với Chúa Kitô, và được hiệp thông với nhau, những người còn sống cũng như những kẻ đã qua đời nhờ mầu nhiệm các thánh cùng thông công, qua đó chúng ta chia sẻ cho nhau những ân huệ trong kho tàng Ân Sủng của Hội Thánh.

Đức cố Giáo Hoàng Phaolô VI đã viết:
“Người Kitô hữu không đơn độc khi cố gắng tinh luyện mình khỏi tội lỗi và thánh hóa mình nhờ ơn Thiên Chúa.” Cuộc sống của mỗi con cái Thiên Chúa được nối kết một cách kỳ diệu, trong Đức Kitô và nhờ Đức Kitô, với cuộc sống của tất cả các anh em Kitô hữu khác, trong sự duy nhất siêu nhiên của Thân Mình mầu nhiệm Chúa Kitô ...” Vì vậy trong sự hiệp thông của các Thánh, “có một mối liên kết yêu mến và một cuộc trao đổi dồi dào mọi ơn ích giữa chư vị đang hưởng phúc quê trời , những kẻ đã được nhận vào chốn luyện tội và những người còn đang tiếp bước hành trình trần gian...” (Phaolô VI, Tông Huấn Indulgentiarum doctrina, 5)
Trong cuộc trao đổi kỳ diệu này, “mọi người được hưởng nhờ sự thánh thiện của nhau còn hơn là bị thiệt thòi vì tội lụy của nhau. Như vậy, sự hiệp thông của Dân Thánh giúp cho hối nhân được thanh luyện nhanh chóng và hữu hiệu hơn.” (GLGHCG, 1475)
Nhớ đến những người đã ra đi trước chúng ta, những kẻ đã an giấc trong Đức Kitô cũng là dịp để nhắc nhở chúng ta, những người đang sống rằng hễ những ai tin vào Đức Kitô, những ai trung thành với Ngài thì Ngài sẽ không bỏ rơi bao giờ. Vậy thì đối với chúng ta, những người đang sống, những người mang trong mình niềm tin và niềm hy vọng vào Chúa Kitô Phục Sinh, chúng ta hãy sống trung thành với Chúa với hết lòng yêu mến của mình để khi giờ chết đến, cho dù chúng ta không biết thế giới bên kia ra sao, chúng ta vẫn có thể vui vẻ nhắm mắt xuôi tay, phó thác mọi sự cho chúa, và với tất cả niềm tin yêu trông cậy chúng ta yên hàn ra đi trong Chúa. Ước gì giờ phút chúng ta nhắm mắt lìa đời cũng là giây phút chúng ta nghe được lời Chúa nói với chúng ta như Người đã nói với người trộm lành trên Thánh Giá: “Quả thật, Ta bảo ngươi: hôm nay ngươi sẽ ở trên Thiên Đàng với Ta.” (Lc. 23,43)

 

AnTáng 121 : Luyện Tội: Lửa Thanh Luyện

Luyện Tội: Lửa Thanh Luyện AnTáng 121 

Ðể sự chân thật của đức tin của anh em,
quý giá hơn vàng ròng dầu là vật chóng qua được thử trong lửa...
1 Phêrô 1:7

 

Một giáo huấn của Hội Thánh thường bị hiểu lầm là Luyện Ngục. Luyện ngục không phải là AnTáng 121

Một giáo huấn của Hội Thánh thường bị hiểu lầm là Luyện Ngục. Luyện ngục không phải là dịp thứ hai cho những linh hồn đã bị luận phạt trong Hỏa Ngục ăn năn trở lại.  Nhưng là tình trạng gội rửa và thanh tẩy cho những linh hồn đang đi về Thiên Ðàng. Luyện Ngục cũng không phải là phương thế lập công để được vào Thiên Ðàng, nhưng là một món quà của Thiên Chúa để sửa soạn cho chúng ta được hưởng Thánh Nhan Ngài. Mặc dấu không trực tiếp nói đến tên, Kinh Thánh ám chỉ nó, nhất là bằng chữ lửa thanh luyện.
Chữ Luyện Ngục liên quan đến động từ - luyện - có nghĩa là làm cho tinh tuyền (như luyện kim). Theo Giáo Lý Công Giáo:
Tất cả những người chết trong ân sủng và tình bằng hữu với Thiên Chúa, nhưng chưa được thanh luyện hoàn hảo, thì đương nhiên là chắc chắn được rỗi; nhưng sau khi chết họ phải được tẩy luyện để đạt được mức thánh thiện cần thiết để vào Thiên Ðàng. Hội Thánh đặt tên Luyện Ngục cho sự thanh tẩy sau cùng này của những người đã được tuyển chọn, nó hoàn toàn khác với sự trừng phạt của những người bị luận phạt. [GLCG 1030-1031].
Chỉ những linh hồn đã được cứu độ - những người chết trong tình bằng hữu với Thiên Chúa - mới có thể đi qua Luyện Ngục mà lên Thiên Ðàng. Ðể hiểu rõ hơn về Luyện Ngục dưới ánh sáng của sự tự hiến và cứu độ của Ðức Kitô, chúng ta trước tiên phải lưu ý đến hậu quả của tội lỗi.
Nhờ Phép Rửa và đức tin (Mc 16:16), chúng ta trở nên bạn hữu Thiên Chúa và nhận được ơn thánh hóa - đặc ân sống đời đời. Tất cả có được là nhờ sự cứu chuộc chúng ta của Ðức Kitô. Tiếc thay những tội trọng giết chết sự liên hệ của chúng ta với Thiên Chúa. Bằng cách cố tình phạm tội trọng, chúng ta chối bỏ Thiên Chúa, và chúng ta mất ơn thánh hóa này (Tim 1:16).  Sự hiến thân của Ðức Kitô trên Thánh Giá vẫn còn có thể chuộc lại tình bằng hữu của chúng ta với Thiên Chúa; tuy nhiên, chúng ta phải ăn năn hối cải và tìm đến ơn tha thứ của Thiên Chúa qua Bí Tích Hòa giải (Xưng tội). Nếu chúng ta không ăn năn hối cải và chết trong tình trạng không có ân sủng, thì chúng ta mất sự sống đời đời. Sự mất mát này là bị trầm luân đời đời hay hỏa ngục (Mat 25:46). Hỏa Ngục không phải là sự trừng phạt của một THiên Chúa có tính thù hận, nhưng là hậu quả tự nhiên của việc chối từ Thiên Chúa - là nguồn vui và sự sống. Sự cứu chuộc chúng ta không can thiệp vào ý chí tự do của chúng ta; chúng ta vẫn có thể chối bỏ Chúa qua tội trọng (DT 10:26-27).
Không phải tất cả các tội đều là tội trọng (1 Gioan 5:17). Có những tội không đủ nặng để cắt đứt tình bằng hữu với Thiên Chúa, nhưng vẫn nguy hại. Tình trạng bẩn thỉu gây ra bởi tội lỗi cần phải được sửa đổi.  Sự sửa đổi này là hình phạt tạm thời (DT 12:5-11).  Chúng ta có thể được sửa đổi và tẩy rửa qua việc ăn năn hối cải ở đời này hoặc sau này trong Luyện Ngục - nhờ ơn Cứu Chúa của chúng ta là Ðức Giêsu Kitô.
Chúa Giêsu nói về việc sửa đổi này trong Tin Mừng và gián tiếp nói đến Luyện Ngục ở cuối dụ ngôn cùa Người về sự tha thứ:
Trong khi giận dữ, chủ trao anh cho các lính canh tù, cho đến khi anh ta trả hết nợ.  Ta ở trên trời cũng đối xử với các người như vậy, nếu các người không thực tâm tha thứ cho anh em các người. [Mat 18:34-35].
Ðoạn này không nói gì đến việc Thiên Chúa trừng phạt những người phạm trọng tội, nhưng những người phạm tội thiếu lòng tha thứ cho người khác. Và hình phạt nói ở đây không phải là hình phạt đời đời như trong hỏa ngục (Mc 9:47-48) mà chỉ là hình phạt tạm thời - "cho đến khi trả hết nợ".
Luyện Ngục là tình trạng tạm thời dành cho các linh hồn vẫn còn duy trì tình nghĩa với Thiên Chúa, nhưng cần được thanh tẩy cho sạch các hậu quả xấu, các sự bẩn thỉu và dính líu còn lại từ các tội trọng đã được tha và các tội nhẹ.  Những linh hồn còn bị dính bợn nhơ này, mặc dầu được rỗi, nhưng không được vào Thiên Ðàng ngay, như Kinh Thánh nói: "Không có gì nhơ bẩn được vào (thiên đàng)..." [KH 21:27]. Các linh hồn này cần được thanh luyện khỏi tất cà mọi "vết nhơ", dầu rất nhỏ trước khi được đối diện với Thiên Chúa (KH 22:3-5).  Tất cả các linh hồn nơi Luyện Ngục cuối cùng sẽ được lên Thiên Ðàng.
Thánh Phaolô ám chỉ điều này bằng lửa trong Thư gửi Tín Hữu Côrinthô:
Nếu ai dùng vàng, bạc, đá quý, gỗ, cỏ, rơm mà xây trên nền đó. Công việc của mỗi người sẽ được lộ ra ánh sáng. Vì Ngày đó sẽ vạch trần công việc ấy, vì nó sẽ tỏ ra bằng lửa, và lửa này sẽ thử xem công trình của mỗi người đã lám ra sao. Nếu công trình của ai đã xây dựng  tồn tại trên nền, thì người ấy sẽ được lĩnh thưởng. Còn công trình của ai bị thiêu huỷ, thì người ấy sẽ bị thiệt thòi. Tuy vậy chính người ấy sẽ được cứu, nhưng chỉ như thể qua lửa. [1 Cor 3:12-15].
Công việc chúng ta xây dựng trên Ðức Kitô sẽ bị thử thách.  Công trình thấp kém - "gỗ, cỏ, và rơm" - sẽ bị thanh lọc bằng "lửa", trong khi chỉ có "vàng, bạc và đá quý" sẽ còn xót lại để vào Thiên Ðàng. Câu "thì người ấy sẽ bị thiệt thòi" ám chỉ sự khó và hình phạt tạm thời, mặc dầu người đó được cứu chuộc. Thánh Phêrô trong Thư của ngài cũng nhắc nhở chúng ta rằng đức tin chân chính của chúng ta "bị thử bằng lửa" [1 Phr 1:7].
Có những Kitô hữu không công nhận tín điều về Luyện Ngục và chưng ra người trộm lành hối cải trong Tin Mừng:
Và anh ta nói, "Thưa ông Giêsu, xin nhớ đến tôi khi ông vào cầm quyền trong vương quốc của ông". Và Chuá Giêsu nói cùng anh, "Thật, Tôi bảo thật với anh anh sẽ ở  trong Ðịa Ðàng với Tôi hôm nay" [Lc 23:42-43].
Theo họ, vì Chúa Giêsu hứa với người có tội ăn năn trở lại đặc biệt này được ở "Ðịa Ðàng" với Người ngay hôm đó, nên như vậy thông thường không cần có Luyện Ngục. Lý luận này có vài khiếm khuyết. Trước hết, Ðức Kitô có thể ban cho hối nhân đặc biệt này điều mà Hội Thánh gọi là "Ơn Ðại Xá" - việc tha hết các hình phạt tạm thời gây ra bởi các tội đã được tha. Ðiều thứ hai là Ðức Kitô có thể biết rằng những đau đớn người trộm lành chịu trên thập giá là việc đền tội cá nhân đủ để thanh luyện linh hồn anh. Tuy nhiên, một điểm đáng lưu ý là Chúa Giêsu sau khi chết đã không về Thiên Ðàng ngay.  Theo Thư Thánh Phêrô:
Vì Ðức Kitô cũng đã chết vì tội chúng ta... chết về thể xác nhưng được sống lại nhờ Thần Khí; Người đã đến và rao giảng cho các linh hồn bị giam cầm, là những linh hồn xưa đã không vâng lời... [1 Phr 3:18-20].
Ngay sau khi chết, Chúa Giêsu "đã đến và rao giảng cho các linh hồn bị giam cầm".  Nhà tù này chắc chắn không phải là Thiên Ðàng, cũng không phải là Hỏa Ngục vì các linh hồn trong Hỏa Nhục không có được ích lợi gì nhờ việc Chúa Giêsu giảng cả. Ðó phải là tình trạn g thứ ba. Ðương nhiên là người trộm hối cải đi cùng Chúa Giêsu ngay ngày hôm đó.  So sánh với Hỏa Ngục thì Luyện Ngục có thể được diễn tả thật như Ðịa Ðàng.
Lại có người cho là không có Luyện Tội vì Máu Ðức Kitô "rửa chúng ta sạch mọi tội" [1 Ga 1:7].  Ðiều này đúng, nhưng việc sự hiến thân chuộc tội cùa Chúa được áp dụng cách khác nhau, như qua Bí Tích Rửa Tội, Hòa Giải, cầu nguyện... Một cách khác là Luyện Ngục. Xà bông và nước có thể đủ để rửa mình tôi; nhưng tôi có thể dúng chúng cách khác nhau: tắm ngồi, kỳ cọ bằng bọt biển, hay xối nước.
Hội Thánh khuyến khích chúng ta cầu nguyện cho những người đã qua đời vì có thể họ còn ở trong luyện ngục và cần chúng ta cầu nguyện.  Cầu nguyện cho người chết hợp với Kinh Thánh. Theo sách Maccabê trong quy điển Cựu Ước của Công Giáo và Chính Thống, ông Giuđa Maccabê quyên tiền để dâng lễ đền tội cho những người chết ngoài mặt trận:
Vì nếu ông không hy vọng rằng những người đã ngã xuống sẽ sống lại, thì thật là dư thừa và ngu xuẩnkhi cầu nguyện cho người chết... Vì vậy nên ông tế lễ  đền tội cho những người đã chết, để họ được giải thoát khỏi tội lỗi của họ [2 Mac 12:44-46].
Thánh Phaolô cũng dâng một lời cầu nguyện ngắn cho Onesiphorus và gia đình ông:
Nguyện xin Chúa thương xót gia đình của Onesiphorus... xin Chúa cho anh ta được tìm thấy lòng thương xót của Chúa trong Ngày ấy... [2 Tim 1:16,18].
Dầu chết hay còn sống, Thánh Phaolô cầu nguyện cùng Thiên Chúa cho ông ta (1 Tim 2:1-5).
Trong Kinh Thánh Thánh Phaolô viết về lửa thanh luyện sẽ thanh luyện công trình của chúng ta "trong Ngày đó".  Thánh Phêrô nhắc chúng ta rằng đức tin của chúng ta sẽ được thanh luyện và thử bằng lửa. Ở các chỗ khác trong Kinh Thánh, tác động của Chúa Thánh Thần được diễn tả như lửa. "Người sẽ rửa tội anh em bằng Thánh Thần và bắng lửa". [Lc 3:16]. Theo Thánh Gioan Thánh Giá, một nhà thần bí Tây Ban Nha, lửa Luyện Tội là Tình Yêu Thiên Chúa thanh luyện linh hồn chúng ta để sửa soạn cho chúng ta hưởng Thánh Nhan Chúa - là việc kết hợp với Thiên Chúa trên Thiên Ðàng (KH 22:3-5). "Vì quả thật Thiên Chúa của chúng ta là một ngọn lửa thiêu" [DT 12:29].
Phaolô Phạm Xuân Khôi dịch theo bài Purgatory: The Purifying Fire trên website A Catholic Reponse.

 

AnTáng 122 : NHÂN THÁNG CÁC LINH HỒN

NHÂN THÁNG CÁC LINH HỒN AnTáng 122 

Lm Nguyễn Hồng Giáo, dòng Phanxicô
 

Nhân tháng các linh hồn, tôi suy nghĩ: thế nào là cuộc đời thành tựu? Những câu hỏi hệ trọng AnTáng 122 

Nhân tháng các linh hồn, tôi suy nghĩ: thế nào là cuộc đời thành tựu?
Những câu hỏi hệ trọng
Nhờ khoa hoc kỹ thuật, con người hiện đại được cung cấp dồi dào những phương tiện tối tân đề làm việc và những tiện nghi đủ loại để thụ hưởng. Dĩ nhiên, chưa phải mọi người hay mọi nhóm người đều đã  được như thế, nhưng đó vẫn là điều mà chung chung ai cũng hướng tới và hy vọng sẽ đạt được. Những khám phá kỳ diệu của khoa học kỹ thuật đã thay đổi cuộc sống và cả cách suy nghĩ của con người hiện đại một cách sâu xa. Bây giờ, một cách chung, trong các nước phát triển và cả trong những nước đang phát triển, người ta xa dần với những bận tâm tâm linh, tôn giáo hay những bận tâm về ý nghĩa cao cả của cuộc đời. Cuộc sống thực tế, cuộc sống vật chất hiện có hoặc những gì cuộc sống ấy đang hứa hẹn -một thiên đàng ở trần gian- đã đủ cho họ rồi. Ngoài ra, con người hiện đại có ý thức mãnh liệt về tài năng, về quyền lực của mình. Họ cảm nghĩ rằng mình muốn gì cũng được, làm gì cũng được, -chưa được bây giờ thì sẽ được trong một tương lai gần hay xa. Không ít người tưởng mình là “ông Trời”, không còn ai trên mình nữa, không phải “chịu lụy” ai nữa.
Nhưng thực tế cho thấy con người bao giờ cũng chỉ là con người mà thôi. Họ vẫn mong manh trước thiên nhiên; những trận thiên tai như động đất, sóng thần, bão lụt không hề giảm mà trái lại còn xảy ra nhiều hơn, tàn bạo hơn, một phần do chính con người gây nên.Thiên nhiên đặt cho ta những ranh giới phải tôn trọng, nếu không nó sẽ không để cho ta yên ổn, vô sự.Trước những trận lũ lụt hung hãn xảy ra liên tiếp ở miền trung nước ta trong tháng 10 này, báo chí viết rằng thiên nhiên đang trả thù. Một số bệnh tật ngày xưa hoành hành nay đã được khống chế hay tiêu diệt, nhưng rồi lại xuất hiện những thứ bệnh nguy hiểm và nan y hơn. Ngay này, ta có thể đi lại bằng xe máy, xe hơi, tàu lửa, máy bay, nhưng song song với những phương tiện hiện đại ấy số người chết do tai nạn giao thông càng gia tăng…
Và cuối cùng, dù văn minh đến dâu, con người vẫn không thắng nổi cái chết bằng sức mạnh của khoa học kỹ thuật. Giàu nghèo sang hèn, trí thức hay bình dân, văn minh hay lạc hậu …, ai ai rồi cũng pải chết. Đứng trước cái chết, mọi người đều bình đẳng.
Cho nên thời đại ta cũng như mọi thời đại, con người vẫn không tránh khỏi những câu hỏi: Thế thì sống để làm gì? Cuộc đời có ý nghĩa gì không? Phải sống như thế nào mới nói được là cuộc đời đáng giá, cuộc đời thành tựu? Có cái gì bên kia cái chết không? Sớm muộn, chỉ cần quay về mình và sống có chút chiều sâu thì người ta sẽ nghĩ tới những vấn đề trọng đại này.
Câu trả lời của Kitô giáo
Tất cả các tôn giáo bằng cách này hay cách khác, đều nhằm trả lời những vấn nạn như thế. Câu trả lời của Kitô giáo có lẽ là rõ ràng nhất, cụ thể nhất. Câu trả lời đó là chính Chúa Giêsu Kitô, Đấng là Thiên Chúa đã làm người chia sẻ kiếp người của chúng ta và đã chịu nạn chịu chết rồi phục sinh để cứu độ chúng ta, đem đến cho ta sự sống trường sinh sung mãn.
Bài tường thuật của thánh Gio-an về phép lạ Chúa làm cho anh La-da-rô sống lại mà phụng vụ thường trích đọc trong lễ an táng, là một minh họa tuyệt vời cho giáo lý này. Câu truyện diễn ra theo 5 hồi:
- Hồi 1.Khi Chúa Giêsu đến làng Bê-ta-ni-a  thì La-da-rô đã chết và được chôn cất bốn ngày rồi. Vừa được tin Chúa đến, cô Mác-ta ra đón Người. Cô nói với Chúa Giêsu: “Thưa Thầy, nếu có Thầy ở đây, em con đã không chết …” Nhưng bây giờ thì La-da-rô đã chết. Anh phải chết theo lẽ thường tình vì đó là số phận của mọi con người. Số phận mà chính Người cùng chia sẽ. Lát nữa, khi đi ra mộ La-da-rô, thấy cảnh người ta khóc, Người cũng “thổn thức trong lòng và xao xuyến”.
- Hồi 2. Nhưng Chúa Giêsu nói với Mác-ta: “Em chị sẽ sống lại!” Một khẳng định mạnh mẽ.
- Hồi 3. Lý do tại sao, hay bằng cách nào? Thì đây: “Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Thầy thì dù đã chết, cũng sẽ được sống. Ai sống và tin vào Thầy, sẽ không bao giờ phải chết.Chị có tin thế không?”
- Hồi 4. Cô Mác-ta tuyên xưng lòng tin. Đó là điều kiện Chúa đòi hỏi. Cô nói: “Thưa Thầy, có. Con vẫn tin Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa, Đấng phải đến thế gian”.
- Hồi 5. Phép lạ chứng thực lời Chúa phán là thật. Chúa Giêsu tiến đến ngôi mộ, cầu nguyện rồi kêu lớn tiếng: “ Anh La-da-rô, hãy ra khỏi mồ!” Và “người chết liền ra, tay chân còn quấn vải,và mặt còn phủ khăn…”
Phép lạ này báo trước sự phục sinh của chính Chúa Kitô trong một thời gian không còn xa. Và theo lời Người dạy, dù ai nấy đều phải chết, nhưng nếu ta tin vào Người, nếu ta đặt trọn niềm trông cậy vào Người, ta cũng sẽ được chia sẽ sự sống vinh quang bất diệt của Người. La-da-rô chỉ được hồi sinh một ít năm rồi lại chết. Nhưng cuộc hồi sinh của anh cũng loan báo sự sống lại của chúng ta trong quyền năng phục sinh của Chúa Kitô trong Nước Trời mai sau. Cuộc sống hiện tại phải hướng về và chuẩn bị cho Ngày đó.
Nhưng phải sống cuộc đời hiện tại như thế nào?
Người Kitô hữu sống cuộc đời mình ở thế gian này như xây một ngôi nhà. Mỗi người xây một cách, theo mẫu nhà mình muốn. Các vật liệu xây dựng cũng có thể khác nhau,- bằng gỗ, bằng đá, bằng sắt thép, kể cả “vàng, bạc, đá quý”, không loại trừ “cỏ và rơm” (x. 1 Cr 3:12). Nhưng thánh Phao-lô quả quyết, nền móng thì chỉ có một mà thôi, đó là Chúa Giêsu Kitô. Trong ngày phán xét, ngôi nhà mỗi người sẽ được nghiệm thu cũng bởi Chúa Kitô. Tất cả những gì chúng ta xây dựng sẽ được đem ra thử lửa, “công việc ai xây dựng trên nền (là Chúa Kitô), thì người ấy sẽ được thưởng; còn công việc của ai bị thiêu hủy, thì người ấy sẽ phải thiệt” ( 1Cr 3:14-15).
Hỏi: có cái gì không thể bị lửa thiêu hủy chăng? Có, đó là bác ái, là những công việc bác ái lớn nhỏ của ta. “Hiện nay đức tin, đức cậy, đức mến, cả ba đều tồn tại, nhưng cao trọng hơn cả là đức mến” (1Cr 13:13), và “đức mến không bao giờ mất được” (1 Cr 13:8), trong lúc tin và cậy sẽ không còn trong nước thiên đàng vì lúc đó nó không cần nữa. Đến ngày phán xét chung, Chúa Giêsu sẽ chỉ hỏi ta về cách ta thực hiện lòng bác ái yêu thương mà thôi (x. Mt 25:31-46).
Kết
Lòng bác ái, tình yêu dâng hiến và phục vụ là giá trị cao cả nhất trong thang giá trị của Kitô giáo, nó tiêu biểu cho Kitô giáo. Chúa Giêsu đã thể hiện tình yêu ấy tới mức cao cả nhất có thể có. Người ta thường gọi Đức Kitô là con-người-cho-kẻ -khác. Nhưng không được quên, sở dĩ Người làm được như thế là nhờ Người sống trọn tình con thảo với Chúa Cha. Cuộc đời mỗi người chúng ta cũng sẽ được đánh giá chung cuộc theo mẫu mực tình yêu này.

 

AnTáng 123 : ĐGH nhấn mạnh sự cần thiết cầu nguyện

ĐGH nhấn mạnh sự cần thiết cầu nguyện AnTáng 123 

cho các linh hồn trong Luyện Ngục
Ð.Ô. Nguyễn Quang Sách
Sứ điệp của Đức Gioan Phaolô II gởi các Nữ tu Minim dòng Đức bà Phù hộ
VATICAN CITY (Zenit.org) –
 

Đức Gioan Phaolô II đã viết một sứ điệp để khích lệ sự cầu nguyện cho các linh hồn trong luyện AnTáng 123 

Đức Gioan Phaolô II đã viết một sứ điệp để khích lệ sự cầu nguyện cho các linh hồn trong luyện ngục, nhấn mạnh đến nhu cầu riêng biệt các người đã qua đời.
Sứ điệp giáo hoàng, gởi cho các Nữ tu Minim dòng Đức Bà Phù hộ, đang họp tổng tu nghị tại Rome, nhấn mạnh tới tầm quan trọng của ơn đoàn sủng hội dòng. Ơn đoàn sủng đó hệ tại nhớ sự hiệp thông sâu xa giữa người sống và kẻ chết.
Cách riêng, sứ điệp phổ biến hôm thứ Bảy do Cơ quan báo chí Vatican, nhấn mạnh ""sự phù hộ" các linh hồn trong luyện ngục. "
Đức Giáo hoàng nhận xét: "Hình thức bác ái thứ nhất và cao nhất đối với anh em là lòng muốn nồng nhiệt cho phần rỗi đời đời của họ".
Ðức Thánh Cha nói: "Tình yêu Kitô hữu không biết biên giới và đi quá mức không gian và thời gian, cho chúng ta khả năng yêu thương những kẻ đã lìa bỏ thế gian này".
Sách Giáo lý Giáo hội Công giáo, trong những số 1030 và 1031, nói, một phần: "Những người chết trong ân nghĩa Chúa, nhưng chưa được thanh luyện hoàn toàn, mặc dầu chắc chắn được cứu độ đời đời, còn phải chịu thanh luyện sau khi chết, để đạt được sự thánh thiện cần thiết để vào hưởng phúc Thiên Đàng. Hội thánh gọi việc thanh luyện cuối cùng của những người được chọn là Luyện ngục. "
Đức Thánh Cha cũng thúc giục các tu sĩ làm "những sứ giả không biết mõi mệt và vui tươi của hy vọng cho nhân loại thời đại chúng ta, mà rất thường xem ra sống trong đen tối bởi bạo tàn và bất công, nhốt kín trong những chân trời hoàn toàn thế gian. "
Các Nữ tu Minim dòng Đức bà Phù hộ, được thành lập bởi Chân phước người Ý Francesco Faa di Bruno (1825-1888), có 210 nữ tu và tập sinh khắp thế giới.
Các nữ tu thấy mình có sứ vụ "cầu nguyện" (liên kết với Chúa Kitô); "hành động" (vì người ta, nhất là những kẻ yếu kém, ngheo nàn và bị loại trừ); "chịu đau khổ" (dâng sự sống của mình vì các linh hồn trong luyện ngục)

 

AnTáng 124 : Tháng 11 - THÁNG CÁC LINH HỒN

Tháng 11 - THÁNG CÁC LINH HỒN AnTáng 124

Lm. Anphong Trần Đức Phương
 

Trong Tháng 11 , tháng cuối cùng của Năm Phụng Vụ, Giáo Hội muốn nhắc nhở chúng ta nhớ AnTáng 124 

Trong Tháng 11 , tháng cuối cùng của Năm Phụng Vụ, Giáo Hội muốn nhắc nhở chúng ta nhớ đến những người đã ra đi trước chúng ta. Trong số đó, có những vị đã được thưởng công trên nước trời, đó là các vị “đã nên thánh”, mà chúng ta kính chung vào ngày Lễ CÁC THÁNH (01/11); có những người còn đang được thanh tẩy trong Luyện ngục mà chúng ta cầu nguyện chung cho họ vào ngày Lễ CÁC LINH HỒN (02/11). Tháng 11 cũng thường được gọi là THÁNG CÁC LINH HỒN và là tháng để chúng ta cầu nguyện nhiều cho các linh hồn nơi luyện ngục. Tất nhiên không phải chúng ta chỉ cầu cho các linh hồn quá cố vào tháng 11; nhưng chúng ta vẫn nhớ đến các bậc tổ tiên, ông bà, cha me và bà con thân thuộc, các linh hồn ‘mồ côi’ trong các Thánh Lễ và kinh nguyện hằng ngày ; đặc biệt trong các Ngày Giỗ, ngày các vị đã ra đi khỏi cuộc đời này.
Tháng 11, tháng cuối cùng của Niên Lịch Phụng Vụ, cũng là tháng để chúng ta nhớ đến giờ phút chúng ta sẽ ra khỏi cuộc đời này mà không ai trong chúng ta biết được lúc nào và cách nào. Điều đó không làm cho chúng ta bi quan về cuộc sống. Trái lại trong niềm tin vào Chúa Giêsu Phục sinh và lên trời vinh hiển để mở đường ‘ về trời’ cho chúng ta, chúng ta vẫn luôn vui sống cuộc sống hàng ngày. Tuy nhiên, chúng ta cần luôn sống sẵn sàng đón chờ Chúa đến với chúng ta bất cứ lúc nào (theo tinh thần bài Dụ ngôn “Mười Trinh Nữ” trong Bài Tin Mừng Chúa Nhật ***II (Năm A). Trong khi chờ đợi, chúng ta cần dùng mọi thời giờ và những gì Chúa ban cho chúng ta, tùy theo hoàn cảnh mỗi người, để ‘sinh lời’ là các ‘việc lành phúc đức’ (Theo tinh thần Dụ ngôn “Những Nén Bạc” trong Bài Tin Mừng Chúa Nhật ***III (năm A). Những điều chúng ta cần phải làm hơn cả, đó là giúp đỡ những người nghèo khó, không cơm ăn áo mặc, và nhũng nạn nhân do thiên tai, chiến tranh, khủng bố, và bịnh nhân…(Đó là tinh thần Dụ Ngôn “Cuộc Phán Xét Cuối Cùng” của Bài Tin Mừng Chúa Nhật cuối cùng trong Năm Phụng vụ, Lễ Chúa Kitô là Vua Vũ Trụ (Năm A) :
“Khi Ta đói các con đã cho Ta ăn,
“ khi Ta khát các con đã cho ta uống,
“ khi Ta bịnh hoạn, các con đã đến viếng thăm…
“ Vì khi các con làm như thế cho những người nghèo khó nhất của Ta đây, là các con đã làm cho chính Ta đó…( Xin đọc Mát-Thêu 25,31-46).
Vậy Chúng ta hãy cầu nguyện chung cho nhau , để bao lâu chúng ta còn sống trong cuộc đời này , chúng ta luôn biết sống “khôn ngoan như Năm Cô Trinh Nữ Khôn Ngoan chờ Chàng Rể đến…”

 

AnTáng 125 : Nói thêm về việc xin lễ và cầu nguyện cho các Linh Hồn

Nói thêm về việc xin lễ và cầu nguyện cho các Linh Hồn AnTáng 125

Lm Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn
 

Trong hai bài trước đây, tôi đã có dịp trình bày về tội simonia, về ơn cứu độ, về việc cầu nguyện AnTáng 125 

Trong hai bài trước đây, tôi đã có dịp trình bày về tội simonia, về ơn cứu độ, về việc cầu nguyện cho các linh hồn nơi luyện tội (purgatory) cũng như nói về cái gọi là “Hội Đời Đời” do một số người lập ra với mục đích cầu nguyện cho các linh hồn và “bảo hiểm” cho những người còn sống hoặc đã qua đời.
Vì có một số độc giả thắc mắc nên tôi xin được nói thêm về vấn đề này. Truớc hết, tôi phải nhấn mạnh một lần nữa về nguyên tắc căn bản sau đây:
Khi bàn cãi hoặc đề cập đến bất cứ vấn đề gì liên quan đến đức tin của người tín hữu Công giáo, nhất là liên quan đến Giáo Hội nói chung thì nhất thiết phải căn cứ vào những tiêu chuẩn căn bản như Thánh Kinh (Sacred Scripture), Thánh Truyền(Sacred Tradition), Giáo Lý (Doctrine), Tín Lý(Dogma), Giáo luật (Canon law), Văn kiện Công Đồng (Conciliar Documents), Tông Thư, Tông Huấn (Encyclical Letters) của các Đức Giáo Hoàng, chứ không thể dựa vào suy luận cá nhân hay căn cứ vào những tài liệu bên ngoài Giáo Hội để tham khảo được.
Từ nguyên tắc này, chúng ta hãy tìm hiểu xem Giáo Hội dạy về việc cầu nguyện cho người sống và người chết như thế nào:
A- Cầu nguyện cho người đã qua đời:
Sách 2 Ma-ca-bê kể lại việc “Ông Giuđa quyên được khoảng hai ngàn quan tiền và gửi về Giêrusalem để xin dâng hy tế tạ tội ; ông làm cử chỉ rất tốt đẹp và cao quí này vì cho rằng ngươì chết sẽ sống lại…Đó là lý do khiến ông xin dâng hy tế đền tội cho những người đã chết để họ được giải thoát khỏi tội lỗi” (x. 2 Macabê 12:43-46)
Đây là nguồn gốc trong Kinh Thánh Cựu Ước về việc cầu nguyện cho người quá cố vì có niềm tin vào sự sống lại của kẻ chết.
Niềm tin này đã được củng cố vững vàng hơn với biến cố lich sử về cuộc tử nạn và phục sinh của chính Chúa Kitô Giêsu như Kinh Thánh Tân Ước đã tường thuật tỉ mỉ (x. Mt 27-28; Mc 15-15, Lc 23-24; Ga 19-20).
Từ đó, việc cầu nguyện cho kẻ chết đã trở thành truyền thống trong Giáo Hội cho đến nay vì niềm tin vào sự sống lại của kẻ chết và vì tín điều các Thánh Thông Công.
Sách Giáo Lý mới của Giáo Hội đã khuyến khích việc cầu nguyện cho kẻ chết dựa vào niềm tin nói trên và vào lời dạy của Thánh Gioan Kim Khẩu (John Chrysostom:344-407) sau đây:
“Chúng ta hãy cứu giúp và tuởng nhớ đến những ngươì đã qua đời.
Nếu con cái Ông Job được thanh luyện nhờ sự hy sinh của Ông,
thì tại sao chúng ta lại nghi ngờ rằng những việc hiến dâng của
chúng ta sẽ đem lại an ủi cho các linh hồn ấy ? Vậy chúng ta đừng
ngần ngại cứu giúp những người đã qua đời và cầu nguyện cho họ”
(x. John Chrysostom, Hom. In 1 Cor 41, 5:PG 61, 361; cf. Job, 5)
I-Luyện Tội (Purgatory) và hình phạt hữu hạn (temporal punishment)
Theo Giáo lý của Giáo Hội Công Giáo thì tất cả những ai chết trong ơn phúc của Chúa đều được bảo đảm phần rỗi đời đời (eternal salvation). Nhưng nếu chưa được thanh sạch hoàn toàn sau khi chết thì phải được thanh luyện lần cuối cùng trong nơi gọi là Luyện tội (Purgatory) trước khi được vào hưởng niềm vui Thiên Đàng. (x. Sách Giáo Lý Công Giáo số 1030).
Đây là lý do vì sao Giáo Hội khuyến khích việc cầu nguyện cho các linh hồn nơi chốn thanh luyện cuối cùng này để giúp họ được mau vào vui hưởng Thánh Nhan Chúa.
Cũng theo giáo lý của Giáo Hội thì có hai loại tội cần phân biệt: tội trọng (mortal sin) và tội nhẹ (venialsin) xét theo hậu qủa của tội gây thương tổn nhiều hay ít đến mối thân tình giữa Chúa và hối nhân cũng như giữa hối nhân và Cộng đồng Giáo Hội.
Tội trọng phá tan đức ái và cắt đứt tức khắc mọi hiệp thông với Chúa. Vì thế, khi một người mắc tội trọng, nếu chết mà không kịp ăn năn và được tha thứ qua bí tích hoà giải thì sẽ bị án phạt đời đời trong nơi gọi là hoả ngục (hell). Ở nơi này, các linh hồn bị phạt sẽ đời đời lìa xa Thiên Chúa và Cộng đồng các Thánh (x. Sđd, số 1033).
Tội nhẹ không phá hủy hoàn toàn đức ái nhưng cũng gây thương tổn phần nào cho sự hiệp thông với Chúa và với Giáo Hội nên cũng cần được tẩy xóa qua bí tích hoà giải.
Tộị trọng và tội nhẹ đều có thể được tha thứ qua bí tích hoà giải –trừ tội phạm đến Đức Chúa Thánh Thần, tức là chối bỏ Thiên Chúa hoàn toàn (x. Mt 12,31).
Sau khi đã được hoà giải với Chúa và với Giáo Hội, hối nhân phải làm việc “đền tội” (penance) cho mọi tội trọng và nhẹ đã được tha qua bí tích hoà giải. Đây là hình phạt hữu hạn (temporal punishment) mà hối nhân phải thi hành để “sửa lại những xáo trộn mà tội đã gây nên” theo lời dạy của Công Đồng Trentô (x. CĐ Trentô DS 1712).
Việc “đền tội” này, nếu không được làm đầy đủ khi còn sống, thì phải được thanh luyện sau cùng trong Luyện Tội sau khi chết. Ở đây các linh hồn có thể trông cậy vào sự cứu giúp của Đức Mẹ, của các Thánh và của các tín hữu còn sống đang hiệp thông trong Giáo Hội lữ hành. Các linh hồn cũng có thể cầu bầu cho các tín hữu còn sống nhưng không thể tự giúp mình được vì thời giờ làm việc lành phúc đức đã hết.
Các Thánh trên Thiên Đàng có thể nguyện giúp cầu thay cho các linh hồn trong luyện tội và cho các tín hữu còn sống nhưng không cần ai trợ giúp nữa vì đã được hưởng trọn vẹn Nhan Thánh Chúa rồi.
Đây là tất cả ý nghĩa về Tín điều các Thánh thông công (communion of Saints) trong Giáo Hội Công Giáo.

II- Các tín hữu còn sống có thể giúp gì cho các linh hồn nơi Luyện tội?
Như đã giải thích ở trên, luyện tội là nơi thanh luyện cuối cùng cho những linh hồn đã chết đi trong ơn nghiã Chúa nhưng chưa đuợc thánh thiện đủ để được vào Thiên Đàng hưởng Nhan Thánh Chúa cùng các Thánh. Họ phải lưu lại nơi đây trong một thơì gian để được thanh luyện theo lượng từ bi và công bằng của Chúa đòi hỏi. Nhưng Luyện tội không phải là chốn các linh hồn phải xa Chúa đời đời như những linh hồn ở nơi gọi là hoả ngục. Vì thế không có vấn đề cầu nguyện đời đời cho các linh hồn nơi luyện tội
vì họ không đời đời ở đó. Các tín hữu còn sống trên trần gian có thể giúp đỡ các linh hồn nơi luyện tội bằng những việc lành phúc đức như ăn chay, cầu nguyện, làm việc bác ái và nhất là xin dâng Thánh Lễ cầu cho họ. Sự giúp đỡ thiêng liêng này rất hữu ích nhưng không phải là yếu tố quyết định phần cứu rỗi cho một linh hồn nào.
Yếu tố quyết định là chính tình thương của Chúa và công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô cộng với phần đóng góp của cá nhân khi còn sống trên trần thế này.
Khi còn sống, nếu một người đã tư ý chọn lựa xa cách Thiên Chúa, khước từ tình thương của Người để qui hướng đời mình hoàn toàn về những mục tiêu trần thế cho đến giờ chết thì chắc chắn Chúa không thể cứu được người đó vì họ đã tự ý chọn lựa từ chối Người trong suốt cuộc đời trên trần thế này rồi. Chúa không ngăn cản sự chọn lựa này vì Ngài tôn trọng ý chí tự do (free will) của con người. Trong trường hợp này mọi việc cứu giúp của chúng ta như cầu nguyện, xin Lễ v.v. sẽ là vô ích vì người ta đã chọn lựa khước từ Chúa và ơn cứu độ của Người khi còn sống rồi
Tuy nhiên đây chỉ là nguyên tắc thần học phải suy luận và tin mà thôi. Trong thực hành, chúng ta không thể biết được ai đã thực sự rơi vào trường hợp này để khỏi phải cầu nguyện cho họ nữa. Chúng ta cũng không được phép phán đoán ai sẽ lên Thiên Đàng, ai phải xuống hoả ngục dù biết họ sống ra sao trên trần gian này. Vì thế, chúng ta cứ vì bác ái mà cầu cho mọi người đã qua đời ngay cả cho những người đã tự tử hay công khai sống “bê bối” trước khi chết. Chỉ có Chúa mới biết chính xác được lòng người và phán đoán công minh về phần rỗi của mỗi cá nhân.
Bao lâu còn sống thì ta cứ cầu nguyện cho kẻ sống và kẻ chết, không giới hạn thời gian, nhưng không thể nói cầu “đời đời” được vì chính mình cũng không sống vĩnh viễn ở đời này thì làm sao mà cầu “đời đời”cho ai được?

B- Vấn đề xin “Lễ đời đời” và mua “Hậu” cho người còn sống hay đã qua đời
Tôi phải đặc biệt nói thêm về vấn đề này vì thực chất sai trái giáo lý trầm trọng của những việc làm này đã và đang còn diễn ra ở một số nơi trong và ngoài Việt Nam.
Như đã nói ở trên, việc cầu nguyện cho các người đã qua đời chỉ hữu ích cho các linh hồn thánh (holy souls) trong nơi luyện tội mà thôi, chứ tuyệt đối không ích gì cho những ai đã tự ý chọn lựa xa lìa Thiên Chúa và đang bị phạt ở nơi gọi là hoả ngục.
Lý do: chỉ có sự hiệp thông giữa các Thánh trên Trời, các linh hồn nơi luyện tội và các tín hữu còn sống trên trần gian mà thôi, chứ không có sự hiệp thông nào vơí các linh hồn nơi hoả ngục. Vì thế, không có giáo lý nào của Giáo Hội dạy hay khuyến khích việc cầu nguyện cho các linh hồn trong hoả ngục cả vì họ đã lìa xa Chúa đời đời rồi. (x. Sđd. Số 1033-1036)
Vậy xin Lễ đời đời để cầu cho ai ?
Rõ ràng đây là một ý niệm mơ hồ không có căn bản giáo lý, tín lý nào vì như đã giải thích ở trên: các linh hồn trong luyện tôi không cần sự giúp đỡ “đời đời”, các Thánh trên Thiên Đàng không cần ai trợ giúp nữa, còn những linh hồn trong hoả ngục thì không thể giúp được vì không còn sự hiệp thông nào với nơi này. Hơn thế nữa, làm sao người nhận tiền xin Lễ đời đời có thể thực hành được điều này khi mà chính người đó hay Tu Hội, Cộng Đoàn nào làm việc này cũng không tồn tại “đời đời” trên trần thế này thì làm sao có thể cầu nguyện hay dâng lễ đời đời cho ai để hưởng số tiền to bây giờ của những người xin vì không am hiểu giáo lý?
Việc “mua, bán hậu” lại càng vô lý và sai trái giáo lý hơn nữa.
Trước hết là không hề có giaó lý nào cho phép làm việc này. Sau nữa, chủ đích của việc làm này hoàn toàn sai trái về mặt thần học, về ơn cứu độ vì lý do sau đây:
Nói đến sống đời đời là nói đến hy vọng được hưởng ơn cứu độ của Chúa nhờ công nghiệp cứu chuộc của Chúa Kitô. Mà muốn hưởng ơn này thì nhất thiết phải “hoán cải và tin vào Tin Mừng” như Chúa Giêsu đã đòi hỏi (x. Mc 1:15). Hoán cải hay sám hối để chừa bỏ tội lỗi và tin vào Tin Mừng có nghĩa là thực sự mến Chúa và yêu người. Đây chính là phần đóng góp cần thiết của mỗi cá nhân vào công cuộc cứu chuộc của Chúa Kitô để được hưởng ơn cứu độ của Người. Không ai có thể làm thay người khác trong việc quá hệ trọng này cũng như không thể dùng tiền bạc để đút lót cho ai lo hộ mình việc tối quan trọng này.
Như vậy, “mua hậu” để làm gì ? có phải là bỏ nhiều tiền ra bây giờ để mua “bảo hiểm đời sau” cho cả người sống và người chết của một vài nơi đã và đang rao bán dịch vụ mại thánh (simony) này để lừa dối những người không am hiểu giaó lý về ơn cứu độ không ?
Chúng ta phải xác tín rằng việc cứu rỗi không bao giờ có thể đổi chác hay mua được bằng tiền bạc hoặc của cải vật chất dù trị giá có thể cao đến đâu. Nếu sống mà không quyết tâm tìm Chúa và đi theo đường lối của Người thì có bỏ ra hàng trăm triệu đôla để mua hàng ngàn “cái hậu” cũng vô ích mà thôi vì tuyệt đối những thứ này không có chút giá trị cứu rỗi nào cho ai hết.
Tôi quả quyết như vậy và thách đố ai trưng ra được căn bản thần học, giáo lý, Kinh Thánh nào khuyến khích hay cho phép làm việc này trong Giáo Hội.
Là tín hữu, chúng ta chỉ được kêu gọi sống đức tin, đức cậy, và đức mến cách thích đáng nghiã là thực tâm tin, yêu Chúa và yêu mến tha nhân như Chúa đòi hỏi để được hưởng ơn cứu độ. Và đây mới thực sự là thứ “bảo hiểm” có giá trị nhất, hơn bất cứ loại “hậu hay bảo hiểm” nào khác mà một số người không am hiểu giáo lý đã và đang làm để trục lợi về tiền bạc và lừa dối người khác qua dịch vụ “buôn thần bán thánh” này trong cộng đồng Công giáo Việt Nam ở trong nước cũng như ở Mỹ này.
Tóm lại, không có “cái hậu” nào có giá trị cứu rỗi, bảo đảm đời sau hơn chính nỗ lực của cá nhân cộng tác với ơn Chúa ngay trong cuộc sống này cho đến ngày giờ sau hết để được hưởng ơn cứu độ như giáo lý Công Giáo dạy.
Vậy phải dứt khoát loại trừ những việc sai trái về cái gọi là “Lễ đời đời” và mua bán “hậu” đời sau nếu muốn thực hành đức tin cách chính đáng trong Giáo Hội.
Đó là tất cả những điều tôi cần nói thêm về vấn đề cầu nguyện cho các linh hồn, về điều kiện để được cứu rỗi và về những sai trái quanh vấn đề này.

 

AnTáng 126 : Ý nghĩa việc cầu nguyện cho những người thân yêu

Ý nghĩa việc cầu nguyện cho những người thân yêu AnTáng 126

Ð.Ô. Nguyễn Quang Sách
 

Qua sự cầu nguyện, Chúa Cha đã kêu gọi chúng ta hợp tác với các ý định của Người. Người cho AnTáng 126 

Qua sự cầu nguyện, Chúa Cha đã kêu gọi chúng ta hợp tác với các ý định của Người. Người cho phép chúng ta đóng góp vào những ân ban và những trợ giúp Người dành cho nhân loại. Thật vậy, qua sự cầu nguyện chúng ta có thể xin được cho tất cả những kẻ thân quen và thương yêu những của cải thiêng liêng và vật chất. Chúng ta biết rằng, một lời cầu nguyện, dù thế nào đi nữa, cũng không bao giờ mất hiệu nghiệm, và kẻ nào chúng ta cầu nguyện cho, nhất thiết đều nhận được những ơn lành và những lợi ích qua những lời cầu xin chúng ta gởi lên Trời. Quyền năng Thiên Chúa, nếu không ban cho như mình xin, thì cũng ban cái gì đó tốt hơn cho người liên quan, và một cái gì đó thực sự đáp ứng những ước muốn thầm kín của người cầu xin. Không có lời kinh nào mà không được nhậm lời: đó là một sự thật cho phép chúng ta hiểu giá trị mà Chúa Cha gán cho những điều ước mong mà chúng ta bày tỏ với Người.
Ðối với những người đã qua đời, vai trò của sự cầu nguyện cũng đáng ngạc nhiên lắm, và nó biểu lộ tầm quan trọng của sự hợp tác chúng ta với quyền năng của Thiên Chúa. Chúa Cha muốn ban hạnh phúc của Người cho con cái Người đã chết bình an trong tình bằng hữu với Người. Nhưng, một số người không thể vào ngay cõi phúc thiên đàng, do những thiếu sót chuẩn bị cá nhân lúc họ bước vào cõi bên kia. Họ phải trải qua một cuộc tinh luyện; chúng ta biết cuộc tinh luyện này rất đau khổ, nhưng chúng ta không thể diễn tả nó được. Ðiều huyền diệu của ý định Thiên Chúa, là qua những lời kinh và những lễ vật của chúng ta, chúng ta có khả năng xin cho họ được giảm bớt đau khổ và rút ngắn thời gian đau khổ thử thách. Cho nên, vì lòng nhân lành của người Cha luôn sẵn sàng chấp nhận lời cầu khẩn chúng ta, chúng ta có thể làm cho người đã qua đời tiến nhanh đến thời điểm họ được hưởng hạnh phúc cuối cùng. Mặc dù chỉ có quyền tối cao của Chúa Cha quản trị những số phận con người bên kia cũng như trên mặt đất, nhưng chúng ta có quyền can thiệp hữu hiệu giúp những người chúng ta thương yêu và có quyền mở cửa nơi cư trú thiên đàng cho họ.
Như vậy, người ta hiểu được rằng: Giáo Hội cử hành ngày Các Linh Hồn bằng một cố gắng mãnh liệt hơn về sự cầu nguyện. Tập quán trang hoàng các bông hoa trên ngôi mộ là một biểu thị rất đẹp của những mối thân tình vẫn tiếp tục tồn tại với người qua đời. Nó chứng tỏ rằng tình yêu đối với người thân tiếp tục sống sau sự chia ly do cái chết. Nhưng quan trọng hơn, đó là dấu chứng tình yêu qua sự cầu nguyện. Sự cầu nguyện, thật vậy, không những là một sự tỏ bày lòng kính trọng với những người chúng ta đã yêu thương và còn tiếp tục yêu thương, mà còn nhắm xin Trời cải thiện số phận những kẻ qua đời: nhờ sự cầu nguyện, chúng ta mang đến sự trợ giúp hữu hiệu nhất, cho những kẻ đau khổ đang khao khát hạnh phúc chiếm hữu Thiên Chúa.
Chỉ cần chúng ta tự hỏi các linh hồn mong muốn chúng ta làm điều gì cho họ, là chúng ta hiểu được tầm quan trọng của sự cầu nguyện. Chắc chắn chúng ta không biết được có phải những người chúng ta yêu thương còn ở trong thời kỳ đau khổ trước khi vào thiên đàng? Chúng ta không có chỉ dẫn nào về vấn đề này, và thời điểm vào thiên đàng lại nằm trong bí mật của những quyết định của Thiên Chúa. Nhưng những lời kinh chúng ta dâng cầu cho các kẻ qua đời, không bao giờ là vô ích; nếu những lời kinh đó không còn ích lợi gì cho những kẻ chúng ta cầu xin cho, vì họ đã vào cửa hạnh phúc, thì những lời kinh đó lại sinh ích lợi cho những kẻ khác, những kẻ cần đến sự can thiệp giúp này, để đạt tới cùng đích số phận của mình. Vả lại, đức bác ái nhiều khi thúc giục những người Kitô hữu phải cầu nguyện cho các linh hồn ở thế giới bên kia đang bị đau khổ tột cùng hoặc bị mọi người lãng quên.
Chúng ta cảm tạ Chúa Cha cho phép chúng ta giúp đỡ cách hiệu nghiệm như vậy, trong mầu nhiệm của thế giới bên kia, những người thương yêu đã từ biệt chúng ta.

 

AnTáng 127 : Thánh trong đời sống chúng ta

Thánh trong đời sống chúng ta AnTáng 127

Lm Đaminh Nguyễn ngọc Long
Nguồn: chungnhanduckito.net
 

Theo niềm tin và cũng là thói quen trong Giáo hội, người tín hữu Công giáo chúng ta thường tôn AnTáng 127

Theo niềm tin và cũng là thói quen trong Giáo hội, người tín hữu Công giáo chúng ta thường tôn kính các Vị đã được Giáo hội tuyên phong là Thánh như Thánh Phero, Thánh Giuse, Thánh Antôn, Thánh Vicentê, Thánh Terexa, các Thánh Tử Ðạo Việtnam... Và chúng ta cũng thường hay chạy đến cầu nguyện trước phần mộ, trước ảnh tượng của họ để xin các ngài cầu thay nguyện giúp trước tòa Chúa, cho những ước mong khấn xin của mình.
Ðây là việc phải đạo và chính đáng.
Hằng năm, vào tháng Mười Một, người Công giáo chúng ta dành riêng tháng này tưởng nhớ đến những người đã qua đời. Và nếu hoàn cảnh có thể, đi thăm viếng phần mộ của Ông Bà, Cha Mẹ đã qua đời.
Ðây là lòng đạo đức hiếu thảo của con người.

1. Gương mẫu thánh đức trong đời sống
Hai việc làm đạo đức sống đức tin tình người này rất tốt đẹp luôn được duy trì từ ngàn xưa nay trong Giáo Hội Công giáo.
Nghĩa cử tưởng nhớ đi thăm viếng phần mộ Ông Bà, Cha Mẹ đã qua đời mang mầu sắc âm vang của một tấm lòng yêu mến. Vâng có pha chút tâm tình hãnh diện cùng buồn thương nhớ tiếc hiếu lễ nhiều hơn.
Ðang khi đến với các Vị được tuyên phong lên hàng Thần Thánh, thấm nhuộm mầu sắc tôn kính. Vâng với lòng tin tưởng cầu xin khấn nguyện, và đôi khi còn có chút kính sợ nhiều hơn.
Nhưng xét cho cùng, theo niềm tin của tôi, ông bà cha mẹ đã qua đời của chúng ta, dù chưa hay không được Giáo Hội biết đến tuyên phong công nhận là Vị Thánh tôn kính trên bàn thờ, các ngài cũng là Thánh.
Tạo sao có thể nói nghĩ được như vậy?
Trong lịch sử Giáo Hội, có những vị Thánh do lòng sùng kính của người tín hữu được tung hô công nhận là Thánh như các Thánh Tông đồ, Thánh Phaolô, Thánh Gioan tẩy gỉa, Thánh Stephano, Thánh Giuse...Người tín hữu biết được nơi đời sống của những vị này có nhiều gương mẫu thánh đức cho việc sống đức tin vào Chúa, họ tôn kính các ngài là thánh. Và dần dần trở thành nếp sống đạo đức tốt lành ăn rễ sâu vào đời sống trong Giáo hội.
Cũng trong dòng lịch sử Giáo hội, trước khi một vị nào được công nhận tuyên dương là Thánh tôn kính trên bàn thờ, có tên trong lịch phụng vụ Giáo hội, Vị đó phải được nhìn nhận là có đời sống anh hùng làm nhân chứng cho tình yêu Chúa giữa con người khi còn sống, cũng như khi đã qua đời làm phép lạ chứng minh được. Như Mẹ Á Thánh Terexa Calcutta, như Á Thánh Giáo Hoàng Gioan 23., như Ðức Cố Giáo Hòang Gioan Phaolô đệ nhị đang được mở vụ án phong Á Thánh, các Vị Thánh Tử đạo...
Ông Bà Cha Mẹ chúng ta, đời sống của họ không được mọi người biết đến, ngoại trừ trong vòng gia đình con cháu. Nhưng các ngài khi còn sống trên trần gian cũng đã trải qua những giai đoạn sống là những nhân chứng đức tin vào Chúa giữa con người. Phải, có khi rất can đảm anh hùng nữa. Các Ngài không chỉ giữ sống đức tin vào Chúa trong và cho đời mình, mà còn là những vị truyền bá đức tin vào Chúa tiếp cho con cháu trong gia đình. Như thế, trong giới hạn suy nghĩ của người tín hữu, họ cũng xứng đáng là Thánh trước mặt Chúa, cùng nêu gương thánh đức cho con cháu rồi.
Lẽ dĩ nhiên, đời sống của mỗi người lúc trên trần gian, và sau khi đã qua đời, chỉ một mình Thiên Chúa, Ðấng là cội nguồn đời sống, biết rõ và luận xét công minh thôi. Là con người, là con cháu, chúng ta giữ tấm lòng hiếu thảo, kính trọng cha mẹ, như điều răn Chúa truyền bảo: Con phải thảo kính cha mẹ con!

2. Cha mẹ, người cộng tác trong công trình sáng tạo
Ngay từ khi tạo dựng công trình trong đất, Thiên Chúa đã dựng nên có người Nam và Nữ. Rồi Ngài truyền cho họ sinh sôi cho đầy mặt đất (St 1, 26-30).Ngài muốn công trình sáng tạo được tiếp tục, bằng cách Ngài tạo ban cho khả năng truyền sinh giống nòi nơi con người và cả nơi cây cỏ, nơi thú vật muông thú nữa. Ngài muốn con người cùng cộng tác vào việc xây dựng công trình Ngài đã khởi đầu. Và đó là đời sống cùng là hạnh phúc cho con người.
Nếu chỉ nhìn theo khía cạnh vật thể sinh lý, hai yếu tố âm dương, nam nữ phối hợp tạo nên sự sống mới. Nhưng đâu phải chỉ có như thế. Ðức tin nói cho ta hay: đời sống cha mẹ chúng ta bắt nguồn từ Ðấng tạo dựng. Ngài ban cho họ sự sống cùng tình yêu. Sự sống cùng tình yêu của các ngài là qùa tặng phản ảnh sự sống tình yêu sáng tạo của Thiên Chúa. Nên sự sống và tình yêu các Ngài là thánh đức.
Ngay từ khi là em bé chào đời, rồi trong suốt đời sống, cha mẹ chúng ta đã thương yêu bảo vệ con mình, nói dạy bảo cho chúng ta biết về Thần Thiêng thánh đức, về Thiên Chúa, về bác ái tình yêu.
Lòng âu yếm lo lắng cho con mình không chỉ dừng lại nơi nhu cầu quần áo đầm ấm, thức ăn sữa bột, cơm canh no đủ. Nhưng còn thể hiện qua lời khuyên bảo dậy dỗ, trong lời cầu xin khấn khứa, nhất là những khi gia đình, con cái gặp khó khăn hoạn nạn. Cha mẹ làm tất cả những gì tốt đẹp nhất cho con cái mình. Lòng yêu thương đó là tình yêu thánh đức mà các ngài đã tiếp nhận từ Trời cao.
Con cái học được nơi cha mẹ mình cách sống thế nào lòng đạo đức tình yêu giữa con người với nhau và cách sống đức tin với Thiên Chúa. Các ngài dạy con cái mình lối sống thánh thiện tốt lành với mọi người ngay trong lòng cuộc sống. Ngay từ khi còn thơ bé cha mẹ đã cầm tay con mình dậy cách làm dấu Thánh gía, dậy đọc kinh Lạy Cha, kinh Kính mừng, dậy nói lời cầu nguyện cám ơn Chúa, xin Ngài ban ơn che chở phù giúp được khoẻ mạnh, học hành tấn tới. Cũng nhờ cha mẹ mà chúng ta biết đường đi tới thánh đường nhận lãnh các Bí tích của Chúa.
Do nhờ các ngài chỉ dẫn mà chúng ta khám phá nhận ra gía trị đời sống, cách ăn ở sao cho vệ sinh sạch sẽ khỏe mạnh. Và do thúc đẩy khuyến khích của các ngài mà chúng ta dần sống làm quen với không khí tình nghĩa con người từ trong gia đình ra đến ngoài xã hội. Các ngài là thầy dậy dẫn dắt chúng ta tới trường học, khi ở nhà thúc dục dậy học bài, làm bài, dậy biết sống giữ lễ độ. Từ những căn bản đó, chúng ta phát triển lớn lên thành người đi vào đời.
Chưa hết, cha mẹ là người gợi ý khuyến khích giúp con cái đi vào đường đời sống riêng hoặc lập mái ấm gia đình, hoặc chọn nếp sống dấn thân đời tu trì cho việc truyền giáo trong Giáo hội.
Cha mẹ chúng ta tham gia vào công trình sáng tạo của Thiên Chúa không duy chỉ trong việc truyền sinh, nhưng còn cả việc giáo dục uốn nắn tâm hồn thân xác cùng niềm tin đời con cái mình theo ý Chúa muốn, xây dựng gia đình cùng xã hội. Chính công việc nặng nề, đòi hỏi nhiều hy sinh kiên nhẫn này góp phần tô điểm làm cho khu vườn sáng tạo của Thiên Chúa được vun trồng chăm sóc, sinh nhiều hoa trái tươi tốt.
Xưa nay và ở khắp nơi, có nhiều cha mẹ, thường cả hai ngưòi hay có trường hợp không may mắn, một mình người mẹ, phải sống suốt cuộc đời hy sinh làm việc cần cù vất vả, tiết kiệm từng đồng xu cắc bạc, để nuôi sống con cái và lo cho họ ăn học nên người.
Các ngài đã sống và đã làm công việc thánh thiện tốt lành cho con cái mình. Ðời sống các ngài, như thế được Chúa chúc lành thánh hóa.

3. Họ là thánh, vì tin vào Chúa
Trong nghi lễ an táng người qúa cố, Giáo hội tiễn đưa người qúa cố trở về lòng đất mẹ: „ Trong làn nước và trong Chúa Thánh Thần con đã được rửa tội. Thiên Chúa hoàn tất nơi con những gì Ngài đã bắt đầu ngày con nhận phép Bí tích Rửa tội. “ ; và „ Thân xác con là đền thờ Chúa Thánh Thần. Thiên Chúa ban tặng con niềm vui vĩnh cửu .“ ( Bản nghi lễ bằng tiếng Ðức)
Những lời đó, không phải chỉ là lời an ủi cho người còn sống trong lúc đau buồn tang tóc. Nhưng những tâm tình thấm nhuộm chan chứa lòng tin tưởng đó là đời sống của người qúa cố, cha mẹ chúng ta. Họ đã tin vào Chúa là nguồn đời sống. Họ đã tin vào Chúa là Ðấng sinh thành đã trao ban cho họ, cùng cho được cộng tác vào việc sáng tạo truyền bá đức tin tình yêu Chúa. Họ tin được Chúa cứu độ thưởng công cho về sống bên Chúa.
Khi xưa, lúc còn đang sống trên trần gian, nếu chúng ta nói với cha mẹ mình:“ Thầy mẹ, hay thầy bu là thánh của chúng con!“. Chắc chắn các ngài sẽ nghiêm nghị mắng chúng ta: „Bộ con điên rồi hả. Quân kiêu ngạo phạm sự thánh! Chúng ta tất cả là tạo vật tội lỗi phàm hèn cùng là không trước mặt Chúa thôi“ ...
Nhưng giờ đây họ đã qua đời rồi. Tưởng nhớ đến họ, nhớ lại những công lao ân đức thánh thiện tốt lành họ đã sống và đã làm cho gia đình con cái. Chúng ta với niềm hãnh diện cám ơn Thiên Chúa đã ban cho đời mình cha mẹ có đời sống tràn đầy niềm tin tưởng thánh đức, chan chứa lòng hy sinh nhẫn nhục. Nhờ các ngài mà chúng ta biết thế nào là sự thánh thiện tốt lành
Các ngài không là những vị được Giáo hội tuyên dương phong Thánh tôn kính trên bàn thờ nơi công cộng, có tên tuổi trong lịch phụng vụ. Nhưng trên bàn thờ tâm hồn của con cái, các ngài là những vị Thánh bầu cử cho ta bên ngai Thiên Chúa.
Họ là những vị Thánh đầy lòng tin tưởng và hy vọng vào Chúa trong đời sống chúng ta khi xưa và lúc này.

 

AnTáng 128 : Thiên Đàng—Luyện Ngục & Hỏa Ngục

Thiên Đàng—Luyện Ngục & Hỏa Ngục AnTáng 128 

Lm Ansgar Phạm Tĩnh
 

Đối với niềm tin vào Thiên Đàng—Luyện Ngục và Hỏa Ngục, người ta thường có ba thái độ AnTáng 128 

Đối với niềm tin vào Thiên Đàng—Luyện Ngục và Hỏa Ngục, người ta thường có ba thái độ:
Thứ nhất là thái độ cứng lòng tin:
Chẳng có Thiên Đàng, cũng chẳng có Luyện Ngục hay Hỏa Ngục như Giáo Hội Công Giáo dạy! Có chăng là có Thiên Đàng nơi trần thế này mà thôi! Chết là hết, là kết thúc, xuôi tay nhắm mắt xong là hết đau khổ, hết lo lắng và hết … nợ đời!
Chính vì không tin vào thực tại của Thiên Đàng—Luyện Ngục và Hỏa Ngục ở đời sau, cho nên họ như những con thiêu thân chỉ biết lao đầu vào ăn chơi, hưởng thụ, trác táng, hút sách, phạm pháp, làm những việc vô luân thường đạo lý… Và cuối cùng khi chán ngán cuộc đời này, khi họ chán sống rồi thì … tự tử. Chấm hết!
Thứ hai là thái độ tin vào Chúa nhưng tin một cách lệch lạc:
Tin vào Thiên Chúa và chỉ tin có Thiên Đàng mà thôi! Luyện Ngục và Hỏa Ngục không thể có được bởi vì Thiên Chúa là Tình Yêu (1 Ga 4:16), Ngài không bao giờ dựng nên những thứ khủng khiếp ấy để trừng phạt hay hành hạ con cái của Ngài. Luyện Ngục và Hoả Ngục là những thứ mà Giáo Hội dựng nên để hù dọa người ta mà thôi!
Vì không tin có Luyện Ngục và Hoả Ngục cho nên họ chẳng quan tâm gì đến việc đọc kinh xin lễ, và làm việc hy sinh, hãm mình … để cầu nguyện cho những người đã qua đời. “Tất cả những ai tin vào danh Đức Giê-su và chịu phép Rửa Tội thì chắc chắn được cứu rỗi, vậy cầu nguyện, đọc kinh, tham dự Thánh Lễ, hy sinh cho người quá cố để làm gì? Vô ích! Tốn thời giờ” Họ dùng Thánh Kinh để lý luận như vậy!
Thứ ba là thái độ tin nhưng lờ mờ:
Những người thuộc nhóm này thì tin vào những lời giáo huấn của Giáo Hội về sự sống đời sau, tin chắc chắn có Thiên Đàng—Luyện Ngục và Hỏa Ngục, nhưng chẳng bao giờ họ hiểu rõ và hiểu đúng về thực trạng của Thiên Đàng—Luyện Ngục và Hỏa Ngục cả. Họ cũng chẳng hiểu Giáo Hội Công Giáo gồm có BA THÀNH PHẦN và sự liên đới chặt chẽ, và mối liên quan mật thiết giữa ba thành phần này trong Giáo Hội.
Còn bạn? Bạn thuộc nhóm nào vậy? Tôi hy vọng là bạn không thuộc vào nhóm thứ nhất và thứ hai! Nếu bạn thuộc vào một trong hai nhóm này thì… Amen! Chỉ có Chúa Thánh Thần mới giúp bạn được thôi!
Còn nếu bạn thuộc vào nhóm thứ ba thì trong ngày lễ Các Thánh và lễ Các Linh Hồn hôm nay, mời bạn hãy cùng với tôi học hỏi và tìm hiểu sâu hơn về thực trạng của Thiên Đàng—Luyện Ngục và Hỏa Ngục, về BA THÀNH PHẦN của Giáo Hội và sự liên đới chặt chẽ, và mối liên quan mật thiết giữa ba thành phần này.
Rất nhiều người, trong đó có tôi, và không chừng có cả bạn nữa, đã từng nghĩ hay vẫn còn đang nghĩ Thiên Đàng—Luyện Ngục và Hỏa Ngục là những nơi chốn (places):
Thiên Đàng là một nơi trên trời cao, ở đó không có đau khổ, không có nước mắt mà chỉ có vui vẻ, hạnh phúc, hoan lạc, bình an và yêu thương. Ở trên Thiên Đàng các Thánh và các Thiên Thần suốt ngày suốt đêm chỉ ca hát, tán tụng và ngợi khen Thiên Chúa…
Luyện Ngục là một trại chuyển tiếp, một nơi tạm giam, nơi đây người ta phải chịu nóng nảy, chịu đau khổ, có cả cực hình nữa để chờ hễ mãn hạn thì được chuyển lên Thiên Đàng.
Hỏa Ngục là một nơi sâu thẳm trong lòng đất, ở đó là nơi giam giữ đời đời những kẻ ác, những người không có passport vào Thiên Đàng hay Luyện Ngục. Nơi đây xăng dầu vừa nhiều, vừa rẻ, cho nên Sa-Tan và ma quỷ tha hồ dùng để thiêu đốt và trừng phạt những thường trú nhân ở trong vương quốc của chúng.
Nếu bạn đã từng nghĩ như tôi hoặc vẫn còn đang nghĩ Thiên Đàng—Luyện Ngục và Hỏa Ngục là những nơi chốn thì sai rồi! Bạn cứ mở cuốn Toát Yếu Giáo Lý của Giáo Hội Công Giáo do Đức Giáo Hoàng Benedictô đương kim soạn thảo ra mà xem thì sẽ thấy quan niệm về NƠI CHỐN của Thiên Đàng—Luyện Ngục và Hỏa Ngục như là những NƠI CHỐN là sai bét tè le!
Thiên đàng là tình trạng hạnh phúc tối thượng và vĩnh viễn. Ai chết trong ân sủng của Thiên Chúa và ai không cần bất cứ sự thanh luyện cuối cùng nào, sẽ được qui tụ quanh Chúa Giêsu và Đức Maria, các thiên thần và các thánh … được chiêm ngắm Thiên Chúa “mặt giáp mặt” ( 1 Cr 13,12) … sống trong sự hiệp thông tình yêu với Chúa Ba Ngôi và chuyển cầu cho chúng ta (Toát Yếu Giáo Lý của Giáo Hội Công Giáo # 209).
Luyện ngục là tình trạng của những người chết trong tình thân với Thiên Chúa, nhưng, dù đã được đảm bảo ơn cứu độ vĩnh cửu, họ còn cần thanh luyện trước khi được hưởng hạnh phúc thiên đàng (Toát Yếu Giáo Lý của Giáo Hội Công Giáo # 210).
Hoả ngục là [tình trạng] xa cách đời đời khỏi Thiên Chúa.… Đức Kitô diễn tả thực tại hoả ngục bằng những lời này: “Quân bị nguyền rủa kia, đi đi cho khuất mắt Ta mà vào lửa đời đời” (Mt 25:41) (Toát Yếu Giáo Lý của Giáo Hội Công Giáo # 212).
Hy vọng bạn sẽ không bao giờ nghĩ rằng Thiên Đàng—Luyện Ngục và Hỏa Ngục như là những NƠI CHỐN nữa!
Bây giờ chúng mình tiếp tục tìm hiểu về mối liên hệ chặt chẽ giữa các thành phần trong Giáo Hội nhé! Nói về BA THÀNH PHẦN trong Giáo Hội: Giáo Hội Chiến Thắng, Giáo Hội Ðền Bù và Giáo Hội Lữ Hành, sách Toát Yếu Giáo Lý của Giáo Hội Công Giáo # 195 dạy rằng:
Một số còn lữ hành trên trần gian; một số khác, đã rời bỏ đời này, hiện đang được thanh luyện, và cũng được trợ giúp bằng lời cầu nguyện của chúng ta; sau hết, một số khác nữa, đã được hưởng vinh quang Thiên Chúa và đang chuyển cầu cho chúng ta. Tất cả cùng nhau làm thành một gia đình duy nhất trong Đức Kitô, là Hội thánh, để ca ngợi và tôn vinh Chúa Ba Ngôi.
Bạn thấy mối quan hệ rất chặt chẽ và tình liên đới mật thiết giữa chúng mình với các linh hồn nơi Luyện Ngục và với các Thánh ở trên Thiên Đàng chưa?
Các linh hồn thuộc Giáo Hội Đền Bù hoàn tất giai đoạn thanh luyện chậm hay mau là nhờ vào sự cầu nguyện, hy sinh, hãm mình, thánh lễ, Kinh Mân Côi… của những người thuộc về Giáo Hội Lữ Hành, tức là chúng mình, những người còn sống ở trần gian.
Sau khi hoàn thành quá trình thanh luyện, các linh hồn được vào Thiên Đàng, lúc này các Ngài thuộc Giáo Hội Chiến Thắng sẽ cầu bầu, giúp đỡ cũng như chuyển cầu cùng Chúa cho chúng ta.
Nếu hôm nay bạn đã hiểu đúng về Thiên Đàng—Luyện Ngục và Hỏa Ngục và nhận ra mối liên hệ chặt chẽ và mật thiết giữa ba thành phần trong Giáo Hội thì tôi đề nghị với bạn hãy giúp đỡ các linh hồn nơi luyện ngục, bằng cách dâng lời cầu khẩn, đặc biệt là Thánh lễ, và cả những việc bố thí, ân xá và những việc hãm mình để cầu cho họ (Toát Yếu Giáo Lý của Giáo Hội Công Giáo # 211).
Bạn có muốn con cháu, bạn bè, thân thuộc và tha nhân làm những việc như hy sinh, xin lễ, đọc kinh, lần hạt Mân Côi, Viếng Thánh Thể, cầu nguyện … cho bạn sau khi bạn nhắm mắt từ giã cõi đời này và nhất là khi bạn bị kẹt ở trong trại chuyển tiếp PURGATORY không? Nếu muốn thì tôi mạn phép đề nghị với bạn những công việc nhỏ bé sau:
Xin lễ, tham dự Thánh Lễ, xưng tội, rước Lễ, lần hạt Mân Côi, Chầu Thánh Thể … để cầu nguyện cho các linh hồn đã ra đi trước chúng ta …
Hy sinh, hãm mình, không mua những đồ xa xỉ phẩm, một gói thuốc lá, một chai rượu, một két bia, một bữa ăn ở nhà hàng… để dành tiền giúp cho các cơ quan từ thiện, trại cùi, các trẻ em khuyết tật...
Hy sinh không cãi lại cha mẹ, không nóng giận và kiên nhẫn với những người chung quanh.
Chăm sóc, quan tâm đến ông bà, cha mẹ hoặc đi thăm viếng người già, những người đau yếu, tật nguyền, kém may mắn...
“Anh em muốn người ta làm gì cho mình, thì cũng hãy làm cho người ta như vậy” (Lc 6:31). Hy sinh, xin lễ, đọc kinh, lần hạt Mân Côi, Viếng Thánh Thể, cầu nguyện … cho các linh hồn là chúng mình đang làm cho chính chúng ta đấy! Làm ngay đi! Chần chờ gì nữa?

 

AnTáng 129 : BÍ MẬT Ở ĐÀNG SAU NHỮNG ĐAU KHỔ

VÀ NHỮNG GIỌT NƯỚC MẮT
 

BÍ MẬT Ở ĐÀNG SAU NHỮNG ĐAU KHỔ AnTáng 129

Paul Jeandai là một cậu bé đầy sức sống. Bản tính thông minh linh hoạt, không một lúc nào chịu AnTáng 129 

Paul Jeandai là một cậu bé đầy sức sống. Bản tính thông minh linh hoạt, không một lúc nào chịu ngồi yên của Jeandai, đã làm cho cậu trở thành niềm vui của gia đình.
Nhưng vào một ngày cuối tháng 4 năm 1978, Jeandai lâm bệnh. Cơn bệnh làm cho cậu hay bị ói mửa và nhức đầu.
Cha mẹ cậu đưa cậu vào nhà thương. Tại đây, một bản án tử cho Jeandai đã đưọc công bố, bởi vì Bác Sĩ cho hay rằng, Jeandai bị ung thư não. Tin trên đây thật là một tiếng sét đánh lên đầu cha mẹ Jeandai.
10 ngày sau, các Bác Sĩ trong bệnh viện đã quyết định giải phẫu cho Jeandai để cắt bỏ phần óc bị bệnh hoạn của Jeandai, với hy vọng là ngăn chặn được đà phát triển của con bệnh.
Thật là may mắn, sau ca phẫu thuật này, Jeandai lấy lại được phần nào sức khỏe.
Thế nhưng dịp lễ Giáng Sinh năm 1978, Jeandai cảm thấy cơn đau đầu bắt đầu trở lại. Dầu vậy, Jeandai cũng vẫn cố gắng theo học lớp giáo lý xưng tội lần đầu, và ngày 11-03-1979, Jeandai đã được xưng tội rước lễ lần đầu.
Sang tháng 4 năm 1979, Jeandai bị tê liệt hoàn toàn, nhưng trí khôn vẫn còn minh mẫn. Đến 2giờ chiều ngày 02-05-1979, nụ cười cuối cùng đã tắt lịm trên môi củaJeandai.
Vào những giây phút cuối đời của Jeandai, đang khi người mẹ của Jeandai ôm đấu vật vã khóc lóc tự hỏi : “Tại sao con tôi lại bị bệnh tật hiểm nghèo như thế này ? Tại sao một đứa nhỏ mới 10 tuổi đầu mà đã phải chịu những cơn đau cuồng bạo như vậy? Tại sao sự đau đớn của con tôi lại cứ kéo dài mãi như thế này?...vv.thì Jeandai vẫn thì thầm cảm tạ Chúa, vì Ngài đã ban món quà sự sống cho mình, cho dù cậu chỉ mới giữ được món quà đó vỏn vẹn trong 10 năm, mà trong 10 năm đó đã hơn một năm phải giữ nó trong đớn đau khổ cực.
Tại sao Jeandai đã có được tâm tình cao thượng như thê Ơ? Thưa chỉ là vì Jeandai đã nhình thấy được điều bí mật, được dấu kín ở đàng sau những đau khổ và nước mắt. Bí mật đó chính là tình yêu của Thiên Chúa đã dành cho cậu.
Câu truyện của cậu bé Jeandai trên đây, có lẽ phần nào cũng giống câu truyện của ( TT) mà giờ này thân xác của ( Ông, anh... ) đang nằm ở giữa chúng ta đây.
Nếu cái chết của Jeandai đã làm cho cha mẹ của cậu đau khổ, đến nỗi phải vật vã bên giường bệnh của con, thì cái chết của (TT), chắc chắn cũng đem đến cho  những người thân thương của ( Ông, anh...) những nỗi khổ đau không kém như thế đâu.
Với cái nhìn tự nhiên thì cái chết của ( Ông, anh...) là một sự rủi ro mất mát thật lớn lao đối với gia đình. Nhưng với cái nhìn siêu nhiên, cái nhìn của Đức Tin, thì đó là một cuộc an nghỉ trong Chúa.
Cũng như các bậc cha mẹ ở trần gian, khi muốn cho con cái đi ngủ, thì phải bảo con: “Thôi con hãy bỏ các đồ chơi lại đó đi, hãy từ giã các bạn bè, để đi ngủ” thì Cha trên trời hôm nay, cũng bảo ( Ông, anh...) rằng: “Con à, đến giờ con đi ngủ rồi, con hãy bỏ lại các thứ của con ở lại đó đi, con hãy từ giã những người thân thương của con đi, để Cha đưa con vào giấc ngủ”
Đưa con vào giường ngủ mỗi buổi tối, đó là công việc rất thông thường của những người cha người mẹ.
Sau những lời kinh vắn tắt, sau một vài lời khuyên vắn gọn, và một dấu Thánh Giá do chính tay của những người cha người mẹ, cầm tay con để ghi trên mình con,  là một nụ hôn trìu mến, yêu thương mà người cha, người mẹ đặt lên má của con.
Những việc làm trên đây gợi lên những kinh nghiệm ngọt ngào nhất, những kỷ niệm thú vị nhất, cho những người cha người mẹ. Còn nỗi sung sướng nào cho bằng khi nhìn những đứa con đã ngủ say, nhưng vẫn còn để hiện trên nét mặt bình thản, một niềm tin yêu phó thác ở nơi cha mẹ !!!
Nhưng để có được kinh cảm nghiệm ngọt ngào ấy, những kỷ niệm thú vị ấy, để có thể được hưởng nỗi niềm sung sướng ấy, cha mẹ phải tốn công tốn sức mà dỗ dành con bỏ những đồ chơi, những trò chơi mà con đang thích thú, bỏ những chương trình TV đang trình chiếu những cuốn phim hấp dẫn.
Thiên Chúa,  Cha chúng ta ở trên trời, cũng đã làm những công việc như thế đối với (TT) khi gọi anh vào giác ngủ ngàn thu. Bây giờ hồi tưởng lại những ngày giờ trước khi ( TT) nghe theo tiếng Chúa gọi “Đi Ngủ”, những người thân thương của (TT) có thể nhận ra được việc dỗ dành của Chúa dành cho (TT), cũng như việc (TT) đáp trả lời mời gọi” đi ngu”í của Chúa
Nhưng khi kêu gõi (TT) đi vào giấc ngủ ngàn thu, chắc chắn là Chúa cũng thấy được những nỗi khổ đau và niềm thương nhớ của những người thân thương và bạn bè của (TT). Tuy nhiên Ngài vẫn bảo (TT) đi ngủ, vì giấc ngủ này cần thiết cho anh, ích lơi cho anh hơn tất cả mội thứ..
Chính Ngài cũng đã kêu gọi con một Ngài, là Chúa Giêsu, bỏ trời cao, bọ địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, để đi ngủ trên “Chiếc  giừơng Thấp Giá”, bởi Ngài biết đó là giấc ngủ sẽ đưa Con Ngài đến chỗ vinh quang.
Không ai trong chúng ta có thể hiểu nổi nỗi đau khổ của cái chết. Nhưng có một điều chúng ta, những người có Đức Tin, biết chắc chắn là, cái chết của mỗi người là kế hoạch yêu thương của Thiên Chúa, dành cho loài người. Đó là kế hoạch tuyệt diệu nhất, bởi vì Ngài là Thiên Chúa khôn ngoan vô cùng. Hôm nay vị Thiên Chúa khôn ngoan vô cùng ấy đã dành kế hoạch tuyệt diệu của Ngài cho (TT).
Riêng với chúng ta, những người mặt trong ngày Chúa thực hiện kế hoạch yêu thương của Ngài cho (TT), chúng ta hãy học lấy bài học sẵn sàng đáp trả lại lời mời gọi “Đi Ngủ” của Chúa dành cho chúng ta, để dù bất cứ ở đâu, bất cứ lúc nào, khi được Chúa gọi “Đi Ngủ”, chúng ta cũng sẵn sàng xếp bỏ mọi thứ : những người thân thương, nhà cửa ruộng vườn...để đi vào giấc ngủ ngàn thu mà cuối giấc ngủ ấy, khi thức giấc, chúng ta sẽ được hưởng một buổi bình minh rực rỡ huy hoàng, đó chính là Nước Trời vậy. /.

 

AnTáng 130 : CHẾT LÀ TRỞ VỀ CUỘC SỐNG

CHẾT LÀ TRỞ VỀ CUỘC SỐNG AnTáng 130

Chiều Chúa nhật 19/07/1992, Thẩm phán Paulo Marcellino 54 tuổi, được một nhóm cảnh sát hộ AnTáng 130 

Chiều Chúa nhật 19/07/1992, Thẩm phán Paulo Marcellino 54 tuổi, được một nhóm cảnh sát hộ tống, đến thăm mẹ già và người em gái tại một khu phốù bình dân ở Palermo, thuộc niềm Nam Italia.
Khi vừa bước ra khỏi chiếc xe bọc sắt và được 5 cảnh sát hộ vệ, thì bỗng một tiếng nổ vang lên. Tiếng nổ phát ra từ một chiếc xe đạp dựng gần đó.
Bom nổ đã làm cho thẩm phán Paulo và 5 cảnh sát chết tan xác, đồng thời còn làm cho nhiều người gần đó bị thương và còn làm hư hại rất nhiều xe cộ nhà cửa trong khu phố.
Bom đã do bọn Mafia bất lương cài đặt để kết liễu cuộc đời của một vị thẩm phán cương trực, liêm chính, đã không ngừng làm việc để diệt trừ tội phạm của nhóm Mafia gây ra, làm băng hoại bầu khí luân lý của Palermo.
Thẩm phán Paulo chết để lại motä vợ và ba người con.
Người con gái đầu tên là Lucia, 22 tuổi, tiếp đến là cậu con trai tên Malfredi, 20 tuổi và cô gái út 19 tuổi.
Trong cuộc gặp gỡ dành cho phái viên Maximo Carala của tờ Quan Sát Roma, cơ quan ngôn luận chính thức của Roma, Malfredi đã thổ lộ:
“Hẳn là ông ngạc nhiên khi thấy gia đình chúng tôi không tỏ dấu gì là buồn sầu phải không ? Vì là tín hữu Công Giáo nên chúng tôi tin và biết rõ ràng rằng, cái chết chỉ là một giai đoạn chuyển tiếp từ thế giới này sang thế giới bên kia.
Chính niềm xác tín này đã cho chúng tôi chấp nhận khoảng trống do người đã ra đi để lại.
Cha tôi ngã gục vì lý tưởng và vì những giá trị luân lý mà cha tôi từng tin tưởng, hằng quyết tâm bảo vệ và thông truyền cho chúng tôi. Đã có lần cha tôi nói với tôi : “Nếu con sống phù hợp với niềm tin Kitô của con, thì chết vì lý tưởng con theo đuổi chỉ là cuộc trở về với sự sống”.
Hôm nay ông.....vừa mới ra đi trở về với nguồn sống là Thiên Chúa . Thực vậy khi tạo dựng nên .....Thiên Chúa đã thông ban sự sống của Ngài cho ông....Lý do Ngài đã làm như thế  chỉ là vì Ngài thương yêu ông.
Sau hơn một nửa thế kỷ, cho ông được sống ở trần gian này để ông quảng bá lòng yêu thương của Thiên Chúa cho những người khác, hôm nay Ngài thấy ông đã hoàn tất được sứ mạng đó rồi, nên Ngài gọi ông về với Ngài, để nhận  lãnh phần thưởng mà Ngài đã sắm sẵn cho ông.
Có thể có người trong chúng ta nghĩ rằng, với thời gian nằm bệnh quá dài, Ông Đaminh đâu có làm được gì mà Chúa thưởng công ?
Phải, nếu chúng ta nhìn cuộc sống của ông với con mắt trần thì có thể chúng ta cho như thế là đúng. Nhưng dưới con mắt Đức tin thì cuộc sống của ông Đaminh phải nói là một cuộc sống hào hùng.
Không hào hùng thì làm sao có thể trung kiên với Chúa đến giờ phút cuối cùng, cho dù phải trải qua một thời gian bệnh hoạn ?
Chính cái nhìn Đức Tin đó cho phép chúng ta lạc quan về cái chết của người thân yêu của chúng ta. Cái chết đó được mô tả bằng một hình ảnh  tuyệt vời, đó là hình ảnh của một buổi hoàng hôn.
Nếu ngồi ngắm cảnh hoàng hôn vào những buổi chiều tàn, hẳn tâm hồn chúng ta không khỏi xao xuyến. Chúng ta xao xuyến bởi một sự mất mát, đó là sự mất mát ánh sáng chói chang thật quí gía của mặt trời.
Thế nhưng chúng ta có biết rằng, sự mất mát của chúng ta lại đang là điều diễm phúc cho người khác không?
Thực vậy, ông mặt trời mà chúng ta đang nuối tiếc về sự ra đi của ông vào mỗi buổi hoàng hôn, lại đang đem đến cho biết bao người ở góc trời bên kia một buổi bình minh tuyệt vời, đầy sức sống và hy vọng.

Cái chết của con người chúng ta cũng thế.
Chính vì thế chúng ta cũng đừng quá buồn sầu về sự ra đi của người thân thương của chúng ta.
Xin Chúa nâng đỡ và ủi an những người thân thương của ông Đaminh trong dịp ông ra đi về với Chúa này.

 

AnTáng 131: CHẾT TRONG CHÚA

CHẾT TRONG CHÚA AnTáng 131

(Ga.14,13)
 

Có lẽ không một ngày nào mà chúng ta lại không thấy, hay là nghe nói đến cái chết. Cái chết đến AnTáng 131

Có lẽ không một ngày nào mà chúng ta lại không thấy, hay là nghe nói đến cái chết. Cái chết đến với con người chúng ta bởi rất nhiều lý do : chết vì già yếu, bệnh tật, chết vì thiên tai, chết vì chiến tranh, chết vì tai nạn....vv. Nạn nhân của những cái chết ấy, có thể là những người hoàn toàn xa lạ với chúng ta, những người mà chúng ta chưa hề một lần gặp gỡ và có thể là cũng chưa  hề bao giờ được nghe nói đến. Nhưng cũng có thể những người ấy lại là những người thân quen hay ruột thịt của chúng ta.
Tất cả những cái chết ấy, ít nhiều gì cũng đều làm cho chúng ta sợ hãi, bởi vì những cái chết đó như là một lời nhắc nhở cho chúng ta rằng, rồi đây cũng đến lần chúng ta phải chết. Bởi vì chết đối với con người là một sự thật đúng nhất, chắc chắn nhất.
Nhưng nếu như thế thì cuộc đời của chúng ta là vô nghĩa lắm phải không ?
Không, đối với người Kitô hữu chúng ta, chết không thể là điều được phép làm chúng ta sợ hãi. Bởi vì chết không phải là hết, chết cũng không phải là một sự tiêu diệt cuộc sống nhân sinh.
Thiên Chúa dựng nên con người, không lẽ Ngài tạo dựng nên chúng ta, rồi sau đó để chúng ta rơi vào quên lãng như thế ? Thánh Kinh cho chúng ta biết, Thiên Chúa của chúng ta là Thiên Chúa của những kẻ sống. Như thế thì chết không thể là đã chấm dứt tất cả được..
Đúng thế, với cái nhìn Đức Tin, chết chỉ là kết thúc cuộc sống lưu đầy, là sự giải thoát con người khỏi vòng cương toả của tội lỗi, để bước sang cuộc sống vĩnh cửu mà thôi.
Hiểu như thế thì chết không phải là một sự hủy diệt, môt sự phế bỏ mà chết chỉ là một sự biến đổi. Nó cũng giống như bao cuộc biến đổi khác mà chúng ta đã chứng kiến, chẳng hạn như sự biến đổi của hạt lúa để trở thành cây lúa hay như sự biến đổi của hoa để trở thành trái, hoặc sự biến đổi của con sâu để trở thành con bướm.
Chateaubriand , một nhà thơ nổi tiếng của Pháp, khi đề cập đến cái chết của người Kitô hữu đã nói :” Chính trong cái chết mà người Kitô hữu đã chiến thắng”.
Còn Victor Hugo, văn hào Pháp, thì lại quả quyết: “ chết không phải là đêm tối mà là ánh sáng”
Nhưng để cái chết là một chiến thắng chứ không phải là một thất bại, là ánh sáng chứ không phải là bóng tối thì cái chết của chúng ta phải là cái chết giống như cái chết mà sách Khải Huyền nói tới, đó là cái chết trong Chúa.(Kh.14,13)

Vậy thế nào là chết trong Chúa ?
Chết trong Chúa có nghĩa là nhờ ơn Chúa Kitô,Ngài đã làm chết đi cái chết ở trong ta.
Chết trong Chúa cũng còn có nghĩa là nghe theo tiếng Chúa Kitô mời  gọi để đến thông phần vào niềm vui vô biên của Chúa.
“ Hỡi đầy tớ tốt lành và trung tín, hãy vào mà hưởng sự vui mừng của chủ ngươi”
Chính vì thế mà chết không còn phải là một tai hoạ nữa, mà đó là một cuộc tuyên dương.
Hôm nay có thể nói là ngay tuyên dương của ........., chúng ta họp nhau ở đây để cầu xin Chúa cho ..... và cùng với...... chúng ta cảm tạ Chúa về việc Ngài tuyên dương......và đã mời..... vào hưởng sự vui mừng của Ngài.
Việc làm này của chúng ta không những làm hài lòng người đã ra đi, mà còn an ủi những người thân thương còn lại, để rồi đây, những người này cũng được ra đi “trong Chúa”
Vì thế, điều mà chúng ta cần cầu nguyện cho nhau là xin cho chúng ta được ra đi trong Chúa như người đã ra đi hôm nay. /.

 

AnTáng 132: CÁI CHẾT, LỜI MỜI GỌI CỦA NGÔN NGỮ TÌNH YÊU

CÁI CHẾT, LỜI MỜI GỌI CỦA NGÔN NGỮ TÌNH YÊU AnTáng 132

Con người chúng ta xét theo khía cạnh sinh vật học, có thể định nghĩa là một động vật. Nhưng loại AnTáng 132

Con người chúng ta xét theo khía cạnh sinh vật học, có thể định nghĩa là một động vật. Nhưng loại động vật này khác hẳn với những loại động vật khác là có trí khôn. Nhờ có trí khôn mà con người có tư tưởng. Và để phát biểu những tư tưởng ấy, con người có ngôn ngữ.
Có hai loại ngôn ngữ :
Ngôn ngữ khoa học là ngôn ngữ dùng để cắt nghĩa để giải thích sự vật hay sự kiện. Thí dụ những nhóm từ như : Đồng hồ, Radio...vv. Đây là loại ngôn ngữ khoa học. Muốn hiểu những ngôn từ này, chúng ta chỉ cần tháo những thứ này ra là chúng ta sẽ hiểu thế nào là đồng hồ, thế nào là radio. Loại ngôn ngữ này không làm thay đổi con người chúng ta, nhưng nó giúp chúng ta giải thích chế ngự và làm chủ những gì chúng diễn tả.
Ngôn ngữ tình yêu. Đây là ngôn ngữ của sự liên lạc. Loại ngôn ngữ này có khả năng tạo ra trong con người chúng ta một tâm tình mới.
Thí dụ : một chàng thanh niên nói với một cô thiếu nữ rằng : “Anh yêu em”, thì những ngôn từ này có thể tạo ra cho cô thiếu nữ kia một tâm tình  mới. Tâm tình đó có thể khiến cho cô kia chấp nhận, để rồi từ đó bắt đầu thiết lập một mối qua hệ. Nhưng tâm tình đó cũng có thể khiến cô kia từ chối.
Loại ngôn ngữ tình yêu này có khả năng tạo ra một trạng thái mới, chẳng hạn như trường hợp của Thánh Phanxicô Xaviê. Như chúng ta biết, Phanxicô là một thanh niên thuộc dòng dõi “trâm anh thế phiệt” Cả một tương lai huy hoàng đang mở ra trước mặt chàng thanh niên này : Nào là danh vọng chức quyền, nào là giầu sang phú quí... Thế như khi Phanxicô nghe được những ngôn từ của tình yêu được nói lên trong Thánh Kinh rằng : “Được lời lãi cả thế gian mà mất linh hồn thì được ích gì ?” thì cậu thanh niên  khôi ngô tuấn tú , với một tương lai sáng lạn kia, đã trở thành một nhà truyền giáo nhiệt thành, với một tương lai mà xét theo cái nhìn thường tình của con mắt trần, không có gì đáng lạc quan, nếu không muốn nói là đen tối.
Như vậy  loại ngôn ngữ tình yêu có thể nói là một lời mời gọi, mời gọi chúng ta ra khỏi chính mình, ra khỏi tình trạng hiện thời để đi vào một trạng thái mới.
Loại ngôn ngữ này gặp rất nhiều trong cuộc sống của chúng ta, nhưng thường chỉ là những lời mời gọi từng phần riêng rẽ, gây nên những thay đổi từng phần và chúng ta có thể tự do đáp trả hay không đáp trả.
Thế nhưng có một lời mời gọi thuộc loại ngôn ngữ này, ảnh hưởng đến toàn thể con người chúng ta và chúng ta không thể nào không đáp trả - Tôi muốn nói đến cái chết.
Phải, cái chết quả là một ngôn ngữ của tình yêu, vì cái chết tạo ra cho chúng  ta một sự liên lạc với thế giới bên kia, thế giới của vĩnh tồn. Cái chết cũng tạo ra cho chúng ta một tình trạng mới như thánh Phaolô đã quả quyết trong bức thư thứ nhất gởi cho giáo đoàn Corinthô.(1 Cor.9,35).
Như thế cái chết quả  là một lời mời gọi của tình yêu và cái chết của... cũng chính là lời mời gọi đó.
Nói như thế hẳn có người cho rằng, đó là những lời an ủi có mục đích xoa dịu nỗi xót xa của những người  thân thương của người chết. Nhưng thực ra không phải thế.
Chúng ta không phủ nhận nỗi xót xa khi bị mất người thân thương. Nhưng trong rất nhiều trường hợp, những nỗi xót xa kia lại trở thành một điều kiện không thể thiếu được, để cho người thân yêu của chúng ta đạt tới một tình trạng mới.
Cái chết của ... ... ...là một dẫn chứng
Giờ này linh hồn của ...  ... ... đã có được một mối quan hệ mới với Chúa cũng như đối với chúng ta. Linh hồn...  ...  ... cũng đã có được một trạng thái mới, không còn bị lệ thuộc vào thời gian và không gian nữa.
Chắc chắn rằng trong trạng thái mới này, linh hồn... ... ... vẫn còn những mối quan hệ mật thiết đối với  những người thân thương, tuy hình thức của mối quan hệ đó có khác.
Và cũng chính vì mối quan hệ đó mà gia đình của ... ... ... và chúng ta đây, mới đến đây hợp nhau dâng lễ cầu nguyện cho... ... ...
Chúng ta cầu nguyện cho ... ... đạt được mức toàn hảo trong tình trạng mới, bởi vì khi còn sống, hẳn là ... ... ... đã không khỏi có những lỗi lầm, những thiếu sót. Chính những thứ này, làm cho tình trạng mới của ... ... .chưa được toàn hảo.
Nhưng những việc lành mà chúng ta làm, có khả năng giúp cho ... ... ...  mau đạt tới tình trạng mới hoàn hảo. Chúng ta hãy rộng lòng đối với ... ..

 

AnTáng 133: Lễ an táng bà cố Anna: Hãy chỗi dậy, vui lên

Lễ an táng bà cố Anna: Hãy chỗi dậy, vui lên AnTáng 133

Chúng con xin quý Đức cha, quý Cha chia vui .... vì hôm nay mẹ chúng con được trở về với Thiên AnTáng 133

Chúng con xin quý Đức cha, quý Cha chia vui với mẹ con và gia đình con, vì hôm nay mẹ chúng con được trở về với Thiên Chúa. Đó lời chân tình của Cha Vinh sơn Phạm Trung Thành, nguyên bề trên Giám tỉnh Dòng Chúa Cứu Thế, trước biến cố mẹ của ngài an nghỉ.
Chúng con xin quý Đức cha, quý Cha chia vui với mẹ con và gia đình con, vì hôm nay mẹ chúng con được trở về với Thiên Chúa. Đó lời chân tình của Cha Vinh sơn Phạm Trung Thành, nguyên bề trên Giám tỉnh Dòng Chúa Cứu Thế, trước biến cố mẹ của ngài an nghỉ.
Trước linh cữu Bà cố Anna trong giây phút tẩn liệm, Đức Tổng Giám mục Giuse Nguyễn Chí Linh đến chia buồn cùng cha Vinh sơn, nhưng đáp lại, cha Vinh sơn nói rằng, xin Đức Tổng Giuse chia vui với chúng con, bởi vì mẹ chúng con được trở về với Thiên Chúa. Đó là niềm khát khao lớn nhất của Bà cố.
Người có thể nói được như thế trước sự mất mát lao trong đời mình thì đó phải là người có lòng tin mạnh mẽ, xác tín rõ ràng. Trong Thánh lễ an táng hôm nay (19/09/2017) tại giáo xứ Tân Hoà, Tổng Giáo phận Sài gòn, Đức Cha Micael chủ sự, đã kể lời những lời nói ấy trong bài giảng của ngài.
Đức Giêsu nói với người con duy nhất của bà goá thành Naim hãy chỗi dậy, và Ngài trao đứa con ấy cho người mẹ đang đau khổ. Nếu Ngài ở đây lúc này thì Ngài sẽ nói gì, sẽ làm gì. Ngài sẽ đem lại niềm vui cho hết mọi người chúng ta. Niềm vui của Tin mừng là niềm vui phục sinh, niềm vui chan chứa là niềm vui được trở về sống cùng Đức Kitô.
Trước hết, Đức Cha Micael nhắc lại hình ảnh bà cố Anna trong cuộc đời của một người phụ nữ tần tảo chăm sóc gia đình và hy sinh dâng hiến người con người cháu cho Chúa, cùng với tình cảm sâu sắc dành cho người chồng đã ra đi về với Chúa trước, mà bà hằng thương nhớ trong mọi biến cố vui buồn cuộc đời. Thương nhớ chồng bao nhiêu bà cố khát khao về với Chúa bấy nhiêu. Nhưng trong mọi sự, bà cố luôn đón nhận tất cả theo Thánh ý Chúa. Bà đã thanh thản ra đi nhưng để lại bao thương nhớ và những bài học quý giá.
Đức Cha Micael còn chia sẻ, trước biến cố thánh lễ tạ ơn của bà cố hôm nay, người Kitô hữu chúng ta sống niềm tin của mình trong văn hoá đậm chất hiếu đễ Á Đông thế nào. Mang trong mình tâm tư của vị giám mục đã từng ngược xuôi vùng truyền giáo Tây nguyên, lời kêu gọi tha thiết của ngài vang lên, đã đến lúc rồi, đã đến lúc rồi, ngài gửi đến mọi thành phần Hội thành, phải sống đức tin thế nào, trình bày Tin mừng làm sao để sống trong cảm thức đạo hiếu Á Đông hầu có thể truyền giáo. Lịch sử truyền giáo đã để lại những hạn chế khi mà người Việt – Á Đông say mê Tin mừng, say mê đức tin Kitô giáo lại không thể bước vào Hội thánh được khi cánh cổng hiếu lễ khép lại. Cho đến ngày hôm nay, vẫn còn những di chứng của xã hội khi họ xem người Công giáo là những người bỏ cội nguồn gốc rễ gia tiên. Chúng ta đã nhầm lẫn và gây hậu quả, nhưng bây giờ chúng ta vẫn không sao tìm cách bày tỏ đức tin của mình để người đời nhận thấy. Ngược lẫn, có khi chúng ta nhầm lẫn, không phân biệt đâu là Chúa, đâu là Thánh, đâu là người phàm.
Nếu Đức Giêsu hiện ở đây, Đức Cha Micael nói, Ngài sẽ làm gì, nói gì. Chắc chắn Ngài sẽ nói, Ta truyền cho con hãy chỗi dậy. Niềm vui của Tin mừng, đức tin của hy vọng, đứng trước biến cố tang thương, người Kitô hữu không quên báo hiếu. Nhưng tinh thần hiếu đễ của chúng ta tràn nhập giá trị Tin mừng. Nếu chúng ta biết sống, biết trình bày, biết cách diễn tả thì ngay trong biến cố mất mát này chúng ta sẽ thể hiện được đức tin của mình, giúp mọi người khám phá Tin mừng và đến được với Thiên Chúa.
Thánh lễ an tàng Bà cố Anna của Cha Vinh sơn Phạm Trung Thành, DCCT, được cử hành vào lúc 7g00, thứ Ba ngày 19/09/2017, do Đức Cha Micael chủ tế, cùng đồng tế có Đức Cha Louis Nguyễn Anh Tuấn, Giám mục phụ tá Tổng giáo phận Sài gòn, cùng quý cha DCCT, quý linh mục trong và ngoài giáo phận, đông đảo quý tu sĩ và giáo dân cùng tham dự.

 

AnTáng 134: LỄ CÁC ĐẲNG 2.11

LỄ CÁC ĐẲNG 2.11 AnTáng 134

G 19, 1.23-27a
Rm 5, 5-11
Ga 6, 37- 40
Đầu lễ :
 

Chúng ta vừa bước vào tháng 11, tháng dành riêng cầu nguyện cho các kẻ đã qua đời. Thực ra, chẳng AnTáng 134

Chúng ta vừa bước vào tháng 11, tháng dành riêng cầu nguyện cho các kẻ đã qua đời. Thực ra, chẳng ngày nào mà Giáo Hội, qua các Thánh Lễ, lại chẳng cầu nguyện cho họ. Nhưng tháng này, Giáo Hội muốn chúng ta sống ý thức hơn và thực hành mạnh mẽ hơn việc đạo đức này. Như vậy, hôm nay quả là dịp tốt để dâng lễ cầu nguyện cho mọi tín hữu đã khuất; trong đó có ông bà, cha mẹ, thân quyến, bạn hữu và các bậc thầy của chúng ta nơi Chủng Viện này. Nhờ Ơn cứu chuộc của Đức Kitô, xin cho mọi người đã “vắng bóng”được tha thứ mọi tội lỗi và hưởng phúc lộc Thiên đàng.
Để xứng đáng dâng lễ và cầu ơn, chúng ta xin Chúa thanh luyện chúng ta trước.
Giảng lễ :
I. Tôi tin có đời sau. Tôi tin sự sống lại và sự sống vĩnh cửu.
Chẳng phải là tín hữu ngày nay chúng ta mới hùng hồn tuyên tín như thế (Credo). Nhưng từ xa xưa, Gióp đã tuyên bố : “Sau khi da tôi đây bị tiêu hủy, thì với tấm thân này, tôi sẽ được ngắm nhìn Thiên Chúa. Chính tôi sẽ được ngắm nhìn Ngài, Đấng mắt tôi nhìn thấy không phải là người xa lạ” (G 19, 26-27a). Ông tin có đời sau. Ông tin rằng Đấng hằng bênh vực ông vẫn sống và sau cùng, Ngài sẽ đứng lên trên cõi đất để cứu ông. Niềm tin của ông bền vững, chắc chắn đến độ ông ước ao lời ấy của ông được tạc vào đá cho đến muôn đời.
Là tín hữu, chúng ta xác tín mạnh mẽ vào lời của Đức Giêsu, Con Thiên Chúa, là Đấng Cứu chuộc chúng ta, khi Người nói : “Ý của Đấng sai tôi là tất cả những kẻ Ngài đã ban cho tôi, tôi không để mất một ai, nhưng sẽ cho họ sống lại trong ngày sau hết” (Ga 6, 39). “Ai tin vào Người Con, thì được sống muôn đời” (Ga 6, 40).
Không để mất một ai nghĩa là thế nào? Thánh Phaolô, qua thư Rôma, giải thích rõ ràng rằng “ngay khi chúng ta còn là tội nhân, Đức Kitô đã chết vì chúng ta. Người chết cho chúng ta được cứu, khi chúng ta không có sức làm được gì để cứu lấy mình”. Không để mất một ai là “bằng chứng Thiên Chúa yêu thương chúng ta vô cùng. Ngay khi chúng ta còn thù nghịch với Thiên Chúa, Ngài vẫn để Con Ngài chết. Ngài muốn cứu chúng ta khỏi cơn thịnh nộ của Thiên Chúa, bằng cách cho chúng ta được nên công chính nhờ máu Đức Kitô đổ ra. Làm như vậy là để chúng ta được hoà giải với Thiên Chúa. Giải pháp ấy là kế hoạch cứu chuộc được thực hiện nhờ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta” (Rm 5, 6-11).
Chúng ta nhắc lại Lời Chúa như vậy để củng cố thêm niềm tin của chúng ta vào đời sau, vào sự sống lại và cuộc sống trường sinh hạnh phúc với Chúa. Làm sao chúng ta có thể cầu nguyện cho những người đã chết được, nếu tiên vàn chúng ta còn hiểu nhạt nhoà mơ hồ về Tình yêu Cứu độ của Thiên Chúa được thực hiện trong Đức Kitô như thế.

II. Phải cầu nguyện cho những vong nhân. Cầu nguyện cho những người đã khuất là một bổn phận không thể xao lãng của chúng ta.
Biết Chúa cứu, tin rằng Chúa không để mất một ai là một chuyện. Nhưng Giáo Hội luôn dạy chúng ta phải, bằng tinh thần hiệp thông luôn cầu nguyện cho mọi tín hữu đã qua đời, chứ không được ỷ lại vào Chúa.
Công đồng Vatican II nhắc lại mầu nhiệm Giáo Hội cùng thông công như sau : “Trong số những môn đệ Chúa, có những kẻ tiếp tục cuộc hành trình nơi dương thế, có những kẻ đã hoàn tất cuộc sống này nhưng đang được tinh luyện và có những người đang được chiêm ngưỡng rõ ràng Thiên Chúa Ba Ngôi vinh hiển. Cả ba thành phần đều hiệp thông với nhau trong đức mến và truyền thông cho nhau những của cải thiêng liêng. Nhận biết đúng đắn sự hiệp thông này trong toàn Nhiệm thể Chúa Kitô, ngay từ buổi đầu, Giáo Hội lữ hành hết lòng kính nhớ, cầu nguyện cho những người đã chết”.
Hơn nữa, người tín hữu đã chết trong Ơn nghĩa Chúa, nhưng chưa sạch hết mọi tội, và chưa đền tội bằng những hình phạt tạm thời đời này, thì không thể vào thẳng Thiên đàng được, vì chưa xứng đáng hưởng Thánh Nhan Chúa.
Thánh Gioan cảnh báo rõ trong sách Khải huyền : “Tất cả những gì ô uế, cũng như bất cứ ai làm điều ghê tởm và gian tà, đều không được vào thành…” (Kh 21, 27). Tất nhiên, họ phải chờ tinh luyện xong mới vào được Thiên đàng. Thời gian đó là thời gian xa cách Chúa. Nên Công đồng Florence (1439) mới định tín có luyện ngục để tinh luyện các linh hồn.
Purgatorium, chỉ luyện ngục, có nghĩa là tinh luyện. Bởi thế, hằng ngày Giáo Hội dâng lễ nài xin Ơn tha thứ cứu độ của Chúa Giêsu cho các linh hồn ; suốt tháng 11 này và đặc biệt hôm nay ngày 2.11 còn tăng lên gấp 3 (mỗi Linh mục được làm 3 lễ trong ngày). Giáo Hội kêu gọi chúng ta luôn nhớ về và sốt sắng cầu nguyện cho những người đã khuất. Cầu nguyện là góp phần mình vào mở kho Ân xá, nhường cho các linh hồn nơi luyện ngục, khi họ không thể làm được việc lành cứu mình. Giáo Hội còn khuyến khích đi viếng nghĩa địa, sửa sang mồ mả và cầu nguyện cho các linh hồn, vì : “ Mồ thật chôn các người chết là trái tim của người sống” (Tục ngữ).
Thế nên, người sống có nhớ đến, có cầu… thì người chết mới mát mẻ thanh nhàn. Thật ra, không phải cầu cho người “chết”. Nếu chết là chấm tận, hết chuyện thì cầu làm gì và ích lợi gì? Nhưng là cầu cho nguời vượt qua cõi chết, đi vào cõi sống muôn đời.

 

AnTáng 135: LỄ AN TÁNG

LỄ AN TÁNG AnTáng 135

Mt 25, 1-13
Đầu lễ :
 

Chết là gặp gỡ và kết hợp bất khả phân ly với Chúa Kitô. Nếu thế, bài Tin Mừng “10 cô phụ dâu AnTáng 135

Chết là gặp gỡ và kết hợp bất khả phân ly với Chúa Kitô. Nếu thế, bài Tin Mừng “10 cô phụ dâu đi đón chàng rể” trong khung cảnh lễ An táng hôm nay thật thích hợp, để chúng ta đến tiễn đưa người quá cố này về “nhà chồng”, về ngôi nhà mà ông sẽ sống muôn đời, hay đúng hơn là đời đời kiếp kiếp.
Giảng lễ :
I. Sống là hẹn hò.
Đời người mãi mãi là cuộc hành trình tìm kiếm và gặp gỡ Thiên Chúa. Không ai xác định được thời hẹn, nhưng có thể xác quyết được điểm hẹn.
1. Không hẹn giờ : “Chàng rể đến”, đó là tiếng hô của người xướng lễ báo hiệu tiệc cưới bắt đầu. Tại sao các cô phụ dâu lại luýnh quýnh cả lên như vậy? Chẳng qua là vì chàng rể đến mà không hẹn giờ trước. Khác với phong tục Việt nam ngày xưa : Chàng rể đến nhiều khi còn phải đợi ngoài ngõ, chờ đúng giờ tốt mới được nhà gái cho phép vào.
Dù sao, chờ đợi luôn là yếu tố tất nhiên phải có đi kèm với hẹn hò ước nguyện. Không riêng gì người quá cố, mà cả chúng ta đây luôn sống trong niềm hy vọng về một Đấng vẫn đang hiện diện và đồng hành, nhưng vẫn chưa phải là giáp mặt. Có lúc ta thoáng thấy Người, dường như nghe được cả tiếng Người mời gọi; nhưng rồi lại hụt hẫng (như hai môn đệ trên đường đi Emmaus), vì Người không còn ở đó, mà lại hẹn gặp ở nơi khác.

2. Nhưng hẹn gặp : Dụ ngôn cho biết cả mười cô phụ dâu mệt mỏi đợi chờ và đã ngủ thiếp đi, nhưng trong thâm tâm các cô vẫn đinh ninh chàng rể sẽ đến. Chẳng bao lâu nữa chàng sẽ đến! Chẳng bao lâu nữa giây phút cuối cùng của đời người sẽ đi vào vĩnh cửu, giống như giây phút lìa trần của người hấp hối.
Giây phút chia ly để lại sự thương nhớ cho người tại thế, nhưng lại có thể là nỗi vui mừng khôn tả của người đã khuất, vì bây giờ không còn là đợi chờ hẹn gặp, mà là gặp gỡ diện đối diện.
Lẽ nào ta không vui niềm vui của các cô phụ dâu khi tiệc cưới bắt đầu, khi tân lang đang ở giữa họ ? Lẽ nào ta không vui với ông M., khi ông đang ở với Chúa Giêsu, Đấng cả đời ông đã chờ đợi hẹn hò gặp mặt.

II. Chết là gặp gỡ.
Chết không phải là hết : bởi sự chết không phải là đích điểm mà chỉ là bước khởi đầu của gặp gỡ, của hạnh phúc hưởng kiến Thiên Chúa.
1. Khai mở sự sống : Làm người ai chẳng hy vọng
hay khao khát ? Thế mà cái chết lại cắt ngang mọi dự định tính toán, bỏ dở mọi thành đạt của con người. Thế nhưng niềm tin Kitô giáo không cho phép dừng lại ở cái chết.
Đời sống của người đã khuất chỉ là thay hình đổi dạng, chứ không bị tiêu diệt. Đối với người yêu mến Chúa thì đó lại là ngày “sinh nhật Nước Trời”, như lời Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu trên giường hấp hối : “Tôi không chết, nhưng đang bước vào cõi sống”.
Theo sau quan tài là kẻ than người khóc, còn bản thân người quá cố mới chỉ là bắt đầu, vì thời kỳ thai nghén lâu dài nay đã chấm dứt và sự sống vĩnh cửu dường như mới khởi sự.
Thế gian hôm nay vẫn đẫy dẫy sự chết, nhưng chết chỉ là trong giây lát như để bước đi từ tạm thời sang vĩnh cửu. Tuổi thơ phải qua đi mới đến tuổi trưởng thành. Con sâu phải lột xác trong đau đớn mới thành con bướm và hạt lúa cũng phải chết đi trong lòng đất mới trổ sinh mầm sống mới.
Sự sống mới ấy là gì nếu không phải là được chấp nhận vào sự sống vĩnh cửu, là gặp gỡ thân tình với Đấng là nguyên thuỷ và cùng đích của mọi loài ?

2. Khởi đầu gặp gỡ : Dụ ngôn mười cô phụ dâu làm nổi bật ý tưởng phải tỉnh thức và sẵn sàng trước những bất ngờ, nhất là những bất ngờ về sự chết (Mt 25,13). Dụ ngôn còn cho thấy niềm hoan hỷ được gặp mặt chàng rể trong tiệc cưới Nước Trời của các cô khôn ngoan. Sở dĩ được gọi là khôn, vì các cô biết lo liệu, không phung phí để có thể thắp sáng đời mình vào giây phút trọng đại khi chàng rể đến.
Thực ra trong quãng đời tại thế, tìm Chúa và gặp Chúa là hai mặt của một quá trình. Tìm Chúa là đã gặp Chúa. Càng gặp gỡ càng thôi thúc kiếm tìm như cảm nghiệm của Thánh Augustinô : “Tâm hồn con vẫn khắc khoải chờ mong cho đến khi được yên nghỉ trong Chúa”.
Chúng ta cầu xin cho người quá cố này bắt đầu một cuộc gặp gỡ bất khả phân ly với Đấng là hạnh phúc đích thực. Xin ánh sáng Phục sinh của Chúa Kitô Phục sinh thắp sáng đời họ, để họ theo Người vào phòng cưới Nước Trời.
Lạy Chúa Giêsu, Chúa từng cầu nguyện với Chúa Cha : “Con muốn rằng con ở đâu thì những người Cha ban cho con cũng sẽ ở đó với con” (Ga 17, 24). Vậy khi Chúa mong ước về cùng Chúa Cha, thì Chúa cũng muốn sự có mặt của con (của ông M.) nghĩa là bao lâu con chưa về trời thì trong lòng Chúa vẫn có bóng hình của con, vẫn hẹn hò và chờ đợi con.
Hôm nay người thân yêu của con đã ra đi trước con về Bến Hẹn và đang chờ đón con, vì chúng con có chung một Điểm Hẹn là chính Chúa. Xin cho người thân yêu của con sớm được yên nghỉ bên Chúa, để một ngày kia đời con đến hẹn
cũng sẽ gặp được cả Chúa lẫn người thân.
(theo Phạm Công Phương, trong Đồng Hành).

 

AnTáng 136: LỄ CÁC LINH HỒN

Ông bà anh chị em thân mến. 
 

Tháng Mười Một được Giáo hội dành riêng để kêu gọi chúng ta cầu nguyện cho các linh hồn nơi AnTáng 136

Tháng Mười Một được Giáo hội dành riêng để kêu gọi chúng ta cầu nguyện cho các linh hồn nơi luyện tội, và cũng là dịp tốt để chúng ta thể hiện đức bác ái Ki-tô giáo với những người đã qua đời, trong tình liên kết với “Các Thánh Thông Công.” Và cũng trong Tháng Các Linh Hồn này, chúng ta cũng có cơ hội tưởng nhớ, và đặc biệt thể hiện lòng hiếu thảo với tổ tiên, ông bà, cha mẹ đã qua đời.  Đây là giới răn Chúa dạy và cũng là bổn phận phải thảo hiếu với cha mẹ còn sống và đã qua đời. Tuy trong một bầu khí u sầu và thương nhớ, nhưng chúng ta hãy suy nghĩ, trong tháng này có biết bao nhiêu linh hồn được thanh luyện, và được hợp cùng các thánh hưởng hạnh phúc thật trên Thiên đàng, diện kiến tôn nhan và ca tụng Thiên Chúa.
Sách giáo lý của Giáo hội nhấn mạnh đến sự thanh luyện của các linh hồn và tôi xin tóm lại và chia sẻ một số điểm như sau.  Thứ nhất, các linh hồn cần được thanh luyện để trở nên hoàn toàn thánh thiện để được vào Thiên đàng. Thứ hai, chúng ta chú trọng vào sự thanh luyện, được hiểu là sự thay đổi trạng thái, hơn là vào “nơi chốn”, và càng không thể hạn định chắc chắn “thời gian” bao lâu. Nơi luyện tội không phải là một hoả ngục ngắn hạn, luyện tội hoàn toàn khác xa hoả ngục. Và thứ ba, sách giáo lý đề cập đến “lửa thanh luyện” có nghĩa là các linh hồn được thanh tẩy bằng lửa, nhưng là “lửa tình yêu” hay “lửa bác ái.”
Ông bà anh chị em thân mến. Sự thanh luyện của các linh hồn nói lên lòng lân tuất và nhân từ của Thiên Chúa. Ngài muốn linh hồn của chúng ta nên hoàn thiện, hoàn toàn thanh sạch để xứng đáng chiêm ngắm thánh nhan Ngài. Sự thanh luyện cũng nói lên tình yêu cao quí của Thiên Chúa. Thật vậy, khi còn sống ở trần gian, Thiên Chúa ban cho chúng ta một chân lý, đó là giới răn Mến Chúa Yêu Người, và Chúa muốn chúng ta yêu mến Thiên Chúa hết sức, hết tâm hồn, hết trí khôn và thương yêu tha nhân như chính mình. Trong bài Tin mừng hôm nay, Chúa Giê-su muốn chúng ta sống giới răn Yêu Thương “để tình Cha yêu Con ở trong chúng, và Con cũng ở trong chúng nữa.”  Và “Con ở đâu chúng cũng ở đấy với Con, để chúng chiêm ngưỡng vinh quang mà Cha đã ban cho Con.”  Chúng ta ý thức sống trọn vẹn, hoàn tòan giới răn yêu thương của Chúa rất khó, vì sự yếu đuối và giới hạn của con người.  Chính thánh Phaolô cũng phải thú nhận rằng trở thành giống hình ảnh Thiên Chúa nơi trần gian thật khó khăn. Thật vậy, chúng ta nhận định rằng không mấy ai trong chúng ta có thể thực hiện được điều răn thương yêu này một cách trọn vẹn được trước khi chúng ta nhắm mắt xuôi tay.  Và do đó, chốn luyện hình là nơi linh hồn của những người đã qua đời sẽ được thanh luyện nhờ sự giúp đỡ của những người còn sống, qua những việc tốt lành, bác ái, quảng đại và nhất là lời cầu nguyện, đặc biệt là Thánh lễ. Qua những việc tốt lành này, linh hồn của những người đã qua đời được thanh luyện trở nên giống hình ảnh Thiên Chúa.
Ông bà anh chị em thân mến. Tất cả chúng ta tin vào lời Chúa dạy về ơn cứu độ, về sự phán xét, về sự sống vĩnh cửu, và về hạnh phúc vĩnh cửu trên Thiên đàng. Nếu không tin vào lời Chúa và những điều Chúa dạy thì chẳng ai cầu nguyện cho các linh hồn làm gì, và cũng chẳng có lễ cầu hồn, như Thánh lễ ngày hôm nay. Nếu chúng ta không tin vào lời Chúa về sự phán xét và thưởng hay phạt sau khi chết, và những lời nhắn nhủ của thánh Phaolô với chúng ta trong bài đọc 2 hôm nay là cuộc sống này là tạm bợ, Quê Trời mới là chỗ vĩnh viễn, thì chúng ta không cần phải có đức tin, không cần phải sống yêu thương, hy sinh, bác ái, không cần phải cầu nguyện, không phải thờ phượng, kính mến Chúa, và những việc bác ái cùng những lời cầu nguyện chúng ta dâng cho cho người đã qua đời đều trở nên vô nghĩa. Là những Ki-tô hữu, tin vào Chúa và Lời của Người, chúng ta được kêu gọi sống Lời Chúa, sống thánh ý Chúa và đẹp lòng Chúa để được hưởng hạnh phúc phúc Quê trời.
Chúng ta biết anh chị em bên giáo phái Tin lành không tin về sự thanh luyện và cũng không cầu nguyện cho các linh hồn của những người đã qua đời.  Có những anh chị em Tin lành cũng không tin vào sự phán xét và sự thưởng hay phạt ngay sau khi chết như Lời Chúa đã dạy. Còn chúng ta, chúng ta tin vào Lời Chúa dạy và khi dâng các việc lành phúc đức và cầu nguyện cho những người đã qua đời là chúng ta gián tiếp tuyên xưng niềm tin vào sự sống, sự thưởng và phạt sau khi chết.
Ông bà anh chị em thân mến. Tuyên xưng niềm tin vào mầu nhiệm của Giáo hội, là Giáo hội của “Các Thánh Thông Công” là chúng ta tin vào Chúa Giêsu Kitô, qua cái chết và phục sinh của Chúa, đã nối kết các thánh, các linh hồn và chúng ta bằng mầu nhiệm tình yêu của Ngài. Chính mầu nhiệm tình yêu thập giá và sự phục sinh của Chúa Kitô đã nối kết các thánh đang hưởng hạnh phúc Nước Trời với các linh hồn nơi luyện hình và những người Ki-tô hữu còn sống lại với nhau. Chính vì thế mà lời cầu bầu của các thánh cho chúng ta, cũng như lời cầu nguyện và việc việc hy sinh, bác ái của những người còn sống trở nên có giá trị vô cùng.
Tóm lại, khi dâng các việc lành phúc đức và lời cầu nguyện cho những người thân thuộc đã qua đời là chúng ta sống Lời Chúa, là trực tiếp bày tỏ lòng biết ơn, lòng thảo hiếu, và lòng bác ái đối với các ngài, đồng thời cũng là cách thế chúng ta gián tiếp tuyên xưng niềm tin vào mầu nhiệm các thánh cùng thông công, vào lòng từ bi thương xót của Thiên Chúa, và vào sự sống lại và sự sống vĩnh cửu.
Trong ngày lễ Các Linh Hồn hôm nay, chúng ta xin tình yêu và lòng thương xót của Thiên Chúa thanh tẩy những tội lỗi của các linh hồn những người thân thuộc, những người đã sống trong cộng đoàn giáo xứ chúng ta, còn đang trong chốn luyện hình, và đưa các linh hồn vào hưởng hạnh phúc vĩnh cửu trên Thiên đàng, được “chiêm ngưỡng vinh quang của Chúa Cha.”  Và chúng ta cũng cầu xin Chúa, qua lời cầu bầu của các thánh, nhất là cả Thánh Giuse bổn mạng giáo xứ, và các thánh tử đạo Việt Nam, giúp chúng ta cố gắng và thành tâm sống chân lý, giới răn “Mến Chúa Yêu Người”, và cũng luôn ý thức và sống hiếu thảo với những người đã qua đời là tổ tiên, ông bà, cha mẹ và những người thân thuộc đã qua đời.  Xin cho ánh sáng tình yêu của Chúa chiếu soi vào các linh hồn. Amen.

 

AnTáng 137: NHỚ ĐẾN CỘI NGUỒN

Con người có tổ có tông, như cây có cội như nước có nguồn, đó là câu ca dao mà từ tấm bé ai AnTáng 137

Con người có tổ có tông, như cây có cội như nước có nguồn, đó là câu ca dao mà từ tấm bé ai cũng đã nghe, còn sống tâm tình uống nước nhớ nguồn hay làm con phải hiếu, thì cả thế giới luôn được mời gọi để cùng nhau sống đạo hiếu ấy. Không ai thờ cha kính mẹ bằng môi miệng, vì thế mà khi các ngài còn sống, con cháu thăm hỏi, lúc qua đời có bàn thờ tổ tiên, có di ảnh ông bà hoặc cha mẹ. Tới nghĩa trang mộ phần của các ngài sạch đẹp lại còn có hoa tươi nhất là những ngày đầu tháng 11 này…… Đó có phải là tình cha nghĩa mẹ đong đầy trong con không ? Dĩ nhiên lòng biết ơn đâu thể tính tháng tính ngày, hoặc bằng hình thức phô trương ra bên ngoài.
Họp nhau tại nghĩa trang đây, cầu nguyện trong thánh lễ này có phải là sự hiệp thông của những người làm con đang sống tinh thần “nhớ đến cội nguồn” hay không ? Tổ tiên dòng tộc, người thân thì ai ai cũng có, truyền thống sống đạo hiếu tuy khác nhau, nhưng ca dao vẫn nhắc đến một tình yêu thương thật đẹp giống nhau hoàn toàn : cha là núi mẹ là sông, dù ở hoàn cảnh nào, cha mẹ vẫn là bóng mát che chở đời con. Nhiều người vẫn thắc mắc không biết tại sao Chúa Giêsu trong đoạn Tin Mừng mà chúng ta vừa nghe, Ngài cầu nguyện sốt sắng như thế ? Khi được dân chúng tung hô, khi vừa thực hiện phép lạ Chúa cầu nguyện sốt sáng thì đã đành…?
Và nhiều người chúng ta không khỏi thắc mắc, tại sao có rất nhiều các bậc cha mẹ khi còn sống con cái chẳng cho ăn, khi mất mới làm ma cúng tế ! thật đau lòng ! Người xưa nói rằng : bạc tình bạc nghĩa, bạc luôn lối đi…., đó là dấu hiệu của bất hạnh, là hậu quả khổ đau mất mát, sẽ không gì bù lấp nổi, nếu điều ấy xảy ra ngay trong gia đình mình. Kinh nghiệm cho thấy ai chập chững tập đi mà lại không té lên té xuống, ai đạt đến thành công mà lại không từng nếm mùi thất bại ? ai có tình, có hiếu mà lại không nhớ về tổ tiên, đấng bậc sinh thành.
Khi nhớ người yêu, lẽ nào người ta lại không sắp xếp công việc để đến gặp gỡ nói chuyện, và hôm nay kính nhớ cha mẹ ông bà lại không đến nghĩa trang linh thiêng này để thắp nhang dâng lễ cầu nguyện cho người thân của mình…. Biết ơn tổ tiên, là dịp để ta sống đức thảo hiếu, cũng là dịp để ta nhớ về mầu nhiệm các thánh cùng thông công, trước ơn gọi Chúa Giêsu là TRUNG TÂM của lịch sử ơn cứu độ.
Vì nhờ lời cầu nguyện của Đức Giêsu, mà chúng ta mới biết cầu nguyện là đi sâu vào tâm tình hiệp thông với Thiên Chúa là Cội Nguồn, được Chúa Giêsu hé mở đôi chút cảm nghiệm về hạnh phúc thiên đàng. Đức Giêsu khởi đầu kinh nguyện ấy, với tư cách là Con trong Cha, vừa là Thày dạy, là anh Cả của chúng ta, và cũng là Chúa của kẻ sống và kẻ chết. Nhờ tình yêu chúng ta biết rằng Chúa không chỉ yêu thương trong phạm vi nhỏ hẹp khi xưa dành cho các tông đồ, cho người Do Thái, mà là tất cả chúng ta hôm nay.
Chúa cầu nguyện cho những ai đang liên đới tình yêu mến, có thao thức làm môn đệ theo Chúa Giêsu, cho đến tận thế Chúa Giêsu vẫn làm công việc hiệp thông, kêu cầu Chúa Cha cho chúng ta được ở với Ngài. “Lạy Cha, những kẻ Cha ban cho Con, thì Con muốn rằng : Con ở đâu, chúng cũng ở đấy với Con”. Dù vui sướng hay đau khổ, dù ưu tư hay vô tư, mỗi chúng ta đều được mời gọi duy trì tinh thần uống nước nhớ về cội nguồn, vì chúng ta thuộc về Đức Kitô.
Làm sao mà kể hết được công ơn sinh thành của tổ tiên…., tất cả những gì mà ông bà cha mẹ làm cho con cái đều miễn phí, không tính bằng tiền, các ngài chỉ mong sao con cháu tiếp tục duy trì được tình yêu thương. Có kính nhớ, có liên đới với bậc sinh thành thì người ta cũng liên đới và hiệp thông được với Chúa Giêsu là Thầy là Chúa trong Đại gia đình yêu thương. Đạo làm người luôn ý thức chúng ta : “tận cùng của thiện không bằng có hiếu, tận cùng của ác không bằng bất hiếu” ! có hiếu là có đạo, có hiếu người ta mới hiểu được câu ca dao : thờ cha kính mẹ con nào dám quên !
Người xưa cũng có câu : “không thể lấy bụng dạ tiểu nhân để đo tấm lòng người quân tử”, và sống phận làm con, người ta không thể biết ơn các ngài bằng môi miệng, lại không thể báo đáp công ơn sinh thành bằng sự hời hợt giả tạo. “Tháng 11 được gọi là tháng để người Tín hữu sống phận làm con, biết dành thời giờ, công sức, tình yêu thương để kính nhớ tới CÁC LINH HỒN”. Ai trong chúng ta mà chẳng có CỘI NGUỒN, hãy biết tận dụng tháng 11 như là tháng báo hiếu cho TỔ TIÊN, tháng làm việc bác ái cho người đã khuất. Sống chữ hiếu là biết đến chữ đạo của Chúa Giêsu, là nhớ tới lời cầu nguyện mà Chúa đã thưa với Chúa Cha khi xưa, “để Con ở đâu thì chúng cũng ở đó với Con, để tình Cha yêu Con ở trong chúng và Con cũng ở trong chúng nữa”. Vì của lễ, vì tấm lòng thành, hy vọng lời cầu nguyện lúc này, là món quà quý giá nhất mà chúng ta cùng tiến dâng lên Chúa, kính nhớ tới ông bà cha mẹ và người thân yêu của chúng ta. Amen.

 

AnTáng 138: XIN NHỚ ĐẾN TÔI

Nếu giả như chúng ta phải ra đi vội vàng, tức tưởi, chúng ta sẽ trăn trối lại điều gì? Điều gì khiến AnTáng 138

Nếu giả như chúng ta phải ra đi vội vàng, tức tưởi, chúng ta sẽ trăn trối lại điều gì? Điều gì khiến chúng ta quan tâm nếu phải dứt bỏ cuộc đời một cách vội vàng?
Trong tai nạn máy bay boeing 747 của hãng hàng không Nhật bản vào ngày 12-8-1985 đã khiến 520 người thiệt mạng. Điều đáng nói là phi hành đoàn cũng như hành khách trên chiếc Boeing 747 này biết họ gặp nạn, máy bay của họ không thể điều khiển được và họ còn một ít thời giờ trước khi chết, nên mấy người đã lấy viết ghi lại các lời trăn trối của họ.
Trong số này có ông Kawaguchi đã viết được vài điều trăn trở trên cuốn lịch nhỏ như cuốn sổ bỏ túi. Ông viết cho vợ: Thôi, vĩnh biệt! Em hãy thay anh lo lắng săn sóc con cái.
Ông khuyên 3 người con, hai gái một trai rằng: Các con phải hòa thuận với nhau, phải cố gắng làm việc và giúp đỡ mẹ.
Riêng với cậu con trai út tên Tsuyoshi, ông viết: Cha đặt nhiều hy vọng nơi con.
Người thứ hai là kiến trúc sư Kazuo Yoshimura chỉ viết được mấy chữ trên một tấm giấy: Tôi muốn cả gia đình được mạnh khỏe.
Người thứ ba là một nhà kinh doanh tên là Masakazu Tamguchi đã viết cho tỉnh Osaka, cho thành phố Min và cho vợ tên là Machiko như sau: Xin nuôi nấng, săn sóc mấy đứa con tôi.
Xem điều mà con người quan tâm trước khi chết chính là lo cho người còn sống. Có thể là cha mẹ, là vợ con, là đồng nghiệp, . . . những con người mà họ đang có bổn phận che chở giữ gìn mà nay cái chết đến, họ không còn khả năng bảo vệ người thân yêu. Họ mong rằng những người thân của họ vẫn tiếp tục sống, vẫn tiếp tục được yêu thương, được hạnh phúc. Người ta bảo rằng có người đã không thể nhắm mắt vì họ còn có quá nhiều bổn phận với gia đình và xã hội, và chắc chắn họ không thể nhắm mắt vì còn lo lắng nhiều cho người thân.
Hôm nay chúng ta quây quần bên nghĩa trang, nơi những người thân đang an nghĩ. Họ là người đã từng có trách nhiệm với chúng ta. Họ là người đã từng yêu thương chúng ta. Nhưng họ cũng là người đã từng mang đến cho chúng ta vui buồn, hạnh phúc và khổ đau. Dầu khi sống họ đối xử với chúng ta như thế nào thì chắc chắn một điều, trước khi nhắm mắt xuôi tay điều họ quan tâm vẫn là lo lắng cho hạnh phúc của chúng ta. Họ vẫn mong chúng ta được bình yên. Họ vẫn không yên lòng ra đi vì chúng ta vẫn còn đang ở lại.
Họ có thể là một người người cha, người mẹ đã từng vỗ về chúng ta, từng ao ước cho chúng ta được sống hạnh phúc. Họ đã từng chung nỗi niềm lo lắng cho con cái cái ăn, cái học, và cả niềm vui trong cuộc sống. Họ dám đánh đổi cả mạng sống mình cho con cái niềm vui.
Họ có thể là một người bạn tri kỷ hay trăm năm đã từng cùng với chúng ta chia vui sẻ buồn. Họ cũng từng nuôi ước vọng đi với chúng ta đến tận chân trời để che chở, bảo vệ chúng ta. Họ đã hiến dâng cuộc đời mình cho hạnh phúc của chúng ta.
Họ có thể là cha mẹ, anh em vì yếu đuối mà sa vào tội lỗi nên bê tha bổn phận, gây phiền toái cho chúng ta, nhưng có lẽ họ vẫn từng ăn năn sám hối vì đã phụ bạc với chúng ta.
Dù là người đã làm chúng ta vui hay buồn thì hôm nay họ vẫn đang cần chúng ta “xin hãy nhớ đến họ”. Nhớ đến họ như xưa khi còn sống chúng ta nhớ đến nhau: có cái ăn, có niềm vui, có nỗi buồn cũng chia sẻ cho nhau, thì hôm nay họ càng cần chúng ta nhớ đến họ để giúp họ vượt qua biển lửa luyện tội để bước vào thiên đàng. Nhớ đến họ để van xin lòng thương xót của Chúa cứu họ khỏi nơi tối tăm luyện tội mà đưa vào ánh sáng tình thương.
Tháng 11 thật quý giá. Quý giá vì nó giúp chúng ta nhớ đến nhau. Nhớ đến người quá cố mà lâu nay vì mải miết làm ăn mà ta đã bỏ quên họ. Nhớ đến họ để làm điều gì đó cho họ. Thiết tưởng điều họ cần chính là cầu nguyện cho họ khỏi sự công thẳng của Thiên Chúa và nhất là đền tạ những thiếu sót trong thân phận con người của họ qua những hy sinh, những việc lành phúc đức mà khi xưa họ đã không làm. Họ đang cần những việc lành của chúng ta để đền bù cho những thiếu sót trong bổn phận của họ.
Xin cho chúng ta biết dùng tháng 11 như là dịp để làm việc phúc đức thay cho các linh hồn tiên nhân và bạn hữu của chúng ta. Xin nhờ những lời kinh, những việc lành của chúng ta mà Chúa nhân lành xót thương cứu vớt họ. Amen

 

AnTáng 139: MỌI SỰ RỒI SẼ QUA ĐI

Có ai đó đã  viết rằng: “Mọi thứ rồi cũng qua Cái loa rồi cũng hỏng Nước sôi rồi hết nóng Đắm AnTáng 139

Có ai đó đã  viết rằng:
“Mọi thứ rồi cũng qua
Cái loa rồi cũng hỏng
Nước sôi rồi hết nóng
Đắm say rồi thờ ơ
Thờ ơ rồi cũng qua
Để bắt đầu say đắm
Nước lại đun để tắm
Loa này thay loa kia
Nhớ ngày nào mình còn rất nhỏ bé, thế mà nay đã đi qua nửa đời người. Nhìn những người đi trước họ đã và đang lần lượt từ bỏ dương gian để về cõi trăm năm cuối trời. Nhìn vào biết bao người nổi danh, nổi tiếng thế mà nay cũng vào cõi vĩnh hằng, vì:
“Trăm năm còn cò gi đâu
Chẳng qua một nấm cỏ khâu xanh rì”
Ôi cuộc đời thật phù du như hoa sớm nở rồi tàn!
Có một câu chuyện kể rằng: có một ông vua muốn làm bẽ mặt một vị cận thần của mình vốn nổi tiếng thông thái và tài trí. Ông bảo vị quan nhân lễ hội này hãy mang về một vật mà người đang vui nhìn vào sẽ buồn và người đang buồn nhìn vào chắc chắn sẽ vui. Thời gian cận kề, vị quan buồn bã vì chưa tìm được một món vật như thế, ông liền quyết định đi đến nơi nghèo nhất kinh thành, khi đi ngang qua một lão già bán hàng rong, ông dừng lại và hỏi lão có biết một vật như thế không, ông lão bèn đưa cho vị quan ấy một cái vòng.
Vị quan nhìn vào thấy một dòng chữ liền mỉm cười vui sướng. Lễ hội đến, nhà vua hào hứng chắc mẩm rằng tên quan kia sẽ bị một vố bẽ mặc ra trò. Thế nhưng vị quan thông thái ấy ung dung bước vào, cầm theo cái vòng đưa cho nhà vua trước sự ngơ ngác của hết thảy mọi người. Nhà vua hồ nghi, cầm cái vòng lên, nụ cười trên môi, sự hào hứng lập tức tan biến. Thật sự trên đời có tồn tại thứ ấy. Thứ mà người đang vui nhìn vào sẽ buồn và người đang buồn nhìn vào sẽ vui. Chiếc vòng với dòng chữ “Mọi việc rồi sẽ qua.”
Mọi sự rồi sẽ qua đi. Nghe qua sao bẽ bàng! Thế mà nó lại là một sự thật, một chân lý về cuộc sống. Sum họp rồi tan. Như hơi nước kết thành mây rồi cũng rã tan thành cơn mưa giông hòa biến trong không gian. Như cánh hoa rực rỡ mấy rồi cũng khô héo tàn lụi. Cuộc đời con người rồi cũng sẽ qua đi. Không ai ở mãi dương gian. Có sinh, có tử. Có hiện hữu có tan đi. Cho dẫu con người đã cất công tìm kiếm cây thuốc trường sinh nhưng cho đến hôm nay vẫn hão huyền, vô vọng!
Nếu cuộc đời này rồi sẽ qua đi, vậy ta sống ở đời này để làm gì?
Chắc chắn Thiên Chúa không dựng chúng ta hiện hữu một cách vô tình như cây cỏ. Thiên Chúa càng không dựng chúng ta nên một vật sớm nở rồi tàn như vạn vật. Ngài dựng chúng ta giống hình ảnh Ngài. Ngài cho chúng ta tham dự vào sự sống vĩnh hằng như Ngài. Thế nên, cuộc sống của chúng ta phải là cuộc sống tìm kiếm Ngài và ở trong Ngài. Đừng đánh mất Ngài trong cuộc sống. Đừng quay lưng lại với Ngài chỉ vì những vinh hoa phú quý trần gian.
Nhìn vào những người đang nằm dưới các nấm mồ cho chúng ta hiểu rằng: “mọi sự rồi sẽ qua đi”, nhưng sự qua đi này lại dẫn chúng ta về với Đấng tạo thành, về với Đấng trường sinh bất tử, về với cội nguồn sự sống của chúng ta. Thế nên, điều quan yếu là chúng ta phải tìm kiếm Ngài trong cuộc đời. Đừng tìm kiếm những danh lợi thú mau qua mà đánh mất Ngài. Hãy ở lại trong Ngài nơi cuộc sống dương gian để Ngài cho chúng ta ở với Ngài nơi thiên quốc sau cuộc sống tạm bợ nơi dương gian.
Nhưng đáng tiếc có rất nhiều người đã cố tình đánh mất Ngài để bám vào đồng tiền, vào danh vọng, vào lạc thú. Họ đã vì tiền mà bỏ đạo. Vì danh vọng mà quay lưng lại với Đấng tạo thành. Vì lạc thú mà phản bội với tình yêu của Ngài. Họ quên rằng “mọi sự rồi cũng qua đi” nên vẫn cố bám vào những cái phù du mau qua. Danh lợi thú chỉ như áng mây bay qua cuộc đời, rồi tan biến chỉ còn lại mình phải đối diện với Đấng tạo thành.
Hôm nay ngày lễ các đẳng linh hồn, là dịp để chúng ta nghĩ về thân phận mỏng dòn của mình để sống cho có ý nghĩa. Đồng thời cũng là dịp để chúng ta làm một nghĩa cử cao đẹp cho những người đã khuất. Nghĩa cử mà họ đang cần chúng ta không phải là mâm cao cỗ đầy mà là những lời kinh nguyện, những hy sinh, những việc bác ái mà khi còn sống họ đã thiếu sót với Thiên Chúa và với tha nhân. Hôm nay họ đã bị phiến đá ngàn năm đè bẹp khiến họ không thể làm điều mà họ muốn làm. Họ cần đến chúng ta hãy vì yêu thương mà làm thay cho họ. Hãy cứu độ họ bằng hiến tế mà chúng ta tham dự hằng ngày. Vì:
Cuộc sống bon chen họ đã quên thờ phượng Chúa thì nay nhờ thánh lễ chuộc tội của Chúa Giê-su, chúng ta xin đền bù những thiếu sót của họ.
Cuộc sống mưu sinh mà họ đã từng lỗi công bình bác ái với tha nhân, thì nay chúng ta hãy làm một việc bác ái nào đó để đền bù lỗi lầm cho họ.
Những cuốn hút của danh lợi thú đã khiến họ lao vào vòng xoáy của tiền, tình, quyền mà thiếu sót bổn phận với gia đình, thì nay chúng ta dâng hy sinh việc lành phúc đức để đền bù cho họ.
Mỗi người chúng ta đều có những người thân đã khuất. Mỗi người chúng ta đều cảm thấy những người thân của chúng ta đang cần chúng ta cứu vớt họ. Xin cho chúng ta biết dùng tháng các linh hồn này để cứu độ các linh hồn. Ước gì đây là dịp để chúng ta báo hiếu ông bà tổ tiên và quảng đại với anh em qua cầu nguyện, dâng lễ và thực thi bác ái cho các đẳng linh hồn. Amen

 

AnTáng 140: CẦU CHO CÁC TÍN HỮU ĐÃ QUA ĐỜI

Trong bài hát “Nối vòng tay lớn”, Trịnh Công Sơn nói lên niềm vui của ngày gặp gỡ những người AnTáng 140

Trong bài hát “Nối vòng tay lớn”, Trịnh Công Sơn nói lên niềm vui của ngày gặp gỡ những người thân xa cách nhau lâu năm nay được gặp lại. Theo cái nhìn của tác giả, niềm vui gặp gỡ này không chỉ là cuộc gặp gỡ giữa những con người, mà còn là cuộc nối kết hồn thiêng sông núi, cuộc nối kết giữa người chết với người sống , ông viết rằng : “Người chết nối linh thiêng vào đời và mụ cười nở trên môi”. Quan điểm của tác giả họ Trịnh phát xuất từ một niềm tin nằm sâu trong mỗi con người, đặc biệt người Việt Nam tin rằng : Thác là thể phách còn là tinh anh. Phần chết chỉ là thể phách, là cái xác bên ngoài, phần tinh anh chính là phần còn tồn tại mãi mãi. Cái tinh anh ấy chính là phần hồn trong mỗi con người.
Thưa quý OBACE, chỉ có những người vô thần, vô đạo mới là những người tuyên bố rằng chết là hết, họ là những kẻ không tin sự hiện diện của phần thiêng liêng trong con người mà chúng ta gọi là linh hồn. Nếu chết là dấu chấm hết theo như người vô thần, thì cuộc sống của con người chẳng khác chi con vật, chỉ biết ăn, tranh giành, rồi chết. Nếu con người chỉ có như thế thì việc tưởng nhớ cầu nguyện cho người đã qua đời sẽ chẳng có ý nghĩa gì.
Họp nhau nơi đây trong ngày cầu nguyện cho các tín hữu đã qua đời, chúng ta cùng với Giáo Hội tuyên xưng niềm tin của chúng ta về sự sống đời sau, về sự liên đới hiệp thông của các thành phần trong Giáo Hội, gồm các thánh, những người đã hoàn tất tốt đẹp cuộc đời, các linh hồn còn đang phải thanh luyện và những người còn đang chiến đấu trên hành trinh trần thế ; đồng thời nhắc mỗi chúng ta bổn phận thảo hiếu, biết ơn đối với các bậc tiền nhân, những người đã ra đi trước chúng ta.
Niềm tin vào sự sống đời sau là niềm tin đã được Thiên Chúa đặt để trong con người. Từ những dân tộc thiểu số trên núi, trên rừng hoặc những người thổ dân vùng rừng sâu nước độc tại Châu Phi, Nam Mỹ cho đến những người văn minh, đều tin rằng con người có một phần linh thiêng bất tử mà người ta gọi là hồn. Khi hồn không còn kết hợp với xác, thì xác chỉ còn là xác chết. Đối với người Kitô hữu, chúng ta được dạy rằng : Con người là do Thiên Chúa tạo dựng, xác được tạo dựng từ vật chất, còn linh hồn thì do Thiên Chúa trực tiếp dựng nên và trao ban cho mỗi người. Xác là vật chất, nên phải theo quy luật của vật chất, tức là quy luật sinh tử, còn linh hồn là phần thiêng do Thiên Chúa trao ban, nên linh hồn là bất tử.
Con người được Thiên Chúa đưa vào trần gian, và đến một ngày Thiên Chúa muốn, con người sẽ phải từ giã trần gian để trở về với cội nguồn của mình là Thiên Chúa qua ngưỡng cửa của sự chết. Vì thế, chết là một cuộc trở về với Thiên Chúa. Cuộc trở về này là một cuộc trở về trong hân hoan hay trong sợ hãi, điều đó hoàn toàn tùy thuộc vào sự chọn lựa của con người khi còn sống. Nếu hôm nay chúng ta chọn lựa Thiên Chúa, thì ngày trở về, chúng ta sẽ được gặp Thiên Chúa ; trái lại, nếu hôm nay chúng ta từ chối Thiên Chúa, thì ngày trở về, chúng ta không thể gặp được Ngài. Hơn thế nữa, giáo lý Công Giáo cũng chỉ cho chúng ta thấy : Cái chết cũng chỉ là một giai đoạn tạm thời và nó không phải là điểm cuối cùng, mà sự sống mới là điểm cuối cùng. Chết là thời gian thanh luyện chuẩn bị cho ngày tất cả chúng ta sẽ được sống lại để trình diện Thiên Chúa. Người lành sẽ được hạnh phúc, còn kẻ dữ thì bị án phạt đời đời. Đó cũng là niềm tin mà ông Gióp tuyên xưng một cách chắc chắn : Tôi biết rằng Đấng Cứu độ tôi hằng sống, và ngày sau hết tôi sẽ từ bụi đất sống lại và trong xác thịt tôi, tôi sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa của tôi, và chính mắt tôi sẽ được nhìn ngắm Ngài.
Sự chết có thể lấy đi tất cả mọi sự của con người, nhưng có một điều nó không thể lấy mất của con người, đó là tình yêu và sự hiệp thông. Chính tình yêu và sự hiệp thông làm cho người chết và người sống trở nên gần gũi, gắn bó với nhau. Trong Giáo Hội, sự gần gũi, gắn bó này được gọi là mầu nhiệm Các Thánh cùng thông công. Tức là những người đã được hưởng hạnh phúc bên Thiên Chúa, gọi là các thánh và những kẻ còn ở trần gian và các linh hồn có sự hiệp thông ân sủng với nhau. Mỗi thành phần vẫn có thể liên đời với nhau bằng lời cầu nguyện, bằng sự chia sẻ, sự hy sinh và ân sủng mà Thiên Chúa ban cho. Các Thánh chuyển cầu cùng Chúa cho những người còn sống, những người còn sống thì làm nhiều việc lành hy sinh cũng như cầu nguyện cho các linh hồn, và các linh hồn trong khi đang thanh luyện vẫn có thể cầu xin cùng Chúa cho chúng ta. Niềm tin này được đặt trong niềm tin vào Đức Giêsu là Thiên Chúa, là Đấng Cứu độ và được bảo đảm chắc chắn bởi chính Đức Giêsu, Đấng đã mạc khải cho chúng ta, khi Ngài khẳng định rằng : Tất cả những kẻ Chúa Cha đã ban cho tôi, thì sẽ đến với tôi, và ai đến với tôi, thì sẽ không bị loại ra ngoài… và tôi sẽ cho họ sống lại trong ngày sau hết.
Chính từ tình yêu và sự hiệp thông mà hôm nay chúng ta cùng với Giáo Hội dành trọn một tháng để nhắc nhở mỗi người hãy nhớ đến những người đã qua đời, hãy làm phong phú tình yêu và sự hiệp thông ngay hôm nay ; đồng thời cũng cảm nhận được tình yêu mà những người thân và những người chung quanh dành cho ta bằng lời cầu nguyện, sự thảo hiếu và lòng biết ơn.
Nhớ đến những người đã qua đời là bày tỏ lòng biết ơn, dâng lời cầu nguyện cho họ. Những người đó có thể là ông bà cha mẹ, là vợ chồng con cái, là bạn bè hoặc những người thân quen mà chúng ta có dịp gặp gỡ. Đứng bên nấm mồ của người thân gợi lên cho chúng ta những tâm tình, những cảm xúc khác nhau. Có thể là sự tiếc nuối vì biết bao điều tốt đẹp đáng lẽ ta có thể làm cho người thân, nhưng ta chưa kịp làm ; đáng lẽ ta có thể yêu thương nhiều hơn, tha thứ thông cảm cho người thân nhiều hơn, nhưng ta đã không làm, mà nay không còn cơ hội nữa. Đứng bên phần mộ của người thân còn có cả sự hối hận và những giọt nước mắt muộn màng, vì khi người thân còn sống, ta đã đối xử quá tệ bạc hoặc thiếu trách nhiệm với người thân thương. Tất cả những tiếc nuối đó sẽ chẳng bao giờ chúng ta có cơ hội để làm lại, nhưng có một điều chúng ta có thể làm là cầu nguyện, làm nhiều việc tốt, việc hy sinh cho những người thân đã qua đời ; đồng thời hãy sống tốt, cử xử thật tốt, thật đầy tràn yêu thương với ông bà cha mẹ, vợ chồng khi họ còn đang sống bên chúng ta, để khi họ ra đi, chúng ta không phải hối hận vì chưa kịp làm gì cho nhau.
Chúng ta thể hiện lòng biết ơn đối với người thân, ông bà cha mẹ qua việc chúng ta xây mồ yên mả đẹp cho các Ngài, dâng lễ cầu nguyện cho các Ngài. Thế nhưng, không thiếu những ngôi mộ rất đẹp, rất mắc tiền mà con cái hoặc những người còn sống làm cho người đã chết, nhưng rồi sau đó, người còn sống không bao giờ nhớ đến người thân và cũng không mấy khi ra thăm ngôi mộ đó nữa, người ta gọi đó là chôn lần thứ hai. Việc xây mồ mả cho ông bà tổ tiên là việc làm tốt, nhưng việc làm tốt hơn là hãy bày tỏ lòng biết ơn ngay khi ông bà cha mẹ còn sống. Hãy yêu thương, chăm sóc ông bà cha mẹ bằng cả trái tim và tình yêu, với lòng hiếu thảo biết ơn, dù các ngài có thay tính đổi nết, dù các ngài đau lâu ốm dài. Đừng bao giờ có những lời nói, cách cư xử gây đau lòng, tủi thân cho các ngài ; đừng bao giờ khinh thường, hắt hủi và vô lễ với các ngài. Vì sóng trước đổ đâu, sóng sau đổ đấy, hôm nay chúng ta cư xử với mẹ cha thế nào, thì sau này, con cái chúng ta cũng sẽ cư xử với chúng ta giống như thế. Vì vậy, ngay khi cha mẹ còn sống, hãy cố gắng yêu thương, thông cảm và làm cho tuổi già các ngài được hạnh phúc.
Đứng trong nghĩa trang những ngày cuối năm này để mỗi người rút ra được những cảm nghiệm cho riêng mình, để thấy cuộc đời con người chóng qua như cỏ, như bông hoa nở trong cánh đồng, một cơn gió thoảng đủ làm nó biến đi, nơi nó mọc, cũng không còn mang vết tích.. Mới ngày nào còn sống bên nhau, mà giờ đây âm dương cách biệt, mới ngày nào ngang dọc một thời, bao nhiêu dự định, bao nhiêu tính toán, bao nhiêu đất đai tài sản, vui buồn giận hờn… thế mà giờ đây, tất cả đều im lặng dưới nấm mồ và đất thánh này mới thực sư là điểm hẹn của tất cả mỗi người. Nhìn thấy như thế, để ngay từ hôm nay, mỗi người hãy biết loại bỏ những giành giật tranh chấp, loại bỏ những thù oán vụn vặt, để biết sống yêu thương hơn. Hãy sử dụng tốt cuộc sống hiện tại để làm giàu tình yêu thương hơn là làm giàu của cải, vì cuộc đời như nước chảy hoa trôi, chỉ có tình thương để lại đời.
Nhớ đến ông bà tổ tiên không chỉ trong tháng này, mà mỗi ngày, trong gia đình, hãy thể hiện lòng biết ơn bằng cách làm cho gia đình mình thêm ấm cúng hơn, duy trì và bồi đắp, làm cho gia sản tinh thần và đạo đức của tổ tiên để lại được phát triển tốt đẹp hơn nữa. Anh chị em trong gia đình hãy sống yêu thương, bác ái với nhau, đừng vì một vài tấc đất, một vài viên gạch mà làm mất đi tình anh em ruột thịt. Hãy dành những giờ kinh tối sớm mỗi ngày trong gia đình để nhắc nhở cho con cháu, giáo dục con cháu lòng thảo hiếu, biết ơn tổ tiên ông bà qua việc đọc kinh cầu nguyện.
Mỗi người, mỗi gia đình thực hiện như thế, chúng ta sẽ giữ gìn được nề nếp gia phong của gia đình, đồng thời cũng thể hiện niềm tin của mình vào mầu nhiệm các thánh cùng thông công mà chúng tuyên xưng. Amen

 

AnTáng 141: GIÁO HỘI ĐAU KHỔ

Tháng Mười Một được Giáo hội dành riêng để chúng ta nỗ lực chân thành cầu cho các linh hồn AnTáng 141

Tháng Mười Một được Giáo hội dành riêng để chúng ta nỗ lực chân thành cầu cho các linh hồn nơi Luyện Hình, dịp tốt để thể hiện đức ái Kitô giáo, thể hiện lòng thương xót với người khác và thể hiện tính liên kết của tinh thần “các thánh cùng thông công”.
Tháng Cầu Hồn tím rịm nỗi nhớ thương, khói nhang trầm buồn, nhưng những ánh nến vẫn lung linh niềm hy vọng, tất cả nỗi buồn thương chợt hóa thành niềm hạnh phúc vô thường. Hằng năm, những ngày này có biết bao linh hồn được giải thoát – trong đó có những người thân của mỗi chúng ta nữa. Rồi các ngài bay thẳng về Thiên Quốc hợp đoàn cùng các thánh, cùng được diện kiến Tôn Nhan Thiên Chúa và đời đời chúc tụng Thiên Chúa Ba Ngôi.
Khi cầu nguyện, người ta thường cầu cho các linh hồn mồ côi. Thiết nghĩ chẳng có linh hồn nào mồ côi. Có lẽ chữ mồ côi chúng ta hiểu theo phần đời, vì có những người mồ côi theo nghĩa nào đó, có thể họ bị hất hủi, bị bỏ rơi, cô thân, đơn độc. Nhưng về tâm linh, không linh hồn nào mồ côi – kể cả các linh hồn thai nhi. Tại sao? Hằng ngày, trong mọi giờ kinh, đặc biệt là các Thánh Lễ, Giáo hội luôn cầu cho tất cả các linh hồn – thậm chí cầu cho cả người còn sống. Tính liên đới của Giáo hội thật tuyệt vời!
Còn nữa, mỗi khi lần Chuỗi Mân Côi, chúng ta luôn cầu xin nhiều lần: “Lạy Chúa Giêsu, xin tha tội chúng con, xin đưa các linh hồn lên Thiên Đàng, nhất là những linh hồn cần đến Lòng Chúa Thương Xót hơn”. Cuối giờ kinh, chúng ta cũng thường đọc Kinh Vực Sâu để cầu cho các linh hồn, tức là không phân biệt linh hồn thân quen hay xa lạ, bất kỳ dân tộc nào. Tại các cộng đoàn tu trì, các giờ Kinh Nhật Tụng (Thần Tụng, Thần Vụ) đều cầu cho các linh hồn. Vâng, không hề có linh hồn mồ côi như chúng ta tưởng.
Có sinh thì có tử. Vì phạm tội mà con người phải chết. Quy luật muôn thuở. Chết là nỗi buồn kinh khủng của con người, là thất bại lớn nhất của con người. Nhưng nỗi u sầu đó trở thành niềm hy vọng đối với những ai tin vào Đức Kitô. Thánh Phaolô đặt vấn đề và giải thích: “Khi chúng ta được dìm vào nước thanh tẩy, để thuộc về Đức Kitô Giêsu, là chúng ta được dìm vào trong cái chết của Người sao? Vì được dìm vào trong cái chết của Người, chúng ta đã cùng được mai táng với Người. Bởi thế, cũng như Người đã được sống lại từ cõi chết nhờ quyền năng vinh hiển của Chúa Cha, chúng ta cũng được sống một đời sống mới” (Rm 6:3-4). Vâng, như vậy cái chết không phải là “dấu chấm hết”, mà chỉ là “dấu phẩy”, là bước chuyển tiếp sang cuộc sống mới vĩnh hằng. Thánh Phanxicô Assisi xác định: “Chết là sống muôn đời” (Kinh Hòa Bình).
Sự thật kỳ diệu vậy ư? Đúng và chắc chắn như thế. Thánh Phaolô phân tích: “Vì chúng ta đã nên một với Đức Kitô nhờ được chết như Người đã chết, chúng ta cũng sẽ nên một với Người nhờ được sống lại như Người đã sống lại. Con người cũ nơi chúng ta đã bị đóng đinh vào thập giá với Đức Kitô, như vậy, con người do tội lỗi thống trị đã bị huỷ diệt, để chúng ta không còn làm nô lệ cho tội lỗi nữa. Quả thế, ai đã chết thì thoát khỏi quyền của tội lỗi” (Rm 6:5-7). Chết là giải thoát khỏi đau khổ, hoàn toàn có lợi cho chúng ta. Triết lý tâm linh này không hề dễ hiểu nếu không có niềm tin Kitô giáo.
Thánh Phaolô định tín: “Nếu chúng ta đã cùng chết với Đức Kitô, chúng ta cũng sẽ cùng sống với Người: đó là niềm tin của chúng ta. Thật vậy, chúng ta biết rằng: một khi Đức Kitô đã sống lại từ cõi chết thì không bao giờ Người chết nữa, cái chết chẳng còn quyền chi đối với Người” (Rm 6:8-9). Tử thần chính là ma quỷ. Đoàn âm binh của tướng Luxiphe đành thúc thủ, vì thế chúng cố vùng vẫy như con giun oằn khi bị đạp, như con rắn tìm cách cắn gót chân Đức Maria. Và rồi chúng tìm cách cám dỗ phàm nhân theo phe chúng. Nhưng cuối cùng, chắc chắn chúng sẽ hoàn toàn thất bại.
Cầu cho các linh hồn là dịp để chúng ta nhìn lại thân phận mình mà chấn chỉnh Đức Tin. Có Chúa là có tất cả: “Chúa là mục tử chăn dắt tôi, tôi chẳng thiếu thốn gì” (Tv 23:1). Tất cả đều sẵn sàng như tác giả Thánh Vịnh đã xác nhận: “Trong đồng cỏ xanh tươi, Người cho tôi nằm nghỉ. Người đưa tôi tới dòng nước trong lành và bổ sức cho tôi. Người dẫn tôi trên đường ngay nẻo chính vì danh dự của Người” (Tv 23:2-3). Thiên Chúa là Chúa Tể càn khôn, chí minh và chí thiện, nơi Ngài chỉ có những gì thánh thiện nhất. Do đó, Ngài cũng chỉ làm những gì tốt lành mà thôi. Sự xấu có xảy ra với chúng ta là TẠI CHÚNG TA!
Có được Vị Chúa như vậy thì thật hạnh phúc, chẳng còn gì phải lo nữa. : “Lạy Chúa, dầu qua lũng âm u con sợ gì nguy khốn, vì có Chúa ở cùng. Côn trượng Ngài bảo vệ, con vững dạ an tâm. Chúa dọn sẵn cho con bữa tiệc ngay trước mặt quân thù. Đầu con, Chúa xức đượm dầu thơm, ly rượu con đầy tràn chan chứa. Lòng nhân hậu và tình thương Chúa ấp ủ tôi suốt cả cuộc đời, và tôi được ở đền Người những ngày tháng, những năm dài triền miên” (Tv 23:4-6).
Cô Mác-ta là người đại diện cho cả nhân loại ghi nhận lời hứa của Đức Giêsu Kitô: “Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Thầy, dù đã chết cũng sẽ được sống. Ai sống và tin vào Thầy sẽ không bao giờ phải chết” (Ga 11:25-26). Chúng ta may mắn là những người đã tin Ngài, vấn đề còn lại là chúng ta phải cố gắng trung tín với Ngài cho tới hơi thở cuối cùng, dù hoàn cảnh có thế nào.
Để có được sự sống đó, chúng ta phải có Bánh Hằng Sống. Đúng như Chúa Giêsu đã nói: “Tôi là bánh hằng sống từ trời xuống. Ai ăn bánh này, sẽ được sống muôn đời. Bánh tôi ban tặng chính là thịt tôi đây để cho thế gian được sống” (Mt 6:51).
Khi nghe nói vậy, người Do-thái liền tranh luận sôi nổi với nhau vì lời đó không bình thường, khiến họ chói tai. Họ không thể hiểu được Chúa Giêsu có thể cho chúng ta ăn thịt Ngài. Họ không tin vì họ hiểu theo cách thức của phàm nhân. Bình thường thì đúng là không ai ăn thịt hoặc uống máu người, nhưng họ đâu biết rằng với Thiên Chúa thì mọi thứ đều có thể.
Và Chúa Giêsu tái xác định với họ: “Thật, tôi bảo thật các ông: nếu các ông không ăn thịt và uống máu Con Người, các ông không có sự sống nơi mình. Ai ăn thịt và uống máu tôi thì được sống muôn đời, và tôi sẽ cho người ấy sống lại vào ngày sau hết, vì thịt tôi thật là của ăn, và máu tôi thật là của uống” (Mt 6:52-55). Chúa Giêsu biết điều Ngài nói rất khó hiểu với phàm nhân, thậm chí là không thể hiểu, thế nên Ngài giải thích chi tiết hơn: “Ai ăn thịt và uống máu tôi thì ở lại trong tôi, và tôi ở lại trong người ấy. Như Chúa Cha là Đấng hằng sống đã sai tôi, và tôi sống nhờ Chúa Cha thế nào thì kẻ ăn tôi cũng sẽ nhờ tôi mà được sống như vậy. Đây là bánh từ trời xuống, không phải như bánh tổ tiên các ông đã ăn, và họ đã chết. Ai ăn bánh này sẽ được sống muôn đời” (Mt 6:56-58).
Hôm đó, chắc chắn cả hội đường Ca-phác-na-um rất ồn ào vì người ta xôn xao bàn tán. Nhưng sự thật vẫn mãi mãi là sự thật. Nếu chúng ta hiện diện lúc đó, chúng ta cũng chẳng hơn gì người Do-thái, nhưng thật may vì chúng ta là hậu duệ, được truyền lại đức tin được kiểm chứng lâu đời.
Các linh hồn nơi Luyện Hình là những người đã từng được ăn Bánh Trường Sinh, Bánh Giêsu, các linh hồn đó sẽ có ngày được sống đời đời sau khi được thanh luyện cho xứng đáng với Thiên Chúa chí thiện. Nhân vô thập toàn, mấy ai vô tội đâu!
Có một loài hoa nhỏ có màu tím buồn: Forget-me-not, Việt ngữ gọi là Lưu Ly Thảo. Ý nghĩa của loài hoa này nói về sự chung thủy của tình yêu đôi lứa. Nhưng với người Công giáo, nó mang một ý nghĩa khác, đặc biệt trong Tháng Cầu Hồn này. Vâng, Lưu Ly Thảo đang nhắc nhở chúng ta về lời kêu cứu tha thiết của các linh hồn nơi Luyện Hình: “Forget-me-not – Xin đừng quên tôi!”.
Khi cầu nguyện cho họ thì lại là chính cầu nguyện cho chúng ta. Đúng như Thánh Phanxicô Assisi nói: “Chính lúc quên mình là lúc gặp lại bản thân”. Các linh hồn không tự “cải thiện” mức án, nhưng các ngài vẫn có thể cầu nguyện cho chúng ta. Hy vọng mai đây mỗi chúng ta cũng được phân loại là “chiên” và được nghe Chúa nói: “Hỡi những kẻ Cha Ta chúc phúc, hãy đến lãnh nhận phần gia nghiệp Nước Trời đã chuẩn bị cho các ngươi từ khi tạo dựng vũ trụ” (Ga 11:25-26).
Tháng Mười Một, chúng ta cùng nhau nhớ lại tâm sự của Thánh Faustina: “Tôi bị thiêu đốt trong lòng bằng lửa yêu mến Chúa và muốn cứu các linh hồn mà tôi cảm thấy mình bị thiêu đốt. Tôi sẽ chiến đấu với ma quỷ bằng Vũ khí Lòng Chúa Thương Xót. Tôi khao khát cháy bỏng là cứu các linh hồn. Tôi đi xuyên qua sức mạnh và hơi thở của thế giới và mạo hiểm đến nỗi các biên giới và các vùng đất hoang vu nhất để cứu các linh hồn. Tôi làm điều này bằng cách cầu nguyện và hy sinh” (Nhật Ký, số 754). Tình yêu lớn lao quá!
Có Chúa là có tất cả, Ngài là Alpha và Omega, là Đầu và Cuối, là Khởi Nguyên và Tận Cùng (Kh 1:8; Kh 21:6; Kh 22:13). Ước gì chúng ta nói được như Thánh Thomas Aquino, Tiến sĩ Giáo hội: “Lạy Chúa, con chỉ muốn Ngài mà thôi”. Đó mới chính là phần thưởng cao quý nhất và tuyệt vời nhất của chúng ta.
Lạy Thiên Chúa là Cha giàu lòng thương xót, vì cuộc khổ nạn đau thương và máu của Đức Kitô, xin thương tha thứ và cho các linh hồn sớm về hưởng phúc trường sinh muôn đời. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu, Đấng cứu độ chúng con. Amen.

 

AnTáng 142: SỎI ĐÁ CŨNG CẦN CÓ NHAU

Trong ca khúc “Diễm xưa”, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn viết một câu rất triết lý: “Ngày sau sỏi đá AnTáng 142

Trong ca khúc “Diễm xưa”, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn viết một câu rất triết lý: “Ngày sau sỏi đá cũng cần có nhau…”. Tại sao sỏi đá lại cần có nhau?
Có lần ghé thăm Chùa Hang ở Long Hương, tôi tình cờ “khám phá” ra ý nghĩa những ca từ đó.
Sỏi và đá không cân xứng nhau chút nào. Đá lớn, sỏi nhỏ. Những viên sỏi nhỏ phải cần tựa vào tảng đá lớn chứ. Nhưng thật lạ lùng, những tảng đá dù lớn cũng cần đến những viên đá nhỏ chèn bên dưới chân để nó vững vàng với thời gian. Đôi khi tảng đá lớn cần điểm tựa nơi viên sỏi nhỏ để đứng vững. Một dáng đá đẹp cũng cần những viên đá nhỏ đỡ nâng. Như thế, để tồn tại, sỏi đá cũng cần có nhau.
 “Sỏi đá cũng cần có nhau”, phương chi là con người. Người với người sống để yêu nhau. Người sống và người chết cũng luôn cần có nhau.
Mầu Nhiệm Hội Thánh Thông Công là một trong những mầu nhiệm đẹp của tình yêu. Tháng 11 đã về. Người sống nhớ đến những người đã an nghĩ, hiệp thông cầu nguyện, dâng những hy sinh hãm mình, những việc bác ái như là nghĩa cử biểu lộ lòng yêu thương đối với người đã khuất với tình hiệp thông trong Nhiệm Thể Chúa Kitô.
Mỗi khi dâng lễ, đọc “Kinh nguyện Thánh Thể III”, tôi cảm nhận đây là kinh nguyện hiệp thông sâu xa của Đại Gia Đình Hội Thánh vinh thắng, lữ hành và thanh luyện: “Lạy Chúa, chúng con nguyện xin Của Lễ hoà giải này đem lại bình an và cứu độ cho tất cả thế giới. Xin thương ban cho Hội Thánh Chúa trên đường lữ thứ trần gian được vững mạnh trong đức tin và đức mến, cùng với tôi tớ Chúa là Đức Giáo Hoàng …và Đức Giám Mục… chúng con, cùng toàn thể hàng Giám Mục và giáo sĩ khắp nơi, và tất cả dân riêng Chúa.
Xin Chúa thương nhậm lời cầu của gia đình mà Chúa đã muốn tụ họp trước tôn nhan Chúa đây. Lạy Cha nhân từ, xin thương đoàn tụ mọi con cái Cha đang tản mác khắp nơi về với Cha.
Xin Cha thương đến anh chị em chúng con đã ly trần và mọi người, đặc biệt các bậc tổ tiên, ông bà, cha mẹ và thân bằng quyến thuộc chúng con đã sống đẹp lòng Cha mà nay đã lìa cõi thế. Xin thương nhận hết thảy vào nước Cha, nơi chúng con hy vọng sẽ tới để cùng nhau tận hưởng vinh quang Cha muôn đời, nhờ Đức Kitô, Chúa chúng con, nhờ Người, Cha rộng ban muôn ơn lành cho thế gian. “.
Lời kinh tuyệt đẹp, trọn vẹn trong tình yêu hiệp thông.
Giáo hội mở kho tàng ân xá là công nghiệp của Các Thánh để nhường cho các linh hồn nơi luyện tội. Giáo hội khuyến khích tín hữu dâng lễ, lần chuỗi, viếng thăm các nghĩa trang, tảo mộ, cầu nguyện cho các linh hồn. Đó là sự hiệp thông trong đức tin, trong bí tích, trong đức ái, trong cầu nguyện và là mối hiệp thông mật thiết trong đại gia đình Giáo hội.
Trong tương quan “cũng cần có nhau”, đặc biệt là với những người đã qua đời, Kitô hữu được gọi là người “tận tình với sự chết, nhiệt tình với sự sống”.
Mỗi khi thắp nén nhang trên phần mộ người chết, nhìn theo làn khói nhẹ toả bay, ta cũng nâng tâm hồn lên tới Chúa là nguồn sự sống.
Mỗi khi đặt bó hoa tươi trên phần mộ người thân yêu, ta thấy được mùa xuân vĩnh cửu đang bừng lên từ khắp những nấm mồ chung quanh.
Hương khói và những ngọn nến lung linh. Một bầu khí tĩnh mịch trầm lắng và thánh thiện nơi nghĩa trang. Cảnh vắng lặng của một thế giới đang tan thành bụi đất như đang nói về sự rũ bỏ những vướng víu để đạt tới thành toàn viên mãn. Vài người thắp nến trên phần mộ người thân thương, ánh sáng toả ra một vùng nhỏ,toả vào ký ức nhớ những người thân đã khuất bóng.Gia đình cùng đọc kinh rồi im lặng để hình ảnh người đã khuất hiện dần lên trong trí nhớ. Những kỷ niệm lung linh nhập nhoà, bởi hình hài thể phách vật chất không còn nữa. Nghĩa trang là thế giới của tan rã, chỉ có bụi đất và cỏ cây. Những người chết không còn nói năng,ăn uống,đi đứng, cảm xúc,nghĩ ngợi, nổi niềm, không ham muốn, không lo âu, không hoạch định, không gắng sức. Họ đã bước vào cõi đời đời sau khi đã đi qua thế giới hữu hạn. Họ trải qua mùa đông ảm đạm của sự chết để đi vào mùa xuân vĩnh cửu của sự sống thiên quốc. Như hạt lúa gieo xuống lòng đất tuy có bị thối đi, nhưng chính từ trong hạt giống mục nát, một cây lúa mới mọc lên (Ga 12, 24). Con người cũng vậy, chỉ có thể bước vào sự sống đời đời qua ngưỡng cửa sự chết. Chết là điều kiện để triển nở và thành toàn.Chết là một sự thay đổi cách thái hiện hữu ở một mức độ sung mãn hơn. Cuộc sống đời này và mọi sự trong đó chỉ là tạm bợ và tất cả sẽ qua đi, để hướng đến đích điểm của nó. Tiến trình qua đi và hướng đến này được thực hiện bằng sự chết đi – sống lại liên tục trong chính sự sống của vạn vật và con người, trên phương diện vật chất cũng như tinh thần. Trong đó, định hướng thành toàn thì luôn luôn bền vững, nhưng phương cách biến chuyển để thành toàn thì luôn thay đổi.
Thường tình, phải có mùa đông giá lạnh, mới tới được mùa xuân ấm áp.Thường tình, lá cũ phải rụng xuống, mới nảy sinh ra mầm non. Cũng vậy, phải có những khổ đau, phải có sự chết mới có sự sống lại: “Ai yêu mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai coi thường mạng sống mình ở đời này, thì sẽ giữ lại được cho sự sống đời đời.” (Ga 12, 25). Trong mạch thời gian, sự sống và cái chết đổi chỗ lẫn nhau. Sự sống thay đổi chứ không mất đi.
Chúa Giêsu đã đưa ra một chiều kích hiện sinh mới, mở ra cho nhân loại con đường tiến tới chân lý sự sống bằng sự chết mà Người đã thực hiện. Cuộc Tử Nạn và Phục Sinh của Chúa đã làm cho mọi cái chết trở thành Tin Mừng của sự sống.
Sự sống mới trong Chúa Kitô sẽ không còn bóng dáng của Thần Chết. Con người thoát khỏi quy luật thông thường của lẽ tử sinh. Toàn bộ con người cả xác lẫn hồn được sống lại. Thân xác tuy đã tan thành tro bụi theo thời gian, nhưng sẽ được biến đổi cách kỳ diệu để chung hưởng hạnh phúc vĩnh cửu với linh hồn. Bởi vì: “Ðức Chúa là Thiên Chúa của Tổ phụ Ápraham, Thiên Chúa của tổ phụ Ixaác và Thiên Chúa của tổ phụ Giacóp. Người không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, nhưng là Thiên Chúa của kẻ sống, đối với Người tất cả đều đang sống”.
Chúa Giêsu đã chiến thắng sự chết bằng chính cái chết trên Thập Giá và Người đã Sống Lại để trao ban sự sống mới, sự sống của Ðấng Phục Sinh.
Chúa Giêsu đã thắng được những xao xuyến, thắng được những tuyệt vọng. Người đã biến cái hố thẳm hay biển cả mênh mông ngàn trùng xa cách giữa con người và Thiên Chúa thành biển cả tình thương liên kết hiệp nhất Thiên Chúa và loài người.
Thập Giá Ðức Kitô trở nên con đường giao hoà và như chiếc thang nối liền trời và đất, kết hợp Thiên Chúa và loài người.
Từ nay, yếu tính sự chết đã được biến đổi. Sự chết không còn là tang tóc nữa mà đã trở thành Lễ Vượt Qua để tiến tới Vinh Quang Thiên Quốc. Thánh Phaolô viết: “Chúng ta có sống là sống cho Chúa, mà có chết cũng là chết cho Chúa. Vậy, dù sống, dù chết, chúng ta vẫn thuộc về Chúa” (1 Cr 1, 12); “Chúng ta biết rằng : nếu ngôi nhà chúng ta ở dưới đất, là chiếc lều này bị phá hủy đi, thì chúng ta có nơi ở do Thiên Chúa dựng lên, ngôi nhà vĩnh cữu ở trên trời, không do tay người thế làm ra” (2 Cr 5,1). Những ai có lòng tin sẽ coi đời sống là một cuộc thử thách, đau khổ sẽ qua đi và chính đau khổ sẽ là phương tiện tiến tới vinh quang.
                                        Cho đến lúc hồn ta trong hơi thở
                                        Vẫn yên vui về cõi chết xa xôi.
                                        Và u buồn là những đoá hoa tươi,
                                        Và đau khổ là chiến công rực rỡ.
                                                  (Chế Lan Viên)
Tin và sống trong ân tình của Chúa Kitô chính là chiến thắng sự chết, chính là đã mang trong mình mầm sống của sự sống đời đời: “Ai sống và tin vào Thầy thì sẽ không bao giờ chết” ( Ga 11, 26; 1 Ga 3, 14 ). Không bao giờ chết chính là không bao giờ mất sự hiện hữu trong tương quan với Thiên Chúa, không bao giờ mất sự sống trong tương quan ân tình với Người.
Niềm tin vào sự sống mai sau đem lại cho nhân loại niềm vui và hy vọng. Niềm tin ấy mang lại ý nghĩa cho cuộc đời và cho mọi sinh hoạt của con người hôm nay. Niềm tin đó thôi thúc mỗi người sống theo Tin Mừng Chúa Giêsu. Niềm hy vọng ấy thôi thúc người đang sống hy sinh cầu nguyện nhiều hơn, siêng năng dâng lễ, làm việc lành phúc đức nhiều hơn trong tháng 11 này để cầu cho những người thân yêu và các tín hữu đã ra đi trước được về quê trời vui hưởng hạnh phúc ngàn thu.
Thiên Chúa dựng nên con người để con người được hưởng hạnh phúc đời này và cả đời sau. Sống là một cuộc hành trình tiến về đời sau. Cần có nhau trong cuộc sống và trong niềm tin để giúp nhau đạt đến hạnh phúc viên mãn.

 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây