Giảng Lễ Hôn Phối Bài 1-50: Suy Niệm về Hôn Nhân Gia Đình

Chủ nhật - 16/12/2018 05:50
Giảng Lễ Hôn Phối Bài 1-50: Suy Niệm về Hôn Nhân Gia Đình
Giảng Lễ Hôn Phối Bài 1-50: Suy Niệm về Hôn Nhân Gia Đình
Giảng Lễ Hôn Phối Bài 1-50: Suy Niệm về Hôn Nhân Gia Đình
HônPhối 1: BÔNG HỒNG: Tình yêu và đau khổ. 2
HônPhối 2: TÌNH YÊU CHẮP CÁNH.. 7
HônPhối 3: MƯA NẮNG: Thiên đàng hay địa ngục. 10
HônPhối 4: CHIẾC XE ĐẠP: Cộng tác với Chúa. 13
HônPhối 5: NGÔN NGỮ.. 16
HônPhối 6:  HŨ DƯA CHUỘT MUỐI 19
HônPhối 7: NHƯ VỢ CHỒNG NGÂU.. 22
HônPhối 8: ĐỒNG CAM CỘNG KHỔ.. 28
HônPhối 9: CHIẾC NHẪN YÊU THƯƠNG.. 34
HônPhối 10: DUYÊN ƠI LÀ DUYÊN.. 41
HônPhối 11: CHẤP NHẬN NHỮNG KHÁC BIỆT.. 47
HônPhối 12: CHIẾC XƯƠNG SƯỜN.. 54
HônPhối 13: VỊ ĐẮNG TÌNH YÊU.. 59
HônPhối 14: BA NGỌN NẾN LUNG LINH.. 64
HônPhối 15: ẾCH NGỒI ĐÁY GIẾNG.. 69
HônPhối 16: ĐÁ NÁT VÀNG PHAI 75
HônPhối 17: TRIẾT LÝ CÁI NỒI 80
HônPhối 18: TÔI HÓA THA NHÂN.. 88
HônPhối 19: ĐỒNG SÀNG DỊ MỘNG.. 94
HônPhối 20: NGHĨA TÀO KHANG.. 100
HônPhối 21: XÂY TỔ ẤM... 105
HônPhối 22: BẢO TRÌ 111
HônPhối 23: VÁN ĐÃ ĐÓNG THUYỀN.. 116
HônPhối 24: CÓ NẾP CÓ TẺ.. 123
HônPhối 25: ÔNG TƠ BÀ NGUYỆT.. 129
HônPhối 26: ÔNG CHẲNG BÀ CHUỘC.. 133
HônPhối 27: CẢM THÔNG.. 138
HônPhối 28: MUỐI MẶN.. 144
HônPhối 29: HẠNH PHÚC THÔNG THƯỜNG.. 148
HônPhối 30: CHUYẾN TẦU HÔN NHÂN.. 153
HônPhối 31: CỘNG TÁC.. 157
HônPhối 32: XÉ RÀO.. 160
HônPhối 33: TỰ ÁI 165
HônPhối 34: CÔ ĐƠN.. 173
HônPhối 35: KIỀNG BA CHÂN.. 179
HônPhối 36: YÊU LÀ ĐAU KHỔ.. 185
HônPhối 37: BÁT BÚN RIÊU.. 190
HônPhối 38: BẮT CÁ HAI TAY.. 194
HônPhối 39: QÙA TẶNG.. 199
HônPhối 40: CÁI TÔI ĐÁNG GHÉT.. 204
HônPhối 41: HÀNH TRÌNH NÊN MỘT.. 209
HônPhối 42: CÁCH MẠNG.. 212
HônPhối 43: NÊN MỘT.. 217
HônPhối 44: HÀN GẮN.. 221
HônPhối 45: HẠNH PHÚC (1) 227
HônPhối 46: HIỀN LÀNH.. 231
HônPhối 47: TIẾNG GỌI 235
HônPhối 48: THẬP GIÁ (1) 238
HônPhối 49: HÀNH TRÌNH.. 242
HônPhối 50: ĐẠO VỢ CHỒNG.. 247
 

HônPhối 1: BÔNG HỒNG: Tình yêu và đau khổ

I..LỜI  CHÚA : 1Ga 4,16; Ga 15,9-12. 

Thánh Gioan Tông đồ đã nói :”Thiên Chúa là Tình yêu” (1Ga 4,16), Ngài chính là nguồn gốc của HônPhối 1

Thánh Gioan Tông đồ đã nói :”Thiên Chúa là Tình yêu” (1Ga 4,16), Ngài chính là nguồn gốc của tình yêu, là Tình yêu sung mãn, Ngài đã yêu chúng ta vì “Tình yêu của Thiên Chúa đối với chúng ta được biểu lộ như thế này : Thiên Chúa đã sai Con Một đến thế gian để nhờ Con Một của Người mà chúng ta được sống” (Ga 15, 9).
Ngài còn ban cho chúng ta tình yêu ấy để chúng ta yêu Ngài và chúng ta cũng dùng tình yêu ấy để yêu thương nhau như Ngài đã dạy :”Đây là điều răn của Thầy : chúng con hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương các con” (Ga 15,12).
Nhờ lãnh được tình yêu Chúa ban mà chúng ta biết thuơng yêu nhau. Chúa bảo chúng ta phải thương yêu mọi người như chính mình, nhưng Ngài cũng cho phép chúng ta được yêu thương một người hơn các người khác, đó là tình yêu lứa đôi.  Tình yêu nam nữ được nảy nở một cách rất tự nhiên vì nó có sự thu hút từ hai phía. Chính tình yêu ấy đã làm nên hôn nhân. Nền tảng của hôn nhân là Tình yêu. Chính vì thế mà ông Alphonse Karr đã nói :”Hôn nhân không tình yêu là một ngày thiếu rạng đông”.

II. TÌNH YÊU VÀ HOA HỒNG.
          Khi nói tới tình yêu, người ta hay nói tới hoa hông vì người ta cho rằng Hoa Hồng là biểu tượng cho tình yêu. Ngày Valentine’s Day người thanh niên nào cũng phải cố kiếm cho mình được một bông hoa hồng để tặng người yêu.
        1. Ý nghĩa của các loài hoa :
 Người ta cho rằng mỗi mầu hoa đều có một tiếng nói riêng mà người ta muốn tặng cho nó. Chúng ta có thể đưa ra đây máy thứ hoa thông dụng để nói về ý nghĩa của nó :
. Hoa thược dược : biết ơn.
. Hoa Glaieul : hò hẹn.
. Hoa huệ : trong trắng.
. Hoa trinh nữ : kín đáo
. Hoa mai và forget-me-not : đừng quên nhé.
. Hoa mẫu đơn : chia buồn.
. Hoa hướng dương : trung thành.
. Hoa hồng : tình yêu.


          2. Ý nghĩa của hoa hồng.
Chưa có thứ hoa nào giầu mầu sắc bằng hoa hồng, gọi là hồng mà thực sự không phải chỉ có mầu hồng mà còn có mầu trắng, vàng, đỏ, xanh. Mầu sắc đã phong phú, hương thơm còn đáng yêu, dáng điệu qúi phái. Phải  chăng hoa hồng đáng được gọi là Nữ hoàng các loài hoa.
Người ta luôn quan niệm rằng cây hồng bao giờ cũng phải có gai, có hoa và có mùi hương thơm. Cây hồng càng có nhiều gai thì hoa càng đẹp ví dụ hoa hồng Barkara, Hoa hồng B.B. Có lúc người ta gặp một cây hồng không có gai, nhưng thứ này thì hoạ hiếm và hoa không đẹp, không qúi, không thơm lại mau tàn.    Một bông hồng đẹp phải gồm có ba yếu tố : có gai, có hoa và có mùi thơm mà thi sĩ Phan Khôi đã diễn tả trong mấy vần thơ :
                   Hồng nào hồng chẳng có gai
                   Miễn đừng là thứ hồng rài không hoa.
                   Là hồng thì phải có hoa,
                   Không hoa chỉ có gai mà ai chơi ?
                   Ta yêu hồng lắm hồng ơi !
                   Có gai mà cũng có mùi, hương thơm.
                             (Phan Khôi)


III. TÌNH YÊU VÀ ĐAU KHỔ.
1.Tình yêu và đau khổ.  
Khi tôi hỏi một số bạn trẻ : Yêu là gì ? Một số bạn trẻ đã trả lời :
. Yêu là hy sinh,
. Yêu là chết trong lòng một ít
. Yêu là đau khổ,
. Yêu là phục vụ
    Tất cả đều nói lên tính chất Hy sinh trong tình yêu. Hy sinh thì luôn hàm chứa ĐAU KHỔtrong đó. Theo Phúc âm, chữ “Yêu” liền với chữ “thập” nhưng cũng vẫn là yêu. Yêu bất chấp đau khổ và sự chết vì “tình yêu mạnh hơn sự chết” (Dc 8,6).
Trên đời không có con đường nào bằng phẳng cả, nhất là con đường tình yêu. Tình yêu cũng có thử thách, gian nan, đau khổ.
Mối tương quan sâu xa giữa tình yêu và đau khổ, đã là đề tài muôn thuở thi ca và tiểu thuyết, cũng như nghệ thuật thứ bảy. Và người ta thường ví tình yêu và đau khổ cũng như hoa hồng với gai. Tình yêu nào mà chẳng có giận hờn, ghen tương và nước mắt ! Mối tương quan có thể nói là “biện chứng” này được diễn tả gọn chỉ trong hai từ ghép lại thành một, đó là YÊU THƯƠNG, hay là THƯƠNG YÊU : yêu thương cùng với đau thương một vần là thế.
Nhạc sĩ Trịnh công Sơn đã diễn tả một cách sâu sắc, rất thơ, mà cũng rất triết lý và tâm lý, mối tương quan biện chứng giữa tình yêu và đau khổ, trong câu hát của bài Tình nhớ :
                   Khi cơn đau chưa đầy, thì tình như chút nắng.
                   Khi cơn đau lên đầy, thì tình đã mênh mang.
Còn cha ông chúng ta thì nói một cách rất thật thà chất phác :”Yêu nhau lắm, cắn nhau đau”. Chúng ta có thể khẳng định rằng không tình yêu nào mà lại không vướng mùi đau khổ, và không một trái tim nào mà lại không có lúc bị thương đau.

2.Tình yêu hy sinh.
Ta đã nói về tương quan biện chứng giữa tình yêu và đau khổ. Đã có tình yêu thì có đau
khổ và đau khổ đòi hy sinh; do đó, ta có thể nói rằng tình yêu thật luôn phải kèm theo hy sinh. Có một tỷ lệ thuận giữa tình yêu và hy sinh : hy sinh càng nhiều, tình yêu càng lớn, càng sâu đậm :”Không có tình yêu nào lớn hơn tình yêu của người chết vì người yêu” (Ga 15,5).
          Hiểu được ý nghĩa ấy nên Pierre L’Ermite đã nói :”Nếu biết tình yêu có chân thật hay không, hãy bỏ tình yêu vào máy ép, nếu nó tiết ra chất nước hy sinh vô vị lợi, đó là tình yêu thật”.
          Dưới trần gian này, không có sự sung sướng nào được toàn vẹn, vì trong sung sướng đã có sự đau khổ hoặc trước hoặc sau nó : người nông phu khi đi gieo giống trong mồ hôi nước mắt nhưng trở về sẽ vui mừng, hạt giống phải mục nát ra để có thể mọc lên và sinh hoa kết quả... Đối với cô gái, ngày lên xe hoa về nhà chồng là ngày sung sướng nhất đời cô. Lúc lên xe hoa cô khóc sụt sùi. Tại sao trong giây phút sung sướng như vậy mà cô lại khóc ?  Thưa vì cô nhớ gia đình, nhớ cha mẹ và các em.  Thi sĩ Nguyễn Bính đã diễn tả lại tâm trạng ấy trong mấy vần thơ ::
                             Gái lớn ai không phải lấy chồng,
                             Can gì mà khóc, nín đi không.
                             Nín đi ! mặc áo ra chào họ,
                             Rõ qúi con tôi các chị trông.
                                      (Nguyễn Bính)
          Đời sống vợ chồng có nhiều cam go vì có sự bất đồng giữa hai người : do tính tình, ngôn ngữ, sở thích, phong tục, tập quán, giáo dục, gia đình, cha mẹ, anh chị em, họ hàng... Sự thiếu hụt kinh tế cũng góp phần căng thẳng trong đời sống gia đình. Có những  cuộc chia ly đau lòng cũng chỉ vì vấn đề kinh tế khó khăn, người ta không chịu nổi cảnh nghèo khó trong gia đình, nên :
                             Có ăn thiếp ở cùng chàng,
                             Không ăn thiếp tếch, cơ hàn thiếp lui.
                                             (Ca dao)
          Anh chị em phải thấy trước những khó khăn trong gia đình, đừng quá lạc quan, cũng đừng quá bi quan.  Khó khăn tuy chất đầy, nhưng với ơn Chúa, với sự cố gắng của ta hằng ngày, chúng ta có thể vượt qua.
          Hãy sống cho tình yêu lứa đôi, hãy làm việc cho tình yêu vợ chồng. Hãy đổi mới tình yêu như một danh nhân nói :”Hãy rửa tội cho tình yêu mỗi buổi sáng và hãy cưới lại nhau mỗi ngày”.  Nếu có tình yêu thì mọi sự sẽ trở nên tốt đẹp, dễ dàng, thơ mộng và hấp dẫn nhu một anh nông dân nói vói vợ mình :
                             Lấy anh thì sướng hơn vua.
                             Anh đi xúc giậm được cua kềnh càng.
                             Đem về nấu nấu, rang rang,
                             Chồng chan vợ húp lại càng hơn vua,
                                           (Ca dao)

          KẾT LUẬN
          Ai cũng muốn xây dựng hạnh phúc gia đình, ai cũng muốn đạt tới hạnh phúc đó, nhưng không có thành công nào mà không được mua bằng gian nan khốn khó. Vì như ông Corneille nói :”Chiến đấu càng gian nan, chiến thắng càng vinh quang”.  Hy sinh và đau khổ là cái giá mua được hạnh phúc gia đình như trong cuốn Tự điển Hàn lâm Pháp có câu :”Không thể làm một món trứng rán mà không đập bể quả trứng”.
          Một khi đã yêu nhau thực tình, vợ chồng sẽ không còn thấy đau khổ nữa vì chính tình yêu đã làm cho đau khổ trở nên êm dịu, nhẹ nhàng và vui sướng, với ý tưởng là người yêu được hài lòng;
                             Thương em vô giá quá chừng,
                             Trèo non quên mệt, ngậm gừng quên cay.
                                            (Ca dao)
          Anh chị em hãy tin vào Chúa, trao phó cho Chúa mọi gánh nặng trong đời sống gia đình để Chúa chia sớt cho. Hãy lượm lấy những bông hông hy sinh hằng ngày dâng cho Chúa như thánh nữ Têrês Hài đồng đã làm :
                             Vâng, con sẽ hát, con còn hát mãi,
                             Dù trăm gai con vẫn hái hoa hồng.
                             Gai càng nhọn tiếng con hát càng trong,
                             Gai càng dài lời ca càng thánh thót.
                                      (Têrêsa Hài đồng)

Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Tháng 7 / 2003

.

HônPhối 2: TÌNH YÊU CHẮP CÁNH

Tình yêu chia sẻ và bền vững
 I. TÌNH YÊU CỦA THIÊN CHÚA  (1Ga 4,8; Ga 15,9-12).

Mỗi khi có một lễ cưới, người ta lại nhắc đến tình yêu vì chính tình yêu đã nối kết hai người nam HônPhối 2

Mỗi khi có một lễ cưới, người ta lại nhắc đến tình yêu vì chính tình yêu đã nối kết hai người nam nữ lại với nhau.  Nhưng tình yêu ấy bởi đâu mà đến ?  Phải chăng họ tạo ra tình yêu và trao đổi cho nhau ?  Không phải thế !  Không ai đã tự tạo ra mình : chúng ta bởi cha mẹ mà sinh ra, cha mẹ chúng ta cũng bởi ông bà nội ngoại mà sinh ra, và ông bà nội ngoại của chúng ta cũng bởi các cụ cố, và cứ như thế chúng ta phải đilên tới nguồn gốc của thủy tổ loài người. Adm và Evà không bởi tự mình mà có, nhưng đã được Thiên Chúa tạo thành. Do đó, “tất cả chúng ta hiện hữu, cử động và sống đều bởi Thiên Chúa và nhờ Người” (x. Cvsđ 17,28). Và nếu vậy thì tình yêu nơi chúng ta cũng bắt nguồn từ Thiên Chúa.
         Trong bài đọc vừa nghe, thánh Gioan cũng đã khẳng định điều đó khi Ngài nói :”Anh em thân mến, chúng ta hãy yêu thương nhau, vì tình yêu bắt nguồn từ Thiên Chúa. Phàm ai yêu thương, thì đã được Thiên Chúa sinh ra và người ấy biết Thiên Chúa” (1Ga 4,8)
         Tình yêu của chúng ta cũng chính là tình yêu của Thiên Chúa được thể hiện qua chúng ta. Cho nên mọi tình yêu phải quay về với Chúa là nguồn gốc tình yêu :”Thiên Chúa là Tình  yêu”(1Ga 4,16).
        Trong kinh điển của Ấn độ, có lời chép :”Tất cả mọi hữu thể đều do tình yêu mà sinh ra, tất cả mọi hữu thể một khi đã sinh ra được sống nhờ tình yêu nâng đỡ, tất cả mọi hữu thể khi chết đều trở về trong tình yêu” (Taittirya Upanisad III,6).
 
II. TÌNH YÊU LỨA ĐÔI.
         1. Tình yêu chia sẻ.
         Tình yêu bắt nguồn từ Thiên Chúa, thì điều ấy có nghĩa là không phải chúng ta đã tạo ra nó, nhưng chỉ đón nhận nó qua trung gian tổ tiên, ông bà, cha mẹ. Điều ấy cũng có nghĩa là không phải là chúng ta trao tặng cho nhau, mà chỉ là CHIA SẺ nó mà thôi.
         Không phải đôi bờ của con sông đã tạo ra dòng nước, nhưng là cả hai cùng chia sẻ một dòng nước để tạo ra một dòng sông. Khi không còn nước nữa thì hai bờ sông sẽ chỉ là đôi bờ của một hố sâu, một vực thẳm. Cũng vậy, khi hai người không còn chia sẻ cho nhau tình yêu đón nhận từ Thiên Chúa, thì họ chỉ còn là đôi bờ ngăn cách, đôi bờ của một vực thẳm chia ly.
 
        2. Tình yêu vững bền.
         Chúng ta nên nhớ rằng tình yêu đây không những là hồng  ân cao qúi nhất mà Thiên Chúa ban tặng cho ta, mà còn chính là Thiên Chúa ở giữa chúng ta.
         Xác tín rằng Thiên Chúa là tình yêu ngự giữa chúng ta và đang liên kết chúng ta, cho nên chối bỏ tình yêu ấy là chối bỏ chính Thiên Chúa. Đàng khác, khi vì lý do ngoài ý muốn của chúng ta, mà chúng ta cảm thấy như đã mất hay không còn dồi dào tình yêu ấy giữa chúng ta, thì tiên vàn hãy hướng về Thiên Chúa, chính Người là nguồn suối tình yêu sẽ làm cho tình yêu lại lênh láng giữa chúng ta. Thậm chí,  ngay cả những khi giữa chúng ta chỉ còn là một vực thẳm ngăn cách, nhưng nếu chúng ta biết khiêm tốn cầu xin, thì tình yêu viên mãn của Người sẽ lấp đầy hố ngăn cách giữa chúng ta, khiến vực thẳm chia ly lại trở thành dòng sông thương mênh mông.
         Trong cuộc sống hằng ngày không thiếu gì những gian nan thử thách làm cho tình yêu dễ bị sứt mẻ nếu không tan vỡ. Ngoài việc phải cầu nguyện xin Chúa cho mối tình luôn bền vững, cần phải có những nỗ lực tự nhiên của con người
                        Anh còn son em cũng còn son
                        Ước gì ta được làm con một nhà.

                        Trăm năm ghi tạc chữ đồng,
                        Dù ai thêu phụng vẽ rồng mặc ai.
                        Trăm năm ai chớ bỏ ai
                        Chỉ thêu nên gấm, sắt mài nên kim.
                                      (Ca dao)

 
          3. Giữ cho tình yêu mãi đẹp.
         Ngày kết hôn ai cũng ao ước được cho duyên thắm chỉ hồng mãi mãi được vuông tròn, trăm năm hạnh phúc, tình yêu mãi được tươi đẹp và chỉ có một mối tình duy nhất : tình yêu vợ chồng bền chặt.
         Tình yêu thì chỉ có một, nhưng nó đa dạng, phong phú, nhiều mầu sắc.  Chúng ta có thể so sánh : nước cũng chỉ có một nguồn duy nhất, nhưng khi đổ xuống từ trời thì thay hình đổi dạng : ở bầu thì tròn, ở ống thì dài; mạnh mẽ và hùng dũng như thác đổ, êm đềm lặng lẽ như dòng suối, cuồn cuộn như sông mùa nước lũ, thơ mộng uốn khúc như sông Hương... Có nước trong nước sạch, mà cũng có nước đục nước dơ. Có nước ngọt mà cũng có nước phèn, nước lợ, nước chua và mặn.  Nhưng khi xuất phát từ nguồn, nghĩa là từ những đám mây trên trời trong xanh, thì nước bao giờ cũng ngọt và trong. Sau hết, dù mặn dù dơ đến đâu, người ta cũng có thể lọc sạch tẩy trong và làm cho  trở thành ngọt, tinh khiết.
         Tình yêu của chúng ta cũng vậy, luôn luôn thánh thiện, cao cả khi phát xuất từ Thiên Chúa, nhưng qua chúng ta, nó có thể trở thành chua chát, đắng cay hay trở thành dơ bẩn, tội lỗi. Chúng ta đừng sợ, hãy tin tưởng và cố gắng, nhờ ơn Chúa, có thể làm cho tình yêu sẽ trở nên cao đẹp.
         Trong bất cứ hoàn cảnh nào, dù gặp gian lao thử thách, vở chồng luôn giữ mãi mối tình sắt son, không gì có thể làm cho sứt mẻ theo gương một vị tướng đã dám trung kiên giữ mãi mối tình cao đẹp ấy trong suốt cuộc đời :
         Cuộc sống gia đình của một vị tướng đang trôi qua trong bầu khí đầm ấm, thương yêu và đạo đức. Bỗng một hôm, bác sĩ cho biết : bà nhà mắc bệnh phong cùi, phải đưa vào trại cùi, cách ly mọi người càng sớm càng tốt.
         Thực là một tin sét đánh ! Từ nay, vợ chồng sẽ phải sống xa nhau.
        Mấy ngày sau vị tướng buồn khổ đưa vợ vào trại phong.  Nhưng vì quá yêu thương người bạn trăm năm, ông đã nghĩ ra diệu kế : ông giao nhà cửa cho con cái, chấp nhận hy sinh những tiện nghi sẵn có.  Ông thuê một căn nhà nhỏ ngay trước trại cùi, và ngày ngày tới sống tại căn nhà nhỏ này. Ban sáng trước khi đi làm, ông ghé thăm vợ, chiều về, ông ghé vào an ủi, đưa tin tức cho vợ biết về con cái, bạn bè, rồi cùng nhau đọc kinh cầu nguyện.
         Lúc đầu không ai biết rõ, dần dần người ta mới để ý, tìm hiểu và sau cùng ai cũng cảm phục : Làm sao họ trung thành với nhau như thế !  Không một tai họa nào có thể chia rẽ mối tình vợ chồng của hai người.
         Mười mấy năm trôi qua, bệnh bà tới lúc khỏi hẳn, vị tướng sung sướng lái xe đưa vợ về nhà, xum họp lại với con cái bạn bè.  Quả thực đôi vợ chồng này đã thề hứa và đã trung thành với lời hứa lúc cử hành nghi lễ Hôn phối :”Chúng tôi sẽ giữ lòng chung thủy với nhau, khi thịnh vượng cũng như lúc gian nan, khi bệnh hoạn cũng như lúc mạnh khoẻ, để yêu thương và tôn trọng nhau suốt đời”.
 Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Tháng 8 / 2003

 

HônPhối 3: MƯA NẮNG: Thiên đàng hay địa ngục

I. CẢ HAI NÊN MỘT.

Sách Thánh nói :”Vì thế, người đàn ông sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai sẽ trở HônPhối 3

Sách Thánh nói :”Vì thế, người đàn ông sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai sẽ trở nên một xương một thịt” (St 1,27; 2,24).
        Khi hai người kết hôn với nhau họ đã trở nên một thân xác, một tinh thần; thân xác của chồng là của vợ và thân  xác của vợ là của chồng.
        Thánh Phaolô nói :”Có ai ghét thân xác mình bao giờ; trái lại, người ta nuôi nấng và chăm sóc thân xác mình, cũng như Đức Kitô nuôi nấng và chăm sóc Hội thánh, vì chúng ta là bộ phận trong thân thể của Nguời” (Ep 5, 29-30).
        Tuy vợ chồng trở nên một, nhưng nên một ở đây chỉ có nghĩa là có tính cách duy nhất chứ không phải là đồng hoá. Chồng vẫn là chồng và vợ vẫn là vợ vì mỗi người là một nhân vị riêng biệt, có những đức tính riêng không ai giống ai.
        Khi nhìn vào bức chân dung của mình, thi sĩ Tản Đà Nguyễn khắc Hiếu, nở một nụ cười tươi và nói :
                        Mình với ta tuy hai mà một,
                        Ta với mình tuy một mà hai.
                                (Tản Đà)
        Tuy vợ chồng là hai nhân vị riêng biệt nhưng cũng phải là cho nó hợp nhất trong tư tưởng, lời nói và việc làm.  Vợ chồng phải thuơng yêu nhau, săn sóc và bảo vệ nhau, để cho mái ấm gia đình được bền vững, mưu cầu hạnh phúc cho nhau cũng như cho con cháu.
 
  1.   CHUYỆN MƯA NẮNG TRONG GIA ĐÌNH.
1.Mưa hơn hay nắng hơn
Ai dám khẳng định là mưa hơn hay nắng hơn ? Nhiều người thích trời nắng cho tươi đẹp hơn
là mưa dầm ảm đạm Nhưng có người lại thích mưa hơn vì
                        Trời nắng tốt dưa, trời mưa tốt lúa.
        Hiện tượng El Ninô đã làm cho hạn hán, thiếu nước uống, cây cối chết khô. ai mà chả mong mưa !  Mưa xuống làm cho cây cối tươi tốt, khí hậu mát mẻ.  Nhưng mấy hôm nay mưa kéo dài gây ngập lụt làm cho nhiều người chết, thiệt hại vật chất rất lớn...  Vậy mưa hay là nắng hơn ?
        Chắc ai cũng phải trả lời : có nắng có mưa thì thốt hơn, nhưng ở mức độ vừa phải, vì :
                        Ơn trời mưa nắng phải thì,
                        Nơi thì đồng cạn, nơi thì cầy sâu.
                                (Ca dao)
 
  1.       Đời vợ chồng vừa nắng vừa mưa.  
Trong văn chương bình dân Việt nam có câu :
                Ai giầu ba họ,  ai khó ba đời.
        hoặc :
                Bĩ cực thái lai.
Không ai hạnh phúc suốt đời, cũng không ai khổ cực suốt đời. Có lúc sướng, có lúc khổ. Có
lúc thuận buồm xuôi gió, có lúc phong ba bão táp. Như thế, vui buồn sướng khổ luôn đan kẽ vào với nhau.
        Nếu thời tiết ít bão táp hơn, trời thanh bể lặng thì đời sống vợ chồng phải vui nhiều hơn buồn, sướng nhiều hơn khổ.  Đôi lúc có bị xáo trộn một chút cũng là lẽ thường tình, vợ chồng cố gắng chịu đựng một chút, rồi mọi sự sẽ qua đi. Hết cơn mưa thì trời lại nắng.
        Nhà văn hào Pháp, ông Honoré de Balzac, nói :”Hôn nhân là con đường đưa ta tới địa ngục hay dẫn ta tới thiên đàng”.
        Như vậy, gia đình có thể là thiên đàng và cũng có thể là địa ngục,  cái đó tùy ở nơi vợ chồng.  Ai chả  muốn gia đình thành thiên đàng ở trần gian, nhưng phải có đều kiện : từ bỏ mình.  Chúa Giêsu phán :”Ai muốn theo Ta, hãy từ bỏ mình, vác thánh giá hằng ngày mà theo Ta”  Muốn có hạnh phúc, điều kiện thiết yếu là phải từ bỏ ý riêng mình, chồng hy sinh cho vợ, và vợ phải hy sinh cho chồng.  Thiên đàng hay địa ngục là ở chỗ đó.
                        Truyện : gia đình là địa ngục.
        Một hôm người ta gặp một em bé lạc đường đang khóc mếu máo. Người ta không biết cha mẹ em là ai, nhà ở đâu. Họ hỏi :
-       Em tên là gì ?
-       Thằng trời đánh thánh vật.
-       Bố em tên là gì ?
-       Thằng qủi.
-       Mẹ em tên là gì ?
-       Con đĩ.
-       Nhà em ở đâu ?
-       Ở hoả ngục.
Sau đó người ta cũng tìm ra nhà cha mẹ nó.
Tìm hiểy lý do tại sao em nhỏ lại trả lời như thế, người ta mới thấy cách sống ở gia đình em:  bố mẹ hay gọi em là thằng trời đánh thánh vật; mẹ hay gọi bố là thằng qủi; bố hay gọi mẹ là con đĩ ; và cả hai bố mẹ gọi cái nhà này là hoả ngục.
 
KẾT LUẬN
Đời vợ chồng có mưa có nắng, có vui có buồn, không thể tránh được. Hãy sẵn sàng chấp nhận, đừng đứng núi nọ trông núi kia cao.  Người Việt chúng ta có kinh nghiệm về vấn đề này nên mới gửi kinh nghiệm vào trong văn chương bình dân :
                        Cá trong lờ đỏ lơ con mắt,
                        Cá ngoài lờ ngúc ngắc muốn vô,
                        Đời vợ chồng sơm nắng chiếu mưa.
                                    (Tục ngữ)

        Hãy cầu xin cùng thánh gia thất Đức Giêsu.Đức Maria và thánh Giuse giúp cho gia đình chúng ta và cách riêng cho đôi tân hôn này biết biến đổi gia đình của mình ở trần gian này.
Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Tháng 5/ 2003

 

HônPhối 4: CHIẾC XE ĐẠP: Cộng tác với Chúa

(1Pr 3,1-9)
I. HÃY ĐỒNG TÂM NHẤT TRÍ.

Người ta thường nói : Đoàn kết là sống, chia rẽ là chết.  Hoặc nói một cách mạnh hơn : hợp quần HônPhối 4

Người ta thường nói : Đoàn kết là sống, chia rẽ là chết.  Hoặc nói một cách mạnh hơn : hợp quần gây súc mạnh.  Ca dao Việt nam cũng nói :
                        Một cây làm chẳng nên non,
                        Ba cây chụm lại nên hòn núi cao.

        Khi lập gia đình vợ chồng đều có một nỗ lực là tạo lập được hạnh phúc gia đình. Công cuộc tạo lập hạnh phúc không là việc riêng của chồng hay của vợ mà phải cả hai.  Trong việc xây dựng hạnh phúc này, thánh Phêrô Tông đồ đã khuyên cả vợ chồng :”Anh em hãy đồng tâm nhất trí, thông cảm với nhau, yêu thương nhau như anh em” (1Pr 3,9).
        Trong lời nguyện sau kinh Lạy Cha của lễ Hôn phối, Hột thánh cầu nguyện cho các cô dâu “biết ăn ở thuận hòa, luôn noi gương các thánh nữ được ca tụng trong Thánh kinh”.  Đồng thời, Hội thánh cũng cầu nguyện cho các chú rể “biết trọn niềm tin tưởng ở vợ mình, nhìn nhận nàng là người bạn bình đẳng và cùng được thừa hưởng ơn ban sự sống. Xin cho anh luôn biết kính trọng và yêu thương nàng”.  Bài giáo huấn của thánh Phêrô hôm nay cũng đề cập đến cách cư xử phải có của người vợ và người chồng có đạo.
 
II. CẦN SỰ CỘNG TÁC.
        1. Cộng tác của vợ chồng.
        Chúng ta thấy hình ảnh một gia đình ở thôn quê rất đẹp, tuy mộc mạc nhưng cũng thơ mộng và đầm ấm. Vợ chồng cùng chung sức tạo cho mình một cánh đồng lúa tốt để lấy lương thực nuôi nhau và cho đồng bào. Công việc được phân chia hợp lý, tùy theo sức lực của từng người :
                        Trên đồng cạn, dưới đồng sâu,
                        Chồng cầy vợ cấy, con trâu đi bừa.
                                     (Ca dao)

 
        2. Cộng tác với Chúa.
        Hạnh phúc gia đình chỉ có được khi có sự cộng tác tích cực của vợ chồng. Không ai có thể đem hạnh phúc đến cho mà chính vợ chồng phải tạo dựng lấy.
        Tuy nhiên, ngoài hai yếu tố là vợ chồng xây dựng hạnh phúc ta cần phải có yếu tố thứ ba nữa, đó là sự trợ giúp của Chúa., vì Chúa nói :”Không có Thầy, các con không thể làm được gì” ( Mt         }.
        Cha Mark Link đưa ra một bài thơ so sánh việc cộng tác với Chúa qua hình ảnh hai người đi chung một chiếc xe đạp có hai bàn đạp như sau :
        Đầu tiên, tôi ngồi đàng trước và Chúa Giêsu ngồi sau lưng. Tôi không thấy Ngài, nhưng tôi biết chắc Ngài ngồi đàng sau. Tôi cảm nhận được Ngài giúp tôi mỗi khi tôi đạp lên dốc.  Rồi một ngày kia, Chúa Giêsu và tôi đổi chỗ cho nhau. Lập tức mọi sự đảo lộn tùm lum cả. Khi tôi ngồi trước điều khiển tay lái, chuyến đi được dự đoán và nhàm chán.  Nhưng rồi khi để Chúa Giêsu điều khiển, chuyến đi lại trở nên mông lung ngoài vòng kiểm soát.  Tôi khó mà có thể chịu nổi. Tôi la lên : Đi như vậy thật là điên.  Nhưng Chúa Giêsu chỉ mỉm cười và bảo tôi cứ đạp đi.  Và từ đó tôi học biết nín lặng và tiếp tục đạp xe.  Nhưng cũng có nhiều lần khác tôi sợ hãi và định bỏ cuộc. Nhưng Chúa Giêsu quay lại, chạm tay tôi mỉm cười và nói : đạp đi.
 
III. THÁI ĐỘ CỦA TA.
        Trong cuộc sống gia đình, Chúa Giêsu luôn đồng hành với chúng ta. Hai vợ chồng cùng ngồi trên chiếc xe đạp, có ba bàn đạp : Chúa Giêsu có lúc ngồi trước để lái, có lúc ngồi đàng sau để đạp tiếp sức.  Thường Chúa Giêsu ngồi đàng sau để tiếp sức, còn Ngài để cho ta lèo lái, tìm hướng đi của riêng mình.  Nếu đã tìm được hướng đi thì hai vợ chồng cứ đạp, càng lên dốc càng đạp hăng và tin tưởng rằng có Chúa ngồi đàng sau tiếp sức.  
        Đôi lúc Chúa Giêsu muốn ngồi trước để cầm tay lái thì kệ Chúa, mặc dầu ta không thấy hướng đi hợp với sự khôn ngoan của ta.  Chúa khôn ngoan mà ! Ngài luôn tìm những sự tốt đẹp cho ta. Cứ tin tưởng vào Ngài đi.
 
KẾT LUẬN
        Như trong câu truyện về hai người cùng đạp xe chung với nhau vừa được kể trên, Chúa Giêsu là người điều khiển và muốn người đồng hành với Ngài hãy tin tưởng hoàn toàn vào Ngài. Ngài đã so sánh mình như mục tử nhân lành, biết rõ và gọi đúng tên từng con chiên. Chúa biết rõ chúng ta cần gì.  Ngài gọi đúng tên mỗi người.  Chúng ta hãy đáp lại tiếng Chúa mời gọi và tin tưởng theo Ngài.
        Lạy Chúa, xin thương hướng dẫn cuộc đời chúng con chu toàn thánh ý Chúa. Xin thương củng cố đức tin chúng con mỗi ngày một vững mạnh hơn.
Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
04.11.2003

 

HônPhối 5: NGÔN NGỮ

Mt 12,35

Không ai muốn sống cô đơn vì sống là phải sống với. Sống với là muốn sống thành tập thể mà HônPhối 5

Không ai muốn sống cô đơn vì sống là phải sống với. Sống với là muốn sống thành tập thể mà tập thể là một xã hội.  Sống trong xã hội là phải có đời sống chung mà Kinh thánh đã từng ca ngợi :
                        Ngọt ngào tốt đẹp lắm thay,
                        Anh em được sớng vui vầy bên nhau.
                                (Thánh vịnh 133,1)

        Sống chung là phải có sự trao đổi để thông cảm với nhau, nên cần có phương tiện thông cảm và phương tiện,  đó là ngôn ngữ.
 
I. NGÔN NGỮ LOÀI NGƯỜI.
        Nhiều nhà xã hội học đã định nhgĩa người là con vật có xã hội tính (Homo est animal sociale) nên muốn sống thành tập thể, thành một xã hội có tổ chức nên những người trong xã hội phải có phương tiện diễn tả và trao đổi tư tưởng cũng như tâm tình của mình. Thượng Đế đã ban cho con người một phương tiện hữu hiệu, đó là ngôn ngữ.
        Theo Đào duy Anh, tự mình nói là ngôn, đáp lại người khác gọi là ngữ. Nên ngôn ngữ là nói năng  hay tiếng nói của từng dân tộc.
        Theo nghĩa hẹp thì ngôn ngữ là nói nằng, nhưng theo nghĩa rộng thì ta có thể coi ngôn ngữ là lời nói, chữ viết hay cử chỉ vì tất cả là phương tiện để con người phát biểu tư tưởng cũng như trao đổi tâm tình.
 
II. NGÔN NGỮ LỜI NÓI.
        Lời nói là phương tiện diễn tả hữu hiệu nhất. Không ai có miệng mà không nói, chỉ có người câm mới không nói :
                        Người ta có miệng có môi,
                        Khi buồn thì khóc, khi vui thì cười.
                                (Ca dao)

            Cho dù ngôn ngữ là phương tiện cần thiết và hữu hiệu của con người trong xã hội nhưng nó cũng có mặt phải mặt trái của nó.  Vì thế,  Giám mục Fénelon đã khuyên :”Ngôn ngữ cũng phải lịch sự như y phục phải cho chỉnh tề”.  Cổ nhân cũng có câu :
                        Nhất ngôn thuyết quá,  tứ mã nan truy
                        (= Một lời nói quấy quá, bốn ngựa đuổi cũng không kịp)
                                        (tục ngữ)
  1.       Cái lợi của ngôn ngữ nói.
Người ta dùng lời nói để diễn tả và truyền đạt tư tưởng cũng như tâm tình của nhau, nhất là
trong dời sống vợ chồng như diễn tả tình yêu thương.  Còn gì đẹp bằng những lời nói khi hai người yêu nhau qua những tiếng xưng hô : anh ơi, em à, mình ơi, cục cưng của anh...  Nhờ lời nói thân tình mà tình yêu của hai người càng thêm thắm thiết, cuộc đời càng thêm vui, càng có ý nghĩa :
                        Chẳng được miếng thịt miếng xôi,
                        Cũng được lời nói cho nguôi tấm lòng.
                                (Ca dao)

 
  1.       Cái hại của ngôn ngữ nói.
Người ta cũng có thể dùng lời nói để phun ra những cái xấu xa từ trong lòng mình cho người
khác :”Người tốt thì rút cái tốt từ kho tàng tốt của mình; kẻ xấu thì rút cái xấu tù kho tàng xấu của mình “ (Mt 12,35 ; Mc 3,29 ; Lc 12,10).
        Khi không yêu nhau nữa, nhất là khi đã trở thành kẻ thù của nhau thì người ta không ngại ngùng dùng những từ ngữ rất chói tai :
                Vợ thì : thằng quỉ kia.
                Chồng thì : con đĩ  này – con quỉ cái – con sư tử cái.
        Vì thế, vợ chồng phải dè dặt trong lời nói, lời nói ra phải làm sao cho mát lòng nhau khiến người ta thêm vui sống :
                        Lời nói không mất tiền mua,
                        Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau.
                                (Ca dao)

 
  1.   NGÔN NGỮ CỬ CHỈ.
 
        Ngoài lời nói ra, người ta còn dùng cử chỉ hay thái độ để diễn tả tư tưởng và tình cảm. Cử chỉ hay thái độ cũng có thể làm cho người ta hài lòng hay khó chịu. Có một câu chuyện :
        Anh câm, chị cũng câm, thế mà vẫn tìm hiểu nhau và đi đến hôn nhân như mọi người khác. Không những thế, gia đình còn làm ăn khấm khá và dần dần sinh được 6 người con. Xóm giềng thấy thế ai cũng mừng cho gia đình câm và rỉ tai nhau : “Câm cũng khổ và cũng hay, khỏi có lời qua tiếng lại, cũng chẳng phải nghe tiếng nặng tiếng nhẹ, bớt được nhiều vụ va chạm xích mích”.
        Ai ngờ đâu, con người thật có lắm cách để bầy tỏ tình cảm của mình ! Vợ chồng câm mà vẫn cơm chẳng lành, canh chẳng ngọt.  Cả hai cùng đưa nhau ra tòa ly dị. Thiên hạ hiếu kỳ lại được dịp đi xem. Tòa chấp thuận cho họ được ly dị nhau và quyết định mỗi bên phải nuôi 3 đứa,  cứ mỗi tháng hai bên gặp nhau một lần để cho con cái thăm bố mẹ và anh chị em thăm nhau.
        Thế nhưng vẫn không xuôi, lại cùng nhau ra tòa lần nữa, vì mấy lần gặp nhau cả hai vợ chồng vẫn có chuyện xích mích trong lúc con cái thì ríu tít vui vẻ. Toà xử : “Từ đây, ba tháng mới gặp nhau một lần”.
        Được một thời gian, gia đình ấy lại... dắt nhau ra tòa !  Vì vợ chồng vẫn tiếp tục sinh sự !  Toà phải đi đến một giải pháp sau hết :”Từ đây, con đi thăm mẹ và anh chị em, thì bố đừng đi theo; mà con đi thăm bố và anh chị em thì mẹ phải ở nhà. Chừng ấy mới yên được” !
        Đến đây xin dể anh chị em suy nghĩ tiếp.
Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Th. 7/2002

 

HônPhối 6:  HŨ DƯA CHUỘT MUỐI

I. SUY NIỆM LỜI CHÚA 

Khi ấy, Chúa Giêsu nói với các môn đệ :”Đây là huấn lệnh của Thầy : các con hãy yêu mến nhau, HônPhối 6

Khi ấy, Chúa Giêsu nói với các môn đệ :”Đây là huấn lệnh của Thầy : các con hãy yêu mến nhau, như Thầy đã yêu mến các con; Không ai có tình yêu nào lớn hơn tình yêu của người  thí  mạng sống vì bạn hữu mình. Các con là bạn hữu của Thầy, nếu các con thi hành những điều Thầy truyền.
          Thầy không còn gọi các con là tôi tớ, vì tôi tớ không biết việc chủ làm; Thầy gọi các con là bạn hữu, vì tất cả những gì Thầy đã nghe biết nơi Cha Thầy, thì Thầy đã cho các con biết.
          Không phải các con đã chọn Thầy, nhưng chính Thầy đã chọn các con, và đã cắt đặt, để các con đi, và mang lại hoa trái, và để hoa trái các con tồn tại, để những gì các con xin Cha nhân danh Thầy, Ngài sẽ ban cho các con” (Ga 15,12-16).        Đó  là Lời Chúa.
          Sau khi đã chỉ vẽ cho các môn đệ con đường mến Chúa yêu người là tuân giữ các điều răn của Chúa, Đức Giêsu đã áp dụng vào luật yêu người :”Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 15,12).
          Tình yêu thương của Đức Giêsu đối với loài người được biểu lộ qua cái chết của Người (Ga 13,1) và đó là nền tảng cho tình yêu giữa các môn đệ , các Kitô hữu với nhau.
          Khi nói tới “Yêu thương”, Tình gia đình”, Huynh đệ”, Chia sẻ”, “Hiệp thông”... chúng ta thấy người ta nói đến quá nhiều và nhiều khi nó chỉ là sáo ngữ, rỗng tuếch, ngôn hành tương phản.
          Yêu thương, nếu chỉ là một cảm giác dễ chịu thì chưa phải là tình yêu thật. Tình yêu thật là phải cho đi, phải hy sinh, phải dâng hiến. Càng cho đi nhiều, hy sinh càng lớn thì tình yêu càng đúng nghĩa. Bởi thế, Đức Giêsu nói :”Không có tình yêu nào lớn hơn tình yêu của người thí mạng mình vì bạn hữu” (Ga 15,13).
          Nói đến đây, tôi sực nhớ đên câu truyện “Anh phải sống” của nhà văn Khái Hưng và Nhất Linh mà tôi đã đọc từ lâu. Câu truyện đó đại khái như sau : Hai vợ chồng nghèo đi kiếm củi  trên ngàn để bán lấy tiền nuôi con.  Hôm đó trời giông bão, họ bị nước cuốn trôi. Chỉ có một khúc cây đủ sức cho một người bám. Người chồng bảo vợ hãy bám vào khúc cây vì “em phải sống để lo cho các con”. Người vợ cũng bảo chồng :”Anh phải sống”. Cuối cùng người vợ buông tay , tự tìm lấy cái chết cho mình, để nhường lại sự sống cho chồng và các con.
 
II. MỘT TÌNH YÊU BIẾT CHO ĐI
          Trong đời sống vợ chồng, rất họa hiếm mới có trường hợp vợ chồng phải hy sinh mạng sống cho nhau. Chết thay cho nhau là trường hợp hy hữu và vô cùng lý tưởng. Nhưng thay vào đó vợ chồng có thể chết cho nhau khi vợ chồng từ bỏ ý riêng của mình để làm đẹp lòng nhau, để làm cho nhau được hạnh phúc.  Việc này ai cũng có thể làm được, nhưng nó đòi hỏi phải hy sinh rất nhiều.
          Nói đến đây tôi liên tưởng đến câu chuyện “Hũ dưa chuột muối” mà nó minh họa cho chúng ta những điều đã bàn ở trên.
          Có hai ông bà sống rất hòa thuận, có cả một vườn dưa chuột Ông cụ thì thương xuyên săn sóc vườn dưa, cò bà thì thường làm dưa chuột muối. Mỗi mùa đông, ông cụ lại nghiên cứu các bản danh sách giới thiệu hạt giống  để đặt mua loại tốt nhất.
          Cả gia đình vui vẻ. Ông thì xới đất, trồng và săn sóc dưa chuột.  Còn bà cụ thì rất thích làm món dưa chuột muối. Thậm chí, bà cũng thường xuyên đọc sách dạy nấu ăn để xem những cách hay làm dưa chuột muối.
          Ai cũng nói đó quả là một gia đình hạnh phúc, và vị khách nào đến nhà chơi cũng được tặng một hũ dưa chuột muối “đặc sản” mang về.  Dần dần, những người con lập gia đình và chuyển đi. Nhưng họ vẫn liên tục được bố mẹ gửi cho những hộp dưa chuột muối. Nhưng cuối cùng thì ông cụ mất.  Mùa xuân năm sau, tất cả con cái về thăm mẹ và bảo :
Chúng con biết mẹ rất thích làm dưa chuột muối, nên chúng con sẽ đặt mua giống, sẽ trồng và chăm sóc dưa chuột cho mẹ.
          Người mẹ mỉm cười :
-          Cám ơn các con, nhưng các con không cần trồng dưa đâu, vì mẹ thật sự không thích làm dưa chuột muối. Mẹ chỉ hay làm món đó vì bố con thích trồng dưa chuột mà thôi.
Tất cả những người con đều rất ngạc nhiên, chỉ có người con út có vẻ buồn. Bởi vì Bố anh thưởng kể với anh rằng ông không hề thích trồng dưa chuột, nhưng vì mẹ anh thích làm dưa chuột muối nên ông trồng dưa để làm bà vui lòng mà thôi (Theo Haley/Ngôi sao).
          Đây là câu chuyện rất cảm động và rất hay, nó nói lên tình yêu vợ chồng thật thắm thiết, vô vị lợi. Họ dám hy sinh sở thích riêng của mình để làm theo sở thích của người yêu.  Chúng ta có thể nói được họ không chết cho nhau về thể xác nhưng đã chết cho nhau về tình thần nghĩa là họ đã dám hy sinh ý riêng của mình  để làm theo ý của người yêu.
 
III. MỘT VÀI SUY TƯ
          1. Tinh thần quảng đại
          Trong tông huấn Niềm Vui Tình Yêu số 101-102, Đức Giáo hoàng Phanxicô  tiếp tục kêu gọi các gia đình hãy sống đức tính thứ sáu mà thánh Phaolô đã đề nghị là “sống quảng đại, không tìm tư lợi”.
          Theo Ngài, sống quảng đại, không tìm tư lợi là gì ?
          a) Trước hết, người sống quảng đại là người chỉ tìm lợi ích cho người khác. Thật vậy, trong bài ca Đức ái, thánh Phaolô quả quyết rằng yêu thương thì “không tìm tư lợi” (1Cr 13,5). Như thế, sống quảng đại là không tìm kiếm điều thuộc về mình. Ngài đã giải thích  cách sống quảng đại như sau :”Mỗi người đương tìm lợi ích cho riêng mình, nhưng hãy tìm hạnh phúc cho người khác” (Pl 2,4).
          b) Thứ hai, người sống quảng đại là người muôn yêu thương hơn là được yêu thương.Thánh Tôma Aquinô nói rằng :”Đức ái hệ tại ở ước muốn yêu thương hơn là muốn được yêu thương” (x, NVTY 102).  Ngài đưa ra hình ảnh người mẹ để xác quyết điều này như sau :”Những người mẹ là những người yêu thương nhiều nhất, tìm cách để yêu hơn là để được yêu” (sđd 102).
          c) Thứ ba, người quảng đại là người hiến mạng sống mình cho người mình yêu. Chúa Giêsu đã nói như sau :”Không có tình yêu nào cao cả hơn tình yêu của người thí mạng sống mình vì người mình yêu” (Ga 15,13). Đây là tột đỉnh của cách sống quảng đại.
          2. Tinh thần chìa sẻ
          Theo triết học kinh viện, con người được định nghìa là “con vật có lý tính” (homo est animal rationale). Trong thực tế, con người không những chỉ có tâm tư nguyện vọng mà còn cả tình cảm nữa. Con người muốn được chia sẻ cả tinh thần lẫn vật chất vì theo như Thomas Merton thì “không ai là một hòn đảo”.
          Trong tinh thần chia sẻ, con người cần có sự gặp gỡ, đối thoại với nhau, trao đổi tâm tư và tình cảm của nhau. Vì người ta thường nói rằng “niềm vui được chia sẻ thì tăng lên gấp bội, còn nỗi buồn mà được chia sẻ thì giảm đi một nửa”.
          Trong cuộc sống của hai ông bà trong câu chuyện hôm nay, hình như it có sự chia sẻ, ít đối thoại chân tình nên không hiểu tâm tư nguyện vọng của nhau. Nếu như hai ông bà, qua câu chuyện hằng ngày, hiểu biết rõ sở thích của nhau thì có lẽ sẽ không có sự hiểu lầm đáng tiếc này và làm cho cuộc sống dễ dàng và vui tươi hơn. Tuy đây là một sự hiểu lầm rất thân thương.
          Vì thế, muốn biến gia đình thành một tổ ấm yêu đương, trên thuận sưới hòa thì cần có một tinh thần quảng đại và tinh thần chia sẻ thành thực.
Lm Giuse Đinh Lập Liễm
Giáo xứ Kim Phát
Đà Lạt

 

HônPhối 7: NHƯ VỢ CHỒNG NGÂU

 I. SUY NIỆM LỜI CHÚA.

 Mở đầu Thánh vịnh 133, chúng ta thấy một câu rất có ý nghĩa  về đời sống chung : ca tụng cảnh HônPhối 7

Mở đầu Thánh vịnh 133, chúng ta thấy một câu rất có ý nghĩa  về đời sống chung : ca tụng cảnh anh em sống hòa thuận trong một nhà  :
                                       Ngọt ngào tốt đẹp lắm thay,
                             Anh em được sống vui vầy bên nhau.
                                                (Tv 133,1)

           Anh em sống trong một nhà, sống hòa thuận thương yêu nhau là hình ảnh của đời sống Thiên Chúa Ba Ngôi. Tuy Ba Ngôi riêng biệt nhưng cũng chỉ là một Thiên Chúa duy nhất, yêu thương nhau, cùng hành động để đem lại lợi ích cho con người.
           Thiên Chúa muốn cho nhiều người hôp lại thành một cộng đoàn nhân danh Chúa. Lời cầu nguyện của cộng đồng có sức mạnh hơn lời cầu nguyện riêng rẽ. Chúa Giêsu đã xác định rõ điều đó :”Thầy bảo thật các con : Nếu ở dưới đất, hai người trong các con hợp lời cầu xin bất cứ điều gì, thì Cha Thầy, Đấng ngự trên trời, sẽ ban cho. Vì ở đâu có hai ba người họp lại nhân danh Thầy, thì có Thầy ở đấy, giữa họ (Mt 18,19-20).
           Suy rộng ra, chúng ta thấy loài vật cũng muốn sống tập thể, cũng muốn có cộng đồng để cùng sinh hoạt, ví dụ : loài kiến,  loài ong cũng có cộng đồng và mỗi cộng đồng đều được tổ chức chặt chẽ. Mỗi thành phần trong một cộng đồng biết đoàn kết, yêu thương và chia sẻ với nhau :”Một con ngựa đau, cả tầu chê cỏ”(tục ngữ).
           Đối với con người, đời sống cộng đồng lại càng cần thiết, không có không được. Nếu một người sống trong rừng một mình, không tiép xúc với ai thì dần dần cũng sống như con vật, điều này đã được chứng minh khi người ta bắt được một người trong rừng do loài khỉ nuôi.
           Tác giả Thomas Merton đã lấy nhan đề cho tập sách suy niệm của mình là “No man is an island” : không ai là hòn đảo.  Điều đó chứng tỏ rằng không ai có thể sống riêng rẽ một mình trong đời sống vật chất, tinh thần và thiêng liêng được.
           Thánh Phaolô tông đồ cũng viết thư cho tín hữu Rôma và khẳng định rằng :”Không ai sống cho chính mình” (Rm 14,7).
           Nhà hùng biện trứ danh nước Pháp, giám mục Bossuet, đã chứng nghiệm điều đó khi ngài nói :”Chẳng có một người nào mà không có tương quan với người khác”.
           Vì thế, con người khi đến tuổi trưởng thành, trai gái đều tìm đến nhau, yêu thương nhau, tìm hiểu nhau và muốn cùng nhau xây dựng tổ ấm.  Xây dựng tổ ấm là một quan tâm hàng đầu của đôi trai gái muốn lập gia đình.  Muốn cho gia đình được hạnh phúc, muốn biến gia đình thành một tổ ấm, vợ chồng phải thương yêu nhau tha thiết, vượt qua mọi sự khác biệt, kiên trì trong mọi khó khăn… để người ta nhìn vào mà phải đánh giá bằng lời khen : họ “như vợ chồng Ngâu”.
 
II. NHƯ VỢ CHỒNG NGÂU.
           1. Giải thích thành ngữ.
           Đọc những truyện cổ tích Việt nam, chúng ta hay gặp hai tên Ngưu Lang và Chức Nữ, cũng như tháng ngâu. Vậy Ngưu Lang Chứ Nữ là gì ?
           Người ta kể rằng : ngày xưa Chức Nữ (nghĩa là cô gái dệt vải) là con gái yêu của Trời. Suốt ngày nàng chăm chỉ dệt vải không kể thời gian. Nàng được Trời cho lấy Ngưu Lang  (nghĩa là chàng chăn trâu) cũng là một người hay lam hay làm.  Chàng chăm nom, săn sóc đàn trâu của Trời rất cẩn thận. Gái siêng ngoan  lấy trai chăm chỉ, ai cũng cho là đẹp đôi và tin rằng họ sẽ luôn luôn được sống hạnh phúc bên nhau. 
 Nhưng từ khi lấy nhau, suốt ngày đôi vợ chồng trẻ chỉ quấn quít bên nhau, chẻnh mảng công việc quên cả ngày tháng trôi qua. Nhìn thấy khung cửi thì nhện chăng, đàn trâu thì gầy đói.
Trời giận lắm, bèn đầy hai người  ở hai bên bờ sông Ngâu, mỗi năm chỉ cho gặp nhau có một lần  vào ngày 7 tháng 7 âm lịch.  Vì vậy mà hằng năm cứ vào đầu tháng 7 âm lịch trời lại mưa dầm dề, dai dẳng. Đó là nước mắt của hai vợ chồng Ngâu (biến âm của Ngưu) khóc lúc gặp nhau  sau một năm trời đằng đẵng bị buộc phải xa nhau. Những giọt buồn rả rích suốt mấy ngày đêm ấy làm cho người hạ giới cũng phải buồn lây. Dân gian gọi đó là mưa Ngâu.
           Và cũng do đó, những cặp vợ chồng trẻ yêu nhau mà luôn luôn xa cách, những cặp vợ chồng “xa mặt” mà chẳng “cách lòng”, đời đời chung thủy với nhau được ví như vợ chồng Ngâu (Hoàng văn Hành, Kể chuyện, thành ngữ… tr 367-368).
 
          2. Ý nghĩa của thành ngữ.
           Đọc truyện “Sóng gầm” của nhà văn Nguyên Hồng ta thấy có câu :”Hai vợ chồng từ ngày lấy nhau, ăn ở với nhau tính gộp lại đâu được ba tháng, còn thì bốn năm giời liền cứ “như vợ chồng Ngâu”. Vậy tại sao cặp vợ chồng trong Sóng Gầm lại như họ ?
           Chúng ta thấy, ngày nay có nhiều cặp vợ chồng trẻ yêu nhau  mà phải luôn xa cách vì nhiều lý do. Chẳng hạn do công việc làm ăn phải xa nhau, mỗi người một nơi, chỉ có thể gặp nhau qua điện thoại hoặc như bị giam cầm xa cách.. .. những người này vẫn yêu nhau, trung thành với nhau trong đời sống hôn nhân, tuy “cách mặt” nhưng không “cách lòng”, những người này được ví như vợ chồng Ngâu.
 
III. VỢ CHỒNG NGÂU TRONG GIA ĐÌNH.
           1. Cách mặt nhưng gần lòng.
           Theo tâm lý thông thường, yêu nhau thì muốn ở gần nhau, thậm chí còn muốn kết hợp với nhau cả thân xác lẫn tinh thần.  Tình yêu mà bị chia cách thì đó là sự mất mát lớn lao không gì có thể bù đắp được. Thi sĩ Hàn Mặc Tử đã nói lên kinh nghiệm đó trong câu thơ :
                                       Người đi, một nửa hồn tôi mất,
                                      Một nửa hồn tôi bỗng dại khờ.

           Có những trường hợp vợ chồng yêu nhau, khắng khít với nhau mà phải xa cách nhau vì những lý do bất khả kháng, họ vẫn còn yêu nhau, vẫn một lòng trung tín với hôn ước. Người ta phải khen họ là những người “cách mặt nhưng gần lòng”.
          Ngày nay vì sinh kế, đôi khi vợ chồng phải đi làm việc mỗi người một nơi, không thể gặp nhau hằng ngày được. Có những người đi làm việc theo diện xuất khẩu lao động, phải đi đến những nước khác, họ chỉ có thể liên hệ với nhau qua điện thoại hay thư tín. Có những cặp vợ chồng xa cách nhau ba bốn năm trời, nhưng họ vẫn giữ được lòng trung tín trong mồi giây hôn phối. Họ dám hãnh diện tuyên bố :
                                             Dù ai nói ngả nói nghiêng,
                                      Thì ta vẫn vững như kiềng ba chân.

 
          2. Đừng biến gia đinh thành tháng mưa ngâu.
           Mưa ngâu là tên gọi cho những cơn mưa xuất hiện vào tháng 7 âm lịch ở Việt nam hằng năm.  Theo truyền thuyết Ngưu Lang Chức Nữ thì mỗi khi Ngưu Lang và Chức Nữ gặp nhau, họ đã khóc và nước mắt của họ rơi xuống trần gian hóa thành cơn mưa, đó chính là mưa ngâu.  Truyện còn kể rằng, cứ sau khi hàn huyên tâm sự, họ lại khóc cho nên cơn mưa mới không liên tục, lúc mưa, lúc tạnh.
           Cũng vì lý do này ở Việt nam, người ta không tổ chức đám cưới vào tháng 7 âm lịch (tháng mưa ngâu) vì có mưa dầm suốt tháng; đồng thời lại có thể có gió bão và kiêng kị cho cuộc sống vợ chồng trẻ sau này có thể bị chia ly, chỉ gặp nhau một năm một lần giống vợ chồng Ngâu.
                                       Tục truyền tháng bảy mưa ngâu,
                                      Con Trời lấy chú chăn trâu cũng phiền.
                                      Nhớ ai như vợ chồng Ngâu,
                                      Một năm mới gặp mặt nhau một lần.



          3. Hãy phá đổ bức tường ngăn cách.
           Có những đôi vợ chồng sống với nhau, đêm ngày sát cạnh nhau, mặt đối mặt, nhưng lòng lại không đối lòng. Họ chỉ sống với nhau bằng mặt thôi chứ không bằng lòng. Họ sống gần mặt nhưng lại xa lòng. Họ sống gần nhau nhưng lại có cái cảm giác muôn trùng xa cách vì như có một bức tường vô hình ngăn cách họ. Bức tường đó được dựng lên do những bất hòa nho nhỏ nhưng ngấm ngầm dai dẳng làm cho lòng họ xa rời nhau, mỗi ngày một lớn.
           Triết gia người Pháp, ông Jean Paul Sartre trong cuốn tiểu thuyết mang tựa đề “Bức tường” đã đặt vào miệng của anh Pierre, con người cô đơn bệnh hoạn, cảm thấy ngăn cách không thể hiểu được thái độ sống của người tình mình là cô Agatha những lời tâm sự đầy cay đắng như sau :”Có một bức tường ngăn cách giữa chúng tôi, tôi nhìn thấy và nói chuyện hằng ngày với cô, nhưng xem ra như cô đang sống bên kia bức tường. Tôi thắc mắc không biết có cái gì ngăn cách  giữa tình yêu của chúng tôi hay không” (Hạt giống âm thầm, tr 392).
           Đôi lúc người ta vô tình xây bức tường bằng cách còn vương vấn hình ảnh người tình cũ, làm cho cuộc sống vợ chồng trở nên tẻ nhạt :
                                       Tôi vẫn đi bên cạnh cuộc đời,
                                      Ái ân lạnh lẽo của chồng tôi.
                                      Mà từng thu chết, từng thu chết,
                                      Vẫn giấu trong tim một bóng người.
                                                          (TTKh)

 
          4. Hãy xây dựng một mái ấm tình thương.
                  Trong kho tàng ca dao tụ ngữ Việt nam chúng ta thấy có một câu tục ngữ rất hay nói về việc xây dựng gia đình, biến gia đình thành tổ ấm :
                          Đàn ông xây nhà, đàn bà xây tổ ấm.
           Việc xây dựng ngôi nhà thật là quan trọng và cần thiết cho gia đinh vì người ta thường nói :”An cư lạc nghiệp”. Muốn có công ăn việc làm ổn định thì cần phải có ngôi nhà để ở đã. Phải an cư rồi mới lạc nghiệp được.
           Xây dựng được một ngôi nhà đã là khó, mà biến ngôi nhà thành mái ấm lại càng khó hơn. Xây xong ngôi nhà mà để cho ngôi nhà trống hoắc, thiếu mọi tiện nghi thì ai vào đấy mà ở ? Công việc tiếp theo là phải trang trí ngôi nhà cho đẹp, có đầy đủ tiện nghi giúp cho cuộc sống thêm dễ dàng và dễ chịu. Công việc đó đòi hỏi cả vợ chồng phải nỗ lực xây dựng.
           Người Malaisia có một câu tục ngữ rất hay nói về việc xây dựng mái ấm gia đình :”Cái gì sưởi ấm trong nhà, không phải là lửa trong lò sưởi mà là sự hòa hợp của vợ chồng”. Đúng như vậy, chính sự hòa hợp giữa vợ chồng sẽ biến gia đình thành một mái ấm tình thương, trong đó mọi người được hưởng một cuộc sống hạnh phúc.  Người Việt nam chúng ta nói không sai :”Thuận vợ thuận chồng tát bêẻ Đông cũng cạn”.
                                      Truyện : Tình sắt son.
          Cuộc sống gia đình của một vị tướng (xin giấu tên) tại Phlippines, đang trôi qua trong bầu khí đầm ấm, thương yêu, và đạo đức. Bỗng một hôm, bác sĩ cho biết, bà nhà mắc bệnh phong cùi, phải đưa vào trại cùi, cách ly mọi người càng sớm càng tốt.
           Thực là một tin sét đánh ! Từ nay, vợ chồng phải sống xa nhau. !
           Mấy ngày sau, vị tướng buồn khổ đưa vợ vào trại phong.
           Nhưng vì quá yêu thương người bạn trăm năm, ông đã nghĩ ra diệu kế : ông giao nhà của cho con cái, chấp nhận hy sinh những tiện nghi sẵn có. Ông thuê một căn nhà nhỏ ngay trước trại cùi, và ngày ngày tới sống tại căn nhà nhỏ này. Ban sáng trước khi đi làm, ông ghé thăm vợ, chiều về, ông ghé vào an ủi, đua tin tức cho vợ biết về con cái, bạn bè, rồi cùng nhau đọc kinh cầu nguyện.
           Lúc đầu không ai biết rõ, dần dần người ta mới để ý, tìm hiểu và sau cùng ai cũng cảm phục : Làm sao họ trung thành với nhau như thế !  Không một tai họa nào  có thể chia rẽ mối tình vợ chồng của hai người.
           Mười mấy năm trôi qua, bệnh bà tới lúc khỏi hẳn, vị tướng sung sướng lái xe đua vợ về nhà, xum họp lại với con cái bạn bè.  Quả thực đôi vợ chồng này đã thề hứa và đã trung thành với lời thề hứa lúc cử hành nghi lễ hôn phồi.
           “Chúng tôi sẽ giữ lòng chung thủy với nhau, khi thịnh vượng cũng như lúc gian nan, khi bệnh hoạn cũng như lúc mạnh khỏe, để yêu thương và tôn trọng nhau suốt đời”.
Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt

 

HônPhối 8: ĐỒNG CAM CỘNG KHỔ

I. SUY NIỆM LỜI CHÚA.
          Chúng ta đọc : Mt 22,34-40 và Pl 2,6-11.

Một người thông luật trong nhóm hỏi Đức Giêsu để thử Người rằng :”Thưa Thầy, trong sách Luật HônPhối 8

Một người thông luật trong nhóm hỏi Đức Giêsu để thử Người rằng :”Thưa Thầy, trong sách Luật Mô-sê, điều răn nào là điều răn trọng nhất” ? Đức Giê-su đáp :”Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ngươi. Đó là điều răn quan trọng nhất và điều răn thứ nhất. Còn điều răn thứ hai, cũng giống điều răn ấy, là : ngươi phải yêu người thân cận như chính mình. Tất cả Luật Mô-sê và các ngôn sứ đều tùy thuộc vào hai điều răn ấy” (Mt 22,34-40).         Đó là Lời Chúa.
          Câu hỏi được đặt ra về giới luật trọng nhất trong các Lề Luật, phản ảnh nỗi bận rộn khá thường xuyên nơi các giáo sĩ Do thái thời bấy giờ. Nhưng họ không đồng ý với nhau xem điều răn nào là trọng nhất trong một rừng khoản luật.
          Vì thế, có một người thông luật đến hỏi thử Đức Giê-su rằng :”Trong sách Luật Mô-sê, điều răn nào là điều răn trọng nhất” ? Đức Giê-su trả lời ngay :”Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi”.  Và Ngài còn thêm :”Còn điều răn thứ hai cũng giống điều răn ấy là : ngươi phải yêu mến người thân cận như chính mình”.
          Đức Giê-su đặt luật yêu mến tha nhân liên kết với luật mến Chúa là để nhấn mạnh ý nghĩa bất khả phân ly giữa luật mến Chúa và yêu người.  Như vậy, đã có lòng mến Chúa thì phải có đức yêu người, nếu không vậy thì lòng mến Chúa  chỉ là giả dối. Ngược lại, đã có lòng thương yêu anh em thì tất nhiên cũng có lòng yêu Chúa trên hết mọi sự, nếu không thì lòng yêu thương anh em chỉ là ích kỷ, vụ lợi.
          Có người nói : yêu người khó hơn yêu Chúa. Dĩ nhiên, vì con người không dễ thương bằng Chúa. Thế nhưng Đức Giêsu đã có giới răn thứ hai cũng bằng giới răn thứ nhất.
          Vì thế, thánh Gioan tông đồ đã nói :”Nếu ai nói tôi yêu mến Thiên Chúa mà lại ghét anh em mình, người ấy là kẻ nói dối, vì ai không yêu thương người anh em mà họ trông thấy  thì không thể yêu mến Thiên Chúa mà họ không trông thấy. Đây là điều răn mà chúng ta đã nhận được từ Ngài : ai yêu mến Thiên Chúa thì cũng yêu thương anh em mình” (1Ga 4,20-21).
          Có một tác giả tưởng tượng câu chuyện sau :
          Trên đường đi đến miền đất Chúa hứa, Abraham dựng một cái lều để nghỉ chân. Vừa ra khỏi lều, ngài thấy một người hành khất xin giúp đỡ. Động lòng thương, ngài mời người đó vào và làm tiệc thiết đãi. Trước khi ăn tiệc, ngài mời người hành khất cùng dâng lời chúc tụng cảm tạ Chúa.  Nhưng vừa nghe thấy tiếng “Chúa”, người ăn mày liền nói lộng ngôn xúc phạm đến Chúa. Abraham nổi giận đuổi người đó ra  khỏi lều. Đêm đó, khi Abraham quì cầu nguyện, ngài nghe có tiếng Chúa nói như sau :”Này Abraham, ngươi có biết người ăn mày đó đã nhục mạ Ta 50 năm qua không ? Thế mà mỗi ngày  Ta vẫn ban lương thực cho nó. Ngươi không yêu thương cho nó một bữa ăn sao” ?
          Thiên Chúa mà Đức Giêsu mặc khải là một người cha yêu thương mọi con cái, ngay cả những đứa con bất hiếu ngỗ nghịch.  Đồng thời Ngài mới gọi chúng ta hãy nên trọn lành như Cha trên trời, nghĩa là yêu thương mọi người không loại trừ người nào. Đó là tất cả giáo huấn của Đức Giêsu : Ngài đến để nói với con người rằng Thiên Chúa yêu thương con người  và con người cũng hãy yêu thương nhau (Mỗi ngày một tin vui).
          Tình yêu đối với Chúa phải được tỏ hiện qua dấu hiệu bên ngoài là tình yêu đối với tha nhân. Và chúng ta phải chứng tỏ tình yêu đối với tha nhân không những bằng lời nói nhưng còn bằng hành động, bằng sự nhẫn nhục, tha thứ và cảm thông.
          Nếu giới răn thứ hai là phải yêu tha nhân, phải yêu thương mọi người thì lại càng phải  được triệt để  thực hiện nơi vợ chồng như câu thành  ngữ  này “ĐỒNG CAM CỘNG KHỔ”.

II. THÀNH NGỮ “ĐỒNG CAM CỘNG KHỔ”.
          1. Giải nghĩa thành ngữ.
          “Đồng cam cộng khổ”  là một thành ngữ Hán Việt mà ý nghĩa của nó được hình thành trên cơ sở nghĩa biểu trưng của các thành tố : đồng (cùng), cam (ngọt), cộng (chung), khổ (đắng).
          Ở thành ngữ này, vị ngọt (cam) biểu trưng cho sự sung sướng hạnh phúc; vị đắng (khổ) biểu trưng cho sự bất hạnh, hoạn nạn.
          Tự ý nghĩa cụ thể cùng hưởng vị ngọt, cùng chung vị đắng, thành ngữ đồng cam cộng khổ hình thành nên ý nghĩa khái quát của nó.  Trong hạnh phúc hay bất hạnh, con người cần phải san sẻ cho nhau, cùng hòa vào cuộc sống chung, coi niềm hạnh phúc hay bất hạnh của mọi người như của mỗi người và như của riêng mình vậy (Hoàng Văn Hành, Kể chuyện, thành ngữ… tr 214).
          Trong tiếng Việt, chúng ta cũng có những câu gần nghĩa với đồng cam cộng khổ như : “chia ngọt sẻ bùi, chung lưng đấu cật, đồng tử đồng sinh”.
          Tất cả các thành ngữ này đã tạo nên vẻ đẹp của đạo lý luân thường của dân tộc ta  như “thương người như thể thương thân, lá lành đùm lá rách, chị ngã emnâng” trong cuộc sống khi tắt lửa tối đèn mọi người đều có nhau.
          Trong cuộc sống vợ chồng, thành ngữ này lại càng được thi hành triệt để hơn : vợ chồng luôn khăng khít với nhau, không rời nhau một bước trong lúc bình an cũng như lúc gặp hoạn nạn hay gian lao thử thách :
                                                Đi đâu cho thiếp đi cùng,
                                     
 Đói no thiếp chịu, lạnh lùng thiếp cam.

          Có những người vợ thương chồng, khăng khít với chồng, quên hẳn thân mình, chỉ biết lo cho chồng nhất là khi chồng gặp sự khó khăn. Còn hình ảnh nào thân thương và đẹp bằng hình ảnh vợ tiễn chồng trên đường đi bảo vệ đất nước :
                                                Chàng ơi, đưa gói thiếp mang,
                                      Đưa gươm thiếp vác, cho chàng đi không.


          2. Một thắc mắc được đặt ra.
           Có người đặt câu hỏi : “Đồng cam” khó hơn hay “cộng khổ” khó hơn?        
Câu hỏi này xem ra không cần thiết vì xưa nay, thường chỉ thấy người ta lên án những ai “đồng cam” nhưng không “cộng khổ”, như vậy, vô hình trung,  mọi người xem vế “cộng khổ” là khó hơn vế “đồng cam”.
          Ai mà không muốn được chia sẻ hạnh phúc vinh quang, chia sẻ ngọt bùi với nhau như hình ảnh được người ta mô tả khi chồng đã dỗ đạt được về làng vinh qui bái tổ, có vợ theo sau :
                                                Hôm nay cô Tú về làng,
                                      Võng anh đi trước, vòng nàng theo sau.

           Nhưng cũng có người lại có cái nhìn trái chiều , họ chủ trương : “Đồng cam” khó hơn “cộng khổ”.
          Vì thế, có một bạn chia sẻ trên mạng internet như sau : con người ta những lúc gặp khổ sở, khó khăn, có những người bạn cùng “chung lưng đấu cật”, san sẻ, giúp đỡ vượt qua cái khó. Đó còn gọi là “hoạn nạn mới thấy chân tình” mà ta vẫn thấy nơi bạn bè.
          Tuy niên, cũng có những cái mà ta không tưởng đến phát điên lên được !  Vì khi lợi nhuận quá cao tôi cũng sẵn sàng đạp lên bạn mà đi, khi mà cái ghế hái ra tiền, miếng mồi ngon ngọt thế kia  nó khiến cho lòng ích kỷ tham lam của tôi không còn thấy tình bạn lúc hàn vi nối khố có nhau… Lúc này thì làm sao tôi san sẻ, chia chác cho bạn nữa chứ ?  Bạn có nhớ câu mà chúng ta đùa cửa miệng :”Cục muối chia đôi, cục đường lúm hết” không ?
          Vì hế, anh bạn tạm ví đồng cam là cục đường và cộng khổ là cục muối. Cục muối thì dễ chia đôi, còn cục đường thì thật khó. Do đó anh bạn kết luận :”Hạt muối cắn hai, hạt đường anh nuốt”.

III. ĐỒNG CAM CỘNG KHỔ VỚI ĐỜI SỐNG VỢ CHỒNG.
          Trong cuộc sống hằng ngày, theo tâm lý chung, ai cũng muốn được chia sẻ với nhau trong cuộc sống ấm no hạnh phúc mà chúng ta gọi là “đồng cam”. Còn khi gặp bất hạnh, những khó khăn, những gian nan thử thách thì người ta dễ lìa nhau. Chẳng  vậy mà trong kho ca dao tục ngữ đã có câu :
                              Bây giờ tiền hết gạo không,
                             Anh ơi, ở lại mà trông lấy hòm.
                              Bao giờ tiền có gạo còn,
                             Thì tôi trở lại trông hòm cho anh.

           Ngày nay người ta chú trọng rất nhiều vào đời sống vật chất. Có khi tiền của là thước đo của tình yêu vợ chồng. Hết tiền hết của, hoặc gặp gian nan khốn khố, người ta sẽ nói một cách trớ trêu không ngượng miệng :
                             Đi đâu cho thiếp đi cùng
                            
 No thì thiếp ở, lạnh lùng thiếp bay.

Trong nghi thức hôn nhân, vợ chồng đã long trọng nói lên lời cam kết trước mặt Hội thánh, trước mặt cộng đoàn : nhận nhau làm vợ làm chồng và hứa sẽ giữ lòng chung thủy với nhau khi thịnh vượng cũng như lúc gian nan, khi ốm đau cũng như lúc mạnh khỏe để yêu thương và tôn trong nhau suốt đời mình.
Ngoài ra, hai người còn trao cho nhau mộ kỷ vật là chiếc nhẫn cưới mà hai người xỏ vào tay nhau đồng thời nói lên ý nghĩa : hãy nhận chiếc nhẫn này để làm bằng chứng tình yêu và trung thành của nhau.
Đây là lời hứa công khai và trọng thể với tất cả danh dự của mình. Qua lời hứa đó đã ngầm nói lên ý muốn “đồng cam cộng khổ” với nhau trong đời sống vợ chồng.
          Từ nay vợ chồng hãy yêu thương nhau thật sự. Một trong những bằng chứng tình yêu chân thật, đó là hy sinh quên mình. Yêu nhau mà không chấp nhận hy sinh, gian khổ vì nhau và với nhau, thì chưa phải là yêu nhau thật sự.
          Trời có lúc mưa lúc nắng. Cuộc đời mỗi ngày cũng vậy, có lúc thịnh lúc suy, có lúc vui lúc buồn, có lúc khỏe lúc đau. Tình yêu luôn đòi hỏi sự thủy chung. Nếu chỉ yêu nhau lúc thịnh vượng, may mắn, mạnh khỏe, còn khi gặp gian nan khốn khó, rủi ro, thì lìa bỏ nhau, thử hỏi như vậy có phải là yêu nhau thành thật hay không ? Khi thành thật yêu nhau người ta phải chấp nhận thực tế đó.
          Ngược lại với sự quên mình là ích kỷ. Kẻ ích kỷ thường độc tài, độc đoán, chỉ nghĩ đến bản thân mình, chỉ biết đến quyền lợi của mình. Kẻ độc tài có thể bắt người khác vâng theo ý mình, nhưng không để làm người khác yêu mình.
          Hy sinh quên mình là hạnh phúc của vợ của chồng, của con cái. HY sinh trong những vấn đề cụ thể. Hạnh phúc gia đình được xây dựng bằng những điều nhỏ mọn, bằng những hy sinh liên lỷ hằng ngày của cả đôi bên, chẳng hạn như trong việc sử dụng tiền bạc, thời giờ, mua sắm, giải trí… Đừng chỉ quyết định theo sở thích riêng của mình, bất chấp sở thíchcủa vợ hoặc chồng.
          Sự hy sinh còn được biểu lộ qua việc quan tâm đến nhau, chăm sóc, lo lắng cho nhau, không quản ngại vất vả, gian khó vì nhau, nhất là khi bạn đời gặp thử thách, bệnh tật, khó khăn. Đây chính là lúc sống lời cam kết trung thành với nhau ngày thành hôn.
 
Truyện : Gương thủy chung
Cuộc sống gia đình của một vị tướng nọ ở Phi-lip-pin đang êm đềm trôi qua trong bầu khí thánh thiện đạo đức thì bác sĩ bỗng cho biết bà mắc bệnh phong cùi, phải cách ly gia đình càng sớm càng tốt.
Thật là tin sét đánh. Từ đây vợ chồng phải xa nhau sao? Quả thế, vài ngày sau, ông tướng buồn bã đưa vợ vào trại phong. Nhưng vì quá yêu vợ, ông nghĩ ra một cách. Ông trao lại nhà cửa cho con cái. Còn ông đi thuê một căn nhà nhỏ ngay trước mặt trại phong và đến sống ở đó. Ngày ngày, trước khi đi làm, ông ghé vào thăm vợ. Chiều về, ông lại ghé vào an ủi vợ. Cả hai chia sẻ tâm tình lo âu, nhọc mệt cũng như vui sướng trong ngày cho nhau, báo tin về con cái, bạn bè, rồi cùng cầu nguyện chung với nhau. Lúc đầu không ai biết, nhưng dần dần người ta để ý, tìm hiểu và bày tỏ lòng cảm phục. Họ bàn tán với nhau: “Làm sao họ trung thành với nhau được như thế. Xem ông tướng ấy quý vợ biết bao!” Mười mấy năm trôi qua, bệnh của bà dần dần thuyên giảm. Vị tướng lái xe đưa vợ về nhà xum họp cùng con cái, bạn bè, để lại cho dân chúng một hình ảnh cao đẹp về mối tình hiệp nhất yêu thương trong Chúa (theo internet).
 Trong thư gửi tín hữu Êphêsô, thánh Phaolô đã khuyên vợ chồng hãy khăng khít với nhau như các chi thể trong một thân thể. Chỉ có sự chết mới có thể chia lìa hai người :
“Quả vậy, có ai ghét thân xác mình bao giờ; trái lại, người ta nuôi nấng  và chăm sóc thân xác mình, cũng như Đức Kitô nuôi nấng và chăm sóc Hội thánh, vì chúng ta là bộ phận trong thân thể của Người. Sách thánh có lời chép rằng :”Chính vì thế, người đàn ont6 sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai sẽ thành một xươg một thịt.
Mầu nhiệm này thật là cao cả. Tôi muốn nói về Đức Kitô và Hội thánh. Vậy mỗi người trong anh em hãy yêu vợ như chính mình, còn vợ thì hãy kính sợ chồng” (Ep 5, 29-33).
           Lm Giuse Đinh lập Liễm
          Giáo xứ Kim phát
          Đà lạt

 

HônPhối 9: CHIẾC NHẪN YÊU THƯƠNG

I. SUY NIỆM LỜI CHÚA .
          Chúng ta đọc : Ga 15,9-12.
          “Khi ấy, Chúa Giêsu nói với các môn đệ :”Như Cha đã yêu mến Thầy, Thầy cũng yêu mến các con. Hãy ở lại trong tình yêu của Thầy. Nếu các con tuân giữ các huấn lệnh của Thầy, các con sẽ ở lại trong tình yêu của Thầy, cũng như Thầy đã giữ huấn lệnh của Cha Thầy, nên Thầy ở lại trong tình yêu của Ngài.  Thầy đã nói với các con điều đó, để niềm vui của Thầy ở trong các con, và niềm vui của các con được trọn vẹn.
          Đây là huấn lệnh của Thầy : Các con hãy yêu mến nhau, như Thầy đã yêu mến các con”. - Đó là Lời Chúa.

Khi đọc Tin Mừng theo thánh Gioan, chúng ta thấy tư tưởng nổi bật trong Tin Mừng là tình HônPhối 9

Khi đọc Tin Mừng theo thánh Gioan, chúng ta thấy tư tưởng nổi bật trong Tin Mừng là tình yêu, vì thánh Gioan là một tông đồ độc thân được hân hạnh tựa đầu vào ngực Chúa Giêsu trong bữa tiệc ly trước khi Người đi vào cuộc tử nạn.
          Trong lễ cưới hôm nay, thánh Gioan cũng lặp lại cho chúng ta huấn lệnh Chúa Giêsu đã ra cho các môn đệ và cũng là cho chúng ta :”Đây là huấn lệnh của Thầy : các con hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương các con” (Ga 15,12).
          Chúa Giêsu đã yêu thương mọi người không trừ ai, kể cả kẻ thù của Ngài. Và hơn nữa Ngài còn chịu chết để chuộc tội cho mọi người :”Cũng như Con Người đến không phải để được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người” (Mt 20,28).Do đó, chúng ta cũng phải bắt chước Chúa mà yêu thương và phục vụ mọi người.
          Hôm nay Chúa Giêsu cũng muốn nói riêng với đôi tân hôn là các con hãy yêu thương nhau vì hôm nay các con đã trở nên bạn trăm năm với nhau, các con hãy khăng khít keo sơn với nhau để không gì có thể tách lìa các con ra được. Hôm nay các con đã trở nên một thân xác và không ai có thể chia đôi thân xác ra  mà vẫn còn sống. Do đó, chúng con hãy nhớ lời Chúa Giêsu đã truyền dạy :”Sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly” (Ga 15,6).
          Theo tâm lý chung của người đang yêu là thích cho đi, thích trao tặng cho người yêu cái gì để diễn tả tình yêu của mình, càng yêu nhiều thì càng cho nhiều, thậm chí cho đi cả con người của mình vì “Không có tình yêu nào cao quí cho bằng tình yêu của người hy sinh mạng sống vì người mình yêu” (Ga 5,13).
          Trước mắt, hôm nay hai người diễn tả tình yêu bằng cách trao tặng cho nhau một chiếc nhẫn vì chiếc nhẫn này nói lên tình yêu và lòng chung thuỷ với nhau (lời hứa khi xỏ nhẫn cho nhau).
          Chiếc nhẫn mà hai người xỏ vào tay nhau là chiếc nhẫn yêu thương, đồng thời cũng là chiếc nhẫn cam kết để biến hai người  vừa trở nên con người tự do, vừa bị ràng buộc.  Chúng ta hãy cũng nhau tìm hiểu ý nghĩa của chiếc nhẫn yêu thương ấy.

II. CHIẾC NHẪN YÊU THƯƠNG.
          1. Theo dòng thời gian.
          Nhẫn cưới là biểu tượng của hôn nhân. Biểu tượng rõ ràng này gửi tới mọi người một thông điệp  không thể nhầm lẫn về tình trạng hôn nhân. Chiếc nhẫn cưới thường là rất đơn giản với một thiết kế đẹp và không bị lỗi mốt qua thời gian. Nó cũng có một lịch sử lâu dài, từ thời Ai cập cổ đại, khoảng 4.800 năm trước đây.
          Với người Ai cập cổ đại,  chiếc nhẫn được gắn với một thế lực siêu nhiên, một vòng tròn không có điểm chấm dứt với tình yêu bất diệt. Về sau với người Hy Lạp, khi người con gái chấp nhận chiếc nhẫn cũng có nghĩa là  cô đã bị trói buộc về cả mặt tinh thần lần pháp luật và không còn được tự do nũa.
          Còn ngày nay,  chúng ta chấp nhẫn như là một phần của lễ nghi đám cưới, một sự ràng buộc mãi mãi có sự chứng kiến của hai gia đình, họ mạc, bạn bè.
          Thời gian dần trôi đi và phong tục cũng có những thay đổi đáng kể. Ngày nay, không chỉ các cô dâu mới đeo những chiếc nhẫn  như là một biểu tượng của sự ràng buộc mà phần lớn đàn ông  cũng chọn đeo nhẫn để xác lập tính trung thực của họ, sự khẳng định gắn bó của họ với một người phụ nữ.

          2. Nhẫn cưới của chúng ta hôm nay.
          Ngày nay chúng ta thấy có mấy thứ nhẫn : nhẫn cưới trong hôn nhân, nhẫn của Đức Giám mục, nhẫn của nữ tu khấn Dòng… Trong mỗi trường hợp nhẫn mang một ý nghĩa khác nhau.
          Khi chiếc nhẫn cưới được lồng vào tay, nó là biểu tượng sự ràng buộc của giữa hai con người, vững vàng, lâu dài vĩnh viễn.  Phải chăng riêng điều này thực sự đã chứng tỏ sự hợp nhất của chúng  ngay từ khoảnh khắc ra đời.
          Không chỉ đơn thuần là đồ trang sức, không chỉ mang ý nghĩa duy nhất là gắn kết hai tâm hồn đang yêu lại với nhau, chiếc nhẫn “ngự” trên ngón tay  mang lại nhiều thông điệp hơn thế. Chiếc nhẫn không đơn thuần chỉ là một món quà tặng, mà nó còn là một biểu hiện của tình yêu, sực ràng buộc, lòng trung thành, sự trung thực, tin tưởng lẫn nhau và quyết tâm gắn bó.
          Nghĩ đơn giản sẽ chỉ là một món đồ trang sức không thể thiếu nó mỗi đám cưới; nhưng hiếm ai biết rằng có cả một kho lịch sử đàng sau biểu tượng thể hiện cho sự ràng buộc của hôn nhân ấy.  Ngày nay có nhiều người đo tình yêu bằng sức nặng của kim cương, cũng có những người lại nghĩ cần gì nhẫn cưới lằng nhằng, tấm lòng là chính, nhưng nếu chúng ta biết hết được ý nghĩa của chiếc nhẫn cưới, có lẽ chúng ta sẽ nghĩ khác.
          Biểu tượng rõ ràng này gửi tới mọi người một thông điệp không thể nhầm lẫn về tình trạng hôn nhân.
          Trong nghi thức hôn phối, trước khi trao nhẫn cưới cho từng người, Linh mục chủ sự làm phép chiếc nhẫn và đọc :”Xin Thiên Chúa chúc phúc cho những chiếc nhẫn này mà hai người trao cho nhau  để làm bằng chứng tình yêu và trung thành”.  Như vậy chiếc nhẫn tượng trưng cho tình yêu và lòng trung thành của hai người.  Và rồi bầu khí thật linh thiêng khi hai người xỏ nhẫn cho nhau và đọc lời đoan hứa :”Anh (em) hãy nhận chiếc nhẫn này để làm bằng chứng tình yêu và lòng trung thành của anh (em). Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần.
          Trong nghi lễ tấn phong, Đức Giám mục cũng được đeo nhẫn, điều đó nói lên ý nghĩa ngài đã kết hôn với giáo phận nên phải luôn trung thành với giáo phận đã được trao phó cho ngài.
          Các nữ tu khấn trọn cũng được đeo nhẫn để nhắc cho các chị là các chị đã được kết hôn với Chúa Giêsu, nên suốt đời phải trung thành với Ngài, nghĩa là phải luôn trung thành với những lời đã khấn hứa.

          3. Chiếc nhẫn của thử thách.
          Người đàn ông đeo nhẫn cưới hằng ngày là họ mạnh dạn chứng minh cho mọi người biết là họ đã thuộc về một người kia, và không ai có thể chiếm được trái tim họ. Người phụ nữ dám đeo nhẫn ấy mỗi ngày cũng chứng tỏ cho mọi người biết  họ là gái đã có chồng, là hoa đã có chủ.
          Trung tín không phải là không bao giờ nghe thấy tiếng gọi bên bờ trúc nương dâu.  Không phải người đã đeo nhẫn là không thấy hương thơm của bông hoa bên đường. Họ thấy nhưng là chỉ dừng lại ngắm nhìn và đi tiếp, không với tay ngắt bông hoa ấy vì họ biết bông hoa đã có chủ.
          Có một thời người ta đeo nhẫn để chứng tỏ mình là người tự do. Rồi có một thời  người ta đeo nhẫn để nói lên mình đã ràng buộc cam kết. Và rồi cũng có một thời người ta tháo nhẫn vì cam kết không thành.
          Thời La Mã cổ đại, những người sinh ra trong giai cấp tự do cần phải đeo nhẫn bằng vàng để mọi người biết rằng mình là giai cấp tự do, không thuộc tầng lớp nô lệ. Những người nô lệ được trả tự do cũng cần phải đeo nhẫn , không phải bằng vàng nhưng là nhẫn bằng bạc.
          Nếu đeo nhẫn để là tự do một thời, thì đeo nhẫn cũng là để cam kết một thời.  Người cam kết không thành, thì muốn tháo ràng buộc để đổi lấy tự do. Thế nhưng  tự do thì mênh mông quá. Thế nào là hiểu tự do cho trọn nghĩa ? Tự do để phóng túng đời mình, hay tự do để quyết định đời mình hầu thăng hoa cuộc sống  vẫn là nỗi băn khoăn dai dẳng !
          Có những người tôn trọng lời cam kết nên khắc lời thề hoặc khắc tên người yêu trên chiếc nhẫn cam kết của mình. Người ta như muôn nói một lần đã cam kết là chẳng mong tháo gỡ bao  giờ.
          Ngày nay ít người khắc tên người yêu trên nhẫn, nhưng người ta lại khắc tên của nhau trong tim.  Và khắc tên của nhau trong tim, nên khi tháo gỡ chiếc nhẫn cam kết, thì cũng có nghĩa là  muốn xoá nhoà yêu thương, tẩy xoá tên người yêu khỏi tim mình.  Tên càng khắc sâu thì vết thương càng đau khi xoá nhoà.  Tim không là vàng, không là gỗ đá, nên khi xoá tẩy là gây nên niềm đau. Có những niềm đau có thể nguôi ngoai, có những vết thương mong có ngày lành lại, nhưng có những vết thương phải xót xa một đời.
          Tuy thế, nếu có những cuộc chia ly thì cũng có những mẫu gương tuyệt vời nói lên lòng gắn bó keo sơn đối với nhau.
Truyện : Trao lại cho nhau chiếc nhẫn cưới.
          Sau khi đất nước được hoàn toàn giải phóng. Có rất nhiều sĩ quan trong chế độ cũ phải đi học tập cải tạo.  Có một câu chuyện nói lên mối tình đẹp về lòng chung thuỷ của cặp vợ chồng một cựu sĩ quan Việt nam trong trại cải tạo sau năm 1975.
          Khi biết bao người trong tù thời đó đã gạt lệ đắng cay khi nghe vợ mình xin phép chồng để chọn niềm yêu thương khác, hoặc nghe tin vợ mình âm thầm “lái đò qua sông” không lời từ biệt. Thì cặp vợ chồng sĩ quan này đã chọn cho mình một lời cam kết tuyệt diệu, đáng khâm phục.
          Khi người vợ đến thăm nuôi, họ chỉ có thể gặp nhau trong khoảnh khắc ngắn ngủi sau hàng rào thép gai đan kín. Nhưng trong cái khoảnh khắc ngắn ngủi ấy, họ đã nghĩ ra cách tái cam kết tuyệt vời  bằng cách đổi chiếc nhẫn cưới cho nhau. Người chồng tháo chiếc nhẫn mà người vợ trao cho mình hôm nào, rồi đeo vào tay của vợ mình. Và người vợ cũng tháo chiếc nhẫn mà chồng trao cho mình năm xưa, rồi đeo vào tay của chồng như thêm một lời cam kết sẽ chung thuỷ bên nhau cho dù tù đầy ngăn cách. Vì chiếc nhẫn của chồng  lớn hơn ngón tay của vợ, nên chị đã đeo nhẫn của  chồng vào ngón tay cái của mình. Còn chiếc nhẫn của vợ quá nhỏ, nên anh chồng đã đeo nhẫn của vợ  vào ngón tay út của anh.
          Họ đã đeo nhẫn “ngược đời” như thế không những cho đến ngày gia đình đoàn tụ, nhưng còn đeo nhẫn kiểu đó cho đến ngày hôm nay, khi mầu tóc đã bạc, khi ánh mắt đã nhạt nhoà. Họ vẫn còn sống và sống hạnh phúc bên xứ Mỹ, với đôi nhẫn  đã hơn một lần trao nhau. Và có lẽ họ sẽ còn đeo nhẫn kiểu đó  cho đến ngày đưa nhau về tới vĩnh cửu (Theo Internet).

III. CHIẾC NHẪN VÀ CHỮ NHẪN.
          Trong hôn nhân hạnh phúc thường chỉ hiện diện trong những ngày đầu của cuộc sống gia đình. Cuộc đời không êm ả như nước mặt hồ thu mà có những sóng gió bão táp. Người ta thường nói “bá nhân bá tính”, không ai giống ai, không thể có đồng nhất mà chỉ có hợp nhất trong đời sống vợ chồng.  Phải biết trước  thế nào cũng xẩy ra cảnh “Cơm chẳng lành, canh chẳng ngọt”, những sự trái ý, sự bất hoà, sự va chạm sẽ xẩy ra liên tiếp… Trong những trường hợp này ta cần phải có sự NHẪN NHỤC. Nhẫn nhục là phải nhịn nhục nhau, phải bỏ ý riêng của mình. Cho nên đã nhẫn thì phải nhục, nhưng cái nhục ở đây là có ý thức, do tự nguyện.
          Vậy NHẪN NHỤC là gì ?
          Nhẫn là nhịn chịu. Nhục là tổn thương sỉ nhục.  Vậy Nhẫn nhục là  chịu nhịn những điều sỉ nhục xấu hổ, nhục nhã, chịu đựng tổn thương  trước những cảnh, sự việc không vừa lòng, nghịch ý, trái tai gai mắt; nhẫn nhục là nhận chịu những điều người khác làm cho mình khổ não, mà trong tâm mình không những không tức giận mà còn không nghĩ tưởng tới việc sẽ báo oán trả thù.
          Chữ NHẪN là một từ chữ Hán, được ghép bởi hai bộ, đó là bộ tâm và bộ đao. Chữ Đao (con dao) ở trên và chữ Tâm (con tim) ở dưới. Như vậy, lưỡi đao ấy ở ngay trên tâm, và nếu như gặp chuyện mà không biết nhịn nhục thì tránh sao khỏi đau đớn, có nhẫn nhịn mới chuyển nguy thành yên, bại thành thắng, dữ thành lành…
          Chữ Nhẫn đây có rất nhiều ý nghĩa, có thể đem áp dụng vào nhiều trường hợp trong cuộc sống để thu lượm được nhiều kết quả tốt đẹp…
                    Có khi nhẫn để yêu thương
                    Có khi nhẫn để tìm đường tiến thân.
                    Có khi nhẫn để xoay vần,
                   Thiên thời, địa lợi, nhân tâm hiệp hoà.
                   Có khi nhẫn để vị tha,
|                  Có khi nhẫn để thêm ta, bớt thù.
                   Có khi nhẫn tỉnh giả ngu,
                   Hơn hơn, thiệt thiệt đường tu khó lường.
                   Có khi nhẫn để vô thường,
                   Không không, sắc sắc đoạn trường trần ai.
                   Có khi nhẫn để lắng tai,
                   Khôn khôn, dại dại nào ai tránh vòng.
                   Có khi nhẫn để bao dung,
                  Ta vui người cũng vui cùng có khi.
                  Có khi nhẫn để tăng uy,
                  Có khi nhẫn để kiên trì bền gan…

           Ngoài ra có một số chữ Nhẫn, chúng ta cần tìm hiểu thêm để rộng đường kiến thức và biết áp dụng vào mọi hoàn cảnh trong đời sống.
          - Nhẫn nại : công việc nhiều rắc rối khó khăn, tiến hành chậm chạp, vẫn quyết chí làm cho được.
          - Nhẫn nhục : Việt Câu Tiễn thất bại, chịu đủ thứ hành nhục, khổ phiền, nằm gai nếm mật, chờ thời cơ phục quốc.
          - Nhẫn nhịn : chờ cho đúng thời cơ, chờ cờ đến tay, không nôn nóng. Đôi khi để cho kẻ khác giành lấy tiên cơ, ưu thế trước.
          - Nhẫn thân : phục Hổ Tang Long để kẻ thù đang thế mạnh không tìm diệt mình. Khi lành bệnh, đủ lực sẽ xuất hiện chọc trời khuấy nước.
          - Ẩn nhẫn : trốn tránh, chịu đàm tiếu, xúc xiểm, không còn tỏ ý ham danh đoạt lợi. Có khi trốn tránh luôn, cũng có khi do thời chưa đến.
          - Nhẫn hận : ức lắm, thù lắm, bị xử ép nhưng không tỏ ra thái độ bất bình, oán hận.
          - Nhẫn hành : thấy đã có thể hành động được rồi, nhưng còn kiên tâm chờ thêm cho chắc.
          - Nhẫn trì : khôn khéo hơn thượng cấp rất xa, nhưng giả ngu khờ hết mức  .
          - Nhẫn tâm : thấy ác, thấy nạn, bỏ qua không có thái độ bênh vực, cứu giúp.
          - Tàn nhẫn : bất nhẫn, tự làm những việc không màng tới lương tâm.
          Để kết luận, chúng ta phải ý thức rằng trong cuộc sống nào cũng thế, không thiếu gì những khó khăn, những gian nan thử thách, nhưng chúng ta biết rằng lúc nào cũng có Chúa trong cuộc đời chúng ta, Ngài sẽ nâng đỡ ủi an, ban sức mạnh để chúng ta thắng vượt vì qua sóng gió bão táp thì trời lại sáng, cuộc sống lại yên vui. Chẳng có con đường nào dẫn đến ngõ cụt. Có những đêm tối của tuyệt vọng để chúng ta biết ngóng chờ hừng đông đến trong hy vọng. Không có đường lối nào mà không có ngưỡng vọng giải thoát. Có khi đêm tối lại là sự chuẩn bị cho một ngày mai tươi sáng hơn.
          Hãy trân trọng chiếc nhẫn yêu thương cũng là chiếc nhẫn cam kết mà nhắc nhở mình về lòng trung thành với nhau và với Đấng mà mình đã kết ước. Ước gì ngày giã biệt cõi thế, ta vẫn cảm thấy hạnh phúc và mãn nguyện với chiếc nhẫn đơn sơ được trao ban ngày nào.
 Lm Giuse Đinh Lập Liễm
Giáo xứ Kim Phát
Đà Lạt

 

HônPhối 10: DUYÊN ƠI LÀ DUYÊN

I. SUY NIỆM LỜI CHÚA.
Những người Pharisêu đến gần Chúa Giêsu để thử Người. Họ nói :”Thưa Thầy, có được phép rẫy vợ mình vì bất cứ lý do nào không” ? Người đáp :”Các ông không đọc thấy điều gì sao : Thuở ban đầu, Đấng Tạo Hoá đã làm ra con người có nam có nữ, và Người đã phán :”Vì thế, người ta sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai sẽ thành một xương một thịt. Như vậy, họ không còn là hai nhưng chỉ là một xương một thịt. Vậy, sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly”. Họ thưa với Người :”Thế sao ông Maisen lại truyền dạy cấp giấy ly dị mà rẫy vợ” ?  Người bảo họ :”Vì các ông lòng chai dạ đá, nên ông Maisen đã cho phép các ông rẫy vợ, chứ thuở ban đầu, không có thế đâu. Tôi nói cho các ông biết : ngoại trừ hôn nhân bất hợp pháp, ai rẫy vợ mà cưới vợ khác là phạm tội ngoại tình” (Mt 19, 3-9).- Đó là Lời Chúa.

Theo bài Tin Mừng chúng ta vừa nghe, những người biệt phái chất vấn Chúa Giêsu về vấn đề HônPhối 10

Theo bài Tin Mừng chúng ta vừa nghe, những người biệt phái chất vấn Chúa Giêsu về vấn đề ly dị.
          Theo luật Maisen thì được phép ly dị (Đnl 24,1-4). Nhưng không xác định lý do ly dị, vì thế có sự bất đồng giữa những người theo phái phóng khoáng, nghĩa là chỉ vì một lý do rất đơn giản…  Còn phái nghiêm khắc thì khi người vợ ngoại tình, người chồng mới được phép ly dị.
          Cũng nên nhớ rằng luật pháp Do thái thời đó chỉ nhìn nhận sáng kiến ly dị của người chồng mà thôi.
          Về vấn đề ly dị thì Chúa Giêsu đã dựa vào sách Sáng thế mà khẳng định rằng : không được ly dị (x. St 1,27 và 2,24).
          Theo đó, Chúa Giêsu muốn nói với chúng ta rằng sự liên kết hôn nhân bắt nguồn từ thánh ý của Thiên Chúa, vì thế sự ràng buộc của hôn nhân còn vượt qua sự ràng buộc gia đình, bởi vì, kẻ kết hôn, người ta “sẽ phải rời bỏ cha mẹ mình mà gắn bó với vợ mình”.  Đây là sự kết hợp của hai thân xác, nghĩa là “cả hai sẽ trở nên một xương thịt” (Mt 19,5).
          Ở đây nói lên tính cách vĩnh viễn của hôn nhân. Điều này nhắc nhủ rằng : một khi người ta đã tuân phục thánh ý Chúa vì lòng mến Chúa, thì người ta sẽ trung tín trong đời sống hôn nhân trong mọi hoàn cảnh.
          Còn việc ly dị là một thể chế loài người tạo ra “vì các ông lòng chai dạ đá, nên ông Maisen cho phép các ông rẫy vợ, chứ thuở ban đầu không có thế đâu” (Mt 19,8).  Điều này cho thấy rằng con người vì ích kỷ, nghĩa là đặt sự thoả mãn của lòng mình trên hết, trên cả ý muốn của Thiên Chúa nữa, nên họ đã bất trung với Chúa, và vì vậy, họ bất trung với nhau trong đời sống hôn nhân.
          Tóm lại, trong qúa khứ nếu có cho phép ly dị thì chỉ lả chuẩn miễn thôi. Sự chuẩn miễn không huỷ bỏ được định chế hôn nhân, nghĩa là không có ly dị.

II. DUYÊN TÌNH, DUYÊN NỢ HAY DUYÊN PHẬN.
          1. Nói về chữ Duyên.
          Trong ngôn ngữ Việt nam có nhiều chữa đa nghĩa, một chữ mà hàm chứa nhiều nghĩa, cần phải tìm hiểu trong mỗi trường hợp.
          Duyên vốn là gốc Hán có nghĩa là nguyên nhân, duyên  do, duyên cớ phát sinh ra sự việc.
          Có người cho Duyên là phần trời định cho mỗi người, về khả năng có quan hệ tình cảm (thường là quan hệ tình cảm nam nữ, vợ chồng) hoà hợp, gắn bó vào đó trong cuộc đời. Ví dụ :
                             Ép dầu ép mỡ, ai nỡ ép duyên (tục ngữ).
          Có người cho duyên là sự hài hoà của một số nét tế nhị đáng yêu ở con người, tạo nên vẻ hấp dẫn tự nhiên. Thành nghữ “Có Duyên” có nghĩa là có những nét hấp dẫn tự nhiên trong hình dáng, hành động , ví dụ :
                             Không đẹp nhưng có Duyên.
                             Ăn nói có Duyên.
                             Duyên thầm
                             Nụ cười có Duyên.


          2. Nói về duyên tình.
          Người ta ai cũng có một cái duyên để đến được với nhau, gặp gỡ, trao đổi với nhau, yêu thương nhau và có thể đi đến chỗ kết hợp với nhau. Chúng ta có thể coi đó làDuyên tình
          Người Á Đông thường cho rằng sự gặp gỡ, kết hợp tốt lành giữa con người, sự kiện trong cuộc đời này là có nguyên nhân  như một yếu tố vô hình sâu xa ràng buộc.
          Triết lý này được thể hiện rõ ràng trong duyên nghĩa trầu cau. Phải chăng đó là cái duyên của sự chuyển hoá, của sự biến điệu. Trầu, cau, vôi, vỏ… tất cả nếu đứng riêng rẽ thì mỗi thứ chỉ là cây, là đá, là lá… Nhưng khi chúng hợp lại, hoà quyện, được ủ trong môi miệng của con người, thì tất cả đều biến đổi. Trở nên đằm thắm, trở nên rực rỡ.
          Có duyên thì sẽ gặp được nhau.  Nhờ chữ Duyên mà người ta gặp nhau  và yêu nhau kể cả trong những hoàn cảnh bất ngờ nhất : gặp nhau trong cùng một chuyến xe, do giới thiệu, mối lái… Hiểu một cách khái quát nhất thì Duyên chỉ sự tương hợp tình thân tình cảm bên trong giữa người và người . Chúng ta có một câu thành ngữ quen thuộc :
                                      Hữu duyên thiên lý năng tương ngộ,
                                      Vô duyên đối diện bất tương phùng.

          Nghĩa là có duyên thì xa vạn dặm cũng có thể gặp gỡ; vô duyên thì đối mặt nhau cũng không thể tới sự tương thân hài hoà.
          Để mô tả sự hợp duyên “gắn bó keo sơn” và lỗi duyên không ăn khớp với nhau trong quan hệ vợ chồng, người ta mô tả bằng hình ảnh cụ thể :
                                      Phải duyên thì gắn như keo,
                             Trái duyên đuểnh đoảng như kèo đục vênh.


          2. Nói về duyên nợ
          Khi thấy vợ chồng nào chia tay “đường ai nấy đi”, chấm dứt một đoạn đường mà họ đã vai kề vai sánh bước bên nhau sau những năm chồng vợ, người đời thường nói : họ đã “duyên nợ đã hết” !  Và người trong cuộc thì  ai cũng dựa vào định kiến “duyên nợ” ấy để an ủi mình, hoặc đã tự bào chữa cho mình sau những đổ vỡ ấy.
          Nhưng thực tế, khi hai người sau một thời gian tìm hiểu nhau, yêu nhau tha thiết, và kết hôn với nhau, đã sinh con đẻ cái, rồi vì một lý do nào đó bỏ nhau, chia tay nhau, coi như kẻ thù thì đâu là “Duyên”, đâu là “Tình” và đâu là “Nợ”  ?
          Chúng ta có thể đưa ra một ví dụ như thiếu nữ kia đã cưu mang một chàng trai nghèo, gặp hoàn cảnh khó khăn.  Giúp cho học hành, chung sức xây dựng một gia đình hạnh phúc; nhưng sau khi đã thành danh thì phản bội vợ bằng những cuộc tình khác thì thiếu nữ này “nợ”  người chồng phản bội kia cái gì ?
          Kết luận sau cùng thường cho rằng : những món nợ ấy bắt nguồn từ kiếp trước.  Những suy nghĩ như vậy dựa vào triết lý của nhà Phật vì tin rằng cái duyên, ngay cả cái duyên chồng vợ là “một ràng buộc đã định sẵn trong đời người” (Từ điển tiếng Việt, nhà xuất bản Hồng Đức, 2009).
          Chúng ta không chấp nhận chủ trương coi hôn nhân như một món nợ (duyên nợ) mà hai người nợ nhau dù ở kiếp này hay kiếp trước phải trả.
          Chúng ta phải có tư tưởng như thế nào trước những đổ vỡ ngày càng nhiều  của đời sống hôn nhân ?
          Chúng ta có cần đề cập tới thời gian tìm hiểu, lý do bước vào hôn nhân, nhất là mình đã suy nghĩ, đã sống, đã hành động như thế nào trong hôn nhân không?    Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã có nhận xét rất đúng :
                                   Tình yêu như trái phá,
                                   Con tim mù loà.

          Cộng thêm quan niệm “yêu cuồng, sống vội”, nhiều bạn trẻ đã lao vào tình yêu một cách mãnh liệt, mù quáng như con thiêu thân trước ánh đèn. Họ tỏ ra thiếu trưởng thành, ngay cả thiếu suy nghĩ chín chắn trong yêu thương.
          Những mối tình này nếu có dẫn đến đổ vỡ sau kết hôn mà đổ tại duyên số thì là một lối cắt nghĩa gượng gạo, tội nghiệp cho chữ nghĩa.

III. CÓ DUYÊN SỐ HAY DUYÊN PHẬN KHÔNG ?
          Có người cho rằng gặp gỡ nhờ DUYÊN, yêu nhau bởi NỢ và chia ly do PHẬN…  Nếu đã là Duyên, thì có xa cách thế nào cũng tìm được đường gặp lại. Nếu đã Nợ, thì dù có trốn tránh tới đâu cũng không thể thoát được. Và khi đã là Phận, thì đơn giản, là không thể chống lại.
          Trong tình yêu hình như đâu đâu cũng đã được ông trời định duyên. Duyên đến, duyên ở hay duyên đi dường như cũng đều do “Số phận” sắp đặt.  Có những lương duyên khi bắt đầu (dù rất nhanh) đã chắc chắn như “ván đã đóng thuyền”; có những duyên phận  khi bắt đầu (dù dài hơi) đã định trước là sẽ phải ra đi. Có những duyên phận chẳng bao giờ có kết quả tốt.
          Người ta nói rằng gặp được nhau giữa thế giới 7 tỷ người này  là một cái duyên nhưng đến được với nhau thì cần cái phận. Phải rồi, người ta luôn vin vào hai chữ Duyên phận để cân đong, đo đếm độ dài và độ sâu của tình yêu.  Và đáng buồn thay, số người tin vào duyên phận lại chiếm số khá đông.
          Bản thân tôi luôn tin rằng trên đời này tồn tại chữ Duyên, phải có duyên thì hai người xa lạ mới có thể gặp nhau rồi yêu. Nhưng “Duyên phận” thì tuyệt đối không.  Ông Tơ bà Nguyệt xe duyên xong xuôi rồi việc còn lại thì do người trong cuộc tự xây dựng và định đoạt.  Nếu cứ đi cùng đường, đến khi yêu thương nhạt nhoà, hạnh phúc “hết đát” thì lại chép miệng “âu cũng là duyên phận” .  Đã hết yêu nhau rồi hà cớ gì phải đổ cho duyên mỏng phận bạc, thật là bất công !
          Khi yêu nào có ai biết trước được ngày sau ra sao nên nhiều người cứ nói với nhau rằng thôi cứ để tự nhiên đi, cứ yêu đi tới đâu thì tới, duyên phận sắp đặt sẵn hết rồi. Thật là buồn cười !  Yêu thì phải cố gắng mà vun đắp  chứ sao lại cứ tới đâu thì tới, thế chẳng phải đang lãng phí cái duyên trời cho hay sao ?  Cứ hời hợt với tình yêu đi đến khi nó chết yểu rồi lại trách than duyên phận.
          Và sau mỗi một chuyện tình kết thúc, vì chữ duyên mà người ta đến bên một người khác, rồi lại nói không có phận mà dứt tình với nhau. Cứ như thế xoay vòng, yêu – chia tay – yêu. Cuộc đời lắm nỗi lâm ly cũng chỉ vì thế.
          Trong thực tế, có những người đi cùng nhau tới cuối con đường thì nói chúng ta  có duyên phận, thậm chí là duyên nợ nên đã buộc cả hai vào với nhau ; số còn lại nói có duyên mà không có phận thì sao mà đi tiếp được.
          Xin nhớ cho rằng tiếp tục đồng hành cùng nhau hay không cũng là do mình mà ra, chẳng có chứ “Phận” nào quyết định giùm người ta cả. Vì thế, nếu đã yêu thì yêu hết mình đi. Và nếu yêu thương đủ sâu đủ dài thì dù duyên phận  có chặn lối đi chăng nữa, chắc chắn người ta  sẽ tìm được lối rẽ cho tình yêu của mình. Hạnh phúc chỉ đến với những người biết cố gắng và trân trọng tình yêu thôi.
          Nếu hỏi các bạn trẻ , những đôi vợ chồng trẻ ngày nay khi hai vợ chồng chia tay nhau thì các bạn ấy gọi hành động này là gì ? Câu trả lời sẽ là : ly dị.  Bởi vì ly dị theo định nghĩa là một kết thúc đời hôn  nhân một cách hợp pháp, được luật pháp công nhận.
          Nếu coi hôn nhân là một định chế của xã hội, thì việc chấm dứt hôn nhân một cách hợp pháp theo định chế ấy là đúng, nhưng hôn nhân không chỉ là một khế ước, một lời hứa trước mặt quan toà hay người chứng giám.
          Hôn nhân còn mang một ý nghĩa cao hơn tiềm ẩn trong tâm linh, trong định luật tự nhiên mà Thượng Đế đã ghi tạc vào lòng mỗi người.  Mọi nền văn hoá, và qua mọi thời đại việc cử hành hôn nhân luôn pha lẫn giữa những truyền thống xã hội và các nghi lễ tâm linh.  Hơn hai nghìn năm trước, khi trả lời về vấn đề ly dị, Đức Kitô đã nói với những người chủ trương ly dị những lời này :
“Các ông hẳn chưa đọc rằng  Ngài đã tạo dựng họ từ ban đầu có nam và nữ và phán :”Bởi thế, người đàn ông sẽ lìa bỏ cha mẹ mình và kết hợp với vợ mình, và cả hai sẽ thành một xương một thịt”. Vì thế, họ không còn là hai, nhưng một xương thịt.Sự gì Thiên Chúa đã liên kết, con người không được phân ly” (Mt 19,4-6).
          Qua câu trả lời của Đức Giêsu, chúng ta cũng cần hiểu rằng  Thượng Đế không buộc hai người lại với nhau, rồi bắt người này phải trả món nợ tiền kiếp của người kia. Duyên tình hay duyện phận ở đây là những hoàn cảnh, những điều kiện thuận lợi sẵn có  mà hai người có thể đến với nhau, tìm hiểu, yêu thương và kết hôn với nhau.
          Cốt lõi của cái “duyên” – sự liên kết mà Thượng Đế muốn có nơi hai người là “Tình yêu chung thuỷ”.  Vì thế, sự chọn lựa ấy của hai người được gọi là sự ràng buộc mang tính vĩnh viễn, dựa trên nền tảng vững bền là tình yêu. Nó cũng nói lên sự quyết định rõ ràng, mạnh mẽ, và trưởng thành của hai người khi tiến tới hôn nhân.
          Các bạn trẻ khi chuẩn bị kết hôn, cần phải nhớ lại hai đặc tính của hôn nhân Công giáo là đơn hôn và vĩnh viễn.
          Chúng ta nên đọc lại giáo huấn của công đồng Vatican II về vần đề này :
“Bởi giao ước hôn nhân, người nam và người nữ không còn là hai nhưng là một xương một thịt (Mt 19,6) phục vụ và giúp đỡ lẫn nhau bằng sự kết hợp mật thiết trong con người và trong hành động của họ, cảm nghiệm và hiểu được sự hiệp nhất với nhau mỗi ngày một đầy đủ hơn.  Sự liên kết mật thiết vẫn là sự tự hiến của hai người cho nhau, cũng như lợi ích của con cái buộc hai vợ chồng phải hoàn toàn trung tín và đòi hỏi kết hợp với nhau bất khả phân ly” (MV số 48).
Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt

 

HônPhối 11: CHẤP NHẬN NHỮNG KHÁC BIỆT

I. SUY NIỆM LỜI CHÚA.
           Khi ấy, có mấy người Pharisêu  đến gần Đức Giêsu để thử Người. Họ nói :”Thưa Thầy, có được phép rẫy vợ mình vì bất cứ lý do nào không” ?
          Người đáp :”Các ông không đọc thấy lời này sao :”Thuở ban đầu, Đấng Tạo Hoá đã làm ra con người có nam có nữ và Người phán : “Vì thế, người đàn ông sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ minh, và cả hai sẽ thành một xương một thịt’. Như vậy, họ không còn là hai, nhưng chỉ là một xương một thịt.
          Vậy, sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly” (Mt 19,3-6).- Đó là Lời Chúa.

Những người biệt phái chất vấn Chúa Giêsu về vấn đề ly dị. Vì theo luật Maisen thì được phép ly HônPhối 11

Những người biệt phái chất vấn Chúa Giêsu về vấn đề ly dị. Vì theo luật Maisen thì được phép ly dị (Đnl 24,1-4). Nhưng không xác định lý do ly dị nên có sự bất đồng giữa những người theo phái phóng khoáng và phái nghiêm khắc.
          Khi đó có hai phái hai lập trường : lập trường của phái Hillel thì rộng rãi, phóng khoáng, cho ly dị một cách dễ dàng, nghĩa là chỉ vì một lý do rất đơn giản như khi người vợ nấu một món ăn không ngon, cũng đủ để ly dị. Còn lập trường của phái Shammai thì khắt khe hơn, chỉ chấp nhận ly dị  trong rất ít trường hợp.
          Biệt phái biết vấn đề này gay go nên đem ra gài bẫy Chúa Giêsu.  Theo họ nghĩ Ngài trả lời cách nào  cũng có thể bị kết án : hoặc quá rộng rãi hoặc quá hẹp.
          Chúa Giêsu trả  lời bằng cách trích hai đoạn trong sách Sáng thế (St 1,27; 2,24). Đó chính là những lời thiết lập định chế đơn hôn và vĩnh hôn.  Như thế, dứt khoát là không được ly dị, bởi vì “Sự gì Thiên Chúa đã thiết lập, loài người không được phân ly”(Mt 19,6).
          Người ta thường nói :”Yêu nhau vạn sự chẳng nề, một trăm chỗ lệch cũng kê cho bằng” (ca dao). Đó là kinh nghiệm phổ biến của dân gian và cũng là cảm nghiệm rất thực  của tất cả những ai  đã yêu và đang yêu.  Quả vậy, tình yêu trong hôn nhân sẽ có khả năng kết hợp hài hoà hai người nam - nữ lại với nhau, thành một cặp vợ chồng “tâm đầu ý hợp”. Tình yêu ấy cũng có phép mầu giúp hai người vượt qua những khác biệt của nhau, nhờ đó họ sẵn sàng chia vui sẻ buồn, sẵn sàng đồng cam cộng khổ với nhau trong suốt cuộc hành trình “đồng hội đồng thuyền” duyên kiếp này…
          Nhưng tại sao trong xã hội ngày nay người ta ly dị dễ dàng và quá nhiều như vậy ?  Câu trả lời là : người ta chưa chấp nhận những khác biệt của nhau.

II. NHỮNG KHÁC BIỆT TRONG ĐỜI SÔNG HÔN NHÂN.
                                      Truyện : Một đầu hai mặt
          Truyền thuyết của Hy Lạp về vợ chồng như sau : Trước kia người nam và người nữ chỉ là một con người duy nhật, và trong con người ấy có sẵn hai  yếu tố, hai bản chất nam nữ. Như thế con người nguyên thuỷ chỉ có một thân thể, nhưng lại có hai cái “mặt” trên một cái đầu và mỗi  mặt nhìn về một hướng.
          Bởi đó, mặt này nhìn thấy nhưng sự vật khác với mặt kia, nảy sinh ra những dự tính khác nhau với cái nhìn của mặt kia. Nên có lúc trong con người đó nảy sinh ra những xung đột bên trong, chẳng hạn nửa thân người này muốn thực hiện một việc, muốn đi về một phía, trong khi đó nửa kia lại muốn làm việc khác, đi về hướng khác, rồi cuối cùng chẳng biết làm sao.
          Con người ấy bèn xin với Thượng Đế cho tách mình làm hai, mỗi mặt đi với một nửa cơ thể, và từ đó có một cuộc sống riêng.  Sau thời gian “hai nửa thân thể” sống riêng, lại cảm thấy thiếu thốn nhớ nhung, bèn đi tìm nhau để kết lại một, đó là sự lấy vợ lấy chồng.  Hai nửa thân mình tìm thấy nhau rồi kết hợp lại làm một (vì vốn chỉ là một).
          Triết thuyết của Đông và Tây, cũng như hướng dẫn của tôn giáo (qua truyện Adong-Evà) đều mặc nhiên công nhận sự bất đồng rất tự nhiên, đương nhiên của nam và nữ, âm và dương. Nhưng chúng đòi hỏi phải có cả hai như “hai nửa thân thể của một người”,  không thể tách ra, không loại bỏ nhau lại đòi hỏi phải có nhau, giống như hai mặt khác nhau của một đồng tiền thì mới có thể hiện hữu, mới có giá trị.
          Những khác biệt trong đời sống vợ chồng có nhiều lý do dẫn đến những khó khăn trong cuộc sống :
          1. Tội tổ tông :  Sau khi phạm tội ăn quả cấm, Adong- Evà bắt đầu chia rẽ nhau :  ông đổ mọi trách nhiệm trên đầu bà. Tội lỗi đã hiện hữu và đã gây nên sự bất hoà, mất hạnh phúc  ngay từ khởi điểm có hai con người. Đã có hai người thì đương nhiện phải có sự dị biệt.
          2. Vấn đề kinh tế - tài chính : đây là loại nguyên nhân chính yếu và thực tế nhất vì nó gắn liền với đời sống : vấn đề tiền bạc. Nó không vắng bóng trong bất cứ một gia đình nào, kể cả giầu lẫn nghèo, thậm chí có người nói : Không có tiền thì chết đói,  Có tiền thì chết đâm.
          Nghèo thì khổ đã vậy, còn khi quá dư thừa tiền của thì đâm ra “No cơm ấm cật, dâm dật mọi bề” (tục ngữ).
          3. Vấn đễ xã hội : vấn đề này cũng gây rất nhiều khó khăn cho vợ chồng và dễ đi đến bất hoà. Không có đời sống tự lập về tài chính, về nơi ăn chốn ở : sẽ có va chạm với bố mẹ, với anh chị em.  Hoặc cuộc sống chung chạ với cha mẹ, anh em gây ra nhiều va chạm :
                             Yêu nhau chị em gái,
                             Rái nhau chị em dâu,
                             Đánh nhau vỡ đầu là anh em rể.

          4. Vấn đề tâm lý : Như trên đã nói, có sự khác biệt tâm sinh lý giữa nam và nữ nên dễ gây ra sự bất hoà. Ngoài ra, ta cũng phải công nhận rằng mỗi người có một tính tình, không ai giống ai : bá nhân bá tính. Vì vậy người ta mới nói :
                             Sống mỗi người một nết,
                             Chết mỗi người mật tật,
                             Bệnh mỗi người một chứng,
                             Thuốc mỗi người một thang.

          Chính vì thế, ta phải tìm hiểu một số định luật tâm lý về sự khác biệt giữa nam và nữ mà ta đã học trong các lớp giao lý hôn nhân, để tránh sự hiểu lầm đáng tiếc, và từ đó, có thể tìm ra biện pháp đem đến sự hoà hợp và bổ túc.
          Nhưng định luật tâm lý (đã có trong các sách về hôn nhận) :
                             - Định luật ưu tiên.
                             - Định luật phân cách.
                             - Định luật chi tiết.
                             - Định luật bất đồng cảm.
                             - Đinh luật thính giác.

          Đến một lúc nào đó, sóng gió sẽ ào đến, bão tố sẽ ụp đến đe doạ niềm hạnh phúc và sự vững bền  “con thuyền lứa đôi”.  Sức mạnh như gió bão, như sống ngầm của những mối bất hoà bất đồng, những mâu thuẫn trái ý, những xung khắc xung đột – chủ yếu nảy sinh từ  những khác biệt giữa hai người – sẽ có nguy cơ làm tiêu tan sự nghiệp “hai nên một” của đôi bạn.  Tình trạng cơm chẳng lành canh chẳng ngọt sẽ xẩy ra như cơm bữa và hiện tượng “Ông nói gà bà nói vịt” sẽ diễn ra thường xuyên, đến nỗi, những người ở trong cuộc sẽ phải ngao ngán mà than thở rằng: “Ôi, tình chỉ đẹp khi còn dang dở !!!”.
          Các nhà nghiên cứu về hôn nhân gia đình đã đưa ra những số liệu chứng cứ sau đây, như một lời cảnh báo :
          “Theo qui luật phổ biến trên thế giới thì ly hôn ở độ tuổi dưới 30 bao giờ cũng chiếm tỷ lệ cao nhất.  Tức là họ chia tay nhau chỉ sau vài năm chung sống.  Chẳng hạn ở các nước phương Tây hiện nay. Hơn 65% các cặp ly hôn rơi vào nhóm tuổi dưới 35.  Điều đó phản ảnh một thực tế là những năm đầu tiên chung sống của các đôi vợ chồng trẻ là những năm thử thách gay go nhất, đó là giai đoạn ráp nối của hai cá nhân hoàn toàn khác biệt nhau về tính cách, sở thích, tâm sinh lý, học vấn, lối sống, giới tính… cho nên rất nhiều cặp đã không vượt qua được  giai đoạn cam go này và phải bỏ cuộc.
          Đây là giai đoạn mỗi người phải bộc lộ hết cái tốt và cái xấu thật của mình ra  trong đời thường  mà trước đó họ không muốn phô bầy ra  trong khi đang chinh phục lẫn nhau.  Chính vì thế mà  hầu như sau ngày cưới ai cũng “sốc” hoặc nhẹ hoặc nặng.  Một số người đã vượt qua được cú sốc đó, còn một số người  thì không chịu đựng nổi và tự nguyện rời bỏ cuộc tình một thời lãng mạn đó” (Ts Nguyễn Minh Hoà,  Hôn nhân gia đình trong xã hội hiện đại – NXB Trẻ năm 2000, tr 85-86).
          Ai trong chúng ta cũng đều biết rằng hôn nhân không phải là một luống hoa hồng mà là một bãi chiến trường trong đó hai bạn nam nữ là những chiến binh cực kỳ dũng cảm.  Cuộc sống sau đám cưới là những chuỗi ngày phải đấu tranh gian khổ để duy trì hạnh phúc, bình an trong gia đình. Sớm muộn người ta sẽ phải trải qua những lúc “cơm chẳng lành canh chẳng ngọt hay những tình huống dở khóc dở cười “ông nói gà bà nói vịt” hoặc “trống đánh xuôi kèn thổi ngược (tục ngữ).
          Tác giả Dale Carnegie trong quyển “Tâm lý vợ chồng” khi đề cập đến những va chạm hằng ngày xẩy ra  trong cuộc sống lứa đôi đã viết như sau :”Cuộc sống vợ chồng là cuộc sống tế nhị, con người khi lập gia đình phải hiểu được những khó khăn, phiền phức trong đời sống lứa đôi đó, mới có thể mang lại cho nhau nguồn hạnh phúc chân thật đúng như lòng mình mong muốn.  Yêu tức là thừa nhận, yêu là tha thứ, đó là một chuyện đương nhiên không ai không biết, nhưng không phải vì thế mà câu chuyện vợ chồng trở thành đơn giản, mọi người đều thừa biết là thế, song cuộc sống vợ chồng vẫn là một cuộc sống phiền toái luôn luôn phức tạp”.

III. GIẢI PHÁP CHO NHỮNG KHÁC BIỆT
          Những khác biệt luôn tồn tại trong đời sống gia đình, không thể nào triệt tiêu những nhược điểm ấy được. Đức Khổng Tử thử đề nghị với chúng ta một giải pháp :”Hoà nhi bất đồng”.
          Chúng ta phải sống hoà hợp với nhau trong đời sống gia đình để làm nên một gia đình êm ấm thuận hoà,  nhưng nói như thế không có nghĩa là ta phải bỏ cả cá tính đặc thù của mình, không phải chúng ta phải đồng hoá với mọi người để chúng ta không còn là mình nữa mà đã bị tha hoá.
          Thực vậy, hôn nhân là một cam kết sống chung đến hết đời và là một cuộc đồng hành dài hơi, nên những khó khăn, phức tạp, va chạm là điều dễ xẩy ra.  Đúng như một danh nhân đã nhận xét :”Hôn nhân là gặp nhau, lấy nhau và sau đó là cãi nhau”.
          Những cuộc cãi vã, hờn dỗi do mâu thuẫn, bất đồng, bất hoà từ những chuyện vụn vặt thường ngày  giữa hai vợ chồng có thể kéo dài từ ngày này qua ngày khác, tháng này qua tháng khác, và cuối cùng có thể dẫn đến  sự đổ vỡ không thể hàn gắn được.
          Tuy nhiên, chúng ta tin rằng tình yêu sẽ chiến thắng tất cả vì tình yêu có sức mạnh hoá giải mọi khác biệt, mọi bất đồng, mọi mâu thuẫn.  Tục ngữ Viêt nam có câu:”Thương nhau chín bỏ làm mười”.  Điều đó có nghĩa là khi yêu nhau thực tình, đôi bạn sẽ vượt qua mọi phiền toái, khó khăn trong cuộc sống chung, để cùng xây dựng một mái ấm hạnh phúc, bình an.
          Các chuyên viên tư vấn về tình yêu – hôn nhân – gia đình, khi phải đưa ra những lời khuyên cho vấn đề  giữ gìn hôn nhân bền vững đã thường nêu ra một nguyên tắc ưu tiên hàng đầu, đó là “HÃY TÔN TRỌNG SỰ KHÁC BIỆT GIỮA HAI VỢ CHỒNG”.  Bởi theo họ, vợ chồng thường không chỉ khác biệt nhau về tuổi tác, trình độ học vấn, sức khoẻ, kiến thức, kỹ năng… mà còn chênh lệch và khác biệt nhau về những phương diện sâu xa và tế nhị khác thuộc lãnh vực tinh thần, tâm hồn, tâm lý, lòng đạo v.v… Vì thế trong quá trình chung sống với nhau, nếu muốn đạt hạnh phúc lâu dài, bền vững, họ cần tìm được tiếng nói chung để sống hoà hợp, để chấp nhận những khác biệt, để tôn trọng  cái riêng tư độc đáo của nhau.
          Ta hãy nghe D. Wahrheit, tác giả cuốn “Cẩm nang hạnh phúc gia đình Kitô” đã phân tích và nhận định như sau :”Đời sống hôn nhân là khởi đầu của một cuộc khám phá. Yêu nhau, nên một với nhau, không có nghĩa là xoá bỏ mọi khác biệt, cũng không có nghĩa là  bắt người khác phải nên giống mình.  Sự hoà hợp chỉ có, khi hai bên biết tôn trọng những khác biệt của nhau.  Mãi mãi người phối ngẫu vẫn là một mầu nhiệm để chiêm ngưỡng” (x. D. Wahrheit, Cẩm nang hạnh phúc gia đình Kitô, Tp Hồ Ch1 Minh, 1993, tr 13).
          Thực tế luôn có sự bất đồng trong đời sống vợ chồng. Chén bát còn có khi xô xát, vợ chồng sống chung lâu ngày, tránh sao khỏi những lúc va chạm :”Ngọc nhìn lâu sẽ tìm thấy vết. Hoa để gần sẽ hết mùi hương”. Thực tế còn cho thấy cuộc sống chung không phải lúc nào cũng bình ổn, đôi lúc sóng gió nổi lên làm xáo trộn cả gia đình.
          Giải pháp cho những xáo trộn này là sự “nhẫn nhịn”.  Khi nói về tình yêu vợ chồng người ta thường nói như thi sĩ  Hồ Dzếnh :”Tình chỉ đẹp khi còn dang dở, đời mất vui khi đã vẹn câu thề”. Thực vậy, lúc mới yêu nhau thì “anh nói em nghe, em nói anh nghe”. Sau một thời gian chung sống, khi đối diện với vấn đề thực tế hằng ngày như “cơm áo gạo tiền” khiến tình yêu suy giảm nên hai vợ chồng không còn nghe nhau :”Anh nói anh nghe, em nói em nghe”. Sau cùng khi tình yêu đang chắp cánh xa bay thì hai vợ chồng không còn nể nhau nữa và lúc đó “cả hai cùng nói to khiến hàng xóm phải nghe”.
          Để khắc phục tình trạng này, vợ chồng cần phải ghi nhớ câu châm ngôn sau :”Một sự nhịn chín sự lành”.
          Thánh Phaolô cũng khuyên các tín hữu Colossê :”Anh em hãy có lòng thương cảm, nhân hậu, khiêm nhu, hiền hoà và nhẫn nại.  Hãy chịu đựng và tha thứ cho nhau, nếu trong anh em người này có điều gì phải trách móc người kia. Chúa đã tha thứ cho anh em, thì anh em cũng vậy, anh em phải tha thứ cho nhau”(Cl 3,12-13).
          Có một điều đặc biệt khá quan trọng mà các đôi vợ chồng chúng ta nên quan tâm, đó là muốn nên một trong cuộc sống hôn nhân gia đình, chúng ta cần có một tấm lòng thật sự bao dung.  Ai cũng biết rằng, lòng bao dung (tolérence) khác với lòng khoan dung (indulgence).  Bao dung là tôn trọng và chấp nhận sự khác biệt, sự đa dạng giữa người với người trong đủ mọi chiều kích. Trong khi đó, khoan dung là dễ dàng chấp nhận và tha thứ  những lỗi lầm hay khiếm khuyết của người khác.  Trên thực tế, có người từng khoan dung, nhưng chưa hẳn đã từng bao dung. Họ có thể tha thứ, thông cảm những sai lỗi của người khác, nhưng không chấp nhận người khác suy nghĩ, hạnh động khác mình.
          Với nhận thức “Bao dung là chấp nhận và tôn trọng sự khác biệt, đa dạng của con người” thì vợ chồng sẽ dễ dàng xích lại gần nhau, dễ dàng bổ túc cho nhau, dễ dàng giúp đỡ nương tựa nhau, dễ dàng cần đến nhau, nhờ đó họ kiện toàn sự hiệp nhất yêu thương nhau. Một danh nhân đã nói :”Yêu ai là yêu trọn vẹn con người đó y nguyên như trong thực tế, chứ không phải như trong ước muốn của ta” (Leon Tolstoi).
                                      Truyện : Ngọc trai
          Ngọc là một đồ trang sức cực kỳ  quí giá, chỉ những người giầu có mới dùng nó để trang sức.  Nhưng chúng ta biết rằng muốn có thứ ngọc trai đó thì phải có cả một quá trình gian nan, chịu đựng.  Bạn có biết con trai không ?
          Con trai thường ở trong ao, trong hồ. Người ta hay nấu cháo trai, một món ăn bình dân, ăn rất ngon. Con trai đã phải chịu đựng đau đớn biết bao nhiêu khi có những hạt cát rơi vào. Nhưng rồi mặc cho nỗi đau đớn dày vò, con trai vẫn can trường bọc lấy những hạt cát để từng ngày tạo nên những viên ngọc trai tuyệt vời.
          Con trai là loài động vật có hai mảnh vỏ. Một đôi vợ chồng cũng như con trai vậy.  Người vợ và người chồng như hai mảnh vỏ ngọc trai gắn kết với nhau để rồi một ngày tạo ra viên ngọc trai quí.
          Khi có vật lạ rơi vào bên trong, nếu hai mảnh vỏ trai chỉ làm điều đơn giản là đẩy nó ra bên ngoài, hoặc tách rời nhau và không phối hợp với nhau sẽ không bao giờ có những viên ngọc trai quí báu.
          Đầu tiên, chúng ta phải biết chấp nhận những điều khó chịu như những hạt cát, và rồi tận dụng những hạt cát đó để tạo ra một cái gì đó tuyệt vời hơn.
          Cuộc sống hôn nhân cũng thế.
          (Theo Như Nguyễn, báo Tuổi trẻ cười, số 39/2002).
          Tóm lại, chúng ta tán thành ý kiến sau đây của tác giả D. Wahrheit :”Hôn nhân là công trình xây dựng của hai vợ chồng. Hai tâm lý khác nhau, hai lối suy nghĩ khác nhau, hai sở thích khác nhau… Đó là kho tàng quí giá nhất của đời sống vợ chồng.  Sự khác biệt đó không phải là hố ngăn cách hai người mà trái lại, bổ túc cho nhau, làm cho nhau nên phong phú hơn” (D. Wahrheit, Sđd, trang 33). 
                  Lm Giuse Đinh lập Liễm
                 Giáo xứ Kim phát
                 Đà lạt

 

HônPhối 12: CHIẾC XƯƠNG SƯỜN

I. THEO THÁNH KINH

Sách  Sáng thế cho chúng ta biết : Thiên Chúa đã tạo dựng trời đất vạn vật trong sáu ngày. Sau HônPhối 12

Sách  Sáng thế cho chúng ta biết : Thiên Chúa đã tạo dựng trời đất vạn vật trong sáu ngày. Sau khi đã hoàn tất việc tạo dựng, Thiên Chúa mới dựng nên con người để làm chủ những gì Chúa đã dựng nên. Sách Thánh chép :”Đức Chúa là Thiên Chúa lấy bụi từ đất nặn ra con người, thổi sinh khí vào lỗ mũi, và con người trở nên một sinh vật.  Rồi Đức Chúa là Thiên Chúa trồng một vườn cây ở Eden, về phía đông, và đặt vào đó con người do chính mình nặn ra” (St 2,7-8)
          Con người đầu tiên đó chính là Adong. Thiên Chúa truyền cho Adong rằng :”Hết mọi trái cây trong vườn, ngươi cứ ăn, nhưng trái của cây cho biết thiện ác, thì ngươi không được ăn, vì ngày nào ngươi ăn, chăc chắn ngươi sẽ phải chết” (St 2,16-17).
          Nhưng ở trong vườn địa đàng, Adong vẫn chưa thấy hạnh phúc, còn trống vắng, hình như còn thiếu cái gì đó,  nên Đức Chúa là Thiên Chúa phán :”Con người ở một mình thì không tốt. Ta sẽ làm cho nó một trợ tá tương xứng với nó”.  Đức Chúa là Thiên Chúa lấy đất nặn ra mọi dã thú, mọi chim trời và dẫn đến với con người, xem con người gọi chúng là gì, thì tên nó sẽ là thế.  Con người đặt tên cho mọi súc vật,  mọi chim trời và mọi dã thú, nhưng con người không tìm được cho mình một trợ tá tương xứng.  Đức Chúa là Thiên Chúa cho một giấc ngủ mê ập xuống trên con người, và con người thiếp đi.  Rồi Chúa rút một cái xương sườn của con người ra, và lắp thịt vào. Đức Chúa là Thiên Chúa lấy cái xương sườn đã rút từ con người ra, làm thành một người đàn bà và dẫn đến với con người.
          Con người nói :”Phen này, đây là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi ! Nàng sẽ được gọi là đàn bà, vì được rút ra từ đàn ông” (St 2,18-23).

II. TẢN MẠN VỀ CHIẾC XƯƠNG SƯỜN
          Thượng Đế đã tạo ra người đàn bà từ chiếc xương sườn của người đàn ông.  Kinh Thánh đã viết thế, không ai chối cãi được. Chúng ta không thể nào dùng khoa học tối tân của thế kỷ 21 để bài bác điều ấy.
          Dì nhiên, Kinh Thánh chỉ mô tả việc tạo dựng ấy theo một hình ảnh cụ thể và bình dân như thế cho người ta dễ hiểu chứ không phải là một mô tả theo khoa học có tính cách vật chất hoàn toàn.  Điều duy nhất chúng ta phải tin là  Chúa đã dựng nên bà Evà bởi xương thịt ông Adong, để bà làm trợ tá cho ông.
          Chúng ta không biết Thiên Chúa đã rút ra cái xương sườn thứ mấy của ông Adong, nhưng chúng ta ta tạm gọi là chiếc xương sườn thứ 7 của ông vì nó ở gần trái tim hơn cả.  Và điều đó nói lên tình yêu của  hai người thắm thiết bền chặt.
          Đàn ông vẫn thường tự hào rằng phụ nữ được tạo ra từ chiếc xương sườn thứ 7 của mình, mà đàn ông thường rất tham lam, họ đâu đễ dàng để ai cướp mất thứ gì của mình.  Chính vì vậy mà đàn ông luôn đi tìm kiếm những thứ đã bị lấy mất và phụ nữ chính là sự mất mát đầu tiên mà người đàn ông bị tước đoạt bởi Thượng Đế.
          Nhưng Thượng Đế cũng đâu có bất công với họ, thậm chí ưu ái là đàng khác, lấy có một cái xương mà trả lại cho cả một người phụ nữ, phải chăng Thượng Đế cũng là người đàn ông nên mới có sự trao đổi “hời” như vậy ?
          Xét cho cùng so với đàn ông bây giờ thì tổ tiên chúng ta ngày xưa là ông Adong cũng hơn hẳn về sự kiên  nhẫn, ít ra Adong còn đợi đến lúc Thượng Đế tự nguyện trả lại cho mình “chiếc xương sườn số 7”, còn đàn ông bây giờ là phải “đi tìm”.  Trong suốt cuộc tìm kiếm của mình người đàn ông đã gặp biết bao chiếc xương sườn và chắc cũng đã làm đau không ít những chiếc xương sườn không phải của mình.
          Có những người đàn ông gặp, nhìn ngắm, suy ngẫm để xem  đó có phải phần mất đi thực sự của mình hay không. Nhưng cũng có người vội vàng “lắp thử” vào cơ thể mình để rồi đau đớn nhận ra rằng nó không phải là của mình, kẻ thì “lắp bừa” với quan niệm “thử”, không trúng thì thay cái mới, những người như thế  không biết có nên gọi là người không ?  Vì rằng y học có phát triển đến đâu đi nữa thì con người cũng đâu có thể tránh được nỗi đau khi thay ra lắp vào nhiều lần như thế.
 
                                       Truyện : Chiếc xương sườn thứ 7
          Vào một đêm bầu trời đầy sao và trăng tròn vành vạnh. Chàng trai đã hỏi cô gái :
          - Em có biết câu chuyện  về chiếc xương sườn thứ 7 không ?
          Cô gái đáp :
          - Có ai đang yêu mà không biết về câu chuyện đó đâu anh !
          Chàng hỏi tiếp :
          - Vậy em có biết tại sao Thượng Đế không dùng xương tay, xương chân hay xương bả vai để tạo ra người phụ nữ ?
          Làm sao mà cô gái có thể biết được  khi nó là thứ võ khí vô hình mà chỉ những người như chàng trai mới hiểu được.  Ôm cô gái thật chặt, chàng trai thì thầm :
          -  Nếu Thượng Đế dùng xương bả vai thì người phụ nữ sẽ phải gánh gồng cực nhọc, nếu dùng chân  thì người phụ nữ sẽ phải mệt mỏi trên những chặng đường xa, và nếu như Thượng Đế dùng tay thì phụ nữ sẽ phải làm việc cực nhọc.  Thượng Đế đã chọn chiếc xương sườn thứ 7 mà không phải là bất cứ chiếc xương nào khác  cũng như các bộ phận khác vì chiếc xương đó đặt dưới cánh tay để được người đàn ông che chở, đặt trên đôi chân để được đưa tới  những miền đất lạ đầy hoa thơm quả ngọc và đặc biệt nó nằm cạnh trái tim để được yêu thương.
          Anh chàng nói tiếp :
          - Em biết không, em chính là chiếc xương sườn thừ 7 mà anh tìm kiếm, anh sẽ che chở và yêu thương em suốt cuộc đời.
          Cô gái ấy rất hạnh phúc khi nghe người yêu của mình nói những lời ngọt ngào đầy thi vị đến thế.
          Người đàn ông nhất định phải đi tìm cái xương sườn của mình đã bị mất nơi người đàn bà.  Công việc tìm kiếm này phù hợp với câu Thiên Chúa đã nói  sau khi dựng nên người đàn bà :”Bởi thế, người đàn ông lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai thành một xương một thịt” (St 2,23).
          Hôm nay anh X đã tìm được cái xương sườn của mình nơi chị Y và chính thức kết hợp với nhau để thành một đôi vợi chồng.  Hai anh chị đã trở nên một xương một thịt rồi. Hãy gắn bó với nhau cho bền chặt để không gì có thể tách biệt hai người ra được.
          Và giờ đây, anh chị hãy ký với nhau một hôn ước để nhận nhau làm vợ làm  chồng trước mặt vị đại diện Hội thánh và cộng đoàn giáo xứ.  Anh chị hãy đọc lời tuyên thệ nhận nhau làm vợ làm chồng và hứa sẽ giữ lòng chung thuỷ với nhau khi thịnh vượng cũng như lúc gian nan, khi bệnh hoạn cũng như lúc mạnh khoẻ để yêu htương và tôn trọng nhau mọi ngày suốt đời mình.
          Anh chị có ý muốn  thề hứa trung thành với nhau mãi mãi hay chỉ một thời gian thôi ?  Anh chị có dám coi hôn ước  chỉ là tờ giao kèo tạm thời để rồi tuỳ hoàn cảnh mà xử lý để “hay thì ở, dở thì đi” không ?
          Muốn cho đời sống hôn nhân được bền chặt, anh chị hãy thực hành lời thánh Phaolô tông đồ gửi cho giáo đoàn Côlossê :”Anh em là những người được Thiên Chúa tuyện lựa, hiến thánh và yêu thương. Vì thế, anh em hãy có lòng thương cảm, nhân hậu, khiêm nhu, hiền hoà và nhẫn nại.  Hãy chịu đựng và tha thứ cho nhau, nếu trong anh em người này có điều gì phải trách móc người kia. Chúa đã tha thứ cho anh em, thì anh em cũng vậy, anh em phải tha thứ cho nhau” (Cl 3,12-13).
          Có người bạn gái đã chia sẻ tâm tìm với bạn trai thật ngọt ngào :”Tình yêu đến với em thật bất ngờ. Tưởng chừng như mới đó nhưng đã 5 năm rồi anh nhỉ.  Cám ơn Thượng Đế thật nhiều vì đã mang anh đến với em, cùng em chia sẻ mọi niềm vui, an ủi em mỗi khi em buồn và luôn luôn ở bên cạnh chăm sóc em.  Và em biết rằng mình đích thực là chiếc xương sườn của anh. Mình sẽ mãi hạnh phúc anh nhé”. Lời tâm sự thật dễ thương !
          Lời tâm sự thật êm ái và ngọt ngào. Nếu tâm tình này kéo dài suốt cả cuộc đời thì hạnh phúc cho cô biết bao !  Nhưng đường đời không bằng phẳng, cuộc đời cũng có sóng gió bão táp, phải kiên trì và nhẫn nại thì mới đứng vững được.
 
                                      Truyên  Phải chăng lầm lẫn ?
          Cô gái đang yêu hỏi bạn lòng :
          - Anh nói đi, anh yêu ai nhất trên đời ?
          - Em, đương nhiên là em.
          - Trong tim anh, em sẽ là gì đối với anh ?
          Chẳng phải nghĩ ngợi lâu, chàng trai nhìn sâu vào mắt cô, chậm rải nói :
          - Em là mảnh xương sườn của anh. Kinh Thánh chép rằng Thượng Đế thấy Adong đơn chiếc, cô quạnh; vì thế, đang khi Adong ngủ say, Ngài bóc một mảnh xương sườn của Adong và tạo thành Evà.  Từ thiên cổ tới nay, mỗi gã đàn ông đều đi tìm lại mảnh xương sườn thất lạc của mình.  Chỉ khi nào thấy  đúng mảnh xương sườn của mình, hắn mới không còn cảm thấy nỗi đau dai dẳng trong tim.
          Cô ôm chầm lấy anh. Chưa bao giờ cố thấy ngọt ngào đến thế !
          Sau đám cưới, đôi lứa sống êm đềm, hạnh phúc một thời gian. Thế rồi, những bận bịu mưu sinh hằng ngày, nhưng âu lo không bao giờ dứt trong cuộc sống, và vì một ngàn lý do này hay vì một triệu duyên cớ nọ - mà vốn xưa nay có cả ngàn, cả triệu nguyên nhân như thế trong từng gia đình - hai người bắt đầu nảy sinh lục đục, cằn dằn, chì chiết lẫn nhau. Hòn đất ném đi, hòn chì ném lại.  Mỗi lần một chút, mỗi lần một tăng thêm cường độ.
          Rồi chuyện gì đến phải đến. Một hôm, sau trận cãi vã dữ dội, chẳng ai chịu nhường ai, chị vừa khóc vừa gào lên :
          - Anh không thương yêu gì tôi !
          Gã đàn ông buột mồm, như một phản xạ :
          - Cưới cố chẳng qua là lầm lẫn !  Cô đâu phải là mảnh xương sườn của tôi. Ước gì tôi chưa từng gặp cô.
          Ly nước hắt xuống đất rồi, làm sao hốt lại ! Nhìn vẻ mặt chị lúc ấy, gã đàn ông hối hận, nhưng vì tự ái, quá tự ái, hắn chỉ lầm lì bỏ nhà ra ngoài tìm một quán rượu.
          Rồi họ chia tay.  Lời cuối cùng chị nói trong nước mắt :
          - Thôi, đừng làm khổ nhau nữa. Hãy tìm lại đúng mảnh xương sườn của anh đi.
          Ngày nay nhiều gia đình đã xuống cấp. Phong trào ly dị lan tràn khắp nơi. Ngời ta  coi thường gia đình, nhiều người coi gia đình  chỉ là một cái tổ hợp, hay một cái quán trọ, muốn ở thì ở, muốn đi thì đi. Người ta xem nhẹ tính cách thánh thiêng của bí tích hôn nhân.
          Nhân dịp này, chúng ta hãy nhắc lại những đặc tính của hôn nhân Công giáo. Hôn nhân công giáo có 2 đặc tính, đó là đơn hôn và vĩnh viễn, nghĩa là hôn nhân một vợ một chồng, và có tính cách vĩnh viễn, không bao giờ được ly dị. Khi hai người đã cử hành hôn phối hợp pháp và thành sự thì dây hôn phối trở nên bền chặt, không ai có quyền tháo gỡ vì Chúa đã phán :”Sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân lý” (Mt 19,6).
Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt

         

HônPhối 13: VỊ ĐẮNG TÌNH YÊU

Chúng ta hãy lắng nghe lời Chúa :  “Một hôm, Đức Giêsu nói với mấy người Pharisêu :”Lúc HônPhối 13

Chúng ta hãy lắng nghe lời Chúa :  “Một hôm, Đức Giêsu nói với mấy người Pharisêu :”Lúc khởi đầu công trình tạo dựng, Thiên Chúa đã làm nên con người có nam có nữ. Vì thế, người đàn ông sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai sẽ thành một xương một thịt.  Như vậy, họ không còn là hai, nhưng chỉ là một xương một thịt” (Mc 10,6-8).
           Theo Thánh Kinh, đôi hôn phối đầu tiên trong lịch sử loài người là hôn phối giữa chàng rể Adong và cô dâu Evà.  Thiên Chúa đã tác hợp họ nên một. Họ yêu thương nhau, kết hợp với nhau rồi sinh con cái.  Và sau này, con cái cũng theo gương cha mẹ mà cưới vợ gả chồng như chúng ta thấy ngày nay.
           Như vậy, hôn nhân không những là một nhu cầu tự nhiên, một điều kiện để duy trì nòi giống mà còn là ý định của Thiên Chúa. Do đó, chúng ta có thể nói rằng hôn nhân vừa là một hồng ân vừa là một ơn gọi.
           Những người sống ơn gọi trong bậc vợ chồng phải thương yêu nhau tha thiết, hy sinh cho nhau như lời thánh Phaolô khuyên nhủ tín hữu Êphêsô :”Người làm chồng hãy yêu thương vợ như Đức Kitô yêu thương Hội thánh và hiến mình vì Hội thánh…  Mầu nhiệm này thật là cao cả, tôi muốn nói về Đức Kitô và Hội thánh” (Ep 5,25.32).
 
I. BIẾT YÊU LÀ ĐAU KHỔ, NHƯNG…
           Tình yêu là nền tảng của hôn nhân, là điều kiện thiết yếu không có không được vì như người ta ví von :“Hôn nhân không có tình yêu thì như một ngày không có rạng đông” (Alphonse Karr).  Nhiều người cũng công nhận rằng :”Yêu là đau khổ, nhưng không yêu thì chết” (H. Taine).  Cũng có người khẳng định rằng :”Yêu, tức là đã ký kết với đau khổ” (M. De Cohin)..
           Khi nói đến tình yêu, người ta liên tưởng ngay đến mặt trái của nó, đó là sự đau khổ.  Dường  như đau khổ là “người bạn đời” của tình yêu vậy.  Nhất là “người bạn đời” ấy  lại hết mực sống chung thuỷ trong bất kỳ cuộc hôn nhân nào trên trái đất này.
           Đó là một “bi kịch” ngàn đời, nhưng đó cũng là nét tự nhiên của tình yêu hôn nhân gia đình chúng ta.  Một lý do rất đơn giản là như một danh nhân đã nói :”Tình yêu chỉ sống được nhờ đau khổ, sống trong hạnh phúc, tình yêu sẽ chết dần chết mòn”.  Tình yêu sẽ chết trong một ảo tưởng trong thiên đường tình yêu : người ta không còn phải hy sinh, phải đấu tranh, phải nỗ lực, phải mất mát gì.
           Hãy suy nghĩ về kinh nghiệm mà nhà văn hào Montesquieu đã chia sẻ như sau :”Tình yêu là liều thuốc đắng, nhưng không một ai có can đảm từ chối”.
           Vẫn là liều thuốc đắng. Vẫn là đắng cay, chua chát.  Tình yêu như thế đó ! Điều quan trọng là không từ chối, và phải hiểu được nó như nó là… Ít ra, chúng ta cũng có thể nhận ngay được thực tế này : “Yêu là chết trong lòng một ít” (Xuân Diệu).
 
II. VỊ ĐẮNG TÌNH YÊU
           Chúng ta có thể đặt ra một dấu hỏi : Tình yêu đắng cay hay ngọt ngào ?  Qua kinh nghiệm thường ngày, chúng ta phải nói rằng : tình yêu vừa có hương vị đắng cay lại cũng có hương vị ngọt ngào, bởi vì bất cứ việc gì trên đời cũng có mặt trái của nó.  Phải biết dung hoà cả hai mặt thì mới sống được.
           Theo như ông Trần Cao Khải nói  thì khi bước vào “con đường tình yêu”, người ta sẽ hiểu được tất cả sự thật huyền diệu của tình yêu.
           Hương vị đầu tiên của nó là sự ngọt ngào, dịu êm, bởi vì “Nếu cuộc đời là bông hoa, thì tình yêu là mật hoa” (Victor Hugo).  Nó có khả năng “Biến những kẻ đang yêu thành thi sĩ” (Shakespeare).  Nhưng yêu không mãi mãi là ngọt ngào và thi vị.  Cũng như cuộc sống con người, vừa là cuộc đấu tranh vừa là niềm vui của gian khổ, mồ hôi và nước mắt.
           Chúng ta phải nói lại một lần nữa :”Tình yêu là liều thuốc đắng, nhưng không ai có can đảm từ chối” (Montesquieu).
           Nói về tình yêu, người ta vẫn dùng hình ảnh quen thuộc của một đoá hồng có gai. Không ai phủ nhận nhưng cái gai nhởn nhơ trong một cành hồng. Nhưng hoa hồng vẫn đẹp, vẫn dễ thương, vẫn mãi mãi là biểu tượng của tình yêu.
           Khi yêu, người ta phải dũng cảm hưởng nếm vị đắng cay và tiếp xúc với gai nhọn của tình yêu. Khi yêu, người ta phải chấp nhận một qui luật. Đó là :”Tình yêu chỉ sống được nhờ đau khổ, cứ sống trong hạnh phúc, tình yêu sẽ chết dần chết mòn” (H. Taine).
           Đau khổ là vẻ đẹp tự nhiên và hương vị đặc thù của tình yêu. Lý do đơn giản là yêu không chỉ là tận hưởng mà còn là cho đi, là ban phát, là mất mát… Chính đau khổ nuôi dưỡng và làm phát triển tình yêu. Bởi vậy, “Yêu là hạnh phúc của chính mình trong hạnh phúc của kẻ khác” (Leibnitz). Và nói theo nhà văn hào Nga, ông Leon Tolstoi thì “Yêu sâu sắc – điều đó có nghĩa là quên bản thân mình”.
 
III. TÌNH LÀ DÂY THUNG
           Khi nói về hôn nhân, có nhiều nhà tâm lý chia hôn nhân thành ba thời kỳ : trước, liền sau và lâu sau khi kết hôn  để nói về tình yêu vợ chồng, với những hình ảnh ví von bay bướm nhưng rất thực tế.
           - Với những người thích mầu sắc, thì trước khi cưới là một màu hồng rực rỡ, liền sau khi cưới là một màu trắng nhàn nhạt, còn lâu sau khi cưới là một màu xám ảm đạm.
           - Với những người thích nghiên cứu về thời tiết, thì trước khi cưới là những ngày mùa xuân nắng ấm, liền sau khi cưới  là những ngày hè thu oi bức, hay mưa dông, còn lâu sau khi cưới là những ngày dài mùa đông lạnh giá.
           - Với những người thích âm thanh, trước khi cưới anh nói thì em nghe và em nói thì anh nghe, liền sau khi cưới, anh nói thì anh nghe và em nói thì em nghe, còn lâu sau khi cưới, thì cả hai cùng nói, nhưng hàng xóm phải nghe.
           - Với những người có tinh thần ăn uống, trước khi cưới thì nhìn nhau mà no, liền sau khi cưới thì nhìn nhau mà ngáp, còn lâu sau khi cưới  thì thỉnh thoảng nồi niêu xoong chảo lại bay ra ngoài sân.
           - Với những người vốn mang dòng máu ga lăng, trước khi cưới thì chiếc dù lệch hẳn về phía nàng và chàng sẵn sàng chịu ướt, liền sau khi cưới thì chếc dù nằm ở chính giữa và mỗi người chịu ướt một nửa, còn lâu sau khi cưới thì chiếc dù lệch hẳn về phía chàng và nàng đành cam chịu ướt.
           Qua những câu ví von như vậy, chúng ta thấy tình yêu giảm sút đi theo từng thời kỳ. Nhưng có phải tình yêu lúc nào cũng giảm sút như thế chăng ?  Và như vậy chúng ta nghĩ thế nào về câu nói cường điệu của ông Chamfort :”Hôn nhân là mồ chôn tình yêu” !
           Thực ra, ông Chamfort chỉ có ý nói là chúng ta phải đề phòng, đừng để cho tình yêu hôn nhân bị nhạt nhoà đi theo năm tháng. Phải luôn đổi mới tình yêu để tình yêu được bền chặt qua qua thời gian, nhất là qua những gian nan thử thách.
 
                                       Truyện : Kết hôn là khổ lắm
          Có lần đi thăm mục vụ các gia đình, cha xứ được nghe một ông bố tâm sự :
          - Đi tu như các cha, các thầy, các dì thế mà sướng, chứ còn đèo bòng như tụi con, khổ lắm cha ơi !
           Có lần gặp các bà mẹ, ngài hỏi các bà mẹ nên khuyên nhủ các đôi tân hôn như thế nào. Một bà mẹ đã hung hăng phát biểu :
          - Xin cha bảo chúng nó là đừng lấy nhau nữa. Khổ lắm ! Khổ lắm !
           Dĩ nhiên lời phát biểu này có phần thái quá, bởi vì cho đến ngày hôm nay bàn dân thiên hạ vẫn cứ lấy nhau rầm rầm.  Không lấy nhau thì làm sao nòi giống con người tồn tại được.  Tuy nhiên, câu nói ấy  cũng phảng phất một sự thật nào đó.
           Có lẽ cũng chính vì vậy mà cụ thi sĩ Nguyễn Du, trong truyện “Đoạn trường tân thanh” đã phát biểu một câu xanh rờn :”Tu là cõi phúc, tình là dây oan”.
           Trong văn học Việt nam thời  trước, “Đoạn trường tân thanh” (truyện Kiều) là một tuyệt tác phẩm, ai cũng đã đọc và được nhiều người nghiên cứu sâu sắc cả về văn chương lẫn tư tưởng. Về phương diện văn chương thì tuyệt vời rồi, còn tư tưởng thì có nhiều điều hay, nhất là những tâm sự mà ông gửi gắm trong đó.
           Nhưng, ông Gã Siêu, một tay viết hài hước có hạng không nhận câu nói của Nguyễn Du. Thay vì nói : “Tu là cõi phúc, tình là dây oan” thì ông lại đổi thành :”Tu là cõi phúc, tình là dây thung”.
           Câu nói có vẻ dí dỏm, mang tính cách bông đùa cho vui, nhưng xét ra cũng thấy có đúng phần nào.  Chúng ta thấy : đặc tính của dây thung là có thể kéo dài và thu ngắn, có thể giãn ra và co vào. Chính đặc tính co giãn này đã tạo nên những khổ đau và hạnh phúc cho cuộc sống gia đình và làm cho cuộc sống ấy trở thành một bức hoạ có những khoảng đậm và những khoảng nhạt, một bản nhạc có những nốt trầm và những nốt bổng. 
           Qua kinh nghiệm này, ông David Sarnoff đã nói một cách ví von thơ mộng :”Trong hôn nhân, nụ cười và nước mắt làm nên khúc nhạc cuộc đời”.
          Nói đến đây tôi lại liên tưởng đến loài nhím. Thực vậy, nhím có nhiều loại. Loại sống ở nhiệt đới xứ nóng. Loại sống ở hàn đới xứ lạnh.  Nhưng dù loại nhím nào thì cũng có một bộ lông thật cứng và thật nhọn, mà người xưa dùng làm tên bắn.
           Ở xứ lạnh, mùa đông tuyết phủ, những con nhím phải nằm gần sát nhau cho ấm. Tuy nhiên có cái phiền là khi nằm gần sát nhau như vậy, thì bộ lông cứng và nhọn đó lại đâm vào nhau, làm cho nhau đau đớn khó chịu. Vì vậy, chúng lại giăng ra xa.
           Nhưng cũng chỉ được một lúc, vì lạnh quá, chúng lại bò sát gần nhau. Dù đâm nhau, dù phải xa nhau, chúng vẫn cứ đến cùng nhau.  Càng xa nhau, chúng lại càng tới gần sát nhau hơn, bởi vì chúng cần đến nhau. 
           Phải chăng đó cũng chính là câu chuyện của những cặp vợ chồng đang sống trong bậc gia đình ?
 
IV. HÃY SỐNG MÃI VỚI TÌNH YÊU
           Tình yêu là người bạn đồng hành thân tình  đưa ta đến cuộc hôn nhân bền vững, vì “Nếu tình yêu là hoa thì kết thành quả là hôn nhân “(Molière), và :”Tình yêu chân chính là tình yêu dẫn tới hôn nhân”(Engels).
           Với tất cả mọi người, hôn nhân khởi đầu một cuộc sống hoàn toàn mới.  Đó không phải là một cuộc chơi nhất thời,  mà là một đời sống có cam kết và được nuôi dưỡng lâu dài.
           Trong hôn nhân, người ta hướng đến nhau và cùng chia sẻ tình yêu và hạnh phúc cho nhau.  Nét đặc thù nhất của tình yêu là sự dâng hiến.  Lãnh tụ Gandhi của Ấn Độ đã nói :”Tình yêu bao giờ cũng hiến tặng, không bao giờ đòi đền đáp. Tình yêu luôn luôn giầy vò, khắc khoải nhưng không bao giờ phản kháng và trả thù”.
           Vậy, phải chăng yêu và hy sinh là một ? Thánh nữ Têrêsa thành Lisieux đã nói thế :”Yêu và hy sinh là một. Không hy sinh thì chưa gọi là yêu”.
           Trong hôn nhân, sống là chết cho người mình yêu như Chúa Giêsu đã nói :”Không có tình thương nào lớn hơn tình thương của người hy sinh mạng sống mình vì bạn hữu” (Ga 15,13).  Yêu là hy sinh. Hy sinh để chấp nhận sự khác biệt của nhau. Có muôn vàn những cái khác nhau giữa hai vợ chồng.
           Cái đẹp của sự hoà điệu không phải là đồng điệu mà là kết hợp những tương khắc (variance) để tìm ra sự tương thích (compability) độc đáo nhất. Quá trình “hội nhập” giữa hai cá thể khác biệt nhau sẽ giúp cho hôn nhân càng ngày càng thắm thiết, sâu đậm hơn.
           Triết gia hiện sinh người Pháp, ông J.P. Sartre,  đã nói :”Người ta thường nói đến mối tình đầu là mối tình đẹp nhất, nhưng chính mối tình cuối  mới thực sự là mối tình bất diệt”. Bởi lý do đơn giản là  mối tình về sau đã được tôi luyện trong hy sinh gian khổ. Nó đã thực sự “chín” và “cứng cáp”.
           Sau cùng, chúng ta phải nhận ra rằng hôn nhân là một ân huệ của Thiên Chúa ban cho chúng ta và cũng là một ơn gọi đối với chúng ta, nên người Kitô hữu trong đời sống vợ chồng sẽ phải trung tín với nhau suốt đời theo lời dạy của Chúa Kitô :”Điều gì Thiên Chúa đã kết hợp, con người không được phân ly” (Mt 19,6).
           Ngoài ra, Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II trong tông huấn về những bổn phận của gia đình Kitô hữu đã viết :”Nhờ tính cách bí tích của hôn nhân, đôi bạn được liên kết với nhau một cách chặt chẽ không thể tháo gỡ được. Khi người này thuộc về người kia, họ thực sự biểu lộ tương quan giữa Đức Kitô với Hội thánh Ngài, qua dấu chỉ bí tích” (Familiaris consortio, số 13).
                                             Lm Giuse Đinh lập Liễm
                                             Giáo xứ Kim phát
                                              Đà lạt

 

HônPhối 14: BA NGỌN NẾN LUNG LINH

I. SUY NIỆM LỜI CHÚA 
         Khi ấy Chúa Giêsu cầu nguyện :”Con không chỉ cầu nguyện cho những người này, nhưng còn cho những ai nhờ lời họ mà tin vào con, để tất cả nên một, như Cha ở trong con và con ở trong Cha, để họ cũng ở trong chúng ta. Như vậy, thế gian sẽ tin rằng Cha đã sai con. Phần con, con đã ban cho họ vinh quang mà Cha đã ban cho con, để họ được nên một như chúng ta là một : Con ở trong họ và Cha ở trong con, để họ được hoàn toàn nên một ; như vậy, thế gian sẽ nhận biết là chính Cha đã sai con và đã yêu thương họ như đã yêu thương con.
         Lạy Cha, con muốn rằng con ở đâu, thì những người Cha đã ban cho con cũng ở đó với con, để họ chiêm ngưỡng vinh quang của con, vinh quang mà Cha đã ban cho con, vì Cha đã yêu thương con trước khi thế gian được tạo thành. Lạy Cha là Đấng công chính, thế gian đã không biết Cha, nhưng con, con đã biết Cha, và những người này đã biết là chính Cha đã sai con. Con đã cho họ biết danh Cha, và sẽ còn cho họ biết nữa, để tình Cha đã yêu thương con, ở trong họ, và con cũng ở trong họ nữa” (Ga 17,20-26). -  Đó là Lời Chúa.

Qua lời cầu nguyện của Chúa Giêsu trong bài Tin mừng hôm nay, Chúa Giêsu cho biết chứng tá HônPhối 14

Qua lời cầu nguyện của Chúa Giêsu trong bài Tin mừng hôm nay, Chúa Giêsu cho biết chứng tá mạnh nhất và có tính thuyết phục nhất là sự hiệp nhất trong Hội thánh. Thánh Gioan đã ghi lại lời Chúa Giêsu cầu nguyện cho sự hiệp nhất của Hội thánh.
          Chúa Giêsu cầu nguyện cho những kẻ tin vào Ngài nhờ lời rao giảng và giáo huấn của các môn đệ,  nghĩa là Chúa vẫn cầu nguyện cho hết mọi thành phần trong Hội thánh.  Mục đích Chúa Giêsu cầu nguyện là để mọi người tin vào Chúa Giêsu được hiệp nhất với nhau. Chính sự hiệp nhất này  là sức mạnh và có sức thuyết phục thế gian tin vào Chúa Giêsu là Đấng Cứu Thế.
          Chúa Giêsu cầu nguyện cho mọi người được hiệp nhất trong tình yêu, trong chức làm nghĩa tử và trong vinh quang của Chúa . Do đó, chúng ta có thể kết luận rằng :
         - Yêu thương nhau là dấu chỉ của sự hiệp nhất và cũng là chứng tá có tính thuyết phục nhất, có giá trị tông đồ.
         - Được làm con Chúa qua bí tích Rửa tội, chúng ta được hiệp nhất với nhau trong tình huynh đệ.
         - Chúng ta càng nỗ lực thánh hoá bản thân, chúng ta càng có giá giá trị để thánh hoá tha nhân, và đó là cách chúng ta  sống hiệp nhất huynh đệ.
 
II. HÌNH ẢNH CỦA SỰ HIỆP NHẤT
          1. Mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi
          Trong khi học giáo lý cộng đồng, chúng ta còn nhớ lại câu hỏi của Chúa nhật thứ tám thường niên vừa qua :
          HỎI : Thiên Chúa tỏ cho chúng ta biết  mầu nhiệm một Chúa Ba Ngôi để làm gì ?
         THƯA : Thiên Chúa tỏ cho chúng ta biết mầu nhiệm một Chúa Ba Ngôi để chúng ta được thông phần sự sống Ba Ngôi Thiên Chúa, hai là để cho gia đình và xã hội chúng ta sống theo khuôn mẫu của Thiên Chúa Ba Ngôi.
          Chúa Giêsu đã mạc khải cho chúng ta mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi khi Ngài nói với các môn đệ trước khi về trời :”Vậy các con hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Cha và Con và Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho các con. Và đây, Thầy ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28, 19-20).
          Chúa  Giêsu không cắt nghĩa, Ngài chỉ tiết lộ cho biết có một Thiên Chúa Ba Ngôi là Cha và Con và Thánh Thần. Sau đó, Ngài để cho Hội thánh giải nghĩa mầu nhiệm ấy dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần.
          Mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi là khởi điểm và là nguồn mạch của đời sống thiêng liêng của  chúng ta.
          Vì vậy, khi tuyên xưng đức tin vào mầu nhiệm một Chúa Ba Ngôi là đã tham dự vào đời sống vĩnh cửu ngay trên trần gian này, và được thông phần  với cuộc sống của chính Thiên Chúa Ba Ngôi (x. M.E. Boismard và A. Lamouille, Tin mừng theo thánh Gioan, Cerf, tr 360).
          Hơn nữa, Ba Ngôi Thiên Chúa là tình yêu duy nhất, là nền tảng và gương mẫu cho gia đình và xã hội chúng ta.  Chúa Cha yêu Chúa Con, và Chúa Con yêu Chúa Cha, và tình yêu của Chúa Cha và Con là Chúa Thánh Thần. Vì thế, sự hiệp nhất trong tình yêu của Ba Ngôi Thiên Chúa là khuôn mẫu cho sự hiệp nhất của gia đình và xã hội, nghĩa là chúng ta cũng được sống yêu thương và hiệp nhất để xây dựng gia đình và xã hội hiệp nhất, yêu thương và hạnh phúc.
 
         2. Gia đình Kitô hữu
          Gia đình Kitô hữu cũng được xây dựng theo hình ảnh Chúa Ba Ngôi. Nhìn vào gia đình Kitô hữu chúng ta thấy có cha, có mẹ, có con cái. Ba thành phần riêng biệt ấy làm thành một gia đình duy nhất. Trong đó, cha không phải là mẹ, mẹ không phải là con, và con cái cũng không phải là cha hay mẹ, nhưng tất cả đều yêu thương nhau, đùm bọc nhau, cùng hiệp lực xây dựng gia đình, biến gia đình thành một tổ ấm để mọi người được sống trong yêu thương và hạnh phúc.
          Tuy nhiên, có những gia đình không được hạnh phúc vì họ thiếu tình yêu và hiệp nhất, trong đó mỗi người chỉ biết sống cho riêng mình, không quan tâm đến người khác : chồng thì “nghểnh”, vợ thì “ngảng”,  hoặc tệ hơn nữa hai người sống trong cảnh :”Ông ăn chả, bà ăn nem”, không ai lo cho con cái nữa, chúng bị gạt ra ngoài , sống chơ vơ hoặc lạnh lẽo như người khách trọ trong gia đình.
                 Nhà văn hào Pháp, ông Honoré de Balzac, đã nói một cách quả quyết :”Hôn nhân là con đường đưa ta tới thiên đường hay tới địa ngục”.  Thật thế, hôn nhân gia đình là phương tiện để người ta tạo lập hạnh phúc hay tạo ra bất hạnh.  Người ta có thể tạo ra một thiên đường hạnh phúc cho con cái và cũng có thể biến gia đình thành một bãi tha ma vắng lạnh, tạo ra cho con cái có cảm giác đang sống trong hoả ngục.
 
Truyện : Gia đình là địa ngục
          Một hôm, người ta gặp một em bé lạc đường đang khóc mếu máo. Người ta không biết cha mẹ em là ai, nhà ở đâu. Họ hỏi :
         - Em tên là gì ?
         - Thằng trời đánh thánh vật.
         - Bố em tên là gì ?
         - Thằng quỉ.
         - Mẹ em tên là gì ?
         - Con đĩ.
         - Nhà em ở đâu ?
         - Ở hoả ngục.
         Sau đó người ta cũng tìm ra nhà cha mẹ nó.
          Tìm hiểu lý do tại sao em nhỏ lại trả lời như thế ?  Người ta mới thấy cách sống ở nhà em : bố mẹ hay gọi em là thằng trời đánh thánh vật, mẹ hay gọi bố là thằng quỉ, bố hay gọi mẹ là con đĩ, và cả hai bố mẹ gọi cái nhà này là hoả ngục.
 
III. HÌNH ẢNH BA NGỌN NẾN LUNG LINH
          Ca sĩ – nhạc sĩ Ngọc Lễ đã sáng tác một bài hát rất dễ thương về gia đình :”Cha là cây nến vàng, mẹ là cây nến xanh, con là cây nến hồng, ba ngọn nến lung linh,thắp sáng một gia đình…”. Chúng ta hẳn đã có dịp trực tiếp xem và nghe gia đình Ngọc Lễ - Phương Thảo và các con trình diễn hoặc được xem băng đĩa bài hát “Ba ngọn nến lung linh” này ?
          Hình ảnh thật đẹp, diệu vời, hấp dấn từ đầu đến cuối !  Cái đẹp huyền diệu và quyến rũ từ ánh sáng lung linh của ba ngọn nến vàng-xanh-hồng : cha-mẹ-con cái. Mộc bức tranh thật tuyệt vời nói lên tình yêu thắm thiết và hiệp thông giữa cha mẹ và con cái. Bức tranh nói lên cái vẻ hấp dẫn của một gia đình hạnh phúc, làm cho ai cũng phải ao ước.
          “Ba ngọn nến lung linh, thắp sáng một gia đình”. Nói đến cây nến là phải nói đến ánh sáng vì cây nến có mục đích được đốt lên để toả sáng ra chung quanh. Ánh sáng của cây nến  ngoài  tác dụng chiếu sáng, còn có một tác dụng khác nữa là toả ra sức nóng.  Lửa thì bao giờ cũng nóng, có thể đốt cháy hay sưởi ấm.
          Trong mùa đông lạnh lẽo dưới không độ, nhà nào cũng cần có lò sưởi. Lửa sẽ toả ra sức nóng để sưởi ấm mọi người trong nhà.  Lửa có thể được coi là biểu tượng của tình yêu vì người ta thường nói :”Tình yêu bùng cháy”.  Chính tình yêu sưởi ấm cho mọi người trong gia đình và người ta có cảm giác đang được ở trong một tổ ấm gia đình.  Ai mà không muốn xây dựng cho mình một tổ ấm yêu thương ?
          Chính vì vậy, văn hào André Maurois đã nói : “Hôn nhân là một công trình mà ta phải kiến tạo suốt đời”.  Công trình hôn nhân, vừa khó khăn, vùa lâu dài, được thực hiện không do một người mà là nhiều thành viên trong gia đình.  Gia đình trước tiên là một cộng đồng. Một cộng đồng cơ bản và làm hạt nhân cho những cộng đồng lớn hơn. Và cộng đồng này trước hết được xây dựng trên nền yêu thương.
          Đai văn hào Pháp, ông Victor Hugo, đã thi vị hoá gia đình như sau :”Ngôi nhà được xây bằng gỗ đá, bằng ngói, bằng cột kèo. Gia đình được xây bằng những việc làm yêu thương thì sẽ trụ vững một ngàn năm”.  Rõ ràng là, để hôn nhân bền  vững, để gia đình hạnh phúc bền lâu, người ta phải xây dựng bằng những vật liệu không mối mọt, đó là chất liệu tinh thần : lòng nhân ái yêu thương đùm bọc và sự chung thuỷ kiên vững. Gia đình là một kiến trúc xây dựng thuộc về trách nhiệm của mỗi thành viên.
          Chúng ta còn một tấm gương sáng ngời của thánh gia thất Chúa Giêsu, Đức Maria và thánh Giuse. Đây là một mô hình tuyệt vời về cuộc sống gia đình, đáng nêu gương cho chúng ta. Các Ngài đã sống trên thuận dưới hoà, trong ấm ngoài êm, tạo thành một mái ấm yêu thương tuyệt  vời. Các Ngài đã giúp nhau chu toàn nhiệm vụ được Cha trên trời trao phó, để chuẩn bị cho Chúa Giêsu thực hiện được chương trình cứu chuộc nhân loại. Đây là một gia đình hạnh phúc đáng nêu gương cho chúng ta.
          Như vậy,  theo gương thánh gia thất, hạnh phúc gia đình phải được xây dựng trên nền tảng là cùng nhau thực hiện thánh ý Thiên Chúa thì mới vững bền. Cổ nhân nói :”Thuận thiên giả tồn, nghịch thiên giả vong” , nghĩa là thuận theo trời thì còn, thì hạnh phúc, còn nghịch với trời thì mất, thì bất hạnh, thì đau khổ.  Câu này đúng trong mọi trường hợp, đặc biệt trong mọi tình huống của gia đình. Nếu không quan tâm thực hiện thánh ý Chúa, con người càng tìm hạnh phúc thì càng gặp đau khổ và thất bại.
          Chúng ta hãy cầu nguyện :  “Lạy Cha, đời sống gia đình có biết bao khó khăn, thử thách và đau khổ, chẳng những đến từ ngoại cảnh, từ xã hội, mà còn đến từ chính những người trong gia đình.  Xin cho con nhận ra  mọi đau khổ thử thách đều là những phương tiện Cha dùng để thánh hoá, tinh luyện tình yêu của bản thân con và gia đình con, để chúng con có được  những cơ hội quý giá chiếm được những phần thưởng vô cùng lớn lao mà Cha muốn dành cho chúng con. Xin ban cho mọi người trong gia đình con đủ tình yêu để gia đình được trở thành một tổ ấm hạnh phúc, thành một hình ảnh của thiên đàng mai sau. Amen.
                                        Lm Giuse Đinh lập Liễm
                                        Giáo xứ Kim phát
                                        Đà lạt

 

HônPhối 15: ẾCH NGỒI ĐÁY GIẾNG

Trong đời sống cộng đoàn, sự đồng tâm nhất trí với nhau là rất quan trọng, vì thế, thánh Phaolô tông HônPhối 15

Trong đời sống cộng đoàn, sự đồng tâm nhất trí với nhau là rất quan trọng, vì thế, thánh Phaolô tông đồ đã khuyên nhủ tín hữu Rôma :”Bổn phận của chúng ta, những người có đức tin vững mạnh, là phải nâng đỡ những người yếu đuối, không có đức tin vững vàng, chứ không phải chiều theo sở thích của mình” (Rm 1,1). Ngài còn cầu chúc cho cộng đoàn :”Xin Thiên Chúa là nguồn kiên nhẫn và an ủi, làm cho anh em được đồng tâm nhất trí với nhau” (Rm 1,5).
          Đồng tâm nhất trí với nhau đòi hỏi sự hoà thuận để cùng xây dựng cộng đoàn. Gia đình là một cộng đoàn căn bản của xã hội nên càng cần sự thuận hoà giữa vợ chồng và con cái.  Gia đình là nền tảng của xã hội, nếu nên tảng vũng chắc thì xã hội càng vững bền.
 
I. CÂU CHUYỆN CON ẾCH
          Khi nói đến mối tương quan giữa vợ chồng trong gia đình, tự nhiên chúng tôi liên tưởng đến câu chuyện con ếch.  Trong “Truyện ngụ ngôn Việt nam” có câu chuyện kể về một chú ếch hợm hĩnh, nông nổi và đáng thương.
          Số là, có một con ếch, do một sự ngẫu nhiên nào đó, ngay từ khi sinh ra đã ở trong một cái giếng nọ. Sống cùng với ếch có vài con nhái, cua, ốc nhỏ.
          Từ dưới đáy giếng nhìn lên, ếch ta chỉ thấy một mảng trời  bé bằng cái vung. Nó nghĩ : tất cả vũ trụ chỉ có vậy, vì thế ếch tự coi mình là chúa tể. Hằng ngày, nó cất tiếng kêu ồm ộp làm vang động cả giếng khiến các con vật bé nhỏ kia hoảng sợ. Nó càng lấy làm oai.
          Nhưng có một năm, có thể do thái độc xấc xược “coi trời bằng vung” của ếch thấu đến tai Ngọc hoàng. Ngọc Hoàng nổi giận đùng đùng và quyết định truất phế “ngai vàng” nơi đáy giếng của ếch nên đã làm một trận mưa thật to. Nước trong giếng dềnh lên, tràn vào bờ, đưa ếch ta ra ngoài.
                 Quen thói cũ, ếch nhâng nháo nhìn lên trời, nó bỗng thấy cả một bầu trời rộng lớn hơn nhiều cái khoảng trời  nó vẫn thấy.  Ếch ta không tin và thấy bực bội vì điều đó. Để ra oai, nó cất tiếng kêu ồm ộp. Vị chúa tể hy vọng là  sau tiếng kêu của mình mọi thứ đều phải trở lại như cũ.  Nhưng bầu trời vẫn là bầu trời.  Còn nó vì mải nhìn lên trời chả thèm để ý đến chung quanh, nên đã bị một con trâu đi qua giẫm bẹp.
          Từ cách nhìn thế giới bên ngoài chỉ thông qua miệng giếng của chú ếch nọ  mà thành ngữ này trước hết dùng để chỉ “những người hiểu biết ít do điều kiện tiếp xúc hạn hẹp hẹp”.
          Muốn cho thành ngữ này rõ ràng và đầy đủ ý nghĩa hơn, người ta thường đọc câu thành ngữ này như sau : “Ếch ngồi đáy giếng coi trời bằng vung”.
 
II. ẾCH TRONG GIA ĐÌNH
          1. Sự hiểu biết của con người
          Nhà triết học Platon  xưa đã nói :”Những gì ta biết chỉ là một giọt nước nhỏ, còn cái ta chua biết là một đại dương”.  Platon là học trò của nhà hiền triết Socrate và là thầy của triết gia Aristote.
          Chúng ta nên biết, Platon là một đại triết gia của nước cổ Hy Lạp và cũng là của nhân loại. Ông được suy tôn là một nhà trí thức siêu đẳng, học rộng biết nhiều, mà ông đã phải thú thực sự hiểu biết của ông còn quá yếu kém, quá hạn hẹp trong cái biển rộng bao la của kho kiến thức của nhân loại.
          Chính nhà hiền triết Socrate, thầy của Platon, đã phải thú nhận về sự hiểu biết quá yếu kém của mình nên đã nói một câu rất triết lý làm nền tảng cho sự học hỏi của mình :”Tôi chỉ biết một điều là tôi chẳng biết gì cả”.  Câu nói “Tôi chẳng biết gì cả” đã là một sự hiểu biết rất sâu sắc rồi.  Vì không biết gì nên phải hạ mình xuống mà đi tìm hiểu. Và do đó,  ông đã khởi đầu triết thuyết của ông bằng một mệnh đề nổi tiếng là “Anh hãy tự biết mình” (Connais-toi, toi même);
          2. Mỗi người là con ếch dưới đáy giếng
          Trước cái kho tàng kiến thức vĩ đại của nhân loại, thì một cách nào đó, chúng ta có thể gọi những người đại trí thức cũng chỉ là ếch dưới đáy giếng vì cái vốn trí thức của mình quá hạn hẹp, nên không dám khoe khoang về sự hiểu biết của mình mà phải có thái độ khiêm nhường đi tìm hiểu. Chỉ có hạng người nông nổi mới dám vỗ ngực xưng mình là  người thông kim bác cổ, hiểu biết mọi sự trong thiên hạ.
          Trong sự nhận xét sự việc, mỗi người chỉ có thể chiếm được  một góc củ sự việc. Chân lý thì tròn đầy, không ai có thể nắm trọn được chân lý, vì mỗi người chỉ có thể hiểu biết được một góc cạnh. Chính vì không ai nắm trọn được chân lý mà cứ bảo vệ cho sự hiểu biết của mình là duy nhất đúng, của người khác là sai, nên mới sinh ra sự cãi cọ, từ nhẹ nhàng đến gay gắt.
 
                                            Truyện : Trắng hay đen.
          Khi học cấp 1, có lần tôi tranh cãi kịch liệt với một cậu bạn.  Thực tế tôi không nhớ chúng tôi đã cãi nhau về cái gì, nhưng bài học ngày hôm ấy thì tôi vẫn nhớ mải. Khi cãi nhau, tôi khăng khăng cho rằng tao đúng, mày sai, và bạn tôi cũng nhất quyết mày sai, tao đúng.
          Cô giáo tôi bắt gặp, bảo cả hai chúng tôi lên phòng giáo viên. Cô bảo mỗi đứa ngồi một bên cạnh bàn, chiếc bàn có một quả bóng nhựa rất to.  Tôi thấy quả bóng mầu đen xì. Thế mà cô giáo hỏi : em thấy quả bóng mầu gì ?
          Thì cậu bạn tôi đáp : “Thưa cô, mầu trắng”.  Tôi không thể hiểu nổi nó đang nói gì.  Mắt tôi bị mờ hay đầu óc nó bị điên ?  Hay nó muốn trêu tức tôi ? Thế là tôi bật lên cãi : “Mầu đen chứ, đồ ngốc”.  Chúng tôi lại bắt đầu cãi nhau về mầu sắc của quả bóng.
          Đến lúc này thì cô giáo bảo chúng tôi đổi chỗ cho nhau.  Lần này thì cô hỏi tôi :”Quả bóng mầu gì” ?  Tôi đành phải trả lời là mầu trắng.  Bởi vì quả bóng đó được sơn hai mầu khác nhau ở hai phía.  Từ chỗ tôi ngồi ban đầu thì nó mầu đen, còn chỗ bạn tôi thì nó mầu trắng.  Vậy mà chúng tôi đã gân cổ cãi nhau vì một điều mà cả hai  chắc chắn cho là mình đúng mà không biết tại sao người kia nói ngược lại ý kiến của mình.
          Đừng bao giờ tự cho mình là hoàn toàn đúng.  Bạn phải đặt mình vào địa vị và hoàn cảnh  của người khác để đánh giá sự việc, tình huống cuộc sống theo quan điểm của chính họ thì mới có thể thực sự hiểu họ được (Internet).
          3. Vợ chồng ếch trong gia đình
          Muốn cho vợ chồng sống được với nhau dễ dàng, cần phải tránh tính chủ quan và độc đoán.  Trong cuộc sống hằng ngày, mỗi người có một cái nhìn về sự việc. Cái nhìn đó luôn luôn phiến diện, chỉ nhìn thấy một góc của sự việc chứ không thể nhìn được toàn diện.  Vì thế con người chỉ có thể nắm được một phần của sự việc chứ không thể nắm được toàn thể.
          Chúng ta có thể đưa ra vài ví dụ.  Các bà nội trợ đã nắm vững được kinh nghiệm  về nấu ăn của người xưa, muốn ăn ngon thì phải :”Cần tái cải nhừ”.
          Theo đó, muốn ăn ngon thì chỉ cần xào rau cần cho tái đi là được, còn rau cải thì phải xào cho nhừ !  Nếu người vợ chỉ xào tái rau cần rồi ăn, còn ông chồng thì muốn theo khoa học, muốn giữ vệ sinh, đòi phải xào rau cần như như rau cải thì công việc sẽ ra sao ?
          Mỗi người xét theo một quan điểm : vợ nhằm ăn ngon, chồng lại nhằm vệ sinh. Như vậy thì chủ trương của ai đúng, của ai sai ?
          Hay một ví dụ khác : Hai cô gái quét sân thuê cho ông chủ. Hai cô có hai cách quét : một cô đứng sõng lưng mà quát, một cô thì cúi gằm xuống mà quét.  Thấy vậy cô này chê cô kia : mình đã làm tôi tớ cho người ta mà còn đứng sõng lưng mà quét, coi như ông tướng vậy, không xấu hổ sao ?  Cô kia đáp lại :”Tôi đi làm thuê cho người ta, được trả công đoàng hoàng, tôi hãnh diện về công việc của tôi. Còn chị đã làm cho người ta thì cứ làm việc bình thường, tại sao cứ cúi gằm xuống mà quét, coi như một tên nô lệ ấy !  Chế độ nô lệ ngày nay đã bị đẩy đi xa rồi. Đừng có mặc cảm.
          Qua hai ví dụ trên, chúng ta thấy thái độ của hai người : chẳng ai đúng và cũng chẳng ai sai bởi vì mỗi người suy nghĩ theo một phương diện, theo một chiều hướng.  Như vậy, xét theo phương diện chủ quan thì đúng, nhưng theo phương diện khách quan thì sai !
          Nếu mỗi người chỉ nắm được một phần chân lý thì làm sao có thể bắt người khác phải theo quan điểm của mình, và vô tình tự coi mình như đã nắm trọn được  chân lý.
          Cũng thế, vợ chồng tự coi mình như con ếch trong gia đình, phải ý thức rằng sự hiểu biết của mình chỉ có hạn, nên phải tôn trọng ý kiến của người khác. Phải tránh sự suy nghĩ chủ quan và độc đoán để tìm đến sự hoà hợp quân bình.
 
III. TÌM SỰ ĐỒNG THUẬN GIỮA VỢ CHỒNG
          Sự hoà hợp giữa vợ chồng là một điều cần thiết để đi đến chỗ đồng thuận trong mọi vấn đề.
          Theo tự điển Đào Duy Anh thì “Hoà hợp” là cùng hoà thuận không cạnh tranh xung đột”.  Hay chúng ta có thể nói : Hoà hợp là biến các yếu tố khác biệt thành một cái gì dung hợp nhau, không còn sự dị biết đối kháng.
          Chúng ta cũng nên phân biết giữa “Hoà hợp” và “Hợp nhau”.  Đó là hai khái niệm riêng biệt. Hợp nhau là thích nhau (ví dụ người hiền lành thì thích và hợp với người hiền lành).  Trong khi đó “Hoà hợp nhau” là chấp nhận nhau để hoà nhập với nhau, bù trừ cho nhau, nên có thể người hiền lành lại chấp nhận một người có tính nóng nảy. Hai người sống với nhau ít khi nổi xung, bởi vì người hay nóng luôn luôn được tính hiền lành của người kia  làm nguội đi các cơn thịnh nộ vô lý (Nguyễn Đình Xuân, Tâm lý học tình yêu gia đình, 1993, tr 112).
          Hoà hợp cũng không có nghĩa là “đồng nhất”.  Sách Luận ngữ có câu :”Quân tử hoà nhi bất đồng, tiểu nhân đồng nhi bất hoà”, nghĩa là người quân tử hoà với mọi người, nhưng không đồng. Kẻ tiểu nhân đồng với mọi người nhưng không hoà.
          Câu này cũng tương tự như câu :”Chó sủa mặc chó, đường tôi, tôi đi”, vì chó tuy đồng với đồng loại sủa inh ỏi nhưng không hoà vì hở  cục xương ra là đớp nhau ngay. Còn người công chính thì hành động quang minh không sợ thị phi.
          Con vật có “đồng” mà không có “hoà”. Con người có trí khôn nên có thể làm nên chữ “hoà”. Hoà hợp với nhau biến những cái dị biệt thành một cái gì chung nhất. Do đó, vợ chồng có thể hoà hợp với nhau nhờ sự cố gắng làm tan biến đi những khác biệt của nhau.
          Trong đời sống gia đình, sự hoà thuận là một điều quan trọng và cần thiết, vì nhờ sự hoà thuận mà các phần tử liên kết với nhau chặt chẽ  như các bộ phận trong một thân thể của con người :
                                     Anh em nào phải người xa,
                           Cùng chung bác mẹ một nhà cung thân
                                    Yêu nhau như thể tay chân
                           Anh em hoà thuận, hai thân vui vầy.
                                            (ca dao)

          Sự hào thuận càng quan trọng hơn trong đời sống vợ chồng vì đó là mối dây dàng buộc  làm cho vợ chồng khăng khít với nhau không thể chia lìa được.
        
         Ai không biết rằng đời sống vợ chồng rất phức tạp vì có sự khác biệt nhau về giới tính, về sinh lý, về môi trường xã hội, nếu không biết dung hoà những khác biệt ấy thì sẽ có sự bất hoà ngấm ngầm hay bùng nổ. Vì thế người ta đã quả quyết :
                            Thuận vợ thuận chồng, tát bể Đông cũng cạn.
          Trong đời sống xã hội cũng như trong gia đình người ta đề cao chữ “Dĩ hoà vi quí”, nhịn mày tốt tao.  Mọi người sống hoà hợp với nhau có thể biến gia đình thành thiên đàng. Dĩ nhiên điều đó không loại trừ sự nhịn nhục chịu đựng nhau và tha thứ cho nhau.
                            Những người đức hạnh thuận hoà
                           Đi đâu cũng được người ta tôn sùng.
                                         (ca dao)

Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt

                          

HônPhối 16: ĐÁ NÁT VÀNG PHAI

Người đời từ xưa đến nay đều quí trọng và ca tụng những người biết giữ lòng chung thuỷ trong HônPhối 16

Người đời từ xưa đến nay đều quí trọng và ca tụng những người biết giữ lòng chung thuỷ trong đời sống xã hội, nhất là trong đời sống hôn nhân.
          Chính Chúa Giêsu đã phán :”Lúc khởi đầu công trình tạo dựng, Thiên Chúa đã làm nên con người có nam có nữ; vì thế, người đàn ông sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai sẽ thành một xương một thịt. Như vậy, họ không còn là hai, nhưng chỉ là một xương một thịt. Vậy, sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly” (Mc 10,9).
          Nếu người đời đã biết quí trong sự chung thuỷ trong cuộc sống hằng ngày, thì người Kitô hữu càng phải trân trọng tính cách đơn nhất và vĩnh viễn trong cuộc sống hôn nhân. Vì đây không phải là ý kiến hay dư luận của người đời mà con là lệnh truyền của Chúa cho những ai thiết lập cuộc sống gia đình Kitô giáo.
                                    Dẫu ràng đá nát vàng phai
                           Chữ trung chữ hiếu xin người chớ quên

 
  1.   CÂU CHUYỆN CHUNG THUỶ
          1. Chung thuỷ là gì ?
          Theo nghĩa chữ Hán thì “Chung” là sau cùng, cuối cùng (ví dụ : chung kết).
         Còn “Thuỷ” là trước, đầu tiên (ví dụ : nguyên thuỷ).
         Như vậy, chung thuỷ hay thuỷ chung  có thể hiểu là sống trước sau như một, không lừa dối nhau, không thay đổi.
          Chúng ta hãy xem một người mẹ đã giải thích cho đứa con trai xem thế nào là chung thuỷ.
          Thằng con trai ở cửa vào phòng, mẹ đang ngồi ngước mắt nhin con từ đầu đến chân.
         - Thằng đẹp trai của mẹ, hôm nay không đi làm sao con ?
         Con trai ngồi xuống bên cạnh mẹ… Mẹ ơi, con hỏi mẹ điều này :
         - Gì vậy con ?
         - Theo mẹ thì “Thuỷ chung “ là gì hở mẹ ?
         - Con muốn hỏi về gì ?  Về cuộc sống, bạn bè hay tình yêu ?
         - Về tất cả.
          - Theo mẹ thuỷ chung với bạn bè là trước sau như một, trước đối xử với nhau như thế nào thì sau như vậy, không thay đổi giữa chừng dù mình hay bạn  có giầu sang hay nghèo khó, mạnh khoẻ hay ốm đau.  Là phải nghỉ tới những khó khăn cực khổ  mình đã cùng bạn bè vượt qua, dù hiện tại có gặp chuyện gì đi nữa cũng đừng bao giờ phủi sạch  ân tình đã từng có.
          - Thuỷ chung với cuộc đời là có trước có sau, khi mình khổ vẫn giữ lòng trong sạch như gương, sống lương thiện không tham sang phụ khó.  Thấy người giầu không tham, thấy người khổ chẳng xem thường. Hãy chung tay giúp những mảnh đời bất hạnh hơn mình, vì cuộc đời vốn đã chẳng công bằng gì, con ạ.
          - Thuỷ chung với tình yêu là một lòng như nhất, khi đã yêu thì yêu hết trái tim, dành trọn tấm lòng cho người mình yêu quí, sẽ không quá nếu mẹ nói  là hy sinh cả hạnh phúc đời mình cho người mình yêu được hạnh phúc.  Là khi yêu thì chẳng thể đổi thay dù kẻ khác có uy quyền hay nhan sắc vẹn toàn hơn.  Có một điều mà ta không thể phụ nhau đó là tình nghĩa, tình nghĩa chỉ có  khi những người yêu thương nhau  dành tặng cho nhau, tiền tài, danh vọng, nhan sắc không thể mua bán, trao đổi.  Không thuỷ chung là phản bội, là ngoại tình  vì dục vọng, là đổi thay vì tiền bạc, danh vọng.  Kẻ ấy có thể giầu sang hơn nhưng nhân cách chẳng đáng một lần tôn trọng.

         Cuộc đời mẹ đã có những người bạn gọi là “nối khố” cùng nhau, thời khó khăn dựa vào nhau mà sống… thời gian qua đi, thế sự đổi thay, lòng người cũng vì vậy mà mờ dần tình nghĩa đã từng xây trên khốn khó.  Đã có những lần người ta phản bội mẹ… chỉ vì dục vọng, tiền tài… Có những người mẹ từng gặp trên đời, , từng đôi lần quí trọng… nhưng chỉ vì ham muốn riêng mình, bất tài nhưng muốn đứng trên người khác hoá ra  lại tự đào huyệt chôn mình….

         Thuỷ chung chỉ là hai từ mà khi đọc ta tưởng chừng chẳng liên quan tới cuộc đời mình, nhưng từng trải qua con sẽ thấy thuỷ chung đáng trân trọng biết bao nhiêu.  Điều đó quyết định nhân cách của một con người con ạ.  Hãy vào đời bằng sự thuỷ chung nhé con trai của mẹ !
 
                                    Truyện :  Người vợ thuỷ chung
          Người Ba Lan thường nhắc đến nàng Catarin Zenelonca như biểu trưng của lòng thủy chung.  Được tin chồng mình bị vua Thuỵ Điển là bào huynh tống ngục. Catarin Zenelonca xin được ngồi tù với chồng. Nàng nói về chồng mình như sau :
         “ Dù vô tội hay có tội, chàng vẫn mãi mãi là chồng của tôi”.
         Nhà vua tìm mọi cách thuyết phục nàng bỏ chồng. Nhưng Catarin Zenelonca đã rút chiếc nhẫn từ trên ngón tay mình trao cho nhà vua và xin ông đọc dòng chữa được ghi khắc trên đó.  Quả thực, nhà vua đã sửng sốt khi đọc thấy ba chữ “cho đến chết” (sola mors).  Ông đành để cho người thiếu phụ được ngồi tù với chồng. Và 17 năm sau khi vua băng hà, hai người mới được tự do.
 
         Trong tình yêu đích thực không có cân lường đo đạc.  Có tính toán hơn thiệt thì không còn tình yêu, thước đo của tình yêu là sự không đo lường.  Biết phục vụ mà không bị thương tích, biết sẵn sàng bị thua thiệt mà không cần một phần thưởng nào khác hơn là biết rằng :”Sống với đúng lòng mình” !  Đó là một tình yêu cao thượng của thế gian, có thuỷ có chung.
 
         2. Chung thuỷ trong văn chương Việt nam
          a) Thi sĩ Nguyễn Khuyến
          Nguyễn Khuyến (1835-1909), nhà thơ gốc làng Yên Đổ, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam, từng đỗ đầu cả ba kỳ thi Hương, thi Hội và thi Đình, nên được gọi là Tam Nguyên Yên Đổ.
          Nguyễn Khuyến là một con người, một tâm hồn Việt nam tiêu biểu. Chính vì thế, thơ của ông với thơ của nữ sĩ Hồ Xuân Hương trước kia, thơ Nguyễn Bính và một số nhà thơ khác sau này, đã tạo thành một xu hướng thi ca vô cùng độc đáo và đặc sắc, chuyên đặc tả “bản sắc Việt nam” trên hai phương diện “bản sắc quê hương đất nước Việt nam và bản sắc tâm hồn Việt nam”.
          Trong 88 bài thơ của Nguyễn Khuyến, chúng ta thấy có bài thơ “Mẹ Mộc” được gói ghém ý tưởng và tâm tinh của ông trong đó.
          “Mẹ Mốc” quê ở gần làng Yên Đổ. Cô còn trẻ, có nhan sắc, có vốn liếng, mà chồng lại đi xa.  Trong hạt có nhiều chàng chòng ghẹo toan ép liễu nài hoa.  Cô bèn giả điên, thoa tro than vào người, xé rách quần áo, chủ ý che mặt bọn kia để khỏi bị quấy nhiễu trong khi chờ chồng về.
          Nguyễn Khuyến sau khi cáo quan về nghỉ ở nhà, người Pháp luôn tìm cách để mời ông ra giúp.  Ông phải viện mọi lẽ để từ chối.  Nhân thấy Mẹ Mốc giả điên giả dại, ông bèn làm bài ca trù này để ký thác tâm sự của mình.
 So danh giá ai bằng Mẹ MỐC,
Ngoài hình hài, gấm vóc chẳng thêm ra;
Tấm hồng nhan đem bôi lấm xoá nhoà,
Làm thế để cho qua mắt tục.
Ngoại  mạo bất cầu như mĩ ngọc,
Tâm trung thường thủ tự kiên kim.
Nhớ chồng con muôn dặm xa tìm,
Giữ son sắt êm đềm một tiết.
Sạch như nước, trắng như ngà, trong như tuyết,
Mảnh gương trinh vằng vặc quyết không nhơ.
Đắp tai ngảng mặt làm ngơ,
Rằng khôn cũng kệ, rằng khờ cũng thây,
Khôn kia dễ bán dại nay.

 
         b) Truyện cổ tích Việt nam
          Trong kho tàng văn chương Việt nam còn có những truyện cổ tích cũng nói lên lòng chung thuỷ của con người trong gian nan thử thách như truyện Thiếu phụ Nam Xương hay truyện Hòn Vong Phu, hoặc truyện Tấm Cám…
 
II. CÂU CHUYỆN “ĐÁ NÁT VÀNG PHAI”
          Chúng ta hay gặp 4 chữ trong tục ngữ “đá nát vàng phai”, 4 chữ này thường dùng để nói : dù sao lòng người không bao giờ thay đổi :
                                     Trăm năm đá nát vàng phai
                             Đá nát mặc đá, vàng phai mặc vàng.

          Đến đây chúng ta đặt một câu hỏi : lòng chung thuỷ và sự thuỷ chung của người xưa và nay có khác nhau không ?
          Thực sự, sự chung thuỷ của một người được hình thành từ nhiều yếu tố, nó cũng như tính cách của con người vậy.
          Thứ nhất, có lẽ là Gen. Chắc hẳn Gen có hình thành trong bản chất của con người, vì thế, cha ông ta mới có câu “Lấy vợ xem tông, lấy chồng xem giống”.  Xét theo nghĩa bóng một chút thì cái ảnh hưởng đạo đức từ đời này sang đời khác của dòng họ là có thật. Tuy nhiên, yếu tố này có lẽ ảnh hưởng không nhiều lắm.
          Thứ hai, người đó là ai ? Nói cách khác là yếu tố tự bản thân mình. Yếu tố này chiếm khá lớn trong việc quyết định người đó có “máu” chung thuỷ hay không.
         Thứ ba, môi trường họ đang sống ở đâu ?  Người ta thường nói :”Gần mực thì đèn, gần đèn thì rạng”.  Câu nói của cha ông chúng ta  cũng đã nói lên vai trò quan trọng của môi trường tác động đến con người rồi.
          Chúng ta có thể nói :  xã hội ngày nay đã thay đổi nhiều. Môi trường của xã hội cũng thay đổi quá nhiều nên con người không thể thoát khỏi ảnh hưởng của môi trường hiện nay, làm cho xã hội càng ngày càng xuống cấp.
          Nếu người ta nói : gia đình là nên tảng của xã hội thì xã hội bị ảnh hưởng của gia đình, trong khi đó gia đình cũng bị ảnh hưởng bởi con người.  Nếu ngày nay người ta coi thường sự thuỷ chung thì gia đình sẽ không đứng vững được, vì nếu nền  nhà mà bị sụp thì ngôi nhà cũng đổ.
          Tuy thế, ngày nay vẫn còn những tấm gương sáng chói về lòng chung thuỷ trong đời sống hôn nhân.  Ngày nay vẫn còn những người biết noi gương chung thuỷ của những người xưa mà củng cố gia đình cho bền chặt;  đồng thời nêu gương cho người đời bắt chước để củng cố xã hội đang trên đà xuống dốc.
 
                                   Truyện : Thần Penelope chung thuỷ.
          Có một nàng tiên tên là Penelope rất đẹp, chồng đi chinh chiến miền xa, ở nhà một mình dệt vải đợi chồng trở về, nhiều người đến tấn công. Chị ta nảy ra một kế rất hay : đợi khi nào dệt xong tấm vải thì sẽ lấy họ.  Ban ngày dệt vải, ban đêm lại tháo những sợi ấy ra, rồi hôm sau lại dệt. Như thế,  thì đến muôn đời cũng không lấy chồng được.
          Suy niệm lời Chúa dạy :”Sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không bao giờ được phân ly” (Mc 10,9). Nhiều người đã biết thi hành lời Chúa đến mức triệt để, nên đã hăng hái thề nguyền với nhau :
                                    Dẫu rằng đá nát vàng phai
                           Trăm năm duyên nợ chẳng phai chút nào.

Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt

 

HônPhối 17: TRIẾT LÝ CÁI NỒI

Người dân quê Việt nam chúng ta ngày xưa đã nêu lên ba cái khó khăn trong cuộc sống mà nhiều HônPhối 17

Người dân quê Việt nam chúng ta ngày xưa đã nêu lên ba cái khó khăn trong cuộc sống mà nhiều người không thể vượt nổi, khiến họ phải băn khoăn, lo lắng :
                                     Tậu trâu, cưới vợ, làm nhà
                                 Trong ba việc ấy thật là khó thay !

          Lấy vợ là một thử thách trong ba cái khó phải vượt qua, không những đứng về phương diện vật chất, nhà nghèo không có tiền để cưới vợ, lại còn khó khăn về tâm lý với tiêu chuẩn người ta đưa ra :”Nồi nào vung ấy”.  Chúng ta hãy bàn đến mối tương quan giữa cái vung và cái nồi.
 
I. TẢN MẠN VỀ CÁI NỒI
          1. Một dụng cụ cần thiết trong bếp
          Nông thôn cũng như thành thị Việt nam, nhà nào cũng phải có bếp để chuẩn bị cho bữa ăn thịnh soạn cũng như đạm bạc.  Cái nồi cũng là một dụng cụ cần thiết cho bữa ăn, vì cơm là món ăn chính, và cũng là một dụng cụ quan trọng nhất, không có không được, và nó cũng chiếm một vị trí quan trọng nhất trong bữa ăn , như người ta nói :       “Ăn trông nồi, ngồi trông hướng”.
 
         2. Các loại nồi
          Trong xã hội nước ta ngày xưa chỉ có hai loại nồi : nồi đồng và nồi đất. Người nông dân nghèo thường dùng nồi đất, nghĩa là cái nồi làm bằng đất nung, chỉ có những nhà khá giả mới có nồi đồng… Nồi đất thì lâu sôi hơn nồi đồng nhưng nóng lâu hơn :”Nồi đồng sôi, nồi đất cũng sôi”.
          Nồi đất  thì kích thước tương đối nhỏ, còn nồi đồng thì có nhiều cỡ,  tùy theo số người ăn :”Nồi bảy quăng ra, nồi ba quăng vào”.   Nồi đồng cỡ lớn nhất là nồi ba mươi (dùng cho 30 người ăn).  Ngày Tết người ta thường dùng nồi này để nấu bánh chưng.
          Sau này người ta có loại nồi nhôm nhẹ hơn nhưng không bền bằng nồi đồng. Ngày nay văn minh hơn,  người ta thường dùng nồi nhôm điện, đủ loại, đủ kích cỡ.
 
         3. Công dụng của cái nồi
          Công dụng của cái nồi thì đa dạng. Chúng ta hãy nghe anh Nguyễn Khang nói về công dụng của nó : “Những lần đi trại Hướng đạo trên Đà Lạt, cả toán Băng Ngàn của chúng tôi chỉ dùng có mỗi một cái nồi. Để nấu đủ thứ. Ít là ba món : canh, thịt kho, và dĩ nhiên là có cơm.
          Chúng tôi kho thịt trước rồi múc thịt ra đĩa.  Sau đó nấu canh. Múc canh ra cái ga-men (gamelle), tráng sơ sài cái nồi, rồi nấu cơm.  Bữa nào đói bụng, hầu như việc rửa chén sẽ rất nhẹ nhàng vì chúng tôi nhai đến miếng cháy cuối cùng, và vét đến hạt cơm cuối cùng của miếng cháy.  Thỉnh thoảng ban tối còn nấu một nồi chè để nhâm nhi sau khi lửa trại.  Kể ra bốn món mà chỉ có một cái nồi” !
          Có người kể  đối với cái nồi làm vật kỷ niệm : trong cuộc sống vô cùng khó khăn, cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc, cái nồi nhôm đóng vai trò chủ lực trong bếp với biết bao “nhiệm vụ”. Nó “kiêm nhiệm” nhiều chức năng, khi làm “ấm” nấu nước, dùng khuấy bột, nấu cơm, nấu canh, kho cá…
          Trong dịp Tết Trung thu, các con nhà nghèo không có trống để múa lân thì dùng tạm cái nối thay cái trống vậy, âm thanh phát ra vang dội cũng làm cho cuộc rước vui đáo để.
 
         4. Cái nồi và cái vung
          Đã có nồi thì phải có vung, hai cái phải đi đôi với nhau, nồi đất thì vung bằng đất, nồi đồng thì vung cũng bằng đồng, mục đích làm cho nồi chóng sôi và tránh bụi bặm khỏi rơi vào nồi.  Nồi đất thì càng cần phải có vung khi nồi cơm bị vùi dưới lớp tro nóng (theo kiểu nấu cơm bằng rơm ở ngoài Bắc).  Như vậy chúng ta có thể nói : Vung nồi lúc nào cũng có đôi.
 
II. NỒI NÀO VUNG ẤY
          Việt nam có một câu tục ngữ rất gợi hình và mang một ý nghĩa sâu sắc khi áp dụng vào đời sống tâm lý và đời sống gia đình : “Nồi nào vung ấy”.
 
         1. Giải thích câu tục ngữ
          Có người giải thích câu tục ngữ “nồi nào vung ấy” là nồi nào vung ấy đậy mới vừa nhau, nếu nồi này mà vung nọ thì không hợp.  Người ta muốn mượn câu này để nói rằng người chồng thế nào thì lại có người vợ hợp tính như thế.
          Có người giải thích : thứ nào, loại nào thì lại phù hợp, thích ứng với cùng thứ ấy, loại ấy. Người đàn ông thế nào thì lại có người đàn bà như thế phù hợp, vợ chồng tương xứng mọi mặt.
          Nói cách khác, dù thế nào người ta vẫn có thể tìm được người chồng hay người vợ phù hợp với người ta.
 
         2. Trong đời sống tâm lý
          Trong đời sống xã hội, những người có đức tính hay tính tình tương hợp nhau thường tìm đến với nhau làm điều tốt hay xấu. Dân tộc nào cũng có những câu ca dao tục ngữ nói lên tính cách ấy.
          Trong Dịch kinh có câu :”Đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu”.
         “Đồng thanh tương ứng” có nghĩa là đồng tiếng thì ứng nhau : vật cùng thứ tiếng thì ứng nhau, như một con gà gáy, thì bầy gà đều gáy lại, ví như những người đồng một tư tưởng, một hiếu thượng thì lại tìm nhau.
          Cả câu tục ngữ “Đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu” có nghĩa là  những vật cùng một thứ tiếng thì ứng nhau; những vật cùng một khí loại thì tìm nhau, ví dụ nam châm thì hút sắt.
          Cùng một tư tưởng ấy, chúng ta có một câu khác : “Ngưu tầm ngưu, mã tầm mã” : trâu tìm đến với trâu, ngựa tìm đến với ngựa.
          Tục ngữ Việt nam thì có câu :”Nồi nào vung ấy”.  Nói đến cái nồi và cái vung thì ai cũng biết vì bữa cơm nào mà không có nồi cơm, cũng như nồi nào mà không có vung đậy.  Vung và nồi phải xứng hợp nhau :
                            “Nồi tròn úp vung tròn, nồi méo úp vung méo”
          Nếu không như  vậy thì người ta phải chế trách cái tính cách bất hợp xứng của sự việc :
                                   Nồi tròn thì úp vung tròn
                               Nồi tròn vung méo úp sao cho vừa

 
         3. Trong cuộc sống hôn nhân
          Trước khi bước vào đời sông hôn nhân, anh chị rất băn khoăn  trong việc chọn lựa cho mình một người bạn đời tương xứng. Trong việc quan trọng này, anh chị phải học hỏi, tìm hiểu và cần có sự hướng dẫn của những người có kinh nghiệm hơn trong cuộc sống gia đình.
          Người ta thường có quan niệm rằng :
                                    Nồi tròn thì úp vung tròn
                           Nồi méo vung méo cháu con được nhờ

          Và trong hoàn cảnh nào cũng đừng sợ, vẫn có cách làm cho tương xứng :
                                    Nồi tròn thì úp vung tròn
                           Nồi vênh đừng sợ, vẫn còn vung vênh.

          Với tư tưởng lạc quan đó, người ta vững tin tìm đến nhau để lập gia đình :
                                    Người xinh lại lấy người xinh
                           Bao nhiêu kẻ xấu rập rình lấy nhau.

          Trong việc kết hôn, hiểu biết là một chuyện, ví von về tình huống của người khác rất rành rọt là một chuyện, còn dùng cho mình  để có chọn lựa tương thích lại là một chuyện hoàn toàn khác.
          Chúng ta thường trưng dẫn ra câu của Tôn Tử trong nghệ thuật chiến tranh :
                            Tri kỷ tri bỉ, bách chiến bách thắng
                           Biết mình biết người, trăm trận trăm thắng.

          Nếu biến hóa một chút câu nói trên, ta có câu ví von khác gợi hình hơn :
                            Biết nồi biết vung, trăm lần đậy trăm lần khít.
          Nếu ví bản thân mình là vung, thì biết mình tức là biết mình đang có “hình dạng” thế nào, “chất liệu” ra sao, chịu được “va đập” cỡ nào… Và hơn hết, là biết “vung” mình phải phù hợp với những loại nồi nào.
          Và biết người, tức là biết nồi, tức là phải biết ngoài kia có những “nồi”  nào… mình có phải là “vung” phù hợp với thiết kế, tính năng, ứng dụng của cái nồi đó không… Tức là, nếp “đậy” cái “vung” mình vào thì cái “nồi” đó nó có thực hiện được cái việc chính của nó không…
          Nếu vung to mà đậy vào nồi nhỏ thì trước sau gì cũng bị ám khói…
         Nếu vung tròn mà úp lên cái nồi không tròn hoặc ngược lại thì sẽ đậy không kín…
         Nếu là nồi áp suất mà vung không phù hợp, trong quá trình “nấu” vung có thể bị bể, bị thổi bay. 
         Nếu là vung thủy tinh cao cấp mà đi úp vào nồi nấu cám heo thì quá lãng phí.
          Dĩ nhiên, muốn biết thì phải học. Học từ đâu ? Từ sách vở, từ người khác và từ chính trải nghiệm của mình.  Và trong tiến trình “biến” của người thành của mình, tức là quá trình “tập bơi” thì phải “nhảy xuống biển” – như thế tất nhiên là có rủi ro, có trả giá.  Nhưng đó là sự đầu tư “cần và đủ” để cải thiện được “chất” của mình.
          Nếu ta kiếm được cái “nồi” để cái “vung” của ta vừa khít, hợp thành một cặp tối ưu thì đó quả là sự may mắn. Còn thông thường, ta phải thay đổi, tức là ta phải nắn, rèn, ép… lại cho phù hợp “hình dạng”, thậm chí phải cho vào nồi luyện lại… Nếu muốn thành một cái “vung” được “nồi” tìm kiếm.
           Nếu ta là “vung” thì đừng đòi, đừng đợi cái “nồi” nó thay đổi. Không có chuyện đó đâu, đó thực sự là ảo tưởng, là mơ mộng hão huyền… Mình chỉ có thể thay đổi được bản thân mình, chứ không thể thay đổi được người khác. Hãy tỉnh táo khi mình đòi hỏi.
 
III. TƯƠNG HỢP GIỮA VUNG VÀ NỒI
          1. Thời kỳ của mầu hồng tươi thắm
          Trong thời gian tìm hiểu, đôi trai tài gái sắc có những cái nhìn rất lạc quan về nhau, tìm ra những ưu khuyết điểm của nhau, quên đi tất cã những khuyết điểm, những thiếu sót, những khó khăn để tiến tới hôn nhân.
          Hai người đã tìm ra được giải đáp những thắc mắc trong cuộc tìm kiếm.  Họ an tâm với sự lựa chọn theo tiêu chuẩn “nồi nào vung ấy”. Họ tin tưởng rằng cuộc đời tương lai của họ sẽ thành công tốt đẹp với tình yêu nồng nàn và nỗ lực xây dựng của họ. Họ sẽ xây dựng được mái ấm gia đình tuy đơn sơ nhưng ấm cúng :
                                   Em về cắt rạ đánh tranh
                                   Chặt tre chẻ lạt cho anh lợp nhà.
                                   Sớm khuya hòa hợp đôi ta,
                                   Hơn ai gác tía lầu hoa một mình

 
         2. Thời kỳ của sắc mầu đa dạng
          Người ta nói :”Ở trong chăn mới biết chăn có rận”. Vợ chồng sống với nhau một thời gian mới biết rõ tính tình của nhau, tốt cũng như xấu.. Bởi vì con người bá nhân bá tính, không ai giống ai. Những khác biệt tâm lý giữa nam và nữ (với 5 định luật tâm lý), khác biết về giáo dục, tôn giáo, ngôn ngử, tập quán, tục lệ, sở thích… làm cho người ta dễ bị va chạm gây ra những mối bất hòa bùng nổ hay ngấm ngầm. Những bất hoà ngấm ngầm xem ra là chuyện nhỏ nhưng có thể trở nên những đợt sóng ngầm làm tan vỡ gia đình.
          Qua những va chạm hằng ngày, vợ chồng mới nhìn thấy vung và nồi không còn tròn trịa như trước nữa mà đã trở nên méo mó, không còn được như xưa nữa, và lúc đó họ mới giật mình than :
                           Nồi tròn vung méo úp sao cho vừa.
          Thuở ban đầu người ta đeo kính mầu hồng, xem gì cũng đẹp tốt, nhưng đến giai đoạn này kính không con mầu hồng nữa mà đã ra mầu trắng, người ta thấy rõ con người của nhau với bao nhiêu  khuyết điểm. Và từ đây họ mong ước được đeo kính “mầu xanh hy vọng” để làm giảm bớt những căng thẳng trong cuộc sống :
                            E ấp thuở ban đầu kính hồng tươi rực rỡ
                           Tháng năm trôi kính dần hóa không mầu.
                           Tình mãi đẹp nếu đôi ta cùng biết
                           Chung cặp kính mầu xanh… thông cảm ngắm trông nhau.

 
         3. Thời của mầu xanh hy vong
          Qua những thăng trầm trong cuộc sống lứa đôi, họ sẽ cố gắng xây dựng một kiểu gia đình lý tưởng. Giữa vợ chồng có những qui tắc bình đẳng, cùng quyết định mọi vấn đề, đối xử dân chủ như hai người bạn.
          Họ mong được ngang sức, ngang tài, ngang tuổi, có thể hỗ trợ giúp đỡ nhau cả trong mọi công việc của đời sống hằng ngày. Vợ chồng dạng này cũng hay tranh luận, song sau đó hiểu và thương nhau hơn.
          Trong cuộc sống hằng ngày, cái vung cái nồi tròn méo là rất khó sữa chữa, nhưng trong đời sống vợ chồng những sự khác biệt  về tròn méo có thể sửa chữa được. Muốn được như vậy, chúng ta phải đặt ra vấn đề hòa hợp vợ chồng. Đây là chìa khóa thành công trong đời sống vợ chồng, không có không được.
          Vậy “Hòa Hợp” là gì ?
         Theo tự điển Đào Duy Anh thì Hòa Hợp là cùng hòa thuận không cạnh tranh xung đột.
         Hay chúng ta có thể nói : hòa hợp là biến các yếu tố khác biệt thành một cái gì dung hợp nhau, không còn sự dị biệt đối kháng.
          Ta có thể đưa ra một ví dụ cụ thể : trong một ly nước chanh đường, ta có chanh chua đường ngọt.  Theo nguyên tắc thì chua và ngọt là hai chất đối kháng nhau, nhưng nếu cho cả hai chất hòa hợp với nhau trong nước thì lại là một ly nước chanh đường ngon miệng, bổ dưỡng và giải khát.
          Muốn có hạnh phúc gia đình, vợ chồng phải cố gắng sống hòa hợp và hòa thuận với nhau, thiếu yếu tố đó, gia đình không thể sống hạnh phúc được như người ta nói :
                                     Vợ chồng là nghĩa tào khang
                           Chồng Hòa vợ Thuận nhà thường yên vui.

          Đến đây ta có thể đặt ra câu hỏi : “Hạnh phúc hệ tại luôn được thỏa mãn hay là cố gắng làm thỏa mãn người” ? 
          Trong cuốn “Nước mắt và hạnh phúc”, linh mục Nguyễn Tầm Thường có nói : “Cuộc sống chỉ là tương đối. Tôi không thể làm người bạn đời trọn vẹn hạnh phúc. Người bạn đời cũng chẳng thể  cho tôi mọi ước mơ. Vì cả hai đều yếu đuối và mắc nhiều lầm lỗi, cả hai không là thiên thần mà là người. Là người nên tôi không thể làm thỏa mãn người được. Không làm thỏa mãn người được cũng có nghĩa là  người cũng chẳng thể làm thỏa mãn được tôi.
         Như thế, hạnh phúc là cùng nhau lắng nghe tiếng hót của con chim họa mi. Cùng chịu giá lạnh của mưa.  Chịu khổ của bão. Hạnh phúc trong hôn nhân là cùng nhau góp một ước mơ. Cùng nhau gánh nỗi đau của đời.
         Cái chua của chanh, cái ngọt của đường làm nên ly nước chanh chứ không riêng có đường, không hẳn chỉ là chanh” (Nguyễn Tầm Thường, Nước mắt và hạnh phúc, tr 26).
          Dẫu thế nào chăng nữa, hạnh phúc gia đình chỉ có thể có được khi vợ chồng biết thương yêu nhau vì tình yêu có thể hóa giải được tất cả những dị biệt.
          Ca dao Việt nam có câu :
                                    Yêu nhau quả ấu cũng tròn
                                   Ghét nhau quả bồ hòn cũng méo.

          Quả ấu có nhiều trong các ao hồ ngoài Bắc. Quả ấu hình dạng tương tự cái đầu trâu với cặp sừng cong cong nhọn, sần sùi xấu xí, chẳng có nét nào tròn trịa cả.  Không thể nào thấy củ ấu dị dạng kia tròn được. Ngược với toán học trăm phần trăm. Chỉ có tình yêu mới làm được phép lạ ấy mà thôi.
          Để tạo lập được sự hòa hợp gia đình để đưa đến hạnh phúc, chúng ta hãy suy niệm một đoạn của bức thư thánh Phaolô tông đồ gửi cho tín hữu Côlôssê :
 ”Anh em là những người được Thiên Chúa tuyển lựa, hiến thánh và yêu thương. Vì thế, anh em hãy có lòng thương cảm, nhân hậu, khiêm nhu, hiền hòa và nhẫn nại. Hãy chịu đựng và tha thứ cho nhau, nếu trong anh em người này có đdiều gì phải trách móc người kia. Chúa đã tha thứ cho anh em, thì anh em cũng vậy, anh em hãy tha thứ cho nhau. Trên hết mọi đức tính, anh em phải có lòng bác ái : đó là mối dây liên kết tuyệt hảo” (Cl 3, 12-14).
                   Ngàn đời trước đến hôm nay
                  Một lòng chung thủy tới ngày…“đi xa”.
                  Từ mười sáu tới tuổi già
                  Vung trên nồi dưới tình ta trọn đời.

                                                                                
Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt

        

HônPhối 18: TÔI HÓA THA NHÂN

            Anh em thân mến,

Anh em hãy sống trong tình yêu thương như Đức Kitô đã yêu thương chúng ta và nộp mình vì HônPhối 18

Anh em hãy sống trong tình yêu thương như Đức Kitô đã yêu thương chúng ta và nộp mình vì chúng ta.
          Hỡi những người làm chồng, hãy yêu thương vợ như Đức Kitô yêu thương Hội thánh, và nộp mình vì Hội thánh, để thánh hóa Hội thánh, khi Người dùng nước và lời mà thanh tẩy Hội thánh, để bầy tỏ cho mình một Hội thánh vinh quang, không tỳ ố, không vết nhăn, hay mắc điều gì khác tương tự, nhưng để Hội thánh nên thánh thiện và tinh tuyền.
          Cũng thế, người chồng phải thương yêu vợ mình như chính thân mình.  Ai yêu thương vợ mình là yêu thương chính mình, vì không ai ghét thân xác mình bao giờ, nhưng nuôi dưỡng và chăm sóc nó, như Đức Kitô đã nuôi dưỡng và chăm sóc Hội thánh, vì chúng ta là chi thể của thân thể Người.
          Bởi thế, người nam sẽ rời cha mẹ mà gắn bó với vợ mình và cả hai sẽ nên một thân xác.  Mầu nhiệm này thật lớn lao; tôi muốn nói về Đức Kitô và Hội thánh (Ep 5,2a.25-32).
 
I. TÔI HÓA THA NHÂN
          1. “Tôi hóa tha nhân” là gì ?
          Tôi hóa tha nhân là bắt tha nhân phải giống như chính mình, lấy mình làm kiểu mẫu, coi mình là hoàn thiện, bắt mọi người nhất cử nhất động phải theo ý mình..
          Trong chế độ nô lệ, người chủ có quyền tuyệt đối trên người nô lệ, mọi người nô lệ không có tự do, phải răm rắp theo lệnh ông chủ.
          Trong chế độ độc tài cũng thế, chế độ độc tài (dictatorship) là thể chế nhà nước chuyên quyền mà ở đó nhà nước được cai trị bởi  một cá nhân : kẻ độc tài.
          Theo nghĩa hiện dùng, chế độ độc tài đề cập đến hình thức cai trị độc đoán do các kẻ cầm quyền không bị pháp luật, hiến pháp hay các nhân tố chính trị mà quốc gia đó ràng buộc.
          Trong lãnh vực tình yêu, người tôi hóa tha nhân là người có tình yêu ích kỷ, là kẻ tàn tật hóa người yêu.  Người yêu là của mình, nên khi tàn tật hóa người yêu thì cũng là tàn tật hóa chính hạnh phúc của mình.
 
         2. Tôi hóa trong hôn nhân
          Kẻ muốn đồng hóa tha nhân trong tình yêu là những đôi tình nhân yêu nhau như hơi gặp hơi, thở gặp thở mà vẫn như mênh mông xa cách, vẫn như khắc khoải kiếm tim.
          Họ khắc khoải kiếm tìm vì chẳng bao giờ con người có thể “tôi hóa” nhau được. Bắt người khác giống mình là hủy diệt tự do và bản tính của người đó, càng bắt họ giống mình bao nhiêu thì sự hiện hữu của họ càng mất đi bấy nhiêu. Tôi muốn đời vẫn là tôi, tha nhân nghìn đời vẫn là tha nhân.
         Nếu tha nhân là tha nhân và tôi là tôi thì sao có thể trở nên “mật” được.  Kẻ nên mật trong tình yêu  là những đôi hôn nhân đem sự khác nhau làm nên sự phong phú của sự kết hợp.
          Trong ý nghĩa đó, khác biệt phải có một giá trị tự nó.  Kết hợp không biến hóa nguyên thể của các khác biệt mà là một luân vũ nhẹ nhàng. Đó là sự hòa âm của các đơn thể khác nhau chứ không phải là đơn điệu.  Đó là kết hợp của âm nhạc, của vũ trụ, của tình yêu (Hạnh Hương, Nẻo về Thượng Trí, tr 156).
 
         a) Quan niệm “phu xướng phụ tùy”.
          Trong chế độ phong kiến ngày xưa, bên Đông phương cũng như Tây phương, nhất là những nước bị ảnh hưởng Nho giáo với quan niệm “nam trọng nữ khinh” rất phổ biến, vì thế vai trò của người phụ nữ rất là đen tối, thấp hèn.  Người phụ nữ không có quyên hành gì trong gia đình đến nỗi người ta nói :”Nhất nam viết hữu, thập nữ việt vô”.
          Quan niệm trọng nam khinh nữ được gói ghém trong câu thành ngữ nổi tiếng :Phu xướng phụ tùy”.
          “Xướng” ở đây là xướng ca, tức là lên giọng bắt nhịp hát; “tùy” là tùy hòa, là phụ họa. Nghĩa là chồng mà có ý kiến về cái gì đó, thì vợ sẽ đồng tình, tán dương.  Kiểu như người tung người hứng vậy. Nói khác đi,  chồng muốn gì thì vợ phải theo, không được có ý kiến. Người chồng có quyền tuyệt đối trong mọi công việc.
          Ở nước Trung hoa xưa, người đàn bà phải tùng phục con cái trong nhà, khi chồng con ngồi ăn, bà phải đứng im hơi lặng tiếng để hầu cơm.
          Ở nước cổ Hy Lạp, người đàn ông thường ra chọ “mua” đàn bà về làm vợ như ta mua trâu về cầy. “Làm vợ” chỉ có nghĩa là  để cho chồng tha hồ bê tha về nhục dục. Đến khi vợ già sức yếu, người chồng có quyền tẩy chay hoặc thủ tiêu cho khỏi tốn cơm trời.  Người vợ thật là nô lệ chồng không hơn không kém.
          Ngày xưa trong xã hội phong kiến, người phụ nữ trong gia đình luôn mang mặc cảm phụ thuộc. Có khi không phải là người lao động phụ (đôi khi lại là lao động chính) vẫn phải phụ thuộc vào chồng con và gia đình bên nhà chồng.
          Rõ ràng lễ giáo phong kiến có những ràng buộc  khiến người phụ nữ mất quyền bình đẳng trong gia đình và cả ngoài xã hội.  Họ không được tham gia nhiều hoạt động trong gia đình, dòng tộc hoặc làng xã, hoặc nếu có thì  ở một vị thế khác, thấp hơn cánh nam nhi.  Không khi nào phụ nữ được ngồi chung chiếu với nam giới trong những lúc có việc làng hay hội hè, đình đám.  Vai trò của họ là phục vụ, là chuyện bếp núc, bưng bê, nấu nướng…
          Chuyện “phu xướng phụ tùy” ngày nay không còn, nhưng chuyện về những người đàn ông “gia trưởng” vẫn còn…  Đó là những người chuyên áp đặt quan điểm, công việc và cả chuyện ứng xử đối với người phụ nữ.  Nếu người vợ nào đó bất tuân, cãi lời thì xung đột và bạo lực ở những gia đình này là chuyện tất yếu khi người phụ nữ trong gia đình muốn khẳng đình quyền tự do bình đẳng giữa vợ chồng.  Nhiều gia đình, người vợ vẫn chịu cảnh của những cái bóng bên chồng.  Họ phần đông nhẫn nhịn, cam chịu để tránh lối hành xử tho bạo của chồng cũng là tránh điều tiếng “xấu chàng hổ ai” với thiên hạ.

          b) Quan niệm “tự do tuyệt đối”
          Mặt khác, vì hiểu cái quyền không đúng mà nhiều chị em ngược lại đã lấn lướt chồng, thậm chí “cai trị” đức lang quân mà thực ra  là một cách bình đảng quá trớn, khiến nhiều người đàn ông  lâm vào bi kịch chung với “sư tử liên tính”.
          Đừng phụ thuộc đến mức “phu xướng phụ tùy” mà cũng đừng lất lướt chức năng và phẩm hạnh trời phú cho người phụ nữ là lấy tình cảm và sự yêu thương để đắp xây hạnh phúc gia đình. Karl Marx từng khẳng định rằng :”Đức tính tôi thích ở đàn bà là… hiền dịu”. Hiền dịu và không hèn kém.  Chính điều đó làm tôn thêm vẻ cao quí ở người phụ nữ hơn là giành lấy quyền “phụ xướng” bắt chồng phải theo.
          Hãy bình đẳng vợ chồng trên cơ sở tôn trọng và hiểu biết lần nhau.
 
3. Giải pháp dung hòa
          Chúng ta phải hiểu rằng nên một trong tình yêu là nên một trong “hòa đồng” (hòa hợp) chứ không phải nên một trong “đồng hóa” (đồng nhất).
          Chúng ta hãy nhìn vào ly nước chanh đường.  Trong ly nước chanh thì có chanh và đường hòa tan trong ly nước. Trong đó chanh vẫn là chanh và đường vẫn là đường để làm thành ly nước chanh đường ngon miệng.  Nếu trong ly nước tất cả biến thành chanh hoặc tất cả biến thành đường thì làm sao gọi là ly nước chanh đường được mà phải gọi là ly nước đường hoặc ly nước chanh vì đã bị đồng hóa.
          Đối với nhiều người, việc sống hòa đồng trong quan hệ vợ chồng là điều không thể thực hiện được.  Người chồng thì cảm thấy “vợ phải kém mình một bậc” vì cha ông ta vẫn nói “Phu xướng phụ tùy”.  Chồng là người lãnh đạo trong khi vợ là kẻ thừa hành.  Nhiều người chồng quen thói gia trưởng còn coi vợ như “đầy tớ, kẻ hầu hạ” !  Ngược lại, cũng có bà vợ, dựa vào một ưu thế nào đó, tỏ ra “uy quyền bà chúa” đối với chồng, như đã có câu “Lệnh ông không bằng cồng bà”…
          Trong bối cảnh gia đình như thế, không thể có sự hòa đồng trong tương quan vợ chồng. Bởi vì, hòa đồng hiểu một cách đơn giản, là sự sống chung hài hòa, bình đảng, đồng đều giữa hai con người. Trong xã hội văn minh ngày nay, người ta luôn đề cao sự hòa đồng giữa chủ và tớ, giữa lãnh đạo và người cộng tác, giữa thầy và trò, giữa người giầu và kẻ nghèo,  giữa người địa vị cao và người dđịa vị thấp kém…
          Đặc biệt, trong quan hệ vợ chồng, thái độ cư xử hòa đồng sẽ là điều kiện cần thiết để đem lại niềm vui, sự thăng tiến và tình yêu hòa hợp.  Hình ảnh để minh họa cho sự hòa đồng giữa hai nhân tố nam nữ (vợ chồng), đó là “Ta với mình tuy hai mà một”, đó là vợ/chồng như “một nửa của nhau”, như “đối tác” (partnet) của nhau vv…
          Một khi hai vợ chồng sống tích cực lý tưởng hòa đồng thì không còn kẻ trên người dưới, kẻ khinh người trọng, kẻ hơn người kém, kẻ cao người thấp. Họ đối xử với nhau một cách bình đẳng, kính trọng và yêu thương. Trong tình yêu chắc chắn không có “giai cấp”. Còn gì đẹp cho bằng hai hình ảnh minh họa sau đây :
                                      Cho dù vật đổi sao dời
                           Chúng ta đã sống cả đời yêu nhau.
                                   Cùng nhau chia sẻ ngọt bủi
                           Cùng lau giọt lệ ngậm ngùi sầu thương.
                                      (Charles Jeffreys)

         Hay  câu khác cũng có ý nghĩa tương tự : “Hai tâm hồn nhưng một ý nghĩ, hai quả tim nhưng chung một nhịp đập” (Maria Lowel).
 
II. SONG HÀNH TRONG HÔN NHÂN
          Chúng ta có thể đưa ra một hình ảnh khác nói lên sự quan hệ cần thiết giũa vợ chồng, đó là cây dâu và con tằm.  Muốn nuôi tằm thỉ cần phải có lá dâu vì tằm chỉ có thể ăn dâu, nuôi sống bằng lá dâu. Không có dâu thì tằm không thể sống được. Còn trồng dâu mà không nuôi tằm thì cũng trở nên vô nghĩa vì người ta chủ ý trồng dâu để nuôi tằm. Thiếu một trong hai thứ ấy, người ta sẽ không bao giờ có tơ lụa để may quần áo.  Như vậy cả hai vợ chồng đều phải có nhau, đều cần thiết như nhau và đều bình đẳng.
          Chúng ta có thể đưa ra một hình ảnh khác nói lên sự hài hòa của đời sống vợ chồng, đó chiếc tầu hỏa.  Chúng ta có thể coi như vợ chồng đang đi trên một con tầu hôn nhân.
          Ai cũng đã biết chiếc tầu hỏa thế nào, cũng có khi đi nhiều lần chiếc tầu đó.  Chúng ta nên nhận xét : con tầu chỉ tới bến trên tuyến đường sắt song hành.  Sự nên một của tuyến đường là cùng sóng đôi chứ không phải là cùng chạm nhau.  Mất sự sóng đôi, con đường đánh mất bản tính của nó. Mất sự song hành thì tuyến đường không con là tuyến đường nữa, bởi sự hợp nhất căn tính của nó  hệ tại “cùng sóng đôi đi về một hướng”.
          Vì thế, hôn nhân là phải nên một trong tình yêu. Nên một trong tình yêu là nên một trong hòa đồng chứ không phải nên một bằng đồng hóa.
          Người Việt nam chúng ta có câu tục ngữ :”Kim chỉ có đầu”, nghĩa là cái kim sợi chỉ cũng có đầu, huống chi người ta; câu ấy có ý nói : có trên có dưới, theo trật tự phong kiến. Cho nên trong gia đình cũng phải có người đứng đầu.
          Trong thư mục vụ gửi cho giáo đoàn Êphêsô, thánh Phaolô viết :”Người chồng là đầu người vợ” (Ep 5,23). Nói như vậy không có nghĩa là người chồng phải là “gia trưởng” như trong xã hội phong kiến theo nguyên tắc “phu xướng phụ tùy”, mà chỉ có ý nói lên vai trò quan trọng của người chồng trong đời sống gia đình, nghĩa là phải biết điều khiển, biết lèo lái hướng dẫn gia đình như người thuyền trưởng lèo lái con tầu đi tới bến.
          Thánh nhân cũng biết  cái “đầu” thì rất hay và cũng rất dở theo kiểu nói của ngạn ngữ Tây phương :”Cá sống tự đầu và cá thối cũng tự đầu” (Piscỉs a capite vivit et a capite faetet).  Ngài còn thêm mấy chữ khác nữa vào câu nói trên :”Người chồng là đầu người vợ như Chúa Giêsu là đầu Hội thánh” (Ep 5,23), nghĩa là  :”Chồng phải yêu thương vợ như Chúa Giêsu yêu Hội thánh” (Ep 5,25).
           Do đó, chúng ta có thể kết luận : người chồng là đầu sống của người vợ, nghĩa là làm cho người vợ sống, chứ không làm cho nó hư đi, như cá thối tự đầu vậy... Người chồng là người điều khiển gia đình, nếu đầu đã thối thì điều khiển làm sao được và số phận gia đình sẽ ra sao ?
 Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt

        

HônPhối 19: ĐỒNG SÀNG DỊ MỘNG

I. SUY NIỆM LỜI CHÚA : Mt 16,21-23
           “Từ lúc đó, Đức Giêsu Kitô bắt đầu tỏ cho các môn đệ biết : Người phải đi Giêrusalem, phải chịu nhiều đau khổ do các kỳ mục, các thượng tế và kinh sư gây ra, rồi bị giết chết, và ngày thứ ba sẽ sống lại. Ông Phêrô liền kéo riêng Người ra và bắt đầu trách Người : “Xin Thiên Chúa thương đừng để Thầy gặp phải chuyện ấy” !  Nhưng Đức Giêsu quay lại bảo ông Phêrô :”Xatan, lui lại đàng sau Thầy ! Anh cản lối Thầy, vì tư tưởng của anh không phải là tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài người” (Mt 16, 21-23).

Sau một thời gian theo Chúa Giêsu đi rao giảng Tin Mừng, các Tông đồ chưa nhận ra con người HônPhối 19

Sau một thời gian theo Chúa Giêsu đi rao giảng Tin Mừng, các Tông đồ chưa nhận ra con người thật của Ngài. Tuy ông Phêrô đã tuyên xưng Đức Giêsu là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống, nhưng ông vẫn quan niệm Đấng Cứu Thế như người Do thái  vẫn tin : Đấng Cứu Thế sẽ dùng quyến lực lật đổ ách đô hộ của người Rôma và biến dân tộc Do thái thành một nước hùng cường bá chủ hoàn cầu. Họ coi Đức Giêsu chỉ là con người có đầu óc chính trị chăng ?
           Nhưng Đức Giêsu lại loan báo cho các Tông đồ  biết sứ vụ cứu thế của Ngài là việc chịu thương khó, tử tạn và phục sinh.  Việc loan báo này có tính cách sửa sai quan niệm sai lầm về Đấng Cứu Thế oai hùng mãnh liệt theo kiểu trần thế, vừa có tính cách chuẩn bị cho tinh thần các ông để khi chứng kiến cuộc thương khó của Ngài, và đồng thời để các Tông đồ có được sự can đảm đón nhận sự bách hại và cuộc tử đạo của các ông sau này.
           Phêrô thương Thầy và cũng vì đầu óc còn đầy mơ ước một Đấng Thiên Sai theo kiểu trần thế như quan niệm của người Do thái lúc bấy giờ, nên ông đã nhiệt tình can ngăn Thầy : đừng chấp nhận cái chết nhục nhã như vậy. Như thế là vô tình Phêrô xúi Thầy chống lại chương trình cứu độ của Cha. Đức Giêsu đã trách mắng ông vì ông không có tư tưởng của Thiên Chúa mà chỉ có tư tưởng của loài người.
           Như thế, chúng ta thấy có một cái hố ngăn cách giữa tư tưởng của Chúa Giêsu và các Tông đồ, cách riêng của ông Phêrô :  Chúa muốn cứu thế bằng cái chết của Ngài, các Tông đồ lại chỉ nhằm cái lợi vật chất. Tư tưởng của Thầy trò không gặp nhau. Nếu nói theo kiểu Việt nam chúng ta thì người ta sẽ dùng một thành ngữ đặc biệt để nói lên tình trạng  bi đát đó. Đó là : ”Đồng sàng dị mộng”.
 
II. “ĐỒNG SÀNG DỊ MỘNG” TRONG HÔN NHÂN
           1. “Đồng sàng dị mộng” là gì ?
           Đồng sàng dị mộng là một thành ngữ Hán Việt. Theo đó thì Đồng là cùng, giống nhau – Sàng là cái giường – Dị là khác – Mộng là chiêm bao, giấc mơ.  Vậy Đồng sàng dị mộng  có nghĩa là cùng ngủ chung trên một giường mà chiêm bao thấy những việc khác nhau.
           Thành ngữ này có ý nói : cùng một địa vị như nhau nhưng tâm hồn khác nhau. Hay nói cách khác, thành ngữ có ý nói hai hay nhiều người cùng chung một hội, một nhóm, một tổ chức nhưng ý kiến lại khác nhau, có khi trái ngược nhau.
 
          2. Đồng sàng dị mộng nơi vợ chồng.
           Trong đời sống vợ chồng, thành ngữ này muốn nói : vợ chồng không có một mẫu số chung, không có đời sống mặn mà hạnh phúc, mỗi người nhìn đi một hướng trái ngược nhau.
 
          Khi lập gia đình, ai cũng muốn cho mình có một mái ấm, một gia đình hạnh phúc. Đây là mục tiêu mà mọi người cần đạt tới.  Nhưng có những người thành công, có những người thất bại vì “Hôn nhân là con đường đưa ta tới thiên đàng hay dẫn ta tới địa ngục” (Honoré de Balzac).
           Không ai còn xa lạ với câu ca dao rất quen thuộc, nhiều khi đã học thuộc lòng, nhưng mấy khi thực hiện được ý nghĩa của nó :
                                        Yêu nhau vạn sự chẳng nề
                                  Dù trăm chỗ lệch cũng kê cho bằng.

           Đó là kinh nghiệm phổ biến của dân gian và cũng là kinh nghiệm rất thực của tất cả những ai đã yêu và đang yêu.  Quả vậy, tình yêu trong hôn nhân sẽ có khả năng kết hợp hài hòa hai người nam – nữ lại với nhau, thành một cặp vợ chồng “tâm đầu ý hợp”.  Tình yêu ấy cũng có phép mầu giúp hai người vượt qua những khác biệt của nhau, nhờ đó họ sẵn sàng chia vui sẻ buồn, sẵn sàng đồng cam cộng khổ trong suốt cuộc hành trình “đồng hội đồng thuyền” duyên kiếp này.
           Nhưng kinh nghiệm cho hay, qua cuộc sống hằng ngày, không phải mọi gia đình đều tới đích, tới hạnh phúc mình mong muốn. Thực tế chứng minh rằng  cuộc đồng hành của đôi bạn không phải lúc nào cũng thuận buồm xuôi gió cả đâu.
           Đến một lúc nào đó, sóng gió sẽ ào đến, bão tố sẽ ụp xuống đe dọa niềm hạnh phúc và sự bền vững “con thuyền lứa đôi”.  Sức mạnh như gió bão, như sóng ngầm của những mối bất hòa bất đồng, những mâu thuẫn trái ý, những xung khắc xung đột – chủ yếu nảy sinh từ  những khác biệt giữa hai người – sẽ có nguy cơ làm tiêu tan sự nghiệp “hai-nên-một của đôi bạn. Tình trạng “cơm chẳng lành, canh chẳng ngọt” sẽ xẩy ra như cơm bữa, và hiện tượng “ông nói gà, bà nói vịt” sẽ diễn ra thường xuyên đến nỗi, những người ở trong cuộc  sẽ phải ngao ngán mà than thở rằng :”Ôi, tình chỉ đẹp khi còn dang dở…”.
           Qua những sự khác biệt về tính tình, qua những va chạm và mối bất hòa thường ngày, nhiều gia đình không còn là mái âm nữa khiến người ta có cảm tưởng đấy là bãi tha ma hoang vắng.  Sống trong cảnh bi đát đó, một bà vợ đã tâm sự :
           “Hiện giờ cuộc sống của gia đình tôi thật tẻ nhạt, nặng nề. Việc suy nghĩ riêng tư, san sẻ, chia sẻ với với nhau trong khó khăn cũng hiếm hoi. Bây giờ vợ chồng tôi đang trong cảnh “đồng sàng dị mộng”.
           … Thời gian gần đây, không khí gia đình nặng nề, cả hai không nói chuyện, chia sẻ với nhau mà có lẽ không có gì để nói. Đi làm về ai nấy lẳng lặng làm việc nhà, ngồi vào ăn cơm hỏi nhiều nhất là : Hồi sáng con nhỏ đi có khóc không ? Sáng nay anh mùa đồ ăn gì cho con lớn ? Chiều nay anh đến đón con cho em, em bận.  Tối đến chơi với con rồi mạnh ai nấy ngủ, sáng dậy nhiệm vụ ai nấy làm, đưa các con đi học.
           Không biết anh ấy nghĩ gì nhưng với tôi gần đây áp lực công việc quá nặng nề, nhiều điều khiến tôi quá thất vọng, mất hết niềm tin trong công việc. Cảm giác chán nản, không có người chia sẻ. Không muốn nói với anh vì nghĩ cho cùng  có nói ra anh không bao giờ xoa dịu và đùn đẩy cho người khác là hết trách nhiệm.  Đôi lúc tôi thấy thoải mái nhưng nghĩ cho cùng đây không phải là một gia đình,  đây không phải là hai người mà thế gian gọi là vợ chồng…”  Thật là bi đát !!!
 
          3. Giải tỏa cảnh Đồng sàng dị mộng
           Những ai đã và đang trải qua đời sống hôn nhân gia đình đều ước mơ được sống trong cảnh :”Đôi chim trong một tổ ấm. Đôi con tim trong một lồng ngực. Hai tâm hồn trong một liên minh  bền vững làm bằng yêu thương và cầu nguyện, sẽ càng bền chặt, ngày càng đầy phúc” (Dora Greenwell).
           “Một liên minh bền vững càng bền chặt” sẽ là điều chắc thực nếu trong cuộc sống hôn nhân gia đình, người ta biết sống “hòa” với nhau. Đó là dấu chỉ và biểu hiện một tình yêu trung thực, trong sáng và sâu sắc nhất.  Văn hào J.J. Rousseau đã nói một cách ngắn gọn và đầy đủ ý nghĩa như sau :”Định nghĩa tiếng “YÊU” thật là giản dị. Nó là sự hòa hợp giữa hai tâm hồn trai và gái”.
           Các chuyên viên tư vấn về tình yêu – hôn nhân – gia đình, khi đưa ra những lời khuyên  cho vấn đề hôn nhân bền vững đã thường nêu một nguyên tắc ưu tiên hàng đầu, đó là “Hãy tôn trọng sự khác biệt giữa hai vợ chồng”.  Bởi theo họ, vợ chồng thường không chỉ khác biệt về tuổi tác, trình độ học vấn, sức khỏe,  kiến thức, kỹ năng… mà còn chênh lệch và khác biệt nhau về những phương diện sâu xa và tế nhị khác thuộc lãnh vực tinh thần, tâm hồn, tâm lý, lòng đạo đức… Vì thế, trong quá trình chung sống với nhau, nếu muốn được hạnh phúc lâu dài, bền vững, họ cần tìm được tiếng nói chung để sống hòa hợp, để chấp nhận những khác biệt, để tôn trọng cái riêng tư độc đáo của nhau.
           Ta hãy nghe D. Wahrheit tác giả cuốn “Cẩm nang hạnh phúc gia đình Kitô”, phân tích và nhận định như sau :”Đời sống hôn nhân là khởi đầu của một cuộc khám phá. Yêu nhau, nên một với nhau, không có nghĩa là xóa bỏ mọi khác biệt, cũng không có nghĩa là bắt người khác phải nên giống mình.  Sự hòa hợp chỉ có khi hai bên biết tôn trọng những khác biệt của nhau. Mãi mãi người phối ngẫu vẫn là một huyền nhiệm để chiêm ngưỡng” (x. D. Wahrheit, sđd, tr 13).
           Có một điều đặc biệt khá quan trọng mà các đôi vợ chồng chúng ta nên quan tâm, đó là muốn nên một trong đời sống hôn nhân gia đình, chúng ta cần có một tấm lòng thật “bao dung” . Ai cũng biết rằng lòng bao dung (tolérence) khác với lòng khoan dung (indulgence).
           Bao dung là tôn trọng và chấp nhận sự khác biệt, sự đa dạng giữa người với người trong đủ mọi chiều kích. Trong khi đó, khoan dung là dễ dàng chấp nhận và tha thứ những lỗi lầm hay khiếm khuyết của người khác. Trên thực tế, có người từng khoan dung, nhưng chưa hề bao dung. Họ có thể tha thứ, thông cảm với những sai lỗi của người khác, nhưng không chấp nhận người khác suy nghĩ, hành động khác mình.
           Với nhận thức “Bao dung là chấp nhận và tôn trọng sự khác biệt, đa dạng của con người” thì vợ chồng sẽ dễ xích lại với nhau, dễ dàng bổ túc cho nhau, dễ dàng giúp đỡ nương tựa nhau, dễ dàng cần đến nhau, nhờ đó họ kiện toàn sự hiệp nhất yêu thương nhau. Một danh nhân đã nói :”Yêu ai là yêu trọn vẹn con người đó y nguyên như trong thực tế, chứ không phải như trong ước muốn của ta” (Léon Tolstoi).
           Qua những tư tưởng trình bầy ở trên,  chúng ta tán thành ý kiến của tác giả D. Wahrheit :”Hôn nhân là một công trình xây dựng của hai vợ chồng. Hai tâm lý khác nhau, hai lối suy nghĩ khác nhau, hai sở thích khác nhau… Đó là kho tàng quí giá nhất của đôi vợ chổng.  Sự khác biệt đó không phải là hố ngăn cách hai người mà trái lại, bổ túc cho nhau làm cho nhau nên phong phú hơn” (x. D.Wahrheit, sđd tr 33).
 
III. GIẢI PHÁP CHO ĐỒNG SÀNG DỊ MỘNG
           Trong kinh nguyện thường ngày, chúng ta vẫn cầu xin cho mọi người trong gia đình “sống hòa thuận : trên thuận dưới hòa, con cái thảo hiếu, vợ chồng thương yêu nhau…”. Sự hòa thuận là điều mong ước của mọi người trong gia đình để được sống hạnh phúc và an bình.
           Trong tương quan vợ chồng, ước mong ấy lại càng tha thiết và mạnh mẽ hơn. Bởi vì,  vợ chồng một khi “như đũa có đôi”, thì mối quan hệ thuận hòa luôn là một yêu cầu không thể coi nhẹ được. Nó vừa thể hiện tình yêu chân thực lại vừa đem đến hương vị ngọt ngào trong đời sống lứa đôi.
           Ai cũng biết rằng sự bất hòa thường xuyên trong đời sống vợ chồng chẳng những đe dọa sự hiệp thông, hiệp nhất mà còn có thể dẫn đến hậu quả tai hại, đó là việc ly hôn ly dị. Vậy để giữ bầu khí sống chung êm ấm không xích mích mâu thuẫn, vợ chồng nên phấn đấu từ bỏ ý riêng, loại trừ tính ích kỷ nhỏ nhen, sự cứng cỏi ngoan cố, lòng đam mê hiếu thắng, thói tự cao tự đại… Khi có cuộc sống hòa thuận lâu dài với nhau, họ sẽ hiểu rằng :”Thuận vợ thuận chồng, tát bể  Đông cũng cạn” (Tuc ngữ).
           Hơn nữa, đôi bạn Kitô hữu còn có một phương thế sâu xa hơn, hiệu quả hơn trong việc sống kinh nghiệm hòa giải. ĐGH Gioan Phalô II đã nhắc nhở :”Mỗi gia đình đều luôn luôn được Thiên Chúa  Chủ Tể của sự bình an, mời gọi sống kinh nghệm tươi sáng phấn khởi của việc hòa giải, trong việc tái lập sự hiệp thông, tìm lại sự hiệp nhất. Cách riêng việc tham dự vào bí tích giao hòa và bàn tiệc Mình Thánh Chúa Kitô sẽ đem lại cho gia đình Kitô hữu ơn sủng cần thiết và tinh thần trách nhiệm tương xứng để thắng vượt tất cả mọi chia rẽ và bước tới sự hiệp thông đích thực và trọn vẹn mà Thiên Chúa muốn, và như thế là đáp lại nỗi ước mong nồng nàn của Chúa là “xin cho tất cả được nên một” (x. Familiaris consortio, số 21).
 
                                      Truyện : Bài học từ con ngọc trai
           Bạn có biết con ngọc trai không ?  Ngọc trai đã phải chịu đựng đau đớn biết bao nhiêu khi có hạt cát rơi vào.  Nhưng rồi mặc cho nỗi đau dầy vò, ngọc trai vẫn can trường bọc lấy những hạt cát để từng ngày tạo nên những viên ngọc đẹp tuyệt vời.
          Ngọc trai là loại động vật có hai mảnh vỏ. Một đôi vợ chồng cũng như con ngọc trai vậy. Người vợ và người chồng như hai mảnh vỏ ngọc trai gắn kết với nhau để rồi một ngày tạo ra viên ngọc trai quý.
          Khi có vật lạ rơi vào bên trong, nếu hai mảnh vỏ trai chỉ làm điều đơn giản là đẩy nó ra bên ngoài, hoặc tách rời nhau và không phối hợp với nhau sẽ không bao giờ có những viên ngọc trai quí báu.
          Đầu tiên, chúng ta phải biết chấp nhận những điều khó chịu như những hạt cát, và rồi tận dụng những hạt cát đó để tạo ra một cái gì đó tuyệt vời hơn.
          Cuộc sống hôn nhân cũng thế.
                   (Cf  Như Nguyễn – Tuần báo Tuổi trẻ Chủ nhật, số 39, 2002)
           Để kết thúc, một lần nữa, chúng ta hãy nghe lời khuyến dụ của Đức Giáo hoàng Gioan-Phaolô II để giảm bớt cảnh đồng sàng dị mộng :”Chỉ có một tinh thần hy sinh cao cả mới giúp giữ gìn được và kiện toàn được sự hiệp thông trong gia đình. Thực vậy, sự hiệp thông này đòi hỏi mọi người  và mỗi người biết quảng đại và mau mắn mở lòng ra để thông cảm, bao dung, tha thứ cho nhau, và hòa giải với nhau. Không có gia đình nào mà không biết rằng sự ích kỷ, những bất hòa, những căng thẳng, những xung đột đã làm hại cho sự hiệp thông gia đình biết chừng nào, và đôi khi còn có thể làm tiêu tan sự hiệp thông ấy : chính từ đó mà phát xuất muôn vàn hình thức chia rẽ khác nhau trong đời sống gia đình” (Familiaris consortio, số 21).
Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt

 

HônPhối 20: NGHĨA TÀO KHANG

Dân gian Việt nam chúng ta có một câu cao dao rất hay, nói về sự chung thủy của vợ chồng, tuy HônPhối 20

Dân gian Việt nam chúng ta có một câu cao dao rất hay, nói về sự chung thủy của vợ chồng, tuy khó hiểu, cần phải giải thích mới rõ nghĩa :
Vợ chồng là nghĩa tào khang
Chồng hòa vợ thuận nhà thường yên vui.
Sinh con mới ra thân người,
Làm ăn thịnh vượng đời đời ấm no.

 
I. HÔN NHÂN, MỘT ƠN GỌI.
           Ơn gọi ở đây chúng ta thường hiểu là ơn Chúa gọi. Nhiều người lầm tưởng ơn gọi chỉ dành riêng cho người dâng mình cho Chúa trong đời sống tu trì.
           Thực ra, mỗi người đều có ơn gọi. Ai sống theo ơn gọi là sống theo ý Chúa. Có người sống độc thân, có người sống trong bậc sống gia đình. Ơn gọi nào cũng tốt, miễn là chúng ta biết lựa chọn và sống theo đúng ơn gọi của mình.
           Do đó, hôn nhân gia đình cũng là một ơn gọi cao quí của con người. Cao trọng vì nó họa lại rõ nét nhất hình ảnh Thiên Chúa Ba Ngôi : vợ, chồng, con cái yêu thương nhau.  Cao trọng vì con người tiếp tục tham gia vào công trình sáng tạo của Thiên Chúa : sinh đẻ con cái.  Ngoài ra, hạnh phúc căn bản thực sự chỉ có trong mái ấm gia đình yêu thương, từ đó phát sinh ra các hạnh phúc khác (Tv 127).
           Vì vậy, những bậc làm cha mẹ cần thấy được tầm quan trọng của ơn gọi này, bởi khi đã chọn lựa và quyết định thì cần phải sống trọn vẹn những gì mình đã cam kết. Trọn vẹn ở đây, không có nghĩa là  nên hoàn hảo 100%, hay là vẹn toàn tuyệt mỹ chỉ có nơi Thiên Chúa, nhưng là sống hết mình, với tất cả tấm lòng dù có giới hạn, khiếm khuyết, lỗi lầm.
 
II. CHUNG THỦY TRONG HÔN NHÂN
           Chúng ta cũng nhau tìm hiểu câu đầu xem nó ra làm sao, vì có mấy từ bằng chữ Hán khó hiểu, nhưng biết chắc là nói về sự chung thủy trong đời sống vợ chồng:
Vợ chồng là nghĩa tào khang,
Chồng hòa vợ thuận nhà thường yên vui.

 
          1. Hôn nhân là một định chế
           Chúng ta tìm hiểu từ “Vợ chồng” .  Vợ chồng là sự nối kết giữa hai người nam nữ bằng tình yêu và tình dục, qua hôn nhân, để cùng chung sống với nhau, cùng chia sẻ, cùng nâng đỡ nhau.
           “Vợ” là người đàn bà có chồng. Người đàn bà có chồng là người đàn bà nối kết và ăn ở với người đàn ông bằng tình yêu và tình dục một cách công khai qua hôn nhân.
           “Chồng” là người đàn ông có vợ. Người đàn ông có vợ là người đàn ông nối kết và ăn ở với người đàn bà  bằng ái tình và tình dục một cách công khai qua hôn nhân.
           “Vợ chồng”, như vậy, là một định chế xã hội, cũng gọi là hôn nhân, để chính thức và công khai chấp nhận như nhu cầu tình yêu và tình dục, của một người nam, con trai và một người nữ, con gái.  Nếu không đủ các điều kiện đó thì không thể gọi là vợ chồng mà phải được gọi bằng một từ khác.
 
          2. Từ ngữ “nghĩa” trong hôn nhân.
           Nghĩa là một trong năm đức tính cao quí của con người trong xã hội ta ngày xưa. Đó là : nhân, nghĩa, lễ, trí , tín.  Ngược với chữ “lợi”, chữ nghĩa chỉ đức tính tốt, làm theo điều phải.
           Chữ nghĩa hàm chứa tính cách bất vụ lợi như “nghĩa cử; tính cách trung thành và hy sinh như “nghhĩa bộc, “nghĩa tử”; tính cách khí khái, hăng hái, dấn thân như “nghĩa khí”.
           Trong mạch văn “Vợ chồng là nghĩa tào khang” mà vợ chồng là một định chế, thì chữ nghĩa là đức tính căn bản của vợ chồng, để được dùng định nghĩa cho hôn nhân.
           Nó là một trong 5  tương quan trong xã hôi : Trung, hiếu, nghĩa, lễ, tín. Nó là một định chế trong 5 định chế : quân thần, phụ tử, phu phụ, huynh đệ, bằng hữu.  Chữnghĩa ở đây bao hàm ý nghĩa của một định chế tốt, được xã hội công nhận.
 
          3. “Nghĩa tào khang” trong hôn nhân
           “Tào khang”  là một từ ngữ rút ra từ câu trả lời của Tống Hoàn Công cho vua Quang Võ.  Số là vua Quang Võ có người em gái góa chồng, tên là Hồ Dương công chúa. Bà này đem lòng yêu thương quan Tống Hoàn Công và nhờ anh là vua Quang Võ dạm hỏi, mối mai.  Vua Quang Võ bèn kiếm dịp gạ hỏi  xem ý Tống Hoàn Công thế nào.
          Ngày kia, vua hỏi Tống Hoàn Công rằng :
          - Trẫm nghe thiên hạ nói : giầu đổi bạn, sang đổi vợ. Vậy ý khanh thế nào ?
          Tống Hoàn Công là người có nghĩa, có đức độ và đã có vợ, lấy nhau từ thuở hàn vi, bèn trả lời rằng :
          - “Tào khang chi thê bất khả hạ đường, bần tiện chi giao mạc khả vong”, nghĩa là vợ chồng lấy nhau từ lúc khổ cực chẳng nên bỏ, bạn bè kết giao từ thuở hèn chẳng nên mất.
           Tào khang dịch là khổ cực là dịch theo nghĩa bóng. Theo nghĩa đen thì “tào” là cái máng, cái chậu cho súc vật ăn; còn “khang”  là cám gạo. Như vậy,  “Nghĩa tào khang” là một định chế phải đạo, lấy sự hy sinh, trung tín, chung thủy làm đầu.
 
III. HÃY SỐNG TRUNG TÍN TRONG HÔN NHÂN
           Theo quan niệm nhân gian, Tín là một trong 5 đức tính căn bản trong đời sống xã hội. Quả thật, giữ lời hứa đối với bất kỳ ai chính là giữ danh giá, danh dự cũng như uy tín của mình trong cuộc sống, bởi vì như người ta thường nói :”Một lần bất tín, vạn lần nghi”.  Biết giữ chữ tín là biết tôn trọng người khác nữa :
Ai ơi, giữ chí cho bền
Dù ai xoay hướng, đổi nền mặc ai.

           Trung tín trong hôn nhân là điều chính Chúa đòi buộc. Con người có bổn phận phải tuân giữ.   Theo thánh Matthêu, sau khi tuyên bố :”Bởi lễ đó, người đàn ông sẽ bỏ cha mẹ, và luyến ái vợ của mình, và cả hai sẽ thành một huyết nhục, như thế họ không còn phải là hai, nhưng là một huyết nhục”, Chúa Giêsu kết luận :”Vậy điều gì Thiên Chúa đã liên kết, loài người không được phân ly” (Mt 19,4-6).
           Dựa vào đó, giáo luật khoản 1056 quy định :” Những đặc tính căn bản của hôn phối là sự duy nhất và bất khả phân ly. Nhờ tính cách bí tích, những đặc tính được kiện toàn trong hôn nhân Kitô giáo”. Như thế , “hôn phối duy nhất” có nghĩa là  “chỉ là một vợ một chồng” và “hôn phối bất khả phân ly” có nghĩa là “không ly dị”.
           Muốn giữ được lòng trung tín, thì trong ngôi nhà tình yêu vợ chồng không nên có người thứ ba, sẽ rất chật chội. Chị không nên nhớ về dĩ vãng xa xưa, để cho lòng mình rộn lên những nhịp thổn thức.
                   Văn chương bình dân có câu :”Tình cũ không rủ cũng đến”; còn ông Samuel Buffer thì nói :”Kỷ niệm tình cũ ví như tiếng vang còn tiếp tục vọng lại sau khi âm thanh đã tắt”.
           Khi lên xe hoa chị còn nhớ : tâm sự của T.T. KH :
Nếu biết rằng tôi đã có chồng,
Trời ơi ! người ấy có buồn không ?
Và “Rồi từng thu chết, từng thu chết,
Vẫn giấu trong tim một bóng người”.

           Anh cũng không nên”trăng hoa ong bướm” như những ngày còn không, kẻo ông cha ta lại nguyền rủa là “lũ bạc tình” phải “chém cha nó đi”.  Và nhân gian có dịp thốt lên câu mỉa mai :
                                      Chỉ đâu mà buộc ngang Trời,
                               Thuốc đâu mà chữa con người lẳng lơ.

           Tác giả Veron đã nói một câu chí lý :”Hạnh phúc ở ngay trong gia đình bạn, chớ đi tìm thiên đàng của những người xa lạ.”.
           Hãy yêu nhau như Chúa Giêsu yêu thương Hội thánh. Yêu không phải chỉ thể xác của nhau, mà là toàn diện con người của nhau. Tình yêu này phải được nuôi dưỡng liên tục. Từ sự phối hợp thể xác, anh chị cần hướng tới sự hiệp nhất tâm hồn. Sự hiệp nhất này làm cho hôn nhân được vững chắc và sẽ đưa đến hạnh phúc.

                                       Truyện : Một lỗ nhỏ trên vách tường.
            Tại một trung tâm bài phung nọ, đa số các bệnh nhân đều buồn chán vì cảm thấy bị bỏ rơi và bị mọi người xa lánh. Tuy nhiên, có một người vẫn còn biết cười và vẫn tiếp tục tạ ơn khi được giúp đỡ.
 
          Vị  nữ tu coi sóc trung tâm muốn tìm hiểu đâu là nguyên nhân của phép lạ này.  Sau nhiều ngày theo dõi, vị nữ tu mới khám phá ra rằng, xuyên qua một lỗ nhỏ trên vách tường ngăn cách trung tâm với thế giới bên ngoài, ngày ngày có một người đàn bà nhìn vào và mỉm cười rất trìu mến.  Đó là tất cả sức mạnh và niềm hy vọng của người đàn ông xấu số. Mỗi ngày, ông chờ đợi nụ cười ấy.  Khuôn mặt của người đàn bà chỉ chợt xuất hiện, mỉm cười và biến mất.  Người đàn ông duy nhất còn biết cười trong trung tâm bài phung đó đã giải thích  cho vị nữ tu như sau :
           “Người đàn bà ấy chính là vợ tôi. Trước khi tôi đến đây, nàng đã tìm đủ mọi cách để chữa chạy cho tôi. Mỗi ngày, nàng lau sạch một mảng nhỏ trên khuôn mặt tôi và đặt lên đó một cái hôn… Nhưng cuối cùng, nàng không thể giữ tôi lâu hơn. Người ta đã đến đưa tôi vào trung tâm này.
           Nhưng vợ tôi đã không bỏ tôi. Mỗi ngày nàng đến nhìn qua lỗ hổng của vách tường và mỉm cười với tôi.  Nhờ nàng, tôi biết rằng tôi vẫn còn sống. Nhờ nàng, tôi vẫn còn sống…”
           Tình yêu mạnh hơn sự chết. Tình yêu đã làm cho người vợ không nhìn người chồng xấu số như một con người đáng xa lánh. Tình yêu của người vợ đã đem lại sức mạnh và niềm vui sống cho người chồng… Nhu cầu căn bản nhất của con người là yêu và được yêu. Bất cứ ai cũng cần đến tình yêu và muốn thể hiện tình yêu… Bạn có biết rằng có bao nhiêu người đang cần một nghĩa cử, một nụ cười, một ánh mắt cảm thông của bạn không ?
           Tóm lại, muốn giữ được “nghĩa tào khang”, muốn giữ được lòng chung thủy, anh chị cần có lòng trung tín với Chúa và với nhau, dứt khoát loại trừ mọi mầm mống phản loạn từ trong trứng nước, mọi tâm tư và tình cảm hãy dành trọn vẹn cho nhau, phải hủy diệt bóng dáng người thứ ba ngay khi vừa ló dạng.  Đặc biệt, hãy cầu xin Chúa là nguồn tình yêu, sẽ gìn giữ anh chị thủy chung trong tình yêu vợ  chồng, hôm nay và mãi mãi.
 Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt

 

HônPhối 21: XÂY TỔ ẤM

I. VIỆC XÂY DỰNG GIA ĐÌNH

Trong cuộc sống ở đời, mỗi người có một ơn gọi. Có người sống độc thân, có người lập gia đình. HônPhối 21

Trong cuộc sống ở đời, mỗi người có một ơn gọi. Có người sống độc thân, có người lập gia đình. Có người sống độc thân trong đời thánh hiến, có người sống độc thân ở ngoài đời để phục vụ. Nhưng tuyệt đại đa số là sống trong đời sống hôn nhân gia đình : “Vì thế người đàn ông sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai sẽ thành một xương một thịt. Như vậy, họ không còn là hai, nhưng chỉ là một xương một thịt” (Mt 19, 5)/.
           Ơn gọi ở bậc nào cũng tốt, cũng được Chúa kêu gọi, tùy theo khả năng và hoàn cảnh của mỗi người.
           Hôn nhân cũng là một việc cao quí và thánh thiện, hợp với ý định của Thiên Chúa. Hôn nhân càng trở nên cao trọng vì đối với người Kitô hữu hôn nhân được nâng lên hàng bí tích như Giáo hội dạy :
 “Hôn ước mà nhờ đó người nam và người nữ tạo nên một cộng đồng sự sống và tình yêu đã được Đấng Sáng Tạo thiết lập và phú cho những luật riêng.  Tự bản chất, hôn nhân hướng đến thiện ích của đôi vợ chồng, việc sinh sản và giáo dục con cái. Hôn nhân giữa những người đã chịu phép thánh tẩy được Chúa Kitô nâng lên hàng bí tích” (GLCG, số 1660).
 Trẻ con khi còn nhỏ dại, thì sống hoàn toàn thảnh thơi, sống vô tư, chỉ biết yêu mến và phó thác cho cha mẹ, không phải lo lắng gì. Cả ngày chỉ biết vui chơi cùng chúng bạn, ngày này qua ngày khác .
           Khi đến tuổi dậy thì, người thiếu niên thấy có sự thay đổi cả về sinh lý lẫn tâm lý. Thân xác triển nở đầy đặn, đầy sức lực; còn tâm lý cũng thay đổi rõ ràng : người thiếu niên tự thấy có nỗi buồn vu vơ và tình yêu bắt đầu nảy nở, một tình yêu lãng mạn, họ muốn có một người bạn để chia sẻ tâm tình, thấy mình hay cô đơn:
                                       Hôm nay trời lặng lên cao
                             Tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn.

           Nhưng đến tuổi trưởng thành, người thanh niên không chỉ còn tình yêu lãng mạn vu vơ nữa, họ phải tập sống thực tế, họ phải lo cho tương lai và họ phải tìm cho mình một người bạn đời để xây dựng gia đình.  Trong thời gian này họ phải tìm hiểu đối tượng để có thể quyết định cho tương lai : họ phải lựa chọn cho mình một người yêu lý tưởng để ký kết với nhau một giao ước hôn nhân, hứa yêu thương và tôn trọng nhau suốt đời.
           Khi nói về hôn nhân gia đình, trong dân gian có câu :”Đàn ông dựng nhà, đàn bà xây tổ ấm”.  Đó là một trong những hình ảnh gần gữi, dễ thương và nhiều ý nghĩa nhất.  Đây là một bức họa đẹp và sinh động về khung cảnh hòa hợp hòa điệu trong một gia đình hạnh phúc.
           Hình ảnh này vừa nói lên ý nghĩa sâu xa của sự hợp tác tương ứng và gắn bó giữa hai vợ chồng trong trách nhiệm xây dựng hôn nhân gia đình, lại vừa khơi gợi sự sống sinh động và linh hoạt trong cộng đồng gia đình, trong đó mỗi thành viên đều ra sức tích cực hoạt động với lợi ích chung.
           Khi xây dựng gia đình là người ta có ý xây dựng một tổ ấm hay mái ấm, một nơi êm ấm chan chứa tình yêu thương, mọi người cảm thấy hạnh phúc.
 
                                       Truyện : Mái ấm gia đình
          Mới đây một tờ báo ở Luân Đôn, thủ đô nước Anh, đã gửi câu hỏi :”Mái ấm gia đình là gì, theo anh chị”  tới 1000 người. Có 800 người đã trả lời, tập trung vào các ý lớn sau đây :
          . Mái ấm : một thế giới xung đột khép lại, một thế giới tình thương mở ra.
          2. Mái âm : nơi chuyện nhỏ là quan trọng, chuyện quan trọng là chuyện nhỏ.
          3. Mái ấm : vương quốc của cha, thế giới của mẹ và thiên đàng của con cái.
          4. Mái ấm : nơi chúng ta cằn nhằn nhiều nhất nhưng được đối đãi tốt nhất.
5. Mái ấm : trung tâm của tình thương  mà mọi lời ước nguyện của con tim quyện vào đấy.
6. Mái ấm :  nơi dạ dầy chúng ta ăn 3 lần mỗi ngày và tâm hồn ăn ngàn lần mỗi ngày.
7. Mái ấm : nơi duy nhất ở trần gian mà mọi lỗi lầm và thất bại của con người được che đậy dưới lớp áo bác ái êm dịu. (Gm Arthur Tonn, Góp nhặt, tr 125-126).
 
II. HỢP TÁC TRONG VIỆC XÂY DỰNG
           1. Những người thợ chính
           Xây dựng được một ngôi nhà là công việc của nhiều người chứ một người không thể làm nổi. Xây dựng mái ấm gia đình cũng cần có nhiều người cộng tác chứ chỉ  hai vợ chồng cũng không xây nổi. Tuy nhiên, trong việc xây dựng này thì vợ chồng và con cái phải là những người thợ chính.
           Chúng ta đã từng nghe ba ca sĩ hát và biết nhạc sĩ Ngọc Lễ đã viết một bài hát rất dễ thương về gia đình : “Cha là cây nến vàng, mẹ là cây nến xanh, con là cây nến hồng, ba ngọn nên lung linh, thắp sáng một gia đình”…  Hình ảnh thật đẹp, thật tuyệt diệu !  Cái đẹp huyền diệu và quyến rũ từ ánh sáng lung linh của ba ngọn nến xanh – vàng – hồng : cha – mẹ - con cái. Một bức tranh hấp dẫn tuyệt vời !
           Những người nông dân chân lấm tay bùn, tuy nghèo khó, không thể xây được nhà cao cửa rộng nhưng cũng cố gắng cộng tác với nhau để làm nên một mái nhà tranh ấm cúng.  Hình ảnh hợp tác rất đẹp đã được diễn tả trong câu ca dao :
                                        Em về cắt rạ đánh tranh
                             Chặt tre chẻ lạt cho anh lợp nhà.
                                       Sớm khuya hòa thuận đôi ta
                             Hơn ai gác tía, lầu hoa một mình.

          Sống trong cảnh nghèo khó, không cần nhà cao cửa rộng với giường ấm chăn êm, nếu vợ chồng thương yêu nhau thì chỉ cần cái ổ rạ cũng ấm êm, cũng thắm tình  và làm nên hạnh phúc . Người con trai gạ hỏi và người con gái trả lời :
                                        Nhà anh chẳng chiếu chẳng giường,
                             Chỉ ấm ổ ra , nàng thương chăng là ?
                                        Yêu nhau chẳng quản cửa nhà
                             Chuồng chim cũng lấy, chuồng gà cũng theo.

 
          2. Nền tảng cho việc xây dựng
           Phải chăng nền tảng của tổ ấm là Tình thương ? Đúng thế, vì thành quả của tình yêu là hôn nhân và thành quả của hôn nhân là mái ấm gia đình và con cái được sinh ra và lớn lên trong đó. Qui luật ngàn đời của xã hội con người là vậy.
           Engels đã nói :”Tình yêu chân chính là tình yêu dẫn đến hôn nhân”.
           Còn Polly Adler thì khẳng định :”Một mái nhà cộng với tình yêu thành mái ấm”
           Và thi hào người Anh, ông Lord Byron thì quả quyết :”Nếu không có trái tim yêu thương, thì không có mái ấm gia đình”.
           Thế nhưng ngày nay, nhiều người, nhất là giới trẻ, không đặt hôn nhân trên tình yêu mà họ lại tôn vinh và chấp nhận những thứ hôn nhân “đặc biệt” như :  hôn-nhân-không-cam-kết, hôn-nhân-không-mục-đích, hôn-nhân-thử-nghiệm, hôn-nhân-liền-tay, hôn-nhân-tiền-hôn-hậu-thú… Tất cả những “mác” hôn nhân ấy đang hấp dẫn nhiều bạn trẻ và đã gây không ít đau đớn, thất vọng cho họ.
           Những kiểu hôn nhân như thế không có nền tảng nên sau một thời gian thì đổ vỡ và lúc đó họ mới tỉnh ngộ.  Đúng như lời ông Alexander Pope nói :”Họ nằm mơ với những ngày chưa cưới, nhưng sau khi cưới rồi thì họ tỉnh giấc”.  Nói như vậy có nghĩa là “Họ mơ mộng khi yêu nhau và thức tỉnh khi đã lấy nhau”.
           Người ta chỉ đạt tới hạnh phúc khi thực sự đã có một mái ấm gia đình.  Đúng như lời một danh nhân nói :”Mái ấm gia đình là nơi bạn tìm được hạnh phúc. Nếu bạn không tìm được hạnh phúc nơi đây, bạn không thể tìm được nó ở nơi khác”.
 
          3. Thời gian xây dựng
           Văn hào André Maurois đã nói :”Hôn nhân là một công trình mà ta phải kiến tạo suốt đời”.  Công trình hôn nhân, vừa khó khăn vừa lâu dài ấy, được thực hiện không do một người mà là nhiều thành viên trong gia đình như là xây dựng một công trình thế kỷ vậy.
           Đại văn hào Pháp, ông Victor Hugo, đã thi vị hóa như sau :”Ngôi nhà được xây bằng gỗ đá, bằng ngói, bằng cột, bằng kèo. Còn gia đình thì được xây bằng những việc làm yêu thương. Nó sẽ trụ vững một ngàn năm”.
           Rõ ràng là, để hôn nhân bền vững, để gia đình hạnh phúc bền lâu, người ta phải xây dựng bằng  những vật liệu không mối không mọt, đó là chất liệu tinh thần : lòng nhân ái yêu thương đùm bọc và sự chung thủy kiên vững.  Gia đình là một kiến trúc xây dựng thuộc về trách nhiệm của mọi thành viên.
           Có người nói :”Lập gia đinh chưa phải là đã xây dựng được  một ngôi nhà hoàn hảo, mà chỉ là đặt nền móng cho một ngôi nhà hạnh phúc.  Như vậy ngôi nhà hôn nhân phải được xây dựng suốt đời”.
           Tư tưởng này đã được cố vấn hôn nhân Allan Perterson nhắc nhở  bằng một hình ảnh khác :”Đa số người kết hôn vì tin vào một huyền thoại : cuộc hôn nhân là một cái hộp đẹp chứa mọi vật mà người ta khao khát : đời sống lứa đôi, sự thỏa mãn về tình dục, sự thân mật, tình ban.
           “Sự thật là cuộc hôn nhân ấy lúc bắt đầu là một cái hộp rỗng. Bạn phải bỏ vào một cái gì đó  trước khi bạn có thể lấy ra một cái khác.  Trong hôn nhân không có tình yêu, tình yêu ở trong hai người và hai người đặt tình yêu vào hôn nhân. Không có chuyện tình lãng mạn trong hôn nhân; người ta phải pha trộn sự thơ mộng vào hôn nhân của họ.
           “Một đôi tân hôn phải học nghệ thuật ấy và hình thành thói quen cho nhau, yêu nhau, phục vụ nhau, ngợi khen nhau để giữ cho cái hộp được đầy. Nếu bạn lấy ra nhiều hơn cái bạn bỏ vào, cái hộp sẽ rỗng không” (Bel San Louis, Vui sống với nụ cười, tr 88).
           Trong báo Tuổi trẻ Chủ nhật ngày 01/09/2002 tác giả  Chung Sa, sau khi đưa ra một câu chuyện thời sự về đời sống gia đình, đã đi đến một kết luận :”Thật vậy, gia đình là nơi đầy ắp tiếng cười của trẻ thơ, tiếng hát của người mẹ và sức mạnh của người cha.  Nơi đó có hơi ấm của những con tim biết yêu, là ánh sáng của đôi mắt tràn đầy hạnh phúc, là sự ân cần, là lòng chung thủy. Gia đình là ngôi thánh đường đầu tiên cho trẻ thơ  học những điều hay lẽ phải, học niềm tin và lý tưởng sống. Đó là : nơi chúng ta tìm về để được ủi an nâng đỡ - nơi những món ăn đơn sơ cũng thành mỹ vị - nơi tiền bạc không quí bằng tình yêu – nơi ngay cả nước sôi cũng reo lên niềm vui hạnh phúc”.
 
III. ĐỀ PHÒNG NHỮNG BẤT TRẮC
           Có người nói :”Mái ấm là vương quốc của cha, thế giới của mẹ và thiên đàng của con cái”.   Không nơi nào trên trần gian này có thể đem lại cho con người hạnh phúc bằng mái ấm gia đình. Có gia đình là có tất cả. Sống trong gia đình êm ấm người ta sẽ cảm nhận như sống trên thiên đàng.
           Có lẽ vì vậy mà nhà văn hào Pháp, ông Honoré de Balzac, đã nói :”Hôn nhân là con đường dẫn ta tới thiên đàng hay dẫn vào  địa ngục”
           Vì sao vậy ? Vì sao có hôn-nhân-hỏa-ngục ?
           Đó là vì , nói như ông Trần Cao Khải, nơi đó thiếu vắng tình yêu.  Người ta không  “xây dựng” mà lại “xây cất” !  Vì người ta xây dựng xong rồi đem “cất đi” tất cả, không khác  gì những di tích, kỷ vật cũ kỹ, mốc meo, lạnh tanh giấu kín trong nhà bảo tàng vậy thôi !  Tình yêu trở nên nhạt thếch. Niềm tin biến thành khô cứng. Hy vọng thui chột. Nụ cười tắt lịm. Hạnh phúc chỉ còn là chút gì xa vắng… để ngàn năm đợi ngàn năm chờ.
           Tuy thế, người ta cũng có thể vượt qua hỏa ngục để lên thiên đàng, thay vì hôn-nhân-địa-ngục thì người ta sẽ biến nó thành hôn-nhân-thiên-đàng nếu biết cố gắng vượt qua bằng tình yêu, nghị lực và sự hợp tác chân thành.
           James Thurber đã nêu ý kiến sau đây :”Trong hôn nhân, gặp nhau là bước đầu, sống chung với nhau là bước kế tiếp, làm việc chung với nhau mới làm nên một gia đình êm ấm”.
           Nếu có mồ hôi nước mắt trong hôn nhân thì đó là thường tình. Đó là mồ hôi của lao động và hy sinh. Đó là nước mắt của cảm thông và thiện chí.  Hôn nhân đích thực không bao giờ làm ta rơi vào ảo tưởng của mộng mơ.  Nhưng có một điều chắc chắn là như ông David Sarnoff nói : Trong hôn nhân, nụ cười và nước mắt làm nên khúc nhạc cuộc đời” .
           Vì thế có người nói : Nỗ lực của chúng ta là phải :
                   Rửa tội cho tình yêu mỗi buổi sáng ,
                   Và hãy cưới lại nhau mỗi ngày.
           Mỗi người phải nỗ lực xây dựng hạnh phúc gia đình, biến gia đình thành tổ ấm thân thương. Việc xây dựng này đòi hỏi sự hợp tác chân thành và tinh thần trách nhiệm cao. Bởi vậy, hôn nhân là con đường dẫn ta tới thiên đàng hay địa ngục là tùy ở nơi mỗi người chúng ta.
           Kinh nghiệm dân gian vẫn có ý nghĩa và giá trị thực tiễn :”Thuận vợ thuận chồng, tát bể đông cũng cạn”.  Sự hòa thuận nơi vợ chồng không làm cho đôi bạn mất đi cái “tôi” riêng của mình, trái lại, nó bổ túc, hoàn thiện mỗi con người và làm cho mỗi người cảm thấy hạnh phúc.
           Để kết thúc, chúng ta hãy đọc lại lời khẳng định của công đồng Vatican II :
 “Từ gia đình, Kitô giáo thấm nhập vào tất cả các tổ chức cuộc sống và dần dần biến đổi các tổ chức ấy; nơi gia đình, vợ chồng tìm thấy ơn gọi riêng của mình là làm chứng cho nhau và cho con cái lòng tin và tình yêu Chúa Kitô.  Gia đình Kitô giáo lớn tiếng loan truyền sức mạnh của Nước Thiên Chúa và niềm cậy trông vào một đời sống hạnh phúc. Như  thế, bằng gương lành và chứng tá, gia đình Kitô giáo thuyết phục thế gian dám nhận tội lỗi mình, đồng thời sáng soi những kẻ đang tìm kiếm chân lý” (Hiến chế Tín lý về Giáo hội, số 35).
Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt

 

HônPhối 22: BẢO TRÌ

I. CÂU CHUYỆN MỘT CHIẾC CẦU

Những ai đi du lịch nước Mỹ, chắc không bỏ quên tham quan một chiếc cầu nổi tiếng ở thành HônPhối 22

Những ai đi du lịch nước Mỹ, chắc không bỏ quên tham quan một chiếc cầu nổi tiếng ở thành phố San Francisco, bang California. Đó là cây cầu Golden Gate.
           Chiếc cầu có chiều dài 2.788 mét, rộng 27 mét, cách mặt nước 227 mét. Hai dây cáp lớn giăng trên đỉnh các tháp, mỗi sợi dây cáp gồm hơn 27.500 sợi dây thép. Nặng tất cả là 811,5 tiệu kilogram. Tốn phí hết 35 triệu Mỹ kim. Cầu được khởi công năm 1933 và được khánh thành ngày 27/05/1937.
           Cầu được sơn phết bằng một lớp sơn mầu vàng cam, coi rất vui tươi và dễ thương. Nhưng đây cũng là một nơi có nhiều người tự tử nhất nước nước Mỹ. Tính từ đầu đến năm 2005, có tất cả 1.200 vụ tự tử ở đây.
           Một kiến trúc sư, trong tổ bảo trì, cho biết :  Quanh năm, ngày nào chiếc cầu cũng phải được sơn phết lại.  Điều đó có nghĩa là, khi công việc sơn phết vừa xong, thì cũng vừa đến lúc phải bắt đầu trở lại.  Công việc này không bao giờ được coi  là hoàn tất, mà là một tiến trình liên tục. Không có sự săn sóc đó, lớp vỏ bọc ngoài và nhiều giá trị thẩm mỹ khác của cây cầu sẽ bị phá hoại.
           Từ đó ta suy ra : việc săn sóc gia đình, cũng chẳng khác gì  việc sơn phết cây cầu không lồ Golden Gate.  Nó là việc phải làm liên tục. Nếu sao nhãng, nhiều giá trị cao quí của gia đình sẽ bị xói mòn. Đó là một thực tế, mà những ai đã bước vào trong đời sống gia đình nên lưu ý.
           Văn hào Pháp, ông André Maurois, đã nói rất đúng :”Hôn nhân là một công trình mà ta phải kiến tạo suốt đời”. Công trình hôn nhân, vừa khó khăn vừa lâu dài ấy, phải được thực hiện,  không do một người mà là nhiều thành viên trong gia đình. Công trình kiến tạo ấy đòi hỏi một sự hợp tác kiên vững và chân thành.
           Công việc phải làm luôn đó, còn nêu lên cho chúng ta  một sự thực nữa : Đừng bao giờ mang sẵn một định kiến phải hoàn tất mọi việc ngay lập tức, bởi vì sẽ chẳng bao giờ làm được.  Khả năng của chúng ta chỉ có hạn, không nên ảo tưởng.  Thay vào đó, chúng ta hãy quyết tâm thực hiện hằng ngày. Phải cố gắng với hết khả năng, nhưng đừng bao giờ rơi vào tình trạng quá tải.  Việc hôm nay đủ cho hôm nay, việc ngày mai đủ cho ngày mai.
 
II. HÃY BẢO TRÌ GIA ĐÌNH
           Bảo trì gia đình là gì ? Theo chữ Nho, “bảo trì” là cầm giữ lại, giống như retinere tiếng La tinh, hay retenir tiếng Pháp.  Sở dĩ phải bảo trì gia đình vì kinh nghiệm cho hay gia đình ngày nay dễ bị tan vỡ, cảnh sống hạnh phúc gia đình rất mong manh, người ta ly dị như cơm bữa. Biết bao gia đình đã bị tan vỡ thảm thương.  Phải tìm cách làm cho gia đình giữ lại được cái vẻ đẹp thuở ban đầu :
                              Cái thưở ban đầu lưu luyến ấy
                             Ngàn năm hồ dễ mấy ai quên !

           Nhiều người hiểu lầm, khi kết hôn xong là đã có một gia đình tốt đẹp và cứ thế là xong.  Nhưng thực sự, kết hôn mới là bước khởi đầu  đặt móng cho một tiếng trình xây dựng một ngôi nhà hôn nhân cho bền vững.  Trong việc xây dựng này, còn biết bao nhiêu việc phải làm  : việc xây dựng này có hoàn thành tốt đẹp không ?
           Chúng ta hãy xem lại đoạn Phúc âm Chúa nói với chúng ta (Lc 14,26-33).  Chúa đã đưa ra một dụ ngôn bảo chúng ta  :  khi xây nhà, trước tiên phải tính toán xem mình có đủ tiền  để hoàn thành không ? Nếu không thì đừng xây vội, bởi vì xây nửa chừng, hết tiền phải ngưng, thiên hạ sẽ chê cười chúng ta  là bán đồ nhi phế.
           Trước khi ra trận cũng thế, phải lượng tính xem, mình với 10.000 quân, có đủ sức đương đầu với đối phương với 20.000 quân không ? Nếu không, thì nên sai sứ đi cầu hòa, trước khi đối phương tấn kích mình.  Biết mình, biết địch, quả thực, là một yếu tố tất thắng của mọi cuộc chiến.
           Cuộc sống gia đình, có thể nói, cũng là một cuộc chiến. Thông thường không đổ máu, vì nó là cuộc chiến đấu cân não, nhưng mức độ gây cấn cũng không phải nhỏ.
           Bước chân vào đời sống gia đình, có thể nói, anh chị cần thấy được những thực tế trên, để tự võ trang đương đầu với nó, không cho phép nó “đào ngạch khoét vách” hạnh phúc của mình được.  Rất có thể, từ “Cảm nhau” cho tới hôm nay, anh chị chỉ thấy hoa hồng mà không lưu ý tới gai hồng, thì ngay từ hôm nay, anh chị phải chấp nhận một sự thực. Hoa hồng nào cũng phải có gai. Nhưng gai không làm hồng xấu đi, ngược lại, sẽ tôn vẻ đẹp cho hồng.
           Sở dĩ chúng ta gọi cuộc sống gia đình là một cuộc chiến vì chúng ta sẽ phải đương đầu với muôn vàn khó khăn, với bao thử thách.  Thời mới quen nhau, hình ảnh người chồng là một “hoàng tử” và hình ảnh người vợ là một “công chúa”. Hoàng tử sánh duyên cùng công chúa thì còn gì đẹp bằng ? Hạnh phúc lứa đôi thật tuyệt vời.
           Nhưng coi chừng !  Ông Chamfort dám bạo miệng mà nói :”Hôn nhân là mồ chôn tình yêu”. Nói như thế có vẻ cường điệu, khó chấp nhận, nhưng trong thực tế có phần đúng đấy, vì “Cái thuở ban đầu lưu luyến ấy” không còn nữa, thêm vào đó là những va chạm hằng ngày làm cho vợ chồng gây gỗ, bất hòa với nhau.
           Vợ chồng sống bên nhau, có nhiều điều phải xây dựng cho nhau.  Có những nhược điểm, khi mới yêu nhau, giấu nhau, hoặc không nhận ra. Về với nhau rồi, tất cả mới lộ diện. Vì thế, hạnh phúc hôn nhân nằm ở chỗ chấp nhận nhau, không phải chỉ ở ưu điểm, mà là cả con người của nhau. Trong đó, dĩ nhiên, có cả khuyết điểm.  Đã là người, không ai thập toàn cả.  Chấp nhận nhau không phải trong tâm trạng “Đành chịu”, nhưng để thăng tiến điều tốt và gọt dũa điều xấu.
           Nói tới đây tôi nhớ đến các lời quảng cáo của các mỹ viện là “BEFORE & AFTER”. Hình ảnh trước bao gờ cũng xấu xí, vô duyên; còn hình ảnh sau đó lúc nào cũng là khuôn mặt xinh tươi duyên dáng.  Điều này hoàn toàn ngược lại với hình ảnh của đời sống hôn nhân gia đình. Trước : dễ thương, duyên dáng, đáng yêu vô vàn. Sau : xấu xí, vô duyên, thậm chí không muốn nhìn . Sao mà hạnh phúc chóng qua thế ?
           Như vậy thì hạnh phúc  cốt lõi của cuộc sống nằm ở đâu ?
           Thưa nằm ở sự liên kết giữa Thiên Chúa và tạo vật.  Nếu chúng ta biết sống có chung có thủy , có trước có sau đối với Chúa cũng như với mọi người, đặc biệt là với người bạn đời của mình, cho dù có bất cứ điều gì xẩy ra.
          Thường những năm đầu của cuộc sống chung là những năm va chạm kịch liệt nhất vì con người cá nhân còn tồn tại mạnh mẽ, sau đó mọi chuyện sẽ từ từ êm lại.
           Tuy thế, nếu vợ chông còn xích mích gây gỗ với nhau thì cũng còn là một điềm tốt vì nó nói lên hôn nhân vẫn còn sinh động.  Chỉ khi nào vợ chồng hết nói năng với nhau, im lặng như đá thì mới nguy hiểm :”Người lặng nghe ĐÁ lên trong mình” (Trịnh Công Sơn).
           Ngoài ra, chúng ta thấy có những lý do  đưa đến việc gia đình bị tan vỡ như lý do kinh tế, xã hội, tâm lý, giáo dục, đạo đức…  Nhưng có một nguyên nhân khác xem ra có vẻ “chìm” nhưng lại rất “nổi”, đã từng gây sóng gió trong nhiều cặp vợ chồng. Đó là sự NHÀM CHÁN, nhạt nhẽo và cũ kỹ trong mối tình  với trước đó đã một thời  tươi thắm nồng nàn và đầy quyến rũ.
           Người ta nói : “Tình yêu bị chết đi do sự nhàm chán vì người yêu bị chôn vùi bởi sự lãng quên”.  Không nhàm chán sao được khi mà lúc nào cũng phải tiếp xúc với con người ấy, với tính tình ấy, với các xử sự ấy và cuộc sống dần dần trở nên như cái máy.
           Có lẽ vì vậy mà ông Chamfort đã kết luận :”Hôn nhân là mồ chôn tình yêu”.
           Củng cố cho kết luận của ông Chamfort, nhà thơ ngụ ngôn người Pháp, ông La Fontaine nói :
                             “Nợi bạn, tất cả đều tha thứ bỏ qua,
                             Nơi tình nhân, tất cả đều hài lòng, hoàn hảo,
                             Nơi vợ chồng, tất cả đều nhàm chán, mỏi mệt”.

           Để giải tỏa sự nhàm chán trong gia đình, thiết tưởng không gì có hiệu quả bằng việc quan tâm đến nhau. Hai vợ chồng  phải biết sống cho nhau, vì nhau, quên mình để tạo hạnh phúc cho nhau. Người ta có thể thể hiện sự quan tâm ấy  trong cách dùng ngôn ngữ, cử chỉ, động thái, ánh mắt, nụ cười…
           Cũng có người đưa ra một số biện pháp để giải tỏa sự nhàm chán, đại khái như sau :
         a) Cãi nhau :  nghe cũng ngồ ngộ thật. Thật ra, đây không phải là giải pháp vì nó không giảm bớt nhàm chán mà chỉ tạo thêm căng thẳng, đấy chỉ là hậu quả của sự nhàm chán.
 
b) Làm lại tuần trăng mật  : vợ chồng tạm gác mọi công việc, dành một thời gian để hai vợ chồng ở bên nhau, làm mới lại mối tình xưa.

 c) Đi du lịch : cũng là dịp thư giãn, vợ chồng có dịp ở gần nhau, chuyện trò thân mật hơn lúc ở nhà, nhờ bầu khí thay đổi.
 Nhưng nói gì thì nói, vợ chồng hãy trở lại với bản thân mình và phải công nhận rằng “Tự biết mình” là một điều tối quan trọng trong việc giải tỏa nỗi nhàm chán trong cuộc sống gia đình. Điều quan trọng trong giai đoạn này là phải tự xem xét mình cho kỹ càng, để tự sửa đổi, chỉnh đốn cho phù hợp, chứ không phải chỉ lo  đổ lỗi cho vợ hoặc chồng, như Adong đổ lỗi cho Evà, rồi sau đó là chạy trốn, cách ly hoặc loại trừ vợ / chồng ra khỏi đời sông tình cảm của mình,  rồi rút dần vào thế giới ích kỷ của riêng mình, tâm hồn trở nên chai đá và sự phản bội là bước tất yếu tiếp theo.
           Muốn việc bảo trì gia đình đạt được kết quả tốt không gì bẵng hãy yêu thương nhau vì tình yêu hóa giải được tất cả, rồi sau đó cố gắng nhường nhịn nhau, hòa hợp với nhau, để cùng nỗ lực xây dựng hạnh phúc gia đình trong mọi hoàn cảnh thuận cũng như nghịch.
 
                                      Truyện : Trung thành với nhau
           Có hai vợ chồng sống rất hạnh phúc bên nhau. Rồi đột nhiên người chồng bị tai nạn giao thông và bị tàn phế, phải ngồi xe lăn. Sau nhiều ngày suy nghĩ, vì quá thương vợ, người chồng cố tỏ ra lạnh nhạt, rồi cương quyết đòi ly hôn.
          Tòa án hòa giải nhiều lần mà bất thành nên đành đưa ra xét xử.
          Người chồng nói :
- Tôi không còn yêu cô ấy nữa, sống với nhau chỉ là địa ngục thôi.
          Người vợ vừa khóc vừa chạy đến quì dười chân người chồng mà nói :
          - Xin anh đừng ly hôn, dù anh không còn yêu em  thì anh cũng vì yêu con. Nhưng em biết anh còn yêu em mà, phải không anh ? Em có thể làm đôi chân cho anh mà.
          Nghe vậy, người chồng không thể cầm lòng được, đôi mắt lạnh lùng của người chồng có hai dòng nước mắt chảy xuống, và anh phải bật khóc. Tòa án không hòa giải được nhưng chính họ tự hòa giải.
           Ta hãy nghe Đức giáo hoàng Gioan-Phaolô trong Tông huấn về những bổn phận của gia đình Kitô hữu đã nhắn nhủ :
 ”Gia đình Kitô hữu ngày nay thường hay bị cám dỗ nản lòng hay đang lo âu trước những khó khăn, ngày một lớn; lòng yêu mến ấy còn được biểu lộ qua một hình thức trổi vượt nữa, đó là đem lại cho gia đình Kitô hữu những lý do để tự tin  vào mình, qua những phong phú mà gia đình có được tự bản chất hay do ân sủng, qua sứ mạng Thiên Chúa đã ủy thác cho gia đình. “Các gia đình ngày nay phải trấn tỉnh lại ! Phải theo Chúa Kitô”…
           Ngoài ra, các Kitô hữu còn có bổn phận phải loan báo cách vui tươi và xác tín, “Tin Mừng” về gia đình, vì một cách tuyệt đối, gia đình đang còn và mãi mãi vẫn còn  cần nghe và cần hiểu ngày càng sâu sắc hơn, những lời đích thực mạc khải cho gia đình biết chân tính của nó, những tiềm năng và tầm quan trọng sứ mạng gia đình trong xã hội loài người và trong Hội thánh Thiên Chúa” (Familiaris Consortio, số 86).
Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim Phát
Đà lạt

 

HônPhối 23: VÁN ĐÃ ĐÓNG THUYỀN

I. SUY NIỆM LỜI CHÚA
          Chúng ta đọc : Mt 19,3-9

Trong khi rao giảng Tin mừng, những người luật sĩ và biệt phái luôn luôn có vấn đề với Chúa Giêsu HônPhối 23

Trong khi rao giảng Tin mừng, những người luật sĩ và biệt phái luôn luôn có vấn đề với Chúa Giêsu, có ý gài bẫy Ngài. Một trong những vấn đề tranh cãi là ly dị.  Bởi vì theo luật Maisen thì được phép ly dị (Đnl 24,1-4), nhưng không xác định lý do ly dị. Vì thế có sự bất đồng giũa phe phóng khoáng và phe nghêm khắc.
           Theo đó, phe phóng khoáng chủ trương có thể ly dị vì một lý do rất đơn giản, ví dụ : khi người vợ nấu một món ăn khong ngon, cũng đủ lý do để ly dị. Còn phe nghiêm khắc thì chỉ khi người vợ ngoại tình, người chồng mới được phép ly dị.
           Chúng ta cũng cần nhớ rằng luật pháp Do thái thời đó chỉ nhìn nhận sáng kiến ly dị của người chồng mà thôi.
           Trước câu hỏi về vấn đề ly dị, Chúa Giêsu đã dựa vào sách Sáng thế (St 1,27 và 2,24) để khẳng định với họ rằng :  Sự liên kết hôn nhân bắt nguồn từ thánh ý của Thiên Chúa, vì thế sự ràng buộc của hôn nhân còn vượt qua sự ràng buộc của gia đình. Bởi vì, để kết hôn, người ta “sẽ phải rời bỏ cha mẹ mình mà gắn bó với vợ mình”.  Đây là sự kết hợp của hai thân xác, nghĩa là “cả hai sẽ trở nên một xương thịt”.  Ở đây nói lên tính cách vĩnh hôn của hôn nhân. Điều này nhắc nhủ rằng, một khi người ta đã tuân phục thánh ý Chúa, thì người ta sẽ trung tín  trong đời sống hôn nhân trong mọi hoàn cảnh.
           Còn việc ly dị là một thể chế loài người tạo ra “vì các ông lòng chai dạ đá, nên ông Maisen đã cho phép các ông rẫy vợ, chứ thuở ban đầu không có như thế đâu”.  Điều này cho thấy rằng con người vì ích kỷ, nghĩa là đặt sự thỏa mãn của lòng mình trên hết, trên cả ý muốn của Thiên Chúa nữa, nên họ đã bất trung với Chúa, và vì vậy, họ bất trung với nhau trong đời sống hôn nhân.
 
II. THÀNH NGỮ “VÁN ĐÃ ĐÓNG THUYỀN”.
           1. Ý nghĩa của thành ngữ
           Thành ngữ “ván đã đóng thuyền” có nghĩa là việc đã xong rồi, không thể trở lại được nữa.
          Còn đối với người phụ nữ thành ngữ này có nghĩa là người con gái đã lấy chồng, không còn được tự do yêu đương,  không còn thay đổi được nữa. Ví dụ :
                                       Bây giờ ván đã đóng thuyền,
                             Đã đành phận bạc khôn đền tình chung.
                                      (Nguyễn Du, truyện Kiều)

 
          2. Giải nghĩa thành ngữ
           Ngày xưa người ta đóng thuyền bằng gỗ bằng cách ghép những tấm ván vào với nhau và vít kín cho nước khỏi rỉ vào.  Công việc làm hoàn toàn thủ công chứ không có máy móc như công nghiệp hiện đại.
          Ván đã đem đóng thuyền thì không tháo ra được nữa, là đã thành một bộ phận  của thuyền rồi, không còn là ván của tấm ván rời như trước nữa.  Chúng đã bị đóng bằng nhiều loại đinh dài ngắn, to nhỏ khác nhau.  Không phải là đinh thường, mà là “đinh con đỉa”, tức là loại đinh có 2 móc dài hai đầu để níu giữa hai tấm ván lại với nhau.  Đinh con đỉa đóng dầy đặc đan xen vào nhau để bảo đảm cho thuyền chịu được sóng to gió lớn.
           Hơn nữa, việc tháo gỡ những thứ ván này cũng chẳng để làm gì, một khi chúng bị cưa xẻ dài ngắn, to nhỏ khác nhau,  thui xém uốn theo độ cong vòng của hình dạng con thuyền.
           Như vậy,  chúng ta thấy ngay ý nghĩa của thành ngữ này là sự việc vững chắc không thể thay đổi được, đặc biệt đối với người con gái đã có chồng.
 
          3. Mấy thành ngữ tương tự
           Ngoài thành ngữ ván đã đóng thuyền, chúng ta còn gặp một số thành ngữ khác ý nghĩa tương tự như “chim sổ lồng, cá cắn câu” :
                                       Bây giờ em đã có chồng
                             Như chim vào lồng, như cá cắn câu.
                                      Cá cắn câu biết đâu mà gỡ
                             Chim vào lồng bằng thuở nào ra ?
                                              (ca dao)

           Cá cắn câu rồi có gỡ được không ? Chim vào lồng rồi có ra khỏi lồng được không ? Ai tháo gỡ, tháo gỡ thế nào ? Ai phá cũi sổ lồng, và bao giờ làm việc ấy – Tất cả những điều này chẳng phải là những câu hỏi, những gợi ý của cô gái  đối với người bạn tình đó sao ?
           Nhưng với hoàn cảnh “ván đã đóng thuyền” tình hình hoàn toàn khác. Ván đã đóng thuyền là hoàn cảnh bất di bất dịch, không thể nào đảo ngược, không thể nào làm lại được, đành phải chấp nhận vậy (Hoàng văn Hành, kể chuyện… tr 509).
 
III. HÔN NHÂN CÔNG GIÁO BỀN VỮNG
           1. Đặc tính của Hôn nhân Công giáo
           Đạo “một vợ một chồng” là luật ngàn đời của Thiên Chúa, là luật tự nhiên của xã hội, nó cũng hợp với tâm lý vợ chồng, là không muốn bị chia sẻ. Hơn nữa, nó còn là yếu tố quan trọng mang lại hạnh phúc cho gia đình.
           Hôn nhân Công giáo có hai đặc tính này là đơn nhất và vĩnh viễn. Hay nói cách khác là hôn nhân một vợ một chồng và không có ly dị.
           a) Hôn nhân đơn nhất
           Theo sách Sáng thế, Thiên Chúa đã dựng nên Adong-Evà, cho họ tác hợp với nhau nên duyên vợ chồng và Thiên Chúa phán :”Cả hai sẽ nên một xương một thịt” (St 2,24).
           Sau này, chính Đức Giêsu, trong một cuộc tranh luận với người biệt phái về vấn đề ly dị, đã nhắc lại ý định của Thiên Chúa :”Các ngươi đã chẳng đọc thấy rằng : Từ thuở ban đầu. Thiên Chúa đã dựng nên một nam một nữ đó ư ?  Và Ngài phán :”Bởi thế người đàn ông sẽ lìa bỏ cha mẹ mình để khắng khít với vợ và cả hai chỉ còn là một thân xác” (Mt 19,3-5).  Nếu cả hai chỉ còn là một, thì người thứ ba không thể chen chân vào.
 
          b) Hôn nhân vĩnh viễn
           Bước vào hôn nhân, chắc mọi người đều tha thiết cầu mong hạnh phúc. Vì muốn cho mọi cặp vợ chồng có được hạnh phúc cao hơn đó, Đức Kitô đã nâng hôn nhân lên hàng Bí tích, biểu tượng cho sự kết hợp của Ngài với Hội thánh.
           Sách Sáng thế đã diễn tả  sự hợp nhất vợ chồng bằng một ngôn từ rất quyết liệt :”Bỏ cha mẹ để luyến ái với nhau” và đã trở nên “một xương một thịt”.  Điều đó nói lên tầm quan trọng của sự hiệp nhất này. Vì thế, Đức Kitô trong Tân ước, còn nại đến uy quyền Thiên Chúa, đã phi bác việc ly dị :”Sự gì Thiên Chúa đã kết hợp, loài người không được phân ly” (Mt 19,6).
 Hiệp nhất trong Hôn nhân là sự hiệp nhất trọn vẹn cả tâm hồn lẫn thể xác. Có thể nói hôn nhân chính là cuộc đời : “2 in 1” : hai trong một.
 
          2. Tình hình ly dị trên thế giới
 Ngày nay gia đinh thay đổi theo chiều hướng đổ dốc, đến độ năm 1993, người ta phải tổ chức một hội nghị quốc tế tại Paris, xung quanh chủ đề “Hãy xây dựng lại gia đình” , với sự tham dự của các nhà tâm lý, xã hội học, luật học và dân số học. Tất cả đều nhất trí rằng gia đình hiện đại đang như chiếc lá rụng.
           Châu Âu giật mình là phải, bởi vì, cứ 4 đúa trẻ dưới 16 tuổi thì có một đứa thấy bố mẹ ly hôn hay ly thân !  Và cứ 10 em thì có một phải sống chung với người lạ, nghiền ngẫm nỗi đau trong cái câu “mấy đời bánh đúc có xương”.
           Ở Mỹ, tình hình lại càng tồi tệ, khi trẻ em tuyệt vọng vì bất hạnh.  Số trẻ em tự tử đã tăng lên gấp ba trong thập niên 70, trong khi số người lớn tự tử không tăng. Có 20% trẻ em Mỹ gặp vấn đề về thần kinh, không thể yên tâm để sôi kinh nấu sử, vì bố mẹ đã “ân đoạn nghĩa tuyệt”. Gia đình rạn nứt đã gây sốc đến trẻ em mạnh đến nỗi, có những em đã 17 tuổi mà chưa biết làm toán thập phân, chưa biết tính phần trăm (Kiến thức ngày nay, số 145, tr 22).
           Trong cuốn “Làn sóng thứ ba”, tác giả Alvin Toffler cho thấy các dạng gia đình mới đang trở thành những hiện tượng quần chúng tại Âu Mỹ.  Hiện tượng đó có chiều hướng tăng. Để dám nói là đang có sự tan vỡ về gia đình, chứ không phải chỉ là  khủng hoảng về gia đình. Nhất là khi kiểu gia đình truyền thống cũng đang biến hóa, trở thành những thứ “câu lạc bộ” tình yêu, gặp nhau dễ dàng và rồi bỏ nhau cũng dễ dàng. Hoặc đang trở thành những “Tổ hợp” tình yêu, ăn chia sòng phẳng, của cải chia đều (Cg và dt số 855, tr 5).
           Ngoài ra, theo tài liệu của Ủy Ban Tòa thánh chuyên về gia đình thì “Con người và gia đình hiện nay sống trong một xã hội “bị động”,  nghĩa là thiếu lý tưởng, muốn làm gì thì làm, bị tục hóa, và là nơi mà sự giải thoát mình được thực hiện bằng nhiều cách, mà một trong những cách đó là dùng ma túy…
           Thời đại của chúng ta đề cao tự do, một thứ tự do  không còn được coi là tích cực hướng về sự thiện, mà là thoát ly khỏi mọi điều kiện ngăn cản mỗi người làm theo ý riêng minh… Người ta ca tụng chủ nghĩa thực dụng, chủ nghĩa khoái lạc, chủ nghĩa cá nhân và chủ nghĩa ích kỷ” (Du désespoir à l’espérance, L.E. Vatican, 1992).
           Vợ chồng ly dị đã gây nhiều tai hại và đau khổ cho xã hội, đặc biệt là cho các con cái.  Nếu cha mẹ chia lìa nhau thì con cái biết nương tựa vào ai ? Đời sống con cái rất cơ cực vì không còn ai nâng đỡ. Chúng ta hãy xem một câu chuyện thương tâm mới xẩy ra ỡ bên Mỹ.
 
                                       Truyện : Sau khi cha mẹ ly dị
           Một học sinh Việt ở Texas học giỏi, ở một mình đi làm nuôi anh, nuôi em, nhưng vì vậy mà bị vắng mặt và bị bỏ tù 24 tiếng cộng tiền phạt 100 dollar, theo đài KHOU-11 cho biết :
                   Diane Tran, học sinh lớp 11 trường Willis High School, từng bị ra tòa một lần vì tội vắng mặt quá nhiều. Thẩm phán Lanny Moriarty ra lệnh cấm cô vắng mặt lần nữa, nhưng tới khi cô lại không tới lớp, tòa gọi cô lên và bắt bỏ tù cô ngay tại chỗ.
Diane học điểm cao, nhưng cô phải đi làm 2 chỗ, một chỗ toàn thời gian và một chỗ bán thời gian. Cô cũng lấy lớp AP (lớp trình độ cao) và lớp dual credit, tức là lớp được tính điểm đại học.
Lý do cô phải đi làm là vì cha mẹ cô ly dị bất thình lình, rồi cả hai người bỏ đi để con cái lại ở Willis. Cô có một người anh đang học Texas A&M, cô đi làm giúp tiền cho anh, và giúp tiền nuôi em nhỏ đang ở với họ hàng ở Houston.
Diane làm toàn thời gian ở một tiệm giặt ủi, và làm thêm ở Vineyard of Waverly Manor, một ngôi nhà cho thuê làm đám cưới, vào cuối tuần. Cô ở nhà với gia đình người chủ Vineyard of Waverly Manor.
Một người bạn cùng học và cùng làm chung với Diane, Devin Hill, nói “Cô ấy đi làm từ việc làm này tới việc làm khác, rồi đi học làm bài có khi thức tới 7 giờ sáng.”
Diane nói lý do cô bị vắng mặt là buổi sáng mệt quá không dậy được. Có khi cô bị vắng nguyên một lớp, có khi vô kịp nhưng sau khi thầy cô điểm danh.
Cha mẹ cô ly dị bất ngờ. “Tôi vẫn cứ tưởng gia đình tôi hạnh phúc,” Diane nói khi được phỏng vấn trên truyền hình KHOU, rồi bật khóc. Mẹ cô dọn đi Georgia, Diane cho biết.
Thẩm Phán Moriarty nói vụ án này không phải chỉ cho riêng Diane Tran mà để làm gương cho tất cả. “Tha một học sinh trốn học, rồi những học sinh trốn học khác thì sao? Tha hết à?,” ông Moriarty trả lời đài KHOU (theo xuanha.net)
          3. Để cứu vãn gia đình
          Lý do chính của sự ly dị là vợ chồng không hòa hợp với nhau. Theo nhà tâm lý học Nguyễn đình Xuân, ta cần phân biệt “hợp nhau” với “hòa hợp nhau”. Đó là hai khái niệm riêng biệt. Hợp nhau là thích nhau (ví dụ : người hiền lành thì thích và hợp với người hiền lành). Trong khi đó Hòa hợp nhau là chấp nhận nhau để hòa nhập với nhau, bù trừ cho nhau, nên có thể người hiền lành lại chấp nhận cưới một người có tính nóng nảy. Hai người sống với nhau ít khi nổi xung, bởi vì người hay nóng luôn luôn được tính hiền lành của người kia làm nguội lạnh đi các cơn thịnh nộ vô lý…
          Thực ra trong cuộc sống gia đình rất phức tạp, bởi vì “bá nhân bá tính”, không ai giống ai, mà ai cũng muốn người khác phải theo ý mình. Muốn cho gia đinh được êm ấm và hạnh phúc thì chỉ có một cách là cố gắng sống hòa hợp với nhau, chịu đựng nhau, tha thứ cho nhau, thông cảm với nhay, yêu nhau chín bổ làm mười…
          Sống hòa thuận với trời đất, với người khác sẽ đem đến cho chúng ta sự bình an. Vũ trụ vạn vật rất phức tạp, cuộc nhân sinh nhiều nỗi đa đoan nhưng biết vận dụng triết lý chữ “hòa”, người ta có thể giải quyết thỏa đáng những phức tạp, những xung khắc  để đi đến thống nhất.
          Ngoài ra, chúng ta còn một phương thuốc thần hiệu để giữ được hạnh phúc gia đình là “cầu nguyện”. Chúa Giêsu đã nói :”Không có Thầy các con không thể làm đượcgì”.  Nếu chúng ta biết tin tưởng vào Chúa, biết cầu xin thì Ngài sẽ ban ơn dư dật để vợ chồng khăng khít vơi nhau, cùng xây dựng gia đình. Người ta nói không sai :
                             Trước khi ra biển, hãy cầu nguyện một lần
                             Trước khi ra trận, hãy cầu nguyện hai lần
                            Trước khi kết hôn, hãy cầu nguyện ba lần

                  
                                       Truyện : Chiếc ghế quì
           Một phụ nữ Đức đến xin tòa ly dị, vì ông chồng quá say sưa, chửi mắng, đập phá. Vị chánh án là Windthorst, một nhân vật thời danh của Giáo hội Đức. Vị chánh án hỏi bà :
          - Lúc chồng bà say sưa, chửi mắng, đập phá, bà đối xử thế nào ?
          - Thưa ngài, lẽ dĩ nhiên là tôi phải gây sấm sét giông tố đối lại.
          Vị chánh án ôn tồn bảo :
          - Tôi thấy hình như trong nhà bà thiếu một vật cần thiết để gây hòa bình, đó là chiếc ghế quì. Bà hãy về sắm ghế quì. Rồi mỗi lần ông chồng trở về say sưa chửi bới, đập phá, bà hãy mau mắn quì vào ghế đó và thay vì nói với chồng, bà hãy nói với Chúa.
          Bà này về làm đúng theo lời chỉ bảo. Ít lâu sau bà trở lại, sung sướng báo tin cho vị chánh án hay : “Môn thuốc ghế quì thật là linh nghiệm”.
           Lm Giuse Đinh lập Liễm
          Giáo xứ Kim phát
          Đà lạt

 

HônPhối 24: CÓ NẾP CÓ TẺ

I. SUY NIỆM LỜI CHÚA
           Chúng ta đọc : Ga 17,20-26

Trước khi từ giã các Tông đồ để đi vào cuộc tử nạn, Chúa Giêsu đã trông thấy trước nguy cơ chia HônPhối 24

Trước khi từ giã các Tông đồ để đi vào cuộc tử nạn, Chúa Giêsu đã trông thấy trước nguy cơ chia rẽ trong Hội thánh nên Ngài đã tha thiết cầu xin cho họ biết bỏ đi mọi khác biệt, mọi nguy cơ chia rẽ để cùng hiệp nhất xây dựng Hội thánh của Ngài.
           Không những Ngài chỉ cầu nguyện cho các Tông đồ, mà còn cho tất cả mọi người tin theo Ngài được kết hợp với nhau trong Hội thánh như các chi thể kết hợp với nhau làm nên một thân thể :”Lạy Cha, con không chỉ cầu nguyện cho  những người này, nhưng còn cho tất cả những ai  nhờ họ mà tin vào Con để tất cả nên một” (Ga 17,20).
           Trước mắt Chúa Giêsu cầu nguyện cho sự hiệp nhất của Hội thánh toàn cầu, Ngài cũng còn cầu nguyện cách đặc biệt cho “Hội thánh tại gia”.  Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II gọi gia đình là “Hội thánh tại gia”, mà chúng ta cũng có thể gọi là “Hội thánh bỏ túi”. Hội thánh này một phần nào cũng có những đặc tính giống như Hội thánh toàn cầu.
           Trong Hội thánh tại gia, tuy là một Hội thánh nhỏ bé nhưng nguy cơ chia rẽ lại rất lớn , bởi vì ngày nay gia đình đang bị khủng hoảng, có nhiều gia đình bị tan vỡ, kể cả gia đình Kitô giáo. Tình trạng ly dị ngày nay rất phổ biến, tạo thành một nguy cơ cho sự bền vững của xã hội cũng như của Giáo hội.
           Trong Hội thánh tại gia, vai trò chủ chốt là người chồng và người vợ.  Tuy hai người đã kết hợp với nhau thành một xương một thịt (x.Mc 10,8), nhưng vẫn còn là hai nhân vị riêng biệt có những đặc tính khác nhau, nên người ta mới nói :”Sống mỗi người một nết, chết mỗi người một tật” (Tục ngữ).
           Vì có sự khác biết nhau như về tôn giáo, về giáo dục, về phong tục địa phương, về tâm lý khác biệt giữa nam nữ… nên người ta dễ đi đến chỗ va chạm, xung khắc, đến những bất hòa ngấm ngầm hay bùng nổ.  Công việc của vợ chồng là phải khắc phục những dị biệt, biết nhịn nhục chịu đựng để từng bước đi đến chỗ hòa hợp, bởi vì không có gia đình nào mà được hoàn toàn cả :
                                       Thế gian được vợ mất chồng,
                                      Có đâu mà được cả ông lẫn bà.

               Người Việt nam chúng ta đã có nhiều kinh nghiệm về vấn đề này nên đã khuyên vợ chồng hãy yêu thương nhau, tôn trọng nhau, bỏ đi mọi khác biệt, bổ túc cho nhau để cùng tạo lập một gia đinh hạnh phúc.  Kinh nghiệm ấy đã được đúc kết trong một câu thành ngữ vắn gọn : “Có nếp có tẻ”.
 
II. THÀNH NGỮ “CÓ NẾP CÓ TẺ”
           1. Ý nghĩa thành ngữ
           Người dân quê Việt nam hay dùng những hình ảnh rất quen thuộc trong đời sống và đôi khi rất tầm thường để nói lên cái gì xa xôi, trừu tượng, có khi rất thâm thúy. Những kinh nghiệm và suy tư này đã được đan dệt trong những câu ca dao tục ngữ, trong đó có câu “Có nếp có tẻ”.
           Ý nghĩa của thành ngữ này là trong nhà có cả con trai con gái thì mới tốt, mới đầy đủ. Mặc dầu người ta có khuynh hướng “trọng nam khinh nữ”, thậm chí người ta còn chủ trương “Nhất nam việt hữu, thập nữ viết vô”, nghĩa là trong chỉ một con trai thôi cũng là có con, còn 10 đứa con gái cũng kể là không có con, bởi vì người ta có quan niệm là :
                                      Con gái là con người ta
                             Con dâu mới thực mẹ cha mua về.

           Tuy thế, ngày nay trong gia đình ai cũng muốn “có nếp có tẻ” nghĩa là phải có con trai con gái thì mới tốt, mới hài hòa.
 
          2. Giải thích câu thành ngữ
           Ở thành phố người ta ít để ý đến vấn đề “nếp hay tẻ”, nhưng ở thôn quê thì nếp và tẻ có giá trị khác nhau, phải biết lựa chọn.
           Trong đời sống thực tế “nếp” được coi trọng hơn “tẻ”. Cơm tẻ là món ăn thường ngày, còn nếp thì đôi khi, vào những dịp nào mới có. Về mặt giá trị, nếp quí hơn tẻ. Đem so sánh nếp với tẻ thì chắc chắn có sự đánh giá trọng khinh, hơn kém.
           Gạo nếp thường để nấu xôi, làm các thứ bánh như bánh chưng, bánh tét, bánh rán, bánh dầy, bánh trôi nước, bánh ít các loại. Gạo nếp cũng được dùng để nấu rượu : rượu nếp mạnh và ngon hơn rượu tẻ, gía cả  lúc này là 35.000 đồng/lít.
           Còn gạo tẻ thì dùng nấu cơm thường ngày, làm bánh như bánh bèo, bánh cuốn, bánh giò, bánh đúc… Gạo tẻ cũng được dùng nấu rượu, kém rượu nếp nhưng ngon hơn rượu bắp, giá mỗi lít là 18.000 đồng.
           Tuy có sự phân biệt về giá trị, nhưng trên quan điểm thực tiễn của nhân dân, sự đánh giá lại không chỉ có một chiều đơn giản như vậy.  Gạo tẻ là gạo ăn thường ngày, là nhu cầu thường xuyên không thể thiếu. Gọi là tẻ đấy, là cái thường ngày đấy, nhưng ai dám nghĩ là tầm thường, nhưng rất quan trọng . Người ta thường nói :
                                       Cơm tẻ là mẹ ruột
                             Hay :
                                      No cơm tẻ vỏ vẻ mọi sự.
           Cơm tẻ bữa nào cũng ăn nhưng chưa ai chán, không biết chán; trong khi đó người ta có thể chán ngấy đối với cơm nếp.
           Cho nên, dù cứ cho rằng trong thực tế nếp là hơn tẻ đi thì trong thành ngữ này điều đó cũng không được nói tới. Ở đây chỉ nhấn mạnh đến sự cần thiết của cả hai, không nên thiếu một bên nào.
 Một căn cứ rất có ý nghĩa để hiểu như vậy là trật tự của các yếu tố trong thành ngữ.  Không ai nói “Có tẻ có nếp”, mà chỉ nói “Có nếp có tẻ”.  Trật tự đó rất tế nhị, vì nó nói lên rằng : dù là có nếp rồi, nghĩa là có được thứ quý hơn rồi – so với tẻ - thì chưa được coi là đủ, vẫn cần sự có mặt của tẻ nữa.
           Ở thành ngữ này, cái từ nếp, tẻ chỉ có tác dụng biểu thị quan hệ khác biệt và cùng hiện diện, chứ không biểu thị quan hệ so sánh.  Cũng tức là tuy có dùng nếp – tẻ thật đấy, nhưng không phải để phân biệt đối xử “nhất bên trọng nhất bên khinh”.  Muốn được như vậy, thành ngữ đã khéo sử dụng một trật tự có dụng ý (Hoàng văn Hành, Kể chuyện, Thành ngữ, Tục ngữ, tr 159).
 
III. MỘT VÀI SUY NGHĨ NẢY SINH
           Bây giờ gia đình nào cũng phổ biến có 2 con.  Có gia đình chỉ độc nhất cô hay cậu, chỉ có tẻ hay chỉ có nếp, mặc dù các bậc làm cha mẹ thường mong muốn “có tẻ có nếp”.
           Theo luân lý thông thường xưa nay, muốn thành lập một gia đình thì phải có một nam một nữ, có nếp có tẻ.  Nhưng oái oăm thay, ngày nay, người ta lại thành lập gia đình chỉ có nam hay chỉ có nữ, chỉ có nếp hay chỉ có tẻ. Nói khác đi, người ta chủ trương hôn nhân đồng tính luyến ái, nghĩa là hai cô lấy nhau, hay hai cậu lấy nhau và  đòi quyền lợi như hôn nhân thông thường theo truyền thống.
           Ngày xưa ông bà cha mẹ chúng ta có bao giờ lại kết hôn theo kiểu ấy đâu ? Thật là một quái thai !  Theo truyền thống xưa nay, người chồng dứt khoát phải là đàn ông và người vợ dứt khoát phải là đàn bà.  Tư tưởng ấy đã được mô tả trong câu ca dao hài hước trong sự bói toán :
                                        Số cô không giầu thì nghèo
                             Ba mươi Tết có thịt heo trong nhà.
                                       Số cô có mẹ có cha
                             Mẹ cô đàn bà, cha cô đàn ông.
                                      Số cô có vợ có chồng
                             Sinh con đầu lòng không gái thì trai.

 
          1. Trong xã hội ngày xưa
           Ngày xưa quan niệm về “nam nữ” cũng như “nếp tẻ” quá chênh lệch không những ở nông thôn và ngay ở thành thị, người ta vẫn còn có tư tương “nam trọng nữ khinh”, một sự kỳ thị giới tính đã có từ lâu trong xã hội nước ta cũng như bên Trung quốc, Hàn quốc và Nhật bản.
           Người con gái không có giá trị gì ở trong nhà, chỉ có con trai thôi cho nên người ta mới nói “Thập nữ viết vô” vì người con gái bị coi như là con của người ta khi “Xuất giá tòng phu” : lấy chồng thì phải đi theo chồng, không còn “Tại gia tòng phụ nữa”.
           Theo luân lý Khổng Mạnh ngày xưa thì người con gái phải có “Tứ đức, tam tòng”. Tứ đức là công, dung, ngôn hạnh, và tam tòng là tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử , nghĩa là ở nhà thì theo cha, đi lấy chồng thì theo chồng, chồng chết rồi thì theo con.
           Theo cách tổ chức trong gia đình ngày xưa, thì người chồng có quyền tuyệt đối trong mọi công việc, người vợ được coi như người giúp việc, hoàn toàn phải làm theo ý chồng.  Tư tưởng ấy được thể hiện trong câu tục ngữ :”Phu xướng phụ tùy” : nghĩa là người phụ nữ phải luôn luôn phục tùng chồng, khi chồng ra lệnh , thì người vợ phải làm theo, không có ý kiến.
 
                                      Truyện :  Quyền tuyệt đối của chồng
           Đức cha Grounard thuật lại rằng :  sau khi dựng được một túp lều tranh ở giữa một bộ lạc, ngài lên hiệu gọi người dân bản xứ đến nghe giảng giáo lý. Thính giả phần đông là đàn bà. Nhìn chung quanh, vị thừa sai rất ngạc nhiên khi thấy hầu hết các bà các cô đều mất sống mũi… Đến sau nhờ có một người lai giải thích, ngài mới biết ở đó có thói quen khi có sự bất bình trong gia đình, chồng thường hung lên, xẻo mũi, cắt môi vợ, để bà không cãi tay đôi được nữa.
           Lần khác, đang khi giải thích giáo lý, vị thừa sai nghe tiếng la lối om sòm từ đàng xa dội lại, rồi thấy một thiếu phụ chạy đến, sống mũi và môi còn đeo lủng lẳng ở mặt, máu me lênh láng. Tất cả những người hiện diện tỏ thái độ bình thản trước cảnh tượng thương tâm đó, vì họ đã quá quen với nghịch cảnh này.
           2. Trong xã hội ngày nay
           Ngày nay, những quan niệm lạc hậu ngày xưa về người phụ nữ đang bị đẩy lui. Không còn cảnh “phu xướng phụ tùy” nữa mà vai trò người nữ phải được nâng lên cao ngang với người nam, vợ chồng cùng hòa hợp với nhau để xây dựng một gia đình hạnh phúc. Vì thế, người ta nói :
                                       Đàn ông dựng nhà
                                       Đàn bà xây tổ ấm.

           Theo kinh nghiệm, xây dựng được một ngôi nhà là một chuyện dễ nhưng biến ngôi nhà thành một mái ấm là một chuyện vô cùng khó khăn, cần phải kiên nhẫn và hy sinh rất nhiều. Nếu thực sự đã xây dựng được một mái ấm thì làm sao người ta lại ly dị nhiều như vậy !  Ai cũng thích ở trong một ngôi nhà ấm cúng cả về tinh thần lẫn vật chất, chỉ khi nào ngôi nhà trở thành một nghĩa địa hoang vắng thì người ta mới muốn rời bỏ nơi đó.
           Vậy nếu người ta nói :”Đàn bà xây tổ ấm” thì điều ấy chứng tỏ rằng vai trò người đàn bà trong gia đình rất quan trọng. Người ta có thể nói không sai : hạnh phúc trong gia đình nằm trong tay người đàn bà. Như vậy mới thấy vai trò người đàn bà trong gia đình cần thiết và quan trọng như thế nào.
           Nhưng vai trò ấy rất khó, nó đòi hỏi người đàn bà phải rất tế nhị, sáng suốt, kiên trì vượt mọi khó khăn, hy sinh không ngừng.
           Chính vì vậy vợ chồng nhà giáo Nguyễn viết Hùng (Đại học Văn Lang) có một ví von :”Cuộc sống hôn nhân như con tầu đang đi ngược gió, rất dễ mắc cạn, nên phải được trang bị tốt, có đủ phụ tùng máy móc để thay thế. Cái nồng cháy ban đầu của tình yêu dù dữ dội đến đâu, cũng bão hòa sau một thời gian sống chung.
           Ở thời trăng mật, hai người dư sức xây nên một ngôi nhà tình yêu, nhưng rồi sau đó, ngôi nhà sẽ trở nên lạnh lẽo, cũ kỹ, nếu không được xây thêm những tầng cao về sự hòa hợp, cách cư xử…  Để làm được việc đó, tôi đã hòa trộn tình bạn vào tình vợ chồng thành “tri kỷ” của nhau. “Hỗn hợp tình” đó là một liều thuốc chống lại sự tẻ nhạt, nhàm chán ( Nguyễn viết Hùng, Kiến thức gia đình, số 105, tr 20).
           Ngoài ra, người vợ cũng cần hiểu tâm lý người chồng, làm cho chồng cảm thấy mình quan trọng và đang hoàn chỉnh vai trò gánh vác gia đình, đó là biết lấy lòng đàn ông.
           Trong tạp chí Elle, Jean Duché cống hiến cho người đọc một lời xác nhận của đám mày râu dành cho chủ đề này như sau :
           “Hãy nói với một người đàn ông rằng anh ta là người thông minh, anh ta sẽ tin ngay tức thì, bạn khỏi cần nghi ngờ về điểm đó. Hãy nói với anh ta rằng anh ta hết sức tử tế tốt bụng, có thể thoạt đầu anh ta sẽ ngạc nhiên nhưng sau đó anh ta sẽ tỏ ra  thật sự tử tế và tốt bụng với bạn. Hãy nhìn nhận là anh ta có tài làm vui lòng bạn và anh ta sẽ làm như vậy thật.
           Cái mà phụ nữ còn khiến để làm đẹp lòng đàn ông (một nữ độc giả viết cho tôi như vậy), đó là nhìn nhận những gì là quí giá mà đàn ông trao tặng cho mình. Chỉ cần tỏ ra đôi chút THÁN PHỤC và BIẾT ƠN thường khi cũng đủ để khiến một người đàn ông thay lòng đổi ý hoàn toàn” (Mai Lâm dịch trong báo Sélection).
           Hạnh phúc gia đình, tuy lệ thuộc vào người đàn bà rất nhiều, nhưng cũng cần có sự phối hợp của hai vợ chồng.  Sự hòa hợp vợ chồng được ví như một ly nước chanh đường làm cho cuộc đời thêm tươi mát.
           Vấn đề được đặt ra là : Hạnh phúc hệ tại luôn luôn được thỏa mãn hay là cố gắng làm thỏa mãn người ?
           Cuộc sống chỉ là tương đối. Tôi không thể làm người bạn  đời trọn vẹn hạnh phúc.  Người bạn đời cũng chẳng thể cho tôi mọi ước mơ. Vì cả hai đều yếu đuối và mắc nhiều lỗi lầm, cả hai không là thiên thần mà là người,  nên tôi không thể làm thỏa mãn người được.  Không làm thỏa mãn người được cũng có nghĩa là người cũng chẳng thể làm thỏa mãn được tôi.
           Như thế,  hạnh phúc là cùng nhau lắng nghe tiếng hót của chim họa mi.  Cùng chịu gió lạnh của mưa. Chịu khổ của bão.  Hạnh phúc trong hôn nhân là cùng nhau góp một ước mơ. Cùng nhau gánh nỗi đau của đời.
           Cái chua của chanh, cái ngọt của đường làm nên ly nước mát chứ không riêng của đường, không hẳn chỉ là chanh (Nguyễn Tầm Thường).
Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt

 

HônPhối 25: ÔNG TƠ BÀ NGUYỆT

I. SUY NIỆM LỜI CHÚA.
           1. Ơn gọi của Samuel.

Samuel là một tiên tri đầu tiên được Thiên Chúa trực tiếp kêu gọi. Ông đã đáp lại tiếng Chúa bằng HônPhối 25

Samuel là một tiên tri đầu tiên được Thiên Chúa trực tiếp kêu gọi. Ông đã đáp lại tiếng Chúa bằng cách thưa lại :”Xin Chúa phán, vì tôi tớ Chúa đang lắng nghe”.
           Câu chuyện đã xẩy ra cho Samuel được Kinh Thánh kể lại như sau :
“Thời ấy, lời Đức Chúa thì hiếm và thị kiến cũng không hay xẩy ra. Một ngày kia, ông Ê-li đang ngủ ở chỗ ông, mắt ông đã bắt đầu mờ, ông không còn thấy nữa. Đèn của Thiên Chúa chưa tắt và Samuel đang ngủ trong đền thờ Đức Chúa, nơi đặt Hòm Bia Thiên Chúa. Đức Chúa gọi Samuel. Cậu thưa :”Dạ con đây”! Rồi chạy lại với ông Ê-li và thưa :”Dạ, con đây, thầy gọi con”.  Ông bảo :”Thầy không gọi con đâu. Con về ngủ đi”. Cậu bèn đi ngủ. Đức Chúa lại gọi Samuel lần nữa. Samuel dậy, đến với ông Ê-li và thưa :”Dạ, con đây, thầy gọi con”. Ông bảo:”Thầy không gọi con đâu,  con ạ. Con về ngủ đi”. Bấy giờ Samuel chưa biết Đức Chúa, và lời Đức Chúa chưa được mạc khải cho cậu. Đức Chúa lại gọi Samuel lần thứ ba. Cậu dậy, đến với ông Ê-li và thưa :”Dạ, con đây, thầy gọi con”. Bấy giờ ông Ê-li hiểu là Đức Chúa gọi cậu bé. Ông Ê-li nói với Samuel :”Con về ngủ đi, và hễ có ai gọi con thì con thưa :”Lạy Đức Chúa, xin Ngài phán, vì tôi tớ Ngài đang lắng nghe”. Samuel về ngủ ở chỗ của mình” (1Sm 3,1-9).
           Sau đó Thiên Chúa đã mạc khải cho Samuel nhiều điều và ông đã trung thành truyền lại cho dân :”Và lời cùa Samuel đến với toàn thể Israel” (1Sm 4,1).
 
          2. Ơn gọi của chúng ta.
           Mỗi người chúng ta đều có ơn gọi. Trước tiên Chúa gọi chúng ta vào đời để chúng ta được hiện diện trên mặt đất này. Chúng ta chỉ là hư vô nhưng Chúa đã dựng nên chúng ta theo hình ảnh Ngài, chúng ta được gọi là “linh ư vạn vật.
           Tiếp đến, Chúa gọi chúng ta vào Hội thánh của Ngài. Nhờ phép rửa tội chúng ta được rửa sạch mọi tội, được gọi là con và thực sự là con Thiên Chúa. Với tư cách là người con của Chúa, chúng ta được cứu rỗi và được thừa hưởng Nước Trời.
           Ngoài ra, Chúa còn gọi chúng ta vào cuộc sống hiện tại và cụ thể. Ngài đã có đầy đủ kế hoạch về con người chúng ta, chỉ mong chúng ta thực hiện đúng chương trình của Ngài. Chúa đã gọi chúng ta vào cảnh sống nào, dĩ nhiên, Ngài ban đầy đủ ơn để ta có thể thực hiện được một cách hiệu quả và tốt đẹp.
           Trong cuộc sống hiện tại, Chúa gọi chúng ta vào cuộc sống độc thân hay lập gia đình ? Đàng nào tốt hơn ? Thực ra đàng nào cũng tốt miễn là hợp với hoàn cảnh và lý tưởng của mình.
           Về vấn đề độc thân, Chúa Giêsu có ý kiến :”Có những người là hoạn nhân từ trong lòng mẹ sinh ra đã là như thế; có những người là hoạn nhân vì bị người ta hoạn; và có những người là hoạn nhân do họ tự ý sống như thế vì Nước Trời. Ai hiểu được thì hiểu” (Mt 19,12).
           Nhưng tuyệt đại đa số muốn lập gia  đình, và lập gia đình cũng là một ơn gọi vì Chúa muốn thế :”Lúc khởi đầu công trình sáng tạo, Thiên Chúa đã dựng nên con người có nam có nữ. Bởi thế, người nam sẽ lìa cha mẹ để gắn bó với vợ mình, và cả hai sẽ thành một thân xác; như thế, họ không còn là hai, nhưng là một thân xác” (Mc 10,6-8).
           Trong thông điệp Humanae vitae, Đức Giáo hoàng Phaolô VI cũng đề cập đến ơn gọi hôn nhân. Ngài nói :”Hôn nhân không phải là kết quả của ngẫu nhiên hay của các năng lực tự nhiên, vô ý thức tạo thành. Trái lại, đó là một tổ chức khôn ngoan của Tạo Hóa để thực hiện ý định tình yêu của Ngài trong nhân loại. Đôi vợ chồng tận hiến cho nhau, kết hơp với nhau, để hoàn thiện lẫn nhau và để cộng tác với Thiên Chúa mà gây dựng  và dưỡng dục những sinh mạng mới” (Hv số 9).
           Hôm nay Chúa gọi anh chị vào đời sống hôn nhân. Anh chị hãy sống theo ơn gọi ấy. Tuy nhiên, anh chị được hoàn toàn tự do quyết định việc quan trọng này. Chúa không áp đặt ai cả, Ngài chỉ gợi ý  để con người tự do và tự nguyện quyết định, giống như trường hợp Đức Maria, khi sứ thần Thiên Chúa đến truyền tin cho Ngài.
 
II. CÂU CHUYỆN “ÔNG TƠ BÀ NGUYỆT”.
 
Theo quan niệm cũ, dân gian Việt nam cho rằng hôn nhân chỉ là duyên số hay duyên phận. Duyên số đã được ông Nguyệt Lão ấn định, không ai có thể cưỡng lại được , bắt buộc phải lấy nhau.
           Nhưng ông Nguyệt Lão là ai ? Từ điển Thanh Nghị giải thích : Nguyệt Lão là một vị tiên, chủ về hôn nhân.
           Nguyệt Lão được hình dung như một ông già quắc thước ngồi trên cung trăng định đoạt chuyện nhân duyên của người trần thế. Ông lấy một sợi tơ đỏ buộc chân một người nam và một người nữ vào nhau. Thế là nhất định họ sẽ phải thành vợ chồng; vì vậy, chuyện vợ chồng, theo quan niệm cũ, là do nơi sắp đặt của Nguyệt Lão.
           Nguyệt Lão còn được gọi là ông Tơ (vì ông ta dùng tơ đỏ, tơ hồng !). Nhưng trong cách hiểu dân gian thì “lão” có thể là lão ông mà cũng có thể là lão bà. Cho nên, người trần thế lại cũng tưởng tượng mà gán cho cõi tiên những quan hệ trần tục như mình : đã có “Ông Tơ” thì thế tất phải có “Bà Nguyệt”.
           Sự thực thì Ông Tơ và bà Nguyệt chỉ là hai tên gọi khác nhau của một vị tiên là  Nguyệt Lão mà thôi !  Về sau, Ông Tơ Bà Nguyệt được dùng với nghĩa rộng, chỉ chung những người mối lái trong chuyện dựng vợ gả chồng. Và, dĩ nhiên, những ông mai hay bà mối được gọi là ông Tơ bà Nguyệt này là người trần mắt thịt chứ chẳng phải là tiên (Hoàng văn Hành, Kể chuyện, thành ngữ, tục ngữ, 2002, tr 386).
 
III. HÃY SỐNG TRỌN ƠN GỌI CỦA MÌNH.
           Với con mắt đức tin, chúng ta không tin là hôn nhân đã được ấn định do một năng lực vô… hình nào và không ai có thể cưỡng lại được.  Chúng ta có quyền tự do quyết định và hôm nay anh chị đã tự do và tự nguyện kết hôn thì hãy cố gắng sống theo ơn gọi của mình.
           Như chúng ta đã biết, mỗi người xuất hiện trên trần gian đều có ơn gọi. Ơn gọi có thể khác nhau, nhưng tất cả chúng ta đều có một ơn gọi chung là “nên thánh”, vì Chúa đã phán với dân Israel, dân thánh của Chúa :”Các ngươi hãy nên thánh vì Ta là Đấng thánh”.
           Nên thánh là một, nhưng phương pháp nên thánh thì khác nhau, tùy theo từng bậc, từng hoàn cảnh cụ thể. Có người sống trong bậc tu trì, đó là ơn gọi Dâng hiến, và đa số, sống trong bậc vợ chồng, đó là ơn gọi hôn nhân.
           Chúng ta có một gương nên thánh trong bậc vợ chồng trong bậc hôn nhân mà ai cũng có thể bắt chước được. Đó là ông Martin và bà Guérin.  Ông bà là song thân của thánh nữ Têrêsa Hài Đồng Giêsu, đã sống trọn ơn gọi hôn nhân một cách tích cực và sung mãn. Chính hai ông bà đã dâng hiến cho Giáo hội một vị thánh thời danh. Qua cuộc sống gương mẫu của hai ông bà, mới đây, Hội thánh phong chân phước cho ông bà để nêu gương cho các gia đình Công giáo.
           Thánh Phaolô đã nhắc nhở tín hữu Thessalonica :”Ý muốn của Thiên Chúa là anh em nên thánh” (1Tx 4,3). Nhờ bí tích Hôn phối, đôi vợ chồng Kitô hữu nhận được những ơn riêng để sống ơn gọi hôn nhân và gia đình.  Những ơn đó giúp họ cùng nhau xây dựng một gia đình hạnh phúc, đồng thời cũng giúp họ nên thánh trong đời sống hôn nhân và gia đình.
           Một lần nữa, anh chị hãy ý thức về ơn gọi hôn nhân của mình để cố gắng nên thánh trong ơn gọi đó.  Trong tông huấn Familiaris consortio, Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô 2 đã quả quyết :”Hôn nhân là một ơn gọi và là một sứ mạng đích thực” (FC, số 66).
           Hôn nhân là một Ơn gọi, vì trong đó hai người tình nguyện gắn bó để giúp nhau nên thánh. Thánh hóa bản thân và thánh hóa lẫn nhau. Cố gắng làm cho gia đình mình thành một gia đình thánh.
           Hôn nhân là một Ơn gọi, vì trong đó hai người yêu nhau thắm thiết, để minh họa cho tình yêu cao đẹp và mầu nhiệm giữa Chúa Kitô và Hội thánh.
           Hôn nhân là một Ơn gọi, vì trong đó hai người yêu nhau được Thiên Chúa trao nhiệm vụ kiến tạo một thế giới nồng nàn tình yêu và chứa chan hạnh phúc.
           Hôn nhân là một Ơn gọi, vì trong đó hai người yêu nhau được Thiên Chúa trao một trách nhiệm, là giáo dục con cái trở nên những người con thánh thiện của Thiên Chúa.
           Để chu toàn  Ơn gọi này, Chúa Kitô đã hứa ban những ơn cần thiết cho vợ chồng  qua tình yêu mà họ trao cho nhau, qua kinh nguyện và các bí tích, nhất là bí tích Hòa giải để họ vượt qua những lỗi lầm trong tương quan vợ chồng và trong trách nhiệm làm cha mẹ. Đặc biệt là bí tích Thánh Thể, giúp họ luôn kết hiệp với Chúa và hiệp thông với nhau.
 Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt

 

HônPhối 26: ÔNG CHẲNG BÀ CHUỘC

I. LẮNG NGHE LỜI CHÚA

Trong bài thánh ca  gửi cho tin hữu  Philipphê (Pl 2,6-11), thánh Phaolô đã ca tụng tinh thần phục HônPhối 26

Trong bài thánh ca  gửi cho tin hữu  Philipphê (Pl 2,6-11), thánh Phaolô đã ca tụng tinh thần phục vụ của Đức Giêsu trong việc quên mình đồng hàng với Thiên Chúa, đã hạ mình xuống làm thân nô lệ để cứu chuộc nhân loại bằng cái chết đau thương của mình trên thập giá.
           Thấu hiểu được tinh thần tự hiến cao cả ấy, trong thư gửi cho tín hữu Êphêsô,   thánh Tông Đồ đã khuyên nhủ mọi người hãy theo gương Đức Giêsu mà quên mình đi, hạ mình xuống mà phục vụ mọi người, cố gắng làm hài lòng người khác chứ không phải làm hài lòng mình.
           Chúng ta hãy lắng nghe lời Ngài :
           Anh em thân mến,
          Bổn phận của chúng ta không phải là làm hài lòng mình. Mỗi người chúng ta hãy làm hài lòng người thân cận trong sự tốt lành để xây dựng. Vì Đức Kitô đã không tìm làm hài lòng chính mình. Xin Thiên Chúa là nguồn kiên nhẫn và an ủi, ban cho anh em được đồng tâm nhất trí với nhau theo gương Đức Kitô Giêsu, để anh em một lòng đồng thanh mà tôn vinh Thiên Chúa là Cha của Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta. Vì thế, anh em hãy đón tiếp nhau như Đức Kitô đã đón tiếp anh em, để làm vinh danh Thiên Chúa.
                   Xin Thiên Chúa là nguồn hy vọng ban cho anh em chan chứa niềm vui và bình an trong lòng tin, để anh em tràn đầy hy vọng nhờ quyền năng của Chúa Thánh Thần.
(Ep 4,1-6).
 
II. CÂU CHUYỆN “CHẲNG VÀ CHUỘC”.
           1. Thành ngữ “Ông chẳng bà chuộc”.
           Người nông dân Việt nam có nhiều kinh nghiệm về đời sống gia đình. Không phải lúc nào cũng thuận buồm xuôi gió, nhưng cũng có lúc gặp gió chướng, cũng có lúc gặp phong ba bão táp.  Chuyện vợ chồng bất hòa với nhau, tranh cãi nhau là chuyện thường xẩy ra, ít gia đình nào tránh được.
           Người ta đã nói lên cái thực trạng đó trong câu tục ngữ “Ông chẳng bà chuộc”.
           Câu chuyện như thế này : anh nông dân nọ đánh mất một viên ngọc thần. Vợ chồng nhà chẫu chàng tình cờ nhặt được. Người nông dân muốn chuộc lại nhưng hai vợ chồng không nhất trí với nhau trong việc xin chuộc này : vợ thì cho chuộc, chồng thì không cho.  Thành ra suốt ngày vợ chồng họ cứ “to tiếng” với nhau.  Vợ thì một mực “chuộc thì chuộc” (đồng ý cho chuộc), còn chồng thì dứt khoát “chẳng chuộc” (không cho chuộc).
           Tiếng kêu ra rả trái ngược nhau của loại chẫu chàng là tiền đề sáng tạo nên câu chuyện về sự bất hòa của vợ chồng chẫu chàng.  Kèm theo câu chuyện dân gian này là sự ra đời của thành ngữ “ông chẳng bà  chuộc”.
          Thành ngữ “Ông chẳng bà chuộc” biểu thị sự chủng chẳng không ăn khớp, không hợp nhau về ý nghĩ cũng như việc làm giữa người này và người khác.
 
          2. Thành ngữ “Ông nói gà, bà nói vịt”.
           Gần nghĩa với thành nhữ “Ông chẳng bà chuộc”, trong tiếng Việt còn có thành ngữ “ông nói gà bà nói vịt”.  Tuy nhiên thành ngữ này được sử dụng với phạm vi hẹp hơn. Thành ngữ “ông nói gà bà nói vịt” biểu thị sự không ăn khớp nhau, không hiểu nhau, mỗi người nói một nẻo. Sự không khớp nhau ở đây chỉ dừng lại phạm vi nhận thức mà nguyên nhân của nó là do không hiểu nhau một cách vô ý thức.
           Ngược lại, ở thành ngữ “ông chẳng bà chuộc”, sự không ăn khớp nhau được thể hiện ở cả lời nói và ở cả việc làm. Sự không ăn khớp này là tất yếu  và hoàn toàn có ý thức (Hoàng Văn Hành, Kể chuyện, thành ngữ, tục ngữ, 2002, tr 385).
 
III. SỰ HIỆP NHẤT TRONG GIA ĐÌNH.
           1. Sự cần thiết.
           Trong đời sống gia đình, vợ chồng không thể tách lìa nhau được không những trong thân xác và cả tinh thần nữa. Khi nói về vấn đề rẫy vợ, Chúa Giêsu đã trả lời cho những người Pharisêu :”Các ông chẳng đọc thấy lời này sao : thuở ban đầu, Tạo Hóa đã dựng nên con người có nam có nữ và Ngài phán :”Bởi thế, người nam sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai sẽ thành một thân xác” ? Như thế, họ không còn là hai, nhưng là một thân xác. Vậy sự gì Thiên Chúa đã kết hợp, loài người không được phân ly” (Mt 19,4-6).
           Theo kinh nghiệm, không phải tự nhiên mà có sự phân ly thể xác nhưng nó đã bắt nguồn từ sự phân lý trong tinh thần. Nếu vợ chồng đã yêu thương nhau, khăng khít với nhau, thì không bao giờ có sự phân ly. Sự phân ly thể xác là hậu quả của sự thiếu hiệp nhất trong tinh thần.
           Sự hiệp nhất giữa vợ chồng là điều kiện tiên quyết cho hạnh phúc gia đình, thiếu sự hiệp nhất, gia đình sẽ tan rã.
           Để có một gia đình yên vui hạnhh phúc, người ta khuyên vợ chồng hãy giữ lấy “nghĩa tào khang” :
                                       Vợ chồng là nghĩa tào khang
                              Chồng hòa vợ thuận nhà thường yên vui.

           Tào khang là một từ ngữ rút ra từ câu trả lời của Tống Hoàn Công cho vua Quang Võ.  Số là vua Quang Võ có người em gái góa chồng, tên là Hồ Dương công chúa. Bà này đem lòng yêu thương quan Tống Hoàn Công và nhờ anh là Quang Võ dạm hỏi, mai mối.  Vua Quang Võ bèn kiếm dịp gạ hỏi xem  ý Tống Hoàn Công thế nào.
           Ngày kia, vua hỏi Tống Hoàn Công rằng :”Trẫm nghe thiên hạ nói giầu đổi bạn, sang đổi vợ. Vậy ý khanh thế nào” ? Tống Hoàn Công là người có nghĩa, có đức độ và đã có vợ, lấy nhau từ thuở hàn vi, bèn trả lời rằng :”Tào khang chi thê bất khả hạ đường, bần tiện chi giao mạc khả vong”, nghĩa là vợ chồng lấy nhau từ lúc khổ cực chẳng nên bỏ, bạn bè kết giao từ thuở hèn chẳng nên mất.
           Tào khang dịch là khổ cực là dịch theo nghĩa bóng. Nghĩa đen “tào” là cái máng, cái chậu cho súc vật ăn; “khang” là cơm gạo.  Có người đọc chữ “tào” là “tao”. Chữ nho là một chữ. Nhưng dịch sang chữ Việt, “tao” có nghĩa là cái hèm rượu. Xét ra ít hợp nghĩa hơn chữ “tào”. “Nghĩa tào khang”, như vậy, là một định chế phải đạo, lấy sự hy sinh, trung tín, chung thủy làm đầu.
 
          2. Những khó khăn.
           * Về phương diện tâm lý.  Người ta thường nói :”bá nhân bá tính”, không ai giống ai. Mỗi người có một tư tưởng, một ý muốn, một hoài bão, một đường hướng, một lập trường riêng… cho cuộc sống của mình, nhiều khi đi ngược với người khác.  5 định luật tâm lý về hôn nhân  đã chứng minh điều đó.
           * Về phương diện xã hội.  Sự khác biệt về văn hóa, về giáo dục, về dân tộc, về tôn giáo… cũng có thể làm cho người ta không ăn nhập vào với nhau, do đó sinh ra những mâu thuẫn.
           * Về ba chướng ngại vật.  Theo giáo lý nhà Phật, có ba nết xấu làm hư hỏng con người mà không ai tránh được. Đó là : tham, sân, si.
                  Tham vì ích kỷ
                   Sân vì tự ái
                   Si vì ngu dốt.
           Trong ba nết xấu ấy thì “Sân” là khó trị hơn cả, đến nỗi thánh Philipphê Nêri phải nói :”Tự ái là một nết xấu chỉ chấm dứt 15 phút sau khi người ta đã chết”.  Theo tâm lý chung, ai cũng muốn đưa mình lên, muốn được mọi người ca tụng, cho nên không nhìn ra những khuyết điểm của mình. Do đó, mới có câu thành ngữ :”Bàng quan giả tỉnh, đương cục giả mê” : việc người thì sáng, việc mình thì quáng.
 
          3. Một giải pháp.
           Trong đời sống chung, không ai có thể tránh được những mâu thuẫn, những va chạm, những mối bất hòa… Tất cả những cái đó chỉ có thể bị triệt tiêu bằng tình yêu chân thật, bởi vì tình yêu che lấp tất cả.  Tình yêu hóa giải được mọi sự, không còn cạnh tranh, không còn xung khắc nữa, bởi vì
                                       Yêu nhau trăm sự chẳng nề
                                 Dù trăm chỗ lệch cũng kê cho bằng.

 
                                      Truyện : Muốn cãi nhau
           Lin-đao và Rếch-bec là hai nhà hiền triết. Họ sống chung với nhau dưới một mái nhà từ nhiều năm, mà không bao giờ lớn tiếng cãi nhau. Ngày kia, Lin-đao nảy ra ý nghĩ ngộ nghĩnh. Ông bảo bạn :
          - Tôi nghĩ rằng ít ra chúng ta cũng nên cãi nhau một lần, như người ta thường quen cãi nhau vậy.
          Rếch-bec ngạc nhiên về ý kiến kỳ lạ này. Nhưng vì chiều bạn, ông ta ôn tồn hỏi:
          - Cãi nhau thế nào được ? Ít ra chúng ta cũng phải làm một cái gì chính đáng để cãi nhau chứ ?
          Lin-đao đề nghị :
          - Dễ lắm ! Tôi sẽ để một hòn đá ở giữa sân rồi quả quyết hòn đá ấy là của tôi. Anh phải phùng mang trợn mắt, đỏ mặt tía tai và lớn tiếng cãi lại :”Làm gì có chuyện ấy, viên đá của tôi mà”.  Rồi sau đó chúng ta cãi nhau.
          Nói xong ông Lin-đao liền ra vệ đường tìm một viên đá lớn, khệ nệ bê ra đặt ở giữa sân.  Ông Rếch-bec bèn lên tiếng nói ngay :
          - Viên đá đó là của tôi mà, mắc mớ gì anh lại đưa ra giữa sân ?
          Lin-đao cãi lại :
          - Viên đá này là của tôi. Tôi vừa tìm được ở ven đường. Bộ ông mù rồi sao mà không thấy ?
          Nghe nói thế, ông kia đáp :
          - À phải rồi, viên đá đó ông tìm được thì đúng là của ông rồi. Vả lại, tôi cũng không cần đá làm gì.
          Nói xong, ông ta bỏ đi làm việc khác.
Thế là ý định cãi nhau của hai người không thực hiện được..
           Ngoài ra chúng ta còn một giải pháp hữu hiệu nữa để tránh sự xung khắc, sự bất hòa, đó là nhịn nhục, từ bỏ ý riêng để làm vừa lòng người khác như lời thánh Phaolô đã dạy, vì người ta thường nói :”Một sự nhịn chín sự lành”.
           Không ai khinh chê người hiền lành nhịn nhục, trái lại còn thán phục và cho nhịn nhục là thái độ của kẻ anh hùng vì họ đã thắng được tình tư dục, thắng được tính tự ái của họ. Do đó, thiên hạ mới đề cao sự nhịn nhục :
                                       Chữ nhẫn là chữ tương vàng
                                 Ai mà nhẫn được thì càng sống lâu.

           Muốn gia đình được hiệp nhất yêu thương, chúng ta hãy cố thực hiện lời thánh Phaolô khuyên nhủ tín hữu Côlôssê :”Anh em hãy mang lấy những tâm tình từ bi, nhẫn nại, nhân hậu, khiêm nhường, ôn hòa, chịu đựng lẫn nhau và tha thứ cho nhau, nếu người này có chuyện phải trách cứ người kia” (Cl 3,12-13).
 Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt

 

HônPhối 27: CẢM THÔNG

I. VÀO ĐỀ
                    Hãy vui cùng kẻ vui, khóc cùng kẻ khóc” (Rm 12,14)
           1. Đối thoại với cây.

Một người đứng trước cái cây và hỏi lá cây rằng :”Này lá cây, một mình bạn có đủ không” ? Lá cây HônPhối 27

Một người đứng trước cái cây và hỏi lá cây rằng :”Này lá cây, một mình bạn có đủ không” ? Lá cây trả lời :”Thưa không, bởi vì sự sống của tôi là ở nơi cành cây”.
           Người ấy lại hỏi cành cây :”Này cành cây, một mình bạn có đủ không”?  Cành cây trả lời :”Thưa không, bởi vì sự sống của tôi là ở rễ cây”.
           Người ấy lại hỏi rễ cây :”Này rễ cây, một mình bạn có đủ không” ? Rễ cây trả lời :”Thưa không, bởi vì cho dù tôi ban nhựa sống cho lá và cành, nhưng nếu người ta hái trụi lá và chặt hết các cành thì tôi cũng sẽ chết”.
           Một thoáng suy tư :  Thiên Chúa chúng ta tôn thờ là Thiên Chúa Ba Ngôi, nghĩa là Thiên Chúa có nhiều tương quan. Cũng thế, chúng ta được dựng nên không phải để sống cô đơn, thiếu tương quan, nhưng là để sống với nhau, cho nhau và vì nhau. Khép kín nơi chính mình, một cách nào đó, là chúng ta đang sống ngược với niềm tin của mình. Nói khác đi, chúng ta phải biết cảm thông với nhau.
 
          2. Thánh Phaolô nhắn nhủ.
           Thánh Phaolô đưa ra một học thuyết mới mẻ về thân thể Đức Kitô : Giáo hội là thân thể, Chúa Kitô là đầu và chúng ta là các chi thể của thân thể ấy, tức là chi thể của nhau. Các chi thể liên lạc mật thiết với thân, với đầu và với nhau, nên anh em có một dây liên lạc với nhau một cách đặc biệt. Vì thế, trong thư gửi cho tín hữu Rôma, Thánh Tông đồ đã khuyên nhủ  mọi người phải biết thông cảm với nhau :”Hãy vui cùng kẻ vui, khóc cùng kẻ khóc” (Rm 12,14).
 
          3. Quan niệm của người đời.
           Mọi người đều nhận thấy rằng mình không thể sống đơn độc được cả về phương diện vật chất lẫn tinh thần. Không ai có thể sống tự lập , tự túc, tự cường được mà phải nhờ vả nhau. Xã hội cần thiết cho con người để trao đổi cho nhau  những nhu cầu vật chất, những tình cảm vui buồn… Nhờ đó, đời sống con người mới quân bình được. Quan niệm này được diễn tả qua những câu ca dao tục ngữ :
          * Một con ngựa đau cả tầu chê cỏ.
          * Lá lành đùm lá rách.
          * Chị ngã em nâng.
          * Máu chảy ruột mềm.
          * Không ai khen đám cưới, ai nỡ cười đám ma..
 
          4. Cảm thông trong đời  sống vợ chồng.
           Sống ở đời, con người cần có sự cảm thông để nâng đỡ nhau về mọi phương diện. Sự cảm thông cần cho con người cả về thể chất lẫn tinh thần, vì con người là một tinh thần nhập thể, có xác, có hồn cần được thỏa mãn nhu cầu vật chất cũng như tình thần.
          Trong đời sống vợ chồng, sự cảm thông lại càng cần thiết. Gia đình là một môi trường rất thuận lợi cho việc nâng đỡ nhau cả vật chất lẫn tinh thần. Trong việc nâng đỡ nhau về tinh thần thì sự cảm thông là một điều kiện tiên quyết.  Nhờ biết cảm thông với nhau mà vợ chồng mới hăng hái và phấn khởi cùng nhau xây dựng tổ ấm  như người ta nói :”Đàn ông dựng nhà, đan bà xây tổ ấm”(tục ngữ).
 
II. NÓI VỀ SỰ CẢM THÔNG.
           1. Cảm  thông là gì ?
           Cảm thông hay thông cảm cũng là một. Theo tự điển của Viện Ngữ học thì cảm thông là  hiểu khó khăn  riêng và chia sẻ tâm tư, tình cảm.. Ví dụ : Thông cảm với hoàn cảnh khó khăn của nhau. Người cùng cảnh ngộ nên dễ thông cảm. Vì ốm nên tôi đã thất hứa, mong anh thông cảm.
 
2. Mức độ của cảm thông.
           - Đối với vật vô tri vô giác như gỗ đá thì không có sự cảm thông.
          - Đối với thực vật, theo nghiên cứu của các nhà thực vật học, cây cối cũng có sự cảm thông, nhưng hết sức kín đáo và nhẹ nhàng, ít ai biết tới, vi dụ : cây cối ở gần người thì phát triển mạnh hơn, tươi tốt hơn, hoặc cây cối cũng có thiện cảm hay ác cảm với nhau khi sống gần nhau.
          - Đối với loài súc vật thì sự thông cảm được biểu lộ rõ rệt. Con chó, con mèo cũng tỏ ra thông cảm bằng việc ve vẩy đuôi, hay chà chà râu  tỏ ý thương yêu. Nhờ biết vẫy đuôi và chà râu, mà chó mèo được cưng nựng, được ở chung với người trong nhà không như ngan ngỗng gà vịt…
          - Đối với con người thì sự cảm thông được biểu lộ ra bằng lời nói và việc làm, và được biểu lộ bằng nhiều cách, rất đa dạng, tùy từng người, vì con người có lý trí, tình cảm và tự do. Vì cảm thông là một nghệ thuật nên cảm thông không bị đóng khung trong những định luật khô cằn. 
           Tuy có công thức, nhưng công thức của cảm thông thì tương đối, có nhiều ngoại lệ vì mỗi người là một sáng tạo độc đáo, không ai giống ai. Ví dụ : cùng một cái bắt tay, một lời nói, hay một cái nháy mắt, mà với người này có nghĩa là thân thiết; với người kia, lại là cử chỉ khiêu khích hận thù.
 
          3. Cảm thông đòi hy sinh.
           Cảm thông đòi triệt tiêu tính ích kỷ và dửng dưng, để quan tâm tới người khác, làm cho người khác được tự tin, được thỏa mãn và vui sướng.
           Gia đình hạnh phúc không phải vì làm cho nhau được những việc lớn lao, mà vì cha mẹ và con cái lắng nghe, cũng như thực tâm chú ý tới nhau với những cử chỉ săn sóc nhỏ bé nhưng tế nhị.  Lại thay đổi phù hợp với từng lúc, từng nơi. Tình yêu đưa tới những sáng kiến không ngừng.
           Cảm thông mà cứng nhắc, sai nơi chốn, lại vô hồn, khách sáo thì giết chết cảm thông.  Nó đòi thực tình và cố gắng.  Phải quan tâm tới người mình thương. Như phải chịu gai nhọn đâm vào chân tay, miệng lưỡi.  Đâm vào chân, vì lúc tôi mệt lại phải đứng lên đi chở con vừa mới tan học. Đâm vào miệng, vì khi giận dữ, lại phải làm chủ bản thân, để nói lời “Cảm ơn”, vừa chân thành vừa dịu dàng…
 
          4. Cảm thông đòi phải vô vị lợi.
           Chúng ta cảm thông với người khác  không phải để tìm ích lợi cho mình, nhưng phải cho người khác. Đôi khi sự cảm thông đã ngầm chứa một sự ích kỷ, đó là cảm thông một cách giả dối hay một sự cảm thông trái mùa làm cho người được thông cảm khó chịu hoặc làm cho người ta thêm tủi nhục, đau đớn.
 
                                      Truyện : Tôi cũng vậy.
          Hai người đàn bà ngồi trong xe hỏa nói chuyện.  Bà mặc áo đen kể lể với người bạn về những sự khổ cực trong gia đình mình : nào là làm ăn thua thiệt, con cái thì bướng bỉnh… nhất là mình mới mất người chồng thân yêu, làm cho đời trở nên buồn tẻ, cô đơn.
           Bà mặc áo vàng ngồi bên tỏ vẻ thông cảm với người đàn bà đau khổ kia đã nói : Tôi cũng rất buồn vì tôi mới mất một con chó Vện, con chó này khôn lắm, nó biết canh nhà cẩn thận, tôi đi đâu xa , nó cũng tìm đến được. Thật là một con chó đánh hơi tài tình. Nay nó chết, tôi buồn quá… Như vậy hai chị em mình cùng chia sẻ nỗi buồn với nhau.
 
III. CẢM THÔNG TRONG ĐỜI SỐNG VỢ CHỒNG
           Khi hai anh chị mới quen nhau, mỗi lần gặp gỡ, ai cũng thích nói và thích nghe nhau. Trong tất cả mọi câu chuyện, anh chị đều muốn chia sẻ cho nhau một cách thật tình, lời ăn tiếng nói luôn dịu dàng, lịch sự và tế nhị.
           Nhưng khi đã về chung sống với nhau thì tình hình lại đổi thay.  Lúc này người ta tiết kiệm lời nói. Người ta cũng ít quan tâm đến nhau hơn. Nói khác đi, người ta ít thông cảm với nhau. Người ta thích đi vào đời sống riêng tư của mình và có khuynh hướng khép kín lòng mình lại.
           Báo Phụ Nữ có bài viết như sau : Chị Hoàng, nhân viên bưu điện quận 4, TP HCM, phàn nàn :”Cách đây 7 năm, lần nào đi chơi với tôi, ông xã cũng giành… nói. Chia tay, vừa về đến nhà là ông gọi điện thoại. Vậy mà sau 5 năm chung sống, ông chỉ mở máy ở cơ quan, bàn nhậu. Còn về nhà gặp mặt tôi thì ông chỉ ừ cho qua chuyện”.
           Khi chuyên viên tư vấn hỏi về những dấu hiệu cho thấy chồng lơ là trách nhiệm thì chị Hoàng lắc đâu :”Anh vẫn đưa lương đầy đủ, chăm sóc con cái, chẳng có tai tiếng mèo mỡ gì. Đâu phải tại tôi không quan tâm. Chồng vừa về đến nhà là tôi hỏi liền, vậy mà ông xã cứ la lên : Nhức đầu quá, bà để tôi yên”.
           Theo tiến sĩ Nguyễn hữu Nguyên, chuyên viên  tư vấn của Trung tâm tình yêu, hôn nhân và gia đình, chuyện vợ muốn nghe mà chồng không nói xẩy ra khá phổ biến. Hiện tượng này không xuất hiện ngay sau ngày cưới, mà dần dần phát triển khoảng 5-6 năm sau khi chung sống…
           Theo các nhà Tâm lý, người đàn ông có khuynh hướng tiết kiệm lời nói, có lẽ vì đàn ông hay che giấu trong lòng những bận tâm, lo lắng chứ không như phụ nữ dễ dàng bộc lộ. Họ có khuynh hướng phòng thủ những vấn đề đang ôm ấp.
           Nhưng dầu sao, trong đời sống gia đình vợ chồng phải nỗ lực xây dựng mối tương quan mật thiết  bằng cách thông cảm với nhau qua lời nói cũng như qua những cử chỉ, qua những sự săn sóc nhỏ nhặt.  Gia đình được hạnh phúc không phải vì làm được những việc lớn lao mà vì biết lắng nghe nhau, quan tâm đến nhau. Cần phải có những cử chỉ săn sóc bé nhỏ nhưng tế nhị, lại phải phù lợp với từng lúc, từng nơi.  Tình yêu sẽ đưa đến sáng kiến không ngừng.
           Theo các chuyên viên hôn nhân, để có một gia đình bền vững, ngay từ những ngày đầu anh chị phải :
          - Tìm tiếng nói chung cho cả hai người, đừng giữ ý kiến riêng của mình.
          - Hãy biết cách nói chuyện với nhau và biết lắng nghe nỗi lòng của nhau.
          - Đừng bao giờ muốn chiến thắng người bạn đời. Trong hai người, dù ai thắng, kết quả vẫn chỉ làm tình cảm vợ chồng ngày một rạn nứt.
 
                                      Truyện : Biết thông cảm với nhau
          Chị Xuân và anh Hạ rất yêu thương nhau. Họ biết sống hòa hợp và quan tâm đến nhau, dùng những lời nói dịu dàng tế nhị và những cử chỉ dễ thương đối với nhau.
          Khi đi làm về, anh Hạ nghỉ ngơi thư giãn, vừa đọc báo, vừa để ý đến việc làm của vợ, tỏ vẻ ngưỡng mộ và biết ơn. Chị Xuân thong thả đem cà phê tới cạnh chồng. Miệng mấp máy như muốn nói chuyện gì. Anh Hạ tươi cười đỡ lấy. Anh buông tờ báo xuống, mắt nhìn âu yếm, một tay xoa vai chị Xuân. Nếm cà phê, anh thở “phà” hạnh phúc :
          - Cà phê ấm, ngon tuyệt ! Mà em còn ấm, còn tuyệt hơn.
          Chị Xuân hồn nhiên :
          - Em thương anh lắm, vì luôn tế nhị với vợ con !
          - Làm hài lòng người ngoài thì được, tại sao không học cách làm hài lòng  những người tận tụy cả đời cho mình ?     
          Chị bùi ngùi nghĩ đến Thu, con lớn của anh chị sắp đi học về.
          - Vui chuyện, chút  nũa  em quên nồi canh. Con chúng mình không thích ăn canh mặn…
          - Mặn thì con không ưa, nhưng mặn mà  thì con cần lắm.
          Chị nguýt anh, miệng tủm tỉm :
          - “Măn mà” nên chúng mình sắp thêm “tác phẩm” thứ tư đây nè…
          Anh Hạ đứng thẳng dậy, kéo chị lại gần :
          - Cảm ơn em ! Em đang cho anh những giây phút thoải mái sau một ngày mệt nhọc.
           Chúng ta là con cái Chúa, là anh chị em với nhau. Chúa đã tỏ ra thông cảm rất nhiều với con người chúng ta. Chúng ta được ví như con ngươi trong mắt Chúa, được Người giữ gìn cẩn thận. Chúa đã dạy chúng ta bài học về sự chia sẻ, sự thông cảm với nhau.  Chúa đã thực hành trước khi dạy chúng ta : Người biết chia vui trong tiệc cướiCana, biết chia buồn với cái chết của Lazarô, của con trai bà góa phụ thành Naim…
           Trong cuộc sống gia đình, chúc anh chị luôn biết lắng nghe nhau, biết cảm thông với nhau, biết nói với nhau những lời dịu dàng yêu thương, quan tâm chăm sóc nhau trong những việc nhỏ nhặt, để gia đình anh chị mãi mãi là tổ ấm, trong đó mọi người đều biết mang lại hạnh phúc cho nhau.
 Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt

 

HônPhối 28: MUỐI MẶN

I. LẮNG NGHE LỜI CHÚA

Chúa Giêsu  muốn cho các môn đệ phải làm chứng cho Ngài  bằng cuộc sống cụ thể hằng ngày, HônPhối 28

Chúa Giêsu  muốn cho các môn đệ phải làm chứng cho Ngài  bằng cuộc sống cụ thể hằng ngày, mà vai trò chứng ta là phải làm sao giữ cho xã hội khỏi suy thoái, đồng thời giúp cho xã hội được thăng tiến.
           Để giải thích cho vai trò đó, Ngài đã dùng hai hình ảnh rất quên thuộc và cụ thể là muối và ánh sáng để nói lên sự quan trọng của vai trò đó. Ngài nói :
 “Chính anh em là muối cho đời, nhưng muối mà nhạt đi, thì lấy gì muối cho mặn lại ? Nó đã thành vô dụng, thì chỉ còn việc quẳng ra ngoài cho người ta chà đạp thôi.
 
Chính anh em là ánh sáng cho trần gian. Một thành xây trên núi không tài nào che giấu được. Cũng chẳng có ai thắp đèn lên rồi lấy thùng úp lại, nhưng đặt trên đế, và nó soi sáng cho mọi người trong nhà. Cũng vậy, ánh sáng của anh em phải chiếu giãi trước mặt thiên hạ, để họ thấy những công việc tốt đẹp anh em làm, mà tôn vinh Cha của anh em, Đấng ngự trên trời” (Mt 5,13-16).
 
II. TẢN MẠN VỀ MUỐI
           1. Sự cần thiết của muối
           Tiếng La tinh có câu :”Nil utilius sole et sale” : không có gì hữu ích cho bằng mặt trời và muối. Con người không thế sống được nếu thiếu ánh sáng và muối.  Vì vậy, ngày xưa người Rôma đã trả lương bằng muối.
           Muối là một khoáng chất mà ta có thể tạo ra  hay tìm thấy từ nước biển hay từ mỏ dưới đất.
           Chúng ta có những thứ muối quen dùng như “muối biển, muối hột, muối khoáng, muối mỏ”.
 
          2. Những tác dụng của muối.
           Muối có hai tác dụng chính :
           * Làm đồ gia vị : ngươi ta dùng muối làm đồ gia vị tức là thêm nó vào thức ăn cho có vị và dễ ăn.  Trong hầu hết các món ăn, chúng ta cho muối hay mắm vào. Chúng ta có “thịt gà luộc chấm muối tiêu chanh, ăn với lá chanh thái nhỏ”, “hột vịt lộn rắc muối tiêu, ăn với lá răm”,  “xoài tượng chấm muối ớt hay mắm ớt”… Thứ gì cũng cần có mắm muối, không có nó, bữa ăn sẽ mất ngon.
           * Để ướp đồ ăn : người ta dùng muối để ướp cá, rau, trái cây… để giữ được lâu. Ngoài món dưa muối (hay dưa món) chúng ta còn có chanh muối, trứng vịt muối, xoài muối, chùm ruột muối, ổi muối, cóc muối… Thứ nào cũng cần có muối để giữ được lâu.
 
          3. Nghĩa bóng của muối.
           Ngoài nghĩa đen mà chúng ta bàn ở trên, muối còn có nghĩa bóng nữa. Ví dụ : như chữ :
           - “Muối mặt” chỉ về sự lì lợm hay trơ trơ mặt ra.
           - “Muối tiêu” chỉ về mái tóc đã có hai mầu đen trắng như một số người dưới  kia.
          - “Mặn mà” : chữ muối còn chỉ về sự mặn mà của tình cảm con người như câu ca dao dưới đây :
                                       Tay bưng đĩa muối chấm gừng
                                Gừng cay, muối mặn, xin đừng bỏ nhau.

           - “Duyên dáng” : chữ muối còn chỉ sự duyên dáng của lời nói, nhất là của đàn bà con gái :
                                       Một thương tóc bỏ đuôi gà
                              Hai thương ăn nói mặn mà có duyên.

           -“Thêm bớt” : chữ “mắm muối” chỉ về sự “thêm bớt” cho câu chuyện hay sự việc thêm vui.  Người ta hay nói : anh này thêm mắm muối cho câu chuyện thêm vui.
           - “Chữ tín” : vì muối có thể quí hơn vàng nên người ta thường dùng để đổi chác và từ đó cũng lấy nó làm biểu tượng có chữ tín giữa người với người. Nhiều khi người ta ký giao ước với nhau bằnng muối.
           Người Ả rập thường nói : “Có muối giữa chúng ta” để nói lên sự tin tưởng tín nhiệm nhau”.
           Muối cũng là biểu tượng của mối giây liên kết  giữa nhiều con người lại, là biểu tượng của tình liên đới.
 
III. HÃY LÀ MUỐI TRONG GIA ĐÌNH
           Chúa Giêsu đã nói với các môn đệ và cách riêng đối với cô dâu chú rể hôm nay :”Các con là muối cho đời. Nhưng muối mà nhạt đi, thì lấy gì muối cho nó mặn lại được ? Nó đã thành vô dụng, thì chỉ còn việc quăng ra ngoài cho người ta chà đạp thôi” (Mt 5,13).
           Như chúng ta đã biết công dụng của muối là làm đồ gia vị và để ướp thức ăn, nếu muối mà nhạt đi thì còn tác dụng gì nữa ?
           Đời Kitô hữu phải là muối để ướp trần gian cho khỏi hư thối, cho khỏi sa đọa. Nếu đời người Kitô hữu đã trở nên nhạt nhòa thì làm sao có thể làm cho thế gian trở nên tốt được ? Lúc này họ đã trở nên một “Kitô hữu vô thần” như lời cha Karl Rahner đã nói .
           Vì thế, người Kitô hữu, cách riêng vợ chồng Công giáo phải làm sao cho cuộc sống của mình phải mặn mà để làm môi trường chung quanh thấm nhuần hương vị Kitô giáo.  Đời sống vợ chồng luôn bền vững trong mọi hoàn cảnh nhất là trong những lúc gian nan thử thách :
                              Muối mặn ba năm muối vẫn còn mặn
                             Gừng cay chín tháng gừng vẫn còn cay.
                             Đời vợ chồng đừng có đổi thay
                             Làm nên danh vọng, hay rủi ăn mày vẫn theo nhau.

           Hãy làm chứng nhân cho tình yêu của Chúa đối với chúng ta.
          Cô dâu chú rể hãy làm chứng  cho Chúa  bằng chính tình yêu hôn nhân của mình… Tình yêu vợ chồng phải mô phỏng tình yêu giữa Chúa Kitô và Hội thánh bằng một tình yêu hy sinh vô vị lợi :”Bởi thế, người nam sẽ rời bỏ cha mẹ mà gắn bó với vợ mình và cả hai sẽ thành một thân xác. Mầu nhiệm này thật là lớn lao, tôi muốn nói về Đức Kitô và Hội thánh” (Ep 5,31-32).
           Vợ chồng Kitô hữu phải có trách nhiệm làm chứng cho Chúa bằng đời sống hôn nhân. Lời Chúa vẫn còn vang vọng khi Chúa Giêsu từ giã các môn đệ để về trời :”Các con sẽ là chứng nhân của Thầy” (Lc 24,48).
           Từ ngữ “Chứng nhân” mang gốc tích là “Tử đạo”, vì chữ Martus (La tinh) mà ta thường dịch là “tử đạo” có nghĩa chính của nó là “chứng nhân”. “Tử đạo” hay “chứng nhân” đều nói lên sự hy sinh thân mình để làm chứng cho một chân lý hay cho một người nào đó.
           Ta làm chứng nhân cho Chúa và cho tình yêu của Ngài. Tình yêu của cô dâu chú rể đây chính là phản ảnh của tình yêu Thiên Chúa với nhân loại, của Chúa Kitô với Hội thánh của Ngài.
           Tình yêu này đòi hỏi vợ chồng phải hy sinh, phải hao mòn đi trong sự từ bỏ ý riêng mình để phục vụ nhau.  Hình ảnh muối phải tan biết đi nói lên tính cách tự hủy mình (kenosis) để phục vụ người khác như Chúa Giêsu đã làm cho nhân loại.
 
Truyện : Lễ nghi Tuyên hứa
 
          Trong một dịp tham dự lễ nghi Tuyên hứa của mấy em thiếu nhi Thánh Thể. Trước khi cử hành nghi lễ, vị Linh mục Tuyên úy  giải nghĩa cho các em  về sứ mệnh của các em. Ngài nói :
 “Các con là muối thế gian, các con biết muối là gì rồi. Đó là một thứ gia vị mà mẹ hay chị các con vẫn bỏ vào nồi canh, để canh thêm ngon, thêm ngọt. Khi mẹ hay chị các con múc canh lên, các con nhìn thấy muối đâu không ?  Không, vì muối đã tan biến ngay khi người ta bỏ nó vào nồi canh đang sôi rồi. Tuy nhiên, muối vẫn có trong nồi canh và làm cho bát canh thêm ngọt. Đó là việc của các con phải trở thành.
 “Các con thân mến, các con là những trẻ như bao trẻ khác, các con cũng ăn mặc, cũng làm việc, cũng chơi đùa như chúng. Nhờ thế, Người ta không để ý đến các con. Các con hòa mình vào đám đông như muối tan trong canh. Nhưng chúng con có ở đó, và chúng con đem thêm chút gia vị của bác ái, lịch sự, sẵn sàng giúp đỡ kẻ khác và thành thật… cho lớp học, cho gia đình chúng con. Chúng con phải là muối thế gian” (L. Monette, La Croisade Eucharistique (Canada), 5/1965, tr 118).
           Lm Giuse Đinh lập Liễm
          Giáo xứ Kim phát
          Đà lạt

 

HônPhối 29: HẠNH PHÚC THÔNG THƯỜNG

I. HẠNH PHÚC CỦA CON NGƯỜI

Chúng ta đặt một câu hỏi :”Con người bởi đâu mà có” ? Chúng ta tìm ngay được câu trả lời HônPhối 29

Chúng ta đặt một câu hỏi :”Con người bởi đâu mà có” ? Chúng ta tìm ngay được câu trả lời trong sách Sáng thế :”Đức Chúa là Thiên Chúa lấy bụi từ đất nặn ra con người, thổi sinh khí vào lỗ mũi, và con người trở nên một sinh vật.  Rồi Đức Chúa là Thiên Chúa trồng một vườn cây ở Ê-đen, về phía đông, và đặt vào đó con người do chính mình nặn ra”(St 2,7-8).
           Con người là một sinh vật cao quí nhất trong mọi sinh vật, được ca tụng là “linh ư vạn vật”, vì con người được tạo dựng giống hình ảnh Thiên Chúa dựa vào lời Chúa phán :”Chúng ta hãy làm ra con người theo hình ảnh chúng ta, giống như chúng ta, để con người làm bá chủ  cá biển, chim trời, gia súc, dã thú, tất cả mặt đất và mọi giống vật bò dưới đất”(St 1,26).
           Và chúng ta hỏi tiếp :”Thiên Chúa dựng nên con người để làm gì” ? Dựa vào giáo lý, chúng ta có thể thưa : “Thiên Chúa dựng nên con người để thờ phượng kính mến Đức Chúa Trời trên hết mọi sự và yêu thương anh em như chính mình để ngày sau được hưởng hạnh phúc đời đời”.
           Như vậy, mục đích của con người là để đạt tới hạnh phúc đời đời,  nếu biết vâng phục Thiên Chúa, mà hạnh phúc đời đời chính là Thiên Chúa và con người sẽ đạt tới hạnh phúc đời đời trên thiên đàng.
          Thực ra, con người đã đạt tới hạnh phúc ấy khi Thiên Chúa dựng nên và đặt vào trong vườn Địa đàng. Nhưng  vì con người không vâng lời Thiên Chúa nên đã bị phạt, con người tự đánh mất hạnh phúc ấy.
           Nhưng Thiên Chúa lại thương xót con người.  Ngài đã sai Con Một xuống thế làm người, chịu chết trên thập giá để xóa bỏ tội ấy và chuộc lại hạnh phúc do con người đã đánh mất; và con người sẽ tìm được hạnh phúc ấy trên thiên đàng.
 
II. PHẢI TÌM ĐẾN HẠNH PHÚC.
           Hạnh phúc tuyệt đối và vĩnh cửu chỉ có nơi Thiên Chúa và ở trên thiên đàng, nhưng ở trần gian cũng có sẵn hạnh phúc, nhưng chỉ là tương đối, nhỏ nhặt và chóng qua, nó nằm trong tầm tay con người, muốn tìm thì sẽ thấy.
           Vấn đề của chúng ta là phải tìm ra hạnh phúc sẵn có, phải có cái nhìn khôn ngoan và tỉnh táo thì mới tìm ra được.
           Chúng ta không có những hạnh phúc lớn lao mà chỉ có những hạnh phúc nhỏ bé. Từ sáng tới tối  có biết bao hạnh phúc nhỏ chung quanh mình mà chúng ta không nhận ra nên chúng ta coi thường. Và cũng có khi vì khinh thường mà không tìm ra.
           Có người tự chọn suốt đời là khắc khoải khổ đau vì đi tìm những hạnh phúc lớn.  Nhưng cũng có tâm hồn mà đau khổ không làm gì được họ vì họ cứ đi nhặt những hạnh phúc nhỏ. Họ đi nhặt những hạnh phúc nhỏ để trải xuống thành hạnh phúc không lớn nhưng thật dài, dài trọn cuộc đời, và đời họ là hạnh phúc.

                                      Truyện : Mùi thơm kỳ diệu
           Ấn giáo có câu chuyện ngụ ngôn như sau : Một người đàn ông nọ mang trong mình một mùi thơm lạ lùng, nhưng không hề biết rằng hương thơm ấy phát xuất từ chính mình. Ngày nọ, người ấy quyết chí lên đường để tìm cho bằng được cái mùi thơm ấy.  Càng đi, càng cảm thấy mùi thơm ấy gần gũi với mình.  Mãi cho đến một hôm kiệt sức quay trở về nhà, người ấy chợt khám phá được rằng mùi thơm kỳ diệu ấy nằm ngay trong túi áo của mình.
           Kinh nghiệm cho hay : người ta quen “đứng núi nọ trông núi kia”(tục ngữ), nghĩa là thái độ không bằng lòng, không an tâm với công việc, hoàn cảnh hoặc tình duyên hiện có mà mơ tưởng đến cái khác lớn hơn.
           Người ta đã nói lên cái phí lý của thói quen này trong câu ca dao :
                                        Xưa nay thế thái nhân tình
                                Vợ người thì đẹp, văn mình thì hay.

           Thói thường người ta ít hài lòng về những cái mình đang có mà lại đi ao ước những cái của người khác, nhiều khi còn thua những cái mình đang có.  Người ta chưa biết dừng lại để hưởng những cái mình đang có trong khi người khác đang mong ước cái mình đang có.
           Vì thế, thi sĩ Nguyễn công Trứ, trong một bài thơ đã dùng lời của cổ nhân mà khuyên chúng ta hãy hài lòng với những cái mình đang có, được đến đâu, hay đến đấy đừng chờ đợi nữa, cứ theo phương pháp :”Được hoa mừng hoa, được nụ mừng nụ” :
                              Tri túc, tiện túc; đãi túc hà thời túc,
                             Tri nhàn, tiện nhàn; đãi nhàn hà thời nhàn ?
                             Biết đủ, coi là đủ; đợi đủ bao giờ mới đủ,

                             Biết nhàn, coi là nhàn; đợi nhàn bao giờ mới nhàn ?
 
III. CÁCH TÌM RA HẠNH PHÚC.
           Trong cuộc sống hằng ngày, ít khi chúng ta nhận ra những ân huệ Chúa trao ban mà cảm tạ Ngài. Trái lại, chúng ta chỉ muốn nhìn thấy  những cái mình còn thiếu để xin ơn hoặc kêu trách Chúa.
           Chính Chúa Giêsu đã nói với người đàn bà xứ Samaria :”Nếu chị nhận ra ân huệ Thiên Chúa ban, và ai là người nói với chị :”Cho tôi chút nước uống”, thì hẳn chị đã xin , và người ấy đã ban cho chị nước hằng sống”(Ga 4,10).
           Chúng ta cũng giống như người đàn bà xứ Samaria ở trên, ít khi nhận ra những ân huệ Chúa ban. Nếu có con mắt đức tin và con mắt sáng suốt thì chúng ta sẽ ngạc nhiên về muôn ân huệ Chúa đã ban mà chúng ta không ngờ.
           Trong cuộc sống gia đình cũng thế, nếu biết nhận xét, chúng ta sẽ khám phá ra biết bao ân huệ Chúa ban cho vợ chồng con cái. Đây chỉ là những ân phúc nho nhỏ thôi, nhưng “tích tiểu thành đại”, tất cả sẽ thành một hạnh phúc lớn.
           Vợ chồng sống được với nhau, con cái sống thảo hiếu với cha mẹ, đó cũng là một ân huệ cần phải được khai thác, không cần phải tìm đâu xa. Vì thề ông Florian đã nói :
                                 Hạnh phúc không ở thiên đình
                                Ở ngay bên cạnh người mình đang yêu.

           Nói về nghệ thuật đi tìm hạnh phúc, chúng ta thấy người đời đã từng nói :
           “Chỉ có hai loại người trên đời : loại hạnh phúc mà không biết, và loại đi tìm hạnh phúc mà không thấy” (Ngạn ngữ Ả rập).
           “Hạnh phúc đang nằm trong vườn nhà bạn đấy, đừng mất công tìm nó ở vườn hàng xóm làm gì” (Ngạn ngữ Anh quốc).
           Chớ đứng núi này trông núi nọ, hay mơ tưởng đến những thứ hạnh phúc không thể có thực, nó chỉ làm cho ta thêm đau khổ, vì không đâu có hạnh phúc trọn vẹn, và không có hạnh phúc nào mà không được tạo nên bằng đau khổ và hy sinh.
           Cùng một tư tưởng ấy, ông Lâm Ngữ Đường, một học giả nổi tiếng của Trung hoa, nói :”Thế giới ngày nay giống như một quán cơm. Ai ăn món nào thì gọi món ấy. Nhưng ai cũng nghĩ rằng  món của người bên cạnh thì ngon hơn món của mình”.
           Thực ra,  hạnh phúc có tính cách chủ quan, tùy từng người. Không ai có thể đem hạnh phúc đên cho ta nếu ta không sẵn sàng chấp nhận. Hạnh phúc có hay không còn tùy thuộc ở thái độ và sự đánh giá của ta. Ví dụ : một túp lều tranh , hai trái tim vàng : đã yêu nhau thì mọi sự sẽ trở nên tốt đẹp hết :
                                       Yêu nhau chẳng quản chiếu giường
                                      Một tầu lá chuối che sương cũng tình

           Hạnh phúc không phải là một thứ tiền chế có sẵn, nhưng nó tùy thuộc vào ta. Vì thế, nhà tâm lý Robert Holden nói :”Hạnh phúc tùy thuộc vào bản thân ta hơn là vào những gì xẩy ra bên ngoài.  Nếu chúng ta tìm hạnh phúc ở chỗ đứng của mình, chắc chắn ta sẽ tìm được nó”.
           Chúng ta hãy tập thu tích lấy những hạnh phúc nho nhỏ trong đời sống hằng ngày, đừng để nó trôi đi vô ích :
           Không phải ngày nào cũng có biến  cố trọng  đại,
          Nhưng ngày nào cũng có niềm vui nho nhỏ.

          Một cành hoa đẹp
          Một lần gặp gỡ,
          Một trang sách hay
          Một món ăn ngon
          Một làn gió mát…

          Hãy sống cởi mở với những niềm vui đó.
          Nếu em quên đi, cuộc đời sẽ trở nên đơn điệu. Và có thể em sẽ trở thành bệnh hoạn.
           Tình yêu làm nên hạnh phúc gia đình. Nếu vợ chồng biết yêu thương nhau bằng một tình yêu chân thành, biết lo cho nhau, biết chịu đựng, biết tha thứ cho nhau thì hạnh phúc phải đến trong gia đình.  Hạnh phúc tỷ lệ thuận với tình yêu, càng yêu nhau nhiều, càng hy sinh nhiều thì hạnh phúc cang lớn.
           Phương pháp làm cho chúng ta được hạnh phúc là biết thu góp những mảnh vụn hạnh phúc trong cuộc sống hằng ngày.  Chúng ta không thể chiếm được hạnh phúc trọn vẹn mà chỉ thu nhặt được những mảnh vụn hạnh phúc rồi biết khôn ngoan sắp xếp lại thành một hạnh phúc lớn.  Hãy hài lòng với hiện tại của mình :”Con người sở dĩ được hạnh phúc, sung sướng hay không cũng tự lòng tưởng nghĩ như vậy” (Abraham Lincoln).
 Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt

 

HônPhối 30: CHUYẾN TẦU HÔN NHÂN

I. SUY NIỆM LỜI CHÚA
           Chúng ta đọc : Ga 17,20-23

Chúa Giêsu yêu thương các môn đệ, Ngài còn lo cho tương lai của các ông.  Ngài đã cầu xin HônPhối 30

Chúa Giêsu yêu thương các môn đệ, Ngài còn lo cho tương lai của các ông.  Ngài đã cầu xin Cha Ngài ban cho họ được hiệp nhất với nhau trong Hội thánh mà Ngài sắp thành lập.
           Trong bài Tin mừng hôm nay, Chúa Giêsu còn cầu nguyện cho  cả những người tin vào Ngài nhờ lời rao giảng và giáo huấn của các môn đệ, nghĩa là Chúa cầu cho hết mọi thành phần trong Hội thánh..
           Mục đích Chúa Giêsu cầu nguyện là để mọi người tin vào Chúa Giêsu được hiệp nhất với nhau. Chính sự hiệp nhất này là sức mạnh và có tinh cách thuyết phục thế gian tin vào Chúa Giêsu là Đấng Cứu Thế.
           Chúa Giêsu cầu xin để “tất cả nên một” : “nên một” là một điều hết sức quan trọng, tính hiệp nhất không thể được thiếu trong Hội  thánh. Chúa Giêsu cầu xin ơn ấy cho Hội thánh, cho mỗi cộng đoàn và cho mỗi người chúng ta.
           Vì thế, ở trong Hội thánh, ở trong mỗi cộng đoàn chúng ta phải :
          - Tránh mọi chia rẽ, hận thù, ghen ghét…
          - Không phải chỉ cố nhịn nói, cố tránh va chạm để người ngoài nhìn vào không biết chúng ta đang chia rẽ.
          - Mà còn biết sống quảng đại và vị tha trong bất cứ hoàn cảnh và điều kiện nào.
          - Nỗ lực duy trì sự hiệp nhất huynh đệ trong cộng đoàn, trong tương giao với tha nhân để làm chứng tá cho Chúa.
           Suy niệm về tính hiệp nhất của Hội thánh, tôi liên tưởng đến sân ga và chuyến tầu hôn nhân để  rút ra một vài ý tưởng  về sự hiệp nhất  giữa vợ chồng và các thành viên trong gia đình.
 
II. SÂN GA, BẾN ĐỢI TẦU ĐẾN TẦU ĐI
           Ngày nay ngành xe hỏa đang phát triển mạnh, đó là một phương tiện di chuyển rất thuận lợi.  Chúng ta đã có một tuyến xe lửa bắc nam, tuyến xe Thống nhất, tuy chưa hiện đại nhưng đã tiến bộ nhiều, thời gian di chuyển đã được rút vắn lại.
           Những nước tiên tiến có công nghiệp hiện đại đã có những tuyến xe lửa siêu tốc như ở Đài loan, Nhật, Đức… Xe chạy với tốc độ trên 300 cây số/giờ. Xe chạy êm làm cho hành khách có cảm tưởng như đang  ngồi trên máy bay.
           Sân ga lớn hay nhỏ, hiện đại hay thô sơ đều là bến đợi tầu đến tầu đi. Sân ga chứng kiến những chuyến tầu đến với những bàn tay vẫy chào  trong  niềm vui chờ đón, trong niềm yêu thương của những người thân sắp gặp nhau.  Sân ga cũng chứng kiến những chuyến tầu đi với những bàn tay vẫy chào từ biệt trong niềm nhớ thương, trong luyến tiếc và đợi chờ.
           Sân ga luôn khách quan, không buồn không vui, chỉ biết chứng kiến những chuyến tầu đến tầu đi thay phiên nhau  mà không có bình luận gì.
 
II. SÂN GA CUỘC ĐỜI.
           Cuộc đời cũng là một sân ga chứng kiến bao chuyến tầu hôn nhân.  Sân ga cuộc đời chứng kiến nhiều chuyến tầu hôn nhân đem đến niềm vui hạnh phúc. Trong chuyến tầu này, vợ chồng sống với nhau trong cảnh trên thuận dưới hòa, trong ấm ngoài êm, biết nhường nhịn nhau, nâng đỡ nhau, tha thứ cho nhau, mọi thành viên nỗ lực  tạo nên một tổ ấm hạnh phúc.  Đúng như lời thánh vịnh  đã nói  :
                                       Xinh thay là cảnh anh em
                             Cùng nhau vui sống dịu êm một nhà.

           Sân ga cuộc đời cũng chứng kiến những chuyến tầu hôn nhân đem đến sự bất hạnh.  Trong chuyến tầu này, vợ chồng sống trong cảnh lạnh lùng, rời rạc, xích mích, có khi còn sống trong cảnh “chồng ăn chả, vợ ăn nem”… Gia đình biến thành một ngôi nhà lạnh lùng, hay tệ hơn nữa biến thành  một bãi tha ma hoang vắng.  Trong hoàn cảnh này,  gia đình đang có nguy cơ rơi vào vực thẳm của sự ly dị  không còn xa.
 
III. CHUYẾN TẦU HÔN NHÂN.
          Chúng ta có thể ví hôn nhân như một con tầu di chuyển trên hai đường ray. Tầu đến hay tầu đi đều phải nhờ có hai đường ray song song, cách nhau một khoảng nhất định. Nếu một tuyến đường rời xa ra một khoảng cách nào đó, con tầu sẽ lâm nguy.
           Cũng thế, vợ chồng là hai tuyến đường sắt cho con tầu hôn nhân di chuyển, nghĩa là để mọi sự kiện xẩy ra một cách trôi chảy.  Nếu vợ hay chồng cách ly nhau thì chiếc tầu hôn nhân sẽ gặp nạn : gia đình tan vỡ, con cái sẽ không cha không mẹ.
           Sự song hành là một điều rất cần thiết.  Mất sự song hành  là mất căn tính của tuyến đường.  Nhưng song hành của vợ chồng là tự do trong hai trái tim.  Ngày mà vợ chồng đồng hóa nhau, kẻ này muốn kẻ kia phải hoàn toàn nên giống như mình, thì lúc đó  không còn là hai con đường song hành làm nên một tuyến đường nữa.  Ngày mà phía bên kia muốn cho mình là đúng, bắt kẻ khác phải đứng về phía bên đó mãi, thì tuyến đường mất song hành mà trở thành một thế giới cô độc.  Con tầu không về bến được vì đã mất con đường rồi.  Vợ chồng cũng giống như chuyến tầu hôn nhân của con người, hạnh phúc đổ vỡ.  Phải vậy không ?
           Khổng Tử đã nói :”Hòa nhi bất đồng”.  Trong cộng đoàn cũng như trong gia đình không bao giờ có sự đồng nhất, vì đồng nhất thì chỉ có một thôi, mà trái lại, chỉ có sựhợp nhất hay hòa hợp, trong đó mọi thành phần tạo nên một cái gì chung, nhưng mỗi thành phần, mỗi cá nhân vẫn giữ được bản sắc riêng của mình, chứ không phải bị tan biến đi, chồng vẫn là chồng, vợ vẫn là vợ.
           Vì thế, thi sĩ Tản Đà Nguyễn khắc Hiếu nói một cách triết lý khi ông nhìn vào bức ảnh chân dung của mình :
                                        Mình với ta tuy hai mà một
                                      Ta với mình tuy một mà hai.

           Hôn nhân có thể được gọi là “2 in 1” : vợ chồng làm nên một gia đình trong đó chồng vẫn là chồng và vợ vẫn là vợ, không ai bị đồng hóa cả, mỗi người vẫn còn giữ được sắc thái riêng của mình.
           Chúng ta có thể ví hôn nhân như một ly nước chanh đường. Chanh và đường hòa hợp với nhau  tan biến trong nước để làm thành một ly nước chanh đường, trong đó chanh vẫn là chanh và đường vẫn là đường.  Không bao giờ ly nước chanh đường chỉ còn là chanh hoặc chỉ còn là đường, và như thế không còn là ly nước chanh đường nữa, mà chỉ còn là ly nước chanh hay ly nước đường mà thôi.
           Như vậy, trong đời sống vợ chồng mọi người phải theo nguyên tắc “Hòa nhi bất đồng”, vợ chồng chỉ có thể hòa hợp với nhau để xây dựng một gia đình hạnh phúc, dựa trên tình yêu và hy sinh.
 
                                      Truyện : Một lỗ nhỏ trên vách tường.
          Tại một trung tâm bài phung nọ, đa số các nạn nhân đều buồn chán vì cảm thấy bị bỏ rơi và bị mọi người xa lánh. Tuy nhiên,  có một người vẫn còn biết cười và vẫn tiếp tục tạ ơn khi được giúp đỡ.
          Vị nữ tu coi sóc trung tâm muốn tìm hiểu đâu là nguyên nhân của phép lạ này.  Sau nhiều ngày theo dõi, vị nữ tu mới khám phá ra rằng  xuyên qua một lỗ nhỏ trên vách tường ngăn cách trung tâm với thế giới bên ngoài, ngày ngày có một người đàn bà đến nhìn vào và mỉm cười rất trìu mến. Đó là tất cả sức mạnh và niềm hy vọng của người đàn ông xấu số. 
          Mỗi ngày, ông chờ đợi nụ cười ấy. Khuôn mặt người đàn bà chỉ chợt xuất hiện, mỉm cười  và biến mất.  Người đàn ông duy nhất còn biết cười trong trung tâm bài phung đó  đã giải thích cho vị nữ tư như sau :
          “Người đàn bà ấy chính là vợ tôi. Trước khi tôi đến đây, nàng đã tìm đủ mọi cách để chữa chạy cho tôi. Mỗi ngày,  nàng lau sạch một khoảng nhỏ trên khuôn mặt tôi và đặt lên đó một cái hôn… Nhưng cuối cùng, nàng không thể giữ tôi lâu hơn. Người ta đã đến đưa tôi  vào trung tâm này.
          Nhưng vợ tôi đã không bỏ tôi. Mỗi ngày, nàng đến nhìn qua lỗ hổng của vách tường và mỉm cười với tôi.  Nhờ nàng,  tôi biết rằng tôi vẫn còn sống. Nhờ nàng,  tôi vẫn còn muốn sống”.
           Trong thông điệp “Familiaris Consortio” Đức giáo hoàng Gioan Phaolô II đã nói :”Sự hiệp thông trong gia đình đòi hỏi mọi người và mỗi người biết quảng đại và mau mắn mở rộng lòng ra  để thông cảm, bao dung, tha thứ và hòa giải với nhau” (FC số 21).
Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt

 

HônPhối 31: CỘNG TÁC

I. MỘT MÔ HÌNH ĐƯỢC SÁNG TẠO

Theo sách Sáng thế, chương 1, chúng ta được biết Thiên Chúa đã dựng nên trời đất vạn vật từ HônPhối 31

Theo sách Sáng thế, chương 1, chúng ta được biết Thiên Chúa đã dựng nên trời đất vạn vật từ hư vô theo chương trình rất khôn ngoan của Ngài.  Đây là một mô hình tuyệt hảo mà Thiên Chúa đã thiết lập :”Thiên Chúa thấy mọi sự Ngài đã làm ra quả là rất tốt đẹp” (St 1,25; 1,31).
           Ngài còn dựng nên con người giống hình ảnh Ngài, và sáng tạo con người có nam có nữ (St 1,27), Ngài còn ban phúc lành và nói với họ :”Hãy sinh sôi nảy nở thật nhiều, cho đầy mặt đất, và thống trị mặt đất. Hãy làm bá chủ cá biển, chim trời và mọi giống vật trên mặt đất…” (x. St 1,28-31)
           Trong việc dựng nên con người, Kinh Thánh còn cho biết : Thiên Chúa dựng nên con người đầu tiên bằng bùn đất và được gọi là Adong. Thiên Chúa phán :”Người nam ở một mình thì không tốt. Ta sẽ làm cho nó một trợ tá tương xứng với nó” (St 2,18).  Thiên Chúa đã dựng nên một người nữ là Evà ; đồng thời tác hợp cho họ nên đôi vợ chồng đầu tiên trong nhân loại. Đây là mô hình đầu tiên mà Thiên Chúa muốn xây dựng gia đình theo mô hình kiểu mẫu đó.
           Adong và Evà đã thành lập một gia đình và hai người có nhiệm vụ phải cộng tác với nhau để làm cho ngôi nhà hôn nhân được tốt đẹp và bền vững.

 II. CỘNG TÁC TRONG VIỆC XÂY DỰNG GIA ĐÌNH
           Khi thanh thiếu niên nam nữ đến tuổi yêu đương thì họ đi tìm người yêu. Lúc đầu họ yêu nhau bằng tình yêu lãng mạn, mông lung, sau đó chuyển sang tình yêu dựa trên tình cảm sâu đậm, và sau cùng họ đi đến tình yêu lứa đôi.  Họ muốn tìm hiểu nhau, kết hợp với nhau khăng khít và tiến tới hôn nhân, để ăn đời ở kiếp với nhau.
           Thiết lập một giao ước hôn nhân là ký kết một hợp đồng xây dựng gia đình và gia đình này được ví như một ngôi nhà, một ngôi nhà chung, trong đó mỗi người đóng một vai trò, một nhiệm vụ phải gánh vác, phải làm tròn như người ta nói :
                                               Đàn ông dựng nhà
                                               Đàn bà xây tổ ấm.

           Xây dựng được một ngôi nhà là chuyện dễ nhưng làm cho ngôi nhà trở thành một tổ ấm là một chuyện vô cùng khó khăn. Có biết bao ngôi nhà đã biến thành bãi tha ma lặng lẽ.  Mọi người trong gia đình đã biến thành khách vãng lai, lạnh lùng khi phải tiếp xúc với nhau.
           Mọi người phải công nhận rằng vợ chồng có đời sống tâm lý khác biệt và những khả năng khác nhau.  Mỗi người mạnh về một phương diện và phải làm theo khả năng đó,  chẳng vậy mà người ta đã phân biệt giữa “dựng nhà” và “xây tổ ấm” đó sao ?
           Người ta ví hôn nhân chỉ là chiếc hộp rỗng, cần phải bỏ vào cái gì thì cái hộp rỗng mới đầy được. Chả vậy mà cố vấn hôn nhân, ông  Allan Peterson đã nói :”Đa  số người kết hôn tin vào một huyền thoại : cuộc hôn nhân ấy là một cái hộp đen chứa mọi vật mà người ta khao khát : đời sống lứa đôi, sự thỏa mãn về tình dục, sự thân mật, tình bạn…
           “Sự thật là cuộc hôn nhân ấy lúc bắt đầu là một cái hộp rỗng. Bạn phải bỏ vào một cái gì đó trước khi bạn có thể lấy ra một cái khác.  Trong hôn nhân không có tình yêu, tình yêu ở trong hai người và hai người đặt tình yêu vào hôn nhân. Không có chuyện tình lãng mạn trong hôn nhân; người ta phải pha trộn sự thơ mộng vào hôn nhân của họ.
           “Một đôi tân hôn phải học nghệ thuật ấy và hình thành thói quen cho nhau, yêu nhau, phục vụ nhau, ngợi khen nhau để giữ cho cái hộp được đầy. Nếu bạn lấy ra nhiều hơn bạn bỏ vào, cái hộp sẽ rỗng không” .
           Nhưng một vấn đề phải được đặt ra là phải chăng chỉ có một trong hai người “bỏ vào” còn người kia thì không quan tâm vun quén.  Hôn nhân là công việc  mà cả hai người cùng thực hiện !
 
                                      Truyện : Những mảng bị cắt của bức hình
           Một cô giáo bảo các em học sinh của mình lấy kéo cắt mỗi người một phần của một bức tranh lớn có giấy phủ bao bên ngoài.
          Cô nói :”Các em đem phần tranh của mình về nhà, nhưng đừng nhìn trộm trong đó. Rồi ngày Chúa nhật sắp đến, các em sẽ đem lại đây”.
          Ngày Chúa nhật đến, các học sinh đem phần tranh của mình đến, để lắp lại bức tranh. Khi ráp lại với nhau, bức tranh còn trống một lỗ. Một em đã quên đem phần của mình theo.
          Cô giáo ôm em  mắt đầy lệ và nói :”Lan, cô vui vì em đã quên mang phần của em. Bởi vì việc em quên  đã cho chúng ta một bài học về vai trò quan trọng của mỗi người chúng ta trong chương trình của Thiên Chúa. Mỗi người chúng ta được Chúa kêu gọi, để làm chứng cho Ngài bằng một cách đặc biệt duy nhất nào đó.  Và nếu chúng ta quên làm, thì chương trình của Chúa cũng sẽ bớt hoàn mỹ, giống như bức tranh này vậy”.
           Đúng thế, mỗi người trong chúng ta có một vai trò riêng biệt trong chương trình của Thiên Chúa. Nếu chúng ta quên làm, hay tệ hơn, nếu chúng ta cố ý không làm, thì chương trình đó sẽ bớt hoàn mỹ.  Thiên Chúa tạo dựng vũ trụ này cho con người, và Ngài muốn con người góp phần của mình vào đó,  để làm đẹp thêm thế giới vu trụ này, làm đẹp cho gia đình mà Thiên Chúa đã thiết lập.
 Trong việc xây dựng gia đình, cả hai vợ chồng phải hợp tác xây dựng hạnh phúc. Thực ra, hạnh phúc không phải là cái gì tiền  chế có sẵn, khi thành lập gia đình thì Thiên Chúa ban cho ngay. Trái lại, hạnh phúc phải là thành quả của sự cố gắng giữa hai người biết cùng nhau  xây dựng qua bao gian khổ.
           Nhưng vấn đề đặt ra là Hạnh phúc hệ tại luôn được thỏa mãn hay là cố gắng làm thỏa mãn người khác ?
           Cuộc sống chỉ là tương đối. Tôi không thể làm người bạn đời trọn vẹn hạnh phúc. Người bạn đời cũng chẳng thể cho tôi mọi ước mơ.  Vì cả hai đều yếu đuối và mắc nhiều lỗi lầm, cả hai không là thiên thần mà là người. Là người  nên tôi không thể làm thỏa mãn người được. Không làm thỏa mãn người được  cũng có nghĩa là  người cũng chẳng thể làm thỏa mãn được tôi.
           Như thế, hạnh phúc là cùng nhau lắng nghe tiếng hót của con họa mi.  Cùng chịu giá lạnh của mưa. Chịu khổ của bão.  Hạnh phúc trong hôn nhân là cùng nhau góp một ước mơ.  Cùng nhau gánh nỗi đau của đời.
           Cái chua của chanh. Cái ngọt của đường làm nên ly nước mát chứ không riêng của đường, không hẳn chỉ là chanh” (Nguyễn tầm Thường, Nước mắt và hạnh phúc, tr 26).
           Trong hạnh phúc hôn nhân, hy sinh và đau khổ không bao giờ có thể vắng bóng như không bao giờ có hoa hồng mà không có gai.  Càng hy sinh nhiều thì tình yêu càng thắm thiết, càng trong sáng và bền chặt.  Chính tình yêu hy sinh đã đem hạnh phúc đến cho gia đình.  Chúng ta hãy đọc một đoạn văn của nữ văn sĩ Túy Hồng viết về tình yêu đó :
 “Tôi nguyện với tình yêu, lúc quay lưng xô ngã cuộc đời người con gái, tôi sẽ từ bỏ tất cả, xa sân khấu, lui khỏi địa vị một ngôi sao  để làm một người tầm thường.  Tôi sẽ từ giã sự nghiệp đang lên, hy sinh cả danh vọng để trọng nghĩa làm vợ. Một người đàn bà không thể vừa giỏi bên ngoài, vừa giỏi bên trong được.  Vì chàng tôi phải ly thân với nghệ thuật. Tên tuổi tôi phải chết cho lòng thành quấn quít bên chàng…” (Túy Hồng, Lòng thành, Sàigòn, 1964, tr 82).
           Yêu thương là cốt tủy của hôn nhân, thiếu yêu thương thì hôn nhân sẽ trở nên hỏa ngục trần gian  :  “Cái giầu của đời sống là yêu thương và cái nghèo của cuộc đời là ích kỷ” (A. Vinet). Vì thế, muốn có hạnh phúc hôn nhân, chúng ta phải tiêu diệt ngay  bóng ma của gia đình là tính ích kỷ bằng ánh sáng của yêu thương, của hy sinh và xả kỷ.
           Thi hào R.Tagore đã nói lên sự cần thiết của hy sinh trong việc mưu cầu hạnh phúc cho hôn nhân và gia đình :
                   “Tôi nằm ngủ và tôi mơ thấy rằng : đời là thú vui,
                   Nhưng khi tỉnh dậy, tôi thấy đời là phục vụ,
                   Tôi đã phục vụ và tôi cảm thấy rằng : phục vụ là hạnh phúc”.

 Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt

 

HônPhối 32: XÉ RÀO

I. CON NGƯỜI VÀ HÔN PHỐI

Con người được Thiên Chúa dựng nên có nam có nữ và cho họ kết hợp với nhau thành đôi vợ HônPhối 32

Con người được Thiên Chúa dựng nên có nam có nữ và cho họ kết hợp với nhau thành đôi vợ chồng.  Chúng ta có thể tìm được tư tưởng này trong Thánh Kinh. 

          Sách Sáng thế, đoạn I, câu 27-28 đã cho chúng ta biết :”Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh Người… có nam có nữ. Thiên Chúa ban phúc lành cho họ, và Thiên chúa phán với họ :”Hãy sinh sôi nảy nở thật nhiều, cho đầy mặt đất. Hãy làm bá chủ cá biển, chim trời và mọi giống vật bò trên mặt đất”. 

          Qua đoạn II, câu 18-24, Thiên Chúa lại phán :”Con người ở một mình không tốt, Ta sẽ làm cho nó một trợ tá tương xứng với nó… Đức Chúa là Thiên Chúa cho một giấc ngủ mê ập xuống trên con người, và con người thiếp đi. Rồi Chúa rút một cái xương sườn của con người ra, và lắp thịt vào… làm thành một người đàn bà và dẫn đến với con người. Con người nói :”… Đây là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi ! Nàng sẽ được gọi là đàn ba, vì đã được rút từ đàn ông ra. Bởi thế, người đàn ông lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình và cả hai thành một xương một thịt”.
 
          Đọc hai đoạn văn trên chúng ta thấy vị trí cao cả của con người trên bậc thang tạo dựng.  Lý do : con người đã được dựng nên giống hình ảnh Thiên Chúa. Chính Người đã tác thành cho người nam người nữ đầu tiên nên vợ nên chồng :”Ngài đã dẫn bà Evà tới cho Adong”.  Rồi Người chúc phúc cho đôi vợ chồng đầu tiên này :”Hãy sinh sản cho đầy mặt đất và hãy làm chủ lấy địa cầu”.  Cả hai sẽ bổ túc cho nhau, tương trợ lẫn nhau, vì “con người ở một mình không tốt”.  Sự kết hợp vợ chồng ở trên mọi kết hợp khác :”Người đàn ông đã lìa bỏ cha mẹ mình mà gắn bó với vợ”. Và bền chặt không gì có thể phân chia, bởi vì “cả hai đã thành một xương một thịt với nhau”.
 
          Những người biệt phái đến hỏi thử Chúa Giêsu rằng :”Người ta có được phép bỏ vợ không” ? Chúa Giêsu đã lặp lại đoạn Kinh Thánh trên đây, sau đó đưa ra kết luận :”Sự gì Thiên Chúa đã kết hợp, con người không được phân ly” (Mt 19,6).
 
II. HIỆN TƯỢNG PHÁ RÀO.
 
          1. Hàng rào của ngôi nhà
 
          Thông thường ngôi nhà nào cũng phải có hàng rào bao quanh. Hàng rào có thể được làm bằng những vật liệu thô sơ, kiểu dáng đơn sơ. Cũng có những hàng rào được xây dựng kiên cố bằng những vật liệu cứng rắn với những nét mỹ thuật. Tuy thế, hàng rào nào cũng chỉ có mục đích chỉ rõ ranh giới chủ quyền của chủ nhà với các người khác.
 
          Khi hàng rào được dựng nên thì tức khắc có “lệnh giới nghiêm”, nghĩa là có lệnh “nội bất xuất, ngoại bất nhập”. Không ai được vượt qua hàng rào này khi không có lý do chính đáng.  Mọi việc ra vào đều phải qua cửa chính.. Ai không thi hành lệnh giới nghiêm ấy đều là kẻ gian.
  
          2. Hàng rào hôn nhân
 
          Xây dựng hôn nhân, xây dựng gia đình cũng như xây dựng một ngôi nhà , cũng có một hàng rào, nhưng là một hàng rào vô hình. Cũng có lệnh giới nghiêm, nghĩa là vợ chồng phải thương yêu nhau, đùm bọc nhau không được chia sẻ tình yêu cho người thứ ba nữa. Ai vượt qua hàng rào này là phá bỏ lòng trung tín.  Hàng rào này có ý giúp cho tình yêu vợ chồng thêm bền chặt, không có tình yêu từ trong vọt ra ngoài và cũng không cho tình yêu ở ngoài lọt vào  trong.
 
          Ai không thi hành nghiêm luật này thị bị coi là người hai lòng , một con người giả dối như dân gian đã mô tả :
 
                                       Hai tay cầm hai quả hồng
                             Quả chát phần chồng, quả ngọt phần trai.
                                       Nằm đêm vuốt bụng thở dài
                             Nhớ chồng thì ít, nhớ trai thì nhiều.
 
          3. Hiện tượng xé rào
 
          Ngày nay hiện tượng phá rào xẩy ra thường xuyên.  Như chúng ta đã nói : hàng rào là để bảo vệ cho ngôi nhà, không cho người ở trong đi ra, kẻ ở ngoài đi vào. Nếu hàng rào bị xé rách thì đó là một hiện tượng không lành mạnh : nếu ở trong đi ra là dấu chỉ ngươi trong nhà đi ra một cách lén lút, vụng trộm, không ngay thẳng vì nếu ngay thẳng thì phải đi qua cửa chính.  Hoặc người ở ngoài chui vào qua lỗ rách thì chỉ là kẻ ăn trộm vì không có lý do gì xé rào chui vào như con chó.
 
          Cũng vậy, ngôi nhà hôn nhân có hàng rào bảo vệ, che chở cho mọi người trong nhà. Lúc đó gia đình sẽ được yên ổn. Nhưng nếu chồng hoặc vợ có mối tình vụng trộm, lén lút như chồng thì đi kiếm một cô gái non, vợ thì đi kiếm một chàng trai tơ, thì lúc đó tình yêu vợ chồng sẽ trở nên nhạt nhẽo, lỏng lẻo, hai người  ở trong tình trạng mà nhà nho gọi là :”Đồng sàng dị mộng”.
 
          Một thi sĩ đã diễn tả tâm trạng đó qua mấy câu thơ  như sau :
 
                                      Từ đấy thu rồi thu lại thu
                                      Lòng tôi vẫn giá đến bao giờ ?
                                       Chồng tôi vẫn biết tôi thương nhớ
                                      Người ấy cho nên vẫn hững hờ.
 
          Hiện tượng này được gọi là ngoại tình. Viện ngôn ngữ học định nghĩa ngoại tình là :”Có quan hệ yêu đương bất chính khi đã có vợ hay có chồng”.
 
          Có hai thứ ngoại tình : ngoại tình trong tư tưởng và ngoại tình trong hành động. Về vấn đề ngoại tình trong tư tưởng thì chúng ta hãy nghe Chúa Giêsu dạy :”Các con đã nghe Luật dạy rằng : Chớ ngoại tình. Còn Thầy, Thầy bảo cho các con biết : ai nhìn người phụ nữ mà thèm muốn, thì trong lòng đã ngoại tình với người ấy rồi” (Mt 5, 27-28).
 
          Hiện tượng xé rào thì ngày nay xẩy ra như cơm bữa. Người ta thích tìm của lạ. Vợ chồng ở với nhau đã quá quen nên người ta thích có cảm giác mới lạ :
 
 
                                                Cam ngon quít ngọt đã từng
                                      Thèm quả khế rụng trên rừng chưa ăn.
 
          Trong hoàn cảnh này, gia đình chưa đến độ tan vỡ, nhưng nếu tình trạng “Chồng ăn chả, vợ ăn nem” cứ xẩy ra hoài hoài thì nguy cơ gia đình tan vỡ không còn xa.
 
          Một khi hàng rào của ngôi nhà bị phá hủy thì đó là dấu chỉ ngôi nhà không còn được sử dụng nữa, ngôi nhà đã bị bỏ hoang. Hàng rào không còn ý nghĩa gì đối với ngôi nhà.
 
          Cung thế, một khi người ta ly dị nhau là hàng rào hôn nhân đã bị phá đổ, gia đình tan vỡ, những lời hứa trong nghi lễ hôn phối đã bị xúc phạm và trở nên vô nghĩa.  Và lúc đó người ta chỉ còn biết than van như mấy lời trong một bài hát :”Thôi, thôi anh đừng đến nữa. Thôi, thôi đừng nói làm gì. Tình anh gian dối quá. Tình anh đã lỗi thề. Anh về xây duyên  mới. Còn tôi ôm vết thương tình”.
 
III. HÃY CỦNG CỐ HÀNG RÀO HÔN NHÂN.
 
          Để củng cố hàng rào hôn nhân, anh chị hãy yêu nhau như Chúa Giêsu đã yêu Hội thánh và hãy ghi khắc thật sâu sứ mạng, qua sự kết hợp của anh chị, người đời có thể nhận ra  một cách cụ thể, sự kết hợp giữa Chúa Giêsu và Hội thánh.  Nhờ xác tín như thế, anh chị sẽ cảm thấy một hối thúc, phải yêu không phải chỉ thể xác của nhau, mà là toàn diện con người của nhau.
 
          Và anh chị hãy ý thức rằng Thiên Chúa quan phòng dường như qui định rằng : tình yêu vợ chồng đích thực chỉ có thể được khám phá và lớn lên qua những thử thách và những khó khăn trong cuộc sống.
 
          Chúng ta có thể so sánh tình yêu vợ chồng với cây nho : càng đâm rễ sâu trong vùng đất có nhiều sỏi đá, cây nho càng sản xuất rượu ngon. Chúng ta cũng có thể so sánh tình yêu vợ chồng với một thân cây mà rễ nó đâm sâu dưới đất đá thì tình yêu đó  sẽ đứng vững trước sóng gío không làm nó bị bật gốc.
 
          Anh chị hãy cố tạo lại cho mình những đặc điểm của người tình. Chị hãy biết hấp dẫn anh  bằng sự chăm sóc thể xác cũng như tinh thần của mình. Nếu sao lãng bổn phận này, có thể chị đã tạo căn cớ để mất anh vĩnh viễn.  Còn anh cũng đừng quá tiết kiệm những lời yêu thương với chị, những cử chỉ tỏ ra  anh biết ơn sự săn sóc ân cần của chị và biết chia sẻ với chị gánh nặng sinh sản và giáo dục.
 
          Cuối cùng, anh chị cần dứt khoát loại trừ mọi mầm mống phản loạn, có thể gây đổ vỡ cho hạnh phúc gia đình. Mọi tâm tư và tình cảm của anh, hãy dồn cả cho chị và chỉ một mình chị. Phần chị, cũng hãy làm như thế đối với anh. Mọi cái bóng dáng gọi là  người thứ ba, phải loại bỏ, ngay khi vừa ló dạng.
 
Truyện : Tình son sắt
 
          Cuộc sống gia đình của một vị tướng (xin giấu tên) ở Philippines, đang trôi qua trong bầu khí đầm ấm, thương yêu và đạo đức.  Bỗng một hôm, bác sĩ cho biết, bà nhà mắc bệnh phong cùi, phải đưa vào trại cùi, cách ly mọi người càng sớm càng tốt.
 
          Thực là một tin sét đánh ! Từ nay, vợ chồng sẽ phải sống xa nhau !
 
          Mấy ngày sau, vị tướng buồn khổ đưa vợ vào trại phong.
          Nhưng vì quá yêu thương người bạn trăm năm, ông đã nghĩ ra diệu kế : ông giao nhà cửa cho con cái, chấp nhận hy sinh những tiện nghi sẵn có. Ông thuê một căn nhà nhỏ trước mặt trại cùi. Ban sáng trước khi đi làm, ông ghé thăm vợ, chiều về, ông ghé vào an ủi, đưa tin tức cho vợ biết về con cái, bạn bè, rồi cùng nhau đọc kinh cầu nguyện.
 
          Lúc đầu không ai biết rõ, dần dần người ta mới để ý, tìm hiểu và sau cùng ai cũng cảm phục. Làm sao họ trung thành với nhau như thế ! Không một tai họa nào có thể chia rẽ mối tình của hai người.
 
          Mười mấy năm trôi qua, bệnh bà tới lúc khỏi hẳn, vị tướng sung sướng lái xe đưa vợ về nhà, xum họp lại với con cháu bạn bè. Quả thực đôi vợ chồng này đã thề hứa và trung thành với lời hứa lúc cử hành nghi lễ hôn phối :”Chúng tôi sẽ giữ lòng chung thủy với nhau, khi thịnh vượng cũng như lúc gian nan, khi bệnh hoạn cũng như lúc mạnh khỏe, để yêu thương và tôn trọn nhau suốt đời”.
 
          Anh chị hãy xa tránh những nguy cơ trực tiếp dẫn tới sự phản bội, tốt nhất là theo phương pháp của các cụ xưa :”Đào vi thương sách”.  Ngoài ra, ý chí và sự trợ giúp của Chúa là hai điều kiện không thể thiếu. Có hai điều kiện này, hạnh phúc của anh chị sẽ bền chặt.
  
Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt
 

HônPhối 33: TỰ ÁI

I. SUY NIỆM LỜI CHÚA 
          Chúng ta đọc : Mt 22,34-40;  Mc 12,28-31; Lc 14,16-24.

Qua cuộc trao đổi giữa Chúa Giêsu và người luật sĩ về giới răn trọng nhất, Chúa Giêsu đã xác HônPhối 33

Qua cuộc trao đổi giữa Chúa Giêsu và người luật sĩ về giới răn trọng nhất, Chúa Giêsu đã xác nhận tình yêu là căn bản cho mọi cuộc sống tôn giáo.
           Nói tới giới răn thì chúng ta phải hiểu là  toàn thể các giới răn Cựu ước.  Nguyên luật Do thái có 613 điều luật, chia ra 248 điều tích cực và 365 điều tiêu cực.  Xét về sự quan trọng, người ta lại chia các điều luật đó ra  nhiều hạng : khinh giới và trọng giới, đại giới và tiểu giới.  Nhưng các người biệt phái lại không đồng ý với nhau về giới luật nào trọng nhất. Vì thế, người luật sĩ mới đến dò xem  Chúa cho biết điều luật nào là trọng nhất.
           Chúa Giêsu đã trả lời ngay cho luật sĩ :”Giới răn trọng nhất chính là : Hỡi Israel, hãy nghe đây : Thiên Chúa, Chúa chúng ta là Chúa duy nhất, và ngươi hãy yêu Thiên Chúa ngươi hết lòng, hết linh hồn. hết trí khôn và hết sức ngươi. Còn đây là giới răn thứ hai : ngươi hãy yêu tha nhân như chính mình ngươi. Không có giới răn nào trọng hơn hai giới răn đó”.
 Chúa Giêsu bảo : Hãy yêu tha nhân như chính mình ngươi. Nói như thế không chỉ có nghĩa là ngươi phải làm cho kẻ khác những gì ngươi làm cho ngươi, nhưng đúng hơn là phải xử đối với kẻ khác cùng một “tình yêu” như ngươi đã xử với ngươi. Chứng tỏ rằng yêu mến tha nhân là muốn hội nhập tha nhân vào con người của mình đến mức cả hai người chỉ còn là một đối tượng tình yêu duy nhất và một tâm hồn duy nhất (Cv 4,32).
 Nếu Chúa Giêsu bảo : Yêu tha nhân như chính mình, điều đó chứng tỏ rằng mỗi người phải “yêu mình” trước, phải yêu mình trước đã rồi với tình yêu ấy mới yêu kẻ khác vì bác ái phải phát xuất từ mình. Như vậy, “Yêu mình” là một điều hợp lý và cần thiết, không ai cấm điều đó, nhưng vấn đề được đặt ra là yêu mình đến mức nào ?  Yêu mình thế nào mới phải phép ?  Đó là vấn đề “Tự ái” mà chúng ta sẽ đề cập dưới đây.
 
II. NÓI VỀ TÍNH TỰ ÁI.
  1.     Thất tình trong đời sống 
 Khi nói đến chữ “thất tình”là người ta nghĩ ngay đến khuôn mặt buồn so của một anh chàng đánh mất tình yêu, không còn được thương nữa. Anh ta trở nên chán đời không con muốn sống nữa.  Thương cho những người thất tình vì cuộc đời của họ trở nên u buồn đen tối.
           Thế nhưng, ngày xưa chữ “thất tình” còn có nghĩa khác nữa, đó là bảy giai điệu tình cảm luôn rung lên phừng phực  trong “trái tim” con người; hay bảy thứ tình cảm luôn chế ngự cõi lòng chúng ta. Bảy giai điệu ấy là : hỉ, nộ, ai, cụ, ái, ố và dục.  Có nghĩa là  : mừng, giận, buồn, vui, yêu, ghét và muốn. Bảy thứ tình cảm này luôn tả xung hữu đột chiếm ngự lòng chúng ta, nhiều phen làm cho chúng ta khốn đốn.
          Trong bảy thứ tình cảm đó, có lẽ yêu là hoạt động mạnh nhất và quan trọng nhất, nó chi phối toàn bộ cuộc sống của ta. Không ai là không yêu, chữ yêu lúc nào cũng bàng bạc ở mọi nơi và trong mọi lúc.
           Vậy người ta yêu những gì ? Thực ra, đối tượng của tình yêu thì rất rộng chẳng thiếu thứ gì. Trước hết là yêu mình, tiếp đến là yêu người, rồi tới yêu đời và những thứ lỉnh kỉnh khác nữa như yêu tiền, yêu quyền, yêu sắc, yêu thanh, yêu hình, yêu bóng v.v….
           Hôm nay chúng ta chỉ bàn tới phạm trù thứ nhất là yêu mình, vì tình yêu phải bắt đầu từ mình trước đã. Nếu diễn tả hành động yêu mình bằng chữ nho, thì phải dùng hai chữ… “Tự ái”.
 
  1.     Vậy tự ái là gì ?   
 Theo Hán Việt từ điển của Nguyễn quốc Hùng, thì tự ái có nghĩa là  lòng yêu chính mình, cho mình là hay là tốt. Còn theo Việt nam Từ điển của Lê văn Đức, thì tự ái có nghĩa là thương mình, quá nghĩ về mình rồi sinh hờn mát mỗi khi bị đụng chạm đến.  Trong thực tế, người bình dân thường hiểu tự ái là đùng đùng nổi giận khi bị… chạm nọc, chứ không phải chỉ hờn mát mà thôi.
           Nếu theo nghĩa chữ tự ái là yêu mình thì có gì là xấu đâu, ai chẳng yêu mình vì yêu mình  chính là bản năng tự nhiên mà Thiên Chúa đã phú ban cho con người ta.  Nhưng có một nỗi khổ : khi đã yêu mình thì đều muốn vơ vét về cho mình những cái hay, những cái tốt, những cái lợi…  Và hễ kẻ nào đụng chạm đến, thì lập tức lòng tự ái hay thói yêu mình nổi lên đùng đùng, cùng với cơn giận phừng phực nổi dậy, kèm theo những phản ứng khó lòng mà lường nổi… Vì tự ái, vì yêu mình, nên chúng ta không thể bỏ qua một sự khinh bỉ nào của người khác. Và hơn thế nữa, khi lòng tự ái đã bị sỉ nhục, thì người ta khó có thể tha thứ.
 
  1.     Tự ái trong đời sống hằng ngày
 Lòng tự ái đi theo con người như hình với bóng, nó làm khổ chúng ta, không ai diệt được nó và nó chỉ hết hiện hữu khi chúng ta ra đi khỏi đời này. Có người còn nói bạo mồm hơn :”Tự ái còn hoạt động 15 phút sau khi con người đã nhắm mắt lìa đời”.
           Chúng ta hãy xem một số người đã phát biểu thế nào về tính tự ái sau khi đã có kinh nghiệm về nó :
           “Càng thêm tuổi, các đam mê càng lụi tàn, nhưng lòng tự ái thì khác, nó sẽ chẳng bao giờ chết”.
           “ Người ta chỉ có thể làm tổn thương lòng tự ái, chứ không giết chết được nó”.
           “Lòng tự ái là một con thú kỳ dị, nó có thể ngủ yên trong cơ thể của những kẻ tàn bạo nhất, nhưng một khi đã thức tỉnh dậy, nó sẽ đả thương cho đến chết chỉ vì một trầy trụa nho nhỏ”.
           Có người cho rằng tự ái là biết tự trọng và bảo vệ danh dự của mình thì là điều tốt chứ sao lại xấu ? Đúng thế, nếu biết bảo vệ cái “danh dự thật” thì là điều tốt, nhưng bảo vệ cái “danh dự ảo” thì làm sao ?
           Trong thực tế, chúng ta thấy nhiều người chỉ vì “tự ái ảo” mà bảo vệ cái “danh dự ảo”, cái danh dự mình tưởng là có, nhưng thực sự lại chẳng có, hay vì “tự ái vặt” bởi những lý do nhỏ mọn không đâu, cũng đùng đùng nổi giận, la hét, quát tháo, đánh đập người ta… Như vậy thì tự ái tốt làm sao được ?
           Trong đời sống xã hội, những người có quyền, có thế dễ bị chạm tự ái vì coi mình là trên hết, nói gì cũng hay, làm gì cũng đúng, không muốn người ta góp ý  về những việc làm sai trái của mình.  Nếu ai nói đến thì họ sẽ có những phản ứng quá mạnh, làm tổn thương và gây hại cho kẻ “lỡ” xúc phạm đến họ.  Trong lịch sử đã xẩy ra rất nhiều những trường hợp như thế.
 
Truyện : Hán Vũ Đế bị chạm tự ái
           Hán Vũ Đế ngày kia sai đại tướng Lý Lăng đem quân đi đánh Hung Nô. Trong thời gian đầu, Lý Lăng thắng lớn, tin chiến thắng báo về triều đình, Hán Vũ Đế rất hài lòng. Các quan đại thần đua nhau ca tụng Vũ Đế là minh quân, biết chọn tướng tài, khen Lý Lăng là anh hùng.
           Thế rồi Lý Lăng tiến quân quá sâu vào nội địa Hung Nô, bị quân Hung Nô bao vây.  Vũ Đế sai cận thần Lý Quảng Lợi đem binh vào đất Hung Nô tiếp viện cho Lý Lăng. Nhưng Lý Quảng Lợi bất tài, khiếp nhược, bị quân Hung Nô đánh tan tành, đành phải rút về. Lý Lăng bị bao vây cho đến lúc lương tận, hết cả tên bắn, phải đầu hàng Hung Nô.
           Tin Lý Lăng đầu hàng Hung Nô về tới triều đình. Vũ Đế nổi giận. Các quan đại thần chê Lý Lăng bất trung, kết Lý Lăng vào tội phản quốc.  Riêng có quan thái sử Tư Mã Thiên, trước mặt Hán Vũ Đế, đã lên tiếng bênh vực Lý Lăng. Tư Mã Thiên nói :
           - Đại tướng Lý Lăng không bất tài, không bất trung và công bình, nhưng Hán Vũ Đế cho rằng Tư Mã Thiên có ý chê trách mình sai lầm trong việc dùng Lý Quảng Lợi cầm quân đi tiếp viện. Bị chạm tự ái, Vũ Đế bèn nổi giận, ghép Tư Mã Thiên vào tội khi quân, ra lệnh tống ngục và sau đó bắt Tư Mã Thiên chịu cái tội tàn tệ nhất thời đó đối với những người trí thức, đó là tội “hủ hình”, tức là bị … thiến.
           Năm ấy Tư Mã Thiên mới khoảng bốn mươi tuổi. Bị hoạn, ông quyết định tự tử, nhưng sau đó đã nghĩ lại :
           - Mình có chết đi cũng chẳng ai thương tiếc, mình chẳng là cái thớ gì hết trong xã hội này, mạng sống của mình có mất đi cũng chỉ như “chín con trâu đị mất một sợi lông” mà thôi.
           Rồi ông nhủ thầm :
           - Mình chết thực là vô ích, chi bằng cố sống những năm cuối cùng của cuộc đời mà làm một công trình để lại cho hậu thế.
           Nghĩ như thế, Tư Mã Thiên bỏ ý định tự vận, ông phấn phát tinh thần và dẹp hết buồn rầu, tủi hận sang một bên để chuyên tâm vào việc biên soạn bộ Sử Ký. Ông hoàn thành bộ Sử vĩ đại này trước khi chết. Bộ Sử của ông hiện nay được gọi là “Sử Ký Tư Mã Thiên”, bộ Sử vĩ đại nhất, giá trị nhất của Trung Hoa mà cho tới nay vẫn chưa có bộ Sử mới nào hơn được.
  
  1.     Tự ái trong đời sống hôn nhân. 
 Trong đời sống gia đình chỉ có vợ chồng và mấy đứa con thế mà cũng trở nên một xã hội phức tạp. Gia đình được xây dựng bởi những con người khác nhau, khác nhau về văn hóa, giáo dục, phong tục, kinh tế, nhất là khác nhau về tâm lý mà người ta đã đưa ra 5 định luật tâm lý trong đời sống hôn nhân.
           Vì những khác biệt đó mà những mối bất hòa, những va chạm xẩy ra như cơm bữa giữa vợ chồng với nhau. Đúng vậy, đối đầu với thực tế, người ta thấy “đời không như mơ”. Và hơn nữa, có “ở trong chăn mới biết chăn có rận”, sống gần nhau người ta mới khám phá ra những nết xấu của nhau. Lúc này người ta không còn coi nàng như công chúa nữa, và chồng cũng không được coi như hoàng tử nữa, và người vợ dám thẳng thừng phát biểu mà không ngượng miệng :
                                       Ngày xưa em coi anh như giàn thiên lý
                                      Bây giờ em coi anh như con khỉ leo cây.
           Chính những khuyết điểm bị khám phá đã châm ngòi cho những mối bất hòa âm thầm, đôi khi đi đến chỗ bùng nổ.  Những mối bất hòa này có thể gây nguy hại cho sự bền vững của cuộc sống hôn nhân.  Nếu không biết kìm hãm tự ái thì sự đổ vỡ chẳng còn xa.
 
Truyện : Thách thức
           Trong báo “Phụ nữ chủ nhật” tác giả Ánh Ngọc có một bài viết mang tựa đề “Thách thức”. Đại khái câu chuyện như sau :
           Anh dẫn xe ra khỏi cửa rồi mà chị vẫn còn chạy theo níu áo : Nè, có “ngon”thì đánh tui đi ! Đánh đi ! Chớ đừng có nói rồi không dám làm ! Và thế là “bốp ! Bốp !... Chị bị hai bạt tai  in dấu trên gò má một cách … ngon ơ !  Trong khi anh đã cố nhịn bằng cách lấy xe  đi khỏi nhà để dằn cơn nóng giận trong một trận cãi vã.  Trước khi đi anh nói thòng một câu cho đỡ quê :”Cô mà nói nữa là coi chừng ăn đòn” !  Bị chạm tự ái vì câu hăm dọa ấy, chị đã chạy theo và thách thức, đẩy anh vào cái thế “thượng cẳng chân, hạ cẳng tay” với vợ mình.
           Sự thực thì nhiều ông chồng đánh vợ chỉ vì bất  đắc dĩ mà thôi, chứ họ cũng ý thức :”Mình là đàn ông, có sức khỏe, giỏi thì đánh với mấy tay ngang cơ ! Chớ còn đánh đàn ba chân yếu tay mềm thì hèn lắm… Vợ chồng nào mà chẳng có chuyện cãi nhau. Tức quá thì dọa cho bả ngán.  Ai dè mấy bả thách lại mình và còn nhấn mạnh “nói mà không làm là kẻ… tiểu nhân”! Thế là vì tự ái đầy mình, nên chồng mới quyết giữ thể diện bằng cách  chứng tỏ “quân tử nhất ngôn”. Vậy là nhiều bả bị ăn đòn lãng xẹt.

 III. PHƯƠNG PHÁP HÃM DẸP TỰ ÁI
           Có nhiều cách để chữa trị tính tự ái hão, tự ái vặt, chúng ta tạm đưa ra hai cách, đó là phải tự biết mình và phải biết kìm hãm.
  1.     Phải tự biết mình. 
 Câu hỏi được đặt ra : Tôi là ai ? Một câu hỏi mà các triết gia xưa nay  không ngừng tự vấn bản thân mình. Nhiều triết gia cổ đại như Socrates đã khẳng định rằng biết mình chính là một  trong những cái biết làm nền tảng cho mọi sự hiểu biết. Ông đã mở đầu triết thuyết của ông bằng câu : “Connais toi, toi même” : bạn hãy biết chính minh bạn.
           Và trong binh pháp, Tôn Tử đã đưa ra một nguyên tắc bất hủ :”Tri kỷ tri bỉ, bách chiến bách thắng” : biết minh biết người, trăm trận trăm thắng.
           Biết mình là một điều rất khó bởi vì ai cũng nghĩ rằng  mình đang biết mình nhưng thực tế chẳng biết gì, hoặc biết lờ mờ và một điều chắc chắn là mình chỉ biết rất ít, không nắm trọn được chân lý và chỉ biết một cách phiến diện. Để nói lên sự hiểu biết phiến diện của con người, người Ấn Độ đã có một câu chuyện u mặc nói về người mù sờ voi.
 
Truyện : Những người mù rờ voi
           Xưa kia có một ông vua ngồi buồn, cho bắt tất cả người mù trong thành đem về hợp lại một chỗ.
          Vua cho đem ra một con voi, bảo các anh mù rờ vào, và tả lại cho nghe họ đã hình dung con voi ra sao !
          Sau khi mọi người đã rờ xong. Vua kêu hỏi từng người. Họ thưa :
-          Voi giống như cái nồi lớn (Đó là những người rờ trúng cái đầu)
-          Voi giống như cây cột tròn (Đó là những người rờ trúng cái chân)
-          Voi giống như cái chổi (Đó là những người rờ trúng cái đuôi).
… Mỗi người đều tưởng rằng mình đã hình dung rõ con voi với những bộ phận mà họ đã rờ trúng. Rồi thì không một ai  chịu nhận của ai, đều cho cái thị kiến của mình là đúng. Ban đầu còn cãi nhau, sau chửi nhau om sòm, và rốt cùng xăng tay đánh nhau tơi bời…
Nhà vua thấy vậy ôm bụng cười vang. (UDANA).
          (Nguyễn duy Cần, Cái cười của thánh nhân, tr 92).
           Trong đời sống vợ chồng cũng thế, không ai nắm trọn được chân lý, mỗi người chỉ biết một phần, còn phần khác thì phải dành cho người khác. Mọi người chỉ như những anh mù sờ voi, sự hiểu biết còn rất hạn chế, nên không bao giờ dám nhận là mình biết đúng hoàn toàn, còn có cái sai. Biết được như vậy vợ chồng khỏi cãi nhau vì  tự ái.
 
  1.     Phải biết kìm hãm.
 Khi bị chạm tự ái, chúng ta không thể để cho cơn giận được tự do bốc lên, rất nguy hiểm !  Chúng ta phải dùng phương pháp “án binh bất động” hoặc theo phương pháp “hoãn binh chi kế”… Nếu để cho cơn giận tự do bốc lên thì sẽ không kìm hãm được nữa.
           Chúng ta hãy bắt chước ông Nguyễn đình Giản ngày xưa : ở bàn làm việc, ông luôn để sẵn một cốc nước lã. Khi gặp một việc trái ý, cơn giận bốc lên, ông liền cầm cốc nước, uống từ từ từng ngụm cho đến khi hết cốc nước ông mới nói.
           Bên Tây phương cũng có một câu chuyện tương tự nói lên phương pháp “hoãn binh chi kế” có hiệu quả như thế nào.
 
Truyện : Thứ thuốc rất linh.
          Có một cặp vợ chồng già, thường xuyên cãi vã với nhau. Người hàng xóm thấy vậy bèn góp ý :”Vị ẩn sĩ sống trên núi chế biến được một thứ thuốc rất linh, giúp cho nhiều gia đình được êm ấm”.
 Bà vợ nghe lời người hàng xóm, lên núi tìm vị ẩn sĩ. Sau khi nghe trình bầy, vị ẩn sĩ bèn trao cho bà một chai thuốc khá to và nói :
 - Đây là một loại thuốc gia truyền rất hiệu nghiệm. Hễ khi nào ông gây sự, bà chỉ cần uống một ngụm, ngậm trong miệng, không được nuốt và cũng chẳng được nhổ ra, cho đến khi ông không còn nói nữa, rồi mọi chuyện sẽ được ổn thỏa.
 Bà vừa về tới nhà, thì ông liền quát tháo. Nghe vậy, bà liền hớp một ngụm thuốc, giữ trong miệng, đúng như lời căn dặn của vị ẩn sĩ. Thấy vợ không đáp lời, một lúc sau ông cũng thinh lặng. Bà vợ hết sứ vui mừng :
 - Đúng là loại thuốc gia truyền. Linh thật…
 Và cứ thế, cứ thế… Từ đó  hai ông bà dần dần trở lại cuộc sống êm ấm và hạnh phúc của thời còn trẻ.  Thứ thuốc gia truyền ấy, chẳng có gì khác hơn là nước lã mà thôi.
 
          KẾT LUẬN
           Để dẹp được tính tự ái vốn sẵn nằm trong con người, chúng ta hãy suy niệm đoạn thánh thi của thánh Phaolô tông đồ gửi cho tín hữu Philipphê :”Đức Giêsu Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa. Nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế. Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chất trên cây thập tự” (Pl 2,6-8).
           Ngoài ra chúng ta hãy suy niệm lời Chúa Giêsu phán :”Các con hãy học cùng Thầy vì  Thầy hiền lành và khiêm nhường trong lòng”(Mt 11,29).
           Nếu suy niệm gương khiêm nhường và hiền lành của Chúa Giêsu chắc chắn chúng ta sẽ tránh được tính tự ái hão, tránh được sự nóng giận, nhất là chúng ta sẽ không vội vàng có những hành động trả đũa trước những lời bình phẩm có tính cách xúc phạm với ý nghĩ rằng : ai khen ta mà khen phải, ấy là bạn ta, còn ai chê ta mà chê phải, ấy là thầy ta vậy (Viết theo chuyện phiếm của Gã Siêu).
 Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim Phát
Đà Lạt

 

HônPhối 34: CÔ ĐƠN

 I. SUY NIỆM LỜI CHÚA
           Chúng ta đọc : St 2,18-24

Nơi những trang đầu của Sách Thánh, chúng ta đọc thấy Thiên Chúa đã tạo dựng người nam giống HônPhối 34

Nơi những trang đầu của Sách Thánh, chúng ta đọc thấy Thiên Chúa đã tạo dựng người nam giống hình ảnh Ngài.  Ngài cho người nam sống trong địa đàng, đầy cây trái thơm ngon, đầy mọi giống vật béo tốt, đầy đủ mọi sự. Thế nhưng, người nam cảm thấy cô đơn, không hạnh phúc vì không tìm được cho mình một người bạn đồng hành.
           Thiên Chúa đã cho người nam ngủ li bì, rồi rút một cái xương sườn của ông ra, lắp thịt vào. Thiên Chúa đã làm nên một người nữ từ cái xương sườn của người nam và dẫn đến với ông.  Người nam vui sướng đón nhận người nữ làm trợ tá của mình. Đây là một đôi vợ chồng đầu tiên của nhân loại : ông Adong và bà Evà.
           Rồi sách Thánh nói tiếp :”Bởi thế, người đàn ông lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai thành một xương một thịt” (St 2,24).
           Như vây, vợ chồng như đũa có đôi, không còn bị lẻ loi, không còn cô đơn nữa. Vì thế vợ chồng phải luôn khăng khít với nhau, đùm bọc lẫn nhau làm thành một tổ ấm , tránh được sự cô đơn. Đồng thời, muốn tránh sự cô đơn, vợ chồng phải có sự đối thoại trong cuộc sống hằng ngày.
 
II. NÓI VỀ SỰ CÔ ĐƠN.
           1. Cô đơn là gì ?
                   Cô có nghĩa là lẻ loi
          Đơn có nghĩa là một mình.
          Như vậy, cô đơn là trạng thái của một người, không có ai thân, không nơi nương tựa.
           Một tác giả đã viết về sự cô đơn như sau :”Cô đơn là cho đi mà không có người nhận, muốn nhận mà không có ai cho. Cô đơn là chờ đợi, mà cái mình chờ chẳng bao giờ đến. Như hai bờ sống nhìn nhau mà vẫn nghìn trùng xa cách bởi giòng sông, nên cô đơn là gần nhau mà vẫn cách biệt.  Không  phải cách biệt của không gian mà là cách biệt của cõi lòng.
           Bởi đó, vợ cô đơn bên chồng, con cái cô đơn bên cha mẹ. Càng gần nhau mà vẫn cách biệt thì nỗi cô đơn càng cay nghiệt mà vẫn phải gần nhau thì lại càng cô đơn hơn. Tôi cô đơn khi tôi bị vây bọc bởi những con sông thờ ơ, những mây mù ảm đạm. Tôi có thể cô đơn vì tôi không đến với những người khác (Lẽ sống, tr 38).
           Gới trẻ hay thấy mình cô đơn vì chưa tìm được đối tượng của tình yêu. Thực ra, sự cô đơn đây chỉ là nỗi buồn vu vơ, nhẹ nhàng và lãng mạn vì chưa tìm được một người để chia sẻ tâm tình. Vì thế, họ thích đọc những bài thơ , hay hát những bài có vẻ sướt mướt như một nhạc sĩ nào đó đã viết :”Đời tôi cô đơn nên yêu ai cũng cô đơn”.  Họ phóng chiếu tâm tình của mình lên người khác và tưởng ai cũng cô đơn giống như mình :
                                      Hai người sống giữa cô đơn
                                 Nàng như cũng có nỗi buồn giống tôi.

 
          2. Cô đơn là điều đáng sợ. 
           Khi chúng ta hỏi nhau :”Điều gì đáng sợ nhất” ? Dường như chúng ta đều không tránh khỏi lúng túng. Chúng ta cảm thấy có biết bao điều đáng sợ trên đời này,
           Chúng ta còn nhớ đến những tác phẩm văn học đã đọc ?  Tôi rất nhớ truyện ngắn “Chí Phèo” của nhà văn Nam Cao, trong đó có một câu tả tâm trạng Chí Phèo khi ốm lăn quay sau một trận rượu say khướt :”Cô đơn, cái này đáng sợ hơn cả đói rét và ốm đau”.
          Thì ra, theo Nam Cao, cô đơn là điều đáng sợ nhất.
           Triết gia hiện sinh người Pháp, ông Jean Paul Sartre, trong cuốn tiểu thuyết tựa đề  là “Bức tường”, đã đặt vào môi miệng của anh Pierre, con người cô đơn bệnh hoạn cảm thấy ngăn cách không hiểu được thái độ sống của người tình mình là cô Agatha những lời tâm sự đầy cay đắng như sau :
“Có một bức tường ngăn cách giữa chúng tôi, tôi nhìn thấy và nói chuyện hằng ngày với cô, nhưng xem ra cô đang sống bên kia bức tường. Tôi thắc mắc không biết có cái gì ngăn cách giữa tình yêu  của chúng tôi hay không” ?
           Trong cuốn tiểu thuyết vừa kể, Jean Paul Sartre đã mô tả một cách tài tình sự cô đơn không đối thoại được với nhau giữa người với người. Kinh nghiệm đau thương này có thể xẩy ra cho chính con người thời nay, cho chính chúng ta trong giờ phút này.  Sự thiếu thông cảm, thiếu đối thoại giữa người với người có lẽ không do nguyên nhân khác biệt văn hóa, chủng tộc cho bằng sự nghi kỵ, thái độ ích kỷ của con người.
           Sống trong cô đơn thiếu thông cảm, con người không thể phát triển hết tài  năng của mình, không thể sống trọn cuộc sống và chắc chắn là không thể sinh hoa trái.
 
III. CÔ ĐƠN VÀ ĐỜI SỐNG VỢ CHỒNG.
           1. Lý do của sự cô đơn. 
           Thiên Chúa đã dựng con người có nam có nữ cho họ được kết hợp với nhau để trở nên một xương một thịt, họ sống với nhau như đũa có đôi, như răng với lợi, tại sao vợ chồng sống bên nhau mà lại có thể cô đơn được ?
           Trên nguyên tắc là không có cô đơn trong đời sống vợ chồng, vì họ đã trở nên một xương một thịt, một lòng một ý,  nhưng trong thực tế, có nhiều lý do khiến vợ chồng vẫn cảm thấy cô đơn : đồng sàng nhưng dị mộng, sống gần kề nhau mà lòng vẫn nghìn trùng xa cách. Chúng ta có thể đưa ra một vài lý do :
           * Tình yêu đã nhạt nhòa.
           Khi mới quen biết nhau người ta yêu nhau say đắm, nhưng khi sống trong gia đình, va chạm vào thực tế, với biết bao khó khăn, người ta mới bừng tỉnh, tình yêu bị giảm sút không còn thắm thiết như thưở ban đầu như thi sĩ Hồ Dzếnh nói :  
                                      Tình chỉ đẹp khi còn dang dở
                                      Đời mất vui khi đã vẹn câu thề.

           Ông Chamfort cũng phụ họa theo :”Hôn nhân là mồ chôn tình yêu”.  Dĩ nhiên, không phải lấy nhau rồi thì hết yêu nhau, nhưng chỉ có nghĩa là  tình yêu sẽ giảm sút đi. Vì thế mới có người nói :”Phải rửa tội cho tình yêu mỗi buổi sáng, và phải cưới nhau lại mỗi ngày”.
           * Có sự hiện diện của người thứ ba.
           Đôi lúc vợ hoặc chồng không còn trung tín với hôn ước đã ký với nhau trong lễ Hôn phối để xẩy ra cảnh  éo le :”Ông ăn chả, bà ăn nem”. Lúc ấy, tâm tinh hoặc tư tưởng của vợ hoặc chồng đã hướng về một đối tượng khác, làm cho cuộc sống vợ chồng trở thành tẻ nhạt và cô đơn.
           * Thiếu sự hòa hợp tâm lý.
           Tâm lý nam nữ đã khác nhau, kèm theo sự khác biết về văn hóa, phong tục, chủng tộc, sở thích, tôn giáo… làm cho người ta không hiểu nhau, không thông cảm với nhau, nhiều khi tình trạng trở nên căng thẳng khẩn trương. Do đó, cần có sự tìm hiểu để tránh những xích mích, những va chạm, bất hòa để tiến đến sự hòa hợp với nhau.
           * Thiếu tinh thần bao dung.
           Ai cũng có lập trường riêng, một đường hướng riêng cần phải bảo vệ. Nếu hai vợ chồng có hai đường hướng riêng khác biệt nhau, không nhường nhịn nhau, không dung hòa để đi một cái gì chung nhất thì không bao giờ đi đến chỗ hiệp nhất được, nhất là khi tự ái dâng lên cao.  Nhường nhịn là giải pháp tốt nhất.
 
                                      Truyện vui :  Ai quyết định ?
           Khi đến dự tiệc mừng lễ Vàng hôn phối của một đôi vợ chồng già rất hạnh phúc, một thanh niên thành thật hỏi ông cụ :
- Thưa cụ, cháu thấy gia đình cụ thật hạnh phúc. Xin cụ cho biết bí quyết nào đã giúp cho hai cụ trong suốt cuộc đời hôn nhân sống hạnh phúc như vậy ?
Cụ  già vui vẻ trả lời :
- Chả nói giấu gì cháu, bí quyết hạnh phúc của tôi là : cái gì cả vợ chồng nhất trí thì quyền quyết định là tôi. Còn cài gì hai người không nhất trí thì vợ tôi quyết định.
 
2. Giải pháp cho sự cô đơn
           Chúng ta tạm đưa ra hai giải pháp để giải tỏa sự cô đơn trong cuộc sống hằng ngày, nhất là trong đời sống vợ chồng , đó là giải pháp tự nhiên và giải pháp siêu nhiên.
           a) Giải pháp tự nhiên : ĐỐI THOẠI 
           Đối thoại là chiều kích hiện sinh không thể thiếu trong cuộc đời con người. Cái tôi luôn hướng đến người khác ngoài tôi ra, để đối thoại, để phát triển chính minh, vì :
                                       Người ta có miệng có môi,
                                  Khi buồn thì khóc, khi vui thì cười.

          Trên bình diện suy tưởng tự nhiên, chúng ta có thể áp dụng hai chia sẻ sau đây :
 - Trước hết là tư tưởng của triết gia Ferdinand EBNER, một triết gia Kitô, như sau : Lời nói và tình thương là hai phương thế để đối thoại với người chung quanh. Lời nói và tình thương đi đôi với nhau… Tình thương giúp ta tìm ra lời nói đúng… Lời nói mà không có tình thương, là lạm dụng, dễ làm mất lòng.
 - Thứ đến là câu cách ngôn truyền thống khôn ngoan Do thái : Đó là Thiên Chúa đã ban cho con người hai lỗ tai và một cái miệng.  Điếu này có nghĩa là để đối thoại với nhau, con người cần lắng nghe nhiều trước khi nói.
 Tổng kết lẽ khôn ngoan con người về đối thoại, chúng ta có thể nói : cần lắng nghe trước, nói sau, nhưng trong mọi sự phải có tình thương là linh hồn cho thái độ lắng nghe cũng như thái độ nói ra. Tình thương là linh hồn cho mọi hoạt động của con người.  Và đặc biệt, đối với Kitô hữu, tình thương đó phải là tình thương bác ái, là chính Chúa Kitô, là những tâm tình của Chúa Giêsu Kitô.
 
          b) Giải pháp siêu nhiên : LỜI CHÚA
           Thiên Chúa đã dựng nên người nam người nữ cho họ không khăng khít với nhau trong gia đình, trên nguyên tắc, gia đình phải là tổ ấm, trong đó vợ chồng, cha mẹ, con cái sống yêu thương đùm bọc lẫn nhau, sống trên thuận dưới hòa, trong ấm ngoài êm, nhưng trong thực tế, nhiều gia đình đã biến tổ âm thành ngục tù nơi giam hãm các thành viên, hoặc như một chiếc quán trọ trong đó người ta chỉ ở tạm thời, không chút quyến luyến.
 
                                      Truyện : Cảm nhận của Maxim Gorki.
                   Khi văn hào Maxim Gorki của Nga viếng thăm Mỹ quốc, ông được bạn bè đưa đến một khu  giải trí nổi tiếng ở California. Họ muốn ông chứng kiến cảnh trùng trùng điệp điệp của những đám đông đến đây giải trí.
          Mỗi ngày ông được đi xem một cảnh quan.  Hôm thì cảnh từng đoàn người nhào lộn với các trò chơi trên không trung. Hôm thì cảnh đua thuyền trên mặt hồ. Hôm thì viếng thăm các bảo tàng viện nổi tiếng. Hôm thì lại đi xem các đoàn xiếc, các vũ nữ trình diễn.
          Tóm lại, những người Mỹ muốn cho ông khách  đến từ một nước xã hội chủ nghĩa thưởng thức được tất cả những trò giải trí tại một quốc gia  được xem là văn minh nhất thế giới.
          Sau một tuần lễ hướng dẫn vị thượng khách du ngoạn và giải trí, người ta hỏi cảm tưởng của ông. Thinh lặng một lúc, ông phát biểu :”Các ông phải là những người buồn bã lắm”.
 Thế giới càng văn minh, khoảng cách giữa con người cũng được rút vắn lại. Tuy nhiên, mâu thuẫn thay, con người ngày nay càng cảm thấy cô đơn. Những phương tiện giải trí mỗi ngày một gia tăng và tối tân là để lấp đi nỗi cô đơn trong lòng người. Khi tâm hồn càng trống rỗng thì con người càng tìm mọi cách để lấp đầy nó.
           Sự thiếu thông cảm, thiếu đối thoại giữa người với người có lẽ không do nguyên nhân khác biệt văn hóa chủng tộc cho bằng do sự nghi kỵ, do thái độ ích kỷ của con người. Để giải thoát con người khỏi cảnh cô đơn, Đức Giêsu từ lâu đã mạc khải một bí quyết  qua dụ ngôn được kể lại nơi Tin mừng thánh Gioan đoạn 15 nói về cây nho và cành nho.
           Suy gẫm về dụ ngôn này, chúng ta thấy dụ ngôn cây nho và cành nho của Đức Giêsu mạc khải cho con người  bí quyết sống hiệp thông, sống yêu thương với nhau để sinh hoa trái, để sống trọn cuộc sống của mình. Bí quyết đó là sống kết hợp với Đức Kitô.
           Thiên Chúa là Tình yêu, là sự hiệp thông. Thiên Chúa muốn cho con người sống hiệp thông với Ngài  để có thể sống hiệp thông với nhau trong tình yêu thương.
           Ông Raoul Follereau, tông đồ của những kẻ nghèo hèn, nhất là những người bị bệnh cùi bị loại ra bên lề xã hội đã nhận xét như sau :”Không có Thiên Chúa hiện diện giữa con người thì con người khó mà đối thoại với nhau, nhìn nhau như là anh chị em”.
           Đó là bí quyết để con người thoát ra khỏi cô đơn và sống hiệp thông hiệp nhất với nhau.
 Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt

         

HônPhối 35: KIỀNG BA CHÂN

I. SUY NIỆM LỜI CHÚA.
           Chúng ta đọc : Mt 28,16-19.

Từ trước tới nay, Chúa Giêsu nói rất nhiều về Chúa Cha, và chỉ cuối đời Ngài mới nói nhiều về HônPhối 35

Từ trước tới nay, Chúa Giêsu nói rất nhiều về Chúa Cha, và chỉ cuối đời Ngài mới nói nhiều về Chúa Thánh Thần. Ngài mạc khải từ từ trong Phúc âm cho đến ngày Ngài giã biệt các Tông đồ ra đi.  Ngài nói :”Mọi quyền năng trên trời dưới đất đều được trao cho Thầy. Vậy các con hãy đi rao giảng cho muôn dân, làm phép rửa cho họ nhân danh Cha và Con và Thánh Thần, giảng dạy cho họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho các con” (Mt 28,16-19).
           Hôm nay Chúa Giêsu chính thức mạc khải cho chúng ta một điều hết sức quan trọng và vĩ đại, đó là mầu nhiệm Một Chúa Ba Ngôi.
           Đây là một mầu nhiệm lớn lao và sâu thẳm, trí khôn không thể hiểu, trí tưởng tượng không thể hình dung ra. Chúng ta tin vì chính Chúa Giêsu đã mạc khải và Ngài xuống thế gian  cũng nói cho chúng ta biết rằng ;”Thiên Chúa đã yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một Người để tất cả những ai  tin ở Con của Người thì không phải hư mất, nhưng được sống đời đời”.
           Chúng ta chỉ biết Thiên Chúa là một trong bản thể, nhưng là Ba trong Ngôi vị riêng biệt : Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần.  Chúa Cha là Đấng tạo thành trời đất hữu hình và vô hình; Đức Giêsu, Con Một Thiên Chúa, vì loài người chúng ta, và để cứu rỗi chúng ta, Người đã từ trời xuống thế; Chúa Thánh Thần là Thiên Chúa, là Đấng ban sự sống, được phụng thờ và tôn vinh  với Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con.  Đó là điều chúng ta tuyên xưng trong kinh Tin Kính.
           Hằng ngày mỗi khi cầu nguyện hay làm việc gì, chúng ta đều làm dấu Thánh giá để tuyên xưng và tôn vinh Chúa Ba Ngôi. Khi suy tưởng về Chúa Ba Ngôi, chúng ta thấy Ba Ngôi cùng cộng tác điều hành vũ trụ trong sự thống nhất và chúng ta có cảm tưởng các Ngài sống trong một gia đình, và chúng ta cũng được ở trong gia đình Thiên Chúa.
           Hôm nay hai anh chị  cử hành lễ nghi Hôn phối để chính thức thiết lập một gia đinh công giáo. Gia đình công giáo luôn có đặc tính vững bền, chứ không phải tạm thời, nghĩa là có tính cách vững bền, không có ly dị. Nhân dịp này tôi muốn anh chị hay bắt chước đời sống của Chúa Ba Ngôi đễ làm cho gia đinh luôn vững chắc, không gì có thể lay chuyển nổi.  Khi nói đến tính cách vững bền của gia đình, tôi liên tương đến cái “Kiềng ba chân”, như trong câu ca dao tục ngữ dưới đây :
                                                 Dù ai nói ngả nói nghiêng
                                          Thì ta vẫn vững  như kiềng ba chân.

 
II. TẢN MẠN VỀ CÁI KIỀNG.
           Giới trẻ thời nay rất khó hiểu câu tục ngữ này, vì thời nay đời sống văn minh hơn, nhiều tiện nghi hơn, đã có bếp ga, bếp điện rồi không mấy người còn dùng kiềng để thổi nấu nữa.
           Muốn dễ hiểu hơn, chúng ta phải trở về đời sống nông thôn miền Bắc cách  đây 50,60 năm thì mới hiểu được cái kiềng như thế nào.
           Ngày xưa, kinh tế còn yếu kém, người dân quê phải nấu cơm bằn rơm, rạ, lá cây hay củi.  Muốn nấu cơm, người ta đúc ba “hòn đầu rau” bằng đất, hơi cong cong, xếp cho ba đầu chụm vào nhau để có thể bắc nồi niêu lên trên, rồi đun rơm củi vào. Vì ba hòn đầu rau riêng rẻ nên người ta có thể xê dịch : dịch ra hay dịch vào tùy nồi niêu to hay nhỏ.
           Bao giờ cũng phải có ba hòn đầu rau thì mời có thể bắc nồi niêu lên được, không bao giờ dùng hai hoặc bốn. Vì vậy dân gian mới có câu :
                                       Thế gian một vợ một chồng
                                  Chẳng như vua bếp hai ông một bà.

           Những nhà khá giả hơn không dùng hòn đầu rau mà dùng kiềng để đun bếp.  Kiềng có 3 chân bằng sắt được nối kết với nhau bằng một vòng sắt bên trên để làm cái bệ đỡ nồi niêu, rồi đem rơm củi vào đun như thường.
           So sánh việc dùng ba hòn đầu rau và cái kiềng thì dùng kiềng tiện lợi hơn nhiều. Nếu dùng hòn đầu rau thì không vững chắc vì một đàng hòn đầu rau dễ bị vỡ, đang khác có thể chuyển dịch : gặp nồi to thì xê dịch rộng ra, gặp nồi nhỏ thì dịch gọn vào, nhiều lúc sơ ý nồi niêu có thể bị sụp đổ.
           Nếu dùng kiềng ba chân thì vững chắc, nồi niêu không bị sụp đổ vì chân kiềng không di chuyển được, gặp nồi to hay nồi nhỏ cũng thế. Các bà nội trợ  miền quê đều muốn có một cái kiềng để nấu bếp vì nó gọn gàng và vững chắc.

 III. GIA ĐÌNH VÀ CÁI KIỀNG.
           Khi trai gái thương yêu nhau, người ta muốn kết hợp với nhau để thành lập một mái ấm gia đình.  Ngạn ngữ Pháp có câu :”Gia đình là nền tảng xây dựng xã hội”. Đức Giáo hoang Gioan Phaolô II cũng chủ trương như thế trong tông huấn Familiaris Consortio.  Nền tảng vững chắc thì ngôi nhà mới vững được, mà nền tảng là tình yêu mà vợ chồng xây dựng trên đó.
           Khi nói về gia đình, người ta thường hiểu phải có ba thành phần, đó là người cha, người mẹ và con cái, giống như ba chân của một cái kiềng. Ba thành phần ấy  tạo thành một gia đình, nhưng chưa có thể là mái âm. Muốn thành mái ấm mỗi thành viên trong đó phải chu toàn trách nhiễm của mình.
           1. Người cha trong gia đình.
           Người ta nói :”Kim chỉ phải có đầu”.  Như thế người cha phải là gia trưởng.  Gia trưởng, theo nghĩa tích cực là người chỉ đạo, hướng dẫn con thuyền gia đình lướt qua mọi giông tố, mọi phong ba  để cập bến bình an và hạnh phúc. Theo luật quốc tê, thuyền trưởng không được rời tầu thuyền trước người khác cuối cùng. Cũng vậy, gia trưởng không được “ngã tay chèo” dù bất kỳ ở trong tình thế nào. Đó mới là người chồng, người cha đầy trách nhiệm. chứ không ích kỷ tìm bình an cho riêng mình.
           Gia trưởng phải là người gương mẫu bởi vì đầu không xuôi thì đuôi không lọt được, đầu tầu mà không chuyển thì các toa tầu đứng yên một chỗ. Người Việt nam còn nói thêm :”Nhà dột từ nóc”, nếu nóc nhà mà dột thì cả nhà đều bị dột .
          Người Tây phương cũng có câu tục ngữ :”Piscis e capite vivit et a capite faetet” (Cá sống tự đầu và cá thối cũng tự đầu). Đây là kinh nghiệm của Tây phương, nhưng người Việt chúng ta cũng chẳng thiếu kinh nghiệm đó, nhất là các bà nội trợ khi đi chợ mua cá.
           Thánh Phaolô viết :”Người chồng là đầu người vợ”(Ep 5,23). Thánh nhân cũng biết đầu thì rất hay và cũng rất dở theo kiểu nói của Tây phương “Cá thối tự đầu”, nên ngài còn điểm thêm mấy chữ khác nữa vào câu nói trên : Người chồng là đầu người vợ “như Chúa Giêsu là đầu Hội thánh”. Do đó, ta có thể kết luận :”Người chồng là đầu sống của người vợ”, nghĩa là làm cho người vợ sống, chứ không làm cho nó hư đi, như cá thối tự đầu vậy.
           Người chồng là người đầu điều khiển gia đình, nếu đầu đã thối thì điều khiển làm sao ? Chính thầy Hêli không biêt dạy con (vì không có mẹ ?) mà con hư đi nên Chúa phạt.
 
          2. Người mẹ trong gia đình.
           Người ta nói :”Đàn ông dựng nhà, đàn bà xây tổ ấm”. Lập được một gia đình là một chuyện dễ, còn biến gia đình thành một tổ ấm là một việc khó, mà công việc đó người ta gán cho đàn bà bởi vì “đàn bà xây tổ ấm”. Như vậy, hạnh phúc gia đình liên hệ phần lớn đến đàn bà.
 Ông Joseph de Maistre đã nói :”Công lao của người đàn bà là tề gia nội trợ, làm thế nào cho chồng con được vui sướng”.  Vì thế, người vợ là một nội tướng rất quan trọng, lo sắp xếp mọi công việc trong gia đình :”Nếu anh tìm thấy một gia đình hạnh phúc, anh nên tin rằng ở đó có một người đàn bà biết quên mình” (René Bazin).
                  Người vợ cũng có ảnh hưởng rất lớn đến sự nghiệp của chồng. Có người nói rằng : Không có thành công nào của chồng mà không có bóng dáng của người vợ.  Vì vậy bà vợ phải biết khích lệ chồng trước những nản chí do thất bại trong công việc làm ăn của chồng. Ông Nixon, tổng thống nước Mỹ, sau lần thất cử tranh chức tổng thống, đã thoái chí, nhất quyết bỏ đường chính trị, nhưng nhờ người vợ khích lệ, mà ông đã lấy được tự tin, và đã trở thành tổng thống nước Mỹ.
           Ngoài ra, bà cũng phải lưu ý đến việc giáo dục con cái vì gia đình là trường học đầu tiên của đứa trẻ mà người mẹ là cô giáo đầu tiên  dạy cho đứa trẻ những bài học đầu tiên về nhân bản và tôn giáo.
 
          3. Con cái trong gia đinh.
           Người ta nói : “Con có cha mẹ đẻ, chẳng ai ở lỗ nẻ chui lên”. Câu tục ngữ có ý nói : con cái phải nhớ công sinh thành của cha mẹ, nhất là của người mẹ chín tháng cưu mang, ba năm bú mớm.
           Đã là con thì phải có hiếu với cha mẹ. Hiếu thảo là phải yêu mến, biết ơn, vâng lời và giúp đỡ cha mẹ khi còn sống và đã qua đời. Hiếu đây không phải chỉ là một tâm tinh, nhưng người ta đã nâng chữ “hiếu” lên thành một đạo, mà người con phải chu toàn :
                                       Một lòng thờ mẹ kính cha
                                Chon trọn chứ hiếu mới là “đạo con”.

           Cha mẹ bao giờ cũng muốn cho con cái trở nên đứa con ngoan hiền, phải được giáo dục tốt, nhưng ngày nay giới trẻ vin vào câu tục ngữ :”Con hơn cha là nhà có phúc” để rồi coi thường cha mẹ,
không muốn cho cha mẹ dạy dỗ nữa, nói chung là không muốn vâng lời cha mẹ nữa.
           Nhưng sự hiểu biết của giới trẻ còn rất hạn hẹp, rất nông cạn, chưa hiểu câu tục ngữ này :”Bảy mươi chưa đui chưa què, chớ khoe mình lành”, nghĩa là chớ chủ quan tự phụ, còn phút chót cũng có thể gặp rủi ro, không nói mạnh được.
           Người ta còn nói :
                                                Khôn đâu đến trẻ,
                                                Khỏe đâu đến già.

           Vì thế, giới trẻ phải học thuộc lòng câu tục ngữ này :”Bảy mươi còn học bảy mươi mốt” nghĩa là luôn khiên tốn học hỏi người hơn mình.  Chắc chắn cha mẹ có nhiều kinh nghiệm trường đời hơn con cái, cho nên cũng cần được cha mẹ dạy dỗ chỉ bảo thêm.
 
Truyện : Phượng hoàng dạy con.
          Phượng hoàng là một loài chim thích trú ẩn trên đồi núi cao.
          Cặp mắt nó có sức mạnh phi thường, dù ánh sáng mặt trời chói lọi chừng nào, cứ nhìn chăm chăm chẳng nhíu mắt.
          Loại chim này xây tổ trong những kẽ đá nằm trên chót núi, mục đích tập luyện con nó sống vừa kín đáo, vừa cao thượng.
          Ngày đêm tận tụy chăm nom săn sóc đàn chim con, triệt để bảo vệ con lúc bị thù địch tấn công, hãm hại, phá phách.
           Thánh Giêrônimô nói : giống phượng hoàng này có thuật dạy con thật gắt gao : khi mặc trời mọc lên sáng chiếu, nó để con nó nằm trên đôi cánh, chăm chăm ngó mặt trời, nhìn thẳng vào ánh sáng. Con nào nhắm mày nhíu mặt thì bị bỏ rơi xuống, kể như không phải là con.
           Vì các lẽ đó, phượng hoàng được gọi là vua các loài chim.
          Các nhà chuyên môn về giáo dục thường lấy mẩu chuyện phượng hoàng để tượng trưng người mẹ biết bảo tồn nền giáo dục cho con cái.
 Như ở trên chúng ta đã nói “Kiềng ba chân” biểu tượng cho sự vững chắc. Nếu trong gia đình, mọi thành phần ý thức về vai trò của mình mà làm tròn trách nhiệm của mình thì gia đình ấy vững chắc. Nếu một thành phần nào thiếu trách nhiệm của mình trong việc xây dựng gia đinh thì chiếc kiềng chỉ còn có hai chân, thậm chí còn một chân thì gia đình làm sao đứng vững được, sẽ bị sụp đổ, đó là gia đình xèo xóe tối ngay :
                                       Nhà kia lỗi đạo con khinh bố
                                      Mụ nọ chanh chua vợ chửi  chồng.

           Gia đình Thánh gia với ba thành phần : Chúa Giêsu, Đức Maria và thánh Giuse đã trở thành tấm gương sang chói cho các gia đình noi theo, trong đó mỗi thanh phần đã làm tròn trách nhiệm của mình một cách tuyệt hảo.
 Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt

 

HônPhối 36: YÊU LÀ ĐAU KHỔ

  1.   SUY NIỆM LỜI CHÚA. 
           Chúng ta đọc : Mt 16,24-26.

Rồi Đức Giêsu nói với các môn đệ :”Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá HônPhối 36

Rồi Đức Giêsu nói với các môn đệ :”Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo” (Mt 16,24).
           Theo văn mạch của câu Tin mừng trên thì sau khi quở trách Phêrô vì đã ngăn cản Ngài đi theo con đường thập giá, Chúa Giêsu nói thêm rằng con đường ấy là con đường mà tất cả những ai muốn làm môn đệ Ngài đều phải đi theo.
           Đây là lời Chúa Giêsu ngỏ với các môn đệ, là những người đã chọn lựa bước đi theo Ngài. Lời mời gọi này có ý gợi lên sự tự do quyết định của người được mời, vì một đàng Chúa tôn trọng quyền tự do của con người, đàng khác con người tự chịu trách nhiệm về quyền lựa chọn của mình. Một khi con người quyết tâm chọn Chúa để trở thành môn đệ đích thực thì cần phải thực thi những điều kiện sau đây :
-          Phải từ bỏ mình : tức là phải khước từ lòng tự ái, sự nuông chiều bản thân và từ bỏ mọi thói hư tật xấu.
-          Phải vác thập giá mình : tức là phải hoàn toàn tuân phục thánh ý Chúa trong mọi sự.
-          Theo Thầy : nghĩa là ta trở thành môn đệ của Thầy, để cộng tác vào công việc xây dựng Nước Trời.
 Như vậy, từ bỏ chính mình cũng có nghĩa là vác thập giá mình, tức là chấp nhận đồng số phận tôi tớ với Thầy trong cuộc sống và cái chết.
           Chúa không bảo chúng ta đi tìm thập giá, nhưng là hãy vác lấy thập giá mình. Một cách nào đó, không ai có thể thoát  khỏi thập giá trong cuộc sống. Đau khổ không là một đầy đọa mà con người phải gánh chịu, mà là một phương thế nên thánh. Mỗi người một thập giá, mỗi ngày một thập giá. Ai trong chúng ta cũng đang phải chịu một đau khổ nào đó. Ước gì khổ đau thanh luyện chúng ta để mỗi lúc được kết hợp với Chúa mật thiết hơn (Mỗi ngày một tin vui).
           Những người sống trong bậc tu trì cũng như những người sống trong bậc hôn nhân đều có thập giá riêng của mình. Không ai có thể trốn thoát khỏi thập giá, mà đã nói đến thập giá là phải nói đến đau khổ. Phương pháp là cho đau khổ bớt đi vẻ ghê rợn của nó, thậm chí còn làm cho đau khổ thành niềm vui thì cần phải có tình yêu. Tình yêu sẽ hóa giải tất cả. Tình yêu và thập giá luôn đi đôi với nhau như hai chị em sinh đôi.
 
II. YÊU VÀ ĐAU KHỔ. 
  1.     Các bạn trẻ định nghĩa về tình yêu. 
 Thực ra, chưa có một câu định nghĩa về tinh yêu lam cho nhiều người thỏa mãn. Người ta chỉ có thể định nghĩa được một khía cạnh nào của tình yêu, vì tình yêu chỉ có thể cảm nghiệm được, chú không để diễn tả bằng lời nói:
                             Làm sao định nghĩa được tình yêu,
                                      Bởi ai hiểu được sao trời lại xanh ?
                                          (Hồ-Dzếnh)

           Tuy nhiên, có một số bạn trẻ đinh nghĩa rất văn tắt theo cái nhìn của họ, dĩ nhiên cũng chỉ ở dưới một số khía cạnh nào đó.   Họ cho là :
      -          Yêu là đau khổ.
-          Yêu là hy sinh.
-          Yêu là phục vụ.
-          Yêu là cho đi, là dâng hiến.
-          Yêu là chết trong long một ít.

 
  1.     Một số tác giả nói về tinh yêu.
        “Yêu tức là đã ký kết với đau khổ” (Bà de Cohin).
“Yêu là khổ, nhưng không yêu cang khổ hơn” (Tục ngữ Nga).
“Yêu là đau khổ, mà không yêu là chết” (Hyppolite Taine).
“Tình yêu chỉ đẹp là những mối tình kết thúc trong đau khổ. Mối tình không đau khổ là mối tình giả tạo (Ronsard)
“Tình yêu sống đươ6c nhờ đau khổ, sống trong hạnh phúc, tình yêu sẽ chết mòn” (Bà De Girardin).
 
  1.     Các bạn trẻ nghĩ thế nào ?
 Vào thập niên 60 của thế kỷ trước, giới trẻ rất thích ngâm nga bài hát “Sang ngang”, có lẽ là của nhạc sĩ Đỗ Lễ !  Trong bài hát có những câu rất mùi vị, rất gợi cảm hợp với tâm lý của những anh chị tuổi “teen” đang đi tìm người yêu.  Trong đó có những câu rất da diết, làm cho người nghe phải mủi lòng : “Nếu biết rằng tình là dây oan, nếu biết rằng hợp rồi sẽ tan”, rồi sau cùng đi đến kết luận :”Thì dương gian đừng có chúng mình”.
 
  1.     Lập trường của chúng tôi.
 Chúng tôi xác nhận rằng :”Yêu là đau khổ, là hy sinh” như một số ban trẻ đa nói.
Chính vì vậy, trước khi kết hôn, các bạn trẻ hãy suy nghĩ cho kỹ để bước vào đời hôn nhân một cách sáng suốt và tự tin, và sau khi đã kết hôn rồi thì phải cố mà chịu. Vì vậy, ông Thomas Fuller đã khuyên :”Trước khi kết hôn, hãy mở mắt to ra. Và sau ngày cưới hãy cố nhắm mắt lại”.
           Tình yêu và đau khổ như mặt phải và mặt trái của một thực tại, đã có bên này thì phải có bên kia, chẳng có đồ vật nào chỉ có mặt phải, mà không có mặt trái, ví dụ : đồng tiên luôn luôn phải có hai mặt. Cũng thế, hễ yêu là phải khổ, không khổ cách này thì khổ cách khác, hai đặc tính đó vương vấn quần quít vào nhau như keo sơn.
           Ông Xuân Diệu, một nhà thơ lãng mạn, thế mà cũng phải công nhận :”Yêu là chết trong lòng một ít” bởi vì “cho thì nhiều mà lấy lại chẳng bao nhiêu”.  Triết gia Hypolite Taine cũng xác nhận :”Yêu là đau khổ, nhưng không yêu là chết”.
           Một đồ vật chỉ có mặt phải hay mặt trái, sẽ không phải là một đồ vật hiện thực. Cũng vậy, yêu mà vắng đau khổ là yêu giả yêu hờ. Đau khổ mà không yêu là đau khổ hỏa ngục, chết chóc.  Chính vì thế, người nào chỉ xây dựng tình yêu trên mơ mộng, thực tế sẽ cho thấy rằng “Hôn nhân là một cuốn tiểu thuyết, mà trong cuốn tiểu thuyết đó, vai chính đã chết ngay từ lúc chưa đọc “(Meisseln). Nghĩa là họ sẽ vỡ mộng thảm thương.  Trước mắt họ, hạnh phúc sẽ vắng bóng cho đau khổ hiện nguyên hình, khống chế và hành hạ họ tàn nhẫn, bởi vì theo họ “Tình chỉ đẹp khi còn dang dở, đời hết vui khi đã vẹn câu thề”.
           Có người còn mỉa mai hơn nữa :”Đàn ông có hai ngày vui “ngày cưới vợ và ngày đưa vợ đi chôn”. Lý do, chưa lấy nhau, cái gì của họ cũng thấy hữu duyên, hữu tình, nhưng lấy nhau rồi, duyên tình biến mất, để người này trở thành cái nợ của người kia (Hồng Nguyên, Tâm sự với em ngày thành hôn, tr 67).
 
III. CHẤP NHẬN TÌNH YÊU VÀ THẬP GIÁ. 
           Chúa Giêsu đã để lại cho chúng ta mẫu gương san lạn về “tinh yêu và thập giá’. Hai bề mặt của con tim này “tình yêu và thập giá” đã được Đức Kitô chuẩn ấn bằng suốt cuộc đời của Ngài ở trần gian này.
           Vì yêu chúng ta, “Ngài đã hạ mình thấp hèn, trở thành vâng phục cho đến chếtvà chết trên thập giá” (Pl 2,8)  “Ngài là Đấng không bao giờ biết đến tội, mà vì ta, Thiên Chúa đã làm cho thành sự tội, ngõ hầu trong Ngài, ta được trở thành sự công chính của Thiên Chúa” (2Cr 5,21).
           Để chứng tỏ cho mọi người biết rằng “Ngài đã yêu họ đến cùng” (Ga 13,1), Đức Kitô đã bước vào đoạn đường quyết liệt của tình yêu.  Hủy mình vì họ. Ngài đã tự nguyện đổ máu ra trên thập giá, để đem lại bình an cho muôn vật dưới đất cũng như trên trời. Chính nhờ sự chết của Ngài, con người được giao hòa với Thiên Chúa, và trở thành thánh thiện, tinh tuyền, vô phương trách cứ trước nhan thánh Ngài’(x. Cl 1,20-22).
           Như vậy, chúng ta phải xác định lại vấn đề “Yêu và đau khổ”trong cuộc sống và không bao giờ được nói là “nếu biết rằng đau khổ”, bởi vì  chữ “nếu” bao hàm ý nghĩa thoái thác. Trái lại, chúng ta phải xác tín dứt khoát yêu và đau khổ là hai thực tại gắn liền với nhau. Càng yêu nhiều càng khổ nhiều, và càng khổ nhiều, tình yêu càng tinh túy đậm đà.
           Theo kinh nghiệm của nhiều người, ở đâu có tình yêu chân thật và nồng nàn, thì ở đấy không còn đau khổ nữa. Thánh Augustinô đã có kinh nghiệm về vấn đề này nên đã đưa ra một nguyên tắc bất hủ :”Ubi amatur, non laboratur. Si laboratur labor amatur” : nghĩa là ở đâu có yêu thương ở đấy chẳng còn lao nhọc, mà giả có lao nhọc, thì lao nhọc cũng biến thành yêu thương.
           Chúng ta thấy kinh nghiệm này đã được đúc kết trong kho tàng văn chương bình dân Việt nam. Một người vợ yêu gia đình, yêu chồng, yêu con đã không ngần ngại hy sinh, dâng hiến cả sức khỏe, sắc đẹp và thời giờ của mình cho hạnh phúc gia đình mà vẫn cảm thấy hãnh diện nói với chống :
                                                 Một ngày ba buổi trèo non,
                                      Còn gì mà đẹp, mà dòn hỡi anh !
                                                Một ngày ba buổi trèo đèo,
                                      Vì ai vú xếch, lưng eo hỡi chàng ?

           Hiểu như thế, và nếu chúng ta can đảm đem ra thực hiện những điều đó, cuộc sống yêu đương trong nôi ấm gia đình sẽ không còn những đe dọa đổ vỡ. Bởi vì, gian truân, đau khổ và thử thách đã mất đi tính chất phá hủy, để trở thành phương tiện nuôi lớn tình yêu. Và qua tình yêu, hạnh phúc sẽ ngự trị.
           Khi lập gia đình, các bạn trẻ hãy hiểu biết và chấp nhận “tình yêu và thập giá”. Vợ chồng sẽ là thập giá của nhau. Nếu biết vui lòng chấp nhận và vác thập giá của nhau trong tin yêu, thập giá sẽ trở nên nhẹ nhàng và sẽ giúp chúng ta đạt tới hạnh phúc gia đình.
 
Truyện : Làm phép thập giá.
           Vào chiều Thứ Sáu Tuần Thánh, cha sở kêu gọi giáo dân : khi quí vị đến nhà thờ đi chặng đàng Thánh Giá tưởng niệm sự chết và đau khổ của Chúa Giêsu, mỗi người nên làm một cây thập giá bằng bất cứ vật liệu nào tượng trưng cho sự đau khổ của mình trong cuộc đời đang phải chịu..
          Sau chặng đàngThánh giá yêu cầu quí vị mang lên nhà thờ cho tôi làm phép. Mọi người đều mang lên đủ loại thập giá. Ông trùm bước lên tay không, cùng với vợ. Khi cha sở hỏi, thập giá của ông đâu, ông chỉ ngay vào bà vợ và nói :”Thưa cha, đây là thập giá của con”.  Cha sở cũng làm phép, nhưng sau đó liền bảo ông rằng :”Bây giờ ông hãy ôm lấy thập giá và hôn lên cây thập giá của ông đi”.
 Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt

         

HônPhối 37: BÁT BÚN RIÊU

I. SUY NIỆM LỜI CHÚA. 
           Chúng ta đọc : Mt 19,3-6; Cl 3,12-17.

Những người biệt phái luôn chống đối Chúa Giêsu, họ muốn cho Ngài bẽ mặt một phen. Vì vậy, HônPhối 37

Những người biệt phái luôn chống đối Chúa Giêsu, họ muốn cho Ngài bẽ mặt một phen. Vì vậy, hôm nay họ đến chất vấn Ngài về vấn đề ly dị :”Những người biệt phái đến gần Chúa Giêsu để thử Ngài : Thưa Thầy, có được phép rẫy vợ mình vì bất cứ lý do nào không” (Mt 19,3) ?
           Sở dĩ có câu chất vấn này là vì khi đó có hai lập trường chống đối nhau :
-          Lập trường của phái Hillel thì rộng rãi, cho phép ly dị một cách dễ dàng.
-          Lập trường của trường phái Shammai thì khắt khe hơn,  chỉ chấp nhận ly dị trong rất ít
trường hợp.
          Biệt phái biết vấn đề này gay go nên đem ra gài bẫy Chúa Giêsu. Theo họ nghĩ :  Ngài trả lời thế nào cũng có thể bị kết án : hoặc quá rộng rãi hoặc quá hẹp.
           Chúa Giêsu trả lời bằng cách trích hai đoạn trong sách Sáng thế (St 1,27; 2,24). Đó là những lời thiết lập định chết đơn hôn và vĩnh hôn. Như thế, dứt khoát là không được ly dị, bởi vì :”Sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly”.
           Những người biệt phái chưa chịu thua. Họ trích một câu trong Đnl 24,1, nội dung là cho phép ly dị với điều kiện phải viết chứng thư cho người vợ bị ly dị.
           Chúa Giêsu đã trả lời cho họ biết việc ly dị là một thể chế  loài người tạo ra, lý do : “Vì các ông lòng chai dạ đá, nên ông Maisen đã cho phéùp các ông rẫy vợ, chứ thưở ban đầu không có như thế đâu ”(Mt 19,8).  Điều này cho thấy rằng con người ích kỷ, nghĩa là đặt sự thỏa mãn của lòng mình trên hết, trên cả ý muốn của Thiên Chúa nữa, nên họ đã bất trung với Chúa và vì vậy, họ bất trung với nhau trong đời sống hôn nhân.
           Theo lời Chúa dạy, chúng ta hãy cố gắng tránh những va chạm, xích mích, những mối bất hòa ngấm ngầm hay bùng nổ để cho gia đình được luôn bền vững.
 
II. TẢN MẠN VỀ BÁT BÚN RIÊU. 
           1. Món ăn đặc thù miền quê.
           Miền quê có một món ăn rất đặc thù, đó là bún riêu cua. Khi nói bún riêu là nói chung chung, có nhiều cách biến chế, còn nói “bún riêu cua” thì chỉ nấu bằng cua rốc thôi. Người ta có thể nấu bún riêu giả, không cần cua rốc, người ta có thể nấu trứng với nõn tôm, ăn cũng ngon, nhưng không thú vị bằng bún riêu cua, món ăn này mới thật là bún riêu “gin”.
          2. Cách nấu canh bún riêu cua.
           Khi nấu canh cua, người làm bếp phải lưu ý đến một số điều để có thể nấu được một cục riêu to mà không sợ vỡ :
          - Khi xé cua xong, cần rửa sạch cua bằng nước pha chút muối. Làm như thế có hai cái lợi : canh không có mùi hôi và giúp cho có cục riêu to. Sau đó, đem giã rồi vắt lấy nước cốt đem nấu.
- Lửa đun phải liu riu, không được to vì nếu lửa to sẽ làm tan cục riêu.
          - Không được quấy vì cục riêu sẽ tan ra, và nếu cho cả bún vào mà quấy thì bún và riêu sẽ thành một cục, khó ăn lắm.
          - Phải nhẹ nhàng trong lúc múc riêu cũng như lúc di chuyển kẻo làm tan cục riêu.
           3. Cách ăn bún riêu. 
           Bún riêu cần phải ăn nóng mới ngon, để nguội sẽ tanh, khó ăn.
          Nên thêâm vào một ít gia vị như chanh, ớt, rau muống chẻ, rau chuối, rau riếp, rau thơm… các gia vị này làm tăng sự hấp dẫn của bát canh bún riêu cua, ăn vào thấy ngon miệng.
 
III. SUY TƯ VỀ BÁT BÚN RIÊU CUA.
  1.     Bát bún riêu và gia đình
 Nếu đem bát bún riêu so sánh với gia đình thì không xứng đáng, nhưng dù sao nó cũng gợi lên cho chúng ta  một vài tư tưởng để suy nghĩ, rồi áp dụng. Khi về miền quê, ai cũng muốn được thưởng thức bát bún riêu, một món ăn rất dân dã nhưng nó lại làm cho người ta khoái khẩu, thích thú. Phải chăng  bát bún riêu cua là hình ảnh của một gia đình hạnh phúc.
 Các bạn trẻ nam nữ vào tuổi “teen” đang đua nhau  đi tìm người yêu để lập gia đình. Ai cũng ước ao lập được một gia đình hạnh phúc. Nhưng khi lập gia đình ai cũng lo, không biết tương lai sẽ rao sao, không biết gia đình có được bền vững không, có được hạnh phúc không, kẻo lại xẩy ra cảnh :
                    Anh đi đường anh,
                             Tôi đi đường tôi,
                             Tình nghĩa đôi ta có thế thôi.
                                      (Thế Lữ)

 
  1.     Cục riêu cua và sự bền vững. 
 Muốn cho cục riêu lớn và không vỡ, trong quá trình thổi nấu, người làm bếp phải kiên nhẫn giữ cho lửa không lớn, không được quấy hay không được lắc mạnh. Trong gia đình cũng thế, muốn  cho gia đình được yên vui đầm ấm,  mọi ngươi có thể sống hòa hợp với nhau, cần tránh những va chạm không cần thiết, tránh mọi xích mích, những mối bất hòa ngấm ngầm , nhất là những bất hòa bùng nổ.
 Có hai loại bất hòa : một là bất hòa ngấm ngầm, hai là bất hòa bùng nổ. Mối bất hòa ngấm ngầm thì rất nhiềâu, tuy nó không làm cho gia đình lộn xộn mất an vui, mất bình yên nhưng nó làm cho gia đình trở nên tẻ nhạt, mất sự đầm ấm thân mật. Còn mối bất hòa bùng nổ thì làm cho gia đình lộn xộn, hoang mang, lo lắng vì nó đưa đến chỗ chửi mắng om sòm, đập phá, và có khi đánh nhau nữa, mang tai mang tiếng với hàng xóm.
          Vì thế người ta mới nói :
                                                Chồng giận thì vợ bớt lời,
                                        Cơm sôi nhỏ lửa một đời không khê.

           Nếu chồng giận mà vợ cũng sùng lên thì sẽ có chiến tranh : không chiến tranh bằng miệng thì chiến tranh bằng chân tay, đôi khi dùng đến cả võ khí gây thương tổn cho thân xác. Có trường hợp chồng tức giận đập phá, vợ cũng không chịu thua, sẵn sàng tuyên chiến :”Mày đập thì tao cũng đập” Kết quả sau trận chiến thì chiến trường không có xác chết mà chỉ thấy xác bát đĩa nằêm ngổn ngang !
          Vì thế người ta khuyên :
                                                Chồng giận thì vợ phải lùi,
                                         Chồng giận vợ giận thì dùi nó quăng.

 
  1.     Phương pháp giữ cho gia đình được bền vững.
 Muốn cho gia đình khỏi tan vỡ , chúng ta hãy thực hiện lời Chúa đã dạy :”Các con hãy học cùng Ta, vì Ta hiền lành và khiêm nhường trong lòng”(Mt 11,29-30). . Ai cũng ưa chuộng người hiền hòa, nhịn nhục, dễ thương, ưa những người biết “yêu nhau chín bổ làm mười”. Không ai chê người biết nhịn nhục, người ta phải thán phục những con người đó, vì họ đã chế ngự được con người mình, đã thắng được tính tự ái có sẵn trong con người.  Họ đã thực hiện được lời thánh Phaolô gửi cho tín hữu Côlôssêâ  về vấn đề gia đình :”Anh em hãy có lòng thương cảm, nhân hậu, khiêm nhu, hiền hòa và nhẫn nại. Hãy chịu đựng và tha thứ cho nhau, nếu trong anh em  người này có điều gì phải trách móc người kia”(Cl 3,12-13).
           Trong sự nhịn nhục, cần nhất là phải làm chủ được cái miệng bởi vì cái miệng có thể gây ra nhiều tai họa không thể lường được như  người ta đã nói :”Bệnh tùng khẩu nhập, họa tùng khẩu xuất” : Bệnh theo miệng mà vào, tai họa do miệng xuất ra.
 
Truyện : Cứ khóc thôi.
           Một bà mẹ dặn con gái trước khi về nhà chồng :
-          Đây là lời khuyên mà bà cố đã dành riêng cho bà ngoại, bà ngoại đã dành cho mẹ và bây giờ mẹ truyền lại cho con, con ráng nhớ kỹ, nghe không ?
-          Dạ.
-          Không bao giờ cãi nhau, muốn gì thì cứ khóc thôi, nghe chưa ? Đó là thứ vũ khí mạnh nhất đối với đàn ông.
Đúng như một nhà tâm lý nói :”
          Át xít làm cháy được kim khí
          Kim khí làm cháy được trái tim đàn bà
          Nhưng nước mắt đàn bà làm cháy được trái tim đàn ơng”.
Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt

 

HônPhối 38: BẮT CÁ HAI TAY

I. SUY NIỆM LỜI CHÚA .
           Chúng ta đọc : Mt 7, 21-27.

Trong bài giảng trên núi (Mt 5,1-7, 23) Đức Giêsu tuyên bố Hiến chương Nước Trời, rồi dạy HônPhối 38

Trong bài giảng trên núi (Mt 5,1-7, 23) Đức Giêsu tuyên bố Hiến chương Nước Trời, rồi dạy cho những người muốn làm công dân Nước Trời biết cần phải có những đức tính và những điều kiện nào. Bài Tin mừng hôm nay  là phần kết của bài giảng trên núi.  Trong đoạn này, Chúa Giêsu nhắc lại một điều cơ bản : phải đem ra thực hành những điều đã nghe :”Không phải những người nói : Lạy Chúa, Lạy Chúa là được vào Nước Trời, nhưng chỉ có những người thực hiện ý Cha Thầy trên trời mới được vào Nước Trời”(Mt 14,21).
           Nhằm diễn tả giá trị của việc thực thi Lời Chúa để được vào Nước Trời và để thành môn đệ chân chính, thì Chúa Giêsu đã ví với việc xây nhà : Kẻ nghe và thực hành thì giống như người xây trên nền đá vững chắc, kẻ chỉ nghe nhưng không thực hành thì giống như người xây nhà trên cát.
           Như vậy, Chúa Giêsu có ý nói với các thính giả vừa nghe bài giảng trên núi của Ngài để xác định rằng, người môn đệ nghe lời Chúa giảng mà đem ra thực hành, thì xứng đáng là người khôn ngoan, biết lo cho được sống hạnh phúc và phải coi những người như vậy là người khôn khéo, biết đặt nền móng vững chắc mà xây dựng nhà, mưa to gió lớn không làm đổ được tòa nhà thiêng liêng ấy, vì xây trên sự thực hành giáo huấn của Chúa. Nếu chỉ nghe mà không tuân giữ, thì người đó là kẻ dại dột, như kẻ xây dựng nhà cửa trên bãi cát, khi có mưa to gió lớn, tức là khi gặp thử thách thì tòa nhà thiêng liêng của họ sẽ bị sụp đổ.
           Từ việc suy niệm Lời Chúa trong việc xây dựng ngôi nhà thiêng liêng, chúng ta liên tưởng đến những ngôi nhà vật chất đang được xây dựng để ở, rồi từ đó chúng ta suy luận ra nền tảng của những ngôi nhà gia đình và phải xây dựng gia đình trên nền tảng nào.
 
II. NỀN TẢNG CỦA NGÔI NHÀ
           1. Cần nền móng vững chắc.
           Khi xây dựng một ngôi nhà, người ta phải chú trọng tới cái móng. Nềân móng có chắc thì ngôi nhà  mới vững được. Nhiều khi phải xây nhà trên những vùng đất yếu, người ta phải gia cố nền móng  đến mức tối đa, nhiều khi rất tốn kém. Nhà càng cao thì móng càng phải vững chắc. Chúng ta thấy có những ngôi nhà cao tầng sau khi xây xong thì bị lún, bị nghiêng, có khi bị sụp đổ nữa, đóù là vì nên móng chưa vững chắc. Nói về nền móng ngôi nhà sách Hán Hậu thư có viết :”Nền không chắc mà tường cao… thì sự đổ nát đã nằm sẵn trong đó rồi”.
 
          2. Gia đình và nền móng xã hội. 
           Gia đình là yếu tố cần thiết để xây nên xã hội. Gia đình có vững chắc thì xã hội mới đứng vững được. Vì thế ngạn ngữ Pháp có câu :”Gia đình là nền móng xây đắp xã hội”.
           Trong tông huấn Familiaris consortio, Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II cũng khẳng định :”Gia đình là nền móng của xã hội”.
           Chính vì vậy, Liên hiệp quốc đã chọn năm 1994 làm ngày quốc tế về gia đình. Lý do chính là vì ngày nay gia đình đang xuống cấp một cách trầm trọng, ly dị tràn lan khắp nơi. Người ta không còn nhìn ra giá trị cao quí của gia đình nữa. Nhiều người coi gia đình chỉ là một “tổ hợp tình yêu”, ăn chia sòng phẳng theo nguyên tắc “hay thì ở, dở thì đi”.
           Việc xây dựng gia đình rất quan trọng vì không những nó chỉ liên quan tới cá nhân, gia đình mà đến cả xã hội nữa. Vì vậy, mọi người phải nỗ lực giúp cho việc xây dựng gia đình được  bền vững, nhất là vợ chồng : “Đàn ông dựng nhà, đàn bà xây tổ ấm”(Tục ngữ).
 
III. NỀN TẢNG CỦA GIA ĐÌNH
           Xây dựng gia đình được ví như xây dựng một ngôi nhà. Ngày xưa, xã hội ta còn ở trong tình trạng khó nghèo, việc xây dựng được một ngôi nhà là một việc rất quan trọng, rất khó. Người dân quê đã nói lên cái khó khăn ấy :
Tậu trâu, lấy vợ, làm nhà,
Trong ba việc ấy thật là khó thay !
(Ca dao)

           Chính vì khó khăn nên muốn xây dựng được một ngôi nhà, người ta phải chắt chiu từng đồng, gom góp từng chút vật liệu, phải chuẩn  lâu dài, dồn mọi nỗ lực vào việc xây dựng :
                              “Một năm làm nhà, ba năm sắm sửa” (Tục ngữ).
           Cũng thế, thành lập một gia đình không phải là một chuyện dễ. Phải dành một thời gian nghiên cứu, học hỏi, suy nghỉ, bàn hỏi trước khi đi đến quyết định cuối cùng.
           Vậy muốn lập gia đình, người ta phải đặt vấn đề nền tảng. Phải xây dựng gia đình trên nền tảng nào mới vững chắc ? Phải chăng nền tảng hôn nhân là tiền tài, danh vọng, sắc dục hay tình yêu ?
          Chúng ta có thể khẳng định rằng tiền tài, sắc dục hay danh vọng không thể là nền tảng của hôn nhân được, vì tất cả những cái đó không có nền tảng vững chắc, nay còn mai mất. Kinh nghiệm cho hay , đời người lên voi xuống cho là chuyện thường xẩy ra. Nếu những cái đó không còn nữa thì gia đình sẽ ra sao ?
          Loại trừ những cái khác ra, chỉ còn lại tình yêu vì Tình yêu vững bềân và nó nằêm ở trong tầm tay của ta.  Không gì có thể phá vỡ được tình yêu của ta ngay trong những đau khổ hay trong gian nan thử thách . Có biết bao nhiêu người dám hy sinh vì tình yêu, đau khổ, thiếu thốn không làm cho họ sờn lòng :
Đi đâu cho thiếp đi cùng,
Đói no thiếp chịu, lạnh lùng thiếp cam.

           Có những đôi vợ chồng thương yêu nhau thực sự, họ biết hy sinh tất cả vì tình yêu đôi lứa, vì hạnh phúc của con cái, có khi phải hy sinh cả mạng sống mình, như lời Chúa Giêsu đã nói :”Không có tình yêu nào lớn lao cho bằng mối tình của người chết vì người yêu”(Ga 15,13).
 
Truyện : Anh phải sống.
           Trong cuốn truyện Anh phải sống của Khái Hưng và Nhất Linh, ta thấy vợ chồng thương yêu nhau thực sự, vợ chồng nhường phần sống cho nhau còn mình thì sẵn sàng chết. Chúng ta hãy xem một đoạn đối thoại giữa hai vợ chồng Lạc và Thức  đang lúc vớt củi giữa dòng sông.
           Mấy phút sau chồng nghe chừng càng mỏi, hai cánh tay rời rã. Vợ khẽ hỏi :
-          Có bơi được nữa không ? 
-          Không biết. Nhưng một mình thì bơi được.
-          Em buông ra cho mình vào nhé ?
Chồng cười :
-          Không, cùng chết cả.
Một lát, một lát nhưng Lạc coi lâu bằng một ngày. Chồng lại hỏi :
-          Lạc ơi, liệu có bơi được nữa không ?
-          Không !... Sao ?
-          Không. Thôi đành chết cả đôi.
Bỗng lạc run run khẽ nói :
-          Thằng Bò ! cái Nhớn ! cái Bé !... Không !... Anh phải sống.
 
IV. ĐỪNG BẮT CÁ HAI TAY.
           Có những người tham lam, khi lập gia đình, họ muốn được tất cả. Họ muốn được tình yêu trọn vẹn cộâng với tiền tài, danh vọng, sắc dục.  Những người chủ trương như thế thì không bao giờ được hạnh phúc, vì không bao giờ có đủ những cái họ muốn. Những hạng người nay bị thiên hạ gọi là hạng người “Bắt cá hai tay”.
           Tục ngữ có câu “bắt cá hai tay”. Câu này chỉ những người tham lam, mưu nhiều việc cùng một lúc, hy vọng hỏng việc này thì còn việc kia. Nhưng trong thực tế, những người như  vậy chẳng đi đến kết quả nào, công việc của họ chỉ thu lấy thất bại. Vì thế, người ta nói :
 Thôi đừng bắt cá hai tay
Cá thì xuống biển, chim bay về ngàn.
          Để minh họa cho điều đó, người Trung hoa mới có câu truyện “ăn phía đông, ở phía tây” :
 
Truyện : Ăn bên đông, ngủ bên tây.
           Ngày xưa, ở nước Tề có một cô gái tướng mạo rất đẹp đã đến tuổi lập gia đình.
          Một hôm, có một người giầu có ở phía đông nhà của cô gái sai người đến dạm hỏi, nói :
- Công tử nhà tôi cũng tài giỏi như người khác mà trong nhà lại có điều kiện tốt, nếu lấy công tử thì có thể hưởng thụ phú quí. 
Người nghèo khó ở phía tây nhà của cô gái cũng sai người đến nói chuyện cầu hôn, nói : 
-          Chàng trai này nhân phẩm tốt, vừa tài giỏi vừa đẹp trai, thật là trong trăm có một, chỉ là gia đình nghèo một chút mà thôi,  tối hôm qua nhà không có lương thực. 
Ôâng bố nói với cô gái : 
-          Con muốn lấy nhà nào thì không cần nói, chỉ cần dùng tay ra hiệu là được, tay trái thì phía đông, tay phải thì phía tây.
Cô gái cười nhạt nhẽo, từ từ đưa ra tay trái, tiếp theo lại đưa ra thay phải.
Hai cái miệng già kinh ngạc nói :
-          Làm như thế thì coi sao được ?
Cô gái đàng hoàng thư thả nói :
-          Như vậy mà ba má chưa rõ ràng sao ?  Con muốn đến nhà phía đông ăn cơm, và qua nhà phía tây ngủ qua đêm…
Bố mẹ cô gái cuống cả lên :
-          Như vậy làm sao mà được chứ ?
              ( Nghị Văn Loại Tụ, Nhân Tài dịch)
           Cô gái này đúng là bắt cá hai tay, giầu sang cũng muốn, đẹp trai cũng muốn. Nếu cô muốn lấy chồng vừa giầu, vừa có danh vọng, vừa đẹp trai, vừa yêu mình thì phải lấy tới 4 ông chồng thì mới được.
           Muốn cho đời sống gia đình được bền vững, thiết tưởng không có gì là nền tảng vững chắc cho bằng tình yêu, vì tình yêu nằm trong tầm tay của mình.  Tình yêu sẽ làm được tất cả, sẽ làm cho gia đình trở nên một tổ ấm yêu thương, nơi mọi thành viên trong gia đình qui tụ lại để cùng nhau xây đắp một gia đình hạnh phúc.
 Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt

 

HônPhối 39: QÙA TẶNG

I. SUY NIỆM LỜI CHÚA.
           Chúng ta đọc : Ga 3.16-17.

Chúng ta vừa mừng lễ Giáng Sinh, và nhìn vào hang đá, chúng ta thấy một em bé đang nằm giữa HônPhối 39

Chúng ta vừa mừng lễ Giáng Sinh, và nhìn vào hang đá, chúng ta thấy một em bé đang nằm giữa thánh Giuse và Đức Maria , cùng mấy con bò lừa. Nếu hỏi em bé đó là ai thì các mucï đồng sẽ trả lời cho chúng ta là Đấng Cứu Thế đã sinh ra cho chúng ta theo lời Thiên thần đã báo cho họ biết.
           Thực vậy, Thánh Gioan Tông đồ đã cho chúng ta biết :”Thiên Chúa yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời. Quả vậy, Thiên Chúa sai con của người đến thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian, nhờ Con của Người, mà được cứu độ” (Ga 3.16-17).
           Theo thánh Gioan, Thiên Chúa vì yêu thương thế gian đã ban cho thế gian một Người Con yêu quí để cứu chuộc nhân loại. Người Con ấy là Đức Giêsu mà Ngài đang nằm trong hang đá kia. Ngài là quà tặng của Thiên Chúa ban cho loài người. Đây là một quà tặng vô giá mà Thiên Chúa ban cho loài người một cách  nhưng không. Chúng ta phải trân trọng món quà này và phải cảm tạ Chúa Cha về hồng ân ấy.

 II. NÓI VỀ QUÀ TẶNG.
 1. Nguyên nhân của quà tặng.
 Theo tâm lý chung, những người yêu nhau thì muốn sống bên nhau. Nếu vì hoàn cảnh không thể sống gần nhau thì họ nói :”Tuy cách mặt mặt nhưng gần lòng”(Tục ngữ).  Người ta còn tặng nhau những món quà, để qua món quà tặng đó, người ta có thể nhớ đến nhau, coi như người yêu đang hiện diện bên cạnh.  Người ta có thể tặng nhau món quà có vẻ lãng mạn như bông hoa “păng xê” ép trong quyển sách, hoặc cụ thể như một chiếc khăn tay thêu đẹp, hay một chiếc bút.
 Như vậy, món quà luôn diễn tả và gửi gắm tình yêu của người cho vào trong đó. Còn biếu xén thì thường không là quà tặng mà coi như  món nợ phải trả, có đi thì phải có lại bằng một cách nào đó.
 
2. Giá trị của quà tặng.
 Giá trị của quà tặng thường không nằm ở trong quà tặng mà nó nằm ở trong tim của người tặng. Càng yêu nhau, món quà càng có giá trị. Chính vì thế, bà Marguerite nói rất có lý :”Tôi không nhìn cái giá trị của tặng vật mà tấm lòng của người tặng”.
          Ca dao tục ngữ Việt nam cũng nói lên điều đó :
                    “Vật khinh nhưng hình trọng”
          Hoặc :
                   “Của một đồng công một nén”.
                             (Tục ngữ)

           Như thế, thái độ của người cho mới là quan trọng : cho đi với tất cả lòng thương mến, không đòi hỏi thì quà tặng đó mới có giá trị :”Hai lần thích thú, nếu đồ vật trao tặng không cần phải đòi hỏi” (Publilius Syrus).  Ngược lại, của cho đi vì lòng thương hại hay cho đi vì bất đắc dĩ thì món quà ấy  chỉ có giá trị rất nhỏ, vì đó chỉ là của bố thí.
 
          3. Số phận của quà tặng.
           Quà tặng nằm trong tay người được trao tặng, dưới quyền xử dụng của họ. Họ muốn dùng thế nào cũng được. Họ có thể trân trọng, nâng niu bao bọc quà tặng, hoặc bỏ bê hoặc liệng đi cũng được.
           Cho nên, thái độ của người nhận cũng rất quan trọng. Họ có thể nhận với tấm lòng biết ơn hay vô ơn. Nếu nhận với tấm lòng biết ơn sẽ làm hài lòng người cho; ngược lại, nhận với sự hững hờ càng làm buồn lòng người ban tặng.
 
III. ĐỨC GIÊSU LÀ QUÀ TẶNG CỦA CHÚA CHA.
           Như  ở trên , thánh Tông đồ Gioan đã nói :”Thiên Chúa vì yêu thương đã ban Con Một của Người cho thế gian”. Nói đến chữ “Ban” là đã nói lên một món quà tặng của người trên dành cho người dưới một cách nhưng không . Loài người không có quyền đòi hỏi mà chỉ biết nhận do lòng thương yêu của Thiên Chúa. Đức Giêsulà món quà tặng của Chúa Cha cho loài người và mọi người chỉ biết cúi đầu trân trọng đón nhận với lòng biết ơn .
 
 Ông Ovide đã nói rất đúng :”Cấp bậc của kẻ cho đánh giá trị của tặng vật” (Ovide).
           Tuy thế, có nhiều người không thèm đón nhận, họ có thái độ dửng dưng hay từ chối. Những người Do thái, đặc biệt là các thượng tế, luật sĩ và biệt phái, đã không thiếp nhận, họ đã chống đối và tìm cách giết đi. Trước tòa án Philatô họ đã hô to :”Giết đi, giết đi, đóng đinh nó vào thập giá”. Họ đã từ chối quà tặng vô điều kiện của Thiên Chúa, từ chối Đấng Cứu  Thế đến để chuộc tội cho họ. Và như vậy, Thiên Chúa sẽ phải xứ đối với họ như thế nào ?
           Ngày nay, sau 2000 năm rao giảng Tin Mừng, vẫn còn rất nhiều người từ chối Đức Giêsu, không những là những người vô thần mà ngay cả các Kitô hữu, những người đã được rửa tội, đã có đức tin, đã được giá máu Chúa cứu chuộc.  Tuy họ không tuyên bố là họ từ chối Chúa Giêsu, nhưng cách sống của họ biểu lộ sự chống đối đó.
 
IV. VỢ CHỒNG LÀ QUÀ TẶNG CỦA  THIÊN CHÚA.
           Anh A là quà tặng của Thiên Chúa. Anh có nhận thấy như vậy không ? Thiên Chúa đã ban cho anh một tình yêu để cho anh yêu và anh thấy chị B hợp với anh, chị đã trở nên đối tượng tình yêu của anh, và anh đã tìm được đối tượng của tình yêu. Như vậy, chị B là quà tặng của Thiên Chúa ban cho anh.
           Ngược lại,  anh A cũng là quà tặng của Thiên Chúa cho chị B. Chị đã tìm được đối tượng của tình yêu. Hai người nhận được hai quà tặng và quà tặng sẽ tùy thuộc vào người nhận.
           Món quà tượng trưng tình yêu của anh chị hôm nay là chiếc nhẫn mà hai anh chị xỏ vào tay nhau, vừa xỏ vào vừa đọc :”Hãy nhận chiếc nhẫn này để làm bằng chứng tình yêu và trung thành của nhau”.  Chiếc nhẫn chỉ là một vật bằng kim khí, tuy nó quí thật, nhưng tự nó chẳng có ý nghĩa gì, nhưng hôm nay nó lại có ý nghĩa khi hai người nói lên : Nó là bằng chứng của tình  yêu và lòng trung thành.
           Hôm nay lễ thành hôn, hai anh chị vinh dự được lãnh nhận quà tặng của Thiên Chúa. Đây là một hồng ân Chúa ban cho anh chị. Vậy anh chị phải tỏ lòng biết ơn Chúa và phải trân trọng giữõ lấy quà tặng kẻo Chúa buồn. Trong bất cứ hoàn cảnh nào, quà tặng này phải đựa bảo vệ với bất cứ giá nào, có khi phải hy sinh tính mạng.
 
Truyện : Trung thành giữ quà tặng.
           Lư phu nhân, vợ ông Phòng  Huyền Linh, là người tuyệt đẹp và có đức hạnh.
          Ông lúc tuổi trẻ hàn vi lắm. Một khi bệnh nặng tưởng đã sắp chết, ông gọi Lư Thị đến bảo rằng :
          - Tôi bệnh nguy quá, nàng tuổi  còn trẻ, không nên ở vậy, liệu mà ăn ở tử tế với người chồng sau.
          Tư Thị nghe nói, nức nở khóc. Đoạn vào trong màn khoét một mắt bỏ đi, có ý tỏ cho chồng biết rằng dù chồng bất hạnh có chết, cũng không chí lấy ai nữa.
          Không bao lâu, ông Huyền Linh khỏi bệnh.
          Sau ông thi đỗ, làm quan đến chứa Tể tướng. Ôâng một niềm yêu mến, kính trọng Lư Thị vô cùng, không hề lấy người tì thiếp nào nữa.
          Người ngoài cho thế là  tại ông sợ Lư Thị có tính hay ghen.
          Chính vua Đường Thái Tôn, muốn thử Lư phu nhân, một hôm cho hoàng hậu gọi vào bảo :
          - Theo phép thường các quan to vẫn có tì thiếp. Quan nhà ta tuổi đã cao, vua muốn ban cho một mỹ nhân.
          Lư Thị nhất quyết không nghe. Vua nổi giận, mắng rằng :
          - Nhà ngươi không ghen thì sống, mà ghen thì chết.
          Rồi sai người đưa cho một chén rượu, giả làm chén thuốc độc, phán rằng :
          - Đã vậy thì phải uống chén thuốc độc này.
          Lư Thị không ngần ngại chút nào, uống hết ngay.
          Vua thấy thế, nói :
          - Ta cũng phải sợ, nữa là Huyền Linh.
                             (Nguyễn văn Ngọc, Cổ học tinh hoa, tập 2, tr 36-37)
 
          Thiên Chúa đã phán :”Sự gì Thiên Chúa đã kết hợp, loài người không được phân ly”(Mt 19.6). Đó là lệnh truyền, không phải là lời khuyên. Khi Thiên Chúa yêu, Ngài yêu cho đến cùng (Ga 13.1). Bởi đó, yêu thương là bài học không có ngày ra trường, nó theo ta suốt cả đời. Bài học này không có chứng chỉ xác nhận, vì có ai chỉ yêu thương một lần là xong ?
           Ông Poppée nhận định :”Khi yêu đương thì người ta tràn đầy mơ mộng, nhưng khi lấy nhau người ta sẽ thức tỉnh”. Đó là một thực tế không thể phủ nhận. Vì thế, sự chung thủy vợ chồng là hết sức cần thiết, nó giúp nhau vượt qua sóng gió cuộc đời.
           Muốn giữ được lòng chung thủy, chúng ta cần có lòng trung tín với Chúa và với nhau. Hãy cầu xin Chúa là nguồn tình yêu, sẽ gìn giữ anh chị thủy chung trong tình yêu vợ chồng, hôm nay và mãi mãi :
                                      Mong sao nghĩa thủy tình chung
                             Cho thuyền cập bến, gương trong ngàn đời.

 Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt

 

HônPhối 40: CÁI TÔI ĐÁNG GHÉT

I. SUY NIỆM LỜI CHÚA.
          Chúng ta đọc : Mt 16,21-27.

Sau khi quở trách Phêrô vì đã ngăn cản Ngài đi con đường thập giá, Chúa Giêsu nói thêm rằng con HônPhối 40

Sau khi quở trách Phêrô vì đã ngăn cản Ngài đi con đường thập giá, Chúa Giêsu nói thêm rằng con đường ấy là con đường mà bất cứ ai làm môn đệ Ngài đều phải đi theo :”Nếu ai muốn theo Thầy thì hãy từ bỏ mình đi và vác thập giá mình mà theo”.
           Đây là lời Chúa Giêsu ngỏ với các môn đệ là những người đã chọn lựa bước đi theo Ngài. Lời mời gọi này có ý gợi lên sự tự do quyết định của người được mời, vì một đàng Chúa tôn trọng tự do của con người, đàng khác con người tự trách nhiệm về quyền lựa chọn của mình. Một khi đã quyết tâm chọn Chúa để trở thành môn đệ đích thực thì cần phải thực thi hai điều kiện :
           1. Phải từ bỏ chính mình : tức là phải khước từ lòng tự ái, sự nuông chiều bản thân và từ bỏ mọi thói hư tật xấu nghĩa là phải từ bỏ “cái tôi” giả tạo của mình.
          2. Phải vác thập giá mình :  tức là phải hòan tòan tuân phục thánh ý Chúa trong mọi sự.
           Hai điều kiện từ bỏ mình và vác thập giá mình có thể liên kết và hoán đổi cho nhau : đã từ bỏ mình thì phải hy sinh tức là vác thập giá, mà vác thập giá thì đương nhiên thì phải từ bỏ mình để tuân theo thánh ý Chúa.
           Chúa không bảo chúng ta đi tìm thập giá, nhưng là hãy vác lấy thập giá mình. Một cách nào đó, không ai có thể thóat khỏi thập giá trong cuộc sống (…). Đau khổ không phải là một đầy đọa mà con người phải gánh chịu, mà là một phương thế nên thánh. Mỗi người một thập giá, mỗi ngày một thập giá. Ai trong chúng ta cũng đang chịu một đau khổ nào đó. Ước gì khổ đau thanh luyện chúng ta để mỗi lúc được kết hiệp với Chúa mật thiết hơn (Mỗi ngày một tin vui).
           Mỗi Kitô hữu chúng ta đều là môn đệ của Chúa vì đã được chịu phép Rửa tội; và Kitô là người đã được mang tên Chúa và thuộc về Ngài nên cũng phải đi theo con đường của Ngài để được trở nên đồng hình đồng dạng với Ngài.
           Những người dâng mình cho Chúa trong đời sống tu trì phải từ bỏ mình và vác thập giá mình đã đành, cả những người sống trong bậc vợ chồng cũng phải sống như thế tuy hòan cảnh có khác nhau. Nếu vợ chồng biết từ bỏ mình, biết tiêu diệt cái tôi ích kỷ của mình để sống cho nhau thì cuộc sống gia đình sẽ được êm ấm và đem lại hạnh phúc cho mọi ngưởi trong gia đình và cho  cả xã hội.
 
II. LÒNG TỰ ÁI CỦA CON NGƯỜI.
           1. Con người, trung tâm của vũ trụ ?
          Trên trần gian này, mọi người đều yêu mình và những cái thuộc về mình, không ai ghét bản thân mình cả (x. Ep  5, 29). Do đó, ai cũng có lòng tự ái.  Chính từ ngữ “Tự Aùi” thì không có gì xấu vì tự ái lã tự yêu mình, mà bác ái là phải phát xuất từ mình trước, nhưng vì người ta lạm dụng nên thường nó có ý nghĩa không tốt.
           Khi đứa bé còn  rất nhỏ, xem ra nó đã có “tự ái” !  Trông thấy cái gì của người ta nó cũng đòi, đòi cho bằng được,  mà không được thì khóc ! Phải chăng, tuy chưa có ý thức, đứa bé đã có “tính tự ái”, bởi vì nó tự coi nó như trung tâm, mọi người phải phục vụ nó.  Và như vậy tự ái đây đã kèm theo khuynh hướng vị kỷ.
           Sau này khi lớn lên, có ý thức, ai cũng vẫn cho mình là nhất, là trung tâm, là cái rốn của vũ trụ. Người ta, dầu là một kẻ tầm thường đến bực nào, bao giờ cũng cho ý kiến mình  là quan trọng hơn tất cả. Cái “Tôi” có phải là dễ ghét đâu theo như lời của Pascal. Nó là chữ “dễ yêu” nhất trong đời. Nhưng, vì ta đã quá nâng niu chiều chuộng nó… mà thành ra cách xử kỷ tiếp vật trong đời ta gây ra không biết bao nhiêu sự vụng về, ân hận, đau khổ, tai ương… Và cũng chính vì thế, mà Blaise Pascal tiên sinh mới thốt ra câu nói chua cay này :”Cái tôi đáng ghét” : (Le Moi est haissable)  (Cf nguyễn duy Cần, Thuật xử thế của người xưa, 1970, tr 17).
 
          2. Tự ái trong đời sống hằng ngày.
           Ai cũng có kinh nghiệm về vấn đề này.
          Thuở nhỏ, ta là người rất thích tranh cãi. Tính hiếu thắng xui ta  bao giơ cũng không chịu nhịn một ai cả, dầu trong một lời nói tầm thường cũng vậy. Trong những cuộc cãi vã không bao giờ ta chịu nhượng ai một lời. Rủi mà lời nói mình  không được người để ý đến hoặc bị ruồng rẫy, bỏ qua, thì không gì bực tức và buồn khổ bằng.
           Đến tuổi thanh xuân vì khí huyết bồng bột nên không chịu coi vào đâu những ý kiến của các bậc cao niên dầy kinh nghiệm hơn. Ý kiến của cha mẹ cũng không bằng ý kiến của mình. Cha mẹ có khuyên bảo thì chỉ trả lời là “đã trưởng thành, biết rồi, nói mãi”. Cha mẹ có thể khuyên dạy con bằng những lời khuyên  của một mục sư đối với đứa con 15 tuổi của ông :
 -          Từ 15 đến 20 tuổi : cha cho phép con tin rằng “con thông minh hơn cha”.
-          Từ 20 đến 25 tuổi : con cũng có quyền tin rằng “con thông minh bằng cha”.
-          Nhưng bắt đầu từ 25 tuổi sắp lên, cha bắt buộc con phải nhìn nhận sự “thông minh của cha hơn con nhiều một cách tuyệt đối vậy”.
 Đến tuổi trưởng thành và cao niên, con người vẫn còn coi mình hơn tất cả. Không ai muốn nhận mình là quấy cả. Dầu là tay đại gian đại ác như Tào Tháo  cũng không chịu nhận mình là gian ác. Tào Tháo thường xưng mình là vì dân vì nước; mà Lưu Bị cũng tin mình vì dân vì nước. Godse, ngưới ám sát Gandhi mà thiên hạ phần  đông nguyền rủa, vẫn tươi cười trước khi chịu tử hình.
 
3. Sự hiểu biết thì phiến diện.
           Chúng ta không phải là chân lý. Chúng ta cũng không thể nắm chắc được chân lý mà chỉ là trên đường đi tìm chân lý, và như vậy sự hiểu biết của mình không thể là tuyệt đối. Có nhiều con đường đi tìm chân lý và mỗi người chỉ có thể nắm được một phần của chân lý, tùy theo trình độ của mình.
          Vì thế trong khi bàn bạc, tranh luận, chúng ta cũng phải để ý đến cái trình độ của kẻ khác. Dẫu nguời ấy có ngu si vụng dại đến đâu, phải biết cho họ cũng có cái lý của họ, hoặc trình độ hiểu biết của họ chỉ đến ngần ấy là cùng.
 
Truyện : Bài nào cũng đúng.
           Một hiền giả Aán độ, ngày kia, xem bài các đệ tử phê bình về một bài thơ của mình. Có hai người đệ tử, trước khi trình cho thầy bài luận của mình, lại đổi  cho nhau xem trước. Họ bèn cãi nhau không ai chịu nhận  bài của bạn mình là đúng. Thế rồi,  họ bảo nhau để coi  thầy sẽ phán  đoán cách nào. Ôâng thầy xem đến bài của từng người, đều gật đầu khen phải cả. Đến lượt hai người này, thầy cũng gật đầu khen đúng nữa.
           Một người liền đứng lên phản đối :
- Thưa thầy, bảo rằng bài của các bạn con đều đúng, thì con không dám cãi, vì con không được biết họ nói gì trong đó. Chớ như đối với bài của anh này, thì con chắc chắn không thể nào thầy cho là đúng được, trong khi thầy cũng nhận cho  bài của con cũng đúng nữa. Hai chủ trương của chúng con quả quyết không thể bên nào dung được bên  nào : hễ anh ấy phải, thì con quấy, mà con phải thì anh ấy quấy.
           Ôâng thầy mỉm cười, ôn tồn bảo :
- Hai trò đều bàn đúng cả đấy. Sở dĩ trò này nói vầy là tại cái trình độ hiểu biết của nó chỉ đến đó là cùng. Sao có thể bảo nó nói sai hay hiểu sai cho được ! Bài thơ của thầy như vầng Thái Dương, hoa nào cũng nhờ ánh Thái Dương mà nở, nhưng cây nào nở hoa nấy : cây này không nở hoa kia, mà cây kia  không thể nở hoa nọ được… Sao có thể bảo  bài của người này phải mà bài của kẻ kia quấy !
           Khi đã ý thức được rằng không ai nắm trọn vẹn chân lý mà chỉ nắm được một phần, còn phần khác phải dành cho người khác. Do đó, không bao giờ được bắt ép người khác phải theo ý kiến của mình, không được quyền coi chỉ có ý kiến của mình là đúng, còn người khác là sai quấy. Để diễn tả tư tưởng này, người Aán độ mới chế ra được câu chuyện thầy bói rờ voi.
 
Truyện : Mù rờ voi.
           Xưa kia có một ông vua ngồi buồn, cho bắt tất cả người mù trong thành đem về hợp lại một chỗ.
          Vua cho đem ra một con voi, bảo các anh mù rờ vào, và tả lại cho nghe họ đã hình dung con voi ra sao ?
          Sau khi mọi người đã rờ  xong. Vua kêu hỏi từng người. Họ thưa :
- Voi như cái nồi lớn (Đó là những người rờ trúng cái đầu).
          - Voi giống như cây cột tròn (Đó là những người rờ trúng cái chân).
          - Voi giống cái chổi ( Đó là những người rờ trúng cái đuôi)
          … Mỗi người đều tưởng rằng mình đã hình dung rõ con voi với những bộ phận mà họ đã rờ trúng. Rồi thì không một ai chịu nhận của ai, đều cho cái thị kiến của mình là đúng. Ban đầu còn cãi nhau, sau chửi nhau om sòm, và rốt cùng  xăng tay đánh đá nhau tơi bời…
          Nhà vua thấy vậy  ôm bụng cười vang  (Sách UDANA)
           Quả thực đây là bức hí họa tài tình, vì nó thu hẹp được một cách đầy đủ cả một tấn bi-hài-kịch của nhân lọai từ xưa đến nay. Nhất là ngày nay, thiên hạ đang xâu xé nhau như lũ người mù trên đây để giành lẽ phải về mình mà không ai chịu dung tha ai cả. Vậy chứ chiến tranh ý thức hệ là gì, nếu không phải vì ai ai cũng đều cho cái lẽ phải của mình là tuyệt đối.
          (Nguyễn duy Cần, Cái cười của thánh nhân, 1972, tr 91-92)
           KẾT LUẬN.
           Trong đời sống gia đình cũng thế, vợ chồng không phải lúc nào cũng có sự hiểu biết như nhau, mỗi người chỉ nắm được một phần chân lý nên phải tôn trọng sự hiểu biết của người khác, không được dùng áp lực mà bắt người khác phải theo ý kiến của mình.
           Muốn cho gia đình được yên vui đầm ấm cần phải có sự nhường nhịn nhau vì người ta thường nói :”Một sự  nhịn, chín sự lành”(Tục ngữ), Nhường nhịn nhau cũng đồng nghĩa với từ bỏ mình và vác thập giá mình như bài Tin mừng chúng ta vừa nghe đọc.
           Từ bỏ mình là gì nếu không phải là từ bỏ “cái tôi” ?  Tác giả André Sève trong cuốn Sương mai có viết : Từ bỏ mình… vác thập giá… là khoái khổ sao ? Không. Cần phải từ bỏ mình, thẳng thắn mà tuyên bố tiêu diệt  “Cái Tôi” của chúng ta. Thế nhưng không phải tiêu diệt “cái tôi tốt lành”, “cái tôi” chân thật. Chúa Giêsu yêu cầu chúng ta hy hiến cái tôi giả tạo mà chúng ta tạo nên  bằng những nhu cầu vô ích và những phù phiếm trẻ con :”Đó là cái tôi, thánh Gioan Thánh giá nói, của những thèm muốn thúc giục chúng ta  trở nên bất hạnh đối với chúng ta, khô khan đối với tha nhân, nặng nhọc và biếng nhác đối với  các công việc của Chúa”(André Sève, Sương mai, tr 209).
 Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt

 

HônPhối 41: HÀNH TRÌNH NÊN MỘT

I. SUY NIỆM LỜI CHÚA.
           Chúng ta đọc : Mt 19, 3-9.

Những người biệt phái luôn theo sát Chúa Giêsu mà tìm mọi cơ hội để bắt bẻ Ngài. Ở đây những HônPhối 41

Những người biệt phái luôn theo sát Chúa Giêsu mà tìm mọi cơ hội để bắt bẻ Ngài. Ở đây những người biệt phái đặt ra câu hỏi về việc ly dị để gài bẫy Ngài :”Người ta có được phép ly dị vợ mình chăng” (Mt 19,3) ? Đặt ra câu hỏi đó  vì ông Maisen cho phép làm giấy ly dị  và cho ly dị.  Sở dĩ có luật cho ly dị là vì sự cứng lòng của họ mà ông đã viết ra điều đó.
           Chúa Giêsu muốn nêu ra tính tạm thời của luật Maisen qui định việc ly dị như thế là vì sự bướng bỉnh cứng đầu, thiếu quảng đại của dân Do thái, khiến không thể qui định được ý muốn của Thiên Chúa, trong lúc chưa thể làm khác thì ông cho phép làm thủ tục ly dị như vậy đó thôi.
           Để kiện tòan Lề Luật trong lãnh vực này, Chúa Giêsu đã trưng dẫn ra câu Kinh Thánh nói về sự  vĩnh viễn của hôn phối :”Bởi đó người nam sẽ lìa cha mẹ để luyến ái vợ mình và hai người sẽ nên một huyết nhục”(St 2,24).
           Ý định của Thiên Chúa là sáng tạo một người nam và một người nữ, nhưng việc kết hợp với nhau để trở thành một huyết nhục là khế ước tình yêu giữa người nam và người nữ. Hiệu quả của khế ước này là sự trở nên làm một với nhau. Điều này chứng tỏ việc ly dị là phủ nhận khế ước tình yêu  giữa nam và nữ, đồng thời cũng nói lên sự bất phục tùng ý định của Thiên Chúa.
           Như vậy, Chúa Giêsu xác định là Thiên Chúa không cho phép ly dị vì :”Sự gì Thiên Chúa đã kết hợp, lòai người không được phép phân ly”(Mt 19,6).
 
II. TỪ NGỮ LÀ VÀ TRỞ NÊN.
  Ngày nay tiếng Anh rất thịnh hành, ai biết tiếng Anh đi đâu cũng được vì dễ giao dịch. Vì vậy người ta học tiếng Anh rất nhiều.
           Động từ mà người mới học tiếng Anh là động từ TO BE có nghĩa là LÀ hay THÌ như Iam, you are, he is… Rồi học thêm nữa chúng ta có động từ TO BECOME có nghĩa TRỞ NÊN.
           Hôm qua, tình cờ tôi đọc trên một tấm ảnh cưới có câu này bằng tiếng Anh :”Vì thế người đàn ông sẽ bỏ cha mẹ và luyến ái vợ mình, và cả hai trở nên một thân xác”(Mt 19,6): And the two shall become one  flesh.  Trong câu này người ta không dùng động từ TO BE mà dùng  TO BECOME : trở nên.
           Đúng thế, quen quá rồi, nghe không biết bao nhiêu lần. Nhưng chính vì quá quen, ta đã không hiểu được nội dung Lời Chúa. Ta cứ nghĩ NÊN MỘT có nghĩa là khi kết hôn, lập tức hai vợ chồng  đã LÀ một, THÀNH một. Nhưng không phải thế. Không phải LÀ (to be) một, mà TRỞ NÊN (to become) một. Và động từ TRỞ NÊN đã cung cấp một cách nhìn rất khác về hôn nhân.
          Động từ TRỞ NÊN diễn tả một quá trình, một họat động  chứ không phải một tình trạng tĩnh. Như thế, không phải cứ nói lời giao ước hôn nhân xong và sau đêm tân hôn, hai người đã nên một hòan tòan. Nhưng ngày kết hôn mới là khởi điểm cho một hành trình, để mỗi ngày đôi vợ chồng nên một với nhau nhiều hơn : nên một trong tâm tư tình cảm, nên một trong ý hướng cuộc sống, nên một trong trách nhiệm gia đình, nên một trong cảm thức đức tin… Một hành trình dài. Thật dài, Suốt cả cuộc đời.
 
III. MỘT CUỘC HÀNH TRÌNH DÀI.
           1. Hôn nhân chưa vẹn tòan.
           Chưa ai có cuộc hôn nhân hòan hảo mà còn phải kiện tòan, mỗi ngày phải làm cho vững chắc và phong phú hơn. Có người mừng lễ bạc, lễ vàng hôn phối mà vẫn chưa sống đời hôn nhân cho đầy đủ. Họ còn phải nỗ lực hòan hảo hóa đời hôn nhân vì hôn nhân luôn ở thể động, ở thể chuyển dịch.
           Trong tiệc cưới, chúng ta thường chúc cô dâu chú rể :”Trăm năm hạnh phúc, đầu bạc răng long, đa tử đa tôn, đa phú quí, làm ăn phát tài, giầu sang mãi mãi…” Trong những lời chúc ấy, có lẽ câu “Trăm năm hạnh phúc” được nhiều người ưa thích nhất.
           Cầu mong hạnh phúc thì ai cũng muốn, nhưng để có được hạnh phúc quả thật không dễ chút nào. Bởi hôn nhân không phải là chuyện tháng ngày, mà là chuyện cả một đời. Rất cần có sự cố gắng, keo sơn, chung thủy, nhịn nhịc và tha thứ cho nhau.
           Có một câu thơ khá phổ biến, như một điệp khúc dễ thương :”Mình với ta tuy hai mà một, Ta với mình tuy một mà hai”. Trước đây, vợ chồng thường xưng hô với nhau :”Mình ơi mình”, còn ngày nay, các bạn trẻ lại thi vị gọi người bạn đời là :”Một nửa mình của tôi ơi”.
 
          2. Hôn nhân là khởi điểm.
           Ý thức rằng hôn nhân mới là khởi đầu cho một chuyến đi xa, ta sẽ không ngỡ ngàng và thất vọng khi khám phá mình và người bạn đời tuy đã nên một nhưng vẫn còn là hai trong quan điểm, trong cách sống, trong công việc… Không ngỡ ngàng và thất vọng, nhưng bình tĩnh và kiên tâm tháo gỡ những khó khăn dị biệt.
           Khi yêu nhau, người ta phải hy sinh. Đó là qui luật của muôn đời. Chúa Giêsu phán :”Không có tình yêu nào cao cả hơn tình yêu của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu mình”(Ga 15,13). Thánh nữ Têrêsa Hài Đồng Giêsu cũng nói:”Yêu và hy sinh là một, không hy sinh thì chưa gọi là yêu”.
           Đức Gioan-Phaolô II đã khẳng định trong Tông huấn về Gia đình:”Chỉ có tinh thần hy sinh cao cả mới gìn giữ và kiện tòan sự hiệp thông gia đình”.
           Trong một số tiệc cưới, thay vì chỉ cắt bánh ngọt, đôi tân hôn đã lặp lại phong tục của người Việt, là cho nhau nếm muối mặn và gừng cay, để diễn tả những cay  đắng mà cả hai sẽ phải đương đầu. Vì thế mới có câu ca dao :
                                       Tay bưng bát muối chấm gừng
                                      Gừng cay, muối mặn xin dừng bỏ nhau.

 
          3. Hôn nhân là một hành trình dài.
           Ý thức rằng hôn nhân là một hành trình dài sẽ thúc đẩy người ta ĐI TỚI và ĐI MÃI.  Ngỡ tưởng rằng  cứ lấy nhau là hòan tòan nên một để tạo cho người ta tâm lý dừng chân hưởng thụ. Đang khi đó, cha Ruy MERMET nói :”Hôn nhân không phải là một món tiền bỏ vào ngân hàng và mỗi tháng cứ đến lĩnh tiền lời, nhưng hôn nhân là kiến trúc cần xây dựng mỗi ngày”.
           Tác giả Nguyễn tầm Thường đã viết trong tác phẩm Nước mắt và Hạnh phúc rằng :”Tình yêu không tách rời khỏi thời gian, mà thời gian thì luôn đổi mới, bởi thế, tình yêu không thể chọn lựa một lần là xong, cưới nhau một lần là đủ, tình yêu cần rửa tội mỗi ngày, cưới nhau mỗi sáng”.
                   Cố vấn hôn nhân Allan Peterson nói :”Đa số người kết hôn tin vào một huyền thọai  : cuộc hôn nhân ấy là cái hộp đẹp chứa mọi vật mà người ta khao khát : đời sống lứa đôi, sự thỏa mãn về tình dục, sự thân mật, tình bạn.
           “Sự thật là cuộc hôn nhân ấy lúc bắt đầu là một cái hộp rỗng. Bạn phải bỏ vào một cái gì đó trước khi bạn có thể lấy ra một cái khác. Trong hôn nhân không có tình yêu, tình yêu ở trong hai người và hai người đặt tình yêu vào hôn nhân. Không có chuyện tình lãng mạn trong hôn nhân; người ta phải pha trộn sự thơ mộng vào hôn nhân của họ.
           “Một đôi tân hôn phải học nghệ thuật ấy và hình thành thói quen cho nhau, yêu nhau, phục vụ nhau, ngợi khen nhau để giữ cho cái hộp được đầy. Nếu bạn lấy ra nhiều hơn bạn bỏ vào, cái hộp sẽ rỗng không”.
           Chúng ta có thể kết luận : Sự nên một trọn vẹn chỉ có trong Thiên Chúa, tuy Ba Ngôi riêng biệt nhưng chỉ là một Thiên Chúa duy nhất. Chúng ta hãy chiêm ngưỡng sự hiệp nhất trong Thiên Chúa Ba Ngôi để hướng đời sống hôn nhân về đó và cố gắng kết hợp với nhau nên một.  Nếu muốn có sự kết hiệp mật thiết trong hôn nhân, chúng ta hãy kết hiệp với Chúa. Nếu chúng ta kết hiệp với Chúa thì chúng ta cũng sẽ kết hiệp với  nhau, đặc biệt là Thánh Thể. Thánh Thể Chúa sẽ nối kết hai người lại với nhau vì hai người cùng chịu một Chúa Kitô là mối giây liên kết các tín hữu.
 Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt

 

HônPhối 42: CÁCH MẠNG

I. SUY NIỆM LỜI CHÚA.
          Chúng ta đọc : Ep 5,2a. 25-32.

Khi ở trong tù, thánh Phaolô đã viết nhiều thư mục vụ gửi cho các giáo đòan. Những thư gửi HônPhối 42

Khi ở trong tù, thánh Phaolô đã viết nhiều thư mục vụ gửi cho các giáo đòan. Những thư gửi cho giáo đòan Êphêsô cũng nằm trong hòan cảnh đó. Những bức thư này nhằm triển khai mầu nhiệm ơn cứu độ được thực hiện nơi Đức Kitô, đồng thời cũng nói lên mầu nhiệm kết hợp giữa Chúa Kitô và Hội thánh.
           Ngòai ra, ngài còn khuyên nhủ mọi người trong giáo đòan hãy hiệp nhất, xứng với đời sống mới, đời sống kết hợp với Đức Kitô qua những tương quan cụ thể trong đời sống hằng ngày : giữa cộng đòan Kitô hữu, trong gia đình, trong xã hội.
           Trong đọan văn chúng ta vừa nghe 5,23-32, thánh Phaolô đối chiếu hôn nhân với mầu nhiệm Đức Kitô và Hội thánh : tình yêu của Đức Kitô đối với Hội thánh là nền tảng và là khuôn mẫu của đôi vợ chồng. Tương quan giữa vợ chồng phải là dấu chỉ và là cách trình bầy mầu nhiệm Đức Kitô và Hội thánh (x. 1Cr 7,1-14; Cl 3,18-19)
           Đức Kitô yêu thương Hội thánh là thân thể của Người, nên Người cũng yêu thương mỗi chi thể trong thân thể đó. Cũng vì thế, người chồng phải yêu thương vợ là thân thể của mình , nhưng còn vì vợ là chi thể trong thân thể mầu nhiệm.
           Chúng ta cũng nên lưu ý : khi nghe đọc câu 22 :”Người làm vợ hãy phục tùng chồng như tùng phục Chúa”. Có lẽ câu này làm cho chúng bị  “sốc”. Đây là cách diễn tả của thánh Phaolô có tính cách phản ánh văn hóa thời đại ngài, nhưng chúng ta không nên nhân danh phong trào đấu tranh cho nữ quyền mà coi thường giáo huấn của ngài. Đã và đang có những mô hình văn hóa khác nhau trong vấn đề tình nghĩa vợ chồng. Ngày nay, các mô hình ấy khác biệt nhau tùy nơi : ở các nước kinh tế phát triển hay ở thế giới thứ ba, trong giới trung lưu hay bình dân. Tiến bộ hơn, chính mỗi cặp vợ chồng phải tìm xem đâu là quân bình cho mình, và khi đưa ra những sáng kiến của mình thì nên theo cung cách nào, như uy tín bẩm sinh, và khả năng của mỗi bên cho phép (Chú thích của bản dịch Phụng vụ giờ kinh).
           Người Việt nam chúng ta ngày xưa có chủ trương là “Phu xướng phụ tùy” : chồng nói thì vợ làm theo, nhưng đối với chúng ta , dù bên “xướng” hay bên “tùy”, thì đàng này hay đàng kia đâu phải vì thế mà sẽ cảm thấy mình hơn hay kém, bởi vì lý tưởng của mỗi bên là trở nên “Tôi tớ” (Mc 9,35). Cho nên thánh Phaolô nói :”Chồng là đầu của vợ” thì không có ngĩa là “đầu” thì ăn trên ngồi trước như một ông chủ hay một thủ trưởng, mà là người hỗ trợ và phục vụ cho vợ.
 
II. CÁCH MẠNG TRÊN THẾ GIỚI.
           Trên thế giới ngày nay, ta hay nghe tin cách mạng xẩy ra ở nước này nước nọ để thay đổi triều đại, thay đổi chế độ hay thay đổi chính quyền hiện thời. Từ xưa đến nay cách mạng đã từng xẩy ra mọi nơi như cơm bữa.
          1. Cách mạng là gì ?
           Cách mạng hay cách mệnh là sửa đổi  một chế độ chính trị cũ cho tốt đẹp hơn, hoặc thay đổi chế độ cũ bằng chế độ mới, người mới với võ lực.  Theo nguyên tắc thì cách mạng thay cái cũ bằng cái mới với điều kiện là cái mới phải tốt hơn. Nhưng trong thực tế thì chúng ta đã biết các cuộc cách mạng trên thế giới đã như thế nào …
 
          2. Có mấy lọai cách mạng ?
           Thường chúng ta thấy có hai lọai cách mạng. Nếu cách mạng bằng võ lực thì ta gọi là “cách  mạng đỏ”û. Ví dụ : cách mạng Pháp năm 1789, cách mạng tháng 10 Nga, cách mạng tháng 8 của ta lật đổ chế độ cũ và thay bằng một chế độ mới.
           Còn cách mạng êm thắm không dùng võ lực thì người ta gọi là “cách mạng xanh”, ví dụ : cuộc cách mạng kỹ thuật thế kỷ 19, cách mạng khoa học, cách mạng xã hội. Thậm chí còn có cả cuộc cách mạng bản thân.  Cuộc cách mạng này đòi hỏi con người phải canh tân cách sống, phải lột bỏ con người cũ xấu xa mà mặc lấy con người mới tốt lành thánh thiện hơn.
 
          3. Có cách mạng hôn nhân không ?
           Câu hỏi này sẽ được mỗi người suy nghĩ và trả lời. Ta chỉ thấy rằng người Pháp nổi tiếng là “ga-lăng” nhất thế giới cũng phải sáng chế ra một bi hài kịch với ba màn sau đây :
- Lúc đầu là thời quân chủ : lúc này thì em nói anh nghe, anh nói thì em nghe.
          - Sau đó là thời dân chủ : lúc này anh nói anh nghe, em nói em nghe.
          - Kết cuộc là cách mạng bùng lên : anh và em cùng nói một lúc để cho hàng xóm nghe chơi  (Hồ Ngọc, Tình yêu và gia đình, tr 120).
           Theo kiểu ví von của người Pháp ta thấy thời gian khủng hỏang làm tan cửa nát nhà, vợ con chia lìa thường xẩy ra vào năm thứ 7 và thứ 10 sau khi lấy nhau. Đó là kết quả khảo cứu của nhà gia đình học Brent C. Miller.
 Vào khỏang thời gian nói trên, nghĩa là khi đứa con đầu lòng bắt đầu cắp sách đi học, là vợ chồng lủng củng dữ dội nhiều hơn bao giờ hết. Thêm vào đó, những lo lắng về công ăn việc làm cũng như lo lắng cho con cái làm cho họ không còn phút nào để nghĩ đến nhau nữa về phương diện tình dục lẫn tình yêu (Sđd, tr 132).
           Vậy phải tìm ra giải pháp nào hữu hiệu  để tránh những cuộc khủng hỏang trong gia đình nhằm tránh được những cuộc ly dị có thể xẩy ra ?
           Người Ả rập có câu ngạn ngữ óai oăm này :”Phải đánh vợ mỗi buổi sáng, nếu không có lý do thì vợ nó cũng biết tại sao” !
           Trong thế giới Aûrập, đặc biệt là những người Hồi giáo, người đàn bà còn bị coi nhẹ, đôi khi còn bị khinh miệt, không có quyền hành gì trong gia đình, người đàn bà chỉ được đem về để phục vụ cho đàn ông. Ra đường phải che kín mít từ đầu đến chân. Riêng phụ nữ ở Afganistan phe Taliban không cho phụ nữ đi học và làm việc tại các cơ quan, xí nghiệp.
           Theo giáo lý của Hội thánh Công giáo thì người nam và người nữ phải được bình đẳng trên phương diện nhân quyền, nhân phẩm. Chính bí tích Hôn phối đã nói lên đặc tính này :”Họ không còn phải là hai mà là một xương một thịt”(Mc 10,8).
           Vì thế, thánh Phaolô khuyên tín hữu Êphêsô :”Chồng phải yêu vợ như yêu chính thân thể mình. Yêu vợ là yêu chính mình. Quả vậy, có ai ghét thân xác mình bao giờ; trái lại, người ta nuôi nấng và chăm sóc thân xác mình”(Ep 8,28-29).
 
III. VỢ CHỒNG PHẢI ĐƯỢC BÌNH ĐẲNG.
           Linh mục Bernard Tari, nhà luân lý học nổi tiếng người Đức, đã kể rằng :
          Kỷ niệm đẹp nhất về việc tông đồ trong đời tôi là lần giải tội đầu tiên.
          Hôm đó, một người đàn ông đến xưng với cha về một thứ tội dường như không có trong danh mục của bản hướng dẫn xét mình. Người đó xưng thú rằng mình đã không vâng lời vợ. Lần đầu tiên nghe thứ tội lạ lùng như thế, vị Linh mục mới hỏi hối nhân :
- Từ trước đến nay tôi chỉ nghe nói rằng người vợ phải phục tùng chồng, sao ông lại xưng thú rằng ông đã không vâng lời vợ ?
          Người đàn ông giải thích :
- Thưa cha, con có tội, là bởi vì vợ con có lý mà con vẫn không chấp nhận điều đó.
Nghe thế, vị Linh mục hỏi hối nhân :
- Ôâng có chấp nhận việc đền tội bằng cách trở về nói với vợ ông rằng bà ta có lý không  ?
           Chấp nhận sự có lý của người vợ không phải chỉ là  một việc làm đơn giản. Đó là đòi hỏi cốt yếu của một cái nhìn đúng đắn của người chồng đối với vợ mình. Tình yêu vợ chồng đích thực chỉ có thể được xây dựng trên sự bình đảng mà thôi.  Đó là điều mà thiết tưởng những người chồng trẻ nên tâm niệm  mỗi ngày (D. Wahrheit, Cẩm nang hạnh phúc gia đình Kitô, tr 34-35)..
           Cuộc sống hôn nhân đích thực chỉ có thể xây dựng trên tình yêu mà thôi. Mà nói đến tình yêu thì phải nói đến tôn trọng Bình đẳng. Tại sao tôi cưới vợ ? Câu trả lời đúng đắn là : vì tôi yêu thương, và tôi muốn sống hòan tòan và trọn vẹn cho vợ tôi.
 
          Yêu thương thiết yếu có nghĩa là muốn điều thiện hảo cho người mình yêu thương. Yêu thương là sống cho và hy sinh tất cả vì người mình yêu thương. Đó phải là tâm niệm của những người chồng trẻ. Một tâm niệm như thế sẽ khiến cho người chồng gạt bỏ được cái tư tưởng muốn chiếm đọat và làm chủ vợ mình. Một tâm niệm như thế sẽ giúp họ chấp nhận những khác biệt hay cả những khuyết điểm của người vợ. Nếu được như thế thì sẽ không bao giờ có cuộc cách mạng trong gia đình.
           Để kết luận, chúng ta hãy đọc lại và suy niệm đọan thư thánh Phaolô gửi cho tín hữu Colossê :”Anh em là những người được Thiên Chúa tuyển lựa, hiến thánh và yêu thương. Vì thế, anh em hãy có lòng thương cảm, nhân hậu, khiêm nhu, hiền hòa và nhẫn nại. Hãy chịu đựng và tha thứ cho nahu, nếu trong anh em người này  có điều gì phải trách móc người kia. Chúa đã tha thứ cho anh em, thì anh em cũng vậy, anh em phải tha thứ cho nhau. Trên hết mọi đức tính, anh em phải có lòng bác ái, đó là mối dây liên kết tuyệt hảo” (Cl 3,12-14).
Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt

 

HônPhối 43: NÊN MỘT

I. SUY NIỆM LỜI CHÚA. 
                   Chúng ta đọc : Mc 10,2-12.
                                         Ep 21-23.

Ai cũng biết , Đức Giêsu đến không phải để phá bỏ lề luật Cưu ước, mà là để kiện tòan. Bài Tin HônPhối 43

Ai cũng biết , Đức Giêsu đến không phải để phá bỏ lề luật Cưu ước, mà là để kiện tò