FICHES DOMINICALES Chú giải Lời Chúa CN năm A

Thứ bảy - 12/05/2018 10:53
FICHES DOMINICALES Chú giải Lời Chúa Chúa Nhật năm A
FICHES DOMINICALES Chú giải Lời Chúa Chúa Nhật năm A
FICHES DOMINICALES
CHÚA NHẬT NĂM A

Dịch từ Fiches dominicales Bulletin de liaison et d'animation des équipes liturgiques du diocesè Saint - Brieuc et Tréguier.
CHÚA NHẬT I MÙA VỌNG.. 2
CHÚA NHẬT II MÙA VỌNG.. 5
CHÚA NHẬT III MÙA VỌNG.. 9
CHÚA NHẬT IV MÙA VỌNG.. 14
ĐÊM NOEL. 17
NGÀY LỄ GIÁNG SINH.. 20
LỄ THÁNH GIA.. 24
LỄ HIỂN LINH.. 27
THỨ TƯ LỄ TRO.. 31
CHÚA NHẬT I MÙA CHAY.. 34
CHÚA NHẬT II MÙA CHAY.. 40
CHÚA NHẬT III MÙA CHAY.. 43
CHÚA NHẬT IV MÙA CHAY.. 48
CHÚA NHẬT V MÙA CHAY.. 52
CHÚA NHẬT LỄ LÁ.. 57
THỨ NĂM TUẦN THÁNH.. 59
THỨ SÁU TUẦN THÁNH.. 61
THỨ BẢY TUẦN THÁNH.. 63
CHÚA NHẬT PHỤC SINH.. 65
CHÚA NHẬT II PHỤC SINH.. 68
CHÚA NHẬT III PHỤC SINH.. 71
CHÚA NHẬT IV PHỤC SINH.. 75
CHÚA NHẬT V PHỤC SINH.. 79
CHÚA NHẬT VI PHỤC SINH.. 82
CHÚA NHẬT VII PHỤC SINH.. 85
CHÚA NHẬT II THƯỜNG NIÊN.. 89
CHÚA NHẬT III THƯỜNG NIÊN.. 92
CHÚA NHẬT IV THƯỜNG NIÊN.. 96
CHÚA NHẬT V THƯỜNG NIÊN.. 101
CHÚA NHẬT VI THƯỜNG NIÊN.. 105
CHÚA NHẬT VII THƯỜNG NIÊN.. 109
CHÚA NHẬT XI THƯỜNG NIÊN.. 114
CHÚA NHẬT XII THƯỜNG NIÊN.. 117
CHÚA NHẬT XIII THƯỜNG NIÊN.. 120
CHÚA NHẬT XIV THƯỜNG NIÊN.. 122
CHÚA NHẬT XV THƯỜNG NIÊN.. 126
CHÚA NHẬT XVI THƯỜNG NIÊN.. 129
CHÚA NHẬT XVII THƯỜNG NIÊN.. 133
CHÚA NHẬT XVIII THƯỜNG NIÊN.. 136
CHÚA NHẬT XIX THƯỜNG NIÊN.. 140
CHÚA NHẬT XX THƯỜNG NIÊN.. 144
CHÚA NHẬT XXI THƯỜNG NIÊN.. 148
CHÚA NHẬT XXII THƯỜNG NIÊN.. 152
CHÚA NHẬT XXIII THƯỜNG NIÊN.. 156
CHÚA NHẬT XXIV THƯỜNG NIÊN.. 160
CHÚA NHẬT XXV THƯỜNG NIÊN.. 163
CHÚA NHẬT XXVI THƯỜNG NIÊN.. 167
CHÚA NHẬT XXVII THƯỜNG NIÊN.. 171
CHÚA NHẬT XXVIII THƯỜNG NIÊN.. 175
CHÚA NHẬT XXIX THƯỜNG NIÊN.. 179
CHÚA NHẬT XXX THƯỜNG NIÊN.. 183
CHÚA NHẬT XXXI THƯỜNG NIÊN.. 187
CHÚA NHẬT XXXII THƯỜNG NIÊN.. 191
CHÚA NHẬT XXXIII THƯỜNG NIÊN.. 195
CHÚA NHẬT LỄ THĂNG THIÊN.. 199
LỄ NGŨ TUẦN.. 204
LỄ MÌNH MÁU THÁNH CHÚA KITÔ.. 206
CHÚA NHẬT LỄ CHÚA BA NGÔI 210
ĐỨC MẸ LÊN TRỜI 213
LỄ ĐỨC KITÔ VUA.. 217

 

CHÚA NHẬT I MÙA VỌNG

SỐNG TỈNH THỨC
(Mt 24, 37-44)

I. VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI:

1. Những câu hỏi “Khi nào”“Thế nào” không có giải đáp:
Chúng ta mở đầu bài Phúc Âm bằng đoạn cuối cùng, hay gần như cuối cùng của Tin Mừng thánh Matthêu. Như thế, Phụng vụ muốn khẳng định ngay rằng, Đấng mà chúng ta đang chờ đón đến với chúng ta dịp lễ Giáng Sinh, chính là Đấng sẽ trở lại vào ngày tận thế, và cũng là Đấng luôn luôn đến với chúng ta.
Đáp lại lời các môn đệ đang trầm trồ trước vẻ huy hoàng của đền thờ Giêrusalem, Đức Giêsu khiến mọi người sửng sờ khi báo trước rằng, dấu chỉ tuyệt vời của sự hiện diện Thiên Chúa đối với dân Ngài ấy chắc chắn sẽ bị huỷ diệt. Ngài khẳng định: Tất cả những gì các con xem thấy, sẽ chẳng còn hòn đá nào trên hòn đá nào; tất cả sẽ bị huỷ diệt (24,2).
Trở lại núi Cây Dầu, nơi ta có thể nhìn thấy toàn cảnh Thành Thánh và Đền Thờ, Đức Giêsu ngồi xuống. Lập tức các môn đệ tới tấp đặt câu hỏi: “Xin Thầy hãy nói cho chúng con biết khi nào điều đó xảy đến. Xin hãy nói cho chúng con đâu sẽ là dấu chỉ cho biết Thầy đến, và đâu là dấu hiệu của ngày tận thế” (24,3).
Đức Giêsu bỏ qua không trả lời những câu hỏi này, bởi vì theo Ngài, đó là điều bí mật của Chúa Cha (24,36).

2. Một huấn lệnh cần phải được tuân giữ ngay lập tức.
Nếu Đức Giêsu từ chối không tham dự vào những cuộc tranh luận của các môn đệ - xưa cũng như nay - về việc Con Người sẽ trở lại “Khi nào” và “thế nào”, thì Ngài lại mạnh mẽ khẳng định rằng đó là điều không thể tránh né. Vì thế, Ngài khuyến khích các tín hữu đang sống trong dòng lịch sử, hãy luôn luôn sẵn sàng: “Vậy hãy tỉnh thức, bởi vì các con không biết khi nào Chúa sẽ đến. Vậy các con hãy sẵn sàng: chính vào giờ các con không ngờ mà Con Người đến”.
Trong Phúc Âm thánh Matthêu, có bốn dụ ngôn minh hoạ lời Ngài dạy. Sau đây là những dụ ngôn được chọn cho Chúa nhật thứ I Mùa Vọng:
* Dụ ngôn về lụt đại hồng thuỷ:
Vào thời Noe, chỉ một mình tổ phụ được “chừa lại”, khi ngài vào trong tàu; chỉ một mình ngài được cứu thoát, bởi vì ngài biết nhìn thấy trước biến cố lụt lội phủ lấp trái đất, ngài đã đọc được những dấu chỉ loan báo việc sắp xảy đến. Những người khác cứ tiếp tục cuộc sống thường ngày, không chút mảy may nghi ngờ, nên đã bị “nuốt trửng”, không phải vì hạnh kiểm họ xấu, mà vì không biết phòng xa.
Cũng vậy, khi Con Người đến, Ngài sẽ quyết định dứt khoát mối liên hệ đời thường nhất giữa những người đang sát cánh bê nhau miệt mài trong cùng một công việc, “đang làm ruộng” hay “đang xay bột”. Một số người biết chuẩn bị tích cực sẽ “được đem đi”, nghĩa là “được cứu thoát”. Những người khác, cứ sống mà không biết thấy trước ngày sắp đến, sẽ bị “bỏ lại”.

* Dụ ngôn kẻ trộm ban đêm:
Con Người đến như lụt đại hồng thuỷ không ai biết trước, như việc tên trộm lẻn đến ban đêm, âm thầm chọc thủng những tấm vách mỏng mang của những mái nhà rách nát xứ Palestine. Vì thế, thái độ duy nhất phải có là luôn luôn “tỉnh thức”, “sẵn sàng”. Không phải trong sợ hãi, mà là trong thanh thản; không phải co rúm tê liệt đi, mà là trong niềm khao khát và năng động mong chờ ngày Chúa đến. Bằng cách lãnh nhận trách nhiệm của chúng ta. Bằng cách chu toàn sứ mạng được trao phó (24,45-51). Bằng cách đến cứu giúp những anh em nghèo túng.
“Vậy người Kitô hữu dấn thân sống như là ngày phán xét đã đến. Hiện tại của thế giới bị chất vấn bởi tương lai. Ước mong rằng người tín hữu luôn trung thành với ơn gọi và sứ mạng đã lãnh nhận” ("Célébrer”, n.224, trang 18).

II. BÀI ĐỌC THÊM:
1. “Đức Giêsu đến gặp chúng ta một cách bất ngờ, nhưng không phải là không báo trước” (Mgr L.Daloz trong “Le règne des cieux s'est approchè”, Desclèe de Brouwer 1994, trang 334... 336).
Ngày và giờ là bí mật của Chúa Cha. Đó không phải là cơn thịnh nộ và sự trừng phạt vào ngày đã định. Nói rằng, chỉ một mình Chúa Cha biết ngày tận thế và việc Con Người trở lại, có nghĩa là đặt thế giới và nhân loại trong tay của Ngài, trong đôi tay nhân từ của Ngài. Đó là đặt chúng ta trong sự thanh thản, an toàn: ai có thể rứt chúng ta ra khỏi đôi tay của Chúa Cha? Chúng ta còn sợ gì, nếu chúng ta được ấp ủ trong tình yêu của Ngài?
Đức Giêsu không mời gọi ta sợ hãi, nhưng mời gọi ta tỉnh thức. Ngài so sánh lụt đại hồng thuỷ và ông Noe: Người ta không nghi ngờ gì hết cho đến khi lụt đại hồng thuỷ đến cuốn trôi hết tất cả mọi sự. Tất cả mọi người mãi lo lắng sự đời: người ta mãi lo ăn uống, cưới vợ gã chồng. Chúng ta cũng vậy, chúng ta mãi lo lắng sự đời, và đó là điều cần thiết! Chính lúc đó, Chúa đến gặp chúng ta. Nhưng để khỏi bị bất ngờ khi Ngài đến, chúng ta phải chuẩn bị như ông Noe. Cũng giống như ông, chúng ta có lời Chúa cảnh báo và nhắc nhở chúng ta; Đức Giêsu nói: Đó, Thầy đã báo trước cho các con. Ngài đến gặp chúng ta một cách bất ngờ, nhưng không phải là không báo trước. Cuộc gặp gỡ này không chỉ diễn ra vào lúc tận thế. Cái chết của mỗi người cũng sẽ bất ngờ. Phải chăng cái chết không là ngày tận thế, ngày tận thế riêng của mỗi người, lúc mà Đức Giêsu đến gặp riêng mỗi người? Ít nhất điều đó đã cảnh báo chúng ta qua ví dụ của Phúc Âm: Bấy giờ hai người đàn ông trên cánh đồng: một người sẽ được đem đi, người kia bị bỏ lại; hai người đàn bà đang xay bột ở cối xay: một người được đem đi, một người bị bỏ lại...
Quan trọng nhất vẫn là tỉnh thức. Không lo lắng, nhưng chú ý, chú ý vào Chúa Cha, chú ý vào Đức Giêsu Kitô. Nếu chúng ta không biết ngày và giờ, thì điều quan trọng là phải biết Ngài, và phải nhận ra Ngài khi Ngài đến với chúng ta. Đức Giêsu nhắc đi nhắc lại hai lần rằng vì ta không biết nên ta phải tỉnh thức: Vậy hãy tỉnh thức, bởi vì các con không biết ngày nào Chúa sẽ đến... Để kết thúc, Ngài dùng một ví dụ chỉ cho thấy sự nghiêm trọng của tình thế, và sự gấp rút phải tỉnh thức. Ví dụ hơi mâu thuẫn, vì nói về một ông chủ nhà tỉnh thức, bởi lẽ ông ta biết giờ kẻ trộm lẻn đến ban đêm. Khi biết, thì dễ chờ đợi hơn! Còn chúng ta, chúng ta thấy thời gian dài, mà chẳng hay biết gì. Không biết là một lý do khiến chúng ta đừng ngủ say. Được hay thua thì điều quan trọng là đừng để tường nhà mình bị chọc thủng. Con Người đến gặp chúng ta. Đừng có ngủ say trong thời gian đó: “Đó là lý do tại sao các con phải tỉnh thức, bởi vì vào giờ mà các con không ngờ Con Người sẽ đến”.

2. “Vì không biết Ngày, các con hãy tỉnh thức” (P.Geoitrain, trong “Assemblèes du Seigneur”, n.5, trang 28).
“Lời khẳng định của Đức Giêsu về việc chúng ta không biết ngày, giờ tránh cho chúng ta khỏi mọi tính toán về ngày Chúa đến. Niềm hy vọng Ngài trở lại luôn luôn còn đó, không phải là một chờ đợi bồn chồn, mà là một chắc chắn về Đấng đã đến, đang đến sống giữa những người thân yêu cuả Ngài, sẽ đem lại ý nghĩa đích thực cho cuộc sống và cho vũ trụ của chúng ta, Thiên Chúa nên mọi sự trong mọi người” (1Cr 15,24-28).
Được giải thoát khỏi những vấn nạn “khi nào và thế nào” rồi, người Kitô hữu chỉ còn lo chú ý vào việc phải sống như là ngày đó đã đến thực sự. Trong ý nghĩa đó, những câu chúng ta vừa đọc mời chúng ta hướng về trời ít hơn là gọi chúng ta quan tâm đến những bổn phận hằng ngày mà Thầy chúng ta đòi hỏi. Sự tỉnh thức càng quyết liệt hơn khi giờ kết thúc vẫn còn chưa điểm. Tiếng kêu của Phúc Âm: “Hãy sẵn sàng, hãy tỉnh thức” phải vang dội trong tâm hồn của người đang chờ đợi cuộc hội ngộ lớn lao, không phải như một nỗi ám ảnh liên hệ đến ơn cứu độ riêng tư của mình, mà như một đòi hỏi trung thành với những sứ mạng Thầy trao phó”.

3. “Hãy có một con tim tỉnh thức” (G.Boucher, “La terre parle au ciel”, trang 5 (tại nhà tác giả: Résidence de Kerampir, 19820 Bohars).
“Thiên Chúa cứu chuộc dân Ngài. Thiên Chúa cứu chuộc nhân loại. Thiên Chúa thức tỉnh ta. Thiên Chúa mời gọi ta. Tới phiên ta trả lời Ngài.
Nếu ta ngủ mê, quá bận rộn với những công việc vật chất, ta sẽ ở bên lề biến cố Thiên Chúa tỏ mình ra là Đấng Cứu độ.
Chẳng lẽ mối lo mua bánh hay thu hoạch rau quả không thể nối tiếp những phút suy nghĩ về ý nghĩa cuộc đời? Những phút ta dừng lại để kiểm điểm mối tương giao với Thiên Chúa? Một tinh thần nhắc nhở chúng ta đừng quá đầu tư vào cuộc sống vật chất đến nỗi không nhìn ra ơn cứu độ mà Thiên Chúa thực hiện nơi ta, “ngày tốt đẹp” mà Ngài đã nói với ta hay sao?
Nếu muốn chụp lấy tấm ván cứu độ, ta hãy mở rộng đôi mắt. Tinh thần minh mẫn. Con tỉm tỉnh thức. Tâm hồn đợi chờ.
Và ta sẽ đi chuyến tàu đang tới”.

 

CHÚA NHẬT II MÙA VỌNG

HÃY DỌN ĐƯỜNG CHO CHÚA

(Mt 3, 1-12)
I. VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI.

1. Nước Trời đã gần đến:
Chính dưới ánh sáng của Đấng Phục Sinh sẽ đến trong ngày quang lâm mà ta khai mạc mùa Vọng này. Cũng chính dưới ánh sáng ấy, với thánh Matthêu, ta cùng đến vào thời đầu sứ vụ của Gioan Tẩy Giả.
- Một câu nói đủ gợi lên sự nhập vai của Gioan: “Vào những ngày ấy, Gioan xuất hiện, loan báo trong hoang địa rằng: Hãy sám hối, vì Nước Trời đã gần...”.
- “Vào lúc ấy...” một công thức báo trước một giai đoạn mới. Một bắt đầu mới.
- “... Gioan xuất hiện...”.
+ Sự bắt đầu mới này loan báo việc nhập vai của Gioan, giới thiệu sự xuất hiện của Đức Giêsu, trong câu 3,13: “Bấy giờ, Đức Giêsu đến từ Galilêa, xuất hiện bên bờ sông Giôđan”.
+ Ở đây, Gioan nhận lấy biệt danh: Tẩy Giả (người làm phép rửa), danh hiệu xếp ông vào vòng ảnh hưởng những nhóm tu sĩ thực hành nghi thức làm phép rửa, vào thời Đức Giêsu; một nghi thức mà các Kitô hữu sẽ du nhập. Và có thể đó là dấu vết của sự căng thẳng liên lỉ, mãi cho tới thời thánh Matthêu, giữa một số môn đồ của Gioan Tẩy Giả và cộng đoàn các môn đệ Đức Giêsu?
+ “Ông loan báo trong hoang địa xứ Giuđê...”. Trong ký ức tập thể của dân Israel, hoang địa là nơi thử thách, nhưng cũng là nơi tình nghĩa cha con của Thiên Chúa, và là nơi của mọi khởi đầu. Chỉ cần gợi lại bốn mươi năm vượt qua sa mạc, bốn mươi ngày bốn mươi đêm của tiên tri Elia trên đường về núi Heorb, bốn mươi ngày bốn mươi đêm của Đức Giêsu nơi hoang địa, bắt đầu sứ vụ của ngài.
+ Ông loan báo điều gì? “Hãy ăn năn thống hối, vì Nước Thiên Chúa đã gần đến”. Trọng tâm của lời giảng của Gioan Tẩy Giả, trong Phúc Âm Matthêu, cũng sẽ là trọng tâm của lời công bố của Chúa Giêsu (Mt 4,17), cũng như sẽ là trọng tâm lời rao giảng của Giáo Hội, theo Tông đồ Công vụ 10,7. Điều Gioan loan báo đã là Phúc Âm rồi: Phúc Âm của Đức Kitô, Phúc Âm của Giáo Hội Ngài.
- Từ nay, theo sự hướng dẫn của Matthêu, chúng ta có thể hiểu con người của hoang địa này hơn, ngài vừa nhập vai, mở màn cho một đoạn mới của lịch sử ơn cứu độ.
+ Vấn đề một tiên tri mà sứ mạng làm trọn lời tiên báo của Isaia 40: “trong sa mạc, có tiếng kêu: Hãy dọn đường Chúa, hãy săn phẳng lối Ngài”.
Cl. Tassin chú giải: “Ngày xưa, Israel sinh ra từ hoang địa trong cuộc Xuất Hành, rồi từ chuyến trở về từ nơi lưu đày. Ngày nay, phải tái sinh nhờ lắng nghe lời tiên tri, và phải dọn đường Chúa đến. Chính Đức Giêsu sẽ làm gương qua việc Ngài chịu phép rửa và thời gian ở trong hoang địa” ("L'Evangile de Matthieu”, Centurion, trang 39).
+ “Y phục ngài bằng lông lạc đà”, nghệ thuật làm tượng thường trình bày như thế, có thể là rất lạ lùng đối với chúng ta ngày nay. Vào thời đó, nó có giá trị biểu tượng rất lớn, bởi vì nó gợi nhớ y phục của Elia (xem sách Các Vua, quyển thứ hai 1,8), mà theo truyền thống Do Thái, sự trở lại phải mở đầu cho chính Đấng Cứu Thế đến (xem Mt 11,4).
+ Còn sự toả lan ra của lời giảng của ngài, thì cũng giống như của Đức Giêsu trong câu 4,23-25, “Giêrusalem, tất cả xứ Giuđêa và khắp miền sông Giođan”.
Theo lời kêu gọi của tiên tri trong sa mạc, một dân tộc tội lỗi sẽ đến dìm mình trong dòng nước mà ngày xưa họ đã vượt qua để vào Đất Hứa: “Họ để ông làm phép rửa trong sông Giôđan khi nhìn nhận tội lỗi họ”. Đó là một khởi đầu mới, một sự sinh thành mới được chuẩn bị kỹ lưỡng.
Jean Perron kết luận trong “Lire la Bible”, số 52, trang 14-15: “Thu tóm trong chính mình tất cả những tiên tri từ thời Elia,đấng tiền hô rõ ràng là tiên tri sau cùng, đồng thời cũng là người thứ nhất trong các tông đồ Kitô giáo; kết thúc tiên tri và mở đầu Phúc Âm, ngài là bản lề nối kết Cựu Ước và Tân Ước”.

2. ... Sự cấp bách trở về:
Sau khi đưa ra một cái nhìn tổng quát về những đám đông tuốn đến sông Giođan, tác giả Phúc Âm kê ra những loại người đặc biệt: “những người biệt phái và những người Sađuceo” đến “chịu phép rửa rất đông”.
+ Xuất thân từ giới bình dân, danh xưng biệt phái (Pharisêu) chỉ “những người tách biệt”, “những người tinh sạch”, họ rất lo lắng đến sự tinh sạch và tuân theo lề luật, đó cũng là một khuynh hướng nệ luật triệt để và nệ hình thức tôn giáo.
+ Xuất thân từ giới thượng lưu và tư tế, những người thuộc phái Saduceo, đồng minh với trật tự đã được thiết lập, chấp nhận sự có mặt của người Roma, khác với những người biệt phái, nỗi tiếng bảo thủ trong vấn đề tôn giáo.
Tuy hoàn toàn đối lập họ với nhau, hai nhóm tôn giáo này cùng có mặt ở đây, cùng đi về sông Giođan theo lời kêu gọi của Gioan, cũng như chẳng bao lâu sau, họ sẽ cùng liên kết với nhau để bắt bẻ Đức Giêsu Nagiarét.
Vị tiên tri của sa mạc không nể nang họ. Vừa nhìn thấy họ, ông đã mạt sát: “Hỡi loài rắn độc”, nghĩa là: “những môi miệng chỉ tuôn ra những lời độc địa”, “ai đã chỉ dạy cho các ngươi tránh khỏi cơn thịnh nộ sắp tới?”. Liệu những con người độc địa, túi tiết ra nọc độc có thể thoát khỏi sự phán xét sắp tới của Thiên Chúa không?
Lời nói nghiêm khắc nhắm vào họ tựu trung ở hai điểm, bằng một lời đe doạ tương tự như nhau: ở câu 10, “cái rìu đã ở kề gốc cây”; và ở câu 12, “tay Người cầm nia”.
+ Điểm thứ nhất là một lời khuyến khích “sinh hoa kết quả”, “một hoa trái diễn tả sự trở về cuả các anh”. Kêu nài đến Abraham cũng không ích lợi gì cả. “Con cái đích thực của Abraham” không phải là những người nói hay nghĩ những điều đúng đắn về Thiên Chúa, mà là những người sống theo ý Thiên Chúa. Cl. Tassin chú giải: “Như thế, trái ngược với một phép rửa cứu thoát một cách tự động, Gioan đòi phải có một sự trở lại thực sự” (O.C. trang 40).
+ Sau cùng, trong điểm thứ hai, Gioan trình bày phép rửa “trong nước dẫn đến sự trở lại” như để chuẩn bị cho một phép rửa khác, một phép rửa “trong Thánh Thần và lửa”. Bởi vì kẻ “đến sau ông” (một từ ngữ chỉ môn đệ), thực ra lại “mạnh mẽ” hơn ông. Đến độ Gioan nhìn nhận rằng mình “không xứng đáng cởi dây giày cho Ngài”, là nhiệm vụ dành riêng cho người nô lệ.
Gioan Tẩy Giả đã khiêm nhường tự xoá mình đi trước Đấng mà ông đã nhận nhiệm vụ dọn đường.

II. BÀI ĐỌC THÊM:
1. “Không thể có Phúc Âm hóa mà không có sự trở lại”. (Đức Cha L.Daloz, trong “Nước Thiên Chúa đã gần”, Desclée de Brouwer, trang 23-24).
“Gioan chất vấn bằng lời nói, nhưng cũng bằng cách sống của ông: hoang địa, y phục, lương thực... Chính cuộc sống của ông đặt vấn đề và lôi cuốn. Sau này, Đức Giêsu nhắc lại điều đó: “Các ông nhìn thấy gì nơi hoang địa? Một cây sậy phất phơ trước gió ư? Vậy thì các ông thấy gì? Một người ăn mặc lịch sự sang trọng ư? Nhưng những người ăn mặc lịch sự sang trọng thì ở trong cung điện nhà vua” (11,7-8). Tiên tri là người đầu tiên phải trở lại. Trước khi loan báo Nước Trời cho người khác, chính ông phải sẵn sàng đón tiếp Nước ấy. Không thể nào loan báo cho người khác nếu chính mình không hồi tâm trở lại, bởi vì đó không phải chỉ đơn thuần là chuyển giao một kiến thức. Thông tin về Nước Trời chỉ có thể được tiếp nhận bởi người nào chấp nhận biến đổi đời mình: Hãy ăn năn thống hối: Nước Trời đã gần đến. Không ăn năn trở lại, thì Nước Trời vẫn ở ngoài cửa mà thôi. Chúng ta cần nghe lại sứ điệp của Gioan Tẩy Giả. Trong một thế giới mà việc loan báo Tin Mừng về Nước Thiên Chúa là nước không được nhận biết, không được tiếp nhận, thì không được quên rằng, sẽ không được Phúc Âm hoá nếu không có sự ăn năn trở lại của người loan báo, cũng như của người lắng nghe Phúc Âm. Chúng ta luôn luôn phải chạm trán với sự không tin hay với sự thờ ơ, dửng dưng. Chúng thách thức ta phải kiểm điểm lại sự trung thành với Phúc Âm, trình bày Phúc Âm không phải là một giáo huấn đơn thuần cho trí hiểu, nhưng là một lời mời gọi biến đổi đời mình. Bởi vì Phúc Âm là sức mạnh đổi mới, hướng dẫn đời sống một cách khác. Phúc Âm khơi gợi một sự ý thức về tội lỗi, một ý chí muốn thay đổi cuộc sống. Đó là ý nghĩa của phép rửa của Gioan: trong khi xưng thú tội lỗi, họ để ông làm phép rửa trong sông Giođan”.

2. “Với Thiên Chúa, chúng ga không thể gian lận” (G.Boucher, trong “Đất nói với trời” xuất bản tại nhà tác giả “Résidence de kerampir, 29820 Bohars).
“Gioan không rào trước đón sau, mắng nhiếc thậm tệ những người đến với ông. Chúng ta có thể nghĩ rằng những người đến với ông đều tỏ ra thiện chí. Bởi vì họ đã bước xuống nước sông Giođan. Bởi vì họ đã dầm mình xuống dòng sông thanh tẩy. Nhưng không đúng thế.
Nghi thức tự nó không đủ. Chính con tim và cách sống mới can hệ. Và khi Thiên Chúa đến thì sẽ là phép rửa bằng lửa: một ngọn lửa tinh luyện và đúc rèn. Một ngọn lửa thiêu đốt thế giới. Một ngọn lửa cháy lên huy hoàng vinh quang.
Chúng ta thấy đó: không phải là vấn đề giả bộ. Với Thiên Chúa, chúng ta không thể gian lận. Và nhất là, nếu chúng ta để Thiên Chúa hành động, thì Ngài sẽ cho thực hiện các phép lạ. Các bạn sẽ sản xuất ra nhiều hoa trái một cách dồi dào phong phú, các kho lẫm trên trời sẽ đầy tràn chan chứa.
Nhưng trước tiên, các bạn hãy ăn năn trở lại! Hãy từ bỏ sự tự mãn! Hãy để Thiên Chúa tràn ngập các bạn và đốt lửa lên trong lòng các bạn!
Các bạn hãy thành thật đi! Đừng tìm cách đánh lừa Thiên Chúa. Hãy từ bỏ sự bảo đảm dựa trên các tập quán để mở rộng con tim các bạn đón nhận những cái mới căn bản của Nước Trời!”.

 

CHÚA NHẬT III MÙA VỌNG

HÃY THUẬT LẠI NHỮNG GÌ ĐÃ THẤY ĐÃ NGHE
(Mt 11, 2-11)

I. VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI:

1. Vào một khúc quanh quyết định, một cuộc đối thoại kỳ lạ:
Phúc Âm Chúa nhật vừa qua trích dẫn thời gian đầu của sứ vụ của Gioan Tiền Hô, chương thứ bốn Phúc Âm thánh Matthêu. Ông loan báo: “Anh em hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần. Đấng đến sau tôi thì quyền thế hơn tôi”. Đốt giai đoạn, sách bài đọc hôm nay đưa chúng ta đến chương thứ 11 của thánh Matthêu, nơi diễn ra cuộc đối thoại kỳ lạ giữa vị tiên tri vùng hoang địa và Đức Giêsu.
- Thực ra Gioan đang ở trong tù (xem 4,12). Trong khi chờ đợi trả giá sự can đảm bằng chính mạng sống mình, ông đành mất tự do vì đã tố cáo phẩm hạnh xấu của Hêrôđê Antipas, con của Hêrôđê Cả (ông ta sống với nàng Hêrôđiađê, là vợ của Philipphe, anh ông ta: 14,4-5). Về phương diện thể xác, ông từ từ tự xoá mình đi trước Đấng mà ông đã nhận lãnh sứ mạng loan báo đang đến.
- Còn Đức Giêsu, sau nhiệt tình ban đầu của cuộc đời công khai, Ngài đã có kinh nghiệm đau đớn về tính hay thay đổi của những đám đông xứ Galilê. Lời giảng dạy của Ngài, thôi thúc thính giả phải chọn lựa, phải quyết định, đã gây chia rẽ về con người của Ngài. “Những công trình” của Ngài không phải là những việc mà cách chung người ta chờ đợi nơi Đấng Cứu Thế! Và sự đối lập căng thẳng sẽ buộc Ngài phải khôn ngoan rút lui.
Chính ở khúc ngoặt quyết định này, đối với Đức Giêsu, cũng như với Gioan Tiền Hô, mà tác giả Phúc Âm đã đặt cuộc đối thoại kỳ lạ, qua trung gian những người được sai đến.

2. Câu hỏi của một tiên tri bị hoang mang:
Như chúng ta thấy trong Chúa nhật vừa qua, Gioan Tiền Hô không ngừng loan báo việc Đấng Cứu Thế sẽ đến, “sức mạnh của Ngài giáng xuống” như sấm sét. Nhưng thái độ của Đức Giêsu rất không phù hợp với những lời khuyên bảo nghiêm khắc của ông. Không hề có ý định tiêu diệt những người tội lỗi, Ngài đi từ làng này sang làng khác, mở rộng đôi tay đón nhận tất cả những cảnh khốn khổ cùng quẫn của con người, chữa lành bệnh nhân (8 và 9), tha thứ tội lỗi (9,1-8), kêu gọi một người thu thuế bước theo Ngài (9,9), đồng bàn với những người tội lỗi (9,10). Khác xa với vị quan toà đáng sợ mà Gioan đã loan báo, Đức Giêsu xuất hiện như người tôi tớ kín đáo, người ta không nghe tiếng Ngài trên quảng trường, Ngài không bẻ gãy cây sậy bị giập nát và không làm tắt tim đèn còn bốc khói (12,19-20).
Ở đây Gioan đối đầu với cớ vấp phạm (scadale), nghĩa là đối đầu với một chướng ngại có nguy cơ làm ông sụp ngả. Một Đấng Cứu Thế Tôi Tớ, khiêm nhường và đau khổ, khác xa với Đấng mà ông đã loan báo. Đó là thử thách đức tin của ông: đang chờ đợi một sự biểu lộ công bình, thì ông lại gặp lòng thương xót của Thiên Chúa.
Vì thế, từ trong tù ngục Machéronte, từ đáy sâu suy tư mà hoàn cảnh đã nhận chìm ông vào, Gioan, vị tiên trị bị hoang mang, đã sai các môn đệ đến đặt cho Đức Giêsu câu hỏi từ lâu thiêu đốt tâm hồn và môi miệng ông: “Ông có phải là Đấng phải đến (một sự chỉ định Kitô-giáo về Đấng Cứu Thế, lấy từ thánh vịnh 118,26), hay chúng tôi còn phải chờ đợi một Đấng khác?”.

3. Câu trả lời của một Đấng Cứu Thế gây hoang mang.
Đức Giêsu trả lời trong hai hồi. Trước hết là nói với chính Gioan. Sau đó, là nói về Gioan.
- Trong hồi thứ nhất, Đức Giêsu gởi gắm một sứ điệp cho những người được Gioan phái đến: “Các anh cứ về thuật lại cho Gioan những điều mắt thấy tai nghe: người mù xem thấy, kẻ què được đi, người cùi được sạch, kẻ điếc được nghe, người chết sống lại, kẻ nghèo được loan báo Tin Mừng”.
Một sứ điệp diễn tả những hoạt động từ thiện của Đức Giêsu ưu ái dành cho đám đông. Một sứ điệp thực sự đưa Gioan Tiền Hô về lại với những lời loan báo tiên tri của sách Isaia; đặc biệt là Is.35 của bài đọc thứ nhất Chúa nhật hôm nay: “Bấy giờ mắt người mù sẽ mở ra và tai người điếc...”, và Is.61: “Thánh Thần Chúa ngự trên tôi... Ngài sai tôi đem Tin Mừng cho người nghèo khó”.
Như A.Marchadour giải thích điều đó rõ ràng trong một tác phẩm mới xuất bản: “trong kinh nghiệm của dân Israel, phép lạ được định vị chủ yếu trong thời gian cuộc Xuất Hành... Dân Israel hy vọng rằng, những dấu lạ này sẽ lại đến trong thời gian sau hết, khi Thiên Chúa còn gần gũi với dân Ngài và sẽ bày tỏ điều đó ra bằng những dấu chỉ: “Bấy giờ mắt người mù sẽ mở ra, và tai người điếc sẽ nghe được. Bấy giờ người què sẽ nhảy lên như nai, và lưỡi người câm sẽ kêu lên vui mừng! Bởi vì, nước sẽ chảy vọt ra trong hoang địa và thác sẽ trào dâng trong thảo nguyên” (Is 35,5-6).
Đó là điều mà Đức Giêsu và Giáo Hội kế tiếp Ngài sẽ hiểu (xem 7,18,23). Chỗ đứng quan trọng của các phép lạ thời Đức Giêsu (và cũng một phần trong thời Giáo Hội sơ khai) là sự hoàn thành của thời gian sau hết (Les Evangiles au feu de la critique”, Bayard Editions, Centurion 1995, trang 120-121).
Như vậy thời gian viên mãn đã đến; Đấng Cứu Thế được mong đợi đã đến. Nhưng còn phải phân định những dấu chỉ của sự hiện diện của vương quốc, và, như vậy là, như J.Radermarkers đã viết: chấp nhận được kể vào số những người mù được nhìn thấy, người câm điếc được nghe, người nghèo được Phúc Âm hoá” ("Au fil de l'évagile selon saint Mathieu” trang 154).
Sau cùng, Đức Giêsu nói với Gioan: “Phúc cho ai không vấp phạm vì Ta”. Nói khác đi, phúc cho ai sẽ vượt qua chướng ngại, sẽ phá vỡ cạm bẫy được giương ra, sẽ không vấp ngã! Ngoài Gioan, một thứ phúc thật có thể được áp dụng cho tất cả các tín hữu, cho mỗi người chúng ta.
- Sau khi các sứ giả trở về trại giam (pháo đài) Machéronte, sang hồi thứ hai, Đức Giêsu, đối chiếu sứ vụ của Gioan với sự vụ của mình, đã khen ngợi Gioan Tẩy Giả. Nếu những nhân chứng tuốn về phía con người của sa mạc.
+ Không phải là đến để xem “cây sậy phất phơ trước gió” trên bờ sông Giođan, một con người nhu nhược ngả nghiêng trước gió: can đảm trong việc giảng thuyết, Gioan đã tỏ ra không nao núng trong nghịch cảnh và cơn bách hại.
+ Cũng không phải là để đi xem “một người mặc y phục sang trọng”, một nhân vật trần thế: nhà khổ hạnh của sa mạc mặc y phục của tiên tri Elia, vị tiên tri được mong đợi trong thời sau hết, kẻ phải đến trước Đấng Cứu Thế;
+ Chính là để đi đến với “một vị tiên tri”, và Đức Giêsu khẳng định: “còn hơn một vị tiên tri nữa": ông là “vị sứ giả” cuối cùng, được tiên tri Malachia loan báo (3,1), “kẻ dọn đường”, Đấng tiền hô.
Theo nghĩa đó, ông là vị tiên tri lớn nhất trong các tiên tri, bởi vì ở nơi ông, tất cả sự trông đợi được diễn tả qua truyền thống các tiên tri đã đạt đến đích điểm: Đức Giêsu long trọng tuyên bố: “Giữa con cái loài người, không ai lớn hơn Gioan Tẩy Giả”. Tuy nhiên, ngay lập tức, Ngài nói thêm một cách ngược đời: “người nhỏ nhất trong Nước Trời còn lớn hơn ông ta”. Cl. Tassin diễn giải: “Theo lịch sử nhân loại, không có ai lớn hơn ông. Thế nhưng, người bé nhỏ nhất trong các Kitô hữu lại vượt qua ông trong phẩm cách, với tư cách là thành viên của một vương quốc đảo ngược những tiêu chuẩn nhân loại và ưu đãi những người bé mọn” ("L'Evangile de Matthieu, Centurion, trang 122).

II. BÀI ĐỌC THÊM
1. “Những dấu chỉ của sự hiện diện Nước Thiên Chúa không có ly kỳ” (F.Deleclos, trong “Prends et mange la Parole”, Centurion-Doculot, trang 10).
Người ta chờ đợi một người làm sáng tỏ công lý không biết thương xót và ở đây lại là một vị thuyên chữa thân xác, một lương y của các tâm hồn. Người ta đã loan báo sự báo oán của Thiên Chúa, thế mà ở đây lại là lòng thương xót được trao ban với sự dịu hiền và khiêm nhường. Một nhà giải phóng kỳ lạ và rất khác biệt với dung mạo được tiên báo!... “Ông có phải là Đấng phải đến hay là chúng tôi còn phải đợi một người khác?”.
Đấng tiền hô sẽ thoả mãn với những dấu chỉ và bằng chứng. Thế nhưng ở đây, không phải là vinh quang rực rỡ, cũng không phải là sự báo oán thẳng tay. Cũng không là một lời giải đáp cho những hy vọng chính trị, tôn giáo, ái quốc của một số đông. Đấng Cứu Thế đang ở đó, sự giải phóng đã bắt đầu. Nước Thiên Chúa đã khai mào. Một cách khác. Bất thình lình. Không ngờ. Đức Kitô thực sự không đáp ứng dễ dàng những tiêu chuẩn tự nhiên, những cái nhìn quá chật hẹp và quá khô cứng bởi những lợi lộc vật chất trần tục của chúng ta.
Nếu Gioan đã có thể hồ nghi, điều này cũng dễ hiểu, thì những người khác đã hiểu ngay tức khắc, dù Thiên Chúa thinh lặng: những người được chữa lành, những người được thanh tẩy, những người được biến đổi và đám đông những người nghèo hèn này sau cùng được nhìn với sự yêu thương, được xem như là những con người được hoàn toàn ưu ái, con cái của vương quốc, những người thừa kế thực sự. Có thể là họ không biết tất cả những sắc thái của các lời tiên tri, không biết đến cả ngàn thứ quy định của Lề Luật, dù là thuộc về giáo thuyết, phụng vụ hay luân lý. Họ không có kiến thức khoa học, không quyền bính, không tiền bạc và không cả sự kính trọng. Phúc cho “những con người bé nhỏ này”, nghèo túng rất nhiều thứ, nhưng lại giàu sự hiểu biết của con tim. Họ hiểu biết mà không xét nét, và đã trở nên bằng chứng sống động của sự thâm nhập của một thế giới khác. Những nhân chứng đầu tiên. Còn lớn hơn cả đấng tiền hô nữa.
Những dấu chỉ sự hiện diện của Nước Thiên Chúa và của Đấng Cứu Tinh không có gì là ly kỳ cả. Trái lại, kín đáo và ẩn giấu trong khối bột của đời sống thường ngày, chúng dễ dàng lướt qua, không ai để ý.
Những bằng chứng về tính đích thực không bị đông cứng lại trong những tuyên bố những nguyên tắc, những đe doạ và những vạ tuyệt thông ầm ĩ, cũng không có trong sự rõ ràng của những tín điều được công bố. Chính Đức Giêsu từ chối trả lời cho đấng tiền hô qua việc giới thiệu những danh hiệu của Ngài, cho những thái độ khiêu khích gây kinh ngạc, đụng chạm và chia rẽ của Ngài.
Những bằng chứng ư? Những cử chỉ yêu thương và tha thứ, bằng chứng của một tinh thần rộng mở và luôn luôn niềm nở, một trái tim không biên giới, một sự hoàn toàn kính trọng tất cả mọi người, một sự say mê chân lý và công bình, một sự trung thành không ngừng bênh vực quyền lợi của Thiên Chúa và của con người. Thiên Chúa và con người không thể tách rời nhau.

2. “Mở mắt, mở tai... tâm hồn” (Mgr. L.Daloz, trong “Le Règne de Diei s'est approché”, Desclée deBrouwer, 1994, trang 160).
“Tìm kiếm sự phi thường, kỳ diệu luôn luôn là một cám dỗ; còn tế nhị hơn nữa, tìm kiếm sự thành công, sự kính trọng, lòng khao khát lôi cuốn sự chú ý, thủ đắc uy tín xã hội cho chúng ta hay cho Giáo Hội. Chúng ta muốn gây một ấn tượng tốt, nếu có thể gây nên cảm giác, muốn giới thiệu những dấu chỉ như là những thư giới thiệu. Thế nhưng, những dấu chỉ đích thực của Đấng Thiên Sai lại chiếu cố đến những người bé mọn, những người bệnh tật, những người nghèo. Vì thế, dấu chỉ của ơn cứu độ thường được giấu kín, không hiểu thấu được. Để có thể thấy được, phải tìm kiếm, phải chú ý, lắng nghe và nhìn xem: “Hãy đi báo cho Gioan những gì các ông nghe và thấy”. Đang ở trong tù, Gioan vẫn theo dõi những gì người ta nói về Đức Giêsu: ông sai các môn đệ đến với Đức Giêsu để phỏng vấn Ngài... Cũng phải mở rộng con tim để hiểu: “Phúc cho ai không vấp ngã vì Ta”. Chính những dấu chỉ phải đương đầu với sự mâu thuẫn... Quả thật người ta có thể bỏ qua, quả thật người ta có thể thấy chúng “không có gì đáng kể”, hay người ta có thể lầm lạc khi tìm kiếm những việc phi thường. Để nhận ra Đức Kitô, phải mở mắt, mở tai... và mở con tim nữa”.

3. “Phép lạ, dấu chỉ ơn cứu độ của Thiên Chúa cho con người” (A.Marchadour, “Les Evangiles au feu de la critique”, Bayard Editions, Centurion, trang 121-122).
“Không được cô lập phép lạ ra khỏi toàn bộ Phúc Âm. Đó là phần chính yếu của sứ mạng Đức Giêsu. Có nghĩa là, ơn cứu độ do Đức Giêsu đem đến không phải chỉ là Tin Mừng suông, một sự hiểu biết giúp thoát khỏi sự tối tăm ngu dốt, và chuyển thông một kiến thức mới về Thiên Chúa; nhưng đó cũng là một sự giải phóng thân xác, một sự khôi phục toàn diện cho những người què quặt, cho những người sống bên lề, cho những người bị đánh mất chính mình (bị ám ảnh bởi một người khác), cho những người bị loại trừ ra khỏi xã hội. Phép lạ tượng trưng cho một chương trình cứu độ, chịu trách nhiệm về những thực tại thân xác, vật lý, thiêng liêng và xã hội của con người.
Phép lạ luôn luôn xuất hiện như một sự phản kháng, chống lại một trạng thái nào đó của những sự vật, một sự từ chối chống lại tai ương, dù là sinh vật học, thiên nhiên hay xã hội. Người có ơn đoàn sủng là người vượt qua những ranh giới và giúp cho người khác vượt qua những ranh giới đó. Có thể chúng ta chạm ngón tay vào một nét lớn của phép lạ, là phải nắm giữ lại khi chúng ta tự hỏi về tính thời sự của phép lạ. Ngày nay, chúng ta ít thấy những phép lạ thuộc loại sinh vật học; tuy nhiên, phải tự hỏi về những vươn lên, những vượt qua các giới hạn mà chúng ta được mời gọi. Phép lạ giả thuyết hai người nghèo túng: người thứ nhất là Đức Giêsu, “Ngài là Đấng vốn giàu có đã tự trở nên nghèo hèn vì anh em” (2Cr 8,9). Người thứ hai là người đón nhận dấu chỉ của Đức Giêsu, là người khốn quẩn đến nỗi đã để cho sức mạnh của Đức Giêsu hành động trên chính mình và qua chính mình”.

 

CHÚA NHẬT IV MÙA VỌNG

BÁO TIN CHO GIUSE
(Mt 1, 18-24)

I. VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI:

1. Một gia phả kỳ dị:
Chúa nhật thứ IV này, bài đọc năm A trích trong đoạn mở đầu Phúc Âm thánh Matthêu (1,1-4,16). Claude Tassin giải thích: Một đoạn mở đầu như một cái sàng, cho phép đi từ Cựu Ước đến Tân Ước. Bởi vì, đối với Matthêu, Đức Giêsu không đến cắt đứt những quỹ đạo lịch sử Kinh Thánh thời trước, nhưng nối kết chúng lại trong một chiều hướng bất ngờ ("L'Eangile de Matthieu”, Centurion, 1991, trang 19). Đó rõ ràng là điều nỗi bật của đoạn văn dùng cho ngày 24 tháng 12 này.
Khác với thánh Luca đã gom lại các mẩu chuyện về thời ấu của Đức Giêsu, nhưng tập trung vào Đức Maria, thánh sử Matthêu đưa Giuse ra trước; như thế, ngài cống hiến cho các độc giả của ngài một con đường đi đến mầu nhiệm Đức Giêsu.
Gia phả của ông: “Đây là gốc gác Đức Giêsu Kitô...” (1,1-17) trước hết muốn tỏ cho biết Đức Giêsu Kitô là Ai: “Đức Kitô, con vua David, con của Abraham”. Tuy nhiên, việc giới thiệu ấy bất ngờ chuyển hướng; một khâu cuối cùng bị trục trặc, sự liên tục của các thế hệ bị đứt đoạn, bởi vì, ông nói rõ ràng là, Giuse không phải là cha ruột của Đức Giêsu: “Giacob sinh Giuse, chồng của Maria, từ nơi bà Đức Giêsu sinh ra, cũng gọi là Đức Kitô” (câu 16).
Mặc dầu vậy, Matthêu sẽ chỉ cho biết, làm thế nào Đức Giêsu là con của David được các tiên tri báo trước, và làm thế nào, Giuse, không hề cắt đứt sự liên tục, lại là người nối kết lại. Ông nhấn mạnh ở câu 18: “Đây là gốc tích (nguồn gốc) của Đức Giêsu”.
- “Maria, mẹ của Đức Giêsu, đã đính hôn với Giuse...”. Vào thời đó, đôi vợ chồng đính hôn khi còn là thanh niên, sau một thời gian mới đi đến hôn nhân và vợ về nhà chồng.
Chính trong khoảng thời gian này, “trước khi hai ông bà về chung sống với nhau” Maria “có thai”. “Do tác động của Chúa Thánh Thần”, Matthêu thêm vào ngay lập tức, nhìn nhận đây là sự khởi đầu thánh thiêng, thay thế một hành động tạo dựng, cho tiến trình sinh vật học.
- “Giuse, người công chính...”. Chúng ta đừng tìm cách đi vào tâm lý của Giuse, đang phải đương đầu với một hoàn cảnh tế nhị. Tuyệt nhiên, bản văn không nói với chúng ta điều gì cả. Chúng ta chỉ có thể đọc được ở đấy quan điểm của thánh sử. C.Tassin chú giải: “đối với ông, Giuse là người công chính, bởi vì ngài đã từ chối đảm nhận tư cách làm cha không phải là của ngài, và bởi vì ngài đã vâng lời Thiên Chúa mà chịu nhận vai trò làm cha này” (O.C. trang 26).
- “Thiên thần Chúa hiện ra với ông trong giấc mơ...”. Rõ ràng là chúng ta đang gặp thể loại văn chương chuyên loan báo việc hạ sinh trong Kinh Thánh mà Matthêu đi theo sơ đồ truyền thống: 1- một hoàn cảnh bế tắc. 2- Thiên thần hiện ra và uỷ thác sứ mạng. 3- Việc thực hiện sứ mạng này.
Giữa hoàn cảnh bế tắc, Giuse được uỷ nhiệm một sứ mạng: với tư cách là “Con vua David”, ngài được giao phó sứ mạng “đặt tên cho con trẻ”, dành riêng cho ngài. Mà, theo H.Vulliez giải thích: “Theo luật Do Thái lúc bấy giờ, đứa bé hiện hữu hợp pháp bằng tên mà người ta gọi nó, và nó thuộc dòng dõi người cha, dù đó là người cha (sinh vật học) ruột thịt hay không” ("Dieu si proche”, Desclée de Brouwer, trang 16). Như vậy, tư cách con vua David thực sự của hài nhi và sự thực hiện trọn vẹn các lời tiên tri cứu thế tuỳ thuộc ở sự vâng lời của Giuse. Chẳng những ngài không phải mờ nhạt đi, mà Thiên Chúa muốn cần đến ngài để thực hiện ý định cứu độ của Thiên Chúa.
- “Khi thức dậy, Giuse đã thực hiện điều Thiên Chúa truyền...” Với sự mau mắn của người công chính, hoàn toàn sẵn sàng trước sự mới lạ của Thiên Chúa, Giuse đón nhận về nhà mình mầu nhiệm của Giao Ước mới: “Ông rước vợ về nhà mình”, như thế, cho phép các lời tiên tri được thực hiện trọn vẹn: “Này đây, một trinh nữ sẽ thụ thai và sinh hạ một con trai, người ta sẽ đặt tên là Emmanuel, có nghĩa là “Thiên Chúa ở cùng chúng tôi” (xem Is. 7). Nhờ Giuse, Đấng Cứu Thế, thụ thai trong lòng Đức Maria, bởi Thánh Thần của sự sáng tạo mới, được đưa nhập vào dòng dõi David. Với đoạn các Nhà Đạo Sĩ kế tiếp, Ngài sẽ tỏ mình ra cho Israel và dân ngoại.

2. Một tên gọi khai mào và kết thúc Phúc Âm:
Thế nhưng, hơn cả vai trò của Giuse trong ý định cứu độ, chính sứ mạng của Đức Giêsu mới làm cho Matthêu quan tâm. Một sứ mạng mà hai tên gọi loan báo được trao phó cho Ngài:
- Tên mà Giuse được uỷ thác trao phó cho Ngài: “Giêsu”, và có nghĩa là: “Thiên Chúa cứu chuộc”, “bởi vì, chính Ngài sẽ cứu dân Ngài khỏi tội lỗi”.
- Tên gọi mà sau này sẽ dùng để chỉ định Ngài, khi mà, trong ánh sáng phục sinh, các môn đệ sẽ hiểu là đã thực hiện lời sấm của Isaia: “Người ta gọi tên Ngài là Emmanuel, nghĩa là: “Thiên Chúa ở cùng chúng tôi”. Thực ra, vào cuối Phúc Âm, khi gặp nhau tại điểm hẹn, Đấng Phục Sinh sẽ sai họ ra đi với sứ mạng không biên giới, Ngài tuyên bố với họ: “Và Ta, Ta ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế”, thì họ sẽ hiểu rõ tầm mức quan trọng cuối cùng của lời tiên tri về Emmanuel, “Lời loan báo cho Giuse đã vẽ nên quĩ đạo sứ mạng của Đức Kitô” (C.Tassin, O.C. trang 28).

II. BÀI ĐỌC THÊM:
1. “Nguồn gốc khác” (Mgr L.Daloz, trong “Le Règne des cieux s'est approché”, Desclée de Brouwer, trang 16-17).
“Đây là gốc tích của Đức Giêsu...”. Sau quyển sách gốc tích của Đức Giêsu Kitô, thì đây là một nguồn gốc khác được trình bày cho chúng ta. Đức Giêsu, bám rễ sâu vào một lịch sử, trong một dân tộc, cũng là Đấng đến từ nơi khác. Giacob sinh Giuse, chồng của Maria, từ nơi bà, Đức Giêsu sinh ra... Giuse đã đưa đứa trẻ sắp sinh nhập vào trong dòng dõi tổ tiên mình một cách hợp pháp; nhưng hài nhi này lại đến từ một Đấng khác: đứa con bà sinh ra là bởi Chúa Thánh Thần. Giuse, người công chính, sẽ đặt tên cho hài nhi: bà sẽ sinh một con trai mà ông sẽ đặt tên là Giêsu. Tên gọi có ý nghĩa, cho biết hài nhi không phải là hậu duệ như những người khác, đóng kín trong những giới hạn của khả năng loài người: bởi chính Ngài sẽ cứu dân Ngài khỏi tội lỗi. Ai có thể giải thoát khỏi tội lỗi, nếu không phải là Thiên Chúa? Lời tiên tri nhận lấy đầy đủ tất cả ý nghĩa: người ta sẽ gọi tên Ngài là Emmanuel, nghĩa là Thiên Chúa ở cùng chúng tôi. Đức Giêsu ghi tên vào một gia phả, nhưng Ngài làm nổ tung gia phả đó. Chính Thiên Chúa bước vào trong thế giới loài người chúng ta.
Tuy nhiên, vai trò của Giuse không phải là tầm thường. Khoa tâm lý hiện đại đã tỏ cho chúng ta biết tầm quan trọng của hình ảnh người cha đối với việc tạo thành nhân cách của hài nhi. Chính nhờ gần gũi với Giuse mà Đức Giêsu sẽ học biết người cha là gì. Chính nơi ông, mà Ngài sẽ nhìn thấy phản ánh nhân loại tình phụ tử của Thiên Chúa. Biết nói với chúng ta rõ ràng về Cha của Ngài, phải chăng khi đã nhìn thấy Giuse mà Ngài đã có kinh nghiệm về sự âu yếm của cha: “Ai trong các anh, nếu đứa con xin bánh mà lại cho một hòn đá ư? Hay, nếu nó xin một con cá, mà lại cho nó một con rắn?” (7,9-10). Ngài đã học biết rằng, các người cha dưới đất biết cho con cái mình những sự tốt lành. Ngài đã học biết điều đó nơi thánh Giuse.
Chúng ta đừng quên rằng, những đoạn văn đến “sau": sau một sự khám phá lâu dài về con người Giêsu, con của bác thợ mộc, sau những lời nói và những dấu chỉ đã làm nảy sinh đức tin trong tâm hồn các môn đệ, sau những hồ nghi và sau cùng, sau một sự chắc chắn về sự phục sinh: phải nhìn nhận rằng, Đức Giêsu đã là một Đấng khác, để chúng ta có thể hiểu rằng Ngài đã từ nơi khác mà đến. Trong lịch sử nhân loại, nguồn gốc thần thiêng của Đức Giêsu là một sự kiện không ai để ý đến, không ngừng được tranh cãi và chối bỏ: Đó không phải là con bác thợ mộc sao? Nhờ Thánh Thần, Thiên Chúa dẫn nhập cái mới vào trong thế giới chúng ta. Ngài đã trở thành Thiên-Chúa-Ở-Cùng-Chúng-Tôi. Chỉ nguyên việc đón nhận cái mới là chính Đức Giêsu, cái mới mà Ngài đem đến cho cuộc đời chúng ta, có thể dẫn ta đến chấp nhận điều bất ngờ trong việc Ngài sinh ra. Chính kết quả của việc khám phá này mà Matthêu muốn gởi gắm cho chúng ta. Chúng ta không thể chấp nhận nguồn gốc của Đức Giêsu bởi tác động của Chúa Thánh Thần mà không nhìn nhận là Ngài đến từ Thiên Chúa. Chính khi đã nhìn biết Ngài, chính khi đã hiểu rằng, Ngài là Đấng khác, thì chúng ta mới có thể đón nhận mầu nhiệm giáng sinh của Ngài”.

2. “Tính cách làm cha của Giuse đối với Đức Giêsu chắc chắn quan trọng hơn như gnười ta vẫn thường nghĩ” (Jean-Noel Bezancon, trong “Jésus Christ” ("Petit encyclopédie moderne du christianisme") Desclée de Brouwer, trang 43-45).
“Tính cách làm cha của Giuse đối với Đức Giêsu quan trọng hơn ta vẫn thường nghĩ. Để gọi tên Đấng mà tất cả mọi người xưng là Thiên Chúa, để chỉ định sự hiện diện rất gần gũi mà từ đó Ngài lãnh nhận tất cả mọi sự, hữu thể mà Ngài luôn luôn ý thức chỉ là một với Ngài, Đức Giêsu tự động dùng lại danh xưng mà Ngài âu yếm gọi Giuse: “Cha, Ba, Bố”. Và khi phải giải thích sự thật gây kinh ngạc này với Thiên Chúa của Israel, Thiên Chúa mà Ngài đòi tiếp tục công trình sáng tạo, Đức Giêsu lại dùng những từ ngữ đơn giản nhất khi còn tập tành ở Nagiarét, trong xưởng của bác thợ mộc Giuse: “Cho đến bây giờ vẫn làm việc, và Ta cũng vậy, Ta cũng làm việc... Điều mà Cha làm, thì Con cũng làm giống như vậy. Chính Cha yêu mến Con, và chỉ cho Con tất cả những gì Ngài làm” (Jn 5,17-20). Chính nơi những từ ngữ thường ngày, những từ ngữ mà Ngài dùng để diễn tả cuộc đời Ngài, những mối liên hệ của Ngài, những tình cảm của Ngài, mà Đức Giêsu muốn nói đối với Ngài, Thiên Chúa là ai. Làm sao không tìm thấy trong tình cảm của cha mẹ Ngài những từ ngữ đúng đắn nhất để nói cho chúng ta biết mối liên hệ tuyệt đối duy nhất vốn vẫn hiện diện trong con tim Ngài: “Cha và Ta, Chúng Ta là một” (Jn 10,30).

 

ĐÊM NOEL

ĐỨC GIÊSU GIÁNG SINH
(Lc 2, 1-14)

I. VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI:
1. Một sự sinh ra âm thầm giữa lòng lịch sử chúng ta:
Nếu thánh Luca, trong lời dẫn nhập, rất muốn làm công việc của nhà viết sử, thì điều đó không theo ý nghĩa hiện đại của từ ngữ, nhưng chỉ như một nhà thần học nhạy cảm đặc biệt với lịch sử ơn cứu độ mà thôi.
- Để đăng ký việc Đức Giêsu sinh ra trong lịch sử tổng quát, ông nối kết điều đó với “một sắc dụ của hoàng đế Augusto, ra lệnh kiểm tra dân số trong tất cả thiên hạ” (một cuộc kiểm tra dân số không phải là không đặt thành vấn đề lịch sử cho một số nhà chuyên môn).
- Để giải thích sự liên tục của lịch sử cứu độ và sự hoàn thành của nó trong Đức Kitô, thánh Luca thích nhấn mạnh mối quan hệ dòng dõi vua David của Đức Giêsu.
+ Chính là đi về Bêlem, “thành quả của vua David”, mà Giuse, rời bỏ Nagiarét xứ Galilêa, để được đăng ký trong nguyên quán, bởi vì ông thuộc về nhà và con cháu vua David”.
+ Chính ở tại Bêlem mà “Maria, vợ ông, đang có thai”, sẽ cho ra đời hài nhi mà bà cưu mang. Biến cố đã được kể lại với một sự điều độ đáng kể. Giữ một vai trò quyết định trong việc lên Giêrusalem, giờ đây, Giuse phai mờ đi để nhường cho Maria nhiệm vụ chủ động: “Bà sinh con trai đầu lòng, lấy tả bọc con, rồi đặt nằm trong máng cỏ” điều này không thể không gợi lên cảnh đặt trong mộ, trong Lc 23,53: “Ông quấn Ngài trong một khăn liệm và đặt Ngài nằm trong huyệt”, bởi lẽ không có chỗ cho họ trong phòng chung ("phòng chung” sắp tới mà chúng ta sẽ thấy nơi Luca sẽ là phòng chung cho bữa tiệc ly: Lc 22,11).
Trái ngược với sự thinh lặng, âm thầm và nghèo nàn của việc sinh ra, thì đây, “trong vùng chung quanh”, đêm được soi sáng và vang lên lời giải thích ý nghĩa của biến cố vừa mới được thực hiện trọn vẹn: trời đất đều có liên quan.
Những người đầu tiên đón nhận mạc khải lại là những người cùng đinh thời đó: “những người chăn chiên”, một trong những hạng người bị xã hội khinh khi nhất, bị liệt kê ngang hàng với những tội lỗi công khai và những người thu thuế. H. Cousin giải thích: “Những người chăn chiên có tiếng xấu trong xứ Palestine, là nơi mà người ta thường coi họ như là không lương thiện và trộm cắp. Kinh Talmud của Babylone xếp họ vào một bọn có ý nghĩa: “những người chăn chiên, thu thuế và publicanô thật khó lòng mà sám hối ăn năn”. Những người bị khinh khi, hạ cấp trong bậc thang xã hội là những người đầu tiên liên hệ trong việc sinh ra của Đấng có một người mẹ là “người hèn hạ” (1,48),người đem Tin Mừng cho những người nghèo khổ (4,18). Hài nhi mới sinh ra đã là Đấng gần gũi với những người tội lỗi và sẽ ăn uống cùng bàn với họ” (15,2) ("L'Evangile de Luc”, Centurion, trang 38-39).
- Sứ điệp mà “Thiên thần Chúa” nói với họ là “Một Tin Mừng” (một Phúc Âm), một niềm vui lớn lao. Sứ điệp được gởi “đến cho toàn dân”. Nó liên quan đến việc sinh hạ của một hài nhi mà tất cả những danh hiệu như “Đấng Cứu Thế”, “Đấng Thiên Sai”, “Chúa” chỉ có đầy đủ ý nghĩa khi được trao ban cho em bé đó mà thôi, bởi vì em bé chính là sự mạc khải sống động của lòng thương xót Thiên Chúa. “Đấng Cứu Thế”, “Đấng Thiên Sai” ("Đức Kitô"), “Chúa”, là ba danh hiệu phát xuất từ lời tuyên xưng đức tin phục sinh của Giáo Hội, mà chúng ta sẽ thấy trên môi miệng của Phêrô (Cv 2,36) và của Phaolô (Cv 13,33).
- “Dấu chỉ” được cung cấp cho những người chăn chiên vùng phụ cận Bêlem là: “Một hài nhì mới sinh, quấn trong tả và đặt nằm trong máng cỏ”. Chính là để nói cho những người biết đón nhận dấu chỉ này là, Thiên Chúa muốn thực hiện việc cứu độ đã hứa bằng một cách gây hoang mang, bất ngờ như thế nào.
R.Meynet diễn giải: “Đấng trước hết đã trở thành sau hết. Ngài là Đấng Cứu Thế, là Vua, Đấng Thiên Sai, Đấng sẽ được trao ban ngôi báu David, đã được đặt vào trong máng ăn của súc vật, được quấn bằng những tấm tả, và nằm trong một cái nôi của vận mệnh, cũng như là Ngài sẽ kết thúc khi nằm trong ngôi mộ mượn tạm, quấn trong một chiếc khăn liệm. Và, một cách mâu thuẫn, chính điều đó lại được coi là dấu chỉ cho những người chăn chiên và những người tín hữu của mọi thời đại. Dấu chứng của sự vĩ đại của Thiên Chúa là sự bé nhỏ của Ngài, dấu chứng của quyền lực của Ngài lại chính là sự yếu đuối của Ngài” ("L'Evangile selon saint Luc, Analyse rhétorique”, Cerf, trang 36).

2. Việc tạ ơn Thiên Chúa “thình lình” xuất hiện.
Về phía trời cao, biến cố được phối hợp với một tầm quan trọng, một sự trọng thể đi đôi với việc kiểm tra dân số tổng quát của Augusto: “Cùng với thiên thần, có muôn vàn thiên binh cất tiếng ngợi khen Thiên Chúa: “Vinh danh Thiên Chúa trên các tầng trời, và bình an dưới thế cho người Chúa yêu”. Trời và đất đều vui mừng: kỷ nguyên cứu độ đã bắt đầu. Thiên Chúa, Đấng đặt vinh quang qua việc tha thứ sẽ đổ tràn đầy trên những người thân của Ngài “sự bình an” mà Ngài đã hứa trong những ngày cứu độ: không phải là sự an toàn vật chất của “hoà bình Roma” mà lúc bấy giờ thế giới đang chờ đợi từ hoàng đế Augusto, nhưng là sự sống sung mãn mà chỉ mình Ngài mới có thể bảo đảm được mà thôi.
Trong đêm, trở lại yên tĩnh của đồng quê Bêlem, những người chăn chiên đã lên đường “theo lời loan báo”. “Họ khám phá ra Maria và Giuse, với hài nhi mới sinh nằm trong máng ăn súc vật”. Rồi, như là kiểu mẫu của những nhà truyền giáo Kitô mà Luca sẽ trình bày trong cuốn sách thứ hai, sách Tông Đồ Công Vụ, họ ra về, vừa đi vừa tạ ơn Thiên Chúa “vì tất cả những điều họ đã thấy và đã nghe”.

II. BÀI ĐỌC THÊM:
1. “Một tình yêu được diễn tả qua sự yếu đuối của một hài nhi mới sinh” (J.Potel, trong Jesus, I'histoire vraie”, Centurion, 1994, trang 94).
“Bà sinh con trai đầu lòng. Bà lấy tả bọc con và đặt nằm trong máng ăn súc vật, vì không có chỗ cho họ trong nhà trọ”. Khó mà nói một cách đơn giản hơn điều mà người ta xem như là một trong những mầu nhiệm lớn lao nhất: Việc sinh ra của Con Thiên Chúa ở giữa loài người! Thông tin này trước hết sẽ liên quan đến những người chăn chiên, một nghề bị các người cầm quyền tôn giáo Israel khinh khi. Tuy nhiên, thiên thần đã thông tin cho họ. Tin Mừng Đấng Cứu Thế đến với những người nghèo, những người mà Đức Giêsu sẽ tuyên bố là những người có phúc. Họ sẽ không tìm thấy Đấng Cứu thế trong một dinh thự. Ngài chỉ là một hài nhi nằm trong máng ăn của súc vật.
“Đây là dấu chỉ cho anh em: anh em sẽ gặp một trẻ sơ sinh bọc tả, nằm trong máng cỏ”. Đức tin cũng đòi hỏi những người nghèo trút bỏ những khát vọng thầm kín nhất: sự can thiệp mạnh mẽ của Thiên Chúa không được tỏ lộ ra bằng những hành động hiếu chiến, như là Israel đã mong đợi trong suốt lịch sử của mình. Nó loan báo tình yêu của Chúa qua sự yếu đuối của một trẻ sơ sinh. Các thiên thần mừng hát: “Vinh danh Thiên Chúa trên trời cao, và bình an dưới thế cho người Chúa yêu”. Thiên Chúa yêu thương loài người và muốn trao ban bình an cho họ. Người sẽ không thiết lập bình an bằng sức mạnh của vũ khí, mà bằng em bé nghèo hèn này”.

2. “Sự khiêm nhường của Thiên Chúa” (Mgr. L.Daloz, trong “Dieu a visiti son peuple”, Desclée, de Brouwer, trang 20).
“Chúng ta thuộc lòng câu chuyện Đức Giêsu sinh ra. Nó vừa quen thuộc, vừa mầu nhiệm. Cũng như toàn bộ hai chương đầu của thánh Luca, nó liên kết những hoàn cảnh cụ thể, rõ ràng, với sự thâm nhập của sự can thiệp từ nơi khác. Những nơi chốn, những thời điểm, những con người được xác định rõ ràng: Đó là Bêlem lúc kiểm tra dân số, phòng trọ, máng ăn súc vật. Đó là Maria và Giuse, thuộc dòng dõi vua David, đến đăng ký tên họ trong thành của tổ tiên mình; những người chăn chiên canh giữ đoàn vật ban đêm. Đó không phải là những con người vĩ đại, cũng không phải là những biến cố được lưu giữ lại trong lịch sử các quốc gia. Trong những hoàn cảnh tầm thường này, một thế giới huyền bí tỏ hiện: các thiên thần, vinh quang Chúa, một lời loan báo kỳ lạ, Một sự chứng nhận, một mạc khải: hài nhi mới sinh là Đấng Cứu thế, là Đức Kitô, là Chúa, và việc Ngài đến là một niềm vui lớn lao cho toàn dân. Dấu chỉ để nhận ra không có gì là đặc biệt: “anh em sẽ trông thấy một trẻ sơ sinh, bọc trong tả và nằm trong máng ăn súc vật...”. Vừa mới sinh ra, Đức Giêsu đã được chỉ định, và những nhân chứng đầu tiên là những người chăn chiên, cho thế giới của những người khiêm nhường. Thiên Chúa luôn xuất hiện như thế trong sự khiêm nhường, giữa những biến cố hằng ngày, và sự tỏ hiện của Ngài không có ồn ào, nhưng kín đáo. Để nhận ra sự xuất hiện của Ngài, phải biết lắng nghe lời của các nhân chứng, phải biết đón nhận sứ điệp hướng về một nơi khác. Nếu chúng ta biết chú ý, những hoàn cảnh bình thường nhất cũng được soi rõ bằng một thứ ánh sáng mới, ánh sáng của “vinh quang Thiên Chúa”, nó không làm loà mắt, nó nói cho những người khiêm hạ. Bấy giờ Thiên Chúa có thể đến ở giữa chúng ta. Đức Giêsu đã đến như thế đó!”.

 

NGÀY LỄ GIÁNG SINH

VÀ NGÔI LỜI ĐÃ MẶC LẤY XÁC PHÀM
(Ga 1, 1-18)

I. VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI:
+ Bài ca thay lời mở đầu.
Matthêu mở đầu tác phẩm bằng gia phả Đức Giêsu, con vua David, con Abraham. Luca mở đầu “câu chuyện về những biến cố đã được thực hiện giữa chúng ta” (1,1) bằng một trình bày tỉ mỉ về thời thơ ấu của Chúa Giêsu: cuộc đời Đức Kitô vừa được dẫn nhập, vừa được báo trước. Còn Marco thì, như chúng ta đã thấy trong Chúa nhật thứ II Mùa Vọng, bằng lòng đặt cho cuốn sách của ông một đề tựa rất có ý nghĩa: “Khởi đầu Tin Mừng Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa”.
Còn Gioan khai mào Phúc Âm bằng một bài ca, mà nhiều nhà chú giải nghĩ đã được hát trong cộng đoàn Kitô giáo của Gioan trước khi được đặt vào đầu sách Phúc Âm thứ tư. Theo kiểu “mở đầu” của một bản nhạc giao hưởng, hay hơn nữa, theo kiểu một chương cuối, bài ca ngợi khen phối hợp các chủ đề bằng một lối nói ngắn gọn có hiệu quả.
Alain Marchadour giải thích: “Đi tìm cho Phúc Âm của mình một dẫn nhập, Gioan đã chọn bài ca ngợi khen, một đoạn mở đầu rất du dương, tuần tự kể ra những chủ đề lớn của Phúc Âm: Đức Giêsu mà Phúc Âm sắp kể lại lịch sử giữa loài người, được giới thiệu ở đây với nguồn gốc và khởi đầu của Ngài. Ngài là “Ngôi Lời” có trước từ khởi thuỷ, thân mật với Thiên Chúa (Ngài hướng về Thiên Chúa) đến nỗi thi sĩ khẳng định Ngài là Thiên Chúa. Vai trò của Ngài đối với loài người vượt khỏi dân Israel, bởi vì Ngài là Đấng tạo hoá, là Sự Sống và Ánh Sáng cho tất cả những ai sinh ra trong trần gian? Nhập thể đánh dấu sự khởi đầu của lịch sử Ngôi Lời, cuộc gặp gỡ quyết định với loài người, và dân Do Thái: Kẻ thì ruồng bỏ, người thì đón nhận: đó là cộng đoàn Kitô hữu. Bài ca ngợi khen này long trọng kể lại hành trình của Ngôi Lời từ khi còn ở nơi Thiên Chúa (1,2), đến giữa loài người (3-5), chọn Israel (9-11), rồi việc Nhập thể (14) cho đến việc Ngài lại đến, “Ngài là Đấng ở trong Thiên Chúa Cha” (L'Evangile de Jean, Centurion, 1992, trang 31).
Chúng ta hãy triển khai bài ca ngợi, từng đoạn một.
- Gốc tích huyền nhiệm của Đức Giêsu, Ngôi Lời Tác Tạo:
+ Hai chữ đầu tiên: “khởi đầu” liên kết việc Đức Giêsu đến với những chương đầu của sách Sáng Thế. Như vậy, Đức Giêsu được đọc lại từ lúc khởi đầu của mạc khải: trong suốt cuốn Phúc Âm, Ngài được giới thiệu như là kết quả của tất cả những mạc khải, là Đấng mạc khải tối cao, tặng vật cuối cùng của Thiên Chúa, con đường duy nhất có thể đạt tới ơn cứu độ, khuôn mặt Thiên Chúa ở giữa loài người" (A. Marchadour, O.C. trang 34).
+ “Ngôi Lời Thiên Chúa” (thuật ngữ riêng của Gioan trong Tân Ước) trước hết được giới thiệu trong việc Ngài đã có từ trước muôn thuở, tính thân mật vĩnh cửu với Thiên Chúa Cha, sự phân biệt của Ngài với Cha Ngài, thiên tính của Ngài: “Ngôi Lời ở cùng Thiên Chúa, Ngôi Lời là Thiên Chúa”.
Tiếp đến, bài ca ngợi khen loan báo tính cách phổ quát của công trình sáng tạo của Đấng là Ngôi Lời vĩnh cửu của Thiên Chúa: “Nhờ Ngài, tất cả được tạo thành, và không có Ngài thì chẳng có gì được tạo thành”. Đồng thời, Ngài ban sự sống cho thế giới, Ngài đưa thế giới đến sự hiện hữu.
- Ngôi Lời Thiên Chúa, Ánh sáng và sự sống cho nhân loại.
Gần với Thiên Chúa, và là chính Thiên Chúa, từ khởi thuỷ Ngôi Lời sống mối liên lạc duy nhất với con người. Ngài không chỉ là tạo hoá; Ngài là “Sự Sống” và “Ánh Sáng”. Ngài không chỉ là nguồn mạch của tất cả sự sống; kết quả của sự hiện diện Ngài giữa loài người là sự biểu lộ và hiệp thông của đời sống siêu nhiên. Ngài cũng là Ánh Sáng: không phải là ánh sáng vũ trụ, mà là Ánh Sáng thần thiêng và siêu nhiêu, ánh sáng đưa dẫn loài người.
- Lời chứng của Gioan Tẩy Giả.
Trái ngược một cách đặc biệt với sự trang trọng của những câu đầu của Phần Mở đầu, đây là cảnh Gioan Tẩy Giả xuất hiện: “Có một người...”.
Có một nhân chứng đi trước, báo cho biết Ánh Sáng đã đến trong thế gian: Gioan, con ông Giacaria. Nhân vật này quan trọng vì đã được Thiên Chúa sai đến và đã lãnh nhận sứ mạng làm chứng cho Ánh Sáng. Với tư cách là tiền hô, ông đưa dẫn về niềm tin vào Đấng là Ánh Sáng và là Đấng phải chiếm lấy tất cả vị trí: “Người này không phải là Ánh Sáng, nhưng ông đến để làm chứng cho ánh sáng”.
- Ánh Sáng đã đến trong thế gian.
+ Nhưng khi đến trong thế gian, Ánh Sáng đã đụng phải sự từ chối và loại bỏ của loài người. Thế gian được Ngôi Lời tạo thành đã từ chối Ánh Sáng, đó là một sự vấp phạm lớn lao (scandale): “Ngài đến trong thế gian, nhờ Ngài mà thế gian được tạo thành, nhưng thế gian đã không nhìn nhận Ngài”. Còn một vấp phạm lớn hơn nữa: đó là “những gia nhân Ngài”, dân của Lời Hứa, dân của Lời giao ước, “đã không đón nhận Ngài”.
+ Ngược lại, “những ai đón nhận Ngài”, là người Do Thái hay không, “thì Ngài ban cho quyền trở thành Con Thiên Chúa”.
- Ngôi Lời đã mặc lấy xác phàm.
+ “Ngôi Lời đã trở thành nhục thể: “Gioan không viết là Ngài đã làm người; ông công bố là, Ngài đã trở thành “nhục thể": không phải là một từ ngữ chỉ định thân xác đối chọi với linh hồn, nhưng chỉ định con người với khía cạnh mỏng dòn và dễ bị huỷ diệt.
+ “Ngài đã ở giữa chúng tôi” (nói theo văn chương: “Ngài đã cắm lều ở giữa chúng tôi"): đối với các độc giả của Ngài, từ ngữ gợi lên ngay “chỗ ở của Thiên Chúa” ở giữa dân Ngài. Sự hiện diện này của Chúa ở giữa các gia nhân Ngài được tượng trưng ngày xưa bởi Lều Tạm trong sa mạc, trong thời Xuất Hành, rồi bằng Đền Thờ Giêrusalem, giờ đây đã được thực hiện một cách tuyệt hảo và cuối cùng, nơi Đức Giêsu, Thiên Chúa làm người (Ga 2,19-22: ”...Ngài nói về Đền thờ thân thể Ngài").
+ “Và chúng tôi đã thấy vinh quang của Ngài": trong con người Đức Giêsu, cộng đoàn của Gioan khẳng định là đã biết nhìn thấy Vinh Quang của Thiên Chúa, một đặc tính, một sự toả sáng mạc khải Thiên Chúa.
- Đức Giêsu Kitô đã mạc khải Thiên Chúa vô hình.
“Không ai đã thấy Thiên Chúa bao giờ: Con một Ngài là Đấng ở nơi cung lòng Thiên Chúa Cha, chính Ngài đã tỏ cho chúng ta biết”.
Jean Pierre nhận xét: “Khởi đi từ Ngôi Lời nơi Chúa, bài ca ngợi khen kết thúc bằng việc nêu lên “Người Con duy nhất nơi cung lòng Thiên Chúa Cha": đó chính là diễn biến cuộc đời của Đức Giêsu, như sẽ được tóm tắt lại vào lúc cuối: “biết rằng Ngài bởi Cha mà ra và Ngài trở về với Thiên Chúa” (13,3). Nhưng ngay trong việc lên tới Đấng mà chỉ mình Ngài biết ("Không có ai đã trông thấy Thiên Chúa, cả Môisen cũng thế!"), Ngài muốn đưa chúng ta đi theo Ngài: “Ta ở đâu, các con cũng ở đó” (14,3). Hơn thế nữa, Ngài đã đưa dẫn chúng ta vào tình thân mật này: “nếu ai yêu mến Thầy, sẽ giữ lời Thầy, và Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy, và chúng ta sẽ đến và ở trong người ấy” (14,23) ("lire la Bible” n.52, trang 34-35).

II. BÀI ĐỌC THÊM:

1. “Ngôi Lời đã hoá thành nhục thể” (Jean-Noel Bezancon, “Jésus le Christ” “Petite encyclopédie du christianisme”, Desclée de Brouwer, 1988, trang 98-100).
“Truyền thống Do Thái đã suy ngẫm tỉ mỉ về Ngôi Lời Thiên Chúa. Sách Sáng Thế đã làm chứng điều đó: lúc khởi nguyên, Thiên Chúa nói, Thiên Chúa phán, và tất cả những gì Thiên chúa phán, trời và đất, ánh sáng, rồi sự sống, tất cả đều hiện hữu chỉ bởi sức mạnh lời này. Và dân Israel đã có kinh nghiệm này trong suốt lịch sử của họ: chỉ bởi lời Ngài, Thiên Chúa giải thoát dân Ngài khỏi Ai Cập, hay khỏi Babylon, Ngài dẫn dắt họ, Ngài nuôi dưỡng họ, Ngài hướng dẫn họ. Ngài tỏ mình ra cho họ biết Ngài như là người đồng minh, một đối tác, một người bạn, và cả một người chồng rất mực yêu thương. Lời Chúa như thế chính là sự gần gũi, trung tín, âu yếm, sự chắc chắn của sự hiện diện của của giao ước.
Các môn đệ đã nhận thấy lời sáng tạo, giải thoát, yêu thương này nơi Đức Giêsu. Ngài chính là lời vĩnh cửu và duy nhất của Chúa Cha, nhờ đó Ngài đã tạo thành thế giới (Dt 1,2), và dẫn đưa dân Ngài. Nơi Đức Giêsu, lời này đã nhập thể. Nó không còn là những ngôn từ, luôn luôn cách xa. Nó đã trở thành một cuộc sống con người, gần gũi, đụng chạm được và có thể bị thương tổn. Gioan loan báo: “Ngôi Lời đã mặc lấy xác phàm” (1,14).
Và, từ sự kiện đó, một cuộc sống con người đã trở thành lời Thiên Chúa. Nếu cuộc đời Đức Giêsu, trong những cử chỉ bình thường nhất và cho đến cả cái chết của Ngài như thế, có thể tỏ lộ cho biết Thiên Chúa, thì từ nay, tất cả đời người, khi lặp lại cũng những cử chỉ đó, khi phỏng theo cũng cách xử sự đó, được thúc đẩy bởi cũng mỗi Thánh Thần, cũng có thể phản ánh cái gì đó của Thiên Chúa, trong khát vọng được chia sẻ và hiệp thông”.

2. “Sự khởi đầu đích thực mạc khải mầu nhiệm con người Đức Giêsu” (Alain Marchadour, “Les Evangiles au feu de la critique” Bayard Editions Centurion, 1995).
“Chúng ta có thể nói rằng, Phúc Âm của Gioan, có khác với các Phúc Âm khác đến thế nào đi nữa, cũng có cái hay là đã đưa dẫn đến nơi đến chốn vấn đề căn bản đã làm bối rối cho ba tác giả kia. Tất cả các Phúc Âm chỉ có lý do tồn tại là giới thiệu khuôn mặt của Đức Giêsu và bày tỏ mầu nhiệm đó. Mỗi người một cách, nhưng hơn những người khác, Gioan tập trung tình tiết vào mầu nhiệm Đức Giêsu. Đề tựa tác phẩm của ông bằng một đoạn mở đầu, ông đã thành công nối kết sự khởi đầu đích thực, bày tỏ mầu nhiệm con người của Đức Giêsu: “Lúc khởi đầu đã có Ngôi Lời”.
Như thế, khi thời gian bất động của vĩnh cửu mở ra về hướng lịch sử và thời gian, thì lịch sử nhân loại của Ngôi Lời bắt đầu... “và Ngôi Lời đã trở thành nhục thể”. Điều thần thiêng của “Ngôi Lời” chứa đựng đã không còn có thể nhìn thấy được. Chỉ còn cho thấy nhục thể. Nghĩa là con người trong chiều kích mỏng dòn, phù du và đau khổ. Từ nay chỉ còn con người tồn tại, và cái được thua của tất cả các Phúc Âm nằm ở chỗ nhận ra, trong con người này, Thiên Chúa hiện ra rõ ràng cho con người. Tin hay không tin: đó là việc phải chọn lựa một trong hai mà mỗi người Do Thái (và qua họ, tất cả mọi người) phải đương đầu”.

 

LỄ THÁNH GIA

CON ĐƯỜNG CỦA KITÔ HỮU THEO CHÂN ĐỨC GIÊSU
(Mt 2, 12-15.19-23)
I. VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI:

1. Một truyện kể tỉ mỉ về thời thơ ấu.
Việc báo tin cho Giuse mà ta đọc Chúa nhật trước vẫn còn rõ như in trong trí nhớ, nên ta dễ liên hệ đến bài Phúc Âm Chúa nhật này: cũng thiên thần hiện ra trong giấc ngủ truyền cho Giuse một mệnh lệnh liên hệ đến Maria và trẻ thơ sắp sinh ra; cũng trích dẫn những lời tiên tri được thực hiện; cũng thái độ im lặng đón nhận và mau mắn thi hành của Giuse. Hơn nữa, bài Phúc Âm hôm nay sử dụng 2 lần cùng một lược đồ: ta có thể xếp thành 2 cột song song như sau:
 
1. Bối cảnh
Sau khi các đạo sĩ đi rồi
1. Bối cảnh
Sau khi Hêrôđê băng hà
2. Thiên thần hiện ra với Giuse và truyền lệnh Giuse. 2. Thiên thần hiện ra với Giuse và truyền lệnh Giuse.
3. Giuse mau mắn thi hành 3. Giuse mau mắn thi hành
4. Trích dẫn Kinh Thánh 4. Trích dẫn Kinh Thánh

“Thế là ứng nghiệm...”
Dưới hình thức ngây thơ, Phúc Âm Thời thơ ấu theo thánh Matthêu thực ra đã được chuẩn bị rất trí thức và giàu ý nghĩa.
- Đừng quên rằng Matthêu nói với các Kitô hữu gốc Do Thái, tâm hồn thấm đẫm Kinh Thánh và được nuôi dưỡng bằng những bài chủ giải Kinh Thánh trong các hội đường. Không lạ gì khi thấy thánh sử, vì muốn minh chứng rằng Đức Giêsu qui tụ tất cả niềm hy vọng của Israel và đã làm ứng nghiệm các lời Kinh Thánh, thường xuyên trích dẫn các bản văn Kinh Thánh và các lời chú giải. Về vấn đề này, ta có thể đọc những trang sách rất khúc chiết của Charles Perrot trong “Cahiers - Evangile số 18” trang 11 và kế tiếp.
- Không như Luca, Matthêu không tìm kích thích trí tưởng tượng hoặc thoả mãn óc tò mò của ta bằng một vài chi tiết lịch sử kỳ thú. Ông chỉ muốn cho ta hiệp thông “với các Kitô hữu tiên khởi trong cuộc truy tìm, say sưa niềm tin vào Đức Giêsu, Con Thiên Chúa”. Ánh sáng Phục Sinh soi dọi tới tận ngọn nguồn làm ta khám phá và cùng với cộng đoàn sơ khai, tuyên xưng Con Thiên Chúa và Đấng Cứu độ gian trần trong con trẻ sinh bởi lòng Đức Maria. Những biến cố thời thơ ấu đã cho thấy trước những điều mà cái chết và sự Phục Sinh khai mở về Đức Giêsu: vị tiên tri người “Galilê” (người Nadarét”, Giêsu (Thiên Chúa cứu) là Emmanuel (Thiên Chúa ở cùng ta). Người là “Con”, con David sinh tại Bêlem và Con Thiên Chúa; Người là Môsê mới khai mạc cuộc Xuất hành mới.

2. Môsê mới, Xuất hành mới
Nếu chú ý, ta sẽ thấy bản văn này song song một cách kỳ lạ với truyện về Môsê.
- Ngày xưa Pharaô đôi lúc đã truyền tiêu diệt trẻ nam sơ sinh của dân Do Thái.
Chúa Giêsu vừa sinh ra thì Hêrôđê độc dữ cũng truyền “tàn sát mọi trẻ nam từ 2 tuổi trở xuống tại Bêlem và các vùng phụ cận”.
- Ngày xưa, Môsê đã được cứu thoát cách kỳ diệu và đã chạy trốn ra nước ngoài trước khi đương đầu công khai và sau khi được tấn phong làm tiên tri tại “bụi gai cháy đỏ” (Ex 3,1-12).
Đức Giêsu cũng đã trốn thoát khỏi tay bạo chúa. Đã chạy trốn sang Ai Cập, trở lại quê nhà rao giảng Tin Mừng sau khi được tấn phong làm Messia lúc chịu phép rửa tại sông Giođan.
- Ngày xưa, Môsê quay trở lại Ai Cập khi cơn nguy hiểm đã qua “vì những kẻ muốn hại ông đều đã qua đời” (Ex 4,19-20). Cái chết của Pharaô tạo cơ hội cho việc giải phóng dân Thiên Chúa.
Chúa Giêsu cũng trở lại quê hương khi nguy hiểm đã hết, “vì Hêrôđê đã băng hà”. Cái chết của Hêrôđê tạo cơ hội cho Chúa Giêsu trở về và công cuộc giải phóng dân mới bắt đầu.
- Ngày xưa, Môsê vâng lời Thiên Chúa: “Vậy, Môsê đem vợ con cỡi lừa (việc Chúa Giêsu cỡi lừa trốn sang Ai Cập phát xuất từ truyện Môsê) và trở lại Ai Cập (Ex 4,19-20).
Trong Phúc Âm thời thơ ấu của Chúa Giêsu, Giuse lúc nào cũng nêu gương vâng lời. Sự im lặng mà Matthêu ghi nhận làm nổi bật đức tin trong hành động của Ngài “Giuse chỗi dậy, đem con trẻ và mẹ Ngài trốn sang Ai Cập... Giuse chỗi dậy, đem con trẻ và mẹ Ngài trở lại Israel”.
Câu kết của phần I đoạn Phúc Âm rất đậm đà ý nghĩa “Từ Ai Cập, Ta đã gọi con Ta về”. Câu này mượn trong Osê (11,1) để ca tụng tình thương Thiên Chúa Người đã đưa Israel “đứa con đầu lòng” (Ex 14,23) ra khỏi Ai Cập. Khi làm ứng nghiệm lời Kinh Thánh, Đức Giêsu tái tạo lịch sử dân Người. Là Môsê mới, Ngài đến khai mở một cuộc Xuất hành mới và vĩnh viễn cho một dân tộc mới.
“Ai Cập tượng trưng cho sự áp bức, Cl. Tassin chú giải. Đó là khởi điểm của cuộc Xuất hành, từ con đường giải phóng tiến về miền Đất Hứa. Qua đoạn tường thuật vắn tắt này, Đức Giêsu trở nên liên đới với dân Người khi đảm nhận lịch sử đầy thử thách của dân, như lời dẫn tiên tri Osê đã chú thích... Tuy nhiên, phải làm quen với kiểu người Do Thái trích dẫn Kinh Thánh ở đây. Nếu có ai nói: “Lũ chuột nhảy múa”, ta sẽ tự nhiên nghĩ đến vế đối thứ 1: “Khi mèo ra đi”. Cũng vậy, các độc giả người Do Thái của Matthêu sẽ dùng trí nhớ bổ túc đoạn văn của Osê: “Khi Israel còn thơ, Ta đã yêu quí nó và từ Ai Cập, Ta đã gọi con Ta về”. Như thế ý nghĩa mới trọn vẹn: trẻ thơ Giêsu chính là trẻ thơ Israel: Ngài thâu tóm nơi bản thân ơn gọi và vận mệnh của dân được tuyển chọn, trước khi đoạn Phúc Âm kế tiếp mạc khải Ngài là Con, hơn hẳn dân bị áp bức mà Thiên Chúa nói với Pharaô “Con đầu lòng của tôi, đó là Israel..”. Hãy để con ta ra đi!” (Ex 4,22-23) (Mt, Centusion, 1991, trang, 33-34).

3. Một dân tộc có tầm cỡ hoàn vũ
Tuy vậy, cuộc Xuất hành này không hướng về Giuđêa, nơi không bị đa thần giáo xâm phạm, trái lại hướng tới “Galilê, nơi giao lưu các dân ngoại” (Mt 4,15), xứ sở dân cư pha tạp, đất vãng lai, bị khinh miệt: Dân mới mà Đức Giêsu vừa thiết lập, là một dân liên kết các dân ngoại ngoan ngoãn lắng nghe Phúc Âm vào với dân Do Thái.
Chính tại Galilê mà Đức Giêsu sẽ bắt đầu sứ vụ công khai (4,15-18) và cũng chính tại đây, Đấng Phục Sinh đã hẹn gặp các tông đồ để trao phó cho họ sứ mệnh có tầm cỡ hoàn vũ: “Hãy đi, hãy làm cho mọi dân tộc thành môn đệ Ta...” (28,18).
Đối với Matthêu và các độc giả của Ngài, việc trở về Galilê đã tiên báo việc mở cửa Giáo Hội cho dân ngoại. Dân mới không còn bị giới hạn vào biên cương Israel, nhưng sẽ có tầm vóc hoàn vũ. “Vậy, Đức Giêsu đã chuẩn bị cho sứ mệnh hoàn vũ của mình” (Cl. Tassin p.36).

II. BÀI ĐỌC THÊM:
1. Không ai có thể cản trở ý định của Thiên Chúa (J.Potel, “Giêsu, lịch sử đích thực”, Cantenion, 494, trang 99-100).
Không ai có thể cản trở ý định của Thiên Chúa. Pharaô đã tính trừ khử mọi trẻ em Do Thái. Chương trình thất bại vì Môsê được công chúa con Pharaô cứu. Thiên Chúa đã giải phóng dân Ngài và đã dẫn đưa dân về miền Đất Hứa. Hôm nay, lại một nghịch lý nữa, Đấng Cứu Thế tị nạn sang Ai Cập! Điều đó chứng tỏ rằng Thiên Chúa vẫn tự mình hướng dẫn các biến cố, như những lời Kinh Thánh được Matthêu trưng dẫn đã chứng tỏ. Đấng Cứu Thế xuất hiện như một Môsê mới, như sự nhập thể của Israel mới khi vượt qua sa mạc Sinai, cũng như xưa, dân được tuyển chọn đã đi dưới sự hướng dẫn của Môsê.
Cuộc lưu đày này chỉ là tạm bợ. Thiên Chúa gọi Ngài trở lại Israel. Người ta tưởng Đấng Cứu Thế sẽ định cư ở Giuđê, nơi Ngài sinh ra, hoặc ở Giêrusalem. Nhưng con trai Hêrôđê, vua Archélaos, cũng tàn ác như cha. Nên Thiên Chúa sai Giuse đem gia đình đến định cư tại Nadarét trong miền Galilê. Matthêu nhìn thấy trong sự kiện này ứng nghiệm một lời tiên tri: “Người sẽ được gọi là Nazorées": từ ngữ có nghĩa là “người tuân giữ”, như những đứa trẻ, Gioan Baotixita chẳng hạn, được cung hiến cho Thiên Chúa ngay từ trong lòng mẹ. Nhưng từ ngữ chỉ giản đơn nói Ngài là cư dân Nadarét. Matthêu đua tranh với các rabbi Do Thái về sự tinh tế trong việc sử dụng các bản văn Kinh Thánh! Dù sao, điều chính yếu là Đức Giêsu Đấng Cứu Thế sẽ tỏ mình ra trước hết tại Galilê của các dân tộc, trong thành phố mà dân Do Thái và dân ngoại chung sống, cũng như trong các cộng đoàn Kitô hữu vào lúc Ngài soạn thảo sách Phúc Âm, có lẽ khoảng năm 80.

2. Những truyện kể dạy ta đọc lại lịch sử (Mgr. L. Daloz, “Le règne des cieu s'est approché, DDB, 1994, trang 21).
Những truyện kể ấy dạy ta đọc lại lịch sử. Ánh mắt ta thường dừng lại nơi những biến cố dễ thấy nhất; những biến cố ấy thường mờ đục và có khi nghiền nát ta... Để đọc được niềm hy vọng trong lịch sử đời ta, lịch sử thế giới, lịch sử đời sống, cần phải nghe lời Thiên Chúa nói với ta như Giuse. Nếu ta chăm chú lắng nghe và trung tín với lời Ngài, thì Ngài sẽ trở thành ánh sáng xuyên thủng lớp mờ đục của các biến cố. Lời Chúa sẽ cho ta thấy đâu là ý định với thánh ý của Người đối với thế giới, và với ta. Lời Chúa giúp ta nhận định điều quan trọng. Lời Chúa cho thấy những dấu chỉ hy vọng trong những hoàn cảnh vô vọng đối với loài người. Lời Chúa dạy ta biết sống như Giuse với sự mau mắn và thấu hiểu xuyên qua tấm màn các biến cố. Chỉ đọc thoáng qua, ánh sáng Lời Chúa giống như “một giấc mơ”, một không tưởng. Tuy nhiên, đó chính là khải thị lớn nhất, khải thị của con mắt đức tin. Lúc đó bóng tối đức tin biến thành ánh sáng rực rỡ, sự vâng lời của đức tin trở thành con đường tự do. Không hẳn là ngay sau đó ta nhận ra sự hiện diện của Thiên Chúa trong các biến cố đời mình đâu. Mỗi biến cố không mang trong mình trọn vẹn ý nghĩa: nó chỉ thúc đẩy ta hành động, truy tìm, đức tin đâu miễn cho ta khỏi do dự, nghi nan, tăm tối. Đức tin chỉ khơi dậy dự do, và trách nhiệm. Ta đâu thể bước đi mà không lầm lạc, không yếu đuối, không tội lỗi. Chỉ đến chung cuộc, khi ta thấy Thiên Chúa diện đối diện, ý nghĩa trọn vẹn của đời ta mới được giải mã. Chỉ đến chung cuộc của thời gian mục đích mà thế giới hướng tới mới biểu lộ. Từ nay tới lúc ấy, ta phải luôn kiên nhẫn và trung thành: chúng ta bước tới trong đức tin.

 

LỄ HIỂN LINH

DÂN NGOẠI NHẬN BIẾT ĐỨC GIÊSU LÀ MESSIA
(Mt 2, 1-12)

I. VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI:

1. Đọc lại bản văn dưới ánh sáng Phục Sinh.
Đừng để cho những hình thức ngây thơ bên ngoài của truyện kể lạm dụng ta, vì chúng được cấu tạo với một nghệ thuật siêu đẳng. Trong cả hai chương nói về thời thơ ấu của Đức Giêsu, mục đích của thánh sử Matthêu không nhằm thoả mãn óc tò mò của ta khi thu thập vài kỷ niệm sâu sắc. Dự kiến của Ngài thuộc bình diện thần học: Dưới ánh sáng Phục Sinh, hãy ngược lên tận nguồn gốc Đức Giêsu để tìm ra mầm mống nào đã làm ứng nghiệm lời Kinh Thánh và sau này triển nở trong đời sống và Phục Sinh của Ngài.
A. Marchadour đã nói: “Tác giả Kinh Thánh không truy tìm sự chính xác lịch sử như chúng ta, những người bị ảnh hưởng thuyết thực nghiệm, cần ghi nhớ rằng mọi truyện kể về thời thơ ấu đều được hình thành từ những biến cố đến sau, rồi mới được thêm thắt vào. Hiện tượng đọc lại quá khứ dưới ánh sáng hiện tại, tầm quan trọng của Kinh Thánh như những “lời sấm”, sự huy hoàng của lễ Phục Sinh khai mở căn tính của Đức Giêsu; tất cả những điều đó cho phép hiểu rằng những truyện kể về thời thơ ấu đều được viết lại và sự chính xác trong lịch sử không phải là mối bận tâm hàng đầu của người viết” (Les dossrers de la Bible, n.44, j.5).

2. Một truyện kể đặc biệt giàu biểu tượng.
Truyện kể dễ dàng chia ra làm 2 phần
1. Ở Giêrusalem: cung đình Hêrôđê.
- Các đạo sĩ - có lẽ là các nhà chiêm tinh người Babylon chuyên tìm chân lý nơi các vì sao - đã lên đường đi Giêrusalem để thờ lạy “vua người Do Thái” mà 1 ngôi sao đã loan báo.
- Nhưng để tìm thấy người muốn tìm, ngôi sao không đủ. Các đạo sĩ cần đến dân Do Thái và Kinh Thánh của họ.
Nghe họ hỏi, Hêrôđê và các cấp giáo quyền ở Giêrusalem mới khảo sát các lời sấm liên quan đến Đấng Messia.
- Các cấp thẩm quyền Do Thái đã giải nghĩa chính xác lời các tiên tri, nhưng họ vẫn không rời Giêrusalem.
2. Tại Bêlem, vua Giêsu.
- Nhờ ngôi sao (văn hoá của họ) và Kinh Thánh (Lời Chúa nói cho Israel) các đạo sĩ đã tới Bêlem.
- Họ thấy Đức Giêsu và thờ lạy Ngài.
- Biết toan tính sát nhân của vua Hêrôđê, các đạo sĩ theo “đường khác” mà về.
Ba mâu thuẫn - báo trước khổ nạn - kết thành khung truyện kể rất công phu này.
1. Giêrusalem. Thủ đô chính trị và tôn giáo từ chối tiếp nhận Đấng đến hoàn thành lời hứa, mâu thuẫn với Bêlem nơi con vua David giáng sinh như lời các tiên tri đã loan báo.
2. Các thủ lĩnh tôn giáo Israel, những người nhờ Kinh Thánh mà hiểu biết nhưng lại chẳng chú ý tới Kinh Thánh, mâu thuẫn với các đạo sĩ nước ngoài, những người ngoại đạo lo truy tìm, lên đường và đã thấy!
3. Hêrôđê được gọi là “vua”, lo sợ mất ngai vàng, mâu thuẫn với trẻ thơ ở Bêlem là vua đích thực.
- Nơi Ngài ứng nghiệm lời sấm trong Isaia 60 loan báo ngày vô số dân ngoại sẽ tuốn về Giêrusalem mang theo lễ vật và sự phú túc của họ.
- Nơi Ngài ứng nghiệm lời sấm trong Mikê 5,1 nói về Bêlem, nơi Đấng Cứu thế giáng sinh: “còn ngươi, hỡi Bêlem xứ Giuđêa, ngươi đâu phải là thành phố nhỏ bé nhất trong xứ Giuđêa, vì từ nơi ngươi xuất phát vị thủ lãnh, Ngài sẽ là mục tử nhà Israel”.
- Nơi Ngài ứng nghiệm lời sấm của Balaam kẻ ngoại đạo, trong sách Dân số 24 đã loan báo một ngày kia “ngôi sao Jacob” sẽ mọc lên.
Như thế, qua cấu trúc và lời văn rất tinh tế, truyện kể đã công bố căn tính kỳ diệu của Đức Giêsu, báo trước tác vụ của Ngài, việc các thủ lãnh dân Ngài chối bỏ và cũng báo trước việc dân ngoai gia nhập Giáo Hội. Tóm lại theo Claude Tassin, ta có ở đây dạng một “Phúc Âm thu nhỏ”.
Francois Broossiet tóm tắt: “Lồng vào toàn thể Phúc Âm Matthêu, ý nghĩa đoạn Phúc Âm này thật rõ ràng: Những người lẽ ra phải đón tiếp Đấng Cứu Thế do Thiên Chúa sai đến lại không nhận biết Ngài, kiến thức của họ thật vô bổ; Trái lại, dân ngoại đến nhìn nhận và thờ lạy Ngài. Bị đa số dân Israel chối từ, được dân ngoại đón nhận, đề tài sẽ được nhắc lại nhiều lần trong suốt Phúc Âm đã được loan báo ngay ở đây”.

II. BÀI ĐỌC THÊM:
1. Cả nhân loại được mời gọi (Gérard Bessière, 'Dieu siproche", DDB 1992).
Matthêu viết một truyện kể tưởng tượng, uyên bác và giàu biểu tượng ám chỉ đến cả quá khứ lẫn tương lai. Ngài đã dệt nên những đề tài mà Phúc Âm của Ngài đã khai triển.
Đây là 2 ông vua: bạo chúa khát máu ở Giêrusalem và trẻ thơ mới sinh ở Bêlem. Hêrôđê đã lầm khi lo sợ. Giêsu đâu đến để tranh cướp quyền hành chính trị. Danh hiệu vương đế chỉ đến với Ngài trong cuộc khổ nạn. Đức Giêsu là Vua thực thụ, nhưng vượt xa những vương triều trần gian, trong thẳm sâu nơi người ta đón nhận hay chối từ Thiên Chúa. Truyện kể giúp ta hiểu điều đó. Vị vua bé bỏng ở Bêlem sẽ bị bắt bớ, là những con người quyền lực, Ngài sẽ bị loại trừ.
Matthêu cũng muốn cho thấy Đức Giêsu làm ứng nghiệm các lời Kinh Thánh và những lời sấm xa xưa. Chính Ngài là Đấng Israel mong đợi. Chính Ngài làm cho các thế kỷ chín mùi.
Các đại giáo trưởng, các luật sĩ đã có mặt, nhưng họ không đi Bêlem. Sau này ta sẽ thấy họ đối mặt với Đức Giêsu. Rồi nhiều người trong bọn họ sẽ trở thành thù địch của Ngài. Chỉ có những người nước ngoài xa lạ đến phủ phục như ta làm trước mặt vua chúa hoặc trước mặt Thiên Chúa.
Như thế Đức Giêsu được dân ngoại nhìn nhận, trái lại các vị đại diện dân Ngài không nhìn nhận mà còn tìm cách diệt trừ Ngài. Thế là ứng nghiệm lời sấm của Isaia 60,3-6 mà các hình ảnh được sử dụng lại sau này: “Các dân sẽ tiến về ánh sáng của ngươi và các vua chúa hướng về ánh bình minh của ngươi... từng đoàn lạc đà tràn ngập ngươi... mọi người từ Saba sẽ đến dâng vàng, hương và ca ngợi Đức chúa”. Số mệnh phổ quát của Giêrusalem, sẽ được Đức Giêsu thực hiện. Các thủ lãnh dân Người sẽ ra sức tiêu diệt Người, nhưng vương quốc của Thiên Chúa sẽ được ban cho cả nhân loại.
Còn những dân tộc, những thủ đô đang từ trên cao hướng về những Bêlem nhỏ bé của các quốc gia khác. Lễ Hiển Linh cho thấy toàn thể nhân loại được Thiên Chúa mời gọi, và đối với Thiên Chúa, tất cả nhân loại chỉ là một gia đình. Cách nhìn này nằm trong ký ức Kitô giáo như một nắm mem để xây dựng tương lai. Ta không thể đến gần Thiên Chúa mà không gặp gỡ các mục đồng và các đạo sĩ, nghĩa là, những con người xa lạ vì khiêm tốn. Họ là nhân loại của Thiên Chúa.

2. Lên đường (Mgr. Lucien Daloz, Le Règne des cieux s'est approché, DDB 1994).
Họ từ đâu tới, các đạo sĩ đã khiến cả Giêrusalem xôn xao lên ấy? Họ lướt qua như ánh sao, những nhân vật kỳ bí mà người ta chỉ cho ta biết rằng họ đến từ phương Đông và họ theo đường khác mà trở về quê quán. Họ loan báo những người mà Đức Giêsu tiên báo: Nhiều người sẽ từ phương Đông, phương Tây đến ngồi vào bàn tiệc với Abraham, Isaac và Jacob trong Nước Thiên Chúa...(8,11). Hêrôđê dò hỏi các thượng tế, các luật sĩ nhưng không phải để đi đến thờ lạy trẻ sơ sinh. Ông chỉ nhìn thấy nơi con trẻ một địch thủ, một ông vua như mình, và ông tìm cách tiêu diệt Ngài.
Có những người tìm kiếm như các đạo sĩ, lên đường như Abraham. Cũng có những người ngồi một chỗ như Hêrôđê. Muốn biết ư? Ông đã có các chuyên viên. Muốn tiêu diệt đối phương ư? Ông có cả ngàn quân lính dưới quyền. Thiên Chúa hướng dẫn những ai muốn tìm Người cách lạ lùng. Người trốn thoát khỏi những kẻ muốn tìm bắt. Người không hung hãn chống lại những kẻ muốn huỷ diệt Người. Người tự xoá mình đi và biến mất...
Người ở đâu, Đức Giêsu ẩn dấu của thời đại. Trong làng quê heo hút nào, trong gia đình nghèo khó nào có ánh sáng Thiên chúa mời ta nhận ra Người? “Ta đói các ngươi đã cho Ta ăn... Thực, Ta bảo các ngươi: mỗi lần các ngươi làm cho một trong những người bé nhỏ nhất là anh em Ta đây, là các ngươi làm cho chính Ta” (25,35-40). Cả chúng ta nữa, chúng ta cũng có lời Kinh Thánh: Ta đã không bị cám dỗ dùng lời Kinh Thánh để át giọng kẻ quấy rầy ư? Đức Giêsu đâu để cho ta đền bù. Nếu ta muốn nắm lấy Người để được an tâm, Người sẽ thoát khỏi tầm tay ta. Nếu ta chấp nhận lên đường kiếm tìm Người, ta sẽ như các nhà đạo sĩ, được đầy tràn niềm vui và tìm thấy Người. Truy tìm, thờ lạy, chiêm ngưỡng... với họ, lời sấm của Mikê không là những con chữ nằm chết. Đọc kỹ Kinh Thánh thôi chưa đủ: còn phải để Kinh Thánh gợi hứng cho đời ta, để ta đem ra thực hành, để ta đặt mình dưới sự điều khiển của Kinh Thánh. Các luật sĩ và các thầy thượng tế biết lời sấm lắm chứ. Nhưng họ chỉ biết trưng dẫn mà thôi... Hêrôđê thì dùng Kinh Thánh để tìm cách giết hài nhi... Còn các đạo sĩ, bản thân chẳng biết Kinh Thánh, chỉ được Hêrôđê chỉ dẫn, đã lên đường tìm kiếm Đức Giêsu và họ đã gặp Người. Suốt dọc dài Tân Ước, ta thấy biểu lộ mầu nhiệm này: dân ngoại quay về với Đức Kitô, trong khi các bậc thầy thông luật chối từ Người... Ta cũng vậy, cũng có guy cơ lập lại lời Chúa mà chẳng lên đường. Trong khi đó, biết bao người khác đã đến gặp Đức Giêsu dù chẳng biết lời Người! Ta tự hào là những người hiểu biết, các thầy thông luật: vấn đề quan trọng là ta biết trở nên tôi tớ của lời Chúa. Nếu ta để Lời Chúa hướng dẫn, hoạt động trong trái tim và cuộc đời ta, Lời Chúa sẽ dẫn đưa ta đến nơi bí mật ấy, nơi Đức Giêsu đang chờ đợi ta.

 

THỨ TƯ LỄ TRO

SUNG SƯỚNG ĐƯỢC SỐNG DƯỚI CÁI NHÌN
CỦA NGƯỜI CHA
(Mt 6, 1-18)

I. VAØI ÑIEÅM CHUÙ GIAÛI :
Âæïc Giãsu væìa nãu lãn sæû cäng chênh måïi âäúi laûi våïi "sæû cäng chênh cuía caïc kê luûc vaì biãût phaïi" trong nàm phaín âãö liãn tiãúp.
 Trong âoaûn tin mæìng daình cho lãù tro, Âæïc Giãsu âãö cáûp âãún ba cäüt truû cáúu thaình nãön âaûo âæïc Do Thaïi giaïo maì ta cuîng gàûp tháúy trong moüi tän giaïo khaïc: bäú thê - ngaìy nay ta goüi laì chia seí - (1-4); cáöu nguyãûn (5-6); vaì chay tënh (16-18).
Thay vç haû giaï chuïng, åí âáy, træåïc khi noïi riãng tæìng âiãöu mäüt, Ngaìi chè cho ta biãút phaíi thæûc thi chuïng våïi tinh tháön naìo : "Nãúu caïc ngæåi muäún nãn cäng chênh, haîy traïnh laìm nhæîng viãûc naìy træåïc màût ngæåìi âåìi âãø phä træång" sæû cäng chênh âêch thæûc hãû taûi viãûc "khuän mçnh" theo thaïnh yï Thiãn-Chuïa laì Âáúng duy nháút biãút roî táûn âaïy loìng ngæåìi.

1. Chia seû döôùi aùnh maét Chuùa Cha.
Claude Tassin giaíi thêch : "Laì mäüt trong nhæîng yãúu täú nãön taíng cuía Do Thaïi giaïo, bäú thê giæî vai troì cuía nhæîng cå quan tæång tråü trong xaî häüi vàn minh ngaìy nay, vaì diãùn taí tçnh huynh âãû maì Giao æåïc âoìi buäüc: giuïp âåî ngæåìi ngheìo seî xoïa täüi (Tob.12,9) vaì coï giaï trë nhæ mäüt lãù hi sinh (Sir.4,6;7,10)”. (Tin Mæìng theo thaïnh Matthãu, Centurion,1991, tr.72)
Âæïc Giãsu khäng hãö chäúi boí giaï trë thiãng liãng naìy, nhæng Ngaìi täú giaïc läúi thæûc haình phä træång cuía noï. Bäú thê phaíi âæåüc thæûc thi "khäng phaíi âãø âæåüc ngæåìi ta ngåüi khen", khäng phaíi âãø quaíng caïo chênh mçnh (âuïng nghéa cuía giaí hçnh laì nhæ váûy) nhæng "trong ám tháöm", phoï thaïc troün veûn cho Thiãn-Chuïa, Âáúng duy nháút coï thãø âaïnh giaï mäüt cæí chè : "Cha ngæåi nhçn tháúy âiãöu ngæåi laìm ám tháöm, vaì Ngaìi seî thæåíng cäng cho ngæåi".
Âæïc cha Daloz nhçn nháûn: "Nguy cå maì Âæïc Giãsu âoìi ta caính giaïc -...nàûng vãö bãö ngoaìi cho ngæåìi ta tháúy -...khäng phaíi laì mi nguy hiãøm haîo huyãön, ngay caí trong thåìi âaûi cuía chuïng ta, dæåïi nhæîng hçnh thæïc tán thåìi... sæû vä vë låüi, sæû kên âaïo ám tháöm trong nhæîng cäüng âoaìn giaïo häüi cuîng chàóng dãù hån trong caïc hiãûp häüi tráön thãú: caïc thaình viãn, caïc ngæåìi hæîu traïch hay nhæîng nhaì täø chæïc, chuïng ta chàóng thæåìng bë caïm däù giæî riãng cho mçnh nhæîng viãûc phuûc vuû hay nhæîng cäng trçnh maì ta âaî âäø vaìo âoï loìng quaíng âaûi, âãø laìm näøi báût træåïc màût moüi ngæåìi quyãön haình vaì cäng âæïc cuía chuïng ta âoï sao..." Âæïc Giãsu phaïn : “Tháût, Ta baío tháût caïc ngæåi, hoü âaî âæåüc thæåíng cäng räöi"..
Nhæîng gç ta khäng tçm caïch giæî laûi cho mçnh, Thiãn-Chuïa coï thãø thu nháûn. Loìng quaíng âaûi khäng màõc nåü... cæí chè chia seí chè coï yï nghéa troün veûn trong tçnh yãu nhæng khäng. Chè mçnh Thiãn-Chuïa måïi coï thãø tênh âæåüc tçnh yãu, vaì thæåïc âo tçnh yãu laì vä biãn!"

2. Caàu nguyeän döôùi aùnh maét Chuùa Cha.
Cáöu nguyãûn caìng khäng thãø âæåüc thæûc thi "cho ngæåìi ta ngàõm" "âãø khoe khoang træåïc màût ngæåìi âåìi" nhæng âãø noïi våïi "Cha trong nåi kên áøn" : "Cha ngæåi tháúu suäút viãûc ngæåi laìm trong nåi kên áøn vaì Ngæåìi seî thæåíng cäng cho ngæåi"
Âæïc cha Daloz viãút tiãúp : "Âæïc Giãsu khäng ngæìng måìi goüi ta coï sæû chênh thæûc cuía táúm loìng, coï sæû säúng näüi tám âêch thæûc. Phaíi têch cæûc sæí duûng nhæîng phæång tiãûn âãø khi gàûp gåî riãng tæ, caï nhán våïi Chuïa Cha, ta khäng buäön chaïn... khi coï mäüt cuäüc gàûp gåî quan troüng våïi Thiãn-Chuïa, Âæïc Giãsu baío ta laïnh vaìo nåi kên âaïo âãø traïnh nguy cå tçm kiãúm aïnh màõt con ngæåìi thay vç aïnh màõt Thiãn-Chuïa. Cáöu nguyãûn âãø âæåüc "ngæåìi ta nhçn ngàõm" thay vç cáöu nguyãûn våïi Cha "Âáúng tháúu suäút táûn âaïy loìng", laì phaï hoíng, laì laìm sai laûc muûc âêch cuía kinh nguyãûn; âoï laì mäüt hçnh thæïc suìng baïi ngáùu tæåüng, chuyãøn hæåïng låìi kinh lãn Âáúng chê tän thaình sæû thuí låüi cho riãng mçnh" (Saïch âaî dáùn, tr.66).

3. Chay tònh döôùi aùnh maét Chuùa Cha.
Cl.Tassin chuï giaíi tiãúp : "Chay tënh, tæû cå baín laì dáúu chè sæû tang chãú. Chàóng haûn, hàòng nàm, ngæåìi ta kè niãûm viãûc âãön thåì bë phaï huíy bàòng mäüt ngaìy àn chay. Nhæng ngæåìi Do Thaïi âaûo âæïc nháûn biãút coìn coï mäüt lê do chay tënh khaïc, nghiãm troüng hån nhæîng tai hoüa cuía quäúc gia, âoï laì täüi läùi, caïi chãút thæûc sæû cuía mäúi tæång giao säúng âäüng våïi Thiãn-Chuïa ... Nhæîng nhoïm häüi tän giaïo giæî nhiãöu ngaìy chay tënh thäúng häúi, nhæ ngæåìi biãût phaïi giæî chay hai láön mäüt tuáön; ngæåìi ta thãm vaìo âoï nhæîng dáúu hiãûu tang toïc âàûc biãût : khäng tàõm ræía, khäng xæïc dáöu thåm." (Saïch âaî dáùn, tr.77)
Âæïc Giãsu khäng hãö chäúi boí giaï trë cuía chay tënh. Nhæng Ngaìi caính giaïc caïc täng âäö chäúng laûi viãûc giæî chay âãø khoe khoang. Phaíi giæî chay, khäng phaíi âãø thu huït nhæîng caïi nhçn thaïn phuûc cuía ngæåìi khaïc, vaì "âãø toí ra mçnh laì ngæåìi täút", nhæng ngæåìi ta phaíi phoï thaïc hoaìn toaìn dæåïi caïi nhçn cuía Chuïa Cha : "Cha ngæåi biãút âiãöu ngæåi laìm trong nåi kên âaïo : Ngaìi seî thæåíng cäng cho ngæåi".
Hån mäüt láön, khi tæåìng thuáût laûi nhæîng låìi cuía Âæïc Giãsu, thaïnh Maït thãu muäún thuyãút phuûc caïc tên hæîu, coìn trung tên våïi táûp tuûc naìy ràòng ngæåìi khäng cháúp nháûn viãûc tçm caïch xáy dæûng danh tiãúng cho mçnh thay vç phoï thaïc theo thaïnh yï Chuïa Cha.
Âæïc cha Daloz coìn xaïc quyãút : "Nguy cå giaí hçnh. trong thæûc cháút, khäng hãö âe doüa chuïng ta, cáön coï mäüt nháûn thæïc khaïc âãø giæî cho viãûc chay tënh Kitä giaïo yï nghéa âêch thæûc cuía noï. Trong mäüt thãú giåïi láùn läün giæîa tän giaïo vaì tráön tuûc, thaïi âäü cuía niãöm tin âêch thæûc âoìi ta phaíi hiãøu roî yï nghéa áúy cuía chay tënh. Chè cáön tråí vãö våïi giaïo huáún cuía Âæïc Giãsu laì âuí. Chay tënh maì Ngaìi noïi åí âáy træåïc tiãn khäng phaíi laì mäüt sæû thanh táøy hay giaíi phoïng caï nhán, mäüt näù læûc, mäüt sæû khäø haûnh âãø dæåüc tæû chuí hån. noï cuîng khäng chè laì sæû giaíi phoïng cuía tinh tháön nhåì sæû thiãúu thäún cuía thán xaïc, âãø ta coï thãø chiãm ngàõm täút hån nhæîng thæûc taûi thiãng liãng . Âæïc Giãsu cuîng khäng hãö coi noï laì mäüt phæång caïch âãø liãn âåïi våïi nhæîng ngæåìi âoïi hay laì mäüt sæû thiãúu thäún âãø dãù bãö chia seí. Táút caí nhæîng âiãöu âoï âãöu täút vaì hæîu êch vaì Häüi Thaïnh, phuûng vuû, vaì caïc taïc giaí tu âæïc ... càn dàûn chuïng ta nhæ váûy. Chay tënh âêch thæûc giuïp ta hãút tæû qui, giuïp ta läüt tráön mçnh træåïc màût Thiãn-Chuïa. Âáy khäng phaíi mäüt thaình têch thiãng liãng.... Âáy laì phæång thãú giuïp ta nãn heìn moün træåïc màût Chuïa, mäüt cuía lãù laì chênh con ngæåìi cuía ta khi cäú gàõng säúng khäø haûnh, nhæng theo ån thiãng maì chênh Thiãn-Chuïa ban cho keí, trong âãm tàm täúi vaì tráön truûi, tin yãu vaì tin tæåíng, phä mçnh dæåïi aïnh màõt Ngaìi, khäng kiãúm tçm kãút quaí naìo... nhæ kinh nguyãûn, nhæ bäú thê, sæû chay tënh âêch thæûc maì Âæïc Giãsu måìi goüi caïc män âãû cuía mçnh diãùn ra trong caính kên âaïo cuía mäúi tæång giao våïi Chuïa Cha, trong caính kên âaïo cuía niãöm tin”. (Saïch âaî dáùn, tr.82)

II. BAØI ÑOÏC THEÂM :
 “Dæåïi aïnh màõt Chuïa Cha”: J.Guillet, "Âæïc Giãsu trong niãöm tin cuía caïc män âãû tiãn khåíi" Desclée de Brouwer,1995,p.119-120.
“Nãúu caïc män âãû âaî hoüc âæåüc caïch goüi Thiãn-Chuïa laì Cha mäüt caïch âån så, thç chênh laì do Âæïc Giãsu âaî biãút caïch giuïp hoü chia seí kinh nghiãûm phuû tæí cuía mçnh. Vaì baìi giaíng trãn nuïi coìn voüng laûi trong ta sæû chia seí naìy. Våïi sæû xaïc quyãút âäüc nháút vä nhë cuía Âæïc Giãsu khi noïi vãö Cha anh em nhæ mäüt thæûc taûi maì hoü âaî tæìng biãút, theo kiãøu gàûp gåî song phæång giæîa Thiãn-Chuïa vaì con caïi Ngæåìi, thán thiãút nhæ mäüt ngæåìi Cha chuï tám âãún con ngæåìi våïi táút caí nhæîng nhu cáöu cuía hoü.
Mäúi thán thiãút song phæång naìy bæìng lãn trong âiãûp khuïc âæåüc lp đi lp li ba láön trong baìi giaíng : Cha ngæåi nhçn tháúy ngæåi. Âáy laì ba loaûi viãûc laình, khäng âæåüc ghi trong Lãö luáût, nhæng laì caïch maì nhæîng ngæåìi Do Thaïi âaûo âæïc nháút tçm âæåüc dëp chæïng toí loìng quaíng âaûi cuía mçnh, vaì "væåüt lãn trãn" sæû cäng chênh theo lãö luáût : cáöu nguyãûn, bäú thê vaì chay tënh Âæïc Giãsu khäng hãö kãút aïn loìng quaíng âaûi maì Ngaìi seî âãö nghë caïc män âãû mçnh laìm thãm áúy. Nhæng Ngaìi caính giaïc hoü chäúng laûi sæû khoe khoang cuía nhæîng keí "giaí hçnh" chè tçm caïch thu huït sæû thaïn phuûc cuía quáön chuïng. Vaì caí ba láön, Ngaìi âäúi choüi caïi nhçn håìi håüt cuía con ngæåìi våïi caïi nhçn xaïc âaïng cuía Âáúng maì Ngaìi goüi bàòng mäüt tãn måïi : Cha cuía anh.
- Coìn anh, khi bäú thê âæìng cho tay traïi biãút viãûc tay phaíi laìm, âãø viãûc anh bäú thê âæåüc kên âaïo. Vaì Cha cuía anh, âáúng tháúu suäút nhæîng gç kên âaïo, seî traí cäng cho anh.
- Coìn anh, khi cáöu nguyãûn haîy vaìo phoìng, âoïng cæía laûi, vaì cáöu nguyãûn cuìng Cha cuía anh, âáúng hiãûn diãûn nåi kên âaïo. Vaì Cha cuía anh, Âáúng tháúu suäút nhæîng gç kên âaïo seî traí cäng cho anh.
- Coìn anh, khi àn chay, nãn ræía màût cho saûch, chaíi âáöu cho thåm, âãø khäng ai tháúy laì anh àn chay ngoaûi træì Cha cuía anh, âáúng hiãûn diãûn nåi kên âaïo. Vaì Cha cuía anh Âáúng tháúu suäút nhæîng gç kên âaïo seî traí cäng cho anh. (Mt.6,4.6.18)
Âiãöu maì Cha coï thãø traí cäng cho con caïi mçnh, khäng phaíi laì mäüt sæû tæång xæïng maì ta coï thãø cán âong âo âãúm, mäüt pháön thæåíng traí cho nhæîng näù læûc cuía chuïng maì coï thãø noïi, âáy laì låìi âaïp traí cho nhæîng cæí chè cuía chuïng: chuïng dáng cho Thiãn-Chuïa moïn quaì beï nhoí cuía chuïng, âãø âäøi láúy nuû cæåìi cuía ngæåìi nhæ nhæîng treí thå váùn laìm, vaì Cha âaïp traí chuïng bàòng nuû cæåìi mãnh mang nhæ tçnh yãu cuía mäüt vë Thiãn-Chuïa ".

 

CHÚA NHẬT I MÙA CHAY

CHỊU MA QUỶ CÁM DỖ, ĐỨC GIÊSU ĐÃ CÓ LỰA CHỌN
CỦA MỘT NGƯỜI CON, PHÓ THÁC TRỌN VẸN THÂN PHẬN TRONG TAY CHA. CÂU CHUYỆN ĐƯỢC XEM NHƯ ĐIỂN HÌNH CHO TẤT CẢ NHỮNG THỬ THÁCH NGƯỜI PHẢI CHỊU CHO ĐẾN HƠI THỞ SAU CÙNG.

(Mt 4,1-11)

I. VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI:

1. Trung thành với phép rửa đã nhận, một chọn lựa trước sau như một của Đức Kitô:
- Cả ba Tin Mừng Nhất lãm đều thuật lại câu chuyện Đức Giêsu chịu ma quỷ cám dỗ trong hoang địa, và cả ba đều nối kết chặt chẽ câu chuyện này với phép Rửa Người đã nhận trong dòng sông Giođan.
Thánh sử Máccô viết: “Thần Khí liền đẩy Người vào hoang địa. Người ở đó bốn mươi ngày, chịu Satan cám dỗ” (Mc 1,12). Thánh Luca kể: “Đức Giêsu được đầy Thánh Thần, từ sông Giođan trở về, và được Thánh Thần dẫn đi trong hoang địa bốn mươi ngày, chịu quỷ cám dỗ” (Lc 4,1). Còn thánh sử Matthêu cũng nhấn mạnh rằng nếu “Chúa Giêsu, sau khi đã chịu phép rửa,... chịu quỷ cám dỗ”, là vì Người “được Thần Khi đưa dẫn”. Cũng chính Thần Khí ấy đã đáp xuống và ngự trên Người, bên bờ sông Giođan, trong lúc có tiếng từ trời phán rằng “Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người”.
Câu chuyện Đức Giêsu chịu cám dỗ - J.Guillet nhận định - theo cả ba Tin Mừng Nhất lãm, gắn liền với câu chuyện Chúa chịu phép rửa. Matthêu viết rõ: “Ngay sau khi ngự trên Đức Giêsu, Thần Khí dẫn Người vào hoang địa để chịu quỷ cám dỗ” (Mt 4,1). Bài tường thuật về cơn cám dỗ và phép rửa của Chúa làm thành một tập hợp riêng, liên can đến quãng thời gian Đức Giêsu chưa thực sự bắt đầu sứ vụ công khai của Người. Không hoàn toàn lặng lẽ ẩn mình như trong thời thơ ấu, nhưng Chúa có vẻ như để mình bị động từ bên ngoài: Từ Thiên Chúa là Đấng đã lên tiếng phán, từ Thần Khí dẫn Người vào hoang địa, và điều lạ lùng là ngay cả từ ma quỉ, cho nó lân la lại gần, dụ dỗ Người, và hình như có thể khiển được cả thân xác Người. Người ta có thể xem lúc này chỉ là giai đoạn chuẩn bị. Thực ra đây là một luồng sáng chiếu rọi trước vào suốt lịch sử đang đến: lịch sử của Con Thiên Chúa và lịch sử của cả nhân loại. Toàn thể cuộc đời của Đức Giêsu, diễn ra trong ánh sáng của tiếng Chúa Cha xác nhận: “Đây là Con Yêu Dấu của Ta”, dù cho tên cám dỗ cứ tha hồ rủ rỉ: “Nếu ông là Con Thiên Chúa...” ("Jésus dans la foi des premiers disciples” Desclée de Brouwer, trang 44).
- Trong lúc bài tường thuật của Máccô rất ngắn gọn, vỏn vẹn chỉ có một câu, thì Matthêu và Luca không ngần ngại dàn dựng cả một câu chuyện đầy tính biểu trưng. Đây là một hình thức văn chương khá quen thuộc đối với những độc giả của các ông, là những người đã thấm nhuần văn hóa Do Thái. Xung quanh ba cơn cám dỗ (con số 3 tượng trưng cho sự viên mãn đầy đủ), câu chuyện muốn tổng hợp tất cả cơn cám dỗ liên lỉ mà Chúa Giêsu phải chịu cho đến giây phút cuối cuộc đời.
- Và để cho thấy rõ rằng, Đức Giêsu với tư cách là Môsê mới, đang thực hiện lại cuộc hành trình của Dân Thiên Chúa tiến về Đất Hứa, Matthêu và Luca đã có ý lựa chọn - mặc dù khác nhau đôi chút về thứ tự - “ba nơi chốn có tính cách biểu tượng của lịch sử Israel, đó là: Hoang địa, là nơi Dân Chúa chịu thử thách đầu tiên; Đền Thờ, là chỗ Dân Chúa tụ họp để tôn thờ sự Hiện Diện của Thiên Chúa; Núi Cao là nơi Môsê sã nhận lãnh Lề Luật của Chúa, và núi Nê-bô là địa điểm từ đó ông đã nhìn về Đất Hứa” (J.Potin, “Jésus, l'histoire vraie”, Centurion, 1994, trang 114).

2. Giữa hoang địa. . . Niềm cậy trông tuyệt đối vào Thiên Chúa:
Cơn cám dỗ đầu tiên có khung cảnh là “hoang địa”. Đối với dân tộc Do Thái, đây là nơi chốn tượng trưng cho sự gần gũi Thiên Chúa, đồng thời cho sự thử thách làm sáng tỏ đáy lòng con người (chay tịnh, nhịn đói là nhằm thử lòng mình đối với Thiên Chúa); Hoang địa còn là nơi có tính cách biểu tượng cho mọi khởi đầu: Đức Giêsu ăn chay ở đây “suốt bốn mươi đêm ngày”, cũng như Môsê ngày xưa trên núi Sinai, trước khi đón nhận Luật Giao ước.
J.Guillet viết: “Đối với những cư dân miền Palestine, hoang địa vừa là một phong cảnh cụ thể, nhìn thấy được từ đỉnh của dãy núi chính, vừa là một kỷ vật gợi nhớ lại thời các tổ phụ, đồng thời cũng là hình ảnh đầy ý nghĩa về những cách Thiên Chúa đã xử sự với Dân Người: Có khi là những tai họa khổ đau Người để mặc Dân phải chịu, có khi là niềm an ủi, vỗ về Người dành cho họ. Trong ký ức của người Do Thái, hành trình đi qua hoang địa vừa là quãng thời gian thiêng liêng của biến cố núi Sinai, cũng như của việc ban bố Lề Luật, vừa là giai đoạn đen tối của thói kêu ca lẩm bẩm và những hành động chống đối của dân chúng. Thời gian của Thiên Chúa và cũng là thời gian của ma quỉ, chính Đức Giêsu đã tự ý bước vào đó” (Sđd, trang 44-45).
- Trong hoang địa, khi chịu cái đói thử thách “để cho biết lòng dạ chúng ra sao” (Nhị Luật 8,2), con cái Israel đã nghi ngờ Thiên Chúa. Họ đã tỏ ra không dám cậy dựa vào một mình Lời Chúa, không dám tin tưởng vào các lời hứa của Người. Họ lẩm bẩm kêu ca: “Thà rằng chúng ta chết bởi tay Thiên Chúa ở đất Ai Cập... thời ấy được ăn uống no nê” (Xh 16,3). Và Người đã ban manna xuống cho họ.
- Trong hoang địa, Đức Giêsu cũng phải trải qua cơn cám dỗ như thế: cơn cám dỗ về sự dễ dãi tiện nghi, muốn “có tất cả, có liền”. “Hãy truyền cho những hòn đá những hòn đá này hóa bánh đi”, tên cám dỗ đã dụ Người.
J.Radermakers giải thích: “Tiếng nói đã mời mọc Đức Giêsu biến đá sỏi sa mạc thành mâm ngon đồ ăn, chính là tiếng nói của bản năng và xác thịt loài người luôn có xu hướng bóp nghẹt sự sống của Thiên Chúa” ("au fil de l'Evangile selon saint Matthieu”, trang 67). Nhưng Đức Giêsu đã có lựa chọn của “Người Con”; Người đáp lại bằng cách trích dẫn sách Đệ Nhị Luật, chương 8 câu 3, liên hệ đến câu chuyện về bánh manna: “Người ta sống không chỉ nhờ cơm bánh, nhưng còn nhờ mọi lời miệng Thiên Chúa phán ra”. Trái với dân Israel trong hoang địa xưa, Đức Giêsu hoàn toàn phó thác nơi Chúa Cha, Người chỉ cậy dựa vào một mình Lời của Thiên Chúa.
Rồi đây trong suốt cuộc đời hoạt động của Người, Đức Giêsu sẽ trở thành mục tiêu công kích của những đối thủ. Họ đòi Chúa phải cho họ thấy những dấu chỉ tỏ tường, để minh chứng điều Người tự xưng về mình: “Bấy giờ, có những người thuộc phái Pharisêu và phái Xa-đốc lại gần Đức Giêsu, Matthêu dùng lại từ ngữ của bài tường thuật Cám Dỗ, và để thử Người, thì xin Người cho thấy một dấu lạ từ trời” (Mt 16,1). Nhưng cho đến giây phút cuối, Đức Giêsu vẫn muốn là một Đấng Cứu Thế nghèo, nhận lãnh tất cả từ Chúa Cha.

3. Trên nóc Đền Thờ... Chấp nhận con đường đau khổ:
Cơn cám dỗ thứ hai có khung cảnh là nóc “Đền Thờ”, nơi là dấu chỉ Thiên Chúa hiện diện và che chở Dân của Người.
- Trong hoang địa, khi chịu cái khát thử thách, con cái Israel đã phải trải qua đêm tối của đức tin, khiến họ nghi ngờ và chống đối. Thiên Chúa đã dẫn họ vào hoang địa phải chăng để bỏ rơi họ trong cảnh tuyệt vọng? “Có thực Thiên Chúa ở với chúng ta hay không chứ?” (Xh 17), họ lẩm bẩm với nhau như thế. Họ đã đi đến chỗ “thách thức” Thiên Chúa xem Người có thể cung cấp nước uống cho họ trong hoang địa, họ “thử thách Người”.
- Đức Giêsu cũng phải trải qua cơn cám dỗ như thế: cơn cám dỗ về quyền lực. “Gieo mình xuống đi!”, tên cám dỗ xúi Người bằng cách xuyên tạc một câu của thánh vịnh 90: “Thiên Chúa sẽ truyền cho thiên sứ lo cho bạn, và thiên sứ sẽ tay đỡ tay nâng, cho bạn khỏi vấp chân vào đá”.
Một lần nữa, Đức Giêsu đã có chọn lựa của “Người Con”; Người đáp lại bằng cách trích dẫn sách Nhị Luật, chương 6, câu 16, liên hệ đến chuyện dân Do Thái kêu ca, và Thiên Chúa đã ban cho họ mạch nước tràn trề từ tảng đá: “Ngươi chớ thử thách Đức Chúa là Thiên Chúa của ngươi”. Khác với Israel trong hoang địa xưa, Đức Giêsu không bao giờ tìm cách thử xem Thiên Chúa có hiện diện trong cuộc đời mình hay không. Người bước đi mà không đòi dấu chỉ nào, không yêu cầu bằng chứng nào.
Trong suốt sứ vụ, và nhất là trên thánh giá, vào giờ phút đen tối nhất, khi chính Chúa Cha cũng lặng thinh, Đức Giêsu đã chịu cơn cám dỗ: “Nếu ông là Con Thiên Chúa, hãy tự cứu lấy mình và xuống khỏi thập giá đi”, những đối thủ của Chúa đã buông lời thách thức, lập lại lời của tên cám dỗ trước kia. Nhưng Đức Giêsu, cho đến cùng vẫn trung thành với chọn lựa là một vị Cứu Thế khiêm cung, hoàn toàn phó thác mình cho Chúa Cha.

4. Trên núi cao... chọn lựa một đường lối cứu thế, bằng phục vụ:
Cơn cám dỗ thứ ba, theo Tin Mừng Matthêu, có khung cảnh là “một ngọn núi rất cao”. Nghe nói đến địa điểm này, một người Do Thái chắc chắn sẽ liên tưởng đến ngọn núi Nê-bô, nơi ông Môsê đã lên để nhìn từ biệt Đất Hứa. Trên đó, “Thiên Chúa đã chỉ cho ông xem thấy toàn bộ miền đất” (Nhị luật 34,1), và thêm: “Miền đất này, ngươi sẽ chẳng được vào” (Nhị Luật 34,4). Ở đây, Đức Giêsu là Môsê mới, đang chuẩn bị dẫn dắt đoàn dân của Người đến Đất Hứa Nước Trời, Người được tên cám dỗ “chỉ cho thấy tất cả các nước thế gian, và vinh hoa lợi lộc của các nước ấy”.
- Trong hoang địa, con cái Israel bị hoang mang trước tương lai bất định, đã chịu thua cơn cám dỗ. Họ đã bỏ quên Thiên Chúa độc nhất, Đấng đã cứu họ khỏi đất Ai Cập, để chạy theo các thần ngoại khác dễ dãi, dễ sai khiến, dễ chiều theo ý muốn của họ, sẵn sàng bảo đảm cho họ giấc mơ quyền lực và mộng bá chủ: “Hãy làm cho chúng tôi những vị thần để đi trước chúng tôi”, họ yêu cầu ông Aaron (Xh 32,33)... và Aaron đã làm cho họ một con bò vàng.
- Chính Đức Giêsu cũng đã phải trải qua cơn cám dỗ như thế: cơn cám dỗ về sức mạnh trần thế, dụ dỗ Người theo đuổi một đường lối cứu thế kiểu trần gian, chiều theo những mong đợi và tham vọng loài người. “Tôi sẽ cho ông tất cả những thứ đó, nếu ông sấp mình bái lạy tôi”, tên cám dỗ hứa hẹn với Chúa như thế.
Lần thứ ba, Đức Giêsu lại có chọn lựa của “Người Con”. Người đáp lại bằng cách trích dẫn Sách Nhị Luật, chương 8, câu 17-18, hiển nhiên có liên can với câu chuyện bò vàng: “Satan kia, xéo đi! Vì có lời chép rằng: ngươi phải bái lạy Đức Giêsu là Thiên Chúa của ngươi, và phải thờ phượng một mình Người mà thôi”. Khác xa dân Israel xưa trong hoang địa, Đức Giêsu khước từ mọi thỏa hiệp: Người dứt khoát đi theo con đường cứu thế bằng phục vụ chứ không phải bằng sức mạnh thống trị.
Trong suốt sứ vụ, Đức Giêsu phải thường xuyên đương đầu với cơn cám dỗ ấy. Cơn cám dỗ đến không chỉ từ phía những đối thủ hay đám đông dân chúng đi theo mà thôi, nhưng còn ngay từ những bạn hữu của Người, những kẻ Người sẽ giao trách nhiệm kế tục sứ mạng của Người. “Xin Thiên Chúa thương đừng để Thầy gặp phải chuyện ấy”, Phêrô đã lên tiếng can ngăn, thay mặt cho cả nhóm không muốn thấy Đức Giêsu, “Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống”, mà phải rơi vào số phận bi đát như thế, ("Đức Giêsu Kitô bắt đầu tỏ cho các môn đệ biết, Người phải đi Giêrusalem, phải chịu nhiều đau khổ do các kỳ mục, các thượng tế và kinh sư gây ra, rồi bị giết chết, và ngày thứ ba sẽ sống lại"). Và Đức Giêsu đã nghiêm khắc đáp lại, tương tự lời Người đã nói với tên cám dỗ: “Satan, lui lại đằng sau Thầy! Anh cản lối Thầy, vì tư tưởng của anh không phả là tư tưởng của Thiên Chúa, mà là của loài người” (Mt 16,16-23). Cho đến cùng, Đức Giêsu vẫn chọn làm một vị Cứu Thế Tôi Tớ chịu đau khổ mà các ngôn sứ đã loan báo.
J. Potin kết luận: “Nếu Đấng được Thiên Chúa chọn đã vẻ vang vượt qua được cơn cám dỗ lần này, thì thử thách thực sự vẫn còn trước mắt. Như thánh sử Luca viết ở cuối câu chuyện: “Sau khi đã xoay hết cách để cám dỗ Người, quỷ bỏ đi, chờ đợi thời cơ” (Lc 4,13)... Đâu là khuôn mặt cứu thế mà Đức Giêsu phải đảm nhận? Phải chăng là khuôn mặt của Đavit, người của Thiên Chúa, và cũng là người của những cuộc chinh chiến chống lại quân thù? Phải chăng là khuôn mặt của người Tôi Tớ Thiên Chúa mà chúng ta sẽ thấy được khắc họa ngày càng rõ nét? Matthêu và Luca có ý cho thấy ngay trước lúc bắt đầu sứ vụ, vừa lãnh phép rửa xong, Đức Giêsu đã có chọn lựa của Người. Đấng được Thiên Chúa chọn, là Con Thiên Chúa, đã dứt khoát chọn lấy sự vâng phục trọn vẹn Lời của Thiên Chúa” (Sđd, trang 117).

II. BÀI ĐỌC THÊM:

1. Mối liên lạc thâm sâu giữa Phép Rửa và Cám dỗ: (J.Guillet, “Jésus la foi des premiers disciples” Desclée de Brouwer, 1995, trang 46-47).
“Mối liên lạc thâm sâu giữa Phép Rửa và Cám dỗ chính là mối liên lạc của đức tin, nơi Đức Giêsu và nơi chúng ta. Cơn cám dỗ rõ ràng là một trong những chỗ mà người ta không thể nào hiểu được Đức Giêsu nếu không nói đến niềm tin của Người. Sống nhờ những gì Thiên Chúa ban cho, hoàn toàn vâng phục Thiên Chúa, một mình đối diện trước hư không, trước một tương lai vô định, dưới nhiều dạng khác nhau, đó chính là kinh nghiệm của đức tin. Và nếu, theo các sách Tin Mừng, kinh nghiệm ấy đi liền với biến cố Phép Rửa, là bởi vì trong biến cố ấy, nó đóng một vai trò rất quan trọng. Và bằng chứng đây là vấn đề của đức tin, đó là những cám dỗ của Đức Giêsu cũng chính là những cám dỗ của dân Chúa trong hoang địa. Khi thắng những cám dỗ ấy, Chúa muốn đồng thời chỉ cho họ thấy họ đang thiếu cái gì và hôm nay Người mang đến cho họ cái gì. Bây giờ nếu trung thành với những chỉ dẫn của các sách Tin Mừng, đối chiếu hai biến cố phép rửa và cám dỗ của Đức Giêsu, người ta sẽ có thể nhận ra được chỗ đứng đặc biệt của đức tin nơi cả hai đoạn. Kết quả đối chiếu bề ngoài có vẻ mâu thuẫn: Phép rửa là nơi tràn ngập sự hiện diện của Thiên Chúa, là nơi vang rền tiếng phán từ trời cao, trái lại, cám dỗ là chỗ của sự xa vắng, của đói khát, của trống trải hư không. Phải nói rằng Đức Giêsu đã lần lượt nếm qua cả hai kinh nghiệm chính yếu trên.
Đối lại với lối giải thích nông cạn đó, chúng ta phải để ý đến cách suy luận rất rõ của các Tin Mừng, đến sự nhấn mạnh của các sách ấy vào mối liên lạc thâm sâu giữa hai khoảnh khắc. Không phải chỉ đơn giản là sự tương phản ở hiện tượng bên ngoài, nhưng là một sợi dây nối kết sâu bên trong. Trong câu chuyện này hay câu chuyện kia, nội dung vẫn là Chúa Con trong tương quan với Thiên Chúa. Là Con Thiên Chúa, điều đó mang đến một lúc hai ý nghĩa không thể tách rời nhau: là lắng nghe tiếng nói yêu thương của Chúa Cha, và trọn vẹn vâng phục thánh ý Người. Cả hai làm thành đức tin, đức tin của Con Thiên Chúa.
Đúng là người tín hữu thường phải sống đức tin trong tâm trạng xa vắng và đêm tối tâm hồn. Không có sự xa vắng đó, đức tin sẽ biến chất và tiêu tan thành một thứ thị kiến ảo ảnh. Nhưng ngay trong tâm trạng xa vắng đó, người tín hữu kinh nghiệm một sự gặp gỡ, một sự hiện diện. Thánh Gioan Thánh giá đã xây dựng toàn bộ học thuyết của mình trên lời dạy này: nhận biết Thiên Chúa qua đức tin chính là đã đạt được Người trong chân lý của Người, ngay từ cuộc đời này. Cuộc gặp gỡ trong đêm tối này, niềm xác tín thường chỉ là vô thức này, chính là trung tâm, cốt lõi của đức tin chân thực, mà chỉ với một đức tin như vậy chúng ta mới nhận biết một vị Thiên Chúa thật. Đức tin một trật vừa là ánh sáng rực rỡ, vừa là bóng tối thẳm sâu. Cũng thế, một cách bất khả phân ly, ánh sáng của Phép Rửa cùng với đêm tối của Cám Dỗ, làm nên đức tin của Đức Giêsu Kitô, mầm mống của đức tin chúng ta”.

2. “Những cám dỗ của Đức Giêsu cũng là của chúng ta hôm nay” (Mgr L.Daloz, trong “Le Règne des cieux s'est approché”, Desclée de Brouwer, 1994, trang 34-35).
“Chúng ta thấy: những cám dỗ của Đức Giêsu cũng là của chúng ta hôm nay. Chẳng có gì phải ngạc nhiên. Chúng ta biết rằng nơi Đấng là Đầu, toàn Thân Mình đã chiến thắng cám dỗ. Chính nhờ cậy dựa vào Người, mà đến lượt mình chúng ta có thể thoát được cạm bẫy của tên cám dỗ. Đức Giêsu dạy chúng ta phải đương đầu như thế nào: bằng cách chạy đến với Lời Chúa. Lời Chúa soi đường chỉ lối cho chúng ta đi. Lời Chúa chở che, bảo đảm cho chúng khỏi bị lầm lạc. Thật là nguy hiểm nếu chúng ta để mình buông theo xu hướng tự nhiên của loài người: ma quỉ cũng không mong gì hơn chúng ta đồng lõa với chúng như thế. Khi ấy Lời Chúa sẽ là thành lũy bảo vệ chúng ta...”.

 

CHÚA NHẬT II MÙA CHAY

ĐỨC GIÊSU BIẾN HÌNH TRÊN NÚI
MẠC KHẢI VỀ MẦU NHIỆM “NGƯỜI CON YÊU DẤU”
VÀ BÁO TRƯỚC VINH QUANG PHỤC SINH

(Mt 17,1-9)

I. VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI:

1. Mối liên lạc chặt chẽ với lời báo trước khổ nạn:
Bị đám đông lòng dạ thất thường ở Galilê trở mặt và thường xuyên bị những kẻ thù kiếm chuyện gây rối, Đức Giêsu phải liên tục di chuyển. Người lên tận miền Césarée Philipphe, nơi đầu nguồn sông Giođan, và ở lại đó tập trung vào việc huấn luyện các môn đệ của mình.
“Người ta nói Con Người là ai?” Đức Giêsu thăm dò trước. Sau đó Người mới hỏi ngay họ: “Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai?”. Phêrô lên tiếng thay cho nhóm anh em: “Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống”. Đức Giêsu đáp lại bằng một lời chúc phúc: “Này anh Simon, con ông Giona, anh thật là người có phúc...”, và đồng thời một uỷ thác sứ mạng: “Anh là Phêrô, nghĩa là tảng đá, trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy”.
Rồi “từ lúc đó”, thánh sử Matthêu ghi rõ, Đức Giêsu bắt đầu báo cho các ông biết trước điều khiến Phêrô phải lấy làm xúc phạm, và phải lãnh nguyên lời quở trách của Chúa: “Satan, lui lại đằng sau Thầy”. Đó là con đường đau khổ mà Con Người sẽ phải đi: “Người phải đi Giêrusalem, phải chịu nhiều đau khổ do các kỳ mục, các thượng tế và các kinh sư gây ra, rồi bị giết chết, và ngày thứ ba sẽ sống lại” (16,21). Và Chúa tiếp tục cho biết con đường của các môn đệ cũng không thể là gì khác: “Ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo” (16,24).
Đúng vào thời điểm quan trọng này, thánh Matthêu cho biết rõ: “sáu ngày sau” - chúng ta liên tưởng đến chuyện ông Môsê dẫn theo ba người bạn lên núi Sinai (Xh 24,9), để nhận lãnh mạc khải của Thiên Chúa “sáu ngày sau” đó (Xh 24,16), và cuối cùng diện mạo ông biến đổi khác thường (Xh 34,29) - Theo các tác giả Tin Mừng đó là lúc xảy ra biến cố biến hình trên núi. Jean Potin viết: đây là một câu chuyện “chắc chắn dựa vào sự kiện xác thực”, và được ba thánh sử nhất lãm ghi chép lại “bằng một thứ ngôn ngữ biểu tượng, vay mượn một số những yếu tố chính từ cuộc thần hiện (Thiên Chúa tỏ bày thần tính) trên núi Sinai” ("Giesu, lịch sự thật”, Centurion, trang 330).

2. Cuộc biến hình trên núi cao:
1. Ba nhân chứng được tách riêng trên núi:
* Chỉ có “các ông Phêrô, Giacôbê và Gioan là em ông Giacôbê” được Đức Giêsu gọi riêng đi theo Người. Là chứng nhân mục kích cuộc biến hình của Chúa hôm nay, rồi đây, cũng chính họ sẽ được chứng kiến cảnh khuôn mặt Chúa bị “biến dạng” tàn tạ trong vườn Cây Dầu (26,37).
* Chi tiết “ngọn núi cao”, nơi sẽ xảy ra cuộc biến hình, mang ý nghĩa thần học hơn là tính chất địa lý. Trong Kinh Thánh, núi thường là chỗ cho những cuộc mạc khải của Thiên Chúa. Ở đây nó khiến nhớ lại núi Sinai, ngọn núi lẫy lừng nhất trên trái đất, vì là nơi xưa kia Thiên Chúa đã hiện ra và phán truyền cho con người. J.Potin nhắc nhớ lại: “Chính trên ngọn núi này Môsê đã được đám mây bao phủ, khiến dung mạo ông ngời sáng. Đây cũng là núi mà vị ngôn sứ vĩ đại Êlia đã đặt chân tới để dưỡng sức, lấy lại can đảm trong cuộc chiến đấu chống lại tội thờ ngẫu tượng của dân chúng. Đến lượt chính Đức Giêsu cũng lên núi này” (Sđd trang 330).

2. Đức Giêsu biến hình, đứng giữa Môsô và Êlia:
* Như ông Môsê khi xuống núi Sinai, sau khi đã có cuộc gặp gỡ với Thiên Chúa của Giao ước, “dung mạo Đức Giêsu bỗng rực rỡ như mặt trời, và ý phục Người trắng tinh như ánh sáng”. Trong trường hợp của Môsê, thì đó chỉ là sự phản chiếu trong chốc lát ánh hào quang của Thiên Chúa; còn đối với Đức Giêsu, thì lại là sự lan toả của chính hữu thể của Người, là sự chiếu giãi của “vinh quang” Người (xem Lc 9,32).
* Cả 3 Phúc Âm nhất lãm đã ghi nhận có hai nhân vật cùng hiện ra đàm đạo với Đức Giêsu. Đây là hai con người đầy uy lực, là hiện thân cho cả Cựu Ước: Môsê là biểu tượng của Lề Luật; Êlia đại diện cho hàng ngũ các ngôn sứ. Người ta tin rằng ông này sẽ trở lại vào thời sau hết, để đi trước dọn đường cho Đấng Messia ngự đến. Hai nhân chứng hiện ra rồi chợt biến mất, muốn ám chỉ rằng giáo ước cũ nay đang được hoàn thành nơi Đức Giêsu Kitô.
“Vào khoảnh khắc tái diễn lại cảnh thần hiện Xuất Hành, J.Potin giải thích, có sự tham dự của hai nhân vật lớn của lịch sử Israel, cả hai đều đã từng đặt chân trên ngọn Sinai. Họ chính là hiện thân cho Lề Luật và các ngôn sứ, và từ bao thế kỷ, đã loan báo và chuẩn bị cho Con Người đến. Hai vị đã trò chuyện với Đức Giêsu và qua đó nhìn nhận Người là Đấng phải đến” (Sđd trang 330-331).
* Cũng với ý chống lại cuộc khổ nạn của Đấng mà ông xưng là “Messia”, Phêrô chỉ muốn giây phút này trở thành vĩnh cửu: “Nếu Ngài muốn, con xin dựng tại đây ba cái lều, Ngài một cái, ông Môsê một cái, và ông Êlia một cái”.

3. Từ đám mây có tiếng phán:
* Người môn đệ còn đang nói thì bản thân ông và hai môn đệ kia bị bao phủ trong một “đám mây sáng ngời”. Trong Cựu Ước đó chính là dấu chỉ sự hiện diện của Thiên Chúa ở giữa Dân Người qua sa mạc (Xh 13,21). Từ nay, Đức Giêsu sẽ là sự hiện diện đích thực ấy của Thiên Chúa giữa loài người.
* Từ đám mây, vang lên một “tiếng phán”. Ở đây chúng ta thấy lặp lại từng chữ trong tiếng phán với một mình Đức Giêsu khi Người chịu phép rửa tại sông Giođan: “Đây là Con Yêu Dấu của Ta, Ta hài lòng về Người”, nhưng thêm: “Hãy vâng nghe lời Người”. Điều này gợi nhớ lại lời kêu gọi của Thiên Chúa đối với dân chúng khi loan báo vị Môsê mới sẽ ngự đến (Đnl 18,15).
J.Potin giải thích: “Đức Giêsu không chỉ là vị ban lề luật, không chỉ là ngôn sứ, Người chính là Con Yêu Dấu của Thiên Chúa, là Con Người đứng ở bên ngai Thiên Chúa. Từ nay, phải vâng nghe lời Người. Điều Người nói làm ứng nghiệm những gì Lề Luật và các ngôn sứ đã tiên báo xưa” (Sđd trang 331).

4. Xuống núi:
* Biết mình đang chứng kiến một cuộc hiển linh của Thiên Chúa, các môn đệ “sấp mặt xuống đất”. Đức Giêsu “lại gần”, “chạm vào các ông”, và trong một cử chỉ như để cứu chữa, Người thúc giục các ông hãy “chỗi dậy (động từ mà những thế hệ Kitô hữu đầu tiên dùng để chỉ sự phục sinh): sức mạnh phục sinh của Chúa đã khởi đầu trong cuộc sống và đức tin của các môn đệ.
* Bây giờ chỉ còn lại “một mình Đức Giêsu”. Khi xuống núi, Chúa truyền cho các ông phải giữ kín những điều vừa xảy ra, “cho đến khi Con Người từ cõi chết chỗi dậy”.
“Cuộc tiếp xúc của các ông với Thiên Chúa chỉ diễn ra trong khoảnh khắc, J.Potin kết luận. Liền sau đó, họ thấy Đức Giêsu đã trở lại với trạng thái bình thường của phận làm người phải chết. Tuy nhiên, cốt lõi của sứ điệp đã được công bố. Phải vâng nghe lời của Người Con Yêu Dấu, cho dù đôi khi lời ấy xem ra rất nghịch thường. Bóng đen u ám của cuộc khổ nạn đã đè nặng ngay trên ánh quang của cuộc Biến hình. Thánh sử Luca đã cho thấy rõ điều đó khi thêm chi tiết là Môsê và Êlia hiện ra đàm đạo với Đức Giêsu về “cuộc xuất hành Người sắp hoàn thành tại Giêrusalem” (Lc 9,31), nghĩa là về cái chết của Người. Máccô (và Matthêu) cũng hướng sự chú ý của các nhân chứng tới cuộc hy sinh sắp tới của Đức Giêsu khi đề cập đến lệnh Người truyền cho các ông “đừng nói cho ai hay những gì mình thấy, cho đến khi Con Người từ cõi chết chỗi dậy”. Mặc dù cuộc biến hình dường như loại trừ khả năng phải chết của Đức Giêsu, bởi nó mặc khải Người là Con Người đến từ trời, nhưng các môn đệ chỉ nắm bắt được ý nghĩa của nó sau khi Chúa đã sống lại” (Sđd trang 331).

II. BÀI ĐỌC THÊM:
“Trên đường đời ta đi, Thiên Chúa vẫn ở bên” (L.Daloz, trong “Le Règne des cieux s'est approché”, Desclée de Brouwer, 1994, trang 246-247).
“Cuộc biến hình của Chúa dạy cho chúng ta nhiều bài học: Thứ nhất, chúng ta đừng thích mơ tưởng đến những mặc khải lạ lùng của Thiên Chúa. Người dành cho ai Người muốn: ở đây Đức Giêsu chỉ đem theo ba môn đệ, và dặn họ không được tiết lộ cho ai về thị kiến cho đến khi Người sống lại. Vậy mà đến giờ phút khổ nạn, các ông này vẫn là những môn đệ bỏ Thầy, thậm chí chối Thầy như thường! Thứ đến, đó là con đường bình thường người môn đệ của Chúa phải đi, luôn ngang qua bóng tối Đức Tin của đời thường. Phêrô cảm thấy quá sung sướng được ở trên núi. Ông đề nghị dựng ngay ba lều và định cư ở đây! Chúng ta cũng thường thích ở lại nơi đâu mọi sự xảy ra có vẻ như ý, nơi đâu đức tin và đời sống đạo của mình xem ra an toàn, vô sự, và chúng ta cảm thấy như Thiên Chúa rất gần. Chúng ta nghĩ rằng chính khi đó chúng ta mới thực sự là Kitô hữu... Thực ra Thiên Chúa không kém gần gũi với chúng ta trong giờ phút khô khan của sa mạc hơn là trong những lúc dịu êm dưới bóng mát của ốc đảo! Hơn nữa, sự ham muốn tìm kiếm một sự hiện diện khả giác của Thiên Chúa thực ra rất hàm hồ, và chính Đức Giêsu cũng chẳng muốn ba môn đệ mình kể lể về thị kiến họ được hưởng. Những lần hiện ra của Chúa sau khi Người phục sinh, cũng giống như cuộc biến hình này, đều chỉ là chút ánh sáng vụt tắt. Chúng ta cần phải bước đi trên con đường mà Đức Giêsu đã đi qua để đạt tới hoàn toàn và vĩnh viễn sự mạc khải của Thiên Chúa, chúng ta hãy đối diện với cuộc sống và cái chết của mình. Môsê và Êlia là những kẻ đi tìm Thiên Chúa và đã từng được “thấy”, hôm nay họ là nhân chứng của Đức Giêsu biến hình, chính họ đã chẳng từng phải vất vả lê bước trong sa mạc? Sứ điệp của Biến hình chính là trên đường đời ta đi, Thiên Chúa vẫn ở bên...

 

CHÚA NHẬT III MÙA CHAY

TIẾN TRÌNH NHẬN RA ĐỨC KITÔ
(Ga,4,5-42)

I. VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI :

1. Cuộc gặp gỡ bên bờ giếng tại Samari:
Câu chuyện về cuộc gặp gỡ giữa Đức Giêsu và người phụ nữ Samari, một trong những trang đẹp đẽ nhất của Phúc Âm thánh Gioan, thuộc trong số những bài đọc quan trọng của vị thánh sử thường được Hội Thánh, ngay từ những thế kỷ đầu, dùng trong nghi thức khai tâm các dự tòng.
+ Sự việc xảy ra tại Samari. Miền đất này ngày xưa đã từng là đất thánh của các tổ phụ, nhưng kể từ cuộc phân ly của người Samari, đã biến nên vùng đất bị thù ghét, tránh lai vãng.
Đức Giêsu “bỏ miền Giuđê mà trở lại miền Galilê”. Người có hai lối để đi: một “nên đi”, khó khăn vất vả hơn vì nắng nóng; một “không nên đi”, không tốt cho những người Do Thái phải thường xuyên giữ mình sạch sẽ theo luật tế tự, thì lại qua ngã Samari.
Đức Giêsu cố tình chọn lối đi thứ hai này: “Người phải băng qua Samari”. Theo X. Léon Dufour, có lẽ để chứng tỏ Người đến “để hoà giải các dân tộc, nối kết những anh em đã phân ly” (xem “Bài đọc Phúc Âm theo thánh Gioan, tập I, trang 342).
+ Sự việc diễn ra bên bờ giếng Giacob. Trong tất cả các nền văn minh Sêmít, giữa một thiên nhiên khắc nghiệt do hạn hán và sa mạc nóng cháy, giếng là chỗ duy nhất cung cấp nước, đã trở thành nơi có tính chất biểu tượng: nơi của sự sống, nơi để gặp gỡ. Đối với những ai thông thạo Kinh Thánh, thì giếng nước còn là khung cảnh cho nhiều cuộc Giao Ước, và là cái gợi nhớ lại ơn Thiên chúa đã ban cho Dân Người trong thời xuất hành qua sa mạc.

2. Tiến trình nhận ra Đức Kitô...
Qua bài tường thuật Phúc Âm, thánh sử Gioan muốn đưa chúng ta vào hành trình nhận biết Đức Kitô.
+ Những xê dịch đi lại trong không gian là hình ảnh biểu trưng cho những chuyến trở về nội tâm.
+ Những thay đổi trong danh xưng Đức Giêsu đánh dấu từng bước của sự nhận biết: lúc đầu chỉ là “người Do Thái”, rồi được tuyên bố là “lớn hơn tổ phụ Giacob là người đã cho chúng tôi giếng này”, sau đó được gọi là “vị Tiên tri” trước khi xưng mình là “Đấng Messia” và được những người Samari nhận là “Đấng cứu độ trần gian”.
+ Những ngộ nhận giữa đôi bên đối thoại chỉ cho chúng ta thấy những chặng đường phải vượt qua:
Từ nước giếng đến Nước Hằng Sống.
Từ nơi chốn thờ phượng đến việc tôn thờ Thiên Chúa trong tinh thần và chân lý.
Từ của ăn nuôi thân xác đến lương thực là thi hành ý Cha.
Từ chuyện mùa màng đến sứ mạng trên cánh đồng truyền giáo.
* Từ nước giếng đến Nước Hằng sống:
“Có một người phụ nữ Samari đến lấy nước”. “Chị cho tôi xin chút nước uống”, Đức Giêsu xin với người phụ nữ ấy, như ngày xưa dân Israel cũng đã xin cho có nước uống trong sa mạc (Bài đọc I). Người phụ nữ bỡ ngỡ trước lời đề nghi khó hiểu của người đàn ông Do Thái qua đường này, bởi trải qua nhiều thế kỷ đã có quá nhiều hiểu lầm và thù ghét giữa người Do Thái và người Samari. Chị không ngại chấp nhận cuộc trao đổi: “Ông là người Do Thái mà lại xin tôi, một phụ nữ Samari, cho ông nước uống sao?”. Vô tình chị đang từng bước đi vào một cuộc mặc khải nhiệm mầu chưa từng có.
Đức Giêsu “xin người phụ nữ nước uống”. Vẫn theo X. Léon Dufour, “người ta có cảm tưởng là điều mà Người thực sự đang khát chính là cái khát, là nỗi ước ao của người phụ nữ làm sao có được thứ Nước Hằng Sống mà chỉ một mình Người có thể ban cho” (Sđd trang 354). Và quả thực, sau đó Đức Giêsu đã trả lời: “Nếu chị nhận ra ân huệ Thiên Chúa ban và ai là người nói với chị: cho tôi chút nước uống, thì hẳn chị đã xin, và người ấy ban cho chị Nước Hằng Sống”. Là kẻ “không có thùng để múc nước”, giờ đây Người lại xưng mình sẽ ban Nước Hằng Sống, thứ nước sẽ làm thoả mọi cơn khát, thứ nước “sẽ trở thành nơi người uống một mạch nước vọt lên, đem lại sự sống đời đời”.
“Câu chuyện chuyển dần - theo nhận định của Alain Marchadour - từ cái giếng nước vật chất sang người đàn ông, một người Do Thái đã mệt lả và đói khát. Con người ấy, ngay trong tình thế thiếu thốn của mình, lại tự giới thiệu như một Đấng có quyền ban phát. Mà ân ban ở đây lại không có liên can gì tới thứ nước trong giếng cả, và từ nơi con người ấy, nó trở thành một nguồn suối mới, ngàn trùng vượt xa cái giếng nước ban đầu. Đức Giêsu đã đưa vào trong cuộc đối thoại một chiều kích mầu nhiệm: từ chuyện một cái giếng nước vật chất mà Người ghé vào để xin nước uống, Người đã hướng đến chính bản thân Người, là ân ban của Thiên Chúa, Đấng có quyền năng ban cho loài người Nước Hằng Sống” ("Phúc Âm thánh Gioan, Centurion, 1992, trang 76-77).
* Từ nơi chốn thờ phượng đến việc tôn thờ Thiên Chúa trong tinh thần và chân lý:
Đức Giêsu lúc này đặt người phụ nữ trở về đối diện trước chuyện đời tư của mình: một cuộc sống thiếu chung thuỷ chẳng khác gì biểu tượng về sự bất trung tôn giáo nơi những người dân Samari. Chúa nói với người phụ nữ: “Chị hãy gọi chồng chị, rồi trở lại đây”. “Tôi không có chồng”, chị ta đáp. Chúa không nhượng bộ: “Chị nói tôi không có chồng là phải, vì chị đã năm đời chồng rồi (con số có thể khiến liên tưởng tới năm vị thần mà người Samari thờ), và hiện người đang sống với chị không phải là chồng chị. Chị đã nói đúng”. “Thưa ông, tôi thấy ông thật là một ngôn sứ”, người phụ nữ nói tiếp, thêm một bước khám phá về chân tính của người khách lạ. Sau đó chị lái câu chuyện sang một vấn đề đã từng là nguyên cớ gây chia rẽ giữa người Do Thái và người Samari: “Nơi phải thờ phượng Thiên Chúa”. “Trên núi này (núi Garizim)?” hay “ở Giêrusalem?”.
Đức Giêsu báo cho chị ta hay rằng từ nay, với Người “một thời cũ đã qua, một thời mới bắt đầu: không còn chỗ cho thứ thờ phượng gắn liền với một ngọn núi, đã hết thời cho những cãi vã về đền thờ này hay đền thờ nọ” (D. Mollat). Kể từ bây giờ sự hiện diện của Thiên Chúa không còn lệ thuộc vào một nơi chốn hay một đền đài nào nữa, nhưng vào một con người: Đức Giêsu Kitô. Người loan báo: “những người thờ phượng đích thực sẽ thờ phượng Chúa Cha trong thần khí và sự thật”. Họ sẽ thờ phượng Chúa Cha trong Người, Đức Giêsu, Đấng là đền thờ mới (Ga 2,19-22), và nhờ Chúa Thánh Thần, Đấng được ban cho họ để trở nên con cái Thiên Chúa trong Người Con.
Và khi người phụ nữ đề cập tới việc “Đấng Messia mà người ta gọi là Kitô” sẽ đến, Đức Giêsu trả lời: “Đấng ấy chính là tôi, người đang nói với chị đây”.
Để vò nước lại, bởi nó chẳng còn dùng vào việc gì nữa, người phụ nữ chạy đi chia sẻ với bà con của mình về niềm vui của cuộc gặp gỡ: người phụ nữ từng thèm khát được sống, được tồn tại, nay đã tìm ra được con người đã làm vọt lên trong chị một nguồn sống mới: “ông ấy không phải là Đấng Kitô sao?”.

3. Dẫn tới việc tuyên xưng đức tin:
Đang lúc đó thì các môn đệ trở về, mang theo đồ ăn thức uống. Người phụ nữ đã đi khỏi, các ông mời Chúa: “Rabbi, xin mời Thầy dùng bữa”. Lại một ngộ nhận nữa liền xảy ra về chuyện “lương thực”. Điều Đức Giêsu hằng tìm kiếm, cái là lương thực, là sự sống của Người chính là “thi hành ý muốn của Đấng đã sai Thầy, và hoàn tất công trình của Người”.
Rồi từ đề tài lương thực và sứ mạng dẫn tới đề tài “mùa gặt”. Thêm một ngộ nhận mới: các môn đệ chỉ nhìn thấy cánh đồng còn phải chờ bốn tháng nữa mới đến mùa gặt, còn Đức Giêsu lại mời gọi các ông “hãy ngước mắt lên mà xem” thấy những người Samari đang lại gần kia, họ chính là những hoa trái đầu tiên của mùa gặt truyền giáo.
Bài tường thuật đạt tới đỉnh cao với lời tuyên xưng đức tin của những người Samari: “chính chúng tôi đã nghe và biết rằng Người thật là Đấng cứu độ trần gian”. Lời tuyên xưng không trực tiếp nói với Đức Giêsu, nhưng với người phụ nữ. X. Léon Dufour nhận xét: “Ngay những kẻ đã được nghe tin mừng người phụ nữ loan báo, nay lại loan báo cho chị ta biết Đức Giêsu kia thực sự là ai: đúng là một trao đổi lạ lùng!”, và kết luận: Qua phong cách và lời nói của người đàn ông Do Thái tên Giêsu đã đến ở giữa họ này, những người Samari đã được mở ra tới một chân trời mới vượt xa ranh giới mảnh đất của họ. Họ đã nhận ra con người này không chỉ là Đấng Messia cho một dân tộc mà họ mong đợi, nhưng “thật là Đấng Cứu độ trần gian” (Sđd, trang 393 và 395).
Đức Giêsu đã sẵn lòng ở lại với họ hai ngày, điều này làm sáng tỏ rằng đối với Người, không còn đâu là “miền đất được ưu tiên”, không còn đâu là “miền đất bị ghét bỏ” nữa, nhưng tất cả mọi người không phân biệt đều được mời gọi đến với ơn cứu độ.

II. BÀI ĐỌC THÊM:

1. "Theo kiểu của họ, các anh chị em tân tòng nói với chúng ta về tính chất muôn đời mới mẻ của Đức Tin” (H.Denis, trong “100 mots jour dire la foi”, Desclée de Brouwer, trang 119-120)
“Người phụ nữ Samari”. Đối với nhiều người đó là tên một cửa tiệm lớn ở Paris mà người ta đôi lúc còn nhắc đến thời còn bán đồ cũ. Nếu từ này còn có thể khiến ai đó chú ý đến chương IV của Phúc Âm thánh Gioan này, thì chúng ta tin chắc rằng phải có một cái gì đó đặc biệt có sức thu hút.
Nói là “thu hút”, nhưng trong câu chuyện Phúc Âm không hề có vấn đề thu hút gì cả. Đúng hơn đây là một sự tiếp cận, một sự khám phá và là một lời mời gọi không thể chối từ. Người phụ nữ Samari ở đây đúng là mẫu mực, là điển hình của người tân tòng đang dấn thân tìm gặp Đức Giêsu.
Chị ta lại chịu hai mặt bất lợi: là phụ nữ và là thành phần của một sắc dân bị người Do Thái miệt thị (bằng chứng về sự xuất hiện và có mặt của những cộng đoàn Kitô hữu tại Samari ngay vào thời Tin Mừng IV đang được biên soạn). Nhưng đó không thành vấn đề, Đức Giêsu vẫn tìm cách lôi kéo người phụ nữ này như bằng một sức hấp dẫn vô hình.
Cách tiếp cận thật lạ lùng: người khách lạ đã mỏi mệt dừng chân bên bờ giếng xin người phụ nữ chút nước uống. Đấng có quyền năng ban phát mọi sự, nay lại làm kẻ ngửa tay xin. Thiên Chúa luôn rộng ban ơn của Người cho tất cả những ai biết sẵn sàng cho đi chút của cải mình có. Người tân tòng sẽ tìm thấy không phải là một vị Thiên Chúa thích huỷ diệt để rồi lại ban phước, nhưng một Thiên Chúa nghèo, dường như phải cần đến loài người.
Thế rồi câu chuyện bỗng đổi chiều, giờ đây cái nhìn của Đức Giêsu soi thấu vào ngõ ngách đời tư của người phụ nữ. Cái nhìn của loài người chỉ dừng lại ở bề ngoài, nhưng Thiên Chúa nhìn sâu vào cõi lòng. Người tân tòng phải chăng là kẻ mà Đức Giêsu đã trở nên thiết thân hơn chính bản thân họ?
Đến đây, người phụ nữ ngỡ ngàng nhận ra vị ngôn sứ. Chị biết rằng giòng Nước Hằng Sống kia có thể rửa sạch mọi bất trung tội tình của chị. Kẻ sắp lãnh nhận phép Thánh Tẩy cũng thế, họ khát khao giòng nước rồi đây sẽ cho phép họ thầm thì kêu tên Thiên Chúa là Cha.
Chưa hết, người phụ nữ còn bỏ lại tất cả, cả cái vò nước, cả những người tình, cả cuộc đời chị, để loan báo cho mọi người về cuộc gặp gỡ có tính chất quyết định cho chị.
Chúng ta có khả năng để lắng nghe tiếng của những anh chị em tân tòng nói với chúng ta, theo cách của họ, sau khi đã giã từ cuộc đời dĩ vãng, về cái mới mẻ muôn thuở của Đức Tin?”.

2. "Người phụ nữ bỏ quên vò nước bên bờ giếng” (J.Cl. Giroud, trong “Dossiers de la Bible”, trang 22).
“Bên bờ giếng, có một khách bộ hành mỏi mệt dừng chân, chân lý đã vọt lên từ những lời ông ta nói. Cũng bên bờ giếng đó, người phụ nữ nọ đã để lại cái vò nước của mình, bởi từ nay nó chẳng giúp gì cho chị đón nhận hồng ân Thiên Chúa ban. Cái vò nước bỏ quên đó sẽ mãi mãi nói với chúng ta về một người phụ nữ mà số phận từng bị giam hãm trong đủ thứ công việc hằng ngày, trong những quan hệ chẳng tới đâu với một loạt đời chồng, nay bỗng tìm thấy ý nghĩa cho đời mình qua cuộc gặp gỡ với Đức Giêsu, qua những trao đổi với Người. Cũng thế đối với những người Samari kia, những kẻ đã biết đón nhận người khách đường xa không hẹn mà đến này.
Như thế, chính qua những chuyện của đời thường như: ăn, uống, cuộc sống chung với một người đàn ông, cố gắng quay về với Thiên Chúa... mà con người nghe được tiếng nói của Thánh Thần. Nhưng ở đây và lúc này, Người lại đến như một ân ban qua những bất trắc khôn lường của lời nói, qua thái độ chân thành của các bên đối thoại, qua những khoảnh khắc thinh lặng để cho chân lý lên tiếng nói”.

 

CHÚA NHẬT IV MÙA CHAY

DỊP LỄ ÁNH SÁNG
(Ga 9, 1-38)

I. VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI:
Cũng như cuộc gặp gỡ của Đức Giêsu với người đàn bà xứ Samaria gần giếng Giacob, Tin Mừng về người mù từ lúc mới sinh là một trong những bản văn lớn của Gioan mà Giáo Hội ở thế kỷ đầu dành cho việc nhập môn của các tân tòng.
Nếu sự việc xảy ra trong một ngày Sabbat ở cửa ra vào Đền thờ, sự việc ấy diễn ra trong khung cảnh lễ Lều. Trong lễ này, ngoài nghi lễ rảy nước từ chính giếng Siloê còn nghi lễ ánh sáng buổi chiều tối, với cuộc rước đuốc, diễn tả sự chờ đợi ánh sáng tràn đầy đã hứa cho Israel trong ngày của Đấng Messia. Cũng trong khung cảnh này, Đức Giêsu tuyên bố: “Ta là ánh sáng thế gian”.
- Chúng ta ở trung tâm cuộc luận chiến. Suốt hai chương trên, Đức Giêsu luôn là mục tiêu cho đối phương quấy rầy. Ở đây sự chống đối của người Pharisêu tập trung trên việc kẻ mù được lành và đang trở thành môn đệ của Đức Giêsu.

1. Hành trình để nhận biết...
Cũng như Chúa nhật vừa rồi, nay Gioan đang đưa ta đến sự nhận biết.
- Sự ra vào của các nhân vật ăn nhịp với các giai đoạn và kết cấu của câu chuyện.
* Lúc đầu có mặt, sau đó Đức Giêsu vắng mặt ở sân khấu cho đến lúc tìm thấy lại người mù, Ngài đặt cho anh ta một câu hỏi căn bản: “Anh có tin Con Người không?”.
* Giữa khởi đầu và kết thúc của câu chuyện, người mù được lành chỉ trơ trọi một mình, mặc cho các người “thân cận” và “người quen” tự đặt câu hỏi về anh, người Pharisêu thì quấy rầy anh ta bằng những câu hỏi, với cha mẹ ruột đang tìm cách tránh né vì sợ bị liên luỵ, người Pharisêu đòi anh ta đến lần thứ hai, và sau một cuộc đối thoại gay gắt, họ “tống anh ra ngoài”.
- Sự thay đổi danh xưng của Đức Giêsu, một sự tiến bộ trong sự nhận biết: trước hết Chúa được chỉ như là “người mà người ta gọi là Giêsu, sau đó một “tiên tri” và như kẻ từ Thiên Chúa mà đến”, cuối cùng anh mù tuyên xưng Ngài như là “Con Người”.
- Những từ chính (mots clés) được dùng nơi đây với ý nghĩa sâu xa trong vai trò của chúng:
* Trong suốt hành trình, từ “bị mù” (cụm từ được lặp lại 15 lần) đối lại với “thấy” (13 lần).
* Ở mỗi một giai đoạn, cùng một công thức được lặp lại “Ngài đã mở mắt cho tôi”. Tất cả đến 7 lần, con số ấy có nghĩa là hoàn hảo, chỉ ý nghĩa tượng trưng rằng người mù được lành hoàn toàn.
* Đúng vậy cuộc gặp gỡ lần thứ hai với Đức Giêsu cho ta thấy rõ sự chữa lành thể xác chỉ là một dấu chỉ của một sự chữa lành sâu xa hơn, cho phép từ nay anh “thấy” trong việc “tin”. Anh hỏi: “Ai là Con Người để tôi tin?”. Chúa Giêsu trả lời: “Anh đang thấy đấy, chính Ngài đang nói với anh”.

2. Dồn về một tuyên xưng đức tin.
- Tất cả bắt đầu bằng cái nhìn của Đức Giêsu khi Ngài ra khỏi đền thờ. Ngài “thấy trên đường đi một người mù từ thuở mới sinh”. Theo niềm tin dân gian, bệnh hoạn là kết quả của tội lỗi, vì thế các môn đệ liền hỏi Ngài: “Thưa Thầy, tại sao người này mù từ lúc mới sinh? Tại tội lỗi của anh ta hay tội lỗi của cha mẹ của anh?” “Không phải do tội lỗi của anh ta, cũng không do tội lỗi của cha mẹ anh”, Đức Giêsu trả lời, nhưng nhờ sự dữ mà con người khốn khổ này đang chịu, “hành động của Thiên Chúa” được biểu lộ, và việc anh ta được tỏ ra như dấu chỉ “ánh sáng trần gian” nhờ dấu lạ buộc mỗi người phải có thái độ đối với anh ta.
- Đức Giêsu lấy bùn trộn với nước miếng. Từ thế kỷ thứ II thánh Irênê de Lyon đã thấy trong cử chỉ của Đức Giêsu, đắp mắt người mù, chính là sự hoàn thiện cử chỉ của Thiên Chúa đắp nên thân xác của Adam. Bôi bùn lên mắt người tàn tật, Đức Giêsu ra lệnh cho anh ta “Đứng dậy đi rửa mắt tại giếng Siloê” (Siloê có nghĩa là được sai đi). “Người mù liền đi và rửa mắt, khi anh trở lại, anh thấy được”. Phép lạ này được kể lại cách đơn sơ vỏn vẹn trong hai câu, vì thánh sử có ý dẫn ta từ dấu chỉ đến Đấng mà dấu chỉ mặc khải! “Đấng được sai đến”.
- Anh đã được lành. Đức Giêsu đã bỏ đi khỏi nơi xảy ra sự kiện. Từ nay anh chỉ một mình ở giữa cuộc tranh luận về việc anh đã được lành và về lai lịch của người đã chữa anh lành.
* Trước hết là những “kẻ lân cận” và những người “quen” anh ta. Cái nhìn của họ chỉ ở trên bề mặt của biến cố. Họ sinh ra chia rẽ trên chính thực tế của việc được chữa lành (Người thì nói: phải chăng chính là người thường đứng ăn mày ở đó? Kẻ khác nói: chính anh ta, kẻ khác nữa lạ bảo không phải anh ta, đó là kẻ giống anh ta thôi). Họ tỏ ra lưu ý đặc biệt đến việc “tại sao” được lành, và đến tung tích của người đã thực hiện: “và ông ta, ông ta đâu rồi?”.
Câu hỏi cuối cùng làm cho anh mù ngày xưa không biết trả lời sao: “Tôi không biết”. A. Marchadour quảng diễn: Anh phải trải qua một hành trình dài trước khi khẳng định đức tin mình vào Đức Giêsu, đi từ dấu chỉ đến việc tiếp nhận Đức Giêsu, ánh sáng thế gian... Nhưng việc Đức Kitô đi qua trong đời của anh mù và giữa mọi người đã có một hậu quả chắc chắn là chia người ta ra làm hai phe: “những người chấp nhận dấu chỉ và những người từ chối Đức Giêsu” (Tin Mừng thánh Ga, Centurin, 1992, trang 135).
Sau là những người “Pharisêu” với ánh mắt đầy vẻ nghi ngờ, vì việc làm trên diễn ra trong ngày Sabbat. Họ cũng hỏi. Họ cũng chia rẽ. Và người Pharisêu nói: “Ông này không do Thiên Chúa mà đến vì không giữ luật nghỉ ngày Sabbat”. Kẻ khác đáp lại: “Làm sao một người tội lỗi lại làm được những phép lạ như thế?”.
Nực cười là chính anh mù lại trở thành trọng tài: “Còn anh, anh nói gì về người đã mở mắt cho anh?” Anh trả lời: “Là một tiên tri”.
* Sau cùng là “cha mẹ ruột anh mù”. Người Do Thái đòi họ đến, họ xác nhận anh ta là con của họ thật, mù từ thuở mới sinh. Nhưng né tránh để khỏi liên luỵ vào cuộc tranh cãi, họ đề nghị một cách giễu cợt: “Các ông hãy hỏi nó, nó đã đủ khôn lớn để trả lới”.
Đề cập đến nguy hiểm bị người Do Thái trục xuất khỏi hội đường, A. Marchadour viết: “Có lẽ thánh sử diễn dịch ra đây những nguy hiểm bị dứt phép thông công ở cuối thế kỷ thứ nhất đối với những ai tin vào Đức Giêsu. Thời Đức Giêsu chưa có chuyện này. Nhưng trên bình diện câu chuyện, sự tách biệt đối với người mù nói lên rằng, tin vào Đức Giêsu luôn luôn là một hành động cá nhân, trong đó cha mẹ đâu có thể định đoạt thay cho người môn đệ được. Sự chọn lựa này không phải không nguy hiểm vì có thể dẫn tới sự gẫy đổ với tôn giáo của anh ta? (O.C. trang 137).
* Từ đó sự căng thẳng giữa người mù xưa và người Pharisêu bị mù mắt bởi đam mê của họ lên đến tột độ. Họ đòi anh đến lần thứ hai và yêu cầu anh một lần nữa phải nói Đức Giêsu đã làm thế nào để mở mắt anh, anh bạo dạn đáp lại cách mỉa mai: “Sao các ông lại muốn nghe tôi nói lần nữa? Hay các ông cũng muốn làm Môn đệ của Ngài?”. Và việc hỏi cung thành dịp nguyền rủa. Anh tuyên bố với họ: “Nếu người này không từ Thiên Chúa mà đến thì không làm được chuyện gì đâu”. Quá quắt lắm rồi, người Pharisêu đuổi anh ra ngoài và dứt phép thông công anh.
* Đức Giêsu tái xuất hiện với một sáng kiến mới: “Biết họ đã trục xuất anh, Ngài đến gặp anh”. Và cuộc đối thoại với anh mù đã được lành, dẫn anh tới việc tuyên xưng đức tin vào Đức Giêsu là “Con Người": “Lạy Thầy con tin” anh tuyên xưng và “sấp mình xuống trước mặt Ngài”.
A. Marchadour giải thích: “Đức Giêsu đã đưa anh qua một giai đoạn quyết định, từ một “Giêsu tiên tri” đến một “Giêsu là Con Người”, Đấng Cứu Thế đưa anh vào cộng đồng của thời kỳ cuối cùng... Người mù sấp mình xuống trước “Con Người”, nhận ra thiên tính của Ngài, bởi vì theo thánh Gioan, sự thờ lạy chỉ dành riêng cho một mình Thiên Chúa... và danh xưng Chúa (Seigneur) nói lên căn tính thần linh của Đức Giêsu. Nhận ra Đức Giêsu như là Đấng mặc khải cuối cùng của Thiên Chúa, việc thờ lạy Ngài là đỉnh cao của cuộc hành trình của anh mù” (O.C. trang 139).
- Giai thoại được kết thúc với một lời tuyên bố của Đức Giêsu dưới hình thức một lời phán xét. Nó bộc lộ những gì diễn ra trong thầm kín của tâm hồn: “Tôi đến thế gian này để đặt lại vấn đề: cho những ai không thấy được thấy và ai thấy lại không được thấy”. Từ “để cho”, cha Guillet cắt nghĩa, ở đây không chỉ mục đích, nhưng là hậu quả.
*Đối với mọi người, anh mù trước Đền thờ không có của cải: anh ăn xin, một người không quyền thế: anh mất hút trong đám người cùng khổ đến chung quanh nơi thánh, một người không hiểu biết: sinh ra mù, không đọc được sách Luật, người ta cho anh là người suốt đời tội lỗi.
Nhưng thật ra con người này đã trải qua một hành trình tuyệt diệu, con đường từ tối tăm đến nhận ra “Đấng là ánh sáng”.
* Về phần người Pharisêu, họ theo một hành trình ngược lại. Họ là những con người danh giá, những con người được coi như là điểm tựa của xã hội thời đó, họ khẳng định họ “biết” và tưởng mình “thấy”, nhưng họ lại lún sâu vào trong sự mù tối (câu 15-18; 29,34). Họ tố cáo Đức Giêsu là “người tội lỗi” và người mù thì trầm mình trong tội lỗi từ lúc mới sinh”, họ “ở” trong tội lỗi của mình. Lời tố cáo họ định gán cho Đức Giêsu, quay trở lại chống họ: người đi kiện trở thành người bị cáo.
J.Potin kết luận; “Trong lúc người mù được thấy, người Do Thái lại lao mình vào sự mù tối. Những dấu lạ Đức Giêsu làm cho họ thêm cứng lòng. Họ tưởng mình biết vì cho rằng mình biết Môsê và Lề Luật cấm chữa bệnh vào ngày Sabbat. Thật ra họ từ chối ánh sáng thật. Với Đức Giêsu, thảm trạng này làm thành một trường hợp phải đặt thành “vấn đề” trong tiến trình ý định của Thiên Chúa, bởi lẽ những người không tin, người ngoại tìm thấy ánh sáng cho đức tin vào “Con Người”, trong lúc đó, những kẻ “thấy”, những người Do Thái lại trở nên mù tối, bị loá mắt vì những sự thật giả dối của họ. Đức Giêsu nói: “Vì thế họ ở trong tội lỗi của họ” ("Jésus, l'histoire vraie” Cent. 1994, trang 364).

II. BÀI ĐỌC THÊM:

Hành trình của người mù từ lúc mới sinh, con đường dẫn tới Phép Rửa của chúng ta. (H.Denis, trong “100 mots pour dire la foi” Déchée Brouwer, trang 123-124).
Dĩ nhiên người ta nói nhiều về Phép Rửa trong khi hướng về Phục Sinh. Đó là chuyện bình thường. Chính vì thế mà chúng ta gợi chuyện anh mù từ thuở mới sinh, nhờ vào câu chuyện rất sống động ấy, mà thánh Gioan đã viết cho chúng ta.
Tại sao lại người mù từ thuở mới sinh? Vì đó là bước đi của một tân tòng, là đường nhập môn của Phép Rửa.
Trước hết phép Rửa là một sự toả sáng. Điều đó không có nghĩa là mọi người chịu phép rửa đều chìm trong trạng thái thiên cảm (illuminisme), cũng không phải là một hành động ma thuật, bởi vì người mù phải đi tới giếng Siloê. Nhưng điều đó có nghĩa là có một bước đường mầu nhiệm, từ tối tăm đến ánh sáng, từ một nhân loại còn đóng kín trong vô nghĩa và trong lầm lạc, tới một nhân loại mở ra đón ánh sáng Đức Giêsu, một nhân loại được đánh thức trước một sự sống viên mãn.
Nhưng chúng ta biết anh mù được chữa lành phải đối đầu với biết bao nhiêu là cản trở, cũng vì anh được lành. Người tín hữu mới cũng phải trải qua thử thách, nhất là khi so sánh đức tin mình với sự không tin hay dửng dưng của gia đình (đức tin không di truyền), hơn nữa còn phải đụng chạm với những thế lực khác biệt về chính kiến hay về tôn giáo, coi người chịu phép rửa là kẻ phải loại trừ hay đáng nghi ngờ (Phép rửa không lẫn lộn với sự thừa nhận của xã hội, quốc gia, chính trị hay tôn giáo).
Sau hết, đến ngày người mù được lành sẽ thừa nhận Đấng Cứu chuộc mình chứ không phải chỉ được chữa lành mà thôi. Mọi Kitô hữu, mọi người chịu phép rửa, một ngày nào đó cũng được mời gọi, rất sớm hay muộn màng hơn, sống một cuộc gặp gỡ có tính quyết định, bởi vì Đức Giêsu đã không tìm thấy họ đó sao?
Ngày ấy các bạn sẽ hỏi: Ai là “Con Người”. Và Ngài sẽ trả lời bạn: “Chính tôi, người đang nói với anh đây”. Lúc ấy sấp mình xuống, bạn sẽ nói: “Lạy Chúa, con tin”. Đó là ngày Phục sinh của bạn.
Hãy chỗi dậy từ cõi chết,
Ngày đã bừng sáng,
Hãy thức dậy đi từ cõi chết.
Hãy toả sáng (cf. Eph 5,14).

 

CHÚA NHẬT V MÙA CHAY

LAZARÔ SỐNG LẠI
(Ga 11,1-45)

I. VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI:

1. Từ Bêtania của sự sống đến Bêtania của sự chết.
Cũng như cuộc gặp gỡ giữa Đức Giêsu với người phụ nữ xứ Samaria, bên bờ giếng Giacob, như bước chân của người mù bẩm sinh tiến về ánh sáng, Phúc Âm về sự phục sinh Lazarô là một trong những bản văn quan trọng thuộc truyền thống Gioan mà Giáo Hội, ngay từ hai thế kỷ đầu tiên, đã dùng vào việc khai tâm cho tân tòng.
- Đi liền với trình thuật về quyết định của Hội đường - dẫn đến việc kết án Đức Giêsu - trình thuật về sự phục sinh Lazarô là một văn bản bản lề trong Phúc Âm Gioan.
. Trình thuật này hoàn tất phần một, với dấu chỉ thứ 7 (số 7 là số hoàn hảo) và cũng là dấu chỉ cuối cùng của Đức Giêsu.
. Trình thuật này cũng khởi đầu phần hai vì sắp đề cập đến cái chết của Đức Giêsu khi nói với giới lãnh đạo Do Thái rằng đã đến lúc kết thúc với Người.
- Trình thuật này dẫn ta từ một Bêtania này đến một Bêtania khác. Bắt đầu ở Bêtania bên kia sông Giođan, “nơi Gioan làm phép rửa” (1,28). Đức Giêsu đã tĩnh tâm ở đó sau một cuộc tranh luận vào dịp lễ Cung hiến Đền thờ và người Do Thái đã muốn ném đá Người (1,39 và 11,8). Trình thuật kết thúc ở Bêtania gần Giêrusalem nơi Matta và Maria đã phát ra thông tin báo động: “Thưa Thầy, người Thầy yêu mến đang bệnh nặng”.
A. Marchadour nhận xét: Như thế có hai Bêtania cách nhau bởi con sông Giođan, xa nhau bằng một khoảng cách không chỉ đơn thuần là địa lý: Bêtania của yên tĩnh, của sự sống, của đức tin và Bêtania của lo âu, của cái chết.
Sự chậm trễ của Đức Giêsu sẽ là nguyên nhân cho truyện kể - cho Người có cơ hội giải thích trước rằng cơn bệnh của Lazarô không nguy đến tính mạng, nhưng chỉ để làm vinh danh Thiên Chúa và Con Người. Nếu Đức Giêsu nói về cái chết của bạn Người là một “giấc ngủ” chính là để ta hiểu rằng ông có thể thức dậy nếu ông nghe tiếng Người.
- Trình thuật này là truyện kể về sự trở lại đời sống hơn là về sự phục sinh theo đúng nghĩa. X.Leon Dufour viết: “Thực vậy, từ ngữ “phục sinh” thường được dùng trong phép lạ này là không chính xác, vì, theo dữ kiện Kinh Thánh, từ ngữ ấy được dành riêng để chỉ sự vượt qua từ cái chết đến sự sống vĩnh viễn; nó không được dùng để chỉ cuộc trở lại với đời sống ở trần gian này. Để nói về sự phục hồi sự sống gian trần, ta có thể dùng từ ngữ hồi sinh, nhưng từ ngữ này có tính chất y học, ít được dùng. Vậy ta nên dùng kiểu nói “trở lại đời sống” để chỉ sự kiện này”.

2. Một hành trình của nhận thức.
Một lần nữa Gioan lại đưa ta vào một hành trình nhận thức.
- Một lần nữa, ta có thể quan sát những chuyển dịch có ý nghĩa biểu tượng rất cao của các nhân vật trong trình thuật. X. Léon Dufour ghi nhận: “Mọi người đều rời nơi mình ở. Mọi người đều ra đi. Đức Giêsu và các môn đệ từ bên kia sông Giođan; những người Do Thái từ Giêrusalem, Matta từ ngôi làng, Maria với những người Do Thái từ nhà nàng trong làng; Lazarô từ nấm mộ. Nếu Đức Giêsu ngừng chân, khi đến Bêtania và không vào nhà hiếu, chính là để lại lên đường cùng với cả nhóm, tiến tới nơi Người phá tan sự chết, trong khi chuyển động của các nhân vật khác, kể cả Lazarô, đều hướng tới gặp gỡ Ngài”.
- Một lần nữa, ta có thể nhận ra những bí quyết luôn làm cho truyện kể thêm sinh động:
. Sự khinh thường của các môn đệ về giấc ngủ/cái chết của Lazarô.
. Sự khinh thường của Matta về vấn đề thời điểm phục sinh: ngày sau hết/ngay bây giờ.
. Phải đi xa hơn nữa để vượt qua mức độ đầu tiên của ý nghĩa:
- Về ánh sáng: ta sẽ được mời, cùng với các chứng từ, vượt qua “ánh sáng của trần gian này” đến với Đấng là “Anh sáng soi trần gian” (câu 9-10).
- Về ơn cứu độ: ta sẽ được mời, cùng với các chứng từ, vượt qua thứ chữa khỏi bệnh một cách quá giản đơn, cả cuộc hồi phục sự sống về phương diện sinh lý, đến sự tiếp nhận ơn cứu độ của Thiên Chúa trong Đức Giêsu Kitô.

3. ... Lên đến tuyệt đỉnh trong lời tuyên xưng đức tin của Matta.
Tới Bêtania trong xứ Giuđêa này, Đức Giêsu phải đối diện ngay với nỗi đau khổ của hai chị em của Lazarô.
- Trước hết đó là cuộc gặp gỡ với Matta. Bà bỏ nhà ra đón Đức Giêsu. “Khi Matta hay tin Đức Giêsu đến, bà chạy ra gặp Ngài, trong khi Maria ở lại nhà” A.Marchadour cảm nhận: Matta rời bỏ nhóm đám tang gồm Maria và các người Do Thái để đi gặp Đức Giêsu. Sự ra đi này đặt Matta vào một mối tương quan tin tưởng đặc biệt, trước mặt Đức Giêsu.
“Nếu Thầy có ở đây, em con đã không chết” bà nói với Đức Giêsu như thế, vì biết Người có một sức mạnh rất hiệu lực để chống lại cái chết và sự hiện diện của Người có thể cứu Lazarô thoát chết. Bà cũng nhận biết Người có uy tín với Thiên Chúa nên lời cầu của Người sẽ có tác dụng: “Nhưng con biết rằng, ngay cả bây giờ, Thiên Chúa sẽ ban cho Thầy bất cứ điều gì Thầy xin”.
“Em con sẽ sống lại” Đức Giêsu trả lời, bằng cách nhắc lại cho bà niềm tin của người Do Thái vào sự sống lại ngày sau hết. Matta không ngần ngại phụ hoạ vào niềm tin của Israel ấy: “Con biết ngày tận thế em con sẽ sống lại”.
Ở đây Đức Giêsu lại vượt qua một ngưỡng cửa mới. Ngưỡng cửa ấy là thuộc tính của Thiên Chúa: làm cho sống và làm cho chết. Đức Giêsu tự nhận. Ngài long trọng tuyên bố: “Ta là Sự Sống lại và là sự sống”. Không cần phải đợi đến ngày tận thế. Cuộc sống mới là một thực tại hiện diện nơi Người ngay lúc này. Sự sống ấy được ban tặng cho ai tin vào lời Người: “Ai tin Ta, dù có chết, cũng sẽ sống. Và bất cứ ai sống mà tin Ta, sẽ không chết đời đời”. “Con có tin không?”. Matta trả lời: “Vâng, thưa Thầy, con tin Thầy là Đấng Messia, là Con Thiên Chúa đến trong trần gian”. A. Marchadour bình luận: “Ở đây Matta là khuôn mặt của kẻ tin nhận biết nơi Đức Giêsu sự xâm nhập của Thiên Chúa của người sống đến giữa con người. Ở đây Đức Giêsu còn hơn Êlia hoặc Êlisêô: Ngài được nhận biết là Đấng làm cho sống, theo hình ảnh của Thiên Chúa. Như thế, nhờ đức tin Matta đã hiểu rằng Đức Giêsu chính là Thiên Chúa đến giữa nhân sinh. Thực là hợp lý khi bà tuyên xưng Đức Giêsu trong căn tính của Người là Messia của Thiên Chúa (điểm tới của Do Thái giáo) và là Con Thiên Chúa. Như thế, bà qui tụ Do Thái giáo (Đức Messia) và Kitô giáo (Con Thiên Chúa)”.
- Rồi, đó là cuộc gặp gỡ với Maria, vẫn còn trong tang chế cả về thái độ lẫn lời lẽ: “Cô là một trong nhóm người Do Thái chịu tang chế...”. Ngay từ đầu trình thuật, cô vẫn chìm đắm trong tang chế với cái chết, cô tượng trưng cho con người bị sự chia lìa của cái chết đánh gục: Sự buồn bực thái quá đã cả ngăn cô ra đón tiếp Đức Giêsu, mạc khải của Thiên Chúa.

4. ... Và dấu chỉ hồi sinh của Lazarô.
- Xúc động sâu xa khi thấy Maria và những người Do Thái theo cô cũng khóc, Đức Giêsu lại xúc động khi đứng trước mộ của Lazarô bạn Người.
- Dù đã tuyên xưng đức tin mạnh mẽ, Matta vẫn nghi ngại khi phải mở cửa mồ, bà thưa với Đức Giêsu: “Nhưng thưa Thầy, chôn đã 4 ngày rồi”. X. Léon Dufour lưu ý: khoảng thời gian 4 ngày chẳng phải là một lựa chọn ngẫu nhiên, nó liên hệ đến niềm tin dân giả cho rằng kể từ ngày thứ bốn linh hồn bay lởn vởn quanh xác chết nhưng không thể nhập vào được nữa. Lazarô phải thực sự chết và xác đã bắt đầu có mùi như thế mới biểu lộ được chiến thắng của Đức Kitô. Matta tức khắc ca ngợi vinh quang Thiên Chúa. Đức Giêsu bảo bà: “Thầy đã không nói với con rằng nếu con tin con sẽ thấy vinh quang Thiên Chúa sao?”.
- Theo lệnh Người, tảng đá che cửa mộ được mở ra, và lời cầu khẩn của Người quá vững chắc đến độ biến thành lời tạ ơn: Lạy Cha, Con ngợi khen Cha vì Cha đã nhận lời con. Theo lệnh truyền oai quyền của Người: Lazarô, hãy đi ra! Người chết ra khỏi mộ. Thần chết nắm giữ ông trong vòng tay tượng trưng bằng các giải băng, nay không còn chút quyền hành nào trước mặt Đức Giêsu, Người kết luận: Hãy cởi dây và để cho ông đi.
Đức Giêsu, đến từ xứ sở sự sống đã ở lại trong nhân tính bi đát nhất của Người, Đấng phá vỡ ranh giới phân chia Thiên Chúa - con người, sự sống - sự chết. Cái chết của Lazarô mà Maria và các người Do Thái coi như một kết cục ở đây trở thành một thoáng qua...
Các Kitô hữu đầu tiên, những người tuyên xưng rằng cuộc chờ đợi lâu dài của Israel đã hoàn tất nơi Đức Giêsu Đấng được Cha Người phong làm Đức Chúa, đã cảm nghiệm rằng cái chết vẫn còn ảnh hưởng tới các bạn hữu của Đức Giêsu; khi cái chết đe doạ, Đức Giêsu lại vắng mặt và Người đến quá trễ không ngăn được thân xác huỷ hoại, tang chế và nỗi buồn. Trước những lời chất vấn này, trình thuật đề nghị một lời giải đáp bằng mượn lối văn kể chuyện để chuyển đạt một giáo huấn khá gần với giáo huấn của Phaolô trong thư thứ nhất gởi dân thành Thesalonica.
- Truyện kể chấm dứt, để lại độc giả - và cả chúng ta hôm nay - đối diện với Lazarô, đang sống, nhưng câm nín không nói gì về những gì ông đã cảm nghiệm, sự im lặng của ông buộc mỗi người chúng ta phải tự xác định mối quan hệ của mình với Đức Giêsu, trọng tâm của câu chuyện, đi đến cái chết và sự phục sinh của Người. Còn về những người Do Thái, trong khi có nhiều người trong số họ tin vào Người, có vài kẻ đến tìm những người biệt phái và kể cho họ nghe những điều Người đã làm. Tiến trình tiếp diễn, sẽ dẫn đưa Đức Giêsu tới đồi Canvê nơi Người dâng hiến mạng sống để ban sự sống thật cho tất cả chúng ta là những Lazarô.

II. BÀI ĐỌC THÊM:

1. Lớn lên trong đức tin (N.Quesson, Les entretiens du dimanche A, Droguet et Ardant).
Trong câu chuyện này, cả Matta lẫn Maria đều được mời gọi tiến triển thêm. Matta đã có đức tin ở một mức độ nào đó, đức tin Do Thái: “Con biết rằng em con sẽ sống lại vào ngày tận thế”. Đức Giêsu mời bà tiến thêm một bước: “Ta là sự sống lại và là sự sống. Con có tin điều đó không?”. Phải tiến từ đức tin vào sự sống lại ngày tận thế đến đức tin vào lời Đức Giêsu Đấng ban sự sống ngay hôm nay cho ai tin vào Người. Đó chính là mục đích của phép lạ này: “Lạy Cha, Con tạ ơn Cha đã nhận lời Con... Con nói ra đây chính là để cho đám đông chung quanh Con đây tin rằng Cha đã sai Con”.
Kết thúc cuộc khám phá về Đức Giêsu, và để chuẩn bị cho việc tuyên xưng đức tin, chúng ta đã cùng Matta và Maria lãnh nhận bài giáo lý cuối cùng. Những người xứ Samaria đã nhận biết Người là Đấng Cứu Độ trần gian... người mù bẩm sinh đã nhận Ngài là Con Người... Matta và Maria đã tuyên xưng Người là Con Thiên Chúa.
Đối với nhiều trẻ em, những thanh niên và cả lứa tuổi trưởng thành, Đức Giêsu trước hết là một người bạn như thuở ban đầu Matta và Maria đã nhận biết. Có phải vào ngày phục sinh, ta sẽ tiến triển trong đức tin khi nói lên, không chỉ bằng môi miệng mà bằng cả một cử hành tạ ơn: “Vâng, lạy Chúa, Người là Đức Kitô, Đấng Messia, Con tin Người là Con Thiên Chúa, Đấng đã đến trong thế gian”... Hôm nay, con muốn xin Người đến lấp đầy lổ hổng của hữu thể con bằng Xác Thể hằng sống của Người, lương thực chân thật cho đức tin của con”.

2. Từ “Phục Sinh” của Lazarô đến Phục Sinh của Đức Giêsu (Missel Communautaire).
Phép lạ đặt ngay trước cuộc khổ nạn của Đức Giêsu đã tiên báo cái chết và sự Phục sinh của Người. Thực vậy, nếu Lazarô rút tay chân bị trói ra khỏi giải băng và khuôn mặt bị che phủ khỏi tấm chăn liệm, điều đó nhắn nhở một cách đầy biểu tượng rằng ông vẫn còn là một người phàm hay chết. Đức Giêsu sẽ thoát ra vào ngày Phục sinh như một người bất tử, được vĩnh viễn giải thoát khỏi sự chết. Nơi Đức Giêsu, sự sống đã khải hoàn.

3. Thiên Chúa của ta là một Thiên Chúa mở cửa mồ (Dossier d'animation du CCFD dành cho Chúa nhật V Mùa Chay).
Nhìn thế giới ta sẽ thấy nó thật bệnh hoạn. Sự phát triển của phương Bắc đã bị xét lại về sự coi thường môi trường và những nguy cơ nó gây ra cho tương lai của hành tinh và cho những thế hệ tương lai. Sự phát triển ấy càng bị chống đối khi ta nhìn thấy những người nghèo mới, số những người bị loại trừ chẳng bao giờ có thể tái hội nhập. Sự phát triển ở phía Đông cũng thế, càng sinh ra sự thù hận chủng tộc, bạo lực và nghèo khổ. Sự phát triển ở các nước thuộc thế giới thứ ba cũng bị công kích, vì nó không nuôi được dân trong vùng một cách đúng đắn, cũng không phân phối các sản phẩm cho công bình.
Đức Kitô đã nói: “Căn bệnh này không đến nỗi chết, nhưng chỉ làm vinh danh Thiên Chúa” (Ga 11,4). Lời lẽ lạ lùng, ngược hẳn với cái nhìn đầu tiên của ta: Hẳn Người đã cảm thấy điều gì... Thực ra đã 4 ngày rồi... (Ga 11,39). Tuy nhiên đó là đức tin, là niềm hy vọng của ta. Thiên Chúa của ta là một Thiên Chúa sự sống. Thiên Chúa của ta là Đấng mở những nấm mồ. Đức Kitô của ta là Đấng, giữa đoạn đường từ làng tới nghĩa trang, đã bảo đảm cho ta vượt qua từ sự chết đến sự sống. Chúa của ta là Đấng kêu lên: Hãy đi ra. Người gọi chúng ta, những kẻ đang bị giam hãm. Người cởi trói và giải thoát ta khỏi mớ quần áo sự chết, khỏi các giải băng sợ hãi. Thế nên chiến đấu cho công lý trở thành có thể được. Yêu thương là luôn luôn có thể được. Con người có thể gặp được nhân tính của mình: anh em không còn dưới áp lực của thân xác nhưng của thần linh vì Thánh Thần Thiên Chúa ở trong anh em (Rm 8,9).
Thành viên của CCFD làm chứng về những điều đó mỗi ngày. Tình liên đới, đắt giá lắm, nhưng là suối nguồn vui tươi. Sự phát triển rất phức tạp nhưng tiến tới là điều có thể được nếu ta biết hợp tác với nhiều người: các quốc gia, các tổ chức phi chính phủ, các xí nghiệp, các trung tâm nghiên cứu, tư nhân, các Giáo Hội. Mỗi người có thể tham gia theo cách của mình. Đối với chúng ta những kẻ tin, thì trong cố gắng của nhân loại ấy có dấu vết của Thiên Chúa trong lịch sử hoạt động: Các con sẽ biết rằng Ta là Chúa khi Ta sẽ đem các ngươi ra khỏi mồ (Ez 37,13).
Chính Thánh Thần của Đức Kitô và của Thiên Chúa Cha cho ta đủ năng lực chiến đấu chống lại tất cả sức mạnh của sự chết. Chính Người, một ngày kia, sẽ mở cửa đưa ta vĩnh viễn vào sự sống.

 

CHÚA NHẬT LỄ LÁ

CHÚNG TÔI CA NGỢI THÁNH GIÁ
(Mt 26, 14-27,66)

I. VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI:

1. Lễ Vượt Qua của Đức Giêsu
Tuy trung thành với lược đồ có vẻ như có từ rất sớm trong truyền thống Giáo Hội sơ khai đã tạo nên những nét chính, trình thuật Thương khó của thánh Matthêu vẫn có những nét riêng của tác giả.
Ngay từ lời khai mào bài Thương khó (26,1-2) trong khi Marcô chỉ ghi thoáng qua 1 chỉ dẫn thời gian (“Còn 2 ngày nữa tới lễ Vượt Qua và lễ bánh không men") Matthêu chỉ rõ cả ý nghĩa của sự việc sắp diễn ra: “Các con biết rằng còn 2 ngày nữa là tới lễ Vượt Qua và Con Người sẽ bị nộp và bị đóng đinh”.
Matthêu chỉ cho thấy Đức Giêsu là người Thầy nắm vững tình hình. Người ý thức về mọi sự sắp xảy đến, và Người tự do tiến tới để trung thành với sứ mạng cho đến cùng...
Matthêu nhấn mạnh đến mối liên hệ giữa lễ Vượt Qua và sự kiện Con Người sẽ bị nộp. Lễ Vượt Qua là một lễ quan trọng, hướng về cả quá khứ, hiện tại lẫn tương lai... Người Do Thái nhớ lại chuyến vượt thoát khỏi Ai Cập với Môsê, họ nhận biết rằng hôm nay họ còn sống sót là nhờ ơn Chúa; họ hướng về tương lai và chờ đợi tới lúc Thiên Chúa sẽ can thiệp, như xưa kia, để giải phóng dân Người khỏi ách nô lệ... Này đây đã tới thời viên mãn.

2. Ứng nghiệm các lời Kinh Thánh.
Điều Matthêu, tác giả viết cho Kitô hữu mà đại đa số có nguồn gốc Do Thái, muốn chứng minh cho họ là Đức Giêsu đã hoàn tất đến tận cùng và viên mãn lời Kinh Thánh đã loan báo. Ngài nhắc lại: “Tất cả những điều ấy đã xảy đến để ứng nghiệm lời các tiên tri” (16,56; 27,9-10). Ngài thường xuyên đưa độc giả của Ngài về Cựu Ước, hoặc ám chỉ (như trong những lời chế nhạo 27, 43, gợi hứng từ sách Khôn Ngoan 2,13-18), hoặc minh nhiên (như khi Phêrô chối, Giuđa phản bội, khi Đức Giêsu chịu chết, lúc trút hơi thở còn cầu nguyện thánh vịnh 21).
Ứng nghiệm lời Kinh Thánh không có nghĩa là tất cả đã được thấy trước và chỉ cần đọc Kinh Thánh là biết hết. Kinh Thánh chỉ gợi lên hành trình đức tin của những Kitô hữu đầu tiên, sau biến cố Phục Sinh, hiểu rõ hơn ý nghĩa của các biến cố đau thương khi đọc lại Kinh Thánh. Trong suốt lịch sử dân Chúa cũng như lịch sử Đức Giêsu, vẫn chỉ là ý định của Thiên Chúa được thực hiện qua những chống đối, đau khổ và cái chết. Nhưng dưới ánh sáng mới của cái chết và sự phục sinh của Đức Giêsu, Kinh Thánh từ này rõ ràng sáng sủa hơn.

3. Khai mạc một thời kỳ mới.
Lúc Đức Giêsu chết, Matthêu kể ra những hiện tượng kỳ lạ có sức biểu tượng mạnh mẽ: màn trong Đền Thờ xé ra làm hai, động đất, “thi thể của đông đảo các thánh” sống lại và “sau khi Đức Giêsu sống lại, đi vào thành thánh”.
Như thế Matthêu loan báo cho ta biết ta đang dự vào một cuộc sụp đổ của cả một thế giới và sự khai mạc của một thời đại mới. Từ nay, tất cả mọi người, trong Đức Giêsu là Đền Thờ mới, sẽ có thể tiến đến gặp gỡ Thiên Chúa. Các thánh có thể theo Đức Giêsu Phục Sinh tiến vào Vương quốc Nước Trời. Nơi đâu sự chết tưởng đã chiến thắng, nơi đó sự sống chiến thắng trên sự chết và tội lỗi. Thể hiện nơi viên đại đội trưởng Lamã, người tuyên xưng đức tin vào Giáo Hội: “Người này thực là Con Thiên Chúa” là tất cả dân ngoại bắt đầu nhìn Đấng chịu đóng đinh bằng cả niềm tin.

II. BÀI ĐỌC THÊM:
Đức Giêsu Thiên Chúa không quyền lực (Henri Denis, “Voici l'Homme”, DDB).
Vì Con Người, Đấng đã có thể gọi đến cả những sư đoàn thiên thần, vẫn chịu trói chân trói tay trước mặt Philatô.
Đức Giêsu bị xếp vào loại người không có thế lực, nghèo hèn, bệnh tật, bị loại trừ, để phục hồi nhân phẩm cho họ.
Đức Giêsu đã tích cực bảo vệ họ đến độ chọc tức cả những người tự cho mình có thế lực trước mặt Thiên Chúa hơn Người. Và chính những người ấy lại kêu gọi đến những thế lực trần gian này để làm cho Vị Tiên tri trở thành bất lực. Đó là “sì căng đan” thánh giá.
Người đã cảnh báo các môn đệ của Người rằng giữa họ với nhau, và cả với người khác nữa đừng bao giờ đè nặng lên nhau cái gánh mệnh lệnh. “Chớ gì kẻ ra lệnh hãy trở thành người phục vụ, vì Con Người không đến để được phục vụ, nhưng để phục phục” (Mt 20,27).
Vâng, Đức Giêsu chính là Con Thiên Chúa không thế lực. Chính vì thế quyền uy của Đấng Phục sinh chẳng có gì giống với những quyền lực ở trần gian. Quyền lực của Tình yêu không làm Thiên Chúa trở thành Thiên Chúa các đạo binh nhưng trở thành Thiên Chúa không khí giới.

 

THỨ NĂM TUẦN THÁNH

ĐỂ NHỚ ĐẾN THẦY
(Ga 13, 1-20)
I. VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI:

1. Một cử chỉ gây ngạc nhiên.
Phúc Âm Gioan, khác với Nhất lãm, không tường thuật việc lập phép Thánh Thể, trái lại, chỉ Phúc Âm này kể lại một cử chỉ khác của Đức Giêsu trong bữa Tiệc ly: Rửa chân cho các môn đệ.
- Nhập đề của chương 13 này thực sự long trọng. Phần nhập đề làm nổi bật sự ý thức tuyệt hảo của Đức Giêsu, nó hé mở cho thấy ý nghĩa của việc sắp diễn ra: Đó là, từ nơi Chúa Cha và Chúa Giêsu con Ngài, sự biểu lộ tình yêu đã đi đến tuyệt đỉnh: “Trước lễ Vượt qua, biết rằng đã đến giờ Người bỏ thế gian mà về cùng Cha, Đức Giêsu, đã yêu thương những kẻ thuộc về mình còn ở trần gian thì yêu thương cho đến cùng”.
- Sự tương phản càng mãnh liệt với cảnh rửa chân được tả tỉ mỉ như một màn chiếu chậm những chi tiết bề ngoài rất tầm thường: “Đức Giêsu chỗi dậy khỏi bàn, cởi áo, buộc khăn vào người; rồi đổ nước ra thau, Người bắt đầu rửa chân các môn đệ”. Cử chỉ này gây ngạc nhiên cực độ vì 2 lý do:
. Vì được Đức Giêsu làm ngay trong bữa ăn trong khi bình thường, luật hiếu khách đòi rửa chân trước bữa ăn.
. Vì chính Đức Giêsu làm việc này. Người là “Thầy và Chúa” trong khi ở Do Thái nhiệm vụ này thường trao cho các đầy tớ người nước ngoài.

2. Một cử chỉ nhiều ý nghĩa.
Trái với khuynh hướng của ta, những con người duy lý, ta thường giải thích trước khi làm, còn Đức Giêsu, Người làm trước hết một cử chỉ đầy biểu tượng, một cử chỉ có ý nghĩa thâm sâu trước khi dùng lời giải thích ý nghĩa.
- Chơi trò gây hiểu lầm - Kỹ xảo quen thuộc của Gioan về sự “thanh tẩy”, cuộc đối thoại của Đức Giêsu với Phêrô chuyển hướng ta, cũng như chính người môn đệ, từ một giải thích đơn thuần “luân lý” - một cử chỉ khiêm nhu - chuyển sang một giải thích “thần thiêng": Đó là một cử chỉ biểu lộ Thiên Chúa trong Đức Giêsu; là một cử chỉ trong đó, Đức Giêsu đảm nhận trước cuộc vượt qua nhờ cái chết, như một dấu ấn tình yêu dành cho con người mà vẫn trung tín với Cha Người.
Để dự phần với Đức Giêsu, Phêrô sẽ phải theo Người cho đến cùng, gắn bó trọn vẹn với chương trình cứu thế của Người, kể cả đem cái chết làm chứng cho Người.
- Lối giải thích ấy được tăng cường ý nghĩa nhờ các động từ mà Gioan sử dụng để diễn tả hành động của Đức Giêsu: Người “cởi” áo rồi sau đó “mặc lại”. Rõ ràng những động từ này đã được đặt lên môi Đức Giêsu ở chương 10 để Người nói rằng Người sẽ dâng hiến mạng sống Người trước khi lấy lại. “Cởi bỏ”, “lấy lại”, 2 động từ mà Gioan dùng để chỉ cái chết mà Đức Giêsu đã vui lòng chấp nhận và sự phục sinh của Người.
X. Léon Dufour bình luận: Chúng ta cũng đang được chuyển qua giai đoạn Rửa chân, một màn kịch câm cảm động là biểu tượng cái chết tự nguyện của Đức Giêsu trên thánh giá: không hề đánh mất quyền làm Đức Chúa quyền làm con ban cho Người, Đức Giêsu đã tỏ mình ra như một người phục vụ.

3. Một cử chỉ ta phải bắt chước để tưởng nhớ Người.
Hành động duy nhất mà Người làm chiều hôm ấy để tượng trưng cái chết tự nguyện chấp nhận vì yêu thương và sự phục sinh, đồng thời cũng là “một tấm gương” mà chúng ta những môn đệ Người phải bắt chước để làm cho nhau: “Đó là tấm gương Thầy để lại cho các con để các con làm cho nhau, như Thầy đã làm cho các con”. Nếu Người là “Thầy và là Chúa” đã đến để phục vụ chứ không để được phục vụ, thì môn đệ của Người cũng phải tự hiến hoàn toàn theo gương Đức Giêsu để phục vụ anh em.
X. Léon Dufor kết luận: “Nếu Gioan đã tả phép Thánh Thể ở chương 6, chỉ quảng diễn ở đây truyền thống giao ước bằng cách tả Đức Giêsu trong việc phục vụ tuyệt vời, chính vì truyền thống ấy đưa ra ánh sáng thực tại này: suy cho cùng, phép Thánh Thể phải tăng cường nơi các tín hữu tình yêu huynh đệ bắt nguồn từ Thiên Chúa. Thay vì là một thêm thắt tuỳ tiện, việc rửa chân là cần thiết để biểu lộ rằng đời sống văn hoá thôi chưa đủ và, để tránh ảo tưởng, đời sống văn hoá chỉ tìm thấy ý nghĩa nơi thực hành một tình yêu có hiệu quả. Nếu phép Thánh Thể làm nên Giáo Hội, gương rửa chân vẫn là hành vi nền tảng nhờ đó Giáo Hội được thiếp lập.

II. BÀI ĐỌC THÊM:
Một cái gì đó trong bí mật kinh khủng của thần linh.
Như thế, trong cử chỉ rửa chân, Đức Giêsu không cho ta đơn thuần một bài học về lòng khiêm tốn như một nhà luân lý nào đó đề nghị cho các môn đệ. Trong hành động biểu tượng này, Người biểu lộ cho ta biết tất cả cuộc đời của Người, tất cả sứ mạng của Người và sự chết - sự sống lại của người có ý nghĩa gì. Hơn nữa, vì mỗi lời nói, mỗi cử chỉ của con người ấy đối với ta đều là mạc khải của Thiên Chúa, nên việc rửa chân cho ta thoáng thấy một cái gì đó trong bí mật thần linh. “Nơi Thiên Chúa có một sự rửa chân triền miên”, cha Varillon thích nói như thế. Thiên Chúa là Tình Yêu, không phải là tình yêu thống trị và khinh thị. “Nghiêng mình xuống” đó là hình ảnh mà Cựu Ước dùng để diễn tả lòng nhân hậu, sự dịu dàng của Thiên chúa. Đó là cách bắt đầu của từ “Xin thương xót” bằng tiếng Do Thái: Lạy Chúa, xin hãy nghiêng xuống con theo lòng nhân hậu Chúa (Tv 51). Thiên Chúa nghiêng-mình-xuống, giờ đây ta đã biết tình yêu dẫn đưa Người đi đến đâu: đến chỗ làm đầy tớ quỳ gối xuống trước các môn đệ, nghiêng mình xuống đến thế, theo nghĩa đen, xuống tận chân họ, và để phải ngước lên để trả lời khi Phêrô phản đối; một Thiên Chúa đã cúi xuống tạo vật, đã tự đặt mình vào vị trí phải ngước lên để nhìn tạo vật. Tất cả những gì có thể còn sót lại trong hình ảnh Kinh Thánh về sự hạ cố, về chủ nghĩa gia trưởng, tức là về mọi ngăn cách, tự tôn, trổi vượt bỗng chốc bị phá huỷ tan tành, khi Người cho ta được chiêm ngắm Thiên Chúa Đấng ngước mắt lên nhìn con người. Đó quả thực là sự nghèo hèn của Thiên Chúa (Jean Perron).

 

THỨ SÁU TUẦN THÁNH

HẠT GIỐNG GIEO XUỐNG
ĐỂ NẨY MẦM TRONG BẠN LỄ VƯỢT QUA
(Ga 18, 1-19, 24)

I. ĐIỂM CHÚ GIẢI:

1. Một cấu trúc rất công phu.
Gần với trình thuật Nhất lãm, trình thuật khổ nạn theo Gioan cũng không kém phần đặc sắc: mối trăn trở của tác giả muốn chuyển đạt ý nghĩa các biến cố và bộc lộ căn tính thực sự của Đức Giêsu Nazareth, Kitô và Đức Chúa được thấy rõ trong cấu trúc được chuẩn bị rất công phu của trình thuật, bắt đầu từ vườn hấp hối và kết thúc trong vườn an táng, mà cảnh trọng tâm là vụ xử án của Philatô.

2. Những im lặng biết nói.
Những im lặng của Gioan cũng đầy ý nghĩa mạc khải. Ngài bỏ không nói tới những chi tiết gây nhục nhã cho Đức Giêsu là sự bi thảm của các biến cố để vẻ oai nghiêm vương giả của Đức Giêsu và sự tự do tuyệt đỉnh của Người hiện rõ nét hơn: “Mạng sống ta, không ai lấy được, nhưng là chính Ta ban tặng” (Ch. 10).
Vì thế Ngài không đề cập đến cơn hấp hối (chỉ thoáng nói ở nơi khác 12,20-36), cái hôn của Giuđa, vụ xử án ở dinh Caipha và Hội đường (những cuộc tranh luận dài ở các chương 7 và 10 đã thay thế), cảnh lăng nhục, chế nhạo, hoặc thập giá của 2 người trộm cướp. (chỉ nói tới thập giá Đức Kitô). Và lời sau cùng của Đức Giêsu trên thánh giá không phải là lời thánh vịnh 21: “Lạy Chúa, sao Chúa nỡ bỏ rơi Con” nhưng là lời: “Mọi sự đã hoàn tất”.

3. Những đoạn văn riêng biệt của Gioan.
Những đoạn văn riêng biệt của Phúc Âm thứ 4 cũng không kém phần hùng hồn.
- Như trong cảnh bắt giữ, Đức Giêsu chỉ cần nói “Ta đây” (đó là tên của Thiên Chúa trong Kinh Thánh) thì những người đến bắt Chúa té ra hết. Thay vì là đố chọi, Đức Giêsu hướng dẫn các biến cố.
- Như đoạn mô tả kỹ lưỡng vụ xử án trước toà Philatô, đoạn tả chiếm hơn 1/4 trình thuật khổ nạn (29 câu trên 112). Maurice Antané bình luận: Đối với Jean, vận mệnh hiện tại và tương lai của Đức Giêsu là ở đó. Từ nay trở đi, Đức Giêsu là Vua toàn năng, là quan toà xét xử các dân tộc. Philatô mời Người ngồi vào ghế toà án, có ý chỉ sự thống trị này (19,13). Ở trung tâm của màn xử án đầy kịch tính này mà Chúa Giêsu bị đội vòng gai và được tôn xưng là vua, nhưng vẫn còn là vị vua bị lăng nhục. Phải đợi đến Phục sinh vương quyền này mới được biểu lộ, mới thực sự là một “tôn vinh”, một đăng quang (20,17).
- Như sau khi chết, máu và nước chảy ra từ cạnh sườn Đức Giêsu. A. Marchadour ghi chú: “Ghi nhận này đã có thể chỉ là một nhận xét về phẫu thuật, nhưng thánh sử đã rút ra như một chứng từ long trọng mà Ngài nhấn mạnh. Ngài làm chứng rằng sự nhập thể là thực sự và cái chết của Đức Giêsu, trong thực tại của nó, mở ra mầu nhiệm cứu độ đã được loan báo ở 7,38 “Như Kinh Thánh đã nói, từ lòng Người chảy ra những dòng sông nước hằng sống”. Trong cái chết của Đức Giêsu, giờ tôn vinh Người đã đến, Thánh Thần được ban cho các tín hữu (7,39). Độc giả Kitô giáo hiện tại hoá đời sống do Chúa Giêsu thông ban trong 2 bí tích Rửa tội (tái sinh bởi nước và Thánh Thần 3,5) và Thánh Thể (6,54)”.

 

THỨ BẢY TUẦN THÁNH

NGÀY ĐẦU TIÊN CỦA CUỘC SÁNG TẠO MỚI
(Mt 28,1-10)

I. VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI:

1. Đến viếng ngôi mộ của một người chết.
Vào giờ bà Maria Madalena và bà Maria khác đi đến mộ, ngày sabbat đã kết thúc. Một ngày mới bắt đầu: “ngày thứ nhất trong tuần”. Ngày thứ nhất của sự sáng tạo mới.
Cuộc động đất, theo Matthêu 27,51.54 xảy ra sau cái chết của Đức Giêsu nay lập lại ngoạn mục hơn “và có động đất lớn”. Từ cuộc thần hiện trên núi Sinai, đề tài này, qua Kinh Thánh, diễn tả hành động mầu nhiệm của Thiên Chúa: Biến cố vừa xảy ra khai mạc thời đại mới.
Hai phụ nữ đến “viếng mộ Đức Giêsu”. Ở đây, “tảng đá” tượng trưng cho tính cách bất khả chuyển dịch và bất khả chống cưỡng của cái chết đã bị “lăn ra”. “Thiên thần Thiên Chúa” ngồi “ở trên”, dấu hiệu của sự chiến thắng của Thiên Chúa trên sự chết.
Đêm tối của nấm mồ đã nhường chỗ cho một hữu thể rực rỡ ánh sáng mà thánh sử miêu tả rõ từng nét như nhắc lại cuộc biến hình của Đức Giêsu: “Người có dáng vẻ như một tia chớp, y phục Người trắng như tuyết”.
Những người lính gác sững sờ trước biến cố đã trở nên “như người chết” lạ lùng và hàm ý đảo ngược. Cl. Tassin giải thích: Theo luật thường, vì Thiên Thần sắp báo tin cho các phụ nữ, lẽ ra các bà phải run rẩy. Nhưng Matthêu không muốn ta quên mất những người lính gác mộ và Ngài đã cho thấy lý do tại sao họ sợ hãi. Những kẻ gác một người chết nay trở nên “như người chết” và chẳng nghe được sứ điệp Phục Sinh.

2. Các bà trở về như sứ giả của Đấng Đang Sống.
Đến tìm Đức Giêsu, “Đấng chịu đóng đinh”, hai phụ nữ biết rằng “Người không còn ở đây nữa, vì Người đã sống lại như lời Người đã nói”. Cl. Tassin ghi chú: “Động từ được dùng ở thể thụ động giả thiết rằng Thiên Chúa chính là tác nhân (Thiên Chúa đã phục sinh Người). Điều đó, Đức Giêsu “đã nói trước”, tin tưởng vào Cha Người, khi Người loan báo cuộc khổ nạn của Người.
Đến để hoàn thành những động tác kính tín đối với thi thể của Thầy mình, từ nay các bà trở thành những người mang Tin Mừng của Đấng Đang Sống, Tin Mừng mở ra một tương lai mới cho mọi người: Đó, họ là những tác giả Phúc Âm đầu tiên, vui vẻ chạy mang tin cho các môn đệ.
Đến nơi hẹn của sự chết, giờ đây các bà trở thành những người loan tin cho cuộc hẹn với sự sống. “Ở Galilêa”. Vâng, chính tại Galilêa “nơi hội tụ dân ngoại” mà mọi sự sẽ bắt đầu (Mt 4,12). Chính tại đó mà Đức Giêsu Phục Sinh mời gọi các “anh em của Người đến để trao phó cho họ một sứ mạng phổ quát: “Hãy đi! biến mọi dân tộc thành môn đệ Thầy. Còn Thầy sẽ ở với anh em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28,19-20).
Cl. Tassin kết luận: Chính nhờ các thành phần khiêm tốn này của Giáo Hội mà các môn đệ cao cả mới tìm lại được con đường đức tin của họ.

II. BÀI ĐỌC THÊM:
Phục sinh ở trung tâm các Phúc Âm (marc Sevin).
Các biến cố Phục Sinh đã khiến các môn đệ ngạc nhiên. Các trình thuật Phúc Âm và Công vụ các tông đồ đã chứng tỏ rằng cần phải có thời gian và sự can thiệp của Thiên Chúa để thực hiện những gì đã xảy ra. Sự Phục sinh của Đức Giêsu không đơn thuần là chuyện trở lại đời sống của một người chết, nhưng là sự bắt đầu của thế giới mới của Thiên Chúa, đã thoáng thấy và được chờ đợi nơi truyền thống con cái Israel. Đức Giêsu, Đấng Phục Sinh, giờ đây đang sống một cuộc sống hoàn toàn mới bên Đức Chúa Cha. “Trưởng tử từ trong kẻ chết”, Thiên Chúa đã tôn Người lên làm Chúa. Nói cách khác, sự Phục Sinh của Đức Giêsu đã đảo lộn tất cả. Đó là khởi đầu của một thời đại mới chưa từng có, liên hệ tới hết mọi người. Có cái gì đó đã thay đổi trong thế giới của chúng ta. Làm sao quên được, dù chỉ trong giây lát, cái dữ kiện bất ngờ của đức tin ấy?
Nếu các môn đệ của Đấng Phục sinh đã rèn giũa nên các Phúc Âm, chính là để làm chứng cho Phúc Âm chứ không hề có bận tâm đơn thuần tái tạo lịch sử các biến cố trước Phục Sinh. Họ soạn thảo các Phúc Âm để cho các độc giả hiểu rằng tất cả đời sống và hoạt động của Đức Giêsu Nazareth chuẩn bị cho lễ Phục Sinh, chỉ có thể hiểu được dưới ánh sáng Phục Sinh, hội tụ trong Phục Sinh. Họ kể lại bắt đầu từ đức tin của họ vào sự Phục sinh. Họ không thể làm khác hơn. Tất cả những gì họ viết đều phải chịu sàng lọc qua đức tin Phục Sinh. Phục sinh chính là điểm xuất phát của họ. Đó là chuẩn mực giúp họ giữ lại thời kỳ nào đó trong đời sống của Đức Giêsu, lời nói nào đó của Người.
Các Phúc Âm, từ chương đầu cho đến chương cuối, đều thấm đẫm đức tin vào sự Phục Sinh của Đức Giêsu.

 

CHÚA NHẬT PHỤC SINH

NGÔI MỘ MỞ TOANG VÀ TRỐNG RỖNG
(Ga 20,1-9)

I. VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI:

1. “Ông đã thấy...
Thực nghịch lý, Phúc Âm hôm nay dừng lại ở việc khám phá ra ngôi mộ mở toang và trống rỗng chẳng dẫn ta đi đến cuối trình thuật, tới cuộc gặp gỡ của Maria Madalena với Đấng Phục Sinh và tới lời bà loan báo cho các môn đệ: “Tôi đã thấy Chúa, và Người đã nói với tôi” (28). Dường như phụng vụ hôm nay mời ta lần bước trên con đường đức tin theo vết chân những chứng nhân tiên khởi.
Trong đoạn văn ta nghe sáng nay, rõ ràng tác giả đã sắp xếp một tiến trình đầy kịch tính.
- Trước hết trong các di chuyển rất nhiều và rất nhanh: động từ “chạy” được nhắc lại 3 lần trong vỏn vẹn vài câu. Maria Madalena chạy đến thấy ngôi mộ đã mở, rồi chạy “đi tìm Simon-Phêrô và môn đệ kia”. Simon-Phêrô và môn đệ kia chạy đến mồ, môn đệ kia đến trước. Những cuộc chạy liên tục để tìm câu trả lời đầu tiên cho câu hỏi không thể chịu nổi về ngôi mộ mở tung và trống rỗng.
- Rồi, trong những chỉ dẫn ngày càng rõ rệt (dùng các động từ: nhìn/thấy) và trong giải thích sự kiện đã xảy ra.
. Maria Madalena “thấy” đá cửa mộ đã được “lấy” ra và kết luận rằng thi thể của Thầy mình đã bị “lấy” đi.
. Môn đệ kia tới trước. Nhưng không vào trong mồ trước Simon-Phêrô, “khi cúi xuống, ông thấy khăn liệm còn đó”.
. Simon Phêrô vào mộ, “nhìn khăn liệm nằm đó, và vải phủ đầu không đặt chung với khăn liệm, nhưng cuộn lại và để riêng ra”. Phúc Âm Luca có chỗ khác biệt (24,12) gợi lên sự “ngạc nhiên” của Phêrô, nhưng tác giả không đi quá điều ghi nhận. Chỉ sau này, trong cuộc gặp gỡ với Đấng Phục Sinh và đã lãnh nhận Chúa Thánh Thần, Phêrô mới hiểu ngôi mộ trống và tâm trí ông mới mở ra, thấu hiểu lời Kinh Thánh: “Thực vậy, tới lúc đó, Phúc Âm thứ 4 nói, các môn đệ vẫn chưa tin rằng, theo lời Kinh Thánh, Đức Giêsu sẽ phục sinh từ trong kẻ chết”.
. Rồi môn đệ kia cũng bước vào trong mộ, và sách thánh ghi nhận rằng, ngay phút đầu tiên của kinh nghiệm về sự Phục sinh, “ông đã thấy và ông đã tin”.

2. ... Và ông đã tin”
Phêrô, người đầu tiên vào mộ, đã trở thành chứng nhân không chối cãi được trước mắt Giáo Hội sơ khai. Trái lại, môn đệ kia được trình bày ở đây như khuôn mẫu của người môn đệ, người môn đệ tuyệt hảo. Ông, “người môn đệ mà Đức Giêsu yêu mến”, người trong bữa tiệc ly ngồi tựa đầu vào ngực Chúa, với trực giác mà tình yêu ban cho, ông đã thấy sự trống rỗng của ngôi mộ và vị trí của khăn liệm - xếp đặt rất ngay ngắn, chứ không lộn xộn - ngần ấy dấu chỉ của một thực tại khác, chỉ cảm nhận được trong đức tin: “Ông đã thấy và ông đã tin”. Với ông, thi thể của Đức Giêsu đã không bị “lấy đi” như Maria Madalena tưởng: Trộm cướp, trước khi lấy xác Thầy đi, còn có thời giờ cởi bỏ, xếp đặt khăn áo cẩn thận đến thế ư? Với ông, chính cái chết đã bị sự sống vĩnh viễn truất quyền. Trong ông hình thành tiến trình vượt qua từ “thấy” đến gắn bó hoàn toàn với Đức Giêsu Phục sinh. Quang cảnh y phục hoặc trật tự trong đó y phục được xếp đặt chứng tỏ rằng thi thể Đức Giêsu không bị ăn trộm lấy đi nhưng là chính Đức Giêsu đã ra đi sau khi để lại y phục trong trật tự ở nơi Người đã mang chúng. Khác với Lazarô khi bước ra còn mặc áo liệm, Đức Giêsu không cần gì đến y phục nữa vì Người đã rời bỏ thế giới con người.
Một trong các nhân chứng đầu tiên đã “thấy” Đức Giêsu Phục Sinh, môn đệ kia đồng thời là khuôn mẫu của những ai, đón nhận lời chứng của họ, “tin dù không thấy”.

II. BÀI ĐỌC THÊM:

1. Phêrô và Gioan trước ngôi mộ mở, trống rỗng: những nẻo đường của đức tin phục sinh (J. Potin, Jésus, l'histoire vraie).
Theo Gioan, vải liệm thi thể Đức Giêsu có 2 loại. Trước hết có khăm sudarium dùng che đầu, còn othonia (khăn liệm) là những tấm vải lanh rộng bó lấy toàn thân thể (tay, thân, chân). Ngài phân biệt rõ như vậy trong trình thuật khám phá ngôi mộ là có dụng ý rõ rệt.
Trình thuật tìm cách xác nhận cuộc khám phá ngôi mộ trống của Phêrô, thủ lãnh các tông đồ. “Môn đệ kia” theo Phêrô từ lúc bắt đầu vụ án, “môn đệ mà Đức Giêsu yêu mến” để Phêrô vào trước. Ông nhận thấy rằng sudarium và othonia được để lại trên ghế. Vậy thi thể không bị lấy cắp, nhưng đã thoát ra khỏi khăn liệm, để vải liệm lại tại chỗ. Phêrô chưa có giải đáp cho câu hỏi. Môn đệ kia lanh lẹ hơn trong niềm tin: “Ông đã thấy và ông đã tin”. Nếu, vì kính trọng, ông đã để cho vị thủ lãnh Giáo Hội vào mộ trước, thì ông lại hiểu ngay điều cốt yếu chỉ bằng cách nghiêng mình ngó vào trong mộ. Là môn đệ được Đức Giêsu yêu mến cũng là một cái gì đó chứ.
Tuy vậy, niềm tin của họ vẫn chưa hoàn hảo. Chỉ thấu hiểu Kinh Thánh mới đưa họ thấm nhập vào mầu nhiệm Phục Sinh của Đức Giêsu, vì Kinh Thánh giải thích ý nghĩa cái chết này. Gioan đã báo cho các độc giả rằng chỉ có sự thấu hiểu Kinh Thánh mới ban cho họ Thánh Thần mà Đức Giêsu Phục Sinh đã đem đến cho các môn đệ trong những lần hiện ra. Phêrô và “môn đệ kia” trở về nhà đóng kín cửa vì sợ người Do Thái.
Đối với các môn đệ, ngôi mộ trống vẫn còn là một câu hỏi chứ chưa chứng tỏ được sự Phục Sinh. Tuy nhiên nếu ngôi mộ khép chặt thì làm sao có thể rao giảng sự Phục Sinh được?

2. Mộ mở toang (G. Boucher, “Le ciel sur terre").
Sáng hôm ấy, một phụ nữ, bà Maria Madalena đến viếng mộ Đức Giêsu. Nhưng, kinh ngạc: mộ đã mở tung. Hòn đá lấp cửa mộ đã lăn qua một bên.
Thoạt nhìn ngôi mộ mở tung, ta nghĩ đến một âm mưu hoặc một trò lừa đảo. Đó là một trò giễu cợt chết người. Hay là một xúc phạm không chấp nhận được.
Phản ứng thế nào trước một sự việc như thế? Maria Madalena báo ngay cho các môn đệ của Đức Giêsu. Bà chạy đến báo động cho Phêrô. Có Gioan theo, Phêrô thoát ra khỏi dè dặt, phá vỡ sự im lặng sợ hãi. Ông rời nơi ẩn náu. Ông chạy đến xem và ghi nhận tại chỗ. Một sự xúc phạm như thế cần phải xem cho kỹ đã.
Phêrô và Gioan cũng chạy. Họ chạy đến ngôi mộ mở sẵn. Giờ đây họ đối diện với sự vĩ đại của biến cố. Và, Gioan đã thấy. Ông đã thấy và ông đã tin.
Gioan thấy. Nhưng ông thấy gì? Chẳng thấy gì hết. Có gì đâu mà thấy. Tuy vậy điều ông thấy đã dẫn ông tới chỗ tin.
Ta hãy nghiêng mình xuống như Gioan. Ta thấy gì? Một hố sâu thăm thẳm, đầy màu trắng. Một sự trống rỗng mênh mông dâng đầy mầm sống. Cờ tang khăn tang chuyển biến thành y phục ánh sáng. Một sự vắng mặt vang dội sự có mặt. Một sự im lặng của nấm mồ nói nhiều hơn mọi bài diễn văn. Một bức tường mà ta chỉ thấy được phần bị khoét lỗ. Một kết quả của tất cả mang dáng dấp khởi đầu. Một cái chết có bộ mặt một cuộc giáng sinh. Mầu nhiệm mà ta khám phá ra bí mật.
Vậy ai đã tạo ra ngôi mộ trống. Ngôi mộ đâu có trống. Vì Gioan đã thấy chân dung thực sự của Đức Giêsu, bạn Ngài.
Ngôi mộ không trống, không sâu, không câm nín, không vương mùi chết chóc. Ngôi mộ nói. Nó sẽ nói. Hôm nay nó còn nói với ta. Ta có bị cụt hứng không? Vì sự vắng mặt này, lớn như một nấm mồ, chính là một sự hiện diện, vĩ đại như một phép lạ.
Dưới nhãn quan của não trạng hiện đại, đã thấm nhiễm vào ta, chết là hết. Chấm hết. Chết rồi chẳng còn gì ráo. Chẳng còn gì ngoài đêm đen. Chẳng còn gì ngoài trống rỗng và hư vô. Cái chết khép lại tất cả. Cái chết chôn kín đời ta.
Nhưng ở đây cái chết mở ra. Ngôi mộ của Người đã mở ra. Mở ra một mầu nhiệm lớn lao. Một mầu nhiệm loan báo sự sống. Mầu nhiệm mang tên chỗi dậy. Phục sinh.
Ngôi mộ mở lòng mở trí ta. Ký ức sống và sống lại. Ta mở hồn ra với đức tin. Sau cùng ta hiểu rằng Đức Giêsu, đã vượt qua bức tường sự chết, đã nâng phiến đá che mộ, đã hoàn thành Phục sinh báo trước.

 

CHÚA NHẬT II PHỤC SINH

TỪ NHẬN THỨC ĐẾN TRUYỀN GIÁO
(Ga 20,19-21)

I. VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI:

1. Từ Chúa nhật
Phần đầu của Phúc Âm Chúa nhật này - năm nào ta cũng đọc lại - đưa ta đến “Sau cái chết của Đức Giêsu” vào buổi chiều “ngày thứ nhất trong tuần”, ngày qui tụ phụng vụ của các Kitô hữu, thời gian thuận tiện để Chúa hiện diện giữa cộng đoàn mà Người qui tụ để chia sẻ Lời và Bánh, và để sai họ đi vào thế giới.
Trong trình thuật, ta gặp lại 3 thời gian đặc biệt của tiến trình phục sinh.
1. Sáng kiến của Đấng Phục Sinh “đến” thăm.
2. Nhận biết Đức Giêsu đang sống thắng vượt cái chết.
3. Sứ mệnh nhận từ Đấng Phục Sinh.
Các môn đệ hội họp ở một nơi mà các cửa “đều đóng kín... vì họ sợ người Do Thái”, tức là chức quyền tôn giáo ở Giêrusalem. Có lẽ qua việc xác định rõ ràng này, tác giả muốn nói tới cảnh bắt bớ mà những người nghe Phúc Âm phải chịu: bị loại ra khỏi Hội Đường vì họ nhận Đức Giêsu là Kitô. Dần dà, họ tìm những địa điểm họp riêng, tránh ánh mắt của những kẻ bắt bớ.
Trong lúc họ họp nhau, Đức Giêsu tới với họ “Đức Giêsu đến và ở giữa họ”. Lời đầu tiên của Người là lời chúc bình an: “Bình an cho các con” (Shalom). Ơn cứu độ không chỉ là một lời chúc lịch sự, nhưng là ơn cứu độ có hiệu quả, của niềm vui, và niềm bình an.
- Nhận Đức Giêsu sống vượt qua cái chết.
Đức Giêsu cho họ xem: “Tay và cạnh sườn Người” (đối chiếu với ngọn giáo của Gioan). Marchadour bình luận: “Dấu vết của việc đóng đinh trên tay và cạnh sườn Đức Giêsu chứng tỏ rằng, dù những điều kiện lạ lùng trong các cuộc tỏ mình ra của Đức Giêsu, tác giả Phúc Âm không muốn các độc giả lầm Chúa với một bóng ma, nghĩa là một người khác với Đấng chịu đóng đinh. Chắc chắn, sự hiện diện thể lý bình thường của Đức Giêsu không còn nữa, nhưng Đấng ngự giữa họ vẫn là Chúa Giêsu, nghĩa là cũng vẫn là Đấng mà họ đã biết và đã yêu, nhưng từ nay đã biến hình đổi dạng qua cuộc phục sinh. Sợ hãi tiêu tan, các môn đệ tràn đầy niềm vui.
- Sứ mệnh nhận từ Đấng phục sinh.
Sự hiện ra của Đấng phục sinh không có một mục đích tự thân. Nó khai mở ra một sứ mệnh: sai đi, với sức mạnh của Thánh Linh, đem cho mọi người tin mừng về ơn tha thứ của Thiên Chúa. “Như Cha đã sai Thầy thế nào, Thầy cũng sai các con như vậy”. Nói thế rồi Người thổi hơi trên các ông và nói: “Các con hãy nhận lấy Thánh Thần, các con tha tội cho ai thì người ấy được tha...”.
A. Marchadour bình luận: Đó không phải chỉ là một so sánh, đó chính là một nền tảng, một cội rễ. Các môn đệ được sai đi (nguyên ngữ là: trở thành tông đồ) để nối dài hoạt động của Đức Giêsu... Như Thiên Chúa đã thổi hơi thần khí của Người vào Ađam (St 2,7), như Thánh Thần xuống trên Đức Giêsu (1,33-34), Đức Giêsu mà Thiên Chúa đã tôn phong làm Đức Chúa, cũng thổi hơi (cùng một động từ như ở St 2,7) sức mạnh của Thánh Thần trên các tông đồ... Như Thiên Chúa, rồi như Đức Giêsu kẻ được Thiên Chúa sai đi, các môn đệ tha thứ tội lỗi, nghĩa là thanh tẩy tội lỗi trong sức mạnh của sự chết của Đức Giêsu.

2. Tới Chúa nhật
Sự vắng mặt của Tôma vào ngày thứ nhất trong tuần cho phép tác giả Phúc Âm dẫn nhập vào màn kế tiếp, “tám ngày sau”. Tuýp người tiêu biểu cho sự cứng lòng, ông từ chối xếp mình vào hàng ngũ chứng nhân của các tông đồ khác và ông nghi ngờ Đức Giêsu phục sinh: ông đòi “thấy” và “sờ” rồi mới “tin”.
Thế là Đức Giêsu đến một lần nữa, ngôn ngữ dùng miêu tả cũng như lần hiện ra trước. Đức Giêsu lại hiện diện, dù các cửa đều “khoá chặt”. Lại một lần nữa, người gởi lời chào phục sinh: “Bình an cho các con”. Một lần nữa, Người cho các ông xem tay và cạnh sườn Người. Hơn nữa, Người nói với Tôma, nhấn mạnh đến tính cách liên tục và tính cách mạch lạc giữa tình trạng bị đóng đinh và tình trạng vinh hiển hiện tại: “Hãy xỏ ngón tay con vào đây, hãy xem tay Thầy, hãy thọc bàn tay vào cạnh sườn Thầy”. Gérard Bessière thắc mắc: “Người tông đồ cứng lòng tin ấy có làm như thế không? Từ lâu người ta đã tranh cãi về điều ấy. Những bức hoạ thường chỉ vẽ Tôma đang giơ tay về phía những vết thương. Điều quan trọng ấy là lời nói thốt ra: “Đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin”.
Và đây, tìm lại được đức tin, Tôma kẻ cứng lòng đã tặng Đức Giêsu danh hiệu lớn lao nhất của cả Phúc Âm:"Lạy Chúa là Thiên Chúa tôi”. “Một đỉnh cao mà các định nghĩa tín lý sau này không vượt qua nổi. Giữa “Ngôi Lời là Thiên Chúa” ở khởi đầu (1,1) và lời tuyên xưng Đức Giêsu là Chúa và là Thiên Chúa”, không còn gì để nói thêm nữa. Càng rõ ràng hơn nữa khi kẻ làm chứng về chân lý này lại là kẻ không muốn tin vào lời chứng của các tông đồ.

3. Cho tới Chúa nhật hôm nay:
Màn kịch kết thúc bằng một mối phúc hứa ban cho những ai sống trong thời đại vắng bóng sự hiện diện thể lý của Đức Giêsu, là chính chúng ta: “Phúc cho những ai không thấy mà tin”. Mối phúc cuối cùng của các Phúc Âm, mối phúc của những kẻ tin. A. Marchadour nói tiếp: Đó là câu kết luận của cả cuốn Phúc Âm và nhắc lại một chủ đề lớn trong Do Thái giáo: Giữa điều thấy và điều tin, cảnh tượng và lắng nghe, sự trình bày và lời lẽ, chính từ thứ 2 tạo nên điều kiện bình thường và lý tưởng của tín hữu. Ngay cả những kẻ đã thấy cũng phải tin vượt quá điều họ thấy. Ngôi Lời, ngay từ phút giây trở thành “nhục thể” đã chỉ cho các môn đệ thấy “nhục thể”, nghĩa là nhân tính nơi lẽ ra ta phải “thấy Thiên Chúa tỏ mình ra trong vinh quang”. Chúng ta thật phúc đức, những người tiếp nhận Phúc Âm. Chúng ta không thấy, nếu, do lời chứng của các tông đồ mà ta gắn bó với Đức Kitô và trở thành tín hữu.

II. BÀI ĐỌC THÊM:

1. Sai đi như Chúa Cha đã sai (I. Potin, Jésus, l'hstoire vrare).
Phòng đóng kín, Đức Giêsu đột ngột hiện ra giữa các môn đệ, ba lời vắn vỏi: bình an, Thánh Thần, tha tội.
Ở đây, các môn đệ sợ người Do Thái chứ không sợ ma. Trái lại, họ tràn đầy niềm vui. Sao họ có thể dè dặt về căn tính của Đấng hiện ra, vì Người đã cho họ xem tay và cạnh sườn Người? Đức tin vào sự phục sinh phát sinh từ khám phá này, cũng với niềm bình an và niềm vui được gặp lại Người, 2 món quà của thời đại Messia mà người đã hứa cho họ. Theo Gioan và Luca, sự hiện diện của Người không có mục đích đưa họ trở lại quá khứ nhung nhớ. Đức Giêsu “sai” họ như Cha Người đã sai Người. Họ trở nên “tông đồ” của Người. Để tấn phong, Người thổi hơi, nghĩa là ban Thánh Thần của Người cho họ theo 2 nghĩa của từ ngữ bằng tiếng Do Thái và Hy Lạp. Theo Gioan, thổi hơi liên hệ đến việc ban phát hào phóng Thánh Thần mà Luca đặt vào thời điểm 50 ngày sau, trong lễ Hiện Xuống. Ân ban Thánh Thần cho phép họ tha thứ tội lỗi mà theo Gioan, chủ yếu là tội từ chối tin Đức Giêsu là Con Chúa Cha. Ai tuyên xưng Người sẽ được tha tội, vượt qua cái chết đến sự sống. Sứ mạng của các tông đồ là loan báo tha tội này nhân danh Đức Giêsu.

2. Chiêm ngắm Đức Giêsu trong “tấm gương” đức tin của những kẻ đã thấy Người. (Mgr. L. Daloz, Nous avons vu sa gloire).
Đức Giêsu tuyên bố từ nay sẽ là chế độ đức tin. Người đã tỏ mình ra trong vinh quang phục sinh cho các tông đồ và các môn đệ. Họ sẽ là những chứng nhân ưu tuyển đã thấy trước điều mai sau sẽ tỏ ra cho mọi người: khi chúng ta thấy Người diện đối diện, ta sẽ nhận ra Đấng đã cho ta xỏ ngón tay vào vết thương trên bàn tay và ở cạnh sườn người. Trong khi chờ đợi ngày mạc khải chung cuộc ta tìm thấy sự bảo đảm và niềm vui của đức tin trong chứng từ của các môn đệ đầu tiên. Phúc cho những ai không thấy mà tin. Ta tin khi chiêm ngắm Đức Giêsu trong tấm gương đức tin của những chứng nhân đã thấy Chúa, cho dù đối với ta sự phục sinh vẫn là một điều khó hiểu. Nếu ta tiếp nhận phép lạ phục sinh trong sự vững vàng tăm tối của đức tin, một ngày kia Đấng phục sinh sẽ tỏ mình cho ta, và ta sẽ phải kêu lên như Tôma: “Lạy Chúa, lạy Thiên Chúa của con”.

 

CHÚA NHẬT III PHỤC SINH

TRÊN ĐƯỜNG EMMAU
(Lc 24, 13-35)

I. VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI:

1. Từ mối tương giao khép kín… đến thái độ cởi mở với người khác.
Âoaûn Tin Mæìng vãö hai män âãû trãn âæåìng Emmaus âæåüc kãø laì mäüt trong nhæîng âoaûn Tin Mæìng âeûp nháút cuía thaïnh Luca. Mäüt cáu chuyãûn væìa sáu sàõc vãö tháön hoüc, væìa diãùm aío vãö vàn chæång. Chênh cáúu truïc cáu chuyãûn - chuyãún âi khæï häöi Giãrusalem-Emmau-Giãrusalem laì bæïc phäng biãøu tæåüng cho "cuäüc qui häöi " sàõp thæûc hiãûn trong loìng hai män âãû.
Cáu chuyãûn xáøy ra vaìo ngaìy "thæï ba sau khi Âæïc Giãsu lça tráön" ngaìy maì, thaïnh Luca, ngay nhæîng doìng måí âáöu cuía Tin Mæìng, âaî coi nhæ "ngaìy thæï nháút trong tuáön" vaì caïc Kitä hæîu âaî såïm goüi laì "ngaìy Chuïa nháût", ngaìy cuía Chuïa.
Hai män âãû tråí vãö Emmaus, laìng xæa yãu dáúu, caïc báûc thæïc giaí coìn tranh luáûn vãö âëa âiãøm cuía laìng naìy. Nhæng coï gç laì quan troüng. Âiãöu cäút thiãút âäúi våïi chuïng ta häm nay, chênh laì khaïm phaï kinh nghiãûm læî haình maì hai män âãû xæa âaî traíi "våïi nhæîng bæåïc chán nàûng nãö" (fiche A.124), mäüt kinh nghiãûm maì coï leî váùn coìn taïi hiãûn moüi nåi trong cuäüc læî thæï naìy. Taïc giaí Tin Mæìng kãø laûi, "hoü troì chuyãûn våïi nhau" nhæng chè quanh âi quáøn laûi våïi mäüt váún naûn nan giaíi duy nháút: caïi chãút cuía tháöy hoü âaî dáûp tàõt moüi hi voüng hoü âaî áúp uí trong loìng vaì xoïa säø nhoïm mæåìi hai män âãû. L.M. Chauvet chuï thêch : "hoü troì chuyãûn våïi nhau, cáu chuyãûn chè xoay quanh âåìi hoü vaì låìi giaíi âaïp cho caïi chãút tháút baûi cuía tháöy mçnh. Màõt hoü "váùn coìn bë bæng bêt" trê hoü cuîng bë phong toía nhæ màõt hoü. táút caí coìn phong kên. Hoü tæû phong toía chênh mçnh, våïi xaïc chãút cuía Âæïc Jesus trong ám phuí : cæía mäü âaî bë mäüt taíng âaï låïn bêt kên." (“Tæì biãøu tæåüng âãún biãøu tæåüng”, Cerf, tr.89)
Âang chuyãûn vaîn våïi nhau trãn âæåìng chiãöu moìn moíi, chåüt mäüt ngæåìi bàõt këp hoü vaì "cuìng hoü âäöng haình" . Ngæåìi khaïch laû hoíi ngay âãún váún naûn cuía hoü "caïc anh væìa âi væìa trao âäøi våïi nhau vãö chuyãûn gç váûy ? "
Cáu hoíi âæåüc gåüi lãn nhæ mäüt âiãøm dæìng cho cuäüc haình trçnh näøi träi khäng muûc âêch cuía hoü : "hoü dæìng laûi veí màût buäön" ; cáu hoíi án cáön áúy âaî kãút thuïc cáu chuyãûn riãng tæ giæîa hai ngæåìi âãø coï dëp thäø läü våïi mäüt ngæåìi thæï ba vãö niãöm hi voüng âaî máút cuía hoü : "chuïng täi cæï ngåî...."
Âiãöu khiãún Cleïopas ngåî ngaìng vç ngæåìi khaïch laû háöu nhæ chàóng biãút tê gç, truìng håüp laû luìng våïi låìi rao giaíng täng âäö trong baìi diãùn tæì cuía thaïnh Phãrä taûi nhaì viãn baïch quaín Corneille (Xem: Baìi âoüc mäüt chuïa nháût Phuûc sinh”) vaì trong baìi diãùn tæì cuía thaïnh Phãrä ngaìy lãù Nguî tuáön. (Xem: Baìi âoüc mäüt chuïa nháût thæï ba phuûc sinh) Nàõm trong tay moüi maî säú cuía ä chæîî, nhæng khäng coï chça khoïa âãø giaíi maî vaì âãø tçm ra yï nghéa. "Toaìn bäü näüi dung âaî âæåüc trao ban, âaî âæåüc cäng thæïc hoïa hoaìn chènh, kinh Tin Kênh âæåüc âoüc âi âoüc laûi, Tin Mæìng âaî âæåüc toïm tàõt, ... chè coìn thiãúu mäüt âäúm læía, .. ngæåìi læî khaïch âaî ngán nga táút caí, ngay âãún låìi baïo træåïc diãûu kç "Ngaìi hàòng säúng" våïi neït màût buäön thaím. Äng coìn thiãúu niãöm tin. Ån âæïc tin, aïnh saïng âæïc tin seî chiãúu saïng, seî mang laûi yï nghéa cho cáu chuyãûn. Táút caí âãöu âåüi chåì luïc maìn bê máût âæåüc veïn lãn”. (“Nhæîng ngæåìi haình hæång vãö Emmaus, tr. 61-62)

2. Töø ngoõ cuït ñeán ñöôøng ñi.
Ngæåìi khaïch laû chàm chuï làõng nghe hoü. Giåì thç hoü bàõt âáöu làõng nghe Ngaìi. Ngaìi duyãût laûi cuäüc säúng vaì caïi chãút cuía Tháöy hoü, "moüi âiãöu liãn quan tåïi Ngaìi" dæåïi aïnh saïng Thaïnh Kinh. "Vaì, khåíi âi tæì Mä-sã vaì caïc tiãn tri" Ngaìi heï måí cho hoü tháúy thaïnh yï nhiãûm máöu cuía Thiãn-Chuïa âaî thãø hiãûn giæîa nhæîng biãún cäú maì hoü cho laì thã thaím áúy. Caïi chãút cuía Âæïc Giãsu, âäúi våïi hoü dæåìng nhæ laì mäüt ngoî cuût, thæûc sæû laûi laì "âæåìng" dáùn âãún sæû Säúng : "Naìo Âáúng Kitä laûi chàóng phaíi chëu khäø hçnh nhæ thãú, räöi måïi vaìo trong vinh quang cuía Ngæåìi sao? "
L.M. Chauvet giaíi thêch thãm: "khi nghe noïi vãö Âæïc Giãsu, khi âoïn nháûn chæïng tæì cuía Ngaìi vãö chæång trçnh cuía Thiãn-Chuïa trong kinh thaïnh (Mä-sã vaì caïc tiãn tri), loìng hoü veî nãn mäüt hçnh aính khaïc vãö Âæïc Giãsu: "vë tiãn tri" bàõt âáöu biãún hçnh thaình "Âæïc Kitä ", thaình Âáúng Thiãn Sai phaíi chëu âau khäø vaì chëu chãút âãø bæåïc vaìo chäún vinh hiãøn." (saïch âaî dáùn, tr.90)
Hoü âæåüc måìi goüi âaío ngæåüc táûn càn niãöm tin cuía mçnh : Laìm sao maì Âáúng Thiãn Sai cuía Thiãn-Chuïa laûi coï thãø phaíi traíi qua caïi chãút nhæ thãú âæåüc? Nhæng mäüt âiãöu gç âoï âaî naíy máöm trong loìng hoü; taíng âaï nàûng nãö phong toía hoü âaî bàõt âáöu lung lay. "Xin åí laûi våïi chuïng täi" hoü kháøn naìi khi âãún gáön laìng "vç tråìi âaî chiãöu vaì âãm âaî xuäúng".

3. Töø meâ laàm ñeán ñoán ngoä.
Giåì thç caí ba âang åí trong quaïn troü, ngæåìi læî khaïch âang "âäöng baìn cuìng hoü." Nhæîng cæí chè Ngaìi thæûc hiãûn "Ngaìi cáöm láúy baïnh, âoüc låìi chuïc tuûng, beí ra vaì trao cho hoü", chênh laì nhæîng cæí chè cuía Chuïa trong bæîa tiãûc li. Thaïnh Luca, nãúu chàóng phaíi laì qua caïc viãûc laìm thç chê êt trong yï hæåïng cuîng muäún nhàõm âãún caïc tên hæîu häüi nhau mäùi ngaìy thæï nháút trong tuáön.
Vaì tháût báút ngåì, hoü âaî hiãøu roî ngoün ngaình : "khi áúy, màõt hoü liãön måí ra vaì hoü nháûn biãút Ngaìi" . "Ngæåìi âaî chãút chênh laì Âáúng hàòng säúng! Váùn Âáúng áúy nay âaî biãún thaình mäüt ngæåìi khaïc; chênh hoü cuîng biãún thaình ngæåìi khaïc. Vç màõt hoü nay âaî måí ra âãø tháúy âæåüc mçnh cuîng nhæ tháúy âæåüc Ngæåìi. Viãûc duyãût laûi âåìi Ngaìi giuïp hoü duyãût laûi âåìi mçnh. nháûn biãút Ngaìi phuûc sinh âaïnh dáúu sæû phuûc sinh cuía riãng hoü. "Loìng ta âaî chàóng bæìng chaïy lãn khi Ngaìi càõt nghéa Kinh Thaïnh cho ta trãn âæåìng chiãöu âoï sao?" Trong khi häöi tæåíng, niãöm tin nåi Âæïc Kitä phuûc sinh âaî phuûc häöi quaï khæï raî råìi vaì måí ra cho hoü mäüt tæång lai måïi."
Thaïng ngaìy quaï vaîng dæåìng nhæ âaî chãút cuía hoü nay bàõt âáöu häöi sinh, bàõt âáöu âæåüc haìn gàõn vaì uäún nàõn laûi : mä thæïc coï tênh "biãøu træng" cuía bê têch âaî phaïc hoüa, näúi kãút vaì hçnh thaình nãn noï. báúy giåì hoü tçm tháúy nåi noï mäüt yï nghéa chàõc chàõn...Tæång lai âaî biãún âäøi : Nãúu thæûc sæû tháûp giaï laì säúng giáy phuït hiãûn taûi våïi Thiãn-Chuïa vaì våïi mçnh, thi coìn coï gç khäng thãø laìm âæåüc næîa âáu?” (L.M. Chauvet, saïch âaî dáùn, tr.91-92)
Âæïc Giãsu coï thãø "biãún máút khoíi táöm nhçn " cuía caïc män âãû âaî láúy laûi âæåüc niãöm tin. Hoü âaî tçm laûi âæåüc Ngæåìi, hàòng säúng, trãn âæåìng âåìi cuía hoü. Phuûc sinh, tæì nay, "Ngaìi åí våïi hoü" vaì toí mçnh ra cho hoü qua nhæîng dáúu chè cuía niãöm tin, läi keïo hoü vaìo máöu nhiãûm phuûc sinh.

4. Töø söï tan naùt. . . ñeán choã tuyeân xöng nieàm tin cuûa Hoäi Thaùnh.
Con âæåìng dáùn âæa nhæîng ngæåìi læî khaïch tæì Giãrusalem âãún quaïn troü Emmau sao maì xa xäi vaûn lê. ÁÚy váûy maì luïc tråí vãö Giãrusalem laûi chè trong phuït giáy vç tin mæìng âang chaïy boíng trong tim vaì trãn mäi hoü.
Chênh nhoïm mæåìi mäüt vaì thán hæîu laûi táûp hoüp nhau âaî thäng baïo våïi hoü træåïc ràòng "Chuïa âaî phuûc sinh : Ngaìi âaî hiãûn ra våïi Simon Phã-rä." Báúy giåì, hoü cuîng kãø laûi nhæîng diãùn biãún trãn âæåìng vaì nhåì âáu hoü âaî nháûn ra âæåüc Ngaìi "khi Ngaìi beí baïnh"
"Cuäüc tråí vãö nguäön cäüi, nghéa laì tråí vãö våïi caïi näi phaït sinh Häüi Thaïnh, tæïc Jerusalem, tæåüng tæng cho cuäüc tråí laûi tæì näùi buäön sang niãöm vui, tæì sæû luìi bæåïc âãún dáún thán, tæì sæû tan taïc âãún kãút âoaìn. nhoïm nhæîng ngæåìi theo Chuïa âaî taín maïc åí âáöu cáu chuyãûn, nay âaî taïi håüp, nhæng khaïc hàón ngaìy xæa. hoü âaî chãút, nay hoü "säúng laûi". ngaìy lãù Phuûc sinh cuía Chuïa Jesus âaî biãún thaình ngaìy Lãù Phuûc sinh cuía riãng hoü : laì mäüt nhoïm nhoí, hoü cuîng âaî âi qua caïi chãút âãø phuûc sinh thaình Häüi thaïnh." (L.M. Chauvet, saïch âaî dáùn.)

II. BAØI ÑOÏC THEÂM:

1. Caâu chuyeän naøy laø baûn löôïc ñoà hay khuoân maãu chính xaùc cuûa neàn phuïng vuï coâng giaùo: (H. Denis, “100 tæì âãø tuyãn xæng niãöm tin”, Desclée de Brouwer, tr.145-146).
Cáu chuyãûn säúng âäüng naìy chênh laì baín læåüc âäö hay khuän máùu xaïc thæûc cuía táút caí nãön phuûng vuû cäng giaïo, âàûc biãût laì bê têch Thaïnh Thãø. Haîy âoüc laûi seî tháúy. Phuûng vuû, luän bàõt âáöu bàòng viãûc táûp hoüp. Âáy laì âiãöu khäng thãø thiãúu âæåüc. Caïc baûn âang âäöng haình trãn con âæåìng sæû säúng. Coï leî âaî quaï quen nhau nãn khäng nháûn ra Âæïc Kitä, ngæåìi baûn âäöng haình væìa gia nháûp vaìo nhoïm cuía caïc baûn. Mäüt cäüng âoaìn phuûng vuû tæû cå baín laì mäüt cäüng âoaìn âæåüc hçnh thaình, gàõn boï våïi Âæïc Kitä, tråí nãn thán thãø cuía Âæïc Kitä, Häüi thaïnh... Nhæng räöi, ngæåìi ta xao laîng, ngæåìi ta coï nhæîng mäúi quan tám khaïc. Thãú laì baûn noïi chuyãûn ngay ngoaìi cæía nhaì thåì, baûn kãø cho nhau vaìi tin tæïc træåïc khi bæåïc vaìo hay khi âaî ngäöi vaìo ghãú. ... Cho âãún luïc baûn tæû hoíi xem âåìi mçnh coï thãø näúi kãút våïi âåìi säúng cuía Âæïc Kitä vaì âåìi säúng cuía Âæïc Kitä coï thãø näúi kãút våïi âåìi mçnh khäng. "Sao, coï leî äng laì ngæåìi duy nháút truï nguû taûi Jerusalem maì khäng hay biãút nhæîng chuyãûn âaî xaíy ra trong thaình máúy bæîa nay..."
Cäüng âoaìn laì mäüt táûp thãø coï khaí nàng làõng nghe Âæïc Giãsu. Âoï chênh laì phuûng vuû låìi Chuïa, trong âoï, duì laì ngaìy naìo âi næîa thç cuîng váùn laì Âæïc Giãsu cho biãút mçnh âaî kiãûn toaìn lãö luáût vaì caïc tiãn tri ra sao.
Báy giåì, ta coï thãø bæåïc vaìo trong thám cung nhaì Chuïa. "haîy åí trong Tháöy vaì Tháöy åí trong anh em. " (Gioan 15,4 ) nhaì cuía nhæîng ngæåìi âäöng haình trãn âæåìng Emmaus âaî biãún thaình nåi chia seí táúm baïnh. Kç diãûu thay, chênh trong viãûc beí ra, chia seí ,viãûc Thiãn-Chuïa tæû hiãún maì ngæåìi ta nháûn biãút nhau. Nhæîng con màõt måí ra âãø khaïm phaï, khäng phaíi sæû tráön truûi cuía thán xaïc hay chãút nhæ trong væåìn à âen xæa kia, maì laì veí ræûc råî huy hoaìng cuía Âáúng Phuûc sinh âaî tæû nguyãûn màûc láúy thán xaïc moün heìn phaíi chãút cuía chuïng ta. Sæû nháûn biãút âáöy kênh tin, cáúm ngæåìi ta chaûm âãún Âáúng Phuûc sinh. Hiãûn diãûn trong xa vàõng. Âæïc Giãsu âaî xa khuáút táöm nhçn cuía hoü...
Thãú cuîng âaî âuí âãø hoü ra âi, håüp nháút niãöm tin våïi caïc täng âäö. Haîy ra âi trong bçnh an cuía Âæïc Kitä. Haîy ra âi loan baïo cho caïc anh em : Âæïc Kitä âaî säúng laûi, alleluia.
2. Caâu chuyeän dieãm tuyeät vaø xaùc thöïc daønh cho caùc tín höõu moïi thôøi: (M. Sevin, trong “Häö så kinh thaïnh”, säú 41, tr.22).
Mong sao âäüc giaí Tin Mæìng hiãøu âæåüc ràòng cáu chuyãûn naìy nhàõm âãún hoü. Âãún læåüt mçnh, hoü tæû hoíi laìm sao tháúy âæåüc Âáúng Phuûc sinh. Cáu traí låìi laì : màõt tráön hoaìn toaìn vä duûng. Sæû hiãûn diãûn cuía Âáúng Phuûc sinh khaïc hàón sæû hiãûn diãûn cuía Âæïc Giãsu taûi Nazareït. Âáy laì mäüt sæû hiãûn diãûn måïi meí, chè toí hiãûn våïi con màõt âæïc tin âæåüc nuäi bàòng Kinh Thaïnh vaì viãûc chia seí bæîa àn våïi Âæïc Giãsu.
Nãúu muäún tháúy vaì säúng sæû hiãûn diãûn cuía Âáúng phuûc sinh caïc tên hæîu phaíi trang bë cho mçnh hai âiãöu kiãûn áúy vç hoü luän coï sàôn trong tay Thaïnh Kinh vaì Thaïnh Thãø.
ÅÍ âáy, thaïnh Luca, âaî viãút nãn mäüt cáu chuyãûn diãùm tuyãût vaì xaïc thæûc cho caïc tên hæîu moüi thåìi.

 

CHÚA NHẬT IV PHỤC SINH

ĐỨC GIÊSU: MỤC TỬ NHÂN LÀNH
VÀ CỬA CHUỒNG CHIÊN
(Ga 10, 1-10)

I. VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI:

1. Đức Giêsu, mục tử nhân lành.
Baìi Phuïc Ám häm nay nàòm trong vàn maûch cuía mäüt cuäüc luáûn chiãún. Tiãúp sau viãûc chæîa laình ngæåìi muì báøm sinh váùn ngäöi àn xin bãn cæía âãön thåì, (Phuïc Ám chuïa nháût thæï bäún muìa chay, nàm A) nhæîng ngæåìi biãût phaïi tæû xæng laì saïng màõt vaì tæû nháûn laì nhæîng báûc linh sæ trong dán, thæûc ra, ngaìy caìng chçm sáu trong sæû muì quaïng cuía mçnh. Trong khi âoï, ngæåìi muì âæåüc chæîa laình, khäng ngng âæåüc khai saïng âãún âäü daïm tuyãn xæng máöu nhiãûm Âæïc Giãsu, nhçn nháûn Ngaìi laì "Con Ngæåìi" vaì laì "Âáúng Thiãn Sai"; bë ngæåìi Do Thaïi truûc xuáút khoíi häüi âæåìng vaì âæåüc Âæïc Giãsu âoïn nháûn, äng tråí thaình máùu mæûc cuía ngæåìi coï niãöm tin, âiãøn hçnh cuía "con chiãn nháûn ra tiãúng muûc tæí âãø âæåüc dáùn vãö cuìng Chuïa Cha" ( X. Léon Dufour, "Âoüc Tin Mæìng Gioan" Táûp 2, Seuil, 1990, tr..348)." Âæïc Giãsu kãút luáûn" Ta âãún tráön gian chè laì âãø cho nhæîng keí khäng tháúy âæåüc tháúy vaì nhæîng keí tháúy tråí nãn âui muì"
Thãú räöi, taïc giaí Tin Mæìng chuyãøn thàóng sang duû ngän vë muûc tæí nhán laình, mäüt hçnh aính quen thán trong Kinh Thaïnh. Tháût váûy, trong suäút lëch sæí Do Thaïi, Thiãn-Chuïa luän tæû giåïi thiãûu nhæ laì vë Muûc Tæí cuía dán Ngæåìi, Âáúng âaî choün láúy cho mçnh nhæîng täi tåï, cuîng âæåüc goüi laì "muûc tæí", âãø trao cho hoü traïch nhiãûm dáùn dàõt dán Chuïa theo yï Ngæåìi. Tiãúc thay, hoü thæåìng báút xæïng våïi sæï vuû naìy vaì vç váûy, caïc tiãn tri âaî loan baïo mäüt thåìi âaûi maì chênh Thiãn-Chuïa, qua Âáúng Thiãn Sai, seî nàõm quyãön laînh âaûo dán Ngæåìi.
ÅÍ âáy, Âæïc Giãsu tæû giåïi thiãûu mçnh laì vë Muûc Tæí nhán laình, vë Muûc Tæí thiãn sai, Ngæåìi goüi "tãn tæìng con chiãn mäüt" vaì "dáùn chuïng âi àn", khaïc hàón nhæîng tãn träüm âaûo âãún tráún läüt âoaìn chiãn hay nhæîng keí chàn thuã khäng bao giåì daïm maûo hiãøm vç âoaìn chiãn.
Nãn âàûc biãût chuï yï âãún kiãøu noïi naìy vç trong Thaïnh Kinh, noï gåüi lãn:
- Cuäüc xuáút haình âáöu tiãn, khi Chuïa "dáùn âæa" Israel ra khoíi nhaì nä lãû. (Ex.3,10;6,27;Lev.19,36)
- Låìi cáöu nguyãûn cuía Mä-sã, xin Chuïa choün ngæåìi kãú vë mçnh "mäüt ngæåìi seî laînh âaûo cäüng âoaìn,.. seî âæa chuïng ra âi vaì dáùn chuïng tråí vãö" âãø chuïng khäng tråí thaình "nhæîng con chiãn khäng ngæåìi chàn giæî" (Nom.27,17)
- Cuäüc xuáút haình måïi vaì quyãút âënh âæåüc caïc tiãn tri loan baïo "Ta seî dáùn âæa âoaìn chiãn Ta ra khoíi muän dán, seî qui tuû chuïng laûi tæì muän næåïc vaì âæa chuïng vãö cäú hæång" (Ez.34,13)
 Thaình toaìn nhæîng låìi tiãn tri trong Cæûu Æåïc, Âæïc Giãsu laì Mä-sã måïi âãún qui tuû âoaìn dán måïi cuía Thiãn-Chuïa vaì "dáùn âáöu", "âæa hoü ra âi" trong cuäüc xuáút haình måïi, trãn âæåìng vãö miãön âáút hæïa.
Âæïc Giãsu duìng duû ngän naìy âãø "noïi våïi ngæåìi biãût phaïi" laì nhæîng ngæåìi, theo taïc giaí Tin Mæìng, "khäng hiãøu âiãöu Ngaìi muäún noïi våïi hoü" khiãún Ngaìi phaíi âãö cáûp âãún mäüt chuí âãö måïi, âoï laì cæía chuäöng chiãn.

2. Ñöùc Gieâsu laø cöûa chuoàng chieân.
"Cæía chuäöng chiãn" khi noïi thãú, Âæïc Giãsu muäún minh âënh mçnh laì läúi vaìo duy nháút âãø gàûp âæåüc âoaìn chiãn. "âãø âãún våïi âoaìn chiãn, hçnh aính cuía dán Thiãn-Chuïa, phaíi âi qua Âæïc Giãsu. Ngoaìi Ngaìi ra, khäng coìn caïch naìo âãø âãún våïi dán Chuïa vaì våïi sæû säúng." A. Marchadour, "Tin Mæìng theo thaïnh Gioan”, Centurion, 1992,p.143)
"Cæía chuäöng chiãn" khi noïi thãú, Âæïc Giãsu minh âënh mçnh laì cæía maì moüi con chiãn phaíi âi qua nãúu muäún âæåüc tæû do vaì âaût âæåüc sæû säúng viãn maîn. A. Machadour viãút tiãúp "ngoaìi Ngaìi ra, khäng ai coï thãø tæû xæng laì ngæåìi mang ån cæïu âäü cho nhán loaûi âæåüc. Âæïc Giãsu laì cæía vç qua Ngaìi, con ngæåìi âaût âæåüc ån cæïu âäü vaì âæåüc säúng. Khung caính âãön thåì cho pheïp ta láúy âån vë (cæía) âãø càõt nghéa täøng thã ø (âãön thåì) Âæïc Giãsu tæû giåïi thiãûu mçnh nhæ âãön thåì måïi trong âoï con ngæåìi tçm âæåüc tæû do vaì sæû säúng".

II. BÀI ĐỌC THÊM:

1. Nhöõng lieân heä döïa treân nhöõng hieåu bieát caù nhaân, töùc tình yeâu: (J. Potin "Âæïc Giãsu, lëch sæí âêch thæûc" Centurion,1994,p.370-371).
Væåüt trãn cuäüc luáûn chiãún, duû ngän vaì baìi hoüc aïp duûng minh âënh mäúi tæång giao giæîa Âæïc Giãsu vaì con ngæåìi, Chuïa biãút roî tãn nhæîng ngæåìi cuía mçnh, tæìng ngæåìi mäüt. Ngaìi khäng âáøy hoü âi træåïc mçnh, nhæng Ngaìi âi træåïc hoü, dáùn âæåìng cho hoü, noïi våïi tæìng ngæåìi, thu huït hoü hån laì hæåïng dáùn hoü. Tuy nhiãn, soïi khäng ngæìng laíng vaíng quanh âoaìn chiãn, rçnh bàõt nhæîng con chiãn báút cáøn xa âaìn. Vë muûc tæí âêch thæûc sàôn saìng âæång âáöu våïi soïi vç mäùi con chiãn âãöu quê giaï vä ngáön. Ngaìi sàôn saìng hi sinh maûng säúng vç chiãn. Mäúi tæång giao giæîa hoü hãût nhæ giæîa Chuïa Cha vaì Chuïa Con. Mäúi tæång giao áúy dæûa trãn sæû hiãøu biãút riãng tæ vãö nhau, nghéa laì trãn tçnh yãu. Cha biãút Con sàôn saìng tæû hiãún troün veûn cho nhæîng nguoìi bæåïc theo vaì seî bæåïc theo mçnh.

2. Chuùa laø muïc töû cuûa toâi. (H. Denis, trong “100 tæì ngæî âãø noïi lãn niãöm tin”. Descleïe de Brouwer,1993,p.149-150)
Chuïa Muûc tæí, Chuïa laì Âáúng maì våïi Ngaìi, trong caính ngheìo khoï cuìng cæûc, ngæåìi ta coï thãø caím nghiãûm vaì hiãøu biãút âæåüc sæû phong phuï cuía Thiãn Chuïa, âáy chênh laì niãöm uíi an måïi cuía muìa phuûc sinh naìy, caïc baûn âaî laì nhæîng con chiãn laûc,nhæng giæîa caïc baûn, Con Chiãn khäng tç vãút âaî hiãún mçnh, vaì hoïa thán thaình muûc tæí, thaình ngæåìi chàn giæî maûng säúng quê giaï cuía caïc baûn.
Muûc tæí, mäüt tæì dán daî, mäüt nghãö gáön nhæ âaî mai mäüt, coìn chàng chè coï nhæîng du khaïch láu láu gàûp tháúy nhæîng ngæåìi chàn cæìu vuìng sån cæåïc. Tuy nhiãn,chuïng ta váùn coìn nhaûy caím våïi hçnh aính cuía ngæåìi muûc tæí våïi chiãúc tuì vaì âang táûp hoüp âoaìn chiãn. hån thãú næîa, ngæåìi ta coìn xuïc âäüng khaïm phaï ra táúm loìng cuía Thiãn Chuïa, khi nhçn tháúy ngæåìi muûc tæí mãût laí vaïc con chiãn laûc trãn vai âæa tråí vãö báöy.
Âæïc Giãsu chênh laì ngæåìi muäún qui tuû vãö âaìn chiãn duy nháút cuía Ngaìi toaìn caí nhán loaûi âæåüc thaïnh táøy trong maïu con Chiãn. Âiãöu âoï khiãún ta khiãm täún. Täi muäún noïi ràòng Âæïc Giãsu khäng bao giåì quaí quyãút Ngaìi chè laì muûc tæí cuía caïc tên hæîu, vaì chuäöng chiãn cuía Ngaìi chè gäöm caïc Häüi Thaïnh Cäng giaïo. Trong Tin Mæìng cuía thaïnh Gioan, Ngaìi tæû giåïi thiãûu mçnh nhæ laì Âáúng âæa dáùn moüi ngæåìi thiãûn chê vãö âäöng coí xanh, laì Âáúng maì moüi ngæåìi âãöu coï thãø nháûn ra tiãúng Ngaìi.
Caïc linh muûc hay caïc muûc tæí khäng thãø tråí thaình såí hæîu chuí cuía nhæîng ngæåìi maì hoü phuûc vuû âæåüc. Vç thãú, tæì moüi âäöng coí, moüi tän giaïo, moüi nãön vàn hoïa âãöu coï thãø hæåïng vãö tråìi cáút tiãúng ca : "Chuïa laì muûc tæí täi, täi chàóng coìn thiãúu thäún chi"

3. Loan baùo nhöõng kyø coâng Chuùa ñaõ thöïc hieän nôi ta vaø nhôø ta. (Taìi liãûu cuía uíy ban khuyãún khêch ån goüi toaìn quäúc.)
Cáöu nguyãûn cho ån kãu goüi, ngaìy thãú giåïi cáöu nguyãûn ûcho ån kãu goüi ... nhæîng baín vàn âæåüc âãö nghë cho ngaìy naìy måìi goüi ta væìa tiãún bæåïc, væìa âi theo con âæåìng hoìa nháûp vaìo mäüt cäüng âoaìn thuäüc vãö Âæïc Giãsu. Vaì måìi goüi ta laìm theo thaïnh yï Thiãn Chuïa, nghéa laì laìm laình, säúng trong tçnh yãu näöng naìn vaì thæûc sæû cuía Âæïc Giãsu âäúi våïi thãú giåïi bàòng caïch säúng chiãún âáúu cho cäng bçnh vaì qua âoï biãøu toí táút caí "niãöm hi voüng trong chuïng ta".
Âæïc Kitä âaî ban låìi Ngaìi âãø noï tháúm nháûp, tàng træåíng, âám rãù vaì triãøn nåí trong âåìi säúng chuïng ta.
Låìi Chuïa måí cæía, måìi goüi âoïn nháûn vaì nháûn biãút sæû tuìy thuäüc vaìo Thiãn-Chuïa tçnh yãu, Thiãn-Chuïa cuía Âæïc Kitä Âáúng biãút roî tæìng tãn, tæìng ngæåìi chuïng ta. Ngaìi kãu goüi chuïng ta, khäng phaíi âãø nhäút ta trong voìng raìo mãnh mäng, háöu gçn giæî hay che chåí chuïng ta, nhæng nhæ nhæîng con chiãn maì Ngaìi kãu goüi, "Ngaìi âæa chuïng ra ngoaìi" âãø nghe roî tiãúng Ngaìi hån, ... vaì nháûn ra con âæåìng maì chênh Ngaìi âaî mæåün, trãn âoï, Ngaìi dáún bæåïc, ra âi vaì khåi dáûy niãöm tæû do "âãø ngæåìi ta âæåüc säúng vaì säúng däöi daìo"...
Táút caí nhæîng âiãöu naìy âãöu coï thãø thaình toaìn nhåì cáöu nguyãûn, tiãúp xuïc thán máût våïi Âæïc Kitä, nhåì mäúi dáy tçnh yãu thæåìng hàòng vaì liãn tuûc giæîa loìng våïi loìng. Vç thãú cáöu nguyãûn cho ån goüi coï nghéa laì cáöu nguyãûn cho con ngæåìi, chia seí cuäüc säúng cuía Thiãn-Chuïa, tråí nãn nhæîng cäüng âoaìn, xáy dæûng nhæîng cäüng âoaìn Kitä hæîu säúng âäüng vaì têch cæûc.
Coìn vãö ån goüi linh muûc, tu sé, âæìng mong nhæîng pheïp laû. Khäng phaíi chè cáöu nguyãûn laì coï nhiãöu ån goüi âáu... âiãöu âoï chè coï âæåüc nãúu chuïng ta cáöu nguyãûn trong chán lê, bàòng caïch xáy dæûng nhæîng cäüng âoaìn Kitä hæîu thæûc sæû. Luïc báúy giåì, tæû nhiãn seî coï nhæîng låìi âaïp traí.
Nãúu häm nay, 5 triãûu tên hæîu Phaïp tuyãn xæng niãöm tin vaìo Âæïc Kitä âaî chãút vaì phuûc sinh, thç seî coï 5 triãûu “ån goüi" vç thãú ngaìy nay, cáön phaíi noïi lãn âiãöu mçnh säúng, điãöu mçnh tin, loan baïo nhæîng kç cäng Thiãn-Chuïa âaî thæûc hiãûn nåi ta vaì qua ta.

 

CHÚA NHẬT V PHỤC SINH

TA LÀ ĐƯỜNG LÀ SỰ THẬT VÀ LÀ SỰ SỐNG
(Ga 14, 1-12)

I. VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI:

1. Ñöôøng veà vôùi Chuùa.
Cuîng giäúng nhæ chuïa nháût tåïi, baìi Phuïc Ám Chuïa nháût thæï 5 phuûc sinh häm nay trêch tæì chæång 14, "diãùn tæì sau bæîa tiãûc li" våïi nhæîng tæì nhæ "ra âi" “âi tåïi" "tråí laûi", "con âæåìng", A. Marchadour minh âënh chæång naìy "âæåüc kãút cáúu xung quanh cuäüc tråí vãö våïi Chuïa Cha cuía Chuïa Con vaì vai troì âäüc nháút cuía Chuïa Con trong viãûc âæa dáùn caïc män âãû cuía mçnh vãö våïi Chuïa Cha." (Tin Mæìng Gioan, Centurion, 1992, p.190)
- Nhæîng låìi loan baïo liãn tiãúp vãö viãûc Judas phaín bäüi ("1 trong caïc con seî phaín Tháöy" :14:2) vãö cuäüc ra âi dæït khoaït cuía riãng Ngaìi ("Tháöy chè coìn åí våïi caïc con mäüt êt næîa" :13,33) vaì vãö viãûc Phãrä chäúi tháöy (træåïc khi gaì gaïy, con âaî chäúi Ta ba láön :13,38) âaî khiãún caïc män âãû hoang mang. X. Leïon Dufour nháûn xeït, "sæû hoang mang áúy khäng chè vç phaíi xa caïch Ngæåìi thæûc sæû cáön thiãút cho âåìi hoü, maì cuîng coìn vç näùi tháút voüng sáu xa khi læåüng giaï cäng viãûc cuía Chuïa Jesus maì hoü âang träng mong kãút quaí" (Âoüc Tin Mng theo thaïnh Gioan, táûp 3, Seuil,1993, tr.90)
Do âoï måïi coï låìi Âæïc Giãsu kãu goüi: "Loìng anh em âæìng xao xuyãún, haîy tin vaìo Thiãn-Chuïa vaì haîy tin vaìo Tháöy" chåï gç hoü cáûy dæûa væîng vaìng vaìo låìi Ngaìi vaì vaìo chênh Ngaìi. Dufour viãút tiãúp: "Âæïc Giãsu dæûa trãn niãöm tin cuía ngæåìi Do Thaïi, laì nhæîng ngæåìi khäng bao giåì tæû coi mçnh âäüc láûp trong mäúi liãn hãû våïi Thiãn-Chuïa, Âáúng ban cho thuû taûo sæû kiãn væîng cuía âaï taíng. Ngaìi cuîng dæûa vaìo niãöm tin vaìo chênh mçnh Ngaìi: nãúu hoü coìn coï thãø theo Ngaìi, caïc män âãû phaíi dæûa vaìo Ngaìi, nhæ dæûa vaìo chênh Thiãn-Chuïa ."
Vç thãúú nãúu Ngaìi coï ra âi, thç cuîng chênh laì âãø tråí laûi nhaì Cha, nåi Ngaìi seî "doün chäù sàôn cho hoü".
- Tæì chuí âãö "ra âi" baìi diãùn tæì sau bæîa tiãûc li bàõt sang "âæåìng âi". "Tháöy åí âáu, anh em cuîng seî åí âoï. Tháöy âi âáu, thç anh em biãút âæåìng räöi" Âæïc Giãsu baío hoü nhæ váûy. Báúy giåì Täma måïi hoíi: "Thæa Tháöy, chuïng con khäng biãút Tháöy âi âáu laìm sao chuïng con biãút âæåüc âæåìng?" Chuïa long troüng âaïp "Tháöy, Tháöy chênh laì âæåìng,laì sæû tháût vaì laì sæû säúng. Khäng ai âãún âæåüc våïi Chuïa Cha maì khäng qua Tháöy." X. Léon Dufour âaî diãùn dëch cáu noïi áúy nhæ sau: "Täma, nãúu anh tin Tháöy laì chán lê vaì laì sæû säúng, chàõc chàõn anh seî tçm tháúy nåi Tháöy con âæåìng âæa vãö våïi Cha, âoï laì nåi Tháöy âi, âoï laì nåi Tháöy åí." Âæïc Giãsu, trong âoaûn 10,9, âaî tæû coi mçnh nhæ laì "cæía" dáùn âãún sæû säúng, åí âáy, laûi noïi nhæ mçnh âaî åí nåi maì caïc män âãû muäún âãún. Bàòng cäng thæïc vàõn goün naìy, Ngaìi thæûc sæû cäng bäú vãö tênh âäöng nháút seî coìn vang voüng maîi trong nãön chiãm niãûm Kitä giaïo" (p.100)

2. Baøy toû Chuùa Cha.
 Tháúy thãú, Philipphã måïi lãn tiãúng "Thæa Tháöy, xin toí cho chuïng con tháúy Chuïa Cha, nhæ thãú laì chuïng con maîn nguyãûn räöi" vaì Âæïc Giãsu âaïp "Ai tháúy Tháöy, laì tháúy Chuïa Cha räöi". Troün cuäüc säúng, moüi låìi noïi vaì viãûc laìm cuía Âæïc Giãsu laì mäüt biãøu hiãûn hoaìn haío hçnh aính cuía Chuïa Cha vç Ngaìi kãút håüp máût thiãút våïi Chuïa Cha "Anh khäng tin ràòng Tháöy åí trong Cha vaì Cha åí trong Tháöy æ?" cuäüc säúng cuía Ngaìi, âoï laì Chuïa Cha, cäng viãûc cuía Ngaìi laì do chênh Chuïa Cha thæûc hiãûn qua Ngaìi, låìi Ngaìi noïi âoï laì tæ tæåíng cuía Chuïa Cha.

3. . . . Ñöùc Gieâsu tieáp tuïc laøm vieäc qua caùc moân ñeä.
 Nhàõc laûi låìi måìi goüi tin tæåíng trãn, Âæïc Giãsu bàõt âáöu maûc khaíi cho caïc män âãû biãút cuäüc säúng måïi cuía hoü seî ra sao : "Ai tin vaìo Tháöy, thç ngæåìi âoï cuîng seî laìm âæåüc nhæîng viãûc Tháöy laìm. Ngæåìi âoï coìn laìm nhæîng viãûc låïn hån næîa, vç Tháöy âãún cuìng Chuïa Cha." Cho duì, hay âuïng hån, vç Ngaìi vãö cuìng Cha, maì caïc män âãû seî säúng cuäüc säúng maì Ngaìi khäng ngáön ngaûi âäöng nháút våïi cuäüc säúng cuía chênh mçnh. X. Leïon Dufour coìn minh âënh thãm : "Khäng phaíi vç cuäüc säúng cuía Ngaìi váùn laì gæång máùu, nhæng vç chênh Ngaìi seî laì taïc giaí âêch thæûc cuía nhæîng viãûc maì hoü thæûc hiãûn. Âoüc ké baín vàn, ngæåìi ta thæûc sæû tháúy ràòng ngæåìi tên hæîu seî khäng laìm nhæîng viãûc Âæïc Giãsu âaî laìm, nhæng laì nhæîng viãûc Ngaìi âang laìm vaì seî laìm : Chuïa Cha tiãúp tuûc âæåüc tän vinh nåi tráön thãú. Tæì âáy, sæï mãûnh Ngaìi âaî hoaìn táút phaíi âåm bäng kãút traïi trong thåìi gian vaì khäng gian : vaì âiãöu áúy âæåüc thãø hiãûn nåi haình âäüng cuía caïc tên hæîu.” (p.107)

II. BAØI ÑOÏC THEÂM:

1. Thieân Chuùa thaät gaàn”. (H. Vulliez, Descleïe de Brouwer, 1992, tr.61-62).
Khi Phuïc Ám thæï tæ âæåüc viãút ra, chàõc chàõn "nhæîng biãún cäú " âaî xáøy ra hån 60 nàm, caïc cäüng âoaìn tên hæîu åí Palestine, Tiãøu AÏ, vaì caïc nåi khaïc âaî chëu ráút nhiãöu âau khäø. Hoü phaíi chëu nhæîng cuäüc táún cäng dai dàóng trong caïc vuìng coï ngæåìi Do Thaïi. Hoü âaî bë chênh quyãön Räma baïch haûi triãön miãn. Âàûc biãût niãöm tin cuía caïc Giaïo Häüi Tiãøu AÏ luïc áúy âaî ruïng âäüng træåïc nhæîng luäöng tæ tæåíng cho ràòng mçnh khiãún ngæåìi ta quaï tin vaìo tråìi cao maì khinh chã tráön thãú, chè âãø yï âãún tám häön maì coi thæåìng thán xaïc. Nhæng cuäüc säúng thãú tráön vaì sæû phuûc sinh coï âäúi nghëch âãún âäü phaíi khæåïc tæì cuäüc säúng naìy âãø säúng cuäüc säúng kia khäng? Chàóng leî cæï phaíi traíi qua caïi chãút måïi âæåüc phuûc sinh hay sao?
Taïc giaí Tin Mæìng nháún maûnh : ngæåìi tên hæîu âaî säúng cuäüc säúng phuûc sinh ngay trãn tráön thãú naìy. Niãöm tin vaìo Âæïc Kitä hàòng säúng âaî xoïa boí khoaíng caïch giæîa nhæîng sæû dæåïi âáút vaì trãn tråìi, Niãöm tin áúy giuïp ngæåìi ta säúng ngay trãn tráön thãú cuäüc säúng vénh hàòng cuía Thiãn-Chuïa ...
Chán lê tháût khoï hiãøu vaì khoï cháúp nháûn. Cuîng thãú, Âæïc Giãsu, nhaì sæ phaûm âaûi taìi, âãø dáùn âæa ngæåìi nghe vaìo trong aïnh saïng cuía Thiãn-Chuïa, âaî låüi duûng sæû cæïng tin cuía Täma vaì Philipphã "Thæa Tháöy chuïng täi khäng biãút Tháöy âi âáu, laìm sao chuïng con âæåüc âæåìng ?" Láöm låïn ! âáy khäng phaíi con âæåìng tênh âæåüc bàòng kilämeït. Khoaíng caïch giæîa cuäüc säúng tráön thãú vaì cuäüc säúng phuûc sinh khäng låïn hån khoaíng caïch giæîa Chuïa Cha vaì Chuïa Con : Cha åí trong Con vaì Con åí trong Cha.
Niãöm hi voüng vãö âiãöu âaî coï vaì chæa coï seî triãøn nåí vaì âám bäng trong loìng ngæåìi tên hæîu nhæ váûy âoï.

2. Hoaìn caính cuía cäüng âoaìn tên hæîu giæîa cuäüc säúng tráön gian cuía Âæïc Giãsu vaì ngaìy Ngaìi tråí laûi. (“Ceïleïbrer”, säú 258, tr.34, thaïng 3.1996)
Âáu laì vë trê cuía cäüng âoaìn tên hæîu giæîa cuäüc säúng tráön gian cuía Âæïc Giãsu vaì ngaìy Ngaìi tråí laûi?
Træåïc tiãn, cäüng âoaìn tên hæîu säúng trong niãöm hi voüng vä båì mäüt ngaìy kia seî âæåüc säúng våïi Âæïc Giãsu trong nhaì Cha Ngaìi : "Tháöy åí âáu, anh em cuîng seî åí âoï" sau âoï, hoü biãút âæåüc âæåìng âi : "Tháöy laì âæåìng laì sæû tháût vaì laì sæû säúng ; khäng ai âãún âæåüc våïi Chuïa Cha maì khäng qua Tháöy" hån thãú næîa, hoü coìn biãút âæåüc Chuïa Cha, hoü âaî "tháúy" Ngaìi : "Ai tháúy Tháöy, laì tháúy Chuïa Cha" Tháúy Âæïc Giãsu, dé nhiãn laì biãút âæåüc Ngaìi bàòng niãöm tin, laì "nháûn ra" Ngaìi laì Con duy nháút, laì låìi saïng taûo vénh hàòng âãún âäü khi Âæïc Giãsu noïi, täi biãút ràòng Ngaìi noïi nhæîng låìi cuía Chuïa Cha, khi Âæïc Giãsu haình âäüng, chæîa laình, tha täüi, phoï mçnh cho âao phuí, täi biãút ràòng Ngaìi laìm theo yï Chuïa Cha vaì Chuïa Cha âaî chæîa laình, tha täüi, tæû hiãún hoaìn toaìn qua Ngaìi. täi biãút Cha vaì Con laì "mäüt".
Nhæ váûy, cäüng âoaìn tên hæîu âaî thæûc sæû biãút Âæïc Giãsu bàòng âæïc tin, âãún læåüt mçnh coï thãø nháûn biãút Chuïa Cha vaì hoaìn thaình nhæîng cäng viãûc cuía Ngæåìi âæåüc khäng? âæåüc, Âæïc Giãsu noïi thãú vaì coìn hån thãú næîa, "vç Tháöy âãún cuìng Chuïa Cha". Qua nhæîng låìi naìy, ta coï thãø hiãøu ràòng Âæïc Giãsu phuûc sinh âaî màc laûi troün veûn sæïc maûnh siãu nhiãn maì Ngaìi âaî tæû giåïi haûn khi màûc láúy thán pháûn täi âoìi, màûc láúy nhán tênh. Cuîng váûy, mäüt khi âaî âæåüc måìi goüi tiãúp tuûc sæû nghãûp cuía Chuïa Giãsu trãn tráön gian, cäüng âoaìn caïc täng âäö, bàòng âæïc tin cuía mçnh, thæûc sæû thäng pháön våïi Thiãn-Chuïa. Hoü laì cäüng âoaìn nhæîng ngæåìi con trong Âæïc Giãsu, Thiãn-Chuïa Con.

 

CHÚA NHẬT VI PHỤC SINH

THẦY SẼ KHÔNG BỎ CÁC CON MỒ CÔI
(Ga 14, 15-21)

I. VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI:

1. Lời hứa sẽ hiện diện giữa các môn đệ.
Âoaûn Tin Mæìng chuïa nháût træåïc kãút thuïc våïi loìi loan baïo ràòng sæï mãûnh cuía Âæïc Giãsu seî sinh hoa kãút quaí trong thåìi gian vaì khäng gian qua viãûc laìm cuía caïc tên hæîu "ai tin vaìo Tháöy seî laìm âæåüc nhæîng viãûc Tháöy laìm. Ngæåìi âoï coìn laìm nhæîng viãûc låïn hån næîa vç Tháöy âãún cuìng Chuïa Cha".
- Træåïc tiãn. cáu 16 vaì 17 laì låìi hæïa ban Chuïa Thaïnh Tháön : "Tháöy, Tháöy seî xin Chuïa Cha, vaì Ngæåìi seî ban cho anh em mäüt Âáúng Baío Tråüü khaïc âãún åí våïi anh em luän maîi : âoï laì Tháön Khê sæû tháût "
Thaïnh Tháön âæåüc Chuïa Cha ban xuäúng nhåì sæû can thiãûp cuía Chuïa Con. Nhiãûm vuû cuía Ngaìi laì: "åí våïi anh em luän maîi". Âáy cuîng chênh laì yï nghéa cuía tãn Ngaìi. Vç thãú, âáy laì mät sæû hiãûn diãûn thæåìng xuyãn, "luän maîi", sæû hiãûn diãûn nhæ boïng våïi hçnh bãn ngæåìi tên hæîu vaì åí våïi hoü "våïi anh em... bãn caûnh anh em... trong anh em."
- Ngaìi âæåüc goüi laì Âáúng Baío Tråü. Ngaìi seî laì traûng sæ cuía caïc män âãû Chuïa vaì laì Âáúng baìo chæîa cho hoü. Ngaìi seî phuû læûc vaì giuïp âåî hoü trong vuû kiãûn säúng coìn maì "thãú gian" theo âuäøi âãø chäúng laûi Âæïc Giãsu vaì caïc män âãû Ngaìi.
- Ngaìi âæåüc goüi laì Tháön Khê sæû tháût : Ngaìi seî âaìo sáu âæïc tin cho hoü, laìm cho hoü hiãøu biãút "táûn âaïy loìng” cuäüc säúng Âæïc Giãsu vaì sæï âiãûp cuía Ngaìi (xem Gioan 14,25;16,12-15) Ngaìi seî soi roüi nhæîng hoaìn caính måïi vaì báút ngåì maì caïc män âãû seî phaíi âæång âáöu.
- Tiãúp theo sau, caïc cáu 18-20 laì låìi hæïa ban mäüt kiãøu Hiãûn Diãûn khaïc cuía Âæïc Giãsu : "Chàóng bao láu næîa, thãú gian seî khäng coìn tháúy Tháöy. Pháön anh em, anh em seî âæåüc tháúy Tháöy vç Tháöy säúng vaì anh em cuîng seî âuåüc säúng."
Låìi hæïa vãö sæû hiãûn diãûn hoaìn toaìn måïi meí naìy seî tråì thaình hiãûn thæûc vaìo chênh ngaìy lãù Phuûc sinh : caïc män âãû seî tháúy Âáúng Phuûc sinh (Gioan 20, 20-25) nhæng nhæîng cuäüc hiãûn ra trong dëp phuûc sinh khäng phaíi laì kãút thuïc. Chuïng måí maìn cho mäüt Sæû Hiãûn Diãûn keïo daìi, mäüt sæû Hiãûn Diãûn daình riãng cho con màõt âæïc tin. Cuäüc "âàng trçnh" cuía Âæïc Giãsu khåi nguäön mäüt kè nguyãn måïi "khåíi âáöu våïi vinh quang phuûc sinh cuía Chuïa vaì keïo daìi trong thåìi gian våïi Giaïo-Häüi. Trong suäút cuäüc säúng chuïng ta, Chuïa âãún, chuïng ta nhçn tháúy ngæåìi. âáy khäng coìn phaíi laì thë kiãún cuía caïc män âãû træåïc Âáúng Phuûc Sinh næîa maì laì mäüt thë kiãún cuía niãöm tin giuïp ta yï thæïc vãö sæû hiãûn diãûn vaì hiãûp thäng âåìi säúng" (Assembleïes du Seigneur säú 27,p.42).

2. Cuoäc soáng vónh haèng ñaõ khôûi ñaàu.
Trong thåìi âaûi cuía Giaïo-Häüi, Âæïc Giãsu hiãûn diãûn cuìng våïi Chuïa Cha vaì Chuïa Thaïnh Tháön. Tiãúp sau sæû hiãûn diãûn lëch sæí cuía Ngaìi laì mäüt kiãøu hiãûn diãûn måïi mang laûi cho chuïng ta mäüt nãúp säúng måïi, håüp nháút våïi Âæïc Giãsu vaì Chuïa Cha dæåïi sæû hæåïng dáùn cuía Chuïa Thaïnh Tháön.
Nhæ váûy, våïi caïc män âãû, âåìi säúng vénh cæíu âaî bàõt âáöu. Cuäüc säúng hoü "ngay trãn tráön gian naìy âaî tæång âæång våïi cuäüc säúng cuía Âáúng Phuûc Sinh, âaî thäng pháön våïi cuäüc säúng cuía chênh Thiãn-Chuïa, våïi cuäüc säúng cuía Chuïa Ba Ngäi. cuäüc säúng hoü laì mäüt sæû hiãûp thäng, trong tçnh yãu, våïi tæìng ngäi Thiãn-Chuïa âang åí trong hoü." (M.E.Boismard vaì A. Lamouille, "Tin Mæìng thaïnh Gioan" Cerf,p.360) "Chàóng bao láu næîa, thãú gian seî khäng coìn tháúy Tháöy, Pháön anh em, anh em seî âæåüc tháúy Tháöy vç Tháöy säúng vaì anh em cuîng seî säúng, Âæïc Giãsu hæïa nhæ váûy. Ngaìy âoï, anh em seî biãút ràòng Tháöy åí trong Cha Tháöy, anh em åí trong Tháöy vaì Tháöy åí trong anh em."

II. BAØI ÑOÏC THEÂM:

1. Moät cuoäc soáng môùi: (G. Bessieìre, trong "Thiãn-Chuïa tháût gáön. Nàm A”. Desclée de Brouwer, 1992, tr.64-65).
Roî raìng, âiãöu quan troüng åí âáy laì coï âæåüc mäúi tæång liãn caï biãût våïi Âæïc Giãsu hay âuïng hån, âæåüc "yãu mãún Ngaìi". Caïc Phuïc Ám Mt., Mc., Lc. måìi goüi ta tiãún vaìo næåïc Tråìi. Phuïc Ám Gio-an, xuáút hiãûn trãù hån, khäng âãö cáûp âãún Næåïc Tråìi áúy næîa maì táûp trung vaìo Âæïc Giãsu vaì qui kãút vãö Ngaìi.
Hçnh aính cáy nho vaì caình nho biãøu hiãûn roî rãût vãö âiãöu âoï : mäùi män âãû âãöu kãút håüp træûc tiãúp våïi Âæïc Kitä. Ngæåìi ta âaî coï thãø noïi vãö "tênh âäöng âàóng" cuía thaïnh Gioan : theo Ngaìi, moüi ngæåìi phaíi säúng våïi Âæïc Giãsu bàòng mäúi dáy tçnh yãu. Trong loìng cäüng âoaìn tên hæîu, mäùi Kitä hæîu træûc tiãúp trao âäøi våïi Ngaìi.
Tçnh yãu naìy khäng haìm häö. Noï khäng phaíi laì mäüt thuïc âáøy caím tênh vãö mäüt hçnh aính må häö qua âoï ngæåìi ta coï thãø dæû phoïng nhæîng giáúc må cuía mçnh. "Nãúu anh em yãu mãún Tháöy, anh em seî giæî caïc âiãöu ràn cuía Tháöy." Âáy laì mäüt tçnh yãu våïi nhæîng viãûc laìm cuû thãø. Toaìn bäü Phuïc Ám laì mäüt bàòng chæïng vãö cuäüc säúng måïi âaî khåíi âáöu nåi Âæïc Giãsu: Phaíi taïi sinh, phaíi måí màõt, phaíi uäúng næåïc voüt lãn tæì nguäön suäúi, phaíi àn baïnh hàòng säúng, phaíi âãø Âæïc Giãsu ræía chán vaì chuïng ta phaíi laìm âáöy tåï cho nhau... Mäüt cuäüc säúng khaïc âaî khai måí, cuäüc säúng cuía chênh Thiãn-Chuïa, âuïc kãút nåi Âæïc Giãsu.
TIN MÆÌNG cuía thaïnh Gioan diãùn ra trong báöu khê càng thàóng. Sæû càõt âæït våïi våïi Do Thaïi giaïo âaî chên muìi, vaì sæû âäúi âáöu tháût gay go. Taïc giaí Tin Mæìng thæï tæ hãút sæïc cæïng ràõn våïi ngæåìi Do Thaïi. Ngaìi nháún maûnh âãún tháön tênh cuía Âæïc Giãsu, Âáúng tæì tråìi xuäúng. Tæì nay, ngoaìi Ngaìi ra, khäng coìn con âæåìng naìo khaïc. Caïc män âãû seî khäng ngæìng âoïn nháûn sæû tæû do cuía Ngaìi vaì cuìng khaïm phaï våïi Ngaìi cuäüc säúng yãu thæång.
Nhæng laìm sao coï thãø säúng thán thæång âæåüc våïi mäüt ngæåìi maì kè niãûm âaî xa måì trong quaï vaîng ? Khi Tin Mæìng thaïnh Gioan âæåüc soaûn thaío xong, thãú hãû nhæîng chæïng nhán bàòng xæång bàòng thët âaî qua âåìi. Chè coìn laûi nhæîng baín vàn, nhæîng låìi chæïng, nhæîng máøu chuyãûn vaì nhæîng låìi noïi uyãn thám cho pheïp ta khäng ngæìng gàûp gåî Âáúng vénh hàòng. Song coìn hån thãú næîa: Coìn coï mäüt Âáúng luän åí caûnh bãn, nhæ mäüt traûng sæ hay mäüt Âáúng Baío Tråü, âoï laì Tháön Khê sæû tháût.
Nhåì Ngaìi. Cäng viãûc cuía Âæïc Giãsu seî luän hiãûn thæûc træåïc nhæîng hoaìn caính måïi. Thaïnh Tháön seî khäng lûp laûi nhæîng låìi noïi cuî moìn nhæng Ngaìi caïch tán chuïng theo doìng âåìi luän luän âäøi måïi.
 Chênh trong Ngaìi maì mäúi tæång giao dáúu aïi våïi Âæïc Giãsu seî khäng ngæìng näúi kãút nhæîng con ngæåìi qua caïc thãú kè. Noï hãût nhæ mäüt ngoün læía luän chiãúu saïng vaì sæåíi áúm coîi loìng.

2. Moät Ñaáng Baûo trôï khaùc: H. Denis, trong "100 tæì ngæî noïi lãn niãöm tin" Desclee de Brouwer, 1993, tr.161-162.
Âáúng Baío Tråü, laì tæì Hi Laûp, thoaût âáöu, theo nghéa luáût phaïp, tæïc laì traûng sæ, ngæåìi tråü lê, ngæåìi baío vãû. Vãö sau, tæì naìy âæåüc duìng theo nghéa räüng âãø chè ngæåìi an uíi vaì ngæåìi can thiãûp giuïp. Coï âiãöu laû laì tæì naìy âæåüc aïp duûng cho Âæïc Giãsu (trong thæ thæï nháút cuía thaïnh Gioan, 2,1) : "Nhæng nãúu ai phaûm täüi, thç chuïng ta coï mäüt Âáúng Baío Tråü træåïc màût Chuïa Cha âoï laì Âæïc Giãsu Kitä, Âáúng Cäng Chênh" coìn háöu hãút thç chè Chuïa Thaïnh Tháön. Vç thãú, nãúu gaïn cho Chuïa Thaïnh Tháön moüi pháøm tênh trãn, ta seî tháúy, nãúu chè coï mäüt mçnh, ngæåìi ta seî khoï säúng trung thaình våïi Âæïc Kitä tåïi mæïc naìo.
Nhæng âáy cuîng chênh laì sæï âiãûp cuía Âæïc Giãsu: caïc con seî khäng mäö cäi, mäüt mçnh. Âæïc Kitä vä hçnh nhæåìng chäù cho Âáúng Baío Tråüû caïc tên hæîu, mang âãún cho hoü nhæîng khaïng âäüc täú cáön thiãút cho cuäüc säúng cäng chênh theo tin mæìng giæîa muän vaìn thæí thaïch. Täút âeûp biãút bao khi tin ràòng- tæì khi Âæïc Giãsu ra âi trong ngaìy Ngaìi lãn tråìi- táút caí nhæîng gç âæåüc Âæïc Kitä thæûc hiãûn trãn tráön gian naìy mäüt caïch hæîu hçnh âãöu do nhæîng ngæåìi nam vaì ngæåìi con âaî maûo hiãøm våïi niãöm tin duîng caím, âäi khi phaíi traí giaï bàòng chênh caïi chãút cuía mçnh.
Chênh vç hoü khäng âån âäüc. Vë âaûo diãùn vé âaûi, håüp nháút toaìn caí vuî truû, håüp nháút Giaïo-Häüi chênh laì Âáúng Baío Tråü vä hçnh, Ngæåìi án ban sæïc maûnh traìn trãö cho nhæîng ngæåìi yãúu âuäúi nháút vaì loìng can âaím cho nhæîng keí nhaït âaím nháút. Niãöm uíi an cuía Chuïa Thaïnh Tháön seî nhæ ngoün læía lan truyãön giæîa caïc tên hæîu tæì âåìi naìy cho tåïi âåìi kia.

 

CHÚA NHẬT VII PHỤC SINH

“GIAO ƯỚC THIÊNG LIÊNG
KẾT THÚC TRONG KINH NGUYỆN”

(Ga 17, 1-11)

I. VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI:
Cũng như bài ca của Môsê và lời chúc lành trên các chi tộc Israel, kết thúc ba lời từ biệt của Môsê, trong sách Dân Số (32-33), lời kinh cao cả của Đức Giêsu mà hôm nay chúng ta đọc phần đầu, kết thúc ba lời từ biệt (ch. 14-16 của Ga.) của Đức Giêsu.
Không phải do tác giả được linh ứng - một sự tương đồng hay một kỹ thuật văn chương - nhưng là ý muốn có chủ ý trình bày trong Đức Giêsu một Môsê mới, Đấng trung gian của Giao ước mới.
J.Radermarker nhận xét: “Gioan muốn cho các độc giả thấy được cách Đức Giêsu, Môsê mới, hướng dẫn tất cả lịch sử nhân loại cho đến ngày cánh chung trong đời sống Ba Ngôi Thiên Chúa!”. Ông tiếp: “Thật vậy, chính lời kinh của Đức Giêsu làm sáng tỏ lời kinh của Môsê, chứ không phải là ngược lại. Thật ra khi Môsê, nói đến Thiên Chúa ở Ngôi thứ ba (Đnl 32,1-33.35) trước khi tự mình trở thành người loan báo các phép lành của Yavê dành cho mỗi chi họ được chọn (Đnl 33,6-29), phần Ngài, Đức Giêsu thưa trực tiếp với Cha mình ở ngôi thứ hai, từ giữa cộng đoàn tông đồ đã có tính Giáo Hội. Một người trung gian của cả hai bên nói: Môsê triển khai những ơn lành của Thiên Chúa ban cho dân Người, một dân luôn luôn bất trung về ơn gọi của mình, và mặc khải niềm hy vọng mà một quá khứ đầy khích lệ và sự chăm sóc của Thiên Chúa đã hình thành. Đức Giêsu cầu nguyện như là Đấng mà trong Ngài sẽ diễn ra công việc của Chúa Cha, và đồng thời như là Đấng sẽ nên một với các môn đệ, là những người mà Ngài sẽ thông ban vinh quang đang bao bọc Ngài. Từ Đệ Nhị Luật chuyển sang Phúc Âm, cho thấy được sự đi vào chiều sâu do Đức Giêsu mang đến cho chân lý được chiêm niệm. Sự thật do Môsê khi ấy chỉ là hình bóng, như mở đầu Phúc Âm thánh Gioan đã loan: “Bởi vì Lề luật do Môsê ban cho, còn ân sủng và chân lý thì do Đức Giêsu đem đến” (1,17) (Assemlée du Seigneur, số 29, trang 48-49).
Một lời kinh hướng về Cha và về các môn đệ
- Một lời kinh vào “GIỜ” mà Đức Giêsu sẽ đi qua từ thế gian về cùng Cha. Giờ khổ nạn và giờ của cái chết, nhưng một cách không thể chia cắt cũng là giờ tuyên dương vinh quang của Ngài.
J.Radermaker diễn giải: “Một cách nào đó, lời kinh này thực hiện việc Đức Giêsu về với Cha, bởi vì “giờ” của Ngài mà thánh Gioan nói đến ở đầu và cuối bài giảng sau bữa Tiệc Ly... là giờ của sự chết và của sự sống lại hay là tương đương với việc tôn vinh, tôn vinh Ngài trên thập giá và trên các tầng trời... sự tôn vinh ấy bao gồm mọi tín hữu cho đến tận thế. “Giờ” này cũng là giờ của Giáo Hội, trong lòng Giáo Hội Chúa sống lại sẽ là Đấng cầu bầu phổ quát và cũng là Đấng trung gian duy nhất” (O.C. p.50).
- Một lời kinh mở rộng bởi tiếng “CHA”. Cho đến lúc đó, trong ba lời từ biệt Đức Giêsu nói với các môn đệ. Bấy giờ “ngước mắt lên trời” Ngài thưa với Cha:
- Một lời kinh được kết cấu với ba động từ: làm vinh danh, ban, biết.
* “Làm vinh dang” theo Kinh Thánh có nghĩa là biểu dương hữu thể sâu xa của ai đó, tính cách hiện diện được nhận ra và ảnh hưởng của người đó.
Tác giả viết: “Trong thánh Gioan, người ta thấy Cha thông ban cho Con quyền năng, sự thánh thiện, tính năng động của hữu thể mình. Mặt khác, chính nhờ đó mà tính cách làm Cha được bày tỏ. Khi thi hành cho đến cùng công việc ở dưới đất mà Ngài phải thực hiện: đem mọi người tới chỗ nhận biết rằng tình yêu Thiên Chúa là căn bản sự sống của mọi người và rằng Ngài gợi lên cho mỗi người trong trường hợp cá biệt của họ, đây Đức Giêsu vào trong vinh quang của Ngài, tất cả vinh quang do Cha ban cho. Cái chết của Ngài mở đầu sự tôn vinh của Ngài và đòng thời sự tôn vinh của cả nhân loại, bởi vì nhân loại có thể khám phá ra Cha như là nguồn và sự viên mãn của sự sống mình. Sự tôn vinh Chúa Con không thể tách rời sự tôn vinh loài người: “Vinh quang Chúa Cha chính là con người sống và sự sống của con người chính là chiêm ngắm Thiên Chúa”, thánh Irênê đã thốt lên như thế. Và con người sống (l'homme vivant) phải chăng là Đức Giêsu Kitô mà lời nói đầu của thánh Gioan đã tuyên bố: “Ngài là sự sống của mọi loài” (1,4. p.57).
* “Ban cho” động từ lặp lại đến 10 lần trong đoạn này và 15 lần chỉ trong chương 17 của Gioan, cho thấy ân huệ nối tiếp nhau mà chúng ta là những người thừa hưởng: từ Cha đến Con và từ Con đến loài người.
Đối với tác giả của Phúc Âm, một cách để làm nổi rõ sự ân cần của tình yêu là nhấn mạnh rằng mọi sự lành đều do Cha mà ra.
* “Biết” không phải là nhận biết bề ngoài chỉ bằng trí óc, nhưng là một sự nhận biết phát triển qua một sự thân mật và một kinh nghiệm tiệm tiến... Theo Kinh Thánh, biết, bao hàm cả con người, vừa là nhận ra, hiểu biết và thông hiệp. Muốn biết người nào phải dùng tới cả một nguồn lực, mọi khả năng của hữu thể: biết Thiên Chúa là hiến thân cho Ngài. Suốt thời gian sống ở trần gian và qua cái chết của Ngài, khi tỏ ra cho loài người sự thật về Chúa Cha, Đức Giêsu cống hiến cho họ con đường đi tới Thiên Chúa. Sứ điệp Tin Mừng được tóm tắt lại trong tin vui này: trong Đức Giêsu, chúng ta được đưa tới Chúa Cha” (O.C. p.60).
- Một lời kinh đưa ta vào trung tâm của sự liên hệ giữa Đức Giêsu với Chúa Cha và với các môn đệ Ngài. Lời kinh mặc khải sự thông hiệp sâu xa của Đức Giêsu với Chúa Cha, và sự thông hiệp sâu xa của Ngài với các môn đệ Ngài.
* Thông hiệp sâu xa với Chúa Cha, Đức Giêsu là Con, đã nhận tất cả nơi Cha ("Tất cả những gì Cha ban cho Con đều từ Cha mà ra...").
Tôn vinh Cha bằng cuộc sống con cái trọn vẹn của Ngài, với cuộc khổ nạn, cái chết và sự sống lại, Đức Giêsu làm sáng tỏ vinh quang của Cha, cùng lúc ấy Chúa Cha cũng làm sáng tỏ vinh quang của Ngài: Ngài mặc khải tấm lòng của Cha và hữu thể sâu xa của Ngài bằng cách mặc khải rằng tình yêu nhưng không của Thiên Chúa đối với loài người đạt tới sự điên khùng khôn tả.
* Hiệp thông sâu xa với các môn đệ Ngài, Đức Giêsu nối kết các môn đệ vào dây liên hệ thân tín của tình yêu và của sự trung thành mà Ngài là Con, Ngài sống với Chúa Cha. Trong Ngài và nhờ Ngài, Đức Giêsu đã đưa các môn đệ vào sự “nhận biết” đó chính là sự sống đời đời.
Đàng khác một sự sống đời đời không chỉ là một lời hứa sau cái chết trong thế giới bên kia lịch sử, nhưng bắt đầu từ bây giờ trong cuộc sống hiện tại của người Kitô hữu.

II. BÀI ĐỌC THÊM:

1. “Một lời kinh mặc khải hai động tác của một sự sống” (Mgr. L.Daloz: “Chúng tôi đã thấy vinh quang của Ngài” Desclée de Brouwer, p.209-210).
“Đức Giêsu kết thúc cuộc nói chuyện cuối cùng với các môn đệ bằng một lời kinh đầy cảm động, một lời trối trăn thiêng liêng. Ngài ngước mắt lên trời và hướng về Chúa Cha. Trước mắt chúng ta, Ngài đặt mình một lần cuối như là Con yêu dấu mà Chúa Cha hằng nghe lời. Chúng ta tìm lại được hai động tác của cuộc sống Ngài, hướng về Cha và hướng về loài người. Điều Ngài muốn là vinh quang của Cha đổ xuống trên Ngài, trong mầu nhiệm cuộc khổ nạn và sự sống lại. Giờ đã đến, giờ quyết định mà Đức Giêsu hiến mạng sống, giờ mà vì đó Ngài được sai đến. Bây giờ Thiên Chúa sẽ hoạt động nơi Ngài: xin Cha làm vinh danh Con để Con làm vinh danh Cha. Có cuộc trao đổi nào lạ lùng hơn là việc trao đổi mà Chúa Cha tự cam kết và Chúa Con tự cam kết với Chúa Cha? Động tác hướng về Cha không thể tách rời động tác tình yêu đối với loài người: “Vinh quang Thiên Chúa chính là con người sống (l'homme vivant). Quyền hành trên xác thịt mà Đức Giêsu nhận được là quyền cứu rỗi, hiến mạng sống mình: chớ gì theo quyền hành trên mọi xác thịt Cha đã ban cho Ngài, Ngài ban sự sống đời đời cho những ai mà Cha đã ban cho Ngài. Đức Giêsu tôn vinh Chúa Cha bằng cách ban cho loài người sự sống muôn đời.
Bởi lẽ sự sống đời đời đối với loài người chính là sự gặp gỡ Thiên Chúa. Biết Thiên Chúa làm thay đổi con người, soi sáng cuộc sống con người, cho cuộc sống ấy một ý nghĩa. Thiên Chúa mặc khải trong Đức Giêsu là một Thiên Chúa đầy tình bạn với con người, tha thứ và cứu chuộc con người. Là một Thiên Chúa trở nên thân thiện và bày tỏ vinh quang Ngài trong sự đơn sơ của những cử chỉ hằng ngày. Chính Thiên Chúa đó, là Đấng mà Đức Giêsu mặc khải cho chúng ta. Chỉ mình Ngài là Thiên Chúa thật chứ không phải một Thiên Chúa theo chúng ta hình dung hay tưởng tượng ra. Phải trở lại với Ngài luôn. Đây là một sự trở lại bằng nhận thức chúng ta bắt buộc phải có. Tin Mừng mà Đức Giêsu đến loan báo chính là cái mới mẻ nơi Thiên Chúa. Sự sống đời đời bắt đầu khi mà chúng ta bắt đầu chấp nhận Thiên Chúa chân thật và duy nhất: “Bởi vì sự sống đời đời là họ nhận biết Cha là Thiên Chúa duy nhất và Đấng Cha sai đến là Đức Giêsu Kitô”.

2. Lời kinh của Đức Kitô là mẫu mực lời kinh của người Kitô hữu. (Báo “Célébrer” số 229, p.22)
Chúa nhật này chúng ta được mời gọi trở thành một Giáo Hội “cử hành và cầu nguyện”. Một Giáo Hội cầu nguyện là một Giáo Hội chờ đợi Chúa Thánh Thần. Các bài đọc cho thấy, chờ đợi và kinh nguyện nối kết với nhau, thay vì nói, chúng ta hãy tạo một bầu khi cầu nguyện được chuẩn bị chu đáo.
Mẫu kinh của người Kitô hữu là lời kinh mà Đức Giêsu đã dùng để cầu nguyện:
- Để người ta nhận biết Thiên Chúa đích thực là như thế nào ("được tôn vinh") nghĩa là một Thiên Chúa tình yêu. Nói cách khác, lời kinh này lấy lại những lời xin trong kinh Lạy Cha: “Con đã tỏ danh Cha cho loài người”, nhắc lại “danh Cha cả sáng”.
- Để cho loài người còn ở thế gian nhận biết “Thiên Chúa thật và Đấng Ngài sai đến là Đức Giêsu Kitô”.
Như vậy phải hiểu vinh quang Thiên Chúa không giống chút nào với vinh dự của những người làm lớn ở trần gian, bởi nó được mặc khải trong thập giá Đức Kitô, và chính đó là sức mạnh và ảnh hưởng của tình yêu Ngài.
Thánh Thể giúp ta đi vào lời kinh của Đức Giêsu, Đấng tế lễ mình và tạ ơn Chúa Cha, trong niềm hy vọng “Ngài sẽ tôn vinh tất cả thân thể là Hội Thánh, như Ngài đã tôi vinh ĐẦU” (Lời nguyện sau khi rước lễ).

3. “Lời của Kitô hữu, lời kinh của Đức Kitô” (Mgr. R.Coffy, “Một Giáo Hội cử hành và cầu nguyện”, Lourde 1973, Cent. p.3).
Danh xưng Cha (Abba) gán cho Thiên Chúa, Đức Giêsu cho phép chúng ta đọc lên với Ngài và trong Ngài. Mục đích của việc xuống thế, mục đích của việc nhập thể có tính cứu chuộc là đưa nhân loại vào tình trạng Giao Ước, nghĩa là liên hệ với Cha để mọi người có thể nói trong sự thật: “Cha” (Abba). Lời kinh truyền thống, lời kinh được diễn tả cách đặc biệt trong các câu láy trong bí tích Thánh Thể, là kinh dâng lên Cha, bởi Con, trong Thánh Thần và hầu như luôn luôn bắt đầu bởi từ “Cha”. Trong De Oratione, Origène nói với ta rằng Chúa Con và Chúa Thánh Thần cầu nguyện trong ta...
Lời kinh của Kitô hữu là kết quả của Thánh Thần trong ta. Là lời thưa lên với Cha, lời mà Đức Kitô không ngừng trình bày với Cha, lời mà Chúa Thánh Thần cho chúng ta quyền được đọc lên “Chính Thánh Thần hiệp với tâm trí chúng ta để làm chứng rằng chúng ta là con cái Thiên Chúa...” Thánh Thần cầu khẩn cho ta bằng những tiếng rên xiết khôn tả (Rm 8,14-17. 26-27).
Mỗi lần chúng ta cầu nguyện, chính Đức Kitô trong ta và bởi ta, lặp lại không ngừng: “Abba”, lời mà Ngài đã thốt ra một ngày kia trước các môn đệ để họ lặp lại trong Ngài và với Ngài. Nhưng việc thốt ra tiếng ấy, đòi hỏi chúng ta phải là những đứa con nhỏ, để vào Nước Chúa nơi mà chỉ các trẻ nhỏ được vào, ta phải tìm lại được niềm hy vọng mà tiếng Abba diễn tả.

 

CHÚA NHẬT II THƯỜNG NIÊN

ĐÂY LÀ CHIÊN THIÊN CHÚA
Ga 1,29-34

I. VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI:

 1. Gioan giới thiệu Đức Giêsu là Chiên Thiên Chúa.
- Trong một bối cảnh thù nghịch - cuộc vận động của các thầy cả, thầy Lêvi yêu cầu Gioan tự xác định vai trò trong cuộc chờ đợi Đấng Cứu Thế: “Ông là ai”. Gioan Tẩy Giả đã trả lời trước hết bằng ba phủ định: Ông không phải là Đấng Cứu Thế, không phải là Êlia, cũng không là một đại tiên tri. Rồi ông tuyên bố: “Ở giữa anh em có một người mà anh em không biết; chính Ngài đến sau tôi, nhưng tôi không xứng đáng cởi dây giày cho Người” (1,2-27).
- Bây giờ, Gioan - Phúc Âm xác định là ngày hôm sau - đối diện với các môn đệ, sau khi nhóm người điều tra bỏ đi.
+ Gioan Tẩy Giả thấy Chúa Giêsu “tiến về phía Ngài”. Không phải là để xin rửa tội như ta tự nhiên nghĩ tới vì phép rửa đã xảy ra, nhưng để làm ứng nghiệm lời sấm của Isaia 40,10 “Chúa đến”.
+ Cũng trong chiều hướng làm ứng nghiệm lời tiên tri Isaia 40,2 đã loan báo cho Israel biết rằng “tội lỗi họ đã được tha thứ”, Gioan tuyên bố: “Đây là - hiểu ngầm một lời mời hãy nhìn xem - Chiên Thiên Chúa Đấng xoá tội trần gian”. Một nhận dạng mà ta sẽ gặp lại ở chương 1,36.
Sự đối chiếu với Chiên Thiên Chúa có thể có 3 nền tảng trong Cựu Ước.
. Hoặc con chiên của Israel 53,7: “Như con chiên bị đưa đến lò sát tế, như cừu đến trước mặt kẻ xén lông...”.
Trong trường hợp này, thánh sử Gioan đã thấy nơi Đức Giêsu khuôn mặt của Người Tôi Tớ đau khổ gánh lấy tội lỗi thế giới. Nhưng cũng nên biết rằng cùng một từ ngữ Aram ấy có thể có 3 nghĩa: “trẻ em”, “tôi tớ” hoặc “con chiên”.
. Hoặc con chiên bị sát tế và đứng trong sách Khải Huyền, có thể thắng vượt tội lỗi và sự chết, là Đức Kitô phục sinh (Kh 5,6; 14,10; 17,14).
. Hoặc con chiên vượt qua. Thực vậy, theo Gioan 19,14, Đức Giêsu bị kết án vào giờ mà các thầy cả bắt đầu sát tế chiên để mừng lễ Vượt qua.
A. Marchadour nhận định: “Một tước hiệu như thế có thể có 3 ý nghĩa. Một độc giả không am hiểu bối cảnh Kinh Thánh của từ ngữ sẽ ghi nhận rằng có 2 so sánh vay mượn ở thế giới động vật: con chiên Thiên Chúa và chim bồ câu từ trời xuống. Hai hình ảnh của sự bất bạo động này rất thích hợp với bản chất của Đức Giêsu và với công cuộc nối kết với thế giới của Thiên Chúa”.
* Và làm chứng: “Chính Ngài là Con Thiên Chúa”.
Rồi, khi gợi lại phép rửa ở sông Giođan, Gioan Baotixita, người đã loan báo trước về Đấng Messia mà không biết ("tôi không biết Ngài” câu 31 và 33), đã làm chứng: “Tôi đã thấy”. Ngài quả quyết 2 lần như vậy (câu 32 và 34): “Mọi người sẽ nhìn thấy vinh quang của Chúa và ơn cứu độ”. Nơi Đức Giêsu, trên Ngài Gioan đã nhìn thấy “Chúa Thánh Thần lấy hình chim bồ câu ngự xuống từ trời và đậu lại”, Thiên Chúa đã mạc khải cho ông biết đó là “Con Thiên Chúa”.
X. Léon Dufour nhận xét: “Sự chứng nhận này hiển nhiên phù hợp với lời tuyên bố của Thiên Chúa khi Đức Giêsu chịu phép rửa: Đây là Con Ta yêu dấu, Ta hài lòng về Người” (Mt 3,17). Nhưng đây không phải là tiếng nói từ trời cao. Đó là tiếng nói của người phàm, Gioan Tiền hô đã nói.
Trong tước hiệu “Con Thiên Chúa” độc giả Kitô hữu nhận ra 1 ý nghĩa vượt quá lời tuyên xưng về Đấng Messia. Tước hiệu ấy nối kết với tước hiệu “Con duy nhất” đã được nhấn mạnh ở phần nhập đề. Đó chính là ý nghĩa mà bản văn này nhắm tới, vì Phúc Âm đã viết “để anh em tin rằng Đức Giêsu, Đấng Messia là Con Thiên Chúa” (20,31).

II. BÀI ĐỌC THÊM:

1. Dấu chỉ đến từ Thiên Chúa (Mgr. L. Daloz, “Nous avons vu sa gloire, DDB).
Nơi ngọn nguồn của việc tỏ mình ra của Đức Giêsu, có chứng từ của Chúa Cha: “Đấng mà trên Người ngươi sẽ thấy Thần Linh xuống và ở lại, chính Người sẽ làm phép rửa trong Thánh Thần”. Ta chỉ nhận biết Đức Giêsu sau lời mạc khải của Chúa Cha. Đức Giêsu thường nhắc lại: “Ai nghe lời Cha và đón nhận thì đến với Ta” (6,45). Và chính Thánh Thần do Chúa Cha sai đến đã chỉ cho Gioan Tẩy Giả biết Đức Giêsu. Nhờ ông, ta đi vào mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi. Ta chỉ nhận biết Đức Giêsu khi Thánh Thần Thiên Chúa đến mở mắt và chỉ cho ta thấy. Nếu không có Thánh Thần, không có lời chứng của các chứng nhân, ta sẽ không nhận biết Người. Người đâu phải là đối tượng của khoa học nhân văn mà ta có thể nhận dạng nhờ việc nghiên cứu và suy gẫm. Người là ngôi vị Con Thiên Chúa mà ta chỉ nhận biết được khi chính Thiên Chúa tỏ ra cho ta. Người là đối tượng của một chứng từ. Không ai có thể nhận biết Người nếu họ không có trái tim rộng mở đón nhận những dấu chỉ của Chúa Thánh Thần.

2. Con đường của Con Chiên (H. Denis, 100 mots pour dire la foi, DDB).
Hằng bao lần ta đã chẳng đọc và nghe: Lạy Chiên Thiên Chúa, Đấng xoá tội trần gian sao? Thư thánh Phêrô sử dụng 1 đề tài Kinh Thánh cổ xưa như chuyện phiêu lưu của Môsê bên Ai Cập. tôi muốn cùng các bạn đi lại con đường của Con Chiên Thiên Chúa, Người đi từ sự báo oán giải phóng đến sự bất bạo động hoà bình.
Con đường ấy khởi đi từ một lịch sử đẫm máu. Dân Thiên Chúa được cứu khỏi Ai Cập nhờ máu Con Chiên. Con Chiên sẽ trở nên biểu tượng của công cuộc giải phóng Israel. Vì, ta đừng quên điều này, cuộc gặp gỡ của Môsê ở bụi gai cháy đỏ không phải là một câu chuyện thần bí phóng đại hoặc truyện trẻ em ham thấy Chúa Mẹ hiện ra. Không, Môsê đã giết ngọt một tên Ai Cập đáng ngờ và Thiên Chúa của ông, dù chưa rõ tên Ngài, đã hứa nghe thấy dân Ngài đang bị nô lệ kêu xin. Như thế Con Chiên thuộc về phía cánh tay báo oán của Thiên Chúa, cùng với tất cả sức mạnh của Người.
Nhưng chẳng bao lâu, đặc biệt với các ngôn sứ (Isaia 53, Jeremia 11...) Con Chiên này sẽ trở nên kiểu mẫu của những ai chết cho dân Người, như con cừu câm nín bị dẫn tới lò sát sinh...
Thiên Chúa rời bỏ ngai Đấng Toàn Năng. Ta nói rằng Người đứng về phía Con Chiên chịu đau khổ. Như thể thời gian dần dần chín mùi để đón nhận một Đức Giêsu nào đó, được Gioan tuyên xưng là Đấng xoá tội trần gian, còn thư Phêrô thì nhận là Con Chiên không khiếm khuyết, không tì vết, giải thoát ta khỏi 1 cuộc sống không mục đích như là chiên vất vưởng lầm lạc.
Nhưng sự đảo ngược hình ảnh chưa hoàn toàn. Cuộc giải phóng bằng việc báo oán của Thiên Chúa chưa chuyển hoá thành lễ dâng của một vật hy sinh tự nguyện và tự hạ. Thật vậy, Con Chiên phải mặc lấy những màu sắc và những hình thức của Sự Sống thực sự và của Vương triều thiên quốc. Đó chính là Con Chiên của sách Khải Huyền, hiện diện trong biết bao trang sách khi thời gian viên mãn.
Điều đó nhắc tôi nhớ tới một bức bích hoạ rất đẹp và rất cổ xưa ở vùng ngoại ô Lyon, trong đó ta thấy Đức Kitô vinh hiển dưới hình Con Chiên mặt người. Đó là cuộc khải hoàn của niềm bình an, sức mạnh của sự bất bạo động của Thiên Chúa.
Vâng, chỉ Con Chiên mới có thể ban sự Bình An của lễ Phục Sinh, niềm bình an được hứa ban cho thế giới đã được giải phóng. Xin ban bình an cho chúng con.

 

CHÚA NHẬT III THƯỜNG NIÊN

TỨC KHẮC HỌ BỎ THUYỀN MÀ THEO NGÀI
Mt 4,12-23

I. VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI:

1. Từ một thời đại đã chấm dứt đến một thời đại đang bắt đầu.
Phần đầu bài Phúc Âm Chúa nhật thứ III hôm nay (câu 12-16) được coi như đoạn kết chương nhập đề của Matthêu. Một đoạn kết đã phác hoạ những đề tài sắp khai triển.
- Bắt đầu là một cuộc tĩnh tâm. Đức Giêsu rời bỏ sông Giođan, lui về ẩn ở miền Galilêa.
Trong phần tường thuật về thời thơ ấu, Matthêu đã giúp ta làm quen với lối “ẩn dật chiến thuật” này khi gặp đe doạ, bắt bớ. Hãy nhớ lại cuộc chạy trốn sang Ai Cập khi Hêrôđê ra lệnh tàn sát các trẻ vô tội, và khi trở về, không về Giuđêa nơi bạo chúa Arkêlaô thống trị, nhưng, để được an toàn, đã về Nadarét, xứ Galilêa.
Trong khi Đức Giêsu thi hành sứ vụ, ta sẽ thấy Người “ẩn mình” khi sức ép của địch thù quá căng thẳng, cho đến khi từ nơi ẩn dật Xêsarê Philipphê, Người bắt đầu chuyến đi lên Giêrusalem để đương đầu với đau đớn, khổ nạn.
- Nguyên nhân của việc rút vào bóng tối này đã được thánh sử nói rõ: đó là việc Gioan Tẩy Giả bị bắt giữ.
Đó là dấu hiệu kết thúc một thời đại - thời của Lề Luật và các tiên tri - Gioan Tẩy Giả qua đi có nghĩa là bắt đầu một thời đại mới, thời đại hoàn tất trong Đức Giêsu Kitô. Nhưng cách kết thúc tác vụ của Người Tiền hô đã tiên báo chung cuộc dành cho Đấng mà Ngài có trách nhiệm loan báo việc ngự đến!
- Trốn tránh sự thù địch của Hêrôđê Antipas, môi trường hoạt động truyền giáo của Đức Giêsu sẽ là Galilêa. Tên Galilêa có nghĩa là: nơi hội tụ các dân tộc đã phiên dịch chính xác tính chất của miền đất biên giới nơi đủ mọi sắc dân chung sống, tràn ngập ảnh hưởng ngoại lai, vùng đất mà Giuđêa và Giêrusalem nghi kỵ, nếu không nói là khinh bỉ.
Matthêu nhìn thấy ở đó cả một biểu tượng. Có chỗ khác gọi đó là miền đất thuộc Zabulon và Nephtali. Thực vậy, từ lâu, không còn ai hài tên này ra nữa. Cl. Tassin giải thích: vì đối với các đọc giả của Matthêu cũng như đối với ta, tên ấy đã lỗi thời, không còn ghi trong sử sách. Việc hài tên chỉ cho thấy rằng: cùng với sự khai mạc tác vụ Đức Giêsu tại Galilêa, lời sấm Isaia loan báo từ thời 2 chi họ ấy bị sát nhập vào Assyrie, 734-732 trước Công nguyên, đã được thực hiện: “Dân đi trong tăm tối đã thấy ánh sáng huy hoàng” (bài đọc I chúa nhật này). Tin Mừng mà Đức Giêsu khởi sự rao giảng tại Galilêa, “nơi hội tụ dân ngoại”, không phải chỉ dành cho 1 dân tộc, nhưng cho tất cả mọi người, không phân chia, không loại trừ. Như một biểu tượng, Người đã hướng về dân ngoại và những kẻ bị loại trừ.
Cl. Tassin kết luận: “Ta có thể tóm tắt tư tưởng của Matthêu như sau: Đức Giêsu đã chọn Galilêa vì Galilêa tượng trưng cho thế giới dân ngoại. Quả vậy, trung thành với sứ mệnh của Emmanuel được sai đến với nhà Israel, Ngài vẫn ngỏ lời với dân Do Thái. Nhưng biểu tượng vẫn còn đó. Vào thời của tác giả Phác Âm, các tên “Zabulon và Nephtali” nhắc lại cảnh lưu đầy, phân tán, vết thương mở ra niềm hy vọng mãnh liệt về một cuộc tập họp toàn thể dân Thiên Chúa. Ta thấy núi Galilêa nơi tất cả mọi người được mời đến tập họp: dựa trên cơ sở nào, bằng cách nào thì bài giảng trên núi sẽ cho ta biết”.

2. Một lời làm nổi lên một dân tộc mới.
Câu 17 mở ra một khía cạnh mới của Phúc Âm Matthêu, dành cho việc Đức Giêsu khai mạc Nước Trời. Một công thức đặc sắc được dùng để dẫn nhập: “Bắt đầu từ đó, Đức Giêsu khởi sự...”; một công thức mà ta sẽ gặp lại ở 16,21 khi Đức Giêsu khởi hành lên Giêrusalem “Bắt đầu từ lúc đó, Đức Giêsu Kitô bắt đầu tỏ cho các môn đệ biết Người phải lên Giêrusalem, chịu đau khổ rất nhiều vì những bậc trưởng lão, các thầy cả và các luật sĩ, sẽ bị giết, nhưng ngày thứ ba, Người sẽ sống lại”. Có thể nói rằng, ngay từ khi khai mạc, việc loan báo Tin Mừng đã đi vào một lộ trình đau khổ.
- Trước hết Matthêu trình bày một bản đúc kết các lời giảng của Đức Giêsu, lời giảng này đôi khi nhắc lại lời giảng của Gioan Tẩy Giả: “Hãy sám hối, vì Nước Trời đã gần đến”.
+ “Nước Trời": Một kiểu nói của người Do Thái, vì kính trọng, nên tránh hài tên Thiên Chúa ra. Riêng Marco đã dứt khoát nói về Triều đại của Thiên Chúa. Triều đại này không ở xa khuất trên mây xanh, nhưng ở “rất gần”.
+ “Hãy hoán cải": Hiệu quả của Triều đại Thiên Chúa tuỳ thuộc vào sự đón nhận của loài người.
- Kế đó, tác giả Phúc Âm cho độc giả một cái nhìn bao quát về những hoạt động truyền giáo của Đức Giêsu lúc khởi đầu sứ vụ Galilêa. Di chuyển không ngừng nghỉ (13, 18, 21, 23, 24) Đức Giêsu tự đưa mình vào hoạt động; Người mời gọi đến với Người, bước theo Người, trở nên môn đệ của Người.
+ Trước tiên, “Khi Người đi trên bờ hồ Galilêa” Người kêu gọi các anh em: “Simon cũng gọi là Phêrô” mà Matthêu hữu ý đặt lên hàng đầu những người được kêu gọi và Matthêu trình bày như khuôn mẫu của những người theo Đức Giêsu - “và André em ông”, “Jacobê, con Zebede và Gioan em ông”.
Ta có 2 tường thuật ngắn về ơn kêu gọi xây trên cùng một kiểu mẫu và hiển nhiên cảm hứng từ 1 Các Vua 19,19: Êlia kêu gọi Êlisêô.
. Đức Giêsu thấy có người. Đó là những ngư phủ đánh cá trong hồ.
. Người bảo họ: Hãy theo Ta.
. Lập tức họ bỏ thuyền, bỏ lưới mà theo Người.
Cấu trúc 2 vế này có ưu điểm là làm nổi bật vừa sáng kiến của Đức Giêsu, Người kêu gọi, vừa câu trả lời nhanh nhẹn không ngần ngại của những người được gọi.
Đức Giêsu không chỉ muốn biến những người mà Người gọi đã bỏ nghề nghiệp mà theo Người thành những người ngưỡng mộ đơn sơ hoặc những thính giả chăm chú nghe giáo huấn của Người. Nhưng Người muốn họ trở thành những người cộng tác với Người trong việc chinh phục con người: “Hãy theo Ta, Ta sẽ biến các ngươi thành những kẻ chinh phục con người”.
Claude Tassin giải thích: “Kiểu nói “chài lưới người ta” đã ngầm loan báo sứ mạng Kitô hữu. Thánh sử đã nhấn mạnh một điểm: Làm môn đệ chính là làm nhà truyền giáo. Ở đây, Đức Giêsu kêu gọi các môn đệ, những người sẽ nghe lời Thầy Chí Thánh và sẽ chứng kiến việc Người làm. Phêrô, Anrê, Gioan, Giacôbê quả là những tên gọi cao cả đối với Kitô hữu thuộc thế hệ thứ hai. Nhưng, Matthêu, ta kính trọng ký ức của họ vì họ đã từng là môn đệ, đã được kêu gọi vô điều kiện bởi Đấng khai mạc Nước Trời”.
+ Sau đó, toàn miền Galilêa trở thành diễn trường cho Đức Giêsu rao giảng. Được cải hoá nhờ Tin Mừng, được chữa lành khỏi bệnh tật, những người trước kia không thể bước đi nay bắt đầu đi lại và tạo thành một “dân tộc": tại miền “Galilêa, nơi hội tụ dân ngoại”, đã manh nha một dân mới của Thiên Chúa thuộc mọi chủng tộc, mọi ngôn ngữ, mọi nước và mọi dân phát sinh nhờ lời rao giảng Tin Mừng.

II. BÀI ĐỌC THÊM:

1. Bình minh của hy vọng (Mgr. L. Daloz, Le Régne de cieux s'est approché).
Đức Giêsu vào cuộc có nghĩa là ánh sáng đến với nhân loại. Trích dẫn Isaia không đơn thuần đem lại một chỉ dẫn về địa lý. Đó là một biểu tượng: là lối thoát của dân tộc Do Thái, sinh ở Bêlem, vì là dòng dõi David, trở thành người Galilêa ở Nazareth, Đức Giêsu đến đón trước các dân tộc. Tức thì sứ mệnh của Người mang lấy tầm vóc phổ quát. Tự bản thân chúng ta cũng phải cúi chào tia sáng đầu tiên này loé lên soi cho các dân đang sống trong bóng tối: Đức Giêsu đến gặp gỡ ta, đó là khởi đầu ơn cứu độ của ta, là bình minh của niềm hy vọng. Ta có thể chiêm ngưỡng vẻ đẹp của ánh bình minh này với lòng biết ơn, rồi làm sống lại trong ta cảm giác kỳ diệu khi ta khám phá ra Đức Kitô, ánh sáng bừng lên soi chiếu vào mắt ta. Vâng, đối với ta vì cả mọi dân tộc, ánh sáng chính là Lời nói lạ lùng mà Phúc Âm không cho ta biết đối tượng: Từ lúc ấy, Đức Giêu bắt đầu rao giảng: hãy ăn năn sám hối, vì Nước Trời đã gần đến. Lời của Đức Giêsu trên vũ trụ, vượt qua những biên cương của vùng đất hứa cho dân của Giao ước cũ, biến cả thế giới thành vùng đất hứa của Nước Trời. Những nỗ lực và toan tính của các vị truyền giáo đều phát xuất từ một lời duy nhất này. Bây giờ đến phiên chúng ta phải chuyển tải chứng từ Phúc Âm tạo âm vang cho lời kêu gọi đầu tiên của Đức Giêsu khi Người đứng trước miền Galilê của các dân tộc, trên bờ sông thế giới.

2. Cuộc phiêu lưu vĩ đại khởi đi từ một vùng đất bị khinh khi (F. Deleclos, Prends et mange la Parole Centurion).
Đối với dân thủ đô, Galilêa chỉ là tỉnh lẻ. Đối với người mộ đạo sùng tín, miền Bắc thực đáng ngờ vực. Đó là miền hầu như thuộc ngoại bang, nơi hội tụ dân ngoại. Một dân cư pha tạp, nông dân và ngư dân có giọng nói nặng chịch vốn là đề tài phong phú cho các câu chuyện diễu cợt hằng ngày...
Trong khi những tín đồ chính thống ở kinh đô nghiền ngẫm sự khinh khi, chiêm ngưỡng sự siêu việt của mình, chế diễu và tránh xa những người bị loại trừ ở phía Bắc, thì Đức Messia - Cứu Chúa, ánh sáng muôn dân, “tới cư ngụ” tại Capharnaum, bên bờ hồ”. Xa khỏi kinh đô vĩnh hằng, khỏi thói ngạo mạn, tự tôn, và sự mù quáng của họ.
Gioan Tiền hô, vị ngôn sứ của lòng thống hối, đã trở thành kẻ sách nhiễu, gây rối. Ông bị chém đầu. Từ đó, Tin mừng bị nghi ngờ và sứ giả Tin Mừng bị theo dõi gắt gao... Nhưng Đức Giêsu đã gặp những tâm hồn cởi mở đón tiếp nơi những người hiếu động và bé nhỏ nhất của dân Người.
Chính trên bờ hồ chứ không phải trên các bậc cấp của đền thờ, giữa đám ngư phủ bận rộn công việc chứ không phải nơi những vị tư tế chuyên lo phụng tự mà Đức Giêsu sẽ chọn các môn đệ của Người. Đúng là một nước cờ ngược lại mọi lôgic.
Chính những người ít khả năng nhất, ít được chuẩn bị nhất lại là những người đầu tiên nhận được ánh sáng và đi theo Đấng là “Đường, là Sự Thật và là Sự Sống”.
Ngay tức khắc, thành phần lao động đơn sơ chất phác nhưng có trái tim nhạy bén đã tin tưởng vào ngôn sứ, người rao giảng chẳng có danh nghĩa chính thức, người chạy trốn chính quyền hợp pháp câu nệ thói tục và lối giải thích của họ. Những người tội lỗi bỗng nhiên bị chất vấn, đã cảm thấy ánh sáng mà ngay những kẻ rắc rối khó tính nhất cũng phải nhượng bộ... và họ đã đi theo Người.
Cuộc phiêu lưu vĩ đại đã khởi đi từ một miền đất bị nguyền rủa. Thế giới đổi mới đã ăn rễ sâu vào vùng đất nhơ uế, nhưng cởi mở đón tiếp mọi bất ngờ của Thánh Thần, của Thiên Chúa...
Hôm nay cũng thế, Đấng Phục Sinh vẫn tiếp tục sứ mệnh của Người không theo cách người ta nghĩ. Người tỏ mình ra, dạy dỗ, và kêu gọi không theo những chuẩn mực hay lý luận của người phàm chúng ta. Không khác gì vào thời của Đền Thờ, Đức Giêsu không chịu giam mình trong các truyền thống nhân loại, trong các tính toán của các chuyên gia, trong phán quyết của các quyền lực. Người không bị giam hãm trong Giáo Hội của Người, Giáo Hội đang bị chia rẽ, nơi người thì tự cho mình là thuộc phe Phaolô và Giacôbê, Anrê, Matthêu như thể Đức Kitô đã bị chia cắt và như thể là giáo huấn của Người không quan trọng bằng giáo huấn của môn đệ Người! Trong khi con cái trong nhà cãi cọ, xâu xé thân thể mầu nhiệm Đức Kitô và đóng đinh Người, Người trốn chạy đến nơi “hội tụ dân ngoại” và tìm được sự tiếp đón nồng hậu, tìm được môn đệ trong đám người bị khai trừ và những người sống ngoài lề xã hội.

 

CHÚA NHẬT IV THƯỜNG NIÊN

CÁC MỐI PHÚC
(Mt 5, 1-12)

I. VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI

1. Tin vui…
Hai trong bäún taïc giaí Phuïc Ám tæåìng thuáût caïc mäúi phuïc trong pháön moí âáöu cho baìi âaûi diãùn tæì cæång lénh cuía Âæïc Giãsu. Theo thaïnh Luca, baìi diãùn tæì quan troüng naìy diãùn ra “åí âäöng bàòng”, vaìo luïc quan troüng nháút cuía sæï vuû Âæïc Giãsu åí Galilã, traïi laûi theo thaïnh Maït-Thãu, noï diãùn ra vaìo buäøi âáöu cuía sæï vuû Chuïa Giãsu åí Galilã, vaì «åí trãn nuïi » tæåüng træng nuïi Sinai nåiì Mäsã måïi seî cäng bäú Lãö Luáût cuía Giao Æåïc måïi.
Bäún mäúi phuïc tæång æïng với bäún låìi chuïc dæî theo trçnh baìy cuía Luca chàõc chàõn gáön våïi chênh låìi cuía Chuïa Giãsu hån taïm mäúi phuïc cuía Maït-Thãu vç Maït-Thãu nhàòm aïp duûng giaïo huáún âêch thæûc cuía Chuïa Giãsu vaìo thæûc taûi âåìi säúng Kitä hæîu nåi caïc cäüng âoaìn cuía Ngaìi.
Haûnh phuïc maì caïc mäúi phuïc cäng bäú cuîng nhæ haûnh phuïc cho nhæîng ngæåìi säúng caïc mäúi phuïc naìy trong nhæîng hoaìn caính cuû thãø cuía cuäüc âåìi : « Phuïc cho ai coï loìng khoï ngheìo ! …Phuïc cho ai hiãön laình !… » khäng phaíi do chinh phuûc maì âæåüc, nhæng laì ån huãû Thiãn Chuïa ban qua con Ngaìi laì Âæïc Giãsu Kitä. Hoü âæåüc ban tàûng haûnh phuïc naìy ngay tæì báy giåì : « Næåïc Tråìi laì cuía hoü », Haûnh phuïc áúy seî triãøn nåí dæåïi aïnh saïng cuía âåìi sau : « Pháön thæåíng cuía caïc con seî låïn lao trãn tråìi. »
Cl. Tassin chuï giaíi : «'Haûnh phuïc !’ Trong Kinh Thaïnh laì tiãúng ca tuûng ngæåìi biãút laìm cho ån Chuïa ban sinh låüi, nãn hoü caím tháúy haûnh phuïc ngay tæì báy giå, vaì nãúu hoü luän trung thaình våïi con âæåìng âaî choün, hoü seî âæåüc nhçn nháûn laì ngæåìi cäng chênh trong giåì phaïn xeït. » (Tin Mæìng thaïnh Maït-Thãu, Centuírion, 1991, tr.58)

2. . . . Cuûa moät hieän taïi nhaøo naën töông lai:
Bäún mäúi phuïc âáöu cuía Maït-Thãu tæång tæû nhau : ca ngåüi ngæåìi biãút hæåïng vãö Thiãn Chuïa vaì tæì chäúi moüi baûo læûc.
+ « Phuïc cho ai coï loìng khoï ngheìo : vç Næåïc Tråìi laì cuía hoü. » « Sæû khoï ngheìo » mäúi phuïc naìy nhàõm tåïi khäng phaíi laì sæû khoï ngheìo vãö váût cháút ; nhæng laì thaïi âäü tinh tháön cuía mäüt ngæåìi ngheìo tæû nháûn mçnh khäng coï quyãön âoìi hoíi gç træåïc màût Chuïa, traïi laûi moüi sæû mçnh coï âãöu do baìn tay nhán tæì cuía ngæåìi cha.
J. Potel chuï giaíi : « Ngæåìi Kitä hæîu træåïc hãút nhçn nháûn ràòng mçnh âaî laînh nháûn sæû säúng tæì Thiãn Chuïa maì Âæïc Giãsu daûy phaíi nháûn ra vaì yãu mãún Ngaìi nhæ ngæåìi Cha. Sæû ngheìo khoï tinh tháön chênh laì cháúp nháûn tæì thàóm sáu loìng mçnh ràòng sæû säúng laì quaì tàûng thæåìng xuyãn cuía ngæåìi Cha naìy. Thiãn Chuïa khäng cáön låìi khen ngåüi, Ngaìi tæû hiãún mäüt caïch vä vë låüi : âoï chênh laì nguäön maûch sæû khiãm nhæåìng Kitä giaïo. Mäüt âiãöu nghëch lyï laì sæû khiãm nhæåìng triãût âãø naìy laûi taûo nãn pháøm giaï cuía mäüt con ngæåìi vaì cuía táút caí moüi ngæåìi. Thæûc váûy, pháøm giaï naìy khäng dæûa trãn sæû giáöu coï cuîng nhæ nhæîng âæïc tênh nhán baín, nhæng trãn tçnh yãu maì Thiãn Chuïa daình cho mäùi ngæåìi, nháút laì ngæåìi ngheìo. Chênh âáy laì troüng tám cuía Tin Mæìng vénh cæíu ! » (Âæïc Giãsu, lëch sæí âêch thæûc, Centuíion, 1994, tr.146-147)
+ «Phuïc thay ai hiãön laình, vç hoüü seî âæåüc âáút hæïa laìm gia nghiãûp ». Mäúi phuïc thæï hai naìy näúi daìi mäúi phuïc trãn tæì mäüt cáu thaïnh vënh 36 : « Nhæîng ai hiãön laình seî chiãúm hæîu traïi âáút vaì seî hæåíng mäüt nãön hoìa bçnh sung maîn. »
J. Potel noïi tiãúp : « Sæû hiãön laình laì hoa traïi cuía sæû khoï ngheìo. Ngæåìi ngheìo thç khäng coï mäüt phæång tiãûn thãø lyï hoàûc phaïp lyï naìo âãø baío vãû vuû kiãûn cuía mçnh. Váûy phaíi chàng ngæåìi ngheìo hoaìn toaìn trå troüi træåïc nhæîng ngæåìi khäng nhçn nháûn quyãön cuía mçnh ? Khäng, vuî khê cuía hoü chênh laì sæû hiãön laình, sæû nháùn naûi, sæû tên nhiãûm vaìo Thiãn Chuïa. Sæû chiãún thàõng vénh viãùn khäng âãún tæì voî læûc. Ngaìy nay ngæåìi ta noïi noï laì kãút quaí cuía sæû khäng duìng baûo læûc ! » (saïch âaî dáùn, tr.147)
+ « Phuïc thay ai sáöu khäø vç hoü seî âæåüc an uíi ». Dé nhiãn phaíi hiãøu laì : « hoü seî âæåüc Thiãn Chuïa an uíi », båíi vç caïc nhaì chuyãn män goüi thç thuû âäüng åí âáy laì « thç thuû âäüng tháön hoüc ».
Táûn âaïy sáu cuía näùi tuyãût voüng, ngæåìi tên hæîu váùn tháúy aïnh lãn mäüt tia hy voüng : « Tia hy voüng naìy laì khuän màût cuía Thiãn Chuïa. Ngaìi âãún gáön âãø an uíi ngæåìi âàõm chçm trong cån thæí thaïch. » (Saïch âaî dáùn)
+ « Phuïc thay ai khaït khao nãn ngæåìi cäng chênh, vç hoü seî âæåüc Thiãn Chuïa cho thoía loìng ».
Raío qua toaìn bäü Kinh Thaïnh, « Sæû cäng chênh » åí mäúi phuïc thæï bäún âæåüc hiãøu laì « tæû âiãöu chènh » tám häön vaì thaïi âäü theo caïch thãú Thiãn Chuïa âaî laìm. Thiãn Chuïa åí âáy laì Âáúng âaî âãún gàûp gåî con ngæåìi vaì näúi kãút våïi hoü bàòng giao æåïc.
« Troün âåìi mçnh, ngæåìi Kitä hæîu tçm caïch âaïp æïng nhæîng âoìi hoíi tinh tháön vaì luán lyï do giao æåïc naìy âãö ra bàòng caïch thæûc hiãûn « sæû cäng chênh » âäúi våïi Thiãn Chuïa vaì âäúi våïi âäöng loaûi ». (Saïch âaî dáùn)
« Hoü seî âæåüc Thiãn Chuïa cho thoía loìng ». Ngæåìi Kitä hæîu hiãøu ràòng cuäúi âåìi hoü seî nháûn âæåüc sæû säúng sung maîn tæì Thiãn Chuïa giao æåïc. Vaì theo hoü, nãúu âåìi säúng âaûo âæïc bàõút nguäön tæìì Thiãn Chuïa thç noï cuîng seî hoaìn táút nåi Ngaìi.
- Bäún mäúi phuïc sau hæåïng âãún thaïi âäü âàûc træng cuía ngæåìi män âãû Âæïc Kitä hån.
+ « Phuïc thay ai xoït thæång ngæåìi vç hoü seî âæåüc Thiãn Chuïa xoït thæång !» Khi chiãm ngàõm caïch Thiãn Chuïa, Âáúng nhán tæì vaì xoït thæång cæ xæí våïi ta, ngæåìi män âãû cuía Âæïc Giãsu hoüc biãút tha thæï nhæîng xuïc phaûm vaì tråü giuïp anh em mçnh säúng trong caính tuyãût voüng.
+ « Phuïc thay ai coï tám häön trong saûch, vç hoü seî âæåüc nhçn tháúy Thiãn Chuïa !» Sæû trong saûch åí âáy khäng coï liãn quan træûc tiãúp âãún tçnh duûc. Noï cuîng khäng phaíi laì sæû chênh træûc, sæû khäng giaí däúi, sæû âi âäi giæîa noïi vaì laìm, giæîa haình vi vaì âäüng cå sáu xa cuía noï. Sæû trong saûch âáy laì con âæåìng håüp nháút våïi Thiãn Chuïa.
+ « Phuïc thay ai xáy dæûng hoìa bçnh, vç hoü seî âæåüc goüi laì con Thiãn Chuïa ! » Jean Potel giaíi thêch : « Âäúi våïi Âæïc Giãsu, säúng hoìa bçnh bàòng caïch reìn luyãûn mäüt âåìi säúng hoìa håüp vaì an laình khäng âuí. Ngaìi âoìi hoíi mäüt âæïc aïi têch cæûc, nháút laì khi khäng coï hoìa bçnh trong gia âçnh, nåi cäüng âoaìn Kitä hæîu, giæîa caïc nhoïm xaî häüi cuîng nhæ giæîa caïc dán täüc. Hoìa bçnh khäng coï biãn giåïi cuîng nhæ tçnh yãu Thiãn Chuïa khäng coï giåïi haûn. Nhæîng ngæåìi xáy dæûng hoìa bçnh seî âæåüc goüi laì con Thiãn Chuïa : dé nhiãn nhiãûm vuû cuía con laì tiãúp tuûc cäng viãûc cuía cha mçnh, maì âiãöu Cha trãn tråìi muäún laì âem hoìa bçnh âãún cho con ngæåìi. » (Saïch âaî dáùn, tr.148)
+ « Phuïc thay ai bë baïch haûi vç säúng cäng chênh, vç næåïc Tråìi laì cuía hoü ! » Trung thaình tuán giæî giaïo huáún cuía Âæïc Kitä nhæ trong Caïc Mäúi Phuïc khäng phaíi laì khäng coï nhæîng hiãøu láöm, nhæîng âäúi nghëch, nhæîïng baïch haûi, vç nhæîng giaï trë Næåïc Tråìi âi ngæåüc laûi våïi nhæîng giaï trë thæåìng âæåüc âãö cao nhæ nhæîng tiãu chuáøn cuäüc säúng.
Âäúi våïi Âæïc Giãsu, nhæîng män âãû bë baïch haûi cuía Ngaìi laì nhæîng ngæåìi ngheìo thæûc sæû cuía mäúi phuïc thæï nháút. Hoü chè coï låìi hæïa Næåïc Tråìi cho nhæîng khäø âau hoü gaïnh chëu.
 
  • Táút caí caïc mäúi phuïc âãöu veî lãn mäüt khuän màût, âoï laì khuän màût cuía Âæïc Giãsu. Jean Potel kãút luáûn :«Ngaìi hán hoan âoïn nháûn Næåïc Tråìi maì Ngaìi hãút loìng chåì âåüi vaì âaî hoaìn toaìn dáún thán vç Næåïc Tråìi áúy. Cuäüc âåìi, låìi noïi, haình vi cuía Ngaìi âãöu biãøu läü nåi Ngaìi mäüt con ngæåìi ngheìo heìn, hiãön laình, thæång xoït, trong saûch, kiãún taûo hoìa bçnh ; mäüt ngæåìi chè säúng vç Næåïc Tråìi âang âãún, vç Triãöu Âaûi cuía Âáúng maì caïc män âãû Ngaìi seî cáöu kháøn khi goüi laì Cha » (saïch âaî dáùn, tr. 149).
  •  
II. BAØI ÑOÏC THEÂM.

1. “Laéng nghe lôøi Ñöùc Gieâsu trong töông quan soáng ñoäng vôùi con ngöôøi cuûa Ngaøi”: (Âæïc Cha L. Daloz, trong « Nuåïc Tråìi âãún gáön », Descleïe de Brouwer, 1994, tr.43-44).
Máúy låìi dáùn nháûp vaì “diãùn tæì” cuía Âæïc Giãsu âæåüc táûp håüp laûi trong baìi « diãùn tæì » : “Tháúy âaïm âäng, Âæïc Giãsu lãn nuïi. Ngæåìi ngäöi xuäúng, caïc män âãû âãún gáön bãn. Ngæåìi måí miãûng daûy hoü ràòng”. Ta âæìng khinh thæåìng boí qua nhæîng haìng naìy. Nhåì chuïng, toaìn bäü diãùn tæì theo sau måïi coï yï nghéa, båíi vç baìi diãùn tæì naìy khäng chè âån giaín laì mäüt chuäùi nhæîng cáu träúng khäng noïi lãn nhæîng qui tàõc vãö mäüt läúi säúng âaûo âæïc. Noï laì låìi cuía Âæïc Giãsu : Ngæåìi måí miãûng daûy hoü ràòng . Âæìng quãn con ngæåìi Âæïc Giãsu. Ngaìi noïi våïi âaïm âäng vaì âaïm âäng phaín æïng : åí cuäúi baìi giaíng trãn nuïi, taïc giaí Tin Mæìng noïi våïi chuïng ta : “Khi Âæïc Giãsu giaíng daûy nhæîng âiãöu áúy xong, âaïm âäng sæíng säút vãö låìi giaíng daûy cuía Ngæåìi, vç Ngæåìi giaíng daûy nhæ mäüt Âáúng coï tháøm quyãön, chæï khäng nhæ caïc kinh sæ cuía hoü.” (7,28-29) Âiãöu âaïnh âäüng âaïm âäng khäng phaíi laì giaïo thuyãút nhæng laì con ngæåìi cuía Âæïc Giãsu vaì tháøm quyãön nåi låìi cuía Ngaìi.
Chuïng ta cuîng váûy, haîy nghe låìi Âæïc Giãsu khäng nhæ nhæîng chán lyï ngaìn âåìi, nhæng trong mäúi tæång quan säúng âäüng våïi baín thán Ngaìi. Chênh con ngæåìi cuía Ngaìi laìm cho giaïo huáún cuía Ngaìi coï tháøm quyãön. Chiãm niãûm nhæîng gç mçnh âoüc laì âiãöu cáön thiãút, âæìng chè suy nghé vãö veí âeûp vaì vãö nhæîng âoìi hoíi trong låìi Âæïc Giãsu noïi. Tháúm nhuáön låìi Âæïc Giãsu biãún thaình mäüt baíng xeït mçnh cuîng khäng âuïng. Vç nhæ váûy, låìi Chuïa seî tråí thaình mäüt âäúi tæåüng chiãúm hæîu, mäüt phæång tiãûn sæí duûng… âãø xáy dæûng mäüt âåìi säúng täút laình, mäüt sæû hoaìn thiãûn cho baín thán ta, nhæ nhæîng ngæåìi Biãût phaïi. Traïi laûi, chuïng ta phaíi âoïn nháûn låìi tæì miãûng Âæïc Giãsu, phaíi chàm chuï vaìo âiãöu Ngaìi muäún noïi våïi chuïng ta… chæï khäng phaíi vaìo âiãöu maì nhæîng låìi naìy noïi våïi chuïng ta, vç laìm nhæ váûy, coï nguy cå laì « nhæîng låìi naìy chàóng noïi gç våïi chuïng ta caí » ! Mäüt nguy hiãøm nghiãm troüng laì ta thæåìng âoüc Tin Mæìng chè nhæ mäüt baín vàn âån thuáön, nhæ mäüt âäúi tæåüng âãø biãún thaình « phæång tiãûn » sæí duûng. Tin Mæìng laì nåi gàûp gåî, nåi làõng nghe. Khi ta khäng hiãøu roî låìi Ngaìi noïi, chuïng ta coï thãø xin Ngaìi giaíi thêch âãø ta hiãøu. Khi ta khäng thãø thæûc hiãûn âæåüc âiãöu Ngaìi âoìi hoíi, ta xin Ngaìi giuïp âåî. Gàûp gåî Âæïc Giãsu, nghe Ngaìi, cáöu xin Ngaìi cho ta coï tai âãø biãút nghe, cho ta sæïc maûnh âãø thæûc hiãûn, âoï laì caïch ta âoüc Tin Mæìng. Ta haîy làõng nghe nhæîng gç Âæïc Giãsu noïi trong baìi diãùn tæì trãn nuïi naìy. Cáöu xin Ngaìi cho chuïng ta hiãøu låìi Ngaìi daûy vaì âem ra thæûc haình.

2. “Caùc moái phuùc: lôøi höùa vaø moùn quaø haïnh phuùc” (J. Guillet, trong « Âæïc Giãsu trong âæïc tin cuía nhæîng män âãû âáöu tiãn », Deïcleïe de Brouwer, 1995, tr. 96-97).
« Khi måí âáöu sæï âiãûp cuía Ngaìi bàòng caïc mäúi phuïc, Âæïc Giãsu khäng muäún phaïc hoüa mäüt con âæåìng âæa âãún haûnh phuïc, mäüt läü trçnh buäüc ta phaíi theo, nhæng Ngaìi hæïa mäüt quaì tàûng maì chè coï Ngaìi måïi coï thãø ban. Ngaìi khäng baío ta âi tçm haûnh phuïc hay chåì âåüi noï. Âáy chè laì sæû må æåïc theo tênh toaïn cuía ta, niãöm hy voüng phaït sinh tæì nhæîng æåïc muäún cuía ta. Ngay træåïc khi cäng bäú caïc mäúi phuïc, Âæïc Giãsu âaî kãu goüi dán chuïng saïm häúi vaì tin tæåíng, anh em haîy saïm häúi vaì tin vaìo Tin Mæìng ! Khi måìi goüi saïm häúi vaì cäng bäú Tin Mæìng troüng âaûi, Âæïc Giãsu xuáút hiãûn nhæ mäüt tiãn tri cao caí nháút tæì træåïc tåïi nay. Khi tung ra caïc mäúi phuïc, Ngaìi toí ra mçnh laì ngæåìi khän ngoan vaì giåïi thiãûu mäüt kinh nghiãûm. Tin Mæìng væìa laì låìi tiãn tri cuía mäüt biãún cäú vé âaûi væìa laì sæû chuyãøn thäng âæïc khän ngoan.
Tin Mæìng khäng phaíi laì âi tçm haûnh phuïc nhæng laì låìi hæïa vaì quaì tàûng haûnh phuïc vç Thiãn Chuïa âaî taûo dæûng con ngæåìi âãø hoü âæåüc haûnh phuïc. Nhæng âoï khäng phaíi laì thæï haûnh phuïc maì hoü æåïc må vaì hàng say chinh phuûc: Haûnh phuïc âáy chênh laì sæû säúng cuía Thiãn Chuïa ban cho con ngæåìi vaì trong haûnh phuïc âoï, Ngaìi qui tuû táút caí con caïi Ngaìi laûi. Ta coï thãø laìm sai laûc yï nghéa cuía caïc mäúi phuïc cuîng nhæ laìm meïo moï hçnh aính cuía Âáúng Thiãn Sai âãún näùi khäng coìn näúi kãút hçnh aính áúy våïi Âæïc Kitä âæåüc næîa. Ngaìi khäng noïi : anh em ngheìo khäø nãn anh em seî âæåüc haûnh phuïc ; Ngaìi cuîng khäng noïi : anh em haîy ngheìo khäø âãø âæåüc haûnh phuïc. Ngaìi chè noïi : anh em ngheìo khäø, haûnh phuïc âãún våïi anh em. Ngaìi coï thãø noïi âiãöu âoï båíi vç Ngaìi âem âãún haûnh phuïc naìy, båíi vç chênh baín thán Ngaìi laì niãöm vui vaì haûnh phuïc cuía Thiãn Chuïa. Nhæng âãø caím nháûn âæåüc âiãöu naìy, phaíi tin vaì æng thuáûn theo Ngaìi.
Haûnh phuïc naìy khäng thuäüc vãö mäüt thãú giåïi khaïc våïi thãú giåïi ta âang säúng. Noï cuîng khäng âæåüc cáút giáúu åí mäüt nåi bê máût. Nhæng ngay tæì báy giåì noï âaî âæåüc ban tàûng cho táút caí moüi ngæåìi, vaì træåïc hãút laì nhæîng ngæåìi âau khäø. Nhæîng pheïp laû Âæïc Giãsu âaî gieo trãn âæåìng rao giaíng laì dáúu chè cho tháúy Ngaìi chênh laì cäüi nguäön haûnh phuïc. Âáy chè laì nhæîng dáúu chè, chuïng khäng biãún âäøi hoaìn caính ta âang säúng, nhæng chè ra mäüt läúi thoaït vaì cho ta nghe âæåüc låìi måìi : Táút caí nhæîng ai âang váút vaí mang gaïnh nàûng nãö, haîy âãún cuìng täi, täi seî cho nghè ngåi bäöi dæåîng. Anh em haîy mang láúy aïch cuía täi vaì haîy hoüc våïi täi, vç täi coï loìng hiãön háûu vaì khiãm nhæåüng. Tám häön anh em seî âæåüc nghè ngåi . (Mat. 11,28-30) Âoï laì phong caïch vaì ngän ngæî cuía mäüt tän sæ vãö sæû khän ngoan, cuía mäüt ngæåìi âaî säúng mäüt kinh nghiãûm vaì tæû biãút mçnh coï thãø truyãön âaût noï. Âoï cuîng chênh laì ngæåìi cäng bäú caïc mäúi phuïc vaì ngän ngæî váùn laì mäüt : Phuïc cho nhæîng ai hiãön laình = Ta laì Âáúng hiãön laình ; nghè ngåi = hoìa bçnh. Tæì duìng coï thãø thay âäøi, nhæng váùn laì kinh nghiãûm áúy, tiãúng noïi áúy, táúm loìng áúy.
Chè coï Ngaìi måïi biãút haûnh phuïc laì gç ; chè coï Ngaìi måïi coï thãø ban haûnh phuïc vç haûnh phuïc laì quaì tàûng cuía Thiãn Chuïa. »

 

CHÚA NHẬT V THƯỜNG NIÊN

SỨ MẠNG CỦA CÁC MÔN ĐỆ :
ANH EM LÀ MUỐI CHO ĐỜI …
ANH EM LÀ ÁNH SÁNG THẾ GIAN

(Mt 5, 13-16)

I. VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI

1. Sứ mạng của các môn đệ . . .
Trong caïc « mäúi phuïc », Âæïc Giãsu âaî cäng bäú haûnh phuïc cho nhæîng ngæåìi âaïp laûi låìi måìi goüi cuía Ngaìi vaì bàõt âáöu theo Ngaìi : âoï laì caïc män âãû. Haûnh phuïc âæåüc ban cho hoü tæì báy giåì nhæ mäüt quaì tàûng, ngay trong nhæîng hoaìn caính cuû thãø – vaì âäi khi ngay trong nhæîng hoaìn caính âau khäø täüt cuìng cuía âåìi säúng – « Næåïc Tråìi laì cuía hoü » ; mäüt ngaìy kia haûnh phuïc áúy seî triãøn nåí trong aïnh saïng cuía âåìi sau : « Pháön thæåíng cuía anh em seî låïn lao trãn tråìi ».
Tiãúp theo låìi måí âáöu cuía baìi giaíng trãn nuïi, Âæïc Giãsu xaïc âënh sæï maûng cuía caïc män âãû Ngaìi : «Anh em laì muäúi cho âåìi… anh em laì aïnh saïng thãú gian ». Chuïng ta âaîï bao giåì coï mäüt âënh nghéa hay hån âënh nghéa naìy vãö Giaïo häüi khäng ? «Giaïo Häüi khäng phaíi laì mäüt caïi bçnh xoay trong âoï laì nhæîng ngæåìi âæåüc cæïu âäü (‘Ngoaìi Giaïo Häüi khäng coï sæû cæïu âäü’), nhæng laì aïnh saïng trãn nuïi cao chiãúu toí yï nghéa cuäüc säúng vaì càõm coüc tiãu chè âæåìng « cho nhæîng ai säúng trong boïng täúi » (Isaie 60), aïnh saïng naìy qui chiãúu vãö nguäön maì nhåì âoï noï toía saïng » ! (Cahier-Evangile, säú 9, tr.11)

2. . . . laø “muoái cho ñôøi”
Trong thãú giåïi sã-mêt nåi Âæïc Giãsu cäng bäú giaïo huáún naìy vaì nåi Thaïnh Maït Thãu viãút Tin Mæìng cuía ngaìi, muäúi laì mäüt thæûc taûi hàòng ngaìy chæïa ráút nhiãöu yï nghéa biãøu tæåüng.
Âæåüc duìng trong viãûc chuáøn bë bæîa àn âãø cho caïc moïn àn thãm hæång vë, muäúi âaî tråí nãn biãøu tæåüng cuía táút caí nhæîng gç laìm cho hiãûn hæîu coï hæång vë vaì yï nghéa.
Âaìng khaïc mäüt âiãöu âaïng chuï yï laì trong tiãúng la-tinh, « nãúm » (sapere) vaì « khän ngoan » (sapientia) coï cuìng mäüt gäúc ; vaì trong tiãúng Hy laûp vaì tiãúng Do thaïi, cuîng cuìng mäüt âäüng tæì væìa coï nghéa « laût âi », « tråí nãn laût leîo » væìa coï nghéa « tråí nãn vä nghéa ».
Âæåüc duìng trong viãûc baío quaín thæïc àn, muäúi âaî tråí nãn biãøu tæåüng cuía sæû vénh hàòng vaì âæåüc sæí duûng trong nhæîng nghi lãù giao æåïc – ngæåìi ta noïi « Giao æåïc cuía muäúi » (2 Kyï sæû 13,5 vaì Lãvi 2,13) – vaì trong nhæîng nghi lãù âoïn tiãúp vaì cho khaïch åí troü.
 Muäúi khäng âæåc laût âi! Cl. Tassin chuï giaíi : «Caïc män âãû âem hæång vë cho âåìi vaì baío âaím sæû säúng coìn cuía thãú gian træåïc màût Thiãn Chuïa. Nhæng nãúu hoü khäng âaím âæång âæåüc cäng viãûc naìy vaì âaïnh máút tinh tháön caïc mäúi phuïc, hoü seî chàóng coìn giaï trë gç vaìThiãn Chuïa seî tæì boí hoü. » (‘Tin Mæìng thaïnh Maït-Thãu’, Centurion, 1991, tr.62)

3. . . . vaø “aùnh saùng theá gian”
Âãø giuïp caïc män âãû hiãøu roî hån sæû låïn lao vaì nhæîng âoìi hoíi cuía sæï maûng Ngaìi trao, Âæïc Giãsu duìng hai hçnh aính.
- Træåïc hãút, Ngaìi noïi âãún mäüt « thaình xáy trãn nuïi », coï leî caính trê cuía thaình Safed âaî gåüi yï cho Ngaìi. Thaình naìy nàòm trãn muîi âaï phêa âäng-bàõc ràûng Haute-Galiã nãn ban ngaìy, nhæîng ngäi nhaì máöu tràõng phaín chiãúu aïnh saïng màût tråìi vaì ban âãm noï toía saïng.
Tråí nãn « aïnh saïng thãú gian », âoï laì låìi caïc ngän sæï loan baïo vãö tæång lai cuía Giãrusalem vaìo thåìi Âáng Thiãn sai : thaình naìy seî laì « thaình phäú aïnh saïng » trãn nuïi maì moüi dán täüc seî âi vãö âoï. Laì « AÏnh saïng cho thãú gian » laì sæï maûng âæåüc trao cho cäüng âoaìn caïc män âãû.
- Räöi Ngaìi noïi våïi caïc män âã ngæåìi ta âäút âeìn khäng phaíi âãø giáúu noï «dæåïi âaïy thuìng » - duìng âãø xãúp âäö trong nhæîng ngäi nhaì xæï Palestine – nhæng laì âãø « trãn giaï âeìn » háöu soi cho « táút caí moüi ngæåìi trong nhaì ». Cäüng âoaìn caïc män âãû maì Ngaìi sai âãún trong thãú gian cuîng phaíi nhæ váûy.
Cl. Tassin kãút luáûn : Giaïo häüi seî thi haình sæï maûng laì muäúi cho âåìi vaì laì aïnh saïng thãú gian « båíi sæû chän vuìi vaì sæû toía saïng chæï khäng phaíi laì tham voüng ‘chinh phuûc vãö âëa dæ’ » (Saïch âaî dáùn)

II. BAØI ÑOÏC THEÂM

1. Muoái vaø aùnh saùng: (Âæïc Cha L. Daloz, trong « Næåïc Tråìi âãún gáön », Descleïe de Brouwer, 1994, tr.48-49).
« Anh em laì muäúi cho âåìi. Âãø coï êch, muäúi khäng âæåüc máút vë cuía noï : noï chè laì gia vë ! Chênh noï khäng phaíi laì thæïc àn, êt ra thæåìng laì nhæ váûy : noï giuïp cho thæïc àn coï hæång vë. Tråí nãn nguäön hæång vë thåm ngon, âoï laì neït âäüc âaïo cuía chuïng ta, nhæîng ngæåìi theo Âæïc Kitä, trong thãú giåïi chuïng ta âang säúng. Neït âäüc âaïo naìy giuïp chuïng ta tråí nãn hæîu êch cho âåìi nhåì sæû khaïc biãût cuía noï. Chuïng ta khäng âæåüc âaïnh máút sæû khaïc biãût naìy : Nãúu muäúi laût âi thç láúy gç æåïp noï màûn laûi âæåüc ? Sæû khaïc biãût cuía chuïng ta khäng åí nåi baín cháút riãng cuía mçnh hay nåi nhæîng tênh täút chuïng ta coï. Chuïng ta khäng tæû haìo laì nhæîng ngæåìi täút nháút hoàûc muäún daûy ngæåìi khaïc. Chuïng ta cuîng âæåüc nhaìo nàûn båíi cuìng mäüt thæï bäüt nhæ táút caí moüi ngæåìi. Chuïng ta cuîng gàûp nhæîng thuáûn låüi vaì nhæîng chæåïng ngaûi trong chuïng ta vaì chung quanh chuïng ta nhæ moüi ngæåìi. Nhæng chuïng ta ra laût khi khäng coìn liãn kãút våïi Âæïc Kitä, khi khäng coìn qui chiãúu vãö Ngaìi, khi Ngaìi khäng coìn laì men cho âåìi säúng chuïng ta. Luïc âoï cuäüc säúng chuïng ta vaì thãú giåïi chuïng ta säúng seî thiãúu « hæång vë »; båíi vç sæï maûng cuía chuïng ta laì laìm cho thãú giåïi naìy biãút « thæåíng thæïc » Âæïc Kitä vaì Tin Mæìng cuía Ngaìi !
Hçnh aính aïnh saïng näúi tiãúp vaì laìm roî hçnh aính vãö muäúi : Anh em laì aïnh saïng thãú gian. AÏnh saïng laì âãø nhçn, nhæng tæû noï khäng âuí. Noï vä duûng nãúu noï khäng soi cho caïi gç hãút. Âæïc Giãsu âàût caïc män âãû cuía Ngaìi trong thãú gian vaì qui chiãúu våïi thãú gian. Ngaìi khäng kãu goüi hoü säúng kheïp kên, taïch råìi ngæåìi khaïc. Thaïnh Gioan cuîng noïi nhæ váûy nhæng diãùn taí caïch khaïc : Con sai hoü âãún trong thãú gian (Gio. 17,18). Chênh vç váûy, caïc Kitä hæîu säúng trong thãú gian vaì trong nhæîng hoaìn caính nhæ moüi ngæåìi khäng nhæîng laì âiãöu bçnh thæåìng maì coìn cáön thiãút næîa… Hoü khäng säúng trong mäüt thãú giåïi khaïc ! Chuïng ta phaíi thæûc hiãûn nhæîng cäng viãûc cuía aïnh saïng, nghéa laì nhæîng haình vi täút hay nhæîng viãûc laìm täút âæåüc aïnh saïng Thiãn Chuïa soi chiãúu âãø tråí thaình nhæîng viãûc laìm cuía chênh Thiãn Chuïa. Noïi váûy khäng coï nghéa laì Thiãn Chuïa måìi goüi chuïng ta tin ràòng mçnh laì ngæåìi täút hån ngæåìi khaïc hoàûc tæû mçnh, mçnh coï thãø haình âäüng täút hån h, båíi vç moüi cäng viãûc chuïng ta laìm âãöu qui vãö vinh quang Thiãn Chuïa laì nguäön aïnh saïng : Aïnh saïng cuía anh em phaíi chiãúu giaîi træåïc màût thiãn haû, âãø hoü tháúy nhæîng cäng viãûc täút âeûp anh em laìm, maì tän vinh Cha anh em, Âáúng ngæû trãn tråìi. Nåi Âæïc Giãsu, aÏnh saïng âaî toía chiãúu trong thãú gian. Chuïng ta chè phaín chiãúu laûi aïnh saïng naìy. Âåìi säúng, haình vi cuía chuïng ta tråí nãn táúm gæång phaín chiãúu vinh quang Thiãn Chuïa, tråí nãn nåi gàûp gåî giæîa Thiãn Chuïa vaì con ngæåìi ».

2. “Thaåm nhaäp vaøo nôi thaâm saâu cuûa theá giôùi baèng söùc maïnh linh hoaït cuûa muoái vaø söï chieáu toaû cuûa aùnh saùng.” (J. Guillet, trong ‘Giãsu trong niãöm tin cuía caïc män âãû âáöu tiãn’, Descleïe de Brouwer, 1995, tr.110-111).
« Maït-Thãu âaî xen keî hai âoaûn ngàõn våïi hçnh thæïc duû ngän vãö muäúi vaì aïnh saïng vaìo giæîa caïc Mäúi Phuïc vaì nhæîng âiãöu Âæïc Giãsu cäng bäú vãö Luáût (Do Thaïi). Caí hai âoaûn naìy âãöu nhàõm mäüt nhoïm riãng, phán biãût roî raìng våïi nhæîng ngæåìi âi theo nghe Ngaìi giaíng, båíi vç nhoïm naìy phaíi haình âäüng theo låìi Ngaìi daûy : ‘Anh em laì muäúi cho âåìi…Anh em laì aïnh saïng thãú gian’ (Mat. 5,16). Trong bäúi caính Baìi giaíng trãn nuïi, roî raìng Âæïc Giãsu noïi våïi caïc män âãû theo Ngaìi. Vaì nãúu khäng loaûi boí âaïm âäng naïo næïc theo Ngaìi, chuïng ta coï thãø tin ràòng sæï âiãûp cuía Âæïc Giãsu âaî gáy mäüt tiãúng vang naìo âoï trong âaïm âäng vaì coï thãø mäüt haût nhán caïc män âãû thaình hçnh, gäöm phuû næî vaì âaìn äng muäún theo Chuïa. Tuy nhiãn hoü khäng laìm thaình mäüt dán täüc måïi, hoü váùn luän thuäüc vãö dán cuía Abraham, cuía Mäi-sen : hoü laì nhæîng ngæåìi mang sæï âiãûp måïi trong dán täüc hoü. Âiãöu naìy khäng coï gç laì laû båíi vç ngæåìi Israel âaî coï thoïi quen nghe caïc ngän sæï noïi âãún tæång lai maì Thiãn Chuïa âang chuáøn bë, tæång lai âoï coï luïc âen täúi, coï luïc laûi ræûc råî. Tuy nhiãn, tæång lai Âæïc Giãsu phaïc hoüa hoaìn toaìn khaïc træåïc.
ÅÍ âáy, sæû song haình våïi biãún cäú Sinai giuïp laìm saïng toí hån. Mäüt nhoïm nhoí nhæîng ngæåìi dán giaî tæång æïng våïi dán chúng âaío tuû táûp dæåïi chán nuïi cuía Thiãn Chuïa. Nhæng trong khi ån goüi cuía dán Israel laì laìm chæïng cho Thiãn Chuïa vaì laì dáúu chè sæûû chuïc phuïc cuía Thiãn Chuïa åí giæîa caïc dán täüc, thç sæï maûng cuía nhoïm haût nhán nhoí naìy laì tháøm nháûp vaìo nåi thám sáu cuía thãú giåïi bàòng sæïc maûnh linh hoaût cuía muäúi vaì sæû chiãúu toía cuía aïnh saïng. Abraham laì ngæåìi âæåüc Thiãn Chuïa chuïc phuïc vaì moüi dán täüc trãn màût âáút âãöu âæåüc chuïc phuïc qua äng (Gen. 12,1). Dán Israel cuía Mäi-sen phaíi tråí nãn mäüt dán täüc låïn vaì moüi dán täüc khaïc âãöu thaïn phuûc caïch àn åí vaì tinh tháön cuía hoü : ‘Khi biãút âãún caïc lãö luáût naìy, hoü seî thäút lãn : ‘Chè coï mäüt dán täüc khän ngoan vaì minh máùn, âoï laì dán täüc låïn naìy.’ Tháût váûy, coï dán täüc naìo låïn âãún näùi caïc tháön linh cuía hoü gáön guîi hoü nhæ Giavã, Thiãn Chuïa cuía chuïng ta åí gáön chuïng ta mäùi khi chuïng ta kãu cáöu Ngaìi ». (Nhë Luáût 4,6) Theo Âæïc Giãsu chè coï mäüt säú män â. Tuy säúng trong loìng mäüt thãú giåïi coìn chæa biãút âãún mçnh, nhæng hoü laûi mang theo mçnh mäüt sæïc maûnh khaí dé biãún âäøi thãú giåïi. Båíi váûy, sæû toía chiãúu cuía caïc mäúi phuïc tråí nãn âäüng læûc cuäüc säúng.

3. “Xin haõy trao ban chính baïn laøm muoái öôùp ñôøi toâi!”: (H. Denis, trong ‘100 tæì âãø noïi vãö niãöm tin’, Desclée de Brouwer, 1993, 95-96).
« Muäúi ! Taûi sao laûi choün váût nhoí beï chàóng laì chi hãút naìy ngoaìi cäng duûng nhæ mäüt thæï gia vë ? Mäüt säú Kitä hæîu khäng coìn quen duìng næîa. Giaïo häüi âäi khi coìn nuäúi tiãúc viãûc boí khäng duìng muäúi trong bê têch ræía täüi. Mäüt sæû tiãúc nuäúi vä êch khi maì noï khäng thuïc âáøy ngæåìi ta dáún thán.
Muäúi Tin Mæìng coìn quan troüng hån mäüt nghi lãù ráút nhiãöu. Baûn haîy mæåìng tæåüng – vaì chuïng ta coìn sæíng säút vãö âiãöu naìy – muäúi laì chênh baûn, laì chênh täi, laì táút caí män âãû Âæïc Giãsu. Män âãû Âæïc Giãsu laì –phaíi laì- muäúi cho âåìi. Chè váûy thäi !
Mäüt tham voüng ghã gåïm, nãúu chuïng ta tæû cho mçnh laì nhæîng ngæåìi täút nháút, laì gia vë duy nháút trong âaïm âäng nhaût thãúch, khäng coï vë màûn. Nhæng âoï seî laì mäüt traïch nhiãûm låïn lao nãúu Âæïc Giãsu trao cho chuïng ta mäüt sæï maûng nhæ váûy vaì caïch thãú âãø thæûc hiãûn noï.
Váng, træåïc hãút chuïng ta coï traïch nhiãûm cuía mäüt loaûi giao æåïc giæîa caïi laì muäúi vaì caïi chæa phaíi laì muäúi. Mäüt thãú giåïi khäng coï muäúi thç chàóng coï mäüt chuït hæång vë naìo, nhæng nãúu åí ngoaìi thãú giåïi naìy thç muäúi cuîng vä duûng. Kitä hæîu vaì thãú gian laì hai thaình pháön liãn kãút våïi nhau. Caí hai âæåüc taûo dæûng âãø träün láùn våïi nhau. Hån næîa, ngæåìi træåïc tiãn âæåüc låüi chênh laì ngæåìi kitä hæîu, vç hoü phaíi æåïp màûn nåi hoü táút caí nhæîng gç chæa laì kitä hæîu.
 Mäüt traïch nhiãûm khaïc maì baûn biãút ráút roî, âoï laì âæìng ra nhaût. Baûn âæìng nghé ràòng âãø traïnh âiãöu naìy baûn phaíi träún khoíi thãú gian. ÀÕt hàón seî coï nguy cå bë tan raî åí âoï caïch âån thuáön vaì dãù daìng. Nhæng muäúi maì cháút âäúng vaì âãø nguyãn mäüt chäù cuîng coï nguy cå bë phán huíy âi.
Váûy, baûn haîy noïi cho täi biãút, nãúu giæîa ngæåìi våïi ngæåìi, giæîa nhæîng kitä hæîu våïi nhau, chuïng ta cäú gàõng duy trç vë, hæång… cho thãú giåïi cuía chuïng ta thç phaíi laìm thãú naìo ? Khäng thãø chè cáûy vaìo mçnh. Phaíi coï thãø noïi : Xin âæa cho täi chuït muäúi ! nhæ laì trong bæîa àn cuía âäi våü chäöng, cuía cha meû vaì con caïi.
Váng, nãúu coï bao giåì Tin Mæìng nåi baûn nhaût nheîo âi thç luän coï mäüt ngæåìi anh, mäüt ngæåìi chë âãø baûn hoaìn toaìn tin tæåíng noïi våïi ho : «Xin haîy trao ban chênh baûn laìm muäúi æåïp âåìi täi! »

 

CHÚA NHẬT VI THƯỜNG NIÊN

 “TA KHÔNG ĐẾN ĐỂ BÃI BỎ
NHƯNG ĐỂ KIỆN TOÀN”

(Mt 5, 17-37)

I. VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI:

1. Nguyên tắc chung: “Không bãi bỏ, nhưng kiện toàn”
Leo lãn ngoün nuïi Sinai måïi, Âæïc Giãsu, trong caïc mäúi phuïc cuía mçnh, træåïc tiãn, taïn tuûng caính säúng haûnh phuïc cuía caïc män âãû qua låìi måí âáöu cuía baìi giaíng trãn nuïi : "Phuïc cho nhæîng tám häön ngheìo khoï : vç Næåïc Tråìi laì cuía hoü". Âoaûn Ngaìi minh âënh sæï mãûnh trao phoï cho hoü : "Caïc con laì muäúi âáút... caïc con laì aïnh saïng tráön gian.." Tiãúp âãún trung tám baìi Hiãún chæång, Ngaìi maûc khaíi cho caïc ngæåìi cuía mçnh sæû måïi meí hoaìn toaìn cuía Tin Mæìng.
Baín vàn mang âáûm dáúu áún cuía thaïnh Maït-thãu naìy gåüi lãn aïp læûc læåîng diãûn âang âeì nàûng trãn nhæîng cäüng âoaìn ki tä giaïo.
- Træåïc tiãn, laì aïp læûc ngoaûi taûi cuía häüi âæåìng, nhán danh lãö luáût bàõt båï caïc män âãû cuía Âæïc Giãsu.
- Sau âoï, laì aïp læûc näüi taûi cuía caïc cäüng âoaìn tên hæîu bàõt nguäön tæì Do Thaïi giaïo, "truyãön thäúng hån" âäi khi co vaìo sæû tuán giæî lãö luáût theo nghéa ngæî, âäúi laûi våïi caïc tên hæîu xuáút thán tæì âa tháön giaïo, luän tçm caïch gieìm pha lãö luáût.
Giaïo huáún cuía Âæïc Giãsu seî sæía læng caí hai. Quaí tháût, Ngaìi tuyãn bäú ràòng mçnh "khäng âãún âãø baîi boî lãö luáût hay caïc tiãn tri, maì âãø kiãûn toaìn ü" Nghéa laì thãø hiãûn mäüt caïch viãn maîn, hoaìn haío trong tçnh yãu vaì tæû do cuía Con Cha trãn tråìi.
Vç thãú, tæì nay "sæû cäng chênh" måïi hãû taûi khäng phaíi åí chäù kheïp mçnh mäüt caïch bãö ngoaìi vaìo caïc táûp tuûc, nhæng laì "khuän mçnh” theo thaïnh yï Chuïa Cha nhæ Âæïc Giãsu. Säúng trong cäüng âoaìn våiï tçnh yãu vaì tæû do cuía con caïi. Coï thãú, måïi "cäng chênh" hån caïc luáût sé vaì biãût phaïi âæåüc.
 Thaïnh I-rã-nã thaình Ly-on, vaìo thãú kè thæï hai âaî hoíi : nhæ váûy, khi âãún tráön gian naìy, Chuïa âaî mang theo nhæîng gç? Ngaìi âaî mang theo sæû måïi meí hoaìn toaìn bàòng chênh con ngæåìi cuía Ngaìi.

2. . . . Nhöõng aùp duïng cuï theå.
Tiãúp sau laì nàm phaín âãö cuû thãø hoïa "sæû cäng chênh måïi" seî laì baìi hoüc aïp duûng nguyãn lê täøng quaït naìy vaìo cuäüc säúng tên hæîu, vç chênh toaìn thãø lãö luáût Phuïc Ám phaíi bao boüc toaìn thãø cuäüc säúng caïc män âãû. Nàm hçnh aính, maì chuïng ta seî theo doîi trong baìi âoüc Chuïa nháût tåïi, âãöu bàõt âáöu våïi cäng thæïc "Anh em âaî nghe biãút ngæåìi xæa dáûy ràòng... coìn Tháöy, Tháöy baío cho anh em biãút..." Mäüt kiãøu noïi träúng âãø traïnh duìng tãn Thiãn-Chuïa, coï nghéa laì "Thiãn-Chuïa âaî phaïn", “Anh em âaî nghe biãút khi låìi Chuïa âæåüc cäng bäú long troüng trong häüi âæåìng", âäúi laûi, Chuïa âæa ra nhæîng xaïc quyãút cuía riãng mçnh "Coìn Tháöy, Tháöy baío cho anh em biãút."
Theo Jean Potin, "Âæïc Jesus tæû giåïi thiãûu nhæ laì mäüt Mäsã måïi, khäng chè âuí tháøm quyãön giaíi thêch luáût lãû cuía Thiãn-Chuïa, maì coìn caïch tán : Luáût Chuïa âaî baío anh em... nhæng Tháöy, Tháöy baío anh em... Ngaìi coìn hån caí mäüt Mäsã måïi næîa vç Ngaìi khäng chè bàòng loìng noïi vãö lãö luáût måïi nhæ mäüt nhaì laìm luáût, maì coìn càõt nghéa cho tæìng ngæåìi cuû thãø âãø hoü gàõn boï ngaìy caìng máût thiãút hån våïi Thiãn-Chuïa Cha, laì Âáúng maì hoü phaíi nãn hoaìn thiãûn nhæ Ngæåìi." (Âæïc Giãsu, lëch sæí âêch thæûc, Centurion, tr.198)
-Minh hoüa âáöu tiãn laì mäúi "tæång giao huynh âãû". Tháûp giåïi truyãön baío "ngæåi khäng âæåüc giãút ngæåìi". Coìn Âæïc Giãsu, âi âãún cuìng nhæîng âoìi hoíi cuía lãö luáût, âaî tuyãn bäú ràòng, nguyãn viãûc khäng phaûm täüi saït nhán thäi chæa âuí, maì coìn phaíi loaûi boí näùi oaïn háûn vaì giáûn håìn khoíi loìng mçnh næîa.
J.Potin viãút "Trong tháûp giåïi cuía Mäsã, lãn aïn täüi giãút ngæåìi thuäüc giåïi ràn thæï nàm. ÅÍ âáy, noï âæåüc noïi âãún âáöu tiãn, chàõc chàõn vç noï bao haìm mäüt caïch tiãöm áøn giåïi ràn traìn âáöy baìi diãùn tæì trãn nuïi: tçnh yãu tha nhán, ... tinh tãú trong tçnh yãu tha nhán... tråí thaình giåïi ràn âáöu tiãn : Âæïc Giãsu âaî tháúy máöm mäúng cuía giåïi luáût yãu thæång naìy trong âiãöu ràn lãn aïn viãûc giãút ngæåìi. Kênh troüng sæû säúng ngæåìi khaïc måí âæåìng cho viãûc baìy toí tçnh yãu án cáön hån âäúi våïi tha nhán. Caí hai âãöu phaíi âæåüc xem xeït træåïc màût Thiãn-Chuïa laì Âáúng maì Âæïc Giãsu seî coi laì quan aïn vaì hiãön phuû”. (Saïch âaî dáùn, tr. 198-199)
Hai vê duû åí ngäi thæï hai säú êt "anh" tiãúp näúi minh hoüa thæï nháút - "vç thãú, khi anh sàõp dáng lãù váût truåïc baìn thåì...." xung âäüt laì máöm mäúng saït nhán, vaì hoìa giaíi laì mäüt bäøn pháûn cáúp thiãút hån caí viãûc dáng cuía lãù cho Thiãn-Chuïa : "haîy âi laìm hoìa våïi ngæåìi anh em træåïc âaî räöi haîy tråí vãö dáng lãù váût cuía mçnh"
- "Haîy mau mau daìn xãúp våïi âäúi phæång" : thuì oaïn dáy dæa, ngaìy sau, seî vä phæång cæïu chæîa træåïc toìa aïn Thiãn-Chuïa .
-Minh hoüa thæï hai noïi vãö mäúi tæång giao nam næî trong âåìi säúng hän nhán. Trong Do Thaïi giaïo, thuíy chung laì nãön taíng cuía âåìi säúng hän nhán : noï âæåüc chæïng thæûc bàòng sæû thuíy chung cuía Thiãn-Chuïa âäúi våïi giao æåïc vaì våïi dán riãng Ngæåìi.
J.Potin càõt nghéa: "Hän nhán khäng chè laì mäüt khãú æåïc coï tênh luáût phaïp. Noï raìng buäüc con ngæåìi tæû âaïy loìng hoü. Vç thãú khi ngæåìi âaìn äng âaî coï våü theìm muäún våü ngæåìi khaïc laì âaî phaûm vaìo dáy hän phäúi. Traïi tim âaî chãûch khoíi giao æåïc cuía noï." (Saïch âaî dáùn, tr.199)
- Minh hoüa thæï ba noïi âãún nhæîng låìi thãö hæïa maì ngæåìi ta cho ràòng seî maûnh hån khi naûi âãún nhæîng thæûc taûi êt nhiãöu thaïnh thiãng : "Chè tråìi, chè âáút, chè Jerusalem..."
Âæïc Giãsu xaïc quyãút, âæìng thãö gian khäng thäi chæa âuí, coìn phaíi diãût træì khoíi loìng ta sæû láûp låì, báút chênh, âa nghi næîa. Khäng âæåüc âi xa hån låìi noïi chán thæûc giaín âån: "khi caïc ngæåi noïi "coï" laì phaíi "coï".
Mæïc qui âënh maì Âæïc Giãsu kãu goüi caïc män âãû laì : biãún âäøi táúm loìng âãø coï thãø hiãûp thäng våïi nhæîng tçnh caím cuía Thiãn-Chuïa âæåüc biãøu hiãûn trong âæïc Kitä Con Ngaìi. Nhæ Âæïc cha L.Daloz viãút "Âäúi våïi caïc män âãû, kiãûn toaìn lãö luáût khaïc hàón viãûc thæûc thi caïc mãûnh lãûnh. Âuïng hån, âáy chênh laì viãûc âãø cho lãö luáût kiãûn toaìn chênh mçnh, âæa mçnh âi tåïi cuìng". ("Næåïc Tråìi âãún gáön", Descleïe de Brouwer, tr.51)

II. BAØI ÑOÏC THEÂM:

1. “Haõy ñeå cho leà luaät kieän toaøn chính chuùng ta” (Âæïc cha L. Daloz. trong "Næåïc Tråìi âãún gáön", Descleïe de Brouwer, 1994, tr.51)
“Âæïc Giãsu kiãûn toaìn lãö luáût bàòng caïch traí laûi cho noï táút caí sæû trong saïng cuía låìi Thiãn-Chuïa, khi nháún maûnh âãún âiãöu cäút loîi : "Ta muäún loìng nhán tæì chæï khäng phaíi hi tãú." Khi âæåüc hoíi vãö giåïi ràn troüng nháút, Ngaìi khäng do dæû traí låìi ràòng toaìn bäü lãö luáût vaì tiãn tri âãöu qui vãö giåïi ràn troüng nháút laì yãu mãún Thiãn-Chuïa hãút loìng, hãút linh häön, hãút trê khän vaì yãu thæång anh em nhæ chênh mçnh. (Xem 22,34-40). Chênh Ngaìi âaî kiãûn toaìn giåïi ràn cao caí áúy bàòng caïch tæû hiãún âåìi mçnh. Pháön caïc män âãû, kiãûn toaìn lãö luáût khaïc hàón viãûc tuán thuí caïc mãûnh lãûnh. Âuïng hån, chênh lãö luáût kiãûn toaìn ta, âæa ta âi âãún cuìng. Coï thãú måïi âaïng âãø ta tuán giæî tæì giåïi ràn nhoí beï nháút - tháûm chê cho tåïi mäüt neït pháøy - khäng phaíi vç tè mè hay cáöu toaìn, nhæng vç tæû hiãún hoaìn toaìn, måí loìng troün veûn, âãø låìi cuía Thiãn-Chuïa tháúm nháûp vaì biãún âäøi táûn âaïy loìng ta, vaì biãún ta nãn hoaìn haío nhæ Cha trãn tråìi laì Âáúng hoaìn haío. Âáy khäng phaíi laì sæû nä lãû maì laì tçnh nguyãûn. Noï khäng bao giåì kãút thuïc vç ta luän báút toaìn. Âáy laì sæû reìn luyãûn træåìng kç vãö tênh saïng suäút vaì loìng can âaím. Træåïc tiãn, âáy laì mäüt häöng án, mäüt án huãû cuía Thiãn-Chuïa, Âáúng muäún vaì thæûc hiãûn nåi ta âiãöu âoï. Âáy chênh laì taïc pháøm cuía Chuïa Thaïnh Tháön, Âáúng âãún âãø saín sinh trong ta nhæîng hoa traïi cuía Ngæåìi, nhæ váûy kiãûn toaìn lãö luáût laì ghi khàõc noï vaìo táûn âaïy loìng ta..."

2. “Söï caáp tieán cuûa Baøi giaûng treân nuùi”: (J. Guillet, "Âæïc Giãsu trong niãöm tin cuía caïc män âãû tiãn khåíi" Descleïe de Brouwer, 1995).
“Tênh cáúp tiãún naìy khäng hãö nãû luáût. Âiãöu hay nháút cuía baìi giaíng laì khäng coï thãm mäüt âiãöu khoaín bäø tuïc, mäüt âoìi buäüc måïi naìo. Nhæng laûi khäng cho pheïp báút cæï ai tæû tin mçnh âaî âaût âãún sæû cäng chênh cao siãu caí. Noï bàõt moüi män âãû tæû do tæåíng tæåüng, tiãún xa hãút mæïc trong viãûc phuûc vuû vaì trong tçnh yãu tha nhán. Giåïi luáût âàûc thuì cuía Tin Mæìng luän coï tênh têch cæûc. Taûi chäù maì luáût cuî mang tênh tæång âäúi vaì haûn âënh mäüt giåïi haûn khäng thãø væåüt qua "Ngæåi khäng âæåüc giãút ngæåìi, khäng âæåüc phaûm täüi ngoaûi tçnh" thç Âæïc Giãsu laûi cäng thæïc hoïa chuïng theo âæåìng hæåïng têch cæûc: træåïc hãút, haîy âi laìm hoìa âaî, haîy moïc màõt phaíi maì neïm âi. Ta phaíi biãút nháûn ra nguyãn lê nãön taíng âaìng sau nhæîng phoïng âaûi quen thuäüc theo kiãøu noïi "phæång Âäng": anh khäng âæåüc âàût giåïi haûn cho tçnh huynh âãû, cho viãûc tän troüng phuû næî."

3. “Cuoäc caùch maïng toân giaùo vó ñaïi nhaát töø tröôùc ñeán nay”: (H. Denis “100 tæì noïi lãn niãöm tin”. Descleïe de Brouwer, 1993, tr.101-102).
"Baûn coï biãút tháûp giåïi khäng? Coï leî baûn coï thãø, âoüc thuäüc mæåìi âiãöu ràn bàòng vàn xuäi hay vàn váön, âiãöu âoï khäng quan troüng. Âiãöu quan troüng hån, âoï laì biãút âæåüc âiãöu Âæïc Giãsu âaî laìm âäúi våïi tháûp giåïi. Ta coï thãø noïi våïi Ngaìi ràòng Lãö Luáût, khäng bë huíy boí, nhæng âæåüc thàng tiãún âãø âæåüc kiãûn toaìn. Noïi caïch khaïc, ta cuîng phaíi âãø yï keío khi væåüt lãn lãö luáût, ta laûi khinh thæåìng noï bàòng caïch baïm vêu vaìo âoï nhæ Âæïc Giãsu chæa tæìng kiãûn toaìn noï váûy.
Våïi caïi nhçn naìy, baìi giaíng trãn nuïi coï leî laì cuäüc caïch maûng tän giaïo vé âaûi nháút cuía moüi thåìi. Mäüt con ngæåìi, mäüt vë tiãn tri, mäüt sæï giaí cuía Thiãn-Chuïa daïm noïi lãn nhæîng låìi chæa tæìng nghe "Anh em âaî nghe Luáût daûy ngæåìi xæa ràòng; coìn Tháöy, Tháöy baío cho anh em biãút". Vë Giãsu naìy væåüt trãn caí lãö luáût.
Baûn haîy thæí tæåíng tæåüng xem. Luáût dy ngæåìi xæa. Luáût åí âáy laì ai? Tháût âån giaín, âoï chênh laì Thiãn-Chuïa cuía Cæûu Æåïc, Âáúng âaî ban Lãö Luáût. Vç thãú maì âäúi våïi ngæåìi Do Thaïi, khäng ai coï thãø væåüt hån Lãö Luáût, hån âæåüc Låìi Thiãn-Chuïa âaî trao ban mäüt láön cho âãún muän âåìi âæåüc.
Váûy maì, coï mäüt ngæåìi âaî daïm væåüt trãn Lãö Luáût. Baûn haîy láön læåüt xeït ké tæìng giåïi ràn räöi seî tháúy, quaí tháût, khi âaî biãút Âæïc Giãsu laì ai räöi, ngæåìi ta seî tháúy caïc giåïi ràn thiãng liãng naìy tháût tæång âäúi so våïi mäüt âiãöu cao caí hån nhiãöu laì nháûn ra Tçnh yãu âæåüc biãøu toí nåi Âæïc Giãsu, Con Chuïa Cha.
"Luáût daûy ngæåìi xæa ràòng, coìn Tháöy, Tháöy baío cho anh em biãút." Coï leî caïc baûn âaî biãút âáy laì mäüt trong ba luáûn cæï maì tháön hoüc âaî ruït ra tæì Tin Mæìng, coi nhæ âãø maûc khaíi thiãn tênh cuía Âæïc Giãsu (mäüt Âæïc Giãsu, may thay, khäng bao giåì tæû xæng: Ta laì Thiãn-Chuïa, nhæng "Anh em baío Tháöy laì ai?") Caïc baûn cuîng biãút hai luáûn cæï kia laì gç räöi. Thæï nháút âoï laì viãûc goüi Thiãn-Chuïa laì Cha, ngæåìi Cha (Abba) thán thæång thæûc sæû. Sau âoï laì låìi yãu saïch quaï quàõt "Moüi täüi con âaî âæåüc tha" chè mçnh Thiãn-Chuïa måïi coï quyãön tha täüi maì thäi.
Baûn tháúy Lãö luáût âæåüc kiãûn toaìn naìy âæa ta âãún âáu. Vaìo nhæîng luïc nghi nan, hay nhæîng giáy phuït moíi moìn vç phaíi trung thaình våïi Lãö luáût, baûn haîy nhåï âãún sæû can âaím áúy cuía Âæïc Giãsu: "Luáût daûy ngæåìi xæa ràòng, coìn Tháöy, Tháöy baío cho anh em biãút."

 

CHÚA NHẬT VII THƯỜNG NIÊN

“ANH EM HÃY NÊN HOÀN THIỆN
NHƯ CHA ANH EM TRÊN TRỜI LÀ ĐẤNG HOÀN THIỆN”

(Mt 5, 38-48)
I. VAØI ÑIEÅM CHUÙ GIAÛI:

1. Nhöõng aùp duïng cuï theå cuûa luaät môùi . . .
Khi tuyãn bäú ràòng Ngaìi "âãún khäng phaíi âãø huíy boí Lãö Luáût vaì caïc Tiãn tri, nhæng laì âãø kiãûn toaìn" trong Baìi giaíng trãn nuïi, Âæïc Giãsu maûc khaíi "sæû cäng chênh" måïi cuía Næåïc Tråìi hãû taûi âiãöu gç: âoï khäng phaíi laì giæî Luáût caïch hçnh thæïc, nhæng laì "tæû âiãöu chènh" theo yï Chuïa Cha nhæ Ngaìi, laì säúng thäng hiãûp trong tçnh yãu vaì tæû do cuía Ngæåìi Con nhæ Ngaìi.
Räöi nhåì vaìo 5 minh hoüa, Ngaìi cuû thãø hoïa "sæû cäng chênh" måïi naìy, vaì cho biãút ràòng âãø thæûc hiãûn toaìn bäü Lãö luáût, ngæåìi tên hæîu phaíi âáöu tæ toaìn bäü cuäüc säúng cuía mçnh. Caí nàm minh hoüa âãöu bàõt âáöu bàòng mäüt cäng thæïc duy nháút biãøu läü mäüt quyãön læûc phi thæåìng: "Anh em âaî nghe ngæåìi xæa âæåüc daûy ràòng... coìn Tháöy, Tháöy baío cho anh em biãút." Ba minh hoüa âáöu tiãn trong Phuïc Ám chuïa nháût væìa qua; hai minh hoüa cuäúi cuìng trong Phuïc Ám häm nay.
- Minh hoüa thæï tæ nhàòm nhæîng mäúi tæång quan våïi "keí aïc".
Âãø traïnh nhæîng sæû traí thuì thaïi quaï ngoaìi táöm kiãøm soaït, luáût baïo thuì (loi du talion) dæû kiãún keí gáy háún seî bë âäúi xæí tæång xæïng våïi âiãöu thiãût haûi âaî gáy ra cho naûn nhán: "Màõt âãön màõt" - nhæng khäng phaíi laì âãön hai màõt -, "ràng âãön ràng" - nhæng khäng phaíi laì caí haìm (xem Lãvi 21,24). Luáût naìy âaî laì mäüt tiãún bäü thæûc sæû trong viãûc tráún aïp täüi phaûm.
Pháön Âæïc Giãsu, Ngaìi chuí træång mäüt thaïi âäü ráút caï biãût, tæång phaín hoaìn toaìn våïi thaïi âäü bçnh thæåìng: "Âæìng chäúng cæû våïi ngæåìi aïc". Ngaìi âoìi hoíi caïc män âãû mçnh phaíi beí gaîy voìng xêch baûo læûc, duì håüp phaïp, vaì khäng âæåüc baïo thuì.
Ba vê duû sau âãöu åí ngäi hai säú êt:
+ Vê duû thæï nháút vãö "caïi taït": "Nãúu ai vaí maï bãn phaíi con, haîy giå caí maï bãn traïi ra næîa". Dé nhiãn khäng thãø hiãøu lãûnh máu thuáùn naìy theo nghéa âen. Chênh Âæïc Giãsu cuîng âaî khäng giå maï khaïc cho tãn âáöy tåï taït tai Ngaìi. Ngaìi hoíi hàõn: "Nãúu täi noïi sai, haîy cho tháúy “sai åí chäù naìo. Coìn nãúu täi noïi âuïng, sao anh laûi taït täi?" (Gioan 18,23). Nhæ váûy, âæïng træåïc keí gáy háún, ngæåìi theo Chuïa coï thãø coï mäüt haình vi væìa thaïch thæïc væìa laìm cho keí âëch hãút chäúng traí.
+ Vê duû thæï hai vãö ngæåìi män âãû bë ngæåìi khaïc coï yï âënh âæa ra toìa vaì ngæåìi âoï muäún láúy aïo trong (tunique) cuía ngæåìi män âãû laìm váût thãú cháúp, nghéa laì aïo loït.
Âæïc Giãsu chuí træång: "Haîy âãø cho noï láúy caí aïo ngoaìi næîa". Trong khi âoï, theo Luáût, aïo ngoaìi vaì aïo trong laì cuía khäng thãø sang nhæåüng âæåüc cuía ngæåìi ngheìo; chiãúm hæîu chuïng laì xám phaûm âãún chênh Thiãn Chuïa (coi Xuáút haình 22,25-26). Khi âãø bë tráön truûi âãún cho âi caí aïo ngoaìi, theo gæång Tháöy mçnh, caïc kitä hæîu biãút ràòng trong sæû khoï ngheìo nhæ váûy, hoü laì nhæîng keí chiãún thàõng båíi vç hoü seî âæåüc loìng thæång xoït cuía Thiãn Chuïa bao boüc.
+ Vê duû sau cuìng laì vê duû vãö sæû "træng táûp", thæåìng âæåüc quán âäüi vaì caïc viãn chæïc chaïnh quyãön Räma duìng âãø laìm viãûc cäng êch (mäüt hçnh thæïc lao dëch) thåìi âoï. Âæïc Giãsu coìn noïi thãm: "Nãúu coï ngæåìi bàõt anh âi mäüt dàûm, thç haîy âi våïi ngæåìi áúy hai dàûm"
Ngoaìi baìi giaíng trãn nuïi, thaïnh sæí Maït-Thãu chè duìng âäüng tæì "træng táûp" mäüt láön khaïc khi quán lênh træng táûp Simon thaình Xyrãnã, mäüt dán ngoaûi, luïc âoï tæåüng træng cho táút caí caïc thãú hãû män âãû cháúp nháûn tháûp giaï Âæïc Khä.
- Minh hoüa thæï nàm vaì cuäúi cuìng noïi âãún yãu thæång keí thuì.
Saïch Lãvi viãút: "Ngæåi seî yãu tha nhán nhæ chênh mçnh" (19,18). Nhæ váûy âiãöu naìy måìi goüi con caïi Israel säúng våïi nhau bàòng tçnh yãu huynh âãû loaûi boí moüi háûn thuì oaïn gheït. Nhæng caïc Tháöy rabbi thuäüc nhæîng nhoïm khaïc nhau tranh luáûn maîi vãö quan niãûm tha nhán vaì nhiãöu ngæåìi âaî cho noï mäüt nghéa haûn heûp: tha nhán laì ngæåìi maì ta coï quan hãû täút âeûp; phán biãût våïi keí thuì. Tæì âoï maì coï cáu Phuïc Ám: "Anh seî gheït keí thuì" tuy cáu naìy khäng coï trong Luáût, nhæng biãøu läü khaï âuïng yï nghé cuía ráút nhiãöu ngæåìi.
Ngæåüc laûi våïi tçnh yãu coï tênh caïch choün læûa âäúi tæåüng naìy, Âæïc Giãsu noïi âãún mäüt tçnh yãu phäø quaït væåüt moüi biãn giåïi, âãún caí keí thuì vaì ngæåìi baïch haûi. Theo Ngaìi, âoìi hoíi naìy âàût nãön taíng trãn caïch âäúi xæí cuía chênh Thiãn Chuïa våïi moüi ngæåìi, "Keí xáúu cuîng nhæ keí täút", "ngæåìi cäng chênh cuîng nhæ keí báút chênh".

2. . . . heä taïi thao göông Chuùa Cha:
Cáu 48 kãút luáûn toaìn thãø pháön naìy: "Váûy anh em haîy nãn hoaìn thiãûn, nhæ Cha anh em trãn tråìi laì Âáúng hoaìn thiãûn."
Nhæ váûy, theo gæång Cha vaì Con cuía Ngaìi, Âæïc Giãsu, âoï laì nãön taíng vaì muûc âêch cuía Luáût måïi naìy. Laì nhæîng män âãû cuía Âæïc Giãsu, âãún læåüt chuïng ta âæåüc Ngaìi måìi goüi säúng nhæ Con, våïi Ngaìi vaì trong Ngaìi. Caïi måïi triãût âãø cuía Baìi giaíng trãn nuïi chênh laì váûy, chæï khäng phaíi trong mäüt giåïi ràn âàûc biãût naìo.
Cl. Tassin chuï giaíi: "Ténh tæì 'hoaìn thiãûn' toïm tàõt yï tæåíng vãö sæû cäng chênh hån (caïc kyï luûc vaì biãût phaïi) åí cáu 20, vaì sæû hoaìn thiãûn naìy chênh laì noi theo haình âäüng cuía Thiãn Chuïa. Âaûo Do Thaïi âaî hiãøu "nhæîng cäng viãûc baïc aïi xoït thæång" nhæ nhæîng haình vi maì chênh Thiãn Chuïa âaî laìm gæång. Vaì Häüi âæåìng âaî chuï giaíi saïch lãvi 22,28 bàòng cáu ngaûn ngæî sau: "Nhæ Ta thæång xoït trãn tråìi thãú naìo, dæåïi âáút caïc con cuîng haîy thæång xoït nhæ váûy." Âiãöu naìy âæåüc Luca trçnh baìy bàòng nhæîng tæì nhæ sau: "Haîy xoït thæång nhæ Cha caïc con laì Âáúng xoït thæång" (6,36). Nãúu Maït-Thãu thêch ténh tæì "hoaìn thiãûn" hån, laì vç theo Ngaìi, loìng thæång xoït âaût tåïi mæïc yãu thæång keí thuì chênh laì sæû hoaìn thiãûn âæåücThiãn Chuïa träng âåüi nåi nhæîng ngæåìi con cuía Ngaìi. Nhæîng ai muäún ráûp theo khuän máùu Chuïa Cha, thç cáûy vaìo Âæïc Giãsu, Con chê thiãút cuía Thiãn Chuïa, âãø Ngaìi trao cho caïc chça khoïa bê máût naìy". ("Phuïc Ám Maït-Thãu", Centurion, 1991, tr.69-70)

II. BAØI ÑOÏC THEÂM:

1. “Beû gaõy voøng vaây baïo luïc”: (Âæïc cha L. Daloz, trong "Næåïc Tråìi âãún gáön", Desclée de Brouwer, tr. 58...60).
"Âæïc Giãsu láúy laûi qui âënh cuía Luáût: anh em âaî nghe daûy ràòng: Màõt dãön màõt, ràng âãön ràng... âäúi våïi chuïng ta âiãöu âoï dæåìng nhæ biãøu läü mäüt sæû traí thuì nghiãût ngaî, nhæng trong thæûc tãú, noï laûi âiãöu hoìa baûo læûc vaì giåïi haûn ham muäún. Trong mäüt xaî häüi maì mäùi ngæåìi thuåìng laì quan toìa cho chênh mçnh, âoï laì mäüt loaûi luáût "tæång xæïng" trong sæû âãön traí laûi sæû xuïc phaûm: ngæåìi ta coï thãø traí thuì tåïi mæïc âoï, khäng âæåüc væåüt quaï. Trong caïc quäúc gia cuía chuïng ta ngaìy nay, mäùi ngæåìi khäng thãø laìm quan toaì cho chênh mçnh. Chuïng ta âaî coï nhæîng cå quan caính saït vaì tæ phaïp laì nhæîng cå quan duy nháút coï quyãön báút vaì træìng phaût nhæîng keí phaûm täüi aïc. Caïc hçnh phaût âæåüc xaïc âënh roî båíi mäüt bäü luáût. Trong bäü luáût naìy, ngæåìi ta tçm tháúy laûi nguyãn tàõc tæång xæïng. Nhæ váûy phaûm nhán thoaït khoíi ham muäún traí thuì caï nhán. Ngæåìi ta læu yï âãún hoaìn caính, khäng chè tçm caïch tráún aïp vaì træìng phaût, maì coìn nhàòm tçm caïch chæîa trë vaì náng âåî. Dé nhiãn, chuïng ta ai cuîng biãút ràòng hãû thäúng tæ phaïp coï nhæîng âiãøm yãúu, nhæîng trç trãû, nhæîng sai láöm hay nhæîng "vãút chaìm". Nhæng dáùu sao noï váùn laì mäüt âaím baío vãö sæû tiãún bäü cuía nhán loaûi.
Chênh trong khung caính xaî häüi vaì phaïp lyï naìy maì häm nay chuïng ta âoïn nháûn Låìi Âæïc Giãsu . Vaì ngay caí åí trong khung caính naìy, Ngaìi váùn kiãûn toaìn Luáût bàòng caïch laìm cho noï âi sáu vaìo tám häön con ngæåìi. Coï khi yï muäún traí thuì khäng coìn biãøu läü qua haình âäüng næîa nhæng váùn coìn bë khêch âäüng vaì khåi gåüi lãn trong cäng luáûn qua caïc haình vi baûo læûc vaì caïc vuû kiãûn. Khäng dãù gç chäúng laûi âæåüc tçnh caím táûp thãø, nháút laì khi noï âæåüc chia seí båíi mäüt âaïm âäng nhæîng khaïn giaí trong mäüt thãú giåïi maì táút caí moüi sæû âãöu bë caïc phæång tiãûn thäng tin âaûi chuïng truyãön âi. Âaìng khaïc chuïng ta dãù ham muäún kãu goüi traí thuì vaì træìng phaût khi chênh chuïng ta khäng phaíi chëu traïch nhiãûm. Trong xæï såí chuïng ta, ngaình tæ phaïp coï sæï maûng xaî häüi væìa baío vãû, giaïo duûc væìa laìm gæång ; nhæng cuîng væìa sæía âäøi, chæîa trë væìa giuïp taïi häüi nháûp. Låìi Âæïc Giãsu daûy âæìng chäúng cæû nguåìi aïc khäng caín tråí cuîng nhæ khäng goì boï sæï maûng naìy. Nhæng coìn coï mäüt caïi gç khaïc hån laì nhæîng biãûn phaïp cáön thiãút âãø baío âaím an ninh xaî häüi, mäüt caïi gç khaïc hån laì sæû háûn thuì, ghen gheït, baïo oaïn. Âæïc Giãsu kãu goüi âãún caïi täút nháút nåi con nguåìi, âäi khi âãún caí sæû anh duîng âãø coï âæåüc mäüt con tim biãút thæï tha ; chuïng täi coï thãø laìm chæïng caïc kitä hæîu âaî säúng sæû tha thæï naìy caïch cäng khai ! Âæïc Giãsu khäng cáúm chuïng ta âoìi hoíi nhæîng quyãön låüi chênh âaïng. Khi bë viãn vãû binh taït tai, chênh Ngaìi âaî âoìi anh ta giaíi thêch lyï do taûi sao anh ta haình âäüng nhæ váûy : Nãúu täi noïi sai, haîy troí cho tháúy sai åí chäù naìo ; nãúu täi noïi âuïng, thç sao laûi âaïnh täi ? (Gioan 18,23). Nhæng nåi væåìn Cáy dáöu Ngaìi âaî khäng cho pheïp Phãrä ruït kiãúm baío vãû mçnh vaì cuîng khäng xin Chuïa Cha sai caïc âaûo binh thiãn tháön âãún che chåí mçnh. Ngaìi âãø mçnh bë tráún läüt, taït tai, âaïnh âáûp vaì âäüi triãöu thiãn bàòng muî gai… Ngaìi khäng haìi loìng våïi låìi kãu goüi âæìng láúy oaïn baïo oaïn, láúy laình thàõng dæî, láúy tçnh yãu thàõng háûn thuì. Ngaìi coìn toí ra chênh mçnh laì con âæåìng khi thæûc hiãûn låìi tiãn tri vãö ngæåìi âáöy tåï âau khäø âaî khäng quay læng, quay màût traïnh nhæîng keí ra sæïc laìm khäø mçnh. ÅÍ báút cæï nåi âáu chuïng ta sinh säúng vaì theo caïch thãú cuía minh, Ngaìi kãu måìi chuïng ta âæìng âi vaìo chu kyì baûo læûc, nhæng haîy coï âuí sæïc maûnh tinh tháön âãø âàût mäüt lä-gêch måïi trong mäúi tæång quan giæîa con ngæåìi våïi nhau.

2. “Thöù tha nhö Thieân Chuùa tha thöù cho ta”: (L. Sintaï, trong « Suy niãûm vaì giaíng Låìi Chuïa. Nàm A », Meïdiaspaul, tr. 83).
« Nãúu thæûc sæû sæû thæï tha cuía Thiãn Chuïa laìm täi hiãûn hæîu, nãúu Ngaìi ban cho täi tçnh yãu Thiãn Chuïa vaì khaí nàng yãu mãún, laìm sao täi laûi khäng thãø hoaïn chuyãøn tçnh yãu thaình thæï tha theo chæìng mæûc maì täi coï thãø laìm âæåüc âäúi våïi nhæîng ai âaî phaín bäüi, chäúi boí vaì laìm täøn thæång täi ? Hoàûc täi khäng laì kitä hæîu vaì råi vaìo läúi säúng theo cáu ngaûn ngæî cäø : « màõt âãön màõt, ràng âãön ràng », hoàûc täi muäún säúng nhæ laì mäüt kitä hæîu thç láûp tæïc, täi phaíi nhåï âiãöu loan baïo cäút yãúu nháút cuía âæïc tin : táút caí anh em âãöu laì nhæîng täüi nhán âaî âæåüc thæï tha, táút caí anh em âãöu laì nhæîng âæïa con cuía loìng thæång xoït. Nãúu anh em muäún laì nhæîng kitä thæûc sæû säúng âaûo, âiãöu thæûc haình âáöu tiãn, cå baín nháút, chênh laì thæûc haình âiãöu Thiãn Chuïa âaî säúng âäúi våïi anh em, âiãöu maì Âæïc Giãsu âaî laìm vaìo luïc Ngaìi sàõp qua âåìi, âoï laì thæï tha. Âoï laì caïch thãú duy nháút laìm chæïng cho moüi ngæåìi sæû tha thæï ta âaî laînh nháûn vaì noï âæåüc trao ban cho táút caí moüi ngæåìi.
Dé nhiãn, sæû tha thæï nhæ váûy khäng thãø laì sæû quaï ngáy thå, caìng khäng thãø laì sæû cäø vuî cho sæû dæî. Âãø thæûc sæû laì tha thæï, noï chè coï thãø phaït xuáút tæì mäüt læång tám khäng coï aío tæåíng naìo vãö nhæîng aïc tám, ä nhuûc, täüi aïc cuía thãú gian naìy vaì cuía lëch sæí con ngæåìi. Tuy nhiãn, væåüt lãn trãn nhæîng báút haûnh maì ngæåìi kitä hæîu dáún thán âáúu tranh nhán danh cäng lyï, hoüü coìn laìm chæïng vãö niãöm hy voüng Thiãn Chuïa âàût sàôn nåi mäùi nguåìi, duì laì nhæîng keí phaûm täüi nhå nhåïp nháút. Nhæ váûy, Thiãn Chuïa mong muäún táút caí hoaïn âäøi aïc tám vaì háûn thuì thaình tçnh yãu. Âiãöu naìy tháût âuïng, vç chuïng ta chè laì kitä hæîu do niãöm tin vaì hy voüng nhæ váûy, vaì chuïng ta âang cäú gàõng hãút sæïc mçnh säúng niãöm tin vaì hy voüng âoï nhåì ån Chuïa ».

3. “Yeâu thöông moïi ngöôøi vì Thieân Chuùa yeâu thöông hoï”: (Martin-Luther King, trong « Chè coï mäüt cuäüc caïch maûng », Casterman, 1968, tr. 108-109).
« Trong Tán Æåïc, chuïng ta tháúy tæì Agapeì âæåüc duìng âãø chè tçnh yãu. Âoï chênh laì tçnh yãu däöi daìo khäng âoìi mäüt âaïp traí naìo hãút. Caïc nhaì tháön hoüc noïi âoï laì tçnh yãu Thiãn Chuïa âæåüc thæûc hiện nåi tám häön con ngæåìi. Khi væån lãn âãún mäüt tçnh yãu nhæ váûy, chuïng ta seî yãu hãút moüi nguåìi, khäng phaíi vç chuïng ta coï thiãûn caím våïi hoü, cuîng khäng phaíi vç chuïng ta âaïnh giaï cao läúi säúng cuía hoü, chuïng ta yãu thæång hoü vç Thiãn Chuïa yãu thæång hoü. Âoïï chênh laì yï nghéa Låìi Âæïc Giãsu Anh em haîy yãu thæång keí thuì. Pháön täi, täi sung sæåïng vç Ngaìi âaî khäng noïi : « Anh em haîy coï thiãûn caím våïi keí thuì cuía anh em » båíi vç coï nhæîng ngæåìi maì täi khoï coï thiãûn caím näøi. Thiãûn caím laì mäüt xuïc caím. Täi khäng thãø coï xuïc caím våïi ngæåìi âaî neïm bom vaìo gia âçnh täi. Täi khäng thãø coï thiãûn caím våïi ngæåìi boïc läüt täi. Täi khäng thãø coï thiãûn caím våïi ngæåìi âeì beûp täi dæåïi sæû báút cäng. Khäng, khäng thãø coï mäüt thiãûn caím naìo âäúi våïi ngæåìi âãm ngaìy âe doüa giãút täi. Nhæng Âæïc Giãsu nhàõc täi ràòng tçnh yãu coìn låïn hån thiãûn caím, ràòng tçnh yãu laì thiãûn chê biãút caím thäng, coï tênh saïng taûo, cæïu âäü âäúi våïi hãút moüi ngæåìi ».

 

CHÚA NHẬT XI THƯỜNG NIÊN

SỨ MẠNG ĐẦU TIÊN CỦA 12 TÔNG ĐỒ
(Mt 9,36; 10,8)

I. VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI:

1. Một sứ mạng bắt nguồn từ “lòng thương xót” của Đức Giêsu.
Sau những hoạt động truyền giáo của Đức Giêsu tại Galilê, câu 35 cho một cái nhìn tổng quát về hoạt động này: “Đức Giêsu rảo khắp các thành phố, làng mạc, rao giảng trong các hội đường. Công bố Tin Mừng Nước Thiên Chúa, chữa mọi bệnh hoạn, tật nguyền”, nay đến giờ tổng kết, để tạo một đà lực mới cho sứ mạng.
Nguồn mạch của đà lực mới cho sứ mạng này phát xuất từ cái nhìn của Đức Giêsu, từ trái tim Mục Tử nhân hậu của Người, từ “lòng thương xót” của Người đối với “đám đông mệt mỏi rã rời”, tệ hơn nữa, bị những người có trách nhiệm hướng dẫn - Luật sĩ và Biệt phái - bỏ rơi vì những vị này khép lòng lại trước tính chất mới mẻ của Nước Chúa. “Họ bơ vơ như đàn chiên không người chăn dắt”.
- Thấy nhiệm vụ quá lớn lao mà phương tiện lại nghèo nàn, trước khi cất tiếng kêu gọi và sai các tông đồ lên đường sứ mạng, Đức Giêsu hướng tầm mắt các môn đệ về phía “Ông chủ mùa gặt": “Hãy cầu nguyện xin chủ ruộng sai nhiều thợ gặt đến”.

2. Một sứ mạng không khác sứ mạng của Đức Giêsu.
Nhân việc Đức Giêsu kêu gọi “mười hai môn đệ”, tác giả Phúc Âm phong cho họ tước hiệu “tông đồ” nghĩa là “được sai đi”. Simon được gọi là “Phêrô” đứng đầu nhóm. “Matthêu” người “thu thuế” ở chương 9,9; “Giuđa”, “kẻ sẽ nộp Người”.
Việc kêu gọi đi liền với việc sai đi truyền giáo được diễn tả dưới hình thức diễn từ, đó là diễn từ thứ 2 trong 5 diễn từ quan trọng của Phúc Âm thứ I mà ta sẽ đọc tiếp ở Chúa nhật XII và Chúa nhật XIII sắp tới. Đoạn Phúc Âm hôm nay trả lời hai vấn nạn: Họ được sai đến với ai? Sứ mạng của họ là gì ?
- Đến với ai? Với cuộc hẹn cuối cùng tại Galilê, Đức Giêsu phục sinh đã mở chân trời truyền giáo ra tới “mọi dân tộc” (28,19). Còn hiện tại, những người được sai đi đến trước hết: “với những chiên lạc nhà Israel”.
- Sứ mạng gì? Y hệt sứ mạng của Đức Giêsu. Như Người, họ sẽ loan báo việc Nước Thiên Chúa đến. Họ sẽ thực hành những cử chỉ nhân hậu của Chúa, những dấu chỉ mà tác giả Phúc Âm, ở 11,2, gọi là “những công việc của Đức Giêsu”. Khi nhớ lại rằng họ chỉ hành động như vậy nhờ Đức Giêsu ban các quyền năng của Người cho họ một cách nhưng không, họ đã đi đến một thái độ sống nghèo: “Anh em đã lãnh nhận nhưng không; hãy ban phát nhưng không”.

II. BÀI ĐỌC THÊM:

1. Chính nơi trái tim Đức Giêsu ta tìm thấy động lực cho việc truyền giáo, sứ mạng của ta. (Mgr. L. Daloz, le Règne de Dieu s'est approché DDB).
Cho tới nay, Đức Giêsu chưa trao cho những kẻ Người kêu gọi một nhiệm vụ nào. Giờ đây Người sắp trao cho họ và sai họ đi. Trước đó, Mt đã cho ta thấy nguồn cội của sứ mạng của họ: Thấy đám đông, Người động lòng thương, vì họ mệt mỏi rã rời như bầy chiên không người chăn dắt. Rất nhiều lần, Phúc Âm đã nói về lòng thương của Đức Giêsu đối với đám đông. Nguồn cội của việc sai đi, của sứ mạng truyền giáo là tình thương của Đức Giêsu, tình thương mà ta gọi là lòng thương xót, không phải là sự hạ cố, nhưng vì tình thương ấy đã nhìn thấy đám đông “mệt mỏi rã rời” và Đức Giêsu đã xúc động... Từ ngữ Hi Lạp còn nói mạnh hơn: Người đau thắt ruột lại. Chính nơi trái tim Đức Giêsu, nơi sự âu yếm của Người, nơi sự xúc động tâm can của Người, ta tìm thấy động lực của sứ mạng truyền giáo của ta...
Có lẽ ta nghĩ rằng lời kế tiếp sẽ là lời mời gọi lên đường làm việc thu hoạch mùa màng, vì có quá ít thợ! Nhưng Đức Giêsu lại không nói điều đó với các môn đệ. Hãy nghe Người: Các con hãy xin Chủ ruộng sai thợ gặt đến. Tự nguyện chưa đủ. Quảng đại chưa đủ. Còn phải hiệp thông với tình yêu của Chúa Cha, ông chủ ruộng nữa. “Lòng thương xót” của Đức Giêsu diễn dịch tình yêu của Thiên Chúa đối với nhân loại lầm lạc. Vâng, thật cần thiết, những người muốn làm việc cho mùa gặt, loan báo Nước Trời, làm chứng Phúc Âm, đi kín múc từ nguồn tình yêu làm cho hoạt động của họ có ý nghĩa. Lời kêu gọi trước hết là theo Đức Giêsu. Hiểu biết Đức Giêsu, nhận biết Người là Đấng Cứu Thế, Đấng đến nhân danh Chúa Cha, để Người khai tâm mở trí, chiêm ngắm Người, năng lui tới với Người, khám phá bằng nghe Người nói, nhìn Người hành động không mỏi mệt, và tặng ban chính sự sống của Người, thấy Người xúc động vì “thương xót” đến mức nào, thổn thức vì khổ đau của nhân loại... và như thế, chia sẻ sự bao la, sự sâu xa của tình yêu Thiên Chúa, một tình yêu không giới hạn cháy bỏng: Thiên Chúa muốn nhân loại vào một cuộc xuất hành khác với cuộc xuất hành do Môsê hướng dẫn, muốn ban cho nhân loại một cuộc giải phóng vĩ đại hơn! Đó là tất cả điều kiện của một “sứ mạng thực sự” không phải là trước khi lên đường, nhưng không ngừng, ở nền tảng của sứ mạng. Trước đây, không biết điều đó, ta vẫn có thể xúc động trước nỗi khổ của con người, trước sự thiếu thốn của họ và dấn thân phục vụ họ, can đảm hành động. Điều đó rất quan trọng, và đó cũng là công việc của Thánh Thần Thiên Chúa. Nhưng Phúc Âm còn đưa ta đi xa hơn: Nó mạc khải tình yêu mà chính Thiên Chúa mang đến cho nhân loại, say mê, không mỏi mệt. Đời sống và cái chết của Đức Giêsu là bằng chứng hùng hồn về điều đó. Người mời gọi ta đến chia sẻ tình yêu ấy, làm tôi tớ phục vụ tình yêu ấy cho anh em ta, bắt tay vào hành động, vì Người sai ta đi truyền giáo. Truyền giáo không phải là tác phẩm của ta. Cũng không do sáng kiến của ta. Truyền giáo đâm rễ sâu trong lời cầu nguyện làm trái tim và ý chí ta phù hợp với tình yêu trong trái tim Thiên Chúa. Truyền giáo không thể tách rời cầu nguyện: Hãy cầu nguyện xin chủ ruộng sai thợ gặt đến.

2. Chúng ta là Giáo Hội (L. Sintas, Parole de Dieu pour la méditation et l'homélie, Médias Paul).
Sứ mệnh trao ban cho các tông đồ cũng là sứ mệnh trao ban cho ta hôm nay. Giáo Hội hôm nay chính là chúng ta. Vậy đến lượt ta phải loan báo Nước Thiên Chúa đã đến. Chắc rằng ta không đi tìm mặt trời giữa đêm khuya. Xuyên qua hoạt động hằng ngày, cuộc sống gia đình, nghề nghiệp, ta có thể, hoặc trở nên tôi tớ của Vương quốc sự dữ khi ta gieo rắc chia rẽ, vun trồng ghen tương, ích kỷ, hoặc trở nên chứng nhân cho hoạt động của Thiên Chúa khi trở thành men tình bạn, men bình an, men hoà giải. Cần cầu nguyện để nhắc nhớ những gì Thiên Chúa đã làm cho ta dù ta tội lỗi. Nhưng cầu nguyện còn có mục đích giúp ta kiên vững trong sứ mệnh là tác nhân hoà bình, chữa lành bệnh và hiệp thông. Muốn là Kitô hữu, phải làm cho cách hành động của ta phù hợp với niềm tin. Đó là cách duy nhất để trở thành tông đồ, làm cho Giáo Hội nên sống động và có sức hấp dẫn. Thực vậy, đối với những người không cùng chia sẻ niềm tin với ta, thành phần hữu hình của Giáo Hội mà họ thấy được chính là các Kitô hữu cụ thể ở làng ta, trong khu phố ta ở. Là chính chúng ta. Chính ta có trách nhiệm tạo cho Giáo Hội một khuôn mặt của Thiên Chúa, khuôn mặt ấy có sức lôi cuốn mọi người sống quanh ta. Đó là loan báo Nước Thiên Chúa đã đến.

3. Cầu nguyện và truyền giáo (Mgr. R. Coffy, cine Ezlia qui célèber et quiprie, Le Centurion).
Truyền giáo là lãnh nhận trước khi là hành động. Truyền giáo chỉ là hành động nhân danh Đấng sai đi. Được sai đi chính là hành động nhân danh ai. Nó giả thiết mối quan hệ quen thuộc thông thường giữa người sai và kẻ được sai, trong sứ mạng tông đồ, đó là cầu nguyện. Hoạt động truyền giáo không dựa trên cầu nguyện sẽ có nguy cơ trở nên hoạt động thuần tuý nhân loại chứ không còn là hoạt động của Chúa Thánh Thần nơi con người. Nói về truyền giáo mà không nói trong cầu nguyện, có thể vi phạm tính cách chân thực của sứ mạng.

 

CHÚA NHẬT XII THƯỜNG NIÊN

ĐỪNG SỢ
(Mt 10,26-33).

I. VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI:

1. Được tiếp đón hay bị từ chối như Thầy...
Thấy đám đông, Đức Giêsu động lòng thương xót, vì họ mệt mỏi rã rời như đàn chiên không người chăn dắt, Người liền kêu gọi 12 môn đệ mà Người gọi là “tông đồ” (nghĩa là được sai đi).
Nhưng trước khi sai họ đi “đến với những chiên lạc nhà Israel”, Người còn nói với họ một “diễn từ sai đi”, là diễn từ thứ 2 trong số 5 diễn từ chính của Đức Chúa Giêsu trong Phúc Âm thứ nhất. Sách Bài đọc chia ra hai bài, hôm nay và Chúa nhật tuần tới, nhưng không chia ra hai loạt những nhắn nhủ các nhà truyền giáo:
- Một đàng là những nhắn nhủ về sự dứt bỏ, vô vị lợi mà họ phải làm chứng, về cách họ phải cư xử khi được đón tiếp hay bị chối từ khi loan Tin Mừng (câu 9-15).
- Đàng khác là những cảnh báo liên hệ đến sự bắt bớ mà họ sẽ phải chọn (câu 16-23) vì Thầy, nếu họ trung thành với sứ điệp của Người (câu 24-25): “Nếu chủ nhà đã bị coi là Belzebu, thì những người trong nhà sẽ còn bị đối xử tệ hơn”. Hai câu cuối cùng này là cao điểm của bài diễn từ Cl. Tassin bình luận: “Hai câu này nhìn sứ mạng của Kitô hữu như đồng bộ với thái độ của Đức Giêsu: cũng Người hiến mình cho đoàn chiên mệt mỏi lang thang, và chấp nhận những thử thách như Người, đó là sứ mạng đích thực của mọi Kitô hữu. Mười hai tông đồ vẫn là những mẫu mực không so sánh được về truyền giáo, không phải do những thành công, nhưng do các Ngài đã cùng Đức Giêsu cảm nghiệm đến cùng cảm tính định mệnh của các ngài.

2. Những người được sai đi của Đức Giêsu không được sợ nói.
Sau khi đã loan báo cho các môn đệ biết sự bắt bớ đang chờ họ và họ thấy rõ nguyên nhân của sự bắt bớ - căn tính sâu xa giữa Người và các môn đệ - Đức Giêsu hướng dẫn họ thái độ phải có khi gặp thử thách. Một tư tưởng hướng dẫn chạy xuyên suốt các lời Thầy, một điệp khúc tạo nên dấu chấm câu: “Các con đừng sợ!... Đừng sợ!... Đừng sợ gì cả...”.
- Đừng sợ, dám nói, vì lời họ nói không phải là lời của riêng họ nhưng là lời Đức Giêsu, lời có hiệu quả của lời Thiên Chúa. Do đó, môn đệ đừng mất can đảm nếu thành công trong hiện tại còn mỏng manh, thậm chí còn chưa thấy; như mặt trời mọc lên chiến thắng đêm đen, sứ điệp rồi cũng sẽ xuyên thủng tăm tối.
- Đừng sợ khi bị bắt bớ, vì nếu những kẻ bắt bớ chỉ có quyền trên sự sống dương trần (thân xác) chỉ mình Thiên Chúa nắm giữ đời sống vĩnh cửu và phán quyết của Người có thể huỷ diệt trần thế con người (cả xác lẫn hồn).
- Đừng sợ, vì Thiên Chúa, Đấng xét xử ta cũng là “Người Cha” chăm sóc mọi người, dù bé nhỏ đến đâu, và yêu thương từng người con bằng sự âu yếm của người mẹ: “Các con đáng giá hơn những con chim sẻ nhiều”.
Đối với những ai gắn bó sự nghiệp của họ với sự nghiệp của Người đến liều cả mạng sống, Đức Giêsu cũng hứa sẽ gắn bó với họ trong ngày phán xét. Người sẽ là luật sư biện hộ cho họ “Ai tuyên xưng ta trước mặt người đời, ta sẽ tuyên xưng họ trước mặt Cha Ta trên trời”.

II. BÀI ĐỌC THÊM:

1. Trong bày tay Thiên Chúa (Mgr. L. Daloz, Le Règne des cieux s'est approché, DDB).
Với môn đệ được sai đi, Đức Giêsu không hứa hẹn một đời sống dễ dãi. Nhưng Người cũng không để các ông trắng tay. Người bảo đảm cho các ông có sự trơ giúp của Chúa Thánh Thần. Người cũng trấn an các ông rằng từ nay các ông được Chúa Cha gìn giữ nên họ sẽ không lo gặp sự dữ. Chúng ta sống trong bàn tay của Thiên Chúa hằng sống, Chúa Cha, Chúa Con, Chúa Thánh Thần. Loan báo Phúc Âm đâu phải là của riêng của những bậc anh hùng, những con người có óc phiêu lưu mạo hiểm! Loan báo Phúc Âm đòi có sự can đảm, có sức mạnh, nhưng không phải sự can đảm hay sức mạnh của riêng ta. Ta tìm thấy sự bảo đảm vẹn toàn ấy ở nơi Thiên Chúa. Dù bản chất ta yếu ớt, nhát sợ, ta vẫn có chỗ trong việc truyền giáo. Các tông đồ đã chẳng nhát sợ đó sao? Chính Thánh Thần Thiên Chúa trong ngày lễ Hiện xuống đã ban cho họ sức mạnh để họ ra khỏi nhà, đến với mọi người. Thánh Phaolô tự phụ vì những yếu đuối của Ngài, vì qua những yếu đuối ấy, quyền năng Thiên Chúa được tỏ hiện. Ta là con của Người Cha trên trời, của Thiên Chúa sáng tạo và giữ gìn tạo vật của Người. Là con Thiên Chúa thì khác hẳn với chỉ là tạo vật. “Người ta chẳng bán hai chim sẻ một đồng đó sao? Thế mà không một con nào rơi xuống đất mà không do ý Cha. Còn các con, ngay cả tóc trên đầu các con cũng đã được đếm rồi”. Ta có giá trị trước mặt Thiên Chúa. Người yêu ta như cha, như mẹ ta. Vì thế, Đức Giêsu luôn khuyên ta đừng sợ hãi: “Đừng sợ, các con có giá trị hơn chim sẻ kia nhiều”.
Tuyên xưng niềm tin khi ta sống giữa những người đồng đạo, trong một cộng đoàn Kitô giáo thì thật dễ. Cho dù ở trong cộng đoàn, ta vẫn có tự do. Nhưng điều tối quan trọng, cực kỳ khó khăn đó là ta dám hành xử, ăn nói theo đức tin giữa một thế giới lãnh đạm, nghi kỵ hoặc thù ghét. Đức Giêsu đòi hỏi ta điều đó. Đức Giêsu sai môn đệ để họ đi rao giảng Nước Trời cho thế gian, chứ đâu phải chỉ để họ rao giảng cho nhau. Không đủ nếu ta chỉ mời người khác đến tham dự các buổi họp, thánh lễ vì ở đó, ta vẫn thường nói về Đức Giêsu Kitô, ta chẳng phải liều lĩnh gì cả, ta vẫn ở “nhà” ta, trong khuôn viên của ta. Nhưng cũng không cần phải ra ngoài đường phố mà rao giảng. Tuy nhiên, khi dám nói một lời trong xã hội ta sống, trong gia đình, với các bạn bè, các đồng nghiệp, “tại nhà họ”, không khiêu khích, nhưng cũng không sợ hãi, đó là gieo hạt giống Nước Trời vào thúng bột trần gian... Đó là một liều lĩnh, nhưng lười biếng, im lặng còn là một liều lĩnh lớn hơn...
Lạy Chúa, xin hãy gìn giữ chúng con trong trung tín với Chúa. Chúng con chỉ đứng vững nhờ sức mạnh Chúa ban. Chúa là sự vững mạnh, là tảng đá cho chúng con nương tựa. Xin cất khỏi chúng con mọi sợ hãi loài người. Xin hãy tuyên xưng chúng con trước mặt Cha để Người ban cho chúng con đủ sức tuyên xưng Chúa trước mặt người đời. Xin cho chứng từ của chúng con là một bằng chứng cho mọi người thấy rằng Chúa chính là bảo đảm cho chúng con trước mặt Chúa Cha. Xin cho lời tuyên xưng đức tin của chúng con cho mọi người biết Chúa là Con yêu dấu của Chúa Cha. Khi chúng con sợ chống đối hay chế diễu, không dám tuyên xưng danh Chúa, xin hãy tha thứ cho chúng con, như Chúa đã tha thứ cho Phêrô. Nếu chúng con phản bội, thì Chúa vẫn một mực trung tín. Xin nâng đỡ chúng con để dù chúng con sợ hãi, tình yêu của Chúa vẫn là mạnh nhất. Để qua sự yếu đuối của chúng con, chúng con biết làm chứng về sức mạnh của ơn Chúa tha thứ.

2. Im hay nói? (G. Bessierè, Dieu si proche, DDB).
Ngày nay Kitô hữu nói về Thiên Chúa ít hơn xưa. Tuy nhiên, Đức Giêsu yêu cầu ta: “Hãy la lớn trên mái nhà” điều gì đã “thì thầm vào tai”. Lời chúc dữ của Người: “Ai từ chối Ta trước mặt người đời, ta cũng sẽ từ chối họ trước mặt Cha Ta trên trời”.
Im hay nói? Có nhiều loại im lặng. Im lặng sợ hãi, im lặng lãnh đạm, im lặng phản bội. Cũng có những im lặng mừng vui, im lặng sung mãn, im lặng yêu thương, im lặng dấu kín một bí mật. Những phút mãnh liệt nhất trong đời là những lúc “Không còn lời lẽ”. Lúc ấy im lặng còn diễn tả hơn mọi lời lẽ: nó cho ta nghe thấy điều không diễn tả được.
Làm sao trẻ em, và giới trẻ biết được Đức Giêsu nếu ta cứ im lặng mãi? Ta đề nghị niềm hy vọng nào nếu ta lặng thinh? Im lặng cần có từ ngữ mới có sức mạnh: nếu không có bản giao hưởng, làm sao nghe được sự im lặng tràn ngập căn phòng sau hợp âm cuối cùng?
Đức Giêsu đã chẳng nói đó sao: “Tất cả những gì che giấu sẽ được tỏ lộ. Tất cả những gì giấu giếm rồi mọi người sẽ biết”. Phải chăng ta không cần như thánh Phaolô, nói “vào lúc thuận tiện cũng như lúc không thuận tiện” để rao giảng Phúc Âm cho cả nhân loại qua mọi thế hệ?
Cần phải loan báo thứ sứ điệp vượt quá mọi từ ngữ và mọi giáo thuyết. Nhà khôn ngoan lớn tuổi viết sách Giảng Viên đã nói: “Có thời để nói, có thời để im lặng”. Những thời điểm này tiếp nối nhau trong cuộc đời con người cũng như trong Giáo Hội từ ngàn đời. Vì đôi khi ta nói quá nhiều, rồi sẽ tới ngày những từ ngữ biến nghĩa và chẳng còn “nói lên được điều gì nữa”. Chính sự sống và sự im lặng để làm chín muồi những lời lẽ mới mẻ và tươi trẻ.
Ta đang ở vào một mùa lịch sử mà nhiều từ ngữ không nói lên điều gì nữa: vì đôi khi trong quá khứ người ta đã dùng sai từ ngữ, và vì ta đã bước vào một lối hiện hữu mới nơi mọi người đang thay đổi lối sống, lối suy nghĩ, diễn tả và truyền đạt.
Mong sao Kitô hữu cố gắng mỗi ngày sống Phúc Âm hơn. Thánh Thần của Đức Giêsu sẽ khơi dậy trong họ sự im lặng hoặc từ ngữ. Lời đầu tiên cua họ vẫn luôn luôn là sự sống của họ. Còn những lời khác sẽ không ngừng tái tạo, từ thời đại này qua thời đại khác, mà không bao giờ bị sa lầy trong những từ ngữ bị thói quen làm cho lu mờ.

 

CHÚA NHẬT XIII THƯỜNG NIÊN

AI ĐÓN TIẾP CÁC CON LÀ ĐÓN TIẾP THẦY
(Mt 10,37-42)

I. VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI:
Với Chúa nhật XIII này, kết thúc bài “diễn từ sai đi truyền giáo”.
1. Sẵn sàng để theo Đức Kitô.
Đức Giêsu nói với “mười hai môn đệ” thân thiết mà Người vừa phong làm tông đồ, tức là những kẻ “được sai đi” của Người.
Bài diễn từ có chia làm phần rõ rệt:
- Phần thứ nhất tập trung vào SỰ SẴN SÀNG TRỌN VẸN và sự gắn bó triệt để của người môn đệ vào Đức Kitô.
. Đức Giêsu đòi người môn đệ yêu mến Người hơn những gì thân yêu nhất: “Ai yêu cha mẹ hơn Thầy không xứng đáng làm môn đệ Thầy. Ai yêu con cái hơn Thầy không xứng làm môn đệ Thầy”.
Những lời này không đi ngược với giới răn thảo kính cha mẹ. Trong thể văn khoa đại kiểu sêmít, những lời này chỉ nhắm thiết lập một trật tự ưu tiên trong những lựa chọn. Những tình cảm gia đình, dù chính đáng, không thể kìm hãm, càng không thể ngăn chặn những môn đệ bước theo Đức Giêsu. Những mối dây liên hệ thiêng liêng này chỉ là tương đối so với mối liên hệ tuyệt đối: gắn bó vô điều kiện vào bản thân Đức Giêsu.
Ở đoạn văn trước đó, cũng đậm đặc chất sêmít, Đức Giêsu đã nói không úp mở cho những ai muốn theo Người biết những chọn lựa đau đớn mà họ sẽ phải trải qua: “Thầy đến để tách lìa con trai khỏi cha, con gái khỏi mẹ, con dâu khỏi mẹ chồng, người trong một nhà sẽ chống đối nhau”. Claude Tassin gợi ý: “Hãy nghĩ tới những người ngoại đạo mới trở lại, từ chối không thờ lạy thần của gia đình vì đức tin Kitô hữu... Giữa “ngôi nhà” của Thiên Chúa (câu 25) và “ngôi nhà của riêng mình”, người môn đệ luôn luôn bị đẩy vào chỗ phải lựa chọn giữa “nhà” của Thiên Chúa và “nhà của riêng mình”.
. Đức Giêsu sẽ đi xa hơn nữa: Người mời gọi môn đệ yêu mến Người hơn chính bản thân họ, hơn cả mạng sống của họ! Và vì người môn đệ đã chọn chia sẻ vận mệnh với Người, Đức Messia chọn đóng đinh, họ sẽ không ngại ngùng vác lấy “thập giá bản thân” mà “theo Người”.
Nếu ta thường cho rằng kiểu nói “vác thánh giá” thuộc về một ngôn ngữ ước lệ thì các độc giả của Mt không nghĩ thế, vì họ phải sống trong một hoàn cảnh bắt bớ, đe doạ, nơi cái chết trên thập giá xảy ra rất thường và là hình khổ tàn bạo, nhục nhã hơn hết, hình khổ dành cho nô lệ.
Thế nên ai chọn nối bước Đức Giêsu chắc chắn rồi sẽ, như Thầy mình, gặp phải hiểu lầm, thù ghét, và cả bắt bớ nữa.

2. Đón tiếp các môn đệ Đức Kitô.
- Với 4 câu, phần thứ hai trở lại đề tài “ĐÓN TIẾP” môn đệ Đức Kitô.
. Trước hết để xác định sự duy nhất giữa Đấng sai đi và người được sai đi: “Ai tiếp đón các con là tiếp đón Thầy; ai tiếp đón Thầy là tiếp đón Đấng đã sai Thầy”.
. Sau đó, để phân biệt chi tiết sự đón tiếp theo 3 mức độ giảm dầm một cách nghịch lý: các “tiên tri”, những “người công chính”, những “kẻ bé mọn”, và long trọng xác nhận họ có tư cách xứng đáng là sứ giả của Phúc Âm.
- Các “tiên tri” hiển nhiên là những Kitô hữu. Họ đã thi hành một tác vụ được chấp nhận trong Giáo Hội sơ khai.
- Những “người công chính” có lẽ là những thành phần được kính trọng trong cộng đoàn Kitô hữu.
- Còn những kẻ “bé mọn” là các môn đệ, họ chẳng làm gì hơn là “tin” vào Đức Giêsu. Họ cũng đáng được trân trọng và yêu mến đặc biệt.
J. Perron ghi nhận: “Không ý nghĩa sao, khi “diễn từ tông đồ” này khởi đầu như chỉ nói riêng với nhóm 12, tách họ riêng ra, trao cho họ trách nhiệm và tư cách người được sai đi của Đức Kitô, lại kết thúc bằng trao ban cho cả những người bé nhỏ nhất sự cao trọng và trách nhiệm y như thế?”.

III. BÀI ĐỌC THÊM:

1. (Mgr. L. Daloz, Le Règne descieux s'est approché DDB).
Đức Giêsu không chỉ đồng hoá với các tông đồ mà Người sai đi loan báo Nước Thiên Chúa. Người còn đồng hoá với mỗi một môn đệ, nhất là với những người bé nhỏ nhất. Người sẽ nói: “Ai vì danh Thầy mà đón tiếp một trẻ nhỏ chính là đón tiếp chính Thầy” (18,5). Đặc biệt, Người mời gọi ta nhận biết Người trong những kẻ túng cùng, khốn khổ: “Quả thực, Thầy bảo anh em, mỗi lần anh em làm như thế cho một trong những kẻ bé mọn này, là anh em làm cho chính Thầy” (25,40). Hôm nay, ngay khi nói với các tông đồ: “Ai tiếp đón anh em là tiếp đón Thầy”. Người nói tiếp và cho biết Người gắn bó biết bao với từng người: cho một tiên tri vì họ là tiên tri, cho người công chính vì họ là người công chính, cho kẻ bé mọn nhất vì họ là môn đệ. Ai đón tiếp họ, Người hứa sẽ ban phần thưởng. Khi đón tiếp họ, cũng là chọn đứng về phía Người. Giữa Đức Giêsu và các môn đệ có một dây hiệp thông sâu xa. Đôi khi ta nói về “bí tích huynh đệ”. Các bí tích, trước hết là bí tích Rửa tội, không biến anh em ta, một cách nào đó, thành những “bí tích” của Đức Giêsu Kitô mà họ đã được ghi dấu đó sao? Cái nhìn đức tin phải giúp ta nhận biết Đức Giêsu hiện diện trong anh em ta. Mỗi người chúng ta được sai đến với con người để cho họ biết Đức Giêsu đã đến gần...”.
2. Điều bình thường nhất trở thành nơi diễn ra lắm bất ngờ.
Yêu thương, tiếp đón là những từ ngữ thuộc về ngôn từ và phong tục của Nước Trời. Cái bình thường, cái thường ngày trở thành ân sủng, khả năng khám phá ra niềm vui Nước Trời. Điều bình thương nhất như cho một ly nước uống, bỗng trở thành nơi diễn ra sự bất ngờ, mạc khải. Có lẽ Thiên Chúa muốn thời gian nghỉ hè sắp tới sẽ giúp ta trở nên biết quan tâm tới người khác, tới Đấng khác. Như thế, chúng ta sẽ trở thành những con người của niềm tin, những tín hữu.

 

CHÚA NHẬT XIV THƯỜNG NIÊN

KINH TẠ ƠN CỦA ĐỨC GIÊSU
(Mt 11,25-30)

I. VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI:
+ Trong một bối cảnh đối nghịch và thất bại hiển nhiên sau những chỉ dẫn làm nòng cốt cho sứ mạng Kitô hữu (ở Chúa nhật 11, 12 và 13), ta chờ đợi được thấy 12 môn đệ lên đường sứ mạng. Nhưng hôm nay, ta gặp lại Đức Giêsu giữa bộn bề hoạt động truyền giáo. Mt viết: “Dạy bảo 12 môn đệ rồi, Đức Giêsu lên đường dạy dỗ và rao giảng tại các thành thị trong nước” (11,1). Trong hoạt động truyền giáo ấy, Người phải trả lời những chất vấn của Gioan Tiền hô cũng như phải đương đầu với sự cứng lòng, sự chống đối của các đối thủ và sự bất tín của các thành thị xứ Galilê.
- Đối diện với các sứ giả của gioan Tiền hô. Gioan Tiền hô nhận thấy thái độ của Đức Giêsu không phù hợp với những lời rao giảng nghiêm khắc của ông, nên từ trong tù, ông sai người đến hỏi Đức Giêsu: “Ngài có phải là Đấng phải đến, hay chúng tôi phải đợi một người khác?”.
Để trả lời họ, Đức Giêsu đưa họ trở lại những lời tiên báo của Isaia: “Hãy về thuật lại cho Gioan những gì các ngươi đã nghe và đã thấy: người mù nhìn thấy, kẻ què đi được, kẻ chết sống lại và người nghèo được nghe giảng Tin mừng”. Thời ứng nghiệm lời tiên tri đã tới. Phải biết nhận định những dấu chỉ loan báo về Nước Trời. Đức Giêsu nói với Gioan: “Phúc cho ai không vấp phạm vì Ta”.
- Khi “những sứ giả của Gioan đi rồi”, Đức Giêsu tiếp tục liên hệ sứ mạng của Gioan với sứ mạng của Ngài và tố cáo những ai không đón tiếp sứ mạng của các Ngài. Vạch trần ý đồ xấu xa của các đối thủ, Đức Giêsu so sánh họ với đám trẻ con hư đốn muốn chơi trò đám tang khi ta đề nghị chúng chơi trò đám cưới, và đòi chơi trò đám cưới khi ta đề nghị chúng chơi trò đám tang.
- Vì thái độ bất tín của miền Galilê quê hương Ngài dù họ đã thấy biết bao phép lạ Người làm sau cùng Ngài đã phải thốt lên những lời đau đớn y hệt các tiên tri trong Cựu Ước.

1. Kinh tạ ơn của Đức Giêsu.
Vậy mà Mt đã đặt lời kinh nguyện lạ lùng của Đức Giêsu vào trong cái bối cảnh chống đối và thất bại hiển nhiên của sứ vụ Galilê ấy. Lời kinh mà trong Phúc Âm Luca 10,21-22, ta gặp thấy trong sứ mạng của các môn đệ.
- Một lời cầu nguyện mang âm hưởng rất Do Thái, trong đó Đức Giêsu ngỏ lời với “Chúa trời đất”.
- Một lời cầu nguyện mà tiếp theo đó, Đức Giêsu, trong tương quan với Đấng mà Ngài gọi là “Cha”, đã tự nhận mình là “Con": một danh hiệu bất ngờ qua đó hiển lộ mối liên hệ duy nhất nối kết các Ngài: “Cha Ta đã trao cho Ta mọi sự; không ai biết Con trừ ra Cha; cũng không ai biết Cha, trừ ra Con và người mà Con muốn mạc khải cho”.
- Một lời cầu nguyện còn vang âm lời phán ra từ đám mây, khi Đức Giêsu chịu phép rửa ở sông Giođan “Đây là Con Ta yêu dấu: Ta hài lòng về Người”.
Bây giờ Đức Giêsu cầu nguyện: “Điều Cha đã giấu những bậc khôn ngoan thông thái, Cha lại mạc khải cho những kẻ bé nhỏ. Vâng, lạy Cha, Cha đã muốn như vậy vì lòng nhân lành của Cha”. Cha cũng dùng tình yêu thương ấy ấp ủ Đức Giêsu, Con rất yêu dấu, Tôi tớ của Người, và những kẻ bé nhỏ sẽ nhận biết Cha trong cảnh nghèo hèn của họ.
- Một kinh nguyện tạ ơn, một tiếng reo vui, một lời tuyên xưng đức tin, một "bài ca tán tụng”.
Tại sao lại tạ ơn? Vào đúng lúc khó khăn này? Không phải vì Ngài đã thất bại đối với những bậc khôn ngoan thông thái, những kẻ cho rằng họ nắm giữ đặc quyền hiểu biết, nhưng vì sự đón nhận mà đám đông những “người bé nhỏ”, những kẻ khiêm nhường, những người có tâm hồn nghèo khó, dành cho Người. Những người ấy đã nhận ra nơi Người mầu nhiệm Thiên Chúa Cứu Độ, bí mật tình yêu của Người đối với nhân loại. Họ đã nhận biết nơi Người Thiên Chúa tối cao đã tỏ ra gần gũi, Thiên Chúa vĩ đại đã tỏ ra ngang hàng với những kẻ bé nhỏ.
Cl. Tassin ghi nhận: “Lời kinh này phản ánh đúng sự lượng giá của Đức Giêsu về sứ mạng của Người. Lời kinh cũng cho ta mẫu mực của mọi lời kinh tông đồ, lời kinh, biết nhìn lại những thành công và những thất bại, để khám phá ra ý định của Thiên Chúa với niềm hạnh phúc.
Trong lời nói và cử chỉ của Đức Giêsu, những người bé nhỏ khám phá ra Thiên Chúa là một người Cha. Họ hiểu rằng giữa Thiên Chúa và con người ấy có một sự hỗ tương toàn vẹn, rằng Đức Giêsu muốn mạc khải Thiên Chúa và rằng, trong sứ mạng của Người, Thiên Chúa tỏ mình ra trong một ngôi vị.

2. ... và lời mời gọi trở nên môn đệ Người.
Đối với những người được tỏ cho biết mối liên hệ duy nhất nối kết Người với Chúa Cha, Đức Giêsu kêu gọi hãy trở nên môn đệ của Người. Để qua Người đi sâu vào sự hiểu biết trừu tượng, nhưng trong một liên hệ sống động giữa các ngôi vị.
“Gánh” mà Người gọi ra ở đây có lẽ là gánh của thói duy lề luật tỉ mỉ. Người là Đấng đến không phải để phá huỷ, nhưng"hoàn thành”, Người “chống lại thói tục chính yếu của tôn giáo thời ấy là áp đặt một kỷ luật khắt khe trên con người mà không thông truyền cho họ niềm vui ơn cứu độ”. Người đề nghị một sự công chính mới. Một sự công chính đòi hỏi hơn nhưng cũng nhẹ nhàng hơn, vì đó là sự gắn bó với cá nhân của Người, Đấng khai mở ra tình yêu của Chúa Cha. Một sự công chính mà bản thân Người rất “nhân lành và khiêm nhường trong lòng” đến hoàn tất trong những ai gắn bó với Lời Người.

II. BÀI ĐỌC THÊM:

1. Một lời nguyện không tách rời những câu Phúc Âm ở đoạn trước. (L. Monloubou, Evangile de Matthieu, Salvator).
Lời cầu nguyện của Đức Giêsu được trích dẫn ở đây không tách rời những câu Phúc Âm ở đoạn trước. Vì quen chia cắt chương này, ta hay coi thường mối liên hệ chặt chẽ nối kết Lời của Đức Giêsu với sự thất bại khi Người rao giảng tại Galilê. Thất bại này giải thích tại sao Đức Giêsu kết án những thành thị bất tín.
Điểm lý thú của lời kinh nguyện của Đức Giêsu là, sau khi cảm nhận sự thất bại trong chuyến đi vòng quanh Galilê, Đức Giêsu “chúc tụng” Chúa Cha.
Trong Cựu Ước không thiếu gì những bản văn miêu tả phản ứng hiếu chiến rất nhân loại của các ngôn sứ. Sau khi bị tổn thương vì gặp thất bại, họ qui trách nhiệm cho Thiên Chúa về những thất bại đó. Bài tự thuật của Giêrêmia tường thuật lại mối thất vọng nặng chất người - trừ Đức Giêsu ai dám kết án một sự thất vọng như thế? - của vị ngôn sứ bất hạnh, bị các thính giả mà ngài kết án vây hãm tứ bề. Những câu nói của một vị ngôn sứ tuyệt vọng vì thất bại, muốn nghi ngờ Thiên Chúa đã được Giêrêmia thuật lại (15,15-18 hoặc 15,19-21) có thể dùng trong bài đọc 1; những lời ấy cho thấy sự yếu đuối của tín hữu, và của chính vị ngôn sứ đã muốn nghi ngờ Thiên Chúa, chúng cho thấy sức mạnh vô song của Đức Giêsu, vì, thay vì phản loạn, nghi ngờ Ngài đã “chúc tụng” Ngài nói “Vâng, lạy Cha, đó là ý định của Cha”.
Đức Giêsu chúc tụng. Chúc tụng phát xuất từ sự ngưỡng mộ. Ta chúc tụng vì ngưỡng mộ một tác phẩm, một nhân vật có những dấu hiệu của sự hoàn hảo, toàn bích. Như thế Đức Giêsu nghĩ rằng kết quả của chuyến rao giảng tại Galilê, tuy bề ngoài có vẻ bi quan, vẫn có cái gì tích cực. Để thẩm định sự vật như thế, phải vượt qua những lý do tự nhiên. Vì tiếng kêu thán phục thốt lên trong lời chúc tụng không chỉ phát xuất do sự vật mà ta nhìn ngắm, ngưỡng mộ. tiếng kêu ấy phát xuất từ việc đối chiếu với Thiên Chúa. Một ... ngất ngây phát sinh khi ta thoáng thấy Thiên Chúa; tình trạng đó là kết quả của một hành vi của Thiên Chúa, như một tác phẩm thần linh. Vậy ta ngưỡng mộ Thiên Chúa hơn là tác phẩm của Người. Và ta chúc tụng.
Đức Giêsu chúc tụng Thiên Chúa vì, tuy không quên trách nhiệm đối với những kẻ bất tín trong thất bại của Ngài (sự kết án những thành thị minh chứng điều đó) Ngài đã nhận ra một mầu nhiệm thần linh; Ngài biết rằng Thiên Chúa có mặt trong tấn kịch. Nó đã hầu như phá huỷ nỗ lực rao giảng Phúc Âm của Ngài. Ngài ngưỡng mộ sự hiện diện này, công trình của Thiên Chúa này.
Chính Thiên Chúa đã che mắt những kẻ bất tín, cùng chính Thiên Chúa mạc khải cho “những ai đơn sơ": vì tất cả những điều đó, Ngài phải được chúc tụng. Ngài tỏ ra là một Thiên Chúa hiện diện còn hơn cả hiện diện: một Thiên Chúa “là Cha” Đức Giêsu nói: “Lạy Cha, Con chúc tụng Cha”.

2. Đức Giêsu, sự mạc khải của Chúa Cha cho những kẻ bé nhỏ. (Mgr. L. Daloz, Le Règne des cieux s'est approché, DDB).
Lời nguyện của Đức Giêsu: “Lạy Cha là Chúa trời đất, Con chúc tụng Cha, vì Cha đã giấu không cho những người khôn ngoan thông thái biết, nhưng Cha đã mạc khải cho những người hèn mọn...”. Không có ý nói Thiên Chúa phân biệt đối xử; Đức Giêsu không tuyên bố cửa Nước Trời vĩnh viễn khép chặt đối với một vài loại người. Nhưng mỗi người chúng ta đều bị đe doạ vì thói tự mãn, kiêu căng về kiến thức, về sự khôn ngoan phàm trần... Để đón nhận Thiên Chúa và ơn cứu độ, con người phải diệt trừ thói tự mãn. Đó không phải là hạ mình. Ngược lại, đó là sự cao cả của con người: năng lực của họ mở ra vô biên và do đó đạt đến viên mãn. Vì thế Đức Giêsu có thể ca ngợi Chúa Cha đã ban cho con người được đi vào mầu nhiệm của Ngài: “Con chúc tụng Cha... vì Cha đã mạc khải cho những kẻ bé mọn”. Đó không phải là một lựa chọn cứng ngắc, nhưng là sự quan tâm yêu thương của Ngài. “Vâng, lạy Cha, vì đó là điều đẹp ý Cha”.
Điều mà Chúa Cha che giấu những người khôn ngoan thông thái, nhưng mạc khải cho những kẻ bé mọn, đó là mầu nhiệm Thiên Chúa, đời sống thân mật của Thiên Chúa. Thiên Chúa Tình Yêu tỏ mình ra trong mầu nhiệm đời sống của Ngài, mầu nhiệm sự thân mật của Ngài, là Thiên Chúa Ba Ngôi: “Tất cả đã được ban cho Ta từ Cha. Không ai biết Con trừ ra Cha, cũng không ai biết Cha trừ ra Con và những người mà Con muốn mạc khải cho”. Vì đó là mầu nhiệm của Thiên Chúa, của tình yêu là sức sống Thiên Chúa mà Ngài muốn ta chia sẻ, sự khôn ngoan thông thái loài phàm trần chúng ta không tài nào hiểu được. Ta không thể phán đoán Thiên Chúa theo chuẩn mực nhân loại. Ta không thể tiến vào mối thân mật thâm sâu với Thiên Chúa bằng những nỗ lực hay bằng lý luận của loài người. Ta chỉ có thể mấp mé ở ngưỡng cửa nơi lý trí còn có thể phiêu lưu, nơi lòng muốn có thể vươn tới nhưng không bao giờ đạt được đối tượng. Các triết thuyết lý luận về Thiên Chúa, các nhà thần bí hướng dẫn cuộc tìm kiếm Thiên Chúa. Nhưng sau cùng Thiên Chúa vẫn là “Đấng vượt trên tất cả”. Ta chỉ nhận biết Ngài nếu để Ngài dạy dỗ. Ta chỉ gặp được Ngài nếu để Ngài dẫn ta đi. “Không ai biết được Chúa Cha trừ ra Con và những ai mà Con muốn mạc khải cho...”. Đức Giêsu là con đường duy nhất. Ngài là Con Thiên Chúa làm người để nói lời Thiên Chúa bằng ngôn ngữ loài người và để tỏ ra tình yêu Thiên Chúa trong cử chỉ của con người...
Ngài đã trở nên anh em của ta, để dẫn đưa ta về với Cha qua những nẻo đường quanh co của hiện tồn nhân loại. Mắt ta ngây ngất chiêm ngưỡng nơi Ngài một sự khôn ngoan và một tình yêu đích thực. Tim ta bốc lửa vì lời Ngài trao ban cho ta bí mật của bụi gai cháy đỏ. Ta chỉ biết được Chúa Cha và Chúa Con nhờ thờ lạy, chiêm ngắm trong ngọn lửa của Thánh Thần.

 

CHÚA NHẬT XV THƯỜNG NIÊN

NGƯỜI GIEO GIỐNG
(Mt 13,1-23)

I. VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI:
1. Hiệu quả của Hạt giống Lời Chúa
Ta đã kết thúc “bài diễn từ sai đi” bằng kinh nguyện truyền giáo của Đức Giêsu. Một lời nguyện tạ ơn, trái ngược hẳn với sự tiếp đón hờ hững lời Người giảng dạy tại Galilê.
Với chương 13, ta lại gặp nhau trong một đoạn mới của Phúc Âm thứ nhất (12,22; 16,20) mà sợi chỉ đỏ là căn tính thực sự của Đức Giêsu. Căn tính ấy đạt tới cao điểm trong lời tuyên xưng của Phêrô ở chương 16,16.
- Trong lúc các luật sĩ và biệt phái không ngừng lún sâu vào con đường mù quáng. Họ tuyên bố: “Người này trừ quỉ nhân nhân Belzéboul, tướng quỉ”.
- Những tâm hồn “bé nhỏ” lại mở rộng đón tiếp mầu nhiệm bản thân và sứ vụ của Ngài. Họ tự hỏi: “Phải chăng Người này là con vua Đavit?”.
Trong bối cảnh này, Mt đặt bài diễn từ thứ ba của Đức Giêsu, bài “diễn từ bằng dụ ngôn": một tập họp bảy dụ ngôn và bốn là của riêng ngài (dụ ngôn cỏ lùng, viên ngọc và lưới cá). Trong các dụ ngôn, Đức Giêsu biểu dương một “tài năng không ai bắt chước được, một người kể chuyện độc đáo” như J. Potin nhận định. “Dụ ngôn kích thích óc tò mò, nắm bắt thực tại của cuộc sống hằng ngày, tách ra một mảng, dàn dựng thành cảnh để hướng dẫn thính giả về một thực tại vô hình, phụ thuộc vào điều mắt thấy tai nghe hằng ngày”.
Ngồi trên thuyền, Đức Giêsu thấy một đám đông mênh mông chen chúc nhau trên bờ hồ. Ngài bắt đầu giảng dụ ngôn người gieo giống. Một dụ ngôn nói với những người thất vọng vì kết quả ít ỏi của lời Người giảng dạy, nói với các môn đệ vì họ có cảm tưởng rằng Lời Người chỉ gặp thuần thất bại. Một dụ ngôn của niềm hy vọng, rất hiện thực, vì như J. Dupont viết: “Những thất bại ấy, ngày nay đâu thiếu, cũng không thiếu những Kitô hữu chán nản”.
Đức Giêsu muốn thông truyền niềm tin không gì lay chuyển được của Người. Được Đức Chúa Cha sai, Người đã đến khai mạc Nước Thiên Chúa: “Này người gieo giống đi gieo”. Và, bất chấp những khó khăn, chậm chạp, thất bại, mùa gặt cũng sẽ tới. Dường như Thiên Chúa gieo thuần trong thất bại! Nhưng từ những khởi đầu ít hứa hẹn ấy, sẽ bừng lên một mùa thu hoạch vượt quá mọi niềm hy vọng: huê lợi kỳ diệu của hạt giống rơi trên “đất tốt”, sẽ đền bù rộng rãi những thất bại.
J. Potin nói tiếp: “Đức Giêsu không phải không biết đến hoàn cảnh phức tạp của con người trong đó Thiên Chúa muốn gieo mầm mống Nước Trời. Cách thế gieo hạt ở Palestine đã cho Ngài cơ hội giải thích Nước Trời. Người ta gieo trước khi cày ruộng. Người qua kẻ lại băng ngang làm đất chai lì, không cho hạt giống mọc lên. Đất không mầu mỡ hoài hoài. Đá trồi, gai mọc bóp nghẹt cây lúa trước khi nó kịp nẩy nở. Nhưng dù huê lợi không đồng đều, đất mầu mỡ vẫn có. Người gieo, tức Thiên Chúa, ước lượng rằng hạt giống có mất mát, mùa gặt vẫn bội thu. Đức Giêsu khẳng định Nước Thiên Chúa sẽ đạt đến viên mãn dù có những chướng ngại. Đến mùa gặt, Thiên Chúa sẽ có lý do để mừng vui. Trong viễn tượng này, ta cảm thấy Đức Giêsu reo lên vui mừng. Ta đoán được điều đó trong các kết quả tăng dần: 30, 60, 100 cho một hạt! Hành động của Thiên Chúa không thể dẫn đến thất bại. Hành động ấy có hiệu quả, như “Lời của Người”.

2. Những thửa đất khác nhau:
Tự thân dụ ngôn, dụ ngôn của niềm hy vọng, tập trung vào Hạt giống - Lời Chúa và hiệu quả của nó. Việc giải thích dụ ngôn cho cộng đoàn ở các câu 10 và tiếp theo lại nhấn mạnh đến tính chất khác biệt của các thửa đất và phẩm chất đón nhận của chúng. Tin vào hiệu quả của Lời Chúa không được làm quên đi trách nhiệm của những kẻ nghe lời: Kết quả cụ thể của việc gieo hạt tuỳ thuộc vào thái độ đón nhận của họ. J. Potin kết luận: “Giáo Hội đã, nhân dụ ngôn này, tố cáo những thiếu sót tinh thần ngăn cản sự tiến bộ của đời sống Kitô hữu... Ở mỗi thửa đất, ta dễ dàng thấy những thái độ mà các nhà giảng thuyết tố cáo: sa chước cám dỗ của Satan, nhất là trong lúc bị bắt bớ, sự hời hợt của đức tin, gắn bó với của cải vật chất.

II. BÀI ĐỌC THÊM:

1. Gieo Lời Chúa với lòng can đảm và hào phóng. (Mgr. L. Daloz, Le Règne des cieux s'est approché, DDB).
Ta có thể rút ra được một bài học nữa từ dụ ngôn người gieo giống. Thái độ của người có trách nhiệm loan báo Lời Chúa. Đức Giêsu cảnh báo họ trước một cám dỗ: chỉ lo phân tích đất đai, đoán xét lòng người và hoàn cảnh, chuẩn bị sao cho đất sinh hoa kết trái. Vì thế, họ có khuynh hướng dành hạt giống cho thửa đất tốt, loại trừ những thửa đất xem ra không xứng đáng hoặc không có khả năng đón nhận Lời Chúa... Sau cùng dụ ngôn nói rằng chính hạt giống bộc lộ phẩm chất của đất đai. Hạt giống không chỉ dành riêng cho đất tốt, cho những người lành, cho những người tốt, trong những hoàn cảnh rõ ràng, sau khi các vấn đề về quân bình, công bình, phát triển, lương thiện, luân lý... đã được giải quyết. Ta vẫn thường bị cám dỗ: “Làm thế có ích gì?” “Với những người này, trong hoàn cảnh ấy, ta chẳng có gì để làm”. Không, phải tung gieo Lời Chúa với lòng can đảm và sự hào phóng. Chính Thiên Chúa chứ không phải ta, sẽ thăm dò các tâm hồn. Ta vẫn thường ngạc nhiên: Lời Chúa bộc lộ đáy lòng thầm kín của con người. Những người thu thuế và gái điếm sẽ vào Nước Thiên Chúa trước các thượng tế và các tiến sĩ luật.

2. Người gieo giống kỳ lạ, vừa là người gieo, vừa là người bị gieo. (H. Denis, 100 mots pour diu la foi, DDB)
Dụ ngôn đưa vào cuộc một Thiên Chúa còn có nhiều điều để nói với ta, dù đã có nhiều bình luận, giải thích, để ta bắt đầu bằng những bình luận, giải thích của chính Phúc Âm.
Quả thực người ta có khuynh hướng lái dụ ngôn ra khỏi ý nghĩa quan trọng nhất khi biến nó thành, không phải dụ ngôn Người gieo giống nữa, nhưng là dụ ngôn về chất đất. Điều đó hợp pháp vì đó là một lối đọc do tác giả Phúc Âm đề nghị, một lối đọc theo luân lý, cảnh báo về những thái độ của con người khi đón nhận Lời Chúa, để Lời Chúa sinh hoa kết quả dồi dào. Hãy nhớ lại lối giải thích và áp dụng do nhóm “Hành động Công giáo” đề nghị, ứng vào những “cảnh vực đời sống”.
Nhưng ta hãy trở lại với Người gieo giống.
Tôi muốn rút ra từ hình ảnh người gieo giống, mà những con tem Pháp luôn minh hoạ bằng người phụ nữ,một vài đặc điểm của Thiên Chúa chúng ta.
Trước hết, Thiên Chúa của Đức Giêsu trao ban lời của Ngài có lẽ như một “hơi thở mong manh”. Nhưng Người đã trao ban. Người không giữ Lời cho riêng mình. Người cho nó mặc lấy hình hài trong thửa đất của con người.
Kế đó, Thiên Chúa gieo lúc thuận tiện cũng như không thuận tiện. Cũng cần thêm rằng, người gieo hào phóng đến độ chẳng cần nhìn chỗ hạt giống rơi: trên đường đi, trong đá sỏi, trong gai góc, trên đất mỏng..., nghĩa là, gieo khắp nơi. Đương nhiên có nhiều hạt giống chết đi. Người gieo giống là kẻ đầu tiên thực hành câu nói thời danh: Ai muốn cứu mạng sống mình sẽ mất, ai liều mạng sống sẽ gặp được sự sống.
Thực kỳ dị, vì người gieo giống vừa là người gieo, vừa là người bị gieo. Làm sao quên được rằng Đức Giêsu là hạt giống gieo vào lòng đất? Làm sao tin vào sự phong nhiêu của Ngài nếu ta từ chối cái chết của Ngài?
Đức Giêsu không chỉ là cánh tay Thiên Chúa tung gieo Lời Hằng Sống. Chính Đức Giêsu là hạt lúa mì đã chôn vùi vào thửa đất có cả cỏ lùng của ta và tan biến trong lòng đất, để phục sinh trong muôn ngàn bông lúa.
Chính vì thế mà Mùa gặt đỏ ối dưới ánh mặt trời Phúc Âm sẽ được thu hoạch, khi Thiên Chúa muốn, vào những kho lẫm của Tình yêu vĩnh cửu.

 

CHÚA NHẬT XVI THƯỜNG NIÊN

DỤ NGÔN HẠT CẢI VÀ CỎ LÙNG,
DỤ NGÔN BỘT VÀ MEN

(Mt 13,24-43)

I. VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI:

1. Theo gương nhẫn nại của Chúa
Chúa nhật trước, chúng ta đã bắt đầu đọc bài giảng thứ ba trong năm bài giảng lớn của Phúc Âm thánh Matthêu là dụ ngôn Người gieo giống. Hôm nay chúng ta tiếp tục với ba dụ ngôn khác. Trước tiên là dụ ngôn hạt cải và cỏ lùng, rồi sau là dụ ngôn bột và men. Cả ba đều tiếp theo sau phần giải thích dụ ngôn người gieo giống.
- Dụ ngôn hạt cải và cỏ lùng đều mở đầu giống như dụ ngôn người gieo giống: “Nước Trời thì ví như người kia gieo giống tốt trong ruộng mình...”. Thế rồi đột nhiên câu chuyện trở nên bi đát: các đầy tớ sửng sốt khám phá thấy cỏ lùng đã mọc lan khắp cả ruộng lúa vừa gieo. Họ hỏi ông chủ: “Cỏ lùng ở đâu mà ra vậy?” Ông đáp: “Kẻ thù đã làm đó”. Họ sẵn sàng đi ra ruộng ngay để nhổ hết thứ cỏ dại làm hư ruộng của chủ.
+ “Vậy ông có muốn chúng tôi nhổ cỏ đi không?”. Phản ứng tự phát của những người đầy tớ trong dụ ngôn cũng đúng là phản ứng của những người đã mắt thấy tai nghe bài giảng của Đức Giêsu, phản ứng của những tín hữu ở mọi thời.
. Đó là phản ứng của thánh Gioan Tẩy Giả, người đã vẽ nên bức tranh gây ấn tượng về việc Đấng Mêsia sắp đến: “Tay Người cầm nia. Người sẽ rê sạch lúa trong sân: thóc mẩy thì thu vào kho lẫm, còn thóc lép thì bỏ vào lửa không hề tắt mà đốt đi” (Mt 3,12). Hụt hẫng vì không thấy cách xét xử của Chúa diễn ra y như mình đã loan báo, nên từ trong ngục tù, Người sai hai môn đệ đến hỏi Chúa rằng: “Thầy có thật là Đấng phải đến không, hay là chúng tôi còn phải đợi ai khác?”.
. Đó là phản ứng ngỡ ngàng của tất cả những ai đã nghe lời Đức Giêsu loan báo: “Nước Trời đã đến gần”, thế mà họ lại chẳng thấy có gì được phác hoạ giống như sự xét xử vẫn trông đợi khi Nước này tới.
. Đó là phản ứng tỏ ra thất vọng của mấy môn đệ thân tín của Chúa khi thấy người ta không lịch sự tiếp đón Thầy mình. Giacôbê và Gioan, hai con ông Dêbêđê rất bực mình vì thái độ tiêu cực của một thôn làng miền Samari, liền hỏi Chúa: “Thưa Thầy, Thầy có muốn chúng con khiến lửa trời xuống tiêu diệt họ không?”.
Thực vậy, làm sao tin được rằng những hành động chẳng có gì là vẻ vang của Chúa Giêsu như chữa lành người bệnh, quan tâm đến các trẻ em và những người hèn mọn, tiếp xúc gần gũi với những người tội lỗi, mà lại loan báo và thực thi Nước Chúa một cách hiệu quả đang lúc giờ phút xét xử của Thiên Chúa còn muộn màng, chưa tỏ hiện và sự ác thì hoành hành và có mặt khắp nơi.
+ Ông chủ bình tĩnh đáp lời những người giúp việc tỏ ra quá mẫn tiệp: “Đừng, cứ để cả hai cùng lớn lên cho tới mùa gặt... sợ rằng khi nhặt cỏ lùng, các anh làm bật luôn rễ lúa”.
Từ mùa gieo - hình ảnh Nước Thiên Chúa đến - đến mùa gặt kèm theo việc đập lúa - hình ảnh việc xét xử - có một khoảng giữa: Lúc này đang là thời kỳ lúa lớn lên là thời gian nhẫn nại của Thiên Chúa: nếu Thiên Chúa gớm ghét sự ác, thì Người vẫn cứ phải yêu thương con người - kẻ tội lỗi cũng như người công chính - và Người biết rõ tiềm năng lạ lùng của Lời gieo trong lòng họ. Ngày thu hoạch mùa và lựa lọc sẽ đến vào giờ của Người; ngày đó không thể dự đoán trước. Ông chủ nói với các gia nhân ông rằng: “Đến ngày mùa, tôi sẽ bảo thợ gặt: hãy nhặt cỏ lùng trước đã, bó thành bó mà đốt đi, còn lúa thì hãy thu vào kho lẫm cho tôi”.
Là một lời mời gọi sống theo gương nhẫn nại của Thiên Chúa, dụ ngôn này đồng thời cũng đề nghị ta suy niệm về thời gian của Giáo Hội: đó là thời gian mà tiềm năng của Lời đang hoạt động, bất chấp mọi trở ngại và chống đối; thời gian chờ đợi ngày cánh chung, thời gian của niềm hy vọng.
Lời giải thích dụ ngôn Chúa có ý nhắm nói riêng cho các môn đệ khi đã về tới nhà xem ra xa với bài học về lòng nhẫn nại mà dụ ngôn đã đưa ra. Điểm nhấn mạnh ở đây không còn nhắm tới sự sống giữa giống tốt và cỏ lùng nữa, mà là sự chọn lựa cuối cùng; đang khi chờ đợi sự chọn lựa này, thì phải cố gắng sống không như “con cái ác thần” mà như “những con cái Nước Trời”.

2. ... trong niềm hy vọng hạt giống sẽ nẩy mầm:
Xen giữa dụ ngôn cỏ lùng và người gieo giống được giảng cho đám đông, mà giải thích thì dành cho các môn đệ, ta thấy có hai dụ ngôn mới: dụ ngôn hạt cải và dụ ngôn men trong bột.
Dụ ngôn này cũng như dụ ngôn kia đều nói đến mối tương quan bé/lớn, mà có ý làm nổi bật sự bất cân xứng khác thường giữa một bên là cái bé nhỏ, khiêm tốn hầu như vô nghĩa lúc khởi đầu và bên kia là sự bành trướng lạ thường khi tới đích.
- Quả thực, chẳng có tỉ lệ cân xứng chút nào giữa “một hạt nhỏ nhất trong tất cả các hạt giống” và một cây lớn lên từ hạt đó” vì khi mọc lên thành cây lớn nhất trong vườn, nó trở thành cây cổ thụ, đến nỗi chim trời tới làm tổ trên cành được!”.
- Và thật là chẳng cân xứng chút nào giữa một bên là một dúm men hầu như không trông thấy mà người phụ nữ vùi vào trong bột, và ba đấu bột là dùng để ủ men: từ ba trở thành 40 lít đủ bảo đảm bữa ăn cho hơn 100 người!
Cũng vậy, để làm cho Nước Chúa đến, Thiên Chúa cũng không xử sự khác người nông dân khi gieo vào đất một hạt bé nhỏ, hay như người đàn bà vùi một chút men vào bột. Dù bề ngoài xem quá khiêm tốn, sứ mệnh của Đức Giêsu vẫn cứ khai mào việc Thiên Chúa nhất định can thiệp vào lịch sử của con người. Vậy thì có lẽ nào mà phải nghi ngờ về kết quả chung cuộc?

II. BÀI ĐỌC THÊM:

1. “Chưa nhẫn nại đợi chờ (A. Nocent, trong “Célébrer Jésus Chirist” số 6, NXB Đại học, 1977, trang 99-100).
“Sự nhẫn nại đợi chờ này thực là rõ nét trong dụ ngôn cỏ lùng, tâm điểm của Tin Mừng hôm nay.
Cánh đồng được gieo toàn hạt giống tốt. Con người đã gieo vào trần thế những con cái Nước Trời. Ban đêm kẻ thù xuất hiện, Satan tới gieo cỏ lùng. Và thế là có cảnh lẫn lộn trên trần gian, Người lành kẻ dữ cùng chung nhau một mảnh đất. Nếu chỉ thoáng nhìn, đôi khi khó mà không phê phán Thiên Chúa. Làm sao Chúa lại để điều ác phát triển như vậy? Những người xấu đôi khi xem ra lại được ưu đãi trong đời sống vật chất hơn những kẻ lành. Đó là vấn đề thường nhật mà không phải chỉ riêng cho những người chân chất. Thiên Chúa để cho như vậy. Và quả thực Thiên Chúa muốn để cho mọc lên hạt giống Người đã gieo; đó là người con Chúa đã tuyển chọn, những người Chúa đã ban ơn thánh tẩy, những người mà Thần Khí đã biến đổi nên đồng hình đồng dạng với Con của Người. Chúa để cho họ phát triển, cùng lúc để cho cỏ lùng Người đã không gieo và không thể gieo lớn lên. Nhưng Người kiên nhẫn đợi chờ. Thế giới phải đi con đường của mình, và Thiên Chúa cứ để cho họ đi. Người đợi cho đến mùa thu hoạch. Cuộc đời trần gian cứ trà trộn như vậy, nên tốt hơn ta đừng can thiệp quá sớm kẻo làm chết đi cái gì còn đang sống. Nhưng Nước Chúa vẫn không ngừng tiến triển như hạt cải như bột lên men. Chúa đợi chờ cho mọi cái đạt tới độ chín muồi.
Thánh Matthêu khi viết điều này không phải là người không biết đến tình trạng của cộng đoàn mà ngài trách nhiệm. Ngài thấy cộng đoàn ấy lớn lên bước đầu từ hạt cải nhỏ tí ti, rồi trở thành cây lớn. Ngài hiểu biết rằng men đang nằm trong bột, nhưng ngài cũng không thể không biết rằng cỏ lùng lẫn lộn với hạt giống. Chắc chắn điều đó tạo nên vấn đề cho các tín hữu của ngài, cũng như ngày nay vậy và vấn đề không chỉ đơn giản là trấn an những nỗi lo âu và hâm nóng lòng tin tưởng vào Chúa quan phòng. Chứng tỏ cho thấy rằng Nước Chúa vẫn có sức năng động, mặc dầu có những kẻ thù, mặc dầu có những khiếm khuyết và đồng thời giúp cho cộng đoàn biết suy nghĩ về trách nhiệm của mình đang khi chờ đợi Ngày hội ngộ, đấy mới phải là mục tiêu mà thánh sử nhắm tới.

2. “Hạt giống tốt và cỏ lùng lẫn lộn xà ngầu” (Đức Cha L. Daloz trong “Le règne des cieux s'est apprché” NXB Desclée de Brouuer, trang 200-201).
“Dụ ngôn cỏ lùng cũng là lời mời gọi ta biết nhìn những con người và các biến cố trong tất cả sự thật, trong sự phức tạp của con người và biến cố. Khi giải thích dụ ngôn này, Đức Giêsu đối chọi hạt giống là những phần tử của Nước Chúa, với cỏ lùng là những kẻ thuộc về Ác Thần. Sự phân biệt xem ra đơn giản. Nhưng phân loại những “người lành”, “kẻ dữ” thực ra có quá dễ dàng như thế không? Chúa Giêsu phán rằng sẽ chỉ đến mùa gặt thì việc phân biệt lựa chọn (nghĩa là đến ngày tận thế) mới thực hiện được: “Con Người sẽ sai các thiên thần của Người tập trung mọi kẻ làm gương mù gương xấu và mọi kẻ làm điều gian ác, mà tống ra khỏi Nước của Người”. Phải, việc đó sẽ được thực hiện, nhưng chỉ vào ngày tận thế! Trong thời gian chờ đợi này, hạt giống và cỏ lùng lẫn lộn tứ tung. Ta cứ nghiệm mà coi: trong những tình huống tuyệt vọng nhất, nơi những con người xem như tồi tệ nhất, vẫn còn lập loè vài tia sáng. Hơn nữa, trong tình liên đới giữa con người với nhau, những người bị hãm hại và bị ức hiếp không để mình chịu thua sự độc ác của những kẻ hành hạ mình, mà lại trở thành con đường hộ phù và cứu độ cho những kẻ ấy. Đức Giêsu, người đứng đầu các kẻ công chính khi hấp hối trên thập giá đã cầu nguyện: “Lạy Cha, xin tha cho chúng...!”. Nét đẹp của con người, vẻ cao cả của một tấm lòng, đức tận tuỵ hy sinh của tình yêu thương cho đến tận cùng cũng biểu lộ cả trong những tình huống tội lỗi hỗn loạn hoàn toàn. Đôi khi chính ở đó mà những vẻ đẹp kia lại tìm được nét diễn tả thâm thuý nhất... vì sự ác làm nảy sinh những cử chỉ yêu thương và anh hùng bất ngờ. Phải là phép lạ khi hình ảnh của Thiên Chúa thường bị biến dạng mà vẫn ẩn vùi trong thâm sâu của bản thân mỗi người; phải là phép lạ khi tình yêu vẫn le lói như một tia sáng yếu ớt và kiên cường ngay ở nơi xem ra chỉ có bóng tối; hạt giống nhỏ xíu của Nước Trời “loại nhỏ nhất trong tất cả các hạt giống” mà người ta tưởng chừng nó phải mất hút, thế mà lại xuyên qua được đá cứng nhất nhờ sức mạnh của nhựa cây! Hạt giống rất quý giá đó mà Thiên Chúa vốn nhẫn nại không cho phép người ta tạo nguy cơ loại bỏ nó, chỉ vì vội muốn nhổ ngay đám cỏ dại: “Sợ rằng khi nhặt cỏ lùng, các anh làm bật luôn rễ lúa...”. Ta phải học cho biết hy vọng cả khi phải nguyện vọng như thế nào!; phải có lòng trắc ẩn và xót thương biết bao để biết tôn trọng tình trạng “hổ lốn” mà ta vốn thích phân loại cho rõ rệt! Ta phải học đức nhẫn nại của Chúa, một sự nhẫn nại không mệt mỏi cho đến tận thế, học thương yêu con người, hết mọi người để cho không một ai phải hư mất, học lòng thương yêu của Chúa Con, Đấng đã mặc lấy xác phàm để các anh em nhân loại của Người không phải là những nạn nhân của chính lòng độc ác của họ. Đức nhẫn nại của Cha đâu có biết đến giới hạn? “Cứ để cả hai cùng lớn lên cho tới mùa gặt...”. Con người thật là quý giá, nên phải coi chừng đừng để mất đi một mảnh vụn nào hết! Thiên Chúa không hề mệt mỏi khi phải kiên nhẫn “cho đến ngày tận thế”.

 

CHÚA NHẬT XVII THƯỜNG NIÊN

DỤ NGÔN KHO BÁU VÀ NGỌC QUÍ,
DỤ NGÔN CHIẾC LƯỚI

(Mt 13,44-52)

I. VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI:

1. Chọn lựa Nước Trời là điều khẩn trương...
Từ hai tuần qua, chúng ta đã khởi sự đọc “Bài giảng bằng dụ ngôn”, với dụ ngôn người gieo giống. Hôm nay chúng kết thúc với những dụ ngôn kho báu và ngọc quí, dụ ngôn chiếc lưới và lời kết thúc bài giảng.
- Như một cặp, nên hai dụ ngôn kho báu và ngọc quí đều được xây dựng cách cân đối. Không muốn ta chú ý đến những sự vật là kho báu, ngọc quí vì cho ta ít giáo huấn - hai dụ ngôn muốn tập trung chú ý của ta vào thái độ ứng xử của các nhân vật. Việc họ khám phá ra kho báu, viên ngọc chỉ làm nên điều giả sử đã có, sẽ cho phép ta hiểu được ngay cách hành xử mà hai người đã chọn.
+ Người thứ nhất là một người làm công nhật, cầy ruộng của một người khác, tình cờ trong lúc làm ruộng, anh gặp thấy chôn giấu trong đất một kho báu. Một kho báu mà theo con mắt của anh là vô giá, nên anh liền “đi bán tất cả những gì có mà mua thửa ruộng ấy”.
+ Người thứ hai là một thương gia buôn bán ngọc quý. Tình cờ trong khi chạy hàng anh đã tìm được một viên ngọc thượng thặng, liền “bán tất cả những gì mình có mà mua viên ngọc ấy”.
Cả hai đều không muốn bỏ lỡ cơ hội có một không hai, không muốn để cho vận may của cuộc đời qua mất, và vì thế họ hành động.
Lời đáp trả cho sứ điệp Tin Mừng về Nước Chúa, như J. Dupont chú giải, có thể khác nhau tuỳ theo hoàn cảnh và ơn gọi của mỗi cá nhân; nhưng không làm tất cả những gì cần thiết để được vào Nước Chúa, không lợi dụng vận may hiếm có đưa đến, đó là tỏ ra một thái độ khờ dại không thể tha thứ được. Chẳng có gì là phải trả giá quá đắt đối với sự thiện có được: lấy tất cả những gì ta có, đem tất cả con người của mình để đặt cọc cho sự thiện này, đó chính là việc mua bán tuyệt vời. Đã cam kết trọn vẹn, lẽ nào lại keo kiệt, đắn đo?
Hiểu như vậy, ta mới thấy hai dụ ngôn khó ăn ý với nhau để minh hoạ cho lời rao giảng ban đầu của Chúa Giêsu: “anh em hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần” (Mt 4,17) (cf. Assemblées du Seigneur, số 48, trang 20).

2. ... Đang khi đợi chờ ngày Chúa đến:
Tiếp theo là dụ ngôn chiếc lưới, đúng hơn là lưới vét: một loại lưới để rà, hoặc là được kéo đi nhờ hai thuyền, hoặc được một thuyền đánh cá bố trí, rồi dòng giây dài vào bờ mà kéo đi.
+ Rất gần gũi với dụ ngôn cỏ lùng và hạt giống tốt, dụ ngôn thứ bảy và cũng là dụ ngôn cuối cùng này đưa chúng ta gặp lại biển, bờ biển cùng những người ngồi trên bờ lúc Chúa bắt đầu giảng (Phúc Âm Chúa nhật thứ XV).
J. Dupont giải thích: “Đức Giêsu loan báo việc Nước Chúa đến là điều sắp xảy ra. Thế nên mọi người biết rằng việc đến này phải bắt đầu bằng một cuộc tẩy rửa lớn lao... Bởi vậy, người ta chờ đợi xem Đức Giêsu bắt đầu cuộc thanh tẩy: luận phạt kẻ có tội, qui tụ người công chính chung quanh Người. Nhưng sứ vụ của Đức Giêsu lại chẳng tương xứng chút nào với sự mong chờ đợi này... Đức Giêsu phải tự giải thích. Người thực hiện điều này bằng nhiều cách khác nhau: Sứ mệnh của Người liên can tới những người tội lỗi mà Chúa muốn cho họ được cứu độ (Mt 20,1-15; Lc 15); làm cho giờ xét xử đến trước thời gian, việc đó không thuộc quyền Người... Thiên Chúa xử sự không khác với các ngư phủ; họ gom tất cả vào lưới rồi mới tiến hành việc lựa chọn.
Bởi vậy lòng nhân từ yêu thương Đức Giêsu tỏ ra đối với những người tội lỗi không được là căn cớ gây nên xì-căng-đan: trong viễn ảnh ngày cánh chung khi mà Thiên Chúa ra tay can thiệp, thì sứ vụ của Đức Giêsu được coi là giai đoạn một, giai đoạn mà lưới được đầy cá đủ loại. Thời điểm tách biệt kẻ xấu ra khỏi hàng ngũ người công chính hãy còn chưa tới. Nhưng sẽ tới, đó là điều chắc (O.C., trang 22-23).
+ Lời giải thích tiếp theo ngay dụ ngôn này rõ ràng có một sự chuyển hướng tầm nhìn. Trong dụ ngôn, Đức Giêsu có ý cắt nghĩa tình trạng hiện hành là việc trà trộn người tốt với kẻ xấu. Còn cách giải thích của Phúc Âm thứ nhất thì nhấn mạnh đến sự trừng phạt sẽ giáng xuống những kẻ có tội vào ngày tận thế, vào giờ sẽ thực hiện sự lựa chọn. J. Dupont kết luận: “Trong lời cảnh giác nghiêm nhặt này, người ta nhận thấy mối bận tâm có tính huấn giáo của thánh sử. Ngài lo lắng vì thấy có biết bao tín hữu mà nơi họ Lời Chúa vẫn trơ trơ không sinh kết quả gì” (O.C. trang 24).

II. BÀI ĐỌC THÊM:
1. Chỉ có một thực tại đáng kể, chính là Thiên Chúa. (J. Potin, trong “Jésus, l'histoire vraie” NXB Centurion, 1994, trang 134).
Bằng hai dụ ngôn nhỏ này. Đức Giêsu gợi ý rằng Nước Trời là giá trị tuyệt đối không thể đem ra so sánh được với cái gì khác. Mọi sự còn lại đều mờ nhạt khi ta nhận thức được Nước Trời là gì và cao quý thế nào. Nhân vật trong dụ ngôn như bị thôi miên, bị choáng ngợp vì sự khám phá của mình, từ nay trở đi chỉ có một cái đó là đáng kể đối với anh mà thôi. Và để cái đáng kể đó trở thành của mình, anh sẵn sàng rũ bỏ mọi sự. Đức Giêsu chỉ cho thấy chỉ có một thực tại đáng kể chính là Thiên Chúa, Đấng mà ta phải loại trừ và hy sinh tất cả mọi sự khác ở trần gian này để mà chiếm lấy”.

2. “Đức tin, trường học ưu tiên và hấp dẫn” (F. Deleclos, trong Preuds et mange La Parole”, Centurion - Duculot, 1992, trang 68-69).
Vì thế phải nhìn Kitô giáo trong sự thực sâu xa của nó. Không phải là tôn giáo chủ trương tìm kiếm đau khổ hay cam chịu đau khổ, không phải là tôn giáo sùng bái những hy sinh và từ bỏ chỉ vì phải từ bỏ, hy sinh. Đức tin mới là trường học được ưa chuộng nhất và hấp dẫn, là bước dẫn đến kho báu đích thực làm cho cuộc sống và trọn vẹn cuộc sống được phong phú. Sứ điệp và giáo huấn của Đức Kitô là Tin Mừng chân lý và hạnh phúc.
Đối diện với kho báu, chúng ta bị dồn vào thế phải chọn lựa và chọn lựa ngay không trì hoãn: bán đi để có được, từ bỏ để chiếm hữu, khước từ để được tự do. Chắc chắn là phải khởi sự đi tìm và tìm cho được, bởi lẽ tài sản quý giá vô cùng này, viên ngọc vô giá kia được chôn giấu trong đất mà chúng ta vẫn giẫm lên mỗi ngày. Kho báu và viên ngọc quý ấy hoà trộn vào cái làm nên sinh hoạt đời thường của ta. Bởi vậy ta có thể đến gần nó mà không biết, xéo lên chúng mà lại vô tình. Vì thế ta phải biết chú ý đến “những dấu chỉ của thời đại”, những tiếng gọi bí ẩn vẫn dội lên mỗi ngày và trong mọi trường hợp.
Bị loá mắt nếu không muốn nói là mù quáng bởi ánh sáng của những của cải phù vân giả dối, chúng ta có nguy cơ bỏ qua “chiếc đồng hồ vàng” và lạc đường khi đuổi theo những ảo ảnh.
Bí tích Thánh Thể là phút dừng chân đặc biệt trong cuộc săn đuổi tìm kiếm kho báu. Hãy mượn lời ca của thánh vịnh để hát lên: “Niềm hy vọng của con, chính là lời Chúa!”. Nhờ để tâm lắng nghe Lời khôn ngoan, lòng ta “bừng cháy”. Việc khám phá ra tài sản quý giá không xa. Nhưng liệu ta có đủ tin tưởng và lòng tin để bán đi những gì ta có hầu mua lấy viên ngọc quí hoặc thửa ruộng có kho báu ấy chăng?”.

 

CHÚA NHẬT XVIII THƯỜNG NIÊN

VỚI NĂM CÁI BÁNH VÀ HAI CON CÁ,
ĐỨC GIÊSU ĐÃ CHO ĐÁM ĐÔNG ĂN UỐNG THOẢ THUÊ
(Mt 14,13-21)

I. VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI:

1. Một cử chỉ là biểu tượng sứ mệnh của Đức Giêsu.
Bốn thánh sử đều tường thuật câu truyện hoá bánh ra nhiều. Cả thảy là sáu lần mà hai lần trong Matthêu và Máccô trong những bối cảnh khác nhau. Ở đây chúng ta gặp một trường hợp duy nhất là cùng một biến cố mà có những ngần ấy trình thuật khác nhau; điều đó đủ nói lên tầm mức quan trọng và vẻ phong phú của biến cố đối với huấn giáo.
Hôm nay Giáo Hội đề nghị ta suy niệm trình thuật thứ nhất trong hai trình thuật của thánh Matthêu.
- Tác giả đã đặt câu truyện vào một bối cảnh bi thảm. Nỗi thất bại đã trải qua trong “chính quê hương của mình” ở Nagarét (13,53-55) Đức Giêsu lại vừa mới hay tin Gioan Tẩy Giả bị Hêrôđê ra lệnh chém đầu (14,1-3). Khởi sự một chuyến đi lánh nạn sẽ dẫn Người từng chặng lần lượt đến miền Césarée Philipphe “Người lánh khỏi nơi đó, đi thuyền đến một chỗ hoang vắng, riêng biệt”.
- Không như một bài báo tường thuật biến cố xảy ra, bài trình thuật rất mau chóng lộ ra - cho ai xem xét kỹ lưỡng - là một bài tích luỹ những vay mượn các mẫu của Cựu Ước, đồng thời được đọc lại dưới ánh sáng kinh nghiệm bữa ăn Thánh Thể của các cộng đồng tín hữu đầu tiên.
+ Gặp lại “đám đông” đã đi bộ mà theo Chúa, còn Người thì dùng thuyền tìm nơi êm ả, thanh vắng, Đức Giêsu “chạnh lòng thương” (đúng chữ là “quặn lòng") họ. Lúc bắt đầu bài giảng về truyền giáo, Đức Giêsu đã quặn lòng như vậy khi nhìn thấy đám đông không người chăn dắt (9,36). Người cũng sẽ quặn lòng như thế khi gặp người mờ ở Giêricô (20,34). Trước mặt đám người đông đúc mà Người trông thấy khi “ra khỏi thuyền”, Đức Giêsu tỏ mình ở đây là MỤC TỬ ĐÍCH THỰC mà các ngôn sứ đã loan báo (cf. Ez, 34), là Mục Tử Thiên Chúa sai đến để quy tụ dân Người và đưa họ đến những đồng cỏ xanh tươi.
F. Prud'homme chú giải: “Người chạnh lòng thương”. Từ ngữ chỉ thứ xúc động của tình yêu sâu xa, như bản năng, bắt nguồn từ trong tim hay trong “ruột gan” của một người mẹ; đó không phải chỉ là tình cảm thuần tuý, nhưng là lòng trắc ẩn có sức tác động. Trong Cựu Ước động từ ấy chỉ tình yêu của Đức Giavê đối với dân Người, một tình yêu thuộc bản tính của Thiên Chúa...
Truyền thống nguyên thuỷ đã trình bày việc Chúa hoá bánh ra nhiều như một cử điệu chỉ thoát ra từ lòng trắc ẩn của Đức Giêsu. Trong bài tường thuật của mình, thánh Máccô dùng Ezechiel 34 để mô tả Đức Giêsu mang những nét của vị Mục tử đích thực mà dân trông đợi. Thánh Matthêu lại dùng cũng điểm quy chiếu trên ở 9,36 để nói lên ý tưởng là sứ mệnh của các tông đồ có nguồn gốc trong tình yêu trắc ẩn của Đức Giêsu. Ở đây cũng vậy, cử chỉ xót thương của Đức Giêsu được gợi nên do tình cảnh của đám đông đang đi tìm kiếm mà chẳng biết, đang “đi theo” mà đích thực chẳng khám phá ra Đấng Cứu Thế. Cái “đói” đích thực của đám đông này là thế đó. Hành động của Đức Giêsu sẽ mang tính biểu tượng cho tất cả sứ mệnh của Người, và các tông đồ sẽ tham dự chặt chẽ vào sứ mệnh đó.
Những con người nghèo khổ đói khát này, tất cả đều cần được chữa lành và hết thảy không trừ một ai đều được mời gọi tham dự bàn tiệc” ("Assemblée, du Seigneur” số 49, trang 24).
Cũng giống như ba tác giả kia, thánh Matthêu nhấn mạnh đến sự bất cân xứng lớn lao giữa số thực phẩm mang tới: “Năm cái bánh và hai con cá”, và đám đông ăn no nê: “Chừng năm ngàn người, không kể đàn bà và trẻ em”. Như thế Đức Giêsu được giới thiệu như vị NGÔN SỨ ĐƯỢC TRÔNG ĐỢI, vượt trên cả chính Élisée người đã nuôi ăn một trăm người bằng hai mươi cái bánh lúa mạnh (2 Các Vua 4,42-44). Thời đại mới, thời đại ứng nghiệm những hình ảnh của Giao ước cũ, đã được khai trương trong con người Đức Giêsu.
+ Cảnh được đặt vào “một chỗ hoang vắng”. Đối với thánh sử Matthêu, đó là một cách để chào mừng Đức Giêsu là Môsê mới tụ họp dân Chúa tiến vào hoang mạc (Xh 16,4) rồi dẫn họ tới Đất Hứa thực, nơi đó “mọi người sẽ được nuôi ăn và ăn no nê” (Nl 6,11; 11,15; 31,20).
+ Sau cùng khi nhấn mạnh đến số thực phẩm quá dồi dào được ban tặng miễn phí, thánh sử hàm ý chỉ Đức Giêsu là CHỦ BÀN ĂN quy tụ quanh Người những đám dân tản mác vào dự bàn tiệc của Đấng Cứu thế (Cf. Isaie 55, bài đọc một của Chúa nhật XVIII thường niên).

2. Một cử chỉ biểu tượng sứ mệnh của Giáo Hội:
Nếu cảnh hoá bánh ra nhiều mạc khải bằng biểu tượng căn tính đích thực và sứ mệnh của Đức Giêsu, thì cảnh ấy cũng vén lên bức màn về sứ mệnh của các môn đệ Người phải thực hiện cho tới ngày Người trở lại.
- Vả lại khi đặt cảnh hoá bánh ra nhiều vào lúc “chiều đến”, giống như ở Tiệc Ly (26,20), thánh Matthêu có vẻ như muốn đúc kết trình thuật của mình để cho nó có vẻ long trọng hơn, một phong cách phụng vụ hơn, và như thế tập trung hơn những cái nhìn hướng về những cử chỉ của Đức Giêsu. Những cử chỉ được thánh sử tường thuật bằng cùng những lời lẽ như những cử chỉ Chúa đã làm trong bữa ăn sau hết với các môn đệ: “Cầm lấy bánh”, “đọc lời chúc tụng” (hoặc “tạ ơn"), “bẻ ra” và “trao cho” (Mt 26,26). Những cử chỉ này chính là những cử chỉ của truyền thống phụng vụ về nghi lễ “Bẻ bánh” diễn ra trong các buổi họp hội của các tín hữu. Đối với thánh sử, đó là một cách để trình bày việc hoá bánh ra nhiều như là một báo hiệu tiệc Thánh Thể sau này.
- Còn về nhiệm vụ dành cho các môn đệ, thánh Matthêu cũng loan báo bằng biểu tượng thừa tác vụ mà sẽ là chính tác vụ của các ông trong việc cử hành Thánh Thể vốn được sinh hoạt trong các cộng đồng tín hữu: “Đức Giêsu cầm lấy bánh... bẻ ra, trao cho các môn đệ. Và môn đệ trao cho đám đông”.
J. Perron giải thích: “Đức Giêsu đã muốn cần đến các tông đồ, và muốn cho các ông khai trương ngay hôm đó, nhiệm vụ vốn phải là nhiệm vụ của chính các ông. Thánh Matthêu còn nhấn mạnh ở đây tầm quan trọng và phẩm cách của chức vụ này khi dùng cũng một động từ “trao cho”, mà chủ từ trước tiên là Chúa Giêsu, rồi sau là các môn đệ; điều đó hàm ý rằng: có cùng một ơn ban, và ơn đó được trao qua tay các môn đệ. Phải chăng Đức Giêsu đã muốn như thế, bởi trước đó, Người vừa mới nói với các ông: “Chính anh em hãy cho họ ăn?” ("Lire La Bible”, số 52, trang 227).
- Chuyện kể kết thúc ở việc thu gom những “mẩu bánh còn thừa": “mười hai giỏ đầy”, cũng bằng con số các chi tộc Israel là dấu hiệu nói lên rằng công việc Chúa làm vượt trên số những người được hưởng ơn ngay tức thì, mà còn lan rộng tới cả một dân tộc. Là biểu tượng tiêu biểu việc Chúa ban ơn tràn trề, mười hai thúng đầy này cũng còn là dấu chỉ rằng thứ lương thực này còn mãi cho những ai được mời gọi tham dự cùng một bữa ăn trong cuộc lữ hành hôm nay của Giáo Hội: mỗi lần chúng ta cử hành Bí tích Thánh Thể, một cách nào đó, là chúng ta lấy ra ở trong “mười hai thúng” đã được uỷ thác chiều hôm đó cho mười hai tông đồ.
Như thế, việc hoá bánh ra nhiều, suy niệm về “bánh” của Đức Giêsu, về chính con người Đức Giêsu, và về sứ mệnh của Người, dưới ngòi bút của thánh sử Matthêu, trở thành sự chiêm ngắm Giáo Hội kẻ trao bánh, Giáo Hội kẻ trao ban Đức Giêsu trong khi tiếp tục sứ mệnh của mình trong thế giới.

II. BÀI ĐỌC THÊM:

1. “Một biến cố biểu tượng nhiều ý nghĩa” (J. Potin, trong “Jésus, L'histoire vraie”, Centurion, trang 276-277).
“Thực tế mà nói, biến cố ấy có một tầm mức mà những người chứng kiến không thể lĩnh hội hết mọi chiều kích. Sau này các tín hữu sẽ không chỉ xem đó là kỷ niệm việc hoá bánh và cá ra nhiều mà thôi. Tất cả mọi chiều kích của ơn cứu độ Đức Giêsu Kitô mang đến cho toàn thể nhân loại, được diễn tả qua phép lạ này. Người là Môsê mới. Cũng như Môsê, Người đã dẫn Israel, từ bên kia biển, đi qua sa mạc, để tìm đất Hứa. Như Môsê, sau lễ mừng Vượt qua đầu tiên đã ban bố Lề Luật cho dân, thì ở đây, dân chúng cũng đã được nghe Người loan báo Luật mới của Nước Trời. Dân chúng đông đảo. Thánh Matthêu nói rõ là bốn hoặc năm ngàn người, không kể đàn bà và con trẻ. Đức Giêsu đã chia họ thành từng nhóm năm mươi hoặc một trăm cũng như Môsê xưa đã tổ chức nhóm nô lệ chạy trốn này thành một dân tộc chính cống.
Xưa, để nuôi dân Israel, Thiên Chúa cho họ Manna mỗi ngày. Cũng thế, để nuôi những kẻ theo Người, Đức Giêsu hoá bánh ra nhiều. Nhưng bánh này không phải chỉ là đồ ăn nuôi xác mà thôi Đức Giêsu còn loan báo bánh Thánh Thể mà Người sẽ phân phát cho các môn đệ của Người chiều hôm trước ngày chịu chết và là bánh các môn đệ đến phiên mình cũng sẽ phân phát cho các tín hữu trong các cộng đồng tụ họp lại nhân danh Người. Vì thế, hình ảnh chàng trẻ tuổi làm-phép-lạ sẽ mờ nhạt đi sau con người Đấng Cứu Thế, Đấng mà trong bữa ăn cuối cùng đã phán: “Này là Mình Thầy bị nộp vì các con”. Không thể gợi nhớ lại cảnh tượng xảy ra ở ven biển hồ mà lại không nghĩ đến cảnh ở nhà Tiệc Ly. Buổi chiều hôm đó, nhóm Mười Hai là tất cả Giáo Hội non trẻ. Đám đông hưởng phép lạ lúc ấy há chẳng phải là hình ảnh loan báo Israel mới mà Thiên Chúa ban cho dư đầy của cải Nước Trời sao? Thì sách Xuất hành cũng đã tường thuật rồi đó: chiều hôm trước ngày Sabát, Thiên Chúa đã ban cho dân Người khẩu phần manna gấp đôi, để họ giữ lại cho ngày hôm sau, vì ngày hôm đó không có manna rơi xuống. Đức Giêsu cũng vậy, Người đã không đành chỉ làm dịu cơn đói, mà còn ban cho họ lương thực dự trữ để tiếp tục con đường. Quả thực, sau khi dân chúng ăn no nê, các môn đệ thu lại các mẩu bánh thừa được mười hai thúng, theo thánh Matthêu (con số biểu tượng Giáo Hội). Chúa Giêsu quả thật làm no đầy những kẻ thuộc về Người.
Nhờ việc sử dụng bài tường thuật về việc ra khỏi Ai Cập, và hơn nữa, bài nói về việc Chúa lập bí tích Thánh Thể mà biến cố hoá bánh ra nhiều được kể lại trong các Phúc Âm có được một tầm mức biểu tượng nói lên rất nhiều điều, biểu tượng ấy đã nuôi dưỡng việc rao giảng của Giáo Hội.

2. “Giáo Hội không thể là Giáo Hội mà không chia sẻ tình yêu của Chúa mình cho quảng đại quần chúng” (Đức Cha L. Daloz, trong “Le Règne des cieux s'est approché” Desclée de Brouwer, trang 219-220).
Giáo Hội có sứ mệnh biểu lộ và làm cho người ta chia sẻ cho mọi người tình yêu thương và lòng nhân ái của Thiên Chúa. Điều đó không chỉ giới hạn trong nội bộ của chính Giáo Hội, mà còn vì Giáo Hội có liên quan với tất cả nhân loại. Giáo Hội chỉ có thể là một căn nhà mở ra tứ phía, đón gió muôn phương. Các tín hữu là những người sống liên đới với đồng bào của mình, với những người sống cùng thời với mình, nên các tín hữu ấy chia sẻ những vấn đề, những niềm vui và những nỗ lực của họ. Đức Giêsu luôn luôn tiếp đón đám đông là một mẫu gương luôn luôn hiện thực đối với ta. Ở mọi thời đại, các tín hữu đã dấn thân không biết mệt mỏi để phục vụ con người; họ phục vụ cách nhưng không, không đòi hỏi được đền đáp, không bận tâm về vấn đề chủng tộc hay tôn giáo. Thời nay, nhờ những phương tiện thông tin đại chúng, các nhu cầu của con người được truyền đi mau lẹ và được toàn cầu biết đến, thì Giáo Hội nhất thiết phải quan tâm đến mọi nỗi thống khổ của con người, mọi tiếng kêu gọi có tính nhân đạo. Giáo Hội không thể sống khép kín, chỉ biết lo lắng cho những phần tử của mình. Trong mọi lãnh vực thăng tiến nhân loại, bênh vực quyền con người, Giáo Hội phải là người có mặt. Giáo Hội không thể là chính mình, nếu không chia sẻ tình yêu của Chúa mình cho quảng đại quần chúng mà Người luôn luôn quan tâm”.

 

CHÚA NHẬT XIX THƯỜNG NIÊN

NGƯỜI KÉM TIN,
SAO NGƯƠI LẠI NGHI NGỜ?

(Mt 14,22-33)

I. VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI:

1. Nỗi sợ hãi của các môn đệ cô đơn giữa cơn bão táp.
Đoạn văn tường thuật việc Đức Giêsu đi trên mặt nước, ta đọc thấy cả trong Mt, Mc (6,45-52 và Ga (6,16-21). Cả ba tác giả đều đặt biến cố này sau phép lạ hoá bánh ra nhiều.
Tường thuật của Matthêô gồm 4 phần nối kết chặt chẽ với nhau: 1. Tương quan với việc hoá bánh ra nhiều; 2. Việc Đức Giêsu rút lui lên núi; 3. Việc Đức Giêsu đi trên mặt nước; 4. Việc Phêrô bước đi trên mặt nước và tuyên xưng đức tin.

1. Tương quan với phép lạ hoá bánh J.Potin coi như tương quan thần học. Trong sa mạc Sinai, Thiên Chúa đã nuôi dân bằng Manna và đã dẫn dắt họ đi qua Biển Đỏ. Cũng vậy, Đức Giêsu nuôi dân chúng và bước đi trên biển để dẫn dắt các môn đệ tới bến bờ bên kia.
("Jésus, l'histoire vraie”, Centurion 1994, trang 257).
Thánh Matthêô thuật lại: “Ngay sau khi đã nuôi dân trong sa mạc, Đức Giêsu bắt buộc các môn đệ lên thuyền và chèo qua bờ bên kia trước”. Tại sao phải lên thuyền vội vã và bị bắt buộc như vậy? Cả hai tác giả Matthêô và Maccô đều không giải đáp câu hỏi này. Trái lại, Gioan cho ta biết: dân chúng quá cuồng nhiệt về phép lạ hoá bánh, nên muốn ép buộc Ngài làm vua (Ga 6,15). Phải chăng Đức Giêsu muốn ngừa môn đệ khỏi ô nhiễm bởi cám dỗ về một thành công hão huyền.

2. Sau khi đã giải tán đám đông, Đức Giêsu rút lui lên núi một mình để cầu nguyện. Núi là khung cảnh của bài giảng Bát Phúc, và cũng là nơi diễn ra biến cố Hiển Dung (17,1) và cuối cùng là nơi hẹn của Đức Giêsu phục sinh với các môn đệ ở Galilê (28,16). Đọc qua Thánh Kinh, ta thấy núi là một địa điểm thần học hơn là một địa điểm địa lý; núi là nơi được chọn để Thiên Chúa tỏ mình ra và để ta gặp gỡ Thiên Chúa (xem bài đọc I Chúa nhật này), là nơi ưu tiên dành cho việc cầu nguyện.
G.Gaide giải thích: Đức Giêsu hướng về Cha của Người. Dự kiến của quần chúng là một thử thách đối với Đức Giêsu, một cơn cám dỗ lôi kéo về thành công dễ dãi - cơn cám dỗ số hai (Mt 4,5-7) - là muốn lôi kéo quần chúng theo mình bằng những hành động kỳ diệu, trong khi Chúa Cha muốn cho Người lôi kéo mọi người lên với Người bằng việc chịu treo lên thập giá (rồi lên ngự bên hữu Chúa Cha, Ga 12,32). Trong cơn cám dỗ này, Đức Giêsu hướng về Đấng đã sai phái mình, để hiểu rõ ý nghĩa sứ mạng của mình ("Assemblee du Seigneur”, trang 25-26).
“Chiều đến” Đức Giêsu ở đó, múc lấy sức mạnh trong cuộc đàm thoại với Cha Người, sức mạnh để đẩy lui cơn cám dỗ, dụ dỗ Người chiều theo ý kiến cứu chuộc bằng cách thức loài người. Người “cô đơn” giống như vào một buổi tối hấp hối sau này, trong khi các môn đệ của Chúa bất lực, thiếp ngủ vì buồn sầu.

3. Đức Giêsu bước đi trên mặt biển. Matthêô thuật tiếp: “Thuyền bị sóng dập vùi bởi vì gió ngược”. Trong khi Đức Giêsu ở cách xa họ để cầu nguyện, thì con thuyền của các môn đệ - tượng trưng cho Hội Thánh - phải đương đầu với đêm tối bão táp.
“Vào canh tư đêm tối, Đức Giêsu đến với họ, bước đi trên mặt biển”. Cuộc đi bộ trên biển trong đêm tối không chỉ biểu dương một phép lạ suông, xét theo cách diễn tả của tác giả Tin Mừng, nhưng nó hàm ngụ nhiều ý nghĩa khác:
- Biển đối với người am hiểu Thánh Kinh, tượng trưng cho quyền lực của sự ác; biển rẽ ra hai bên dưới cây gậy của Môsê, mở một con đường cho Dân Chúa đi về tự do. Thánh vịnh 77 ca ngợi: “Trên biển cả là đường Chúa đi, khắp nẻo trùng dương là lối của Chúa”. Đi trên biển, Đức Giêsu tỏ mình ra là Đấng chiến thắng sự dữ, Người đến để mở cho dân của Giao ước mới lối đi từ sợ hãi qua tin yêu.
- Chính “vào lúc đêm tàn” giống như buổi bình minh của ngày Phục sinh, Đức Giêsu đến: cách nói điển hình chỉ cuộc hiển linh phục sinh (xem Ga 20). Cuộc tỏ mình này, thánh ký Tin Mừng trình bày như báo hiệu và như tiến trưng của cuộc toàn thắng phục sinh của Đức Giêsu đối với biển cả chết chóc.
- Vì “xao xuyến” nên các môn đệ không nhận ra Người. Họ sợ hãi kêu lên: “Ma kìa”. Lời của Đức Giêsu nói với các môn đệ lúc đó còn hơn là một lời trấn an: “Hãy vững tin. Đừng sợ. Thầy đây mà”. Đây là một lời mạc khải: Đức Giêsu có thể xuất hiện bất cứ lúc nào, bất cứ ở đâu. Họ không phải sợ hãi. “Thầy đây mà ”. J.Potin đã giải thích: Đàng sau câu nói quả quyết này, các môn đệ được mời gọi cảm nghiệm câu định nghĩa mà Thiên Chúa đã phán với Môsê về chính mình, khi Người xuất hiện đột ngột với ông ở núi Sinai: Ta là Ya-vê: Đấng Tự Hữu”.

2. Tuyên xưng đức tin vào Đức Giêsu “Con Thiên Chúa”

4. Và cuối cùng là việc Phêrô đi trên biển, việc này cũng mang ý tượng trưng, cùng với việc tuyên xưng đức tin.
“Lạy Chúa, nếu thực là Chúa thì xin truyền cho con đi đến với Ngài trên mặt nước”.
Nơi Maccô, tường thuật chấm dứt lúc Đức Giêsu bước lên thuyền với các môn đệ và lúc đó sóng gió lắng dịu. Nơi Matthêô tường thuật còn nối dài với cảnh tượng báo trước thái độ mà Phêrô sẽ xử sự sau này: một buổi chiều kia, sau khi đã tuyên xưng lòng tin không hề lay chuyển của mình, Phêrô sẽ té nhào cách thảm hại. Ông còn cần phải gặp gỡ Đấng Phục sinh để bước qua thử thách ngày thứ sáu đau thương, mà tới được bến bờ lòng tin vào Chúa Phục sinh.
Lúc này Phêrô liều mình bước đi trên mặt nước để đến gặp Đức Giêsu, đó là một hình ảnh sống động về thân phận của người tín hữu. Bị giằng co bởi một bên là lòng tin, lòng tin đem ông đến với Chúa, và bên kia là sự nghi ngại, nghi ngại khiến ông chìm xuống nước. Ông kêu lên: Chúa ơi, cứu con với! Và Đức Giêsu giơ tay ra để cứu ông.
“Và khi đã lên thuyền, sóng gió lắng dịu”. Lúc này Phêrô đã lên thuyền với Đức Giêsu. Gió lắng dịu. Mọi người trên thuyền, con thuyền Hội Thánh, đều sấp mình để tung hô lời tuyên xưng đức tin đầu tiên mà ta thấy được trong sách Tin Mừng: “Thầy thật là Con Thiên Chúa”.

II. BÀI ĐỌC THÊM:

1. “Đi từ mạc khải đến nhận biết” (L.Montoubou, trong "Evangile de Matthieu”, Salvator trang 198-199).
Chính vào lúc con thuyền của các tông đồ bị bóng đêm vây kín vào canh tư đêm tối (khoảng 4 giờ sáng), lúc thuyền bị những đợt sóng lớn nhồi đập dữ dội, bị cản trở bởi gió ngược, thì chính lúc đó Đức Giêsu đến với họ, bước đi trên mặt biển. Đó là kiểu nói quen thuộc của Kinh Thánh, Thiên Chúa bước đi trên biển cả. Ta đọc trong Thánh vịnh 77: Trên biển cả là đường Chúa đi, khắp nẻo trùng dương là lối của Người, không ai biết được đường lối Chúa”.
Các môn đệ ngạc nhiên, vì họ không nhận ra Đức Giêsu là Đấng vạch lối đi trên biển cả, họ nghĩ đó là một bóng ma. Họ cần đến câu nói của Chúa: Thầy đây mà! mới nhận ra Người.
Nhận ra Chúa trong khi tuyên xưng Người là Đấng nào. Thành ngữ “Ta đây” là một cách chuyển dịch câu: “Ta là Ta: Ya-vê”. Mà câu “Ta đây” nói ở giữa biển cả là câu nói, theo Matthêô, công bố thần tính. Đây là thuật ngữ mà Thiên Chúa đã tự mạc khải cho ông Môsê, rồi sau đó cho dân Israel, trong quá trình một cuộc phiêu lưu lịch sử, ở đó biển đóng một vai trò quan trọng, Thiên Chúa Ya-vê dùng để tỏ ra quyền lực vô biên của Người.
Nhưng mạc khải này đã không đi sâu vào nội tâm của các môn đệ, như thái độ của Phêrô chứng tỏ. Ông còn cần cảm nghiệm bản thân và trực tiếp sự phũ phàng của cơn bão táp, cảm nghiệm sự nguy hiểm mà ông phải đương đầu, sau đó ông mới tìm được tận thâm sâu con người ông một thái độ sẵn sàng để tin. Ông kêu lên: “Chúa ơi, xin cứu con!”. Kìa Đức Giêsu được Phêrô kêu bằng danh hiệu “Đức Chúa” (KURIOS, chuyển ngữ Hy Lạp của danh Chúa YAHVE), có nghĩa là Thiên Chúa ở gần, Thiên Chúa hiệu năng, Thiên Chúa cứu độ.
Giờ đây bão táp đã chấm dứt, gió đã lắng dịu, các môn đệ mới hiểu rằng Đức Giêsu là “Con Thiên Chúa”. Trước hết Người là Đấng mà họ tìm đến, bởi vì khi Người xuất hiện giữa lúc họ gặp nguy nan, Người có dáng vẻ hấp dẫn, nên đã khiến cho Phêrô kêu lên: “Xin Ngài truyền cho tôi đến với Ngài”. Lúc này, Người là Đấng mà họ phục lạy và tuyên xưng: “Thầy thật là Con Thiên Chúa”. Những người ở trong cùng một con thuyền đã có được sự đồng nhất trong đức tin, cùng có một thái độ trước Đức Giêsu và tuyên xưng cùng một đức tin.

2. Chúng ta cũng giống như các môn đệ trong thuyền. (Mgr Daloz trong cuốn “Le Règne de Dieu s'est approché” Desclée de Brouwer, trang 222).
Các môn đệ hoảng sợ khi thấy Đức Giêsu đi trên mặt biển tiến đến với họ, và họ tưởng Người là ma. Chính họ đã hoạt động với Người để phục vụ dân chúng, thế mà giờ đây họ không nhận ra Người. Chỉ Đức Giêsu cho người khác thì dễ hơn là nhận ra Người trong giờ phút gian nan của cuộc sống của chính bản thân ta. Trong những giờ phút đó, đức tin của ta bị thử thách, đức tin với những bóng tối của nó. Lúc đó chính Chúa phải tự tìm cách tỏ cho ta biết Người. Khi ta tuyên xưng đức tin, khi ta chia sẻ hoặc giáo huấn đức tin, khi ta hoạt động rao giảng Tin Mừng, đức tin được ta coi như một của sỡ hữu yên tĩnh, một hiểu biết êm vui giúp sống và hoạt động. Nhưng những thời điểm quan trọng nhất, quyết liệt nhất của đức tin thì không êm ả chút nào: đó là những lúc ta gặp thử thách, như một tai hoạ lớn, một sự đe doạ liên quan đến mạng sống, đe doạ cho lẽ sống của ta, đe doạ những người thân nhất của ta, hoặc có thể là một hoàn cảnh hay một ý nghĩ thúc giục ta tự vấn sống để làm gì, hoặc khi công việc mà ta đang làm gặp thất bại, ta cảm thấy mình yếu đuối, bệnh tật, tội lỗi vv... Bấy giờ đức tin không còn là của sở hữu yên tĩnh nữa, ta không cảm thấy sự hiện diện của Thiên Chúa nữa. Ta giống như các môn đệ ở trên thuyền. Cuộc gặp gỡ với Đức Giêsu có thể gây ngộ nhận, nó khác với điều mà ta tưởng tượng hoặc ta giảng giải cho người khác. Ta không nhận ra Người nữa, giống như các môn đệ nghĩ rằng mình thấy ma...
Tuy nhiên, phải chăng những lúc này mới là giờ phút ta có được đức tin tinh tuyền hơn. Phải chăng đến gần Thiên Chúa thường làm ta mất phương hướng, chẳng là chuyện thường tình sao? Người là Đấng khác, Hoàn Toàn Khác, làm sao ta có thể nhận biết Người, nếu Người không tỏ mình cho ta? Những giờ phút ta bị lạc hướng bởi sự hiện diện mầu nhiệm của Chúa, chính là những thời điểm nền tảng cho đức tin. Đó là lúc Chúa nói với trái tim ta, là lúc ta nhớ đến một trong những lời của Chúa để ta đoán biết Người ở đó: Hãy an tâm, Thầy đây mà. Đừng sợ!

 

CHÚA NHẬT XX THƯỜNG NIÊN

ĐỨC TIN CỦA NGƯỜI ĐÀN BÀ CANAAN
(Mt 15,21-28)

I. VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI:

1. Một cử chỉ tượng trưng xảy ra ở ngoài biên giới...
Đám đông dân chúng theo Chúa trong hoang địa Đức Giêsu đã nhân 5 ổ bánh và 2 con cái lên nhiều đến dư dật (Chúa nhật thứ 18). Rồi Người bắt buộc các môn đệ lên thuyền và chèo sang bờ bên kia trước. Trong khi đó Người rút lui lên núi cầu nguyện một mình. Rồi sau đó Người đã đến nhập bọn với họ, bằng cách đi trên mặt biển, lúc thuyền của họ đang bị sóng gió dập vùi (Chúa nhận 19).
Giờ đây, các biệt phái và ký lục đến từ Giêrusalem chất vấn Người về chuyện các môn đệ Chúa không giữ luật thanh sạch, phá tục lệ của tổ tiên. Đức Giêsu đặt lại các lề thói của tổ tiên vào đúng chỗ, nghĩa là các tục lệ đó phải phục vụ các giới răn của Thiên Chúa. Đức Giêsu quả quyết rằng sự thanh sạch của một người không lệ thuộc vào những thực hành, cho dù nó hợp pháp và theo truyền thống đến đâu chăng nữa, nhưng chỉ lệ thuộc vào hành động, phản ảnh nội tâm sâu xa nhất của người đó, phản ảnh con tim của họ. Điều đó dẫn đến việc gặp gỡ người đàn bà Canaan ngoại giáo.
Sau cuộc tranh luận về chuyện “sạch” và “dơ”, Đức Giêsu lui về miền Tyrô và Sidon, ngày nay thuộc miền Nam Liban, đó là miền giáp ranh với đất của dân ngoại. Một phụ nữ từ miền đó tiến đến gặp Chúa. Một phụ nữ mà tác giả Matthêô đã cố ý gọi là người đàn bà Canaan, để chỉ rõ ý nghĩa cái hố sâu không thể vượt qua giữa họ và thế giới Do Thái. Địa danh cổ kính này dùng để chỉ miền đất mà dân Hipri đã đánh chiếm làm lãnh thổ của mình. Người phụ nữ ấy thuộc về “kẻ ngoại” những kẻ “dơ”, những dân mà dân Do Thái coi khinh như những “con chó”. Còn tệ hơn nữa, bà thuộc một dân tộc mà người Do Thái chính thống tránh xa hơn các dân khác, mà từ thời cha ông họ đã thề nguyền giữ mối thù truyền kiếp.
“Lạy Chúa, xin thương xót tôi” bà ấy van xin, trong khi kêu Đức Giêsu bằng danh hiệu “con vua Đavit”.
Trước hết Đức Giêsu làm thinh. Nhưng rồi bị các môn đệ nài ép đuổi người đàn bà vẫn đeo đẳng kêu van ấy, Người nhắc đến sứ mạng của Người là chỉ được sai đến với những “chiên lạc của nhà Israel” mà thôi. J. Radmakers giải thích: “Câu đáp của Đức Giêsu am hạp hoàn toàn với bài diễn từ khai mạc sứ mạng của Người (câu 10,6). Ơn cứu độ của Thiên Chúa phải đi theo con đường lịch sử và địa lý trước, sau đó mới tới toàn thể các dân nước và lan rộng ra tới tận cùng thế giới” ("Aufil de l'Evangile selon St Matthieu”, trang 211).
“Lạy Ngài, xin hãy đến cứu giúp” người phụ nữ một lần nữa sấp mình trước mặt Chúa và kêu cầu theo lời kinh phụng vụ.
Đức Giêsu bấy giờ nói trắng ra rằng: Người không thể lấy bánh của con cái - là của dân Do Thái, dân của Lời hứa - để ném cho con chó nhỏ. Tuy câu nói “chó nhỏ” thì đã nhẹ bớt ý khinh dể, nhưng câu nói vẫn còn mang vẻ sỗ sàng.
Người phụ nữ không phật lòng trước câu nói đó, bà còn dùng chính lời đó để đáp lại Chúa một cách tinh tế. “Đúng vậy, thưa Ngài, nhưng những con chó nhỏ cũng được ăn những miếng bánh vụn rơi xuống từ bàn ăn của chủ”. Cl. Tassin giải thích: Bà ấy nhìn nhận rằng dân Israel theo lịch sử thánh được ưu tiên, họ là “chủ”, còn bà là dân ngoại, bà chỉ cầu được những “miếng bánh vụn” trong sự tuyển chọn mầu nhiệm của Thiên Chúa (L'Evangile de Matthieu Centurion, trang 167).
Đức tin mãnh liệt ấy đã gây nên sự ngỡ ngàng nơi Đức Giêsu. “Bánh” Lời Chúa bị người Do Thái khước từ, vậy mà người đàn bà này, một người ngoại giáo, một người xa lạ, một người “dơ” đối với con mắt Do Thái, đã chấp nhận và chấp nhận với đức tin vững vàng. Chúa liền kết luận “Hỡi bà, đức tin của bà thật to lớn, bà muốn sao thì được vậy”. Đức Giêsu đả phá mọi cấm cản, dẹp tan mọi loại trừ để ban cho bà điều bà ta xin, đó là con bà được lành.

2. Báo hiệu một Tin Mừng không biên giới
Tác giả Matthêô thuật lại câu truyện người đàn bà Canaan này có ý nhắm những người Kitô hữu gốc Do Thái. Những người này tuy bị người đồng bào ruồng rẫy, nhưng họ cũng vẫn cảm thấy lòng nghi kỵ mãnh liệt đối với những Kitô hữu gốc dân ngoại, những người đón nhận Tin Mừng và gia nhập Hội Thánh ngày càng đông.
* Đặt cuộc gặp gỡ này vào trong khung cảnh “bé bánh”, tác giả như muốn làm sáng tỏ giáo lý Tin Mừng về sự cách biệt giữa người “sạch” và người “dơ” từ nay không còn nữa. Từ nay điều kiện duy nhất để được ngồi vào bàn tiệc Hội Thánh đề ra cho dân ngoại, và nhận “bánh của con cái” là lòng tin vào Đức Giêsu.
* Từ một thái độ ban đầu của Đức Giêsu xem ra Ngài chỉ chịu chết để cứu chuộc những người thuộc dân tộc tuyển chọn, Matthêô đã dẫn đến bài học về thái độ cởi mở trong truyền giáo. Cl. Tassin viết: “Đức Giêsu thật đã thi hành sứ vụ cứu thế đối với dân Israel cách trung thành, tuy nhiên Người đã mềm lòng trước lòng tin mạnh mẽ của người phụ nữ ngoại đạo... Ngày nay, nếu những người ngoại giáo cũng chứng tỏ một đức tin mạnh mẽ như thế đối với Đấng Cứu thế, lẽ nào Hội Thánh lại có thể đóng cửa không cho họ vào? Lẽ nào Hội Thánh lại có thể đặt giới hạn cho Đức Kitô, ngăn cản Người chiếu sáng cho dân ngoại?” (sđd trang 167-168).
Cuộc tranh luận giữa những Kitô hữu gốc Do Thái và Kitô hữu gốc dân ngoại đã tắt từ lâu. Nhưng trong Hội Thánh vẫn còn âm ỉ cơn cám dỗ đối nghịch giữa những người thuộc các chủng tộc khác nhau: cám dỗ giả điếc làm ngơ trước những kêu gọi đến từ những nước xa xôi; cám dỗ cuộn tròn trong vỏ ốc của mình; cám dỗ trốn tránh mạo hiểm và khước từ mở rộng cửa để đón những cơ may.
Do đọc lại đoạn Tin Mừng Matthêô hôm nay câu truyện người phụ nữ Canaan mời gọi Hội Thánh hãy tìm ra trong lịch sử của mình niềm hứng khởi và sức mạnh cần thiết để trung thành với sứ mạng toàn cầu và liên tục tự vượt thắng chính mình.

II. BÀI ĐỌC THÊM:

1. “Đức tin phá đổ mọi rào cản” (G.Bessière, trong cuốn “Dieu si proche” NXB Deschée de Brouwer, 1992, trang 136-137).
Người ta không biết tên bà, người ta gọi bà là “người phụ nữ Canaan”. Tuy nhiên bà giữ một vai trò độc đáo.
Đức Giêsu và các môn đệ vừa vượt ranh giới, bởi vì tình hình căng thẳng ở Galilê: Dĩ đào vi thượng mà. Họ đi về hướng Bắc, đến Tyr và Sidon, ngày nay là miền Nam Liban. Đã từ nhiều thế kỷ, người Do Thái giữ một khoảng cách đối với dân chúng miền này, tôn giáo của người Canaan bị người dân trung thành với Thiên Chúa Israel khinh miệt.
Một phụ nữ của xứ này đến kêu xin Đức Giêsu chữa con gái bà. Chúa làm thinh. Khi các môn đệ nài xin Chúa ban phép lạ để thoát khỏi người đàn bà quấy rầy, thì Chúa trả lời rằng Người chỉ được sai đến kiếm những chiên lạc nhà Israel. Rồi khi người đàn bà sấp mình dưới chân Chúa, thì Người còn tỏ ra cứng cỏi hơn: “Không nên lấy bánh của con cái mà ném cho chó con”. Và đây chính là lúc sự việc diễn ra.
Một người phụ nữ chộp lấy cách gọi khinh bỉ đó và đối đáp lại bằng câu ví: “thật đúng vậy, nhưng chó con được ăn những miếng bánh vụn từ bàn ăn của chủ rơi xuống”. Bà ấy không phản đối, không chống lại. Bà chỉ kêu mời Đức Giêsu đi tới cùng. Đức Giêsu ngạc nhiên: “Lòng tin của bà quá lớn...”. Và đứa con được lành bệnh.
Đức Giêsu vừa bước qua một ranh giới, ranh giới nội tâm. Chúa mở rộng tâm hồn cách quyết liệt. Câu đối đáp của người phụ nữ ngoại này có chiều kích nhân đạo và tôn giáo vô hạn.
Đối với các Kitô hữu đến từ các dân tộc và tôn giáo khác - người ta thường kêu là “dân ngoại” - đoạn Tin Mừng thuật lại việc Đức Giêsu đến với người ngoại quốc, được coi là quý hoá. Bởi vì họ có thể đồng hoá với viên đại đội trưởng, với người phụ nữ Canaan. Khi có cuộc tranh luận xem có cần phải theo đạo Do Thái để theo chân Đức Giêsu không, thì người ta nhắc lại kỷ niệm này.
Tại sao Đức Giêsu khen ngợi người phụ nữ Canaan? Chính là vì đức tin kiên trì của bà. Nhìn bà, chúng ta cũng khám phá ra rằng chúng ta cần phải học hỏi người khác, đôi khi cần chúng ta phải bỏ đi cái nhìn hẹp hòi của ta, và nhận ra rằng Thiên Chúa Cha đến từ nơi khác.

2. “Đức tin của một người phụ nữ ngoại” (F.Declos, trong cuốn “Prends et mange la Parole” NXB Centurion - duculot, 1992, trang 73).
Người phụ nữ Canaan, tuy biết rằng những người Do Thái mà bà đang khẩn cầu này nhìn bà cách kinh tởm vẫn cứ nài nỉ dai dẳng. Các môn đệ, những người rất tôn trọng truyền thống, gợi ý với Thầy mình: Xin Thầy làm phép lạ cho bà ấy đi, để chúng ta được yên.
Đây là cuộc gặp gỡ do Chúa quan phòng xếp đặt. Vì lòng kiên trì của người phụ nữ sẽ thắng thái độ thinh lặng “theo luật” của Đức Giêsu. Nào Người sẽ giữ thái độ khép kín trong bốn bức tường định kiến của dân tộc Người chăng? Nhưng vị tiên tri Nadarét đã phản ứng một cách bất ngờ và gây sốc biết bao. Bằng chỉ một lời, Đức Giêsu đã quét sạch mọi cấm kỵ, mọi luật lệ, mọi quy ước do những con người nhỏ nhen tạo ra, và bắt đầu một cuộc đổi đời mà sẽ trở thành cuộc hiệp thông giữa mọi người.
Đứng trước nhóm biệt phái tức tối và nhóm môn đệ bàng hoàng, Đức Giêsu đã trân trọng lời của một phụ nữ, trân trong đức tin của một người ngoại đạo, thái độ chứng tỏ cho mọi người thấy tâm hồn cao thượng và lòng tin tưởng sâu xa của bà. Bà nhận được phép lạ như lòng mong ước, đồng thời nhận được tình bạn của vị tôn sư, điều mà bà không dám nghĩ tới.
Giờ đây, người “dơ” trở nên mẫu mực cho người “sạch”. Người mà đáng lẽ phải bị ruồng bỏ giờ đây được đón tiếp, người đáng lẽ bị nguyền rủa giờ đây được chúc mừng. Người phụ nữ Canaan bị các môn đệ khinh bỉ, giờ đây được sư phụ của họ tôn vinh. Người khách lạ trở nên người thân thuộc, và “con chó nhỏ” được ngồi vào bàn ăn của Chúa. Sát bên Người.
Chúng ta cũng có những phụ nữ Canaan, những con chó nhỏ. Tinh thần Ghetto (pháo đài) về giai cấp, địa vị luôn rình rập ta. Tính tự cao tự đại khiến ta nghi kỵ ra mặt, khinh bỉ người khác không giấu giếm, hoặc kiêu căng nghĩ mình là trên hết. Nhưng nhiều khi những “con chó nhỏ” giúp ta nhảy qua rào cản của bè phái để mở ra đón nhận sự phong phú từ người khác, và mở ra đón nhận tình huynh đệ toàn cầu. Đâu là những “người khách lạ” khi chúng ta tham dự tiệc Thánh Thể?

 

CHÚA NHẬT XXI THƯỜNG NIÊN

PHÊRÔ TUYÊN XƯNG ĐỨC TIN
(Mt 16,13-20)

I. VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI:

1. Phêrô tuyên xưng đức tin
Phải luôn lẩn tránh những địch thù quấy nhiễu Ngài, Đức Giêsu dẫn dắt môn đệ của Người đi vào một chỗ những cuộc tĩnh tâm liên tiếp. Nó đặt cột mốc - vừa về địa lý, vừa về tinh thần - trên chặng đường tìm hiểu căn tính thực của Ngài.
Vừa trải qua cuộc tranh luận với Biệt phái, những kẻ xin Người làm một dấu lạ, này đây Đức Giêsu và các môn đệ sang miền đất dân ngoại, phía nguồn sông Giođan. Césarée Philipphe là thành phố mới được xây dựng do kinh phí của hoàng tử Philipphe, con của vua Hêrôđê Cả. có ý tôn vinh hoàng đế Rôma, nên đã đặt tên là Césarée. C. Tassin chú giải: Dân ở đây là người Siri gốc Hy Lạp, họ thờ cúng thần Pan và thần Nymphe, tạo nên một khung cảnh gần giống với môi trường mà Matthêô đang sống (L'Evange le de Matthieu” (Centurion, trang 173).
Chính tại đây, trước khi khởi hành đi Giêrusalem trong cuộc hành trình cuối cùng mà Đức Giêsu đặt câu hỏi quan trọng mà chúng ta đọc trong Tin Mừng hôm nay.
- Con Người, Đức Giêsu hỏi, người ta bảo Con Người là ai?
+ Chúa đã dùng hình ảnh “Con Người”, một hình ảnh mầu nhiệm (xem Danien 7,13) mà Matthêô nhắc lại tới 30 lần trong chính Tin Mừng của ông, để nói về chính mình và sứ mạng của Người: một con người thực thụ có tương quan với Thiên Chúa Đấng Cứu độ.
+ Để đáp lại câu hỏi, các môn đệ đã nêu ra một loạt các ý kiến về Người. Mọi ý kiến đều coi người là một nhân vật đóng vai trò quan trọng, như là Gioan Tẩy Giả đã sống lại từ cõi kẻ chết, như ngôn sứ Êlia mà dân chúng trông đợi trở lại để loan báo Chúa Cứu thế đến, như ngôn sứ Giêrêmia, một vị ngôn sứ phản kháng vì bị phản kháng, như một ngôn sứ nào đó.
- Còn anh em, Đức Giêsu hỏi thẳng ý kiến các ông, anh em bảo Thầy là ai? - Simon Phêrô trả lời, tuyên xưng đức tin “Thầy là Đấng Messia, Con Thiên Chúa hằng sống”. Lúc này ông không những là phát ngôn viên của nhóm môn đệ, nhưng còn là gương mẫu cho việc tuyên xưng đức tin Kitô hữu.
Lời đáp của Phêrô, theo C. Tassin, nhắc lại một mẩu tuyên tín phụng vụ của Hội Thánh thời Matthêô (sđd). Trong đó người Kitô hữu tuyên xưng đức tin cách toàn vẹn.
. “Thầy là Đấng Messia” (tiếng Hy Lạp Christos) nghĩa là Đấng được xức dầu mà các ngôn sứ đã tiên báo; Đấng đáp ứng lòng mong đợi bao thế kỷ của Israel, Đấng thực hiện mọi lời hứa của Thiên Chúa nói với dân Người.
. “Con” nghĩa là Đấng liên kết với Thiên Chúa bằng một dây liên hệ có một không hai.
. “Của Thiên Chúa hằng sống” nghĩa là, theo truyền thống Kinh Thánh, là Thiên Chúa ban sự sống, còn theo quan niệm Kitô giáo, là Thiên Chúa, Đấng làm cho Đức Giêsu từ trong cõi kẻ chết sống lại.
- “Con có phúc”, Đức Giêsu đã thốt lên câu đó, cũng là dạng thức Kinh Thánh của “Bát phúc” để chào mừng “con của Yona”, là người vừa nhìn nhận Người như “con của Thiên Chúa hằng sống”. Bởi vì Simon Phêrô không có thể công bố lời tuyên xưng này phát xuất từ thịt và máu, nghĩa là phát xuất từ bản tính nhân loại yếu giòn, nhưng chỉ có thể phát xuất từ cuộc mạc khải thần thiêng. “Bản văn không đề xuất cho Phêrô công lao đặc biệt nào, cũng không đề cao ông như một anh hùng của đức tin. Tác giả chỉ nhấn mạnh tính chính xác của đức tin nơi Phêrô, bởi vì nó đến từ một mạc khải thần thiêng” (C. Tassin).

2. Sứ mạng “đá” nền tảng của Phêrô.
Những lời long trọng mà Đức Giêsu phán chỉ về Simon Phêrô chỉ có trong Tin Mừng Matthêô.
“Anh là đá, trên đá này...”.
+ Trong Kinh Thánh sự thay tên đổi họ thường chỉ rằng sứ mạng Thiên Chúa trao làm cho người nhận thành một người mới. Cũng như Abram, khi được đổi thành Abraham thì thấy mình được giao sứ mạng trở nên “tảng đá duy nhất”, từ đó phát xuất cả một dân tộc (Is 51,1-2).
+ Trong ngôn ngữ Aramê “Kê pha” “Đá” không phải là một tên riêng, nhưng chỉ là một danh từ. Đặt cho ông cái tên mới này, nó sẽ thay thế hẳn tên cũ, Đức Giêsu tỏ cho thấy Người giao cho ông một sứ mạng: ông sẽ là đá nền, đá tảng, đá sẽ bảo đảm cho toà nhà mà Người sẽ xây dựng được vững chắc.
“Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy...”.
+ Trong Kinh Thánh, từ “Hội Thánh” (nguyên ngữ mang ý nghĩa mời dự hội) chỉ cộng đoàn tôn giáo của Israel, cộng đoàn mà Thiên Chúa đã quy tụ giữa loài người để trở thành dân của Giao ước, dân - dấu chỉ lòng thương xót và tình thương của Thiên Chúa.
+ Từ ngữ này được dùng ở đây, lần đầu tiên trong Tin Mừng Matthêô, ở trên đất ngoại giáo, để chỉ cộng đồng những người mà Đức Giêsu quy tụ, giữa các dân tộc tràn qua mọi biên giới để làm nên một dân của Giao ước mới, dân - dấu chỉ ơn cứu độ cho mọi người.
Nếu cộng đồng này đứng trên tảng đá Phêrô thì quyền lực của sự chết cũng không thể phá đổ được.
“Thầy ban cho con chìa khá Nước Trời”.
+ Không nên nghĩ đến những chiếc chìa khoá hiện đại thời chúng ta, mà phải nghĩ đến những chìa khoá của những thành phố cổ, những lâu đài vua chúa. Loại chìa khoá giống như những thanh sắt khổng lồ mà người ta mang trên vai. Trao chìa khoá cho ai là trao cho người đó nhiệm vụ thủ tướng.
+ Trao cho Phêrô chìa khoá Nước Trời, Đức Giêsu làm cho Phêrô thành thủ tướng. Người trao cho ông quyền lực chính Người nắm giữ, như sách Khải Huyền diễn tả: “Đấng Chân Thật, Đấng Thánh, Đấng giữ chìa khoá của Đavit. Người mở ra thì không ai đóng lại được. Người đóng lại thì không ai mở ra được” (đoạn văn có liên quan với 22 trong bài đọc I).
Chức vụ trao cho ông ở đây là ở dưới đất; ông không phải người canh giữ cửa thiên đàng (C.Tassin): Phêrô là người bảo lãnh, là thông dịch viên của sứ điệp cứu rỗi của Đức Giêsu, Con Thiên Chúa hằng sống.
“Sự gì con cởi mở dưới đất, trên trời cũng cởi mở”.
Cầm buộc/Cởi mở là những thuật ngữ vùng Palestine chỉ ý nghĩa đại khái: toàn bộ quyền lực, như thiết lập luật pháp, như loại trừ một ai ra khỏi cộng đoàn hoặc cho phép một ai gia nhập cộng đoàn.
+ Trong Mt 18,18 quyền cầm buộc cởi mở được hứa ban cho các môn đệ (ở số nhiều) như vậy không chỉ dành riêng cho Phêrô, nhưng Phêrô chia sẻ quyền đó với những người phụ trách khác.
. Dặn dò giữ im lặng
Tin Mừng Chúa nhật hôm nay kết thúc bằng một lời khuyến dụ ngược đời: “đừng nói với ai Người là Đấng Messia”. Tại sao có lời khuyến cáo này sau cuộc tưng xung đức tin cảm động như vậy? Chắc hẳn danh xưng “Messia” còn mang ý nghĩa mơ hồ, còn mang nhiều trông đợi có tính dân tộc quá khích, đi ngược lại sứ mạng mà Người nhận được từ Chúa Cha - phản ứng của Phêrô mà ta sẽ đọc trong Chúa nhật tới minh chứng điều đó.
Chỉ những ai mở tâm hồn đón nhận mạc khải thập giá mới hiểu chính xác danh xưng ấy. Thật vậy, chỉ dưới ánh sáng của cuộc Khổ nạn - Phục sinh danh xưng Messia mới tìm thấy ý nghĩa đích thực, và mọi ngộ nhận sẽ vĩnh viễn bị dẹp tan.

II. BÀI ĐỌC THÊM:

1. “Thầy là Đấng Messia, Con Thiên Chúa hằng sống” (Mgr. Daloz, trong cuốn “Le règne de Dieu est approché” Desclée de Brouwer 1993, trang 237-238).
“Đức Giêsu không chỉ là một tôn sư khởi xướng một trào lưu tâm linh; Người không phải một ngôn sứ được sai đến để cảnh tỉnh hoặc kêu gọi người ta trưởng thành với giao ước. Sự nhận biết Đức Giêsu vượt quá điều đó. Với những kẻ Chúa gọi và đã đi theo Người, Chúa đặt câu hỏi: Còn anh em, anh em nghĩ Thầy là ai? Người cũng hỏi chúng ta câu đó. Người muốn chúng ta tiến tới, phát huy trong việc khám phá ra bản ngã đích thực của Người. Ta không thể tự thoả mãn khoác cho Người những mong ước của ta, hoặc phóng lên Người những ước vọng của ta. Cần phải đi xa hơn những ý kiến của những con người, cần lột bỏ những ấn tượng hời hợt, cần chấp nhận rằng không thể nắm bắt và không thể tóm gọn Người vào những ý tưởng và những ước muốn của ta. Như ta đã thấy đó, có một hiểu biết về Đức Giêsu theo cách loài người “Người ta bảo Thầy là ai?”. Từ thời Thượng cổ, trải qua giai đoạn lịch sử đã có rất nhiều câu giải đáp. Những giải đáp ấy vừa không vô nghĩa, vừa không đáng coi thường. Nhưng sự hiểu biết đích thực không chỉ của loài người đâu - Nó là do Thiên Chúa ban cho: “Không ai có thể biết Chúa Con chỉ trừ Chúa Cha” (11,27). Bởi vậy Đức Giêsu nói cho Phêrô biết do đâu ông có sức lực nhận biết và tuyên xưng đức tin của ông: “Simon con Jona, phúc cho con, vì không phải xác thịt hay máu huyết mạc khải cho con điều đó, nhưng là chính Cha Thầy, Đấng ngự trên trời”. Một con người, con người rặt chính miệng Simon con ông Jona, nhận quyền do Thiên Chúa quyền kêu đích danh xác thật của Đức Giêsu - Lời tuyên xưng của ông đã trở thành tiêu chuẩn cho các môn đệ Chúa mọi thời đại. Nhưng lời tuyên xưng nó đã không tránh cho ông chối Chúa 3 lần. Ông vẫn còn là con người phàm tục - còn mang tính người với những ưu và khuyết điểm của con người. Tuy nhiên ông được chọn để đáp câu hỏi của Đức Giêsu và để làm điều đó ông nhận được mạc khải do Chúa Cha ban - Từ đó ông trở nên tiêu chuẩn về sự chính xác cho mọi lời tuyên xưng đức tin và cho sự nhận biết chính xác về Thiên Chúa. Nhờ ông mà người tín hữu có thể vượt xa ngoài tầm vóc những lời người ta dư luận. Đức tin của ông nâng đỡ đức tin của chúng ta”.

2. “Con là Đá” (J.Potin trong cuốn “Jésus, l'histoire vraie”, Centurion, 1994, trang 322).
Hội Thánh của Đức Giêsu, ở đây Người kêu là “Hội Thánh của Người”, được xây dựng trên nền tảng là đức tin vào thiên tính của Người. Hội Thánh đó chỉ một mảng dân Israel chấp nhận đi vào giao ước mới. Simon, do việc tuyên xưng, đã trở nên viên đá tảng, trên đó Đức Giêsu xây “Hội Thánh của Người” bởi vì Hội Thánh đó là cộng đoàn những kẻ tin rằng Đức Giêsu là Thiên Chúa. Ông nhận được tên mới: Kêpha, Đá - Quyền lực của tử thần (dịch theo chữ: quyền lực hoả ngục), nghĩa là mọi thế lực nhằm chống lại sự thiết lập vương quốc, không có sức phá đổ Hội Thánh đó. Mà ngược lại, Đức Giêsu sẽ ban cho Hội Thánh của Người quyền và thế mà Ngài thi hành ở trong tay Người. Thiên Chúa công nhận Hội Thánh của Con của Người chính thức là dụng cụ đặc trưng để điều hành vương quốc của Người giữa loài người. Những phát quyết và nghị định của Hội Thánh này được Thiên Chúa công nhận là do Chúa ban hành.
Phải chăng Đức Giêsu phán những lời này trong khi đi đường lên Giêrusalem? Có nhiều nhà chú giải đặt những lời này sau biến cố Phục sinh, trong một cuộc hiện ra. Thật vậy, trước khi Chúa chết, từ “Hội Thánh chỉ thấy xuất hiện có một lần duy nhất ở Mt 18,17 nói về đời sống của cộng đồng Kitô hữu.
Lời tuyên bố với Phêrô xem ra diễn tả cách Hội Thánh sơ khai hiểu về chính mình: Hội Thánh tuyên xưng rằng Đức Giêsu là Đấng Kitô, là Con Thiên Chúa. Simon Phêrô đã là phát ngôn viên của lời tuyên xưng. Lời tuyên bố cũng có liên hệ với việc đổi tên Simon ra Kêpha: Đá. Trong tiếng Aramê, Đá không phải là một tên riêng. Tên mới này chí tính cách vững bền của đá tảng mà người ta có thể xây an tâm trên đó... Phêrô là đá tảng mà Đức Giêsu sẽ xây Hội Thánh của Người. Do đó Người sẽ trao ông địa vị ưu tiên trên nhóm Mười Hai. Ông được Hội Thánh nhìn nhận dưới cái tên mới và coi như quên hẳn cái tên cũ kia”.

 

CHÚA NHẬT XXII THƯỜNG NIÊN

CON ĐƯỜNG DẪN TỚI SỰ SỐNG
(Mt 16,21-28)

I. VÀI ĐIỂN CHÚ GIẢI

1. Con đường của Con Người...
Đáp lại câu hỏi Đức Giêsu đặt ra cho các môn đệ “trong miền Xêsarê Philip” trước khi lên đường đi lên Giêrusalem: “Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai?” Phêrô đã trả lời: “Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống”. Tiếp liền theo Đức Giêsu đã đặt cho ông một tên mới, tượng trưng cho sứ vụ mà Chúa trao cho: “Con là Đá, trên đá này Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy”.
Đến đây Matthêô lấy lại công thức mà ông đã giới thiệu mục vụ ở Galilê, đã thuật tiếp: “Từ thời gian này....” đó là một cách nói báo trước một bước ngoặt quyết định trong hành trình của Đức Giêsu, Kitô.

2. Thông báo lần đầu về cuộc khổ nạn.
Những kẻ theo Chúa cho đến lúc đó, và đã tuyên xưng qua miệng lưỡi của Phêrô căn tính đích thực của người, còn cần phải khám phá xem Người phải thực thi sứ vụ của Người bằng con đường bất ngờ và khó đoán nào. Đức Giêsu từ nay bắt đầu vào việc: “Bắt đầu từ lúc này, Matthêô viết, Đức Giêsu Kitô bắt đầu tỏ cho các môn đệ biết: Người phải đi Giêrusalem, phải chịu nhiều đau khổ do các kỳ mục, các thượng tế và kinh sư gây ra, rồi bị giết chết, và ngày thứ ba sẽ sống lại.”
Thông báo lần đầu trong ba lần về cuộc khổ nạn phân chia cuộc hành trình lên Giêrusalem (xem 17,22-23 và 20,17-19). Mỗi lần đó đều gặp phải sự không hiểu từ phía các môn đệ. Mỗi lần đó đều quả quyết rằng không có con đường nào khác cho các môn đệ ngoài con đường mà sư phụ đã đi.
= Lời can ngăn hăng hái mạnh mẽ của Phêrô.
Phêrô không thể giữ thinh lặng mà không nói lên lời phiền trách trước cái viễn tượng đen tối, mà ông và các bạn ông đã không thể tin được, nên ông “kéo Đức Giêsu ra khỏi đám đông, và bắt đầu trách Người: “Xin Thiên Chúa thương đừng để Thầy gặp phải chuyện ấy!”. Dù ông đã tuyên xưng sứ cụ Cứu thế của Thầy mình, nhưng quan niệm về một Đấng Kitô phải chịu nhục mạ, chịu khổ hình và chịu chết là điều ông không thể chịu nổi. Ông lấy danh Đức Kitô vinh thắng để chối bỏ Đấng Cứu thế đau khổ.
= Lời khiển trách nghiêm ngặt của Đức Giêsu
Vào lúc đương đầu với cuộc khổ nạn và cái chết, Đức Giêsu trải qua cơn thử thách cô đơn. Không những đám đông dân chúng lìa bỏ Người, mà cả đến các bạn hữu cũng không hiểu Người. Kẻ mà Người vừa chọn làm “đá” tảng, đá nền để xây Hội Thánh của Người trên đó, giờ đây bỗng biến thành viên đá cản đường, hòng làm Người té nhào trên đường. Ông gợi ý cho Người một con đường “cứu thế” theo ý loài người, chứ không theo con đường của Thiên Chúa.
Việc Phêrô không muốn chấp nhận, theo J.Potin giải thích, làm sống lại cơn thử thách vĩ đại mà Chúa đã phải trải qua vào lúc đầu thi hành sứ vụ. Con đường của người không phải là đường vinh quang mà những người Do Thái mơ ước cho Đấng Cứu thế của họ, con đường trải đầy những việc phi thường, những chiến thắng, những cuộc biểu dương vinh hiển. Đức Giêsu đã phải loại bỏ những điều đó, bởi vì Thiên Chúa không thể thiết lập vương quốc bằng vũ lực. Và giờ đây Phêrô làm sống lại trước mắt Người sự hiện diện của Satan, mà Người đã thắng (trong “Jesus, l'historc vraic”, Centurion 1994, trang 334-335).
“Satan, lui lại đàng sau Thầy”. Đức Giêsu đã đáp lại ông cách hết sức gay gắt. Nghĩa là: anh hãy giữ địa vị môn đệ, đàng sau Thầy. Lời quở trách này, Cl. Tassin quảng giải, vẽ nên nét tương phản với lời chúc phúc mà Chúa đã nói với Phêrô ở câu 16,7. Ông đã biết tuyên xưng đức tin, nhưng ông lại không biết từ bỏ ý mình mà chấp nhận ý Thiên Chúa. Sự phản kháng của ông không những phát xuất từ tính ích kỷ của “ý tưởng loài người”, mà còn phục vụ Satan, cả một thế giới thù nghịch với sứ mạng của Đức Kitô ("L'Evangile de Matthieu” (Centurion 1991, trang 181).
= Đường của các môn đệ
Và để cất đi mọi ngộ nhận, Đức Giêsu quả quyết rằng đối với môn đệ không có con đường nào khác con đường mà sư phụ đã đi trước: đó là đường thập giá. “Nếu ai muốn theo Thầy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo”.
Ba câu tiếp theo đều xây dựng trên từ “mạng sống” sẽ soi sáng tư tưởng lựa chọn này: “Ai muốn cứu mang sống mình thì sẽ mất, còn ai liều mất mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ tìm được mạng sống ấy”. Ai tự đặt mình làm trung tâm lẽ sống, người ấy đi vào cõi diệt vong; nhưng ai xem bề ngoài thất bại để uổng mất mạng sống mình vì Đức Kitô; thực tế tiến tới thành công. - “Nếu người ta được cả thế giới mà phải thiệt mất mạng sống, thì nào có lợi gì?”. Mạng sống con người không đồng hoá với của cải họ có, cho dầu họ chiếm được cả thế giới.
- “Hoặc người ta sẽ lấy gì mà đổi mạng sống mình?": nào ai trả được giá thục hồi cho Thiên Chúa, thánh vịnh 49,8 đã nói.
Chỉ cần môn đệ - đầy tớ giống như sư phụ - đầy tớ là đủ rồi (10,24-25), Jean Rachemakers kết luận, từ bỏ chính mình, nâng thập giá lên vai và theo Chúa, là những thành phần làm nên cuộc sống người môn đệ. Điều mà Thầy đòi hỏi nơi Phêrô thì Người cũng đòi hỏi nơi mọi môn đệ là: chấp nhận ý định cứu thế của Thiên Chúa theo cách thế được tỏ ra nơi đời sống Đức Kitô, bởi đó, chấp nhận rằng Chúa Cha khác hẳn với điều mà “xác thịt và máu huyết” có thể nghĩ ra, hình dung được (trong L'Evangile clon St. Matthieu trang 221).

II. BÀI ĐỌC THÊM:

1. Theo Đức Giêsu (Mgr. Daloz trong cuốn “Le Règne des cieux s’est approché” desclée de Brouwer,trang 242-243).
Nếu ta chăm chú nghe lời Đức Giêsu, ta sẽ thấy rằng Người không nói chống đối sự sống. Người không đòi hỏi các môn đệ phải bỏ sự sống. Trái lại Người kêu mời họ hãy sống phong phú hơn. Người chỉ cho thấy con đường sống thôi thúc người ta sống tốt tối đa, tức là sống để trao ban chính bản thân. Ai khép kín trong vỏ ốc của mình, ai chỉ lo cho bản thân mình, sẽ héo tàn, bởi vì con người không thể thành tựu nếu chỉ đóng kín lo cho mình. Nếu bạn khép kín, bạn sẽ chết trong khi nghĩ rằng mình giữ được sự sống. Thu tích của cải để phòng thân sẽ không ích gì, nếu bạn đánh mất chính mình. Con người ta không được cứu rỗi nhờ những của cải mình có, nhờ của “sở hữu” nhưng nhờ đức tính của đời sống. Tính “người” được lớn lên khi ta quên mình và trao ban thân mình. “Nếu người ta được cả thế giới mà thiệt mất mạng sống mình, thì nào có lợi gì? Hoặc người ta sẽ lấy gì mà đổi mạng sống mình?”. Đức Giêsu nhắc cho ta vẻ cao trọng của con người, trái tim con người được tạo nên để mở ra, để yêu thương, và bạn không thể yêu thương nếu bạn không cho đi và trao ban chính mình. “Yêu là cho tất cả và trao ban chính bản thân mình”, thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu đã nói. Nếu bạn muốn tự cho mình là trung tâm vũ trụ, nếu bạn muốn qui chiếu mọi sự về bạn, bạn sẽ đánh mất bản thân: mất linh hồn, yếu tố nhờ đó mà sự sống thực sự là của con người.
Thật là một nghịch lý cho con người, anh ta chỉ thật sự thành tựu cuộc sống trong khi anh khước từ nó để cho đi. Chúng ta có thể nhận thấy ở ngay quanh ta, mặc dầu ta không dễ chấp nhận điều đó áp dụng cho chính mình; những người thành tựu cuộc sống đẹp và hữu ích, là những người không tìm dễ dãi, là những người cho đi thời gian, sức lực, lòng tận tuỵ để phục vụ tha nhân... cho đến hy sinh sự sống của mình. Đức Giêsu đã đề cập và soi sáng vẻ cao đẹp chỉ con người mới có này. Không những Người đã sống như thế, Người còn mạc khải ý nghĩa đầy đủ. Người đã đi con đường mà Người muốn cho những ai theo Người phải đi: Ai muốn theo tôi... Nào chúng ta lại không muốn bước theo Người sao? Con đường thập giá, Người đã làm cho nó trở thành cửa ngõ quãng đường dẫn vào cuộc sống sung mãn bất ngờ: đó là sự phục sinh. Những câu tiếp theo liên quan đến phần thưởng Người nói về kết cục của cuộc sống con người. Không phải một lời đe doạ đâu, mà là một lời hứa. “Vì Con Người sẽ ngự đến trong vinh quang của Cha Người, cùng với các thiên thần của Người, và bấy giờ Người sẽ thưởng phạt ai nấy xứng việc họ làm”. Không có gì phải sợ khi bạn liều mạng sống vì Đức Giêsu, vì đó là một bảo đảm tốt nhất cho sự thành tựu cuối cùng: “Ai liều mạng sống mình vì Thầy, sẽ tìm lại được nó. Đức Giêsu mời ta cân nhắc tầm vóc đời đời của những lựa chọn của ta, và tương lai vô tận của tình thương đã trao ban”.

2. Biểu trưng của thập giá (Đ.Ponnau, Giám đốc trường Louvre, trong tạp chí “Le Monde de la Bibbe” số 97, trang 5).
Biểu tượng của Thập giá đi trước và vượt quá biên giới của thế giới Kitô giáo. Tuy vậy nó là dấu chỉ quen dùng nhất có tính đặc trưng và tính phổ quát của Kitô giáo. Từ thời trước Đức Kitô và từ thời Đức Kitô, thập giá là một biểu tượng có tính toàn cầu phổ biến nhất và được nói đến nhiều nhất, ở ngoài những miền đã tin theo Phúc Âm. Nó liên kết hết mọi người “phương Đông” ở mặt đất, ở trên trời và trong không gian. Lâu đời trước thời Đức Kitô, thập giá đã là dụng cụ khổ hình ghê sợ và ô nhục, chỉ dành cho những cặn bã của xã hội, những tên nô lệ phản động. Nhưng Đức Kitô đã làm nó trở nên biểu tượng của Đức Kitô và của các môn đệ của Đức Kitô.
Người Do Thái đòi phép lạ, người Hy Lạp tìm sự khôn ngoan, còn chúng tôi, chúng tôi rao giảng một Đức Kitô chịu đóng đinh, là vấp phạm đối với người Do Thái, là điên dại đối với dân ngoại, còn đối với những kẻ được gọi, cả Do Thái và Hy Lạp, Người là Đấng Kitô, quyền năng và khôn ngoan của Thiên Chúa. Thánh Phaolô đã nói như thế và chính Đức Giêsu cũng đã nói: “Ai không vác lấy thập giá và không theo Ta, thì không xứng đứng với Ta”. Đấng là Ngôi Lời hằng hữu, nói theo các môn đệ, tự trao ban ngay từ khởi thuỷ, như Đấng bị đóng đinh và Đấng kêu gọi người ta chết đi đóng đinh vào thập giá. Người trao ban bản thân với tư cách đó trong lời Người và trong lời của những kẻ mà Người linh hứng. Không phải trong ảnh tượng của Người. Phải chờ đến thế kỷ IV thì ảnh tượng thập giá của Chúa mới được trưng bày cho người ta chiêm ngưỡng. Thánh nữ Helena đã phát minh ra ở Giêrusalem và rồi sau đó xuất hiện vinh quang ở thành thánh. Từ đó thập giá được làm bằng kim loại quý và được cẩn đá quí. Rồi nhiều thế kỷ sau đó mới thấy xuất hiện tượng thánh giá có mang Đấng chịu khổ hình. Nghịch lý thay một biểu tượng có tính toàn cầu lại là một biểu tượng ô nhục. Nghịch lý thay sự vinh quang được tung hô bằng lời nói, lại không thể chịu được bằng mắt nhìn.
Người ta đã có thể gây vấp phạm là trương lên tên gọi của thập giá và của Đức Giêsu bị đóng đinh. Nhưng phải đợi rất lâu sau người ta mới có thể trưng bày thập giá cho mắt thấy, và đợi một thời gian nữa, mới thấy trưng bày Đấng mà họ đã đóng đinh vào thập giá.
Dấu ấn của thập giá đã trở nên dấu ấn tối ưu của Kitô hữu trên thế giới. Trên đó người Kitô hữu chiêm ngắm vị Thiên Chúa đã chọn vâng lời cho đến chết, và chết trên thập giá.
 Đức Kitô và Kitô hữu đã không sáng chế ra biểu tượng có dạng thập giá được tôn vinh từ Đông sang Tây và khổ hình độc ác nhất. Họ chỉ tạo cho nó thành địa điểm để Thiên Chúa siêu vời thấm nhập vào mầu nhiệm cô đơn của con người. Đức Giêsu bị đóng đinh trên đó đã mời gọi một cách độc đáo những kẻ từ nay có thể nhìn ngắm Người - Người từ đỉnh núi thánh gọi những kẻ đang ở đáy vực cuộc sống - nhìn ngắm Người, hoặc như gương mẫu tuyệt hảo của tận hiến và yêu thương, hoặc như dấu chỉ của tận hiến và yêu thương.

 

CHÚA NHẬT XXIII THƯỜNG NIÊN

CÓ TRÁCH NHIỆM VỚI NHAU
(Mt 18,15-20)

I. VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI:

1. Giáo Hội, một cộng đoàn huynh đệ.
Sau lần thứ nhất loan báo cuộc khổ nạn, Đức Giêsu cùng các môn đệ rời miền “Cêsarée Philipphê” đi lên Giêrusalem. Sau cuộc biến hình trên núi, giờ đây Ngài tới Capharnaum, tại đó, theo Matthêô Ngài đã loan báo diễn từ thứ tư trong Phúc Âm Mt “diễn từ về đời sống Giáo Hội”. Những hướng dẫn giúp cho cộng đoàn mà Ngài sáng lập phản ảnh được hình ảnh của “Cha trên trời”.
J. Potin báo trước: “Trong chương 13 này, Mt đã tập họp lại những lời nói khác nhau của Đức Giêsu về đề tài cộng đoàn. Rất nhiều lời đã được Đức Giêsu nói với các môn đệ trong tình thân mật, nhất là trong những tháng ngày Ngài bỏ Galilê để chuẩn bị lên Giêrusalem. Đức Giêsu chuẩn bị cho các môn đệ sống trong một bầu khí yêu thương huynh đệ, khi phải xa lìa Ngài sau cuộc khổ nạn. Bất kể tương lai có ra sao, tinh thần quan tâm tới những kẻ bé nhỏ, yếu ớt tinh thần tha thứ lẫn cho nhau này phải tràn ngập cộng đoàn. Bốn mươi năm sau, lúc Matthêô viết Phúc Âm, những lời mời gọi của Đức Giêsu vẫn còn hiện thực. Cộng đoàn mà Ngài nhắn nhủ gồm các Kitô hữu gốc Do Thái lẫn gốc dân ngoại, thuộc nhiều tầng lớp xã hội khác nhau. Đời sống cộng đoàn giữa anh chị em đôi lúc có khó khăn. Tới những lời Đức Giêsu nói với nhóm các môn đệ vẫn còn là thực tế. Chính vì thế, tác giả Phúc Âm đã gom chúng vào trong một diễn từ, quảng diễn một chút cho phù hợp với Giáo Hội “của ông”, nghĩa là cộng đoàn của ông.
- Trước tiên, Đức Giêsu miêu tả cộng đoàn các môn đệ của Ngài như một cộng đoàn đặc biệt quan tâm tới những kẻ “bé nhỏ” tin vào Chúa, những Kitô hữu mà đức tin còn rất mỏng manh (18,1-10) và lo lắng cho những “con chiên lạc”, người Kitô hữu tránh xa cộng đoàn và liều mình hư mất (18,12-14).
- Ngài trình bày một cộng đoàn sống động thực hành sự nâng đỡ và tha thứ lẫn cho nhau.
. Đó là thái độ phải có đối với một người “anh em" đã “phạm tội”.
. Đó là thái độ phải có khi anh chị em bất hoà, xung khắc.

2. ... Thực hành sự tương trợ và tha thứ lẫn cho nhau.
- Sửa đổi anh em: một việc làm có tính chất Tin Mừng.
. Chỉ có sự âu yếm của Người Mục Tử tốt lành mới làm ta hiểu được hết chiều sâu của đoạn Phúc Âm nói về người “anh em” đã “phạm tội” này. Bản văn không nói về tính chất của tội, nhưng lời Đức Giêsu cho thấy đó là một xúc phạm đến Thiên Chúa và xúc phạm đến một người anh em, đó cũng là một việc liên quan đến Giáo Hội, cộng đoàn Kitô hữu.
. Qua những luật lệ và các thực hành ít nhiều chịu ảnh hưởng của Do Thái giáo, việc xoá lỗi anh em vừa giúp duy trì sự hài hoà trong Giáo Hội vốn bị đe doạ vì lỗi của một thành viên trong cộng đoàn, vừa giúp che chở tội nhân khỏi những biện pháp khắc nghiệt, vội vã. Vì thế tác giả Phúc Âm nhấn mạnh trên yếu tố xem ra nền tảng nhất đối với Ngài: đòi hỏi của Phúc Âm về việc nâng đỡ, lòng thương xót và sự tha thứ lẫn cho nhau.
Chính tinh thần ấy đã làm phát sinh ra những cuộc vận động tiệm tiến nhiều đợt nhằm chinh phục người anh em lầm lạc mà nếp sống làm tổn tưởng sự duy nhất và chứng tá của toàn thể cộng đoàn Kitô hữu. Mục đích không phải để hoà giải với một anh em như trong Luca 17,3, nhưng là để “chinh phục"người anh em này, để đưa người ấy về với Chúa, đồng thời cũng về với cộng đoàn mà anh đã xa lìa vì tội lỗi.
- Sửa lỗi anh em: một cuộc vận động tiệm tiến.
. Bước 1, nói chuyện riêng, kín đáo giữa một người anh em với một người anh em mà anh có quyền mong đợi sự giúp đỡ ngược lại trong trường hợp chính anh ta lầm lỗi.
Đó không phải là hạ nhục người tội lỗi, nhưng là giúp anh nhận ra lầm lỗi.
. Bước 2: nếu bước 1 không đem lại kết quả mong đợi, sẽ đến bước 2: gặp gỡ có 2 hoặc 3 chứng nhân, theo đề nghị của sách Đệ Nhị luật 19,1 như đã từng được thực hành, dưới sự chứng giám của Phaolô, trong cộng đoàn tín hữu tại Côrintô (2Cor 13,1).
Sự hiện diện của các chứng nhân bảo đảm cho tính khách quan, đồng thời đưa vào đó 1 yếu tố cộng đoàn, dù luôn luôn kín đáo.
. Bước 3: nếu vẫn không có kết quả, ta còn một phương thế cuối cùng: đưa ra trước Giáo Hội: “trình bày sự việc trước cộng đoàn Giáo Hội”.
Nếu tội nhân từ chối nghe Giáo Hội, thì, theo như bài Phúc Âm, “ta hãy coi họ như người ngoại và người thu thuế”. Một công thức dứt khoát không phải là một khinh miệt hoặc kết án: Đức Giêsu đã trở nên “bạn bè với những người thu thuế” kia mà. Công thức ấy chỉ tuyên bố rằng người tội lỗi tự loại trừ mình ra khỏi cộng đoàn và Giáo Hội chỉ chứng nhận sự tách lìa này và sẵn sàng đón nhận lại người mà một ngày nào đó, hy vọng thế, sẽ được ơn thánh thay đổi, giải phóng.
- Sửa lỗi anh em: một cuộc vận động từ đầu đến cuối đều nhờ lời cầu nguyện của cộng đoàn.
Lời cầu nguyện theo dõi và yểm trợ tiến trình này từ đầu đến cuối. Lời cầu nguyện vẫn tiếp tục cả khi tội nhân đã lìa xa Giáo Hội, van nài cho người anh em lầm lạc được ơn hối cải.
Đó là một lời cầu nguyện có sức nặng của sự hiện diện của Đấng đã hứa: “Khi có 2, 3 người tụ họp lại nhân danh Ta, Ta ở giữa họ”.
Cl. Tassin bình luận: “Vì chính danh thánh Đức Giêsu đã qui tụ các tín hữu lại, nếu họ thực sự tụ họp lại chỉ để hành động nhân danh Ngài trong những vấn đề khó, họ chắc chắn họ sẽ có sự hiện diện chủ động và hiệu quả của Ngài.
Vậy, Mt coi sự thực hành việc “sửa lỗi anh em” là một bổn phận của các cộng đoàn tín hữu Ngài nhấn mạnh đến bầu khí cầu nguyện và ý chí hành động “nhân danh” Đức Kitô. Chính Đức Kitô sẽ nối kết mọi người đã tham dự cuộc vận động này”.

II. BÀI ĐỌC THÊM:

1. Việc sửa lỗi anh em. (Mgr. L. Daloz, Le Règne des cieux s'est approché, DDB)
Đoạn Phúc Âm này đưa ra một tiến trình hoà giải một trường hợp tế nhị trong đời sống các cộng đoàn: “Phải làm gì khi anh em ngươi phạm tội?”. Câu trả lời không dễ... Đức Giêsu nói gì? Hãy đi tìm nó và trách móc! Đó không phải là cách hành động. Ta thường cho rằng đó là việc cá nhân của người đó, “vấn đề của nó” và rằng nó có tự do! Can thiệp, tìm gặp và trách móc, chẳng phải là tôi đã pha mình vào những việc không có liên hệ đến tôi, xen vào đời tư cá nhân; không kín đáo, không khoan nhượng, và liều mình gây gổ với anh ta sao? Ngay trong mối tương quan giữa tín hữu với nhau, ta vẫn thường hành xử như người đời quen làm trong xã hội. Ta không muốn pha mình vào công việc của người khác, ta né tránh. Dĩ nhiên trước khi can thiệp ta phải kiểm chứng xem có nên trách móc không, làm cách nào cho có kết quả. Hơn nữa xã hội ta đang sống khác với xã hội thời Đức Giêsu. Ta ít cảm thấy liên đới hơn. Tự do cá nhân là một cuộc chinh phục tương đối mới, và tuyên ngôn Nhân quyền là một hiến chương phần lớn dựa trên những tự do cá nhân này. Ta không muốn phá huỷ nó vì người khác và ta cũng không muốn người khác can thiệp vào đời sống, tư cách của ta. Ta khó chịu khi có ai đến cho ta một bài học luân lý! Còn nữa, thường thường điều mà ta không muốn nói trước mặt người khác, ta lại ít tế nhị khi nói sau lưng họ...
Đức Giêsu đã nêu lên thái độ phải giữ trong cộng đoàn môn đệ của Ngài. Ta không thể rập khuôn cách làm của ta theo những gì diễn ra chung quanh. Cảm thấy có liên hệ đến những hành vi của anh em, đó là chuyện bình thường. Chính vì thế mà Đức Giêsu nói: Nếu anh em ngươi phạm tội... Anh em ngươi, đâu phải là người xa lạ, ngươi không thể nói rằng tội lỗi của nó chẳng liên hệ gì tới ngươi. Vì sự sống của anh em ngươi, sự sống vĩnh cửu của anh ta, liên hệ tới ngươi lắm chứ. Khi yêu ai, ta đâu dửng dưng để mặc người ấy lún sâu vào sự dữ. Ta sẽ tìm dịp cảnh tỉnh, giúp đỡ không làm anh ta phật lòng, không la mắng anh. Lỗi khuyên dạy của Đức Giêsu giả thiết ta phải có mối liên lạc huynh đệ. Phải chăng đó là vấn đề cần đặt ra cho đời sống cộng đoàn chúng ta? Có tình thân rồi, ta có thể nói với nhau nhiều chuyện, giúp đỡ nhau nhiều việc. Trách móc không có nghĩa là nói nặng lời, hung hăng, dữ tợn. Trái lại lời khuyên của Đức Giêsu kêu gọi ta hành động với sự tế nhị: “Nếu anh em ngươi phạm tội, hãy đi gặp và trách móc nó giữa hai người với nhau”. Sự kín đáo của cuộc vận động tránh đưa tội lỗi ra công khai. Điều này hoàn toàn phù hợp với một mối liên lạc cá nhân, huynh đệ. Và Đức Giêsu nhấn mạnh đến mục đích của cuộc vận động: đó là cứu lấy anh em, chinh phục anh em, để nó đừng hư mất: nếu nó nghe ngươi, ngươi đã lợi được một người anh em. Đó không phải là lời nói gắt gỏng, của thói phê bình chỉ trích, hay đối nghịch. Đó không phải là từ ngữ hạ nhục, là sự dò xét chế tài của kẻ bề trên. Ai tiến hành cuộc vận động ấy cũng phải sẵn sàng đón nhận sự trách móc ngược lại.

2. Mô hình căn bản của mọi cuộc hoà giải trong Giáo Hội. (B. Marliangeas, Dans vos assemblées, DDB).
Trong chương 18 mà ta quen gọi là “diễn từ về cộng đoàn các môn đệ”, là sự miêu tả một tiến trình hoà giải trong Giáo Hội tạo nên, một cách nào đó, mô hình căn bản cho mọi hoà giải trong Giáo Hội.
. Đó là một tiến trình bao gồm cả gặp gỡ của cá nhân lẫn vận động của cộng đoàn.
“Nếu anh em ngươi phạm tội, hãy đến nói với nó...” (Mt 18,15). Một cuộc hoà giải thực sự luôn luôn đòi có một tiếp xúc cá nhân bằng cách nào đó. Giáo Hội luôn ý thức về tầm quan trọng của tiếp xúc này. Chính vì thế, ở mọi thời, dù phép cáo giải có mặc hình thức nào đi nữa, vẫn luôn luôn dành chỗ cho một đối thoại cá nhân. Một đối thoại như thế thường rất khó khăn - Chính Đức Giêsu đã có kinh nghiệm đau đớn về điều đó - nhưng không phải vì thế bỏ cuộc: “nếu nó không nghe ngươi, hãy nhờ 1 hoặc 2 người khác đi với ngươi...nếu nó từ chối nghe họ, hãy đưa ra cộng đoàn Giáo Hội...” (Mt 18,16-18). Hãy ghi nhận sự tiệm tiến của những phương thế được sử dụng để thoát ra khỏi tình trạng gãy đổ: đó là phối hợp những cố gắng để nối lại đối thoại, nói lên sự thực và tìm lại được sự hiệp thông.
Chính nhờ cộng đoàn mà quyết định được thi hành, trước mặt cộng đoàn mà sự hoà giải phải được ký kết. Trong trường hợp sự hoà giải thất bại, Phúc Âm nói tiếp: “nếu nó từ chối nghe Giáo Hội, hãy coi nó như người ngoại hoặc như người thu thuế...”.
Rất nhiều nhà bình luận đã chú giải lời nói như kết án, loại trừ này: nhưng ta có thể hiểu một cách hoàn toàn khác hẳn, dưới ánh sáng của Phúc Âm: vào thời Đức Giêsu, từ ngữ “ngoại đạo” chỉ những người, tuy theo một đạo (thời đó ai mà không có đạo!) nhưng vẫn chưa quay trở về với Thiên Chúa Hằng Sống và Chân thật; còn về “những người thu thuế vào thời chiếm đóng của đế quốc Lamã, họ khép mình trong một hệ thống bất công. Tuy nhiên, trong Phúc Âm ta thấy Đức Giêsu, dù người Do Thái đạo đức lấy làm vấp phạm, vẫn ăn uống với những người thu thuế. Dưới ánh sáng của thái độ của Đức Giêsu, đối xử ai như “kẻ ngoại đạo và người thu thuế” là một lời mời gọi hãy có thái độ đồng hành với những người, mà vì lý do nào đó, vẫn chưa có đức tin hoặc đóng kín trong sự bất công và không thể tự mình thoát ra. Họ chưa đón nhận được Tin mừng của một Thiên Chúa “không muốn kẻ tội lỗi phải chết, nhưng muốn nó ăn năn sám hối và được sống” (Ez 18, 23).
. Chính trong bối cảnh cầu nguyện cộng đoàn mà sự hoà giải có thể được thực hiện.
Điểm cốt yếu trong cuộc vận động không gì khác hơn là ơn tha thứ của Thiên Chúa. Ở đây ta gặp lại lời tuyên bố long trọng: “Thật, Ta bảo thật các ngươi, điều gì các con cầm buộc dưới đất, trên trời cũng cầm buộc và điều gì các con cởi mở dưới đất, trên trời cũng cởi mở” (Mt 18,18). Lời nói đó được sử dụng để nói lên uy quyền của Phêrô là đầu Giáo Hội (Mt 15,19). Nhưng Đức Giêsu nói thêm: “... Ta lại bảo các ngươi: nếu hai người dưới đất hiệp ý với nhau mà xin sự gì, Cha Ta trên trời sẽ ban cho họ” (Mt 18,19-20). Đây không đơn thuần là một giải quyết giữa anh em loài người, nhưng là cùng nhau đến trước tình yêu Thiên Chúa, chỉ mình Ngài có quyền tha thứ.
Trong một bối cảnh như thế, người thi hành tác vụ hoà giải phải cư xử không phải như chủ nhân của sự tha thứ nhưng phải như tôi tớ của sự tha thứ của Thiên Chúa mà chính đương sự là kẻ đầu tiên được thụ hưởng.
Trong lịch sử, mô hình Phúc Âm này có lẽ đã được ứng dụng nhiều cách khác nhau mà chúng ta đã phần nào được thừa kế.

 

CHÚA NHẬT XXIV THƯỜNG NIÊN

HÃY THỰC LÒNG THA THỨ
(Mt 18,21-35)

I. VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI:
Đức Giêsu nói về người anh em phạm tội vừa xong, thì bài diễn từ lại cộm lên với câu hỏi của Phêrô. Ông tiến đến hỏi Thầy: “Thưa Thầy, khi anh em tôi lỗi phạm đến tôi, tôi phải tha thứ bao nhiêu lần? Đến 7 lần chăng”. Nêu lên con số 7, vị tông đồ tin chắc rằng thế đã là nhiều lắm rồi, vì các thầy rabbi thời đó cho rằng người ta chỉ có thể tha thứ quá lắm là 3 lần thôi. Quá tam ba bận mà.
Câu trả lời của Đức Giêsu nhắc lại, nhưng đảo ngược, bài thơ tàn bạo về lamek mà Kinh Thánh đã trích dãn (St 4,24): “Cain bị báo thù bảy lần, nhưng Lamek bị 77 lần”. Đối nghịch với vòng thù oán lẩn quẩn, Ngài để ra sự dễ lây nhiễm của sự tha thứ không giới hạn: “Ta không nói 7 lần, nhưng đến 70 lần 7”.
Cũng giống như phần đầu bài diễn từ về những “kẻ bé mọn” đã kết thúc bằng dụ ngôn con chiên lạc (18,12-14), câu trả lời cho câu hỏi của Phêrô dẫn đến dụ ngôn người mắc nợ tàn nhẫn. Một dụ ngôn của riêng Mt diễn ra theo 3 màn và kết thúc bằng một phần kết luận.
- Màn 1: Chúng ta hiện diện trong phòng có ngai vàng của cung điện nhà vua. Ở đâu đó bên Đông phương. Một ông vua tính sổ với các viên chức cao cấp.
Một người mắc nợ “10.000 nén vàng” nghĩa là 60 triệu francs (120 tỷ đồng). Một món nợ đến chóng mặt mà chỉ “cấp bộ trưởng đã biển thủ tài nguyên của 1 tỉnh lớn trong nhiều năm mới có thể có” (J. Potin).
Án phạt của nhà vua xem ra quá khắc nghiệt. Nhưng trong thế giới cổ đại, không những người ta tịch thu tài sản của người mắc nợ mà không trả nổi, mà còn có thể bán anh ta cùng cả gia đình làm nô lệ, để trả nợ. Ông vua trong dụ ngôn đã áp dụng đạo luật đó: “Vua truyền bán anh ta, vợ con và cả tài sản để trả nợ”.
Bỗng người đầy tớ mắc nợ khổng lồ ấy quỳ xuống chân vua mà van xin: “Xin hãy cho tôi khất ít lâu, tôi sẽ xin hoàn trả hết”. Thực là những lời không tưởng, một cam kết vô phương tuân thủ, vì món nợ quá khổng lồ! Vậy mà điều không ngờ đã diễn ra: vượt quá điều hắn dám nài xin, vua tha cho hắn toàn bộ số nợ và thả hắn về.
Tại sao có sự thay đổi bất ngờ và đột ngột này? Chính ông chủ, phút trước đã truyền bán hắn cùng với cả vợ con làm nô lệ, giờ đây đã “động lòng thương”. L. Deiss nhận xét: “Động từ “động lòng thương” là một trong những từ đẹp nhất của Phúc Âm nhất lãm. Theo nghĩa đen, có nghĩa là xúc động trong bụng, hay như ngày nay ta thường nói: xúc động trong lòng. Áp dụng vào Đức Giêsu, động từ diễn tả sự xúc động rất nhân loại khi Ngài đứng trước những vết lở loét của người bệnh phong (Mc 1,41), trước đám đông mệt mỏi bơ vơ như đàn chiên không người chăn giữ, hoặc trước những dòng nước mắt của bà goá Naim (Lc 7,13). Lòng thương xót của nhà vua khiến ta đoán được lòng thương xót của Thiên Chúa đối với nhân loại khổ đau, là tuyệt đối quan trọng để hiểu được dụ ngôn: nó giúp ta khám phá ra nguồn mạch phát xuất ra sự tha thứ của nhà vua và sự tha thứ của người anh em đối với người anh em.”
- Màn 2: Bây giờ chúng ta ra khỏi chính điện, nơi vua ngự. Trong lúc màn 1 nâng cao sự ngưỡng mộ của các nhân chứng trước sự cao thượng của nhà vua, thì màn hai sẽ khơi dậy sự phẫn nộ.
Thật vậy, vừa ra khỏi đền thờ, kẻ được tha nợ gặp “một người bạn mắc nợ y 100 đồng bạc” tức là 1/600.000 món nợ của y đối với nhà vua, chỉ khoảng 200.000 đồng. Một món vặt vãnh. Thế mà y “phóng tới bóp cổ người bạn” và lãnh đạm trước lời bạn van xin, đó chính là lời van xin hồi nãy y đã dùng nói với nhà vua: “Xin hãy khoan giãn cho tôi ít lâu, tôi sẽ trả anh đầy đủ”. Y cho “tống bạn vào ngục cho đến khi trả hết nợ”.
- Màn 3: Chúng ta trở lại trong chính điện của hoàng cung. Các nhân chứng kinh hoàng vì thái độ ấy, đã trình tâu lên đức vua. Đức vua vô cùng tức giận. Chắc chắn tên mắc nợ nhẫn tâm phải chịu gia hình. Chủ đã tha nợ cho y đâu buộc y tha nợ cho bạn y. Nhưng, đây rõ ràng là cái đinh của dụ ngôn, vì vua phân xử tôi tớ không dựa trên công lý cứng ngắc, nhưng dựa trên lòng thương xót của họ đối với nhau. Vua bảo y: “Hỡi tên đầy tớ xấu xa, ta đã tha nợ cho ngươi vì ngươi đã van xin ta. Sao ngươi không thương bạn ngươi như ta đã thương ngươi?”. Và chủ đối xử với con người tàn nhẫn này như hắn đã đối xử với bạn hắn: Ngài “trao hắn cho lý hình cho tới khi hắn trả hết nợ”.
J. Potin bình luận: “Qua dụ ngôn, Đức Giêsu muốn nói rằng hành động của Thiên Chúa khác xa với lý luận và công lý của con người. Con người chỉ biết trừng phạt cho cân xứng với tội lỗi. Thiên Chúa thì “nghịch lý”, như Ngài đã cư xử với người thợ giờ thứ 11. Chúa muốn con người cũng cư xử với nhau trong cùng một tinh thần như thế, vì Chúa đã tha cho họ những món nợ khổng lồ so với những món nợ của họ với nhau. Không thể có ranh giới cho sự tha thứ vì tha thứ đâu phải thứ công bình cân đo đong đếm được, đó là tình yêu, mà tình yêu tự bản tính là không biên giới.
- Kết luận: Đức Giêsu tuyên bố với các thính giả đang tức giận vì thái độ nổi loạn của người mắc nợ nhẫn tâm, để đưa họ trở về với lối sống của chính mình: “Cha Ta trên trời cũng đối xử với các ngươi như thế nếu các ngươi không biết thật lòng tha thứ cho anh em”.
Sự kiện có ý nghĩa cao độ, lời này của Đức Giêsu cũng là lời kết luận cho diễn từ về đời sống trong Giáo Hội: Sự tha thứ lẫn cho nhau là nền tảng trong một Giáo Hội được kêu gọi để trở thành một cộng đoàn huynh đệ yêu thương tha thứ cho nhau.
J. Potin kết luận: “Cộng đoàn phải được tác động bởi cùng một tình yêu như Chúa Cha đã tỏ ra khi tha thứ những lỗi lầm không cùng kích cỡ với những lỗi lầm mà họ phải chịu hoặc đã phạm. Chính vì thế, mỗi thành viên phải sẵn sàng tha thứ và chấp nhận sự tha thứ”.

II. BÀI ĐỌC THÊM:

1. Một sự tha thứ không giới hạn (F. Deleclos, Prends et mange la Parole, Centurion - Duculot.)
Ta nợ Thiên Chúa nhiều vô kể. Dù ta đã cố giảm nhẹ, quên lãng, những món nợ ấy vẫn không ngừng chồng chất thêm mỗi ngày. Ta thật là những con nợ không có gì để trả. Nhưng Thiên Chúa tốt lành, ta thường nhủ mình như thế. Ngài thấu hiểu, Ngài cảm thông, Ngài tha thứ, Ngài quên lãng những lỗi lầm, những yếu đuối rất con người, rất dễ hiểu ấy, nếu không, dù có được biện hộ, Người cũng chẳng thể tha thứ cho ta. Vậy mà, khi phải tha thứ, ta lại ngần ngại và rất thường ta mặc cả và từ chối. Trong thánh lễ, ta hát: “Xin Chúa thương xót chúng con” nhưng ta lại rất ít thương xót người khác.
Chắc chắn là Thiên Chúa tha thứ kiên nhẫn và quảng đại không khác gì ông vua mà Đức Giêsu nói tới trong dụ ngôn. Tuy nhiên ơn tha thứ của Ngài đòi hỏi bài học ấy phải sinh hoa kết quả trong lòng ta. Ta cũng vậy, phải biết thông cảm, thương xót, ta thứ và tha nợ cho anh em ta. “Xin tha lỗi chúng con như chúng con cũng tha kẻ có lỗi với chúng con”. Còn hơn nữa, phải “tha cho kẻ mắc nợ chúng ta”. Sự tha thứ của Thiên Chúa là toàn vẹn, nhưng vẫn đòi điều kiện. Phải chăng sự tha thứ không được đo lường bằng chính thước đo mà ta dâng lên Chúa?
Từ nay ta đã biết đường lối Thiên Chúa phán đoán và xét xử ta. Danh dự thực sự của ta dựa trên khả năng và chất lượng của sự tha thứ.
Giống như Phêrô, ta dễ hài lòng với một sự tha thứ có chừng mực, tuỳ trường hợp định sẵn, tha thứ đến 7 lần thôi, không hơn nữa. Nhưng Đức Giêsu rao giảng một tình yêu, và vì thế một sự tha thứ không giới hạn.
Làm sao tham dự mầu nhiệm Thánh Thể nếu ta không biết tha thứ? “Khi con dâng của lễ mà nhớ còn có người bất hoà với con, hãy để của lễ lại đó, về làm hoà với anh em trước đã rồi sẽ dâng của lễ sau” (Mt 5,23-24).

2. Tha thứ tự đáy lòng (Mgr. L. Daloz, Le Règne de cieux s'est approché, DDB.)
Mục đích của dụ ngôn là dạy ta biết tha thứ cho anh em tự đáy lòng mình. Dụ ngôn kết thúc một loạt những lời răn dạy của Đức Giêsu về những mối liên hệ trong cộng đoàn các môn đệ, và trong Giáo Hội. Tha thứ chính là lời kết cho những mối liên hệ này. Nó là chất xi măng xây dựng cộng đoàn, nếu các cộng đoàn biết sống trong sự thật. Sự hiệp nhất đâu phải ngẫu nhiên. Các mối liên hệ của ta thường bị đe doạ bởi những bất đồng, khinh miệt, gây gỗ, bạo lực. Sự hiệp nhất, tình huynh đệ là kết quả của hoà giải. Chính Thánh giá của Đức Giêsu đã đánh đổ những bức tường ghen ghét, như thánh Phaolô nói trong thư Êphêsô (2,15). Trái tim con người cần được chữa lành và đổi mới nhờ ơn cứu độ của Đức Kitô, mới có thể tiến bước trên con đường tha thứ cho anh em. Chính vì thế, ta cần hiểu rõ lời Đức Giêsu: “Cha các ngươi trên trời cũng đối xử với các ngươi như vậy, nếu các ngươi không biết thật lòng tha thứ cho anh em”. Ơn tha thứ của Thiên Chúa không bị điều kiện hoá bởi sự tha thứ hỗ tương của ta, hiểu theo nghĩa sáng kiến đến từ ta! Dụ ngôn chỉ khiến ta ý thức rằng chính ta cũng là người tội lỗi được tha thứ, được kêu gọi để đến phiên ta, cũng tham dự vào nguồn động lực tha thứ. Sau cùng, chất xi măng xây dựng những mối liên hệ của ta chính là tình yêu của Cha trên trời, một tình yêu đi đến tận cùng của tha thứ, một tình yêu Ngài cho ta được tham dự để ta có thể tha thứ như Ngài, tha thứ từ đáy lòng.

 

CHÚA NHẬT XXV THƯỜNG NIÊN

TÌNH YÊU VƯỢT XA CÔNG LÝ
(Mt 20,1-6)
I. VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI:
1. Bảo vệ quyền lợi và đặc quyền.
Sau khi Phêrô tuyên xưng đức tin tại Xêsarê Philipphê, Đức Giêsu trước khi lên Giêrusalem, đã loan báo lần đầu tiên về cuộc khổ nạn sắp tới, Ngài không quên cảnh báo các môn đệ: “Ai muốn theo Thầy, hãy bỏ mình, vác thập giá mình và theo Thầy”.
Tại Caphanaum, Ngài đã phác hoạ khuôn mặt của cộng đoàn mà Ngài sáng lập phải có, nếu cộng đoàn ấy muốn phản ánh hình ảnh của “Cha trên trời”. Một cộng đoàn biết quan tâm tới “những kẻ bé mọn”; một cộng đoàn huynh đệ biết giúp đỡ, thương xót và tha thứ cho nhau.
Hôm nay Ngài đến Giuđêa, bên kia sông Giođăng (19,1) tại đó Ngài bắt đầu dạy cho những kẻ theo Ngài biết sự đảo nghịch mà họ phải đi tới. Sự đảo nghịch có trong mọi lãnh vực đời sống, đời sống vợ chồng, thái độ với trẻ em, mối liên hệ với của cải vật chất (19,3-39). Dụ ngôn những người thợ làm vườn nho giờ thứ 11 - Phúc Âm Chúa nhật XXV Thường niên - cho ta một minh hoạ về sự đảo nghịch Phúc Âm này.
Thoạt tiên, dụ ngôn này gây phẫn nộ nơi công chúng quen có mặt trong các buổi qui tụ ngày Chúa nhật, vốn nhạy cảm với việc bảo vệ quyền lợi xã hội và với vết thương do nạn thất nghiệp gây ra. Đức Cha L. Daloz tự hỏi: “Dụ ngôn đó không chống lại tất cả những qui tắc về công bình phân phối và về quản lý tốt đẹp đó sao? Ai đời đi thuê mướn thợ vào các giờ giấc khác nhau rồi cuối cùng trả lương cho người cuối cùng cũng bằng người đầu tiên! Tự nhiên ta dễ đồng ý với những người mong được trả nhiều hơn, lẩm bẩm kêu trách chủ: “Những người đến sau cùng chỉ làm việc có một giờ mà ông đối xử cũng như chúng tôi, trong khi chúng tôi phải chịu vất vả, nóng nực suốt ngày”. Nếu dụ ngôn muốn dạy ta rằng đó là cung cách hành xử của Thiên Chúa, thì chúng ta phải thất vọng. Trong Phúc Âm, có những lời của Đức Giêsu rất bí hiểm, nếu không nói là gây vấp phạm. Ta cảm thấy đồng ý với phản ứng của người anh của đứa con phung phá khi nó trở về, người cha dọn tiệc ăn mừng, dù nó đã phung phí hết tiền bạc. Ta không hiểu làm sao những phường trộm cắp, đĩ điếm lại vào Nước Trời trước chúng ta. Ta khó mà chấp nhận cung cách hành xử của người chủ vườn nho. Để kết thúc dụ ngôn, Đức Giêsu đã rút ra một kết luận: “Vậy những kẻ sau cùng sẽ trở nên trước hết, và những kẻ trước hết sẽ trở nên sau cùng”. Ta muốn la lên: không, không công bình! Vậy thì trung tín, chung thuỷ có ích gì? Tội gì mà chịu cực giữ luật Thiên Chúa, nếu Ngài ban Nước Trời cho những kẻ đến sau cùng, chẳng chịu nắng nôi khó nhọc gì? Ta cần phải tìm hiểu dụ ngôn này.”
Việc quan trọng nhất là phải xác định cử toạ mà dụ ngôn nhằm nói với. Ở đây Đức Giêsu nói với người Do Thái, đúng hơn, với những thành phần ưu tuyển trong tôn giáo của họ: những biệt phái và luật sĩ vừa tức giận vì thái độ của Đức Giêsu đối với những người thu thuế, những người tội lỗi, vừa ghen tương vì sự quan tâm mà Đức Giêsu bày tỏ với họ. Một bối cảnh rất gần với dụ ngôn người cha và hai con trai ở Lc 15 mà dụ ngôn này có nhiều điểm tương đồng. Đức Giêsu không hề muốn đụng chạm tới lãnh vực công bình xã hội. Điều Ngài tìm kiếm là, qua dụ ngôn nghịch lý này, dẫn các thính giả tới chỗ tự tra vấn về mối tương quan của họ với Thiên Chúa và với anh em: cả họ nữa, họ đã chẳng bị cám dỗ co lại trong đặc quyền đặc lợi của họ, không còn biết kinh ngạc trước lòng quảng đại kỳ diệu của Thiên Chúa đối với mọi người và hoa trái của ân sủng Người nơi anh em họ đó sao?
- Câu chuyện khởi đầu rất bình thường. “Nước Trời giống như ông chủ vườn nho sáng sớm ra chợ thuê người làm...”. Ông chủ vườn nho này “ra đi” nhiều lần (cũng như người cha trong dụ ngôn của Luca 15 ra nhiều lần) vào những giờ khác nhau để nhắc lại lời mời gọi: “Hãy vào làm vườn nho cho ta” chẳng có gì đặc biệt khiến ta phải chú ý...cho tới lúc, bất chấp những luật lệ sơ đẳng về lợi nhuận, ông còn ra chợ “vào lúc 5 giờ chiều”, trong khi mặt trời sắp lặn nhường chỗ cho bóng đêm!
- Ta vẫn còn chưa hết ngạc nhiên! Vào lúc chiều tối, thay vì trả công cho người làm sớm nhất và để cho họ ra về, ông chủ lại ra lệnh cho viên quản lý trả lương “bắt đầu từ những người làm sau hết và kết thúc bằng những người làm đầu tiên”, họ sẽ là chứng nhân cho cử chỉ của ông!
. Những người được thuê vào lúc 5 giờ chiều tiến đến và nhận “mỗi người 1 đồng bạc”. Những người đầu tiên, đã chịu cực khổ suốt ngày, tò mò quan sát cảnh tượng và hy vọng sẽ được trả “nhiều hơn”. Nhưng khi đến phiên họ, họ cũng chỉ nhận được “một đồng bạc” như hợp đồng lúc thuê mướn.
. Từ im lặng ngạc nhiên đến “lẩm bẩm kêu trách": “Họ lẩm bẩm kêu trách ông chủ”. Những tiếng lẩm bẩm khiến ta nhớ lại tiếng lẩm bẩm của đứa con trưởng khi cha long trọng đón tiếp đứa con phung phá trở về (Lc 15). Những tiếng lẩm bẩm hoà nhịp với tiếng lẩm bẩm của con cái Israel suốt thời gian băng qua sa mạc, và tiếng lẩm bẩm của bọn biệt phái và luật sĩ khi nhìn thấy thái độ của Đức Giêsu đối với những người thu thuế và tội lỗi họ lẩm bẩm kêu trách Ngài: “Người này tiếp đón kẻ tội lỗi và ăn uống với họ” (Lc 15).
Điều khiến những người thợ đầu tiên bất mãn đó là thấy những kẻ “chỉ làm việc một giờ” lại được đối xử ngang hàng với họ: “Ông đối xử với họ cũng như chúng tôi!” Việc làm đã xong, những điều kiện trong đó họ làm việc chẳng đem lại cho họ đặc quyền đặc lợi nào, so với những người khác, “những người cuối cùng này" mà họ nói đến với sự khinh miệt y như đứa con trưởng trong dụ ngôn ở Luca 15: “Thằng con trai cha đó” (Lc 15,30) hoặc người biệt phái trong Luca 18: “tên thu thuế kia”.

2. ... hay ngây ngất vì ơn Thiên Chúa ban nhưng không cho mọi người.
Ông chủ vườn nho nói với người phát ngôn của những người thợ bất mãn: “Hay là bạn bất bình vì tôi nhân lành?”.
Giống như anh cả của đứa em hoang đàng, những người thợ làm giờ đầu tiên là biểu tượng cho tất cả những ai nhân danh quyền lợi tự cho là nhận được từ Thiên Chúa, nhân danh cái gọi là đặc quyền, ngạc nhiên và vấp phạm vì thái độ của Đức Giêsu đối với những người tội lỗi: đó là những người biệt phái và luật sĩ của hôm qua... và cả hôm nay nữa. Làm như ơn cứu độ không phải là ân huệ ngoại thường và nhưng không, vượt xa sự xứng đáng của ta muôn trùng.
Đức Giêsu tự đứng về phía ông chủ vườn nho cũng như về phía người cha đón tiếp đứa con trai đã mất mà nay lại tìm thấy. Thái độ của hai nhân vật này phản ánh lối sống của họ, lối sống bị người ta chê trách. Với những người phản đối thái độ của Ngài đối với người tội lỗi, Ngài dám tuyên bố: Thiên Chúa không hành động khác hơn! Thiên Chúa giống như người Cha ăn mừng đứa con trở lại, như ông chủ vườn nho trả lương cho người thợ làm sau cùng cũng bằng người thợ làm đầu tiên.
Chắc chắn khi thuật lại dụ ngôn này của Đức Giêsu, Matthêu muốn áp dụng nó vào Giáo Hội thời đó: “Những người đầu tiên” là những người Do Thái; “những người cuối cùng”, dân ngoại đã nhận được cái mà Israel coi như đặc quyền.
Claude Tassin kết luận: “Vậy, dụ ngôn nhắm tới những người có phản ứng giống như phản ứng của đứa con trai cả trong truyện người con phung phá... Thiên Chúa đã quyết định tỏ sự âu yếm đối với những người tội lỗi, đó là lý do tại sao Đức Giêsu, sứ giả của Ngài, lại thích gần những người này đến thế, điều đó gây phẫn nộ cho một số người công chính vì họ tự coi mình có quyền được Thiên Chúa quan tâm hơn những phường chẳng ra gì kia, đâu quan tâm gì đến phục vụ Trời - làm như thể khi cứu vớt những người tội lỗi, Thiên Chúa đã lấy đi điều gì của những kẻ trung thành.
Trái với bài học mà tác giả Phúc Âm rút ra (16) dụ ngôn không hạ “những người đầu tiên” xuống hàng “những người sau cùng”, nhưng dụ ngôn chỉ nhấn mạnh đến sự bình đẳng làm phát sinh ơn phúc lạ thường cho người tội lỗi”.

II. BÀI ĐỌC THÊM:

1. Công bình kỳ cục (G. Boucher, La terre parle au ciel)
Công bình! Ta gọi ngươi bằng tất cả khát vọng. Ta đấu tranh vì một thế giới công bình hơn. Ta phát động cách mạng để đập tan bất công. Thậm chí ta còn nói tới - thật là ghê tởm - cuộc chiến tranh chính nghĩa. Các toà án của ta đó để thực thi công bình. Lời cầu nguyện của ta kêu lên tới Chúa để cho người nghèo, người bị bóc lột được lắng nghe. Niềm vinh dự của các xã hội, các quốc gia là tạo lập được một hiến pháp, những luật lệ và những cơ chế giúp cho trật tự công bình tiến bộ. Do đâu dụ ngôn Phúc Âm bắt ta làm ngược lại? Do đâu khi đọc dụ ngôn lần đầu ta khó chịu như những người thợ làm đầu tiên đã khó chịu, họ tự cho mình và nạn nhân của một sự bất công. Đối với con người, thực thi công bình không phải là trả cho mỗi người điều gì thuộc về họ, theo sức lao động và giá trị của họ sao?
Nhưng trong khuôn khổ Nước Trời lại là chuyện khác: có một Đấng tên là Thiên Chúa, là sự viên mãn, ban cho mọi người những gì chính đáng. Thiên Chúa công chính hoá những ai mong muốn. Ngay từ giờ đầu tiên. Ngay từ phút khởi đầu. Nhưng cũng có khi ở nửa đời người, thậm chí cả ở phút chót của cuộc đời nữa.
Thiên Chúa kêu mời mọi người hãy đến để được công chính hoá như người ta nhận một quà tặng, một ân ban. Có người trả lời ngay tức khắc từ lúc rạng đông. Có kẻ chỉ nghe được lời đề nghị ở giữa ngày. Đôi khi mãi đến cuối ngày có người mới nhận ra cơ may Chúa ban mà theo ngôn ngữ bác học, ta gọi là ân sủng.
Thiên chúa làm cho nên công chính như ta trở nên trong suốt khi ta ở trong ánh sáng. Thiên Chúa biến ta nên công chính như chính Ngài là Đấng công chính, điều đó không có gì giống với những mô hình nhân loại. Bởi vậy ai nhận biết mình được Thiên Chúa công chính hoá sẽ chỉ có thể mừng vui khi thấy ân phúc đó đến với người láng giềng, người đối thủ, người đối địch... vì lối sống của Thiên Chúa đã thấm nhập đời anh. Thời giờ chẳng có gì quan trọng.
Ta chỉ có thể cầu mong cho mọi người biết nắm lấy cơ may của mình, những người cùng sống trong chung cư, những bạn đồng nghiệp, những người thân và cả những người không thân nữa.
Vì công bình theo nghĩa của Thiên Chúa chỉ được thực hiện khi ta biết nắm bắt cơ may của mình, như người thợ giờ thứ 11 đã chọn đi làm việc. Và qua kinh nghiệm, ta biết rằng, để lãnh được lô độc đắc của Thiên Chúa, không có gì bằng một biến cố thúc bách ta, một chứng từ chất vấn ta.
Phần ta hãy biết đón nhận ân sủng mà Thiên Chúa ban cho và sống sao cho mọi người chung quanh ta khao khát được ân sủng ấy, lương bổng ấy.

2. Một ví dụ khiêu khích bắt ta phải tự vấn (Mgr. L. Daloz, Le Règne des cieux s'est approché DDB).
Đức Giêsu lấy làm gương thái độ của người chủ đối với thợ của mình. Thực là một ví dụ khiêu khích, chứng minh điều Thiên Chúa không là. Không giống như ta tưởng. Ngài hành động không theo cách ta làm. Ngài tốt lành vượt xa các ông bố trần gian muôn trùng. Nhờ đó, Đức Giêsu cho ta chứng nghiệm được tình yêu của ta hẹp hòi biết bao: “Bạn bất bình vì tôi nhân lành ư?”. Dụ ngôn này dạy ta biết Thiên Chúa, nhưng cũng biết chính mình. Nếu ta thấy đồng tình với những người thợ lẩm bẩm kêu trách, chẳng phải vì ta đã tưởng tượng Thiên Chúa theo thước đo của ta, và muốn đóng khung Ngài trong những quan niệm chật hẹp của tình yêu giới hạn của ta sao? Dụ ngôn của Đức Giêsu trước hết là nói với dân Do Thái, họ là những người được kêu gọi trước hết, rồi mới tới dân ngoại. Dụ ngôn soi sáng tình trạng các cộng đoàn đầu tiên, trong đó những người từ đa thần giáo tới sau cũng có cùng quyền lợi như các tín hữu gốc Do Thái. Ngày nay, vấn đề vẫn còn đó, tuy hoàn cảnh có khác. Giáo huấn của Đức Giêsu vẫn luôn có cùng mục đích, cùng hiệu quả: Ngài mạc khải sự cao thượng của tình yêu Thiên Chúa “chiều cao, chiều rộng và chiều sâu của tình yêu ấy”. Tình yêu ấy thay đổi đường lối của ta, mở rộng lòng ta. Phản ứng của ta thường là giới hạn tình yêu ấy theo khuôn thước của ta. Nhưng “giới hạn của tình yêu là yêu không giới hạn”! Sau cùng, sứ điệp của dụ ngôn phải chăng không nằm trong những từ ngữ đơn sơ này, chúng nói với ta về Thiên Chúa: “Ta nhân lành!... Hơn cả lương bổng, điều quan trọng là tiếng gọi, luôn luôn đổi mới từng ngày, từng giờ, ở mọi thời trong lịch sử cũng như ở mọi lứa tuổi của đời người, tiếng gọi này không gạt ai ra ngoài lề đó là ân sủng cho những người đầu tiên cũng như cho những người cuối cùng, tiếng gọi của Thiên Chúa nói với con người mà Ngài yêu thương không mỏi mệt và Ngài muốn rằng không ai bị bỏ quên: “Nào, cả anh nữa, hãy đến làm vườn nho cho tôi”.

 

CHÚA NHẬT XXVI THƯỜNG NIÊN

PHỤC VỤ THIÊN CHÚA KHIẾN CON NGƯỜI TỰ DO
(Mt 21,28-32)

I. VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI:

1. Ai trong hai...
Trước sự phẫn nộ của các đối thủ, Đức Giêsu, được một đám đông cuồng nhiệt chào đón bằng những tiếng: “Hosana”, đã long trọng tiến vào Giêrusalem. Trong Đền Thờ, nơi Ngài giảng dạy, Ngài thường xuyên chịu đựng sự quấy nhiễu của “các thượng tế, và kỳ lão trong dân”. Hiển nhiên họ đến chất vấn Ngài về uy quyền nào cho phép Ngài nói và làm như vậy: “Do quyền nào ông đã làm điều đó, và ai đã ban cho ông uy quyền đó?” (21,33). Nhưng Đức Giêsu từ chối trả lời bao lâu họ còn né tránh câu hỏi Ngài đặt ra: “Phép rửa của Gioan từ đâu đến, từ trời hay từ con người?” (21,44).
Chính trong bối cảnh tranh cãi này, trong đó có 3 dụ ngôn về ngày phán xét, Đức Giêsu đã cho họ 1 lời cảnh báo mạnh mẽ sau cùng:
- Dụ ngôn 2 đứa con trai được sai đi làm vườn nho (PÂ CN 26).
- Dụ ngôn thợ làm vườn nho sát nhân (PÂ CN tới).
- Dụ ngôn khách được mời dự tiệc cưới (PÂ CN 28).
Dụ ngôn đầu là của riêng Mt, dụ ngôn 2 đứa con trai được sai đi làm vườn nho có một vẻ đạm bạc đặc biệt, bỏ đi tất cả những chi tiết phụ thuộc để làm nổi bật sự tương phải giữa hai chàng trai.
. Tương phản trong thái độ ban đầu.
* Đối lập thái độ vụng về của đứa con thứ nhất, nó phản đối thẳng thừng: “Tôi không muốn đi!”.
* Với thái độ kính cẩn thái quá của đứa con thứ hai: “Vâng, thưa cha”.
. Nhất là tương phản trong thái độ sau cùng.
* Trong khi đứa thứ nhất, sau khi đã chối từ, nghĩ lại và ra vườn làm việc.
* Đứa thứ hai, sau khi đã kính cẩn vâng phục và chấp nhận, lại chẳng làm gì hết.

2. ... đã thi hành ý Cha?
Lúc đó Đức Giêsu quay lại phía các người chất vấn và hỏi họ: “Ai trong hai đứa con đã thi hành ý của Cha?”. Họ chỉ có thể đồng loạt trả lời: “đứa thứ nhất”. Đâu còn gì rõ ràng hơn, con người xứng danh được phán xét theo hành động họ làm, không theo ý hướng hay thay đổi của họ.
Sự ngỡ ngàng ập đến khi Đức Giêsu chuyển sang phần áp dụng dụ ngôn, đã làm họ thấy rằng họ vừa tự phán xử và tự kết án chính mình: “Thật, Ta bảo thật các ngươi: những người thu thuế và đĩ điếm sẽ vào Nước Thiên Chúa trước các ngươi. Vì Gioan Tẩy giả đã đến với các ngươi, sống công chính và các ngươi không tin vào lời Ngài, trong khi những người thu thuế và đĩ điếm đã tin. Còn các ngươi, cả sau khi đã chứng kiến điều ấy, các ngươi vẫn không hối cải, không tin lời Ngài”.
- “Các thượng tế và các kỳ lão trong dân” tuyên xưng để trả lời “vâng” với Thiên Chúa bằng cách lo âu gắn bó với lề luật và mọi ghi chú từ lề luật. Thực ra, họ ẩn núp sau Lề Luật để từ chối tin sứ mệnh của Đức Giêsu, cũng như họ đã từ chối tin vào sứ mệnh của Gioan Tẩy giả. Họ né tránh ý Chúa: đón tiếp lời và con người Đức Giêsu; trở về với Chúa để tiến vào Nước Trời.
- Ngược lại, những người mà Do Thái giáo chính thức coi là đáng khinh bỉ và vô phương cứu chữa, những “người thu thuế” và “đĩ điếm”, những người tội lỗi công khai xem ra rất xa đường “công chính”, lại đón nhận lời rao giảng của Đức Giêsu cũng như họ đã đón nhận lời rao giảng của Gioan Tẩy giả: họ đã “hối cải và tin vào lời Ngài”.
Cl. Tassin bình luận: “Vì trước hết đức tin không phải là một “nhà tư tưởng công chính”, nhưng là một hành động công chính. Những người tội lỗi tồi tệ đã hiểu điều này nên đã bằng mọi giá cố gắng “thi hành ý Cha”. Còn các ngươi, Đức Giêsu nói, các thượng tế, chứng nhân của các cuộc hoán cải này mà các ngươi chẳng nhúc nhích các ngươi đã lỡ cơ hội đầu tiên, thậm chí các ngươi còn để vuột mất tất cả mọi cơ hội: dụ ngôn kế tiếp sẽ minh chứng điều đó.
Khi thuật lại dụ ngôn này cho cộng đoàn, thánh sử Mt muốn biện hộ cho một Giáo Hội mở rộng vòng tay đón tiếp những người thu thuế, gái điếm đã hoán cải Ngài cảnh giác các Kitô hữu, xưa cũng như nay, chống lại một thứ tôn giáo bề mặt chỉ biết lải nhãi: “Lạy Chúa, lạy Chúa” nhưng không bao giờ “thi hành ý Cha”.

II. BÀI ĐỌC THÊM:

1. Một ví dụ khiêu khích đối với những người đối thoại với Đức Giêsu,... và đối với ta hôm nay. (Mgr. L. Daloz, Le Règne des cieux s'est approché, DDB).
Đức Giêsu đã nói: không phải những kẻ kêu rằng: Lạy Chúa, lạy Chúa! mà được vào Nước Trời, nhưng là những kẻ làm theo ý Cha. Hôm nay Ngài còn đi xa hơn: Ngài nói con người có khả năng thay đổi ý kiến, thái độ, từ vâng lời có thể trở thành bất tuân, ngược lại từ chống đối có thể hoán cải. Ví dụ Ngài đưa ra quả là khiêu khích những người đối thoại: Thật, Ta bảo các ngươi, những người thu thuế và đĩ điếm sẽ vào Nước Trời trước các ngươi. Ngài chỉ cho thấy chìa khoá mở cửa Nước Trời: đó không phải là vị trí người ta chiếm giữ, cũng không phải địa vị đắc thủ, càng không phải là một lần đồng ý với Lời Thiên Chúa. Đó là tình trạng của các thầy thượng tế, các kỳ lão, các luật sĩ và các tiến sĩ luật. họ có một nhiệm vụ chính thức trong dân; đó cũng là sự tự hào của bọn biệt phái, họ khoe khoang sự trung tín không hề lơi lỏng đối với Lề Luật và truyền thống. Khốn nỗi lối vào Nước Trời đâu mở ra cho giá trị, công phúc, trọn lành. Đó là món quà Thiên Chúa tặng không cho những ai tiếp nhận lời Ngài và hoán cải. Chìa khoá lối vào Nước Trời là sự hoán cải: “Hãy hoán cải, vì Nước Trời đã gần” (3,2) Gioan Tẩy giả đã la lên như thế. Hoán cải là nhận biết những giới hạn của bản thân, là phó mình cho Thiên Chúa và ý định của Ngài. Đức Giêsu phân biệt những người khẳng định sự trung tín nhưng không hề nhúc nhích, với những người không sống “theo luật tắc”, nhưng nhận biết Người và thay đổi theo tiếng gọi của Thiên Chúa: Hoán cải là đi đến nơi. Để giải thích rõ, Đức Giêsu đưa ra một ví dụ cực kỳ, gây phẫn nộ nhất: những người thu thuế và đĩ điếm sẽ vào Nước Thiên Chúa trước các ngươi.
Chứng cớ mà Ngài trưng dẫn là sự rao giảng của Gioan Tẩy giả: “Thật vậy, Gioan đã đến với các ngươi trong đường công chính và các ngươi đã không tin, trái lại những người thu thuế và đĩ điếm đã tin ông. Sau đó, đã nhìn thấy như vậy, các ngươi vẫn không hoán cải và tin ông”. Đã có những người tin, đón nhận lời của Gioan và dấn thân thay đổi đời sống. Đức Giêsu nhận thấy đó là những người không tự hào, chẳng có đặc quyền đặc lợi gì, nhưng bị khinh miệt, coi thường. Họ chẳng có gì để bảo vệ, họ không sợ bị mất mặt hay bị nghi ngờ. Ai có “danh dự” cần bảo vệ, ai tự tin mình công chính, người ấy khó mà nhận mình tội lỗi, khó mà ăn năn hối cải, khó mà nhận mình cần thay đổi, khó chấp nhận rằng mình sẽ vào Nước Trời không do công phúc của mình... Ta không ngừng cầu xin Chúa ban cho ta một trái tim nghèo, xin Ngài tẩy sạch thói tự mãn, cho ta ý thức sự yếu hèn, tội lỗi của mình. Khi giảng dạy, Đức Giêsu đã ban một chìa khoá “chung” để vào Nước Trời: đó là sự hoán cải, thống hối, ai cũng làm được cho dù họ có những phẩm chất nào, khuyết điểm nào, thuộc dòng chủng tộc nào, dân tộc nào đi nữa. Ơn cứu độ ban cho tất cả những ai chấp nhận mở lòng ra và tin tưởng.

2. Chúng tôi chấp nhận bị Phúc Âm làm phiền (M. Hubaut, Prier les paraboles, DDB).
Lạy Chúa
Mỗi buổi sáng, Chúa nhắc lại lời mời:
“Hãy đi làm vườn nho cho ta!”
Nhưng lời Chúa
Con đã nghe hằng trăm lần
Giờ thì còn là một âm thanh quen thuộc
Mỗi Chúa nhật ru ngủ cộng đoàn
Tuy vậy chúng con vẫn máy móc trả lời
“Vâng, vâng lạy Chúa !”
Rồi chúng con lặng lẽ trở lại
với những công việc thường lệ.

Chúng con đã thuần hoá sự mãnh liệt của Phúc Âm Chúa để chỉ còn nghe những lời lẽ dịu êm những công thức rất tế nhị.
Chúng con đã làm giảm cường độ ánh sáng Phúc Âm qua lăng kính của quan niệm về trật tự, của Giáo Hội và xã hội.
Và Phúc Âm của Chúa sẽ chẳng còn phiền nhiễu chúng con nữa.

 

CHÚA NHẬT XXVII THƯỜNG NIÊN

DỤ NGÔN NHỮNG TÁ ĐIỀN SÁT NHÂN
(Mt 21,22-43)

I. VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI:

1. Từ vườn nho... đến những tá điền muốn chiếm đoạt vườn:
Trước sự phẫn nộ của đối phương, còn dân chúng thì lại hồ hởi chào mừng Người bằng những lời tung hô “Vạn tuế” Đức Giêsu đã tiến vào Giêrusalem trong tư cách Messia. Khi Người giảng dạy ở trong Đền Thờ, Người thường bị các thượng tế và các kỳ mục trong dân “sách nhiễu”. Rõ ràng là họ tới có ý chất vấn Người đã lấy quyền nào mà nói và hành động như vậy: “Ông lấy quyền nào mà làm các điều ấy? Ai đã cho ông quyền ấy?” (21,23). Nhưng Đức Giêsu đã từ chối trả lời họ, khi mà chính họ vẫn lẩn tránh câu Người hỏi họ: “Phép Rửa của ông Gioan do đâu mà có? Do Trời hay do người ta?” (21,24).
Ba dụ ngôn về việc xét xử mà Chúa nói với họ như một lời cảnh giác cuối cùng và mạnh mẽ, được đặt vào trong bối cảnh gay cấn ấy:
- Dụ ngôn hai người con được sai đi làm vườn nho (Phúc Âm Chúa nhật tuần trước).
- Dụ ngôn những tá điền sát nhân (Phúc Âm Chúa nhật 27).
- Dụ ngôn tiệc cưới (Phúc Âm Chúa nhật tới).
Ph. Gruson đặt câu hỏi: “Tại sao Đức Giêsu kể câu truyện dụ ngôn thứ hai này? Chính Người bắt đầu tự dàn cảnh khi tuyên bố rằng “người Con” sắp bị “quăng ra”. Người ý thức rõ mình là người cuối cùng được Chúa sai đến, sau tất cả các tôi tớ, các ngôn sứ của Chúa; Người loan báo Nước Thiên Chúa sắp đến. Vậy mà Người cũng chẳng được đón nhận hơn những người kia, những kẻ đã từng “bị đánh, bị giết, bị ném đá”. Vì thế Người lên tiếng kêu gọi những người lãnh đạo Israel một lần cuối cùng để đặt họ trước trách nhiệm nặng nề, bởi vì chính lúc này đây, hoặc không bao giờ nữa, mà họ phải đón nhận Nước Trời và kéo theo họ tất cả dân Chúa. Nhưng những dấu hiệu của chối từ, và thất bại ngày càng tăng thêm. Nhiều lần Đức Giêsu báo trước cái chết dữ dằn của Người, vì Người cảm thấy mối thù địch hoàn toàn từ phía các nhà lãnh đạo tôn giáo đối với Người, ngày một lên cao” ("Lesdossiers de La Bible” số 61, tháng Giêng 1996, trang 9).
Ngay từ những lời mở đầu: “Có gia chủ kia, trồng được một vườn nho, chung quanh vườn, ông rào giậu, trong vườn ông khoét bồn đạp nho và xây một tháp canh..” dụ ngôn những tá điền sát nhân hẳn gợi nhớ lại “bài ca vườn nho” của Isaia 5, bài đọc một lễ hôm nay. Được thấm nhuần Thánh Kinh từ hồi còn trẻ, mỗi thính giả không thể không có ngay trong đầu óc họ một sự liên tưởng đối chiếu là: như thời của ngôn sứ, dân được tuyển chọn đã không làm nẩy sinh hoa lợi, mà Chúa có quyền trông đợi, nên họ phải bị Chúa xét xử.
Nhưng rất mau chóng, sau mấy câu mở đầu, sự chú ý được chuyển từ chính vườn nho đến những tá điền mà ông chủ đã trao vườn nho cho. Khi “gần đến mùa hái nho”, ông chủ vườn, theo quyền chính đáng, đòi thu hoa lợi, thì những người ta điền bắt đầu giở trò. Sự tàn ác của họ ngày càng tăng.
- Trước hết, ông chủ vườn nho đã sai “các đầy tớ của ông”, nghĩa là các ngôn sứ - Nhưng những người này đều bị chúng tống khứ, hành hạ, giết chết. Ngôn sứ Néhémia, thế kỷ thứ ba trước Chúa Giêsu cũng đã viết: “Nổi loạn chống lại Chúa, họ đã quăng sách Luật của Chúa đi, họ đã giết các ngôn sứ, những người đã lên tiếng bảo họ phải trở về với Chúa” (Nh 9,26).
- Ông chủ còn sai đến với họ “một số đầy tớ khác đông hơn trước” họ cũng chịu chung số phận như những người trước.
- “Sau cùng”, ông sai “con trai” mình đến gặp chúng vì nghĩ rằng: “Chúng sẽ nể con ta”. Nhưng bọn tá điền liền “bắt lấy cậu, quăng ra bên ngoài vườn nho, và giết đi”, vì nghĩ rằng làm như vậy là chiếm được “gia tài”.

2. Những địa chỉ được sai đến hôm xưa... đến những địa chỉ được sai đến hôm nay:
- Câu truyện kết thúc ở đó? Không, vì Đức Giêsu đưa thính giả của Người ra làm chứng: “Vậy xin hỏi: Khi ông chủ vườn nho đến, ông sẽ làm gì bọn tá điền kia?”. Câu trả lời đến từ nhóm người bao quanh Chúa không làm cho người ta phải chờ đợi: “Ác giả ác báo, ông sẽ tru diệt bọn chúng,và cho các tá điền khác canh tác vườn nho, để cứ đúng mùa, họ nộp hoa lợi cho ông”.
- Đức Giêsu chỉ còn việc đưa ra điểm chủ chốt của dụ ngôn này: “Bởi đó, tôi nói cho các ông hay: Nước Thiên chúa, Thiên Chúa sẽ lấy đi không cho các ông nữa, mà ban cho một dân biết làm cho Nước ấy sinh hoa lợi”.
- “Các thượng tế và người Pharisêu đã hiểu ngay là Người nói về họ “và họ vừa mới tự xét xử chính mình họ trước mặt mọi người. Chỉ còn nỗi “sợ đám đông” là ngăn cản được họ tra tay bắt Đức Giêsu mà thôi. Nhưng từ nay thời giờ đã gần kề lắm rồi. Nếu bắt được Người, họ sẽ lôi Người ra “bên ngoài thành” để giết Người (21,45-46).
- Khi tường thuật dụ ngôn này của Đức Giêsu cho các độc giả của mình, thánh sử Matthêu chủ tâm làm cho dụ ngôn lại được mang tính hiện thực theo như ý họ.

3. Nên khi nghe dụ ngôn này,
- Các độc giả là tín hữu của Ngài có thể thấy dụ ngôn được thực hiện trong việc tàn phá khủng khiếp thành Giêrusalem năm 70;
- Họ có thể nhận ra mình trong “những tá điền khác này” là những kẻ mà vườn nho của Chúa đã được trao cho họ.
- Sau hết họ có thể tuyên xưng niềm tin vào Đức Giêsu chết và phục sinh khi dùng thánh vịnh 117 mà cầu nguyện dưới ánh sáng mầu nhiệm phục sinh:
“Tảng đá thợ xây nhà loại bỏ,
lại trở nên đá tảng góc tường
Đó chính là công trình của Chúa,
công trình kỳ diệu trước mắt chúng ta!”.

4. Nhưng thánh sử Matthêu cũng còn đưa ra hai thông điệp cho Giáo Hội thời đó, cũng như cho Giáo Hội của mọi thời:
- Ph. Gruson giải thích tiếp: Chính Giáo Hội cũng luôn luôn bị thử thách chiếm đoạt những ơn huệ Chúa ban, nên Chúa cũng đòi Giáo Hội phải sinh hoa lợi, nếu không muốn thấy đến lượt mình phải rút khỏi vườn nho. Cũng như những người có trách nhiệm của Israel, Giáo Hội phải chịu phán xét.
- Giáo Hội không được suy diễn từ dụ ngôn ấy mà cho rằng minh thay thế Israel, bởi vì, như Ph. Gruson nhận xét tiếp, phần kết thúc của trình thuật phân biệt rõ hai nhóm người: một bên là những thượng tế và các người Pharisiêu (các nhà chức trách Do Thái mới thời Matthêu viết Phúc Âm), họ muốn bắt Đức Giêsu, còn bên kia là đám đông vốn xung khắc với họ, bởi “vì đám đông cho Người là một ngôn sứ”. Chính đám đông ấy vẫn tiếp tục nối dài trong Giáo Hội, trong số những độc giả của Matthêu như chính chúng ta đang là lúc này vậy” (O.C., trang 10).

II. BÀI ĐỌC THÊM:

1. “Coi chừng đừng làm hư hỏng Giáo Hội” (Giám Mục L. Daloz, trong “Le Règne des cieux s'est approché” Desclée de Brouwer, trang 298-299).
Đúng là một chuyện chiếm đoạt. Chúa Giêsu khiển trách những kẻ đối thoại với Người vì họ tưởng mình là những kẻ nắm giữ lời hứa, nắm giữ Giao ước, nên đã không còn muốn tường trình với Thiên Chúa nữa. Tổ phụ Abraham đã tin tưởng vào Chúa, vẫn luôn hy vọng cả khi không còn gì để hy vọng. Và ông đã nhận được lời hứa. Hậu duệ của ông sẽ có khuynh hướng tưởng mình là những người sở hữu lời hứa này như một gia sản mà họ có thể quản lý theo ý họ và cho chính họ. Họ đã không muốn hoàn lại cho Đức Giêsu, người Con, những gì họ đã nhận được từ Chúa Cha. Họ đã ỷ thế mà từ khước điều ấy: Chúng tôi đã có tổ phụ Abraham (3,9)... Nguy cơ sử dụng tôn giáo như gia sản của ta, thứ bảo hiểm cho ta thì thời nào cũng có và luôn luôn đáng lo ngại. Lời Chúa, các bí tích, các “công đức” của ta... Không phải là tài sản riêng của ta, mà là những ân huệ Chúa ban cho ta. Chúng phải hướng ta về với chúa, khơi dậy và phát triển lòng tin của ta. Những ân huệ đó thúc đẩy ta hiến dâng chính mình, để ta sống đời tận hiến, hoàn toàn thuộc về Người. Cách riêng trong Bí tích Thánh Thể, Đức Giêsu hiến mình Người để kết hiệp ta với Người là của lễ mà dâng lên Cha, ngõ hầu Thần Khí của Người đến làm cho ta nên của lễ muôn đời tôn vinh Chúa!... Tôn giáo đích thực là một mối dây, một tương quan khởi đi từ Chúa, lại đưa ta quay trở về với Chúa và với tha nhân. Những “thực hành đạo đức” là những phương thế giúp tăng cường mối tương quan này. Những thực hành đạo đức ấy mở lòng ta ra cho tình yêu: yêu Chúa và yêu tha nhân là hai tình yêu không thể tách biệt, như hai mặt của một bàn tay. Tôn giáo đích thực khiến chúng ta trở nên nghèo để có thể yêu mến.
Đức Giêsu tranh luận với các thượng tế và kinh sư. Người hỏi họ: “Vậy khi ông chủ vườn nho đến, ông sẽ làm gì bọn tá điền kia?” Họ đáp: “Ác giả ác báo, ông sẽ tru diệt bọn chúng, và cho các tá điền khác canh tác vườn nho, để cứ đúng mùa, họ nộp hoa lợi cho ông”. Câu trả lời này phải làm cho họ suy nghĩ. Nhưng chính họ mù quáng rồi, như ta vẫn thường như vậy. Họ biết rút ra câu kết luận của dụ ngôn, nhưng lại không nghĩ rằng lời kết đó lại nói về họ.
Là những người kế nghiệp Nước Trời, chúng ta không thể tự phụ mình là những kẻ trên người khác, nếu không, đến lượt ta lại trở thành những kẻ chủ trương chiếm đoạt vườn nho của Chúa! Ta phải coi chừng đừng làm hư hỏng Giáo Hội, dân tộc mới, khi mắc phải những tật xấu Chúa đã khiển trách những thượng tế và kinh sư Do Thái xưa. Ai ngã xuống đá này, kẻ ấy sẽ tan xương; đá này rơi trúng ai, sẽ làm người ấy nát thịt. Giáo Hội chỉ theo đuổi một mục đích là loan báo Đức Giêsu Kitô, minh chứng Đức Giêsu Kitô, làm cho người ta sống sự chết và phục sinh của Người.

2. “Những ngôn sứ của Người Con thừa tự” (M. Hubaut, trong “Prier les Paraboles” Desclée de Brouwer, trang 108-110).
Chúa ơi,
Lịch sử phải chăng chỉ là một sự tái diễn khôn nguôi,
Là tấn thảm kịch được diễn lại mãi mãi muôn đời?
Đây vườn nho của Chúa,
Mảnh đất này Chúa đã trao cho con.
Đây vườn nho của Chúa,
Lòng, trí con và tự do này
Tất cả đều do Người ban tặng.
Con lại chiếm cho mình mà không biết thẹn;
Và để chiếm trọn gia tài,
Con lại quyết không nhìn Người Con Thừa Tự
Dồn Người vào ngục tối sử xanh.
Thế là Chúa đã chết rồi!
Hoan hô con người!
Một mình sở hữu mọi của trần gian!
Vạn tuế con người,
Chỉ mình làm chủ kiếp người và lịch sử!
Chúa liền sai báo sứ giả đến
Để thu phần hoa lợi của tình yêu,
Đem chia sẻ, an bình và công lý.
Thế mà tất cả lại bị đánh đập tơi bời,
Hoặc bị tống giam vào nơi ngục thất.
Hoặc bị tù đày hay là bị giết.
Jérémia bị ném đá, Isaia bị xé xác tan tành.
Roméro Giám mục bị bắn gục trước bàn thờ;
Cha Popieluko bị đánh nhừ tử và trấn sâu dưới nước,
Thân thể cha Jarland đạn ghim lỗ chỗ như tổ ong bầu.

Ôi lạy Đức Kitô!
Sao Người luôn bị ghét bỏ khinh khi,
Bị miệt thị và đóng đinh vào thập giá!
Xin ban cho con tâm hồn hiểu biết
Gương mù này của thập giá tình yêu.
Hiểu biết hơn sự ngoan cố của con người
Không cộng tác làm vườn nho của Chúa;
Xin cho con luôn nghiệm ra rằng:
Mọi viên đá nào bị loại bỏ
Đều trở nên viên đá góc tường,
Cho thế nhân hưởng nguồn ơn cứu độ.

Ôi lạy Đức Kitô phục sinh!
Ngài là Con Thừa Tự của Trời, Đất mới.
Xin mở mắt con để con thấy rõ
Qua gian lao của những bậc tôi trung,
Qua cái chết của những ngài ngôn sứ,
Chúa đang thực hiện công trình của Chúa,
Công trình kỳ diệu còn khuất mắt chúng con.


 

CHÚA NHẬT XXVIII THƯỜNG NIÊN

DỤ NGÔN TIỆC CƯỚI VÀ ÁO CƯỚI
(Mt 22,1-14)

I. VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI:

1. Từ những khách mời “không xứng đáng... đến gặp ai cũng mời:
Trước sự phẫn nộ của đối phương, còn dân chúng lại hồ hởi chào mừng Người bằng những lời tung hô “vạn tuế”, Đức Giêsu đã tiến vào thành Giêrusalem trong tư cách Messia. Khi giảng dạy ở trong Đền Thờ, Người thường bị các thượng tế và kỳ mục trong dân hạch sách. Rõ ràng là họ tới có ý chất vấn Người đã lấy quyền nào mà nói và hành động như vậy: “Ông lấy quyền nào mà làm các điều ấy? Ai đã cho ông quyền ấy?” (21,23). Nhưng Đức Giêsu đã từ chối trả lời họ, bao lâu mà chính họ vẫn lẩn tránh câu Người hỏi họ: “Phép Rửa của Gioan, do đâu mà có? Do Trời hay do người ta?” (21,24).
Trong bối cảnh gay cấn như vậy, mà ba dụ ngôn về xét xử Chúa dùng để nói với họ như một lời cảnh giác mạnh mẽ và cuối cùng, được đặt vào:
- Dụ ngôn hai người con được sai đi làm vườn nho (Phúc Âm Chúa nhật 26).
- Dụ ngôn những ta điền sát nhân (Phúc Âm Chúa nhật tuần rồi).
- Dụ ngôn tiệc cưới (Phúc Âm Chúa nhật 28 này).
Đọc bản văn dụ ngôn những khách mời dự tiệc như được viết trong Phúc Âm Matthêu, chúng ta có thể nhận thấy ngay những lời giáo huấn của Chúa được các cộng đồng tín hữu gìn giữ và nghiền gẫm, đã phải trải qua quá trình truyền đạt và thích nghi cho tới khi được các thánh sử soạn thảo thành văn nhất định.
- Chắc hẳn trong nội dung lời giáo huấn của Chúa, thì dụ ngôn này, theo như diễn ý của J.Jérémias, có nghĩa như “một sự bênh vực và biện minh” cho Phúc Âm.
Th. Matura giải thích: “Những người đạo đức (các Pharisiêu), những nhà “thần học” (các kinh sư), những người lãnh đạo tôn giáo của dân (các tư tế) đã không đón nhận Tin Mừng Nước Trời Chúa Giêsu loan báo, mà theo nguyên tắc là có ý dành cho họ trước tiên. Trái lại dân chúng và nhiều người sống bên lề (các người thu thuế, “tội lỗi"), những người bị những kẻ thống trị loại bỏ thì lại tỏ ra sốt sắng lắng nghe lời Chúa kêu gọi và vui lòng đi theo Người (Lc 15,1-2), khiến cho giới có đầu óc khó chịu và buông lời chỉ trích. Dụ ngôn Những khách mời dự tiệc cưới là câu trả lời cho thái độ giả hình này. “Chính các ông cũng giống như những người khách được mời này mà lại chối từ. Các ông cho là chướng mắt, vì tôi được các người vốn bị các ông khinh bỉ, quây quần bên tôi: Chính các ông mới là những người đã không thèm đếm xỉa tới, đã từ chối, và các ông còn quên điều này: không phải những người công mà là những người tội lỗi mới cần cứu độ!”.
Điểm hóc búa của dụ ngôn Chúa kể, quả là gay cấn. Phải chứng tỏ là đúng, cách Người cư xử với những người tội lỗi và lên án thói giả hình của giới lãnh đạo. Đức Giêsu đã biểu lộ tình yêu của Thiên Chúa đối với những người bé nhỏ, đồng thời người cũng tố cáo những kẻ từ chối lời mời gọi của Phúc Âm, và như thế bị loại khỏi bàn tiệc Nước Trời mà Người đến khai trương” ("Assemblées du Seigneur” số 59, trang 18-19).
Khi đem nội dung trên vào Phúc Âm của mình để trình bày cho cộng đồng tín hữu của ngài là những người gốc Do Thái giáo, thánh sử Matthêu khác với tác giả Luca, có sửa đổi nhiều chi tiết làm thay đổi ý nghĩa ban đầu của dụ ngôn này để hướng tới một ý nghĩa ẩn dụ (mỗi chi tiết đều mang một ý nghĩa).

2. “Người kia” trong dụ ngôn ban đầu, trở thành “một ông vua kia mở tiệc cưới cho con mình”.
Cl. Tassin gợi nhớ lại: Cựu Ước đã hứa hẹn sự hiệp nhất phu thê giữa Thiên Chúa và dân Người và Phúc Âm đã trình bày Chúa Giêsu như vị Tân lang của những đám cưới được trông đợi này (x. Mt 9,15). Thế nên thánh Matthêu cung cấp ngay cho ta những chìa khoá cần thiết giúp cho việc đọc “("Phúc Âm thánh Matthêu”, NXB Centurion, trang 230).
+ Cũng vậy, người đầy tớ duy nhất trong Phúc Âm Luca được tăng lên thành nhiều loại: các câu 3.4.8.13.
+ Và không những, các người đầy tớ này bị người ta hắt hủi, mà còn bị xỉ nhục và giết chết (các câu 6 và 7) như trong dụ ngôn những tá điền sát nhân. Và cũng như trong dụ ngôn này, sự trừng hạt không muộn màng.
Th. Matura chú giải: “Đức Giêsu khiển trách những người lãnh đạo tôn giáo, vì họ khăng khăng chối từ sứ mệnh của Người... Việc đưa xen vào dụ ngôn, hai câu 6 và 7 càng làm rõ nét phương diện này, bởi vì rõ ràng là, đối với thánh Matthêu, những khách mời thoái thác kia, chính là những người Do Thái không tin. Cách họ đối xử với các người được sai đến (các ngôn sứ bị chúng giết: 23,32-36) lôi kéo sự trừng phạt đến cho họ: ám chỉ quá rõ ràng việc thành Giêrusalem bị tàn phá” (O.C. trang 20-21).
+ Không trì hoãn, vua liền sai những sứ giả khác “đi ra các ngã đường”, gặp ai cũng mời hết vào tiệc cưới.
+ Các đầy tớ thi hành lệnh ngay, gặp ai “bất luận tốt xấu” cũng tập hợp cả lại.
Th. Matura nhận định: “Cách diễn tả này chứng tỏ rằng: Thiên Chúa yêu thương hết mọi người, Người lựa chọn mà không đòi hỏi, nhưng chỉ vì lòng thương xót (Mt 5,45). Giống như những dụ ngôn cỏ lùng và chiếc lưới, nó cũng mô tả thực trạng của cộng đồng tín hữu thời thánh Matthêu, lúc đó không phải mọi người đều thánh thiện cả. Sau cùng lời diễn tả ấy chuẩn bị cho câu chuyện về người xâm nhập phòng tiệc bị loại ra” (O.C. trang 23).

3. Từ việc được mời... đến việc tham dự tiệc cưới:
“Phòng tiệc cưới lúc này đã đầy thực khách”. Theo tập tục Đông phương cổ, người chủ tiệc không ngồi bàn ăn với các thực khách, nhưng ông đi lại chuyện trò, thăm hỏi họ. Chỉ tiết hơi lạ là gia nhân ra các nẻo đường, gặp ai bất luận tốt xấu, cũng tập hợp cả lại vào phòng tiệc, thì những người ấy đâu có thời giờ mà thay đồ. Thế nên mới có câu chuyện về áo cưới.
Đang khi tất cả phần thứ nhất của dụ ngôn này nói cho những người chống đối Phúc Âm, thì phần kết của dụ ngôn lại nhắm nhóm người vốn cho mình vẫn sống theo Phúc Âm đó là cộng đồng các môn đệ Đức Giêsu. Th. Matura giải thích: “Họ phải cảnh giác đối với ý nghĩ cho rằng chỉ cần được gọi và đáp lại Tin Mừng là bảo đảm được rỗi linh hồn. Không cần phải tuyên xưng danh Đức Kitô, tham gia vào cộng đồng của người (tức là chịu phép Rửa để được vào phòng tiệc); còn phải chu toàn các công việc mà đức công chính mới đòi hỏi (Mt 7,21). Nếu không dù là đã được nhận vào phòng tiệc rồi, người ta vẫn có nguy cơ bị ném ra ngoài, bị loại trừ vĩnh viễn khỏi Nước Trời” (O.C. trang 25).
Bởi vậy Giáo Hội không thay thế Israel, vì lịch sử dân tộc này vẫn trước sau như một. Phần các tín hữu, nên biết lượng sức mình yếu đuối giòn mỏng và vẫn chưa đáp trả đủ tình yêu Thiên Chúa của Đức Giêsu Kitô dành cho mình, chứ đừng vội thấy người khác bị Chúa trừng phạt mà vui mừng.

II. BÀI ĐỌC THÊM:

 “Một Giáo Hội mời gọi hết mọi người” (Giám mục L. Daloz trong “Le Règne des cieux s'est approché”, Desclée de Brouwer, trang 301-302).
“Thế chỗ cho dân tộc được kêu gọi trước nhất, những kẻ được mời gọi ở đây, chính là những lớp người của mọi dân tộc, họ ở trên các công trường, tại những ngã ba, ngã tư đường. Không còn nữa những chiếc ghế được dành riêng cho ai: “Gặp ai cũng mời hết vào tiệc cưới!”. Vấn đề được xét đến không phải là dân Do Thái là một dân như thế, mà là thái độ tự mãn, và chối từ, sự không chú ý lắng nghe lời mời gọi của Chúa: “Họ không thèm đếm xỉa tới lại bỏ đi: Kẻ thì đi thăm trại, người thì đi buôn”. Thái độ đó vẫn xảy ra hôm nay, bất cứ lúc nào. Người ta cố gắng và cho là điều quá tự nhiên khi xếp đặt các giờ phút gặp gỡ với Chúa, các việc đạo đức của đời sống Kitô hữu, việc cầu nguyện... vào những giờ phút thừa thãi, những ngày giờ chẳng còn công chuyện gì để làm, sau giờ lao động, sau những công việc thường ngày, cả sau khi đã vui chơi nữa. sớm muộn, còn đâu thì giờ rảnh rỗi nữa. Người ta bắt đầu trở nên bê bối, rồi tìm cớ chữa lỗi cho mình rằng: “Làm việc cũng là cầu nguyện rồi...”. Dần dần mỗi ngày một chút, người ta không còn cầu nguyện, tham dự các bí tích, các buổi hội họp và việc huấn luyện nữa, viện cớ rằng: “Tôi không còn thì giờ để cầu nguyện nữa...”. Đôi khi thái độ từ chối tiếp nhận Đức Giêsu, từ chối đáp lại tiếng gọi của Chúa là do không biết hoặc thù địch với Người. Đức Giêsu gây phiền hà, là chướng ngại. Thế là chống đối, là bách hại. Không cứ gì một dân tộc mới làm thế, mà mọi người đều có khả năng làm như vậy, và chúng ta đều là thành phần của nhân loại này!
Nhưng tiệc cưới không thể bị ế. Thiên Chúa vẫn mời gọi không ngừng: “Các đầy tớ ấy liền đi ra các nẻo đường, gặp ai, bất luận tốt xấu, cũng tập hợp cả lại”. Tiếng Chúa kêu gọi dành cho hết mọi người; Người ngỏ lời với những người lương thiện cũng như kẻ bất lương, với người công chính cũng như kẻ tội lỗi... đặc biệt là những người tội lỗi! Điều đó giúp ta nhìn rõ Giáo Hội vốn quy tụ mọi người. Giáo Hội nhất định không phải là nơi tập hợp những “người thập toàn”, là tổ chức gồm những người không có gì đáng chê trách cả. Đôi khi chúng ta quan niệm Giáo Hội là thành phần ưu tuyển, có cảm giác rằng Giáo Hội phải loại trừ ra khỏi lòng mình tất cả những ai không sống theo Phúc Âm. Phải chăng đã đến lúc tôi sẽ là người đầu tiên phải bỏ đi ý nghĩ lầm lạc ấy?... Đúng là Giáo Hội đón nhận khá rộng rãi và điều đó không làm thoả mãn những ai muốn Giáo Hội tạo cho mình một hình ảnh không tì vết! Liệu Giáo Hội đưa ra một hình ảnh như thế có tốt không? Đó chẳng phải là con đường mở ra cho lối sống giả hình như đối với những người Pharisêu sao? Phần cuối dụ ngôn nói đến một sự lựa lọc phải diễn ra, nhưng là vào giờ phút chót khi “vua tiến vào quan sát khách dự tiệc”. Đấy cũng là điều mà hai dụ ngôn cỏ lùng và chiếc lưới đều nói lên: “Đến ngày tận thế, cũng sẽ xảy ra như vậy. Các thiên thần sẽ xuất hiện và tách biệt kẻ xấu ra khỏi hàng ngũ người công chính...” (13,49). Ai muốn vào dự tiệc Nước Trời, phải mặc y phục lễ cưới: “Này bạn, làm sao bạn vào đây mà lại không có y phục lễ cưới?”. Rồi vua truyền “quăng nó ra chỗ tối tăm bên ngoài: ở đó người ta sẽ phải khóc lóc nghiến răng”. Vào dự tiệc Nước Trời không tuỳ thuộc nòi giống, hay là người của một dân tộc, nhưng căn cứ vào sự trở lại, thay đổi đời sống, những việc lành phúc đức... Khi nhận chiếc áo trắng trong lễ nghi Rửa tội, chúng ta đã được mời gọi “giữ cho tinh tuyền phẩm giá người con Chúa”. Y phục của dân mới, y phục lễ cưới, chính là Đức Kitô mà chúng ta đã “mặc lấy”, là phẩm cách người Kitô hữu, là ân sủng Chúa trao ban. Sống sao cho xứng đáng với những gì ta đã lãnh nhận, đó chính là một lời mời gọi.

 

CHÚA NHẬT XXIX THƯỜNG NIÊN

VẤN ĐỀ NỘP THUẾ CHO CÉSAR
(Mt 22,15-21)

I. VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI:

1. Kẻ khéo giăng bẫy...
Ba dụ ngôn về xét xử mà chúng ta đã suy gẫm suốt mấy tuần rồi (dụ ngôn hai người con được sai đi làm vườn nho, Chúa nhật 26; dụ ngôn những tá điền sát nhân, Chúa nhật 27; dụ ngôn khách dự tiệc cưới, Chúa nhật 28) vẫn không đủ làm cho các kẻ thù địch Chúa tan rã hàng ngũ. Trái lại họ còn liên minh với nhau và thay phiên nhau trong cố gắng làm cho Chúa phải rơi vào bẫy của họ. Sau khi đã “bàn bạc với nhau, tìm cách làm cho Đức Giêsu phải lỡ lời mà mắc bẫy” thì một lần nữa những người Pharisêu, không ngại gì sai các môn đệ của họ cùng đi với những người thuộc phe Hêrôđê.
Vấn đề họ đặt ra cho thấy rất rõ những thái độ khác nhau của họ đối với người Rôma chiếm đóng. Đang khi những người Pharisêu đành phải bằng lòng coi sự có mặt của quân chiếm đóng như một điều xấu không tránh khỏi được, miễn là tự do tôn giáo được bảo đảm - những người phe Hêrôđê là nhóm chính trị ủng hộ gia đình Hêrôđê lại thân với chính quyền Rôma - thì những người thuộc nhóm “Quá khích” (Zéloté) lại chủ trương bày tỏ sự chống đối công khai, nên nhóm này cấm các thành viên của nhóm không được đụng chạm đến tiền bạc của người Rôma. Họ lên tiếng hỏi Đức Giêsu, sau mấy lời mở đầu đầy vẻ phỉnh phờ: “Vậy xin Thầy cho biết ý kiến: có được phép nộp thuế cho César hay không?”.
P. de Surgy đưa ra nhận xét sau: “Vấn đề họ đặt ra này liên can tới sứ vụ thiên sai, điều đó không làm ta ngạc nhiên, bởi lẽ họ chỉ muốn nhắm đả kích việc Đức Giêsu cho mình là Đấng cứu thế mà thôi. Vả lại họ đặt ra vấn đề cũng là vì lòng thù địch ganh ghét muốn cho dân chúng hay chính quyền thù ghét Người” ("Assemblées du seigneur” số 60, trang 10). Họ nghĩ: Dù Đức Giêsu trả lời đàng nào, thì Người cũng không thể thoát khỏi bẫy.
- Nếu Người trả lời “không”, nếu Người không nhìn nhận công khai việc phải nộp thuế này, thì đúng là Người chống lại với hoàng đế César - Và những người phe Hêrôđê sẽ vội vã tố cáo Người với nhà chức trách Rôma - Trái lại, nếu Người trả lời “Có”, nếu Người công khai thừa nhận là nên nộp thuế cho César, thì Người hợp thức hoá sự hiện diện vô đạo và bất nhân của người Rôma trên một đất thánh mà Thiên Chúa đã ban cho tổ phụ Abraham và con cháu ngài; vậy thì trước con mắt của một dân tộc đang trông đợi một cuộc giải phóng quốc gia, Người mất hết tín nhiệm và đừng hòng coi mình là Đấng Messia đến thực hiện những ước mơ của họ. Những người Pharisêu sẽ không bỏ lỡ cơ hội để đánh trống la làng về chuyện này.

2. ... thì chính họ lại mắc bẫy:
Trước khi trả lời câu hỏi của họ, Đức Giêsu làm cho lộ ra thanh thiên bạch nhật “thói giả hình” của những kẻ đối thoại với Người. Người yêu cầu họ: “Đưa đồng tiền nộp thuế cho tôi coi”. Lạ thay! Họ có đem theo một đồng. Quả là hồi đó “đồng tiền này”, đồng quan Rôma, đều có mang hình tượng hoàng đế Rôma, đầu đội vòng hoa như một vị thần, cùng với danh hiệu rõ ràng này: César Tiberio con của thần Augusto: Augusto”. Cl. Tassin chú giải: “Rõ ràng là có chuyện coi mình như thần thành, mặc dầu bản thân Tiberio vẫn coi mình là “một người như mọi người”. Nhất là từ thời Caligula, thì các hoàng đế Rôma vẫn hiên ngang đòi cho mình có căn tính thần thánh. Cựu Ước đã rõ ràng cấm chỉ những hình ảnh phàm trần cũng vì xu hướng thần thánh hoá này. Để tôn trọng cái cảm quan tôn giáo này, các nhà cầm quyền Rôma chỉ đúc những đồng tiền không có hình ảnh để dùng trên lãnh thổ Do Thái. Nhưng, đối với việc nộp thuế trong đế quốc, thì người ta không tránh khỏi được đồng bạc bất nhân ấy, mà đồng tiền ấy, theo nét trào phúng của câu chuyện, xem ra lại được móc ra từ túi của những người Pharisêu vốn dĩ rất trung thành với những điều cấm đoán của Luật Chúa” ("Phúc Âm thánh Matthêu”, NXB Centurion, trang 233).
Chúa hỏi họ: “Hình và danh hiệu này là của ai đây? Họ đáp: “của César”. Và Chúa Giêsu nói lên một câu bất hủ - nhưng lại rất hay bị người ta cắt nghĩa sai - khiến những kẻ đối mặt với Người phải “hết sức ngạc nhiên": “Thế thì của César, trả về César; của Thiên Chúa, trả về Thiên Chúa”.
Người không phải là Đấng Messia mà, để chu toàn công việc của mình, phải nắm lấy quyền chính trị và đảm nhận những trách nhiệm và chức vụ của César.
- Và bởi vì chính họ đã được tạo dựng giống hình ảnh Chúa, nên Người khuyên nhủ họ hành động sao cho trong mọi sự Thiên Chúa phải được phụng sự trên hết; còn đối với quyền hành chính trị, mặc dầu vẫn hết mực tôn trọng, nhưng khi quyền ấy ngẫu nhiên tự thần thánh hoá mình mà chiếm đoạt luôn cả những quyền chỉ thuộc về Thiên Chúa, thì họ phải lên tiếng phản đối vì: “Của Thiên Chúa, trả về Thiên Chúa”.
Không muốn để mình kẹt vào thế lưỡng nan do đối phương bày ra, Đức Giêsu xác định lập trường của Người và xoay chuyển vấn đề. Nước Thiên Chúa không phải là nước cạnh tranh với nước của César; Nước ấy thuộc về một trật tự khác và nằm ở một bình diện khác, Đấng Messia không đến để chiếm chỗ của César và thực hiện một sứ vụ thiên sai có tính tôn giáo - chính trị; Người đến thiết lập Nước Thiên Chúa.
P. de Surgy kết luận: “Khi mời gọi người ta trả về César... cái mà thông thường Người có thể đòi hỏi theo như trách nhiệm của chính mình, và nhất là khi làm cho hiểu rõ bản chất của Nước Chúa cũng như sứ vụ cứu thế của Người và khi khẳng định quyền ưu tiên của Thiên Chúa, Đức Giêsu đem vào quan niệm của Người xưa một sự phân biệt rạch ròi và rất cách mạng: nghĩa là Người làm cho chính trị mất đi tính thần linh và thánh thiêng, chống lại với mọi xu hướng tôn thờ nó như một ngẫu tượng; Người trả chính trị về cho chính trị, bằng cách nhìn nhận giá trị của nó và quy cho nó một trách nhiệm riêng.
Khi trả chính trị về cho chính trị, Đức Giêsu không có ý để cho chính trị ở trong một hoàn cảnh trung lập với Phúc Âm... “Của Thiên Chúa, trả về Thiên Chúa”. Với những lời dứt khoát này Đức Giêsu kêu gọi ta sống cuộc đời của ta, kể cả đời sống chính trị, trong niềm trung tín với Thiên Chúa, Đấng đã tỏ mình ra nơi Người. Người đòi hỏi đời sống chính trị của ta phải trung tín với những ước vọng và tinh thần Phúc Âm. Người cũng kêu gọi Giáo Hội cũng như cộng đồng đức tin phải nắm giữ, không phải là phận vụ thống trị hay quản lý đối với chính trị, nhưng là vai trò tiên tri về Phúc Âm hoá mà bằng con đường hoán cải các tâm hồn sẽ đem lại hiệu quả thực sự: sống giữa lòng lịch sử nhân loại, Giáo Hội phải dùng đời sống và lời nói mà lặp lại cho César, tiếng gọi của Thiên Chúa hằng sống và lên tiếng mời gọi, mời gọi chuyên chăm, và mời gọi không ngừng tất cả mọi người tiếp tay thực hiện những gợi hứng tích cực của Phúc Âm trong công cuộc xây dựng thành đô của loài người” (O.C. trang 24).

II. BÀI ĐỌC THÊM:

1. “Hình tượng này là của ai đây?”
Thánh Augustino bài giảng 24.
Anh em thân mến, Thiên Chúa đòi chúng ta trả lại hình ảnh Người (hình ảnh mà theo đó chúng ta đã được tác tạo). Đó chính là điều Người muốn nói cho những người Do Thái khi họ đưa Người coi một đồng bạc. Trước hết họ muốn thử Người khi hỏi Người rằng: “Xin Thầy cho biết ý kiến: có được phép nộp thuế cho César hay không?” để, nếu Người trả lời: được phép, thì họ có thể tố cáo Người là nhục mạ dân tộc Israel vì muốn cho dân thần phục bằng việc đóng thuế và trở thành chư hầu dưới ách thống trị của hoàng đế. Còn nếu Người trả lời là không được phép, thì họ sẽ có thể tố cáo Người tội phát ngôn chống lại hoàng đế César, là căn cớ cho dân chúng từ chối nộp thuế mà họ phải nộp, bởi lẽ người ta đang sống dưới ách của hoàng đế. Đức Giêsu nhìn thấy mưu mô của họ, như sự thật tìm ra điều gian dối, và Người đã làm cho họ phải chịu là chính miệng lưỡi họ gian dối. Người không dùng miệng lưỡi mình mà kết án họ, nhưng bắt chính họ phải tuyên án cho mình, như có lời chép rằng: “Vì nhờ lời nói của anh, mà anh sẽ được trắng án, và cũng tại lời nói của anh mà anh sẽ bị kết án” (Mt 12,37). Người nói với họ: “Tại sao các người lại thử tôi, hỡi những kẻ giả hình! Đưa đồng tiền nộp thuế cho tôi coi!”. Họ liền đưa cho Người một đồng bạc. “Hình và danh hiệu này là của ai đây?” Họ đáp: “Của César”. Bấy giờ Đấng Cứu Thế bảo họ: “Thế thì của César, trả về César; của Thiên Chúa, trả về Thiên Chúa” Cũng như César tìm hình ảnh mình trên đồng tiền thế nào, thì Thiên Chúa cũng tìm hình ảnh của Người trong linh hồn bạn như vậy. Đấng Cứu chuộc phán rằng: “Của César, trả về César”. César đòi bạn trả gì? Trả hình ảnh của ông. Chúa đòi bạn trả gì? Hình ảnh Người. Nhưng hình ảnh của César thì in trên đồng tiền, hình ảnh của Thiên Chúa ở trong lòng bạn. Nếu mất đồng tiền khiến bạn phải khóc, vì bạn đã đánh mất hình ảnh César. Thì gây xỉ nhục cho hình ảnh Chúa trong lòng bạn, lẽ nào điều đó lại không hề làm cho bạn phải nhỏ lệ sao?”.

2. Hôm nay đến lượt ta làm chứng Tin Mừng": (Sổ tay sinh hoạt Ngày thế giới Truyền giáo).
“Năm 180, tại miền đất nay là nước Tunisit có 5 phụ nữ và 7 người đàn ông là nông dân bị bắt vì là những người có đạo. Người ta ép họ chối bỏ đức tin và nhìn nhận hoàng đế Rôma là Chúa. Theo án lệnh, một phụ nữ trong đám đáp: “Chúng tôi kính trọng César vì là hoàng đế, nhưng chúng tôi chỉ tôn thờ Thiên Chúa mà thôi”. Tất cả đều bị kết án tử, họ là những vị tử đạo tiên khởi của Bắc Phi.
Họ làm chứng cho lời Chúa mà chúng ta vừa nghe: “Hình và danh hiệu của César, trả về César, vì đồng tiền này là dấu hiệu sự tổ chức xã hội mà con người tham dự vào, tỉ dụ như việc nộp thuế, nhưng con người được tạo dựng theo hình ảnh Chúa (St 1,26-27) và mang danh hiệu: Con thuộc về Chúa (Is 44,5), nên phải trả về Chúa”...
Đây chẳng qua là một thí dụ xưa rồi, nhưng ta có thể tìm ra vô vàn những mẫu tương đương trong tất cả lịch sử Kitô giáo. Cho tới thời hiện đại...
Đó chẳng phải là kết quả của việc loan báo Tin Mừng, của Lời Chúa được đón nhận có sức làm biến đổi đời sống con người như đã thể hiện nơi Giáo Hội trẻ trung ở Thessalonica mà thánh Phaolô nói tới đó sao? Chính ngài, ngài biết rõ mình được sai đi rao giảng bí ẩn của Thiên Chúa mà Đức Giêsu đã mạc khải... Nhưng điều làm cho thánh nhân vui mừng là được thấy sống dậy một cộng đồng các người nam nữ mà đời sống của họ được đổi mới nhờ việc họ đón nhận Tin Mừng này. Họ có một lòng tin sống động, một lòng mến tích cực và một lòng cậy trong vững vàng như ta thấy thánh tông đồ nói về họ. Những cộng đồng này, đến lượt mình, trở thành những nhân chứng giúp mở ra những hàng rào xã hội trong đó con người có nguy cơ bị giam hãm. Những cộng đồng này móc nối với cộng đồng kia lần lượt nổi lên như những hoa trái của Lời Đức Giêsu, tạo thành một chuỗi các mắt xích, đã dần dần thể hiện một sự hiệp thông các Giáo Hội địa phương và đó chính là Giáo Hội của Chúa trong thế giới. Các giáo hội ấy cùng nhau thực thi Lời Chúa “Của Thiên Chúa, trả về Thiên Chúa...”.

 

CHÚA NHẬT XXX THƯỜNG NIÊN

VẤN ĐỀ GIỚI RĂN TRỌNG NHẤT
(Mt 22,34-40)

I. VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI:

1. Vấn đề cạm bẫy về “điều răn lớn nhất”...
Ba dụ ngôn về xét xử mà chúng ta đã suy niệm trong các Chúa nhật 26,27 và 28 đã chẳng làm cho các kẻ thù địch Chúa phải câm miệng, mà con châm ngòi một loạt các cuộc tranh cãi khác. Họ liên minh với nhau và lần lượt thử Chúa cốt làm cho Người phải rơi vào bẫy của vấn đề họ đặt ra.
- Trước hết - Phúc Âm tuần rồi - là sự xoay sở của đám “môn đệ những người Pharisiêu cùng đi với những người phe Hêrôđê”. Họ tới hỏi Chúa một câu, bấm bụng rằng bẫy đặt ra như vậy là không tài nào tránh thoát: “Xin Thầy cho biết ý kiến: có được phép nộp thuế cho César hay không?”.
Nhưng Đức Giêsu chẳng để mình bị kẹt chút nào trong thế lưỡng đao của họ, mà đã chuyển hướng vấn đề, và, nhìn vào hình tượng in trên đồng tiền mà họ đưa cho coi, Người đã tuyên bố: “Của César, trả về César; của Thiên Chúa, trả về Thiên Chúa”. Một câu trả lời đã khiến cho đối phương của Người không nói thêm được câu nào nữa: “Họ ngạc nhiên, và để Người lại đó mà đi”.
Tiếp đến - đoạn chuyển tiếp không có trong sách Bài đọc năm A - là ngón xoay sở của những người “phe Sadducée” nhóm này chủ trương “không có sự sống lại”. Họ đem câu chuyện kỳ cục về một phụ nữ, có bảy đời chồng, hy vọng chế giễu chính Đức Giêsu, và lòng tin vào sự sống lại. Nhưng Đức Giêsu đã nhắc lại cho họ điều Thiên Chúa mạc khải trong câu chuyện về bụi gai rực cháy ở sách Xuất Hành 3,6: Đấng đã tỏ mình ra với ông Môsê như là “Thiên Chúa của Abraham, Thiên Chúa của Isaac, Thiên Chúa của Jacob. Người không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, nhưng là của kẻ sống”.
- Khi nghe tin Đức Giêsu “đã làm cho nhóm Sadducée phải câm miệng”, thì đến lượt những người Pharisiêu trở lại vào cuộc. Nhưng lần này là một nhóm; một người thông luật trong nhóm hỏi Đức Giêsu để “thử Người” rằng: “Thưa Thầy, trong sách luật Môsê, điều răn nào là điều răn lớn nhất?”.
Nên biết rằng, thời đó, sách Luật gồm, không hơn kém 613 điều răn; các kinh sư phân ra 365 điều cấm (bằng với số ngày trong năm) và 248 điều truyền (bằng với số bộ phận trong cơ thể con người). J.Potin giải thích: “Cuộc tranh luận về điều răn nào lớn nhất tạo nên mối xung khắc giữa những người Pharisiêu chủ trương 613 điều răn đều quan trọng như nhau, với những ai ước mong phải có tôn ti đẳng cấp, ngõ hầu có thể giải thích cho người ngoài biết đâu là điều cốt yếu, là bản chất của đạo” ("Đức Giêsu, lịch sử đích thực”, NXB Centurion, 1994, trang 376).

2. ... Dẫn vào điểm cốt lõi của Tân Ước:
Đức Giêsu đã trả lời thật khôn khéo vấn đề của những người Pharisêu về việc nộp thuế cho César - Người đã trích dẫn Lời Chúa để phá vỡ mưu đồ của những người phe Sadducée. Còn về giới răn lớn nhất, thì câu trả lời Người là thẳng thắn, không do dự, nhắm thẳng đích.
Đức Giêsu không nhắc nhớ họ về lời ban bố của sách Xuất Hành, đoạn 20: Mười Điều răn Đức Chúa Trời. Người trích dẫn hay đúng hơn, Người đọc thuộc lòng lời tuyên xưng lòng tin của sách Đệ Nhị Luật 6,4-5 mà mọi người Do Thái vẫn đọc khi đi ngủ cũng như khi thức dậy; lời này được ghi trên các thẻ kinh mà những người Pharisêu vốn đeo trên trán và trên cánh tay; một lời khẳng định tính cách duy nhất của Thiên Chúa mà theo sau là giới răn yêu mến Thiên Chúa, một tình yêu phải thấm nhập vào tận đáy lòng, sức lực và ý nghĩ: “Nghe đây, hỡi Israel, Đức Chúa, Thiên Chúa chúng ta, là Đức Chúa duy nhất. Hãy yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của anh em, hết lòng, hết dạ, hết sức anh em...”.
Nhưng điểm độc đáo của Đức Giêsu là Người gắn liền “điều răn thứ nhất” này với “điều răn thứ hai cũng giống điều răn ấy": “Ngươi phải yêu người thân cận như chính mình” (Lv 16,18). Làm như vậy không những Người diễn tả được “tất cả Luật Môsê và các sách Ngôn sứ”, nghĩa là tập trung tất cả vào hai giới răn đứng đầu này, không có vậy thì mọi điều răn khác đều mất hết ý nghĩa, nhưng Người còn tỏ cho thấy bí quyết của chính cuộc đời Người, một cuộc đời tự hiến vì yêu mến Cha và yêu thương các anh em của Người.
Cl. Tassin chú giải: “Hai điều răn này chi phối toàn bộ Kinh Thánh (Luật Môsê và sách Ngôn sứ) không phải để bãi bỏ Kinh Thánh, nhưng là để đọc Kinh Thánh mà thấy rõ hơn. Và, trong Kinh Thánh, lòng yêu mến không dính dáng gì với thứ tình cảm bồng bột, đổi thay tuỳ cảm xúc; lòng yêu mến đây chính là sự quyết định gắn bó với một ai đó mà mình cho người ấy có quyền trên mình và là những hành động cụ thể nuôi dưỡng quyết định này... Không bao lâu nữa Đức Giêsu sẽ dùng cuộc khổ nạn của Người mà chứng tỏ rằng Người là hiện thân chính lòng yêu mến Thiên Chúa và lòng yêu thương mọi người này” ("Phúc Âm thánh Matthêu”, NXB Centurion, trang 236).

II. BÀI ĐỌC THÊM:
1. “Một lời để ghi nhớ: Ngươi phải yêu mến” (Giám mục L. Daloz, “Le Règne des Cieux s'est approché”. Desclée de Brouwer, trang 309-311).
Đúng là hai điều răn: điều răn thứ nhất là điều răn lớn. Điều răn thứ hai cũng quan trọng không kém. Có nghĩa là những giới răn ấy không cho phép ta tuỳ thích. Tình yêu mà những giới răn ấy nói tới, đối với Thiên Chúa cũng như đối với tha nhân không phải là một thứ tình cảm trôi nổi tuỳ theo tính khí của ta. Tình yêu là một sự cam kết lớn lao, một sự dâng hiến chính mình, hiến mạng sống mình. Tình yêu không dừng lại ở nửa đường, mà đi cho tới cùng giống như đám lửa cháy. Giới răn ấy khơi dậy tình yêu khi mà thường tình và một cách tự nhiên tính lãnh đạm hay chối từ có nguy cơ thống trị. Giới răn ấy là như tia lửa làm bùng lên đám cháy. Giới răn ấy nâng đỡ tình yêu khi nỗi chán chường hay thói quen sẽ làm cho tình yêu ra nguội lạnh hoặc tàn lụi. Giới răn ấy làm bừng lên nhuệ khí khi tình yêu chân thực đòi hỏi nhiều hy sinh, quên mình... Nhờ tương phản và hỗ trợ giữa tình yêu và giới răn này mà đời sống ta được thăng tiến!
Giới răn yêu thương có hai mặt, hai mặt mà không tách biệt nhau như mu và lòng bàn tay: Điều răn thứ hai cũng giống, cũng quan trọng như điều răn thứ nhất, là: “ngươi phải yêu người thân cận, như chính mình”. Chỉ có một mình Chúa là Đấng ta phải yêu mến cách tuyệt đối, hơn cả chính mình ta, hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn ta. Khi yêu mến Chúa hết mình, vượt khỏi chính mình, ta được vào trong tình yêu Chúa ban tặng, được sống trong tình yêu của Người, lòng ta mở ra hướng về vô biên, và con người được tạo nên cho cõi vô biên, bởi lẽ Thiên Chúa muốn thông phần sự sống của Người cho con người, muốn thần hoá con người! Còn về người thân cận, Đức Giêsu truyền phải yêu người thân cận, như chính mình. Đây không phải là một sự so sánh bình thường, mà còn hơn thế nữa. Không chỉ đơn giản là muốn và làm cho người thân cận điều ta muốn cho ta. Đức Giêsu đã đưa ra một điểm son, một khuôn vàng thước ngọc: “Vậy tất cả những gì anh em muốn người ta làm cho mình, thì chính anh em cũng hãy làm cho người ta, vì Luật Môsê và lời các Ngôn sứ là thế đó” (Mt 7,12). Giới răn thứ hai thật minh bạch và đi xa hơn. Giới răn ấy đòi ta yêu mến người thân cận như người ấy là chính ta, là ta đồng hoá với người ấy. Nó diễn tả một sự hiệp thông giữa hai hữu thể, giữa hai cuộc sống, giữa anh em trong một nhà, trong một gia đình Thiên Chúa. Nếu tôi không yêu mến người thân cận của tôi, nếu tôi khinh chê người ấy, chính là tôi gây thiệt hại cho bản thân tôi. Yêu người thân cận như chính mình, chính là tôi dành cho tôi một tình yêu tuyệt vời... Thế nên, và nhất là có điều răn ấy, thật là điều hạnh phúc! Bởi lẽ khi tôi yêu mến người giống như tôi, người mà tôi nhận ra tôi nơi con người ấy, thì tôi cũng được người ấy đáp lại bằng lòng yêu mến tự nhiên, bằng mối thịnh tình theo nghĩa mạnh nhất, còn nếu theo bản năng tôi ngờ vực một người, thì người ấy có thể trở thành một đối thủ, một người cạnh tranh, một kẻ thù của tôi. Lịch sử từng minh chứng những biến cố thật lớn lao đượm tình huynh đệ, cũng như những cuộc bùng nổ dữ dội nhất từng châm ngòi cho thù hận giữa con người.... Điều răn thứ hai quả là cần thiết, và rất cần thiết nên Đức Giêsu mới dùng tất cả những lời lẽ trang trọng mà tuyên bố là điều răn ấy cũng giống như điều răn kia, cũng quan trọng không kém. Người đã đặt con người vào đúng tước vị của nó là hình ảnh và là con Thiên Chúa!
Quả thực, đây cũng là điều đơn giản và chắc chắn Chúa muốn ta tham khảo...
Yêu mến thế nào, thường là điều phức tạp; bạn phải tìm kiến, nhận thức rõ, kiểm soát những tình cảm tốt, xấu của bạn, chứ không được miễn trừ. Bạn hãy luôn luôn phải tìm xem để yêu mến thế nào cho đúng sự thật; cần được học hỏi về điều này. Nhưng nếu bạn có một ý chí muốn yêu thương, nếu để cho ngọn lửa của Thánh Linh điều động cuộc đời bạn, thì bạn sẽ thấy con đường phải đi và phương cách để làm. Bạn hãy tìm kiếm hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn bạn. Bạn hãy tìm kiếm như cho chính mình. Thì bạn sẽ gặp...!

2. “một từ tóm tắt tất cả Phúc Âm: Yêu mến” (H. Denis “100 mots pour dire la foi” Desclée de Brouwer, trang 31-32).
Khi nói đến yêu, tôi vốn thích dùng động từ Yêu mến, nó có tính cách chủ động và tích cực, hơn là dùng từ Tình yêu một từ rất đẹp nhưng cũng rất dễ bị phê phán.
Làm sao có thể là tín hữu mà lại không yêu mến? Làm sao có thể nhận biết Thiên Chúa của chúng ta nếu Người không phải là Đấng yêu mến chúng ta?
Nhưng vậy thì có nhiều cách yêu mến không? Chắc hẳn là có rồi, nên trong vấn đề này, tôi vẫn cứ theo gót nhà sư phạm trứ danh là thánh Augustino. Ngài phân biệt ba trình độ trong hành vi yêu mến.
Trình độ thứ nhất, thấp nhất, không có ý nói là xấu nhất: Thích được yêu (aimer être aimé). Bạn hãy nói cho tôi hay, có ai mà lại không thích điều đó không? Phải là con người hư hỏng mới dám nói ngược lại. Mọi người đều như vậy thôi... nhưng cuộc sống cũng đã dạy cho ta rằng tình yêu còn phải là cái gì khác hơn là niềm khoái chí (tự tôn kia).
Trình độ thứ hai: Thích yêu (aimer aimer). Ta hãy tạm dịch ở đây là: lấy làm vui khi yêu mến người khác. Ở bậc này, người ta có ra khỏi mình một chút, có quảng đại, có vị tha.
Chúa ơi, thật vui và đẹp biết bao khi làm được một việc thêm khi xả thân, và đôi khi đi tới chỗ đóng vai con chim bồ nông tự để cho con rỉa thịt mình.
Ngay ở điểm này, ai lại không muốn nhận khen thưởng chứ? Bạn hãy nói cho tôi hay bạn có đủ can đảm để đi thăm một bệnh nhân nào đó, đi uỷ lạo một cảnh khốn này, chẳng tìm thấy được ở đó một điều gì khích lệ chăng? Nhưng bạn hãy coi chừng! Tất cả thái quá trong lãnh vực này - quảng đại thái quá - có lẽ là một hình thức tự tôn tự đại của lòng yêu mến chính mình đó thôi.
Còn trình độ thứ ba: Yêu (aimer). Có thế thôi! Yêu mến người khác vì chính họ, không phải vì ta làm điều tốt cho họ, không phải vì làm cho nhân đức của ta lớn lên. Không phải thế, bởi lẽ xét cho cùng, người ta không yêu mến vì... Ta yêu là yêu thôi. Đó mới là đỉnh cao của “tình cho không, biếu không”.
Hãy nhìn nhận điều này: Ta chẳng mấy khi đạt tới trình độ đó. Chỉ có một vị đã hiến thân chỉ vì yêu mà thôi, một Đức Giêsu ấy muốn lấy bản tính nhân loại của ta, một Đức Giêsu ấy mới ban cho ta Thần Linh tình yêu, khi Người tắt thở, một Đức Giêsu ấy mới có thể sáng nghĩ ra nhân vật Samaritano nhân lành yêu thương mà không đòi đáp trả và hình dung ra một người Cha đang mở rộng vòng tay đón nhận đứa con đi hoang trở về.
Nếu phải cần đến một từ để tóm tắt cả Phúc Âm, đó là: Yêu mến.

 

CHÚA NHẬT XXXI THƯỜNG NIÊN

TRONG HỘI THÁNH, CHỨC VỤ LÀ ĐỂ
PHỤC VỤ, THEO GƯƠNG ĐỨC GIÊSU TÔI TỚ

(Mt 23,1-12)

I. VÀI ĐIỂM GHI CHÚ:

1. Thi hành chức vụ....
Thay vì làm cho những đối thủ của Đức Giêsu im tiếng, ba dụ ngôn về ngày chung thẩm mà chúng ta đã suy niệm trong các ngày Chúa nhật thứ 26,27 và 28, lại làm nổ ra một loạt những tranh luận, trong đó bọn họ bắt tay nhau và thay phiên nhau giăng những cạm bẫy hòng để Đức Giêsu mắc vào.
- Trước hết, trong Phúc Âm Chúa nhật thứ 29, là mưu mô của “môn đệ nhóm Biệt phái và những người thuộc phe Hêrôđê": “Có nên nộp thuế cho hoàng đế hay không?”. Họ nêu lên câu hỏi, chắc ăn là sẽ bắt được con mồi.
Nhưng Đức Giêsu chẳng dại gì để mình rơi vào thế lưỡng nan, Người chuyển hướng vấn đề, và dựa vào hình khắc trên đồng tiền người ta trao cho, Đức Giêsu tuyên bố: “Hãy trả cho César những gì thuộc về César, và trả cho Thiên Chúa những gì thuộc về Thiên Chúa”. Một câu trả lời làm cho những kẻ hạch hỏi phải im tiếng: “Mọi người đều sửng sốt và rút lui”.
- Thứ đến, một đoạn không có trong bài đọc năm A, là thủ đoạn của những người thuộc phái Sadducée, “những kẻ không tin có sự sống lại”. Bằng câu chuyện tưởng tượng về một người đàn bà với bảy đời chồng, họ nắm chắc phen này sẽ giễu cợt được Đức Giêsu và niềm tin vào sự sống lại. Nhưng Đức Giêsu bắt họ phải quay về với mặc khải của Thiên Chúa trong câu chuyện bụi gai bốc lửa trong sách Xuất Hành, chương 3: Người là Đấng tự xưng mình là “Thiên Chúa của Abraham, Thiên Chúa của Isaac, Thiên Chúa của Giacob, không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, mà là Thiên Chúa của người sống”.
- Nghe tin Đức Giêsu đã “khoá miệng những người Sadducée”, các ông Biệt Phái lại tấn công Chúa. Lần này họ kéo đến cả nhóm: “Thưa Thầy - một người trong bọn họ, một tiến sĩ luật, lên tiếng vặn hỏi Chúa - điều răn nào là điều quan trọng nhất?”.
Đức Giêsu đã trả lời bằng cách liên kết chặt chẽ hai giới luật mến Chúa và yêu người. Người kết luật: “Tất cả Sách Thánh, gồm Lề Luật và các Ngôn sứ, đều tuỳ thuộc vào hai điều răn ấy”.
Các đối thủ của Chúa, sau khi đã ê chề với kết cục của ba cuộc tranh luận, “không còn dám hạch hỏi Chúa điều gì nữa”. Đức Giêsu đã lật ngược thế cờ, chính những kẻ giăng bẫy để kết tội Chúa nay lại bị Người vạch tội. Người không hề có ý xem thường quyền bính của những bậc “ngự toà Môsê” và nắm giữ nhiệm vụ giải thích Lề Luật, nhưng chỉ muốn vạch trần cho họ thấy sự bất nhất giữa cái nói (giáo huấn) và cái làm của họ: “Họ chỉ biết nói mà không làm”.
- Lợi dụng quyền giải thích Luật của Môsê, họ chất trên vai kẻ khác những gánh nặng mà bản thân họ không hề đụng vào. Hoàn toàn trái ngược với Đức Giêsu, Người “chu toàn” Lề Luật, nhưng lại tỏ ra dịu dàng, ân cần đối với những ai phải mang gánh nặng nề (Mt 11,28-30).
- Cho mình là mẫu mực của thiên hạ - có thể họ chân thành nghĩ thế - “họ luôn làm mọi việc tốt để cho mọi người thấy”. Họ lo tô điểm cái vỏ bên ngoài - vỏ đạo đức, vỏ địa vị xã hội - hơn là làm sao để lời nói và việc làm của mình đi đôi với nhau.
* “Hộp kinh": Đó là những túi da đựng những đoạn Kinh Thánh mà mọi người Do Thái đạo đức thời đó cũng như nay thường mang trên cánh tay trái và trên trán của mình mỗi lần cầu nguyện. Vì sợ người ta thấy không rõ, nên họ đã nới những hộp kinh này ra quá khổ.
* “Tua áo": Đó là những chùm len may ở bốn góc của áo ngoài mà những người Do Thái ngoan đạo thời đó, cũng như Đức Giêsu, đã mang và ngày nay cũng thế, để thường xuyên nhớ đến các giới răn của Chúa. Những tua áo ấy cũng có kích thước quá phô trương.
* Danh vọng, địa vị là những thứ họ đặc biệt thèm khát: “Họ ưa ngồi cỗ nhất trong đám tiệc, chiếm hàng ghế đầu trong hội đường, ưa được người ta chào hỏi ở những nơi công cộng và được thiên hạ gọi là Rápbi”.

2. ... Để phục vụ theo gương Chúa Giêsu:
Khi viết Phúc Âm, vị thánh sử muốn kể lại những câu chuyện về Đức Giêsu, bằng cách thời sự hoá chúng lại cho các cộng đoàn Kitô hữu hôm nay đang sống trong những năm 80. Những cộng đoàn ấy đang gặp chống đối và bách hại từ phía Hội đường Do Thái. Những cộng đoàn ấy đang có nguy cơ bị lây nhiễm vi rút Biệt phái, và một số người có trách nhiệm trong đó đang tỏ ra cho thấy một thứ tinh thần kẻ cả rỗng tuếch.
Thánh Matthêu cũng thế, sau khi đã gom góp những lời của Đức Giêsu nói với các luật sĩ và biệt phái giả hình ("họ"), ông liền thuật lại những điều Chúa dạy nhằm xác định đâu là những nét đặc thù của việc thi hành quyền bính trong cộng đoàn “các môn đệ” của Người. Đó là:
* Tình huynh đệ: “Tất cả anh em đều là anh em với nhau”. “Anh em” là từ thông dụng nhất xuyên suốt cả Tân Ước, để gọi thành viên của cộng đoàn Kitô hữu, nghĩa là của gia đình Hội Thánh. Do đó phải dứt khoát loại trừ tính kẻ cả, tinh thần tự mãn, làm cho những ai đang thi hành một tác vụ hay một chức năng trong Hội Thánh quên đi họ cũng chỉ là một người anh em giữa các anh em của mình.
* Lòng đơn sơ: “Anh em chỉ có một Vị Thầy là Đức Kitô... anh em chỉ có một Cha, Đấng đang ngự trên trời”. Những danh xưng mà người ta có thể dành cho những vị có trách nhiệm trong cộng đoàn Hội Thánh, không bao giờ được phép che khuất tính cách là con một Cha duy nhất mà người Kitô hữu tuyên xưng. “Tư cách của các vị lãnh đạo trong Hội Thánh bắt buộc phải là một hiện diện phục vụ, và hoàn toàn là một phản ánh trong suốt về Đấng Duy Nhất ("Assemblées du Seigneur, số 62, trang 31).
* Tinh thần phục vụ: “Người lớn nhất trong anh em, phải là người phục vụ”. Mọi chức vụ trong Hội Thánh từ nay đều phải được thi hành theo gương Đức Giêsu, là Thầy và là Chúa, nhưng lại “hạ mình xuống” và làm đầy tớ phục vụ các anh em của Người (cf. Rửa chân các môn đệ).

II. BÀI ĐỌC THÊM:

1. “Một trách nhiệm phục vụ” (L.Daloz, trong “Le règne de Dieu s'est approché”, Centurion, trang 315).
Đức Giêsu khiển trách những người Luật sĩ và Biệt phái vì họ tự cho mình hơn kẻ khác, và muốn tỏ mình ra hơn kẻ khác: họ nới rộng hộp kinh, nối dài tua áo, nghĩa là họ muốn những thứ đó của họ phải nổi bật hơn của người... Họ muốn khoe mình đạo đức, sốt sắng với Chúa và với Lề Luật hơn; Họ ưa ngồi cỗ nhất trong đám tiệc, chiếm hàng ghế đầu trong hội đường, thích được người ta chào hỏi giữa nơi công cộng và được thiên hạ gọi là “rápbi”... Lời mô tả của Đức Giêsu thật rõ ràng, dễ sợ, không bỏ qua điều gì! Ngược lại, chúng ta hãy nghe những gì Người căn dặn các môn đệ: đừng đễ ai gọi mình là “rápbi”, đừng gọi ai dưới đất là cha, đừng để ai gọi mình là người lãnh đạo. Ở đây cũng thế: tất cả đều rõ ràng! Dĩ nhiên chúng ta không nên hiểu theo nghĩa sát mặt chữ: nếu như thế lại phải thêm dài dài không biết bao nhiêu danh xưng khác nữa mới đủ! Tuy vậy, điều rất quan trọng các môn đệ của Đức Giêsu không bao giờ được quên, là đừng để mối tương quan giữa họ với nhau rập khuôn theo kiểu tương quan của xã hội họ đang sống. Cách con người liên hệ với Thiên Chúa luôn ảnh hưởng tới tính chất của mối liên hệ giữa người với nhau. Nó cho thấy rằng mọi địa vị của con người, mọi chức vụ trong xã hội và cả trong gia đình, mọi trách nhiệm... đều phải ở trong thế lệ thuộc với một Đấng vừa là Tạo Hoá vừa là Cha của mọi người. Và không một thứ quyền bính nào có giá trị nếu không qui chiều về Người: Thử hỏi nhân danh cái gì một con người tự cho mình ở bên trên một con người khác, cũng mang hình ảnh Thiên Chúa như mình, đòi kẻ đó phải phục vụ và vâng lời mình? Bởi chỉ có một Thầy, một Cha, và một Người Chỉ Đạo duy nhất! Và do việc chúng ta chỉ có Thiên Chúa là Cha, nên tất cả loài người chúng ta đều bình đẳng như nhau trong cùng một nhà: “tất cả anh em đều là anh em với nhau!”. Quyền bính, chức cả, đều chỉ là những trách nhiệm phục vụ. Chỉ trong phục vụ, chúng mới có lý do tồn tại: “Kẻ làm lớn trong anh em sẽ là người phục vụ”. Chúng chỉ có thể là những danh hiệu của tình yêu, là ánh phản chiếu chính uy quyền và sự cao cả của Thiên Chúa. Đức Giêsu đã cho thấy rõ điều đó khi Người hạ mình xuống làm người đầy tớ đau khổ và vâng phục. Mẫu gương đó của Chúa đã từ nay trở nên qui luật cho mối tương quan giữa các môn đệ với nhau: “ai treo mình lên sẽ bị hạ xuống, còn ai hạ mình xuống, sẽ được tôn lên”.
2. “Ở bên các gia đình đang gặp tang chế: một sứ mạng của Hội Thánh, một phục vụ huynh đệ”. (do một nhóm thành viên cộng tác thuộc giáo phận về mục vụ bí tích và phụng vụ của vùng truyền giáo phía Tây, trong “Vers la lumière” (CRER, Angers).
- “Ai có trách nhiệm?”
“Tất cả mọi người thuộc cộng đoàn Dân Chúa đều phải ý thức trách nhiệm của mình trong việc cử hành an táng. Tất cả không cùng một danh nghĩa như nhau, nhưng mỗi người có phần mình tuỳ hoàn cảnh và tuỳ chức vụ của mình (...). Cả cộng đoàn nói chung cũng có vai trò của nó” ("Nouveau rituel des funérailles”, Desclée Mame, N.5).
Cả cộng đoàn được mời gọi làm chứng về niềm hy vọng và niềm tin của mình vào sự phục sinh. Vấn đề không phải là tìm cách đưa người giáo dân thế chỗ của linh mục, nhưng làm sao để họ hợp tác vào việc trình bày một Hội Thánh tôi tớ.
- Hai thái độ phải có:

1. Một hiện diện huynh đệ:
Khi có người qua đời trong khu xóm, trường học, thôn làng, nhà máy... của mình, chẳng lẽ người Kitô hữu chúng ta không biết đến hiện diện, một cách thực tế, và đầy kính trọng sao? Mối liên hệ đơn sơ giữa người với người, sự quan tâm chân thành đến người khác, có khả năng làm dịu đi nỗi đau thương của cái chết. Đến đó, hiện diện và thinh lặng bên những con người đang đau khổ. Lắng nghe tiếng thở than, mỗi tức tưởi sự câm nín của họ. Đây không phải là lúc để diễn thuyết hay dạy đời, nhưng là cơ hội để hiệp thông và đồng cảm, theo nghĩa trọn vẹn của nó.

2. Một chứng tá:
Sự hiện diện như thế sẽ làm sáng tỏ giá trị của mọi cuộc sống, và làm chứng về sự trân trọng của Hội Thánh đối với tất cả những gì làm nên lịch sử của một đời người.
- Những vai trò khác nhau:
Tình trạng giảm sút số linh mục, sự nhìn nhận chỗ đứng của những người đã chịu phép thanh tẩy, ý thức về tính cộng đoàn trong mục vụ tang lễ, mời gọi mọi phần tử trong cộng đoàn Kitô hữu phải làm tròn nhiều vai trò khác nhau... Trước khi cử hành (...) đang lúc cử hành (...) sau cử hành (...).
Sự ra đi của một người thân, một người bà con, một người hàng xóm hay một người bạn luôn là một biến cố đau thương. Người Kitô hữu trong cùng khu xóm đó không được phép tỏ ra hờ hững. Công tác mục vụ an táng của Hội Thánh là một yếu tố quan trọng cho việc loan báo Tin Mừng hôm nay. Tham dự vào lễ nghi an táng không phải là chuyện chẳng đặng đừng ở đời, nó là một phần của ơn gọi của những ai đã lãnh nhận phép Thanh Tẩy. Do đó khi ở bên những tang gia trong lúc bối rối, các Kitô hữu đang thi hành sứ mạng của họ trong Hội Thánh. Có lẽ cần khẩn trương lên một kế hoạch đào tạo và thông tin cho các cộng đoàn Kitô hữu, sao để hình thành được những nhóm phụ trách tang lễ”.
 

CHÚA NHẬT XXXII THƯỜNG NIÊN

DỤ NGÔN
10 CÔ TRINH NỮ ĐƯỢC MỜI DỰ TIỆC CƯỚI

(Mt 25,1-13)

I. VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI:

1. Một dụ ngôn gởi đến những thính giả Do Thái ngày xưa:
Bài Tin Mừng của ngày Chúa nhật thứ 32 hôm nay lấy trong diễn từ thứ 5 của Đức Giêsu, “diễn từ về thời cánh chung”. Đức Giêsu đã từ chối trả lời câu hỏi của các môn đệ: “khi nào những sự việc ấy sẽ xảy ra?”. Bù lại, sau khi kể ra những dấu hiệu báo trước biến cố, Người ân cần giải thích cho họ phải chuẩn bị trước như thế nào: Năm dụ ngôn về sự tỉnh thức là những minh hoạ cho điều đó.
- Trước hết, Chúa dùng câu chuyện lụt đại hồng thuỷ và ông Nôe để so sánh (Mt 24,37-42): “Họ không hay biết gì, cho đến khi nạn hồng thuỷ ập tới cuốn đi hết thảy”. Ai nấy chỉ lo chuyện đời: “thiên hạ vẫn ăn uống, cưới vợ lấy chồng”; Họ không muốn biết rằng Thiên Chúa có thể thi hành việc xét xử ngay giữa cuộc sống hiện tại này. Một mình Nôe đã biết chuẩn bị cho tai hoạ sắp đến.
- Tiếp đến, Chúa kể dụ ngôn về kẻ trộm đêm, Người quả quyết: “nếu chủ nhà biết vào canh nào kẻ trộm sẽ đến, hẳn ông đã thức, không để nó khoét vách nhà mình đâu”. Và kết luận: “Cho nên anh em cũng vậy, anh em hãy sẵn sàng, vì chính giờ phút anh em không ngờ, thì Con Người sẽ đến”.
- Sau đó Chúa móc nối với dụ ngôn người đầy tớ trung tín để tuyên bố: “Phúc cho đầy tớ ấy nếu chủ về mà thấy anh ta đang làm như vậy!”.
- Đức Giêsu tiếp tục kể tới dụ ngôn mười cô trinh nữ được mời dự tiệc cưới. Bối cảnh của câu chuyện chẳng xa lạ gì đối với các thính giả của nó: một tiệc cưới như thường xảy ra ở Palestine thời đó:
* Như người ta thường biết, cô dâu phải ở tại nhà cha mẹ, chờ chú rể cùng với bạn bè đến rước.
* Khi chú rể đến một cách long trọng để tìm đón cô dâu về nhà mình, nơi sẽ diễn ra nghi thức chúc hôn và tiệc cưới, có một đám rước tưng bừng ra đón chàng với đèn đuốc sáng trên tay, rồi sau đó cùng với chàng tiến vào tận phòng tân hôn.
Dụ ngôn của Đức Giêsu được Matthêu thuật lại gồm 3 hồi và một màn kết:
* Hồi 1: màn mở với cảnh mười cô trinh nữ “được mời dự tiệc cưới”, cầm đèn “ra đi đón chú rể”. Nhưng chú rể đến trễ, nên các cô “thiếp đi rồi ngủ cả”.
* Hồi 2: Câu chuyện đang mở màn một cách tốt đẹp, bỗng sang một khúc quanh bi đát, khi thình lình “nửa đêm có tiếng la lên: kìa chú rể, ra đón đi”.
Lúc này xảy ra một sự tách biệt giữa nội bộ các cô.
Một bên, gồm năm cô được gọi nào là “biết phòng xa”, “thận trọng”, “khôn”. Trong Thánh Kinh, đức tính này không chỉ sự khôn khéo theo kiểu người đời cho bằng một sự sáng suốt trong hành động, một cách thực tiễn, đối với ý định của Thiên Chúa. Được kể là “khôn” những ai ý thức được tính khẩn trương của ngày giờ, và biết ứng xử phù hợp.
Năm cô gái này “vừa mang đèn, vừa mang dầu theo”. Họ lập tức sẵn sàng, đèn trong tay cháy sáng, để nhập vào đám rước đi đón chú rể và đám bạn bè của chàng.
Bên kia là năm cô được gọi là “dại”. Trong Thánh Kinh, tính từ này không chỉ sự bất cẩn, lơ đễnh, cho bằng một thái độ quên lãng đối với Thiên Chúa: được xem là “dại” kẻ nào lạc xa con đường của Thiên Chúa.
Cả năm cô này mang đèn mà không mang dầu theo. Các cô nửa chừng bị thiếu dầu vì chú rể đến trễ và bất ngờ. Do không thể xin các chị em khác chia dầu cho, bởi chẳng ai có thể tỉnh thức dùm ai, nên họ phải nửa đêm đi đánh thức chủ tiệm dậy bán dầu cho. Nhưng đi rồi trở về thì đã quá trễ!
* Hồi 3: Đám rước đã vào trong phòng cưới. Cửa đã đóng lại và sẽ không mở ra nữa. Các cô khi ấy mới năn nỉ: “Thưa ngài, thưa ngài! mở cửa cho chúng tôi với!”, nhưng vô ích. Chỉ có tiếng trả lời: “Tôi bảo thật các cô, tôi không biết các cô!”. Thật trùng hợp lạ lùng với câu của Đức Giêsu trong Bài Giảng trên núi: “Đến ngày đó, nhiều người sẽ thưa với Thầy rằng: Lạy Chúa, lạy Chúa... Bấy giờ Thầy sẽ tuyên bố với họ: Ta không hề biết các ngươi” (Mt 7,22-23).
* Màn kết: với lời khuyên: “Vậy anh em hãy canh thức, vì anh em không biết ngày nào, giờ nào”.
Các thính giả của Đức Giêsu là những người rất rành Kinh Thánh, không thể lầm vào đâu được: dụ ngôn với bối cảnh một bữa tiệc cưới này gợi nhớ đến giao ước của Thiên Chúa với Dân Người (cf. Ed 16,1-43.49-63). “Qua hình ảnh các trinh nữ này, J.Potin nhận định, Đức Giêsu nhắm đến tập thể những người Do Thái đang mong đợi Đấng Cứu Thế. Nhưng ơn cứu độ đòi phải chờ đợi. Dân Chúa đã thiếp ngủ về mặt thiêng liêng. Nhưng nay thời cứu thoát đã đến. Người ta phải mau chóng đáp lại lời loan báo Tin Mừng, phải nhập vào đám rước đang ngang qua. Để vài giờ nữa thì không thể kịp. Khi gởi gắm lời kêu gọi tối hậu của Thiên Chúa, Đức Giêsu muốn cảnh tỉnh dân Israel, đám dân cũ ở Giêrusalem, các vị lãnh đạo tôn giáo. Nếu họ chối từ lời loan báo ơn cứu độ này, họ sẽ không thể được gia nhập Nước Trời! Cả một tai hoạ nghiêm trọng sẽ dành cho họ trong tương lai” ("Jésus, l'histoire vraie”, Centurion, trang 383).

2. Một dụ ngôn gởi đến những Kitô hữu chúng ta hôm nay:
Dụ ngôn mà Đức Giêsu gợi ra cho các thính giả Do Thái của Người suy tư, vẫn có giá trị cho mọi thời, cả cho thời chúng ta nữa. Được Matthêu đưa vào trong diễn từ dài sau cùng của Phúc Âm ông, khi được gởi đến cho cộng đoàn Kitô hữu, nó trở thành một lời kêu gọi thôi thúc phải tỉnh thức, vì loài người chúng ta không thể biết trước “giờ” chú rể đến, “ngày” Chúa trở lại. Cl.Tassin nhận xét: “Để được dự vào bữa tiệc có một không hai này, được mời mà thôi không đủ, còn phải chuẩn bị sẵn sàng nữa”. Cũng như mười cô phù dâu ở đây, được mời không có nghĩa đương nhiên được vào dự tiệc cưới, thì tự xưng mình là Kitô hữu thôi cũng chưa đủ. Do đó phải khẩn trương chuẩn bị đón Chúa trở lại. Đến ngày đó, Đức Giêsu chỉ “nhận ra” thuộc về Người những ai, trong lúc tích cực mong chờ Người, biết thi hành ý muốn của Chúa Cha; như thế mới là “người khôn”, theo nghĩa của Kinh Thánh.
Cl. Tassin viết tiếp: “Kitô hữu không phải là kẻ bị ám ảnh bởi ngày tận thế sắp đến. Bổn phận của họ là phải luôn sẵn sàng sống đức tin của mình giữa dòng thời gian, phân biệt với những kẻ chỉ biết có hiện tại trước mắt: chính đây là điểm mà trên đó Thiên Chúa sẽ phán xét loài người. Lối sống say sưa với hiện tại, kiểu dư thừa phù phiếm không cần biết trước sau đôi khi lại lấn át khả năng ý thức đúng đắn về hiện tại, biết rút ra những bài học từ quá khứ, biết sửa soạn cho tương lai. Hiểu như thế thì dụ ngôn mới thể hiện được hết sức tra vấn của nó.
Dụ ngôn về lụt đại hồng thuỷ trình bày cho thấy sự phán xét của Thiên Chúa ập xuống nghiệt ngã ngay giữa dòng đời thường của con người. Dụ ngôn kẻ trộm đêm kêu gọi phải tỉnh táo trước mọi thứ bất ngờ không hẹn trước. Và dụ ngôn về người đầy tớ trung tín nêu rõ tinh thần vâng phục Chủ phải là linh hồn của thời gian đợi chờ. Hội Thánh sống với niềm mong đợi ngày cánh chung ở cuối chân trời, nhưng cuộc phán xét đã bắt đầu hôm nay, trong những lựa chọn của đời sống hằng ngày” ("l'Evangile de Matthieu”, Centurion, trang 259-260).

II. BÀI ĐỌC THÊM:

1. “Hãy chong đèn sáng(Mgr. L.Daloz, trong “Le Règne des cieux s'est approché, Desclée de Brouwer, trang 335-336).
“Việc loan báo Chúa đến không có mục đích hù doạ chúng ta, hay bắt chúng ta phải chờ đợi trong sợ hãi kinh hoàng. Thiên Chúa đến trễ không có nghĩa Người tìm cách bắt chợp chúng ta. Người không rình mò bắt tội bắt lỗi con người để trừng phạt! Người là Cha, người Cha nhân từ chỉ muốn mọi người được cứu độ” (1Tm 2,4). Người ban cho chúng ta thì giờ vì lợi ích cho chúng ta, để chúng ta biết sử dụng cho nên. Thời gian cho sự kiên nhẫn đợi chờ của Thiên Chúa cũng là thời gian cho sự bền đỗ của chúng ta, thời gian của lịch sử chúng ta, là cơ hội cho chúng ta hoán cải đổi đời, sám hối trở về. Chúng ta phải biết cảm tạ Thiên Chúa về món quà thời gian ấy, và chính chúng ta cũng phải biết nhẫn nại đối với người khác như Thiên Chúa, cầu nguyện cho mọi người, để thông hiệp vào trong lòng nhân hậu và tình thương bao la của Thiên Chúa. Phải biết tận dụng thì giờ, phải hiểu lý do tại sao ông chủ về trễ!
Chúng ta thấy các cô trinh nữ khôn ngoan, có vẻ ích kỷ quá: khi chú rễ đến, họ từ chối không chịu chia chút dầu cho các cô kia: “Sợ không đủ cho chúng em và cho các chị đâu, các chị ra hàng mà mua thì hơn”. Phải chăng họ quá khôn, quá thủ cho mình, y hệt như con kiến trong câu chuyện ngụ ngôn? Chúng ta đã biết rằng: dụ ngôn không phải là một câu chuyện dạy ăn ngay ở lành. Nó dùng sự so sánh lấy ra từ sinh hoạt hằng ngày, từ lối xử sự thông thường ở đời. Nó không có ý đưa ra một qui luật đạo đức, hay một mẫu mực nhất thiết phải theo... Người ta cũng có thể có nhận xét tương tự về thái độ quá ngờ vực hay quá cứng cỏi của chú rể đối với các cô khờ dại. Đúng là Đức Giêsu tự nhận mình là chú rể, nhưng điều đó không có nghĩa là Người xử sự theo kiểu chú rể trong dụ ngôn, xua đuổi những kẻ đến trễ: “Tôi bảo thật các cô, tôi không biết các cô!”. Giáo huấn của dụ ngôn được chính Đức Giêsu rút ra. Đó là thái độ luôn sẵn sàng để đáp lại tiếng gọi: “Kìa chú rể, ra đón đi!”. Cần phải cảnh giác, tỉnh táo, khôn ngoan, để nhận ra, phân biệt, biết cách đáp trả; Cần phải chong đèn cho sáng và dự trữ trong mình lúc nào cũng đầy dầu Bác Ái, để giữ cho ngọn lửa đừng tàn lụi; Cần phải có mặt ngay khi Chúa đến, và đừng đi đâu xao lãng việc gì... “Anh em hãy canh thức, vì anh em không biết ngày nào giờ nào...” Chúa không chỉ đến trong ngày tận thế. Nếu chúng ta chờ Người đến vào ngày tận thế, chúng ta sẽ thấy thời gian quá dài và chúng ta cũng sẽ thiếp đi rồi ngủ cả. Nếu biết rằng Người có thể đến trong mỗi phút giây của cuộc sống, chúng ta sẽ lo thắp sáng ngọn đèn đức tin, đổ đầy bằng dầu đức Ái, để mau ra nghênh đón Người không chút chậm trễ. Rồi sẽ đến một ngày, Người tỏ ra cho chúng ta biết Người là ai, và đã đến với chúng ta như thế nào: “Ta bảo thật các ngươi: mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính ta vậy” (25,40).

2. “Con ve và con kiến” (Bible du dimanche, trang 339-340).
“Một đán cưới to ở một làng quê Palestine: 10 cô phù dâu đến để tháp tùng chú rể đi đón cô dâu. Nhưng chỉ có năm trong số các cô xứng đáng được vào phòng tiệc. Tại sao chú rể lại có thái độ có vẻ cứng cỏi như thế? Dường như tiêu chuẩn chàng đòi hỏi nơi các cô chính là sự “khôn ngoan”. Một khi đã quyết định đi theo chú rể (nói cách khác: một khi đã quyết định là Kitô hữu), phải hoàn toàn qui hướng về Đức Kitô, không được xao lãng tỉnh thức vì đủ ba mươi sáu thứ chuyện phù phiếm vô bổ ở đời. Phải biết chọn lựa, đó là một chuyện. Phải tận dụng mọi phương tiện cần thiết để trung thành với lựa chọn của mình và để đi đến cùng, đó là một chuyện khác nữa... và là chuyện quan trọng hơn cả.
Thánh Matthêu kể lại dụ ngôn này vào cái thời mà chắc chắn các Kitô hữu đã quá quen với đức tin của mình, và đang dần dần làm cho đức tin ấy chỉ còn là vâng theo Hội Thánh một cách máy móc mà thôi. Thời nào thì cũng thế, và những phương thế để tìm lại sức sống cho niềm tin cũng thế thôi”.

 

CHÚA NHẬT XXXIII THƯỜNG NIÊN

CÁC NÉN BẠC
(Mt, 25,14-30)

I. VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI:

1. Một dụ ngôn nói với người Do Thái hôm qua:
Hơn tất cả 4 dụ ngôn trước nói về sự tỉnh thức - đại hồng thuỷ (24,37,42), kẻ trộm đến ban đêm (24,43-44), người đầy tớ trung tín (24,45-51) và trong PÂ Chúa nhật trước, mười người trinh nữ (25,1-13) - dụ ngôn Các Nén bạc nhấn mạnh đến trách nhiệm của các môn đệ. Một trách nhiệm không nhỏ (21) nếu ta nhớ rằng vào thời ấy, nén bạc (talent: tiếng Pháp cũng có nghĩa là tài năng) không là những khả năng tự nhiên khả năng trí thức hoặc khả năng nhân loại phải phát triển, nhưng là một đơn vị trọng lượng, đơn vị tiền. H. Vulliz giải thích: “Nó là kim loại thực sự, cân nặng từ 35 đến 60kg trị giá từ 4300 đến 8700 quan Pháp (8 triệu 6 đến 17 triệu 4 tiền Việt Nam), nếu bằng bạc, và trị giá 140.000 đến 152.000 quan (từ 250 triệu đến 304 triệu đồng Việt Nam), nếu bằng vàng.
Sau khi đã đo lường kỹ lưỡng trọng lượng của những trách nhiệm được chủ giao cho các đầy tớ, ta hãy đọc lại dụ ngôn kỹ hơn. Ta có thể chia diễn biến ra làm 3 thời kỳ rất rõ ràng.
- Thời kỳ ra đi của ông chủ. Ông “đi xa”. Ông trao cho 3 đầy tớ, mỗi anh một số nén bạc. Đó thực là một tài sản như ta đã thấy! Hoàn toàn tin tưởng các đầy tớ, ông không đưa ra một thoả thuận nào về cách họ phải sử dụng số bạc đó. Nhưng đó là một niềm tin tưởng rõ ràng, vì ông “đưa cho mỗi người tuỳ theo khả năng của họ”.
- Thời kỳ vắng mặt: sự ra đi của ông chủ “tức khắc” tạo nên những phản ứng trái ngược nhau nơi các đầy tớ.
. Hai người đầu liều lĩnh có tính toán: họ gởi tiền vào ngân hàng “để sinh lợi”.
. Người thứ ba lại sợ hãi. Theo “lời khuyên của luật rabbi đối với những ai nhận tiền gởi và tự cho mình không có trách nhiệm trong trường hợp trộm cắp”, anh đào lỗ chôn nén bạc của chủ, và phủi tay trốn trách nhiệm.
- Thời kỳ tính sổ, cũng với sự trở về của chủ, sau một thời gian dài vắng mặt.
. Hai người đầu thay phiên nhau trình lên số bạc đã sinh lợi gấp đôi.
Chủ đã gọi họ là những đầy tớ “tốt lành và trung tín”. Họ đã đáp ứng lòng mong đợi của ông, họ xứng đáng với niềm tin tưởng của ông: thay vì để tiền nhàn rỗi vô ích, họ đã liều mình để sinh lợi. Họ hành xử không như nô lệ, nhưng như người cộng sự. Vì thế chủ sẽ trao phó cho họ những trách nhiệm lớn hơn đưa họ từ địa vị tôi tớ lên hạng đồng bàn với chủ. Ông bảo họ: “hãy đến hưởng sự vui mừng của chủ ngươi”.
. Còn người thứ ba thật kỳ dị, anh vẽ nên hình ảnh một ông chủ khó chịu, anh cho đó là “một người khó tính” “gặt ở nơi không gieo”, “thu ở nơi không phát”. Anh thú nhận: “Tôi sợ, nên đã chôn nén bạc của ông dưới đất”. Và anh kết luận: “Đây, nén bạc của ông đây”.
Tức giận vì lời lẽ của người đầy tớ này, ông chủ, có phần nào mỉa mai, chỉ cho anh thấy thái độ bất nhất của anh: “Ngươi đã biết ta hay gặt ở nơi không gieo, thu ở nơi không phát. Sao người không gởi bạc vào ngân hàng, để khi ta về sẽ thu cả vốn lẫn lời?”. Ông chủ đã tin cậy thì phải đáp lại bằng thái độ trách nhiệm xứng đáng với nhiệm vụ được trao chứ.
Án phạt ban xuống: “Tên đầy tớ xấu xa và lười biếng” bị chủ tước cả nén bạc duy nhất, vì anh không biết sử dụng. Nhiệm vụ bị bãi bỏ. Anh bị ném “vào nơi tối tăm”.
Sự hồi hộp được khéo léo sắp xếp kéo dài cho đến cuối dụ ngôn, và diễn tiến câu chuyện cho đến cuộc đối thoại giữa người đầy tớ thứ ba với ông chủ cho thấy rõ những đối tượng đầu tiên mà dụ ngôn có thể nhắm tới, những người mà Đức Giêsu muốn tạo cho một cơ may cuối cùng.
. Đó là các lãnh tụ tôn giáo, luật sĩ và biệt phái tự xưng là “đầy tớ của Thiên Chúa": Họ đã nhận gìn giữ Lời Chúa. Liệu họ có để tài sản này nhàn rỗi vô ích? Liệu họ có chiếm hữu làm của riêng?
. Đó là những người Do Thái, quên lãng sự nhân từ và lòng thương xót của Thiên Chúa, liều mình tìm kiếm an toàn tôn giáo trong việc lo âu giữ Luật cách cứng nhắc và tự giam mình trong thực hành nệ luật.
J. Potin bình luận: “Đức Giêsu cho thấy có một số chức sắc tôn giáo đã biết làm cho Lời Chúa sinh hoa kết trái giống như các thiếu nữ sẵn sàng đi theo chồng. Làm sao Ngài có thể không công nhận công trạng của những người công chính đã giúp phát triển đức tin của dân Người, các tổ phụ, một vài vị vua, các tiên tri, số đông thầm lặng của những kẻ tin. Tuy nhiên có những kẻ, do tính bảo thủ sợ hãi, đã không làm được như vậy. Có lẽ Đức Giêsu nhắm vào giới Sađucêô rất bảo thủ. Đó là lý do tại sao ông chủ trao nén bạc cho kẻ biết sinh lợi nhiều nhất. Nước Thiên Chúa tiếp tục sinh hoa kết trái nhờ những đầy tớ trung thành, nhưng khốn cho ai từ chối sinh lợi kho tàng đã nhận lãnh”.

2. Một dụ ngôn nói với Kitô hữu chúng ta.
Dụ ngôn mà Đức Giêsu đề nghị thính giả Do Thái suy nghĩ này, thánh sử Mt đã thuật lại với mục đích giúp cộng đoàn tín hữu sống trong lúc chờ đợi mỏi mòn ngày trở lại của Chúa. Các thành viên của cộng đoàn có lẽ đã mê ngủ, bị cám dỗ chỉ thực hành giới răn với tinh thần nệ luật, bị tê liệt vì sợ hãi.
Khi lồng dụ ngôn này vào “diễn từ cánh chung” và nối kết chặt chẽ nó với dụ ngôn 10 người trinh nữ, tác giả PÂ đã biến dụ ngôn này thành 1 dụ ngôn về sự tỉnh thức trong trung tín.
J. Dupont nhận xét: “Khi truyền đạt dụ ngôn này, Mt vẫn giữ được giáo huấn mà độc giả của ông phải biết rút ra. Dù cuộc trở lại của Chúa có chậm trễ, các tín hữu vẫn phải “tỉnh thức” và nhớ rằng họ sẽ bị xét xử về cách sống, liệu họ có được vào Nước Trời hay không, cũng tuỳ thuộc vào đó. Sự tỉnh thức chính là sự trung tín trong khi hoàn thành các nhiệm vụ được uỷ thác, nghĩa là mọi bổn phận của đời sống Kitô hữu. Để tham dự vào ơn cứu độ, chỉ nghe Lời Chúa chưa đủ: cần phải thực hành, làm cho Lời Chúa sinh hoa kết trái... Người tín hữu không biến sứ điệp thành hành động sẽ chẳng rút ra được lợi ích nào từ điều họ đã lãnh nhận được...”
PÂ là một số vốn: đã ký thác cho ai thì người ấy phải sinh lợi. Họ phải để PÂ biến đổi cuộc đời, hướng dẫn mọi hoạt động. Chỉ như thế họ mới chứng tỏ mình “trung tín” với Đấng đã ký thác PÂ cho họ.
Lòng đạo đức và ý hướng tốt chưa đủ. Đời sống Kitô hữu là một hành động có trách nhiệm. Bức tranh vĩ đại vẽ cảnh phán xét cuối cùng, trên đó ta kết thúc năm phụng vụ Mt, sẽ cho ta toàn bộ nội dung vào Chúa nhật tới.

 II. BÀI ĐỌC THÊM:

1. Một chờ đợi khiến những nhiệm vụ hiện tại thành nghiêm túc. (Mgr. L. Daloz, Le Règne des cieux s'est approché, DDB).
Dụ ngôn giúp soi sáng hoàn cảnh của ta. Những nén bạc không là của ta, chúng được trao phó cho ta. Trước khi đưa các nén bạc ra làm việc, ta đã lãnh nhận chúng. Sau đó, ta sẽ phải tường trình cách thế ta đã dùng để làm cho những nén bạc sinh lợi. Đời sống ta, những khả năng, những phương tiện hành động, các hoạt động, tất cả đều là ơn Chúa ban. qua việc sáng tạo, qua ân sủng, Thiên Chúa đổ đầy hồn ta, mỗi người tuỳ khả năng đón nhận. Đời sống ta chỉ ở trong sự thật nếu nó là một bài ca tạ ơn, là của lễ, là đợi chờ và hy vọng! Ta không có quyền chiếm đoạt, sử dụng nó theo ý riêng, như thể chính ta ban cho mình sự sống. Ta không thể quên đời sau, không được quên nơi ta xuất phát, nơi ta sẽ đến, Đấng ta sẽ phải trả lời, điều đó giúp ta can đảm ý thức bổn phận mình ở đời này mà không quên đời sau. Sự trở lại của chúa khiến ta khẩn trương đến độ không có thời giờ nghĩ đến điều gì khác nữa. Đời sau làm cho đời này có ý nghĩa. Kết thúc thời gian làm cho thời gian có ý nghĩa! Kết thúc thời gian mở ra cho thời gian một chân trời. Công việc hiện tại của ta không đơn thuần là một “việc làm”, đó là một bổn phận, một sứ mạng. Nó chỉ có ý nghĩa khi hướng về vô biên. Sự chờ đợi ngày Chúa đến không làm mất giá trị của nó cũng không biến nó thành vô nghĩa. Trái lại sự chờ đợi Chúa đến tạo cho nó một tầm quan trọng, mà giá trị chắc chắn chính sự chờ đợi này biến công việc thường ngày thành cơ hội bày tỏ lòng trung tín và mối tương giao với Chúa: “tốt lắm, hỡi đầy tớ tốt lành và trung tín, ngươi đã trung tín trong việc nhỏ, ta sẽ đặt ngươi coi sóc những việc lớn, hãy đến hưởng sự vui mừng với chủ ngươi”.

2. Ta chỉ là quản lý (H. Denis, Cent mot pour diu la foi, DDB).
Một tư tưởng cũ kỹ ta không được phép quên, tư tưởng rất gắn bó với tôn giáo Nhập Thể, đó là trên trần gian này ta chỉ là quản lý. Hiển nhiên phải là những quan lý năng nổ, sáng tạo, quan trọng. Nhưng cũng chỉ là quản lý.
Nói cách khác, ta không phải là chủ nhân các của cải mà ta làm sinh lợi: “Lạy Cha rất nhân lành, mọi sự đều bởi Cha!”. Đúng thế, đúng đối với mọi nghề nghiệp, mọi công tác nguy hiểm, táo bạo nhất (tôi nghĩ đến những ai đụng chạm đến lãnh vực đạo đức sinh học). Nhất là đối với Giáo Hội, với các tác vụ và sự phục vụ của Giáo Hội hiểu theo nghĩa rộng nhất.
Vị trí người quản lý quan trọng đến nghịch lý. Cuối cùng không những ông chủ sẽ trao lại kết quả của công việc đã hoàn thành mà còn ban thêm rất nhiều.
Nhưng ông cũng trừng phạt nặng nề đầy tớ nào không làm việc. Theo một tục ngữ Do Thái, ngày nay người ta vẫn còn nói: Ai không có, người ta sẽ lấy đi luôn cái nó có. Rốt cuộc, nó không còn lại chút gì.
Cũng nên lưu ý rằng Phaolô, dù không được nghe Đức Giêsu rao giảng ở Palestine, vẫn có cùng ngôn ngữ với Ngài:
“Xin mọi người hãy coi chúng tôi là tôi tớ của Đức Kitô và là quản lý các mầu nhiệm của Thiên Chúa. Vậy điều mà mọi người đòi hỏi nơi các quản lý, đó là hãy trung tín”.
Hãy để Chúa đến, chính Ngài sẽ soi sáng những bí mật trong bóng tối và phơi bày công khai mọi ý nghĩa trong tâm hồn. Rồi, mỗi người sẽ nhận được từ Thiên Chúa lời ca tụng, lời ca tụng ấy lại trở lại với Ngài (1Cor 4,1.2.5).

3. Thế giới được trao phó cho ta nhưng không kèm theo bản hướng dẫn cách sử dụng (Secours Catholique).
Hãy lưu ý rằng Thầy Chí thánh không đưa ra một qui ước nào. Ngài đã có thể nói: “Ta báo trước, khi ta trở lại, Ta muốn gấp đôi số vốn, hãy đầu tư vào bất động sản hay vào dịch vụ để sinh lợi”. Không, các tôi tớ đã đủ trưởng thành để biết điều phải làm.
Đó là bài học đầu tiên của bài Phúc Âm này.
Thế giới được trao phó cho ta mà không kèm theo bản hướng dẫn cách sử dụng. Có lẽ ta đã mơ màng nghĩ rằng Đức Giêsu, khi trở về bên Chúa Cha sau ngày Thăng Thiên, vẫn giữ đường dây điện thoại trực tiếp với các môn đệ, vẫn sẵn sàng ngày đêm trả lời những câu hỏi băn khoăn nhất của các dân tộc và các cá nhân: “Lạy Chúa, phải làm gì trong trường hợp chiến tranh huynh đệ tương tàn, trong các vấn đề tài chính, thiên tai?... Chúa ơi, hãy tìm cho con công ăn việc làm, hãy chữa bệnh cho đứa con của con, hãy sửa lại căn nhà sắp sập...”.
Giấc mơ ảo tưởng ấy, ta chưa giũ bỏ hết đâu. Nó vẫn ghi khắc trong tế bào di truyền của ta. Nhưng sự im lặng của Thiên Chúa cứu ta khỏi ma thuật, sự vắng mặt của Ngài khơi dậy trong ta niềm khao khát khác hẳn với một nhu cầu.
Và từ đó, ta phải luôn tỉnh thức đối với những ai tự cho rằng có thể lấp đầy quảng không của sự vắng mặt, đưa ra những giải đáp đơn sơ cho các câu hỏi phức tạp, và nắm trong tay tự do gai góc mà chính Thiên Chúa đã trao phó cho ta. Sự vắng mặt chỉ là tương đối, vì Đức Giêsu đã hứa: “Thầy sẽ không bỏ các con mồ côi. Thánh Thần của Thầy sẽ ngự trong các con”. Trong các con chứ không ở nơi đâu khác hoặc ở trên mây. Trong nơi sâu thẳm nhất của Giáo Hội và của chính các bạn. Bản hướng dẫn cách sử dụng đời sống và thế giới, nếu có, nằm ở đó...

 

CHÚA NHẬT LỄ THĂNG THIÊN

 “VÀ ĐÂY, THẦY Ở CÙNG ANH EM
MỌI NGÀY CHO ĐẾN TẬN THẾ”.

(Mt 28,16,20)

I. VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI

1. Kết thúc mà lại khởi đầu
Phụng vụ bài đọc năm A về lễ Thăng Thiên mời gọi ta suy niệm những câu cuối cùng của Phúc Âm thứ nhất. Đoạn văn kết thúc Phúc Âm Matthêu này đặc biệt gợi nhớ đến hai chương đầu của Phúc Âm.
- Thực vậy, khi viết “Phúc Âm về thời niên thiếu”, thánh Matthêu muốn mời gọi ta coi việc Đức Giêsu giáng sinh tại Belem, thành vua Đavít là ứng nghiệm lời tiên tri về một Đấng “Emmanuel": Đấng “Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta” (Is 7), còn các Đạo sĩ đến từ phương Đông tiêu biểu cho những người tiên phong của Dân Ngoại đang đi đến niềm tin vào Đức Kitô: “Họ THẤY Hài Nhi với thân mẫu là bà Maria, liền SẤP MÌNH THỜ LẠY NGƯỜI”.
- Ở đoạn kết thúc, rõ ràng là thánh sử, đã lấy lại cũng những lời lẽ trên để thuật lại cuộc gặp gỡ lần cuối cùng của Đấng Phục Sinh với các môn đệ của Người ở Galilê: “Khi THẤY Người, các ông SẤP MÌNH THỜ LẠY Người”. Rồi Đức Giêsu trao cho các ông sứ mệnh đến với “MUÔN DÂN” và long trọng tuyên bố rằng: “THẦY Ở CÙNG CÁC CON” mọi ngày cho đến tận thế”.
J. Radermakers chú giải: “Ở đây chúng ta thấy con người Đức Giêsu dầu mang dấu vết của một con người được sinh ra ở một thời điểm và sinh sống ở một nơi chốn nhất định, vẫn có cả một sự bao trùm lớn lao, trải rộng đến mọi chiều kích của toàn thể lịch sử nhân loại” ("Au fie de l'Evangile selon saint Mathieu, Viện Nghiên cứu Thần học, Bruxelles, 1974, trang 362).

2. Khi hồi kết thúc loan báo một khởi sự mới
Sau Phục sinh, Đức Giêsu hẹn gặp lại các môn đệ Người, không phải ở Giêrusalem, thủ đô và là thành thánh như trong Phúc Âm Luca, mà là ở “Galilê” miền đất vẫn bị mọi người nhìn bằng nửa con mắt, là “nơi qui tụ dân” là biểu tượng của thế giới ngoại giáo (Mt 4,12-23).
“Giáo Hội... phải rời bỏ Giêrusalem mà về mặt địa lý cho tới lúc ấy vẫn được coi là trung tâm đức tin, nơi có Thiên Chúa hiện diện, để đi tới miền vốn được coi là “Galilê của dân ngoại”. Một Giáo Hội được định nghĩa ngay là một “Giáo Hội vì mọi người": đó chính là sứ mệnh của Giáo Hội, điều mà không bao lâu sau Đức Giêsu sẽ nói rõ ràng” (Cahiers - Evangiles” số 9, trang 6).
Nơi Đức Giêsu truyền cho các môn đệ đi tới, là một “ngọn núi” vốn là nơi rất thích hợp cho việc Chúa mạc khải. Một lần nữa ở dân cũng như trải dài suốt Phúc Âm của Ngài, thánh Matthêu đều trình bày Đức Giêsu như một Môsê mới ban Luật của Người cho dân tộc mới của Thiên Chúa.
Cl. Tassin chú giải: “Như trong một cuốn phim, người ta lần lượt thấy xuất hiện những ngọn núi: núi quỷ cám dỗ khi chỉ cho Đức Giêsu xem thấy các nước trần gian, núi Bát Phúc, nơi Thầy công bố hiến chương Nước Trời, và Núi Hiển Dung nơi vinh quang Con Người được tỏ hiện; nổi bật hơn cả vẫn là cảnh âm u tịch mịch của núi Nê-bô, nơi Môsê phải nói lời giã biệt trước khi dân tiến vào Đất Hứa” ("Phúc Âm thánh Matthêu, NXB. Centurion, trang 303).
- Khi thấy Đức Giêsu, các môn đệ liền “sấp mình thờ lạy Người” trong một cử chỉ vừa tôn kính theo đạo giáo, mà cũng có tính cách phụng thờ, y như các đạo sĩ đã làm khi thấy hài nhi với thân mẫu là bà Maria (2,2.8.11); cũng như các môn đệ đã bày tỏ khi ở trong thuyền lúc sóng to gió cả, và đó cũng là cử chỉ của người phụ nữ xứ Canaan vậy (15,25).
Nhưng lòng tôn thờ của các ông còn vương vấn “sự hoài nghi”, mối hoài nghi này, theo như J. Radermakers nhận xét chí lý, chính là người bạn đồng hành không thể tách biệt của một lòng tin đang lần bước”.
- Đấng tỏ mình ra cho các môn đệ ("Đức Giêsu đến gần"), Đấng mà các ông sấp mình thờ lạy ấy, chính là Đức Chúa hiển vinh. Một khi đã được vinh thăng, được trao ban quyền tối cao xét xử toàn cầu ("Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất") thì giờ đây Người có lý khi sai các môn đệ của mình đi khắp thế giới để làm cho vương quyền ấy được thực hiện.
Những lời Người ban bố cho họ đánh dấu sự khai trương một giai đoạn mới trong sứ mệnh của Người, sứ mệnh mà từ này trở đi Người sẽ vẫn tiếp tục nhờ Giáo Hội.
+ “Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ”. Suốt thời gian thừa hành sứ vụ công khai, Đức Giêsu đã phải tự ý giới hạn hoạt động của Người đối với “các chiên lạc của nhà Ít-ra-en”. Từ nay những biên giới ngăn cách do không gian và thời gian đều bị bãi bỏ vì Người có thể thực thi trọn vẹn sứ mệnh Người Tôi Tớ của Thiên Chúa đúng như Matthêu đã loan báo, khi mượn lời sấm của Isaia 42,1-4: “Và môn dân sẽ đặt niềm hy vọng nơi danh Người” (Mt 12,18-21). Dân ngoại có mặt ngay từ buổi đầu của Phúc Âm thì cuối cùng vẫn thấy mình là những con người được Tin Mừng nhắm tới. Đức Giêsu trao phó cho Giáo Hội Người sứ mệnh truyền giáo khắp hoàn cầu này.
Cl. Tassin còn muốn lưu ý ta rằng: “Điểm nhấn mạnh không ở tại động từ “Đi” hay ở tại sứ mệnh chinh phục địa lý, mà cốt ở việc mở ra cho hết mọi nhóm người không phân biệt một ai. Bởi lẽ Đức Giêsu đã được “trao toàn quyền” thì mọi người đều phải thần phục quyền bính của Người. Đối với Matthêu, truyền giáo là gì? Thưa là: những môn đệ làm cho những người khác trở thành môn đệ; là những người nam cũng như nữ cảm nghiệm sâu sắc rằng giáo huấn của Đức Giêsu biến đổi chính cuộc đời của họ, họ chia sẻ kinh nghiệm này với các người khác, dạy bảo cho những người ấy tuân giữ mọi giới luật của Đức Giêsu mà thực ra chỉ tóm gọn lại trong một luật là tình yêu” (O.C., trang 304).
+ “Làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần”. Truyền giáo không phải là tuyên truyền một ý thức hệ, dù là cao siêu tuyệt vời, mà là chủ trương không ngừng xây dựng một cộng đồng: cộng đồng của những con người nhờ chịu phép rửa mà muốn sống gắn bó mật thiết với nhau bởi cùng thuộc về một Thiên Chúa là “Cha, Con và Thánh Thần”.
+ “Dạy bảo họ tuân giữ những điều Thầy đã truyền cho anh em”. Truyền giáo không thể chỉ thu gọn lại trong việc kêu gọi người ta trở lại rồi bỏ mặc đấy. Giáo Hội sẽ phải giúp đỡ những tân tòng ngày qua ngày sống hoà nhập với cuộc đời mới mà họ đã bước vào.
J. Radermakers đưa ra nhận xét sau: “Chính Phúc Âm nhìn toàn bộ là một giáo huấn về cuộc sống, được hiểu như dấu chỉ của bí tích trong phép rửa tội và được triển khai cách hài hoà trong cuộc sống đời thường; đời sống luân lý trong cộng đồng Kitô hữu chẳng qua là sống Tin Mừng bằng việc làm cụ thể” (O.C., trang 365).
+ “Và đây Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế”. Đây là lời tuyên bố cuối cùng và cũng là điểm cao nhất của lời Chúa phán vì là lời hứa bảo đảm một sự hiện diện tích cực và hữu hiệu vô bờ bến. Cuối Phúc Âm của mình, thánh Matthêu mới cao rao rằng lời thiên thần hứa với Giuse đã hoàn toàn ứng nghiệm nơi Đức Giêsu: “Người ta sẽ gọi tên con trẻ là Emmanuel, nghĩa là Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta”.
J. Potin kết luận: “Đức Giêsu không xa lìa Giáo Hội của Người. Mặc dầu ta không trông thấy Người, Người vẫn hiện diện ở mọi nơi mà Giáo Hội sẽ lan rộng tới, cho đến tận thế. Theo thánh Matthêu, Đức Giêsu không biến mất lên trời. Nhưng lời nói cuối cùng của Người cũng là câu sau chót của Phúc Âm, hứa rằng: “Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế”. Vả lại trước đây há chăng Người đã chẳng tuyên bố: “Ở đâu có hai ba người họp lại nhân danh Thầy, thì có Thầy ở đấy, giữa họ” (Mt 18,20). Đấng Phục Sinh không ở lại trên núi Galilê, Người đi theo các tông đồ của Người trên mọi nẻo đường trần gian” ("Jésus, l'histoire vraie” NXB Centurion, 1994, trang 516).

II. BÀI ĐỌC THÊM:
1. “Bài kết thúc Phúc Âm thánh Matthêu thực ra là một sự khởi đầu, một sự khai mở (Đức Cha L. Daloz, trong “Le Règne de Dieu s'est approché”).
“Bài kết thúc Phúc Âm thánh Matthêu thực ra là một sự khởi đầu, một màn khai mở: đó là khai trương công cuộc truyền giáo toàn cầu. Phải suy niệm, và nhìn ngắm mới thấy rõ việc truyền giáo là con tim đang đập trong lồng ngực Giáo Hội có tác dụng kích thích Giáo Hội. Nhờ việc sai đi và uỷ quyền cho các tông đồ, và qua các ông, cho chung tất cả mọi môn đệ, Đức Giêsu thành người sống đương thời với chúng ta: Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế... Việc gặp gỡ Mười Một Tông đồ là điều có liên hệ chặt chẽ với mầu nhiệm Phục sinh. Trước khi đi vào cuộc khổ nạn Người đã báo trước: Sau khi sống lại, Thầy sẽ đến Galilê trước anh em. Sau khi Phục sinh, Người nói lại sứ điệp ấy với các phụ nữ đứng bên mồ và triệu tập các môn đệ: “Các bà hãy về báo cho anh em Thầy để họ đến Galilê. Họ sẽ được thấy Thầy ở đó”. Vì nhờ mầu nhiệm Phục sinh của Đức Kitô, sự phục sinh nhân loại mới có thể được thực hiện. Khi sai các môn đệ... Đức Giêsu phục sinh là cội nguồn của việc truyền giáo. Quyền năng Thiên Chúa đã cho Người sống lại trở nên quyền năng cứu độ cho mọi dân tộc. Chúng ta nhận biết quyền năng ấy, và chỉ có lòng tin mới tiếp nhận được thôi (cũng như 11 tông đồ) các ông gặp Đức Giêsu trên núi, là nơi vốn xảy ra những cuộc hiển linh của Chúa, như ở núi Sinai hay ở núi Hiển Dung. Thái độ của các tông đồ lúc ấy diễn tả lòng tin của ta: tôn thờ mà lại do dự: khi thấy Người, các ông bái lạy, nhưng có mấy ông lại hoài nghi. Cảnh tượng thật long trọng, giống như một cuộc hành lễ, chứ không còn là buổi gặp gỡ thân tình như những lần hiện ra trước đây. Là vì lần gặp gỡ này xác định nền tảng, hình thức và chân trời cho sứ mệnh truyền giáo vậy.
Nền tảng ấy là quyền hành mà Đức Giêsu nhận được: Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất. Không phải là quyền của kẻ có sức mạnh trong tay và thống trị, mà là ách êm ái và gánh nhẹ nhàng. Không phải là quyền chiếm đoạt như Tên Cám dỗ đã đề nghị cho Người. Nhưng là quyền của tình yêu không để bị khuất phục. Đó là sức mạnh của sự phục sinh được khơi nguồn trong Đức Giêsu và nhờ Người sức mạnh ấy làm thay đổi cả thế giới. Những nỗ lực truyền giáo, tinh thần can đảm để không ngừng thực thi sứ mệnh, tất cả đều nhờ sức mạnh ấy mà tìm được chỗ dựa bảo đảm. Sức mạnh này không phải do ta khôn ngoan, tài khéo, tận tuỵ mà có được... anh em hãy đi! Đó là một lệnh truyền. Từ buổi đầu cho đến nay, lệnh sai đi này vẫn vang lên không ngừng, vẫn luôn luôn gợi ra những sáng kiến mới lạ, những cuộc lên đường mới, một đà tiến mới tới miền xa xăm hay rất gần mà chúng ta đều mắt thấy tai nghe qua suốt dòng lịch sử.
Bởi lẽ chân trời truyền giáo là tất cả mọi quốc gia, và hạn kỳ là cho đến tận thế. Việc truyền giáo chẳng bao giờ cùng về mặt địa lý cũng như về lịch sử. Ta tham gia vào công việc này ngay ở nơi ta đang ở và thời đại ta đang sống. Mỗi người lãnh phần trách nhiệm của mình, nhưng mỗi người không phải chịu trách nhiệm về tất cả. Quan tâm thôi, không đủ; mà phải hành động. Mỗi người chúng ta được sai đến ở nơi mình đang ở; ta không thể chỉ là người hưởng ơn cứu độ, mà cũng còn là dụng cụ Chúa dùng để ơn cứu độ của Đức Giêsu Kitô đạt tới những kẻ khác, những người ta đang sống với, những người ta được sai đến với họ ở cận kề bên ta hay ở xa ta. Nhiệt tình do Đức Giêsu phục sinh ban cho vẫn có trong con tim của mọi cuộc đời Kitô hữu. Đời sống này trở nên suy nhược khi bóp nghẹt nhiệt tình này bằng lối sống vị kỷ, khép kín. Cần phải biết sống chia sẻ để khởi xơ cứng và chết. Cũng vậy, Giáo Hội không thể ở thể tĩnh. Giáo Hội được sai đi...
Hình thức việc truyền giáo cũng được chỉ rõ ràng: Làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ, nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, và dạy bảo họ tuân giữ những điều Thầy đã truyền cho anh em. Chúng ta nhận thấy có ba mặt: loan báo Tin Mừng để khơi dậy được những con người môn đệ, tham dự vào mầu nhiệm Phục sinh bằng việc lãnh nhận phép Rửa và các bí tích, sống đời sống mới bằng cách thi hành các điều Chúa truyền. Truyền giáo là tất cả như thế đó. Không có ba yếu tố này, công việc ấy không đầy đủ, và chẳng một yếu tố nào trong ba làm nên được công chuyện bởi lẽ “một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại nên hòn núi cao”. Quả thực, đây là một thách đố đặt ra cho Giáo Hội, vì rằng mọi dân tộc đều có quyền chia sẻ mầu nhiệm Phục sinh, đón nhận ơn cứu độ của Đức Giêsu để được biến đổi và trở nên mới. Như thế các dân tộc ấy cũng hội nhập vào mầu nhiệm sự sống Thiên Chúa: “Nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần”. Qua việc truyền giáo của các tông đồ, Đức Giêsu vẫn theo đuổi công việc Người đã khởi sự trong mầu nhiệm Phục sinh của Người; Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế. Ta còn sợ hãi gì nữa, một khi có Đức Giêsu phục sinh đang ở cùng chúng ta.

2. “Là dịp để ta canh tân lại quyết định làm môn đệ trung thành của Đức Kitô” “Célébrer” (Nguyện san của Trung tâm Quốc gia về Mục vụ Phụng vụ) số 258 trang 42.
“Thiên Chúa vẫn luôn luôn là Emmanuel”, vẫn là “Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta”.Việc Người-lên-trời không hẳn là một sự lìa bỏ. Phải học hỏi để nhận ra điều này dầu không trông thấy Người như các môn đệ đã thấy xưa. Chúa lên trời nhắc nhở ta sống thân phận của một người tin và yêu: tin rằng Người vẫn đang có mặt, và thực hành yêu thương để làm cho Người được hiện diện. Lễ này phải là dịp để ta canh tân lại quyết định trở thành những môn đệ trung tín của Đức Kitô: những môn đệ vững tâm vì Người vẫn có mặt bên ta “mọi ngày”, những môn đệ sẵn sàng đáp lại tiếng gọi sai đi truyền giáo cho “muôn dân” của thời đại hôm nay”.

3. “Emmanuel, Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta” J. Radermakers chú giải thêm cho bài viết ở trên.
Đức Giêsu Nagiarét xuất thân.
Từ miền Galilê của chư dân,
Đất thuộc Zabulon và Néptali
Người là ánh sáng bừng lên
Soi cho dân ngồi trong tăm tối;
Người là Quý Tử chí ái
Của Ngôi Thánh Phụ muôn đời quang vinh.
Để tha tội lỗi môn dân
Người đành hiến máu để làm Giao ước;
Người đã chỗi dậy ngày thứ ba
Làm cho muôn dân trở thành môn đệ.
Người là Emmanuel vẫn luôn có mặt,
Người còn đi trước các anh em
Đến những Galilê của mọi miền trái đất.


 

LỄ NGŨ TUẦN

NGÀY ĐẦU TIÊN CỦA CUỘC TẠO DỰNG MỚI
(Ga 20, 19-23)

I. VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI:

(Xem tập Chúa nhật II Phục sinh)

II. BÀI ĐỌC THÊM:

1. “Thánh Thần sáng tạo, mọi sự khởi đầu là do Ngài” (F.Deleclos trong “Prends et manges la Parole” Cent. du Duculot 1992, p.38-40).
Sự ra đời của Giáo Hội được trình bày hai cách: một của Luca và một của Gioan.
Một bên là bão táp bên kia là trầm tư (recueillement) nhưng biến cố chỉ là một và sứ điệp cũng không khác nhau. Giáo Hội, tuy có các thành phần khác nhau, được rửa tội do cùng một Thánh Thần duy nhất để làm thành một thân thể. Trung tâm của biến cố là Thánh Thần. Một vai trò rộng lớn nhưng vô hình. Thánh Thần không có mặt nạ cũng không có khuôn mặt, nhưng Ngài ở khắp nơi. Những danh xưng về Ngài làm thành một kinh cầu dài đáng ngạc nhiên, và mỗi danh xưng gợi lên một trong những khía cạnh khác nhau do tác động của Ngài. Thánh Thần là lửa đốt cháy, than hồng ủ dưới tro. Ngài sôi lên như nước g