Giảng Lễ An Táng Bài 51-100: Suy nghĩ về sự chết

Thứ ba - 22/01/2019 09:11
Giảng Lễ An Táng Bài 51-100: Suy nghĩ về sự chết
Giảng Lễ An Táng Bài 51-100: Suy nghĩ về sự chết
Giảng Lễ An Táng Bài 51-100: Suy nghĩ về sự chết
AnTáng 51: BÓNG CÂU CỬA SỔ.. 2
AnTáng 52: QUÊ HƯƠNG.. 6
AnTáng 53:  VƯỢT BIỂN.. 10
AnTáng 54: TÍN HIỆU VUI HAY BUỒN  ?. 15
AnTáng 55: QUÁ MUỘN.. 19
AnTáng 56: GIỜ ĐƯỢC TÔN VINH.. 22
AnTáng 57: MỘT CUỘC TRẢ GIÁ.. 26
AnTáng 58: MỘT BỘ XƯƠNG KHÔ.. 30
AnTáng 59: ĐI VỀ ĐÂU.. 34
AnTáng 60: PHẢI SINH HOA KẾT TRÁI 39
AnTáng 61: ĐỊNH HƯỚNG CHO CUỘC ĐỜI 42
AnTáng 62: VIVE MORITURUS. 46
AnTáng 63: TỈNH THÚC VÀ SĂN SÀNG.. 52
AnTáng 64: CON CHỒN VÀ VƯỜN NHO.. 54
AnTáng 65: NHƯ NĂM CÔ TRINH NỮ KHÔN NGOAN.. 58
AnTáng 66: PHẬN AI NGƯỜI ẤY LO.. 61
AnTáng 67: BẾN GA.. 65
AnTáng 68: SỐNG SAO CHẾT VẬY.. 68
AnTáng 69: MỘT CON NGƯỜI : HAI TIẾNG GỌI 70
AnTáng 70 SỰ CHẾT LÀ THẦY DẠY TA.. 74
AnTáng 71: ĐỀN THỜ BỊ PHÁ HỦY.. 78
AnTáng 72: SỨ ĐIỆP TỪ NẤM MỒ.. 82
AnTáng 73: HÀNH TRANG CHO ĐỜI SAU.. 85
AnTáng 74: CHIỀU TÀ.. 89
AnTáng 75: HÀNH HƯƠNG HY VỌNG.. 93
AnTáng 76: CHIẾC GIƯỜNG.. 98
AnTáng 77: THÂN PHẬN CON NGƯỜI 101
AnTáng 78: LỄ AN TÁNG ( Cụ già) 105
AnTáng 79: Chết là nhiệm màu huyền bí 109
AnTáng 80: Chết như thế nào. 112
AnTáng 81: Suy ngẫm thể xác - linh hồn dưới góc nhìn triết học duy tâm.. 114
AnTáng 82: Hoa đời dâng Chúa. 116
AnTáng 83: Các Thánh Nam Nữ. 118
AnTáng 84 Bốn Bà Vợ. 122
AnTáng 85: Bóng Câu Cửa Sổ. 125
AnTáng 86: Cầu cho các linh hồn. 129
AnTáng 87: Cánh chung các thể - Luyện tội 131
AnTáng 88: CẦU CHO CÁC TÍN HỮU ĐÃ QUA ĐỜI 138
AnTáng 89: Chết Không Phải Là Xa Cách Vĩnh Viễn. 140
AnTáng 90: Cuộc Đời Chóng Qua. 142
AnTáng 91: Cuộc đời trần gian. 144
AnTáng 92: Ðời đời và niềm hi vọng Kitô giáo. 147
AnTáng 93: “NẾU HẠT LÚA MÌ RƠI XUỐNG ĐẤT MÀ KHÔNG THỐI ĐI 152
AnTáng 94: HƯỚNG Ý LỂ AN TÁNG.. 155
AnTáng 95: Lời từ tấm bia mộ. 155
AnTáng 96: Chốn - Cõi - Lửa Đời Đời 157
AnTáng 97: Mong đợi sự sống lại ! 159
AnTáng 98: Nghĩ về sự chết 162
AnTáng 99: NGUỒN NƯỚC MẮT.. 165
AnTáng 100: Sống là chuẩn bị chết 169

 

AnTáng 51: BÓNG CÂU CỬA SỔ

BÓNG CÂU CỬA SỔ AnTáng 51

I. SUY NIỆM LỜI CHÚA.
          Chúng ta đọc : Ga 3,16-21.
          “Thiên Chúa yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con Một”(Ga 3,16).
 

Qua Chúa Giêsu nhập thể và cứu chuộc, tử nạn và phục sinh, Thiên Chúa tỏ bầy tình yêu của AnTáng 51

Qua Chúa Giêsu nhập thể và cứu chuộc, tử nạn và phục sinh, Thiên Chúa tỏ bầy tình yêu của Người với thế gian . Nhìn ngắm món quà tặng, nhận ra tâm tình của người cho. Cũng vậy, càng chiêm ngắm Chúa Giêsu : qua lời Người nói, việc Người làm, chúng ta càng cảm nghiệm  tình yêu của Thiên Chúa đối với chúng ta lơn lao như thế nào.
          “Để ai tin vào Con của Người, thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời”(Ga 3,17). Thiên Chúa muốn chúng ta tin vào Con của Người để được sống vì sứ mạng của Người là đến để cứu chuộc muôn người :”Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian, không phải để lên án, nhưng là để thế gian nhờ Con của Người mà được cứu độ”(Ga 3,17). Vì thế, tin vào Chúa Giêsu là một điều kiện quan trọng và bắt buộc để được cứu độ. Nhưng thế gian cũng phải góp phần của mình vào : ai tin vào Chúa Con thì được cứu, kẻ không tin thì bị hư mất. Sự hư mấy ấy là do chính những người ấy lựa chọn cho mình. Cũng giống như  một nguồn sáng đã đến trong màn đêm tăm tối, ai muốn sáng  thì tới với ánh sáng đó, kẻ không tới thì phải ở mãi trong bóng tối.
          Tin vào Chúa Giêsu là phải sống với Ngài và trong Ngài bằng cách noi theo Chúa và vâng phục Chúa để nên giống Chúa hơn. Tin vào Chúa Giêsu  còn là cùng phải chết với Người bằng cách từ bỏ tội lỗi, thói hư tật xấu; đồng thời sống lại với Người bằng cách mặc lấy con người mới thuộc về Thiên Chúa : con cái sự sáng  bằng một đời sống thánh thiện.
          Thiên Chúa hứa với chúng ta là không phải chết, chết về phần linh hồn, còn đối với xác đất vật hèn của chúng ta thì dĩ nhiên phải chết, vì chết chỉ là sự chuyển đổi từ cuộc sống đời này sang đời sau. Vì thế, cuộc sống trần gian này chỉ là một cuộc hành trình và cuộc hành trình sẽ chấm dứt khi đã tới nơi đã định. Cuộc hành trình này có thể dài, có thể ngắn, nhưng có một điều chắc chắn là cuộc hành trình này sẽ chấm dứt và mỗi người phải chuẩn bị hành trang cho cuộc hành trình quan trọng này, mà không ai có thể thay thế được.
 
II. ĐỜI NGƯỜI CHÓNG QUA.
          Thánh Giacôbê đã viết :”Anh em không biết cuộc đời mình ngày mai ra sao. Thật vậy, anh em chỉ là hơi nước xuất hiện trong giây lát, rồi lại tan đi” (Gc 4,14). Như đám sương mù buổi sáng, rất mong manh bốc thành hơi nước dưới ánh triều dương rồi biến mất giữa ban ngày. Đời người cũng giống như hạt sương mai  hiện ra chốc lát rồi lại tan ngay.
          Thật vậy, sự sống chẳng khác gì cái thoi dệt cửi :”Ngày đời tôi thấm thóat hơn cả thoi đưa và chấm dứt, không một tia hy vọng” (G 7,6). Một văn sĩ khác đã viết :”Chỉ khi nào thời gian, với một bàn tay không biết chán, xé hết phân nửa số trang sách của đời mình để nung đốt lò dục vọng, lúc ấy con người mới bắt đầu nhận thấy những trang còn lại của đời sống mình không còn bao nhiêu nữa”.
          Tác giả Thánh vịnh cũng đã nói :
”Kiếp phù sinh tháng ngày vắn vỏi,
 tươi thắm như cỏ nội hoa đồng,
 một cơn gió thỏang là xong,
 chốn xưa mình ở cũng không biết mình”
(Tv 103,15-16).
          Ngày này nối tiếp ngày khác, trôi qua với một tốc độ tăng dần mãi, dường như theo nhịp tiến của chúng ta tới tuổi già. Những ngày của chúng ta trên mặt đất này giống hệt kiếp hoa :”Người phàm nào cũng đều là cỏ, mọi vẻ đẹp của nó như hoa đồng nội. Cỏ héo, hoa tàn khi Thần khí Đức Chúa thổi qua”(Is 4,6-7).
          Thời giờ cứ bay đi, ngày này sang ngày khác không dừng lại, không tiếc xót, không màng tới ai. Nó lạnh lùng trôi đi trước những con mắt còn tiếc xót, muốn níu thời gian lại.
 
                                      Truyện : Ông thị trưởng Paris.
          Một hôm đang khi đọc thư cho cô thư ký viết, ông Taitinger, thị trưởng thành phố Paris,  nhìn qua cửa sổ phòng giấy và cảm nghĩ cách rộn ràng :
- Kìa ! Đô thị đầy những xe cộ chằng chịt như mắc cửi.
Cô thư ký hỏi :
- Vậy ông nghĩ thế nào ?
- Tôi nghĩ rằng ngày hôm nay rồi cũng sẽ qua đi như các ngày khác.
Đời tôi cũng vậy. Sáng nào thức dậy, mặt trời vừa mọc lên sau rặng cây, tôi trở ra rồi trở vào vài ba bận, nói đông nói tây dăm bảy câu, là thấy mặt trời đứng bóng. Rồi tôi lại đi lui đi tới vài ba lần, nói cười dăm bảy tiếng chi nữa, là thấy xế chiều, và màn đêm bắt đầu từ từ phủ xuống…
          Ngày qua đi lại tiếp nối ngày khác, thời gian cứ lững lờ trôi, dường như muốn triêu ngươi con người khiến con người đứng nhìn theo ứa lệ :
                                      Thời gian rót từng giọt buồn tê tái
                                      Sự sống đi như hương bỏ hoa chiều.
 
III. NHƯNG ĐÃ CHUẨN BỊ CHƯA ?
          Tâm lý chung của con người thì ai cũng sợ chết. Chúng ta thấy cái chết diễn ra hằng ngày ở quanh ta, trong mọi nơi mọi lúc, trong mọi hòan cảnh như động đất, bão tố, lũ lụt cuốn trôi, làm thiệt hại bao nhiêu sinh mạng. Chúng ta thấy họ chết đấy nhưng lại không nghĩ đến cái chết của mình, cứ coi như không bao giờ chết.
          Đây là kinh nghiệm của Cesar Bergia trong những giờ phút cuối cùng của đời mình, ông nói :”Trong suốt đời sống của tôi, tôi đã tiên liệu mọi sự, trừ sự chết, và bây giờ, ôi, thật khốn nạn cho tôi, tôi phải chết mà không chuẩn bị được gì trước cho sự chết của tôi”.
          Một thanh niên mới hai mươi bốn xuân xanh, suốt đời mạnh khỏe, nhưng bất thình lình lâm trọng bệnh. Trước khi sắp từ giã cõi đời, anh đã rên rỉ, than van và quằn quại trên giường bệnh với những lời gào thét sau đây :”Ôâi, tôi đã phung phí những ngày xanh của tôi, tôi đã làm khánh tận đời tôi. Tôi sẽ thưa gì với Đức Chúa, khi tôi phải ứng hầu trước mắt Ngài”.
          Người ta dành đủ thì giờ để lo mọi việc, lo cho tương lai một cách cặn kẽ, nhưng đối với việc của Thiên Chúa và số phận đời của mình thì người ta lại bảo là không có thì giờ. Hoặc người ta cho rằng thì giờ còn dài, việc đời đời chưa cần, để đến giờ chết hãy hay, bây giờ phải dùng thì giờ  vào những việc cụ thể cần hơn. Vì thế, một văn sĩ khuyết danh đã viết những câu sau đây trong bài thơ “Sách Sự Sống” :
          Tôi qùi cầu nguyện, nhưng chẳng lâu được; tôi có nhiều việc phải làm. Tôi phải cấp tốc đi làm vì hóa đơn đòi tiền chồng chất.
          Vì vậy, tôi qùi gối, đọc vội một kinh và nhảy đứng dậy. Việc bổn phận Kitô hữu của tôi đã làm xong và tâm hồn tôi thanh thản, bình an.
          Suốt ngày tôi không có thì giờ để buông một lời chào hỏi vui vẻ hoặc nói về Chúa Kitô cho bạn bè vì sợ họ cười nhạo tôi.
          Tôi luôn miệng la lớn : Không có thì giờ, không có thì giờ, nhiều chuyện phải làm quá ! Không có thì giờ để lo cho phần rỗi linh hồn, nhưng cuối cùng giờ chết đã đến.
          Tôi trình diện trước mặt Đức Chúa; tôi đứng với đôi mắt cúi xuống, vì Đức Chúa đang cầm trong tay một quyển sách, sách sự sống.
          Đức Chúa nhìn vào trong sách và nói :”Cha không tìm thấy tên con, vì có lần Cha dự tính viết xuống, nhưng Cha chẳng khi nào có thì giờ”.
          Do miệng của tiên tri Amos, Thiên Chúa tuyên phán cho mọi người :”Ngươi hãy chuẩn bị đi gặp Thiên Chúa của ngươi” (Am 4,12). Nếu biết chuẩn bị cho đầy đủ thì coi giờ chết là chuyện bình thường và coi giờ chết là giờ cứu độ, giờ tiến vào cõi đời đời.
Chính vì thế, John Bunyan, tác giả cuốn “Thiên lộ lịch trình”, đã nói lúc ông gần qua đời :”Các bạn đừng than khóc cho tôi, nhưng hãy than khóc cho chính các bạn. Tôi sẽ về nhà đời đời nơi có Đức Chúa Trời là Cha Đức Giêsu Kitô : Ngài sẽ tiếp rước tôi dù tôi là một tội nhân bởi công lao cứu chuộc của Con Ngài. Tôi tin rằng chúng ta chẳng bao lâu nữa sẽ gặp nhau trên nước sáng láng của Chúa để hát bài ca mới và sống sung sướng trong cõi đời đời”.
 Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt


 

AnTáng 52: QUÊ HƯƠNG

QUÊ HƯƠNG AnTáng 52:

I. SUY NIỆM LỜI CHÚA.
          Chúng ta đọc : Pl 3,20-21; 2Cr 5,1; 6,10.
 

Cổ nhân đã có kinh nghiệm về cuộc đời khi đưa ra một khẳng định :”Nhân sinh tự cổ thùy vô AnTáng 52

Cổ nhân đã có kinh nghiệm về cuộc đời khi đưa ra một khẳng định :”Nhân sinh tự cổ thùy vô tử” : người ta xưa nay ai mà không chết ! Cái chết được coi như một công lệ mà không ai được miễn trừ. Đây là một định luật phổ biến và khắt khe, xưa nay chưa ai có thể thay đổi được bởi vì:”Ngươi là bụi tro và sẽ trở về cùng tro bụi”(St 3,19).
          Nhưng đứng trước cái chết, mỗi người có một suy nghĩ và một thái độ riêng. Có người coi cái chết nhẹ tựa lông hồng, lại có người coi cái chết nặng như núi Thái sơn. Có người coi chết là một sự chuyển đổi, từ đời này sang đời sau. Có người coi chết là đi vào ngõ cụt, đi vào hư vô trống rỗng, cho nên họ cho rằng chết là vô nghĩa và ngay cả cuộc đời cũng  là phi lý.
          Trước thắc mắc cuộc đời và sự chết, thánh Phaolô đã nhắc cho tín hữu Philipphê tư tưởng này:”Quê hương chúng ta ở trên trời, và chúng ta nóng lòng mong đợi Đức Giêsu Kitô từ trời đến cứu chúng ta’(Pl 3,20).  Trong bức thư khác gửi cho tín hữu Corintô, thánh nhân cũng xác định là chúng ta có một ngôi nhà vĩnh cửu ở trên trời :”Chúng ta biết rằng : nếu ngôi nhà của chúng ta ở dưới đất, là chiếc lều này, bị phá hủy đi, thì chúng ta có một nơi ở do Thiên Chúa dựng lên, không do tay người thế làm ra”(2Cr 5,1). Vì vậy, thánh Phaolô xác tín rằng sống ở trong thân xác này là lưu lạc xa Chúa và Ngài muốn nỗ lực từ bỏ thân xác này để được ở bên Chúa. Trong khi chờ đợi ngày rời khỏi thân xác này về với Chúa, chúng ta phải cố gắng làm đẹp lòng Chúa.
 
II. QUÊ HƯƠNG TRẦN THẾ.
          Con người ai cũng có một nơi sinh ra, một địa chỉ ở đời. Trên tờ khai sinh, tờ hộ khẩu, giấy chứng minh nhân dân, đều có ghi rõ những điều này. Mỗi người chúng ta đều có một quốc tịch, một địa chỉ thường trú, còn tất cả các nơi khác chỉ là tạm trú.
          Khi chúng ta đã nhận nơi nào làm quê hương, chúng ta tự cảm thấy mình yêu mến nơi đó, tuy đấy còn là một quê hương nghèo nàn hay chậm tiến. Những mầu sắc quê hương  in đậm vào tâm trí con người, khiến mọi cảnh vật tầm thường đều trở nên dễ thương mến như nhạc sĩ Phạm Duy ghi nhận :”Quê hương tôi có con sông đào xinh xắn”; hoặc như nhạc sĩ Giáp văn Thập nói lên nét đẹp thân thương trong bài ca Quê hương như “Quê hương là chùm khế ngọt, là con đò nhỏ”. Đặc biệt những người xa quê hương càng nhớ về những nét đẹp trìu mến đó.
 
III. QUÊ HƯƠNG THIÊN QUỐC.
          Thế nhưng, đối với Kitô hữu, chúng ta khẳng định rằng quê hương trần thế này là nơi tạm trú, chúng ta còn có quê hương thường trú vĩnh cửu :”Quê hương chúng ta ở trên trời”.
       Đức Giêsu cũng có một địa chỉ, sau khi xuống trần gian này thi hành sứ mạng cứu chuộc, Ngài lại trở về địa chỉ cũ. Trước giờ biệt ly, Đức Giêsu nói :”Thầy từ Chúa Cha mà đến thế gian, Thầy lại bỏ thế gian mà đến cùng Chúa Cha”(Ga 16,28). Và Ngài cũng muốn rằng khi trở về địa chỉ cũ, các môn đệ của Ngài cũng được ở nơi đó, khi Ngài xin cùng Chúa Cha :”Lạy Cha, con muốn rằng con ở đâu, thì những người Cha đã ban cho con cũng ở đó với con”(Ga 17,24).
          Địa chỉ nguyên thủy của Kitô hữu là ở trên trời, nơi thường trú vĩnh viễn. Vì thế, trong kinh Tiền tụng I lễ An táng, Hội thánh cầu :”Lạy Chúa, đối với các tín hữu Chúa, sự sống thay đổi chớ không mất đi, và khi nơi nương náu ở trần gian này bị hủy diệt tiêu tan, thì lại được một chỗ cư ngụ vĩnh viễn trên trời”.
          Khi nói về cuộc sống dương gian, chúng ta thấy người xưa gọi là “đời tạm này” và “chúng ta là thân lữ khác”. Đời là một cuộc hành trình tiến về vĩnh củu.
          Công đồng Vatican II đã nói lên mối tương quan giữa cái hiện tại chóng qua và hạnh phúc mai sau vĩnh cửu :”Đời này và đời sau mật thiết liên đới trong thân phận con người”(GS, số 76).
          Và Công đồng còn dạy thêm :”Công đồng khuyến khích các tín hữu – công dân của Nước Trời và của trần thế – phải đem hết tâm lực trung thành chu tòan nhiệm vụ trần gian mình, theo tinh thần Tin mừng.  Phải kể là sai lầm, tất cả những ai cho rằng quê hương vĩnh cửu không phải ở trần gian, họ đang đi về Nước Trời, nên họ dửng dưng trước những nhiệm vụ con người. Những ai tưởng rằng xả thân vào các việc trần thế, không dính dáng gì với đời sống tôn giáo… những người ấy lầm to” (GS, số 43).
 
IV. TRỞ VỀ QUÊ HƯƠNG.
          Trở về với tư tưởng của bài Thánh thư, chúng ta cần phải suy nghĩ về lối sống của chúng ta hiện nay : ta tự hỏi mình sống như chỉ có ở đời này hay như người biết rằng có ngày mình sẽ được về nơi vĩnh cửu.
          Với thánh Phaolô, những người sống “thù nghịch với thập giá”ù, lấy cái bụng làm Chúa, thì chỉ luôn nghĩ đến những điều dưới đất, chạy theo danh vọng tiền tài, sắc dục, chè chén say sưa.
          Nhưng cũng có người như thánh Phaolô “coi mọi sự hết thảy là thua lỗ”, hoặc như sách Giảng viên : Phù vân nối tiếp phù vân, chi chi chăng nữa cũng là phù vân. Coi mọi sự là phù vân, không có nghĩa là “tránh xa mọi sự trần thế, tránh hết việc đời, mà chỉ vì so sánh “cái lợi tuyệt đối là được biết Đức Kitô”, “được thuộc về Đức Kitô”, được đồng hình đồng dạng với Đức Kitô chết và phục sinh”, đồng dạng với thân xác vinh quang của Người (Pl 3,7tt)… thì giá trị của các vàng bạc, châu báu, chức quyền thật là chẳng có gì nặng ký.
          Tuy thế, cũng có người quên mất địa chỉ, họ không còn biết đi về đâu và họ thất vọng chán nản thốt lên : chết là đi vào hư vô. Từ đó họ sống bất chấp như con thuyền không lái, như chiếc xe tuột dốc, họ thả mình cho mọi tình tư dục, muốn đẩy mình đi đến đâu thì đến vì biết rằng một mai mình sẽ chết và chết là một thất bại, là đi vào ngõ cụt. Vì vậy cứ việc hưởng thụ đi như người dân quê thường nói  một cách nôm na :
                                      Sống trên đời ăn miếng dồi chó,
                                      Chết xuống âm phủ biết có hay không.
          Có ngừoi đã chán chường cuộc đời vì đã qua một kiếp đi hoang. Họ muốn kết thúc cuộc đời đã chín mùi sầu khổ, nhưng họ cũng chưa tìm lại được địa chỉ của họ. Họ còn hoang mang trước cuộc ra đ của họ :
                                      Hỡi Thượng Đế, tôi cúi đầu trả lại
                                      Linh hồn tôi đã một kiếp đi hoang.
                                      Sầu đã chín, xin Ngài hãy hái
                                      Nhận tôi đi, dầu địa ngục thiên đàng.
                                                    ( Huy Cận)
          Chắc chắn mọi người chúng ta còn nhớ được địa chỉ của mình, lòng vẫn còn hướng về đó và mong ước một ngày kia được trở về đó, nhưng chúng ta chỉ có thể về quê hương vĩnh cửu qua việc hòan tất những nhiệm vụ hằng ngày nơi trần thế, đặc biệt là sống “mến Chúa hết lòng, hết sức, hết trí khôn” và “yêu tha nhân như chính mình”, sống bác ái với người nghèo khó, liên đới với đồng bào xây dựng đất nước, xây dựng một xã hội tốt đẹp.
          Hãy sắm cho mình một hành trang đầy đủ trong cuộc hành trình về quê trời. Ngòai việc làm trọn nhiệm vụ của một Kitô hữu, hãy tập sống siêu thóat với của cải vật chất, tốt nhất là sống bác ái, làm việc từ thiện vì những cái cho đi thì không bao giờ mất, nó vẫn còn lại với mình,
còn những cái giữ bo bo cho mình thì ngày kia sẽ mất hết.
 
                                      Truyện : Thạch Sùng tiếc của.
          Thạch Sùng, người nhà Tấn, là một tay tỷ phú chỉ biết sống xa hoa. Không may bị Tôn Tú vu oan và bị lên án trảm quyết.
          Trước khi mất đầu, Thạch Sùng than van nuối tiếc :
- Tôi chết rồi, tài sản của tôi sẽ về tay ai ?
Quan Giám sát trả lời :
- Người nhiều của thì dễ mang họa. Sao anh không nghĩ đến chân lý ấy mà phân tán của cải trước đi, trong các cuộc từ thiện ?
          Đưa tiễn một người thân vào thế  giới vĩnh cửu, với cái nhìn đức tin, chúng ta cảm tạ Chúa đã giúp người thân của chúng ta vượt qua khó khăn ở đời, để rồi hôm nay “vào chốn nghỉ ngơi”.
Nhưng chúng ta cũng thêm phấn khởi, bởi lẽ, người thân của chúng ta hôm nay bỏ “chốn khách đầy” để vào an nghỉ với Chúa, là Đấng người quá cố tin tưởng gắn bó. Chúng ta cũng có ngày được như vậy.
          Hôm nay người quá cố thân yêu của chúng ta  đã được mắt thấy tai nghe, đã được chiêm ngắm Chúa trên thiên đàng, cũng muốn nhắc nhở chúng ta tư tưởng này :
                                      Thế gian không phải ø quê nhà,
                                      Thiên đàng rực rỡ mới là quê hương.
Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt


 

AnTáng 53:  VƯỢT BIỂN

VƯỢT BIỂN AnTáng 53

I. SUY NIỆM LỜI CHÚA.
          Chúng ta đọc : Mt 8,23-27 ; Mc 4,35-41.
 

Chiều đến, sau khi đã giải tán đám dân chúng xong, Chúa Giêsu bảo các môn đệ sang bên kia AnTáng 53

Chiều đến, sau khi đã giải tán đám dân chúng xong, Chúa Giêsu bảo các môn đệ sang bên kia biển hồ. Vào chiều tối hay ban đêm, biển hồ này hay có những cơn bão bất thường. Và sự việc đã xẩy ra, một cơn bão lớn nổi lên, sóng to gió lớn, nuớc ùa vào làm cho thuyền sắp chìm. Trong khi đó, Chúa Giêsu ở đàng lái gối đầu mà ngủ như không quan tâm đến sự việc đang xẩy ra. Các ông lo sợ rối rít đến xin Chúa can thiệp. Chỗi dậy, Ngài dùng uy quyền mà truyền cho sóng gió và biển phải yên lặng bằng một lời nói rất vắn tắt :”Hãy im đi, lặng đi”. Mọi sự trở lại bình thường.
          Sự việc này đã tăng cường niềm tin cho các ông. Chúa làm chủ tể mọi lòai, ở đâu có Chúa chúng ta đừng sợ. Trong cuộc sống hằng ngày, nhất là trong những lúc gặp gian nan thử thách, chúng ta hãy tin rằng Chúa luôn ở bên cạnh nhưng chúng ta  lại có cảm tưởng rằng Ngài không quan tâm đến chúng ta vì “Ngài đang ngủ”(x. Mt 8,24).
          Trong cuộc vượt biển trần gian về quê trời chúng ta cần phải cậy dựa vào Chúa. Biển càng động, sóng gió càng to, gió càng lớn, chúng ta càng cần phải cậy dựa vào Chúa bởi vì Ngài làm chủ biển cả và cầm lái con thuyền đời chúng ta thì chúng ta còn sợ gì ?
          Xin Chúa ban thêm niềm tin cho chúng ta để chúng ta vững vàng chèo lái con thuyền đời mình vượt biển trần gian để tiến tới bờ hạnh phúc quê trời.
 
II. TẢN MẠN VỀ BIỂN.
          1. Biển là gì ?
          Biển hay bể là khỏang rộng có nước mặn. Người ta thường nói :”Năm châu bốn bể”. Bốn bể đây là Thái bình dương, Đại tây dương, Úùc đại dương và Aán độ dương. Thái bình dương là biển lớn nhất, nên nhạc sĩ Y Vân đã ví lòng mẹ rộng rãi bao la “như bển Thái bình dạt dào” (Bài Lòng mẹ).  Nếu so biển và đất liền thì biển lớn gấp 4 lần trái đất, nên người ta mới nói :”Tứ hải nhất phần điền”.
          2. Biển vật chất và biển thiêng liêng.
+ Biển vật chất :
Biển vật chất là khỏang có nhiều nước mặn. Hầu hết chúng ta đã có lần được đi xem biển và đã có nhiều lần được tắm biển. Ngày nay quê hương chúng ta đã có nhiều bãi tắm đẹp, thuận lợi cho việc du lịch. Chúng ta hy vọng sẽ có nhiều dịp đi Nha trang hay Vũng tầu để tắm biển và chiêm ngắm biển bao la, công trình của Thiên Chúa tạo dựng, được ngắm cảnh bình minh hay hòang hôn trên biển để ca tụng bàn tay kỳ diệu của Thiên Chúa.
+ Biển thiêng liêng.
          Biểu tượng tôn giáo của biển cũng tìm thấy trong Tin mừng. Theo đó, biển vẫn là chỗ của ma qủi mà cả đàn heo bị quỉ ám đã nhào đầu xuống (Mc 5,13t). Lúc nổi sóng, biển luôn đe dọa con người; nhưng trước biển cả, Chúa Giêsu đã tỏ thần lực chiến thắng mọi yếu tố : Người đi trên biển với các môn đệ (Mc 6,49t; Ga 6,19t) hoặc Người đã khiến biển im lặng bằng một lời trừ quỉ cho nó :”Hãy yên đi”(Mc 4,38).
          Sách Khải huyền không những đặt tương quan với biển cả  những uy lực xấu mà Đức Kitô phải đối phó suốt dòng lịch sử (Kh 13,1; 17,1). Và biển sẽ biến mất với tư cách là vực thẳm của Satan và quyền lực hỗn lọan…
          3. Biển và đau khổ.
          Biển không những là thực thể vật chất mà còn là một thực thể tinh thần, vì thế người ta có chữ :”Biển đời” hay là “biển trần gian”. Biển trần gian được coi như một biển đầy sóng gió có thể làm chìm con thuyền đời người đang lênh đênh trên biển cả. Vì thế người ta phải nỗ lực và khéo léo chèo chống để con thuyền đời khỏi bị chìm.
          Phật giáo coi đời là “bể khổ”. Đức Phật đã tìm cách giúp con người thóat khỏi bể khổ đó.Tư tưởng đau khổ này đã được thi sĩ Nguyễn gia Thiều trình bầy trong “Cung óan ngâm khúc” :
                             Thảo nào khi mới chôn nhau,
                             Đã mang tiếng khóc bưng đầu mà ra.
                             Khóc vì nỗi thiết tha sự thế
                             Ai bầy trò bãi bể nương dâu
                             Tử, sinh, kinh, cụ làm nao mấy lần.
          Công giáo không coi đời là bể khổ, nhưng theo kinh Lạy Nữ Vương thì cũng coi đời là “thung lũng nước mắt” (lacrimarum valle). Người Công giáo cũng coi trần gian là một cái biển đầy sóng gió. Mọi người phải nỗ lực vượt qua biển trần gian này mà vào bến bờ thiên đàng. Nhạc sĩ Hòai Đức đã diễn ta tư tưởng này trong bài ca kính Đức Mẹ :
                             Lạy Mẹ là ngôi sao sáng,
                             Soi lối cho con lúc vượt biển thế gian.
 
          4. Vượt biển.
          Khi đi truyền giáo, Chúa Giêsu và các tông đồ đã phải vượt biển hồ Tiberiade mà sang bờ bên kia.  Biển hồ này hay nổi sóng vào ban chiều hay ban đêm. Các tông đồ đã nhiều phen phải chống chọi với sóng to gió lớn để sang bờ bên kia. Đôi khi gặp phải những cơn bão lớn làm cho thuyền sắp chìm như đã được mô tả trong bài Tin mừng hôm nay. Công cuộc vượt biển đưa đến hai hậu quả : một là sang bờ bên kia, hai là thuyền bị chìm trong lòng biển.
          Mọi Kitô hữu sống trên trần gian này đều phải nỗ lực chèo chống để vượt qua biển trần gian. Một mặt phải chèo lái con thuyền đời mình, mặt khác phải trông cậy vào Chúa. Các tông đồ đã làm gương cho chúng ta về điểm này : các ngài nỗ lực chèo chống, và khi thấy nguy hiểm  thì đã kêu cầu Chúa giúp đỡ. Bao lâu còn sống trên trần gian này là thời  gian vượt biển và kết thúc vượt biển bằng cái chết. Chết tức là đã tới bến bờ.
 
III. CHẾT LÀ CUỘC VƯỢT QUA.
Chúng ta có thể nói được đời sống con người là một cuộc hành trình đi về quê trời. Sống là nỗ lực vượt qua đời này để tiến vào đời sau. Cho nên đời sống con người phải là cả một vấn đề, một vấn đề quan trọng và rất gay go.
          Người, vật, cỏ cây đều có sự sống nhưng rất khác nhau. Cây cỏ có sự sống thảo mộc, động vật có sự sống cảm giác; và con người cao hơn, chẳng những có hai sự sống trên, mà còn có sự sống lý trí nữa. Căn cứ vào sự thật  đó, C. Sullerot đã nói một câu rất xác đáng :”Lòai người và lòai vật khác nhau ở chỗ : đối với lòai người đời sống là một vấn đề.  Có thể nói rằng người ta chỉ là người thật một khi người ta đã bắt đầu biết nghĩ đến đời sống” (Sullerot, Problème de la Vie).
          Giờ chết sẽ đến với chúng ta nhưng không biết khi nào. Và cái chết đối với mỗi người có một ý nghĩa riêng. Ta có thể ví đời người như một câu văn và cái chết là dấu chấm câu :
- Có cái chết như một dấu phẩy (,) : tức tưởi không trọn vẹn.
          - Có cái chết như dấu chấm than (!) : buồn hiu hắt.
- Có cái chết như một dấu chấm hỏi (?) : băn khoăn ray rứt..
- Có cái chết như ba dấu chấm (…) : còn bỏ ngỏ.
- Và có cái chết như dấu chấm tròn (.) : thật đầy đủ, trọn vẹn, tuyệt mỹ.
Cái chết của Đức Mẹ là dấu chấm tròn (.). Còn cái chết của chúng ta sẽ là gì ?
          Trong cuộc sống hằng ngày chúng ta phải luôn nỗ lực làm việc với niềm tin yêu, giống như nhà xuất bản P. Văn Tươi ghi lên logo của mình diễn tả một người đang đào xới với dòng chữ “Nỗ lực rồi cậy trông”. Trong cuộc vượt qua ở trần gian này, chúng ta không bao giờ bị cô đơn vì Chúa đang ngồi ở đàng lái con thuyền đời của chúng ta. Ngài xem ta nỗ lực chiến đấu và sẽ tra tay cứu vớt khi chúng ta kêu cầu trong nguy hiểm.
 
                                        Truyện : Cha em là thuyền trưởng.
          Trên một con tầu vượt đại dương, vị thuyền trưởng đem theo cả cậu con trai 12 tuổi đi nghỉ hè. Nửa đường, tầu bị bão ! Còi báo động nổi lên, các thủy thủ ở trong tư thế sẵn sàng ứng phó theo lệnh của thuyền trưởng, lòng hồi hộp lo sợ… Con tầu tròng trành dữ dội vì sóng lớn ! Thế mà cậu bé kia cứ bình thản ngồi bầy biện những đồi chơi của mình.
          Ôâng đầu bếp già vội kéo cậu vào :
- Bão thế mà cháu không sợ, sao còn ngồi chơi ?
- Cháu không sợ !
- Sao lại không sợ ?
- Vì cha cháu là thuyền trưởng.
Câu trả lời đã giải thích thái độ bình thản của cậu bé giữa giông tố : cậu hòan tòan tin tưởng ở cha cậu ! Người Kitô hữu luôn có Cha ở trên trời phù hộ, che chở; và nếu bền đỗ giữ niềm tin tuyệt đối vào Cha cho đến cùng, thì chúng ta cũng như ông (bà)… đây chắc chắn sẽ cập bến bình an và hạnh phúc.
Vì Thánh vịnh 26,1 nói :”Chúa là nguồn ánh sáng và ơn cứu độ, tôi còn sợ chi”.
Thánh vịnh 24,3 đã diễn tả :
“Chẳng ai trông cậy Chúa
          Mà lại phải nhục nhã tủi hổ.
          Chỉ có người nào tự dưng phản phúc
          Mới nhục nhằn tủi hổ mà thôi.
          Lòng tin của cô Marta luôn là bài học và kinh nghiệm vô cùng quí giá cho mỗi người chúng ta, bởi vì “Mỗi ngày tôi phải đối diện với cái chết” (1Cr 15,31).
 Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt


 

AnTáng 54: TÍN HIỆU VUI HAY BUỒN  ?

TÍN HIỆU VUI HAY BUỒN  ? AnTáng 54

I. SUY NIỆM LỜI CHÚA.
           Chúng ta đọc : Ga 6,37-40.
 

Chúa Giêsu trình bầy sứ mạng cứu thế của Ngài khi nói với dân chúng:”Ý của Đấng đã sai AnTáng 54

Chúa Giêsu trình bầy sứ mạng cứu thế của Ngài khi nói với dân chúng:”Ý của Đấng đã sai tôi là tất cả những kẻ Người đã ban cho tôi, tôi không để mất một ai, nhưng sẽ cho họ sống lại trong ngày sau hết”(Ga 6,39).
          Khi loài người phạm tội, số phận con người thật bi đát : họ mất quyền làm con Chúa, mất tất cả các ân huệ tự nhiên và siêu nhiên Thiên Chúa ban cho con người và mất phúc trường sinh.  Nhưng Thiên Chúa giầu lòng thương xót không muốn để con người sống trong cảnh trầm luân đời đời, đã sai Con Ngài xuống thế, là Đức Giêsu Kitô, chịu chết trên cây thập tự để cứu chuộc nhân loại, đem lại cho con người tước vị làm con Chúa và được hưởng hạnh phúc đời đời. Ơn cứu chuộc ấy bao trùm trên mọi người, không trừ ai, chỉ trừ những ai không muốn nhận :”Tất cả những người Chúa Cha ban cho tôi đều đến với tôi và ai đến với tôi, tôi sẽ không loại ra ngoài”(Ga 6,37).  Chúng ta phải tin chắc rằng mình sẽ được cứu rỗi nhưng phải cộng tác vào ơn cứu rỗi này.
 
II. CHÚA ĐEM HẠNH PHÚC ĐẾN CHO CON NGƯỜI.
          Như vậy, ý của Chúa Cha là muốn cho mọi người được hạnh phúc, một thứ hạnh phúc đích thực và trường cửu. Nhưng ở trần gian này con người có được hạnh phúc đâu ? Đau khổ vây quanh con người đêm ngày. Ngay khi sinh ra đã phải đau khổ rồi :
                                      Vừa sinh ra  sao đà khóc choé,
                                      Trần có vui sao chẳng cười khì ?
                                                (Cao bá Quát)
          Đúng vậy, Thiên Chúa không hứa ban hạnh phúc ngay ở đời này vì hạnh phúc ở đời này chỉ là tạm bợ chóng qua ; hơn nữa hạnh phúc nào mà không có bóng dáng đau khổ vì
                                      Trong gặp gỡ đã có mầm ly biệt
                                                (Xuân Diệu)
         Hạnh phúc Chúa hứa ban là hạnh phúc trường cửu chỉ có ở đời sau trên thiên đàng. Nhưng muốn được hạnh phúc ấy thì phải chấp nhận cái chết, phải được giải thoát ra khỏi cái thân xác hay hư nát này.  Thánh Phaolô đã nói về chân lý này:”Nếu ngôi nhà chúng ta ở dưới đất, là chiếc lều này, bị phá hủy đi, thì chúng ta có một nơi ở do Thiên Chúa dựng lên, một ngôi nhà vĩnh cửu ở trên trời, không do tay người thế làm ra”(2Cr 5,1).
            Cũng theo thánh Phaolô, chiếc lều tạm này chính là thân xác chúng ta. Bao lâu còn ở trong chiếc lều tạm này, chúng ta còn ở xa Chúa, chưa được hưởng hạnh phúc bất diệt ấy. Muốn chiếm hữu được hạnh phúc ấy, cần phải lìa bỏ thân xác này:”Ở trong thân xác này là lưu lạc xa Chúa... Vậy, chúng tôi mạnh dạn, và điều chúng tôi thích hơn, đó là lìa bỏ thân xác để được ở bên Chúa”(2Cr 5,6).
          Vậy lìa bỏ thân xác này, rời bỏ thế gian này hay chết là một tín hiệu vui hay buồn ? Chết có thể là tín hiệu vui nhưng cũng có thể là một tín  hiệu buồn, tùy theo quan niệm của từng người, tùy theo cách sống của từng người.
                                       Truyện : Một tin vui, một tin buồn.
          Có người kia rất giầu sang phú qúi. Một hôm, ông tìm đến hang đá của vị ẩn tu nổi tiếng là thánh thiện và được đặc ân có đường dây điện thoại trực tiếp với Chúa. Người phú hộ xin vị ẩn tu cầu nguyện cho mình và hỏi Chúa xem sau khi chết ông có được vào  thiên đàng hay không. Lời thỉnh xin của người phú hộ xem ra hơi khác thường, nhưng vì người ấy cứ nài nỉ, nên vị ẩn tu chấp nhận sẽ cầu nguyện với Chúa cho ông, với điều kiện là cho thêm ít hôm để cầu nguyện với Chúa.
          Một tuần lễ sau, nhà phú hộ trở lại với vị ẩn tu  để được nghe lời Chúa muốn nói với ông. Vị ẩn tu nói :
          - Tôi đã được Chúa cho biết điều ông mong ước cầu xin. Nhưng có một tin vui và một tin buồn, vậy ông muốn nghe điều nào trước ? Tin vui hay tin buồn ?
          Nhà phú hộ phân vân suy nghĩ một lúc. Sau đó chọn xin cho biết tin vui trước. Vị ẩn tu đáp :
          - Tin vui mừng là ông sẽ được rỗi linh hồn và sẽ được lên thiên đàng.
          Nghe vậy, nhà phú hộ vui mừng thích chí lắm và tự nhủ:”Ngoài tin vui mừng lớn lao này, trên đời này còn gì phải là tin buồn nữa”.  Như bị tính tò mò thôi thúc, nhà phú hộ hỏi thêm cho biết :
          - Tin buồn là gì ?
          Vị ẩn tu đáp :
          - Có lẽ tin buồn mà ông không muốn nghe biết tới, đó là ông sẽ phải chết ngay hôm nay.                     (R. Veritas, Ánh sáng thế gian,  tr 150-151)
          Cuộc sống con người là đi tìm hạnh phúc. Tuy mỗi người có một đường lối khác nhau trong việc tìm hạnh phúc, nhưng chung qui đều muốn tìm đến hạnh phúc viên mãn, kể cả người tự tử (theo Blaise Pascal).  Là người tín hữu, ai cũng mong muốn sau khi chết được vào thiên đàng và được hạnh phúc muôn đời bên Chúa.
          Con người làm lụng vất vả, đổ mồi hôi sôi nước mắt để tìm kiếm cơm ăn áo mặc, nuôi dưỡng sự sống, khi đau yếu bệnh tật lại phải tìm thuốc men chữa trị, mặc dầu trong thâm tâm ai cũng biết rằng sống để rồi phải chết. Thế nhưng, tư tưởng về cái chết không hẳn là điều hấp dẫn đối với tất cả mọi người. Chính vì thế nên chỉ có lòng tin vào Chúa Kitô mới là sự hỗ trợ mãnh liệt giúp chúng ta chuẩn bị và chấp nhận thực tại của cái chết.
          Tác giả thư gửi cho tín hữu Do thái mời gọi chúng ta nhìn lên Chúa Kitô, Người đã tự nguyện nhận lấy thập giá, nhận lấy cái chết trong nhục nhã đau thương để cứu chuộc nhân loại, nhưng qua thập giá Người đã tiến tới vinh  quang bên hữu Đức Chúa Cha. Với con mắt đức tin, người tín hữu nhằm thẳng tới vinh quang và phần thưởng bất diệt sau cái chết để được can đảm chấp nhận và vượt qua sự chết.
 
III. HÃY CHUẨN BỊ CHO GIỜ CHẾT.
          Cuộc đời của một Kitô hữu là một cuộc chuẩn bị triền miên cho giờ chết. Đời là một cuộc hành trình đi về quê trời. Không cuộc hành trình nào mà không gặp những trắc trở, nhưng mỗi người phải nỗ lực vượt qua, không được bỏ cuộc. Cuộc hành trình trần gian chỉ được kết thúc bằng cái chết. Chết là tới quê hương thật vì theo thánh Phaolô tông đồ :”Quê hương chúng ta ở trên trời, và chúng ta nóng lòng mong đợi Đức Giêsu từ trời xuống cứu chúng ta”(Pl 3,20).
          Tất cả mọi sự ở trần gian này sẽ qua đi mà chỉ còn lại sự sống đời đời. Chúng ta phải tập từ bỏ tất cả để ra đi. Từ bỏ là một sự luyến tiếc, là đau khổ, nhưng đó là một điều kiện để chúng ta sẵn sàng chấp nhận giờ chết đến trong thanh thản và hy vọng.  Chúng ta vẫn tập cho mình biết sống thì cũng phải tập cho mình biết chết, coi cái chết nhẹ như lông hồng, và chết một cách vinh quang.
 
                                      Truyện : Cả cái này cũng sẽ qua đi.
          Một ông vua già xứ Ba tư băn khoăn không biết cho con mình món quà gì vào ngày sinh nhật của nó. Ông quyết định cho chiếc nhẫn. Khi ngày sinh nhật đến, người con trai vua, tức vị hoàng tử rất hãnh diện về chiếc nhẫn ấy, cho mãi đến khi đọc  thấy những chữ viết trên ấy mới chột dạ. Trên chiếc nhẫn có viết:”Cả cái này cũng sẽ qua đi”. Hoàng tử không hiểu câu ấy có ý nói gì, nhưng cũng cứ đeo chiếc nhẫn đó và thỉnh thoảng đọc lại hàng chữ trên. Hoàng tử đọc đi đọc lại cho đến khi thuộc lòng. Về sau, hoàng tử ra trận, bên cạnh vua cha, Hoàng tử bị trúng tên, phải nằm điều trị đau đớn mấy tuần lễ trên giường.
          Rất nhiều lần, trong khi nằm đau như thế, hoàng tử thường nhìn vào chiếc nhẫn và tự  nhủ:”Cả cái này – cả sự đau đớn này cũng sẽ qua đi”. Và quả nhiên hoàng tử bình phục.
          Hoàng tử càng ngày càng trưởng thành và lập gia đình. Lúc ấy, hoàng tử rất sung sướng, hạnh phúc, nhưng vẫn tiếp tục nhìn chiếc nhẫn và nói:”Cả cái này – cả niềm vui này, cả hạnh phúc này cũng sẽ qua đi”. Và đúng thế.
Người bạn trăm năm trẻ tuổi của hoàng tử chết. Hoàng tử lại tự nhủ :”Cả cái này – cả nỗi đau xót nay cũng sẽ qua đi”. Và đúng thế.
Hoàng tử đã được lên ngôi sau khi vua cha băng hà.  Trong ngày lên  ngôi đó, ông soi gương và tự nhủ:”Cả cái này nữa - cả tấm thân cường tráng, khôi ngô của tôi cũng sẽ qua đi”. Và đúng thế.
Những lời cuối cùng của ông trước khi tắt hơi thở là:”Cả cái này – cái vương quốc rộng lớn này ta đang cai trị cũng sẽ qua đi”. Và đúng thế.
                             (W. Diamond, Đồng cỏ non, tr  76-77)
          Đối với chúng ta, những Kitô hữu, chúng ta phải xác nhận rằng tất cả sẽ qua đi nhưng linh hồn và phần rỗi chúng ta sẽ không qua đi. Phần rỗi đời đời là một vấn đề qun trọng nhất, có liên quan trực tiếp đến chúng ta.
          Có một bảng ghi những ý tưởng trên  ở lối vào nhà thờ chính toà Milan nước Ý,  rất giống những chữ khắc trên chiếc nhẫn của hoàng tử ở trên. Ở cửa chính có khắc ba bức hình. Bên trái là mấy bông hường và một giải vải. Bên dưới viết:”Tất cả những gì làm sung sướng, làm vui mắt sẽ qua đi”. Bên phải là một cây thập giá, một giải vải và những tiếng này :”Tất cả những khổ đau sẽ qua đi”. Ở chính giữa là một hình tam giác và trong hình tam giác có câu”Đời đời mới là quan trọng, mới thành vấn đề”.
 Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt


 

AnTáng 55: QUÁ MUỘN

QUÁ MUỘN AnTáng 55

I. SUY NIỆM LỜI CHÚA.
          Chúng ta đọc : Lc 12,35-40.
 

Chết là số phận của con người vì Thiên Chúa đã nói với ông Adong :”Ngươi sẽ phải đổ mồ AnTáng 55

Chết là số phận của con người vì Thiên Chúa đã nói với ông Adong :”Ngươi sẽ phải đổ mồ hội trán mới có bánh ăn, cho đến khi trở về với đất, vì từ đất, ngươi được lấy ra. Ngươi là bụi đất, và sẽ trở về với bụi đất” (St 4,19). Phải trở về cùng bụi đất tức là phải chết đi. Không ai có thể tránh được công lệ này. Vì thế, Chúa Giêsu nhắc nhở cho chúng ta là phải luôn luôn sẵn sàng cho giờ từ giã cõi đời này để buớc vào sự sống đời sau.
          Hình ảnh ngườiø đầy tớ cầm đèn trong tay đợi chủ đi ăn cưới về có vẻ hơi xa lạ với chúng ta, nhưng đối với người Do thái thì rất quen thuộc. Người Do thái có thói quen ăn tiệc cưới vào ban đêm và tiệc tan vào bất cứ lúc nào, nên ông chủ cũng trở về bất cứ lúc nào, người đầy tớ luôn phải ăn mặc gọn gàng, cầm đèn sáng trong tay để đón chủ về. Nếu khi ông chủ trở về mà thấy người đầy tớ đang tỉnh thức sẵn sàng chờ ông, mở cửa và soi đèn cho ông vào, thì ông sẽ thưởng cho. Ngược lại, người đầy tớ nào mà mê ăn mê ngủ không sẵn sàng chờ đợi chủ về thì ông sẽ ra hình phạt cho.
Chúa Giêsu nhắc cho chúng ta phải tỉnh thức. Nhưng tỉnh thức để làm gì ?
 Để đợi chủ về :
- Nghĩa đầu tiên là đợi chờ ngày Chúa Giêsu lại đến;
- Nghĩa thứ hai là ngày chết của mỗi người;
- Nghĩa thứ ba là những lúc Chúa đến viếng thăm ban ơn cho ta.
Trong cả ba trường hợp ấy, chỉ có ai tỉnh thức, sẵn sàng và nhanh nhạy mới gặp được Chúa và được Chúa thưởng.
          Qua bài Tin mừng này, Chúa Giêsu dạy chúng ta phải tỉnh thức và sẵn sàng trông chờ Chúa đến. Tỉnh thức bằng cách luôn sống trong ơn Chúa. Muốn vậy, phải tránh tội và chừa cải tội lỗi. Sẵn sàng bằng cách chăm lo làm những việc lành phúc đức để chuẩn bị cho cuộc sống mai hậu.
 
II. NHỮNG AI PHẢI TỈNH THỨC VÀ SẴN SÀNG ?
          1. Cho mọi tin hữu.
          Chúa nhắc nhở mọi người phải tỉnh thức và sẵn sàng chờ đợi Ngài đến vì ai trong chúng ta cũng phải một lần ra đi khỏi đời này và cuộc ra đi này có liên hệ trực tiếp đến số phận của từng người. Ai không chuẩn bị cho cuộc hành trình này là người khờ dại.
          “Hãy thắt lưng” là lối ăn mặc của người đang làm việc theo phong tục người Do thái. Theo nghĩa bóng là phải sẵn sàng, tức là phải lọai bỏ tất cả cản trở sức sống thiêng liêng của ta : như các đem mê theo dục vọng bất chính. Về vấn đề này thánh Phaolô cũng khuyên chúng ta :”Phải tỉnh thức và tiết độ” (1Pr 5,8).
 
          2. Cho tất cả mọi người.
          Khẩu hiệu “Sẵng Sàng” được lòai người luôn trân trọng vì nó cần thiết cho đời sống thực tế, giúp cho người ta thành công. Đây là kinh nghiệm của bao đời được kết tinh lại  mà không ai có thể bác bỏ.
          a) Ai đã có dịp đi sinh họat hướng đạo, khẩu hiệu “sẵn sàng” phải luôn được thực hiện. Chính nhờ đó mà các hướng đạo sinh có tinh thần tháo vát, lanh lẹ, bình tĩnh đối phó với bất cứ tình huống nào xẩy ra.
          b) Đại tướng Marc Arthur, một vị tướng lừng danh của Mỹ, sau đệ nhị thế chiến có nói :”Lịch sử trong những thảm bại chiến tranh có thể tóm gọn trong hai chữ “QUÁ MUỘN”. Quá muộn vì chưa sẵn sàng, quá muộn vì chưa chuẩn bị đủ”. Trong chiến tranh du kích, yếu tố sẵn sàng cần được chú trọng để đối phó với tình hình, nếu sơ hở một chút là bị tiêu diệt.
          c) Jules César, một hòang đế và một tướng tài của đế quốc Rôma, đã để lại một câu nói bất hủ làm kim chỉ nam cho những nhà chiến lược ngày nay không bao giờ được bỏ qua, đó là :”Si vis pacem, para bellum” : nếu anh muốn hòa bình, phải chuẩn bị chiến tranh.
d) Các bậc tiền bối Đông phương của chúng ta không thiếu kinh nghiệm vấn đề này.  Các vị đó đã khuyên bảo các nhà cầm quyềân mọi đời phải thực hiện câu châm ngôn :”Bình thời luyện võ, lọan thế độc thư” : thời bình thì phải lo luyện võ, thời lọan thì phải đọc sách. Tại sao lại có sự trái ngược như vậy ?  Bởi vì các vị đó đã có cái nhìn xa : trong thời bình đừng có vùi mình vào sự hưởng thụ xa hoa, mà phải luyện tập để khi chiến tranh xẩy ra thì sẵn sàng đối phó.
          e) Người thành Spatres cổ xưa đã bắt mọi thanh niên phải sống khắc khổ tập luyện để trở thành những chiến binh dũng cảm và đầy kinh nghiệm, nên họ đã có một quân đội hùng mạnh bách chiến bách thắng, khác với dân thành Athènes. Còn trong thời lọan thì phải nhìn tới thời hậu chiến, khi chiến tranh chấm dứt, hòa bình trở lại thì đã có sẵn kế sách cho việc tái thiết, xây dựng đât nước.
          Qua bài Tin mừng này, chúng ta hãy rút ra cho mình một bài học thực hành : đừng để đến tuổi già mới sám hối, đừng để đến ngày chết mới ăn  năn trở về vì đã “quá muộn”. Kinh nghiệm cho hay : ít người hối cải vào giờ chết vì, theo Kinh Thánh, “Trẻ đi lối nào thì già cũng đi lối đó”, cũng như người ta cũng thường nói :”Sống sao thác vậy”.
 
                                                Truyện : Hội gnhị của quỉ.
          Một nhà văn kể câu chuyện giả tưởng : Satan họp hội nghị thảo luận về phương thức chiếm đọat các linh hồn. Nhiều ý kiến các cấp quỉ được phát biểu. Nhưng ý kiến được hội nghị tán đồng là của một quỉ già đầy kinh nghiệm. Đó là rỉ tai câu này :”Gấp gì, còn kịp chán, để gần chết rồi hãy ăn năn trở lại, hãy vui sống đã”.
          Bao nhiêu linh hồn đã hư mất vì ngủ say trong danh vọng, tiền tài, sắc dục mà quên đi tinh thần tỉnh thức và sẵn sàng chờ đợi Chúa đến. Hãy thực hiện câu ngạn ngữ tuyệt vời :Cẩn tắc vô ưu” : cẩn thận đề phòng thì khỏi phải lo.
 Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt


 

AnTáng 56: GIỜ ĐƯỢC TÔN VINH

GIỜ ĐƯỢC TÔN VINH AnTáng 56

I. SUY NIỆM LỜI CHÚA.
          Chúng ta đọc : Ga 12,23-26.
 

Chúa Giêsu là người ở thôn quê chứ không phải người ở thành thị. Ngài tuy làm nghề thợ mộc AnTáng 56

Chúa Giêsu là người ở thôn quê chứ không phải người ở thành thị. Ngài tuy làm nghề thợ mộc nhưng cũng tiếp xúc và gần gũi với nông dân, biết cách trồng trọt nên khi rao giảng Tin mừng, Ngài hay dùng những dụ ngôn thiên về đồng quê nhất là việc trồng trọt để nói về mầu nhiệm Nước Trời.
          Khi muốn cho thính giả biết về cái chết của Ngài, đồng thời cũng là lúc Ngài được tôn vinh, thì Ngài nói:”Nếu hạt lúa gieo vào lòng đất không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác”(Ga 12,24).  Đây là kinh nghiệm của những người làm nông : hạt giống là điều kiện cần thiết để làm cây được phát sinh, nhưng muốn cây được phát sinh thì điều kiện cần và đủ là hạt giống phải mục nát ra. Như vậy” chết đi” và” triển nở” là một tương quan biện chứng của thành công. Phải chết đi mới có sự sống, giống như hạt lúa phải mục nát ra mới có mầm non, rồi có cây và sinh hoa kết quả.
          Theo như chúng ta nghĩ : trong tiệc cưới ở Cana, Đức Mẹ ngỏ ý xin Chúa làm phép lạ cứu nguy cho chủ tiệc hết rượu. Ngài chỉ trả lời:”Giờ con chưa đến”(Ga 2,4). Ai cũng hiểu đó là giờ được tôn vinh, giờ tỏ ra vinh quang của Ngài. Nhưng trong bài Tin mừng chúng ta vừa nghe, Chúa Giêsu lại xác định thêm: Giờ tôn vinh đó là lúc Ngài chịu treo trên thập giá, lúc Ngài hoàn tất chương trình cứu chuộc nhân loại, lúc Ngài tôn vinh Cha và cũng được Cha tôn vinh, vì đã hoàn tất ý định yêu thương của Cha.
          Như vậy, Chúa Giêsu có ý nói với chúng ta  là Ngài chỉ được tôn vinh sau khi đã hoàn tất thánh ý Chúa Cha, mà hoàn tất ý Chúa Cha là hy sinh mạng sống mình trên thập giá để cứu chuộc nhân loại. Cuộc đời của Ngài là một cuộc tự hiến triền miên, hy sinh tất cả cho ơn cứu chuộc nhân loại. Cuộc sống của Ngài được ví như như cây nến sáp để phục vụ con người. Nếu không được đốt cháy lên thì nó cứ trơ trọi một mình, vô ích, nhưng nếu đốt lên thì mới có ánh sáng.  Có điều, khi nó chiếu sáng thì đồng thời chất sáp ong cũng tiêu hao đi dần cho đến khi kiệt quệ, không còn để cháy nữa.  Đức Giêsu đã tìm sự tôn vinh kiểu đó . Chính cái chết của Ngài đã làm nảy sinh ra sự sống mới và nhờ đó nhiều người được sống, đúng như Ngài đã nói:”Nếu hạt lúa gieo vào lòng đất, không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu chết đi, nó mới sinh nhiều hạt khác”(Ga 12,24).
 
II. GIỜ VINH QUANG CỦA CHÚNG TA.
          Trong cuộc đời của mỗi người, ai cũng có lúc được tôn vinh, không nhiều thì ít, nhưng giờ phút được tôn vinh đó rất ngắn ngủi, chỉ như tia chớp lóe sáng vụt tắt so với đời đời,  vì đời sống con người quá ngắn ngủi, chỉ như bông hoa sớm nở chiều tàn :
                                      Kiếp phù sinh tháng ngày vắn vỏi,
                                      Tươi thắm như cỏ nội hoa đồng.
                                      Một cơn gió thoảng là xong
                                      Chốn xưa mình ở cũng không biết mình.
                                                (Tv 102, 15)
          Sự tôn vinh của người đời thật mong manh và vắn vỏi, chỉ khi nào ta được Thiên Chúa tôn vinh thì sự tôn vinh ấy mới trường củu. Vậy khi nào chúng ta được tôn vinh ? Chỉ khi nào chúng ta nhắm mắt lìa đời ! Chúng ta sẽ được tôn vinh khi chết, giống như Chúa Giêsu được tôn vinh khi trút hơi thở cuối cùng trên thập giá.
          Nhưng muốn được tôn vinh, không phải là một chuyện “dễ ăn”, khó “nhá “ lắm đấy ! Nó đòi hỏi phải hy sinh rất nhiều, đòi hỏi một sự từ bỏ, một sự từ bỏ dứt khóat, dứt khoát đến độ trở thành một mất mát lớn trước mặt loài người.  Sự tôn vinh ấy còn đòi hỏi chúng ta  đi vào cửa hẹp để tới cõi phúc, phải qua thập giá mới tới vinh quang, phải tiêu hủy đi mới phát sinh hoa trái dồi dào. Những ý tưởng trên đã trở thành qui luật của Tin mừng, là nhân sinh quan của người Công giáo nói chung.
          Đời sống của chúng ta là một cuộc chuẩn bị trường kỳ cho cuộc sống mai hậu. Cuộc sống ở trần gian chỉ là thời gian tạm trú vì :
                                      Thế gian không phải quê nhà,
                                      Thiên đàng vĩnh cửu mới là quê hương.
          Chúng ta đã được Thiên Chúa dựng nên theo hình ảnh của Ngài. Chúng ta là sản phẩm tốt đẹp của lòng thương xót Chúa, cho nên chúng ta có thể coi mình như những bông hoa được Thiên Chúa trồng ở trần gian. Chúa là chủ vườn có thể hái lấy những bông hoa ấy về làm cảnh bất cứ lúc nào, sẽ có ngày Chúa hái về hết, nay hoa này, mai hoa khác, chầy kíp gì cũng xong cả. Thân con là đóa hoa phù dung, dám xin mạn phép hồi hương trước để Chúa thưởng thức và lúc đó linh hồn chúng ta được mãn nguyện và thốt lên :
                                      Chỉ trong Thiên Chúa mà thôi,
                                      Hồn tôi mới được nghỉ ngơi yên hàn.
                                                (Tv 61,2)
          Đứng trước linh cữu người quá cố đây, chúng ta thấy cuộc đời này rất mong manh, mỗi người sẽ kết thúc cuộc đời trước hay sau, nhưng tất cả đều kết thúc. Tuy nhiên, có một điều làm cho chúng ta phải suy nghĩ, có thể làm cho chúng ta day dứt : kết thúc trong vinh quang hay trong tủi nhục ? Chắc chắn ai cũng muốn được Thiên Chúa tôn vinh :”Nào những kẻ Cha Ta chúc phúc, hãy đến thừa hưởng Vương quốc dọn sẵn cho các ngươi từ thuở tạo thiên lập địa”(Mt 25,24). Nhưng muốn được tôn vinh, chúng ta phải chuẩn bị ngay ở trần gian này và trong giây phút này vì tương lai đang nằm trong hiện tại và đang trong tầm tay chúng ta.
 
                                                Truyện : Chiếc hộp.
          Đức Giáo hoàng Innocente IX, một hôm, mời cha Claudius Aquaviva, đang làm Bề trên Tổng Quyền Dòng Tên và là bạn thân của Ngài, tới đàm đạo với Ngài.
          Đức Thánh Cha không tiếp cha Aquaviva tại phòng khách, nhưng ở tư phòng. Tại đây, Đức Thánh Cha chỉ cho ngài một chiếc hộp nhỏ, đặt trên bàn làm việc và hỏi :
          - Cha có biết trong hộp chứa đựng vật gì không ? Một vật qúi đó ! Cha mở ra coi đi.
          Cha Aquaviva mởi nắp hộp và sửng sốt, khi thấy một hình người, rất giống Đức Thánh Cha, nằm ngay ngắn trong đó. Trong lúc phân vân chưa hiểu dụng ý của Đức Thánh Cha, thì Đức Thánh Cha giải thích :
          - Hình người chết, chính là tôi.  Bởi đó, với tôi, nó rất qúi, vì nó luôn gợi cho tôi nhớ tới giờ chết... Trong nhiệm vụ Giáo hoàng, tôi phải quyết định nhiều vấn đề quan trọng. Nhiều người đã  tìm cách gây áp lực với tôi, không chỉ bằng tranh luận, mà bằng cả tiền tài và địa vị... Thế nên, mỗi khi phải quyết định một vấn đề quan trọng, sau khi cầu nguyện, xin ơn soi sáng, tôi vào đây, mở chiếc hộp ra, nhìn chân dung mình trong đó và liên tưởng tới giờ phút phải chết. Sau đó, tôi mới quyết định. Tôi luôn tự hỏi : Nếu phải chết ngay lúc này, tôi sẽ quyết định thế nào về điều đó ? Chính vì thế, chiếc hộp này rất quí đối với tôi.
          Nhớ đến giờ chết như thế là một phương pháp rất hữu hiệu để tránh những sai phạm. Chớ gì giờ chết đến không làm cho chúng ta hoảng sợ mà bình tĩnh nói như thi sĩ Tagore :
          Tôi đã được phép giã từ,
          Chúc tôi ra đi mau mắn nhé anh em.
          Tôi cúi đầu chào tất cả trước khi lên đường
          Này đây chìa khóa tôi gài lên cửa
          Và cả căn nhà cũng trao trọn anh em.
          Chỉ xin anh em lời tạ từ lần cuối
          Thắm đượm tình thân
          Từ lâu rồi sống bên nhau
          Chúng mình là láng giềng lối xóm
          Nhưng anh em đã cho tôi, nhiều hơn tôi cho lại anh em.
          Bây giờ ngày đã rạng
          Đèn trong xó tối nhà tôi đã tắt
          Lệnh triệu đã ban rồi
          Tôi đi đây.
                 (Tagore – Bài thơ 93)
                                      
Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt


 

AnTáng 57: MỘT CUỘC TRẢ GIÁ

MỘT CUỘC TRẢ GIÁ AnTáng 57

I. SUY NIỆM LỜI CHÚA.
          Chúng ta đọc : Mt 16,24-28.
          1. Điều kiện để theo Chúa.
 

Sau khi tiết lộ cho các môn đệ cuộc thương khó của Ngài, Đức Giêsu đưa ra một số điều kiện để AnTáng 57

Sau khi tiết lộ cho các môn đệ cuộc thương khó của Ngài, Đức Giêsu đưa ra một số điều kiện để các ông suy nghĩ và tự do quyết định, có theo Ngài nữa hay không. Việc theo Ngài có tính cách hoàn toàn tự do, Chúa không bao giờ áp đặt ai, Chúa mong mỗi người hãy tự nguyện theo Chúa, như lời thánh Augustinô đã nói:”Thiên Chúa dựng nên con người, không cần con người, nhưng để cứu chuộc con người, thì Ngài cần đến sự cộng tác của con người”.
          Điều kiện Đức Giêsu đưa ra cho các môn đệ suy nghĩ xem có nên tiếp tục theo Ngài nữa hay không là :”Nếu ai muốn theo Thầy, thì hãy từ bỏ mình, vác thập giá mình mà theo  Thầy” (Mt 16,24). Một khi con người tự nguyện đáp trả lại lời kêu gọi của Chúa thì họ cần phải có thiện chí thực hiện 2 điều kiện này :
 
          a) Hãy từ bỏ mình.
          Đây là phương diện tiêu cực của việc theo Chúa, nghĩa là phải khước từ tất cả những cản trở do bên ngoài như tha nhân, xã hội, tạo vật... và do bên trong như chính bản thân mình là các khuyết điểm, thói hư tật xấu, tội lỗi...
          b) Vác thập giá mình.
          Đây là khía cạnh tích cực của việc theo Chúa. Quả vậy, theo Chúa thì phải nỗ lực, cố gắng trong việc sẵn sàng chấp nhận những đòi hỏi của Tin mừng trong sự chịu đựng và kiên trì.
          Còn “theo Thầy” không có nghĩa là môn đệ đi đàng sau Thầy hay chấp nhận giáo thuyết của Thầy, nhưng theo đây là bỏ mình và vác thập giá (Mt 16,24-25; Mc 9,35-37) và còn dám hy sinh mạng sống mình vì Thầy.
 
          2. Sự sống đời này và đời sau.
          Khi đưa ra điều kiện cho các môn đệ để cân nhắc có nên theo Chúa nữa hay không, Đức Giêsu cũng hé mở cho các ông sự thưởng công bội hậu cho những ai kiên tâm theo Ngài. Chúa cũng so sánh cho các ông hai sự sống đời này và đời sau để các ông chọn lựa :”Nếu ai được lời lãi cả thế gian mà thiệt hại mạng sống mình thì được ích gì ? Hoặc người ta sẽ lấy gì mà đổi mạng sống mình”(Mt 16,26; Mc 8,36; Lc 9,25).
          Chúng ta có thể nói lại lời Chúa bằng kiểu nói này cho dễ hiểu hơn:”Nếu ai được lời lãi cả thế gian mà thiệt hại sự sống đời đời thì được ích gì ? Hoặc người ta sẽ lấy gì mà đổi được sự sống đời đời của mình”. Đức Giêsu muốn nhấn mạnh sự sống đời đời qúi giá hơn dự sống đời này bội phần. Chính vì giá trị chênh lệch giữa sự sống đời này với sự sống đời sau như vậy, nên con người sẽ phải lãnh trách nhiệm về sự lựa chọn của mình về sự sống đời này hay sự sống đời sau.
          Đấy cũng là lời thánh Inhaxiô Loyola khuyên thánh Phanxicô Xaviê khi ngài còn là giáo sư danh tiếng tại trường Đại học Paris. Thấm thía lời Chúa, Phanxicô đã rời bỏ ghế giáo sư  đại học để đi truyền giáo cho miền Á đông. Ngài thấy một linh hồn qúi giá chừng nào nên đã hy sinh tất cả để cứu các linh hồn.
          Thánh Phanxicô đã biết lo cho các linh hồn người khác, còn chúng ta có biết lo cho linh hồn mình hay không ? Không ai có thể lo cho ta nếu ta không muốn, cũng như không ai có thể ăn uống thay cho ta. Phận ai người ấy lo. Thiên Chúa giầu lòng thương xót muốn ta được cứu rỗi, nhưng không thể cứu ta nếu ta không cộng tác như lời thánh Augustinô đã nói ở trên.
 
II. PHẢI BIẾT LO CHO TƯƠNG LAI.
          Ai cũng ước mong có một tương lai huy hoàng. Ai không biết lo cho tương lai là người khờ dại. Nhưng tương lai lại nằm trong hiện tại. Phải nắm lấy hiện tại và đặt cho mình câu hỏi : tương lai tôi sẽ ra sao, tôi phải làm gì ? Đâu là ý nghĩa của cuộc sống hiện tại ?
          Cổ nhân đã đưa ra cho chúng ta ba câu hỏi và muốn cho ta tự trả lời :
                             Nhân sinh hà tại?
                             Tại thế hà như ?
                             Hậu thế như hà ?
          Nghĩa là : người ta bởi đâu mà đến, đến để làm gì và sau này sẽ ra sao ?
          Đứng trước câu hỏi này mỗi người có một câu giải đáp, tùy theo quan niệm của họ. Những người theo phái hiện sinh vô thần kiểu triết gia Jean Paul Sartre trả lới bằng một thắc mắc : Tại sao tôi sinh ra trong đau khổ, sống trong đau khổ rồi chết trong đau khổ ? Họ không tìm ra được câu trả lời cho thỏa đáng nên họ đã đi đến kết luận : Đời là phi lý !
          Đối với những người có đức tin, họ biết rằng cuộc sống đời này chỉ là nơi tạm trú để làm cuộc hành trình về quê trời, quê hương vĩnh viễn Chúa dành cho họ.
          Thánh Phaolô đã nhắc nhở tín hữu Philipphê khi ngài nói:”Quê hương chúng ta ở trên trời, và chúng ta nóng lòng mong đợi Đức Giêsu Kitô từ trời đến cứu chúng ta”(Pl 3,20); hoặc khi ngài nói với tín hữu Côrintô :”Chúng ta biết rằng : nếu ngôi nhà chúng ta ở dưới đất, là chiếc lều này, bị phá hủy đi, thì chúng ta có một nơi ở do Thiên Chúa dựng lên, một ngôi nhà vĩnh cửu ở trên trời, không do tay người thế làm ra”(Cr 5,1).
 
III. MỘT CUỘC TRẢ GIÁ.
          Trần gian là một cuộc hành trình đi về quê trời. Không cuộc hành trình nào mà không gặp khó khăn nguy hiểm. Có những khó khăn thử thách làm ta nản lòng, nhưng cũng có những cám dỗ hấp dẫn làm ta dừng lại ở trên đường, không còn tiếp tục hướng tới mục tiêu  nữa.
                                      Truyện minh hoạ.
          Ngày xưa có một dân tộc ít người có tập tục là mỗi 7 năm lại đề cử một người làm vua. Trong 7 năm làm vua, người ấy có toàn quyền muốn làm gì cũng được. Nhưng người ấy phải cam kết chấp nhận là sau 7 năm sẽ bị giết chết để nhường chỗ cho một người khác.
          Dân tộc ấy cứ tiếp tục sống như vậy. Điều đáng ngạc nhiên là, nhiều người muốn đổi mạng mình để lấy quyền hành và tự do theo ý muốn trong một thời gian ngắn ngủi.
                   (Giọt nước mắt cuối cùng, tr 71)
          Câu chuyện này không biết có thật hay không. Nhưng ngày nay, nhiều người còn dại dột hơn những người muốn làm vua trong xứ ấy. Nhiều người muốn đổi linh hồn bất diệt để được hưởng những phút khoái lạc trong chốc lát và đưa đến những hậu quả tai hại cho cả đời. Có người cứ bám mãi vào một tật xấu, mà không quyết tâm từ bỏ như rưrợu chè, cờ bạc, hút xách, dâm ô... không biết rằng cái giá phải trả là quá đắt.
          “Người ta lấy gì mà đổi mạng sống mình” ? Đặt ra câu hỏi này, Chúa Giêsu muốn nhấn mạnh cho chúng ta rằng con người khôn là con người biết sống cuộc đời hiện tại này làm sao, để khi chết được bước vào sự sống đời đời.
          Sau cùng, Chúa cho biết : Ngài sẽ thưởng phạt ai nấy xứng với việc họ làm.  Không thể thoả mãn với cuộc sống hiện tại ở đời này bằng cách chỉ hưởng thụ, nghĩa là chỉ lo cho mình cuộc sống ở đời này. Nhưng phải biết ra công sức làm việc để có được sự sống đời sau, nghĩa là “từ bỏ mình, vác thập giá mình mà theo Chúa”.
          Mỗi khi đi dự một đám tang, ta hãy nghĩ đến thân phận con người của mình và tự hỏi nếu hôm nay Chúa gọi tôi lên đường thì tôi đã sẵn sàng chưa ? Ta đã có sẵn hành trang chưa ? Hành trang của ta không phải là vàng bạc, của cải vì những cái đó ta phải để lại cho người khác. Ta chỉ có thể mang theo những công phúc mà ta đã làm được khi còn sống. Ngạn ngữ Anh quốc có câu :
                                      Điều tôi tiêu đi thì tôi có,
                                      Điều tôi giữ lại thì tôi mất,
                                      Điều tôi cho đi thì tôi được.
          Mọi cái đời này sẽ qua đi, sẽ mất hết chỉ còn lại những gì tôi đã cho đi, cho Chúa, cho Hội thánh và cho tha nhân. Chỉ những cái gì cho đi mới tồn tại cho đời sau.
 Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt


 

AnTáng 58: MỘT BỘ XƯƠNG KHÔ

MỘT BỘ XƯƠNG KHÔ AnTáng 58

I. SUY NIỆM LỜI CHÚA.
Chúng ta đọc : Lc 12.35-40.
 

Bài Tin mừng chúng ta vừa nghe là một dụ ngôn Chúa Giêsu muốn dùng nhắc nhở chúng ta phải AnTáng 58

Bài Tin mừng chúng ta vừa nghe là một dụ ngôn Chúa Giêsu muốn dùng nhắc nhở chúng ta phải sẵn sàng chờ đợi Chúa đến gọi chúng ta về với Chúa.  Dụ ngôn nhấn mạnh tới hai từ “Tỉnh thức”. Chúa bảo chúng ta phải luôn tỉnh thức như một người đấy tớ chờ đợi ông chủ đi ăn cưới về. Theo tục lệ người Do thái, tiệc cưới kéo dài không biết đến bao giờ mới kết thúc, có khi kết thúc buổi chiều, có khi mãi tới nửa đêm hay muộn hơn nữa.  Người đầy tớ phải “thắt lưng cho gọn” tức là ở trong tư thể sẵn sàng làm việc, và”ø thắp đèn cho sẵn”là cầm đèn soi lối cho ông chủ về. Nếu biết rõ lúc nào chủ về thì dễ hơn nhiều, vì chỉ cần chờ đến lúc ấy mới thắt lưng và thắp đèn. Nhưng vì không biết chừng nào ông chủ về nên phải sẵn sàng luôn.
Và Chúa Giêsu kết luận : phúc cho đầy tớ nào đang canh thức khi ông chủ về, ông sẽ thưởng công bội hậu cho nó, ngược lại, nó sẽ phải trừng phạt nặng nề.
Như vậy, qua bài Tin mừng Chúa Giêsu dạy chúng ta là những Kitô hữu phải luôn luôn tỉnh thức và sẵn sàng chờ đợi Chúa đến. Dụ ngôn nói “để đợi chủ về”, nghĩa đầu tiên là chờ ngày Chúa Giêsu lại đến ; nghĩa thứ hai là giờ chết của mọi người và nghĩa thứ ba là những lúc Chúa đến viếng thăm ban ơn cho ta. Trong 3 trường hợp ấy, chỉ có ai tỉnh thức, sẵn sàng và nhanh nhạy mới gặp được Chúa và được Chúa thưởng.  Tỉnh thức bằng cách sống trong ơn Chúa. Muốn vậy ta phải tránh tội và chừa cải tội lỗi. Chúng ta sẵn sàng bằng cách chăm lo làm những việc lành phúc đức để chuẩn bị cho sự sống đời sau.
Lời Chúa được ngỏ với con người xuyên qua cuộc sống mỗi ngày, nên cũng luôn mang tính bất ngờ, Chính trong những cái thường nhật, nhỏ bé, độc điệu mỗi ngày, con người được mời gọi để nhận ra lời ngỏ của Chúa. Chính trong những cái bất ngờ trong cuộc sống mà con người được mời gọi để nhận ra tiếng Ngài... Xin Ngài cho chúng ta luôn có đôi mắt rộng mở để nhìn thấy Ngài trong từng biến cố của cuộc sống. Xin Ngài cho chúng ta đôi tai tinh tường để biết lắng nghe tiếng  mời gọi của Ngài trong từng phút giây cuộc sống. Xin  Ngài cho chúng ta quả tim và đôi tay rộng mở để biết chia sẻ cho tha nhân là hiện thân của Ngài (Mỗi ngày một tin vui).

II. HÃY NGHĨ TỚI GIỜ CHẾT.
1. Một nhắc nhở.
Trong lễ an táng hay cầu hồn, chúng ta thuờng hát bài đáp ca : Đời sống con người giống như cây cỏ, như bông hoa nở trên cánh đồng, một cơn gió thoảng đủ làm nó biến đi, nơi nó mọc không còn mang vết tích” (Tv 102,15-16). Đời sống thì vắn vỏi, mọi người cố bám lấy sự sống, sống được phút nào hay phút ấy mà ít khi hay chẳng khi nào nghĩ tới giờ chết, mặc dầu biết rõ mọi người phải chết. Có những người không bao giờ nghĩ tới sự chết : chết rồi sẽ ra sao ?  Nếu có hỏi thì họ chỉ biết trả lời : chết là hết. Có lẽ họ chỉ biết trả lời như em bé.
Trong một lớp học giáo lý ở một xứ đạo kia, cha xứ hỏi một em bé :
- Sau khi chết, con người sẽ ra sao ?
Em bé ngây thơ trả lời :
- Thưa cha, chết rồi, con người sẽ trở thành bộ xương khô.
Đúng vậy, chết rồi ai cũng trở thành một bộ xương khô, đấy là xác sẽ thành bộ xương khô, nhưng còn linh hồn thì sao ?  Về vấn đề này, chúng ta thấy mọi vật chung quanh đều nhắc cho chúng ta về sự chết : Lời Chúa, Lời giảng dạy khuyên răn, một biến cố nào đó, nhất là một người chết và ngay trong những việc bình thường trong cuộc sống hằng ngày.

Truyện : Một bộ xương khô.
Một thanh niên trẻ đẹp giầu có yêu một thiếu nữ  cũng giầu đẹp không kém gì. Thật là môn đăng hộ đối, đẹp đôi vừa lứa mọi bề. Chẳng may vì công vụ chàng phải đi xa một thời gian. Trước khi đi,  chàng đã tặng nàng một bức chân dung của mình được lồng trong một khung bằng vàng. Còn nàng cũng quyết định tặng chàng bức chân dung của mình trước lúc chàng trở về và muốn chân dung của mình phải do một hoạ sĩ bậc thầy vẽ.
Vì thế nàng đến yêu cầu một tu sĩ Capucinô có biệt tài vẽ chân dung thực hiện ý muốn của mình. Trước tiên vị tu sĩ vẽ cái đầu và gửi đến xem nàng có bằng lòng không. Bức hoạ cái đầu tuyệt đẹp chưa từng thấy khiến cô gái rất ưng ý. Cô ta gửi lại bức họa với một món quà tặng quí giá kèm theo lời khẩn cầu hoàn thành càng sớm càng tốt.
Vị tu sĩ lại tiếp tục vẽ. Thay vì vẽ dưới cái đầu tuyệt đẹp là một thân hình tương xứng, vị tu sĩ lại vẽ một bộ xương như thật, ai nhìn vào cũng đâm sợ hãi. Khi đã hoàn tất liền gửi ngay cho cô gái. Nóng lòng chờ đợi, cô ta vội mở ra xem và thấy bức chân dung của mình là một bộ xương , tức điên lên không nói được nên lời.  Dù vậy cô ta vẫn thích nhìn cái đầu, nhưng khốn nỗi hễ nhìn đầu là phải nhìn bộ xương ghê tởm. Dần dần quen đi không còn ác cảm với bộ xương nữa. Và cô tự nghĩ:”Một ngày nào đó mình sẽ ra như thế này. Có lẽ vị tu sĩ không có ý chơi xỏ mình mà muốn nhắn gửi cho mình một bài học gì đây”.
Đang trầm tư thì đúng lúc tiếng chuông Truyền tin từ tu viện Carmel gần đó vang lên khiến cô càng thêm bồi hồi. Thế là cô đến tu viện với hình ảnh bộ xương trong đầu. Cuối cùng nghe theo tiếng gọi nhiệm mầu cô ta xin vào tu viện. Từ trong tu viện cô viết thư cho người yêu, chia sẻ những suy tư của mình và khuyên chàng hãy làm như mình. Và chàng trai đó chẳng những không hận đời, trái lại nghe theo lời khuyên cũng đã xin vào dòng Capucinô.
(Quê Ngọc, Dấu ấn tình yêu, năm A, tr 123)
Như người ta thường nói thiên nhiên vạn vật là một cuốn sách tuyệt hảo luôn luôn biểu lộ quyền năng và sự hiện diện của Chúa và cũng có thể nói mà không sợ sai rằng mọi biến cố trong cuộc đời là những thông tin kỳ diệu diễn tả ý định của Chúa. Bởi vì Thiên Chúa thường lợi dụng những biến cố, hoàn cảnh trong cuộc sống để mời gọi con người đi theo Ngài và thực thi những gì Ngài muốn.
2. Một thái độï.
Thái độ cơ bản của người Kitô hữu, đó là tỉnh thức. Người Kitô hữu tỉnh thức vì biết rằng mỗi khoảnh khắc đều mang một ý nghĩa đối với một giai đoạn mới hoặc cần thiết cho sự trưởng thành, mỗi biến cố đều mang nặng sự hiện diện và tác động của Thiên Chúa.
Bài Tin mừng hôm nay giúp chúng ta đặt ra cho mình một câu hỏi và phải thẳng thắn trả lời : Trong cuộc sống tôi đã làm được những gì ? Tôi đang ở trong tư thế nào để đón chờ Chúa đến gọi tôi ?
Một y sĩ nổi danh nói rằng :”Một người có thể sống mạnh khỏe đến 81 tuổi”. Dĩ nhiên với điều kiện người ấy phải là người bình thường.
Y sĩ này nói thêm:”Mặc dầu người ta có thể tìm ra được thuốc chữa cho những căn bệnh giết người như ung thư hay cứng động mạch, thì thiên nhiên sẽ buông một cú đánh cuối cùng, cái mà người ta gọi là “chết”.
Bàn về câu nói trên, một tờ báo đã viết:”Điều đáng kể không phải là sống bao lâu, nhưng ta đã xử dụng thời gian như thế nào ? Đúng như thế, vì một số những phần đóng góp quan trọng nhất của công ích nhân loại đã từng và hiện đang được thực hiện do những bộ óc trên 81 tuổi (Giọt nước mắt cuối cùng, tr 114).
Do đó, chúng ta hãy suy niệm lời Thánh vịnh 88 :
Đời con là một kiếp phù du,
Loài người Chúa dựng nên thật mỏng manh quá đỗi.
Sống làm người ai không phải chết,
Ai cứu nổi mình thoát quyền lực âm ty ?
(Tv 88,48-49)
3. Một kinh nghiệm.
 
Khi đối diện với cái chết, người ta không còn nghĩ gì khác nữa mà chỉ còn nhìn về quá khứ. Dù muốn dù không người ta phải đối diện với quá khứ, không thể chối bỏ được, vì lúc đó người ta chỉ còn có hai thái độ : hài lòng hay hối hận.
Nữ bác sĩ Kubler Ross, thuộc trường đại học Chicago có viết một cuốn sách nhan đề “chết và hấp hối” (Death and Dying). Cuốn sách được viết ra  là vì bà thường xuyên tiếp xúc với những bệnh nhân sắp chết. Bàn vễ những cảm nghĩ của những bệnh nhân ấy về cuộc sống lúc họ nhìn ngược lại quá khứ khi đối diện với cái chết, bà viết :
Khi phân tích mọi sự lần cuối cùng, họ thấy rằng chỉ có hai điều này là quan trọng thôi : Tình yêu đối với tha nhân và tinh thần phục vụ tha nhân. Tất cả những gì khác mà ta đã từng cho là quan trọng chẳng hạn như danh tiếng, tiền bạc, uy tín, quyền lực thì đều là vô nghĩa”.
Nhận xét này hoàn toàn phù hợp với điều Chúa Giêsy dạy bảo lúc Ngài còn ở dương trần. Ngài nói:”Con người không đến để được phục vụ, mà đến để phục vụ”(Mc 10,45) và Ngài cũng nói:”Các con hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương các con”(Ga 15,12)
(Thiên đàng là thế đó, tr 169-170)
Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt


 

AnTáng 59: ĐI VỀ ĐÂU

ĐI VỀ ĐÂU AnTáng 59

I. SUY NIỆM LỜI CHÚA.
          Chúng ta đọc : Ga 14,1-6.
 

Sau ba năm đi rao giảng Tin mừng, Chúa Giêsu thấy nhiệm vụ của mình sắp chấm dứt và chuẩn AnTáng 59

Sau ba năm đi rao giảng Tin mừng, Chúa Giêsu thấy nhiệm vụ của mình sắp chấm dứt và chuẩn bị tinh thần để đi vào cuộc tử nạn đang đón chờ, Ngài yêu thương các môn đệ hết tình, yêu cho đến cùng. Ngài thấy trước cuộc ra đi của mình sẽ làm cho các môn đệ phải bàng hoàng sợ sệt nên Ngài đã khích lệ cac ông bằng những lời sau đây:”Lòng các con đừng xao xuyến ...Hãy tin vào Thầy... Thầy đi để dọn chỗ cho các con và khi Thầy đã ra đi và dọn chỗ cho các con rồi, Thầy sẽ trở lại đón các con, để Thầy ở đâu các con sẽ ở đó. Thầy đi đâu các con đã biết đường rồi”.
          Ông Tôma bộc trực hỏi Chúa ngay:”Thưa Thầy, chưa ai biết nơi Thầy đi, làm sao chúng con tìm ra lộ trình”? Dường như ông có ý nói : chúng con chỉ biết đi từ Galilê đến Giudê, còn đi đâu nữa thì chúng con không biết... Các ông hiểu về quốc lộ !
          Chúa Giêsu cho biết đó là con đường thiêng liêng, con đường thông hiệp với Ngài, theo bước chân Ngài thì sẽ biết đường đi nên đã trả lời:”Thầy là đường, là sự thật và là sự sống, không ai đến được với Cha mà kh6ng qua Thầy”(Ga 14,6). Ngài là đường, là Đấng Trung gian giữa Thiên Chúa và loài nguời,”Thật vậy, chỉ có một Thiên Chúa, chỉ có một Đấng trung gian giữa Thiên Chúa và loài người : đó là một con người, Đức Giêsu Kitô, Đấng tự hiến làm giá cứu chuộc cho mọi ngươiø”(1Tm 2,5-6) nghĩa là “đường” Ngài đã vạch ra, là con đường Tin mừng của Chúa.  Con đường này Chúa đã giao cho Giáo hội quản lý nên cứ theo sự chỉ dẫn của Giáo hội thì sẽ đi đúng đường.
          Nói cụ thể hơn, hãy sống theo luật Chúa và luật của Giáo hội vì Chúa đã nói:”Không phải cứ nói Lạy Chúa, lạy Chúa mà được vào Nước Trời, những chỉ những kẻ làm theo ý Cha Ta ở trên trời, kẻ ấy mới được vào”, mà sống theo ý Chúa là phải giữ giới răn của Ngài.
          Đó là một cuộc hành trình về quê trời nhưng người ta có công nhận như vậy không ? Nói khác đi, người ta có những cái nhìn khác nhau về cuộc đời, nên thái độ sống của mỗi người cũng khác nhau tùy theo cái nhìn của họ.
 
II. CÁI NHÌN VỀ CUỘC ĐỜI.
          1. Câu hỏi về cuộc đời.
          Có những người có cái nhìn lạc quan về cuộc đời, họ công nhận cuộc đời có ý nghĩa của nó. Nhưng có những người nhìn đời bằng con mắt bi quan, họ theo cái nhìn của triết học hiện sinh vô thần của J.P Sartre. Họ đặt ra những câu hỏi cụ thể : tại sao tôi sinh ra trong đau khổ, sống trong đau khổ và chết trong đau khổ ? Họ không tìm ra được giải đáp cho những thắc mắc của họ nên họ theo chủ trương và kết luận của J.P Satre : Đời là phi lý.
          Qua chủ trương bi quan này, người ta lao vào cuộc sống hưởng thu vật chấtï, hưởng thụ cho nhiều  để rồi ngày mai sẽ kết thúc cuộc đời trong trống rỗng , vì chết là hết mà !
Thi sĩ Tản Đà trước đây chưa biết gì về triết học hiện sinh nhưng thấy người ta có những thái độ khác nhau về cuộc sống nên đã đặt ra câu hỏi :
                             Đời đáng sống hay không đáng sống,
                             Cất chén quỳnh xin hỏi bạn tri âm ?
 
2. Câu trả lời tiêu cực.
          Có những người sống mà không biết tại sao mình sống, sống để làm gì rồi sau này sẽ ra sao ? Họ chỉ biết sống cho qua ngày để rồi ngày mai chết là trôi vào dĩ vãng, cho nên họ  mới kết luận :
                                      Sống bữa nào hay bữa ấy
                                      Hơi đâu ngồi nghĩ chuyện đâu đâu.
          Nếu họ hiểu được ý nghĩa cao qúi của đời sống như Hội thánh dạy thì họ được yên ủi biết bao vì đối tượng của cuộc sống là hạnh phúc, một thứ hạnh phúc tròn đầy và bất diệt :”Ta sống ở đời này để nhận biết, thờ phượng kính mến Đức Chúa Trời là Cha chúng ta và thương yêu mọi người như anh em, cùng nhau xây dựng một xã hội tốt đẹp, cho ngày sau được hạnh phúc đời đời”(Sách Giao lý Công giáo Tân định, số 1).
          Người ta đọc được tấm bia dựng trên mộ một thanh niên câu:”Anh thọ 20 tuổi”.
          Có người buột miệng nói:”Ít quá”. Ít thật không ? Không ! Nếu anh ta đã sống 20 năm, đã dùng 20 năm theo thánh ý Chúa, không để phút nào phí đi, thì trong mấy năm ấy, anh làm được nhiều việc vĩ đại, một thời gian bao la lâu dài (Tihamer Toth, Chí khí người..., tr 163).
Những người sống mà không biết sao mmình sống và sống để làm gì thì có cái nhìn về cuộc đời rất bi quan và sống rất tiêu cực, mất tất cả :
                                      Cuộc đời buồn như giấc ngủ
                                      Sau giấc ngủ có cơn giông.
                                      Vì hôm nay chưa là đủ
                                      Và ngày mai còn có không ?
                                                (Vũ Hồ)
          3. Câu trả lời tích cực.
          Những người có đức tin nhìn cuộc đời dưới khía cạnh lạc quan và tích cực. Họ coi cuộc đời chỉ là một cuộc hành trình về quê trời, chúng ta chỉ là khách lữ hành nơi trần thế. Trong cuộc hành trình, họ phải nỗ  lực vừa chịu đựng vừa vượt qua khó khăn để đi tới đích.  Họ nhớ lời Chúa đã dặn dò :”Thầy đi để dọn chỗ cho các con... Thầy sẽ trở lại đón các con...” Họ cũng tin tưởng và lạc quan với lời thánh Phaolô nói với tín hữu Philipphê:”Quê hương chúng ta ở trên trời, và chúng ta nóng lòng chờ đợi Đức Giêsu Kitô từ trời đến cứu chúng ta”(Pl 3,20). Đồng thời, thánh Phaolô cũng cho tín hữu Corintô biết thêm về ngôi nhà vĩnh cửu của chúng ta  ở trên trời:”Chúng ta biết rằng : nếu ngôi nhà chúng ta ở dưới đất, là chiếc lều này bị phá hủy đi, thì chúng ta có nơi ở do Thiên Chúa dựng lên, ngôi nhà vĩnh cữu ở trên trời, không do tay người thế làm ra” (2 Cr 5,1)
          Những người có lòng tin như thế coi đời sống là một cuộc thử thách, đau khổ sẽ qua đi và chính đau khổ sẽ là phương tiện tiến tới vinh quang.
                                      Cho đến lúc hồn ta trong hơi thở
                                      Vẫn yên vui về cõi chết xa xôi.
                                      Và u buồn là những đoá hoa tươi,
                                      Và đau khổ là chiến công rực rỡ.
                                                (Chế Lan Viên)
          Đối với họ, giờ chết là giờ về với Chúa, về nơi Chúa đã dọn sẵn cho mình (x. Ga 14,1-6), ngày đó không phải là ngày sầu thương tang tóc mà là một ngày vui mừng. Chính vì thế, các bổn đạo đầu tiên gọi ngày chết là Dies natalis, ngày Sinh nhật trong Nước Trời.
          Với ý nghĩa đó, ông Walfany Goethe đã gọi “con người chết là một vì sao lặn để mọc huy hoàng hơn ở một bán cầu khác”. Giờ chết là ngày khải hoàn sau bao năm phải chiến đấu khổ cực ở trần gian.
 
                                       Truyện : cây hoa “bách niên”.
          Cây bách niên (agravé) cứ một trăm năm một lần nở hoa, nhưng hoa đẹp lạ lùng. Trong một thế kỷ  cây ấy đã sửa soạn cho ngày tươi đẹp ấy, nó dồn sức lực, nó trang điểm, nó làm cho đẹp, bằng công việc kín đáo, không ai trông thấy. Cả một thế kỷ ! Và khi đã hết thời nó nở những cánh hoa trắng muốt để làm đẹp lòng người đến xem cái phi thường của nó.
                             (T. Toth, Chí khí người thanh niên, tr 182)

III. CÁI NHÌN ĐÚNG ĐẮN VỀ CUỘC ĐỜI.
          Chúa thương yêu chúng ta, Ngài dựng nên chúng ta để được hạnh phúc chứ không phải đẩy chúng ta vào chốn hư vô. Mà hạnh phúc ở đâu ? Chắc chắn không ở trần gian này vì con người phải trải qua 4 giai đoạn của cuộc sống : sinh, lão, bệnh , tử.  Sinh ra, lớn lên, bệnh tật rồi chết đều mang trong mình mầm mống của đau khổ , mà còn đau khổ thì chưa có hạnh phúc. Chỉ ở thiên đàng mới hết đau khổ, nơi chúng ta được chiêm ngưỡng thánh nhan Chúa nhãn tiền. Chính Chúa là hạnh phúc của chúng ta.
          Trần gian không phải là quê hương thật của ta, nó chỉ là nợi tạm trú hay nơi dừng chân. Cuộc hành trình còn phải kéo dài, mà cuộc hành trình nào cũng gặp nhiều trắc trở, gian nan, nhục nhằn, đau khổ. Vì thế, sống ở trần gian này con người còn phải trải qua đau khổ, phải vượt thắng con người ươn hèn của chúng ta, mới mong đạt tới quê hương : Per crucem ad lucem.
          Thánh Phaolô còn khuyên chúng ta phải nỗ lực hợn:”Anh em hãy kiên tâm bền chí, và càng ngày càng tích cực tham gia vào công việc của Chúa, vì biết rằng : trong Chúa, sự khó nhọc của anh em sẽ không trở nên vô ích” Vì thế :
                                      Người đời hữu tử hữu sinh
                             Sống lo xứng phận, chết dành tiếng thơm.
                                      Truyện : cái chết này mới đẹp.
          Đôi vợ chồng đã sống với nhau 60 năm. Lúc đau nặng gần chết, ông kêu vợ lại:
- Tôi sắp chết, tôi chết đi, bà sẽ làm gì cho tôi ?
- Khi ông chết, tôi sẽ nằm vật vã bên xác ông, khóc lóc thảm thiết làm cho ai nấy phải cảm động .
          - Tôi biết bà thương tôi lắm, nhưng bà khóc lóc khi đó cũng không giúp ích gì cho tôi được. Khi đó tôi không nghe được gì nữa đâu.
          - Vậy tôi sẽ đóng một quan tài thật đẹp, mua hoa để đầy quan tài.
          - Tôi cảm ơn bà  nhưng khi đã chết, hoa đối với tôi cũng vô ích vì tôi còn được ngửi mùi hoa thơm của nó đâu nữa.
          - Vậy tôi sẽ mua sáp để tràn quanh quan tài ông.
          - Cũng vô ích vì khi đó tôi không còn mắt để xem thấy nữa.
          - Vậy khi chôn xác ông xuống đất, tôi sẽ ở lại nơi mồ, khóc lóc thảm thiết, cố làm sao cho các giọt nước mắt thấm xuống đất và thấm vào thân xác ông.
          - Cũng vô ích vì khi đó tôi không còn biết gì nữa.
          - Ôi ! Bà vợ kêu lên, cái chết xấu xa và dễ sợ đến chừng nào !
          - Nhưng cái chết thật đẹp đẽ nếu người sắp chết thấy rằng trong đời sống, mình đã làm được nhiều việc lành phúc đức.
          Nói xong, ông tắt thở bình an.
Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt


 

AnTáng 60: PHẢI SINH HOA KẾT TRÁI

PHẢI SINH HOA KẾT TRÁI AnTáng 60

I. SUY NIỆM LỜI CHÚA.
“Cùng lúc ấy, có mấy người đến kể lại cho Đức Giêsu nghe chuyện những người Galilê bị tổng trấn Philatô giết,  khiến máu  đổ ra hoà lẫn với máu tế vật họ đang dâng. Đức Giêsu đáp lại rằng:”Các ông tưởng mấy người Galilê này  phải chịu số phận đó vì họ tội lỗi hơn mọi người Galilê khác sao ? Tôi nói cho các ông biết : không phải thế đâu, nhưng nếu các ông không sám hối, thì các ông cũng sẽ chết như vậy.
          Cũng như mười tám người kia bị tháp Siloắc đổ xuống đè chết, các ông tưởng họ là những người  mắc tội nặng hơn tất cả mọi người  ở thành Giêruselem sao ? Tôi nói cho các ông biết : không phải thế đâu, nhưng nếu các ông không chịu sám hối, thì các ông cũng sẽ chết hết y như vậy” (Lc 13,1-9).
 

Người ta đến báo tin cho Đức Giêsu biết quan Philatô đã hạ lệnh giết những người Galilê đang khi AnTáng 60

Người ta đến báo tin cho Đức Giêsu biết quan Philatô đã hạ lệnh giết những người Galilê đang khi họ dâng lễ khiến máu họ hòa lẫn với tế vật.  Và một biến cố nữa là tháp Siloe đổ xuống đè chết mười tám người. Theo quan niệm nhân quả, người ta coi đó là hình phạt mà Thiên Chúa giáng xuống người tội lỗi, và những ai thoát nạn thì được coi là công chính. Đức Giêsu bác bỏ quan niệm nông cạn này (Ga 9,2-3) và chỉ cho họ thấy rằng các biến cố đó là một lời cảnh cáo : mọi người đều có tội, nên đều phải sám hối.
          Nhân dịp này Đức Giêsu cũng muốn nói đến cái chết mà mọi người đều phải trải qua. Sự kiện tháp Siloe đổ xuống đè chết mười tám người cũng là dịp Ngài nhắc nhở cho chúng ta  : cái chết đã bất chợt xẩy đến cho những người bị tai nạn, bất chợt cũng như kẻ trộm đến ban đêm mà chủ nhà không biết ; cũng như chủ nhà về bất chợt mà đầy tớ không ngờ (Lc 12,35-49). Giờ chết cũng bất thần giáng xuống những kẻ không đề phòng, không hối cải như vậy. Cho nên họ phải hối cải, thì sẽ không sợ các  biến cố (giờ chết) xẩy đến bất ngờ.
          Để thúc giục dân Do thái hoán cải, Đức Giêsu giảng thêm dụ ngôn về cây vả nữa. Cây vả dùng để lấy quả làm thức ăn như một thứ rau ở Palestina. Nếu cây vả mà không sinh trái thì phải chặt bỏ đi, để nó chiếm đất. Cũng vậy, dân Do thái được ví như cây vả lâu ngày không sinh trái. Thiên Chúa toan chặt đi nhưng người làm vườn của Thiên Chúa là Đức Giêsu xin khất cho hạn một năm nữa. Thời hạn đó là những ngày giờ giảng dạy của Chúa. Đó là thời hạn cuối cùng. Lời đe doạ này không lay chuyển được lòng dân Do thái. Vì thế, thành Giêrusalem bị tàn phá bình địa sau đó 40 năm và dân Do thái bị lưu đầy khắp nơi.
          Dụ ngôn này nhắc nhở cho chúng ta về sự hối cải để chuẩn bị cho giờ chết của mình. Chết là một sự kiện xẩy ra hằng ngày mà không ai có thể chối cãi được. Nhìn thấy người ta chết hằng ngày nhưng có một điều lạ là không mấy ai nghĩ đến giờ chết của mình, cứ coi như mình sống mãi sống hoài. Đặc tính của cái chết là sự bất ngờ. Người đời đã chấp nhận chân lý này :”Sinh hữu hạn, tử bất kỳ”.

II. PHẢI CHUẨN BỊ CHO NGÀY RA ĐI.
          Mỗi người sẽ phải chết một lần, mà một lần ra đi thì không có ngày trở về ; vì thế không ai có kinh nghiệm về cái chết.  Đời là một cuộc hành trình mà cuộc hành trình nào cũng phải có điểm đến. Điểm đến của chúng ta không phải là nơi nào vững chắc trên trái đất này vì mọi sự sẽ phải phá hủy, chỉ còn một nơi chúng ta đang mơ ước mà Chúa Giêsu đã hứa với chúng ta :”Trong nhà Cha Thầy có nhiều chỗ ở... Vì Thầy đi dọn chỗ cho các con...để Thầy ở đâu, các con cũng ở đó”(Ga 14,2-3). Nhưng muốn đến nơi Chúa Giêsu đã dành cho chúng ta , cần phải có sự chuẩn bị, phải làm việc. Công việc của chúng ta phải làm là : sám hối và sẵn sàng.
 
          1. Hãy sám hối.
          “Hãy sám hối”, đó là câu mời gọi khẩn thiết  được kêu gọi rất nhiều lần bởi Gioan Tẩy giả, bởi Chúa Giêsu, bởi các Tông đồ và bởi Giáo hội. Sám hối có nghĩa là trở về, trở về nơi mình đã phát xuất vì con người đang đi trệch đường. Sám hối là nhận ra mình đang trệch đường và mau mắn trở về đường chính.
          Qua dụ ngôn cây vả, chúng ta thấy Chúa Giêsu quả là Đấng nhân lành, thương xót và nhẫn nại : suốt ba năm trời vất vả giảng dạy dân Do thái, mà họ không trở lại ; tuy vậy, Ngài còn xin cho họ được một năm ân huệ nữa, để hoán cải. Chúa cũng yêu thương và nhân lành đối với mỗi người chúng ta, đồng thời Ngài cũng kiên nhẫn chờ đợi chúng ta thanh tẩy đời sống và thánh hoá bản thân mỗi ngày.
 
                                      Truyện : Phải qui hàng.
          Sau khi đánh tan một cuộc nổi loạn nhà vua bắt những kẻ phản loạn về. Ông ra lệnh thắp lên một cây nến, rồi nói với họ :”Ai chịu đầu hàng và thề trung thành với ta thì sẽ được tha, bằng không sẽ bị giết. Các ngươi hãy suy nghĩ kỹ. Khi cây nến tắt thì cuộc hành quyết sẽ bắt đầu”.  Thiên Chúa cũng đối xử với tội nhân như vậy : Ngài cho họ một thời gian gia hạn. Tuy nhiên, có một khác biệt quan trọng : không ai biết cây nên của đời mình còn dài hay ngắn. (GM Arthur Tonne).
 
          2. Hãy sẵn sàng.
          Khi nói đến giờ chết, Chúa Giêsu đã đưa ra nhiều hình ảnh như trận lụt đại hồng thủy, kẻ trộm, người đầy tớ tỉnh thức, những cô trinh nữ khôn ngoan... để nói lên yếu tố bất ngờ của giờ chết.  Dân gian thường nói :”Tử bất kỳ” : giờ chết đến bất cứ lúc nào không ai biết. Đây là kinh nghiệm ngàn đời mà chúng ta cần phải biết và đề phòng. Tuy biết thế, nhưng ít khi người ta đề phòng.  Những nhà khảo cổ đào bới  được thành phố Vésuve xưa kia bị núi lửa chôn vùi cách đột ngột. Người ta thấy nhiều cảnh tượng trái ngược nhau : có người chết đang khi nhậu nhẹt, có những người đang đánh nhau để tranh dành một số tiền. Nhưng đẹp nhất là một người lính gác đứng nghiêm, gươm giáo trong tay đang thi hành nhiệm vụ.
          Hãy ngước mắt nhìn lên để khỏi bị chìm đắm trong những thú vui thấp hèn. “Người này chết vì leo núi”, đó là lời ghi trên mộ bia của một vận động viên leo núi. Người ấy đam mê leo núi, muốn chinh phục các điểm cao, nên đã chết vì tham vọng của mình.
          Câu trên đây ghi nhận công lao anh dũng của ông. Chúng ta cũng cần có thái độ của vận động viên leo núi là nhắm đích cao để tiến tới, là nhắm lý tưởng để mong đạt được. Hãy trèo lên, hãy tiến tới. Trong  đường nhân đức, chúng ta phải có thái độ trèo cao để luôn tiến bộ.
          Trong khi chờ đợi Chúa đến, chúng ta hãy tỉnh thức và làm việc như tên đầy tớ cầm đèn sáng trong tay đợi ông chủ đi ăn cưới về.  Phúc cho những đầy tớ nào đang sẵn sàng chờ đón chủ, ông sẽ khen ngợi và thưởng công cho. Hày làm việc như hôm nay Chúa gọi chúng ta về.
 
                                      Truyện : Cứ làm việc.
          Một ngày nọ vào năm 1780 bỗng dưng cả vùng tiểu bang Connecticut bị tối hẳn lại. Ai nấy đều cho rằng đã đến ngày tận thế. Khi đó Hội đồng Lập pháp tiểu bang đang họp. Nhiều người yêu cầu hoãn cuộc họp để họ có thể về nhà cùng với gia đình chờ Chúa đến. Nhưng ông chủ tịch nói :”Không biết hôm nay có phải là ngày tận thế hay không. Nếu không thì không cần hoãn họp. Còn nếu phải thì chúng ta càng cần  chu toàn nhiệm vụ hơn nữa. Xin thắp nến lên” (Drinwater).
          “Hãy sẵn sàng, vì chính giờ phút các con không ngờ, thì Con Người đến” (Lc,12-40).
Lạy Chúa, xin cho con luôn biết sẵn sàng để có thể lên đường với Chúa, khi Ngài đi ngang qua đời con và cất tiếng mời gọi. Lúc ấy, con sẵn sàng thưa : Lạy Chúa, có con đây”.
 Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt


 

AnTáng 61: ĐỊNH HƯỚNG CHO CUỘC ĐỜI

ĐỊNH HƯỚNG CHO CUỘC ĐỜI AnTáng 61

I. SUY NIỆM LỜI CHÚA.
 Khi ấy, Đức Giêsu phán:” Quả thế, thời ông No-ê thế nào, thì ngày Con Người quang lâm cũng sẽ như vậy. Vì trong những ngày trước nạn hồng thủy, thiên hạ vẫn ăn uống, cưới vợ lấy chồng, mãi cho đến ngày ông No-ê vào tầu. Họ không hay biết gì, cho đến khi nạn hồng thủy ập tới cuốn đi hết thảy. Ngày Con Người quang lâm cũng sẽ như vậy. Bấy giờ, hai người đàn ông đang làm ruộng, thì một người được đem đi, một người bị bỏ lại ; hai người đàn bà đang kéo cối xay, thì một người được đem đi, một người bị bỏ lại.
          Vậy anh em hãy canh thức, vì anh em không biết ngày nào Chúa của anh em đến. Anh em hãy biết điều này : nếu chủ nhà biết vào canh nào kẻ trộm sẽ đến, hẳn ông đã thức, không để nó khoét vách  nhà mình đâu. Cho nên anh em cũng vậy, anh em hãy sẵn sàng , vì chính giờ phút anh em không ngờ, thì Con Người sẽ đến” Mt 24,37-44).
 

Trong bài Tin mừng này, Chúa Giêsu dựa vào biến cố đại hồng thủy thời ông No-ê dạy chúng bài AnTáng 61

Trong bài Tin mừng này, Chúa Giêsu dựa vào biến cố đại hồng thủy thời ông No-ê dạy chúng bài học phải tỉnh thức để sẵn sàng chờ đợi Chúa đến trong vinh quang. Chúa có ý đối chiếu biến cố đại hồng thủy thời ông No-ê với cuộc trở lại vinh quang trong ngày tận thế và vào giờ chết của mỗi người để đề cao cảnh giác chúng ta, giúp chúng ta phải ở trong tư thế sẵn sàng chờ Chúa đến.
          Chúa Giêsu dùng cụm từ”Con Người đến” có ý nói chính Ngài sẽ đến. Cụm từ đó được diễn tả bằng chữ  “Parousia”. Người Hy lạp và La tinh dùng chữ Parousia để chỉ v iệc hoàng đế ngự đến hoặc chính thức thăm viếng một thành  nào. Sau này, trong Giáo hội sơ khai, từ ngữ ấy được dùng để chỉ việc trở lại trong vinh quang của Chúa Giêsu vào ngày tận thế, đi liền với cuộc phán xét.
          Ngày nay, kiểu nói “Lúc Con Người đến”, ám chỉ ngày tận thế và cũng chỉ giờ chết của mỗi người. Hội thánh muốn nhắc nhở cho chúng ta  về giờ chết của mình để chuẩn bị sẵn sàng.
          Chúa Giêsu so sánh giờ chết của chúng ta với cơn đại hồng thủy thứ hai, có tính cách bất ngờ. Thiên hạ thời ông No-ê không ngờ được chuyện gì cả và cứ ăn uống lấy vợ gả chồng. Sự vô tri này rất nguy hiểm : họ đã chết vì không nhận ra dấu hiệu nào của trận lụt.  Ngày tận thế cũng vậy và giờ chết của chúng ta cũng không khác,  tai ương treo trên đầu mỗi người và sẽ rơi lúc nào không biết, trong ngày đó có toan tính gì thì cũng đã quá muộn.
 
II. PHẢI TỈNH THỨC VÀ SẴN SÀNG.
          Trong giờ chết của chúng ta, số phận mỗi người mỗi khác, tùy theo thái độ sống của họ trước giờ chết. Hình ảnh hai người đàn ông làm việc ở ngoài đồng và hai người đàn bà xay bột đã nói lên điều đó. Hai hình ảnh này cho thấy rằng vẻ bề ngoài người ta có thể rất giống nhau, kẻ này người kia đều lao động, cùng làm một công việc chẳng có gì khác, nhưng tùy theo cách sống đạo đức mà số phận sẽ khác nhau : một người được tiếp nhận, một người bị bỏ rơi, nghĩa là một người được cứu rỗi và một người bị trầm luân.
          Giờ chết là một điều chắc chắn, nhưng chết lúc nào là cả là một vấn đề : “Sinh hữu hạn, tử bất kỳ”. Giờ chết mang theo yếu tố bất ngờ, được sánh với kẻ trộm. Chẳng bao giờ kẻ trộm cho chủ nhà biết giờ nó đến. Vì vậy, chủ nào muốn khỏi mất của thì phải chịu khó thức để đề phòng. Nhưng thức lâu vừa mệt vừa buồn ngủ nên dễ bị sao lãng. Sự tỉnh thức đối với ngày Chúa đến cũng làm cho người ta gặp khó khăn tương tự. Nhưng dù khó khăn đến đâu cũng phải tỉnh thức để sẵn sàng, vì Chúa đến bất ngờ.
 
                                      Truyện : Đã dọn sẵn hành trang.
          Khi Đức Gioan 23 lâm bệnh lần cuối, không biết vì lý do gì mà các bác sĩ muốn giấu nhẹm sự nguy kịch của căn bệnh, họ bảo Ngài chỉ bị chứng loét bao tử. Nhưng Đức Gioan 23 biết rõ bệnh tình của mình hơn ai hết, vì thế Ngài nói:”Tôi đã dọn sẵn hành trang”.
          Ông Giacômô âMenzu, một nhà điêu khắc nổi tiếng người Ý viết hồi ký về những giây phút sau hết của cuộc đời Đức Gioan 23 như sau:”Vào ngày cuối cùng của chính ngày đau đớn kéo dài, linh mục Capovilla, bí thư riêng của Đức Thánh Cha đến bên giuờng bệnh, hôn tay bệnh nhân và hỏi xem ngài cảm thây thế nào.
          Đức Gioan 23 trả lời :
          - Tôi cảm thấy trong mình khoẻ khoắn và an bình như thể tôi đang ở trong Chúa. Nhưng đồng thời tôi cũng cảm thấy hơi lo.
          Linh mục Capovilla thưa :
          - Xin Cha đừng lo. Những người phải lo là chính chúng con, vì con đã nói chuyện với bác sĩ...
          Đức Gioan 23 ngắt lời, hỏi :
          - Họ đã nói với con những gì ?
          Nghẹn ngào, linh mục bí thư của Ngài nói :
          - Thưa Đức Thánh Cha, con muốn nói với Cha sự thực hôm nay là ngày của Chúa. Hôm nay Cha sẽ được về Thiên đàng.
          Nói xong linh mục bí thư quy øxuống bên giường, hai tay bưng mặt khóc. Vài phút nặng nề trôi qua, bỗng cha cảm thấy một bàn tay âu yếm xoa đầu mình và nghe một giọng ôn tồn nói
          - Hãy ngước mắt nhìn lên. Bình thường, người bí thư của tôi rất mạnh mẽ, can đảm, nên bây giờ phải trở nên mềm nhũn. Cha đã nói với người bề trên của Cha những lời hay đẹp nhất mà con người có thể nghe từ miệng của một linh mục:”Hôm nay Cha sẽ được vào Thiên đàng”.
                                                (Lẽ sống tr 394-395)
          Ước gì chúng ta có được sự bình thản trong giờ phút lâm tử như Đứ c Gioan 23. Ước gì như Ngài, chúng ta có được sự an bình trong tâm hồn và có niềm hy vọng để tin tưởng rằng : lời Chúa Giêsu nói với người trộm lành cũng được áp dụng cho chúng ta:”Hôm nay con sẽ được cùng Ta về Thiên đàng”. Nhưng thiên đàng là bến bờ, là mức đến, thì cuộc sống của chúng ta phải định hướng theo đó.
 
III. PHẢI ĐỊNH HƯỚNG CHO CUỘC ĐỜI.
          Con người không phải cư ùsống mãi trên hành tinh này. Mọi người sẽ phải ra đi, phải từ giã cõi đời này mặc dầu mình không muốn, mặc dầu mình tiếc xót, mặc dầu phải chua xót thốt ra những lời chua cay :                     
                                       Nhưng mà tôi sẽ chết, than ôi !
                                                (Xuân Diệu)
          Đối với nhiều người, chết là cái gì man rợ làm cho người ta ghê sợ, kinh tởm, người ta chán ghét nó vì người ta cho cùng đích của cuộc đới là thế giới vật chất với tiền của, với tiện nghi, với những đam mê sắc dục. Đời chỉ có thế thôi !
          Năm 1987, Hội đồng Quốc gia Hoa kỳ đặc trách giáo dục đã thực hiện một cuộc điều tra nới các sinh viên sắp mãn đại học, vềà” mục đích của cuộc đời họ trong tương lai”. Kết quả cho thấy 75% trong số 200.000 sinh viên được hỏi ý kiến đã trả lời cho biết : “Cùng đích cuộc đời tương lai của họ là làm sao để kiếm được thật nhiều tiền”. Các sinh viên này cho biết :”Sau khi học xong, họ muốn có việc làm tốt với đồng lương cao để sống thoải mái.
          Không phải chỉ có những người trẻ này mới có ý nghĩ về cuộc sống hưởng thụ những của cải vật chất như vậy. Trong một xã hội thấm nhiễm tinh thần hưởng thụ vật chất như ngày nay, nhiều người trong chúng ta bị cám dỗ sống chỉ nghĩ đến nhà cửa, quần áo và tiền bạc và được hưởng dùng càng nhiều phương tiện càng tốt.  Nhiều người trong chúng ta có thể có thái độ giống như người giầu có được Đức Giêsu mô tả trong dụ ngôn của Ngài nơi Phúc âm theo thánh Luca đoạn 12.
          Vì thế, đời là một cuộc hành trình, mà cuộc hành trình phải có điểm đến. Không ai lên đường mà không biết mình đi đâu. Chỉ có những kẻ khờ dại mới xử sự như thế. Đời là một chuỗi những chọn lựa và quyết định. Có những quyết định liên quan đến người khác. Có những quyết định thay đổi cả một đời người, và có lẽ quyết định nào cũng làm cho chúng ta day dứt dằn vặt.
          Các nhà văn muốn viết một quyển truyện hay, thường nghĩ trước phần kết của câu truyện. Chúng ta muốn viết quyển truyện đời mình cho hay thì phải nghĩ trước về ngày chết của mình, đừng như nhân vật trong câu truyện dứoi đây :
          Nhà khoa học Huxley đang gấp vì sự đến trễ phiên họp, trong đó ông phải đọc một bài tham luận. Ông nhảy lên một chiếc xe ngựa và bảo nguời đánh ngựa :”Hãy chạy hết tốc lực”.  Xe chạy một quãng, ông mới giật mình hỏi :”Nhưng mà ta đang chạy đi đâu vậy”? Người đánh xe ngựa đáp:”Tôi cũng chẳng biết, chỉ biết là xe đang chạy hết tốc lực” (Clifton Gadiman).
          Ta đang đi trên đường đời, ta phải đặt dấu hỏi : Ta đang đi đâu ? Ta có đi đúng hướng không ? Ta đang đi lên hay đi xuống ?  Bởi vì chúng ta chỉ có hai hướng đi  xuống hay đi lên :
                                      Thiên đàng địa ngục hai quê :
                                      Ai khéo thì về, ai vụng thì sa !
 
Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt


 

AnTáng 62: VIVE MORITURUS

VIVE MORITURUS AnTáng 62

I. CHÚNG TA ĐỌC LỜI CHÚA : 1CR 15,51-58.
Mt 25,31-46.
 
II. MỘT CÂU HỎI CHO HAI THẾ GIỚI.
 

Những người đang nằm ở đây là những người nào ? - Họ là những người đã chết.   Những người đang AnTáng 62

* Những người đang nằm ở đây là những người nào ?
          - Họ là những người đã chết.
          * Những người đang đứng ở đây là những người nào ?
          - Họ là những người đang sống.
          Hôm nay có sự gặp mặt của hai  thế giới : Thế giới đã và đang tức là thế giới của những người đã chết và thế giới của những người đang sống.
          Thế giới của người sống và chết là trở thành :
          - Thế giới đã và đang dành cho người đã chết.
          - Thế giới đang và sẽ dành cho những người còn sống.
          - Cả hai thế giới này gặp nhau ở chữ ĐANG.
          Vậy những người đang nằm ở đây nói chuyện với những người đang đứng ở đây.
 
III. NHỮNG NGƯỜI ĐÃ CHẾT VÀ ĐANG Ở ĐÂY NÓI CHUYỆN VỚI CHÚNG TA.
          Cuộc trao đổi này hết sức chân tình và cảm động vì đây là những lời của ông bà cha mẹ chúng ta đang nằm ở đây muốn nói với chúng ta trong cuộc gặp gỡ này.  Mọi nguời đều có một cảm nhận rằng bất cứ ai sống trên mặt đất này đều phải qua bốn giai đoạn của cuộc sống là :sinh, lão, bệnh, thử,  thì đối với những người chết phải qua bốn điều sau cùng là sự sống, chết, thiên đàng và hoả ngục.  Hôm nay ông bà cha mẹ muốn nói với chúng ta về những điều này.
 
          1. Sự chết đón chờ từng phút.
          Kinh nghiệm của ngàn đời để lại là mọi người đều phải chết :”Nhân sinh tự cổ thùy vô tử”. Chết là công lệ của mọi người. Chết là từ bỏ tất cả những gì thuộc về ta : đồ vật, đam mê, tình nghĩa đã chen lẫn vào bản thân ta, nối dài ta ra, cấu tạo ta, đã trở thành như cơ thể, như bản thể của ta, gia đình, quê hương, bạn bè, thân bằng quyến thuộc, tất cả sẽ rã rời, tan tành chung quanh ta...”Cảm thấy mọi sự thuộc về ta đều tan rã, thật là một điều đáng kinh sợ”. Đó là lời phát biểu của Pascal.
          Đối với những người có đức tin thì chết là gì ? Nó cũng giống như câu hỏi : sống là gì ?
          Hai yếu tố nhày liên kết chặt chẽ với nhau không thể phân ly được. Sống là chuẩn bị cho chết, còn chết là một cuộc đi qua để tới đời sống đích thật.  Cuộc sống là một chuyển động, một sự diễn biến,  một cuộc hành trình. Cần phải biết nó đưa ta đến đâu. Nó chỉ có ý nghĩa khi nó dẫn ta tới đích, nếu không, nó chỉ là một sự chạy trốn điên dại của người mù trông mọi sự trong đêm tối,  mà dám chạy vơ vẩn dẫn đến sự chết.
          J.H. Fabre, nhà côn trùng học trứ danh,  đã viết một câu khắc trên mộ ông như sau :”Những người mà ta tưởng đã chết thì đã ra đi trước. Sự chết không phải là một sự chấm dứt, nhưng là cái ngưỡng cửa để đi vào đời sống cao đẹp hơn”.
          Joubert nói :”Việc lớn của con người là sống, việc lớn của đời sống là chết”.  Tiên liệu và dự bị chết sẽ trấn tĩnh tâm hồn bằng cách soi sáng. Được soi sáng như vậy, ta sẽ học biết cách lựa chọn, theo kiểu La Bruỳere nhắn nhủ ta :”Có hai thế giới : một thế giới ta chỉ cư ngụ ít lâu và phải rơi bỏ mà khôn bao giờ trở lại ; một thế giới khác ta sắp phải vào mà không bao giờ được ra. Ân huệ, quyền bính, bạn hữu, danh tiếng, tiền của dành cho thế giới thứ nhất ; lòng khinh chê mọi sự dành cho thế giới thứ hai. Ta cứ chọn đi”.
          Theo đức tin và lý trí thì chết là thời gian duy nhất, quyết liệt quyết định số phận đời sau của ta, dành cho ta niềm vui khôn tả hoặc nỗi thất vọng vô cùng. Vậy thì ai chọn cho ta ?
                             (Cf Lm De Parviller S.J. Niềm vui trước sự chết)
 
 
  1.  Cuộc phán xét nghiêm nhặt.
          Người ta thường nói :”Thiện ác đáo đầu chung hữu báo” hoặc theo nguyên tắc “Hữu công tắc thưởng, hữu tội tắc trừng”.  Không phải là những Kitô hữu mới có ý tưởng này mà các người bình dân, những người ăn ngay ở lành một cách bình thường cũng có.  Đây là một quan niệm của dân gian, một quan niệm hết sứ tự nhiên.
          Chúng ta biết rằng mỗi người sẽ phải đối diện với cuộc phán xét của Chúa Giêsu như Kinh thánh đã nói :”Rồi tôi thấy những người chết, lớn cũng như nhỏ, đứng trước ngai. Sổ sách đã mở sẵn ; rồi một cuốn khác cũng đã mở ra : Đó là Sổ Trường Sinh. Các người chết được xét xử  tùy theo việc họ đã làm, chiếu theo những gì đã ghi chép trong sổ sách”(Kh 20, 12).
          Việc phán xét đã được thánh Matthêu mô tả rất kỹ trong đoạn 25,31-46 : Chúa se phân chia mọi người ra hai bên, một bên kẻ lành, một bên kẻ dữ và Ngài đặc biệt phán xét về đức bác ái mà người ta đã làm cho tha nhân. Những gì làm cho tha nhân là làm cho chính Chúa, còn những gì không làm cho tha nhân là không làm cho Chúa (x. Mt 20,31-46).
          Cuộc đời mỗi người sẽ được thẩm tra như một cuộn băng video được quay lại. Lúc đó chúng ta được thấy lại chính xác cuộc đời của mình  từ khi sinh ra cho đến lúc chết. Lúc đó, chính chính chúng ta tự xét đoán mình và đi đến kết luận đáng thưởng hay đáng phạt.
          Theo Hồng  Y Billot thì “Ngay khi linh hồn ra khỏi xác, trong phút chốc thì cuốn sách lương tâm liền mở ra, làm cho ta nhận thức ngay một trật về toàn bộ các việc ta đã làm khi còn sống”.  Chính ta sẽ phán xét ta, bởi tình trạng quá hiển nhiên công khai không thể chối cãi được. Công trạng và lỗi lầm sẽ xuất hiện trước mắt ta trong ánh sáng chói lọi, đồng thời cũng cho thấy những phần thưởng và hình phạt tương xứng với ta.
          Như thế chúng ta có thể khẳng định rằng : không phải lòng khoan dung hay sự nghiêm khắc của thẩm phán, không phải sự can thiệp bên ngoài, nhưng chính ta hay đúng hơn, chính các hành vi của ta sẽ xét đoán ta. Án xử ta sẽ tự đáy linh hồn  nổi lên, nó là sự kết tinh cuối cùng của tình trạng linh hồn ta vào lúc ta chết.  Nếu ta chỉ sống để được chết hẳn hoi “chết lành” thì ta sẽ được tất cả ; nếu ta không thực hiện tốt cuộc sống, ta sẽ mất hết.
          Như vậy, trong cuộc đời chúng ta, không một giây phúc nào, không một cử chỉ nào mà không có ảnh hưởng đến kết quả chung cuộc, như một bài tính cộng, mỗi con số đều ảnh hưởng đến tổng số, như một cuộc hành trình thì mỗi bước tiến hoặc giật lùi đều đưa ta lại gần hoặc đưa ta ra xa đích.  Ta đi đến Thiên Chúa như các Đạo sĩ đi đến ngôi sao.  Không có ngày nào được để mất đi. Tiến đến đích, đến Thiên Chúa, chỉ có điều đó là đáng kể, còn mọi sự khác chỉ là con số không.
                             (Lm De Parviller, SJ, Niềm vui trước sự chết, tr 120)
 
          3. Thiên đàng hoặc hỏa ngục.
          Một khi đã bước qua sự chết, tất cả đều ngưng, cuộc thử thách đã kết thúc. Hậu quả từ nay sẽ được quyết định bất di bất dịch. Đó là cuộc kiểm chứng ngay thẳng, cưỡng bách và quyết định số phận, công trạng, tội lỗi và tình trạng đời đời của ta.  Ta mang trong mình bản án của ta do chính ta soạn thảo : bị phạt đến vô cùng hoặc được thưởng tức khắc đến vô cùng, hoặc phải đền bồi trong luyện ngục, chính nó sẽ lên án ta.
          Chính vào lúc chết mà ta sẽ nói lên  những điều không thể rút lại được.Và lập tức phép công thẳng vô cùng  sẽ đáp ứng bằng việc thi hành đúng phán quyết mà chính ta định đoạt :
                                      Thiên đàng địa ngục hai quê
                                      Ai kéo thì về, ai vụng thì sa.
 
III. CHUẨN BỊ CHO NGÀY RA ĐI.
           Ông Ansome Chancel nói một câu rất vắn về số phận con người trên trần gian mà ai cũng phải trải qua, đã có sống thì phải có chết. Nếu không sinh ra thì không có chết nhưng vì chúng ta đã được sinh ra trong thế gian này thì ắt phải chết, có sinh thì phải có tử :
                                      Vào, rồi la : đó là sống.
                                      Ngáp, rồi ra : đó là chết.
                                           (Ansome Chancel)
          Ai trong chúng ta cũng sẽ phải ngáp một lần cuối cùng để đi ra khỏi cõi đời này. Nhưng trước khi ra khỏi cõi trần này ắt phải có chuẩn bị. Cuộc đời này là một cuộc hành trình đi về đời sau, ai không chuẩn bị cho cuộc hành trình đó là người dại vì không thể tới đích :”Nhưng Thiên Chúa bảo ông ta :Đồ ngốc ! Nội đêm nay, người ta sẽ đòi lại mạng ngươi, thì những gì ngươi sắm sằn đó sẽ về tay ai ? Ấy kẻ nào thu tích của cải cho mình, mà không làm giầu trước mặt Thiên Chúa, thì số phận  cũng như thế đó” (Lc 12, 20-21).
          Để chuẩn bị cho việc ra đi vĩnh viễn, ta hãy suy nghĩ về dòng chữ mà ông Murillo đã chọn để khắc trên mộ ông :
                                          VIVE MORITURUS
                                      Hãy sống như người sắp chết.
          Chuẩn bị chết theo tinh thần Kitô giáo không phải là giảm thiểu hay làm suy yếu, hủy diệt cuộc sống, dẫn ta tới tinh thần bi quan. Trái lại, nhưng là cố gắng làm cho nó phong phú, triển nở tối đa, chính là sống cho Chúa đấy. Nhưng Chúa muốn gì ? Chúa muốn toàn diện con người ta, xác hồn được mở mang về mặt tự nhiên và siêu nhiên, hiện tại cũng như tương lai.  Chúa muốn ta sống giây phút hiện tại cho đầy đủ nghĩa là làm trọn nghĩa vụ của mình đối với Chúa và với tha nhân.  Nếu ta được chuẩn bị như thế, lúc ấy ta sẽ được bình tĩnh nếu Chúa đến gọi ta bất cứ lúc nào, ta sẽ thưa với Chúa :”Này con đây, lạy Chúa, Chúa gọi con”.
 
                                      Truyện : Tận thế !
          Một ngày nọ vào năm 1780 bỗng nhiên cả vùng tiểu bang Connecticut bị tối hẳn lại. Ai nấy đều cho rằng đã đến ngày tận thế.  Khi đó Hội đồng lập pháp tiểu bang đang họp. Nhiều người yêu cầu hoãn cuộc họp để họ có thể về nhà cùng với gia đình chờ Chúa đến. Nhưng ông chủ tịch nói :”Không  biết hôm nay có phải là ngày tận thế hay không.  Nếu không thì không cần hoãn họp. Còn nếu phải thì chúng ta càng cần chu toàn nhiệm vụ hơn nữa. Xin thắp nến lên” (Drinkwater).
 
          MỘT TƯ TƯỞNG CHỈ ĐẠO CHO CUỘC SỐNG  :
Kiếp đời sau tùy vào cuộc sống bây giờ
Những suy tư, những hành động rõ hay mờ
Được kết lại như án trời không xóa bỏ
Và từ đó nhận phạt hay thưởng công nhờ.
 ***
... Đừng ích kỷ nhưng hãy mở rộng tình người
Thi ơn  lành nhận đau khổ theo ý trời
Sống hy sinh phục vụ đời qua khổ giá
Và công thưởng hạnh phúc lúc lìa đời.
 ***
Vì đời sau bên Chúa
Ở tại cuộc sống bây giờ
Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt


 

AnTáng 63: TỈNH THÚC VÀ SĂN SÀNG

TỈNH THÚC VÀ SĂN SÀNG AnTáng 63

I. LỜI CHÚA.   Chúng ta đọc Lc 12,35-40 và Tx 3,10-12.
 

Trong bài Tin mừng vừa nghe, Chúa Giêsu nhắc cho các môn đệ một tư tưởng là phải sẵn sàng AnTáng 63

Trong bài Tin mừng vừa nghe, Chúa Giêsu nhắc cho các môn đệ một tư tưởng là phải sẵn sàng chờ đợi Chúa đến trong ngày sau hết.  Ngài dùng một hình ảnh quen thuộc và dễ hiểu về một người đầy tớ đợi ông chủ đi ăn cưới về vào bất cứ lúc nào và phải mở cửa cho ông ngay.
          Người Do thái có thói quen đi ăn cưới vào ban đêm, bắt đầu từ khi mặt trời lặn.  Có khi tiệc cưới kéo dài tới gần sáng. Người đầy tớ có trách nhiệm phải cầm đèn chờ ở cửa, khi chủ về thì mở cửa cho ông. Phúc cho đầy tớ nào còn thức chờ chủ về, ông sẽ khen thưởng, ngược lại, khi ông chủ về mà thấy đầy tớ còn bê trễ thì sẽ bị phạt.
          Chúa Giêsu muốn cho các môn đệ hiểu rằng ông chủ đây chính là Ngài, còn đầy tớ là các môn đệ. Ngài sẽ đến gọi các ông về với Ngài vào bất cứ lúc nào. Công việc của các ông là phải luôn sẵn sàng chờ đợi Chúa đến.
 
II. TỈNH THỨC ĐỢI CHỜ.
          Trong bài Tin mừng Chúa Giêsu nói đến sự tỉnh thức, nhưng tỉnh thức không có nghĩa là ngồi đó khoanh tay mà đợi chờ. Để nói lên sự tỉnh thức đích thực, Chúa Giêsu  dùng hình ảnh của một người đầy tớ đêm ngày trung thành với công việc được chủ giao phó. Sự tỉnh thức mà Chúa Giêsu kêu mời là sự tỉnh thức đích thực (tích cực) đòi hỏi lao tác và phấn đấu.
          Thánh Phaolô cũng nhắc nhở cho tín hữu Thessalonica về thái độ tỉnh thúc tich cực ấy. Trong những năm đầu của Kitô giáo một số tín hữu tưởng rằng Chúa Giêsu sẽ trở lại một sớm một chiều, nên họ ăn không ngồi rồi và dây mình vào chuyện của người khác. Thánh Phaolô khuyên nhủ họ hãy tỉnh thức  bằng cách hăng say lao động và thực thi bác ái (2Tx 3,10-12).
 
                                       Truyện minh họa.
          Một người thuộc bộ lạc miền núi cả đời chưa từng thấy ánh sáng văn minh. Một hôm ông ta được đưa xuống thăm một đô thị. Ngày đầu tiên, ông dã giật mình thức giấc vì tiếng trống vang cùng khắp đô thị. Sau khi được người chung quanh cho biết đó là tiếng trống báo động về một cuộc hỏa hoạn vừa xẩy ra tại một khu phố. Người dân miền núi nhìn về ngọn lửa đang bốc cháy tại một góc trời, rồi ông trở lại giường ngủ tiếp.
          Trở về làng, ông báo cáo với các chức sắc trong làng như sau : người dân thành thị có một hệ thống chữa cháy rất kỳ diệu : khi có hoả hoạn, người ta chỉ cần đánh trống là ngọn lửa được dập tắt tức khắc. Nghe thế, các chức sắn đều sai người đi mua đủ mọi loại trống phát cho dân làng, . Không bao lâu sau đó, hoả hoạn xẩy đến trong làng, tất cả dân làng  đều đem trống ra khua inh ỏi vì tin chắc rằng  tiếng trống sẽ xua đuổi được thần lửa.  Thế nhưng, ngọn lửa cứ vô tình thiêu rụi từ căn nhà này đến căn nhà khác trước cái nhìn ngỡ ngàng và thất vọng của mọi người.
          Tình cờ ghé thăm bộ lạc và được nghe kể lại diễn tiến cơn hoả hoạn, một người dân thành thị mới giải thích cho dân làng như sau : “Các người thật ngây ngô, người ta đánh trống để đánh thức dân chúng và kêu gọi họ tích cực tham gia chữa cháy, chứ không ngồi đó mà chờ ngọn lửa tắt đâu”.
 
III. CHÚA ĐẾN BẤT NGỜ.
          Chúa Giêsu đã khẳng định :”Anh em cũng vậy, hãy sẵn sàng, vì chính giờ phút anh em không ngờ, thì Con người sẽ đến”(Lc 12, 39-40).
          Đời sống người Kitô là một cuộc hành trình về nhà Cha. Cuộc hành trình dài hay ngắn do Chúa định, không ai biết.  Trong kinh Lạy Nữ Vương có câu :chúng tôi con cháu Evà ở chốn khách đầy kêu đến cùng Bà.  Trần gian này được coi như chốn lưu đầy, là thung lũng nước mắt, giống như nhà Phật chủ trương : đời là bể khổ.
          Chúng ta có thái độ lạc quan hơn, chúng ta coi cuộc đời này chỉ là một cuộc hành trình về quê trời, mà cuộc hành trình nào lại không có những khó khăn trên đường ?  Tuy gặp khó khăn, gian nan, thử thách trên đường, chúng ta vẫn vui tươi phấn khởi vì chúng ta đang tiến gần  tới đích là nhà Cha.
          Chúng ta đừng ngây ngô như người miền núi trên : tiếng trống không làm  cho ngọn lửa   tắt ngủm , mà chỉ báo cho người ta biết  để dập tắt lửa. Cũng thế, phép rửa tội không phải là lá bùa có thể làm cho chúng ta trở nên thánh thiện hay đương nhiên đưa chúng ta vào thiên đàng, nhưng đã phải nỗ lực cộng tác với Chúa để sống đức tin cho mạnh, sống đức ái nồng nàn. Chính nỗ lực riêng tư của ta cộng tác với Chúa mới dẫn ta vào Nước Trời, bởi vì như Chúa nói : muốn vào Nước Trời phải qua cửa hẹp (Mt, 7,13).
          Như vậy, cuộc đời trần thế của chúng ta chỉ là thời gian lao tác : làm việc cho Chúa để làm vinh danh Ngài và làm việc cho tha nhân để đem hạnh phúc đến cho mọi nguời như lời Chúa dạy :”Không phải bất cứ ai thưa với Thầy “ Lạy Chúa, lạy Chúa . là được vào Nước Trời cả đâu ! Nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên trời, mới được vào thôi”(Mt 7,21)
 Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt


 

AnTáng 64: CON CHỒN VÀ VƯỜN NHO

CON CHỒN VÀ VƯỜN NHO AnTáng 64

I. CÂU TRUYỆN VỀ CON CHỒN.
 

Người ta có kể một câu chuyện ngụ ngôn sau đây : Một con chồn muốn vào một vườn nho, nhưng AnTáng 64

Người ta có kể một câu chuyện ngụ ngôn sau đây : Một con chồn muốn vào một vườn nho, nhưng vườn nho lại được rào giậu cẩn thận. Tìm được một chỗ trống, nó muốn chui vào nhưng không thể được. Nó mới nghĩ ra một cách : đó là nhịn đói để gầy bớt đi. Sau mấy ngày nhịn ăn, con chồn chui qua lỗ hổng một cách dễ dàng. Nó vào được trong vườn nho. Nhưng sau khi ăn uống no nê, con chồn mới khám phá ra rằng nó đã trở nên quá mập để có thể chui qua lỗ hổng trở lại. Thế là nó phải tuyệt thực một lần nữa. Thoát ra khỏ vườn nho, bụng lại đói meo.
Lúc đó, con chồn mới chợt suy nghĩ : trước khi vào vườn nho, bụng ta đói meo. Vào được vườn nho rồi, được ăn một bữa hả hê, nhưng khi ra khỏi vườn nho, bây giờ bụng ta lại đói meo.. Ta được những gì ? Một bữa no bụng. Ta có mang được gì về không ?  Hoàn toàn không. Vậy trước khi vào vườn, bụng ta đói và khi ra khỏi vườn, bụng ta vẫn đói và cũng chẳng mang được gì theo.
Con chồn và vườn nho là hình ảnh trần gian và con người chúng ta, nhất là những Kitô hữu. Khi cất tiếng khóc chào đời, chúng ta được hiện diện trên mặt đất, được mọi người chào đón, nhưng chúng ta bắt đầu hiện diện với con người yếu đuối chẳng mang vào đời được cái gì, ngoài thân xác trần truồng với hai bàn tay trắng.
          Rồi suốt trong thời gian sống trên trần thếâ, con người bon chen, làm giầu, tích trữ nhiều của cải bằng nhiều cách, kể cả những cách bất lương, có khi bán cả danh dự, thậm chí bán cả linh hồn.. Câu truyện người giầu có trong Tin mừng đã nói lên điều đó :
”Có một nhà phú hộ kia, ruộng nương sinh nhiều hoa lợi, mới nghĩ bụng rằng :”Mình phải làm gì đây ? Vì còn chỗ nào đâu mà tích trữ hoa mầu”!  Rồi ông tự bảo :”Mình sẽ làm thế này : phá những cái kho kia đi, xây những cái lớn hơn, rồi tích trữ tất cả thóc lúa và của cải mình vào đó. Lúc bấy giờ ta sẽ nhủ lòng : hồn ta hỡi, mình bây giờ ê hề của cải, dư xài nhiều năm. Thôi, cứ nghỉ ngơi, cứ ăn uống vui chơi cho đã” (Lc 12, 16-21).
          Người giầu có trong Tin mừng giống như con chồn ở trong vườn nho : ở trong trần gian này, ông tích trữ của cải, ăn uống thỏa thuê, không lo gì đến tương lai vì cho là quá đầy đù rồi, cứ việc hưởng thụ.  Nhưng khi nhắm mắt xuôi tay ông sẽ mang đi được những gì, ông giống như con chồn để bụng đói mà chui ra khỏi vườn mà chẳng mang được gì theo :
”Đồ ngốc ! Nội đêm nay, người ta sẽ đòi lại mạng ngươi, thì những gì ngươi sắm sẵn đó sẽ về tay ai ? Ấy kẻ thu tích của cải cho mình, mà không lo làm giầu trước mặt Thiên Chúa, thì số phận cũng như thế”(Lc 12, 16-21).
 
II. LỜI CHÚA CHO CHÚNG TA HÔM NAY.
          Chúa Giêsu khuyên nhủ các môn đệ hãy đi theo Ngài, hãy trở thành môn đệ của Ngài, khi Ngài nói :”Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo. Quả vậy, ai muốn cứu mạng sống mình, thì sẽ mất ; còn ai liều mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ tìm được mạng sống ấy” (Mt 16,24-25).
          Chúa Giêsu đã khẳng định với chúng ta :những ai chỉ tìm cứu mạng sống mình thì sẽ mất vì con người chỉ có thể quản lý đời mình chứ không phải làm chủ được mạng sống mình, tất cả đều do Thiên Chúa chỉ định, sống chết ở trong tay chúa.
          Khi nói như vậy, Chúa Giêsu còn có ý nói đến sự sống đời đời : nếu chúng ta theo Chúa, trung thành với Chúa, nhất là vì Chúa mà phải chết ở đời này thì hãy nhớ rằng Chúa sẽ ban cho chúng ta sự sống đời sau. Đây mới là sự sống thật, còn sự sống ở trần gian này chỉ là tạm bợ.
          Vì thế, Chúa Giêsu mới nói với chúng ta :”Được lời lãi cả thế gian mà mất linh hồn thì được ích gì” (Mt 16,26 ; Lc 9,25). Ai trong chúng ta cũng muốn có một đời sống sung túc, có nhiều của cải cho mình và cho con cháu. Ai cũng muốn cho mình được sống lâu để hưởng thụ tất cả  những thành quả mình đã tạo ra trong đời sống.  Nhưng chúng ta phải hiểu rằng tất cả những cái đó chỉ là phù hoa, chỉ là phù vân, chỉ là mây bay hoa rụng. Cuộc đời con người chỉ được coi như bông hoa sớm nở chiều tàn,” một cơn gió thoảng đủ làm nó biến đi, nơi nó mọc cũng không còn mang vết tích”.
          Xuất thân từ bụi đất, chúng ta chỉ trở về với bụi đất thôi. Chỉ có sự sống vĩnh cữu mới tồn tại muôn đời. Vấn đề là phải xác định xem đâu là cái được thực sự, lâu bền, trọn vẹn, đâu là cái được quan trọng nhất ? Kitô hữu là người ước ao đến say mê cái được vững bền, vĩnh cữu, tuyệt đối. Họ sẵn sàng hy sinh tất cả những cái tạm bợ ở đời này : Mất công, mất của, mất thời giờ, mất uy tín và mất cả mạng sống nữa.
          Họ tin rằng họ có thể mất mạng sống ở trần gian này nhưng theo lời Chúa hứa, họ sẽ chiếm được đời sống vĩnh cữu trên thiên đàng.  Họ chỉ mất những cái tạm bợ nhưng họ sẽ được những cái vĩnh cữu. Các thánh Tử đạo đã hiểu biết chân lý này : họ chịu mất tất cả, ngay mất cả mạng sống ở đời này. Các ngài coi trọng sự sống vĩnh cửu của mình hơn cả thế giới phú qúi vinh hoa.  Có lắm người tưởng mình được, lại hóa ra mất.  Có lắm người vui lòng mất, hóa ra họ lại được. Đó là mối tương quan biện chứng giữa được và mất, giữa cuộc sống vĩnh cửu và sự sống tạm bợ ở trần gian này.
 
III. QUYẾT ĐỊNH CỦA CHÚNG TA.
          Mỗi khi tham dự Thánh lễ An táng, chúng tự nhiên phải suy nghĩ về con người xác đất vật hèn của mình.  Một ngày kia tôi sẽ ra đi, đây là một xác tín vững mạnh, một chân lý hiển nhiên không ai có thể chối cãi được. Đi thì chắc chắn phải ra đi, ra đi khỏi thế gian này để trở về. Nhưng vấn đề là trở về đâu  và sẽ ra sao ?
          Trong giờ học giáo lý, cha xứ hỏi một em nhỏ :
          - Sau khi chết rồi thì con người sẽ ra sao ?
          Em bé hồn nhiên trả lời :
          - Thưa cha, sau khi chết rồi thì con người sẽ trở thành đống xương khô          !
          Em nói đúng, chết rồi con người sẽ trở thành đống xương khô, hay con người được chôn trong lòng đất.  Nhưng với tư cách là một người Kitô hữu, câu trả lời ấy chưa đủ, nó mới đủ cho phần xác, còn phần hồn thì sao ?  Đây là câu hỏi cho chúng ta suy nghĩ, và mỗi người phải tự trả lời lấy, đồng thời  cũng phải vạch ra một hướng đi cho đời sống của mình.

                                      Truyện : ba người bạn.
          Người kia có ba người bạn, 2 người trước là bạn rất thân, người thứ ba thường thường vậy thôi. Ngày kia ông bị toà bắt xử, liền xin 3 người bạn đi theo để biện hộ.  Người thứ nhất từ chối ngay, viện cớ bận việc quá không đi được. Người thứ hai bằng lòng đi đến cửa quan nhưng lại không dám vào. Chỉ có người thứ ba  tuy không được yêu thích nhưng tỏ ra trung thành vào tận tòa án biện hộ cho ông ta, không những trắng án mà còn được thưởng nữa.
          Người bạn thứ nhất là Tiền bạc. Khi ta chết, tiền bạc bỏ rơi ta, chỉ để lại cho ta  một chiếc quan tài và mấy tấc đất làm nhà, còn mọi cái khác phải bỏ lại cho người khác. Người ta đã có kinh nghiệm về sự kiện này :
                                      Vua Ngô băm sáu tàn vàng,
                             Thác xuống âm phủ chẳng mang được gì.
          Người bạn thứ hai là bà con bạn hữu. Họ tỏ vẻ thương tiếc, khóc lóc đưa ta tới huyệt rồi về.  Thậm chí có người còn dùng tiếng khóc để che giấu sự giả dối của mình :
                                      Thương thay cho gái quạt mồ,
                             Hại thay cho gái lấy vồ đập săng.
          Người bạn thứ ba là các việc lành. Đối với của cải, chúng ta để lại tất cả và chỉ ra đi với hai bàn tay trắng. Chỉ có công phúc mới đi theo chúng ta và biện hộ cho ta trước toà Thiên Chúa.
          Khi ra đi khỏi cõi đời này, mọi sự đều bỏ ta bởi vì những gì chúng ta đã tiêu xài thì đã hết, những gì chúng ta đã mua sắm thì phải để lại cho người khác, chỉ có những gì chúng ta đã cho đi thì mới còn lại cho chúng ta.  Tư tưởng này đã được ghi lại trong sách Khải huyền của thánh Gioan tông đồ :
“Tôi là Gioan, tôi nghe có tiếng từ trời phán rằng :”Ngươi hãy biết : Ngay từ bây giờ, phúc thay những người đã chết, mà được chết trong Chúa”! Thần Khí phán :”Phải, họ sẽ được nghỉ ngơi, không còn phải vất vả nhọc nhằn nữa, vì các việc họ làm vẫn theo họ” (Kh 14,13).
 Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt


 

AnTáng 65: NHƯ NĂM CÔ TRINH NỮ KHÔN NGOAN

NHƯ NĂM CÔ TRINH NỮ KHÔN NGOAN AnTáng 65

(x. Mt 25, 1-13)
Lm Hướng Dương
 TỪ MỘT THỜI SỰ CHƯA QUÊN
 

Ngày 11.9.2002, không tặc đã điều khiển ba máy bay cảm tử lao vào toà nhà “Trung tâm thương AnTáng 65

“Ngày 11.9.2002, không tặc đã điều khiển ba máy bay cảm tử lao vào toà nhà “Trung tâm thương mại thế giới” cao 110 tầng và một toà nhà khác bên cạnh cao 46 tầng, cũng như  “Ngũ giác đài” thuộc Toà Bạch Ốc.
Những toà nhà ấy tượng trưng cho sức mạnh và sự kiêu hãnh của nước Mỹ. Có ai ngờ, giờ đây chúng chỉ còn là những đống gạch vụn. Để thu gom được những thứ rác rưởi từ hai toà nhà này, người ta ước tính phải mất sáu tháng”.
Câu chuyện này làm ta liên tưởng đến con người  một ngày nào đó rồi ai nấy cũng sẽ phải chết : “Hạt bụi nào hoá kiếp thân tôi” (Trịnh công Sơn).
 
I. SỰ CHẾT LÀ THẦY DẠY TA
Khi suy niệm về sự chết, Đức Ông Arthur người Mỹ, đã trích dẫn một câu nói nổi tiếng của Thánh Giám Mục Augustinô : “Hãy để sự chết làm thầy dạy con”.
Đức Ông nói tiếp : Ngài (Augustinô) có ý gì khi “phong chức giáo sư” cho thần chết ?. – Thưa, ngài có ý nói rằng : suy nghĩ và chiêm niệm về sự chết, chúng ta sẽ được chỉ bảo dạy dỗ phải sống như thế nào. Mọi người chúng ta đều có thầy dạy : thầy dạy toán, thầy dạy văn … Bây giờ chúng ta có thêm một thầy, đó là Thầy (dạy sự) Chết.
Thầy là một giáo sư nổi danh và dạy giỏi. Thầy có lớp dạy trên khắp địa cầu. Thầy nói bằng đủ thứ ngôn ngữ mà học trò nào cũng có thể hiểu được. Thầy dạy đủ mọi giống người, mọi màu da, mọi tín ngưỡng : thầy dạy từ người trẻ nhất đến người già nhất. Thầy dạy người giàu và kẻ nghèo, người tầm thường và cả kẻ nổi danh. Thầy mở lớp ở tỉnh thành và ở thôn quê, trên không trung, nơi biển cả và trong lòng đất nữa.
Thầy dạy những gì ? – Thưa, chủ yếu thầy dạy rằng: “Cuộc đời rồi phải kết thúc và dừng lại”

II. CUỘC ĐỜI RỒI PHẢI KẾT THÚC
Chuyện : “Philíp, vua xứ Maxêđoan đã từng có tham vọng chinh phục cả thế giới. Một hôm, khi đến xem cuộc đấu vật trên bờ biển, ông trượt chân ngã sõng soài trên đất. Đứng lên, nhìn lại dấu thân mình còn in trên cát, nhà vua tức bực nói : “Lúc còn sống, ta những tham vọng chiếm cả thế giới, khi chết chỉ cần có một chút đất thế sao ?”.
Đi đâu rồi ta cũng sẽ đụng đến “bốn dài hai ngắn”. Đây chẳng phải là một tư tưởng bi quan yếm thế cho bằng là một chân lý của cuộc sống. Cả những triết gia nổi danh như Heidegger cũng nói rằng sống là để chết (être-pour-la-mort). Sự khôn ngoan của con người là biết rằng đến một lúc nào đó sẽ dừng lại để biết chuẩn bị cho cuộc ra đi vĩnh viễn :
“Xin dạy con biết đếm tháng ngày mình sống, ngõ hầu tâm trì được khôn ngoan” (TV 90 (89), 12)

III. VÀ PHẢI “TRẢ LẼ” VỀ NHỮNG VIỆC TA LÀM
Giáo lý công giáo dạy chúng ta về tứ chung (bốn sự của đời sau) là “chết, phán xét, thiên đàng và hoả ngục”. Sự khôn ngoan dạy ta không thể nào bình chân như vại khi đối diện với sự chết, bởi vì khi đó ta phải giáp mặt với Đấng thấy rõ lòng dạ sẽ xét xử chúng ta và chúng ta phải “trả lẽ” về những gì đã làm (x. Rm 14, 12).
 
IV. NHƯ NĂM CÔ TRINH NỮ KHÔN NGOAN
Thái độ của chúng ta đối với sự chết mà Chúa dạy phải có, đó là thái độ của 5 cô trinh nữ khôn ngoan.
Cuộc đời kitô hữu khác nào như một cuộc nghinh đón chàng rể và chàng rể đây chính là Đức Kitô, vị thẩm phán. Tin Mừng nói chàng rể sẽ “đến chậm”, nghĩa là đến vào lúc người ta không ngờ. Rồi khi chàng rể đến, chàng sẽ “đóng cửa lại”. Ý nghĩa thiêng liêng của câu nói là : người ta chỉ chết một lần, không có cơ hội làm lại cuộc đời nếu đã không có sự chuẩn bị, như 5 cô trinh nữ khôn ngoan.
Sự khôn ngoan của các cô trinh nữ là luôn tỉnh thức, tay cầm đèn cháy sáng trong tay và mang theo dầu dự trữ. Ngày xưa, dân Chúa chuẩn bị vượt qua Biển Đỏ cũng có thái độ như thế. Có thể hiểu “đèn cháy sáng” là luôn sống dưới ánh sáng hướng dẫn của Chúa và “dầu dự trữ” là những việc lành phúc đức như “của gởi về đời sau”. Không thể tưởng tượng được một người trình diện Chúa với bàn tay không.
Chuyện : văn sĩ E. Hemingway có viết một quyển tiểu thuyết, nhan đề “ngư ông và biển cả”, kể lại cuộc vật lộn uổng công của lão ngư phủ người Cuba tên là Xăngtiagô với biển khơi. Ông câu được một con cá kình, nhưng vì cá quá to, ông đành phải cột cá bên mạn thuyền để kéo vào bờ. Khốn thay, trên đường về, lũ cá mập đã đánh ra hơi và xúm vào rỉa thịt. Khi về tới bến, cá to là thế, nhưng chỉ còn là bộ xương mà thôi.
Không thể nào trình diện Chúa với hai bàn tay trắng.
 
KẾT LUẬN
Người đời thường nói : “Học ăn, học nói, học gói, học mở”.
Thiết tưởng, cũng cần phải biết “học chết” nữa (Platon, apprendre à mourir).
Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt


 

AnTáng 66: PHẬN AI NGƯỜI ẤY LO

PHẬN AI NGƯỜI ẤY LO AnTáng 66

I. NIỀM KHÁT VỌNG HẠNH PHÚC.
          1. Ai cũng muốn hạnh phúc.
 

Từ xưa đến nay, con  người luôn đi tìm hạnh phúc. Pascal tiên sinh nói :”Ngay người tự tử AnTáng 66

Từ xưa đến nay, con  người luôn đi tìm hạnh phúc. Pascal tiên sinh nói :”Ngay người tự tử cũng đi tìm hạnh phúc”.  Nhưng đã có ai hài lòng về hạnh phúc của mình chưa ? Có thể có,  nhưng đấy chỉ là hạnh phúc tương đối. Họ vẫn còn khắc khoải muốn tìm hạnh phúc cao hơn, làm thỏa mãn niềm khát vọng của họ.  Đó là hạnh phúc tuyệt đối.
          Vậy, ta phải trả lời cho câu hỏi đầu tiên trong cuốn sách Giáo lý (Tân định) :”Người ta sống ở đời này để làm gì “? Thưa, người ta sống ở đời  để nhận biết thờ phượng kính mến Chúa trên hết mọi sự và yêu thương anh em như mình và xây dựng một xã hội tốt đẹp để sau sẽ được hưởng hạnh phúc đời đời.  Sách Giáo lý trả lời cho chúng ta là phải yêu Chúa và tha nhân để “sau này được hạnh phúc đời đời”.  Vậy, hạnh phúc tuyệt đối chỉ có thể tìm thấy ở đời sau. Hay nói cách khác, hạnh phúc tuyệt đối chỉ có thể tìm thấy trên thiên đàng.
 
          2. Lời Chúa bảo đảm.
          Lời Chúa tồn tại đến muôn đời, không thể thay đổi được.  Những gì Chúa hứa thì Người sẽ thực hiện vì “Lòng trung tín của Chúa tồn tại đến muôn đời”. Chúa đã hứa ban hạnh phúc cho ta thì Chúa sẽ ban và hạnh phúc ấy chỉ có trên thiên đàng khi chúng ta được hưởng kiến nhan thánh Chúa.
          Chúa Giêsu đã phán :”Ý của Đấng đã sai Ta là tất cả những kẻ Người đã ban cho Ta, Ta sẽ không để mất một ai, nhưng sẽ cho họ sống lại ngày sau hết. Thật vậy, ý của Cha Ta là tất cả những ai thấy Người Con và tin vào Người Con ấy thì sẽ được sống muôn đời, và Ta sẽ cho họ sống lại trong ngày sau hết”(Ga 6,39-40).
          Chúa hứa với ta nếu ta tin vào Ngài thì Ngài  muốn ở đâu thì ta cũng ở đó. Chúa đã về trời, ta cũng sẽ được về đó và được hưởng cuộc sống muôn đời.
 
II. PHẢI LÀM THẾ NÀO ?
          1. Phải cộng tác với Chúa
          Chúa phán :”Không phải cứ kêu Lạy Chúa, Lạy Chúa mà được vào Nước Trời mà chỉ những ai làm theo ý Cha Ta ở trên trời mới được vào” (Mt 7,21).
          Đời là một cuộc lữ hành về trời. Cuộc lữ hành dài hay ngắn là do Chúa quyết định. Đã là cuộc lữ hành thì có nhiều gian khổ : mưa nắng, nóng lạnh, chông gai, nguy hiểm, trộm cướp, khủng bố... Chỉ có những ai vững tâm đi hết cuộc hành trình này thì mới vào Quê trời được.
          Trong cuộc lữ hành, Chúa luôn đi bên ta, giúp đỡ, bênh vực, yên ủi, khích lệ ta ; nhưng Ngài không bồng bế ta mãi trên tay hay để ta ngủ say trong chiếc xe đầy tiện nghi. Ngài bắt ta phải cố gắng.  Nếu ta ngồi lỳ trên đường, ta sẽ không tới đích vì không khi nào Chúa nắm tóc ta mà kéo lên trời.  Chúng ta phải cộng tác với Chúa, nghĩa là phải chịu khó.
 
                                      Truyện : phận ai nấy lo.
          Có một ông phú hộ rất khô đạo, thường hay nói với người vợ sáng Chúa nhật khi bà với các con sửa soạn đi lễ :
          - Em hãy đến nhà thờ dự lễ và cầu nguyện cho anh với nhé !
          Mỗi lần gặp gỡ bạn bè nói chuyện về đạo, ông thường khoe với họ là ông không cần đến nhà thờ, cũng không cần phải đọc kinh, dự lễ, vì đã có vợ ông dự lễ, đọc kinh và cầu nguyện cho cả hai rồi.
          Ngày tháng trôi qua, một hôm ông nằm mơ thấy ông và vợ đứng xếp hàng trước cửa thiên đàng đợi đến lượt mình bước vào. Cửa trời mở ra và mọi người tuần tự vui vẻ tiến vào. Khi đến lượt ông thì thiên thần giữ cửa làm hiệu cho ông dừng lại.  Thiên thần quay sang mỉm cười nói với vợ ông :
          - Chị hãy vào thiên đàng thay cho cả chồng chị nữa.
          Thế là chỉ có vợ ông tiến vào, còn ông thì phải bơ vơ đứng ngoài. Vừa tủi thân vừa tức giận đã làm cho ông thức giấc. Ông không dám thuật lại giấc mơ cho vợ, nhưng điều làm cho bà vợ ngạc nhiên hơn cả là sáng Chúa nhật hôm đó, thay vì nói với bà như thường lệ, người phú hộ đến gần vợ và nói bên tai bà :
          - Từ hôm nay, anh sẽ cùng em đến nhà thờ dự lễ và cầu nguyện cho chính anh nữa.
                             (Thiên Phúc, Tình yêu mạnh hơn sự chết, tr 92)
          Không ai lên thiên đàng được nếu chính mình không cố gắng cộng tác với Chúa. Thánh Augustinô nói :”Khi tạo dựng nên ta, Thiên Chúa không cần hỏi ý kiến của ta, nhưng Người không thể cứu rỗi ta nếu ta không cộng tác với Người”.
          Chúa ban cho chúng ta cuộc sống dài ngắn tùy Ngài, nhưng có một điều ai cũng như ai, đó là chúng ta phải làm trọn trách nhiệm Chúa đã trao phó cho.  Không ai có thể thay thế cho mình được. Việc lành việc dữ đều có thưởng phạt.  Không ai được ỷ lại vào việc lành phúc đức của người khác để trốn tránh trách nhiệm của mình.
          Mỗi giây phút hiện tại sẽ lần lượt qua đi mà không bao giờ trở lại.  Mỗi người chúng ta đang đứng trước tương lai của mình, đang đối diện với vận mệnh mà Thiên Chúa đã trao tặng.  Chúng ta phảisáng suốt lựa chọn sự sống hay sự chết, hạnh phúc bất diệt hay thú vui tạm bợ.
          Tất cả tùy thuộc vào sự lựa chọn của ta. Không ai có thể sống thay cho ta hoặc chết thay cho ta.  Mỗi người chỉ sống có một lần và chết một lần. Ta phải chủ động chứ không thể cử ai thay thế ta được.
 
          2. Phải có công phúc.
          Mỗi người sẽ phải trả lẽ với Chúa về cuộc sống của mình. Không có gì có thể qua mắt Chúa được . Mọi công việc được xét xử theo nguyên tắc :”Hữu công tắc thưởng, hữu tội tắc trừng” : có công thì được thưởng, có tội thì phải phạt.
          Không những đối với những người Kitô hữu, mà ngay cả đến người đời, tuy không có đức tin như chúng ta, cũng có một quan niệm chung là :”Thiện ác đáo đầu chung hữu báo” : việc tốt việc xấu sau cùng đều có quả báo, nghĩa là việc tốt việc xấu đều có thưởng phạt.
          Tuy Chúa công thẳng nhưng lại rất khoan dung, Ngài không xử với ta như ta đáng tội. Ta hãy dùng Thánh vịnh 103 mà cầu nguyện với Chúa:
Chúa đầy trắc ẩn và từ bi,
khoan dung và giầu ơn nghĩa,
Người không hạch tội luôn luôn,
Người không oán hờn mãi mãi,
Người không xử với ta xứng tội của ta,
Người không trả cho ta xứng lỗi ta làm
Ví như trời cao hơn đất thế nào,thì Người cũng cao vời trên những ai kính sợ Người.
Đông, đoài cách nhau bao nhiêu,
thì Người cũng cất lỗi phạm của ta ra xa ta chừng ấy.
Như cha xót thương con mình thế nào,
thì Chúa cũng xót thương những ai kính sợ Người như vậy.
Người biết hình hài ta sao,
Người nhớ lắm : ta là bụi đất.
          (Tv 103,8-14)
 Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt

        
 

AnTáng 67: BẾN GA

BẾN GA AnTáng 67

I. TRÊN BẾN GA.
 

Trên chuyến xe lửa đi từ Sài gòn đến Hà nội, tôi suy nghĩ lan man : mình từ sân ga Sàigòn đến Hà AnTáng 67

Trên chuyến xe lửa đi từ Sài gòn đến Hà nội, tôi suy nghĩ lan man : mình từ sân ga Sàigòn đến Hà nội, rồi mấy ngày nữa sẽ từ sân ga Hà nội trở về Sàigòn.
          Bến ga là nơi có chuyến tầu đến, có chuyến tầu đi. Có chuyến tầu đến với những cánh tay vẫy chào mong đợi trong vòng tay âu yếm của người thân. Cũng có những chuyến tầu đi với cánh tay vẫy chào từ biệt trong niềm thương nhớ tiếc nuối. Đã là sân ga thì phải có tầu đến tầu đi, như thế sân ga mới náo nhiệt. Sân ga nào không có tầu đến tầu đi thì sẽ trở nên hoang vắng, mọc rêu xanh, không có sức sống.
 
II. BẾN GA CUỘC ĐỜI.
          Phải chăng tầu đến tầu đi là hình ảnh đời sống con người !
          Ngày tôi ra chào đời là ngày người ta chào đón với những tiếng cười vui vẻ, và ngày tôi chết là rời khỏi bến ga cuộc đời với sự nuối tiếc của nhiều người ?  Muốn có chuyến tầu đến, chuyến tầu đi thì cũng phải có sinh ra, phải chết đi. Đó là lẽ bình thường.
          Vì thế, ông Quinet nói :”Chúng ta sinh ra để chết nhưng chúng ta chết để sống”.
          Thánh Têrêsa Hài đồng Giêsu trước khi chết cũng nói như thế :”Tôi không chết, nhưng đi vào cõi sống”.
 
III. CON TẦU RỜI BẾN GA.
          1. Ngày rời bến ga.
          Con tầu rời bến ga đến một bến ga khác rồi lại trở về bến ga cũ. Cũng thế, chúng ta được sinh ra trong trần gian này thì cũng sẽ trở lại nơi chúng ta phát xuất : nghĩa là chúng ta phát xuất  từ quê hương trên trời chúng ta sẽ lại trở về đó. Như vậy ra đi là trở về , đúng như Hoài nam Tử đã nói : Sinh ký tử qui.
 
          2. Bến ga phải tới.
          Chúng ta sung sướng được nghe Chúa nói với chúng ta trong bài Tin mừng vừa nghe :”Lòng các con đừng xao xuyến, hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy. Trong nhà Cha Thầy, có nhiều chỗ ở... Thầy đi dọn chỗ cho các con... để Thầy ở đâu, các con cũng ở đó”(Ga 14,1-4).
          Chúng ta sẽ trở về quê hương của chúng ta, nơi Chúa đã dọn sẵn cho ta, để Chúa ở đâu, ta cũng ở đó với Ngài. Như vậy, cuộc đời ở trần gian này chỉ là một cuộc hành trình đi về quê trời. Cuộc lữ hành này có nhiều đau khổ, nhiều gian nan thử thách nhưng rồi sẽ chấm dứt.
          Thánh Phaolô nói :”Chúng ta biết rằng ; nếu ngôi nhà của chúng ta ở dưới đất, là chiếc lều này, bị phá hủy đi, thì chúng ta có một nơi ở do Thiên Chúa dựng lên, một ngôi nhà vĩnh cửu ở trên trời, không do tay người thế làm ra”(2Cr 5,1).
 
IV. HÀNH TRANG MANG THEO.
          Cuộc hành trình nào cũng phải có hành trang. Ai đi tay không là một sự liều lĩnh, ngớ ngẩn, không biết lo xa. Trong cuộc lữ hành về quê Trời, ta cũng phải có hành trang mang theo là các công phúc ta đã làm để trình diện Chúa.
          Trong dụ ngôn ông chủ giao cho đầy tớ : đứa 10 nén, đứa 5 nén, đứa một nén tùy theo khả năng, nhưng ông chủ đòi phải làm lợi ra : ai làm lợi ra sẽ được thưởng, ai không sinh lợi hay làm hụt đi sẽ bị phạt.  Ta đã dùng những ơn Chúa ban như thế nào, có làm lợi ra không ?(x. Mt 15, 14-30). Mỗi người hãy tự hỏi mình và phải trả lời lấy.
 
                                      Truyện : hoàng đế Alexandre.
          Người ta kể rằng : trước khi chết hoàng đế Alexandre truyền cho người ta phải để hai bàn tay của ông ra khỏi quan tài để cho mọi người thấy rằng nhà vua ra đi với hai bàn tay trắng.
          Đúng vậy, chúng ta vào đời với hai bàn tay trắng, lại còn trần truồng nữa, không mang vào đời được cái gì.  Suốt cuộc đời lam lũ vất vả, con người đã làm nên sự nghiệp, có người làm nên sự nghiệp lớn trong xã hội, có người chẳng có sự nghiệp gì. Nhưng rốt cuộc, khi ra đi khỏi trần gian này, con người cũng chỉ ra đi với hai bàn tay trắng, chẳng mang được gì. Những gì đã làm nên đếu bỏ lại cho người khác, kể cả chức quyền danh vọng...
          Ca dao Việt nam đã nói lên chân lý đó :
                             Vua Ngô băm sáu tàn vàng,
                             Thác xuống âm phủ chẳng mang được gì.
 
          KẾT LUẬN
          Thánh Phaolô nói :”Không ai trong chúng ta sống cho chính mình, cũng như không ai chết cho chính mình. Chúng ta có sống là sống cho Chúa mà có chết là chết cho Chúa... Vì thế, tất cả chúng ta sẽ phải ra trước tòa Thiên Chúa... Mỗi người trong chúng ta sẽ phải trả lời về chính mình trước mặt Thiên Chúa”(Rm 14,10b-12).
          Trong cuộc lữ thứ trần gian này không ai dám nói là mình đã chu toàn mọi nhiệm vụ Chúa trao, còn nhiều thiếu sót vì “Nếu Chúa chấp tội nào ai rỗi được”. Nhưng lòng lành Chúa sẽ tha thứ cho ta nếu biết cầu xin Chúa cho người mới qua đời.
 Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt


 

AnTáng 68: SỐNG SAO CHẾT VẬY

SỐNG SAO CHẾT VẬY AnTáng 68

Mortuis  morituri
(Bài chia sẻ tại nghĩa trang)
 I. TƯỞNG NIỆM NGƯỜI ĐÃ CHẾT.
          1. Đài tưởng niệm.
 

Ngày trước, dưới thời Pháp thuộc, giữa nghĩa trang thành phố Hà nội, có đài tưởng niệm người quá AnTáng 68

Ngày trước, dưới thời Pháp thuộc, giữa nghĩa trang thành phố Hà nội, có đài tưởng niệm người quá cố với dòng chữ sau đây MORTUIS MORITURI, nghĩa là người sẽ chết tưởng niệm người đã chết. Hôm nay ở tại nghĩa trang này chúng ta cũng làm lại những việc đó.
          2. Ngày 02 tháng 11.
                                            Hàng năm Hội thánh dành ngày 02 tháng 11 để tưởng niệm những người đã chết mà chúng ta gọi là ngày Các Đẳng. Giờ đây, tại nghĩa trang này, ta là những người sẽ chết tưởng nhớ đến người đã chết, đặc biệt với những người đang nằm nơi đây.
          Việc tưởng niệm đến sự chết là điều hữu ích giúp chúng ta sống tốt lành hơn vì kẻ trước người sau ai cũng phải chết.
          Sự chết là một định luật, một luật sắt cưỡng chế con người. Người ta thắng được mọi sự, nhưng chưa ai thắng được sự chết. Người ta chữa được mọi bệnh, nhưng chưa ai chữa được bệnh chết. Sự chết này chính con người đã tạo ra sau khi phạm tội :”ngươi sẽ phải chết” (St 2,17).
          Đứng trước cái chết, thi sĩ Xuân Diệu đã phải kêu lên :
                             Nhưng mà tôi sẽ chết than Ôi !
                             Tôi run như lá, tái như đông,
                             Trán chảy mồ hôi, mắt lệ phồng.
                             Năm đẩy tháng dồn tôi đã đến
                             Trước bờ lạnh lẽo cõi hư không.
                                      (Xuân Diệu)
 
          3. Memento morti.
           Ngày hôm nay ta hãy nhớ tới sự chết. Ngày xưa, các vị khổ tu chào nhau với câu :”memento morti” : ngươi hãy nhớ đến sự chết. Và Đức Giáo hoàng Piô X, khi được một vị thượng khách quen thân xin để lại một câu làm bút tích ghi nhớ suốt đời, đã hạ bút viết câu : Memento morti : hãy nghĩ tới sự chết thì sẽ sống lành thánh.
 
II. TƯỞNG NIỆM NGƯỜI CHẾT TRONG GIÁO XỨ.
          Ngày lễ hôm nay là ngày cầu cho ông bà cha mẹ đã ra đi trước chúng ta. Sáng nay chúng ta đã dâng lễ cầu nguyện cho ông bà cha  mẹ và các đẳng linh hồn. Chiều nay chúng ta cầu nguyện cách riêng cho những người đang nằm tại nghĩa trang này.
          Họ đã ra đi. Vâng, họ đã vĩnh viễn ra đi. Đối với họ, giờ lập công đã kết thúc. Sổ ghi công đã gấp lại. Họ không thể cứu thoát mình, chỉ mong chờ vào chúng ta, những người còn sống.
          Bên phần mộ của những người đang nằm đây, chúng ta hãy lắng tai nghe tiếng rên rỉ từ bên kia vọng lại :”Hỡi người thân nghĩa, hãy nhớ đến chúng tôi, vì bàn tay Thiên Chúa đè nặng trên chúng tôi” (Lời kinh Phụng vụ). Lời ấy chúng ta đã nghe khi tiễn biệt người quá cố .  Lời ấy có lẽ chúng ta đã hứa nhưng quên mất rồi, trong khi người thân yêu đang nằm chờ trong luyện ngục.
          Từ ngày thành lập giáo xứ đến nay (tức tháng 11 năm 1955), đã có bao nhiêu người đã ra đi.  Biết bao nhiêu người đã đổ mồ hôi, bỏ ra nhiều công sức và tiền của để xây dựng giáo xứ. Chúng ta không biết hết, chỉ có Chúa mới biết rõ. Hôm nay chúng ta dâng thánh lễ cầu nguyện cho họ, xin Chúa trả công cho họ theo công sức họ đã dành cho giáo xứ. Xin Chúa tha phần phạt cho họ và đem họ vào Nước Chúa hưởng hạnh phúc vinh quang muôn đời.
 
III. MỘT GỢI Ý.
          Trong bầu khí linh thiêng buổi tối hôm nay tại nghĩa trang, chúng ta thấy gần gũi những người đã chết vì anh chị em đang đứng bên cạnh mộ của họ. Chắc hẳn những người đang năm nơi đây nhất là ông bà cha mẹ muốân nói với chúng ta đôi điều, nhưng rất tiếc, họ không thể nói được. Tôi xin thay lời cho họ để nói với anh chị em một câu thôi, một câu rất ngăn gọn :

                                      SỐNG  SAO  CHẾT  VẬY.
          Chắc ai cũng muốn cho mình có một ngày chết rất tốt đẹp, một ngày đáng mừng, chứù không muốn ngày chết là ngày thê lương đáng phải nhận lấy câu nguyền rủa của Chúa Giêsu :”Thà rằng nó đừng sinh ra thì hơn” (Mt 26,24).
          Tương lai thì còn xa, nhưng tương lại nằm trong hiện tại.  Giờ chết của chúng ta lệ thuộc vào giờ phút hiện tại bởi vì “cây tốt thì sinh quả tốt” (x. Mt 7,17-18). Cứ nhìn vào cuộc sống hiện tại thì có thể biết giờ chết của ta sẽ ra như thế nào vì theo Kinh thánh thì “Trẻ đi lối nào, thì già đi lối đó”. Cái cây đã nghiêng về phía nào thì sẽ đổ về phía ấy.
          Một điều chắc chắn nữa là ngay sau khi chết mỗi người sẽ phải thanh toán với Chúa về cuộc sống của mình theo nguyên tắc “hữu công tắc thưởng, hữu tột tắc trừng” như sách Huấn ca đã nói :”Trong ngày mệnh chung, trả cho con người theo
          Vậy, đứng bên cạnh mộ ông bà cha mẹ, họ hàng, chúng ta có ý nghĩ gì, đã có quyến tâm nào chưa ?
          Thời gian đang chời đợi chúng ta.
Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt


 

AnTáng 69: MỘT CON NGƯỜI : HAI TIẾNG GỌI

MỘT CON NGƯỜI : HAI TIẾNG GỌI AnTáng 69

I . LỜI CHÚA : Lc 12, 16-21.
 

Chúa Giêsu đưa ra dụ ngôn người phú hộ giầu có để cảnh giác chúng ta đừng quá ham mê của AnTáng 69

Chúa Giêsu đưa ra dụ ngôn người phú hộ giầu có để cảnh giác chúng ta đừng quá ham mê của cải vì của cải không bền. Hơn nữa, của cải đầy nhà mà nếu Chúa gọi về đời sau thì để lại cho ai, trong khi đó mình ra đi với hay bàn tay trắng ?  Công lao tích trữ vô ích . Còn số phận linh hồn sẽ ra sao ?
          Để ý nhận xét, chúng ta thấy có câu nói của người phú hộ nhủ lòng :”Hồn tôi hỡi, mình bây giờ ê hề của cải, dư xài nhiều năm. Thôi, cứ nghỉ đi, cứ ăn uống vui chơi đã” (Lc 12,19).
          Như vậy là xác gọi hồn : hãy ăn chơi cho đã đi, tương lai được bảo đảm rồi. Qua tiếng nói của xác gọi hồn, ta có thể quả quyết rằng con người có hai phần : thể xác và linh hồn. Hai bên có thể trao đổi cho nhau, mỗi bên có một tiếng nói riêng : thân xác có tiếng nói của thân xác, linh  hồn có tiếng nói của linh hồn.
          Nếu thân xác gọi linh hồn thì kêu là GỌI HỒN. Nếu linh hồn gọi thể xác thì kêu là HỒN GỌI. Hồn gọi và gọi hồn rất khác nhau. Một đàng là hồn gọi thân xác theo mình, một bên là thân xác gọi hồn đến với mình. Tiếng nói của linh hồn phải có trọng lượng hơn thể xác vì ngay trong truyện Kiều thi sĩ Nguyễn Du cũng viết rằng :”Xác là thể phách, hồn là tinh anh”.
 
II. MỘT CON NGƯỜI : HAI TIẾNG GỌI.
          1. Gọi hồn .
          Người ta gọi hồn người chết về nhập vào người sống nói chuyện để biết những điều kín đáo mà người khác không biết. Người ta hay “cầu cơ” để nói chuyện với người đã chết, gọi người chết về để nói chuyện qua dụng cụ chuyên môn.
          Ngay trong Kinh thánh Cựu ước cũng nói về cầu cơ. Trường hợp vua Saulê bị khốn đốn trước áp lực quân Philitinh , không biết phải hành động ra sao, đã nhờ một bà đồng bóng gọi hồn tiên tri Samuel về để thỉnh ý. Ông Samuel đã cho vua Saulê biết Thiên Chúa đã bỏ ông rồi vì ông đã không trung thành với Chúa. Thiên Chúa sẽ trao cả Israel vào tay quân Philitinh. Ngày mai, ông và con trai sẽ chết. Cả quân đội Israel nữa, Ngài cũng trao nộp vào tay người Philitinh  (x 1Sm 28,3-25).
          Khi thân xác gọi linh hồn thì thân xác chỉ làm hại linh hồn, xúi giục linh hồn làm những điều trái ý Chúa, như thánh Phaolô đã nói :
“Tôi khám phá ra luật này : Khi tôi muốn làm sự thiện thì sự ác xuất hiện ngay. Theo con người nội tâm, tôi vui thích vì lề luật Thiên Chúa. Nhưng trong các chi thể của tôi, tôi lại thấy một luật khác : Luật này chiến đấu chống lại luật của lý trí và giam hãm tôi trong luật của tội là luật vẫn nằm sẵn trong chi thể tôi” (Rm 7,21-23).
          Thân xác yếu đuối chẳng làm nên công trạng gì nhưng lại có tiếng nói rất mạnh ảnh hưởng đến linh hồn, làm cho linh hồn trở nên suy yếu và dễ chiều theo tiếng nói của thể xác. Vì thế, Chúa Giêsu đã cảnh cáo :”Hãy tỉnh thức và cầu nguyện, để khỏi lâm vào chước cám dỗ. Vì linh hồn thì hăng hái, nhưng thân xác lại yếu đuối” (Mt 26,41).
 
          2. Hồn gọi.
          Nếu thân xác gọi linh hồn thì linh hồn cũng có tiếng gọi đối với thân xác. Hai tiếng gọi có hai hướng khác nhau : một hướng gọi đi lên, một hướng gọi đi xuống. Tiếng gọi của thân xác luôn luôn níu kéo linh hồn xuống như thánh Phaolô đã nói :
 “Nếu anh em sống theo xác thịt anh em sẽ phải chết, nhưng nếu nhờ Thần Khí, anh em diệt trừ những hành vi của con người ích kỷ nơi anh em, thì anh em được sống” (Rm 8,13). “Hướng đi của xác thịt là phản nghịch cùng Thiên Chúa, vì xác thịt không phục tùng luật của Thiên Chúa” (Rm 8,7).
          Trái lại “hồn gọi”là hồn muốn nói với xác hãy vươn cao lên, đừng theo những đam mê thấp hèn. Tiếng “hồn gọi” là tiếng lương tâm mà Thiên Chúa in dấu nơi con người nên bao giờ cũng đúng, nó chỉ đạo cho xác. Và như thế, tiếng “hồn gọi” bao giờ cũng là tiếng gọi đẹp. “Hướng đi của thể xác là sự chết, còn hướng đi của hồn là sự sống và bình an” (Rm 8,6).
          Trong đời sống thường nhật, người ta đồng ý là vật chất rất cần thiết, nhưng tinh thần có giá trị đẹp hơn vật chất.Chẳng hạn, như lòng chung thủy thì đáng ca ngợi hơn nhan sắc. Tình yêu qúi hơn bạc vàng.  Vì thế, mới có những hy sinh cao thượng, có người chết cho quê hương, có kẻ chết vì lý tưởng. Chính vì biết theo tiếng “hồn gọi” mà một Augustinô, một Charles de Foucauld, một minh tinh màn bạc Ève Lavallìere đã sống một đời thánh thiện.
          Nhà văn Túy Hồng có cuốn tiểu thuyết nhan đề :”Tôi nhìn tôi trên vách”. Đức Cha Bùi Tuần viết tập sách thiêng liêng, đặt tên là “Nói với chính mình”. Tựa đề những tác phẩm trên nói lên một nội dung có băn khoăn, có thao thức, mà cách nào đó có vấn đề giữa mình và mình.
          Nói “Tôi nhìn tôi” là nói đến hai nhân vật. Một bên là chủ thể nhìn, một bên là khách thể bị nhìn. Cũng vậy, khi “nói với chính mình”, là có người nói, có người nghe. Nhưng ở đây, người nghe cũng là người nói, người nhìn cũng là kể bị nhìn. Trong tương quan xác – hồn thì ai theo ai khi nghe tiếng phía bên kia gọi ? Ai dừng lại khi thấy phía bên kia nhìn mình.
                             (Nguyễàn tầm Thường, Mùa chay và... tr 82-83).
 
III . THÁI ĐỘ CHÚNG TA.
           Trong cuộc sống hằng ngày , trong chúng ta luôn luôn có hai tiếng gọi : xác gọi hồn và hồn gọi xác. Sự giằng co của hai tiếng gọi ấy làm cho chúng ta phải khổ sở, chính thánh Phaolô đã có kinh nghiệm về vấn đề này : đời Phaolô đã khổ sở trong tiếng gọi của xác. Có hai tiếng gọi thật đấy, nhưng Phaolô đã nghe tiếng “hồn gọi” chứ không để xác “gọi hồn” theo. “Được cả thế gian mà mất linh hồn thì nào ích lợi gì” (Mt 16,26).
          Chúng ta hãy nhìn vào trong con người của mình như “Tôi nhìn tôi”, tôi nhìn tôi và tôi biết rõ con ngừii của tôi. Lúc này tôi đang theo tiếng “hồn gọi” hay đang theo tiếng “gọi hồn” ?
Nhìn vào quan tài ông (bà) X, chúng ta hãy xem lúc này chúng ta đang sống thế nào ? Chúng ta có vô tình mà sống như phú ông trong bài Tin mừng không ? Có để cho xác gọi hồn không ? Mỗi người hãy tự trả lời và phải có thái độ nào thích hợp.
 
                                      Truyện : Tôi nhìn tôi.
          Một vị Linh mục nọ đã có một sáng kiến rất ngỗ nghĩnh để đánh động giáo dân trong giáo xứ. Một buổi sáng Chúa nhật nọ, dân chúng bỗng nghe một lời rao bảo như sau :”Một nhân vật tên tuổi trong giáo xứ vừa qua đời. Tang lễ sẽ được cử hành vào 9 giờ sáng thứ tư tới”. Nghe lời loan báo ấy, cả giáo xứ nhốn nháo lên. Người nào cũng muốn biết con người quan trọng đó là ai.
          Đúng ngày tang lễ, mọi người trong giáo xứ  nườm nượp kéo đến nhà thờ. Từ cung thánh cho đến cuối nhà thờ, không còn một chỗ trống. Người ta đến không phải để cầu nguyện cho người quá cố cho bằng để nhìn một lần cuối cùng con người mà ai cũng muốn biết.
          Sau thánh lễ, vị linh mục đến mở nắp quan tài để cho mọi người đến từ biệt lần cuối cùng người quá cố. Ai ai cũng sắp hàng để nhìn cho kỳ được người chết. Nhưng ai cũng đều ngạc nhiên, bởi vì thay cho thi hài người chết, mỗi người chỉ nhìn thấy trong quan tài một tấm gương và dĩ nhiên, khi cúi nhìn vào quan tài, mỗi người chỉ nhìn thấy dung nhan của mình mà thôi.
          Chờ cho mọi người làm xong nghi thức từ biệt ấy, vị linh mục mới giải thích :”Như anh chị em đã có thể nhận thấy, tôi đã cho đặt vào quan tài một tấm kính. Con người mà anh chị em nhìn thấy trong quan tài không ai khác hơn là chính mỗi người trong chúng ta. Vâng, đúng thế, thưa anh chị em, mỗi người chúng ta cần phải mai tánh chính mình... Thánh lễ vừa rồi đã được cử hành cho tất cả chúng ta”.
                                      (Lẽ sống, 1991, tr 213)
           Con người mà mọi người nhìn thấy trong quan tài chính là khuôn mặt của mình. Điều ấy nhắc nhở cho chúng ta là mỗi người trong chúng ta sẽ chết, phải nằm trong quan tài như mọi người. Để chuẩn bị cho ngày đó, chúng ta đã sống thế nào ? Hãy nhìn vào con người của mình để biết mình đang sống thể nào, có theo tiếng “Hồn gọi” không, có sống xứng đáng với danh hiệu Kitô hữu hay không, hay chỉ biết sống theo tiếng “Gọi hồn” để sau này sẽ lãnh hình phạt đời đời ? Hy vọng mỗi người chúng ta hãy thực hành lời khuyên bảo của thánh Phêrô tông đồ :”Anh em là khách lạ và lữ hành, tôi khuyên anh em hãy lánh xa những đam mê xác thịt, vốn gây chiến với linh hồn” (1Pr 2,11).
 Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt


 

AnTáng 70 SỰ CHẾT LÀ THẦY DẠY TA

SỰ CHẾT LÀ THẦY DẠY TA AnTáng 70

  1.   SUY NIỆM LỜI CHÚA :
          Chúng ta đọc : 1Ga 3,1-2  và Ga 12, 23-26.
 

Thánh Gioan tông đồ được gọi là con người của tình yêu. Trong cuốn Tin mừng thứ tư và các AnTáng 70

Thánh Gioan tông đồ được gọi là con người của tình yêu. Trong cuốn Tin mừng thứ tư và các thư gửi cho tín hữu, Ngài luôn đề cập tới Tình yêu. Chính Ngài đã nói :Thiên Chúa là Tình yêu” (1Ga 4,8).  Trong bức thư thứ nhất hôm nay, ngài nhắc nhở chúng ta rằng : “Chúa Cha yêu chúng ta dường nào : Người yêu đến nỗi cho chúng ta được gọi là con Thiên Chúa” (1Ga 3,1). Còn tước hiệu nào cao qúi và lớn lao cho bằng được làm con Thiên Chúa.
          Tuy chúng ta là con Thiên Chúa nhưng chúng ta sẽ như thế nào thì điều ấy chưa được bầy tỏ.  Nhưng có một điều chúng ta biết chắc rằng “Khi Đức Kitô xuất hiện, chúng ta sẽ nên giống như Người, vì Người thế nào, chúng ta sẽ thấy Người như vậy” (1Ga 3,2).  Chúng ta đang ở trong thời gian ngóng chờ sự việc ấy xẩy ra trong niềm tin tưởng.
          Tư tưởng trên sẽ  được chứng minh và bảo đảm hơn trong bài Tin mừng theo thánh Gioan mà chúng ta vừa nghe đọc :”Ai phục vụ Thầy, thì hãy theo Thầy, và Thầy ở đâu, kẻ phục vụ Thầy cũng sẽ ở đó” (Ga 12,26). Chúng ta là Kitô hữu, là những người theo Chúa, được mang tên Ngài, được phục vụ Ngài thì chắc chắn Ngài sẽ cho chúng ta ở với Ngài trên nơi vĩnh phúc như lời Ngài đã hứa.
 
II. SINH DỮ TỬ LÀNH.
          Người Việt nam chúng ta có một câu tục ngữ rất quen thuộc , người ta thường trưng ra khi có người chết :Sinh dữ tử lành”. Sinh là đẻ và tử là chết.  Theo đó người ta tin rằng nằm mơ thấy người chết sẽ gặp nhiều chuyện lành ; nằm mơ thấy việc chửa đẻ là điềm xấu, điễm dữ.  Đối với câu tục ngữ này, có người tin, có người cho là mê tín. Chữ nghĩa là như vậy, còn ai muốn hiểu thế nào thì hiểu.
         Thánh Ambrôsiô kể rằng dân chúng xứ Thrace khóc và thốt lên những tiếng kêu thảm thiết khi có một người sinh ra, và trái lại họ vui mừng hát những bài ca hân hoan khi có người qua đời. Họ tin – và họ có lý – rằng tất cả những ai đi vào trong thế giới này, một thế giới tràn đầy khổ đau, đều đáng thương hại ; và khi họ thoát khỏi nơi lưu đầy buồn khổ này, người ta phải vui lên mừng cho họ. Melior est dies mortis die nativitatis : ngày chết là ngày đáng ưa thích hơn ngày sinh ra.
          Nếu chúng ta đọc đoạn thư của thánh Phalô tông đo gửi tín hữu Philipphê thì chúng ta thấy những người dân thành Thrace có lý :”Quê hương chúng ta ở trên trời, và chúng ta nóng lòng mong đợi Đức Giêsu Kitô từ trời đến cứu chúng ta. Người có quyền năng khắc phục muôn loài, và sẽ dùng quyền năng ấy mà biến đổi thân xác yếy hèn của chúng ta nên giống thân xác vinh hiển của Người” (Pl 3, 20-21).           Và một đoạn thư khác gửi cho tín hữu Corintô :”Chúng ta biết rằng : nếu ngôi nhà chúng ta ở dưới đất, là chiếc lều này, bị phá hủy đi, thì chúng ta có một nơi ở do Thiên Chúa dựng lên, một ngôi nhà vĩnh cửu ở trên trời, không do tay người thế làm ra” (1Cr 5,1).  Như vậy, quê hương chúng ta ở trên trời, chúng ta có một ngôi nhà vĩnh cửu ở trên đó, chúng ta đang nóng lòng mong đợi Đức Giêsu đem chúng ta về theo  để “Ai phục vụ Thầy, Cha của Thầy sẽ qúi trọng người ấy” (Ga 12, 26). Muốn về quê hương vĩnh cửu trên trời thì phải rời bỏ trần thế này đã, mà rời bỏ trần thế này tức là “Phải chết”.
 
III. SỰ CHẾT LÀ THẦY DẠY TA.
          Thánh Augustinô đà phong hàm giáo sư cho sự chết. Ngài nói :”Hãy để sự chết làm Thầy dạy ta”.  Thầy là một giáo sư nổi danh và dạy giỏi. Thầy có lớp dạy trên khắp địa cầu. Thầy nói bằng đủ thứ ngôn ngữ mà người học trò nào cũng có thể hiểu được.  Thầy dạy đủ mọi giống người, mọi mầu da, mọi tín ngưỡng . Thầy dạy từ người trẻ nhất đến người già nhất. Thầy dạy người giầu và kẻ nghèo, người tầm thương và kể cả người nổi danh. Thầy mở lớp ở tỉnh thành và ở thôn quê, trên không trung, nơi biển cả và trong lòng đất nữa.
          Thầy dạy những gì ? Thưa, chủ yếu Thầy dạy rằng :”Cuộc đời rồi phải kết thúc và dừng lại”. Ở trên dương gian này không có gì là vĩnh cửu, mọi sự chỉ là tạm bợ.
          Đi đâu rồi cũng sẽ đụng đến “bốn dài hai ngắn”. Đây chẳng phải là một tư tưởng bi quan yếm thế cho bằng  là một chân lý của cuộc sống. Cả những triết gia nổi danh như Heidegger cũng nói rằng sống là để chết (être-pour-la-mort). Sự khôn ngoan của con người là biết rằng đến một lúc nào đó sẽ dừng lại để chuẩn bị cho cuộc ra đi vĩnh viễn.
          Chết là một công lệ, không ai thoát khỏi. Nhưng câu hỏi phải được đặt ra là “Chết rồi đi đâu” ?  Câu hỏi này gửi đến từng người vã mỗi người phải tự trả lời lấy.  Họ có hai hướng phải lựa chọn : hoặc hướng lên hoặc hướng xuống, hoặc lên thiên đàng hoặc xuống hoả ngục, ngoài ra không còn hướng nào khác nữa.  Tương lai nằm trong tay ta, mỗi người phải định đoạt lấy  số phận của mình . Chúa không muốn dìm ta xuống hoả ngục, Ngài cũng không kéo ta lên thiên đàng mà Ngài chỉ giúp ta sau khi ta đã cố gắng hết mình.
 
                                            Truyện : Mua vé số.
          Một lần nọ, có một người tốt lành và sung đạo rơi vào lúc khó khăn. Một đêm kia khi cầu nguyện, ông ta cầu xin Thiên Chúa cho ông ta trúng số nhiều triệu đồng. Ngày hôm sau xổ số mở, ông ta rất lạc quan, nhưng không trúng, kể cả con số cuối. Ông ta lại cầu xin :”Lạy Chúa, con luôn luôn trung tín với Ngài, xin Ngài cho con được trúng số”. Đến ngày xổ số, một lần nữa không thấy xuất hiện con số trúng.
          Sau cùng, người ấy trở lại qùi gối và lẩm bẩm :”Lạy Chúa, tại sao Chúa không giúp con” ? Thình lình một tiếng nói ồm ồm vang lên từ thiên đàng :”Tại sao con không GIÚP TA ? Con phải mua vé chứ”.
          (Lm Bel San Louis, Vui sống với nụ cười, tr 125)
          Qua câu chuyện trên, ta thấy Thiên Chúa không giúp chúng ta nếu chúng ta không làm điều gì đưa đến chiến thắng hoặc thành công. Chúng ta hãy nhớ lại Chúa Giêsu đã phán với chúng ta rằng :”Không phải cứ kêu Lạy Chúa, Lạy Chúa mà được vào Nước Trời mà chỉ có nhửng ai thi hành thánh ý Cha Ta” (Mt 7,21). Người Việt nam chúng ta cũng có câu ca dao mang ý nghĩa tương tự , nói lên sự cần thiết của cố gắng con người :
                              Có khó mới có miếng ăn,
                              Không dưng ai bỗng đem phần đến cho.
          Muốn lên thiên đàng thì phải chịu khó, phải chiến đấu với ba thù. Vòng hoa chiến thắng chỉ dành cho những ai đã chiến đấu và chiến thắng , chứ không dành cho những kẻ ươn lười.
          Ông Corneille cũng nói một câu chí lý :
                              “Chiến đấu có gian nan,
                              Khải hoàn mới vinh quang”.
Trong cuộc chiến ở trần gian này,  một cuộc chiến trường kỳ gian khổ, Chúa đòi chúng ta phải kiên nhẫn, không được bỏ cuộc. Bỏ cuộc là thất bại và thất bại này một mình phải gánh chịu, không được đổ lỗi cho Chúa vì ơn Chúa bao giờ cũng đủ cho ta như Chúa đã nói với thánh Phaolô trong lúc phải chiến đấu gay go :”Sufficit tibi gratia mea” : ơn Ta đã đủ cho con . Một lần nữa hãy nhắc lại lời Chúa nói :”Những ai kiên nhẫn đến cùng sẽ được cứu rỗi”(Mt 10,22  ; 24,13; Mc 13,13).
Sau cùng Thầy Chết cũng còn dạy chúng ta rằng : ta không thể nào bình chân như vại khi đối diện với cái chết, bởi vì khi đó ta phải giáp mặt với Đấng thấy rõ lòng dạ sẽ xét xử chúng ta và chúng ta phải “trả lẽ” về những gì đã làm (x. Rm 14,12).
 
Hôm nay tôi khuyên bạn : bạn phải “học chết” nữa (Platon, apprendre à mourir)
Lạy Chúa, “xin dạy con biết đếm tháng ngày mình sống, ngõ hầu tâm trí được không ngoan” (Tv 90,12), khôn ngoan là phải biết tỉnh thức để chuẩn bị sẵn sàng.
 Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt


 

AnTáng 71: ĐỀN THỜ BỊ PHÁ HỦY

ĐỀN THỜ BỊ PHÁ HỦY AnTáng 71

I. NHỮNG LỜI TIÊN BÁO.
          Chúng ta đọc : Lc 21,5-11 ; Mt 24,1-3 ; Mc 13,1-4.
 

Sau khi Chúa Giêsu và các môn đệ ra khỏi đền thờ về phía núi Cây Dầu, từ nơi này, nhìn thấy đền AnTáng 71

Sau khi Chúa Giêsu và các môn đệ ra khỏi đền thờ về phía núi Cây Dầu, từ nơi này, nhìn thấy đền thờ Giêrusalem đồ sộ nguy nga và kiên cố, các môn đệ tấm tắc khen ngợi và có cảm nghĩ đền thờ bền vững đến muôn đời ; nhưng Chúa Giêsu đã nhìn cách bi quan khi Người báo trước Đền thờ sẽ có ngày bị tàn phá bình địa. Lời tiên báo này đã trở thành sự thực vào năm 70, khi quân Roma đến chiếm và phá hủy thành Giêrusalem.
          Bài Tin mừng chúng ta vừa nghe  ghi lại phần mở đầu bài giảng về sự sụp đổ của thành Giêrusalem, và cũng là dấu chỉ về ngày cánh chung của thế giới.  Đồng thời chúng ta cũng có thể suy ra rằng đền thờ của con người là thân xác chúng ta một ngày kia cũng sẽ bị phá hủy, để rồi chúng ta cũng phải nghĩ đến giờ chết của mình.
          Chúng ta được biết có hai đền thờ Gierusalem bị phá hủy.  Trước đó dân Do thái cũng có một đền thờ nguy nga đã bị vua Babylon là Nabuchodonosor phá hủy, dân bị bắt đi lưu đầy hơn 70 năm.  Sau đó, đế quốc Babylon bị sụp đổ, vua Ba tư là Đariô tha cho dân được trở về quê hương. Mọi người được trở về như sau  một giấc mơ. Trong niềm vui tươi hớn hở,  mọi người chung ta xây dựng một ngôi đền thờ mới dưới sự hướng dẫn tài ba của vua Salomon. Ngôi đền thờ mới nguy nga tráng lệ này phải mất 40 năm mới hoàn thành.  Nhưng quân đội Roma do tướng Titô chỉ huy đã phá hủy đền thờ này vào năm 70 sau công nguyên.  Tất cả mọi sự đã xẩy ra như lời Chúa Giêsu đã loan báo trước.
 
II. MỌI SỰ SẼ QUA ĐI.
          1. Chúa Giêsu báo trước ngày tận thế.
          Đền thờ Giêrusalem nguy nga, đồ sộ huy hoàng và kiên cố như vậy, nhưng có ngày bị sụp đổ :”Những gì anh em đang chiêm ngưỡng đó sẽ có ngày bị tàn phá hết, không còn tảng đá nào trên tảng đá nào” (Lc 21,6).  Lời tiên báo đó gợi lên cho chúng ta những gì mà chúng ta coi như hấp dẫn, bền vững ở trần gian, sẽ có ngày sụp đổ tan tành, nên chúng ta hãy tỉnh thức đừng có bám víu vào thế gian nữa, mà hãy hướng về những sự trên trời, nơi quê hương thật của chúng ta,  để chuẩn bị xứng đáng khi từ giã cõi đời này.
 
          2. Cảm nghiệm của người đời.
          Mọi người đều có một cảm nhận là mọi sự vật sẽ qua đi, không có gì là vững bền. Tư tưởng này nơi Phật giáo càng thấy rõ : trong các văn thơ của những thi sĩ nhuốm tư tưởng Phật giáo đều có những tư tưởng rất bi quan về cuộc đời. Đại diện cho khuynh hướng ấy là thi thĩ  Nguyễn Khuyến khi ông nói :
                             Ôi !  nhân sinh là thế ấy,
                             Như bóng đèn, như mây nổi
                             Như gió thổi, như chiêm bao.
        hay :
                             Trăm năm còn có gì đâu ?
                             Chẳng qua một nấm cỏ khâu xanh rì.
                                      (Nguyễn gia Thiều)
          Một thisĩ khác nói có vẻ triết lý hơn khi nhận xét sự vật trên trần gian : không có gì là bền vững, cái gì đã có thì cùng sẽ hết :
                             Hoa nở để mà tàn,
                             Mây hợp để mà tan,
                             Trăng tròn để mà khuyết,
                             Người sống để mà chết.
          Theo triết lý Á đông thì “Sự vật hễ có hình thì có hoại”. Thi sĩ Nguyễn Du cũng triển khai tư tưởng này khi ông nói :
                             “Thác là thể phách, hồn là tinh anh”.
          Người Kitô hữu chúng ta biết : xác con người có hình nên sẽ bị sẽ bị hư hoại, nhưng linh hồn không có hình thì không có hoại, linh hồn còn sống mãi. Vậy sau khi chết thì linh hồn sẽ ra sao ? Cầu hỏi này bắt chúng ta phải trả lời.  Hãy suy niệm câu trong sách Giảng viên :
                             Phù hoa nối tiếp phù hoa,
                             Thế gian tất cả chỉ là phù hoa.
                                      (Gv 1,1)
 
III. CHUẨN BỊ CHO ĐỜI MAI HẬU.
          Hãy nghĩ về vấn đề quan trọng nhất của con người : sau này sẽ ra sao khi tôi không còn có mặt trên trần gian này ?  Tôi sẽ được kể vào số năm cô trinh nhữ không ngoan hay năm cô khờ dại?  Tôi đã chuẩn bị chưa ? Có bao giờ nghĩ tới sự chết, phán xét, sự sống đời dời chưa ?
   
                                      Truyện : Ta đang chạy đi đâu ?
          Các nhà văn muốn viết một quyển truyện hay thường nghĩ trước phần kết của câu truyện. Chúng ta muốn viết quyển truyện đời mình cho hay thì cũng phải nghĩ trước về ngày chết của mình, đừng như nhân vật trong truyện dưới đây :
          Nhà khoa học Huxley đang gấp vì sợ đến trễ phiên họp trong đó ông phải đọc một bài tham luận. Ông nhảy lên một chiếc xe ngựa và bảo người đánh xe ngựa :
- Hãy chạy hết tốc lực.
Xe chạy một quãng, ông mới giật mình hỏi :
- Nhưng mà ta đang chạy đi đâu vậy ?
Người đánh xe ngựa đáp :
- Tôi cũng chẳng biết, chỉ biết là xe đang chạy hết tốc lực.
                   (Clifton Gadiman)
          Trong cuộc sống, mỗi người phải định hướng cho cuộc đời mình. Chúng ta đang sống trên biển trần gian, biển rộng mênh mông, không biết đâu là bến bờ. Cần phải có la bàn định hướng để chúng ta có thể tới bến bờ. La bàn đây chính là Lời Chúa. Lời Chúa sẽ soi dẫn đường chúng ta đi, không bao giờ chúng ta bị lạc hướng, vì Chúa đã nói :”Ta là đường, là sự thật và là sự sống” (Ga 14,6). Chúa sẽ dẫn đường chỉ lối cho ta đi.
          Đền thờ Giêrusalem, một công trình mất đến 40 năm mới hoàn tất, vậy mà Chúa bảo rồi sẽ có ngày bị tàn phá. Giữa những vẻ đẹp nhân tạo, những vẻ đẹp của trần thế chóng qua, Chúa muốn tôi tìm kiếm vẻ đẹp không bao giờ tàn úa. Chỉ có vẻ đẹp của tâm hồn, chỉ có sự thánh thiện mới không có gì phá hủy được. Vẻ đẹp đó chỉ có thể tô điểm bằng yêu thương và phục vụ.
          Hãy khôn ngoan và tỉnh thức , chuẩn bị sẵn sàng. Cả cuộc sống êm ả lẫn cuộc sống bất ổn cũng đều tiềm tàng những thuận lợi và những hiểm nguy cho đời sống thiêng liêng. Vấn đề là làm sao rút được ích lợi ngay giữa hai tình cảnh đối nghịch đó.
          - Nếu đời sống triền miên trong sự êm ả (Thí dụ : sống trong một xã hội sung túc đầy đủ, không bao giờ phải lo chiến tranh hoạn nạn) người ta sẽ dễ an tâm sống đạo thờ phượng Chúa. – Nhưng cũng dễ rơi vào chỗ coi thường, bất cần đến đạo, bất cần đến Thiên Chúa.  Trong Cựu ước, mỗi khi dân Chúa li bì trong cảnh thái bình mà đâm ra trụy lạc, tự mãn, không coi Thiên Chúa ra gì, thì thường xuất hiện vị ngôn sứ loan báo tai họa để nhắc nhở dân (gọi là ngôn sứ báo họa).
          - Ngược lại, nếu luôn phải sống trong phập phồng lo sợ, người ta dễ thấy mạng sống mình mong manh, thấy của cải vật chất không bíup bảo đảm gì nhiều cho mình. Khi đó, người ta dễ chạy đến với Chúa. – Nhưng nếu cứ phải sống triền miên trong bất  ổn, cuộc đời dễõ mất ổn định và khó lòng đạt được những hoa trái của sự bình an. Suy niệm đời ông Gióp giúp ta hiểu rõ hơn.
(Theo Lm Carôlô).
          Hãy sống những giây phút hiện tại cho xứng đáng, đó là cách dọn mình tốt nhất. Ngày xưa có một thầy dòng viết lên trên mặt đồng hồ những dòng chữ sau đây :
 “Dĩ vãng đã qua, tương lai chưa tới,
Hiện tại là lúc bạn đang làm chủ.
Phút hiện tại ấy thuộc về bạn, bạn hãy dùng cho hết.
Làm điều có đức sẽ được thưởng, làm điều ác phải chịu phạt.
Đó là tất cả những cái gì làm sống lại”.
          (Toth, Chí khí người thanh niên, tr 157)
 Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt


 

AnTáng 72: SỨ ĐIỆP TỪ NẤM MỒ

SỨ ĐIỆP TỪ NẤM MỒ AnTáng 72

Bài chia sẻ tại nghĩa trang
I. SUY NGHĨ TỪ NẤM MỒ.    
 

Một dịp nào đó, chúng ta có dịp đi tham quan một vùng quê, bên những cánh đồng xanh tươi, hoặc AnTáng 72

Một dịp nào đó, chúng ta có dịp đi tham quan một vùng quê, bên những cánh đồng xanh tươi, hoặc sau những lũy tre mượt mà, thế nào chúng ta cũng gặp thấy những nấm mồ nằm chen chúc cạnh nhau. Thông thường những nấm mồ dân Việt được đắp u lên như hình ảnh cái bụng người mẹ đang mang thai.  Một thuở xa xưa, chính trong lòng dạ cưu mang của người mẹ mà chúng ta đã nhận lấy sự sống làm người. Rồi cũng đến một lúc, chính từ những nấm mộ đắp u lên như cái bụng người mẹ mang thai, mỗi người chúng ta sẽ lại trở về lòng đất mẹ.
          Hình ảnh này rất thích hợp với lời Chúakhi Thiên Chúa dựng nên con người, Ngài cho biết :”Ngươi bởi bùn đất mà ra và ngươi sẽ trở về cùng bụi đất” (                    )> Khi lìa cõi đời này mỗi người chúng ta sẽ trở về lòng đất mẹ và còn ở đấy mãi đợi chờ cho đến ngày Chúa cho kẻ chết sống lại.
          Tại đất nước Kenya bên Phi châu người ta dùng tiếng thổ ngữ của mình mà gọi Thiên Chúa lã “Ni-a-xây” (Nyasaye) nghĩa là cái “Bụng”, cái “Tử cung để mang thai”, và khi chôn cất người chết, họ cũng đắp cái mộ u lên thành cái “Ni-a-xây”, một cái bụng người mẹ đang mang thai, giống dân Việt chúng ta.
          Cũng chính trong nấm mộ là cái chết của Đức Kitô Giêsu mà chúng ta đã nhận lãnh sự sống vĩnh cửu, Ngày chúng ta trở về lòng đất mẹ, chúng ta cũng trở về với Đức Kitô, để sự sống của chúng ta được đổi mới, được tham dự vào sự sống mới của Đấng đã Phục sinh.

II. SỨ ĐIỆP TỪ NẤM MỒ.
 
  1.   Mối dây liên lạc.
         Người đã ra đi về thế giới bên kia nằm sâu trong lòng đất hay đã tiêu tan ra tro bụi.  Người còn sống trên mặt đất buồn sầu tưởng nhớ người đã vĩnh viễn ra đi không còn ngày trở lại cuộc sống trên trần gian nữa. Người còn sống muốn bắc nhịp cầu thông cảm hằng năm vào ngày 2 tháng 11 có tập tục đạo đức tốt lành thăm viếng phần mộ người thân thuộc đọc kinh cầu nguyện cho họ. Ở các xứ đạo sau thánh lễ 1 tháng 11 hoặc những ngày kế tiếp, cha xứ và giáo dân tụ tập ở nghĩa trang, làm lễ, đọc kinh hoặc làm phép mồ.  Vào ngày này thân nhân người quá cố dọn dẹp trang hoàng mồ mả với hoa nến để nói lên lòng thành kính thương mến với người quá cố và cũng để nói lên niềm tin : tôi tin xác loài người ngày sau sống lại và sự sống đời sau.
 
          2. Người hỏi, người trả lời.
        Ai trong chúng ta cũng tin rằng “Sinh ký, tử quy”, sống là sống gửi còn chết là về. Nhưnng về đâu ?  Chúa Giêsu trong bữa Tiệc ly với các Tông đồ đã nói với họ lời từ giã trước khi tự nguyện hy sinh chịu chết :”Thầy đi về cùng Cha Thầy” (x. Ga 14,1-14).  Chỗ khác Chúa Giêsu nói với các môn đệ :”Lòng anh em đừng xao xuyến! Hãi tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy. Trong nhà Cha của Thầy, có nhiều chỗ ở; nếu không, Thầy đã nói với anh em rồi, vì Thầy đi dọn chỗ cho anh em. Nếu Thầy đi dọn chỗ cho anh em, thì Thầy lại đến, và đưa anh em về với Thầy, để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó” (Ga 14,1-3).
          Người thân yêu đã ra đi, theo niềm tin của người Công giáo chúng ta, cũng như Chúa Giêsu : về cùng Thiên Chúa Cha.  Như thế họ cũng để lại di chúc lời từ giã như sau :”Tôi ra đi bây giờ nằm sâu trong  lòng đất, nhưng tôi tin rằng tôi trở về cùng Thiên Chúa, Đấng sinh thành tôi. Tôi nằm sâu trong nấm mồ này, nhưng tôi vẫn hy vọng trông mong Thiên Chúa sẽ cứu độ tôi và sẽ cho tôi sống lại được hưởng đời sống bất diệt như Ngài cho Chúa Giêsu sống lại từ cõi chết”.
          Nhưng có phải mọi người được như thế không ? Thực tế cho biết : mọi người đều trở về lòng đất mẹ, nhưng không phải mọi người trở về “Bụng” tức Cung lòng của Thiên Chúa vì có những người bị loại ra ngoài, khi Chúa phán :”Quân bị nguyền rủ kia, đi đi cho khuất mắt Ta mà vào lửa đời đời, nơi dành sẵn cho tên Ác Qủy và các sứ thần của nó” (Mt 25,41).
Tại sao ? Vì họ đã không biết phụng sự Chúa qua tha nhân :”Vì xưa Ta đói, các ngươi đã
không cho ăn; Ta khát. các ngươi đã không cho uống; Ta là khách lạ, các ngươi không tiếp rước; Ta trần truồng, các ngươi đã không cho mặc; Ta đau yếu và ngồi tù, các ngươi đã không thăm nom(Mt 25,42-43).
 
          3. Lời đáp trả của ta.
        Đứng bên cạnh nấm mồ của thân nhân, chúng ta thấy thương tiếc vì họ không còn ở với chúng ta nữa. Nhưng nấm mồ nằm bất động ở đây cũng nhắc nhở cho chúng ta biết cuộc đời như bông hoa sớm nở chiều tàn, chúng ta kẻ trước người sau cũng sẽ vào nằm trong đó. Chúng ta vào nằm trong đó chỉ như đứa con nằm trong lòng mẹ hay nằm trong Lòng Thiên Chúa ?  Điều này làm chúng ta suy nghĩ và phải quyết tâm sống đời thánh thiện hơn bằng cách làm mọi việc bổn phận cho đầy đủ vì lòng mến Chúa như một vị tu sĩ đã làm : Một tu sĩ nọ được giao nhiệm vụ may vá. Ngày kia thầy ngã bệnh nặng. Trong lúc hấp hối, Thầy nói :”Hãy đưa cho tôi chìa khóa thiên đàng”. Những người quanh giường bệnh bối rối nhìn nhau không hiểu Thầy muốn gì.  Nhưng một Thầy hiểu ý đưa cây kim cho Thầy. Tu sĩ ấy mỉm cười hài lòng.  Cây kim mà Thầy dùng mỗi ngày để may vá cho mọi người trong cộng đoàn chính là chìa khóa mở cửa thiên đàng cho Thầy. (Drikwater).
Vậy hôm nay đứng cạnh ngôi mộ thân nhân,  anh chị em có ý nghĩ gì và quyết tâm sẽ làm gì trong tương lai ?
Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt

 
 

AnTáng 73: HÀNH TRANG CHO ĐỜI SAU

HÀNH TRANG CHO ĐỜI SAU AnTáng 73

I. SUY NIỆM LỜI CHÚA.
 

Thiên Chúa yêu  thương con người, đã dựng nên con người, cho họ xuất hiện trên trần gian. Ngài AnTáng 73

Thiên Chúa yêu  thương con người, đã dựng nên con người, cho họ xuất hiện trên trần gian. Ngài còn ban Con Một của Ngài đến cứu chuộc con người sau khi đã sa ngã phạm tội. giúp con người thoát ách tội lỗi và sự chết ,ø đem con người về hưởnh vinh quang cùng Đức Kitô như lời Ngài phán :”Nếu Thầy đi dọn chỗ cho các con, thì Thầy lại đến, và đưa các con về với Thầy, để Thầy ở đâu, các con cũng ở đó “(Ga 14,3).
          Trong thư mục vụ gửi cho tín hữu Roma, thánh Phaolô tông đồ khuyên nhủ :”Không ai trong chúng ta sống cho chính mình, cũng như không ai chết cho chính mình. Chúng ta có sống là sống cho Chúa, mà có chết cũng là chết cho Chúa” (Rm 14,7-8).
          Cuộc sống ở trần gian này chỉ là một cuộc hành trình về quê trời. Cuộc hành trình này thường trải qua bốn giai đoạn : sinh, lão. bệnh tử, nhưng cũng  có người không theo trình tự ấy mà lại đốt giai đoạn.  Và chúng ta cũng có thể rút gọn lại thành ba giai đoạn với ba ý nghĩa :
                             SINH ra là lên đuờng
                             SỐNG là tiến bước trên đường
                             CHẾT là tới quê hương.
          Vậy chết là kết thúc cuộc hành trình ở trần gian mà tiến sang một cuộc sống khác : cuộc sống hạnh phúc trường sinh.  Chết là một phương tiện cần thiết để bước vào cuộc sống mới. Thánh Phaolô tông đồ cũng nói :”Chúng ta biết rằng : nếu ngôi nhà của chúng ta ở dưới đất, là chiếc lều này, bị phá hủy đi, thì chúng ta có một nơi ở do Thiên Chúa dựng lên, một ngôi nhà vĩnh cửu ở trên trời, không do tay người thế làm ra. Chúng tôi luôn mạnh dạn, và chúng tôi biết rằng : ở lại trong thân xác này là lưu lạc xa Chúa... Vậy, chúng tôi luôn mạnh dạn, và điều chúng tôi thích hơn, đó là lìa bỏ thân xác để được ở bên Chúa” (2 Cr 1.6.8).
          Trong kinh Tiền tụng Thánh lễ cầu cho người qua đời có câu :”Đối với chúng con là những tín hữu, sự sống thay đổi chứ không mất đi, và khi nơi trú ngụ trần gian này bị tiêu hủy, chúng con được về hưởng hạnh phúc vĩnh cửu trên quê trời”.
          Đối với các tín hữu, chết là đi về quê trời, nhưng như thánh Tông đồ dân ngoại cảnh báo :”Tất cả chúng ta sẽ phải ra trước toà Thiên Chúa, vì có lời chép rằng :”Đức Chúa phán : Ta lấy sự sống Ta mà thề : mọi người sẽ phải qùi gối lạy Ta, và mọi miệng lưỡi phải xưng tụng Thiên Chúa”.  Như vậy, mỗi người trong chúng ta sẽ phải trả lời về chính mình trước mặt Thiên Chúa” (Rm 14,10b-12).
II. TRẢ LỜI VỀ CHÍNH MÌNH.
          Khi học sách giáo lý Bổn đồng ấu của Đức Cha Hồ ngọc Cẩn có câu : Hỏi : Bốn sự sau là sự gì ? Thưa : bốn sự sau là sự chết, sự phán xét, thiên đàng và hỏa ngục.  Như vậy sau khi chết thì con người sẽ phải ra trình diện Chúa Giêsu để chịu phán xét, tức là trả lời về chính mình trước mặt Chúa về cuộc sống đã qua.
          Thiên Chúa trao cho chúng ta cuộc sống ở thế gian này để chúng ta quản lý chứ không phải làm chủ, không phải muốn làm gì thì làm, mọi sự phải được làm trong khuôn khổ. Chúa ban cho ai bao nhiêu nén bạc thì phải làm lợi ra theo số lượng đã được giao phó theo như dụ ngôn Chúa Giêsu đã nói với người Do thái. Ai làm lợi ra sẽ được thưởng, còn ai lười biếng không chịu làm việc để sinh lời lãi hay làm hao hụt vốn liếng Chúa giao cho thì sẽ bị phạt theo nguyên tắc :
                             Hữu công tắc thưởng
                             Hữu tội tắc trừng.
          Thánh Phaolô nhắc nhở :”Chúng ta có sống là sống cho Chúa” (Rm 14,8)  Đây là nguyên tắc cho cuộc sống của người tín hữu.  Vậy trong cuộc đời này chúng ta đã làm gì cho Chúa ? Chúng ta đã dùng thời giờ làm những việc gì có ích cho tha nhân là hình ảnh của Chúa :”Những gì các ngươi làm cho anh em, đó là làm cho chính Ta” (Mt 25,40). Đòi sống là thời gian để chúng ta chuẩn bị hành trang cho đời sau.
          Có người không chịu chuẩn bị hành trang, đến giờ chết chỉ còn biết phàn nàn .  Cách đây không lâu, một nhà buôn bên Pháp qua đời. Ông giầu lắm. Đời ông chỉ sống để kiếm lợi, vui chơi. Đến khi bệnh nặng thành câm, ông luôn thở dài chán nán, rồi trước khi chết, bảo đem lại một mảnh giấy, để viết câu cho người ta khắc nơi cửa mộ ông :
         “Đây là mộ của một người dại dột, đã sống mà không biết tại sao mình sống.
           Ở những người còn sống, chớ gì sự vô phúc của kẻ khác mở mắt các ông”.
                                      (Nguyễn hài Đồng, Tự điển câu truyện, tr 136)
          Còn Đức Giáo hoàng Gioan 23 lâm bệnh lần cuối, không biết vì lý do gì mà các bác sĩ muốn giấu nhẹm sự nguy kịch của căn bệnh, họ bảo ngài chị bị chứng lở bao tử.  Nhưng Đức Gioan 23 biết rõ bệnh tình của mình hơn ai hết, vì thế ngài nói :”Tôi đã dọn sẵn hành trang”.  Những người đã dọn sẵn hành trang thì sẽ bình tĩnh trước giờ chết vì đối với họ, chết chỉ là cuộc vượt qua vào cuộc sống  mới tràn đầy hạnh phúc..
          Không những người Công giáo tin vào cuộc sống mai hậu, phải chuẩn bị hành trang cho cuộc sống đó, mà ngay những người ngoại giáo họ cũng có ý tưởng đó.  Trong băng nhạc “50 năm đời vẫn hát” của Khánh Ly, người giới thiệu bài hát đầu tiên là nhạc sĩ Trịnh công Sơn.  Ông nói tới sự quan trọng của việc “sống tử tế với nhau” bằng  một “tấm lòng tốt” đó. Theo ông thì nếu không có lòng tốt đó, ông đã không tồn tại đến nay.  Bài hát kết thúc băng nhạc là bài “Những gì đem theo vào cõi chết” của nhạc sĩ Phạm Duy. Bài này có nội dung như sau :
          Rồi mai đây tôi sẽ chết,
          trên đường về nơi cõi hết,
          tôi sẽ đem theo với tôi những gì đây ?
          Rồi mai đây, tôi hóa kiếp,
          trong lòng còn luyến tiếc,
          tôi sẽ đem theo với tôi những gì đây ?
 **
          Tôi không đem theo với tôi
          được tiền tài hay danh vọng.
          Tôi không đem theo với tôi
          được gái đẹp hay rượu nồng.
          Tôi không đem theo với tôi
          được lầu vàng hay gác tía.
          Tôi không đem theo với tôi
          mộng giầu sang phú quí.
          Tôi xin đem theo với tôi
          một nụ cười không nghi ngại.
          Tôi xin đem theo với tôi
          đôi mắt trẻ thơ đẹp ngời...
                (Thanh Thủy, Con đường tình yêu, tr 163)
          Ngạn ngữ Anh quốc có câu :
                   Điều tôi tiêu đi thì tôi có.
                   Điều tôi giữ lại thì tôi mất,
                   Điều tôi cho đi thì tôi được.
          Câu ngạn ngữ này nhắc cho chúng ta biết làm phúc bố thí vì giúp đỡ người khác là giúp đỡ chính mình. Đó cũng là khuôn vàng thước ngọc của Chúa Giêsu :”Cho thì có phúc hơn nhận lãnh”. Bởi vì cho người tức là trao tặng cho chính mình.
          Ngoài ra chúng ta còn một câu khác được khắc trên một mộ bia, tư tưởng cũng giống như câu ngạn ngữ Anh quốc nhưng rõ ràng hơn :
                   Cái gì tôi đã tiêu xài, bây giờ không còn nữa,
                   Cái gì tôi đã mua sắm, bây giờ tôi phải để lại cho người khác,
                   Chỉ cái gì tôi đã cho đi là còn thuộc về tôi.

          KẾT LUẬN
Đây là một chân lý : kẻ trước người sau chúng ta sẽ phải ra đi khỏi trần gian này để về đời sau.  Cuộc hành trình trên trần thế chấm dứt, nhưng phải có hành trang về đời sau. Tương lai nằm trong hiện tại, đời sau đã tiềm ẩn trong đời này.  Nếu người ta nói :”sống sao thác vậy” thì chúng ta cũng có thể nói là “đời này thế nào, đời sau
          Để kết luận, chúng ta nên suy nghĩ câ nói đầy kinh nghiệm của Stephan Leacock để chuẩn bị cho tương lai đang gần dđến :
          “Lạ lùng thay cái chuỗi đời người. Còn nhỏ thì ước được lớn lên. Lớn lên rồi, ước đến tuổi trưởng thành. Đến tuổi trưởng thành rồi, ước được một tổ ấm.  Được tổ ấm rồi, ước làm ông nội nghỉ ngơi. Được nghỉ ngơi rồi  lại nuối tiếc quãng đời quá khứ và cảm thấy một luồng gió lạnh đang rì rầm thổi tới. Nhưng khi ý thức được rằng đời sống chính là ở hiện tại, ở trong ngày hôm nay, thì đã quá muộn rồi”.
          Rõ ràng là :
                             Quá hiền nên vụng tính,
                             Tôi đã phá đời tôi !
                             Điên rồi khi vụt tỉnh,
                             Hạnh phúc đi xa rồi.
                                   (Huy Cận)
ưng người khôn ngoan trước khi lên đường phải sắm sẵn hành trang. Làm một cuộc hành trình dài hạn mà không sắm sẵn hành trang là một người điên dại. Tôi sẽ ra đi, nhưng tôi sẽ đem theo những gì ? Đó là câu hỏi chúng ta phải trả lời. Hãy nhớ lời cảnh báo của thánh Phaolô tông đồ :”Tất cả chúng ta đều phải được đưa ra ánh sáng, trước tòa Đức Kitô, để mỗi người lãnh nhận những gì tương xứng với các việc tốt hay xấu đã làm, khi còn ở trong thân xác” (2 Cr 5.10).
Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt


 

AnTáng 74: CHIỀU TÀ

CHIỀU TÀ AnTáng 74

I. GẶP CHÚA LÚC CHIỀU TÀ.
          Xin đọc : Lc 24,13-32.
 

Sau khi Đức Giêsu đã chịu chết trên thập giá và được táng trong mồ, các môn đệ trở nên hoang mang AnTáng 74

Sau khi Đức Giêsu đã chịu chết trên thập giá và được táng trong mồ, các môn đệ trở nên hoang mang, nao núng, thậm chí có ông thật vọng vì giấc mộng đã tan vỡ, không còn chỗ cậy dựa, tương lai trở nên đen tối. Trong số những người thất vọng đó, có hai ông, một ông tên là Cờ-lê-ô-pa. Hai ông này bỏ các môn đệ khác mà trở về quê cũ là làng Em-mau.
          Dọc đường hai ông bàn tán về việc Đức Giêsu đã chịu chết và cũng thắc mắc về việc về mấy phụ nữ và mấy tông đồ ra tham mộ mà không thấy Ngài ở đó và thiên thần bảo họ là Ngài vẫn sống, nhưng chính họ lại không thấy Ngài. Đức Giêsu đã hiện ra với họ. dưới hình dáng là một khách bộ hành, cắt nghĩa Kinh thánh cho họ hiểu ... Khi trời đã về chiều, hai ông  mời Đức Giêsu nghỉ lại qua đêm và dùng bữa. Trong khi ngồi ăn,  Đức Giêsu cầm lấy bánh, đọc lời chúc tụng, bẻ ra và trao cho hai ông. Bấy giờ các ông mới nhìn ra Chúa nhưng Ngài đã biến đi trước mắt các ông.
          Trong một ngày đi đường với Chúa, các ông không nhận ra được Chúa, chỉ khi chiều tà, các ông dừng lại và các ông mới nhìn ra Chúa.  Các ông nhìn nhận ra Chúa trong buổi chiều tà. Hình ảnh CHIÊU TÀ gợi lên cho chúng ta một suy tư nho nhỏ :Phải chăng chúng ta chỉ được gặp Chúa thực sự trong buổi chiều tà của cuộc đời ? Con người có sinh ra, lớn lên rồi chết, cũng như một ngày phải khởi đầu bằng bình minh, sang buổi trưa và tiến tới chiều tà. Cho nên, chết là một sự kiện hiển nhiên của con người : đã sinh ra thì phải có chết. Sinh ra là tiến dần đến chỗ chết cũng giống như hạt giống nảy mầm, lớn lên để sinh hoa kết trái rồi tàn lụi.
          Thực tế là như vậy, và mọi người sẽ phải trải qua. Nhưng chúng ta có nghĩ đến chiều tà của cuộc sống con người không hay chúng ta cứ sống như không bao giờ chết ? Chúng ta hãy suy nghĩ về buổi chiều ta của đời mình để sẵn sàng chờ đợi Chúa đến như năm cô trinh nữ không ngoan.
 
II. CHIỀU TÀ CỦA CHÚNG TA.
          “Chiều tà bóng ngả về tây” nhắc nhở cho chúng ta về ngày cuối cùng của đời con người, nó nhắc nhở và đưa ra cho chúng ta mấy bài học sau đây :
          1. Cuộc đời mong manh, vắn vỏi.
Một buổi chiều kia, tôi ngồi ngắm cảnh hoàng hôn, cây cối nhuộm ánh nắng vàng, mặt trời khuất dần sau rặng núi rồi tắt hẳn. Màn đêm bao phủ trái đất, mọi vật chìm trong u tối. Tôi mở máy cassette nghe nhạc, tình cờ nghe một bài hát của nhạc sĩ Tôn thất Lập, trong đó có câu:”Khi nghĩ về một đời người, tôi thường nhớ về một rừng cây”. Đây là một tư tưởng rất độc đáo và có tính cách triết lý, dùng phương pháp loại suy để đi từ một hình ảnh cụ thể sang một tư tưởng trừu tượng, từø một rừng cây sang một suy nghĩ về cuộc đời con người.  Hình ảnh rừng cây là một hình ảnh gần đúng về đời người vì trong một khu rừng có cây non cây già, có lá xanh lá vàng. Cây già thì dần dần sẽ tàn lụi, lá vàng sẽ rời khỏi cây xanh.
          Đây là một nhận định thực tế. Cuộc đời con người dẫu sống đến trăm năm, rồi cũng có lúc phải dừng lại, rồi cũng sẽ kết thúc trong “bốn dài hai ngắn” như  thi sĩ Nguyễn Du nói :
                                      Trăm năm còn có gì đâu,
                             Chẳng qua một nắm cỏ khâu xanh rì.
          Hình ảnh chiều tà và rừng cây nhắc nhở tôi về ý nghĩa của cuộc đời. Nó nhắc cho tôi cuộc đời rất vắn vỏi :”Tính tuổi thọ, trong ngoài bảy chục, mạnh giỏi chăng là được tám mươi” (Tv 90,10). Đời sống thật mỏng manh nó chỉ như  cỏ hoa sớm nở chiều tàn, một cơn gió thoảng đủ làm  nó biến đi, nơi nó mọc cũng không còn mang vết tích” (Đáp ca lễ an táng).
 
          2. Phải biết lo cho tương lai.
          Hình ảnh đó còn nhắc cho tôi phải biết sống khôn ngoan :”Xin dạy con biết đếm tháng ngày mình sống, ngõ hầu tâm trí được khôn ngoan” (Tv 90, 12).  Đang sống ở trần gian tôi phải hỏi mình hằng ngày : Tôi thuộc loại khôn ngoan hay khờ dại ? Dụ ngôn về năm người nữ khôn ngoan và năm cô trinh nữ khờ dại luôn nhắc cho tôi biết sự sống thay đổi chứ không mất đi và khi nơi nương náu ở trần gian này bị hủy diệt tiêu tan, thì lại được một nơi cư ngụ vĩnh viễn trên trời (Tiền tụng lễ an táng). Không ai được quên nguyên tắc này :”Cẩn tắc vô ưu” (cẩn thận thì khỏi phải lo).
          Chết chưa phải là hết, chết mà vẫn còn. Chết chỉ là kết thúc sự hiện diện ở trên trái đất này, nhưng lại mở ra một cuộc sống mới trên thiên đàng. Ngày xưa, tuy ông Hoài nam Tử chưa biết đến Chúa Giêsu, chưa biết đến đạo công giáo, mà cũng nói được một câu hay đáo để :”SINH KÝ TỬ QUI” : sống là sống gửi, chết mới là về.  Tử qui, chết là về.  Chết là trở về nơi mình đã rời bỏ nó. Vậy nơi chúng ta đã rời bỏ là nơi nào ?  Thánh Phaolô đã trả lời cho chúng ta :”Quê hương chúng ta ở trên trời, và chúng ta nóng lòng mong đợi Đức Giêsu Kitô từ trời đến cứu chúng ta. Người có quyền năng khắc phục muôn loài, và sẽ dùng quyền năng ấy mà biến đổi thân xác yếu hèn của chúng ta nên giống thân xác vinh hiển của Người” (Pl 3,20-21)
          Trong thư gửi cho tín hữu Corintô ngài còn cho biết thêm chúng ta đã có một ngôi nhà vĩnh cửu ở trên trời, muốn về đó, cần phải  lìa khỏi xác đất vật hèn này , khi ngài nói :”Chúng ta biết  rằng :  nếu ngôi nhà của chúng ta ở dưới đất, là chiếc lều này, bị phá hủy đi, thì chúng ta có một nơi ở do Thiên Chúa dựng lên, một ngôi nhà vĩnh cửu ở trên trời, không do tay người thế làm ra” (2Cr 5,1).

          3. Phải đầu tư vào Nước Trời.
          Hình ảnh chiều tà và rừng cây còn nhắc nhở cho tôi phải biết đầu tư vào Nước Trời ngay khi còn ở thế gian này. Người không ngoan là phải biết “tích cốc phòng cơ, tích y phòng hàn” (Tục ngữ), biết lo cho tương lai nghĩa là lo cho cuộc sống mai hậu.  Tư tưởng này đã được Chúa Giêsu nhắc nhở trong Tin Mừng :”Anh em hãy tích trữ cho mình những kho tàng trên trời, nơi mối mọt không làm hư nát và kẻ trộm không đào ngạch, khoét vách lấy đi” (Mt 6,20).
          Muốn triển khai tư tửong này, ta phải trở về với dụ ngôn cây vả :”Người kia có một cây vả trồng trong vườn nho mình. Bác ta ra cây tìm trái mà không thấy, nên bảo người làm vườn :”Anh coi, đã ba năm nay tôi ra cây vả này tìm trái, mà không thấy. Vậy anh chặt nó đi, để làm gì cho hại đất “? Nhưng người làm vường đáp :”Thưa ông, xin cứ để nó lại năm nay nữa. Tôi sẽ vun xới chung quanh, và bón phân cho nó. May ra sang năm nó có trái, nếu không thì ông sẽ chặt nó đi” (Lc 13,6-9).
          Phải chăng ta là cây vả được trồng trong vườn cây Hội thánh ? Chúa chờ đợi ta phải sinh hoa kết quả. Vậy cuộc đời con người từ khi sinh ra cho đến lúc chết đã làm được những gì cho Chúa và cho tha nhân ?  Ngày chết là ngày Chúa thu lượm hoa quả.  Cây nào sinh hoa trái tốt thì Ngài vun trồng, còn cây nào không sinh hoa trái thì bị chặt đi và ném vào lò lửa đời đời.
 
                             Truyện : Đồng bạc nhân nghĩa.
          Có một nhà phú hộ kia khi gần chết mà lòng vẫn chỉ nghĩ đến tiền của, một động lực đã thúc đẩy ông lao lực suốt cả cuộc đời. Dùng chút sức tàn còn lại, ông cố gỡ chiếc bao nhỏ đeo giấu ở cổ, lấy chiếc chìa khóa trao cho người tớ gái trung thành nhất, ra dấu chỉ chiếc rương nằm trong góc nhà và bảo cô lấy những túi tiền vàng bỏ vào quan tài của ông.
          Khi chết xong, ông sống cuộc đời mới ở thế giới bên kia, nơi đó người ta cũng ăn uống và tiêu tiền như trên trần gian vậy. Đứng trước một chiếc bàn dài đầy những cao lương mỹ vị, ông hỏi người bán hàng :
- Món hàng này bao nhiêu vậy cô”?
Cô bán hàng trả lời :
- Một xu, thưa ông.
          - Thế còn hộp cá mòi kia ?
          - Cũng một xu, thưa ông. Tất cả những thứ được bầy bán ở đây, cái nào cũng giá một xu.
          Nhà phú hộ thầm nghĩ :”Thế này thì bao giờ mới tiêu hết số vàng ta mang theo”. Ông chọn một đĩa thức ăn lớn với nhiều món ăn ngon nhất, rồi lấy một đồng tiền vàng ra trả, nhưng cô thu tiền không nhận. Cô ta vừa lắc đầu vừa nói :
          - Thưa ông, ông đã học được quá ít trong cuộc sống.
          Nghe thế, nhà phú hộ ngạc nhiên hỏi :
          - Thế đồng tiền vàng của tôi không đủ trả cho đĩa thức ăn này hay sao ?
          Cô bán hàng trả lời :
          - Không phải, ở đây, chúng tôi chỉ nhận những đồng tiền mà trong cuộc sống trước đây ở trần gian người ta đã dùng để làm việc lành phúc đức, giúp đỡ những người nghèo khó túng cực mà thôi.
 Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt


 

AnTáng 75: HÀNH HƯƠNG HY VỌNG

HÀNH HƯƠNG HY VỌNG AnTáng 75

I. DU LỊCH VÀ HÀNH HƯƠNG.
          1. Du lịch :
 

Ngày nay phương tiện giao thông rất thuận lợi cả đường bộ, đường thủy lẫn đường hàng không. Việc AnTáng 75

Ngày nay phương tiện giao thông rất thuận lợi cả đường bộ, đường thủy lẫn đường hàng không. Việc giao lưu trở nên dễ dàng nên người ta hay tổ chức những cuộc du lịch đến nhiều nước, nhiều miền để tham quan, học hỏi hay giải trí.  Môi trường bị ô nhiễm nhiều  nên người ta cũng thích tổ chức những cuộc du lịch sinh thái, có người thích mạo hiểm muốn tổ chức những cuộc du lịch lữ hành đầy gian khổ.  Có những cuộc hành trình đòi nhiều hy sinh, vất vả nhưng người ta vẫn vui thích vì đạt được mục đích.
 
          2. Hành hương.
          Song song với những cuộc du lịch người ta lại tổ chức những cuộc hành hương đến những di tích lịch sử để tham quan, nghiên cứu, học hỏi và cầu nguyện, ví dụ : hành hương về đất tổ Hùng ương tại tỉnh Phú thọ để tham quan, hay hành hương tới Giêruslem, Lộ đức, Fatima hay La vang để cầu nguyện.
          Nói tới hành hương là phải nói tơi đích nghĩa là đi đến đâu, để làm gì. Nơi đến là động lực giúp chúng ta làm một cuộc lữ hành có khi đầy gian khổ.
          Ngoài ra, chúng ta đang làm một cuộc hành hương tối hậu về quê trời. Không ai được thờ ơ với cuộc hành hương này vì hiện nay chúng ta là khách lữ hành đang trên đường tiến về quê hương của chúng ta.  Cuộc hành hương này phải được gọi là cuộc HÀNH HƯƠNG HY VỌNG, vì chưa biết ngày nào cuộc hành hương chấm dứt, nhưng chúng ta nắm chắc rằng chúng ta sẽ về tới đích.
 
II. HÀNH HƯƠNG HY VỌNG.
          1. Lý do của cuộc hành hương hy vọng.
          Triết gia Emmanuel Kant của Đức nói :”Sống trên đời, người ta phải có ba sự hiểu biết :
                                      . Biết cái gì ?
                                      . Muốn cái gì ?
                                      . Phải làm gì ?
          Đứng về phương diện thiêng liêng, chúng ta có thể qui ba sự hiểu biết ấy về ba nhân đức đối thần : tin, cậy, mến.   Ta chỉ nói tới đức cậy : HY VỌNG.  Con người sống trong hy vọng nhiều hơn là thực tế. Thực tế không thỏa mãn được những ước vọng của ta, còn hy vọng vạch ra cho ta một tương lai tốt đẹp, hấp dẫn, ví dụ một học sinh đang phải chăm chỉ học hành, vất vả nhưng hy vọng rằng ít lâu nữa mình sẽ có một mảnh bằng cử nhân, tiến sĩ, sẽ làm ông nọ bà kia... Ai cũng có quyền hy vọng như thế và phải hy vọng.
          Con người trên trần gian này luôn sống trong hy vọng vì chưa bao giờ tới đích là hạnh phúc tuyệt đối, chính hy vọng làm cho con người phấn khởi tiến lên như vua Charlemagne V đã từng nói:”Hơn nữa ! Hơn mãi ! Hơn nữa ! Hơn mãi mãi”.  Hy vọng là điểm tựa để ta tiến lên.
          Francois Mauriac nói :”Hy vọng là chiếc neo của cuộc sống. Kẻ khờ dại nào không có nó mà lại dám lên tầu vượt biển trần gian, nơi đầy dẫy bão táp và cuồng phong”.
          Vậy điểm tựa của niềm hy vọng chúng ta là gì ?  Đó là Lời Chúa . Những gì Chúa đã nói thì không bao giờ sai và phải được thực hiện :
          a) Chúa Giêsu phán :”Lòng anh em đừng xao xuyến ! Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy. Trong nhà Cha của Thầy có nhiều chỗ ở ; nếu không, Thầy đã nói với anh em rồi, vì Thầy đi dọn chỗ cho anh em. Nếu Thầy đi dọn chỗ cho anh em, thì Thầy lại đến, và đem anh em về với Thầy, để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó. Và Thầy đi đâu, thì anh em biết đường rồi” (Ga 14, 1-4).
          b) Thánh Phalô Tông đồ cũng nói để khuyến khích chúng ta :”Chúng ta biết rằng : nếu ngôi nhà của chúng ta ở dưới đất, là chiếc lều này, bị phá hủy đi, thì chúng ta có một nơi ở do Thiên Chúa dựng lên, một ngôi nhà vĩnh cửa ở trên trời, không do tay người thế làm ra. Chúng tôi luôn mạnh dạn, và chúng tôi biết rằng : ở lại trong thân xác này là lưu lạc xa Chúa, vì chúng ta tiến bước nhờ lòng tin chứ không phải được thấy Chúa... Vậy, chúng tôi luôn mạnh dạn, và điều chúng tôi thích hơn, đó là lìa bỏ thân xác để được ở bên Chúa” (2 Cr 5,1.6-8).
 
          2. Thực hành cuộc hành hương hy vọng.
          a) Sắp sẵn hành trang :
          Người Estonia có câu ngạn ngữ :”Cái chết ở trước mặt người già và sau lưng người trẻ”. Đúng vậy, tuổi già thì hay nghĩ tới sự chết vì thần chết đã tới gần kề.  Nhưng ai bảo người già luôn phải chết trước người trẻ vì không biết bao người trẻ đã phải nằm xuống trước người già trong khi chưa kịp chuẩn bị, nên người ta mới than
                                      Lá vàng còn ở trên cây,
                                Lá xanh rụng xuống có hay hỡi trời.
                                                (Ca dao)
          Giờ ra đi của mỗi người chúng ta đã được ấn định, không ai lường được vì giờ chết đến như kẻ trộm, chỉ có Chúa mới biết, nên hãy nghe lời Chúa dạy :”Anh em hãy canh thức, vì anh em không biết ngày nào, giờ nào” (Mt 25, 13).
          Muốn làm một cuộc hành trình thì phải sắm sẵn hành trang. Kẻ lên đường mà không có hành trang là kẻ khùng vì họ sẽ ngã qụy dọc đường, không thể tới đích được. Đức Gioan 23 lâm bệnh lần cuối, không biết vì lý do gì mà các bác sĩ muốn giấu nhẹm sự nguy kịch của cơn bệnh, họ bảo ngài chỉ bị chứng loét bao tử.  Nhưng Đức gioan 23 biết rõ bệnh tình của mình hơn ai hết, vì thế Ngài nói :”Tôi đã dọn sẵn hành trang”.
 
          b) Đón nhận gian nan thử thách.
Thánh Phalô tông đồ đã nhắc nhở cho chúng ta tưtưởng ấy trong thư gửi cho tín hữu Roma :”Những đau khổ chúng ta chịu bây giờ sánh sao được với vinh quang mà Thiên Chúa sẽ mạc khải cho chúng ta. Muôn loài thọ tạo những ngong ngóng đợi chờ ngày Thiên Chúa mạc khải vinh quang của con cái Người. Quả thế, muôn loài đã lâm vào cảnh hư ảo, không phải vì chúng muốn, nhưng là vì Thiên Chúa bắt chịu vậy ; tuy nhiên, vẫn còn niềm trông cậy là có ngày cũng sẽ được giải thoát, không phải lệ thuộc vào cảnh hư nát, mà được cùng với con cái Thiên Chúa chung hưởng tự do và vinh quang” (Rm 8,18-21).
          Không cuộc hành trình nào mà không có gian nan thử thách như mưa nắng, bão táp, nguy hiểm. Ra đi là phải chấp nhận những gian khô đó, nhưng có một điều an ủi là : sau quãng đường gian khổ ấy, ta sẽ tới đích.  Những kinh nghiệm hằng ngày đã giúp ta nhìn thấy rõ điều đó. Ví dụ : có nhiều người bị say xe mà muốn đi Sàigòn để dự lễ, để ăn cưới hay gặp lại người thân bao năm xa cách.  Họ biết rằng ngồi trên xe mà bị say xe là một cực hình đối với họ nhưng họ cứ lên xe xuống Sài gòn mặc dầu biết trước rằng cuộc hành trình này đầy gian khổ. Sở dĩ họ chấp nhận gian khổ vì hy vọng là sẽ được dự lễ hay đi ăn cưới.

          3. Kết thúc cuộc hành hương hy vọng.
          Trong cuộc lữ hành trần gian. ta phải chấp nhận cuộc sống đầy gian nan khốn khó vì “hạt giống có mục nát ra thì mới sinh hoa kết quả”. Chúng ta luôn nuôi hy vọng, mà hy vọng của chúng ta là sẽ về trời, nơi sẽ có “trời mới đất mới”. Nói như vậy thì xem ra viển vông nhưng thực tế vì Chúa đã phán như vậy. Chính hy vọng ấy sẽ làm cho ta hăng hái tiến bước trong cuộc lữ hành trần gian vì “Không có ai ngồi mát ăn bát vàng”.
          Hy vọng như thế không có nghĩa là cứ ngồi đó mà chờ đợi. “Trời mới đất mới” đó phải được xây dụng ngay ở trần gian này.  Bởi vì hạnh phúc mai hậu lệ thuộc vào công việc xây dựng của ta ở trần gian này.
 
                             Truyện : Giấc mơ của một bà giầu có.
          Một bà giầu có mơ một giấc mơ mà mọi người chúng ta có thể đã mơ như thế. Bà mơ bà ở trên Thiên đàng. Bà đi quanh một vòng và thấy một biệt thự rộng lớn đang được xây cất.
          Bà hỏi người dẫn đường cho bà :
          - Nhà này xây cho ai thế ?
          Thiên thần dẫn đường trả lời :
          -  Cho người làm vườn nhà bà đó.
          Người đàn bà giầu có đó rất đỗi ngạc nhiên, vì ở trần gian, người làm vườn nhà bà ở trong một túp lều nhỏ xíu, nhỏ đến nỗi không đủ chỗ cho cả gia đình ông ta nữa.
          Thiên thần nói, ở trần gian này, ông làm vườn này có thể ở một căn nhà khá hơn, nếu ông không quảng đại như thế.
          Thiên thần và bà giầu có tiếp tục đi thêm một chút nữa, thấy một túp lều lụp xụp đang dược cất lên.  Bà giầu có hỏi :
          - Nhà lụp xụp này cất cho ai vậy ?
           Thiên thần trả lời :
          - Cho bà đo.
          Bà giầu có trả lời :
          - Nhưng tôi ở một biệt thự rộng lớn kia mà, làm sao tôi có thể quen được với cảnh chui rúc trong một túp lều nhỏ bé thế này ?
          Thiên thần đáp :
          - Thưa, chúng tôi làm hết sức có thể, nhưng chúng tôi chỉ có thể dùng những vật liệu ở dưới đất gửi lên đây cho chúng tôi để xây cất mà thôi.
          Bà giầu có học được một bài học qua giấc mơ ấy và bắt đầu làm những việc thiện, tích trữ kho báu cho chính mình trên Thiên đàng.
                   (W.J. Diamond, Đồng cỏ non, 1968, tr 80-82)
          Nhân ngày ra đi của ông X, chúng ta hãy suy nghĩ về đời sống của ta, chúng ta đang trên đường lữ thứ trần gian để về quê trời, chúng ta đã có hành trang gì chưa, chúng ta đã chuẩn bị cho cuộc sống mai hậu chưa ?   Hãy tiếp tục suy niệm lời thư thánh Phaolô tông đồ gửi cho tín hữu Phii-lip-phê :”Quê hương chúng ta ở trên trời, và chúng ta nóng lòng mong đợi Đức Giêsu Kitô từ trời đến cứu chúng ta. Người có quyền năng khắc phục muôn loài, và sẽ dùng quyền năng ấy mà biến đổi thân xác yếu hèn của chúng ta nên giống thân xác vinh hiển của Người” (Pl 3, 20-21).
 Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt


 

AnTáng 76: CHIẾC GIƯỜNG

CHIẾC GIƯỜNG AnTáng 76

I. LỜI CHÚA : Mt 8,18-20.
Khi Chúa Giêsu vừa lên đường, một kinh sư chạy đến thưa với Ngài :”Thưa Thầy, Thầy đi đâu, tôi cũng xin theo”.  Đức Giêsu trả lời :”Con chồn có hang, chim trời có tổ, nhưng Con Người không có chỗ tựa đầu “(Mt 8, 18-220). Chúa Giêsu cho vị kinh sư biết : Ngài không có chỗ ở nhất định, nay đây mai đó.  Ngài còn tiết lộ cho biết khi kết thúc cuộc đời Ngài sẽ không có cái giường mà nằm, nếu có giường nằm thì Ngài sẽ có chỗ tựa đầu. Đàng này Ngài không có chỗ tựa đầu tức là không có giường để nằm, Ngài sẽ bị treo trên thập giá, không có chỗ tựa đầu.
 
II. CHIẾC GIƯỜNG CHO GIẤC NGỦ NGẮN HẠN.
 

Không ai trong chúng ta còn lạ với chiếc giường, dù tốt, dù xấu cũng là chiếc giường để nằm AnTáng 76

Không ai trong chúng ta còn lạ với chiếc giường, dù tốt, dù xấu cũng là chiếc giường để nằm ngủ.  Ai cũng muốn sắm cho mình một chiếc giường êm, tiện nghi để phục vụ cho giấc ngủ.
          Người ta thường  phàn nàn về cái giường không được êm ái hoặc tiếc nuối giấc ngủ khi đã đến giờ phải trỗi dậy. Cũng nhiều người không tiếc thì giờ, tiền của để trang bị cho cái giường ngủ những tiện nghi cao nhất nơi nó và chung quanh nó.
          Giấc ngủ là lúc đắp đổi cho thân thể những giờ phút thoải mái sau những giờ mệt nhọc và căng thẳng, và khi ấy, cái giường là phương tiện tốt nhất cho thỏa mãn trên. Khi đã quá mỏi mệt, người ta thường thốt lên :”Tôi chỉ thèm cái giuờng”.
          Cái giường chỉ là cái chõng tre hay bằng gỗ tạp của người nghèo, hoặc cái giường bằng vàng, bạc hay bằng ngọc ngà của các bậc vua chúa, tựu trung cũng chỉ là phục vụ cho giấc ngủ, giấc ngủ ngắn hạn từ tối đến sáng.
 
III. CHIẾC GIƯỜNG CHO GIẤC NGỦ DÀI HẠN.
          Hôm nay, tiễn đưa người thân của chúng ta đến nhà thờ lần cuối, rồi đưa vào một “cái giường” với một giấc ngủ của thân xác  bình thường, rất lâu để chờ ngày phục sinh, chúng ta cùng suy nghĩ về chỗ ngả lưng dài giấc ngủ này. Và sẽ thấy thật là khiếp sợ và đáng phải chuẩn bị biết là chừng nào !
          Một giấc ngủ bình thường, và sự thường, mong cho thư giãn để sáng mai thức dậy, tiếp tục công việc. Giấc ngủ này, chúng ta cũng chuẩn bị rất kỹ : đuổi muỗi, khóa cửa, mở quạt máy, giũ gối, chăn...  Chúng ta khó chịu vì vài con muỗi lắm chuyện, cứ vo ve bên tai làm cản trở giấc ngủ.
          Còn giấc ngủ dài hơn, và cái giường, người khác sẽ chọn cho mình, thì chúng ta hay chểnh mảng, ít sửa soạn.  Đó là cỗ quan tài người ta đặt chúng ta vào khi lìa đời. Một giấc ngủ, dầu muốn hay không muốn, làm bạn cùng bụi đất, lạnh lùng và cô đơn !  Không gian chỉ còn bằng đấy, vua chúa hay quan quyền, dầu cái giường đó bằng gỗ qúi hay gỗ thường, bằng vàng bạc hay ngọc thạch đi nữa, tựu trung cũng chỉ là cái giường cho giấc ngủ dài, không hơn không kém và bình đẳng.
 
IV. CHUẨN BỊ CHO GIẤC NGỦ DÀI HẠN.
          Cuộc đời là một cuộc hành trình đi về quê trời. Ai cũng phải làm cuộc hành trình đó : sinh ra, lớn lên, bệnh tật rồi chết. Như người ta nghĩ , cuộc đời thường phải đi qua 4 giai đoạn đó là : sinh, lão, bệnh, tử.
          Kết thúc cuộc đời là chết.  Nhưng chết rồi sẽ ra sao ? sẽ đi đâu ?  Chúng ta hãy nghe thánh Phaolô trả lời cho chúng ta khi ngài nói với tín hữu Phi-lip-phê :”Quê hương chúng ta ở trên trời, và chúng ta nóng lòng chờ đợi Đức Giêsu Kitô từ trời đến cứu chúng ta” (Pl 3,20).  Ngài còn nói với tín hữu Cô-rin-tô :”Chúng ta biết rằng : nếu ngôi nhà của chúng ta ở dưới đất, là chiếc lều này, bị phá hủy đi, thì chúng ta có một chỗ ở do Thiên Chúa dựng lên, một ngôi nhà vĩnh cửu ở trên trời, không do tay người thế làm ra” (2Cr 5,1)
          Trong một cuộc hành trình, bao giờ người ta cũng phải chuẩn bị : đi tới đâu, bằng phương tiện gì, mang theo những gì nghĩa là phải có hành trang.  Vậy trong cuộc hành trình đi về quê trời ta đã có hành trang gì chưa hay là ra đi với hai bàn tay trắng như thi sĩ nGuyễn công Trứ nói :”Đi không chẳng lẽ lại về không”.  Người ra đi với hai bàn tay trắng là một người dại dột. Họ không biết sống để làm gì rồi sao này sẽ ra sao.
 
                             Truyện : chiếc quan tài ở Tô châu.
          Tại chùa Tô châu bên Tàu có một nhà sư tên gọi là Viên thủ Trung nổi tiếng là tu hành đắc đạo.
          Nhà sư thường bầy trên án thư, trước chỗ ngồi, một chiếc quan tài con bằng gỗ bạch đàn, dài độ 3 tấc, có một cái nắp đậy, mở được.  Khách đến chơi trông thấy thường tò mò tra hỏi, nhà sư trả lời :”Người ta sống tất có chết, mà chết thì vào ngay cái này.  Tôi thực lấy làm lạ, người đời ai cũng chỉ biết phú qúi, công danh, tài sắc thị hiếu, lo buồn, vất vả suốt đời, chẳng biết đến cái chết là gì... Mỗi khi có việc không được như ý, tôi cầm lấy cái quan tài mà ngắm, tức khắc tôi cảm thấy được yên ổn trong tâm hồn ngay.
          Con người sở dĩ chạy theo tiền tài danh vọng đến độ chà đạp trên người khác là bởi vì con người không nghĩ đến cái chết đang rình rập sau lưng. Khi tử thần xuất hiện, thì con người không kịp mang theo bất cứ một tài sản nào. Cái chết chỉ trở thành đáng sợ khi con người còn quá nhiều dính bén với trần thế này. Trái lại, được ôm ấp suy gẫm mỗi ngày, cái chết sẽ trở thành một người bạn đồng hành giúp con người vượt qua được mọi chán chường, bận tâm thái quá... Trong tất cả mọi sự, người khôn ngoan phải luôn nghĩ đến cùng đích.
          Hôm nay, trong thánh lễ tiễn đưa người thân của chúng ta, và trong xác phàm, thì không bao giờ gặp lại.  Chúng ta cùng suy nghĩ và dâng lên Thiên Chúa lời cầu nguyện, để mỗi người mỗi ngày biết lo liệu, trang bị cho mình những sự cần để khi đặt lưng xuống “cái giuờng” sau cùng và lâu dài, thì không gì thiếu sót, quên lẫn.  Và lúc đó, chúng ta được ngả vào lòng êm ái của Thiên Chúa, chính Ngài mới là nơi an nghỉ thật, vì Ngài là mục đích thật mà mọi người sẽ phải tơi.
          Lạy Chúa Giêsu, nếu người thân của chúng con đây còn những thiếu sót nào cho việc chuẩn bị giấc ngủ dài của ngày hôm nay, cúi xin Chúa thương tha thứ và ban cho người thân chúng con đây được hưởng lòng nhân từ của Chúa ngay từ bây giờ. Amen.
 Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt


 

AnTáng 77: THÂN PHẬN CON NGƯỜI

THÂN PHẬN CON NGƯỜI AnTáng 77

I. LỜI  CHÚA.
          1. Sách Sáng thế.
 

Sau khi Adam Evà ăn trái cấm trái lệnh Chúa. Thiên Chúa ra hình phạt cho ông bà và con cháu, một AnTáng 77

Sau khi Adam Evà ăn trái cấm trái lệnh Chúa. Thiên Chúa ra hình phạt cho ông bà và con cháu, một trong các hình phạt là phải chết :”Ngươi phải đổ mồ hôi trán mới có bánh ăn, cho đến khi trở về với đất, vì từ đất, ngươi đã được lấy ra. Ngươi là bụi đất, và sẽ trở về với bụi đất” (St 3,19).
 
          2.ThánhPhaolô   .
        Trước cái chết thánh Phaolô tông đồ rất lạc quan. Ngài không sợ chết,Ngài vui đón nhận nó và coi nó như một hồng ân, khi Ngài nói với tín hữu Philipphê :”Đối với tôi, sống là Đức Kitô, và chết là một mối lợi” (Pl 1,21) vì chết là giải thoát khỏi thân xác, khỏi nơi giam hãm thế gian này để về với Chúa trên quê hương Nước Trời (x. Pl 3,20; 2Cr 5,6-7).
 
3.Bài Tin Mừng.                      
        Chết là một điều hiển nhiên, là một công lệ, không ai có thể thoát
khỏi tay thần chết và thần chết đến thật bất ngờ. Vì thế, Chúa Giêsu dạy chúng ta phải luôn sẵn sàng chờ đợi Ngài đến bất cứ lúc nào. Thái độ chúng ta phải có là luôn tỉnh thức. Ngài phán :”Anh em hãy thắt lưng cho gọn, thắp đèn cho sẵn. Hãy làm như những người đợi chủ đi ăn cưới về, để khi chủ vừa về tới và gõ cửa, là mở ngay. Khi chủ về và thấy những đầy tớ ấy đang tỉnh thức, thì thật là phúc cho họ. Thầy bảo thật anh em : chủ sẽ thắt lưng, đưa họ vào bàn ăn, và đến bên từng người mà phục vụ. Nếu canh hai hoặc canh ba ông chủ mới về, mà còn thấy họ tỉnh thức như vậy, thì thật là phúc cho họ” (Lc 12,35-38).
 
II. MỌI NGƯỜI ĐỀU PHẢI CHẾT.
1. Trong lịch sử.
Trên thế giới này có biết bao vĩ nhân, biết bao anh hùng cái thế đã
sống trước chúng ta. Còn đâu một César của đế quốc La mã, còn đâu Alexandre đại đế của Hy lạp, còn đâu Tần thũy Hoàng của Trung hoa vĩ đại, còn đâu Thành Cát Tữ Hãn của Mông cổ, còn đâu Trần hưng Đạo, Lê Lợi. Quang Trung của Việt nam ? Tất cả đã vang bóng một thời và nay chỉ còn trong sử sách, đúng như cổ nhân đã nói :
                             Nhân sinh tự cổ thùy vô tử
                             Lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh
                                      (Văn thiên Trường)
                             Con người từ cổ ai không chết
                             Để lại lòng son rạng sử xanh.
 
2.Trong đời sống hằng ngày
             Trên thế giới  ngày nay và chung quanh chúng ta mỗi ngày
có biết bao nhiêu người chết : không phân biệt giàtrẻ, lớn bé, nam nữ, người trí thức hay người bán khai, thậm chí có những đứa trẻ đã chết khi chưa lọt lòng mẹ. Ai ai ccũng phải nhận lấy cái lưỡi hái của tử thần vì thần chết là người thợ không ngủ trưa và không một chút thương hại. Bởi thế người ta nói :
Rắn già rắn lột,
Người già chui tuột vô săng.
 
Truyện : thủy thủ và nhà kinh doanh.
Nhân chuyến tham quan con tàu buôn lớn, một nghà doanh nghiệp hỏi người thủy thủ :
-          Ông của anh làm nghề gì và chết ở đâu ?
Người thủy thủ thưa :
-          Ông của tôi làm nghề thủy thủ và chết vì đi biển.
Nhà doanh nghiệp lại hỏi :
-          Vậy cha của anh làm nghề gì và chết ở đâu ?
Người thủy thủ thưa :
-          Cha tôi cũng làm nghề thủy thủ và cũng chết vì đi biển.
Nhà doanh nghiệp bỡ ngỡ hỏi :
-          Thế mà anh dám làm nghề thủy thủ, và hằng ngày đi biển sao ?
Người thủy thủ hỏi lại nhà doanh nghiệp :
-          Xin hỏi : Ông của ngài làm nghề gì và chết ở đâu ?
Nhà doanh nghiệp trả lời :
-          Ông tôi làm doanh nghiệp và chết trên giường.
Người thủy thủ lại hỏi :
-          Vậy cha của ngài làm nghề gì và chết ở đâu ?
Nhà doanh nghiệp trả lời :
-          Cha tôi cũng làm doanh nghiệp và chết ở giường.
Người thủy thủ tỏ vẻ bỡ ngỡõ và hỏi :
-          Thế mà ông dám làm nghề kinh doanh, và mỗi đêm dám ngủ trên giường sao ?
Câu truyện trên đây nhắc ta : mọi người sang, hèn, giầu, nghèo, giỏi dốt, ở bất cứ nơi đâu,
làm bất cứ nghề nghiệp gì, thì rồi cũng có ngày phải bỏ cõi đời này để trở về thế giới bên kia.
 
          3.Thái độ äcủa ta
            Chúa Giêsu đã nhắc nhở ta về sự chết, về việc Chúa đến bất ngờ vào ngày giờ ta không ngờ.  Chúa sẽ đến với ta bất ngờ như kẻ trộm. Cho nên thái độ của ta là phải tỉnh thức và sẵn sàng chờ Chúa đến.
          Muốn cho giờ chết được êm ái, nhẹ nhàng, thanh thản, không phải bồn chồn lo lắng, cần phải dọn mình luôn. Các thánh nhân đã nhận lấy cái chết một cách bình tĩnh và vui tươi vì cho giờ chết là kết thúc cuộc lữ hành trần gian để về bên Chúa hưởng vinh phúc đời đời :
                             Như đôi chim tìm về khe đá,
                             Người lữ khách vui tới quê nhà.
                                    (Thánh vịnh  78,16)
          Tục ngữ Việt nam có câu :”SINH DỮ TỬ LÀNH”.  Khôâng biết anh chị em nghĩ thế nào ? Theo tôi nghiên cứu thì dân gian người ta tin tưởng rằng : đêm nằm mơ, nếu mơ sự sinh đẻ thì đó là điềm xui; còn mơ đến sự chết thì đó là dấu lành. Không biết đấy có phải là mê tín dị đoan không, nhưng người ta cứ tin như vậy, nên mới có câu : sinh dữ tử lành.
          Trường hợp của ông (bà) X cũng đúng với ý nghĩ của nhiều người vì ông đã qua một thời gian dài (80 tuổi) ở trần gian, ông đã phải chịu bao khổ đau, bệnh tật hành hạ....  nay mọi sự đã chấm dứt.  Giờ chết là giờ giải thoát, là giờ sinh ra trong Nuớc Trời.
          Chúng ta tưởng nhớ đến ông X hôm nay, cầu nguyện cho ông và nhân dịp này chúng ta phải ghi nhớ và luôn suy niệm Lời Chúa :”Các con hãy sẵn sàng vì không biết giờ nào, ngày nào Con Người sẽ đến” (Mt 24,44).
 Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt


 

AnTáng 78: LỄ AN TÁNG ( Cụ già)

LỄ AN TÁNG ( Cụ già) AnTáng 78

Hôm nay chúng ta tụ họp nhau nơi đây để tiếp đón cụ... lần cuối cùng nơi ngôi nhà thân yêu của AnTáng 78

Hôm nay chúng ta tụ họp nhau nơi đây để tiếp đón cụ...      lần cuối cùng nơi ngôi nhà thân yêu Giáo xứ chúng ta đây, và để cùng với cụ, dâng lời cảm tạ Chúa, về những chuỗi ngày mà cụ đã được sống trên trần gian này, trước khi chúng ta tiễn đưa cụ ra đi theo tiếng gọi của Chúa.
Sự ra đi của cụ không những là một mất mát lớn lao đối với con cháu, mà còn là một sự thiệt thòi cho cộng đoàn giáo xứ này, bởi vì từ nay Giáo xứ đã mất đi một thành viên, chuyên thực hiện việc xây dựng Giáo xứ bằng những lời cầu nguyện và những hy sinh đếøn từ tuổi tác và bệnh tật. Những hy sinh và những lời cầu nguyện ấy, tuy âm thầm, nhưng lại có sức kéo ơn Chúa cho Giáo xứ chúng ta thật mãnh liệt.
Tôi vừa nói việc ra đi của cụ ...         là một mát mát cho gia đình cũng như cho Giáo xứ, nhưng chúng ta lại được hãnh diện, bởi vì người thân yêu này của chúng ta đã trung thành với Chúa trong suốt cả gần một thế kỷ. Chính thời gian đó đã là một chiến công thật lớn lao và vẻ vang của người anh hùng này rồi.
Tuy nhiên trong cuộc chiến kéo dài này, hẳn người thân yêu của chúng ta không khòi có những lầm  lỗi. Vì thế, giờ đây chúng ta cùng hợp ý với để cầu xin ơn tha thứ những lổi lầm đó cho người anh hùng này.
“NẾU HẠT LÚA MÌ RƠI XUỐNG ĐẤT MÀ KHÔNG THỐI ĐI THÌ NÓ SẼ CHỈ TRƠ TRỌI MỘT MÌNH”
(Ga.12, 23-28) 
Năm 1922, một nhóm các nhà khảo cổ, sau biết bao nhiêu công lao tìm kiếm, đào xới, họ đã khám phá ra được một ngôi mộ của hoàng đế TUT của Ai Cập. Bên cạnh xác của hoàng đế Ai Cập,  đã được chôn cất hơn 3.000 năm này, người ta thấy có một hũ đựng những hạt lúa mì, có lẽ đây là phần lương thực mà người ta dành cho hoàng đế chăng .
Thấy những hạt lúa mì cách đây hơn 3.000 năm, một nhóm chuyên viên về nông nghiệp, đã lấy một số những hạt lúa mì này, đem gieo xuống đất, và kết quả là những hạt này đã nẩy mầm.
Sau hơn 3.000 năm, vậy mà những hạt lúa mì này vẫn nằm trơ trơ, chỉ vì chúng không có đủ điều kiện, để mục nát đi hầu trở thành những cây lúa có thể sinh những bông hạt nặng trĩu.
Hạt giống phải mục nát đi để trở thành những cây mới, đó chính là hình ảnh của nguyên tắc :”Sự sống nảy sinh từ sự chết”.
Chết đi để được sống, đó là một chân lý muôn đời, thế nhưng rất ít người muốn để ý tới.
Thường thì chúng ta ai cũng muốn sống để làm nên sự nghiệp này, công việc kia, bởi vì khi đã chết rồi thì đâu còn làm được việc gì nữa. Thế nhưng trong thiên nhiên, cũng như trong lịch sử, chúng ta thấy, không thiếu gì những trường hợp, chết đi nhưng vẫn làm nên sự nghiệp, mà còn là sự nghiệp lớn lao nữa.
Làm sao lại có thể như thế được ? Thưa bởi vì, lắm khi Thiên Chúa đã dùng những điều mà con người cho là ngược đời, không thể hiểu được, để hoàn thành những chương trình tuyệt hảo của Ngài.
Nếu chúng ta tìm hiểu về đời sống của những con bướm đang bay lượn tung tăng trong những vườn hoa để vui chơi và để hút những giọt mật ngon lành tữ những đoá hoa ở trong vườn, hẳn là chúng ta sẽ thấy được chân lý trên đây. Thật vậy, trước khi trở thành những con bướm với muôn mầu sắc sặc sỡ, có thể bay lượn khắp đó đây, bướm đã phải trải qua một thời gian thật là đen tối, một thời gian tưởng chừng như đã chết, đó là thời gian bướm phải nằm trong ổ kén. Lúc đó bướm chỉ là một con sâu, nằm cuộn trong ổ kén, không ăn, không bò, mà chỉ nằm, hầu như bất động. Thế nhưng thời gian đó lại là điều tất yếu mà nó phải trải qua để trở thành bướm.
Nếu trong thiên nhiên đã như thế , thì trong lịch sử chúng ta cũng vậy.
Sử gia Tertulien ngày xưa đã quả quyết rằng:” Máu của các vị Tử Đạo là hạt giống sinh người tín hữu”. Thật đứng như vậy, cái chết của những người một lòng kính yêu Chúa, đã trở thành một yếu tố khích lệ cho sự phát triển của đạo Chúa.
Thế nhưng không có cái chết nào phát biểu chân lý chúng ta đang nói đây, rõ ràng cho bằng cái chết của Chúa Giêsu. Chính cái chết của Chúa Giêsu trên Thập Giá đã sinh lại biết bao nhiêu người trong ơn cứu rỗi.
Chết đi để được sống, chết đi để sinh nhiều kết quả, đó là một chân lý.
Thế nhưng cái chết của người thân yêu của chúng ta, vẫn làm cho chúng ta tan nát cõi lòng. Có điều là, đối với người Kitô hữu chúng ta, qua tiếng nức nở, nghẹn ngào, vì sự ra đi vĩnh viễn của người thân yêu, chúng ta vẫn còn nghe văng vẳng bên tai chúng ta những lời tuyên bố của Đấng quyền năng rằng: “Ai tin Ta thì dù có chết cũng sẽ được sống, và ai sống mà tin Ta sẽ không chết bao giờ”.
Nếu như vậy thì cụ...          chết làm sao được bởi vì suốt gần một thế kỷ cụ đã sống và tin Chúa ? Điều vừa xảy đến với cụ mà chúng ta gọi là chết, thực ra chỉ là một sự thay đổi môi trường sống.
Chút nữa đây, chúng ta sẽ tiễn đưa cụ...          tới nơi an nghỉ cuối cùng. Công việc mà chúng  ta gọi là mai táng cụ, đúng ra phải gọi là một cuộc gieo trồng. Chúng ta gieo trồng “hạt giống” này xuống đất để chờ đến một ngày mọc thành” cây”. Đó chính là ngày thân xác này được phục sinh.
Còn linh hồn của cụ lúc này vẫn sống và có lẽ giờ này đã được đón nhận vào trong gia đình của Thiên Chúa rối. Nhưng nếu cụ có phải nán chờ ở phòng chờ đợi của Thiên Đàng, thì hy vọng rằng lời cầu nguyện của chúng ta, nhất là thánh lễ mà hôm nay chúng ta dâng, chắc sẽ sớm đưa cụ vào trong nhà của Thiên Chúa.
Riêng với chúng ta, những người đang sống, chúng ta không phải đợi cho đến lúc như cụ ..           đây, chúng ta mới có thể chết đi cho được sống, mà chúng ta có thể chết đi trước khi chúng ta chết nữa.
Vậy chết đi trước khi chết nghĩa là gì ?
Cái chết đầu tiên mà chúng ta phải chết, đó là kể như mình đã chết trước mặt Chúa. Nhưng thế nào là chết đi trước mặt Chúa ?Như chúng  ta biết, người đã chết thì hoàn toàn bất động. Người đã chết không bao giờ tỏ ý phản đối những người còn sống, dù người ta có làmgì cho họ đi nữa. Người chết đi trước mặt Chúa phải trao phó hoàn toàn cuộc sống của mình cho Chúa, để cho Chúa điều khiển cuộc sống của mình. Khi ấy sẽ có rất nhiều thay đổi trong con người cũng như trong cuộc đời của chúng ta, nó cũng giống như hạt giống đã được gieo vào lonìg đất, sẽ chết đi, nhưng chết đi đểí nhận lại sự sống mới.
Dựa vào chân lý Chúa đã nêu ra trong Phúc Âm Thánh Gioan, chúng ta vừa cùng nhau chia sẻ mấy ý tưởng về sự chết, nhân cái chết của cụ ... Theo đó thì,”chết đi để được sống” và sống dồi dào phong phú hơn.
Nhưng cái chết trước tiên mà mỗi người chúng ta cần phải chết, đó là chết đi con người cũ của chúng ta, chết đi những dục vong xấu xa, để sống với con người mới, bằng một sức sống mới.
Đây là công việc chúng ta không thể tự mình làm được mà cần phải có sự trợ giúp của Chúa, qua những ân sủng Ngài ban, cũng giống như hạt giốỳng kia tự nó, nó không thể phát triển thành cây  được, mà nó cần phải được vùi vào trong lòng đất, để cho nó thối đi, mục nát đi, rồi sau đó mới thành cây được.
 Ước gì ngày hôm nay, chúng ta học được bài học trên đây, để chúng ta sẵn sàng chấp nhận những hy sinh trong cuộc sống theo Chúa của chúng ta. Được như thế, khi đến ngày nẩy mầm chúng ta sẽ là những thân cây có thân hình bụ bẫm, hứa hẹn một mùa trái sai trĩu đúng như lời Chúa phán : “Nếu hạt lúa mì thối đi thì sẽ sinh nhiều bông hạt”
HƯỚNG Ý LỂ AN TÁNG
 Hôm nay chúng ta họp nhau tại ngôi nhà chung thân yêu của Giáo xứ chúng ta, ngôi nhà mà chắc hẳn là trước đây ( Ông, anh,...) cũng đã góp công sức của mình vào việc xây dựng, bảo trì ngôi nhà chung này, để tiễn đưa ( Ông, anh ) ra đi về với Chúa.
Nói đến ra đi là nói đến chia ly. Mà đã chia ly thì không có một cuộc chí ly nào mà lại không có nước mắt. Tiễn chân một người lên đường để đoàn tụ với gia đình ở nước ngoài mà còn giọt vắn giọt dài, thì huống chi là tiễn đưa một người ra đi vĩnh viễn, không bao giờ gặp lại nữa.
Nhưng đối với chúng ta, những người có niềm tin, thì qua đau thương gây nên bởi sự mất mát người thân thương, chúng ta vẫn còn tìm được ở ngay trong nỗi đau thương đó, một niền an ủi, một sự bình an, bởi chúng ta tin rằng, chết chính là lúc chúng ta được sinh lại vào trong cõi trường sinh.
Giờ này, chúng ta cùng nhau dâng thánh lễ cầu cho ( TT ), Xin cho cuộc ra đi này của ( Ông, anh...) mau đạt tới đích.
Chúng ta cũng đừng quên cầu xin ơn an ủi và nâng đỡ cho những người thân thương của ( TT), đặc biệt là cho (cha mẹ,vợ con ) của (TT).Xin cho những người này có thể nhận ra được ý nhiệm mầu đầy yêu thương của Chúa qua việc ra đi của (TT)
Với ý hướng đó, chúng ta cùng nhau bắt đầu Thánh lễ hôm nay với việc bầy tỏ lòng thống hối về những lỗi lầm và thiếu sót  của chúng ta

 

AnTáng 79: Chết là nhiệm màu huyền bí

Chết là nhiệm màu huyền bí AnTáng 79

Trong đời sống con người, mỗi chúng ta đều đã có lần tham dự vào các dịp lễ hiếu, hỉ; thời gian AnTáng 79

Trong đời sống con người, mỗi chúng ta đều đã có lần tham dự vào các dịp lễ hiếu, hỉ; thời gian sống lâu trên cõi đời này thì đi dự các dịp lễ đó nhiều lần trong đời, sống ít năm, ít tuổi thì đi dự ít lần. Trong thời gian khoảng hơn một tuần lễ, nơi một cộng đồng nhỏ không đông, định cư trong một đất nước hòa bình, ít gặp các tai ương bởi thiên nhiên vậy mà đã mất đi hai người ở vào độ tuổi thanh xuân, quả là một xúc động lớn lao cho những người còn ở lại.

Sự sống, sự chết, gần gũi nhau như bước qua một ngưỡng cửa. Mới gặp nhau hôm nào, tuần trước, hôm trước, trước đây mấy giờ, chào hỏi thân thương, nói cười vui vẻ, không có dấu chứng nào báo hiệu sẽ xẩy ra sự chết. Nhưng tuần sau, hôm sau, sau vài giờ, đã nhận được hung tin: anh A, chị B chết rồi! Lạ nhỉ, mới gặp đây mà, có bạo bệnh gì đâu? Đâu có bị những bệnh dễ chết như: tim mạch, cao máu.v.v…

Đúng, đời sống con người từ đang hiện hữu, đang sống, bước sang một kiếp khác, chẳng khác nào như người ở trong nhà bước qua khuôn cửa để đi ra ngoài, hoặc như người ở ngoài bước qua khuôn cửa để vào trong nhà. Ngắn ngủi, lẹ làng, đơn giản. Nhưng lại được phủ kín, ngăn cách bởi một bức màn đầy bí mật. Bí mật cho đến hiện nay con người đã có mặt hàng triệu năm trên địa cầu, đã có bao tỷ người sống và chết rồi, con người vẫn chưa hiểu cặn kẽ về người đã chết như thế nào?

Xác khi nằm bất động rồi, nhưng hồn của họ sẽ đi vều đâu? Và hồn hay tâm là gì?

Theo niềm tin của một số tôn giáo thì mỗi con người đều có một linh hồn, mà linh hồn thì bất tử. Khi Thiên Chúa làm nên con người đầu tiên là A-Dong và E-Và, và ban cho sự sống (Sáng Thế Ký chương 1 và 2). Khi thân xác còn sống, trong thân xác có hồn, và hồn thì thiêng liêng và bất tử, khi hồn ra khỏi xác thì xác sẽ bất động, xác chết, không còn sự sống nữa, các bộ phận trong cơ thể ngưng không làm việc, thể xác bất động tiến dần đến thời kỳ tự huỷ diệt, rữa, thối và tan biến đi, với thời gian, nếu không thiêu đốt thì cũng chỉ trăm năm là hoàn toàn biến hóa trở lại tình trạng nguyên thủy là bụi đất.

Trong các mầu nhiệm người ta tin hiện nay thì mầu nhiệm sự chết là mầu nhiệm huyền bí mà hầu như từ người vô thần đến kẻ có niềm tin đều có cùng một xắc tín là thật màu nhiệm.

Mầu nhiệm sự chết là mầu nhiệm yêu thương: khi một người trong gia đình nằm xuống, mọi người trong nhà đều cảm thấy mất mát một cái gì, cảm thấy thương mến, tiếc thương vô cùng, người trong cùng một cộng đồng, cộng đoàn, những người quen biết cảm thấy xúc động khi nhận được tin báo tử, nhất là người chết đó có những đức tính dễ mến, dễ thương từ nơi gia đình đến ngoài xã hội, có tinh thần phục vụ người thân, cộng đồng, cộng đoàn vô vị lợi. 
Mầu nhiệm sự chết là mầu nhiệm hợp nhất: đứng trước mầu nhiệm sự chết, con người dễ san bằng những tranh chấp hơn thiệt, những đố kỵ, ghen tương, dễ đạt được một đồng thuận. 
Mầu nhiệm sự chết là mầu nhiệm tha thứ: đứng trước mầu nhiệm sự chết giúp con người ai nấy đều nghĩ lại thân phận của mình, hôm nay bạn nằm xuống, mai lại đến lần tôi, sự chết không một ai tránh khỏi, và sự chết cũng không miễn trừ cho ai, từ đấng quân vương quyền qúy cho đến người lê thứ nghèo hèn, khi xuôi tay, nhắp mắt nằm xuống đều như nhau, tổ chức tang to, lễ lớn, hay giản dị đơn sơ thì cũng chỉ là nghi thức chôn cất một thân xác rã mục, không còn hồn thiêng bất tử ở trong. Cho nên người còn sống dù có không hài lòng với nhau, có bất bình mâu thuẫn với nhau, đôi khi nghịch nhau đến thù hận sinh tử, khi đến gần một quan tài, con người có thể bắt tay làm hòa, có thể bỏ qua, tha thứ mọi kình địch đã xẩy ra trong qúa khứ. Cho nên trong dân gia Việt Nam có câu: " Chưa thấy quan tài chưa đổ lệ'. 
Trong một xã hội được gọi là văn minh lịch sự,nhưng con người lại nhìn nhau hay phân biệt ngôi thứ, đẳng cấp, giầu nghèo, mặc đồ đẹp, đi xe đẹp, có tài sản, chen nhau tranh chức, tranh quyền, đua nhau chạy trước để làm cho nhanh có tiền, sớm đạt cho nhanh đến mục đích giầu có hơn người. Nhưng đứng trước màu nhiệm sự chết, đứng trước cỗ quan tài, người ta như khựng lại và tự hỏi. Vậy hả? Đích điểm cuối cùng trong cuộc tranh đua hơn thiệt là đây! Đây mới là chân lý. Chân lý của sự chết chẳng chừa một ai! 

Các nhà truyền đạo của các tôn giáo truyền thống, đều lập đi lập lại cho đồng đạo, cho người đồng thời còn sống khi đứng trước màu nhiệm sự chết là: đời hiện tại còn có đời sau, cần chuẩn bị hành trang để đi vào thế giới bên kia, hành trang đó, mỗi người chúng ta đều có thể sắm sẵn cho mình được, nó vừa tầm tay, vừa túi tiền, hợp với khả năng mỗi người. Đó là tu thân, tạo nhân tốt, sống theo lời khuyên của tôn giáo: 

Với những tín đồ tin vào thuyết luân hồi; tin sự sống khởi sự bắt đầu là do cha mẹ, và được tạo thành do bốn yếu tố: đất, nước, gió và lửa. Sau khi từ giã cõi đời ta bà (sinh, bệnh, lao, tử) này; ta sẽ phải đi đầu thai ở một kiếp khác. Muốn cho kiếp sau dược sung sướng tốt lành hơn ở kiếp ta bà này thì mỗi người cần phải tu thân, tao nhân tốt, vì giống tốt thì mới sinh ra qủa tốt ở kiếp sau.

Còn những tín đồ theo Kitô giáo thì đạo dậy:

Chớ giết người. 
Chớ ngoại tình. 
Chớ thề thốt. 
Chớ trả thù. 
Đừng ly dị. 
Đừng xét đoán. 
Hiếu thảo với mẹ cha. 
Làm việc thiện kín đáo. 
Phải yêu đồng loại, yêu cả kẻ thù, vì chỉ yêu kẻ yêu mình thì có ích chi. 
Lẽ tất nhiên phải Yêu mến Thượng Đế hết lòng và giữ các giáo huấn của Ngài.

Tài sản vật chất không thể mang theo sang thế giới bên kia, không thể mang theo khi màu nhiệm sự chết đến. Lời rao giảng được vang vọng nhiều lần ở nhiều dịp khác nhau, và thường xuyên được rao giảng trong mỗi lần tiễn biệt, trong các dịp lễ an táng người thân, người quen xuống lòng đất, vào lo hỏa táng; liệu có âm vang trong lòng mỗi người thân, người quen của kẻ đã bước vào sự chết, có còn lưu lại trong tâm hồn người hiện diện một sự nhắc nhở "cũng sắp đến lượt tôi chết", nên tôi phải ngưng những tư tưởng, hành vi bất chính, bắt tay ngay vào việc phúc, việc thiện để kịp có tý gì là phúc, là đức, tạo được nhân tốt cho chuyến ra đi sắp đến.

Mỗi ngày trong cộng đồng, cộng đoàn của chúng ta, tang lễ cứ tăng dần lên theo tỷ lệ thuận với mức sinh sản tự nhiên; có sinh thì lại có tử, tuy mức sinh có tăng hơn mức tử, nhờ vào các phương tiện khoa học đã tiến bộ, có đầy đủ thuốc men và được săn sóc, nên số tử vong của trẻ sơ sinh giảm, tuổi thọ tăng. Nhưng cũng chỉ đến mức 120 tuổi là tối đa, số người sống đến tuổi này thực rất hiếm hoi. Còn tất cả chúng ta, mấp mí 100 tuổi cũng đã là hiếm, thọ đến 70, 80, 90 tuổi được cho là đại thọ.

Có một điều, sự chết lại không phân biệt ở tuổi nào, 10, 15, 20, 25, 50, 60 tuổi; thời gian nào, ban ngày hay ban đêm; mùa đông hay mùa hè, ở nhà hay ở ngoài đường, nơi đang nghỉ hè hay lúc đang ở trong phòng trọ nơi đất khách quê người; cứ đến thời điểm "được gọi" hay "bị gọi" là cất bước ra đi, có người không kịp chuẩn bị bất cứ hành trang gì, kể cả một lời trăn trối với người thân, nhất là ở lớp tuổi còn xuân thì.

Người cẩn trọng và phòng xa, mỗi khi đi dự lễ tang của người thân, hay quen, thì cứ coi như " nay người mai sẽ đến lượt tôi", để có tâm tình chuẩn bị, đón màu nhiệm sự chết đang đến với mình. Mang được tâm tình và cái nhìn ấy, cộng đồng, cộng đoàn nho nhỏ của mỗi nơi sẽ tìm lại được nét thân thương như buổi ban đầu; mừng, vui mỗi khi được gặp, thấy nhau, sẽ có không khí yêu thương đầm ấm, không còn có cái nhìn lạnh lùng, xa cách như nhìn một người lạ khác chủng tộc. Đó cũng là bước đầu tạo nhân, tạo phúc vậy.


 

AnTáng 80: Chết như thế nào

Chết như thế nào AnTáng 80

Một nhà diễn thuyết bắt đầu buổi nói chuyện bằng 1 câu hỏi " Nếu phải chết, bạn muốn chọn 1 cái AnTáng 80

Một nhà diễn thuyết bắt đầu buổi nói chuyện bằng 1 câu hỏi 

" Nếu phải chết, bạn muốn chọn 1 cái chết như thế nào: Chết nhẹ nhàng, nhanh chóng hay đau đớn và từ từ?" 

Đám đông ồn ào vì câu hỏi kỳ quặc. Ai mà chẳng muốn 1 cái chết nhẹ nhàng và nhanh chóng, vì vậy mà mọi người đều chọn nó. 

Khi mọi người đều đã chắc chắn với quyết định của mình rồi, nhà diễn thuyết mới tiếp tục: 

"Tôi cũng từng chọn giống như các bạn vậy. Cho đến 1 ngày, khi cha của tôi lâm bệnh nặng. Ông phải trải qua những cơn đau khủng khiếp, kéo dài ngày này sang ngày khác. 

Chúng tôi rất thương yêu ông nhưng cũng ko muốn ông phải chịu đau đớn như vậy. Chỉ có cách giải thoát cho ông càng sớm càng tốt thôi. Mẹ tôi nói với cha tôi điều đó. Ông nhìn bà hồi lâu rồi nói: 

“Tôi đau lắm chứ, hơn ai hết tôi là người muốn giải thoát cho chính mình thoát khỏi những cơn đau. Nhưng tôi vẫn muốn sống, chỉ để nhìn các con tôi đi làm về chào bố, các cháu tôi chào ông mỗi buổi sáng. Để chúng ôm hôn tôi trước khi đi ngủ. Để mỗi sáng dậy tôi còn được nhìn thấy ánh mặt trời, để nghe tiếng sóng biển từ xa vọng về. Với bà và các con, điều đó thật đơn giản, nhưng với 1 người như tôi thì thật khó khăn. Tôi ko còn thời gian để làm những điều đó nữa. Dù đau đớn nhưng tôi bằng lòng vì tôi có thể mang đi những gì tươi đẹp nhất của cuộc sống mà tôi đã ko bao giờ nhận ra...“

Các bạn thân mến, chúng ta luôn tiếc thời gian với gia đình, với chính bản thân mình. Ta luôn ngại phải nói những lời yêu thương với người thân chúng ta. Chúng ta luôn đuổi theo những ước mơ, những khát vọng tương lai và nghĩ rằng, đạt đuợc chúng mới là điều hạng phúc. Tất nhiên điều đó ko sai. Nhưng khi chúng ta ko còn thời gian nữa, chúng ta lại đuổi theo những thứ ngay bên cạnh mà mình đã bỏ quên. mà thời gian thì chẳng bao giờ chờ ai... 

Hãy sống với những gì bạn đang có, yêu thương và quan tâm đến xung quanh. Đừng bỏ qua thời gian quý báu mà bạn đang có. Hãy để ngày mà chúng ta nhắm mắt, ta có thể mỉm cười mà nói rằng: 

“Tôi ko hối hận, tiếc nuối những ngày tháng đã qua....... Tôi ko phải đau đớn, dằn vặt mình vì bất cứ điều gì nữa"


 

AnTáng 81: Suy ngẫm thể xác - linh hồn dưới góc nhìn triết học duy tâm

Suy ngẫm thể xác - linh hồn dưới góc nhìn triết học duy tâm AnTáng 81

Theo triết học duy tâm, ý thức quyết định vật chất. Dưới góc nhìn đó, chúng ta sẽ tìm hiểu rõ hơn AnTáng 81

Theo triết học duy tâm, ý thức quyết định vật chất. Dưới góc nhìn đó, chúng ta sẽ tìm hiểu rõ hơn về thể xác và linh hồn.
Thể xác con người là vật chất và linh hồn thật sự là ý thức của con người. Mỗi con người, đều có 2 phần là thể xác và linh hồn. Theo triết học duy tâm, linh hồn sẽ quyết định thể xác. Thể xác chỉ là cái áo không hơn không kém, chỉ khác rằng nếu cái áo bình thường thì con người có thể thay ra mặc lại, còn cái áo cao cấp này thì không thay đổi cho đến cuối đời. Như vậy, so với linh hồn, thể xác rất thấp bé, không giá trị. Thể xác chỉ tồn tại trong một khoảng thời gian, nhưng linh hồn sẽ tồn tại vĩnh cửu.
Nhiều nhà triết học cũng đã nhấn mạnh linh hồn vĩnh cửu, ví dụ như Decater có nói “Tôi tư duy là tôi tồn tại”. Sự tồn tại của con người thực chất là sự tồn tại linh hồn chứ không phải tồn tại về thể xác. Thật vậy, một người có thể chết đi theo quan niệm “cái chết” thông thường nhưng có thể họ sẽ sống mãi trong lòng của mọi người, đối với mọi người họ không bao giờ chết. Đó là sự tồn tại vĩnh cửu linh hồn họ trong ý thức của người khác. Ngoài Decater, nhà triết học Platon cũng đã đề cao linh hồn, ông cho rằng tri thức đích thực không thể nhận biết được nếu không dùng tư duy con người (linh hồn nhận thức tri thức). Ông coi thường những giác quan của con người (được tạo ra từ thể xác). Đối với ông tri thức đích thực sẽ không nhận thức được bằng giác quan thông thường. Giống như người viết bài này, việc nhận thức “thể xác và linh hồn” cũng dựa vào tư duy chứ không dựa vào cảm giác
Dưới góc nhìn triết học duy tâm, phần nào con người đã không được sống thật với chính bản thân, với chính linh hồn vì đã bị cái thể xác ràng buộc. Chẳng hạn, vì thể xác, con người ta phải cần cái ăn, cái mặc, nếu không ăn thì thể xác không tồn tại, nếu không mặc thì thể xác trở nên xấu xí. Từ đó dẫn đến người ta đòi hỏi ăn ngon mặc đẹp…Dẫn đến sự tranh đua, sự ham muốn, … Điều đó phải chăng đã góp phần giết chết linh hồn? Và tất cả những điều đó phải chăng chỉ để bồi dưỡng cho thể xác tầm thường?
Con người chung sống với nhau trên trái đất, có mối liên hệ với nhau. Nhưng trong cuộc sống đó, mối liên hệ đại đa số là mối liên hệ về thể xác. Ví dụ: 2 anh em trong cùng một gia đình sống chung với nhau từ nhỏ đến lớn, chỉ vì một miếng đất tranh giành nhau làm cho tình cảm anh em bị mất. Ở đây vật chất tầm thường (là miếng đất) đã tạo ra tấm màn che phủ linh hồn của 2 người làm cho sự ham muốn của thể xác đấu tranh lẫn nhau, sự ham muốn nào cao thì thể xác đó sẽ giành chiến thắng. Đó là sự sống giả tạo, sự sống không ý nghĩa. Trong phạm vi hạn hẹp của bài viết chỉ đưa ra một ví dụ, tuy nhiên trong thực tế có rất nhiều ví dụ khác nữa.
Tất cả mọi người đều có cái áo là thể xác, đều bị thể xác ràng buộc. Nhưng sự ràng buộc ở người này ít hơn sự ràng buộc ở người khác, vì ở một số người linh hồn đã chiến thắng được thể xác, họ sống bằng chính linh hồn. Ví dụ: người biết xúc động trước một hoàn cảnh khó khăn, người chăm sóc cho những người bệnh HIV, một người tật nguyền đã vượt qua số phận để sống, một người sẵn sàng hi sinh bản thân vì người khác…
Trong thế giới thực tại, thực sự chỉ tồn tại vật chất – ý thức – hiện tượng, trong đó hiện tượng là sự ràng buộc giữa vật chất – vật chất, vật chất – ý thức, ý thức – ý thức. Trong đó sự ràng buộc giữa ý thức – ý thức có thể cũng do vật chất tạo nên, do đó sự sống của con người là một sự sống hư vô, ảo tưởng. Theo góc nhìn duy tâm, vì ý thức quyết định vật chất nên sẽ không có một công cụ, máy móc nào đo được, kiểm tra được ý thức (hay linh hồn) của con người vì tất cả các công cụ đo đều được làm từ vật chất, ý thức – linh hồn của mỗi người chỉ do mỗi người tự kiểm tra, cảm nhận và tự làm chủ. Cùng với triết học, khoa học tâm linh sẽ đi tìm câu trả lời linh hồn của con người sẽ đi về đâu khi linh hồn thoát khỏi cái áo giả tạo? Liệu có một thế giới mà không bị sự ràng buộc bởi vật chất? Và trong thế giới đó liệu rằng có hờn ghen, yêu thương, giận dữ? Con người làm sao để có thể làm chủ chính bản thân, làm sao để sống thực, sống bằng linh hồn không để thể xác ràng buộc?...
Cuộc sống chúng ta chỉ có ý nghĩa khi chúng ta sống bằng chính linh hồn. Mọi người phải biết thương yêu, che chở, giúp đỡ lẫn nhau, không ghanh ghét, không đua đòi, không kì thị lẫn nhau. Chính mỗi người trong chúng ta phải góp phần làm cho xã hội này tốt đẹp hơn. Xin kết thúc bài viết bằng câu sau để cho mỗi người có những cảm nhận riêng:
“Một con én không làm nổi mùa xuân, nhưng nếu mọi con én đều nghĩ như vậy thì sẽ không có mùa xuân”

 

AnTáng 82: Hoa đời dâng Chúa

Hoa đời dâng Chúa AnTáng 82

Tháng Các Linh Hồn - Suy Niệm
Lm.Jos Tạ duy Tuyền
 

Có một bài hát sinh hoạt được hát như sau: “mỗi người là một nụ hoa cùng đem về đây góp gió AnTáng 82

Có một bài hát sinh hoạt được hát như sau: “mỗi người là một nụ hoa cùng đem về đây góp gió, làm thành vườn hoa muôn màu muôn sắc tươi xinh. Mỗi người là một cành hoa, cùng đem về đây góp gió, làm thành vườn hoa, vườn hoa, vườn hoa chúng mình”. Bài hát đơn sơ nhưng nói lên ý nghĩa cuộc đời thật thi vi. Cuộc đời của chúng ta là một cành hoa: Hoa lan, hoa huệ, hoa cúc, hoa hồng … Hoa nào cũng đẹp. Hoa nào cũng có cách thể hiện mình giữa đời thật nên thơ và hữu ích. Nụ hoa muôn màu như con người với những thể xác, cá tính, nhân cách khác nhau. Nụ hoa muôn vẻ như con người mỗi người một vẻ, mười phân vẹn mười.
Hôm nay, Hội thánh mừng kính các thánh nam nữ như là những bông hoa đầu mùa trong vườn hoa mà Thiên Chúa vun trồng. Hội thánh là vườn ươm. Thiên Chúa đã ra công vun trồng cho cây hoa lớn lên trong ân sủng, trong sự chăm sóc tận tụy của Ngài. Các thánh là những bông hoa luôn quy về hướng mặt trời để nhờ mặt trời ban sức sống, chăm sóc, dưỡng nuôi nên vẹn tuyền. Các thánh luôn cần lòng từ bi, ân sủng của Chúa chữa lành những thương tích do mối mọt tội lỗi gây ra. Các thánh cũng như những bông hoa luôn được chăm sóc tỉ mỉ khỏi những cám dỗ tội lỗi, những vương vấn bụi trần.
Như vậy, sẽ có bao nhiêu vị thánh hôm nay chúng ta mừng kính? Thưa, có rất đông. Bởi vì ai cũng có thể nên thánh. Ai cũng được mời gọi nên thánh. Nên thánh là ơn gọi mà Thiên Chúa đã tiền định: “Anh em hãy hoàn thiện như Cha anh em ở trên trời là Đấng hoàn thiện”. Nên thánh không khó. Nên thánh là làm theo ý Chúa, là sống trong ân nghĩa cùng Chúa. Nên thánh không phụ thuộc vào giai cấp, không tính theo năng lực. Nên thánh tùy theo ơn gọi và hoàn cảnh của mình. Như những bông hoa muôn sắc, dù là hoa nhỏ bé hay to lớn, dù là loài hoa không hương không sắc nhưng vẫn là đóa hoa đáng yêu, đáng quý và đáng được nâng niu. Các thánh nam nữ cũng thuộc mọi tầng mọi lớp xã hội. Có thể các ngài thuộc hàng giáo sĩ nhưng cũng có thể là hàng giáo dân. Các ngài có thể là cha mẹ, là anh em, là bè bạn của chúng ta. Các ngài là những người đã nỗ lực hoàn thiện mình trong ân thánh Chúa. Các ngài không vương vấn tội lỗi. Các ngài không để những đam mê làm chủ. Các ngài luôn chọn Chúa hơn là những tạo vật trần gian. Các ngài cũng có thể là những tội nhân được ơn trở lại như kẻ trộm trên cây thập giá. Các ngài cũng có thể từng có những lầm lỡ nhưng biết đứng dậy sau những lần vấp ngã. Điểm chung của các ngài là đã được chết trong ân sủng và tình thương của Chúa.
Nhìn lại cuộc đời của Chúa Giê-su, với ba mươi ba năm dương thế, Chúa Giê-su đã lôi kéo bên Ngài những bông hoa đầu mùa của Hội thánh thật giản dị, âm thầm, và đơn sơ. Một bác thợ mộc thành Nagiaret, luôn tận tụy với công việc và gia đình. Một Maria đơn sơ chân thành, dám nói lời xin vâng ngay cả khi chẳng biết điều gì sẽ đến trong ngày mai. Một Phê-rô, Simon . .. những ngư phủ chất phác, đầu hôm sớm mai trên biển cả đã bỏ thuyền chài mà đi theo Chúa. Một Gia-kêu, Madalena, là những tội nhân đã được ơn hoán cải trở về. Một người trộm lành đã ra đi bình an trong lời tha thứ đón nhận của Đấng tạo thành ...
Và hôm nay, những khuôn mặt phản chiếu hình ảnh của các thánh dường như vẫn tiếp tục tỏ hiện trong dòng đời dương thế hôm nay. Họ có thể là cha, là mẹ chúng ta, những con người đang khổ sở vì chúng ta, đang hy sinh từng ngày cho chúng ta. Họ có thể là những người lao công đang dệt đời mình trên công trường hay trên nương đồng với hy sinh, tận tụy hoàn thành nhiệm vụ và trách nhiệm của mình. Họ có thể là những người bất hạnh bởi tai nạn, bởi nghèo đói, hay những bệnh nhân đang đón nhận thập giá Chúa gửi với lời xin vâng thẳm sâu. Vâng, những vị thánh đó vẫn đang sống, đang đồng hành với chúng ta trong cuộc sống. Họ đang hiến tế đời mình trong những đau khổ trần gian, trong những hy sinh từ bỏ, trong quảng đại dấn thân hết mình vì anh em đồng loại. Họ có thể chưa hát bài ca chiến thắng như các thánh nam nữ trên trời nhưng cuộc đời họ đáng là thánh vì họ luôn yêu mến Chúa trên hết mọi sự và yêu mến tha nhân như chính mình. Họ đã dám sống một cuộc đời mà người ta bảo rằng: “Người trồng cây phúc người chơi – Ta trồng cây hạnh để đời về sau”.
Nguyện xin các thánh nam nữ đã được sống trong ân nghĩa cùng Chúa cầu thay nguyện giúp cho mỗi người chúng ta luôn nhận ra tình thương của Chúa để biết sống đền đáp ân tình Chúa ban. Xin giúp cho mỗi người chúng ta biết gìn giữ ân sủng cao quý là con cái của Chúa bằng việc sống thanh sạch, và can đảm dũ bỏ bụi trần mê muội. Xin cho mỗi người chúng ta biết đón nhận ý Chúa qua việc vui với phận mình và chu toàn bổn phận làm người và làm con Chúa. Amen

 

AnTáng 83: Các Thánh Nam Nữ

Các Thánh Nam Nữ AnTáng 83

Tháng Các Linh Hồn - Suy Niệm
St
 

Chúng ta đặc biệt suy tư về sự thánh thiện mà mọi người đều có thể đạt được trong mọi hoàn cảnh AnTáng 83

Chúng ta đặc biệt suy tư về sự thánh thiện mà mọi người đều có thể đạt được trong mọi hoàn cảnh cuộc sống. Và để đạt được mục tiêu ấy, chúng ta phải thực hành giáo lý Hiệp Thông Các Thánh. Giáo Hội mời gọi chúng ta hướng về hàng ngũ đông đảo các thánh nam nữ thuộc mọi thành phần đã theo sát Chúa Kitô trên trần gian và hiện nay đang hoan hưởng thánh nhan Người trên thiên quốc. Ngày lễ này đã được thiết lập từ thế kỷ VIII.
Nên thánh trong đời sống thường ngày.
Chúng ta hãy vui mừng trong Chúa và mừng lễ để tôn vinh tất cả các thánh. Chúng ta hãy hợp với các thiên thần trong lời chúc tụng hân hoan dâng lên Con Thiên Chúa.
Hôm nay chúng ta nhớ lại lời Đức Gioan Phaolô II đã nói về kho tàng chân lý phong phú của Kitô Giáo trong phụng vụ, đặc biệt là trong ngày lễ Các Thánh. Theo đó, nguồn mạch mọi thánh thiện là chính Thiên Chúa. Theo đó, chúng ta sống mầu nhiệm Hiệp Thông Các Thánh qua Chúa Kitô một cách đặc biệt. Mục tiêu của ơn cứu độ phổ quát được biểu thị trong Thánh lễ. Đó là nguồn mạch sự thánh thiện cho tất cả những ai cố gắng sống Tám Mối Phúc Chúa Giêsu đã rao giảng. Trong thánh lễ, chúng ta tìm được niềm cậy trông bền vững vào tương lai vinh quang và cả chìa khóa để tìm ra tương quan giữa đau khổ và ơn cứu độ. Đức Giáo Hoàng đã nhấn mạnh: Khi chúng ta cầu nguyện trong kinh Nhập Lễ, chiều kích căn bản của ngày lễ chúng ta mừng kính hôm nay là niềm vui: ‘Chúng ta hãy vui mừng trong Chúa và mừng lễ để tôn vinh các thánh.’ Kinh nghiệm ấy tương tự như những điều chúng ta cảm hưởng được trong một gia đình đông đúc, nơi chúng ta cảm thấy thân thương như ở nhà. Trong đại gia đình này, gồm có các thánh trên thiên đàng và những người còn sống đang nỗ lực tiến đến sự thánh thiện.
Hôm nay, Mẹ Giáo Hội mời gọi chúng ta đặc biệt nhớ đến những vị đã trải qua các gian truân và cám dỗ tương tự như chúng ta trên đường dương thế, nhưng hiện nay đang hưởng phúc trên trời. Có một đoàn rất đông, không ai có thể đếm nổi, từ mọi quốc gia, mọi chi họ, và mọi ngôn ngữ. Trong bài đọc Một hôm nay, chúng ta đọc như thế, Họ được đóng dấu trên trán như những tôi trung của Thiên Chúa. Giáo Hội tôn nhận nhiều vị thánh thuộc đủ mọi lứa tuổi và điều kiện sống. Hằng năm, chúng ta nhớ đến các ngài và nhờ các ngài cầu bầu cho nhiều nhu cầu khác nhau của chúng ta. Dấu ấn các ngài lãnh nhận và áo trắng các ngài rửa trong máu Con Chiên là biểu hiện của phép Rửa Tội. Bí tích khai tâm này làm cho chúng ta được tháp nhập vào Chúa Kitô, cuộc sống ân sủng này sau đó còn được đổi mới và thăng tiến nhờ các bí tích khác, nhất là bí tích Xá Giải và Thánh Thể. Việc lành cũng góp phần làm tăng triển kết quả việc được thông phần vào bản tính thần linh Chúa trong cuộc sống hiện tại của chúng ta.
Hôm nay, chúng ta vui mừng và nài xin các thánh nam nữ, những người đã đến thiên đàng sau khi vượt qua cuộc đời này phù trợ cho chúng ta. Có lẽ trong khi còn sống, các ngài đã làm những công việc giống như chúng ta. Các ngài có thể là thợ thủ công, nhân viên văn phòng, giáo sư đại học, thương gia, thư ký, v.v…. Chắc hẳn các ngài cũng phải đương đầu với những khó khăn tương tự như chúng ta và đã phải bắt đầu đi bắt đầu lại nhiều lần, giống như chúng ta phải nỗ lực hằng ngày.
Giáo Hội không đề cập đầy đủ danh tính các thánh trong lễ qui. Nhưng nhờ ánh sáng đức tin, chúng ta hiểu rằng các ngài tạo nên một toàn cảnh huy hoàng về những con người nam nữ, qua việc không mệt mỏi thực thi những công việc hằng ngày trong vườn nho Chúa. Sau khi đã sống cuộc đời âm thầm chẳng được ai biết đến, và có thể còn bị những người quyền cao mạnh thế hiểu lầm, các ngài đã được Thiên Chúa đón nhận. Các ngài là những người thợ khiêm tốn, nhưng vĩ đại, đối với công cuộc phát triển nước Chúa trong lịch sử. Tóm lại, các ngài là những con người, nhờ ơn phù trợ của Thiên Chúa, đã biết cách giữ gìn và hoàn tất lý tưởng thánh thiện đã được lãnh nhận khi chịu phép Thánh Tẩy.
Chúng ta được mời gọi hãy vươn đến một đức ái hoàn thiện, đó là cuộc chiến chống lại các đam mê xấu và những khuynh chiều buông tuồng. Chúng ta phải luôn nỗ lực để tu chỉnh, bởi vì sự thánh thiện không tùy thuộc vào bậc sống – độc thân, có gia đình, góa bụa, linh mục – nhưng vào sự đáp ứng với ơn Chúa ban cho từng người. Giáo Hội nhắc nhớ mọi người, kể cả người công nhân đảm đương công việc và người mẹ tận tụy với gia đình, hãy phấn đấu nên thánh qua việc chu toàn bổn phận hằng ngày của mình.
Thật an ủi khi nhận thấy những người đã từng sống với chúng ta trước đây ít lâu hiện giờ đang được chiêm ngưỡng thánh nhan Thiên Chúa. Chúng ta vẫn liên đới với họ nhờ tình thân ái và tình cảm sâu sắc trong mầu nhiệm Hiệp Thông Các Thánh. Từ trời cao, các ngài sẽ phù hộ chúng ta, và chúng ta nhớ đến các ngài trong niềm vui và xin cầu bầu cho chúng ta. Hôm nay, chúng ta mượn lời thánh nữ Têrêxa để cầu nguyện cùng các phúc nhân thiên đàng: Ôi các đấng thánh thiện, các ngài quá biết cách để chuẩn bị tiếp nhận một gia nghiệp quí đẹp như thế, xin phù giúp chúng con, bởi vì các ngài rất gần gũi nguồn mạch mọi sự thánh thiện. Xin kín múc cho chúng con nước uống vì chúng con đang chết khát.
Ơn gọi nên thánh phổ quát.
Trong ngày đại lễ hôm nay, chúng ta cầu nguyện trong kinh tiền tụng: Lạy Cha, hôm nay chúng con mừng lễ của thành thánh Cha là Jerusalem thiên quốc. Những anh chị em của chúng con là các thánh giờ đây đang chúc tụng Cha muôn đời quanh ngai tòa Cha và vinh quang của các đấng ấy làm cho chúng con được chan chứa niềm vui. Sự hợp nhất của chúng con với các ngài qua Giáo Hội Cha đem lại cho chúng con niềm phấn khởi và sức mạnh khi chúng con vội vã trên đường lữ hành đức tin, hăm hở được gặp gỡ các đấng ấy. Là tín hữu, chúng ta cũng là khách lữ hành trên con đường về trời. Trong khi đang tiến bước, chúng ta cần tích lũy những việc lành để một ngày kia có thể dâng tiến Thiên Chúa. Chúng ta nghe lời Chúa kêu mời thiết tha: Nếu ai muốn theo Ta…
Mỗi người đều được mời gọi sống đời Kitô hữu viên mãn qua công việc nghề nghiệp của mình. Thiên Chúa muốn tất cả chúng ta gặp được Người trong công việc được thực hiện tử tế và hoàn hảo với một cái nhìn siêu nhiên. Chúng ta khao khát Chúa, Đấng một ngày kia chúng ta sẽ được chiêm ngưỡng. Vì thế, chúng ta dâng hiến tất cả những hành vi của chúng ta cho Chúa, sống đức ái với tha nhân, quảng đại chu toàn công việc được ủy thác. Qua cuộc sống với Thiên Chúa, Cha chúng ta một cách thân mật, chúng ta có thể không ngừng làm cho tinh thần chiêm niệm của mình trở nên tinh tế giữa những hoạt động thường ngày. Chúng ta có thể nhiều lần lặp lại những bổn phận nào đó trong sự kết hợp với Chúa. Yêu mến Chúa và phụng sự Người không nhất thiết là phải làm những việc phi thường. Chúa Kitô đã đòi hỏi mọi người, không trừ ai, ‘Hãy nên trọn lành như Cha trên trời là Đấng trọn lành’ (Mt 5:48). Đối với đa số, nên thánh chỉ là thánh hóa công việc, bản thân, và tha nhân qua tất cả những hoàn cảnh của công việc. Như vậy, chúng ta gặp được Thiên Chúa trong tất cả những con đường của cuộc sống.
Các phúc nhân – các bà mẹ, các nhà trí thức, và các thợ thuyền - đã làm gì để chiếm được thiên đàng? Đó là vấn đề vô cùng quan trọng bởi vì chúng ta đều khát khao được sống bên Chúa muôn đời trên Nước Trời. Những ai kiên trì kết hợp với Chúa Kitô sẽ cố gắng thánh hóa các thực tại nhỏ mọn hằng ngày mà Thiên Chúa đã ưu ái xếp đặt trong cuộc sống. Nếu một lúc nào đó thiếu trung thành, chúng ta hãy lập tức chấn chỉnh và rồi tiếp tục trên con đường ngay chính. Đó là cách sống của chúng ta ở đời này.
Chiếm được thiên đàng là thách đố mà chúng ta - nhờ ơn Chúa - phải đương đầu mỗi ngày. May phúc thay, việc ấy lúc nào cũng liên quan đến nhiệm vụ hiện tại của chúng ta và những người Thiên Chúa muốn đặt để bên cạnh chúng ta. Chúng ta cần nhận thức rằng quyết tâm sống quảng đại và thánh thiện của chúng ta luôn luôn có một ảnh hưởng quan trọng đối với tha nhân. Nếu nhờ ơn Chúa và sự hỗ trợ của tha nhân mà chúng ta đạt được thiên đàng, thì chúng ta cũng không được vào vinh quang muôn đời một mình, nhưng phải lôi kéo nhiều người khác lên đó cùng với chúng ta.
Chúa Kitô là gương mẫu sự thánh thiện.
Nhiều phúc nhân hiện đang chiêm ngưỡng thánh nhan Chúa trên thiên đàng có lẽ khi còn sống đã không có dịp để thực hiện những việc vĩ đại. Tuy nhiên, các vị ấy đã chu toàn những phận sự hằng ngày một cách trọn hảo hết khả năng. Đôi khi họ cũng lầm lỗi – đầu hàng trước bất nhẫn, lười biếng, và kiêu ngạo – và có thể cũng sai phạm nặng nề. Tuy nhiên, các vị ấy đã mau mắn sám hối và nhờ bí tích Hòa Giải để bắt đầu lại. Các phúc nhân có những tâm hồn lớn lao và đã sống một cuộc đời có ý nghĩa, bởi vì các ngài biết hiến mình cho Chúa Kitô. Chúng ta rất cần đến lòng thương xót của Thiên Chúa trong cuộc hành trình về trời. Hoặc nhiều hoặc ít, mỗi người đều phải trải qua bệnh tật, thử thách và những lúc chán nản cần phải nỗ lực đặc biệt. Chúng ta có thể gặp thất bại hoặc thành công. Có lẽ các thánh cũng đã chảy nước mắt, nhưng các ngài hiểu biết và thực hành lời Chúa mà chúng ta đọc trong thánh lễ hôm nay: Hãy đến với Ta hỡi tất cả những ai khó nhọc và gánh nặng, Ta sẽ nâng đỡ bổ sức cho các ngươi. Các phúc nhân lúc nào cũng nương cậy nơi Chúa. Các ngài năng kính viếng nhà tạm để tìm sức mạnh cho bước đường lữ hành. Trong cuộc sống, tính cách của các ngài rất khác biệt, nhưng các ngài có một điểm chung: đó là sống yêu thương với mọi người chung quanh. Chúa Giêsu đã nói: Cứ dấu này mà người ta nhận biết các con là môn đệ Thầy là các con yêu thương nhau. Đó là mẫu số chung của các thánh, những vị giờ đây đang hưởng kiến Thiên Chúa.
Vô số bè bạn đang đợi chờ chúng ta trên quê trời. Gương sáng các ngài chiếu giãi và giúp chúng ta dễ dàng nhìn được điều chúng ta phải thực hiện. Các ngài có thể giúp chúng ta bằng lời cầu nguyện, lời cầu nguyện thần thế, lời cầu nguyện khôn ngoan, trong khi lời cầu nguyện của chúng ta thật yếu đuối và tăm tối. Khi nhìn lên bầu trời vào đêm tháng Mười Một và nhìn thấy một khoảng trời đầy sao lấp lánh, bạn hãy nghĩ đến vô số các thánh trên thiên đàng đang sẵn lòng giúp đỡ bạn. Các ngài sẽ làm cho chúng ta vui mừng giữa những thử thách gian truân chúng ta đang gặp phải. Đức Mẹ cũng đang chờ chúng ta trên quê trời. Mẹ giơ tay giúp đỡ và đưa chúng ta đến gặp Con Mẹ, và cả những người thân yêu của chúng ta đã ly trần cũng đang mong đợi chúng ta.

 

AnTáng 84 Bốn Bà Vợ

Bốn Bà Vợ AnTáng 84

- Suy niệm ngày Lễ Các Linh Hồn
Frère Trần An Phong
 

Một phú gia kia cưới đến 4 bà vợ. Ông ta rất thương bà vợ thứ nhất, mỗi khi kiếm được tiền là ông AnTáng 84

Một phú gia kia cưới đến 4 bà vợ.
Ông ta rất thương bà vợ thứ nhất, mỗi khi kiếm được tiền là ông liền mua sắm cho bà đủ thứ áo quần sang trọng, dẫn bà đi ăn tại các nhà hàng trứ danh. Không những thế, ông còn tung tiền mua sắm cho bà đủ thứ hột xoàn, trân châu. Bà muốn gì ông cũng chiều chuộng. Ông cưng bà như cưng trứng, hứng bà như hứng hoa!
Và mỗi lần đi họp, hay đi kinh doanh, ông đều sung sướng và hãnh diện mang theo bà vợ thứ hai. Ông luôn khoe bà với bà con lối xóm, với đồng nghiệp, khách hàng. Bà là niềm hãnh diện của ông!
Mỗi khi gặp khó khăn, cho dù lớn hay nhỏ, ông đều thủ thỉ, tâm sự với bà vợ thứ ba. Ông tin tưởng bà lắm, vì bà luôn là người cố vấn cho ông, một người cố vấn khôn ngoan, trung tín và đầy yêu thương. Bà thật là người bạn đời tri kỷ có một không hai trên đời!
Còn bà vợ thứ tư lại rất thương ông, thương ông tha thiết, thương ông nồng nàn, thương ông chứa chan. Nàng dành hết cả cuộc đời mình để lo cho cuộc sống của ông, sự nghiệp của ông. Nàng không từ chối một hy sinh nào cho chồng cả. Ngay cả những khi ông lầm lỗi, bà cũng can đảm thầm nhắc nhở, khuyên lơn, và rộng lòng tha thứ. Thế nhưng! Ông lại chẳng mấy khi để ý đến nàng.
Rồi một ngày kia, ông phát bệnh. Bệnh ung thư của ông đã đến thời cuối cùng, các bác sĩ đều bó tay. Biết mình chả còn sống được bao lâu, ông bèn cho mời các bà vợ đến để nói lời cuối cùng.
Bà thứ nhất mặc xiêm y lộng lẫy, nữ trang óng ánh, nước hoa lan tỏa khắp phòng, đến bên chồng đang hấp hối.
- Em, anh sắp chết rồi. Em là người anh yêu mến nhất, chăm sóc cho em từng li từng tí. Em có muốn theo anh về bên kia thế giới để chung sống, để lo lại cho anh không?
- Không!
Nàng lạnh lùng đáp.
-Anh đi đường anh, em đi đường em. Tình nghĩa đôi ta có thế thôi.
Nói xong, nàng ngoảnh mặt, vội vã bước ra khỏi phòng. Lời bà như một nhát dao đâm thấu tim ông!
Người phú gia vừa cố gắng nắm tay bà vợ thứ hai, vừa run run hỏi:
- Em, suốt đời anh, em là niềm hạnh phúc, là niềm kiêu hãnh của anh. Giờ đây anh sắp chết, em có muốn theo anh về bên kia, như hào quang chói sáng cho anh, như người tiến cử anh vào cuộc sống huy hoàng không?
- Không! Anh chết rồi, tôi sẽ cưới người khác. Tôi phải thuộc về người khác chứ! Ai lại theo kẻ chết xuống mồ bao giờ.
Nói xong, nàng trở gót bỏ đi. Mỗi tiếng gót giày nàng nện xuống thềm nhà, là một nhát búa đóng đinh xuyên qua tim chàng.
Ðau buốt, nát tim, người phú gia quay nhìn bà vợ thứ ba và ân cần hỏi:
- Em, trong suốt cuộc đời, em là người luôn sát cánh cùng anh. Không có chuyện gì mà anh không chia sẻ cùng em. Em luôn bên cạnh anh, lúc vui cũng như lúc buồn. Giờ đây, anh sắp chết, em có chịu theo anh không?
- Anh yêu, em biết anh yêu em lắm, và em cũng yêu anh. Nhưng cùng lắm, em chỉ có thể theo anh ra nghĩa trang, nhìn anh đi vào lòng đất lạnh, rồi thắp cho anh những nén hương lòng. Em sẽ nhớ anh thật nhiều, nhưng theo anh, em không thể nào làm được.
Nói xong, nước mắt nàng tuôn trào.
Bỗng đâu, một giọng nói yếu ớt vang lên:
- Em sẽ theo anh về bên kia thế giới. Anh yêu, cho em theo anh. Ðừng bỏ em!
Chàng phú gia lấy hết sức tàn ngồi chổm dậy, nhìn về phía phát xuất ra giọng nói. Và kià! Người vợ thứ tư của chàng đang ôm mặt khóc nức nở. Thân hình nàng qúa mảnh khảnh tựa hồ dễ bị cuốn theo chiều gió. Một người vợ yêu chàng tha thiết, nhưng đã bị chàng bỏ bê cả cuộc đời.
* * *
Trước cái chết, chàng phú gia mới chân nhận ra giá trị tình yêu. Ngày hôm nay, ngày nhớ đến Các Tín Hữu Ðã Qua Ðời, 2 tháng 11 mỗi năm, mình nhớ đến cái chết, và nhận ra bốn bà vợ của đời mình.
1. Mình đã quá yêu bà vợ thứ nhất - thân xác mình. Cho dù mình có mặc cho nó đủ thứ lụa là gấm vóc, nuôi dưỡng bằng cao lương mỹ vị, mình cũng chẳng đem theo được về bên kia thế giới.
2. Mình đã hãnh diện với chức tước, bằng cấp - bà vợ thứ hai - nhưng chức tước ấy sẽ thuộc về người khác khi mình giã từ cõi thế.
3. Họ hàng, gia đình mình - bà vợ thư ba, sẽ theo mình ra tận nghĩa trang, sẽ hằng năm kỵ giỗ cho mình, nhưng nào ai theo mình xuống huyệt.
4. Còn cái linh hồn của mình - bà vợ thứ tư - mà mình đã vì qúa chăm lo thể xác, chạy theo tiền tài danh vọng, bon chen chức tước quyền cao, ít khi mình buồn nghĩ đến thì sẽ theo mình đi vào thiên thu.
* * *
"Ca tụng Chúa đi, hồn tôi hỡi!
Suốt cuộc đời, tôi xin hát mừng Chúa,
Sống bao lâu, nguyện đàn ca kính Chúa Trời.
***
Ðừng tin tưởng nơi hàng quyền thế,
Nơi người phàm chẳng cứu nổi ai.
Họ tắt hơi là trở về cát bụi,
Dự định bao điều: ngày ấy tiêu tan.
***
Phúc thay người được Chúa Trời nhà Gia-cóp phù hộ
Và cậy trông Chúa, Thiên Chúa họ thờ." (Thánh Vịnh 145: 1-5)

 

AnTáng 85: Bóng Câu Cửa Sổ

Bóng Câu Cửa Sổ AnTáng 85

Đỗ Tân Hưng
 “Kiếp phù-sinh, tháng ngày vắn-vỏi,
Tươi thắm như cỏ nội hoa đồng,
Một cơn gió thoảng là xong
Chốn xưa mình ở cũng không biết mình.” (Tv 103, 15-16)

 

Vào ngày 31 tháng giêng năm 2000, một hung tín được loan ra: chuyến bay 261 của hãng Alaska với 83 AnTáng 85

Vào ngày 31 tháng giêng năm 2000, một hung tín được loan ra: chuyến bay 261 của hãng Alaska với 83 hành khách và 5 nhân-viên phi-hành-đoàn, cất cánh từ Mể Tây-Cơ để đi Seattle, tiểu bang Washington, đã rớt xuống Thái-Bình-Dương, cách Los Angeles chừng 20 dặm đường chim bay. Khoảng 10 xác chết đã được vớt lên, số còn lại đã bị tan nát trong lòng biển cả. Trong số nạn-nhân nầy, có một bé gái thiên-thần mới được bốn tháng. Vì thân-mẫu là người gốc Mễ-Tây-Cơ, cha mẹ đã đưa em về quê ngoại để được rửa tội.
Chỉ trong năm 1999, ba cánh chim sắt đã lao xuống biển cả. Ðêm 16 tháng bảy năm 1999, máy bay do Kennedy, 38 tuổi, con trai duy-nhất của cố Tổng Thống John Kennedy, chở vợ là Carolyn Bessette và chị vợ là Lauren Bessette, đi dự lễ cưới cháu mình, đã bị rớt xuống Ðại Tây Dương. Một tuần sau, đoàn cấp cứu đã vớt được các thi-hài.
Mấy tháng sau, chiếc máy bay của Ai-Cập với trên 200 hành-khách, đã rớt xuống Ðại-Tây-Dương và không một xác nào được tìm thấy.
Vào sáng thứ ba (11-09-2001). một đại-họa khủng-khiếp đã làm chấn-động thế-giới: nhóm khủng-bố Osama Bin Laden đã cướp giựt bốn máy bay và chỉ trong một giờ đồng-hồ đã làm nổ tung hai ngọn tháp chọc trời của Trung-Tâm Thương-Mại Thế-Giới ở Nữu-Ước và sau đó đánh sập một cánh của Ngũ-Giác-Ðài ở Hoa-Thịnh-Ðốn. Tổng số thương-vong khoảng trên ba ngàn người, trong số đó không thiếu những chuyên-gia lỗi -lạc về kinh-tế, tài-chánh, ngân-hàng, kỹ-thuật và quân-sự...
Trong huấn-từ nhân cuộc triều-yết chung vào sáng thứ tư (ngày 12-09-2001), Ðức Thánh Cha Gioan-Phaolồ Ðệ-Nhị đã mô tả đại-họa đó là "một ngày đen tối nhất trong lịch-sử loài người, một xúc phạm ghê-gớm cho phẩm-giá con người."
Tôi mới có dịp nói chuyện với một người bạn rất khỏe mạnh, nhưng ba hôm sau, người bạn đó đã được khâm-liệm vì bị ngã gục dưới họng súng tấn-công của một địch-thủ. Ngay cả hôm nay đây, biết bao người đang nối tiếp nhau lìa đời bằng sự chết chóc để đi vào nơi vĩnh-cữu. Những trường-hợp ra đi vĩnh-viễn được nêu ra đây quả rất thông thường, nhưng cũng đủ cho chúng ta hiểu rằng tử-thần sẽ đến viếng chúng ta một cách bất ngờ không một lời báo trước. Khi quan-sát một số người đang cuồng-nhiệt theo đuổi danh-vọng, thú vui hay của-cải vật-chất thì chúng ta sẽ hết sức ngạc-nhiên với ý-nghĩ là họ đang sống mà không chút ưu-tư về cuộc sống đời đời. Con người trong thời-đại văn-minh tiến-bộ nầy dường như đang sống theo lý-tưởng quá ư trần-tục của một tư-tưởng-gia thời xưa: "Chúng ta đừng quan-tâm đến sự chết, nhưng hãy nghĩ đến sự sống thiên-đàng mà chúng ta tìm kiếm không phải là những đường phố bằng vàng nhưng là những túi vàng vậy. Những khát vọng của chúng ta chỉ thuộc về cõi tạm nầy chứ không phải thuộc về cõi đời đời, và thiên-đàng mà chúng ta suy tưởng phải là một cõi phong-phú về tiền bạc và đủ các tiện-nghi cho chúng ta hưởng-thụ. Quả thật, chúng ta không cần phải lo nghĩ đến sự chết." Tuy-nhiên, sách Giảng-Viên đã nói rõ ràng: "Có thời để sinh ra, có thời để lìa đời." (Gv 3, 2).
Kinh Thánh cũng cho biết ông A-Dong sống đến chín trăm tuổi rồi mới qua đời. Ông Sết hưởng thọ chín trăm mười hai tuổi rồi từ trần. Ông Hê-nóc sống chín trăm lẻ năm tuổi rồi cũng phải từ giả cõi đời. Hơn sáu tỷ người đang sống trên mặt đất hiện nay rồi cũng sẽ ra đi trong vòng một trăm năm nữa, không ai sẽ thấy ánh mặt trời của thế-kỷ hai mươi hai. Trong thư gởi tín-hữu Do-Thái, Thánh Phaolồ đã viết: "Thân phận con người là phải chết một lần, rồi sau đó chịu phán xét." (Dt 9, 27).
Mặc dầu khoa-học đã tiến-bộ, sau khi vượt qua giới-hạn của không-gian địa-cầu và đang tiến sâu vào không trung, nhưng trên cương-vị con người, chúng ta luôn luôn bị ràng buộc bởi cuộc sống trên mặt đất. Có rất ít bài giảng-luận về sự chết, thiên-đàng, hỏa-ngục. Tuy-nhiên, chân-lý bất-biến là tất cả mọi người trên mặt đất đều phải kết-thúc bằng sự chết và vấn-đề chuẩn-bị cho cuộc sống trong đời sau rất là hệ-trọng, như lời Thánh-Kinh: "Nếu con luôn luôn suy gẫm về sự chết, sự phán xét, thiên-đàng, hỏa-ngục thì con sẽ không bao-giờ phạm tội."
Ở Âu-Mỹ, có một thành-ngữ như sau: "Ở đời nầy, chỉ có hai việc chắc-chắn không ai thoát khỏi là sự chết và nộp thuế." Chúng ta thường lo lắng dành tiền dể nộp thuế mà quên mất vấn-đề quan-hệ hơn là sự chết. Ta cần phải ý-thức hơn về việc tử-thần đang tiến gần mỗi người chúng ta một cách nhanh chóng. Lời Chúa đã căn dặn: "Thế thì của Xê-da, trả về Xê-da; của Thiên-Chúa, trả về Thiên-Chúa." (Mt 22, 21).
Người giàu không thể nhờ tiền bạc xin sửa đổi hình phạt đang chờ đợi mình thành một án treo; người nghèo cũng không thể nói với sự chết cho mình sống thêm một ngày nữa vì nó đã chiếm-hữu con người từ lúc mới lọt lòng mẹ cho tới khi đi vào mồ-mả. Sẽ có lúc sau khi mọi người đông-đảo họp nhau cầu-nguyện thì đã ra về và "còn lại một mình tôi" trong nơi hoang vắng...!
Thánh Giacôbê đã viết: "Anh em không biết cuộc đời mình ngày mai sẽ ra sao. Thật vậy, anh em chỉ là hơi nước xuất hiện trong giây lát , rồi lại tan biến đi." (Gc 4, 14). Như đám sương mù buổi sáng, rất mong manh, bốc thành hơi nước dưới ánh triêu-dương rồi biến mất giữa ban ngày, đời người cũng giống như giọt sương mai hiện ra chốc lát rồi lại tan ngay.
Thật vậy, sự sống chẳng khác gì cái thoi dệt cửi: "Ngày đời tôi thấm thoát hơn cả thoi đưa và chấm dứt, không một tia hy-vọng." (Gióp 7, 6). Một văn-sĩ đã viết: "Chỉ khi nào thời gian, với một bàn tay không biết chán, xé hết phân nửa số trang sách của đời mình để nung đốt lò dục-vọng, lúc ấy con người mới bắt đầu nhận thấy những trang còn lại của đời sống mình không còn bao nhiêu nữa". Tiên-tri I-Sai-A đã suy ngắm: "Lạy Chúa, con như người thợ dệt, đang mãi dệt đời mình, bỗng nhiên bị tay Chúa cắt đứt ngay hàng chỉ." (Is 38, 12). Sách Biên-Niên-Sử quyển I cũng viết: "Ngày đời của chúng con trên mặt đất như bóng câu cửa sổ, không để lại dấu vết." (1 Sb 29, 15).
Khi William Russel lên đoạn đầu đài, ông đã lấy đồng hồ trong túi áo ra rồi trao cho vị y-sĩ săn-sóc ông và nói: "Xin ông làm ơn giữ hộ cái đồng-hồ nầy vì tôi không cần đến nó nữa. Bây giờ tôi sắp bước vào cõi đời đời."
Thánh Gióp cũng đã từng than-thở: "Vì tuổi con người đã được Ngài ấn-định, sống được bao năm tháng là tùy thuộc ở Ngài. Ngài định giới-hạn rồi, sao có thể vượt qua." (G 14, 5). Tác-giả Thánh-Vịnh cũng đã nói: "Kiếp phù-sinh, tháng ngày vắn-vỏi, tươi thắm như cỏ nội hoa đồng, một cơn gió thoảng là xong, chốn xưa mình ở cũng không biết mình." (Tv 103: 15,16).
Ngày nầy nối tiếp ngày khác, trôi qua với một tốc-độ tăng dần mãi dường như theo nhịp tiến của chúng ta tới tuổi già. Những ngày của chúng ta trên mặt đất nầy giống hệt kiếp hoa: "Người phàm nào cũng đều là cỏ, mọi vẻ đẹp của nó như hoa đồng nội. Cỏ héo, hoa tàn khi thần khí Ðức Chúa thổi qua." (Is40,6-7).
Trong những giờ phút cuối đời, Cesar Bergia đã nói: "Trong suốt đời sống của tôi, tôi đã tiên-liệu mọi sự, trừ sự chết, và bây giờ, ôi, thật khốn nạn cho tôi, tôi phải chết mà không chuẩn-bị được gì trước cho sự chết của tôi."
Một thanh-niên mới hai mươi bốn xuân xanh, suốt đời mạnh khỏe, nhưng thình-lình lâm trọng bệnh. Trước khi sắp từ giã cõi đời, anh đã rên-rỉ, than van và quằn-quại trên giường bệnh với những lời gào thét sau đây: "Ôi, tôi đã phung-phí những ngày xanh của tôi, tôi đã làm khánh-tận đời tôi. Tôi sẽ thưa gì với Ðức Chúa, khi tôi phải ứng hầu trước mặt Ngài?" Trong thư gởi tín-hữu Do-Thái, tác giả đã cảnh-cáo: "Nếu mọi vi-phạm cũng như bất tuân đều bị phạt đích đáng, thì làm sao chúng ta thoát khỏi, nếu chúng ta thờ-ơ với ơn cứu-độ cao-quý như thế?" (Dt 2, 3).
Một văn thi-sĩ khuyết-danh đã viết những câu sau đây, trong bài thơ 'Sách Sự Sống': "Tôi quì cầu-nguyện, nhưng chẳng lâu được; tôi có nhiều việc phải làm. Tôi phải cấp-tốc đi làm vì hóa-đơn đòi tiền chồng chất. Vì vậy, tôi quì gối, đọc vội một kinh và nhảy đứng dậy. Việc bổn-phận Kitô-hữu của tôi đã làm xong và tâm-hồn tôi thanh-thản, bình-an. Suốt ngày tôi không có thời-giờ để buông một lời chào hỏi vui-vẻ hoặc nói về Chúa Kitô với bạn-bè vì sợ họ cười nhạo tôi. Tôi luôn miệng la lớn: Không có thời-giờ, không có thời-giờ, nhiều chuyện phải làm quá! Không có thời-giờ để lo cho việc rỗi linh-hồn, nhưng cuối cùng giờ chết đã đến. Tôi trình-diện trước mặt Ðức Chúa; tôi đứng với đôi mắt cúi xuống, vì Ðức Chúa đang cầm trong tay một quyển sách, sách sự sống. Đức Chúa nhìn vào trong sách và nói: 'Cha không tìm thấy tên con, vì có lần Cha dự-tính viết xuống, nhưng Cha chẳng lúc nào có thời-giờ.' "
Khi thể xác của chúng ta chết và sự sống của chúng ta ở trên mặt đất nầy chấm dứt, phần linh-hồn của chúng ta vẫn tiếp-tục sống động trong cõi đời đời. Victor Hugo, một đại văn-hào Pháp đã nói: "Tôi cảm biết có sự sống tương-lai trong tôi." Cyrus cũng đồng ý-kiến: "Tôi không thể nghĩ rằng linh-hồn chỉ sống khi còn ở trong một thân-thể hay chết." Chính Emerson cũng nói: "Bằng chứng hiển-nhiên về sự bất-diệt của linh-hồn là chính nơi sự bất mãn của chúng ta đối với mọi kết-luận trái ngược." Mark Twain đã viết: "Tôi không bao giờ tìm thấy mảy-may sự thật có thể chứng-minh về đời sống tương-lai, nhưng tôi có khuynh-hướng chờ-đợi nó."
Xưa kia Ðức Chúa đã phán với vua Hezekiah: "Hãy lo thu xếp việc nhà, vì ngươi chết, chứ không sống nổi đâu." (2 V 20, 1). Do môi miệng của tiên-tri A-mốt, Ðức Chúa cũng tuyên phán cho mọi người: "Ngươi hãy chuẩn-bị đi gặp Thiên-Chúa của ngươi." (Am 4,12).

John Bunyan, tác-giả cuốn "Thiên-lộ lịch-trình", đã nói lúc ông gần qua đời: "Các bạn đừng than khóc cho tôi, nhưng hãy than khóc cho chính các bạn. Tôi sẽ về nhà đời đời nơi có Ðức Chúa Trời là Cha Ðức Giêsu Kitô: Ngài sẽ tiếp rước tôi dù tôi là một tội-nhân bởi công-lao cứu chuộc của con Ngài. Tôi tin rằng chúng ta chẳng bao lâu nữa sẽ gặp nhau trên nước sáng láng của Chúa để hát bài ca mới và sống sung-sướng trong cõi đời đời."
Chúng ta hãy lợi-dụng những giây phút chóng qua của đời người để chuẩn-bị cho cuộc sống đời đời: "Thiên-Chúa yêu thương thế-gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời." (Ga 3,16).
"Sinh ký tử qui" (sống gởi thác về). Người có Ðức Tin đặt niềm tín-thác trọn-vẹn nơi Chúa Quan-Phòng trong cuộc sống cũng như giờ phút lâm-chung, như lời Thánh Phao-Lồ đã nói: "Vì đối với tôi, sống là Ðức Kitô và chết là một mối lợi." (Pl. 1,21).
Trong tinh thần phó-thác tuyệt-đối đó, các Anh Chị trong dòng Tiểu-Muội và Tiểu-Ðệ, mỗi ngày đã đọc kinh "Dâng Mình" của Cha Charles de Foucauld như sau:
"Lạy Cha, con phó-thác mình con cho Cha. Xin hãy làm nơi con mọi sự đẹp ý Cha. Cha làm cho mặc lòng, con cũng cám ơn Cha. Con sẵn-sàng luôn luôn, con nhận lãnh tất cả, miễn ý Cha được trọn-vẹn trong con, trong tất cả loài Cha tạo-dựng. Con chẳng ước muốn chi khác nữa. Lạy Cha là Chúa Trời con, con phó-thác linh-hồn con trong tay Cha. Con dâng linh-hồn con cho Cha. Lạy Cha, với tất cả tình yêu của lòng con, vì con mến Cha và vì mến Cha nên con thấy cần phải hiến-thân con, phó trót mình con trong tay Cha, không do dự đắn đo song vô cùng tin cậy, vì Cha là Cha của con. Amen." (Trích Sứ Ðiệp số 8 - Bộ 4 - Mùa Thu 2001).

 

AnTáng 86: Cầu cho các linh hồn

Cầu cho các linh hồn AnTáng 86

Têphanô
Lc 23,33-34.39-43
 

Giáo Hội Công Giáo dành trọn tháng Mười Một để cầu nguyện cho các linh hồn nơi luyện ngục. Họ AnTáng 86

Giáo Hội Công Giáo dành trọn tháng Mười Một để cầu nguyện cho các linh hồn nơi luyện ngục. Họ là những người thân của chúng ta, hoặc cũng có thể là những người mà chúng ta không biết. Nhưng mọi người đều có chung bổn phận là cầu nguyện cho những người đã qua đời. Những linh hồn nơi Luyện Ngục là những linh hồn thánh thiện, nhưng để được vào Thiên Đàng, họ còn cần phải thanh tẩy cho trong sạch vẹn tuyền.
1. Các linh hồn cần phải thanh luyện
Thiên Chúa là Đấng Thánh (Tv 99,5), nên những người đến với Chúa cũng phải thánh thiện cách trọn vẹn. Những linh hồn mà chúng ta cầu nguyện hôm nay là những người sống trong ơn nghĩa Chúa và chết trong ơn nghĩa Chúa. Nhưng vì là con người yếu đuối nên không tránh khỏi những khiếm khuyết, cho nên các ngài cần phải tẩy rửa trước khi vào hưởng Tôn Nhan Chúa. Sau khi lìa khỏi xác, linh hồn không còn lập công được nữa, mà chỉ còn cách trông chờ những người trên trần gian cầu nguyện cho mà thôi.
Nhờ việc lành phúc đức của Giáo Hội tại thế, các linh hồn “nơi” luyện ngục mới mau chóng nên tinh tuyền để diện kiến Tôn Nhan ( Ga 5,37 ). Tức là các ngài đã mặc áo cưới (Mt 22, 12) để dự tiệc cưới Con Chiên (Kh 19,8-9). Về việc phải thanh luyện nơi luyện ngục, có lẽ không ai tránh khỏi - trừ Đức Mẹ Maria Vô Nhiễm. Nói như thế có người thắc mắc : trong bài Tin Mừng vừa nghe, Chúa Giêsu hứa với anh trộm lành : Ngay hôm nay, anh sẽ ở trên Thiên Đàng với tôi (c. 43).
Vậy ta phải hiểu câu này như thế nào? Theo quan niệm của người Do Thái thời Chúa Giêsu thì Thiên Đàng là nơi những người công chính chờ ngày phục sinh. Tương tự như La-da-rô sau khi chết được các thiên thần đem vào lòng Áp-ra-ham (Lc 16,22). Phải chăng Thiên Đàng theo quan niệm của người Do Thái tương tự như “Luyện Ngục” mà những người công chính cần phải thanh luyện? Dù thế nào chăng nữa, linh hồn nào chưa xứng đáng thì cần phải thanh tẩy. Vì cần phải thanh tẩy, nên các linh hồn cần những lời cầu nguyện của Hội Thánh.
2. Hội Thánh cùng thông công
Đây là điều mà chúng ta hằng tuyên xưng trong Kinh Tin Kính. Có nghĩa là các thành phần của Hội Thánh: những người Tại Thế, những người trong Luyện Ngục, các thánh ở trên Thiên Quốc đều liên đới với nhau. Liên đới trong hạnh phúc cũng như trong đau khổ. Quan trọng là ta có cảm nhận được hay không!
Những linh hồn trong Luyện Ngục ngày đêm họ đang trông chờ lời cầu nguyện của chúng ta. Chúng ta có luôn ý thức điều này không? Những việc lành chúng ta làm sẽ giúp họ đền tội, thanh tẩy tâm hồn để chóng vào hưởng Tôn Nhan Chúa. Khi đã được vào Thiên Đàng, các ngài lại cầu bầu cho chúng ta. Việc cầu nguyện cho các linh hồn nơi Luyện Ngục là một việc thánh thiện, như Công Đồng Vaticanô trong hiến chế Mầu Nhiệm Giáo Hội đã viết: “Giáo Hội Lữ Hành hết lòng kính nhớ, dâng lời cầu nguyện cho những người đã chết, và cầu nguyện cho họ được giải thoát khỏi tội lỗi là một việc lành thánh...” Với Mầu nhiệm Hội Thánh Cùng Thông Công, việc cầu nguyện cho các linh hồn nơi Luyện Ngục là một bổn phận của mỗi người chúng ta. Hơn nữa, đối với người Công Giáo Việt Nam nói riêng, và với người Công Giáo Á Châu nói chung còn là việc thi hành chữ “Hiếu” với ông bà tổ tiên.
3. Tháng 11 là tháng hiếu thảo
Trong một lớp Dự Tòng, có một anh bạn học viên theo đạo Ông Bà tỏ ra rất băn khoăn, lo lắng. Hỏi ra mới biết. Anh ta sợ rằng, khi theo đạo Công Giáo thì bất hiếu với tổ tiên. Vì người Công Giáo không cúng cho tổ tiên, nên ở dưới Suối Vàng ông bà tổ tiên bị bỏ đói!Phải chăng người Công Giáo bất hiếu với những người đã qua đời?
Ta có thể trả lời ngay rằng, người Công Giáo không những không bất hiếu với tổ tiên, mà trái lại còn rất có hiếu với những người đã qua đời. Nhưng cách hiếu thảo của người Công Giáo thì khác. Trong một năm, Giáo Hội dành hẳn một tháng để cầu cho những người quá cố. Rồi hằng ngày người Công Giáo đều cầu nguyện cho những người đã khuất.
Ta cứ thử làm một phép tính xem, trên Thế giới mỗi ngày có bao nhiêu Thánh Lễ được cử hành. Mà trong mỗi thánh lễ đều cầu nguyện cho những linh hồn nơi Luyện Ngục! Ngoài Thánh Lễ ra, còn bao nhiêu việc Phụng Vụ và các việc đạo đức khác. Những việc này đều thông công với các linh hồn nơi Luyện Ngục.Không còn nghi ngờ gì nữa, người Công Giáo rất có hiếu với những người đã khuất.
Đặc biệt trong ngày lễ cầu cho các linh hồn, chúng ta càng ý thức hơn về việc cầu nguyện cho các linh hồn trong Luyện Ngục, trong đó có thể có cả người thân của chúng ta. Xin Chúa, nhờ công nghiệp của Chúa Giêsu, cùng với lời bầu cử của Đức Mẹ và các thánh, giúp cho các linh hồn nơi Luyện Ngục được tinh tuyền để các ngài mặc áo cưới mà vào dự tiệc cưới của Con Chiên. A men.

 

AnTáng 87: Cánh chung các thể - Luyện tội

AnTáng 87: Cánh chung các thể - Luyện tội

Lm Lương Đức Toàn
 

Chúng ta đã bước sang tháng 11, tháng Giáo Hội dành để cầu nguyện đặc biệt cho các đẳng linh AnTáng 87

Chúng ta đã bước sang tháng 11, tháng Giáo Hội dành để cầu nguyện đặc biệt cho các đẳng linh hồn.
Ngày 01 tháng 11, Lễ Các Thánh, Giáo Hội hướng lòng trí chúng ta lên trời, chiêm ngưỡng vinh quang Các Thánh Nam Nữ đang hưởng phúc bên Chúa, để bao lâu còn sống trên trần gian, chúng ta biết nỗ lực sống đạo đức thánh thiện và hằng ngày xin Các Thánh cầu thay nguyện giúp cho chúng ta, hầu ngày sau được về thiên đàng hưởng nhan Thánh Chúa.
Ngày mùng 2 và suốt cả tháng 11, Giáo Hội mời gọi chúng ta nhìn xuống Luyện ngục, nơi những linh hồn còn phải đau khổ đền tội, để dâng lời cầu nguyện và việc lành phúc đức chúng ta làm hàng ngày, để cầu xin Chúa tha phần phạt cho họ, hầu mau về hưởng phúc với Các Thánh.
Cả tháng 11 này, Giáo Hội nhắc chúng ta sống Tín Điều Các Thánh Thông Công : những người còn sống ở thế gian, Các Thánh trên trời và các linh hồn ở luyện ngục đều thông công cùng nhau, trong một Hội Thánh duy nhất của Chúa Kitô. Tất cả đều là anh em với nhau trong đại gia đình nhân loại, được Thiên Chúa là Cha hiền lành nhân ái hằng thương yêu bảo vệ chăm sóc. Tất cả thông hiệp với nhau trong đức tin, trong đức ái, trong đời sống Bí Tích và trong lời cầu nguyện hằng ngày.
Trong ý nghĩa đó, chúng ta cùng ôn lại một chút về CHIỀU KÍCH CÁNH CHUNG CÁ THỂ, đặc biệt là tìm hiểu về LUYỆN TỘI.
I- NỘI DUNG VÀ NỀN TẢNG TÍN ĐIỀU.
- Đời vĩnh cửu là tận đích, là phần thưởng Thiên Chúa hứa ban.
Ngài ban những phương thế để mỗi người có thể đạt tới. Tuy nhiên trong số những người được cứu độ, ít người đạt thẳng tới Nước Trời ngay. Phần đông còn phải trải qua một thời gian thanh luyện tinh thần.
- Vào thời Trung Cổ, Giáo Hội đã định tín về Luyện Tội.
Công Đồng Lyon II (1274) công bố : “Các linh hồn đã lìa xác trong sám hối và đức ái được thanh luyện sau khi chết bằng những hình phạt thanh tẩy” (D 464).
Công Đồng Florence đã lặp lại lời công bố đó (D 693). Đến sau Đức Léon X đã bác bỏ luận thuyết của Luther cho rằng Luyện Tội không được Thánh Kinh xác nhận (D777). Công Đồng Trente một lần nữa lại xác nhận có Luyện Tội trong khóa họp cuối cùng, khoá XXV (D 983).
- Qủa thật Thánh Kinh không minh nhiên nói đến Luyện Tội,
Nhưng có ám chỉ hoặc gián tiếp xác nhận. Chẳng hạn, việc cầu cho người chết để xin ơn xá tội được chuẩn nhận (2 M 12/ 38-45). Nhiều Giáo Phụ, để minh chứng có Luyện Tội, thường trích dẫn lời Thánh Phaolô ở thư Corintô: “Công việc của mỗi người sẽ được phơi bày ra ánh sáng. Ngày của Chúa sẽ … tỏ rạng trong lửa. Chính lửa này sẽ thử nghiệm giá trị công việc của mỗi người. Công việc xây dựng của ai tồn tại trên nền thì người ấy sẽ được lĩnh thưởng. Còn công việc của ai bị thiêu huỷ, thì người ấy sẽ phải thiệt. Tuy nhiên, bản thân người ấy sẽ được cứu, nhưng như thế băng qua lửa” (1 Co 3/ 13 – 15).
- Học thuyết Luyện Tội đã thành hình với các Giáo Phụ và đã được khai triển thêm dần.
Khởi điểm của sự khai triển này là những ý niệm “xét xử” và “thưởng phạt” ta gặp rất nhiều trong Cựu Ước và trong Tân Ước. Các ý niệm đó cũng có trong ngoại giáo, nhưng được Kitô giáo tô đậm nét hơn.
Ngay từ buổi đầu các tín hữu đã cầu cho những người chết, đặc biệt khi cử hành Thánh Lễ, nhiều khi ngay trên mộ người chết. Trên vách các nghĩa trang ngầm, họ cũng ghi lời cầu, chẳng hạn : “ Xin Thiên Chúa cho hồn anh (chị) được mát mẻ. Xin Ngài cho anh (chị) được hưởng bình an”. Tertullien là người đầu tiên chỉ rõ ý nghĩa của việc cầu cho người chết được giải thoát và được hưởng nhan thánh Chúa. Dựa vào Mt 5/ 26, tác giả này cho rằng, nơi địa giới, linh hồn người chết phải trả nợ dần “cho tới đồng xu cuối cùng”. Ông cũng phân biệt trong các người chết, một bên là các vị tử đạo hoàn toàn thánh thiện được người ta dâng lễ kính hằng năm và một bên là các tín hữu thường cần được người sống cầu cho.
Các Giáo Phụ lớn như Ambrôsiô, Auguttinô và Grégoire le Grand đều nhìn nhận những người lành nhưng còn mang tội nhẹ cần phải được thanh luyện trước khi về với Thiên Chúa và trong thời kỳ thanh luyện họ có thể được trợ giúp bởi lời cầu và việc lành của người sống. Chính bà mẹ Mônica đã dặn con mình là Auguttinô hãy nhớ đến mình nơi bàn thờ của Chúa.
- Vào khoảng thế kỷ VIII việc nhớ và cầu nguyện cho người đã chết được thêm vào trong Thánh Lễ.
Sang thời Trung Cổ, đan viện Cluny truyền bá rộng rãi việc cầu nguyện cho các linh hồn nơi luyện tội.
Sự thành hình và phát triển học thuyết về Luyện Tội cho thấy Giáo Hội thời xưa có một ý thức rất sâu sắc về sự Thánh Thiện và Công Bình của Thiên Chúa và tiếp nhận một cách nghiêm túc những giới luật cũng như những đe dọa của Người. Giáo Hội cũng cho thấy rõ sự Thanh Khiết đòi nơi các Thánh Trên Trời khi nhìn nhận rằng hầu hết mọi tín hữu, ngoại trừ các vị tử đạo, các Tông Đồ và các Tiên Tri, đều cần được thanh tẩy sau khi chết.
II.- Ý NGHĨA LUYỆN TỘI.
- Khi có lòng sám hối, tội được tha. Tuy nhiên còn để lại dấu vết cần được thanh tẩy. Luyện Tội được coi là hình phạt, nhưng hình phạt này rất đặc biệt. Vì chính linh hồn ý thức được tình trạng bất xứng của mình trước sự thánh thiện hoàn hảo của Thiên Chúa, vì vậy tự nguyện được thanh tẩy. Chính linh hồn muốn trở nên thanh khiết, trưởng thành, trong sáng hơn để được hiệp nhất với Thiên Chúa, nên đón nhận những đau đớn do việc thanh tẩy như một phương thế cần thiết. Thánh Cathasienna nói: “Linh hồn lao vào luyện tội với hạnh phúc”.
- Luyện Tội trước hết và chủ yếu là một Tình Trạng, mặc dầu Công Đồng Trente có dùng chữ “hình phạt và đau khổ” ( D 983 ). Và người ta nói nhiều đến đau khổ của Luyện Tội, nhưng khó có thể nghĩ rằng tình trạng này chỉ có đau khổ. Thực ra, trong Luyện Tội hạnh phúc đã bắt đầu chớm nở. Đây là một thứ đau đớn làm sung sướng, hoặc một thứ hạnh phúc còn pha lẫn đau đớn.
Thánh Bernardin đặc biệt chú trọng đến hạnh phúc của thời luyện tội. Ngài kể ra năm nguồn vui của tình trạng này :
Confirmatio Gratio : Xác định ân sủng – Tình trạng ân sủng không thể mất.
Gertitudo salutis : Chắc chắn được cứu độ.
Amor Dei : Tình yêu và lòng mến của Thiên Chúa dành cho họ.
Visitatio Angelorum : Được các Thiên Thần thăm viếng.
Visitstio Sanctorum : Được các Thánh thường xuyên viếng thăm.
Rồi Ngài kết luận : mặc dầu những người trong luyện tội phải chịu những đau khổ rất lớn, nhưng tình trạng của họ tốt đẹp và hạnh phúc hơn tình trạng của những người còn sống ở trần gian.
- Giữa địa ngục và Luyện Tội không phải chỉ có sự khác biệt về thời hạn, nhưng còn khác nhau về bản chất.
Luyện Tội không phải là một địa ngục có thời hạn. Mặc dù có hình phạt, nhưng là hình phạt có tính tự nguyện. Hơn nữa, hồn ở trong Luyện Tội luôn sống trong hy vọng được về với Thiên Chúa, vì thế luôn bừng lên tình mến trọn vẹn đối với Thiên Chúa, tràn ngập bình an của Thiên Chúa. Người ta đã biết chắc số phận của mình, một số phận hạnh phúc, vĩnh cửu không gì có thể đe doạ. Trái lại, trong địa ngục không bao giờ có thể có một chút hy vọng, không bao giờ có lòng mến, không bao giờ có bình an và niềm vui.
- Hình ảnh lửa phát sinh từ đâu ?
Trong thư Corintô I Thánh Phaolô viết: “Chính Lửa sẽ thử thách phẩm chất việc làm của mỗi người” (1 Co 3, 13). Ở đây tác giả không nói về Luyện Tôi, nhưng trong câu này hai chữ “LỬA” và “THỬ THÁCH” được liên kết với nhau. Dựa vào câu trên, thánh Auguttinô đặt ra hai chữ “LỬA SỬA DẠY” và “LỬA THANH TẨY”. Do cách ghép chử của Thánh Auguttinô, dần dần nhiều người tin rằng, các linh hồn được thanh tẩy bằng lửa trong thời Luyện Tội.
Phần đông các nhà thần học Latinh chấp nhận hình ảnh lửa. Nhưng chính Giáo Hội thì không xác định. Công Đồng Florence và Công Đồng Trente không dùng chữ “lửa” khi xác nhận Luyện Tội. Nhiều mạc khải tư nói đến lửa luyện tội, tuy nhiên mạc khải tư không đủ để xác định chân lý đức tin.
Giáo Hội Đông Phương không chấp nhận ý kiến thanh tẩy bằng lửa. Theo Giáo Hội này, sau khi chết linh hồn được thanh luyện bằng tình yêu. Chỉ có tình yêu mới có khả năng thanh luyện. Còn “lửa” là một hình ảnh thích hợp để diễn tả sức mạnh của tình yêu, hợp với lời thư Do Thái: “Thiên Chúa chúng ta là một ngọn lửa thiêu” (Dt 12, 29).
Về vấn đề “lửa” có thể tóm lược như sau : Giáo Hội không chấp nhận cũng không phủ nhận việc thanh tẩy bằng lửa; do đó cũng không phi bác lập trường của Giáo Hội đông phương. Ý kiến chỉ có tình yêu mới thanh luyện được rất đúng. Tuy nhiên không thể coi sự thanh luyện này chỉ là một hiện tượng hoàn toàn tâm lý, chủ quan. Trong thực hành, Giáo Hội khuyến cáo nên tránh diễn tả thời Luyện Tội một cách quá thô thiển, vật chất.
- Về thời gian thanh luyện.
Sự thanh tẩy có thể hoàn tất trong thời gian ngắn. Lúc đó, cường độ bù lại thời gian. Nhưng thường thường thời gian thanh tẩy phải kéo dài ít lâu. Có những tác giả như Dominique Soto cho rằng mười năm thanh tẩy thì đủ cho một đời người. Nhiều tác giả khác như Bellarmin thì thấy cần một thời gian dài hơn. Thực ra chúng ta không thể biết được Thiên Chúa sẽ đong tội ta bằng đấu nào.
Người sống có thể cầu cho các linh hồn nơi Luyện Tội. Việc này vẫn được Giáo Hội khuyến khích và hợp với mầu nhiệm “Các Thánh Thông Công” (chia sẻ các kho tàng thiêng liêng ).
- Còn các linh hồn có thể cầu cho người sống không ?
nhiều người như Alexandre de Halès và Thánh Thomas, phủ nhận. Thánh Thomas lý giải: “Các linh hồn qua đời hơn ta ở chỗ không còn phạm tội, nhưng kém ta ở chỗ còn đang chịu đau khổ; vì thế các linh hồn cần được ta cầu khẩn cho hơn là cầu khẩn cho ta”.
Richard de Middleton bác bỏ ý kiến này. Ông cho rằng: “Các linh hồn có thể cầu khẩn cho ta vì sống trong đức ái và là bạn của Thiên Chúa”. Bellarmin và Suarez cũng nghĩ như vậy.
Về phần Giáo Hội, trong phụng vụ, Giáo Hội không bao giờ chính thức cầu khẩn các linh hồn. Tuy nhiên, các tín hữu buổi đầu thường ghi lời cầu trên các ngôi mộ, chẳng hạn “xin cầu cho chúng tôi”.
Có thể tạm kết luận như sau : có thể xin các linh hồn cầu cho ta. Nhưng ta cầu cho các linh hồn vẫn là điều chính.
KẾT LUẬN :
Như vậy đức tin cho ta biết : giữa trời và đất có một cõi trung gian là Luyện ngục, nơi thanh luyện những linh hồn chưa hoàn toàn trong sạch trước khi được hưởng nhan Thánh Chúa, vì Chúa là Đấng tuyệt đối thanh sạch thánh thiện, chỉ có linh hồn nào hoàn hảo thanh sạch mới đáng được sống với Ngài.
Trong Luyện ngục hiện giờ chắc chắn còn nhiều linh hồn đang đền tội, đang được thanh tẩy, trong số đó có thể có ông bà cha mẹ, anh chị em, bà con bạn hữu và ân nhân của chúng ta. Muốn cho các linh hồn đó được sớm về hưởng nhan thánh Chúa, chúng ta dâng việc lành phúc đức, những hy sinh, các ân xá và nhất là Thánh Lễ, cầu xin Chúa tha bớt hình phạt cho họ. Các linh hồn này đang khẩn thiết kêu cầu chúng ta cứu vớt họ, than trách chúng ta về sự thờ ơ lãnh đạm đối với họ. Lẽ nào chúng ta đành làm ngơ trước sự đau khổ khốn khó của những người thân yêu, những kẻ đã làm ơn làm phúc cho chúng ta, những người đồng hương đồng loại với chúng ta.
Việc giúp các linh hồn ở luyện tội bằng lời cầu nguyện và việc lành của chúng ta, đem lại hiệu quả cứu rỗi : một mặt nó cứu vớt các linh hồn khỏi trầm luân đau khổ; mặt khác nó giúp chúng ta tránh mọi tội lỗi và kéo ơn Chúa xuống trên chúng ta; Sau cùng khi linh hồn nào được chúng ta cứu vớt, chắc chắn sẽ không quên công ơn chúng ta, sẽ cầu bầu cùng Chúa cho chúng ta ngày sau được hưởng phước với họ.
VẤN TÂM
1.- Ông Cao Bá Quát là một nhà thơ nổi tiếng trong lịch sử văn học Việt Nam. Ông có mấy câu thơ như sau: “Ba vạn sáu ngàn ngày là mấy, Cảnh phù du trông thấy những nực cười. Thôi công đâu chuốc lấy sự đời - Tiêu khiển một vài chung lếu láo”.
Qua đó chúng ta thấy Cao Bá Quát chủ trương còn sống bao lâu thì hãy ăn chơi, hưởng thụ cho tối đa, kẻo chết rồi sẽ không còn được hưởng thụ nữa. Đây là quan niệm của những người không tin có đời sau. Thế nhưng có những người có đạo mà cũng sống theo kiểu đó, quan tâm duy nhất của họ là chỉ lo ăn, lo mặc, lo xài, lo mua sắm, lo chơi, lo thỏa mãn những nhu cầu vật chất. Sống kiểu đó là mâu thuẫn với niềm tin của mình.
2.- Đức Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II có lần đã khuyến cáo rằng : ngày hôm nay có rất nhiều người, kể cả các Linh Mục rất ngại nói đến cái chết và rao giảng những chân lý đức tin về thực tại cánh chung và đời sống vĩnh cửu.
Đối với những người không có niềm tin, cái chết quả là một cái gì phi lý nhất trong cuộc sống. Nhưng đối với những ai có niềm tin thì chính cái chết mang lại ý nghĩa cho cuộc sống, bởi chúng ta vẫn tin rằng, bên kia cái chết thì cuộc sống vẫn tiếp tục, đó là cuộc sống trong cõi phúc trường sinh. Đây là niềm tin, niềm hy vọng mà chúng ta được mời gọi rao giảng để nuôi dưỡng đức tin và đời sống đạo người tín hữu mỗi ngày.
3.- Mỗi người cuối cùng phải trả lẽ với Thiên Chúa là một điều có thực, rất thực như lời chúng ta vẫn tuyên xưng trong Kinh Tin Kính: “Người sẽ trở lại trong vinh quang để phán xét kẻ sống và kẻ chết”. Đây cũng là xác tín của Thánh Phao-lô, ngài nói: “Vì khi nghe lệnh và tiếng Tổng Lãnh Thiên Thần, và tiếng loa Thiên Chúa, thì chính Chúa từ trời ngự xuống”. Niềm tin này không chỉ là một lời tuyên xưng, nhưng phải được thể hiện qua cuộc sống vui tươi của từng người chúng ta ngay giữa những thử thách, khó khăn trăm bề của cuộc sống hiện tại.
Cùng với niềm vui và hy vọng, niềm xác tín này còn đòi mỗi người chúng ta phải luôn tỉnh thức, vì chúng ta “không biết ngày nào giờ nào”.
HƯỚNG VỀ VĨNH CỬU
Mỗi người chúng ta đều phải chết, điều đó ai ai cũng biết, nhưng không ai biết mình sẽ chết lúc nào – cách nào. Vì thế cần phải chuẩn bị chết lành hằng ngày, bằng cách cố gắng sống đạo đức thánh thiện luôn, nhờ ơn Chúa giúp và nhờ sự chuyển cầu của Các Thánh trên trời.
Thánh Phaolô nói: “Chết là một mối lợi, còn sống là một khổ hình”. Vì thế Ngài quả quyết : “Đối với tôi, sống là đức Kitô, còn chết là một mối lợi. Đức Kitô là gì, nếu không phải là sự chết cho thể xác và là Thần Khí ban sự sống ?”
Vì thế chúng ta hãy cùng chết với Người để cùng sống lại với Người. Chớ gì hằng ngày chúng ta tập quen với sự chết và yêu mến nó, để linh hồn chúng ta nhờ sự chia lìa này mà biết đoạn tuyệt với các dục vọng xác thịt. Khi linh hồn được đặt ở nơi cao cả như thế, dục vọng trần tục không thể tới gần để bẫy nữa, linh hồn sẽ lãnh hình ảnh sự chết, để khỏi chịu hình ảnh sự chết. Quả vậy, luật xác thịt chống lại luật tinh thần và muốn kéo tinh thần vào lầm lạc. Có phương thế nào cứu chữa không ? Ai sẽ cứu tôi khỏi cái xác chết dở nầy ? Chính ơn của Thiên Chúa, nhờ Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta.
Lạy Chúa, con một Chúa từ cõi chết sống lại đã tăng cường niềm tin cho chúng con. Giờ đây, xin Chúa thương nhậm lời chúng con khẩn nguyện, mà làm cho lòng chúng con luôn trông cậy vững vàng : Chính Đức Giêsu sẽ cho các tín hữu đã lìa cõi thế được Phục Sinh Vinh Hiển. Người là Thiên Chúa hằng sống và hiển trị cùng Thiên Chúa Cha, hiệp nhất với Chúa Thánh Thần đến muôn đời. Amen

 

AnTáng 88: CẦU CHO CÁC TÍN HỮU ĐÃ QUA ĐỜI

CẦU CHO CÁC TÍN HỮU ĐÃ QUA ĐỜI AnTáng 88

Lm. Giuse Nguyễn Hưng Lợi, DCCT
Ga 11, 25-26
 

Ngay từ buổi đầu của Kitô giáo, Hội Thánh lữ hành đã hết lòng kính nhớ, dâng lời cầu cho những AnTáng 88

Ngay từ buổi đầu của Kitô giáo, Hội Thánh lữ hành đã hết lòng kính nhớ, dâng lời cầu cho những người đã qua đời, vì cầu nguyện để họ được giải thoát khỏi tội lỗi là một ý nghĩ lành thánh( 2Mcb 12, 45 ). Hãy dâng thánh lễ và các việc lành để cầu nguyện cho các tín hữu đã qua đời ( lời nhắn nhủ của GH đầu tháng 11 ). Nghĩ về cái chết, đề cập đến người ra đi để mọi người chúng ta cùng hiệp thông một cách huyền nhiệm vì giữa người sống và kẻ chết trong lòng tin như có một mối giây liên lạc không thể rời xa, không thể tách biệt... Giữa người sống và người chết có một sự kết hợp thật thâm sâu, thật thắm thiết...
Như thế, cái chết không còn là một ngõ cụt, không còn là một chấm hết cuối cùng của con người.Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II trong “ Gẫm về sự chết” đã viết:” Lạy Chúa, con có điên rồ, hẳn Chúa biết rõ ( Cv 68, 69 ). Đời sống bần tiện, lao đao, bủn xỉn,hẹp hòi, rất cần phải nhẫn nại, phải tu bổ, phải được vô cùng thương xót. Con luôn luôn coi cuộc đời của thánh Augutinh như một tổng hợp tuyệt vời: sự khốn nạn và lòng từ bi, sự khốn nạn của con và lòng từ bi của Chúa. Chớ gì, ít ra bây giờ, con có thể tôn vinh Chúa là Thiên chúa tốt lành vô cùng bằng cách kêu cầu chấp nhận và tán tụng lòng từ bi dịu hiền của Chúa...”( Osservatore Romano 34, ngày 21/8/1979 ). Đức Thánh Cha đã gẫm suy về cái chết như một tôn vinh của cuộc đời vì Thiên Chúa thật nhân lành, dịu hiền và hay thương xót. Còn Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII khi biết rõ thực tế bệnh tình của mình đã nói lên một cách bình thản:” Tôi đã dọn sẵn hành trang”. Chính vì xác tín mạnh mẽ về sự chết, Đức Thánh Cha Gioan 23 đã rất an bình và bình tĩnh đón nhận cái chết. Tình yêu mạnh hơn sự chết, tình yêu nối kết con ngừơi còn sống với người đã chết. Và trong sức mạnh của tình yêu, cái chết của Chúa Giêsu trên thập giá gây chú ý cho mọi người vì nhờ cái chết của Ngài, mọi người đều được lôi kéo đến với Ngài, Ngài đã qui tụ mọi người không phân biệt bất cứ một ai. Ngài đã tha thứ cho cả những kẻ hành hạ, ám hại, lên án và hành hạ Ngài. Sức mạnh tình yêu của Chúa Giêsu trên thập giá là sức mạnh cứu độ. Nhờ sức mạnh ấy, con người, loài người và mọi người được cứu độ:” Ơn cứu độ nơi Người chan chứa “. Chính trong giờ phút tối tăm của cuộc đời, trong giờ hấp hối, Chúa Giêsu đã minh chứng:” Tình yêu mạnh hơn sự chết”. Tình yêu nối kết con người, tình yêu tha thứ và tình yêu từ bỏ. Chúa Giêsu đã nói:” Không tình yêu nào cao vời bằng tình yêu của người hiến mạng sống vì người mình yêu”( Ga 15, 13 ).
Đức Giêsu đã yêu nhân loại cho tới cùng, Ngài vẫn tiếp tục yêu con người và từng người không ngừng. Trong cái chết của Chúa Giêsu, nhân loại giao hòa với Thiên Chúa, với Ngài và với mọi người. Hiệp với cái chết của Chúa, nhân loại có nghĩa vụ và trách nhiệm đối với nhau, cầu nguyện và tưởng nhớ tới những người đã chết. Không ai tránh khỏi cái chết: ai cũng phải một lần ra đi ai cũng phải một lần từ giã cõi đời, từ biệt những người thân thương để trở về với Đấng đã dựng nên mình, trở về với Đấng đã yêu thương mình. Người quá cố có thể là ông bà, cha mẹ, con cái, anh chị em và những người thân thương của ta hay những người mà ta chưa bao giờ quen biết, những kẻ đã từng làm hại ta vv...Trong cái chết của Chúa Giêsu, mọi người sẽ thông cảm và tha thứ cho nhau. Vì cái chết của Chúa Giêsu là nguồn ơn an bình và tha thứ...
Cầu nguyện cho những người đã chết để họ được giải thoát là một ý nghĩ lành thánh ( 2 Mcb 12, 46; GH 50 ). Lời cầu nguyện của mọi người còn sống có sức mạnh giải thoát tội lỗi của những người quá cố, nhưng đồng thời chúng ta cũng được thừa hưởng lời chuyển cầu của các Ngài ( Giáo Lý Công Giáo).
Lạy Chúa Giêsu, xin cho chúng con luôn biết yêu thương cầu nguyện cho những người đã chết vì người sống và kẻ chết có một mối giây liên kết vững bền, thâm sâu và không tách rời.
GỢI Ý CHIA SẺ:
1. Bạn cảm nghiệm thế nào về cái chết?
2. Cái chết của Chúa Giêsu nói gì cho ta?
3. Tại sao mọi người đều phải chết?

 

AnTáng 89: Chết Không Phải Là Xa Cách Vĩnh Viễn

Chết Không Phải Là Xa Cách Vĩnh Viễn AnTáng 89

Lm Trần Bình Trọng
Lễ Các Linh Hồn
Is 25:6a, 7-9; Rm 8:14-23; Lc 23:33, 39-42
 

Hằng ngày người ta chứng kiến hoặc nghe nói hoặc đọc trên báo chí về những cái chết do già AnTáng 89

Hằng ngày người ta chứng kiến hoặc nghe nói hoặc đọc trên báo chí về những cái chết do già yếu, bệnh tật, tai nạn, thiên tai, chiến tranh, bạo động.. gây ra. Và người ta nghĩ chết chóc là chuyện xẩy ra cho người khác, chứ chưa xẩy ra cho chính mình. Ða số loài người có thể đương đầu với cuộc sống dù có vất vả khổ cực đi nữa. Tuy nhiên ít ai muốn đương đầu với cái chết. Người ta cũng cảm thấy khó chấp nhận cái chết của người còn trẻ tuổi và người thân yêu. Tâm trạng đó có nghĩa là người đời sợ chết hay chưa muốn chết vì người ta sợ đối diện với những gì xẩy ra ở đời sau mà người ta không biết trước được. Có những người sợ chết đến nỗi dặn những người thân yêu phải nắm chặt tay chân mình trong lúc hấp hối.
Trong thực tế, chết có thể xẩy đến cho bất cứ ai: già trẻ, lớn bé, hoặc bất cứ lúc nào: ngày cũng như đêm, hay bất kì ở đâu, ngay cả tại những nơi mà người ta tưởng là an toàn nhất, người ta vẫn có thể chết. Như vậy, chết không kiêng nể một ai. Khi nào thiên thần Chúa đến gõ cửa nhà linh hồn, gọi linh hồn ra khỏi xác, là một điều bí mật. Như vậy sống và chết gắn liền với nhau. Có thể nói được là người ta sinh ra để mà chết. Và tất cả cuộc sống là một tiến trình đi về cái chết.
Ðối với người tin tưởng vào ơn cứu độ của Chúa Kitô, Ðấng cứu độ trần gian, thì chết không phải là hết, cũng không phải là xa cách vĩnh viễn. Chết chỉ là một biến đổi từ đời này qua đời khác. Người thân nhân còn sống cần đem sự hiện của người khuất bóng vào đời sống gia đình bằng hình ảnh của người quá cố, bằng công nghiệp của người quá cố để lại, bằng những kì niệm có được với người quá cố và nhất là bằng lời cầu nguyện và lễ dâng cho người quá cố.
Phụng vụ lễ các linh hồn nhắc nhở cho người tín hữu là người lữ hành trên cuộc hành trình đi về nhà Chúa, họ không đi một mình, nhưng cùng đồng hành với toàn thể dân Chúa, cùng với Mẹ Maria và các thánh, cùng với người tín hữu tại thế và các linh hồn nơi luyện ngục.
Theo tín điều Các Thánh cùng Thông công, thì Mẹ Maria và các thánh trên trời có thể cầu bầu cho người tín hữu tại thế. Người tín hữu tại thế có thể cầu nguyện cho nhau, ủng hộ tinh thần cho nhau và cầu nguyện các linh hồn nơi luyện ngục. Giáo lí về việc người tín hữu tại thế cầu nguyện cho các linh hồn nơi luyện ngục được các Công Ðồng Nicea II, Firenze và Triđentinô gọi là Tín Ðiều Các Thánh cùng Thông Công thì Công Ðồng Vaticanô II gọi là sự hiệp thông sống động (GH #51).
Như vậy đức tin của người công giáo được hỗ trợ một cách tối đa bằng lời bầu của Mẹ Maria và các thánh và lời cầu nguyện, hi sinh và gương sáng của người khác. Và ngay cả khi nằm xuống vĩnh viễn, người quá cố vẫn còn được hỗ trợ bằng lời cầu nguyện của họ hàng, thân nhân và bạn hữu và của toàn thể Giáo hội và bằng ý chỉ của thánh lễ dâng. Biết được như vậy, nghĩa là biết được rằng sau khi chết mà còn có những người thân yêu, bạn bè nhớ đến mình trong lời cầu nguyện và thánh lễ, là điều sưởi ấm tâm hồn biết bao.
Ngay trong thời Cựu ước ngôn sứ Isaia đã có thể nhìn đến một viễn tượng khi Ðấng cứu độ trần gian sẽ đến: tiêu diệt tử thần (Is 25:8). Còn thánh Phaolô thì bảo tín hữu Rôma phải cậy trông vào ngày mà họ: sẽ được giải thoát, không phải lệ thuộc vào cảnh hư nát, mà được cùng với con cái Thiên Chúa chung hưởng tự do và vinh quang (Rm 8:21). Kinh Tiền tụng I trong Thánh lễ cầu cho những người đã qua đời nhắc nhở cho người tín hữu: Sự sống thay đổi chứ không mất đi và khi nơi nương náu ở trần gian bị huỷ diệt tiêu tan, thì được một chỗ cư ngụ vĩnh viễn trên trời. Chết là một biến đổi vì Chúa Kitô đã toàn thắng sự chết bằng việc phục sinh của Người. Bằng việc sống lại Chúa đã xoá bỏ tội lỗi và toàn thắng sự chết.
Trước khi về trời, chính Chúa Giêsu cũng hứa với ta qua các tông đồ: Thầy đi dọn chỗ cho chúng con. Nếu Thầy đi dọn chỗ cho chúng con thì Thầy sẽ trở lại và đón chúng con về với Thầy, để Thầy ở đâu, chúng con cũng được ở đó (Ga 14:2-3). Lời hứa đó đã được thực hiện cho người gian phi cùng chịu đóng đanh với Chúa Kitô mà có lòng ăn năn sám hối: Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Ðàng (Lc 23:43).
Hôm nay vì lòng hiếu thảo và tình bác ái Kitô, ta đến nhà thờ dâng thánh lễ cầu nguyện cho các linh hồn nơi luyện ngục, những linh hồn tổ tiên, ông bà cha mẹ, anh chị em, họ hàng thân quyến và bạn hữu đã khuất bóng. Xin Chúa vì lòng nhân hậu, khoan dung và hay tha thứ xét nhử nhân hậu với các linh hồn, đưa các linh hồn về hưởng ơn nghĩa trong nước Chúa.
Lời cầu nguyện cho các linh hồn đã qua đời:
Lạy Chúa cả nhân lành hay thương xót.
Chúa không muốn cho loài người phải chết đời đời,
nhưng được sống.
Xin Chúa dủ lòng thương xót các linh hồn đã qua đời.
Xin dùng máu thánh Con Chúa đã đổ ra vì tội lỗi loài người
mà tẩy sạch vết nhơ tội lỗi cho các linh hồn
cho được hưởng phúc trường sinh. Amen.

 

AnTáng 90: Cuộc Đời Chóng Qua

Cuộc Đời Chóng Qua AnTáng 90:

Pt GB Nguyễn Văn Định
Cảm nghiệm Sống #49: Sự chết
CUỘC ĐỜI CHÓNG QUA
(Ga 16,20-22; 17, 24-26)
 

Cuộc sống ở trần gian đuợc kinh Thánh mô tả như là một làn sương, một hơi thở và một làn khói AnTáng 90

Cuộc sống ở trần gian đuợc kinh Thánh mô tả như là một làn sương, một hơi thở và một làn khói: “Cuộc đời chúng ta trên dương thế, chẳng khác gì bóng câu." (Gióp 8, 9)
Đế thấy cuộc đời chóng qua: bạn nên nhớ hai sự kiện này: 1/ Cuộc sống cực kỳ ngắn ngủi, nếu so với chốn đời đời. 2/ Trần gian chỉ là nơi cư trú tạm thời mà thôi. Vì bạn không ở trần gian lâu, nên đừng gắn bó với nó. Hãy cầu nguyện như Đavít xưa: “Lạy Chúa, xin dạy cho con biết. đời sống con chung cuộ thế nào, ngày tháng con đếm được mấ mươi, để hiểu được kiếp phù du là thế.” (Tv 39,5) 2-
Sông tạm quê người: Trần gian không phải là căn nhà vĩnh viễn hay đích cuối cùng của bạn, bạn chỉ đi ngang qua, ghé qua trái đất mà thôi. Kinh Thánh dùng những chữ như người lữ khách, kẻ đi đường, người hành hương để mô tả cuộc sống ngắn ngủi của bạn trên đất: “Nếu anh em gọi Người là Cha, thì anh em hãy đem lòng kính sợ mà sống cuộ đời lữ khách này.” (1Phêrô 1,17)
Công dân Nước Trời: Chúa muốn bạn luôn mong chờ trở về quê hương của mình: “Còn quê hương chúng ta ở trên trời, và chúng ta nóng lòng mong đợi Đức Giêsu Kitô từ Trời đến cứu chúng ta. (trở lại đón) (Phil 3,20-21).
Lai lịch của bạn ở cõi đời đời và quê hương của bạn là Thiên đàng. Khi bạn nắm bắt được lẽ thật này, bạn sẽ không còn lo lắng về chuyện có đủ mọi thứ trên trần gian này- Chúa rất thẳng thắn nói về mối hiểm họa của lối sống chỉ biết có trước mắt. Khi bạn đùa giỡn với những cám dỗ của thế gian này, Chúa gọi là tội ngoại tình tâm linh, tâm hồn.
Kinh Thánh chép: “Anh em giống như kẻ ngoại tình, amh em không biết rằng: yêu thế gian là ghét Thiên Chúa sao? Vậy ai muốn là bạn của thế gian thì tự coi mình là thù địch của Thiên Chúa.” (Giacôbê 4,4)
Khách tha hương & Kẻ lưu lạc: Nhiều Tín hữu đã phản bội Vua của họ và Vương Quốc của Ngài. Họ đã dại dột kết luận rằng: vì họ sống trên đất, nên đây là nhà của họ. KHÔNG. Lời Chúa nói rất rõ: “Anh chị em yêu dấu, là khách tha hương và kẻ lưu lạc trong trần gian, chớ để dục vọng xác thịt lôi cuốn lôi cuốn, vì nó chống nghịch với linh hồn anh em. (1 Ph 2, 11).
Chúa muốn cánh báo bạn đừng để mình quá gắn bó với nhưng điều chung quanh chúng ta vì chúng thảy đều tạm bợ như sau: “Kẻ hưởng dùng của cải đời này hãy làm như chẳng hưởng, vì bộ mặt thế gian này đang biến đi.” (1 Cor 7 31)
Điều không thấy thì vĩnh cửu: Cuộc đời không phải là theo đuổi hạnh phúc trần gian. Chỉ khi nào bạn thấy cuộc đời là một cuộc thử nghiệm, một nhiệm vụ tam thời, thì bạn sẽ thoát được vui thú thế tục: “đừng chú tâm đến những vật hữu hình. Những điều trước mắt là những điều nay còn mai mất; những điều chúng ta không thấy mới trường tồn.” (x. 2 Cor 4, 18)
Không phải là nhà cuối cùng: Con cá không vui sống trên đất, chim đại bàng chỉ mong tung cánh. Bạn không thỏa lòng khi ở trần gian, bạn cónhững giây phút ở đây, nhưng không thể so sánh với điều Chúa sẽ dành cho bạn. Phaolô là con người trung tín, nhưng cuối cùng vào tù, Gioan Tiền hô là người can đảm làm chứng, ông bị chặt đầu. Hàng triệu người khác đã chết vì đạo, hoặc mất tất cả vì ai? Nhưng kết thúc không phải hết. Tóm kết: Chỉ cần 2 giây bước vào Thiên đàng, là bạn sẽ thốt lên: “Tại sao trước đây tôi lại quá chú trọng vào những điều tạm bợ? Tôi lãng phí quá nhiều thì giờ tiền bạc cho những cái chóng qua? Khi cuộc sống trở nên khó khăn, bạn chìm ngập trong nỗi nghi ngờ. Hãy nhớ rằng bạn chưa về nhà. Khi cái chết đến, đó không phải là lúc bạn rời nhà ra đi –Đó là lúc bạn sẽ đi về nhà.

 

AnTáng 91: Cuộc đời trần gian

Cuộc đời trần gian AnTáng 91

Lại Thế Lang
 

Cuộc đời trần gian Ta sống như con thuyền trôi Ta sống như đi qua cầu Rồi một ngày mai ta AnTáng 91

Cuộc đời trần gian
Ta sống như con thuyền trôi
Ta sống như đi qua cầu
Rồi một ngày mai ta sẽ đi về nhà Chúa
Vì đời ta sống cho Chúa...
(Không rõ tác giả)
Trên trang nhất của một tờ báo điện tử ở trong nước hôm 13-10-2006 có đăng tin tức về một tai nạn khủng khiếp xẩy ra trên quốc lộ I thuộc địa phận huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa giữa một chiếc xe cỡ trung 15 chỗ ngồi và một chiếc xe đò miền Trung. Tin tức cho biết 12 trong số 13 người đi trên chiếc xe thứ nhất bị tử thương tại chỗ trong đó có cả tài xế, chỉ có một người sống sót. Về phía chiếc xe đò thì may mắn hơn, chỉ có tài xế và phụ xe bị thương còn tất cả hành khách đều an toàn.
Được biết chiếc xe chở 13 người thuộc đoàn cứu trợ của phường 13 quân Phú Nhuận, xuất phát từ Sài Gòn đang trên đường ra Đà Nẵng cứu trợ đồng bào bị nạn trong cơn bão Xangsane hay còn gọi là cơn bão số 6, cơn bão đã gây nhiều thịêt hại cho một số tỉnh ở miền Trung. Bản tin còn liệt kê đầy đủ danh tánh những nạn nhân bị chết cũng như người bị thương sau tai nạn. Trên trang báo cũng có đăng hình ảnh 12 xác chết nằm la liệt trên mặt đất trông thật thảm thương.
Đọc bản tin tức và xem hình ảnh tai nạn, tôi không khỏi xúc động. Nhưng tôi còn xúc động mạnh hơn khi nhận được điện thoại từ Việt Nam cho biết nạn nhân thứ 6 trong danh sách, Đỗ Hoàng Sơn là con của một người em con bà mợ của vợ tôi. Cháu gọi chúng tôi bằng bác.
Tiếp tục theo dõi tin tức được biết sau khi nhân viên công lực hoàn tất các thủ tục cần thiết tại hiện trường, xác nạn nhân được di chuyển ngay về Sài gòn. Nghe nói chính quyền muốn chôn cất các nạn nhân tại nghĩa trang liệt sĩ như muốn biểu lộ một cử chỉ biết ơn đối với những người đã vì việc nghĩa mà hy sinh tính mạng. Tuy nhiên gia đình cháu Sơn lại muốn được tự lo liệu để cháu được an táng theo nghi thức Công giáo.
Thánh lễ an táng được cử hành tại nhà thờ Tân Hòa hôm 15-10 đã được đông đảo giáo dân trong giáo xứ tham dự để hiệp ý cầu nguyện cho cháu. Nhiều buổi đọc kinh liên tục tại tư gia trước và sau thánh lễ an táng cũng thu hút nhiều người trong giáo khu, giáo xứ. Cũng có những người từ xa đọc được tin tức trên báo chí cũng dò hỏi được địa chỉ tìm đến an ủi gia đình hoặc cầu nguyện cho cháu.
Cái chết nào cũng đau thương nhưng cảnh ngộ của cháu khiến cho cái chết của cháu thêm thương đau. Chào đời chưa được bao lâu thì cháu mất mẹ. Người mẹ trẻ từ giã cõi đời để lại đứa con trai mới 3 tháng tuổi và người chị của cháu. Trong cảnh gà trống nuôi con, cha cháu dù tận lực cũng không khám nổi nếu không có bà nội đùm bọc. Cháu lớn lên thiếu tình thương của mẹ nhưng bù lại được bà nội thương yêu và tận tình săn sóc.
Một lần cháu theo bà nội ra Nha Trang chơi khi đó cháu khoảng 4 hay 5 tuổi. Mải vui nơi thành phố lạ, cháu đi lạc lúc nào không biết. Ai cũng tưởng cháu chỉ quanh quẩn trong xóm nhưng tìm mãi không thấy. Mọi người lo lắng đổ xô đi tìm khắp nơi cũng không tìm được cháu, mãi cho đến khi có ý định nhờ Đài phát thanh Nha Trang loan tin tìm trẻ lạc thì tìm được cháu. Trong lúc trên nét mặt mọi người còn chưa hết vẻ lo lắng thì cháu vẫn tỉnh bơ như không có chuyện gì xẩy ra. Cháu không khóc, không hoảng hốt hay sợ hãi như những đứa trẻ khác. Nhưng chímh cách phản ứng khác với những đứa trẻ khác lại nói lên một điều gì đó thật chua xót.
Trước kia khi còn làm việc ở Nha Trang, mỗi lần có dịp về Sài gòn tôi đều ghé thăm bà mợ và lại có cơ hội tiếp xúc với cháu. Người ta nói những đứa trẻ mồ côi thường khôn trước tuổi. Điều này cũng không ngoại lệ đối với cháu nhưng có điều khác là trong cái khôn lanh, cháu không dám vượt qua khuôn thước của gia dình, cháu vẫn ở trong sự giáo dục của một gia đình đạo đức. Dù đang ở độ tuổi ham chơi, cháu đi nhà thờ hàng ngày. Tối đến cháu còn tham dự buổi đọc kinh tại tượng đài thánh Martin, vị quan thày của giáo khu.
Năm 1988 trong dịp chúng tôi từ Mỹ về thăm Việt Nam, tôi lại được dịp nghe cháu tỉ tê nói chuyện. Tôi thích nghe cháu nói chuyện vì cháu có lối nói chuyện rất thu hút. Trong một lần hai bác cháu ngồi chuyện trò với nhau, tôi cho cháu một chút tiền. Tôi đọc được sự mừng rỡ trên nét mặt của cháu nhưng ngay sau đó cháu tỏ ra e ngại không dám nhận. Có lẽ cháu sợ bị hiểu lầm. Tôi phải nói với cháu rằng bác quí cháu bác cho tiền thì cứ cầm lấy mà xài miễn là đừng xài phí là được. Nghe vậy cháu mới chịu nhận.
Sáng hôm sau khi chúng tôi đi lễ mới về đến nhà thì cháu đã kêu người từ một quán phở ở trong xóm bưng hai tô phở nóng hổi mời vợ chồng tôi ăn sáng. Tôi bảo cháu kêu thêm phở cho chính cháu và những người khác cùng ăn cho vui. Cháu có vẻ lưỡng lự nhưng rồi cũng làm theo ý kiến của tôi. Ăn phở xong, khi người ta đến lấy tô, sẵn có tiền trong túi, cháu hăm hở đòi trả tiền nhưng tôi bảo cháu hãy cất tiền để xài vào việc khác. Sau lần gặp lại cháu kỳ đó chúng tôi không còn dịp nào gặp lại cháu cho đến khi được hung tin cháu bị tử nạn thảm thương trong chuyến xe định mệnh.
Nghe bà nội cháu kể buổi chiều trước khi lên đường cháu vui lắm. Cháu vui là phải vì vừa đi làm công tác từ thiện lại có dịp đi xa để mở rộng tầm hiểu biết. Đây là lần thứ hai cháu rời Sài gòn đi miền Trung. Lần thứ nhất cháu đi với bà nội, bị lạc ở thành phố Nha Trang. Lần này cháu ra đi và khi người ta đưa cháu về nhà thì chỉ còn là cái xác không hồn trong một hình hài không còn nguyên vẹn, đựng trong chiếc túi ni-lông. Cháu đã đi sang một thế giới khác, bỏ lại người cha đau khổ, bỏ lại bà nội 85 tuổi luôn thương yêu cháu và bỏ lại niềm thương cảm của mọi người trong giáo xứ, giáo khu.
Mỗi lần chứng kiến cái chết hay mỗi lần đi dự lễ an táng là mỗi lần tôi nghĩ đến thân phận mỏng manh của kiếp nhân sinh. Lần này cũng vậy, cái chết của cháu làm tôi suy nghĩ miên man về cuộc sống của cháu. Vừa mới sinh ra đã mồ côi mẹ, lớn lên không được học hành đến nơi đến chốn, chết đi lúc mới 23 tuổi đời, khi chưa làm được gì cho mình và cho gia đình. Nếu chết là hết và nếu không có sự sống đời sau thì cuộc đời của cháu thật là vô nghĩa.
(Những ngày chuẩn bị bước vào tháng các linh hồn)

 

AnTáng 92: Ðời đời và niềm hi vọng Kitô giáo

Ðời đời và niềm hi vọng Kitô giáo AnTáng 92

Lm Augustinô Nguyễn Huy Tưởng
 

Mỗi lần tết đến xuân về chúng ta thường suy niệm về ý nghĩa của thời gian. Thời gian chẳng qua AnTáng 92

Mỗi lần tết đến xuân về chúng ta thường suy niệm về ý nghĩa của thời gian. Thời gian chẳng qua là một chuỗi của những chuyển động không ngừng. Nhưng không có thời gian nếu không có mức á đến và đi. Nói tóm lại nếu không có đời đời. Tuy nhiên người cộng sản sợ đời đời vì sợ con người sao nhãng nhiệm vụ trần thế. Họ nói tôn giáo là thuốc phiện làm mê mệt dân chúng vì tôn giáo cho con người thấy viễn cảnh đời đời. Ngày nay khi nghiên cứu các tôn giáo khác có nhiều người đâm ra nghi ngờ cái viễn cảnh đời đời của Kitô giáo. Tuy nhiên kinh thánh cho ta tin tưởng về một điều mà tâm hồn nhân loại không bao giờ tưởng tượng ra nổi (1 Cor 2,9). Có đời đời vì Mạc khải và sự sống lại của Chúa : Nếu Chúa Kitô không sống lại niềm tin của anh em chả đi đến đâu cả... và rồi những người chết trong Chúa Kitô sẽ bị mất mát. Nếu ta đặt niềm tin vào Chúa Kitô cho cuộc sống hiện nay mà thôi, chúng ta là những người đáng thương hơn cả. (1 Co 15,17-19).
Mạc khải cho ta rất nhiều hình ảnh về thế giới bên kia, cõi vĩnh hằng, như là sự hiệp thông với Chúa hay tiệc cưới đời đời. Niềm tin và sự hi vọng vào cuộc sống đời đời đem lại cho ta sự can đảm và sự bình an nội tâm.
Khi loan báo Chúa Kitô Phục sinh mạc khải cũng đoan hứa xác thịt người ta sống lại và sự hằng sống . Nhưng số phận những người đã chết ra sao ? Cựu ước luôn cảnh cáo chuyện chiêu hồn nhưng cũng cho hay là người đã chết không bị tiêu diệt. Họ vẫn sống bên Chúa theo một cách thế nào đó. (Sg 3,1-9). Việc cầu nguyện cho người chết, tập tục của người do thái như trong sách Maccabêô (2 M 12,43) vẫn được khuyến khích trong giáo hội cho thấy đã có những tập tục đó. Tân ước nói tới một hình ảnh tượng trưng của người do thái về một nơi nào đó người chết chờ đợi nhưng cũng xác định về một liên hệ mới với Chúa Kitô. (cf 2 Co 5,8; Ph 1,23). Như thế liên hệ giữa người còn sống và những người đã chết không bị gián đoạn.
Khi chấp nhận chân lý khi chết cuộc sống con người không bị tiêu diệt mà thay đổi trong một liên hệ mới với Thiên Chúa, Giáo Hội chủ trương là sau khi chết vẫn còn một yếu tố linh thiêng là linh hồn. Vì có liên hệ với Thiên Chúa hằng sống nên linh hồn bất tử (xem công đồng Latran V, DS 1440; FC 267) : Khi hiểu biết linh hồn theo cách thế của sách Khôn ngoan thì cũng xác quyết linh hồn bất tử. Xác tín rằng con người tiếp tục tồn tại sau cái chết trong liên hệ với Thiên Chúa dựa vào niềm tin là Thiên Chúa không phải là Chúa của kẻ chết mà là Chúa của kẻ sống (Mc 12,27). Giáo hội xác quyết sự tồn sinh và sự tồn hữu sau cái chết của một yếu tố linh thiêng có ý thức và và ý chí để cái tôi của con người tồn tại. Ðể chỉ yếu tố đó giáo hội dùng từ linh hồn theo cách dùng của Thánh Kinh và Truyền thống. (thư của thánh bộ đức tin về vài câu hỏi liên quan đến vấn đề cánh chung, tháng năm 1979). Vì có linh hồn bất tử con người sẽ gặp Chúa Ðấng Sáng Tạo và Thiên Chúa sau khi chết.
Lúc chết sự hiện hữu của mỗi người được đặt dưới ánh sáng của Thiên Chúa, soi sáng toàn thể cuộc sống. Ðó là phán xét riêng. Sự phán xét riêng này dành cho mỗi người ngay sau khi chết, không đợi đến ngày tận thế. Ðiều này qui định tình trạng giữa cái chết và ngày tận thế ngày toàn thể nhân loại sống lại. Mỗi người đều được Chúa soi sáng đối diện với chân lý. Sự phán xét cứu thoát đối với những người đã chấp nhận lời Chúa Kitô (cf Jn 12,46-48), cho những người đã làm lành và phán xét luận phạt cho những ai đã làm dữ (cf 2 Co 5,10) không có gì là thiên lệch và cho thấy giá trị của mỗi cuộc sống.
Sự cứu độ mang hình thức hưởng nhan Chúa nghĩa là thấy Thiên Chúa Ba Ngôi trong ánh sáng toàn diện (công đồng Florence năm 1439, DS 1305; FC 967). Sự diện kiến này làm cho con người hoàn toàn hạnh phúc. Thiên Chúa là đối tượng của niềm hi vọng kitô giáo và thỏa mãn hoàn toàn mọi khát vọng của con người.
Ðể đạt tới sự chiêm ngưỡng Chúa, một giai đoạn thanh tẩy rất cần thiết. Ta gọi là luyện tội. Không phải là nơi chốn hay thời gian nhưng là một tình trạng. Dù sao giai đoạn này cũng là một hình phạt Thiên Chúa dùng để thanh tẩy tội lỗi của con người. Sự hiệp thông với Thiên Chúa mà cái chết dẫn ta đến, cho ta đau đớn ý thức được những khiếm khuyết của mình, sự từ chối tình yêu của mình và nhu cầu cần phải để cho quyền năng cứu độ của Chúa Kitô thanh tẩy.
Chính Thiên Chúa thanh tẩy và biến đổi. Nhưng truyền thống của Giáo hội công giáo xác quyết rằng những linh hồn trong luyện ngục được hưởng lời cầu nguyện dành cho họ do những người anh em và lời cầu bầu của các thánh đang hạnh phúc hưởng nhan Thiên Chúa.
Việc phán xét trong ánh sáng của Chúa Kitô dẫn đến hai trạng thái trái ngược nhau ; thiên đàng hay hỏa ngục. Ðây là nội dung niềm tin do Thánh Kinh minh chứng trong một kiểu nói nhiều hình ảnh. Viễn cảnh về định mệnh con người này đưa đến nhửng quyết định tối hậu cho cuộc sống con người ở trần gian.
Thiên đàng là thế giới của Thiên Chúa. Chính trong ý nghĩa này mà chúng ta cầu nguyện trong kinh Lạy Cha : Lạy Cha chúng con ở trên trời. Tân ước nói tới nước trời, hay lên trời là đi gặp Chúa Kitô trong nước thiên đàng để ở với người, cư ngụ trong nhà người.
Nước trời hoàn tất cuộc sống, làm tròn cuộc sống trong tình yêu Ba Ngôi Thiên Chúa và anh em. Thánh Kinh diễn tả sự toàn vẹn: trời là nơi hạnh phúc vĩnh viễn cho con người, tham dự toàn diện vào cuộc sống của Ba Ngôi, nhìn thấy Thiên Chúa diện đối diện, niềm vui và an bình không bao giờ tàn. Sách Khải huyền cho ta thấy một thế giới ánh sáng và cuộc sống.
Hạnh phúc thiên đàng không có tính cách riêng rẽ. Hiệp thông với Chúa cũng là hiệp thông với anh em với tất cả những ai sống trong tình yêu Thiên Chúa, trong Thần Khí của người, với những người đang ở trong thế gian và những người đã ra đi. Chính là hiện thực của tín điều các thánh thông công.
Hỏa ngục là kết thúc của sự từ chối Thiên Chúa cách tuyệt đối và sự trợ giúp của Ngài. Chính là từ chối cuộc sống và niềm vui mà Thiên Chúa muốn ban tặng. Tân ước diễn tả như một trạng thái bị lên án, nghĩa là tuyên án hình phạt đời đời, đã được chuẩn bị cho ma quỉ và bè lũ, như là trạng thái mất mát hoàn toàn và là cái chết lần thứ hai.
Không ai có thể nói người nào đó vào hỏa ngục ï. Nhưng hỏa ngục cho thấy con người có khả năng khước từ cách dứt khoát cuộc sống Thiên chúa ban tặng. Chúa yêu con người quá sức nên kính trọng con người, không bắt buộc họ và tạo nên con người tự do. Chúa muốn cho mọi người được cứu độ, hành động để lôi kéo họ ra khỏi sự dữ và tội lỗi, và mở cửa cho họ đi vào cuộc sống. Nhưng ngài coi trọng tự do của con người và công nhận tầm quan trọng của những quyết định của họ.
"Ngài sẽ trở lại trong vinh quang để phán xét kẻ sống và kẻ chết". Chúng ta đọc trong kinh Tin Kính của công đồng Nicée Constantinople.
Sự trở lại của Chúa Kitô như ta tuyên xưng trong kinh Tin Kính không phải đơn giản như tái thể hiện cuộc quang lâm đầu tiên, đã đưa Ngài đến cái chết. Nhưng là sự tỏ hiện cuối cùng của Ðấng Phục sinh không còn chết nữa. (Rm 6,9) Triều đại người loan báo và khai mạc và được hết thúc khi ngài trở lại không phải là triều đại ở thế gian này. Tuy nhiên Chúa Kitô vinh quang sẽ đến trong vinh quang chính là Ðấng đã đến, khi phục sinh đã chiến thắng sự chết và tội lỗi, là Ðấng vẫn can thiệp trong cuộc sống của ta nhất là trong các bí tích là những dịp tưởng niệm Ngài cho đến khi Ngài trở lại.
Chúng ta không thể tưởng tượng hay đặt chương trình cho cuộc tái quang lâm của Chúa Kitô vì ngày giờ hay hoàn cảnh chỉ mình Cha trên trời biết trước. Giáo hội luôn lên án chủ nghĩa cho rằng Chúa trở lại sau những ngàn năm lịch sử.
Chúng ta chỉ cần chuẩn bị trong niềm hi vọng việc Chúa trở lại với chiến thắng hoàn toàn sự chết kẻ thù cuối cùng; Ngài xóa bỏ mọi hình thức nô lệ và hiện đến trong vinh quang. Thánh Phaolô cho ta biết : "Nếu người đã chết không sống lại, Chúa Kitô cũng không sống lại. Và nếu Chúa Kitô không sống lại sứ điệp của chúng ta sẽ không có đối tượng và niềm tin của ta cũng vô ích. (1 Co 15, 13-).
Vì Chúa Kitô sống lại nên người ta cũng sẽ sống lại. Chúng ta tuyên xưng trong kinh Tin Kính. Vì Chúa Kitô là hoa quả đầu mùa là người đầu tiên từ kẻ chết sống lại, người đầu tiên trong những người đã chết.
Trong cựu ước đã có niềm tin về sự sống lại cá nhân nhất là những người tuẫn giáo trong Israel. Niềm tin những người chết sống lại trước thời gian bị lưu đầy khởi đi từ kinh nghiệm về sự phục hoạt của dân Israel và phát xuất từ xác tín là liên hệ với Thiên Chúa nơi người công chính không thể bị phá hủy, vì các ngài đã hi sinh mạng sống để trung thành với Thiên Chúa. Ngài không thể để họ chết đi. Tuy nhiên biến cố Chúa Giêsu sống lại củng cố niềm xác tín vào sự sống lại của những người đã chết.
Sự phục sinh của Chúa Kitô cho thấy tình yêu Chúa Cha mạnh mẻ, trung thành và không gì có thể chuyển lay. Ðó là công việc của Chúa Thánh Thần tiếp tục kết hợp mật thiết với Cha và Con ngay trong khi Chúa Giêsu chịu chết và chịu khổ hình. Thánh Linh được ban chonhững người chịu phép rửa và thêm sức : nếu Thánh Linh đã phục sinh Chúa Kitô từ cõi û chết hiện diện trong anh em, Ðấng đã phục sinh Chúa Kitô cũng ban sự sống cho thân xác hay chết của anh em nhờ Thánh Thần ngự trong anh em. (Rm 8,11).
Nhờ phép rửa và ơn Thánh Linh chúng ta được phục sinh với Chúa Kitô và biến đổi. Xác thịt của chúng ta sẽ biến đổi giống như Chúa Kitô phục sinh. Thánh Phaolô gọi là một thân xác linh thiêng tràn đầy vinh quang.
Chúa Kitô đã nói đừng quá tưởng tưởng về sự biến đổi thân xác này trong tin mừng. Khi người Sađucêô hỏi ngài về chuyện anh chàng có nhiều vợ khi sống lại sẽ ở với ai, Chúa đã phán : Các người sai lầm và không biết được quyền năng của Thiên Chúa. Khi sống lại người ta không còn lấy nhau nữa mà như các thiên thần trên trời. Thiên Chúa là Chúa của kẻ sống. Thánh Phaolô cho ta thấy thân xác linh thiêng sau khi sống lại khi ngài viết : gieo xuống thì hư nát, mà trỗi dậy thì bất diệt, gieo xuống thì hèn hạ mà trỗi dậy thì vinh quang, gieo xuống thì yếu đuối mà trỗi dậy thì mạnh mẻ, gieo xuống là thân thể có sinh khí mà trỗi dậy là thân thể có thần khí (1 Cor 15,42-44).
Việc sống lại của thân xác là sự sáng tạo mới hoàn toàn là tác phẩm của quyền năng Thiên Chúa và giống như một sự sinh sản. Theo Anastase tu viện trưởng núi Sinai vào năm 700 trong bài giảng về sự sống lại thì : Nếu chương trình cứu độ chưa hoàn tất, vì con người luôn chết đi và thân thể họ luôn tan rữa khi họ chết, thì đó không phải là lý do cho ta không tin. Chúng ta đã nhận lãnh trước những điều tốt lành Chúa đã hứa nơi con người trưởng tử, nhờ người ta được mang lên trời và chia xẻ ngai tòa với Ðấng đã mang ta lên cao như thánh Phaolô nói : Với Ngài ngài đã làm cho ta sống lại, với ngài Ngài đã cho ta hiển trị trên trời với Chúa Kitô Giêsu.
Ngoài cái viễn cảnh cá nhân, mạc khải còn mở cho ta thấy viễn cảnh cho toàn thể nhân loại , một sự hoàn tất tập thể cho toàn thể thế giới, trong việc phán xét chung. Liên hệ với việc kẻ chết sống lại cho ta thấy khía cạnh tập thể của việc cứu độ. Không ai được cứu độ một mình. Tất cả được thiết lập theo sự công bình của Thiên Chúa và Chúa Kitô sẽ đến phán xét kẻ sống và kẻ chết, tái tạo vạn vật và trả lại cho Thiên Chúa. Ðiều này cho thấy xét đoán của con người mỏng manh và phiếm diện, nên Chúa Kitô có nói là không nên lên án ai cứ để cỏ lùng mọc chung với lúa.
Tuy nhiên không nên đợi Chúa trở lại cách thụ động. Chúng ta phải làm cho thế giới luôn tốt đẹp theo ý Chúa như trong bài giảng về nước Trời của Chúa Giêsu. Trái đất là nơi khởi đầu cho nước Chúa hứa hẹn cho tương lai và đã được phán xét. Chúa Giêsu đã nói rõ chỉ những người yêu thương trong thế giới này sẽ có chỗ đứng hạnh phúc trong tương lai và ngày thế mạt Chúa sẽ cho thấy cái gì là tốt đẹp, bền vững chân thật trong cõi nhân sinh.
Sau khi tuyên xưng việc kẻ chết sống lại chúng ta tuyên xưng cõi sống đời đời, cuộc sống của thế giới ngày mai. Mục đích cuộc sống con người là cõi sống đời đời. Chúa đã hứa cho ta cuộc sống đó. Cuộc sống này chỉ là sự kéo dài và triển nở cuộc sống kết hợp với Chúa Kitô trong cuộc sống hiện tại. Ðó là cuộc sống mà Chúa là tất cả trong mọi sự, cuộc sống tràn đầy của Ba Ngôi Thiên Chúa. Kinh Thánh nói tới trời mới đất mới. Những gì tốt đẹp trên thế gian này sẽ tồn tại hay hoán chuyển sang thế giới mới như con sâu rọm biến thành con bướm khi mùa xuân trở lại. Hiện nay chúng ta vẫn lãnh nhận ơn sủng cuộc sống đời đời đã bắt đầu, chúng ta đã lãnh nhận những ơn đầu tiên của Thánh Thần Ðấng đã phục sinh Chúa Kitô và chúng ta sống trong niềm hi vọng màu nhiệm phục sinh sẽ hoàn tất trong chúng ta.
Niềm tin và hi vọng Kitô giáo không thể không có những hậu quả trong cách thế đối diện và đến gần cái chết. Phụng vụ diễn tả : Ðối với các tín hữu Chúa, sự sống thay đổi chứ không mất đi và khi nơi nương náu ở trần gian bị hủy diệt tiêu tan thì có chỗ cư ngụ vĩnh viễn trên trời. Bộ mặt mới của cái chết cho ta biến đổi cái chết theo gương Chúa Kitô thành một sự hiến dâng sau cùng. Chết như người tin Chúa là phó thác cho tình yêu của Thiên Chúa và hi vọng. Mỗi lần đọc kinh Kính mừng chúng ta vẫn thường xin Mẹ Maria : "Cầu cho chúng con khi nay và trong giờ lâm tử". Hãy nhớ mãi lời nhắn nhủ của cha Charles de Foucault: Hãy sống ngày hôm nay như con sắp ra pháp trường tử đạo"

 

AnTáng 93: “NẾU HẠT LÚA MÌ RƠI XUỐNG ĐẤT MÀ KHÔNG THỐI ĐI

NẾU HẠT LÚA MÌ RƠI XUỐNG ĐẤT MÀ KHÔNG THỐI ĐI AnTáng 93

THÌ NÓ SẼ CHỈ TRƠ TRỌI MỘT MÌNH”
(Ga.12, 23-28)
 

Năm 1922, một nhóm các nhà khảo cổ, sau biết bao nhiêu công lao tìm kiếm, đào xới, họ đã khám AnTáng 93

Năm 1922, một nhóm các nhà khảo cổ, sau biết bao nhiêu công lao tìm kiếm, đào xới, họ đã khám phá ra được một ngôi mộ của hoàng đế TUT của Ai Cập. Bên cạnh xác của hoàng đế Ai Cập,  đã được chôn cất hơn 3.000 năm này, người ta thấy có một hũ đựng những hạt lúa mì, có lẽ đây là phần lương thực mà người ta dành cho hoàng đế chăng .
Thấy những hạt lúa mì cách đây hơn 3.000 năm, một nhóm chuyên viên về nông nghiệp, đã lấy một số những hạt lúa mì này, đem gieo xuống đất, và kết quả là những hạt này đã nẩy mầm.
Sau hơn 3.000 năm, vậy mà những hạt lúa mì này vẫn nằm trơ trơ, chỉ vì chúng không có đủ điều kiện, để mục nát đi hầu trở thành những cây lúa có thể sinh những bông hạt nặng trĩu.
Hạt giống phải mục nát đi để trở thành những cây mới, đó chính là hình ảnh của nguyên tắc :”Sự sống nảy sinh từ sự chết”.
Chết đi để được sống, đó là một chân lý muôn đời, thế nhưng rất ít người muốn để ý tới.
Thường thì chúng ta ai cũng muốn sống để làm nên sự nghiệp này, công việc kia, bởi vì khi đã chết rồi thì đâu còn làm được việc gì nữa. Thế nhưng trong thiên nhiên, cũng như trong lịch sử, chúng ta thấy, không thiếu gì những trường hợp, chết đi nhưng vẫn làm nên sự nghiệp, mà còn là sự nghiệp lớn lao nữa.
Làm sao lại có thể như thế được ? Thưa bởi vì, lắm khi Thiên Chúa đã dùng những điều mà con người cho là ngược đời, không thể hiểu được, để hoàn thành những chương trình tuyệt hảo của Ngài.
Nếu chúng ta tìm hiểu về đời sống của những con bướm đang bay lượn tung tăng trong những vườn hoa để vui chơi và để hút những giọt mật ngon lành tữ những đoá hoa ở trong vườn, hẳn là chúng ta sẽ thấy được chân lý trên đây. Thật vậy, trước khi trở thành những con bướm với muôn mầu sắc sặc sỡ, có thể bay lượn khắp đó đây, bướm đã phải trải qua một thời gian thật là đen tối, một thời gian tưởng chừng như đã chết, đó là thời gian bướm phải nằm trong ổ kén. Lúc đó bướm chỉ là một con sâu, nằm cuộn trong ổ kén, không ăn, không bò, mà chỉ nằm, hầu như bất động. Thế nhưng thời gian đó lại là điều tất yếu mà nó phải trải qua để trở thành bướm.
Nếu trong thiên nhiên đã như thế , thì trong lịch sử chúng ta cũng vậy.
Sử gia Tertulien ngày xưa đã quả quyết rằng:” Máu của các vị Tử Đạo là hạt giống sinh người tín hữu”. Thật đứng như vậy, cái chết của những người một lòng kính yêu Chúa, đã trở thành một yếu tố khích lệ cho sự phát triển của đạo Chúa.
Thế nhưng không có cái chết nào phát biểu chân lý chúng ta đang nói đây, rõ ràng cho bằng cái chết của Chúa Giêsu. Chính cái chết của Chúa Giêsu trên Thập Giá đã sinh lại biết bao nhiêu người trong ơn cứu rỗi.
Chết đi để được sống, chết đi để sinh nhiều kết quả, đó là một chân lý.
Thế nhưng cái chết của người thân yêu của chúng ta, vẫn làm cho chúng ta tan nát cõi lòng. Có điều là, đối với người Kitô hữu chúng ta, qua tiếng nức nở, nghẹn ngào, vì sự ra đi vĩnh viễn của người thân yêu, chúng ta vẫn còn nghe văng vẳng bên tai chúng ta những lời tuyên bố của Đấng quyền năng rằng: “Ai tin Ta thì dù có chết cũng sẽ được sống, và ai sống mà tin Ta sẽ không chết bao giờ”.
Nếu như vậy thì cụ...  chết làm sao được bởi vì suốt gần một thế kỷ cụ đã sống và tin Chúa ? Điều vừa xảy đến với cụ mà chúng ta gọi là chết, thực ra chỉ là một sự thay đổi môi trường sống.
Chút nữa đây, chúng ta sẽ tiễn đưa cụ...   tới nơi an nghỉ cuối cùng. Công việc mà chúng  ta gọi là mai táng cụ, đúng ra phải gọi là một cuộc gieo trồng. Chúng ta gieo trồng “hạt giống” này xuống đất để chờ đến một ngày mọc thành” cây”. Đó chính là ngày thân xác này được phục sinh.
Còn linh hồn của cụ lúc này vẫn sống và có lẽ giờ này đã được đón nhận vào trong gia đình của Thiên Chúa rối. Nhưng nếu cụ có phải nán chờ ở phòng chờ đợi của Thiên Đàng, thì hy vọng rằng lời cầu nguyện của chúng ta, nhất là thánh lễ mà hôm nay chúng ta dâng, chắc sẽ sớm đưa cụ vào trong nhà của Thiên Chúa.
Riêng với chúng ta, những người đang sống, chúng ta không phải đợi cho đến lúc như cụ ..   đây, chúng ta mới có thể chết đi cho được sống, mà chúng ta có thể chết đi trước khi chúng ta chết nữa.
Vậy chết đi trước khi chết nghĩa là gì ?
Cái chết đầu tiên mà chúng ta phải chết, đó là kể như mình đã chết trước mặt Chúa. Nhưng thế nào là chết đi trước mặt Chúa ?Như chúng  ta biết, người đã chết thì hoàn toàn bất động. Người đã chết không bao giờ tỏ ý phản đối những người còn sống, dù người ta có làmgì cho họ đi nữa. Người chết đi trước mặt Chúa phải trao phó hoàn toàn cuộc sống của mình cho Chúa, để cho Chúa điều khiển cuộc sống của mình. Khi ấy sẽ có rất nhiều thay đổi trong con người cũng như trong cuộc đời của chúng ta, nó cũng giống như hạt giống đã được gieo vào lonìg đất, sẽ chết đi, nhưng chết đi đểí nhận lại sự sống mới.
Dựa vào chân lý Chúa đã nêu ra trong Phúc Âm Thánh Gioan, chúng ta vừa cùng nhau chia sẻ mấy ý tưởng về sự chết, nhân cái chết của cụ ... Theo đó thì,”chết đi để được sống” và sống dồi dào phong phú hơn.
Nhưng cái chết trước tiên mà mỗi người chúng ta cần phải chết, đó là chết đi con người cũ của chúng ta, chết đi những dục vong xấu xa, để sống với con người mới, bằng một sức sống mới.
Đây là công việc chúng ta không thể tự mình làm được mà cần phải có sự trợ giúp của Chúa, qua những ân sủng Ngài ban, cũng giống như hạt giốỳng kia tự nó, nó không thể phát triển thành cây  được, mà nó cần phải được vùi vào trong lòng đất, để cho nó thối đi, mục nát đi, rồi sau đó mới thành cây được.
 Ước gì ngày hôm nay, chúng ta học được bài học trên đây, để chúng ta sẵn sàng chấp nhận những hy sinh trong cuộc sống theo Chúa của chúng ta. Được như thế, khi đến ngày nẩy mầm chúng ta sẽ là những thân cây có thân hình bụ bẫm, hứa hẹn một mùa trái sai trĩu đúng như lời Chúa phán : “Nếu hạt lúa mì thối đi thì sẽ sinh nhiều bông hạt”

 

AnTáng 94: HƯỚNG Ý LỂ AN TÁNG

HƯỚNG Ý LỂ AN TÁNG AnTáng 94

Hôm nay chúng ta họp nhau tại ngôi nhà chung thân yêu của Giáo xứ chúng ta, ngôi nhà mà AnTáng 94

Hôm nay chúng ta họp nhau tại ngôi nhà chung thân yêu của Giáo xứ chúng ta, ngôi nhà mà chắc hẳn là trước đây ( Ông, anh,...) cũng đã góp công sức của mình vào việc xây dựng, bảo trì ngôi nhà chung này, để tiễn đưa ( Ông, anh ) ra đi về với Chúa.
Nói đến ra đi là nói đến chia ly. Mà đã chia ly thì không có một cuộc chí ly nào mà lại không có nước mắt. Tiễn chân một người lên đường để đoàn tụ với gia đình ở nước ngoài mà còn giọt vắn giọt dài, thì huống chi là tiễn đưa một người ra đi vĩnh viễn, không bao giờ gặp lại nữa.
Nhưng đối với chúng ta, những người có niềm tin, thì qua đau thương gây nên bởi sự mất mát người thân thương, chúng ta vẫn còn tìm được ở ngay trong nỗi đau thương đó, một niền an ủi, một sự bình an, bởi chúng ta tin rằng, chết chính là lúc chúng ta được sinh lại vào trong cõi trường sinh.
Giờ này, chúng ta cùng nhau dâng thánh lễ cầu cho ( TT ), Xin cho cuộc ra đi này của ( Ông, anh...) mau đạt tới đích.
Chúng ta cũng đừng quên cầu xin ơn an ủi và nâng đỡ cho những người thân thương của ( TT), đặc biệt là cho (cha mẹ,vợ con ) của (TT).Xin cho những người này có thể nhận ra được ý nhiệm mầu đầy yêu thương của Chúa qua việc ra đi của (TT)
Với ý hướng đó, chúng ta cùng nhau bắt đầu Thánh lễ hôm nay với việc bầy tỏ lòng thống hối về những lỗi lầm và thiếu sót  của chúng ta.

 

AnTáng 95: Lời từ tấm bia mộ

Lời từ tấm bia mộ AnTáng 95

Lm Đaminh Nguyễn ngọc Long
 

Vào những dịp giỗ chạp, ngày lễ cầu cho các Linh hồn đã qua đời, dịp đầu Năm mới hay dịp AnTáng 95

Vào những dịp giỗ chạp, ngày lễ cầu cho các Linh hồn đã qua đời, dịp đầu Năm mới hay dịp nào về thăm quê nhà... chúng ta thường dành thời giờ ra nghĩa trang thăm viếng phần mộ người thân nằm nơi đó.
Nghĩa cử này nói lên sâu đậm tâm tình lòng trung thành và biết ơn của người còn sống với người đã qua đời.
Ðến thăm viếng nơi đó, lẽ dĩ nhiên, ta chỉ có thể tâm tình một mình với người nằm chôn sâu kín trong lòng đất. Người đã qúa cố không biết có nghe được ta nói gì không? Ta thì không nghe thấy họ nói gì với ta. Dẫu thế, ta tin là mối dây liên lạc thần giao cách cảm linh thiêng nối kết hai thế giới người chết và người còn sống lại với nhau. Và tấm bia đá đặt dựng trên nấm mộ của họ nói cho ta một vài tâm tình, như nói thay cho người nằm dưới đó
"Tôi là một tảng đá nặng nề vô hồn được đặt dựng trên nấm mồ của người nằm dưới đây. Tôi không phải là người canh mồ, cũng không phải là vật chắn lối cản trở người khác đến gần nấm mồ đâu.
Người đã qúa cố bây giờ nằm chôn sâu kín trong lòng đất, vâng xương thịt đã tan rã thành bụi đất. Nhưng họ không biến mất hẳn khỏi sân khấu cuộc đời đâu. Tên tuổi, ngày chào đời, ngày sau cùng đời sống và quê quán của họ, và có khi cả hình chụp khi xưa nữa, được đục khắc ghi vào bia đá đây. Dù trải qua năm tháng nắng mưa ở giữa trời, nhưng còn vẫn rõ nét, vẫn đọc được. Bia đá ghi giữ lại căn cước của người qúa.
Cây Thánh gía dấu hiệu lòng tin của người qúa cố cũng được đục khắc ghi sâu đậm nét vào bia đá. Cây Thánh gía không phải là dấu hiệu của sự chết. Nhưng là dấu chỉ lòng tin ơn cứu độ, mà Chúa Giêsu đã đem lại cho con người.
Cây thánh gía là biểu hiệu của sự sống. Chúa Giêsu đã chết trên thập gía và đã sống lại. Ngài đã biến đổi cây thánh gía thành cây mang lại sự sống ơn cứu độ.
Chắc chắn, trong đời sống ai cũng phải trải qua nhiều giai đoạn lên xuống, đau khổ, hy sinh, thất vọng, bệnh tật đau đớn... Ðó là những giăng ngang lối cuộc đời. Cây Thánh gía khắc ghi trên phần mộ nói lên: cuộc đời người qúa cố nằm nơi đây không thiếu những bước giăng ngang lối cuộc đời như bao người khác!
Chiều dọc thẳng đứng của cây Thánh gía diễn tả sự liên đới giữa Thiên Chúa với người đã qua đời. Và chiều ngang cây Thánh gía nói lên sự tương quan giữa người qúa cố với người còn đang sống trên trần gian.
Trong đời sống ai cũng phải trải qua nhiều chặng đường thông thường cũng như bất thường. Vì thế:
Xin đừng buồn sầu thất vọng về đời sống, dù khi gặp phải cảnh phức tạp khó khăn. Nhưng hãy vững niềm tin: Thiên Chúa là nguồn hy vọng sẽ vực dậy cho sống lại.
Xin đừng nói mình bị lôi cuốn vào vòng đau khổ bệnh tật. Nhưng hãy vững niềm tin: Thiên Chúa cảm hóa chúc lành cho cuộc đời.
Xin đừng nghĩ rằng bị đẩy xa khinh chê cô đơn trong đời sống. Nhưng hãy vững niềm tin: Thiên Chúa không bỏ rơi ai. Người hằng hướng dẫn đời sống, như người mẹ cầm tay dẫn con mình đi.
Xin đừng cho rằng một mình phải vượt qua những cay đắng trên đường đời. Nhưng hãy vững niềm tin: Thiên Chúa hằng đồng hành giúp đỡ.
Xin đừng định kiến rằng mọi sự chấm dứt với cái chết. Chết là hết! Nhưng hãy vững niềm tin: Không, chết không phải hết, nhưng là khởi đầu một đời sống mới.
Chính Chúa Giêsu đã trải qua sự chết trước khi sống lại. Ngài là chúc phúc lành cho niềm hy vọng của con người.“

 

AnTáng 96: Chốn - Cõi - Lửa Đời Đời

Chốn - Cõi - Lửa Đời Đời AnTáng 96:

Pt GB Nguyễn Văn Định
Cảm nghiệm Sống # 45
(Mt 25: 41-46)
 

Cuộc đời trên trần gian chẳng qua chỉ là một cuộc tổng dượt trước cuộc diễn xuất thật. Bạn và AnTáng 96

Cuộc đời trên trần gian chẳng qua chỉ là một cuộc tổng dượt trước cuộc diễn xuất thật. Bạn và tôi sẽ có thời gian dài hơn nhiều sau khi bước qua phía bên kia của sự chết : CÕI / CHỐN ĐỜI ĐỜI.
Đời sống này chỉ là chuẩn bị cho đời sau, nhiều nhất thì bạn sống được khỏang một trăm năm; nhưng trong cõi đời đời thì bạn và tôi sẽ sống mãi mãi. Vi thế ông Abraham Lincincoln nói: Thượng Đế tạo nên con người không chỉ sống có một ngày! Không, không, con người được tạo dựng để cho cõi bất diệt.
Một ngày kia tim bạn sẽ ngưng đập, đó là dấu chấm dứt cho thể xác cũng như thời gian trên trần gian; nhưng chưa phải là chấm hết cho bạn. Thân thể chỉ là nơi tạm trú của tâm linh bạn. Kinh Thánh gọi thân thể là: Nhà Tạm/ Cái Lều, còn thân thể tương lai bạn trên Thiên đàng là “Nhà Đời Đời.” Kinh Thánh nói: “Quả thật, chúng ta biết rằng: nếu ngôi nhà của chúng ta ở dưới đất này bị thiêu huỷ đi, thì chúng ta có một căn nhà vĩnh cửu trên trời do Thiên Chúa dựng nên, chứ không phải do tay người phàm làm ra.” (2 Cor 5, 1)
Cuộc đời trần gian cho tôi nhiều lựa chọn; nhưng chốn đời đời chỉ có hai lựa chọn: Thiên đàng hay Địa ngục. Mối tương giao giữa tôi với Chúa trên trần gian sẽ quyết định mối tương giao giữa tôi với Ngài trong cõi đời đời. Nếu tôi yêu thương tha nhân thì tôi sẽ được mời đến sống trong cõi đời đời bằng không sẽ vào lửa đời đời.
Khi sống trong ánh sáng của cõi đời đời, bạn sẽ thay đổi cách sống như: dùng tiền bạc và thời gian một cách khôn ngoan hơn, ít ham mê các thú vui thời trang, xếp đặt lại công việc cho tốt hơn. Thánh Phaolô nói: “Nhưng, những gì xưa kia tôi cho là có lợi, thì nay, vì Đức Kitô, tôi cho là thiệt thòi.” (Phil 3,7)
Nhưng sự chết không phải là kết thúc của tôi, mà là chuyển tiếp sang chốn đời đời, nó sẽ phải trả lẽ về những việc lành dữ tôi đã làm, nó sẽ đánh vào một sợi dây đàn nào đó rung lên trong cõi đời đời. Ngày hôm nay chỉ là phần nổi của tảng băng trên biển, cõi đời đời là toàn bộ phận còn lại, tôi không thấy được dưới mặt tảng băng.
Sống trong cõi đời đời như thế nào, bạn không thể nắm bắt hết sự kỳ diệu và vĩ đại của Thiên đàng. Ngôn ngữ con người cũng không thể nào truyền đạt hết về chốn đời đời. Kinh Thánh viết: Điều mắt chẳng thấy, tai chẳng nghe, lòng người không hề nghĩ tới, đó là điều Thiên Chúa đã dọn sẵn cho những ai mến yêu Người.”(1Cor2,9
Tuy nhiên, Thiên Chúa đã cho bạn nhìn thoáng qua về chốn đời đời trong Lời của Ngài đang chuẩn bị một căn nhà đời đời cho bạn. Một ngày nào đó Chúa Giêsu sẽ phán: “Hỡi các người được Cha Ta ban phúc, hãy đến thừa hưởng Nước Thiên đàng đã dọn sẵn cho các ngươi ngay từ thuở tạo thiên lâp địa.” (Mt 25,34)
Thời gian tốt nhất để mọi người suy niệm vể cõi đời đời, đó là trong các đám tang. Bạn không nên coi thường mà không chịu chuẩn bị gì cả, vì sự chết sẽ xảy đến bất ngờ, bạn chớ nên thờ ơ!
Cũng như chín tháng bạn ở trong bụng mẹ, tự nó không đầy đủ ý nghĩa, mà nó còn chuẩn bị cho đời sống lớn lên ở ngoài. Cũng vậy, cuộc đời này là sự chuẩn bị cho đời sau. Nếu bạn liên kết với Chúa hàng ngày thì không sợ chết, vì nó là cửa dẫn vào cõi đời đời.
Giờ phút cuối cùng của bạn sẽ đến; nhưng nó không phải là kết thúc cuối cùng của bạn: nó là NGÀY SINH NHẬT CỦA BẠN để đi vào CÕI ĐỜI ĐỜI. Vì Hội Thánh gọi đời trần gian là THỜI THAI NGHÉN, là đoàn người vô số kẻ trước người sau được sinh ra trong, với và cùng Đức Kitô. Sách Khải Huyền viết: “Bây giờ tôi thấy trời mới đất mới, vì trời cũ, đất cũ đã biến đi…không còn sự chết, cũng chẳng còn tang tóc, kêu than và đau khổ nữa.” (Kh 21, 1- 4)
Thánh Phaolô nói: “Trên đời này, chúng ta không có thành trì bền vững; nhưng đang tìm kiếm thành trì tương lai.” (Do thái 13,14) hay nói rõ hơn: Thế giới này không phải là quê hương của chúng ta. Chúng ta chờ đợi một quê hương vĩnh cửu ở trên Trời.
Khi so với cõi đời đời, thời gian của tôi trên mặt đất này chỉ là một nháy mắt; nhưng hậu qủa của nó thì tồn tại đời đời. Những việc làm của tôi ở đời này là số phận của đời sau: “Vì tất cả chúng ta đều phải được đưa ra ánh sáng, trước tòa Đức Kitô, đễ mỗi người lãnh nhận những gì tương xứng với các việc tốt xấu đã làm khi còn ở trong thân xác. (2 Cor 5,10) ( xét xử trong giờ chết mỗi người.)
Như vậy, bạn và tôi hãy sống tốt mỗi ngày như ngày cuối cùng của đời mình, như thế mới là người khôn ngoan. Hoặc nhiệm vụ của chúng ta phải CHUẨN BỊ mỗi ngày là NGÀY CUỐI CÙNG.

 

AnTáng 97: Mong đợi sự sống lại !

Mong đợi sự sống lại ! AnTáng 97

Lm Nguyễn Hữu Thy
 

Trong Thư gửi cho các tín hữu ở Roma, thánh Phaolô đã viết : "Nếu Thần Khí ở trong anh em AnTáng 97

Trong Thư gửi cho các tín hữu ở Roma, thánh Phaolô đã viết : "Nếu Thần Khí ở trong anh em, Thần Khí của Ðấng đã làm cho Ðức Giêsu sống lại từ cõi chết, thì Ðấng đã làm cho Ðức Giêsu sống lại từ cõi chết, cũng sẽ dùng Thần Khí của Người đang ngự trong anh em, mà làm cho thân xác hay chết của anh em có được sự sống mới !" (8,11).
Ðó cũng chính là sự xác tín của chúng ta. Vâng, Ðức Giêsu Kitô sẽ cho tất cả những người quá cố của chúng ta được sống lại để sống một cuộc sống mới.
Trong cuốn Nhật Ký của ông, Eugène Ionesco (1912-1994), một nhà soạn kịch thời danh người Pháp gốc Rumani, đã viết : "Người ta chết vì đói. Người ta chết vì khát. người ta chết vì buồn chán. Người ta chết vì cười. Người ta chết vì lạc thú. Người ta chết vì sợ hãi. Người ta chết dĩ nhiên trong chiến tranh. Người ta chết vì bệnh tật. Người ta chết vì già nua tuổi tác. Người ta chết hằng ngày. Chúng ta sống để mà chết. Sự chết là mục đích của sự hiện hữu. Người ta sẽ cho đó là một chân lý bình thường. Nhưng thỉnh thoảng một điều tầm thường khuất biến sau một kiểu nói quen thuộc, và chân lý sẽ xuất hiện, lại xuất hiện hoàn toàn mới mẻ. Ðối với tôi, mỗi khi tôi trải qua một giây phút nào đó, tôi lại tự nói với mình rằng sự hiện hữu chỉ có một mục đích duy nhất : Sự chết ! Người ta không thể làm được gì để chống lại điều đó. Người ta không làm được gì cả. Người ta không thể làm được gì để chống lại điều đó !" (E. Ionesco, Tagebuch).
Ðúng vậy ! Tất cả mọi người sẽ chết. Tất cả chúng ta sẽ chết. Danh sách những người sẽ chết trong năm nay đã được ấn định. Chúng ta không biết tên tuổi và nhân thân của những người đó, nhưng chúng ta biết chắc chắn rằng mỗi người trong chúng ta có thể có tên trong danh sách đó, vì chỉ trong chốc lát khi rơi vào tình trạng hôn mê, thì một người ít nhất cũng đã cảm nhận được ý nghĩa của câu hỏi "Chết là gì ?"
Tuy nhiên, không một ai trong số những người đã bước vào cõi chết lại có thể trở lại nói cho những người còn sống biết được cái chết của mình thực sự là gì ! Những người chết hoàn toàn câm nín, không hề hé môi, còn những người đang sống lại khắc khoải trước vấn nạn sự chết ! Trong sự yên lặng tịch mịch đó, chúng ta giống như những người lữ hành cô đơn lẻ loi và tiếng kêu gào của chúng ta chỉ nhận được tiếng vọng trở lại của chính nó, chứ không phải câu trả lời. Vâng, không ai có thể san sẻ cho kẻ khác kinh nghiệm về cái chết của mình được, mỗi người trong chúng ta phải tự cảm nghiệm lấy một cách hoàn toàn cá nhân riêng tư.
Là con người, không một ai trong chúng ta lại thích chấp nhận một sự thật của cuộc sống : Sự chết là người đồng hành trung tín nhất của chúng ta ! Trái lại, chúng ta thường tìm cách tránh né và chạy trốn trước thực tại đó. Chúng ta luôn đẩy lui cái thực tại chắc chắn nhất đó ra xa khỏi tư duy và cuộc sống chúng ta và làm như thể nó chỉ xảy đến cho những người khác mà thôi, còn chính chúng ta vẫn miễn trừ ! Trong thời đại sống xô bồ và sống giành giật, chạy đua với thời gian ngày nay của chúng ta, chỉ có những yếu tố cụ thể trước mắt mới có sức thu hút mãnh liệt. Tất cả mọi giá trị đều đặt cơ sở trên các tiêu chuẩn : Trẻ, đẹp, sự hưởng thụ, sự tiến bộ và một cuộc sống luôn luôn nhanh gọn và cuồng nhiệt. Còn sự chết và các hậu quả của nó hoàn toàn bị gác bỏ "ngoài cửa". Người ta thường tránh né các dịp nhắc nhở họ phải nghĩ đến sự chết. Chẳng những thế, có nhiều người còn tìm cách không muốn nhắc đến Thiên Chúa, Giáo Hội và đời sống đức tin, hầu cho lương tâm họ bớt cắn rứt và vì họ không còn muốn biết và nghe nói đến sự chết, đến những sự thật của cuộc sống.
Nhưng tất cả những thái độ tránh né và chạy trốn đó chỉ là sự tự lừa dối chính mình. Bởi vì sự thật vẫn còn đó : Chúng ta sống là để chết ! Lời nói đó của E. Ionesco, rất có thể là dịp giúp chúng suy gẫm, ít là trong ngày lễ Các Ðẳng Linh Hồn và trong tháng mười một này.
Chắc chắn rằng trong các thế hệ trước, "các sự sau" thường hay được phóng đại với đủ thứ đe dọa và bằng những hình ảnh rùng rợn và khủng khiếp về hỏa ngục, về những tên quỉ mặt mũi đen đúa hung dữ, các thứ rắn rết, những ngọn lửa bốc cao, v.v… ! Trái lại, ngày nay người ta lại rơi vào một thái cực khác, người ta lại quan niệm ngược lại như vừa nói trên.
Tuy nhiên, theo tâm lý tự nhiên, chúng ta phải thành thật nhận rằng chúng ta không bao giờ thích đối mặt với thực tại của sự chết cả, và qua đó không thể chấp nhận được rằng chết là hết; và tiếp đến : Sống là để chết !
Nhưng chúng ta có thể tìm ở đâu ra được một cái chi khả dĩ thay thế sự chết được ? Ðiều khả dĩ đó chỉ có thể tìm thấy duy nhất nơi Ðức Kitô, Ðấng đã chết và đã phục sinh khải hoàn. Ðó cũng là điều thánh Phaolô đã viết cho các tín hữu xưa trong Thư Roma, chương tám : "Ðấng đã làm cho Ðức Kitô sống lại từ cõi chết, cũng sẽ làm cho thân xác hay chết của anh em có được sự sống mới !" Ðó chính là Alfa và Ômêga, là tâm điểm của đức tin Kitô giáo của chúng ta : Ðức Kitô sống hay vẫn bị giam cầm trong sự chết ?
Nhưng nếu giờ đây Ðức Kitô đang sống, chứ không còn bị giam cầm trong cõi chết nữa, vì Người đã sống lại từ trong cõi chết. Ðàng khác, Ðức Kitô không phải là một cá nhân tư riêng nào đó. Người là đầu của một thế giới mới, là người sống lại đầu tiên trong các kẻ đã chết, là Thủ Lãnh và Ðấng kiện toàn đức tin của chúng ta.
Lời Người quả quyết : "Ai tin Ta thì sẽ sống, cả khi người đó đã chết rồi !" (Ga 11,24b).
Và thánh Phaolô còn nói thay cho chúng ta. "Nếu Thần Khí của Người ở trong chúng ta", nghĩa là không phải là thần khí của sự tiến bộ kỹ thuật và của một cuộc sống sung túc đầy đủ hơn. Nhưng đó là Thần Khí của thế giới thuần tuý nội tâm, một Thần Khí không bao giờ chấp nhận bất cứ sự giới hạn và cản ngăn nào. Người muốn thổi đâu là tùy ý ! Thần Khí Ðức Kitô sẽ ở trong chúng ta, nếu chúng ta thành tâm tin nhận Người là đường, là sự thật và sự sống, và mỗi ngày lại nỗ lực bước theo Người; nếu chúng ta dành chỗ cho sự vĩnh cửu trong những sự chóng qua này; nếu Ðức Kitô thực sự là niềm hy vọng và sự bình an của chúng ta; nếu chúng ta biết vì Người mà yêu thương anh em mình và dấn thân cho họ !
Lễ Các Thánh và lễ Các Ðẳng Linh Hồn muốn thức tỉnh trong chúng ta thái độ sống nền tảng theo tinh thần Kitô giáo. Chúng ta có thể gọi thái độ đó là : Mong đợi sự vĩnh cửu !
Niềm hy vọng vào cuộc tái ngộ sau cùng trong nơi vĩnh cửu đồng hành với chúng ta trong khi chúng ta đi thăm viếng các mộ phần của những người quá cố của chúng ta; Niềm mong đợi vào sự vĩnh cửu tạo nên nhịp cầu nối kết các thiên niên kỷ, các đại dương và các lục địa lại với nhau, và không loại trừ bất cứ ai cùng mang trên mình khuôn mặt người, bởi vì Ðức Kitô đã chết cho tất cả mọi người và cũng đã sống lại cho mọi người trong một cuộc sống mới, mà Người sẽ ban cho mỗi người, khi Người trở lại trong ngày tận thế.
Vậy, đúng như nhà văn hào người Pháp, Léon Bloy (1846-1917), đã viết : "chúng ta không phải sống để mà chết, nhưng là để chờ đợi được sống lại trong một cuộc sống mới và vĩnh cửu !" Amen

 

AnTáng 98: Nghĩ về sự chết

Nghĩ về sự chết AnTáng 98:

+GM JB Bùi Tuần
 

Tôi biết là có ngày tôi sẽ chết. Mặc dầu tôi không biết sẽ chết ngày giờ nào, nơi nào, cách nào AnTáng 98

Tôi biết là có ngày tôi sẽ chết. Mặc dầu tôi không biết sẽ chết ngày giờ nào, nơi nào, cách nào.
Chắc chắn tôi phải chết. Ðó là một chân lý hết sức rõ ràng và chắc chắn. Chân lý này, không ai đã dạy tôi. Nó nằm ngay trong con người của tôi.
Cái chết cũng là một biến cố đụng tới mọi người. Nó là một vấn đề chung. Vấn đề này được coi là hết sức quan trọng. Bởi vì nó đặt ra câu hỏi: Ðâu là ý nghĩa cuộc sống? Cuộc đời đi về đâu? Bên kia sự chết có gì không?
Câu trả lời theo lý thuyết có thể tìm được trong nhiều sách, nhất là sách đạo. Nhưng câu trả lời theo cảm nghiệm sẽ thường chỉ hiện lên một cách sống động, khi ta ở bên cạnh những người sắp chết, hoặc chính ta đã có lần thập tử nhất sinh.
Những lúc đó, câu trả lời sẽ không phải là một kết luận lạnh lùng của triết học hay của giáo lý. Nhưng sẽ là cái gì linh thiêng thăm thẳm chứa trong những cảm tình, cảm xúc, cảm động, cảm thương, khi hiện tượng sự chết rập rình sát tới.
Những hiện tượng khác thường nơi người sắp chết rất đa dạng. Có thể là những lo âu sợ hãi, những khắc khoải đợi chờ, những nắm bắt bâng khuâng, những ngóng trông mệt mỏi, những cái nhìn xa xăm. Cũng có thể là những bất bình tức giận, những chán nản phiền muộn, những buông xuôi tiếc nuối, những phấn đấu tuyệt vọng. Cũng có thể lại là những ăn năn đầy bình an toả sáng, mang dấu ấn của một nghị lực thiêng liêng và một tin tưởng đến từ cõi đời đời.
Tất cả những hiện tượng như thế phản ánh những trực cảm nội tâm: Ðã tới lúc vĩnh biệt. Ðã tới lúc ra đi. Ðã tới lúc phải bỏ lại tất cả. Ðã tới lúc phải trực diện với lương tâm. Lương tâm hỏi về trách nhiệm: Trách nhiệm làm người nói chung và trách nhiệm làm con Chúa nói riêng.
Trước đây, có nhiều điều về trách nhiệm đã lẩn trốn lương tâm. Nhưng lúc con người sắp chết, những điều lẩn trốn đó sẽ trở về trình diện rất nghiêm túc.
Tôi có cảm tưởng là người sắp chết lúc đó sẽ nhận ra: Sự sống của mình là một quà tặng Chúa ban. Ơn gọi được làm con Chúa càng là một ân huệ quí báu Chúa trao cho nhưng không. Chúa ban sự sống và ơn làm con Chúa, để mình phát triển mình và những người xung quanh trong những chặng đường lịch sử nhất định. Sự phát triển sẽ tuỳ ở ơn Chúa, nhưng cũng tuỳ thuộc vào sự tự do và tinh thần trách nhiệm của mỗi người.
Thực tế cho thấy là đã có những phát triển đạo đức, và trái lại cũng có những phát triển tội lỗi. Với những phát triển tốt, người sắp chết cảm thấy được an ủi, coi như nhiệm vụ được trao đã phần nào hoàn thành.
Trái lại nếu thấy những phát triển của mình là xấu, nhiệm vụ được trao đã không hoàn thành, họ sẽ không thể không sợ hãi. Bởi lẽ hậu quả sẽ vô cùng quan trọng. Vì chết là bước sang cõi đời sau với hai ngả: thiên dàng và hoả ngục. Mà hai ngả này đều rất rõ ràng công minh.
Vì thế, nói cho đúng, vấn đề đặt ra cho ta về cái chết sẽ không phải là sợ chết, mà là sợ chết dữ, chết mà sau đó không được lên thiên đàng, nhưng phải xuống hoả ngục.
Những tư tưởng trên đây thường nhắc nhủ tôi về ba chọn lựa này:
1. Hãy tiến về sự chết của mình như tiến tới một quãng phải vượt qua, để về với Cha trên trời.
Một khi nhìn sự chết của mình như thế, thì cuộc sống của mình cũng được hiểu theo hướng đó.
Ðể đi đúng hướng về Cha trên trời, tôi chỉ có một đường phải chọn, đó là Chúa Giêsu Kitô. Người là đường, là sự thực và là sự sống (Ga 14,6). Ðón nhận Người, lắng nghe Người, đi theo Người, bắt chước Người. Người là gương mẫu cho ơn gọi làm người và ơn gọi làm con Thiên Chúa. Ðiều quan trọng tôi sẽ hết sức quan tâm trong việc theo Chúa Giêsu sống ơn gọi, là phải phấn đấu thanh luyện mình, phải biết khiêm tốn quên mình, dấn thân sống theo ý Chúa, để được trở thành tạo vật mới. Nếp sống kiêu căng cần phải bị loại tận gốc. Nếp sống cầu nguyện khiêm nhường cần được thường xuyên phát huy.
2. Hãy tiến về sự chết của mình như người được sai đi truyền giáo, mong trở về với Ðấng sai mình.
Sống như người truyền giáo và chết như người truyền giáo. Truyền giáo một cách cụ thể ở địa phương này, ở thời điểm này. Nghĩa là một địa phương và thời điểm có nhiều khác biệt. Vì thế, tôi phải tỉnh thức lắng nghe hướng dẫn của Thánh Thần Ðức Kitô. Ngài đang dẫn người truyền giáo vào chiều sâu. Ngài đang giúp người truyền giáo mở rộng nhiều liên đới. Ngài đang tạo ra cho nhà truyền giáo nhiều dịp để loan báo Tin Mừng. Tôi có luôn khiêm tốn cầu nguyện hồi tâm, để trở thành dụng cụ ngoan ngoãn trong tay Ngài không?
3. Hãy tiến về sự chết của mình như người khắc khoải trở về với Ðấng đã trao cho mình điều răn mới.
Ðiều răn mới này, tôi nhận được từ Lời Chúa: "Thầy ban cho chúng con một điều răn mới là chúng con hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương các con" (Ga 13,34).
Ðể hiểu thấm thía hành trình tình yêu, tôi nên hằng ngày gẫm suy đoạn văn sau đây của thư thánh Gioan:
"Chúng ta biết rằng: chúng ta đã từ cõi chết bước vào cõi sống, vì chúng ta yêu thương anh em. Kẻ không yêu thương, thì ở lại trong sự chết. Phàm ai ghét anh em mình, ấy là kẻ sát nhân. Và anh em biết: không kẻ sát nhân nào có sự sống đời đời ở lại trong nó. Căn cứ vào điều này, chúng ta biết được tình yêu là gì: đó là Ðức Ki-tô đã thí mạng vì chúng ta. Như vậy, cả chúng ta nữa, chúng ta cũng phải thí mạng vì anh em. Nếu ai có của cải thế gian và thấy anh em mình lâm cảnh túng thiếu, mà chẳng động lòng thương, thì làm sao tình yêu Thiên Chúa ở lại trong người ấy được? Hỡi anh em là những người con bé nhỏ, chúng ta đừng yêu thương nơi đầu môi chót lưỡi, nhưng phải yêu thương cách chân thật và bằng việc làm. Căn cứ vào điều đó, chúng ta sẽ biết rằng chúng ta đứng về phía sự thật, và chúng ta sẽ được an lòng trước mặt Thiên Chúa" (1 Ga 3,14-19).
"Phần chúng ta, chúng ta hãy yêu thương, vì Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta trước. Nếu ai nói: "Tôi yêu mến Thiên Chúa" mà lại ghét anh em mình, người ấy là kẻ nói dối; vì ai không yêu thương người anh em mà họ trông thấy, thì không thể yêu mến Thiên Chúa mà họ không trông thấy. Ðây là điều răn mà chúng ta đã nhận được từ Người: ai yêu mến Thiên Chúa, thì cũng yêu thương anh em mình" (1 Ga 4,19-21)
Khi tôi sống với những hướng kể trên, tôi sẽ coi sự chết như là một điểm chấm dứt nhiệm vụ.
Nhiệm vụ được chấm dứt. Nhưng nhiệm vụ có được hoàn thành hay không, đó là chuyện khác và đó mới là điều quan trọng. Chúa sẽ phán xét công minh điều đó. Ở đây, tôi có lý do để lo, bởi vì tôi biết tôi đã lỗi phạm nhiều.
Biết lo là điều tốt. Không phải lúc gần chết mới lo, mà phải lo ngay bây giờ. Biết lo ở đây là tìm cách sửa mình, đổi mới mình nên tốt hơn. Coi như bắt đầu lại.
Khởi sự từ quyết tâm tận dụng ngày giờ còn lại và những phương tiện trong tầm tay để chu toàn các nhiệm vụ được trao một cách tốt đẹp nhất. Nhất là tỉnh thức ưu tiên đón nhận Nước Trời vào bản thân mình bằng sám hối và tin mến khiêm cung.
Những nỗi lo như thế là chính đáng. Khi chúng ta làm hết sức mình, thì những nỗi lo đó sẽ đem lại những tiến triển và hân hoan. Với hân hoan và tin tưởng nơi Chúa giàu tình yêu thương xót, chúng ta bình tĩnh đi về sự chết. Sự chết lúc đó chỉ là bước sang sự sống mới vô cùng tốt đẹp hơn trước. Và như thế, sau cùng, chỉ có thần chết là phải chết thôi.

 

AnTáng 99: NGUỒN NƯỚC MẮT

NGUỒN NƯỚC MẮT AnTáng 99

Nhân tháng cầu cho những người đã qua đời
+GM JB Bùi Tuần
 

Trí nhớ của tôi lưu giữ nhiều hình ảnh. Trong số đó, có một thứ hình ảnh rất thầm lặng, nhưng thường AnTáng 99

Trí nhớ của tôi lưu giữ nhiều hình ảnh. Trong số đó, có một thứ hình ảnh rất thầm lặng, nhưng thường gây trong tôi nhiều cảm xúc và suy nghĩ. Thứ hình ảnh đó là các nghĩa trang.
Tôi đã viếng nhiều nghĩa trang. Tại Việt Nam, tại Ý, tại Đức, tại Pháp, tại Nga, tại Vaticăng.
Tôi đến viếng các nghĩa trang, chủ ý để suy gẫm, cầu nguyện, và cũng để tìm cảm nghiệm. Có thứ cảm nghiệm chỉ tìm được ở nghĩa trang. Tôi đã nghĩ như vậy và đã làm như vậy, khi tôi viết luận án: “Đau khổ của tình yêu”.
Đã có những cảm nghiệm độc đáo in rất sâu vào lòng tôi từ các nghĩa trang. Đặc biệt là từ những dòng nước mắt ở nghĩa trang.
Có những nước mắt của tình yêu dạt dào.
Có những nước mắt của nỗi buồn, nhung nhớ.
Có những nước mắt của lòng hối hận khôn nguôi.
Có những nước mắt của tấm lòng tha thứ muộn màng.
Có những nước mắt của ân tình, hiếu nghĩa.
Có những nước mắt của niềm tin sâu sắc mong chờ.
Khi đi sâu hơn một chút giữa các dòng nước mắt, tôi có thể cảm nghiệm được một số khám phá quan trọng:
Khám phá ra những chân lý nhân sinh.
Khám phá ra những hy vọng ứu độ.
Khám phá ra chính mình.
Khám phá ra chân lý.
Những nước mắt ở nghĩa trang là những tiễn biệt thân thiết. Tiễn biệt người đã chết, người vĩnh viễn ra đi. Sự chết là một sự thật không cần bàn tới. Nhưng đó lại là một chân lý cực kỳ quan trọng.
Bất cứ ai, rồi cũng phải chết. Cái chết đáng sợ. Nhưng đáng sợ hơn lại là cái gì đàng sau cái chết. Đáng sợ, vì nó quá bất ngờ. Biết đâu, trong số mồ mả, cũng có những hồn vì thế mà đang khóc ròng rã đêm ngày.
Ở đây, tôi chỉ xin trích dẫn một đoạn Phúc Âm: “Có một ông nhà giàu nọ, mặc toàn lụa là gấm vóc, ngày ngày yến tiệc linh đình. Lại có một người nghèo khó tên là Ladarô, mụn nhọt đầy mình, nằm trước cổng ông nhà giàu đó. Anh thèm được những thứ trên bàn ăn của ông ấy rơi xuống mà ăn cho đỡ đói. Lại thêm mấy con chó cứ đến liếm ghẻ chốc anh ta.
Thế rồi, người nghèo này chết, và được thiên thần đem vào lòng ông Apraham.
Ông nhà giàu cũng chết, và người ta đem chôn. Dưới địa ngục, đang khi chịu cực hình, ông ta ngước mắt lên, thấy tổ phụ Apraham ở trên đàng xa, và thấy Ladarô trong lòng tổ phụ. Bấy giờ ông ta kêu lên: Lạy tổ phụ Apraham, xin thương xót con, xin sai anh Ladarô nhúng đầu ngón tay vào nước, nhỏ trên lưỡi con cho mát, vì ở đây con bị lửa thiêu đốt khổ lắm.
Ông Apraham đáp: Con ơi, hãy nhớ lại: suốt đời con đã nhận phần phước của con rồi. Còn Ladarô suốt một đời chịu toàn những bất hạnh. Bây giờ Ladarô được an ủi nơi đây, còn con thì phải chịu khốn khổ. Hơn nữa, giữa chúng ta đây và con đã có một vực thẳm quá lớn, đến nỗi bên này muốn qua bên con cũng không được, mà bên đó có qua bên chúng ta đây cũng không được” (Lc 16,19-26).
Với dụ ngôn trên, Chúa dạy ta những chân lý quan trọng. Ai cũng phải chết. Nhưng sự Chúa đánh giá từng người sau khi chết thường vượt quá sự con người suy nghĩ. Người phú hộ đó sống đời này được đầy đủ, sung sướng, an nhàn, xét mình chẳng thấy gì là xúc phạm Chúa, chẳng thấy gì là làm hại ai. Nhưng người phú hộ đó đã bị rơi vào hoả ngục. Chỉ vì sống thiếu thương cảm, thiếu liên đới, thiếu chia sẻ, thiếu xót thương. Trái lại, người ăn mày kia đã được lên thiên đàng. Vì dù bị chìm trong cảnh khổ, anh đã sống nêu gương về đức khiêm nhường, hiền lành và chân thật. Không được người dư dật chia sẻ, anh phải sống đói khổ, nhưng anh vẫn chia sẻ với mấy con chó đói ăn.
Nhờ ơn Chúa, những sự thực như trên đã được nhiều người nhận ra một cách sâu sắc trong những dòng nước mắt tại nghĩa trang. Những chân lý đó đã thay đổi đời họ.
Ngoài ra, biết bao người nằm trong nghĩa trang và khóc tại nghĩa trang cũng đã tìm được hy vọng cuộc đời qua một ngả khác.
Khám phá ra hy vọng.
Không thiếu trường hợp, tôi đã chứng kiến những cuộc trở về. Họ đã trở về từ những dòng nước mắt của một người nào đó. Người đó cầu nguyện cho họ. Người đó khóc với họ thay vì nói với họ.
Một lúc bất ngờ, lời Chúa Giêsu phán xưa trở thành chuyện đời họ. Chúa an ủi họ rằng: “Người khoẻ mạnh không cần thầy thuốc. Người đau ốm mới cần. Hãy về học biết ý nghĩa của câu này: Cha muốn lòng nhân, chứ đâu cần của lễ. Vì Cha đến, không để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi” (Mt 9,12-13).
Những lời dịu dàng đó đã đi sâu vào lòng họ. Cõi lòng vốn đóng kín, khoá chặt, chất chứa những u uất, thất vọng, nay mở ra để hy vọng tràn vào.
Họ cảm thấy mình được xót thương, được yêu thương. Họ sám hối. Họ cảm thấy mình được tha thứ. Và chính họ cũng dễ dàng tha thứ. Một sự bình an lạ lùng trùm phủ tâm hồn họ. Họ ra đi bình an trong sự tin tưởng phó thác tuyệt đối ở Chúa giàu lòng thương xót. Họ khóc vì xúc động, đây là những dòng nước mắt đầy tình cảm tạ.
Những người chứng kiến cũng không cầm được nước mắt. Những dòng nước mắt ấy không nói nên lời, nhưng ngọt ngào niềm hy vọng cứu độ.
Khám phá ra chính mình.
Tại những nghĩa trang, thấy người ta khóc, nhất là khi chính mình khóc, tôi như nghe được tiếng Chúa Giêsu nói: Cha thương con, Cha thương mọi người. Cùng với lời Chúa trao ban tình yêu, tôi khám phá ra chính mình tôi, với những vết thương, với những tang tóc đau buồn. Khám phá ra chính mình trong sự thực trần trụi.
Khám phá để giúp trút bỏ những cái nhìn ảo. Nhìn ảo về mình. Nhìn ảo về những công việc của mình. Nhìn ảo về người khác. Nhìn ảo về cuộc đời.
Để cũng nhận ra rằng: dù với những yếu đuối, tội lỗi, mong manh, tôi vẫn được Chúa gọi với tình xót thương:
Gọi hãy cảm thương.
Gọi hãy chia sẻ.
Gọi hãy trở về.
Gọi hãy hiến dâng.
Gọi hãy cầu nguyện và đền tạ.
Gọi hãy sám hối và tín thác.
Gọi hãy vượt qua sự chết và mọi nghĩa trang, để bay vào cõi phúc đời đời.
Ơn gọi đó sẽ thực hiện được, miễn là tôi biết nhờ ơn Chúa, ở lại trong tình Chúa yêu thương. Như lời Chúa kêu gọi: “Hãy ở lại trong Cha, như Cha ở lại trong các con” (Ga 15,4).
+GM JB Bùi Tuần

 

AnTáng 100: Sống là chuẩn bị chết

Sống là chuẩn bị chết AnTáng 100

Lm Lê Văn Quảng
Nguồn: chungnhanduckito.net
 

Suy tư về cái chết là suy tư về cái sống. Chết là một phần của sự sống bỡi lẽ trong sự sống đã AnTáng 100

Suy tư về cái chết là suy tư về cái sống. Chết là một phần của sự sống bỡi lẽ trong sự sống đã có sự chết. Nó là cánh cữa nối liền hai thế giới như cữa sông đưa giòng nước vào nguồn biển rộng mênh mông. Nó là người bạn trung thành nhất của chúng ta. Nó là người bạn duy nhất không bao giờ quên chúng ta và nó có thể đến viếng thăm chúng ta bất cứ lúc nào, vào sáng sớm tinh sương hay vào lúc đã về xế chiều.
Chúng ta không cần nói đến những cái chết đến với chúng ta từ những nguyên nhân bên ngoài như do tai nạn, sự mưu sát, hay một nguyên nhân nào khác không cần biết. Chỉ cần nói đến sự chết đang nằm sẵn trong bản tính con người chúng ta. Như một hoa trái đang chín dần, mỗi ngày sống là một bước đi chúng ta đang tiến dần về với cái chết đang chờ đợi mỗi người chúng ta. Bên cạnh đó, trong cuộc sống hằng ngày cũng còn có rất nhiều những mất mát, những thua thiệt khiến chúng ta cũng đã chết đi phần nào trong con người chúng ta như mỗi khi chúng ta phải lựa chọn hay mỗi khi phải ra đi. Mỗi lúc lựa chọn là mỗi lúc phải quyết định từ bỏ. Từ bỏ khiến chúng ta phải mất đi một phần những cái thuộc về chúng ta và điều đó làm chúng ta đau khổ và chết đi không ít. Mỗi khi chúng ta phải lên đường ra đi vì công việc hay vì cuộc sống cũng vậy. Chúng ta phải dứt bỏ tình cảm quen thuộc, dứt bỏ sự quyến luyến tự nhiên mà một khi đã quen nhau chỉ muốn ở gần nhau. Sự ra đi lúc nầy quả thật là một sự thương đau và cũng là một sự chết đi trong lòng không ít cho người phải ra đi, vì không có ra đi nào không làm lòng mình tê tái, cũng không có ra đi nào không để lại nỗi nhớ thương. Nhưng chưa hết, không phải chỉ lúc chúng ta ra đi chúng ta mới cảm thấy đau thương mà cả sự ra đi của những người thân yêu chúng ta cũng để lại những cảm giác thương đau rất nhiều. Mỗi người chúng ta thảy đều có kinh nghiệm nầy: cứ mỗi lần có một người bạn thân hay một người trong gia đình chúng ta vĩnh viễn ra đi, chúng ta thấy gì trong con người chúng ta ? Chúng ta cảm thấy con người chúng ta cũng chết đi với họ, bằng chứng là chúng ta thấy mất hẳn sinh lực, mất hẳn tinh thần, cũng như mất hẳn niềm vui để sống.
Cứ theo định luật tự nhiên, con người được sinh ra, lớn lên, già đi và chết. Đó là định luật chung của con người. Không ai có thể sống mãi mà không chết ngay dầu các vua chúa ngày xưa đã cố gắng đi tìm thuốc trường sinh bất tử nhưng họ cũng không tránh khỏi định luật khắc nghiệt ấy. Vì thế, chối từ sự chết là lừa dối chính mình. Để sống cách trọn vẹn, người ta phải can đãm chấp nhận sự sống lẫn sự chết. Sự sống quá tự nhiên đến nỗi chúng ta không nghĩ đến ngày nó kết thúc.
Thái độ của con người đối với sự chết luôn là một sự giằng co giữa sự lôi cuốn và sự khước từ. Mọi người đều nhận ra rằng sự sống là mỏng manh, là ngắn ngủi và nó có thể kết thúc bất cứ lúc nào.
Chính những tư tưởng về sự chết đưa chúng ta đến vấn nạn nầy: Cái gì là chính yếu, là trường cửu đối với con người chúng ta ? Chúng ta cần phải làm gì để đối đầu với cái chết đang đến với chúng ta ? Vì thế, phản ảnh về sự chết là học cách chúng ta phải sống hôm nay.
Người xưa đã sống đời sống như có một sự sống khác quan trọng hơn là cuộc sống ở đây và bây giờ, khiến họ sống cách xa cuộc sống hiện tại. Nhưng đối với giới trẻ hôm nay, họ không thể chấp nhận cuộc sống như thế.
Thật vậy, nếu chối từ cuộc sống chúng ta đang sống hiện tại hoặc chỉ chú trọng đến cuộc sống hôm nay mà không nghĩ đến ngày mai chúng ta sẽ chết, cả hai đều không thực tế. Vì thế, một số các nhà tâm lý học có khuynh hướng KiTô giáo hiện đại đang có khuynh hướng nầy: Sống là chuẩn bị cho con người đi về với cái Chết. Chính tư tưởng nầy đã giúp rất nhiều người thoát khỏi khủng hoảng trầm trọng khi con người đối diện với cái chết, và nhờ đó cũng đã giúp nhiều người chuẩn bị sẵn sàng để lên đường ra đi cách an bình về với Thiên Chúa và về với những người thân yêu của họ bên kia thế giới. Cũng chính những tư tưởng nầy đã giúp rất nhiều nhà giàu sang phú quí thực thi đức bác ái, biết dùng của cải đời nầy để mua lấy nước trời bằng cách chia xẻ phần nào những của cải của họ cho những người nghèo khổ và nhờ thế nhiều người bất hạnh đã có được một đời sống tương đối xứng đáng với phẩm giá con người hơn.
Nói đến đây, tôi nhớ đến câu chuyện về hành vi thiếu bác ái của một người bạn đồng nghiệp của tôi. Câu chuyện xem ra quá bình thường nhưng đã để lại một ký ức không mấy tốt đẹp cũng như đã để lại một sự hối hận suốt đời cho người bạn già của tôi. Hy vọng nó có thể giúp chúng ta có thêm kinh nghiệm sống cho những ngày còn lại của chúng ta trên trần gian nầy.
Trong chuyến du hành sang Hy Lạp, trên con đường từ Athens đến Kalambaka, người bạn già của tôi đã kể cho tôi nghe câu chuyện của ông như sau:
Chiều hôm đó, khi đi ngang qua một làng nhỏ của người da đen trong sa mạc Sahara. Như thường lệ, khi có một người khách đến, mọi người trong làng chạy ra vây bao quanh xe khách hoặc tò mò, hoặc để giành lấy những thực phẩm mà du khách thường mang theo để tặng họ. Hôm đó, tôi có nhìn thấy một ông lão già đang run lập cập vì lạnh. Nói về cái lạnh trong sa mạc xem ra là khó tin nhưng thực tế là thế. Sahara thường được gọi là xứ lạnh vào đêm nhưng rất nóng dưới ánh quang mặt trời. Mặt trời lặn rồi, ông lão lạnh cóng. Bấy giờ, tôi có ý nghĩ cho ông ta một trong những chiếc mền của tôi, nhưng tôi lại để tư tưởng đó qua đi vì tôi nghĩ đêm đến tôi cũng sẽ cóng lạnh như vậy. Dầu tôi lý luận: ông có thể quen với thời tiết ở đây hơn tôi, nhưng một chút bác ái trong tôi cũng đã khiến tôi suy nghĩ lần nữa, tốt hơn là cho ông ta một chiếc dẫu tôi có lạnh hơn một chút. Tuy vậy, khi tôi rời bỏ ngôi làng, những chiếc mền vẫn còn nằm nguyên vẹn trên chiếc xe của tôi. Bấy giờ, lương tâm tôi bắt đầu cắn rứt.
Khi đến nơi tôi có ý định đến, tôi rảo một vòng đi tìm một chỗ để yên nghỉ và tôi đã tìm được một nơi vừa ý thích. Tôi cố gắng nằm yên tựa chân lên một hòn đá lớn, nhưng rồi tôi vẫn không yên tâm được. Tôi nhớ cách đó một tháng, một người da đen đã bị nghiền nát bỡi một tảng đá to rơi xuống. Nên tôi đã ngồi dậy để xem tảng đá chỗ tôi đang nằm có bảo đảm không. Tôi thấy nó không được cân bằng cho lắm nhưng không đến nỗi nguy hiểm.
Tôi lại nằm xuống. Nếu tôi kể lại điều mà tôi mơ thấy, có lẽ bạn sẽ cảm thấy lạ lùng. Điều đáng buồn cười là tôi mơ thấy tôi đang ngủ dưới một hòn đá lớn và rồi vào một lúc, tôi thấy hòn đá di động và rơi xuống trên tôi. Tôi nghe thấy tiếng xương kêu răng rắc và tôi cảm thấy mình sắp chết vì cả thân xác bị nghiền nát dưới tảng đá ấy. Nhưng tôi ngạc nhiên vì không cảm thấy mình đau đớn gì cả, chỉ có một điều là không thể cử động được. Bấy giờ tôi thấy ông lão đang run rẩy trước mặt tôi. Không do dự một chút nào cả, tôi vội vàng lấy ngay một chiếc mền không được dùng đến đang nằm đàng sau tôi để trao cho ông. Tôi cố gắng giang tay ra để đưa nó cho ông. Nhưng viên đá khổng lồ ấy khiến tôi ngay cả một cử động nhỏ cũng không thể làm được. Tôi sợ quá nên chợt tỉnh giấc. Chính cơn ác mộng ấy đã giúp tôi suy nghĩ và hiểu được luyện ngục là gì, cũng như đã hiểu được nỗi khổ đau của các linh hồn là không còn có thể làm được điều mà trước đây họ có thể và lẽ ra nên làm.
Có ai biết được bao nhiêu năm trời sau đó tôi cứ phải bị ám ảnh và ray rứt trong lương tâm mỗi khi nhìn thấy chiếc mền như một bằng chứng cho sự ích kỷ của tôi cũng như cho sự chưa đủ trưởng thành của tôi để vào nước của Tình Yêu?
Tôi cố gắng nghĩ đến bao lâu tôi đã phải ở dưới hòn đá khổng lồ ấy ? Và có sự đáp trả cho tôi rằng cho đến khi tôi có thể làm được một hành động của tình yêu trọn vẹn. Bấy giờ, tôi cảm thấy mình hoàn toàn bất lực.
Tôi đưa mắt hướng nhìn đi nơi khác và tôi đã nhìn thấy những bia đá đang nằm trước mặt tôi không gì khác hơn là những nấm mồ của những người đã nằm xuống. Họ cũng vậy, cũng bị xét xử theo hành động trọn vẹn của tình yêu của họ, và giờ đây họ nằm ở đó đang mong chờ Vị Cứu Thế đến giải cứu họ trong ngày sau hết.
Hành động trọn vẹn của tình yêu là gì ? Là Chúa Giêsu đi lên đỉnh đồi Calvê để chết cho hết thảy chúng ta. Như những phần tử của nhiệm thể, chúng ta cũng sẽ được hỏi để cho thấy chúng ta có đủ tình yêu trọn vẹn ấy để theo Ngài lên đỉnh đồi Calvê không ? Sự khước từ làm những việc bác ái cho những người anh em chúng ta nói lên cho chúng ta thấy rằng chúng ta còn có cả một con đường dài nữa phải đi. Nếu chúng ta đã có thể đi qua một người anh em đang run rẩy vì lạnh, một người anh em đang gặp hoạn nạn bên vệ đường, làm cách nào chúng ta có thể dám chết đi cho những người anh em khác như Chúa đã chết đi cho hết thảy chúng ta.
Nếu chúng ta không muốn nằm lâu bất động dưới những viên đá khổng lồ đó thì bây giờ ngay khi còn sống, hãy làm những gì chúng ta có thể làm được cho những người anh em chúng ta để làm hành trang chuẩn bị sẵn sàng cho ngày Chúa gọi chúng ta lên đường về bên kia thế giới.

 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây