Giảng Lễ Hôn Phối Bài 101-116: Suy Niệm về Hôn Nhân Gia Đình

Chủ nhật - 16/12/2018 09:22
Giảng Lễ Hôn Phối Bài 101-116: Suy Niệm về Hôn Nhân Gia Đình
Giảng Lễ Hôn Phối Bài 101-116: Suy Niệm về Hôn Nhân Gia Đình
Giảng Lễ Hôn Phối Bài 101-116: Suy Niệm về Hôn Nhân Gia Đình
HônPhối 101: Đừng tranh cãi vô ích. 1
HônPhối 102: NGÔI  NHÀ.. 7
HônPhối 103: ANH CŨNG LÀ CỦA TÔI 11
HônPhối 104: HOÀ  THUẬN.. 16
HônPhối 105: DÂNG HIẾN.. 19
HônPhối 106:  ĐÔI ĐŨA.. 23
HônPhối 107: Hòa Giải 28
HônPhối 108: NHÂN VÔ THẬP TOÀN.. 31
HônPhối 109: BẰNG LÒNG VỚI  SỐ PHẬN.. 36
HônPhối 110: CHUNG LƯNG ĐẤU CẬT.. 40
HônPhối 111: ƠN GỌI (2) 44
HônPhối 112: ĐI TÌM... 48
HônPhối 113: CƠN .. 51
HônPhối 114: CHIẾC KÉO.. 55
HônPhối 115: NÔ LỆ.. 59
HônPhối 116: CHIẾC NHẪN.. 61
 

HônPhối 101: Đừng tranh cãi vô ích

 I. LỜI CHÚA.
         1.” Tất cả anh chị em hãy đồng tâm nhất trí, thông cảm với nhau, hãy yêu thương nhau như anh em, hãy ăn  ở nhân hậu và khiêm tốn. Đừng lấy ác báo ác, đừng lấy lời nguyền rủa đáp  lời nguyền rủa, nhưng trái lại, hãy chúc phúc, vì anh chị em được Thiên Chúa kêu gọi chính là để thừa hưởng lời chúc phúc. Thật thế, ai là người thiết tha được sống và ước ao hưởng chuỗi ngày hạnh phúc, thì phải giữ mồm giữ miệng, đừng nói lời gian ác điêu ngoa; người ấy phải làm lành lánh dữ, tìm kiếm và theo đuổi bình an, vì Chúa để mắt nhìn người chính trực và lắng tai nghe tiếng họ kêu xin, nhưng Người ngoảnh mặt đi, không nhìn kẻ làm điều ác” (1Pr 3, 8-12).
         2. Ai biết giữ miệng là người khôn ngoan,
            Ai lắm điều hay nói, thật đáng ghét” (Hc 20,5).

         3. Đánh một roi chỉ để lại vết lằn,
            Đập một lời thì vỡ cả xương,
            Số người chết vì gươm đâm
            Không bằng số người chết vì lưỡi chém” (Hc 28,17-18)

         4.”Phải giữ mồn giữ miệng, đừng nói lời gian ác điêu ngoa,
            Hãy làm lành lánh dữ, tìm kiếm bình an, ăn ở thuận hòa” (Tv 33, 14-15)

         5. Sách Thánh dạy chúng ta phải giữ gìn miệng lưỡi, không nên phê phán người khác vì con người chỉ biết theo cái vỏ bề ngoài, còn Thiên Chúa mới biết rõ tâm can con người :”Duy một mình Thiên Chúa là nhìn thấy đáy tâm hồn. Người thiên hạ chỉ xem ngoài bộ mặt” (Sm 16,7 ; x. Ga 8, 12-30).
 
II. ĐỪNG TRANH LUẬN VÔ ÍCH.

Con người có khuynh hướng tự nhiên là thích tranh luận, cái gì không hợp với mình liền bị phê HônPhối 101

Con người có khuynh hướng tự nhiên là thích tranh luận, cái gì không hợp với mình liền bị phê phán, cho người khác là sai và cho sự hiểu biết của mình mới là đúng đắn, mới là mẫu mực cho mọi sự; nhưng thực ra sự hiểu biết của mình thì hạn hẹp chỉ như “ếch ngồi đáy giếng”, tại sao lại bắt mọi người phải suy nghĩ như mình.
 
                        Truyện  vui : Ba bảy hăm mấy ?
        Ngày xưa, tại một vùng quê có hai người cãi nhau về một chuyện rất không đâu.
        Ông Ất bảo :”Ba bảy hai mươi mốt”. Ông Giáp thì bảo :”Ba bảy hai mươi hai”.
        Chuyện vô lý đến đứa trẻ con cũng không nghe được, mà khiến hai người cãi nhau đi đến chỗ đánh nhau.
        Lý trưởng dàn xếp không được, phải giải hai người đến gặp ông Chánh Tổng.
        Sau khi nghe Ất, Giáp trình bầy đầu đuôi sự việc, Chánh Tổng hắng giọng ra oai, phán :
        - Giáp ! Anh bảo “ba bảy hai mươi hai” là sai, nghe chưa ? Còn anh Ất, anh đã biết “ba bảy hai mưoi mốt” là đúng thì việc gì anh phải cãi nữa cho tốân hơi,  lại còn mang tiếng cố  chấp hơn cả người cố chấp nữa.
        Điều lý thú của câu chuyện không phải vì họ cãi nhau về một kiến thức quá ư đơn giản mà ở lời phán của viên Chánh tổng.
        Câu chuyện nhắc chúng ta mỗi khi nói chuyện (hoặc tranh luận) cần biết mình đang nói với ai  và nói để làm gì.    
        Từ bấy đến nay, những chuyện đại loại như vậy nhân dân ta thường nói :”Liệu có được ba bảy hăm mốt ngày” ? hoặc “Chẳng biết Ất Giáp gì cả”.
                        (Đỗ viết Lăng, báo Làng Cười, số 18(32), 2004, tr 8)
 
        1. Lý do thích tranh cãi.
         Chúng ta thích tranh cãi với nhau và muốn  đòi phần thắng về mình. Tại sao lại thích tranh cãi như thế ?  Có nhiều lý do, nhưng chúng ta chỉ thu hẹp lại trong ba lý do mà chúng ta cho là chính yếu.
         a) Lòng tự ái :  Tự ái là yêu chính mình. Ai mà không yêu mình ? Yêu mình phải chiếm vị trí ưu tiên, sau đó mới đến ngưới khác. Vì thế,  khi thấy người khác nói điều gì không hợp với suy nghĩ hay sở thích của mình thì liền phê phán, ví dụ như anh chàng Giáp nói :”Ba bảy hai mươi hai” thì tự nhiên anh Ất cảm thấy khó chịu và phải phê phán ngay, cho là vô lý cho dù việc đó chắng mắc mớ gì đến mình.
               b) Tính vị kỷ : Bất cứ ai cũng muốn tôn vinh mình, tất cả mọi người phải qui về mình, phải phục vụ mình, phục vụ cho cái TÔI của mình, cho cái mà nhà tư tửong Blaise Pascal cho là “Le MOI est haissable” (cái tôi đáng ghét), nhưng là cái TÔI của người khác đáng ghét, còn cái tôi của mình thì muôn vàn qúi yêu.
        Ngay từ nhỏ, đứa trẻ đã coi mình như trung tâm của vũ trụ, thích cái gì là đòi cho bằng được. không được thì khóc. Cái khuynh hướng vị kỷ ấy mỗi ngày một lớn dần lên đến nỗi người ta tự cho mình là “cái rốn của vũ trụ”.
         c) Tính kiêu ngạo : Tính kiêu ngạo đã xuất hiện rất sớm nơi trần gian này : thiên thần Lucifer và đồng bọn kiêu ngạo không vâng phục Thiên Chúa, đã bị đẩy xuống hỏa ngục làm ma quỉ. Ađam Evà muốn có sự hiểu biết bằng Thiên Chúa nên đã ăn trái cấm và đã bị luận phạt (x. St 3,1-7).
        Trong bảy mối tội đầu, kiêu ngạo là tội đứng hàng đầu, vì kiêu ngạo nên con người dễ phạm những tội khác. Thiên Chúa lên án tội kiêu ngạo vì khi phạm tội kiêu ngạo là con người đã vô tình hay hữu ý muốn bằng Thiên Chúa.
               Đức Maria đã thấm nhuần chân lý này khi Ngài cất tiếng ca tụng Thiên Chúa trong kinh Ngợi khen :”Chúa giơ  tay biểu dương sức mạnh, dẹp tan phường lòng trí kiêu căng” (Lc 1,51).
           2. Tranh cãi trong gia đình.
         Trong một gia đình chỉ có vợ chồng và mấy đứa con mà nhiều có những cuộc tranh cãi quyết liệt làm điếc tai hàng xóm, có khi đi đến chỗ ẩu đả nhau vì những chuyện không đâu, không đáng để cho người ta lưu tâm. Tại sao vậy ? Đó là do tính hiếu thắng của con người mà chúng ta vừa đề cập ở trên.  Người ta thích tranh cãi về những việc không đâu và trong khi tranh cãi thì luôn luôn muốn phần thắng về phía mình. Những cuộc tranh cãi đó hoàn toàn vô ích và chỉ ở trong cái vòng luẩn quẩn, chẳng giải quyết được việc gì như :
                                Ba bà đi bán lợn sề,
                                Bán đi chẳng đực chạy về lon ton.
                                Ba bà đi bán lợn con,
                                Bán di chẳng được lon ton chạy về,
                                        (Ca dao)

        Sáu ba này đi bán lợn sề hay lợn con đều bị thất bại, bán chẳng ai mua, các bà phải hớt hả chạy về, chạy về lon ton hay lon ton chạy về, đều giống nhau cả, chẳng giải quyết được việc gì, thất bại vẫn là thất bại.
         Trong cuộc sống gia đình ta thấy giữa vợ chồng thường có những cuộc tranh luận không đâu về bất cứ một vấn đề gì, mà ai cũng muốn phần thắng về mình .  Khi đã tranh luận như thế thì chẳng ai nghe ai.  Đúng là “sư nói sư phải, vãi nói vãi hay”.  Nếu biết nhường nhịn nhau đi thì cuộc tranh luận sẽ kết thúc êm xuôi, nếu không nó sẽ trở nên một cuộc cãi vã gây cấn và nếu không giữ được bình tĩnh rhì sẽ xẩy ra cuộc chiến “thượng cẳng tay, hạ cẳng chân” làm cho bầu khí gia đình mất vui tươi, nhiều khi làm cho bầu khí gia đình trở nên lặng lẽ và ảm đạm như bãi tha ma.
         Thực sự, trong mọi công việc không ai đạt tới chân lý toàn vẹn mà chỉ tiến tới một góc cạnh của chân lý bởi vì lý trí con người là hữu hạn. Nếu biết sự hiểu biết của mình bị hạn chế, tại sao lại cho mình như thông hiểu tất cả mà không dành cho người khác một góc hiểu biết của họ ? Để nói lên sự hiểu biết của con người bị hạn chế và phiến diện, ta hãy nghe câu chuyện ba người tranh cãi nhau về một con kỳ nhông.
 
                        Truyện : Con kỳ nhông đổi mầu.
        Một hôm có mấy người đứng bên lề đường tranh luận cùng nhau.
Người thứ nhất nói :
        - Tôi vừa đứng dưới gốc cây đằng kia thấy rõ ràng một con vật quái lạ, mình đỏ như lửa.
        Người thứ hai cãi lại :
        - Tôi cũng trông thấy con vật ấy, nhưng rõ ràng là nó xanh như tầu lá.
        Một người thứ ba đi ngang qua cũng nhào vô cho ý kiến :
        - Không, không. Tôi cũng đã trông thấy con vật ấy tận mắt.  Nó chẳng đỏ cũng chẳng xanh :  rõ ràng là nó vàng như nghệ.
         Rồi những người đi đường xúm lại , càng lâu càng đông.  Mỗi người đều quả quyết trông thấy con quái vật kia rõ ràng, nhưng mỗi người nhận  xét mỗi khác. Không ai chịu ai. Không ai nhường ai.  Cuộc cãi vã càng lâu càng thêm huyên náo, thêm hung hăng dữ rợn. Ai cũng cho mình là đúng, vì ai cũng được mục kích tận mắt cả.  Họ hoa tay múa chân, sắp ăn thua nhau trong một trận thư hùng : giải quyết bằng võ lực là thượng sách.
        Giữa lúc nguy cấp, bỗng có một người đằng xa chạy tới can ngăn :
        - Thôi, thôi, các anh đừng cãi nhau nữa. Chính tôi đây là người sống dưới gốc cây kia lâu ngày và nhận định được sự biến đổi của con vật kỳ lạ kia. Nó gọi là con kỳ nhông, thay màu đổi sắc luôn luôn. Khi thì đỏ, khi thì vàng, khi thì xanh, khi tím... Có lúc lại thấy nó chẳng có màu sắc gì cả, trông giống hệt như vỏ cây.
                (Vũ minh Nghiễm, Sống sống,  1991, tr 235-237)
Đức Khổng Tử đã khuyên ta từ lâu :
“Đa văn khuyết nghi, đa kiến khuyết đãi : tai cần nghe cho nhiều, nhưng điều gì còn nghi ngờ thì gác lại, chớ nên nói. Điều gì chắc chắn mới nên nói, mà nói thì phải nói cho thận trọng, như vậy sẽ tránh được nhiều oán trách. Mắt cần phải thấy cho rộng, nhưng việc gì còn bấp bênh thì hãy bỏ đi, đừng liều lĩnh.  Việc gì đích xác mới nên làm, và phải làm cho dè dặt, như vậy ít hối hận”.
         Sự hiểu biết của con người thật hạn hẹp, chỉ là hạt cát trong sa mạc mênh mông. Không bao giờ con người có thể nắm được toàn vẹn chân lý, mà chỉ đạt tới một góc cạnh của chân lý.  Sự hiễu biết của con người rất phiến diện, giống như cái nhìn của những ông thầy bói mù sờ voi : thấy một bộ phận của con voi thì tưởng con voi là như vậy, và chỉ như vậy không thể khác, vì thế không chịu nhận sự hiểu biết của người khác.
         Trong đời sống gia đình cũng thế, mỗi người có một cái nhìn khác nhau về sự vật, mỗi người nhìn về một khía cạnh. Sự vật không phải là chỉ một khía cạnh mà là tổng hợp các khía cạnh để làm nên sự vật, để sự vật phải là nó chứ không phải chỉ là như người ta nhìn. Muốn tránh được những cuộc cãi vã không cần thiết như truyện con Kỳ nhông, vợ chồng hãy nhường nhịn nhau, coi trọng nhau, đừng bảo thủ thì đời sống sẽ vui tươi, thuận hoà.  Trong cách đối nhân xử thế, nhất là trong đời sống gia đình, hãy hành động theo tiêu chuẩn này :
                                 Ai nhất thì tôi thứ nhì,
                                Ai mà hơn nữa tôi thì thứ ba.
                                        (Ca dao)


KẾT LUẬN
         Để tránh những cuộc cãi vã vô ích trong gia đình, để cho bầu khí gia đình lúc nào cũng yên vui đầm ấm, không gì bằng đem lời Chúa sau đây ra suy niệm và thực hành trong đời sống vợ chồng:
“Đàn ông trầm lặng sống với đàn bà lắm điều chẳng khác chi đdôi chân cụ già phải leo lên đồi cát” (Hc 25,20).
        “Lòng mến không giả hình giả bộ... biết coi trọng người khác hơn mình” (Rm 12,9-10).
“Anh em hãy mặc lấy lòng lân mẫn, biết chạnh thương, đức nhân hậu, khiêm nhu, hiền từ. đại lượng. Hãy chịu đựng lẫn nhau, tha thứ cho nhau nếu ai có gì trách móc người kia” (Cl 3,12).
         Sau cùng hãy suy niệm và hát lên Kinh Hoà bình của thánh Phanxicô Assisi để cầu nguyện cho gia đình và coi như  Kim chỉ nam cho cuộc sống : chính lúc quên mình là lúc tìm lại bản thân .
 Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt.

 

HônPhối 102: NGÔI  NHÀ

I. LỜI CHÚA.
        1. “Ai đến với Thầy, và nghe những lời Thầy dạy mà đem ra thực hành, thì Thầy sẽ chỉ cho anh em biết người ấy ví được như ai. Người ấy ví được như một người xây nhà, đã cuốc, đã đào sâu và đặt nền móng trên đá. Nước lũ dâng lên, dòng sông có ùa vào nhà, thì cũng không lay chuyển nổi, vì nhà đã xây vững chắc. Còn ai nghe mà không thực hành, thì ví được như người xây nhà ngay mặt đất, không nền móng. Nước sông ùa vào, nhà sụp đổ ngay và bị phá hủy tan tành”. (Lc 6,47-49 ; Mt 7,24-27).
         2. “Chúng ta  biết rằng : nếu ngôi nhà chúng ta ở dưới đất, là chiếc lều này, bị phá hủy đi, thì chúng ta có một nơi ở do Thiên Chúa dựng lên, một ngôi nhà vĩnh cửu ở trên trời, không do tay người thế làm ra” (2 Cr 5,1).
 
II. TẢN MẠN VỀ NGÔI NHÀ.
           1. Ngôi nhà và gia đình.

Ngày nay kinh tế đang phát triển mạnh, người ta làm ăn khấm khá hơn, có của ăn của để, có HônPhối 102

Ngày nay kinh tế đang phát triển mạnh, người ta làm ăn khấm khá hơn, có của ăn của để, có của tích lũy nên người ta đua nhau làm nhà vì “có an cư thì mới lập nghiệp”. Ngày nay xây dựng được một ngôi nhà thì  dễ vì có sẵn vật liệu, nhưng ngày xưa thì rất khó, muốn làm một ngôi nhà thì phải tích trữ, chuẩn bị trong nhiêu năm.  Vì thế người ta mới nói :
                                 Tậu trâu, lấy vợ, làm nhà,
                              Trong ba việc ấy thật là khó thay.
                                           (Ca dao)

        Việc xây dựng “Mái ấm gia đình” cũng quan trọng và khó khăn như xây dựng một ngôi nhà vì nhiều khi người ta đã xây nhà ngay trên mặt đất (x. Lc 6, 49), nên việc xây dựng một gia đình còn quan trọng hơn nhiều. Muốn xây dựng một gia đình Kitô giáo theo một mô hình mà Hội thánh đã chỉ vẽ ra qua các văn kiện của Tòa thánh, qua giáo huấn của giáo quyền, cần phải tìm học trước một cách sâu rộng trước khi lập gia đình vì đó là cẩm nang cần thiết cho các Kitô hữu.
 
        2. Sự sắp xếp hài hòa.
         Không phải xây nhà thế nào cũng được nhưng cũng phải theo nguyên tắc của việc thiết kế, một căn nhà phải được bố trí thế nào cho hợp tình hợp lý để tạo nên vẻ đẹp hài hòa và tiện dụng, không để cho người ta dị nghị, chê cười ví dụ xây dựng một ngôi nhà mà để cho khói bếp bốc lên nhà trên làm cho mọi người nghẹt thở.  Căn nhà cũng phải theo hướng mặt trời, hướng gió cho thuận lợi, nhất là ở ngoài Bắc với khí hậu khắc nghiệt, mùa hè thì nóng như thêu như đốt, mùa đông thì lạnh như  cắt da cắt thịt, nên người ta mới truyền lại cho người khác kinh nghiệm khi xây nhà, cho bất cứ loại nhà nào :
                                Lấy vợ đàn bà,
                                Làm nhà hướng nam.

        Một kinh nghiệm làm nhà : làm nhà quay hướng nam để mùa hè hứng gió nam mát, mùa đông tránh được gió bắc lạnh. Lấy vợ thì dĩ nhiên là lấy vợ đàn bà, làm nhà thì dĩ nhiên thì phải làm trông về phía nam.  Nhưng câu  “Lấy vợ đàn bà” là người ta có ý khuyên : lấy vợ thì lấy người thật hiền hòa, nhu mì, duyên dáng vì có người đàn bà lại có tướng và tính tình như đàn ông (x. Hc 25,16).  Vì thế, trước khi kết hôn phải nghiên cứu, tìm hiểu đối tượng theo những nguyên tắc đã được học trong lớp giáo ly hôn nhân.  Phải suy nghĩ đắn đo trước khi đi đến quyết định.  Khi đã thành lập được một gia đình thì người ta phải cố gắng sống theo sự sắp xếp bình thường để mọi thành phần làm việc theo phận vụ của mình.
 
          3. Sự phân công hợp lý.
         Công việc xây nhà cần có nhiều nguời, mỗi người một việc tùy khả năng chuyên môn, không pải ai cũng có thể làm được công việc của người khác.  Xây dựng một gia đình là công việc của mọi thành phần trong gia đình.  Lúc đầu chỉ có hai vợ chồng xây dựng nên nhưng mới có một ngôi nhà được bài trí đơn sơ, việc trang thí nội thất còn phải được tiếp tục.  Như vậy có nghĩa là, khi kết hôn, người ta chưa có hạnh phúc ngay vì hạnh phúc không phải là cái gì tiền chế, Thiên Chúa không ban cho ngay, nhưng là một thứ hạnh phúc do hai người tạo nên.  Đây là công việc chính yếu của vợ chồng, nhưng cũng cần phải có sự tham gia của con cái . Người ta nói :
                                Đàn ông dựng nhà,
                                Đàn bà xây tổ ấm.

         Xây dựng một ngôi nhà thì dễ nhưng muốn biến ngôi nhà này thành một tổ ấm thì rất khó.  Nếu người ta nói “Đàn bà xây tổ ấm” là có ý nói lên sự quan trọng của người vợ trong việc tạo lập hạnh phúc cho gia đình.  Không phải  người chồng không quan trọng nhưng nhấn mạnh đến vai trò của người vợ vì người vợ thường được gọi là “nội tướng”.
         Hay chúng ta có thể ví gia đình là một xí nghiệp mà người chồng làm giám đốc, còn người vợ làm quản lý.  Vai trò người quản lý rất quan trọng vì người giám đốc chỉ điều khiển tổng quát, còn người quản lý điều khiển nội bộ, phải quán xuyến mọi việc cũng như người nội tướng trong gia đình vậy.  Nếu người giám đốc kiếm được một người quản lý giỏi và trung thành thì xí nghiệp phát triển mạnh, ngược lại, nếu người giám đốc dùng phải một tên quản lý tồi và bất trung thì xí nghiệp đó có thể đi đến chỗõ phá sản.. Người đàn bà phải là người quản lý giỏi và trung thành trong việc xây dựng gia đình (x. Cn 31,10-31).  Vì thế người ta nói :      
                        Vào trong bếp biết nết đàn bà.
        Vào biếp thì biết người đàn bà có trung hậu đảm đang hay không vì nếu bếp ráp sạch sẽ, ngăn nắp thì biết đây là người vợ biết lo cho gia đình (x. Hc 26,16); ngược lại, bếp núc mất rật tự, lộn xộn, bẩn thỉu thì hiểu ngay là người vợ ít quan tâm tới gia đình.
         Do vậy người ta có thể nói :”hạnh phúc” gia đình phần lớn là do người vợ tạo ra. Ta hãy nghe một số danh nhân ca tụng các bà :
 “Nếu anh tìm thấy một gia đình hạnh phúc, anh nên tin rằng ở đó có một nguời đàn bà biết quên mình”  (René Bazin).
         “Bí quyết hạnh phúc của đàn bà là tìm cái vui trong bổn phận” (Anton Tchekhov).
“Công lao của người đàn bà là tề gia nột trợ, làm thế nào cho chồng được vui sướng”  (Joseph de Maistre).
 
        4. Ngôi nhà cần được có người ở.
         Mục đích xây dựng ngôi nhà là để ở, xây dựng một ngôi nhà rồi bỏ hoang là cả một sự vô lý. Nếu vì một lý do nào đó mà ngôi nhà bị bỏ trống không có người ở thì thật là hoang phí và cảnh vật trở nên tiêu điều, gây cho người ta có cảm giác sợ hãi.
 
                        Truyện : Hai ngôi nhà ở đèo Đà lạt.
        Nếu chúng ta đi từ Kim phát lên Đà lạt, khi lên gần hết dốc, ta sẽ thấy ở bên tay phải có một ngôi nhà lầu bỏ trống. Đi thêm 100 mét nữa ta sẽ thấy phía bên trái có một căn nhà trệt bỏ hoang, tuy bên ngoài chưa đến nỗi hoang tàn, nhưng người ta cho biết là hiện không có ai ở.  Tôi tò mò hỏi hành khách xem có sự gì xẩy ra thì  người ta cho biết : nghe tin là ở trong có sự cố. Ban đêm có những hiện tượng khác thường, có người ban đêm ngủ trên giường mà sáng thức dậy thì thấy mình đang nằm ở dưới đất...
         Đây là hình ảnh một gia đình bị tan hoang, đang sống trong hoàn cảnh bi đát “Chồng ăn chả, vợ ăn nem”, để lại một đống đổ nát, để lại một đàn con nheo nhóc, không có ai chăm sóc bởi vì hai người đã thẳng thừng nói với nhau :
                                Anh đi đường anh,
                                Tôi đi đường tôi,
                                Tình nghĩa đôi ta có thế thôi,
                                        (Thế Lữ)

        Giá  trị của một ngôi nhà chính là được con người cư nghụ. Một mái nhà tranh nhưng đầy tiếng cười tiếng khóc của trẻ thơ vẫn đầm  ấm hơn một dinh thự bỏ trống. Chúng ta có thể xác quyết rằng sự sinh sống, sự hiện diện, sự cư ngụ của con người trong căn nhà đã gìn giữ và bảo trì nó khỏi hư nát. Nhưng một khi con người bỏ đi, căn nhà sẽ trở nên tồi tàn. Sức mạnh, vẻ đẹp, sự linh động, sự tồn tại của ngôi nhà chính là được cư ngụ.
         Cũng giống như thế, đời sống của gia đình phải là một ngôi nhà được cư trú, được chiếm đoạt.  Nhưng cư trú ở đây không có nghĩa là chất chứa những vật dụng lỉnh kỉnh. Sự đầm ấm của một ngôi nhà còn tùy thuộc ở sự sắp xếp, sự bài trí. Ngôi nhà càng lộn xộn, càng dơ bẩn, thì càng chật chội, càng nóng bức.
         Đời sống của gia đình có thể là một căn nhà đầy ắp, nhưng lại thiếu trật tự, thiếu ngăn nắp, thiếu sự hiện hữu linh động và những điều kiện tinh thần để bảo trì căn nhà đời sống của chúng ta.
        Ngôi nhà gia đình của chúng ta có thể là cao ốc với biết bao những tầng lầu của lo lắng, đau buồn, bận bịu và sợ hãi. Chúng ta chất chứa cho đời sống chúng ta đầy ắp, nhưng những chất chứa ấy chỉ làm cho ngôi nhà của chúng ta ra buồn thảm, nhơ bẩn.
                                (Lẽ sống, 1991, tr 439-440)

           4. Ngôi nhà phải ấm cúng.
         Ai cũng muốn có một “Mái ấm gia đình”. Căn nhà dù sang trọng mấy đi nữa cũng chỉ là căn nhà lạnh lẽo, hoang dại nếu không thổi vào đó hơi thở của tình yêu (x. St 2,7). Trong một căn nhà mà không có tình yêu thì đấy thật là một bãi tha ma lạnh lẽo vì nó lặng lẽ, không vang lên tiếng cười tiếng nói của người lớn cũng như tiếng khóc của trẻ thơ. Trong một căn nhà đơn sơ mà vợ chồng và con cái chung sống với nhau trên thuận dưới hoà, trong ấm ngoài êm thì vợ chồng đã biến ngôi nhà ấy thành một “Mái ấm gia đình” rồi, mọi sự đã được thỏa mãn,  mọi người đã được hạnh phúc không cần mơ ước gì thêm :
                                Yêu nhau chẳng quản chiếu giường,
                                 MộÄt tầu lá chưối che sương cũng tình.
                                               (Ca dao)


        KẾT LUẬN
         Chúng ta hãy cầu chúc cho mọi người và cách riêng đôi tân hôn hôm nay được đầy ơn Chúa để xây dựng một “Mái ấm gia đình” theo như lời chào của Linh mục khi làm phép ngôi nhà mới :
         Anh chị em thân mến,
        Chúng ta hãy sốt sắng dâng lời nguyện lên Chúa Giêsu, Đấng đã sinh ra bởi Đức Trinh nữ Maria và ở cùng chúng ta. Xin Người đoái thương đến ở trong nhà này và hiện diện chúc phúc cho nhà này, xin Người ở đây với anh chị em, nuôi dưỡng tình bác ái và chia vui sẻ buồn với anh chị em.  Còn anh chị em, hãy theo lời dạy và gương lành của Chúa Kitô : hãy làm cho nhà này thành nơi chan chứa tình  bác ái, để từ nay hương thơm tốt lành của Chúa Kitô được lan tỏa ra khắp nơi.
 Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim Phát
Đà lạt. 25-8-2004

 

HônPhối 103: ANH CŨNG LÀ CỦA TÔI

I. LỜI CHÚA : Mt 11,29-30 ; Cl 3, 12-14.
 

Tất cả những ai đang vất vả và mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng HônPhối 103

1. Tất cả những ai đang vất vả và mang gánh nặng nề, hãy đến cùng tôi, tôi sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng. Anh em hãy mang lấy ách của tôi, và hãy học cùng tôi, vì tôi có lòng hiền hậu và khiêm nhường. Tâm hồn anh em sẽ được nghỉ ngơi bồi dưỡng. Vì ách tôi êm ái, và gánh tôi nhẹ nhàng” (Mt 11,29-30).
         2. Anh em là những người được Thiên Chúa tuyển lựa, hiến thánh và yêu thương. Vì thế, anh em hãy có lòng thương cảm, nhân hậu khiêm nhu, hiền hòa và nhẫn nại. Hãy chịu đựng và tha thứ cho nhau, nếu trong anh em người này có điều gì phải trách móc người kia. Chúa đã tha thứ cho anh em, thì anh em cũng vậy, anh em phải tha thứ cho nhau” (Cl 3,12-14).
 
II. ĐỜI SỐNG CỘNG ĐỒNG CẦN THIẾT.
         1. Nơi con người.
        Khuynh hướng chung của con người là muốn có đời sống cộng đồng vì con người không những cần đến người khác để có cơm ăn áo mặc, , quần áo để  mặc, nhà của để ở mà còn cần đến người khác để trao đổi tâm tình, để thỏa mãn nhu cầu tình cảm vì như Thomas Merton đã nói :”Không ai là một hòn đảo” (No man  is  an  island).  Ngày xưa triết gia Aristote định nghĩa homo est animal rationale : người là một con vật có lý trí, người ta chỉ chú ý đến yếu tố tinh thần để tìm ra sự khác biệt giữa con người và con vật.
         Ngày nay lại cóø khuynh hướng đối nghịch lại, một số nhà xã hội học lại định nghĩa : Homo est animal sociale : người là con vật có xã hội tính.  Định nghĩa như vậy là quá chú trọng đến xã hội tính mà coi nhẹ lý tính. Nhưng dù sao cũng nói lên rằng con người cần đến người khác để chia sẻ (x. Rm 12,15), để liên hệ có trước có sau :
                                 Người ta có cố có ông,
                           Như cây có cội như sông có nguồn.
                                       (Ca dao)

        Nhà hùng biện trứ danh nước Pháp, Giám mục Bossuet, xác nhận tư tưởng trên khi Ngài nói :”Chẳng có một người nào mà chẳng có tương quan với người khác”.
       
        2. Nơi con vật.
         Không những chỉ có con người mới có nhu cầu sống cộng đồng mà cả giống vật cũng có nhu cầu ấy.  Có những loài vật sống tập thể còn sống chặt chẽ hơn cả loài người, ví dụ đời sống của loài kiến, loài ong... Mọi thành phần trong cộng đồng ấy ra sức làm việc để phục vụ cho cộng đồng của mình theo sự phân công của cấp trên.  Nếu  giống vật còn cần đến  đời sống cộng đồng thì con người tại sao không ?
 
        3. Những khó khăn phát sinh.
         Người là con vật có lý tính và tự do, nên con người muốn hành động theo ý muốn riêng tư của mình. Mỗi người lại có những tính tình khác nhau, không ai giống ai vì bá nhân bá tính, như người ta hay nói chơi, nhưng lại có ý nghĩa :
                                 A di Đà Phật, mỗi người mỗi tật,
                                Nam mô Bồ tát, mỗi người mỗi khác.

         Mỗi cá nhân phải sống trong tập thể thì tự do của cá nhân sẽ bị hạn chế giữa cá nhân này với cá nhân kia, giữa cá nhân với tập thể; do đó mới có sự xích mích, va chạm.
 
III. ĐỜI SỐNG VỢ CHỒNG.
         1. Cuộc sống phức tạp.
         Đây là một tập thể nhỏ, chỉ có vợ chồng với mấy đứa con, vậy mà cuộc sống chung lại trở nên rất phức tạp. Nếu không phức tạp thì tại sao người ta lại ra tòa xin ly dị nhiều như ngày nay ?  Phải công nhận rằng cuộc sống  trong gia đình nhỏ bé đó không thể nào tránh được hết những cảnh “cơm chẳng lành, canh chẳng ngọt” vì mỗi người có tự do, có sở thích riêng  đôi khi đối kháng nhau.  Vợ chồng phải chấp nhận thực tế phũ phàng đó và phải tìm phương thế giải quyết những mâu thuẫn ấy, bằng không chiến tranh hoặc lớn hoặc nhỏ sẽ xẩy ra trong gia đình và cuộc chiến nào mà không để lại những hoang tàn đổ nát.
 
        2. Phương thế làm cho đời sống hòa hợp.
         Cuộc sống vợ chồng không thể tránh được những va chạm xích mích, không thể tránh được những sự bất hoà ngấm ngầm hay bùng nổ., cách hay nhất  vợ chồng có thể giải quyết được đó là CHỊU ĐỰNG.  Chịu đựng đây không phải là sự dồn nén tiêu cực, nếu quá mức sẽ tức nước vỡ bờ, mà là một sự chịu đựng tích cực với ý nghĩa là  cố nhịn để mọi sự sẽ qua đi một cách tốt đẹp bởi vì bĩ cực thái lai, sau cơn mưa thì trời lại sáng.  Chịu đựng đây không phải là sự đầu hàng nhục nhã nhưng là một chiến thuật “lùi một bước để tiến ba bước”. Đây là học thuyết của Lão Tử :
                         Thắng nhân giả, hữu lực, tự thắng giả, cường.
                        Nhu thắng cang, nhược thắng cường.
                        Thắng người là có sức, thắng mình là mạnh,
                        nhu nhược lại thắng cương cường.

         Trong phép đấu tranh có hai cách : dùng cường cường chế cương cường, hoặc dùng nhu nhược chế cương cường.  Phép cương chế cương là một phương pháp thô sơ tạm bợ, chỉ dùng trong những trường hợp bất đắc dĩ thôi vì một khi đã dùng cường lực chế trị cường lực rồi, dù cường lực của đối phương tan rã vẫn còn lưu lại cái thù oán đến mực mùi rồi. Trong phép võ JUDO của Nhật đã có nguyên tắc “nhượng bộ để chiến thắng” (céder pour vaincre).
         Nhận xét ở đời, ta thấy biết bao cái mềm thì còn tồn tại mà cái cứng rắn thì mất ! Cái đòn gánh không bao giờ cứng quá mà phải mềm một chút mới dễ gánh và không bị gẫy. Cái lò xo có sức chcịu đựng được sự dồn ép mà không gẫy, khi hết sự dồn ép thì lại giãn ra như thường.
         Văn Vương Trung nói :”Lửa bốc lên cao, nước chảy xuống thác, thế mà bao giờ lửa cũng thua nước”. Người ta sợ lửa hơn sợ nước, thế mà chết cháy ít, chết đuối vẫn nhiều.  Nước mát, lửa nóng, thế mà lửa vẫn sợ nước vì người ta đã lấy nước trị lửa trong các đám cháy.  Vì thế đức tính hiền lành và nhẫn nhục chịu đựng được người dời ca tụng :
                                 Chữ nhẫn là chữ tương vàng,
                               Ai mà nhẫn được thì càng cống lâu.

        Tại sao người ta đã ly thân hay còn tệ hơn nữa là ly dị ? Đó là vì vợ chồng không nhịn nhục chịu đựng được những nết xấu của nhau, không bao giờ nghĩ đến những ích lợi của sự chịu đựng như người ta nói :”MỘT SỰ NHỊN LÀ CHÍN SỰ LÀNH”(tục ngữ) : Có nghĩa là nhịn được một việc thì chín việc khác được yên lành. Nếu không nhịn được một việc, thì việc đó sẽ sinh ra nhiều việc lôi thôi.  Chín sự lành là nhiều sự lành chứ không nhất thiết là phải chín sự.  Đại ý câu tục ngữ này là khuyên người ta nên nhịn nhục để khỏi sinh chuyện lôi thôi khác.
 
          3. Đũa đã thành đôi.
         Khi người nam và người nữ chấp nhận nhau trong đời sống hôn nhân, họ đã chính thức thành vợ chồng; và từ đó, theo như lời Chúa nói “Họ không còn phải là hai nhưng là một xương một thịt” (Mc 10,8), và Chúa còn dạy thêm “Sự gì Chúa đã kết hợp loài người không được phép phân ly”(Mc 10,9) . Theo như lời Chúa dạy từ nay vợ chồng không được lôi nhau ra tòa, không được xẩy ra cảnh :
                                Đồng tiền chiếc đũa chia ly,
                        Thiếp đi theo thiếp, chàng đi đường chàng.
                                        (Ca dao)

         Vì thế,  từ nay họ phải sống với nhau như đũa có đôi, thân xác của chồng là của vợ, và thân xác của vợ cũng là của chồng vì họ đã trở nên một xương một thịt để từ nay trở đi họ có thể gọi nhau là “mình ơi”.  Về vấn đề này, thánh Phaolô nói rất có lý :”Yêu vợ là yêu chính mình. Quả vậy, có ai ghét thân xác mình bao giờ; trái lại,  người ta nuôi nấng và chăm sóc thân xác mình (Ep 5,28b-29).
                               
Truyện vui : Anh cũng là của tôi.
        Hai vợ chồng cãi nhau, chồng tức quá hét lên :
        - Cô cút đi, mang theo tất cả những gì là của cô !
        Vợ vừa khóc vừa thu xếp quần áo, và lấy một chiếc bao tải lớn úp vào người chồng bảo :
        - Anh chui vào đây!
        Chồng hoảng quá bảo :
        - Cô làm gì vậy ?
        Vợ thẳng giọng nói :
        - Anh cũng là của tôi, chui vào ngay !
         Để kết luận, chúng ta hãy suy niệm một đoạn thơ của thánh Phaolô tông đồ gửi cho tín hữu Êphêsô:
        “Anh em hãy sống trong tình bác ái, như Đức Kitô đã yêu thương chúng ta, và vì chúng ta, đã tự nộp mình làm hiến lễ.
        Người làm chồng hãy yêu thương vợ, như chính Đức Kitô yêu thương Hội thánh và hiến mình vì Hội thánh ...  Người chồng phải yêu thương vợ như yêu chính thân thể mình. Yêu vợï là yêu chính mình. Quả vậy, có ai ghét thân xác mình bao giờ, trái lại người ta nuôi nấng và chăm sóc thân xác mình, cũng như Đức Kitô nuôi nấng và chăm sóc Hội thánh, vì chúng ta là bộ phận trong thân thề Người” (Ep 5,2a,25,28-30).
         Đấy là lời thánh Phaolô khuyên người chồng hãy yêu thương vợ như chính Đức Kitô yêu thương Hội thánh  Nhưng ngược lại, Ngài cũng khuyên người vợ phải yêu thương chồng như Hội thánh phải yêu mến Đức Kitô và trung thành với Ngài.
 Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim Phát
Đà lạt.

 

HônPhối 104: HOÀ  THUẬN

Thuận vợ thuận chồng, tát bể Đông cũng cạn
  1.   LỜI CHÚA : Rm 15,1-6 ; 1Pr 3,8.

 Trong đời sống cộng đoàn, thánh Phaolô tông đồ đã khuyên nhủ tín hữu Roma:”Bổn phận HônPhối 104

Trong đời sống cộng đoàn, thánh Phaolô tông đồ đã khuyên nhủ tín hữu Roma:”Bổn phận của chúng ta, những người có đức tin vững mạnh, là phải nâng đỡ những người yếu đuối, không có đức tin vững vàng, chứ không phải chiều theo sở thích của mình” (Rm 1,1) , Ngài còn cầu chúc :”Xin Thiên Chúa là nguồn kiên nhẫn và an ủi, làm cho anh em được đồng tâm nhất trí với nhau” {Rm 1,5).
        Đồng tâm nhất trí với nhau đòi hỏi sự hoà thuận để cùng xây dựng cộng đoàn.  Gia đình là cộng đàn căn bản của xã hội nên càng cần sự thuận hòa giữa vợ chồng.
 
II. HOÀ THUẬN.
       Trong ngày Chúa giáng sinh, các thiên thần  ca hát vang trời để ca tụng Chúa Hài nhi :  
                        Thượng vinh ư Thiên Chúa
                        Hạ hòa ư thiện nhân.

         Thiên Chúa đã đem xuống cho nhân loại chữ HÒA. Chúng ta cùng nhau tìm hiểu từ  ngữ “hòa” và sự cần thiết của nó trong đời sống cộng đoàn, nhất là trong gia đình.

         1. Hòa thuận là gì ?
         Hòa là cùng ăn nhịp với nhau, là vừa phải, không thái quá không bất cập.
        Hòa là tìm sự cân bằng giữa các yếu tố, điều hòa các vị cho vừa, ví dụ người làm bếp phải pha trộn các chất theo một tỷ lệ hợp lý không ít không nhiều, cho món ăn  thêm hấp dẫn.
        Nếu áp dụng vào con người thì hòa có nghĩa là không có cạnh tranh nhau, không có kẻ thắng người thua, ví dụ trong trận bóng đá hai bên hòa 1-1.
        Do đó, ta có một số từ ngữ đi theo : hòa hợp,  hòa giải, hòa bình, hòa ước, hòa hoãn...

           2. Sự cần thiết.
         Trong đời sống gia đình, sự hòa thuận là một điều quan trọng và rất cần thiết, vì nhờ sự hòa thuận mà các phần tử được liên kết với nhau một cách chặt chẽ như các bộ phận trong một thân thể của con người.
                                Anh em nào phải người xa,
                           Cùng chung bác mẹ một nhà cùng thân.
                                Yêu nhau như thể tay chân,
                           Anh em hòa thuận, hai thân vui vầy.
                                           (Ca dao)

        Sự hòa thuận càng quan trọng trong đời sống vợ chồng vì đó là mối giây ràng buộc làm cho vợ chồng khăng khít với nhau không thể chia lìa được.
        Ai không biết rằng đời sống vợ chồng rất phức tạp vì có sự khác biệt nhau về sinh lý, tâm lý và môi trường xã hội, nếu không biết dung hòa những khác biệt ấy thì sẽ có sự bất hòa bùng nổ. Vì thế người ta đã quả quyết :
                        Thuận vợ thuận chồng, tát bể Đông cũng cạn.
 
                        Truyện vui : nắm tay nhau
        Con : mẹ ơi, tại sao trong đám cưới, cô dâu chú rể lại nắm tay nhau ạ ?
        Mẹ : đó là nghi thức con ạ !
        Con : mẹ nói rõ hơn đi.
        Mẹ : cũng như các võ sĩ trước khi vào trận ấy mà !
        Khi hai người gặp nhau họ thường bắt tay nhau, đấy là cử chỉ nói lên sự thân thiện.
 
        3. Những khó khăn.
         Lát nữa hai anh chị sẽõ cầm lấy tay nhau để nói lên sự yêu thương và trung thành với nhau suốt đời. Đo là một cử chỉ thân thiện.
        Nhưng rồi về nhà, anh chị lại có thể trở thành hai võ sĩ lên võ đài :
                        - Một là võ miệng.
                        - Hai là thượng cẳng tay, hạ cẳng chân.

        * Nếu dùng võ miệng người ta sẽ không tiếc lời chỉ trích, mắng nhiếc nhau, moi móc hết những cái xấu của nhau ra như đọc kinh cầu, làm điếc tai hàng xóm.  Đôi lúc có những cú võ miệng rất độc, sâu sắc, moi móc cả ông bà tổ tiên người ta ra như  : Tiên sư cha con đĩ mẹ mày !!!
        * Nếu dùng võ tay chân thì đập phá lung tung, sau đó có thể đánh đấm bằng cách “thượng cẳng tay, hạ cẳng chân”, gây thương tích cho nhau.
 
        KẾT LUẬN
         Trong đời sống xã hội cũng như trong gia đình người ta đề cao chữ “DĨ HÒA VI QÚI”, nhịn mày tốt tao.
        Chúa Giêsu cũng dạy :”Phúc ai hiền lành vì họ sẽ được đất hứa làm cơ nghiệp” (Mt 5,4).
        Gia đình sống hòa hợp với nhau có thể biến thành thiên đàng. Dĩ nhiên điều đó không thể loại trừ sự nhịn nhục chịu đựng.
                                 Những người đức hạnh THUẬN HÒA,
                                    Đi đâu cũng được người ta tôn sùng.
                                             (Ca dao)

 Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt

 

HônPhối 105: DÂNG HIẾN

Yêu là trao ban
 I. LỜI CHÚA : Ga 3,16-17;  1Cr 13,7.

Trong việc Ngôi Hai xuống thế làm người để cứu chuộc nhân loại, tình yêu của Thiên Chúa Cha HônPhối 105

Trong việc Ngôi Hai xuống thế làm người để cứu chuộc nhân loại, tình yêu của Thiên Chúa Cha đối với nhân loại đã được thánh Gioan tông đồ mô tả lại trong Phúc âm :
        “Thiên Chúa yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con Một để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời. Quả vậy, Thiên Chúa sai Con của Ngừoi xuống thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian, nhờ Con của Người mà được cứu độ” (Ga 3,16-17).
         Thiên Chúa yêu thương nhân loại. Người đã làm mọi sự cho nhân loại, Người không tiếc gì với chúng ta đến nỗi đã trao ban cà Con Một của Người để cứu chuộc thế gian.
         Do đó, ta có thể nói như nhiều người thường nghĩ : “Yêu là trao ban, là dâng hiến”.
 
II. TÌNH YÊU LÀ GÌ ?
           1. Không định nghĩa được.
        Cho tới nay chưa ai định nghĩa được tình yêu một cách thỏa đáng.  Càng nói càng khó hiểu vì nó chỉ có thể để cảm nghiệm, chứ không phải để nói :
                                 Yêu là khó nói cho xuôi,
                        Bởi ai hiểu được sao trời lại xanh,
                                (Hồ Dzếnh)

 
        2. Thánh Gioan tông đồ.
        Ngài chỉ có thể nói :”Căn cứ vào điều này, chúng ta biết tình yêu là gì : đó là Đức Kitô đã phó mạng vì chúng ta” (1Ga 3,16).
 
        3. Thánh Phaolô tông đồ.
        Trong thư gửi tín hữu Côrintô, Ngài nói :”Yêu là CHO tất cả, nhận tất cả và chịu đựng  tất cả” (x. 1Cr 13,7)
 
        4. Một số bạn trẻ.
        Các bạn trẻ định nghĩa tình yêu về nhiều phương diện, nhưng có một câu định nghĩa mà nhiều bạn rất thích :”Yêu là DÂNG HIẾN”.
 
III. YÊU LÀ DÂNG HIẾN.
         1. Trong văn chương Việt nam.
        Tư tưởng này rất quen thuộc và đã có trong nền văn chương Việt nam mà hầu như ai cũng đã thuộc lòng hay ít ra đã được nghe :
                                Yêu nhau cởi áo cho nhau,
                               Về nhà dối mẹ qua cầu gió bay.
                                        (Ca dao)

                hoặc :
                                Yêu nhau xé lụa may quần
                              Ghét nhau kể nợ kể nần nhau ra.
                                        (Ca dao)

 
        2. Phải chăng một cuộc trao đổi ?
         Tình yêu không bao giờ được so đo tính toán hơn thiệt mà chỉ nhằm hạnh phúc cho người mình yêu. Vì thế, tình yêu không phải là một cuộc trao đổi có tính toán sòng phẳng, mà là một sự chia sẻ vô vị lợi; hay nói đúng hơn, là một sự trao tặng, một sự dâng hiến :
 “Tình yêu đích thực sở dĩ nhận được là nhờ nơi dấu hiệu không bao giờ sai lầm này : nó dâng tặng mà không bao giờ mong nhận được cái gì cả”.
                        (Roger Godel)
 
        3. Giá trị của quà tặng.
         Món quà trao tặng càng có giá trị khi nó động chạm đến thân mình, trường hợp bà góa trong Phúc âm chỉ bỏ vào hòm tiền có ¼ xu đã chúng minh điều đó :
 “Khi ta trao tặng một món quà, mà nếu là một mất mát hy sinh lớn đối với ta, thì đó mới thật là món quà”.
                                        (Chân phước Têrêsa Calcutta)
                       
                        Truyện : cách hiến dâng.
        Chuyện kể rằng : ông kia có nuôi một con chó, một con gà và một con heo.
        Con chó nói :”Mỗi sáng tao sẽ kêu gâu gâu để đánh thức ông chủ dậy”.
        Con gà nói :”Còn tao sẽ đẻ hai quả trứng và làm ốp-la cho ông chủ”.
        Con heo nói :”Còn tao, tao sẽ nướng thịt ba rọi cho ông chủ ăn”.

         Qua câu chuyện đó chúng ta thấy : con chó kêu gâu gâu, nó hiến dâng bằng tiếng kêu ; con gà để trứng, nó dâng hiến một phần của nó ; con heo nướng thịt ba rọi : nó sẽ chết vì nó hiến dâng tất cả.
        Dâng hiến bằng lời nói, bằng một phần mình, hay bằng tất cả con người là ba cách trong nhiều cách dâng hiến.  Mức hiến dâng tột độ vẫn là dám chết vì yêu như Chúa Giêsu đã dạy và đã làm :”Không có tình yêu nào lớn lao cho bằng tình yêu của kẻ chết vì người mình yêu” (Ga 15,13).
 
        4. Vợ chồng phải biết trao tặng.
         Tình yêu vợ chồng phải là tình yêu vị tha, mà tình yêu vị tha là cho đi không lấy lại. Tình yêu cao qúi này khiến kẻ mang nó sẵn sàng hy sinh tất cả để tạo hạnh phúc cho người yêu.
         Tuy nhiên hạnh phúc hôn nhân không phải là mục đích ta tìm kiếm, mà là kết quả của quá trình sống.  Nó còn là đường đi, là cách sống dâng hiến và hy sinh cho nhau, hạnh phúc sẽ tìm đến ta.
        Biết trao tặng là biết chia sẻ với nhau như Alain nói :
”Hình thức cao nhất của tình yêu là chia sẻ với nhau một số phận cho đến tận cùng. Không chỉ khi tôi trao ban mới có tình yêu, mà cả khi tôi đón nhận nữa.  Khi trao đổi ta làm phong phú lẫn nhau, khi đối thoại ta thông hiệp với nhau”.
         Một cách cụ thể, trong cuộc sống vợ chồng, ta thử nghiên cứu một kinh nghiệm về tình yêu của một số người đã viết trong “Những bức thư tình hay nhất” :
“Nghệ thuật yêu là biết trao tặng người yêu những tặng phẩm. Khi người đàn bà khen anh ấy tốt là anh ấy biết săn sóc, biết chiều chuộng, biết mua cho nàng những tặng phẩm rất thơm”.
                        (Những bức thư tình hay nhất, tr 223)
               Trong tình yêu vợ chồng, dâng hiến, trao ban là việc rất quan trọng.  Không những chỉ trao tặng nhau những của cải vật chất mà còn cả tinh thần, sức khỏe, thời giờ và thậm chí cả đến con người của mình, vì dâng hiến đòi hỏi hy sinh :
                                 Anh còn có mỗi cây đàn,
                            Anh đem bán hết để theo cô nàng.
                                         (Ca dao)

 
        KẾT LUẬN
         Thánh nữ Têrêsa Hài đồng Giêsu yêu mến Chúa bằng một tình yêu nồng nàn tha thiết, Ngài đã dâng hiến cho Chúa tất cả mà không cần tính toán, vì tình yêu thật  thì không bao giờ so đo tính toán hơn thiệt.
        Hy vọng cô dâu chú rể hãy bắt chước thánh  nữ mà yêu Chúa bằng chính cuộc sống hôn nhân của mình như mấy câu thơ do thánh nữ sáng tác :
                        Sống yêu đương chính là CHO tất cả,
                        Trên đời này không đòi trả công lao.
                        Không tính toán, không kể cho là bao,
                        Vì đã yêu có khi nào suy tính.
                                  (Thánh Têrêsa Hài đồng)

 Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim Phát
Đà lạt

 

HônPhối 106:  ĐÔI ĐŨA

Đũa đã thành đôi (tục ngữ)
 I. LỜI CHÚA.

Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh mình.Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh HônPhối 106

St 1,27 :  Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh mình.
Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh Thiên Chúa.
Thiên Chúa sáng tạo con người có nam có nữ.

St  2,24 : Bởi thế,  người đàn ông lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai thành một xương một thịt.
Mc 10,6-9 : Lúc khởi đầu công trình tạo dựng, Thiên Chúa đã làm nên con người có nam có nữ; bởi thế, người đàn ông sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai thành một xương một thịt. Như vậy, họ không còn là hai, nhưng chỉ là một xương một thịt.
 
  1.   HÔN NHÂN VÀ BỮA ĂN.
         Khi người nam và người nữ kết hợp với nhau bằng giao ước hôn nhân, họ chính thức tạo lập một gia đình.  Đây là ngày vui và đáng ghi nhớ nhất trong đời họ. Người ta tổ chức tiệc cưới mừng cho đôi tân hôn. Bữa ăn được tổ chức khác nhau tùy theo phong tục từng dân tộc, từng địa phương. Trong bữa ăn, người ta dùng phương tiện nào để ăn cơm ?
        * người Tây phương dùng xiên muỗm.
        * Người Ấn độ hay dùng tay để bốc cơm cà ri.
        * Người Á đông, nhất là Việt nam, người ta dùng đôi đũa để ăn cơm.

         Đây là kiểu ăn đặc thù của người Việt.  Dùng đũa thì bao giờ cũng dùng đôi, không bao giờ dùng một chiếc. Dùng đũa là cả một nghệ thuật : cách cầm đũa phải nhẹ nhàng, khoan thai, dẻo dai . Khi gắp món ăn cũng như lúc và cơm, đôi đũa hoạt động nhịp nhàng, cả hai cùng giúp nhau để gắp thức ăn cũng như và cơm.  Việc đôi đũa hoạt động hỗ tương nhau làm cho tôi liên tưởng đến sinh hoạt của vợ chồng.. Đũa bao giờ cũng có đôi, một chiếc đũa không thể gắp, không thể và cơm được, chỉ còn cách là chọc món ăn thôi.
 
III. TẢN MẠN VỀ ĐÔI ĐŨA.
         Khi người thanh niên đến tuổi yêu đương, bao giờ cũng chọn cho mình một người yêu. Sau khi đã tìm hiểu nhau, ưng ý nhau và hứa hẹn lấy nhau, thời gian này người ta dùng một từ ngữ bóng bảy là “đũa đã thành đôi” (tục ngữ).
         Tìm hiểu câu tục ngữ “đũa đã thành đôi” trên, chúng ta có một số ý nghĩ về mối tương quan giữa “đôi đũa và vợ chồng”.
 
        1. Đũa phải có đôi.
         Câu tục ngữ trên đã nói lên tư tưởng này : dùng đũa thì bao giờ cũng phải dùng đôi, không thể dùng một chiếc để gắp thức ăn cũng như và cơm. Nếu chỉ dùng một chiếc đũa thì chỉ có thể chọc được thức ăn chứ không thể gắp được cái gì.  Khi bà mẹ chồng quá khắc nghiệt với con dâu, nàng dâu phải nói lên lập trường của mình một cách quyết liệt :
                         Chồng thương chẳng nệ chi ai,
                        Đũa bếp cho dài, gắp cổ mụ gia.
                                (ca dao)

 
        2. Hai chiếc đều nhau, không so le.
         Đũa có thể to nhỏ, dài ngắn nhưng luôn luôn phải bằng nhau. Nếu một chiếc to, một chiếc nhỏ, chiếc dài chiếc ngắn thì rất khó gắp.  Điều này có ý nói : vợ chồng là bạn đường, ngang hàng, cùng đồng hưởng ơn ban sự sống. Tránh cái quan niệm lệch lạc xa xưa như “chồng chúa vợ tôi” hoặc như quan niệm của Nho gia ngày xưa “phu xướng phụ tùy”, chồng nói thì vợ phải làm theo, không được có ý riêng. Người ta coi người phụ nữ là thứ yêu, chỉ như một người tôi tớ được mẹ cha mua về :
                        Con gái là của người ta,
                        Con dâu mới thực mẹ cha mua về.
                                (ca dao)

         Chính vì thế, trong cảnh sống” chồng chúa vợ tôi” người phụ nữ chỉ còn than thân trách phận hay trách cha mẹ đã gả bán cho người ta mà không nghĩ đến số phận con gái :
                         Mẹ tôi tham thúng xôi dền,
                        tham con lợn béo, tham tiền Cảnh Hưng.
                        Tôi đã bảo mẹ rằng đừmg,
                        mẹ hấm, mẹ hứ, mẹ bưng ngay vào.
                        Bây giờ kẻ thấp người cao,
                        như đôi đũa lệch so sao cho vừa.
                                (ca dao)

 
        3. Hai chiếc đũa phải xuôi chiều.
         Chiếc đũa có hai đầu, đầu lớn và đầu nhỏ. Người ta gắp bằng đầu nhỏ. Nếu gắp bằng một đầu lớn và một đầu nhỏ thì rất khó. dễ để rơi thức ăn. Đây là trường hợp của đôi vợ chồng sống trong cảnh “ông nói gà bà nói vịt”, mỗi người một ý, không ăn khớp với nhau, gây lộn xộn trong gia đình :
                        Sống mỗi người một nết,
                        Chết mỗi người một tật.

 
        4. Hai chiếc phải thẳng và đều.
        Đôi khi có thể xẩy ra, một chiếc đũa thẳng, một chiếc đũa cong làm cho việc gắp thức ăn không chuẩn.  Đây là trường hợp của đôi vợ chồng không trung thực với nhau, người ta lén lút đi ngang về tắt, người ta xé rào, người ta có những mối tình trộm vụng bất chính. Nên người ta nói :
                        Chồng ăn chả, vợ ăn nem,
                        Đứa ở có thèm mua thịt mà ăn.
                                (ca dao)

 
        5. Giữ cho đũa khỏi mốc.
         Ăn xong ngày nào cũng phải rửa, phải phơi khô, nếu không đũa sẽ bị mốc.  Đó là khi vợ chồng không để ý đến nhau, mỗi người nhìn một hướng, không biết lo cho hạnh phúc của nhau, họï sống ích kỷ chỉ biết lo cho bản thân mình.  Hoặc họ chỉ biết sống cô độc như anh chàng Narcisse trong thần thoại Hy lạp.  Vì thế người ta khuyên vợ chồng :
                         “Hãy rửa tội cho tình yêu mỗi buổi sáng
                         và hãy cưới lại nhau mỗi ngày”.

 
          6. Giữ cho đũa khỏi mọt.
         Phải giữ đũa trong tình trạng tốt, đừng để bị mọt. Trong gia đình không thể tránh được cảnh “cơm chẳng lành, canh chẳng ngọt”, có thể xẩy ra những sự bất hoà bùng nổ hay ngấm ngầm.  Sự bất hòa ngấm ngầm rất nguy hiểm, nó cứ âm thầm gậm nhấm tình yêu vợ chồng, mỗi ngày cứ lạnh nhạt dần và có thể trở nên một cuộc chiến tranh lạnh :
                        Lạnh lùng thay láng giềng ơi,
                        Láng giềng lạnh  ít, sao tôi lạnh nhiều.
                                (ca dao)

 
        7. Giữ cho đũa khỏi bị gẫy.
         Đôi lúc khách đang gắp thức ăn mà đũa bị gẫy thì cảm thấy hơi bị quê, vì đũa làm bằng nhựa rất dòn.  Trường hợp này đã từng xẩy ra.   Ngày nay ta thấy các gia đình lỏng lẻo rất nhiều. Đức Giáo hoàng Gioan-Phaolô II nói :”Gia đình là nền tảng của xã hội”.  Nếu nền tảng đã lung lay thì xã hội làm sao đứng vững được. Nhiều nơi có tới 50% hay có nơi tơi 70% các đôi hôn nhân ly dị.  Nếu tình trạng này cứ tiếp diễn thì tương lai nhân loại sẽ ra sao ?  Người ta cứ thản nhiên nói :
                        Đồng tiền chiếc đũa chia ly,
                        Thiếp đi theo thiếp, chàng đi đường chàng.
                                      (ca dao)

 
KẾT LUẬN
         Chúng ta vừa cùng nhau bàn về đôi đũa với một số suy nghĩ về cuộc sống vợ chồng.  Hôm nay hai anh chị có thể nói là
                        Đôi ta làm bạn thong dong,
                        Như đôi đũa ngọc nằm trong mâm vàng.
                                       (ca dao)

               Hãy cố sao giữ cho đôi đũa ấy luôn nguyên vẹn để làm cho bữa ăn trong gia đình được ngon miệng, thêm sức khỏe để xây dựng một gia đình hạnh phúc. Và chúng ta hãy cầu nguyện :
         Lạy Chúa, khi tạo dựng loài người có nam có nữ, Chúa đã muốn cho cả hai nên một. Hôm nay là ngày lễ thành hôn của anh... và chị...   Xin cho họ được trọn tình vẹn nghĩa với nhau và biết mở rộng lòng yêu thương mọi người để làm chứng cho tình yêu vô biên của Chúa.
 Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Tháng 12 / 2003

 

HônPhối 107: Hòa Giải

I. THIÊN CHÚA DỰNG NÊN CON NGƯỜI (x St 2,18-24).

Kinh Thánh cho biết : sau khi đã dựng nên vũ trụ vạn vật thì Thiên Chúa dựng nên con người và HônPhối 107

Kinh Thánh cho biết : sau khi đã dựng nên vũ trụ vạn vật thì Thiên Chúa dựng nên con người và trao cho con người quản lý tất cả.  Nhưng Thiên Chúa nhận thấy con người ở một mình không tốt nên đã quyết định tạo dựng cho nó một người trợ tá tương xứng với nó {x. St 2,18).
         Con người đầu tiên đó là Adam. Thiên Chúa đã rút một cái xuơng sườn của Adam ra, lắp thịt thế vào.  Chính từ cái xương sườn rút ra của Adam, làm thành một người nữ là bà Evà, và Ngài đã dẫn bà này đến với ông (x. St 2,21-22). Thiên Chúa đã trao bà Evà cho ông Ađam để họ trở nên một đôi vợ chồng đầu tiên của nhân loại.  Sau này, con cháu của ông bà cứ theo gương ấy mà cưới vợ gả chồng cho con cháu sinh sản ra cho đầy mặt đất.  Và Thiên Chúa chúc phúc cho đôi hôn phối đầu tiên cũng như của con cháu sau này.
 
II. NHỮNG KHÓ KHĂN TRONG ĐỜI SỐNG VỢ CHỒNG.
         Kinh Thánh nói :”Bởi thế, người đàn ông lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai thành một xương một thịt” (St 2,24).  Cả hai sẽ trở nên một xương một thịt nghĩa là chỉ còn có một người, nhưng như ông Mencken nói :”Khi một người đàn ông và một người đàn bà lấy nhau, họ chỉ con là một người, cái khó đầu tiên là quyết định người nào”.
         Trong con người này vừa có vợ, vừa có chồng, mỗi người chỉ có một nửa . Vì thế chồng mới gọi vợ là MÌNH ƠI , và vợ cũng gọi chồng là mình ơi. Thi sĩ Hàn mặc Tử đã nhận ra thực tại này nên mới nói :
                        Người đi một nửa hồn tôi mất,
                        Một nửa hôn tôi bỗng dại khờ.

         Ta đã biết trong con người này, mỗi người chỉ còn có một nửa, nhưng trớ trêu thay, nửa nào cũng muốn chiếm phần chủ động, muốn điều khiển tất cả, do đó mới có sự cạnh tranh, tranh chấp và đưa đến sự bất hoà.
         Người ta thường nói : bá nhân bá tính, mỗi người có một tính tình riêng, một sở thích riêng, một ước vọng riêng... và ai cũng muốn người khác phải phục vụ cho lợi ích riêng tư của mình. Không được như  thế thì người ta bất mãn.  Nếu không biết nhường nhịn nhau, không biết dung hoà thì có thể đưa đến chiến tranh ngay trong gia đình.
         Trên thế giới lúc nào cũng có chiến tranh, không ở nơi này thì nơi khác, không lớn thì nhỏ. Chiến tranh có thể là chiến tranh nóng hay chiến tranh lạnh. Chiến tranh lớn là chiến tranh bùng nổ giữa hai phe với đủ thứ vũ khí giết người, gây chết chóc, đổ vỡ, gây thiệt hại đáng kể về người và của.  Còn chiến tranh lạnh là một cuộc chiến âm thầm, căng thẳng, lạnh lùng, đầy hận thù, người ta tìm đủ mọi cách làm hại nhau nhưng không ra mặt.
         Trong gia đình cũng có chiến tranh nóng và chiến tranh lạnh.  Trong cuộc sống hằng ngày, làm sao vợ chồng có thể tránh được những sự va chạm, những bất hòa ?  Bất hòa có thể là ngấm ngầm hoặc bùng nổ.  Bất hoà ngấm ngầm là thời kỳ chiến tranh lạnh, vợ chồng gầm gừ nhau, ăn miếng trả miếng, ít trao đổi chia sẻ cho nhau, bầu khí gia đình trở nên lạnh lẽo nhưng lại căng thẳng khẩn trương.  Nếu hai người không chịu được nhau nữa thì sự bất hoà bùng nổ thành chiến tranh nóng : vợ chồng có thể cãi cọ nhau rùm beng, đập phá và có thể  đánh đấm nhau.
         Ông bà tổ tiên chúng ta đã có kinh nghiệm về cảnh sống gia đình nên đã để lại những lời khuyên rất có ý nghĩa và đầy kinh nghiệm trong ca dao tục ngữ, như  :
                         Chồng giận thì vợ bớt lời,
                        Cơm sôi nhỏ lửa một đời không khê.
                                (Ca dao)

        Trong một xã hội theo phụ hệ thì vai trò của người đàn ông rất lớn đến nỗi người ta bắt mọi người phải theo chủ trương cứng rắn này là “Phu xướng phụ tùy”,  người chồng nói ra thì người vợ phải nghe, nếu không nghe thì sẽ có biện pháp mạnh như :
                         Chồng giận thì vợ phải lùi,
                        Chồng giận vợ giận thì dùi nó quăng.
                                (Ca dao)

        Những lời khuyên bắt buộc trên đây rất có giá trị trong xã hội ta ngày xưa. Nếu người vợ nào theo đúng được lời khuyên ấy thì được thiên hạ ca tụng là “người vợ hiền”. Nhưng quan niệm ấy không còn phù hợp cho xã hội ta ngày nay nữa.  Chủ trương “Phu xướng phụ tùy” đã trở nên lỗi thời trong xã hội ta và nhất là của Tây phương ngày nay vì không còn cái quan niệm cũ rích là “Nam trọng nữ khinh” nữa, vì nam nữ được bình quyền, người vợ cũng được bình đẳng với chồng, có quyền lợi như chồng.
         Trong lời chúc hôn của lễ Hôn phối,  Hội thánh cũng chủ trương là người chồng phải yêu thương và kính trọng người vợ để người vợ được bình đẳng với mình :
”Xin cho anh biết trọn niềm tin tưởng nơi chị, nhìn nhận chị là NGƯỜI BẠN BÌNH ĐẲNG, vã cùng được thùa hưởng sự sống là một hồng ân Chúa ban. Xin cho anh biết luôn luôn kính trọng và yêu thương chị như Đức Kitô yêu thương Hội thánh”.
         Thánh Phaolô trong thư gửi cho tín hữu Êphêsô đã khuyên :
“Người làm chồng, hãy yêu thương vợ như chính Đức Kitô yêu thương Hội thánh và hiến mình vì Hội thánh... Vậy mỗi người trong anh em hãy yêu vợ như chính mình, còn vợ thì hãy kính sợ chồng”(Ep 5,25.33).
         Trong đời sống hằng ngày ta thấy có những người biết thương yêu nhường nhịn vợ như lời thánh Phaolô đã khuyên nhủ như tấm gương sau đây:
 
                        Truyện : Bảng kết tội nhau
        Tạp chí Reader’s Digest số xuất bản tháng 11 năm 1985 có đăng một chuyện ngắn, nhưng đầy ý nghĩa về gia đình : Đôi vợ chồng đã nhiều lần cãi nhau và lần này, đang lúc hai người cãi nhau hăng say thì người chồng đề nghị với vợ :”Này, chúng ta đừng cãi nhau nữa. Mỗi người hãy lấy giấy viết ra tất cả những lỗi lầm, những tật xấu của người kia, rồi trao cho nhau”.  Người vợ đồng ý.  Người chồng cầm lấy tờ giấy, nhìn người vợ và cúi mặt xuống viết một câu. Người vợ thấy chồng mình bắt đầu viết, liền hối hả viết liên hồi, dường như có ý tranh với chồng để kể ra nhiều tật xấu hơn. Người chồng chỉ viết một câu rồi dừng lại nhìn vợ. Sau vài phút, trang giấy của người vợ đầy những dòng chữ kể ra tật xấu của người chồng và người vợ xem ra hả dạ, vì đã viết nhiều hơn.
        Đến lúc không còn gì để viết nữa, họ trao cho nhau bảng kể tội của nhau.  Sau khi nhìn vào tờ giấy của chồng nét mặt người vợ bỗng đổi vì xúc động.  Bà vội vã đòi lại tờ giấy đã đưa cho chồng và có thái độ làm hòa ngay.  Trong tờ giấy của người chồng bà chỉ đọc được có một câu duy nhất : ANH YÊU EM.
                                (R. Veritas, Lẽ sống, tr 280)
 
III. HOÀ GIẢI TRONG ĐỜI SỐNG GIA ĐÌNH.
         Ở trên chúng ta đã nói : nếu vợ chồng không biết nhường nhịn nhau thì gia đình sẽ trở nên bãi chiến trường đầy máu lửa.  Sau cuộc chiến thì sẽ có hư hỏng, đổ nát, thiệt hại mà có khi không thể có gì bù đắp lại : tình yêu vơi nhạt đi hoặc hôn nhân bị tan vỡ.
         Kinh nghiệm cho hay : trên thế giới có biết bao cuộc chiến, nhưng hầu hết được kết thúc bằng thuơng thuyết, bằng hoà đàm.  Hai bên phải ngồi lại với nhau, cùng thảo luận, đưa ra những yêu sách và cùng nhau giải quyết, có khi cuộc hoà đàm phải kéo dài trong nhiều năm.
         Trong cuộc chiến gia đình cũng vậy, vợ chồng phải hoà giải với nhau bằng cách ngồi lại để tìm hiểu nhau, tìm ra đâu là sự thật, chia sẻ tâm tình với nhau, và phải luôn luôn nắm giữ nguyên tắc này :
                        Tránh voi chẳng xấu mặt nào (tục ngữ)
         Vợ chồng nhường nhịn nhau thì chẳng ai cười vì người ta thường nghĩ “nhịn mày tốt tao”, trái lại nó còn là bông hoa tươi thắm phô sắc cho thiên hạ coi.  Người ta nói : nhịn nhục !  Đúng vậy, đã nhịn thì phải nhục, mà đón nhận cái nhục có ý thức nghĩa là để cho gia dình được êm ấm thì ai dám khinh ?
         Theo tôi nghĩ,  cuộc hoà giải giữa vợ chồng để chấm dứt chiến tranh nên được diễn ra trong giờ kinh tối. Lúc này công việc đã được tạm ổn, trong bầu khí yên tĩnh, vợ chồng cùng con cái quây quần bên nhau dâng lên Chúa và Đức Mẹ những lời cầu nguyện sốt sắng, xin các Ngài phù hộ để vợ chồng được thương yêu nhau, bỏ đi tất cả những xích mích, va chạm trong cuộc sống hằng ngày, chắc chắn các Ngài sẽ hoà giải cho vợ chồng
               Vợ chồng hãy cầu nguyện trong tin tưởng, vì Chúa đã phán :”Ở đâu có hai ba người họp nhau cầu nguyện nhân danh Ta thì Ta sẽ ở giữa”. Chúa hiện diện đặc biệt trong gia đình và đặc biệt giữa vợ chồng đang cầu nguyện thì chắc chắn cuộc hoà giải sẽ thành công, dựa vào lời Chúa hứa :”Hãy xin thì sẽ được”.
 Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt

 

HônPhối 108: NHÂN VÔ THẬP TOÀN

 I. SUY NIỆM LỜI CHÚA.

Chúa Giêsu khuyên chúng ta hãy tin vào Thiên Chúa. Ngài là người Cha nhân lành luôn thương yêu HônPhối 108

Chúa Giêsu khuyên chúng ta hãy tin vào Thiên Chúa. Ngài là người Cha nhân lành luôn thương yêu, săn sóc và giúp đỡ con cái. Có người cha nào mà không thương con cái mình, không lo cho con cái những điều cần thiết, nhất là khi nó xin những điều cần thiết cho bản thân nó.  Thiên Chúa là Cha nhân lành quan phòng lo lắng cho con cái, cung cấp nững điều cần thiết cho con cái nhất là khi nó xin những ơn gì thích hợp.  Chúa Giêsu khuyên chúng ta hãy vững lòng tin vào Thiên Chúa khi cầu nguyện :”Các con cứ xin thì sẽ được, cứ tìm thì sẽ thấy, cứ gõ thì sẽ được mở cho. Vì hễ ai xin thì nhận được, ai tìm thì sẽ thấy, ai gõ cửa thì sẽ được mở cho” (Mt 12,7-8).
         Nhưng muốn cho lời cầu xin của chúng ta được Thiên Chúa chấp nhận, chúng ta phải có lòng quảng đại với anh em mình.  Chúng ta cư xử với anh em thế nào thì Chúa cũng xử lại như vậy. Và đây là khuôn vàng thước ngọc cho lời cầu xin của chúng ta do Chúa Giêsu đã dạy :”Vậy tất cả những gì chúng con muốn người ta làm cho mình, thì chính các con cũng hãy làm cho người ta, vì Luật của Môsê  và lời các ngôn sứ là thế đó “(Mt, 12,12).
         Lập gia đình là một việc rất quan trọng, đây la khúc quặt của cuộc đời, nó liên quan đến cả cuộc sống.  Ai không lo lắng trước công việc quan trọng này ? Chúng ta vui sướng vì có Chúa cùng lo với ta vì Chúa bảo :”Cứ xin thì sẽ được”.  Vì vậy chúng ta phải cầu xin Chúa rất nhiều trong công việc này, như người ta nói “
                Hãy cầu nguyện một lần trước khi lên đường,
                Hãy cầu nguyện hai lần trước khi ra khơi,
                Hãy cầu nguyện ba lần trước khi lập gia đình.

         Chúng ta muốn có ngay một gia đình hạnh phúc, nhưng Chúa có ban ngay cho không ?  Chắc chắn không bao giờ có !  Chúa chỉ ban cho ta mọi phương tiện cần thiết để thành lập gia đình hạnh phuc thôi, còn xây dựng thế nào là do chúng ta quyết định.  Chúng ta có thể ví gia đình như một ngôi nhà, Chúa chỉ ban cho ta mọi vật liệu cần thiết, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho chúng ta xây dựng, còn ngôi nhà đẹp xấu thế nào thì tùy nơi hai vợ chồng.
         Trong việc xây dựng mái ấm gia đình, không phải mọi việc đều trôi chảy vì mỗi người mỗi tính, không ai giống ai nên việc xây dựng s4 không tránh được những sự khó khăn. Không ai là con người hoàn hảo, không ai có thể làm hài lòng được mọi người, không thể tìm đâu được con người hoàn toàn theo ý mình. Nên mỗi người phải tập bỏ ý riêng để cho việc xây dựng gia đình được dễ dàng và chắc chắn sẽ tiến tơi hạnh phúc  theo như lời Chúa Giêsu đã dạy :”Tất cả những gì chúng con muốn người ta làm cho mình, thì hãy làm cho người ta như vậy” (Mt 12,12)..
 
II. NHÂN VÔ THẬP TOÀN.
           1. Ai là người hoàn hảo ?
         Không ai dám xưng mình là người hoàn hảo, bởi vì ai cũng có tội, ai cũng có lỗi hay ít ra một khuyết điểm nào đó, hoặc lớn hoặc nhỏ. Đã là có khuyết điểm thì không thể là người hoàn hảo được, chỉ duy Thiên Chúa mới là Đấng hoàn hảo.
         Thánh Gioan tông đồ đã xác minh điều đó :”Ai nói mình không có tội, đó là kẻ nói dối và sự thật không ở trong họ “(1Ga 1,10).
         Ông Elbert Hubbard nói thẳng thắn rằng :”Người nào cũng là kẻ chí ngu ít ra trong năm phút mỗi ngày. Bậc thánh là kẻ cố gắng  và thành công trong sự không để cái ngu của mình vượt quá thời gian ấy”.
 
          2. Ai hoàn hảo làm vừa lòng mọi người ?
         Chúng ta không thể tìm thấy trong xã hội một mẫu người nào hoàn thiện để có thể làm vừa lòng mọi người.  Chính Chúa Giêsu vừa là Thiên Chúa vừa là người, một khuôn mẫu tuyệt vời cho mọi người bắt chước, thế mà người ta còn kết án đủ thứ tội và sau cùng đóng đinh vào thập giá. Con người chúng ta, theo tư tưởng của Blaise Pascal, yếu đuối như cây sậy trước gió, ai dám cho mình là hoàn thiện ?
         Người Việt nam chúng ta đã có kinh nghiệm này : không bao giờ người ta hài lòng với một mẫu người nào, vì bá nhân bá tính, mỗi người thích một cái, mỗi người đánh giá một cách. Kinh nghiệm này đã được gói ghém trong câu ca dao quen thuộc :
                                 Ở sao cho vừa lòng người,
                            Ở rộng người cười, ở hẹp người chê.
                                Cao chê ngỏng, thấp chê lùn,
                            Gầy chê xương sống xương sườn phơi ra.
                                        (Ca dao)

 
        3. Tìm đâu ra một người hoàn hảo ?
         Mọi người và cách riêng đôi trai gái muốn lập gia đình, ai cũng muốn cho mình chọn được một người bạn đời hoàn hảo. Nhưng kiếm đâu ra con nguời đó ? Nếu may ra kiếm được một người xem ra tương đối là một con nguời lý tưởng chứ chưa dám nói là con người hoàn hảo, thì về phía mình, mình đã trở nên người lý tưởng đối với người mà mình đang tìm kiếm chưa ?
 
                        Truyện : đi tìm con người hoàn hảo.
        Theo một cổ truyện của người Hồi giáo, thi Nasruddin là hiện thân của những người độc thân khó tính.  Trong một buổi trà dư tửu hậu, khi được hỏi lý do tại sao không bao giờ lập gia đình. Nasruddin đã giải thích như sau :”Suốt cả tuổi thanh niên, tôi đã dành trọn thời giờ để tìm kiếm người đàn bà hoàn hảo.
         Tại Cairo, thủ đô của Ai cập, tôi đã gặp một người đàn bà vừa đẹp vừa thông minh, với đôi mắt đen ngời như hạt oliu. Đẹp và thông minh, nhưng người đàn bà này không có vẻ dịu dàng chút nào.  Tôi đành bỏ Cairo để đến Baghdad, thủ đô Irắc, để may tìm ra người đàn bà lý tưởng tôi hằng mơ ước. Tại đây, tôi đã tìm được một người đàn bà hoàn hảo như tôi mong muốn, nghĩa là nàng vừa đẹp, vừa thông minh và cũng có lòng quảng đại nữa. Nhưng chỉ có điều là làm sao chúng tôi không bao giờ có đồng quan điểm với nhau về bất cứ điều gì.
         Hết người đàn bà này đến người đàn bø khác : người được điều này, người thiếu điều kia. Tôi tưởng mình sẽ không bao giờ tìm được người lý tưởng cho cuộc đời.  Thế rồi, một hôm tôi gặp được nàng, người đàn bà cuối cùng trong cuộc tìm kiếm của tôi. Nàng kết hợp tất cả những đức tính mà tôi hằng mong ước, nghĩa là nàng vừa đẹp, vừa thông minh, vừa quảng đại tử tế, nàng đúng là người đàn bà hoàn hảo.
         Nhưng cuối cùng, tôi đành phải quyết ở độc thân suốt đời.  Các bạn có biết tại sao không ?  Nàng cũng đang đi tìm một người đàn ông hoàn hảo.  Và tôi đã được nàng chấm như một người đàn ông còn quá nhiều thiếu sót.
         Chàng Nasruddin suốt đời sống độc thân trong câu truyện trên đây đã quên một trong những định luật căn bản nhất của cuộc sống, đó là “Định luật thích nghi”.  Thay vì bắt người khác và cuộc sống phải thích nghi với ta, thì chính chúng ta phải là người sống thích nghi với người khác và cuộc sống. Người đàn ông trong câu truyện đã tìm được người đàn bà lý tưởng, nhưng chỉ tiếc rằng ông chưa biết trở nên người đàn ông lý tưởng để có thể ăn đời ở kiếp với người đàn bà ấy.
 
        4. Giải pháp khả thi.
         Khó mà thay đổi được lòng người vì nó ở ngoài mình,  mình không thể điều khiển được nó, chi bằng hãy thay đổi chính mình cho phù hợp với người khác.  Thay đổi con người của mình là phải biết thích nghi với hoàn cảnh, với người khác theo phương châm mà Chúa Giêsu đã đề ra :”Sự gì con không muốn người làm cho mình thì đừng làm cho người ta”(Mt            )
         Phương châm mà Chúa Giêsu đã đề ra cũng giống phương châm mà Đức Khổng Tử đã dạy các môn sinh của ông :”Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân” : cái gì mình không muốn thì dừng làm cho người ta. Hay Đức Khổng Tử còn nói một câu khác có tinh cách tích cực hơn : “Kỷ dục lập nhi lập nhân ; kỷ dục đạt nhi đạt nhân” nghĩa là mình muốn làm gì hay được gì thì cũng muốn như vậy cho người ta.
         Khi  kết hôn, ai cũng muốn chọn cho mình một người bạn đời thật hoàn hảo, nhưng trong thực tế, kiếm đâu ra người hoàn hảo như lòng mong ước ? Chỉ còn một cách là kiếm được người mình cho là tương đối tốt lành, rồi sau đó, hãy bằng lòng với hoàn cảnh của mình, cố gắng ép mình vào khuôn khổ chung, dung hòa tư tưởng và việc làm của mình với người khác, đặc biệt là với vợ chồng,  để tạo nên một mẫu số chung là sự hòa hợp trong đời sống gia đình.  Nhiều khi vợ chồng đứng núi nọ trông núi kia , nhưng khi va vào thực tế thì mới thấy cái nhìn của mình sai lạc và tiếc rẻ cho tình trạng trước kia của mình. Đúng là :
                        Tránh thằng một chai,
                        Gặp thằng hai lọ.

         Hãy suy niệm lại lời thánh Phalô tông đồ gửi cho tín hữu Cô-lô-xê :”Anh em là những người được Thiên Chúa tuyển chọn, hiến thánh và yêu thương. Vì thế, anh em hãy có lòng thương cảm, nhân hậu, khiêm nhu, hiền hoà và nhẫn nại.  Hãy CHỊU ĐỰNG  và tha thứ cho nhau, nếu trong anh em người này có điều gì phải trách móc người kia. Chúa đã tha thứ cho anh em, thì anh em cũng vậy, anh em phải tha thứ cho nhau” (Cl 3, 12-13).
 Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt

 

HônPhối 109: BẰNG LÒNG VỚI  SỐ PHẬN

 I. LỜI CHÚA.

Con người của chúng ta chỉ là tạo vật, được dựng nên bởi bùn đất, nhưng được Thiên Chúa nhận HônPhối 109

Con người của chúng ta chỉ là tạo vật, được dựng nên bởi bùn đất, nhưng được Thiên Chúa nhận làm con. Đã là con thì phải yêu mến và vâng lời cha với tình con thảo vì người cha luôn săn sóc con cái.  Do đó, con người có gì mà dám tự hào với Thiên Chúa là Cha sinh thành của mình.
         Sách Tin Mừng kể : có hai người lên đền thờ cầu nguyện : người Biệt phái thì kể công với Chúa : không tham lam, bất chính, ngoại tình... ăn chay mỗi tuần hai lần, dâng cúng một phần mười thu nhập.  Còn người thu thuế chỉ biết cúi đầu thương xót mình là kẻ có tội (x. Lc 18, 10-14).
         Chúa Giêsu dạy chúng ta phải biết hạ mình trước mặt Chúa mà chỉ coi mình như người đầy tớ vô dụng đã làm những việc mình phải làm thôi. Chúa trao cho ta những gì thì cứ việc làm cho đầy đủ như một người giúp việc trung thành. Theo như Chúa nói thì người chủ không phải trả ơn cho người ấy (x. Lc 17 – 10).   
.        Thiên Chúa đặt chúng ta mỗi người vào một hoàn cảnh. Có người sống độc thân, có người lập gia đình. Có người sống trong nghề nghiệp này, có người sống trong môi trường kia. Tất cả là do Chúa sắp đặt và mọi sự sắp đặt của Thiên Chúa đều có lợi cho ta.  Hãy sống trong sự sắp đặt của Chúa và hãy cố hoàn thành bổn phận của mình trong môi trường hiện tại, nếu thi hành đúng như thế thì sẽ được hạnh phúc.
 Nhưng theo khuynh hướng tự nhiên của con người chúng ta, không mấy ai hài lòng với số phận mình, họ luôn băn khoăn khắc khoải về số phận mình, họ luôn ao ước được như người khác. Trong khi đó nhiều người khác lại đang ao ước được hưởng số phận của họ mà không được. Đúng là :”Được voi đòi tiên”. Như vậy cuộc đời của họ không bao giờ đạt tới hạnh phúc..
         Tuy là người đầy tớ vô dụng, nhưng người đầy tớ đó cũng được hưởng niềm vui khi hoàn thành công việc đã được chủ giao cho. Vui với nhiệm vụ của mình thì đó là hạnh phúc rồi. Hạnh phúc của mỗi người mỗi khác, mức độ khác nhau nhưng ai cũng được hưởng hạnh phúc tràn đầy khi đã thi hành trọn thánh ý Chúa ví như nước đổ vào các ly to nhỏ đủ cỡ, nhưng ly nào cũng đầy, cũng chỉ có thể chứa được đến miệng thôi.
 
II. BẰNG LÒNG VỚI SỐ PHẬN MÌNH.
         Con người ai cũng muốn vươn lên, vươn lên đến đỉnh cao như tục ngữ Anh nói :”My place is in the top” : chỗ của tôi phải ở trên chóp đỉnh. Con người phải vươn lên, vươn lên đến chỗ hoàn thiện, không thể sống tầm thường, sống tà tà trên ngọn cỏ, cuộc sống mà triết gia Jean Paul Sartre gọi là “cuộc sống đáng nôn mửa”.
         Nhưng con người chúng ta lại không chú trọng tới  sự vươn lên của tinh thần mà chỉ chú trọng tới vật chất nghĩa là phải làm cho mình có một đời sống sung túc. lắm tiền nhiều của, muốn ngồi lên đầu lên cổ thiên hạ.  Thực hiện được điều đó thật là khó, mà nếu không thực hiện được thì lại tỏ ra bất mãn, hờn đời.
         Tâm lý chung của con người là không hài lòng với điều mình đang có mà còn ao ước những cái gì xa hơn ngoài tầm tay của mình.  Vì thế, nhà học giả Trung hoa, ông Lâm ngữ Đường trong cuốn Sống đẹp có nói :”Thế giới ngày nay giống như một quán cơm. Ai ăn món nào thì gọi món ấy. Nhưng ai cũng nghĩ rằng món của người bên cạnh gọi thì ngon hơn món của mình”. Đúng là :
                                         Xưa nay thế thái nhân tình,
                                     Vợ người thì đẹp, văn mình thì hay.
                                                        (Ca dao)


                       Truyện : Hãy bằng lòng với nghề đục đá.
        Có một người thợ đục đá luôn than thân trách phận vì anh cảm thấy cuộc đời của một người thự đục đá như anh thật là buồn tẻ và bất hạnh.  Một ngày nọ, khi anh đang đục đá, thì có một vị vua đi qua với đoàn tùy tùng rất sang trọng. Ông thưa với Chúa :
        - Lạy Chúa, xin cho con trở thành một vị vua bởi con đã quá mệt mỏi với công việc đục đá này, con thích là một ông vua hơn là một người thợ đục đá.
        Lập tức, ông được trở thành một vị vua. Khi đã lên  ngôi, một lần vi hành thăm thần dân, thấy trời nắng chói chang nóng nực quá, vua liền thưa với Chúa :
        - Chúa ơi, con cảm thấy mặt trời còn quyền thế hơn cả ông vua và con muốn làm mặt trời.
        Lập tức, nhà vua được biến thành mặt trời. Khi đã là mặt trời, ông cảm thấy rất vui vì ánh sáng từ mặt trời chiếu soi vạn vật khắp mọi nơi.  Một buổi sáng nọ, một đám mây che khuất mặt trời.  Ông mặt trời bực bội va ønghĩ rằng có lẽ làm đám mây thì hay hơn, vì đám mây còn có thể che khuất được mặt trời.  Ông liền thưa với Chúa :
        - Chúa ơi, con muốn trở thành đám mây.
        Và đột nhiên ông trở thành đám mây. Sau đó, đám mây làm mưa và gây nên một trận lũ lụt.  Đám mây nghĩ : “Ta lấy làm hãnh diện và sung sướng khi làm thành một đám mây, vì lúc này sức mạnh của ta thật vô song”.  Nhưng rồi ông nhận thấy một hòn đá lớn đã ngăn cản được dòng nuớc lũ và lại năn nỉ với Chúa :
        - Thưa Chúa, con cảm thấy tảng đá kia còn vĩ đại hơn cả dòng thác lũ, vì thế nó đã cản được dòng nước lũ đang cuốn đi biết bao vạn vật trên mặt đất này, rồi ông cũng được trở thành một tảng đá to như ông mong ước.
        Một ngày nọ, một người thợ đục đá đã đến đục đẽo và chia cục đá của ông thành nhiều mảnh. Và ông lại xin Chúa cho mình trở thành người thợ đục đá.  Bây giờ, ông thấy rất hạnh phúc vì làm một người thợ đục đá thì vĩ đại và quyền thế hơn mọi sự. Thế là ông lại trở thành một người thợ đục đá như ban đầu.
                (R. Veritas. Mạch nước trường sinh,  tr 2257-258)
         Theo nhận xét của ông Lâm ngữ Đường, con người thời nay cũng như thời xưa, hay sống với thái dộ mà người ta gọi là “đứng núi nọ trông núi kia hay đứng núi nọ đọ núi kia” nghĩa là thái độ không bằng lòng, không an tâm với công việc, hoàn cảnh hoặc tình duyên hiện có mà mơ tưởng đến cái khác tốt hơn  (Vũ Dung, Thành ngữ, tục ngữ Việt nam, tr 308).
         Thái độ này rất tai hại vì nó luôn làm cho ta cảm thấy bồn chồn, lo lắng, không bao giờ được bình an và cũng khó đón nhận những thành công của người khác. Người có thái đdộ này sẽ luôn bị dằn vặt và đau khổ vì những giới hạn của mình. Họ luôn tưởng tượng và ao ước những điều vô thực.  Và khi không đạt được thì họ bất mãn với cuộc sống, trách cứ Thiên Chúa và anh chị em. Phàn nàn và bất an là căn bệnh thường xuyên của những người sống trong tâm trạng đó.
         Trong cuộc sống gia đình cũng thế, không mấy người hài lòng về đời sống của mình. Họ luôn coi gia đình của người khác hạnh phúc hơn.  Nếu gia đình không có hạnh phúc thì vợ chồng đổ lỗi cho nhau, không ai chịu trách nhiệm về mình, hay ít ra chịu trách nhiệm chung như người ta thường nói :
                        Tại anh tại ả, tại cả hai bên.
         Vì sống theo quan niệm như vậy nên người ta có khuynh hướng muốn LY DỊ để hy vọng có một cuộc sống dễ dàng hơn, hạnh phúc hơn. Nhưng đứng núi này trông núi nọ cao, khi đi vào thực tế thì mới vỡ lẽ ra : cuộc sống mới chẳng khả quan hơn, đôi lúc còn bi đát hơn làm cho họ thất vọng. Càng thất vọng càng đi vào ngõ bí, càng đi vào ngõ bí càng làm càn, có thể đi đến chỗ tư tử.  Lúc đó họ mới nhớ lại lời cảnh cáo của người đời đầy kinh nghiệm :
                                 Tránh anh đánh đau, gặp anh mau đánh.
               Hay:
                                Tránh vỏ dưa, gặp vỏ dứa.
         Có người lại theo quan niệm “bắt cá hai tay”. Họ sống trong gia đình nhưng vẫn còn liên hệ với người khác giới để khi cần sẽ có nơi nương tựa.  Do đó, cuộc sống gia đình không còn mặn mà, dễ sinh ra cãi cọ, dễ đi đến xung đột, dễ đi đến chia ly :
                                           Thôi đừng bắt cá hai tay,
                                Cá thì xuống bể, chim bay về ngàn.
                                                   (ca dao)

 
KẾT LUẬN
         Hãy ý thức rằng Chúa đặtå chúng ta vào trong hoàn cảnh nào thì Ngài luôn ban ơn trợ giúp để chúng ta có thể hoành thành nhiệm vụ một cách tốt đẹp; không bao giờ Ngài bắt chúng ta làm việc gì ngoài sức chúng ta vì “Nemo tenetur ad impossibile”. Chúa không hành động một mình, Ngài đòi chúng ta phải cộng tác như thánh Augustinô nói trong cuốn Les Confessions :”Chúa dựng nên con không cần có con cộng tác, nhưng Chúa không thể cứu chuộc con, nếu không có con cộng tác”.
        Hãy bằng lòng với số phận của mình và cố gắng làm cho tốt hơn như  người ta nói :
                         Được hoa mừng hoa, được nụ mừng nụ.
         Ngoài ra hãy cầu nguyện, xin Chúa giúp đỡ để đôi bạn có thể xây dựng được một gia đình hạnh phúc cậy nhờ vào quyền năng vô biên của Chúa, không có gì ngoài tầm tay của Ngài :”Vì đối với Thiên Chúa, không có gì là không có thể” (Lc 1,37).
 Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt.

 

HônPhối 110: CHUNG LƯNG ĐẤU CẬT

Vợ chồng cộng tác với nhau
 I. THIÊN CHÚA MUỐN MỌI NGƯỜI CỘNG TÁC.

Con người vượt trên vạn vật ở chỗ có lý trí và tự do. Đấy là đặc điểm của con người để con người HônPhối 110

Con người vượt trên vạn vật ở chỗ có lý trí và tự do. Đấy là đặc điểm của con người để con người xứng đáng là “linh ư vạn vật”. Thiên Chúa không hành động một mình, nhưng luôn cho con người cộng tác vào mọi công trình của Chúa, trong đời sống tự nhiên cũng như siêu nhiên.
 
1. Quản lý vũ trụ :
        Thiên Chúa tạo dựng nên vũ trụ vạn vật, mọi sự đều tốt đẹp (St 1,15), nhưng Ngài còn muốn trao cho con người quản lý tất cả công trình Ngài đã tạo dựng để nhờ bàn tay con người, mọi sự sẽ được hoàn hảo hơn :”Thiên Chúa phán :”Chúng ta hãy làm ra con người theo hình ảnh chúng ta, giống như chúng ta, để con người làm chủ cá biển, chim trời, gia súc, dã thú, tất cả mặt đất và mọi giống vật bò dưới đất” (St 1,26 ; x. 2,18-20).
 
2. Tham gia vào việc cứu chuộc.
        Trong công cuộc cứu chuộc loài người, Đức Giêsu đã hoàn tất công cuộc cứu chuộc nhân loại, nhưng Ngài còn muốn cho con người được tham gia vào công cuộc đó bằng cách đi rao giảng Tin mừng, làm cho mọi người được trở nên môn đệ của Ngài:”Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất. Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Cha và Con và Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em. Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế” (M1 28. 18-20).
 
3. Tinh thần tập thể cần thiết.
        Chúa không muốn  hành động một mình, Ngài còn muốn cho con người cộng tác. Trong phép lạ hóa bánh ra nhiều, Đức Giêsu không muốn làm phép lạ cho bánh có ngay, mà Ngài muốn các tông đồ đem đến cho Ngài 5 cái bánh và 2 con cá để  cho 5000 người ăn no, không kể đàn bà con trẻ, lại còn dư được 12 thúng đầy mảnh vụn (x. Mt 14, 13-21)
         Chúa cũng muốn cho loài người chúng ta làm việc chung với nhau đểû làm sáng danh Chúa và mưu cầu hạnh phúc cho nhân loại. Ngài đã hứa ở đâu có hai ba người tụ họp cầu nguyện thì Ngài ngự ở giữa, và Ngài cũng hứa với chúng ta là sẽ ở cùng chúng ta cho đến tận thế. Lời hứa ấy cũng đòi buộc chúng ta phải cộng tác với Chúa và với nhau.
 
II. VỢ CHỒNG CỘNG TÁC XÂY TỔ ẤM.
         Trong công cuộc xây dựng gia đình, không thể một mình đàn ông xây dựng, cũng không thể một mình người đàn bà có thể xây dựng nổi, mà đòi buộc cả hai bên cùng nỗ lực xây dựng như người ta nói :
                        Đàn ông xây nhà, đàn bà xây tổ ấm.
 
1. Tránh đơn thương độc mã.
                       Đơn thương độc mã là một thành ngữ có ý nói : hễ ai đó chỉ có một mình phải gánh vác, phải đương đầu với công việc nặng nhọc hoặc nguy hiểm mà không được sự hỗ trợ của người khác,
Đó là tình trạng đơn độc lẻ loi.
         Đơn thương độc mã là thành ngữ Hán-Việt,  trong đó có đơn đối độc, thương đối mã. Xét về nghĩa đen, đơn là một, là chiếc, trái với kép và đôi, còn độc có nghĩa là một mình. Sự láy nghĩa giữa đơn và độc trong thành ngữ nhấn mạnh sự lẻ loi, đơn độc. Các từ thương với nghĩa là ngọn giáo, mã với nghĩa là ngựa đều chỉ phương tiện võ khí chiến đấu.  Tổ hợp các thành tố với nhau, ta có thành ngữ đơn thương độc mã với nghĩa đen là “một ngọn giáo một con ngựa”.  Đối với một người ra trận thì một ngọn giáo, một con ngựa là đủ, không thiếu thốn gì. Nhưng đối với một trận chiến đấu mà một bên là cả một đạo quân hùng dũng và một bên chỉ có một ngọn giáo, một con ngựa thì tương quan lực lượng thật quá chênh lệch và cái thế đơn độc, lẻ loi càng bộc lộ rõ ràng. Trong cảnh huống này thành ngữ đơn thương dđộc mã không con được hiểu với nghĩa đen là “một giáo, một ngựa” mà biểu thị một con người lẻ loi, đơn độc trong chiến trận. Điều dễ nhận thấy là do chỗ gắn liền với gươm, giáo, gắn liền với giao tranh mà ý nghĩa của thành ngữ đơn thương độc mã chủ yếu được dùng để chỉ sự đơn độc, lẻ loi trong chiến đấu vơi quân thù.
         Tuy nhiên, trong sử dụng ngôn ngữ, thành ngữ này cũng được dùng để chỉ các phạm vi hoạt động khác. Cho đến ngày nay, thành ngữ đơn thương độc mã được dùng rộng rãi trong tiếng Việt hàm chỉ tất cả những việc làm thiếu sự hỗ trợ của người khác, phải tự mình đương đầu với khó khăn, vất vả, hiểm nguy, bất kể đó là công việc trong chiến đấu, sản xuất hay hoạt động khoa học.         (Hoàng văn Hành, Kể chuyện, thành ngữ, tục ngữ, 2003, tr 205-207)
 
2. Hãy chung lưng đấu cật.
        Thành ngữ “chung lưng đấu cật” có nghĩa là cùng góp sức và dựa vào nhau trước khó khăn chung (Từ điển tiếng Việt, Hoàng Phê chủ biên, 1988).
        Chung lưng đấu cật là một cách nói về truyền thống đoàn kết của nhân dân ta. Nó biểu thị sự hợp tác giữa một tập thể để chống chọi và vượt qua, chiến thắng khó khăn, để đi đến một một mục đích chung cao đẹp (Sđd, tr 153).
        Muốn xây dựng được một mái ấm gia đình vợ chồng luôn phải chung sức chung lòng, kề vai sát cánh mới mong đi đến thành công :
                         Em về cắt rạ đánh tranh,
                     Chẻ tre, chẻ lạt cho anh lợp nhà.
                        Sớm khuya hoà thuận đôi ta,
                     Hơn ai gác tía, lầu hoa một mình.

 
3. Hãy đồng cam cộng khổ.
        Thành ngữ “đồng cam cộng khổ” là một thành ngữ Hán Việt mà ý nghĩa của nó được hình thành trên cơ sở nghĩa biểu trưng của các thành tố : đồng (cùng), cam (ngọt), cộng (chung), khổ (đắng). Ở thành ngữ này, vị ngọt (cam) biểu trưng cho sự sung sướng, hạnh phúc, vị đắng (khổ) biểu trưng cho sự bất hạnh, hoạn nạn.  Từ ý nghĩa cụ thể cùng hưởng vị ngọt, cùng chung vị đắng, thành ngữ đồng cam cộng khổ hình thành nên ý nghĩa khát quát của nó.  Trong hạnh phúc hay bất hạnh, con người cần phải san sẻ cho nhau, cùng hoà vào cuộc sống chung, coi niềm hạnh phúc hay nỗi bất hạnh của mọi người như của mỗi người và như của riêng mình vậy.
                                 Đàn ông đi biển có đôi,
                                 Đàn bà đi biển mồ côi một mình.

Câu ca dao trên đây có lẽ cũng đồng nghĩa với câu tục ngữ sau đây  :
                                 Đàn ông vượt bể có chúng có bạn,
                                 Đàn bà vượt cạn chỉ có một mình.

 
                        Truyện : chia ngọt sẻ bùi.
        Câu thành ngữ đồng cam cộng khổ cũng đồng nghĩa với chia ngọt sẻ bùi. Kiểu nói thường được hiểu theo nghĩa bóng là hai người luôn cảm thông và nâng đỡ nhau trong cuộc đời.  Thế nhưng, vào cuối tháng 10/1994, báo chí Mỹ đưa tin về một cặp vợ chồng vừa mới thành hôn, chưa kịp đi hưởng tuần trăng mật thì người chồng 46 tuổi đã phải nhập viện vì thận hư, phải thay gấp mới mong sống nổi !  Người vợ cũng sẵn sàng nhập viện với chồng, chịu giải phẫu để chia cho anh... một trái thận !  Một sự chia sẻ rất cụ thể và rất qúi giá. “Chia ngọt sẻ bùi” ở đây hiểu theo cả nghĩa đen nữa.
         Thế là cả hai vợ chồng đều vui vẻ hưởng những ngày đầu đời hôn nhân trong bệnh viện.
 
          KẾT LUẬN
         Mái ấm gia đình luôn là công lao xây dựng của vợ chồng, không riêng của ai. Mỗi người xây đắp một phương diện.  Phải biết vun xới cho gia đình, “của chồng công vợ”, đừng sống như chỉ có một mình mà hãy thực hiện lời dạy trong Thánh Kinh :”Tôi muốn trở nên mọi sự cho mọi người”, ít ra hãy thực hiện điều ấy cho người bạn đời.
 Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ  Kim phát
Tháng 2/2004

 

HônPhối 111: ƠN GỌI (2)

Ơn gọi hay định mệnh ?
 I. ƠN GỌI CHO MỌI NGƯỜI.

Mỗi người chúng ta được ơn Chúa mời gọi : được sinh ra làm người, được làm con Chúa và Hội HônPhối 111

Mỗi người chúng ta được ơn Chúa mời gọi : được sinh ra làm người, được làm con Chúa và Hội thánh, được hưởng sự sống đời đời.
         1. Ơn gọi làm người : Khi dựng nên muôn loài muôn vật thì Thiên Chúa chỉ phán một lời làì mọi sự đều hiện hữu, nhưng khi dựng nên con người Thiên Chúa còn suy tư xem sẽ dựng nên con người như thế nào ; và kết cục Ngài đã quyết định dựng nên con người giống hình ảnh Ngài.  Ngài cũng cho con người được quyền quản lý những gì Ngài đã tạo dựng.
2. Ơn gọi làm con Chúa, con của Hội thánh : Khi sinh ra, chúng ta mang tội nguyên tổ, không được quyền làm con Chúa, nhưng Ngài đã xuống thế làm người chịu chết chuộc tội chúng ta và qua bí tích rửa tội, chúng ta lại được chấp nhận làm con Chúa và con của Hội thánh.
         3. Ơn gọi được hưởng Nước Trời : Vì tội của nguyên tổ Adam và Evà, chúng ta đã mất quyền được hưởng sự sống đời đời, nhưng Chúa Cha vì yêu thương loài người đã sai Con Một của Ngài đến giải thoát con người khỏi quyền lực của tội lỗi và ban cho con người được hưởng sự sống đời đời :”Thiên Chúa yêu thế gianđến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Ngài thì khỏi phải chết nhưng được sống muôn đời. Quả vậy, Thiên Chúa sai on của Ngài đến thế gian không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian, nhờ con của Ngài mà được cứu độ” (Ga 3, 16-17).
 
II. HÔN NHÂN LÀ ĐỊNH MỆNH ?
         Rất nhiều người coi việc kết hôn là do duyên phận hay duyên số. Hay nói cách khác hôn nhân là do định mệnh nghĩa là việc cưới vợ gả chồng là do một lực lượng vô hình đã xếp đặt và con người không thể cưỡng lại được.
        Trách duyên phận bẽ bàng, người cung nữ trong “Cung oán ngâm khúc” của Nguyễn gia Thiều đã thốt lên những câu bi phẫn :
                        Tay Nguyệt Lão chẳng xe thì chớ,
                        Xe thế này có dở dang không,
                        Dang tay muốn dứt tơ hồng,
                        Bực mình muốn đạp tiêu phòng mà ra.

         Thương nàng, ta cũng giận Nguyệt Lão. Thế nhưng Nguyệt Lão là ai ?
        Tự điển Thanh Nghị giải thích : Nguyệt Lão là tên một vị tiên, chủ về hôn nhân.
               Nguyệt Lão được hình dung như một ông già quắc thước ngồi trên cung trăng định đoạt chuyện nhân duyên của người trần thế.  Ông lấy một sợi tơ đỏ buộc chân một người nam và một người nữ với nhau.  Thế là nhất định họ sẽ phải thành vợ chồng. Vì vậy, chuyện vợ chồng, theo quan niệm cũ, là do nơi sắp đặt của Nguyệt Lão.  Nguyệt Lão còn được gọi là ông tơ (vì ông ta dùng tơ đỏ, tơ hồng).  Nhưng trong cách hiểu dân gian thì “lão” có thể là lão ông mà cũng có thể là lão bà. Cho nên, người trần thế lại cũng tưởng tượng mà gán cho cõi tiên những quan hệ trần tục như mình : đã có Ông Tơ thì thế tất phải có Bà Nguyệt !
         Sự thực Ông Tơ và Bà Nguyệt chỉ là hai tên gọi khác nhau của một vị tiên là Nguyệt Lão mà thôi. Về sau,  Ông Tơ Bà Nguyệt được dùng với nghĩa rộng,  chỉ chung những người mối lái trong chuyện dựng vợ gả chồng. Và, dĩ nhiên, những ông mối hay bà mối được gọi là ông Tơ bà Nguyệt này là người trần mắt thịt chứ không phải là tiên.
                       (Hoàng văn Hành, Kể chuyện, thành ngữ, tục ngữ, tr 385-386)
 
                          Truyện : nhân duyên của Vi Cố.
        Đã muộn mằm lắm mà Vi Cố chưa lấy vợ. Mãi đến một hôm, chàng quyết định gặp một cô gái vừa được đưa mối. Dọc đường, chàng thấy một cụ già đeo cái túi bên người. Hỏi ra mới biết cụ là người chuyên xe duyên cho các đôi vợ chồng. Cụ già phán bảo chàng rằng : cái đám chàng đi đến chẳng nên duyên vợ chồng. Cái số của chàng là phải lấy một cô bé lúc này mới lên ba thường đi theo mẹ bán rau ở chợ,  nhưng mãi đến năm nàng mười bảy tuổi mới cưới xin được.  Cái túi bên người cụ đựng toàn những sợi chỉ hồng (xích thằng) để buộc chân những người dù ghét bỏ đến đâu, xa cách đến mấy cũng vẫn phải lấy nhau.  Chỉ ấy đã buộc chân chàng với cô bé kia. vềà nhà, chàng thuê một người đi giết cô bé, nhưng sự chẳng thành. Mười bốn năm sau, chàng tập ấm và được quan trên tin cẩn gả con gái cho.  Thành vợ thành chồng được mười năm, chàng mới nhận ra vợ mình là cô bé mà chàng thuê người giết ở chợ để thách thức với số phận. Sau bao biến đổi, từ một cô con gái của người bán rau, nàng trở thành con nuôi của một viên quan trong triều. Kinh ngạc thay, vợ chồng không ai khác mà chính là nàng !  Rõ là Vi Cố không thoát được tiền định, không thoát được sự buộc chân của sợi chỉ hồng trong túi cụ già hai mươi bốn năm về trước.
                        (Hoàng văn Hành, Kể chuyện, thành ngữ, tục ngữ, tr. 278)
 
III. HÔN NHÂN LÀ ƠN GỌI ?
         Thiên Chúa ban cho con người hai cái phẩm tính đặc biệt mà không loài vật nào có, đó là lý trí và tự do. Con người có lý trí để suy xét công việc mình làm : tốt hay xấu, làm hay không làm, làm cách này hay cách khác, con người có quyền tự do quyết định.  Chính vì có lý trí và tự do nên con người phải có trách nhiệm về những việc mình làm.
           1. Vấn đề độc thân :
         Kinh thánh nói :”Lúc khởi đầu công trình tạo dựng, Thiên Chúa đã làm nên con người có nam có nữ; vì thế, người đàn ông sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai sẽ thành một xương một thịt. Như vậy, họ không còn là hai, nhưng chỉ là một xương một thịt” (Mc 10, 6-8).
         Chúa đã dựng nên con người có nam có nữ thật, nhưng Ngài có đòi buộc họ phải kết hợp với nhau không, hay Ngài để cho con người tự do, muốn kết hợp cũng được, mà không kết hợp cũng được ?  Theo cách thông thường thì người nam và người nữ kết hợp với nhau thành vợ chồng, nhưng Chúa  không đòi buộc con người phải làm như thế, vì Ngài cho biết : cũng có người không cưới vợ gả chồng vì một lý do cao đẹp : vì Nước Trời.  Đây, chúng ta hãy nghe lời Chúa :”Qủa vậy, có những người là hoạn nhân vì từø lòng mẹ sinh ra đã như thế ; có những người là hoạn nhân vì bị người ta hoạn ; và có những người là hoạn nhân do họ tự ý sống như thế vì Nước Trời.  Ai hiểu được thì hiểu” (Mt 12,12 ) .
         Trong thư gửi tín hữu Corintô, thánh Phaolô tông đồ cũng cho biết có bậc độc thân, cũng có bậc gia đình, mỗi người phục vụ bằng những cách khác nhau :”Tôi muốn anh chị em không phải bận tâm lo lắng gì. Đàn ông không có vợ thì chuyên lo việc Chúa : họ tìm cách làm đẹp lòng người. Cũng vậy, đàn bà không có chồng và người trinh nữ thì chuyên lo việc Chúa, để thuộc trọn về Người cả hồn lẫn xác. Còn người có chồng thì lo lắng việc đời : họ tìm cách làm đẹp lòng chồng” (1 Cr 7, 32-34).   
 
        2. Vấn đề lập gia đình.
         Như trên đã nói, Thiên Chúa không buộc ai phải sống độc thân, cũng không phải lập gia đình, ai muốn sống độc thân trong đời sống tu trì hoặc trong cuộc sống ngoài đời cũng được.  Mọi người phải có quyền tự do trong việc lập gia đình : có lập gia đình hay không hoặc lập gia đình với ai.  Quyền tự do này được bất khả xâm phạm. Mất quyền tự do thì hôn phối sẽ không thành sự.
         Ngày xưa, cha mẹ có quyền áp đặt con cái trong việc lập gia đình theo phương châm :”cha mẹ đặt đâu, con ngồi đấy”. Quan niệm ấy ngày nay đã lỗi thời rồ. Chính vì có sự áp đặt như vậy cho nên có những cô dâu phải ngồi than thân trách phận :
                                Mẹ tôi tham thúng xôi rền,
                             Tham con lợn béo, tham tiền Cảnh Hưng.
                                Tôi đã bảo mẹ rằng đừng,
                             Mẹ hấm, mẹ hứ, mẹ bưng ngay vào.
                                Bây giờ kẻ thấp người cao,
                             Như đôi đũa lệch so sao cho vừa.
                                        (ca dao)

         Vì có tự do trong hôn nhân nên một danh nhân mới khuyên một câu rất chí lý:
                        “Hãy mở mắt to trước khi cử hành hôn lễ,
                          và sau đó hãy nhắm mắt lại”.
                                (Thomas  Fuller)

         3. Vấn đề nên thánh.
         Mọi Kitô hữu được kêu gọi nên thánh . Thánh có nghĩa là thuộc về Chúa. Mọi Kitô đã thuộc về Chúa cho nên phải có nhiệm vụ nên thánh, không những trong đời sống tu trì mà ngay cả trong đời sống hôn nhân. Dĩ nhiên, linh đạo nên thánh của người lập gia đình phải khác với bậc tu trì.  Nói chung, người sống trong bậc gia đình hãy yêu thương nhau tha thiết như tình yêu giữa Đức Kitô và Hội thánh Người.  Tình yêu vợ chồng được đúc kết bằng hy sinh, phục vụ, dâng hiến, nhịn nhục chịu đựng và trung thành suốt đời.
 Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim Phát
Tháng 2 / 2004

 

HônPhối 112: ĐI TÌM

Vợ chồng cần phải tìm hiểu nhau
 LỜI CHÚA :  Ga 1,35-38.

Hôm sau, ông Gioan lại đang đứng với hai nguời trong nhóm môn đệ của ông. Thấy Đức Giêsu đi HônPhối 112

Hôm sau, ông Gioan lại đang đứng với hai nguời trong nhóm môn đệ của ông. Thấy Đức Giêsu đi ngang qua, ông lên tiếng nói :”Đây là Chiên Thiên Chúa”.  Hai môn đệ nghe ông nói, liền đi theo Đức Giêsu. Đức Giêsu quay lại,  thấy các ông đi theo mình, thì hỏi :”Các anh tìm gì thế” ? Họ đáp :”Thưa Rap-bi (nghĩa là Thầy), Thầy ở đâu” ? Người bảo họ :”Đến mà xem”. Họ đã đến xem chỗ Người ở, và ở lại với Người ngày hôm ấy. Lúc đó vào khoảng giờ thứ mười (Ga 1,35-58).
        Khi Đúc Giêsu được ông Gioan Tẩy giả dược giới thiệu là “Con Chiên Thiên Chúa”, hai môn đệ nghe nói thế liền đi theo Đức Giêsu.  Nhưng Đức Giêsu quay lại mà hỏi :”Các anh tìm gì thế” ?   Sao Đức Giêsu không hỏi họ là “Các anh đi tìm AI ma lại hỏi là Các anh tìm Gì thế” ?  Câu hỏi này làm chúng ta suy nghĩ vì Đức Giêsu muốn đi thẳng vào tâm lý con người : trong cuộc sống hằng ngày ít khi chúng ta đi tìm ai mà chỉ đi tìm gì . Điều đó chứng tỏ chúng ta ít để ý đến con người mà chỉ chú ý đến sự vật.
 
II. TÌM GÌ VÀ TÌM AI .
         Đức Giêsu hỏi “Các anh tìm GÌ?” chứ không hỏi :”Các anh tìm AI thế” ? Câu hỏi ấy đúng với tâm trạng của con người trong đời sống bình thường. Trong cuộc sống con người thường là đi tìm GÌ chứ đâu có tìm AI.   Xét trong một ngày, ta thấy ta đi làm việc, tìm tiền, tìm nơi ở, tìm danh vọng, sự hiểu biết, sức khỏe, tìm nơi nào vui chơi thoải mái... ít khi đặt câu hỏi tìm AI.
         Ngay cả khi người ta tìm tình yêu, tìm bạn hữu, thì cũng chưa chắc là đi tìm AI. Khách thể “AI” mà ta đi tìm đó có khi cũng chỉ giống như như một nhu cầu là sự vật, chứ chưa là một con người. Thí dụ, tôi cô đơn, tôi cần có người yêu để giải quyết nhu cầu tình cảm của tôi, trong ý tưởng ấy, thì “người” mà tôi tìm kia cũng giống như một nhu cầu. Nó tương tự như tôi tìm tiền để giải quyết vấn đề kinh tế, thiếu nó, tôi nghèo khổ.
         Có thể lấy một hình ảnh cụ thể hơn. Trong gia đình, vợ bên chồng, con cái bên cha mẹ, thì nhu cầu đi tìm sẽ là TÌM GÌ, chứ không còn vấn đề TÌM AI nữa.  Vì đã ở bên nhau rồi thì đâu còn vấn đề phải đi tìm nhau nữa ! Tất cả cuộc đời của bằng ấy người trong gia đình là cùng nhau lo tìm thành công, tìm địa vị trong xã hội, tìm tương lai sáng sủa, tìm nhà cao cửa rộng.  Xét mình, ta thấy những điều làm ta bận tâm trong một ngày toàn là những vấn đề trong phạm trù TÌM GÌ, chứ không phải là phạm trù TÌM AI.
         Khi cuộc sống mà tất cả những thứ ta đi tìm chỉ nằm trong phạm trù TÌM GÌ thì đời sống sẽ nhiều đau khổ. Tại sao vợ có thể cô đơn bên chồng  ? Phải chăng người chồng đang tìm những thứ mà nghĩ rằng sẽ làm cho vợ mình hạnh phúc, chứ không tìm chính vợ ? Nhiều khivợ ngồi kề bên chồng mà vẫn cảm thấy nghìn trùng xa cách, tuy gần mặt nhưng lại xa lòng. Người ta cảm thấy xa nhau vì không chịu tìm nhau nên mới cảm thấy như  một thi sĩ than :
                         Hai người sống giữa cô đơn,
                     Nàng như cũng có nỗi buồn giống tôi.
                               (Nguyễn Bính)

         Nhiều khi người ta có vẻ như tìm nhau nhưng lại không tìm để thông cảm với nhau mà chi coi nhau như một đối tượng cho sự tìm hiểu  hay cho ï ích lợi riêng tư của mình. Tìm như thế thì như tìm hiểu giữa địch với ta để hòng chiến thắng địch theo như binh pháp của Tôn Tử “Tri kỷ tri bỉ bách chiến bách thắng”. Tìm như thế là tìm không đúng chỗ nên không bao giờ tìm được nhau :
                         Tìm em như thể tìm chim,
                       Chim ăn bể bắc đi tìm bể đông.
                             (ca dao)

         Có nhau bằng thânxác thì con người cũng chỉ là một sự vật. Hiểu nhau bằng tâm hồn là một cuộc gặp gỡ bắt buộc phải có tìm kiếm. Cuộc sống nhiều xót xa vì người ta không đi tìm nhau, mà chỉ bận tâm đi TÌM GÌ. Nhất là họ cùng nhau đi TÌM GÌ thì họ lại càng có cảm tưởng không cần tìm nhau nữa. Người ta có thể cùng nhau tìm tiền, nhưng khi gặp tiền rồi thì vì tiền mà giết nhau.
         Cùng nhau đi tìm không có nghĩa là cùng tìm nhau.  Cùng nhau đi tìm cái gì đó nhưng hai người vẫn xa nhau, chưa tìm được nhau nên vẫn cô đơn  :
                 “Thượng Đế tạo ra người đàn ông, nhưng thấy nó chưa đủ cô đơn, nên tạo thêm cho nó một người đàn bà, cho nó cảm thấy nỗi cô đơn càng thấm thía hơn”. (Paul Valéry)
         Cô đơn  là tình trạng rất phổ biến trong nhiều gia đình hiện nay, vợ chồng sống bên nhau, con cái sống bên cha mẹ, mà tại sao người ta vẫn thấy cô đơn ?  Vì cô đơn là tình trạng của con người muốn nói mà không có ai nghe, muốn nghe mà không có ai nói, muốn cho mà không có ai nhận, muốn nhận mà không có ai cho. Họ ở trong tình trạng bế tắc ! Muốn thoát khỏi tình trạng này, nhiều khi người ta đi đến những giải pháp táo bạo, nguy hiểm, có hại cho gia đình.
         Có cùng tìm nhau, có gặp nhau, thì mới có thể cùng nhau đi tìm một cái gì được.  Tìm sự vật, khi gặp rồi người ta biết rõ đã gặp.  Và đã gặp là xong, sự vật không thay đổi. Tìm một con người thì khó, vì gặp rồi đó mà vẫn xa lạ. Bên cạnh nhau đó mà vẫn có tiếng thở dài. Đời sống hạnh phúc gia đình hệ tại là biết đi tìm nhau.  Sự tìm nhau là biết nhau, hiểu nhau, thuộc về nhau.  Con người có nhiều thay đổi, vì thế họ vẫn có thể xa nhau dù ở bên nhau. Để giữ hạnh phúc, họ phải nỗ lực tìm nhau nhiều lắm, tìm nhau mãi mãi.
         KẾT LUẬN
         Đọc đoạn Phúc âm trên, ta thấy hai môn đệ của ông Gioan lập tức đi theo Chúa. Các ông đi theo Chúa thật, nhưng các ông tìm gì ? Các ông không tìm GÌ KHÁC mà tìm CON NGƯỜI của Chúa Giêsu để gắn bó với Ngài, làm việc vì Ngài và sống chết cho Ngài.
         Đấy là nhắc nhơ cho hạnh phúc của ta hôm nay trong những phạm trù ta đang đi tìm.  Ta đi tìm nhau hay tìm sự vật ? Trong hôn nhân, rất nhiều khi có cay đắng vì chỉ cùng nhau đi tìm sự vật, rất nhiều khi trống vắng vì bên nhau mà vẫn không gặp nhau.  Khi bên nhau mà không gặp nhau, là dấu chứng đợi họ không cùng đi tìm nhau, mà là đang mải mê cùng nhau tìm kiếm sự vật.  Khi người không gặp người thì mãi mãi sẽ là cô đơn, tất cả những gì tìm kiếm kia cũng sẽ là xa mờ hạnh phúc.
         Trong cuộc sống hằng ngày, đặc biệt là trong cuộc sống hôn nhân, chúng ta hãy xin Chúa ban cho chúng ta hãy biết đi tìm con người, chứ đừng quên con người mà chỉ tìm sự vật. Mà con người mà ta cần tìm nhất đó là chính Chúa.
 Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Tháng 01 / 2004

       

HônPhối 113: CƠN 

Trung thành trong hôn nhân
I. LỜI  CHÚA.

Một hôm, có mấy người Pharisêu đến gần Đức Giêsu để thử Người. Họ nói :”Thưa Thầy, có được HônPhối 113

Một hôm, có mấy người Pharisêu đến gần Đức Giêsu để thử Người. Họ nói :”Thưa Thầy, có được phép rẫy vợ mình vì bất cứ lý do nào không” ?
        Người đáp :”Các ông không đọc thấy điều này sao : “Thuở ban đầu, Đấng Tạo hóa đã làm ra con người có nam có nữ, và Người đã phán :Vì thế người đàn ông sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình và cả hai sẽ thành một xương một thịt. Như vậy, họ không còn là hai, nhưng chỉ là một xương một thịt,
        Vậy, sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly” (Mt 19, 3-6).
 
II. BÍ TÍCH HÔN NHÂN.
           1. Ý nghĩa của hôn nhân
         Hôn nhân Công giáo không những chỉ là một giao ước giữa một người nam và một người nữ õtheo luật tự nhiên, nhưng còn là một Bí tích.  Đó là Bí tích Đức Giêsu đã lập ra để kết hợp người nam và người nữ thành vợ chồng và ban cho đôi bạn những ơn cần thiết :
                - Tăng thêm ơn thánh hoá, làm cho sức sống siêu nhiên nơi họ dồi dào hơn.
                - Ban nhiều hiện sủng, để họ được trợ giúp khi thi hành công việc bổn phận hằng ngày.
        Nhờ dòng suối ân sủng này, đôi bạn được nâng đỡ trong nỗ lực thánh hóa bản thân, trong trách vụ làm vợ chồng, làm cha mẹ (x. MV 48b ; Cl 3,12-17).
 
          2. Hai đặc tính của hôn nhân.     
         a) Đơn hôn :
                        Đơn hôn là hôn nhân giữa chỉ một người nam và một người nữ. Hôn nhân Công giáo là duy nhất, trung tín, không chia sẻ. Người nam không thể là chồng của người nữ nào ngoài vợ mình;  và người nữ cũng không thể là vợ của người nam nào ngoài chồng mình.  Dùng kiểu nói xưa, thì gọi là “Nhất phu nhất phụ”. Đặc tính  Đơn hôn loại trừ mọi hình thức đa thê, đa phu và hôn nhân của những người đồng tính luyến ái.
         Con sông Cửu long, khi chảy xuống miền Hậu giang, dòng sông liền trở nên nông cạn. Tâm hồn người càng chia sẻ cho nhiều sự vật, càng bị phân tán, yếu nhược và cằn cỗi đi.
         Quả tim tôi rất nhỏ và hẹp đối với các của hữu hình :
        * Muốn yêu tha thiết nồng nàn ? Tôi phải yêu thật ít sự vật (hay thật ít người)
        * Muốn yêu thật nhiều sự vật (hay thật nhiều người) ? Tôi sẽ yêu rất hững hờ, sẽ thấy tình tôi nhạt như  nước ốc.
        Thân với hết mọi người, tức là không thân ai cả. Thích hết mọi sự, tức là không có sở thích. Đó cũng là triết lý của thánh Toma tiến sĩ.
                        (Vũ minh Nghiễm, Vươn, tr 85)
         b) Bất khả phân ly :
        Bất khả phân ly tức là vĩnh viễn, nghĩa là hôn nhân ràng buộc hai người cho đến chết. Khi người nam và người nữ đã kết hôn thành sự và hợp pháp, họ phải chung thủy với nhau trọn đời (MV số 20).  Không ai có thể tháo dây hôn phối đó, dù hai vợ chồng đồng tình, dù quyền lực tôn giáo hay dân sự. Đặc tính vĩnh viễn này loại trừ sự LY DỊ.
         Trong lời hứa hôn, đôi bạn đã đọc công khai trước mặt mọi người : Nhận nhau làm vợ làm chồng, và hứa sẽ giữ lòng chung thủy với nhau khi thịnh vượng cũng như lúc gian nan, khi bệnh hoạn cũng như lúc mạnh khỏe để yêu thương và tôn trọng nhau suốt đời.
        Trong lúc xỏ nhẫn cho nhau, đôi bạn cũng nói lên : hãy nhận lấy chiếc nhẫn này để làm bằng chứng tình yêu và lòng trung thành của nhau.
         Và Linh mục chứng hôn cũng nhắc cho đôi bạn : Điều gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phép phân ly (x. Mt 19, 6).
 
                Truyện : Án Tử và người vợ xấu xí
        Một hôm vua Cảnh Công đến thăm ở lại dùng bữa với Án Tử. Một người đàn bà đã già xuất hiện trong bữa tiệc. Khi Án Tử vừa giới thiệu người đàn bà đó là vợ mình, nhà vua ngạc nhiên đến sửng sốt. Ông đề nghị với Án Tử :”Ôi, vợ khanh trông vừa già lại vừa xấu. Quả nhân có một đứa con gái vừa trẻ vừa đẹp, quả nhân muốn cho về hầu, khanh nghĩ sao” ?
        Án Tử liền trả lời một cách dứt khoát, không chút do dự :”Nội tử của tôi nay thật già và xấu. Nhưng chúng tôi đã lấy nhau và ăn ở với nhau bao lâu nay, kể từ khi nàng còn trẻ đẹp. Xưa nay, đàn bà lấy chồng khi còn trẻ cốt để nhờ cậy lúc già, lấy chồng lúc đẹp để nhờ cậy khi xấu. Nội tử tôi thường nhờ cậy tôi cũng như tôi đã từng nhận sự giúp đỡ của nội tử tôi. Nay, bệ hạ muốn ban ơn mưa móc là tùy ở bệ hạ, nhưng xin đừng để tôi phải mang tiếng là ăn ở bội bạc với nội tử của tôi”   (Lẽ sống, tr 302).
         Trong cuộc hôn nhân nào cũng phải có lời thề, không bằng lời nói thì cũng bằng giấy bút hoặc bằng một cử chỉ ưng thuận.  Lời hứa nào cũng hàm chứa một lời cam kết phải trung thành với nhau :
                        Dù cho sông cạn đá mòn
                        Còn non còn nước hãy còn thề xưa.
                                   (Tản Đà)

 
II. CƠN LŨ KHỐC HẠI.
         1. Cơn lũ ly dị.
         Ly dị hiện nay được coi như cơn lũ đang tàn phá đồng bằng Sông Cửu long : nước lấy đi tất cả, tràn vào căn nhà gia đình : xô sập, cuốn đi.  Cơn lũ đồng bằng sông Cửu long có ngày, có tháng, dâng lên cao rồi lại rút đi, nhưng cơn lũ ly dị thì chẳng có tháng có năm, cứ dâng lên cao và chẳng rút đi bao giờ. Thật là một thảm họa cho gia đình, cho xã hội và cho con người.
         Cơn lũ ly dị phát sinh không phải do thiên nhiên mà do con người, nên rất tế nhị và phức tạp.  Muốn giải quyết vấn đề có người chạy đến với giáo luật như một lời răn đe, hay tìm khe hở để che chắn.  Giáo luật trong hợp này chỉ giống như những bao cát chắn bờ, nằm tạm bợ và chơ vơ giữa dòng nước lũ.  Vậy đâu là giải pháp để ngăn chặn cơn lũ ly dị ?
         Đây là câu trả lời của đôi bạn trẻ đã lập gia đình, cho câu hỏi : có bao giờ bạn nghĩ  đến chuyện ly dị không ? Nếu có, bạn đã giải quyết thế nào ?
        - Chúng tôi đã thực sự cam kết dấn thân theo Chúa khi chúng tôi còn ở bậc trung học. Chính vì thế chúng tôi cam kết trung thành với nhau.
        Đôi bạn trung thành với Chúa sẽ có nhiều cơ may trung thành với nhau.
        Cam kết trong hôn nhân là một lời hứa công khai, long trọng, trung thành  mà đôi bạn trao cho nhau để kết bạn với nhau trước mặt Chúa và Hội thánh.
         2. Tình trạng hiện nay.
         Nhưng tình trạng hôn nhân ngày nay hết sức bi đát.  Làm gì có nhiều đôi bạn trẻ dám trả lời được câu hỏi như ở trên ?  Được bao nhiêu người trung thành theo Chúa để cho họ có thể trung thành với nhau ?
         Gia đình thay đổi theo chiều hướng đổ dốc, đến độ năm 1993, người ta phải tổ chức hẳn một hội nghị quốc tế tại Paris, xoay quanh chủ đề “Hãy xây dựng lại gia đình” , với sự tham dự của các nhà tâm lý học, xã hội học, luật học và dân số học. Tầt cả đều nhất trí rằng gia đình hiện tại đang như chiếc lá rụng.
         Châu Âu giật mình là phải, bởi lẽ, cứù 4 đứa trẻ dưới 16 tuổi thì có một đứa thấy bố mẹ ly hôn hay ly thân ! Và cứ 10 em thì có một phải sống chung với người lạ, nghiền ngẫm nỗi đau trong cái câu “mấy đời bánh đúc có xương”
         Ở Mỹ, tình trạng lại càng tệ hơn, khi trẻ em tuyệt vọng và bất hạnh. Số trẻ em tự tử đã tăng lên gấp 3 thập niên 70, trong khi số người lớn tự tử không tăng. Có 20% trẻ em Mỹ gặp vấn đề về thần kinh, không thể yên tâm để sôi kinh nấu sử, vì bố mẹ đã “ân đoạn nghĩa tuyệt”.  Gia đình rạn nứt đã gây sốc đến trẻ em mạnh đến nỗi, có những em đã 17 tuổi mà chưa biết làm toán thập phân, chưa biết tính phần trăm...
                        (Kiến thức ngày nay, số 145, 1994, tr 22)
         3. Giải pháp.
         Kinh nghiệm thực tế cho thấy : tại Hoa kỳ vào năm 1975, cứ 4 gia đình thì có một gia đình ly dị (ngày nay thì chắc phải tăng gấp đôi). Tuy nhiên, trong 500 gia đình năng đọc Kinh thánh và cầu nguyện thường xuyên chỉ có một gia đình ly dị mà thôi.
         Từ kinh nghiệm thực tế này, đi đến kết luận : gia đình nào biết cầu nguyện chung với nhau, gia đình đó thường chung thủy và sống hạnh phúc.  Người ta đã đưa ra mọi biện pháp tự nhiên để củng cố các gia đình, nhưng xem ra thất bại và chỉ còn một cách là trở về với đời sống thiêng liêng, phải quay về với Chúa.
         Giải pháp đọc Kinh Thánh và cầu nguyện chung trong gia đình xem ra xưa và tầm thường. Nhưng có một điều ai cũng biết : bất cứ khó khăn nào như cơn lũ ly dị chẳng hạn, nếu biết chạy đến với Chúa thì mọi vấn đề sẽ được giải quyết trước khi nó trở nên trầm trọng.
         Nếu chúng ta biết kết hợp những lời Kinh thánh lại :
        “Không có Thầy các con không thể làm gì được “
        “Hãy xin thì sẽ được”(Mt 7,7-8 ; Lc 11. 9-11)
        “Tôi có thể làm được mọi sự trong Đấng ban sức mạnh cho tôi”

             thì mọi sự sẽ trở nên tốt đẹp.
 Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Tháng 01 / 2002

 

HônPhối 114: CHIẾC KÉO

Sự cộng tác của vợ chồng
 I. LỜI  CHÚA.
                        Tiệc cưới tại Cana (Ga 2,1-11)

Thánh Gioan kể lại : Đức Giêsu vừa đi truyền giáo được ba ngày thì có tiệc cưới tại Cana. Đức Giêsu HônPhối 114

Thánh Gioan kể lại : Đức Giêsu vừa đi truyền giáo được ba ngày thì có tiệc cưới tại Cana. Đức Giêsu và các môn đệ được mời, có cả sự hiện diện của Đức Maria nữa. Có lẽ đây là tiệc cưới của người bà con thân thuộc với Ngài.
         Tiệc cưới mới được nửa chùng thì sự cố xẩy ra : thiếu rượu. Đức Maria lên nhà nói nhỏ với Đức Giêsu :” Họ hết rượu rồi”.  Một lời van xin vắn gọn nhưng rất hiệu nghiệm, nên Đức Maria tin tưởng nói với gia nhân :”Thầy bảo gì thì nhớ làm theo”. Họ đã đổ đầy sáu chum nước và tất cả số nước đó đã trở thành rượu ngon.
         Qua phép lạ này, chúng ta có thể rút ra được 3 bài học thực hành.
 
          1. Vai trò của Đức Maria.
         Trong cuộc đời chúng ta và cách riêng cho cuộc sống hôn nhân vai trò của Đức Maria rất cần thiết.  Ngài phải có một chỗ đứng vững chắc trong gia đình bởi vì chúng ta thấy có rất nhiều khó khăn phải vượt qua để tiến tới hạnh phúc gia đình.  ta phải chạy đến cùng Mẹ để được giúp đỡ
 
        2. Sự cộng tác của gia nhân.
         Chúng ta thử đưa ra một giả thiết : hôm đó các gia nhân toàn là những người bướng bỉnh và biếng nhác, không làm theo lời Chúa dạy, không chịu đổ nước vào chum... Vậy thử hỏi : Chúa Giêsu có làm phép lạ cho sáu chum nước lã biến thành rượu không ? Bởi vì họ không chịu cộng tác với Chúa !
 
        3. Việc xây dựng hạnh phúc hôn nhân.
         Cuộc sống hôn nhân là nhằm đi tới hạnh phúc.  Nhưng ai phải xây dựng hạnh phúc gia đình ?  Chính là vợ chồng và con cái mà chủ yếu là vợ chồng.  Thiên Chúa không sản xuất ra hạnh phúc như một thứ tiền chế rồi cho người này hay người nọ, mà Chúa đòi mỗi người phải nỗ lực tạo ra hạnh phúc ; còn Chúa thì Ngài ban đủ ơn cần thiết để vợ chồng có thể đạt tới hạnh phúc ước mong.
 
II. VỢ CHỒNG CỘNG TÁC XÂY DỰNG GIA ĐÌNH.
         Sự cộng tác rất cần thiết cho cuộc sống cá nhân, gia đình cũng như cho xã hội.
               Ông Thomas Merton nói :”No man is an island” (không ai là một hòn đảo), không ai có thể sống một mình mà không nhờ đến người khác. Cũng như mọi chi thể trong một thân thể không thể tách rời nhau, chi thể này cần đến chi thể kia. Nếu một chi thể bị đau thì cả thân thể đều bị liên lụy :
                        Một con ngựa đau, cả tầu chê cỏ (tục ngữ)
         Thánh Phaolô tông đồ đã triển khai tư tưởng này khi gửi cho tín hữu Corintô , ngài nói rằng có nhiều chi thể, mỗi chi thể có một chức năng, nhưng tất cả đều cần đến nhau (x. 1Cr 12,14-26).
         Có người ví cuộc đời như một tấm áo. Tấm áo càng đẹp, càng qúi báu thì càng đáng cho mọi người ao ước.  Có người cho rằng ở trong xã hội người ta chỉ hơn nhau nhờ tấm áo manh quần, qua dáng vẻ bề ngoài chứ thả ra chưa chắc  ai đã hơn ai. Vi thế người ta nói :
                               Hơn nhau tấm áo manh quần,
                        Cởi ra bóc trần, ai cũng như ai.
                                (ca dao)

         Ngày xưa, lụa là gấm vóc là thứ vải qúi giá nhất, thường dành cho những người thượng lưu, dân quê nghèo khó ai mà có ?  Nếu ai mặc những lụa là gấm vóc thì được người ta cho là giầu sang phú qúi, được người ta kính nể. Chính lụa là gấm vóc làm cho người ta có giá trị trước mặt xã hội :
                        Người đẹp về lụa, lúa tốt về phân (tục ngữ)
         Lụa là gấm vóc là thứ vải qúi dùng để trang sức cho con người.  Muốn may vá bằng những thứ vải này, cần phải có cái kéo thật bén.  Công dụng cái kéo để làm gì ? Để cắt ! Muốn cắt thì chiếc kéo phải có hai lưỡi ép sát vào nhau, thiếu một lưỡi thì chiếc kéo trở nên hoàn toàn vô dụng
 
                        Truyện : ngỏ lời cầu hôn
        Chamfleury, tiểu thuyết gia trứ danh người Pháp, thế kỷ 18, yêu cô gái đỡ đầu của Eugène Delacroix, họa sĩ nổi tiếng,  và muốn cưới cô này làm vợ. Trong thư “ngỏ sự lòng của nhà tiểu thuyết” gửi cho ý trung nhân, ta nhận thấy có chỗ khác người :
        - Thưa cô, tôi thấy thiên hạ thường nói rằng một người không vợ không chồng giống như cái kéo một lưỡi. Cô thừa biết cái kéo một lưỡi thì không dùng vào việc gì được,  nhưng khi ghép vào cho nó lưỡi thứ hai thì nó trở nên hữu dụng ngay.  Nếu cô tin như vậy, tôi sẽ đem hết mọi tình cảm chân thành, mọi hy vọng tận tụy để cùng cô cắt tấm vải đời, cố gắng làm sao cho thật khéo.
         Tiếp được bức thư, thiếu nữ trả lời một cách vừa đầy đủ vừa tài tình.  Cô gửi cho Chanfleury một chiếc kéo, dĩ nhiên đủ hai lưỡi mới tinh.  Ba tuần lễ sau, hôn lễ được cử hành.  Và nghe nói trọn đời vợ chồng ấy không hề lớn tiếng với nhau bao giờ.
         Theo Chamfleury, cuộc đời là một tấm vải, cần phải cắt thật khéo để may nên một tấm áo hạnh phúc. Kéo càng sắc, việc cắt may càng dễ dàng. Kéo sắc bén chính là tình yêu vợ chồng dành cho nhau để dệt nên hạnh phúc gia đình. Như vậy, chỉ có thể có hạnh phúc gia đình khi hai vợ chồng cùng nhau xây dựng. Hạnh phúc chỉ đến trong sự cộng tác của vợ chồng chứ không có một thứ hạnh phúc tiền chế.
         Trong ý tưởng này, người Tây phương thường nói ;”Một tay, không vỗ nên cái bộp”.
         Trong lãnh vực thiêng liêng, sự cộng tác của ta với Chúa cũng rất cần thiết. Thánh Augustinô sau khi trở lại với Chúa đã than thở :”Khi dựng nên con, Chúa chẳng cần đến con, nhưng Chúa không thể cứu chuộc con nếu con không cộng tác”.
         Trong văn chương bình dân, chúng ta có thể gặp được những gia đình thôn quê rất mộc mạc, đơn sơ, bình lặng, trong đó mọi người nỗ lực làm việc theo khả năng của mình :
                               Trên đồng cạn dưới đồng sâu,
                        Chồng cầy, vợ cấy, con trâu đi bừa.
                                (ca dao)

         Khi gia đình đông người thêm thì công việc cũng thêm.  Gia đình người Việt nam thích sống chung hài hòa có khi đến tứ đại đồng đường mà cuộc sống vẫn dễ chịu, công việc được phân chia cho hợp khả năng, không ai ngồi chơi xơi nước, công việc vẫn trôi chảy :
                                  Cha chài, mẹ lưới, con câu,
                        Thằng rể đi xúc, con dâu đi mò.
                                (ca dao)


           KẾT LUẬN
         Thánh Phaolô khuyên tín hữu Roma :”Ai nấy liên đới với nhau như những bộ phận trong một thân thể” (Rm 12, 5).  Hoặc xem sự duy nhất trong một thân thể mặc dầu có nhiều chi thể  (x. 1Cr 12,12-27).
 Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Tháng 01 / 2003

 

HônPhối 115: NÔ LỆ

Vợ chồng phục vụ nhau
 I. LỜI CHÚA : Pl 2,6-11;  Mt 20,27-28.

Ngược dòng lịch sử, ta thấy nguyên tổ loài người đã phạm tội, mất quyền làm con Chúa, phải sống HônPhối 115

Ngược dòng lịch sử, ta thấy nguyên tổ loài người đã phạm tội, mất quyền làm con Chúa, phải sống dưới quyền lực của ma qủi và tội lỗi, mất hạnh phúc đời đời. Nhưng trong hoàn cảnh bi đát ấy, Thiên Chúa đã hứa ban ơn cứu độ :”Chúa Cha yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con Một Ngài xuống trần...”
         Khi thời gian viên mãn, Ngôi Hai Thiên Chúa đã xuống trần cứu chuộc nhân loại. Đó là Đức Giêsu Kitô.  Thánh Phaolô đã ca tụng :”Đức Giêsu Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế” (Pl 2,6-7).
         Đức Kitô không những trở nên người phàm để sống với người phàm mà còn hạ mình hơn nữa là trở nên nô lệ để phục vụ con người.
         Chính Chúa Giêsu cũng khẳng định :”Anh em phải biết : thủ lãnh các dân thì lấy quyền mà cai trị dân, những người làm lớn thì dùng uy mà cai quản dân. Giữa anh em thì không được như vậy. Ai muốn làm lớn giữa anh em, thì phải làm người phục vụ anh em.  Và ai muốn làm đầu anh em thì phải làm đầy tớ anh em.  Cũng như Con Người đến không phải được người ta phục vụ, nhưng là để phục vụ và hiến dâng mạng sống làm giá chuộc muôn người” (Mt 20,26-28).
 
II. PHỤC VỤ LÀ LÀM TÔI TỚ – NÔ LỆ.
         1. Ngày xưa, chế độ nô lệ đã được thực hành tại Israel. Phần đông nô lệ gốc ngoại quốc : đó là những tù binh chiến tranh bị bắt làm nô lệ theo thông lệ thời xưa (Đnl 21,10), hoặc các nô lệ mua lại của những người buôn bán nô lệ (St 17,12).  Người Hy bá cũng bị bán hoặc tự bán mình làm nô lệ (Xac 21,1-11 ; 22,2).
         Cần lưu ý là trong Thánh Kinh cùng một từ vừa vừa chỉ đầy tớ vừa chỉ nô lệ.  Luật công nhận nô lệ như một thói tục đã thành hình (Xac 21,21), nhưng Luật luôn cố gắng làm giảm bớt tính cách hà khắc của chế độ nô lệ, và mặc dù diễn tả một lý tưởng hơn là một thực tại, nhưng Luật đã chứng nhận ý nghĩa đích thực của con người.
         2. Ngày nay,  tuy chế độ nô lệ không còn được công nhận trên thế giới,  nhưng hình thức bóc lột con người không khác với chế độ nô lệ. Hình thức có khác nhưng nội dung là một, ví dụ có những trẻ em phải làm việc trong những môi trường hết sức tồi tệ, phải làm việc nhiều giờ, mất hết tự do và bị đối xử như những tên nô lệ thời xưa.
 
                        Truyện vui :
        Có một anh chàng đến tán tỉnh một cô gái. Anh ta hạ mình xuống nói với cô ta:
        - Anh yêu em lắm, anh xin làm nô lệ cho tình yêu của em.
        Cô gái trả lời tỉnh bơ :
        - Chế độ nô lệ ngày nay đã lỗi thời rồi anh ạ.
 
        Tuy không còn chế độ nô lệ, nhưng trong đời sống gia đình, nhiều khi người chồng cư xử với vợ mình như những người nô lệ : thiếu gì những cảnh hành hung trong gia đình, nhiều khi người vợ bị thương tích suốt đời.
 
III. VỢ CHỒNG PHỤC VỤ NHAU.
         Sau khi đã thành hôn, hai người nam nữ đã trở nên một xương một thịt, nên họ phải phục vụ nhau, vì như thánh Phaolô bảo :”Có ai ghét thân xác mình bao giờ, trái lại, người ta phải nuôi nấng và chăm sóc thân xác mình” (Ep 5,29).  Thấn xác của chồng là của vợ, và thân xác của vợ là của chồng, mỗi người chỉ còn có một nửa. Ai không yêu thân xác mình là tự mâu thuẫn.
         Nếu vợ chồng trở nên tôi tớ hay nô lệ của nhau một cách ý thức và tự nguyện, chứ không bị ép buộc,  thì đó là một điều đáng khen ngợi.   Có một bà vợ đã tâm sự:
                        Vì chàng thiếp phải bắt cua,
                        Những như thân thiếp, thiếp mua ba đồng.
                        Vì chàng thiếp phải long đong,
                        Những như thân thiếp cũng xong một bề.
                                       (ca dao)

         Vợ chồng phải yêu thương nhau như tình yêu giữa Chúa Giêsu và Hội thánh.  Yêu nhau là phải hy sinh cho nhau, mà hy sinh là phục vụ, mà phục vụ thì trở nên tôi tớ một cách ý thức.  Đừng bao giờ coi nhau như một đối tượng để mưu cầu hạnh phúc cho riêng mình :
                         Con trâu có một hàm răng,
                        Ăn cỏ đồng bằng, uống nước bờ ao.
                        Bây giờ mày ở với tao
                        Đến khi mày chết, tao cầm dao xẻ thịt mày.
                        Sừng mày tao tiện con cờ,
                        Cán dao, cán mác, lưỡi dầy, lưỡi thưa.
                                     (ca dao)

 
KẾT LUẬN
         Hãy theo gương Đức Maria vì Đức Maria đã trở nên tôi tớ của Thiên Chúa (Lc 1,38).
 Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim Phát
Tháng 10 / 2002

 

HônPhối 116: CHIẾC NHẪN

Chữ nhẫn là chữ tương vàng. Ai mà nhẫn được thì càng sống lâu. I. LỜI CHÚA : 1Ga 15,12-16. HônPhối 116

Chữ nhẫn là chữ tương vàng.
Ai mà nhẫn được thì càng sống lâu.

 I. LỜI CHÚA : 1Ga 15,12-16.
         Đức Giêsu nhắc cho môn đệ một điều rất quan trọng :”Đây là điều răn của Thầy : anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 15,12).
         Điều răn của Chúa là chúng ta phải yêu thương nhau ; nhưng làm sao người ta có thể yêu thương nếu không có một động lực, một nguồn yêu thương ngay từ trong lòng mình phát xuất ra ?  Làm sao có được nguồn yêu thương ấy ?
         Vì tình yêu bắt nguồn từ Thiên Chúa (1Ga 4,7) nên chính Thiên Chúa là nguồn yêu thương (2Cr 13,11). Vì thế, muốn yêu thương, con người phải kết hợp làm một với Thiên Chúa, nguồn yêu thương. Kết hợp với Thiên Chúa là luôn ý thức rằng mình là “hình ảnh của Thiên Chúa” (St 1,27; 9,6 ; Ep 4,24) và “được thông phần bản tính của Thiên Chúa” (2Pr 1,4) một Thiên Chúa mà bản chất là yêu thương (x. 1Ga 4,8 . 16).
         Nếu bản chất của Thiên Chúa là yêu thương, mà ta giống Ngài, là hình ảnh của Ngài, được thông phần bản tính Ngài, tất nhiên bản chất của ta cũng là yêu thương. Ta không yêu thương hay không yêu thương đủ, là ta sống không đúng với bản chất của ta.
         Yêu thương không phải chỉ ở trong tinh thần mà còn phải thể hiện ra bằng những việc làm cụ thể mà trong lễ cưới hôm nay có một nghi thức tượng trưng : trao nhẫn cưới.
 
II. CHIẾC NHẪN NGÀY CƯỚI.
         1. Trong nghi lễ hôn phối, ta thấy có nghi thức làm phép nhẫn và xỏ nhẫn cho nhau.
         a) Làm phép nhẫn : trong khi làm phép nhẫn Linh mục đọc :”Xin Thiên Chúa chúc phúc cho những chiếc nhẫn này mà hai người trao cho nhau để làm bằng chứng tình yêu và trung thành”.  Như vậy, chiếc nhẫn tượng trưng cho tình yêu và lòng trung tín của hai người.
           b) Trao nhẫn cho nhau :  trong khi xỏ nhẫn vào ngón tay nhau, đôi tân hôn đều đọc :”Anh (em) hãy nhận chiếc nhẫn này để làm bằng chứng tình yêu và trung thành của anh (em). Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần.
         Xỏ nhẫn cho nhau nói lên sự ràng buộc và trung thành với nhau suốt đời.  Chúng ta để ý xem hai chiếc nhẫn để sát vào nhau sẽ thành hình số 8.  Đấy là cái còng số 8 mà công an hay dùng để còng tội phạm.  Hôm nay hai người tự nguyện còng tay nhau mà không bao giờ có thể tháo ra được.
        c) Nghi lễ tấn phong Giám mục  : trong nghi lễ tấn phong, Đức tân Giám mục cũng được đeo nhẫn, điều đó nói lên ý nghĩa ngài đã kết hôn với giáo phận nên phải luôn trung thành với giáo phận được trao phó.
        Các chị nữ tu khấn trọn cũng được đeo nhẫn để nhắc cho các chị là các chị đã được kết hôn với Chúa Giêsu nên suốt đời phải trung thành với Ngài nghĩa là phải luôn trung thành với những lời đã khấn hứa.
 
        2. Nguồn gốc tục đeo nhẫn.
         Chiếc nhẫn cưới hình tròn. Vòng tròn tượng trưng cho lời khấn hứa bất diệt, điều nguyện cầu vô tận.  Đó là một tượng hình bắt đầu từ Ai cập.
         Theo tập tục của dân Anglosaxons,  khi làm lễ đính hôn thì lễ vật nhà trai mang đến nhà gái phải có một chiếc nhẫn đính hôn để vị hôn phu đeo cho vị hôn thê trước mặt đại diện hai họ.  Sau khi được vị hôn phu tự tay đeo nhẫn đính hôn cho mình rồi, vị hôn thê mới lấy một chiếc nhẫn đính hôn khác mà cô đã để sẵn trong túi áo để đeo vào tay người cô yêu.
         Nhẫn đính hôn được đeo vào ngón giáp  út của bàn tay trái cho đến ngày làm lễ cưới.  Tới ngày cưới, cô dâu chú dể sẽ tháo chiếc nhẫn đính hôn từ tay trái để đeo vào tay phải cho nhau.
         Dân Mỹ, Tô cách lan và dân theo đạo Thiên Chúa giáo hiện nay theo tục đeo nhẫn cưới vào ngón giáp út của bàn tay trái.
         Tín đồ Thiên Chúa giáo bắt đầu có tục lệ cô dâu chú rể đeo nhẫn cưới cho nhau kể từ năm 800, nghĩa là được 1200 năm rồi.
                (Hoàng Thảo, 1001 câu hỏi và giải đáp... tr 63-64)
 
          3. Hai chiếc nhẫn.
         a) Nhẫn cưới :  là một thứ kim loại qúi bằng vàng, bằng bạc hay kim cương. Cái đó không quan trọng,  có thể làm bằng nhưạ cũng được, cái cần nhất là ý nghĩa của nó : tình yêu và lòng trung thành với nhau.
         b) Nhẫn nhục : Trong những ngày trăng mật, mỗi thứ mỗi hay, mọi việc đều tốt.  Đời chỉ là mầu hồng. Nhưng sau đó,  cuộc đời không êm ả như nước mặt hồ thu mà có những sóng gió bão táp.  Người ta thường nói : bá nhân bá tính, không ai giống ai,  không thể có đồng nhất mà chỉ có hợp nhất trong đời sống vợ chồng. Phải biết trước thế nào cũng xẩy ra cảnh “cơm chẳng lành, canh chẳng ngọt”, những sự trái ý, sự va chạm sẽ xẩy ra liên tiếp... Trong những trường hợp này ta cần phải có sự NHẪN NHỤC,  nhẫn nhục là phải nhịn nhục nhau, phải bỏ ý riêng của mình.  Cho nên người ta mới nói là : đã nhẫn thì phải nhục.  Nhưng cái nhục ở đây là có ý thức, do tự nguyện, đó là “nhịn mày tốt tao”.
         Tôi xin hỏi anh chị em : khi hai vợ chồng đang xung khắc nhau, đang to tiếng, lời qua tiếng lại, thì ta nên làm gì ?  Ta nên làm gì ? Theo tôi nghĩ là nên làm... thinh !
         Người đời ai cũng khen người biết nhịn nhục,  có nhịn nhục cũng không hèn vì là cái chịu nhục có ý thức, cái nhục tự nguyện, làm vinh dự cho con người :
                         Chữ nhẫn là chữ tương vàng,
                        Ai mà nhẫn được thì càng sống lâu.
                                (ca dao)

 
        4. Chiếc nhẫn nhắc sự trung tín.
         Ngày nay người ta quá chú trọng vào đời sống vật chất, muốn được hưởng thụ nhiều.Sự giầu sang phú qúi và ngay sự đói nghèo cũng làm cho người ta xa lìa nhau: 
                        Có ăn thiếp ở cùng chàng,
                        Không ăn thiếp tếch, cơ hàn thiếp lui.
                                    (ca dao)

         Vợ chồng cần phải trung thành với nhau khi thịnh vượng cũng như lúc gian nan, khi bệnh hoạn cũng như lúc mạnh khoẻ như lời hứa mà hai anh chị sắp đọc trong nghi thức hôn phối.
                       
                        Truyện minh họa.
        Năm 1028, khi thấy mình sắp chết đến nơi rồi, vua Constantin IX ở La mã cho vời nhà quí tộc Romanuus đến, để đồng thời vừa truyền ngôi, vừa gả công chúa Théodora cho nữa.
        Romanus tâu vua : mình hết lòng cảm ơn lòng thương của vua, song mình đã có vợ.
        Không đếm xỉa gì đến lời tâu, vua truyền cho ông, nếu không lấy con vua thì sẽ bị khoét cả hai con mắt : muốn chọn đàng nào thì chọn. Rồi nhà vua cho ông một ngay để suy nghĩ.
        Tới ngày hẹn, ông Romanus vào chầu.  Hoàng đế cho gọi công chúa đến, một công chúa tài sắc vẹn toàn.  Nhưng Romanus can đảm tâu vua :  dây hôn phối ràng buộc ông với vợ, do Thiên Chúa buộc, và thế gian không ai có quyền tháo gỡ. Vua ra sức ép nài nhưng vô ích.
        Ông Romanus cam lòng chịu khoét mắt hơn là lỗi lề luật của Thiên Chúa.
                        (Trần công Hoán, Truyện hay 5, tr 54-55)
         Hôm nay hai người đã ý thức được việc mình làm và hai người hãy nhìn vào nhau, nói với nhau một cách đanh thép :
                         Dầu mà trời đất phân chia,
                        Đôi ta như khóa với chìa đừng rơi.
                                (ca dao)

 
          KẾT LUẬN
         Trong cuộc sống gia đình không thiếu gì những khó khăn, những gian nan thử thách, nhưng chúng ta biết rằng lúc nào cũng có Chúa trong gia đình chúng ta, Ngài sẽ nâng đỡ an ủi, ban sức mạnh để chúng ta thắng vượt vì qua  sóng gió bão táp thì trời lại sáng , gia đình lại yên vui.  Vợ chồng phải luôn tâm niệm rằng :”Sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không thể phân ly” (Mt 19,6).
 Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giao xứ Kim phát
Tháng 12 / 2002


 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây