Giảng Lễ Hôn Phối Bài 51-100: Suy Niệm về Hôn Nhân Gia Đình

Chủ nhật - 16/12/2018 06:07
Giảng Lễ Hôn Phối Bài 51-100: Suy Niệm về Hôn Nhân Gia Đình
Giảng Lễ Hôn Phối Bài 51-100: Suy Niệm về Hôn Nhân Gia Đình
Giảng Lễ Hôn Phối Bài 51-100: Suy Niệm về Hôn Nhân Gia Đình
HônPhối 51: BẠN ĐƯỜNG.. 2
HônPhối 52: DỄ THƯƠNG.. 6
HônPhối 53: PHIÊU LƯU.. 12
HônPhối 54: HÒA HỢP. 17
HônPhối 55: CHIẾN TRANH.. 22
HônPhối 56: CĂNG BUỒM... 28
HônPhối 57: VÉT CẠN.. 33
HônPhối 58: QUÁN TRỌ.. 38
HônPhối 59: THẢ DIỀU.. 43
HônPhối 60: THÍCH NGHI 48
HônPhối 61: TÔI SẼ MỈM CƯỜI 52
HônPhối 62: NHỮNG CHUYỆN LẶT VẶT.. 57
HônPhối 63: NGỤC TÙ.. 60
HônPhối 64: TÌNH YÊU HIẾN TẾ.. 66
HônPhối 65: NỤ HÔN.. 70
HônPhối 66: VÁ LƯỚI 75
HônPhối 67: MIẾNG TRẦU.. 80
HônPhối 68: YÊU NHAU TRĂM SỰ CHẲNG NỀ.. 85
HônPhối 69: HÔN NHÂN , MỘT ƠN GỌI (1) 89
HônPhối 70: VỊ KHÁCH KHÔNG ĐƯỢC MỜI 93
HônPhối 71: RA KHƠI 96
HônPhối 72: THỀ NGUYỀN.. 101
HônPhối 73: NHÀ TÔI 104
HônPhối 74: NỬA MÌNH.. 108
HônPhối 75: LY CÀ PHÊ.. 111
HônPhối 76: GIA   ĐÌNH.. 115
HônPhối 77: CHIA  SẺ.. 119
HônPhối 78: DIỄN KỊCH.. 123
HônPhối 79: CÂY  THÔNG.. 127
HônPhối 80: THÂN MÌNH.. 131
HônPhối 81: THỦY  CHUNG.. 136
HônPhối 82: BÁT  PHỞ.. 139
HônPhối 83: LO ÂU.. 143
HônPhối 84: XÂY  NhÀ.. 147
HônPhối 85: CÓ  NHAU.. 150
HônPhối 86: LỰA  CHỌN.. 154
HônPhối 87: THỬ THÁCH.. 159
HônPhối 88: NHÀM  CHÁN.. 163
HônPhối 89: KHO  BÁU.. 167
HônPhối 90: BỆNH   STRESS. 173
HônPhối 91: CÓ  DUYÊN.. 177
HônPhối 92: KÝ KẾT HÔN ƯỚC.. 182
HônPhối 93: XÍCH MÍCH.. 186
HônPhối 94: XÂY DỰNG GIA ĐÌNH KITÔ GIÁO.. 189
HônPhối 95: HOA   TRÁI 192
HônPhối 96: THÀNH   KIẾN.. 196
HônPhối 97: HAI  BIỂN  HỒ.. 199
HônPhối 98: CÁNH   CỬA.. 204
HônPhối 99: TẤM   THIỆP. 207
HônPhối 100: VUÔNG   TRÒN.. 210

 

HônPhối 51: BẠN ĐƯỜNG

I. TRÊN ĐƯỜNG ĐI EMMAU.
           Chúng ta đọc : Lc 24,13-35.
 

Câu chuyện hai môn đệ đi làng Emmau trong bài Tin mừng hôm nay chỉ được một mình Luca kể HônPhối 51

Câu chuyện hai môn đệ đi làng Emmau trong bài Tin mừng hôm nay chỉ được một mình Luca kể lại, để thấy rằng Đức Giêsu muốn hướng dẫn các môn đệ đã vì cớ vấp phạm của thập giá mà mất niềm tin thì nhờ Kinh Thánh và việc bẻ bánh mà củng cố niềm tin vào Đức Giêsu Kitô Phục sinh.
          Sau khi Đức Giêsu chịu chết, đến ngày thứ ba, các môn đệ tỏ ra hoang mang, buồn rầu, chán nản, không còn gì bảo đảm cho tương lai nữa, vì thế có ông muốn bỏ về quê cũ là làng Emmau : một ông tên là Cléophas và một ông nữa là một môn đệ nào đó. Hai ông bàn luận với nhau về cái chết của Đức Giêsu. Các ông không thể hiểu được ý nghĩa cái chết của Ngài vì mầu nhiệm đó còn che mắt các ông. Chỉ nhờ Kinh Thánh các ông mới có thể hiểu được.
           Đức Giêsu hiện ra đồng hành với các ông với tư cách là một khách bộ hành. Ngài bắt chuyện với các ông :
          - Các ông có chuyện gì vừa đi vừa trao đổi với nhau mà buồn bã vậy ?
          Mộât người tên là Cléophas trả lời :
          - Có lẽ ông là khách hành hương duy nhất ở Giêrusalem mà không hay biết những việc vừa xẩy ra trong thành mấy ngày nay.
          Đức Giêsu làm ra vẻ ngạc nhiên hỏi :
          - Việc gì thế ?
          Các ông cho biết là các ông thất vọng về ông Giêsu Nazareth.  Oâng là một tiên tri có uy quyền mà người ta đã giết chết mà nay đã ba ngày rồi mà không có tin tức gì cả. Chỉ có mấy phụ nữ đến thăm mồ mà không thấy xác Ngài và được thiên thần cho biết là Ngài đang sống. Mấy đồng nghiệp của chúng tôi cũng thấy như vậy, còn họ thì không gặp Ngài.
Lúc bấy giờ, Ngài mới dùng Kinh Thánh mà giải nghĩa cho các ông :”Đấng Kitô phải chịu đau khổ như vậy rồi mới được vinh quang”.
           Như vậy, bài tường thuật này muốn nói rằng : Chúa Giêsu Phục sinh vẫn đang sống. Ngài ở kề bên chúng ta. Ngài vẫn ĐỒNG HÀNH với chúng ta trong cuộc sống.

 II. NHỮNG BẠN ĐỒNG HÀNH.
           1. Trên đời cần có bạn.
           Sách Giảng viên khẳng định rằng đời cần có bạn bè, trách sự cô đơn, cô độc :”Khốn cho kẻ chỉ có một mình, khi ngã xuống nó sẽ không có ai nâng” (Gv 4,10). Bất kỳ ai cũng có lúc ngã. Thánh Phaolô cũng nói :”Ai đang đứng, ý tứ kẻo ngã” và tục ngữ Việt nam cũng nói :”Khỏe như voi không coi cũng ngã”. Vì thế, trong cuộc đời phải có “Chị ngã em nâng”.
           Đôi khi người ta cũng cần ở một mình, bởi vì linh hồn đòi hỏi sự cô tịch, để giữ được tính cách cá nhân của nó. Nhưng chúng ta không thể sống cô đơn được. Trong thực tế, trong cuộc sống chúng ta cần đến người khác để nâng đỡ, xác nhận, khích lệ, đồng hành với chúng ta. Họ nuôi dưỡng và hỗ trợ chúng ta theo hàng trăm cách thức khác nhau.
           Ngày nay, con người được giáo dục theo chủ nghĩa cá nhân, hậu quả là người ta cảm thấy đời sống cộng đồng là khó khăn. Trong thế giới hiện nay, có quá nhiều nỗi cô đơn. Nhiều người đang kêu gào một người bạn, một người đồng hành, theo nghĩa thuộc về nhau (McCarthy).
 
          2. Từ ngữ “Bạn đồng hành”.
           Từ ngữ “Bạn Đồng hành” phát xuất từ tiếng La tinh : CUM, nghĩa là cùng với, và PANIS, nghĩa là  bánh. Như vậy, hiểu theo từng chữ, “Bạn đồng hành” nghĩa là một người nào đó mà chúng ta chia sẻ bánh. Không phải bất cứ ai bạn cũng mời vào nhà uống trà. Đó là một người có quan hệ với bạn. Và mối quan hệ này được đào sâu thêm, nhờ việc chia sẻ đồ ăn và thức uống với nhau. Như vậy, từ ngữ “Bạn đồng hành” hay “Bạn đường” càng thích hợp cho đời sống vợ chồng,  hai người cùng chia sẻ với nhau cả đời sống vật chất lẫn tinh thần.
 
          3. Tình bạn cần thiết.
           Người đời cần có bạn bè để chia vui sẻ buồn, để nâng đỡ nhau khi gặp khó khăn trắc trở, nên người ta mới kết nghĩa vườn đào như tình kết giao giữa tay ba Lưu Bị – Trương Phi – Quan vân Trường trong Tam quốc chí. Họ đã uống máu ăn thề, coi nhau như anh em ruột thịt, thề sống chết có nhau; như mối tình keo sơn giũa Jonathan và Đavít trong Thánh Kinh. Trong văn chương Việt nam, ai mà không biết tình bạn kết giao giữ Lưu Bình và Dương Lễ !
 
III. BẠN ĐƯỜNG VÀ HẠNH PHÚC.
           1. Hạnh phúc là mục tiêu của con người.
           Mục đích cuộc sống con người là đi tìm hạnh phúc. Hạnh phúc là đối tượng của mọi cuộc tìm kiếm. Hạnh phúc thì có đấy, nhưng con đường dẫn tới hạnh phúc thì nhiều vô kể, ai thích đường nào thì theo đường nấy. Do đó, Tây phương có  câu ngạn ngữ :”Tous les chemins conduisent à Rome” : tất cả mọi con đường đều dẫn tới Rôma. Nhưng vấn đề được đặt ra ở đây là con đường nào ? Mỗi người phải chọn cho mình một con đường thích hợp.
 
          2. Con đường dẫn tới hạnh phúc.
           a) Con đường độc thân.
           Có người chọn con đường độc thân để tiến tới hạnh phúc. Họ có thể sống ở ngoài đời hay sống trong đời tu trì. Những người sống độc thân trong đời sống tu trì là những người có một cái nhìn siêu nhiên cao quí : có Chúa là có tất cả, mà Chúa là hạnh phúc, thì khi tìm đến Chúa là tìm đến hạnh phúc. Phải chăng lời nói của đại thi hào Nguyễn Du trong “Đoạn trường tân thanh” đã mô tả được cái nhìn sâu sắc đó :
                                  Tu là cõi phúc, tình là giây oan.
           b) Con đường hôn nhân.
           Tuyệt đại đa số con người trong thế giới này chọn chung một con đường dẫn tới hạnh phúc : con đường hôn nhân. Hôn nhân là con đường. Con đường này có thể dẫn tới hạnh phúc nhưng cũng có thểâ dẫn tới bất hạnh :”Hôn nhân là con đường đưa ta tới thiên đàng hay địa ngục” (Honoré de Balzac). Ta cũng có thể nói : Hôn nhân là một cuộc hành trình tiến tới hạnh phúc. Không phải kết hôn là có hạnh phúc ngay mà chỉ là bước khởi đầu của cuộc hành trình đi tới hạnh phúc, bởi vì hạnh phúc không phải là cái gì tiền chế đã có sẵn, mà mỗi người phải tạo ra bằng nỗ lực của mình. Cuộc hành trình còn kéo dài, còn nhiều gian khổ, còn nhiêu gian lao thử thách. Trong cuộc hành trình này con người muốn có bạn đường cho khỏi bị lẻ loi như Kinh thánh nói :”Vae soli” (Gv 4,10).
           Muốn có bạn đường thì phải KẾT BẠN.
           Ta nói anh A đi kết bạn, cô B đã kết bạn, có nghĩa là anh A đã lấy vợ, cô B đã có chồng, đã có gia đình. Khi đã kết bạn với nhau thì người ta sẽ trở nên BẠN TÌNH – BẠN ĐƯỜNG – BẠN ĐỜI – BẠN NỐI KHỐ. Vì thế, vợ chồng đã trở nên bạn tình, bạn đời và bạn đường với nhau. Nếu hỏi anh ấy có khỏe không ? chị sẽ trả lời BẠN TÔI  khỏe lắm thay vì tiếng Nhà tôi hay Chồng tôi. Chữ BẠN đây đã trở nên bạn tình, bạn nối khố rồi.
           Tuy là bạn nhưng vẫn có những gì riêng tư, không thể có sự đồng nhất được, chỉ hy vọng có sự hòa hợp.  Như vậy trong cuộc hành trình đi tìm kiếm hạnh phúc, không thiếu gì những vật cản đường, nó làm cho cuộc sống trở nên nặng nề, khó chịu như Alexandre Dumas fils đã nói :”Sợi dây xích của hôn nhân quá nặng nề đến nỗi phải hai người, có khi ba để mang lấy”.
           Tuy gian lao có nhiều, đau khổ cũng cũng không thiếu, con người có thể vượt qua được như nhà chí sĩ Nguyễn bá Học đã nói:”Đường đi khó không khó vì ngăn sống cách núi, nhưng khó vì lòng người ngại núi e sông”. Trước những khó khăn trong đời sống gia đình, vợ chồng cần có sự nhịn nhục chịu đựng, càng nhịn nhục gia đình càng hạnh phúc. Nhịn nhục có nhiều cái lợi. Đừng coi nhịn nhục là hèn nhất, trái lại phải coi là một hành vi anh hùng :”Nhịn mày tốt tao, làm sao mà thiệt”.
 
                                      Truyện vui : Ai quyết định ?
          Một anh chàng mới lấy vợ đến hỏi một ông đã có lễ vàng lễ bạc với vợ :
          - Thưa ông, vì sao ông bà sống hạnh phúc với nhau tuyệt vời như vậy ?
          Ôâng già trả lời :
          - Chẳng giấu gì cậu : khi việc gì mà cả hai người nhất trí thì tôi quyết định. Còn việc gì không nhất trí thì người quyết định là… bạn tôi.
Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát Đà lạt

         
 

HônPhối 52: DỄ THƯƠNG

I. SUY NIỆM LỜI CHÚA.
           Chúng ta đọc : Pl 2,6-11 ; Ga 3,16-17.
 

Đoạn thư của thánh Phaolô tông đồ gửi tín hữu Philipphê mà chúng ta vừa nghe là một bản tụng HônPhối 52

          Đoạn thư của thánh Phaolô tông đồ gửi tín hữu Philipphê mà chúng ta vừa nghe là một bản tụng ca lòng từ bi bao la của Thiên Chúa đối với loài người khi Ngài sai Con của Ngài xuống thế cứu độ trần gian (Pl 2,6-11). Đức Giêsu vốn dĩ ngang hàng vớùi Thiên Chúa, được hưởng mọi sự vinh quang của một vì Thiên Chúa, đã tự nguyện trút bỏ mọi vinh quang đó, xuống thế làm người, trở nên một con người hèn hạ nhất, sống vâng lời cho đến chết và chết trên cây thập giá.
           Ta thử hỏi : vì lý do nào mà Chúa đã xuống thế làm người chịu chết chuộc tội cho chúng ta ? Có lẽ không có câu trả lời nào xác đáng hơn khi nói :”Vì yêu thương chúng ta”. Thánh Gioan nói :”Thiên Chúa là tình yêu” (1Ga 4,10), đồng thời Ngài cũng nói:”Không có mối tình nào lớn lao cho bằng mối tình của kẻ chết vì người mình yêu”(Ga 15,13).
           Cũøng giống tư tưởng của thánh Phaolô, thánh Gioan tông đồ cũng nói lên việc Thiên Chúa Cha trao ban Con Một của Ngài cho thế gian cũng do tình yêu, khi Ngài nói:”Thiên Chúa yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con Một để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời. Quả vậy, Thiên Chúa sai Con của Người xuống thế gian, không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian, nhờ Con của Người mà được cứu độ”(Ga 3,16-17).
           Trở lại ngược dòng lịch sử, ta được biết từ ngàn đời Chúa đã thương ta nên đã dựng nên ta theo hình ảnh của Ngài. Vì đã dựng nên ta theo hình ảnh của Ngài nên Ngài cũng yêu luôn hình ảnh của Ngài, và hình ảnh của Ngài dễ thương biết bao ! Do vậy, con  người phải được coi là dễ thương.
           Oâng Adong thật dễ thương trước mặt Chúa vì Thánh kinh nói :”Thiên Chúa thấy mọi sự đều tốt đẹp”. Thiên Chúa lại dựng nên cho ông một người nữ là bà Evà. Bà này cũng thật dễ thương làm cho ông say mê. Thiên Chúa đã ban bà này cho ông để làm vợ. Như vậy cả hai người dễ thương. Họ thương yêu nhau và suốt ngày quấn quít bên nhau.
           Nhưng sau khi phạm tội, ông bà nguyên tổ mất đi vẻ dễ thương thuở ban đầu. Phải nói là ông bà đã trở nên dễ ghét trước mặt Chúa. Tuy thế, Thiên Chúa vẫn yêu thương, yêu đến nỗi sai Con Ngài xuống trần để cùng ăn, cùng ở, cùng làm với họ, và sau cùng đã lấy máu mình mà rửa sạch tội lỗi của họ.  Do con người được rửa sạch nhờ cái chết của Đức Giêsu, từ đây con người lại trở nên dễ thương trước mặt Chúa.
 
II. NÓI VỀ NÉT DỄ THƯƠNG.
           1. Theo quan niệm người đời.
           a) Con người dễ thương.
          Con người được đánh giá là “linh ư vạn vật”. Người là con vật thượng đẳng vì có hồn có xác. Vì thế, xem hình dáng bên ngoài đã thấy dễ thương theo quan niệm của xã hội ta ngày xưa :
                                       Một thương tóc bỏ đuôi gà,
                             Hai thương ăn nói mặn mà có duyên.
                                      Ba thương má núm đồng tiền,
                             Bốn thương răng nhánh hạt huyền kém thua.

           Có những nét dễ thương lộ ra bên ngoài, ai cũng thấy, nhưng cũng có những nét hấp dẫn dễ thương tiềm ẩn bên trong mà người ta không trông thấy. Tuy thế vẫn cảm thấy có một cái gì quyến rũ, dễ thương :
 
                                      Người xấu duyên lặn vào trong,
                             Bao nhiêu người đẹp duyên bong ra ngoài.

           Có những người tài sắc không có, không có gì là sắc xảo, nhưng con người đó vẫn dễ thương như họ cư xử mềm mỏng, ăn nói dịu dàng lịch thiệp, nhịn nhục, biết lắng nghe, biết phục vụ, biết nở nụ cười… Vì thế :
                                       Cô kia mặt nhọ như niêu,
                             Mẹ chồng cô vẫn thương yêu quá chừng.

 
          b) Con người dễ ghét.
           * Xét về bản tính con người thì người ta thường cho là tốt. Mạnh Tử đã thay cho mọi người mà ca tụng bản tính con người :”Nhân chi sơ tính bản thiện”. Nhưng cũng có người có cái nhìn bi quan về con người, họ chủ trương ngược lại, họ cho bản tính con người là xấu. Đại diện cho quan niệm này là Mặc Tử khi ông nói:”Nhân chi sơ tính bản ác”.
          * Còn về phương diện cái nhìn thì phần lớn cho là con người dễ thương. Cũng có người chủ trương ngược lại, họ cho là con người dễ ghét. Đại diện cho quan niệm này là ông Diogène. Oâng này là một triết gia hơi khác thường, thích sống trong cái thùng rỗng, ăn uống đạm bạc. Oâng bất mãn với xã hội, đánh giá là họ sống không xứng đáng với con người, nên đang giữa trưa, ông cầm đèn ra phố chợ. Lấy làm lạ, người ta hỏi ông :”Oâng đi tìm gì” ? Oâng trả lời :”Tôi đi tìm người”.
           Tại sao ông Diogène lại đi tìm người ? Ngoài phố thiếu gì người mà phải đi tìm ? Thực ra ông muốn đi tìm mộ con người, mà theo ông, con người này phải sống xứng danh là con người.  Câu trả lời của ông có một ý nghĩa sâu xa : ông cho là họ sống như lũ chó, không xứng đáng với con người “linh ư vạn vật”.
 
          2. Theo quan niệm của Chúa Giêsu.
           Chúa Giêsu cho rằng không có ai là người dễ ghét mà chỉ có những người dễ thương. Có lần Ngài và các môn đệ đi  Giêrusalem, phải đi ngang qua vùng Samaria mà người ta không chịu đón tiếp mà còn tỏ vẻ khinh khi.  Điều này làm cho các môn đệ tức giận. Các ông xin Chúa cho phép các ông sai lửa trên trời xuống đốt cháy cái lũ dân đáng ghét này. Nhưng Ngài đã ngăn cản các ông vì Ngài thấy họ không đáng ghét chút nào, đối với Ngài họ vẫn dễ thương (x. Lc 9,54).
          Nếu không có tâm hồn cao thượng thì Maria Mađalena, tông đồ Phêrô và Giuđa thật đáng ghét vì họ là những người tội lỗi, những tên phản bội. Nhưng Chúa Giêsu vẫn thấy họ dễ thương và tạo điều kiện cho họ sám hối để trở nên con người thánh.
           Sách Huấn ca so sánh con người khôn ngoan và ngu đần. Sách thánh nói:”Người khôn ngoan nói ít cũng gây được thiện cảm, lời hoa mỹõ của kẻ ngu đần chỉ là thứ đổ đi”(Hc 20,13). Lời nói của người khôn ngoan dễ gây được thiện cảm, nghĩa là lời nói của họ mặn mà, duyên dáng, hấp gẫn, dễ nghe làm hài lòng người ta, giống như câu ca dao Việt nam :”Một thương tóc bỏ đuôi gà, hai thương ăn nói mặn mà có duyên”.
 
III. QUAN NIỆM CHỦA CHÚNG TA.
           Trong cuộc sống hằng ngày, chúng ta phải có những mối quan hệ, không ai có thể sống đơn độc lẻ loi, cần phải có người khác để chia sẻ cả tinh thần lẫn vật chất vì “Có đi có lại mới toại lòng nhau”. Trong khi tiếp xúc với người khác, chúng ta thấy có những người rất có duyên, có người lại vô duyên, có người dễ thương, có người dễ ghét. Như vậy trong cuộc sống hằng ngày chúng ta thấy những người chung quanh mình là những người dễ thương hay dễ ghét.
 
          1. Tùy theo quan niệm của mỗi người.
           Cùng một con người mà đối với người này thì dễ thương mà đối với người khác thì lại dễ ghét . Tại sao lại có tình trạng đó ? Chúng ta có thể trả lời : tùy theo lập trường, thái độ và tâm trạng của mỗi người. Kinh thánh nói rằng:”Ai gieo gì thì gặt nấy”(Gl 6,7).
                   Gieo gió thì gặt được bão,
                   Gieo ghen ghét thì sẽ gặp ghen ghét,
                   Gieo yêu thương thì sẽ gặt được yêu thương.

           Người sống bên cạnh ta sẽ dễ thương hay dễ ghét, phần lớn là do hình ảnh ta sẵn có đối với họ.Tha nhân là phản ảnh tâm trạng của ta. Giống như khi soi gương, hình ảnh ta tốt xấu thế nào thì trong gương cũng tốt xấu như vậy.
                                       Trông trăng mà thẹn với trời,
                             Soi gương mà thẹn với người trong gương.

 
                                      Truyện : Mất búa.
          Có người đánh mất cái búa, ngờ cho đứa con nhà láng giềng lấy trộm. Anh ta trông dáng nó đi, rõ ra đứa ăn trộm búa, nhìn vẻ mặt nó, rõ ra đứa ăn trộm búa, thấy nó cất nhắc, hành động, không một tí gì, là không rõ ra một đứa ăn trộm búa cả.
           Được một lúc, người ấy bới trong hố, lại thấy cái búa. Thì hôm sau, trông đứa con nhà láng giềng, ngôn ngữ, cử chỉ lại không một tí gì là giống đứa ăn trộm búa cả.
                   (Liệt Tử, trong Cổ học tinh hoa, tập 1, của Nguyễn văn Ngọc, tr 55)
 
 
  1.   Trong đời sống vợ chồng.
                            a) Thuở ban đầu.
           Lúc mới yêu nhau, tình yêu dâng lên phơi phới, người ta có khuynh hướng tuyệt đối hóa người yêu. Nơi người yêu, cái gì cũng tốt, cái gì cũng dễ thương vì tất cả mọi cái đều được tha thứ. Tình yêu làm cho mọi sự nên tốt :
                                       Chồng yêu cái tóc nên dài,
                             Cái duyên nên mặn, cái tài nên khôn.

          Hoặc người ta thi vị hóa sự vật :
                                      Mắt em là một dòng sông,
                             Thuyền ta bơi lặng trong dòng mắt em.
                                                (Xuân Diệu)


          b) Lúc ở với nhau.
                   Người ta nói : Ở trong chăn mới biết chăn có rận. Khi ở với nhau, người ta có dịp khám phá nhau, các nết xấu từ từ lộ ra. Các nét dễ thương ngày xưa biến dần. Những va chạm, những nỗi bất hòa tiếp diễn, thay vào những nét dễ thương là những nét dễ ghét. Bởi vì :
                                       Yêu nhau quả ấu cùng tròn
                                      Ghét nhau quả bồ hòn cũng méo.

           Để giữ vững tình yêu vợ chồng, để củng cố cho gia đình vững chắc, người ta khuyên vợ chồng : “Hãy rửa tội cho tình yêu mỗi ngày và hãy cưới nhau lại mỗi buổi sáng”. Làm như thế hy vọng vợ chồng còn yêu nhau mãi, những nét dễ thương vẫn còn nối dài, vợ chồng sẽ cùng nhau xây dựng tổ ấm hạnh phúc.

                                      Truyện : Méo miệng.
          Sau khi đem vợ ra khỏi phòng cấp cứu, người chồng trẻ vội đưa nàng đến ngay thẩm mỹ viện quen biết để xin bác sĩ giải phẫu chỉnh hình cho cô.
          Sau khi khám nghiệm, bác sĩ đồng ý giải phẫu ngay lập tức. Thế là bác sĩ và y tá nhào ngay vào việc trong suốt 4 tiếng đồng hồ.
          Tai nạn xe hơi đã khiến một phần mặt cô rách nát, nhưng nhờ tài khéo léo, bác sĩ đã cứu cô khỏi sẹo. Nhưng khi chữa đến miệng thì bác sĩ đành chào thua.
          Giải phẫu xong, bác sĩ cho mời người chồng vào thăm vợ. Hai người cầm tay nhau nghẹn ngào.
          Quay sang bác sĩ, người vợ ấp úng hỏi :
          - Miệng tôi mãi mãi như thế này phải không ?
          Bác sĩ gật đầu :
          - Một sợi gân miệng của cô đã bị cắt đứt. Tôi e rằêng, miệng cô…
          Người chồng vội ngắt lời :
          - Miệng em nay trông duyên hẳn ra !
          Rồi chàng cúi xuống, hôn lên miệng vợ. Bác sĩ đứng gần đấy đã trông thấy, và ông làm chứng rằng :
          - Chàng đã cúi xuống, méo miệng, rồi âu yếm hôn nàng…cho nàng niềm xác tín bốn làn môi ấy vẫn còn hòa điệu sắt cẫm.
Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt

         
 

HônPhối 53: PHIÊU LƯU

I. SUY NIỆM LỜI CHÚA.
           Chúng ta đọc : St 12,1-12.
 

Đọc sách Sáng thế, chúng ta được biết Thiên Chúa đã chọn ông Abraham làm tổ phụ một dân HônPhối 53

Đọc sách Sáng thế, chúng ta được biết Thiên Chúa đã chọn ông Abraham làm tổ phụ một dân tộc đông như sao trời cát biển. Để được làm một tổ phụ lớn lao như thế, ông còn phải bị thử thách.  Cuộc thử thách đó là rời bỏ quê hương đến một nơi xa lạ mà Thiên Chúa sẽ chỉ cho. Rời bỏ quê hương yên lành mà đến một nơi chưa quen biết, quả là một cuộc phiêu lưu vì không biết tương lai sẽ ra sao, chỉ còn biết phó thác cho Thiên Chúa.
           Cuộc phiêu lưu ấy bắt đầu với việc Thiên Chúa kêu gọi đích danh ông Abraham. Đức Chúa phán với ông Abraham:”Hãy rời bỏ xứ sở, họ hàng và nhà cha ngươi, mà đi đến đất ta sẽ chỉ cho ngươi. Ta sẽ làm cho ngươi thành một dân lớn, sẽ chúc phúc cho ngươi”(St 12,1-2). Được lệnh lên đường, ông Abraham đã 75 tuổi tức tốc lên đường. Ông đã đem theo vợ là bà Sara, cháu là ông Lót, và mọi tài sản đã gây dựng được, cùng với gia nhân họ đã có tại Khanan. Họ ra đi đến đất Canaan.
           Như chúng ta thấy, ở bước đầu của mọi cuộc phiêu lưu đều có sự tự do, lựa chọn và đoạn tuyệt. Cuộc phiêu lưu không phải được thực hiện với sự mù quáng hoặc không hiểu biết gì. Trước tiếng gọi của Thiên Chúa, Abraham đã biết trước cuộc ra đi mang tính cách nguy hiểm, bấp bênh và mơ hồ vì không biết Canaan như thế nào, nhưng Abraham đầy lòng tin tưởng vào Thiên Chúa, cứ cất bước lên đường, còn tương lai sẽ trao phó cho Chua.
 
II. HÔN NHÂN LÀ MỘT CUỘC PHIÊU LƯU  ?
           Cuộc ra đi của Abraham đến xứ sở mới làm cho ta liên tưởng đến việc kết hôn:”Người đàn ông sẽ bỏ cha mẹ và khắn khít với vợ mình”(St 2,24).  Ra đi là chết trong lòng một ít vì đòi có sự đoạn tuyệt. Đó cũng là tiếng gọi mà tất cả chúng ta  đã nghe vào lúc hứa hôn.
           Mọi cuộc hôn nhân, ở bước đầu là sự đáp trả trước một lời mời nọc, mời mọc lao vào một cuộc phiêu lưu, chẳng còn giấu diếm gì, đi đến một xứ sở mà mình chưa biết và nơi đó, chúng ta biết chứ, mình sẽ phải băng qua hoang mạc… Đức tin là hành động nền tảng cho mọi ơn gọi vợ chồng. Đón nhận người kia từ tay Thiên Chúa đòi hỏi phải có sự tự do, sự đón tiếp và quyết tâm, nhưng cũng bao hàm một sự xâu xé, một nguy cơ. Trong hôn nhân không bao giờ có “Bảo-hiểm-cho-đời-sống”, vì không có gì để bảo đảm là nó sẽ thành công cả…
 
III. TẢN MẠN VỀ HÔN NHÂN.
           1. Phiêu lưu là gì ?
           Phiêu lưu là bị gió dập sóng dồi, là trôi dạt theo sóng gió, là lênh đênh không biết về đâu như  “phiêu lưu đất khách quê người”. Còn theo nghĩa rộng thì phiêu lưu là làm một việc nguy hiểm, không chắc thành công mà còn có hại, ví dụ : Hãy đặt kế hoạch hẳn hoi, không nên phiêu lưu như vậy.
          2. Hôn nhân và lựa chọn.
           Mỗi người phải lựa chọn cho mình một cuộc sống thích hợp. Lựa chọn đã bao hàm sự tự do, mà tự do lựa chọn là một cuộc phiêu lưu, vì không bao giờ người ta nắm chắc được tương lai như  2 với 2 là 4. Nhưng không vì thế mà người ta không dám dấn thân chọn lựa sau khi đã suy xét cẩn thận, có đủ lý do để hành động theo sự lựa chọn đó, vì phiêu lưu không đồng nghĩa cới liều lĩnh :
                                                 Một liều ba bảy cũng liều
                                         Cầm bằng con trẻ chơi diều đứt dây.

           Nếu chỉ chọn cho mình một nghề nghiệp thì sự lựa chọn đó ít nguy hiểm vì ta có thể thay đổi mà không ảnh hưởng sâu xa tới đời sống. Nhưng nếu lựa chọn cho mình một hướng đi cho cả cuộc đời thì sự lựa chọn đó càng nguy hiểm, phải dấn thân bước lên như ngày thụ phong Linh mục, ngày khấn dòng, ngày kết hôn.
           Sống là phải lựa chọn. Cuộc sống bầy ra trước mắt chúng ta nhiều con đường, nhiều lý tưởng, nhiều giá trị.  Vấn đề là ta phải lựa chọn cho đúng đường mà đi, nếu không sẽ phải hối hận suốt đời.
 
                                      Truyện : Lựa chọn sai lầm.
          Người ta kể một giai thoại về Hoàng đế Charles Quint của Đức như sau : Sau nhiều năm tận tụy hy sinh phục vụ Hoàng đế, một vị trung thần của ông ngã bệnh và đang phải chiến đấu với tử thần. Để tỏ lòng biết ơn và cảm mến đối với một con người đã suốt đời trung thành với mình, Hoàng đế đã đích thân đến bên giường của ông. Cầm tay vị trung thần, Hoàng đế nói :
          - Khanh đã hết lòng phục vụ trẫm, nay trẫm xin được đền đáp. Khanh hãy cho trẫm biết  khanh mong ước điều gì, trẫm sẽ thỏa mãn yêu cầu của khanh.
Trong hơi thở đứt quãng, vị trung thần tâu :
          - Thần ước ao được nhận  từ tay bệ hạ một ân huệ.
          Đôi mắt Hoàng đế như sáng lên. Ôâng hỏi nhanh :
          - Khanh cứ nói, ân huệ gì trẫm cũng ban cho khanh.
          Người hấp hối nói một cách chua xót :
          - Xin bệ hạ ban cho thần được sống thêm một ngày, chỉ một ngày mà thôi.
          Nghe xong lời cầu khẩn của vị trung thần, Hoàng đế lắc đầu nói :
- Trẫm đã được xem là quân vương quyền thế nhất trên thế gian này, nhưng điều khanh xin hoàn toàn nằm ngoài tầm tay của trẫm. Sự sống thì chỉ có Thiên Chúa mới có thể ban mà thôi.
          Trong tiếng thở dài, vị trung thần mới thốt lên :
- Thật là vô ích cho tôi, vì tôi đã điên rồ đến độ không biết dành nhiều thời gian hơn để phục vụ Chúa mà lại hoang phí thời giờ để phục vụ các vua chúa trần gian. Tôi đã không biết chọn lựa cho đúng, tôi đã lựa chọn sai lầm.
 
          3. Lựa chọn là một mối lo.
           Hôn nhân là một việc quan trọng  vì nó là một khúc quặt có liên hệ đến cả cuộc đời, ai mà không lo ? Trong xã hội nông nghiệp của ta ngày xưa, người ta cũng nói lên mối lo đó :
                                       Tậu trâu, cưới vợ, làm nhà,
                                   Trong ba việc ấy thật là khó thay.


          a) Cha mẹ lo :
           Mỗi khi liệu cho con cái đi lấy vợ lấy chồng, người ta thường dùng từ “LO” thay cho từ “cưới”, ví dụ : cuối năm nay tôi sẽ “lo” cho cháu.
 
          Lấy vợ lấy chồng là truyện vui vẻ hỉ hoan, tại sao lại gọi là LO ? Gọi là lo vì trong việc cưới xin có đủ mọi thứ phải lo như ta đã có kinh nghiệm để tránh được cảnh “ma chê cưới trách”. Người ta nói :
                                       Thật là lo bảy lo ba,
                             Lo cau đều quả, lo trà đậm hương.
                                       Cưới về lo tủ, lo giường,
                             Tết lo đỗ đường để gói bánh chưng.

 
          b) Cô gái lo.
           Người con gái bị thua thiệt, phải lệ thuộc vào đàn ông, mình không có quyền quyết định nên lo lắng cho tương lai :
                                       Lênh đênh một chiếc thuyền tình
                                Mười hai bến nước biết gửi mình về đâu ?

           Nếu gặp được người chồng tốt thì được nhờ, bằng không thì đành chịu cho số phận dun dủi, chỉ biết thở than trong lo âu :
                                      Thân em như giếng giữa đàng,
                                Người khôn rửa mặt, người quàng rửa chân.


 
  1.   Hai người cùng lo.
           Hôn nhân là một cuộc lựa chọn gay gắt, mà lựa chọn là dấn thân. Dấn thân hay nhập cuộc là thân phận của con người. . Dấn thân không có nghĩa là liều lĩnh, không biết suy tư, tính toán , trái lại phải tìm hiểu, đắn đo, suy nghĩ, bàn hỏi với những người khôn ngoan đầy kinh nghiệm để can đảm bước vào cuộc sống hôn nhân.
 
          4. Hôn nhân và thề hứa.
           Khi thề hứa không ai có thể hoàn toàn nắm chắc tương lai của mình, bởi vì hoành cảnh, tính tình, tình cảm có thể thay đổi. Vậy có nên thề hứa chăng , nhất là phải thề hứa thương yêu nhau và trung thành với nhau suốt đời ?  Hay thề hứa và thêm vào đó một hoặc những điều kiện ? Chẳng hạn : “Anh sẽ yêu em mãi mãi nếu…”
           Nhưng chúng ta thường biết trong đời sống không như vậy. Ta luôn luôn hứa, từ những việc nhỏ đến những chuyện quan hệ, lớn lao. Không thể có đời sống xã hội nếu luôn luôn hứa hẹn với điều kiện. Đối với những người yêu mến nhau thì thề hứa là chuyện hết sứ hiển nhiên…
                   (Cf Nguyễn hồng Giáo, báo Nhà Chúa, 1971)
           Giờ đây trước mặt cộng đoàn giáo xứ và hai họ, hai người hãy thề hứa một cách dứt khoát nhận nhau làm vợ làm chồng và hứa yêu thương và trung thành với nhau mãi mãi suốt đời. Lời hứa ấy phải vô điều kiện. Đi kèm theo với lời hứa ấy là trao cho nhau chiếc nhẫn kỷ niệm : nói lên tình yêu và lòng chung thủy. Nếu để hai chiếc nhẫn kề nhau thì nó sẽ giống hình cái còng số 8 nối kết hai người lại với nhau một cách vĩnh viễn.
 
5. Hôn nhân và tử đạo.
           Phụng vụ Chính thống giáo tuyệt vời của bí tích hôn phối nói lên điều đó qua nghi thức đội “mũ miện”.  Mỗi người (chồng và vợ) nhận một vương miện. Mũ miện trong Giáo hội Chính thống là dấu chỉ của sự vinh quang, vương quyền của Thần Khí và cũng là dấu chỉ của việc tử đạo luôn đi kèm. Khi người nam và người nữ được kiên kết với nhau qua bí tích  Linh mục ban cho họ, nghi thức này đến nhắc nhở họ rằng mỗi người phục vụ sự thánh thiện của người kia, và đòi họ phải dâng hiến, tự trao ban.
           Linh mục đọc trong khi đặt mũ miện lên đầu người chồng sắp cưới :”Tôi tớ của Thiên Chúa ông X nhận nữ tì của Thiên Chúa Y làm mũ miện, nhân danh Cha và Con và Thánh Thần”. Linh mục lại đọc trong khi đội mũ miện lên đầu người vợ sắp cưới :”Nữ tì của Thiên Chúa Y, nhận tôi tớ X của Thiên Chúa nhân danh Cha và Con và Thánh Thần”. Mỗi người nhận mũ miện nhân danh người kia, với ý nghĩa là mỗi người sẽ là triều thiên tử đạo cho người kia và không được tách sự đau khổ với vinh quang.
           Sau đó đôi vợ chồng đầu đội mũ miện theo sau Linh mục, đi vòng quanh sách Tin mừng ba  lần để chỉ là từ nay cuộc sống chung của họ sẽ đặt Đức Kitô và Tin mừng của Ngài làm trung tâm. Đôi tân hôn uống cùng một chén của cuộc sống chung, và cộng doàn hát :”Oâi ! Lạy các thánh tử đạo, những vị đã chiến đấu anh dũng mà nay đã được đội mũ triều thiên trên trời, xin cầu Thiên Chúa đến cứu linh hồn chúng tôi”.
           Đôi vợ chồng bây giờ đã trở thành một “Giáo hội vi mô theo lời của thánh Gioan Kim khẩu, được dành riêng để biểu lộ – cũng như Thánh Thể – “mối tình lớn” của Thiên Chúa cứu nhân độ thế
                   (Georgette Blaquìere, Dám sống tình yêu, tr 94-95)
 
          KẾT LUẬN
           Mẹ Maria đã làm một cuộc phiêu lưu (Lc 1,26-38) khi thưa câu “Xin vâng”. Nghe đơn giản nhưng cả là một cuộc mạo hiểm táo bạo, một cuộc phiêu lưu đúng nghĩa. Phiêu lưu ở chỗ nào ?
          - Giải thích thế nào cái bào thai trong bụng ? Không khéo sẽ bị ném đá.
          - Phiêu lưu vì tương lai mịt mờ vô định : Gái đồng trinh – chưa ăn ở với đàn ông mà lại sinh con  - Đứa con ấy lại là Con Đấng Tối Cao ? Cứ như chuyện cổ tích!
          Thế mà Mẹ Maria đã dám  “Xin vâng” và dấn bước trong tin tưởng phó thác.
          Hãy theo gương Đức Mẹ mà tiến lên.
Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt

         
 

HônPhối 54: HÒA HỢP

I. SUY NIỆM LỜI CHÚA.
           Chúng ta đọc : Mt 28,16-19.
 

Qua đoạn Tin mừng chúng ta vừa nghe, thánh Matthêu ghi lại cho chúng ta việc Đức Giêsu, sau HônPhối 54

Qua đoạn Tin mừng chúng ta vừa nghe, thánh Matthêu ghi lại cho chúng ta việc Đức Giêsu, sau khi sống lại, đã hiện ra với mười một Tông đồ ở nơi đã được chỉ định trước, để trao sứ mạng Tin mừng và rửa tội cho muôn dân nhân danh Ba Ngôi Thiên Chúa.
           Chúa Giêsu nói với các ông:”Mọi quyền năng trên trời dưới đất đã được ban cho Thầy”. Đây là nền tảng cho việc rao giảng mà các ông lãnh nhận. Các Tông đồ không làm những việc tầm thường, nhưng thi hành một công việc phát xuất từ quyền năng Chúa Kitô. Câu này cũng có giá trị  tương đương với câu Chúa Giêsu đã nói  khi Ngài hiện ra ở nhà Tiệc ly:”Cũng như Cha Thầy đã sai Thầy, Thầy cũng sai các con”(Ga 20,21).
           Thi hành sứ mạng Chúa trao, các Tông đồ đi rao giảng Tin mừng, tức là thâu tập các môn đệ từ muôn dân. Dạy dỗ cho họ những điều cần thiết và rửa tội cho họ “Nhân danh Cha, và Con và Thánh Thần”. Rửa tội nhân danh Ba ngôi Thiên Chúa có nghĩa là được thánh hiến để thuộc trọn về Ba Ngôi. Vì vậy việc Chúa Giêsu truyền làm phép rửa tội là điều kiện cần thiết để nên môn đệ của Chúa Kitô.
          Mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi là một mầu nhiệm lớn nhất trong đạo, cho đến muôn đời không ai có thể hiểu được. Chúng ta chỉ biết cúi đầu tỏ lòng cung kính và tỏ lòng yêu mến Chúa Ba Ngôi trong cuộc sống người Kitô hữu.
           Khi nói đến mầu nhiệm Ba Ngôi Thiên Chúa, chúng ta liên tưởng đến đời sống cộng đồng. Thiên Chúa Ba Ngôi là một cộng đồng nguyên thủy hòa hơp yêu thương. Thiên Chúa Cha yêu thương đã sinh ra Chúa Con, và trong tình yêu thương của Chúa Cha và Chúa Con đã làm phát sinh ra Chúa Thánh Thần. Ba Ngôi cộng tác với nhau mật thiết : Chúa Cha dựng nên trời đất vạn vật, Chúa Con xuống thế làm người chịu chết chuộc tội cho thiên hạ, Chúa Thánh Thần thánh hóa Giáo hội và các tín hữu (Kinh Tin kính). Cả Ba Ngôi cùng sinh hoạt để yêu thương và giúp đỡ con người.
 Cộng đồng Ba Ngôi nguyên thủy phải là kiểu mẫu cho cộng đồng Kitô hữu đầu tiên. Sách Công vụ tông đồ còn ghi lại cảnh sống hòa hợp yêu thương của họ khiến cho dân ngoại ngạc nhiên và thèm muốn. Mọi người sống trong yêu thương đùm bọc lẫn nhau, thông cảm với nhau, chia vui sẻ buồn với nhau. Có người bán cả gia tài của mình đem dâng cho các Tông đồ để cùng chia sẻ cho người nghèo khó để không ai bị túng đói. Sống trong cảnh đó mọi người phải ca tụng :
  Xinh thay là cảnh anh em,
           Cùng nhau vui sống dịu êm một nhà.
                                                 (Tv 132,1)

           Gia đình cũng là cộng đồng căn bản và phải mô phỏng mô hình cộng đồng nguyên thủy của Chúa Ba Ngôi. Công đồng Vatican 2 xác định”Gia đình là nền tảng của xã hội(MV). Gia đình là các nhân tố cấu thành xã hội. Nếu mỗi gia đình biết sống hòa hợp với nhau thì xã hội sẽ có sự hài hòa êm thắm, không bị xáo trộn bới những xung khắc trái ngược.
 
II. NÓI VỀ SỰ HÒA HỢP.
           1. Hòa hợp là gì ?
           Theo tự điển Đào duy Anh thì “Hòa hợp là cùng hòa thuận không cạnh tranh xung đột”. Hay chúng ta cũng có thể nói: hòa hợp là biến các yếu tố khác biệt thành một cái gì dung hợp nhau, không còn sự dị biệt đối kháng.
           Ta có thể đưa ra một ví dụ cụ thể : trong một ly nước chanh đường, ta có chanh chua, đường ngọt. Theo nguyên tắc thì chua và ngọt là hai chất đối kháng nhau, nhưng nếu cho cả hai chất hòa lại với nhau thì lại thành một ly nước chanh ngon, bổ dưỡng và giải khát. Nếu ta cho thêm vào một cục nước đá, một chút muối cho đậm đà, một chút dầu chuối cho thơm thì sẽ trở thành một ly nước chanh tuyệt vời. Nghe đến cũng phải chảy nước miếng.
 
          2. Hòa hợp và hợp nhau.
           Theo nhà tâm lý học Nguyễn đình Xuân, ta cần phân biệt “hợp nhau” với “hòa hợp nhau” Đó là hai khái niệm riêng biệt. Hợp nhau là thích nhau (ví dụ : người hiền lành thì thích và hợp với người hiền lành). Trong khi đó “hòa hợp nhau” là chấp nhận nhau để hòa nhập với nhau, bù trừ cho nhau, nên có thể người hiền lành lại chấp nhận cưới một người có tính nóng nảy. Hai người sống với nhau ít khi nổi xung, bởi vì người hay nóng luôn luôn được tính hiền lành của người kia làm nguội đi các cơn thịnh nộ vô lý…
          (Nguễn đình Xuân, Tâm lý học Tình yêu gia đình, 1993, tr 112)
 
          3. Hòa hợp và hy sinh.
           Muốn có sự hòa hợp thì cần phải có sự từ bỏ. Đã muốn hòa hợp thì không có tranh chấp thắng bại, bên thắng bên thua, mà phải cố gắng đi đến chỗ dung hòa. Từ bỏ thì phải nhịn nhục, mà nhịn nhục cũng là một hy sinh lớn. Có hy sinh mới có sự hòa hợp.
 
                                      Truyện : Ngọc trai.
          Chúng ta có biết con ngọc trai không ? Ngọc trai đã phải chịu đựng đau đớn biết bao nhiêu  khi có những hạt cát rơi vào. Nhưng rồi mặc cho nỗi đau dầy vò, ngọc trai vẫn can trường bọc lấy những hạt cát để từng ngày tạo nên những viện ngọc tuyệt với.
          Ngọc trai là loài động vật có hai mảnh vỏ. Một đôi vợ chồng cũng như con ngọc trai vậy. Người vợ và người chồng như hai mảnh vỏ ngọc trai gắn kết với nhau để rồi một ngày tạo ra một viên ngọc trai quí.
          Khi có vật lạ rơi vào bên trong, nếu hai mảnh vỏ trai chỉ làm điều đơn giản là đẩy nó ra bên ngoài, hoặc tách rời ra và không phối hợp với nhau sẽ không bao giờ có những viên ngọc trai quí báu.
          Đầu tiên, chúng phải biết chấp nhận những điều khó chịu như những hạt cát, và rồi tận dụng những hạt cát đó để tạo ra một cái gì đó tuyệt vời hơn.
          Cuộc sống hôn nhân cũng thế.
          Muốn có sự hòa hợp cũng cần có thử thách. Phải qua thử thách mới có sự thành công vì không ai có thể chỉ “ngồi mát ăn bát vàng” được. Thành công phải được mua bằng gian khổ.
 
          Thiên Chúa quan phòng dường như qui định rằng : tình yêu vợ chồng đích thực chỉ có thể được khám phá và lớn lên qua những thử thách và khó khăn trong cuộc sống.       
           Chúng ta có thể so sánh tình yêu vợ chồng với cây nho : càng đâm rễ sâu trong vùng đất có nhiều sỏi đá, cây nho càng sản xuất rượu ngon. Chúng ta cũng có thể so sánh tình yêu vợ chồng với một thân cây mà rễ nó đâm sâu dưới đất đá thì tình yêu đó sẽ đứng vững trước sóng gió không làm nó bị bật gốc.
 
          4. Hòa hợp và hòa giải.
           Trong Tám mối phúc thật, Chúa Giêsu phán:”Phúc cho ai có tinh thần hiếu hòa, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa” (Mt 5,9). Người hiếu hòa là người không ưa chiến tranh, và sở dĩ có chiến tranh là vì có tranh chấp. Nếu không giải quyết được tranh chấp thì chiến tranh sẽ xẩy ra. Trong một cộng đoàn không bao giờ thiếu vắng những tranh chấp vì “bá nhân bá tính”, ai cũng muốn làm theo ý mình chỉ vì tính tự ái. Muốn giải quyết được tranh chấp cần có sự hòa giải. Hòa giải là giải quyết sự việc theo cách hòa bình. Giải quyết vấn đề khó khăn để hai bên được hòa thuận, không còn xung khắc nữa.
           Trong đời sống gia đình, gia đình không thể nào tránh được xung khắc, mâu thuẫn. Chính vì thế mới có sự tranh chấp. Vợ chồng phải vượt qua sự tranh chấp để đi đến Hòa thuận. Người ta thường nói :”Thuận vợ thuận chồng tát bể Đông cũng cạn”. Mọi việc lớn việc nhỏ, việc gì rồi cũng qua và gia đình hòa thuận sẽ đem lại hạnh phúc.
 
                                       Truyện : Vợ chồng hòa giải.
          Ngày xưa người Roma xem định chế hôn nhân là điều quan trọng cho sinh hoạt chính trị, xã hội. Do đó, họ rất quan tâm đến việc bảo toàn gia đình.
          Khi hai vợ chồng bất hòa và như vậy có thể gây nguy hại cho đời sống gia đình, người ta khuyên họ đến trình giện Nữ thần Hòa giải. Nghi thức diễn ra trước nữ thần rất đơn giản : mỗi người có thể trình bầy lý lẽ, phơi bầy những bất công mà mình phải gánh chịu trong đời sống gia đình.
          Nghi thức đòi hỏi hai người không được nói một lúc, hễ ai ngắt lời người kia hoặc cả hai đều nói một lúc thì điều đó được coi như một phạm thánh.
          Nghi thức này có thể mang lại những kết quả phi thường : sau khi trình bầy lý lẽ, rủa xả thậm tệ người phối ngẫu, bác bỏ mọi lời buộc tội, hai vợ chồng thường làm hòa với nhau trước mặt vị thần.
          Những người thời xưa đã có kinh nghiệm nhiều về đời sống gia đình. Hạnh phúc không phải tự nhiên mà có. Không ai có thể đem hạnh phúc đến cho chúng ta. Mỗi người phải tạo ra hạnh phúc, vì thế, hạnh phúc phải được vợ chồng trả bằng giá đắt :
                     Vợ chồng là nghĩa tào khang,
          Chồng HÒA vợ THUẬN nhà thường yên vui,
                 Sinh con mới ra thân người
          Làm ăn thịnh vượng đời đời ấm no.

 Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt


 

HônPhối 55: CHIẾN TRANH

I. SUY NIỆM LỜI CHÚA.
           Chúng ta đọc : Mt 5,1-12a.
 

Trong bài Tin mừng chúng ta vừa nghe, thánh Matthêu ghi lại phần đầu bài giảng trên núi của HônPhối 55

Trong bài Tin mừng chúng ta vừa nghe, thánh Matthêu ghi lại phần đầu bài giảng trên núi của Đức Giêsu nói về những mối phúc thật như là một Hiến chương Nước Trời. Khi Đức Giêsu đi rao giảng Tin mừng thì có đông đảo dân chúng từ khắp nơi tuốn đến nghe Ngài giảng. Thánh Matthêu dùng từ “đông đảo” có ý nói lên tính cách phổ quát của sứ điệp  và giáo huấn của Đức Kitô, đồng thời cũng ghi lại hình ảnh toàn dân tập hợp lại lúc ban lề luật trên núi Sinai, và như vậy“đoàn lũ đông đảo” ở đây là hình ảnh dân mới của Đức Giêsu tuyển chọn tức là Giáo hội.
 
          Đức Giêsu lên núi, ngồi xuống giảng dạy cho dân theo kiểu các bậc thầy. Thánh Matthêu lại dùng từ “núi” nói lên mức quan trọng của bài diễn văn này. Đức Giêsu nói với tính cách như một người có quyền, vì Ngài là Tiên Chúa, và đồng thời cũng nhắc lại việc ban lề luật trên núi Sinai (Xh 24,9). Chúng ta có thể gọi bài diễn từ này là “Hiến chương Nước Trời”.
 
          Bản Hiến chương này gồm có 9 mối phúc, nhưng thánh Matthêu qui vào 8 mối phúc vì cái phúc cuối cùng chỉ diễn giải và áp dụng mối phúc thứ 8. Trong tám mối phúc này, hôm nay chúng ta chỉ nói tới mối phúc thứ 7 là xây dựng hòa bình:”Phúc cho ai xây dựng hòa bình, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa”(Mt 5,9).
           Đây là một đức tính có tính cách xã hội, vì thế nó không chỉ nhằm tới thái độ nội tâm như các mối phúc khác, song là một hành vi bên ngoài.  Làm một con người hiền hòa, yêu mến, thuận hòa bất cứ nơi nào có bất hòa ngự trị (x. Mt 5,23-24). Lời hứa được gọi là con Thiên Chúa có nghĩa là trở thành con Thiên Chúa, vì Thiên Chúa là Chúa hòa bình (2Cr 13,11). Do đó mà ai gây bất hòa, gây chia rẽ là gây chiến tranh, và ai gây ra chiến tranh thì không đáng được gọi là con Thiên Chúa, không được hưởng mối phúc mà Chúa ban cho kẻ hiếu hòa. Trong bài này, chúng ta sẽ đề cập tới một vấn đề đang nóng bỏng, đó là CHIẾN TRANH VÀ HÒA BÌNH.
 
II. CHIẾN TRANH TRÊN THẾ GIỚI.
           1. Thống kê.
           Theo sự khám phá của một sử gia thì trong khoảng 5700 năm (tức từ năm 3600 trước TC đến năm 1970) thế giới chỉ hưởng thái bình có 292 năm, còn lại 5278 năm phải chịu 14.531 cuộc chiến lớn nhỏ, sát hại 3,5 tỉ người. Riêng thế chiến thứ hai giết hại 60 triệu ngườ, không kể nhưng người bị thương, những người mất nhà mất của. Như vậy chiến tranh hoặc lớn hoặc nhỏ không khi nào ngưng xẩy ra trên thế giới.

           2. Các loại hình chiến tranh.
           a) Trận địa chiến và du kích chiến.
          * Trận địa chiến là chiến tranh qui mô ký kết giữa hai phe, có chuẩn bị cho cuộc chiến, bên nào mạnh thì thắng do võ khí tối tân và tài chỉ huy, như trận Waterloo do Napoléon chỉ huy.
           * Du kích chiến là thứ chiến tranh không qui mô, không qui ước, luôn đánh lừa hoặc lợi dụng yếu tố sơ hở hoặc bất ngờ để diệt đối phương. Thứ chiến tranh này thường dùng cho kẻ yếu. Tuy thế, thứ chiến tranh du kích này rất khó tiêu diệt.
           b) Chiến tranh nóng và chiến tranh lạnh.
           * Chiến tranh nóng là thứ chiến tranh được thực hiện giữa hai bên đối đầu bằng võ khí. Thứ chiến tranh này thực sự gây tại hại về người và của. Thứ chiến tranh này thường chỉ kéo dài một thời gian khi một bên thua một bên thắng hay hai bên ký hòa ước ngưng chiến thì chiến tranh mới chấm dứt.
           * Chiến tranh lạnh là thứ chiến tranh không dùng đến võ khí mà dùng đến đòn cân não. Hai bên luôn căng thẳng với nhau, âm thầm chuẩn bị chiến tranh. Người ta phập phồng lo sợ không biết khi nào chiến tranh xẩy ra.
           c) Chiến tranh khủng bố.
 
          Đúng ra, đây không phải là chiến tranh như chúng ta thường hiểu, nhưng trong thực tế, khủng bố làm cho nhiều người chết như trong chiến tránh nóng và làm cho người ta nơm nớp lo sợ, không bao giờ được yên ổn, vì cái chết có thể ập tới bất cứ lúc nào, bất cứ ở đâu. Người ta dự đoán rằng sẽ không có chiến tranh nguyên tử giữa các quốc gia, nhưng sẽ có khủng bố khắp nơi mà hậu quả của nó cũng tàn khốc, không khác gì chiến tranh thông thường.
 
III. CHIẾN TRANH TRONG GIA ĐÌNH.
 
          Thử hỏi : Ngoài xã hội đã có nhiều cuộc chiến tranh, còn trong gia đình có chiến tranh không ? Điều đó không ai chối cãi được, không gia đình nào có thể tránh được chiến tranh không lớn thì nhỏ, tuy không dùng đến võ khí.
 
          1. Lý do chiến tranh.
 
          Trong đời sống vợ chồng, có rất nhiều mối bất hòa có thể đi đến chỗ xung đột, gây mất hạnh phúc. Những mối bất hòa ấy do nhiều nguyên nhân như vấn đề kinh tế tài chính, vấn đề xã hội và vấn đề tâm lý nam nữ khác nhau. Nhưng nếu để ý kỹ đến trạng thái của sự bất hòa xung đột giữa vợ chồng, chúng ta thấy có hai loại bất hòa khác nhau :
                   - Bất hòa bùng nổ.
                   - Bất hòa ngấm ngầm.
 
          a) Bất hòa bùng nổ.
 
          Thường thì những cuộc bất hòa bùng nổ do nguyên nhân tài chính hoặc những sai phạm rõ rệt của vợ hoặc chồng như cờ bạc, lăng nhăng. Bản chất của loại này thường sôi động. Aàm ĩ, khó kìm hãm được như vợ chồng chửi nhau ỏm tỏi, đập phá hoặc dùng đến võ khí “thượng cẳng tay, hạ cẳng chân”,  Tuy sôi nổi như thế, nếu giải quyết xong, hoặc qua cơn sóng gió thì trời lại yên, gia đình lại trở về mức bình thường.
 
          b) Bất hòa ngấm ngầm.
 
          Loại bất hòa này mang bản chất nhẹ nhàng, sâu kín hơn, âm thầm hơn và có khi lại gây đau khổ trường kỳ cho vợ chồng mà một trong những nguyên nhân chính đó là sự khác biệt nhau về tâm lý mà vợ chồng chưa tìm hiểu được nhau, hoặc biết mà không thông cảm. Đây là trường hợp mà công nương Diana và thái tử Charles nước Anh đã mắc phải.
 
          Nói về những định luật khác biệt giữa nam và nữ, chúng ta thấy có  5 định luật về sự khác biệt ấy, ở đây chúng ta chỉ nói tới định luật phân cách. Theo định luật phân cách :
                   Nơi người nam : trái tim có nhiều ngăn
                   Nơi người nữ : trái tim chỉ có một ngăn.
 
          Đối với người nam, trái tim có 4 ngăn :
                   . Ngăn 1 : dành cho chị và các con, anh rất yêu chị.
                   . Ngăn 2 : dành cho công việc. Đôi khi anh say mê công việc mà không lo cho vợ con.
                   . Ngăn 3 : dành cho lý tưởng. Anh thích tham gia chính trị, xã hội, đoàn thể…
                   . Ngăn 4 : dành cho giải trí.
          Đôi khi các ngăn này như biệt lập với nhau, khiến chị không hiểu anh nổi.
 
          Ai không ước mong được làm thái tử Charles và công chúa Diana của nước Anh ? Họ phải sống hạnh phúc lắm chứ ? Không ! Họ đã ly dị, gây scandal lớn cho nước Anh.
          Tại sao họ ly dị ? Vì Charles quá đam mê trong những trò chơi thể thao và mối quan tâm về môi sinh đến độ quên đi những chiều chuộng, săn sóc công chúa Diana đang chờ đợi nơi ông.
          Nhưng thiết tưởng người ta cũng cần hiểu biết rằng thái tử Charles muốn thể hiện nhân cách của ông qua những hoạt động ấy. Oâng muốn cho mọi người thấy mình là người đàn ông dũng mạnh và là con người biết lo cho đại sự. Hẳn hơn ai hết ông cũng mong được người vợ chia sẻ những sở thích và thể thao của ông.
 
          2. Các loại chiến tranh.
 
          a) Chiến tranh nóng
 
Khi vợ chồng bất hòa với nhau đến độ bùng nổ trong lời chửi rủa, đập phá, đánh đập. Có khi đuổi nhau cả ngoài đường, mọi người đều hay biết. Thứ chiến tranh này ít khi xẩy ra.
 
          b) Chiến tranh lạnh
 
Đây là một thứ chiến tranh thường xẩy ra trong các gia đình ngay trong các gia đình được coi là hạnh phúc. Làm sao có thể thấy được  một gia đình mà vợ chồng hoàn toàn đồng ý với nhau về mọi vấn đề trong cuộc sống ? Nếu có khác nhau, ắt có va chạm, nếu có va chạm, ắt có chiến tranh. Nhiều khi vợ chồng tức bực làm vẻ lạnh nhạt với nhau, không thèm chào hỏi, không thèm nói chuyện, bầu khí gia đình trở nên tẻ nhạt và buồn thảm. Tình trạng này kéo dài thì có thể biến gia đình thành một bãi tha ma cô tịch.
IV. KÝ HIỆP ƯỚC HÒA BÌNH.
 
          Muốn kết thúc chiến tranh, thì một bên thắng, một bên thua hoặc ký kết một hòa ước với nhau. Như thế chẳng ai thắng, chẳng ai thua.Trong gia đình cũng thế, muốn được trên thuận dưới hòa hãy giải hòa giữa hai vợ chồng, phải từ bỏ tính tự ái, tính vị kỷ để chỉ nghĩ đến hạnh phúc chung là gia đình. Vợ chồng phải ý thức rằng chẳng ai là người hoàn thiện, ai cũng còn lầm lỗi hay thiếu sót và phải công nhận lời thiên hạ nói:”Tại anh, tại ả, tại cả hai bên”.
 
                                       Truyện : Cái bánh và chiếc lá khô.
          Người Ấn độ có câu chuyện ngụ ngôn như sau : một hôm cái bánh ướt và chiếc là khô  rủ nhau hành hương đi thánh địa Benares. Biết rằng gió và mưa là những kẻ thù có thể làm hại mình, chúng đã cẩn thận vạch ra một chương trình hành động để tự vệ : khi gặp gió thổi đến thì cái bánh ướt sẽ che cho chiếc lá khô khỏi bị bay; còn khi gặp mưa thì chiếc lá khô sẽ che cho cái bánh ướt khỏi bị nhão. Kế hoạch tiến hành thành công. Nhưng một hôm trời vừa gió lại vừa mưa, không đứa nào che cho đứa nào nữa. Chiếc là bị gió thổi đi mất, còn cái bánh bị mưa làm tan rã.
 
          Nếu trong gia đình vợ chồng người nào cũng khăng khăng giữ phần thắng về mình, chỉ lo cho cá nhân mình, chỉ biết tìm hạnh phúc cho riêng mình thì gia đình sẽ tan rã. Hãy lo bảo vệ nhau, lo cho hạnh phúc của nhau, bỏ đi tất cả những gì làm cho gia đình trở nên lỏng lẻo, thì gia đình sẽ bền chặt và hạnh phúc.  Hãy nhớ lại lời khuyên của thánh Phêrô:
 
“Tất cả anh chị em hãy đồng tâm nhất trí, thông cảm với nhau, hãy yêu thương nhau như anh em, hãy ăn ở nhân hậu và khiêm tốn. Đừng lấy ác báo ác, đừng lấy lời nguyền rủa để đáp lại lời nguyền rủa, nhưng trái lại, hãy chúc phúc, vì anh chị em được Thiên Chúa kêu gọi chính là để thừa hưởng lời chúc phúc”(1Pr 3,8-9).
 
                                                Lm Giuse Đinh lập Liễm
                                                                   Giáo xứ Kim phát
                                                                   Đà lạt

 

HônPhối 56: CĂNG BUỒM

I. SUY NIỆM LỜI CHÚA.
                   Chúng ta đọc : Mc 4,35-41.
 

Chúng ta vừa được nghe đoạn Tin mừng thuật lại việc Chúa Giêsu dẹp yên sóng gió trên biển cả HônPhối 56

Chúng ta vừa được nghe đoạn Tin mừng thuật lại việc Chúa Giêsu dẹp yên sóng gió trên biển cả theo lời cầu cứu của các môn đệ Ngài. Chúa Giêsu để cho sóng gió xẩy ra để thử thách niềm tin của các môn đệ, và trình bầy sứ vụ cứu thế của Ngài, đồng thời cũng là dịp củng cố niềm tin cho các môn đệ Ngài.
           Biển, theo quan niệm người Do thái, là nơi hỗn mang. Từø đó phát xuất những sức mạnh đối nghịch với Thiên Chúa và con người. Việc Chúa dẹp yên sóng gió trên biển tỏ bầy quyền năng của Chúa trên sự dữ. Trên biển trần gian này, không thiếu gì nhữmg sóng gió của gian nan thử thách làm cho con người phải chao đảo, nhưng tất cả những sự dữ đó không thể vượt quá quyền năng của Thiên Chúa.
           Việc Chúa Giêsu nằm ngủ gợi đến sự vắng bóng của Chúa. Chúa nằm ngủ trên thuyền là hình bóng Hội thánh tại thế : vẫn có Chúa hiện diện nhưng bề ngoài chúng ta không cảm thấy. Sự hiện diện của Chúa nơi Hội thánh chỉ có thể nhìn thấy qua các biến cố và qua con mắt đức tin. Cuộc đời của từng người chúng ta đôi lúc như thiếu vắng Chúa, nhất là tnhững cơn gian nan thử thách. Chúng ta có cảm giác như mình bị bỏ rơi và muốn thưa với Ngài:”Lạy Chúa, Chúa ở đâu”? Nhưng Chúa chỉ trả lời trong ơn thánh và đức tin :”Ta vẫn ở bên con. đừng sợ”.
           Việc Chúa truyền cho sóng gió phải yên lặng gợi lên cho chúng ta ý tưởng rằng Chúa là Đấng toàn năng trên mọi tạo vật. Mọi loài, mọi vật phải vâng phục Ngài. Mỗi khi gặp gian nan thử thách, chúng ta hãy kêu cầu Chúa, Ngài sẽ đến giúp như xưa Chúa đã đáp lời kêu cứu của các môn đệ mà truyền cho sóng gió phải yên lặng. Có Chúa trong đời ta còn sợ gì ?
 
                                      Truyện : Thi sĩ Lord Tennyson.
          Thi sĩ Lord Tennyson và một người bạn đang đi dạo trong vườn hoa và cùng nhau trao đổi về những chủ đề thời thượng của quần chúng. Là một Kitô hữu, người bạn muốn biết thái độ của thi sĩ đối với Đức Kitô. Sau mấy giây thinh lặng, người bạn hỏi:”Anh có khi nào nghĩ về Đức Kitô không”? Tennyson đưa tay ngắt một bông hoa rực rỡ tỏa hương bên đường, nói:”Như mặt trời đối với đóa hoa thế nào, thì Đức Kitô đối với tôi cũng vậy”(Góp nhặt).
 
II. CÁNH BUỒM TRƯỚC GIÓ.
                   1. Tức cảnh sinh tình.
           Trong Thánh lễ buổi sáng, tôi đã được chia sẻ bài Tin mừng này, trở về nhà, tình cờ tôi được xem một tấm ảnh chụp mầu một còn thuyền đang lướt sóng trên biển cả vào một buổi chiều với một cánh buồm căng gió. Đó là bức ảnh nghệ thuật tuyệt đẹp, muốn xem mãi.
           Sau này có dịp ra Vũng tầu, tôi cũng có dịp xem tận mắt một cánh buồm lướt sóng trên biển cũng vào một buổi chiều tà. Cảnh vật này này làm tôi nhớ đến bài hợp xuớng “ Rakhơi” của nhạc sĩ Hải Linh mà tôi đã có dịp điều khiển dàn hợp xuớng Thông reo, vừa ngâm nga, vừa xem cảnh, thật là thú vị.
           Ngày nay, khoa học tiến bộ hơn, đời sống giầu có hơn nên người ta thường dùng máy nổ chứ không dùng cánh buồm nữa. Tuy thế, ngày nay người ta vẫn còn tổ chức đua thuyền buồm, một cuộc thi rất đẹp mắt. Ngoài ra, môn thể thao lướt ván vẫn còn cần đến cánh buồm.
           2. Một mối liên tưởng.
           Đúng là “Tức cảnh sinh tình”. Đứng trước một cảnh vật tuyệt đẹp, người nghệ sĩ không thể nào ngăn được những cảm hứng gợi lên trong tâm hồn, tôi đã sáng tác bài “Cánh buồm trước gió”. Và cũng trong dịp đó, tôi lại phải chứng kiến cảnh một gia đình tan vỡ, chồng một nơi, vợ một nẻo, con cái bơ vơ không có chỗ nương tựa.
           Trước cảnh cánh buồn căng gió và một gia đình tan vỡ, tôi tự nhiên nảy ra một vài tư tưởng mà tôi muốn trình bầy ra dưới đây :
           * Gia đình là chiếc thuyền .
          Tôi coi gia đình là chiếc rhuyền lênh đênh trên biển đời với một chiếc buồm căng gió đang ra khơi. Thuyền chỉ có thể lướt trên mặt nước nhờ cánh buồm, nhưng cánh buồm chỉ có tác dụng khi có gió thổi.
           * Cánh buồm là sự cố gắng.
          Tôi coi cánh buồm là sự cố gắng không ngừng của vợ chồng. Sự cố gắng của vợ chồng phải đồng đều. Thiếu cố gắng là không có cánh buồm hay buồm bị gẫy. Buồm phải luôn vươn lên đón gió, tức là vợ chồng vừa cố gắng, vừa đón nhật sự trợ giúp của Chúa.
           * Gió là ơn Chúa trợ giúp.
          Thánh Phaolô khi bị cám dỗ quá sức đã cầu khẩn Chúa trợ giúp, Chúa đã trả lời :”Ơn Ta đã đủ cho con”. Ơn Chúa ban cho chúng ta khi nào cũng đầy đủ, tùy theo công việc và tùy theo hoàn cảnh.
          Có hai thứ ơn Chúa :
                   - Ơn thánh hoá : được ban cho ta khi ta sạch tội trọng, có ơn nghĩa cùng Chúa.
                   - Ơn trợ giúp (ơn hiện sủng) : khi nào Chúa cũng ban đầy đủ, nếu cần Chúa
                      ban thêm cho từng trường hợp.
           * Tương quan giữa buồm và gió :
          Gió chỉ có tác dụng với thuyền khi buồm được căng lên. Nếu buồm không được căng lên thì gió chỉ đi qua, không thể làm cho thuyền di chuyển được. Cũng thế, ơn Chúa xuống nhiều trên ta mà ta không cố gắng tận dụng thì ơn Chúa sẽ qua đi một cách vô ích, không ảnh hưởng gì tới cuộc sống gia đình.
           * Hai mái chèo :
          Ngoài cánh buồm ra, chiếc thuyền còn được hỗ trợ bằng hai mái chèo. Khi buồm không thuận gió, người ta dùng đến hai mái chèo để đẩy con thuyền đi. Hai vợ chồng được ví như hai mái chèo : trong cơn gian nan thử thách, không thuận buồm xuôi gió, vợ chồng phải gồng mình lên mà chèo chống. Nhưng cứ yên trí, Chúa ngồi ở đàng lái mà lèo lái con thuyền gia đình ta đi đến đích bình an.
 
III. SÓNG GIÓ VÀ CON THUYỀN.
           Ai cũng phải công nhận đời sống gia đình rất phức tạp, cuộc sống gia đình không phải lúc nào cũng gặp cảnh thuận buồm xuôi gió :
                             “Duyên đằng thuận nẻo gió đưa”(Kiều)
nhưng có những lúc gió chuớng, có những con sóng tạt vào thuyền, đó là những lúc bị gian nan thử thách, mấy gia đình mà được bình an thoải mái. Người Ả rập có kinh nghiệm về vấn đề này khi nói:”Hôn nhân là một cái bao trong đó có 99 con rắn và một con lươn, ai có thể thọc tay vào đó” ?  Phụ hoạ vào đó, ông Ben Jonson nói :”Hôn nhân là một cuộc  xổ số”.
           Tuy thế, muốn cho gia đình được bằng an hạnh phúc, không phải là một điều khó lắm.  Người ta tường nói : mỗi công việc đều có phương pháp của nó. Một hình ảnh đẹp gợi lên cho tôi ý tưởng đó. Tôi thấy một mẫu ảnh giấy vẽ cảnh hai vợ chồng đang cùng nhau vác cây thập giá lên dốc, có vẻ khó khăn lắm, nhưng có Chúa Giêsu,với hình bóng mờ mờ, đi đàng sau đang nâng thập giá lên.
           Tấm ảnh ấy có ý nói rằng : hôn nhân được coi như là một thập giá Chúa trao cho mà vợ chồng đang phải khó nhọc vác đi lên, nhưng họ không cô đơn lạc lõng vì có Chúa đang nâng đỡ.
Nhưng nếu gia đình nào không chịu vác thập giá : hoặc vợ hoặc chồng hoặc cả hai không chịu vác hay cưa bớt cây thánh giá đi, thì gia đình đó sẽ thất bại.
 
                                      Truyện : Cưa bớt thập giá.
           Một đoàn người vác thập giá của mình, vác đi cực nhọc dưới sức nặng của cây thập giá đè trên vai. Có một người vác một cây thập giá khá dài, không chịu được, ông cưa bớt đi một khúc. Sau cuộc hành trình gian truân, đoàn người đến trước một vực thẳm : tại đây không có một cây cầu  nào để sang bên kia, là nơi được sống cạnh Chúa, và hưởng niềm vui muôn đời.
          Sau một lúc do dự, không ai bảo ai, mỗi người đều đặt cây thập giá của mình bắc qua vực thẳm. Lạ lùng thay, chúng vừa khít với bề ngang của vực thẳm, chỉ riêng cây thập giá bị cưa bớt cho đỡ nặng là hụt, và người vác nó phải đứng lại bên kia với niềm tuyệt vọng (Thiên Phúc).
           Đọc xong câu chuyện ngụ ngôn trên, chúng ta thấy Chúa đã cân sức của từng người, có sức vác bao nhiêu thì Chúa trao cho bấy nhiêu, cứ bằng lòng với hoàn cảnh của mình, đừng đứng núi nọ mà trông núi kia cao. Ai trong chúng ta đã không một lần gặp đau khổ, thất vọng trong cuộc sống. Được tạo dựng để sống hạnh phúc nhưng đau khổ đã trở thành người bạn của cuộc sống. Điều đau khổ hơn nữa là chúng ta không thể hiểu được nguồn gốc của đau khổ.
           Đức Kitô đã đến trong thế gian. Ngài đã sống như một con người đau khổ:”Đức Giêsu Kitô đã chịu đau khổ vì anh em, để lại một mẫu gương cho anh em dõi bước theo Ngài”(1Pr 2,21). Chết treo trên thập giá, Ngài đã biến thập giá thành chiếc cầu nối giữa sự chết và sự sống. Qua cái chết của Ngài, ánh sáng đã chiếu dọi vào từng nỗi khổ đau của con người:”Vì bản thân Người đã trải qua thử thách và đau khổ, nên Người có thể cứu giúp những ai bị thử thách”(Dt 2,18). Từ nay, thập giá không còn là chướng ngại trong cuộc sống, nhưng là con đường dẫn đến sự sống đích thực.
           Muốn có một gia đình hạnh phúc, chúng ta phải :
          - Cộng tác với ơn Chúa : Chúa không hành động một mình, cần phải có sự cộng tác của ta. Thánh Augustinô đã nói:”Khi dựng nên con, Chúa không cần đến con, nhưng Chúa không thể cứu con nếu con không cộng tác”.
          - Gia đình phải luôn cầu nguyện nhất là khi gặp những sự khó khăn. Hãy noi gương các môn đệ kều cầu Chúa cứu giúp khi gặp sóng gió bão táp, nhất là khi con thuyền sắp chìm. Chúa vẫn luôn ở kề bên chúng ta. Hãy lấy con mắt đức tin mà tìm ra Ngài.
 “Lạy Chúa,
con biết rằng Chúa không bao giờ gửi đến cho con một cây thập giá nặng hơn sức mạnh, và dài hơn đôi vai của con. Thế nhưng, đã không biết bao nhiêu lần, con đã vội ném thập giá. Xin ban thêm sức mạnh để con vui vẻ tiến buớc theo Chúa. Amen (TP).
Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt

 
 

HônPhối 57: VÉT CẠN

I. SUY NIỆM LỜI CHÚA.
           “Đức Giêsu Kitô
          vốn dĩ là Thiên Chúa,
          mà không nghĩ nhất quyết phải duy trì
          địa vị ngang hàng với Thiên Chúa.
          Nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang,
          mặc lấy thân nô lệ,
          trở nên giống phàm nhân,
          sống như người trần thế.
          Người lại còn hạ mình,
          vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết,
          chết trên cây thập tự.
                   (Pl 2,6-8)

 

Trong thư gửi cho tín hữu Philipphê, thánh Phaolô tông đồ  khuyên nhủ các tín hữu hãy yêu thương HônPhối 57

Trong thư gửi cho tín hữu Philipphê, thánh Phaolô tông đồ  khuyên nhủ các tín hữu hãy yêu thương nhau, đừng ganh tị, hãy khiêm nhường, hãy tìm ích chung, hãy có những tâm tình như chính Đức Kitô đã có. Và thánh nhân cảm nghiệm lòng thương yêu của Chúa đối với chúng ta, nên đã viết bài thánh ca này mà chúng ta trích một đoạn để ca ngợi lòng thương yêu sâu thẳm của Đức Giêsu trong việc Ngài bỏ mọi vinh quang trên trời, xuống mặc thân nô lệ phàm nhân và chịu chết trên thập giá để cứu chuộc chúng ta.
           Chúng ta vừa qua mùa Giáng sinh. Trong suốt thời gian này chúng ta đã kỷ niệm việc Ngôi Hai xuống thế làm người, mầu nhiệm nhập thể. Chúng ta không thể hiểu được tại sao Ngôi Hai Thiên Chúa bỏ mọi sự cao sang của mình, xuống thế làm người, một con người rốt hết, để sống với chúng ta ? Ngài đã trở thành Emmanuel : Thiên Chúa ở cùng chúng ta. Chúng ta chỉ biết đấy là mầu nhiệm.
 
          Chúng ta cũng sắp bước vào mùa chay, trong thời gian này chúng ta lại tiếp tục suy niệm việc Thiên Chúa cứu chuộc nhân loại bằng cái chết của Đức Giêsu trên thập giá. Thiên Chúa thiếu gì cách cứu chuộc loài người mà lại chọn cái chết ô nhục trên thập giá như vậy ? Đó là một mầu nhiệm.
           Như vậy, chúng ta thấy trong đạo có ba mầu nhiệm chính và lớn lao là :
          - Mầu nhiệm một Chúa Ba Ngôi,
          - Mầu nhiệm Ngôi Hai xuống thế làm người,
          - Mầu nhiệm Ngôi Hai cứu chuộc.
           Chúng ta không thể hiểu được những mầu nhiệm lớn lao ấy, chúng ta chỉ tin vào Chúa mạc khải và chỉ biết rằng vì yêu thương chúng ta, Thiên Chúa đã hành động như vậy ; đồng thời cũng dạy chúng ta một bài học là biết yêu thương phục vụ nhau bằng cách VÉT CẠN con người của mình, quên mình đi để mưu cầu hạnh phúc cho người khác.

II. THƯỚC ĐO TÌNH YÊU.
           1. Vét cạn bản thân.
           Tình yêu lớn lao và cao cả nhất là cho đi tất cả mà không cần tính toán so đo, không cần phải đền trả. Đó là “vét cạn” con người của mình mà phục vụ người khác. Đó là gương mẫu của Đức Kitô, vốn dĩ là Thiên Chúa, mà đã bỏ tất cả để phục vụ loài người. Tinh thần ấy đã được thực hiện cao điểm ở trên thập giá:”Không có tình yêu nào lớn lao hơn tình yêu của người hy sinh mạng sống vì bạn hữu mình”.
           Tình yêu lớn lao tỷ lệ thuận với việc “vét cạn” chính bản thân mình. Tình yêu đích thực được đo bằng mức độ quên mình, vét cạn chính mình. Càng quên mình bao nhiêu, tình yêu càng vĩ đại bấy nhiêu. Thế mà người ta quên mất.
           Một tác giả nhận xét rằng:”Ngày nay, ngườii ta dạy dỗ người trẻ về mọi kỹ thuật tình ái, nhưng điều cốt lõi nhất là tình yêu, người ta bỏ qua”. Nhưng tôi phải nói thêm : Đâu phải người ta không nói về tình yêu, quá nhiều là đàng khác, nhưng cái cốt lõi là QUÊN MÌNH, người ta không dám nói.
           Khi nói tới tinh thần hy sinh xả kỷ trong sự vét cạn bản thân, tôi có hai hình ảnh này để gợi ý và suy nghĩ :         
          a) Bà goá bỏ tiền vào hòm.
          Người đàn bà ấy nghèo nhất, bỏ vào hòm ít nhất, bà chỉ bỏ vào đó có hai đồng kẽm, trị giá bằng ¼ đồng bạc Roma. Nhưng bà lại là người giầu có nhất, vì theo sự đánh giá của Đức Giêsu,  bà đã bỏ vào hòm tiền nhiềâu hơn hết (Mc 12,43) . Tại sao vậy ? Bởi vì Chúa không chú ý đến số lượng mà chỉ chú trọng tới “chất lượng”, như người ta thương nói :Người ta thèm lòng chứ không thèm thịt”. Do đó, bà goá này thành người giầu có nhất vì đã “vét cạn chính mình”, đã dâng cho Thiên Chúa tất cả những gì mình có để sinh sống. Nhờ đó, bà có tất cả vì Thiên Chúa là tất cả.
           b) Ống sáo của Tagore.
          Nói đến đây, tôi liên tưởng đến cái ống sáo của thi sĩ Tagore. Có những người đã biến đời mình thành ống sáo đơn sơ, nhưng vì Thiên Chúa đặt môi vào nên ống sáo rung lên những giai điệu tuyệt vời. Mà để là ống sáo, điều kiện tiên quyết là phải rỗng. Những con người ấy đã vét cạn chính mình để đong đầy Thiên Chúa.
 
          2. Tình yêu vô điều kiện.
           Khi nói về tình yêu đích thực, người ta muốn thêm vào một từ :”vô điều kiện”. Tình yêu đích thực phải luôn là vô điều kiện. Chúng ta vẫn yêu, nhưng yêu bằøng tình yêu có điều kiện.
Ví dụ chúng ta yêu nhau vì người ta có chức quyền, tiền của hay sắc đẹp... Chúng ta yêu nhau theo nguyên tắc :”DO ut DES” nghĩa là tôi cho anh để anh cho lại tôi, như vậy hai bên cùng có lợi. Tình yêu loại này mà chúng ta sử dụng hằng ngày rất tự nhiên và bình thường, không có gì là xấu. Nhưng đó là tình yêu còn ở mức độ thấp.
           Yêu thương không phải là cho đi một cái gì, mà là cho đi chính mình. Yêu thương là tận hiến. Nhưng chúng ta không thể nói được rằng chúng ta cho đi chính mình hoặc tận hiến, nếu chúng ta là nô lệ của sự vật, của người khác hay chính bản thân mình.  Nếu chúng ta chỉ nỗ lực tìm kiếm, cung cấp cho mình cái gì đó đem lại tiện nghi dễ dãi, chúng ta sẽ không thể tận hiến được.
          Tình yêu thương đích thực không làm cho chúng ta trở thành nghèo nàn đi, mà khiến chúng ta được tự do thật sự. Nhưng nếu muốn cho đi để hy vọng được nhận lại, chúng ta chẳng nhận được gì hết. Cần phải biết cho đi cách nhưng không. Nếu chúng ta thành thật cho đi mà không chờ đợi gì cả, chúng ta sẽ nhận được tất cả. Khi đó, giữa chúng ta và ngườikhác sẽ phát sinh một cuộc thi đua, và chúng ta sẽ hiểu rằng tình yêu thương đích thực là như thế (Adani).
           Trong đời sống hằng ngày, chúng ta vẫn sử dụng thứ tình yêu có điều kiện này, mặc dầu không nói ra nhưng ai cũng phải công nhận rằng đây là tình yêu có điều kiện. Nhưng trong đời sống hôn nhân thứ tình yêu này rất nguy hiểm bởi vì nếu những điều kiện này không còn nữa thì gia đình sẽ ra sao, vì hôn nhân được xây dựng trên tình yêu mà ?   Khi tiền của không còn nữa thì tình yêu sẽ ra sao , có bị cạn vơi đi không ? Lúc đó nguời ta sẽ nói :
                                       Bây giờ gạo hết tiền không
                                      Anh ơi ở lại mà trông lấy hòm.
                                      Bao giờ tiền có gạo còn
                                      Thì tôi trở lại trông hòm cho anh.
                                                (Ca dao)

          Duyên sắc có thể giữ mãi được nét thanh xuân của mình không, hay sẽ phải mai một với tuổi già như “mỗi năm một tuổi như đuổi xuân đi”, chắc chắn sắc đẹp sẽ phải giảùm sút và sẽ biết mất với thời gian, lúc ấy tình yêu sẽ gặp nguy cơ :
                                      Còn duyên kẻ đón người đưa,
                                      Hết duyên đi sớm về trưa một mình.
                                                (Ca dao)

           Tình yêu của Thiên Chúa không như thế. Đó là một tình yêu vô điều kiện. Chúa yêu ta khi ta còn là tội nhân, còn là đứa con hoang đàng... Và tình yêu ấy gọi mời ta hoạ lại trong cuộc sống : vét cạn chính mình để đong đầy Thiên Chúa. Tập sống quên mình để viên mãn yêu thương.
 
III. TÌNH YÊU VỢ CHỒNG.
           Muốn cho đời sống vợ chồng càng bền chặt, càng hạnh phúc, sự hy sinh quên mình đóng một vai trò quan trong.  “Bá nhân bá tính”, vợ chồng cũng thế, mỗi người một tính nết, không ai giống ai. Cho nên, nhịn nhục, dung hoà là điều cần thiết. Đã là vợ chồng thì kông nên “đối đầu” mà hãy “đối thoại” với nhau, để tìm ra tiếng nói chúng, và để có sự hiệp nhất yêu thuơng. trong cuộc sống lứa đôi, hãy áp dụng phương châm này:”Chuyện to hóa thành bé, chuyện bé hoá thành không” thì hạnh phúc mới bền lâu được.
           Thi sĩ Xuân Diệu có viết :
                              Dù tin tưởng chung một đời một mộng,
                             Em là em, anh vẫn cứ là anh”.

           Do đó, hôn nhân  là một lựa chọn hy sinh. Không mấy khi đòi hỏi hy sinh mạng sống, nhưng “yêu là chết trong lòng một ít”, mỗi bên phải biết hy sinh một chút bằng cách từ bỏ ý riêng của mình .  Về vấn đề này, tôi thấy Túy Hồng viết rất hay :
 “Tôi nguyện với tình yêu, lúc quay lưng xô ngã cuộc đời người con gái, tôi sẽ từ bỏ tất cả, xa sân khấu, lui khỏi địa vị một ngôi sao để làm một người tầm thường. Tôi sẽ từ giã sự nghiệp đang lên, hy sinh cả danh vọng để trọng nghĩa làm vợ. Một người đàn bà không thể vừa giỏi bên ngoài, vừa giỏi bên trong được. Vì chàng tôi phải ly thân với nghệ thuật. Tên tuổi tôi phải chết cho lòng thành quấn quít bên chàng...”
 (Trích trong “Lòng thành”, Truyện hay của Túy Hồng, Sàigòn 1964, tr 82).
           Người đàn bà Việt nam có truyền thống hy sinh cho gia đình, họ dễ dàng quên thân mình để mưu cầu hạnh phúc cho gia đình, cho chồng và cho con cái. Câu thơ dưới đây đã diễn tả được tâm lý của một người thôn nữ đơn sơ mộc mạc trước việc hy sinh bản thân cho gia đình :
                                       Vì chàng thiếp phải bắt cua,
                             Những như thân thiếp, thiếp mua ba đồng.
                                       Vì chàng thiếp phải long đong,
                             Những như thân thiếp cũng xong một bề
                                                (Ca dao)


                                      Truyện : chùm nho.
          Vào thời các vị tu hành sống trong rừng, trong sa mạc Ai cập và lo phụng sự Chúa bằng đọc kinh cầu nguyện và ăn chay, có một vị tên là Josephus. Có một người biếu thầy Josephus một chùm nho ngon. Josephus đọc bài Phúc âm sáng hôm ấy và nhớ lời dạy:”Con phải thương yêu anh em như chính mình”. Thế là thay vì ăn chùm nho, thầy đem chùm nho ấy đến biếu một thầy ẩn tu khác không xa chỗ thầy ở là bao. Sau dăm bảy bữa, một thầy ẩn tu khác đến gõ cửa thầy Josephus và biếu thầy chùm nho hôm trước. Thầy Josephus đuợc biết : chùm nho đã được chuyền đi hết mọi thầy ẩn tu trong vùng từ thầy này chuyển qua thầy khác và sau cùng lại chuyềån lại cho thầy (W. Diamond, Đồng cỏ non, tr 133).
           Chúng ta hãy xin ơn quảng đại cho vợ chồng theo kinh của thánh I-nha-xi-ô :
“Lạy Chúa Giêsu,
xin dạy cho con biết quảng đại,
biết phụng sự Chúa cho xứng đáng,
biết cho mà không cần tính toán,
biết chiến đấu mà không sợ thương tích,
biết làm việc mà không cần an nghỉ,
 biết tận lực mà không chờ một phần thưởng nào khác,
ngoài sự nhận biết con đã làm theo thánh ý Chúa thôi”.
 Amen.

 Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt

         
 

HônPhối 58: QUÁN TRỌ

I. SUY NIỆM LỜI CHÚA.
           Chúng ta đọc : Ga 17,20-26.
 

Để cộng tác vào chương trình cứu độ của Thiên Chúa, Chúa Giêsu đã sai các môn đệ đi rao HônPhối 58

Để cộng tác vào chương trình cứu độ của Thiên Chúa, Chúa Giêsu đã sai các môn đệ đi rao giảng Tin mừng để lôi kéo nhiều người tin theo Chúa. Chúa Giêsu cũng trông thấy trước cuộc sống cộng đồng của các môn đệ, cũng như các cộng đồng khác, sẽ nảy sinh sự bất đồng đưa tới sự chia rẽ. Trước nguy cơ ấy, Chúa Giêsu đã cầu nguyện cho các ông để các ông hiệp nhất nên một như Ngài và Chúa Cha là một.
           Số người tin theo Chúa càng ngày càng đông, nguy cơ chia rẽ lại càng lớn; vì thế, không những Ngài cầu nguyện cho các môn đệ, mà còn cầu nguyện cho các kẻ tin vào Ngài nhờ lời rao giảng và giáo huấn của các môn đệ, nghĩa là cầu nguyện cho hết mọi thành phần trong Hội thánh. Mục đích Chúa Giêsu cầu nguyện là để mọi người tin vào Chúa Giêsu được hiệp nhất với nhau. Chính sự hiệp nhất này là sứ mạng và có tính cách thuyết phục thế gian tin vào Chúa Giêsu là Đấng Cứu thế.
           Chúa Giêsu cầu nguyện cho Hội thánh được hiệp nhất trong tình yêu. Khi các Kitô hữu hiệp nhất với Chúa Kitô, thì được tham dự nhờ tình yêu hiệp nhất giữa Chúa Cha và Chúa Con, và trở thành dấu hiệu tuyệt vời bầy tỏ cho thế giới thấy thời kỳ cánh chung đã điểm, và Thiên Chúa đã chính htức sai Con Một Người đến thế gian mới thực hiện được việc tốt đẹp như vậy.
           Qua nhận thức trên, chúng ta có thể kết luận :
          - Yêu thương nhau là dấu chỉ của sự hiệp nhất và cũng là chứng tá có tính cách thuyết phục nhất, có giá trị tông đồ.
          - Được làm con Chúa qua bí tích rửa tội, chúng ta được hiệp nhất với nhau trong tình huynh đệ.
          - Chúng ta càng nỗ lực thánh hóa bản thân, chúng ta càng có gía trị để thánh hóa tha nhân, và đó là cách chúng ta sống hiệp nhất huynh đệ.
           Chúa Giêsu cầu nguyện cho mọi thành phần trong Hội thánh hiệp nhất nên một trong một ngôi nhà chung. Ai cũng muốn được ở trong nhà và coi nhà là nơi ở vững chắc và vĩnh viễn cho mình chứ không phải như quán trọ. Một chàng trai và một thiếu nữ yêu nhau, họ muốn kết hợp với nhau nên một làm nên một xương một thịt và được ở trong một mái nhà ấm cúng. Ước vọng ấy đã được biểu lộ ra trong câu ca dao :
                                      Anh còn son, em cũng còn son,
                                      Ứớc gì ta được làm con một nhà.
                                                      (Ca dao)

          Từ ngữ “một nhà” gợi lên một ý tưởng là một chỗ ở có tường kín, có mái che để ngôi nhà được ấm cúng, nhưng ở thì cũng có nhiều cách ở : có người khôn ngoan biết biến ngôi nhà thành “Mái ấm”, có người dại dột biến nó thành “Quán trọ”.
 
II. MÁI ẤM GIA ĐÌNH
           Ai cũng muốn cho mình có một ngôi nhà để ở, không phải ở nơi đầu đường xó chợ. Có biết bao trẻ em lang thang trên hè phố mà không có một nơi để nương thân trong khi trời mưa gió, sương tuyết  lạnh lùng. Ước vọng duy nhất của chúng là có được một mái ấm gia đình. Có nhưng người tuy có nhà ở đấy, nhưng lại biến nó thành một ngôi nhà lạnh lẽo, buồn thiu, thiếu hơi ấm tình người. Người ta muốn cho mình thực sự phải có một mái ấm. Vậy mái ấm là gi ?

                                      Truyện : Mái ấm gia đình.
          Mới đây một tờ báo ở Luân đôn, thủ đô nước Anh, đã gửi câu hỏi:”Mái ấm gia đình là gì? Theo anh chị” , tới 1000 người. Có 800 người đã trả lời, tập trung vào các ý lớn sau đây :
           1. Mái ấm : một thế giới xung đột khép lại, một thế giới tình thương mở ra.
           2. Mái âm : nơi chuyện nhỏ là quan trọng, chuyện quan trọng là chuyện nhỏ.
          3. Mái ấm : vương quốc của cha, thế giới của mẹ và thiên đàng của con cái.
          4. Mái âm : nơi chúng ta cằn nhằn nhiều nhất nhưng được đối đãi tốt nhất.
          5. Mái ấm : trung tâm của tình thương mà mọi lời ước nguyện của con tim quyện vào đấy.
          6. Mái ấm : nơi dạ dầy chúng ta ăn 3 lần mỗi ngày và tâm hồn ăn ngàn lần mỗi ngày.
          7. Mái ấm : nơi duy nhất trên trần gian mà mọi lỗi lầm và thất bại của con người được che đậy
                            Dưới lớp áo bác ái êm dịu.
                                      (Giám mục Tone, Góp nhặt, tr 125-124)
 
          Vợ chồng đã thành lập gia đình thì phải cùng nhau đi theo một con đường dẫn tới hạnh phúc. Con đường dẫn tới hạnh phúc là con đường một chiều, không có lối rẽ, không có nẻo xuôi nẻo ngược, như Saint-Exupéry nói:”Yêu nhau không phải là nhìn nhau mà cùng nhìn về một hướng”. Nhưng trong thực tế, rất nhiều gia đình đã có con đường chia thành hai lối với hai nẻo ngược xuôi :
                             - Nẻo xuôi yêu đương.
                             - Nẻo ngược đau thương.

           Khi vợ chồng thương yêu nhau thì mọi sự  đều tốt đẹp vì “Yêu nhau chín bổ làm mười”, cuộc sống trôi chảy đều hòa, đúng là “duyên đằng thuận nẻo gió đưa” (Kiều), lúc đó con đường vợ chồng đi là con đường bằng phẳng :”Nẻo xuôi yêu đương”.
           Nhưng khi đã hết yêu thương thì những mối bất hòa xẩy ra như cơm bữa, ngấm ngầm hay bùng nổ. Con đường dẫn tới hạnh phúc bị bế tắc và dẫn đến nẻo ngược đau thương.  Khi thương nhau, người ta có ngàn cách tỏ lòng yêu thương, nhưng khi ghét nhau, người ta cũng có ngàn cách trách tội nhau. Chính vì có sự đi ngược chiều như vậy nên nhà văn hào Honoré de Balzac mới nói:”Hôn nhân là đường đưa ta thới thiên đường hay  đưa tói địa ngục”.  Từ đó người ta không con mái âm gia đình nữa mà đã trở thành quán trọ bên đường.
 
III. QUÁN TRỌ BÊN ĐƯỜNG.
           Như ông De Balzac nói, khi nào hôn nhân dẫn ta lên thiên đàng thì gia đình đúng là mái âm, còn khi hôn nhân dẫn ta tới địa ngục thì đúng là quán trọ bên đường.  Trong thực tế, không phải lúc nào hôn nhân cũng dẫn ta tới thiên đàng bởi vì người ta không còn yêu nhau nữa, những bất hòa bùng nổ, gia đình không còn là mái ấm nữa, không còn là nơi mong trở về, không còn là nơi để chia sẻ nữa, mà nó sẽ trở nên cái gì nếu không phái là cái QUÁN TRỌ, nơi mà mỗi người một góc, việc ai nấy làm, không cần để ý đến ai. Sự tan vỡ sẽ nới rộng ra từ đấy. Nhất là khi người vợ dám ngang nhiên nói :
                                       Lòng em như quán bên đàng
                               Dừng chân cho khách qua đàng mà thôi.
                                                (Ca dao)

          Lúc gia đình đã trở thành quán trọ thì tội nghiệp cho những đứa con vô tội, chúng phải ở trọ ngay chính trong gia đình mình. Chúng bơ vơ mồ côi ngay khi cha mẹ còn sống, lạc lõng để rồi có khi buông trôi tất cả, đi tìm quên lãng.
          Ngoài ra ngày nay còn một nguyên nhân khủng khiếp khiến người ta phá vở mái âm, đó là các dạng gia đình kiểu mới.
           Trong cuốn “Làn sóng thứ ba” tác giả Alvin Toffler cho thấy các dạng gia đình mới trở thành  những hiện tượng quần chúng tại các nước Aâu Mỹ. Hiện tượng đó có chiều hướng tăng, và có thể nói được  đây không còn chỉ là cơn khủng hoảng và là sự tan vỡ của gia đình. Nhất là khi kiểu gia đình truyền thống đang biến hóa để trở thành “câu lạc bộ” tình yêu, gặp gỡ dễ dàng và bỏ nhau cũng dễ dàng. Hoặc trở thành những “Tổ hợp tình yêu”, ăn chia sòng phẳng, của cải chia đều.
           Hiện nay trên thế giới có độ 40% vụ các đôi hôn phối ly dị, có nơi tới 50 hay 60%. Người ta không còn tin vào sự vững bền của hôn nhân. Họ sống trong tình trạng lo sợ bấp bênh, không biết có nên lập gia đình hay không, và nên lập gia đình dưới dạng thức nào.
           Một cuộc thăm dò mới đây tại Pháp cho thấy quá nửa số thanh niên nam nữ được hỏi đã cho biết họ rất sợ hôn nhân. Họ thích yêu nhau, nhưng họ không thích đi tới hôn nhân. Bởi vì họ thấy cuộc sống hôn nhân gia đình càng ngày càng phức tạp,  số các đôi hôn nhân không được hạnh phúc càng ngày càng tăng. Vì thế đã nảy sinh ra nhiều dạng hôn nhân :
          1. Hôn nhân không giấy tờ.
          2. Hôn nhân giữa hai người cùng phái tính.
          3. Gia đình một mẹ một con.
          4. Gia đình một cha một con.
          5. Gia đình hai vợ chồng không con.
          6. Gia đình mẹ và con nuôi.
          7. Gia đình cha và con nuôi.
          8. Gia đình những con mồ côi sống chung.
                (Công giáo và dân tộc, số 955, tr 5)

           Khi mái ấm gia đình trở thành quán trọ thì gia đình còn ý nghĩa gì nữa ? Quán trọ chỉ dành cho khách không nhà và chỉ ở một thời gian ngắn, rồi không tha thiết gì đến nó nữa.
           Cái “Quán chiều” gợi lên cho ta một cảm giác mông lung, bơ vơ, lạc lõng, phảng phất một nỗi buồn man mác như Đặng đình Hồng mô tả quán chiều bằng mấy vần thơ :
                                       Cho xin bát nước cô hàng,
                                       Uống vào kẻo nữa dậm đàng còn xa.
                                      Thưa cô : tôi khách không nhà,
                                       Quán chiều là chốn thiết tha tôi ngồi.

           Ngày nay, đối với nhiều gia đình, từ ngữ “mái ấm” không còn ý nghĩa gì nữa, họ đang ở trong nhà mà luôn có cảm giác là ở trong quán trọ; mà đã là quán trọ thì không bao giờ ở vĩnh viễn; vì thế, gia đình sẽ tan vỡ và sẽ đi đến chỗ ly dị.
           Ly dị không những tai hại cho vợ chồng mà còn cho con cái. Trong một buổi“diễn đàn” của những trẻ em bất hạnh, các em đã thổ lộ nguyện vọng của mình :”Chúng cháu muốn được che chở, được sống trong tình yêu thương của mọi người, được học hành để trở nên người hữu ích cho xã hội. Chúng cháu muốn đừng bao giờ các bậc cha mẹ sinh thành lại bỏ rơi chúng cháu”.
           Những người ly dị nghĩ thế nào về câu nói của thánh Phaolô tông đồ :”Ai không săn sóc người thân, nhất là sống trong cùng một nhà thì đã chối bỏ đức tin, và còn tệ hơn người không có đức tin”(1Ti 5,8). Vậy mái ấâm hay quán trọ ?
 Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt

 
 

HônPhối 59: THẢ DIỀU

I. SUY NIỆM LỜI CHÚA.
 Chúng ta đọc : Mt 19,3-12.
 

Đoạn Tin mừng hôm nay nói về vấn đề ly dị :”Những người Pharisêu đến gần Chúa Giêsu để thử HônPhối 59

Đoạn Tin mừng hôm nay nói về vấn đề ly dị :”Những người Pharisêu đến gần Chúa Giêsu để thử Ngài “Thưa Thầy, có được phép rẫy vô mình vì bất cứ lý do nào không” ?
          Đây là câu hỏi hóc búa vì lúc đó tại Do thái co hai lập trường về vấn đề ly dị :
          - Lập trường của trường phái Hillel thì rộng rãi, cho phép ly dị một cách dễ dàng. Ví dụ người vợ nấu một món ăn không ngon, cũng đủ lý do để ly dị.
          - Còn lập trường của trường phái Shammai thì khắt khe hơn, chỉ chấp nhận ly dị trong rất ít trường hợp.
          Chúng ta cũng cần nhớ rằng luật pháp Do thái thời đó chỉ nhìn nhận sáng kiến của người chồng mà thôi.
          Biệt phái biết vấn đề này gay go nên đem ra gài bẫy Chúa Giêsu bằng cách dùng lối “song đao luận” , thế nào cũng bị kết án : hoặc quá rộng rãi hoặc quá hẹp.
           Chúa Giêsu trả lời bằng cách trích hai đoạn trong sách Sáng thế (St 1,27; 2,24). Đó chính là những lời thiết lập định chế đơn hôn và vĩnh hôn. Như thế, dứt khoát là không được ly dị, bởi vì “Sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly”.
           Còn việc ông Moisen cho phép ly dị chỉ là thể chế loài người lập ra “vì các ông lòng chai dạ đá, nên ông Moisen mới cho phép các ông rẫy vợ, chứ thuở ban đầu không có như thế đâu”. Điều này cho thấy rằng con người vì ích kỷ, nghĩa là đặt sự thỏa mãn của lòng mình trên hết, trên cả ý muốn của Thiên Chúa nữa, nên họ đã bất trung với Chúa, và vì vậy,  họ bất trung với nhau trong đời sống hôn nhân.
           Ly dị là một tai họa lớn cho gia đình và xã hội. Ly dị làm cho gia đình tan vỡ để lại bao cảnh thương tâm cho xã hội cũng như Giáo hội mà không gì có thể bù đắp được. Nói về vấn đề này, tôi nhớ ngay đến câu ca dao người ta thường nói :
                                       Một liều ba bảy cũng liều,
                               Cầm bằng con trẻ chơi diều đức dây.

 
II. CÂU CHUYỆN THẢ DIỀU.
           Nhân đọc bài Tin mừng nói về việc ly dị, tôi liên tưởng đến thú chơi diều xưa và nay, nhất là cảnh chơi diều ở miền Bắc ngày xưa.
           Ngày xưa, mỗi kỳ hè đi về miền quê nghỉ mát, tôi được xem thấy những con diều bay bổng trên cao với tiếng sáo vi vu êm dịu, thật là thơ mộng. Những em bé say sưa nhìn con diều của mình bay tít trên cao, cao đến độ không nhìn thấy. Thế mà cánh diều vẫn còn đó vì em bé còn cầm chiếc dây nhỏ nối với cánh diều. Tuy không thấy cánh diều nhưng em bé tin chắc rằng cánh diều vẫn còn vì vẫn còn sợi dây nối với diều. Ngày nay các em vẫn chơi diều đủ mọi kiểu dáng, đủ mầu sắc nhưng không còn tiếng sáo vi vu như ngày xưa nữa.
           Nhân nói về thú chơi diều, tôi có một vài ý nghĩ :
 1.. Con diều và gió : Làm sao con diều có thể bay lên được ? Đó là nhờ sức gió. Gió đưa con diều lên, gió càng mạnh, con diều lên càng cao. Nếu gió đưa mạnh quá thì con diều bị đứt dây và sẽ rơi xuống.
           2. Con diều và sợi dây : Nhưng nếu chỉ có gió thôi thì con diều có thể tự cất mình lên được không ? Chắc chắn là không !  Vì nếu tung con diều lên trước gió, con diều sẽ rơi xuống. Muốn cho con diều cất lên cao, cần có điều kiện gì nữa ? Thưa, đó là sợi dây. Gió thổi con diều, sợi dây ghì lại, nhờ đó con diều mới có thể cất lên cao, và cứ ở trên cao bao lâu còn gió thổi.
           Có một sự bất hợp lý giữa gió và sợi dây ! Gió có tác động thổi con diều lên còn sợi dây lại ghì con diều xuống, một đàng đẩy lên, một đàng kéo xuống, nhưng chính nhở sự giằng co ấy mà con diều mới có thể cất cánh. Đây là một sự bất hợp lý nhưng là một sự bất hợp lý cần thiết
 
III. THẢ DIỀU VÀ HÔN NHÂN.
           Đến đây, chúng ta thử đưa ra một vài so sánh để áp dụng vào đời sống hôn nhân, hy vọng có thể rút ra được một vài chi tiết ứng dụng vào trong đời sống gia đình.

           1. Hôn nhân và con diều.
           Tình yêu là một cái gì rất ngọt ngào và cũng cay đắng, điều này chúng ta đã từng có kinh nghiệm. Hôn nhân cũng thế thôi. Vì vậy, ông J.F. Régnard nói:”Hôn nhân êm dịu nhất thì luôn là cái gông cùm”. Nhà hiền triết Socrate diễn tả tư tưởng này rất rõ ràng:”Những thanh niên đi tìm hôn nhân có khác nào những con cá đậu trước đầu lờ… Tất cả đều hăm hở mà chui vào, trong khi đó không biết bao nhiêu kẻ đang vùng vẫy một cách tuyệt vọng để thoát ra”.
           Biết như thế nhưng ai cũng muốn kết hôn, không muốn sống độc thân. Mặc dầu”Kẻ độc thân là một con công, đính hôn : một con sư tử, thành hôn : một con lừa” (Ngạn ngữ Tây ban nha), dù sao “Hôn nhân là một tai vạ, nhưng là một tai vạ cần thiết”(Ménandre).
           Khi nói tới hôn nhân, tôi liên tưởng tới con diều. Chơi diều là một thứ tiêu khiển tao nhã và có nghệ thuật, phải nâng niu làm cho con diều được vươn lên không trung để khoe hình dáng, mầu sắc nhất là được nghe những tiếng sáo vi vu phát ra từ con diều. Không ai ghét thú chơi diều. Tuy nhiên chơi diều đôi lúc cũng gặp những sự cố bất ngờ.
           Cũng thế, không ai ghét hôn nhân. Hôn nhân vẫn đẹp, vẫn cao quí, vẫn hấp dẫn. Không thiếu gì những người ca tụng hôn nhân bằng những hình ảnh, bằng những từ ngữ rất đẹp, rất mỹ miều. Chắc chắn cô dâu chú rể hôm nay cũng đang ngước mắt lên trời nhìn những cánh diều hôn nhân đang bay lượn làm đẹp mắt người xem, làm vui tai người nghe bằng những âm thanh ngọt ngào quyến rũ. Vâng, hãy làm cho những cánh diều hôn nhân bay lượn mãi trên không trung để làm cho cuộc đời mãi thêm đẹp đẽ hấp dẫn.

          2. Gió và tình yêu.
           Gió không biên cương nên lúc nào cũng là khởi đầu, mà cũng không ai thấy gió, chỉ thấy sự hiện diện của nó. Tình yêu cũng thế, tình yêu có thể gõ cửa ngõ hồn ta vào những giờ không nhất định. Có khó gì đâu một buổi chiều :
                                       Nó chiếm hồn ta bằng nắng nhạt,
                                      Bằng mây nhè nhẹ gió hiu hiu.
                                                (Xuân Diệu)

          Tự bản tính con diều là theo gió mà bay. Trời càng rộng, gió càng lộng thì con diều lên càng cao.
          Trong hôn nhân, chúng ta có thể ví tình yêu với gió, hôn nhân với con diều. Muốn cho con diều cất lên không trung thì cần có gió. Và gió là điều kiện tối thiết, không có gió thì con diều vô phương cất cánh lên. Cũng thế, con diều hôn nhân cần có gió tình yêu. Hôn nhân cần phải có tình yêu, nếu không thi “Hôn nhân không tình yêu là ngày không có rạng
đông”(Alphonse Karr). Khi nào ngưng gió thì con diều sẽ rơi xuống, hôn nhân phải có tình yêu nâng đỡ, khi nào tình yêu hết, hôn nhân cũng kết thúc và tan vỡ:” Nòng nọc đứt đuôi từ đây nhé”(Hồ xuân Hương).
           Chúng ta phải công nhận rằng tình yêu là nền tảng của hôn nhân. Nền tảng vững thì tòa nhà vững, nền tảng yếu thì tòa nhà sụp đổ. Tình yêu là nền tảng vững chắc cho nên hôn nhân cũng vững chắc.
           Nếu lấy chức quyền, danh vọng, tiền của, sắc dục làm nền tảng cho hôn nhân thì chắc chắn gặp nguy hiểm vì tất cả những thứ đó rất mong manh, nay còn mai mất, vô phương cứu chữa.
          Chức quyền, danh vọng hay tiền của đâu có vững chắc ? Thời thế thay đổi, địa vị con người cũng thay đổi, nay có thể là ông lớn, mai có thể là thằng nhỏ, nhân tình thế thái đổi thay khiến người “lên voi xuống chó” là lẽ thường.
           Sắc dục cũng không có thể là nền tảng của hôn nhân, bởi vì nhan sắc bị hủy diệt theo thời gian, càng già càng xuống cấp  với da mồi tóc bạc, lưng còng, mắt mờ, còn hàm răng thì”chiếc rụng, chiếc gẫy chiếc lung lay”(Nguyễn Khuyến). Còn nhan sắc thì được chồng ưa thích, chiều chuộng, khi đã xuống cấp thì :
                                       Còn duyên anh cưới ba heo,
                                 Hết duyên, anh đánh ba hèo đuổi đi.
                                                (Ca dao)

           Gió phải luôn có để giữ cho con diều được đứng vững. Nếu gió mạnh quá sẽ làm cho con diều đứt dây. Ở đây chúng ta muốn đề cập đến “Tình yêu không biến giới” hay “Tình yêu không giới hạn”. Người ta hiểu lầm câu nói của thánh Augustinô :”Mức độ của tình yêu là không có mức độ nào” hay “Giới hạn của tình yêu là không có giơi hạn”.  Tình yêu không giới hạn đây không có nghĩa là yêu bừa bãi, yêu vô kỷ luật, yêu ai thì yêu, muốn yêu thế nào cũng được. Nhưng tình yêu không biên giới đây phải nhằm vào “chiều sâu” của tình yêu, nghĩa là yêu nồng nàn say đắm, yêu với tất cả con người mặc dầu phải hy sinh đau khổ như Chúc Giêsu đã nói:”Không có tình yêu nào lớn lao cho bằng tình yêu của người chết cho bạn hữu”.

          3. Sợi dây và hôn nhân.
           Con diều được bay lên cao không những phải nhờ sức gió mà còn phải nhờ sợi dây ràng buộc. Ngày nào nó rũ bỏ sợi dây để mà lên cao thêm (đứt dây) tức là ngày nó tự rơi xuống vực sâu. Cái dại khờ của con diều là chỉ biết gió và cứ lên mãi mà không hiểu rằng sợi dây ràng buộc lại cần thiết cho nó khỏi bị rơi xuống.
           Bất cứ một tổ chức nào cũng cần phải có luật lệ hay nội qui để mọi người theo đó mà xây dựng. Nếu không có luật lệ thì sẽ xẩy ra cảnh trống đánh xuôi kèn thổi ngược, tổ chức đó không có sự hiệp nhất sẽ dẫn đến sự tan rã. Hôn nhân cũng phải có luật để nhờ đó vợ chồng xây dựng gia đình, biến gia đình thành một mái ấm yêu thương. Chúng ta còn nhớ hôn nhân công giáo có hai đặc tính, đó là ĐƠN HÔN vàØ VĨNH VIỄN, nghĩa là không chấp nhận chế độ đa thê hay đa phu, và không chấp nhận ly dị. Còn một số luật khác nhưng đây là hai luật căn bản không có thể châm chước được.
           Nhiều người chống đối hai luật này. Người ta cho rằng luật này có tính cách vô nhân đạo, gây khó khăn cho gia đình, làm mất hạnh phúc của người ta. Nhưng thực ra, điều luật này lại bảo đảm cho hạnh phúc gia đình, nó khiến cho người ta kiên nhẫn vượt qua mọi khó khăn để giữ vững gia đình, làm cho xã hội thêm vững chắc, vì hôn nhân gia đình là nền tảng của xã hội. Người ta cố gắng biến gia đình thành mái ấm yêu thương chứ không biến thành quán trọ. Lời Chúa vẫn luôn có giá trị :”Sự gì Thiên Chúa đã phối hợp loài người không được phân ly” (Mt 19,6 ; Mc 10,9).
 Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt

      
 

HônPhối 60: THÍCH NGHI

I. SUY NIỆN LỜI CHÚA.
           Chúng ta đọc : Ga 2,1-11.
 

Thánh Gioan cho biết khi mới khai mạc công cuộc truyền giáo, Chúa Giêsu và các môn đệ được HônPhối 60

Thánh Gioan cho biết khi mới khai mạc công cuộc truyền giáo, Chúa Giêsu và các môn đệ được mời dự tiệc cưới của người bà con tại Cana, cả Đức Mẹ cũng được mời tham dự. Tiệc cưới bao giờ cũng vui tươi với tiếng đàn tiếng ca, với bao nhiêu lời chúng tụng tốt đẹp cho cô dâu chú rể, chúc cho họ được trăm năm hạnh phúc.
           Rượu là một thành phần không thể thiếu được trong tiệc cưới vì rượu làm cho khách dự tiệc thêm hứng khởi như  Sách thánh đã nói:”Vinum laetificat cor” (Tv 103,15 ; Eccli 31,35). Đang dự tiệc mà thiếu rượu thi thật là nhục nhã và khổ tâm cho gia chủ.
           Nhưng may thay, Mẹ Maria có mặt ở dưới bếp và Ngài biết rõ sự cố xẩy ra vì Ngài thấy người ta xì xèo, bàn tán xôn xao và nỗi lo lắng hiện ra trên nét mặt gia chủ và những người phục vụ. Không cần phải ai nhờ vả, Mẹ Maria đã nhanh chân lên nhà trên, ghé vào tai Đức Giêsu và nói:”Họ hết rượu rồi”. Mẹ đã xin thì Chúa Giêsu không thể từ chối nên Ngài đã làm phép lạ cho nước hóa thành rượu. Rượu mới này vừa ngon lại vừa dồi dào, mọi người tha hồ chén tạc chén thù
           Qua sự cố này, chúng ta thấy tiệc rượu bao giờ cũng vui, hết rượu thì lo buồn và có thêm rượu thì lại vui. Biến cố này hé mở cho chúng ta thấy đời sống hôn nhân gia đình bao giờ cũng khởi đầu bằng sự vui mừng, nhưng trong quá trình của cuộc sống rượu tình đôi lúc cũng bị vơi, có lúc cạn kiệt bởi những sự va chạm, xích mích và những bất hòa làm cho gia đình phải chao đảo cóù khi đi đến chỗ tan vỡ. Nhưng nếu biết chịu đựng lẫn nhau, biết dung hòa những quan điểm khác nhau làm nên một sự hiệp nhất thì đời sống gia đình lại trở nên vui tươi đầm ấm.
 
II. PHẢI TẬP THÍCH NGHI.
           Trong đời sống hôn nhân, không bao giờ vợ chồng có cùng một tính khí, một ước vọng hay một quan điểm bởi vì “bá nhân bá tính”, làm sao có thể có sự đồng nhất được mà chỉ có sự hòa hợp, hòa đồng  với nhau. Ngoài ra, nếu hai người có một tính khí như nhau, một ước vọng, một sở trường sở đoản như nhau thì đời sống sẽ mất vui đi vì cần phải có sự đa dạng, cần có sự bổ túc cho nhau để làm nên một cái gì mới.
           Có người hỏi một bà :
          - Trong cuộc sống 20 năm của ông và bà, bà cảm thấy có những gì chung nhất ?
          Bà vợ suy nghĩ một hồi lâu rồi trả lời :
          - Điểm chung nhất là chúng tôi cưới cùng ngày, cùng tháng, cùng năm.
           Như vậy, không ai giống ai, mỗi người có một thế giới riêng. Thế giới của chồng thì khác với thế giới của vợ, và ngược lại, thế giới của vợ chắc chắn phải khác với thế giới của chồng. Chính vì vậy người ta mới nói :
                                      Thế gian được vợ hỏng chồng,
                                      Có đâu lại được cả ông lẫn bà.
                                                   (Ca dao)

 Khi học về tâm lý hôn nhân, chúng ta đã được học 5 định luật về sự khác biệt giữa đàn ông và đàn bà. Chỉ còn có một cách là hai vợ chồng phải bổ túc cho nhau để làm nên sự hòa hợp chứ không bao giờ có sự đồng nhất cả.

                                                 Truyện : Con thằn lằn.
          Bỏ xứ mình để đến phục vụ tại nơi đất khách quê người quả là một lý tưởng đáng ca ngợi. Hiện nay, người ta thấy có rất nhiều thanh niên thiếu nữ tây phương chán cuộc sống trống rỗng, thiếu lý tưởng trong xã hội dư dật, đã tình nghuyện sang các nước thuộc thế giới thư ba để phục vụ.
           Một thanh niên nọ đã xin đến Aán độ để phục vụ người nghèo. Ra đi hồ hởi bao nhiêu, giờ này chạm với thực tế, anh cảm thấy thất vọng bấy nhiêu. Tất cả đều xa lạ và tất cả đều làm anh chán nản : từ khí hậu cho đến thức ăn, điều kiện sống và nhất là những khuôn mặt xem ra rất bí hiểm đối vói anh. Nhưng điều làm cho anh mất hết kiên nhẫn lại là một điều không đáng quan tâm mấy.
           Người ta dành cho anh một căn phòng không sạch sẽ và dĩ nhiên cũng không nhiều tiện nghi lắm, anh dọn dẹp và sắp xếp lại cho tươm tất.. Duy chỉ có một chướng ngại mà anh không thể vượt qua để có thể sống bình thản. Đó là sự hiện diện của một con thằn lằn. Anh tìm mọi cách để xua đuổi nó ra khỏi căn phòng, nhưng vô ích. Đâu lại vào đó, anh đuổi nơi này, nó chạy vào nơi khác. Cuối cùng con vật chui được vào trong tủ đựng thức ăn và ngự trị hẳn trong đó. Không còn biết làm cách nào khác hơn để tẩy chay con vật, anh đành phải nghĩ đến chuyện làm quen với nó.
           Dần dần, con thú đã trở thành một người bạn của anh. Mỗi khi đi đâu về, việc đầu tiên của anh là tìm cho được chú thằn lằn. Khi con vật đã trở thành thân thiết với anh, anh đặt cho nó một cái tên và trò chuyện với nó. Từ một con vật dơ bẩn xấu xa, giờ này anh nhìn thấy nơi nó rất nhiều đức tính trong đó quan trọng hơn cả đó là tài săn muỗi của nó.
           Sự hiện diện của chú thằn lằn đã giúp cho anh khám phá được một chân lý trong cuộc sống : những khó khăn không đến từ môi trường chung quanh, mà chính là bản thân của anh.
(Lẽ sống tr 64-65).
           Miền Hậu giang của chúng ta bị lũ lụt hằng năm mà không thể nào tránh được. Người ta phải tìm cách sống chung với lũ. Đã không chống lại được thì phải tìm mọi cách để sống chung với lũ mà mình không bị thiết hại. Đã không chống lại được thì phải tìm cách thỏa hiệp.
           Chúng ta vẫn thường lặp lại câu thơ của Nguyễn Du :”Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”, như để nói rằng lắm khi chúng ta mặc cho ngoại cảnh chính tâm trạng của chúng ta. Khi chúng ta vui, chúng ta cảm thây như cảnh vật chung quanh cũng vui lây. Khi chúng ta buồn, cảnh có đẹp đến đâu, chúng ta vẫn thấy u ám, Lắm khi những vấn đề khó khăn  không đến với chúng ta từ ngoại cảnh, từ những người khác, mà chính từ chúng ta. Gương mặt cau có của chúng ta thường được chúng ta nhìn thấy nơi tất cả mọi người chung quanh, cảnh vật chung quanh chỉ là phản ảnh cái tâm trạng của anh. Trái lại, khi chúng ta vui, chúng ta sẽ cảm thấy như mọi người đều vui vẻ với chúng ta. Quả thật, chúng ta đong đấu nào, thì người ta sẽ đong đấu ấy lại cho chúng ta.
          Những khó khăn xẩy ra cho chúng ta  nhiều khi không phải do người khác hay ngoại cảnh gây nên mà do chính lòng chúng ta đã tạo nên nó. Cho nên, người xưa dạy :”Tiên trách kỷ, hậu trách bỉ” : trước tiên phải trách mình, sau mới trách người. Như thế, chính mình là nạn nhân của những sai lệch mình tạo ra.
           Chúng ta không thể theo chủ trương của những người theo thuyết hiện sinh vô thần được và ông tổ của họ là Jean Paul Sartre. Không hiểu ông Sartre có cái nhìn thế nào mà dám tuyên bố một câu xanh rờn :”L’enfer, c’est les autres” : tha nhân là hỏa ngục đối với tôi. Nhưng ta có thể hỏi ngược lại : tha nhân là hỏa ngục của ông hay ông là hỏa ngục của tha nhân ? Thưc ra, thiên đàng hay hỏa ngục ở ngay chính trong lòng mình : hễ mình nghĩ thế nào thì chính mình sẽ ra thể ấy.
 
                                      Truyện : Phải sửa lòng mình trước.
          Có một chàng thanh niên khao khát trở thành một thánh nhân. Chàng xin vào một dòng tu. Không mấy chốc, chàng khám phá ra tính tình nóng nảy của mình. Nhưng thay vì tìm căn nguyên nơi mình, chàng qui trách cho những người chung quanh. Tha nhân đã trở thành hỏa ngục đối với chàng. Sau cùng, không còn chịu nổi đời sống tập thể nữa, chàng nghĩ có thể tìm thấy sự yên tĩnh trong sa mạc. Thế là chàng đã lên đường tìm đến một nơi hoang vu vắng vẻ để cắm lều sống đời ẩn sĩ. Mà thật thế, chàng đã tìm lại được sự thanh thản trong tâm hồn.
           Tuy nhiên, sự bình an trong cô quạnh ấy không kéo dài được. Ma quỉ đã kéo đến và chúng đã gây xáo trộn trong căn lều xinh xắn của chàng. Không còn giữ được bình tĩnh, chàng đã nổi cơn tam bành và đạp đổ tất cả…
           Sau cơn giận dữ, trở lại trạng thái bình thường, chàng mới hồi tâm suy nghĩ : Tôi đã bỏ lại tu viện các anh em của tôi, nhưng tôi lại mang chính tôi vào sa mạc. Không phải anh em tôi là căn nguyên của đau khổ của tôi, nhưng tính tình của tôi mới là đầu mối của mọi đổ vỡ…
           Trong việc thích nghi với hoàn cảnh sống, sự nhịn  nhục là một yếu tố quan trọng không thể thiếu được. Muốn dung hòa được sự khác biệt thì cần phải từ bỏ mình, chịu nhìn nhận quan điểm của người khác, còn nếu cứ khăng khăng giữ lấy quan điểm của mình thì không bao giờ có sự dung hòa được. Vì thế người ta mới nói:
                              Nhẫn thị thân chi bảo, bất nhẫn thân chi vong,
                             Thiệt nhu thường tại khẩu, xỉ chiết chỉ vị cương.
                                                (Sách Cảnh Hành lục)

                   Nghĩa là:
                             Nhịn là của báu của thân mình,
                             Chẳng nhịn là vạ của thân mình.
                             Lưỡi mềm vẫn còn nơi miệng,
                             Răng gẫy chỉ vì cứng.

Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt

 
 

HônPhối 61: TÔI SẼ MỈM CƯỜI

I. SUY NIỆM LỜI CHÚA. : Mt 16,24-28.
 

Sau khi Đức Giêsu được các môn đệ tuyên xưng rõ ràng Ngài là Đấng Thiên Sai: ”Thầy là Đấng HônPhối 61

Sau khi Đức Giêsu được các môn đệ tuyên xưng rõ ràng Ngài là Đấng Thiên Sai: ”Thầy là Đấng Kitô Con Thiên Chúa hằngsống”(Mt 16,16). Thì Ngài tiết lộ cho các ông biết Ngài đang tiến về Giêrusalem để chịu khổ nạn. Thánh Phêrô không thể nào chấp nhận được việc làm của Ngài nên nên sau khi quở trách Phêrô vì đã cản ngăn Ngài đi theo con đường thập giá, Đức Giêsu nói thêm rằng con đường ấy là con đường mà bất cứ ai muốn làm môn đệ Ngài đều phải đi theo:”Nếu ai muốn theo Thầy thì hãy từ bỏ mình và vác thập giá mình mà theo”(Mt 16,24).
           “Nếu ai muốn theo Thầy…”: Chúa không ép ta theo Ngài, Chúa không buộc ta bỏ mình và vác thập gia. Ngài chỉ mời ta thôi và cho ta tự do. Nếu ta muốn theo thì hãy bỏ mình và vác thập giá, nếu không thì thôi.
           Nhưng vì thương ta, nên Ngài cho biết những sự lợi hại : “Ai muốn cứu mạng sống mình thì sẽ mất, còn ai đánh mất mạng sống mình vì Ta thì sẽ được sống”, và “Được lời lãi cả thế gian mà thiệt hại sự sống mình thì được ích gì”?
           Chúa không bảo chúng ta đi tìm thập giá, nhưng là hãy vác lấy thập giá mình. Một cách nào đó, không ai có thể thoát khỏi thập giá trong cuộc sống (…). Đau khổ không phải là một đầy đọa mà con người phải gánh chịu, mà là một phương thế nên thánh. Mỗi người một thập giá, mỗi ngày một thập giá. Ai trong chúng ta cũng đang chịu một đau khổ nào đó. Ước gì khổ đau thanh luyện chúng ta để mỗi lúc được kết hợp với Chúa mật thiết hơn (Mỗi ngày một tin vui).
 
II. THẬP GIÁ TRONG CUỘC ĐỜI.
           1. Ai cũng  có thập giá.
           Thập giá được hiểu là nhữngg đau khổ mà con người phải gánh chịu trong đời sống hằng ngày. Ai mà không có đau khổ ? Chỉ ai được hưởng hạnh phúc tuyệt đối rồi mới không còn đau khổ, mà hạnh phúc tuyệt đối này chỉ có trên thiên đàng.
          Trong kinh Lạy Nữ Vương, ta thấy có tư tưởng coi thế gian là thung lũng nước mắt (vallum lacrimarum), là chốn khách đầy. Đức Phật Thích Ca gọi đời là “bể khổ”. Thi sĩ Nguyễn gia Thiều diễn tả tư tưởng ấy trong cái nhìn yếm thế về cuộc đời:
                                       Trắng răng đến thuở bạc đầu,
                                      Tử, sinh, kinh, cụ làm nau mấy lần.
                                                (Cung oán)

           Đức Giêsu cũng khuyên hãy chấp nhận đau khổ, nhưng phải bình tĩnh đừng lo lắng quá, hãy tin tưởng vào Chúa quan phòng bởi vi “Sự khốn khó ngày nào đủ cho ngày đó”.
 
          2. Chấp nhận hay từ chối.
           Đứng trước thập giá của cuộc đời, mỗi người có một thái độ : có người chấp nhận, có người từ chối. Người biết chấp nhận thì nhìn đời với con mắt lạc quan, không coi đời là bể khổ mà chỉ coi đời có những đau khổ cần phải vượt qua, đôi lúc coi đau khổ là cần thiết vì nó là lò luyện đức luyện tài :
                                      Nếu phải đường đời bằng phảng cả,
                                      Anh hùng ào kiệt có hơn ai.
                                                (Phan bội Châu)

                             Hoặc :
                                      Bốn mùa ví những xuân đi cả,
                                      Góc núi ai hay sức lão tùng.
                                           (Nguyễn công Trứ)

           Còn những người không biết chấp nhận mà phải chịu đựng một cách miễn cưỡng thì họ nhìn đời với cặp mắt bi quan, chỉ biết than thân trách phận, chống trời chống người, . Họ không biết thoát ra hay sống chung với đau khổ mà chỉ than van như những người hiện sinh vô thần : Tại sao tôi sinh ra trong đau khổ, sống đau khổ rồi chết cũng đau khổ ? Không tìm ra được câu giải đáp nên họ kết luận : Đời là phi lý.
 
          3. Cách vác thập giá.
           Có hai cách vác thập giá : một là tự nguyện, hai là miễn cưỡng. Thái độ tự nguyện sẽ làm cho thập giá trở nên nhẹ nhàng, còn thái độ miễn cưỡng thì làm cho thập giá càng nặng thêm, mặc dầu thập giá đó đều bằng nhau.
 
                                      Truyện : Hai cách vác thập giá.
          Thầy Napoléon Almoint đã kể câu chuyện vui sau đây :
          Một hôm, Chúa Giêsu hiện ra với hai trong số muôn vànmôn đệ của mình, và Ngài đưa họn đến một đầu đường, rồi trao cho mỗi người một cây thập giá giống nhau và nói :
          - Mỗi người các con hãy vác lấy thập giá này đi đến cuối đường trước mặt, Thầy sẽ đợi các con ở đó.
          Nói xong, Chúa biến đi. Hai đồ đệ bắt đầu vác lấy thập giá mình.
          Người thứ nhất vác lấy thập giá mình cách nhẹ nhàng, chân rảo bước ngày càng nhanh, xem ra như không có vấn đề gì cản trỏ hay gây phiền phức cho anh cả. Nội trong ngày, anh đã đến cuối đường và gặp Chúa Giêsu đang chờ sẵn nơi đó.
          Người thứ hai, mãi sang chiều ngày hôm sau mới đi trọn con đường. Có vẻ anh rất mệt mỏi, không còn vác nổi mà chỉ còn biết kéo lê cây thập giá. Thập giá của anh xem ra mỗi lúc một nặng thêm. Anh gần như kiệt sức. Vừa gặp Chúa, anh phàn nàn ngay :
          - Chúa đối xử bất công quá. Chúa cho con cây thập giá rất nặng. Còn anh kia, Chúa cho cây thập giá nhẹ hơn, nên anh đã đến trước con từ lâu rồi.
          Gương mặt vui tươi của Chúa bỗng trở nên nghiêm nghị. Chúa đáp :
          - Này con, Ta không đối xử bất công đâu. Hai cây thập giá giống nhau và nặng bằng nhau. Con đừng trách thập giá nào nhẹ nó trở nên nặng là vì trong tâm hồn con. Ngay từ lúc đầu, trong suốt thời gian đi trên quãng đường Ta chỉ, con luôn luôn than phiền, trách móc, thập giá nặng, và càng than phiền, thì thập giá càng trở nên nặng nề. Người bạn đồng hành với con đã đến trước vì lúc nào trong tâm hồn cũng tràn đầy yêu thương. Thình yêu làm thập giá trở nên nhẹ nhàng (R. Veritsa, Aùnh sáng thế gian, tr 68-69).
 
III. NGHỆ THUẬT VÁC THẬP GIÁ.
           1. Phải vui tươi lên.
           Tôi phải vui cười, không phải vì”cuộc đời chẳng qua là trò phường chèo, không co chi là nghiêm trang, đến nỗi người hiền phải nhăn mày mà nghĩ ngợi” (Nguyễn văn Vĩnh).
           Cũng không phải là “cười, kẻo chết đến mà chưa được cười”(La Bruỳere).
           Tôi phải cười, vì đã có lời Chúa phán với tôi : Hãy vui lên, hãy hát lên”(Mt 5,12).
          Và lời thánh Phaolô :”Hãy vui lên, hãy vui lên nữa”(Pl 4,4)

           2. Tôi sẽ mỉm cười.
           Một chị nữ tu nọ gặp nhiều thử thách, nào là va chạm trong cuộc sống chung đụng với chị em, nào là khi công việc không thành công liền bị phê bình chỉ trích thế này thế khác… Những thử thách ấy lắm lúc  làm chị nản lòng thối chí. Nhưng sau những phút suy niệm Lời Chúa trước Chúa Giêsu Thánh Thể, chị đã quyết tâm sống can đảm, chị làm việc vì Chúa, chị tìm kiếm thánh ý Chúa, không sợ dư luận bàn tán vào ra. Chị chọn một câu châm ngôn rất đơn sơ:”Tôi sẽ mỉm cười”. Sáng vùa thức dậy, chị nói ngay:”Hôm nay tôi sẽ mỉm cười”. Trước mọi hoàn cảnh khó khăn, chị tự nhủ :”Tôi sẽ mỉm cười”. Từ đó công việc hóa ra nhẹ nhàng, mọi người chung quanh chị cũng được thoải mái vui tươi. Người nữ tu mỉm cười đó, chính là thánh Têrêsa Hài đồng Giêsu, quan thầy các xứ truyền giáo.
 
          3. Ảnh hưởng của nụ cười.
           Có một thanh niên đang đi trên đường phố, bỗng gặp thấy một thiếu nữ khá xinh đi ngược chiều. Không biết cô ấy đã nghĩ điều gì vui trong lòng mà tự nhiên cô nở một nụ cười thật tươ, đúng vào lúc chàng trai kia đi qua. Bốn mắt giao nhau. Chàng trai cảm thấy vui sướng vì nghĩ rằng  người đẹp chú ý đến mình. Lòng chàng trai cảm thấy rộn ràng, sảng khoái. Chàng vừa bước đi vừa huýt sáo nho nhỏ…Về đến nhà, anh nhìn thấy sách vở của mình nằm lộn xộn trên bàn, bút viết mỗi nơi mỗi chiếc. Hai đứa em ngỗ nghịch đã phá phách lúc anh vắng nhà đấy mà ! Thường ngày thì nỗi đứa  chắc đã nhận được một, hai cái tát tai rồi, nhưng hôm nay, vì đang vui, nên anh biết tự chủ, dằn được cơn nóng giận. Anh yên kặng xếp lại sách vở cho ngăn nắp.
           Hai cậu em, thấy anh mình hôm nay tỏ vẻ nhịn nhục, nên hối hận> Chiều đó, hai cậu tự động học bài, làm bài, không chờ mẹ phải thúc giục như mọi ngày. Bà mẹ cũng ngạc nhiên khi thấy các con mình hôm nay ngoan quá, nên muốn nấu mon canh sao cho thật ngon để chiêu đãi cả nhà.  Oâng bố mọi khi đi làm về thường hay cằn nhằn, hoặc lớn tiếng về những chuyện không đâu, như để bù trừ những nhọc nhằn vất vả phải gánh chịu suốt cả ngày. Nhưng hôm nay, khi bước vào nhà, nghe tiếng con trẻ học bài, nhìn sang thấy vợ vừa nhặt rau vừa tủm tỉm cươi, ông liền cảm thấy lòng thư thái, an vui. Buổi tối hôm ấy, mọi gnười đếu thấy bầu khí gia đình ấm áp, hạnh phúc, nhưng không ai biết tại sao.
           Sáng hôm sau, hai cậu bé đi học. Đến lớp, thầy giáo hỏi câu nào hai cậu đều trả lời trôi chảy câu đó. Thầy giáo tỏ vẻ hài lòng, và bỗng nhiên, bài giảng của thầy hôm ấy thật là sôi nổi, hào hứng. Thỉnh thoảng, thầy còn thêm vào vài câu chuyện cụ thể làm ví dụ, nên cả lớp đều chăm chú lắng nghe, không còn ai ngủ gà ngủ gật như trước nữa. Bọn trẻ tự nhủ : thầy giáo dạy tận tâm như thế mà lâu nay chúng mình biếng nhác quá, làm phiền lòng thầy. Thôi, yư nay, chúng mình phải chăm chỉ hơn mới được. Thế là ngay chiều hôm ấy lại có thêm mấy chục gia đình cảm thấy bầu khí gia đình  bỗng trở nên vui tươi hạnh phúc và rộn ràng vì tiếng trẻ học bài.
(Góp nhặt 4, tr 108).
           Đọc xong câu chuyện này, chúng ta nhận thấy hạnh phúc gia đình và xã hội có thể được bắt nguồn từ một cử chỉ rất đơn sơ nhỏ bé như một nụ cười của một cô gái không quen bắt gặp trên đường phố. Một nụ cười tự nhiên mà còn có ảnh hưởng sâu rộng khó lường như thế, thì một nụ cười siêu nhiên sẽ có giá trị lớn biết bao ! Có lẽ chỉ kh nào vượt khỏi phạm trù thời gian và không gian, chúng ta mới thấy được hết hậu quả của nụ cười thấm nhuần tình thương Kitô giáo.
           Người ta nói :”Một nụ cười bằng mười thang thuốc bổ” thì biết rằng nụ cười đem đến cho người ta nhiều lợi ích như thế nào cả về phương diện thể xác, cả về phương diện tâm linh. Nếu chúng ta nở được một nụ cười trong lúc gặp đau khổ thì nụ cười ấy đáng giá biết bao trước mặt Thiên Chúa “Đấng làm cho tuổi xuân ta được vui tươi”. Khi gặp đau khổ trong gia đình, vợ chồng hãy cố nở một nụ cười như thánh nữ Têrêsa Hài đồng, thì chắc chắn sự đau khổ ấy sẽ được giảm đi hoặc biến mất.
 Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt


 

HônPhối 62: NHỮNG CHUYỆN LẶT VẶT

I. LỜI CHÚA : Ep 5,2a.21-38.
 

Trong thư mục vụ gửi cho tín hữu Ephêsô và Colossê, thánh Phaolô luôn chú trọng tới đời sống HônPhối 62

Trong thư mục vụ gửi cho tín hữu Ephêsô và Colossê, thánh Phaolô luôn chú trọng tới đời sống gia đình và khuyên nhủ tín hữu hãy yêu thương nhau, nhất là đối với vợ chồng. Ngài khuyên mọi người hãy yêu thương nhau theo khuôn mẫu tình yêu của Chúa:”Anh em hãy sống trong tình bác ái, như Đức Kitô đã yêu thương chúng ta, và vì chúng ta, đã tự nộp mình làm hiến lễ”(Ep 5,2a).
           Mgài khuyên vợ chồng hãy yêu thương nhau như tình yêu giữa Chúa Kitô và Hội thánh. Vợ chồng đã trở nên một thân xác, một tinh thần thì không còn lý do nào mà không yêu nhau nữa vì “có ai ghét thân xác mình đâu”? Nếu vợ chồng không yêu thương nhau là đã tự mâu thuẫn. Điều đó không hợp lý.
           Tuy vợ chồng đã thành một xương một thịt nhưng mỗi người vẫn là một nhân vị, một cá nhân đặc thù với những khuynh hướng, ước vọng và tính tình khác nhau. Chính vì sự khác biệt của mỗi cá nhân mà đời sống chung mới có những va chạm, những xích mích, những bất hòa ngấm ngầm hay bùng nổ. Muốn cho đời sống gia đình được hài hòa, dễ chịu, chỉ còn một cách là chịu đựng lẫn nhau và đừng để ý đến những chuyện lặt  vặt trong đời sống hôn nhân.
 
II. AI CŨNG CÓ LÝ.
           Muốn có đời sống cộng đồng thì phải có nhiều người qui tụ lại bởi vì một cây không làm nên khu rừng. Cộng đoàn là tập hợp nhiều cá nhân làm nên một cái gì chung nhất. Cộng đoàn được coi như một vườn hoa muôn mầu sắc. Mỗi hoa có một vẻ đẹp riêng, không hoa nào giống hoa nào. Nếu cả vườn chỉ có một thứ hoa, một mầu hoa thì vườn hoa sẽ mất đẹp đi. Muốn có vườn hoa hấp dẫn thì cần phải đa dạng.
           Cũng thế, trong một cộng đoàn phải có nhiều người và mỗi người có một tính tình khác nhau, bổ túc cho nhau để làm nên một cái gì hài hòa dễ chịu. Người ta thương nói :
                                     Sống mỗi người một nết,
                                      Chết mỗi người một tật.

           Nếu “sống mỗi người một nết” thì sẽ gây ra những va chạm vì tính khí người này không hợp với người kia. Theo tâm lý chung, ai cũng muốn làm theo sở thích của mình và ai cũng có cái lý riêng của mình và muốn bảo vệ nó đến cùng, mặc dầu lý ấy ít được thuyết phục, đôi khi còn trở nên “lý cùn”nữa.
 
                                      Truyện : Ai cũng có lý.
          Cách đây không lâu, tại nhà của một quan tòa ở Milanô, bên Italia,  đã xẩy ra một câu chuyện như sau : Có hai người tranh chấp với nhau lâu ngày. Người thứ nhất trình bầy câu chuyện và tự biện hộ cho mình. Anh vừa dứt lời thì quan tòa dõng dạc tuyện bố :”Anh có lý”. Đến lượt người thứ hai phân trần, anh cũng đưa ra mọi lý lẽ để làm nghiêng cán cân công lý về phía mình. Sau khi nghe anh trình bầy dong dài, quan tòa cũng tuyên bố:”Anh có lý”.
          Cậu con trai nhỏ của quan tòa theo dõi câu chuyện từ đầu. Nó ngạc nhiên vô cùng làm thế nào cả hai đều có lý cả ?  Quan tòa cũng đưa ra phán quyết về nhận xét của con mình như sau :”Con cũng có lý”. (Lẽ sống, 259-260)
  Mỗi người chúng ta ai cũng có lý của mình, nhưng có lẽ chúng ta không muốn nhận ra phần có lý của người khác, cũng như chính phần lỗi của mình. Và đó chính là nguyên nhân của mọi bất hòa. Người ta thương nói :”Nhân vô thập toàn”, điều đó ai cũng phải công nhận, nhưng cũng không có ai là người xấu hoàn toàn. Nếu chúng ta biết khiêm tốn nhận ra những giới hạn của mình và chấp nhận giá trị của người khác, thì chúng ta có lẽ sẽ không bất mãn về người khác cũng như đối với chính mình. Cuộc sống chỉ có thể thở được nếu mỗi người chúng ta biết cử xử bằng sự cảm thông và tha thứ.
 
III. BỎ QUA NHỮNG CHUYỆN LẶT VẶT.
           Trên nguyên tắc sống trong những cộng đoàn lớn thì sẽ có nhiều va chạm hơn vì “bá nhân bá tính”, nhưng trong thực tế, đời sống gia đình lại xẩy ra nhiều sự va chạm hơn. Ở trong cộng đoàn lớn, nhiều người thì có nhiều va chạm nhưng lại dễ giải tỏa hơn, còn trong đời sống gia đình, chỉ có vợ chồng và mấy đứa con mà những xích mích, va chạm, bất hòa xẩy ra như cơm bữa và khó có điều kiện giải tỏa vì hai người luôn phải sống bên nhau, phải giáp mặt nhau hằng ngày.  Trong đời sống gia đình đôi lúc gặp những khó khăn lớn hoặc gặp một tai họa ghê gớm thì cùng nhau tìm cách đối phó, nhưng rồi lại để cho những lo lắng nhỏ mọn vô lý thắng mình làm cho mình phải đau khổ.
 
                                      Truyện : Đô đốc Byrd.
          Đô đốc Byrd cũng nhận thấy điều đó trong những đêm ở Nam Cực lạnh buốt sương và tối như âm phủ. Oâng nghe bọn tùy tùng phàn nàn về những chuyện lặt vặt hơn là về những việc lớn.Họ vui vẻ chịu hết mọi nguy hiểm, khổ sở, vì thời tiết lạnh tới 45 độ dưới số không. Nhưng ông đã thấy hai người sống mà giận nhau đến nỗi không thèm nói với nhau nửa lời, chỉ vì người này nghĩ người kia lấn sang chỗ để đồ của mình chừøng vài phân.
          Một người nữa không chịu ăn, nếu không tìm được chỗ khuất để khỏi trông thấy một tín đồ kỳ cục, cứ mỗi miếng ăn thì nhai đủ 28 lần rồi mới nuốt.
           Đô đốc có thể nói thêm rằng :”Những chuyện vụn vặt trong hôn nhân có thể làm cho người ta gần hóa điên, và có thể sinh ra năm chục phần trăm bệnh đau tim ở đời này”.
           Đó chính là ý kiến của nhà chuyên môn : như ông tòa Joseph Sabath ở Chicago, một người đã rán điều giải trên 90.000 vụ ly hôn, ông tuyên bố :”Phần nhiều những cặp vợ chồng xin ly dị đều do truyện lặt vặt hết”.
           Oâng F.S.Hogan chưởùng lý New York nói :”Già nửa các vụ xử trong tòa đại hình đều do những nguyên nhân rất nhỏ : thách dọa nhau trong quán rượu, kẻ ăn người ở gây gỗ nhau, một câu xỉ nhục, một lời nói mất lòng, một hành vi thô lỗ, những cái lăng nhăng đó, đưa tới ẩu đả và án mạng. Rất ít người tàn ác xấu xa lắm. Một nửa những đau đớn của ta  là bởi lòng tự ái bị tổn thương nhẹ, hoặc lòng kiêu căng bị kích thích nhục nhã”.
           Vậy phải tập thói quen bỏ qua, và coi thường những chuyện lặt vặt để nó khỏi làm ta điên đảo. Nên nhớ rằng : “Đời chúng ta chẳng sống được bao lâu, hơi đâu mà chấp nhất những chuyện nhỏ nhen không đáng kể”.
          Trong đời sống cộng đồng cũng như trong đời sống gia đình, không thể nào tránh được những sự va chạm bởi những ý kiến khác nhau và có khi còn chống đối nhau, bí quyết để tìm sự hài hòa và làm cho cộng đoàn được vui tươi đầm ấm thì chỉ có một cách là nhịn nhục, chịu đựng lẫn nhau. Người ta thường nói :”Một sự nhịn chín sự lành”, càng nhịn được bao nhiêu càng thành công bấy nhiêu. Nhịn nhục không phải là thái độ của con người hèn yếu, mà trái lại, là thái độ của những tâm hồn cao thượng, của những bậc anh hùng biết thắng được tính tự ái của mình.

                                       Truyện : Ai quyết định ?
          Trong ngày mừng lễ Kim khánh hôn phối của một ông cụ, một anh thanh niên đến hỏi xem cụ có bí quyết nào mà sống hạnh phúc trong 50 năm như vậy.
          Oâng cụ tươi cười xoa tay nói :
          - Bí quyết hả ? Tôi chỉ có bí quyết đơn sơ này thôi : Khi hai người nhất trí về công việc gì thì người quyết định là tôi, còn nhữøng việc gì hai người chúng tôi chưa nhất trí, thì người quyết định là vợ tôi !
           Ôâng cụ này lạc quan thật !  Oâng không ngần ngại nói lên sự thật và chẳng nghĩ ngợi gì vì ông biết hành động theo sự khôn ngoan của người xưa:”Tránh voi chẳng xấu mặt nào” ! Vợ chồng có nhịn nhục nhau thì cũng chẳng đi đâu mà thiệt, lại còn làm tăng hạnh phúc cho gia đình, nêu gương sáng cho con cháu nữa.
 Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt


 

HônPhối 63: NGỤC TÙ

I. SUY NIỆM LỜI CHÚA.
           Chúng ta đọc : Lc 22, 33 ; Ep 4,1.
 

Phêrô là một Tông đồ rất nhiệt thành, hăng say và bộc trực. Ông hay nói hay làm. Vì là con HônPhối 63

Phêrô là một Tông đồ rất nhiệt thành, hăng say và bộc trực. Ông hay nói hay làm. Vì là con người bộc trực ít suy nghĩ, có sao nói vậy, nên ông hay lỡ lời. Vì thế, nhiều lúc Chúa khen ngợi ông vì ông nói hay, nói đúng, có lúc Chúa quở trách ông vì nói dở. Nhưng dù sao lời nói và thái độ của ông cũng biểu lộ tính ngay thẳng, lòng nhiệt thành và yêu mến Chúa hết tình.
           Trong tình Thầy trò, Chúa Giêsu đã tiên báo cho ông biết trước : ông bị ma qủi thử thách nặng nề và ông sẽ bị sa ngã đấy. Nhưng Phêrô thẳng thắn thưa với Ngài với tất cả sự can đảm:”Thưa Thầy, dầu có phải vào tù hay phải chết với Thầy đi nữa con cũng sẵn sàng”(Lc 22,33).  Ông đã cương quyết thề với Chúa như vậy đó !  Nhưng Phêrô có là tảng đá đi nữa thì cũng có thể bị tan vỡ. Và thực tế đã chứng minh điều đó. Tuy thế, với tình thương yêu đối với người môn đệ nhiệt tình như thế, Ngài đã hàn gắn lại cho nguyên vẹn.
           Thực sự, Phêrô là con người cương trực, theo suy nghĩ của ông, ông dám “ngồi tù” vì Thầy. Suy nghĩ đó chứng tỏ ông rất yêu Chúa.  Lòng yêu mến còn được chứng minh khi ông thưa với Chúa ba lần:”Thưa Thầy, Thầy biết con mến Thầy”(x. Ga 21,15-19).
           Thánh Phaolô cũng là con người rất yêu Chúa. Ngài đã phải vào tù ra khám biết bao nhiêu lần nhưng vì tình yêu Chúa Kitô thúc đẩy nên ngài đã coi thường tất cả. Ngài đã phải nói :”Không gì có thể tách tôi ra khỏi lòng mên Đức Kitô”. Chính vì vậy, khi viết thư cho tín hữu Ephêsô, ngài đã không ngần ngại tự giới thiệu :”Tôi là tù nhân của Đức Kitô”(Ep 4,1).
         
II. TẢN MẠN VỀ NGỤC TÙ
           1. Ngục tù là gì ?
           Tù nghĩa là bắt người có tội hay nghi là có tội mà giam lại. Chữ TÙ gồm có hai bộ là bộ “vi” và bộ “nhân”. Bộ nhân nằm trong bộ vi có nghĩa là  một người bị giam cầm trong vòng vây. Do đó ta có chữ “tù nhân”.  “Tù chung thân”  là người tù bị án mãn đời chỉ có cuộc đại xá mới được ra.  Còn “tù ngục” hay “ngục tù” là nơi giam hãm người có tội hay nghi là có tội.
           2. Hôn nhân và ngục tù.
           Bất kỳ ai khi lập gia đình cũng muốn tìm đến hạnh phúc, cho nên ai cũng chúc cho đôi tân hôn được trăm năm hạnh phúc, chứ đâu lại chúc cho gặp bất hạnh ? Nhưng cuộc đời có nhiều phức tạp, không phải cứ lập gia đình là có hạnh phúc ngay, mà hạnh phúc chỉ có được bằng sự nỗ lực tạo nên nó, bởi vì hạnh phúc không phải là một thứ tiền chế có sẵn mà người ta có thể cho người khác hay là người ta có thể mua được.
           Khi lập gia đình thì mọi người đều phải chấp nhận hai đặc tính của hôn nhân : đơn nhất và vĩnh viễn , nghĩa là hôn nhân phải ở trong khuôn khổ nhất phu nhất phụ và không được ly dị. Dĩ nhiên, khi lập gia đình thì chỉ còn có một mối tình phu thê. Ngoài ra khi hôn nhân đã thành sự và hợp pháp trước mặt Thiên Chúa và Giáo hội thì hôn nhân trở nên vĩnh viễn :”Sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly”(Mt 19,6).
           Nếu trong đời sống hôn nhân vợ chồng biết hòa thuận thương yêu nhau thì gia đình có hạnh phúc, còn nếu vợ chồng luôn bất hòa với nhau, cãi lộn nhau, đánh đập nhau thì gia đình trở nên bất hạnh, và lúc đó gia đình trở nên “ngục tù”. Chính vì vậy, nhà văn hào Honoré de Balzac đã nói:”Hôn nhân là con đường đưa ta tới thiên đàng hay địa ngục”. Cái đó chờ đợi câu trả lời của từng người : hôn nhân có thể là thiên đàng, cũng có thể là hỏa ngục.
 
          3. Hôn nhân và địa ngục.
           Người ta thường nói:”Nhất nhật tại tù, thiên thu tại ngoại” : một ngày sống trong tù lâu  bằng ngàn năm sống ở ngoài.  Đây là một nhận xét thực tế của những người bị giam hãm tù tội. Đây không phải là thời gian vật lý mà là thời gian tâm lý.
           Chúng ta nghe người ta hát những bài tình ca với những từ ngữ “trái tim ngục tù, trái tim mùa đông”. Không biết trái tim ngục tù này là của người độc thân hay của người lập gia đình. Ngục tù này có thể đến với bất cứ ai, độc thân hay có gia đình vì ngục tù này không phải là một không gian hữu hình mà là ngục tù của tâm hồn.
           Trong gia đình mà vợ chồng không thương yêu nhau thì gia đình ấy có thể trở nên ngục tù và những người ở trong nhà ấy trở nên “tù nhân” và còn trở thành  “tù chung thân”, nghĩa là người tù bị án mãn đời, chỉ có cuộc đại xá mới được ra.  Một gia đình sung túc đến đâu mà trong đó không có tình thương thì cũng như một nghĩa địa. Một xã hội văn minh kỹ thuật mà không có tình thương thì chỉ là một bãi sa mạc. Một gia đình mà không có tình thương thì chỉ là địa ngục.
 
                                      Truyện vui
          Một cô gái là người có đạo, hỏi mẹ :
          - Mẹ ơi, người yêu của con không tin có thiên đàng hay địa ngục, vậy con có nên lấy anh ấy không ?
          Mẹ trả lời ngay :
          - Cứ việc lấy, rồi nó sẽ thấy.

           4. Hôn nhân và thiên đàng.
           Theo giáo lý Công giáo thì Thiên đàng là nơi con người được hưởng kiến thánh nhan Chúa, là nơi được hạnh phúc tuyệt đối và vĩnh viễn. Vậy nếu ông De Balzac nói :”Hôn nhân là con đường đưa ta tới Thiên đàng hay địa ngục” thì câu nói ấy có đúng không, vì có bao giờ người đời được hưởng hạnh phúc tuyệt đối và bất diệt đâu ?  Thiên đàng đây chỉ có tính cách tương đối theo quan niệm nhân gian, nghĩa là sống đời sống thoải mái, đầy đủ trong cảnh gia đình được  thuận buồm xuôi gió, không gặp trắc trở, không gặp những gian nan thử thách, những sự khó khăn lớn lao.
           Thiên đàng trần gian không phải là một điều không tưởng. Đã có nhiều người muốn xây dựng thiên đàng trên trần gian. Họ là những người có thiện chí. Nhưng, nói như một văn sĩ nào đó, con đường xuống hoả ngục được lát đầy bằng những thiện chí. Họ có thiện chí, nhưng những phương tiện mà họ đề ra để xây dựng thiên đàng trần gian ấy lại chỉ là hận thù, chém giết. Thay cho thiên đàng mà họ mơ ước, họ chỉ tạo ra địa ngục đầy đoạ con người mà thôi.
           Thiên đàng là điều con người có thể xây dựng và thụ hưởng ngay từ trần gian này. Thiên đàng là khi con người có được an bình nội tâm và hài hoà với tha nhân. Thiên đàng là mỗi khi con người làm một nghĩa cử cảm thông, tha thứ, phục vụ, hy sinh, quên mình. Thiên đàng là khi con người biết ngoi lên từ những đổ vỡ, thất bại để tiếp tục tin tưởng và yêu thương.
 
III. BIẾN ĐỊA NGỤC THÀNH THIÊN ĐÀNG.
           Có nhiều cách làm cho gia đình được hạnh phúc, làm cho gia đình thành thiên đàng trần gian theo quan niệm bình dân. Ở đây chúng tôi xin đưa ra hai phương pháp mà mọi người có thể thực hiện được :
           1. Tạo nên sự hoà hợp gia đình.
 
          Trong trời đất cũng có lúc mưa lúc nắng, trong gia đình cũng có lúc vui lúc buồn, lúc êm đềm lúc sóng gió. Không bao giờ trong gia đình có thể tránh được sự bất hoà hoặc lớn hoặc nhỏ vì như người ta thường nói:”Bá nhân bá tính” mà ! Những sự bất hoà đó có thể là những bất hoà ngấm ngầm hoặc bùng nổ, cần phải có sự cố gắng để đi đến hoà hợp.
           Theo nhà tâm lý học Nguyễn đình Xuân, ta cần phân biệt “hợp nhau” với “hoà hợp nhau”. Đó là hai khái niệm riêng biệt. Hợp nhau là thích nhau (ví dụ : người hiền lành thì thích và hợp với người hiền lành). Trong khi đó hoà hợp nhau là chấp nhận nhau để hoà nhập với nhau, bù trừ cho nhau, nên có thể người hiền lành lại chấp nhận cưới một người có tính nóng nảy. Hai người sống với nhau ít khi nổi xung, bởi vì người hay nóng luôn luôn được tính hiền lành của người kia làm nguội lạnh đi các cơn thịnh nộ vô lý...
                   (Nguyễn đình Xuân, Tâm lý học Tình yêu gia đình, 1993, tr 112-113)
           Khi hai người không hoà hợp nhau thì sẽ đẩy nhau như hai cực dương hay hai cực âm của pin gặp nhau. Ngược lại, nếu hoà hợp nhau thì hai cực âm dương sẽ thu hút nhau và sẽ phát ra điện.  Tuy thế,  ta cần nhớ câu nói của Đức Khổng Tử :”Hoà nhi bất đồng”. Như ở trên đã nói Hoà đây có nghĩa là dung hoà những khác biệt của nhau để làm nên một cái gì hợp nhất mà không cái nào bị loại trừ như sự hoà hợp của một ly nước chanh đường, trong đó vẫn còn nguyên nước,ø chanh vàđường. Còn Đồng không có nghĩa là đồng nhất, bắt mọi cái phải bị loại trừ để chỉ còn lại một cái duy nhất, ví dụ : vợ phải hoàn toàn giống như chồng hoặc chồng phải hoàn toàn giống như vợ.
 
          2. Sự bao dung và nhẫn nhục trong gia đình.
           Người ta thường nói :”Sống mỗi người một nết, chết mỗi người một tật”. Vợ chồng cũng thế, mỗi người một tính, mỗi người một nết, không ai giống ai. Cho  nên, nhịn nhục, bao dung là rất cần thiết, như lời tiền nhân đã dạy :
                                       Vợ chồng là nghĩa già đời
                                  Ai ơi chớ nghĩ những lời thiệt hơn.

           Sống chung là một cuộc chiến đấu liên lỉ. “Chén bát còn có lúc xô xát, huống chi vợ chồng”. Sống với nhau lâu ngày, tránh sao những lúc “Cơm chẳng lành, canh chẳng ngọt”:
                                       Ngọc nhìn lâu sẽ tìm thấy vết
                                      Hoa để gần sẽ hết mùi hương.

           Gia đình cần phải có sự bao dung. Bao dung là “Tôn trọng và chấp nhận sự khác biệt, sự đa dạng giữa người với người trong mọi chiều kích”. Vì thế, những cặp vợ chồng bao dung sẽ dễ dàng xích lại gần nhau, dễ dàng cần đến nhau, dễ dàng bổ túc cho nhau, nhờ đó họ luôn kiện toàn sự hiệp nhất yêu thương. Léon Tolstoi đã nói:”Yêu là yêu trọn vẹn con người đó y như trong thực tế, chứ không phải như trong giấc mơ của ta”.
           Thực vậy, trong Tông huấn về gia đình Familiaris consssortio, Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II có viết:’Sự hiệp thông trong gia đình đòi hỏi mọi người và mỗi người biết quảng đại và mau mắn mở rộng lòng ra để thông cảm, bao dung, tha thứ và hoà giải với nhau” (số 21).
           Nếu không có tinh thần bao dung, không biết nhường nhịn nhau thì gia đình sẽ lộn xộn và sẽ trở thành địa ngục. Người ở trong ngục thì không ra được trừ khi nào có người thả ra. Những người sống trong hôn nhân thành sự và hợp pháp không ai thả ra được, nghĩa là không ai có quyền tháo gỡ dây hôn phối, vì Chúa đã phán:”Sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly”(Mc 10,9).
           Trong hôn nhân chẳng có kẻ thắng người bại, mà chỉ có hai người cùng thắng hoặc hai người cùng bại. Nhẫn nhục chịu đựng, nhường nhịn nhau thì chắc chắn hai người cùng thắng theo nguyên tắc :
                                      Tránh voi chẳng xấu mặt nào.
           Trong thực tế, không có gia đình nào mà được hoàn toàn “thuận buồm xuôi gió”. Không gia đình nào tránh được mọi gian nan khốn khó, không ít thì nhiều.  Không có gia đình nào mà vợ chồng hoàn toàn tâm đầu ý hợp trong mọi khía cạnh của cuộc sống . Nếu biết sống hoà hợp thì hôn nhân sẽ dẫn tới thiên đàng, ngược lại sẽ dẫn tới địa ngục.
 
                                      Truyện vui
          Một người đàn ông đang giận dữ ở cổng thiên đàng :
          - Tại sao tôi không được vào ?
          - Xin lỗi, ông phải được xác nhận phải trải qua địa ngục thử sức ba tháng mới được vào.
          - Gì mà ba tháng, tôi đã ở địa ngục 40 năm rồi đây. Có vợ tôi xác nhận.
           Do sự phức tạp khó khăn của trách nhiệm đời sống gia đình không phải là mộng, nhưng bù lại, nó được thụ hưởng niềm hạnh phúc thực sự mà chỉ hôn nhân mới có.  Tình yêu nam nữ không chỉ mang lại niềm sung sướng và hạnh phúc nhưng nhiều khi nó cũng đưa đến những đau khổ lớn lao.  Tình trạng mâu thuẫn này chịu ảnh hưởng và có gốc rễ trong những mâu thuẫn chung của bước phát triển xã hội mà quá trình lịch sử luôn sản sinh ra. Do đó, thực tại hôn nhân vẫn chịu hoàn cảnh vừa hạnh phúc vừa gian nan như lời Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II:”Tình cảnh cụ thể trong đó các gia đình đang sống quả là sự pha trộn giữa ánh sáng và bóng tối” (Familiaris Consortio, số 6).
 Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt


 

HônPhối 64: TÌNH YÊU HIẾN TẾ

I. SUY NIỆM LỜI CHÚA.
                    Chúng ta đọc : Lc 22, 14-20 . 1Cr 11, 23-27.
 

Khi giờ đã đến, Chúa Giêsu muốn ăn lễ Vượt qua với các môn đệ lần cuối cùng, Ngài nói:”Thầy HônPhối 64

Khi giờ đã đến, Chúa Giêsu muốn ăn lễ Vượt qua với các môn đệ lần cuối cùng, Ngài nói:”Thầy những khát khao mong mỏi ăn lễ Vượt Qua này với các con trước khi chịu khổ hình” (Lc 22,15). Chúa Giêsu theo mọi lễ nghi phong tục Do thái, nhưng trong bữa ăn này, ngoài nghi lễ bình thường, Người làm một việc lạ lùng chưa từng nghe, chưa từng thấy và không thể tượng được : Ngài lập Bí tích Thánh Thể. Thánh Luca thuật lại: “Chúa Giêsu cầm lấy bánh, dâng lời tạ ơn, bẻ ra, trao cho các ông và nói :”Đây là Minh Thầy, hiến tế vì các con. Các con hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy”. Và tới tuần rượu cuối bữa ăn, Người cũng làm như vậy và nói :”Chén này là giao ước mới, lập bằng máu Thầy, máu đổ ra vì các con”(Lc 22,119-20).
           Chúa Giêsu yêu thương chúng ta, yêu đến tận cùng như Ngài đã nói trước:”Không có tình yêu nào lớn hơn tình yêu của người hy sinh mạng sống mình vì bạn hữu”(Ga 15,13). Thân phận chúng ta là những người tội lỗi phải hư đi đời đời, nhưng vì yêu thương Người đã hy sinh đổ máu mình ra  trên cây thập giá để rửa sạch tội lỗi chúng ta, chuộc lại chúng ta làm con Chúa và được thừa hưởng Nước Trời. Người lại còn muốn ở lại với chúng ta cho đến ngày tận thế nên đã biến mình máu Người làm của ăn nuôi linh hồn chúng ta.
           Đây là một tình yêu cao vời không gì có thể sánh ví được. Tình yêu của Chúa không dừng lại ở mức độ ban ơn cho chúng ta , nhưng tình yêu ấy thúc đẩy Người hiến tế cả con người mình để đem hạnh phúc cho con người, như Người đã nói:”Đây là mình Thầy, hiến tế vì các con”, nên chúng ta phải gọi tình yêu này là Tình yêu hiến tế.
 
II. NHÌN VÀO ĐỜI SỐNG HÔN NHÂN.
                   1. Hôn nhân và tình yêu.
           Tình yêu là nền tảng của hôn nhân. Hôn nhân không có tình yêu thì không bền vững, giống như một ngôi nhà được xây trên cát. Vì thế người ta mới nói:”Hôn nhân không tình yêu là một ngày thiếu rạng đông”(Alphonse Karr). Chính tình yêu đã nối kết hai người lại nên một để làm thành một gia đình :”Họ không còn là hai nhưng là một xương một thịt”(Mc 10,8). Tình yêu và hôn nhân phải liên kết với nhau, không thể chia lìa như hình với bóng.
           Công đồng Vatican II định nghĩa rằng:”Tình yêu là một hành vi nhân linh của con người, đến với con người bằng một tình cảm tự  ý, do đó bao gồm hạnh phúc toàn diện của con người” (Gaudium et spes, số 49). Nói thế, công đồng xác định rằng tình yêu là hành vi con người. Hành vi ấy có khả năng đem lại hạnh phúc nhờ chính sự tự do của mỗi người trong đời sống tình cảm của mình. Nói khác đi, tình yêu là một hành vi nhân linh vì nó cho con người có khả năng làm người đúng nghĩa.
          2. Tình yêu hiến tế.
           Chúng phải công nhân rằng tình yêu nối kết hai người lại với nhau, kết hợp với nhau để làm thành gia đình. Nhưng tình yêu ấy là tình yêu nào ? Thưa, đó là “Tình yêu hiến tế”.  Nhìn vào Chúa Giêsu, ta thấy Ngài đã có tình yêu ấy đối với chúng ta. Ngài yêu thương chúng ta một cách vô vị lợi, tình yêu ấy phải được gọi là Tình yêu hiến tế. Chính vì vậy, Ngài đã hiến tế thân mình bằng cách chịu chết trên cây thập tự để cứu chuộc chúng ta và còn biến mình máu Ngài làm của ăn nuôi linh hồn chúng ta.
           Trong cuộc sống hôn nhân cũng vậy, vợ chồng phải yêu thương nhau bằng một tình yêu hiến tế, nghĩa là vợ chồng biết hy sinh cho nhau, quên đi bản thân mình để mưu cầu hạnh phúc cho bạn mình.  Một tình yêu thiếu hy sinh chưa hẳn là tình yêu thật mà chỉ là một tình cảm nhất thời chóng qua. Tình cảm thì không bền vững, nó có thể trồi sụt, dễ dàng biến mất. Và khi tình cảm đó biến mất thì gia đình cũng sẽ tan vỡ. Tình yêu hiến tế làm cho vợ chồng càng khắn khít với nhau, dám hiến thân cho nhau, quên đi những quyền lợi của mình để chỉ nghĩ đến hạnh phúc người yêu :
                             Sông hồ một giải con con       
                             Gặp cơn sóng gió chớ non tay chèo.
                             Yêu nhau sinh tử cũng liều,
                             Thương nhau lặn suối qua đèo có nhau.
                                           (Ca dao)

 
          3. Hôn nhân và tử đạo.
           Có một danh nhân nói:”Tôi luôn khâm phục những vị anh hùng, kẻ anh hùng nhất là người dám LẬP GIA ĐÌNH”.  Câu nói này có vẻ cường điệu quá chăng ? Vậy hễ lập gia đình là trở thành anh hùng cả sao ?  Tuy nhiên, câu nói trên đứng về một phương diện nào đó cũng có ý nghĩa của nó, vì những người đi lập gia đình không thể nắm vững được tương lai như thế nào, không thể đo lường được con đường phía trước với đầy gian nan, bất trắc có thể xẩy ra bất cứ lúc nào.  Nhất là từ khởi điểm là con số không mà hai người dám tuyên hứa sẽ gắn bó với nhau suốt đời để tạo lập tương lai sự nghiệp...
          Mặt khác, nhìn vào thực tế, có rất nhiều gia đình rơi vào những hoành cảnh rất éo le, bi đát hoặc do chính mình tạo ra hoặc do hoàn cảnh gây nên. Những ai sống trong hoàn cảnh đó mà vẫn trung thành với đời sống hôn nhân thì họ xứng đáng được gọi là anh hùng, anh hùng không tên tuổi, đáng mọi người khâm phục. Nếu ta gọi họ là những “Anh hùng tử đạo” thì điều đó có quá đáng không ? Có lẽ không quá đáng ! Phụng vụ Chính thống giáo nói lên khía cạnh ấy qua nghi thức “đội vương miện” trong thánh lễ hôn phối.
           Trong nghi lễ đó, mỗi người (chồng và vợ) nhận một Vương miện. Mũ miện trong Giáo hội Chính thống là dấu chỉ của sự vinh quang, vương quyền của Thần Khí và cũng là dấu chỉ của việc tử đạo luôn đi kèm. Khi người nam và người nữ được liên kết với nhau qua bí tích mà Linh mục ban cho họ, nghi thức này đến nhắc nhở cho họ rằng mỗi người phục vụ sự thánh thiện của người kia, và đời họ phải tự dâng hiến, tự trao ban.
           Linh mục dọc trong khi đội mũ miện lên đầu người chồng sắp cưới :”Tôi tớ của Thiên Chúa ông X nhận nữ tỳ của Thiên Chúa Y làm mũ miện, nhân danh Cha, và Con và Thánh Thần”.  Linh mục cũng đọc  trong khi đội mũ miện  lên đầu người vợ sắp cưới :”Nữ tỳ của Thiên Chúa Y nhận tôi tớ X của Thiên Chúa làm mũ miện, nhân danh Cha và Con và Thánh Thần”.
           Mỗi người nhận mũ miện nhân danh người kia, với ý nghĩa là mỗi người sẽ là triều thiên tử đạo của người kia và không được tách sự đau khổ với vinh quang.
           Sau đó đôi vợ chồng đầu đội mũ miện theo sau Linh mục, đi vòng quanh sách Tin mừng ba lần để chỉ là từ nay cuộc sống chung của họ sẽ đặt Đức Kitô và Tin mừng của Ngài làm trung tâm. Đôi tân hôn uống cùng một chén của cuộc sống chung và cộng đoàn hát :”Ôi ! Lạy các thánh Tử đạo, những vị đã chiến đấu anh dũng mà nay đã được đội mũ triều thiên trên trời, xin cầu Thiên Chúa đến cứu linh hồn chúng tôi”.
           Đôi vợ chồng bây giờ đã trở thành một “Giáo hội vi mô” theo lời thánh Gioan Kim khẩu, được dành riêng để biểu lộ – cũng như Thánh Thể – “mối tình quá lớn” của Thiên Chúa cứu nhân độ thế.
          Chúng ta khó lòng hiểu được những lời trên đây vì chúng ta sợ khổ và tệ hơn nữa, chúng ta sợ mất mạng khi hiến dâng không dè xẻn. Vậy mà Đức Giêsu đã báo trước:”Không có tình yêu nào lớn hơn tình yêu của kẻ hy sinh mạng sống vì bạn mình”(Ga 15,13)
           Và nhiều người trong chúng ta có thể làm chứng rằng điều khiến họ “hy sinh” nhiều nhất vì yêu lại là điều đem lại cho họ niềm vui lớn nhất và sự triển nở hoàn toàn nhất.
                             (G. Blaquìere, Dám sống tình yêu, tr 94-95)
           Hôn nhân là một nhu cầu cần thiết của con người mà đã đi vào đời sống hôn nhân là phải đau khổ giống như hoa hồng thì phải có gai. Mà nếu không lập gia đình thì cũng khổ vì người ta cảm thấy cuộc đời luôn trống vắng, luôn thiếu nhu cầu tình cảm để chia sẻ :
                              Tròng trành như nón không quai
                             Như thuyền không lái, như ai không chồng.
                             Gái có chồng như gông đeo cổ,
                             Trai không vợ như phản gỗ long đinh.
                                             (Ca dao)

           Có một thanh niên hỏi nhà hiền triết Socrate rằng :
          - Thưa thầy, con có nên lấy vợ không ?
          Nhà hiền triết trả lời :
          - Dù muốn hay không, đàng nào anh cũng sẽ hối hận.
           Nhà hiền triết trông thấy trước cái thế giằng co của những người chuẩn bị lập gia đình : lập gia đình thì khổ mà không lập gia đình thì cũng khổ, điều đó làm cho người ta tiến thoái lưỡng nan. Tuy thế, tuyệt đại đa số con người đều lập gia đình giống như trường hợp hai anh chị đây, chỉ có một số người có ơn gọi đặc biệt vì Nước Trời mới sống độc thân. Vậy chỉ còn có một cách là cứ lập gia đình và sẵn sàng chịu mọi rủi ro, chấp nhận hiện trạng của gia đình và phấn đấu tìm mọi cách làm thăng tiến gia đình qua sự cầu nguyện và năng chịu các phép Bí tích. Lúc đó, hạnh phúc nằm sẽ ở trong tầm tay bạn.
           Dầu sao đi nữa, chúng ta phải theo nguyên tắc này :”Per crucem ad lucem” : qua thập giá tiến tới vinh quang vì lửa thử vàng gian nan thử đức, không ai có thể ngồi mát ăn bát vàng...
 
                                      Truyện vui minh hoạ
          Người kia chết, linh hồn được lên thiên đàng. Khi đến cửa thiên đàng, gặp thánh Phêrô đang gác cửa. Ngài chặn lại hỏi :
          - Anh đã qua lửa luyện ngục chưa ?
          Anh ta đáp lại :
          - Thưa chưa. Nhưng con là người đã có vợ !
          Thánh Phêrô cười bảo :
          - Thôi được, vào đi.
 Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt

                            
 

HônPhối 65: NỤ HÔN

I. NÓI VỀ NỤ HÔN.
           1. Nguyên do tục hôn môi.
 

Theo nhà văn cổ Hy lạp PLUTARQUE thì nụ hôn là hậu quả của sự bất bình đẳng  giữa người HônPhối 65

Theo nhà văn cổ Hy lạp PLUTARQUE thì nụ hôn là hậu quả của sự bất bình đẳng  giữa người phụ nữ và đàn ông.
          Số l1 ngày xưa ở Hy lạp thời cổ đại, đàn bà con gái bị cấm không được uống rượu. Vì thế, các đức ông chồng đáng kính mỗi khi đi đâu về lại bắt vợ đưa môi ra cho mình ngửi, để kiểm tra xem bà vợ có uống rượu trộm trong khi mình vắng nhà hay không.
          Về sau, do các ông chồng thấy việc “kiểm tra” này cũng hay hay, nên dần dà mới sinh ra cái lệ chạm môi vợ (Thể thao & văn hóa,số xuân 1988, tr 24).
           2. Cái hôn qua thời gian.
           Ở một số nước châu Phi, người dân thường hôn xuống mặt đất, chỗ mà tộc trưởng đi qua, coi đó là điều hạnh phúc.
          Thời cổ La mã, hoàng đế La mã cho phép các nhà qúi tộc  cao cấp nhất hôn môi vua, nhân vật cấp thấp hơn được hôn tay, thần dân chỉ hôn gót chân vua.
          Thời Sa hoàng, phần thưởng cao qúi nhất mà vua ban cho là cái hôn.
          Ở Bỉ, có một “Trung tâm tinh thần của những người có đầu hói trên thế giới”. Hằng năm những người có đầu hói của các nước Dức, Hà lan, Pháp... đến trung tâm này để gặp gỡ  và hôn vào những... cái đầu hói của nhau (Thể thao & văn hóa, số 40, 1990, tr 13).
           3. Hôn có lợi hay hại.
           Như  đại hội quốc tế các bác sĩ nha khoa vừa qua họp ở Braxil khẳng đddid5nh cái hôn  là thủ phạm chính gây ra đau răng (x. Thông tin & văn hóa, số 40) , không những thế nó còn ảnh hưởng trực tiếp đến tuổi thọ của con người.
          Theo một báo cáo chuyên đề của ông Benjili, một bác sĩ nha khoa ở thành phố Calcutta (Ấn độ), một cái hôn sẽ làm cho cuộc sống của con người bị rút ngắn đi 18 giây. Ông cho biết : một cái hôn là bắt quả tim phải làm việc thêm, vì vậy hôn quá nhiều là một thú vui nguy hiểm cần phải tránh.
          Đặc biệt những người rậm râu mà hôn thì tác dđộng rất xấu vào tim của phái yêu. Ông cũng cho biết miệng là một bộ phận có nhiều vi trùng nhất của cơ thể con người. Mỗi cái hôn đã truyền sang người khác ít nhất 40.000 vi trùng (Theo Khoa học phổ thông).
           4. Phân tích nụ hôn.
           Dựa trên phân tích hoá học bằng máy móc hiện đại, các nhà y học đã có được những số liệu cụ thể.  Trung bình mỗi một chiếc hôn có khoảng :
          - 2 gram nước bọt.
          - 0,7 g đạm.
          - 0, 761 g mỡ.
          - 0,45 g muối.
          - khoảng 22.000 vi trùng các loại.
          Như vậy, trong một cái hôn không thể có một chút đường nào (ví dụ nụ hôn ngọt ngào), trong khi đó hàm lượng muối tương đối cao.
          Qua các số liệu trên, hôn lq2 một dung dịch tương đối bổ vì lượng đạm và mỡ của nó khá cao. Tuy vậy, có điều đáng ngại là hôn cũng có thể tạo điều kiện cho những căn bệnh truyền nhiễm xâm nhật vào cơ thể thông qua đường miệng (Văn hoá & thể thao, số xuân 1988, tr 25).
 
II. NỤ HÔN VÀ TÌNH YÊU.
  Dù nụ hôn có lợi hay có hại, người ta vẫn hôn, nhất là những cặp tình nhân vì đó là cách thể biệu lộ tình yêu. Ở bên Tây phương, trong lễ nghi hôn phối hai người trao cho nhau cái hôn đầu tiên công khai trước mặt mọi người, để nói lên tình  yêu thắm thiết của vợ chồng. Ở xã hội ta, tập tục này chưa được chấp nhận vì nó không phù hợp với xã giao của ta.
           1. Ý nghĩa nụ hôn.
           Nụ hôn diễn tả tình yêu giữa hai người, hoặc chỉ diễn tả lòng qúi mên dành cho các nhà ngoại giao, nhưng những nhà ngoại giao chỉ hôn trên má hay trên trán chứ không hôn môi.
           Thường chỉ những người yêu nhau mới hôn nhau. Nụ hôn cũng mang màu sắc khác nhau : nụ hôn của người mẹ đối với con cái khác với cái hôn của đôi tình nhân hay của vợ chồng.  Cái hôn này là cái hôn say đắm chứ không phải là nụ hôn của những nhà ngoại giao, càng không phải là nụ hôn của những kẻ lường gạt, giả dối.   
           Nói về ý nghĩa nụ hôn, ông M. Maeterlinck nói : “Có những điều mà người ta  chỉ có thể nói được khi hôn nhau... bởi vì những vấn đề sâu kín và thanh cao nhất không thể thoát ra khỏi linh hồn, nếu có một cái hôn nó kêu gọi”.
           2. Nụ hôn của người yêu.
          Những người yêu nhau thường diễn tả tình yêu bằng nụ hôn, nụ hôn trên môi, thường là một nụ hôn say đắm mà chỉ người trong cuộc mới có thể cảm nghiệm được. Những người mới yêu nhau thường tặng cho nhau những cái hôn nồng thắm mà còn ghi nhớ mãi về sau :
                                       Mười năm chừng mới hôm nay,
                             Hương trinh ngây ngất còn say đắm hồn.
                                      Còn nghe thơm nụ môi hôn,
                             Còn nghe rung động lần hôn buổi đầu.
                                                (Hà liên Tử)

 Cái hôn đầu tiên rất quan trọng.  Thánh Chrysostme nói :”Một cô gái mà để người đàn ông hôn lần đầu, tức là mở đường cho họ tiến tới. Và cô gái ắt khó mà cưỡng nổi, trừ phi phải ngăn cản từ lúc đầu”.
          Ông Jacob M. Braude cũng cảnh báo :”Để người hôn mình, tức là mình đã thuận tình với người ta. Người con gái chẳng còn dè dặt sau cái hôn đầu”.
 
          3. Nụ hôn và hy sinh.
           Nụ hôn diễn tả tình yêu. Không yêu nhau thì không bao giờ người ta hôn nhau. Nếu nụ hôn không hàm chứa tình yêu thì chỉ là những nụ hôn của những nhà ngoại giao, họ chỉ hôn nhau theo phép xã giao, hay cái hôn của những kẻ lường gạt, giả dối như cái hôn mà Giuđa đaãa tặng cho Chúa Giêsu.
           Không có tình yêu nào được mua bằng sự dễ dãi mà phải mua được bằng hy sinh, càng hy sinh nhiều thì thình yêu càng bền chặt, và tình yêu cao cả nhất là chết cho người mình yêu (x. Ga 15,13). như trường hợp cha Maximilianô Kolbê chết thay cho một tù nhân.  Người vợ yêu chồng chân thành sẽ dễ dàng hy sinh hạnh phúc của mình cho chồng như người ta nói :
                                        Vì chàng thiếp phải bắt cua,
                             Những như thân thiếp, thiếp mua ba đồng.
                                       Vì hàng thiếp phải long đong,
                             Những như thân thếp cũng xong một bề.

           Nữ văn sĩ Túy Hồng cũng diễn tả tâm tình này trong truyện ngăn “Lòng thành” :
“Tôi nguyện với tình yêu, lúc quay lưng xô ngã cuộc đời người con gái, tôi sẽ từ bỏ tất cả, xa sân khấu, lui khỏi địa vị một ngôi sao để làm một người tầm thường. Tôi sẽ từ giã sự nghiệp đang lên, hy sinh cả danh vọng để trọn nghĩa làm vợ. Một người đàn bà không thể vừa giỏi bên ngoài, vùa giỏi bên trong được. Vì chàng tôi phải ly thân với nghệ thuật. Tên tuổi tôi phải chết cho lòng thành quấn quít bên chàng...”
                   (Trích trong “Lòng thành”, Truyện hay của Túy Hồng, 1964, tr 82)
 Chúa yêu thương mọi người chúng ta. Chúa mời gọi chúng ta hãy bước theo Ngài, nhưng muốn theo Ngài thì phải theo con đường Ngài đã vạch ra :”Ai muốn theo Ta, hãy từ bỏ mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo Ta”(Mt 16,24). Con đường khổ gia xem ra là con đường không mấy hấp dẫn đối với nhiều người, nhưng con đường đó sẽ dẫn tới vinh quang. Chúa muốn ta đi theo con đường đó, phải chăng Ngài muốn theo phương pháp :
                                       Yêu con cho roi cho vọt,
                                       Ghét con cho ngọt cho bùi ?

           Chúa yêu chúng ta, yêu với một trái tin bừng cháy nên Ngài cũng muốn tặng cho chúng những nụ hôn. Nhưng chúng ta phải biết rằng Chúa Giêsu luôn đội vòng gai trên đầu, ai được Chúa ôm hôn thì sẽ bị những cái gai trên đầu Chúa châm vào trán mình. Vì thế, trước cái ôm hôn của Chúa đội mạo gai, chúng ta sẽ có hai thái độ :
           a) Chấp nhận : Chúng ta sẵn sàng để Chúa hôn mặc cho những chiếc gai nhọn của Chúa đâm vào trán mình. Nụ hôn càng thắm thiết, thì gai càng đâm sâu, trán càng đau nhức. Đó là những người dám chấp nhận hy sinh đau khổ trong đời vì lòng mến Chúa, đặc biệt trong đời sống hôn nhân.
           b) Từ chối : Khi được ôm hôn, có người nhìn lên đầu Chúa thấy những gai nhọn hoắt đang định đâm vào trán mình, họ hoảng sợ, buông tay ra , lùi lại không dám để cho Chúa hôn. Vì thế nụ hôn không thành. Nụ hôn vẫn còn đó ! Đó là những con người ngại khó, họ sợ phải hy sinh, không dám theo con đường khổ giá của Chúa nữa.  Họ chùn chân bước trên con đường đó:
“Đường đi khó, không lhó vì ngăn sống cách núi, nhưng khó vì lòng người ngại núi e sông” Nguyễn bá Học).
           KẾT LUẬN
           Tình yêu nào chỉ đdược mua bằng sự dễ dãi sẽ không bền lâu vì nó chưa được qua thử thách như lửa thử vàng, nói chỉ được mua bằng maạ«t giá rẻ ! Đúng là tiền nào của đó.  Trái lại, tình yêu càng được mua bằng hy sinh thì càng cao qúi, càng bền chặt vì nó đã được tôi luyện qua thử thách gian nan.
           Chúa thương yêu ta, Chúa tặng chúng ta những cái hôn nồng thắm đấy, ta có dám để cho Chúa hôn không ?  Muốn được hôn là phải chấp nhân hy sinh.
          Đời sống gia đình hiện nay thế nào ? Ta có dám nhận hy sinh không ?
Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt

         
 

HônPhối 66: VÁ LƯỚI

I. CÁC ÔNG ĐANG VÁ LƯỚI DƯỚI THUYỀN
           Chúng ta đọc : Mt 4,18-22 ; Mc 1,16-20.
 

Theo tục lệ thời xưa, các nhà hiền triết như  Socrate, Platon, Aristote. Lão Tử, Khổng Tử và HônPhối 66

Theo tục lệ thời xưa, các nhà hiền triết như  Socrate, Platon, Aristote. Lão Tử, Khổng Tử và các vị sáng lập tôn giáo như Phật Thích Ca đều có một số đồ đệ đi theo. Đức Giêsu cũng theo truyền thống đó. Ngài muốn chọn cho mình một số đồ đệ để làm cán bộ nồng cốt cho việc truyền bá giáo thuyết của Ngài.
           Ngài không vào trong các đô thị văn minh để chọn những người thông thái hay ít ra những người có kiến thức trung bình, nhưng Ngài lại ra bãi biển chọn những người dân chài ít học nhưng đơn sơ chất phác để làm môn đệ.  Trước hết Ngài gọi hai anh em ông Sinmon và Anrê đang thả lưới dưới thuyền, rồi đi xa hơn một chút, gọi thêm hai anh em con ông Giêbêđê là Giacôbê và Gioan đang vá lưới dưới thuyền. Tất cả những người được gọi đều bỏ nghề chài lưới và cha mẹ mà đi theo Ngài.
 
II. TẠI SAO PHẢI VÁ LƯỚI ?
           Các ông này quanh năm chỉ sống bằng nghề chài lưới loanh quanh bờ biển để kiếm ăn từng ngày. Việc vá lưới trên thuyền chứng tỏ rằng họ là những người nghèo phải kiếm ăn từng bữa, không có vốn để mở công ty hay phải có những chiếc tầu lớn để đánh bắt cá xa bờ. Phương tiện của họ rất thô sơ chỉ có một chiếc thuyền nhỏ và một tấm lưới vét.
           Họ buộc lòng phải vá lưới vì chiếc lưới phải dùng hằng ngày, sợi gai hay sợi chỉ dễ bị mục, nhất là gặp những vật cản như chà rào hay một vật gì cứng thì lưới sẽ dễ bị rách.  Kinh nghiệm cho hay lưới rách đến đâu phải vá đến đó, nếu để lâu, miếng rách sẽ rách thêm, cá lọt ra ngoài và chiếc lưới sẽ trở nên vô dụng. Vì thế, họ phải kiểm tra lưới hằng ngày, rách đến đâu vá đến đó, lưới sẽ ở trong tình trạng tốt và có thể dùng được bất cứ lúc nào.
           Tâm trạng người vá lưới rất phức tạp : họ lo âu, buồn chán, mong mỏi, hy vọng, tin yêu.  Họ biết rằng cuộc đời chài lưới của họ rất vất vả, gặp nhiều nguy hiểm của sóng gió. Họ mong mỏi một ngày mai tươi sáng hơn, họ luôn hy vọng và tin yêu để đời sống hiện tại vươn tới tương lai tốt đẹp.
 
III. TẤM LƯỚI CUỘC ĐỜI HÔN NHÂN.
 1. Hôn nhân là một tấm lưới.
           Khi học về Bí tích Hôn phối, chúng ta đã biết mục đích của hôn phối là vợ chồng thương yêu nâng đõ nhau và sinh sản con cái. Yêu thương và sinh sản con cái đều nhằm đến Hạnh phúc, mục tiêu mà mọi người muốn vươn tới. Hôn nhân là phương tiện để cho người ta đạt tới Hạnh phúc. Nhưng Hạnh phúc chưa có ngay sau khi thành lập gia đình. Chúng ta có thể coi Hôn nhân như một cái hộp rỗng phải bó gì vào nó mới đầy.
           Ta hãy nghe cố vấn Hôn nhân Allan Peterson nói với ta :
“Đa số người kết hôn vì tin vào một huyền thoại : cuộc hôn nhân ấy là một cái hộp đẹp chứa mọi vật mà người ta khao khát : đời sống lứa đôi, sự thỏa mãn về tình dục, sự thân mật, tình bạn.
          “Sự thật là cuộc hôn nhân ấy lúc bắt đầu là một cái hộp rỗng. Bạn phải bỏ vào đó một cái gì  đó trước khi bạn có thể lấy ra một cái khác. Trong hôn nhân không có tình yêu, tình yêu ở trong hai người và hai người đặt tình yêu vào hôn nhân. Không có chuyện tình lãng mạn trong hôn nhân ; người ta phải pha trộn sự thơ mộng vào hôn nhân của họ.
          “Một đôi tân hôn phải học nghệ thuật ấy và hình thành thói quen cho nhau, yêu nhau, phục vụ nhau, ngợi khen nhau để giữ cho cái hộp được đầy. Nếu bạn lấy ra nhiều hơn bỏ vào, cái hộp sẽ rỗng không” (Bel San Louis, Vui sống với nụ cười, tr 88).
           Hôn nhân có thể được coi như một tấm lưới mà vợ chồng bủa vây xuống để vây bắt hạnh phúc như người ta thả lưới vây bắt cá. Không phải Hôn nhân cung cấp ngay hạnh phúc cho ta, nhưng trái lại, hôn nhân chỉ là phương tiện để chúng ta nắm bắt hạnh phúc. Hôn nhân có hạnh phúc hay không là do vợ chồng tạo ra và giữ lấy.
           2. Tấm lưới có thể bị rách.
           Hôn nhân có thể đưa tới hạnh phúc, cũng có khi làm ngăn trở hạnh phúc như văn hào Honoré de Balzac nói :”Hôn nhân là con đường đưa ta tới thiên đường hoặc dẫn ta tới địa ngục”. Có những nguyên nhân làm cho tấm lưới hạnh phúc hôn nhân bị rách nát.
           a) Phía hai vợ chồng.
           Tại sao ngày nay có nhiều cuộc hôn nhân bị tan vỡ, có nơi lên tới 50% và một số nơi khác còn tệ hơn nữa ! Tại sao vậy ? Thưa , gia đình không có hạnh phúc là vì vợ chồng không tạo ra được hạnh phúc, hoặc là đã có hạnh phúc nhưng không biết nắm giữ để hạnh phúc để nó bay đi.  Có thể gia đình tan vỡ vì vợ chồng không dung hòa được những khác biết hay những xung khắc về tính tình, ngôn ngữ, văn hóa, phong tục, kinh thế khó khăn... Trong cuộc sống hằng ngày, ai cũng khư khư giữ lấy ý kiến của mình, bắt người khác phải theo ý mình, nhất là tệ hơn nữa, khi có “đệ tam nhân” xen vào thì tấm lưới hôn nhân có thể bị rách dễ dàng.  Người ta không yêu nhau nữa, người ta muốn quay sang một ngõ khác thì tình thế sẽ trở nên cực kỳ nguy hiểm :
                                      Khi tình yêu một lần phản bội
                                      Hết mong gì nở lại hoa yêu.

           Ông La Rochefoucauld cũng nói tương tự như thế :”Khó mà yêu thương được lần thứ hai  người mà mình đã hết yêu thương”.
          Nếu vợ chồng không biết vá lại mà còn xé to ra thì tấm lưới hôn nhân sẽ bị rách nát. Nếu thế, làm thế nào có thể nắm bắt được hạnh phúc ?
          b) Phía những người khác.
           * Cha mẹ chồng : Theo kinh nghiệm nhân gian, cha mẹ chồng, nhất là mẹ chồng cũng là một nguyên nhân gây đổ vỡ cho đôi hôn nhân. Người ta thường nói về mẹ chồng :
                                       Thật thà cũng thể lái trâu,
                             Thương nhau cũng thể nàng dâu mẹ chồng.

           Trong thực tế, ít khi mẹ chồng ưa nàng dâu, nếu mẹ chồng nào thương nàng dâu như con gái thì hạnh phúc cho nàng dâu ấy. Khi đã không ưa thì sẽ sinh ra nhiều chuyện  không hay, đôiâ lúc xúi con trai xử tệ với vợ mình vì “Không ưa thì dưa có dòi”.  Tình yêu vợ chồng đang hé nở như bông hoa, có thể bị héo tàn.
           * Các nàng o : Ngoài mẹ chồng ra, có thể đến các nàng o. Ít khi các nàng o ưa chị hay em dâu, dễ sinh ra xích mích trong đời sống gia đình mới :
                                       Một trăm ông chú không lo,
                                      Lo vì  một nỗi mụ o nỏ mồm.

           * Hàng xóm láng giềng : Những người hàng xóm láng giềng, những người quen biết, những bạn bè có thể cũng là nguyên do gay đỗ vỡ cho vợ chồng. Không thiếu gì những tiếng gièm pha của những người vô tình phá hoại hạnh phúc gia đình người ta.
           3. Có thể vá lại được.
           Những nguyên nhân chủ quan hay khách quan làm cho hôn nhân tan vỡ thì rất nhiều, nó luôn rình rập hạnh phúc gia đình. Vợ chồng phải đề cao cảnh giác, nếu tình thế bất trắc xẩy ra thì cần có nỗ lực hàn gắn. Công việc này đòi hỏi thiện chí của cả hai người, dẹp bỏ tự ái, thành thật nhận những khuyết điểm của mình để hòa hợp . Thôi thì
                                                Tại anh tại ả
                                                Tại cả hai bên.

           Hãy nhớ lại lời thánh Phaolô khuyên nhủ tín hữu Colossê :”Anh em hãy có lòng thương cảm, nhân hậu, khiêm nhu, hiền hoà và nhẫn nại. Hãy chịu đựng và tha thứ cho nhau, nếu trong anh em  người này có điều gì phải trách móc người kia. Chúa đã tha thứ cho anh em, thì anh em cũng vậy, anh em phải tha thứ cho nhau”(Cl 3, 12-13).

                                       Truyện : Hoà giải trước vị thần.
          Một trong những đền thờ cổ nói lên tinh thần của người Roma xưa, đó là đền thờ dâng kính nữ thần  có sứ mệnh hòa giải loài người vớiù nhau, nhất là những đôi vợ chồng bất hoà.
          Người Roma xưa xem định chế hôn nhân là điều quan trọng trong sinh hoạt chính trị, xã hội; do đó, họ rất quan tâm đến việc bảo toàn gia đình. Khi hai vợ chồng bất hoà va ønhư vậy có thể nguy hại cho đời sống gia đình, người ta khuyên họ đến trình diện nữ thần hoà giải.
          Nghi thức diễn ra trước nữ thần rất đơn sơ : mỗi người có thể trình bầy lý lẽ, phơi bầy những bất công mà mình phải gánh chịu trong đời sống gia đình. Nghi thức đòi hỏi hai người không được nói một lúc, hễ ai ngắt lời người kia hoặc cả hai cùng nói một lúc thì điều đó bị coi như phạm thánh.
          Nghi thức này có thể mang đến những kết quả phi thường : sau khi trình bầy lý lẽ, rủa xả thậm tệ người phối ngẫu, bác bỏ mọi lời buộc tội, hai vợ thồng thường làm hoà với nhau trước mặt vị thần (Mỗi ngày một tin vui, tr 240).
 
                   4. Cần sự hỗ trợ của Thiên Chúa.
           Muốn cho tấm lưới của hôn nhân được nguyên vẹn, cần phải có ơn trợ lực của Thiên Chúa. Không bao giờ Thiên Chúa từ chối những lời cầu xin của chúng ta khi những lời cầu xin ấy phù hợp với thánh Chúa và ý Chúa muốn cho gia đình được hạnh phúc. Như vậy ta hãy cầu xin, chắc chắn sẽ được vì điều đó phù vợp với thánh ý Chúa :”Hãy xin thì sẽ được”(Mt 7,7).
 Song song với ơn Chúa, cần sự nỗ lực công tác của hai vợ chồng trong việc gìn giữ tấm lưới hạnh phúc gia đình. Sự cộng tác của ta là sự cần thiết và có thể nói là điều kiện “sine qua non”. Người ta nói “mưu sự thại nhân, thành sự tại thiên” rất đúng. Nếu chúng ta đã bắt đầu vế thứ nhất “mưu sự tại nhân” thì Thiên Chúa sẽ thực hiện vế sau “thành sự tại thiên”, nghĩa là Chúa sẽ ban ơn dồi dào để gia đình tiến tới hạnh phúc.
 
                                      Truyện : viên ngọc qúi của nhà vua.
          Một vị vua kia thích sưu tầm ngọc qúi đủ mầu sắc, đủ kích cỡ từ khắp nơi trên thế giới. Trong số đó, có một viên ngọc to như quả trứng. Mỗi khi đưa ra ánh sáng, nó phản chiếu đủ mầu sặc sỡ làm nhà vua rất say mê.
          Nhưng một hôm, trong lúc hãnh diện khoe cùng các vị khanh tướng, nhà vua đã nhận ra việc ngọc có một kẽ nứt.  Ông vô cùng tiếc xót, buồn bã. Từ hôm ấy, ngài truyền cho khắp dân gian ai chữa được viên ngọc đó y như trước sẽ được trọng thưởng. Các thợ đá qúi lành nghề ra vào hoàng cung tấp nập nhưng đều lắc đầu chịu thua.
          Ngày kia, có người vào yết kiến và xin nhà vua cứ để cho mình sửa chữa tùy ý. Đang lúc tuyệt vọng, nhà vua đồng ý, vì đàng nào viên ngọc cũng mất giá trị rồi.
          Anh thợ đá qúi đem viên ngọc về, ngày đêm dùng những đồ nghề tinh xảo để sửa chữa viên ngọc. Chẳng bao lâu, anh đem viên ngọc dâng lên đức vua. Nhà vua vô cùng kinh ngạc vì trên viên ngọc điểm một bông hồng rất xinh đẹp, được chạm trổ một cách công phu, mà cánh hoa xinh tươi chính là dấu nứt của viên ngọc trước kia. Cánh hoa hồng xin đẹp  đã làm tăng giá trị của viên ngọc lên gấp bội, bằng chứng là mọi người đều trầm trồ khen ngợi.
 
          Mỗi lần gây gỗ bất hoà trong đời sống gia đình là một rạn nứt trong đời sống gia đình.  Đừng bao giờ nản lòng thất vọng mỗi khi có những vết nứt trong gia đình. Nếu biết lợi dụng nó thì những vết nứt kia sẽ là khởi điểm cho một cuộc sống mới tươi đẹp hơn khi mình biết khéo léo và kiên nhẫn sửa chũa.
                             HÃY NỖ LỰC RỒI CẬY TRÔNG.
Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt

         
 

HônPhối 67: MIẾNG TRẦU

I. TRUYỆN TRẦU CAU.
 

Trong dân gian Việt nam có một câu truyện rất bình dân và rất phổ biến mà ai cũng biết, nó nói lên HônPhối 67

Trong dân gian Việt nam có một câu truyện rất bình dân và rất phổ biến mà ai cũng biết, nó nói lên tình nghĩa vợ chồng anh em, tạo nên hạnh phúc gia đình. Câu truyện ấy như sau :
                   Có hai anh em họ Cao, diện mạo, thân hình cùng tác phong giống hệt nhau. Họ thương yêu nhau và gắn bó với nhau đến nỗi không thể rời xa nhau được.
          Người anh tên là Tân kết hôn với nàng Lưu-sương-Phù. Còn em tên là Lang, tuy đã lớn tuổi nhưng vẫn không muốn kết bạn để khỏi phải rời xa anh chị.
          Một hôm hai anh em đi săn, người em cảm thấy mệt nên bỏ rừng về nhà trước. Nàng Lưu sương Phù tưởng lầm đó là chồng mình, nên chạy ra cổng chào đón với tất cả tình âu yếm. Người em cảm thấy e thẹn. Và để khỏi tái diễn cảnh ngượng ngùng đó nữa, chàng đã quyết định bỏ nhà ra đi.
          Chàng lang thang mãi cho tới khi đến bên bờ một con sông lớn. Không một con đò, cũng không một nhịp cầu, nên chàng phải dừng chân bên bờ sông. Vừa đói, vừa mệt lả, chàng chết dần, hoá thành tảng đá lớn.
          Người anh biết sự việc nên bỏ nhà ra đi tìm em để trọn tình ruột thịt. Anh lần mò theo cùng con đường em đã đi. Đến bờ sông, anh vừa đói vừa mệt nên ngồi nghỉ trên tảng đá lớn rồi chết là hóa thành cây cau cao vút trời xanh.
          Nàng Lưu sương Phù ngày ngày mong chồng chờ em trở về, nhưng vẫn biền biệt, nên nàng cũng bỏ nhà ra đi cho trọn tình nghĩa vợ chồng. Nàng cũng đi theo con đường mòn mà chồng và em đã đi qua. Tới bờ sông, nàng ngồi nghỉ trên tảng đá, dựa lưng vào thân cây cau rồi cũng chết đi hoá thành dây trầu cuốn quanh cây cau.
           1. Ý nghĩa câu truyện :
  Mỗi câu truyện cổ tích đều có hậu, đều đem đến một bài học luân lý. Câu truyện trầu cau nói lên tình nghĩa gia đình và tình nghĩa anh em. Chính tình yêu này đã tạo nên hạnh phúc gia đình.  Sự phối hợp trầu cau và vôi lấy từ đá luôn tạo thành mầu đỏ thắm, được dùng để diễn tả tình nghĩa sâu đậm và mặn mà giữa vợ chồng, với anh em trong gia đình đầm ấm yêu thương.  Chính vì thế, trầu cau được dùng trong việc cưới hỏi, để cầu chúc đôi tân hôn xây dựng tổ ấm gia đình trong tình nghĩa thân thương.
 
 2. Tục lệ trầu cau trong nền văn hoá Việt nam.
           * Trong xã giao hằng ngày.
           Người ta nói :”Miếng trầu là đầu câu chuyện”. Theo thói quen  của phong tục ngày xưa, người ta mời chào nhau bằng miếng trầu trong nơi bình dân cũng như nơi quyền quí. Gặp nhau trên đường hay ở một hàng quán cũng mời nhau trầu, nhất là khi khách đến nhà.  Trong bài thơ “Khách đến chơi nhà” thi sĩ Nguyễn Khuyến đã xin lỗi bạn vì không có trầu để chào mời 
                                      Đầu trò tiếp khách, trầu không có,
                                      Bác đến chơi đây, ta với ta.

           * Trong cách trao đổi giữa trai gái.
           Các bạn trẻ tuổi lứa đôi, khi gặp nhau cũng đưa mời trầu để làm quen và cũng có thể là dịp để ướm hỏi thử lòng :
                                      Gặp nhau ăn một miếng trầu
                                      Gọi là nghĩa cũ về sau mà chào.

           Nhiều khi bạn trẻ mời nhau miếng trầu là gói ghém tất cả những gì hứa hẹn gắn bó :
                                       Trầu này trầu quế trầu hồi,
                                      Trầu loan trầu phượng trầu tôi trầu mình.
                                      Trầu này trầu tính trầu tình,
                                      Trầu nhân trầu nghĩa, trầu mình với ta.

           * Trong việc cưới hỏi.
           Không biết đã có từ lúc nào trầu cau là hai thứ đã chiếm giữ một vai trò quan trọng không thể vắng thiếu trong các lễ vật ở buổi hôn lễ của dân tộc Việt nam.
          Ngoài ra, trầu cau cũng đi đầu trong mọi sinh hoạt giao tế, ăn nói thời xưa, nay còn truyền lại ở mọi nơi, nhất là ở nông thôn vườn ruộng. Ở thành thị “miếng trầu vẫn là đầu câu chuyện” cho nên mỗi khi cưới hỏi, dầu cho khó khăn trong việc tìm mua, cho dù khan hiếm vào lúc không phải mùa như thế nào và cho dẫu thời nay, ít có bà con ăn trầu, người ta cũng phải tìm mua cho bằng được hai thứ này, không nhiều thì ít để giữ lễ. Nói khác hơn là để thủ lễ và chứng tỏ khả năng căn bản về kiến thức của văn lễ gia đình, tộc họ mình. Sự thiếu sót quả là điều đáng tiếc.
          Tục lệ ăn trầu thì có ở nhiều nơi trên thế giới,  nhưng dường như ở Việt nam mới đưa lên hàng quan trọng có sắc nét cá biệt trong mọi nghi lễ, hơn vậy còn có tính cách trang nghiêm chỉ một lần trong đời người mà thôi.
                             (Phạm côn Sơn, Hôn lễ và nghi thức, tr 39-40)
 
          3. Tính cách triết lý của truyện Trầu cau.
           Sau khi Cao Lang bỏ nhà ra đi, người anh là Cao Tân đi tìm kiếm và nhận lãnh cái chết để đền trả sự sai lầm của mình trong cách đối xử với người em là một ý thức đề cao tình anh em huyết nhục không thể ly tán. Anh em phải sống chết có nhau và không thể vì riêng tư mà bỏ nhau.
          Xuân Phù đi tìm chồng và chết theo chồng là sự kiện đề cao tình chồng vợ chung thủy.
          Cái chung cuộc với hình trạng cây cau không cành vươn lên cạnh hòn đá và dây trầu quấn quít theo cây cau là biểu trưng sự xum họp hạnh phúc chồng vợ gia đình.
          Có lẽ từ ngàn xưa đã có ai đó nhìn thấy được một hình trạng của thiên nhiên thảo mộc mà nghĩ ra chuyện này rồi săp xếp thành câu chuyện có mạch lạc, ý nghĩa để truyền bá, giáo dục trong đại chúng. Đây là cách giáo dục quần chúng có ý nghĩa và đơn giản vào thời xa xưa , nhưng có tác dụng lâu dài cho tới ngày nay.  Dầu sao, chuyện tích Trầu cau vẫn mang tính chất triết lý về sự giáo dục cộng đồng và triết lý đó đã biến thành thực dụng khá đơn giản trải qua bao thế kỷ và tồn tại tới ngày nay qua tục ăn trầu,  cùng vấn đề Trầu Cau biến thành vật lễ trong việc cưới hỏi luôn gây ấn tượng về hạnh phúc gia đình và vợ chồng.
                             (Cf  Phạm côn Sơn, Cau trầu đầu chuyện, tr 90-91)
 
II. MIẾNG TRẦU VÀ TÍNH CÁCH HOÀ HỢP.
           Theo câu truyện Trầu cau, về sau, vua Hùng Vương nhân đi tuần thú qua xứ ấy, thấy trong đền có cây xanh lá tốt, mọc trên một đống đá. Vua ngồi nghỉ mát, gọi người bản thổ hỏi chuyện, rồi ngài sai lấy quả cau ấy bổ ra, và lấy hòn đá nung lên thành vôi tôi với nước, rồi lấy vôi quệt vào lá trầu mà ăn lẫn với miếng cau thì thấy mùi mẽ thơm tho, nhổ ra hòn đá thì thấy đỏ ối. Ngài mới truyền cho thiên hạ lấy giống mà trồng để dùng vào việc cưới xin và mọi việc.
                             (Phan kế Bính, Việt nam phong tục,  tr 350)
           Khi ăn một miếng trầu có cau và vôi, người ta cảm thấy có mùi thơm tho và ngon miệng. Miếng trầu làm cho má cô nàng hồng lên trông hấp dẫn. Miếng trầu cũng làm cho lòng người ấm lên cả trong lẫn ngoài, nhất là những lúc trời lạnh.  Miếng trầu tượng trưng  cho duyên tình của đôi lứa :
                                      Đêm khuya thiếp mới hỏi chàng :
                                      Cau xanh ăn với trầu vàng xứng không ?
                                      - Trầu vàng nhá với cau xanh,
                                      Duyên em sánh với tình anh tuyệt vời.

           Muốn có một miếng trầu ngon, người ta luôn phải trộn lẫn ba thứ  đó vào làm một “3 in 1” : trầu, cau và vôi. Mỗi thứ có một mùi vị riêng : trầu cay, cau đáng, vôi nồng. Nếu chỉ dùng một thứ thì không chịu nổi : nếu chỉ ăn lá trầu thì cay quá, cau lại chát, ăn vôi thì bỏng miệng.
           Miếng trầu nói lên ba đặc tính không thể tách rời nhau : cay, đắng, nồng. Đôi khi người ta ăn trầu với thuốc lào hay vỏ chay, lúc đó miếng trầu trở nên “5 in 1”.Do đó, miếng trầu nói lên sự hoà hợp giữa vợ chồng và con cái.  Tuy mỗi người có một tính tình riêng nhưng mỗi phần tử trong gia đình phải bỏ ý riêng để tìm đến một hoà hợp chung : mình vì mọi người, mọi người vì mình. Có sự hòa hợp như thế, gia đình mới có đời sống ấm êm :
                                       Trầu xanh, cau đắng, chay hồng,
                                      Vôi pha với nghĩa, thuốc nồng với duyên.

 
III. MIẾNG TRẦU VÀ TÌNH NGHĨA VỢ CHỒNG.
           Giới răn Thiên Chúa đòi buộc mọi người phải yêu thương nhau như chính mình, không phân biệt. Tình yêu vợ chồng lại càng phải được kiện toàn với tình yêu hy sinh vô vị lợi và bằng một sự hoà hợp thắm thiết.  Càng hy sinh, tình yêu càng mặn nồng và làm cho gia đình  càng hạnh phúc. Hy sinh tỷ lệ thuận với hạnh phúc :”Không có tình yêu nào cao cả hơn tình yêu của người hy sinh tính mạng vì bạn hữu mình”(Ga 15,13).
           Truyện trầu cau và phong tục ăn trầu mãi mãi là một gia tài của cha ông truyền lại cho con cháu, nó mang một ý nghĩa rất thâm thúy : càng bị nghiền nhai ra thì càng trở nên mầu đỏ thắm tình yêu :
                                      Con đường nghiền nát trầu cau
                                      Nên mầu đỏ thắm nên mầu sắt son.

           Trong Tông huấn về Gia đình, Đức Gioan Phaolô II viết:”Sự  hiệp thông trong gia đình đòi hỏi mọi người và mỗi người biết quảng đại và mau mắn  mở rộng lòng mình ra để thông cảm, bao dung, tha thứ và hoà giải với nhau”(FC 21).
   Chúng ta chú trọng đến hai chữ “Bao dung”, hãy mở rộng lòng ra để đón nhận nhau trong tinh thần bao dung.  Bao dung là “Tôn trọng và chấp nhận sự khác biệt, sự đa dạng giữa người và người trong mọi chiều kích”. Vì thế, những cặp vợ chồng bao dung sẽ dễ dàng xích lại gần nhau, dễ dàng bổ túc cho nhau, nhờ đó họ kiện toàn sự hiệp nhất yêu thương.  Léon Tolstoi đã nói:”Yêu ai là yêu trọn vẹn con người đó y như trong thực tế, chứ không phải như trong ước muốn của ta”.
           Sự hiệp nhất bền vững trong đời sống vợ chồng không chỉ là bảo chứng  cho một cuộc hôn nhân hạnh phúc và đẹp lòng Chúa, mà còn là một chứng từ có sức thuyết phục đối với những gia đình đang chìm trong bất hoà, chia rẽ và đổ vỡ.
 Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
 Đà lạt

                  
 

HônPhối 68: YÊU NHAU TRĂM SỰ CHẲNG NỀ

Trong ca dao tục ngữ, chúng ta thấy có rất nhiều câu thơ nói về tình yêu, mỗi câu thơ nói lên HônPhối 68

Trong ca dao tục ngữ, chúng ta thấy có rất nhiều câu thơ nói về tình yêu, mỗi câu thơ nói lên một khía cạnh của tình yêu. Hôm nay chúng ta chọn một câu thơ rất quen thuộc để nói lên tính cách vô vị lợi của tình yêu, nhất là trong tình yêu hôn nhân :
                                     Yêu nhau trăm sự chẳng nề,
                                  Dù trăm chỗ lệch cũng kê cho bằng.

           Chúa Giêsu đã thực hiện tình yêu vô vị lợi này nơi chúng ta. Tình yêu đó đã được thánh Phaolô ca tụng trong bài thánh thư gửi cho tín hữu Philipphê.
 
I. TÌM HIỂU LỜI CHÚA.
“Đức Giêsu Kitô
vốn dĩ là Thiên Chúa
mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì
địa vị ngang hàng với Thiên Chúa,
nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang
mặc lấy thân nô lệ
trở nên giống phàm nhân
sống như người trần thế.
Người lại còn hạ mình
vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết,
chết trên cây thập tự.
          (Pl 2, 6-8)

           Thánh Phaolô ca tụng tình yêu Thiên Chúa đối với loài người chúng tatrong việc trút bỏ mọi vinh quang của Ngôi vị Thiên Chúa để trở nên người phàm. Và thánh Gioan tông đồ cũng nói: ”Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết nhưng được sống muôn đời. Quả vậy, Thiên Chúa sai Con của Người đến thế gian không phải để lên án thế gian, nhưng là để thế gian, nhờ Con của Người mà được cứu độ”(Ga 3,16-17).
Đây là một tình yêu hoàn toàn vo vị lợi.
           Tình yêu ấy được biểu lộ nơi Đức Giêsu. Ngài tuy là Thiên Chúa nhưng không giữ cho mình chức vị ấy, nhưng đã từ bỏ tất cả để trở nên giống phàm nhân như chúng ta. Còn hơn thế nữa, đã mặc lấy thân phận của người nô lệ hèn hạ nhất trần gian và kết thúc cuộc đời bằng cái chết trên thập giá để cứu chuộc nhân loại. Ngài đã yêu thương phục vụ chúng ta cho đến cùng và tình yêu ấy được thể hiện cách cụ thể trong cái chết trên thập giá”Không có mối tình nào lớn lao cho bằng mối tình của kẻ chết vì người mình yêu”(Ga 15,13)
           Thánh Gioan khẳng định:”Thiên Chúa là Tình yêu”(1Ga 4,10). Ngài là nguồn gốc tình yêu. Ngài ban cho chúng ta tình yêu của Ngài để chúng ta yêu Ngài và yêu thương nhau. Vì thế Ngài mới nói:”Hãy yêu mến Thiên Chúa hết lòng, hết linh hồn hết sức ngươi và hãy yêu anh em như chính mình”(Mt 22,37.39). Ngoài ra, Chúa còn nói rõ ràng và mạnh mẽ hờn:”Các con hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương các con”(Ga 13,24 ; 15,12).
 
II. TÌNH YÊU HÔN NHÂN.
           1. Nhu cầu yêu và được yêu.
           Con người ai cũng có nhu cầu yêu và được yêu. Ai không biết yêu là con người không bình thường hoặc là con người điên loạn bởi vì :
                                    Đố ai sống được mà không yêu,
                                    Không nhớ không thương một kẻ nào.
                                                (Xuân Diệu)

           Tình yêu triển nở theo thời gian. Khi còn nhỏ, đứa trẻ sống rất vô tư, chỉ biết yêu cha mẹ và bạn bè, sống phó thác trong tay cha mẹ. Đến tuổi dậy thì, người thiếu niên thấy có sự thay đổi gì đó trong con người mình, bắt đầu ưu tư, một tình cảm mông lung nổi lên, tình yêu chớm nở, một nỗi buồn vu vơ không hiểu lý do đang xâm chiếm tâm hồn :
                                       Hôm nay trời lặng lên cao,
                             Tôi buồn , không hiểu vì sao tôi buồn.
                                                (Xuân Diệu)

           Nhưng đến tuổi trưởng thành, người thanh niên thực sự có tình yêu, không chỉ là tình yêu bạn bè, mà tình yêu thiên về gia đình. Lúc này trai tài gái sắc tìm gặp nhau để tìm hiểu nhau và đi đến quyết định lập gia đình.  Người ta không còn yêu một cách chung chung nhưng muốn tìm đối tượng riêng biệt và đặc thù để lập gia đình, muốn giới hạn tình yêu vào một đối tượng duy nhất : tình yêu vợ chồng.
 
          2. Lý do của Hôn nhân.
           Theo quan niệm bình dân, người ta cho rằng ông Tơ bà Nguyệt chuyên lo việc cưới vợ gả chồng, ông bà buộc sợi dây xích thằng vào ai thì không thể cởi ra được, họ buộc lòng phải lấy nhau. Nhưng chúng ta không thể chấp nhận được quan niệm bình dân ấy. Hôn nhân phải có tính cách tự do và ý thức chứ không do một nguyện nhân mù quáng nào đó sắp đặt. Nếu không có tình yêu, người ta không thể lấy nhau được.
           Trong tông huấn về Gia đình, Đức Giáo hoàng Gioan-Phaolô II đã nói:”Tình yêu là ơn gọi cơ bản và bẩm sinh của con người”.
           Trong Thông điệp “Đấng cứu chuộc con người”, Ngài cũng nói:
“Con người không thể sống mà không có tình yêu. Con người sẽ mãi mãi không hiểu được chính mình, và cuộc đời sẽ mất ý nghĩa nếu con người không đón nhận mạc khải về Tình yêu, nếu con người không gặp được tình yêu, nếu con người không thử nghiệm tình yêu, nếu con người không biến tình yêu thành của mình, nếu con người không dự phần một cách mạnh mẽ vào tình yêu”.
          Người ta đi đến hôn nhân là do tình yêu. Tình yêu nối kết hai người lại với nhau. Chính tình yêu làm cho hôn nhân bền chặt. Ngoài tình yêu ra, mọi cái khác chỉ là phụ thuộc. Có người coi nền tảng hôn nhân chỉ dựa trên chức quyền, danh vọng, tiền tài, sắc dục. Nhưng những thứ đó không bền chặt, không hoàn toàn tùy thuộc mình, có thể một ngày nào đó sẽ mất đi, lúc đó hôn nhân sẽ ra như thế nào ? Nền tảng đổ vỡ, toà nhà hôn nhân cũng sụp đổ.
 
          3. Tình yêu xây dựng và củng cố hôn nhân.
           Mọi cuộc hôn nhân phải được xây dựng trên tình yêu. Tình yêu là nền tảng của hôn nhân và gia đình. Tình yêu ây không phải là một tình yêu lãng mạn đầy thơ mộng nhưng một tình yêu đã được thử thách qua thời gian. Tình yêu này phải bắt nguồn từ Thiên Chúa. Chính Chúa Giêsu đã làm gương cho chúng ta về thứ tình yêu này, đó là tình yêu hy sinh, dâng hiến và phục vụ. Người ta kết hôn với nhau không vì một lý do nào khác ngoài việc thương yêu nhau tận tình, trong sáng, hy sinh cho nhau để tạo hạnh phúc cho nhau. Tình yêu bền vững sẽ là tình yêu được dệt đan bằng đau khổ và hy sinh vô vị lợi.
 
                                                Truyện : méo miệng
          Sau khi đem vợ ra khỏi phòng cấp cứu, người chồng trẻ vội đưa nàng đến ngay thẩm mỹ viện quen biết để xin bác sĩ giải phẫu chỉnh hình cho cô.
          Sau khi khám nghiệm, bác sĩ đồng ý giải phẫu ngay lập tức. Thế làø bác sĩ và y tá nhào ngay vào việc trong suốt bốn tiếng đồng hồ.
          Tại nạn xe hơi đã khiến một phần mặt cô rách nát, nhưng nhờ tài khéo léo, bác sĩ đã cứu cô khỏi sẹo. Nhưng khi chữa đến miệng thì bác sĩ đành chào thua.
          Giải phẫu xong, bác sĩ cho mời người chồng vào thăm vợ. Hai người cầm tay nhau nghẹn ngào.
          Quay sang bác sĩ, người vợ ấp úng hỏi :
          - Miệng tôi sẽ mãi mãi như thế này phải không ?
          Bác sĩ gật đầu :
          - Một sợi gân miệng của cô đã bị cắt đứt. Tôi e rằng, miệng cô...
          Người chồng vội ngắt lời :
          - Miệng em nay trông duyên hẳn ra !
          Rồi chàng cúi xuống, hôn lên miệng vợ. Bác sĩ đứng gần đấy đã trông thấy, và ông làm chứng rằng :
          - Chàng đã cúi xuống, méo miệng, rồi âu yếm hôn nàng... cho nàng thêm xác tín bốn làn môi ấy vẫn còn hòa điệu sắt cầm.
           Chúa yêu thương loài người đã “méo mó” vì tội lỗi, không để ý đến sự xấu xa của con người, mà cứ yêu thương, yêu thương cho đến cùng. Chúa Giêsu đã không thủ địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã cúi xuống  “méo mó” như chúng ta và trở nên giống như chúng ta (x. Pl 2,6-11). Ngài đã trở nên giống hệt chúng ta chỉ trừ tội lỗi (Dt 4,15) để yêu thương và đem lại hạnh phúc cho chúng ta.
           Anh chị hãy chiêm ngắm gương mặt Chúa Giêsu. Ngài đã hy sinh tất cả cho chúng ta để chúng ta được hạnh phúc. Anh chị cũng hãy yêu thương và hy sinh cho nhau để cùng nhau tạo lập một gia đình hạnh phúc.
Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt

        
 

HônPhối 69: HÔN NHÂN , MỘT ƠN GỌI (1)

Trong văn học Việt nam của ta có câu chuyện thật đẹp về người con trai lái đò với tiếng hát tuyệt HônPhối 69

Trong văn học Việt nam của ta có câu chuyện thật đẹp về người con trai lái đò với tiếng hát tuyệt vời. Đêm đêm, tiếng hát ấy vang lên giữa mênh mông biển cả, gọi về trái tim một người con gái nhà giầu, khiến người con gái quên ăn quên ngủ, xanh xai vàng vọt khi chưa gặp được người con trai mộng mơ ấy.
           Mà sở dĩ người con gái xanh xao vàng vọt và quên ăn quên ngủ, chỉ vì tiếng hát kia chẳng còn là tiếng hát, cho dầu điêu luyện đến đâu, nhưng đã thành tiếng gọi với cô và cho cô. Tiếng gọi rơi vào tầm sâu tâm hồn, làm rung lên những âm thanh có khi cả đời chỉ một lần cảm mến.
           Người ta bảo : ấy là tiếng gọi của tình yêu.
         Câu chuyện tình thật đẹp nhưng cũng chỉ là minh họa cho một tiếng gọi mà bình thường người con trai và cô con gái nào cũng một lần rung động.  Và còn hơn nữa, đàng sau tiếng gọi ấy phải chăng là tiếng Chúa đang kêu gọi mà ta không ngờ :”Hãy theo Ta” (Mt 4,19).

 I. MỘT ƠN GỌI.
           1. Phải chăng một ơn gọi ?
           Hôn nhân, có gì cao cả để đáng mệnh danh là “ơn gọi” như người hiến dâng mình cho Chúa, cho tha nhân, cho đối tượng tình yêu siêu nhiên và cao cả là chính Chúa, thoát ra khỏi sự tầm thường của một kiếp nhân sinh ? Phải chăng chỉ là sự đương nhiên ? Do đó, việc lập gia đình chỉ là một việc bình thường, đương nhiên, “có vay có trả”của kiếp phàm nhân ?
 
          2. Một xác quyết.
           Chúng ta hãy nghe Đức Giáo hoàng Phaolô VI nói với chúng ta trong thông điệp Humanae vitae về vấn đề nàay :”Hôn nhân không phải là kết quả của ngẫu nhiên, của năng lực tự nhiên, vô ý thức tạo thành. Trái lại, đó là một tổ chức khôn ngoan của Tạo hóa để thực hiện ý định tình yêu của Ngài trong nhân loại. Đ6i vợ chồng tự hiến cho nhau, kết hợp với nhau, để hoàn thiện lẫn nhau và để cộng tác với Thiên Chúa mà gây dựng và dưỡng dục những sinh mạng mới”.
 
          3. Hôn nhân đã có từ ban đầu.
           Một hôm người Pharisêu hỏi Đức Giêsu về việc rẫy vợ. Người đáp :”Các ông không đọc thấy lời này sao :”Thuở ban đầu, Đấng Tạo hoá đã làm ra con người có nam có nữ, và Người đã phán : Vì thế, người đàn ông sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai sẽ thành một xương một thịt. Như vậy, họ không còn phải là hai, nhưng chỉ là một xương một thịt”(Mt 19,4-6)
          Theo đó, cuộc hôn phối đầu tiên đã diễn ra giữa Ađam và Evà. Sau này con cháu cứ tiếp tục sinh hoạt theo mẫu gương ấy.
 
          4. Một thắc mắc.
           Vậy người sống độc thân có đi ngược lại với ý của Chúa không ? Vì sau khi dựng nên Ađam, Thiên Chúa phán :”Người đàn ông sống một mình thì không tốt”, nên đã dựng nên cho họ một người nữ để trợ lực ?
           Đây là một trường hợp đặc biệt như Đức Giêsu đã nói :”Có những người là hoạn nhân vì từ lòng mẹ sinh ra đã là như thế; có những người là hoạn nhân vì bị người ta hoạn ; và có những người là hoạn nhân do họ tự ý sống như thế vì Nước Trời. Ai hiểu được thì hiểu” (Mt 19,12).
                   Thánh Phaolô trong thư thứ nhất gửi cho tín hữu Côrintô cũng nói rõ thêm về câu nói của Chúa Giêsu “Ai hiểu được thì hiểu”. Vì thế Ngài nói :”Tôi muốn anh chị em không phải bận tâm lo lắng điều gì. Đàn ông không có vợ thì chuyên lo việc Chúa : họ tìm cách làm đẹp lòng Người.  Còn người có vợ  thì lo lắng việc đời : họ tìm cách làm đẹp lòng vợ, thế là họ bị chia đôi. Cũng vậy, đàn bà không có chồng và người trinh nữ thì chuyên lo việc Chúa, để thuộc trọn về Người cả hồn lẫn xác. Còn người có chồng thì lo lắng việc đời : họ tìm cách làm đẹp lòng chồng” (1 Cr 7,32-34).
 
          5. Lập gia đình : một công lệ.
           Xưa nay, người ta thấy việc lập gia đình là một việc tự nhiên, bình thường vì nam nữ hấp dẫn nhau, muốn kết hợp với nhau. Hơn nữa, gia đình là một yếu tố cần thiết cho xã hội và Giáo hội. vì :
          a) Gia đình là một cộng đồng yêu thương, nơi chia sẻ tâm tình, nhờ đó con người được hoàn thiện và trưởng thành hơn.
 
  1.   Gia đình là nơi nương tựa nhau bởi không ai có thể sống một mình được.
          c) Gia đình là nơi sinh sản và là môi trường thuận tiện giáo dục con cái.
          d) Gia đình còn là nền tảng của xã hội.
                  Vì thế, cưới vợ lấy chồng là một nhu cầu cần thiết và phổ biến :
          * Đối với người ngoại giáo : cưới vợ gả chồng được gọi là hôn nhân tự nhiên.
          * Đối vớ người công giáo thì hôn nhân còn là bí tích, cao trọng hơn một bậc.
 
II. HÃY SỐNG THEO ƠN GỌI CỦA MÌNH.
 
          Ai sống theo ơn gọi là sống theo ý Chúa. Chúa đã tiên liệu cho ta tất cả. Ngài s8áp đặt và kêu gọi ta vào một cảnh sống cụ thể. Ngài đã có đầy đủ kế hoạch về con người chúng ta với đầy đủ chi tiết, chỉ mong ta thực hiện đúng chương trình của Ngài. Chúa đã gọi ta vào cảnh sống nào, dĩ nhiên, Ngài ban đầy đủ ơn để ta có thể thực hiện một cách tốt đẹp vì theo nguên tắc triết học thì :”Nemo ad impossibile tenetur”: không ai bị buộc phải làm cái không có thể làm được.
           Chua Giêsu đã phán :”Hãy theo Ta” (Mt 4,19).  Đâu chỉ là tiếng gọi của cuộc sống tu trì mà còn là tiếng gọi cho cuộc sống hôn nhân. Ta theo Chúa ngay trong những hẹn hò gặp gỡ với người yêu, theo Chúa trong ngày bước lên xe hoa, theo Chúa trong bổn phận gia đình...
           Người ta bảo Kitô giáo có cái nhìn bi quan về tính dục, mà tính dục lại gắn với hôn nhân. Thế nên chỉ nhấn mạnh đến tiếng gọi của Chúa trong đời sống độc thân tu sĩ, còn cvác các đôi vợ chồng thì khó lòng cảm nhận là CHÚA GỌI mình. Nhận định ấy đáng suy nghĩ và hãy tập nghe TIẾNG GỌI của Ngài ngay giữa lòng cuộc sống (x. Mái ấm, tr 19-20).
 
          KẾT LUẬN
           Chúng ta phải ý thức rằng : ơn gọi hôn nhân không hẳn là một lời mời gọi hưởng hạnh phúc, mà hơn hết là một sự DẤN THÂN lãnh trách nhiệm, lao đầu vào những gian nan khó khăn để thi hành nhiệm vụ một cách chu toàn.
           L:ời của  một vị danh nhân :”Tôi luôn khâm phục những vị anh hùng. Nhưng kẻ anh hùng nhất là người dám lập gia đình”. Câu nói này có vể cường điệu quá, khó có thể chấp nhận được, nhưng dù sao, đứng về một phương diện nào đó, câu nói ấy cũng hàm chứa một ý nghĩa sâu xa : vì những người đi lập gia đình không hề nắm vững được tương lai như thế nào, không thể đo lường được con đường phía trước với đầy gian nan, bất trắc có thể xẩy ra bất cứ lúc nào. Có lẽ vì thế mà ông Ben Jonson mới nói :Hôn nhân là một cuộc xổ số”.
           Ý thức như vậy, chúng ta sẽ thấy hôn nhân là một ơn gọi của Thiên Chúa. Và khi đáp trả tiếng gọi mời một cách tự nguyện, là chúng ta cũng tự mình đón nhận những trách nhiệm.
Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt

         
 

HônPhối 70: VỊ KHÁCH KHÔNG ĐƯỢC MỜI

Cưới vợ gả chồng là một điều rất tự nhiên và bình thường, chính Thiên Chúa đã tác hợp cho đôi HônPhối 70

Cưới vợ gả chồng là một điều rất tự nhiên và bình thường, chính Thiên Chúa đã tác hợp cho đôi hôn phối đầu tiên là Ađam và Evà để họ sinh sản con cái ra đầy mặt đất. Thiên Chúa chúc phúc cho việc kết hôn này.  Ngày này người ta vẫn tiếp tục cưới vợ gả chồng theo khuôn mẫu của cuộc hôn nhân đầu tiên ấy.  Hôn nhân là một việc cần thiết đối với mọi người, trừ một số người có ơn gọi  đặc biệt sống độc thân. Kết hôn thì dễ, nhưng làm thế nào cho hôn nhân được hạnh phúc là một truyện khó ! Muốn cho hôn nhân được hạnh phúc, đối với Kitô hữu, chúng ta hãy mời Chúa Giêsu ngự vào nhà mình. Ngài là vị khách quan trọng hay bị  bỏ quên.
 
I. QUAN NIỆM VỀ HÔN NHÂN.
           Người ta nghĩ thế nào về hôn nhân ? Người ta có cái nhìn lạc quan hay bi quan về hôn nhân ? Phải chăng người ta có cái nhìn bi quan về hôn nhân khi nhìn vào hiện trạng các gia đình trên thế giới với những cuộc ly dị tràn lan...
           * Có những người nói một cách bi quan :
          “Hôn nhân là một cuộc xổ số (Ben Jonson).
“ Hôn nhân là một cái bao, trong đó có 99 con rắn và một con lươn, ai có thể thọc tay vào đó” (tục ngữ Ả rập).
 * Có người nói trung dung hơn :
“Hôn nhân là con đường đưa ta vào địa ngục hay dắt ta vào cõi thiên đàng” (de Balzac).
           Nếu hỏi những người nhiều kinh nghiệm, chắc hẳn họ sẽ mỉm cười. Với dáng bộ bí mật họ sẽ nói :”Đoạn trường ai có qua cầu mới hay” (Nguyễn Du).  Cũng như ông Socrate nói, chúng ta cũng phải nói rằng :”Hôn nhân là một tai họa nhưng là một tai hoạ cần thiết” (Ménandre).
           Có người bảo :”Hôn nhân là mồ chôn tình yêu” (Chamfort), nhưng tôi nghĩ nó chỉ là một tình trạng mới của tình yêu, nó sẽ làm cho tình yêu bớt đi cái chất mơ mộng viển vông, mà gia tăng tính cách trưởng thành bằng cách lãnh nhận và chu toàn bổn phận của mình.
 
II. LÀM SAO CHO HÔN NHÂN HẠNH PHÚC ?
           Phải nhận rằng gia đình là tế bào của xã hội, chính là con tim của nhân loại, nhưng con đường tình yêu có lắm chông gai và cuộc sống hôn nhân có nhiều sỏi đá, thì chúng ta cũng cần phải bước vào với tình trạng không thể trốn tránh được.
           Điều quan trọng là chúng ta phải có những phương pháp, phải có những cách thức biến gai nhọn thành bông hồng, biến sỏi đá thành mầu mỡ, biến đau khổ thành hạnh phúc. Hôm nay tôi chỉ nói tới một hình thức làm cho hôn nhân hạnh phúc : TINH THẦN ĐẠO ĐỨC.
 
                             Truyện : Của hồi môn.
          Có một ông bố vợ, trong ngày cưới, đã gặp chàng rể. Ông ta trao cho anh một phong bì và nói :”Đây là tiền hồi môn của con gái tôi”.
          Chàng rể về nhà mở bao thư, trong đó có một tờ giấy ghi những hàng chữ như thế này :
          - Chịu khó làm việc trị giá 100.000đ.
          - Làm bếp giỏi trị giá 100.000đ.
          - Không ăn quà vặt và không chạy theo thời trang trị giá 100.000đ.
          - Dịu hiền và không hay bép xép trị giá 100.000đ.
          - Tinh thần đạo đức trị giá 400.000đ.
          - Và một số tiền mặt là 200.000đ.
          Cộng chung tất cả là một triệu đồng.
                   (Tình yêu trong đời thường, tr 35)

           Sau này, chàng rể thấy, quả thật người vợ của mình có những đức tính ấy, còn mình thì hạnh phúc  và sung sướng hơn một triệu phú.  Ông bố vợ đã có một cái nhìn rất sâu sắc và đánh giá đúng mức khi cho rằng tinh thần đạo đức là một yếu tố quan trọng trong việc xây dựng hạnh phúc gia đình.
 
III. TINH THẦN ĐẠO ĐỨC NHƯ THẾ NÀO ?
           “Hãy đưa Chúa vào nhà mình”.
           Chúa Giêsu vào dự tiệc cưới Cana không những làm phép lạ biến nước thành rượu cho chủ nhà khỏi bị bẽ mặt mà còn chúc phúc cho đôi tân hôn.
          *  Anh chị có dọn mình để cử hành bí tích Hôn phối không hay chỉ nghĩ đến thiệp cưới, quần áo, cỗ bàn ?
          * Anh chị có biết cầu nguyện không ? Cầu nguyện là việc rất quan trọng như một danh nhân đã nói :”Nếu bạn lên đường, hãy cầu nguyện một lần, nếu bạn ra khơi, hãy cầu nguyện hai lần, và nếu bạn kết hôn, hãy cầu nguyện ba lần”
           Họ đi mời họ hàng thân thích bạn bè đến dự tiệc cưới mà lại bỏ quên một nhân vật quan trọng có thể làm cho họ được hạnh phúc hơn : đó là Đức Giêsu.  Hôm nay anh chị có để ý đến Ngài không, hay đã bỏ quên Ngài ?
           Nếu cuộc hôn nhân vắng bóng Đức Kitô thì đối với họ, hôn nhân chỉ là cơ hội để hưởng thụ lẫn nhau.  Hôn nhân chỉ là là một cuộc buôn bán đổi chác. Hôn nhân chỉ là bước đầu đi đến ly dị. Một cuộc hôn nhân không có Đức Kitô như thế, chắc chắn sẽ đi đến đổ vỡ, sẽ đem lại những đau thương.
           Phúc âm đã viết :”Khi Đức Kitô trút hơi thở cuối cùng trên thập giá, thì mặt đất bỗng rung chuyển và bầu trời trở nên tối tăm”. Cũng vậy, khi Đức Kitô bị loại trừ ra khỏi bầu khí của gia đình, thì ở đó chỉ còn những cãi vã, những đay nghiến nhau từng ngày.

                                      Truyện : Một cái gì bảo đảm chứ ?
          Một cô gái quyết định kết hôn với chàng thanh niên nhà giầu, nhưng anh này lại là một kẻ nghiện rượu, cờ bạc và khô khan.
          Thấy vậy, cha sở khuyên cô nên nghĩ lại, nhưng cô đã choáng váng trước căn nhà đồ sộ với chiếc xe hơi bóng loáng. Cô trả lời với cha sở :
          - Ít ra mắt con phải thấy được một cái gì bảo đảm chứ !
          Đám cưới của họ được tổ chức linh đình và rềnh rang.  Nhưng chỉ sau đó một tuần lễ thì cô ta đã đến gặp cha sở với khuôn mặt bầm tím vì bị chồng đánh đập trong một cơn say.
          Lúc đó cha sở mới bảo :
          - Bây giờ thì con đã thấy được một cái gì bảo đảm rồi chứ ?
                             (Tình yêu trong đời thường, tr 37)
           Trong đời sống hôn nhân, tinh thần đạo đức sẽ tạo nên hạnh phúc gia đình.
          Thánh Clêmentê đã đưa ra một ý nghĩ khôi hài như sau :”Nếu ở trong một môi trường đạo đức, tôi sẽ có được cái mũi người công giáo”, có nghĩa là tôi sẽ ngửi được hương thơm thánh thiện.
           Bước vào nhiều gia đình hiện nay, chúng ta thấy thiếu vắng hương thơm thánh thiện này, đó là hương thơm của những câu kinh, của những lời cầu nguyện. Gia đình phải được trở nên một gian cung thánh, ở đó vợ chồng và con cái dâng lên Chúa những lễ vật xuất phát từ lòng cuộc sống, đó là những lao công vất vả của cuộc sống.
Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
 Đà lạt

 
 

HônPhối 71: RA KHƠI

I. LỜI CHÚA .
           Chúng ta đọc : Mt 8,23-27.
 

Chúa Giêsu cùng các môn đệ xuống thuyền sang bờ bên kia, tình cờ sóng gió nổi lên dữ dội HônPhối 71

Chúa Giêsu cùng các môn đệ xuống thuyền sang bờ bên kia, tình cờ sóng gió nổi lên dữ dội, các môn đệ lo sợ quýnh cả lên, trong khi đó Chúa Giêsu bình tĩnh ngủ trong khoang  thuyền coi như không có chuyện gì xẩy ra.  Các ông phải đánh thức Ngài dậy và xin cứu giúp.  Ngài trách các ông sao nhát thế, kém lòng tin như vậy ! Sau cùng Ngài cũng lấy uy quyền truyền cho sóng gió phải yên lặng.  Sau sự kiện này, các môn đệ ngạc nhiên và đặt câu hỏi Ngài là ai  mà sóng gió phải vâng lời Ngài ?
           Ta nhận thấy, các môn đệ tuy còn ít lòng tin vì chưa nhận ra con người thật của Chúa, nhưng cũng đã biết chạy đến Chúa cầu cứu khi gặp gian nan nguy hiểm.
           Đây là bài học cho chúng ta mỗi khi gặp gian nan thử thách, hãy chạy đến với Chúa để xin Ngài giúp đỡ. Trong cuộc đời chúng ta, không thiếu gì những gian nan thử thách, không thiếu gì những đau khổ. Chúa vẫn thương chúng ta, nhưng vẫn để chúng ta gặp gian nan thử thách để giúp chúng ta trưởng thành hơn và giúp chúng ta biết tin cậy vào Chúa.  Trong cuộc sống hôn nhân cũng không thiếu gì những sóng gió, nhưng chúng ta phải biết rằng xem ra Chúa đang ở xa chúng ta,  đang ngủ đấy, nhưng Ngài vẫn theo dõi cuộc chiến đấu của chúng ta, và khi nào chúng ta không còn dựa vào sức mạnh của mình mà chỉ biết trông cậy vào Chúa, lúc đó Chúa mới ra tay.
 
II. BÃO TỐ CUỘC ĐỜI.
           Trong cuộc sống con nguời ở trần gian này, người độc thân cũng như người có gia đình, trong cuộc sống cá nhân cũng như trong gia đình và ngoài xã hội, chúng ta như những những con thuyền đang lênh đên trên biển cả trần gian, những cuộc bão tố có thể nổi lên trong mọi lãnh vực kinh tế, xã hội, đời sống vật chất cũng như tình thần, không ai có thể trốn tránh được.
 
          1. Bão tố trong đời sống thường ngày.
           Trong cuộc sống thường ngày của mọi người, không ai có thể tránh được những gian nan khốn khó, những cuộc thử thách cam go. Chúa bảo ông Phêrô :” Ma qủi nó sàng con như sàng gạo”. Chúa cũng bảo chúng ta phải cầu nguyện để khỏi sa chước cám dỗ. Khỏi sa chước cám dỗ không có nghĩa là không bị cám dỗ, không bị thử thách nhưng có nghĩa làø chúng ta hãy xin Chúa đừng để ta thua chước cám dỗ.  Gian nan thử thách là điều cần vì nhờ đó mới biết ai trung thành với Chúa , vì người ta thường nói  :
                                       Có cứng mới đứng đầu gió

           2. Bão tố trong cuộc sống hôn nhân.
           Già đình nào mà không gặp khó khăn ? Những khó khặn, những cơn thử thách có thể xây ra bởi nhiều yếu tố khách quan cũng như chủ quan như :
          - Tội nguyện tổ.
          - Vấn đề kinh tế.
          - Vấn đề xã hội.
          - Vấn đề tâm lý...

           Ngay sự khác biệt tâm lý cũng có thể gây ra mối bất hòa bùng nổ hoặc ngấm ngầm. Những sự bất hoà trong đời sống hôn nhân không thể bị triệt tiêu nhất là khi hai người luôn phải sống với nhau và hay có những bất đồng ý kiến trong cuộc sống gia đình. Nếu không biết dung hòa những khác biệt ấy, vợ chồng sẽ đi đến chỗ đổ vỡ.
           Ta có thể ví gia đình là một con thuyền lênh đênh trên biển đời, không thiếu gì những phong ba bão tố làm chìm con thuyền. Muốn cho con thuyền khỏi bị chìm, cần có sự cộng tác của vợ chồng trong việc chèo chống cùng với sự giúp đỡ của Chúa.
 
III. BA CUỘC KHỦNG HOẢNG.
           Trong đời sống gia đình, mỗi người gặp khó khăn về một phương diện, không ai giống ai, nhưng có 3 cuộc thử thách mà ta gọi là 3 cuộc khủng hoảng mà mọi người phải trải qua. Dĩ nhiên, đây chỉ là 3 cuộc khủng hoảng nói chung chứ nhiều người không phải  gặp khó khăn trong 3 cuộc khủng hoảng này.
 
          1. Khủng hoảng vỡ mộng.
           Năm bảy tháng hay một năm sau khi cưới, người ta có cảm tưởng mình đã chọn lầm. Vì sao ? Vì những mơ mộng ban đầu đã bay dần, còn đâu những hình ảnh đẹp như “hoàng tử của lòng em”, hoặc như “nàng công chúa của anh”, vì hai con người thật đã bị lộ diện. Cái hay cái dở, cái tốt cái xấu đã bị phơi bầy ra. Vì ý thức mình phải ăn đời ở kiếp với một con người có nhiều khuyết điểm và giới hạn như thế ! Có lẽ còn nhiều lý do khác nữa thấy người ta thấy hối tiếc mà trước đây mình không ngờ hoặc chưa nghĩ tới.
 
          2. Khủng hoảng nhàm chán.
           Năm bảy năm sau ngày thành hôn, hai vợ chồng thường rơi vào tình trạng nhàm chán. Có thể như đã khám phá ra hết rồi, hoặc không còn thấy sự khoái cảm trong việc chăn gối hoặc vì muốn tìm cảm giác mới lạ :
                                       Cam ngon quít ngọt đã từng,
                                Thèm quả khế rụng trên rừng chưa ăn.

           hoặc vì gánh nặng gia đình :
                                       Gái có chồng như gông đeo cổ
                                      Trai có vợ như rợ buộc chân

          và nhiều lý do khác đưa đến cám dỗ ngoại tình.
           Nhà thơ ngụ ngôn La Fontaine đã có kinh nghiệm khi ông nói :
                   “Nơi bạn, tất cả đều tha thứ, bỏ qua,
                     Nơi tình nhân, tất cả đều hài lòng, hoàn toàn.
                     Nơi vợ chồng, tất cả đều nhàm chán mệt mỏi.

 
          3. Khủng hoảng hồi xuân.
           Cơn khủng hoảng nhàm chán qua đi không được bao lâu, cơn khủng hoảng hồi xuân đã tới. Trong thời kỳ này, người chồng cũng như người vợ, nhất là người vợ thấy mình đã bước vào tuổi già rồi mà chưa hưởng thụ được bao nhiêu, nên muốn sống vội sống cuồng :
                                       Chơi xuân kẻo hết xuân đi  
                                     Cái già xồng xộc nó thì theo sau.

           Khủng hoảng hồi xuân này xẩy ra vào khoảng 40-45 tuổi,  lúc hai người, cách riêng là ông, có mặc cảm là đời mình thất bại. Hai người trở nên lãng mạn, thích phiêu lưu tình cảm, cho rằng chỉ có mối tình mơ mộng mới có giá trị, mới đáng sống. Người ta có thể đi đến chỗ vất bỏ tất cả những gì đã dầy công xây dựng : ông đi yêu một người đẹp bằng tuổi con gái mình, và bà kết thân với một chàng trai tơ.
           Nói như vậy không có nghĩa là mỗi gia đình đều phải trải qua 3 cuộc khủng hoảng. vì có những gia dình không phải không phải trải qua một cuộc khủng hoảng nào, hoặc chỉ qua một cuộc khủng hoảng thôi. Có những gia đình luôn bền vững và sống trong hạnh phúc.
 
                                      Truyện : tài tử Galicopter
          Một trong những ngôi sao điện ảnh nổi tiếng nhất trong thập niên 50 là nam tài tử Galicopter. Ông nổi tiếng không những vì tài nghệ diễn xuất mà còn vì cuộc sống hôn nhân mẫu mực của ông. Vào khoảng cuối đời, quằn quại trong thể xác, ông đã nói về Rocki người vợ đã chung sống với ông  trong gần 30 năm như sau :
           “Rocki là người đàn bàn kỳ diệu. Nàng là một người vợ đã biết thích nghi với tính khí và công việc của tôi. Nàng cũng biết cảm thông với những lỗi lầm của tôi. Nhất là nàng đã biết ở bên cạnh tôi mỗi khi nàng có thể, mỗi khi tôi cần đến nàng. Nàng là một người vợ đích thực”.
           Những lời khen tặng trên đây của tài tử Galicopter là một khẳng định rằng : hạnh phúc gia dình chỉ có thể có được nếu hai vợ chồng cùng chung nhau xây dựng, chứ không riêng ai.  Nhưng dầu sao người vợ cũng đóng vai trò quan trọng, người đóng vai chủ động. Sở dĩ tài tử Galicopter khen vợ mình như vậy là vì ông là con người hiểu biết, lại được một ngừời vợ biết yêu thương va biếtø chiềú chồng. Nếu gia đình nào cũng như thế thì không sợ phải nhận lấy những tai hại gây ra do ba cuộc khủng hoảng đó.
           Để có một gia đình hạnh phúc, chúng ta hãy lắng nghe Đức Giáo hoàng Piô XII mô tả một gia đình Kitô hữu kiểu mẫu như sau :
 “Các bạn sẽ thấy mọi người trong gia đình ấy quan tâm chu toàn bổn phận của mình một cách hữu hiệu và ý thức. Mỗi người tìm cách làm vừa lòng mọi người. Mọi người đều tìm cách thực thi công bình, lòng thành thực, sự hiền lành, sự quên mình, với nụ cười trên môi và trong tâm hồn.  Họ kiên nhẫn chịu đựng nhau, tha thứ cho nhau, và thể hiện sức mạnh trong giờ phút thử thách. Các bạn sẽ thấy các bậc cha mẹ giáo dục con cái trong yêu thương và rèn luyện các nhân đức.
Trong một gia đình như thế, Thiên Chúa được tôn vinh và phục vụ một cách trung thành, tha nhân được đối xử một cách tử tế, Các bạn có thể tìm thấy một nơi nào đẹp đẽ và xây dựng hơn không”?
 Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt


 

HônPhối 72: THỀ NGUYỀN

I. LỜI CHÚA : Mt 5,13-37.
 

Hãy nghe và suy niệm Lời Chúa :”Về lời ăn tiếng nói, có thì nói có, không thì nói không, thêm thắt HônPhối 72

Hãy nghe và suy niệm Lời Chúa :”Về lời ăn tiếng nói, có thì nói có, không thì nói không, thêm thắt đặt truyện là do lòng tà mà ra”(Mt 5,37)..
           Chúa dạy ta hãy tôn trọng sự thật, có thì nói có, không thì nói không, chẳng phải thề thốt gì cả. Nhưng con người yếu đuối hay thay lòng đổi dạ nên phải đặt ra thề nguyền để làm bảo chứng cho lòng trung thành như giao ước, khế ước , giao kèo, hôn ước.
           Chính dân Israel đã ký giao ước với Thiên Chúa ở núi Sinai, thế mà đã thay lòng đổi dạ, đã bao nhiêu lần bội ước : phản bội Chúa, nhưng Chúa vẫn thương ban ơn tha thứ. Do đó, chúng ta mới có Thánh kinh Cựu ước và Tân ước.
 
II. THỀ NGUYỀN TRONG ĐỜI  SỐNG.
   1. Trong thực tế cuộc sống.
           Trong khi giao tiếp với nhau, người ta luôn thề nguyền bằng lời nói, bằng chữ viết hay bằng cử chỉ như véo tay... để nói lên lòng trung tín của người ta. Nếu không có lời thề nguyền như vậy, người ta thấy không yên tâm mặc dầu biết trước lời thề nguyền ấy có thể bị hủy bỏ do tự nguyện hay bị phản bội. Có xã hội nào mà không có thề nguyền ? Ngay trẻ con cũng có.
 
          2. Lý do đưa đến thề nguyền.
 
  1.   Bản tính con người.
                   Con người đâu có phải là thần thánh, con người yếu đuối như cây sậy trước gió, hay sa ngã. Chính vì vậy mà nhà đại tư tưởng Blaise Pascal đã nói :”Con người không phải là thiên thần, cũng không phải là con vật, và ai muốn là thiên thần lại là con vật”.
           b) Trong công việc làm ăn.
                   Trong công việc làm ăn buôn bán, người ta hay thiếu chữ “tín” nên không thiếu gì những công ty vỡ nợ, những hợp đồng bị bể tung, những con nợ ăn quịt, tình trạng “xù đẹp” là rất  phổ biến.
           c) Trong đường tình.
                   Người ta yêu nhau, chọn nhau làm vợ làm chồng, người ta thề nguyền với nhau trọn nghĩa sắt cầm nhưng không thiếu gì những cuộc tình giữa đường đứt gánh do phản bội. Họ coi lời thề nguyện như trò chơi, chẳng có giá trị gì.
           Thi sĩ Nhất Tuấn đã nói thẳng thừng không ái ngại :
                                       Thôi đừng kể chuyện ngày xưa,
                                  Bởi vì đoạn kết bài thơ có rồi.
                                      Giận hờn thì cũng đành thôi,
                                  Dại gì giữ mãi một lời thề suông.

           Trước  khi kết hôn, ai không cảm thấy lo lắng cho tương lai ? Không biết người bạn đời của mình có chung thủy không ? Khi đã tìm được người yêu, muốn trao thân gửi phận cho họ, cô gái dặn dò người tình của mình một cách chân tình :
                                       Anh về em nắm cổ tay
                                  Em dặn câu này anh chớ có quên :
                                      Đôi ta đã trót lời nguyền
                                  Chớ xa xôi mặt mà quên mảng lòng.
                                                   (Ca dao)

 
 
  1.   CÓ NÊN THỀ NGUYỀN KHÔNG ?
           Có một cô bé gửi cho anh Bồ câu một câu hỏi thế này :”Em có đọc một câu danh ngôn : “Những lời thề của ái tình không đến tại Thượng Đế”. Vậy chẳng lẽ tất cả mọi lời thề thốt trong tình yêu đều “gỉa dối” hết sao anh” ?
          Anh Bồ câu đã trả lời :”Không chỉ ở phương Tây, người Phương  Đông cũng hay chế diễu sự thề thốt. Dân gian bảo : “Lời thề cá trê chui ống” cùng với ý nghĩa na ná như vậy.
           Ở đây ta không nên xét đến những lời thề giả dối, nghĩa là những lời thề mà người nói ra biết chắc là mình sẽ không bao giờ thực hiện. Đó là lời thề của những hạng người ưa “nuốt lời” hay còn gọi là “xù đẹp” ! Nhưng ngay cả những lời thề nghiêm túc và chân thành nhất cũng chỉ có ý nghĩa nêu bật quyết tâm của người thề  trong lúc đó mà thôi.
           Thề thốt thì dễ, nhưng gìn giữ và thực hiện đúng đắn lời thề thì không phải ai cũng làm được trong đời sống, nhất là đời sống tình cảm, không ai có thể nói trước được điều gì. Vì vậy, chúng ta sống và chủ yếu là dựa vào niềm tin chứ không nên dựa vào sự bảo hiểm của bất cứ một lời thề thốt hay hứa hẹn ngọt ngào nào.
                             (Anh Bồ Câu, Nói chuyện... Phượng Hồng, tr 22-23)
 Trong nghi thức Hôn phối, anh chị phải nói lên quyết tâm của mình, chọn nhau làm vợ làm chồng và còn phải thề hứa, thề một cách công khai và trịnh trọng trước mặt vị đại diện Giáo hội, trước mặt hai người làm chứng và cộng đồng dân Chúa lời cam kết của mình. Ví dụ :
“Tôi Giuse Nguyễn văn Tèo nhận em Maria Nguyễn thị Tẽo làm vợ và hứa sẽ giữ lòng chung thủy với em...”
           Đây không phải là lời thề suông như thi sĩ Nhất Tuấn đã nói mà đây là một lời thề trọng thể có ý thức và có chất lượng. Lời thề này có tính cách vĩnh viễn mà không ai có thể tháo gỡ được như lời Chúa Giêsu đã nói :”Sự gì Thiên Chúa đã phối hợp loài người không được phân ly”(Mt 19.6).
 
          KẾT LUẬN
           Xin Chúa cho chúng ta được giữ lòng chung thủy trong đời sống hôn nhân. Người ta đã khuyên răn và cảnh cáo mọi người về điểm nay :
                                                         Nói lời phải giữ lấy lời,
                                      Đừng như con bướm đậu rồi lại bay.
                                                       (Ca dao)

           Thiên Chúa là Đấng trung tín, Người không bao giờ thất hứa, Người thực hiện tất cả những gì Người đã hứa. Theo gương Mẹ Maria mà bước đi trong hành trình đức tin như lời bà Elizabeth đã nói với Mẹ Maria trong lần viếng thăm người chị họ :”Phúc cho em là người đã tin rằng lời Chúa hứa sẽ được thực hiện”.
           Thánh Phaolô cũng nói với các tín hữu Côrintô về sự trung tín của Thiên Chúa :”Thiên Chúa là Đấng trung tín, nhờ Người anh em được kết hợp cùng Con Chúa là Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta” (1 Cr 1,3).
 Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt

         
 

HônPhối 73: NHÀ TÔI

I. CÂU CHUYỆN CÁI NHÀ.
 

Năm nay trúng mua cà phê, ai cũng vui mừng vì có của ăn của để. Nhờ được một số tiền tích trữ HônPhối 73

Năm nay trúng mua cà phê, ai cũng vui mừng vì có của ăn của để. Nhờ được một số tiền tích trữ, mọi người đang thi nhau xây nhà, nhà lầu, nhà trệt, nhà nào cũng phải khang trang đẹp mắt. Mỗi khi xây xong một ngôi nhà, trước khi đưa vào xử dụng, anh chị em thường mời tôi đến làm phép nhà mới và tổ chức ăn mừng tân gia.
           Bất cứ ai cũng phải có nhà để mà ở, nếu không chỉ là kẻ lang thang đầu đường xó chợ.
Chắc ai trong chúng ta cũng đã có một lần nhờ bạn bè chở về nhà. Khi gần đến nhà, chúng ta sẽ lấy ngón tay chỉ căn nhà với mái nhà, với vách tường, với một vài chi tiết đặc biệt nào đó, và bảo : Đây là NHÀ TÔI.
          Đã nhiều lần chúng ta sung sướng cho bạn bè xem tranh ảnh gia đình mình, và bảo : Đây là NHÀ TÔI.
          Một vài anh chị em trong chúng ta khi gặp bạn bè, sung sướng giới thiệu vợ hay chồng mình cho bạn bè vào bảo : Đây là NHÀ TÔI.
          Không cần mái, cũng chẳng cần vách, chỉ cần có người yêu bên cạnh, mình đã có thể bảo : Đây là NHÀ TÔI.
          Với tất cả cái thâm thúy ấy, người Việt chúng ta dịch  chữ CHURCH thành NHÀ THỜ. Đây là NHÀ nơi tôi, nơi chúng tôi THỜ phượng Thiên Chúa, tôn kính tổ tiên...
          Có lẽ không có cha mẹ Việt nam nào sáng sớm Chúa nhật thúc con cái dậy với câu : Dậy đi các con, dậy đi hiệp dâng Thánh lễ ??? Nhưng chỉ gỏn gọn một câu :Con ơi, dây đi NHÀ THỜ.
 
II. HAI TIẾNG “NHÀ TÔI” PHONG PHÚ.
           Nghe tiếng NHÀ TÔI nó thân thương thế nào ấy. Nó có nghĩa đen và nghĩa bóng.
          Khi chủ nhà được hỏi :
          - Sao lại thích làm cửa kính mầu Toyota ?
          Người chủ trả lời :
          - Nhà tôi xây theo model Pháp, nên NHÀ TÔI thích làm như vậy.
                   Cùng tiếng NHÀ TÔI mà có hai nghĩa :
                             * Nhà xây bằng gạch hay làm băng gỗ, bằng tranh.
                             * Bà vợ hay người chồng.
 
III. CÁCH DÙNG CỦA NGƯỜI VIỆT.
           Người Việt thích dùng tiếng NHÀ TÔI để vợ chồng gọi nhau, rất gọn :
          - Ông có nhà không ?
          - Nhà tôi hôm nay đi họp.
          - Bà có nhà không ?
          - Nhà tôi vừa đi chợ.
           Người Việt ta không thích dùng chữ “chồng tôi hay vợ tôi” mà thích dùng chung một chữ NHÀ TÔI  cho nó thân thương, cho nó gần gũi.
 
                                      Truyện : Nhà tôi
          Có một người tỏ ra hiểu biết đã cắt nghĩa chữ NHÀ cho một anh bạn :
          - Khi gọi NHÀ tức là đã am hiểu sâu sắc về một vấn đề gì đó, ví dụ  “nhà sử học” tất nhiên phải am hiểu sử hơn một “nhà văn”. Một “nhà văn” phải am hiểu văn hơn “nhà toán học”, một nhà toán học phải am hiểu về toán hơn một “nhà nghệ thuật”...
          Anh bạn hỏi chọc sự thông thái của anh bạn kia bèn hỏi :
          - Vậy còn người nào cao ráo , đẹp đẽ và rất sạch sẽ thì gọi là “nhà gì” ?
          Anh bạn còn lúng túng chưa biết trả lời sao, thì anh bạn kia hỏi ngay :
          - Gọi là NHÀ VỆ SINH phải không ?
          Anh bạn kia !!!
 
IV. HÔM NAY XÂY DỰÏNG NGÔI NHÀ.
           Hai anh chị hôm nay đến đây chính thức xây dựng ngôi nhà gia đình qua lời hứa hôn với nhau để từ nay có thể gọi nhau là NHÀ TÔI.
          Ngôi nhà này giờ đây được xây dựng và tức khắc được làm phép ngay. Xin Chúa chúc phúc cho ngôi nhà này, bảo vệ nó khỏi sự dữ, đổ tràn ơn phúc trên ngôi nhà này hầu nó được trở nên nhà của Thiên Chúa.
           Ngôi nhà này hôm nay đã hoàn thành, mọi người ăn mừng tân gia. Mọi người đều hoan hỉ chúc mừng. Do đó, anh chị hãy qúi trọng ngôi nhà này, hãy bảo dưỡng nó. Người ta xây nhà để ở, cho nên anh chị hãy ở mãi trong ngôi nhà này, đừng ra đường mà ở hay đi ở nhờ nhà người khác, kỳ lắm !!!
 
V. CƠN CÁM DỖ BÁN NHÀ.
           Có người chóng chán, không thích ở nhà cũ, muốn tìm ngôi nhà mới tiện nghi hơn, tốt hơn vì người ta thường đứng núi này trông núi nọ.
 
                                       Truyện : quảng cáo bán nhà.
          Có người kia làm chủ một ngôi nhà to lớn nằm ở ngoại ô thành phố. Ông ta nhất định bán cả nhà và đất để tìm nơi khác tốt đẹp hơn.  Ông tìm một người chuyên môn buôn nhà đất đến để lượng giá và quảng cáo hộ.
          Sau khi đã quan sát kỹ lưỡng mọi chi tiết, chuyên viên thương mại đánh giá, viết ngay lời quảng cáo và đọc lại cho chủ nghe. Nghe qua một lần, chủ nhà xin chuyên viên đọc lại lần nữa :
“Cần bán ngôi nhà rộng rãi , nhiều phòng, có vườn chung quanh, đẹp, nơi yên tĩnh, không bị ô nhiễm, nằm ngoại ô thành phố, thuận tiện đường giao thông, gần nhà trường, bệnh viện, nhà thờ...” Nghĩa là tất cả những điểm tốt, thuận lợi của ngôi nhà và vị trí đã được anh chuyên viên khéo léo đặt vào trong lời quảng cáo.
          Nghe xong lần thứ hai lời quảng cáo, nét mặt chủ nhà vui hẳn lên và quyết định :”Thôi, tôi không bán ngôi nhà này nữa, vì theo lời anh mô tả, đây là một ngôi nhà lý tưởng mà tôi hằng mong ước. Lời quảng cáo của anh đã thức tỉnh tôi”.
           Cái nhà là nhà của ta. Ta yêu qúi nó. Ta chăm sóc nó, ta bảo vệ nó. Nhưng nhiều khi ta cũng chán nó. Nếu Chúa và Hội thánh cho phép, có lẽ nhiều người dám bán cái “NHÀ TÔI để tậu nhà khác lắm, chỉ vì đứng núi này trong núi kia cao. Cơn cám dỗ này còn được chạy tội kiểu “cả vú lấp miệng em” để đổ lỗi cho người khác.  Nhưng, nếu thành thật, chúng ta phải nhận rằng : những rạn nứt và đổ vỡ trong gia đình, phần lớn là do “lỗi tại tôi, lỗi tại tôi, lỗi tại tôi mọi đàng”.
           Đừng tưởng rằng cứ bỏ người bạn trăm năm mà đi xây dựng một tổ ấm khác sẽ tốt đẹp hơn. Kinh nghiệm cho hay : những người đã lỡ đi xây dựng tổ ấm khác, nhiều người nuối tiếc cái tổ ấm đầu tiên của mình vì rất thường xẩy ra trường hợp :”Chồng trước đánh đau, chồng sau mau đánh”.
                   Hãy nghe lời trẻ em hát trong sinh hoạt thiếu nhi :
                             Cái nhà là nhà của ta,
                             Ông cố ông cha làm ra
                             Cháu con hãy gìn giữ lấy
                             Muôn năm với nước non nhà.

 
          KẾT LUẬN
           Muốn cho ngôi nhà này trở nên mát mẻ dễ chịu trong buổi trưa hè nóng bức, ta nên có cái máy điều hoà không khí. Mà cái máy đều hòa không khí ấy là cái gì ? Đó là người vợ. Người vợ được coi như bóng mát, của dịu dàng, của yêu thương. Nếu không thì nguy hại :
           “Ba đều đuổi đàn ông ra khỏi nhà : khói, nhà dột và một người đàn bà gây gỗ”
                             (ĐGH Innocent III)

           Ngoài ra, ta không thể quên Mẹ Maria, Ngài được coi như Mẹ của mùa xuân tươi mát. Trong gia đình , có Mẹ, chắc chắn mọi người sẽ thấy vui tươi hạnh phúc.
 Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt


 

HônPhối 74: NỬA MÌNH

Theo truyền thuyết Hy lạp,  đời sống của vợ chồng  được mô tả như sau : trước kia người nam và HônPhối 74

Theo truyền thuyết Hy lạp,  đời sống của vợ chồng  được mô tả như sau : trước kia người nam và người nữ chỉ là một con người duy nhất, và trong con người ấy có sẵn hai yếu tố, hai bản chất nam và nữ.
          Như thế con người nguyên thủy chỉ có một thân thể, nhưng lại có hai cái “mặt” trên một cái đầu, và mỗi mặt nhìn về một hướng. Bởi đó, mặt này nhìn thấy những sự việc khác với mặt kia, nảy sinh ra những dự tính  khác với cái nhìn của mặt kia.
          Nên có lúc trong con nguời đó nảy sinh ra những xung đột bên trong : chẳng hạn như nửa thân người này muốn thực hiện môt việc, muốn đi về một phía, trong khi đó nửa kia lại muốn làm việc khác, đi về hướng khác, rồi cuối cùng chẳng biết làm sao.
          Con người ấy bèn xin Thượng Đế cho tách mình làm hai, mỗi mặt đi với một nửa cơ thể, và từ đó có cuộc sống riêng. Sau thời gian hai “nửa thân thể” sống riêng, lại cảm thấy thiếu thốn, nhớ nhung, bèn đi tìm nhau để kết lại một, đó là sự lấy vợ lấy chồng.  Hai nửa thân mình tìm thấy nhau rồi kết lại làm một (vì  vốn chỉ là một).
 
I. NAM NỮ HẤP DẪN NHAU.
           Không ai có thể chối cãi được nam nữ có tính hấp dẫn nhau, không ai có thể phủ nhận được tính âm dương hòa hợp giữa con người.  Nếu ngày xưa, các cụ của ta chủ trương “nam nữ thọ thọ bất thân” là một điều rất khó. Tuy nhiên, khi sinh ra con người chưa có ngay tình yêu nam nữ mà phải chờ thời gian với sự phát triển tinh thần và thể xác con người.
           1. Tuổi thơ : trẻ con thuờng chơi với nhau rất tự nhiên bất kể trai gái, chỉ biết sống nương tựa vào cha mẹ, bạn bè. Sống hoàn toàn vô tư, thoải mái.
           2. Tuổi dậy thì : Thời kỳ này đứa trẻ thấy trong mình có sự thay đổi, cả thân xác, cả tinh thần.  Chúng thích sống riêng tư, thầm lặng, hay buồn, và muốn có người bạn riêng để tâm sự. Tình yêu mới chớm nở nhẹ nhàng nhưng mông lung :
                                       Hôm nay trời lặng lên cao,
                                Tôi buồn, không hiểu vì sao tôi buồn.

           3. Tuổi trưởng thành : Tình yêu của chúng phát triển  đến chỗ trưởng thành. Họ cần  có người yêu để chia sẻ, để nương tựa, họ muốn có con để nối dõi tông đường.  Họ muốn lập gia đình để đáp lại tiếng gọi của “hai nửa mình”.  Vì thế, mới có Thánh lễ Hôn phối hôm nay.
 
II. HAI NỬA MÌNH THÀNH MỘT.
           Thiên Chúa đã dựng nên con người có nam có nữ. Sách Sáng thế còn ghi lại : “Đức Chúa phán :”Con người ở một mình thì không tốt. Ta sẽ làm cho nó một trợ tá xứng với nó’ (St 2,18).  Và Sách thánh kể tiếp :”Đức Chúa là Thiên Chúa cho một giấc ngủ ập xuống trên con người, và con người thiếp đi. Rồi Chúa rút một cái xương sườn của con người, và lắp thịt vào. Đức Chúa là Thiên Chúa lấy cái xương đã rút từ con người ra , làm thành một người đàn bà và dẫn đến con người. Con người nói :”Phen này, đây là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi, vì đã được rút ra từ đàn ông” (St 2,23).
           Người đàn ông này là Ađam và người đàn bà này là Evà.  Thiên Chúa đã cho họ tác hợp với nhau để trở nên vợ chồng.  Đây là một cuộc hôn nhân đầu tiên vô cùng tốt đẹp do chính Thiên Chúa đã tác hợp. Rồi con cháu ông bà sau này cứ thế mà làm.  Chính vì vậy mà người nam và người nữ có tính hấp dẫn nhau. Cũng chính vì vậy mà “Người đàn ông lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai thành một xương một thịt”(St 2,24).
 
          1. Chúa Giêsu nhắc lại.
           Sau này, trong khi đi rao giảng Tin mừng, Chúa Giêsu cũng đề cập đến vấn đề hôn nhân và Ngài cũng trưng lại đoạn sách Sáng thế ở trên để nói về  tính cách duy nhất của hôn nhân mà thánh Matthêu đã ghi lại :”Vì, thế, người đàn ông sẽ lìa bỏ cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai sẽ thành một xương một thịt. Như vậy, họ không còn là hai, nhưng chỉ là một xương một thịt”(Mt 19,5-6).
 
          2. Hiệu quả của Bí tích Hôn phối.
           Thiên Chúa không bắt buộc người ta phải lập gia đình, Chúa không buộc người nam và người nữ phải liên kết với nhau thành một xương một thịt, con người được hoàn toàn tự do vì “có những người trở nên hoạn nhân vì Nước Trời”, nhưng khi đã liên kết với nhau qua bí tích hôn phối thì cả hai sẽ thành một xương một thịt.  Và khi đã trở nên một xương một thịt thì không có quyền tháo gỡ như lời Chúa Giêsu đã phán :”Sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly”(Mt 19,6).
           Lúc này không còn phân biệt của vợ hay của chồng mà là của nhau, chúng chúng mình vì trong thân xác chồng đã có vợ, và trong thân xác vợ đã có chồng  :
                                       Mình với ta tuy hai mà một
                                      Ta với mình tuy một mà hai.
                                                (Tàn Đà)

 
 
  1.   HÃY CỦNG CỐ SỰ HIỆP NHẤT ẤY.
           Khi kết hôn, hai người đã hiệp nhất với nhau trong thân xác và tinh thần, nhưng hai cái “nửa mình” đó có khuynh hướng đối chọi nhau.  Tuy đối chọi nhau nhưng không thể cắt đôi con người ra được hoặc cắt từ trên xuống hoặc cắt ngang.
           Nếu vợ chồng ly dị nhau, ta coi như họ đã cắt đôi con người họ để mỗi người chỉ còn có một nửa, mà đã là một nửa người thì lại thấy thiếu thốn như truyện ở trên.
           Hiểu được ý nghĩa đó, thi sĩ Winch gọi vợ mình là “HỠI NỬA MÌNH CỦA TÔI ƠI” ! Đúng thế, người vợ là nửa thân thể của chồng, và ngược lại, người chống là nửa thân thể của người vợ.
          Khi người yêu ra đi, khi cuộc hôn nhân “nửa đường đứt gánh”, người ta sẽ đau khổ biết bao. Hiểu được tính cách thê thảm của tình trạng này,  thi sĩ Hàn mặc Tử đã phải thốt lên :
                                                 Người đi, một nửa hồn tôi mất,
                                                Một nửa hồn tôi bỗng dại khờ.
                                                          (Hàn mặc Tử)

           Để kết luận, ta hãy  đọc giáo huấn của công đồng Vatican II qua hiến chế về mục vụ :
 “Bởi giao ước hôn nhân, người nam và người nữ không còn là hai nhưng là một xương một thịt (Mt 19,6) phục vụ và giúp đỡ lẫn nhau bằng sự kết hiệp mật thiết trong con người và trong hành động của họ, cảm nghiệm và hiểu được sự hiệp nhất với nhau mỗi ngày một đầy đủ hơn.
 Sự liên kết mật thiết vẫn là sự tự hiến của hai người cho nhau, cũng như lợi ích của con cái buộc hai vợ chồng phải hoàn toàn trung tín và đòi hỏi kết hợp với nhau bất khả phân ly” (MV số 48).
Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt


 

HônPhối 75: LY CÀ PHÊ

Chúng ta đọc : 1Cr 12,14-26.
 I. SUY NIỆM LỜI CHÚA.
 

Trong thư thứ nhất gửi chi tín hữu Côrintô, thánh Phaolo ânhắc nhở họ về cách sống trong cộng HônPhối 75

Trong thư thứ nhất gửi chi tín hữu Côrintô, thánh Phaolo ânhắc nhở họ về cách sống trong cộng đoàn. Ai cũng biết cộng đoàn là một tập thể gồm nhiều người có thể khác quốc tịch, mầu da, ngôn ngữ, phong tục... Tuy nhiều nhưng tất cả chỉ làm nên một thân thể duy nhất là nhiệm thể Chúa Kitô.
           Để củng cố và phát triển cộng đoàn, Thiên Chúa đã ban nhiều đặc sủng cho nhiều người khác nhau. Có người được ơn giảng dạy, có người được lòng tin vững vàng, có người được ơn chữa bệnh, có người làm phép lạ, có người nói tiên tri, kẻ khác nói tiếng lạ... Nhưng chính Thần Khí duy nhất làm tất cả những điều đó và phân chia cho mỗi người mỗi cách  nhằm củng cố cộng đoàn.
           Thánh Phaolô nhấn mạnh đến vấn đề đoàn kết trong Hội thánh. Ngài đưa ra so sánh sự liên kết giữa các bộ phận với thân thể. Ngài nói :”Ví như thân thể người ta chỉ là một, nhưng lại có nhiều bộ phận, mà các bộ phận của thân thể tuy nhiều nhưng vẫn là một thân thể, thì Đức Kitô cũng vậy”(1Cr 12,12).  Để từ đó, Ngài có thể nói :”Tất cả chúng ta  gồm các thành phần khác nhau, nhưng đều đã chịu phép rửa trong cùng một Thần Khí để trở nên một thân thể, một thân thể duy nhất”.
           Do đó, mọi bộ phận trong một thân thể đều cần thiết, không có một bộ phận nào dư, không có một bộ phận nào vô ích. Mỗi bộ phận có một nhiệm vụ riêng. Tất cả đều cần thiết để phục vụ cho lợi ích của thân thể.  Hơn nữa, “Những bộ phận nào xem ra yếu đuối nhất thì lại là cần thiết nhất, và những bộ phận ta coi là tầm thường nhất, thì ta lại tôn trọng hơn cả”(1Cr 12,22-23). Vì thế, thánh Phaolô kết luận :”Anh em là thân thể Đức Kitô, và mỗi người là một bộ phận”(1Cr 12,27).
           Cũng vậy, trong Hội thánh Chúa có nhiều thành phần : người  Do thái và Hy lạp, tự do và nô lệ, mỗi người tùy theo ơn Chúa ban mà phục vụ Hội thánh. Trong mọi sự phải tránh lòng ghen tương. Mỗi thành phần đều có ơn gọi riêng. Mỗi thành phần có trách nhiệm phải xây dựng Hội thánh theo ơn gọi của mình.  Trong mọi sinh hoạt, mọi người phải cố gắng tạo ra sự hòa hợp giữa các thành phần để cùng tạo nên sự đoàn kết làm nên một cộng đoàn tình thương như lời Thánh vịnh  :
                                      Xinh thay là cảnh anh em
                                      Cùng nhau vui sống dịu êm một nhà.
                                                  (Tv 132,1)

 
II. CHUYỆN VỀ MỘT LY CÀ PHÊ.
           Ngày trước chúng ta chỉ có uống trà. Ngồi nói chuyện gẫu với nhau chung quanh ấm trà là qúi rồi. Bây giờ cà phê phát triển mạnh, nên đâu đâu cũng có cà phê, các quán cà phê mọc lên khắp nơi từ thành thị đến thôn quê.  Ngày nay người ta không còn uống “cà phê kho” hay “cà phê vớ” nữa mà phải uống  “cà phê phin”.  Muốn uống cà phê phin cho ngon, ngoài việc phải có cà phê tốt, người ta còn phải chú trọng đến cách pha cà phê : trước hết phải trướt phin bằng nước nóng, rồi cho cà phê vào phin, ấn cà phê xuống bằng cái nắp cho chắc, rưới lên một chút nước sôi vừa phải, đợi mấy phút cho cà phê nở ra. Sau đó mới đổ nước vào cho phin nhỏ giọt. Phin phải rỏ xuống từng giọt mới ngon, nếu để cà phê chảy xuống như cái cống thì không ra gì.  Người uống cà phê sành điệu , phải làm những thao tác như thế mới ngon.
           Thời nay, kinh tế phát triển mạnh, công việc bề bộn, người ta không còn thì giờ để thưởng thức những ly cà phê phin nữa vì thì giờ là vàng bạc mà. Thay vào đó, người ta chế ra thứ cà phê gói, cà phê hoà tan, cà phê uống liền như cà phê Trung nguyên nổi tiếng, Nestcafé, Vinacafé... Loại cà phê này uống liền, rất thuận tiện, tuy không ngon bằng ca phê phin nhưng chất lượng thì không kém.
           Người ta tặng tôi một hộp cà phê Trung nguyên, mà theo họ là ngon nhất. Tôi uống thử và thấy ngon thật. Ngoài bao bì có in hàng chữ “3 in 1” có nghĩa là 3 chất trong một gói. Vậy 3 là cái gì ? Đó là 3 chất pha trộn với nhau :bột tinh chất cà phê, đường và chất béo.  Như vậy, trong mỗi một gói đều có 3 chất đó hoà tan trong nước theo một tỷ lệ hợp lý.
 
III. CHUYỆN VỀ HOÀ HỢP GIA ĐÌNH.
           Tôi đang ngồi thưởng thức ly cà phê hoà tan thì nghe thấy tiếng ồn ào trong một gia đình ở gần nhà thờ. Đây là một gia đình trẻ mới có vợ chồng và một đứa con. Đúng là “3 in 1” : 3 người trong 1 gia đình. Có truyện gì xẩy ra ? Vợ chồng họ đang cãi nhau về việc làm ăn.  Vợ thì muốn dùng số tiền đi buôn, chồng lại muốn dùng số tiền ấy mua mấy sào đất để canh tác. Hai người có hai cách giải quyết khác nhau, không bên nào chịu nhượng bộ, thế là phải to tiếng.
           Điều này làm cho tôi phải suy nghĩ : nếu gia đình nào cũng có “3 trong 1” như ly cà phê tôi đang uống thì êm đẹp biết mấy ! Tuy vẫn là “3 trong 1” đấy như tỷ lệ thế nào cho hợp lý ? Không lẽ ly cà phê chỉ có bột cà phê hoà tan , đắng như vậy uống làm sao được ? Nếu chỉ có đường thì uống đường thôi chứ đâu có uống cà phê ? Còn nếu chỉ có chất béo thôi thì uống làm sao được, ngán lắm ?
           Muốn có một ly cà phê ngon thì 3 chất đó phải hoà tan trong một tỷ lệ hợp lý : không có cái nào nhiều quá, không có cái nào ít quá, đắng quá hay ngọt quá cũng không tốt.  Muốn cho gia đình được trong ấm ngoài êm, trên thuận dưới hoà thì phải có sự hoà hợp. Chìa khoá của hạnh phúc gia đình là sự nhịn nhục, nhường nhịn nhau. Trong gia đình không có kẻ thắng người thua mà chỉ san sẻ cho nhau theo phương châm :”Nhịn mày tốt tao”.
           Người ta ao ước lập được một gia đình hạnh phúc. Theo họ, nếu kiếm được một người vợ hiền và một người chồng khôn thì đã có hạnh phúc , nhưng như thế đã đủ chưa , hay còn phải có những điều kiện khác ?
                                       Làm trai lấy được vợ hiền,
                             Như cầm đồng tiền mua được của ngon.
                                      Phận gái lấy được chồng khôn,
                             Xem bằng cà vượt vũ môn hóa rồng.

           Nhưng như thế cũng chưa đủ, chưa chắc đã có hạnh phúc. Bí quyết để đi đến hạnh phúc là vợ chồng phải “xử tốt” với nhau.  Người ta thường nói :”Có đi có lại mới toại lòng nhau”, nếu chồng biết xử tốt với vợ, thì ngược lại, vợ cũng phải xử tốt với chồng.  Cả hai biết cư xử tốt với nhau thì gia đình sẽ hạnh phúc.
 
                                      Truyện : Xử   tốt với nhau
          Ông FLAVÌERE, nguời đặc trách mục truyện Đồng quê của nhật báo “Ngôi sao” xuất bản tại thủ đô Manila (Philippines) có kể lại câu chuyện vui sau đây :
          Có anh nông dân kia đã lập gia đình hơn 10 năm nay, nhưng hầu như ngày nào cũng phải gặp cảnh “cơm chẳng lành, canh chẳng ngọt”. Vợ chồng anh cứ cãi lộn với nhau hoài. Một hôm, quá buồn lòng, anh nông dân tìm đến một người bạn thân gần đó và xin anh ta góp ý kiến:
          - Làm thế nào để tôi không những ly dị được con mụ vợ ưa gây sự này mà còn làm cho mụ ta  phải khổ tâm suốt đời.
          Người bạn của anh ta vấn kế :
          - Nếu anh quả tình muốn bỏ đi và muốn làm cho chị ta phải khổ tâm, thì bây giờ anh hãy về và cố gắng cư xử với chị ta  như với bà hoàng hậu. Chừng đôi ba tháng sau đó anh sẽ bỏ đi và tôi dám chắc rằng chị ta sẽ phải đau khổ suốt đời, vì lúc đó không còn ai phục dịch chị ta như một bà hoàng nữa.
          Anh nông dân nghe lời, về nhà làm y như lời bạn khuyên. Anh đối xử rất tốt với vợ và bất cứ điều gì chị vợ muốn, anh ta đều mau mắn thực hiện, cứ như cô hầu đối với bà hoàng của mình.
          Thời gian qua đi, 2 tháng rồi 3 tháng. Người bạn của anh nông dân chờ mãi không thấy anh đến cho biết quyết định ra đi, liền đến tận nhà thăm hỏi và được anh ta trả lời :
          - Làm sao tôi có thể rời bỏ nàng được, bởi vì từ ngày tôi đối xử với nàng  như với một bà hoàng, thì ngược lại, nàng cũng đối xử với tôi như với một ông vua ? Không, tôi không thể nào xa rời người bạn đời đã đối xử với tôi quá tốt như thế ! (Góp nhặt 4, tr 122)
 
          Để kết thúc, chúng ta hãy suy ngẫm lời thánh Phaolô gửi chi tín hữu Ephêsô về tình yêu đối với vợ chồng :
“Người làm chồng, hãy yêu thương vợ, như chính Đức Kitô thương yêu Hội thánh và hiến mình vì Hội thánh... Chồng phải yêu vợ như yêu chính thân thể mình. Yêu vợ là yêu chính mình” (Ep 5, 25.28).
          Ngài cũng khuyên người vợ :
“Người làm vợ hãy tùng phục chồng như tùng phục Chúa, vì chồng là đầu của vợ như Đức Kitô là đầu của Hội thánh, chính Người là Đấng cứu chuộc Hội thánh, thân thể của Người . Và như Hội thánh tùng phục Đức Kitô thế nào, thì vợ cũng phải tùng phục chồng trong mọi sự như vậy” (Ep 5, 21-24).
 Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt


 

HônPhối 76: GIA   ĐÌNH

Quyền lợi và bổn phận
 I. LỜI CHÚA : St 2,4b-25.
 

Thiên Chúa dựng nên con người giống hình ảnh Ngài. Sau khi đã được dựng nên người nam, Thiên HônPhối 76

Thiên Chúa dựng nên con người giống hình ảnh Ngài. Sau khi đã được dựng nên người nam, Thiên Chúa thấy còn thiếu cái gì đó, nên mới phán :”Con người ở một mình thì không tốt. Ta sẽ cho nó một trợ tá tương xứng với nó”(St 2,18). Thiên Chúa đã dựng nên người nữ và cho kết hợp với nhau.  Kinh thánh còn nói :”Bởi thế, người đàn ông lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai thành một xương một thịt”(St 2,24).  Từ đó xuất hiện một gia đình đầu tiên do Thiên Chúa tác hợp, đó là gia đình Ađam-Evà.
           Mục đích của hôn nhân gia đình là yêu thương nâng đỡ nhau và sinh sản con cái. Khi đã sinh con cái thì cha mẹ phải có trách nhiệm. Cha mẹ sẽ trở thành những mục tử như Chúa Giêsu đối với Hội thánh, như những vị lãnh đạo trong Giáo hội đối với con chiên. Nếu gia đình là Giáo hội tại gia thì cha mẹ cũng có bổn phận chăn dắt con chiên thuộc quyền mình, tức là phải nuôi nấng và dạy dỗ con cái. Đây là quyền lợi bất khả xâm phạm và một nhiệm vụ không ai có thể thay thế được.
           Chúng ta cùng nhau tìm hiểu vai trò của người cha, người mẹ và con cái trong gia đình, đặc biệt là gia đình Việt nam xưa và nay.
 
II. GIA ĐÌNH VIỆT NAM NGÀY XƯA.
           1. Gia đình Việt nam nói chung.
           Từ xa xưa, khi tổ tiên loài người biết sống thành quần thể, gia đình đã xuất hiện.  Và mỗi ngày, tổ chức đời sống gia đình lại được cải thiện hoàn hảo hơn. Cho đến nay, không một ai dám phủ nhận vai trò của gia đình trong cộng đồng xã hội. Đặc biệt là xã hội Việt nam, gia đình lại càng được xem là một nền tảng vững chắc.
           Và nếu như xã hội bắt đầu từ gia đình thì gia đình lại bắt đầu từ cá nhân. Mỗi cá nhân trong gia đình đóng một vai trò nhất định. Và mối tương quan của mỗi cá nhân trong gia đình thuộc về phạm trù đạo đức nên phần lớn đều bị chi phối của luân lý.  Song nó cũng không hoàn toàn gói gọn trong phạm vi ấy.  Pháp luật cũng được xem là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển nhân cách của mỗi cá nhân. Có thể nói Việt nam một thời  đã có những định chế khắt khe qui định nghĩa vụ và quyền hạn của cha mẹ, con cái trong gia đình.  Do ảnh hưởng tư tưởng Nho giáo của Khổng Tử nên người Việt nam xưa rất coi trọng chữ HIẾU. Và nghĩa vụ của con cháu trong gia đình cũng được đặt trên nền tảng ấy. Đối với người Việt nam xưa thì Hiếu là một đức tính làm đầu của con người, nhất làvới người nam nhi :
                                       Làm trai nết đủ trăm đường,
                                      Trước tiên điều hiếu, đạo thường xưa nay.


          2. Người cha và chồng.
           Theo cổ luật Việt nam, người cha là chủ gia đình, là người có uy thế rất mạnh, ông có quyền định đoạt  hết mọi việc liên quan tới mọi người trong nhà. Quyền đó gọi là “phụ quyền”.
Phụ quyền rất rộng rãi còn được gọi là “quyền gia trưởng”.
          Trước hết, người gia trưởng có quyền sở hữu và quản lý tài sản của mình. Vợ con phải làm lụng cho gia đình chung, không ai được giữ lợi riêng (nếu ai giữ của riêng không được phép người gia trưởng, cổ luật ghép cho tội ăn cắp).
           Người gia trưởng còn có quyền hạn tuyệt đối đối với thân nhân trong gia đình. Họ có quyền bắt vợ con đi làm thuê hay đem đi bán. Nói khác đi, người gia trưởng theo cổ luật là người nắm quyền sinh sát trong tay, không khác gì một quân vương.
 
          3. Người mẹ và vợ.
           Người mẹ trong gia đình cũng rất quan trọng. Luật Việt nam xưa cũng đã đặt người vợ ngang hàng với người chồng. Tuy nhiên, quyền hạn của người mẹ bao giờ cũng bị hạn chế hơn người cha. và quyền hạn của người đàn bà trong xã hội xưa còn bị hà khắc bởi tục lệ.  Theo tác giả Phạm côn Sơn trong cuốn “Hôn lễ và nghi thức” thì... “Tục lệ đã biến người đàn bà trong gia đình thành một thứ vô dụng và hẹp hòi kiến thức”. Thực vậy, người phụ nữ theo cổ luật không có quyền giao thiệp rộng với thế giới bên ngoài.  Người xưa còn cho rằng chỗ đứng của người đàn bà quanh năm chỉ là “cái bếp”.
           Cổ luật buộc người đàn bà không có quyền ghen khi người chồng ngoại tình hay có năm thê bảy thiếp. Người đàn bà cho rằng việc ấy là việc tự nhiên, không đặt thành vấn đề :
                                       Chồng giận thì vợ làm lành,
                                       Miệng cười chúm chím rằng anh giận gì ?
                                      Thưa anh, anh giận em chi ?
                                      Muốn lấy vợ bé em thì lấy cho !
                                                      (Ca dao)

   Ngược lại, người đàn bà ngoại tình sẽ phải chịu những hình phạt vô cùng khắt khe như : bị cạo trọc đầu, bôi vôi và thả trôi sông.  Luật lệ còn đặt ra “thất xuất” (bảy tội để đàn ông có thê bỏ vợ) : Không con – Dâm dật – Không thờ cha mẹ chồng – Nhiều lời – Trộm cắp – Ghen tương – Có ác tật.
 
          4. Con cái, cháu chắt.
           Bên cạnh cha mẹ, Cổ luật Việt nam cũng qui định nghĩa vụ pháp lý ràng buộc đối với con cháu trong gia đình. Theo đó, con cháu sống trong gia đình phải hoàn toàn tuân theo lệnh của ông bà, cha mẹ. Cho dù ông bà, cha mẹ có phạm lỗi gì,  con cháu cũng không được phép kiện cáo, thậm chí phải che giấu tội phạm của ông bà, cha mẹ. Khi ông bà cha mẹ bị tội lưu đầy, con cháu phải đi theo để phục dịch. Nếu các bậc này bị tội “roi” hay “trượng” thì con cháu phải chịu thay.
           Cổ luật Việt nam nổi bật một điều : Luân lý và pháp luật lẫn lộn, đan chen nhau.  Lẽ ra, đạo hiếu của con người thuộc luân lý nhưng nếu ai vi phạm  thì sẽ bị trừng trị nghiêm khắc như một tội phạm hình sự.  Thân thuộc càng gần thì hình phạt càng nặng.
           Một điều quan trọng nữa trong nghĩa vụ của con cháu đối với ông bà, cha mẹ là phải tôn trọng thời cư tang. Trong thời kỳ này, con cháu không được ăn mặc lòe loẹt, tiệc tùng vui chơi, không được gả chồng cưới vợ. Tuy nhiên về việc cưới hỏi, cổ luật cũng nới cho một giải pháp là “Cưới chạy tang”.
 
III. GIA ĐÌNH VIỆT NAM NGÀY NAY
           Nhìn chung, gia đình ngày nay đã đổi mới nhiều, những luật lệ cổ hủ ngày xưa dần dần bị đẩy lui. Quyền hạn của người cha người chồng đã bị giảm bớt và vai trò cũng như quyền hạn của người đàn bà được nâng cao để họ được ngang hàng với đàn ông.
           Ngày nay, tuy người cha vẫn là cột trụ gia đình, nhưng những quyền hạn như một người gia trưởng xưa không còn nữa. Thay vào đó, người cha phải có trách nhiệm thương yêu và giáo dục con cái nên người. Pháp luật hiện hành cũng không cho phép cha mẹ có những hành vi đối xử ngược đãi con cái.
           Trong tông huấn “Đời sống gia đình”, Đức Giáo hoàng Gioan-Phaolô 2 nói :”Tình yêu thương đối với người vợ đã trở thành mẹ, và tình yêu thương đối với con cái là con đường tự nhiên đưa người nam đến chỗ hiểu biết và thể hiện việc làm cha của mình”(Số 25).
           Còn đối với phụ nữ, những tục lệ ràng buộc người phụ nữ  xưa, đến nay đã bị xem là quá khắc nghiệt.  Cùng với sự phát triển của xã hội, địa vị người phụ nữ đã được đưa lên ngang hàng với nam giới về mọi mặt.
           Đức Giáo hoàng Gioan-Phaolô trong tông huấn “Đời sống gia đình” cũng nói :”Trong viễn tượng ấy, Thượng hội đồng Giám mục đã dành một sự chú ý đặc biệt cho người phụ nữ, cho các quyền lợi và vai trò của họ trong gia đình cũng như ngoài xã hội... Về phụ nữ, trước hết cần phải ghi nhận rằng, phẩm giá và trách nhiệm của họ bình đẳng với phẩm giá và trách nhiệm của người nam”(Số 22).
 
          KẾT LUẬN.
           Để kết  luận, chúng ta hãy suy niệm một đoạn thư thánh Phaolô gủi cho tín hữi Êphêsô :
“Vì lòng kính sợ Đức Kitô, anh em hãy tùng phục lẫn nhau. Người vợ hãy phục tùng chồng như tùng phục Chúa, vì chồng là đầu của vợ cũng như Đức Kitô là đầu của Hội thánh... Người làm chồng, hãy yêu thương vợ, như chính Đức Kitô yêu thương Hội thánh và hiến mình vì Hội thánh. Mầu nhiêm này thật là cao cả. Tôi muốn nói về Đức Kitô và Hội thánh. Vậy mỗi người trong anh em hãy yêu vợ như chính mình, còn vợ thì hãy kính sợ chồng”(Ep 5,21-23. 25-33).
 Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt


 

HônPhối 77: CHIA  SẺ

I. THIÊN CHÚA CHIA SẺ THÂN PHẬN CON NGƯỜI.
 

Trong thư gửi tín hữu Philipphê, thánh Phaolô đã ca tụng tình yêu của Thiên Chúa đối với loài HônPhối 77

Trong thư gửi tín hữu Philipphê, thánh Phaolô đã ca tụng tình yêu của Thiên Chúa đối với loài  người trong việc quên đi chức vị Một Thiên Chúa cao sang tuyệt đối, trở thành phàm nhân hèn hạ.  Thiên Chúa là Đấng cao sang tuyệt đối mà con người thì quá thấp hèn ï. Giữa Thiên Chúa và loài người có một khoảng cách vô cùng lớn lao. Nhưng Thiên Chúa muốn rút ngắn khoảng cách ấy lại và rút ngắn khoảng cách ấy lại đến nỗi hạ mình xuống chia sẻ thân phận với con người, trở nên con người như mọi người. Sự chia sẻ thân phận ấy đã được thánh Phaolô mô tả như sau :
 “Đức Giêsu Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa., nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế” (Pl 2,6-7).
           Con người đã phạm tội, mất mọi quyền lợi, mất quyền làm con Chúa, mất phúc thiên đàng, nên Thiên Chúa xuống thế cứu chuộc chúng ta bằng cái chết trên thập giá. Thiên Chúa muốn trở nên con người để cứu vớt con người. Ngài muốn chia sẻ thân phận đau thương của chúng ta. Ngài xuống thế làm người để nâng chúng ta lên làm Thiên Chúa. Vì thế, trong phần tự ngôn của Phúc âm thứ tư, thánh Gioan tông đồ đã nói :”Ngôi lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta” (Ga 1,14).
           Một vị quan lớn mở tiệc mời nhiều người đến dự. Tất cả các người được mời đều ăn mặc sang trọng và dùng xe đi đến.. Trong số ấy có một người khách già. Rủi thay, vì già yếu nên ông cụ này khi xuống xe trượt chân té vào vũng bùn. Khách đến dự tiệc thấy vậy phá lên cười.
          Xấu hổ và cảm thấy  mình không xứng đáng, ông quyết định trở về. Gia nhân nài nỉ cách mấy ông cũng không chịu ở lại dự tiệc. Khi đó vị quan chủ tiệc bước ra sân đi tới chỗ vũng nước đó rồi cũng cố tình té ngã vào vũng nước. Thế là áo quần của ông quan cũng dơ dáy y như cụ già kia.  Mọi người chung quanh chẳng ai dám cười nhạo nữa. Sau đó, vị quan lớn cầm tay ông cụ đưa vào phòng tiệc. Ông cụ chẳng còn lý do nào để từ chối. Chỉ có hành động cố tình té ngã của vị quan lớn kia mới có thể đưa ông cụ vào bàn tiệc.
                             (Trích ở Internet “Con đường nên thánh”)
           Con Thiên Chúa trên tầng trời cao thẳm, lại hạ mình xuống làm kiếp phàm nhân. Đấng thánh thiện vô cùng lại khiêm nhu đứng xếp hàng bên những tội nhân. Đấng xóa tội trần gian lại hòa mình trong đoàn người tội lỗi. Đấng thanh sạch vô biên lại chịu dìm mình  trong dòng sông “sám hối”. Đấng sẽ làm phép rửa trong Chúa Thánh Thần lại xin chịu phép rửa của Gioan. Chính hành vi rất mực khiêm hạ của Đấng Cứu thế đã cho thấy tình yêu sâu nặng của Thiên Chúa dành cho con người. Chính thái độ tự hủy tột cùng của Đấng Cứu thế đã cho thấy tình yêu dấn thân của Thiên Chúa đối với con người cát bụi chúng ta. Chính Thiên Chúa đã có sáng kiến tuyệt vời là tình nguyện hoá thân làm kiếp phàm nhân.
                   Thiên Chúa sống kiếp phàm nhân là để thông cảm với con người :Để chia sẻ thân phận đói nghèo, khổ đau, bệnh hoạn của con người. Để nếm cảm nỗi ray rứt khắc khoải của tội nhân. Để thấu hiểu niềm khao khát đổi mới trong lòng người tội lỗi. Vâng, chính Con Thiên Chúa đã thực hiện những phéplạ thật ngoạn mục ngay trước mắt con người.
           Ngày nay, chúng ta đã chịu phép Rửa của Đức Kitô trong Thánh Thần, chúng ta được mời gọi hiệp thông thân mật với Chúa Ba Ngôi, chúng ta cũng được mời gọi lên đường phục vụ anh em, nhất là những anh em đang cần một “Tình Yêu Chia Sẻ”.
 
II. CHIA SẺ TRONG ĐỜI SỐNG HÔN NHÂN.
           Thiên Chúa đã đến chia sẻ với kiếp sống con người chúng ta “Ta đến không phải để được phục vụ, nhưng để phục vụ”. Mọi người phải theo gương Chúa mà phục vụ nhau, chia sẻ với nhau trong cuộc sống, nhất là trong cuộc sống hôn nhân vì “Họ không còn là hai, nhưng là một xương một thịt” (Mt 19,6).
           Vợ chồng cần chiasẻ với nhau về hai phương diện : tình cảm và vật chất.
 
          1. Về phương diện tình cảm.
           Thomas Merton nói : “No man is an  island” : không ai là một hòn đảo. Đúng vậy, không ai trong chúng ta muốn trở thành một hòn đảo trơ trơ trong một quần đảo Indonesia gồm 13.000 hòn đảo.  Nếu  các nhà triết học kinh viện định nghĩa “ Homo est animal rationale” : người là một con vật có lý tính, thì ngày nay các nhà xã hội học lại định nghĩa :”Homo est animal sociale” : người là một con vật có xã hội tính.  Con người không những có lý trí mà còn có tình cảm, có nhu cầu phải thông cảm với nhau, có tương quan với nhau về nhiều phương diện.
          Dân gian Việt nam chúng ta có câu tục ngữ  mà ai cũng quen biết :
                             “Một con ngựa đau cả tầu chê cỏ”
          Ngày nay, có những em học sinh cắt nghĩa câu tục ngữ này rất hay, rất khoa học và hợp với hoàn cảnh hiện tại. Các em cắt nghĩa là : Khi thấy một con  ngựa bị đau thì tất cả các con khác không dám ăn cỏ vì sợ trúng độc, vì ngày nay người ta phun thuộc sâu nhiếu lắm !!!
           Câu tục ngữ này có ý nói : Một con ngựa bị đau ốm không ăn được cỏ thì cả tầu ngựa (cái máng để chứa thóc, cỏ cho cả chuồng ngựa ăn) đều chê cỏ không ăn. Ý nói loài vật có tình đồng loại, thấy một con đau thì cả đàn đều thương.  Nếu con vật còn biết thông cảm với nhau như vậy mà con người lại không biết thông cảm với nhau sao ?
           Chúng ta cùng sống trong xã hội, chúng ta thích sống trong cộng đoàn vì chúng ta có nhu cầu chia sẻ, nhu cầu trao đổi tình cảm. Khi nói sống thì không thể nói “sống” trống không mà luôn phải nói “Sống với” hay “sống cùng”. Sống với, sống cùng là là nói lên đời sống cộng đoàn trong đó có nhiều người, và như vậy không ai là người lẻ loi.
           Khi chúng được niềm vui thì chúng ta muốn có người để chia sẻ niềm vui ấy,  khi buồn thì chúng ta cũng muốn có người để chia sẻ nỗi buồn đó. Người ta thường nói : Niềm vui mà được chia sẻ thì niềm vui tăng lên gấp bội, còn nỗi buồn mà được chia sẻ thì sẽ giảm đi một nửa”.
          Chúng ta tưởng chỉ có con người mới biết thông cảm sao ? Theo các nhà khoa học và theo kinh nghiệm thì con vật cũng biết thông cảm với người và qua thí nghịem mới đây người ta cho biết cây cỏ củng biết thông cảm với người.
           Trong đời sống gia đình, nhu cầu chia sẻ rất cần thiết. Nếu không người ta sẽ dễ bị thấy mình cô đơn, lẻ loi, lạc lõng.  Người đàn bà sợ cô đơn lắm ! Có lẽ vì sợ cô đơn mà họ nói nhiều.  Nhiều người chồng vô tâm, chỉ nghĩ đến việc khác, không hỏi thăm vợ được một câu trong suốt một ngày. Kinh nghiệm cho hay :
                   “Đối với người đàn bà, những sự săn sóc nhỏ nhặt rất quan trọng”
                             (Barbey d’Aurevilly)
          “Những lời dịu ngọt có hiệu lực đối với người đàn bà hơn là những món nữ trang lặng lẽ”
                             (Berbère)

 
          2. Về phương diện vật chất.
           Thông thường người đàn ông làm ra tiền của, người đàn bà lại có khuynh huớng làm nội tướng, thiên về quản lý.  Có nhiều người đàn ông không chịu làm việc, chỉ biết nhậu nhẹt tối ngày, để cho vợ con nheo nhóc.  Có những ông chồng trở nên “Ông Trùm Sò”, keo kiệt với vợ con, nắm hết tiền của, vợ con muốn gì thì phải ngửa tay ra xin từng đồng, giống như xin của bố thí. Lúc đó, người vợ chỉ như đứa con ở trong nhà, không có một quyền hành gì.
           Nhưng cũng có những ông chồng sống đúng vai trò của mình , ông ý thức mình là “Gia trưởng”, đóng đúng vai trò của thánh Giuse trong gia đình Thánh gia,  luôn săn sóc vợ con.  Ông giống như một giám đốc một công ty, điều hành mọi việc một cách tổng quát, còn người vợ thì được coi như một quản lý phụ tá cho ông, lo mọi việc trong nội bộ. Lúc đó, người vợ được đóng vai “Nội tướng” dễ thương.
 
                                      Truyện : thương vợ thương con.
          Một vị quận công nước Anh tổ chức tiệc tùng khoản đãi các sĩ quan cấp dưới. Trong bữa tiệc ông khoe với khách mời chiếc bật lửa tuyệt đẹp mà nữ hoàng mới tặng ông.
          Chiếc bật lửa được chuyển đi cho mọi người xem. Cuối tiệc, quận công mời khách hút thuốc, nhưng mới khám phá ra chiếc bật lửa đã biến đâu mất, tìm khắp nơi mà cũng không thấy.  Người ta đề nghị từng sĩ quan phải móc hết mọi vật ở trong túi ra. Ai cũng làm theo, chỉ có một ông sĩ quan già, nghèo nàn, quần áo rách nát không chịu thi hành. Mọi người cho là vị sĩ quan này đã ăn cắp.
          Vài tuần sau, quận công lại mở tiệc và trong bữa tiệc này ông mới khám phá ra là cái bật lửa đang ở trong túi áo của mình.  Ông vội đến xin lỗi người sĩ quan  bị nghi là ăn cắp. Vị sĩ quan nghèo này trả lời :”Hẳn ngài đã thấy được  căn nhà của tôi đang ở tồi tàn như thế nào. Từ lâu, tôi đã bị thất nghiệp mà vẫn phải nuôi nhiều miệng ăn trong nhà. Ngài đâu có biết rằng hôm đó tôi đã nhét vào túi tôi tất cả những đồ ăn thừa trên bàn để mang về cho vợ con tôi...”
 Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt

         
 

HônPhối 78: DIỄN KỊCH

Thế giới này là một đại trường kịch mà mỗi người phải đóng một vai. Không vai nào đáng kính HônPhối 78

Thế giới này là một đại trường kịch mà mỗi người phải đóng một vai. Không vai nào đáng kính trọng, không vai nào đáng khinh chê. Vai nào cũng tốt, vai nào cũng cần bởi vì vở kịch phải có nhiều vai, có thể là ông vua, có thể là thằng bồi, vai nào cũng quan trọng. miễn là ai đóng vai nào thì phải đóng cho đúng vai đó : vai vua phải đóng cho thật nghiêm chỉnh, đừng đóng như thằng hề, ngược lại,  thằng hề không được vai nghiêm nghị như ông vua... nếu thế vở kịch sẽ trở nên rất dở.
           Gia đình cũng là một vở kịch nhỏ, mỗi thành phần phải đóng cho đúng vai của mình, nếu không, vở kịch chỉ là trò hề đáng cho người ta chê cười. Để nói lên vai trò của các thành phần trong gia đình, chúng ta hãy nghe một đoạn thư của thánh Phaolô tông đồ gửi cho tín hữu Êphêsô :
 
I. LẮNG NGHE LỜI CHÚA.
           Thưa anh em,
          Anh em hãy sống trong tình bác ái, như Đức Kitô đã yêu thương chúng ta, và vì chúng ta, đã tự nộp mình làm hiến lễ.
          Vì lòng kính sợ Đức Kitô, anh em hãy tùng phục lẫn nhau. Người làm vợ hãy phục tùng chồng như tùng phục Chúa, vì chồng là đầu của vợ cũng như Đức Kitô là đầu của Hội thánh, chính Người là Đấng cứu chuộc Hội thánh, thân thể của Người. Và như Hội thánh tùng phục Đức Kitô thế nào, thì vợ cũng phải tùng phục chồng trong mọi sự như vậy. Người làm chồng, hãy yêu thương vợ, như chính Đức Kitô yêu thương Hội thánh và hiến mình vì Hội thánh.
           Cũng thế, chồng phải yêu vợ như yêu chính thân thể mình. Yêu vợ là yêu chính mình. Quả vậy, có ai ghét thân xác mình bao giờ ; trái lại, người ta nuôi nấng và chăm sóc thân xác mình, cũng như Đức Kitô nuôi nấng và chăm sóc Hội thánh, vì chúng ta là bộ phận trong thân thể của Người” (Ep 5, 2a-21.28-30).
           Thánh Phaolô nói :”Hỡi những người vợ, hãy tùng phục chồng mình như tùng phục Chúa vậy”. Tại sao ngài lại nói như thế ? Bởi vì khi vợ chồng hoà hợp với nhau, thì con cái họ sẽ được giáo dục tử tế, mọi việc trong nhà đâu ra đó ; hàng xóm, bạn bè và thân quyến đều được hưởng lây danh thơm tiếng tốt của họ. Nhưng nếu họ không hòa hợp với nhau, thì mọi sự đều bị đảo ngược lại và rất dễ đi đến chỗ hỗn loạn.  Cũng tương tự như các tướng lãnh trong quân đội, khi họ hoà thuận với nhau, thì các cấp dưới họ đều qui thuận họ, và quân đội sẽ hùng mạnh ; còn trái lại, nếu họ chia rẽ nhau thì mọi sự đều xẩy ra ngược lại. Vì thế, thánh Phaolô mới nói :”Hỡi những người vợ, hãy tùng phục chồng như ỳung phục Chúa”.
           Đáp lại, nếu người vợ phải tùng phục chồng thế nào thì người chồng cũng phải yêu thương vợ như vậy.  Các bạn có mong vợ mình tùng phục mình như Giáo hội tùng phục Đức Kitô không ? Nếu thế, bạn hãy lo lắng chăm sóc cho nàng cũng như Đức Kitô đã chăm sóc lo lắng cho Giáo hội vậy.  Thật thế, các bạn ai cũng muốn vợ mình phục tùng mình : nếu mà được vợ phục tùng, thì dẫu cho phải hiến dâng cả đời mình cho nàng, cho dẫu thân xác bạn có bị xé ra thành ngàn mảnh, hay cho dẫu bạn phải chịu bất kỳ hình khổ nào, bạn cũng sẵn sàng chấp nhận hết.
          Chúng ta hãy coi đây là trật tự nền tảng của gia đình : chồng là đầu, còn vợ là thân mình. Người vợ hãy kính nể chồâng mình. Người vợ có quyền ở hàng thứ hai. Vì thế, nàng không nên đòi hỏi được bình đẳng về quyền hành với chồng, vì nàng là thân, nên ở bên dưới đầu.  Chàng cũng không nên coi nàng như một người bề dưới, bởi vì nàng là thân thể. Nếu cái đầu coi thường thân mình, thì chính nó cũng sẽ bị diệt vong.  Người chồng pải yêu thương vợ mình có thể phục tùng mình, vì tình yêu là đối trọng phải có nơi người chồng để có sự tùng phục nơi người vợ. Bù lại, cái đầu hoàn toàn lo lắng cho toàn thân, và coi tất cả, mọi chi thể là chính mình. Cái đầu không bao giờ coi cái thân như một cái gì khác với nó. Không có một sự hiệp nhất nào tốt hơn sự hiệp nhất đó.
(R. Martin, Husbands. Wives, Parents, Children, Foundation for the Christian Family)
           Theo đó, Thiên Chúa đã thiết lập gia đình, có tổ chức hẳn hoi để mưu cầu hạnh phúc cho nhau, nếu mỗi thành viên trong gia đình sống theo lời khuyên của thánh Phaolô mà chúng tôi vừa quảng diễn ở trên thì gia đình đó sẽ có hạnh phúc. Hay nói cách khác, mỗi người với tư cách là một thành phần trong cộng đồng đó phải đóng đúng vai trò của mình .
 
II. GIA ĐÌNH LÀ SÂN KHẤU.
                   1. Nhu cầu xem kịch.
           Ngày nay nhu cầu giải trí là một đòi hỏi không thể thiếu trong một xã hội đầy cạnh tranh và lo âu. Ai cũng muốn xem kịch để giải trí. Có các loại kịch : hài kịch, bi kịch và bi hài kịch.  Thông thường ai cũng muốn xem hài kịch để mua vui giải trí, chỉ trừ những người bi quan khó tính. Nhiều người còn muốn xem hài kịch để chữa bệnh nữa.
           Cải lương Việt nam hay diễn bi kịch, có những cảnh thương tâm làm cho các bà các cô khóc xụt xùi. Tuy vậy, trong cảnh buồn rơi lệ, người ta vẫn cho xuất hiện một thằng hề để chọc cười thiên hạ.  Đối với người Tây phương họ cho là một sự mâu thuẫn : tại sao trong cảnh buồn lại có pha mầu sắc vui tươi như vậy ?
           Tôi cũng không hiểu tại sao vậy !  Có lẽ người ta cho xen vào để giảm bớt tính cách bi đát buồn thảm của câu chuyện chăng ?
 
          2. Các diễn viên.
           a) Thế giới là một đại trường kịch.
           Mỗi người trong thế giới này có một vai trò. Mỗi người là một diễn viên. Có vai quan trọng, có vai tầm thường ít được người ta chú ý đến. Dù đóng vai nào, quan trọng hay tầm thường, mỗi người phải đóng cho đúng vai của mình : vua phải có tác phong ông vua, thằng hề phải có tác phong đặc biệt của thằng hề. Không phải cứ đóng vai vua chúa mà được người ta hoan hô tán thưởng, nhiều khi thằng hề lại được người ta khen ngợi hơn. Vì thế đóng vai nào không quan trọng mà đóng cho đúng mới là điều cần phải quan tâm.
 
                                       Truyện : Đóng vai Giuđa
          Khi  xưa, lúc Đức Cha Nguyễn bá Tòng có cho diễn tuồng thương khó ở chủng viện Sài gòn. Hay hay dở, cứ nhìn vào trong rạp không còn một chỗ trống thì biết. Trong số các vai tuồng, ông Jacques Đức ở Mỹ tho làm Chúa Giêsu, ông biện Chức ở Tân định làm thánh Phệrô, còn tay Giuđa về tay... ông Cúc ở Tha la.
          Vai Giuđa hay quá xá, đến nỗi có một bà lão ở tỉnh xa miền Hậu giang lên Sài gòn xem tuồng, thấy bộ tịch Giuđa nào là tham lam, phản bội, xảo quyệt... bà ghét quá, không nói, bà đứng dậy lủi thủi lên phía sân khấu (vì bà ngồi hạng bét) sẵn trong tay cầm cái “ngoáy trầu” bà quăng ngay cho Giuđa một cái bảng mặt. Rồi bà rủa thầm :”Tao cho mày phun máu đầu ra cho biết tay ! Đồ... thằng nộp Chúa, đứa bán  Thầy”.
          May ông Cúc nhanh mắt  né khỏi... và Đức Cha Tòng phải xuống “can thiệp” và “an ủi” bà lão. Nhắc cho bà nhớ lại đây chẳng qua chỉ là diễn tuồng chớ không phải Giuđa...thật đâu !
                             (Kể theo báo Thẳng tiến  1968)
 
 
  1.   Đời sống gia đình là một màn kịch.
           Kịch bản lúc ban đầu chỉ có hai nhân vật, có hai diễn viên, sau này mỗi ngày một thêm vai. Mỗi thành viên trong gia đình đều là diễn viên. Các vai diễn đều phải qua những màn hài kịch, bi kịch bởi vì cuộc sống gia đình lúc nào cũng có vui có buồn, cũng như trời có lúc mưa lúc nắng, đôi lúc cũng có sóng gió bão táp nhưng rồi như người ta nói :”Bĩ cực thái lai”, sau cơn mưa thì trời lại sáng.
           Muốn cho gia đình sống yên vui hạnh phúc, mỗi người phải đóng đúng và khéo léo vai trò của mình, theo như đường hướng giáo dục của Đức Khổng Tử : “Quân quân, thần thần, phụ phụ, tử tử” nghĩa là sống vua cho ra vua, tôi cho ra tôi, cha cho ra cha và con sống đúng với địa vị làm con.  Sống không đúng vai trò của mình thì sẽ làm cho gia đình trở nên bất hạnh và xã hội trở nên hỗn loạn

                                      Truyện : kịch...kịch.
          Một chú bé tối hôm trước hỏi bố là một nhà soạn kịch :
          - Bố ơi, kịch là gì, hả bố ?
          À,  - Ông bố giải thích :
          - Kịch là người ta diễn cho người khác xem... có nhân vật... có mâu thuẫn, mà mâu thuẫn càng gay gắt, có khi phải xô xát, cãi cọ, đập phá... thì kịch càng hấp dẫn.
          Sáng hôm sau, vợ chồng nhà viết kịch to tiếng... Ông chồng liệng cả bát đĩa ra sân. Thằng con ở đâu chạy về, reo ầm lên :
          - Ơ, các bạn ơi, bố mẹ tớ đang diễn kịch, lại đây mà xem, hay lắm cơ !
 Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt

                
 

HônPhối 79: CÂY  THÔNG

I. SUY NIỆM LỜI CHÚA.
 

Thiên Chúa đã dựng nên vũ trụ vạn vật và trao cho con người làm chủ. Trong việc tạo dựng vũ HônPhối 79

Thiên Chúa đã dựng nên vũ trụ vạn vật và trao cho con người làm chủ. Trong việc tạo dựng vũ trụ, Thiên Chúa chỉ phán một lời là mọi sự liền có. Nhưng khi dựng nên con người, Thiên Chúa còn suy nghĩ đắn đo rồi mới quyết định dựng nên con người theo hình ảnh của Ngài (x. St 1,26-27).
           Tuy thế, Thiên Chúa không dựng nên ngay một con người hoàn hảo như các thiên thần ; Ngài ban cho con người có hồn có xác, có tự do để tự hoàn  thiện bản thân mình. Như  vậy, con người chưa được hoàn hảo, còn đang trên đường hoàn thành, còn phải được cải thiện từng bước cho nên giống hình ảnh của Chúa.
           Trong thư gửi cho tín hữu Colossê, thánh Phaolô tông đồ khuyên phải ăn ở hiền lành nhịn nhục và tha thứ cho nhau vì con người còn có nhiều lỗi lầm không thể tránh được. Ngài khuyên :”Hãy chịu đựng và tha thứ cho nhau, nếu trong anh em người này  có điều gì phải trách móc người kia. Chúa đã tha thứ cho anh em, thì anh em cũng vậy, anh em phải tha thứ cho nhau” (Cl 3,13).
 
II. CON NGƯỜI BẤT TOÀN.
           Tại sao phải tha thứ cho nhau ? Vì có sự va chạm làm mất lòng nhau. Điều đó chứng tỏ rằng con người có nhiều lỗi lầm, khuyết điểm, mà đã có nhiều khuyết điểm như thế thì làm sao hoàn hảo được ?
           Qua kinh nghiệm đó, cổ nhân đã nói :”Nhân vô thập toàn”.
           Nhà đại tư tưởng Blaise Pascal cũng nói  theo chiều hướng đó :”Con người vốn không là thiên thần, cũng không là thú vật ; và tai hại thay khi có kẻ chỉ muốn là thiên thần, lại có kẻ chỉ muốn làm thú vật”.
           Đức Khổng Tử nói :”Vi nhân nan” : làm người khó lắm. Làm người mà sống như con vật thì dễ, nhưng sống cho xứng với con người “linh ư vạn vật” thì không dễ.
          Trong cuộc sống chung, Đức Khổng Tử chủ trương : “Hoà nhi bất đồng” nghĩa là chỉ có sự hoà hợp bổ túc cho nhau chứ không bao giờ có sự đồng nhất giữa vợ chồng.
 
                                      Truyện : chọn cây thông.
          Lễ Giáng sinh sắp tới, đôi tình nhân Lan và Điệp đến một vườn ươm thông để mua một cây về trang hoàng cho hang đá. Lan đi hết chỗ này đến chỗ nọ, dìu Điệp đi theo, để chọn một cây thông nào đẹp đẽ và cân đối như trong thiệp Giáng sinh. Trời đã tối, gió rít từng cơn giá buốt mà Lan vẫn chưa tìm được một cây thông nào vừa ý. Điệp níu tay lan, khẽ nói :
          - Lan ạ, hay mình về mua một cây thông giả ! Cây thông giả rất cân đối, hình thể, mầu sắc, độ cao... kiểu nào cũng có, và lại rất giống những cây thông trong thiệp Giáng sinh em rất thích.

III. HÃY CHỌN CON NGƯỜI THẬT.
           Nếu bạn muốn tìm cây thông thật hoàn hảo, đúng tiêu chuẩn thiệp Giáng sinh, xin bạn đừng đến giữa rừng thông sống, nhưng hãy tìm mua cây thông giả. Nhưng nếu bạn muốn một cây thông sống, một cây thông thật, thì xin bạn vui lòng chấp nhận cái đẹp không thể hoàn hảo của nó.
           Nếu bạn muốn người yêu mình phải hoàn toàn, thật hoàn toàn phù hợp với tiêu chuẩn của mình, phải yêu mình như cách mình thích, phải đối xử với mình như cách mình muốn, phải mừng sinh nhật mình theo cách mình ưa, thì có lẽ bạn nên theo lời khuyên của Điệp mà mua một con người giả, để “yêu bạn”, nói đúng hơn, để bạn yêu chính mình qua con người giả ấy.
           Nhưng nếu bạn muốn yêu một con người SỐNG, một người THẬT, thì xin bạn hãy chấp nhận người yêu như chính họ, với tất cả nét đẹp, lẫn những bất toàn. Hãy sung sướng tiếp nhận cách tỏ tình của người yêu,  cho dẫu cách ấy đối với bạn trông như lạnh lùng ! Hãy vui nhận món quà người yêu trao tặng mà không chê bai ! Hãy quên mình để cho người yêu mình SỐNG THẬT con người của họ !  Để rồi bạn có thể sung sướng ngâm nga :
                             “I love you just the way you are” !
 
                                      Truyện : Người cầu toàn.
          Theo một truyện cổ của người Hồi giáo thì Natrusdin là hiện thân của những người độc thân khó tính. Trong một buổi trà dư tửu hậu, khi được hỏi vì lý do tại sao ông không bao giờ lập gia đình. Natrusdin đã giải thích như sau :
           “Suốt cả tuổi thanh niên tôi đã dành trọn thời giờ để tìm kiếm một người đàn bà hoàn hảo. Tại Cairo, thủ đô của Ai cập tôi đã gặp một người đàn bà vừa đẹp vừa thông minh với đôi mắt đen như hạt oliu. Đẹp và thông minh nhưng người đàn bà này không có vẻ dịu hiền chút nào.
 Tôi đành bỏ Cairô để đi Batđa, thủ đô của Irắc để may ra tìm đưdợc một người đàn bà lý tưởng tôi hằng mơ ước. Tại đây tôi đã tìm thấy một người đàn bà hoàn toàn như tôi mong muốn, nghĩa là nàng vừa đẹp, vừa thông minh và cũng có tấm lòng quảnh đại nữa, nhưng chỉ có một điều là hai chúng tôi không bao giờ đồng quan điểm với nhau về bất cứ điều gì. Hết người đàn bà này đến người đàn bà khác, người được điều này, người thiếu điều kia. Tôi tưởng mình sẽ không bao giờ tìm được người đàn bà lý tưởng cho cuộc đời.
  Thế rồi một hôm tôi gặp được nàng, người đàn bà cuối cùng trong cuộc tìm kiếm của tôi. Nàng kết hợp tất cả những đức tính tôi hằng mong muốn, nghĩa là nàng vừa đẹp, vừa thông minh, vừa quảng đại tử tế, nàng đúng là người đàn bà toàn hảo.  Thế nhưng cuối cùng tôi đành phải quyết tâm ở độc thân suốt đời.  Các bạn có biết tại sao không ? Nàng cũng đang đi tìm một người đàn ông hoàn hảo và tôi đã được nàng chấm như một người đàn ông còn quá nhiều thiếu sót”.
          Người đàn ông suốt đời độc thân trong câu chuyện trên đây đã quên một  trong những qui luật cơ bản nhất của cuộc sống, đó là luật thích nghi . Thay vì bắt người khác và cuộc sống phải thích nghi với chúng ta thì chính chúng ta phải là người thích nghi với người khác và cuộc sống. Người đàn ông trong câu chuyện đã tìm được người đàn bà lý tưởng, nhưng chỉ tiếc rằng ông chưa biết trở thành người đàn ông lý tưởng để có thể ăn đời ở kiếp với người đàn bà ấy.
          Tâm lý thông thường của con người là thích đòi hỏi người khác hơn là đòi hỏi chính mình. Chúng ta đòi hỏi người khác phải thế này thế nọ với chúng ta, nhưng chúng ta quên rằng chúng ta chưa làm những gì người khác cũng trông chờ nơi chúng ta.
   Đức Giêsu đã đề ra cho chúng ta khuôn vàng thước ngọc để xử sự trong cuộc sống :”Những gì ngươi không muốn người khác làm cho ngươi, thì ngươi cũng đừng làm điều đó cho người khác”.  Nếu chúng ta không muốn ai đối xử bất công với chúng ta thì chúng ta cũng hãy sống công bình. Nếu chúng ta không muốn ai cư xủ hẹp hòi ích kỷ với chúng ta, thì chúng ta hãy sống quảng đại độ luợng.  Nếu chúng ta không muốn người khác cau có với chúng ta, thì chúng ta hãy luôn mang bộ mặt của vui tươi phấn khởi đến với người khác.
 
          KẾT LUẬN
           Đức Kitô luôn yêu thương và chấp nhận chúng ta. Ngay cả khi chúng ta chưa biết xin lỗi, Ngài đã chết cho chúng ta rồi {Rm 5,10).
          Cho dầu con người đã tự ý phạm tội, Thiên Chúa vẫn yêu thương con người “just the way we are”. Ngài vẫn đi tìm chúng ta trong cơn gió nhẹ chiều hôm, tha thiết tìm gọi “Con ơi, con đâu rồi” (St 3,8-9).
 Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt

         
 

HônPhối 80: THÂN MÌNH

I. TÌNH YÊU TẠO DỰNG.
 

Thánh Gioan tông đồ khẳng định :”Thiên Chúa là tình yêu” (1Ga 4,8). Thiên Chúa là nguồn tình HônPhối 80

Thánh Gioan tông đồ khẳng định :”Thiên Chúa là tình yêu” (1Ga 4,8). Thiên Chúa là nguồn tình yêu, là tình yêu tuyệt đối và trọn vẹn.  Vì yêu thương mà Ngài đã san sẻ tình yêu cho chúng ta dể chúng ta yêu Ngài và yêu nhau. Vì thế, mọi tình yêu phải qui hướng về Ngài là cùng đích, là hạnh phúc tuyệt đối.
           Bản tính của tình yêu là muốn thông ban sự tốt lành của mình cho người khác.  Vì yêu thương, Thiên Chúa đã tạo dựng muôn loài : mọi thụ tạo đều là dấu chỉ tình thương của Chúa.  Trong mọi tạo vật được dựng nên, Thiên Chúa chỉ cần phán một lời là mọi sự liền có, nhưng khi tạo dựng con người, Ngài muốn chọn cho con người một mô hình đặc biệt, đó là dựng nên con người giống hình ảnh Ngài {x. St 1,27). Như thế, con người được dựng nên với một cấp độ cao để con người có thể nói được là “nhân linh ư vạn vật”.
           Ngài đã dựng nên con người có nam có nữ và cho họ kết hợp với nhau để từ đó họ chỉ còn  là một thân mình tức là chỉ còn một xương một thịt (Mc 10,66-8). Việc họ phối hợp với nhau cũng năm trong thánh ý của Thiên Chúa , là một việc thánh thiêng.  Dựa vào đó, Hội thánh dạy rằng Thiên Chúa muốn cho họ thương yêu nhau thắm thiết để nâng đỡ nhau trong cuộc sống và sinh sản con cái để làm cho Hội thánh được thêm phong phú.
 
II.TÌNH YÊU KẾT HỢP.
           Tình yêu luôn đòi kết hợp thân xác và tinh thần. Con vật thương nhau thì chỉ biết kết hợp thân xác, còn con người có lý trí không những đòi hỏi kết hợp thể xác như con vật, nhưng còn hơn nữa là muốn kết hợp tinh thần nữa.  Vì thế, người ta cảm thấy nhớ nhung khi phải xa nhau và mừøng vui khi được gần nhau như các em thiếu nhi thường hát :”Cả nhà ta cùng yêu thương nhau, xa là nhớ gần nhau là mừng”.
 
          Vợ chồng đã thương yêu nhau là muốn kết hợp với nhau cả thể xac lẫn tinh thần, nghĩa là muốn kết hợp với nhau thành một “THÂN MÌNH”.  Tuy là một thân mình nhưng vẫn còn là một thân và một mình, mỗi thân mỗi mình lại có những sắc thái riêng, những đặc tính riêng biệt mà người kia không có, đôi lúc còn trái ngược nhau là khác,  nhưng vẫn có thể hòa hợp với nhau được như chanh với đường.  Tuy chanh và đường có những đặc tính khác biệt và trái ngược nhau như “chua” với “ngọt”, nhưng chính chất chua và ngọt ấy lại có thể hòa hợp với nhau làm nên một ly nước chanh ngon miệng.
           Tuy vợ chồng là một thân mình nhưng chồng vẫn là chồng, vợ vẫn là vợ, mỗi người vẫn giữ được những sắc thái riêng, không ai có quyền và cũng không có thể triệt tiêu được những khác biệt của người kia, chỉ có một cách là hòa hợp với nhau như một ly nước chanh hay một ly cà phê ban sáng.  Đúng như lời Đức Khổng Tử nói “HOÀ nhi bất ĐỒNG”: chỉ có hoà hợp với nhau chứ không có đồng nhất
          Hiểu như thế nên khi cầm lấy tấm hình chụp của mình lên xem, thisĩ Tàn Đà Nguyễn khắc Hiếu mỉm cười ngâm câu thơ rất quen thuộc mà ai cũng biết :
                                       Mình với ta tuy hai mà một,
                                      Ta với mình tuy một mà hai.
                                                (Tản Đà)

           Theo tư tưởng đó, thi sĩ Huy Cận, trong bài “Yêu nhau nhớ mấy cho vừa” có viết :
                                       Lòng ta một khối, ơi tình
                                      Chạm đâu cũng vọng nỗi mình với ta.
                                      Trong mình đã có ta trong
                                      Trong ta mình lại nấu nung bồn chồn.
                                                      (Huy Cận)

           Qua hai câu thơ của hai thi sĩ, ta thấy vợ chồng coi nhau như của nhau, trong vợ đã có yếu tố của chồng và trong chồng đã có yêu tố của vợ.  Do đó, hai người gọi nhau là “mình ơi”. Cũng vì đã kết hợp với nhau làm thên một thân mình nên hai người luôn mốn kết hợp với nhau cà thể xác cả tinh thần.
  Chuyện kể :
          Anh kia gõ cửa nhà. Có tiếng hỏi :
          - Ai đấy ?
          Anh ta đáp :
          - Anh đây.
          Cửa nhà không mở. Anh ta gõ tiếp. Tiếng vọng ra hỏi :
          - Ai đấy ?
          Anh ta đáp :
          - Mình đây.
          Cửa liền mở ra.
 
III. VỢ CHỒNG KÊT HỢP.
           Thánh lễ Hôn phối chúng ta đang cử hành đây chỉ về sự  “giao ước” tình yêu giữa Thiên Chúa và nhân loại, giữa Chúa Kitô và Hội thánh (x. Ep 5,32), giữa cô dâu và chú rể.  Khi chú rể và cô dâu rước Mình Máu thánh Chúa thì không những các con hiệp nhất với Chúa mà còn phải hiệp nhất với nhau trong giao ước tình yêu này.
           Trong cuộc sống hôn nhân, chúng con hãy cố gắng thực hiện lời thánh Phaolô khuyên như tính hữu Ephêsô mà chúng con vừa đọc trong bài đọc một vùa xong :
“Chồng phải yêu vợ như chính thân thể mình. Yêu vợ là yêu chính mình. Quả vậy, có ai ghét thân xác mình bao giờ ; trái lại, người ta nuôi nấng và săn sóc thân xác mình, cũng như Đức Kitô nuôi nấng và săn sóc Hội thánh, vì chúng ta là bộ phận trong thân thể của Người”(Ep 5,28-30).
 Khi các con đã kết hợp với nhau thành vợ chồng, thành một xương một thịt thì chỉ còn là một thân mình. Không ai có thể tách thân mình ra được. Cũng thế, sự gì Thiên Chúa đã kết hợp rồi thì loài người không thể phân ly (x. Mt 19,6) và như thế, ly dị là một điều không được phép
.          Trong đời sống chung, mỗi người có một tính tình riêng do giáo dục, giới tính, dân tộc, ngôn ngữ, phong tục địa phương... mang lại, do đó dễ xẩy ra những va chạm hoặc lớn hoặc nhỏ, không thể tránh được. Muốn cho đời sống chung trở nên tốt đẹp, dễ chịu thì còn một cách là phải chịu đựng lẫn nhau, bổ túc cho nhau để làm nên một hòa điệu chung.
           Trong đời sống gia đình, nhiều khi chỉ có đôi vợ chồng hoặc với một vài đứa con, những sự va chạm xích mích cũng không thể tránh được. Trong sự chung sống hằng ngày, những sự bất hòa ngấm ngầm hay bất hòa bùng nổ, không thể tránh được những sự va chạm, không thể tránh được những lúc “cơm chẳng lành, canh chẳng ngọt”, bởi vì :
                                       Sống mỗi người một nết,
                                      Chết mỗi người một tật.

          
Nếu thi sĩ Xuân Diệu nói :
                                      Nắng mưa là bệnh của trời
thì ta cũng có thể nói :
                    Cá trong lờ đỏ lơ con mắt,
                             Cá ngoài lờ ngúc ngắc muốn vô,
                             Đời vợ chồng sớm nắng chiều mưa.
                                           (Ca dao)

“Sớm nắng chiều mưa” có nghĩa là đời vợ chồng có lúc vui lúc buồn, lúc thịnh vượng lúc gian nan, lúc khỏe mạnh lúc ốm đau. Trong mọi hoàn cảnh vợ chồng phải luôn khăng khít với nhau để cả hai trở nên một : của chồng là của vợ và của vợ là của chồng. Vợ chồng phải như hình với bóng không thể tách lìa nhau.
 
                             Truyện : Bà Lư Thị
Phòng-huyền-Linh, danh nho đời Đường, có vợ là Lư Thị rất đẹp, nhưng phải tính cực kỳ ghen tuông.
Lúc còn hàn vi, Phòng Huyền Linh một hôm bệnh gần chết bảo Lư Thị :
- Tôi chắc không thể nào sống được, mình còn trẻ không nên ở vậy, nếu tái giá nên ở với người chồng sau cho đàng hoành tử tế.
          Nghe nói, Lư Thị nức nở khóc đoạn vào phòng riêng, khoét một mắt bỏ đi cố ý tỏ cho chồng biết “trăm năm thể chẳng ôm cầm thuyền ai”.
          Không bao lâu, Phòng Huyền Linh khỏi bệnh.
          Sau khi ông thi đỗ, làm quan đến Tể tướng. Phong lưu, phú qúi, ông càng yêu mến kính trọng Lư Thị, nên không lấy thêm một tỳ thiếp nào nữa, trong khi các quan văn võ không ai không ba bốn năm phòng.
          Vì thế, người ta cho ông là sợ vợ. Tiếng đồn ấy đến tai vua Thái Tôn. Vua cho mời Lư Thị vào bảo :
          - Theo phép thường, các quan to vẫn có tỳ thiếp, quan tể tướng nay tuổi đã cao, Trẫm muốn ban cho một người đẹp, ý nhà ngươi thế nào ?
          Lư Thị nhất quyết không nghe, Thái Tôn nổi giận mắng :
          - Nhà ngươi không ghen thì sống, còn ghen thì phải chết !
          Mắng rồi, Thái Tôn thét lính đem ra một chén rượu  giả làm chén thuốc độc, phán :
          - Nếu chịu thì thôi, còn không phải uống chén thuốc độc này.
          Lư Thị không ngần ngại, cầm chén thuốc độc uống một hơi hết liền.
          Thái Tôn thấy vậy , lắc đầu nói :
          - Đàn bà như thế này thì trẫm cũng phải sợ, huống nữa quan tể tướng Huyền Linh.
                             (Thái Bạch, Đông tây kim cổ tinh hoa, 1965, tr 248-249).
           Thương chồng  mà thương đến nỗi dám khoét cả một con mắt để tỏ lòng chung thủy thật là thương hết chỗ nói. Lư Thị đã làm một việc can đảm phi thường, trên đời hiếm có những người như vậy.  Còn cái ghen của bà cũng là đáng sợ. Nhưng dù sao chúng ta thấy rằng Phòng Huyền Linh đã có một bà vợ hết sức chung thủy, có một không hai, nên ông chẳng những yêu mà còn phải kính nể Lư Thị nữa là khác.
           Trong cảnh sống gia đình, vợ chồng phải có quyết tâm gắn bó với nhau những khi gặp cảnh “sớm nắng chiều mưa” thực hiện lời Chúa đã dạy :”Sự gì Thiên Chúa đã phối hợp thì loài người không thể phân ly”
Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim Phát
Đà lạt


 

HônPhối 81: THỦY  CHUNG

Sách Nho có chữ :”Tào khang chi thê bất khả hạ đường” : Người vợ tấm mắn chẳng nên hất HônPhối 81

Sách Nho có chữ :”Tào khang chi thê bất khả hạ đường” : Người vợ tấm mắn chẳng nên hất hủi xuống bậc hèn” (Tống Hoằng).  “Thủy chung” có nghĩa là  đầu và cuối. Việc gì cũng phải có đầu và cuối : hễ đầu xuôi thì đuôi lọt. Khởi đầu, Thiên Chúa tạo dựng nên con người, cho họ kết hợp với nhau thành một xương một thịt và dặn họ :”Sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly” (Mc 10,8). Nếu “Thủy” nơi Thiên Chúa là như vậy, còn “Chung” nơi loài người thì làm sao ?
 I. TRÍCH DẪN LỜI CHÚA.
           1. Bài sách Sáng thế : 2,21-24.
           Bộ Kinh  thánh bắt đầu bằng cuốn Sáng thế ký, và sách Sáng thế lại mở đầu bằng trình thuật tạo dựng vũ trụ vật chất và con người. Hai trường hợp sáng tạo được kể, có những chi tiết khác nhau. Tuy chẳng mấy ai tin theo nghĩa đen những chi tiết này, nhưng sự khác biệt chắc chắn có ý nghĩa.
           Khi tạo dựng vũ trụ vật chất, Thiên Chúa chỉ phán :”Hãy có...” thì liền có ; và muốn nó tiếp tục sinh ra nhiều thì phán :”Hãy sinh sôi nảy nở...” Sinh sôi nảy nở thế nào không được diễn tả rõ ràng, nhưng khi tạo dựng con người, Thiên Chúa tỏ ra thận trọng hơn :”Nào Ta hãy dựng nên con người giống hình ảnh Ta”(St 1,26).  Còn để bảo tồn và phát triển, Thiên Chúa không chỉ phán :”Hãy sinh sôi...” mà còn “đạo diễn” một màn đầy ấn tượng : Ngài đã lấy xương sườn Ađam đang ngủ làm nên người nư õ(Evà), để rồi khi thức dậy, Ađam hớn hở reo lên :”Đây chính là thịt và xương tôi !... Bởi đó, người đàn ông sẽ bỏ cha mẹ và khăng khít với vợ mình, và cả hai sẽ nên một xương một thịt”(St 2,21-24).
 
          2. Bài Tin mừng : Mc 10,6-9 ; Mt 5,27-32.
           Ai cũng biết, Đức Giêsu đến không phải để phá bỏ lề luật Cựu ước, mà là để kiện toàn. Bài Tin mừng chúng ta vừa nghe thuật truyện Chúa Giêsu trình bầy quan điểm của Ngài về luật ly dị và đa thê của thời Môsê. Ngài cho rằng Môsê đã cho phép điều đó vì “sự cứng lòng của người Do thái” (Mt 19,8), nên cần phải loại bỏ. Bởi chính lúc khời đầu công trình tạo dựng, Thiên Chúa đã làm nên con người có nam, có nữ, vì thế người đàn ông đã lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình và cả hai sẽ thành một xương một thịt. Như vậy họ không còn là hai, nhưng chỉ là một xương một thịt. Vậy “sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly”(Mc 10,6-9 ; St 2,24).
 
II.VỢ CHỒNG PHẢI TRUNG THÀNH.
           Người đàn bà trong lễ giáo Khổng Mạnh phải tuyệt đối chung thủy, phải tuyệt đối trung thành với chồng mình. Họ phải giữ cái đạo “Tam tòng” :
                                      Tại gia tòng phụ,
                                      Xuất giá tòng phu,
                                      Phu tử tòng tử.

          Nghĩa là : người con gái ở nhà thì theo cha, đi lấy chồng thì theo chồng, chồng chết thì theo con.
          Chữ “chung thủy” của người xưa thật đáng ca tụng, nhưng tôi thấy nó rất thiên lệch và không công bằng. Lễ giáo của Khổng Mạnh đã áp đặt chặt chẽ trên người đàn bà, trong khi đó thì người đàn ông lại được thả lỏng :
                                      Trai thì năm thê bảy thiếp,
trong khi đó thì :
                                      Gái chính chuyên chỉ có một chồng.
và nếu có một vợ một chồng thì theo sự diễn tả một cách châm biếm, đó là :
                                      Nhất phu nhất phụ,
                                      Mỗi mụ mỗi nơi.

Còn thời nay thì sao ?
                            Đối với xã hội Tây phương thì chữ “chung thủy” thời nay đã biến mất. Người ta thay vợ đổi chồng như thay áo.  Có nơi số đôi hôn phối ly dị đến 50%, thậm chí có nơi đến gần 70%. Cái hôn ước không còn giá trị nữa. Chính vì thế mà gia đình bị lung lay tận nền tảng , tận gốc rễ để rồi đi đến chỗ đổ vỡ chỉ vì những lý do không đâu. Còn ở Việt nam thì sao ?
 
                                      Truyện : trên chuyến xe đò.
          Có một lần trên chuyến xe đò đi Sàigòn, tôi được nghe mẩu tâm sự vụn giữa mấy bà mấy cô với nhau. Bà thì than rằng ông chồng của mình bê bối. Bà thì bực tức thấy ông nhà đèo bòng mà chẳng làm gì được. Nói ra thì xấu thiếp hổ chàng, còn để vậy thì ấm ức trong lòng. Sau cùng, có một bà kết luận : chỉ có mấy bà Công giáo là sướng. Đạo của họ cấm chỉ việc lang bang. Dù sao chăng nữa, thì họ cũng vẫn một lòng một dạ với nhau.
           Nghe mẩu tâm sự ấy, tôi cũng thấy mừng vì từ ngàn xưa và cho đến ngày hôm nay, sự chung thủy, một vợ một chồng vốn dĩ đã là nét son của hôn nhân Công giáo.
           Ai cũng biết hôn nhân Công giáo là một khế ước song phương được ký kết giữa hai người. Hôn ước của đạo Công giáo có hai đặc tính là đơn nhất và vĩnh viễn. Không ai có thể hủy bỏ hôn ước khi cả hai người còn sống.
           Nếu chúng ta đòi buộc người bạn đời phải tuyệt đối trung thành với mình, thì chúng ta cũng phải có bổn phận phải tuyệt đối trung thành với người bạn đời như thế. Chúng ta không thể nào chấp nhận những chia sẻ vụng trộm của người bạn đời thì chúng ta cũng không được chia sẻ tình yêu một cách thầm lén cho kẻ khác không phải là người bạn đời của mình. Nếu như hành vi thầm lén vụng trộm của chúng ta bị đổ bể, bởi vì “đi đêm có ngày gặp ma”... thì lúc bấy giờ chắc chắn dư luận sẽ không buông tha chúng ta và gia đình ta chắc chắn sẽ gặp nhiều sóng gió.
           Tuy nhiên, xưa cũng như nay không thiếu gì những gương cao đẹp về sự trung thành của vợ chồng trong những gian nan thử thách.
 
                                      Truyện :  gương sáng của Án Tử.
          Án Tử, người nước Tề, nổi tiếng là một người thanh liêm. Xuất thân từ một gia đình nghèo, Án Tử được vợ hy sinh buôn tảo bán tần để mình ăn học. Đỗ đạt làm quan, Án Tử không bao giờ quên được ơn ấy của vợ. Cuộc sống đầy cạm bẫy, ông vẫn một lòng trung thành với vợ.
           Một hôm vua Cảnh Công đến thăm ở lại dùng bữa với Án Tử. Một người đàn bà đã già xuất hiện trong bữa tiệc. Khi Án Tử vừa giới thiệu người đàn bà đó là vợ mình, nhà vua ngạc nhiên đến sửng sốt. Ông đề nghị với Án Tử :
          - Ôi, vợ khanh trông vừa già lại vừa xấu. Quả nhân có một đứa con gái vừa trẻ vừa đẹp, quả nhân muốn cho về hầu, khanh nghĩ sao ?
          Án Tử trả lời một cách dứt khoát, không chút do dự :
          - Nội tử của tôi nay thật già và xấu. Nhưng chúng tôi đã lấy nhau và ăn ở với nhau bao lâu nay, kể từ khi nàng còn trẻ đẹp.  Xưa nay, đàn bà lấy chồng lúc còn trẻ cốt để nhờ cậy lúc tuổi già, lấy chồng lúc đẹp để nhờ cậy khi xấu. Nội tử tôi thường nhờ cậy tôi cũng như tôi đã từng nhận sự giúp đỡ của nội tử tôi. Nay, bệ hạ muốn ban ơn mưa móc là tùy ở bệ hạ, nhưng xin đừng để tôi phải mang tiếng ăn ở bội bạc với nội tử tôi.
          Nói xong, Án Tử lạy hai lạy, xin từ chối không lấy con gái của nhà vua.
                                      (Lẽ sống, tr 302).
 
          KẾT LUẬN
          Sau  hết, anh chị hãy hiểu và ý thức lời hứa hôn mà anh chị sắp đọc lên cũng như lúc xỏ nhẫn để anh chị phải trung thành với nhau qua mọi cảnh huống của cuộc sống : khi vui cũng như lúc buồn, khi thành công cũng như khi thất bại, khi mạnh khỏe cũng như lúc yếu đau, để yêu thương, để nâng đỡ và để cùng dìu nhau bước đi trong cuộc sống : “Hãy nhận lấy chiếc nhẫn này để làm bằng chứng tình yêu và trung thành của nhau”:
                                       Nói lời hãy giữ lấy lời,
                             Đừng như con bướm đậu rồi lại bay.
                                              (Ca dao)

Anh hãy suy nghĩ và cố thực hiện được câu nói đầy ý nghĩa của Tống Hoằng :
                             “Tào  khang chi thê bất khả hạ đường”.
 Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt

 
 

HônPhối 82: BÁT  PHỞ

Vui buồn trong đời vợ chồng
 I. HUẤN DỤ CỦA THÁNH PHAOlÔ.
 

Chúng ta biết gia đình là nền tảng của Hội thánh và cũng là nền tảng của xã hội. Nền có vững HônPhối 82

Chúng ta biết gia đình là nền tảng của Hội thánh và cũng là nền tảng của xã hội. Nền có vững, ngôi nhà mới có thể đứng vững được. Ý thức được điều đó, thánh Phaolô đã khuyên nhủ những gia đình Kitô giáo đầu tiên phải sống thế nào cho đẹp lòng Chúa và có hạnh phúc. Ngài đã khuyên các tín hữu Colossê bằng những lời này :
 “Anh em là những người được Thiên Chúa tuyển chọn, hiến thánh và yêu thương. Vì thế, anh em hãy có lòng thương cảm, nhân hậu, khiêm nhu, hiền hòa và nhẫb nại. Hãy chịu đựng và tha thứ chi nhau, nếu trong anh em người này có điều gì phải trách móc người kia. Chúa đã tha thứ cho anh em, thì anh em cũng vậy, anh em phải tha thứ cho nhau” (Cl 3,12-13).
 Những lời khuyên làm nổi bật sắc thái thánh thiện và tốt đẹp của gia đình Kitô giáo.
          Ngài còn ví tình yêu vợ chồng với tình yêu giữa Chúa Kitô và Hội thánh. Chúa Kitô yêu Hội thánh thế nào thì Hội thánh cũng phải đáp lại bằng tình yêu ấy. Cũng thế, người chồng phải yêu thương vợ như tình yêu của Chúa Giêsu đối với Hội thánh. Đáp lại, người vợ cũng phải yêu chồng như mối tình của Hội thánh đối với Chúa Kitô.
 
II. THỰC TẾ NHƯ THẾ NÀO ?
           Tuy thế, không phải lúc nào gia đình cũng êm ấm, trên thuận dưới hòa, êm lặng như mặt nước hồ thu. Mặt hồ đôi lúc cũng gợn sóng. Trời cũng có khi mưa khi nắng, có khi âm u , có khi quang đãng, đôi lúc nổi giông tố nữa như những cơn bão mùa hè vừa qua.  Đấy là bệnh của trời, con người đôi lúc cũng có bệnh, cho nên người ta nói :
                                       Nắng mưa là bệnh của trời,
                                   Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng.
                                                  (Ca dao)

           Chồng yêu vợ thật, nhưng cũng không thể tránh được những va chạm nhỏ nhặt thường ngày. Tương tư là bệnh của chàng . Đúng ! Lúc mới yêu, nhất là lúc tương tư thì chàng coi nàng như một “nữ hoàng”, chiều chuộng, săn sóc tỉ mỉ, không dám làm mất lòng nàng.  Đáp lại, nàng gọi chàng là “hoàng tử của lòng em”, nàng coi chàng là một mẫu người lý tưởng đáng ước mơ, cái gì của chàng cũng tốt, cũng đẹp, cũng hay.
           Nhưng sống với nhau một thời gian, “nằm trong chăn mới biết chăn có rận” (tục ngữ), qua những chung đụng hằng ngày, hình ảnh “nữ hoàng, nàng tiên hay hoàng tử của lòng em” không còn nữa mà thay vào đó là hình ảnh đen tối “con đĩ kia” hay “thằng qủi này”.  Qua những va chạm hằng ngày, tình yêu thuở ban đầu không còn nữa, những xích mới nảy ra, tuy nhỏ mọn nhưng quan trọng, nếu không biết kiềm chế sẽ đi đến đổ vỡ.
           Theo nhận xét của tác giả Hồng Ngọc trong báo Kiến thức gia đình, nhiều cặp trai gái thích hào nhoáng bên ngoài, mà khi “ván đã đóng thuyền” rồi, thì ở nhiều cặp vợ chồng các vụ xung đột thường xẩy ra. Nguyên nhân chủ chốt của vấn nạn này không ngoài việc họ có quan niệm không đúng về gia đình. Ở đây có 3 vấn đề cần quan tâm :
           1. Họ chưa ý thức được hôn nhân là một khởi điểm cho một tương lai lâu dài với nhiều bất trắc khó lường. Họ nghĩ nhầm rằng mở ra cánh cửa hôn nhân là đã bước vào cõi thiên đường.
           2. Họ quên mất rằng, sau hôn nhân rất cần đến sự chiếm hữu lấy tình yêu  bằng cách cần phải cố gắng để người bạn đời của mình yêu thích mình hơn, qúi trọng mình hơn nữa.
           3. Khi giáp mặt với sự nhiêu khê trắc trở, với thực tế phũ phành của đời sống, trong gia đạo, họ giải quyết một cách đơn giản và tai hại  bằng cách tìm niềm vui và sự bình an ở bên ngoài cánh cửa gia đình.
                             (Hồng Ngọc, Kiến thức gia đình, số 59, tr 60)
 
III. GIẢI QUYẾT THẾ NÀO ?
           Tôi xin đưa ra một ví dụ : “bát phở”. Ai trong chúng ta cũng đã từng ăn phở, đã có chút ít kinh nghiệm về một bát phở ngon. Một bát phở thơm ngon không chỉ do nước giùng, bánh phở, mấy miếng thịt bò hay gà, mà còn phải có đủ hành tỏi, nước mắm, hồ tiêu, lá húng, lá ngò, chanh và ớt... Nhờ những gia vị lỉnh kỉnh đó mà người ăn mới khoái khẩu, mới thấy mùi vị thơm ngon của bát phở, đặc biệt là vị chua của chanh, vị cay của ớt. Nhiều người khi cắn miếng ớt vào miệng cay chảy nước mắt, toát mồ hôi, nhưng nếu thiếu ớt lại không chịu được. Dường như ăn phở mà thiếu ớt, thiếu lá thơm, thì không còn cái thú của phở nữa. Chưa hết ! Bát phở còn phải nóng, hơi bốc ngùn ngụt, ăn vào là chảy cả mồ hôi mồ kê ra, chảy cả nước mắt nước mũi ra...thế mới là bát phở thơm ngon.
           Nói theo quan điểm triết học, thì trong cay đắng vẫn có ngọt bùi ; hoặc ngược lại, trong ngọt bùi vẫn có cay đắng. Và trong cái cay chua hay đắng đót của cuộc đời, vẫn tiềm tàng những yếu tố của hạnh phúc.
                   Cuộc sống hôn nhân cũng như bát phở. Hương vị thơm ngon của nó là do những gia vị của cuộc đời vui, buồn, cay, đắng và mặn nồng.
                             (Trần mỹ Duyệt, Bí quyết của Hạnh phúc hôn nhân, tr 116)
           Cuộc đời là như thế, có tránh cũng không được, chỉ còn cách duy nhất, cho nó một ý nghĩa cao đẹp. Chúng ta hãy bắt chước những đồng bào ở vùng đồng bằng sông Cửu long, năm nào cũng bị lũ lụt tàn phá vì ở vào vùng trũng, không thể tránh được. Cực khổ. Nhưng chịu vậy sao ? Người ta có một giải pháp rất hay là “sống chung với lũ”.
           Francois Mauriac nói :”Thiên Chúa đã đến kết hôn với đau khổ của con người để trao cho nó một ý nghĩa đồng thời với một giá trị”. 
          Chấp nhận những đau khổ của cuộc đời là cần thiết và có ích.
          P. Charles cũng nói :”Từ khi Đức Kitô đến, chúng ta được giải thoát không phải là khỏi chịu đau khổ, nhưng khỏi chịu đau khổ một cách vô ích”.
 
          KẾT LUẬN
           Chúng ta chưa đạt tới hạnh phúc trong gia đình mà còn đang trên cuộc hành trình đi tìm hạnh phúc. Được đến đâu hay đến đó, như người ta thường nói :”Được hoa mừng hoa, được nụ mừng nụ”.  Hạnh phúc được đến đâu cũng hãy cảm tạ Chúa, hãy bằng lòng với hoàn cảnh của mình, đừng “đứng núi nọ trông núi kia cao”. Hãy thực hiện câu nói của người xưa :
                    Tri túc, tiện túc, đãi túc, hà thời túc,
                   Tri nhàn, tiện nhàn, đãi nhàn, hà thởi nhàn

          Nghĩa là :
                   Biết đủ, coi là đủ; đợi đủ bao giờ mới đủ,
                   Biết nhàn, coi là nhàn; đợi nhàn bao giờ mới nhàn.

           Chúng ta hãy trông cậy Chúa vì Ngài không bỏ ai biết trông cậy vào Ngài :”Hãy xin thì sẽ được”. Ta hãy cầu xin cho mọi người và cách riêng cho đôi tân hôn biết chấp nhận mọi “lỉnh kỉnh” của cuộc đời và mặc cho nó một ý nghĩa cao qúi.
 Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt

 
 

HônPhối 83: LO ÂU

Các con đừng sợ (Mc 5,36)
 I. AI CŨNG CÓ LO ÂU.
 

Trong cuộc sống hằng ngày, ai mà không có lo âu ? Lo âu là tình trạnh bất an trong tâm hồn trước HônPhối 83

Trong cuộc sống hằng ngày, ai mà không có lo âu ? Lo âu là tình trạnh bất an trong tâm hồn trước những sự việc xẩy ra không hợp với ý mình.
           Cuộc sống rất phức tạp, có nhiều thứ lo sợ : lo sợ về đời sống vật chất, lo sợ về đời sống tinh thần, lo sợ trong hiện tại, lo sợ cho tương lai. Sợ hãi lo âu nào cũng có chung một đặc tính : đó là dấu chỉ của sự yếu đuối, sự bất lực của con người. Thấy mình không đủ khả năng đương đầu với khó khăn nên mới lo sợ.  Sự sợ hãi làm dang dở cuộc đời : “Lo bạc đầu, sầu bạc tóc”.
           Người ta nói đời buồn nhiều hơn vui. Thời gian của một đời người dường như lo âu  nhiều hơn thong thả. Bao nhiêu lo lắng trong một ngày.  Khi một đứatrẻ được sinh ra thì người ta nói là : cất tiếng khóc chào đời. Không thấy một đứa trẻ nào cười mà chỉ có khóc ? Nếu nó không khóc thì người ta phải đánh cho nó khóc lên một tiếng. Có lẽ vì thế mà thi sĩ Cao bá Quát mới nói :
                                       Vừa sinh ra sao đà khóc chóe,
                                      Đời có vui sao chẳng cười khì ?

           Tư tưởng đó cũng được thi sĩ Nguyễn gia Thiều trong Cung oán ngâm khúc họa theo :
                                       Thảo nào khi mới chôn nhau,
                                      Đã mang tiếng khóc ban đầu mà ra.

 
II. LO ÂU TRONG TIN MỪNG.
           Chúa Giêsu biết con người gặp nhiều lo âu trong cuộc sống nên mỗi khi con người gặp phải lo âu sợ hãi, Ngài lại khuyên :”Đừng sợ”.  Chúng ta thấy Kinh thánh lặp đi lặp lại hai chữ này tới 365 lần, đủ cho mỗi ngày một câu.
 
          1. Trước hoang mang :
           Tâm trạng nào đã xẩy đến cho Đức Maria trong ngày Truyền tin ?  Một người thiếu nữ không chồng mang thai.  Làm sao cắt nghĩa điều đó cho xã hội ? Cô sẽ bị ném đá chết.  Còn tai tiếng cho dòng họ thì sao ? Trước nỗi hoang mang lo sợ ấy, thiên thần đã nói với Maria rằng :”Đừng sợ” (Lc 1,30).
 
          2. Trước khó khăn :
           Biết Maria mang thai, thánh Giuse không có câu trả lời. Những ngày đó thánh Giuse phải xao xuyến vô cùng đến độ Ngài” định tâm bỏ bà cách kín đáo”. Nếu bỏ Maria, Giuse trốn đi đâu ? Làm sao giữ kín mãi chuyện Maria mang thai ? Nếu lộ ra, những gì sẽ xẩy đến ? Giuse phải làm chứng thế nào trước công hội ? Trước khó khăn như thế, sứ thần bảo :”Giuse, đừng sợ” (Mt 1,20).
 
          3. Trước tuyệt vọng :
           Tin Mừng thuật về nỗi tuyệt vọng của các môn đệ như sau :”Một trận cuồng phong nổi lên, sóng ập vào thuyền, đến nỗi thuyền đầy nước” (Mc 4,37). Trong kinh hoàng ấy, ai dám mong sống sót ? Thế mà Chúa Giêsu bảo :”Đừng sợ” (Mc 4,40 ; Mt 8,26).

           4. Trước đau đớn :
         Người con gái ông trưởng hội đường sắp chết, ông phải thân hành bỏ nhà đi tìm Đức Giêsu, hy vọng Ngài cứu nó. Người ta khóc lóc kêu la. Con ông đã chết . Người ta nói với ông rằng không còn cách nào cứu vãn nữa. Trong cảnh đau đớn ấy, Chúa bảo ông :”Đừng sợ” (Mc 5,36).
           Ngoài ra chúng ta còn thấy rất nhiều trường hợp hai chữ “Đừng sợ” còn được dùng rất nhiều để khuyên bảo con người hãy tin tưởng vào Chúa để bớt sợ hãi đi :
          * Thiên thần nói với mục đồng : Đừng sợ.
          *  Khi các môn đệ thấy bóng Chúa đi trên mặt biển, các ông kinh hoàng, Chúa bảo :”Đừng sợ”.
          * Bà Maria Madalena hoang mang trước mộ bia, Chúa bảo bà :”Đừng sợ”
           Sự sợ hãi ám ảnh mọi người, đâu cũng có sợ hãi.  Sự sợ hãi làm cuộc sống thành sống mà không sống thực. Đức Kitô không muốn tôi sống trong lo âu khổ sở như thế. Ngài bảo :”Đừng sợ”.
 
III. LO ÂU VÀ TƯƠNG LAI.
           Ta thấy sự sợ hãi và lo âu gắn liền với tương lai. Khi Chúa nói về nỗi lo lắng, Chúa cũng đề cập tới tương lai.  Vậy tương lai và lo âu có những liên hệ nhu thế nào ?
           Suy nghĩ về lo sợ, ta thấy sợ hãi và lo âu gắn liền với tương lai.  Lo người không chung thủy, lo tình yêu đau khổ, lo con cái không thành danh, lo công ăn việc làm, lo thất bại, lo người ta hiểu lầm. Tất cả mọi lo lắng đều liên hệ đến tương lai. Khả năng suy nghĩ về ngày mai kéo nỗi lo tới.
          Tương lai là điều chưa có thật nên những gì ta lo lắng cũng  là lo lắng cái chưa có thật.
          * Thí dụ : Tôi lo lắng không biết ngày mai gặp người  ấy, họ nghĩ gì về tôi,  không biết ngày mai tôi phải trả lời ra sao cho một vấn đề. Những đau khổ ấy chưa xẩy tới nên nó chưa phải là điều có thật. Tuy nhiên, cuộc sống tôi lúc này khốn khổ vì lo âu, điều khốn khổ đó lại là sự thật trong hiện tại.
          * Thí dụ  khác : Bạn đau khổ, lo mười năm nữa hôn nhân con cái mình có hạnh phúc hay không . Lúc này bạn đang đau khổ, còn chuyệbn hôn nhân kia có đau khổ hay không thì năm mười năm nữa mới xẩy ra. Như thế, ta lấy cái đau khổ thật để sống trong lo âu về một đau khổ chưa có thật.
                             (Nguyễn tầm Thường, Cô đơn và sự tụ do, tr 131)
 
IV. PHẢN ỨNG TRƯỚC ÂU LO.
           Lo âu cũng như bó dây leo trên đường đi, một là nó cuộn chân ta, giữ chân lại, hai là ta dẫm trên nó mà đi. Không còn cách nào khác. Cho nên ta phải đương đầu với lo âu và sợ hãi, không để cho nó chi phối đời ta :
                                                Chớ thấy sóng cả mà lo,
                                      Sóng cả mặc sóng, chèo cho có chừng.
                                                            (Ca dao)

          Nếu tôi hỏi đôi bạn trẻ : các con có nỗi lo âu gì cho tương lai không ? Chắc chắn các con sẽ trả lời : Có chứ !  Nếu tôi hỏi tiếp : Nỗi lo lắng nhất hôm nay là gì ? Chắc chắn các con sẽ trả lời : đó là hạnh phúc gia đình.
           Đúng, khi lập gia đình thì ai cũng muốn tìm đến hạnh phúc, hạnh phúc gia đình.  Hạnh phúc này ở trong tầm tay, nhưng nó cũng có thể vuột xa cánh tay của chúng ta.
           Hôm nay, Chúa cũng thông cảm với nỗi lo lắng của chúng con.  Chúng con hãy bình tình và tin tưởng vì Chúa đã nói :”Các con đừng sợ, vì sự khốn khó ngày nào đủ cho ngày ấy” (Mt 6,34)
           Chúa Giêsu cho biết :”Không có Thấy các con không thể làm chi được” (Ga 15,5) vì chúng ta yếu đuối.  Nhưng Ngài lại nói thêm :”Hãy xin thì sẽ được, hãy tìm thì sẽ thấy, hãy gõ thì sẽ mở cho” (Mt 11,9) với lòng tin tưởng vào lời Chúa phán ta có thể nói như thánh Phaolô :”Tôi có thể làm được mọi sự trong Đấng ban sức mạnh cho tôi” (Pl 4,13).
 
          KẾT LUẬN.
           Nỗi lo âu trước nhất của đôi bạn trẻ trước đây là :  
                                      Một mình lo bảy lo ba
                               Lo cau trổ muộn, lo già hết duyên.
                                               (Ca dao).

          Nỗi lo ấy hôm nay đã được giải tỏa, không còn lo già hết duyên nữa. Công việc chính lúc này và trong tương lai là lo sao cho có hạnh phúc gia đình.
          Hãy tin tưởng vào lời Chúa : Đừng sợ.
          Hãy cậy nhờ Chúa : Hãy xin thì sẽ được.

 Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt

 
 

HônPhối 84: XÂY  NhÀ

Tiêu chuẩn  để lựa chọn
 I. LỜI CHÚA.
           Hãy đọc và suy niệm Lời Chúa : Mt 7,21-27.
 

Chúa Giêsu đã nói “Ai yêu mến Thầy thì phải giữ lời Thầy” (x. Ga 15,10). Nghe và hiểu biết lời HônPhối 84

Chúa Giêsu đã nói “Ai yêu mến Thầy thì phải giữ lời Thầy” (x. Ga 15,10). Nghe và hiểu biết lời Ngài cũng chưa đủ, còn phải đem ra thực hành trong đời sống hằng ngày.  Chúa Giêsu ví người nghe và thực hành Lời Chúa như người khôn ngoan xây nhà trên nền đá vững chắc, gió táp mưa sa  cũng không làm cho ngôi nhà lay chuyển vì nhà được xây trên nền vững chắc.
           Trái lại, nghe lời Chúa mà không đem ra thực hành thì giống như người ngu chỉ xây nhà trên cát, nếu có mưa sao bão táp, nuớc ùa vào sẽ làm cho ngôi nhà bị đổ.
           Người đời ai cũng có kinh nghiệm về việc xây nhà : ngôi nhà càng cao nền càng phải vững chắc. Báo chí đã đưa tin là biết bao ngôi nhà tự nhiên bị đổ xuống đè chết nhiều người. Nguyên nhân từ đâu ? Người ta đều kết luận là nền không vững chắc vì bất cứ lý do nào.
           Khi kết hôn, người ta cũng dùng cụm từ quen thuộc : Xây dựng gia đình.  Xây dựng gia đình cũng như xây dựng một ngôi nhà cần phải có nền tảng vững chắc. Vậy nền tảng ấy là gì  ?
 
II. CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG.
           1. Xây dựng nhà cửa.
           Ngày nay, kinh tế phát triển, nhà cửa đang được mộc lên như nấm, rất đa dạng.  Có những vùng sình lầy đã trở thành những dẫy nhà cao tầng kiên cố và khang trang.  Khi xây nhà người ta phải để ý đến nền móng, làm sao cho vững chắc. Nền móng yếu sẽ làm cho ngôi nhà bị nghiêng hoặc bị đổ. Báo chí cho biết có những ngôi nhà 5, 7 tầng lầu bị nghiêng ở bên Thái lan, và siêu thị hay cửa hàng tổng hợp 4 tầng bên Nam hàn bị sập, đã chôn vùi hơn 400 người.
 
          2. Xây dựng gia đình.
           Khi xây dựng gia đình, người ta cũng phải để ý đến nền móng của nó.  Tòa nhà hôn nhân phải được xây dựng trên nền móng vững chắc hay yếu ơt ?  Hay nói khác đi, khi chọn người bạn trăm năm thì phải chọn theo tiêu chuẩn nào ?
           a) Trên nền không vững chắc.
           Người ta được tự do chọn người bạn trăm năm, không ai có quyền ép buộc nhưng họ phải nhận lấy hậu quả của việc lựa chọn ấy.  Nếu họ chỉ chọn bạn trăm năm dựa theo tiền tài, chức quyền, tài năng, sắc dục... thì họ xây tòa nhà hôn nhân trên cát vì những thứ ấy không vững chắc.  Nếu những thứ ấy biến đi, liệu tòa nhà hôn nhân có thể đứng vững được không ?  Hoặc ai có thể cứu vãn  cho ngôi nhàtrong tình thế nguy hiểm ấy ?
          Phải biết trước nhân tình thế thái : những lời thề hứa với nhau trong ngày thành hôn không bảo đảm cho họ một tương lai vững chắc. Khi xẩy ra một sự cố, khi những tính toán ban đầu không được thực hiện thì người ta có thể thẳng thừng mà nói với nhau như thế này :
                                       Bây giờ tiền hết gạo không,
                                      Anh ơi, ở lại mà trông lấy hòm.
                                      Bao giờ tiền có gạo còn,
                                      Thì tôi trở lại trông hòm cho anh
                                                  (Ca dao)

          Ông Meilman cũng nói :
                                       “Ái tình là một chứng bệnh có 3 giai đoạn :
                                        khát khao, chiếm đoạt và chê chán”.

           b) Trên nền vững chắc.
           Khi kết hôn, ta cũng theo gương cậu Tobia và cô Sara để chọn người yêu.  Trước một biến cố quan trọng của một đời người như vậy, hai cô cậu đã làm gì ?  Kinh thánh còn ghi rõ : hai cô cậu đã sốt sắng dâng lời cầu nguyện :              
           Giờ đây, lạy Chúa, Chúa biết rằng không phải vì mê sắc dục mà con nhận em con đây làm vợ, nhưng chỉ vì muốn có  một dòng dõi để nhờ đó danh Chúa được chúc tụng đến muôn thuở muôn đời” (Ttb 8,9).
          Cô Sara cũng nói :
              “Lạy Chúa, xin thương xót chúng con, xin thương xót chúng con, và cho vợ chồng chúng con cùng nhau sống an lành cho đến tuổi già” (Tb 8,10).
           Kết hôn là một chuyện dễ và rất nhanh chóng, nhưng sống trong cuộc đời hôn nhân mới là khó vì nó không kéo dài trong năm ba tháng mà phải kéo dài suốt cả cuộc đời cho đến khi một trong hai người không còn nữa.  Trong thời gian sống chung đó, có biết bao biến cố xẩy ra, vui cũng như buồn, thành công cũng như thất bại. Có những sự việc xẩy ra hoàn toàn không theo ý muốn. Những cơn sóng gió nổi lên làm chao đảo con thuyền hôn nhân đang dật dờ trên biển trần gian.  Như vậy, muốn xây dựng hôn nhân trên nền móng vững chắc thì cần phải có :
           * Đời sống đạo đức :
           Chính đời sống đạo đức là một bảo đảm cho đời sống hôn nhân , vì nhờ đó, vợ chồng biết yêu thương nhau, nhường nhịn nhau, yêu nhau chín bổ làm mười. Những khi khó khăn họ biết chạy đến Chúa kêu xin Người cứu chữa để họ giải quyết mọi việc một cách êm thắm. Do đó, người đời mới có câu tục ngữ  rất chính xác và đầy kinh nghiệm :
                                       Cái nết đánh chết cái đẹp.
            Ông Feuerzinger cũng nói : “Chẳng có gì ghê tởm bằng người đàn bà nhan săc mà không có đức hạnh”.
           * Tính tình tốt :
           Người đời cũng có nhiều kinh nghiệm về cuộc sống hôn nhân : Hạnh phúc hôn nhân dựa trên cái gì ? Người ta không bảo là phải dựa trên tiền tài, danh vọng hay chức quyền mà phải dựa trên một con người có tình tình tốt lành,  như câu ca dao dưới đây chứng minh :
                                       Chẳng tham ruộng cả ao sâu,
                                      Tham vì anh tú rậm râu mà hiền.
                                                  (Ca dao)

Hoàng đế Napoléon đệ nhất cũng nói :
                                      “Một người đàn bà đẹp làm thỏa mắt,
                                      Một người đàn bà tốt làm đẹp lòng :
                                      Một đàng là một thứ trang sức,
                                      Một đàng là một kho tàng”.

          Vậy người khôn ngoan xây nhà thì phải xây trên cái gì đây : họ nên chọn đồ trang sức hay kho tàng ?
 
         KẾT LUẬN.
           Muốn chọn người bạn trăm năm phải theo tiêu chuẩn : đứng về phương diện tôn giáo , chọn được một người có đời sống đạo đức thì tốt nhất, vì với ơn Chúa, đời sống của họ có thể bảo đảm cho hạnh phúc hôn nhân, hay ít ra phải chọn một người có một tính tình tốt lành như người đời hằng mong ước.
         Tốt nhất nên chọn người nào biết thi hành lời Chúa :
                  “Anh em là muối cho đời” (Mt 5,13)
                  “Anh em là anh sáng cho trần gian” (Mt 5,14).
Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt


 

HônPhối 85: CÓ  NHAU

         Câu truyện mở đầu.
 

Gần nửa đêm 15.04.1912, chiếc tầu Titanic của hãng White Star (Anh quốc), một con tầu tối tân, HônPhối 85

Gần nửa đêm 15.04.1912, chiếc tầu Titanic của hãng White Star (Anh quốc), một con tầu tối tân, sang trọng và vĩ đại nhất thế giới thời đó, trong chuyến du hành đầu tiên từ Anh sang Mỹ, đã va phải băng sơn và chìm sâu 4000 mét dưới lòng đại dương.
                   Tầu Titanic chứa 1524 hành khách và một thủy thủ đoàn gồm 700 người. Khi tai nạn xẩy ra, người ta khẩn cấp hạ các thuyền cấp cứu xuống và chỉ dành ưu tiên cho đàn bà và con trẻ, bất cứ một người đàn ông nào tranh giành sẽ bị bắn bỏ.
           Người ta không quên nhắc tới một bà chủ tiệm buôn lớn ở New York luôn đứng nép bên chồng, bà nhường quyền ưu tiên cho các chị em khác. Khi tới lượt bà, bà không muốn chia lìa chồng trong lúc nguy cấp này, dù ông luôn đẩy bà tới. “Sống chết có nhau”. đó là châm ngôn của bà.
          Vì số thuyền cứu hộ chỉ đủ chỗ cho 700 người, cặp vợ chồng này đã chung phận với số còn lại (1500) cùng chết chìm với con tầu sau 4 giờ hấp hối.
 
I. MỘT XƯƠNG MỘT THỊT.
           Sở dĩ người đàn bà này luôn khăng khít với chồng, sống chết có nhau vì bà đã nhớ tới lời Chúa đã phán trong sách Sáng thế :
 “Lúc khởi đầu công trình tạo dựng, Thiên Chúa đã làm nên con người có nam có nữ; vì thế người đàn ông sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai sẽ thành một xương một thịt. Như vậy, họ không còn là hai nhưng chỉ là một xương một thịt” (St 10,6-8).
 
II. BÊN NHAU.
           Qua câu chuyện trên, ta phân biệt : không được cố ý chết theo nhau vì Chúa mới là chủ mạng sống, không ai được tự ý hủy hoại mạng sống mình , nhưng sẵn sàng hy sinh vì nhau, sẵn sàng chấp nhận những hiểm nguy, kể cả cái chết xẩy đến ngoài ý muốn, thì đó là tình yêu lớn lao và cao cả như Chúa dạy: Không có tình yêu nào lớn hơn là tình yêu của kẻ dám thí mạng sống vì người mình yêu: (Ga 15,16).
           Chúng ta cũng đã có gương thánh Maximianô Kolbê. Trong trại tập trung của Đức quốc xã, mười tù nhân phải chết thay cho một tù nhân khác đã vượt ngục. Trong số mười tù nhân này phải đem đi xử bắn, có một trung úy trẻ tuổi khóc lóc thảm thiết vì nhớ đến số phận người vợ trẻ và mấy đức con thân yêu đã khóc lóc nức nở. Trước cảnh tượng thương tâm đó, cha Maximilianô Kolbê đã xin chết thay cho anh trung úy này.  Ngai đã chết thay cho người khác. Ngày này Hội thánh đã đặt ngài trên bàn thờ cho chúng ta chiêm ngắm đức hy sinh của Ngài. Lời Chúa ở trên đã được thực hiện triệt để nơi thánh nhân.
 
III. MỌI NƠI MỌI LÚC.
           Chia sẻ với nhau những lúc thịnh vượng mạnh khỏe thì rất dễ, nhưng chia sẻ khi bĩ cực, khi tàn phế thì rất khó, nhất là lâu ngày lâu tháng hoặc chẳng còn hy vọng thoát khỏi cảnh bi đát, thì phải có một ý chí kiên cường mới có thể trung thành yêu thương phục vụ nhau.  Trong cuộc sống hằng ngày, ta đã được chứng kiến những cảnh gia đình tàn tật, chồng hoặc vợ kiên trì nuôi sống nhau, nâng đỡ nhau, trung thành với nhau cho đến hơi thở cuối cùng.  Nhưng cũng không thiếu những cảnh trớ trêu của nhân tình thế thái, người ta nói mỉa mai :
                                       Khi vui thì vỗ tay vào,
                                 Đến khi hoạn nạn thì nào thấy ai ?
                                                (Ca dao)


IV. PHẢI ĐỀ PHÒNG.
           Đôi bạn trẻ lấy nhau thì chỉ nghĩ đến vẻ đẹp, vẻ hấp dẫn của đời hôn nhân, chỉ nghĩ đến bông hoa hồng đầy hương sắc mà ít khi nghĩ đến những chiếc gai nhọn sẵn sàng đâm vào tay vì hoa hồng nào mà chẳng có gai ?
           Các bạn trẻ nghĩ thế nào về câu nói của nhà hiền triết Hy lạp, ông Socccrates: 
          ‘Những thanh niên đi tìm hôn nhân có khác nào những con cá đậu trước đầu lờ... Tất cả đều
          hăm hở mà chui vào, trong khi đó không biết bao nhiêu kẻ đang vẫy vùng một cách tuyệt vọng để thoát ra”?
           Ca dao Việt nam cũng có một câu tương tự như thế chứng tỏ tư tưởng của Đông Tây đều gặp nhau trên phương diện này :
                                      Cá trong lờ đỏ lơ con mắt,
                                      Cá ngoài lờ ngúc ngắc muốn vô,
                                      Đời vợ chồng sớm nắng chiều mưa.
                                                (Ca dao).

           Có khi nào các bạn nghĩ đến những trắc trở trong gia đình, những cảnh éo le khó giải quyết, khi xẩy ra cảnh “Cơm chẳng lành, canh chẳng ngọt” không, để rồi bị cám dỗ giải quyết một cách dại dột, đáng trách :
                                       Xin chia tay ! và nếu là mãi mãi
                                      Thêm một lần, xin mãi mãi chia tay.
                                                   (Huy Thông)


V. HẠ QUYẾT TÂM.
           Phải nhắc đi nhắc lại lời hứa khi cử hành bí tích hôn phối :”Và hứa sẽ giữ lòng chung thủy với nhau khi thịnh vượng cũng như lúc gian nan, khi bệnh hoạn cũng như lúc mạnh khoỏe, để yêu thương và tôn trọnh nhau suốt đời mình”. Phải coi vợ chồng như hình với bóng, không bao giờ được chia lìa nhau bất cứ vì lý do gì :
                                       Đi đâu cho thiếp đi cùng,
                             Đói no thiếp chịu, lạnh lùng thiếp cam.
                                                (Ca dao)

           Trong đời hôn nhân, cần phải có tình yêu vì “Hôn nhân không có tình yêu là một ngày thiếu rạng đông” (Alphhonse Karr), nhưng tình yêu cũng phải trả bằng giá đắt :”Tình yêu đòi hỏi ở chúng ta nhiều chịu đựng gian lao và thử thách” (Thomas Champion).
 
          KẾT LUẬN.
           Lý tưởng thì rất đẹp, nhưng sống theo lý tưởng không luôn dễ. Do đó, ta cần có sự trợ lực của Chúa qua bí tích Hôn nhân mà đôi bạn trẻ đã sốt sắng chuẩn bị kỹ lưỡng ; đồng thời phải sống bí tích này qua cuộc sống chung và qua lời cầu nguyện chung, riêng trong gia đình hằng ngày.
“Ai tin tưởng vào Chúa sẽ không hề thất vọng” (Tv 24,3).
Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt

 
 

HônPhối 86: LỰA  CHỌN

I. CON NGƯỜI PHẢI LỰA CHỌN.
          Chúng ta đọc : Lc 6,12-19 ; Mt 10,1-4 ; Mc 3,13-19.
 

Trong việc kết hôn, ngày xưa ta thường được nghe câu : cha mẹ đặt đâu, con ngồi đấy. Cha mẹ HônPhối 86

Trong việc kết hôn, ngày xưa ta thường được nghe câu : cha mẹ đặt đâu, con ngồi đấy. Cha mẹ có quyền định đoạt số phận cho con cái, mọi người chỉ việc vâng theo.  Ngày nay, trên nguyên tắc không còn sự quyết định độc đoán của cha mẹ nữa, mà con cái có quyền tìm hiểu, lựa chọn và quyết định lấy vận mệnh của mình.
           Trong cuộc sống, mỗi người có ơn gọi và có quyền đáp trả hay từ chối ơn gọi ấy. Đó là điều làm cho nhiều người phải thao thức, băn khoăn, lo lắng trước quyết định ấy.
          . Tổ tông Adong Evà được quyền tự do vâng lời hay phản lại Chúa trong việc ăn trái cấm.
          . Đức Maria có quyền tự do chấp nhận hay từ chối lời mời gọi làm Mẹ Đấng Cứu thế.
          . Các người chài lưới có quyền theo Chúa Giêsu làm tông đồ hay từ chối lời mời gọi ấy.
          . Đức Giêsu có quyền ưng thuận hay từ chối uống chén đắng mà Cha Ngài trao cho.
 
II. LỰA CHỌN TRONG HÔN NHÂN.
           Hôn nhân không phải là kết quả của một sự ngẫu nhiên, của các năng lực vô ý thức mà là kết quả của một sự lựa chọn sáng suốt và đầy ưu tư..
           Lựa chọn có hai yếu tố đi liền nhau : lựa và chọn.  Lựa mới là phân ra từng loại, từng cái một để so sánh. Còn chọn mới là quyết định nhận hay không nhận, nhận cái này hay cái kia, hay chọn một trong nhiều cái. Ví dụ :
                                       Ở chọn nơi, chơi chọn bạn.
         hoặc :
                                      Chê thằng một chai, lấy thằng hai lọ.
           Sống là lựa chọn mà lựa chọn trong hôn nhân là một điều vô cùng hệ trọng vì nó ảnh hưởng đến cả cuộc đời của mình, hôn nhân luôn bền chặt, không thể thay đổi như thay áo “Sự gì Thiên Chúa đã kết hợp, loài người không được phân ly”.  Việc lựa chọn này do mình quyết định lấy, không ai có thể thay thế được.
           Vậy trước khi kết hôn phải quyết định xem mình lựa chọn cuộc sống độc thân hay cuộc sống gia đình, lấy người này hay người khác. Sự quyết định này không thể đảo ngược được.
           Người Việt nam ta đưa ra một số câu tục ngữ để khuyên đôi trai gái phải lựa chọn trước khi kết hôn :
                             . Lấy vợ xem tông, lấy chồng  xem giống.
                             . Mua trâu xem vó, lấy vợ xem nòi.
                             . Mua heo chọn nái, mua gái lựa dòng.
                             . Mua thịt thì chọn miếng mông,
                               Lấy chồng thì chọn con tông nhà nòi.
                             . Đừng tham da trắng tóc dài,
                               Đến khi nhỡ bữa chẳng mài mà ăn.

          Hay một câu danh ngôn :
                    “Kén vợ bằng tai hơn bằng mắt” (Cervantes)
                    “Biết bao nhiêu đàn ông chỉ yêu cái má lún đồng tiền
                      mà dại dột cưới nguyên một cô gái”
                                                          (S. Leacock)

 
III. ĐẶC TÍNH CỦA SỰ LỰA CHỌN.
           1. Tự do.
          Thiên Chúa luôn tôn trọng tự do của con người. Ngài không bắt buộc ai phải lập gia đình, hay bắt sống độc thân, đi tu hay sống ngoài đời.  Chúa chỉ mời gọi và ta có quyền tự do đáp trả : nhận hay từ chối như trường hợp của Đức Maria nhận lời làm Mẹ Đấng Cứu thế, hay Chúa Giêsu vâng theo ý Chúa Cha để nhận chén đắng.  Đặc biệt trong hôn nhân, sự tự do là điều kiện tất yếu, thiếu nó thì hôn nhân sẽ không thành sự.
          Vì thế, trước khi cử hành bí tích hôn phối, Linh mục đã hỏi đôi bạn trẻ trước mặt cộng đoàn
          - Anh X và chị Y, anh chị sắp kết hôn với nhau, anh chị có thực sự tự do, hay là bị ép buộc?
          Cô dâu chú rể lần luợt trả lời :
          - Thưa, thật sự tự do.
 
2. Lo lắng.
Quyết định đi đến hôn nhân là quyết định dứt khoát cho một sự lựa chọn. Mà lựa chọn thì trước hết có nghĩa là chấp nhận.  Chúng ta phải chấp nhận người bạn đời với tất cả sở trường và sở đoản.  Bởi vì nhân vô thập toàn, ai cũng có những khuyết điểm của mình. Chúng ta sẽ không bao giờ tìm thấy được người yêu lý tưởng, đủ mọi tiêu chuẩn mà chúng ta đưa ra trên cõi đời này. 
Vì thế, ai cũng lo :
                   Thân em như giếng bên đàng,
                   Người khôn rửa mặt, người quàng rửa chân.

          hoặc :
                   Lênh đênh một chiếc thuyền tình,
                   Mười hai bến nước biết gửi mình về đâu.

 
                   Truyện vui : Sao anh không cưới ?
          Tử Lý Lắc tâm sự với một người bạn :
          - Tôi đã nguyện với lòng chỉ cưới vợ khi gặp người thiếu nữ lý tưởng.
          - Anh chưa tìm ra à ?
          - May quá, tôi đã gặp được người ấy.
          - Ô, sao anh không cưới liền tay đi ?
          - Cưới gì ? Cô ta cũng đang tìm một người đàn ông lý tưởng mà người đó lại không giống tôi, nên cô ta từ chối. (Giai phẩm EM).
 
          3. Liều.
          Ngày nay người ta nói nhiều đến dấn thân. Dấn thân, nhập cuộc là thân phận của con người. Sống là lựa chọn. Mà lựa chọn là liều lĩnh vì không bao giờ ta nắm được một cách rành rọt như 2 với 2 là 4 tất cả những lý do lựa chọn và những điều tương lai có thể dành cho sự lựa chọn của ta. Nhưng không phải vì thế mà ta không dám liều mình. Khi đã dùng trí khôn để suy nghĩ, cân nhắc như ta có thể rồi, ta có quyền bước tới.
           Có những định hướng lựa chọn cho cả cuộc đời. Sự liều lĩnh lại còn lớn hơn.  Chọn một nghề nghiệp nhiều khi cũng rất quan trọng nhưng người ta có thể thay đổi mà không ảnh hưởng sâu xa tới đời sống. Còn chọn một người bạn trăm năm thì gần như là chọn chính đời sống của mình. Đó là những chọn lựa căn bản, sẽ chi phối những chọn lựa riêng rẽ khác về sau.

           4. Đau khổ.
                   a) Chọn lựa là từ bỏ.
          Chọn lựa còn có nghĩa là từ bỏ. Từ bỏ bao giờ cũng gây đau khổ. Chúng ta phải từ bỏ những cuộc giao du, những cuộc gặp gỡ hay những cuộc tiếp xúc khả dĩ làm sứt mẻ, rạn vỡ tình yêu của chúng ta. Đó là trong hiện tại, còn trong dĩ vãng thì làm sao ?
 
          Chúng ta cũng phải từ bỏ những hình ảnh, những kỷ niệm của một ngày xưa, cho dù đó là một ngày xưa “hoàng thị”, một ngày xưa đằm thắm, với những rạo rực của môt thuở mới lớn, với những mộng mơ của những cuộc tình đầu.  Nếu chúng ta cứ để cho dĩ vãng ám ảnh, và nhất là nếu chúng ta  cứ luôn so sánh hiện tại với dĩ vãng, thì chắc chắn tình yêu của chúng ta sẽ bị giảm sút nghiêm trọng. Và biết đâu, đó cũng là một cách chúng ta ngoại tình trong tư tưởng rồi vậy.
 
          b) Chọn lựa có thể sai lầm.
           Ai dám nói mình chọn lựa đúng, chắc chắn 100% ? Chọn lựa nào cũng có thể sai lầm.
          Có cái lầm lớn, có cái lầm nhỏ.
          Có cái lầm có thể sửa đổi được ví dụ nghề nghiệp,
          Có cái lầm không thể sửa đổi được, ví dụ : kết hôn.
          Ta phải gánh chịu mọi hậu quả tốt hay xấu  của sự lựa chọn này. Vì thế ông Frankin nói :
                   “Trước khi kết hôn hãy mở mắt ra,
                   “Sau khi kết hôn, hãy nhắm mắt lại”.
                             (B Franklin)

 
          KẾT LUẬN.
           Tương lai nằm trong tay Chúa và trong quyết chí của chúng ta.
          Có một câu danh ngôn khá quen thuộc :
                   “Trước khi ra trận thì cầu nguyện một lần,
                   trước khi vượt biển thì cầu nguyện hai lần,
                   còn trước khi lập gia đình thì phải cầu nguyện ba lần”.

          Cầu nguyện để xin ơn Chúa nâng đỡ, để được an tâm và có quyết định sáng suốt, để có sức mạnh vượt thắng những cám dỗ về những “sự cố” có thể xẩy ra ở giai đoạn tiền hôn nhân.
 Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt

                            
 

HônPhối 87: THỬ THÁCH

 I. LỜI HỨA HÔN.
 

Trong lễ nghi hôn phối, hai người đã tự nguyện chọn nhau làm vợ làm chồng và hứa sẽ giữ HônPhối 87

Trong lễ nghi hôn phối, hai người đã tự nguyện chọn nhau làm vợ làm chồng và hứa sẽ giữ lòng chung thủy với nhau khi thịnh vượng cũng như lúc gian nan, khi bệnh hoạn cũng như lúc mạnh khỏe để yêu thương và tôn trọng nhau suốt đời mình.   Tuy đã hứa với nhau một cách danh dự trước mặt Thiên Chúa và Hội thánh, nhưng lời hứa ấy còn phải được thử thách trong đời sống hôn nhân, chỉ những ai bền đỗ đến cùng mới được hạnh phúc.
           Sở dĩ như vậy là vì vợ chồng vốn rất khác biệt nhau về nhiều mặt : cơ bản nhất là giới tính, sau là về tính cách, tính tình, sở thích, kỳ vọng, thói quen, lối sống, nền tảng giáo dục, học vấn, nghề nghiệp... Bản thân mỗi con người là một cá thể đặc thù, một tiểu vũ trụ (miccro-cosmos), một thế giới nhân cách riêng hẳn. Nay phải hòa hợp lại trong cùng một môi trường sống, cùng chia sẻ hoàn cảnh, trách nhiệm chung, cùng ăn đời ở kiếp để đồng cam cộng khổ với nhau trong đời sống hôn nhân gia đình. Quá trình sống chung đó rất dễ dàng xẩy ra những bất đồng, xung đột và mâu thuẫn.  Một khi mối bất hoà không được giải quyết rốt ráo, thỏa đáng, tất sẽ ddẫn đến ly biệt !...
 
II. THỬ THÁCH TRONG ĐỜI SỐNG HÔN NHÂN.
           Tại sao trong đời sống hôn nhân chưa được bao lâu mà nửa đường đã rã gánh ? Có nhiều gia đình đã đi đến chỗ tan vỡ ?  Có nhiều lý do, hôm nay chúng ta chỉ đưa ra hai lý do
           1. Kết hôn quá sớm, quá vội.
           Ngày xưa,  các cụ ta có tục tảo hôn, con cái còn nhỏ mà đã cho kết hôn, thậm chí những đứa trẻ mới có năm ba tuổi đã kết hôn rồi. Việc kết hôn này là do cha mẹ hai bên hoàn toàn quyết định, con cái phải vâng theo, không được ý kiến theo phương châm “cha mẹ đặt đâu, con ngồi đấy”, vì thế mới có cảnh trớ trêu cười ra nước mắt :
                                   Bồng bồng cõng chồng đi chơi,
                                   Đến ngay chỗ lội đánh rơi mất chồng.
                                                (Ca dao)

           Ngày nay, xã hội tiến bộ hơn, những hủ tục ấy không còn nữa, đã bị đẩy lùi vào quá khứ rồi, nhưng việc kết hôn vội vàng vẫn còn phổ biến.                
         Nhiều lúc hai anh chị gặp nhau thấy có một điểm gì hấp dẫn là yêu nhau ngay, yêu nhau say đắm, đôi khi nổ ra một tiếng sét ái tình làm cho họ choáng váng, không cần tìm hiểu nhau, muốn kết hôn với nhau ngay, một vài trường hợp xẩy ra là họ mới quen biết nhau có một tuần là đã tổ chức đám cưới ngay. Đôi khi đôi bạn trẻ còn quá trẻ, chưa đến tuổi trưởng thành, chưa hiểu biết gì về đời sống đôi bạn, khi gặp khó khăn trong gia đình, họ đành đi đến chỗ “tan đàn xẻ nghé”
             Khi mới quen nhau, người ta chưa tìm ra dược cái sở trường sở đoản, cái tốt cái xấu của nhau, chỉ suy nghĩ một chiều : mọi cái là tốt hết, nhưng khi nhìn vào thực tế thì thất vọng. Đúng như  người ta nói :”Người ta lấy nhau vì những đức tính mà người ta không có, rồi người ta cũng bỏ nhau vì những nết xấu mà người ta không có”.  Nằm trong chăn mới biết là chăn có rận, khi nhận ra nết xấu của nhau, người ta bắt đầu khinh nhau, coi nhau không ra cái gì cả :
                                       Ngày xưa, em coi anh như giàn thiên lý
                                      Bây giờ, em coi anh như khỉ leo cây .

 
          2. Chưa thấy trước những khó khăn.
           Có những chuyện xem ra là nhỏ nhặt trong gia đình, nhưng thực sự lại không nhỏ, nó cũng giống như những lỗ nhỏ có thể làm đắm thuyền hay hạt cát có thể làm đau bàn chân.  Các bạn trẻ chưa có kinh nghiệm thì chưa nhìn ra những cái đó.
           Luật sư Edward Kaufman, trong cuốn “Làm sao giữ tình yêu của chồng” đã viết :”Nghiên cứu các hồ sơ ly dị, tôi thấy rõ rằng có những bất hoà bề ngoài tưởng như không đáng kể, những sự xung đột rất nhỏ, cơ hồ không thấy được, nếu xẩy ra thường, thành một thứ bệnh kinh niên, như những giọt nước rỉ ở vòi nước xuống, thì có thể làm nền tảng của hôn nhân sụp đổ... có những chuyện hiểu lầm nhau nho nhỏ có thể làm cho thần kinh của hai vợ chồng suy mòn đi, như bị trúng lạnh sơ sài, không chịu chữa ngay, có thể thành ra sưng phổi”.
           Trong gia đình, những chuyện bất đồng nhỏ, vụn vặt giữa hai vợ chồng, giữa cha mẹ và con cái, hoặc giữa cánh nam giới (bố-con trai) và cánh nữ giới (mẹ-con gái) có thể xẩy ra thường ngày như cơm bữa.  Xét một cách tổng quát, đó là chuyện thường tình, bới vì “Chén bát còn có lúc xô xát, huống chi vợ chồng” (Tục ngữ). Nhưng trong nhiều gia đình và trong nhiều tình huống đặc biệt, chuyện nhỏ lại không “nhỏ” chút nào. Biết vậy, nên có người đã khuyên :”Bí quyết lớn nhất làm cho các cuộc hôn nhân thành công là coi tất cả các tai hoạ là chuyện nhỏ và không bao giờ biến chuyện nhỏ thành tai hoạ” (Harold Nichlson).
 
          * Khi yêu, lúc ghét :
          Đôi bạn trẻ phải hiểu rằng tình yêu không thể lúc nào cũng ở vào cao điểm, có lúc xuống đáy.  Những lúc tình yêu xuống đến đáy thì người ta sẽ ra sao ?  Đây là kinh nghiệm cay đắng của các chị :
                                   Còn duyên anh cưới ba heo,
                                   Hết duyên anh đánh ba hèo đuổi đi.
                                                (Ca dao)

          * Đời sống lên xuống :
          Có những anh chị, ở những tình yêu dâng cao tột đỉnh, nghĩ rằng đời sống lứa đôi ắt phải luôn ngập tràn hạnh phúc. Nhưng khi bước vào đời hôn nhân, thấy cuộc sống thực tế đã không điểm tô toàn mầu hồng như ước mơ thuở ban đầu, thì sinh chán nản và nhen nhúm tư tưởng “nửa đường đứt gánh” :
                                       Anh đi đường anh,
                                      Tôi đi đường tôi,
                                      Tình nghĩa đôi ta có thế thôi
                                                (Thế Lữ)

 
          * Mộ hình ảnh đẹp.
          Cuộc sống của con người, đặc biệt của lứa đôi, phải nói là giống hệt như biển cả.  Biển bình minh,  ôi nên thơ biết mấy ! Một mầu xanh biếc và phẳng lặng như tờ, ánh dương như tận đáy vươn lên, rực rỡ biết bao ! Đó là thơi kỳ trăng mật và những ngày sau lễ cưới.
           Nhưng rồi trưa đến hay lúc chiều về, mặt biển ọp ẹp nổi sóng  đưa theo những “rác rến từ đâu” vào bờ.  Đó là những bất đồng hay bực bội nho nhỏ vào những tháng, những năm sau tuần trăng mật !
           Chưa hết, một ngày nào đó bỗng giông tố nổi lên, sóng bạc đầu dâng cao, nhận chìm thuyền bè, gây tan hoang chết chóc...! Đó là lúc vợ chồng giận hờn, chửi bới, đánh đập nhau sứt trán bể đầu... Nhưng qua bão tố trời lại thanh quang. Biển lại bình minh, rồi lại trưa đến, chiều về : chỉ cầu mong sao đừng bão tố nữa.
           Đấy là một cuộc sống đời thường ! Một cuộc sống đời thường thì phải có bình minh tươi đẹp,  phải có trưa, có chiều sóng vỗ và có khi có thể có cả sóng bạc đầu.
           Vì thế, anh chị phải nhìn nhận ra thực tế của đời sống hôn nhân, không ai có thể tránh được, chỉ có một con đường duy nhất là sẵn sàng chấp nhận thực tế và đón nhận hậu quả dù tốt hay xấu.
 
                             Truyện : Socrate và đệ tử.
          Một đệ tử của ông Socrate hỏi :
          - Thưa thầy, con có nên lấy vợ không ?
          Ông đã trả lời :
          - Dù làm thế nào con cũng hối hận.
          Ý ông muốn nói rằng : dù lấy vợ hay không lấy vợ, cách nào cũng có cái bất tiện của nó. Lấy vợ cũng khổ mà không lấy vợ cũng kẹt. Cũng trong tư tưởng này mà ông Socrate nói :”Những thanh niên đi tìm hôn nhân có khác nào những con cá đậu trước đầu lờ... Tất cả đều hăm hở mà chui vào, trong khi đó không biết bao nhiêu kẻ  đang vùng vẫy một cách tuyệt vọng để thoát ra”.
          Vì thế, người ta mới ví von một cách hài hước :
                                       Hôn nhân là chiếc lồng son,
                             Người ngoài muốn nhập, người trong muốn chuồn..

 
          KẾT LUẬN
           Phải có những cái nhìn thực tế trước những khó khăn của đời sống hôn nhân để khỏi bị chao đảo, hụt hẫng trước thực tế phũ phàng.
          Hãy làm mới lại tình yêu thuở ban đầu như người ta nói :
                             Hãy rửa tội cho tình yêu mỗi buổi sáng
                             Và hãy kết hôn lại mỗi ngày.

 Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt


 

HônPhối 88: NHÀM  CHÁN

I. DÂY HÔN PHỐI.
          Xin đọc : St 2,18-24   và Mc 10,6-9)
 

Thiên Chúa phán :”Con người ở một mình thì không tốt, Ta sẽ làm cho nó một trợ tá tương xứng HônPhối 88

Thiên Chúa phán :”Con người ở một mình thì không tốt, Ta sẽ làm cho nó một trợ tá tương xứng với nó” (St 2,18).
          Thiên Chúa cũng tạo nên một người nữ và trao cho con người. Và con người nói :”Phen này, đây là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi.  Nàng sẽ được gọi là đàn bà vì đã được rút từ đàn ông ra”.  Bởi thế, người đàn ông lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình và cả hai thành một xương một thịt” (St 2,23-24).
          Đây là cuộc hôn phối đầu tiên giữa Ađam và Evà, một cuộc hôn phối tốt đẹp, hoàn hảo và hợp với ý Chúa. Chúa muốn cho họ yêu thương và khăng khít với nhau để cả hai thành một tinh thần, một thể xác.
          Đức Giêsu cũng nói về vấn đề này :”Sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly” (Mc 10,9).
          Cuộc hôn nhân đầu tiên và kiểu mẫu đẹp như thế, nhưng những cuộc hôn nhân sau này của con cháu ông bà có được như thế không hay đã bị lệch lạc, rồi đi đến sự tan vỡ ?
 
II. KẺ THÙ CỦA HÔN PHỐI : NHÀM CHÁN.
           1. Ba cuộc khủng hoảng.
           Trong cuộc sống hôn nhân, người ta thường gặp một trong ba cuộc khủng hoảng sau đây, nếu tránh được thì đó là ơn Chúa ban cách riêng.  Người ta tạm chia thành ba thời kỳ :
                   a) Khủng hoảng vỡ mộng.
                   b) Khủng hoảng nhàm chán.
                   c) Khủng hoảng hồi xuân.

           Có người đặt ra câu hỏi : “Cuộc sống gia đình có buồn tẻ nhàm chán không”? Câu trả lời sẽ khác nhau :
          - Người chưa có gia đình : không.
          - Người đã có gia đình : có.

          Có lẽ người đã có gia đình có lý hơn vì họ đã có kinh nghiệm như Thi sĩ Nguễn Du đã nói:
                             Đoạn trường ai có qua cầu mới hay.
 
          2. Thủ phạm của hạnh phúc hôn nhân.
           Trong đời sống hôn nhân, bất cứ cuộc chia ly nào cũng phải có ba thủ phạm nhúng tay vào
                   a) Người đàn ông.
                   b) Người đàn bà.
                   c) Sự nhàm chán.

           Có những lý do đưa đến việc gia đình ta vỡ như lý do kinh thế, xã hội hoặc tâm lý, đạo đức.  Có một nguyên nhân khác xem ra có vẻ  “chìm” nhưng lại rất  “nổi”, đã từng gây sóng gió trong nhiều cặp vợ chồng. Đó là sự NHÀM CHÁN, nhạt nhẽo và cũ kỹ trong mối tình vốn trước đó đã một thời tươi thắm nồng nàn và đầy quyến rũ !
           Ta thử nghe lời bộc bạch của một thành viên trong một buổi sinh hoạt các gia đình trẻ thuộc Câu lạc bộ Gia đình hạnh phúc quận Tân bình, TPHCM. Bà kể rằng gia đình bà suýt nữa phải “tan đàn xẻ nghé” chỉ vì sau khi có con, bà đã dồn hết tình thương và sự quan tâm tới con, mà bỏ bê chăm sóc tới bản thân mình và ít quan tâm tới chồng. Khi thấy hình như chồng bà hướng sự chú ý sang một người phụ nữ khác, bà mới giật mình tỉnh ngộ. Theo bà này, muốn bảo vệ hạnh phúc gia đình thì cả hai vợ chồng đều phải biết “làm mới” mối quan hệ của họ trong cuộc sống chung bằng việc quan tâm, chăm sóc lẫn nhau.
                   (Theo An Khánh, báo NLĐ ngày 28.12.2002)
           Khi một trong hai người không còn “quyến rũ” nhau nữa thì việc gì đến sẽ phải đến. Từ thái dộ xa cách, lạnh nhạt đến nhàm chán, bực bội (nhiều khi chỉ là những lý do rất tầm thường) , rồi tiếp sau, đó là sự ngờ vực, nghi kỵ “chuyện bồ bịch ngoại tình” này nọ. Lúc bấy giờ vấn đề ly hôn chỉ là vấn đề của thời gian mà thôi.
           Chúng ta lại có một chứng từ khác.  Khi đặt câu hỏi :”Cuộc sống hôn nhân có buồn tẻ không” ? Các cô cậu sinh viên, học sinh... trong Câu lạc bộ tiền hôn nhân quận 5, tròn mắt :”Ơ, sao lại buồn tẻ, còn gì sung sướng bằng luôn được sống bên cạnh người mình yêu”.
          Thế nhưng các ông chồng, bà vợ hay lui tới các trung tâm tư vấn, lại than :”Ngày nào cũng đi làm về, trò chuyện vài câu, lặp lại các thói quen sinh hoạt hằng ngày, 1001 ngày yêu đương, sẽ đem lại 1000 ngày bớt mới mẻ hơn so với ngày đầu . Một ngày như mọi ngày” – cũ mèm.
          Tôi đặt câu hỏi khác :”Bạn hiểu thế nào về gia đình” ?  Những người độc thân đang yêu rất phấn khởi trả lời :”Đó là nơi thăng hoa tình yêu, là chốn thư giãn, nghỉ ngơi”.
          Còn những “con chim trong lồng” lại hót :”Gia đình là nơi sinh con cái, lo toan và giải quyết xung đột”.
          Những người có kinh nghiệm sống đều cho rằng  câu trả lời sau thực tế hơn nhiều.
                             (Trường Sơn, Kiến thức gia đình, số 105, tr 18-19)
           Người ta nói :”Tình yêu bị chết đi do sự nhàm chán vì người yêu bị chôn vùi bởi sự lãng quên” . Không nhàm chán sao được khi mà lúc nào cũng phải tiếp xúc với con người ấy, với tính tình ấy, với cách xử sự ấy và cuộc sống dần dần trở nên như cái máy.
          Có lẽ vì vậy mà ông Chamfort có lý khi ông nói :”Hôn nhân là mồ chôn tình yêu”.
 
          3. Đổi mới cuộc sống hôn nhân.
           Ta có thể ví hôn nhân như chiếc đàn guitare.  Tôi thấy lúc đầu lễ, các chú ca đoàn lên dây đàn trước khi chơi. Nếu có ai hỏi tại sao lần nào cũng phải làm như vậy ? Các chú sẽ trả lời : Cây đàn để lâu đã xuống dây, phải lên dây cho căng thì chơi mới đúng cung. Nếu không lên dây cho đúng, người ta sẽ gọi là cây đàn ngang cung, ai nghe được ?
           Gia đình cũng thế. Vợ chồng ở với nhau riết rồi cũng có lúc cảm thấy nhàm chán, không ai có thể thoát được.
          Đây là kinh nghiệm của nhà thơ ngụ ngôn Pháp, ông Lafontaine khi ông nói :
                   Nơi bạn, tất cả đều tha thứ, bỏ qua.
                   Nơi tình nhân, tất cả đều hài lòng, hoàn hảo.
                   Nơi vợ chồng, tất cả đều nhàm chán, mệt mỏi.

          Vì thế, yêu cũng là một nghệ thuật mà đã là một nghệ thuật thì cần phải trau dồi mãi để cho nó luôn vui tươi hấp dẫn.
 
III. BIỆN PHÁP GIẢI TỎA NHÀM CHÁN.
           1. Giải pháp tự nhiên.
           Người ta đưa ra một số biện pháp để giải toả sự nhàm chán, đại khái như :
                   a) Cãi nhau  ! Đây không phải là giải pháp vì nó không giảm bớt nhàm chán mà chỉ tạo thêm căng thẳng, đấy chỉ là hậu quả của sự nhàm chán.
                   b) Làm lại cuộc trăng mật, vợ chồng tạm gác mọi công việc, dành một thời gian để hai vợ chồng ở bên nhau, làm mới lại mối tình xưa.
                   c) Đi du lịch cũng là dịp thư giãn, vợ chồng cũng có dịp ở gần nhau, chuyện trò thân mật hơn lúc ở nhà nhờ bầu khí thay đổi.

           2. Giải pháp siêu nhiên.
           Chúa Giêsu phán :”Hãy xin thì sẽ được, hãy tìm thì sẽ thấy, hãy gõ thì sẽ mở cho” (Mt 7,7 ; Lc 11,9).  Nếu chúng ta chỉ xin Chúa ban cho gia đình chúng ta được vui tươi, đầm ấm, lẽ nào Chúa lại không nhận lời ?
 
          KẾT LUẬN.
           Hãy cố gắng làm cho gia đình trở nên vui tươi phấn khởi bằng những giải pháp tự nhiên và siêu nhiên, hãy cố gắng đổi mới tình yêu vợ chồng. Chúa đòichúng ta phải cố gắng không ngừng, chúng ta cứ làm rồi Chúa ban ơn trợ lực, chứ Chúa không hành động một mình. Chúng ta hãy suy niệm lời phát biểu của thánh Augustinô :”Chúa dựng nên con không cần có con, nhưng muốn cứu con thì cần có con cộng tác”. Cứ nỗ lực rồi cậy trông. Tương lai sẽ tươi sáng.
 Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt

 
 

HônPhối 89: KHO  BÁU

Đức hạnh làm đầu
 I. LỜI CHÚA :
          Dụ ngôn kho báu (Mt 13,44-46).
 

Đức Giêsu dùng hai dụ ngôn để nói về sự cao qúi của Nước Trời.  Nếu ai may mắn mà tìm được HônPhối 89

Đức Giêsu dùng hai dụ ngôn để nói về sự cao qúi của Nước Trời.  Nếu ai may mắn mà tìm được một kho báu trong thửa ruộng thì chắc chắn người ấy sẽ về nhà bán hết những gì mình có để mua cho bằng được thửa ruộng ấy vì kho báu còn được chôn giấu trong đó. Hoặc một thương gia nào đó tình cờ kiếm được một viên ngọc qúi thì ông ta cũng sẵn sàng về nhà bán hết những gì mình có để mua cho bằng được viên ngọc qúi ấy. Cũng thế, Nước Trời là một kho báu cực kỳ qúi giá, nếu ai tìm được cũng sẵn sàng hy sinh tất cả, kể cả mạng sống mình, để chiếm hữu được kho báu ấy.
          Đứng vế phương diện hôn nhân, ta cũng có thể coi hạnh phúc gia đình là một kho báu mà ai cũng mong ước. Có ai lập gia đình mà lại không mong đạt tới hạnh phúc sao ?  Muốn hạnh phúc thì ai cũng muốn, nhưng có dám hy sinh tất cả để chiếm hữu được hạnh phúc ấy chăng, thì cái đó lại còn tùy ở mỗi người.  Thành công hay thất bại còn tùy ở mỗi người vì như văn hào Honoré de Balzac thì “Hôn nhân là đường đưa ta tới thiên đàng hay địa ngục”.
 
II. HAI LOẠI KHO BÁU.
           1. Kho báu vật chất (nghĩa đen) : người ta coi kho báu vật chất là những thứ mà giác quan có thể thấy được như sắc đẹp, của cải , hoặc không thấy được như tài năng, chức quyền, danh vọng.
           2. Kho báu tinh thần (nghĩa bóng) : Kho báu tinh thần là những cái vô hình chỉ có thể cảm nghiệm được như hạnh phúc gia đình. 
          * Kinh nghiệm cho hay : ai cũng muốn đạt tới hạnh phúc ấy nhưng rất khó khăn.
          “Hôn nhân là một cuộc sổ số” (Ben Jonson)
          “Hôn nhân là một cái bao trong đó có 99 con rắn và một con lươn. Ai có thể thọc tay vào”?
            (Ngạn ngữ Ả rập)

           * Kho báu là vợ hay chồng ?
          Gia đình là một kho báu, nếu là kho báu thì ai nỡ  đánh mất ? Nhưng vấn đề đặt ra là kho báu ấy chủ yếu là do chồng hay vợ làm nên và phải bảo trì nó ? Chúng ta phải công nhận rằng kho báu ấy do cả vợ lẫn chồng chứ không riêng ai :
          “Trong gia đình cả chồng lẫn vợ, đều phải biết phục thiện và thông cảm lẫn nhau. Khi người đàn ông có điều lỗi, chớ tránh né trước lời trách móc của vợ, mà phải công khai nhận lỗi; người đàn bà khi có chuyện làm trái, phải thành thực xin lỗi cùng chồng.  Con người không ai toàn mỹ, chuyện vợ chồng cũng thế mà thôi. Biết phục thiện và tha thứ cho nhau, thì gia đình càng ngày càng trở nên đầm ấm; ngược lại, càng ngoan cố bao nhiêu, gia đình càng dễ dàng tan vỡ bấy nhiêu (Bà Gina Lombroso).
 
          Như bà Gina Lombroso nói, kho báu ấy là cả hai vợ chồng cùng phải tạo lập, khi hai người sống hoà hợp với nhau, khi trong gia đình không còn mâu thuẫn nào đáng kể nũa. Như vậy, theo ý kiến chung thì người ta cho kho báu chủ yếu là do người vợ

III. NGƯỜI VỢ LÀ  KHO BÁU CỦA  CHỒNG.
           1. Kho báu vật chất :
 Kho báu này gồm sắc đẹp, tiền của.... Nhưng kinh nghiệm cho hay : kho báu này dễ bị mai một, dễ mất. Người ta còn nói chơi rằng :”Vợ đẹp càng tổ đau lưng”.
          Tuy nói thế, nhưng trong thực tế, không có kho báu vật chất ấy thì nhiều cô gái ở một số nơi chỉ “chổng mông mà gào”! 
                             Truyện : Thiếu của hồi môn.
          Tổng giáo phận Kirantrum ở bang Kêrêla (Ấn độ) đang giúp đỡ 500 thiếu nữ nghèo không có phương tiện kết hôn. Linh mục Cat-cu-ta-lin, người phát ngôn của tổng giáo phận cho biết nhiều thiếu nữ nghèo không thể kết hôn được vì cha mẹ họ quá nghèo không có của hồi môn cho con. Của hồi môn này gồm tiền bạc, nữ trang, và các đồ vật khác mà nhà trai đòi hỏi như một điều kiện để cưới hỏi.
          Cha mẹ của thiếu nữ làm đơn xin với một ủy ban của giáo phận đặc trách về vấn đề này và mỗi thiếu nữ sẽ được nhận áo cưới, nhẫn cưới và một số tiền để trong ngân hàng là 5000 rupi (190 USD) làm của hồi môn.
                             (Công giáo và dân tộc, số 910, th 6/1993, tr 16)
 
          2. Kho báu tinh thần.
           Chúng ta có thể xem quan niệm của người đời nghĩ thế nào cũng như lời dạy trong Thánh kinh ra làm sao :
          * Theo quan niệm người đời :
          Ông Démophile nói :”Hãy tin chắc rằng kho tàng qúi báu nhất là những kho tàng chất chứa trong tâm hồn bạn”
          Ông André Chenirer cũng nói :”Khi còn là tình nhân người đàn ông thích người đàn bà lả lơi và đẹp, vì lơi lả đàn ông mới dễ chiếm được và có đẹp người đàn ông mới thích. Nhưng khi lấy vợ, người đàn ông muốn người vợ phải đoan trang và không nên đẹp lắm – vì đoan trang mới hạnh phúc và không đẹp lắm mới bền vững gia đình mà không ngại bị phản bội vì kẻ khác”.
 
                             Truyện : Cái nết đánh chế cái đẹp.
          Tiến sĩ đời Tống là Hứa Doãn, văn chương rất hay, chính sự rất giỏi, nhưng vợ là Nguyễn Thị về phần nhan sắc rất tầm thường.
          Tục truyền, khi vợ chồng mới thành hôn, Hứa Doãn thấy vợ không đẹp, muốn lập tức bỏ đi thẳng, bèn hỏi Nguyễn Thị rằng :
          - Đàn bà có bốn đức công, dung, ngôn, hạnh, nàng được mấy đức ?
          Nguyễn Thị biết ý chồng, đáp ngay :
          - Thiếp đây chỉ kém về dung thôi.
          Rồi hỏi chồng :
          - Kẻ sĩ có trăm nết, dám hỏi chàng đây được mấy nết ?
           Hứa Doãn đáp :
          - Ta có đủ cả trăm nết.
          Nguyễn Thị cười đáp :
          - Trăm nết. đức là đầu,  chàng là người hiếu sắc mà thiếu đức, như vậy mà đủ cả trăm nết ư
          Hứa Doãn nghe nói, có vẻ thẹn và không dám bỏ đi. Từ đó vợ chồng thương yêu nhau, kính trọng nhau suốt đời.
          Hứa Doãn sau khi đỗ làm quan, đến nhận nơi nào cũng được dân mến phục là do một phần ở vợ.         
                   (Thái Bạch, Đông tây kim cổ tinh hoa, Sống mới, 1971, tr 252)
          Và ông Thái Bạch cũng có lời bàn : Thói thường đàn ông ai cũng thích vợ đẹp, đàn bà ai cũng thích chồng giỏi.
          Nhưng cái đẹp, cái giỏi, mỗi cái cũng đều có hai phần, đẹp về mặt không bằng đẹp về nết, phần giỏi làm lợi cho cá nhân không bằng làm lợi cho số đông.
          Trong hai cái đẹp và cái giỏi, như vợ chồng Hứa Doãn trên đây đều chiếm được những phần quan trọng và căn bản, mà điều đáng khen trước nhất là Nguyễn Thị.
          Nếu Nguyễn Thị không nhanh trí khôn thì cái cuộc “trăm năm vuông tròn” của hai người đã đổ vỡ ngay từ đêm mới giao duyên hợp cẩn.
          Tuy nhiên, nếu người chồng chẳng phải kẻ biết phục thiện như Hức Doãn thì chưa chắc lời nói của Nguyễn Thị đã lọt vào tai được..
          Do đó, vợ chồng này mới có sự yêu thương nhau, kính mến nhau suốt đời, và sau mới được lòng người dân mến phục.
 
          * Theo quan niệm Thánh kinh :
          Chúng ta thấy Thánh kinh cũng ca tụng những người vợ đức hạnh :
          “Người vợ đức hạnh là phúc lộc Thiên Chúa ban cho người chồng” (Cn 18,22)
          “Người vợ đức hạnh là mũ triều thiên cho chồng” (Cn 12,4)
          “Người vợ không trau dồi mình bằng những vật trang sức bên ngoài (1Tit 2,9; 1Ph 3,3) mà trau dồi bằng đức hạnh” (x. 1Pr 3,1-4)
 
                             Truyện : Của hồi môn.
          Người ta kể : trong ngày đưa dâu, ông bố vợ trao cho con rể một phong bì hơi cộm. Về nhà mở ra, chỉ thấy một tờ giấy và một số tiền gói gọn bên trong. Tờ giấy viết :
                   * Vợ hiền lành, đáng giá                     5 triệu
                   * Vợ chịu khó làm ăn                          2 triệu
                   * Vợ biết hy sinh, tha thứ , nhẫn nại   2 triệu
                   * Vợ sống đạo đức                              3 triệu
                   * Tiền mặt                                           1 triệu

          Tổng cộng : 10 triệu cho con làm của hồi môn.
          Anh con rể không mấy hào hứng. Nhưng năm năm sau, anh tâm sự với bố vợ :”Con cảm ơn bố đã cho con một kho tàng lớn. Nếu cho tiền nhiều thì nay chắc đã xài hết, nhưng vợ con là một kho báu còn mãi”.
           Trong cuốn Minh đạo gia huấn của Trình Hạo có một câu danh ngôn rất hay:
                             Hiền thê gia bảo
                             Hiền thần quốc trân

          Nghĩa là : Vợ hiền là của báu trong nhà, Tôi hiền là vật báu của quốc gia.
 
          3. Người chồng phải bảo vệ kho báu ấy.
          Muốn cho kho báu ấy được bền vững, người chồng phải
          - Thương yêu vợ (St 24,67 ; Ep 5,25,28,33 ; Cl 3,19)
          - Trung thành với vợ (Cn 5,18-20)
          - Đối đãi với vợ như chính mình (St 2,33 ; Mal 2,15 ; Mt 19,5-6 ; Ep 5,28)
          - Tình yêu bền chặt như giữa Chúa Kitô và Hội thánh (Ep 5,32)

 
          KẾT LUẬN
          Để kết thúc bài chia sẻ, mời bạn đọc câu chuyện này để biết gia đình có phải là một kho báu đáng mong ước không ?

                             Truyện : Gia đình là một kho báu
          Ông Georges đã 70 tuổi, không lập gia đình. Ông vốn là một thủy thủ, cả cuộc đời lênh đênh trên biểc cả. Ông không có nhà riêng. Cháu trai ông tên là BILL rất thương bác Georges nên đã mời bác về sống với Bill, với vợ và 5 con của Bill. Đó là sự giúp đỡ lẫn nhau : bác Georges có nhà ở, còn gia đình của Bill có dịp làm những chuyến viễn du tưởng tượng vòng quanh thế giới mỗi khi lắng nghe bác Geoges kể lại kinh nghiệm của mình.
          Đôi khi Bill cảm thấy nhàm chán và bất mãn với cuộc sống gia đình. Được rảo quanh thế giới không lo lắng, thảnh thơi vui sướng biết bao. Và Bill đã bầy tỏ nỗi lòng cho bác.
          Một chiều kia, bác Georges nhắc đến một nơi xa xăm. Bác có đánh dấu trên bản đồ một kho tàng chôn giấu. Bill ghi nhớ điều đó, nên sau khi bác Georges chết vài năm, Bill coi lại đồ đạc của bác và tìm thấy một bao thơ đề tên Bill, trong đó có tấm bản đồ. Tim đập mạnh, tay run run, Bill cố gắng tìm ra nơi cất giấu kho tàng. Sau cùng chàng cũng xác định được địa điểm : đó là căn nhà của chàng, nơi mà chàng đang đứng !
          Bác Georges đã trối lại cho chàng một kho báu là ý thức rằng nhà của chàng, gia đình riêng của chàng là kho báu. (Góp nhặt 4, tr 109-110).
 Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt

                                     
 

HônPhối 90: BỆNH   STRESS

Hãy hợp tác với mọi người
 I. TRIỂN KHAI LỜI CHÚA.
                   1. Tin Mừng (Ga 15,9-12)
 

Đức Giêsu yêu thương các môn đệ, Ngài đã dạy dỗ các ông nhiều điều, nhưng còn một điều quan HônPhối 90

Đức Giêsu yêu thương các môn đệ, Ngài đã dạy dỗ các ông nhiều điều, nhưng còn một điều quan trọng nhất phải để đến giây phút cuối cùng của đời mình : trong bữa ăn tối từ giã các môn  đệ, trong tình thân mật của Thầy trò, Đức Giêsu mới khuyên các môn đệ thân yêu của Ngài :”Đây là điều răn của Thầy : các con hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương các con” (Ga 15-12).
          Nếu Đức Giêsu khuyên anh em phải thương yêu nhau thì trong đời sống gia đình, vợ chồng càng phải thương yêu nhau vì họ đã trở nên một xương một thịt” (Mt 10,8).
 
          2. Thư của thánh Phaolô (Cl 3,12-17).
           Thánh Phaolô rất chú trọng tới mục vụ đời sống gia đình, đặc biệt trong các thư gửi cho tín hữu Êphêsô và Côlôssê.  Trong bài đọc hôm nay, thánh Phalô khuyên các tín hữu bằng những lời này :”Anh chị em là những người được Thiên Chúa  tuyển lựa, hiến thánh và yêu thương. Vì thế, anh em phải có lòng thương cảm, nhân hậu,  khiêm nhu, hiền hòa và nhẫn nại. Hãy chịu đựng và tha thứ cho nhau, nếu trong anh em người này có điều gì phải trách móc người kia. Chúa đã tha thứ cho anh em, thì anh em cũng vậy, anh em phải tha thứ cho nhau. Trên hết mọi đức tính, anh em phải có lòng bác ái : đó là mối dây liên kết tuyệt hảo “(Cl 3,12-14).
           Nếu thực hiện được lời thánh Phaolô ở trên, ta thấy đã có đức bác ái giữa mọi người, làm cho cuộc sống thêm dễ dàng vì đã có sự giao lưu, sự hợp tác, sự chia sẻ với nhau. Nếu ngược lại, họ sẽ mắc phải chứng bệnh của thời đại, đó là bệnh STRESS (trầm cảm, ưu uất)
 
II. NÓI VỀ BỆNH STRESS.
           1. Nguyên nhân của bệnh Stess.
           a) Bệnh Stress là gì ?  Là một bệnh hoàn toàn tâm lý. Theo bác sĩ Alfred Adler, nhà trị bệnh thần kinh trứ danh, cho biết : bệnh stress tựa như một thói oán hờn dai giẳng, muốn được người chung quanh thương hại, săn sóc tới mình. Người ưu uất (stress) nhiều khi chán đời, muốn tự tử.  Họ thường không hài lòng và trách móc mọi người. Họ là con người ích kỷ, chỉ muốn mọi người chú ý săn sóc mình : nếu không được thì bất mãn và dễ bị bệnh stress.
           b) Tình hình hiện nay.  Cuộc đời là cõi vô thường, nhưng con người vốn tham, thân, si, suốt đời lao tâm khổ tứ vì tranh danh đoạt lợi, tác hại đến sức khỏe tâm thần.
           Theo thống kê, 15 triệu người Đức, tức 1/6 dân số 80 triệu thuờng xuyên bị căng thẳng thần kinh (stress).
           Ở Việt nam một cuộc nghiên cứu của công ty Diana cho thấy 72,2% nữ công nhân các khu chế xuất Linh trung và khu công nghệp Tân bình thường xuyên bị stress, vì áp lực công việc và khó khăn tiền bạc (báo Tuổi trẻ, 1.4.2004, trích trong Công giáo và dân tộc số 1452/2004, tr 13).
           c) Một nguyên nhân khác : người ta cũng cho biết có bệnh Trầm cảm mùa đông. Theo đó, rối loạn thời vụ, tên tắt SAD, là một hình thức trầm cảm ảnh hưởng đến một số người trong mùa đông,  nguyên nhân đích thực không rõ là gì, nhưng các nhà nghiên cứu nghĩ rằng sự thay đổi về ánh sáng mặt trời là một thành tố quan trọng.
          Bà Luann Hughes là một trường hợp điển hình – vào mùa đông, bà thay quần áo cho các con lúc mặt trời chưa lên. Tắm rửa, ăn sáng và uống cà phê trời vẫn chưa sáng.  Tình trạng thiếu ánh sáng mặt trời ấy làm cho bà Hughes cảm thấy buồn phiền và bực bội với con cái. Dùng thuốc không thấy công hiệu và bà Hughes thử dùng ánh sáng giả khoảng nửa giờ buổi sáng.  Bà được bác sĩ bảo rằng ánh sáng mặt trời ở bên ngoài có ảnh hưởng với nhiều thứ trong cơ thể người, như là cường độ của hormone có khả năng làm thay đổi trạng thái tinh thần.  Bác sĩ Michael Terman, giám đốc chương trình trầm cảm mùa đông, và viện tâm lý tiểu bang New York cho biết 80% trường hợp xử dụng liệu pháp ánh sáng có kết quả.  Ánh sáng nhân tạo gần giống ánh sáng mặt trời tỏ ra có công dụng với bà Hughes (lấy từ Internet).
 
          2. Phương pháp chữa trị.
 a) Cách giảm stress độc đáo.
           Một dịch vụ mới tên Stopstress, tận dụng một bãi phế liệu ở Madrid, Tây  ban nha, đã thu hút nhiều người bị stress.
          Khách hàng đến đó, được phát một cây búa, áo khóac, mũ, kính bảo hộ và được cho nghe nhạc rock nặng. Họ được quyền đập phá đồ đạc từ xe hơi, máy vi tính đến điện thoại di động.
          Mỗi xuất 2 giờ nhưng không có người nào ở lại quá 30 phút, vì cách thức giảm stress độc đáo này khiến họ giải tỏa những u uất của mình.
          Nhiều người mang cả ảnh của ông chủ của họ đến để đập phá.
                             (Theo BBC, Làng cười số 9 /2004, tr 13)
           b) Phương pháp hữu hiệu.
 Muốn cho hết bệnh, cũng theo bác sĩ Alfred Adler, thì khuyên họ cố gắng mỗi ngày làmø vui lòng một người khác, vì suốt ngày họ chỉ biết nghĩ đến họ, bắt người khác phải làm hài lòng mình.
          Bác sĩ Adler còn nói tiếp :”Tôi biết rằng bệnh của họ chỉ do không chịu hợp tác với người khác, nên tôi muốn họ nhận lấy điều ấy là cần.  Khi nào họ bằng lòng hợp tác với mọi người thì họ sẽ hết bệnh.  Bổn phận quan trọng nhất  của bất cứ một người theo tôn giáo nào cũng là THƯƠNG NGƯỜI NHƯ THỂ THƯƠNG THÂN... Người nào ích kỷ không chịu nghĩ đến người khác, sẽ gặp những nỗi khó khăn nhất trong đời, và làm hại xã hội nhiều nhất”.
                             (x. Đỗ đình Tiệm, Lương thực hôm nay, t.1 , tr 116).
 
          c) Một chứng tá.
          Anh Giuse Dương trường Sơn , một người tân tòng,  đã tâm sự về vấn đề này : Ban đầu, mỗi lần đến lớp, tôi cảm thấy sự khó chịu lại đến với mình, nhưng cảm giác đó từ từ qua đi cho đến một hôm tôi không còn cảm thấy khó chịu nữa ; song tôi lại bối rối ray rứt trước những việc xung quanh mà lâu nay mình không lưu tâm hay để ý đến : những con người đau khổ, những mất mát hạnh phúc, những đau đớn, sự đói nghèo, những con người kém may mắn hơn tôi nhiều...
          Tại sao tôi lại vô tâm ích kỷ, hay quá độc ác...? Không, chỉ vì tôi không bao giờ suy nghĩ, quan tâm đến những điều đó. Những lời Cha nói, cha kể chỉ là những câu chuyện, những con người chung quanh tôi. Tôi đã thấy, đã gặp rất nhiều, nhưng chưa bao giờ tôi nghĩ đến và lưu tâm đến họ. Tại sao bây giờ những câu chuyện đó, những con người đó đang được tôi lưu tâm và làm tôi suy nghĩ rất nhiều đến bản thân mình ? Và tại sao trước kia tôi quá thờ ơ đến mọi người xung quanh như vậy ?
          Hôm nay đã là ngày thứ tư của tuần tĩnh tâm. Tôi đã nhận ra rằng người ta chưa bao giờ dành thời gian để suy nghĩ, để cảm nhận lại những việc đã và đang xẩy ra chung quanh tôi.
                             (Lấy từ Internet)
 
          3. Tôn giáo là cần thiết.
          Tôn giáo nào cũng dạy các tín đồ phải có lòng bác ái, thương người. Đặc biệt Đức Giêsu còn nâng giới răn thương người lên gần ngang hàng với giới răn thứ nhất là hãy yêu mến Thiên Chúa. Cốt tủy của đạo công giáo cũng chỉ là mến Chúa yêu người.  Nếu đã biết yêu thương người khác như chính mình thì làm sao có thể bất mãn với mọi người, không chịu hợp tác với ai ?
           Nếu Chúa đã dạy ta phải thương yêu hết mọi người, kể cả kẻ thù, thì trong đời sống gia đình thì vợ chồng càng phải yêu thương nhau mật thiết hơn, khăng khít hơn vì Chúa đã nói :”Họ không còn phải là hai, nhưng là một xương một thịt” (Mc 10,8)
                             Mình với ta tuy hai mà một (Tản Đà)
          Do đó, vợ chồng có thể gọi nhau là MÌNH ƠI hay như giáo sư Winch gọi là “hỡi nửa mình của ta ơi” !
          Khi cả hai đã nên một, thì phải cố gắng sống hoà thuận với nhau, cố gắng làm hài lòng nhau, đừng bao giờ bất mãn với nhau kẻo rồi lại rơi vào trong tình trạng bị stress.
 
                             Truyện khôi hài
          Cha sở dâng lễ cầu nguyện cho các gia đình, đặc biệt cho giới gia trưởng.  Cuối lễ cha bảo các ông chồng ở lại cho ngài gặp. Cha sở nói :
          -  Nếu ai chưa hài lòng với vợ mình thì đứng lên coi !
          Mọi người đều nhất tề đứng dậy ; duy chỉ có một anh chàng ngồi yên.
          Cha sở đến gần nói :
          - Khá lắm, cha ngợi khen con là người biết sống hài lòng với vợ. Con là người duy nhất mà cha gặp, hiếm có người như con. Nhưng cha hỏi con : làm thế nào mà con sống được như vậy ?
          Anh ta thưa :
          - Chả nói giấu gì cha, tuần qua vợ con nó đánh con què chân !

          KẾT LUẬN
          Trong gia đình không thể tránh được những cảnh va chạm. Trời còn có khi mưa khi nắng, huống lọ là con người bá nhân bá tính !   Hãy yêu thương nhau, bỏ qua đi tất cả những sự dị biệt để tạo thành một cuộc sống hài hoà.   Hãy suy niệm và cầu nguyện theo kinh Hoà bình của thánh Phanxicô Assisi để tìm lại sự thanh thản trong tâm hồn.
 Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt

 
 

HônPhối 91: CÓ  DUYÊN

I. SUY NIỆM LỜI CHÚA.
           Trích sách Tobia 7, 9c-1o. 11c-17.
 

Chúng ta vừa được nghe đoạn sách trích trong sách Tôbia nói về việc kết hôn giữa Tôbia và Sara HônPhối 91

Chúng ta vừa được nghe đoạn sách trích trong sách Tôbia nói về việc kết hôn giữa Tôbia và Sara.  Tôbia từ xa đã đến xin người chú là ông Ra-gu-ên cho được cưới Sara làm vợ. Ra-gu-ên còn luỡng lự chưa biết quyết định ra sao thì thiên sứ hiện đến nói với ông :
“Ông đừng ngại gả con gái cho cậu này, vì cô ấy phải làm vợ cậu này, là người kính sợ Thiên Chúa; chính vì thế mà người khác không lấy được cô ấy” (Tb 7,10).
           Hiểu được ý của Thiên Chúa, ông cầm lấy tay phải của con gái, đặt vào tay phải cậu Tôbia và nói :”Xin Thiên Chúa của Abraham, Thiên Chúa của Isaac, Thiên Chúa của Gia-cóp ở với các con. Xin Người phối hợp các con, và đổ tràn đầy phúc lành của Người xuống trên các con” (Tb 7,15).
          Sara có duyên vì được cùng với Tôbia nên duyên vợ chồng trong khi không bao giờ Sara dám nghĩ tới điều đó. Theo người ta nói : đó là duyên phận đã được Trời xếp đặt.
           Duyên phận đã trở nên duyên thắm chỉ hồng do việc hai người cùng sốt sắng cầu nguyện trước giờ hợp cẩn .
“Tối hôm cưới, cậu Tobia nói với cô Sara :”Chúng ta là con cháu các thánh và chúng ta không thể kết hôn với nhau như những người dân ngoại không biết Thiên Chúa”. Vậy cả hai người đứng dậy, cùng nhau khẩn khoản cầu xin cho được an lành” (Tb 8,5).
 
II. CẦN CÓ DUYÊN.
           1. Duyên cần thiết.
                   Ai cũng muốn mình có duyên. Ai cũng muốn được khen ngợi là có duyên và biết bao người, nhất là các cô gái, đau khổ vì thấy mình không có duyên :
                                 Một thương tóc bỏ đuôi gà,
                          Hai thương ăn nói mặn mà có duyên.
                                      (Ca dao)

          Đối với người nữ, duyên là cái gì rất quan trọng, nó liên can đến cả cuộc sống, nó có thể chi phối cả cuộc đời mình, bởi vì :
                              Còn duyên kẻ đón người đưa,
                          Hết duyên đi sớm về trưa một mình.
                                      (Ca dao).


          2. Duyên là gì ?
                   Theo Hoàng Phê trong cuốn tự điển Tiếng Việt thì chữ duyên có nhiều nghĩa :
          - Phần cho là Trời định dành cho mỗi người về khả năng quan hệ tình cảm hòa hợp, gắn bó nào đó trong cuộc đời.
          - “Duyên” còn có nghĩa là sự hài hòa của một số nét tế nhị đáng yêu ở con người, tạo nên vẻ đẹp hấp dẫn tự nhiên.
 
III. TẬP LÀM DUYÊN.
                   1. Có thể luyện tập được.
           Nếu duyên có nghĩa là duyên phận, duyên số do Trời định thì khỏi cần bàn vì Trời đã định cả, khó thay dđổi :
                                      Rõ ràng giấy trắng mực đen,
                                  Duyên ai phận nấy chớ ghen mà gầy.
                                                (Ca dao)

          Còn Duyên theo nghĩa thứ hai thì rõ ràng chúng ta có thể đạt được, nếu muốn.  Chúng ta có thể tạo ra sự hài hòa, những nét tế nhị, đáng yêu cho... chính mình, bằng cách rèn luyện để có thể hấp dẫn một cách tự nhiên.
           Tại sao các cô bán hàng phải tập cười cho thật tươi ? Các cô xướng ngôn trên Tivi cũng cười thật tươi, thật duyên ? Tại sao các cô gái nhà giầu phải tập đi lại cho uyển chuyển dịu dàng ? Tại sao người ta phải tập sống cho thanh lịch ?  Đó là vì người ta muốn có cái duyên để hấp dẫn người khác.
          Nếu Trời không cho mình được cái sắc diện chim sa cá lặn hoặc không được dễ coi mấy thì đừng lo, cái duyên có thể có nơi mọi nguời, kể cả trong những người có vẻ xấu xí, duyên đó là duyên thầm :
                                      Người xấu duyên lặn vào trong,
                               Bao nhiêu người đẹp duyên bong ra ngoài.
                                                   (Ca dao)

           Sau các cuộc điều tra, nghiên cứu và thử nghiệm, các nhà tâm lý học đã nêu ra những phương cách để rèn luyện trở thành người “ăn nói mặn mà có duyên” :
          a) Bạn hãy ít nói :
                             Chim khôn hót tiếng rảnh rang,
                       Người khôn nói tiếng dịu dàng dễ nghe.

          b) Hãy đôn đốc người khác nói.
          c) Tránh cãi cọ.
          d) Tốt hơn hết hãy nói về những điều  mà người đối diện thích.
          e) Hãy làm cho cuộc gặp gỡ trở nên vui vẻ bằng cách khôi hài hóa câu chuyện.
          g) Hãy... rút lui.
                             (Đỗ Quyên, Kiến thức gia đình, số 173, tr 62)
           Theo nhận xét của các nhà nghiên cứu, ngoài cái duyên trời phú cho, chúng ta có thể tạo ra cái duyên do chính sự luyện tập công phu, mỗi ngày một ít, làm thế nào để có thể trở nên con người khả ái, dễ thương.
          Cái duyên này không phải chỉ dành cho phụ nữ mà cần cho cả phái nam, bởi vì ai là người không muốn cho mình trở nên con người hấp dẫn ?
          Không phải chỉ tập luyện và giữ cái Duyên cho đến khi cưới mà sau khi thành hôn vẫn còn cần thiết. Phải luôn tập cho mình có cái duyên để làm đẹp lòng mọi người, nhất là cho người chồng.  Nếu người vợ trở nên vô duyên thì rất nguy hiểm cho đời sống lức đôi :
                                       Còn duyên anh cưới ba heo,
                                 Hết duyên anh cưới con mèo cụt đuôi.
                                                (Ca dao)

 
          2. Nét duyên thầm kín.
                    Khi đến gần một người thánh thiện, ta thấy từ nơi họ toát ra một cái gì hấp dẫn, đạo đức, cao quí làm ta phải mến phục.  Cái gì đó là sự thánh thiện toát ra từ con người họ, làm cho mọi người phải mến phục. Và nếu nói theo kiểu bình dân thì gọi đó là cái “Duyên ngầm” hay Duyên thánh.
 
                             Truyện : trước vậy,  sau khác
          Thời trước giải phóng có một sư huynh La san rất giỏi môn địa dư, dạy học rất hấp dẫn.  Có một nữ sinh viên thầm yêu và cám dỗ thầy xuất tu để xin cưới.  Thầy đồng ý xuất tu.  Nhưng khi đến hỏi cưới, cô ấy từ chối.  Sư huynh hỏi cho biết lý do.Cô cho biết :
          - Khi thầy còn mặc áo dòng, em thấy thầy hấp dẫn lắm, em yêu. Bầy giờ thầy cởi áo dòng ra, mặc áo đời, em thấy không hấp dẫn nữa.
           Cô sinh viên nói như thế là có ý nói : lúc này thầy đã đánh mất cái duyên thầm, hay cái duyên thánh thiêng rồi, do đó không còn hấp dẫn nữa.
           Vợ chồng cũng thế, khi cố gắng sống cuộc đời lành thánh thì tự nhiên trong người  toát ra một cái gì đó cao qúi làm cho người kia phải mến phục và muốn sống khăng khít với nhau.  Muốn được như thế, anh chị hãy thực hiện lời thánh Phaolô tông đồ :
 “Anh em là những người được Thiên Chúa tuyển lựa, hiến thánh và yêu thương. Vì thế, anh em hãy có lòng thương cảm, nhân hậu khiêm nhu, hiền hòa và nhẫn nại. Hãy chịu dđựng và tha thứ cho nhau, nếu trong anh em người này có điều gì phải trách móc người kia” (Cl 3,12-13).
 Và thánh Phêrô tông đồ cũng khuyên :
 “Ước chi vẻ duyên dáng của chị em không hệ tại cái mã bên ngoài như kết tóc, đeo vòng vàng, hay ăn mặc xa hoa ; nhưng là con người nội tâm thầm kín, với đồ trang sức không bao giờ hư hỏng là tính thùy mị, hiền hòa : đó chính là điều qúi giá trước mặt Thiên Chúa “ (1Pr 3,3-4).
 
KẾT LUẬN
           Thiên Chúa không bao giờ từ chối những cố gắng của con người. Tục ngữ Pháp nói :”Aide-toi, le ciel t’aidera” : Anh hãy tự giúp mình đi rồi Trời sẽ giúp cho.  Trong mọi công việc Chúa đòi sự cộng tác của ta. Hãy cố gắng tập cho có cái Duyên thánh thiêng.  Chính mình phải cố gắng và Chúa sẽ bổ túc cho qua lời cầu nguyện của ta :”Hày xin thì sẽ được”:..  Xin mọi người cùng sốt sắng hiệp dâng Thánh lễ để cầu cho đôi bạn trẻ hôm nay thực hiện được giấc mơ hằng mong đợi :
                                      Ước ao duyên thắm chỉ hồng,
                                  Để cho thục nữ sánh cùng trượng phu.
                                                (Ca dao)

 Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt


 

HônPhối 92: KÝ KẾT HÔN ƯỚC

I. SUY NIỆM LỜI CHÚA.
 

Đọc Thánh kinh Cựu ước, chúng ta thường hay gặp chữ GIAO ƯỚC. Thiên Chúa đãõ ký kết HônPhối 92

Đọc Thánh kinh Cựu ước, chúng ta thường hay gặp chữ GIAO ƯỚC. Thiên Chúa đãõ ký kết với dân riêng của Ngài là dân tộc Do thái một giao ước trọng đại tại núi Sinai qua trung gian ông Môse , và sau cùng đã ký kết với loài người một Giao ước mới và vĩnh viễn qua cái chết của Con yêu dấu của Ngài.
           Sách Xuất hành còn  ghi lại Giao ước được ký kết giữa Thiên Chúa và dân riêng của Ngài : Khi dân Do thái được Thiên Chúa đưa ra khỏi Ai cập qua Biển Đỏ ráo chân, tại núi Sinai, Thiên Chúa đã ký kết với dân Chúa một Giao ước trọng thể qua trung gian ông Môse.  Tại chân núi, ông Môse đã đọc cho dân chúng những điều luật mà Thiên Chúa muốn cho dân Ngài phải thi hành. Ông dâng các hy tế, đổ một ít máu trên bàn thờ và rẩy máu trên dân để đánh dấu sự hiệp nhất nối kết Giavê và Israel.  Bấy giờ dân long trọng cam kết tuân giữ các điều khoản ccủa Giao ước (Xac 24, 3-8).  Trong nghi lễ này, máu giao ước giữ một vai trò chính yếu.
           Nhưng qua thời gian, dân Chúa đã phá vỡ Giao ước ấy để đi theo các thần của dân ngoại. Nhưng Thiên Chúa vẫn kiên nhẫn kêu gọi dân Chúa hãy trở lại với Ngài qua lời giảng dạy của các ngôn sứ. Sau cùng, Thiên Chúa muốn ký với dân một Giao ước mới có tính cách trường cửu bằng cách cho Con yêu dấu của Ngài phải đổ máu ra và qua cái chết trên Thập giá để chuộc tội cho nhân loại và đem con người trở lại làm con Chúa.
           Qua việc ký kết hai Giao ước ấy, ta thấy Giao ước đều được ký bằng máu : máu của chiên bò trong Giao ước Sinai và máu của Đức Kitô trên thập giá.  Chính Đức Giêsu trong bữa Tiệc ly cũng nói đến máu Giao ước này :”Các con hãy cầm lấy mà uống, vì này là chén  máu Ta, máu giao ước vĩnh cửu sẽ đổ ra cho các con và nhiều người được tha tội” (Mt 19,28).  Giao ước được ký bằng máu.  Máu tượng trưng cho sự hy sinh, đau khổ.  Vì thế, ai chấp nhận ký giao ước là phải chấp nhận hy sinh, có lúc phải hy sinh cả mạng sống mình.
 
II. KÝ KẾT HÔN ƯỚC.
           Trong đời sống xã hội, con người liên kết với nhau qua các hiệp ước, các khế ước, các giao kèo hàm chứa những quyền lợi và bổn phận thường có tính cách hỗ tương. Những thỏa thuận giữa phe nhóm hay cá nhân bình đẳng muốn tương trợ nhau.
           Muốn cho giao ước có giá trị tinh thần cao, nhiều khi người ta chích máu mình ra để ký kết với nhau.  Có khi người ta pha máu vào rượu để cả hai bên cùng uống và để gọi là “uống máu ăn thề” khiến cho giao ước ấy có giá trị bền vững không gì có thể làm tan vỡ được, kể cả cái chết.
           Trong đời sống hôn nhân hai người nam và nữ ký kết với nhau một giao ước song phương bình đẳng để trở thành vợ chồng theo pháp lý thì được gọi là HÔN ƯỚC.  Đối với xã hội, hôn ước này có tính cách lâu dài nhưng không vĩnh viễn, người ta có thể tiêu hủy được khi có sự đồng ý của đôi bên.  Nhưng trái lại, hôn ước Công giáo có tính cách vĩnh viễn, không ai có thể pha hủy được vì “Sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly” (Mt 19,6).  Hôn nhân Công giáo không chỉ là hôn nhân tự nhiên mà còn là một bí tích : bí tích hôn nhân do chính Đức Giêsu đã thiết lập.
           Trong đời sống hằng ngày, trong việc sinh hoạt, trong việc làm ăn người ta thường ký với nhau nhiều khế ước, nhiều giao kèo.  Trên bình diện quốc gia người ta ký với nhau nhiều hiệp ước nhằm giúp đỡ nhau hoặc bênh vực nhau hoặc bảo vệ quyền lợi của nhau..
           Trên nguyên tắc, đôi bên phải thi hành những điều đã cam kết, bên nào vi phạm sẽ bị phạt.  Nhưng trong thực tế người ta đã phá vỡ hiệp ước rất nhiều.  Trong cuốn Le retour de Jésus Christ, tiến sĩ René Pache cho biết : từ năm 1500 trước Chúa Giáng sinh cho đến năm 1860 đời ta, tính có tới 8000 hiệp ước hoà bình .  Tuy mọi hiệp ưpớc đều có giá trị vĩnh viễn, nhưng trên thực tế, hiệu quả của mỗi hiệp ước trung bình không quá 2 năm.  Chỉ trong 19 năm, giữa hai thế chiến (1920-1939) tính đã có đến 4568 hiệp ước hoà bình.  Nguyên 11 tháng trước đệ nhị thế chiến, đã có tới 211 hiệp ước rồi.
 
III. HÔN ƯỚC TRONG ĐỜI SỐNG HẰNG NGÀY.
 Hai anh chị hôm nay và mấy phút nữa sẽ ký kết hôn ước trước mặt đại diệnHội thánh và cộng đoàn giáo xứ.  Anh chị sẽ đọc lời tuyện thệ : nhận nhau làm vợ , làm chồng và hứa sẽ giữ lòng chung thủy với nhau khi thịnh vượng cũng như lúc gian nan, khi bệnh hoạn cũng như lúc mạnh khỏe,  để yêu thương và tôn  trọng nhau mọi ngày sướt đời mình.   Anh chị có ý muốn thề hứa trung thành với nhau mãi mãi hay một thời gian thôi ?  Anh chị có coi hôn ước chỉ là tờ giao kèo tạm thời để rồi tùy hoàn cảnh “hay thì ở, dở thì đi” không ?
           Theo tình hình chung trên thế giới, việc ly dị xẩy ra như cơm bữa, có tới 50% số gia đình phải chia tay nhau ; riêng tại Việt nam chúng ta,  con số lên tới 30%.  Người ta coi nhẹ hôn uớc, khi muốn người ta có thể tự phá hủy và dám nói với nhau một cách trâng tráo :
                                      Thôi đừng nhắc chuyện ngày xưa,
                                      Bởi vì đoạn kết bài thơ có rồi.
                                      Giận hờn thì cũng đành thôi,
                                      Dại gì giữ mãi một lời thề xuông.
                                                (Nhất Tuấn)

 
          Hôm nay anh chị thề nguyền với nhau không phải là một lời thề xuông như thi sĩ Nhất Tuấn nói, mà là một lời thề nguyền long trọng, có chất lượng được nói lên trước sự chứng kiến của hai họ và cộng đoàn giáo xứ. Anh chị phải nói lên với tất cả ý thức trách nhiệm.
           Tổ chức lễ cưới thì dễ, đọc lên lời thề nguyền càng dễ hơn, còn việc thi hành hôn uớc mới khó.. Sống thế nào cho gia đình được hạnh phúc thì càng khó. Biết bao khó khăn đang đón chờ.  Có khi chính việc tổ chức đám cưới vượt quá sức của mình lại là nguyên nhân của gia đình tan vỡ.

                                       Truyện : đám cưới của Maradona
          Tốn phí cả triệu Mỹ kim :
          - Thuê chiếc Boing 107 từ Ý về Brasil hết 500.000 mỹ kim.
          - Tranh ảnh từ Ý về để trang trí hết 100.000 mỹ kim.
          - Riêng cô dâu phải có 8 người trang điểm, làm việc suốt một tuần, với
 11 giờ mỗi ngày.
                                      (Góp nhặt 4, tr 250).
          Đáng lẽ hôm nay anh chị phải chích máu ra để ký hôn ước, máu này sẽ nói lên sự hy sinh và ràng buộc nhau như trong truyện Kết nghĩa vườn đào.  Hai anh chị hãy nhìn nhau và nhắc nhở nhau bằng câu khyên nhủ của người đời
                                      Nói lời phải giữ lấy lời,
                                      Đừng như con bướm đậu rồi lại bay
                                                (Ca dao)
           Hãy thực hiện lời thánh Phaolô khuyên nhủ tín hữu Êphêsô :”Anh em hãy có lòng thương cảm, nhân hậu khiêm nhu, hiền hoà và nhẫn nại. Hãy chịu đựng và tha thứ cho nhau, nếu trong anh em người này có điều gì phải trách móc người kia. Chúa đã tha thư cho anh em, thì anh em cũng vậy, anh em phải tha thứ cho nhau” (Ep 3, 12-13).
 
          Nguyên tắc bất hủ trong đời sống vợ chồng là theo nguyên tắc của Đức Khổng Tử đã vạch ra :”Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân” (cái gì mình không muốn thì đừng làm cho người khác). Hoặc nói một cách tích cực hơn : “Kỷ dục lập nhi lập nhân, kỷ dục đạt nhi đạt nhân”, mình muốn thế nào thì hãy làm cho người ta như vậy.  
           Vợ chồng hãy cố gắng xử tốt với nhau , nếu chồng xử tốt với vợ thì làm sao vợ lại xử xấu với chồng được.  Ngược lại, nếu vợ tha thiết yêu chồng, săn sóc chồng, trung thành với chồng thì làm sao chồng có thể bỏ được.
 
                                      Truyện : xử tốt với vợ
          Một anh chàng muốn ly dị vợ vì vợ khó tính, mà còn muốn làm cho vợ khổ nữa.
          Một người bạn bầy kế : hãy xử tốt với nàng như một bà hoàng hậu, sau hai, ba tháng sẽ bỏ, chắc nàng sẽ đau khổ.
          Nhưng sau thời hạn mà không thấy đến báo tin kết quả. Anh bạn đến thăm hỏi cho biết sự việc thì anh kia trả lời :
          - Làm sao tôi có thể bỏ nàng được, bởi vì từ ngày tôi đối xử với nàng như một bà hoàng, thì ngược lại, nàng đối xử với tôi như một ông vua.
                             (Góp  nhaạ¨t 4, tr 122)
 
          KẾT LUẬN
           Hãy yêu thì sẽ được yêu lại.  Hãy cho thì sẽ được cho lại. Hãy xử tốt với người thì người sẽ xử tốt lại bởi vì có cho đi thì mới mong được nhận lại chứ.  Hãy thực hiện lời thánh Phaolô khuyên tín hữu Philipphê :”Anh em hãy có cùng một cảm nghĩ, cùng một lòng mến, cùng một tâm hồn, cùng một ý hướng như nhau. Đừng làm chi vì ganh tị hay vì hư danh, nhưng hãy lấy lòng khiêm nhường mà coi người khác hơn mình.  Mỗi người đừng tìm lợi ích cho riêng mình, nhưng hãy tìm lợi ích cho người khác” (Pl 2,2b-4).
 Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt.


 

HônPhối 93: XÍCH MÍCH

 I. LỜI  CHÚA.
 

Anh em là những người được Thiên Chúa tuyển lựa, hiến thánh và yêu thương. Vì thế, anh em HônPhối 93

1.”Anh em là những người được Thiên Chúa tuyển lựa, hiến thánh và yêu thương. Vì thế, anh em hãy có lòng thương cảm, nhân hậu, khiêm nhu, hiền hòa và nhẫn nại. Hãy chịu đựng và tha thứ cho nhau, nếu trong anh em người này có điều gì phải trách móc người kia. Chúa đã tha thứ cho anh em, thì anh em cũng vậy, anh em phải tha thứ cho nhau” (Cl 3, 12-13).
           2. “Phải giữ mồm giữ miệng, đừng nói lời gian ác điêu ngoa, hãy làm lành lánh dữ, tìm kiếm bình an, ăn ở thuận hoà” (Tv 33, 114-15).
 
II. XÍCH MÍCH TRONG ĐỜI SỐNG GIA ĐÌNH.
           1. Sự kiện.
           Người ta nói : bá nhân bá tính, không ai giống ai vì tính tình khác nhau về nhiềáu phương diện nên mới có sự va chạm. xích mích, xung đột và chiến tranh. Sở dĩ có chiến tranh là vì có sự xích mích giữa hai nuớc đi đến cao điểm mà không giàn hòa được. Sở dĩ có cãi cọ hoặc xung đột giữa hàng xóm láng giềng cũng vì có sự xích mích mà không thu xếp cho êm thắm được.  Trong gia đình tuy ít người, chỉ có vợ chồng và con cái mà cũng không thể tránh được những xích mích xẩy ra hằng ngày đưa đếùn cãi cọ hoặc ẩu đả.
 
          2. Lý do.
           Theo giáo lý nhà Phật, có ba nết xấu làm hư hỏng con người, đó là tham, sân, si.
                             Tham vì ích kỷ
                             Sân vì tự ái
                             Si vì ngu muội.

                   Trong ba nết xấu nói trên thì SÂN là khó diệt hơn cả. Bởi vì tự ái là một thói xấu sống dẻo dai bậc nhất, đến nỗi thánh Phanxicô Salêsiô phải nói :”Nó chỉ ngưng hoạt động 15 phút sau khi chết”.
          Các nhà tâm lý học, các nhà đạo đức học xưa và nay đều đồng ý rằng tính tự ái là cội rễ các cảnh đoạn trường trong thiên hạ.
           Trong giáo ly đạo Công giáo, nó đứng hàng đầu trong các nết xấu vì kiêu ngạo và tự ái là chị em sinh đôi chống lại khiêm nhường.
           Trong gia đình, nếu vợ chồng không nhất trí với nhau về bất cứ vấn đề gì là có sự xích mích ngấm ngầm hay bùng nổ.
           Ta thử đưa ra một thí dụ về con cóc.  Con cóc chỉ là một con vật và con con cóc chỉ là con cóc không hơn không kém, nhưng người ta lại có ý kiến khác nhau về con cóc, có hai chủ trương về con cóc. Một đàng thì quá quí trọng con cóc, cho rằng :
                                      Con cóc là cậu ông trời,
                                      Ai mà đánh nó thì trời đánh cho.

          Đàng khác thì chống lại ký kiên trên và cho rằng :
                                      Con cóc là cậu thầy nho,
                                      Ai mà đánh nó Trời cho quan tiền.
                                                (Ca dao)


          3. Hậu quả.
          Vậy hai ý kiến trên, hai chủ trương trái ngược nhau ấy, bên nào đúng, bên nào sai ?  Thực ra, chẳng bên nào đúng, cũng chẳng bên nào sai vì con cóc làm gì dám làm cậu ông Trời hay là cậu thầy nho, mà con cóc chỉ là con cóc. Nếu bên nào cũng cho mình là đúng, người khác sai và không biết giữ gìn miệng lưỡi và thái độ cho đúng đắn thì sẽ sinh ra xích mích , cãi cọ.  Nếu không biết nhịn nhau thì có thể có những hành động không thể chấp nhận được.   Người ta kể rằng trong một buổi họp Liên hiệp quốc, vì tức giận quá, thủ tướng Krouchef của Liên xô đã tụt giầy ra đập xuống bàn vì không nén được cơn giận...
 
III. PHƯƠNG THẾ CHỮA TRỊ.
. Trong đời sống xã hội và cách riêng trong đời sống gia đình, không ai có thể nắm trọn vẹn được chân lý. Mỗi người chỉ nắm được một phần của chân lý nên không thể bắt được người khác phải hoàn toàn theo ý mình.  Tốt nhất là hãy tỏ ra khiêm nhường, nhường nhịn nhau, thuận hòa thì sẽ không còn tranh chấp, mà đã hoà rồi thì không còn kẻ thắng người thua . Lúc đó người ta có thể nói một cách thoải mái rằng :
                                      Ai nhất thì tôi thứ nhì,
                                      Ai mà hơn nữa tôi thì thứ ba.
                                                (Ca dao)

                             Truyện vui : đóng cửa bảo nhau.
          Bố mẹ hay tin đôi vợ chồng trẻ cãi nhau, nên đến khuyên giải :
          - Bố mẹ đã dặn các con là phải ăn ở thuận hoà. Nếu có truyện gì trái ý thì đóng cửa bảo nhau, chứ sao lại để cho hàng xóm biết ?
          - Dạ... xin lỗi bố mẹ.  Tại vì lúc đó không ai chịu ra... đóng cửa ạ.
 
          KẾT LUẬN
          Muốn cho gia đình được trên thuận dưới hòa, trong ấm ngoài êm, hãy suy niệm Lời Chúa và quyết tâm đưa vào cuộc sống hằng ngày :
                   Thư thánh Phaolô : Cl 3, 12-13 và Rm 12, 16-18.
                   Tin Mừng : Lc 22,26.
          Hãy đọc và suy niệm kinh Hoà bình của thánh Phanxicô Assisi :
                   Để trở nên dụng cụ bình an.
                   Khi thứ tha thì được tha thứ,
                   Khi cho đi là lúc được nhận lãnh,
                   Lúc quên mình đi là lúc tìm lại bản thân...

 Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt


 

HônPhối 94: XÂY DỰNG GIA ĐÌNH KITÔ GIÁO

(Giảng lễ Hôn phối)
Lm Trần Đình
 I. Một vài hình ảnh về hôn nhân
 

Hôn nhân như chuyến tàu lửa : người xuống ga này, kẻ xuống ga kia, có người hăm hở bước lên HônPhối 94

a/ Hôn nhân như  chuyến tàu lửa : người xuống ga này, kẻ xuống ga kia, có người hăm hở bước lên và cũng vội vã bước xuống.
b/ Hôn nhân cũng giống như cuộc chinh phục đỉnh núi : Có những người leo được tới đỉnh. Cũng không thiếu những kẻ bỏ cuộc, cho dầu ban đầu hăm hở lắm.
c/ Hôn nhân cũng như trận golf : Có những cầu thủ chiến thắng oanh liệt. Cũng có những kẻ mới thua một hiệp đã nản chí đầu hàng.
d/ Hôn nhân như con ngọc trai, động vật có hai mảnh vỏ gắn liền nhau. Có những cuộc tình thành đạt như ngọc trai hai mảnh. Và cũng có những cuộc tình dang dở, như vỏ ngọc phơi trên bãi biển.
Nghĩa là hôn nhân dễ mang dáng dấp của sự mong manh. Vì thế, ta cần phải biết xây dựng nó.
 
II. Xây dựng một gia đình kitô giáo phải tựa trên những gì ?
1. Hạnh phúc
Trong hôn nhân, người ta thường cầu chúc cho nhau “trăm năm hạnh phúc”. Lời cầu nguyện cho đôi tân hôn trong nghi thức hôn phối là : “Ước chi họ được hưởng trọn vẹn hạnh phúc lứa đôi”.
Mà hạnh phúc là cái phải xây dựng mỗi ngày : “Hạnh phúc như ngọc trong đá, không đến với ai đi qua hững hờ. Hạnh phúc như mật trong hoa, không có cho ai không nhọc nhằn tìm kiếm”. (Phim “ngọc trong đá”).

2. Chung thuỷ
Chung là cuối, thuỷ là đầu. Chung thuỷ là biết ăn ở có trước có sau, tiền hậu bất nhất. Nếu khác đi, ta gọi là tráo trở.
Sự chung thuỷ được thể hiện cách cụ thể là : “khi thịnh vượng cũng như lúc gian nan, khi ốm đau cũng như lúc mạnh khoẻ”. Không vì hoàn cảnh đổi thay mà lòng ta thay đổi.

3. Yêu thương và kính trọng
“Sông Thương, sông Cả, sông Đào,
        Ba con sông ấy đổ vào sông Thương”.

Nước ba con sông được hợp lại nơi “sông Thương”. Tình yêu thì chụm lại, đồng qui ở một điểm. Không có tình yêu như hai đường thẳng song song. Tình yêu là “giây liên kết mọi sự toàn thiện”. Thánh Phaolô dạy như thế.
“Yêu thương và kính trọng” phải luôn đi liền với nhau. Thiếu sự kính trọng, không thể nói đến yêu thương được. Người xưa dạy vợ chồng phải biết “tương kính như tân”, kính trọng nhau như khách. Không nên, vì đã quá quen thuộc, gần gũi nhau mà vợ chồng thôi đối xử với nhau thiếu kính trọng.

4. Nhẫn nhục
Đi vào đời hôn nhân, người ta phải mang ba chiếc nhẫn : nhẫn đính hôn, nhẫn kết hôn và nhẫn nhục. Là bởi vì “nhân vô thập toàn”. Con người là sai lầm.

5. Sống đạo hạnh
   Thông thường, người ta xây dựng hôn nhân dựa trên 7 chữ “đ” : đẹp, đô (đô la), dream, đôm (tiếng Nga có nghĩa là nhà ở mặt tiền), động (điện thoại di động), đỏ (cán bộ), đại (đại học). Nếu chỉ có thế thì sẽ dẫn đến chữ “đ” thứ 8 là “đổ”.
Phải xây dựng gia đình kitô giáo tựa trên hai chữ “đ” khác là “đạo đức”. Hai chữ “đ” này là điều mà người ta ta có khuynh hướng khinh thường hoặc thiếu quan tâm. Nhất là đối với đời sống đạo.
Kẻ xây dựng gia đình tựa trên đạo đức, được Chúa gọi là “xây nhà trên đá”, khác đi sẽ là “xây nhà trên cát”, nghĩa là xây trên những gì mong manh, tuy chúng cũng có giá trị nào đó.
Mấy lời vắn tắt tôi xin thưa với Quý Ông Bà anh chị em, đặc biệt muốn gởi lại cho hai anh chị trong ngày trọng đại này.
                                      
 

HônPhối 95: HOA   TRÁI

 Gia đình hạnh phúc
 I. LỜI CHÚA : Ga 15,12-16).
 

Chúa Giêsu cũng giống như các hiền triết hoặc các vị sáng lập tôn giáo đều có một số môn đệ HônPhối 95

Chúa Giêsu cũng giống như các hiền triết hoặc các vị sáng lập tôn giáo đều có một số môn đệ để truyền bá triết thuyết hoặc giáo lý của mình.. Theo truyền thống đó, Chúa Giêsu chọn cho mình mười hai tông đồ và  bảy mươi hai môn đệ. Ngài sai họ đi đến các thành thị và làng mạc để rao giảng Tin Mừng, dọn chỗ cho Chúa đến sau.
           Ngài khuyên bảo các ông :”Không phải anh em đã chọn Thầy, nhưng Thầy đã chọn anh em, và cắt củ anh em để anh em ra đi, sinh được hoa trái” (Ga 15, 15-16).
           Hoa trái mà các môn đệ thu hoạch được trong công cuộc rao giảng Tin Mừng là đem về cho Chúa nhiều linh hồn. Ý định của Thiên Chúa là muốn cho mọi người được cứu rỗi.  Thánh Irênê đã nói :”Vinh quang của Thiên Chúa là con người được sống” , sống đây được hiểu là sự sống đời đời.
          Chúa Giêsu cũng nói :”Ta đến để họ được sống và sống dồi dào” (Ga 10,10).
 
II. HOA TRÁI TRONG ĐỜI SỐNG HÔN NHÂN.
           Ai cũng mong trồng cây để có ngày thu lượm được hoa trái :
                             Có cấy có trông, có trồng có ăn.
           Trồng cây là một kế hoạch kinh tế cần thiết và hữu ích cho đời sống. Vì thế Tôn Tử đã nói:
                             Nhất niên chi kế mạc như thụ cốc,
                             Thập niên chi kế mạc như thụ mộc,
                             Bách niên chi kế mạc như thụ nhân.

           Cái kế hoạch cho mười năm không gì bằng trồng cây. Có thứ cây trồng để lấy hoa : hoa hồng, hoa cúc, hoa huệ... để ngắm; có thứ hoa để lấy hương vị : hoa lài, hoa sói, hoa sen... Có thứ cây để lấy gỗ : gỗ lim, gỗ sao, gỗ cẩm lai.... Phần lớn người ta trồng cây để lấy trái : cà phê, tiêu, mãng cầu, sầu riêng, thanh long... Khi trồng cây, ai cũng mong thu hoạch được hoa trái, nhất là được những mùa bội thu.
 
          Chúa sai chúng ta đi vào đời, cách riêng là vào đời sống hôn nhân, chắc chắn Ngài mong chúng ta phải đem về hoa trái : hạt được ba mươi, hạt được sáu mươi, hạt được một trăm.  Hoa trái của đời sống hôn nhân là gì nếu không phải là “gia đình hạnh phúc” ?  Gia đình này phải được mô phỏng theo hình ảnh giữa Chúa Giêsu và Hội thánh.
 
III. NHỮNG YẾU TỐ CỦA GIA ĐÌNH HẠNH PHÚC.
           Muốn tạo lập được một gia đình hạnh phúc, chúng ta phải trả bằng một giá đắt nghĩa là phải thực hiện được một số điều kiện.  Ở đây ta chỉ đề cập tới ba điều kiện hay ba yếu tố làm nên gia đình hạnh phúc theo quan niệm Kitô giáo.
 
          1. Yêu thương.
           Yêu thương là nền tảng của hôn nhân, chính tình yêu là chất keo nối kết hai người lại với nhau, bởi vì :
                   “Ái tình khiến quả tim thành một “ (H. Spencer).

                   “Hôn nhân không tình yêu là ngày thiếu rạng đông” (Alphonse Karr).
 
          Tình yêu ấy không phải là tình yêu vị kỷ(eros) chỉ biết dùng người yêu làm bàn đạp gây lợi ich cho mình, mà phải yêu bằng tình yêu vị tha (agape), tình yêu dâng hiến, tất cả vì người yêu :
                                      Yêu nhau chữ Vị là vì,
                                Chữ Dục là muốn, chữ Tùy là theo.
                                                (ca dao)

          Tình yêu này phải là tình yêu chân thành, trong sáng theo gương Chúa Giêsu như lời thư thánh Phaolô tông đồ gửi cho tín hữu Êphêsô :”Anh em hãy sống trong tình bác ái như Đức Kitô đã yêu thương chúng ta, và vì chúng ta, đã tự nộp mình làm hiến tế” (Ep 5,2a).
          Tình yêu ấy luôn gặp khó khăn, trắc trở nhưng phải cố gaaá¨ng vượt qua “
          “Con đường tình yêu chân thật lúc nào cũng đầy gai góc chập chùng” (W. Shakespeare)
 
          2. Hy sinh.
          Không có tình yêu chân thật nào mà không kèm theo những hy sinh, đau khổ, bởi vì :
          “Tình yêu sống được nhờ đau khổ, sống trong hạnh phúc, tình yêu sẽ chết  mòn”
                                                 (Bà De Girardin)
          Có lẽ vĩ thế mà một thi sĩ đã nói :
                                      Tình chỉ đẹp khi còn dang dở,
                                      Đời mất vui khi vẹn câu thề.
                                                (Hồ Dzếnh)

           Tình yêu ở trần gian này không bao giờ được trọn vẹn, còn dang dở, chỉ có tình yêu ấy trên thiên đàng, khi chúng ta chỉ còn biết yêu Chúa mà thôi.
           Chúng ta hãy đọc và suy nghĩ để rút ra bài học cho bản thân :
          -“Yêu tức là đã ký kết với đau khổ” (Bà De Conin)
          - Yêu là đau khổ đấy, mà không yêu là chết” (Hyppolyte Taine).
          - “Tình hỏi đòi hỏi ở chúng ta  nhiều chcịu đựng, gian lao và thử thách” {T. Champion)
          - Tình yêu chỉ đẹp là những mối tình kết thúc trong đau khổ. Mối tình không đau khổ là mối  tình giả tạo” (Ronsard).
           Nếu vợ chồng thương yêu nhau thật thì phải quên mình, sẵn sàng vượt qua mọi khó khăn để đem hạnh phúc lại cho nhau :
                                      Yêu nhau tam tứ núi cũng trèo,
                                      Thất bát sông cũng lội,
                                      Tứ cửu tam thập lục đèo cũng qua.
                                                (ca dao)


3. Nhẫn nhục.
          Khônh có gia đình nào luôn được thuận buồm xuôi gió, không có tình yêu nào mà không có chông gai bởi vì “bá nhân bá tính” không ai giống ai như người ta nói :
                                      Sống mỗi người một nết,
                                      Chết mỗi người một tật

          Tính tình con người khác nhau do giới tính, do môi trường, do xã hội. Không có cách nào giải quyết ngoài cách phải dung hoà, nhường nhịn nhau, nhất là nhẫn nhục chịu đựng trong niềm tin yêu theo gương Chúa Giêsu,  Đấng đã phán :”Hãy học cùng Ta vì Ta hiền lành và khiêm nhường trong lòng” (Mt 11,29).
                   Yêu thương thì phải nhẫn nhục chịu đựng.
                   . Đã yêu thì phải NHẪN,
                   . Đã nhẫn thì phải NHỤC.

          Nều phân tích chữ  NHẪN, ta thấy Nhẫn là một từ chữ Hán gồm có hai bộ :
                                      - Bộ ..... (tâm)
                                      - Bộ ..... (đao)

          Cái đao đâm vào tâm (lòng) thì chắc chắn phải đau.  Nhẫn nhục chịu đựng thì chắc chắn phải đau khổ, nhưng “yêu là đau khổ” mà !
           Vì thế, văn hào Hipolyte Taine mới nói :
                   Người ta tìm hiểu nhau trong ba tuần,
                   yêu nhau trong ba tháng,
                   cãi nhau trong ba năm,
                   chịu đựng nhau trong ba mươi năm

                   để rồi con cái lại trở về với cái vòng luẩn quẩn ấy.
           Để kết luận, chúng ta hãy đọc và suy niệm lời thánh Phaolô tông đồ gửi cho tín hữu Ephêsô :”Anh em đừøng bao giờ thốt ra những lời độc địa, nhưng nếu cần, hãy nói những lời tốt đẹp, để xây dựng và làm ích cho người nghe. Anh em chớ làm phiền lòng Thánh Thần của Thiên Chúa, vì chính Người là dấu ấn ghi trên anh em, để chờ ngày cứu chuộc. Đừng bao giờ chua cay gắt gỏng, nóng nảy giận hờn, hay la lối thóa mạ, và hãy loại trừ mọi hành vi gian ác. Trái lại, phải đối xử tốt với nhau, phải có lòng thương xót và biết tha thứ cho nhau, như Thiên Chúa đã tha cho anh em trong Đức Kitô” (Ep 4, 29-32).
 Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt


 

HônPhối 96: THÀNH   KIẾN

Suy nghĩ cho khách quan
I. LỜI CHÚA : Lc 4,16-24.
 

Chúa Giêsu trở về quê hương mình là Nazareth.  Ngài vào hội đường ngày sabat và đứng lên đọc HônPhối 96

Chúa Giêsu trở về quê hương mình là Nazareth.  Ngài vào hội đường ngày sabat và đứng lên đọc Sách Thánh.  Ngài đã đọc và cắt nghĩa Sách Thánh một cách rành mạch làm cho mọi người phải ngạc nhiên : không biết bởi đâu ông Giêsu được khôn ngoan như vậy.
           Tuy thế, họ vẫn không tin phục Ngài vì Ngài là người đồng hương với họ, cha Ngài chỉ là bác thợ mộc và mẹ Ngài là bà nội trợ Maria.  Họ nói thầm với nhau câu ngạn ngữ :”Thầy lang ơi, hãy chữa lấy mình ! Tất cả những gì chúng tôi nghe nói ông đã làm tại Capharnaum, ông cũng hãy làm tại đây, tại quê hương ông xem sao”.
           Trước sự cứng lòng và đầy thành kiên của họ, Chúa Giêsu phải nói :”Tôi bảo thật các ông : không một ngôn sứ nào được chấp nhận tại quê hương mình” (Lc 4, 16-24).
 
II. THÀNH KIẾN TRONG CUỘC  SỐNG.                               
           1. Thành kiến là gì?
           Thành kiến là ý kiến có sẵn từ lâu trong đầu óc, không thay đổi được. Ví dụ : con nhà nghèo kém thông minh hơn con nhà giầu.
          Thành kiến có thể là của cá nhân hay của tập thể.  Nếu là của tập thể thì thành kiến tích tụ từ lâu đời qua nhiều thế hệ và hầu như không thể thay đổi được.
 
          2. Một căn bệnh khó chữa.
           Thành kiến là một chứng bệnh di truyền kinh niên bất trị của con người, không ai thoát khỏi.  Chúng ta hằng to tiếng lên án cái lối sống phô trương bên ngoài ; nhưng trên thực tế, chúng ta lại hằng căn cứ vào những cái bên ngoài mà đánh giá trị thiên hạ.
           Cùng một câu văn, một lời nói, một việc làm, mà do người này thì có giá trị, do người kia thì vô duyên, do người này thì hay đáo để, do người kia thì dở vô cùng:
                             Không ưa thì dưa có dòi.
 
III. THÀNH KIẾN TRONG ĐỜI HÔN NHÂN.
           1. Thời kỳ mới quen nhau.
           Trong thời gian tìm hiểu nhau, người ta hay bị sai lầm về những đức tính tốt đẹp của người kia vì lúc đó ai cũng tỏ ra mình là con người hoàn hảo, kèm với tình yêu. Vì thế :
 “Thường thường người ta yêu nhau về những đức tính mà người ta không có ; thế rồi, người ta lại xa nhau về những tính xấu mà người ta không có”   (Daniel Stern)
          Do đó :
“Trước khi lấy vợ hãy cố mở mắt ra; sau khi lấy vợ rồi nên cố nhắm mắt lại”  (Franklin).
 
          2. Thời kỳ chung sống.
           a) Thời kỳ đầu : những ngày đầu của cuộc hôn nhân, tình yêu còn cao đẹp, người ta sống lạc quan tin tưởng vào tương lai, nhưng sống với nhau một thời gian, lúc đó tình yêu không còn đằm thắm, người ta mới khám phá ra con người thực của nhau với đầy tình xấu.  Bắt đầu thời gian thử thách !
           b) Sau bảy, tám năm :  Sau một thời gian dài, càng ngày người ta càng khám phá ra con người thật của nhau vì không thể che giấu nổi tính tình của từng người nữa : cái kim giấu kín trong túi áo cũng sẽ bị lộ ra :
                    “Tình yêu thì đui mù
                      nhưng Hôn nhân trao trả ánh sáng cho nó”.
                                                  (Lichtenberg).

           Lúc này tình yêu đã giảm sút, những mối bất hoà ngấm ngầm hay bùng nổ cứ tiếp tục diễn ra, những sự va chạm xẩy ra như cơm bữa; người ta mới đánh giá lại con người của nhau.  Thường người ta hay phóng đại những nết xấu của nhau khi người ta bắt đầu có thành kiến về người phối ngẫu của mình.
           Ngày mới quen nhau, người ta kính phục nhau bao nhiêu thì lúc này lại càng khinh dể bấy nhiêu, coi nhau chẳng ra cái gì cả , hai tình trạng trước sau trái ngược hẳn nhau một trời một vực. Lúc ấy người ta mới nói :           
                                      Xem tướng ngó dạng anh hào
                                      Suy ra nét ở khác nào tiểu nhân.
                                                (ca dao)

 
          3. Hãy hoàn thiện con người mình.
         Hãy sửa đổi con người mình để cho người bạn đời thấy mình là người dễ thương, đáng phục để cứu vãn lấy tình yêu thuở ban đầu.
 
                                      Truyện : thánh Gioan Bocô.
          Khi ở Lille, một hôm người ta đem lên cho cha Gioan Boscô một cái bánh bông lan tuyệt ngon.  Trước mặt ngài có hai bà thuộc loại Veronica ngồi quan sát rất chăm chú.  Một bà nói nhỏ vào tai bà kia :
          - Cha Boscô là một vị thánh sống. Rồi xem,  tôi cam đoan ngài chỉ ăn chút xíu gọi là thôi.
          Không ngờ thánh nhân thính tai lắm, nghe lọt được. Ngài liền cầm dao lên chém một miếng to tướng và phùng má ăn một cách khoái trá vô cùng.
          Thấy sự việc bất ngờ như vậy, bà thứ hai lại thầm thì vào tai bà kia (nhưng thánh nhân cũng nghe rõ được như lần trước) :
          - Bà hãy xem : thánh là thế đó.  Ngài muốn ăn như vậy là chủ ý trình làng rằng mình không phải là thánh như người ta tưởng. Ôi, khiêm nhường thay...
                             (Vũ minh Nghiễm, Sống sống, tr 341-342)
           Chúng ta hãy yêu nhau, hãy nghĩ tốt về nhau. Đừng bao giờ có thành kiến về nhau vì thành kiến chẳng giúp ích gì mà chỉ đưa đến đổ vỡ. Hãy yêu nhau nhiều vì tình yêu có thể hóa giải được tất cả như thánh Augustinô đã nói :”Ama et fac quod vis” : cứ yêu đi rồi làm gì thì làm, bởi vì với tình yêu thì mọi sự sẽ trở nên tốt đẹp.  Đúng vậy :
                                      Yêu nhau quả ấu cũng tròn,
                                      Ghét nhau quả bồ hòn cũng méo.
                                                (Tục ngữ)

 Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt.

 
 

HônPhối 97: HAI  BIỂN  HỒ

 I. SUY NIỆM LỜI CHÚA.
 

Thánh Gioan tông đồ nói :”Thiên Chúa là tình yêu” (1Ga 15,3). Ngài là yêu thương nên đã dựng HônPhối 97

Thánh Gioan tông đồ nói :”Thiên Chúa là tình yêu” (1Ga 15,3). Ngài là yêu thương nên đã dựng nên con người giống hình ảnh Ngài, lại còn ban cho con người một trái tim biết yêu thương để yêu Ngài và yêu tha nhân.  Thiên Chúa là nguồn gốc tình yêu, tình yêu tuyệt đối và Ngài đã san sẻ cho con người để họ biết yêu nhau. Chính vì thế mà trong bữa Tiệc ly, Chúa Giêsu đã căn dặn các môn đệ :”Đây là điều răn của Thầy : anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 15,12). Đây không chỉ là lời khuyên nhưng là một điều luật mà đã là luật thì buộc phải tuân giữ, không giữ thì có tội.
           Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II nói trong t6ng huấn về gia đình : Tình yêu là ơn gọi cơ bản và bẩm sinh của con người.
          Trong thông điệp “Đấng cứu chuộc con người” Đức Gioan Phaolô II cũng nói :
“Con người không thể sống mà không có tình yêu. Con người sẽ mãi mãi không hiểu được chính mình, và cuộc đời sẽ mất ý nghĩa nếu con người không đón nhận được mạc khải về Tình yêu, nếu con người không gặp được tình yêu, nếu con người không thử nghiệm tình yêu, nếu con người không biết tình yêu  thánh của mình, nếu con người không dự phần một cách mạnh mẽ vào tình yêu”.
           Sống ở đời ai mà không yêu vì không yêu là chết. Cuộc sống phải có tình yêu như không khí cần cho việc hô hấp.  Nhưng theo Chúa Giêsu thì chúng ta phải yêu nhau như thế nào ?  Hãy theo nguyên tắc này : hãy yêu thương nhau “như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 15,12).
 
II. HAI LOẠI TÌNH YÊU.
           Yêu thương thì có trăm nghìn đường yêu nhưng chung qui vè hai loại : tình yêu vị kỷ và tình yêu xả kỷ hay vị tha.
           1. Tình yêu vị kỷ.
           Theo chữ Nho chữ vị là vì và kỷ là mình, là cái tôi.  Vậy người yêu thương bằng tình yêu vị kỷ là chỉ yêu mọi cái vì mình, hướng mọi cái vào mình và phục vụ cho lợi ích riêng tư của mình.  Thứ tình yêu này là yêu mình qua người khác, dùng người khác để phục vụ cho chính mình, làm thoỏa mãn sự thèm khát dục tình của mình để rồi khi đã thỏa mãn hay không được như ý thì đẩy đi, thì ly dị theo nguyên tắc “Hay thì ở, dở thì đi”.
           Thứ tình yêu ấy không bao giờ là chân chính và không đem lại hạnh phúc cho ai, ngay cả cho chính mình, như anh chàng Narcisse trong huyền thoại Hy lạp, không hề biết yêu ai, chỉ yêu chính hình ảnh của anh in dưới dòng sông, nên anh ta không bao giờ biết đối thoại, vì có chấp nhận ai đâu để mà đối thoại, mà chia sẻ với mình ! Cuối cùng con người có tình yêu vị kỷ ấy đã chỉ nghe “tiếng vọng” của chính mình, và chết đi trong đơn độc.
           Vì thế, ta có thể nói : kẻ ích kỷ là kẻ yêu mình trước hết và trên hết.  Người khác, với hắn, chỉ là thứ yếu, là bàn đạp.  Hắn là loại tầm gửi của xã hội, là con mọt của mọi người.  Ballanche đã nói :”Ích kỷ là thứ ma cà rồng, nuôi sống mình bằng máu thịt sinh vật khác”.
                                       Tôi yêu anh vạn,
                                      Tôi mến anh nghìn,
                                      Anh có ăn thuốc đưa tiền tôi mua.
                                                (ca dao)


          2. Tình yêu xả kỷ hay vị tha.
           Xả là buông tha ra hay là bỏ đi.  Xả kỷ là bỏ mình, là quên mình đi, là xa lạ với mình để chú ý đến người khác, để tìm hạnh phúc cho người khác.  Ai có tình yêu này là người chỉ biết cho đi mà không cần đòi lại như kinh Hoà bình của thánh Phanxicô Assisi đã nêu lên.  Tình yêu cao qúi này khiến cho kẻ mang nó sẵn sàng hy sinh tất cả để tạo hạnh phúc cho người yêu.
           Đó là hình ảnh của tình yêu Thiên Chúa, Ngài muốn chúng ta, những con người tầm thường hèn yếu – kẻ hôn thê bất xứng của Ngài – được hạnh phúc, đến nỗi Ngài đã chết cho tình yêu, hiến mạng sống vì người yêu như trong thư gửi cho tính hữu Philipphê, thánh Phaolô đã nói:”Ngài, phận là phận của một vị Thiên Chúa, nhưng Ngài đã không nghĩ phải dành cho được chức vị đồng hàng với Thiên Chúa, song Ngài đã hủy mình ra không là lãnh lấy thân phận tôi đòi, trở thành giống hẳn người ta đem thân đội lốt người phàm” (Pl 2,6-7).
                                       Yêu nhau bất luận giầu nghèo,
                                      Dù cho lên ải xuống đèo cũng cam.
                                                (ca dao)


III. TÌNH YÊU VỢ CHỒNG.
           Mọi người phải yêu thương nhau như Chúa Giêsu đã dạy (x. Ga 15,12), vợ chồng còn phải yêu nhau một cách đặc biệt vì cả hai đã trở nên một (x. St 2,24). Vợ chồng phải yêu thương nhau bằng tình yêu xả kỷ, bằng cách quên mình đi để chỉ tìm hạnh phúc cho nhau.  Yêu là dâng hiến, dâng hiến cả con người cho nhau vì cho thì hơn nhận.  Có cho đi thì mới làm cho mình càng thêm phong phú;  còn co cụm lại nơi chính mình thì càng làm cho mình nghèo đi .
 
                                      Truyện :  hai biển hồ
          Palestine có tới hai biển hồ... Hai biển hồ này hoàn toàn khác nhau. Một biển hồ thường được gọi là biển hồ Galilêùa.  Đây là một biển hồ rộng lớn với nước trong xanh mà người ta có thể uống và cá cũng có thể sống trong đó. Xung quanh hồ này là những vườn cây và thảm cỏ xanh tươi. Nhà cửa cũng mọc lên rất nhiều xung quanh biển hồ này...  Chúa Giêsu đã gặp gỡ với những môn đệ đầu tiên của Ngài tại đây và Ngài cũng đã nhiều lần đi thuyền xuyên qua biển hồ này.
           Biển hồ thứ hai tại Palestina là Biển Chết.  Đúng như tên gọi của nó, không có sự sống nào trong cũng như xung quanh biển hồ này. Nước mặn đến nỗi cá không sống nổi mà người cũng có thể trở thành bệnh hoạn nếu uống phải.  Mùi hôi thối từ Biển Chết xông lên khiến không ai muốn sống gần đó.
           Có điều kỳ lạ là hai biển hồ này đều nhận nước từ cùng một nguồn là sông Jordan. Nước sông Jordan chảy vào biển hồ Galiléa rồi từ đó tràn qua các hồ nhỏ và sông lạch khác. Hồ Galiléa nhận lãnh để rồi chia sẻ cho những hồ nhỏ khác, nhờ đó nước của nó luôn trong sạch và mang lại sức sống cho cây cỏ, muông thú cũng như con người.
          Biển Chết cũng nhận nước từ sông Jordan, nhưng nó giữ lấy riêng cho nó, do đó nước của nó trở nên mặn chát và hôi thối.
                                      (Lẽ sống, 1991, tr 66.
           Như vậy, tình yêu vợ chồng phải là tình yêu dâng hiến, tận hiến cho nhau, càng tận hiến cho nhau thì càng trở nên phong phú.  Người ta thường nói :”Có đi có lại mới toại lòng nhau” hoặc “Hòn đất ném đi hòn chì ném lại” kia mà !   
 
          Khi lập gia đình, ai cũng muốn cho mình được hạnh phúc. Hạnh phúc này không có ngay trong ngày thành hôn mà vợ chồng phải nỗ lực tạo dựng , bởi vì hạnh phúc không phải là cái gì tiền chế có sẵn đấy để Chúa ban cho ngay hay cha mẹ tặng cho con cái.  Chúng ta có thể nói : hôn nhân chỉ là chiếc hộp rỗng, phải bỏ gì vào trong đó thì mới hy vọng có thể lấy ra, nếu không bỏ vào thì lấy ra được cái gì.
           Ai cũng muốn biến gia đình thành một tổ ấm. Hay nói mạnh hơn nữa : ai cũng muốn gia đình mình trở thành thiên đàng, nơi đó mọi thành viên trong gia đình được hưởng một đời sống hạnh phúc. Nhưng trớ trêu thay, nhiều khi người tha không biến gia đình thành thiên đàng mà lại biến thành hỏa ngục !  Vì thế, nhà văn hào Honoré de Balzac nói có lý :”Hôn nhân là con đường đưa ta tới thiên đường hoặc hỏa ngục”.
 
                             Truyện : Bữa ăn Thiên đàng và Hỏa ngục.
          Một ký giả kia được phép xuống hỏa ngục và lên thiên đàng để làm một bản phóng sự về đời sống nhân dân tại đó.
           Sau một cuộc hành trình gay go, ký giả trên lọt được vào địa ngục đúng vào giờ ăn. Nhìn vào bàn ăn, anh ta không khỏi lấy làm lạ khi thấy chưng bầy toàn những sơn hào hải vị đang bốc khói hương ngào ngạt làm anh ta không khỏi nuốt nước bọt.
           Nhưng lúc các kiều dân địa ngục tiến vào phòng ăn, chàng ta lại càng ngạc nhiên hơn khi thấy họ ốm o gầy còm, chỉ còn da bọc xương, vài người đi không muốn nổi. Sự kinh ngạc tan biến khi chàng phóng viên chứng kiến họ dùng bữa. Vì muỗng nĩa rất dài buộc dính vào đôi tay không cho phép họ đưa thức ăn vào miệng, nên dù họ có cố gắng thế nào đi nữa, thức ăn chỉ đổ tháo ra đầy bàn hay rơi tung tóe xuống mặt đất. Tệ hại hơn là cảnh họ tranh giành nhau :  vài người dùng muỗng nĩa để thay vì đưa thứcù ăn vào miệng, lại biến chúng thành những khí giới đập đánh nhau.  Thật là một bãi chiến trường. Khi chuông báo giờ ăn đã mãn, họ buồn phiền rời phòng ăn, dạ dầy vẫn trống rỗng.
           Quá sợ hãi, chàng ký giả lập tức từ giã địa ngục để tiến tục lên phóng sự trên thiên đàng.  Đến nơi cũng đúng vào giờ cơm. Bàn ăn cũng chưng bầy những thức ăn ngon miệng. Quan sát nhân dân, chàng ta thhấy ai nấy đều phương phi, khỏa mạnh, tuy đôi tay họ cũng được gắn chặt những muỗng nĩa rất dài. Có khác là thay vì  họ cố gắng đưa thức ăn vào miệng mình, họ lại dùng muỗng nĩa để đút thức ăn cho nhau. Phòng ăn lại vang lên những giọng nói cười vui, thỏa mãn.
           Kết thúc bài phóng sự tường trình về những điều mắt thấy tai nghe, chàng ký giả viết : Ích kỷ và vị tha là hai điểm khác biệt giữa địa ngục và thiên đàng.
                                      (Lẽ sống, 1991, tr 146)
           Thiên Chúa muốn con người biến tất cả thành thiên đàng, không muốn sự hiện hữu của hỏa ngục để giam phạt con người.  Nhưng con người phải có lòng yêu thương đối với tha nhân, phải bỏ bớt cái tôi ích kỷ để lo hạnh phúc cho người khác thì mới có thể biến mọi cái thành thiên đàng được.  Con người có quyền tự do vào thiên đàng hay địa ngục, không bị ai ép buộc. Cũng thế, nếu vợ chồng muốn biến gia đình mình thành thiên đàng tại thế thì cần phải có tình yêu dâng hiến, biết quên mình đi để lo hạnh phúc cho nhau.
 Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ  Kim Phát
Đà lạt.

                                                       
 

HônPhối 98: CÁNH   CỬA

Đàng sau cánh cửa Hôn nhân
 I. LỜI CHÚA : Ga 10,1-10.
 

Chúa Giêsu khẳng định rằng :”Ta là mục tử tốt lành. Mục tử tốt lành thí mạng sống vì chiên” (Ga  HônPhối 98

Chúa Giêsu khẳng định rằng :”Ta là mục tử tốt lành. Mục tử tốt lành thí mạng sống vì chiên” (Ga 10,11), Ngài là Đấng dẫn dắt các linh hồn.  Ngài lại còn khẳng định :”Thật, Ta bảo thật các ngươi : Ta là cửa chuồng chiên.  Tất cả những kẻ đến trước đều là trộm cướp và chiên đã không nghe chúng. Ta là của, ai qua Ta mà vào thì sẽ được cứcu rỗi” (Ga 10,8-9).  Chúa đòi chúng ta phải nhận Chúa là chủ chăn và phải qua Chúa thì mới có phần rỗi cũng như ai muốn vào chuồng chiên thì phải qua cửa.
           Trong bài Tin  Mừng hôm nay khi nghe Chúa Giêsu khẳng định Ngài là cửa chuồng chiên tôi lại liên tưởng đến cánh cửa hôn nhân và tôi muốn các bạn trẻ cũng phải bước qua cánh cửa hôn nhân để xem đàng sau cánh cửa hôn nhân đó có gì...
 
II. CÁNH CỬA HÔN NHÂN.
           1. Cửa thì cần thiết.
           Bất cứ ai làm nhà cũng phải làm cửa.  Nếu xét từ ngoài vào trong ta có : cửa ngõ, cử ra vào nhà, cửa sổ, cửa buồng, cửa tủ.  Các loại cửa đó có thể bằng tre lá, bằng gỗ, bằng nhôm, bằng sắt , bằng kính hay là bằng gì chăng nữa... mục đích của cửa là  để mở ra hay đóng lại :
          - Mở ra cho kẻ ở ngoài vào trong hay ở trong ra ngoài.
          - Đóng lại để ngăn cản cả trong lẫn ngoài : nội bất xuất, ngoại bất nhập.
          Cửa mở ra hay đóng lại là tùy nhu cầu, xử dụng cho hợp lý.
 
          2. Phải vào qua cửa.
           Hôn nhân được ví như một ngôi nhà. Nhà phải có cửa để ra vào. Trước khi bước vào đời hôn nhân, người ta phải bước vào đàng sau cánh cửa để xem bên trong ngôi nhà đó thế nào rồi mới quyết định có nên ở trong nhà đó hay không.  Kinh nghiệm cho hay nhiều người chỉ mới bước tới ngưỡng cửa hôn nhân, chỉ thấy cái cánh cửa đẹp mà chưa biết đàng sau cánh cửa hôn nhân đó thế nào, chưa nhìn thấy những cái bất tiện trong ngôi nhà đó.
          Vì thế sau khi đã bước vào đời sống hôn nhân đôi bạn trẻ mới bỡ ngỡ, bàng hoàng, thất vọng, hối tiếc rồi nảy sinh ra tư tưởng :
                                      Đồng tiền chiếc đũa chia ly,
                             Thiếp đi lối thiếp, chàng đi đường chàng.
                                                (Ca dao)


          3. Quan sát bên trong.
           Ngày xưa, trai gái lấy nhau là do gia đình chọn, bởi thế tình yêu có thể đến với họ sau hôn nhân, vì đã xẫy ra nhiều trường hợp trong ngày lễ cưới mà chưa biết mặt nhau. Còn ngày nay, thế hệ trẻ tiến lên, có tri thức hoặc trình  độ học vấn cao, họ lấy nhau sau một cuộc tình.  Chuyện “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy” đã trở nên lạc hậu, lỗi thời.
           Nhiều đôi bạn trẻ chỉ tìm cách thu hút nhau bằng những cái vẻ hào nhoáng bên ngoài, chỉ có tính cách bì phu, họ quên bẵng một điều quan trọng, một điều cốt lõi, một điều làm nên nền tảng vững chắc cho gia đình mai sau là những tình cảm thắm đượm thánh thiêng và những phẩm chất quan trọng là lý tưởng vươn lên trong tương lai của đối tượng bằng một nhân cách đáng trọng :
                                                Tốt gỗ hơn tốt nước sơn,
                                      Xấu người đẹp  nết còn hơn đẹp người.
                                                          (Ca dao)

          Nói khác đi, đôi bạn phải có tư cách đứng đắn và một đời sống đạo đức theo lời Chúa Giêsu đã dạy :
          “Anh em là muối cho đời” (Mt 5,13)
          “Anh em là ánh sáng choi trần gian” (Mt 5,14”.
           4. Lưu ý trong việc quan sát.
           Chính sự ưa thích vẻ hào nhoáng bên ngoài mà “khi ván đã đóng thuyền” rồi, thì ở nhiều cặp vợ chồng các vụ xung đột thường hay xẩy ra. nguyên  nhân chủ chốt của vấn đề này không ngoài việc họ có quan niệm không đúng đắn về gia đình.
          Ở đây có ba vấn đề đáng quan tâm :
           * Thứ nhất ,  họ chưa ý thứa được hôn nhân là một khởi điểm cho một tương lai lâu dài với nhiều bất trắc khó lường. Họ tưởng lầm rằng mở ra cánh cửa hôn nhân là đã bước chân vào cõi “thiên đường” mà họ không ngờ rằng :”Hôn nhân là con đường dẫn ta tới thiên đường hay địa ngục” (Honoré de Balzac).
           * Thứ hai, họ quên mất rằng sau hôn nhân rất cần đến sự chiếm hữu lấy tình yêu bằng cách cần phải cố gắng để người bạn đời của mình yêu thích mình hơn, quí trọng mình hơn nữa.
           * Thứ ba, khi giáp mặt với sự nhiêu khê trắc trở, với thực tế phũ phàng của cuộc sống, trong gia đạo, họ giải quyết một cách đơn giản và tai hại bằng cách tìm niềm vui và sự bình an ở bên ngoài cánh cửa gia đình.
           Theo số liệu của một số nhà nghiên cứu phương Tây, các cặp vợ chồng ở tuổi 30-40 trong các gia đình có mâu thuẫn thường đi đến một kết thúc thoạt nhìn tưởng êm đẹp nhưng thực chất là một tấm bi kịch.
           Phân tích sâu xa vấn đề ở độ tuổi này, người ta thấy rằng sự trục trặc trong quan hệ vợ chồng diễn ra như sau : người bạn đời được lựa chọn theo những phẩm chất tuy tốt đẹp  nhưng lại không đủ để xây dựng một đời sống gia đình hài hoà.
           Điều nữa, lẽ ra họ phải thích ứng một cách hợp lý những điều kiện khách quan mới của đời sống lứa đôi,  họ lại chỉ dựa vào những phẩm chất “hoa hòe hoa sói”  hồi thời mới yêu nhau.
           Thêm một nhầm lẫn tai hại nữa là suy nghĩ của họ khi mất nhau. Họ “quyết” rằng khi mất nhau, họ chẳng “mất “ gì cả, thậm chí có khi họ lại “được” hơn, khi xây dựng cuộc sống mới với người khác ! Họ thường tự an ủi và khích lệ mình một cách mù quáng rằng chung quanh họ còn có những người khác hiểu họ,  yêu quí họ hơn người bạn đời đáng ghét ở cạnh họ nhiều chục năm nay !
          Ngóc ngách của mâu thuẫn gia đình là do không hiểu nhau từ thuở ban đầu, bởi những huyễn tưởng của tuổi trẻ.  Để cứu vãn tương lai u tối này, một nhà tâm lý học phương Tây đưa ra lời khuyên như sau :
                   “Trước hết, bạn hãy hoàn thiện bản thân mình thành con người lý tưởng sẽ là thỏi nam châm khiến người bạn đời trở nên người lý tưởng như vậy.  Chiến thắng người bạn đời bằng những thủ thuật ma mãnh chẳng hề tạo thêm hạnh phúc cho gia đình. Trái lại,  đó là tiền đề cho sự tan vỡ tất yếu không sớm thì muộn”.
 Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt    


 

HônPhối 99: TẤM   THIỆP

Mời Mẹ Maria đến dự
 I. LỜI CHÚA : Ga 2,1-11.
 

Cưới xin là việc rất thịnh hành trong xã hội. Người ta mời khách đến dự tiệc cưới tùy theo hoàn HônPhối 99

Cưới xin là việc rất thịnh hành trong xã hội. Người ta mời khách đến dự tiệc cưới tùy theo hoàn cảnh của mọi người giầu nghèo sang hèn. Càng giầu có, càng chức quyền cao thì đám cưới càng lớn, càng đông người.
         Thánh Gioan cho chúng ta biết Đức Giêsu và các môn đệ Người được mời đến dự tiệc cưới ở Cana, cả Mẹ Người cũng được mời đi dự. Có lẽ tiệc cưới này là người bà con của Mẹ Maria. Chỗ họ hàng nên Đức Maria phục dịch ở dưới bếp và biết hết những việc gì xẩy ra : Họ hết rượu rồi.
         Đối với người Do thái, rượu là một thức uống quan trọng trong bữa tiệc, thiếu rượu là một sự nhục nhã đối với gia chủ. Cảm thấy sự lo lắng của chủ nên Mẹ Maria đã nhờ Chúa Giêsu can thiệp.  Chúa Giêsu chiều theo ý Mẹ mà làm cho nước hóa thành rượu mặc dầu giờ của Ngài chưa tới.
        Như vậy, Mẹ Maria đã nhận được thiệp hồng để  đến ăn cưới chúc mừng cho cô dâu chú rể. Nếu gia chủ không gửi thiệp mời Mẹ Maria thì hôm ấy gia chủ bị thiệt thòi lớn.
 
II. TẤM THIỆP.
         1. Ý nghĩa của tấm thiệp.
        Bất cứ tấm thiệp nào cũng có mục đích loan báo tin vui hay tin buồn, tùy theo thiệp hồng hay thiệp tang. Gửi thiệp là muốn cho người khác chia vui sẻ buồn với  mình :”Vui cùng người vui, khóc cùng người khóc” (Rm 12,14).
 
        2. Các loại thiệp.
        Có hai loại thiệp:
        * Thiệp tang : báo tin có người chết, mong người khác chia sẻ nỗi buồn với mình.
        * Thiệp hồng : báo tin vui ngày cưới, mong người khác chung vui với mình. Thiệp hồng luơn luôn báo tin vui. Màu hồng nói lên vui tươi phấn khởi. Thiệp hồng làm cho cả người nhận lẫn người gửi đều vui tươi. Đó là ý nghĩa của thiệp hồng.
 
        3. Tâm tình của người gửi.
        Người gửi thiệp có những tâm tình khác nhau, tùy theo tâm trạng họ mang trong lòng.
        a) Màu hồng của thiệp : Có người gửi thiệp với tâm tình vui tươi phấn khởi như ngày Tết vì đây là khúc quặt của cuộc đời, một ngày đáng ghi nhớ. Một tương lai sán lạn đang mở ra trước mắt, một gia đình ấm cúng đang chờ đợi họ.
        b) Màu xám của thiệp : Có người lên xe hoa mà phải mang tâm trạng man mác buồn. Họ biết rằng lên xe hoa là phải bỏ lại cả một bến bờ, có một phần nào nuối tiếc tuổi xuân ; hoặc phải rời bỏ người tình cũ vì đã lỡ bước sang ngang.  Họ phải có một lựa chọn dứt khoát : người này thì phải bỏ người kia :
                                Ngày mai trong đám xuân xanh ấy,
                                Có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi.
                                        (Hàn Mặc Tử)

         c) Màu đen của thiệp : Có người phải lên xe hoa một cách miễn cưỡng vì họ phải chung sống với người mà họ không yêu. Đối với họ sống cũng  gần như chết.  Tấm thiệp đối với họ không còn là màu hồng nữa mà đã chuyển sang màu đen. Xe hoa rực rỡ đối với họ đã trở thành chiếc xe tang.
        Không thiếu gì những cảnh con cái bị cha mẹ ép uổng, phải kết hôn với người mà mình không yêu, đi ngược lại với lời người xưa :
                                Ép dầu ép mỡ, ai nỡ ép duyên
                                        (Tục ngữ)

 
        * Có người bị bán đứng cho người ta vì cha mẹ tham tiền, tham của :
                                        Đường đi những lách cùng lau,
                                Cha mẹ tham giầu, ép uổng duyên con.
                                        Duyên sao cắc cớ hỡi duyên,
                                Cầm gương gương tối, cầm vàng vàng phai.
                                                (Ca dao)

        * Có người bị ép duyên vì cha mẹ sống cảnh phong kiến nhằm “môn đăng hộ đối”.
        * Có người bị ép duyên vì cha mẹ hai bên đã trót hứa với nhau. Đúng như Thomas Champion đã nói :”Hôn nhân không tình yêu là ngày không có rạng đông” hoặc như  E. Moore nói: “Đời mà không có tình yêu chân thật thì như bãi sa mạc cô liêu” .
 
III. HÃY GIỮ LẤY MÀU HỒNG.
         Tấm thiệp không thay đổi, sau bao năm tháng, tên hai người in trên đó vẫn cứ bên nhau. Có đôi hôn nhân ngày gửi thiệp, tên viết bên nhau, mà giờ đây mỗi người một cuối đường xa cách. Tiếng pháo nổ trong ngày cưới thật vui, nhưng cũng có bài ca buồn về xác pháo bay. Tấm thiệp không thay đổi nhưng người sang bên sông có thể đổi thay. Làm sao để đường theo chồng cứ hạnh phúc. Làm sao để người gửi thiệp lúc nào cũng như tấm thiệp cưới màu hồng, tên cứ bên nhau và tình  yêu cứ bên tình yêu mãi mãi.
               Nếu để giữ cho tình yêu lúc nào cũng là tin vui như tấm thiệp có là chuyện gian nan thì cũng chẳng phải là điều khó hiểu. Hai ngàn năm trước, câu chuyện tiệc cưới Cana cho thấy tiệc chưa xong, khách chưa về đã có chuyện gian nan rồi :”Họ thiếu rượu” (Ga 2,3). Chuyện khó khăn trong hôn nhân đã xẩy đến ngay khi ngày cưới chưa qua.
         Tuy đôi tân hôn là trung tâm của ngày cưới, nhưng Phúc âm lại không nói gì về đôi tân hôn cả.  Phúc âm nói về sự thiếu thốn của đôi tân hôn.
         Mẹ Maria đã có mặt trong ngày cưới ở Cana, như vậy là Mẹ cũng đã nhận được thiệp cưới. Chính nhờ tấm thiệp này mà ngày cưới hôm ấy xẩy ra một biến cố rất lớn.  Nếu người gửi thiệp không gửi thiệp cho Mẹ Maria thì đám cưới hôm đó sẽ ra sao ? Nếu ăn cưới mà không có  đủ rượu thì nó tẻ nhạt biết mấy !
         Mẹ Maria được mời như một người khách, nhưng Mẹ đã không đến dự tiệc như một người khách mà như người giúp việc.  Làm sao Mẹ biết họ thiếu rượu nếu Mẹ không quan sát ?  Chắc Mẹ đã nghe tiếng xầm xì.  Mẹ thấy nỗi lo âu của những người chạy việc. Mẹ tế nhị quá. Mẹ để ý đến những chuyện chung quanh ngày cưới  của đôi bạn trẻ.  Mẹ thương người. Mẹ biết tiệc cưới mà thiếu rượu là một kỷ niệm buồn trong ngày hôn nhân. Mẹ muốn tình yêu của họ được trọn vẹn.  Không ai yêu cầu Mẹ giúp, Mẹ đã đến như một người tình nguyện.
         Hạnh phúc cho đôi tân hôn nào có những người khách như Mẹ Maria.  Và cũng đẹp đẽ biết bao nếu khách được mời cũng đến tiệc cưới với tâm tình như của Mẹ.
 Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt 2004


 

HônPhối 100: VUÔNG   TRÒN

Trăm năm tính chuyện vuông tròn
I. LỜI CHÚA.
 

Thánh Phaolô khuyên tín hữu Philipphê cần có lòng thương cảm, một ý hướng và đồng tâm nhất HônPhối 100

Thánh Phaolô khuyên tín hữu Philipphê cần có lòng thương cảm, một ý hướng và đồng tâm nhất trí với nhau trong mọi công việc. Nếu mọi người biết bỏ ý riêng, bỏ tư lợi mà nhắm lợi ích cho người khác thì cuộc sống của cộng đàn sẽ trôi chảy và thu được nhiều lợi ích.  Chúng ta hãy nghe lời ngài khuyên dạy :
 “Anh em hãy có cùng một cảm nghĩ, cùng một lòng mến, cùng một tâm hồn, cùng một ý hướng như nhau. Đừng làm chi vì ganh tị hay vì hư danh, nhưng hãy lấy lòng khiêm nhường mà coi người khác hơn mình. Mỗi người đừng tìm lợi ích cho riêng mình, nhưng hãy tìm lợi ích cho người khác” (Pl 2,2b-4).
 
II. TÍNH CHUYỆN VUÔNG TRÒN.
         1. Câu chuyện vuông tròn.
         Người Việt nam quan niệm trời tròn đất vuông. Vuông tròn hòa hợp thì mọi sự sẽ trôi chảy. Vì thế, từ thời vua Hùng Vương người ta đã làm bánh dầy theo hình tròn và bánh chưng theo hình vuông. Trong các lễ hội, cưới xin hay Tết nhất, người ta thường dùng bánh dầy và bánh chưng, có lẽ tượng trưng cho sự hoà hợp giữa trời và đất, giữa âm với dương hầu đem lại hạnh phúc cho con người.
        Trong việc kiến thiết các ngôi nhà, nhất là đình chùa, ta thấy có mái cong. Tại sao lại có đường cong ?  Đường cong là sự kết hợp hài hòa giữa đường thẳng và vòng tròn. Vì thế, đường cong diễn tả tâm hồn người Việt nam rất uyển chuyển, nhịp nhàng và hài hòa.
         Mái cong không phải là nét đặc trưng của Trung quốc như nhiều người tưởng mà là nét riêng của Việt nam vì mái cong có lẽ đã xuất hiện từ thời Hùng Vương cách đây bốn ngàn năm, còn mái cong ở Trung quốc mới xuất hiện từ đời Đường vào thế kỷ thứ bảy sau công nguyên.
 
        2. Vợ chồng hòa hợp.
         Không phải vô tình mà người Việt nam gọi việc cưới xin là chuyện vuông tròn, vì việc kết hợp hài hòa giữa vuông và tròn nói lên sự kết hợp giữa âm và dương, giữa nam và nữ để cho họ “không còn là hai nữa mà đã trở nên một xương một thịt” (Mt 19,6 ; Mc 10,8).
         Chúng ta tạm coi vợ là tròn, chồng là vuông. Vuông và tròn là hai hình thể khác biệt nhau, nhưng nếu cho hình tròn vào trong hình vuông, hoặc hình vuông vào trong hình trò thì lại trở nên một hình vuông tròn hay tròn vuông rất hài hòa. không có gì đối chọi nhau.
         Cũng thế, vợ chồng là hai cá thể khác biệt nhau về sinh lý và tâm lý như âm với dương, nhưng nếu âm dương kết hợp với nhau thì rất hài hòa, bổ túc cho nhau. Trong cuộc sống hằng ngày vợ chồng có đời sống tâm lý rất khác nhau, có khi là đối chọi nhau như trong khóa giáo lý hôn nhân chúng tôi đã đưa ra năm định luật về sự khác biệt tâm lý như luật ưu tiên, luật phân cách, luật chi tiết, luật bất đồng cảm, luật thính giác.
         Vậy trước sự khác biệt tâm lý của nhau, vợ chồng phải xử trí ra sao ?  Ta hãy dùng lời khuyên của Đức Khổng Tử :”Hòa nhi bất đồng”, nghĩa là vợ chồng chỉ có thể hòa hợp lại với nhau, trong khi đó vợ vẫn giữ được đặc tính của vợ, chồng vẫn giữ được đặc tính của chồng, không bao giờ vợ chồng có thể trở nên đồng nhất đuợc. Biết trước được như vậy, anh chị em thanh niên cần phải tìm hiểu nhau trước khi đi đến quyết định kết hôn :
                                Trăm năm tính chuyện vuông tròn,
                                Phải dò cho hết ngọn ngành lạch sông.
                                              (Ca dao)

         Hãy nhớ lời thánh Phaolô khuyên bảo :”Anh em là những người được Thiên Chúa tuyển chọn, hiến thánh và yêu thương. Vì thế, anh em hãy có lòng thương cảm, nhân hậu, khiêm nhu, hiền hòa, nhẫn nại. Hãy chịu đựng và tha thứ cho nhau, nếu trong anh em, người này có điều gì trách móc người kia” (Cl 3,12-13).
         Chịu đựng và tha thứ cho nhau là chìa khóa của sự  thành công trong đời sống gia đình. Người phụ nữ Việt nam có đặc tính ấy khi có sự căng thẳng giữa vợ chồng:
                                Chồng giận thì vợ làm lành,
                           Miệng cười hớn hở rằng : Anh giận gì ?
                                        (Ca dao)

         Trong cuộc sống gia đình không thể nào tránh được  cảnh “cơm chẳng lành, canh chẳng ngọt”, bởi vì trời có lúc mưa lúc nắng, mặt hồ thu phẳng lặng đôi lúc cũng gợn sóng. Thỉnh thoảng vợ chồng lại có sự va chạm nhưng phải chịu đựng để rồi mọi sự sẽ qua đi vì sau cơn mưa thì trời lại sáng, có đâu âm u mãi ! Truyện mưa nắng trong gia đình luôn luôn xẩy ra nhưng không sao, đó chỉ là gian đoạn đổi bầu khi gia đình thôi, nó cũng có cái hay của nó như người Việt nam ta thường nói về thời tiết :”Trời nắng tốt dưa, trời mưa tốt lúa”.
 
                        Truyện vui
        Một người diễn thuyết rất hùng biện, giọng nói của diễn giả rất cao, ở điểm cao nhất của bài diễn thuyết, ông ta nói :
        - Người mà nhượng bộ khi họ thấy mình sai là một kẻ khôn ngoan. Trái lại, kẻ nhượng bộ khi họ có lý là...
        - Người đã có vợ.  Một thính già hay pha trò ngắt lời ông ta.
 
          KẾT LUẬN
        Hãy thực hiện lời Chúa dạy :”Hãy học cùng Ta vì Ta hiền lành và khiêm nhường  trong lòng”. Nếu biết thực hành lời Chúa trong gia đình thì chắc chắn vợ chồng sẽ tránh được những sự va chạm đáng tiếc, bất cứ cái gì gai góc vợ chồng cũng cố gắng vo cho tròn, gia đình đó đã trở nên thiên đàng rồi.                                                             
 Lm Giuse Đinh lập Liễm
Giáo xứ Kim phát
Đà lạt


 

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn