Giảng Lễ Cưới Bài 81-120 Suy niệm về Hôn nhân Gia đình

Chủ nhật - 16/12/2018 09:22
Giảng Lễ Cưới Bài 81-120 Suy niệm về Hôn nhân Gia đình
Giảng Lễ Cưới Bài 81-120 Suy niệm về Hôn nhân Gia đình
Giảng Lễ Cưới Bài 81-120 Suy niệm về Hôn nhân Gia đình
HP81: CHUNG LƯNG ĐẤU CẬT.. 2
HP82: ƠN GỌI (2) 5
HP83: ĐI TÌM... 10
HP84: XÂY  NhÀ.. 12
HP85: CHIẾC KÉO.. 16
HP86: NÔ LỆ.. 20
HP87: CHIẾC NHẪN.. 22
HP88: ĐÔI ĐŨA.. 26
HP89: TÌNH YÊU CHẮP CÁNH.. 31
HP90: NGÔN NGỮ.. 34
HP91: CHIẾC XE ĐẠP. 37
HP92: MƯA NẮNG.. 39
HP93: BÔNG HỒNG.. 43
HP94: NHÀM  CHÁN.. 44
HP95: XÍCH MÍCH.. 48
HP96: NGÔI  NHÀ.. 50
HP97: Vị đắng Tình yêu. 55
HP98: Hạnh phúc và đau khổ. 61
HP99: KHI VỢ CHỒNG KHÁC TÔN GIÁO.. 63
HP100: Tờ tiền 100 USD.. 65
HP101: Đĩa ớt và cốc nước. 66
HP102: Tuy Hai Mà Một 67
HP103: HÌNH ẢNH ĐỜI SỐNG HÔN NHÂN QUA TIỆC CƯỚI CANA.. 69
HP104: TRUNG TÍN.. 71
HP105: TIỆC CƯỚI CANA: BỮA TIỆC CẢ MỘT ĐỜI NGƯỜI 74
HP106: LỜI KHUYÊN CHO NGƯỜI LÀM CHỒNG, LÀM VỢ.. 77
HP107: Hôn nhân do trời xe định. 82
HP108: THỨ THA & HÒA GIẢI TRONG GIA ĐÌNH KITÔ HỮU.. 85
HP109: Tạo dựng hạnh phúc. 89
HP110: TÌNH YÊU MÃNH LIỆT HƠN SỰ CHẾT.. 91
HP111: KỶ NIỆM HÔN PHỐI TẠI GIÁO XỨ CHÍ HÒA.. 93
HP112: Ơn gọi đời sống hôn nhân. 96
HP113: TẠ ƠN KIM KHÁNH HÔN PHỐI 98
HP114: MỪNG KỶ NIỆM HÔN PHỐI 99
HP115: Thánh lễ kỷ niệm hôn phối tại nhà thờ Chính Tòa. 102
HP116: GỬI MỘT CHÚT HƯƠNG CHO GIÓ.. 103
HP117: Hôn Nhân Là Hình Ảnh Của Thiên Chúa. 104
HP118: Kim khánh và Ngọc khánh Hôn phối 107
HP119: GIÁO DỤC CON BẰNG GƯƠNG SÁNG CỦA CHA MẸ.. 109
HP120: Ích kỷ là mẹ đẻ của nhiều chất khác ăn mòn tình yêu. 111

 

HP81: CHUNG LƯNG ĐẤU CẬT

Vợ chồng cộng tác với nhau
I. THIÊN CHÚA MUỐN MỌI NGƯỜI CỘNG TÁC.
 

Con người vượt trên vạn vật ở chỗ có lý trí và tự do. Đấy là đặc điểm của con người để con người HP81

Con người vượt trên vạn vật ở chỗ có lý trí và tự do. Đấy là đặc điểm của con người để con người xứng đáng là “linh ư vạn vật”. Thiên Chúa không hành động một mình, nhưng luôn cho con người cộng tác vào mọi công trình của Chúa, trong đời sống tự nhiên cũng như siêu nhiên.
 
1. Quản lý vũ trụ:
          Thiên Chúa tạo dựng nên vũ trụ vạn vật, mọi sự đều tốt đẹp (St 1,15), nhưng Ngài còn muốn trao cho con người quản lý tất cả công trình Ngài đã tạo dựng để nhờ bàn tay con người, mọi sự sẽ được hoàn hảo hơn:”Thiên Chúa phán:”Chúng ta hãy làm ra con người theo hình ảnh chúng ta, giống như chúng ta, để con người làm chủ cá biển, chim trời, gia súc, dã thú, tất cả mặt đất và mọi giống vật bò dưới đất” (St 1,26 ; x. 2,18-20).
 
2. Tham gia vào việc cứu chuộc.
          Trong công cuộc cứu chuộc loài người, Đức Giêsu đã hoàn tất công cuộc cứu chuộc nhân loại, nhưng Ngài còn muốn cho con người được tham gia vào công cuộc đó bằng cách đi rao giảng Tin mừng, làm cho mọi người được trở nên môn đệ của Ngài:”Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất. Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Cha và Con và Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em. Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế” (M1 28. 18-20).
 
3. Tinh thần tập thể cần thiết.
          Chúa không muốn  hành động một mình, Ngài còn muốn cho con người cộng tác. Trong phép lạ hóa bánh ra nhiều, Đức Giêsu không muốn làm phép lạ cho bánh có ngay, mà Ngài muốn các tông đồ đem đến cho Ngài 5 cái bánh và 2 con cá để  cho 5000 người ăn no, không kể đàn bà con trẻ, lại còn dư được 12 thúng đầy mảnh vụn (x. Mt 14, 13-21)
          Chúa cũng muốn cho loài người chúng ta làm việc chung với nhau để# làm sáng danh Chúa và mưu cầu hạnh phúc cho nhân loại. Ngài đã hứa ở đâu có hai ba người tụ họp cầu nguyện thì Ngài ngự ở giữa, và Ngài cũng hứa với chúng ta là sẽ ở cùng chúng ta cho đến tận thế. Lời hứa ấy cũng đòi buộc chúng ta phải cộng tác với Chúa và với nhau.
 
II. VỢ CHỒNG CỘNG TÁC XÂY TỔ ẤM.
          Trong công cuộc xây dựng gia đình, không thể một mình đàn ông xây dựng, cũng không thể một mình người đàn bà có thể xây dựng nổi, mà đòi buộc cả hai bên cùng nỗ lực xây dựng như người ta nói:
                             Đàn ông xây nhà, đàn bà xây tổ ấm.
1. Tránh đơn thương độc mã.
                  
          Đơn thương độc mã là một thành ngữ có ý nói: hễ ai đó chỉ có một mình phải gánh vác, phải đương đầu với công việc nặng nhọc hoặc nguy hiểm mà không được sự hỗ trợ của người khác,
Đó là tình trạng đơn độc lẻ loi.
          Đơn thương độc mã là thành ngữ Hán-Việt,  trong đó có đơn đối độc, thương đối mã. Xét về nghĩa đen, đơn là một, là chiếc, trái với kép và đôi, còn độc có nghĩa là một mình. Sự láy nghĩa giữa đơn và độc trong thành ngữ nhấn mạnh sự lẻ loi, đơn độc. Các từ thương với nghĩa là ngọn giáo, mã với nghĩa là ngựa đều chỉ phương tiện võ khí chiến đấu.  Tổ hợp các thành tố với nhau, ta có thành ngữ đơn thương độc mã với nghĩa đen là “một ngọn giáo một con ngựa”.  Đối với một người ra trận thì một ngọn giáo, một con ngựa là đủ, không thiếu thốn gì. Nhưng đối với một trận chiến đấu mà một bên là cả một đạo quân hùng dũng và một bên chỉ có một ngọn giáo, một con ngựa thì tương quan lực lượng thật quá chênh lệch và cái thế đơn độc, lẻ loi càng bộc lộ rõ ràng. Trong cảnh huống này thành ngữ đơn thương dđộc mã không con được hiểu với nghĩa đen là “một giáo, một ngựa” mà biểu thị một con người lẻ loi, đơn độc trong chiến trận. Điều dễ nhận thấy là do chỗ gắn liền với gươm, giáo, gắn liền với giao tranh mà ý nghĩa của thành ngữ đơn thương độc mã chủ yếu được dùng để chỉ sự đơn độc, lẻ loi trong chiến đấu vơi quân thù.
          Tuy nhiên, trong sử dụng ngôn ngữ, thành ngữ này cũng được dùng để chỉ các phạm vi hoạt động khác. Cho đến ngày nay, thành ngữ đơn thương độc mã được dùng rộng rãi trong tiếng Việt hàm chỉ tất cả những việc làm thiếu sự hỗ trợ của người khác, phải tự mình đương đầu với khó khăn, vất vả, hiểm nguy, bất kể đó là công việc trong chiến đấu, sản xuất hay hoạt động khoa học.           (Hoàng văn Hành, Kể chuyện, thành ngữ, tục ngữ, 2003, tr 205-207)
 
2. Hãy chung lưng đấu cật.
          Thành ngữ “chung lưng đấu cật” có nghĩa là cùng góp sức và dựa vào nhau trước khó khăn chung (Từ điển tiếng Việt, Hoàng Phê chủ biên, 1988).
          Chung lưng đấu cật là một cách nói về truyền thống đoàn kết của nhân dân ta. Nó biểu thị sự hợp tác giữa một tập thể để chống chọi và vượt qua, chiến thắng khó khăn, để đi đến một một mục đích chung cao đẹp (Sđd, tr 153).
          Muốn xây dựng được một mái ấm gia đình vợ chồng luôn phải chung sức chung lòng, kề vai sát cánh mới mong đi đến thành công:
                             Em về cắt rạ đánh tranh,
                        Chẻ tre, chẻ lạt cho anh lợp nhà.
                             Sớm khuya hoà thuận đôi ta,
                        Hơn ai gác tía, lầu hoa một mình.
 
3. Hãy đồng cam cộng khổ.
          Thành ngữ “đồng cam cộng khổ” là một thành ngữ Hán Việt mà ý nghĩa của nó được hình thành trên cơ sở nghĩa biểu trưng của các thành tố: đồng (cùng), cam (ngọt), cộng (chung), khổ (đắng). Ở thành ngữ này, vị ngọt (cam) biểu trưng cho sự sung sướng, hạnh phúc, vị đắng (khổ) biểu trưng cho sự bất hạnh, hoạn nạn.  Từ ý nghĩa cụ thể cùng hưởng vị ngọt, cùng chung vị đắng, thành ngữ đồng cam cộng khổ hình thành nên ý nghĩa khát quát của nó.  Trong hạnh phúc hay bất hạnh, con người cần phải san sẻ cho nhau, cùng hoà vào cuộc sống chung, coi niềm hạnh phúc hay nỗi bất hạnh của mọi người như của mỗi người và như của riêng mình vậy.
                                       Đàn ông đi biển có đôi,
                                        Đàn bà đi biển mồ côi một mình.
          Câu ca dao trên đây có lẽ cũng đồng nghĩa với câu tục ngữ sau đây :
                                       Đàn ông vượt bể có chúng có bạn,
                                       Đàn bà vượt cạn chỉ có một mình.
 
                             Truyện: chia ngọt sẻ bùi.
          Câu thành ngữ đồng cam cộng khổ cũng đồng nghĩa với chia ngọt sẻ bùi. Kiểu nói thường được hiểu theo nghĩa bóng là hai người luôn cảm thông và nâng đỡ nhau trong cuộc đời.  Thế nhưng, vào cuối tháng 10/1994, báo chí Mỹ đưa tin về một cặp vợ chồng vừa mới thành hôn, chưa kịp đi hưởng tuần trăng mật thì người chồng 46 tuổi đã phải nhập viện vì thận hư, phải thay gấp mới mong sống nổi !  Người vợ cũng sẵn sàng nhập viện với chồng, chịu giải phẫu để chia cho anh... một trái thận !  Một sự chia sẻ rất cụ thể và rất qúi giá. “Chia ngọt sẻ bùi” ở đây hiểu theo cả nghĩa đen nữa.
          Thế là cả hai vợ chồng đều vui vẻ hưởng những ngày đầu đời hôn nhân trong bệnh viện.
          KẾT LUẬN
          Mái ấm gia đình luôn là công lao xây dựng của vợ chồng, không riêng của ai. Mỗi người xây đắp một phương diện.  Phải biết vun xới cho gia đình, “của chồng công vợ”, đừng sống như chỉ có một mình mà hãy thực hiện lời dạy trong Thánh Kinh:”Tôi muốn trở nên mọi sự cho mọi người”, ít ra hãy thực hiện điều ấy cho người bạn đời.
Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ  Kim phát
Tháng 2/2004


 

HP82: ƠN GỌI (2)

Ơn gọi hay định mệnh ?
I. ƠN GỌI CHO MỌI NGƯỜI.
 

Mỗi người chúng ta được ơn Chúa mời gọi: được sinh ra làm người, được làm con Chúa và Hội HP82

Mỗi người chúng ta được ơn Chúa mời gọi: được sinh ra làm người, được làm con Chúa và Hội thánh, được hưởng sự sống đời đời.
          1. Ơn gọi làm người: Khi dựng nên muôn loài muôn vật thì Thiên Chúa chỉ phán một lời làì mọi sự đều hiện hữu, nhưng khi dựng nên con người Thiên Chúa còn suy tư xem sẽ dựng nên con người như thế nào ; và kết cục Ngài đã quyết định dựng nên con người giống hình ảnh Ngài.  Ngài cũng cho con người được quyền quản lý những gì Ngài đã tạo dựng.
                   
          2. Ơn gọi làm con Chúa, con của Hội thánh: Khi sinh ra, chúng ta mang tội nguyên tổ, không được quyền làm con Chúa, nhưng Ngài đã xuống thế làm người chịu chết chuộc tội chúng ta và qua bí tích rửa tội, chúng ta lại được chấp nhận làm con Chúa và con của Hội thánh.
          3. Ơn gọi được hưởng Nước Trời: Vì tội của nguyên tổ Adam và Evà, chúng ta đã mất quyền được hưởng sự sống đời đời, nhưng Chúa Cha vì yêu thương loài người đã sai Con Một của Ngài đến giải thoát con người khỏi quyền lực của tội lỗi và ban cho con người được hưởng sự sống đời đời:”Thiên Chúa yêu thế gianđến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Ngài thì khỏi phải chết nhưng được sống muôn đời. Quả vậy, Thiên Chúa sai on của Ngài đến thế gian không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian, nhờ con của Ngài mà được cứu độ” (Ga 3, 16-17).
 
II. HÔN NHÂN LÀ ĐỊNH MỆNH ?
          Rất nhiều người coi việc kết hôn là do duyên phận hay duyên số. Hay nói cách khác hôn nhân là do định mệnh nghĩa là việc cưới vợ gả chồng là do một lực lượng vô hình đã xếp đặt và con người không thể cưỡng lại được.
          Trách duyên phận bẽ bàng, người cung nữ trong “Cung oán ngâm khúc” của Nguyễn gia Thiều đã thốt lên những câu bi phẫn:
                             Tay Nguyệt Lão chẳng xe thì chớ,
                             Xe thế này có dở dang không,
                             Dang tay muốn dứt tơ hồng,
                             Bực mình muốn đạp tiêu phòng mà ra.
          Thương nàng, ta cũng giận Nguyệt Lão. Thế nhưng Nguyệt Lão là ai ?
          Tự điển Thanh Nghị giải thích: Nguyệt Lão là tên một vị tiên, chủ về hôn nhân.
          Nguyệt Lão được hình dung như một ông già quắc thước ngồi trên cung trăng định đoạt chuyện nhân duyên của người trần thế.  Ông lấy một sợi tơ đỏ buộc chân một người nam và một người nữ với nhau.  Thế là nhất định họ sẽ phải thành vợ chồng. Vì vậy, chuyện vợ chồng, theo quan niệm cũ, là do nơi sắp đặt của Nguyệt Lão.  Nguyệt Lão còn được gọi là ông tơ (vì ông ta dùng tơ đỏ, tơ hồng).  Nhưng trong cách hiểu dân gian thì “lão” có thể là lão ông mà cũng có thể là lão bà. Cho nên, người trần thế lại cũng tưởng tượng mà gán cho cõi tiên những quan hệ trần tục như mình: đã có Ông Tơ thì thế tất phải có Bà Nguyệt !
          Sự thực Ông Tơ và Bà Nguyệt chỉ là hai tên gọi khác nhau của một vị tiên là Nguyệt Lão mà thôi. Về sau,  Ông Tơ Bà Nguyệt được dùng với nghĩa rộng,  chỉ chung những người mối lái trong chuyện dựng vợ gả chồng. Và, dĩ nhiên, những ông mối hay bà mối được gọi là ông Tơ bà Nguyệt này là người trần mắt thịt chứ không phải là tiên.
                         (Hoàng văn Hành, Kể chuyện, thành ngữ, tục ngữ, tr 385-386)
 
                             Truyện: nhân duyên của Vi Cố.
          Đã muộn mằm lắm mà Vi Cố chưa lấy vợ. Mãi đến một hôm, chàng quyết định gặp một cô gái vừa được đưa mối. Dọc đường, chàng thấy một cụ già đeo cái túi bên người. Hỏi ra mới biết cụ là người chuyên xe duyên cho các đôi vợ chồng. Cụ già phán bảo chàng rằng: cái đám chàng đi đến chẳng nên duyên vợ chồng. Cái số của chàng là phải lấy một cô bé lúc này mới lên ba thường đi theo mẹ bán rau ở chợ,  nhưng mãi đến năm nàng mười bảy tuổi mới cưới xin được.  Cái túi bên người cụ đựng toàn những sợi chỉ hồng (xích thằng) để buộc chân những người dù ghét bỏ đến đâu, xa cách đến mấy cũng vẫn phải lấy nhau.  Chỉ ấy đã buộc chân chàng với cô bé kia. vềà nhà, chàng thuê một người đi giết cô bé, nhưng sự chẳng thành. Mười bốn năm sau, chàng tập ấm và được quan trên tin cẩn gả con gái cho.  Thành vợ thành chồng được mười năm, chàng mới nhận ra vợ mình là cô bé mà chàng thuê người giết ở chợ để thách thức với số phận. Sau bao biến đổi, từ một cô con gái của người bán rau, nàng trở thành con nuôi của một viên quan trong triều. Kinh ngạc thay, vợ chồng không ai khác mà chính là nàng !  Rõ là Vi Cố không thoát được tiền định, không thoát được sự buộc chân của sợi chỉ hồng trong túi cụ già hai mươi bốn năm về trước.
                             (Hoàng văn Hành, Kể chuyện, thành ngữ, tục ngữ, tr. 278)
 
III. HÔN NHÂN LÀ ƠN GỌI ?
          Thiên Chúa ban cho con người hai cái phẩm tính đặc biệt mà không loài vật nào có, đó là lý trí và tự do. Con người có lý trí để suy xét công việc mình làm: tốt hay xấu, làm hay không làm, làm cách này hay cách khác, con người có quyền tự do quyết định.  Chính vì có lý trí và tự do nên con người phải có trách nhiệm về những việc mình làm.
          1. Vấn đề độc thân:
          Kinh thánh nói:”Lúc khởi đầu công trình tạo dựng, Thiên Chúa đã làm nên con người có nam có nữ; vì thế, người đàn ông sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai sẽ thành một xương một thịt. Như vậy, họ không còn là hai, nhưng chỉ là một xương một thịt” (Mc 10, 6-8).
          Chúa đã dựng nên con người có nam có nữ thật, nhưng Ngài có đòi buộc họ phải kết hợp với nhau không, hay Ngài để cho con người tự do, muốn kết hợp cũng được, mà không kết hợp cũng được ?  Theo cách thông thường thì người nam và người nữ kết hợp với nhau thành vợ chồng, nhưng Chúa  không đòi buộc con người phải làm như thế, vì Ngài cho biết: cũng có người không cưới vợ gả chồng vì một lý do cao đẹp: vì Nước Trời.  Đây, chúng ta hãy nghe lời Chúa:”Qủa vậy, có những người là hoạn nhân vì từ# lòng mẹ sinh ra đã như thế ; có những người là hoạn nhân vì bị người ta hoạn ; và có những người là hoạn nhân do họ tự ý sống như thế vì Nước Trời.  Ai hiểu được thì hiểu” (Mt 12,12 ) .
          Trong thư gửi tín hữu Corintô, thánh Phaolô tông đồ cũng cho biết có bậc độc thân, cũng có bậc gia đình, mỗi người phục vụ bằng những cách khác nhau:”Tôi muốn anh chị em không phải bận tâm lo lắng gì. Đàn ông không có vợ thì chuyên lo việc Chúa: họ tìm cách làm đẹp lòng người. Cũng vậy, đàn bà không có chồng và người trinh nữ thì chuyên lo việc Chúa, để thuộc trọn về Người cả hồn lẫn xác. Còn người có chồng thì lo lắng việc đời: họ tìm cách làm đẹp lòng chồng” (1 Cr 7, 32-34).   
 
          2. Vấn đề lập gia đình.
          Như trên đã nói, Thiên Chúa không buộc ai phải sống độc thân, cũng không phải lập gia đình, ai muốn sống độc thân trong đời sống tu trì hoặc trong cuộc sống ngoài đời cũng được.  Mọi người phải có quyền tự do trong việc lập gia đình: có lập gia đình hay không hoặc lập gia đình với ai.  Quyền tự do này được bất khả xâm phạm. Mất quyền tự do thì hôn phối sẽ không thành sự.
          Ngày xưa, cha mẹ có quyền áp đặt con cái trong việc lập gia đình theo phương châm:”cha mẹ đặt đâu, con ngồi đấy”. Quan niệm ấy ngày nay đã lỗi thời rồ. Chính vì có sự áp đặt như vậy cho nên có những cô dâu phải ngồi than thân trách phận:
                                      Mẹ tôi tham thúng xôi rền,
                                  Tham con lợn béo, tham tiền Cảnh Hưng.
                                      Tôi đã bảo mẹ rằng đừng,
                                  Mẹ hấm, mẹ hứ, mẹ bưng ngay vào.
                                      Bây giờ kẻ thấp người cao,
                                  Như đôi đũa lệch so sao cho vừa.
                                              (ca dao)
          Vì có tự do trong hôn nhân nên một danh nhân mới khuyên một câu rất chí lý:
                             “Hãy mở mắt to trước khi cử hành hôn lễ,
                               và sau đó hãy nhắm mắt lại”.      
                                      (Thomas  Fuller)
 
          3. Vấn đề nên thánh.
          Mọi Kitô hữu được kêu gọi nên thánh . Thánh có nghĩa là thuộc về Chúa. Mọi Kitô đã thuộc về Chúa cho nên phải có nhiệm vụ nên thánh, không những trong đời sống tu trì mà ngay cả trong đời sống hôn nhân. Dĩ nhiên, linh đạo nên thánh của người lập gia đình phải khác với bậc tu trì.  Nói chung, người sống trong bậc gia đình hãy yêu thương nhau tha thiết như tình yêu giữa Đức Kitô và Hội thánh Người.  Tình yêu vợ chồng được đúc kết bằng hy sinh, phục vụ, dâng hiến, nhịn nhục chịu đựng và trung thành suốt đời.
Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim Phát
Tháng 2 / 2004


 

HP83: ĐI TÌM

Vợ chồng cần phải tìm hiểu nhau
LỜI CHÚA:  Ga 1,35-38.
Hôm sau, ông Gioan lại đang đứng với hai nguời trong nhóm môn đệ của ông. Thấy Đức Giêsu đi ngang qua, ông lên tiếng nói:”Đây là Chiên Thiên Chúa”.  Hai môn đệ nghe ông nói, liền đi theo Đức Giêsu. Đức Giêsu quay lại,  thấy các ông đi theo mình, thì hỏi:”Các anh tìm gì thế” ? Họ đáp:”Thưa Rap-bi (nghĩa là Thầy), Thầy ở đâu” ? Người bảo họ:”Đến mà xem”. Họ đã đến xem chỗ Người ở, và ở lại với Người ngày hôm ấy. Lúc đó vào khoảng giờ thứ mười (Ga 1,35-58).
 

Khi Đúc Giêsu được ông Gioan Tẩy giả dược giới thiệu là “Con Chiên Thiên Chúa”, hai môn HP83

Khi Đúc Giêsu được ông Gioan Tẩy giả dược giới thiệu là “Con Chiên Thiên Chúa”, hai môn đệ nghe nói thế liền đi theo Đức Giêsu.  Nhưng Đức Giêsu quay lại mà hỏi:”Các anh tìm gì thế” ?   Sao Đức Giêsu không hỏi họ là “Các anh đi tìm AI ma lại hỏi là Các anh tìm Gì thế” ?  Câu hỏi này làm chúng ta suy nghĩ vì Đức Giêsu muốn đi thẳng vào tâm lý con người: trong cuộc sống hằng ngày ít khi chúng ta đi tìm ai mà chỉ đi tìm gì . Điều đó chứng tỏ chúng ta ít để ý đến con người mà chỉ chú ý đến sự vật.
 
II. TÌM GÌ VÀ TÌM AI .
          Đức Giêsu hỏi “Các anh tìm GÌ?” chứ không hỏi:”Các anh tìm AI thế” ? Câu hỏi ấy đúng với tâm trạng của con người trong đời sống bình thường. Trong cuộc sống con người thường là đi tìm GÌ chứ đâu có tìm AI.   Xét trong một ngày, ta thấy ta đi làm việc, tìm tiền, tìm nơi ở, tìm danh vọng, sự hiểu biết, sức khỏe, tìm nơi nào vui chơi thoải mái... ít khi đặt câu hỏi tìm AI.
          Ngay cả khi người ta tìm tình yêu, tìm bạn hữu, thì cũng chưa chắc là đi tìm AI. Khách thể “AI” mà ta đi tìm đó có khi cũng chỉ giống như như một nhu cầu là sự vật, chứ chưa là một con người. Thí dụ, tôi cô đơn, tôi cần có người yêu để giải quyết nhu cầu tình cảm của tôi, trong ý tưởng ấy, thì “người” mà tôi tìm kia cũng giống như một nhu cầu. Nó tương tự như tôi tìm tiền để giải quyết vấn đề kinh tế, thiếu nó, tôi nghèo khổ.
          Có thể lấy một hình ảnh cụ thể hơn. Trong gia đình, vợ bên chồng, con cái bên cha mẹ, thì nhu cầu đi tìm sẽ là TÌM GÌ, chứ không còn vấn đề TÌM AI nữa.  Vì đã ở bên nhau rồi thì đâu còn vấn đề phải đi tìm nhau nữa ! Tất cả cuộc đời của bằng ấy người trong gia đình là cùng nhau lo tìm thành công, tìm địa vị trong xã hội, tìm tương lai sáng sủa, tìm nhà cao cửa rộng.  Xét mình, ta thấy những điều làm ta bận tâm trong một ngày toàn là những vấn đề trong phạm trù TÌM GÌ, chứ không phải là phạm trù TÌM AI.
          Khi cuộc sống mà tất cả những thứ ta đi tìm chỉ nằm trong phạm trù TÌM GÌ thì đời sống sẽ nhiều đau khổ. Tại sao vợ có thể cô đơn bên chồng  ? Phải chăng người chồng đang tìm những thứ mà nghĩ rằng sẽ làm cho vợ mình hạnh phúc, chứ không tìm chính vợ ? Nhiều khivợ ngồi kề bên chồng mà vẫn cảm thấy nghìn trùng xa cách, tuy gần mặt nhưng lại xa lòng. Người ta cảm thấy xa nhau vì không chịu tìm nhau nên mới cảm thấy như  một thi sĩ than:
                             Hai người sống giữa cô đơn,
                        Nàng như cũng có nỗi buồn giống tôi.
                                    (Nguyễn Bính)
          Nhiều khi người ta có vẻ như tìm nhau nhưng lại không tìm để thông cảm với nhau mà chi coi nhau như một đối tượng cho sự tìm hiểu  hay cho # ích lợi riêng tư của mình. Tìm như thế thì như tìm hiểu giữa địch với ta để hòng chiến thắng địch theo như binh pháp của Tôn Tử “Tri kỷ tri bỉ bách chiến bách thắng”. Tìm như thế là tìm không đúng chỗ nên không bao giờ tìm được nhau:
                             Tìm em như thể tìm chim,
                          Chim ăn bể bắc đi tìm bể đông.
                                  (ca dao)
          Có nhau bằng thânxác thì con người cũng chỉ là một sự vật. Hiểu nhau bằng tâm hồn là một cuộc gặp gỡ bắt buộc phải có tìm kiếm. Cuộc sống nhiều xót xa vì người ta không đi tìm nhau, mà chỉ bận tâm đi TÌM GÌ. Nhất là họ cùng nhau đi TÌM GÌ thì họ lại càng có cảm tưởng không cần tìm nhau nữa. Người ta có thể cùng nhau tìm tiền, nhưng khi gặp tiền rồi thì vì tiền mà giết nhau.
          Cùng nhau đi tìm không có nghĩa là cùng tìm nhau.  Cùng nhau đi tìm cái gì đó nhưng hai người vẫn xa nhau, chưa tìm được nhau nên vẫn cô đơn :
                   “Thượng Đế tạo ra người đàn ông, nhưng thấy nó chưa đủ cô đơn, nên tạo thêm cho nó một người đàn bà, cho nó cảm thấy nỗi cô đơn càng thấm thía hơn”.
                                      (Paul Valéry)
          Cô đơn  là tình trạng rất phổ biến trong nhiều gia đình hiện nay, vợ chồng sống bên nhau, con cái sống bên cha mẹ, mà tại sao người ta vẫn thấy cô đơn ?  Vì cô đơn là tình trạng của con người muốn nói mà không có ai nghe, muốn nghe mà không có ai nói, muốn cho mà không có ai nhận, muốn nhận mà không có ai cho. Họ ở trong tình trạng bế tắc ! Muốn thoát khỏi tình trạng này, nhiều khi người ta đi đến những giải pháp táo bạo, nguy hiểm, có hại cho gia đình.
          Có cùng tìm nhau, có gặp nhau, thì mới có thể cùng nhau đi tìm một cái gì được.  Tìm sự vật, khi gặp rồi người ta biết rõ đã gặp.  Và đã gặp là xong, sự vật không thay đổi. Tìm một con người thì khó, vì gặp rồi đó mà vẫn xa lạ. Bên cạnh nhau đó mà vẫn có tiếng thở dài. Đời sống hạnh phúc gia đình hệ tại là biết đi tìm nhau.  Sự tìm nhau là biết nhau, hiểu nhau, thuộc về nhau.  Con người có nhiều thay đổi, vì thế họ vẫn có thể xa nhau dù ở bên nhau. Để giữ hạnh phúc, họ phải nỗ lực tìm nhau nhiều lắm, tìm nhau mãi mãi.
          KẾT LUẬN
          Đọc đoạn Phúc âm trên, ta thấy hai môn đệ của ông Gioan lập tức đi theo Chúa. Các ông đi theo Chúa thật, nhưng các ông tìm gì ? Các ông không tìm GÌ KHÁC mà tìm CON NGƯỜI của Chúa Giêsu để gắn bó với Ngài, làm việc vì Ngài và sống chết cho Ngài.
          Đấy là nhắc nhơ cho hạnh phúc của ta hôm nay trong những phạm trù ta đang đi tìm.  Ta đi tìm nhau hay tìm sự vật ? Trong hôn nhân, rất nhiều khi có cay đắng vì chỉ cùng nhau đi tìm sự vật, rất nhiều khi trống vắng vì bên nhau mà vẫn không gặp nhau.  Khi bên nhau mà không gặp nhau, là dấu chứng đợi họ không cùng đi tìm nhau, mà là đang mải mê cùng nhau tìm kiếm sự vật.  Khi người không gặp người thì mãi mãi sẽ là cô đơn, tất cả những gì tìm kiếm kia cũng sẽ là xa mờ hạnh phúc.
          Trong cuộc sống hằng ngày, đặc biệt là trong cuộc sống hôn nhân, chúng ta hãy xin Chúa ban cho chúng ta hãy biết đi tìm con người, chứ đừng quên con người mà chỉ tìm sự vật. Mà con người mà ta cần tìm nhất đó là chính Chúa.
Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Tháng 01 / 2004


 

HP84: XÂY  NhÀ

Tiêu chuẩn  để lựa chọn
I. LỜI CHÚA.
          Hãy đọc và suy niệm Lời Chúa: Mt 7,21-27.
          Chúa Giêsu đã nói “Ai yêu mến Thầy thì phải giữ lời Thầy” (x. Ga 15,10).
 

Nghe và hiểu biết lời Ngài cũng chưa đủ, còn phải đem ra thực hành trong đời sống hằng ngày.  Chúa HP84

Giêsu ví người nghe và thực hành Lời Chúa như người khôn ngoan xây nhà trên nền đá vững chắc, gió táp mưa sa  cũng không làm cho ngôi nhà lay chuyển vì nhà được xây trên nền vững chắc.
          Trái lại, nghe lời Chúa mà không đem ra thực hành thì giống như người ngu chỉ xây nhà trên cát, nếu có mưa sao bão táp, nuớc ùa vào sẽ làm cho ngôi nhà bị đổ.
          Người đời ai cũng có kinh nghiệm về việc xây nhà: ngôi nhà càng cao nền càng phải vững chắc. Báo chí đã đưa tin là biết bao ngôi nhà tự nhiên bị đổ xuống đè chết nhiều người. Nguyên nhân từ đâu ? Người ta đều kết luận là nền không vững chắc vì bất cứ lý do nào.
          Khi kết hôn, người ta cũng dùng cụm từ quen thuộc: Xây dựng gia đình.  Xây dựng gia đình cũng như xây dựng một ngôi nhà cần phải có nền tảng vững chắc. Vậy nền tảng ấy là gì  ?
 
II. CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG.
          1. Xây dựng nhà cửa.
          Ngày nay, kinh tế phát triển, nhà cửa đang được mộc lên như nấm, rất đa dạng.  Có những vùng sình lầy đã trở thành những dẫy nhà cao tầng kiên cố và khang trang.  Khi xây nhà người ta phải để ý đến nền móng, làm sao cho vững chắc. Nền móng yếu sẽ làm cho ngôi nhà bị nghiêng hoặc bị đổ. Báo chí cho biết có những ngôi nhà 5, 7 tầng lầu bị nghiêng ở bên Thái lan, và siêu thị hay cửa hàng tổng hợp 4 tầng bên Nam hàn bị sập, đã chôn vùi hơn 400 người.
 
          2. Xây dựng gia đình.
          Khi xây dựng gia đình, người ta cũng phải để ý đến nền móng của nó.  Tòa nhà hôn nhân phải được xây dựng trên nền móng vững chắc hay yếu ơt ?  Hay nói khác đi, khi chọn người bạn trăm năm thì phải chọn theo tiêu chuẩn nào ?
 
          a) Trên nền không vững chắc.
          Người ta được tự do chọn người bạn trăm năm, không ai có quyền ép buộc nhưng họ phải nhận lấy hậu quả của việc lựa chọn ấy.  Nếu họ chỉ chọn bạn trăm năm dựa theo tiền tài, chức quyền, tài năng, sắc dục... thì họ xây tòa nhà hôn nhân trên cát vì những thứ ấy không vững chắc.  Nếu những thứ ấy biến đi, liệu tòa nhà hôn nhân có thể đứng vững được không ?  Hoặc ai có thể cứu vãn  cho ngôi nhàtrong tình thế nguy hiểm ấy ?
          Phải biết trước nhân tình thế thái: những lời thề hứa với nhau trong ngày thành hôn không bảo đảm cho họ một tương lai vững chắc. Khi xẩy ra một sự cố, khi những tính toán ban đầu không được thực hiện thì người ta có thể thẳng thừng mà nói với nhau như thế này:
                                      Bây giờ tiền hết gạo không,
                                      Anh ơi, ở lại mà trông lấy hòm.
                                      Bao giờ tiền có gạo còn,
                                      Thì tôi trở lại trông hòm cho anh
                                                  (Ca dao)
          Ông Meilman cũng nói:
                                       “Ái tình là một chứng bệnh có 3 giai đoạn:
                                        khát khao, chiếm đoạt và chê chán”.
          b) Trên nền vững chắc.
          Khi kết hôn, ta cũng theo gương cậu Tobia và cô Sara để chọn người yêu.  Trước một biến cố quan trọng của một đời người như vậy, hai cô cậu đã làm gì ?  Kinh thánh còn ghi rõ: hai cô cậu đã sốt sắng dâng lời cầu nguyện:            
                             Giờ đây, lạy Chúa, Chúa biết rằng không phải vì mê sắc dục
                             mà con nhận em con đây làm vợ, nhưng chỉ vì muốn có  một
                             dòng dõi để nhờ đó danh Chúa được chúc tụng đến     muôn
                             thuở muôn đời” (Ttb 8,9).
          Cô Sara cũng nói:
                             “Lạy Chúa, xin thương xót chúng con, xin thương xót chúng
                             con, và cho vợ chồng chúng con cùng nhau sống an lành
                             cho đến tuổi già” (Tb 8,10).
          Kết hôn là một chuyện dễ và rất nhanh chóng, nhưng sống trong cuộc đời hôn nhân mới là khó vì nó không kéo dài trong năm ba tháng mà phải kéo dài suốt cả cuộc đời cho đến khi một trong hai người không còn nữa.  Trong thời gian sống chung đó, có biết bao biến cố xẩy ra, vui cũng như buồn, thành công cũng như thất bại. Có những sự việc xẩy ra hoàn toàn không theo ý muốn. Những cơn sóng gió nổi lên làm chao đảo con thuyền hôn nhân đang dật dờ trên biển trần gian.  Như vậy, muốn xây dựng hôn nhân trên nền móng vững chắc thì cần phải có:
 
          * Đời sống đạo đức:
          Chính đời sống đạo đức là một bảo đảm cho đời sống hôn nhân , vì nhờ đó, vợ chồng biết yêu thương nhau, nhường nhịn nhau, yêu nhau chín bổ làm mười.  Những khi khó khăn họ biết chạy đến Chúa kêu xin Người cứu chữa để họ giải quyết mọi việc một cách êm thắm. Do đó, người đời mới có câu tục ngữ  rất chính xác và đầy kinh nghiệm:
 
                                      Cái nết đánh chết cái đẹp.
                   Ông Feuerzinger cũng nói: “Chẳng có gì ghê tởm bằng người đàn bà nhan săc mà không có đức hạnh”.
          * Tính tình tốt:
          Người đời cũng có nhiều kinh nghiệm về cuộc sống hôn nhân: Hạnh phúc hôn nhân dựa trên cái gì ? Người ta không bảo là phải dựa trên tiền tài, danh vọng hay chức quyền mà phải dựa trên một con người có tình tình tốt lành,  như câu ca dao dưới đây chứng minh:
                                      Chẳng tham ruộng cả ao sâu,
                                      Tham vì anh tú rậm râu mà hiền.
                                                  (Ca dao)
          Hoàng đế Napoléon đệ nhất cũng nói:
                                      “Một người đàn bà đẹp làm thỏa mắt,
                                      Một người đàn bà tốt làm đẹp lòng:
                                      Một đàng là một thứ trang sức,
                                      Một đàng là một kho tàng”.
          Vậy người khôn ngoan xây nhà thì phải xây trên cái gì đây: họ nên chọn đồ trang sức hay kho tàng ?
          KẾT LUẬN.
          Muốn chọn người bạn trăm năm phải theo tiêu chuẩn: đứng về phương diện tôn giáo , chọn được một người có đời sống đạo đức thì tốt nhất, vì với ơn Chúa, đời sống của họ có thể bảo đảm cho hạnh phúc hôn nhân, hay ít ra phải chọn một người có một tính tình tốt lành như người đời hằng mong ước.
          Tốt nhất nên chọn người nào biết thi hành lời Chúa:
                   “Anh em là muối cho đời” (Mt 5,13)
                   “Anh em là anh sáng cho trần gian” (Mt 5,14).
 Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt


 

HP85: CHIẾC KÉO

Sự cộng tác của vợ chồng
I. LỜI  CHÚA.
                             Tiệc cưới tại Cana (Ga 2,1-11)
 

Thánh Gioan kể lại: Đức Giêsu vừa đi truyền giáo được ba ngày thì có tiệc cưới tại Cana. Đức Giêsu HP85

Thánh Gioan kể lại: Đức Giêsu vừa đi truyền giáo được ba ngày thì có tiệc cưới tại Cana. Đức Giêsu và các môn đệ được mời, có cả sự hiện diện của Đức Maria nữa. Có lẽ đây là tiệc cưới của người bà con thân thuộc với Ngài.
          Tiệc cưới mới được nửa chùng thì sự cố xẩy ra: thiếu rượu. Đức Maria lên nhà nói nhỏ với Đức Giêsu:” Họ hết rượu rồi”.  Một lời van xin vắn gọn nhưng rất hiệu nghiệm, nên Đức Maria tin tưởng nói với gia nhân:”Thầy bảo gì thì nhớ làm theo”. Họ đã đổ đầy sáu chum nước và tất cả số nước đó đã trở thành rượu ngon.
          Qua phép lạ này, chúng ta có thể rút ra được 3 bài học thực hành.
          1. Vai trò của Đức Maria.
          Trong cuộc đời chúng ta và cách riêng cho cuộc sống hôn nhân vai trò của Đức Maria rất cần thiết.  Ngài phải có một chỗ đứng vững chắc trong gia đình bởi vì chúng ta thấy có rất nhiều khó khăn phải vượt qua để tiến tới hạnh phúc gia đình.  ta phải chạy đến cùng Mẹ để được giúp đỡ
          2. Sự cộng tác của gia nhân.
          Chúng ta thử đưa ra một giả thiết: hôm đó các gia nhân toàn là những người bướng bỉnh và biếng nhác, không làm theo lời Chúa dạy, không chịu đổ nước vào chum...  Vậy thử hỏi: Chúa Giêsu có làm phép lạ cho sáu chum nước lã biến thành rượu không ? Bởi vì họ không chịu cộng tác với Chúa !
          3. Việc xây dựng hạnh phúc hôn nhân.
          Cuộc sống hôn nhân là nhằm đi tới hạnh phúc.  Nhưng ai phải xây dựng hạnh phúc gia đình ?  Chính là vợ chồng và con cái mà chủ yếu là vợ chồng.  Thiên Chúa không sản xuất ra hạnh phúc như một thứ tiền chế rồi cho người này hay người nọ, mà Chúa đòi mỗi người phải nỗ lực tạo ra hạnh phúc ; còn Chúa thì Ngài ban đủ ơn cần thiết để vợ chồng có thể đạt tới hạnh phúc ước mong.
 
II. VỢ CHỒNG CỘNG TÁC XÂY DỰNG GIA ĐÌNH.
          Sự cộng tác rất cần thiết cho cuộc sống cá nhân, gia đình cũng như cho xã hội.
          Ông Thomas Merton nói:”No man is an island” (không ai là một hòn đảo), không ai có thể sống một mình mà không nhờ đến người khác. Cũng như mọi chi thể trong một thân thể không thể tách rời nhau, chi thể này cần đến chi thể kia. Nếu một chi thể bị đau thì cả thân thể đều bị liên lụy:
                             Một con ngựa đau, cả tầu chê cỏ (tục ngữ)
          Thánh Phaolô tông đồ đã triển khai tư tưởng này khi gửi cho tín hữu Corintô , ngài nói rằng có nhiều chi thể, mỗi chi thể có một chức năng, nhưng tất cả đều cần đến nhau (x. 1Cr 12,14-26).
          Có người ví cuộc đời như một tấm áo. Tấm áo càng đẹp, càng qúi báu thì càng đáng cho mọi người ao ước.  Có người cho rằng ở trong xã hội người ta chỉ hơn nhau nhờ tấm áo manh quần, qua dáng vẻ bề ngoài chứ thả ra chưa chắc  ai đã hơn ai. Vi thế người ta nói:
                             Hơn nhau tấm áo manh quần,
                             Cởi ra bóc trần, ai cũng như ai.
                                      (ca dao)
          Ngày xưa, lụa là gấm vóc là thứ vải qúi giá nhất, thường dành cho những người thượng lưu, dân quê nghèo khó ai mà có ?  Nếu ai mặc những lụa là gấm vóc thì được người ta cho là giầu sang phú qúi, được người ta kính nể. Chính lụa là gấm vóc làm cho người ta có giá trị trước mặt xã hội:
                             Người đẹp về lụa, lúa tốt về phân (tục ngữ)
          Lụa là gấm vóc là thứ vải qúi dùng để trang sức cho con người.  Muốn may vá bằng những thứ vải này, cần phải có cái kéo thật bén.  Công dụng cái kéo để làm gì ?  Để cắt ! Muốn cắt thì chiếc kéo phải có hai lưỡi ép sát vào nhau, thiếu một lưỡi thì chiếc kéo trở nên hoàn toàn vô dụng
 
                             Truyện: ngỏ lời cầu hôn
          Chamfleury, tiểu thuyết gia trứ danh người Pháp, thế kỷ 18, yêu cô gái đỡ đầu của Eugène Delacroix, họa sĩ nổi tiếng,  và muốn cưới cô này làm vợ. Trong thư “ngỏ sự lòng của nhà tiểu thuyết” gửi cho ý trung nhân, ta nhận thấy có chỗ khác người:
          - Thưa cô, tôi thấy thiên hạ thường nói rằng một người không vợ không chồng giống như cái kéo một lưỡi. Cô thừa biết cái kéo một lưỡi thì không dùng vào việc gì được,  nhưng khi ghép vào cho nó lưỡi thứ hai thì nó trở nên hữu dụng ngay.  Nếu cô tin như vậy, tôi sẽ đem hết mọi tình cảm chân thành, mọi hy vọng tận tụy để cùng cô cắt tấm vải đời, cố gắng làm sao cho thật khéo.
          Tiếp được bức thư, thiếu nữ trả lời một cách vừa đầy đủ vừa tài tình.  Cô gửi cho Chanfleury một chiếc kéo, dĩ nhiên đủ hai lưỡi mới tinh.  Ba tuần lễ sau, hôn lễ được cử hành.  Và nghe nói trọn đời vợ chồng ấy không hề lớn tiếng với nhau bao giờ.
          Theo Chamfleury, cuộc đời là một tấm vải, cần phải cắt thật khéo để may nên một tấm áo hạnh phúc. Kéo càng sắc, việc cắt may càng dễ dàng. Kéo sắc bén chính là tình yêu vợ chồng dành cho nhau để dệt nên hạnh phúc gia đình. Như vậy, chỉ có thể có hạnh phúc gia đình khi hai vợ chồng cùng nhau xây dựng. Hạnh phúc chỉ đến trong sự cộng tác của vợ chồng chứ không có một thứ hạnh phúc tiền chế.
          Trong ý tưởng này, người Tây phương thường nói ;”Một tay, không vỗ nên cái bộp”.
          Trong lãnh vực thiêng liêng, sự cộng tác của ta với Chúa cũng rất cần thiết. Thánh Augustinô sau khi trở lại với Chúa đã than thở:”Khi dựng nên con, Chúa chẳng cần đến con, nhưng Chúa không thể cứu chuộc con nếu con không cộng tác”.
          Trong văn chương bình dân, chúng ta có thể gặp được những gia đình thôn quê rất mộc mạc, đơn sơ, bình lặng, trong đó mọi người nỗ lực làm việc theo khả năng của mình:
                             Trên đồng cạn dưới đồng sâu,
                             Chồng cầy, vợ cấy, con trâu đi bừa.
                                      (ca dao)
          Khi gia đình đông người thêm thì công việc cũng thêm.  Gia đình người Việt nam thích sống chung hài hòa có khi đến tứ đại đồng đường mà cuộc sống vẫn dễ chịu, công việc được phân chia cho hợp khả năng, không ai ngồi chơi xơi nước, công việc vẫn trôi chảy:
                             Cha chài, mẹ lưới, con câu,
                             Thằng rể đi xúc, con dâu đi mò.
                                      (ca dao)
          KẾT LUẬN
          Thánh Phaolô khuyên tín hữu Roma:”Ai nấy liên đới với nhau như những bộ phận trong một thân thể” (Rm 12, 5).  Hoặc xem sự duy nhất trong một thân thể mặc dầu có nhiều chi thể  (x. 1Cr 12,12-27).
Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Tháng 01 / 2003


 

HP86: NÔ LỆ

Vợ chồng phục vụ nhau
I. LỜI CHÚA: Pl 2,6-11;  Mt 20,27-28.
 

 Ngược dòng lịch sử, ta thấy nguyên tổ loài người đã phạm tội, mất quyền làm con Chúa, phải sống HP86

Ngược dòng lịch sử, ta thấy nguyên tổ loài người đã phạm tội, mất quyền làm con Chúa, phải sống dưới quyền lực của ma qủi và tội lỗi, mất hạnh phúc đời đời. Nhưng trong hoàn cảnh bi đát ấy, Thiên Chúa đã hứa ban ơn cứu độ:”Chúa Cha yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con Một Ngài xuống trần...”
          Khi thời gian viên mãn, Ngôi Hai Thiên Chúa đã xuống trần cứu chuộc nhân loại. Đó là Đức Giêsu Kitô.  Thánh Phaolô đã ca tụng:”Đức Giêsu Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế” (Pl 2,6-7).
          Đức Kitô không những trở nên người phàm để sống với người phàm mà còn hạ mình hơn nữa là trở nên nô lệ để phục vụ con người.
          Chính Chúa Giêsu cũng khẳng định:”Anh em phải biết: thủ lãnh các dân thì lấy quyền mà cai trị dân, những người làm lớn thì dùng uy mà cai quản dân. Giữa anh em thì không được như vậy. Ai muốn làm lớn giữa anh em, thì phải làm người phục vụ anh em.  Và ai muốn làm đầu anh em thì phải làm đầy tớ anh em.  Cũng như Con Người đến không phải được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người” (Mt 20,26-28).
 
II. PHỤC VỤ LÀ LÀM TÔI TỚ – NÔ LỆ.
          1. Ngày xưa, chế độ nô lệ đã được thực hành tại Israel. Phần đông nô lệ gốc ngoại quốc: đó là những tù binh chiến tranh bị bắt làm nô lệ theo thông lệ thời xưa (Đnl 21,10), hoặc các nô lệ mua lại của những người buôn bán nô lệ (St 17,12).  Người Hy bá cũng bị bán hoặc tự bán mình làm nô lệ (Xac 21,1-11 ; 22,2).
          Cần lưu ý là trong Thánh Kinh cùng một từ vừa vừa chỉ đầy tớ vừa chỉ nô lệ.  Luật công nhận nô lệ như một thói tục đã thành hình (Xac 21,21), nhưng Luật luôn cố gắng làm giảm bớt tính cách hà khắc của chế độ nô lệ, và mặc dù diễn tả một lý tưởng hơn là một thực tại, nhưng Luật đã chứng nhận ý nghĩa đích thực của con người.
          2. Ngày nay,  tuy chế độ nô lệ không còn được công nhận trên thế giới,  nhưng hình thức bóc lột con người không khác với chế độ nô lệ. Hình thức có khác nhưng nội dung là một, ví dụ có những trẻ em phải làm việc trong những môi trường hết sức tồi tệ, phải làm việc nhiều giờ, mất hết tự do và bị đối xử như những tên nô lệ thời xưa.
 
                             Truyện vui:
          Có một anh chàng đến tán tỉnh một cô gái. Anh ta hạ mình xuống nói với cô ta:
          - Anh yêu em lắm, anh xin làm nô lệ cho tình yêu của em.
          Cô gái trả lời tỉnh bơ:
          - Chế độ nô lệ ngày nay đã lỗi thời rồi anh ạ.
          Tuy không còn chế độ nô lệ, nhưng trong đời sống gia đình, nhiều khi người chồng cư xử với vợ mình như những người nô lệ: thiếu gì những cảnh hành hung trong gia đình, nhiều khi người vợ bị thương tích suốt đời.
 
III. VỢ CHỒNG PHỤC VỤ NHAU.
          Sau khi đã thành hôn, hai người nam nữ đã trở nên một xương một thịt, nên họ phải phục vụ nhau, vì như thánh Phaolô bảo:”Có ai ghét thân xác mình bao giờ, trái lại, người ta phải nuôi nấng và chăm sóc thân xác mình” (Ep 5,29).  Thấn xác của chồng là của vợ, và thân xác của vợ là của chồng, mỗi người chỉ còn có một nửa. Ai không yêu thân xác mình là tự mâu thuẫn.
          Nếu vợ chồng trở nên tôi tớ hay nô lệ của nhau một cách ý thức và tự nguyện, chứ không bị ép buộc,  thì đó là một điều đáng khen ngợi.   Có một bà vợ đã tâm sự:
                             Vì chàng thiếp phải bắt cua,
                             Những như thân thiếp, thiếp mua ba đồng.
                             Vì chàng thiếp phải long đong,
                             Những như thân thiếp cũng xong một bề.
                                             (ca dao)
          Vợ chồng phải yêu thương nhau như tình yêu giữa Chúa Giêsu và Hội thánh.  Yêu nhau là phải hy sinh cho nhau, mà hy sinh là phục vụ, mà phục vụ thì trở nên tôi tớ một cách ý thức.  Đừng bao giờ coi nhau như một đối tượng để mưu cầu hạnh phúc cho riêng mình:
                             Con trâu có một hàm răng,
                             Ăn cỏ đồng bằng, uống nước bờ ao.
                             Bây giờ mày ở với tao
                             Đến khi mày chết, tao cầm dao xẻ thịt mày.
                             Sừng mày tao tiện con cờ,
                             Cán dao, cán mác, lưỡi dầy, lưỡi thưa.
                                           (ca dao)
KẾT LUẬN
          Hãy theo gương Đức Maria vì Đức Maria đã trở nên tôi tớ của Thiên Chúa (Lc 1,38).
Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim Phát
Tháng 10 / 2002


 

HP87: CHIẾC NHẪN

Chữ nhẫn là chữ tương vàng.
Ai mà nhẫn được thì càng sống lâu.
 I. LỜI CHÚA: 1Ga 15,12-16.
 

Đức Giêsu nhắc cho môn đệ một điều rất quan trọng:”Đây là điều răn của Thầy: anh em hãy HP87

Đức Giêsu nhắc cho môn đệ một điều rất quan trọng:”Đây là điều răn của Thầy: anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 15,12).
          Điều răn của Chúa là chúng ta phải yêu thương nhau ; nhưng làm sao người ta có thể yêu thương nếu không có một động lực, một nguồn yêu thương ngay từ trong lòng mình phát xuất ra ?  Làm sao có được nguồn yêu thương ấy ?
          Vì tình yêu bắt nguồn từ Thiên Chúa (1Ga 4,7) nên chính Thiên Chúa là nguồn yêu thương (2Cr 13,11). Vì thế, muốn yêu thương, con người phải kết hợp làm một với Thiên Chúa, nguồn yêu thương. Kết hợp với Thiên Chúa là luôn ý thức rằng mình là “hình ảnh của Thiên Chúa” (St 1,27; 9,6 ; Ep 4,24) và “được thông phần bản tính của Thiên Chúa” (2Pr 1,4) một Thiên Chúa mà bản chất là yêu thương (x. 1Ga 4,8 . 16).
          Nếu bản chất của Thiên Chúa là yêu thương, mà ta giống Ngài, là hình ảnh của Ngài, được thông phần bản tính Ngài, tất nhiên bản chất của ta cũng là yêu thương. Ta không yêu thương hay không yêu thương đủ, là ta sống không đúng với bản chất của ta.
          Yêu thương không phải chỉ ở trong tinh thần mà còn phải thể hiện ra bằng những việc làm cụ thể mà trong lễ cưới hôm nay có một nghi thức tượng trưng: trao nhẫn cưới.
 
II. CHIẾC NHẪN NGÀY CƯỚI.
          1. Trong nghi lễ hôn phối, ta thấy có nghi thức làm phép nhẫn và xỏ nhẫn cho nhau.
          a) Làm phép nhẫn: trong khi làm phép nhẫn Linh mục đọc:”Xin Thiên Chúa chúc phúc cho những chiếc nhẫn này mà hai người trao cho nhau để làm bằng chứng tình yêu và trung thành”.  Như vậy, chiếc nhẫn tượng trưng cho tình yêu và lòng trung tín của hai người.
          b) Trao nhẫn cho nhau:  trong khi xỏ nhẫn vào ngón tay nhau, đôi tân hôn đều đọc:”Anh (em) hãy nhận chiếc nhẫn này để làm bằng chứng tình yêu và trung thành của anh (em). Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần.
          Xỏ nhẫn cho nhau nói lên sự ràng buộc và trung thành với nhau suốt đời.  Chúng ta để ý xem hai chiếc nhẫn để sát vào nhau sẽ thành hình số 8.  Đấy là cái còng số 8 mà công an hay dùng để còng tội phạm.  Hôm nay hai người tự nguyện còng tay nhau mà không bao giờ có thể tháo ra được.
          c) Nghi lễ tấn phong Giám mục : trong nghi lễ tấn phong, Đức tân Giám mục cũng được đeo nhẫn, điều đó nói lên ý nghĩa ngài đã kết hôn với giáo phận nên phải luôn trung thành với giáo phận được trao phó.
          Các chị nữ tu khấn trọn cũng được đeo nhẫn để nhắc cho các chị là các chị đã được kết hôn với Chúa Giêsu nên suốt đời phải trung thành với Ngài nghĩa là phải luôn trung thành với những lời đã khấn hứa.
 
          2. Nguồn gốc tục đeo nhẫn.
          Chiếc nhẫn cưới hình tròn. Vòng tròn tượng trưng cho lời khấn hứa bất diệt, điều nguyện cầu vô tận.  Đó là một tượng hình bắt đầu từ Ai cập.
          Theo tập tục của dân Anglosaxons,  khi làm lễ đính hôn thì lễ vật nhà trai mang đến nhà gái phải có một chiếc nhẫn đính hôn để vị hôn phu đeo cho vị hôn thê trước mặt đại diện hai họ.  Sau khi được vị hôn phu tự tay đeo nhẫn đính hôn cho mình rồi, vị hôn thê mới lấy một chiếc nhẫn đính hôn khác mà cô đã để sẵn trong túi áo để đeo vào tay người cô yêu.
          Nhẫn đính hôn được đeo vào ngón giáp  út của bàn tay trái cho đến ngày làm lễ cưới.  Tới ngày cưới, cô dâu chú dể sẽ tháo chiếc nhẫn đính hôn từ tay trái để đeo vào tay phải cho nhau.
          Dân Mỹ, Tô cách lan và dân theo đạo Thiên Chúa giáo hiện nay theo tục đeo nhẫn cưới vào ngón giáp út của bàn tay trái.
          Tín đồ Thiên Chúa giáo bắt đầu có tục lệ cô dâu chú rể đeo nhẫn cưới cho nhau kể từ năm 800, nghĩa là được 1200 năm rồi.
                   (Hoàng Thảo, 1001 câu hỏi và giải đáp... tr 63-64)

          3. Hai chiếc nhẫn.
          a) Nhẫn cưới:  là một thứ kim loại qúi bằng vàng, bằng bạc hay kim cương. Cái đó không quan trọng,  có thể làm bằng nhưạ cũng được, cái cần nhất là ý nghĩa của nó: tình yêu và lòng trung thành với nhau.
          b) Nhẫn nhục: Trong những ngày trăng mật, mỗi thứ mỗi hay, mọi việc đều tốt.  Đời chỉ là mầu hồng. Nhưng sau đó,  cuộc đời không êm ả như nước mặt hồ thu mà có những sóng gió bão táp.  Người ta thường nói: bá nhân bá tính, không ai giống ai,  không thể có đồng nhất mà chỉ có hợp nhất trong đời sống vợ chồng. Phải biết trước thế nào cũng xẩy ra cảnh “cơm chẳng lành, canh chẳng ngọt”, những sự trái ý, sự va chạm sẽ xẩy ra liên tiếp... Trong những trường hợp này ta cần phải có sự NHẪN NHỤC,  nhẫn nhục là phải nhịn nhục nhau, phải bỏ ý riêng của mình.  Cho nên người ta mới nói là: đã nhẫn thì phải nhục.  Nhưng cái nhục ở đây là có ý thức, do tự nguyện, đó là “nhịn mày tốt tao”.
          Tôi xin hỏi anh chị em: khi hai vợ chồng đang xung khắc nhau, đang to tiếng, lời qua tiếng lại, thì ta nên làm gì ?  Ta nên làm gì ? Theo tôi nghĩ là nên làm... thinh !
          Người đời ai cũng khen người biết nhịn nhục,  có nhịn nhục cũng không hèn vì là cái chịu nhục có ý thức, cái nhục tự nguyện, làm vinh dự cho con người:
                             Chữ nhẫn là chữ tương vàng,
                             Ai mà nhẫn được thì càng sống lâu.
                                      (ca dao)
 
          4. Chiếc nhẫn nhắc sự trung tín.
          Ngày nay người ta quá chú trọng vào đời sống vật chất, muốn được hưởng thụ nhiều.Sự giầu sang phú qúi và ngay sự đói nghèo cũng làm cho người ta xa lìa nhau:
                             Có ăn thiếp ở cùng chàng,
                             Không ăn thiếp tếch, cơ hàn thiếp lui.
                                          (ca dao)
          Vợ chồng cần phải trung thành với nhau khi thịnh vượng cũng như lúc gian nan, khi bệnh hoạn cũng như lúc mạnh khoẻ như lời hứa mà hai anh chị sắp đọc trong nghi thức hôn phối.
                            
                             Truyện minh họa.
          Năm 1028, khi thấy mình sắp chết đến nơi rồi, vua Constantin IX ở La mã cho vời nhà quí tộc Romanuus đến, để đồng thời vừa truyền ngôi, vừa gả công chúa Théodora cho nữa.
          Romanus tâu vua: mình hết lòng cảm ơn lòng thương của vua, song mình đã có vợ.
          Không đếm xỉa gì đến lời tâu, vua truyền cho ông, nếu không lấy con vua thì sẽ bị khoét cả hai con mắt: muốn chọn đàng nào thì chọn. Rồi nhà vua cho ông một ngay để suy nghĩ.
          Tới ngày hẹn, ông Romanus vào chầu.  Hoàng đế cho gọi công chúa đến, một công chúa tài sắc vẹn toàn.  Nhưng Romanus can đảm tâu vua:  dây hôn phối ràng buộc ông với vợ, do Thiên Chúa buộc, và thế gian không ai có quyền tháo gỡ. Vua ra sức ép nài nhưng vô ích.
          Ông Romanus cam lòng chịu khoét mắt hơn là lỗi lề luật của Thiên Chúa.
                             (Trần công Hoán, Truyện hay 5, tr 54-55)
          Hôm nay hai người đã ý thức được việc mình làm và hai người hãy nhìn vào nhau, nói với nhau một cách đanh thép:
                             Dầu mà trời đất phân chia,
                             Đôi ta như khóa với chìa đừng rơi.
                                      (ca dao)
          KẾT LUẬN
          Trong cuộc sống gia đình không thiếu gì những khó khăn, những gian nan thử thách, nhưng chúng ta biết rằng lúc nào cũng có Chúa trong gia đình chúng ta, Ngài sẽ nâng đỡ an ủi, ban sức mạnh để chúng ta thắng vượt vì qua  sóng gió bão táp thì trời lại sáng , gia đình lại yên vui.  Vợ chồng phải luôn tâm niệm rằng:”Sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không thể phân ly” (Mt 19,6).
Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giao xứ Kim phát
Tháng 12 / 2002


 

HP88: ĐÔI ĐŨA

Đũa đã thành đôi (tục ngữ)
I. LỜI CHÚA.
St 1,27:  Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh mình.
Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh Thiên Chúa.
Thiên Chúa sáng tạo con người có nam có nữ.
St  2,24: Bởi thế,  người đàn ông lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai thành một xương một thịt.
Mc 10,6-9: Lúc khởi đầu công trình tạo dựng, Thiên Chúa đã làm nên con người có nam có nữ; bởi thế, người đàn ông sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai thành một xương một thịt. Như vậy, họ không còn là hai, nhưng chỉ là một xương một thịt.
 
II.  HÔN NHÂN VÀ BỮA ĂN.
 

Khi người nam và người nữ kết hợp với nhau bằng giao ước hôn nhân, họ chính thức tạo lập HP88

Khi người nam và người nữ kết hợp với nhau bằng giao ước hôn nhân, họ chính thức tạo lập một gia đình.  Đây là ngày vui và đáng ghi nhớ nhất trong đời họ. Người ta tổ chức tiệc cưới mừng cho đôi tân hôn. Bữa ăn được tổ chức khác nhau tùy theo phong tục từng dân tộc, từng địa phương. Trong bữa ăn, người ta dùng phương tiện nào để ăn cơm ?
          * người Tây phương dùng xiên muỗm.
          * Người Ấn độ hay dùng tay để bốc cơm cà ri.
          * Người Á đông, nhất là Việt nam, người ta dùng đôi đũa để ăn cơm.
          Đây là kiểu ăn đặc thù của người Việt.  Dùng đũa thì bao giờ cũng dùng đôi, không bao giờ dùng một chiếc. Dùng đũa là cả một nghệ thuật: cách cầm đũa phải nhẹ nhàng, khoan thai, dẻo dai . Khi gắp món ăn cũng như lúc và cơm, đôi đũa hoạt động nhịp nhàng, cả hai cùng giúp nhau để gắp thức ăn cũng như và cơm.  Việc đôi đũa hoạt động hỗ tương nhau làm cho tôi liên tưởng đến sinh hoạt của vợ chồng.. Đũa bao giờ cũng có đôi, một chiếc đũa không thể gắp, không thể và cơm được, chỉ còn cách là chọc món ăn thôi.
 
III. TẢN MẠN VỀ ĐÔI ĐŨA.
          Khi người thanh niên đến tuổi yêu đương, bao giờ cũng chọn cho mình một người yêu. Sau khi đã tìm hiểu nhau, ưng ý nhau và hứa hẹn lấy nhau, thời gian này người ta dùng một từ ngữ bóng bảy là “đũa đã thành đôi” (tục ngữ).
          Tìm hiểu câu tục ngữ “đũa đã thành đôi” trên, chúng ta có một số ý nghĩ về mối tương quan giữa “đôi đũa và vợ chồng”.
          1. Đũa phải có đôi.
          Câu tục ngữ trên đã nói lên tư tưởng này: dùng đũa thì bao giờ cũng phải dùng đôi, không thể dùng một chiếc để gắp thức ăn cũng như và cơm. Nếu chỉ dùng một chiếc đũa thì chỉ có thể chọc được thức ăn chứ không thể gắp được cái gì.  Khi bà mẹ chồng quá khắc nghiệt với con dâu, nàng dâu phải nói lên lập trường của mình một cách quyết liệt:
                             Chồng thương chẳng nệ chi ai,
                             Đũa bếp cho dài, gắp cổ mụ gia.
                                      (ca dao)
 
          2. Hai chiếc đều nhau, không so le.
          Đũa có thể to nhỏ, dài ngắn nhưng luôn luôn phải bằng nhau. Nếu một chiếc to, một chiếc nhỏ, chiếc dài chiếc ngắn thì rất khó gắp.  Điều này có ý nói: vợ chồng là bạn đường, ngang hàng, cùng đồng hưởng ơn ban sự sống. Tránh cái quan niệm lệch lạc xa xưa như “chồng chúa vợ tôi” hoặc như quan niệm của Nho gia ngày xưa “phu xướng phụ tùy”, chồng nói thì vợ phải làm theo, không được có ý riêng. Người ta coi người phụ nữ là thứ yêu, chỉ như một người tôi tớ được mẹ cha mua về:
                             Con gái là của người ta,
                             Con dâu mới thực mẹ cha mua về.
                                      (ca dao)
          Chính vì thế, trong cảnh sống” chồng chúa vợ tôi” người phụ nữ chỉ còn than thân trách phận hay trách cha mẹ đã gả bán cho người ta mà không nghĩ đến số phận con gái:
                             Mẹ tôi tham thúng xôi dền,
                             tham con lợn béo, tham tiền Cảnh Hưng.
                             Tôi đã bảo mẹ rằng đừmg,
                             mẹ hấm, mẹ hứ, mẹ bưng ngay vào.
                             Bây giờ kẻ thấp người cao,
                             như đôi đũa lệch so sao cho vừa.
                                      (ca dao)
 
          3. Hai chiếc đũa phải xuôi chiều.
          Chiếc đũa có hai đầu, đầu lớn và đầu nhỏ. Người ta gắp bằng đầu nhỏ. Nếu gắp bằng một đầu lớn và một đầu nhỏ thì rất khó. dễ để rơi thức ăn. Đây là trường hợp của đôi vợ chồng sống trong cảnh “ông nói gà bà nói vịt”, mỗi người một ý, không ăn khớp với nhau, gây lộn xộn trong gia đình:
                             Sống mỗi người một nết,
                             Chết mỗi người một tật.
 
          4. Hai chiếc phải thẳng và đều.
          Đôi khi có thể xẩy ra, một chiếc đũa thẳng, một chiếc đũa cong làm cho việc gắp thức ăn không chuẩn.  Đây là trường hợp của đôi vợ chồng không trung thực với nhau, người ta lén lút đi ngang về tắt, người ta xé rào, người ta có những mối tình trộm vụng bất chính. Nên người ta nói:
                             Chồng ăn chả, vợ ăn nem,
                             Đứa ở có thèm mua thịt mà ăn.
                                      (ca dao)
 
          5. Giữ cho đũa khỏi mốc.
          Ăn xong ngày nào cũng phải rửa, phải phơi khô, nếu không đũa sẽ bị mốc.  Đó là khi vợ chồng không để ý đến nhau, mỗi người nhìn một hướng, không biết lo cho hạnh phúc của nhau, họ# sống ích kỷ chỉ biết lo cho bản thân mình.  Hoặc họ chỉ biết sống cô độc như anh chàng Narcisse trong thần thoại Hy lạp.  Vì thế người ta khuyên vợ chồng:
                             “Hãy rửa tội cho tình yêu mỗi buổi sáng
                              và hãy cưới lại nhau mỗi ngày”.
 
          6. Giữ cho đũa khỏi mọt.
          Phải giữ đũa trong tình trạng tốt, đừng để bị mọt. Trong gia đình không thể tránh được cảnh “cơm chẳng lành, canh chẳng ngọt”, có thể xẩy ra những sự bất hoà bùng nổ hay ngấm ngầm.  Sự bất hòa ngấm ngầm rất nguy hiểm, nó cứ âm thầm gậm nhấm tình yêu vợ chồng, mỗi ngày cứ lạnh nhạt dần và có thể trở nên một cuộc chiến tranh lạnh:
                             Lạnh lùng thay láng giềng ơi,
                             Láng giềng lạnh  ít, sao tôi lạnh nhiều.
                                      (ca dao)
 
          7. Giữ cho đũa khỏi bị gẫy.
          Đôi lúc khách đang gắp thức ăn mà đũa bị gẫy thì cảm thấy hơi bị quê, vì đũa làm bằng nhựa rất dòn.  Trường hợp này đã từng xẩy ra.   Ngày nay ta thấy các gia đình lỏng lẻo rất nhiều. Đức Giáo hoàng Gioan-Phaolô II nói:”Gia đình là nền tảng của xã hội”.  Nếu nền tảng đã lung lay thì xã hội làm sao đứng vững được. Nhiều nơi có tới 50% hay có nơi tơi 70% các đôi hôn nhân ly dị.  Nếu tình trạng này cứ tiếp diễn thì tương lai nhân loại sẽ ra sao ?  Người ta cứ thản nhiên nói:
                             Đồng tiền chiếc đũa chia ly,
                             Thiếp đi theo thiếp, chàng đi đường chàng.
                                            (ca dao)
KẾT LUẬN
          Chúng ta vừa cùng nhau bàn về đôi đũa với một số suy nghĩ về cuộc sống vợ chồng.  Hôm nay hai anh chị có thể nói là
                             Đôi ta làm bạn thong dong,
                             Như đôi đũa ngọc nằm trong mâm vàng.
                                             (ca dao)
          Hãy cố sao giữ cho đôi đũa ấy luôn nguyên vẹn để làm cho bữa ăn trong gia đình được ngon miệng, thêm sức khỏe để xây dựng một gia đình hạnh phúc. Và chúng ta hãy cầu nguyện:
          Lạy Chúa, khi tạo dựng loài người có nam có nữ, Chúa đã muốn cho cả hai nên một. Hôm nay là ngày lễ thành hôn của anh... và chị...   Xin cho họ được trọn tình vẹn nghĩa với nhau và biết mở rộng lòng yêu thương mọi người để làm chứng cho tình yêu vô biên của Chúa.
Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Tháng 12 / 2003


 

HP89: TÌNH YÊU CHẮP CÁNH

Tình yêu chia sẻ và bền vững
I. TÌNH YÊU CỦA THIÊN CHÚA  (1Ga 4,8; Ga 15,9-12).
 

Mỗi khi có một lễ cưới, người ta lại nhắc đến tình yêu vì chính tình yêu đã nối kết hai người nam HP89

Mỗi khi có một lễ cưới, người ta lại nhắc đến tình yêu vì chính tình yêu đã nối kết hai người nam nữ lại với nhau.  Nhưng tình yêu ấy bởi đâu mà đến ?  Phải chăng họ tạo ra tình yêu và trao đổi cho nhau ?  Không phải thế !  Không ai đã tự tạo ra mình: chúng ta bởi cha mẹ mà sinh ra, cha mẹ chúng ta cũng bởi ông bà nội ngoại mà sinh ra, và ông bà nội ngoại của chúng ta cũng bởi các cụ cố, và cứ như thế chúng ta phải đilên tới nguồn gốc của thủy tổ loài người. Adm và Evà không bởi tự mình mà có, nhưng đã được Thiên Chúa tạo thành. Do đó, “tất cả chúng ta hiện hữu, cử động và sống đều bởi Thiên Chúa và nhờ Người” (x. Cvsđ 17,28). Và nếu vậy thì tình yêu nơi chúng ta cũng bắt nguồn từ Thiên Chúa.
          Trong bài đọc vừa nghe, thánh Gioan cũng đã khẳng định điều đó khi Ngài nói:”Anh em thân mến, chúng ta hãy yêu thương nhau, vì tình yêu bắt nguồn từ Thiên Chúa. Phàm ai yêu thương, thì đã được Thiên Chúa sinh ra và người ấy biết Thiên Chúa” (1Ga 4,8)
          Tình yêu của chúng ta cũng chính là tình yêu của Thiên Chúa được thể hiện qua chúng ta. Cho nên mọi tình yêu phải quay về với Chúa là nguồn gốc tình yêu:”Thiên Chúa là Tình  yêu”(1Ga 4,16).
          Trong kinh điển của Ấn độ, có lời chép:”Tất cả mọi hữu thể đều do tình yêu mà sinh ra, tất cả mọi hữu thể một khi đã sinh ra được sống nhờ tình yêu nâng đỡ, tất cả mọi hữu thể khi chết đều trở về trong tình yêu” (Taittirya Upanisad III,6).
 
II. TÌNH YÊU LỨA ĐÔI.
          1. Tình yêu chia sẻ.
          Tình yêu bắt nguồn từ Thiên Chúa, thì điều ấy có nghĩa là không phải chúng ta đã tạo ra nó, nhưng chỉ đón nhận nó qua trung gian tổ tiên, ông bà, cha mẹ. Điều ấy cũng có nghĩa là không phải là chúng ta trao tặng cho nhau, mà chỉ là CHIA SẺ nó mà thôi.
          Không phải đôi bờ của con sông đã tạo ra dòng nước, nhưng là cả hai cùng chia sẻ một dòng nước để tạo ra một dòng sông. Khi không còn nước nữa thì hai bờ sông sẽ chỉ là đôi bờ của một hố sâu, một vực thẳm. Cũng vậy, khi hai người không còn chia sẻ cho nhau tình yêu đón nhận từ Thiên Chúa, thì họ chỉ còn là đôi bờ ngăn cách, đôi bờ của một vực thẳm chia ly.
 
          2. Tình yêu vững bền.
          Chúng ta nên nhớ rằng tình yêu đây không những là hồng  ân cao qúi nhất mà Thiên Chúa ban tặng cho ta, mà còn chính là Thiên Chúa ở giữa chúng ta.
          Xác tín rằng Thiên Chúa là tình yêu ngự giữa chúng ta và đang liên kết chúng ta, cho nên chối bỏ tình yêu ấy là chối bỏ chính Thiên Chúa. Đàng khác, khi vì lý do ngoài ý muốn của chúng ta, mà chúng ta cảm thấy như đã mất hay không còn dồi dào tình yêu ấy giữa chúng ta, thì tiên vàn hãy hướng về Thiên Chúa, chính Người là nguồn suối tình yêu sẽ làm cho tình yêu lại lênh láng giữa chúng ta. Thậm chí,  ngay cả những khi giữa chúng ta chỉ còn là một vực thẳm ngăn cách, nhưng nếu chúng ta biết khiêm tốn cầu xin, thì tình yêu viên mãn của Người sẽ lấp đầy hố ngăn cách giữa chúng ta, khiến vực thẳm chia ly lại trở thành dòng sông thương mênh mông.
          Trong cuộc sống hằng ngày không thiếu gì những gian nan thử thách làm cho tình yêu dễ bị sứt mẻ nếu không tan vỡ. Ngoài việc phải cầu nguyện xin Chúa cho mối tình luôn bền vững, cần phải có những nỗ lực tự nhiên của con người
                             Anh còn son em cũng còn son
                             Ước gì ta được làm con một nhà.
                               Trăm năm ghi tạc chữ đồng,
                             Dù ai thêu phụng vẽ rồng mặc ai.
                             Trăm năm ai chớ bỏ ai
                             Chỉ thêu nên gấm, sắt mài nên kim.
                                            (Ca dao)
 
          3. Giữ cho tình yêu mãi đẹp.
          Ngày kết hôn ai cũng ao ước được cho duyên thắm chỉ hồng mãi mãi được vuông tròn, trăm năm hạnh phúc, tình yêu mãi được tươi đẹp và chỉ có một mối tình duy nhất: tình yêu vợ chồng bền chặt.
          Tình yêu thì chỉ có một, nhưng nó đa dạng, phong phú, nhiều mầu sắc.  Chúng ta có thể so sánh: nước cũng chỉ có một nguồn duy nhất, nhưng khi đổ xuống từ trời thì thay hình đổi dạng: ở bầu thì tròn, ở ống thì dài; mạnh mẽ và hùng dũng như thác đổ, êm đềm lặng lẽ như dòng suối, cuồn cuộn như sông mùa nước lũ, thơ mộng uốn khúc như sông Hương... Có nước trong nước sạch, mà cũng có nước đục nước dơ. Có nước ngọt mà cũng có nước phèn, nước lợ, nước chua và mặn.  Nhưng khi xuất phát từ nguồn, nghĩa là từ những đám mây trên trời trong xanh, thì nước bao giờ cũng ngọt và trong. Sau hết, dù mặn dù dơ đến đâu, người ta cũng có thể lọc sạch tẩy trong và làm cho  trở thành ngọt, tinh khiết.
          Tình yêu của chúng ta cũng vậy, luôn luôn thánh thiện, cao cả khi phát xuất từ Thiên Chúa, nhưng qua chúng ta, nó có thể trở thành chua chát, đắng cay hay trở thành dơ bẩn, tội lỗi. Chúng ta đừng sợ, hãy tin tưởng và cố gắng, nhờ ơn Chúa, có thể làm cho tình yêu sẽ trở nên cao đẹp.
          Trong bất cứ hoàn cảnh nào, dù gặp gian lao thử thách, vở chồng luôn giữ mãi mối tình sắt son, không gì có thể làm cho sứt mẻ theo gương một vị tướng đã dám trung kiên giữ mãi mối tình cao đẹp ấy trong suốt cuộc đời:
          Cuộc sống gia đình của một vị tướng đang trôi qua trong bầu khí đầm ấm, thương yêu và đạo đức. Bỗng một hôm, bác sĩ cho biết: bà nhà mắc bệnh phong cùi, phải đưa vào trại cùi, cách ly mọi người càng sớm càng tốt.
          Thực là một tin sét đánh ! Từ nay, vợ chồng sẽ phải sống xa nhau.
          Mấy ngày sau vị tướng buồn khổ đưa vợ vào trại phong.  Nhưng vì quá yêu thương người bạn trăm năm, ông đã nghĩ ra diệu kế: ông giao nhà cửa cho con cái, chấp nhận hy sinh những tiện nghi sẵn có.  Ông thuê một căn nhà nhỏ ngay trước trại cùi, và ngày ngày tới sống tại căn nhà nhỏ này. Ban sáng trước khi đi làm, ông ghé thăm vợ, chiều về, ông ghé vào an ủi, đưa tin tức cho vợ biết về con cái, bạn bè, rồi cùng nhau đọc kinh cầu nguyện.
          Lúc đầu không ai biết rõ, dần dần người ta mới để ý, tìm hiểu và sau cùng ai cũng cảm phục: Làm sao họ trung thành với nhau như thế !  Không một tai họa nào có thể chia rẽ mối tình vợ chồng của hai người.
          Mười mấy năm trôi qua, bệnh bà tới lúc khỏi hẳn, vị tướng sung sướng lái xe đưa vợ về nhà, xum họp lại với con cái bạn bè.  Quả thực đôi vợ chồng này đã thề hứa và đã trung thành với lời hứa lúc cử hành nghi lễ Hôn phối:”Chúng tôi sẽ giữ lòng chung thủy với nhau, khi thịnh vượng cũng như lúc gian nan, khi bệnh hoạn cũng như lúc mạnh khoẻ, để yêu thương và tôn trọng nhau suốt đời”.
Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Tháng 8 / 2003


 

HP90: NGÔN NGỮ

Mt 12,35
 

Không ai muốn sống cô đơn vì sống là phải sống với. Sống với là muốn sống thành tập thể mà HP90

Không ai muốn sống cô đơn vì sống là phải sống với. Sống với là muốn sống thành tập thể mà tập thể là một xã hội.  Sống trong xã hội là phải có đời sống chung mà Kinh thánh đã từng ca ngợi:
                             Ngọt ngào tốt đẹp lắm thay,
                             Anh em được sớng vui vầy bên nhau.
                                      (Thánh vịnh 133,1)
          Sống chung là phải có sự trao đổi để thông cảm với nhau, nên cần có phương tiện thông cảm và phương tiện,  đó là ngôn ngữ.

I. NGÔN NGỮ LOÀI NGƯỜI.
          Nhiều nhà xã hội học đã định nhgĩa người là con vật có xã hội tính (Homo est animal sociale) nên muốn sống thành tập thể, thành một xã hội có tổ chức nên những người trong xã hội phải có phương tiện diễn tả và trao đổi tư tưởng cũng như tâm tình của mình. Thượng Đế đã ban cho con người một phương tiện hữu hiệu, đó là ngôn ngữ.
          Theo Đào duy Anh, tự mình nói là ngôn, đáp lại người khác gọi là ngữ. Nên ngôn ngữ là nói năng  hay tiếng nói của từng dân tộc.
          Theo nghĩa hẹp thì ngôn ngữ là nói nằng, nhưng theo nghĩa rộng thì ta có thể coi ngôn ngữ là lời nói, chữ viết hay cử chỉ vì tất cả là phương tiện để con người phát biểu tư tưởng cũng như trao đổi tâm tình.
 
II. NGÔN NGỮ LỜI NÓI.
          Lời nói là phương tiện diễn tả hữu hiệu nhất. Không ai có miệng mà không nói, chỉ có người câm mới không nói:
                             Người ta có miệng có môi,
                             Khi buồn thì khóc, khi vui thì cười.
                                      (Ca dao)
            Cho dù# ngôn ngữ là phương tiện cần thiết và hữu hiệu của con người trong xã hội nhưng nó cũng có mặt phải mặt trái của nó.  Vì thế,  Giám mục Fénelon đã khuyên:”Ngôn ngữ cũng phải lịch sự như y phục phải cho chỉnh tề”.  Cổ nhân cũng có câu:
                             Nhất ngôn thuyết quá,  tứ mã nan truy
                             (Một lời nói quấy quá, bốn ngựa đuổi cũng không kịp)
                                                (tục ngữ)
1.      Cái lợi của ngôn ngữ nói.
Người ta dùng lời nói để diễn tả và truyền đạt tư tưởng cũng như tâm tình của nhau, nhất là
trong dời sống vợ chồng như diễn tả tình yêu thương.  Còn gì đẹp bằng những lời nói khi hai người yêu nhau qua những tiếng xưng hô: anh ơi, em à, mình ơi, cục cưng của anh...  Nhờ lời nói thân tình mà tình yêu của hai người càng thêm thắm thiết, cuộc đời càng thêm vui, càng có ý nghĩa:
                             Chẳng được miếng thịt miếng xôi,
                             Cũng được lời nói cho nguôi tấm lòng.
                                      (Ca dao)
 
2.      Cái hại của ngôn ngữ nói.
Người ta cũng có thể dùng lời nói để phun ra những cái xấu xa từ trong lòng mình cho người
khác:”Người tốt thì rút cái tốt từ kho tàng tốt của mình; kẻ xấu thì rút cái xấu tù kho tàng xấu của mình “ (Mt 12,35 ; Mc 3,29 ; Lc 12,10).
          Khi không yêu nhau nữa, nhất là khi đã trở thành kẻ thù của nhau thì người ta không ngại ngùng dùng những từ ngữ rất chói tai:
                   Vợ thì: thằng quỉ kia.
                   Chồng thì: con đĩ  này – con quỉ cái – con sư tử cái.
          Vì thế, vợ chồng phải dè dặt trong lời nói, lời nói ra phải làm sao cho mát lòng nhau khiến người ta thêm vui sống:
                             Lời nói không mất tiền mua,
                             Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau.
                                      (Ca dao)
 
III.  NGÔN NGỮ CỬ CHỈ.
          Ngoài lời nói ra, người ta còn dùng cử chỉ hay thái độ để diễn tả tư tưởng và tình cảm. Cử chỉ hay thái độ cũng có thể làm cho người ta hài lòng hay khó chịu. Có một câu chuyện:
          Anh câm, chị cũng câm, thế mà vẫn tìm hiểu nhau và đi đến hôn nhân như mọi người khác. Không những thế, gia đình còn làm ăn khấm khá và dần dần sinh được 6 người con. Xóm giềng thấy thế ai cũng mừng cho gia đình câm và rỉ tai nhau: “Câm cũng khổ và cũng hay, khỏi có lời qua tiếng lại, cũng chẳng phải nghe tiếng nặng tiếng nhẹ, bớt được nhiều vụ va chạm xích mích”.
          Ai ngờ đâu, con người thật có lắm cách để bầy tỏ tình cảm của mình ! Vợ chồng câm mà vẫn cơm chẳng lành, canh chẳng ngọt.  Cả hai cùng đưa nhau ra tòa ly dị. Thiên hạ hiếu kỳ lại được dịp đi xem. Tòa chấp thuận cho họ được ly dị nhau và quyết định mỗi bên phải nuôi 3 đứa,  cứ mỗi tháng hai bên gặp nhau một lần để cho con cái thăm bố mẹ và anh chị em thăm nhau.
          Thế nhưng vẫn không xuôi, lại cùng nhau ra tòa lần nữa, vì mấy lần gặp nhau cả hai vợ chồng vẫn có chuyện xích mích trong lúc con cái thì ríu tít vui vẻ. Toà xử: “Từ đây, ba tháng mới gặp nhau một lần”.
          Được một thời gian, gia đình ấy lại... dắt nhau ra tòa !  Vì vợ chồng vẫn tiếp tục sinh sự !  Toà phải đi đến một giải pháp sau hết:”Từ đây, con đi thăm mẹ và anh chị em, thì bố đừng đi theo; mà con đi thăm bố và anh chị em thì mẹ phải ở nhà. Chừng ấy mới yên được” !
          Đến đây xin dể anh chị em suy nghĩ tiếp.
Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Th. 7/2002


 

HP91: CHIẾC XE ĐẠP

Cộng tác với Chúa (1Pr 3,1-9)
I. HÃY ĐỒNG TÂM NHẤT TRÍ.
 

Người ta thường nói: Đoàn kết là sống, chia rẽ là chết.  Hoặc nói một cách mạnh hơn: hợp quần HP91

Người ta thường nói: Đoàn kết là sống, chia rẽ là chết.  Hoặc nói một cách mạnh hơn: hợp quần gây súc mạnh.  Ca dao Việt nam cũng nói:
                             Một cây làm chẳng nên non,
                             Ba cây chụm lại nên hòn núi cao.
          Khi lập gia đình vợ chồng đều có một nỗ lực là tạo lập được hạnh phúc gia đình. Công cuộc tạo lập hạnh phúc không là việc riêng của chồng hay của vợ mà phải cả hai.  Trong việc xây dựng hạnh phúc này, thánh Phêrô Tông đồ đã khuyên cả vợ chồng:”Anh em hãy đồng tâm nhất trí, thông cảm với nhau, yêu thương nhau như anh em” (1Pr 3,9).
          Trong lời nguyện sau kinh Lạy Cha của lễ Hôn phối, Hột thánh cầu nguyện cho các cô dâu “biết ăn ở thuận hòa, luôn noi gương các thánh nữ được ca tụng trong Thánh kinh”.  Đồng thời, Hội thánh cũng cầu nguyện cho các chú rể “biết trọn niềm tin tưởng ở vợ mình, nhìn nhận nàng là người bạn bình đẳng và cùng được thừa hưởng ơn ban sự sống. Xin cho anh luôn biết kính trọng và yêu thương nàng”.  Bài giáo huấn của thánh Phêrô hôm nay cũng đề cập đến cách cư xử phải có của người vợ và người chồng có đạo.
 
II. CẦN SỰ CỘNG TÁC.
          1. Cộng tác của vợ chồng.
          Chúng ta thấy hình ảnh một gia đình ở thôn quê rất đẹp, tuy mộc mạc nhưng cũng thơ mộng và đầm ấm. Vợ chồng cùng chung sức tạo cho mình một cánh đồng lúa tốt để lấy lương thực nuôi nhau và cho đồng bào. Công việc được phân chia hợp lý, tùy theo sức lực của từng người:
                             Trên đồng cạn, dưới đồng sâu,
                             Chồng cầy vợ cấy, con trâu đi bừa.
                                           (Ca dao)
          2. Cộng tác với Chúa.
          Hạnh phúc gia đình chỉ có được khi có sự cộng tác tích cực của vợ chồng. Không ai có thể đem hạnh phúc đến cho mà chính vợ chồng phải tạo dựng lấy.
          Tuy nhiên, ngoài hai yếu tố là vợ chồng xây dựng hạnh phúc ta cần phải có yếu tố thứ ba nữa, đó là sự trợ giúp của Chúa., vì Chúa nói:”Không có Thầy, các con không thể làm được gì” ( Mt         }.
          Cha Mark Link đưa ra một bài thơ so sánh việc cộng tác với Chúa qua hình ảnh hai người đi chung một chiếc xe đạp có hai bàn đạp như sau:
          Đầu tiên, tôi ngồi đàng trước và Chúa Giêsu ngồi sau lưng. Tôi không thấy Ngài, nhưng tôi biết chắc Ngài ngồi đàng sau. Tôi cảm nhận được Ngài giúp tôi mỗi khi tôi đạp lên dốc.  Rồi một ngày kia, Chúa Giêsu và tôi đổi chỗ cho nhau. Lập tức mọi sự đảo lộn tùm lum cả. Khi tôi ngồi trước điều khiển tay lái, chuyến đi được dự đoán và nhàm chán.  Nhưng rồi khi để Chúa Giêsu điều khiển, chuyến đi lại trở nên mông lung ngoài vòng kiểm soát.  Tôi khó mà có thể chịu nổi. Tôi la lên: Đi như vậy thật là điên.  Nhưng Chúa Giêsu chỉ mỉm cười và bảo tôi cứ đạp đi.  Và từ đó tôi học biết nín lặng và tiếp tục đạp xe.  Nhưng cũng có nhiều lần khác tôi sợ hãi và định bỏ cuộc. Nhưng Chúa Giêsu quay lại, chạm tay tôi mỉm cười và nói: đạp đi.
 
III. THÁI ĐỘ CỦA TA.
          Trong cuộc sống gia đình, Chúa Giêsu luôn đồng hành với chúng ta. Hai vợ chồng cùng ngồi trên chiếc xe đạp, có ba bàn đạp: Chúa Giêsu có lúc ngồi trước để lái, có lúc ngồi đàng sau để đạp tiếp sức.  Thường Chúa Giêsu ngồi đàng sau để tiếp sức, còn Ngài để cho ta lèo lái, tìm hướng đi của riêng mình.  Nếu đã tìm được hướng đi thì hai vợ chồng cứ đạp, càng lên dốc càng đạp hăng và tin tưởng rằng có Chúa ngồi đàng sau tiếp sức.  
          Đôi lúc Chúa Giêsu muốn ngồi trước để cầm tay lái thì kệ Chúa, mặc dầu ta không thấy hướng đi hợp với sự khôn ngoan của ta.  Chúa khôn ngoan mà ! Ngài luôn tìm những sự tốt đẹp cho ta. Cứ tin tưởng vào Ngài đi.
 
KẾT LUẬN
          Như trong câu truyện về hai người cùng đạp xe chung với nhau vừa được kể trên, Chúa Giêsu là người điều khiển và muốn người đồng hành với Ngài hãy tin tưởng hoàn toàn vào Ngài. Ngài đã so sánh mình như mục tử nhân lành, biết rõ và gọi đúng tên từng con chiên. Chúa biết rõ chúng ta cần gì.  Ngài gọi đúng tên mỗi người.  Chúng ta hãy đáp lại tiếng Chúa mời gọi và tin tưởng theo Ngài.
          Lạy Chúa, xin thương hướng dẫn cuộc đời chúng con chu toàn thánh ý Chúa. Xin thương củng cố đức tin chúng con mỗi ngày một vững mạnh hơn.
Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
04.11.2003


 

HP92: MƯA NẮNG

Thiên đàng hay địa ngục
I. CẢ HAI NÊN MỘT.
 

Sách Thánh nói:”Vì thế, người đàn ông sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai sẽ trở  HP92

Sách Thánh nói:”Vì thế, người đàn ông sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai sẽ trở  nên một xương một thịt” (St 1,27; 2,24).
          Khi hai người kết hôn với nhau họ đã trở nên một thân xác, một tinh thần; thân xác của chồng là của vợ và thân  xác của vợ là của chồng.
          Thánh Phaolô nói:”Có ai ghét thân xác mình bao giờ; trái lại, người ta nuôi nấng và chăm sóc thân xác mình, cũng như Đức Kitô nuôi nấng và chăm sóc Hội thánh, vì chúng ta là bộ phận trong thân thể của Nguời” (Ep 5, 29-30).
          Tuy vợ chồng trở nên một, nhưng nên một ở đây chỉ có nghĩa là có tính cách duy nhất chứ không phải là đồng hoá. Chồng vẫn là chồng và vợ vẫn là vợ vì mỗi người là một nhân vị riêng biệt, có những đức tính riêng không ai giống ai.
          Khi nhìn vào bức chân dung của mình, thi sĩ Tản Đà Nguyễn khắc Hiếu, nở một nụ cười tươi và nói:
                             Mình với ta tuy hai mà một,
                             Ta với mình tuy một mà hai.
                                      (Tản Đà)
          Tuy vợ chồng là hai nhân vị riêng biệt nhưng cũng phải là cho nó hợp nhất trong tư tưởng, lời nói và việc làm.  Vợ chồng phải thuơng yêu nhau, săn sóc và bảo vệ nhau, để cho mái ấm gia đình được bền vững, mưu cầu hạnh phúc cho nhau cũng như cho con cháu.

II.  CHUYỆN MƯA NẮNG TRONG GIA ĐÌNH.
1.Mưa hơn hay nắng hơn
Ai dám khẳng định là mưa hơn hay nắng hơn ? Nhiều người thích trời nắng cho tươi đẹp hơn
là mưa dầm ảm đạm Nhưng có người lại thích mưa hơn vì
                             Trời nắng tốt dưa, trời mưa tốt lúa.
          Hiện tượng El Ninô đã làm cho hạn hán, thiếu nước uống, cây cối chết khô. ai mà chả mong mưa !  Mưa xuống làm cho cây cối tươi tốt, khí hậu mát mẻ.  Nhưng mấy hôm nay mưa kéo dài gây ngập lụt làm cho nhiều người chết, thiệt hại vật chất rất lớn...  Vậy mưa hay là nắng hơn ?
          Chắc ai cũng phải trả lời: có nắng có mưa thì thốt hơn, nhưng ở mức độ vừa phải, vì:
                             Ơn trời mưa nắng phải thì,
                             Nơi thì đồng cạn, nơi thì cầy sâu.
                                      (Ca dao)
2.      Đời vợ chồng vừa nắng vừa mưa. 
Trong văn chương bình dân Việt nam có câu:
                   Ai giầu ba họ,  ai khó ba đời.
          hoặc:
                   Bĩ cực thái lai.
Không ai hạnh phúc suốt đời, cũng không ai khổ cực suốt đời. Có lúc sướng, có lúc khổ. Có
lúc thuận buồm xuôi gió, có lúc phong ba bão táp. Như thế, vui buồn sướng khổ luôn đan kẽ vào với nhau.
          Nếu thời tiết ít bão táp hơn, trời thanh bể lặng thì đời sống vợ chồng phải vui nhiều hơn buồn, sướng nhiều hơn khổ.  Đôi lúc có bị xáo trộn một chút cũng là lẽ thường tình, vợ chồng cố gắng chịu đựng một chút, rồi mọi sự sẽ qua đi. Hết cơn mưa thì trời lại nắng.
          Nhà văn hào Pháp, ông Honoré de Balzac, nói:”Hôn nhân là con đường đưa ta tới địa ngục hay dẫn ta tới thiên đàng”.
          Như vậy, gia đình có thể là thiên đàng và cũng có thể là địa ngục,  cái đó tùy ở nơi vợ chồng.  Ai chả  muốn gia đình thành thiên đàng ở trần gian, nhưng phải có đều kiện: từ bỏ mình.  Chúa Giêsu phán:”Ai muốn theo Ta, hãy từ bỏ mình, vác thánh giá hằng ngày mà theo Ta”  Muốn có hạnh phúc, điều kiện thiết yếu là phải từ bỏ ý riêng mình, chồng hy sinh cho vợ, và vợ phải hy sinh cho chồng.  Thiên đàng hay địa ngục là ở chỗ đó.
 
                             Truyện: gia đình là địa ngục.
          Một hôm người ta gặp một em bé lạc đường đang khóc mếu máo. Người ta không biết cha mẹ em là ai, nhà ở đâu. Họ hỏi:
-        Em tên là gì ?
-        Thằng trời đánh thánh vật.
-        Bố em tên là gì ?
-        Thằng qủi.
-        Mẹ em tên là gì ?
-        Con đĩ.
-        Nha em ở đâu ?
-        Ở hoả ngục.
Sau đó người ta cũng tìm ra nhà cha mẹ nó.
Tìm hiểy lý do tại sao em nhỏ lại trả lời  như thế, người ta mới thấy cách sống ở gia đình em:  bố mẹ hay gọi em là thằng trời đánh thánh vật; mẹ hay gọi bố là thằng qủi; bố hay gọi mẹ là con đĩ ; và cả hai bố mẹ gọi cái nhà này là hoả ngục.
KẾT LUẬN
Đời vợ chồng có mưa có nắng, có vui có buồn, không thể tránh được. Hãy sẵn sàng chấp nhận, đừng đứng núi nọ trông núi kia cao.  Người Việt chúng ta có kinh nghiệm về vấn đề này nên mới gửi kinh nghiệm vào trong văn chương bình dân:
                             Cá trong lờ đỏ lơ con mắt,
                             Cá ngoài lờ ngúc ngắc muốn vô,
                             Đời vợ chồng sơm nắng chiếu mưa.
                                          (Tục ngữ)
          Hãy cầu xin cùng thánh gia thất Đức Giêsu.Đức Maria và thánh Giuse giúp cho gia đình chúng ta và cách riêng cho đôi tân hôn này biết biến đổi gia đình của mình ở trần gian này.
Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Tháng 5/ 2003


 

HP93: BÔNG HỒNG

Tình yêu và đau khổ
I..LỜI  CHÚA: 1Ga 4,16; Ga 15,9-12.  
 

Thánh Gioan Tông đồ đã nói:”Thiên Chúa là Tình yêu” (1Ga 4,16), Ngài chính là nguồn gốc của HP93

 Thánh Gioan Tông đồ đã nói:”Thiên Chúa là Tình yêu” (1Ga 4,16), Ngài chính là nguồn gốc của tình yêu, là Tình yêu sung mãn, Ngài đã yêu chúng ta vì “Tình yêu của Thiên Chúa đối với chúng ta được biểu lộ như thế này: Thiên Chúa đã sai Con Một đến thế gian để nhờ Con Một của Người mà chúng ta được sống” (Ga 15, 9).
 Ngài còn ban cho chúng ta tình yêu ấy để chúng ta yêu Ngài và chúng ta cũng dùng tình yêu ấy để yêu thương nhau như Ngài đã dạy:”Đây là điều răn của Thầy: chúng con hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương các con” (Ga 15,12).
 Nhờ lãnh được tình yêu Chúa ban mà chúng ta biết thuơng yêu nhau. Chúa bảo chúng ta phải thương yêu mọi người như chính mình, nhưng Ngài cũng cho phép chúng ta được yêu thương một người hơn các người khác, đó là tình yêu lứa đôi.  Tình yêu nam nữ được nảy nở một cách rất tự nhiên vì nó có sự thu hút từ hai phía. Chính tình yêu ấy đã làm nên hôn nhân. Nền tảng của hôn nhân là Tình yêu. Chính vì thế mà ông Alphonse Karr đã nói:”Hôn nhân không tình yêu là một ngày thiếu rạng đông”.
 
II. TÌNH YÊU VÀ HOA HỒNG.
          Khi nói tới tình yêu, người ta hay nói tới hoa hông vì người ta cho rằng Hoa Hồng là biểu tượng cho tình yêu. Ngày Valentine’s Day người thanh niên nào cũng phải cố kiếm cho mình được một bông hoa hồng để tặng người yêu.
          1. Ý nghĩa của các loài hoa:
 Người ta cho rằng mỗi mầu hoa đều có một tiếng nói riêng mà người ta muốn tặng cho nó. Chúng ta có thể đưa ra đây máy thứ hoa thông dụng để nói về ý nghĩa của nó:

 

HP94: NHÀM  CHÁN

I. DÂY HÔN PHỐI.
          Xin đọc: St 2,18-24   và Mc 10,6-9)
          Thiên Chúa phán:”Con người ở một mình thì không tốt, Ta sẽ làm cho nó một trợ tá tương xứng với nó” (St 2,18).
          Thiên Chúa cũng tạo nên một người nữ và trao cho con người. Và con người nói:”Phen này, đây là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi.  Nàng sẽ được gọi là đàn bà vì đã được rút từ đàn ông ra”.  Bởi thế, người đàn ông lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình và cả hai thành một xương một thịt” (St 2,23-24).
 

Đây là cuộc hôn phối đầu tiên giữa Ađam và Evà, một cuộc hôn phối tốt đẹp, hoàn hảo và hợp HP94

Đây là cuộc hôn phối đầu tiên giữa Ađam và Evà, một cuộc hôn phối tốt đẹp, hoàn hảo và hợp với ý Chúa. Chúa muốn cho họ yêu thương và khăng khít với nhau để cả hai thành một tinh thần, một thể xác.
          Đức Giêsu cũng nói về vấn đề này:”Sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly” (Mc 10,9).
          Cuộc hôn nhân đầu tiên và kiểu mẫu đẹp như thế, nhưng những cuộc hôn nhân sau này của con cháu ông bà có được như thế không hay đã bị lệch lạc, rồi đi đến sự tan vỡ ?
 
II. KẺ THÙ CỦA HÔN PHỐI: NHÀM CHÁN.
          1. Ba cuộc khủng hoảng.
          Trong cuộc sống hôn nhân, người ta thường gặp một trong ba cuộc khủng hoảng sau đây, nếu tránh được thì đó là ơn Chúa ban cách riêng.  Người ta tạm chia thành ba thời kỳ:
                    a) Khủng hoảng vỡ mộng.
                   b) Khủng hoảng nhàm chán.
                   c) Khủng hoảng hồi xuân.
          Có người đặt ra câu hỏi: “Cuộc sống gia đình có buồn tẻ nhàm chán không”? Câu trả lời sẽ khác nhau:
          - Người chưa có gia đình: không.
          - Người đã có gia đình: có.
          Có lẽ người đã có gia đình có lý hơn vì họ đã có kinh nghiệm như Thi sĩ Nguễn Du đã nói:
                             Đoạn trường ai có qua cầu mới hay.
          2. Thủ phạm của hạnh phúc hôn nhân.
          Trong đời sống hôn nhân, bất cứ cuộc chia ly nào cũng phải có ba thủ phạm nhúng tay vào
                   a) Người đàn ông.
                   b) Người đàn bà.
                   c) Sự nhàm chán.
          Có những lý do đưa đến việc gia đình ta vỡ như lý do kinh thế, xã hội hoặc tâm lý, đạo đức.  Có một nguyên nhân khác xem ra có vẻ  “chìm” nhưng lại rất  “nổi”, đã từng gây sóng gió trong nhiều cặp vợ chồng. Đó là sự NHÀM CHÁN, nhạt nhẽo và cũ kỹ trong mối tình vốn trước đó đã một thời tươi thắm nồng nàn và đầy quyến rũ !
          Ta thử nghe lời bộc bạch của một thành viên trong một buổi sinh hoạt các gia đình trẻ thuộc Câu lạc bộ Gia đình hạnh phúc quận Tân bình, TPHCM. Bà kể rằng gia đình bà suýt nữa phải “tan đàn xẻ nghé” chỉ vì sau khi có con, bà đã dồn hết tình thương và sự quan tâm tới con, mà bỏ bê chăm sóc tới bản thân mình và ít quan tâm tới chồng. Khi thấy hình như chồng bà hướng sự chú ý sang một người phụ nữ khác, bà mới giật mình tỉnh ngộ. Theo bà này, muốn bảo vệ hạnh phúc gia đình thì cả hai vợ chồng đều phải biết “làm mới” mối quan hệ của họ trong cuộc sống chung bằng việc quan tâm, chăm sóc lẫn nhau.
                   (Theo An Khánh, báo NLĐ ngày 28.12.2002)
          Khi một trong hai người không còn “quyến rũ” nhau nữa thì việc gì đến sẽ phải đến. Từ thái dộ xa cách, lạnh nhạt đến nhàm chán, bực bội (nhiều khi chỉ là những lý do rất tầm thường) , rồi tiếp sau, đó là sự ngờ vực, nghi kỵ “chuyện bồ bịch ngoại tình” này nọ. Lúc bấy giờ vấn đề ly hôn chỉ là vấn đề của thời gian mà thôi.
          Chúng ta lại có một chứng từ khác.  Khi đặt câu hỏi:”Cuộc sống hôn nhân có buồn tẻ không” ? Các cô cậu sinh viên, học sinh... trong Câu lạc bộ tiền hôn nhân quận 5, tròn mắt:”Ơ, sao lại buồn tẻ, còn gì sung sướng bằng luôn được sống bên cạnh người mình yêu”.
          Thế nhưng các ông chồng, bà vợ hay lui tới các trung tâm tư vấn, lại than:”Ngày nào cũng đi làm về, trò chuyện vài câu, lặp lại các thói quen sinh hoạt hằng ngày, 1001 ngày yêu đương, sẽ đem lại 1000 ngày bớt mới mẻ hơn so với ngày đầu . Một ngày như mọi ngày” – cũ mèm.
          Tôi đặt câu hỏi khác:”Bạn hiểu thế nào về gia đình” ?  Những người độc thân đang yêu rất phấn khởi trả lời:”Đó là nơi thăng hoa tình yêu, là chốn thư giãn, nghỉ ngơi”.
          Còn những “con chim trong lồng” lại hót:”Gia đình là nơi sinh con cái, lo toan và giải quyết xung đột”.
          Những người có kinh nghiệm sống đều cho rằng  câu trả lời sau thực tế hơn nhiều.
                             (Trường Sơn, Kiến thức gia đình, số 105, tr 18-19)
          Người ta nói:”Tình yêu bị chết đi do sự nhàm chán vì người yêu bị chôn vùi bởi sự lãng quên” . Không nhàm chán sao được khi mà lúc nào cũng phải tiếp xúc với con người ấy, với tính tình ấy, với cách xử sự ấy và cuộc sống dần dần trở nên như cái máy.
          Có lẽ vì vậy mà ông Chamfort có lý khi ông nói:”Hôn nhân là mồ chôn tình yêu”.
 
          3. Đổi mới cuộc sống hôn nhân.
          Ta có thể ví hôn nhân như chiếc đàn guitare.  Tôi thấy lúc đầu lễ, các chú ca đoàn lên dây đàn trước khi chơi. Nếu có ai hỏi tại sao lần nào cũng phải làm như vậy ? Các chú sẽ trả lời: Cây đàn để lâu đã xuống dây, phải lên dây cho căng thì chơi mới đúng cung. Nếu không lên dây cho đúng, người ta sẽ gọi là cây đàn ngang cung, ai nghe được ?
          Gia đình cũng thế. Vợ chồng ở với nhau riết rồi cũng có lúc cảm thấy nhàm chán, không ai có thể thoát được.
          Đây là kinh nghiệm của nhà thơ ngụ ngôn Pháp, ông Lafontaine khi ông nói:
                   Nơi bạn, tất cả đều tha thứ, bỏ qua.
                   Nơi tình nhân, tất cả đều hài lòng, hoàn hảo.
                   Nơi vợ chồng, tất cả đều nhàm chán, mệt mỏi.
          Vì thế, yêu cũng là một nghệ thuật mà đã là một nghệ thuật thì cần phải trau dồi mãi để cho nó luôn vui tươi hấp dẫn.
 
III. BIỆN PHÁP GIẢI TỎA NHÀM CHÁN.
          1. Giải pháp tự nhiên.
          Người ta đưa ra một số biện pháp để giải toả sự nhàm chán, đại khái như:
                   a) Cãi nhau  ! Đây không phải là giải pháp vì nó không giảm bớt nhàm chán mà chỉ tạo thêm căng thẳng, đấy chỉ là hậu quả của sự nhàm chán.
                   b) Làm lại cuộc trăng mật, vợ chồng tạm gác mọi công việc, dành một thời gian để hai vợ chồng ở bên nhau, làm mới lại mối tình xưa.
                   c) Đi du lịch cũng là dịp thư giãn, vợ chồng cũng có dịp ở gần nhau, chuyện trò thân mật hơn lúc ở nhà nhờ bầu khí thay đổi.
 
          2. Giải pháp siêu nhiên.
          Chúa Giêsu phán:”Hãy xin thì sẽ được, hãy tìm thì sẽ thấy, hãy gõ thì sẽ mở cho” (Mt 7,7 ; Lc 11,9).  Nếu chúng ta chỉ xin Chúa ban cho gia đình chúng ta được vui tươi, đầm ấm, lẽ nào Chúa lại không nhận lời ?
          KẾT LUẬN.
          Hãy cố gắng làm cho gia đình trở nên vui tươi phấn khởi bằng những giải pháp tự nhiên và siêu nhiên, hãy cố gắng đổi mới tình yêu vợ chồng. Chúa đòichúng ta phải cố gắng không ngừng, chúng ta cứ làm rồi Chúa ban ơn trợ lực, chứ Chúa không hành động một mình. Chúng ta hãy suy niệm lời phát biểu của thánh Augustinô:”Chúa dựng nên con không cần có con, nhưng muốn cứu con thì cần có con cộng tác”. Cứ nỗ lực rồi cậy trông. Tương lai sẽ tươi sáng.
 Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt

 
 

HP95: XÍCH MÍCH

I. LỜI  CHÚA.
          1.”Anh em là những người được Thiên Chúa tuyển lựa, hiến thánh và yêu thương. Vì thế, anh em hãy có lòng thương cảm, nhân hậu, khiêm nhu, hiền hòa và nhẫn nại. Hãy chịu đựng và tha thứ cho nhau, nếu trong anh em người này có điều gì phải trách móc người kia. Chúa đã tha thứ cho anh em, thì anh em cũng vậy, anh em phải tha thứ cho nhau” (Cl 3, 12-13).
          2. “Phải giữ mồm giữ miệng, đừng nói lời gian ác điêu ngoa, hãy làm lành lánh dữ, tìm kiếm bình an, ăn ở thuận hoà” (Tv 33, 114-15).
 
II. XÍCH MÍCH TRONG ĐỜI SỐNG GIA ĐÌNH.
          1. Sự kiện.
 

Người ta nói: bá nhân bá tính, không ai giống ai vì tính tình khác nhau về nhiều phương diện HP95

          Người ta nói: bá nhân bá tính, không ai giống ai vì tính tình khác nhau về nhiều phương diện nên mới có sự va chạm. xích mích, xung đột và chiến tranh. Sở dĩ có chiến tranh là vì có sự xích mích giữa hai nuớc đi đến cao điểm mà không giàn hòa được. Sở dĩ có cãi cọ hoặc xung đột giữa hàng xóm láng giềng cũng vì có sự xích mích mà không thu xếp cho êm thắm được.  Trong gia đình tuy ít người, chỉ có vợ chồng và con cái mà cũng không thể tránh được những xích mích xẩy ra hằng ngày đưa đếùn cãi cọ hoặc ẩu đả.
 
          2. Lý do.
          Theo giáo lý nhà Phật, có ba nết xấu làm hư hỏng con người, đó là tham, sân, si.
                             Tham vì ích kỷ
                             Sân vì tự ái
                             Si vì ngu muội.
                   Trong ba nết xấu nói trên thì SÂN là khó diệt hơn cả. Bởi vì tự ái là một thói xấu sống dẻo dai bậc nhất, đến nỗi thánh Phanxicô Salêsiô phải nói:”Nó chỉ ngưng hoạt động 15 phút sau khi chết”.
          Các nhà tâm lý học, các nhà đạo đức học xưa và nay đều đồng ý rằng tính tự ái là cội rễ các cảnh đoạn trường trong thiên hạ.
          Trong giáo ly đạo Công giáo, nó đứng hàng đầu trong các nết xấu vì kiêu ngạo và tự ái là chị em sinh đôi chống lại khiêm nhường.
          Trong gia đình, nếu vợ chồng không nhất trí với nhau về bất cứ vấn đề gì là có sự xích mích ngấm ngầm hay bùng nổ.
          Ta thử đưa ra một thí dụ về con cóc.  Con cóc chỉ là một con vật và con con cóc chỉ là con cóc không hơn không kém, nhưng người ta lại có ý kiến khác nhau về con cóc, có hai chủ trương về con cóc. Một đàng thì quá quí trọng con cóc, cho rằng:
                                      Con cóc là cậu ông trời,
                                      Ai mà đánh nó thì trời đánh cho.
          Đàng khác thì chống lại ký kiên trên và cho rằng:
                                      Con cóc là cậu thầy nho,
                                      Ai mà đánh nó Trời cho quan tiền.
                                                (Ca dao)
          3. Hậu quả.
          Vậy hai ý kiến trên, hai chủ trương trái ngược nhau ấy, bên nào đúng, bên nào sai ?  Thực ra, chẳng bên nào đúng, cũng chẳng bên nào sai vì con cóc làm gì dám làm cậu ông Trời hay là cậu thầy nho, mà con cóc chỉ là con cóc. Nếu bên nào cũng cho mình là đúng, người khác sai và không biết giữ gìn miệng lưỡi và thái độ cho đúng đắn thì sẽ sinh ra xích mích , cãi cọ.  Nếu không biết nhịn nhau thì có thể có những hành động không thể chấp nhận được.   Người ta kể rằng trong một buổi họp Liên hiệp quốc, vì tức giận quá, thủ tướng Krouchef của Liên xô đã tụt giầy ra đập xuống bàn vì không nén được cơn giận...
 
III. PHƯƠNG THẾ CHỮA TRỊ.
. Trong đời sống xã hội và cách riêng trong đời sống gia đình, không ai có thể nắm trọn vẹn được chân lý. Mỗi người chỉ nắm được một phần của chân lý nên không thể bắt được người khác phải hoàn toàn theo ý mình.  Tốt nhất là hãy tỏ ra khiêm nhường, nhường nhịn nhau, thuận hòa thì sẽ không còn tranh chấp, mà đã hoà rồi thì không còn kẻ thắng người thua . Lúc đó người ta có thể nói một cách thoải mái rằng:
                                      Ai nhất thì tôi thứ nhì,
                                      Ai mà hơn nữa tôi thì thứ ba.
                                                (Ca dao)
                             Truyện vui: đóng cửa bảo nhau.
          Bố mẹ hay tin đôi vợ chồng trẻ cãi nhau, nên đến khuyên giải:
          - Bố mẹ đã dặn các con là phải ăn ở thuận hoà. Nếu có truyện gì trái ý thì đóng cửa bảo nhau, chứ sao lại để cho hàng xóm biết ?
          - Dạ... xin lỗi bố mẹ.  Tại vì lúc đó không ai chịu ra... đóng cửa ạ.
          KẾT LUẬN
          Muốn cho gia đình được trên thuận dưới hòa, trong ấm ngoài êm, hãy suy niệm Lời Chúa và quyết tâm đưa vào cuộc sống hằng ngày:
                   Thư thánh Phaolô: Cl 3, 12-13 và Rm 12, 16-18.
                   Tin Mừng: Lc 22,26.
          Hãy đọc và suy niệm kinh Hoà bình của thánh Phanxicô Assisi:
                   Để trở nên dụng cụ bình an.
                   Khi thứ tha thì được tha thứ,
                   Khi cho đi là lúc được nhận lãnh,
                   Lúc quên mình đi là lúc tìm lại bản thân...
 Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt


 

HP96: NGÔI  NHÀ

I. LỜI CHÚA.
          1. “Ai đến với Thầy, và nghe những lời Thầy dạy mà đem ra thực hành, thì Thầy sẽ chỉ cho anh em biết người ấy ví được như ai. Người ấy ví được như một người xây nhà, đã cuốc, đã đào sâu và đặt nền móng trên đá. Nước lũ dâng lên, dòng sông có ùa vào nhà, thì cũng không lay chuyển nổi, vì nhà đã xây vững chắc. Còn ai nghe mà không thực hành, thì ví được như người xây nhà ngay mặt đất, không nền móng. Nước sông ùa vào, nhà sụp đổ ngay và bị phá hủy tan tành”. (Lc 6,47-49 ; Mt 7,24-27).
          2. “Chúng ta  biết rằng: nếu ngôi nhà chúng ta ở dưới đất, là chiếc lều này, bị phá hủy đi, thì chúng ta có một nơi ở do Thiên Chúa dựng lên, một ngôi nhà vĩnh cửu ở trên trời, không do tay người thế làm ra” (2 Cr 5,1).
 
II. TẢN MẠN VỀ NGÔI NHÀ.
          1. Ngôi nhà và gia đình.
 

Ngày nay kinh tế đang phát triển mạnh, người ta làm ăn khấm khá hơn, có của ăn của để, có HP96

Ngày nay kinh tế đang phát triển mạnh, người ta làm ăn khấm khá hơn, có của ăn của để, có của tích lũy nên người ta đua nhau làm nhà vì “có an cư thì mới lập nghiệp”.  Ngày nay xây dựng được một ngôi nhà thì  dễ vì có sẵn vật liệu, nhưng ngày xưa thì rất khó, muốn làm một ngôi nhà thì phải tích trữ, chuẩn bị trong nhiêu năm.  Vì thế người ta mới nói:
                                      Tậu trâu, lấy vợ, làm nhà,
                                   Trong ba việc ấy thật là khó thay.
                                                 (Ca dao)
          Việc xây dựng “Mái ấm gia đình” cũng quan trọng và khó khăn như xây dựng một ngôi nhà vì nhiều khi người ta đã xây nhà ngay trên mặt đất (x. Lc 6, 49), nên việc xây dựng một gia đình còn quan trọng hơn nhiều. Muốn xây dựng một gia đình Kitô giáo theo một mô hình mà Hội thánh đã chỉ vẽ ra qua các văn kiện của Tòa thánh, qua giáo huấn của giáo quyền, cần phải tìm học trước một cách sâu rộng trước khi lập gia đình vì đó là cẩm nang cần thiết cho các Kitô hữu.
 
          2. Sự sắp xếp hài hòa.
          Không phải xây nhà thế nào cũng được nhưng cũng phải theo nguyên tắc của việc thiết kế, một căn nhà phải được bố trí thế nào cho hợp tình hợp lý để tạo nên vẻ đẹp hài hòa và tiện dụng, không để cho người ta dị nghị, chê cười ví dụ xây dựng một ngôi nhà mà để cho khói bếp bốc lên nhà trên làm cho mọi người nghẹt thở.  Căn nhà cũng phải theo hướng mặt trời, hướng gió cho thuận lợi, nhất là ở ngoài Bắc với khí hậu khắc nghiệt, mùa hè thì nóng như thêu như đốt, mùa đông thì lạnh như  cắt da cắt thịt, nên người ta mới truyền lại cho người khác kinh nghiệm khi xây nhà, cho bất cứ loại nhà nào:
                                      Lấy vợ đàn bà,
                                      Làm nhà hướng nam.
          Một kinh nghiệm làm nhà: làm nhà quay hướng nam để mùa hè hứng gió nam mát, mùa đông tránh được gió bắc lạnh. Lấy vợ thì dĩ nhiên là lấy vợ đàn bà, làm nhà thì dĩ nhiên thì phải làm trông về phía nam.  Nhưng câu  “Lấy vợ đàn bà” là người ta có ý khuyên: lấy vợ thì lấy người thật hiền hòa, nhu mì, duyên dáng vì có người đàn bà lại có tướng và tính tình như đàn ông (x. Hc 25,16).  Vì thế, trước khi kết hôn phải nghiên cứu, tìm hiểu đối tượng theo những nguyên tắc đã được học trong lớp giáo ly hôn nhân.  Phải suy nghĩ đắn đo trước khi đi đến quyết định.  Khi đã thành lập được một gia đình thì người ta phải cố gắng sống theo sự sắp xếp bình thường để mọi thành phần làm việc theo phận vụ của mình.
 
          3. Sự phân công hợp lý.
          Công việc xây nhà cần có nhiều nguời, mỗi người một việc tùy khả năng chuyên môn, không pải ai cũng có thể làm được công việc của người khác.  Xây dựng một gia đình là công việc của mọi thành phần trong gia đình.  Lúc đầu chỉ có hai vợ chồng xây dựng nên nhưng mới có một ngôi nhà được bài trí đơn sơ, việc trang thí nội thất còn phải được tiếp tục.  Như vậy có nghĩa là, khi kết hôn, người ta chưa có hạnh phúc ngay vì hạnh phúc không phải là cái gì tiền chế, Thiên Chúa không ban cho ngay, nhưng là một thứ hạnh phúc do hai người tạo nên.  Đây là công việc chính yếu của vợ chồng, nhưng cũng cần phải có sự tham gia của con cái . Người ta nói:
 
                                      Đàn ông dựng nhà,
                                      Đàn bà xây tổ ấm.
          Xây dựng một ngôi nhà thì dễ nhưng muốn biến ngôi nhà này thành một tổ ấm thì rất khó.  Nếu người ta nói “Đàn bà xây tổ ấm” là có ý nói lên sự quan trọng của người vợ trong việc tạo lập hạnh phúc cho gia đình.  Không phải  người chồng không quan trọng nhưng nhấn mạnh đến vai trò của người vợ vì người vợ thường được gọi là “nội tướng”.
          Hay chúng ta có thể ví gia đình là một xí nghiệp mà người chồng làm giám đốc, còn người vợ làm quản lý.  Vai trò người quản lý rất quan trọng vì người giám đốc chỉ điều khiển tổng quát, còn người quản lý điều khiển nội bộ, phải quán xuyến mọi việc cũng như người nội tướng trong gia đình vậy.  Nếu người giám đốc kiếm được một người quản lý giỏi và trung thành thì xí nghiệp phát triển mạnh, ngược lại, nếu người giám đốc dùng phải một tên quản lý tồi và bất trung thì xí nghiệp đó có thể đi đến chỗõ phá sản.. Người đàn bà phải là người quản lý giỏi và trung thành trong việc xây dựng gia đình (x. Cn 31,10-31).  Vì thế người ta nói:  
                             Vào trong bếp biết nết đàn bà.
          Vào biếp thì biết người đàn bà có trung hậu đảm đang hay không vì nếu bếp ráp sạch sẽ, ngăn nắp thì biết đây là người vợ biết lo cho gia đình (x. Hc 26,16); ngược lại, bếp núc mất rật tự, lộn xộn, bẩn thỉu thì hiểu ngay là người vợ ít quan tâm tới gia đình.
          Do vậy người ta có thể nói:”hạnh phúc” gia đình phần lớn là do người vợ tạo ra. Ta hãy nghe một số danh nhân ca tụng các bà:
 “Nếu anh tìm thấy một gia đình hạnh phúc, anh nên tin rằng ở đó có một nguời đàn bà biết quên mình”  (René Bazin).
          “Bí quyết hạnh phúc của đàn bà là tìm cái vui trong bổn phận” (Anton Tchekhov).
“Công lao của người đàn bà là tề gia nột trợ, làm thế nào cho chồng được vui sướng”  (Joseph de Maistre).   
 
          4. Ngôi nhà cần được có người ở.
          Mục đích xây dựng ngôi nhà là để ở, xây dựng một ngôi nhà rồi bỏ hoang là cả một sự vô lý. Nếu vì một lý do nào đó mà ngôi nhà bị bỏ trống không có người ở thì thật là hoang phí và cảnh vật trở nên tiêu điều, gây cho người ta có cảm giác sợ hãi.
                             Truyện: Hai ngôi nhà ở đèo Đà lạt.
          Nếu chúng ta đi từ Kim phát lên Đà lạt, khi lên gần hết dốc, ta sẽ thấy ở bên tay phải có một ngôi nhà lầu bỏ trống. Đi thêm 100 mét nữa ta sẽ thấy phía bên trái có một căn nhà trệt bỏ hoang, tuy bên ngoài chưa đến nỗi hoang tàn, nhưng người ta cho biết là hiện không có ai ở.  Tôi tò mò hỏi hành khách xem có sự gì xẩy ra thì  người ta cho biết: nghe tin là ở trong có sự cố. Ban đêm có những hiện tượng khác thường, có người ban đêm ngủ trên giường mà sáng thức dậy thì thấy mình đang nằm ở dưới đất...
          Đây là hình ảnh một gia đình bị tan hoang, đang sống trong hoàn cảnh bi đát “Chồng ăn chả, vợ ăn nem”, để lại một đống đổ nát, để lại một đàn con nheo nhóc, không có ai chăm sóc bởi vì hai người đã thẳng thừng nói với nhau:
                                      Anh đi đường anh,
                                      Tôi đi đường tôi,
                                      Tình nghĩa đôi ta có thế thôi,
                                                (Thế Lữ)
          Giá  trị của một ngôi nhà chính là được con người cư nghụ. Một mái nhà tranh nhưng đầy tiếng cười tiếng khóc của trẻ thơ vẫn đầm  ấm hơn một dinh thự bỏ trống.  Chúng ta có thể xác quyết rằng sự sinh sống, sự hiện diện, sự cư ngụ của con người trong căn nhà đã gìn giữ và bảo trì nó khỏi hư nát. Nhưng một khi con người bỏ đi, căn nhà sẽ trở nên tồi tàn. Sức mạnh, vẻ đẹp, sự linh động, sự tồn tại của ngôi nhà chính là được cư ngụ.
          Cũng giống như thế, đời sống của gia đình phải là một ngôi nhà được cư trú, được chiếm đoạt.  Nhưng cư trú ở đây không có nghĩa là chất chứa những vật dụng lỉnh kỉnh. Sự đầm ấm của một ngôi nhà còn tùy thuộc ở sự sắp xếp, sự bài trí. Ngôi nhà càng lộn xộn, càng dơ bẩn, thì càng chật chội, càng nóng bức.
          Đời sống của gia đình có thể là một căn nhà đầy ắp, nhưng lại thiếu trật tự, thiếu ngăn nắp, thiếu sự hiện hữu linh động và những điều kiện tinh thần để bảo trì căn nhà đời sống của chúng ta.
          Ngôi nhà gia đình của chúng ta có thể là cao ốc với biết bao những tầng lầu của lo lắng, đau buồn, bận bịu và sợ hãi. Chúng ta chất chứa cho đời sống chúng ta đầy ắp, nhưng những chất chứa ấy chỉ làm cho ngôi nhà của chúng ta ra buồn thảm, nhơ bẩn.
                                      (Lẽ sống, 1991, tr 439-440)
 
          4. Ngôi nhà phải ấm cúng.
          Ai cũng muốn có một “Mái ấm gia đình”. Căn nhà dù sang trọng mấy đi nữa cũng chỉ là căn nhà lạnh lẽo, hoang dại nếu không thổi vào đó hơi thở của tình yêu (x. St 2,7).  Trong một căn nhà mà không có tình yêu thì đấy thật là một bãi tha ma lạnh lẽo vì nó lặng lẽ, không vang lên tiếng cười tiếng nói của người lớn cũng như tiếng khóc của trẻ thơ.  Trong một căn nhà đơn sơ mà vợ chồng và con cái chung sống với nhau trên thuận dưới hoà, trong ấm ngoài êm thì vợ chồng đã biến ngôi nhà ấy thành một “Mái ấm gia đình” rồi, mọi sự đã được thỏa mãn,  mọi người đã được hạnh phúc không cần mơ ước gì thêm:
                                      Yêu nhau chẳng quản chiếu giường,
                                         MộÄt tầu lá chưối che sương cũng tình.
                                                       (Ca dao)
          KẾT LUẬN
          Chúng ta hãy cầu chúc cho mọi người và cách riêng đôi tân hôn hôm nay được đầy ơn Chúa để xây dựng một “Mái ấm gia đình” theo như lời chào của Linh mục khi làm phép ngôi nhà mới:
          Anh chị em thân mến,
          Chúng ta hãy sốt sắng dâng lời nguyện lên Chúa Giêsu, Đấng đã sinh ra bởi Đức Trinh nữ Maria và ở cùng chúng ta. Xin Người đoái thương đến ở trong nhà này và hiện diện chúc phúc cho nhà này, xin Người ở đây với anh chị em, nuôi dưỡng tình bác ái và chia vui sẻ buồn với anh chị em.  Còn anh chị em, hãy theo lời dạy và gương lành của Chúa Kitô: hãy làm cho nhà này thành nơi chan chứa tình  bác ái, để từ nay hương thơm tốt lành của Chúa Kitô được lan tỏa ra khắp nơi.
 Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim Phát
Đà lạt.
25-8-2004


 

HP97: Vị đắng Tình yêu

Chúng ta hãy lắng nghe lời Chúa : Một hôm, Đức Giêsu nói với mấy người Pharisêu : “Lúc HP97

Chúng ta hãy lắng nghe lời Chúa : Một hôm, Đức Giêsu nói với mấy người Pharisêu : “Lúc khởi đầu công trình tạo dựng, Thiên Chúa đã làm nên con người có nam có nữ. Vì thế, người đàn ông sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai sẽ thành một xương một thịt. Như vậy, họ không còn là hai, nhưng chỉ là một xương một thịt” (Mc 10,6-8).
Theo Thánh Kinh, đôi hôn phối đầu tiên trong lịch sử loài người là hôn phối giữa chàng rể Adong và cô dâu Evà. Thiên Chúa đã tác hợp họ nên một. Họ yêu thương nhau, kết hợp với nhau rồi sinh con cái. Và sau này, con cái cũng theo gương cha mẹ mà cưới vợ gả chồng như chúng ta thấy ngày nay.
Như vậy, hôn nhân không những là một nhu cầu tự nhiên, một điều kiện để duy trì nòi giống mà còn là ý định của Thiên Chúa. Do đó, chúng ta có thể nói rằng hôn nhân vừa là một hồng ân vừa là một ơn gọi.
Những người sống ơn gọi trong bậc vợ chồng phải thương yêu nhau tha thiết, hy sinh cho nhau như lời thánh Phaolô khuyên nhủ tín hữu Êphêsô : “Người làm chồng hãy yêu thương vợ như Đức Kitô yêu thương Hội thánh và hiến mình vì Hội thánh… Mầu nhiệm này thật là cao cả, tôi muốn nói về Đức Kitô và Hội thánh” (Ep 5,25.32).

I. BIẾT YÊU LÀ ĐAU KHỔ, NHƯNG…
Tình yêu là nền tảng của hôn nhân, là điều kiện thiết yếu không có không được vì như người ta ví von : “Hôn nhân không có tình yêu thì như một ngày không có rạng đông” (Alphonse Karr). Nhiều người cũng công nhận rằng : “Yêu là đau khổ, nhưng không yêu thì chết” (H. Taine). Cũng có người khẳng định rằng : “Yêu, tức là đã ký kết với đau khổ” (M. De Cohin).
Khi nói đến tình yêu, người ta liên tưởng ngay đến mặt trái của nó, đó là sự đau khổ. Dường như đau khổ là “người bạn đời” của tình yêu vậy. Nhất là “người bạn đời” ấy lại hết mực sống chung thuỷ trong bất kỳ cuộc hôn nhân nào trên trái đất này.
Đó là một “bi kịch” ngàn đời, nhưng đó cũng là nét tự nhiên của tình yêu hôn nhân gia đình chúng ta. Một lý do rất đơn giản là như một danh nhân đã nói : “Tình yêu chỉ sống được nhờ đau khổ, sống trong hạnh phúc, tình yêu sẽ chết dần chết mòn”. Tình yêu sẽ chết trong một ảo tưởng trong thiên đường tình yêu : người ta không còn phải hy sinh, phải đấu tranh, phải nỗ lực, phải mất mát gì.
Hãy suy nghĩ về kinh nghiệm mà nhà văn hào Montesquieu đã chia sẻ như sau : “Tình yêu là liều thuốc đắng, nhưng không một ai có can đảm từ chối”.
Vẫn là liều thuốc đắng. Vẫn là đắng cay, chua chát. Tình yêu như thế đó ! Điều quan trọng là không từ chối, và phải hiểu được nó như nó là… Ít ra, chúng ta cũng có thể nhận ngay được thực tế này : “Yêu là chết trong lòng một ít” (Xuân Diệu).

II. VỊ ĐẮNG TÌNH YÊU
Chúng ta có thể đặt ra một dấu hỏi : Tình yêu đắng cay hay ngọt ngào ? Qua kinh nghiệm thường ngày, chúng ta phải nói rằng : tình yêu vừa có hương vị đắng cay lại cũng có hương vị ngọt ngào, bởi vì bất cứ việc gì trên đời cũng có mặt trái của nó. Phải biết dung hoà cả hai mặt thì mới sống được.
Theo như ông Trần Cao Khải nói thì khi bước vào “con đường tình yêu”, người ta sẽ hiểu được tất cả sự thật huyền diệu của tình yêu.
Hương vị đầu tiên của nó là sự ngọt ngào, dịu êm, bởi vì “Nếu cuộc đời là bông hoa, thì tình yêu là mật hoa” (Victor Hugo). Nó có khả năng “Biến những kẻ đang yêu thành thi sĩ” (Shakespeare). Nhưng yêu không mãi mãi là ngọt ngào và thi vị. Cũng như cuộc sống con người, vừa là cuộc đấu tranh vừa là niềm vui của gian khổ, mồ hôi và nước mắt.
Chúng ta phải nói lại một lần nữa : “Tình yêu là liều thuốc đắng, nhưng không ai có can đảm từ chối” (Montesquieu).
Nói về tình yêu, người ta vẫn dùng hình ảnh quen thuộc của một đoá hồng có gai. Không ai phủ nhận nhưng cái gai nhởn nhơ trong một cành hồng. Nhưng hoa hồng vẫn đẹp, vẫn dễ thương, vẫn mãi mãi là biểu tượng của tình yêu.
Khi yêu, người ta phải dũng cảm hưởng nếm vị đắng cay và tiếp xúc với gai nhọn của tình yêu. Khi yêu, người ta phải chấp nhận một qui luật. Đó là : “Tình yêu chỉ sống được nhờ đau khổ, cứ sống trong hạnh phúc, tình yêu sẽ chết dần chết mòn” (H. Taine).
Đau khổ là vẻ đẹp tự nhiên và hương vị đặc thù của tình yêu. Lý do đơn giản là yêu không chỉ là tận hưởng mà còn là cho đi, là ban phát, là mất mát… Chính đau khổ nuôi dưỡng và làm phát triển tình yêu. Bởi vậy, “Yêu là hạnh phúc của chính mình trong hạnh phúc của kẻ khác” (Leibnitz). Và nói theo nhà văn hào Nga, ông Leon Tolstoi thì “Yêu sâu sắc – điều đó có nghĩa là quên bản thân mình”.

III. TÌNH LÀ DÂY THUNG
Khi nói về hôn nhân, có nhiều nhà tâm lý chia hôn nhân thành ba thời kỳ : trước, liền sau và lâu sau khi kết hôn để nói về tình yêu vợ chồng, với những hình ảnh ví von bay bướm nhưng rất thực tế.
– Với những người thích mầu sắc, thì trước khi cưới là một màu hồng rực rỡ, liền sau khi cưới là một màu trắng nhàn nhạt, còn lâu sau khi cưới là một màu xám ảm đạm.
– Với những người thích nghiên cứu về thời tiết, thì trước khi cưới là những ngày mùa xuân nắng ấm, liền sau khi cưới là những ngày hè thu oi bức, hay mưa dông, còn lâu sau khi cưới là những ngày dài mùa đông lạnh giá.
– Với những người thích âm thanh, trước khi cưới anh nói thì em nghe và em nói thì anh nghe, liền sau khi cưới, anh nói thì anh nghe và em nói thì em nghe, còn lâu sau khi cưới, thì cả hai cùng nói, nhưng hàng xóm phải nghe.
– Với những người có tinh thần ăn uống, trước khi cưới thì nhìn nhau mà no, liền sau khi cưới thì nhìn nhau mà ngáp, còn lâu sau khi cưới thì thỉnh thoảng nồi niêu xoong chảo lại bay ra ngoài sân.

– Với những người vốn mang dòng máu ga lăng, trước khi cưới thì chiếc dù lệch hẳn về phía nàng và chàng sẵn sàng chịu ướt, liền sau khi cưới thì chếc dù nằm ở chính giữa và mỗi người chịu ướt một nửa, còn lâu sau khi cưới thì chiếc dù lệch hẳn về phía chàng và nàng đành cam chịu ướt.
Qua những câu ví von như vậy, chúng ta thấy tình yêu giảm sút đi theo từng thời kỳ. Nhưng có phải tình yêu lúc nào cũng giảm sút như thế chăng ? Và như vậy chúng ta nghĩ thế nào về câu nói cường điệu của ông Chamfort : “Hôn nhân là mồ chôn tình yêu” !
Thực ra, ông Chamfort chỉ có ý nói là chúng ta phải đề phòng, đừng để cho tình yêu hôn nhân bị nhạt nhoà đi theo năm tháng. Phải luôn đổi mới tình yêu để tình yêu được bền chặt qua qua thời gian, nhất là qua những gian nan thử thách.

Truyện : Kết hôn là khổ lắm
Có lần đi thăm mục vụ các gia đình, cha xứ được nghe một ông bố tâm sự :
– Đi tu như các cha, các thầy, các dì thế mà sướng, chứ còn đèo bòng như tụi con, khổ lắm cha ơi !
Có lần gặp các bà mẹ, ngài hỏi các bà mẹ nên khuyên nhủ các đôi tân hôn như thế nào. Một bà mẹ đã hung hăng phát biểu :
– Xin cha bảo chúng nó là đừng lấy nhau nữa. Khổ lắm ! Khổ lắm !
Dĩ nhiên lời phát biểu này có phần thái quá, bởi vì cho đến ngày hôm nay bàn dân thiên hạ vẫn cứ lấy nhau rầm rầm. Không lấy nhau thì làm sao nòi giống con người tồn tại được. Tuy nhiên, câu nói ấy cũng phảng phất một sự thật nào đó.
Có lẽ cũng chính vì vậy mà cụ thi sĩ Nguyễn Du, trong truyện “Đoạn trường tân thanh” đã phát biểu một câu xanh rờn : “Tu là cõi phúc, tình là dây oan”.
Trong văn học Việt nam thời trước, “Đoạn trường tân thanh” (truyện Kiều) là một tuyệt tác phẩm, ai cũng đã đọc và được nhiều người nghiên cứu sâu sắc cả về văn chương lẫn tư tưởng. Về phương diện văn chương thì tuyệt vời rồi, còn tư tưởng thì có nhiều điều hay, nhất là những tâm sự mà ông gửi gắm trong đó.
Nhưng, ông Gã Siêu, một tay viết hài hước có hạng không nhận câu nói của Nguyễn Du. Thay vì nói : “Tu là cõi phúc, tình là dây oan” thì ông lại đổi thành : “Tu là cõi phúc, tình là dây thung”.
Câu nói có vẻ dí dỏm, mang tính cách bông đùa cho vui, nhưng xét ra cũng thấy có đúng phần nào. Chúng ta thấy : đặc tính của dây thung là có thể kéo dài và thu ngắn, có thể giãn ra và co vào. Chính đặc tính co giãn này đã tạo nên những khổ đau và hạnh phúc cho cuộc sống gia đình và làm cho cuộc sống ấy trở thành một bức hoạ có những khoảng đậm và những khoảng nhạt, một bản nhạc có những nốt trầm và những nốt bổng.
Qua kinh nghiệm này, ông David Sarnoff đã nói một cách ví von thơ mộng : “Trong hôn nhân, nụ cười và nước mắt làm nên khúc nhạc cuộc đời”.
Nói đến đây tôi lại liên tưởng đến loài nhím. Thực vậy, nhím có nhiều loại. Loại sống ở nhiệt đới xứ nóng. Loại sống ở hàn đới xứ lạnh. Nhưng dù loại nhím nào thì cũng có một bộ lông thật cứng và thật nhọn, mà người xưa dùng làm tên bắn.
Ở xứ lạnh, mùa đông tuyết phủ, những con nhím phải nằm gần sát nhau cho ấm. Tuy nhiên có cái phiền là khi nằm gần sát nhau như vậy, thì bộ lông cứng và nhọn đó lại đâm vào nhau, làm cho nhau đau đớn khó chịu. Vì vậy, chúng lại giăng ra xa.
Nhưng cũng chỉ được một lúc, vì lạnh quá, chúng lại bò sát gần nhau. Dù đâm nhau, dù phải xa nhau, chúng vẫn cứ đến cùng nhau. Càng xa nhau, chúng lại càng tới gần sát nhau hơn, bởi vì chúng cần đến nhau.
Phải chăng đó cũng chính là câu chuyện của những cặp vợ chồng đang sống trong bậc gia đình ?

IV. HÃY SỐNG MÃI VỚI TÌNH YÊU
Tình yêu là người bạn đồng hành thân tình đưa ta đến cuộc hôn nhân bền vững, vì “Nếu tình yêu là hoa thì kết thành quả là hôn nhân “(Molière), và : “Tình yêu chân chính là tình yêu dẫn tới hôn nhân”(Engels).
Với tất cả mọi người, hôn nhân khởi đầu một cuộc sống hoàn toàn mới. Đó không phải là một cuộc chơi nhất thời, mà là một đời sống có cam kết và được nuôi dưỡng lâu dài.
Trong hôn nhân, người ta hướng đến nhau và cùng chia sẻ tình yêu và hạnh phúc cho nhau. Nét đặc thù nhất của tình yêu là sự dâng hiến. Lãnh tụ Gandhi của Ấn Độ đã nói : “Tình yêu bao giờ cũng hiến tặng, không bao giờ đòi đền đáp. Tình yêu luôn luôn giầy vò, khắc khoải nhưng không bao giờ phản kháng và trả thù”.
Vậy, phải chăng yêu và hy sinh là một ? Thánh nữ Têrêsa thành Lisieux đã nói thế : “Yêu và hy sinh là một. Không hy sinh thì chưa gọi là yêu”.
Trong hôn nhân, sống là chết cho người mình yêu như Chúa Giêsu đã nói : “Không có tình thương nào lớn hơn tình thương của người hy sinh mạng sống mình vì bạn hữu” (Ga 15,13). Yêu là hy sinh. Hy sinh để chấp nhận sự khác biệt của nhau. Có muôn vàn những cái khác nhau giữa hai vợ chồng.
Cái đẹp của sự hoà điệu không phải là đồng điệu mà là kết hợp những tương khắc (variance) để tìm ra sự tương thích (compability) độc đáo nhất. Quá trình “hội nhập” giữa hai cá thể khác biệt nhau sẽ giúp cho hôn nhân càng ngày càng thắm thiết, sâu đậm hơn.
Triết gia hiện sinh người Pháp, ông J.P. Sartre, đã nói : “Người ta thường nói đến mối tình đầu là mối tình đẹp nhất, nhưng chính mối tình cuối mới thực sự là mối tình bất diệt”. Bởi lý do đơn giản là mối tình về sau đã được tôi luyện trong hy sinh gian khổ. Nó đã thực sự “chín” và “cứng cáp”.
Sau cùng, chúng ta phải nhận ra rằng hôn nhân là một ân huệ của Thiên Chúa ban cho chúng ta và cũng là một ơn gọi đối với chúng ta, nên người Kitô hữu trong đời sống vợ chồng sẽ phải trung tín với nhau suốt đời theo lời dạy của Chúa Kitô : “Điều gì Thiên Chúa đã kết hợp, con người không được phân ly” (Mt 19,6).
Ngoài ra, Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II trong tông huấn về những bổn phận của gia đình Kitô hữu đã viết : “Nhờ tính cách bí tích của hôn nhân, đôi bạn được liên kết với nhau một cách chặt chẽ không thể tháo gỡ được. Khi người này thuộc về người kia, họ thực sự biểu lộ tương quan giữa Đức Kitô với Hội thánh Ngài, qua dấu chỉ bí tích” (Familiaris consortio, số 13).
Lm Giuse Đinh Lập Liễm

 

HP98: Hạnh phúc và đau khổ

Thi sĩ Hồ Dzếnh viết: “Tình chỉ đẹp khi còn dang dở, đời mất vui khi đã vẹn câu thề”. Câu thơ HP98

Thi sĩ Hồ Dzếnh viết: “Tình chỉ đẹp khi còn dang dở, đời mất vui khi đã vẹn câu thề”. Câu thơ trên diễn tả một cảm nhận có phần bề ngoài, nhất thời và dựa nhiều vào cảm xúc. Thực ra, bước vào hôn nhân là bắt đầu một cuộc hành trình, đòi hỏi nhiều cố gắng chấn chỉnh tinh thần, thể xác, cảm xúc, tâm lý, tâm linh..., để trưởng thành hơn và sống phong phú mãi trong tình yêu, chứ không phải chỉ là nhất thời khi “còn dang dở”!
Nghe đến đây chắc nhiều người còn đang độc thân buột miệng thở dài: “thế thì tu quách giống Cha xứ nhà ta cho sướng cái thân!”. Thật vậy, nếu không yêu, không mến, người ta không thể trung tín mãi trong đời hôn nhân. Vì yêu, bạn muốn nên một với người yêu không chỉ trong thể xác, mà cả tinh thần, và sẵn sàng chấn chỉnh tất cả những gì còn khập khiễng để “một trăm chỗ lệch cũng kê cho bằng”.
Các đạo diễn phim truyền hình đôi khi đưa một cảnh ồn ào bạo lực vào sau một cảnh yên tĩnh. Giáo Hội cũng làm như vậy trong Phụng vụ của Giáo hội. Chúng ta vừa trải qua mùa Giáng sinh thật màu nhiệm. Sau việc hạ sinh âm thầm của Chúa Giêsu là việc Stêphanô bị ném đá. Điều này nhắc chúng ta rằng: Lễ Giáng sinh không chỉ là ngày đầu tiên trong cuộc đời Đức Giêsu, mà còn là ngày đầu tiên của cuộc hành trình dài đầy đau khổ của Người đến đỉnh Calvê. Điều đó cũng nhắc chúng ta phải sẵn sàng để chịu đau khổ vì đức tin, như Chúa Giêsu và thánh Stêphanô đã chịu.
Phero Nguyễn văn Hoài và Ana Nguyễn Thị Hồng. Hai chúng con thân mến! Trong cuộc sống của bất cứ bậc sống nào trong Giáo hội. Sống đời dâng hiến hay sống bậc hôn nhân gia đình, đừng quên điều cha vừa chia sẻ: hạnh phúc đi liền với đau khổ. Chúng con phải chấp nhận cả hai. Đừng nhìn đời sống Hôn nhân gia đình của chúng con qua lăng kính khi nào cũng màu hồng cả. Có những ngày vui tràn trề như thời gian chúng con mới quen biết nhau, sắp cưới, mới cưới trong tuần trăng mật. Nhưng khi giáp mặt với cuộc sống miếng-cơm-manh-áo, trách-nhiệm-bổn-phận, chúng con sẽ thấy có những vấn đề nan giải, khó nuốt. Trong quan hệ hằng ngày với nhau, với họ hàng cha mẹ đôi bên, với những người ngoài bắt đầu có những rắc rối, đôi khi “tăng đô” lên thành những đau khổ xót xa. Màu hồng chuyển dần sang màu tím ảm đạm. Cha muốn nói với chúng con rằng phải ý thức trước những điều đó, phải biết chấp nhận cả hai và biết cách giải quyết để hoá giải nó.
Tình yêu Hôn nhân cho chúng con thấy rằng khi yêu nhau với sự hoà hợp thể xác, tinh thần, nhanh chóng chúng con cảm nhận được, hiểu được cụm từ “nên một”: gắn bó sắt son, yêu thương nồng nàn hạnh phúc. Thế nhưng thực tế va chạm với những dị biệt tâm lý, quan niệm, sở thích, lập trường của chính chúng con, có thể biến những êm đềm cuộc sống thành những đợt sóng vùi dập nhau, hạ gục nhau thật dữ dằn như bão biển. Chúng con phải biết đón trước và vượt lên những nghịch cảnh để sống. Gia đình có thể là thiên đàng hạnh phúc; nhưng cũng nhanh chóng, vì một duyên cớ bất ngờ không tốt nào đó, trở thành địa ngục. Cha nói toẹt ra rằng vợ chồng là người yêu của nhau, nhưng rồi có thể là kẻ thù của nhau. Có quá đáng không chúng con ?
Không quá đáng một chút nào hết. Quả thật, cha ông chúng ta gói ghém cái nghịch lý ấy trong những câu ví von như:
“Lấy chồng như gông đeo cổ.
Lấy vợ như rợ buộc chân”.
Rõ ràng là chịu ràng buộc, chịu khổ vì nhau.
Hoặc khi yêu thì:
“Tình anh như nước dâng cao.
Tình em như dải lụa đào tẩm hương”.
Êm đềm ngọt ngào như thế.
Nhưng khi tức giận ghen tương thì:
“Yêu nhau chưa ráo mồ hôi,
Chưa tan buổi chợ, đã rời nhau ra”.
Trong nghi lễ của Bí tích Hôn phối, trước sự chứng kiến của thừa tác viên chức thánh và Cộng đoàn, đại diện Chúa và Giáo Hội, chúng con đã chẳng cam kết về cái hạnh phúc và đau khổ đi đôi trong cuộc sống Hôn nhân và gia đình là gì: “anh nhận em làm vợ và hứa giữ lòng chung thuỷ với em khi thịnh vượng cũng như lúc gian nan, khi mạnh khoẻ cũng như lúc bệnh hoạn, để tôn trọng và yêu thương em suốt đời anh” và ngược lại, vợ cam kết với chồng cũng như thế.
Vậy chúng con hãy can đảm đón nhận cả hạnh phúc lẫn đau khổ. Đời không chỉ có màu hồng, nhưng còn những màu tím. Có mùa xuân tươi mát cũng sẽ có mùa hè rát rúa, mùa đông tàn tạ. Cha không muốn chúng con bi quan, nhưng phải thực tế.
Chúng con có ý thức, có sẵn sàng chấp nhận đau khổ, tìm cách hoá giải vượt lên để xây dựng một gia đình tốt đẹp? Gia đình Thánh gia là thánh, nhưng vẫn có những rắc rối, những đau thương.
Hãy tin tưởng Ơn Bí tích Hôn phối :
“Ơn Ta đủ cho con” (2 Cr 12,9).
Sau cơn mưa trời lại sáng.
Sau cơn bĩ cực, đến hồi thái lai.
Lộ trình hôn nhân có ánh sáng của hạnh phúc mà cũng có bóng tối của đau buồn. Nguyện xin Thiên Chúa ban cho chúng con đủ nghị lực để thực hiện những đòi hỏi của sự hiệp nhất, hầu bóng tối của đau buồn sớm biến tan đi, cho ánh sáng của hạnh phúc sẽ bừng lên trong mái ấm tình thương của chúng con, hôm nay và mãi mãi. Amen!

 

HP99: KHI VỢ CHỒNG KHÁC TÔN GIÁO

ĐIỂM CHUNG NÀO ĐỂ DUNG HÒA ?
VŨ NGUYỄN ANH THẢO
 

Gặp yêu, được yêu và lấy người cùng tôn giáo thì thật lý tưởng, nhưng không phải ai cũng có may HP99

Gặp yêu, được yêu và lấy người cùng tôn giáo thì thật lý tưởng, nhưng không phải ai cũng có may mắn đó. Hiện vẫn còn không ít những đôi bạn khi quyết định tiến tới hôn nhân đều có cùng băn khoăn của cả các bậc cha mẹ ở nhiều gia đình : anh ấy hoặc cô ấy có “cùng đạo” hay không ?
Khi đôi bạn vượt qua rào cản tôn giáo để tiến tới hôn nhân với giao ước “đạo ai nấy giữ”, không phải đôi nào cũng êm ả trong đời sống gia đình sau khi kết hôn. Nhưng nói vậy cũng không có nghĩa là hôn nhân chỉ hạnh phúc thực sự khi cả hai cùng một niềm tin, tín ngưỡng. Thực tế, cũng có những cặp vợ chồng khác tôn giáo vẫn sống hạnh phúc vì biết dung hòa và tôn trọng niềm tin công giáo không những của riêng người bạn đời mà còn cả gia đình bên vợ, bên chồng… Có dịp gặp những đôi vợ chồng ấy, chúng tôi đã được chia sẻ những “bí kíp” hạnh phúc từ cuộc sống đời thường của mỗi người.
Chị Bùi Thị Hậu, 32 tuổi, là tiểu thương ở chợ. Chị vốn là người Phật giáo, kết hôn với anh Vũ, đạo Công giáo. Hai anh chị đã có với nhau một mặt con và hiện sống thật hạnh phúc trong căn nhà nhỏ trên đường Trần văn Đang (quận 3, TP.HCM). Chị kể, mỗi lần gia đình chị ở Hốc Môn có giỗ chạp, anh Vũ vẫn tham gia góp tiền, góp công nấu nướng, dọn dẹp. Và sau những nghi thức tôn giáo của gia đình nhà vợ diễn ra xong, anh lại “hồn nhiên” tiếp đón khách mời, vui vẻ đốt nhang xá bàn thờ ông bà. Còn chị Hậu, sống với gia đình chồng, một mực kính trọng cha mẹ, anh chị của chồng. Những ngày lễ của Công giáo, chị tình nguyện mua bông hoa dâng Chúa, dâng Mẹ Maria, nấu các món ăn ngon trong những dịp lễ lớn như lễ Giáng sinh, Phục sinh… Cả hai anh chị đều cho biết, dù trước khi kết hôn, mỗi người có một tín ngưỡng riêng nhưng giờ thì cả hai đều hòa hợp, tôn trọng tín ngưỡng của nhau để giữa vợ chồng và gia đình hai bên nội ngoại không nảy sinh mâu thuẫn hay bất đồng quan điểm.
Chị Dương Kim Hà, 41 tuổi, người Công giáo, là công nhân, kết hôn với anh Phạm Văn Dũng, gia đình đạo Phật. Anh chị đã có hai con : Con lớn năm nay đã 18 tuổi, bé út cũng đã lên 10. Cuộc sống gia đình của anh chị trôi qua êm đềm. Hỏi về bí quyết “hòa đồng tôn giáo”, chị kể : “Lễ giỗ, tôi cũng phụ gia đình làm những món chay, tôi tập tành làm đồ chay, ban đầu vụng về, dần cũng ngon hơn. Các nghi lễ “thờ cúng tổ tiên” trong gia đình chồng, tôi đều am hiểu và tuân thủ. Tôi thấy cũng không có gì phức tạp cả. Còn anh Dũng thì đối với gia đình bên nhà tôi cũng rất lễ độ, một mực kính trên nhường dưới. Các nghi lễ tôn giáo bên đạo mình, anh ấy cũng đều tôn trọng, không bao giờ tỏ thái độ “bài bác” hay khinh chê…”.
Chị Thanh Phương, 42 tuổi, hiện là giáo viên Trung Tâm Bảo Trợ trẻ tàn tật mồ côi Thị Nghè (TP.HCM) kết hôn với anh Quân, 47 tuổi, làm việc tại công ty men bánh mì Cát Tường. Anh là con trai độc nhất trong gia đình đạo Phật, chị Thanh Phương đạo Công giáo. Sau hơn 10 năm chung sống hạnh phúc với hai mặt con : Bé Mai Anh đang học lớp 8, bé Uyên đang học mẫu giáo. Chị Phượng vẫn đều đặn chở mẹ chồng đi tịnh ở chùa ngày Chúa nhật. Anh Quân vẫn cùng vợ đi lễ nhà thờ, tham gia ca đoàn và những hội đoàn Công giáo khác. Chị Phương cũng học nấu đồ chay để phục vụ những ngày cúng giỗ của gia đình chồng. Cũng như chị Kim Hà, chị Phượng và anh Quân cùng nói : “Khác tôn giáo không phải là rào cản hay chướng ngại gì khi cả hai cùng yêu thương và tôn trọng lẫn nhau”.
Theo anh Thắng, 53 tuổi, đạo Phật, lấy vợ là chị Lộc, người Công giáo quê ở Đồng Nai thì : “Điều quan trọng của những cặp vợ chồng khác tôn giáo là biết cảm thông, chia sẻ và tôn trọng niềm tin của nhau. Chẳng hạn như tôi đạo Phật nhưng cũng thuộc kinh bên Công giáo, cũng cùng đi lễ nhà thờ với vợ. Còn vợ tôi cũng biết những lễ nghi của gia đình tôi, biết nấu thức ăn chay, biết tôn trọng những ngày giỗ chạp của họ hàng nhà chồng. Vậy là ổn”. Ổn thật khi anh chị hiện là chủ tịch một dịch vụ Internet ở quận 3 (TPHCM), có hai con trai thành đạt. Anh Thắng, chị Lộc vừa mừng thôi nôi cháu nội đầu tiên trong niềm vui ấm áp.
Còn rất nhiều trường hợp cả hai vợ chồng khác tôn giáo nhưng vẫn sống đến tuổi “xưa nay hiếm”. Thực tế, nhiều cặp vợ chồng từ nhà thờ hoặc trong chùa bước ra chưa hẳn 100% đều cùng tôn giáo, vậy mà họ vẫn cùng đi lễ với nhau thật hạnh phúc. Theo chị Kim Hà, đạo nào cũng tốt, cũng dạy điều hay lẽ phải, cùng dạy làm lành lánh dữ, hiếu nghĩa cùng cha mẹ… không có lý do gì phải kỳ thị lẫn nhau. Chuyện tôn giáo là rào cản chỉ là cái cớ khi cả hai không thực sự yêu nhau mà thôi…
Còn anh Quân, chồng chị Phượng thì thổ lộ : “Trước khi nói đến đạo này đạo nọ, chúng ta nên có Đạo Làm Người,mà Làm Người tức là tôn trọng và quý mến niềm tin của nhau. Đừng mang tôn giáo ra làm cái cớ để bỏ nhau”. Chị Hậu thì cho rằng : “Tôn trọng lẫn nhau vẫn là cốt lõi của hạnh phúc. Tôn trọng lẫn nhau có cả tôn trọng niềm tin của nhau. “Của nhau” đó là có cả của hai gia đình…”.ª

 

HP100: Tờ tiền 100 USD

Trong lễ cưới của một người bạn, người dẫn chương trình của lễ cưới bỏ ra một tờ tiền 100 USD HP100

Trong lễ cưới của một người bạn, người dẫn chương trình của lễ cưới bỏ ra một tờ tiền 100 USD, hỏi tất cả những người trong hội trường rằng ai cần xin hãy giơ tay, mọi người nghĩ rằng người dẫn chương trình này có mánh khóe gì nên không ai giơ tay, người dẫn chương trình nói: “Tôi nói thật, nếu ai muốn xin hãy giơ tay.”
Cuối cùng cũng có người giơ tay, sau đó càng ngày càng có nhiều người giơ tay. Người dẫn chương trình nhìn mọi người, sau đó đổi tờ 100 USD thành tờ tiền cũ, những người giơ tay liền ít đi rất nhiều. Người dẫn chương trình vừa cười vừa đổi lấy một tờ 100 USD khác nhăn nheo cũ kỹ, trong hội trường chỉ còn lác đác mấy người giơ tay.
Người dẫn chương trình mời một vị thanh niên lên sân khấu, và đưa 100 USD cũ này cho anh ta, nói rằng:“Tại vì anh ta giơ tay từ đầu đến cuối”, mọi người trong hội trường liền cười lớn. Cậu thanh niên hơi đỏ mặt. Người dẫn chương trình lấy ra một tờ 100 USD mới nói với cậu thanh niên:
 “Tôi đổi cho cậu tờ mới này lấy tờ cũ được không?”, Cậu thanh niên nói: “Không cần đâu chú, cũ mới đều giống nhau.”
Người dẫn chương trình gật đầu và để cậu cầm tiền đi xuống, Người dẫn chương trình cho cô dâu và chú rể đi lên sân khấu, anh nói: “Nhan sắc có đẹp thế nào đi nữa, rồi cũng sẽ có ngày già đi. Một cuộc tình lãng mạn thế nào đi nữa, rồi cũng thuận theo cuộc sống mà thay đổi. Giống như tờ tiền tôi cầm trên tay, cũng theo thời gian mà trở nên cũ kỹ nhăn nheo, giống như cậu thanh niên vừa rồi nói, cũ và mới thì đều là 100 đồng. Giá trị của nó không vì những nếp nhăn trên bề mặt mà thay đổi. Có phải vậy không? Hy vọng cô dâu và chú rể có thể hiểu được giá trị và ý nghĩa thực sự của tình yêu, đừng để đến lúc già đi hay cảm xúc dần nhạt nhẽo, liền quên đi lời thề của chúng ta ngày hôm nay rằng, sẽ yêu nhau trọn đời, xin các bạn hãy trận trọng đối phương cho đến khi đầu bạc răng long.”
Cô dâu chú rể nhìn nhau gật đầu. Mọi người ở hội trường vỗ tay hồi lâu chúc mừng, đại đa số chúng ta đi đến hết cuộc đời, không ngừng khát vọng, không ngừng truy cầu, không ngừng tranh giành, nhưng lại không biết trân quý hạnh phúc ngay bên cạnh mình, kết quả là vẫn hai bàn tay trắng.
Đừng để đến khi mất rồi mới biết trân trọng! Mà hãy trân trọng những gì bạn đang có.

 

HP101: Đĩa ớt và cốc nước

Có một cô gái ở phương Nam và một anh người miền Bắc lấy nhau, khẩu vị của cô gái thanh đạm HP101

Có một cô gái ở phương Nam và một anh người miền Bắc lấy nhau, khẩu vị của cô gái thanh đạm, còn anh chồng thì ngược lại, không có ớt thì anh không nuốt được cơm.
Cô gái thường đi đến nhà bố mẹ đẻ ăn cơm. Một hôm, bố cô gái nấu thức ăn hơi mặn, nhưng mẹ cô không nói gì, chỉ mang đến một cốc nước, khi gắp thức ăn bà nhúng vào cốc nước trước mặt sau đó mới cho lên miệng. Bỗng nhiên, cô gái thông qua hành động của mẹ đã hiểu ra được điều gì đó.
Ngày hôm sau, cô gái ở nhà nấu cơm, làm thức ăn mà chồng cô thích ăn. Đương nhiên mỗi loại thức ăn cô đều cho ớt. Chỉ khác biệt là trên bàn ăn có để sẵn một cốc nước. Chồng cô nhìn cô ăn thức ăn đã nhúng qua cốc nước nhưng vẫn có vẻ rất ngon miệng, khiến anh rưng rưng nước mắt.
Sau đó, anh cũng tranh nấu cơm. Nhưng trong thức ăn không còn nhìn thấy ớt nữa. Chỉ khác là trên bàn có thêm một đĩa tương ớt.
Vì tình yêu, cũng vì bản thân mình, hai vợ chồng 1 người ôm một đĩa ớt, 1 người ôm một cốc nước. Nhưng quan trọng hơn, họ hiểu được thế nào để ôm giữ được một tình yêu vĩnh cửu.
Mong rằng đọc xong hai cậu chuyện này rồi các bạn sẽ biết trân trọng người bạn đời của mình hơn và đừng quên chia sẻ với mọi người nhé!

 

HP102: Tuy Hai Mà Một

Có người bảo rằng sao ban đầu Thiên Chúa không tạo dựng một giới thôi để khỏi nhớ nhung, tìm HP102

Có người bảo rằng sao ban đầu Thiên Chúa không tạo dựng một giới thôi để khỏi nhớ nhung, tìm kiếm, tranh dành với nhau làm gì?
Quả thực, ban đầu Thiên Chúa cũng chỉ tạo dựng một mình Adam. Nhưng Adam không tìm được niềm vui nơi các tạo vật mà Chúa đã dựng nên. Thế nên, Adam vẫn buồn và cô đơn. Động lòng trắc ẩn cho Adam, Thiên Chúa đã tự nhủ :
- Ta sẽ dựng nên cho nó một người nội trợ giống như nó.
Nói thế rồi, khi Adam chìm trong giấc ngủ, Ngài đã lấy một chiếc xương sườn của ông mà dựng nên Evà. Và dẫn Eva tới trình diện ông. Thoạt nhìn thấy bà, mắt ông đã bừng sáng và hớn hở kêu lên:
-Mình ơi! Mình ơi!
Mình ơi là lời xác định đây là xương bởi xương tôi, là thịt bởi thịt tôi.
Cũng trong chiều hướng này, ca dao Việt Nam có câu :
- Mình với ta tuy hai mà một,
  Ta với mình tuy một mà hai.
Đã là vợ chồng thì phải cố gắng trở nên một, không phải chỉ nơi thân xác, mà còn cả trong tâm hồn nữa. Và trong phạm vi tâm hồn, trong phạm vi tư tưởng, thì niềm tin tôn giáo cũng đóng một vai trò rất quan trọng.
Thực vậy, rất khó mà nên một nếu người này thờ Phật, còn người kia lại thờ Chúa. Rất khó mà nên một nếu người này đi Chùa, còn người kia lại đi Nhà Thờ. Rồi một mai, khi đã có con cái, sự khác biệt về tôn giáo sẽ gây nên những khó khăn trong việc giáo dục. Bố bảo một đằng, mẹ dạy một nẻo, với đầu óc còn non nớt, đứa con sẽ chẳng biết đường nào mà lần… Chính vì thế Giáo Hội mời gọi hai người đều phải cùng một tôn giáo để sự kết hợp được trọn vẹn. Thế mới có đạo theo, và theo đạo được chia thành hai thời kỳ.
Thời kỳ thứ nhất đó là thời kỳ học đạo.
Trong giai đoạn này, xem ra người ta rất ư là chăm chỉ, bởi vì có học đạo thì mới lấy được người mình yêu. Hơn nữa, mỗi lần đi học, đều có người mình yêu tháp tùng, kè kè một bên, thì ngu gì mà bỏ lỡ những cơ hội chính đáng được chuyện trò bên nhau.
Nhưng nếu việc học chỉ là đối phó cho xong, thì tâm tánh có lẽ cũng chẳng thay đổi chút nào. Người ta kể rằng :
Ngày xưa, khi người ta còn cử hành rửa tội bằng cách dìm xuống nước. Một tân tòng nọ, khi được dìm xuống như thế, cứ nhất quyết giơ một bàn tay lên khỏi nước. Người ta hỏi anh ta tại sao lại làm như vậy, anh ta đã trả lời :
- Tôi xin thuộc về Đức Kitô tất cả chỉ trừ bàn tay này mà thôi , bởi vì tôi vốn có nghề ăn trộm ăn cắp. Bàn tay còn phải để đi ăn trộm!
Thế nên, nếu chỉ rửa tội thôi thì chưa đủ mà còn phải biết hướng dẫn người tân tòng qua thời kỳ thứ hai, đó là thời kỳ sống đạo.
Đây mới quả thực là một thời kỳ quan trọng bởi vì nó sẽ kéo dài bằng cả phần đời còn lại của người bổn đạo mới.
Giai đoạn này rất cần gương sáng của người bạn đời và của dòng họ người có đạo. Nếu những người thân yêu trong gia đình người có đạo chỉ là những kitô hữu khô khan nguội lạnh, thì người bổn đạo mới này cũng chỉ là một kitô hữu xoàng xĩnh, nếu không nói là sớm muộn cũng bỏ đạo.
Có 1 anh tân tòng sống bên nhà vợ, nhưng gia đình túng thiếu phải kiếm ăn từng ngày. Thế rồi một bữa nọ, cuộc cãi vã với bố mẹ vợ xảy ra và thế là cả gia đình bên vợ xúm lại “chửi hội đồng”. Một mình anh chồng, như người hùng cô đơn, chẳng thể địch nổi mồm mép của cả dòng họ nhà vợ . Tức quá chịu không nổi, anh chồng liền vác giấy bút ngồi xuống viết đơn, Đơn xin…nghỉ đạo. Và đưa cha sở
Cha sở nhìn anh ta rồi hỏi :
- Tại sao con lại làm đơn xin…nghỉ đạo.
Anh ta trả lời :
- Trước kia, con đã làm đơn xin theo đạo, thì bây giờ vì không chịu nổi người có đạo nữa, nên con làm đơn xin nghỉ đạo. Đơn giản chỉ có vậy mà thôi.
Bi đát hơn nữa là có những anh chồng một khi đã ẵm được cô vợ, bèn đánh bài…”lờ tít” nhà thờ, như thiên hạ vốn thường diễn tả :
- Con quì lạy Chúa trên trời,
  Con mà được vợ, con thôi nhà thờ.
Như thế, đời sống đạo đức và thánh thiện, bác ái và yêu thương của người có đạo, cũng như của gia đình người có đạo, rất cần thiết cho việc nuôi dưỡng đức tin còn non trẻ của người bổn đạo mới, bởi vì cha ông ta đã nói :
- Lời nói thoảng bay, gương bày lôi kéo.
Chính những chứng tá bằng việc làm, bằng đời sống của người có đạo mới có được một sức mạnh cuốn hút người ta đến cùng Chúa.
Ước mong những người theo đạo lấy vợ lấy chồng hãy theo bằng tâm của mình luôn tin thờ kính yêu Chúa. Ước mong các gia đình có người tân tòng xin hãy sống gương sáng để dẫn dắt người mới theo đạo đi trong chân lý tình thương. Amen
Lm.Jos Tạ Duy Tuyền

 

HP103: HÌNH ẢNH ĐỜI SỐNG HÔN NHÂN QUA TIỆC CƯỚI CANA

Trong trích đoạn Tin Mừng của Thánh Gioan, qua bối cảnh của tiệc cưới Cana, có ba nhân vật HP103

Trong trích đoạn Tin Mừng của Thánh Gioan, qua bối cảnh của tiệc cưới Cana, có ba nhân vật mà chúng ta cần lưu ý, vì cả ba đều liên quan đến đời sống tâm linh, tâm lý và thực tế của những ai đã, đang, và sẽ bước vào đời sống hôn nhân. Đó là, đôi tân hôn, Đức Maria, và Chúa Giêsu. (X. Gioan 2:1-12)
Trước hết là đôi tân hôn. Đây cũng là hình ảnh cuộc sống và ơn gọi của hầu hết mọi người trên mặt đất. Thống kê cho biết có đến hơn 90% nhân loại sống đời hôn nhân. Một đời sống hạnh phúc nhưng cũng hàm chứa rất nhiều đau thương, thử thách, và hy sinh. Điển hình là sự thiếu rượu ngay từ buổi ban đầu trong bữa tiệc. Đây là một dấu hiệu cho thấy, khi bước vào đời sống hôn nhân, đồng nghĩa với sự chấp nhận mọi thiếu thốn, mọi vất vả, và mọi hy sinh. Qua cái nhìn thực nghiệm, dựa theo một khảo cứu của Đại Học Los Angeles (UCLA) “tình yêu lãng mạn mới được bao gồm không chỉ dựa trên những thay đổi về tâm lý, mà còn cả với những thay đổi về thể ly”. Khảo cứu này dựa trên mẫu máu lấy từ 47 phụ nữ, những người có tình yêu mới. Kết luận cuối cùng của khảo cứu là 75% trả lời định nghĩa tình yêu của họ thay đổi theo tuổi tác. Lời thề hôn phối, do đó, sau khi nhắc đến những điều có thể xảy ra trong đời sống của hai người như bệnh hoạn, nghèo đói, túng thiếu đã kết luận bằng một câu: “Để yêu thương và tôn trọng nhau mọi ngày”. Có thể nói, đây là một đòi hỏi vượt quá khả năng con người, và nó sẽ không thể thực hiện được nếu không có một tình yêu chân thật. “Tình yêu mạnh hơn sự chết”
“Chàng hãy đặt em như chiếc ấn trên lòng,
như con dấu trên cánh tay chàng.
Vì chưng: Tình yêu cường mạnh như tử thần,
lòng ghen ác liệt như âm phủ.
Những ngọn lửa của nó, ngọn lửa hỏa hào,
thật là sét đánh.” (Diễm ca 8:6)
Tiếp đến là Đức Maria. Mẹ ở đó chứng kiến tất cả, biết tất cả. Cái nguy hiểm có thể dẫn đến ta vỡ của đôi tân hôn tại Cana là “thiếu rượu” ngay từ ban đầu. Nguy cơ này cũng chính là nguy cơ đang phá hủy nhiều đời sống hôn nhân, và làm tan vỡ nhiều gia đình. Vì rượu đây được hiểu là sự mạnh mẽ, mặn nồng, hăng say, và chất ngất của tình yêu. Những yếu tố nuôi dưỡng, phát triển hạnh phúc hôn nhân. Và qua ánh mắt Đức Tin, chúng ta thấy Đức Maria đã ra tay cứu chữa bằng cách xin với Con Mẹ cho họ thêm một cơ hội để họ có thể đồng hành với nhau trong đời sống hôn nhân. Nhưng Mẹ đã can thiệp một cách rất kín đáo, và chỉ nói với Chúa Giêsu: “Họ hết rượu rồi” (2:3). Điều này nhắc cho những ai đang gặp khó khăn trong đời sống hôn nhân một nhân vật đầy yêu thương, thông cảm, và luôn sẵn sàng ra tay cứu giúp, người đó là Đức Maria. Và đây là một yên ủi rất lớn lao cho chúng ta, những người Kitô hữu.
Và sau cùng là Chúa Giêsu. Chắc chắn là Chúa cùng các môn đệ Ngài đến với tiệc cưới hôm đó là để chung vui, là để chúc phúc cho đôi tân hôn mà không có ý định làm phép lạ. Chúa đã nói với mẹ Ngài: “Giờ tôi chưa đến” (2:4). Việc thực hiện phép lạ, do đó, phát xuất từ tình thương của Ngài đối với đôi tân hôn, và dĩ nhiên, cũng từ lời cầu xin của Đức Maria.
Đem áp dụng vào thực hành trong đời sống hôn nhân của mỗi người chúng ta. Bối cảnh của tiệc cưới Cana nhắc nhở rằng, cuộc sống hôn nhân của mỗi người bao gồm nhiều niềm vui cũng như nỗi buồn. Tuy nhiên, trên thực tế nhiều người vẫn cho rằng buồn nhiều hơn vui:
“Đường vào tình yêu có trăm lần vui,

Có vạn lần buồn.
Đôi khi nhầm lỡ, đánh mất ân tình cũ
Có đâu chỉ thế, tiếc thương chỉ thế,
Khi hai mơ ước, không chung cùng vui lối về.”
(Trúc Phương – Buồn Trong Kỷ-niệm)
Trong đời sống chung vợ chồng gây đau khổ cho nhau, trong gia đình cha mẹ con cái, anh chị em luôn có những xung khắc, tranh cãi, và khó chịu với nhau.
Để hóa giải những khó khăn, những nhàm chán, và những thử thách đang làm chao đảo sự trung thành của hôn nhân, khả năng tự giải quyết, ngay cả việc giúp đỡ của các nhà tâm lý, các chuyên viên gia đình nhiều khi cũng không đem lại kết quả. Đặc biệt trong những trường hợp mà rượu tình yêu đã cạn, hoặc đã nhạt không còn đủ khả năng làm say đắm, mê mẩn lòng người. Những lúc như thế, người mà chúng ta – những đôi vợ chồng Kitô Giáo – cần tìm đến là Đức Trinh Nữ Maria, người Mẹ trong tiệc cưới Cana. Hãy khiêm nhường thưa với Người: “Con hết rượu rồi!”
Trong khi tín thác vào Mẹ, chúng ta không thể không vâng lời Mẹ, “làm những gì Ngài bảo”, tức là thực hành điều mà Chúa muốn chúng ta làm với nỗ lực cứu thoát những đổ vỡ của gia đình mình. Chúa có đó, nhưng Ngài không làm gì hơn là nâng đỡ và giúp chúng ta vượt qua những khó khăn, thử thách. Ngài chỉ làm phép lạ có một lần cho đôi hôn nhân hôm đó, còn lại suốt cuộc đời, chính họ phải lo liệu và phải giữ hương nồng, tình yêu của những giọt rượu mà Ngài đã làm cho họ.
Tóm lại, trong đời sống hôn nhân, gia đình mỗi người, từ bối cảnh tiệc cưới Cana, chúng ta có thể rút ra ba ý nghĩa thực hành như sau:
- Chấp nhận những thử thách và hy sinh trong cuộc sống.
- Tín thác và cậy trông nơi Mẹ.
- Sống theo tinh thần Phúc Âm những gì Chúa muốn.
Và chúng ta sẽ nhìn thấy phép lạ. Sẽ thấy bàn tay Chúa Mẹ luôn ở bên chúng ta.
 Tiến Sĩ Trần Mỹ Duyệt
CGVN

 

HP104: TRUNG TÍN

Khám phá lại giao ước của Thiên Chúa với dân Ngài cũng là lúc chúng ta có cái nhìn đúng đắn HP104

Khám phá lại giao ước của Thiên Chúa với dân Ngài cũng là lúc chúng ta có cái nhìn đúng đắn về ơn gọi đời sống hôn nhân, về ý nghĩa sâu đậm của hôn nhân như là giao ước và đồng thời cũng là dấu chỉ thể hiện thực tại Nước Trời nơi trần thế qua lòng trung tín với giao ước. Do đó, khởi đi từ giao ước giữa Chúa với Dân Ngài, chúng ta cùng nhau suy nghĩ về đời sống hôn nhân.

THIÊN CHÚA KÝ KẾT GIAO ƯỚC VỚI DÂN NGÀI :
GIAO ƯỚC TRUNG TÍN

Từ muôn đời, Thiên Chúa muốn dẫn đưa con người đến đời sống hiệp thông với Ngài trong tình yêu của Ngài. Xuất phát từ tình yêu ấy, Thiên Chúa đã ký kết với Dân Ngài một giao ước vĩnh cửu, giao ước mà Thiên Chúa hứa bảo vệ dân được chọn và đòi lại tuyệt đối trung tín với Ngài (Xh 19,5-8).
Cũng xuất từ tình yêu mà hôm nay anh chị cùng nhau đến nay trước mặt Thiên Chúa cùng Hội Thánh để ký kết với nhau một hôn ước. Hôn ước mà anh chị hoàn toàn tự do ưng thuận ký kết, đòi buộc cả hai phải chia sẻ quyền lợi và nhiệm vụ của bậc hôn nhân, hôn ước này cũng làm cho anh chị trở thành sở hữu của nhau và cũng trở thành tuyệt đối trung tín với nhau. Hai từ “trung tín” đơn giản, nhưng trong thực tế không phải đơn giản như vậy.
Qua lịch sử, Israel đã giữ giao ước với Thiên Chúa thế nào ? Các thần ngoại có vẻ hấp dẫn và lôi cuốn, đã làm cho họ sao lãng lời thề hứa. Cũng vậy, trong cuộc sống, đồng tiền luôn luôn là hấp lực quyến rũ con người. Nhiều người tưởng rằng phải kiếm thật nhiều “tiền” thì sẽ xây dựng và vun đắp được hạnh phúc, bất kể đó là đồng tiền gì. Thế nhựng họ đã lầm, vì họ dùng “tiền” để tạo hạnh phúc, thì những đồng tiền mạnh hơn sẽ cướp mất hạnh phúc của họ. Sự yếu đuối của con người trước những hấp dẫn của đồng tiền, danh vọng, địa vị, thụ hưởng, sẽ làm đổ vỡ giao ước, nếu anh chị thiếu trung tín với nhau. Một khi đã trung tín với nhau, thì cho dù ở bất kỳ hoàn cảnh nào cũng không thể mất nhau, mất hạnh phúc. Muốn giữ được long trung tín, anh chị hãy trở nên giống Thiên Chúa là Đấng hằng trung tín.

THIÊN CHÚA LUÔN TRUNG TÍN :
TÌNH YÊU TRUNG TÍN

“Từ Trời, Ngài đã cho ngươi nghe tiếng Ngài, để sửa dạy ngươi, và trên đất, Ngài đã cho ngươi thấy ngọn lửa lớn lao của Ngài…. Ngài đã đem ngươi ra khỏi Ai Cập bằng nhan Ngài và sức mạnh lớn lao Ngài….., để đem ngươi vào đất và ban cho ngươi làm cơ nghiệp ” (Đnl 4, 36-38), Thiên Chúa trung tín không phải Ngài chỉ hiện diện giữa dân Ngài, nhưng Ngài còn đồng hành và đưa dân Ngài vào đất chảy sữa và mật. Sự trung tín của anh chị cũng đòi hỏi anh chị không phải chỉ dừng lại ở bên nhau nên một, mà còn cùng nhau tiến bước và giúp nhau đạt tới nguồn hạnh phúc đích thực là nước Trời.
Hôn nhân vừa là tình yêu, vừa là giao ước. Tình yêu và giao ước luôn luôn gắn liền đan kết nhau. Tình yêu đưa tới giao ước và giúp cho giao ước được bền chặt, giao ước giúp tìm lại tình yêu và làm tăng trưởng tình yêu. Hơn nữa, tình yêu trung tín không thể tách lìa giao ước, nhưng còn vượt lên lòng bất trung của một người. Câu chuyện Hôsê cưới người vợ bất trung (Hs 2, 16-25) đã diễn tả tình yêu trung tín của Thiên Chúa thắng lòng bất trung của hiền thê Ngài như thế nào, đó cũng là đòi hỏi trong hôn ước của anh chị, đồng thời cũng là một thách đố trong đời sống hôn nhân của mọi người.
Nhiều người nghĩ rằng trung tín với nhau phải luôn luôn ở bên nhau như hình với bóng, phải thực thi trọn vẹn với lời hứa, nhưng đó mới chỉ là một khía cạnh của sự trung tín. Trung tín còn đòi hỏi từ chính tâm hồn của hai người, nghĩa là hai tâm hồn luôn hướng về nhau, luôn tìm kiếm nhau, thuộc về nhau như Thiên Chúa luôn hiện diện và đồng hành với dân Ngài. Chính nhờ lòng trung tín mà anh chị sẽ chia sẻ cho nhau niềm vui cũng như nỗi đau khổ trong cuộc sống của nhau. Từ niềm vui hay nỗi khổ của mỗi người sẽ trở nên của cả hai người. Nhờ lòng trung tín mà hai người tin tưởng nhau và trở thành sức sống của nhau. Lúc đó, anh chị sẽ cảm nghiệm thấy đúng thật “Đây là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi” (St 2, 23). Đó cũng là đỉnh cao của giao ước mà chúng ta nhận được nơi Người con yêu dấu của Thiên Chúa làm người.

NGÔI LỜI ĐÃ LÀM NGƯỜI VÀ Ở GIỮA CHÚNG TA :
TRUNG TÍN TRỌN VẸN.

 Giao ước của Thiên Chúa được thực hiện trọn vẹn viên mãn nơi Người Con của Ngài: “Ngôi Lời đã thành xác phàm và đã lưu trú nơi chúng tôi, và chúng tôi đã được ngắm vinh quang của Ngài” (Ga 1, 14). Thiên Chúa trung tín không phải chỉ là những ý niệm hay những hình ảnh trừu, nhưng lòng trung tin ấy đã thực hiện một cách cụ thể nơi Người con của Ngài để nên đồng hình đồng dạng với con người. Cũng vậy, anh chị trung tín với nhau không phải chỉ là những lời nói hay những hành động bên ngoài, nhưng còn đòi hỏi ở chính toàn thể thân xác và tâm hồn anh chị là hình, là dạng của nhau, cho nhau.
Để trở thành hình thành dạng của nhau, dĩ nhiên cả hai phải biết từ bỏ chính mình và nên giống như nhau. Nhiều đôi hôn nhân đã sớm quên khi họ ký kết hôn ước là lúc họ ký kết từ bỏ mình để nên như bạn mình. Do đó, sau hôn nhân họ coi nhau như tôi tớ và đòi hỏi nhau hơn là cho nhau. Cũng chính vì đó đã ngấm ngầm phá hủy hôn ước của họ.
Hôn nhân vừa làm cho hai người trở nên đồng hình đồng dạng với nhau, lại vừa đòi hỏi mỗi người phải hủy bỏ chính mình. Mầu nhiệm tự hạ của Đức Kitô đã trở nên khuôn mẫu và thể hiện giao ước của Thiên Chúa tràn đầy viên mãn. Trong hôn ước hôn nhân, anh chị biết sống triệt để mầu nhiệm tự hạ như Đức Kitô, thì hôn ước của anh chị sẽ tràn đầy hạnh phúc, sẽ là dấu chỉ của thực tại nước Trời.
Hôm nay, anh chị được Thiên Chúa mời  gọi ký kết với nhau một hôn ước để trở nên dấu chỉ giao ước giữa Thiên Chúa và loài người, đồng thời chính long trung tín của anh chị trong hôn ước sẽ là một thực tại thể hiện và làm chứng cho giao ước Thiên Chúa đầy lòng viên mãn.
Ước gì mỗi gia đình sống ơn gọi hôn nhân của mình như là một lời minh chứng giao ước trung tín của Thiên Chúa với loài người, của Chúa Kitô với Hội Thánh.
Lạy Chúa, xin Chúa liên kết chúng con bền chặt mãi trong hôn ước mà chúng con ký kết với nhau hôm nay, để muôn ngàn đời chúng con ca ngợi tình yêu Chúa. Xin Chúa chúc lành cho đời sống chúng con, trọn đời trung tín với nhau như Chúa hằng trung tín với Dân Ngài, và xin Chúa cho đời sống chúng con mãi mãi là lời chứng cho tình yêu trung tín bất tận của Ngài.
Xin Chúa cho cuộc đời chúng con trọn vẹn là của nhau và sống cho nhau trong hôn ước chúng con đã ký kết. Amen.

 

HP105: TIỆC CƯỚI CANA: BỮA TIỆC CẢ MỘT ĐỜI NGƯỜI

Thông thường, người ta đến dự tiệc cưới trong vòng một hai tiếng đồng hồ rồi người ta về HP105

Thông thường, người ta đến dự tiệc cưới trong vòng một hai tiếng đồng hồ rồi người ta về. Bữa tiệc cưới cũng chỉ kéo dài trong vài tiếng là xong. Nhưng tiệc cưới Ca na mà Chúa Giêsu và Mẹ người đến tham dự là cuộc Hôn nhân Công giáo của cả một đời người chúng tôi.
Xác tín tính bền vững của Bí Tích Hôn Nhân Công Giáo.
Giữa một thế giới mà con người ta đang yêu thử, sống thử, cưới nhau thử, có con thử, hạnh phúc thử… thì tôi tin rằng, ai đã lãnh nhận Bí tích Hôn Nhân Công Giáo với tất cả lòng thành tín muốn có một gia đình hạnh phúc thật sự, có một tình yêu thật sự, thì họ đã được Thiên Chúa đóng ấn để Hôn Nhân của họ, tình yêu của họ là một sự thật toàn thiện, một sự thật bền vững.
Tôi có nhớ một bài hát, của Nhạc Sĩ Phạm Duy “Con quỳ lạy Chúa trên trời, sao cho con lấy được người con yêu”. Đúng vậy, ai đã thành tâm tìm hạnh phúc gia đình cũng phải “cầu nguyện đến ba lần” để được Thiên Chúa tìm giùm cho người mình yêu, người mình xe tơ kết tóc. Tôi gọi là “Thiên Chúa tìm giùm cho” vì kinh nghiệm của nhiều đôi vợ chồng thánh thiện cho thấy: nếu để tôi tìm, tôi chọn, thì tôi không tìm, không chọn người vợ người chồng mà tôi đang chung sống; và tôi sẽ nhầm lẫn. Chính người bạn đời đang sống với tôi là một quà tặng tuyệt vời của Thiên Chúa. Càng sống lâu bên nhau, tôi càng khám phá ra điều kỳ diệu ấy, mà tôi dám gọi là mầu nhiệm. Tôi thật sự tự do khi chọn đời sống hôn nhân nầy, đồng nghĩa với việc tôi bằng lòng chấp nhận người bạn đời mà “Thiên Chúa tìm giùm cho tôi” - vì tôi đã cầu xin Ngài. “Cho con lấy được người con yêu”, tôi xin là xin như vậy, nhưng tôi thực sự không biết người tôi yêu là ai. Chỉ có Thiên Chúa thượng trí và quan phòng Ngài hiểu rõ. Ngài hiểu cả đời tôi phải yêu ai, còn tôi, chỉ hiểu tình yêu và hạnh phúc theo với thời gian ngắn ngủi tuổi đời tôi thôi thúc.
Rồi khi đã “lấy được người mình yêu”, thì lời nguyện của đôi vợ chồng là – xin phép Nhạc sĩ phạm Duy cho tôi đổi lời- “Con quì lạy Chúa trên trời, sao cho con yêu được người con đã lấy”. “Lấy được người mình yêu” đã khó, nhưng “yêu được người mình đã lấy” thì càng khó hơn. Ai đã sống trong đời sống hôn nhân đều hiểu rõ điều nầy.
Nhưng khó, chứ không phải là không thể. Quả thật, biết bao gia đình công giáo êm ấm hạnh phúc, đã “yêu được” khi biết hy sinh, biết đóng đinh ý nghĩ, lời nói, đôi tay đôi chân của cái riêng mình để hòa mình vào ý nghĩ, lời nói, đôi tay đôi chân của người bạn đời. Họ đã ‘yêu được” và họ đã “được yêu”. Hạnh phúc ấy không tự dưng mà có, vì “sự hy sinh, từ bỏ mình” không dễ gì một ngày một bữa mà họ có được, nhưng chính là nhờ ơn Siêu Nhiên ẩn chứa bên trong Bí tích Hôn nhân Công giáo mà họ đã lãnh nhận. Hôn Nhân Công Giáo bền vững. Hôn nhân thật.
Vì Hôn nhân Công Giáo luôn có sự hiện diện của Chúa Giêsu
Trình thuật tiệc cưới Ca na tuy ngắn gọn với phép lạ đầu tiên Chúa thực hiện trong tiệc cưới “nước hóa thành rượu” nhờ sự can thiệp của Mẹ Maria, nhưng lại là một minh họa cả một cuộc đời hôn nhân, một đời vợ chồng. Chén rượu giao bôi ngày tân hôn nồng nàn lắm, ý vị vô cùng, và cũng ngất ngây hạnh phúc. Đôi bạn đắm mình trong một thế giới mới, thế giới của hòa tan, tinh thần và thể xác; thế giới của mầu nhiệm sáng tạo mà Thiên Chúa đã dọn sẵn trong mỗi tạo vật của Ngài, để nối dài công trình mà Ngài cho là “thật tốt đẹp”. Chén rượu ân tình ấy sẽ phai nhạt theo thời gian. Hạnh phúc vơi dần theo tuổi đời, theo năm tháng. Sự nồng nàn vì hương sắc cũng không còn nữa. Và tình yêu sôi nổi của một thưở ban đầu nhường chổ cho một chuỗi ngày trách nhiệm đầy nhàm chán. Chính Chúa Giêsu, Người thiết lập Bí tích Hôn nhân Công giáo, không chỉ dừng lại ở một định lý bất di bất dịch: “Sự gì Thiên Chúa đã liên kết, loài người không được phân ly”(Mt 19,6), mà còn hơn thế nữa, Người luôn hiện diện trong tình yêu hôn nhân để “biến nước lã thành rượu nồng khi cần thiết”, để giúp cho đôi vợ chồng bảo đảm được tính bền vững của hôn nhân. Điều quan trọng là đôi vợ chồng có còn nhiệt tình, có còn khao khát hạnh phúc ban đầu ấy, có khám phá ra được sự hiện diện kỳ diệu ấy, và tha thiết cầu xin Người trợ giúp. Những gia đình tan vỡ, vì không biết, không muốn kết hợp với ơn trợ giúp của Chúa Giêsu, trong khi Người vẫn còn đó, Người chưa bỏ tiệc ra về.
Và Mẹ Maria là Người Nữ Cứu Hộ Hôn Nhân Công Giáo.
Khi thấy thiếu rượu, Mẹ Maria nói với Chúa Giêsu: “Họ hết rượu rồi” (Ga. 2, 3)… Rồi Đức Mẹ nói với các gia nhân: “Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo”.
Chuyện tiền bạc, dầu mắm, bếp núc, kể cả chuyện rượu bia cho bữa tiệc ngon lành, cũng là chuyện của một phụ nữ đảm đang. Và Mẹ Maria đúng là một phụ nữ đảm đang trong tiệc cưới Cana ấy. Mẹ không còn là khách dự tiệc hôn nhân, nhưng lại là “người cứu hộ hôn nhân” luôn nồng thắm. Thật hạnh phúc cho những gia đình công giáo quây quần bên nhau trước bàn thờ mỗi tối, cùng đọc kinh, lần chuỗi. Tôi vẫn tin rằng các gia đình ấy đang sống hạnh phúc vì luôn có Chúa Giêsu tham dự vào đời sống hôn nhân của họ, nhờ sự can thiệp của Mẹ Maria. Có thể họ biết họ khó giữ nổi lời hứa làm thành Bí tích hôn nhân: “Tôi nhận anh/em làm chồng/vợ và hứa sẽ giữ lòng chung thủy với em khi thịnh vượng cũng như lúc gian nan, khi bệnh hoạn cũng như lúc mạnh khỏe, để yêu thương và tôn trọng em suốt đời tôi”, nên họ đã cụ thể lời hứa ấy: “ tôi hứa sẽ đọc kinh tối sáng với anh/em suốt đời tôi”. Đã có những ông chồng vui mừng cảm ơn vợ: “anh cảm ơn em, nhờ em lần chuỗi cầu nguyện cho anh, nên anh đã kiên trì với vợ con tới phút nầy; nếu không, anh đã sa ngã”. Có người lại nói: “Khi gia đình tôi gặp gian nan khốn khó, chúng tôi thường nhận được những sẻ chia của anh em bè bạn, những lời an ủi động viên, nhưng tôi vẫn thích nhất câu chia sẻ nầy: “Đức Bà Phù Hộ các Giáo Hữu, cầu cho chúng con”.
Để kết
Tôi xin kể chuyện tôi: Tháng 10 năm 1993, cha tôi vào cơn hấp hối suốt 56 ngày đêm, lúc tỉnh, lúc mê. Mẹ tôi ngồi bên giường cha, và hai ông bà lần chuỗi… Cha tôi đọc lúc được, lúc không. Ngày cuối cùng, 20-12-1993, cha tôi bỏ tràng chuỗi Mân côi vào tay mẹ, rồi mất. Tạm kết thúc một đoạn 53 năm Hôn nhân Công giáo ở trần thế nầy. Tôi ghi lại tâm tình ấy trong bài thơ “Di Sản”, xin sẻ chia:
Ông già nói với bà già
Bà ơi tôi sắp phải xa bà rồi
Con thời mỗi đứa một nơi
Nhà thời vắng vẻ mình tôi với bà
Tôi đi bà ở lại nhà
Vui lên! Cứ nghĩ như là có tôi
Ai rồi cũng một kiếp người
Tôi thời cũng vậy bà cười lên đi
Biết rằng tử biệt sinh ly
Cho tôi nói nhỏ lời tri ân bà
Một đời lăn lóc bôn ba
Tôi dành một chút làm quà chia tay
Bà cầm tràng chuỗi nầy đây
Ta cùng hợp xướng từ ngày cưới nhau
Năm mươi hạt ngọc trân châu
Xin làm di sản tôi trao tặng bà
….
Mai kia bà có đi xa
Bà ơi gửi lại làm quà cho con…
Nguyện xin Mẹ Maria “người Nữ Cứu Hộ Hôn Nhân” của các gia đình chúng con, hãy la to lên: “Tiệc hôn nhân của các Gia đình nầy hết rượu rồi”, hoặc Xin Mẹ hãy nói: “ Xin Ngài đổi rượu thật cho các gia đình nầy, họ đang xài toàn rượu giả”.
Xin Mẹ Maria khẩn thiết cho chúng con, vì chúng con khao khát bữa tiệc hôn nhân của chúng con hôm nay, được kéo dài đến bữa tiệc sum họp trên trời.
Cao Huy Hoàng

 

HP106: LỜI KHUYÊN CHO NGƯỜI LÀM CHỒNG, LÀM VỢ

CỦA THÁNH GIOAN KIM KHẨU
 

Thánh Gioan Kim Khẩu có một bài giảng về đoạn Thư của Thánh Phaolô gửi cho tín hữu Êphêsô HP106

Thánh Gioan Kim Khẩu có một bài giảng về đoạn Thư của Thánh Phaolô gửi cho tín hữu Êphêsô 5, 22-24 (Bài giảng số 20 về thư Êphêsô). Bài giảng này có một đoạn chú giải rất hay về đời sống hôn nhân và gia đình. Thánh Gioan Kim Khẩu là giám mục thành Constantinople vào thế kỷ thứ 5, và là một trong những vị giáo phụ vĩ đại của Giáo Hội. Khi viết cuốn «Nền tảng gia đình Kitô hữu», tôi mới khám phá ra ngài có bài giảng này. Tôi nghĩ sẽ có nhiều đôi vợ chồng rất thích lối nhìn của Thánh Kim Khẩu vì nó vừa hay lại vừa vui. Tập sách nhỏ này gồm một số đoạn trích từ bài giảng ấy.
Về hôn nhân
Không có mối tương quan nào giữa người với người lại thân mật cho bằng mối tương quan giữa vợ chồng với nhau - miễn là hai vợ chồng liên kết với nhau đúng như Chúa đã dạy.
Thánh Phaolô nói: «Hỡi những người vợ, hãy tuân phục chồng mình như tuân phục Chúa vậy».Tại sao Ngài lại nói như thế? Bởi vì khi vợ chồng hòa hợp với nhau, thì con cái họ sẽ được giáo dục tử tế, mọi việc trong nhà đâu ra đó; hàng xóm, bạn bè và thân quyến đều được hưởng lây danh thơm tiếng tốt của họ. Nhưng nếu họ không hòa hợp với nhau, thì mọi sự đều bị đảo ngược lại và rất dễ đi đến chỗ hỗn loạn. Cũng tương tự như các tướng lãnh trong quân đội, khi họ hòa thuận với nhau, thì các cấp dưới họ đều qui thuận họ, và quân đội sẽ hùng mạnh; còn trái lại, nếu họ chia rẽ nhau, thì mọi sự đều xảy ra ngược lại. Vì thế, Thánh Phaolô mới nói: «Hỡi những người vợ, hãy phục tùng chồng như phục tùng Chúa».
Khi ăn uống với nhau cùng một bàn, việc chung bàn đó sẽ tạo nên sự nhất trí, đồng lòng với nhau, cho dù những người cùng bàn là bọn ăn cướp, ăn chung với kẻ thù của chúng… Việc chung chăn chung gối cũng tương tự như vậy, nó kéo chúng ta lại với nhau đến nỗi trở thành «một xương một thịt».
Nếu chúng ta tìm kiếm những gì thuộc tâm linh, thì chúng ta cũng được cả những gì thuộc thể chất. «Hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và sự công chính của Ngài trước đã, mọi thứ khác rồi sẽ được ban sau» (Mt 6,33). Bạn thử nghĩ xem, con cái của những bậc cha mẹ như vậy sẽ trở nên hạng người thế nào? Tôi tớ của những ông bà chủ như thế sẽ ra sao? Và tất cả những người khác đến gần họ sẽ trở nên thế nào? Họ sẽ chẳng được vô số người chúc lành cho họ sao? Vì thế, nếu chúng ta sống cho đàng hoàng, đồng thời chăm chỉ học hỏi Kinh Thánh, thì trong mọi chuyện, chúng ta sẽ tìm được trong đó những lời giáo huấn khôn ngoan. Và như vậy, chúng ta sẽ làm đẹp lòng Thiên Chúa, và toàn bộ cuộc sống của chúng ta ở đời này sẽ trôi qua một cách tốt đẹp, đầy đức hạnh, đồng thời Chúa sẽ thực hiện đúng như lời Ngài đã hứa: Ngài sẽ chúc lành cho những ai yêu mến Ngài.
Lời khuyên cho những bậc làm chồng
Các bạn đã nghe nói người vợ phải phục tùng chồng thế nào và người chồng phải yêu thương vợ ra sao. Các bạn có mong vợ mình phục tùng mình như Giáo Hội phục tùng Đức Giêsu không? Nếu thế, bạn hãy lo lắng chăm sóc cho nàng cũng như Đức Giêsu đã chăm sóc lo lắng cho Giáo Hội vậy. Thật vậy, các bạn ai cũng mong muốn vợ mình phục tùng mình: nếu mà được vợ phục tùng, thì cho dẫu có phải hiến dâng cả đời mình cho nàng, cho dẫu thân xác bạn có bị xẻ ra thành ngàn mảnh, hay cho dẫu bạn phải chịu bất kỳ hình khổ nào, bạn cũng sẵn sàng chấp nhận hết.
Người bạn trăm năm của ta, người mẹ của những đứa con ta, chính là nhân tố nền tảng nhất có thể đem đến mọi niềm vui cho ta. Vì thế, ta đừng bao giờ làm cho nàng phải gắn bó với ta bằng cách đe dọa hay làm nàng sợ hãi, mà phải dùng tình yêu và sự dịu dàng mà chinh phục nàng. Nếu khi có mặt người chồng mà người vợ phải run sợ, thì hai vợ chồng đó liên kết với nhau theo kiểu gì vậy? Và nếu người chồng đối xử với vợ theo kiểu «chồng chúa vợ tôi» chứ không như một người bạn ngang hàng với mình, thì cái vui thú mà người chồng hưởng được là thứ vui thú gì vậy? Cho dẫu có phải chịu đựng hay bực bội nàng bất cứ điều gì, ta cũng không nên mắng nhiếc, nhục mạ nàng. Đức Kitô đâu bao giờ có thái độ như vậy!
Chúng ta có thể tìm nơi người vợ sự âu yếm, tính thùy mị và dịu hiền, đó là những đặc trưng của vẻ đẹp. Nhưng chúng ta đừng đòi hỏi nàng phải dễ thương, và cũng đừng trách mắng nàng về điều đó, là điều mà có thể nàng không làm được. Tốt hơn, ta đừng trách mắng nàng gì hết (vì trách mắng như thế có vẻ nghiêm khắc quá!), cũng đừng tỏ ra bực bội hay buồn phiền nàng điều gì. Bạn thấy không: có biết bao nhiêu người, sau khi sống với bà vợ thật đẹp của mình, đã phải trải qua những ngày cuối đời thật buồn thảm, và có biết bao nhiêu người sống với một người vợ không đẹp lắm mà lại được trường thọ và sống thật là hạnh phúc? Chúng ta hãy lau đi những «vết nhọ» tâm hồn, hãy làm cho phẳng những «vết nhăn» tâm hồn, và hãy xóa đi những «nhược điểm» trong tâm hồn chúng ta. Đó mới chính là vẻ đẹp mà Thiên Chúa muốn ta có. Chúng ta hãy làm cho nàng đẹp đẽ dưới con mắt của Thiên Chúa chứ không phải mắt của ta. Chúng ta đừng tìm sự giầu sang, cũng đừng tìm những vẻ sang trọng bề ngoài, mà hãy tìm sự cao thượng đích thực trong tâm hồn.
Một tình yêu cao thượng như thế sẽ đẹp lòng Thiên Chúa, và Ngài muốn chúng ta có một tình yêu cao thượng như thế đối với vợ mình. Yêu cao thượng như vậy không phải vì cả hai vợ chồng có cùng một tính tình như nhau. Không, nền tảng của trách nhiệm đối với vợ mình phải cao thượng hơn thế nhiều, vì chồng và vợ không phải là hai thân thể mà là một: chàng là đầu còn nàng là thân.
«Nhưng làm sao yêu cao thượng như vậy được nếu vợ tôi không kính trọng tôi?»,người ta có thể nói như thế. Không sao, bạn cứ yêu cao thượng như thế đi, và cứ chu toàn bổn phận của mình đi. Bởi vì những gì chúng ta phải làm vì bổn phận đối với người khác, cho dù quan hệ giữa họ với ta không tốt đẹp, thì ta vẫn phải làm bổn phận của ta chứ! … Nhưng làm sao được nếu người kia không chịu tuân phục mình? Bạn cứ tuân theo Luật Chúa… Cho dẫu vợ mình không kính trọng mình, người chồng hãy cứ tỏ ra yêu thương nàng, để mình không bị thiếu xót ở điểm nào cả. Vì mỗi người đều phải chịu trách nhiệm về việc mình làm.
Thánh Phaolô lại dùng lập luận trên - là gương của Chúa Kitô - để chứng tỏ rằng chúng ta không những phải yêu thương mà còn phải biết điều khiển nữa… Bởi vì nếu bạn làm cho nàng nên «thánh thiện không tỳ vết», thì mọi chuyện khác rồi sẽ xuôi chảy… Khôn khéo làm cho vợ mình cảm nhận được rõ rệt tình yêu của mình thì mọi sự trong nhà đều trở nên tốt đẹp.
Nếu chúng ta điều hành được tốt đẹp mọi việc trong nhà, thì chúng ta cũng có thể đảm trách được những công việc điều hành trong Giáo Hội. Vì gia đình chính là một Giáo Hội nho nhỏ (x. Tm 3,4-5).
Bạn hãy chứng tỏ cho vợ mình thấy bạn rất lấy làm hân hạnh được sống với nàng, và vì nàng mà bạn muốn ở nhà với nàng hơn là đi chỗ này chỗ kia. Hãy khen ngợi nàng trước mặt tất cả những bạn bè của bạn, và hãy tỏ ra yêu thương nàng hơn cả những đứa con do nàng sinh ra, và bạn hãy yêu những đứa con này vì chúng chính là con của nàng. Nếu nàng làm được điều gì tốt đẹp, bạn hãy khen ngợi và tỏ ra cảm phục nàng. Nếu nàng làm điều gì sai trái, không hay… bạn hãy khuyên bảo và nhắc nhở nàng… và hãy tiếp tục chỉ bảo cho nàng những điều ích lợi.
Khi nào cầu nguyện thì hai vợ chồng hãy cầu nguyện chung với nhau. Nếu hai vợ chồng cùng đến nhà thờ để cầu nguyện, thì khi về nhà, hai người hãy chia sẻ với nhau những gì mình đã cầu nguyện ở nhà thờ. Nếu chẳng may gia đình lâm vào cảnh túng quẫn, bạn hãy trưng dẫn trường hợp của Phêrô và Phaolô, là những người sống rất nghèo khổ, thường bị đói khát, thế mà các ngài lại được kính trọng hơn bất kỳ vị vua chúa hay người giầu có nào. Hãy cho nàng biết rằng trên trần gian này, ngoài việc làm mất lòng Chúa ra, thì không nên sợ bất cứ điều gì hết.
Hãy chia sẻ với nàng những bài học ấy một cách thật tế nhị và dễ thương, bởi vì khuyên bảo về đức hạnh, tự bản chất, là một việc mang tính cách đúng đắn và quá nghiêm nghị… Bất cứ lúc nào nói về sự khôn ngoan đích thật, bạn hãy cố gắng nói sao cho thật nhẹ nhàng và chan hòa tình cảm.
Và trên hết, hãy giúp nàng bỏ hẳn quan niệm «của anh»,«của em». Nếu nàng nói một vật nào đó là «của em», bạn hãy nói với nàng: «Em nói vật nào là của riêng em vậy? Thật sự anh không biết vật nào là của riêng em. Phần anh, anh không có vật gì là của riêng anh cả. Làm sao em có thể phân biệt được vật nào là “của em” khi mà tất cả mọi thứ đều là của em hết? Nếu anh không có quyền trên thân xác của anh (x. Cr 7,4), thì chính em có quyền đó. Tất cả những gì của anh đều là của em. Thậm chí bản thân anh cũng là của em».
Hãy trọng vọng nàng để nàng khỏi mong được người khác trọng vọng. Nếu nàng vui thích những lời tán dương của bạn, thì nàng không còn khao khát người khác ca tụng nàng nữa. Hãy tỏ ra yêu quí nàng trước mặt mọi người vì nàng được hết mọi mặt, cả về sắc đẹp lẫn trí khôn, và hãy khen ngợi nàng. Nhờ vậy, bạn sẽ làm cho nàng không còn để ý đến ai bên ngoài nữa, và cũng không thèm lưu tâm tới sự chú ý của ai ngoài bạn nữa. Hãy dạy nàng biết kính nể Chúa, rồi mọi sự tốt đẹp sẽ từ sự kính nể đó tuôn ra như một dòng suối, và ngôi nhà của bạn sẽ tràn đầy hạnh phúc.
Lời khuyên cho những người vợ
Khi phục tùng chồng, bạn hãy coi điều đó như một công việc phụng sự Thiên Chúa. Bởi vì nếu người nào chống lại quyền bính ngoài đời, chẳng hạn như chính quyền, người đó cũng «chống lại trật tự của Thiên Chúa» (Rm 13,2). Người vợ nào không chịu tuân phục chồng mình là chống lại trật tự đó còn hơn như thế nhiều. Đó là ý muốn của Thiên Chúa ngay từ khởi thủy.
Chúng ta hãy coi đây là trật tự nền tảng của gia đình: chồng là đầu, còn vợ là thân mình. Người vợ hãy kính nể chồng mình. Người vợ có quyền ở hàng thứ hai. Vì thế, nàng không nên đòi hỏi được bình đẳng về quyền hành với chồng, vì nàng là thân, nên ở bên dưới đầu. Chàng cũng không nên coi nàng như một người bề dưới, bởi vì nàng là thân thể. Nếu cái đầu coi thường thân mình, thì chính nó cũng sẽ bị diệt vong. Người chồng phải yêu thương vợ mình để người vợ có thể phục tùng mình, vì tình yêu là đối trọng phải có nơi người chồng để có được sự tùng phục nơi người vợ. Tương tự như mọi chi thể trong thân đều tuân hành mọi chỉ thị của cái đầu, bù lại, cái đầu hoàn toàn lo lắng cho toàn thân, và coi tất cả, mọi chi thể là chính mình. Cái đầu không bao giờ coi cái thân như một cái gì khác với nó. Không có một sự hiệp nhất nào tốt hơn sự hiệp nhất đó.
Người ta có thể thắc mắc: tình yêu mà có sự kính nể thì còn gì là tình yêu nữa? Tôi cho rằng tình yêu như thế là một tình yêu tốt đẹp. Bởi vì người phụ nữ nào kính nể chồng, thì cũng là yêu chồng. và người nào yêu chồng thì cũng phải kính nể chồng mình như là đầu, và yêu chàng như một chi thể, vì chính đầu cũng là một chi thể của toàn thân nói chung. Vì thế, một người thì phục tùng, còn người kia thì nắm quyền để có thể hòa thuận với nhau, bởi vì gia đình nào mà vợ chồng ngang quyền nhau, thì gia đình ấy không bao giờ có sự thuận hòa được. Cũng vậy, nhà nào mà dân chủ quá, nhà nào mà ai cũng có quyền hành cả, thì nhà đó chẳng bao giờ có hòa thuận. Nhưng quyền điều hành trong nhà chỉ nên dành cho một người đứng đầu mà thôi.
Người vợ mà phải kính nể chồng thì xem ra có vẻ bị thiệt thòi, nhưng thực ra là người có lợi, vì bổn phận chính yếu là yêu thương, thì người chồng phải đảm nhận.
Người vợ phải tỏ ra kính nể chồng mình như thế nào? Người vợ không nên cãi lại chồng mình, không nên chống đối, và cũng không nên ham thích tỏ ra hơn chồng mình.
Nếu bạn muốn pha trò hay đùa giỡn cho vui, bạn nên tránh đừng làm gì khiếm nhã hay vô lễ. Hãy làm cho phòng ngủ của vợ chồng bạn tươi mát, nhưng cũng đừng biến nó thành xa xỉ hay sang trọng quá. Hãy để những thứ xa hoa đó cho những người giầu có quí phái. Chính bạn hãy trang hoàng dọn dẹp nhà cửa cho gọn ghẽ chừng nào có thể, để người trong nhà được hít thở không khí trong lành hơn là thở hít quá nhiều mùi dầu thơm.
--------------------
Dịch từ phần phụ lục của cuốn
«Husbands, Wives, Parents, Children, Foundations for the Christian Family»
củaRalph Martin, Servant Books 1983.

 

HP107: Hôn nhân do trời xe định

Có một câu chuyện kể rằng: có một đứa bé bị trượt chân rơi xuống giếng. Ngay sau đó có hai HP107

Có một câu chuyện kể rằng: có một đứa bé bị trượt chân rơi xuống giếng. Ngay sau đó có hai người đi ngang qua. Người thứ nhất thấy vậy thì lấy làm tội nghiệp, nhưng không biết làm sao hơn vì trong tay chẳng có gì để cứu; mà theo kinh nghiệm cá nhân của ông ta thì mình đôi khi cũng có thể tự cứu mình được nên nói vọng xuống rằng đừng la hét, cứ bình tĩnh rồi từ từ sẽ tự tìm ra giải pháp.
Người thứ hai đi tới thấy vậy thì ra sức tìm tòi sách cổ kim, mãi hồi lâu mới khám phá ra được một cách: "Ê, cứ chịu khó làm sao để khoét vào vách giếng thành bậc thang, rồi bước theo đó mà lên dần dần. Diệu kế đấy."
Nhưng rồi đứa bé loay hoay mãi cũng không thể làm gì khác hơn, chỉ biết khóc hết nước mắt. May hết sức, lúc đó có một người thứ ba nghe thấy tiếng khóc dưới giếng liền đi tới. Người này chẳng kịp nghĩ ra kế gì cả, không cứu gấp thì đứa bé chết mất. Vậy là ông ta đu dây thừng xuống ngay được giếng mà ẵm đứa bé lên. Hú hồn!
Câu truyện này diễn tả phần nào tình thương của Chúa Giêsu. Người đã khởi đi từ những rung cảm, từ những khắc khoải trong tim mỗi người. Ngài không giải thoát con người bằng cách đứng ở xa để dùng quyền năng thượng trí mà cố vấn theo kiểu tâm lý trị liệu, để vạch ra một con đường, để chỉ ngón tay về phương pháp này kia. 
Nhưng Ngài đã tìm cách xuống được giếng, chia sớt được thân phận khổ lụy như bất cứ ai. Ngài đã nhập thể làm người để có thể chia sẻ kiếp người đầy thăng trầm với chúng ta. Ngài cũng trốn chạy tỵ nạn sang Ai Cập, cũng lam lũ vất vả để sinh sống, cũng run sợ trong Vườn Câu Dầu và trên thập giá. Khi thấy có người cảm thương được với mình như vậy, chúng ta sẽ cảm thấy không còn sợ nghi nan, và cuộc đời này thật đáng yêu vì có ai đó cảm thông, nâng đỡ mình. Thật vậy. Đời không còn là bể khổ phi lý nữa, vì chính Đức Kitô là Thiên Chúa đã mang thân xác làm người và nhập thế dựng lều cư ngụ giữa anh em mình. Ngài cũng đã chấp nhận cái chết, để khi sống lại, Ngài mở cửa Trời đi vào vĩnh cửu, cho con người mọc cánh có thể “cất nổi mình mà bay” cao tới vô hạn, chứ không mang nỗi tuyệt vọng về kiếp người:
Em như con hạc đầu đình
Muốn bay không cất nổi mình mà bay.
Tình yêu đến quên cả bản thân mình, Thật hạnh phúc cho những ai tìm được tình yêu quên mình của người bạn trăm năm, dám dâng hiến trọn cuộc đời cho người mình yêu được hạnh phúc. Đó là tình yêu không toan tính thiệt hơn. Đó là tình yêu tinh ròng, không vụ lợi nhưng luôn biết sống vì lợi ích người mình yêu.
Hôm nay cũng là ngày thành hôn của hai bạn  . .  .. Hai bạn yêu nhau nên không còn đứng ở ngoài cuộc đời nhau. Hai bạn muốn sống chung với nhau một mái nhà, cùng chia sẻ mưa nắng trong cuộc đời. Cùng dìu dắt nhau qua những thằng trầm của dòng đời. Cùng nâng đỡ nhau vượt qua những gian nan. Có thể nói: Hai con người nhưng một cuộc đời. Hai con người xa lạ nhưng dường như đã gắn bó với nhau từ bao giờ. Vì chỉ có hai con người này mới xứng đôi vừa lứa với nhau. Vì chỉ có hai con người này mới tâm đầu ý hợp với nhau. Hai bạn đã chọn nhau hay Thiên Chúa đã chuẩn bị trước từ bao giờ? Để bây giờ hai bạn gắn bó với nhau đến nỗi không còn là hai mà là một đôi vợ chồng, một gia đình trước mặt mọi người. Vâng, chính bàn tay quan phòng của Thiên Chúa chuẩn bị sẵn cho hai bạn gặp nhau. Đó cũng là ý tưởng thật gần gũi, thân thương mà nhà thơ Đỗ Trung Kiên đã diễn tả qua bài thơ Đôi dép. Bài thơ này anh viết tặng người bạn đời đã hy sinh. Anh cảm thấy rằng: không ai có thể thay thế cho người bạn trăm năm mà trời đã xe định. Vì thế mọi thay thế sẽ trở thành khặp khiễng, và vô duyên. Bài thơ được diễn tả như sau:
Bài thơ đầu Anh viết tặng Em,
Là bài thơ Anh viết về đôi dép.
Khi nỗi nhớ trong lòng da diết.
Những vật tầm thường cũng viết thành thơ.
Hai chiếc dép kia gặp gỡ từ bao giờ.
Có yêu nhau đâu mà chẳng rời nửa bước?
Cùng gánh vác những nẻo đường xuôi ngược,
Lên thảm nhung xuống cát bụi cùng nhau.
Cùng bước, cùng mòn, không kẻ thấp người cao
Cùng chia xẻ sức người chà đạp.
Dẫu vinh nhục không đi cùng người khác.
Số phận chiếc này phụ thuộc ở chiếc kia.
Nếu ngày nào một chiếc dép mất đi.
Mọi thay thế sẽ trở thành khập khiễng.
Giống nhau lắm nhưng người đi sẽ biết,
Hai chiếc này không phải một đôi đâu.
Cũng như mình trong những lúc vắng nhau,
Bước hụt hẫng cứ nghiêng về một phía.
Dẫu bên cạnh vẫn có người thay thế,
Mà trong lòng nỗi nhớ cứ chênh vênh
Đôi dép vô tư khắng khít bước song hành,
Chẳng thề nguyền mà không hề giả dối,
Chẳng hứa hẹn mà không hề phản bội,
Lối đi nào cũng có mặt cả đôi,
Không thể thiếu nhau trong những bước đường đời,
Dẫu mỗi chiếc ở mỗi bên phải trái.
Nhưng Anh yêu Em bởi những điều ngược lại,
Gắn bó đời nhau bởi một lối đi chung,
Hai mảnh đời thầm lặng bước song song,
Sẽ dừng lại khi chỉ còn một chiếc,
Chỉ một chiếc là không còn gì hết,
Nếu không tìm được chiếc thứ hai kia.
      Đôi dép là vậy, còn tinh nghĩa vợ chồng thì sao? Cha ông ta vẫn đề cao sự trung thuỷ vợ chồng, cho dù có phải trải qua những gian truân vất vả, những khó khăn trắc trở, nhưng vẫn phải trung thành với nhau, vì
      “Tay bưng bát muối chấm gừng
      Gừng cay muối mặn xin đừng bỏ nhau”.
      Vì thế, hôm nay ngày thành hôn, chúng ta hãy cùng nói lại với nhau điều thề ước luôn trung thành với nhau cho đến trọn đời: 
      “Lời thề chứng có non có nước
      Vàng tan ngọc nát vẫn còn thương nhau”
      Cầu chúc hai bạn luôn chung đôi với nhau suốt cuộc đời. Nguyện xin Chúa là Đấng Emmanuel ở cùng gia đình hai bạn và chúc phúc cho tình yêu hai bạn mãi trung tín với nhau và cùng nâng đỡ, dìu dắt nhau qua những thăng trầm giòng đời. Cầu chúc hai bạn được trăm năm hạnh phúc.
Lm.Jos Tạ Duy Tuyền

 

HP108: THỨ THA & HÒA GIẢI TRONG GIA ĐÌNH KITÔ HỮU

I. NHẬP ĐỀ
 

Trong Thư Mục vụ ngày 11.10.2002 về Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng Giám mục Việt Nam đã HP108

Trong Thư Mục vụ ngày 11.10.2002 về Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng Giám mục Việt Nam đã nêu lên những nét đẹp truyền thống của gia đình Việt Nam như sau:
“Nói đến gia đình Việt Nam, người ta nghĩ ngay tới một nề nếp gia phong rất gần gũi với giáo lý đức tin. Gia đình ấy coi chữ HIẾU làm đầu nên rất sẵn sàng đón nhận ánh sáng Phúc Âm, trong đó điều răn phải thảo kính cha mẹ được xếp ngay sau ba điều răn qui định việc thờ phượng Thiên Chúa. Gia dình ấy xem chữ TÍN làm trọng nên dễ dàng gặp thấy nơi điều răn thứ sáu và thứ chín tiếng nói chung nhằm bảo vệ đời sống hôn nhân một vợ một chồng bất khả phân ly. Gia đình ấy gồm có ông bà cha mẹ con cái trên THUẬN dưới HÒA trong một mái nhà đầm ấm, được xem như một môi trường tự nhiên thuận lợi cho việc phát triển đức tin, nhất là cho việc xưng tụng Thiên Chúa là Cha và coi mọi người như anh chị em.” (Số 2).
Thế nhưng trong thực tế không phải gia đình công giáo nào cũng thể hiện được những nét đẹp vừa đậm đà bản sắc dân tộc vừa thấm nhuần tinh thần Kitô giáo. Trở ngại lớn nhất là sự bất hòa và xúc phạm thường xẩy ra trong gia đình: giữa vợ và chồng, giữa cha mẹ và con cái.
Vậy chúng ta thử hỏi: (1) Do đâu mà thường xẩy ra bất hòa và xúc phạm trong gia đình? (2) Tại sao những người trong gia đình Kitô hữu phải thứ tha và hòa giải với nhau? Thứ tha và hòa giải với nhau sẽ đem lại lợi ích gì? (3) Để thứ tha và hòa giải trong gia đình Kitô hữu, cần có những điều kiện gì?

II. TRÌNH BÀY
1. Nguyên nhân gây bất hòa và xúc phạm trong gia đình.
Có nhiều nguyên nhân dẫn tới bất hòa và xúc phạm trong gia đình. Có nguyên nhân gần và nguyên nhân sâu xa. Nguyên nhân gần là do giữa vợ và chồng, giữa cha mẹ và con cái có nhiều cái khác nhau về tuổi tác, tính tình, sở thích, tập quán, cảm nhận, sức khỏe, áp lực của trách nhiệm và công việc. Nguyên nhân sâu xa là do giới hạn tự nhiên “nhân vô thập toàn” của con người và do hậu quả của tội nguyên tổ, khiến mỗi người đều có những giới hạn, yếu đuối và tội lỗi trong đời sống nhân linh.
2. Lý do và kết quả của sự thứ tha và hòa giải trong gia đình Kitô hữu.
2.1 Lý do tại sao phải thứ tha và hòa giải giữa những người trong gia đình và kết quả của việc thứ tha và hòa giải, xét về mặt tự nhiên, là một cuộc sống thuận hòa đem lại hạnh phúc, bình an và thành công cho gia đình. Ca dao Việt Nam có câu:
“Vợ chồng là nghĩa Tào Khang,
Chồng hòa vợ thuận nhà thường yên vui,

Sinh con mới ra thân người,
Làm ăn thịnh vượng đời đời ấm vui”
Hay “Thuận vợ thuận chồng, tát Bể Đông cũng cạn”
2.2 Còn xét về mặt siêu nhiên, thì gia đình thuận hòa, đầm ấm là điều mà Thiên Chúa mong muốn cho con người. Trong Tám Mối Phúc mà Chúa Giêsu công bố trong bài giảng trên núi, thì đã có những Bốn Mối Phúc có liên quan tới cuộc sống thuận hòa ấm êm giữa người với người ở trong gia đình cũng như ngoài xã hội:
“Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó, vì Nước Trời là của họ. Phúc thay ai hiền lành, vì họ sẽ được Đất Hứa làm gia nghiệp. Phúc thay ai xót thương người, vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thươngï. Phúc thay ai xây dựng hòa bình, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa.” (Mt 5,3-4.7.9).
Hơn nữa trong Kinh Lạy Cha, chúng ta “xin tha tội cho chúng con, như chúng con cũng tha cho những người có lỗi với chúng con.” (Mt 6,12), có nghĩa là việc chúng ta thứ tha cho những người mắc lỗi, xúc phạm đến chúng ta là điều kiện để chúng ta được Thiên Chúa tha thứ tội lỗi, yếu hèn và phản bội xúc phạm đến Người.
3. Các điều kiện cần có để thứ tha và hòa giải trong gia đình Kitô hữu.
3.1 Muốn có sự thứ tha và hòa giải trong gia đình thì trước tiên, xét về mặt tự nhiên, chúng ta phải có:
(1) Lòng yêu thương chân thực:
“Yêu nhau trăm sự chẳng nề,
Dù trăm chỗ lệch cũng kê cho bằng”
”Thương thì củ ấu cũng tròn,
Không thương quả bồ hòn cũng méo”
(Củ ấu vốn méo còn quả bồ hòn vốn tròn)
(2) Sự nhường nhịn lẫn nhau:
“Chồng giận thì vợ bớt lời,
Cơm sôi nhỏ lửa mấy đời mà khê”
Hay “Chồng giận thì vợ bớt lời,
Chồng giận vợ giận thì dùi nó quăng”
Hay “Chồng giận thì vợ làm lành,
Miệng cười hớn hở thưa anh giận gì?
Thưa anh, anh giận em chi?
Muốn cưới vợ lẽ, em thì cưới cho”
(Câu cuối chỉ là kế hoãn binh để chồng bớt giận, bớt nóng mà thôi)
3.2 Còn về mặt siêu nhiên thì chúng ta cần có
(1) Tâm hồn khiêm nhường, tinh thần hy sinh, lòng bao dung quảng đại, và nhất là Đức Ái Kitô giáo:
“Đức Ái thì nhẫn nhục, hiền hậu, không ghen tương, không vênh vang, không tự đắc, không làm điều bất chính, không tìm tư lợi, không nóng giận, không nuôi hận thù, không mừng khi thấy sự gian ác, nhưng vui khi thấy điều chân thật. Đức Ái tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, chịu đựng tất cả” (1 Cr 13,4-7).
(2) Nỗ lực sống theo Phúc Âm:
“Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó, vì Nước Trời là của họ. Phúc thay ai hiền lành, vì họ sẽ được Đất Hứa làm gia nghiệp. Phúc thay ai xót thương người, vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương. Phúc thay ai xây dựng hòa bình, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa.” (Mt 5,3-4.7.9).
(3) Đời sống cầu nguyện: sẽ đem lại cho chúng ta sức mạnh để chúng ta vượt thắng chính mình. Trong Kinh Lạy Cha, chúng ta “xin tha tội cho chúng con, như chúng con cũng tha cho những người có lỗi với chúng con.” (Mt 6,12), có nghĩa là việc chúng ta thứ tha cho những người mắc lỗi, xúc phạm đến chúng ta là điều kiện để chúng ta được Thiên Chúa tha thứ tội lỗi, yếu hèn và phản bội xúc phạm đến Người.
(4) Siêng năng đón nhận các Bí tích nhất là Bí tích Thống Hối Hòa Giải và Thánh Thể. Bí tích Thống Hối Hòa Giải chẳng những sẽ xóa tan mọi tội lỗi và đem lại bình an thâm sâu cho tâm hồn chúng ta mà còn cho chúng ta cơ hội cảm nghiệm lòng thương xót bao la của Thiên Chúa đối với mỗi người đầy tội lỗi và yếu hèn. Chỉ khi nào chúng ta cảm nghiệm sâu sắc về tình thương tha thứ ấy của Thiên Chúa, chúng ta mới dễ dàng tha thứ cho vợ hay chồng, cho cha mẹ hay con cái của mình. Còn Bí tích Thánh Thể sẽ đưa chúng ta vào mối hiệp thông yêu thương với Thiên Chúa và với tha nhân, trước hết là với những người thân trong gia đình của chúng ta.

III. KẾT LUẬN
Một gia đình yêu thương đầm ấm là Thiên Đường dưới thế. Một gia đình bất hòa, chia rẽ, ghen ghét nhau thì quả là địa ngục trần gian. Ai cũng muốn sống trong Thiên Đường và chẳng ai thích sống trong địa ngục. Cho nên điều tối quan trọng là làm thế nào để gia đình mình thành Thiên Đường dưới thế. Việc ấy không vượt quá khả năng của chúng ta, miễn chúng ta biết tận dụng những điều kiện thuận lợi tự nhiên và những ơn trợ lực siêu nhiên mà Thiên Chúa TÌNH YÊU sẵn sàng ban cho chúng ta.

IV. CHIA SẺ
1. Trong đời sống gia đình, ông bà anh chị đã giải quyết những lần xẩy ra bất hòa, xung khắc, xúc phạm như thế nào? Hãy chia sẻ kinh nghiệm với các gia đình khác.
2. Từ kinh nghiệm sống của gia đình mình, ông bà anh chị thấy những yếu tố nào là quan trọng nhất để có thể thứ tha và hòa giải trong gia đình? Hãy chia sẻ đúc kết kinh nghiệm ấy với các gia đình khác.

V. THỰC HÀNH
Mỗi người, mỗi cặp vợ chồng, mỗi gia đình chọn một hai việc cụ thể về thứ tha và hòa giải làm quyết tâm thực hành trong tuần, trong tháng.

 

HP109: Tạo dựng hạnh phúc

Có lẽ không một ai trong chúng ta lại không muốn cho mình được hạnh phúc. Ý muốn ấy, vì HP109

Có lẽ không một ai trong chúng ta lại không muốn cho mình được hạnh phúc. Ý muốn ấy, vì những liên hệ này, liên hệ kia của chúng ta, nó còn tràn lan sang cả những người mà chúng ta có liên hệ nữa. Thử hỏi những người đang có mặt ở đây hôm nay, có ai lại không muốn cho đôi tân hôn này được hạnh phúc không ?
 Nhưng người muốn hạnh phúc nhất hôm nay, phải nói là đôi tân hôn. Ước muốn trên đây của chúng ta thật là chính đáng.
Tuy nhiên chúng ta cũng cần phải xác định ngay với nhau rằng, hạnh phúc không phải là thứ mà chúng ta chỉ cần ngồi không ở đó ước muốn, là nó sẽ đến với chúng ta đâu, mà chúng ta phải đi tìm kiếm nó, phải dầy công vun xới và xây dựng nó. Nói cách khác hạnh phúc đòi chúng ta phải trả giá.
Trong ngày lễ thành hôn hôm nay của....tôi xin nêu lên những cái gíá mà chúng ta phải trả để có thể có được hạnh phúc.
Ðể giúp chúng ta hình dung một cách cụ thể vấn đề chúng ta nóí với nhau ở đây, tôi xin mượn hình ảnh của một cành hồng. Một bông hồng được ngắt ra khỏi cành rồi, hẳn chúng ta sẽ thấy giảm đi vẻ kiều diễm của nó. Nhưng khi nó còn gắn liền với cành thì cành hồng lại có gai. Những cái gai hồng, xét về mặt mỹ quan, có lẽ chẳng có gì là đẹp ca,í mà còn gây khó khăn cho chúng ta nữa. Nhưng xét về mặt ý nghĩa thì những gai hồng quả là cần thiết.
Ở đây chúng ta có thể so sánh bông hồng với hạnh phúc mà chúng ta đang đi kiếm tìm, và những gai hồng là những gíá mà chúng ta phải trả để có được hạnh phúc. Vậy những giá đó trong đời sống vợ chồng là những gì ?
+ Trước hết là phải biết dừng.
Streart Mill đã chia sẽ kinh nghiệm này cho chúng ta qua câu nói bất hủ của ông. Ông nói :" Tôi đã tạo hạnh phúc cho tôi bằng cách hạn chế, chứ không phải bằng cách thỏa mãn".
Trong đời sống vợ chồng, có biết bao nhiêu những điều mà chúng ta phải biết dừng. Một cuộc tranh luận về quan điểm này quan điểm nọ của vợ chồng, có thể đi đến chỗ gây những bất hoà nặng nề. Những lúc đo,à những lúc mà vợ chồng phải biết dừng. Vấn đề cũng tương tự như thế trong việc tiêu xài ăn uống và ngay cả vấn đề chăn gối nữa. Ðó là những hy sinh mà chúng ta có thể coi là những giá mà vợ chồng phải trả, để có được hạnh phúc gia đình. Gọi đó là những giá mà vợ chồng phải trả, bởi vì để có thể dừng lại trước những sự việc như thế, đòi hỏi vợ chồng phải hy sinh. Những hy sinh đó ít nhiều gì, cũng làm cho chúng ta cảm thấy xót xa. Chúng cũng không khác gì những cái gai trong một cành hồng. Muốn hái được bông hồng, chúng ta phải chấp nhận việc bị gai hồng đâm.
+ Giá thứ hai mà vợ chồng phải trả để có được hạnh phúc đó là phải biết quên. Trong đời sống vợ chồng, có biết bao nhiêu những điều mà vợ chồng phải cố gắng mà quên đi cho nhau. Những lỗi lầm của nhau, những khác biệt về tính tình tập quán, những cách đối xử không được đẹp với nhau màlỡ đả xảy ra, nhất là trong những lúc không làm chủ được chính mình, đặc biệt là những lỗi lầm trong quá khứ của nhau.tất cả những thứ đó là những thứ mà vợ chồng phải quên đi cho nhau, hay nói theo từ của Phúc Âm, là phải tha thứ cho nhau. Không quên hay không tha thứ cho nhau những thứ như thế, thì không những là không bác ái với người bạn đời của mình và cũng không bác ái với chính bản thân mình nữa. Nói như thế là bởi vì, người mà không quên đi được những lỗi lầm của người khác, là người luôn hành hạ chính mình. Ðối với những người như thế, nỗi đau vì những xúc phạm, những lỗi lầm của người khác sẽ cứ dày vò ho, làm cho họ phải khổ sở. Chúng cũng giống như những vết thương không được chữa trị nên cứ rỉ máu và làm cho người có nó phải khổ sở.
+ Giá thứ ba phải trả để có hạnh phúc gia đình đó là biết nhớ. Nếu trong đời sống gia đình đã có những điều phải quên như vừa nói ở trên, thì nó cũng có những điều mà vợ chồng phải nhớ. Những ngày sinh nhật của nhau, những ngày bổn mạng, những kỷ niệm của nhau, những ngày giỗ kỵ của gia đình nhau ..tất cả là những điều mà vợ chồng phải nhớ và nhất là phải làm sao cho việc nhớ đó, thể hiện một cách cụ thể cho người bạn đời của mình thấy. Nhiều người quan niệm rằng, đó là những việc nhỏ nhoi không quan trọng. Nhưng nghĩ như thế là quên rằng, những sợi chỉ mầu thật nhỏ, nhỏ li ti. Nhưng thiếu nó nhiều khi làm cho bức thêu mất đi rất nhiề vẻ mỹ quan.
+ Giá thứ tư mà vợ chồng phải trả để có thể có được hạnh phúc gia đình, đó là phải biết chờ đợi. Không ai mà lại không cảm thấy khó chịu, buồn nản khi phải chờ đợi. Thế nhưng trong đời sống vợ chồng chúng ta không thể thiếu đi yếu tố kiên nhẫn này được. Chờ đợi một bữa cơm sau khi đi làm về, chờ đợi cho vợ sửa soạn đánh phấn tô son trước khi đi dự một cuộc họp mặt, chờ đợi cho người chồng ngồi vui với bạn bè trong một bữa tiệc ở nhà, chờ đợi cho người chồng làm xong một công việc đang làm dở dang, đang khi bữa cơm đã dọn lên sẵn sàng .tất cả là những sự chờ đợi có giá trị đối với hạnh phúc của gia đình.
Trên đây là những giá mà những người sống trong bậc gia đình cần phải trả, để có thể mua được hạnh phúc cho gia đình.
Mọi ngưởi có mặt hôm nay ở đây, cầu chúc cho đôi tân hôn
                            + Biết dừng khi cần phải dừng
                            + Biết quên những gì cần phải quên
                            + Biết nhớ những gì cần phãi nhớ
                            + Biết chờ đợi những gì cần chờ đợi.
Như thế chắc chắc gia đình của anh chị sẽ được hạnh phúc.

 

HP110: TÌNH YÊU MÃNH LIỆT HƠN SỰ CHẾT

(Dc.8,6)
 

Trong lịch sử Việt Nam, có lẽ không có cuộc hôn nhân nào nhiều sóng gió cho bằng cuộc hôn HP110

Trong lịch sử Việt Nam, có lẽ không có cuộc hôn nhân nào nhiều sóng gió cho bằng cuộc hôn nhân giữa Cựu Hoàng Bảo Ðại và Hoàng Hậu Nam Phương.
Trong một trang hồi ký, Cựu Hoàng Bảo Ðại cho biết : "Sau khi về nước (1932) trong triều đã bàn tán sôi nổi chuyện nạp phi cho tôi. Thái Hậu và các Thượng quan mỗi người đều chuẩn bị tiến dẫn một ái nữ mà họ cho là xứng đáng nhất. Tôi đã thoáng thấy sóng gió về chuyện này"
Các tư liệu, báo chí cho biết, Cựu Hoàng đã phải vất vả đương đầu với những tục lệ, về nếp sống của triều đình trong vấn đề hôn nhân. Ông đã quyết tâm dẹp bỏ tục đa thê lâu đời ở Việt Nam, nhất là trong triều đình. Ông đã làm cho nhiều hào phú, đại quan thất vọng., làm cho cố đô và cả nước xôn xao khi đơn phương chọn lựa và công bố HOàng Hậu tương lai là cô Marie Thérèse Nguyễn Hữu Thị Lan, một bạn học cũ ở Pháp, ngang tầm trình độ văn hoá với ông, ái nữ của Quận Công Nguyễn Hữu Hào, một người Công Giáo.
Lời công bố như một tiếng sét. Bà Từ Cung, các ông TỨ Trụ triều đình bàn cãi sôi nổi, vì đây không phải là vấn đề cá nhân nhà vua, mà là vấn đề sơn hà xã tắc.
Ai cũng biết, người Công GIáo là phải chấp nhận lề thói của đạo, con cái sẽ theo đạo mẹ và được giáo dục theo đường lối Công GIáo.
Như vậy sau này Thái Tử lên kế vị sẽ ra sao ?
Vấn đề gay go biết chừng nào ! Nhưng trước sức mạnh của tình yêu, Vua Bảo Ðại đã giữ vững được ý định lúc ban đầu, không áp lực nào lay chuyển nổi.
Hôn lễ đã được tổ chức rất long trọng vào ngày 20/03/1934 với lời cam kết công khai: chỉ có một vợ một chồng, chung thủy với nhau cho đến chết. HOàng hậu được tự do hành đạo, các con sinh ra sẽ theo đạo Công GIáo và được giáo dục theo tôn chỉ của đạo.
Ðây là chuyện chưa tùng có trong các triều vua chúa tại Việt Nam.
Sau khi cưới, nhà vua liền hạ sắc tấn phong Hoàng Hậu cho cô Marie Thérèse Nguyễn Hữu Thị Lan, bất chấp truyền thống "tứ bất lập" của Triều Nguyễn, lại còn ban thêm một sắc chỉ cho phép cô được mặc áo mầu vàng cam (mầu chỉ dành cho hoàng đế).
Nhà vua và hoàng hậu đã sinh được 5 người con, 2 trai và 3 gái. Cuộc sống của ông bà vào thời Nguyễn mạt có nhiều biến động. Nhưng tài liệu cho biết, cựu hoàng Bảo Ðại đã giữ cam kết của mình, để bà Nam Phương được tự do hành đạo, cho các hoàng tử và công chúa được rửa tội và giáo dục theo đạo Công Giáo. Chính HOàng hậu cũng đã tỏ ra là một dâu thảo, mẹ hiền, khiến cho Từ Cung thái hậu và cả triều đình không chê trách được điều gì.
Nói tới hôn nhân là nói tới tình yêu. Bởi vì tình yêu chính là nền tảng của gia đình. KHông có tình yêu, không thể có hôn nhân đích thực được.
Tuy nhiên tình yêu ở đây phải phù hợp với Chúa là tình yêu.
Vậy tình yêu thế nào là tình yêu phù hợp với Chúa ?
MộĴ nguyên tắc để giúp chúng ta đoán định đó là: Tất cả những gì trái với luật Chúa thì không thể là tình yêu đích thực được.
Tình yêu đích thực có một sức mạnh không ai lường được.
Cẳng thế mà ca dao của Việt Nam chúng ta đã có câu :

                   Yêu nhau tam tứ núi cũng trèo,
                    thất sông cũng lội,
                    cửu thập đèo cũng qua.
Sách diễm ca mà chúng ta nghe trong bài đọc I hôm nay thì cho biết; "Tình yêu mạnh hơn sự chết"
Mối tình của Cựu Hoàng Bảo Ðại với cô Nguyễn Hữu Thị Lan có lẽ cũng cho chúng ta thấy phần nào sức mạnh của tình yêu.
-Vì yêu mà sãn sàng đương đầu với mọi khó khăn do triều đình gây ra.
-Vì yêu mà Bảo Ðại đã chấp nhận cho hoàng hậu tự do hành đạo và cho con cái được theo đạo và giáo dục theo Công Giáo.
-Vì yêu mà chấp nhận giữ hai đặc tính của hôn nhân Công Giáo, đó là Ðơn hôn và bất khả phân ly.
Ðiều đáng nói nhất nữa là các vị vua trước của nhà Nguyễn là những người bắt đạo khét tiếng, nhưng tới ông vua cuối cùng thì lại chấp nhận chung sống với người có đạo.
Có lẽ đây là một mầu nhiệm của tình thương của Thiên Chúa. Ngài như muốn tạo cơ hội để cho triều đại nhà Nguyễn sửa lại phần nào sự hiểu lầm đã gây nên bao đau thương cho những người Công Giáo Việt Nam.

 

HP111: KỶ NIỆM HÔN PHỐI TẠI GIÁO XỨ CHÍ HÒA

CHÚA NHẬT XXIII THƯỜNG NIÊN
1. Anh chị em rất quý mến,
 

Hôm nay chúng ta cử hành Thánh lễ Chúa Nhật XXIII thường niên. Theo ý muốn tốt lành của HP111

Hôm nay chúng ta cử hành Thánh lễ Chúa Nhật XXIII thường niên. Theo ý muốn tốt lành của cha sở, giáo xứ Chí Hòa mừng kỷ niệm cho 142 đôi hôn phối, nhân dịp kết thúc năm tân Phúc Âm hóa gia đình. Xin Thiên Chúa chúc lành cho buổi cử hành của chúng ta. Hãy để cho ánh sáng Lời Chúa chiếu giọi trên Cộng đoàn phụng vụ và trên mỗi người chúng ta.

2. Lời Chúa trong thư Thánh Phaolô gởi tín hữu Rôma dạy chúng ta “chớ mắc nợ nhau điều gì ngoài ra Tình thương mến”. Tình thương là món nợ không bao giờ trả hết: nợ tình, nợ nghĩa, nợ yêu thương là những món nợ được ghi đậm nét trong tâm hồn chúng ta; vì Thiên Chúa tạo dựng chúng ta theo hình ảnh của Ngài. Thiên Chúa là Tình Yêu (1Ga 4,8), ai yêu thương thì được sinh ra bởi Thiên Chúa và giống Thiên Chúa. Ai không yêu thương thì không biết Thiên Chúa, vì không được sinh ra bởi Thiên Chúa, không giống Thiên Chúa. Ai không yêu thương thì giống “thần dữ”, gần với thần dữ, vì thần dữ không yêu mến ai bao giờ.

3. Chúng ta được mời gọi yêu mến Thiên Chúa hết lòng, hết linh hồn, hết sức lực, hết trí khôn, đồng thời được mời gọi yêu mến người khác như chính mình. Mọi người đều là anh chị em của chúng ta, con cùng Cha trên trời. Theo Phaolô, Yêu thương là chu toàn tất cả lề luật. Vậy thì có gì khó đâu, phải không anh chị em? Nhưng thực tế thì khác, mọi người chúng ta đều bị ma quỷ cám dỗ cách này hay cách khác! Đừng sợ chúng, vì chúng không làm gì được ta, nếu trong cuộc đời ta có Chúa, trong lòng ta có Chúa. Chúa Giêsu vẫn hiện diện ở giữa chúng ta, như lời Người hứa trong bài Phúc Âm Thánh Mátthêu: “Ở đâu có hai hoặc ba người tụ họp nhân danh Thầy, thì Thầy ở giữa những người ấy” (Mt 18,20). Mà Chúa là nguồn vui của chúng ta, nên ở đâu có Chúa, ở đó có hạnh phúc, có thiên đàng.

4. Chúng ta không sợ thần dữ, nhưng vẫn phải cảnh giác, như lời Chúa dạy trong đoạn trích sách tiên tri Êdêkien: “Ta đã làm cho ngươi trở nên người lính canh” (Ed 33,7). Trong đời sống hôn nhân gia đình, có những lúc anh chị em bị cám dỗ hay thử thách dữ dội. Người chồng đôi lúc bị cám dỗ nặng nề, nhất là khi không còn nhận ra vẻ đẹp của vợ mình nữa, và gặp một người nữ khác hấp dẫn hơn. Người vợ cũng vậy, chứ không phải riêng gì người chồng. Chính vì thế mà Thánh Phaolô nhắc nhở “chớ ngoại tình”! (Rm 13,9) Cám dỗ khác, cũng mạnh không kém là cám dỗ về tiền bạc, của cải đời này. Của cải vật chất có sức mê hoặc lòng người rất lớn! Phaolô dạy “chớ mê tham” (Rm 13,9), vì tham lam tiền bạc quá đáng, sẽ làm đổ vỡ tình yêu, tan nát gia đình. Chúa Giêsu thường nhắc nhở các môn đệ: không ai có thể làm tôi hai chủ, nếu tôn thờ chủ này, thì phải coi thường chủ kia. Không thể nào vừa tôn thờ Thiên Chúa, vừa tôn thờ “tiền bạc”. Cám dỗ thứ ba trong đời sống gia đình, nhất là trong cuộc đời của những người trẻ, vì yếu đuối mà có những giây phút lỡ lầm, là cám dỗ giết thai nhi vô tội còn trong bụng mẹ, để bảo vệ danh dự của mình và gia đình. Thánh Phaolô dạy “chớ giết người”! (Rm 13,9)

5. Khi ngỏ lời với một số gia đình trẻ mới cưới, Đức Thánh Cha Phanxicô rất thực tế, ngài nói: “các con thật là can đảm, khi dấn thân lập gia đình! Thật là một dấn thân quý báu để làm chứng cho Thiên Chúa Tình Yêu. Người công giáo tin Thiên Chúa là Tình Yêu, nhưng ai có thể làm chứng cho chân lý vĩ đại và vĩnh hằng này, nếu không phải là những “gia đình công giáo đạo đức”. Những gia đình này có thể làm tỏa sáng Tình Yêu của Thiên Chúa trước mặt mọi người. Nhìn vào cuộc đời của một số ông bà, cha mẹ, anh chị em, con cháu; nhìn vào hạnh phúc của những đôi vợ chồng, người ta có thể nhận ra Tình Yêu của Thiên Chúa.

6. Nhưng nếu có ai, đang hiện diện, hoặc có bạn bè gặp khó khăn trắc trở trong đời sống gia đình, sống trong buồn phiền và thất vọng, xin đừng tuyệt vọng, và bảo họ đừng tuyệt vọng, nhưng hãy trông cậy vào Thiên Chúa giàu lòng thương xót. Tình Yêu của Thiên Chúa khỏa lấp muôn vàn tội lỗi. “Trông cậy như thế, chúng ta sẽ không phải thất vọng, vì Thiên Chúa đã đổ tràn Tình Yêu của Ngài vào lòng chúng ta, nhờ Thánh Thần mà Ngài đã ban cho ta” (Rm 5, 5).

7. Lòng thương xót đó, Chúa thể hiện trong lòng Giáo hội và qua Giáo hội: “những gì các con cầm buộc dưới đất thì trên trời cũng cầm buộc, và những gì các con tháo gở dưới đất, thì trên tòi cũng tháo gỡ” (Mt 16,19). Chúa Thánh Thần vừa là Ngôi Vị Tình Yêu, vừa là Quà tặng của Chúa Kitô Phục Sinh cho Giáo hội, khi ngài hiện ra với các Tông đồ và trao sứ vụ Cứu Thế của Người cho họ: “Như Chúa Cha đã sai Thầy, Thầy sai anh em… Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần” (Ga 20, 21-22). Chúa Thánh Thần cũng chính là “Ơn Cứu Độ”, “Ơn Tha tội” của Thiên Chúa, là Tình Yêu và là Niềm Vui trong lòng Thiên Chúa.

Nhà thờ Chí Hoà, thứ Bảy ngày 06.09.2014

+ Phaolô BÙI VĂN ĐỌC
Tổng Giám mục Tổng Giáo phận Sài Gòn

 

HP112: Ơn gọi đời sống hôn nhân

Bài giảng lễ Ngân Khánh Hôn Phối của cha Phêrô Cao Tiến Hà
Kính thưa toàn thể ông bà anh chị em.
 

Ở giữa chúng ta giờ phút nầy, và cũng là ở giữa lòng Hội Thánh hôm nay, có 8 chứng tá tuyệt HP112

Ở giữa chúng ta giờ phút nầy, và cũng là ở giữa lòng Hội Thánh hôm nay, có 8 chứng tá tuyệt vời về Bí Tích Hôn Phối, về ơn gọi đời sống hôn nhân - gia đình, về trách nhiệm sinh dưỡng, giáo dục con cái và về vai trò của người giáo dân trong Giáo Hội. Một lời chứng bằng xương bằng thịt là 8 Gia đình đang hiện diện ở giữa chúng ta đây. 8 gia đình hôm nay được toàn thể gia tộc cùng gia đình giáo xứ long trọng mừng kỷ niệm 25 năm ngày Thành hôn, mà theo ngôn ngữ của lễ hội, thời điểm nầy có thể được gọi là “mừng Kim Khánh Hôn Phối’, 'lễ bạc'.
Thưa Anh chị em
Cuộc sống của mỗi người là một hành trình, và với chúng ta là hành trình về với Chúa. Trên con đường vạn dặm ấy, có những điểm mốc quan trọng ta không thể quên. Nó làm thay đổi định hướng của cuộc đời, kéo theo những thay đổi trong cuộc sống.
Năm 1987, cách nay đúng 25 năm  vợ chồng mình  lấy nhau. Và hôm nay kỉ niệm ngày ấy. Người ta nói đây là Lễ Bạc.
25 năm – khoảng thời gian không dài lắm để có thể quên đi những nồng ấm buổi ban đầu của cuộc sống lứa đôi. Nhưng thời gian đã làm bạc đi màu hồng của ngày cưới.
25 năm – khoảng thời gian không quá ngắn để cảm nhận những khác biệt, nhiều khi đối chọi, giữa hai người để phải chiến đấu, suy tư nên tóc bạc đi mỗi ngày.
25 năm – không phải là những mùa xuân bất tận mà còn có những mùa hạ oi nồng, mùa thu ảm đạm và mùa đông giá băng, nên ngày tháng nhiều khi nhạt nhòa, bàng bạc, phải phấn đấu để vượt qua.
Cuộc sống của  gia đình không phải là sân băng của bộ môn trượt băng nghệ thuật; phải có một đôi patin để trượt trên đó, đồng thời phải có kỹ năng để thực hành (nếu không thì té ngã đau điếng).
Con đường mà 8 gia đình đã bước đi, đương nhiên đầy sỏi đá. Các Anh chị đã đi trên bùn đất nhầy nhụa của cuộc đời, và loạng choạng trên những trơn trượt của cuộc sống.
Các Anh chị  không ganh đua để giành cho được cúp vàng hay bạc nhưng cố gắng dìu nhau đi giữa những bất trắc của thế gian.
Và có lẽ vì vậy mà người ta gọi là lễ bạc.
Có 2 câu thơ người ta thường đọc lên để biện minh cho cái nhìn tiêu cực về tình yêu hôn nhân gia đình :
 Tình chỉ đẹp khi còn dang dở
Đời hết vui khi đã vẹn câu thề.
Phải chăng Hôn nhân-Bí tích Hôn Phối chỉ là một trói buộc tàn nhẫn làm mất đi cái tươi đẹp, hạnh phúc và tự do của con người ?  Không,  Hôn nhân của “8 gia đình” đã 25 năm “vẹn câu thề” rồi mà, hôm nay vẫn tươi vui, vẫn đẹp đẽ, vẫn thắm nồng.
Qua cuộc đời thầm lặng hy sinh của một gia đình kitô hữu, qua cuộc sống trung tín thủy chung của vợ chồng, qua lòng nhiệt thành quảng đại xây dựng Hội thánh, qua lời chứng sống động về việc thực thi Lời Chúa và sống trọn vẹn Bí tích hôn Phối…8 gia đình xứng đáng được Chúa thưởng công ngay ở đời nầy, được muôn thế hệ con cháu kính yêu.
Và qua lời chứng sống động của cuộc sống vợ chồng, chúng ta một lần nữa xác tín rằng : Bí tích Hôn Phối do Đức Kitô thiết lập là một phương thế tối hảo để thăng tiển và bảo vệ hạnh phúc lứa đôi ; ân sủng của Bí Tích Hôn Nhân đã theo suốt cuộc đời truân chuyên khổ ải của biết bao đôi vợ chồng kitô hữu sinh hoa kết trái dồi dào, phong phú. Quả thật, nếu không có ơn Chúa qua bí tích hôn nhân thì làm sao có thể sống hạnh phúc bên nhau suốt 25 năm trường, sinh hạ và nuôi dưỡng giáo dục thành công những  mặt con và cho đến hôm nay, vẫn còn hân hoan hạnh phúc quì bên nhau trước cộng đoàn và trước mặt Chúa, trước gia tộc và trước cháu con để kỷ niệm 25 năm kết ước hẹn thề trong Bí tích Hôn Phối.
Như thế, câu thơ sẽ trở thành :
 Tình chỉ đẹp khi còn trong Chúa
Đời vui hơn khi đã vẹn câu thề.

 

HP113: TẠ ƠN KIM KHÁNH HÔN PHỐI

VÀI CẢM NGHĨ VỀ LỄ TẠ ƠN KIM KHÁNH HÔN PHỐI CỦA ÔNG BÀ CỐ GIUSE ĐINH VIẾT TRỮ VÀ MARIA LÊ THỊ THO, THÂN PHỤ VÀ THÂN MẪU CỦA CHA GIUSE ĐINH QUANG VINH, QUẢN XỨ THANH XÁ, HẠT BẢO LỘC, ĐỊA PHẬN ĐÀ LẠT, CHÚA NHẬT NGÀY 30.12.2018 TẠI NHÀ THỜ THANH BÌNH, ĐỨC TRỌNG LÚC 10 GIỜ 00.
---------------
 

Đức Thánh Cha Phanxicô trong Tông huấn “ Niềm vui yêu thương “ số 223 đã viết:” Phụng vụ HP113

Đức Thánh Cha Phanxicô trong Tông huấn “ Niềm vui yêu thương “ số 223 đã viết:” Phụng vụ, thực hành việc đạo đức và thánh lễ được cử hành cho các gia đình, đặc biệt là vào dịp kỷ niệm ngày cưới, đã được kể như là điều rất quan trọng để thức đẩy việc loan báo Tin mừng qua gia đình “.
Trong một bài giảng lễ Hôn phối, Đức Thánh Cha Phanxicô nói:  “Hôn nhân là sự sống thực, chứ không phải là câu chuyện tiểu thuyết.Ngài cho rằng gia đình là nôi phát sinh sự sống, nuôi dưỡng đức tin, do đó, gia đình là sự sống thật chứ không phải là câu chuyện áo, sự mơ mộng của con người”…Sáng nay, Chúa nhật trời Cao nguyện đẹp với ánh nắng vàng chứa chan, nhẹ nhàng tỏa nhẹ khắp nơi. Nhà thờ Thanh Bình, Đức Trọng, Đà Lạt, tấp nập khác thường, đại gia đình của ông bà cố Trữ-Tho tổ chức lễ tạ ơn Kim Khánh Hôn phối cho ông bà cố bởi vì muôn vàn hồng ân của Thiên Chúa đã tuôn đổ xuống ông bà cố suốt 50 năm sống đời hôn nhân . Thánh lễ do Cha Giuse Đinh Quang Vinh làm chủ tế cùng với 14 Cha đồng tế. Đông đảo con cái: dâu rể, cháu chắt, những anh chị em thân thương trong đại gia đình họ hàng nội ngoại, Hội Đồng Giáo xứ Thanh Xá, bà con giáo dân Thanh Xá, An Hòa, Thanh Bình và một vài nơi thân quen với gia đình ông bà cố đã có mặt trong thánh lễ tạ ơn sáng nay để cầu nguyện cho ông bà cố Trữ-Tho.
Ông bà ông cố Giuse Đinh Viết Trữ và Maria Lê Thị Tho cách đây 50 năm cũng đã được Cha cố Thuần chứng hôn trong thánh lễ hôn phối tại Nhà thờ Giáo xứ Thanh Bình, hôm nay, sau 50 năm sống trung thành, hạnh phúc với nhau trong đời sống Hôn nhân, Ông bà cố Trữ-Tho lại được chính con trai trưởng hiện đang làm Quản xứ Giáo xứ Thanh Xá, hạt Bảo Lộc là Cha Giuse Đinh Quang Vinh cầu nguyện cho Cha mẹ của mình, cùng với các anh em linh mục quen biết, hoặc họ hàng linh tông, huyết tộc,các nữ tu, hiệp lòng hiệp ý, dâng lễ cầu nguyện cho cha mẹ của mình cũng tại Nhà thờ Giáo xứ Thanh Bình. Đây là điều hết sức hạnh phúc cho ông bà cố và đại gia đình của ông bà cố.
Sách Giáo Lý Công Giáo số 2202 viết một câu rất hay về gia đình:” Một người nam và một người nữ, kết hiệp với nhau bằng hôn nhân, với các con cái của họ, hình thành nên một gia đình “. Gia đình đúng nghĩa phải có nam có nữ.Mỗi bên có vai trò của mình trong cộng đồng.Người vợ là trái tim sưởi ấm gia đình, là mặt trăng êm dịu của con cái; còn người chồng là khối óc để tổ chức gia đình, là mặt trời cho con cái.Cả hai cần tới nhau, bổ túc cho nhau.Người chồng chỉ an tâm xông pha vào xã hội, nếu ở nhà có vợ quản lý gia đình, chăm sóc con cái.Chồng cần tới vợ và vợ cần tới chồng :” Vợ đảm đang làm cho chồng sung sướng, chồng sẽ được sống những năm tháng an vui “ ( Hc 26,1-2 ).
Thật hạnh phúc khi con cái, cháu chắt, họ hàng nội ngoại quâu quần bên nhau, quỳ bên nhau, đứng bên nhau trước mặt Chúa để cầu nguyện cho ông bà cố Trữ-Tho !
Suốt cuộc hành trình tình yêu dài nhưng cho tới hôm nay thấy ông Cố Trữ còn nhanh nhẹn, đi lại vững chắc.Bà Cố Tho tuy có yếu hơn Ông cố nhưng nét duyên dáng năm xưa vẫn còn in đậm trên gương mặt của người mẹ tần tảo, cần cù, đảm đang cùng với Ông Cố nuôi dạy 7, 8 đứa con thành người trong đó có con trai trưởng là linh mục…Hạnh phúc khi đã kỷ niệm Hôn phối 50 năm mà vợ chồng vẫn còn khỏe, vẫn vui vẻ sống bên nhau…
Tham dự lễ kỷ niệm lễ tạ ơn Kim Khánh Hôn phối của Ông Bà Cố Giuse Trữ và Maria Tho đã giúp mọi người yêu mến gia đình hơn, và nhận ra vai trò càng lúc càng quan trọng của đời sống gia đình.
Lễ Thánh Gia : Chúa Giêsu Mẹ Maria và thánh Giuse hôm nay là lời mời gọi mọi gia đình Công giáo hãy bảo vệ hạnh phúc gia đình
Giữa một thế giới đang có nhiều biến động về đời sống gia đình.Hãy noi gương bắt chước Gia Đình Thánh : Chúa Giêsu, Mẹ Maria và Thánh Giuse.Hãy cầu nguyện cho mọi gia đình sống trên thuận dưới hòa. Đức Thánh Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II, khi về thăm quê hương Ba Lan, Ngài đã làm hai cử chỉ rất đẹp, ấn tượng:” Viếng mộ song thân và cử hành lễ cho các cặp hôn phối, các cặp có kỷ niệm 50, 25 năm Hôn phối “. Đức Thánh Giáo Hoàng này đã dạy con người hãy hiếu thảo với Cha mẹ. Hãy bảo vệ đời sống gi đình qua bí tích Hôn nhân Chúa đã thiết lập“.
Thánh lễ tạ ơn Kim Khánh Hôn phối của Ông Bà Cố Giuse Trữ-Maria Tho đã để lại ấn tượng tốt trong lòng mọi người có mặt.Xin Ba Đấng tiếp tục gìn giữ và tuôn đổ hồng ân xuống trên gia đình của Ông Bà Cố trong những năm tháng còn lại ở trần gian này…
Linh mục Giuse Nguyễn Hưng Lợi  DCCT

 

HP114: MỪNG KỶ NIỆM HÔN PHỐI

TẠI GIÁO XỨ THANH BÌNH
Lễ Thánh Gia 30/12/2016
(Bài giảng của ĐC Antôn)
 

Tại giáo xứ Thanh Bình, niềm vui Lễ Giáng Sinh năm nay được đánh dấu bằng Thánh Lễ mừng HP114

Tại giáo xứ Thanh Bình, niềm vui Lễ Giáng Sinh năm nay được đánh dấu bằng Thánh Lễ mừng kỷ niệm hôn phối của 172 đôi trong ngày Lễ Kính Thánh Gia. Sự chung thủy của các đôi vợ chồng phản ánh sự chung thủy giữa Thiên Chúa với con người, giữa Chúa Kitô với Hội Thánh, theo gương thánh gia thất: Chúa Giêsu-Đức Mẹ-Thánh Giuse.
Chắc hẳn Lễ Giáng Sinh đã thôi thúc chúng ta chiêm ngắm mối tình giữa “đất với trời se chữ đồng” giữa Thiên Chúa với con người. Thánh Gioan đã viết trong thư thứ nhất: “Tình yêu của Thiên Chúa đối với chúng ta được biểu lộ như thế này: Thiên Chúa đã sai Con Một đến thế gian để nhờ Con Một của Người mà chúng ta được sống” (1 Ga 4,9).
Thiên Chúa và con người trở nên một nơi Đức Giêsu, một sự kết hợp không thể phân ly. Cũng thế, tình yêu của các đôi hôn phối được cam kết qua việc thề hứa sống yêu thương nhau suốt đời, để làm chứng cho tình yêu chung thủy giữa Thiên Chúa với con người nơi Đức Giêsu mà Giáo hội mới mừng lễ Giáng Sinh.
Lễ Giáng Sinh quen gọi là lễ Noel, qua tên gọi của Hài Nhi mới sinh: EMMA-NU-EL, gồm 3 từ Do Thái: EMMI (ở cùng), NU (chúng ta) và EL (Thiên Chúa): THIÊN CHÚA Ở CÙNG CHÚNG TA. Đây là một sự thật được Thiên Chúa bày tỏ qua Kinh Thánh. Sự thật ấy mang nhiều ý nghĩa, nhưng có một ý nghĩa không thể không quan tâm, đó là Con Đường Làm Người của Thiên Chúa nhằm mục đích đem lại hạnh phúc cho con người.
Đức Giêsu đã khẳng định: “Tôi là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống” (Ga 14,6). Đức Giêsu là Đường (là Đạo), có nghĩa là “Thiên Chúa Làm Người” để mở đường cho con người bước theo, nhằm đạt tới hạnh phúc đích thực và vĩnh cửu. Vì thế, “Đạo” do Đức Giêsu thiết lập là Đạo lấy con người làm gốc, tuy nhiên vì Đức Giêsu là Thiên Chúa Làm Người, nên Đạo của Đức Giêsu đồng thời lấy Thiên Chúa làm gốc. Thiên Chúa và Con Người đã trở nên một nơi Đức Giêsu cách đây hơn 2000 năm và mãi mãi như thế. Do đó, yêu Chúa và yêu người là con đường dẫn đến hạnh phúc. Đó chính là “một tin mừng trọng đại, cũng là tin mừng cho toàn dân” (Lc 2,10), tin mừng về Tình Yêu.
Tình yêu Thiên Chúa đã đạt đến mức tuyệt đỉnh, khi Đức Giêsu tự hiến mình trên thập giá, chết thay cho mọi người tội lỗi hầu cứu sống mọi người. Chính vì thế mà thánh Gioan đã định nghĩa “Thiên Chúa là Tình Yêu” (1 Ga 4, 8). Cũng từ đó, cách thức Thiên Chúa yêu thương con người trở thành tiêu chuẩn cho tình yêu giữa con người với nhau: “Anh em hãy thương yêu nhau như Thầy yêu thương anh em” (Ga 13, 34).
Do đó, các đôi hôn nhân muốn có hạnh phúc trong cuộc sống đời này và vĩnh cửu đời sau, được mời gọi sống yêu thương như Chúa Giêsu đã yêu thương. Chính Chúa Giêsu đã nói: “Không có tình yêu nào cao cả hơn tình yêu của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình” (Ga 15, 13). Hôm nay mọi người nhìn thấy tấm gương sống động của những đôi vợ chồng đã vượt qua bao khó khăn để giữ lòng chung thủy với nhau. Chắc chắn họ đã có kinh nghiệm rằng: nói lời cam kết trong ngày thành hôn không khó, nhưng sống lời cam kết đó suốt đời mới khó vì đòi hỏi nhiều hy sinh.
Khó ở chỗ hai vợ chồng “tuy hai mà một” và “tuy một mà hai”. Mỗi người là một cá vị độc đáo, tuy có những điểm giống nhau nhưng cũng có nhiều điểm khác nhau, khác nhau về thể lý, tâm lý, thói quen, nhận thức, việc chi tiêu, cách giáo dục con cái v.v. Vì thế, điều quan trọng là cố gắng hòa hợp và bổ túc cho nhau.
Chắc chắn các cặp đôi này có thể chia sẻ với chúng ta nhiều kinh nghiệm thực tế về đời sống hôn nhân gia đình. Qua giao tiếp với các gia đình, tôi xin phép ghi nhận vài điều căn bản về phương cách giải quyết những xung đột trong cuộc sống gia đình:
Một là, cần phải đối thoại: nói chung là đừng bắt người khác phải tuyệt đối tuân theo ý riêng của mình, nhưng biết lắng nghe và tìm hiểu ý kiến, quan điểm của người kia. Khi đối thoại, cùng nhắm vào mục tiêu chính, giới hạn chuyện nào vào chuyện đó, không nhắc lại chuyện cũ, không bới lông tìm vết.
Hai là, chấp nhận khuyết điểm của mình: can đảm nhận ra những lỗi lầm của mình để cố gắng sửa đổi.
Ba là, hàn gắn, làm lành: sau khi tranh cãi với nhau, vợ chồng cần tìm cách làm hòa ngay. Đừng để bầu khí lạnh lùng hờn giận kéo dài, chỉ gây thêm đau khổ cho mọi người và cho chính mình.
Bốn là, nhờ trung gian hoà giải: cần nhờ người có uy tín, biết phân xử hợp tình hợp lý, hiểu cả hai bên để đưa ra lời khuyên bảo chân tình giúp hai người chấm dứt mâu thuẫn.
Năm là, cầu nguyện: nếu hai vợ chồng biết cầu nguyện chung với nhau, chắc chắn họ sẽ có được sự bình tĩnh để ngồi thảo luận ôn hoà với nhau, đồng thời sẽ dễ nhận ra được ý muốn của Chúa đối với vấn đề đang tranh cãi.
Tất nhiên, muốn giải quyết những xung đột để gia đình được bình an hạnh phúc, đòi hỏi sự cố gắng và thiện tâm thiện chí của cả hai. Trong đêm Giáng Sinh, các thiên thần ca hát: “Vinh danh Thiên Chúa trên Trời, bình an dưới thế cho người thiện tâm”. Bản thân Đức Giêsu là sự kết hợp hài hòa giữa Thiên Chúa và con người, tuy hai mà một, tuy một mà hai. Đó là công trình của Mẹ Maria cộng tác với Chúa Thánh Thần.
Giờ đây, chúng ta tiếp tục dâng Thánh Lễ tạ ơn Chúa, với tâm tình cầu nguyện cho các gia đình, cách riêng cho các đôi hôn phối mừng kỷ niệm hôm nay, cũng như các bạn trẻ đang chuẩn bị bước vào đời sống hôn nhân gia đình, luôn biết noi gương Thánh Gia Thất sống hài hòa hạnh phúc nhờ lắng nghe và làm theo sự thúc đẩy của Chúa Thánh Thần.

 

HP115: Thánh lễ kỷ niệm hôn phối tại nhà thờ Chính Tòa

Thứ hai - 01/01/2018 07:27
 

Ngay buổi đầu, hôn nhân nằm trong ý định yêu thương của Thiên Chúa. Ngài dựng nên con người HP115

Ngay buổi đầu, hôn nhân nằm trong ý định yêu thương của Thiên Chúa. Ngài dựng nên con người có nam và có nữ. Người nữ được tác thành từ chiếc xương sườn của người nam và người nam phải lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ của mình (St 2,21-23). Thiên Chúa ban phúc lành cho họ ”Hãy sinh sôi nảy nở thật nhiều, cho đầy mặt đất”. Qua tạo dựng, con người dù có nhiều điểm riêng biệt, nhưng bình đẳng trong phẩm giá, biết tôn trọng và bổ túc cho nhau để trở thành quà tặng cho nhau, cùng nhau xây dựng thành cộng đoàn yêu thương và sự sống. Chính tình yêu khiến con người trở thành hình ảnh đích thực của Thiên Chúa Ba Ngôi.
Đức Kitô đã nâng hôn nhân lên hàng bí tích và như thế, hôn nhân gia đình là dấu chỉ tình của Ngài và Hội Thánh. Đức Kitô không chỉ yêu thương Hội Thánh một lần là đủ, mà còn yêu thương mãi và yêu thương cho đến hy sinh thân mình. Như thế, kỷ niệm ngày hôn phối chính là việc làm mới lại lời “đồng ý” và lời “cam kết” giữa hai người đã thề hứa với Thiên Chúa khi trước. Nhờ sức mạnh của ân sủng bí tích, gia đình sẽ lớn lên trong tình yêu của Thiên Chúa giống gia đình Nagiarét.
Với ý nghĩa đó, chiều thứ Bảy ngày 30.12 lễ Thánh Gia Thất. Tại nhà thờ Chính Tòa, Đức Giám Mục Giáo phận đã long trọng cử hành thánh lễ kỷ niệm hôn phối cho 43 cặp gia đình trong Giáo xứ từ 5 năm đến 60 năm. Trong bài giảng, Đức Giám Mục đã nhắc nhớ ý nghĩa của bí tích hôn phối và tầm quan trọng của gia đình công giáo trong xã hội hiện nay là một cộng đoàn truyền giáo.
Thánh lễ có đông giáo dân tham dự nhưng rất nghiêm trang sốt sắng. Sau thánh lễ là tiệc mừng của các gia đình tại hội trường Giáo xứ.
Xin Chúa chúc lành trên chúng ta.

 

HP116: GỬI MỘT CHÚT HƯƠNG CHO GIÓ

MỪNG KIM KHÁNH HÔN PHỐI
Thứ sáu - 23/02/2018 15:35
Xin chúc mừng ÔNG BÀ CỐ đã biết kiên nhẫn, biết ngừng lại quan sát và biết trung thành với một kiểu mẫu duy nhất.
MỪNG KIM KHÁNH HÔN PHỐI ÔNG BÀ CỐ
MỪNG KIM KHÁNH HÔN PHỐI ÔNG BÀ CỐ
LỄ TẠ ƠN KIM KHÁNH HÔN PHỐI
ÔNG CỐ GIUSE VƯƠNG ĐÌNH PHONG  &  BÀ CỐ MARIA CAO THỊ LÀNH
1968 – 2018
Thứ Bảy ngày 24 Tháng 02 Năm 2018
-------------------------
 

Henry Ford (30.7.1863–07.4.1947), một tỷ phú Hoa Kỳ, là người đã sáng lập Công ty Ford Motor HP116

Henry Ford (30.7.1863–07.4.1947), một tỷ phú Hoa Kỳ, là người đã sáng lập Công ty Ford Motor, một ngành công nghiệp sản xuất xe hơi nổi tiếng của Mỹ. Ông là một trong những người đầu tiên áp dụng sản xuất kiểu dây chuyền lắp ráp trong sản xuất ô tô. Ông đã trở thành một trong hai hay ba người giàu nhất thế giới; và để lại hầu như toàn bộ tài sản của mình cho Quỹ Ford, nhưng vẫn thu xếp để gia đình ông mãi giữ được quyền quản lý công ty.
Nhân dịp kỷ niệm 50 năm thành hôn, có người hỏi Henry Ford rằng đâu là Bí quyết thành công trong đời sống hôn nhân. Ông trả lời rằng : Đây cũng chính là công thức đã giúp tôi thành công trong kỹ nghệ chế tạo xe hơi. Công thức đó là KIÊN NHẪN, NGỪNG LẠI QUAN SÁT và TRUNG THÀNH VỚI MỘT KIỂU MẪU DUY NHẤT.
Vâng. Trong cuộc sống vợ chồng, khi mỗi người biết NGỪNG LẠI để nghe, sẽ nhận ra được đâu là phải trái; biết NGỪNG SỰ NÓNG NẢY VÀ CÁU GIẬN LẠI, sẽ thấy được mình đang mắc sai lầm; và biết NGỪNG SỰ HIẾU THẮNG VÀ TỰ ÁI LẠI, sẽ thấy được con người mình đang vướng đầy thiếu sót.
Cộng đoàn Giáo xứ xin chúc mừng cho Con đò chở đầy Yêu thương của Ông Bà Cố đang cập Bến Vĩnh cửu, với bao cung bậc bổng trầm của đời sống Hôn nhân Gia đình. Và xin hiệp chung lời tạ ơn Thiên Chúa cùng với đoàn con cháu, vì biết bao ân huệ Người đã thương ban và gìn giữ gia đình ÔNG BÀ CỐ GIUSE VƯƠNG ĐÌNH PHONG VÀ MARIA CAO THỊ LÀNH 50 năm qua trên hành trình yêu thương ngập tràn ân sủng và bình an, ngọt ngào và hạnh phúc, cùng thu hoạch bao hoa trái từ đời sống hôn nhân gia đình.
Xin chúc mừng ÔNG BÀ CỐ đã biết kiên nhẫn, biết ngừng lại quan sát và biết trung thành với một kiểu mẫu duy nhất.
Cuộc sống Hôn nhân và Gia đình của Ông bà Cố vừa kinh qua, được ví như một bản hợp ca. Nơi có giọng nam và giọng nữ. Nơi mỗi người biết nắm thật chắc và thật vững bè của mình, biết giữ cường độ to nhỏ bổng trầm, tiết tấu nhanh chậm, nghiã là hai người khéo léo cư xử với nhau, với cha me, với con cái và với mọi người. Nghĩa là biết phu xướng phụ tùy. 50 năm trước, ở lứa tuổi đôi mươi, anh chị đã khai mở nhạc phẩm hôn nhân bằng những giai điệu êm ái, và giờ đây bản hợp xướng đang được kết bằng chính chủ âm của nó. Nghĩa là bằng yêu thương và nâng đỡ, bằng hòa thuận và dưỡng dục con cái. Như thế, bản hợp ca hôn nhân của Ông Bà Cố mà Thiên Chúa đã chúc phúc, và không ngừng hiện diện trong suốt 50 năm qua, chắc chắn sẽ vượt thời gian, để đi về vĩnh cửu và sẽ là giá mua lấy phần thưởng trọng hậu cho mai sau.
Sống NIỀM VUI – TÌNH YÊU GIA ĐÌNH & ĐỒNG HÀNH CÙNG CÁC GIA ĐÌNH TRẺ, từ một tấm gương sáng và hướng về tâm tình mừng 50 NĂM CHUỖI VÀNG HÔN PHỐI HÔM NAY, nguyện xin cho Ông Bà Cố tiếp tục được đón nhận hồng ân tuôn đổ dạt dào của Thiên Chúa, qua tình yêu thương nhau, và qua tình thảo hiếu của lũ cháu đàn con, mà sống ơn gọi hôn nhân gia đình tràn đầy ý nghĩa, tình yêu, hạnh phúc và niềm vui sung mãn.
Tác giả bài viết: Hòa Giang NKM

 

HP117: Hôn Nhân Là Hình Ảnh Của Thiên Chúa

ĐGH Phanxicô -
26 May 2018
 

Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã nói về vẻ đẹp của hôn nhân trong bài giảng của Ngài tại Nguyện Đường HP117

Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã nói về vẻ đẹp của hôn nhân trong bài giảng của Ngài tại Nguyện Đường Santa Marta vào Thứ Sáu (25/05). Trong số các tín hữu tham dự trong Thánh Lễ sáng có những đôi đã kết hôn kỷ niệm 25 năm và 50 năm hôn phối của mình.
“Được, bạn có thể” hay “Không, bạn không thể”
Đoạn Tin Mừng hôm nay, từ Tin Mừng theo Thánh Mác-cô, nói về những ý định của những người Pha-ri-sêu, là những người đã hỏi Chúa Giêsu một câu hỏi rõ ràng là để thử Ngài. Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã mô tả những câu hỏi dạng này, về điều bạn có thể và không thể thực hiện, như là một trò quỷ thuật. Ngài giải thích: “Không có câu trả lời ‘có’ hay ‘không’ quan trọng trước điều mà chúng ta quen thuộc. Đây là Thiên Chúa”. Thay vào đó, những người Pha-ri-sêu làm giảm đi đời sống Kitô Giáo, cách theo Thiên Chúa, trước một câu hỏi về “được, bạn có thể” hay “không, bạn không thể”.
Chúng ta hãy nhìn vẻ đẹp của hôn nhân
Câu hỏi mà những người Pha-ri-sêu có liên quan đến hôn nhân; họ muốn biết liệu có hợp pháp để một người chồng được ly hôn với vợ mình hay không. Nhưng, Đức Giáo Hoàng Phanxicô nói, Chúa Giêsu vượt ra khỏi câu hỏi đơn giản chỉ về lề luật, trở lại với “thuở ban đầu”. Chúa Giêsu nói về hôn nhân như nó là ở trong chính nó, có lẽ là điều tuyệt vời nhất mà Thiên Chúa tạo nên trong vòng 7 ngày Tạo Dựng này.
“Từ khởi đầu công trình tạo dựng, Thiên Chúa tạo nên con người có nam có nữ. Vì lý do này, người đàn ông sẽ lìa bỏ cha mẹ mình để luyến ái với vợ mình, và cả hai sẽ nên một xương một thịt”. Những lời của Chúa Giêsu trong Tin Mừng là rất mạnh mẽ, Đức Giáo Hoàng nói. Ngài nói về “một thân xác” vốn không thể bị tách lìa. Chúa Giêsu “đặt sang một bên vấn đề ly thân, và đi thẳng vào vẻ đẹp của đôi bạn”, những người cần phải nên một. Đức Giáo Hoàng tiếp tục:
Chúng ta không được phép tập trung, giống như những tiến sĩ luật này làm, vào [câu trả lời] “Được, bạn có thể” để chia rẽ một cuộc hôn nhân, hay “Không, bạn không thể”. Đôi khi có một sự bất hạnh, khi cuộc hôn nhân ấy không thành, và tốt hơn là nên chia tay để tránh một cuộc thế chiến. Nhưng đây là một sự bất hạnh. Chúng ta hãy tiến bước và nhìn vào điều tích cực.
Bạn luôn có thể tiến bước
Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã nói về Ngài đã gặp gỡ những người tổ chức 60 năm hôn phối của họ thế nào. Ngài nói Ngài đã hỏi họ, “Các vị có hạnh phúc không?” Họ nhìn vào nhau, và với những giọt nước mắt trong đôi mắt của nhau, họ trả lời, “Chúng con yêu nhau!”
Đúng thật là có những khó khăn, có những vấn đề với con cái hay với chính bản thân đôi bạn, những tranh luận và những cuộc chiến....nhưng điều quan trọng là thân xác vẫn là một, và bạn có thể vượt thắng, bạn có thể vượt thắng, bạn có thể vượt thắng. Và đây không chỉ là một bí tích đối với đôi bạn, mà còn đối với cả Giáo Hội, một bí tích, như nó là, bí tích lôi cuốn sự chú ý: “Hãy xem, tình yêu là có thể!” và tình yêu có thể giúp bạn sống trọn vẹn đời mình “trong tình yêu”: trong niềm vui và nỗi buồn sầu, với những vấn đề về con cái, và chính những vấn đề của hai người...nhưng luôn luôn tiến bước. Trong bệnh tật và trong khi khỏe mạnh, nhưng luôn tiến bước. Điều này thật tuyệt vời.
Đôi bạn: hình ảnh và giống như Thiên Chúa
Người nam và người nữ được tạo dựng theo hình ảnh và giống như Thiên Chúa; và vì lý do này, hôn nhân cũng thế trở thành một hình ảnh của Thiên Chúa. Điều này làm cho hôn nhân trở nên rất tuyệt vời, Đức Giáo Hoàng nói. “Hôn nhân là một bài giảng âm thầm cho mọi người khác, một bài giảng hằng ngày”.
Thật buồn khi đây không phải là một bản tin: các tờ báo, chương trình tin truyền hình, không coi đây là một tin. Nhưng đôi bạn này, cùng nhau trong quá nhiều năm...đó không phải là bản tin. Vụ bê bối, ly dị, ly thân – thì lại được coi là xứng đáng với bản tin. (Mặc dù đôi khi cần phải ly thân, như tôi đã nói, để tránh một sự dữ khác lớn lao hơn). Hình ảnh của Thiên Chúa thì không phải là bản tin. Nhưng đây là vẻ đẹp của hôn nhân. Họ [đôi bạn] là hình ảnh và giống như Thiên Chúa. Và đây là bản tin của chúng ta, bản tin Kitô Giáo.
Sự nhẫn nại là nhân đức quan trọng nhất
Đời sống hôn nhân và gia đình thì không dễ dàng gì, Đức Giáo Hoàng lặp lại. Ngài chỉ về Bài Đọc thứ nhất, đoạn Thánh Gia-cô-bê nói về sự nhẫn nại. Sự nhẫn nại, Đức Giáo Hoàng nói, “có lẽ là nhân đức quan trọng nhất đối với đôi bạn – cho cả người đàn ông và người phụ nữ”. Ngài kết thúc bài giảng với một lời cầu nguyện để Thiên Chúa “ban cho Giáo Hội và xã hội sự hiểu biết ngày càng sâu sắc và ngày càng đẹp hơn về hôn nhân, để tất cả chúng ta có thể trân trọng và tôn trọng [sự thật] vốn là hình ảnh và giống như Thiên Chúa đang hiện diện trong hôn nhân”.
Joseph C. Pham (Chuyển ngữ từ Vatican News)

 

HP118: Kim khánh và Ngọc khánh Hôn phối

Hà nội, lễ Thánh gia
 

Gia đình nào cũng gặp phải thử thách. Lời Chúa sẽ hướng dẫn các gia đình biết vượt qua thử HP118

Gia đình nào cũng gặp phải thử thách. Lời Chúa sẽ hướng dẫn các gia đình biết vượt qua thử thách, gìn giữ được hạnh phúc gia đình. Thử thách không thể tránh khỏi. Thử thách cần thiết để thanh luyện tình yêu. Tình yêu giống như viên ngọc. Những thử thách trong cuộc đời giống như chiếc giũa. Ngọc càng giũa càng sáng. Tình yêu càng trải qua thử thách càng cao đẹp, như viên ngọc tinh tuyền không còn tì vết. Tình yêu giống như vàng. Thử thách giống như ngọn lửa. Vàng càng được nung trong lửa càng trở nên tinh tuyền vì được thanh luyện khỏi mọi tạp chất để trở nên vàng ròng. Tình yêu càng trải qua thử thách càng tinh khôi như vàng mười nguyên chất.

YÊU LÀ QUÊN MÌNH
Hôm qua tôi đi thăm trại phong Quả Cảm. Tại đây tôi đã chứng hôn cho một đôi hôn phối thật đẹp. Đó là đôi anh Giuse Dũng và chị Maria Hiền. Anh quê ở Lạng sơn. Chị quê ở Bắc ninh. Hai người gặp nhau trong một đêm Giáng sinh. Sau hai năm yêu nhau, năm nay họ được làm lễ cưới cũng vào lễ Giáng sinh. Đó thật là một kỷ niệm đẹp. Tuy nhiên kỷ niệm đó vẫn chưa đẹp bằng mối tình của họ. Chị Maria Hiền là một thiếu nữ duyên dáng khoẻ mạnh. Nhưng anh Giuse Dũng vừa mắc bệnh phong lại vừa bị liệt cả hai chân, không đi đứng được. Sức khoẻ anh cũng không được tốt. Thế mà chị Maria Hiền vẫn yêu anh, chấp nhận theo đạo để làm đám cưới với anh. Lúc được rửa tội, chị cảm động quá, cứ khóc sướt mướt, đến nỗi anh phải luôn luôn nắm tay chị, vỗ vai để trấn tĩnh chị và đưa khăn cho chị lau nước mắt. Chứng hôn cho đôi thanh niên thiếu nữ này, tôi thực sự rất cảm động vì mối tình cao đẹp của họ. Chị yêu anh đến nỗi dám chấp nhận làm vợ anh. Chắc chắn khi chung sống với anh, chị không mong chờ anh giúp đỡ mình điều gì về vật chất. Trái lại khi chấp nhận làm bạn đời, chị chấp nhận phải cáng đáng cả hai số phận, vừa lo cho mình, vừa lo cho chồng. Nhưng tình yêu của chị đối với anh quá nồng nàn thắm thiết, nên chị không hề coi anh là gánh nặng cho mình. Trái lại chị còn coi anh là hạnh phúc. Được yêu anh, được chung sống với anh là điều làm chị vui sướng. Được vào đạo của anh là một ân huệ lớn lao đối với chị. Vì anh là tất cả ý nghĩa cuộc đời của chị. Vì anh là tình yêu của chị. Đây là một mối tình đẹp vì đã biết vượt qua tất cả mọi thử thách. Đây là tình yêu chân thực vì đã biết quên mình vì người yêu.
Tôi thấy gia đình mới này có nét giống Thánh gia mà chúng ta mừng lễ hôm nay. Khi nêu cao Thánh gia là gương mẫu các gia đình hạnh phúc, ta cứ tưởng Giáo hội sẽ diễn tả Thánh gia như một gia đình lúc nào cũng yên vui đầm ấm. Không ngờ hôm nay Tin mừng lại trình bày Thánh gia như một gia đình gặp rất nhiều thử thách. Ta có thể kể ra một vài thử thách chính như : khi thấy Đức Mẹ có thai, Thánh Giuse dự định bỏ trốn ; sau khi Đức Chúa Giêsu sinh ra, bị vua Hê rô đê tìm giết, thánh gia phải bồng bế nhau chạy trốn sang Ai cập ; khi Đức Chúa Giêsu lên mười hai tuổi, cả gia đình hành hương lên Đền thờ Giêrusalem, đã lạc mất Chúa ba ngày ; khi Đức Chúa Giêsu đi rao giảng, bị người ta chống đối, bị coi là mất trí và bắt gia đình phải tìm Ngài về ; khi Chúa Giêsu chịu nạn chịu chết, Đức Mẹ theo con cho đến Núi Sọ, đứng bên thánh giá mà chịu đau khổ với con. Thật là những thử thách quá sức tưởng tượng của con người. Chỉ cần một thử thách thôi cũng có thể khiến gia đình tan vỡ rồi. Thê mà Thánh gia đã kiên vững vượt qua tất cả mọi thử thách lớn lao. Nhờ bí quyết nào ? Thưa nhờ Thánh gia biết sống theo Lời Chúa.
Sống theo Lời Chúa là từ bỏ ý riêng. Chúa Giêsu sinh xuống trần gian là làm theo ý Đức Chúa Cha. Đức Mẹ nhận làm Mẹ Chúa Cứu Thế cũng như thánh Giuse nhận làm bạn của Đức Mẹ đều là làm theo ý Chúa. Thánh gia hôm nay trốn sang Ai cập là do Chúa hướng dẫn. Thánh gia không làm theo ý riêng, nhưng luôn làm theo ý Chúa.
Sống theo Lời Chúa là quên mình vì người khác. Chúa là tình yêu. Lời Chúa dạy đều là tình yêu. Không phải một tình yêu ích kỷ, chỉ nghĩ đến bản thân. Nhưng là một tình yêu quên mình vì người khác. Chính Chúa Giêsu đã dạy : “Không có tình yêu nào lớn lao cho bằng tình yêu của người dám hi sinh tính mạng vì người yêu.” Trong gia đình Thánh gia, mọi người đều quên mình vì người khác.
Gia đình nào cũng gặp phải thử thách. Lời Chúa sẽ hướng dẫn các gia đình biết vượt qua thử thách, gìn giữ được hạnh phúc gia đình. Thử thách không thể tránh khỏi. Thử thách cần thiết để thanh luyện tình yêu. Tình yêu giống như viên ngọc. Những thử thách trong cuộc đời giống như chiếc giũa. Ngọc càng giũa càng sáng. Tình yêu càng trải qua thử thách càng cao đẹp, như viên ngọc tinh tuyền không còn tì vết. Tình yêu giống như vàng. Thử thách giống như ngọn lửa. Vàng càng được nung trong lửa càng trở nên tinh tuyền vì được thanh luyện khỏi mọi tạp chất để trở nên vàng ròng. Tình yêu càng trải qua thử thách càng tinh khôi như vàng mười nguyên chất.
Hôm nay các cụ kỷ niệm Kim khánh và Ngọc khánh hôn phối. Gọi nôm na là lễ cưới vàng và lễ cưới ngọc. Các cụ là hình ảnh của Thánh gia, vì đã trải qua biết bao khó khăn thử thách trong hơn nửa thế kỷ qua mà vẫn giữ được lòng chung thuỷ. Để được như thế, chắc chắn các cụ đã phải noi gương Thánh gia luôn sông theo Lời Chúa, luôn từ bỏ ý riêng và luôn quên mình vì người bạn, vì con cháu. Những hi sinh quên mình, từ bỏ ý riêng đã thanh luyện làm cho tình yêu của các cụ đã trở nên ngọc quí trong suốt, đã trở nên vàng ròng, tinh tuyền. Tình yêu vàng ngọc đó là của lễ quí giá dâng lên Chúa, và là kho báu các cụ để lại cho dòng tộc con cháu. Xin chúc mừng các cụ. Ước mong truyền thống tốt đẹp do các cụ đã dày công tạo dựng được tiếp tục nơi con cái cháu chắt của các cụ. Để dòng dõi những người tin Chúa ngày càng đông đảo. Để mọi gia đình công giáo cùng góp phần vào việc xây dựng xã hội trong tinh thần đạo đức. Xin các cụ hãy dạy cho con cháu biết siêng năng đọc Lời Chúa để biết sống theo Lời Chúa hướng dẫn. Xin các cụ hãy dạy cho con cháu biết quên mình để xây dựng một tình yêu chân thực, như thế gia đình mới bền vững và xã hội mới ổn định.
Lạy Thánh gia Chúa Giêsu, Đức Mẹ và thánh Giuse, xin chúc lành cho gia đình chúng con. Amen.

 

HP119: GIÁO DỤC CON BẰNG GƯƠNG SÁNG CỦA CHA MẸ

1.Cha mẹ phải làm gương trước cho con.
 

Anh chị lấy nhau nên vợ nên chồng; nhưng cũng sẽ thành cha thành mẹ khi có con cái. Và bổn HP119

Anh chị lấy nhau nên vợ nên chồng; nhưng cũng sẽ thành cha thành mẹ khi có con cái. Và bổn phận đương nhiên của cha mẹ là phải giáo dục con sao cho nên người tốt và hữu dụng, đồng thời là tín hữu thánh thiện. Chúng ta không né tránh được; nên ngay từ khi mới thành hôn, tôi ước ao hướng anh chị sớm nghĩ tới vấn đề này và chia sẻ đôi điều.
Con cái chúng ta tuy là trẻ con, nhưng chúng vẫn nhạy bén trong nhận xét và suy luận, đôi khi gây ngạc nhiên cho người lớn. Chúng biết căn cứ vào lời nói, cách sống của cha mẹ để rút ra những vấn đề.
Một trẻ thấy tóc bố bạc. Em buột miệng hỏi: “Sao tóc trên đầu bố bạc nhiều thế?”. Bố trả lời: “Tại con hư, lười học và quậy phá nhiều quá, nên tóc bố bạc nhiều”. Đứa trẻ suy nghĩ một lát, rồi reo lên: “A, bây giờ con hiểu rồi, con hiểu tại sao tóc bà nội còn bạc nhiều hơn tóc bố!”. Nghĩa là suy ra bố còn hư, còn quậy phá hơn cả con…
Chính vì vậy, cha mẹ trước hết phải làm gương cho con cái trong mọi khía cạnh của cuộc sống.

2. Giáo dục con là việc quan trọng hàng đầu.
Trẻ như tờ giấy trắng, mình vẽ gì nên vậy. Trẻ bắt chước y hệt người lớn. Đó là hai điều chúng ta cần lưu tâm khi giáo dục con em.
Có một thiếu nhi lúc đầu ngày nào cũng siêng năng, mau mắn dậy đi lễ sáng. Bỗng nhiều hôm em trở chứng, cứ oằn mình trên giường không muốn dậy nữa. Trong nhà, mẹ gọi; ngoài ngõ bạn chờ, em vẫn chẳng muốn đi. Mẹ mắng, thì em khóc. Mẹ quát : “Sao không đi lễ hả? Còn muốn gì?”. -“Dạ, dạ…con muốn mau lớn như bố”. Vừa mếu máo em vừa trả lời. Mẹ: “Mau lớn như bố để làm gì?” –“ Dạ…để khỏi… phải đi nhà thờ, đi lễ!”. Mẹ: ?!!... Hóa ra bố mẹ sáng, chiều nào cũng giục con đi lễ, đi nhà thờ mà mình thì lại ở nhà, lấy lý do bận đủ thứ việc. Bố mẹ không làm gương sáng trong việc đạo đức, sao đòi hỏi con sống đạo đức được? Bố không đọc kinh cầu nguyện, sao bắt con cầu nguyện đọc kinh?
Cũng vậy, bố chửi tục; con bắt chước chửi. Bố la rầy. Con cự lại: «Sao bố vẫn chửi tục?». Bố bào chữa: «Tao chửi được, nhưng tao cấm mày không được chửi!» Không chịu làm gương mà lập luận, ra lệnh kiểu ấy con cái nào thuận phục cha mẹ?
Tôi có đứa cháu khi nhỏ hay «thò lò mũi xanh». Cả nhà đều gọi là Trâm sình (sình thúi). Tôi cũng vào hùa, bắt chước trêu «Trâm sình thúi». Cứ mỗi lần trêu là một lần nghe cháu phản pháo ngay «Bác sình thúi». Sóng trước đổ đâu, sóng sau đổ đấy. Cha ông mình vẫn đưa kinh nghiệm thường thức ấy ra, để thức tỉnh bậc có trách nhiệm giáo dục phải sống trước điều mình muốn dạy hay tránh.
Hằng ngày, các Dì ở nhà trẻ vẫn dạy và chúc các cháu bé: «Chúc bé ngoan, vâng lời, ăn nhiều ngủ nhiều, chóng lớn». Về nhà, một hôm mẹ dẫn bé đi thăm bà ngoại dịp Tết. Mẹ nhắc cháu chúc bà. Cháu nhanh nhảu: «Chúc Bà ngoan, vâng lời, ăn nhiều ngủ nhiều, chóng lớn». Trẻ lập lại y chang những điều người lớn đã dạy chúng; như công thức đã thành nếp trong đầu, không đắn đo suy nghĩ. Bởi thế, cha mẹ hết sức cẩn thận, cần lưu tâm những lời ăn tiếng nói hằng ngày trước trẻ và tế nhị chọn những câu, những cách dạy chúng, sao loại được những hậu quả xấu.

3. Chúa Giêsu nhắn nhủ cha mẹ điều gì?
Đức Giêsu từng nâng niu một em bé trong lòng, xoa đầu em tỏ dấu âu yếm, chăm sóc cách đặc biệt. Tất nhiên, việc giáo dục con cái, luôn được hiểu phải thực hiện rất sớm, gồm hai phương diện: dạy dỗ và uốn nắn. Dạy thì «dạy con từ thủa còn thơ» (Ca dao VN) và uốn cũng từ nhỏ, «bé chẳng vin, cả gẫy cành», bởi «tre non dễ uốn» (Tục ngữ VN). Măng chẳng uốn, uốn tre sao được? Non chẳng uốn, già nổ đốt. Dạy cái mới, cái tốt, cái tích cực; uốn nắn sửa chữa cái cũ, cái xấu, cái tiêu cực.
Chúa không hề coi thường việc giáo dục trẻ em, bởi Người bảo thẳng: «Ai làm cớ cho một trong những kẻ bé nhỏ vấp ngã, thà cột cối đá vào cổ nó và xô xuống biển còn hơn!» (Lc17, 2). Như thế, Chúa muốn bậc phụ huynh sống tốt trước, rồi nêu gương sáng ấy cho con.
Người lớn đừng làm băng hoại tâm hồn trong trắng, đơn sơ của trẻ bằng những lời lẽ thô lỗ, tục tĩu; bằng những cử chỉ bạo lực; bằng những hình ảnh dâm dật… Hãy giữ gìn các em «nguyên vẹn» còn là các em, bởi không có «tâm hồn như trẻ nhỏ, sẽ chẳng vào được Nước Trời» (Lc 18, 17).

 

HP120: Ích kỷ là mẹ đẻ của nhiều chất khác ăn mòn tình yêu

Chất gì ăn mòn kim loại ? – Acid, muối… Thế chất gì ăn mòn tình yêu ? – Chà, phức tạp, nhiêu HP120

Chất gì ăn mòn kim loại ? – Acid, muối…
Thế chất gì ăn mòn tình yêu ? – Chà, phức tạp, nhiêu khê đây !
I. Chất “ích kỷ”.
1. Ích kỷ là mẹ đẻ của nhiều chất khác ăn mòn tình yêu: như tầm thường, vô trách nhiệm, ỷ lại, thiếu chu đáo… có thể dẫn đến tàn nhẫn. Chúng nối đuôi nhau, theo nhau phá hoại hạnh phúc gia đình. Hàng loạt phản ứng «hóa học» xảy ra, hàng loạt đau khổ xảy ra…
2. Tất cả mọi người nội trợ ngày nay đều nhớ quy luật khắc nghiệt của tự nhiên: kim loại không thể không bị ăn mòn bởi Acid. Nên không ai đựng giấm, đựng muối trong đồ nhôm cả. Trong khi đó, họ lại không biết phải giữ gìn, bảo vệ tình yêu thế nào cho khỏi bị bào mòn, đến tổn thương, thậm chí tan vỡ.
3. Trong quan hệ vợ chồng, thường khi người nọ cho rằng người kia ích kỷ còn mình thì vị tha. Rồi cứ thế đổ tội cho nhau suốt ngày đêm.
Chị vợ: Thật đáng tiếc lấy phải người chồng quá ích kỷ!
Anh chồng: Ai ích kỷ thì người ấy tự biết. Tiếc cũng chưa muộn đâu!
Thế nghĩa là hai người ích kỷ chung sống với nhau: có một trong hai người đúng. Song có một điều chúng ta cần nhận ra: sống với người ích kỷ thì lòng vị tha của người kia trước sau cũng bị “ăn mòn”.
4. Tính ích kỷ thể hiện ở rất nhiều dạng vẻ, nhiều khi còn tinh tế mà bản thân của người ích kỷ khó nhận ra. Người ích kỷ thường chủ quan, quen nhìn thấy người khác xấu còn mình thì tốt.
Đây là căn bệnh nguy hiểm nhất của hạnh phúc gia đình mà chúng con cần đề phòng.

II. Sự thô thiển, thiếu lịch sự tế nhị với nhau.
1. Tại một phiên toà, sau khi nghe người vợ kể mình hết lòng săn sóc chồng mà vẫn bị anh ta ghẻ lạnh và đối xử thô lỗ tàn nhẫn, thẩm phán đề nghị anh chồng giải thích.
Tôi không cần sự chăm sóc theo kiểu của cô ấy. Cô ấy nấu nồi canh riêu cua (tôi vốn thích riêu cua) thì cô ấy càu nhàu suốt từ lúc bóc mai cua cho đến lúc nấu xong. Rồi cô ấy gọi chồng con : “Nào, cả lũ đâu rồi, ra mà hốc!”
Thế mà theo tôi biết, chị vẫn yêu chồng. Cho đến ngày ra toà, chị vẫn còn giặt áo cho anh.
2. Có người thì … do sống luộm thuộm, bê bối, không biết thu dọn, còn… bẩn nữa:
- Chúng con nhớ ai chả có cảm xúc trong tình yêu. Mà xúc cảm ở đây là xúc cảm trước cái đẹp, đẹp về nội dung tâm hồn (ăn nói lịch sự tế nhị với nhau) và đẹp về hình thức biểu hiện (ăn mặc sạch đẹp, nhà cửa biết trang hoàng thu dọn sạch sẽ tươm tất… không bẩn thỉu, hôi hám). Người ta cứ nghĩ lấy chồng rồi không cần gìn giữ sắc đẹp, thể diện, môi trường sống.
- Một người chồng tâm sự: Bà ấy thường đi làm về trước tôi. Hôm nào cũng thế, mở cửa vào buồng là tôi thấy ngay cái quần đen mới thay ra của bà ấy lù lù như đống phân trâu giữa sàn nhà. Không còn chỗ nào để nữa hay sao? Nhìn cái cảnh ấy, tôi chỉ muốn đi ngay! Có hôm mùi cá tanh phảng phất ở tay chân đầu tóc của con cái… và bà ấy nữa! Có hôm mùi khai nồng nặc ở góc phòng toả ra từ đống tã ba ngày chưa chịu thu giặt. Ai mà chịu nổi!
Nhưng nói các bạn đừng giận : nhiều người vợ cũng trách rằng hầu hết các ông chồng đều… thích ở bẩn. Các bà vợ phải thường xuyên truy tìm những chiếc áo sơ mi cáu bẩn nơi góc tường, xó tủ để đem đi giặt. Đồ bẩn cũng vất lẫn vào đồ sạch, nhét cả vào tủ nữa chứ. Trời ơi, ai mà chịu nổi!
- Những người này vẫn tưởng: vợ chồng chung sống với nhau cốt ở cái tình, cái nghĩa chứ đâu cần tới cái đẹp, cái khéo léo tế nhị bên ngoài. Họ sống quá “thật”, nghĩa là mắc cả những lỗi nhỏ về phép lịch sự tối thiểu. Ví dụ: Chồng xổ mũi xoàn xoạt trước mặt vợ, ho, hắt hơi không thèm quay đi chỗ khác. Có bà lại ăn mặc luộm thuộm, nói năng lỗ mãng, nhiều khi mất cả thể diện chồng. Do đó, họ ít dám mời khách đến nhà; càng ít dẫn nhau đi chơi nhà bạn bè.
Đối với họ, hôn nhân thật đúng như người ta nói là «một cuốn trường thiên tiểu thuyết mà nhân vật chính đã chết ngay từ trong chương đầu !».

III. Sự tù đọng, nhàm chán.
Phát sinh do vợ chồng quá giữ kẽ, gò bó nhau, chôn giấu nhau trong phạm vi gia đình. Vợ chỉ biết chồng con, chồng chỉ biết vợ con. Pháo đài gia đình sống co cụm, thiếu ngoại giao cởi mở cho nhân cách con người phát triển trong các tương giao với bên ngoài…
 Một nhà văn Pháp nói: “Quan hệ vợ chồng phải lộng gió bốn phương”. Ở đây không có ý nói quan hệ tự do bừa bãi, theo kiểu thoải mái “Chồng ăn chả, vợ ăn nem”. Ngụ ý chính là vợ chồng phải sống phóng khoáng, quan tâm đến những cái khác ngoài phạm vi gia đình. Cái khác đây là bố mẹ hai bên, anh chị em, bè bạn, hàng xóm và các công việc xã hội.
Ở đó, bên ngoài phạm vi gia đình, bạn có thể thể hiện lòng tốt, sự cảm thông sâu sắc của mình với những người khác. Mọi người yêu quí bạn. Hạnh phúc không chỉ là vợ chồng sống tốt với nhau, mà cái tốt còn có cơ hội thể hiện ra bên ngoài muôn phương. Đấy là ý tứ “lộng gió bốn phương”.
Tự ngắm mình và ngắm nhau quá kỹ, sẽ không tránh khỏi nhàm chán. Hơn nữa, ta nên nhớ: một thiếu nữ dù đẹp đến mấy nhưng lại nhìn bằng … kính hiển vi thì cũng “rỗ” thôi, chẳng thấy đẹp ở đâu.
Sự nhàm chán tụ đọng trong bầu không khí gia đình, đứng về mặt tâm lý, là một sự ức chế vô hình, hậu quả không thấy được trực tiếp. Con người đó tự nhiên khi bước ra khỏi ngưỡng cửa nhà thấy lòng hớn hở hẳn lên, đẹp lên, trẻ ra đến hàng chục tuổi. Một cách không tự giác, người ta coi gia đình như tù ngục, như một nơi trú ngụ có tính cách hành chánh. Đó là lý do tại sao có người ra đến ngoài xã hội bộc lộ sự vui vẻ, lịch thiệp, hào phóng. Về đến nhà luôn cau có với chồng hoặc vợ, hoặc với con cái.
Ngày nay, mỗi cá nhân trở nên tinh tế bao nhiêu về mặt tình cảm, càng đòi hỏi người bạn đời phong phú, đa dạng bấy nhiêu. Không mở rộng quan hệ vợ chồng ra nhiều mối quan tâm xã hội khác, hai người chỉ còn như pho tượng đá bên nhau. chỉ sống với nhau với nửa con người ; nói đúng hơn chỉ có một cái xác không hồn. Còn trái tim, tâm hồn, tình yêu  đã bị chính sự nhàm chán buồn tẻ ăn mòn hoặc đẩy ra khỏi cửa mất rồi.
Các bạn trẻ hôm nay cần để ý khía cạnh này.
 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây