FICHES DOMINICALES Chú giải Lời Chúa CN năm A

Thứ bảy - 12/05/2018 10:53
FICHES DOMINICALES Chú giải Lời Chúa Chúa Nhật năm A
FICHES DOMINICALES Chú giải Lời Chúa Chúa Nhật năm A
FICHES DOMINICALES
CHÚA NHẬT NĂM A

Dịch từ Fiches dominicales Bulletin de liaison et d'animation des équipes liturgiques du diocesè Saint - Brieuc et Tréguier.
CHÚA NHẬT I MÙA VỌNG.. 2
CHÚA NHẬT II MÙA VỌNG.. 5
CHÚA NHẬT III MÙA VỌNG.. 9
CHÚA NHẬT IV MÙA VỌNG.. 14
ĐÊM NOEL. 17
NGÀY LỄ GIÁNG SINH.. 20
LỄ THÁNH GIA.. 24
LỄ HIỂN LINH.. 27
THỨ TƯ LỄ TRO.. 31
CHÚA NHẬT I MÙA CHAY.. 34
CHÚA NHẬT II MÙA CHAY.. 40
CHÚA NHẬT III MÙA CHAY.. 43
CHÚA NHẬT IV MÙA CHAY.. 48
CHÚA NHẬT V MÙA CHAY.. 52
CHÚA NHẬT LỄ LÁ.. 57
THỨ NĂM TUẦN THÁNH.. 59
THỨ SÁU TUẦN THÁNH.. 61
THỨ BẢY TUẦN THÁNH.. 63
CHÚA NHẬT PHỤC SINH.. 65
CHÚA NHẬT II PHỤC SINH.. 68
CHÚA NHẬT III PHỤC SINH.. 71
CHÚA NHẬT IV PHỤC SINH.. 75
CHÚA NHẬT V PHỤC SINH.. 79
CHÚA NHẬT VI PHỤC SINH.. 82
CHÚA NHẬT VII PHỤC SINH.. 85
CHÚA NHẬT II THƯỜNG NIÊN.. 89
CHÚA NHẬT III THƯỜNG NIÊN.. 92
CHÚA NHẬT IV THƯỜNG NIÊN.. 96
CHÚA NHẬT V THƯỜNG NIÊN.. 101
CHÚA NHẬT VI THƯỜNG NIÊN.. 105
CHÚA NHẬT VII THƯỜNG NIÊN.. 109
CHÚA NHẬT XI THƯỜNG NIÊN.. 114
CHÚA NHẬT XII THƯỜNG NIÊN.. 117
CHÚA NHẬT XIII THƯỜNG NIÊN.. 120
CHÚA NHẬT XIV THƯỜNG NIÊN.. 122
CHÚA NHẬT XV THƯỜNG NIÊN.. 126
CHÚA NHẬT XVI THƯỜNG NIÊN.. 129
CHÚA NHẬT XVII THƯỜNG NIÊN.. 133
CHÚA NHẬT XVIII THƯỜNG NIÊN.. 136
CHÚA NHẬT XIX THƯỜNG NIÊN.. 140
CHÚA NHẬT XX THƯỜNG NIÊN.. 144
CHÚA NHẬT XXI THƯỜNG NIÊN.. 148
CHÚA NHẬT XXII THƯỜNG NIÊN.. 152
CHÚA NHẬT XXIII THƯỜNG NIÊN.. 156
CHÚA NHẬT XXIV THƯỜNG NIÊN.. 160
CHÚA NHẬT XXV THƯỜNG NIÊN.. 163
CHÚA NHẬT XXVI THƯỜNG NIÊN.. 167
CHÚA NHẬT XXVII THƯỜNG NIÊN.. 171
CHÚA NHẬT XXVIII THƯỜNG NIÊN.. 175
CHÚA NHẬT XXIX THƯỜNG NIÊN.. 179
CHÚA NHẬT XXX THƯỜNG NIÊN.. 183
CHÚA NHẬT XXXI THƯỜNG NIÊN.. 187
CHÚA NHẬT XXXII THƯỜNG NIÊN.. 191
CHÚA NHẬT XXXIII THƯỜNG NIÊN.. 195
CHÚA NHẬT LỄ THĂNG THIÊN.. 199
LỄ NGŨ TUẦN.. 204
LỄ MÌNH MÁU THÁNH CHÚA KITÔ.. 206
CHÚA NHẬT LỄ CHÚA BA NGÔI 210
ĐỨC MẸ LÊN TRỜI 213
LỄ ĐỨC KITÔ VUA.. 217

 

CHÚA NHẬT I MÙA VỌNG

SỐNG TỈNH THỨC
(Mt 24, 37-44)

I. VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI:

1. Những câu hỏi “Khi nào”“Thế nào” không có giải đáp:
Chúng ta mở đầu bài Phúc Âm bằng đoạn cuối cùng, hay gần như cuối cùng của Tin Mừng thánh Matthêu. Như thế, Phụng vụ muốn khẳng định ngay rằng, Đấng mà chúng ta đang chờ đón đến với chúng ta dịp lễ Giáng Sinh, chính là Đấng sẽ trở lại vào ngày tận thế, và cũng là Đấng luôn luôn đến với chúng ta.
Đáp lại lời các môn đệ đang trầm trồ trước vẻ huy hoàng của đền thờ Giêrusalem, Đức Giêsu khiến mọi người sửng sờ khi báo trước rằng, dấu chỉ tuyệt vời của sự hiện diện Thiên Chúa đối với dân Ngài ấy chắc chắn sẽ bị huỷ diệt. Ngài khẳng định: Tất cả những gì các con xem thấy, sẽ chẳng còn hòn đá nào trên hòn đá nào; tất cả sẽ bị huỷ diệt (24,2).
Trở lại núi Cây Dầu, nơi ta có thể nhìn thấy toàn cảnh Thành Thánh và Đền Thờ, Đức Giêsu ngồi xuống. Lập tức các môn đệ tới tấp đặt câu hỏi: “Xin Thầy hãy nói cho chúng con biết khi nào điều đó xảy đến. Xin hãy nói cho chúng con đâu sẽ là dấu chỉ cho biết Thầy đến, và đâu là dấu hiệu của ngày tận thế” (24,3).
Đức Giêsu bỏ qua không trả lời những câu hỏi này, bởi vì theo Ngài, đó là điều bí mật của Chúa Cha (24,36).

2. Một huấn lệnh cần phải được tuân giữ ngay lập tức.
Nếu Đức Giêsu từ chối không tham dự vào những cuộc tranh luận của các môn đệ - xưa cũng như nay - về việc Con Người sẽ trở lại “Khi nào” và “thế nào”, thì Ngài lại mạnh mẽ khẳng định rằng đó là điều không thể tránh né. Vì thế, Ngài khuyến khích các tín hữu đang sống trong dòng lịch sử, hãy luôn luôn sẵn sàng: “Vậy hãy tỉnh thức, bởi vì các con không biết khi nào Chúa sẽ đến. Vậy các con hãy sẵn sàng: chính vào giờ các con không ngờ mà Con Người đến”.
Trong Phúc Âm thánh Matthêu, có bốn dụ ngôn minh hoạ lời Ngài dạy. Sau đây là những dụ ngôn được chọn cho Chúa nhật thứ I Mùa Vọng:
* Dụ ngôn về lụt đại hồng thuỷ:
Vào thời Noe, chỉ một mình tổ phụ được “chừa lại”, khi ngài vào trong tàu; chỉ một mình ngài được cứu thoát, bởi vì ngài biết nhìn thấy trước biến cố lụt lội phủ lấp trái đất, ngài đã đọc được những dấu chỉ loan báo việc sắp xảy đến. Những người khác cứ tiếp tục cuộc sống thường ngày, không chút mảy may nghi ngờ, nên đã bị “nuốt trửng”, không phải vì hạnh kiểm họ xấu, mà vì không biết phòng xa.
Cũng vậy, khi Con Người đến, Ngài sẽ quyết định dứt khoát mối liên hệ đời thường nhất giữa những người đang sát cánh bê nhau miệt mài trong cùng một công việc, “đang làm ruộng” hay “đang xay bột”. Một số người biết chuẩn bị tích cực sẽ “được đem đi”, nghĩa là “được cứu thoát”. Những người khác, cứ sống mà không biết thấy trước ngày sắp đến, sẽ bị “bỏ lại”.

* Dụ ngôn kẻ trộm ban đêm:
Con Người đến như lụt đại hồng thuỷ không ai biết trước, như việc tên trộm lẻn đến ban đêm, âm thầm chọc thủng những tấm vách mỏng mang của những mái nhà rách nát xứ Palestine. Vì thế, thái độ duy nhất phải có là luôn luôn “tỉnh thức”, “sẵn sàng”. Không phải trong sợ hãi, mà là trong thanh thản; không phải co rúm tê liệt đi, mà là trong niềm khao khát và năng động mong chờ ngày Chúa đến. Bằng cách lãnh nhận trách nhiệm của chúng ta. Bằng cách chu toàn sứ mạng được trao phó (24,45-51). Bằng cách đến cứu giúp những anh em nghèo túng.
“Vậy người Kitô hữu dấn thân sống như là ngày phán xét đã đến. Hiện tại của thế giới bị chất vấn bởi tương lai. Ước mong rằng người tín hữu luôn trung thành với ơn gọi và sứ mạng đã lãnh nhận” ("Célébrer”, n.224, trang 18).

II. BÀI ĐỌC THÊM:
1. “Đức Giêsu đến gặp chúng ta một cách bất ngờ, nhưng không phải là không báo trước” (Mgr L.Daloz trong “Le règne des cieux s'est approchè”, Desclèe de Brouwer 1994, trang 334... 336).
Ngày và giờ là bí mật của Chúa Cha. Đó không phải là cơn thịnh nộ và sự trừng phạt vào ngày đã định. Nói rằng, chỉ một mình Chúa Cha biết ngày tận thế và việc Con Người trở lại, có nghĩa là đặt thế giới và nhân loại trong tay của Ngài, trong đôi tay nhân từ của Ngài. Đó là đặt chúng ta trong sự thanh thản, an toàn: ai có thể rứt chúng ta ra khỏi đôi tay của Chúa Cha? Chúng ta còn sợ gì, nếu chúng ta được ấp ủ trong tình yêu của Ngài?
Đức Giêsu không mời gọi ta sợ hãi, nhưng mời gọi ta tỉnh thức. Ngài so sánh lụt đại hồng thuỷ và ông Noe: Người ta không nghi ngờ gì hết cho đến khi lụt đại hồng thuỷ đến cuốn trôi hết tất cả mọi sự. Tất cả mọi người mãi lo lắng sự đời: người ta mãi lo ăn uống, cưới vợ gã chồng. Chúng ta cũng vậy, chúng ta mãi lo lắng sự đời, và đó là điều cần thiết! Chính lúc đó, Chúa đến gặp chúng ta. Nhưng để khỏi bị bất ngờ khi Ngài đến, chúng ta phải chuẩn bị như ông Noe. Cũng giống như ông, chúng ta có lời Chúa cảnh báo và nhắc nhở chúng ta; Đức Giêsu nói: Đó, Thầy đã báo trước cho các con. Ngài đến gặp chúng ta một cách bất ngờ, nhưng không phải là không báo trước. Cuộc gặp gỡ này không chỉ diễn ra vào lúc tận thế. Cái chết của mỗi người cũng sẽ bất ngờ. Phải chăng cái chết không là ngày tận thế, ngày tận thế riêng của mỗi người, lúc mà Đức Giêsu đến gặp riêng mỗi người? Ít nhất điều đó đã cảnh báo chúng ta qua ví dụ của Phúc Âm: Bấy giờ hai người đàn ông trên cánh đồng: một người sẽ được đem đi, người kia bị bỏ lại; hai người đàn bà đang xay bột ở cối xay: một người được đem đi, một người bị bỏ lại...
Quan trọng nhất vẫn là tỉnh thức. Không lo lắng, nhưng chú ý, chú ý vào Chúa Cha, chú ý vào Đức Giêsu Kitô. Nếu chúng ta không biết ngày và giờ, thì điều quan trọng là phải biết Ngài, và phải nhận ra Ngài khi Ngài đến với chúng ta. Đức Giêsu nhắc đi nhắc lại hai lần rằng vì ta không biết nên ta phải tỉnh thức: Vậy hãy tỉnh thức, bởi vì các con không biết ngày nào Chúa sẽ đến... Để kết thúc, Ngài dùng một ví dụ chỉ cho thấy sự nghiêm trọng của tình thế, và sự gấp rút phải tỉnh thức. Ví dụ hơi mâu thuẫn, vì nói về một ông chủ nhà tỉnh thức, bởi lẽ ông ta biết giờ kẻ trộm lẻn đến ban đêm. Khi biết, thì dễ chờ đợi hơn! Còn chúng ta, chúng ta thấy thời gian dài, mà chẳng hay biết gì. Không biết là một lý do khiến chúng ta đừng ngủ say. Được hay thua thì điều quan trọng là đừng để tường nhà mình bị chọc thủng. Con Người đến gặp chúng ta. Đừng có ngủ say trong thời gian đó: “Đó là lý do tại sao các con phải tỉnh thức, bởi vì vào giờ mà các con không ngờ Con Người sẽ đến”.

2. “Vì không biết Ngày, các con hãy tỉnh thức” (P.Geoitrain, trong “Assemblèes du Seigneur”, n.5, trang 28).
“Lời khẳng định của Đức Giêsu về việc chúng ta không biết ngày, giờ tránh cho chúng ta khỏi mọi tính toán về ngày Chúa đến. Niềm hy vọng Ngài trở lại luôn luôn còn đó, không phải là một chờ đợi bồn chồn, mà là một chắc chắn về Đấng đã đến, đang đến sống giữa những người thân yêu cuả Ngài, sẽ đem lại ý nghĩa đích thực cho cuộc sống và cho vũ trụ của chúng ta, Thiên Chúa nên mọi sự trong mọi người” (1Cr 15,24-28).
Được giải thoát khỏi những vấn nạn “khi nào và thế nào” rồi, người Kitô hữu chỉ còn lo chú ý vào việc phải sống như là ngày đó đã đến thực sự. Trong ý nghĩa đó, những câu chúng ta vừa đọc mời chúng ta hướng về trời ít hơn là gọi chúng ta quan tâm đến những bổn phận hằng ngày mà Thầy chúng ta đòi hỏi. Sự tỉnh thức càng quyết liệt hơn khi giờ kết thúc vẫn còn chưa điểm. Tiếng kêu của Phúc Âm: “Hãy sẵn sàng, hãy tỉnh thức” phải vang dội trong tâm hồn của người đang chờ đợi cuộc hội ngộ lớn lao, không phải như một nỗi ám ảnh liên hệ đến ơn cứu độ riêng tư của mình, mà như một đòi hỏi trung thành với những sứ mạng Thầy trao phó”.

3. “Hãy có một con tim tỉnh thức” (G.Boucher, “La terre parle au ciel”, trang 5 (tại nhà tác giả: Résidence de Kerampir, 19820 Bohars).
“Thiên Chúa cứu chuộc dân Ngài. Thiên Chúa cứu chuộc nhân loại. Thiên Chúa thức tỉnh ta. Thiên Chúa mời gọi ta. Tới phiên ta trả lời Ngài.
Nếu ta ngủ mê, quá bận rộn với những công việc vật chất, ta sẽ ở bên lề biến cố Thiên Chúa tỏ mình ra là Đấng Cứu độ.
Chẳng lẽ mối lo mua bánh hay thu hoạch rau quả không thể nối tiếp những phút suy nghĩ về ý nghĩa cuộc đời? Những phút ta dừng lại để kiểm điểm mối tương giao với Thiên Chúa? Một tinh thần nhắc nhở chúng ta đừng quá đầu tư vào cuộc sống vật chất đến nỗi không nhìn ra ơn cứu độ mà Thiên Chúa thực hiện nơi ta, “ngày tốt đẹp” mà Ngài đã nói với ta hay sao?
Nếu muốn chụp lấy tấm ván cứu độ, ta hãy mở rộng đôi mắt. Tinh thần minh mẫn. Con tỉm tỉnh thức. Tâm hồn đợi chờ.
Và ta sẽ đi chuyến tàu đang tới”.

 

CHÚA NHẬT II MÙA VỌNG

HÃY DỌN ĐƯỜNG CHO CHÚA

(Mt 3, 1-12)
I. VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI.

1. Nước Trời đã gần đến:
Chính dưới ánh sáng của Đấng Phục Sinh sẽ đến trong ngày quang lâm mà ta khai mạc mùa Vọng này. Cũng chính dưới ánh sáng ấy, với thánh Matthêu, ta cùng đến vào thời đầu sứ vụ của Gioan Tẩy Giả.
- Một câu nói đủ gợi lên sự nhập vai của Gioan: “Vào những ngày ấy, Gioan xuất hiện, loan báo trong hoang địa rằng: Hãy sám hối, vì Nước Trời đã gần...”.
- “Vào lúc ấy...” một công thức báo trước một giai đoạn mới. Một bắt đầu mới.
- “... Gioan xuất hiện...”.
+ Sự bắt đầu mới này loan báo việc nhập vai của Gioan, giới thiệu sự xuất hiện của Đức Giêsu, trong câu 3,13: “Bấy giờ, Đức Giêsu đến từ Galilêa, xuất hiện bên bờ sông Giôđan”.
+ Ở đây, Gioan nhận lấy biệt danh: Tẩy Giả (người làm phép rửa), danh hiệu xếp ông vào vòng ảnh hưởng những nhóm tu sĩ thực hành nghi thức làm phép rửa, vào thời Đức Giêsu; một nghi thức mà các Kitô hữu sẽ du nhập. Và có thể đó là dấu vết của sự căng thẳng liên lỉ, mãi cho tới thời thánh Matthêu, giữa một số môn đồ của Gioan Tẩy Giả và cộng đoàn các môn đệ Đức Giêsu?
+ “Ông loan báo trong hoang địa xứ Giuđê...”. Trong ký ức tập thể của dân Israel, hoang địa là nơi thử thách, nhưng cũng là nơi tình nghĩa cha con của Thiên Chúa, và là nơi của mọi khởi đầu. Chỉ cần gợi lại bốn mươi năm vượt qua sa mạc, bốn mươi ngày bốn mươi đêm của tiên tri Elia trên đường về núi Heorb, bốn mươi ngày bốn mươi đêm của Đức Giêsu nơi hoang địa, bắt đầu sứ vụ của ngài.
+ Ông loan báo điều gì? “Hãy ăn năn thống hối, vì Nước Thiên Chúa đã gần đến”. Trọng tâm của lời giảng của Gioan Tẩy Giả, trong Phúc Âm Matthêu, cũng sẽ là trọng tâm của lời công bố của Chúa Giêsu (Mt 4,17), cũng như sẽ là trọng tâm lời rao giảng của Giáo Hội, theo Tông đồ Công vụ 10,7. Điều Gioan loan báo đã là Phúc Âm rồi: Phúc Âm của Đức Kitô, Phúc Âm của Giáo Hội Ngài.
- Từ nay, theo sự hướng dẫn của Matthêu, chúng ta có thể hiểu con người của hoang địa này hơn, ngài vừa nhập vai, mở màn cho một đoạn mới của lịch sử ơn cứu độ.
+ Vấn đề một tiên tri mà sứ mạng làm trọn lời tiên báo của Isaia 40: “trong sa mạc, có tiếng kêu: Hãy dọn đường Chúa, hãy săn phẳng lối Ngài”.
Cl. Tassin chú giải: “Ngày xưa, Israel sinh ra từ hoang địa trong cuộc Xuất Hành, rồi từ chuyến trở về từ nơi lưu đày. Ngày nay, phải tái sinh nhờ lắng nghe lời tiên tri, và phải dọn đường Chúa đến. Chính Đức Giêsu sẽ làm gương qua việc Ngài chịu phép rửa và thời gian ở trong hoang địa” ("L'Evangile de Matthieu”, Centurion, trang 39).
+ “Y phục ngài bằng lông lạc đà”, nghệ thuật làm tượng thường trình bày như thế, có thể là rất lạ lùng đối với chúng ta ngày nay. Vào thời đó, nó có giá trị biểu tượng rất lớn, bởi vì nó gợi nhớ y phục của Elia (xem sách Các Vua, quyển thứ hai 1,8), mà theo truyền thống Do Thái, sự trở lại phải mở đầu cho chính Đấng Cứu Thế đến (xem Mt 11,4).
+ Còn sự toả lan ra của lời giảng của ngài, thì cũng giống như của Đức Giêsu trong câu 4,23-25, “Giêrusalem, tất cả xứ Giuđêa và khắp miền sông Giođan”.
Theo lời kêu gọi của tiên tri trong sa mạc, một dân tộc tội lỗi sẽ đến dìm mình trong dòng nước mà ngày xưa họ đã vượt qua để vào Đất Hứa: “Họ để ông làm phép rửa trong sông Giôđan khi nhìn nhận tội lỗi họ”. Đó là một khởi đầu mới, một sự sinh thành mới được chuẩn bị kỹ lưỡng.
Jean Perron kết luận trong “Lire la Bible”, số 52, trang 14-15: “Thu tóm trong chính mình tất cả những tiên tri từ thời Elia,đấng tiền hô rõ ràng là tiên tri sau cùng, đồng thời cũng là người thứ nhất trong các tông đồ Kitô giáo; kết thúc tiên tri và mở đầu Phúc Âm, ngài là bản lề nối kết Cựu Ước và Tân Ước”.

2. ... Sự cấp bách trở về:
Sau khi đưa ra một cái nhìn tổng quát về những đám đông tuốn đến sông Giođan, tác giả Phúc Âm kê ra những loại người đặc biệt: “những người biệt phái và những người Sađuceo” đến “chịu phép rửa rất đông”.
+ Xuất thân từ giới bình dân, danh xưng biệt phái (Pharisêu) chỉ “những người tách biệt”, “những người tinh sạch”, họ rất lo lắng đến sự tinh sạch và tuân theo lề luật, đó cũng là một khuynh hướng nệ luật triệt để và nệ hình thức tôn giáo.
+ Xuất thân từ giới thượng lưu và tư tế, những người thuộc phái Saduceo, đồng minh với trật tự đã được thiết lập, chấp nhận sự có mặt của người Roma, khác với những người biệt phái, nỗi tiếng bảo thủ trong vấn đề tôn giáo.
Tuy hoàn toàn đối lập họ với nhau, hai nhóm tôn giáo này cùng có mặt ở đây, cùng đi về sông Giođan theo lời kêu gọi của Gioan, cũng như chẳng bao lâu sau, họ sẽ cùng liên kết với nhau để bắt bẻ Đức Giêsu Nagiarét.
Vị tiên tri của sa mạc không nể nang họ. Vừa nhìn thấy họ, ông đã mạt sát: “Hỡi loài rắn độc”, nghĩa là: “những môi miệng chỉ tuôn ra những lời độc địa”, “ai đã chỉ dạy cho các ngươi tránh khỏi cơn thịnh nộ sắp tới?”. Liệu những con người độc địa, túi tiết ra nọc độc có thể thoát khỏi sự phán xét sắp tới của Thiên Chúa không?
Lời nói nghiêm khắc nhắm vào họ tựu trung ở hai điểm, bằng một lời đe doạ tương tự như nhau: ở câu 10, “cái rìu đã ở kề gốc cây”; và ở câu 12, “tay Người cầm nia”.
+ Điểm thứ nhất là một lời khuyến khích “sinh hoa kết quả”, “một hoa trái diễn tả sự trở về cuả các anh”. Kêu nài đến Abraham cũng không ích lợi gì cả. “Con cái đích thực của Abraham” không phải là những người nói hay nghĩ những điều đúng đắn về Thiên Chúa, mà là những người sống theo ý Thiên Chúa. Cl. Tassin chú giải: “Như thế, trái ngược với một phép rửa cứu thoát một cách tự động, Gioan đòi phải có một sự trở lại thực sự” (O.C. trang 40).
+ Sau cùng, trong điểm thứ hai, Gioan trình bày phép rửa “trong nước dẫn đến sự trở lại” như để chuẩn bị cho một phép rửa khác, một phép rửa “trong Thánh Thần và lửa”. Bởi vì kẻ “đến sau ông” (một từ ngữ chỉ môn đệ), thực ra lại “mạnh mẽ” hơn ông. Đến độ Gioan nhìn nhận rằng mình “không xứng đáng cởi dây giày cho Ngài”, là nhiệm vụ dành riêng cho người nô lệ.
Gioan Tẩy Giả đã khiêm nhường tự xoá mình đi trước Đấng mà ông đã nhận nhiệm vụ dọn đường.

II. BÀI ĐỌC THÊM:
1. “Không thể có Phúc Âm hóa mà không có sự trở lại”. (Đức Cha L.Daloz, trong “Nước Thiên Chúa đã gần”, Desclée de Brouwer, trang 23-24).
“Gioan chất vấn bằng lời nói, nhưng cũng bằng cách sống của ông: hoang địa, y phục, lương thực... Chính cuộc sống của ông đặt vấn đề và lôi cuốn. Sau này, Đức Giêsu nhắc lại điều đó: “Các ông nhìn thấy gì nơi hoang địa? Một cây sậy phất phơ trước gió ư? Vậy thì các ông thấy gì? Một người ăn mặc lịch sự sang trọng ư? Nhưng những người ăn mặc lịch sự sang trọng thì ở trong cung điện nhà vua” (11,7-8). Tiên tri là người đầu tiên phải trở lại. Trước khi loan báo Nước Trời cho người khác, chính ông phải sẵn sàng đón tiếp Nước ấy. Không thể nào loan báo cho người khác nếu chính mình không hồi tâm trở lại, bởi vì đó không phải chỉ đơn thuần là chuyển giao một kiến thức. Thông tin về Nước Trời chỉ có thể được tiếp nhận bởi người nào chấp nhận biến đổi đời mình: Hãy ăn năn thống hối: Nước Trời đã gần đến. Không ăn năn trở lại, thì Nước Trời vẫn ở ngoài cửa mà thôi. Chúng ta cần nghe lại sứ điệp của Gioan Tẩy Giả. Trong một thế giới mà việc loan báo Tin Mừng về Nước Thiên Chúa là nước không được nhận biết, không được tiếp nhận, thì không được quên rằng, sẽ không được Phúc Âm hoá nếu không có sự ăn năn trở lại của người loan báo, cũng như của người lắng nghe Phúc Âm. Chúng ta luôn luôn phải chạm trán với sự không tin hay với sự thờ ơ, dửng dưng. Chúng thách thức ta phải kiểm điểm lại sự trung thành với Phúc Âm, trình bày Phúc Âm không phải là một giáo huấn đơn thuần cho trí hiểu, nhưng là một lời mời gọi biến đổi đời mình. Bởi vì Phúc Âm là sức mạnh đổi mới, hướng dẫn đời sống một cách khác. Phúc Âm khơi gợi một sự ý thức về tội lỗi, một ý chí muốn thay đổi cuộc sống. Đó là ý nghĩa của phép rửa của Gioan: trong khi xưng thú tội lỗi, họ để ông làm phép rửa trong sông Giođan”.

2. “Với Thiên Chúa, chúng ga không thể gian lận” (G.Boucher, trong “Đất nói với trời” xuất bản tại nhà tác giả “Résidence de kerampir, 29820 Bohars).
“Gioan không rào trước đón sau, mắng nhiếc thậm tệ những người đến với ông. Chúng ta có thể nghĩ rằng những người đến với ông đều tỏ ra thiện chí. Bởi vì họ đã bước xuống nước sông Giođan. Bởi vì họ đã dầm mình xuống dòng sông thanh tẩy. Nhưng không đúng thế.
Nghi thức tự nó không đủ. Chính con tim và cách sống mới can hệ. Và khi Thiên Chúa đến thì sẽ là phép rửa bằng lửa: một ngọn lửa tinh luyện và đúc rèn. Một ngọn lửa thiêu đốt thế giới. Một ngọn lửa cháy lên huy hoàng vinh quang.
Chúng ta thấy đó: không phải là vấn đề giả bộ. Với Thiên Chúa, chúng ta không thể gian lận. Và nhất là, nếu chúng ta để Thiên Chúa hành động, thì Ngài sẽ cho thực hiện các phép lạ. Các bạn sẽ sản xuất ra nhiều hoa trái một cách dồi dào phong phú, các kho lẫm trên trời sẽ đầy tràn chan chứa.
Nhưng trước tiên, các bạn hãy ăn năn trở lại! Hãy từ bỏ sự tự mãn! Hãy để Thiên Chúa tràn ngập các bạn và đốt lửa lên trong lòng các bạn!
Các bạn hãy thành thật đi! Đừng tìm cách đánh lừa Thiên Chúa. Hãy từ bỏ sự bảo đảm dựa trên các tập quán để mở rộng con tim các bạn đón nhận những cái mới căn bản của Nước Trời!”.

 

CHÚA NHẬT III MÙA VỌNG

HÃY THUẬT LẠI NHỮNG GÌ ĐÃ THẤY ĐÃ NGHE
(Mt 11, 2-11)

I. VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI:

1. Vào một khúc quanh quyết định, một cuộc đối thoại kỳ lạ:
Phúc Âm Chúa nhật vừa qua trích dẫn thời gian đầu của sứ vụ của Gioan Tiền Hô, chương thứ bốn Phúc Âm thánh Matthêu. Ông loan báo: “Anh em hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần. Đấng đến sau tôi thì quyền thế hơn tôi”. Đốt giai đoạn, sách bài đọc hôm nay đưa chúng ta đến chương thứ 11 của thánh Matthêu, nơi diễn ra cuộc đối thoại kỳ lạ giữa vị tiên tri vùng hoang địa và Đức Giêsu.
- Thực ra Gioan đang ở trong tù (xem 4,12). Trong khi chờ đợi trả giá sự can đảm bằng chính mạng sống mình, ông đành mất tự do vì đã tố cáo phẩm hạnh xấu của Hêrôđê Antipas, con của Hêrôđê Cả (ông ta sống với nàng Hêrôđiađê, là vợ của Philipphe, anh ông ta: 14,4-5). Về phương diện thể xác, ông từ từ tự xoá mình đi trước Đấng mà ông đã nhận lãnh sứ mạng loan báo đang đến.
- Còn Đức Giêsu, sau nhiệt tình ban đầu của cuộc đời công khai, Ngài đã có kinh nghiệm đau đớn về tính hay thay đổi của những đám đông xứ Galilê. Lời giảng dạy của Ngài, thôi thúc thính giả phải chọn lựa, phải quyết định, đã gây chia rẽ về con người của Ngài. “Những công trình” của Ngài không phải là những việc mà cách chung người ta chờ đợi nơi Đấng Cứu Thế! Và sự đối lập căng thẳng sẽ buộc Ngài phải khôn ngoan rút lui.
Chính ở khúc ngoặt quyết định này, đối với Đức Giêsu, cũng như với Gioan Tiền Hô, mà tác giả Phúc Âm đã đặt cuộc đối thoại kỳ lạ, qua trung gian những người được sai đến.

2. Câu hỏi của một tiên tri bị hoang mang:
Như chúng ta thấy trong Chúa nhật vừa qua, Gioan Tiền Hô không ngừng loan báo việc Đấng Cứu Thế sẽ đến, “sức mạnh của Ngài giáng xuống” như sấm sét. Nhưng thái độ của Đức Giêsu rất không phù hợp với những lời khuyên bảo nghiêm khắc của ông. Không hề có ý định tiêu diệt những người tội lỗi, Ngài đi từ làng này sang làng khác, mở rộng đôi tay đón nhận tất cả những cảnh khốn khổ cùng quẫn của con người, chữa lành bệnh nhân (8 và 9), tha thứ tội lỗi (9,1-8), kêu gọi một người thu thuế bước theo Ngài (9,9), đồng bàn với những người tội lỗi (9,10). Khác xa với vị quan toà đáng sợ mà Gioan đã loan báo, Đức Giêsu xuất hiện như người tôi tớ kín đáo, người ta không nghe tiếng Ngài trên quảng trường, Ngài không bẻ gãy cây sậy bị giập nát và không làm tắt tim đèn còn bốc khói (12,19-20).
Ở đây Gioan đối đầu với cớ vấp phạm (scadale), nghĩa là đối đầu với một chướng ngại có nguy cơ làm ông sụp ngả. Một Đấng Cứu Thế Tôi Tớ, khiêm nhường và đau khổ, khác xa với Đấng mà ông đã loan báo. Đó là thử thách đức tin của ông: đang chờ đợi một sự biểu lộ công bình, thì ông lại gặp lòng thương xót của Thiên Chúa.
Vì thế, từ trong tù ngục Machéronte, từ đáy sâu suy tư mà hoàn cảnh đã nhận chìm ông vào, Gioan, vị tiên trị bị hoang mang, đã sai các môn đệ đến đặt cho Đức Giêsu câu hỏi từ lâu thiêu đốt tâm hồn và môi miệng ông: “Ông có phải là Đấng phải đến (một sự chỉ định Kitô-giáo về Đấng Cứu Thế, lấy từ thánh vịnh 118,26), hay chúng tôi còn phải chờ đợi một Đấng khác?”.

3. Câu trả lời của một Đấng Cứu Thế gây hoang mang.
Đức Giêsu trả lời trong hai hồi. Trước hết là nói với chính Gioan. Sau đó, là nói về Gioan.
- Trong hồi thứ nhất, Đức Giêsu gởi gắm một sứ điệp cho những người được Gioan phái đến: “Các anh cứ về thuật lại cho Gioan những điều mắt thấy tai nghe: người mù xem thấy, kẻ què được đi, người cùi được sạch, kẻ điếc được nghe, người chết sống lại, kẻ nghèo được loan báo Tin Mừng”.
Một sứ điệp diễn tả những hoạt động từ thiện của Đức Giêsu ưu ái dành cho đám đông. Một sứ điệp thực sự đưa Gioan Tiền Hô về lại với những lời loan báo tiên tri của sách Isaia; đặc biệt là Is.35 của bài đọc thứ nhất Chúa nhật hôm nay: “Bấy giờ mắt người mù sẽ mở ra và tai người điếc...”, và Is.61: “Thánh Thần Chúa ngự trên tôi... Ngài sai tôi đem Tin Mừng cho người nghèo khó”.
Như A.Marchadour giải thích điều đó rõ ràng trong một tác phẩm mới xuất bản: “trong kinh nghiệm của dân Israel, phép lạ được định vị chủ yếu trong thời gian cuộc Xuất Hành... Dân Israel hy vọng rằng, những dấu lạ này sẽ lại đến trong thời gian sau hết, khi Thiên Chúa còn gần gũi với dân Ngài và sẽ bày tỏ điều đó ra bằng những dấu chỉ: “Bấy giờ mắt người mù sẽ mở ra, và tai người điếc sẽ nghe được. Bấy giờ người què sẽ nhảy lên như nai, và lưỡi người câm sẽ kêu lên vui mừng! Bởi vì, nước sẽ chảy vọt ra trong hoang địa và thác sẽ trào dâng trong thảo nguyên” (Is 35,5-6).
Đó là điều mà Đức Giêsu và Giáo Hội kế tiếp Ngài sẽ hiểu (xem 7,18,23). Chỗ đứng quan trọng của các phép lạ thời Đức Giêsu (và cũng một phần trong thời Giáo Hội sơ khai) là sự hoàn thành của thời gian sau hết (Les Evangiles au feu de la critique”, Bayard Editions, Centurion 1995, trang 120-121).
Như vậy thời gian viên mãn đã đến; Đấng Cứu Thế được mong đợi đã đến. Nhưng còn phải phân định những dấu chỉ của sự hiện diện của vương quốc, và, như vậy là, như J.Radermarkers đã viết: chấp nhận được kể vào số những người mù được nhìn thấy, người câm điếc được nghe, người nghèo được Phúc Âm hoá” ("Au fil de l'évagile selon saint Mathieu” trang 154).
Sau cùng, Đức Giêsu nói với Gioan: “Phúc cho ai không vấp phạm vì Ta”. Nói khác đi, phúc cho ai sẽ vượt qua chướng ngại, sẽ phá vỡ cạm bẫy được giương ra, sẽ không vấp ngã! Ngoài Gioan, một thứ phúc thật có thể được áp dụng cho tất cả các tín hữu, cho mỗi người chúng ta.
- Sau khi các sứ giả trở về trại giam (pháo đài) Machéronte, sang hồi thứ hai, Đức Giêsu, đối chiếu sứ vụ của Gioan với sự vụ của mình, đã khen ngợi Gioan Tẩy Giả. Nếu những nhân chứng tuốn về phía con người của sa mạc.
+ Không phải là đến để xem “cây sậy phất phơ trước gió” trên bờ sông Giođan, một con người nhu nhược ngả nghiêng trước gió: can đảm trong việc giảng thuyết, Gioan đã tỏ ra không nao núng trong nghịch cảnh và cơn bách hại.
+ Cũng không phải là để đi xem “một người mặc y phục sang trọng”, một nhân vật trần thế: nhà khổ hạnh của sa mạc mặc y phục của tiên tri Elia, vị tiên tri được mong đợi trong thời sau hết, kẻ phải đến trước Đấng Cứu Thế;
+ Chính là để đi đến với “một vị tiên tri”, và Đức Giêsu khẳng định: “còn hơn một vị tiên tri nữa": ông là “vị sứ giả” cuối cùng, được tiên tri Malachia loan báo (3,1), “kẻ dọn đường”, Đấng tiền hô.
Theo nghĩa đó, ông là vị tiên tri lớn nhất trong các tiên tri, bởi vì ở nơi ông, tất cả sự trông đợi được diễn tả qua truyền thống các tiên tri đã đạt đến đích điểm: Đức Giêsu long trọng tuyên bố: “Giữa con cái loài người, không ai lớn hơn Gioan Tẩy Giả”. Tuy nhiên, ngay lập tức, Ngài nói thêm một cách ngược đời: “người nhỏ nhất trong Nước Trời còn lớn hơn ông ta”. Cl. Tassin diễn giải: “Theo lịch sử nhân loại, không có ai lớn hơn ông. Thế nhưng, người bé nhỏ nhất trong các Kitô hữu lại vượt qua ông trong phẩm cách, với tư cách là thành viên của một vương quốc đảo ngược những tiêu chuẩn nhân loại và ưu đãi những người bé mọn” ("L'Evangile de Matthieu, Centurion, trang 122).

II. BÀI ĐỌC THÊM
1. “Những dấu chỉ của sự hiện diện Nước Thiên Chúa không có ly kỳ” (F.Deleclos, trong “Prends et mange la Parole”, Centurion-Doculot, trang 10).
Người ta chờ đợi một người làm sáng tỏ công lý không biết thương xót và ở đây lại là một vị thuyên chữa thân xác, một lương y của các tâm hồn. Người ta đã loan báo sự báo oán của Thiên Chúa, thế mà ở đây lại là lòng thương xót được trao ban với sự dịu hiền và khiêm nhường. Một nhà giải phóng kỳ lạ và rất khác biệt với dung mạo được tiên báo!... “Ông có phải là Đấng phải đến hay là chúng tôi còn phải đợi một người khác?”.
Đấng tiền hô sẽ thoả mãn với những dấu chỉ và bằng chứng. Thế nhưng ở đây, không phải là vinh quang rực rỡ, cũng không phải là sự báo oán thẳng tay. Cũng không là một lời giải đáp cho những hy vọng chính trị, tôn giáo, ái quốc của một số đông. Đấng Cứu Thế đang ở đó, sự giải phóng đã bắt đầu. Nước Thiên Chúa đã khai mào. Một cách khác. Bất thình lình. Không ngờ. Đức Kitô thực sự không đáp ứng dễ dàng những tiêu chuẩn tự nhiên, những cái nhìn quá chật hẹp và quá khô cứng bởi những lợi lộc vật chất trần tục của chúng ta.
Nếu Gioan đã có thể hồ nghi, điều này cũng dễ hiểu, thì những người khác đã hiểu ngay tức khắc, dù Thiên Chúa thinh lặng: những người được chữa lành, những người được thanh tẩy, những người được biến đổi và đám đông những người nghèo hèn này sau cùng được nhìn với sự yêu thương, được xem như là những con người được hoàn toàn ưu ái, con cái của vương quốc, những người thừa kế thực sự. Có thể là họ không biết tất cả những sắc thái của các lời tiên tri, không biết đến cả ngàn thứ quy định của Lề Luật, dù là thuộc về giáo thuyết, phụng vụ hay luân lý. Họ không có kiến thức khoa học, không quyền bính, không tiền bạc và không cả sự kính trọng. Phúc cho “những con người bé nhỏ này”, nghèo túng rất nhiều thứ, nhưng lại giàu sự hiểu biết của con tim. Họ hiểu biết mà không xét nét, và đã trở nên bằng chứng sống động của sự thâm nhập của một thế giới khác. Những nhân chứng đầu tiên. Còn lớn hơn cả đấng tiền hô nữa.
Những dấu chỉ sự hiện diện của Nước Thiên Chúa và của Đấng Cứu Tinh không có gì là ly kỳ cả. Trái lại, kín đáo và ẩn giấu trong khối bột của đời sống thường ngày, chúng dễ dàng lướt qua, không ai để ý.
Những bằng chứng về tính đích thực không bị đông cứng lại trong những tuyên bố những nguyên tắc, những đe doạ và những vạ tuyệt thông ầm ĩ, cũng không có trong sự rõ ràng của những tín điều được công bố. Chính Đức Giêsu từ chối trả lời cho đấng tiền hô qua việc giới thiệu những danh hiệu của Ngài, cho những thái độ khiêu khích gây kinh ngạc, đụng chạm và chia rẽ của Ngài.
Những bằng chứng ư? Những cử chỉ yêu thương và tha thứ, bằng chứng của một tinh thần rộng mở và luôn luôn niềm nở, một trái tim không biên giới, một sự hoàn toàn kính trọng tất cả mọi người, một sự say mê chân lý và công bình, một sự trung thành không ngừng bênh vực quyền lợi của Thiên Chúa và của con người. Thiên Chúa và con người không thể tách rời nhau.

2. “Mở mắt, mở tai... tâm hồn” (Mgr. L.Daloz, trong “Le Règne de Diei s'est approché”, Desclée deBrouwer, 1994, trang 160).
“Tìm kiếm sự phi thường, kỳ diệu luôn luôn là một cám dỗ; còn tế nhị hơn nữa, tìm kiếm sự thành công, sự kính trọng, lòng khao khát lôi cuốn sự chú ý, thủ đắc uy tín xã hội cho chúng ta hay cho Giáo Hội. Chúng ta muốn gây một ấn tượng tốt, nếu có thể gây nên cảm giác, muốn giới thiệu những dấu chỉ như là những thư giới thiệu. Thế nhưng, những dấu chỉ đích thực của Đấng Thiên Sai lại chiếu cố đến những người bé mọn, những người bệnh tật, những người nghèo. Vì thế, dấu chỉ của ơn cứu độ thường được giấu kín, không hiểu thấu được. Để có thể thấy được, phải tìm kiếm, phải chú ý, lắng nghe và nhìn xem: “Hãy đi báo cho Gioan những gì các ông nghe và thấy”. Đang ở trong tù, Gioan vẫn theo dõi những gì người ta nói về Đức Giêsu: ông sai các môn đệ đến với Đức Giêsu để phỏng vấn Ngài... Cũng phải mở rộng con tim để hiểu: “Phúc cho ai không vấp ngã vì Ta”. Chính những dấu chỉ phải đương đầu với sự mâu thuẫn... Quả thật người ta có thể bỏ qua, quả thật người ta có thể thấy chúng “không có gì đáng kể”, hay người ta có thể lầm lạc khi tìm kiếm những việc phi thường. Để nhận ra Đức Kitô, phải mở mắt, mở tai... và mở con tim nữa”.

3. “Phép lạ, dấu chỉ ơn cứu độ của Thiên Chúa cho con người” (A.Marchadour, “Les Evangiles au feu de la critique”, Bayard Editions, Centurion, trang 121-122).
“Không được cô lập phép lạ ra khỏi toàn bộ Phúc Âm. Đó là phần chính yếu của sứ mạng Đức Giêsu. Có nghĩa là, ơn cứu độ do Đức Giêsu đem đến không phải chỉ là Tin Mừng suông, một sự hiểu biết giúp thoát khỏi sự tối tăm ngu dốt, và chuyển thông một kiến thức mới về Thiên Chúa; nhưng đó cũng là một sự giải phóng thân xác, một sự khôi phục toàn diện cho những người què quặt, cho những người sống bên lề, cho những người bị đánh mất chính mình (bị ám ảnh bởi một người khác), cho những người bị loại trừ ra khỏi xã hội. Phép lạ tượng trưng cho một chương trình cứu độ, chịu trách nhiệm về những thực tại thân xác, vật lý, thiêng liêng và xã hội của con người.
Phép lạ luôn luôn xuất hiện như một sự phản kháng, chống lại một trạng thái nào đó của những sự vật, một sự từ chối chống lại tai ương, dù là sinh vật học, thiên nhiên hay xã hội. Người có ơn đoàn sủng là người vượt qua những ranh giới và giúp cho người khác vượt qua những ranh giới đó. Có thể chúng ta chạm ngón tay vào một nét lớn của phép lạ, là phải nắm giữ lại khi chúng ta tự hỏi về tính thời sự của phép lạ. Ngày nay, chúng ta ít thấy những phép lạ thuộc loại sinh vật học; tuy nhiên, phải tự hỏi về những vươn lên, những vượt qua các giới hạn mà chúng ta được mời gọi. Phép lạ giả thuyết hai người nghèo túng: người thứ nhất là Đức Giêsu, “Ngài là Đấng vốn giàu có đã tự trở nên nghèo hèn vì anh em” (2Cr 8,9). Người thứ hai là người đón nhận dấu chỉ của Đức Giêsu, là người khốn quẩn đến nỗi đã để cho sức mạnh của Đức Giêsu hành động trên chính mình và qua chính mình”.

 

CHÚA NHẬT IV MÙA VỌNG

BÁO TIN CHO GIUSE
(Mt 1, 18-24)

I. VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI:

1. Một gia phả kỳ dị:
Chúa nhật thứ IV này, bài đọc năm A trích trong đoạn mở đầu Phúc Âm thánh Matthêu (1,1-4,16). Claude Tassin giải thích: Một đoạn mở đầu như một cái sàng, cho phép đi từ Cựu Ước đến Tân Ước. Bởi vì, đối với Matthêu, Đức Giêsu không đến cắt đứt những quỹ đạo lịch sử Kinh Thánh thời trước, nhưng nối kết chúng lại trong một chiều hướng bất ngờ ("L'Eangile de Matthieu”, Centurion, 1991, trang 19). Đó rõ ràng là điều nỗi bật của đoạn văn dùng cho ngày 24 tháng 12 này.
Khác với thánh Luca đã gom lại các mẩu chuyện về thời ấu của Đức Giêsu, nhưng tập trung vào Đức Maria, thánh sử Matthêu đưa Giuse ra trước; như thế, ngài cống hiến cho các độc giả của ngài một con đường đi đến mầu nhiệm Đức Giêsu.
Gia phả của ông: “Đây là gốc gác Đức Giêsu Kitô...” (1,1-17) trước hết muốn tỏ cho biết Đức Giêsu Kitô là Ai: “Đức Kitô, con vua David, con của Abraham”. Tuy nhiên, việc giới thiệu ấy bất ngờ chuyển hướng; một khâu cuối cùng bị trục trặc, sự liên tục của các thế hệ bị đứt đoạn, bởi vì, ông nói rõ ràng là, Giuse không phải là cha ruột của Đức Giêsu: “Giacob sinh Giuse, chồng của Maria, từ nơi bà Đức Giêsu sinh ra, cũng gọi là Đức Kitô” (câu 16).
Mặc dầu vậy, Matthêu sẽ chỉ cho biết, làm thế nào Đức Giêsu là con của David được các tiên tri báo trước, và làm thế nào, Giuse, không hề cắt đứt sự liên tục, lại là người nối kết lại. Ông nhấn mạnh ở câu 18: “Đây là gốc tích (nguồn gốc) của Đức Giêsu”.
- “Maria, mẹ của Đức Giêsu, đã đính hôn với Giuse...”. Vào thời đó, đôi vợ chồng đính hôn khi còn là thanh niên, sau một thời gian mới đi đến hôn nhân và vợ về nhà chồng.
Chính trong khoảng thời gian này, “trước khi hai ông bà về chung sống với nhau” Maria “có thai”. “Do tác động của Chúa Thánh Thần”, Matthêu thêm vào ngay lập tức, nhìn nhận đây là sự khởi đầu thánh thiêng, thay thế một hành động tạo dựng, cho tiến trình sinh vật học.
- “Giuse, người công chính...”. Chúng ta đừng tìm cách đi vào tâm lý của Giuse, đang phải đương đầu với một hoàn cảnh tế nhị. Tuyệt nhiên, bản văn không nói với chúng ta điều gì cả. Chúng ta chỉ có thể đọc được ở đấy quan điểm của thánh sử. C.Tassin chú giải: “đối với ông, Giuse là người công chính, bởi vì ngài đã từ chối đảm nhận tư cách làm cha không phải là của ngài, và bởi vì ngài đã vâng lời Thiên Chúa mà chịu nhận vai trò làm cha này” (O.C. trang 26).
- “Thiên thần Chúa hiện ra với ông trong giấc mơ...”. Rõ ràng là chúng ta đang gặp thể loại văn chương chuyên loan báo việc hạ sinh trong Kinh Thánh mà Matthêu đi theo sơ đồ truyền thống: 1- một hoàn cảnh bế tắc. 2- Thiên thần hiện ra và uỷ thác sứ mạng. 3- Việc thực hiện sứ mạng này.
Giữa hoàn cảnh bế tắc, Giuse được uỷ nhiệm một sứ mạng: với tư cách là “Con vua David”, ngài được giao phó sứ mạng “đặt tên cho con trẻ”, dành riêng cho ngài. Mà, theo H.Vulliez giải thích: “Theo luật Do Thái lúc bấy giờ, đứa bé hiện hữu hợp pháp bằng tên mà người ta gọi nó, và nó thuộc dòng dõi người cha, dù đó là người cha (sinh vật học) ruột thịt hay không” ("Dieu si proche”, Desclée de Brouwer, trang 16). Như vậy, tư cách con vua David thực sự của hài nhi và sự thực hiện trọn vẹn các lời tiên tri cứu thế tuỳ thuộc ở sự vâng lời của Giuse. Chẳng những ngài không phải mờ nhạt đi, mà Thiên Chúa muốn cần đến ngài để thực hiện ý định cứu độ của Thiên Chúa.
- “Khi thức dậy, Giuse đã thực hiện điều Thiên Chúa truyền...” Với sự mau mắn của người công chính, hoàn toàn sẵn sàng trước sự mới lạ của Thiên Chúa, Giuse đón nhận về nhà mình mầu nhiệm của Giao Ước mới: “Ông rước vợ về nhà mình”, như thế, cho phép các lời tiên tri được thực hiện trọn vẹn: “Này đây, một trinh nữ sẽ thụ thai và sinh hạ một con trai, người ta sẽ đặt tên là Emmanuel, có nghĩa là “Thiên Chúa ở cùng chúng tôi” (xem Is. 7). Nhờ Giuse, Đấng Cứu Thế, thụ thai trong lòng Đức Maria, bởi Thánh Thần của sự sáng tạo mới, được đưa nhập vào dòng dõi David. Với đoạn các Nhà Đạo Sĩ kế tiếp, Ngài sẽ tỏ mình ra cho Israel và dân ngoại.

2. Một tên gọi khai mào và kết thúc Phúc Âm:
Thế nhưng, hơn cả vai trò của Giuse trong ý định cứu độ, chính sứ mạng của Đức Giêsu mới làm cho Matthêu quan tâm. Một sứ mạng mà hai tên gọi loan báo được trao phó cho Ngài:
- Tên mà Giuse được uỷ thác trao phó cho Ngài: “Giêsu”, và có nghĩa là: “Thiên Chúa cứu chuộc”, “bởi vì, chính Ngài sẽ cứu dân Ngài khỏi tội lỗi”.
- Tên gọi mà sau này sẽ dùng để chỉ định Ngài, khi mà, trong ánh sáng phục sinh, các môn đệ sẽ hiểu là đã thực hiện lời sấm của Isaia: “Người ta gọi tên Ngài là Emmanuel, nghĩa là: “Thiên Chúa ở cùng chúng tôi”. Thực ra, vào cuối Phúc Âm, khi gặp nhau tại điểm hẹn, Đấng Phục Sinh sẽ sai họ ra đi với sứ mạng không biên giới, Ngài tuyên bố với họ: “Và Ta, Ta ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế”, thì họ sẽ hiểu rõ tầm mức quan trọng cuối cùng của lời tiên tri về Emmanuel, “Lời loan báo cho Giuse đã vẽ nên quĩ đạo sứ mạng của Đức Kitô” (C.Tassin, O.C. trang 28).

II. BÀI ĐỌC THÊM:
1. “Nguồn gốc khác” (Mgr L.Daloz, trong “Le Règne des cieux s'est approché”, Desclée de Brouwer, trang 16-17).
“Đây là gốc tích của Đức Giêsu...”. Sau quyển sách gốc tích của Đức Giêsu Kitô, thì đây là một nguồn gốc khác được trình bày cho chúng ta. Đức Giêsu, bám rễ sâu vào một lịch sử, trong một dân tộc, cũng là Đấng đến từ nơi khác. Giacob sinh Giuse, chồng của Maria, từ nơi bà, Đức Giêsu sinh ra... Giuse đã đưa đứa trẻ sắp sinh nhập vào trong dòng dõi tổ tiên mình một cách hợp pháp; nhưng hài nhi này lại đến từ một Đấng khác: đứa con bà sinh ra là bởi Chúa Thánh Thần. Giuse, người công chính, sẽ đặt tên cho hài nhi: bà sẽ sinh một con trai mà ông sẽ đặt tên là Giêsu. Tên gọi có ý nghĩa, cho biết hài nhi không phải là hậu duệ như những người khác, đóng kín trong những giới hạn của khả năng loài người: bởi chính Ngài sẽ cứu dân Ngài khỏi tội lỗi. Ai có thể giải thoát khỏi tội lỗi, nếu không phải là Thiên Chúa? Lời tiên tri nhận lấy đầy đủ tất cả ý nghĩa: người ta sẽ gọi tên Ngài là Emmanuel, nghĩa là Thiên Chúa ở cùng chúng tôi. Đức Giêsu ghi tên vào một gia phả, nhưng Ngài làm nổ tung gia phả đó. Chính Thiên Chúa bước vào trong thế giới loài người chúng ta.
Tuy nhiên, vai trò của Giuse không phải là tầm thường. Khoa tâm lý hiện đại đã tỏ cho chúng ta biết tầm quan trọng của hình ảnh người cha đối với việc tạo thành nhân cách của hài nhi. Chính nhờ gần gũi với Giuse mà Đức Giêsu sẽ học biết người cha là gì. Chính nơi ông, mà Ngài sẽ nhìn thấy phản ánh nhân loại tình phụ tử của Thiên Chúa. Biết nói với chúng ta rõ ràng về Cha của Ngài, phải chăng khi đã nhìn thấy Giuse mà Ngài đã có kinh nghiệm về sự âu yếm của cha: “Ai trong các anh, nếu đứa con xin bánh mà lại cho một hòn đá ư? Hay, nếu nó xin một con cá, mà lại cho nó một con rắn?” (7,9-10). Ngài đã học biết rằng, các người cha dưới đất biết cho con cái mình những sự tốt lành. Ngài đã học biết điều đó nơi thánh Giuse.
Chúng ta đừng quên rằng, những đoạn văn đến “sau": sau một sự khám phá lâu dài về con người Giêsu, con của bác thợ mộc, sau những lời nói và những dấu chỉ đã làm nảy sinh đức tin trong tâm hồn các môn đệ, sau những hồ nghi và sau cùng, sau một sự chắc chắn về sự phục sinh: phải nhìn nhận rằng, Đức Giêsu đã là một Đấng khác, để chúng ta có thể hiểu rằng Ngài đã từ nơi khác mà đến. Trong lịch sử nhân loại, nguồn gốc thần thiêng của Đức Giêsu là một sự kiện không ai để ý đến, không ngừng được tranh cãi và chối bỏ: Đó không phải là con bác thợ mộc sao? Nhờ Thánh Thần, Thiên Chúa dẫn nhập cái mới vào trong thế giới chúng ta. Ngài đã trở thành Thiên-Chúa-Ở-Cùng-Chúng-Tôi. Chỉ nguyên việc đón nhận cái mới là chính Đức Giêsu, cái mới mà Ngài đem đến cho cuộc đời chúng ta, có thể dẫn ta đến chấp nhận điều bất ngờ trong việc Ngài sinh ra. Chính kết quả của việc khám phá này mà Matthêu muốn gởi gắm cho chúng ta. Chúng ta không thể chấp nhận nguồn gốc của Đức Giêsu bởi tác động của Chúa Thánh Thần mà không nhìn nhận là Ngài đến từ Thiên Chúa. Chính khi đã nhìn biết Ngài, chính khi đã hiểu rằng, Ngài là Đấng khác, thì chúng ta mới có thể đón nhận mầu nhiệm giáng sinh của Ngài”.

2. “Tính cách làm cha của Giuse đối với Đức Giêsu chắc chắn quan trọng hơn như gnười ta vẫn thường nghĩ” (Jean-Noel Bezancon, trong “Jésus Christ” ("Petit encyclopédie moderne du christianisme") Desclée de Brouwer, trang 43-45).
“Tính cách làm cha của Giuse đối với Đức Giêsu quan trọng hơn ta vẫn thường nghĩ. Để gọi tên Đấng mà tất cả mọi người xưng là Thiên Chúa, để chỉ định sự hiện diện rất gần gũi mà từ đó Ngài lãnh nhận tất cả mọi sự, hữu thể mà Ngài luôn luôn ý thức chỉ là một với Ngài, Đức Giêsu tự động dùng lại danh xưng mà Ngài âu yếm gọi Giuse: “Cha, Ba, Bố”. Và khi phải giải thích sự thật gây kinh ngạc này với Thiên Chúa của Israel, Thiên Chúa mà Ngài đòi tiếp tục công trình sáng tạo, Đức Giêsu lại dùng những từ ngữ đơn giản nhất khi còn tập tành ở Nagiarét, trong xưởng của bác thợ mộc Giuse: “Cho đến bây giờ vẫn làm việc, và Ta cũng vậy, Ta cũng làm việc... Điều mà Cha làm, thì Con cũng làm giống như vậy. Chính Cha yêu mến Con, và chỉ cho Con tất cả những gì Ngài làm” (Jn 5,17-20). Chính nơi những từ ngữ thường ngày, những từ ngữ mà Ngài dùng để diễn tả cuộc đời Ngài, những mối liên hệ của Ngài, những tình cảm của Ngài, mà Đức Giêsu muốn nói đối với Ngài, Thiên Chúa là ai. Làm sao không tìm thấy trong tình cảm của cha mẹ Ngài những từ ngữ đúng đắn nhất để nói cho chúng ta biết mối liên hệ tuyệt đối duy nhất vốn vẫn hiện diện trong con tim Ngài: “Cha và Ta, Chúng Ta là một” (Jn 10,30).

 

ĐÊM NOEL

ĐỨC GIÊSU GIÁNG SINH
(Lc 2, 1-14)

I. VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI:
1. Một sự sinh ra âm thầm giữa lòng lịch sử chúng ta:
Nếu thánh Luca, trong lời dẫn nhập, rất muốn làm công việc của nhà viết sử, thì điều đó không theo ý nghĩa hiện đại của từ ngữ, nhưng chỉ như một nhà thần học nhạy cảm đặc biệt với lịch sử ơn cứu độ mà thôi.
- Để đăng ký việc Đức Giêsu sinh ra trong lịch sử tổng quát, ông nối kết điều đó với “một sắc dụ của hoàng đế Augusto, ra lệnh kiểm tra dân số trong tất cả thiên hạ” (một cuộc kiểm tra dân số không phải là không đặt thành vấn đề lịch sử cho một số nhà chuyên môn).
- Để giải thích sự liên tục của lịch sử cứu độ và sự hoàn thành của nó trong Đức Kitô, thánh Luca thích nhấn mạnh mối quan hệ dòng dõi vua David của Đức Giêsu.
+ Chính là đi về Bêlem, “thành quả của vua David”, mà Giuse, rời bỏ Nagiarét xứ Galilêa, để được đăng ký trong nguyên quán, bởi vì ông thuộc về nhà và con cháu vua David”.
+ Chính ở tại Bêlem mà “Maria, vợ ông, đang có thai”, sẽ cho ra đời hài nhi mà bà cưu mang. Biến cố đã được kể lại với một sự điều độ đáng kể. Giữ một vai trò quyết định trong việc lên Giêrusalem, giờ đây, Giuse phai mờ đi để nhường cho Maria nhiệm vụ chủ động: “Bà sinh con trai đầu lòng, lấy tả bọc con, rồi đặt nằm trong máng cỏ” điều này không thể không gợi lên cảnh đặt trong mộ, trong Lc 23,53: “Ông quấn Ngài trong một khăn liệm và đặt Ngài nằm trong huyệt”, bởi lẽ không có chỗ cho họ trong phòng chung ("phòng chung” sắp tới mà chúng ta sẽ thấy nơi Luca sẽ là phòng chung cho bữa tiệc ly: Lc 22,11).
Trái ngược với sự thinh lặng, âm thầm và nghèo nàn của việc sinh ra, thì đây, “trong vùng chung quanh”, đêm được soi sáng và vang lên lời giải thích ý nghĩa của biến cố vừa mới được thực hiện trọn vẹn: trời đất đều có liên quan.
Những người đầu tiên đón nhận mạc khải lại là những người cùng đinh thời đó: “những người chăn chiên”, một trong những hạng người bị xã hội khinh khi nhất, bị liệt kê ngang hàng với những tội lỗi công khai và những người thu thuế. H. Cousin giải thích: “Những người chăn chiên có tiếng xấu trong xứ Palestine, là nơi mà người ta thường coi họ như là không lương thiện và trộm cắp. Kinh Talmud của Babylone xếp họ vào một bọn có ý nghĩa: “những người chăn chiên, thu thuế và publicanô thật khó lòng mà sám hối ăn năn”. Những người bị khinh khi, hạ cấp trong bậc thang xã hội là những người đầu tiên liên hệ trong việc sinh ra của Đấng có một người mẹ là “người hèn hạ” (1,48),người đem Tin Mừng cho những người nghèo khổ (4,18). Hài nhi mới sinh ra đã là Đấng gần gũi với những người tội lỗi và sẽ ăn uống cùng bàn với họ” (15,2) ("L'Evangile de Luc”, Centurion, trang 38-39).
- Sứ điệp mà “Thiên thần Chúa” nói với họ là “Một Tin Mừng” (một Phúc Âm), một niềm vui lớn lao. Sứ điệp được gởi “đến cho toàn dân”. Nó liên quan đến việc sinh hạ của một hài nhi mà tất cả những danh hiệu như “Đấng Cứu Thế”, “Đấng Thiên Sai”, “Chúa” chỉ có đầy đủ ý nghĩa khi được trao ban cho em bé đó mà thôi, bởi vì em bé chính là sự mạc khải sống động của lòng thương xót Thiên Chúa. “Đấng Cứu Thế”, “Đấng Thiên Sai” ("Đức Kitô"), “Chúa”, là ba danh hiệu phát xuất từ lời tuyên xưng đức tin phục sinh của Giáo Hội, mà chúng ta sẽ thấy trên môi miệng của Phêrô (Cv 2,36) và của Phaolô (Cv 13,33).
- “Dấu chỉ” được cung cấp cho những người chăn chiên vùng phụ cận Bêlem là: “Một hài nhì mới sinh, quấn trong tả và đặt nằm trong máng cỏ”. Chính là để nói cho những người biết đón nhận dấu chỉ này là, Thiên Chúa muốn thực hiện việc cứu độ đã hứa bằng một cách gây hoang mang, bất ngờ như thế nào.
R.Meynet diễn giải: “Đấng trước hết đã trở thành sau hết. Ngài là Đấng Cứu Thế, là Vua, Đấng Thiên Sai, Đấng sẽ được trao ban ngôi báu David, đã được đặt vào trong máng ăn của súc vật, được quấn bằng những tấm tả, và nằm trong một cái nôi của vận mệnh, cũng như là Ngài sẽ kết thúc khi nằm trong ngôi mộ mượn tạm, quấn trong một chiếc khăn liệm. Và, một cách mâu thuẫn, chính điều đó lại được coi là dấu chỉ cho những người chăn chiên và những người tín hữu của mọi thời đại. Dấu chứng của sự vĩ đại của Thiên Chúa là sự bé nhỏ của Ngài, dấu chứng của quyền lực của Ngài lại chính là sự yếu đuối của Ngài” ("L'Evangile selon saint Luc, Analyse rhétorique”, Cerf, trang 36).

2. Việc tạ ơn Thiên Chúa “thình lình” xuất hiện.
Về phía trời cao, biến cố được phối hợp với một tầm quan trọng, một sự trọng thể đi đôi với việc kiểm tra dân số tổng quát của Augusto: “Cùng với thiên thần, có muôn vàn thiên binh cất tiếng ngợi khen Thiên Chúa: “Vinh danh Thiên Chúa trên các tầng trời, và bình an dưới thế cho người Chúa yêu”. Trời và đất đều vui mừng: kỷ nguyên cứu độ đã bắt đầu. Thiên Chúa, Đấng đặt vinh quang qua việc tha thứ sẽ đổ tràn đầy trên những người thân của Ngài “sự bình an” mà Ngài đã hứa trong những ngày cứu độ: không phải là sự an toàn vật chất của “hoà bình Roma” mà lúc bấy giờ thế giới đang chờ đợi từ hoàng đế Augusto, nhưng là sự sống sung mãn mà chỉ mình Ngài mới có thể bảo đảm được mà thôi.
Trong đêm, trở lại yên tĩnh của đồng quê Bêlem, những người chăn chiên đã lên đường “theo lời loan báo”. “Họ khám phá ra Maria và Giuse, với hài nhi mới sinh nằm trong máng ăn súc vật”. Rồi, như là kiểu mẫu của những nhà truyền giáo Kitô mà Luca sẽ trình bày trong cuốn sách thứ hai, sách Tông Đồ Công Vụ, họ ra về, vừa đi vừa tạ ơn Thiên Chúa “vì tất cả những điều họ đã thấy và đã nghe”.

II. BÀI ĐỌC THÊM:
1. “Một tình yêu được diễn tả qua sự yếu đu