FICHES DOMINICALES -Chú giải lời Chúa CN năm C

Thứ hai - 28/05/2018 10:52
FICHES DOMINICALES -Chú giải lời Chúa CN năm C
FICHES DOMINICALES -Chú giải lời Chúa CN năm C
FICHES DOMINICALES
CHÚA NHẬT NĂM C

Dịch từ Fiches dominicales Bulletin de liaison et d'animation des équipes liturgiques du diocesè Saint - Brieuc et Tréguier.

CHÚA NHẬT I MÙA VỌNG.. 2
CHÚA NHẬT II MÙA VỌNG.. 6
CHÚA NHẬT III MÙA VỌNG.. 10
CHÚA NHẬT IV MÙA VỌNG.. 15
LỄ ĐÊM GIÁNG SINH.. 18
LỄ BAN NGÀY.. 23
LỄ HIỂN LINH.. 27
THỨ TƯ LỄ TRO.. 31
CHÚA NHẬT I MÙA CHAY.. 35
CHÚA NHẬT II MÙA CHAY.. 39
CHÚA NHẬT III MÙA CHAY.. 44
CHÚA NHẬT IV MÙA CHAY.. 48
CHÚA NHẬT V MÙA CHAY.. 52
CHÚA NHẬT LỄ LÁ.. 57
THÁNH LỄ TIỆC LY.. 60
THỨ SÁU TUẦN THÁNH.. 64
LỄ VỌNG PHỤC SINH.. 66
LỄ PHỤC SINH.. 69
CHÚA NHẬT II PHỤC SINH.. 72
CHÚA NHẬT III PHỤC SINH.. 75
CHÚA NHẬT IV PHỤC SINH.. 79
CHÚA NHẬT V PHỤC SINH.. 82
CHÚA NHẬT VI PHỤC SINH.. 84
CHÚA NHẬT VII PHỤC SINH.. 88
CHÚA LÊN TRỜI 91
CHÚA NHẬT LỄ HIỆN XUỐNG.. 95
LỄ CHÚA BA NGÔI 97
LỄ MÌNH MÁU CHÚA KITÔ.. 100
CHÚA NHẬT II THƯỜNG NIÊN.. 105
CHÚA NHẬT III THƯỜNG NIÊN.. 110
CHÚA NHẬT IV THƯỜNG NIÊN.. 115
CHÚA NHẬT V THƯỜNG NIÊN.. 118
CHÚA NHẬT VI THƯỜNG NIÊN.. 123
CHÚA NHẬT VII THƯỜNG NIÊN.. 127
CHÚA NHẬT VIII THƯỜNG NIÊN.. 130
CHÚA NHẬT XII THƯỜNG NIÊN.. 133
CHÚA NHẬT XIII THƯỜNG NIÊN.. 137
CHÚA NHẬT XIV THƯỜNG NIÊN.. 141
CHÚA NHẬT XV THƯỜNG NIÊN.. 145
CHÚA NHẬT XVI THƯỜNG NIÊN.. 149
CHÚA NHẬT XVII THƯỜNG NIÊN.. 153
CHÚA NHẬT XVIII THƯỜNG NIÊN.. 158
CHÚA NHẬT XIX THƯỜNG NIÊN.. 162
CHÚA NHẬT XX THƯỜNG NIÊN.. 166
CHÚA NHẬT XXI THƯỜNG NIÊN.. 169
CHÚA NHẬT XXII THƯỜNG NIÊN.. 172
CHÚA NHẬT XXIII THƯỜNG NIÊN.. 175
CHÚA NHẬT XXIV THƯỜNG NIÊN.. 179
CHÚA NHẬT XXV THƯỜNG NIÊN.. 182
CHÚA NHẬT XXVI THƯỜNG NIÊN.. 186
CHÚA NHẬT XXVII THƯỜNG NIÊN.. 190
CHÚA NHẬT XXVIII THƯỜNG NIÊN.. 193
CHÚA NHẬT XXIX THƯỜNG NIÊN.. 197
CHÚA NHẬT XXX THƯỜNG NIÊN.. 200
CHÚA NHẬT XXXI THƯỜNG NIÊN.. 202
CHÚA NHẬT XXXII THƯỜNG NIÊN.. 207
CHÚA NHẬT XXXIII THƯỜNG NIÊN.. 212
LỄ ĐỨC KITÔ VUA.. 215
LỄ ĐỨC MARIA, MẸ THIÊN CHÚA.. 218
ĐỨC MARIA HỒN XÁC LÊN TRỜI 220
LỄ CÁC THÁNH.. 225

 

CHÚA NHẬT I MÙA VỌNG

SỐNG TRONG MỘT THẾ GIỚI MAU QUA
HÃY TIN RẰNG MỘT THẾ GIỚI MỚI ĐANG ĐẾN
(Lc 21,25-28, 31-36)


I. VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI:
1. Qua lời lẽ kinh hoàng của lối văn Khải Huyền...
Bài Phúc Âm hôm nay giống như trích đoạn song hành trong Phúc Âm Máccô mà ta đọc vào Chúa nhật 33 thường niên năm B. Trước vẻ đẹp hùng vĩ và tráng lệ của Đền Thờ Giêrusalem, các môn đệ không ngớt lời trầm trồ khen ngợi và muốn Thầy mình cùng chia sẻ lòng thán phục, thì Đức Giêsu lại nhân cơ hội này nói lên một bài dài về con đường dẫn đến cuộc giải thoát.
Lời lẽ của bài diễn từ có thể gây kinh hoàng cho con người thời nay, nhưng lại rất quen thuộc với những người sống cùng thời với Đức Giêsu. Đó là lối văn bàng bạc trong từng trang Kinh Thánh mà người ta thường sử dụng để củng cố lòng tin của các tín hữu trong những giờ phút gian truân khốn khó: lối văn “Khải Huyền” muốn “vén bức màn” (đó là nghĩa của từ “apocalypse” = mạc khải) để hé mở cho ta thấy rằng mặc dầu sự thể bên ngoài có trắc trở thế nào, thì Thiên Chúa vẫn đang âm thầm hoạt động ngay trong hoàn cảnh đó. Việc mô tả - quá quen trong lối văn chương này – “mặt trời ra tối tăm”, “mặt trăng không còn chiếu sáng”, “các vì sao từ trời rơi xuống”, “các quyền lực trên trời bị lay chuyển”... chỉ là một cách loan báo cuộc chiến thắng cuối cùng của Chúa vào ngày tận cùng của lịch sử.
Thể văn của bài diễn từ và ngay cả từ “Khải Huyền” đều là điều kỳ bí đối với độc giả thời nay – Hugues Cousin nhìn nhận: từ “Khải Huyền” do từ Hy Lạp apocalypsis có nghĩa là “vén màn” cho thấy điều bí mật ẩn khuất bên trong. Tại sao “vén màn” những bến cố liên quan tới Cánh Chung, những biến cố đi theo liền sự sụp đổ của thế giới cũ – thế giới của chúng ta – để hướng tới thế giới mới?
Câu trả lời có cơ sở, đó là một niềm xác tín sâu xa trong Kinh Thánh rằng lịch sử các dân tộc không phải vô nghĩa, bởi lẽ Thiên Chúa dẫn dắt lịch sử ấy tới một cùng đích được sửa soạn chu đáo. “Người sẽ cư ngụ cùng với họ. Họ sẽ là dân của Người, còn chính Người sẽ là Thiên-Chúa-ở-cùng-họ. Thiên Chúa sẽ lau sạch nước mắt họ. Sẽ không còn sự chết; cũng chẳng còn tang tóc, kêu than và đau khổ nữa, vì những điều cũ đã biến mất” (Kh 21,3-4). Đó chính là cuộc giải phóng chung cuộc, vĩnh viễn của lịch sử nhân loại” (“L' Evangile de Luc”, Centurion, 1993, trg 278).

2. ... là Tin Vui loan báo việc Chúa Quang lâm...
Chính trong bối cảnh một vũ trụ đổi mới, không còn một chướng ngại nào mà Đức Giêsu trong Luca cũng như trong Máccô, loan báo Tin Vui xuất hiện Vương quốc hòa bình và công chính của Người vào lúc thời gian kết thúc. Ở đây Người coi mình như nhân vật kỳ bí của sách Đanien (Bài đọc 1, Chúa nhật trước) là “Con Người” ngự giá mây trời mà đến cho đất trời cùng mở hội giao duyên.
Nhưng trong ngày ấy, kẻ sinh ra từ thế giới mới sẽ là người tuyệt vời, chính người ấy đang hình thành, “đang tiến đến gần”. Thế nên người có lòng tin phải “đứng thẳng và ngẩng đầu lên”. Lệnh Chúa mà thánh sử truyền lại không phải chỉ được gởi đến cho những Kitô hữu vô danh nào đó còn đang sống vào lúc Đức Giêsu trở lại; thánh sử cũng gởi đến cho các Kitô hữu thời ngài, đang là đối tượng của những cuộc đàn áp khủng khiếp đầu tiên, sau khi đã ngao ngán chứng kiến cảnh đổ nát của Đền thờ Giêrusalem; sau cùng, thông qua những tín hữu kia, “ngài gởi đến cho mọi kẻ có lòng tin mà sau này sẽ nghe hoặc sẽ đọc Tin Mừng thứ ba. Những giáo hữu của giáo đoàn thánh Luca – rồi chúng ta hôm nay – đều phải sống với niềm tin chắc chắn rằng công cuộc giải phóng họ thực sự đang tiến hành, đang gần kề” (H. Cousin, sđd, trg 282).

3. ... đòi hỏi người tín hữu phải luôn tỉnh thức.
Được phấn khởi vì Tin vui về một Thế giới mới sẽ tỏ hiện vào lúc tận cùng thời gian và ngay từ lúc này không ngừng hình thành trong giòng lịch sử của đời ta, người môn đệ Đức Kitô sẽ không được phép ngủ mê hay sống tiêu cực mà phải “tỉnh thức”, phải “cầu nguyện luôn” để có thể “đứng thẳng” (tâm tình kinh nguyện phụng vụ ngày Chúa nhật phục sinh) vào ngày Chúa trở lại trong vinh quang đem lại sự giải thoát dứt khoát và toàn vẹn.
H. Cousin kết luận: “Người ta sẽ có thể hiểu rằng chương 21 của Tin Mừng Luca không nhắm mô tả cho độc giả thấy trước diễn tiến của lịch sử cho bằng muốn thổi cho họ một luồng sinh khí để họ sống hiên ngang giữa những cơn thử thách, nhắc nhở họ rằng giây phút hiện tại thực sự mang một giá trị tích cực: chính lúc này đây Chúa đang vẫy tay mời gọi ta đấy. Một bài diễn từ với ý nghĩa như thế vượt quá cả ý hướng của khải huyền vốn phủ nhận lịch sử, đem đến một niềm hy vọng mang tính cánh chung đòi hỏi người tín hữu phải sống tích cực với giây phút hiện tại “ở đây và lúc này”. Bởi lẽ, chính ngay bây giờ, chính trong thực tại khiêm tốn của đời thường mà mầu nhiệm gặp gỡ với Đấng sẽ đến, được thực hiện. Một niềm hy vọng như thế không làm suy giảm tầm quan trọng của những trách vụ trần thế, nhưng đúng hơn còn giúp kiện toàn nhờ vào những động cơ mới” (Vatican II, sđd, trg 278).

II. BÀI ĐỌC THÊM:
1. “Anh em hãy ngẩng đầu lên” (H. Vulliez, trong “Dieu si proche. Năm C”, Desclée de Brouwer, trg 9-10).
Phải có những biến cố hãi hùng, để ta tin rằng: Chúa đang có mặt ở đó chăng? Để cho con người quay trở về với Chúa, có phải cần đến những tai ương làm sởn tóc gáy mọi người chăng?... Có những giáo phái thích chủ trương phải có những tai họa như thế để thuyết phục người ta tin rằng “Có Chúa”.
Phải chăng cũng có những tín hữu muốn nghĩ rằng vì người ta sợ hãi nên mới tin, hoặc vì con người bỏ quên Chúa, nên Người mới giáng xuống những tai họa để trừng phạt họ đấy sao?
Thế ra Thiên Chúa của Đức Kitô Kitô là một Thiên Chúa hay trả thù... Thế ra Người chỉ nhắm gây tai họa cốt để cho người ta khám phá ra Người sao?!
Đức Giêsu mượn những hình ảnh ghê rợn kia trong một loại văn chương của thời đại Người là lối văn “Khải Huyền”, không phải để loan báo sự tận cùng, sự chấm dứt mọi sự, nhưng là để loan báo cho mọi người biết một Tin Vui là Đấng Cứu độ đang đến. Đồng thời, để mời gọi mọi người đứng sẵn ở cửa, tỉnh thức và sẵn sàng đón tiếp Người. Còn Người thì lúc nào cũng vẫn đến. Khi mầm của hạt giống làm nứt vỏ hạt, người ta không nói là hạt chết, mà là sống. Khi những mảnh lá non hay những cánh hoa chọc thủng phần ngoài của nụ hay chồi, không ai nói đó là một sự xé rách, hay phá hoại, nhưng là vẻ đẹp.
Nào, vậy thì mời bạn hãy đứng thẳng và ngẩng đầu lên. Hãy nhìn đi, hãy chiêm ngưỡng đi! Chúa đang đến đây nè.

2. “Tận thế sẽ là bó hoa kết dâng cuối cùng” (G. Boucher, trong “Le ciel sur terre”)
“Giờ phút kinh hoàng đã điểm. Người ta sẽ thấy núi phun lửa ầm ầm nhả ra những dung nham nóng chảy, trái đất nứt nẻ, biển cả gào thét, gió xoáy điên cuồng, nhà nhà sụp đổ. Người ta sẽ thấy đất trời rung chuyển, mặt trời ra tối tăm, mặt trăng không còn chiếu sáng, các ngôi sao từ trời sa xuống.. Tắt một lời, đó là quang cảnh báo trước ngày tận thế. Và toàn thể nhân loại đều phải phập phồng lo sợ cho cái giờ phút hãi hùng ấy.
Tiếp theo những hiện tượng kinh khủng của trời đất, thì này đây bừng lên một cảnh tượng thật là thanh bình và hoành tráng khi con người xuất hiện. Giống như xưa giữa cơn phong ba bão táp, thì giờ đây một con người cũng đứng lên ra tay uy quyền dẹp yên sóng gió.
Cái bề ngoài từng là chết chóc, tai họa lại đang báo trước cảnh thanh bình và hoàn tất mỹ mãn.
Núp ẩn trong nhà ư? Độn thổ ư? Sống mà sợ hãi ư? Không, đây sẽ là ngày để ta đứng thẳng dậy, tiến bước, mắt ngước lên, đầu ngẩng cao. Đây sẽ là khúc nhạo dạo đầu chào mừng một thế giới mới bước vào vô biên.
Đó sẽ là nơi “cư ngụ” vĩnh viễn, là nhân loại đã hoàn thành.
Như vỏ trứng tự nứt nẻ để gà con nở ra thế nào, thì trời đất, đại dương cũng sẽ tự vỡ ra như vậy để cho Con Người xuất hiện, và nhân loại mới cũng cùng xuất hiện với Con Người.
Trong cảnh hỗn mang này, thực ra Chúa chỉ muốn đưa ra cho ta một lời mời gọi này mà thôi: hãy chế ngự nỗi sợ hãi để niềm tin được thảnh thơi. Hãy sống những thực tại của con người như là những giai đoạn dẫn đưa ta vào thời ân sủng và vinh quang. Hãy lấy đức khôn ngoan mà phân định điều gì xảy đến với con người, giữa các dân tộc, và ngay trung tâm các yếu tố của thế giới.
Và rồi hãy để cho đời sống và lịch sử của ta mở ra, hướng đến nguyện cầu. Nghĩa là hãy nhận ra và tìm gặp được, ngay trong những giây phút quay cuồng của cuộc sống, sự hiện diện ân cần và thân thương của Chúa Cha, lời Chúa Con mời gọi ta hướng dẫn những biến cố theo chiều hướng đi lên và hoàn bị, sự nhạy bén đối với Chúa Thánh Thần, Đấng hằng khơi gợi lên từ muôn dân trên mặt đất, những con người luôn ấp ủ niềm hy vọng mà không sợ hãi.
Một khi Thiên Chúa làm cho lịch sử kết thúc như vậy rồi, thì một người sẽ xuất hiện trong quyền lực và vinh quang. Bấy giờ nhân loại sẽ đứng thẳng lên, ngỡ ngàng phát hiện ra rằng dẫu sao mình cũng đã dự phần làm cho thế giới nên hoàn bị.

3. Nhận ra sự hiện diện của Chúa (R. Meynet, trong “Tin Mừng theo thánh Luca. Phân tích tu từ”, trg 197).
Dáng vẻ bên ngoài có thể che khuất thực tại. Vẻ đẹp của đá hoa cương và tòa nhà có thể khiến khách tham quan chỉ chú ý đến vẻ lộng lẫy kia mà không nhận ra cái gì là quan trọng. Đền đài hay Đấng ngự trong đền đài, cái nào quan trọng? Nếu việc loan báo sự kết liễu Đền thờ Giêrusalem có gợi được sự quan tâm, thì phải chăng cũng chỉ là để cho người ta chăm chú đến cái cốt lõi, sự Hiện diện? Cái kết thúc không được làm cho ta quên đi cái Hiện tại, cũng như cái hiện tại mau qua kia không được gây trở ngại cho việc chiêm ngưỡng Đấng chẳng hề qua đi. Hãy đón nhận những gì được ban cho ta lúc này, chứ đừng thả mồi bắt bóng. Vậy phải đợi xảy ra những biến cố kinh hoàng như chiến tranh, động đất, dịch tễ và chết đói ư? Phải đón chờ sự sợ hãi và kẻ loan báo nỗi hãi hùng kia rồi mới lắng nghe tiếng đang nói đang mời gọi ta hôm nay chăng? Chính không phải cái giờ phút ấy, cũng chẳng phải những tiếng nói tiên báo tương lai kia mà ta phải chờ đợi. Điều quan trọng hơn cả, vẫn chính là tiếng đang nói hôm nay, chỉ một tiếng nói đó mới nói thật rằng “Chính Ta đây” hoặc “Ta đây”. Chỉ ngày hôm nay, chứ không phải ngày mai, “giờ khắc ấy đã đến gần” rồi. Còn ai nữa đâu mà chờ đi theo?”.

 

CHÚA NHẬT II MÙA VỌNG

HÃY DỌN ĐƯỜNG CỦA ĐỨC CHÚA...
VÀ MỌI NGƯỜI SẼ ĐƯỢC THẤY ƠN CỨU ĐỘ CỦA THIÊN CHÚA
(Lc 3,1-6)


I. VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI:
1. Lời hoạt động trong lịch sử con người:
Chúa nhật trước, chúng ta mượn ở Tin Mừng Luca một trích đoạn bài diễn từ mang tính cánh chung, diễn từ về “tiến trình dài dẫn đến giải phóng” (H. Cousin). Hôm nay, với lời kêu gọi và rao giảng của Gioan Tẩy giả, chúng ta đang ở vào giai đoạn đầu của tiến trình ấy.
Bản văn hướng ta về một thời kỳ dài có nhiều báo trước một kỷ nguyên mới của lịch sử.
- Tiên vàn hoạt động khởi sự được ghi vào lịch sử Israel một cách thật trang trọng, bằng cách nhắc đến tên tuổi của sáu nhân vật:
+ Năm vị đầu là những vị đại diện cho quyền lực chính trị hiện hành tại Palestin và trong một vài tỉnh lân cận.
+ Vị thứ sáu đứng đầu giới tư tế mà sau này cùng với Philatô và Hêrôđê sẽ là những người đóng vai trò tích cực trong cuộc Khổ nạn của Chúa theo Tin Mừng Luca 22 và 23.
Công việc mở đầu này, như tác giả xác định rõ, xảy ra vào “năm thứ mười lăm dưới triều hoàng đế Tibêriô”, tức là năm 28.
- Vai chính của trang sử này, mặc dầu không ai nhìn thấy, cuối cùng cũng được chỉ định là chủ thể của suốt thời kỳ dài lâu này. Đó “chính là lời của Thiên Chúa”.
- Chủ thể ấy được giới thiệu ở cuối câu, khi nói về người được kêu gọi làm trung gian của lời này: “Gioan con ông Dacaria”.
“Việc sử dụng nhiều chi tiết trang trọng như thế để xác định về mặt lịch sử buổi khai mào sứ mệnh của ông Gioan, theo Roland Meynet nhận xét, là điều không cần thiết. Vả chăng, không phải để xác định rõ ràng về mặt địa lý một địa danh bé nhỏ của Đế quốc, mà tác giả Luca đã muốn kể ra những địa danh khác nhau và tên tuổi những vị tổng trấn và tiểu vương nắm quyền cai trị trên những miền đất ấy. Cuộc “diễu hành” của những nhân vật tai to mặt lớn kia mà hoàng đế Rôma là người dẫn đầu, thực ra có một cái gì long trọng và gây ấn tượng khác thường để nói lên tầm quan trọng lớn lao của sự việc đang xảy ra. Và những con người đang sát cánh với nhau khi ấy, là Do Thái hay Rôma đang cai trị Israel hay những miền dân ngoại, đều phải mắt thấy tai nghe về một sự việc có liên can tới họ hết thảy. Việc gì xảy ra với Giêsu, thì có liên can tới tất cả mọi người trên toàn thế giới” (“Tin Mừng theo thánh Luca. Phân tích tu từ”, Cerf, trg 44).

2. Gioan, người trung gian cho Lời:
Hai câu đầu đã chỉ cho ta thấy gốc gác con người của Gioan: Ông là “con ông Dacaria” và sứ mệnh của ông có gốc gác của Thiên Chúa: ông đã được “lời Thiên Chúa” kêu gọi. Giờ đây bóng dáng của vị ngôn sứ được rõ nét.
- Nơi Gioan thi hành sứ vụ là “vùng ven sông Giođan”.
- Chính ở đó, ông rao giảng một “phép rửa tỏ lòng sám hối để được ơn tha tội”.
- Giống như các thánh sử khác, Luca định nghĩa cho sứ mệnh của Gioan từ sách Isaia đoạn 40: “Như có lời chép trong sách ngôn sứ Isaia rằng: “Có tiếng người hô to trong hoang địa: Hãy dọn sẵn con đường của Đức Chúa...”.
Nhưng chỉ có mình Gioan là người theo đuổi cho đến cùng lời trưng dẫn sau đây: “Rồi hết mọi người phàm sẽ thấy ơn cứu độ của Thiên Chúa”. Tin Mừng mà Gioan loan báo chính là Thiên Chúa cứu độ, và ơn cứu độ của Người dành cho hết mọi người. Điểm phổ quát này, chính Luca, người ngoại giáo trở lại đón nhận đức tin đã làm vang dội lên trong 2,30-31 rồi khi đặt vào miệng ông già Simêon lời ca: “Vì chính mắt con được thấy ơn cứu độ Chúa đã dành sẵn cho muôn dân”. Điểm son ấy, Luca sẽ không ngừng làm vang lên trong tác phẩm của mình, mà Phaolô sẽ là người đưa ra phần kết khi tới Rôma, kinh đô của đế quốc: “Vậy xin anh em biết cho rằng: ơn cứu độ này của Thiên Chúa đã được gởi đến cho các dân ngoại, họ thì họ sẽ nghe.” (Cv 26,26).

II. BÀI ĐỌC THÊM:
1. Chính hôm nay, ta phải dọn sẵn con đường cho Chúa (F. Deleclos, trong “Prends et mange la parole”, Centurion Duculot, trg 184).
Đây là giờ phút phải lựa chọn và quyết định, phải đắm mình vào tầng sâu của nội tâm sám hối, để tính toán việc loại bỏ đi những chướng ngại cản đường Chúa tới giải phóng.
Cái đáng ăn thua là được trở thành một thọ tạo mới, trở nên những con người đã được tôi luyện và can trường...
Vậy để cho Thiên Chúa có thể đi đến được, ta hãy khai mở những con đường thênh thang của tâm hồn rộng mở và chan hòa yêu thương, hãy đạp đổ những bức tường cách ngăn kỳ thị và phân biệt chủng tộc, hãy cất đi những rào chắn của tư lợi nhỏ nhen, hãy đập tan những xiềng xích bất công và bất bình đẳng mà người ta đang la ó đả đảo, hãy để cho lưỡi gươm Lời Chúa được thảnh thơi tung hoành, hãy thức dậy và đứng thẳng người lên”.

2. “Chính hôm nay, ta phải khai mở những con đường” (J. Debruyne, trong “Jésus, son Evangile”, Desclée, trg 14-16).
Tin Mừng thánh Luca cho rằng Ngôn sứ Isaia đã nhìn thấy tiếng nói ấy đến từ xa: “Một tiêng nói phát ra như tiếng hô to vang lên giữa nơi hoang địa, rằng:
Hãy khai mở con đường của Chúa.
Hãy dọn sạch khắp mọi nẻo đường!
Con đường thẳng tắp giữa chốn hoang vu,
mọi thung lũng, phải lấp cho đầy,
mọi núi đồi, phải san thấp xuống,
lối quanh co, phải uốn cho ngay
đường lồi lõm phải san cho phẳng,
rồi hết mọi người phàm sẽ được thấy
ơn Cứu độ của Thiên Chúa chúng ta...”.

Nếu đường đi cần được mở,
là để ta đi tới nơi kia.
Vậy là hiện có một nơi,
Và đường dẫn tới cho người khát khao.
Đường kia phải mở làm sao,
Để không còn những hàng rào chặn ngang
Đường đi rộng rãi thênh thang,
Để ta vui bước mà lòng thảnh thơi.
Vẫn luôn có một con đường giải thoát,
Để con người không còn phải sống cảnh tù đày,
Để hy vọng luôn chiếu sáng con tim,
Và để tầm nhìn không còn bị mây mù che lấp.

Nếu phải mở những con đường,
Chính là để ta phải cất bước ra đi,
Là để ta phải mau mắn lên đường
Để cho Lời cùng ta vui bước.

Nếu phải mở những con đường,
Thì cần phải có những bước chân khai sáng,
Những kẻ vạch đường,
Những kẻ tìm ra bao người không ai biết đến,
Những người thích đi chinh phục những thế giới mới.
Những bàn tay dám đục đá vá trời,
Những ai biết vượt khó vượt nguy,
Những ai biết khai phá, mở lối cho tương lai.
Những ai biết khoan đường hầm để lần ra ánh sáng.

Nếu phải mở những con đường,
Là vì tha nhân mà tôi vẫn hững hờ,
Thì nay phải trở nên người khẩn thiết.
Tha nhân ở đàng kia kìa,
Tôi phải vội vã lên đường,
Tôi phải đi để gặp cho được.

Thật bất ngờ
Không còn phải là lề luật
Mới là con đường tốt,
Chính là con đường
Trở thành luật.
Không còn phải là quy tắc
Cho thấy rõ con đường phải đi,
Mà chính là đường đi
Định ra quy tắc.

Vậy đây còn phải là Đền Thờ
Làm ra lề luật,
Đền Thờ đích thực, từ nay
Chính là con đường.
Vậy, Thiên Chúa không còn ở
Trong bốn bức tường nữa,
Người đang đi trên đường”.


 

CHÚA NHẬT III MÙA VỌNG

GIOAN RAO GIẢNG MỘT TIN MỪNG KÊU GỌI ĐỔI MỚI
(Lc 3,10-18)


I. VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI:
1. ...Từ những đám đông hỏi Gioan cho biết phải làm gì...
Chúa nhật tuần rồi, Luca đã tán tụng gốc gác thần linh – “Lời Thiên Chúa” – sứ mệnh của Gioan Tẩy Giả, trước khi liệt ông vào phẩm trật các ngôn sứ của Cựu Ước mà ông đang thực hiện những lời loan báo về ông.
Hôm nay Luca trình bày cho ta công việc rao giảng của Gioan trong hai khung: khung luân lý đạo đức (10-14) và khung mang tính thiên sai (15-18).
Trước hết là khung luân lý, gồm các câu được ngắt đều đặn như một điệp khúc bởi cùng một câu hỏi đặt ra từ phía những người hưởng ứng lời ông kêu gọi “chịu phép rửa tỏ lòng sám hối để được ơn tha tội”: “chúng tôi phải làm gì?”. Có nghĩa là: sẽ có thể và sẽ phải thay đổi cụ thể đời sống như thế nào để gọi là tỏ lòng sám hối? Câu hỏi này chúng ta sẽ còn gặp thấy trên môi miệng của những người được nghe bài giảng đầu tiên của thánh Phêrô, trong ngày lễ Chúa Thánh Thần Hiện xuống: “Chúng tôi phải làm gì?” (Cv 2,37). Ta sẽ còn lại được nghe câu hỏi ấy từ miệng viên cai ngục khi mục kích Phaolô và Sila được giải thoát cách lạ lùng: “Thưa các ngài, tôi phải làm gì để được cứu độ?” (Cv 6,30). Với mỗi người, Gioan đều đưa ra câu trả lời cụ thể và thích hợp, mỗi lần câu trả lời đều nhắm tới cách đối nhân xử thế trong xã hội, mà không nhất thiết bắt người ta phải dứt lìa với môi trường sống và nghề nghiệp của họ, lại còn vượt xa khuôn khổ của Luật Môsê vốn áp đặt cho mọi người nữa.
- “Chúng tôi phải làm gì?”, “đám đông” hỏi Gioan, đám đông vô danh ấy chẳng bao lâu nữa sẽ nô nức đến với Đức Giêsu để nghe lời Người (Lc 5,1; 5,15; 6,19).
Gioan mời gọi họ hãy sống thiết thực giữa đời thường, coi nhau như anh em và chia cơm sẻ áo cho nhau: “Ai có hai áo thì chia cho người không có; ai có gì ăn thì cũng làm như vậy”.
- “Thưa Thầy, chúng tôi phải làm gì?”, tới lượt những người “Publicanô” hỏi; họ là những người thu thuế cho ngân sách của quân Rôma chiếm đóng; hạng người này đâu đâu cũng được nổi tiếng là bất lương và bị mọi người Do Thái khinh bỉ, liệt họ vào hạng người tội lỗi công khai, khó mà sám hối được, trừ phi họ từ bỏ cái nghề bị thiên hạ coi là “ô uế” kia.
Gioan không yêu cầu họ phải dứt bỏ nghề nghiệp, nhưng hãy hành nghề một cách khác, một cách lương thiện: “Đừng đòi hỏi gì quá mức đã ấn định cho mình”.
“Còn anh em chúng tôi thì phải làm gì?”, đó là câu ỏi của “những binh lính”, những tên lính đánh thuê cho Hêrôđê An-ti-pa, hoặc là thành viên của đội quân chiếm đóng Rôma; họ cũng là hạng người bị dân chúng khinh miệt.
Gioan cũng không yêu cầu họ phải rời bỏ hàng ngũ, phải thay đổi nghề nghiệp, nhưng hãy thay đổi cách hành nghề. Ông bảo họ: “Chớ hà hiếp ai, cũng đừng tống tiền người ta, hãy an phận với số lương của mình”.
Roland Meynet nhận xét, “Mọi người đến với Gioan để xin chịu phép rửa. Bất cứ ai trong đám dân chúng, cũng như trong số những kẻ hành quyền, dù ở cấp bậc bé nhỏ nhất, thảy đều nhận được cùng chỉ thị: chẳng phải ăn chay, cầu nguyện hay dâng lễ vật đền tội, mà chỉ phải thực thi công bình mà thôi. Với những ai muốn ỷ vào quyền thế, Gioan đòi hỏi họ đừng làm quá những gì luật đã ấn định. Những người thu thuế không được tăng thuế trên mức qui định; những binh lính thì không được sách nhiễu hay vu cáo dân chúng để kiếm thêm tiền cho đồng lương của mình. Công bình trước tiên có nghĩa là: thỏa thuận thế nào thì làm đúng như vậy, và chỉ làm như đã ấn định. Công bình đối với tất cả mọi người, đối với quần chúng có nghĩa là: mỗi người phải được hưởng cái họ phải có. Công bình cũng chính là lập lại thế quân bình đã bị phá vỡ: người này thiếu ăn, trong khi người khác lại quá dư thừa” (“Tin Mừng theo thánh Luca: Phân tích tu từ”, Cerf, trg 47).

2. ... đến “DÂN đang trông ngóng” việc Chúa sắp làm:
Bây giờ tới khung mang tính Mêsia. Bên kia “đám đông” ấy, Luca đã nhận ra được một thực tại mới đang hình thành: Một “dân” gồm những người hiệp nhất trong cùng một niềm “trông ngóng”. Ở đây không còn vấn đề là hỏi cho biết phải “làm” gì, nhưng là tìm cho biết việc Chúa đang làm và sắp làm, giống như những nhân vật trong Tin Mừng và Công vụ Tông đồ khi tán tụng việc Chúa làm: “Đấng toàn năng đã làm cho tôi biết bao điều cao cả... Chúa giơ tay biểu dương sức mạnh... Chúa tỏ lòng thương xót với dân Người... Người sẽ cứu ta thoát khỏi địch thù, thoát tay mọi kẻ hằng ghen ghét” (Lc 1,49, 51, 68, 71).
“Đang trông ngóng”, nên “dân” đó tự hỏi không biết Gioan Tẩy Giả có phải là đấng cuối cùng được Chúa sai đến, “Đấng Mêsia” chăng? Gioan vội xóa mình đi và xác định vai trò của mình đối với Đấng “đang đến”, “quyền thế hơn” ông. Câu này được Luca đặt trên môi miệng của Gioan và sẽ được lặp lại ba lần trong sách Công vụ Tông đồ, diễn tả tính liên tục giữa Gioan và Đức Giêsu, nhưng hơn nữa nó còn đánh dấu bước vượt qua của giai đoạn quyết định: lịch sử của Giao Ước đã bước vào một kỷ nguyên mới rồi.

II. BÀI ĐỌC THÊM:
1. “Làm một dân mới” (Pierre-Marie Beaude, trong “Le monde de la Bible” số 89, trg 2).
Gioan nói: Không có những con đường đặc biệt để đến với Chúa đâu. Trước vấn đề cấp bách phải làm phát sinh hoa trái của đức công bình, thì mọi người đều như nhau cả. Thế đã là một phép lạ rồi, khi lời của vị ngôn sứ ấy đã tập hợp lại được bên bờ sông, những con người ít khi lo sống thánh thiện như các binh lính, các cô gái điếm, các người thu thuế... Tất cả đều là những hạng người vốn xem thường những nghi thức thanh tẩy, coi nhẹ việc thực hành luật, lại rất nhạy bén trong vấn đề khuếch trương những mục đích họ theo đuổi trong tháng.
Những con người cặn bã với tư cách đáng ngờ như thế liệu có thể làm phát sinh được cái gì tốt? Đơn giản là chỉ có một dân có lòng tin, có tâm hồn mới, thực thi đức công bình mới làm được điều đó mà thôi. Những lời khuyên Gioan đưa ra thật rõ ràng: “Ai có hai áo thì chia cho người không có, ai có gì ăn thì cũng làm như vậy”. Mà có cần phải vào hoang địa mới nghe được những điều vốn đã được ghi trong sách Luật từ bao đời nay chăng? Tất nhiên là ở trong hoang địa, tai ta sẽ dễ đón nhận, dễ lắng nghe hơn: nơi đây Thiên Chúa đã thử thách dân Do Thái để làm cho họ thành dân của Người, nơi đây Thiên Chúa đã ban tặng họ Giao Ước và dùng những phép lạ củng cố lòng tin của họ, nơi đây chính là một mái trường rèn luyện mà cũng là nơi con tim Thiên Chúa và lòng tin con người được bộc lộ.
Một phép lạ được thực hiện bên bờ sông Giođan: Gioan đã quy tụ được những con người vốn thường xa cách nhau. Ngài đã làm nên một cộng đồng có những tâm hồn hối cải. Và cộng đồng này là phản bác sống động đối với tôn giáo của nhóm Xa-đốc, Pharisêu, Etxênô là những nhóm chủ trương một lối sống thánh thiện tách biệt. Ở Qumran, người ta không lẫn lộn một thầy kỳ cựu với một tập sinh. Những người Pharisêu thì họp thành những cộng đoàn nhỏ, khép kín, rất tỉ mỉ về luật thanh tẩy. Gặp một người kém thanh sạch, họ cho là mình bị mất giá. Phục hồi độ thanh sạch, đòi hỏi phải tẩy rửa theo nghi thức. Hệ thống ấy, Gioan chỉ cứ việc làm theo thôi. Vậy mà với tư cách là con trai của vị tư tế, Gioan lại không mấy quan tâm đến nước sạch hay dơ, theo nghi thức hay không theo, khi bảo người ta lội xuống giòng sông Giođan để dìm mình xuống. Sử gia Flavius Josèphe kể lại “Lúc ấy tất cả người ta cùng lội xuống”. Người thanh sạch nhất cũng như người dơ bẩn nhất, hết thảy đều cùng thú nhận tội lỗi của mình. Thế là một cuộc khởi hành mới diễn ra, một dân mới đã có thể chỗi dậy để không sống theo câu nệ và hình thức của lối sống thánh thiện tách biệt kia, nhưng nhắm thay đổi con tim và thực thi công bình là điều trước nhất.

1. “Sám hối: một sự trở về từ cả hai phía” (Henri Denis, trong “100 mots pour dire la foi”, Desclée de Brouwer, trg 147-148)
Sám hối. Đó là một từ rất gần gũi với thánh tẩy, một từ có ý nghĩa phục sinh, khơi gợi sự trở về. Nhưng thật lạ, đó lại là vấn đề trở về từ cả hai phía: hai người cùng quay lại phía của nhau...
Bạn biết chuyện xảy ra khi có người nào đó gặp mặt bạn trên đường đi hoặc ở ngoài phố (dĩ nhiên là đi bộ), và người ấy chợt nhớ lại khuôn mặt bạn, tiếng nói bạn, cuộc đời bạn. Trong giây lát hồi tâm người bạn ấy liền kêu tên bạn: “Ô Phêrô... Ô chị Briditta”. Và rồi đến lượt chính bạn hồi tâm để nhớ lại người đó.
Sám hối đúng là như vậy, cho dù ta có dùng những từ ngữ nào để nhân cách hóa Thiên Chúa, những từ ngữ phàm trần, quá ư phàm trần thì cũng vậy thôi. Chính Thiên Chúa khởi sự, và chính Thiên Chúa đã luôn luôn đi bước trước. Vô phúc cho ta, nếu ta nghĩ rằng việc sám hối của ta, là phận vụ của ta!
Bởi vì Chúa ra hiệu trước, nên chính ta phải nhìn vào Người, phải nhận ra Người và đi theo Người trong Đức Giêsu Kitô. Sám hối luôn luôn là một ân sủng, một ân sủng thúc bách ta phải lên đường.

1. “Không phải chỉ thực hành luân lý; hãy đón nhận Tin Mừng một Thiên Chúa đang đến” (Noel Quesson, trong “Les entretiens du Dimanche. Năm C”, Droguet et Ardant, trg 20-22).
Không! Không thể để cho thế giới hư nát này cứ tiếp tục mãi được, một thế giới có những con người phè phỡn ê hề, đang khi những người khác chết đói là chuyện không thể được. Vậy thì “ai có gì ăn, thì chia cho người không có”. Những kẻ nắm giữa địa vị quyền thế về phương diện nghiệp vụ, mà lại dành cho thuộc hạ của mình những đặc quyền đặc lợi nào đó, là không thể chấp nhận được. Vậy thì, các bạn là những viên chức thu thuế, là những binh lính... tất cả các bạn, nhờ địa vị mà có được những phương thế để khống chế người khác, các bạn “chớ hà hiếp ai, chớ gây thiệt hại cho ai”.
Chúng ta có nghe những lời nói quyết liệt kia của thánh Gioan Tẩy Giả chăng? Nhất nữa, chúng ta có dám đặt ra cho mình câu hỏi được lặp lại ba lần trong Tin Mừng hôm nay: “Còn anh em chúng tôi, thì phải làm gì?”, để rồi có cái gì đó làm thay đổi cuộc đời ta và để có thể xây dựng thế giới mới, thế giới chan hòa “niềm vui của Thiên Chúa và của chúng ta” chăng?
Người ta thường hay quên mất phần thứ hai của bài Tin Mừng hôm nay. Người ta chỉ dừng lại ở phạm vị thực hành luân lý: “Chúng tôi phải làm gì?”. Thế nhưng, sứ điệp của Gioan Tẩy Giả còn hàm chứa lời loan báo rằng những nỗ lực sám hối của ta sẽ không bao giờ đủ. Ông nói, Thiên Chúa đang đến, Người “quyền thế hơn tôi”. Người đến để “phát giác” anh em, để “thanh luyện” anh em. Người đến như “lửa” để “đốt cháy” ta, để thanh luyện ta, giống như người ta dùng lửa thanh tẩy những trang thiết bị dùng trong phẫu thuật vậy! Người là “Hơi thở”, là “Thần Khí” tiếng Do Thái là “Ruah” cũng có nghĩa là gió – gió thổi để tách hạt lúa ra khỏi rơm. Là Thần Khí, Người ban cho ta sự sống.
Chúng ta có chấp nhận để dìm mình vào lửa, vào khí, vào gió đó chăng? Đó là ý nghĩa của từ Phép Rửa hay Thánh tẩy vậy.
Để có thể nhảy lên vui sướng với Chúa, để có thể khám phá niềm vui của thế giới mới, bạn đừng lỡ bỏ qua mất phép rửa trong Thánh Thần này đấy”.

 

CHÚA NHẬT IV MÙA VỌNG

ĐỨC MẸ ĐI THĂM VIẾNG: CUỘC GẶP GỠ ĐẦU TIÊN
VÀ NHIỆM MẦU GIỮA ĐỨC GIÊSU VÀ GIOAN,

VỊ TIỀN HÔ CỦA NGƯỜI.
(Lc 1,39-45)


I. VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI:
1. ... Một cảnh liên hệ chặt với Truyền Tin...
Trước khi cáo từ ra đi, Sứ thần Truyền tin đã chỉ dẫn cho Đức Maria một dấu chỉ: “Kìa bà Êlisabét, người họ hàng với bà, tuy già rồi, mà cũng đang cưu mang một người con trai: bà ấy vẫn bị mang tiếng là “hiếm hoi”, mà nay đã có thai được sáu tháng”. Thế là Đức Maria, hình ảnh Giáo Hội truyền giáo, người mang Tin Mừng Đức Giêsu Kitô, tức thì “vội vã lên đường đến miền núi, vào một thành thuộc chi tộc Giuđa”. H. Cousin nhận định: “Luận đề về con đường xuất hiện lần đầu tiên trong một công trình, ở đó các nhân vật di chuyển nhiều. Lời khởi sự cuộc hành trình, và cuộc chạy (“lanh lẹ”) của Lời cuối cùng dẫn Lời tới Rôma, biểu tượng của những miền đất xa xôi có người ở” (Cv 1,8; 28,30-31) (L' Evangile de Luc”, Centurion, trg 30).
Chúng ta chẳng được biết gì hơn về cuộc hành trình của Đức Mẹ xuống miền Nam. Như cha Lagrange tính toán, thì cuộc hành trình ấy có thể phải mất bốn ngày. Chủ tâm của tác giả Luca là muốn tập trung vào lúc tới nơi để có thể tạo cảnh làm nhịp cầu nối kết hai giai đoạn mà trước đây Luca đã triển khai riêng rẽ: giai đoạn của Gioan Tẩy Giả và giai đoạn của Đức Giêsu.

2. ... cho biết số mệnh nhiệm mầu của hai con trẻ sắp sinh ra.
Trong cảnh Truyền tin, Đức Maria vừa mới nhận được lời chào của Thiên thần, liền chuyển lời chào ấy tới người chị họ của mình: “Bà vào nhà ông Dacaria và chào hỏi bà Elisabet”. F. Bovon nhận xét, “Trong những chương này, có nhiều lời chào hỏi, vì có nhiều cuộc gặp gỡ, bởi lẽ là Thiên Chúa can thiệp và khai mào ơn cứu độ thông qua những mối tương quan của con người” (“Tin Mừng theo thánh Luca 1-9”, Labor et Fides, trg 86). Và lời chào hỏi của Đức Maria châm ngòi cho tiến trình ấy. Khi lời chào ấy vừa lọt tai bà Êlisabét thì đứa con trong bụng bà nhảy lên; một sự nhảy mừng mà bản dịch đã dùng một từ làm giảm đi sức mạnh, bởi vì nguyên văn tiếng Hy Lạp là “nhảy cẫng lên”, “nhảy tung lên”, “nhảy múa”.
- Vì được đầy tràn Thánh Thần, ngay cả trước khi chào đời, nên Gioan nhìn thấy bình minh của kỷ nguyên mới đang ló dạng và, bằng cách thi hành trước sứ mệnh của mình như vậy, ông nói tiên tri, không phải bằng lời nói, nhưng bằng cử động nhảy tung lên, rằng Đấng mà người ta trông đợi đến vào ngày tận thế, thì từ này Người đang có mặt đây rồi: “Thiên Chúa không chỉ dùng những lời nói, mà còn sử dụng cả ngôn ngữ của thân xác nữa”, F. Bovon còn nhận xét thêm như vậy.
- Được đầy tràn Thánh Thần, bà Êlisabét đọc được ý nghĩa của động tác con trong bụng mình nhảy lên vui sướng và ý nghĩa của cuộc hội ngộ mà bà đang sống.
+ Bằng một tiếng kêu lớn bày tỏ vẻ ngỡ ngàng, bà Êlisabét nhìn nhận rằng Đức Maria và “hoa trái của lòng” mà Maria đang cưu mang đều được Chúa chúc phúc.
+ Rồi bằng danh hiệu “Thân mẫu Chúa tôi”, bà tung hô người con của người em họ mình là Đấng mà Tv 109,1 đã loan báo, Đấng Kitô Đức Chúa.
+ Sau cùng theo hình thức một mối phúc, bà tán tụng lòng tin của Đức Maria: “Em thật có phúc, vì đã tin rằng Chúa sẽ thực hiện những gì Người đã nói với em”. Đức Maria “đã cưu mang trong tinh thần trước khi cưu mang trong thân xác mình”, điều mà thánh Augustinô sẽ chú giải sau này.
H. Cousin viết: “Mối phúc về lòng tin của Đức Maria, phân biệt tự căn bản người thiếu nữ ấy với ông Dacaria (câu 45) và những câu 42-45 cho phép Luca kết hợp lại trong chính bản thân Đức Maria 2 mối phúc: phúc được làm mẹ Thiên Chúa và phúc vì có lòng tin; sau này ở 11,27-28, hai mối phúc ấy lại được Luca tách riêng ra. Nhờ tin rằng Thiên Chúa sẽ thực hiện những gì Người đã nói, Đức Maria được làm mẹ: lòng tin của Người cần thiết để Thiên Chúa phải thực hiện những gì Người đã nói! Đức Maria là điển hình kẻ nghe Lời Chúa, là mô hình của người có lòng tin, là tín hữu đầu tiên. Bởi vậy, ta không nên coi thường phần Luca đóng góp vào kinh nguyện và suy niệm của Giáo Hội sau này liên can tới Đức Trinh Nữ Nadarét. Không ai chối cãi được rằng kiểu nói “Thân Mẫu Chúa” cũng là phiến đá đặt nền cho tước hiệu đầu tiên sau này, tước hiệu mà cả hai Giáo Hội Rôma cũng như Chính Thống sẽ tôn phong và ca mừng Đức Maria: “Théotokos”, “Mẹ Thiên Chúa”.” (“L’Evangile de Luc”, Centurion, trg 31)

II. BÀI ĐỌC THÊM:
1. Thăm viếng: gặp gỡ giữa hai người phụ nữ, giữa hai con trẻ, giữa hai giao ước (H. Vulliez, “Dieu si proche”, Desclée de Brouwer, trg 17-18).
“Thánh Kinh là cả một chuỗi dài những cuộc viếng thăm mà Thiên Chúa đã thực hiện với dân Người. Mặc dầu những bất trung thất tín của con người, và đôi khi vì chính những bất trung ấy mà từ chín tầng trời cao thẳm, Thiên Chúa vẫn thường xuyên ngự xuống trần gian. Một ngày kia, qua trung gian Sứ thần Gabrien, Người loan báo cho một thiếu nữ làng Nadarét, là Maria, biết tin con Người đến. Tức thì người thiếu nữ ấy lên đường đi “thăm” người chị họ của mình là Êlisabét.
Hai người phụ nữ gặp nhau, và qua họ hai con trẻ là Gioan và Giêsu cũng gặp nhau. Rồi qua hai con trẻ ấy, hai Giao ước cũ và mới gặp nhau. Tường thuật của Luca về khoảnh khắc có một không hai này có giá trị còn hơn một trang sử giáo dục. Cuộc viếng thăm này mở ra một tương lai cực kỳ mới lạ. Từ nay qua trung gian con người, qua người con đã làm người mà Thiên Chúa viếng thăm nhân loại. Và cũng chính khi thăm viếng người ta, là ta thăm viếng Chúa vậy. Trong chuyến viếng thăm cuối cùng của Chúa vào ngày tận thế, người ta sẽ kêu lên ngỡ ngàng: “Nhưng có khi nào chúng tôi đã viếng thăm Chúa đâu?”. Và Chúa sẽ đáp lời họ: “Mỗi lần anh em thăm viếng những người ốm đau, nghèo khổ.. và bất cứ ai khác, là anh em đã thăm viếng chính Ta, anh em đã mở ra trên trần gian này, những con đường xuyên đồi đậm tình nghĩa thiết đời đời vậy”.

2. “Cùng với Đức Maria, hãy tin vào Thiên Chúa Đấng làm được mọi sự ngay cả những điều không thể được” (G. Boucher, trong “Le ciel sur la terre”).
“Thế là lịch sử chuẩn bị sang trang, để khai trương một kỷ nguyên mới. Vậy mà thế giới vẫn chưa biết điều ấy. Chẳng bao lâu sau, một phần lớn nhân loại sẽ bắt đầu tính số năm và thể kỷ từ một biến cố có vẻ như không có gì quan trọng cả. Người ta còn gọi thêm nữa là: năm một sau Đức Giêsu Kitô, thế kỷ thứ nhất sau Đức Giêsu Kitô, hai ngàn năm sau Đức Giêsu Kitô.
Trong niềm trông đợi ơn mạc khải về thế giới mới này, tất cả đều tuỳ thuộc vào quyết định của một người phụ nữ rất bình dị. Chỉ một mình người phụ nữ khiêm tốn, không tên tuổi ấy đang nắm giữ bí mật của đất và trời. Người phụ nữ ấy là MARIA, đang mang trong máu thịt mình, những lời hứa về một người con cùng chung một bản tính với Cha trên trời.
Những bà con của Người đã lấy làm lạ lùng. Trong nhà Dacaria và Êlisabét, người ta linh cảm rằng ơn làm mẹ của người em họ trẻ tuổi này là do lời Chúa hứa.
Thật là tuyệt vời khi nghe người phụ nữ sơn cước ấy chúc tụng một phụ nữ làng quê Nadarét, đồng thời cũng chúc tụng luôn cả hài nhi mà phụ nữ Nadarét ấy đang cưu mang và hài nhi ấy không bao lâu nữa sẽ cho người ta biết mặt và kế hoạch cứu nhân độ thế của mình!
Bà Êlisabét nhờ lớn tuổi hơn nên được đặc ân nhận ra một dấu lạ của trời ngay trong tư cách làm mẹ của bà; bà cũng phát hiện cùng một dấu lạ như thế nơi người em họ còn trẻ măng của bà. Khi nghe con mình nhảy mừng trong bụng, bà ức đoán rằng người em họ của mình là một người mẹ đã cùng với Thiên Chúa dấn thân trong cuộc phiêu lưu này.
Ai sẽ nói hết được những nỗi niềm và tâm tư mà hai chị em chia sẻ cho nhau lúc ấy? Ai sẽ kể hết được những lời kinh tuyệt vời mà hai người mẹ ấy cùng dâng lên? Bởi vì Tin Mừng vẫn luôn luôn nhấn mạnh đến một điều, đó chính là lòng tin của hai người phụ nữ này. Nên hạnh phúc thật mà họ có được là vì người này cũng như người kia đều đã tin vào một điều không thể xảy ra được.
Gần tới lễ Giáng sinh, chúng ta tán tụng lòng tin của Đức Maria. Một lòng tin đưa Mẹ đến dấn thân vào một chuyến đi không biết trước hậu quả, trên những miền đất của Thiên Chúa. Một lòng tin khiến Mẹ mạo hiểm mang theo gánh nặng Chúa trao, để lặn lội vượt đèo lội suối đi tới nhà người chị họ Êlisabét. Một lòng tin vào Thiên Chúa Đấng làm được mọi sự. Một lòng tin tuyệt đối.
Ta hãy mừng vui ngây ngất trước nhan Mẹ! Nhưng còn mừng vui hơn nữa trước một Thiên Chúa dám chọn con đường của phàm nhân để bắt liên lạc với nhân loại.
Bởi lẽ Đức MARIA cho phép ta nhận ra ân huệ Chúa ban cho Mẹ do lòng tin, ân huệ mà Thiên Chúa cũng có ý định ban cho mỗi người chúng ta. Ta có biết đáp lại kế hoạch của Chúa dành cho ta bằng cũng một niềm tin phó thác như Đức Maria không?
Phúc thay nếu ta tin rằng “không có gì mà Thiên Chúa không làm được!”.

 

LỄ ĐÊM GIÁNG SINH

CHÚA GIÊSU SINH RA. CÁC MỤC ĐỒNG HAY TIN
(Lc 2,1-14)


I. VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI:
1. Chúa Giêsu sinh ra trong âm thầm...
Nếu trong lời tựa sách Tin Mừng của mình, Luca rõ ràng có ý định làm công việc của một sử gia, thì không phải là sử gia theo nghĩa như người ta hiểu ngày nay, mà như là một nhà thần học đặc biệt nhạy cảm đối với lịch sử cứu độ.
- Để ghi biến cố Đức Giêsu sinh ra vào lịch sử của thế giới, thánh Luca nối kết biến cố này với “chiếu chỉ của hoàng đế Augustô truyền kiểm tra dân số trong khắp cả thiên hạ” (việc kiểm tra này không phải là không đặt ra vấn đề lịch sử theo một số các nhà chuyên môn).
- Để diễn tả lịch sử cứu độ có sự liên tục và được hoàn thành trong Đức Kitô, Luca thích nhấn mạnh đến tính gia tộc của Đức Giêsu là con cháu vua Đavít.
+ Chính vì phải đi tới Belem “thành vua Đavít” mà Giuse phải rời bỏ thành Nadarét miền Galilê để “trở về nguyên quán mà khai tên tuổi, vì ông thuộc về nhà và gia tộc vua Đavít”.
+ Chính tại Belem mà “Maria, bạn ông lúc ấy đang mang thai” sẽ hạ sinh hài nhi bà đang cưu mang.
Giuse người đã giữ vai trò quyết định trong việc đi lên Bêlem, giờ đây mờ nhạt đi để nhường cho Maria vai trò chủ động: “Bà sinh con trai đầu lòng, lấy tã bọc con, rồi đặt nằm trong máng cỏ (một chi tiết không thể không gợi nhớ lại cảnh táng xác ở Luca 23,53: “Ông lấy tấm vải gai mà liệm, rồi đặt Người vào ngôi mộ”), vì hai ông bà không tìm được chỗ trong “phòng tập thể” (“Phòng tập thể” sau này ta sẽ gặp thấy ở Luca 22,11 sẽ là phòng tiệc ly).

2. ... rồi Người được biểu dương long trọng.
Tương phản với cảnh sinh ra trong lặng lẽ, tăm tối và nghèo hèn, thì giờ đây “trong vùng ấy” đêm bừng sáng, và văng vẳng lời tiết lộ ý nghĩa của biến cố vừa mới được thực hiện: đất trời cùng mở hội giao duyên.
Những người đầu tiên được đón nhận mạc khải của biến cố, lại là những con người mạt rệp của xã hội thời ấy: “những người chăn chiên”, một lớp người trong xã hội bị khinh rẻ nhất, bị xếp cùng hàng với những người tội lỗi công khai và những người thu thuế. H. Cousin giải thích: “Những người chăn chiên, thường bị mang tiếng xấu ở Palestin, nơi đây người ta thường coi họ như những tên bất lương, phường trộm cắp. Kinh Tan-mút của Babylon xếp họ vào hạng người “độc đáo”: “Những tên chăn chiên, bọn thu thuế và Publicanô thật khó mà sám hối”. Những người ở nấc thang cuối cùng của xã hội vốn bị khinh bỉ ấy lại là những người đầu tiên được chia sẻ ơn giáng sinh của Đấng có một người mẹ là “kẻ khiêm hạ”, và Đấng ấy sẽ mang Tin Mừng đến cho những người nghèo khổ (4,18). Hài nhi mới sinh đã là người rồi đây sẽ gần gũi với những người tội lỗi và đồng bàn với họ” (15,2) (“Tin Mừng Luca”, Centurion, trg 38-39).
- Sứ điệp mà “Thiên thần Chúa” gởi đến cho họ là “Một Tin Mừng” (một “Phúc Âm”), một niềm vui trọng đại, Đó là tin vui “cho toàn dân”, tin vui về một hài nhi giáng sinh, mà chỉ hài nhi đó mới có đầy đủ những danh hiệu là “Đấng Cứu độ”, “Đấng Mêsia”, “Đức Chúa”, bởi vì hài nhi đó là mạc khải sống động của lòng nhân hậu Chúa. Cả ba danh hiệu đó, ta sẽ gặp lại trên môi miệng của Phêrô (Cv 2,36) và Phaolô (Cv 13,33), đều đã được Giáo Hội hát lên để tuyên xưng niềm tin phục sinh.
- “Dấu chỉ” được ban cho các người chăn chiên trong vùng Bêlem là “một trẻ sơ sinh bọc tã nằm trong máng cỏ”, hàm ý là Thiên Chúa muốn thực hiện ơn cứu độ đã hứa, một cách thật lạ lùng, không ngờ được cho ai biết đón nhận dấu chỉ này.
R. Meynet quảng giải: “Kẻ đứng đầu trở nên người rốt hết. Chính Người là Đấng Cứu độ, là Vua, là Đấng Mêsia sẽ được ban cho ngôi báu Đavít, lại đã nằm trong máng cỏ bò lừa; Người được bọc tã nằm trong cái nôi của số phận nghiệt ngã, thì sau này khi chết cũng sẽ được quấn khăn liệm đặt nằm trong ngôi mộ mượn thôi. Và chính cái đó, cái dấu chỉ ngược đời này đã được ban cho các người chăn chiên cũng như cho những kẻ có lòng tin của mọi thời. Bằng chứng oai phong của Chúa là sự thấp hèn, bé nhỏ của Người, dấu chỉ quyền năng của Người là vẻ yếu đuối” (“Tin Mừng theo thánh Luca. Phân tích tu từ”, Cerf, trg 36).
- “Bỗng chốc” trổi lên lời ca vang ngợi khen Thiên Chúa. Cả bầu trời vang dội tiếng ca mừng biến cố, với quy mô lớn lao và hoành tráng, tương ứng với việc kiểm tra dân số lớn lao của hoàng đế Augustô: “Bỗng có muôn vàn thiên binh hợp với sứ thần cất tiếng ngợi khen Thiên Chúa rằng: “Vinh danh Thiên Chúa trên trời; bình an dưới thế cho lòng người Chúa thương!”. Đất trời tưng bừng mở hội: kỷ nguyên cứu độ đã bắt đầu. Vì Thiên Chúa coi việc thi ân giáng phúc là làm vinh danh Người, nên Người sẽ ban tràn đầy cho con cái Người, ơn bình an mà Người đã hứa ban trong thời kỳ cứu độ, nhưng không phải là thứ bình an của đế quốc Rôma mà người ta trông đợi hoàng đế Augustô mang đến, nhưng là sự sống sung mãn mà chỉ mình Người mới có thể bảo đảm thực hiện cho ta mà thôi.
Khi vùng quê Bêlem đã trở về với đêm tối và tĩnh mịch, các người chăn chiên đã hối hả ra đi “để xem sự việc đã xảy ra”. “Họ thấy bà Maria, ông Giuse cùng với hài nhì đặt nằm “trong máng cỏ”. Rồi, như những mẫu gương cho các nhà truyền giáo mà Luca sẽ trình bày trong cuốn sách thứ hai của ông, sách “Tông đồ công vụ”, các người chăn chiên ra về, vừa đi vừa ca tụng Thiên Chúa “vì mọi điều họ đã được mắt thấy tai nghe”.

II. BÀI ĐỌC THÊM:
1. “Ngôi Lời của Chúa nằm trong máng ăn súc vật” (F. Deleclos, trong “Prends et mange la Parole, Duculot, trg 187-188).
“Mỗi năm đều kết thúc bằng “thời kỳ lễ nghỉ”: Noel, Đêm Giao Thừa, Ngày Đầu Năm.. Nổi bật hơn cả là lễ Noel với cây thông và máng cỏ. Rồi những thiệp mừng được tới tấp gởi đi hay đến; những ông già Noel tung tăng đi lại giữa phố phường hoặc vui vẻ đứng chào hàng trong cửa tiệm. Tiệc vui, kẹo bánh và đồ tặng ê hề chất đầy những túi đựng có hình cái sừng. Nơi nơi tràn ngập bầu khí an vui của những ngày nghỉ, ngày lễ. Tất cả như còn vương chút cảm xúc có màu sắc tôn giáo vậy.
Dầu sao những trang trí và biểu hiện bên ngoài của ngày lễ cũng không che giấu được hết những nỗi buồn, cảnh khổ, ghê tởm và chán chường vẫn dằn vặt bao người. Có gì mà vui cho những người mới tốt nghiệp chưa có việc làm và những người thất nghiệp, những người đang đói và những kẻ không nhà. Vui chi cho những tâm hồn đang tan nát, bị bầm dập, những kẻ bị lưu đày, những người đang phải sống vất vưởng bên lề xã hội thuộc đủ loại. Bóng tối vẫn còn mịt mùng!
Bầu khí của lễ Noel đầu tiên năm xưa cũng chẳng có gì đặc biệt là lễ cả. Xứ Palestine đã bị người Rôma cai trị, những khát vọng tự do đã bị đe dọa hoặc đã bị tiêu tan cả rồi; người ta nơm nớp lo sợ những cuộc nổi dậy, tù đày, hành hạ những người ái quốc và những tín đồ Do Thái giáo như cơm bữa, những cảnh bạo lực thường bị đàn áp, đôi khi bùng lên như điên cuồng.
Tuy nhiên trong lòng người khi ấy vẫn luôn ấp ủ một niềm hy vọng mãnh liệt và lòng tin đã không chết. Đúng là một niềm tin vững chắc của cha ông vẫn neo sâu vào lòng đất rất sôi động ấy. Từ nhiều thế hệ, các ngôn sứ đã loan báo dứt khoát rằng: một Đấng cứu độ sẽ đến. Một “con người” sẽ thiết lập một triều đại, một vương quốc công lý và hòa bình. Thiên Chúa đã hứa với dân Người như vậy.
Và này đây vào một ngày như mọi ngày, lời tiên tri ứng nghiệm, điều báo trước trở thành hiện thực. Lấy gì làm bằng chứng? Chẳng có chứng cớ nào hết. Chỉ có một dấu chỉ. Dấu chỉ ấy được ban cho “những người bé mọn”, những người sống tăm tối với nghề chăn nuôi. Dấu chỉ quả là mong manh, bởi lẽ đó là một “con trai đầu lòng” bọc tã nằm trong máng cỏ. Ngôi Lời Thiên Chúa nằm trong máng dành cho súc vật!
Ngay từ khoảnh khắc đầu tiên, đó là một bài học về khiêm hạ, về tình người. Khi Thiên Chúa dám chịu phiền hà, khi Đấng giải phóng tỏ mình ra, chẳng có quảng cáo, chẳng kèn trống rùm beng, chẳng có quần chúng nhiệt liệt ủng hộ, hay dương oai bằng võ khí. Tất cả những phô trương náo nhiệt ấy là của những người quyền thế để nâng cao thanh thế của họ... Còn ở đây chỉ là khiêm tốn, là bình dị hoàn toàn, là khó nghèo thực sự. Tất cả phải làm cho ta gai mắt và hoảng sợ nữa.
Hôm nay cũng vậy thôi, Người đến xô đẩy những gì ta coi là ưu tiên, những quan điểm hẹp hòi và những chương trình của ta. Ở đâu người ta ít chờ đợi Người, thì Người lại xuất hiện. Và một Đức Kitô như thế, thì rất có nguy cơ lại trở về tình trạng như đêm Noel đầu tiên xưa thôi: chẳng ai đoái hoài đến, chẳng ai biết cho, luôn bị đe doạ, bị thành phần ưu tú của tín hữu và những kẻ thế lực đời này ruồng rẫy thôi. “Người đã đến nhà mình, nhưng người nhà chẳng chịu đón nhận”.
Mà tại sao lại thế? Là vì Người không chỉ bằng lòng với việc kêu gọi cầu nguyện và tổ chức những lễ lạy rềnh rang, nhưng Người giảng dạy sự tha thứ và lòng xót thương; Người tuyên bố phẩm giá và những quyền của con người phải được tôn trọng. Là vì Người vạch rõ những con đường để thực thi công lý, hòa bình, hiệp nhất và huynh đệ bằng việc hoán cải cái tâm, thay đổi cái tính và uốn nắn cái tình.
Thiên Chúa đến làm cho chúng ta trở nên “một dân hăng hái làm điều thiện”. Thế nên ta hãy làm cho lòng ta thành một cái nôi lãnh nhận Lời ban sự sống. Và khi bàn tay ta, giống như máng cỏ, giơ ra để nhận Lời hóa bánh, thì hãy nhớ rằng Người đến trong ta để lấy đó làm nơi cư ngụ, để soi sáng, giải thoát, biến đổi ta và để làm cho ta trở thành những chứng nhân và làm bằng chứng cụ thể cho tình yêu của Người đối với mọi người vậy.

1. “Thế giới đảo ngược” (J. Debruyne, trong “Jésus, sa chair, ses racines”, Desclée, trg 201-202).
“Đêm đó
các người chăn chiên đã lên đường
đi tìm Chúa.

Phải chăng hài nhi sơ sinh kia
Là người thân của họ
Nên đã sinh ra trong chuồng bò lừa như thế?

Có lẽ rồi đây Người cũng sẽ là kẻ chăn chiên chăng?
Thế tại sao hài nhi bé bỏng kia
Rồi đây lại không muốn làm
“một chú bé mục đồng”

Họ là những người canh giữ đoàn vật,
Luôn trông chờ bình minh mau tới,
Qua ánh sao, họ nhận ra dấu chỉ
Giữa trời đêm, họ đọc Thánh Kinh.
Họ là những người nay đây mai đó,
Mòn vết chân trên những đồng cỏ thưa,
Họ khéo léo tập họp bầy chó dại.
Và rất dễ dàng quy tụ đoàn chiên.
Hơn là bế bồng nâng niu em nhỏ,

Có lẽ họ là lời loan báo
Rằng đêm nay
Một cuộc xuất hành mới bắt đầu chăng?

Có lẽ vì họ là
Những con người của lều trại
Không cố định ở một chốn nào lâu
Vì họ là những anh em bà con của Chúa,
Nên khi ở với họ,
Chúa cảm thấy như ở nhà mình chăng?

Phải có được những con mắt như họ,
Mới có thể giữa trời đêm
Nhắm ánh sao mà tiến tới,
Để nhận ra Thiên Chúa ẩn mình
Dưới hình hài một trẻ sơ sinh...

Đêm hôm đó,
Đêm vui của những người nghèo,
Vẫn chưa trở thành ngày lễ
Cho những kẻ giàu sang.
Nét thanh bần
Vẫn chưa phải là lễ hội của quà chia,
Đêm lặng lẽ đó,
Vẫn chưa phải là lễ hội đem tưng bừng thật sự.

Đêm hôm đó,
Chẳng cần cổ võ thêm những cuộc vui,
Mà nên triệt bỏ đi mới phải.
Nếu đêm nay Chúa đang ở đó,
Thì ta phải cúi xuống tìm gặp Người,
Và quỳ xuống
Để lượm lấy Người nằm dưới đất.
Hài nhi sơ sinh đó
Còn chưa nói ra được một tiếng
Thế mà lại đã là Lời
Mà ý nghĩa thật là đảo lộn.
Là thế giới đảo ngược,
Là đảo ngược các thang giá trị,
Là tương lai đã đang đi trên đầu rồi”.


 

LỄ BAN NGÀY

NGÔI LỜI ĐÃ TRỞ NÊN NGƯỜI PHÀM
VÀ CƯ NGỤ GIỮA CHÚNG TA
(Ga 1,1-18)


I. VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI:
1. Một bài thánh ca thay cho lời tựa.
Mátthêu mở đầu tác phẩm của mình bằng “Cuốn Sách Gia phả Đức Giêsu Kitô, con cháu vua Đavít, con cháu tổ phụ Abraham”. Luca mở đầu “Bài tường thuật về những điều đã thực hiện giữa chúng ta” (1,1) của ông bằng một trình bày thứ tự về một vài tình tiết cuộc đời thơ ấu của Đức Giêsu: cuộc đời Đức Kitô cùng một lúc được Luca đưa vào đó để giới thiệu trước. Máccô, như ta biết ở Chúa nhật thứ hai Mùa Vọng – lại thích đặt cho cuốn sách của ông cái danh hiệu rất ý nghĩa này: “Khởi đầu Tin Mừng Đức Giêsu Kitô, Con Thiên Chúa”.
Còn Gioan như trổi lên khúc nhạo dạo đầu cho Phúc Âm của ngài bằng Lời Tựa mang hình thức một bài thánh ca, mà nhiều nhà chú giải nghĩ rằng đã được cộng đồng của Gioan hát trước khi được đem vào làm lời tựa cho Phúc Âm thứ tư. Theo kiểu cách “dạo đầu” của một bản giao hưởng – hay đúng hơn theo cách thức chuyển động nhịp điệu để chuẩn bị kết thúc – bài thánh ca này phối trí các chủ đề một cách rất cô đọng.
Alain Marchadour giải thích, “Khi tìm nhập đề cho sách Tin Mừng của mình, Gioan đã chọn và thích ứng bài thánh ca để làm nhập đề trình bày lần lượt những chủ đề chính của Tin Mừng, tựa như phần nhạc dạo đầu của một vở nhạc kịch vậy: Đức Giêsu mà Tin Mừng sắp kể lại thân thế và sự nghiệp khi sống giữa nhân loại, được tác giả trình bày đi từ lịch sử và cuộc sống trần gian để tới cội nguồn của Người. Người là Ngôi Lời đã có từ khởi thuỷ và mật thiết với Thiên Chúa đến độ nhà thi sĩ, tác giả của bài thơ quả quyết rằng Người là Thiên Chúa. Vai trò của người vượt ra ngoài phạm vi dân Israel, vì Người là Đấng tác tạo, là Sự Sống và Ánh Sáng cho hết mọi người sinh ra ở trần gian này. Việc xuống thế nhờ mầu nhiệm nhập thể đánh dấu việc Ngôi Lời đi vào lịch sử, quyết định gặp gỡ con người và dân Do Thái: từ đó phân ra hai loại người: kẻ thì từ khước như dân Do Thái, người thì đón nhận: đó là cộng đoàn Kitô hữu. Bài thánh ca này kể lại với một vẻ trang trọng hành trình của Ngôi Lời, từ nơi Người là Thiên Chúa (1-2), đến với loài người (3-5), chọn dân Israel (9-11), rồi nhập thể, (14) cho đến khi trở về với Thiên Chúa, vì Người vốn ở trong cung lòng Đức Chúa Cha” (“Tin Mừng thánh Gioan”, Centurion, 1992, trg 31).

2. ...để tán dương hành trình của Ngôi Lời Thiên Chúa:
Chúng ta sẽ lần lượt đi vào từng câu để thấy cách quảng diễn của bài thánh ca.
- Xuất xứ huyền nhiệm của Đức Giêsu, Ngôi lời tác tạo:
+ Hai từ đầu tiên “khởi đầu” nối kết việc Đức Giêsu đến, với những chương đầu của sách Sáng Thế. Như thế Đức Giêsu được đọc lại từ khởi đầu của mạc khải: trải dài suốt sách Tin Mừng, Người sẽ được trình bày như “thành quả của mọi mạc khải, là Đấng mạc khải tối cao, là ân huệ cuối cùng của
Thiên Chúa, là con đường duy nhất có thể đưa đến ơn cứu độ, là dung mạo Thiên Chúa ở giữa loài người”
(A. Marchadour, Sđd, trg 34).

+ “Ngôi Lời Thiên Chúa” (từ để chỉ Ngôi Hai Thiên Chúa, chỉ có trong Tin Mừng Gioan thôi) trước hết được giới thiệu là có trước từ đời đời, vô cùng mật thiết với Chúa Cha, khác biệt với Chúa Cha, có cùng bản tính Thiên Chúa: “Ngôi Lời vẫn hướng về Thiên Chúa và Ngôi Lời là Thiên Chúa”.
Rồi bài thánh ca tán dương công trình tạo dựng vũ trụ của Đấng là Lời vĩnh hằng của Thiên Chúa: “Nhờ Ngôi Lời vạn vật được tạo thành và không có Người thì chẳng có gì được tạo thành”. Đồng thời Ngôi Lời ban sự sống cho thế gian và cho thế gian hiện hữu.
- Ngôi Lời Thiên Chúa là Ánh Sáng và Sự Sống cho mọi người.
Mặc dầu vẫn hướng về Thiên Chúa và là chính Thiên Chúa, Ngôi Lời từ đời đời vẫn có một tương quan độc đáo với loài người. người không chỉ là Đấng tạo thành; Người ban “Sự Sống”“Ánh Sáng”; Người không chỉ là nguồn mạch mọi sự sống; việc Ngôi Lời hiện diện giữa loài người mang lại hoa trái là biểu lộ và thông ban sự sống siêu nhiên cho con người. Ngôi Lời cũng là Ánh Sáng, không phải ánh sáng vật chất của vũ trụ mà là ánh sáng của Thiên Chúa, ánh sáng siêu nhiên soi sáng và hướng dẫn mọi người.
+ Chứng của Gioan Tẩy Giả.
Tương phản khác thường với vẻ trang trọng của những câu đầu của Lời Tựa, giờ đây Gioan Tẩy Giả lên sân khấu: “Có một người...”.
Ánh sáng đến trong thế gian có người làm chứng đi trước: Gioan con ông Dacaria. Ông này được nên cao cả là vì đã được Thiên Chúa sai đến và đã nhận lãnh sứ mạng làm chứng cho Ánh sáng; với tư cách là Tiền Hô, ông đưa người ta đến với niềm tin vào Đấng là Ánh sáng và là Đấng phải nắm giữ mọi địa vị: “Ông không phải là Ánh sáng, nhưng ông đến để làm chứng về Ánh sáng”.
- Ánh sáng đến thế gian.
+ Nhưng khi Ánh sáng đến thế gian, thì đã vấp phải sự chống đối và khước từ của con người. Thế gian do Ngôi Lời tạo thành đã từ chối Ánh sáng, đó đã là một chuyện tai tiếng rồi: “Người ở giữa thế gian, và thế gian đã nhờ Người mà có, nhưng lại không nhận biết Người”. Còn một xì-căng-đan lớn hơn nữa, đó là: “những người nhà”, dân của Lời hứa, dân của Giao Ước “không chịu đón nhận”.
+ Thế nhưng “những ai đón nhận” là người Israel, hay không phải là Israel, “thì Người cho họ quyền trở nên con Thiên Chúa”.
- Ngôi Lời đã trở nên người phàm.
+ “Ngôi Lời đã trở nên người phàm”: Gioan đã không viết là Ngôi Lời đã trở nên người; ông cao rao rằng Ngôi Lời đã trở nên người phàm, một từ chỉ toàn diện con người cả xác lẫn hồn, yếu đuối, mỏng giòn, hay hư nát.
+ “và cư ngụ giữa chúng ta” (dịch sát chữ là: “đã dựng lều giữa chúng ta”): đối với các độc giả của Gioan lúc ấy, kiểu nói “dựng lều” gợi nhớ ngay đến “nơi cư ngụ của Chúa” giữa dân Người. Sự hiện diện của Thiên Chúa giữa dân Người xưa được biểu tượng bằng Nhà Lều ở sa mạc thời Xuất Hành, rồi bằng Đền thờ Giêrusalem, thì giờ đây được thể hiện một cách trọn vẹn và triệt để nơi Đức Giêsu, Thiên Chúa làm người (cf. Ga. 2,19-22: “... Đền thờ Người muốn nói ở đây là chính thân thể người”).
+ “Chúng tôi đã được nhìn thấy vinh quang của người”: nơi con người Đức Giêsu, cộng đoàn của thánh Gioan quả quyết rằng họ đã được nhìn thấy vinh quang của Thiên Chúa, nghĩa là nhìn thấy một phẩm chất, một ánh rạng ngời tỏ lộ Thiên Chúa.
- Đức Giêsu Kitô đã tỏ cho thấy Thiên Chúa vô hình.
“Không ai đã thấy Thiên Chúa bao giờ, nhưng Con một là Thiên Chúa và là Đấng hằng ở nơi cung lòng Chúa Cha, chính Người đã tỏ cho chúng ta biết”.
J. Perron lưu ý, “Vì ở đầu bài thánh ca đã có nói về Ngôi Lời vẫn hướng về Thiên Chúa, nên bài được kết thúc bằng nêu lên câu “Con một là Thiên Chúa và là Đấng hằng ở nơi cung lòng Chúa Cha”. Đó cũng chính là hành trình cuộc đời của Đức Giêsu như Gioan đã tóm tắt lại ở phần cuối Tin Mừng của ngài trong câu: “Biết rằng Người bởi Thiên Chúa mà đến, và sắp trở về cùng Thiên Chúa” (13,3). Nhưng khi lên cùng Đấng mà chỉ có mình Người được biết (“Không ai đã thấy Thiên Chúa bao giờ, ngay cả ông Môsê!”), thì Người muốn đem ta theo Người: “để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó” (14,3). Hơn nữa, Người còn đưa chúng ta vào đời sống riêng tư mật thiết này: “Ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy, Cha của Thầy sẽ yêu mến người ấy. Cha của Thầy và Thầy sẽ đến và ở lại với người ấy” (14,23) (“Đọc Thánh Kinh” số 52, trg 34-35).

II. BÀI ĐỌC THÊM:
Một lễ Noel đích thực chúng ta mừng hôm nay (“Célébrer”, tạp chí C.N.P.L. số 214, trang 41-42).
Phần phụng vụ tiếp theo Lễ Nửa Đêm mang mầu sắc thật trang trọng lạ lùng! Trong Lễ Đêm, Tin Mừng Luca chỉ kể lại biến cố Chúa giáng sinh một cách quá giản dị, còn Gioan thì đưa ra cho ta một bài suy niệm mà mỗi câu mỗi từ là một kỳ công.
Bài tường thuật của thánh Gioan không giản dị mà mang một tầm vóc vô cùng lớn lao vượt ngoài sự hiểu biết của ta, điều mà không một bản văn nào cho thấy rõ hơn là Lời tựa lạ lùng của Tin Mừng thánh Gioan.
Trong Tin Mừng Gioan, cũng có những bóng tối, nhưng không phải bóng tối của đêm đen, mà là số phận tăm tối của con người.
Trong Tin Mừng Gioan cũng có cảnh thiếu chỗ để đón tiếp Chúa Giêsu, nhưng không phải chỗ trong nhà trọ ở Bêlem xưa nữa, mà chính là những tấm lòng chai đá của những kẻ không đón nhận “Ngôi Lời” của Thiên Chúa.
Trong Tin Mừng Gioan cũng nói đến một sự sinh ra, nhưng đó là sự sinh ra của những kẻ sinh ra bởi Thiên Chúa, vì họ đón nhận Lời và tin vào Lời. Noel của Đức Giêsu (Tin Mừng Luca) trở thành Noel của chúng ta (Tin Mừng Gioan).
Thế mới chính là một lễ Noel đích thực mà chúng ta phải mừng hôm nay. Đức Giêsu sẽ không bao giờ còn sinh ra ở Bêlem nữa. Sự sinh ra ấy chỉ xảy ra một lần mà thôi. Để bù lại, mỗi ngày Người làm cho chúng ta sinh ra bởi Thiên Chúa, nếu chúng ta tiếp nhận Người; những ai tiếp nhận Người thì Người cho họ sinh ra bởi Thiên Chúa. Bí tích Thánh Tẩy cho ta sinh lại làm con Chúa; nhưng đó mới là khởi đầu. Trong mỗi giây phút của đời ta, Lời vẫn cho ta khả năng sinh lại làm con Chúa. Phải chăng Người cũng ban ơn ấy, nhưng một cách kín đáo, mà chẳng ai đếm nổi, cho bất cứ ai nhìn nhận rằng ánh sáng trong cuộc đời họ mạnh hơn bóng tối.

 

LỄ HIỂN LINH

BỊ DÂN NGƯỜI TỪ CHỐI,
ĐỨC GIÊSU ĐƯỢC DÂN NGOẠI ĐÓN NHẬN
(Mt 2,1-12)


I. VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI:
1. Đọc lại dưới ánh sáng phục sinh:
Ta đừng để mình bị lừa dối vì cái vẻ bề ngoài có vẻ mộc mạc của câu chuyện về ba nhà Đạo sĩ, mà thực ra lại được hình thành và kết cấu một cách rất tài tình và nghệ thuật. Trong hai chương Tin Mừng về thời thơ ấu của Đức Giêsu, thánh sử Mátthêu không hề có ý muốn thỏa mãn tính tò mò của người đọc khi đưa vào đó một vài kỷ niệm cảm động. Dự tính của ngài nằm trong lãnh vực thần học: dưới ánh sáng Phục sinh, tác giả Tin Mừng đã tìm về nguồn gốc của Đức Giêsu, cho chúng ta khám phá thấy dạng còn tiềm ẩn, những gì rồi đây sẽ hiện tỏ trọn vẹn trong cuộc đời và biến cố Vượt qua của Người.
A. Marchadour lưu ý: “Tác giả Kinh Thánh không mấy tìm tòi tính xác thực lịch sử như chúng ta ngày nay vốn nặng đầu óc thực nghiệm. Nên nhớ rằng tất cả những trình thuật về thời thơ ấu của Chúa Giêsu đều được biên soạn từ các dữ kiện có sau và được đưa vào muộn màng sau này. Phải đọc lại quá khứ dưới ánh sáng của hiện tại, tầm quan trọng của Cựu Ước như các lời tiên tri, vẻ huy hoàng của biến cố Vượt qua, tất cả đều như vén lên bức màn cho thấy căn tính đích thực của Đức Giêsu; tất cả đều cho phép chúng ta hiểu rằng những trình thuật về thời thơ ấu đều đã được viết lại, và tính xác thực lịch sử không phải là bận tâm hàng đầu của các tác giả Tân Ước.” (“Les dossiers de la Bible” số 44, trg 5).

2. Một bài tường thuật có rất nhiều biểu tượng.
Người ta dễ dàng thấy bài tường thuật được chia làm hai phần, cùng một bộ ba cặp đối lập nhau:
1) Tại Giêrusalem: nơi của triều đình Hêrôđê.
- Ba nhà đạo sĩ – có lẽ là những nhà chiêm tinh xứ Babylon chuyên tìm đọc những bí ẩn các vì sao – đã lên đường đi Giêrusalem để đến bái lạy “Đức Vua dân Do Thái”, bởi thấy sao của người loan báo việc Người xuất hiện (c. 1 và 2).
- Nhưng để gặp được Đấng họ tìm kiếm, ngôi sao lạ kia không đủ. Các ông cần đến sự trợ giúp của dân Do Thái và Kinh Thánh của họ.
- Khi được các đạo sĩ đến hỏi, Hêrôđê và thành phần lãnh đạo tôn giáo ở Giêrusalem quay sang tra cứu các lời sấm liên can đến Đấng Mêsia (c.3 và 6).
- Để trả lời cho các vị khách phương xa này, nhóm cầm quyền Do Thái giáo chú giải một cách chính xác lời các ngôn sứ, nhưng vẫn không rời khỏi Giêrusalem lấy nửa bước (c.7 và 8).
2) Tại Bêlem, nơi Đức Vua Giêsu đang chờ đón các vị đạo sĩ.
- Được ngôi sao (văn hoá của họ) và Kinh Thánh (Lời Chúa nói với dân Israel) chỉ dẫn, các vị đạo sĩ đi tới Bêlem (c.9 và 10).
- Họ gặp được Chúa Giêsu và sấp mình bái lạy Người và dâng tiến lễ vật (c.11).
- Được báo mộng về những ý đồ giết người của Hêrôđê, nên các đạo sĩ đã “đi qua lối khác mà về xứ mình” (c.12).
Một bộ ba những cặp đối lập nhau loan báo trước cuộc khổ nạn và làm thành cái khung của câu chuyện được soạn thảo rất công phu.
1) Giêrusalem, trung tâm chính trị và tôn giáo, khước từ Đấng đến để hoàn tất những lời hứa, đối chọi với Bêlem bé nhỏ, nơi hạ sinh con vua Đavít mà các ngôn sứ đã loan báo.
2) Các thủ lãnh tôn giáo của dân Israel là những kẻ tự cho mình là hiểu biết nhờ vào Kinh Thánh, nhưng lại không đếm xỉa đến điều Kinh Thánh nói; họ đối chọi với các vị đạo sĩ là những người nước ngoài và ngoại giáo, nhưng đã biết tìm kiếm, lên đường và sau cùng đã gặp thấy. Trong lúc phía bên kia “bối rối, xôn xao”, thì phía bên này “mừng rỡ vô cùng”.
3) Hêrôđê, kẻ được tác giả tặng cho danh hiệu là “vua” và là kẻ luôn nơm nớp lo sợ cho cái ngai báu của mình – đối chọi với Hài nhi Bêlem, Đấng thực sự là vua, vì:
- Nơi Người (Hài nhi Giêsu) đã ứng nghiệm lời ngôn sứ Isaia 60 (Bài đọc 1) loan báo ngày dân ngoại lũ lượt tiến về Giêrusalem, mang theo vô vàn châu báu để tiến dâng.
- Nơi Người đã ứng nghiệm lời ngôn sứ Mica 5,1 nói đến Bêlem như nơi sinh của Đấng Mêsia: “Phần ngươi, hỡi Bêlem, nhỏ bé nhất trong hàng các bộ tộc Giuđa. Chính tự nơi ngươi sẽ xuất hiện cho ta Vị có mệnh thống lĩnh Israel dân Ta”.
- Nơi Người đã ứng nghiệm lời sấm của Balam, một người ngoại giáo, báo trước sẽ có một ngày xuất hiện “một ngôi sao mọc lên từ Giacóp” (Ds 24).
Như thế, qua nét tinh tế của bố cục và lối viết của mình, bài tường thuật này của Mátthêu đã công bố cho mọi người biết căn tính nhiệm mầu của Đức Giêsu, sứ vụ Người sẽ thi hành, việc Người sẽ bị những đầu mục của dân Người chối bỏ cũng như sự kiện dân ngoại tìm đến với Hội Thánh. Tắt một lời, nói theo kiểu của C. Tassin, chúng ta có ở đây “một sách Tin Mừng ở dạng thu nhỏ”.
Fr. Brossier tóm tắt: “Được đặt trong toàn bộ Tin Mừng Mátthêu, ý nghĩa của đoạn văn này trở nên sáng tỏ: Những kẻ đáng lẽ ra phải đón nhận Đấng Mêsia mà Thiên Chúa sai đến thì lại không nhìn nhận Người, bởi đầu óc họ đã ra chai đá, cằn cỗi. Đang khi đó, chính những dân ngoại lại đón nhận Người là một chủ đề bàng bạc trong khắp cả sách Tin Mừng, chủ đề đó đang được công bố rõ ràng ở đây” (cf. “Le Monde de la Bible” số 85, trang 18).

II. BÀI ĐỌC THÊM:
1. “Chúa Hiển Linh, một thực tại vẫn luôn luôn mới” (F. Deleclos, trong “Prends et mange la Parole”, Centurion-Duculos, trg 190-191).
Các ngôn sứ xưa đã loan báo việc mở cửa cho các dân ngoại tiến đến với Chúa. Nhưng đó là con đường một chiều. Ánh sáng tỏa ra ở Giêrusalem. Các dân tộc và các vua chúa sẽ tuôn đến đó... Trái lại lễ Hiển Linh được Đức Giêsu khai trương lại là con đường hai chiều. Là những người ngoại giáo, những người không cắt bì, chính họ cũng sẽ mang đến phần chân lý của họ, sự phong phú về những khác biệt thiêng liêng và văn hoá của họ. Là những người đã được rửa tội, có tâm hồn cởi mở với Chúa Thánh Thần, họ sẽ lựa chọn được những con đường mới lạ và những cách diễn đức tin độc đáo. Lòng tin hăng say với tinh thần truyền giáo của họ hơn một lần sẽ làm cho lòng tin của những người “đạo ròng” hóa ra nhàm chán, không có gì đặc sắc; và như vậy, họ có nguy cơ làm phật lòng những người dễ tự ái và tạo ra những ghen tương đố kỵ.
Bởi đó, chư dân thuộc mọi chủng tộc, dù đã văn minh hay còn thô lỗ trong nếp sống ngoại giáo và sùng bái ngẫu tượng của họ, đã có thể nhờ vậy mà bắt tay vào công việc bước đi theo ánh sao và gặp Đấng Phục sinh. Những con cái trai gái của họ, một khi được trở thành “dân Thiên Chúa” đã lại cầm gậy lữ hành để đi loan báo Tin Mừng Đức Giêsu Kitô cho những miền đất xa xăm ở bên kia bờ đại dương. Họ đã neo con thuyền Giáo Hội ở đó.
Vậy mà lại đã có nhiều người đi gieo của hôm qua có khi vì đã thấm mệt, hóa ra trì trệ hoặc vì thái độ tự hào về tầm quan trọng của họ, lại sinh lòng ngờ vực và e sợ những nhà đạo sĩ mới đến từ Đông phương kia, những con người chỉ miệt mài tìm kiếm ánh sao và những bất ngờ của Thần Khí vốn hay gây đảo lộn khác thường.
Là dân của thế giới Kitô giáo (chrétienté) già nua, chúng ta phải phát hiện và đón nhận sự kiện mới mẻ của Chúa Hiển Linh, những câu hỏi tra vấn của những người tân-ngoại giáo, ánh sáng chân lý nơi những anh em ly khai, Đức Kitô của những người da màu và các vị thừa sai có đôi mắt xếch. Tất cả những “người nước ngoài” này đang bước đi, mắt luôn hướng nhìn trời, họ có thể giúp chúng ta tìm ra Đấng mà chúng ta không tìm nữa, bởi vội tin rằng ta đã “sở hữu” Người đầy đủ và đã “tìm thấy” Người trọn vẹn rồi. Đã đến giờ để ta bắt tay vào công việc tân-phúc-âm-hóa và mừng một lễ Hiển Linh khác.

2. “Một đoàn người đông đảo đang lê bước” (G. Boucher, trong “Le ciel sur terre”, trg 14).
Phải rồi, việc các đạo sĩ ấy tới quả là có gây phiền hà. Dù họ là những ông vua hay những nhà chiêm tinh thì họ cũng đã lên bờ với lòng tự tin. Họ biết rõ họ đang tìm kiếm gì: một hài nhi vừa mới sinh mà lại được hứa nắm giữ ngôi báu trong dân Do Thái. Thế là những kẻ có thế lực bị xáo trộn và hoang mang. Họ sợ hãi vì biết rằng những vị khách phương xa kia đến đây để bái lạy một người con được mời gọi nắm quyền cai trị trên khắp đất nước Do Thái. Họ tin vào điều này bao nhiêu thì cũng sợ hãi bấy nhiêu...
Chúa ơi, hôm nay người ta vẫn còn chạy xô đến với Chúa sau một hành trình vất vả qua sa mạc cô đơn của cuộc sống. Hoặc qua những miền đất khô cằn của cảnh sống thất nghiệp hay thất bại ê chề. Họ bị giá lạnh đến tê cóng vì những luồng gió bất an lùa tới; hoặc bị hao mòn vì những cuồng phong làm lung lay đời sống lứa đôi của họ. Họ đến với Chúa với tình yêu đã bị sứt mẻ, nặng nề lê những bước chân sợ hãi kèm theo một độ dửng dưng về đạo như bao người. Và này dấu, họ đang ở khúc quanh nơi mà đã bao lần họ quay trở ngược lại và bội ước, khác nào như đứng trước bình minh sau khi đã trải qua cả một đêm dài trăn trở!
Nhưng lạy Chúa, xin hãy đoái nhìn họ. Họ là những con người có đôi bàn tay chai sần nói lên nỗi cực nhọc họ đã phải chịu vì miếng cơm manh áo cho gia đình. Tim họ phồng lên như điềm báo trước những tiếng thở dài vì đã mòn mỏi đợi trông. Quá chán chường, nên họ dễ ngỡ ngàng thán phục. Quá mệt mỏi vì những gian lao đã trải qua, nên họ dễ mở lòng ra đón nhận sự canh tân. Quá quen với nếp sống chỉ có hôm nay, họ dễ sẵn sàng đi vào mạo hiểm. Già trước tuổi, họ đang cố đuổi theo tuổi thơ của họ.
Lạy Chúa, hôm nay những con người ấy đang đến với Chúa, tay dắt đứa nhỏ đã lớn khôn rồi để xin cho nó được rửa tội. Họ đẩy các con của họ đi học giáo lý, để chúng được rước lễ lần đầu. Lòng họ chỉ có một nhu cầu là được Chúa chúc lành cho gia đình họ. Thắp nến lên, họ cầu khấn cho đứa con gái lớn đậu được tú tài. Lạ lẫm với kinh nguyện của Giáo Hội, họ lâm râm đọc đại đi một kinh để cầu cho người mẹ già đang nằm viện. Nghẹn ngào không nói nên lời, họ xin cử hành nghi lễ an táng cho người cha vừa mới rời bỏ họ.
Họ đang đến. Họ đang thấy Hài nhi Giêsu, cùng với Maria, mẹ Người. Và rồi họ ra đi. Có khi nào ta sẽ gặp lại họ không? Họ lại tiếp tục lên đường. Ước mong đó là con đường mới cho họ!.

 

THỨ TƯ LỄ TRO

CHIA SẺ, CẦU NGUYỆN, CHAY TỊNH
(Mt 6,1...18)


I. VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI:
Trong 5 phản đề liên tiếp, Đức Giêsu đề cao công chính mới chống lại “sự công chính của các kinh sư và Pharisêu”.
Trong bản văn sử dụng cho Thứ Tư Lễ Tro, Đức Giêsu đề cập đến 3 cột trụ chống đỡ lòng đạo hạnh nơi người Do Thái cũng như nơi các tôn giáo khác: bố thí, ngày nay ta gọi là chia sẻ (câu 1-4), cầu nguyện (câu 5-6) và chay tịnh (câu 16-18).
Thay vì miệt thị những việc đạo đức ấy, Đức Giêsu, trước khi xem xét từng việc, đã chỉ ra tinh thần phải có khi thực hành: “Nếu các ngươi muốn trở nên công chính, hãy tránh phô trương trước mặt người đời để được chú ý”. Sự công chính đích thực hệ tại “hiệu chính” theo thánh ý Thiên Chúa. Chỉ có Thiên Chúa biết rõ thâm tâm con người.

1. Sự chia sẻ dưới ánh mắt Chúa Cha:
Claude Tassin giải thích: “Là một cơ chế quan trọng trong đạo Do Thái, sự bố thí vẫn giữ vị trí cứu trợ trong xã hội hiện đại, bày tỏ tình huynh đệ mà giao ước đòi hỏi: việc cứu trợ người nghèo có hiệu quả tẩy xóa tội lỗi (Tb 12,9), có giá trị như lễ hy sinh (Hc 4,6; 7,10).” (“Tin Mừng theo thánh Mátthêu, Centurion, 1991, trg 72).
Đức Giêsu không bài bác linh đạo này, nhưng Người tố cáo tính cách phô trương khi thực hành. Bố thí không phải “để được người đời ca tụng” cũng không phải để trình diễn (đó là ý nghĩa chính xác của từ “giả hình”), nhưng phải làm “kín đáo” chỉ mình Chúa biết vì chỉ mình Người có thẩm quyền xét định giá trị của việc làm này: “Cha ngươi thấy rõ những gì ngươi làm trong kín đáo: Người sẽ thưởng công ngươi”.
Đức Cha Daloz cảm nhận: “Mối nguy hiểm mà Đức Giêsu khuyên ta tránh xa... đó là chú ý tới bên ngoài, tới những gì phô trương – đó không phải là mối nguy tưởng tượng ngay cả đối với thời nay, dưới những hình thức mới... Sự vô vị lợi, sự kín đáo không còn dễ giữ trong các cộng đoàn của Giáo Hội cũng như trong các hiệp hội đời: là hội viên, là hội trưởng, là người tổ chức, ta đã chẳng bị cám dỗ qui về mình tất cả những dịch vụ, những công tác mà trong đó ta đã quảng đại phục vụ sao? Và ta đã chẳng bị cám dỗ khẳng định trước mặt người đời những quyền lợi, những giá trị của mình sao?... Nhưng Đức Giêsu đã nói: “Thật vậy, ta bảo các ngươi, họ đã nhận được phần thưởng rồi”.
Điều ta không tìm giữ cho ta, Thiên Chúa mới tiếp nhận được. Vấn đề này không liên hệ gì tới lòng quảng đại... Cử chỉ chia sẻ mang trọn vẹn ý nghĩa trong tình yêu cho không. Chỉ có Chúa mới có thể tính sổ được tình yêu, vì thước đo tình yêu là vô tận”.

2. Lời cầu nguyện dưới ánh mắt Chúa Cha.
Cũng vậy, kinh nguyện đừng làm như “trình diễn” “để phô trương với người đời”, nhưng là để ngỏ lời với “Cha Đấng ngự trong nơi kín đáo”: “Cha ngươi thấy tất cả những gì ngươi làm trong kín ẩn: Người sẽ thưởng công ngươi”.
Đức Cha Daloz nói tiếp: “Đức Giêsu không ngừng mời gọi ta hãy trở về với sự chân thực của tâm hồn, với nội tâm. Hãy sử dụng các phương tiện nhưng đừng làm tổn hại cuộc gặp gỡ sâu xa, cá nhân với Chúa Cha.. Vì việc gặp gỡ Thiên Chúa rất trọng đại, nên Đức Giêsu muốn ta tránh xa nguy cơ thay thế ánh mắt Thiên Chúa bằng ánh mắt người đời. Cầu nguyện “cho người đời xem thấy”, thay vì cầu nguyện với Cha “Đấng thấy rõ trong nơi kín ẩn”, đó là hạ giá lời cầu nguyện, là đi trệch khỏi mục tiêu. Là một hình thức tôn thờ ngẫu tượng khi lời cầu nguyện của ta thay vì hướng về Chúa lại qui về lợi lộc riêng tư của mình” (Sđd., trg 66).

3. Việc chay tịnh dưới ánh mắt Chúa Cha.
Còn về việc chay tịnh, Claude Tassin chú giải: “Căn bản đó là một dấu chỉ tang tóc. Chẳng hạn ta chay tịnh nhân ngày tưởng niệm Đền thờ bị tàn phá. Tuy nhiên, người Do Thái sùng tín còn biết đến một nguyên nhân tang tóc trầm trọng hơn một tai họa cho cả dân tộc, đó là tội lỗi, cái chết thực sự của mối liên hệ sinh tử với Thiên Chúa... Những người sùng tín gia tăng việc chay tịnh sám hối. Vì thế, những người biệt phái ăn chay mỗi tuần 2 lần. Họ còn thêm thắt những dấu hiệu cho tăng phần thảm não: Không tắm rửa, không xức thuốc thơm” (Sđd, trg 77).
Đức Giêsu không chối bỏ giá trị của những hình thức ấy. Nhưng Người cảnh giác các môn đệ trước những thực hành phô trương. Chay tịnh là đúng, nhưng không phải để cho người khác trầm trồ thán phục và “phô trương cho mọi người” biết là ta ăn chay, mà là chay tịnh dưới ánh mắt Chúa Cha, phó thác tất cả cho Người: “Cha ngươi Đấng thấy tất cả những gì ngươi làm trong nơi kín ẩn: Người sẽ thưởng công ngươi”.
Một lần nữa, khi tường thuật những lời nói của Đức Giêsu, Mátthêu muốn cảnh cáo các Kitô hữu trung thành với những thực hành đạo đức mà ngài không phản đối, đừng tìm xây dựng danh giá cho bản thân mà hãy phó thác cho sự chứng nhận duy nhất của Chúa Cha.
Đức Cha Daloz còn trấn an rằng: “Nguy cơ giả hình ít đe dọa ta lắm. Để giữ được ý nghĩa đích thực của việc chay tịnh Kitô giáo, cần phải có một loại phân định khác. Giữa một thế giới pha tạp đủ loại tôn giáo và tinh thần thế tục, thái độ đức tin thực sự đòi ta phải minh bạch trong ý nghĩa của việc chay tịnh. Chỉ cần trở về với giáo huấn của Đức Giêsu là đủ: Việc chay tịnh mà Người đề cập ở đây trước hết không phải là thanh tẩy hay giải phóng cá nhân, là nỗ lực hay khổ hạnh nhằm tiến xa hơn trong việc chế ngự bản thân. Cũng không phải là giải phóng tinh thần nhờ chế ngự thân xác, để ta có thể chiêm ngắm rõ hơn các thực tại thần linh. Đức Giêsu cũng không trình bày việc chay tịnh như một phương tiện bày tỏ tình liên đới với những ai đói khát, hay nhịn ăn bớt uống để chia sẻ. Tất cả những điều đó đều tốt và hữu ích, Giáo Hội, phụng vụ và các tác giả đạo đức vẫn khuyên ta nên làm... Việc chay tịnh đích thực đưa ta ra khỏi chính mình, bóc ta trần trụi trước mặt Thiên Chúa. Đó không phải là một thành tựu thiêng liêng... Đó là một cách thế giữ ta nghèo nàn trước mặt Thiên Chúa, một hiến dâng chính bản thân nhờ nỗ lực khổ hạnh, nhưng trong Thiên Chúa, Đấng ban chính Người cho những ai, dù trong đêm tối và trần trụi, vẫn yêu mến tin tưởng sống dưới ánh mắt Người mà không tìm kết quả... Cũng như lời cầu nguyện, như việc bố thí, chay tịnh thực sự mà Đức Giêsu mời các môn đệ thực hành phải diễn ra trong nơi kín ẩn của mối tương giao với Chúa Cha, kín ẩn của đức tin” (Sđd, trg 82).

II. BÀI ĐỌC THÊM:
1. Mùa chay, thời gian tái thực tập sự tự do đích thực (L. Sintas, trong “Lời Chúa để suy niệm và dọn giảng. Năm C”, Médiaspaul, trg 145).
Mùa Chay là thời gian thực tập, tái thực tập sự tự đo đích thực. Nếu Giáo Hội đã giảm nhẹ rất nhiều việc đền tội trong Mùa Chay, đó không phải để ta xao lãng việc hối cải đích thực. Trái lại, Giáo Hội muốn giúp ta sống việc hối cải dưới ánh mắt Thiên Chúa chứ không phải dưới sự kiểm soát của người khác, cho dù đó là những người anh em trong đức tin. Giáo Hội muốn ta nghe rõ hơn lời kêu gọi sống tự do mà chỉ có niềm phó thác trọn vẹn trong ánh mắt của Thiên Chúa mới có thể ban cho ta.

2. Hoán cải, thống hối và giao hòa được thực hiện bằng nhiều cách: (“Cử hành việc thống hối và hòa giải”, Chalet-Tardy, trg 13).
Dân Thiên Chúa thực hành và hoàn thành việc thống hối liên lỉ này dưới nhiều hình thức khác nhau. Hiệp thông sự nhẫn nại của mình vào những đau khổ của Đức Kitô (1 Pr 4,13), hoàn thành những công trình của lòng xót thương và của đức bác ái (1 Pr 4,8), khi hoán cải theo Tin Mừng Đức Giêsu Kitô mỗi ngày một hơn, ta trở nên dấu chỉ giữa thế gian về sự hoán cải trở lại với Thiên Chúa. Điều đó Giáo Hội diễn tả qua đời sống của mình và cử hành trong phụng vụ. Khi các tín hữu quây quần lại tự nhận mình tội lỗi, nài xin sự tha thứ của Thiên Chúa và của anh em, như ta thường làm trong các nghi thức cử hành việc sám hối, trong việc công bố Lời Chúa, trong lời cầu nguyện, trong những phút sám hối khi cử hành thánh lễ.
Các Kitô hữu được mời gọi, cả riêng tư lẫn tập thể, đáp lại tiếng gọi của Tin Mừng. Chẳng hạn như:
- Sự tha thứ cho nhau dưới những hình thức khác nhau.
- Sự chia sẻ, dưới những hình thức tương trợ khác nhau, cũng như mọi cố gắng vượt thoát thói ích kỷ của mình.
- Phản đối bất công và đấu tranh cho sự công bình lớn hơn trong những mối tương quan liên chủ thể và xã hội.
- Sự dấn thân tông đồ đòi phải có tinh thần phục vụ và quên mình.
- Cầu nguyện, dấu chỉ niềm hy vọng vào tương lai mà Thiên Chúa mở ra cho ta, vượt qua những đổ vỡ và những va chạm.
Tất cả những việc làm trên ngầm chứa sự dấn thân cá nhân của các Kitô hữu. Nhưng cuộc hoán cải và hòa giải mà Giáo Hội được mời gọi thực hiện còn quan trọng hơn cả tổng số những hoán cải cá nhân. Giáo Hội như một thân thể, được kêu mời thay đổi khuôn mặt và thái độ, trong một số trường hợp mà những thái độ tập thể của các Kitô hữu đã bị tố cáo. Thật vậy, Giáo Hội không thoát khỏi gánh nặng như những phản ứng của các nhóm xã hội: phản ứng co rút lại, phản ứng loại trừ những người yếu ớt, những người sống ngoài lề xã hội. Tiếng gọi của Tin Mừng bị phản chứng mỗi lần ta khép kín cửa lòng trước người nghèo, người bị bỏ rơi.

 

CHÚA NHẬT I MÙA CHAY

TUYÊN XƯNG ĐỨC TIN BẰNG HÀNH ĐỘNG
(Lc 4,1-13)


I. VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI:
1. Liên hệ chặt chẽ với phép rửa của Đức Giêsu,...
Sau trình thuật về phép rửa, lúc tiếng nói từ trời tuyên bố: “Con là Con Cha. Hôm nay Cha đã sinh ra Con”, Luca đưa vào bản gia phả của Người, nhắc lại tổ tiên nhân loại của Đức Giêsu cho tới “Ađam, con Thiên Chúa”. Cũng trong mối liên lạc chặt chẽ với quang cảnh phép rửa và với bản gia phả mà thánh sử định vị cho giai đoạn cám dỗ: Đức Giêsu “đầy Thánh Thần” rời bỏ “bờ sông Giođan”; Người “được Thánh Thần hướng dẫn vào hoang địa” – Đây là nơi mơ hồ, nơi mà theo Kinh Thánh, con người bị thần dữ thử thách hoặc đi vào kết hiệp với Thiên Chúa hằng sống – nơi mà “trong 40 ngày” Người sẽ bị “ma quỉ thử thách” với tư cách là Con Thiên Chúa. Ma quỉ hói với Người: “Nếu ông là Con Thiên Chúa, hãy truyền cho hòn đá này trở nên bánh... Nếu ông là Con Thiên Chúa, hãy nhảy xuống đất...”.

2. ... Thử thách đầu tiên trong cuộc chiến toàn thắng.
Cũng như bản văn của Mátthêu – tuy thứ tự có khác – bản văn của Luca kết cấu chung quanh 3 cuộc cám dỗ. Ba cuộc cám dỗ, chính Tin Mừng xác định rõ ràng ở phần kết, đã “múc cạn mọi hình thức cám dỗ”: những cơn cám dỗ mà Đức Giêsu sẽ phải đương đầu suốt dọc tác vụ của Người cho đến khi chết, những cơn cám dỗ mà các môn đệ và mọi thành phần trong cộng đoàn của các ngài sẽ gặp. Ba cơn cám dỗ, cũng như ba lời trích dẫn đã ghi chú cặn kẽ, đã được khéo léo lựa chọn từ sách Thứ Luật (trích trong bài đọc 1 và thánh Phaolô trích dẫn trong bài đọc 2), chính là những cơn cám dỗ mà dân Israel đã phải đương đầu, trong suốt 40 năm sa mạc. Có điều họ đã sa ngã. Nay đến phiên Đức Giêsu phải đương đầu với những cơn cám dỗ ấy, suốt 40 ngày trong sa mạc: Ba lần, địch thù thử thách lòng trung tín của người Con đối với Thiên Chúa và với chương trình cứu độ của Người; trong cả 3 lần, Đức Giêsu đã chiến thắng.
Hugues Cousin nhận xét: “Đây là trường hợp độc nhất trong văn chương Tin Mừng. Đức Giêsu chỉ nói những lời trích từ Cựu Ước! Con Thiên Chúa phải trải qua 3 cuộc thử thách mà xưa kia dân Israel trong chuyến Xuất hành đã đương đầu và đã sa ngã; rút được kinh nghiệm từ những bài học trong sách Thứ Luật, cảnh giác để khỏi tái diễn những lỗi lầm tương tự, Đức Giêsu đã chiến thắng đối thủ” (“Tin Mừng theo thánh Luca”, Centurion, trg 62).
+ Cơn cám dỗ đầu tiên, giống như Mátthêu, là cơn cám dỗ về Sở Hữu, cơn cám dỗ chỉ tìm lợi lộc vật chất, cơn cám dỗ của một chủ nghĩa Mêsia thiển cận: “Nếu ông là Con Thiên Chúa, hãy biến hòn đá này thành bánh đi”.
Lần đầu tiên trích dẫn sách Thứ Luật 8,3 – đoạn nói về manna – Đức Giêsu trả lời ngay tức khắc: “Người ta sống không nguyên bởi bánh”. Người từ chối làm phép lạ vì lợi lộc riêng tư. Là “Con” thật sự, Người nhận tất cả từ Thiên Chúa, Cha của Người và chỉ từ Chúa Cha mà thôi; nên Người phó thác tất cả cho Thiên Chúa, Cha của Người và chỉ phó thác cho Chúa Cha mà thôi. Roland chú giải: “Con là kẻ nhận được hiện hữu, sự sống không từ chính mình, nhưng từ một kẻ khác, từ Cha của mình. Con là kẻ hiểu biết trong niềm vui và niềm biết ơn rằng mình sống nhờ Cha... Người không phải là kẻ ra lệnh để có bánh; chính Chúa, Thiên Chúa của Người sẽ ban lương thực cùng với Lề Luật. Con không ra lệnh, Người khẩn cầu: “Xin Cha cho chúng con hôm nay lương thực hằng ngày” (“Tin Mừng theo thánh Luca. Phân tích tu từ”, Cerf, quyển 3, trg 50).
+ Cơn cám dỗ thứ hai, khác với trình thuật của Mátthêu, là cơn cám dỗ về QUYỀN LỰC; cơn cám dỗ về một chủ nghĩa Mêsia theo tham vọng loài người, dù phải trả giá bằng sự thoả hiệp. “Nếu ông thờ lạy tôi, quỉ đoan chắc, ông sẽ có tất cả” (“Mọi quyền lực và vinh quang của các vương quốc ấy”).
Lần thứ hai trích dẫn sách Thứ Luật 6,13 – đoạn nói về con bò vàng – Đức Giêsu trả lời ngay: “Đã chép rằng: Người chỉ được thờ lạy Chúa, Thiên Chúa của ngươi mà thôi”. Người từ chối không tôn kính thủ lãnh trần gian để hành xử vương quyền phổ quát. Là Con thật sự, Người sẽ nắm giữ vương quyền từ Thiên Chúa, Cha của Người, và chỉ từ Cha Người mà thôi, theo con đường Cha đã chọn: con đường khiêm nhường, nghèo hèn, thánh giá. R. Meynet chú giải: “Đức Giêsu sẽ nhận được các vương quốc trần gian, Người sẽ là Đức Kitô, Vua, vì Người đã từ chối vương quyền xấu xa của ma quỉ, vì Người đã tự nguyện trở nên tôi tớ của Thiên Chúa và của nhân loại.” (Sđd).
+ Cơn cám dỗ thứ ba Luca đã cho diễn ra ở Giêrusalem, báo trước thử thách quyết liệt sau này, đó là cơn cám dỗ MA THUẬT, cơn cám dỗ thử thách Thiên Chúa, đi tìm những dấu chỉ kinh thiên động địa của Đấng Mêsia. Ma quỉ dùng Tv 90, cố cám dỗ một lần cuối: “Nếu ông là Con Thiên Chúa, hãy gieo mình xuống; Có lời chép rằng: Người đã ra lệnh cho các thiên thần gìn giữ ông”.
Lần cuối cùng trích dẫn sách Thứ Luật 6,16 – đoạn nói về Massa, nơi dân Do Thái đã buộc Chúa phải cho họ nước uống – Đức Giêsu đáp tức khắc: “Đã chép rằng: “Ngươi đừng thử thách Chúa là Thiên Chúa của ngươi”. Người từ chối sử dụng quyền làm Con Thiên Chúa để bảo vệ mình... và mê hoặc người Do Thái bằng những điều kỳ diệu. Người từ chối buộc Thiên Chúa phải can thiệp. Người không đòi phép lạ để cứu mạng sống mình; Người chẳng đòi hỏi cả khi Người bị treo trên thánh giá. R. Meynet nói tiếp: “Người tin chắc rằng Thiên Chúa sẽ cứu Người, Người không có quyền kiểm chứng xem Chúa Cha có trung tín không; Thiên Chúa chẳng cần phải chứng tỏ cho mọi người thấy Thiên Chúa có cứu Người” (Sđd).

3.... sẽ hoàn tất trên thánh giá.
Nếu, như nói ở trên, Luca hoán đổi vị trí 2 cơn cám dỗ sau, đó là vì muốn thiết lập một thứ tự tiệm tiến cho tới cơn cám dỗ thứ ba: Tại Giêrusalem, nơi có cuộc đụng đầu quyết liệt và nơi hoàn thành quyển sách đầu tiên của ngài. Đây là khúc nhạc mở đầu loan báo cuộc thử thách lớn lao trong khổ nạn.
Hôm nay, đối thủ đành chịu khuất phục, nó rút lui “chờ giờ phút đã định”. Lúc ấy, nó sẽ xuất hiện, ra những đòn cuối cùng tấn công Đấng Chịu Đóng đinh qua miệng các sĩ quan, quân lính và cả người trộm dữ nữa.
- “Nếu ông là Đức Kitô, hãy cứu mình và cứu chúng tôi với!” một kẻ cùng chịu đóng đinh với Người lên tiếng, thách thức.
Trong lúc thất bại ê chề trước mặt mọi người, Đức Giêsu vẫn vững vàng trong thử thách, vẫn gắn bó với thánh giá giữa các người bạn cùng đau khổ. Người phó thác trọn vẹn cho Chúa Cha cội nguồn sứ mạng của Người... Và người trộm lành đã sinh ra trong ánh sáng nên đã không nguyền rủa.
Quân lính chế nhạo: “Nếu ông là Vua dân Do Thái, hãy tự cứu mình đi”.
Trong lúc công cuộc của Người tưởng như vĩnh viễn lụi tàn, Đức Giêsu vẫn kiên vững trong thử thách, vẫn lặng lẽ. Đấng Mêsia – Vua chịu đóng đinh và bất lực cầu khẩn một mình với Chúa Cha “Lạy Cha, con dâng phó hồn con trong tay Cha” (Tv 30,6)... Thái độ của Người trước cái chết đã khiến viên sĩ quan Rôma phải thốt lên những lời đầy hứa hẹn: “Quả thật ông này là người công chính”.
Thủ lãnh trong dân châm chọc: “Ông ta đã cứu được người khác: hãy tự cứu mình đi, nếu ông ta là Đấng Mêsia của Thiên Chúa, “Đấng được tuyển chọn”.
Trong khi tất cả mọi người quấy rối, Đức Giêsu vẫn kiên vững trong thử thách, tha thứ cho các đao phủ... Và sự đau khổ cũng như cái chết của Người, được đảm nhận trong tình yêu, đã sinh hoa kết quả: Có người đã tách ra khỏi các thành viên của hội đồng, đó là Giuse người Arimathia.
Có người sẽ hỏi, đâu là gốc rễ lịch sử của đoạn văn mà Mátthêu và Luca thuật lại. H. Cousin trả lời: “Bên cạnh một biến cố xác thực, cuộc tĩnh tâm của Đức Giêsu trong hoang địa sau khi chịu phép rửa, ta phải xét đến 2 thực tại: những cơn cám dỗ chắc chắn phải có, đặc biệt là cơn cám dỗ về chủ nghĩa Mêsia trần tục, vì chúng vẫn tồn tại trong suốt sứ vụ của Đức Giêsu; và Người vẫn kiên trì chống trả không bao giờ chịu lùi bước nhượng bộ. Những dấu vết hiển nhiên tồn tại trong suốt Tin Mừng Luca (10,25; 11,6 và kế tiếp; 22,42...) càng cho ta thấy rõ rằng: Đức Giêsu là một Đấng Mêsia nghèo nàn và đau khổ. Các môn đệ làm chứng Người luôn trung tín với Thiên Chúa, với sứ mệnh mà Người đã lãnh nhận. Luca đã làm cho độc giả hiểu rằng Đức Giêsu đã phải chọn lựa một hình thức thi hành sứ mệnh, một cách thế hiện hữu và chẳng phải dễ dàng để đi đến cùng chọn lựa ấy” (Sđd, trg 63-64).

II. BÀI ĐỌC THÊM:
1. Cơn cám dỗ của Đức Giêsu trong hoang địa: một pha gây cấn (H. Denis trong “100 từ ngữ diễn tả đức tin”, DDB, trg 111-112).
Mùa Chay khai mạc – vào Chúa nhật đầu tiên – đưa ta đến trước một cảnh lạ lùng, thậm chí đáng lo ngại: cơn cám dỗ Đức Giêsu trong hoang địa.
Ta muốn nói như Phêrô khi nghe loan báo cuộc khổ nạn: “Không! Thầy không phải chịu như thế”. Đôi khi ta cố xoay sở, nhưng đó không phải là linh đạo tối ưu khi giải thích sự vật như sau: Thực ra, Đức Giêsu không thực sự bị cám dỗ, Người đã chấp nhận bị cám dỗ “vì ta”, để dạy ta biết phải chống lại các cơn cám dỗ như thế nào. Nhưng giá phải trả cho lối giải thích này rất nặng. Làm như Đức Giêsu “giả vờ” không bằng. Rồi sẽ suy ra Người giả vờ làm người, giả vờ học hành, giả vờ đói, giả vờ đau khổ, giả vờ chết...
Nếu ta muốn chấp nhận Đức Kitô có nhân tính thực sự, ta phải tìm hiểu xem bằng cách nào Đức Giêsu đã thực sự bị cám dỗ ra khỏi con đường thẳng tắp của sứ mệnh của Người, và Người đã chống trả thế nào.
Cơn cám dỗ về bánh để nuôi dân no đủ vốn là cơn cám dỗ của mọi lãnh tụ, có tôn giáo hay không. Đức Giêsu đã chống cự. Nếu có lần Người chấp nhận hoá bánh ra nhiều, đó cũng chỉ nhằm giúp người ta có đủ sức nghe Lời phát xuất từ miệng Thiên Chúa và để họ tìm được một thứ lương thực khác: “Này là Mình Ta, sẽ bị nộp vì các con”.
Cơn cám dỗ về phép lạ, về những điều kỳ diệu cũng đã bị đẩy lui. Phải chăng đó đã là dấu chỉ của một Đức Giêsu chỉ chữa bệnh vì Nước Trời? “Phúc cho ai không thấy mà tin”.
Cơn cám dỗ về quyền lực trên trần gian cũng tinh vi không kém. Nhưng Đức Giêsu biết rằng Satan ẩn nấp trong mọi thứ vinh quang không qui về Chúa Cha. Vinh quang của Đức Kitô là vinh quang của sự hiến mình. Điều ấy sẽ được thực hiện trên thánh giá, trong khó nghèo tột độ, khi mọi sự hoàn tất.

2. Những cạm bẫy tương tự trải dài suốt lộ trình của ta (F. Deleclos, trong “Hãy cầm lấy Lời Chúa mà ăn” Centurion-Duculot, trg 193-194).
Thật tốt nếu ta vui vẻ để “Chúa Thánh Thần dẫn vào hoang địa”. Đó là cơ hội sống động cho ta khám phá hoặc tái khám phá ra những cạm bẫy thường xuyên giăng dưới bước chân người Do Thái, những cạm bẫy mà Đức Kitô đã gặp, cũng là những cạm bẫy trải dài suốt hành trình và suốt lịch sử đời ta... Ta hãy học cách vạch trần những cơn cám dỗ để khỏi bị lệch hướng xa đường giao ước, xa đường sứ mạng của ta.
Những cạm bẫy của Thần Dữ toả ra hào quang duyên dáng và lôi cuốn, mời mọc tinh vi và đáng sợ, cộng với trí thông minh và sự kiên nhẫn của “Địch thủ của triều đại Thiên Chúa”.
Đó là cơn cám dỗ dùng Lời Chúa phục vụ mọi ham thích của ta về sở hữu, về hiểu biết, về quyền lực, là những nguồn không bao giờ cạn của “mọi loài hình cám dỗ” luôn quấy phá các tín hữu và các Giáo Hội.
Đó là những ham hố quá đáng đi tìm điều lạ lùng, săn đuổi các cuộc hiện ra, các phép lạ, làm lệch hướng những đòi hỏi khẩn cấp của Tin Mừng.
Đó là cầu nguyện sốt sắng bên ngoài để phiền nhiễu Thiên Chúa, mong rút tỉa được đặc ân tránh khỏi thử thách, khổ đau.
Cạm bẫy còn là những an thân giả tạo, những bảo đảm hão huyền mà ta mải mê tìm kiếm trong một mớ chồng chất những lễ nghi trống rỗng vô nghĩa vô hồn.
Cơn cám dỗ tinh vi cuốn ta vào đủ mọi thứ hy sinh đến từ tinh thần thống trị, lòng ham thích sức mạnh và say mê quyền lực, Thiên đường các ngẫu tượng.
Làm cách nào trả lời 3 cuộc cám dỗ tiêu biểu nếu không phải là 3 câu trả lời bằng ăn chay, cầu nguyện và chia sẻ... Gặp gỡ Chúa để Lời chân lý và sự sống đổ đầy vào trái tim ta và vọt ra từ môi miệng ta. Khước từ những phồn vinh muốn chôn vùi ta và khám phá thấy trong sự tiết độ những giá trị vững bền. Tình liên đới làm phát sinh và nuôi dưỡng lòng quảng đại huynh đệ đối với biết bao kẻ đói khát sự công chính và bình an, những người bị loại trừ khỏi tình yêu và lòng kính trọng, những người bị áp bức ở mọi nơi, đám đông mênh mông những người bị đóng đinh nơi đó Đấng giải phóng, Đấng Phục sinh hằng sống đang náu ẩn trong vô danh.

 

CHÚA NHẬT II MÙA CHAY

ÁNH SÁNG TRONG BÓNG TỐI CỦA HÀNH TRÌNH
VỀ GIÊRUSALEM
(Lc 9,28-36)


I. VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI:
1. Trong bước đi tăm tối về Giêrusalem...
Rõ ràng thánh sử Luca muốn nối kết đoạn này vào những biến cố và những đoạn văn trước đó:
. Câu hỏi then chốt của Hêrôđê về căn tính thực sự của Đức Giêsu: “Người này là ai mà ta nghe nói đến nhiều?”. Ông thắc mắc và “ông tìm cách gặp Người” (9,9).
. Lời tuyên xưng của Phêrô với Đức Giêsu như với “Đấng Mêsia của Thiên Chúa” (9,2) và lời tiên báo lần đầu về cuộc khổ nạn như một đoạn đường bắt buộc phải đi không chỉ đối với Đức Giêsu: “Con Người phải chịu đau khổ rất nhiều, chịu chối bỏ...; chịu chết nhưng đến ngày thứ ba Người sẽ sống lại” (9,22), nhưng còn đối với các môn đệ thân tín của người: “Ai muốn theo Ta, hãy bỏ mình, vác thập giá hằng ngày rồi theo Ta” (9,23).
Jean-Luc Vesco chú giải: “Định mệnh của trò cũng như của Thầy sẽ trải qua 2 giai đoạn, một giai đoạn khổ đau, một giai đoạn vinh quang. Các môn đệ khó mà hiểu được giai đoạn một. Nhưng Đức Giêsu vẫn kiên quyết. Ai muốn theo Người đều phải nối kết vận mệnh của mình vào cuộc Khổ nạn và Phục sinh của Người. Hai khía cạnh của mầu nhiệm cứu độ vẫn là bất khả phân ly” (“Giêrusalem và ngôn sứ của nó”, Cerf, trg 38).
Khoảng “8 ngày sau khi nói những lời này” là thời gian Luca đã định vị trình thuật về cuộc Hiển Dung, trong đó hai khía cạnh của mầu nhiệm vượt qua sẽ nối kết với nhau. Đó là khoảnh khắc thoáng qua lúc tấm màn che phủ căn tính Đức Giêsu được vén lên, lúc vinh quang tàng ẩn trong Người, nhờ qua đau khổ và cái chết, sẽ bừng lên vào buổi sáng lễ Phục sinh, sẽ từ thân thể Người chiếu toả ra.

2. ...một thị kiến chói loà trên núi.
Trừ hai ba chi tiết, Tin Mừng thứ ba lặp lại y nguyên những chi tiết giống như Máccô và Mátthêu để gợi lại một kinh nghiệm không diễn tả được.
* Nơi biến cố diễn ra hoàn toàn có tính cách biểu tượng. Đó là 1 “ngọn núi”, theo truyền thống Kinh Thánh, là nơi gặp gỡ Thiên Chúa, nơi Thiên Chúa tỏ bày mạc khải của Người.
* Sự lựa chọn các môn đệ đi theo cũng mang tính chất biểu tượng: “Phêrô, Gioan và Giacôbê” những môn đệ được kêu gọi đầu tiên, những người tại nhà Zai-rô, đã là chứng nhân của sự toàn thắng trên cái chết (8,31-56).
* Khung cảnh của biến cố cũng mang tính chất biểu tượng: Đó là cảnh Đức Giêsu cầu nguyện. Chỉ mình Luca đề cập đến chi tiết này. Theo Tin Mừng thứ ba, lời cầu nguyện luôn đi theo những giây phút trọng đại trong sứ vụ Đức Giêsu.
Lúc Người “cầu nguyện” trong ngày chịu phép rửa, trời mở ra, Chúa Thánh Thần ngự xuống trên Người và có tiếng từ trời phán ra (3,21-22). Sau khi lánh vào “núi rừng để cầu nguyện”, Người đã chọn 12 môn đệ (6,12-16). Khi Người “cầu nguyện một mình” Người đã đưa ra câu hỏi dẫn tới lời tuyên xưng đức tin của Phêrô (9,18-20). Và chẳng bao lâu nữa, ta sẽ thấy Người cầu nguyện trong vườn Giệtsêmani để tìm sức mạnh đảm đương cuộc chiến cuối cùng; biến hơi thở cuối cùng thành lời cầu nguyện (23,34 và 46); phục sinh rồi, giã từ môn đệ khi đọc lời nguyện chúc phúc cho họ (24,50-51).
- Tại nơi đây, trên núi cao, chính “đang khi cầu nguyện” mà Đức Giêsu chiếu lên luồng ánh sáng thần linh. Khác với Máccô và Mátthêu, Luca không nói về sự biến hình biến dạng; Thánh sử chỉ nói “dung mạo Người trở nên khác thường”“y phục Người trở nên trắng rực rỡ”. Sau đó, Người viết rằng: “Phêrô và các bạn tỉnh giấc và được thấy vinh quang Đức Giêsu”.
Hugues Cousin xác định: “Mặc lấy “vinh quang” có nghĩa là tham dự vào ánh sáng huy hoàng của Thiên Chúa hằng sống, được nâng lên địa vị siêu tôn; y phục trắng như ánh chớp, có nghĩa là Đức Giêsu đã tiến vào khung cảnh thiên đàng. Như thế, Đức Giêsu như được tạm thời mặc trước nguồn vinh quang phục sinh mà Người sẽ được thừa hưởng khi sống lại. Tuy nhiên Luca nghĩ rằng có lẽ nguồn vinh quang này đã tiềm ẩn trong Đức Giêsu từ trước Phục sinh và do kết quả của việc cầu nguyện, Đức Giêsu không thể ngăn chặn luồng vinh quang ấy chiếu toả ra từ thân thể Người” (“Tin Mừng theo thánh Luca” Centurion, trg 137).
- Một chi tiết khác rất giàu biểu tượng đó là: Sự hiện diện của hai khuôn mặt lớn trong Cựu Ước: Môsê và Êlia, là hai nhân vật tóm tắt tất cả Lề Luật (Môsê) và các tiên tri (Êlia), hai nhân vật chính của Cựu Ước đã loan báo rằng: “Đức Kitô phải chịu đau khổ rồi mới bước vào vinh quang” (Lc 24,26-27).
Sự hiện diện của các ngài là chứng cớ sống động rằng lời tiên báo của Đức Giêsu về tương lại của Người hoàn toàn phù hợp với Kinh Thánh.
- Một chi tiết riêng của Tin Mừng thứ ba đó là “cuộc lên đường của Người” (theo sát nghĩa là: cuộc “Xuất hành” của Người: vừa chết, vừa phục sinh, vừa được tôn vinh) mà hai nhân vật Cựu Ước bàn tới. Môsê không phải là con người của cuộc Xuất hành, của núi Si-nai, của cuộc vượt qua Biển Đỏ sao? Và Êlia chẳng phải là vị tiên tri lớn đã phải chịu đau khổ vì Thiên Chúa và vì dân tộc trước khi được cất lên trong vinh quang thần thánh sao?
Như một Êlia mới, Đức Giêsu cũng được mời gọi chịu đau khổ trước khi được “cất lên” (9,51) trong vinh quang thiên quốc, Người cũng là Môsê mới trong cuộc Xuất hành mới, trong lễ Vượt Qua mới của một Giao ước mới, sẽ vượt qua biển sự chết để giải phóng dân Người và dẫn đưa họ đến Đất Hứa thật sự là Vương Quốc của Cha Người.
- Phêrô có lẽ nhớ đến lễ Lều như một biểu tượng báo trước sự chấm dứt của lịch sử, đã đề nghị nắm chặt khoảnh khắc hiện tại bằng cách dựng “ba lều”. Nhưng Luca đã ghi nhận rằng mong ước cuộc thần hiển này kéo dài “ông không biết phải nói gì” vì ông vẫn chưa nhìn thấy viễn tượng khổ nạn như một đoạn đường buộc phải đi qua.
- Lúc ấy Phêrô, Gioan và Giacôbê bị bao phủ trong “một đám mây” – Trong Kinh Thánh đó là dấu chỉ sự hiện diện của Thiên Chúa – giống như Đức Maria trong ngày truyền tin, đám mây ấy “phủ bóng che rợp” các ngài. Các ngài “sợ hãi”.
- Chính lúc ấy “một tiếng nói” vang lên trong đám mây. Cũng là tiếng nói khi Đức Giêsu chịu phép rửa ở sông Giođan. Nhưng hôm nay, tiếng ấy không còn nói với Đức Giêsu nữa (“Con là Con Ta, hôm nay Cha đã sinh ra Con”), nhưng nói với các môn đệ của Người: “Đây là Con Ta mà Ta đã tuyển chọn”. Người Tôi Tớ đau khổ (xem Is. 42,1-8), Đức Giêsu, Người đang đồng hành với họ, thường che giấu vinh quang của mình, nay đã thoáng tỏ ra cho họ, là Người Con, nơi Người, Cựu Ước được hoàn thành; Người là Đấng nói năng với một uy quyền lớn hơn Môsê và Êlia nên ta phải “lắng nghe” Người là Đấng ta phải đi theo trên con đường dẫn về Giêrusalem: về vinh quang, qua thập giá.

3. ... qui hướng về cuộc Xuất hành của Đức Giêsu
Giờ đây mọi sự trở lại bình thường; “họ chỉ còn thấy một mình Đức Giêsu”. Tạm thời, các môn đệ “im lặng” cho tới buổi sáng sau đêm khổ nạn, mọi sự chợt có ý nghĩa dưới ánh sáng ban mai ngày phục sinh, ngày mà Chúa Thánh Thần của Lễ Hiện Xuống sẽ tháo cởi miệng lưỡi để họ làm chứng về những gì đã thấy đã nghe. Nhưng “họ hiểu rằng từ nay họ sẽ cùng Người dấn thân vào một định mệnh vượt quá sức họ. Cần phải lên đường, đường đi về Giêrusalem chỉ mới bắt đầu. Định mệnh đó phải diễn ra trong niềm thao thức lắng nghe lời vị tiên tri, Con Thiên Chúa và Người Tôi tớ vừa mạc khải cho biết chuyến xuất hành lên Giêrusalem là thiết yếu. Giờ đây, Đức Giêsu chỉ còn một mình, nhưng ta phải bước theo Người.
Con Người tiến về sự chết, nhưng cũng là tiến về vinh quang mà cuộc biến hình vừa biểu lộ và các tông đồ đều được mời gọi bước theo số phận của Người.”
(J.-L. Vesco, sđd, trg 41-42)


II. BÀI ĐỌC THÊM:
1. Điểm dừng chân ơn phúc nơi cộng đoàn ngày Chúa nhật (F. Deleclos trong “Hãy cầm lấy Lời Chúa mà ăn”, Centurion-Duculot, trg 195).
Phêrô, Giacôbê và Gioan đã bỏ thuyền, bỏ lưới mà theo Đức Giêsu, Sự sợ hãi đã nhường chỗ cho lửa nhiệt tình và những lời hứa về Nước Trời đã chắp cánh cho họ... Nhưng đường thăm thẳm và đích điểm còn quá xa vời. Từng say sưa với những thành công vang dội của Thầy, giờ đây họ chán nản khi gặp chống đối dữ dội. Đã thán phục và đón nhận Đấng Mêsia bây giờ vỡ mộng khi thấy Người bị phản đối. Cứ phân vân giữa “những sự dưới đất”“những sự trên trời”, ta có thể tin tưởng vào ai, tin tưởng cái gì?
Đây là lúc thuận tiện để tỉnh cơn mê, vươn vai đứng dậy để chiêm ngưỡng “dung nhan của Chúa” và sẵn sàng lắng nghe Lời Người. Ánh sáng chói chan, làn sóng hạnh phúc khôn tả, thị kiến thoáng qua về “thế giới khác” với cõi phàm trần nơi ta cư ngụ. Cám dỗ muốn bám vào cái kinh nghiệm tuyệt vời trong phút chốc.
Từ nay họ biết rằng Đức Giêsu là Đấng được Cha sai đến. Họ đã nhìn thấy vinh quang của Người khiến dung mạo Người ra khác. Tuy đã thấy dung nhan đời đời thực sự của Người, nhưng từ nay họ vẫn chỉ được nhìn khuôn mặt xác phàm của Người, khuôn mặt chẳng bao lâu nữa sẽ lênh láng máu.
Hãy nghe Lời Người! Nghe Người và theo Người tìm lại con đường phiêu lưu dưới đồng bằng.
Dù vật vã say ngủ và thổn thức bất an, hay sa lầy trong những thói tật xưa cũ trên đường, ta vẫn được Đức Giêsu mời gọi lên núi cầu nguyện.
Thánh lễ là điểm dừng chân ơn phúc, là ánh sáng chân lý, là mạc khải hành trình, là ý nghĩa cuộc hành hương của ta. Một dừng chân vắn vỏi để lắng nghe, để chiêm niệm, để biến hình, rồi sau đó với niềm phó thác, dấn thân sâu xa hơn trong mịt mờ sương mù của những cái thường ngày.

2. Khi con người chiếu toả Thiên Chúa (G. Bessière trong “Thiên Chúa rất gần, năm C”, DDB, trg 35-36).
Khi bị khinh miệt, bị săn đuổi, các Kitô hữu vẫn giữ được lòng can đảm nhờ nói về Đức Giêsu. Trong số những kỷ niệm trao đổi cho nhau, có đoạn văn tươi đẹp này: Đức Giêsu hiển dung, đột nhiên chói ngời ánh sáng thần thiêng. Việc toả sáng phát xuất từ bên trong bản thân Người: “Dung mạo Người trở nên khác thường...”. Một con người chiếu toả Thiên Chúa! Và khoảnh khắc khiêm tốn nhất của đời Người đã đem đến sự Hiện Diện như thế.
Hằng ngày, ta vẫn nghe nói: “Nhân loại không xinh đẹp...” “Con người có thể làm được tất cả”. Thật ra nhân loại thường bị biến dạng vì bạo lực, ích kỷ, hèn hạ, và thật thảm hại, lịch sử những điều ghê sợ vẫn chưa chấm dứt. Cần phải tỉnh táo tiến bước. Tuy nhiên nhân loại thật sự là đẹp, và con người – theo kiểu nói mạnh của những Kitô hữu thế kỷ đầu tiên – “có khả năng đạt tới Thiên Chúa”.
Biết bao người, nổi tiếng hay vô danh, đã biểu lộ Thiên Chúa qua lòng can đảm, qua sức mạnh tình yêu, qua sự hy sinh trong đời sống hằng ngày của họ. Sự biến hình diễn ra hằng ngày ở khắp nơi trên trái đất: Sự biến hình là năng lượng thâm sâu của lịch sử, năng lượng ấy giúp con người tiếp tục dong duổi đường trường. Môsê, Êlia là hai khuôn mặt vĩ đại của quá khứ, hai con người bằng lửa đã đưa dân qua những chặng đường hiển hách. Các ngài cũng có mặt và nói về “cuộc lên đường của Đức Giêsu” về “cuộc xuất hành” của Người. Một chuỗi các thế kỷ vừa khép lại và một kỷ nguyên mới sắp bắt đầu.
Ba tông đồ, ba kẻ thân tín nhất, muốn ở lại cắm lều trong ánh sáng, khai mạc thành đô và các lễ hội vinh quang. Không được, phải đi thôi. Cuộc biến hình đó chính là một hành trình, phải mất hằng thiên niên kỷ. Ta vẫn chưa leo lên đỉnh núi... chưa cầu nguyện cho đủ đâu.
Còn Đức Giêsu đã hướng đích điểm về Giêrusalem, sự đương đầu, phiên toà và cái chết. Chính trên giá khổ hình mà Người đã xé đôi chân trời trần gian để thời gian liên tục. Người vẫn là Tin Mừng, là nạm mem trong các lương tâm, và Người chỉ cho ta thấy thành đô đang kêu gọi mọi xã hội hãy biến đổi tận gốc rễ. Đức Giêsu, tiêu điểm, chuẩn mực, là khuôn mặt thần linh của nhân loại chúng ta. Cuộc sống của Người sẽ mãi mãi biến hình cuộc sống của ta.

 

CHÚA NHẬT III MÙA CHAY

HÃY HOÁN CẢI VÀ ĐI THEO CON ĐƯỜNG TỰ DO
(Lc 13,1-9)


I. VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI:
1. Hoán cải là khẩn cấp.
Sau cuộc hiển dung trên núi, Đức Giêsu quả quyết lên đường đi Giêrusalem, nơi sẽ diễn ra cuộc “xuất hành”, cuộc “ra đi” của Người. Người khuyên đám đông hãy biết phân định những dấu chỉ của Nước Trời và hãy đón nhận Tin Mừng đừng chậm trễ.
Một sự kiện được các thính giả trình lên: Philatô tàn sát mấy người xứ Galilê tại Đền thờ – các sử gia xác nhận ông đã dùng những cực hình tàn bạo – và lấy máu của họ hoà vào máu các lễ vật của họ. Phải chăng họ là “những người tội lỗi hơn những người Galilê khác?”.
Thay vì trả lời trực tiếp vào câu hỏi, Đức Giêsu dẫn sang một sự kiện khác đã diễn ra tại Giêrusalem: tháp Siloê đổ đè chết 18 người. Người kết luận bằng cách nhắc lại lời cảnh báo nghiêm trọng: “Ta bảo cho các ngươi biết: nếu các ngươi không hoán cải, các ngươi cũng sẽ chết như họ”.
Đứng trước những bất hạnh của người khác, ta tự nhiên tìm xem đâu là lỗi lầm của nạn nhân. Họ đã chết như thế, có lẽ đó là hình phạt do tội lỗi của họ. Và ta tự cho mình là công chính vì ta đã không bị nạn.
Đức Giêsu khuyên họ đừng nên tìm giải thích những cái chết tức tưởi, tốt hơn hãy năng nhận biết mình tội lỗi và mau mắn hối cải.
H. Cousin chú giải: “Hai kiểu chết khốc liệt nói trên phải là lời cảnh báo cho những ai không mau mắn thay đổi đời sống, không xét lại ý kiến và những hoài vọng lầm lạc của họ. Cũng như từ đầu đã nói, hai thảm kịch kia diễn ra không có nghĩa là các nạn nhân đã phạm phải một tội nặng nề nào, thì việc không gặp hoạn nạn cũng không phải là dấu chỉ về sự vô tội của những “người sống sót”. Mọi người đều là tội nhân và cần hoán cải trước khi bị Thiên Chúa phán xét. Trước khi gặp tai nạn, khi cuộc đời xem ra tươi sáng, đã cần phải sám hối và đón nhận Lời cứu độ của Thiên Chúa do Đức Giêsu loan báo. Để sau, e rằng quá muộn!.” (“Tin Mừng theo thánh Luca”, Centurion, trg 91).

2. ... và sinh hoa kết quả như Chúa mong muốn.
Tiếp liền theo sau là dụ ngôn cây vả không trái. Dụ ngôn này làm dịu lại những lời lẽ nghiêm khắc của Đức Giêsu.
Người thợ làm vườn mà dụ ngôn trình bày cho ta luôn hy vọng rằng cây vả của ông, dù vẫn chưa ra trái, sẽ có ngày sinh hoa kết quả. Ông thuyết phục người chủ vườn hãy hoãn lại quyết định đốn cái cây ăn hại đất một cách vô ích ấy; và ông đã nhận được một án treo: “Xin hãy để nó sống thêm năm nay nữa... Biết đâu nó sẽ ra trái? Nếu không, lúc ấy ông hãy đốn nó đi”.
Thiên Chúa là như thế. Tha thiết mong người ta hoán cải đừng chậm trễ và hãy đem tình yêu đáp lại tình yêu đi bước trước của Người. Thiên Chúa của Đức Giêsu nhẫn nại vô biên đối với người tội lỗi. Người chấp thuận cho họ một sự trì hoãn ân huệ. Người không tuyệt vọng với bất kỳ ai. Ta vẫn thường hát rằng: “Với Chúa chẳng có ai là quá xa,... Với Chúa chẳng có gì hư mất... Với Chúa chẳng có gì chấm dứt” (phiếu L.82, “Chẳng có đứa con hoang đàng nào mà không được tha thứ”).
H. Cousin kết luận: “Nếu giờ phán xét chưa đến ngay, đó là vì Thiên Chúa ban cho ta một ân huệ sau cùng để ta hoán cải, chứ không phải là Người đã chấp thuận các hành vi của ta... Cây vả không trái chưa bị nhổ ngay là do lòng nhân hậu khôn tả, tuy nhiên nó vẫn còn bị đe doạ phải chết nếu năm sau vẫn không ra trái... Lời khiển trách cây vả – vì không ra trái – là lời cảnh báo cho thính giả của Đức Giêsu: họ không được trì hoãn việc chính yếu đến ngày mai và phải quyết định sinh hoa kết quả cho Chúa ngay” (Sđd, trg 192).

II. BÀI ĐỌC THÊM:
1. Một tình yêu vừa nhẫn nại vừa đòi hỏi (F. Deleclos trong “Hãy cầm lấy Lời Chúa mà ăn”, Centurion-Duculot, trg 196).
Không báo, không đài, chẳng có tivi, mà biến cố vẫn nhanh chóng loan truyền khắp xứ sở. Lợi dụng lúc dân tụ tập trong đền thờ, bộ hạ của Philatô đã vét được một mẻ lưới vừa gọn ghẽ vừa dễ dàng, rồi họ mau chóng biến thành một cuộc thảm sát. Nạn nhân là những ai? Những người Galilê vốn có tiếng là có tinh thần dân tộc mạnh mẽ và bị chính quyền thống trị Rôma coi như những hạt nhân cách mạng. Nhưng họ đã làm gì xúc phạm đến Thiên Chúa đến nỗi phải chịu một tai hoạ như thế?
Câu hỏi gây lúng túng, nhưng đó là câu hỏi cần đặt ra cho vị tiên tri mới mà giáo lý mới lạ của Người đã lôi cuốn biết bao đám đông. Mọi người đều có câu trả lời sẵn phù hợp với truyền thống xưa cũ. Thiên Chúa chúc lành và thưởng công những người công chính. Người trừng phạt kẻ tội lỗi. Thành công và giàu sang là những dấu chỉ rõ ràng của sự ưu ái của Thiên Chúa. Thất bại và nghèo khổ đúng là phần thưởng cho những kẻ tội lỗi.
Đức Giêsu đã trả lời cho những kẻ đến hỏi Người: Còn anh em, anh em nghĩ rằng anh em là thánh, là những người được Chúa Quan phòng sủng ái vì anh em không bị nạn ư? Tất cả anh em đều đáng bị kết án vì có tội. Đừng lừa dối mình về ý nghĩa của các biến cố và nội dung của các dấu chỉ? Thiên Chúa không phải là một “ông chủ” khắc nghiệt và nóng vội trừng phạt tức khắc và từ chối khoan giãn. Hình phạt và phần thưởng, sẽ có, nhưng không phải theo cái lối mau chóng tức thời ấy.
Đừng gán ghép bất hạnh với tội lỗi, thành công với Chúa quan phòng. Những kẻ thoát nạn không phải là những người được khen thưởng, cũng không phải là những người khốn khổ vì có tội. Chẳng có ai vô tội. Tất cả mọi người đều được mời gọi hoán cải và sinh hoa kết quả. Đó mới là chính vấn đề.
Thiên Chúa là người thợ làm vườn nho đã bài bác lý lẽ của người chủ vườn và đã đề nghị một khoan giãn ân huệ mới cho cây vả. Thật là một Thiên Chúa nhẫn nại.
Nhẫn nại nhưng lại rất đòi hỏi, phối kết hài hoà sức mạnh và sự dịu dàng, công lý và xót thương, tình yêu con người và cương quyết chống lại điều ác.

2. Tính chất nghiêm trọng của những chọn lựa của ta (“Cử hành”, Tạp chí của Trung tâm Quốc gia về Mục vụ Phụng vụ, số 217, trg 18).
“Nếu các ngươi không hoán cải, tất cả các ngươi sẽ phải chết”. Ta những muốn xoá đi những câu Tin Mừng như thế. Nhưng làm sao thoát khỏi lời loan báo về cuộc “phán xét”: những chọn lựa của ta tự nó mang một yếu tố quyết định, đó là vấn đề sinh tử (“Sa ngã... bị loại trừ... chết”).
Tin Mừng giúp ta ý thức về tính chất nghiêm trọng của những lựa chọn và do đó của tự do của ta.
Chọn được sống tức là trở nên hình ảnh của Thiên Chúa trong cuộc Xuất hành, Đấng tự xưng: “Ta là”. Chọn sự sống hơn là những lối sống dẫn đến sự chết, là bước theo Đức Giêsu trên con đường Phục sinh. Hoán cải là chọn sự sống. Nhưng chẳng phải một lần mà xong. Đó là một hành trình kiên trì với Đức Kitô, có Thánh Thể nuôi dưỡng.

3. Ngày mai sẽ là quá trễ. (Mgr. Daloz, trong “Thiên Chúa đã viếng thăm dân Người”, DDB, trg 109).
Đoạn văn ta đang đọc khai mở cho các môn đệ và cho đám đông vây quanh Đức Giêsu ý nghĩa của thời gian hiện tại: Đây là thời khẩn cấp phải hoán cải. Luca luôn nhấn mạnh đến tính chất cấp thiết này: một thời gian trì hoãn đã ban cho ta, đừng để nó trôi qua mất. Đây là lúc ta phải phân định những dấu hiệu tiên báo về một tương lại gần đến, vì ta có thể đoán được ngày mai thời tiết ra sao: “Thời gian hiện tại, làm sao ngươi không nhận biết?”. Đó là sắp xếp trước khi ra hầu toà, lúc ta còn có thể thay đổi đời sống trước khi chịu số phận như những người Galilê mà Philatô đã tàn sát.
Đây là năm trì hoãn mà người làm vườn ban cho cây vả, để nó mang lại những hoa trái mà ông chủ đang mong chờ... Đừng trì hoãn việc hoán cải đến ngày mai. Thời giờ ngắn ngủi lắm, đây là lần gia hạn cuối cùng. Ngày mai sẽ là quá trễ. Ta có cơ may được nghe những lời cảnh báo này. Ngày hôm nay là một ngày hồng ân của Thiên Chúa, ta không được bỏ lỡ. Đức Giêsu mời gọi ta hãy phân định: ta qui hướng về một tương lai mà ta có thể linh cảm thấy. Tin là bước đi trong đêm tối, nhưng đức tin hướng ánh mắt ta về một thế giới tương lai và hé lộ cho ta thấy tính cách khẩn cấp của việc hoán cải.

 

CHÚA NHẬT IV MÙA CHAY

DỤ NGÔN NGƯỜI CHA NHÂN HẬU, CÂU TRẢ LỜI
CHO NHỮNG NGƯỜI PHARISÊU VÀ CÁC KINH SƯ.
(Luca 15, 1-32)


I. VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI:
1. Một dụ ngôn nhắm vào đám đông bị vấp phạm.
Tình hình ngày càng trở nên căng thẳng từ khi Đức Giêsu “lên Giêrusalem”. Qua dụ ngôn cánh cửa đã đóng lại, Đức Giêsu tuyên bố: thuộc về dân Do Thái, không có nghĩa là tự động được dự tiệc cứu rỗi. Người kết luận: “Anh em sẽ khóc lóc, nghiến răng khi thấy Áp-ra-ham, I-xa-ác và Gia-cóp cùng tất cả các ngôn sứ được ở trong Nước Chúa, còn mình lại bị đuổi ra ngoài. Bấy giờ, thiên hạ sẽ từ đông tây, nam bắc đến dự tiệc trong Nước Thiên Chúa.” (13,28-30). Những người Pharisêu và các kinh sư suýt nghẹt thở mà chết khi ngay trong ngôi nhà của một vị thủ lãnh Pharisêu đã mời Người, Đức Giêsu không những chỉ chữa một người bệnh thuỷ thủng ngày sa-bát , mà còn kể cho họ nghe dụ ngôn tiệc cưới: những khách được mời đã từ chối, thế là chủ tiệc cho mời “những người nghèo khó, què quặt, đui mù” gom nhặt “ngoài công trường, trên phố xá, đường đi, lối ngõ” (14,15-24). Và rồi, họ cảm thấy như bị xúc phạm, khi Chúa Giêsu hành động theo những gì đã nói, Người : “tiếp đón những người tội lỗi”. Điều này còn tệ hại hơn nữa, vì theo phong tục Đông phương, ý nghĩa biểu tượng của việc nhận biết và đón tiếp qua bữa ăn có tầm quan trọng đặc biệt - Người “Ăn uống với họ”! Bởi vậy, những người Pharisêu và các kinh sư “kêu trách Người” như ngày xưa, khi vượt qua sa mạc, tổ tiên họ đã kêu trách Chúa.
Chương 15 có giá trị thực sự là nhờ ba dụ ngôn Đức Giêsu kể cố ý nhắm vào các kinh sư và những người Pharisêu vì họ tự cho mình là công chính, mà khinh khi những người tội lỗi, và những người bị loại trừ.
Ba dụ ngôn này, được ngắt nhịp bằng một điệp khúc, ca ngợi tình thương Thiên Chúa được tỏ bày nơi Đức Giêsu; tình thương ấy dành cho những người không được thương yêu và không đáng yêu; những người, một cách gián tiếp, lên án sự nghiệt ngã và nghiêm khắc mà những kẻ tự phụ là công chính dành cho họ: dụ ngôn con chiên lạc “mất rồi lại tìm thấy”, dụ ngôn đồng bạc “mất rồi lại tìm thấy”, dụ ngôn cậu con thứ “mất rồi lại tìm thấy”.
Chỉ dụ ngôn thứ ba này được đọc trong Chúa nhật thứ 4 Mùa Chay năm C này. Dụ ngôn gồm hai cảnh liên kết với nhau. Cảnh thứ nhất: vai diễn là người con thứ. Cảnh thứ hai: vai diễn là người con cả; trong cả hai cảnh ấy, người cha đóng vai quan trọng có tính quyết định.

2. ... trong dụ ngôn ấy, người con thứ “đã mất rồi lại tìm thấy”.
Khuôn mặt của người con thứ được diễn tả hơi cường điệu trong cảnh thứ nhất của dụ ngôn tuyệt diệu này. Không đợi tới khi người cha qua đời, anh đòi chia gia tài ngay. Rồi ra đi để sống tự do. Mau chóng khánh kiệt vì cuộc sống phóng đãng. Anh phải làm công cho một người ngoại giáo ở đất khách quê người, và miễn cưỡng phải “chăn heo” cho chủ – đối với một người Do Thái, đây là công việc hèn hạ – vì heo là một con vật dơ nhớp đối với Do thái giáo. Bị dằn vặt bởi ý nghĩ: Ở nhà cha thì đồ ăn dư thừa, người làm công ăn không hết, thế mà ở đây anh đói khát, chỉ mong được “tống đầy bụng những thứ heo ăn” mà không được.
Vừa đói khát, thiếu thốn vừa ân hận, một ngày kia, anh quyết định trở về. Anh phác họa trong đầu những lời thống thiết nhất để xoa dịu cơn giận của người cha: “Thưa cha, con đã lỗi phạm đến trời và đến cha, con thật không xứng đáng được gọi là con cha nữa. Hãy coi con như một người làm công trong nhà thôi”.
Nhưng, chưa kịp thốt lên một lời, người cha đã giang rộng vòng tay xiết chặt lấy anh. Cho tới bây giờ, anh chưa một lần nghi ngờ tình yêu vô bờ bến của cha anh. Con tim anh rộn ràng những nhịp đập thổn thức. Không phải đứa làm thuê! Con ta chứ! Hãy mặc áo đẹp ngày đại lễ. Đeo nhẫn vào tay, biểu hiệu quyền uy. Xỏ giầy vào chân, biểu hiệu người tự do. Hãy ngồi vào bàn tiệc. Mọi thành phần gia đình đang quây quần bên bàn ăn cùng chia sẻ niềm vui của người cha.

3. ... Còn người anh trong tâm trạng “giận dữ”.
Người anh “từ ngoài đồng” về đến nhà thì cuộc vui đang diễn tiến. Nghe trong nhà có nhạc vui, anh hỏi xem có chuyện gì? Hiểu ra, tâm trạng anh chuyển từ ngạc nhiên sang “giận dữ”. Lại có thể cư xử như vậy với thằng con hư đốn ư? Như phản ánh thái độ của các kinh sư và những người Pharisêu luôn chỉ nghĩ đến phụng sự Chúa không sai một lời, nên, anh cằn nhằn với cha mình: “Đã bao năm con phụng dưỡng cha, không bao giờ bất tuân hay trái lệnh, mà chẳng bao giờ cha cho con một con dê để vui với bạn bè”. Để ở lại nhà cha, anh đã cư xử thật không khác một người làm công, cần mẫn, nhưng vô tình, xa lạ. Anh không thể hiểu được ngôn ngữ của Giao Ước mà cha anh nói với anh: “Con ơi! Con luôn ở bên cha, mọi sự của cha là của con mà”. Anh chỉ nói bằng ngôn ngữ của quyền lợi và nghĩa vụ, của mệnh lệnh và phần thưởng. Như các kinh sư và những người Pharisêu đối với tội nhân, anh cũng giữ khoảng cách với đứa em mới trở về mà mọi người đang ăn mừng. “Còn thằng con của cha đó, sau khi đã nuốt hết của cải của cha với bọn điếm, nay trở về, thì cha lại giết bê béo để ăn mừng”.

4. ... Lòng quảng đại phi thường của người cha.
Nếu phải coi chừng để đừng quên người con cả, thì chúng ta càng không được quên chân dung người cha mà từ đầu đến cuối dụ ngôn luôn là một nhân vật trung tâm, một người cha mà tình yêu luôn thôi thúc ông hướng về các con. Ông không chỉ ngồi chờ. Phải “chạy ra” coi, và ông phải chạy ra đến hai lần.
Ông chạy ra. (Hấp tấp, một thái độ đặc biệt đối với người đông phương). Ôm lấy cổ đứa con hoang đàng. Hôn nó tới tấp. Nâng nó lên, ngắt quãng những lời nó định nói, đưa nó vào nhà. Nhà của nó mà. “Mau lên!” Ông nói với các đầy tớ không chần chừ một giây. Phải mặc cho cậu chiếc áo đẹp nhất xứng với cậu, xỏ nhẫn vào ngón tay cậu, mang giầy vào chân cậu. Giết bê béo. Dọn tiệc ăn mừng. “Mau lên!” vì một niềm vui đang trào ngập lòng ông: “ Con ta đây đã chết nay sống lại, đã mất nay lại tìm thấy”.
Ông lại chạy ra để nài nỉ người anh vào nhà, để người anh nhìn nhận đứa em mà anh ta đã miệt thị, để dự tiệc chung vui với mọi người.
Đây đúng là một dụ ngôn có tầm vóc thần học. Dụ ngôn của ân huệ Chúa ban tặng con người. Dụ ngôn về tình yêu nhưng không Cha ban cho mọi người, dầu tội lỗi mấy đi nữa. Cha muốn họ tham dự niềm vui, muốn mời họ khám phá ra tình huynh đệ chân chính. Làm sao không nhìn ra qua dụ ngôn này, Đức Giêsu muốn trao cho chúng ta bí mật trong cách cư xử và đời sống của Người? Người là người Con được Cha sai đến loan báo sự hòa giải cho các tội nhân. Đó là những người mà Đức Giêsu khắc họa hình ảnh nơi người em và đó cũng là những người được mời gọi nhận ra chính mình nơi hình ảnh của người anh!

5. Một dụ ngôn đặt chúng ta trong tình trạng người anh.
Thật ra, dụ ngôn còn để ngỏ đó. Người anh cả có thuận theo lời khuyến dụ của cha anh không? Anh có bằng lòng vào chung vui không? Anh có ưng thuận chung bàn với người em đã trở nên “dơ” không? Hay anh vẫn giận dữ... Tường thuật của Tin Mừng không trả lời... Có lẽ mục đích của Tin Mừng là để chúng ta tự phác họa cách chúng ta sẽ đối xử với anh em mình.
Huguses Cousin kết luận: “Thính giả và độc giả hãy đặt mình vào vị trí của người anh: chính tôi sẽ ưng thuận lời thỉnh cầu của người cha hay không. Thuận thì không dễ đâu, có khi khổ nữa. Dụ ngôn cho thấy sự đáp ứng ý cha không tự đến cách dễ dãi. Kết thúc của dụ ngôn đặt chúng ta vào vị thế người anh. Phụng vụ Mùa Chay như chẳng hoan hỉ đặt chúng ta vào vị thế này, mà trái lại, như muốn chúng ta thấy mình trong tâm trạng người em. Thánh Luca thì chắc chắn nhấn mạnh hơn đến thái độ người anh. Dẫu sao, qua suốt câu chuyện, chúng ta vẫn thấy nổi bật lên tình yêu và lòng cảm thương của người cha đối với từng người. Chính nhờ tình thương này mà tội nhân hối cải, và chúng ta vui vì họ trở về dù đôi khi rất khó mà vui được.” (“L'Evangile de Luc”, Centurion, trg 214-215).

II. BÀI ĐỌC THÊM:
1. Cả hai người con của dụ ngôn cùng hiện hữu trong ta (“Célébrer”, Tạp chí của Trung tâm Quốc gia về Mục vụ Phụng vụ số 217, trg 22).
Niềm vui Phục sinh đã gần. Chúng ta có ưng thuận chia sẻ niềm vui của người cha và đón nhận lời mời gọi dự lễ?
Như dân Israel vào đất Hứa, chúng ta cũng phải sống kinh nghiệm vượt qua, đó là cuộc vượt qua của sự hòa giải, cuộc vượt qua này sẽ tái tạo chúng ta trong một hiện hữu mới.
Dụ ngôn về người cha và hai người con vẫn để ngỏ! Không ai xác định được câu chuyện sẽ kết thúc thế nào. Chúng ta hãy nhập vai. Cả hai người con cùng hiện diện trong ta. Chúng ta có thể nhận ra mình trong những ảo tưởng của họ. Cả hai cùng hiểu lầm về bản chất của mối tương quan giữa họ với cha và không biết tình yêu của cha mình. Hãy theo sát những toan tính của người con khi trở về. Anh đã sống lại nhờ người cha hân hoan loan báo sự tha thứ. Nhưng chúng ta cũng là người anh, xơ cứng trong kiêu căng vì đã trung thành với cha. Anh sẽ cởi mở và chọn một chỗ ngồi trong bàn tiệc tập thể với những kẻ mới đến, những kẻ từ xa trở về. Còn đối với chúng ta, ai sẽ là “những người khác” mà cộng đoàn chúng ta phải mở rộng cửa đón tiếp?
Nhận biết anh em là điều kiện để Cha nhận biết ta. Hòa giải với anh em là cửa ngõ để hòa giải với Thiên Chúa. Đó là chân lý trong Thánh lễ tạ ơn (eucharistie) mà chúng ta cử hành.

2. Tha thứ: từ ngữ đúng nhất của đức tin Kitô giáo (H. Denis, trong “100 từ ngữ diễn tả đức tin”, DDB, trg 17-18).
Trong các từ ngữ chỉ đức tin Kitô giáo, thì chắc chắn tha thứ là ưu việt hơn cả. Không phải tình cờ mà nó nằm trong kinh Lạy Cha.
Con chiên lạc, người con đi hoang, người phụ nữ ngoại tình, Dakêu trên cây sung, người bại liệt được ròng xuống từ trên mái nhà. Đức Giêsu đã gặp tất cả những người này. Họ là những người tội lỗi, lầm lạc, hư mất. Nhưng, Thiên Chúa tha thứ cho họ trong Đức Giêsu mà không cần một điều kiện tiên quyết nào. Người không đòi hỏi gì. Đức Giêsu không bảo: “Làm cái này rồi tôi tha thứ cho”. Không! Người tha thứ rồi mới nói: “Hãy về và đừng phạm tội nữa”.
Người ta có thể chấn vấn: tại sao tha thứ lại là một điều thần thiêng như vậy? Tại sao tha thứ lại đưa người ta đến gần Thiên Chúa thế?
Câu trả lời có lẽ nằm trong chính từ ngữ: tha thứ vì tha thứ là một ân huệ ở trên cao, siêu việt.
Ơn huệ thứ nhất ta được là hiện hữu của ta như một tạo vật. May mắn là chúng ta vẫn là vậy. Nhưng cách cư xử, phong tục, lỗi lầm của chúng ta có thể phá hủy ơn huệ đầu tiên này nơi ta, làm chúng ta bị “tha hóa”
Chính lúc đó ơn tha thứ đến, một loại ơn tái tạo. Chúng ta đã chết mà nay sống lại. Chúng ta không còn phải chịu đựng lẫn nhau nữa, chúng ta lại chấp nhận lẫn nhau và lại thương yêu nhau. Đó là một cuộc tái sinh, một sự Phục Sinh, một bước đi vào đời sống mới.
Như vậy, thật là tốt đẹp khi chúng ta được tha thứ. Tuy nhiên, thẳng thắn mà nói, liệu chính chúng ta có thể tha thứ được không? Tha thứ đây không phải là quên, cũng không phải là chối bỏ những xác tín của chúng ta, mà là tìm đến với kẻ xúc phạm ta. Và không cần để mất một chút gì về chân lý, hoặc về lương tri phân biệt tốt xấu, để nói với kẻ phạm lỗi: bạn là anh, là chị tôi.
Và có thể thêm một lời phi thường này: chính bạn hãy tha cho tôi, vì bạn đã không xúc phạm đến tôi nếu trước đó tôi đã không xúc phạm đến bạn.

 

CHÚA NHẬT V MÙA CHAY

ĐỨC GIÊSU MỞ RA CON ĐƯỜNG HƯỚNG VỀ TƯƠNG LAI
CHO NGƯỜI PHỤ NỮ PHẠM TỘI NGOẠI TÌNH,
TRONG KHI NHỮNG KẺ TỐ CÁO
LẠI MUỐN GIAM HÃM CHỊ TRONG QUÁ KHỨ TỘI LỖI.
(Gioan 8,1-11)


I. VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI:
1. Trước bẫy giăng của đối thủ…
Câu chuyện quí giá này tự nó có thể là một Tin Mừng nhỏ mà cốt lõi là: Đức Giêsu từ nơi Thiên Chúa đến, không phải để tố cáo tội nhân, nhưng để cứu rỗi họ, và nhờ đời sống, sự chết, sự sống lại của Người, Người dâng tặng họ chính sự sống của Thiên Chúa.
Một văn bảo, nhưng sự có mặt của nó trong các bản văn Tin Mừng bị nghi ngờ. Các thủ bản đầu tiên của thánh Gioan không có. Với những lý do tương cận về văn thể và từ ngữ, các thủ bản của thánh Luca lại đặt câu chuyện sau Luca 21,38.
Tại sao có sự do dự này? A. Marchadour giải thích: “Câu chuyện thì xác thực. Nhưng, các vị lãnh đạo Giáo Hội sơ khai e ngại sự phóng túng. Ngoại tình bị coi như một trọng tội ít gặp. Để được tha, cần làm việc đền tội công khai, lại chỉ được tha một lần thôi. Cách cư xử của Đức Giêsu đối với người phụ nữ ngoại tình, một số vị chức trách cho là dễ dãi quá (Họ quên mất câu “Hãy về và đừng phạm tội nữa”). Dễ dãi thế đe dọa sự trung tín trong hôn nhân.” (“L'Evangile de Jean”, Centurion 1992, trg 121).
Sau một ngày giảng dạy ở đền thờ, chiều xuống, theo thói quen, Đức Giêsu lên núi Ôlivê. Sáng sớm hôm sau, Người lại vào Đền thờ giảng dạy dân chúng.
“Các kinh sư và những người Pharisêu” thù nghịch nghĩ rằng giáo huấn của Đức Giêsu làm đảo lộn tất cả, nên họ quyết định trừ khử Người. Tuy nhiên, để đưa Người ra xét xử, cần phải có một chứng cứ đúng đắn.
Một cơ hội không mong đã đến. Một thiếu phụ “bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình”. Rẽ đám đông, các kinh sư và những người Pharisêu dẫn chị vào “giữa” đám đông đang tụ họp và nói với Đức Giêsu: “Trong sách Luật, ông Môsê truyền cho chúng tôi phải ném đá hạng đàn bà đó. Còn Thầy, Thầy nghĩ sao?”
Bẫy đã giăng. Thoát thế nào được! Tha, Đức Giêsu sẽ chống lại luật Môsê. Ném đá, Người tự mâu thuẫn vì Người vẫn rao giảng lòng nhân từ của Thiên Chúa. Đằng sau án xử người thiếu phụ là chính án xử Đức Giêsu.
Giờ đây, dây thòng lọng đang xiết dần cả người thiếu phụ, lẫn Đức Giêsu. Tệ thật! Đây không còn là một vấn nạn nơi lớp học, nhưng là một câu hỏi sinh tử, đối với người thiếu phụ cũng như đối với chính Đức Giêsu.
Vẫn ngồi trong dáng điệu của một ông thầy đang giảng dạy, Đức Giêsu “cúi xuống” và thay vì trả lời, Người dùng ngón tay vẽ vẽ trên đất.
Các nhà chú giải rất quan tâm tìm hiểu xem Đức Giêsu viết gì trên đất? Thánh Hiêrônimô nghĩ: Người vạch tội những kẻ tố cáo. Nhiều tác giả khác thì cho rằng: Người viết lại một câu trong Jêrêmia (17,13): “Tất cả những ai lìa bỏ Ngài sẽ phải hổ thẹn, những kẻ quay lưng lại với Ngài sẽ phải ghi tên mình trong lòng đất”. A. Marchadour cho rằng: “Tốt nhất nên trung thành với sự mơ hồ của bản văn. Đức Giêsu vạch trên đất để kéo dài thời gian thinh lặng, làm cho lời phân xử sắp thốt ra thêm trọng lượng.” (sđd, trg 124).
Người ta như không chú ý tới điều được ghi nhận tới hai lần: Đức Giêsu “cúi xuống”, rồi “ngước lên”. X. Léon-Dufour thắc mắc: “Sao lại nhấn mạnh đến cử chỉ ấy trong một câu chuyện ngắn ngủi như vậy?” Rồi trả lời: “Tên núi Ôliviê được nhắc đến ở đầu câu chuyện đã đặt giai thoại này trong bối cảnh cuộc khổ nạn sắp đến. Cử chỉ của Đức Giêsu mang một ý nghĩa Kitô học: nó nhắc đến sự hạ xuống, và đưa lên cao mà qua đó, Đức Giêsu sẽ hòa giải nhân loại bị giam hãm trong tù ngục tội lỗi với Thiên Chúa.” (“Lecture de l'Evangile selon Jean”, Cerf, tập 2, trg 313).

2. ... Trước hết, câu trả lời của Đức Giêsu là sự thinh lặng.
Họ nài nỉ. Trước khi lại chìm trong thinh lặng, Đức Giêsu nhắc họ lời Kinh Thánh: “Ai trong các ngươi sạch tội, thì cứ lấy đá mà ném trước đi.” (Đệ Nhị Luật 13,9-10 và 17,7: “Người làm chứng sẽ ném đá kẻ phạm tội trước”). Từ lúc ấy, vụ án xử bị cáo lại trở thành vụ án xử nguyên cáo.
Các kinh sư và những người Pharisêu đinh minh mình công chính, nấp sau Luật để tố cáo người phụ nữ. Ở đây, Đức Giêsu đưa chính họ ra xét xử dưới ánh sáng của Luật. Người buộc những quan tòa phải tự xét xử chính mình, trước hết, phải trở lại với lương tâm mình, nhìn nhận mình cũng là tội nhân, cùng một thân phận như “người phụ nữ kia”, người mà họ đã lôi ra giữa đám đông và giam hãm chị trong quá khứ tội lỗi của mình.
Trong vòng vây của những nguyên cáo hung hăng, sự lưỡng lự biến thành cuộc lui binh như thánh sử ghi nhận cách hài hước: “Họ rút lui từng người một, bắt đầu từ người già nhất”.

3. ... Rồi Lời giải thoát đến:
Khi Đức Giêsu “ngẩng đầu lên” lần thứ hai thì chỉ còn “mình Người đối diện với người phụ nữ”. Thánh Augustinô chú giải: “Chỉ còn hai. Lòng thương xót và người được xót thương.”(“Relicti sunt duo: misera et misericordia”: Tract. in Jo. 33,5)...
Nếu trước đó, những người tố cáo gọi chị là “hạng đàn bà đó” một cách khinh bỉ, coi chị như đồ vật, thì giờ đây, chị thấy một ánh mắt khác nhìn chị, nghe một giọng khác gọi chị như gọi một con người: “Này chị”. Hơn bất cứ ai khác, Đức Giêsu là người đo lường chính xác nhất mức nặng nhẹ của tội lỗi; và thay vì giam hãm chị trong quá khứ tội lỗi như các kinh sư và những người Pharisêu đã làm, Người thúc đẩy chị bước vào con đường hối cải, và mở cho chị một tương lai mới “Không ai kết án chị sao?... Tôi cũng vậy. Hãy về và từ nay đừng phạm tội nữa”.
Sau đó thì sao? Câu chuyện để ngỏ đó giống như dụ ngôn chúa nhật trước bỏ ngỏ thái độ người anh. Một khi đã gặp Đức Giêsu, Đấng không lên án mà kêu gọi sống đời sống thánh thiện “độc giả cũng thấy mình được kêu gọi để đừng khép mình vào cái khuôn dĩ vãng chết chóc, nhưng là bước đi trong tự do của con cái Thiên Chúa.” (X. Léon-Dufour, Sđd, trg 332).

II. BÀI ĐỌC THÊM:
1. Một mạc khải sâu xa về bản chất của tội lỗi (N. Quesson, trong “Les entretiens du dimanche, Année C, Droguet-Ardant, trg 59-60)
Câu chuyện là hạt ngọc quí của Tin Mừng. Chúa Giêsu rời núi Ôliviê, trở lại đền thờ để cứu vớt một phụ nữ ngoại tình, một kẻ tội lỗi. Đừng hạ thấp giá trị của trang Tin Mừng tuyệt vời này khi cho nó chỉ là bài học về sự khoan dung đối với những yếu đuối nhân loại, sự khoan dung mà các bậc hiền triết thời nào cũng mến chuộng.
Thật ra, trang Tin Mừng hôm nay là một mạc khải rất sâu xa về bản chất của tội lỗi, và bản chất của sự tha thứ … theo cái nhìn của Thiên Chúa.
Tội lỗi, trước tiên là một thực tại loài người, rồi là một thực tại của lòng tin. Khi nghiên cứu cách cư xử của con người, các nhà xã hội học khám phá ra:
- Sự phạm pháp: Xã hội bao gồm nam, nữ, gia đình, cộng đồng... không thể vận hành nếu như không có một số luật lệ, cấm đoán. Không trộm cắp. Không nói dối. Tôn trọng đời sống lứa đôi. Không ngoại tình. Đừng hiểu ý nghĩa của trang Tin Mừng này cách trái ngược: Đức Giêsu kết án tội ngoại tình là điều rất rõ. “Đừng phạm tội nữa”.
- Ý niệm về lỗi phạm… Nếu trẻ em thường sai lỗi trong những điều cấm - đáng tiếc cũng có cả một số người lớn còn ấu trĩ như vậy - , thanh thiếu niên chưa trưởng thành trong nhận thức về điều cấm, điều được phép. Họ khám phá ra rằng: những điều người ta cấm họ tác hại đến cá nhân họ: khi tôi nói dối, trộm cướp, ngoại tình, tôi huỷ hoại một điều gì đó về nhân tính nơi tôi. Lỗi phạm như một con sâu gặm nhấm một trái cây, một thiếu sót nơi bản thân, nơi ý chí tôi.
- Ý niệm về tội lỗi: Ở một mức cao hơn, theo nghĩa đúng nhất, tội lỗi làm gián đoạn “mối tương quan với Thiên Chúa”. Chúa nhật trước, chúng ta đã thấy Chúa Giêsu gợi ý, tội lỗi chính là sự đứt đoạn tình yêu với Cha: người ta cắt đứt mối tương quan và bỏ đi xa. Hôm nay, Tin Mừng nêu lên một quan hệ khác: toàn bộ Kinh Thánh ví tội của Israel như hành vi ngoại tình, phản bội giao ước giữa Chúa và dân yêu dấu của Ngài. Các ngôn sứ thì ví loài người như một người vợ bất trung đối với chồng. Cắt đứt giao ước tình thương. Xúc phạm một người luôn yêu mình. Đó là mạc khải xác thực và sâu xa về tội lỗi.
Như vậy, đối với Đức Giêsu, người ta chỉ hiểu ý nghĩa của tội lỗi, khi hiểu ý nghĩa về Thiên Chúa. Rốt cục, các thánh là những người sáng suốt nhất, vì các ngài nhận ra hành vi phạm pháp và lỗi lầm làm tổn thương tình yêu của Thiên Chúa, Đấng dựng nên ta và yêu thương ta vô cùng. Chính chúng ta làm tổn thương “khuôn mặt” của Người… nơi chúng ta vì chúng ta được tạo dựng giống hình ảnh Ngài.

2. Một lời nói và một ánh mắt giải phóng và cứu độ. (F. Deleclos, trong “Prends et mange la Parole”, Centurion. Duculot, trg 199-200)
Những người Pharisêu tốt lành và trung thành có một cơ hội tuyệt vời để tố cáo Đức Giêsu. Người bị dồn vào chân tường. Hy sinh người phụ nữ để giữ Lề Luật hay hy sinh Lề Luật để cứu người phụ nữ. Người bị kẹt giữa cả hai phía. Kết án người phụ nữ tội lỗi này thì mâu thuẫn với những lời giảng về lòng thương xót và ơn tha thứ. Tha cho chị thì phạm pháp vì bất tuân luật Môsê. Bị cáo sẽ chính là Đức Giêsu.
Sẽ không có sự kết án, cũng không có viên đá nào được ném ra (hình phạt ném đá đến chết). Bẫy sẽ sập xuống trên chính những kẻ gài nó. Chỉ vài lời thôi, Đức Giêsu đã hoán đổi vị trí, nguyên cáo biến thành bị cáo. Chị ta đã phạm tội. Đúng vậy. Còn các ông? Chị không đến nỗi hư hỏng và tội lỗi như các ông nghĩ và các ông cũng không công chính và trung tín như các ông tự phụ.
Một bài học thật là nặng nề, khó chịu nhưng cũng tuyệt vời. Đó là bài học về chân lý, về cách Chúa dạy dỗ, về sự công chính theo Tin Mừng và về lòng thương xót rất phù hợp với truyền thống mà các ngôn sứ bênh đỡ và duy trì trước những trận gió và cơn sóng khắc nghiệt xuất phát từ lòng hẹp hòi của con người. “Đừng nghĩ tới chuyện xa xưa nữa. Hãy quên đi quá khứ. Này ta đang tạo lập một thế giới mới: Nó đang hình thành. Các ngươi có thấy không?”
Phán quyết của Chúa là lời tha thứ. Sự tha thứ không giam cầm người khác trong lỗi lầm và trong quá khứ. Ánh mắt và lời nói của Đức Giêsu giải thoát và cứu rỗi. Khác hẳn với những cái răng sắc nhọn, những lời nói như đá ném vào mặt, những cái nhìn kết án như viên đạn xuyên tim. Cơn giận giả dối của “những người công chính” cho rằng mình chẳng có điều chi đáng phiền trách nhưng lại luôn sẵn sàng trừng phạt tội người khác.

3. Một vết nứt trên các hệ thống khép kín của chúng ta. (“Célébrer”, tạp chí của Trung tâm Quốc gia về Mục vụ Phụng vụ, số 217, trg 26).
Ai cũng khát vọng một thế giới mới. Ai cũng nói về đổi đời. Đồng thời, đều cảm thấy bị giam hãm trong những cơ chế gò bó (trong Xã hội cũng như Giáo Hội). Làm sao thoát ra?
Theo các bài đọc hôm nay, gặp gỡ Đức Kitô và Tin Mừng của Người sẽ phá tung ngục tù của thất vọng (bài đọc 1), làm tan vỡ khối rắn chắc của một lương tâm sơ cứng vì lợi lộc tư riêng (bài đọc 2), bẻ gẫy gọng kìm bạo lực của những lời kết án (Tin Mừng).
Trong hoang mạc của chủ nghĩa pháp chế khô cằn, lời kêu gọi biết dùng tự do có trách nhiệm vọt lên như một dòng suối trong mát. Ngay đối với những người Pharisêu khô cằn về luân lý, Chúa Giêsu vẫn có thể cấy trồng sự sống khi làm cho họ hết phương chống đỡ, khi làm cho họ nhận ra rằng họ liên đới với nhau cả trong sự dữ, qua đó, cho thấy có hy vọng vào một lối thoát ra khỏi mọi hệ thống độc đoán và hay kết tội người khác.
Người mở trước mắt ta cái nhìn nhân ái đích thực về mọi người: cái nhìn không đóng kín chúng ta vào thất bại và tuyệt vọng của quá khứ, cái nhìn tái tạo cuộc sống khi mời gọi chúng ta tiến bước. Tóm lại, đó là một tình yêu loan báo tương lai.
Vết nứt trên các hệ thống khép kín của chúng ta cùng cái nhìn tái tạo này không phải là điều chúng ta cảm nhận và sống trong bí tích hòa giải đó sao? Không phải là cơ hội cảm nghiệm quyền năng của sự phục sinh đó sao?
Bàn tiệc Thánh Thể loan báo thế giới mới. Dân được cứu rỗi hát mừng những kỳ công của Đấng mở lối vào tương lai.

 

CHÚA NHẬT LỄ LÁ

BÀI THƯƠNG KHÓ ĐỨC GIÊSU KITÔ THEO THÁNH LUCA
(Lc 22,14-23,56)


I. VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI:
1. Một trình thuật đặc sắc.
Không còn nghi ngờ gì nữa, trình thuật khổ nạn của Luca có liên hệ chị em với trình thuật của Máccô. Tuy nhiên Luca vẫn có nét khác biệt. Ngoài việc đảo lộn trật tự, những đoạn văn Luca còn bỏ qua nhiều đoạn có trong Máccô và nhất là có những đoạn riêng biệt của ông.
- A. Vanhoye nhận định rằng: “Việc bỏ qua những đoạn văn có mục đích giảm nhẹ những gì xúc phạm sổ sàng tới phẩm cách nhân loại của Đức Giêsu” (“Đọc Kinh Thánh” số 55, trg 25). Chính vì thế Ngài không nhấn mạnh đến sự kiện bắt Đức Giêsu. Ngài cũng không nhắc đến những chứng từ gian dối trích dẫn lời Đức Giêsu nói về Đền thờ, những lời sỉ vả của quân lính Rôma, lời đề nghị cho người chịu đóng đinh đang hấp hối uống dấm pha mộc dược.
- Trái lại, Luca thêm vào nhiều đoạn riêng của mình. Trong tổng số 127 câu có 50 câu – trong số đó có hơn 20 câu từ miệng Đức Giêsu nói ra – Trong rất nhiều những câu ấy, ta ghi nhận có: triển khai giáo huấn trước và sau khi lập phép Thánh Thể; việc thiên thần xuất hiện và mồ hôi máu đổ ra trong cảnh hấp hối; việc chữa tai cho người đầy tớ thầy cả thượng phẩm và ra lệnh đừng có hành vi chống cự; ánh mắt Đức Giêsu nhìn Phêrô vừa chối Người; ba lần Philatô tuyên bố Người vô tội; lời cầu nguyện cho các đao phủ; đối thoại với người trộm lành; tiếng kêu lớn trên thánh giá trước khi tắt thở không phải là tiếng kêu vì đau khổ phần xác trước cái chết: “Lạy Chúa tôi, lạy Chúa tôi, sao Chúa nỡ bỏ rơi tôi”. (Tv 21 trong Mátthêu và Máccô), nhưng là tiếng kêu nói lên sự mật thiết bất ngờ với Thiên Chúa, là lời kinh chiều của mọi người Do Thái: “Lạy Cha, con phó linh hồn con trong tay Cha”.

2. Con đường của Thầy, con đường của trò.
Xuyên qua những nét độc đáo trong trình thuật khổ nạn của Đấng Cứu thế, Luca quảng diễn hai đề tài mà Hugues Cousin nhận định là “hội tụ”. Ông viết: “Cái chết của Đức Giêsu là cuộc tử đạo của người công chính và các môn đệ coi đó là kiểu mẫu phải noi theo”.
- Qua những đoạn văn bị loại bỏ và nhất là qua những đoạn riêng của mình, Luca, khi giúp ta cảm nhận được vẻ tôn quý và sự cao cả của Đấng Vô tội bị kết án một cách bất công, đồng thời cũng cho thấy sức chiếu tỏa của lòng thương xót của Người qua suốt trình thuật, đã khẳng định rằng Đức Giêsu, khi tự hiến mạng sống vì tình yêu, là người chiến thắng sự dữ, rằng nhờ cuộc khổ nạn, Người chính là nguồn ơn cứu độ cho hết mọi người, rằng triều đại Thiên Chúa và sự phục sinh đã bắt đầu. Thật vậy, Giuđa đã được đón tiếp rất lịch sự. Tai của anh lính hầu bị chém đã được chữa lành. Trái tim của Phêrô đã bồi hồi thống hối qua ánh mắt của người Thầy mà ông vừa chối bỏ; các đao phủ nhận được sự tha thứ; anh trộm lành hoán cải khi thấy thái độ của Người dữ nhận được lời hứa ban Nước thiên đàng; vì khi Đức Giêsu trút hơi thở cuối cùng trong lời cầu nguyện phó thác linh hồn cho Chúa Cha, viên sĩ quan đã tuyên xưng: “Quả thật, người này là người công chính”, các chứng nhân hối hận “đấm ngực ăn năn”, bác bạn bè và các phụ nữ theo Người “hướng nhìn” về Người.
- Đồng thời, qua các nhân vật xuất hiện trong trình thuật, Luca muốn nhắn gởi các độc giả xưa cũng như nay một lời khuyên tha thiết – hãy bước theo Đức Giêsu.
E. Charpentier đã viết trong “Đức Kitô” số 55 trang 118-119: “Luca mời ta bước vào cuộc khổ nạn với Đức Giêsu, cùng Phêrô nhận biết thân phận yếu hèn của mình, mà ăn năn sám hối khi gặp ánh mắt nhân hậu, cùng Simon vác thập giá mình theo Người, cùng Người phó linh hồn trong tay Chúa Cha... Ngay từ đầu, một câu hỏi đã được đặt ra: “Ta, môn đệ của Chúa, sẽ bước theo cuộc khổ nạn như thế nào?”. Nếu, như Phêrô, ta đã có lần chối bỏ Đức Giêsu, thì cũng như Phêrô, ta vẫn còn cơ hội cảm thấy ánh mắt tha thứ của Đức Kitô đang nhìn ta. Chắc chắn ta không thể bước theo cuộc khổ nạn như một đấng thánh, nhưng ta vẫn luôn luôn có thể bước theo cuộc khổ nạn như một tội nhân được tha thứ”.

II. BÀI ĐỌC THÊM:
1. Đối diện với lửa thù hừng hực, Đức Giêsu tỏa ra ánh sáng của lòng thương xót. (“Sách lễ các ngày Chúa nhật Emmaus”, trg 196-197).
Trong trình thuật khổ nạn, qua khối lượng to lớn các chi tiết, Luca đã nêu bật thái độ của Đức Giêsu, trước lửa hận thù hừng hực, đã chiếu tỏa ánh sáng của lòng thương xót cho đến cùng. Bữa Tiệc ly đã cho thấy sự tương phản giữa một người tự hạ mình làm tôi tớ, tự hiến toàn thân cho bạn hữu với các môn đệ mù quáng khép kín trong hưởng thụ, lại còn mâu thuẫn chống báng nhau. Tương phản nữa, giữa các tông đồ, là những người đang chống lại bọn lính đến tấn công, với người Thầy chữa lành vết thương cho đầy tớ vị thượng tế. Thánh sử nêu bật sự dịu hiền của người bị tố cáo khi đứng trước những kẻ tố cáo Người. Trên đường lên núi Sọ, Người vẫn lo âu cho sự khốn khổ của đám dân đã chối bỏ Người. Trên thập giá, Người tha thứ cho anh trộm hối cải. Philatô quả đã không lầm: Ông nhận biết Người vô tội. Nhưng vì yếu đuối, ông đành cộng tác với các kẻ thù của Đức Giêsu mà kết án Người. Sau khi đóng đinh Người, cả một viên sĩ quan ngoại đạo cũng thốt lên chân lý hiển nhiên, chân lý mà tòa án Do Thái phá huỷ: “Quả thật, Người này là Con Thiên Chúa”.

2. Thánh giá, công trình hòa giải (“Kinh thánh ngày chúa nhật”, trg 493-494).
Luca là thánh sử của tình yêu Thiên Chúa và lòng thương xót của Người. Chẳng lạ gì mà thánh nhân đã đọc và giải thích các biến cố của cuộc Khổ nạn khởi đi từ hai thái độ ấy. Tin Mừng thứ ba, khi dõi theo đường thánh giá Đức Giêsu, đã khám phá ra tình yêu của Thiên Chúa dành cho Con của Người và cho tất cả mọi người, kể cả những kẻ thù nghịch.
Chính vì thế Luca không giữ lại những món nợ đè nặng trên vai người Do Thái và trên các môn đệ Đức Giêsu: tìm trách nhiệm làm gì khi máu Đức Giêsu đã chuộc tội tất cả? Vì thế thánh nhân chẳng nhắc đến chuyện các môn đệ thiếp ngủ trong vườn Giệtsêmani, hay chuyện các ông đào tẩu lúc Người bị bắt; không giữ lại những lời nguyền rủa của vị thượng tế, những lời nhục mạ của quân lính. Thánh nhân không muốn thấy Đức Giêsu cô đơn trên thập giá nên đã lo cho bạn hữu và các môn đệ vây quanh để tham dự vào sự đau khổ của Người.
Cuộc Khổ nạn trở nên một phép lạ hàm chứa ơn tha thứ: .. người lính có vành tai bị cắt được chữa lành tức khắc; Đức Giêsu vẫn còn thời gian nhìn Phêrô sau khi ông phản bội để giúp ông sám hối. Ngay cả những lời Đức Giêsu thốt ra trên thập giá cũng được thay thế bằng những lời tha thứ và xót thương đối với anh ăn trộm, với những người Do Thái nhạo cười và với chính viên sĩ quan. Hoà giải hiện diện khắp nơi. Ngay cả kẻ cừu địch bất cộng đái thiên như Hêrôđê và Philatô cũng lợi dụng cuộc khổ nạn của Đức Giêsu để làm bắt tay nhau, cũng như trong Giáo Hội, hai phe Do Thái và dân ngoại cũng đã làm như thế.
Chúa Cha không ngừng bày tỏ tình yêu với Chúa Con: Luca thay đổi bản văn tả cảnh cầu nguyện của Đức Giêsu tại vườn Giếtsêmani, biến nó thành một mạc khải về sự kết hiệp mật thiết giữa Đức Giêsu và Cha Người. Thánh nhân lưu ý ta về mối quan tâm của Thiên Chúa: khích lệ Con của Người trong cơn hấp hối.
Thật bất ngờ, nhưng thử thách lớn lao vẫn là sự hiện diện của Thiên Chúa và bí tích tình yêu cùng sự tha thứ lạ lùng của Người. Thánh giá là công trình hòa giải và lễ dâng của Đức Giêsu hiệu quả ở điểm qui tụ được tất cả những kẻ thù địch ác liệt nhất trong một mối hiệp nhất.

 

THÁNH LỄ TIỆC LY

THẦY VÀ CHÚA TRỞ THÀNH NGƯỜI PHỤC VỤ
(Ga 13,1-15)


I. VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI:
1. Một cử chỉ gây kinh ngạc của Đức Giêsu.
Bài đọc trong Bữa Tiệc ly tưởng nhớ Chúa không tường thuật việc lập Phép Thánh Thể, nhưng tường thuật một cử chỉ khác của Đức Giêsu: việc rửa chân (câu 4+5) dẫn đến mẩu đối thoại với Phêrô (câu 6-11) và diễn từ giải thích (câu 12 và kế tiếp).
Phần nhập đề trang trọng một cách đặc biệt. Phần này nêu bật ý thức cao cả của Đức Giêsu: “Trước lễ Vượt Qua, biết rằng đã đến giờ Người rời bỏ thế gian mà về cùng Cha, Đức Giêsu yêu thương những kẻ thuộc về Người còn ở trần gian, Người yêu thương ho cho đến cùng”. Ý nghĩa của việc sắp diễn ra đã được loan báo đầy đủ: đó là Chúa Cha và Đức Giêsu bày tỏ một tình yêu đến tuyệt đỉnh, trong sự tự do hoàn toàn.
Cảnh tượng rửa chân diễn ra. Tương phản mãnh liệt với tất cả những gì trước đó. Cảnh tượng này được miêu tả hết sức tỉ mỉ, dừng lại trên từng cử chỉ. Nói theo ngôn ngữ điện ảnh, thánh sử đã “quay chậm” cảnh rửa chân: “Đức Giêsu... đứng dậy, rời bàn ăn, cởi bỏ áo ngoài, lấy khăn thắt lưng; rồi Người đổ nước vào thau, và bắt đầu rửa chân cho các môn đệ”.
Một cử chỉ gây ngạc nhiên hai lần cho những ai chứng kiến: đó không phải chỗ và cũng không phải là vai trò của Người.
- Cử chỉ hiếu khách rất phổ biến thời xưa ấy, theo đúng lý phải thực hiện trước bữa ăn. Còn Đức Giêsu, trái lại, thi hành “giữa bữa ăn”.
- Đàng khác, đó là nhiệm vụ của gia nhân: việc rửa chân ngầm hiểu một thân phận kẻ dưới. Hơn nữa, nô lệ Do Thái không buộc phải rửa chân cho chủ. Thế mà ở đây Đức Giêsu dù là “Thầy”, là “Chúa” lại đích thân rửa chân các môn đệ.

2. Một diễn xuất biểu tượng cho cái chết của Người.
Đây không đơn thuần là một cử chỉ khiêm nhường. Lời nhập đề trang trọng đã cho thấy điều này. Đúng hơn đây là một loại diễn xuất miêu tả cái chết của Người.
- X. Léon Dufour nhận định: “Thật vậy, trong tất cả tiến trình (các cử chỉ của Đức Giêsu) không có gì cho thấy Đức Giêsu có ý định hạ mình trước mặt các môn đệ” (“Đọc Tin Mừng theo thánh Gioan”, quyển 3, Seuil, trg 28-29).
- Trái lại, những động từ được sử dụng để miêu tả cử chỉ của Đức Giêsu, “cởi bỏ” áo ngoài rồi sau đó “mặc lại” rõ ràng là những động từ chính môi miệng Người đã thốt ra ở chương 10 để nói Người tự hiến mạng sống rồi mới lấy lại: “Cha yêu Thầy và Thầy hiến mạng sống, để sau đó lấy lại. Không ai có thể lấy được mạng sống Ta: chính Ta ban tặng mạng sống, Ta có quyền ban tặng và có quyền lấy lại”. “Cởi bỏ”“mặc lại” là hai động từ thánh sử dùng để chỉ cái chết của Đức Giêsu do Người tự do chấp nhận để được sống lại.
- Mẩu đối thoại với Phêrô, kẻ từ chối không cho Người rửa chân, cho phép ta đi sâu hơn vào cách giải nghĩa cử chỉ rửa chân đầy bất ngờ. Không còn là một giải nghĩa “luân lý” nữa: một cử chỉ đơn thuần khiêm tốn. Nhưng là một giải nghĩa “thần học”, :một cử chỉ biểu lộ, một mạc khải của Thiên Chúa của Đức Giêsu Kitô.
X. Léon – Dufour quả quyết: “Trong cảnh rửa chân, ta có một diễn xuất biểu tượng cái chết tự nguyện của Đức Giêsu: không đánh mất quyền làm Chúa mà địa vị làm con ban cho Người, Đức Giêsu tự coi mình như người phục vụ” (Sđd, trg 34). Người đồng hóa với người “Tôi tớ của Thiên Chúa” trong sách Isaia, công chính hóa muôn người nhờ những đau khổ của mình.

3. Một cử chỉ phải noi theo trong việc phục vụ anh em.
Với Đức Giêsu, đó là một cử chỉ phải được noi theo. Cử chỉ duy nhất mà Người đã làm chiều hôm ấy để biểu trưng cái chết của Người cũng là một “mẫu gương” mà các môn đệ phải noi theo trong cung cách xử đối với nhau: “Đây là một mẫu gương Thầy ban cho các con, để các con cũng làm như Thầy đã làm cho các con”. Nếu Người, “là Chúa và là Thầy” mà còn đến để phục vu chớ không để được phục vu thì đến lượt các môn đệ, cũng phải đi đến chỗ tự hiến toàn thân theo gương Đức Giêsu để phục vụ anh em. X. Léon-Dufour viết: “Tấm gương ấy, ta có thể gọi là một trình bày, Đức Giêsu không đơn thuần giới thiệu như một hình thức bên ngoài phải bắt chước, nhưng như một hiến dâng làm phát sinh cung cách sống mà các môn đệ phải có... Có thể nói thêm vào: “Khi làm thế, Thầy muốn anh em cũng làm như vậy” (Sđd 36-37).
Đặt vấn nạn về sự khiếm khuyết trình thuật lập Phép Thánh Thể trong Tin Mừng theo thánh Gioan (với lệnh trước tái diễn: “Hãy làm việc này mà nhớ đến Thầy”) để ưu tiên cho trình thuật rửa chân (với lệnh tái diễn: “Để các con cũng biết rửa chân cho nhau như Thầy đã rửa chân cho các con”), X. Léon-Dufour kết luận: “Như thế Kitô hữu có hai “ký ức”. Cả hai đều mở ra một tương lai định hình do mối tương quan minh nhiên của tín hữu với Đức Giêsu ở hai lãnh vực khác nhau: phượng tự và hiện sinh. Cả hai đều muốn làm cho Đấng vắng mặt hiện diện trong đời sống người môn đệ, dù không cùng một phạm trù: tái diễn cử chỉ của Đức Giêsu khi lập bữa Tiệc ly, hiến mình phục vụ anh em. Cả hai đều có chức năng thiết lập cộng đoàn các môn đệ Đức Giêsu và cả hai đều phải giữ nguyên tương quan biện chứng, ký ức này không thể đứng vững nếu thiếu ký ức kia.
Nếu Gioan đã đề cập đến Bí tích Thánh Thể ở chương 6, mà triển khai ở đây truyền thống Tân Ước miêu tả Đức Giêsu trong hành vị phục vụ cao cả, đó là vì truyền thống ấy phát sinh ra “thực tại” mà sau cùng Bí tích Thánh Thể phải tăng cường nơi các tín hữu: tình bác ái huynh đệ phát nguồn từ thần linh. Việc rửa chân không phải là một dư thừa tùy tiện, nhưng rất cần thiết để cho thấy rằng phượng tự tự nó chưa đủ, có khi còn rơi vào ảo tưởng, phượng tự chỉ tìm thấy tất cả ý nghĩa trong thực thi một tình yêu thực sự. Nếu bí tích Thánh Thể làm nên Giáo Hội thì “gương” rửa chân là hành vi nền tảng nhờ đó Giáo Hội tồn tại” (Sđd, trg 57)

II. BÀI ĐỌC THÊM:
1. Thiên Chúa khoác áo tôi đòi (L. Sintas trong “Lời Chúa để suy niệm và dọn bài giảng. Năm C”, Mediaspaul, trg 45).
Đức Giêsu Kitô chẳng có ý hướng nào khác hơn là mạc khải cho ta lòng thương xót của Thiên Chúa. Mà lòng thương xót của Thiên Chúa thì thật lạ lùng... Thiên Chúa đã quyết định tự nguyện hoàn toàn phục vụ ta. Vâng, Thiên Chúa đã khoác áo tôi đòi. Người buộc khăn vào thắt lưng và quỳ gối xuống trước mặt từng người. Đức Giêsu đã không muốn dành cho mình địa vị cao sang mà mọi tôn giáo dâng kính Thiên Chúa, tưởng như thế là kính trọng sự cao cả và sự siêu việt của Người. Nghịch lý không tưởng tượng nổi. Không phải con người quì gối trước mặt Thiên Chúa, mà chính Thiên Chúa quỳ gối trước mặt mỗi người.
Nếu ta bắt chước Phêrô khăng khăng từ chối, dù sự từ chối phát xuất từ lòng kính trọng sâu xa đối với Thầy Chí Thánh, ta sẽ không nhận được ơn cứu độ. Hãy như Phêrô chấp nhận để Đức Giêsu rửa chân cho ta, không chỉ rửa chân mà toàn thân ta nữa. Rồi, như Đức Giêsu đã rửa chân cho ta, ta hãy rửa chân cho tha nhân.

2. Để tưởng nhớ Chúa. (G. Boucher , “Thiên đường tại thế”, Kerampir, 29820 Bohars, trg 31).
Cả nhóm 12 ngồi quanh Đức Giêsu đều ý thức về tầm quan trọng của bữa ăn mà họ sắp dùng với nhau. Chẳng phải đó là bữa ăn nghi thức tưởng nhớ cuộc giải phóng dân tộc khỏi ách nô lệ các Pharaô bên Ai Cập sao?
Họ cũng ý thức rằng Đức Giêsu đã đến một bước ngoặt. Họ còn khuyên Người đừng liều lĩnh xuất hiện trước đám đông ở thủ đô nữa. Chẳng phải Tôma, một người trong nhóm đã nói: “vì không thể thuyết phục được Người, vậy ta hãy theo Người chắc chắn Người sẽ chết và chúng ta cũng sẽ chết”.
Mọi người đều có mặt, Đức Giêsu, các tông đồ, các môn đệ, tim họ se thắt khi cơn bi thương chờ đón họ đang đến gần, với Đức Giêsu, với họ, các môn đệ của Người.
Còn Đức Giêsu, Người cứ thẳng đường tiến tới. Chẳng có gì ngăn chặn được sứ vụ của Người. Và nghi thức phụng vụ bữa tiệc chiên vượt qua gợi cho Người: ngoài cuộc xuất hành khỏi Ai Cập, là ơn cứu độ Người phải hoàn thành.
Từ nay, nhóm 12 có bổn phận tiếp tục tái diễn biến cố bữa Tiệc ly để nhớ đến Người.
Nhưng bữa tiệc này đã diễn ra thế nào? Thoạt tiên là nghi thức chia sẻ một tấm bánh, một chén rượu trong đó Đức Giêsu đã tự hiến chính bản thân mình: Bánh này là sinh mạng Ta đã trao nộp. Rượu này là máu Ta đổ ra cho cả nhân loại.
Trong cũng một động tác, Người khai mào một cử chỉ đầy tình người diễn tả trách nhiệm tôn giáo và bí tích của việc chia sẻ Thánh Thể.
Nếu đối với nhóm 12 việc chia sẻ tấm bánh và ly rượu qui chiếu về cái chết của Đức Giêsu bị trao nộp vì nhân loại, thì một bí tích như thế phải đi song song với một đời sống tự hiến, một đức bác ái thể hiện bằng hành động.
Đức Giêsu biểu trưng cái chết và cuộc phục sinh của Người qua việc chia sẻ bánh rượu. Đồng thời Người thể hiện tình yêu và sự tự hiến mạng sống mà phép Thánh Thể biểu trưng và thánh giá diễn tả trong cử chỉ rửa chân.
Thiên Chúa, Thầy và Chúa trao nộp mạng sống và bắt đầu rửa chân cho con người.
Giờ đây nhóm 12 phải thi hành cùng một động tác để tưởng nhớ Người.
Chúng ta cũng phải hòa nhập vào cùng một tiến trình cuộc sống ấy, cùng một tái diễn bí tích ấy, để tưởng nhớ đến Người.

 

THỨ SÁU TUẦN THÁNH

BÀI THƯƠNG KHÓ ĐỨC GIÊSU KITÔ THEO THÁNH GIOAN
(Ga 18,1-19,42)


I. VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI:
1. Những trật tự bị biến đổi theo đức tin của tác giả.
Được viết rất lâu sau các biến cố gần với các Tin Mừng Nhất Lãm, trình thuật của Gioan về cuộc khổ nạn, chỉ chọn lựa những biến cố ý nghĩa nhất và bỏ qua nhiều biến cố khác: như cơn hấp hối mà ông đã nhắc lại phần chính yếu ở chương 12, 23.27, như cuộc trốn chạy của các môn đệ, như việc Đức Giêsu ra hầu toà trước Hội đường.
Phải tìm trong viễn tượng thần học của thánh sử lý do dẫn đưa ngài tới chỗ biến đổi một vài trật tự để làm rõ hơn ý nghĩa ấn giấu trong cuộc khổ nạn của Chúa cứu thế.
Đâu là viễn tượng thần học này? Để trả lời cho câu hỏi, thiết tưởng không gì bằng trích dẫn E. Charpentier trong “Để đọc Tân Ước” (Cerf, trg 99).
- “Ngài trình bày cuộc khổ nạn như tiến trình khải hoàn của Đức Giêsu về với Chúa Cha. Đức Giêsu biết Người sắp từ bỏ cõi đời. Người biết cái chết nào đang đợi Người và Người thản nhiên bước tới: “Mạng sống Ta không ai ấy được, nhưng chính Ta tự ý ban tặng” (10,8).
- Gioan nêu bật sự oai nghiêm của Con Thiên Chúa chịu đau khổ. Khi quân lính đến bắt Người, ... chỉ cần Người nói: “Ta đây” là các địch thù ngã lăn ra sấp mặt xuống, Đức Giêsu bị đóng đinh với tư cách là Vua. Philatô nhận ra điều đó khi xét xử Người (19,13) và tấm bảng treo trên thập giá công bố điều đó bằng nhiều thứ tiếng (19,19-20).
- Gioan không tách biệt cái chết với niềm phấn khởi. Việc treo Đức Giêsu trên thập giá cũng là cuộc Người ngự lên trong vinh quang Thiên Chúa để từ đó Người ban Thánh Thần cho nhân loại (19,30). Thánh giá trở thành ngai tòa vinh quang, từ đó Đức Giêsu thiết lập Giáo Hội.
- Bức tranh, riêng của Gioan, diễn đạt ý nghĩa cái chết của Đức Kitô. Người là chiên vượt qua của Giao Ước mới. Hơn nữa, Người còn là Thiên Chúa bị đâm thâu như Zacharia đã báo trước (12,10 và tiếp theo). Đức Giêsu là Đền Thờ đích thực trong đó Thiên Chúa ngự trị, Đền thờ mà Êdêkien 47,1-12 đã nhìn thấy từ bên phải vọt ra dòng nước tượng trưng cho Thánh Linh. Trong Giáo Hội, Nước và Máu biểu tượng cho hai bí tích rửa tội và Mình Thánh Chúa.

2. Một trình thuật được xây dựng hoàn hảo.
Bắt đầu ở một khu vườn, nơi Đức Giêsu bị bắt và kết thúc trong một khu vườn nơi táng xác, nơi sự sống nẩy mầm, trình thuật của Gioan diễn biến trong một không gian hạn chế. A. Marchadour ghi nhận: “Năm nơi chốn: một khu vườn, dinh thầy cả thượng phẩm về hưu, dinh Philatô, đồi Golgotha và lại một khu vườn nữa. Cả năm cảnh đều được xây dựng chung quanh cảnh Trung tâm như lược đồ sau đây minh hoạ.
- Khu vườn (18,1-11)...
- Anna thẩm vấn (18,12-27)
- PHILATÔ XỬ ÁN (18,28-19,16)
- Đồi Golgotha (19,16-37)
- An táng tại ngôi mồ trong vườn (19,38-42).”
(Tin Mừng Gioan, Cenrurion, trang 218-219).


II. BÀI ĐỌC THÊM:
 
Cái chết khai mạc một sự hiện diện mới của Đức Chúa (“Kinh Thánh ngày Chúa nhật”, trg 571-572).
Trong suốt trình thuật khổ nạn, Gioan không ngừng hình thành câu hỏi mà toàn bộ Tin Mừng nêu lên: Đức Giêsu là ai? (Ga 18,4,7; 19,9). Câu trả lời nổ tung trong phút hiện tại với tất cả sự xác định rõ ràng: “Đức Giêsu là Thiên Chúa và những người Do Thái đến bắt một người, khi ngã sấp mặt xuống, mới ý thức được sự hiện diện của Thần linh (Ga 18,6). Vì là Thiên Chúa, nên trong vụ án Đức Giêsu chẳng cần gì đến những nhân chứng loài người như trong các Tin Mừng Nhất lãm: Chỉ cần Cha Người làm chứng cho Người là đủ (Ga 8,18). Vả lại ai có thể xét xử một Thiên Chúa như thế? Hội Đường? Gioan thậm chí chẳng nói đến nữa! Dân được tuyển chọn? Trái lại là khác, phiên xử Thiên Chúa diễn ra trước mặt thế giới và đế quốc (Ga 19-15) và bản án được viết bằng ba ngôn ngữ phổ biến nhất thời ấy (Ga 19-20), để lôi kéo mọi người đến quanh Thánh Giá (Ga 12,32). Lo lắng tìm ra những dấu chỉ thần tính của Đức Giêsu và bảo đảm sự vĩnh cửu của công trình của Người, Gioan đã rút ngắn đáng kể việc miêu tả những khổ đau của Đức Kitô cũng như những đột biến trong cuộc khổ nạn. Dưới mắt thánh nhân, chỉ có một điều quan trọng duy nhất: Cái chết của Đấng Người-Chúa là giờ phút quyết định để con người có thể tiến đến một sự hiệp thông thực sự với Thiên Chúa. Cái chết của Đức Giêsu không phải là một kết thúc, trái lại, nó khai mạc sự hiện diện của Đức Chúa đối với thế giới và Giáo Hội, theo nghĩa này cái chết là vượt qua từ một thế giới hư hèn sang một thế giới khác, thế giới của Giáo Hội (là mẹ các tín hữu như trong Ga19,26-27), thế giới của các bí tích (nước và máu trong Ga19,34), thế giới của chức linh mục vĩnh viễn thực sự mở ra lối đi về Thiên Chúa (chiếc áo không có đường may của các linh mục, Ga 19,23), sau cùng là thế giới của sự sống con người kết hiệp với Thánh Linh (mà Đức Giêsu giao nộp trong cái chết, Ga 19,30).
Để nhắc nhớ kỹ lưỡng cuộc vượt qua từ một thế giới sang một thế giới khác, Gioan đặt cuộc Khổ nạn của Đức Giêsu vào dịp lễ Vượt Qua của người Do Thái, là lễ “quá độ” tuyệt hảo. Từ đó ông mới thường xuyên đề cập đến lễ Vượt Qua (Ga 18,28,39; 19,14), đến con chiên vượt qua (Ga 19,36) đến cành lá hương thảo trong nghi thức Vượt qua (Ga 19,29), và trên hết ý định của Gioan khác với các Tin Mừng Nhất lãm, cho giờ chết của Đức Giêsu trùng hợp và giờ sát tế chiên vượt qua. Giờ đã điểm: nhân loại không chỉ bước vào một thời đại tự do với con chiên vượt qua theo nghi lễ, nhưng còn bước vào một thời đại hiệp thông vì chia sẻ cuộc sống với Thiên Chúa.

 

LỄ VỌNG PHỤC SINH

CÁC PHỤ NỮ VIẾNG MỒ
(Lc 24,1-12)


I. VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI:
1. Các phụ nữ bấn loạn vì Lời:
- Ngày hôm sau ngày Sabbat, “ngày thứ nhất trong tuần” mau chóng trở thành Ngày Chúa nhật của các Kitô hữu. Một nhóm phụ nữ đi viếng mồ. Các bà đã theo Đức Giêsu ngay từ những ngày đầu ở Galilê, các bà là những nhân chứng về cái chết của Người, việc hạ xác Người xuống và việc táng xác trong mồ. “Sáng sớm”, trung thành với tập tục, các bà đem dầu thơm để làm nghi thức ướp xác đã chịu nhục hình của Thầy.
- Làm sao không ngạc nhiên khi các bà thấy “tảng đá đã lăn qua một bên cạnh mồ”. Làm sao không lo lắng khi vào mà chẳng thấy “xác của Đức Chúa đâu”. H. Cousin nhận định: “Ở đây việc sống lại chỉ được nói thoáng qua cho độc giả, liệu họ có hiểu rằng một thân xác như thế không thể bị giữ lại trong một ngôi mộ nữa không?” (“Tin Mừng thánh Luca”, Centurion, trg 325).
Hốt hoảng, các bà “chẳng còn biết nghĩ sao”.
- Bỗng xuất hiện hai thiên sứ y phục sáng láng, hai vị nghĩa là lời chứng của các ngài về sự phục sinh là có giá trị (cf. Tl 19,15). Như, thái độ cung kính của Abraham khi đến gần Thiên Chúa (St 17,3), “các bà cúi mặt xuống đất”.
Ngay khi ấy, một tin vui ngoài sức tưởng tượng được loan báo: “Tại sao các bà đi tìm Đấng đang sống ở nơi những kẻ chết? Người không còn ở đây, Người đã sống lại”. Đức Giêsu không còn thuộc về thế giới kẻ chết; Người thuộc về một thế giới mới, thế giới sự sống. Đấng mà các bà tìm kiếm giữa những kẻ chết là “Đấng đang sống” (danh hiệu nói về Thiên Chúa trong Cựu Ước), là chính nguồn mạch sự sống.
Các thiên sứ mời các bà hãy “nhớ lại” các lời lẽ Đức Giêsu đã nói với họ khi Người còn ở Galilê: “Con Người phải chịu nộp vào tay những kẻ tội lỗi, phải chịu đóng đinh nhưng ngày thứ ba Người sẽ sống lại”.
H. Cousin giải thích: “Niềm tin vào Đức Kitô phục sinh không thể phát nguồn từ một biên bản của cảnh sát điều tra: ngôi mộ trống rỗng, chẳng có vết chân nào... Vậy, Người đã sống lại. Ngôi mộ ấy phải được soi sáng bằng một lời nói của Thiên Chúa mới có ý nghĩa”. Nghe lời các thiên sứ nói, các bà nhớ lại những lời của Đức Giêsu và tìm lại được sự hiện diện của Người: trong ngôi mộ trống rỗng, các bà nhận ra rằng tất cả các lời tiên tri đều đã ứng nghiệm. Các bà nhìn bằng cặp mắt khác và các bà đã tin. Các bà tin và tức khắc làm chứng đức tin của mình: các bà chạy về “thuật lại tất cả những điều ấy cho 11 tông đồ và mọi người”.

2. Các môn đệ chậm tin.
- Là những người cuối cùng ở lại bên Đức Giêsu và những người đầu tiên biết Tin Mừng Phục sinh, các bà đã trở thành tông đồ của các Tông đồ, những người đầu tiên rao giảng Tin Mừng.
- Nhưng lời chứng của Maria Mađalena, của Gioan và Maria, mẹ Giacôbê, được các phụ nữ khác đồng thanh xác nhận, lại chỉ được 11 tông đồ đón nhận với sự hoài nghi khinh bạc: “Với họ những lời lẽ ấy dường như hoang đường”.
Để hết nghi ngờ, chính họ phải tìm lại được ký ức sống động về các lời Đức Giêsu nói.
- Tuy thế Phêrô cũng chạy đến mồ. Ông nhận thấy ngay là tảng đá đã bị lăn ra và “cúi xuống, ông chỉ thấy tấm khăn liệm”. Tất cả những điều ấy xác nhận lời các phụ nữ nói, nhưng ông chỉ thấy ngạc nhiên và lạ lùng: “Ông trở về, kinh ngạc về những gì đã xảy ra”.
H. Cousin kết luận: “Vị tông đồ đi đến mồ để kiểm tra lời kể của các phụ nữ. Ông thấy ngôi mộ trống..., và ông ngạc nhiên. Sự không hiểu này chẳng có liên quan gì đến niềm tin... Phêrô không nhớ lại lời Đức Giêsu đã nói và chẳng có cuộc hiện ra nào đến bổ khuyết sự quên lãng ấy để giải nghĩa ngôi mộ trống... Tuy nhiên, Phêrô đã có một sáng kiến, tuy chưa hoàn hảo, và Đấng Phục sinh đã mau chóng hoàn tất bằng cách tỏ mình ra cho ông (câu 34). Do đó, ta thấy được vai trò đặc biệt của vị Tông đồ này trong nội bộ nhóm các môn đệ (cf. 22,32) cũng như bên ngoài nhóm” (cf 5,10; Cv 2,14) (Sđd, trg 326-327).

II. BÀI ĐỌC THÊM:
 
Đài tưởng niệm thực sự của Đức Giêsu (Roland Meynet, trong “Tin Mừng theo thánh Luc. Phân tích tu từ”, quyền 2, trg 235).
Nơi Đức Giêsu, còn lại gì, nếu không chỉ là thi hài và nấm mồ của Người? Các phụ nữ bám víu vào đó một cách tuyệt vọng, theo như Lề luật cho phép. Từ nay đó còn là mối liên hệ duy nhất nối kết họ với Thầy và Chúa của họ. Các bà, dù đem hết tài sản phục vụ Người khi Người còn sống, sẽ tiếp tục trong khoảnh khắc thời gian ít ỏi còn lại để chăm sóc thi thể Người. Rồi họ chỉ còn có thể đến mộ mà tưởng nhớ đến Người. Nhưng hai người y phục sáng láng đã chỉ họ một nơi khác của ký ức, nơi các bà sẽ gặp Người, vì đài tưởng niệm mồ mả đã trống rỗng. Đừng tìm Người ở đây, nhưng hãy tìm trong Lời Người. Chắc chắn các bà làm sao quên được cái chết của Đức Giêsu và việc chôn táng Người trong mồ, nhưng các bà sẽ nhớ lại ngay từ ban đầu tại Galilê Người đã loan báo rằng ngày thứ ba sẽ sống lại từ trong kẻ chết. Đài tưởng niệm thực sự của Người không phải là nơi thân xác đã chết của Đức Giêsu an nghỉ, nhưng là ở trong ký ức sống động của các bà về những lời loan báo cuộc khải hoàn của sự sống qua cái chết và nấm mồ của Người...
Trả lời cho cái chết và nấm mồ chỉ có thái độ câm lặng của tuyệt vọng. Trái lại, nhớ lại những lời ban sự sống sẽ phát sinh những lời loan báo vui tươi về sự sống lại. Lời các phụ nữ nói với các tông đồ là kết quả của một truyền thống lâu dài. Đó chẳng là gì khác hơn những điều Đức Giêsu đã nói rất nhiều lần khi còn ở với các môn đệ. Lời của Đức Giêsu thực ra cũng chỉ là lặp lại điều các tiên tri đã loan báo từ lâu và các ngài vừa đích thân nhắc lại khi mặc y phục sáng láng như tia chớp. Đó là những lời xa xưa nhưng lại trở nên mới mẻ vì được loan báo lúc này, mới mẻ trước hết vì đã được ứng nghiệm trong ngày hôm nay, và sau cùng mới mẻ vì những lời ấy là khởi điểm cho một cuộc công bố mới.
Ngày thứ nhất trong tuần, các phụ nữ đem thuốc thơm đến mộ. Giây lát sau, các bà đem lời sự sống đến cho 11 tông đồ và các môn đệ khác. Các bà bỏ thân xác đã chết của Đức Giêsu vì thân thể sống động của cộng đoàn các môn đệ. Với các bà, Giáo Hội đã trở nên thân thể Đức Kitô, khuôn mặt của sự hiện diện hữu hình của Người. Tuy nhiên, với điều kiện là lời Người phải sống động trong Giáo Hội cũng như đã được hoàn tất nơi Người. Với điều kiện là các môn đệ tin tưởng và đừng rao giảng sự Phục sinh như bài học thuộc lòng.

 

LỄ PHỤC SINH

NGÔI MỘ MỞ TUNG VÀ TRỐNG RỖNG
`(Ga 20,1-9)


I. VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI:
1. Người đang sống …
 Thật nghịch lý, Tin Mừng ngày Lễ Phục sinh chỉ dừng lại ở chỗ khám phá ra ngôi mộ mở tung và trống rỗng mà không dẫn ta đi đến cùng câu chuyện, cho đến khi gặp Maria Madalêna cùng với Đấng Phục sinh và lời loan báo cho các môn đệ: “Tôi đã thấy Đức Chúa, và đây là lời Người nói với tôi” (câu 28). Dường như phụng vụ hôm nay muốn mời ta đi lại hành trình đức tin theo gót những chứng nhân đầu tiên.
Trong đoạn Tin Mừng ta đọc sáng nay, tác giả rõ ràng đã sắp xếp một quá trình “tiệm tiến gây ấn tượng”.
- Trước tiên đó là những “di chuyển” rất nhiều và rất nhanh: động từ “chạy” được lặp lại ba lần chỉ trong một câu. Sau khi khám phá ra ngôi mộ mở tung, Maria Madalêna chạy đi “tìm Simon-Phêrô và môn đệ kia”. Simon-Phêrô và môn đệ kia chạy đến mồ, môn đệ kia tới trước. Các cuộc chạy nối tiếp nhau để tìm ra một câu trả lời đầu tiên cho câu hỏi không thể hiểu nổi về ngôi mộ mở tung và trống rỗng.
- Kế đó là những “dấu chỉ” ngày càng rõ nét (với những động từ “nhìn”, “thấy”), và “lời giải thích” về các dấu chỉ do chính các tác nhân đưa ra.
* Maria Madalêna “thấy” phiến đá lấp cửa mộ “được cất đi” và kết luận rằng thi thể của Thầy mình cũng đã “bị lấy đi”.
* Môn đệ kia tới trước. Tuy nhiên ông không vào mộ trước Phêrô, “cúi xuống, ông thấy tấm khăn liệm còn đó”.
* Còn Simon-Phêrô, sau khi đã vào trong mộ, “ông nhìn tấm khăn liệm nằm đó, tấm vải phủ đầu, không ở cùng chỗ với khăn liệm, nhưng cuộn lại và để riêng ra”. Khác với Tin Mừng của Luca (24,12) gợi lên ở đây sự “kinh ngạc” của Phêrô, thánh Gioan không đi xa hơn những gì nhận thấy. Mãi sau này, khi đã gặp gỡ Đấng Phục sinh và đã nhận tràn đầy Thánh Thần, Phêrô mới hiểu tại sao ngôi mộ lại trống và tâm hồn ông mới mở ra để hiểu lời Thánh Kinh. Tin Mừng thứ tư nói rõ: “Thật vậy, cho đến lúc ấy các môn đệ vẫn chưa tin rằng theo Thánh Kinh Đức Giêsu phải phục sinh từ trong kẻ chết”.
* Riêng người môn đệ kia, sau đó cũng vào mộ, ông nói rằng ngay lần cảm nghiệm phục sinh đầu tiên đó “ông đã thấy và ông đã tin”.

2. ... và ông đã tin”.
Dưới mắt Giáo Hội, Phêrô vào trước và đương nhiên trở thành chứng nhân thứ nhất. Trái lại, “Môn đệ kia” được trình bày ở đây như mẫu mực của người môn đệ, người môn đệ tuyệt hảo. “Người môn đệ được Đức Giêsu yêu mến”, người trong bữa Tiệc ly đã “tựa đầu vào lòng Đức Giêsu”, với trực giác của tâm hồn, đã nhìn thấy trong cõi rỗng không của ngôi mộ, vị trí của tấm vải liệm – xếp đặt gọn gàng chứ không bừa bãi – biết bao dấu chỉ về một Thực Tại khác, chỉ có đức tin mới cảm nhận được: “Ông đã thấy và ông đã tin”. Theo ông, chẳng có ai “lấy đi” thi thể của Đức Giêsu như Maria Madalêna đã loan báo: Kẻ cắp nếu đã lấy trộm xác Thầy làm sao có thời giờ cởi bỏ vải liệm rồi cẩn thận xếp đặt gọn gàng đến thế? Theo ông, sự chết đã hoàn toàn bị sự sống tước đoạt hết sức mạnh. Trong ông đã hình thành một “chuyển biến từ “thấy” đến hoàn toàn tin vào Đức Giêsu phục sinh. Khăn liệm được xếp đặt ngay ngắn đã chứng tỏ rằng thi thể Đức Giêsu không hề bị lấy cắp, nhưng chính Đức Giêsu đã đi ra, để lại khăn liệm gọn gàng thứ tự tại nơi Người đã được liệm. Khác với Lazarô đi ra vẫn quấn khăn liệm, Đức Giêsu chẳng cần y phục vì Người giã từ thế giới loài người” (A. Marchadour, “Tin Mừng thánh Gioan”, Centurion, trg 244).
Là một trong những chứng nhân đầu tiên đã “thấy” Đức Giêsu phục sinh, người môn đệ kia đồng thời là mẫu mực cho những ai tin theo lời chứng của ông: “tin dù không thấy” (Ga 20-29, Tin Mừng Chúa nhật tới).

II. BÀI ĐỌC THÊM:
1. Khi sinh ra trong đức tin, Phêrô và Gioan mời ta theo các ngài: “Cử hành” (tạp chí của Trung tâm Quốc gia về Mục vụ và phụng vụ) số 237, trg 41-42).
Các động từ chỉ sự di chuyển tràn ngập trình thuật: ra đi, chạy, vào. Những động từ ấy nói lên các giai đoạn trong hành trình của các môn đệ đồng thời kéo theo hành trình của độc giả. Hành trình này không kết thúc ở đoạn cuối của một giai thoại. Các cuộc hiện ra với Maria Mađalêna, với các môn đệ, với Tôma, vẫn còn biết bao chặng đường thiết yếu để đi đến cùng: “Tin dù không thấy” và tin nhờ vào quyển sách của các chứng nhân (Ga 20,29-31).
Trong chặng đầu tiên, ta đuổi theo một câu trả lời đầu tiên. Bí hiểm ngay ở khởi điểm: “Chúng tôi không biết họ đã đặt Đức Chúa ở đâu”. Cần một cuộc điều tra. Một loạt động từ thứ hai điểm nhịp theo tiến trình: nhìn, thấy. Ta đi từ ghi nhận này đến ghi nhận khác. Ghi nhận đầu tiên là của Maria Mađalêna: tảng đá được cất đi, thi thể bị lấy đi. Ghi nhận thứ hai là của các môn đệ: vài liệm xếp gọn gàng. Ghi nhận thứ ba nhưng liệu có trùng với hai ghi nhận trên không? Người môn đệ Đức Giêsu yêu quý “đã thấy và đã tin”.
Ánh sáng đức tin phát xuất từ Kinh Thánh và Lời Đức Giêsu. Nhưng ngôi mộ mở tung, đầy những dấu chỉ của một thi thể người chết nhưng biến mất, bước đầu cho phép ta có cảm tưởng rằng Đức Chúa đang sống ở nơi khác. Hai con người đang sinh ra trong đức tin, mỗi người cất bước theo con đường riêng, dắt dìu nhau. Họ mời ta hãy bước theo họ.

2. Tại ngôi mộ để ngỏ (G. Boucher trong “Thiên đường tại thế” (Kerampir, 29820 Bohars).
Buổi sáng hôm ấy một phụ nữ, Maria Madalena đến viếng mộ Đức Giêsu. Nhưng, sững sờ: cửa mộ để ngỏ, mở tung ra. Ai đã lăn tảng đá lấp cửa mộ ra rồi.
Thoạt nhìn ngôi mộ mở tung gợi lên một trò lừa đảo, gian lận, một trò bỡn cợn đê tiện, hoặc một sự tục hóa không chấp nhận được.
Phải, phản ứng thế nào trước một xì căng đan như thế? Trước hết Maria Madalena tham vấn các môn đệ. Bà chạy đến với Phêrô. Tức tốc Phêrô và Gioan thoát ra khỏi tính e dè, khỏi sự im lặng sợ sệt. Ông rời bỏ nơi ẩn náu. Ông chạy đến xem và ghi nhận tại chỗ. Thật là một sự báng bổ, ghi nhận đầu tiên là thế.
Phêrô và Gioan cùng chạy. Họ chạy đến ngôi mộ mở ngỏ. Họ phải đối diện với một biến cố quan trọng. Và Gioan đã thấy. Ông đã thấy và đã tin.
Gioan thấy. Mà thấy gì? Chẳng thấy gì cả! Có gì đâu mà thấy. Vậy mà điều ông thấy đã khiến ông tin.
Ta hãy cùng Gioan cúi xuống. Ta thấy gì? Một lổ hổng đen ngòm, đầy màu trắng. Một sự trống rỗng mênh mông chứa đầy sự sống. Những vật trang hoàng cho lễ tang đã biến thành y phục sáng láng. Một sự vắng mặt la lên sự có mặt. Một sự im lặng chết chóc hùng hồn hơn tất cả những bài diễn văn. Một bức tường chỉ thấy được phần bị khoét lổ. Một kết thúc tất cả mang vóc dáng sự khởi đầu. Một cái chết nối kết với một sinh thành. Một mầu nhiệm mà ta khám phá ra bí quyết.
Ai đã sáng chế ra từ ngữ ngôi mộ trống rỗng? Ngôi mộ đâu có trống rỗng. Bằng chứng là Gioan thấy được trong mộ chân dung đích thực của Đức Giêsu, bạn ông.
Ngôi mộ đâu có trống rỗng. Đâu có hoang vu. Đâu có câm nín. Đâu có bay mùi chết chóc. Ngôi mộ nói. Nó sẽ nói. Hôm nay nó vẫn còn nói với ta. Ta sẽ bỡ ngỡ. Vì sự vắng mặt ấy, tuy to lớn như một nấm mồ, lại là một sự hiện diện, vĩ đại như một phép lạ.
Dưới ánh mắt của não trạng hiện đại đã ăn sâu vào mỗi người, chết là chấm dứt tất cả. Là dấu chấm hết. Sau đó chẳng còn gì. Chẳng còn gì ngoài đêm đen. Chẳng còn gì ngoài sự trống rỗng và hư vô. Cái chết khép lại tất cả. Cái chết giam kín ta.
Nhưng này đây cái chết mở ra. Ngôi mộ của Người mở tung. Mở ra một mầu nhiệm lớn lao. Một mầu nhiệm loan báo sự sống. Có tên là chỗi dậy. Phục sinh.
Ngôi mộ mở tung lòng trí và tâm can ta. Ký ức ta lấy được sự sống và hồi sinh. Ta mở lòng ra cho đức tin. Sau cùng ta hiểu rằng khi vượt qua bức tường sự chết, khi nâng tảng đá cửa mộ lên, Đức Giêsu hoàn thành cuộc phục sinh đã báo trước.

 

CHÚA NHẬT II PHỤC SINH

TỪ NHẬN BIẾT ĐẾN RAO GIẢNG TIN MỪNG
(Ga 20,19-31)


I. VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI:
1. Từ Chúa nhật...
Chúng ta đang ở vào thời điểm sau cái chết của Đức Giêsu, vào chiều ngày thứ nhất của một tuần lễ, ngày tụ họp của các Kitô hữu đầu tiên, thời gian ưu tiên cho sự hiện diện của Chúa Phục sinh giữa cộng đồng mà Người triệu tập để chia sẻ cho họ Lời và Bánh và sai họ vào thế giới.
Trong trình thuật này, chúng ta gặp ba thời điểm đặc biệt của tiến trình Vượt qua: 1- Đấng phục sinh chủ động đến. 2- Nhận ra Đức Giêsu đang sống sau khi biết rõ Người đã chết. 3- Tiếp nhận sứ mệnh của Đấng Phục sinh.
1/ Đấng Phục sinh chủ động đến.
Các môn đệ tụ họp trong một căn phòng đóng kín cửa. Họ sợ người Do Thái, đúng hơn, sợ các vị chức sắc trong giáo quyền Giêrusalem. Với chi tiết này, có lẽ tác giả muốn các độc giả Tin Mừng của mình liên tưởng đến các cuộc bách hại mà tới lúc này đã lan rộng. Bị trục xuất khỏi hội đường vì dám tin nhận Chúa Giêsu là Đức Kitô (người mù bẩm sinh bị đuổi khỏi hội đường: Ga 9,34). Họ như dần dần được chỉ dẫn để tụ họp ở một nơi riêng tránh sự dòm ngó của những kẻ bách hại họ.
Họ tụ tập. Đức Giêsu đến trước mặt họ. Lời đầu tiên Người nói là lời cầu chúc bình an: Bình an cho anh em (Shalom). Không chỉ là lời chào xã giao, nhưng là một xác nhận ân huệ phát sinh: vui mừng, bình an.
2/ Nhận ra Đức Giêsu đang sống sau khi biết rõ Người đã chết.
Đức Giêsu chỉ cho họ thấy tay và cạnh sườn Người (liên tưởng tới lưỡi giáo đâm: Ga 19,34). Alain Marchadour chú giải rằng: “Dù thuật lại những lần hiện ra lạ lùng của Đức Giêsu, thì những vết đinh đóng và cạnh sườn bị đâm thủng chứng tỏ rằng thánh sử không muốn độc giả lầm tưởng đó là bóng ma, nghĩa là, một ai khác chứ không phải Đấng chịu đóng đinh. Đúng ra, sự hiện diện thể lý thông thường đã chấm dứt, nhưng Đấng đang hiện diện trước mặt họ đây, chính là Đức Giêsu họ biết và yêu mến, từ nay, đã thăng hoa bởi sự phục sinh. Không sợ hãi nữa, các tông đồ trở nên vui mừng” (“L'Evangile de Jean, Centurion”, trg 246).
3/ Tiếp nhận sứ mệnh Đấng Phục sinh trao.
Đấng Phục sinh hiện đến, không phải chỉ là một chuyến ngao du, nhưng còn để trao một sứ mệnh. Sai họ đi với sức mạnh của Chúa Thánh Thần. Để đem Tin Mừng Ơn Tha Thứ của Thiên Chúa đến cho mọi người.

2. … đến Chúa nhật sau.
Lần Chúa đến chiều Chúa nhật trước, Tôma đi vắng. Nhờ đó mà có bản tường thuật thú vị Chúa nhật này. Điển hình của sự cứng lòng tin, Tôma không đón nhận điều mà các anh em kể lại; chắc gì đã là Đức Giêsu phục sinh! Ông chủ trương: phải thấy tận mắt, sờ tận tay mới đáng tin. Thế là Đức Giêsu lại đến. Cùng một cung cách tường thuật. Đức Giêsu đến khi các cửa cài chặt. Người lặp lại lời chào phục sinh: “Bình an cho anh em”. Người lại chỉ cho các ông thấy tay và cạnh sườn. Với Tôma, Người nhấn mạnh đến sự liên tục và đồng nhất giữa Đấng chịu đóng đinh và Đấng đang vinh hiển: “Xỏ ngón tay vào đây và nhìn cho kỹ bày tay Thầy. Hãy thọc bàn tay vào cạnh sườn Thầy mà coi”. Gerard Bessière tự hỏi: “Đến như thế thì vị Tông đồ cứng lòng còn biết làm gì bây giờ! Người ta đã tranh luận nhiều. Các bức họa thường trình bày Tôma chỉ giơ tay hướng về các vết thương nơi tay hoặc cạnh sườn Chúa. Điều quan trọng là lời: “Thôi! Đừng cứng lòng nữa, hãy tin”.” (“Dieu si proche”, DDB, trg 53-54).
Thế là Tôma tuyên xưng lòng tin. Một cách tuyên xưng đức tin độc đáo của Tân Ước. Một tuyên xưng mà chúng ta nghe vang vọng nơi các kinh Tin Kính của các cộng đoàn Kitô hữu tiên khởi. Chúng ta cũng tuyên xưng như thế mà. Các định tín sau này cũng không vượt qua lời tuyên xưng ấy: “Lạy Chúa tôi, lạy Chúa Trời tôi”.
Quang cảnh kết thúc bằng một mối phúc! “Vì con đã thấy Thầy nên con tin. Phúc thay kẻ đã không thấy mà tin”. Mối phúc sau cùng của Tin Mừng đấy. Mối phúc của người tín hữu. A. Marchadour ghi tiếp: “Đó là kết luận của toàn bộ Tin Mừng, một điệp khúc của luận đề quan trọng trong Do Thái giáo: giữa thấy và tin, hình ảnh và lời thoại, hiện tượng và ngôn từ. Vế thứ hai trong các cặp luận đề vừa nêu làm nên điều kiện bình thường và lý tưởng của lòng tin. Ngay cả kẻ đã thấy thì cũng còn phải vượt qua những gì mình thấy để mà tin. Ngôi Lời, từ khi trở nên xác phàm, đã để cho các môn đệ thấy xác thể, phần nhân loại. Nhưng họ phải “thấy Thiên Chúa tỏ hiện trong vinh quang”. Là những kẻ thừa hưởng Tin Mừng, chúng ta thật diễm phúc. Chúng ta không thấy. Chúng ta chỉ nhờ vào chứng từ của các Tông đồ mà gắn kết với Đức Kitô, trở thành tín hữu”. (Sđd, trg 248).

II. BÀI ĐỌC THÊM:
 
1. Tôma, một vị tiền hô (“Célébrer”, tạp chí của Trung tâm Quốc gia về mục vụ phụng vụ, số 2348, trg 18).
Nhân vật có tên Tôma và sự cứng lòng tin của ông vẫn luôn gây chú ý. Cần cả một bài giảng mới đề cập đủ về nhân vật này. Xin gợi lại điều mà thánh Gioan nói về ông: nhiệt thành vô lối (11,16), hoang mang (14,5). Bản tính thế nào thì phản ứng như vậy, nên trong trường hợp này, cũng dễ thông cảm với ông. Ông là loại người muốn đi tới cùng nhưng lại không đặt tin tưởng vào một ai.
Đức Giêsu chấp nhận vào cuộc (chỉ cho ông các vết thương) và đã khơi gợi nơi ông cửa ngỏ của lòng tin: đó là lòng cậy trông sâu thẳm nơi ân huệ nhưng không. Và Tôma đang trên con đường biến đổi : từ lòng tin và những lần đón Chúa xuất hiện đến niềm tin của Giáo Hội khuất dạng Đấng Phục sinh. Tại sao lại không nhận ra điều này: Tôma không phải một kẻ cản trở lòng tin, mà là vị tiền hô của lòng tin như Gioan Baotixita? Theo thánh Gioan, kẻ sau hết tin vào Đấng Phục sinh hiện diện lại là kẻ trước tiên không còn cần thấy và chạm đến Chúa để được kêu lên “Lạy Chúa tôi, lạy Chúa Trời tôi”. Ngài dám đặt ra câu hỏi làm cớ cho chúng ta nhận được câu trả lời cứu độ của Đức Giêsu Kitô.

 
2. Phúc cho những ai đã không thấy mà tin (L. Sintas, trong “Lời Chúa để suy niệm và dọn giảng. Năm A”, Médiaspaul, trg 51).
“Phúc cho những ai đã không thấy mà tin”. Cần nhấn mạnh tới lời Đức Giêsu nói đây. Những lời ấy hé cho thấy sự ưu tư của Đức Giêsu, của các môn đệ ghi chép Tin Mừng. Sự ưu tư của những ai không gặp Chúa khi Người đến trần gian. Họ hiểu ra rằng: tình cảnh của họ không cam go hơn tình cảnh các Tông đồ, những chứng nhân tiên khởi. Nói những lời ấy, Đức Giêsu nghĩ tới chúng ta, 20 thế kỷ sau các Tông đồ, chúng ta cũng nhận được cùng một ánh sáng rọi chiếu như các ngài. Nếu chỉ quan tâm tới những gì mắt thấy, có lẽ các Tông đồ diễm phúc hơn chúng ta, nhưng nếu xác tín rằng Đức Tin là một ân huệ của Thiên Chúa, thì chúng ta cũng được xếp vào cùng hàng ngũ với các Tông đồ là những kẻ cũng phải có cùng một xác tín. Cùng với các vị đặt nền móng cho Giáo Hội, chúng ta dâng lên Chúa lời cảm tạ vì ân huệ đã nhận được. Năng lực chúng ta có cũng sẽ tương xứng như thế. Đến lượt mình, chúng ta cũng có thể là những người đặt nền móng cho các Giáo Hội đang được thành lập vào lúc khởi đầu của thiên niên kỷ mới này.
Giáo Hội thuộc mọi thời đều qui tụ trong ân huệ duy nhất của Chúa, trong niềm vui duy nhất của Chúa. Như Tôma, sự chậm tin của chúng ta sẽ giúp chúng ta cảm thông và hiểu biết sâu xa đối với những tất cả những ai chưa được đón nhận ân huệ đó.

 

CHÚA NHẬT III PHỤC SINH

ĐỨC GIÊSU PHỤC SINH VẪN HIỆN DIỆN
TRONG HỘI THÁNH CỦA NGƯỜI.
(Ga 21,1-14)


I. VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI:
1. Tảng sáng, Đức Giêsu đã có mặt trên bờ biển hồ.
Các câu 30-31: “Còn nhiều phép lạ...” kết thúc bài Tin Mừng Chúa nhật trước hiển nhiên là đoạn kết của Tin Mừng thánh Gioan. Bởi vậy, nhiều nhà chuyên môn coi đoạn 21 như một phụ lục được thêm vào sau.
Alain Marchadour nhanh chóng quả quyết: “Đoạn phụ lục này không phải chỉ là một “lời bạt”, nhưng là một nối tiếp có tính Giáo Hội học cho một Tin Mừng nặng tính Kitô học. Giữa Tin Mừng tập trung vào Đức Kitô coi như kết thúc sau đoạn 20 và phụ lục là đoạn 21 không có mâu thuẫn mà chỉ là sự chuyển hướng nhắm vào Giáo Hội (I. Zumstein). Những trung gian cần thiết để Đấng Mạc Khải tiếp tục công trình đều được trưng diễn: bữa ăn tạ ơn trong đó sự hiện diện của Người được tiếp tục, nhiệm vụ mục tử của Phêrô và các đấng kế vị, nhiệm vụ của người môn đệ được Chúa yêu và Giáo Hội của Ngài” (“L'Evangile de Jean”, Centurion, trg 253).
Một lần nữa, chúng ta lại thấy 3 giai đoạn của tiến trình Phục sinh:
- sáng kiến của Đấng Phục sinh
- nhận ra Đức Giêsu đang sống sau khi biết Người đã chết
- sứ mệnh Đấng Phục sinh trao cho Phêrô

a/ Khung cảnh diễn ra trên bờ hồ Tibêriát, nơi họ gặp Đức Giêsu Nadarét. Simon Phêrô và 6 anh em khác: Tôma, Nathanael quê Cana xứ Galilêa, hai con ông Zêbêđê và hai môn đệ nữa đang dưới thuyền đánh cá. Nhưng không được gì hết: “Nhưng suốt đêm ấy, họ không bắt được gì.” (so sánh với bản tường thuật khởi đầu sứ vụ tại Galilê của Luca 5,1-11).
b/ Tảng sáng, Đức Giêsu phục sinh hiện đến trên bờ hồ. Các môn đệ không nhận ra Người. A. Marchadour chú giải rằng: “Họ không nhận ra Người. Sự Phục sinh đã tạo một biến đổi nào đó nơi Đức Giêsu. Vì sự biến đổi đó nên các bản tường thuật cũng có những chi tiết khác biệt. Ở đây, cả sự hiện diện thể lý, cả giọng nói cũng không làm cho các môn đệ nhận ra, trừ người môn đệ được Chúa yêu.” (Sđd, trg 256).
Khi Đức Giêsu hỏi: “Các con bắt được con cá nào không?” (Hãy nghĩ tới câu Chúa hỏi các môn đệ trên đường đi Emmaus: các bạn nói chuyện gì mà rầu rĩ thế?) họ thú thật: vất vả thâu đêm mà chẳng được gì, nhưng, vâng lời Người, “họ thả lưới”.
c/ Sau đó, mẻ cá lạ lùng được trình bày như một biểu trưng cho sứ mệnh tông đồ của cộng đoàn. Các tông đồ, tự sức mình, không thể thành công trong sứ mệnh, nhưng, dựa vào lời Đấng Phục sinh, họ bắt tay vào việc, và ngoài sự mong đợi, họ tập hợp được muôn người khắp nơi (bội thu: 153 con cá, gợi nhớ ở tiệc cưới Cana nơi Ga 2; bánh hóa nhiều Ga 6). Lại còn hình ảnh hợp nhất (thánh sử đã muốn tượng trưng bằng chi tiết: lưới không bị rách, theo ngữ nghĩa Hy Lạp, không bị phân ly, không có chia rẽ).

2. Chúa đó.
- Gioan, người môn đệ Chúa yêu (như nơi Ga 20,2-10: “ông thấy và ông tin”), đã tỏ ra bén nhạy với dấu lạ. Và nhờ trực giác chiêm niệm này mà mắt các anh em khác mở rộng để thấy Đấng Phục sinh hiện diện trên bờ hồ: “Chúa đó”. Thánh Phêrô Chrysologue chú giải: “Kẻ được yêu thấy trước, vì con mắt tình yêu tinh hơn, và kẻ được yêu cảm nhận bén nhạy hơn.”
- Lời của Gioan làm cho Phêrô tin tưởng, ông vội khoác áo vào và nhảy ùm xuống (Thi vị thật. Phêrô đang ở trần. Xin nhớ đến Luca 5,8 : “Lạy Thầy, xin xa con ra, con chỉ là tên thuyền chài”).
- Cái gì làm cho tâm trí Phêrô trì trệ vậy? Ông vẫn là người ban phát cho người khác mà bây giờ phải nhờ người khác mách bảo? Vẫn thánh Phêrô Chrysologue chú giải: “Đâu rồi lời tuyên xưng “Thầy là Đức Kitô Con Thiên Chúa hằng sống”. Hay tại ông đã chối Thầy khi nghe một đứa nữ tỳ tra vấn? Khi nghe bạn ông nói “Thầy đó”, ông vơ lấy áo vì đang ở trần, nhảy xuống biển, như muốn rửa sạch các vết tội nhơ chối Thầy 3 lần. Ông, người đứng đầu các Tông đồ, trở thành kẻ sám hối đầu tiên.”
- Vào tới bờ, các môn đệ thấy bánh và cá đã nướng sẵn đó.
Trong bữa ăn mà Chúa đã chuẩn bị để đãi họ (“đến mà ăn”). Ánh sáng thâm nhập tâm hồn: Không môn đệ nào còn hỏi Người Thầy là ai? Vì họ đều biết đó là Chúa!
A. Marchadour chú thích rằng: “Trong những bích họa cổ, bánh và cá biểu tượng tiệc Thánh Thể. Như vậy, trình thuật này của thánh Gioan, muốn nhắc độc giả nhớ rằng: cử hành Thánh Thể là sự nối dài và hiện thực hóa điều mà các chứng nhân tiên khởi của biến cố Phục sinh tin nhận. Trong sứ vụ cũng như công việc đời thường, các tín hữu cần nhớ: Chúa Giêsu vinh hiển đang chờ họ, đang chuẩn bị cho họ bữa ăn nuôi sống họ và làm cho họ có sức mà gặp được Người.” (Sđd, trg 257).

3. Hãy chăn các chiên của Ta.
Toàn bộ trình thuật của Gioan khẩn khoản mời chúng ta hướng về Phêrô. Ở bờ hồ, Phêrô được liệt kê trước hết trong danh sách các môn đệ. Ông là kẻ khởi xướng chuyến ra biển, các anh em khac theo ông và xuống thuyền của ông; chính ông nhào xuống nước lội vào gặp Đấng mà Gioan vừa chỉ ra là Chúa; và rồi, chính ông trở lại thuyền để kéo lưới vào tận bờ, đầy những cá lớn và trình mẻ cá cho Đức Giêsu thấy.
Và bây giờ, trong câu chuyện có tính quyết định, Phêrô đóng vai trò chính yếu nhất, khi Đấng phục sinh long trọng xác nhận sứ mệnh tông đồ đặc biệt của ông cũng như những điều kiện cần thiết để chu toàn sứ mệnh ấy.
Ba lần hỏi: “Con có yêu mến Thầy Không? Con có yêu mến Thầy hơn những người này không?” Những câu hỏi vừa gợi lại vừa sửa lỗi ba lần Phêrô đã chối Thầy (Ga 13,37 và 18,17.25.27). Đức Giêsu đón nhận một tội nhân sám hối.
Ba lần trao nhiệm vụ. Kẻ mới chối Người, Người lại trao một nhiệm vụ đặc biệt trong Giáo Hội Người. Ba lần trao nhiệm vụ theo thói quen thời đó, Đức Giêsu đã chính thức uỷ thác cho Phêrô nhiệm vụ chăm sóc đàn chiên.
Nhiệm vụ này, Phêrô đã chu toàn khi “theo” Thầy mình cho tới cái chết để làm chứng. (Ga 13,36): tham dự vào sứ mệnh của Đức Giêsu, chính là tham dự vào mầu nhiệm chết và sống lại của Người; và cũng chính là chấp nhận hiến dâng mạng sống cho những anh em đã được Chúa trao phó như Đức Giêsu.

II. BÀI ĐỌC THÊM:
1. Đức Giêsu trên bờ biển Hồ (“Bible du Dimanche”, trg 582).
Đức Giêsu đã hứa với các Tông đồ: Người sẽ gặp các ông ở Galilê sau khi sống lại. Người đang ở bờ biển Hồ (biểu tượng của vĩnh cửu), trong khi các môn đệ đang vất vả trên mặt biển, trong thử thách, hiểm nguy. Các Tông đồ không nhận ra Người ngay. Chỉ đức tin mới làm cho người ta nhận ra Người qua những dấu chỉ Người tỏ bày.
Đức Chúa vinh hiển, Đấng từ xa kêu gọi và chỉ tỏ mình trong đức tin, lại cũng chính là người phục vụ chuẩn bị bữa ăn và mời gọi chúng ta ngồi chia sẻ bữa ăn ấy. Đức Kitô sai các Tông đồ đi chài lưới người ta. Mẻ chài này, Người điều khiển. Người làm cho cá vào đầy lưới, biểu tượng Nước Trời (Mt.13,47). Người trao nhiệm vụ chủ chăn cho Phêrô. Uy quyền này được trao cho một con người rất bình thường (Simon con Giona), một con người mỏng giòn, đã chối bỏ Người và không thể yêu Người sâu xa hơn ngoài sự gắn bó thuần tình cảm.
Nhưng từ đây, Đức tin của Phêrô dựa trên Đức Giêsu chứ không dựa trên sức mình: “Thầy biết”. Phêrô không đòi chia sẻ mọi tâm tư của Thầy, ông chỉ còn việc duy nhất phải làm: theo Thầy.
Số phận của Phêrô cũng sẽ là số phận của các tín hữu: từ lòng tin nhiệt thành phác họa lối đi, ông tiến tới đức tin chín chắn, dám để cho Chúa dẫn dắt cuộc đời cho tới chết, tới tử đạo.

2. Người của bờ biển Hồ (G. Bessière, trong “Dieu si proche, Năm C”, DDB, trg 57-58).
Không ai nhận ra con người đứng trên bờ biển Hồ. Người môn đệ Đức Giêsu yêu đã kêu lên: “Chúa đó!” Vào sáng phục sinh, ông là người đã đến mồ trước tiên, “ông đã thấy và đã tin”: và trong ánh sáng của tình yêu, ông còn là người đầu tiên nhận ra Đấng Phục sinh. Phêrô cũng là người có phản ứng rất đặc biệt: nhảy ùm xuống nước mà lội vào với Chúa.
Bản tường thuật như quên những anh em khác để tập chú vào hai nhân vật này. Mỗi người một vẻ. Người thì được Đức Giêsu quá yêu thương. Người thì là thủ lãnh năng động của tập thể. Giáo Hội sơ khai cần nhận ra đặc điểm của hai khuôn mặt vĩ đại này. Đó là hai cực sống động của những cộng đồng quan trọng tiên khởi, hai trào lưu khác nhau của Kitô giáo thuở đầu. Cả hai vị đều tiếp nhận từ Đức Giêsu vai trò đặc biệt của mình.
Còn một biểu tượng rất giàu ý nghĩa: người ta chèo thuyền, người ta thả lưới, đêm dài vô tận, bình minh nhợt nhạt, mà thuyền cá nhẹ tênh. Phải nhìn ra Đấng Phục sinh đang ở xa xa, phải biết đi tới tận cùng thế giới. Nghe Người chỉ mà quay lại quăng lưới. Chỉ Người có thể dẫn ta vào những cuộc mạo hiểm khi nhắc cho ta những đòi hỏi và hạnh phúc của cuộc mạo hiểm đó. Đời sống của Giáo Hội phải luôn được “hiệu chỉnh” dưới ánh mắt của Đức Giêsu.
Lưới không rách. Cộng đồng Kitô giáo cũng vậy. Nhiều dị biệt. Nhưng là nơi người ta nghe nhau, hiệp thông với nhau dù rất khác biệt.
Đức Giêsu luôn mời gọi. Người hiến tặng bánh và cá, như thời nuôi dân trong hoang địa, như bữa tiệc chiều ly biệt. Chúng ta thoáng nhận ra hình ảnh bữa tiệc ngày thế mạt mà Người muốn mời cả loài người. Chân trời này gợi nơi ta một mối quan tâm vô cùng sâu sắc.
Các Kitô hữu, thực hiện sứ mệnh mỗi người mỗi cách, nhưng phải tương hợp với ý Đức Giêsu, nhận ra Người, nghe được tiếng Người khi thi hành sứ mệnh (.....). Chính Người nuôi dưỡng và làm cộng đồng sống động: chúng ta nghĩ đến Bữa tiệc Thánh Thể. Và như tại Emmaus, chúng ta nhận ra Đấng Phục Sinh nhờ cử chỉ khi hiện diện, phục vụ và chia sẻ của Người.

 

CHÚA NHẬT IV PHỤC SINH

“TA LÀ ĐẤNG CHĂN CHIÊN LÀNH”
Gioan 10, 27-30


I. VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI:
1. Đức Giêsu, Đấng chăn chiên lành.
Bản văn Chúa nhật này quá ngắn, cần đưa trở lại văn mạch tổng thể một chút. Vào dịp lễ Lều, sau khi chữa một người mù bẩm sinh và anh ta bị trục xuất khỏi hội đường, Đức Giêsu tỏ ra là một “Đấng chăn chiên đích thực”, “hiến tặng đời mình cho đàn chiên.” (Ga 10,11)
Giờ đây, chúng ta trở lại lễ Cung Hiến, lễ kỷ niệm hằng năm ngày cung hiến đền thờ và bàn thờ thời Giuđa Macabê. Đức Giêsu đi đi lại lại nơi hành lang Salômôn (nơi mà sau khi Chúa về trời, các môn đệ thường tụ họp, Cv 5,12). Những người Do Thái – từ ngữ chỉ chung các thù địch của Đức Giêsu, trong Tin Mừng Gioan – tụ tập quanh Đức Giêsu (đúng ra là “vây quanh Người”, 10,22). Tin Mừng ghi: “Lúc đó là mùa đông”: (Ga 10,22); nói thế, để từ thời tiết, chúng ta dễ nghĩ tới “sự băng giá” của lòng người theo thánh Augustinô sẽ viết sau này. “Nếu ông là Đấng cứu thế, hãy nói huỵch toẹt cho chúng tôi biết đi”.
Những người vây quanh không nắm rõ nội dung từ Cứu thế, nên Đức Giêsu không trực tiếp trả lời câu hỏi, Người kêu gọi thính giả suy nghĩ về những công việc của một vị Cứu thế, nhất là việc chữa người mù bẩm sinh mới đây. A. Marchadour giải thích: “Các phép lạ được coi như những dấu chỉ, nhờ đó mà nhận ra Đấng Cứu thế.” Rồi, Người tiếp tục đề tài người chăn chiên, hình ảnh truyền thống của Đấng cứu thế dòng dõi Đavít; ở đây, Người nhấn mạnh đến những con chiên mà Chúa Cha trao phó cho Người.

2. Làm một với Chúa Cha.
Và bây giờ, một đề tài mới, cho tới lúc này, chưa đề cập tới lần nào: sự thân mật với Chúa Cha: “Cha tôi và tôi, chúng tôi là một”. Một khẳng định xác lập cội nguồn sứ mệnh của Đức Giêsu. Tình yêu của Chúa Cha, một tình yêu toàn bích bao bọc các con chiên đến nỗi không ai có thể cướp được một con nào. “Cha tôi, Đấng đã ban chúng cho tôi, thì lớn hơn tất cả, và không ai cướp được chúng khỏi tay Chúa Cha.”
Đối với người Do Thái, nói thế là quá quắt rồi. Phạm thượng! Ai lại dám xưng mình là Cứu thế và lại còn thân mật quá thế với Thiên Chúa. Họ lượm đá để ném Người. Họ nói: “Ông chỉ là phàm nhân mà lại tự cho mình là Thiên Chúa”.
Tác giả Tin Mừng kết thúc: “Nhưng Người đã thoát khỏi tay họ”. Tác giả như muốn mời chúng ta đọc đoạn này dưới ánh sáng của cuộc tử nạn trên thập giá và sự Phục sinh từ cõi chết. Với ánh sáng ấy, chúng ta sẽ khám phá ra Đức Giêsu, Con Thiên Chúa, đã hoàn tất tới cùng sứ mệnh của mình bởi tình yêu đối với các con chiên thế nào; trên con đường Sự Sống nào, Người muốn dẫn đưa những ai nghe tiếng Người và đi theo Người; Mối tình hiệp thông yêu thương nào với Chúa Cha mà Người muốn dẫn đưa chúng ta tham dự vào!

II. BÀI ĐỌC THÊM:
1. Theo Đức Giêsu (G.Boucher, trong “Thiên đường tại thế” (Kerampir, 29820 Bohars, trg 38).
Lạy Chúa, chúng con không muốn mình bị đồng hóa với đàn súc vật. Con không thích là một chú chiên chỉ biết đi theo người chăn chiên. Con cũng không muốn kêu be be như con chiên. Con nói điều con nghĩ, đi nơi con thích. Con không muốn bị dắt đi.
Ngày nay, chúng con nhấn mạnh đến sự thức tỉnh của lương tâm:mỗi người sẽ chọn lấy hướng đi mà mình muốn. Mong sao có trong tay phương tiện thực hiện sự lựa chọn của mình.
Ngày nay, chúng con thích chịu trách nhiệm về số phận mình. Chúng con không muốn trao tấm bảng trắng đời mình cho các nhà lãnh đạo hoặc những người chúng con bầu ra để họ muốn làm gì thì làm. Ngược lại, họ phải trả lời cho chúng con về những việc họ đã làm.
Nhưng, Chúa lại nói với con rằng: giữa con và Chúa là sự hiệp thông. Mong sao Chúa nói lời soi sáng và hướng dẫn đời con. Chúa thuộc một bình diện hoàn toàn khác.
Nghe Chúa và đi theo con đường Chúa đã vạch ra, con sẽ sống cuộc sống tốt đẹp và trọn vẹn, cho tới nỗi cuộc sống ấy sẽ không ngừng lại khi sự hiện hữu trần thế chấm dứt. Cuộc mạo hiểm mà Chúa dắt con đi sẽ dìm con vào sự sống vĩnh hằng.
Với Chúa, mọi sự sẽ đổi khác. Chúng con không còn nguy cơ sẽ bị huỷ diệt nữa. Không ai tiêu diệt được chúng con. Không gì có thể xâm phạm đến chúng con.
Nghe lời Chúa và đi theo con đường Chúa thiết lập là chúng con lên đường với Chúa. Con muốn nói: với Thiên chúa. Với Thiên Chúa của sự sống và của sự vĩnh cửu. Với Thiên Chúa mà Chúa đã gọi là Cha.

2. Ngày thế giới cầu nguyện cho ơn gọi (Sứ điệp của Đức Gioan-Phaolô II).
Ngày nay, vẫn còn nhiều nguyên do cản ngăn thanh thiếu niên và các bạn trẻ sống sự thực của tuổi đời mình trong sự gắn bó quảng đại với Đức Kitô. Biết bao bạn trẻ đang đánh mất năng lực phát triển đích thực.
Vậy, nên mong đợi gì? Trong thâm tâm mỗi thế hệ luôn ẩn tàng một ước muốn tạo lập một ý nghĩa cho đời mình. Trên hành trình cuộc sống, các bạn trẻ luôn tìm một người biết thảo luận với họ những vấn đề làm họ bức xúc và đồng thời đề ra được những giải pháp, những giá trị, những viễn cảnh đầu tư được sự dũng cảm đương đầu với tương lai.
Điều người ta đòi hỏi hôm nay là: một Giáo Hội biết trả lời cho sự kỳ vọng của tuổi trẻ. Đức Giêsu mong muốn thảo luận với họ qua thân thể Người là Giáo Hội. Người muốn đề nghị với họ viễn cảnh của một chọn lựa có tính quyết định cuộc đời. Như Người đã đồng hành với hai môn đệ trên đường Emmaus, Giáo Hội ngày nay cũng phải lên đường đồng hành với các bạn trẻ đầy ưu tư, bất mãn và mâu thuẫn, để loan báo cho họ Tin Mừng kỳ diệu của Đức Kitô phục sinh.
Điều người ta đang cần là một Giáo Hội cho các bạn trẻ, một Giáo Hội nói chuyện được với tâm hồn họ, hâm nóng con tim họ bằng niềm vui của Tin Mừng, bằng sức mạnh của Thánh Thể, một Giáo Hội biết đón tiếp và mời gọi những ai đang đi tìm mục đích cuốn hút toàn bộ cuộc sống của họ; một Giáo Hội không sợ đòi hỏi nhiều sau khi đã cho đi không ít; một Giáo Hội không sợ đòi hỏi nơi bạn trẻ sự nhọc mệt của một cuộc mạo hiểm cao thượng và chân chính, cuộc mạo hiểm bước “theo” Tin Mừng.

 

CHÚA NHẬT V PHỤC SINH

GIỚI RĂN MỚI: “CÁC CON HÃY YÊU THƯƠNG NHAU
 NHƯ THẦY ĐÃ YÊU THƯƠNG CÁC CON”.
(Gioan 13, 31-35)


I. VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI:
1. Tiếng hô thắng trận.
Nằm ở giữa việc Đức Giêsu rửa chân và diễn từ sau tiệc ly, trong đó, nhiều ý tưởng lớn được Đức Giêsu đề cập đến, đoạn Tin Mừng này bắt đầu, ngay khi Giuđa vừa đi khỏi, bằng tiếng hô thắng trận của Đức Giêsu: “Giờ đây, Con Người được tôn vinh, và Thiên Chúa cũng được tôn vinh nơi Người”. X. Léon-Dufour chú giải: “Từ lúc này trở đi, Đức Giêsu thấy cái chết đã theo ngay sau Người, Người cảm thấy được Thiên Chúa tôn vinh. Độc giả cũng phải sống viễn cảnh ấy và lắng nghe Đức Kitô vinh quang lên tiếng.”
Tác giả đoạn chú giải vừa rồi viết tiếp: “ Từ “giờ đây” đánh dấu một thời điểm. Nó diễn tả một xác tín thuở đầu. Phục sinh xác định một giai đoạn mới. Vượt qua cái chết, “giờ đây”, Đức Giêsu bước vào một khúc rẽ nhiệm mầu, bỏ lại sau những điều kiện bình thường của con người bị lệ thuộc vào thời gian, nghĩa là hiện tại chỉ phát xuất từ một quá khứ và hướng tới một tương lai mờ mịt. Từ giờ trở đi, hiện tại của Đức Giêsu là một hiện diện vĩnh cửu trong vinh quang Thiên Chúa.” (“Lecture de l’Evangile selon saint Jean, quyển III, Seuil, trg 50-51)

2. Từ “như” chỉ một cội nguồn.
Người ta thường trích lời Đức Giêsu: “Các con hãy thương yêu nhau”, nhưng lại hay bỏ nửa sau “như Thầy đã yêu thương các con”. Và nhiều người coi từ “như” này như một liên từ so sánh: các môn đệ được kêu gọi để bắt chước sự xử thế của Thầy mình.
Nhưng, liên từ “như” này của bản văn Tin Mừng không chỉ biểu thị sự so sánh, mà còn biểu thị nguồn gốc của tình yêu mà Đức Giêsu đòi hỏi nơi các môn đệ mình. Có thể diễn dịch: “Các con hãy yêu thương nhau, theo như Thầy đã yêu thương các con.”, hoặc ... “Các con hãy yêu thương nhau...vì Thầy đã yêu thương các con để các con yêu thương nhau như Thầy”. Hoặc “Các con hãy thương yêu nhau bằng tình yêu mà Thầy đã yêu thương các con.” X. Léon-Dufour chú giải: “Tình yêu của Chúa Con đối với các môn đệ làm phát sinh lòng bác ái nơi các ông. Chính tình yêu của Người lưu chuyển đến họ làm cho họ yêu thương anh em, và họ được mến yêu. Tình yêu của Đức Giêsu triển nở nơi các tín hữu mang dấu ấn tình yêu Chúa Cha”. (Sđd, trg 82-83).

3. Tính cách mới mẻ của giới luật yêu thương.
Yêu đồng loại. Cựu Ước đã biết đến đòi hỏi này. Các triết gia ngoại giáo trước Đức Giêsu đã rao giảng tình yêu tha nhân, cả đến tình yêu đối với thù địch.
Thế thì, tính cách mới mẻ trong giới răn yêu thương huynh đệ của Đức Giêsu là gì? Điều mới mẻ này chính là nơi bản chất của tình yêu huynh đệ mà các môn đệ Đức Giêsu thể hiện: đó là tình yêu của chính Đức Giêsu thể hiện nơi họ. X. Léon-Dufour kết luận: “Một kỷ nguyên mới đã khởi đầu. Qua các môn đệ của Chúa Con mà tình yêu mạc khải từ nay hiện diện trong nhân loại... Tình yêu nhau giữa các môn đệ sẽ tỏ bày cho mọi người, - nghĩa là cho cả những người lân cận chưa tin – họ thuộc về Đức Kitô và nhờ Người mà nhân loại vượt qua cái chết để tới sự sống.” (Sđd, trg 84-85).

II. BÀI ĐỌC THÊM:
1. Hãy làm cho giới luật yêu thương sáng lên (L. Sintas, trong “Parole de Dieu pour la méditation et l’homélie”, Médiaspaul, trg 57).
Từ nay, qua việc chăm sóc người bất hạnh, người nghèo, Giáo Hội và các cộng đoàn tỏ bày tình thương của Thiên Chúa đối với con người và đồng thời tỏ bày ý hướng cứu rỗi họ. Phải, Giáo Hội đã nhận lãnh sứ mệnh đem vào hiện hữu và lịch sử con người một luật có khả năng làm sống động nhân loại bằng chính sự sống của Thiên Chúa. Luật ấy là thế này: Hãy thương yêu nhau như Thầy đã yêu thương các con. Thiên Chúa biết thời đại chúng ta đang kêu gào lớn tiếng một luật sống khác với luật sống của máu lửa, sắt thép đang huỷ diệt khắp chốn. Hãy biết khiêm tốn để làm sáng lên trong đời chúng ta, trong nhiệm vụ của chúng ta, trong gia đình, cơ quan, nơi vui chơi giải trí, trong lãnh vực kinh tế, chính trị, một chút gì đó của giới luật yêu thương.

2. Tình yêu-bác ái, lời giảng đầu tiên của việc Phúc Âm hóa (F. Deleclos, “Prends et mange chaque dimanche la parole”, Centurion-Duculot, trg 208-209).
Chỉ vương quyền bác ái mới có thể thay đổi thế giới, mới biến hận thù thành yêu thương, chiến tranh thành hòa bình. Chỉ “hãy yêu thương nhau như Thầy đã thương yêu các con” mới có thể tạo lập một mẫu người và xã hội huynh đệ. Bác ái không thể định nghĩa được bằng ngôn từ cảm tính hay sùng mộ. Olivier Clément viết: Bác ái “không phải là đường mà là muối”. Ngôn từ của bác ái “không phải là bạc nhược, nhưng là tự chủ và dũng cảm”. Thế giới này nghĩ bác ái là điều khó và thậm chí không thể thực hiện được. Bác ái đích thực không tránh né bạo lực, mà là chuyển đổi nó thành sự phấn đấu trong cuộc sống, là tạo lập Công bình và Thẩm Mỹ.
Tình yêu-bác ái là công trình của lòng tin, là dấu chỉ hữu hình và cần thiết để chứng tỏ sự thuộc về Đức Kitô Phục sinh. Nó là lời giảng đầu tiên của việc Phúc Âm hóa, là sự hiện diện trước tiên có thể cảm nhận được của Đức Kitô.
Nền văn minh tình yêu là một mầm cây được trồng nơi thửa đất gọi là Giáo Hội, là đầu cầu dẫn vào vương quốc, với điều kiện là trước hết, các Kitô hữu phải tập và có kinh nghiệm yêu thương nhau, rồi mới có thể yêu thương mọi người.
Tình yêu-bác ái là năng lực vô song làm cho con người và xã hội có được sức sống mới. Cuộc viếng thăm một hội đường Do Thái ở Rôma của Đức Giáo Hoàng đã nhắc nhở chúng ta điều này. Công cuộc giải phóng của Kitô giáo phải hoàn toàn được hướng dẫn bởi tính năng động của giới luật yêu thương vĩ đại này.

 

CHÚA NHẬT VI PHỤC SINH

“THẦY BAN CHO ANH EM SỰ BÌNH AN CỦA THẦY...
THẦY RA ĐI VÀ TRỞ LẠI VỚI ANH EM.”
(Gioan 14,23-29)


I. VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI:
1. Loan báo một sự hiện diện khác.
Sách Bài đọc Chúa nhật này trích trong chương 14 của Tin Mừng thánh Gioan, một đoạn xoay quanh chủ đề “ra đi”, chủ đề được diễn tả bởi những từ được lặp đi lặp lại: “ra đi”, “đi”, “trở về”, “con đường”... Tin Mừng ám chỉ hành trình nào? Đức Giêsu trở về với Chúa Cha. Rõ rồi. Nhưng, đây cũng còn là hành trình của các môn đệ được Người hướng dẫn về với Cha.
- Với Đức Giêsu, sự ra đi của Người đã đến gần. Các môn đệ ưu phiền vì viễn tượng này. Người nói với ho rằng Người đi, rồi trở lại với họ, để bắt đầu giữa họ và trong họ một cách hiện diện khác, nhiệm mầu, chỉ dành cho những ai trung tín với lời Người. Người không có ý đề cập đến sự trở lại với hình dạng thể lý, cũng không phải sự trở lại huy hoàng ngày thế mạt; nhưng, ngay từ bây giờ, là sự hiệp thông nghĩa thiết với Thiên Chúa trong mầu nhiệm Ba Ngôi “Ai yêu mến Thầy, thì sẽ giữ lời Thầy, Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy, chúng ta sẽ đến và ở lại với người ấy”.
- Một thời kỳ đã kết thúc, thời kỳ người ta thấy được bằng mắt, nghe được bằng tai. Với biến cố phục sinh, một thời kỳ mới bắt đầu, một cách thế khác cho liên hệ giữa Người với các môn đệ. Thời kỳ của Chúa Thánh Linh mà “Cha sẽ sai đến nhân danh Thầy”. Người sẽ dẫn các ông tới chỗ hiểu thấu đáo lời nói và cử chỉ của Đức Giêsu.
X. Léon-Dufour giải thích rằng: “Tiếp theo thời kỳ mạc khải của Đức Giêsu Nadarét, là thời kỳ của Đấng Bầu Chữa. Người tỏ lộ cùng một mạc khải, nhưng đầy đủ, trọn vẹn. Sứ vụ trần gian của Đức Giêsu kết thúc, nhưng đối với các môn đệ, Chúa Thánh Linh còn rọi sáng những lời Đức Giêsu dạy rõ hơn khi các ông nghe lúc trước.” (“Lecture de l'Evangile selon Jean”, Seuil, trg 129).
Hai từ ngữ chỉ chức vụ đã được uỷ thác cho Chúa Thánh Linh, Đấng Bầu Chữa: “dạy dỗ”, “nhắc lại”.
* Người sẽ dạy dỗ họ tất cả những gì Đức Giêsu thừa lệnh Chúa Cha thông truyền cho nhân loại. Như vậy, những gì mà các ngôn sứ loan báo sẽ thực hiện ngoài sự trông đợi: “mọi người sẽ được Thiên Chúa dạy bảo” (Is 54,13; xem thêm Giêrêmia 31,33ss).
* Người sẽ nhắc họ nhớ lại tất cả những gì Đức Giêsu đã nói với họ. Không phải chỉ là ôn lại, nhưng theo cách nói của Kinh Thánh, là khám phá ra ý nghĩa những lời nói và cử chỉ của Đức Giêsu dưới ánh sáng của biến cố phục sinh.
X. Léon-Dufour chú giải: “Khi nhắc các môn đệ nhớ lời của Đức Giêsu, Chúa Thánh Linh không chỉ lặp lại giọng điệu của Thầy cho những trí nhớ quá tệ, nhưng Ngài còn giải nghĩa dưới ánh sáng Phục sinh cho các ông nắm bắt được ý nghĩa mà, cho tới lúc này, còn rất tối tăm đối với các ông... Nhiệm vụ giải thích của Chúa Thánh Linh liên quan tới sứ điệp của Ngôi Con, nhằm làm cho cộng đoàn thành nơi mạc khải luôn được tiếp tục và hiện thực một cách sáng tạo trong đời sống các tín hữu. Như thế, lời Đức Giêsu luôn sống động qua thời gian “(Sđd, trg 132).

2. Ơn bình an.
Rồi để từ biệt những người thân của mình, và vào lúc sắp sửa vượt qua thung lũng Cédron để tới Giếtsêmani, như báo trước lời đầu tiên của Đấng phục sinh, Đức Giêsu ban bình an cho các các môn đệ.
Bình an, đối với người quen thuộc Thánh Kinh, không phải chỉ là sự vắng bóng bạo hành, tĩnh lặng trong tâm hồn, mà chính là sức khỏe, sự thịnh vượng, hạnh phúc sung mãn, ơn cứu độ. Và chỉ một mình Thiên Chúa mới có thể ban bình an này. Vì đó là phúc lộc cứu độ tuyệt vời nhất: “Lúc đó, sự công chính nở rộ và bình an lớn lao tới khi mặt trăng khuất bóng” (TV 72,7).
Đức Giêsu, Đấng Chúa Cha sai đến, là Đấng trung gian của sự bình an này, nên Người có thể gọi đó là sự bình an của mình: “Thầy ban bình an của Thầy cho anh em”.
Không phải là thứ bình an giả tạo mà nhiều lần các ngôn sứ đã cảnh báo và Đức Giêsu đã từ chối đem xuống trên mặt đất, nhưng là bình an đích thực của Thiên Chúa, mà để ban cho thế gian, Đức Giêsu đã hy sinh mạng sống.
Hiệu quả của ơn bình an này là: các môn đệ không còn xao xuyến nữa, dù trước viễn tượng Đức Giêsu sẽ khuất dạng, hay trước nhiệm vụ đang chờ họ, chính họ sẽ là những người đem Tin Mừng cứu độ vào giữa lòng thế giới.

II. BÀI ĐỌC THÊM:
1. Một tạm biệt cho hôm nay (X. Léon-Dufour, trong “Lecture de l'Evangile selon Jean, Seuil, trg 147-148).
Lời tạm biệt của Đức Giêsu không để đành tới ngày mai, nhưng là ngay hôm nay. Người ta suy diễn từ sự hỗn độn trong cách dùng thì của động từ. (Ngôn ngữ tây phương rõ rệt hơn). Có lúc Đức Giêsu nói trong thì hiện tại: “Thầy sẽ không để anh em mồ côi, Thầy đến với anh em.” (14,28), nhưng chỉ một lúc sau đó, Người lại nói ở thì tương lai: “Chúng ta sẽ đến và ở lại với người ấy” (14,23); và rồi, Người lại dùng thì hiện tại: “Thầy ra đi và trở lại cùng anh em” (14,28). Đức Giêsu đến làm đảo lộn thời gian chúng ta vẫn quen: Điều này có nghĩa là Đức Giêsu đến từ một thế giới khác, nhưng cũng có nghĩa là Người làm chủ tiến trình lịch sử: với kẻ tin, Đức Giêsu còn thực hiện những công trình lớn lao hơn những điều Người đã thực hiện khi còn sống đời dương thế, và qua hành động này của Đức Kitô, các môn đệ cảm nghiệm được sự hiện diện của Đức Giêsu. Đấng luôn ở với họ.
Có thể suy diễn như thế về những người đã ra đi trước chúng ta không? Thánh Têrêxa Hài Đồng Giêsu đã can đảm nêu lên: “Tôi muốn rời trời cao để đi gieo hạnh phúc cho trái đất”. Đối với chị, những bậc “chân phước” không thể làm ngơ trước thân phận con người còn tại thế. Người chết hiện diện trước mắt ta, một sự hiện diện như chính sự có mặt của Đức Kitô. Dĩ nhiên, chúng ta không có ý đề cập đến lời nói và chữ viết cầu cơ. Sự hiện diện này tương tự với sự hiện diện của Thánh Linh do Chúa Con sai đến. Mầu nhiệm của sự hiệp thông sâu xa này chắc chắn không được tỏ lộ rõ ràng; đó là mầu nhiệm mà thần học gọi là “các thánh cùng thông công”.

2. Chìm ngập trong Thánh Linh – Đấng Bầu chữa (Henri Denis, trong “100 từ ngữ diễn tả đức tin”, DDB, trg 161-162).
Đấng Bầu chữa, đó là từ dịch từ tiếng Hy Lạp, lúc đầu có nghĩa tố tụng là trạng sư, người bênh vực, trợ giúp. Rồi nghĩa rộng là Đấng an ủi, chuyển cầu. Điều hơi lạ là lúc đầu, chữ này dùng chỉ Đức Kitô (Trong thư thứ nhất của thánh Gioan 2,1) “Nếu có ai phạm tội, chúng ta có Đấng Bầu Chữa trước mặt Chúa Cha: đó là Đức Giêsu Kitô, Đấng công chính”. Nhưng phần nhiều dùng chỉ Chúa Thánh Linh. Và nếu hiểu về Chúa Thánh Linh với tất cả những đức tính nêu trên, chúng ta sẽ nhận ra rằng: ở trần gian này, không thể một mình mà trung tín với Đức Kitô được.
Tuy nhiên, Đức Giêsu đã tiên liệu một phương thế: các con sẽ không cô độc đâu. Đức Kitô khuất dạng đã nhường chỗ cho Đấng biện hộ. Ngài đem đến cho các Kitô hữu một liều thuốc kháng độc cần thiết để họ sống đúng đời Tin Mừng giữa trần gian nhiều thử thách.
Thật là đúng khi tin tưởng rằng - từ khi Đức Giêsu ra đi, tức lúc Người lên trời – Tất cả những gì Đức Kitô thực hiện cách tỏ tường trong thế giới này đều được thực hiện bởi những người dám liều mình vì đức tin, nhiều khi hy sinh cả mạng sống nữa.
Họ không cô độc là thế! Đấng thi công vĩ đại, khi hợp nhất mọi người, hợp nhất chính Giáo Hội, chính là Đấng Bầu chữa vô hình. Người đem sức mạnh đổ xuống tràn đầy trên người yếu đuối, đem dũng cảm đổ xuống tràn đầy trên người sợ sệt. Đó là ơn an ủi của Chúa Thánh Linh, như một ngọn lửa cháy lan từ Kitô hữu này sang Kitô hữu nọ, từ thế hệ này sang thế hệ kia.
Để kết thúc, đề nghị bạn cùng tôi đọc những câu đầu trong thư thứ hai của thánh Phaolô gởi tín hữu Côrintô (1,3-7) và thay những từ trạng sư, bênh vực, an ủi, bằng chính từ Hy Lạp Paraclitos. Bạn sẽ cảm thấy một ấn tượng kỳ lạ. Nhờ lặp lại nữa đi (Chín lần), Bạn sẽ hiểu chúng ta thực sự chìm ngập trong Paraclitos, Thánh Linh-Bầu Chữa.
“Chúc tụng Thiên Chúa là thân phụ Đức Giêsu Kitô Chúa chúng ta. Người là Thiên Chúa mọi niềm an ủi; Người đã ban Đấng Bầu Chữa cho chúng ta trong mọi nỗi gian truân, để chúng ta có thể trở thành kẻ bầu chữa cho tất cả những ai trong cơn hoạn nạn nhờ Đấng Bầu Chữa mà Thiên Chúa đã ban cho chúng ta. Và cũng như chúng ta chia sẻ muôn nỗi khổ ải của Đức Kitô, thì nhờ Người, chúng ta cũng được chứa chan niềm an ủi. Chúng tôi phải chịu gian nan ư? Chính là để anh em được ủi an và cứu độ. Chúng tôi nhận lãnh Đấng Bầu chữa ư? Cũng là để anh em được nhận lãnh Đấng Bầu chữa. Chúng tôi lấy làm an tâm về anh em, vì biết rằng anh em thông phần thống khổ với chúng tôi thế nào, thì cũng được thông phần an ủi như vậy.”

 

CHÚA NHẬT VII PHỤC SINH

LỜI CẦU NGUYỆN TRỌNG ĐẠI CỦA ĐỨC GIÊSU:
XIN CHO HỌ NÊN MỘT
(Ga 17,20-26)


I. VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI:
1. Tiếp theo diễn từ giã biệt...
Xưa kia, trước khi ông Môsê lìa xa các môn đệ, thì ở phần cuối những lời từ biệt, ông đã cầu xin Thiên Chúa chúc lành cho các chi tộc Israel (Đnl 33). Cũng thế, trong Tin Mừng Gioan, Đức Giêsu, Môsê mới, trước khi lìa xa các môn đệ cũng ngước mắt lên trời đàm thoại với Cha Người. Người thâu tóm một trật trong lời cầu của mình, cả quá khứ những ngày sống ở trần gian, cả tương lai đang chờ đón Người và các môn đệ.
- Trước hết Người cầu cho chính mình (c.1-5).
- Rồi nhắc đến tình thế do cuộc ra đi của Người gây nên, Người cầu cho các môn đệ (c.6-19).
- Và sau cùng Người cầu cho các tín hữu tương lai (c.20-26). Sách Bài đọc đã trích đoạn sau cùng này để đọc trong Chúa nhật VII Phục sinh.

2. ... là lời cầu nguyện trọng đại của Đức Giêsu.
- Đức Giêsu cầu xin: “Xin cho họ nên một” bằng hai vế (c.20-21 và 22-23), được kết cấu theo kiểu song hành.
Từ ngữ “nên một” không phải được sử dụng lần đầu nơi Gioan. Đức Giêsu dùng từ ngữ đó để chỉ sự liên kết giữa Người với Cha (10,30) và Người cũng đã áp dụng cho các tín hữu: “sẽ chỉ có một đoàn chiên và một mục tử” (10,16). Còn trong lời cầu nguyện cho các môn đệ lúc này, từ ngữ đó còn vượt xa mối liên hệ tình cảm giữa các tín hữu, nó chỉ sự hiệp nhất thuộc hữu thể và xuất phát từ sự hiệp thông của Thiên Chúa. X. Léon-Dufour giải thích: “Thật vậy, đọc mấy câu trước và câu sau này thì ta hiểu: sự hiệp nhất nên một của các tín hữu bắt nguồn từ sự hiệp nhất của Chúa Cha và Chúa Con” (“Lecture de l'Evangile selon St. Jean”, Seuil, cuốn 3, trg 306-307).
Chính nhờ sự hiệp nhất của các môn đệ mà người đời sẽ nhận biết rằng Đức Giêsu là Đấng Chúa Cha sai đến: “Như vậy, thế gian sẽ nhận biết là chính Cha đã sai Con”.
- “Rằng Con ở đâu thì họ cũng ở đó với Con”. Ở với Đức Giêsu bên cạnh Chúa Cha chính là “chiêm ngưỡng vinh quang của Người” - tác giả giải thích tiếp - là được thấy Người mặt đối mặt, “Người thế nào, chúng ta sẽ thấy Người như vậy” (1Ga 3,2).
- Nhưng việc các tín hữu được dự phần vào vinh quang của Người Con duy nhất, phát xuất từ việc cũng ở lại với nhau, vốn sẽ là đặc điểm của đời sống đức tin. Bởi vậy, lời nguyện kết thúc bằng câu: “Để tình Cha đã yêu thương Con ở trong họ, và Con cũng ở trong họ nữa”. Sự chiêm ngưỡng cuối cùng chỉ có thể xảy ra, nếu nó đã được khởi đầu trong cuộc đời người Kitô hữu.

II. BÀI ĐỌC THÊM:
1. Dấu chỉ của Thiên Chúa nơi trần gian (Đức Cha Daloz: “Nous avons vu sa gloire” , DDB, trg 214-216).
Đức Giêsu đã sống những giờ phút sau hết của cuộc đời trần thế của mình với nhóm nhỏ môn đệ. Người sắp bị nộp vào tay những kẻ toan giết Người.
Đó là “giờ của Người”. Tuy nhiên ánh mắt của Người không bị lu mờ vì những lo âu của giờ phút ấy. Ánh mắt ấy mở rộng tầm nhìn hướng về đám đông những người sẽ tin theo Người cho đến ngày tận thế. Chúng ta cũng nằm trong số những kẻ được Chúa cầu nguyện cho, cùng với các môn đệ Chúa thuộc mọi thế hệ. “Con không chỉ cầu cho những người này, nhưng còn cho những ai nhờ lời họ mà tin vào Con”. Chúng ta được lời cầu nguyện của Chúa nâng đỡ. Đó không phải là nơi nương tựa của ta đó sao?
Người cầu xin điều gì cho các kẻ tin? Người chỉ xin có một điều duy nhất: “Cho họ được nên một, như Cha ở trong Con và như Con ở trong Cha, cho họ cũng ở trong chúng ta”. Ta luôn bị cám dỗ hiểu sai những lời này, không dám bạo dạn và hiểu đúng tầm mức. Có khi chúng ta hiểu những lời đó như một bổn phận Đức Giêsu trao cho ta, để cổ võ sự hiệp nhất và xóa bỏ những chia rẽ. Sự hiệp nhất nên một mà Đức Giêsu nói ở đây không phải là một bổn phận Chúa trao cho ta đâu. Nó là một ân huệ của Chúa Cha, một ân huệ mà Đức Giêsu cầu xin cho ta. Nó chỉ là một nhiệm vụ phải chu toàn, bởi vì trước hết nó là một ân huệ. Hơn nữa, sự hiệp nhất mà Đức Giêsu xin cho ta nằm ngoài tầm tay của sức lực loài người: làm sao ta có thể hiệp nhất nên một cách thân mật như Cha ở trong Con và Con ở trong Cha? Sự hiệp nhất thần linh này chỉ có thể thực hiện nơi chúng ta, nếu chính Thiên Chúa thực hiện trong ta. Đó chính là điều Đức Giêsu nói: “Con đã ban cho họ vinh quang mà Cha đã ban cho Con, để họ được nên một, như chúng ta là một...” Ước vọng của Đức Giêsu là các môn đệ đi vào sự hiệp thông đời sống, là chính sự sống của Thiên Chúa. Chính vì thế, Người mới tỏ cho họ biết danh Chúa Cha và thông truyền cho họ tình yêu duy nhất phát xuất từ Chúa Cha: “để tình Cha đã yêu thương Con ở trong họ, và Con cũng ở trong họ nữa”.
Bởi vậy, cộng đoàn các môn đệ có thể trở thành dấu chỉ của chính Thiên Chúa giữa trần gian, dấu chỉ của Thiên Chúa là Tình yêu. Bởi vì họ ở trong Thiên Chúa và Thiên Chúa sống trong họ, chính nhờ họ mà Thiên Chúa tỏ mình ra cho thế gian. Tình yêu nối kết họ là tình yêu của chính Thiên Chúa, là chính tình yêu nối kết Chúa Cha với Chúa Con. Cũng bởi vậy, cộng đoàn các môn đệ có thể khơi dậy đức tin: “Như vậy để thế gian tin rằng Cha đã sai Con”. Đức Giêsu hướng về một mình Thiên Chúa. Sự hiệp nhất toàn bích đến từ Thiên Chúa và liên kết các môn đệ lại với nhau, là biểu hiện sự hiện diện của Thiên Chúa ở giữa thế gian. “Như vậy, thế gian có thể nhận biết rằng chính Cha đã sai Con và đã yêu thương họ như Cha đã yêu thương Con”. Ơn gọi của chúng ta vĩ đại dường nào! Này đây chúng ta được gọi để trở nên địa điểm cho Thiên Chúa tỏ mình cho thế gian! Chỉ có sức mạnh lời cầu nguyện của Đức Giêsu mới có thể thực hiện được điều đó trong chúng ta.

2. Hội Thánh là hiệp thông (HĐGM Pháp: “Giáo lý cho người lớn”, trg 187-188).
“Tôi tin Hội Thánh duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền”. Khi các tín hữu tuyên xưng đức tin trong kinh Tin Kính, họ xác quyết rằng Hội Thánh được nhận biết nhờ những đặc điểm đó. Đó là những “điểm son” của Hội Thánh. Vì không chỉ mô tả mặt ngoài của Hội Thánh, mà còn nói lên chân lý sâu xa về mầu nhiệm Hội Thánh. Xác quyết những điều đó thuộc lãnh vực đức tin, chứ không phải chỉ nguyên nhờ nhìn bề ngoài mà biết được.
“Hội Thánh toàn cầu xuất hiện như một dân tộc mà hiệp nhất do sự hiệp nhất giữa Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần” (HC “Ánh Sáng muôn dân” 4, trích th. Cyprianô).
Nguồn phát sinh sự hiệp nhất của Hội Thánh được nói đến trong thư thánh Phaolô gởi tín hữu Êphêsô: “Chỉ có một thân thể, một Thần Khí, cũng như anh em đã được kêu gọi để chia sẻ cùng một niềm hy vọng. Chỉ có một Chúa, một niềm tin, một phép rửa. Chỉ có một Thiên Chúa, Cha của mọi người, Đấng ngự trên mọi người và trong mọi người” (Ep 4,4-6).
Bởi vậy, Hội Thánh cả quyết rằng sự hiệp nhất Hội Thánh có được không do chính mình, mà là hồng ân của Chúa Thánh Thần.
Sự hiệp nhất này có thể nhìn thấy được, và theo lời Đức Kitô hứa, sẽ không bao giờ mất đi. Nó biểu hiện trong việc tuyên xưng cùng một đức tin, được định thức trong cùng một kinh Tin. Sự hiệp nhất ấy có nền tảng là một phép Rửa duy nhất, làm cho mọi môn đệ Đức Kitô nên một dân tộc duy nhất. Bí tích Thánh Thể, bí tích của sự hiệp nhất, củng cố, xây dựng và không ngừng canh tân sự hiệp thông giữa các tín hữu, liên kết họ lại với nhau bằng dây đức ái. Tác vụ tông đồ, tác vụ các Giám Mục, linh mục, phó tế là phục vụ cho sự hiệp thông của Hội Thánh.
Bởi vì sự hiệp nhất của Hội Thánh không chỉ do cơ cấu tổ chức tốt đẹp hay do kỷ luật chặt chẽ, mà do sự hiệp thông. Coi Hội Thánh như hiệp thông đó là “một khái niệm trung tâm và nền tảng” (Thượng HĐGM đặc biệt năm 1985) . Khái niệm này được triển khai trong các tài liệu của Công Đồng Vatican II. Sự hiệp thông này là hiệp thông giữa Chúa Cha, với Con của Người, Đức Giêsu Kitô, trong Chúa Thánh Thần (xem 1 Ga 1,3) và là sự hiệp thông giữa các môn đệ trong tình bác ái.
Sự hiệp nhất còn là một yếu tố căn bản và cần thiết cho việc làm chứng của các tín hữu sống trong thế gian và cho sự khả tín của việc truyền giáo.

 

CHÚA LÊN TRỜI

“CHÍNH ANH EM LÀ CHỨNG NHÂN”
(Lc 24,46-53)


I. VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI:
1. Đối với Đức Giêsu: hoàn tất mầu nhiệm Vượt Qua.
Trong sách Công Vụ Tông đồ, chúng ta đã đọc thấy biến cố Lên Trời xảy ra vào ngày thứ Bốn mươi sau Phục sinh. Trái lại, trong sách Tin Mừng, Luca lại đặt biến cố này vào ngay chiều ngày Phục sinh. Làm như thế Luca muốn nêu bật tính thống nhất không thể tách biệt của mầu nhiệm Vượt Qua: biến cố Lên Trời biểu lộ vinh quang của Đấng phục sinh và quyền bá chủ thần linh của Người. Biến cố ấy đóng dấu ấn kết thúc cuộc đời và Tin Mừng của Đức Giêsu bằng việc tôn phong thiên quốc của Đấng Mêsia. Mâu thuẫn rõ ràng về thời gian - điều hoàn toàn tương hợp với cách hành văn của thời ấy - không nhằm mục tiêu nào khác hơn là phô bày tất cả vẻ phong phú của biến cố cứu độ này.
Sau khi tỏ mình cho các môn đệ nhận ra mình: “Nhìn chân tay Thầy coi, chính Thầy đây mà” (c.39), Đức Giêsu mở tâm hồn cho họ hiểu ý nghĩa của biến cố phục sinh: “Tất cả những gì sách luật Môsê, sách các Ngôn sứ và các Thánh vịnh đã chép về Thầy đều phải được ứng nghiệm” (c.44). Tất cả những gì các ông vừa trải qua cùng với Người, đều hiện rõ ý nghĩa dưới ánh sáng của Thánh Kinh, và chính Thánh Kinh được thực hiện hoàn hảo trong mầu nhiệm Vượt Qua:
“Đấng Kitô phải chịu khổ hình rồi ngày thứ ba từ cõi chết sống lại, rồi phải nhân danh Người mà rao giảng cho muôn dân, kêu gọi họ sám hối để được ơn tha tội”.

Khi dẫn các môn đệ tới tận Bêtania, giờ đây, Đức Giêsu từ biệt và chúc lành cho các ông là những người kế thừa mình theo cách các thánh tổ phụ chúc lành cho các con vào lúc lìa cõi thế.
Và đang khi Người được “đem lên trời” các môn đệ “phủ phục bái lạy Người”, một cử chỉ tôn thờ chỉ dành riêng cho Thiên Chúa mà thôi.
Mặc dầu chia ly hoặc phải chia ly, nhưng tất cả mọi người đều chấp nhận từ nay không còn được trông thấy, mà chỉ sống bằng lòng tin nên các môn đệ cũng “lòng đầy hoan hỉ”-, “các ông trở lại Giêrusalem, ở trong Đền thờ” - nơi mọi việc đã khởi đầu khi thiên thần báo tin cho ông Dacaria – các ông “không ngớt chúc tụng Thiên Chúa”.
Roland Meynet quảng giải: “Các môn đệ xem thấy Đức Giêsu lần cuối, cuộc chia ly thế là dứt khoát rồi. Tuy nhiên, các ông không buồn sầu, ngược lại, các ông trở lại Giêrusalem lòng đầy hoan hỉ. Chính là vì Thầy không đi vào cõi chết như họ đã trông thấy ba ngày trước, nhưng được đưa lên trời, đến cùng Chúa Cha. Các ông bái lạy Người và không ngớt chúc tụng Thiên Chúa. Nếu Đền thờ là nơi và là dấu chỉ sự hiện diện của Thiên Chúa ở giữa dân Người, thì các ông biết rằng: nếu các ông luôn ở lại trước mặt Đấng Tối Cao, các ông sẽ không phải xa cách Đấng vừa về với Ngài. Liệu các ông có lòng đầy hoan hỉ như thế, nếu các ông không tin chắc rằng Đức Giêsu luôn ở với các ông, mặc dầu không trông thấy? Xem như nghịch lý: cuộc chia ly đối với các ông lại trở thành dấu chỉ rằng Đức Giêsu luôn ở bên các ông” (“L'Evangile selon saint Luc”, Cerf, cuốn 2, trg 239).

2. Đối với Hội Thánh: Khai mở một kỷ nguyên mới.
Kế hoạch của Thiên Chúa được ghi trong Kinh Thánh không chấm hết cùng với cái chết, phục sinh và lên trời vinh hiển của Đức Giêsu, mà còn tiếp tục trong Hội Thánh. Sứ điệp Tin Mừng được hoạch định “cho muôn dân”, được rao giảng “bắt đầu từ Giêrusalem”.
“Anh em là chứng nhân của những điều đó”. Đức Giêsu đã tuyên bố với các môn đệ như vậy. Và trước khi “lìa bỏ các ông” để “được đưa lên trời”, Người loan báo cho các ông biết rằng, các ông sẽ “nhận được quyền năng từ trời cao ban xuống”, quyền năng mà Cha đã hứa, để hoàn thành sứ mạng vĩ đại vượt quá sức riêng của các ông.
Một giai đoạn lịch sử cứu độ được hoàn tất. Một kỷ nguyên mới được chuẩn bị, kỷ nguyên đi gieo rắc Tin Mừng bắt đầu từ Giêrusalem cho đến tận cùng trái đất. Công việc gieo trồng này sẽ bội thu, bởi vì nó bắt rễ từ những gì vừa hoàn thành tại Giêrusalem, đó là việc “Đức Giêsu chịu khổ nạn, sống lại và sự sám hối được rao giảng nhân danh Người để được ơn tha tội”.

II. BÀI ĐỌC THÊM:
1. Loan báo Tin Mừng bằng lời nói và bằng hành động (G. Bessière: “Dieu si proche” Năm C, DDB, trg 68-69).
Tận cùng lại là một khởi đầu.
Mọi sự đều xảy ra tại Giêrusalem.
Các môn đệ đã cảm nghiệm được sự hiện diện của Đức Giêsu, Người đã phục sinh. Các ông đã bắt đầu hiểu rằng sự việc phải đi tới đích điểm đó và phải được hoàn thành cách vinh quang. “Cần phải...”. Đây không phải là do định mệnh an bài. Cụm từ đó chỉ có ý nói rằng mọi biến cố tìm được ý nghĩa trong Thiên Chúa và chúng là tiếp nối của một quá khứ cao quý nhất. Một nụ hoa hé nở, một việc kỳ diệu Thiên Chúa làm ở giữa dân Người.
Đức Giêsu được “đưa lên trời”. Những lời trăn trối cuối cùng của Người là lệnh “sai đi”, và là lời loan báo cho họ một “sức mạnh từ trời cao”, đó là Thần Khí được ban xuống, Thần Khí mà các Ngôn sứ đã loan báo. Từ nay, những con người ấy sẽ mang trên tay và trong trái tim ơn tái sinh. Các ông sẽ làm lây lan ơn Thiên Chúa, biến đổi cả nhân loại. Đức Giêsu đi về cùng Cha Người, cốt để các ông ra đi đến tận cùng trái đất.
Cử chỉ cuối cùng của Đức Giêsu thâu tóm cả cuộc đời của Đức Giêsu trên trần gian: “Đang khi giơ tay chúc lành cho các ông, thì Người lìa các ông...”. Đức Giêsu lên trời đang khi chúc lành, hình ảnh cuối cùng đó sẽ còn mãi: bàn tay đang chúc phúc.
Còn các ông “lòng đầy hoan hỉ”“các ông không ngớt chúc tụng Thiên Chúa trong đền thờ”. Giữa trời và đất, giữa đất với trời, lời chúc phúc được giao lưu.
Giờ đây các môn đệ Đức Giêsu - những môn đệ thời xưa và những môn đệ thời nay - cần phải loan báo Tin Mừng cho đến tận cùng thế giới và tận cùng lịch sử, bằng lời nói và bằng hành động. Phải không ngớt chúc tụng.

2. Được sai đi truyền giáo thế chân các tông đồ. (G. Boucher: “Le ciel sur terre” Kerampir 29820 Bohars).
Đức Giêsu đã lên trời thế nào? Ta hãy nghe thánh Luca tường thuật thật giản dị: “Đức Giêsu lìa khỏi các môn đệ và được đưa lên trời”.
Có điều lạ là các môn đệ không biến cuộc chia ly thành một tấn bi kịch. Tác giả thuật lại rằng các ông trở lại Giêrusalem lòng đầy hoan hỉ. Dường như các ông đã được soi sáng cho hiểu rằng: Đức Giêsu đã hoàn thành trọn vẹn sứ mạng cứu thế của Người. Từ nay đến lượt các ông có nhiệm vụ làm chứng.
Biến cố Lên Trời cho thấy công trình cứu độ này đã hoàn thành: mọi điều Thánh Kinh loan báo đều là lời của Thiên Chúa. Tất cả đều đã được thực hiện, cả đến việc phục sinh. Từ nay, làm cho thế giới sám hối trở lại.
Biến cố Lên Trời chứng tỏ rằng Đức Giêsu chuyển giao nhiệm vụ cho các chứng nhân. Giờ đây đến lượt các môn đệ hoạt động. Họ có nhiệm vụ làm cho kế hoạch đã được hoàn thành nơi Đức Giêsu được tỏ hiện cho mọi dân mọi nước.
Đồng thời biến cố Lên Trời cũng còn là một lời hứa. Một sức mạnh nội tâm sẽ được ban xuống cho các chứng nhân của Đức Giêsu. Một sức mạnh nội tâm sẽ được ban xuống cho họ từ trời cao. Sức mạnh ấy củng cố trí tuệ và tâm hồn các ông, sẽ biến các ông nên can đảm.
Biến cố Lên Trời là lời chúc phúc từ trời. Một phúc lành làm cho con người cảm nghiệm năng lực của Thiên Chúa thấm nhập vào mình, cảm thấy mình được tôn trọng trong tự do và có khả năng sáng tạo để đạt kết quả.
Biến cố Lên Trời còn được tiếp nối bằng lời cầu nguyện vui tươi và tinh thần hoan hỉ. Các môn đệ không bị mồ côi chút nào. Các ông có Chúa Thánh Thần ở cùng. Các ông ở nhà của Người là Đền thờ. Các ông ca tụng những thiện hảo của Thiên Chúa, các ông chúc tụng Người.
Niềm vui của ta, hỏi rằng có ngang tầm với niềm vui của các môn đệ đầu tiên không? Lời cầu nguyện của ta có hòa nhập với lời tạ ơn của các ông không? Cuộc sống thường ngày của ta có phải là cuộc dấn thân truyền giáo theo chân các tông đồ không?
Bởi vì biến cố Lên Trời của Chúa phải được sống và được cử hành như thế đó.

 

CHÚA NHẬT LỄ HIỆN XUỐNG

NGÀY ĐẦU TIÊN CỦA TẠO THÀNH MỚI
ĐỨC GIÊSU PHỤC SINH THỔI HƠI VÀO CÁC MÔN ĐỆ VÀ BẢO
ANH EM HÃY NHẬN LẤY THÁNH THẦN
(Xem chú giải ở Chúa nhật II phục sinh)
(Ga 20,19-23)



II. BÀI ĐỌC THÊM
1. Một hơi thở nhẹ như làn gió thoảng. (G. Bessière, trong “Dieu si proche, Année C”, DDB, trg 73-74)
Làm thế nào mà một hơi thở từ cửa miệng lại có thể trở thành cơn bão trong lịch sử? Người ta sẽ không bao giờ nói cho hết được về làn gió thoảng đổi mới vũ trụ này. Từ buổi bình minh của vũ trụ, nó đã lên tiếng ngợi ca làm bừng lên dòng nhựa sống đầu tiên. Ngôn sứ Êdêkiel đã trông thấy nó làm sống lại cả một cánh đồng đầy xương khô: đó là hình ảnh dân tộc bị lưu đày biệt xứ và bị hạ nhục vào thế kỷ thứ VI trước Công nguyên. Và giờ đây, Đức Giêsu đang mấp máy môi, dường như để ban cho các bạn hữu của Người đang hoảng sợ một linh hồn khác: “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần”.
Chính Thần Khí này đã bay lượn trên làn nước nguyên sơ, đã vực các ngôn sứ đứng lên, đã đánh thức cả một dân tộc đang mê ngủ. Trong ngôn ngữ Hípri, từ Thần Khí thuộc giống cái. Dường như hơi thở của Thiên Chúa có chức năng từ mẫu là sinh sản một nhân loại tương lai, tương lai mà Người muốn cho họ được hưởng.
Hiệu quả của nó thật là khôn lường và ấm áp. Còn đâu nữa cánh cửa cài then vì sợ hãi. Nhưng bình an đang tỏa lan trên những khuôn mặt. Bình an vì không còn chinh chiến, bình an của tâm hồn. Họ ra đi người này đến với người kia như những người được Thiên Chúa sai đi, giống như chàng thợ mộc thành Nadarét xưa đã chứng tỏ tình thương của Chúa Cha bằng những việc làm đầy tình thương xót. Họ sẽ mạnh hơn cả tội lỗi vốn làm méo mó, ti tiện và xuyên tạc hình ảnh con người. Vì Thiên Chúa đã ban cho họ năng lực biến đổi của Người là ơn tha thứ, một sức mạnh lạ lùng nhất của vũ trụ, có thể biến đổi những con người lúc này và mãi mãi muôn đời.
Họ sẽ không quên những thương tích của Đấng Công chính bị tử hình vì đường họ đi đôi khi sẽ là gian khổ. Họ sẽ không quên lời Người nói vì như lời Người, men của họ sẽ làm dậy các tâm hồn. Họ sẽ không quên các việc Người làm, vì nhờ đó, họ sẽ lay chuyển và luôn thúc đẩy mọi người, mọi nhóm, mọi xã hội lại cất bước lên đường. Không hoàn cảnh thực tế nào sẽ làm cho những hạt giống này chết đi và làm tiêu ma sự bảo đảm của Thiên Chúa. “Các môn đệ lòng đầy hân hoan”.
Liệu chúng ta có biết lắng nghe và cảm nhận luồng hơi thở nhẹ như gió thoảng kia là sự sống của Thiên Chúa chăng?

2. Người canh tân bộ mặt địa cầu (F. Deleclos, trong “Prends et mange la Parole” (Centurion-Duculot, trg 212-213).
Thần Khí luôn luôn đi đôi với những gì là đổi mới, là tái tạo, là cởi mở và giải thoát, là sai đi và qui tụ. Người là tác nhân không mệt mỏi luôn canh tân và hiện tại hóa mọi sự. Từ một đám đông gồm nhiều thành phần khác nhau, Người làm nẩy sinh và khơi dậy sự hiệp nhất và cả tình hiệp thông...
Là nguồn sự sống không bao giờ cạn kiệt, Thần Khí không rời khỏi thế giới sau hành động ban đầu còn ghi trong sách Sáng Thế. Và cũng vậy, sự can thiệp “ồn ào” của Người nơi các môn đệ hoảng sợ đến tê liệt, không phải là lễ Hiện Xuống duy nhất và cuối cùng, chỉ gợi cho lòng ta luyến tiếc mỗi khi nhớ lại mà thôi. Thiên Chúa không ngừng gởi hơi thở của Người đến và ta vẫn còn có thể nghe tiết Người, tuy không biết hơi thở từ đâu đến và sẽ đi đâu. Thế nhưng, người ta có thể cảm nhận rõ sự hiện diện và hoạt động của Người đem lại hiệu quả thực sự. Thần Khí mở toang mọi cánh. Người làm cho người ta phải bung ra khỏi những bức tường khép kín và giã từ những tổ ấm được coi là an toàn, vững chắc và đạo đức phô trương.
Thần Khí đánh thức, chỉ trích và uốn nắn. Người dứt ta ra khỏi niềm luyến tiếc về quá khứ, khỏi nỗi nhớ nhung tìm lại “thiên đường đã đánh mất” để hòa nhập với hiện tại luôn biến chuyển như bãi phù sa, cho lòng ta tràn đầy hy vọng để chuẩn bị cho ngày mai. Thần Khí làm trẻ lại những con người trì trệ, khiến người bại liệt đứng dậy và chạy nhảy. Người ban cho những ai bị suy sụp tinh thần vì thứ tôn giáo sợ sệt, vì thứ lề luật cứng ngắc và mù quáng và vì những mớ giáo lý khô khan, tìm lại được can đảm, mạnh bạo và niềm vui. Thần Khí dẫn ta vào cốt lõi của Thiên Chúa, và của con người: tức là chân, thiện, mỹ, nghĩa là mối quan hệ hoàn hảo, sự truyền thông thành công, sự hiệp thông. Thần Khí không phải là Thiên Chúa tự hiến mình đó sao? Và hoa quả đầu tiên mà Người đem đến cho kẻ tiếp nhận Người, không phải là đức ái đó sao?
Cũng phải kể là dấu chỉ của Thần Khí, khi tính đồng nhất nhường chỗ cho sự hiệp nhất; khi tính đa dạng được canh tân nhờ những ân huệ và đặc sủng, nhờ những chức năng và hoạt động, đẩy lui được những cám dỗ muốn thống trị và độc quyền, tính cạnh tranh và ghen tuông, tính tự tôn và những phán quyết không thể thay đổi. Thần Khí là sự dịu hiền và là sức mạnh, là nước và ánh sáng, là quyền năng và êm ái. Người là tiếng thì thầm và là gió bão, là lửa cháy. Người canh tân bộ mặt trái đất.
(Có thể đọc: Ga 14,15-26: Lời Hứa ban Thần Khí Sự Thật. Xem phần chú giải ở Chúa nhật VI phục sinh).

II. BÀI ĐỌC THÊM
Chúa Thánh Thần hiện tại hóa sự hiện diện của Đấng Phục sinh trong đời sống Kitô hữu.
Đức Giêsu hứa sẽ gởi Chúa Thánh Thần đến cho các môn đệ, khi Người “vượt qua” trần thế để về cùng Cha, như vậy, chắc hẳn ân huệ của Thánh Linh liên hệ rõ rệt với mầu nhiệm vượt qua. Tiếp nối sự hiện diện hữu hình của Đức Giêsu, giờ đây là một quan hệ khác với Người, quan hệ trong Thánh Thần, Đấng được mô tả như là:
- “Paraclet”, Đấng bảo trợ, bênh vực nơi tòa án trong vụ kiện chống các nhân chứng, giống như Đức Giêsu.
- “Thầy chân lý”, giống như Đức Giêsu, chứng nhân của chân lý (18,37). Người được Chúa Cha ban “để ở với anh em luôn mãi” và ở với mọi người được sai đi. Thánh Linh như chính Đức Giêsu, hiện diện bên các môn đệ suốt thời kỳ của Hội Thánh.
Hoạt động của Người nơi các tín hữu được mô tả là:
- Người là tác nhân tạo nên sự trung thành với Lời của Đức Giêsu và Tình yêu của Người.
- Người là dấu chỉ Thiên Chúa hiện diện: “Chúng ta sẽ đến và ở lại với người ấy”.
- Người dần dần dẫn dắt họ tới sự hiểu biết đầy đủ sứ điệp của Đức Giêsu: “Người sẽ giúp anh em nhớ lại mọi điều...” Với tư cách Đấng Bảo Trợ, là Hiện diện, là Ký ức, Thần Khí hiện tại hóa sự có mặt của Đấng Phục sinh trong cuộc sống người Kitô hữu.

 

LỄ CHÚA BA NGÔI

CHÚA CON ĐÃ SAI THÁNH LINH
ĐỂ TIẾP TỤC CÔNG TRÌNH CỦA NGƯỜI Ở TRẦN GIAN
(Ga 16,12-15)


I. VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI:
1. Từ thời kỳ của Đức Giêsu...
Vào giờ Đức Giêsu sắp “phải bỏ thánh gia mà về với Chúa Cha”, ta thấy có hai giai đoạn trong bài diễn từ sau bữa Tiệc Ly.
- Thời kỳ của Đức Giêsu, thì các môn đệ “không làm sao có sức chịu nổi” những lời Người.
- Thời kỳ của Thánh Linh “thì chính Người sẽ dẫn các ông tới sự thật toàn vẹn”.
X.Léon-Dufour quảng giải: “Bây giờ” của bữa tiệc ly đối tương phản với thời kỳ Đấng Bảo Trợ đến; và việc đến này tùy thuộc vào lễ Vượt Qua của Chúa Con” (“Lecture de l'Evangile de St Jean”, cuốn 3, Seuil, trg 231).

2. ... Đến thời kỳ của Chúa Thánh Thần.
- Thần Khí này, Đức Giêsu hứa với các tông đồ: “sẽ dẫn các ông đến sự thật toàn vẹn”. Việc Chúa Thánh Thần đến soi sáng vào quá khứ của Đức Giêsu, sẽ khiến cộng đoàn các môn đệ của Người hiểu sâu thêm những lời nói và việc làm của Người, hiểu để áp dụng và đi vào cuộc sống. Hơn nữa, Người còn cho các môn đệ thông hiệp vào hiện tại của Đức Giêsu, Người Con đã được tôn vinh nơi Thiên Chúa và đang muốn thông ban cho các môn đệ chính con người vinh quang của mình.
- Thần Khí này, Đức Giêsu phán tiếp “sẽ lấy những gì của Thầy mà loan báo cho anh em”. Để dẫn đến sự thật, Thần Khí “sẽ nói lên” hay là “sẽ diễn tả” điều mà Người nhận từ Chúa Con... X. Léon-Dufour giải thích thêm: “Nếu Đức Giêsu ngừng nói bên tai, thì việc Người nói trong tim (đồng nghĩa với “mạc khải”) vẫn còn tiếp tục nhờ trung gian của Thần Khí. Quả vậy, Thần Khí không nói nhân danh quyền năng của mình, cũng giống như Đức Giêsu đã không nói tự ý mình; Thần Khí sẽ nhận từ Đức Giêsu cũng giống như Đức Giêsu nhận từ Chúa Cha (8,26). Tiếng nói của Thần Khí chắc chắn không đập vào lỗ tai, nhưng thấm sâu tận tâm hồn. Như vậy, Chúa Con tiếp tục mạc khải của mình bằng cách thế khác trước, cách thế “thần linh”... Chúa Thánh Linh sẽ là người biểu lộ Đức Giêsu vậy”.

II. BÀI ĐỌC THÊM:
1. “Nguồn suối không hề cạn” (H. Vulliez, trong “Thiên Chúa rất gần, Năm C”, DDB, trg 76-77).
“Thầy còn nhiều điều phải nói với anh em”. Vào lúc ly biệt, những lời kín đáo này phát ra từ môi miệng Đức Giêsu để kết thúc buổi hàn huyên đầy tình hiệp thông. Vấn đề không tại điều muốn nói, mà tại ý nghĩa thẳm sâu nằm ở những lời ấy. Sánh với những gì nằm sâu trong lòng biển cả bao la, thì lời nói cũng chỉ như đám bọt biển trắng xoá trên mặt mà thôi. Điều mà Thầy muốn ban cho anh em, chia sẻ với anh em là những gì tự đáy lòng Thầy, là những gì là sâu xa nhất từ nội tâm Thầy.
Không phải là Thầy không còn thời giờ, cũng chẳng phải là Thầy còn nói thêm nhiều điều khác. Thầy chỉ mong muốn lặp đi lặp lại mãi mãi điều cốt lõi. Ước chi điều cốt lõi được lặp lại hoài này, luôn có được vẻ tươi mát của buổi bình minh đang xuất hiện.
Nội tâm Thầy như mạch nước muốn vọt lên nhưng lại không vọt lên được. Điều Thầy muốn nói ra thì lại không thể diễn tả được. Và người nghe không bao giờ có thể hiểu, cũng không thể cảm nghiệm được với ánh sáng và cường độ mà Thầy mong muốn, vì điều đó thuộc về Thầy một cách quá lạ thường. Cái “tôi” thẳm sâu này không sao tả xiết.
“Thầy còn nhiều điều phải nói với anh em”. Nhưng lúc này, như thế là đủ rồi. Không thể nói thêm nữa, và người nghe cũng không thể tiếp thu hơn. Sự truyền đạt từ người này sang người kia kết thúc, vào lúc mối hiệp thông không còn có thể hiệp nhất thêm nữa.
“Thầy còn nhiều điều phải nói với anh em”. Khi Đức Giêsu tâm sự điều này với các bạn hữu của Người, thì tình thầy trò thân mật trước lúc chia ly rất phong phú đến nỗi không có thể nói gì hơn nữa.
Vả lại, Người còn có thể mạc khải gì hơn về Người hoặc về Chúa Người chăng? Người chẳng phải là mạc khải đầy đủ về Thiên Chúa rồi đấy sao? Đây không phải một “món hàng tàng trữ” ngủ yên trong tủ sắt, hoặc được nâng niu giữ gìn trong hộp quý. Không đâu, đây là một dòng suối không hề cạn kiệt.
Thần Khí, trong khi giúp người ta hiểu biết và nhìn nhận Đức Giêsu, sẽ khiến người ta không ngừng đói khát muốn hiểu biết hơn nữa. Thần Khí khơi dậy nơi lòng người tín hữu sự hiện diện của Đấng Phục sinh. Người giúp khám phá sự hiện diện đó là gì, có hệ quả gì trong cuộc sống thường nhật cũng như trong những giờ phút trọng đại của lịch sử.
Một sự hiện diện kín đáo và mãnh liệt.
Một sự hiện diện đầy bình an và tình thương.
Và sự hiện diện này là Sự sống.”
2. Thiên Chúa mà Đức Giêsu mạc khải, Người là ai? (N. Quesson, trong “Les entretiens du dimanche. Année C”, Droguet -Ardant, trg 101-102)
Mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi, cũng như tất cả những mầu nhiệm đặc biệt Kitô giáo, không tự nhiên dễ hiểu đối với những trí tuệ thích lý luận của con người. Mới đây một đứa trẻ đã nói với cha nó rằng: “Ba mà cũng còn tin những chuyện ấy à?”. Phản ứng của đứa trẻ này minh họa rõ ràng cái não trạng vụ khoa học mà ta đã bị thấm nhiễm, và não trạng đó có khuynh hướng chủ trương cái gì có thể kiểm nghiệm được, mới được coi là có thật.
Tuy nhiên, mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi là một trong những mầu nhiệm đáp ứng được những ước mơ thâm sâu nhất của nhân loại. Bí mật của thế giới chúng ta không phải là cái gì trừu tượng, hoặc một sức mạnh vô danh tăm tối, nhưng là một tình thương..., có thể nói được rằng: “đó là nhịp đập của ba trái tim thương yêu nhau” hoặc nói theo ngôn ngữ truyền thống hơn, nhưng cùng một thực tại lạ lùng đó, ta nói: Thiên Chúa là ba ngôi vị, nhưng ba ngôi là một Chúa duy nhất.
Thật vậy, bạn hãy mở sách Tin Mừng bất kỳ trang nào, bạn sẽ thấy rằng Đức Giêsu không khi nào đóng vai giáo sư dạy môn tôn giáo hoặc môn triết học. Người đã không hề giảng bài về Chúa Ba Ngôi. Người cũng không bao giờ nói ra từ ngữ đó. Không! Nhưng đơn giản là Người đã sống. Người đã sống như một người Con. Người chỉ mang trong tim, chỉ nói ra nơi cửa miệng cái tên của lòng yêu thương, các tên của Đấng mà, các trẻ nhỏ Do Thái ngày nay vẫn còn dùng để gọi cha của chúng trên các đường phố Giêrusalem.
Chúng ta vừa mới nghe những lời rất đơn sơ của Tin Mừng: Mọi sự thuộc về Cha, do thánh Gioan kể lại (Thánh nữ Têrêsa Hài Đồng Giêsu phiên dịch cách hồn nhiên là: à Papa le Bon Dieu”: thuộc về “Ba” Chúa Trời) những gì thuộc về Cha Thầy, là của Thầy. Rồi Người nói tiếp liền: “Thần Khí sẽ lấy những gì của Thầy mà loan báo cho anh em”.
Như vậy, cách sử sự và những lời của Đức Giêsu đưa ta vào làm quen với “Ba Ngôi” vừa hoàn toàn tách biệt, tuy nhiên, lại vừa hoàn toàn liên kết nên một. Vâng, Đức Giêsu là Đấng luôn “quy hướng về Đấng khác”.
Quả thật, , trong suốt lịch sử của nhân loại đi tìm kiếm từ tôn giáo, Đức Giêsu và chỉ một mình Đức Giêsu là người đủ bạo dạn để dám nghĩ rằng: Thiên Chúa không phải là Đấng cô đơn, xoay tròn chung quanh mình, giam hãm mình trong một thứ ích kỷ thánh thiêng..., nhưng Thiên Chúa là Đấng khởi nguồn và làm nẩy sinh mối liên hệ yêu thương.

 

LỄ MÌNH MÁU CHÚA KITÔ

ĐỨC GIÊSU BẺ BÁNH, PHÂN PHÁT DƯ DẬT
CHO DÂN CHÚNG TRONG HOANG ĐỊA
(Lc 9,11-17)


I. VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI:
1. Một trình thuật được sáng tỏ nhờ nội dung bản văn.
- Luca đã đặt trình thuật hóa bánh ra nhiều vào giữa hai câu hỏi về thân thế của Đức Giêsu:
+ Câu hỏi của vua Hêrôđê, ông không biết nghĩ sao khi nghe những dư luận rất khác nhau về Đức Giêsu. “Có kẻ nói: Đó là ông Gioan Tẩy Giả từ cõi chết sống lại. Kẻ khác nói: Ông Êlia xuất hiện đấy. Kẻ khác nữa lại nói: Đó là một ngôn sứ thời xưa sống lại. Còn vua Hêrôđê thì nói: Vậy thì ông này là ai mà ta nghe đồn những chuyện như thế? Rồi vua tìm cách thấy mặt Đức Giêsu.” (9,7-9).
+ Câu hỏi của chính Đức Giêsu (9,12-20): “Đám đông nói Thầy là ai?... Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai?”. Và Phêrô sẽ đáp lại bằng lời tuyên xưng đức tin: “Thầy là Đấng Kitô của Thiên Chúa” (Tin Mừng Chúa nhật tới).
- Luca cũng đặt trình thuật này vào bước ngoặt của sứ vụ Chúa thi hành ở Galilê, khi sứ vụ sắp kết thúc. F. Prod’hom giải thích: “Tấm thảm kịch tới hồi bi thảm, một bên là nhà cầm quyền sẽ thù nghịch, và đám đông hồ hởi lúc ban đầu, nhưng rồi chán nản vì lòng mong mỏi một Đấng Kitô trần tục không được đáp ứng; một bên là các môn đệ và Đức Giêsu thì cố gắng làm cho họ hiểu bản chất đích thực của sứ vụ cứu thế của Người... Ta không thể đọc trình thuật về việc hóa bánh ra nhiều, mà không nghĩ đến lúc này Đức Giêsu đang bị cơn khủng hoảng: Người tự thấy mình bị một số người lìa bỏ, những người đã không có thể vượt lên trên những mong mỏi trần tục của họ; cũng lúc này Phêrô và các bạn được mời gọi chứng tỏ lòng tin yêu phó thác, quyết tâm đi theo Đức Giêsu.” (“Assemblée du Seigneur”, số 32, trg 60-61).
- Sau cùng, Luca liên kết trình thuật này với việc sai mười hai ông đi truyền giáo lần đầu, các ông được sai đi “công bố Vương Quốc Thiên Chúa” (9,1-2). Các ông trở về và “báo cáo cho Đức Giêsu những việc các ông đã làm”. Rồi Đức Giêsu dẫn các ông vào nơi vắng vẻ. Chính lúc đó thì đám đông đi theo Chúa và biến cố đã xảy ra, khi mà Mười Hai trình bày cho Thầy mình biết nhu cầu của đám đông và thú nhận sự bất lực trước tình thế cấp bách như vậy, thì Đức Giêsu truyền cho các ông phân phát cho mọi người năm chiếc bánh và hai con cá. Công cuộc truyền giáo được kết thúc bằng việc phục vụ đám đông.

2. Một trình thuật, mô tả cảnh thiếu thốn nhường chỗ cho cảnh dư dật.
“Ngày đã bắt đầu tàn”. Các môn đệ hỏi nhau: Chúng ta đang ở “một nơi hoang vắng”. “Lấy gì ăn đây?”. Bởi vì có tới “năm ngàn người” mà lương thực dự trữ chỉ có “năm ổ bánh và hai con cá”. Trong khi các ông nghĩ rằng tốt nhất là giải tán cho họ về nhà, thì Đức Giêsu lại trả lời: “Chính anh em hãy cho họ ăn đi”.
Trước hết, Đức tin truyền cho các ông: “Anh em hãy bảo họ ngả mình xuống. Rồi Người cầm lấy bánh, cá, đọc lời chúc tụng, bẻ ra và trao cho các môn đệ để các ông phân phát cho đám đông. Thức ăn dư dật đến độ còn dư thừa “12 thúng” ”. Mỗi thúng cho một ông trong nhóm mười hai.

3. Một trình thuật viết dưới ánh sáng Phục sinh.
Mọi nhà chú giải Thánh Kinh đều đặt trình thuật việc lập Bí tích Thánh Thể đối chiếu với việc hoá bánh ra nhiều. Nhưng còn có sự đối chiếu song hành nổi bật hơn nữa, đó là đối chiếu với trình thuật về hai lữ khách đi Emmaus.
- Cũng như ở Luca 24,13-35 (“Rồi bắt đầu từ ông Môsê và tất cả các ngôn sứ, Người giải thích cho hai ông những gì liên quan đến Người trong Sách Thánh”). Việc chia sẻ Lời Chúa (“Đức Giêsu nói với họ về Nước Thiên Chúa”) xảy ra trước dấu lạ bánh được chia sẻ và được hóa ra nhiều là chóp đỉnh của trình thuật.
- Cũng như ở Luca 24,29 (“Mời Ngài ở lại với chúng tôi, vì trời đã xế chiều và ngày sắp tàn”) thì cũng vào lúc “ngày bắt đầu tàn” xảy ra việc hoá bánh ra nhiều.
- Cũng như ở Luca 24,40, thì ở Luca 22,14 cũng tả tư thế của những người tham dự là thế nằm (“anh em hãy bảo họ ngả lưng xuống”) theo phong tục của thời đó khi ăn tiệc lớn.
- Cũng như ở Luca 24,30 thì ở Luca 22,14 chúng ta gặp thấy 4 động từ đặc điểm của việc dâng lễ “tạ ơn”: Đức Giêsu cầm lấy 5 ổ bánh... ngước mắt lên trời, dâng lời chúc tụng, bẻ ra và trao cho môn đệ.
“Hành động mà Đức Giêsu đã làm và những lời Người đã nói lúc ấy, để “làm dấu chỉ” cho sứ mệnh của Người là tái lập Nước Thiên Chúa, đã không được hiểu ngay lúc ấy. Nhưng sau cuộc khổ nạn và “biến cố vinh quang”, “trong ánh sáng của Thánh Linh” thì cộng đoàn tiên khởi đã làm sáng tỏ điều Người “thực sự đã làm và đã dạy” (F. Prod’homme. Sđd, trg 61).

4. Một trình thuật dưới dạng dụ ngôn.
Sau hết, ta nhận thấy trình thuật này được trình bày như một dụ ngôn bằng hành động mô tả sứ mệnh của Đức Giêsu và của Hội Thánh Người như thế nào.
- Trước đám đông dân chúng, mải miết đi theo Người vào chốn hoang vắng này, đến nỗi quên rằng giờ đã muộn và lại ở xa với địa điểm có thể tìm được lương thực, thì Đức Giêsu là một vị Ngôn sứ thượng thặng (vượt xa những ngôn sứ trong Cựu Ước, như Êlia, vị ngôn sứ đã nuôi 100 người bằng 20 ổ bánh (2V 4,44), qui tụ và nuôi sống Dân Thiên Chúa.
Trong Người, Nước Thiên Chúa đã khai mở, sự trông ngóng của muôn người được đáp ứng ngoài mong đợi. Của ăn mà Người vừa cung cấp cho họ một cách nhưng không và dư dật tràn trề, chính là ơn cứu độ của Thiên Chúa.
- Đám đông không còn tản mát và bơ vơ, mà đã được qui tụ, được tổ chức “thành từng nhóm năm mươi người” (giống như dân Israel trong sa mạc: Xh 18,21-25; Ds 31,14; Đnl 1,15) làm thành một cộng đoàn cùng nhau dự tiệc, gợi nhớ đến Dân mới và Bữa tiệc cánh chung mà, theo lời Chúa hứa, “kẻ nghèo sẽ được ăn uống no nê”.
- Còn về Nhóm Mười Hai, tác vụ tông đồ các ông thi hành ở đây mang một ý nghĩa biểu trưng. Đức Giêsu cho các ông hợp tác cụ thể với sự nghiệp của Người (“Các anh em hãy cho họ ăn”), chia công tác cho các ông, truyền cho các ông tổ chức dân chúng (“Anh em hãy bảo họ ngả mình từng nhóm năm mươi người...”), và phân phát bánh đã hóa nhiều cách rộng rãi (“Đức Giêsu đọc lời chúc tụng, bẻ ra, trao cho các môn để các ông phân phát cho mọi người”).
Khi nói đến bánh dư thừa thu gom lại được “12 thúng”, thì tuy trình thuật kết thúc ở đây, nhưng vẫn mở ra cho sứ mệnh phổ quát của Hội Thánh qua không gian và thời gian.
Francois Bovon kết luận: “Nhìn theo quan điểm Giáo Hội học, Đức Giêsu mời gọi sự cộng tác của các môn đệ, dù rằng, trước phục sinh, các ông chưa hoàn toàn hiểu được điều đang xảy ra. Việc làm trung gian mà Người trao cho Nhóm Mười Hai báo trước tác vụ và trách nhiệm tương lai của các ông sau phục sinh. Như vậy đã rõ, Đức tin thiết lập tác vụ như một sự phục vụ chứ không phải như một sự thống trị. Căn nguyên của tác vụ này và những thiện ích phát sinh từ đó ra, không hệ tại bản thân thừa tác viên, nhưng hệ tại Thiên Chúa, Đấng tuyển chọn và bổ nhiệm. Công việc của thừa tác viên giống như đời sống của Giáo Hội có phát triển bên ngoài (I,1-16,10a) và bên trong (9,10-17) đó là phải bung ra thế giới ngoại giáo, đồng thời phải xây dựng cộng đoàn thánh thiện.
Dân Thiên Chúa vì thế phải lên đường cả ngày lẫn đêm, nơi thôn quê cũng như thành thị, và sa mạc. Chắc chắn Chúa yêu thương họ, săn sóc và nuôi dưỡng họ bằng cách thế không thể ngờ. Người ban tặng họ ân huệ cao quý và dư dật, nhờ Con của Người và nhờ những môn đệ mà Con Chúa đã tuyển chọn. Ơn huệ dồi dào này không chỉ dành riêng cho nhóm dân khác. Thông hiệp vào tình yêu của Thiên Chúa không phải là hình thức loại trừ, nhưng là sự hội nhập có tính năng động.” (“L'Evangile selon St Luc 1-9”, Labor et Fides, 1991, trg 464).

II. BÀI ĐỌC THÊM:
1. Một cử chỉ làm thay đổi thực tại đời ta (L. Sintas trong “Parole de Dieu pour la méditation”).
Đức Giêsu đang nói với đám đông về Vương quốc Thiên Chúa. Vậy mà khi vừa mới giảng về Nước Thiên Chúa, Đức Giêsu liền truyền cho đám đông ngồi xuống như để đưa ra cho họ một hình ảnh cụ thể. Thế còn cử chỉ Người làm trước mắt họ là cử chỉ nào? Đó là việc hòa bánh ra nhiều. Vua đích thật của Vương quốc chẳng có gì kiêu kỳ cả. Người biết rất rõ đám thính giả của Người đang đói. Đám đông đói lả này tượng trưng cho cả nhân loại. Người ta nói rằng đám đông ấy đông vô kể. Phần các môn đệ, các ông nghĩ là nên giải tán để cho họ đi vào các làng lân cận mà lo kiếm của ăn. Nhưng Đức Giêsu lại nghĩ khác. Người yêu cầu cho họ ngồi xuống. Chính Người sắp lo liệu cho đám dân này mà Người lại làm công việc đó một cách khiêm tốn. Người đã không coi chuyện năm ổ bánh và hai con cá nghèo nàn mà các môn đệ nói cho biết là chuyện nghiêm chỉnh chăng? Chính những ổ bánh và những con cá này mà Người hóa ra nhiều đấy.
Chúng ta cũng được biết trong trí của Đức Giêsu (việc hóa bánh ra nhiều) là dấu lạ loan báo một của ăn khác. Nếu ta vận dụng ý nghĩa của cử chỉ Chúa làm, thì ta có thể cả quyết rằng phép Thánh Thể cũng như phép lạ ta vừa chứng kiến, không phải là một trò ảo thuật. Việc làm của Đức Giêsu dựa trên việc hiến dâng 5 ổ bánh và 2 con cá. Đó chính là vai trò hết sức chủ động dành cho ta trong phép Thánh Thể. Đức Kitô muốn ghép hồng ân Thánh Thể vào chính bánh và cá cũng như cuộc sống của ta. Thánh Phaolô sẽ nói lên điều đó. Chúng ta là thân thể của Đức Kitô. Vì thế, trong khi cử hành bí tích Thánh Thể cũng như mọi bí tích khác, chính chúng ta cũng phải cống hiến 5 ổ bánh và 2 con cái mà ta có. Những thứ đó chẳng là gì sánh với đám đông đang đói lả ngày nay. Tuy nhiên, nếu không có những thứ đó, Bí tích Thánh Thể sẽ chỉ còn là một trò ảo thuật. Đức Giêsu, với quyền năng của Người, Người sẽ biến đổi, sẽ hiến thánh sự nghèo nàn của những việc ta làm và thực tại cuộc sống của ta.
Nước Thiên Chúa sẽ hoàn tất cách tuyệt hảo những gì mà con người có can đảm cống hiến cho người nghèo đang van xin, cho người đau yếu đang rên rỉ, cho tù nhân đang đòi hỏi công lý, cho người cùng khổ đang đau đớn và than khóc. “Điều gì anh em làm cho người bé nhỏ nhất trong các anh em Ta đây, là đã làm cho chính Ta vậy” (Mt 25,40)”.

2. Lễ Mình Máu Chúa Kitô (Fête-Dieu, tạp chí “ Célébrer” do CNPL., số 219, trg 42)
Đức Giêsu tiếp đón đám đông dân chúng. Cụm từ đó đi liền trước và dẫn vào trình thuật về bánh được phân phát trong Tin Mừng Luca. Bí tích Thánh Thể, chính là việc Thiên Chúa tiếp nhận chúng ta vào bàn ăn của Người, và việc Người đón tiếp thì rất cụ thể: trong khung cảnh một bữa ăn để ta có cái ăn.
Thiên Chúa tiếp đón chúng ta ở bàn tiệc sự sống của Người. Bánh và rượu được ban để làm cho sự sống của Chúa hoạt động trong ta “trong sinh hoạt thường ngày”. Lễ Mình Máu Chúa Kitô còn vọng lại âm thanh của mùa phục sinh vừa mới kết thúc, mầu nhiệm Thiên Chúa được tỏ ra trong việc Đức Giêsu chết và sống lại vì chúng ta. Lễ này cũng nhắc lại sự hiệp thông trong Ba Ngôi Thiên Chúa, mà ta vừa mới cử hành Chúa nhật vừa qua trong lễ Chúa Ba Ngôi. Đức Giêsu tiếp nhận ta vào sự sống của chính Thiên Chúa. Khi ăn bánh và uống chén rượu, chúng ta hiệp thông với Thiên Chúa. Đây là giờ phút để ta “cám ơn”, tạ ơn Thiên Chúa.
Trong lễ Mình Máu Chúa (Fête-Dieu)... Thiên Chúa sẽ hoan hỉ khi mọi con cái loài người đều có chỗ ngồi và có của ăn. Và trong “sinh hoạt thường ngày”, ai sẽ được trao nhiệm vụ đón tiếp đám đông để nói cho họ về Nước Thiên Chúa? “Anh em hãy cho họ ăn đi”. Trọng trách được trao cho các môn đệ. Ân huệ kéo theo nhiệm vụ. Nếu ân huệ là cụ thể, thì nhiệm vụ cũng vậy thôi. Chúa không ngừng hướng dẫn Hội Thánh Người đến với những người đang đói.

 

CHÚA NHẬT II THƯỜNG NIÊN

NHỮNG TIỆC CƯỚI Ở CANA
(Ga 2,1-12)


I. VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI:
1. Từ một tiệc cưới làng quê... đến những tiệc cưới của Thiên Chúa với dân Người.
Chúa nhật trước chúng ta đã chú ý đến bài tường thuật của Mátthêu về ba nhà đạo sĩ, một bài rất giàu ý nghĩa biểu tượng. Bài tường thuật của Tin Mừng Gioan về tiệc cưới ở Cana mở đầu cho “Cuốn sách về các Dấu chỉ” cũng giống như vậy. Và như A. Marchadour cảnh giác, chắc chắn rằng qua câu chuyện được kết cấu như thế, “tốt hơn ta nên, từ bỏ ý nghĩ muốn biết đích xác sự việc xảy ra như thế nào. Thánh Gioan là người vốn thích nhìn từ một sự việc cụ thể đích thực để nhận ra ý nghĩa thần học tiềm ẩn, cốt làm cho lịch sử có được nét sáng giá hơn” (“L' Evangile de Jean”, Centurion, 1992, tr. 55).
- Việc giới thiệu các nhân vật và quan hệ hỗ tương của họ là chìa khoá thứ nhất dẫn vào lối đọc ý nghĩa biểu tượng của trình thuật này.
+ Thực vậy, các nhân vật mà người kể chuyện nói đến là “Đức Giêsu”, “thân mẫu Đức Giêsu”, các “môn đệ” Người, rồi ở phần tiếp của đoạn văn có người “quản tiệc”“tân lang”.
+ Theo A. Marchadour nhận xét, tất cả những nhân vật này, “đều được giới thiệu quy chiếu về Đức Giêsu: thân mẫu Người, các môn đệ Người. Các môn đệ sẽ không có vai trò chủ động nào, nhưng lại quan trọng, đồng thời là chứng nhân của cảnh tượng và là những con người được biến đổi: cuối chuyện các ông trở thành những con người có lòng tin” (Sđd.)
+ Còn chính tân nương sẽ không có vấn đề gì hết.
- Một chìa khóa khác đó là sự lặp đi lặp lại từ “tiệc cưới” ở đầu bản văn (c.1.2) rõ ràng là có ý làm nổi bật ý nghĩa biểu tượng của câu chuyện, tiệc cưới chỉ là cái khung để lồng những biểu tượng ấy.
Qua khắp cả Kinh Thánh, từ sách tiên tri Ô-xê cho đến sách Nhã Ca, Thiên Chúa luôn được trình bày như tân lang của dân Người là Israel. Giao Ước giữa Giavê Thiên Chúa và Israel là một giao ước hôn nhân, nghĩa là bền chặt, không thể tiêu huỷ được; giao ước ấy dựa trên nền tảng là tình yêu trọn vẹn và hỗ tương. Chính Tân Ước cũng thường xuyên sử dụng chủ đề này.
Chính chủ đề này được quảng diễn ở đây, trong bài tường thuật của thánh Gioan. Bên kia buổi lễ cưới của những cặp vợ chồng trẻ ở Cana, thánh sử muốn hướng tầm nhìn của ta vào cảnh khai trương một cuộc lễ khác, cho những tiệc cưới khác: Lễ cưới của Thiên Chúa với dân Người trong Đức Giêsu Kitô Con Người, mà các ngôn sứ đã loan báo.

2. Từ nước của Luật cũ... đến rượu nho của Giao Ước mới.
Càng chú ý đọc bài tường thuật này, người ta càng thấy rõ góc độ biểu tượng này.
- Gioan đã đặt biến cố vào “ngày thứ ba”. Có phải coi kiểu xác định thời gian vắn vỏi được nói ở đây, theo J.B. Michaud hiểu, là muốn đưa về mạc khải mà Gioan có ý nói đến ở 1,51 chăng? Nói cho đúng, theo như X. Léon-Dufour, há người ta chẳng đọc thấy ở đây ý hướng của người kể chuyện là muốn cho câu chuyện này có liên hệ với những biến cố vĩ đại của lịch sử thánh cũng xảy ra vào “ngày thứ ba” như: hiến tế Isaac, trong St 22,4, Chúa hiện ra trên núi Sinai trong Xh 19,11 đấy sao? Việc “xác định ngày tháng” này có lẽ muốn loan báo “một khúc quanh quyết định trong lịch sử của Giao Ước” (“Lecture de l'Evangile selon Jean”, cuốn I, tr. 222). Sau cùng, như A. Marchadour gợi ý, phải chăng việc ghi chú “ngày thứ ba” như thế muốn gợi nhớ lại biến cố Phục sinh, ngày thứ ba lúc Chúa Giêsu tỏ bày vinh quang, và lúc ấy các môn đệ đã tin.
- “Họ hết rượu rồi”, lời nói này của “thân mẫu Đức Giêsu” bỗng dưng khiến người ta phải chú ý.
+ Ta đừng quên rằng rượu nho là đồ uống trong ngày lễ, nhất là lễ cưới thường kéo dài nhiều ngày nên phải lo dự trữ sao cho đủ; rượu nho cũng là biểu tượng các tiệc cưới mang tính thiên sai giữa Thiên Chúa với dân Israel mà các ngôn sứ hằng ca ngợi và trông đợi.
+ Sự cố thiếu rượu là điểm khởi đầu câu chuyện. Tác giả không quan tâm đến lý do của sự thiếu rượu cho bằng ý nghĩa biểu tượng của sự kiện đó: nỗi khốn khó và lòng dân Israel trông đợi ân huệ Chúa ban.
+ Chính Đức Maria “thân mẫu Chúa Giêsu” – Gioan luôn dùng từ này để gọi Đức Maria – có sáng kiến báo cho Đức Giêsu biết nhà đám thiếu rượu.
- “Thưa Bà, chuyện đó can gì đến Bà và con”. Câu trả lời là khá bí ẩn.
+ Trước hết Đức Giêsu xưng hô với mẹ Người không phải bằng tiếng “má” (imma), tương đương với tiếng “ba” (abba), mà lại dùng tiếng “Bà”.
Ta đừng coi đây như một lời lẽ thiếu kính trọng nào đó, cũng đừng coi đó là một lúc bực mình bột phát. Kiểu gọi Đức Mẹ như thế ở đầu Tin Mừng Gioan và một lần nữa ở cuối Tin Mừng, khi ở trên Núi Sọ thiết tưởng nên được đặt ở một bình diện tương quan khác với bình diện của đời thường và của gia đình.
+ Rồi phần tiếp theo của câu trả lời càng củng cố điều ta vừa nói ở trên: “Chuyện đó can gì đến bà và con”. Đó là một kiểu nói Do Thái nhằm từ chối một sự can thiệp chưa hợp thời, chưa đúng lúc, đồng thời cho thấy có sự hiểu lầm giữa người nói và người nghe. Các dịch giả và các nhà chú giải Kinh Thánh thì cố gắng lựa lời để làm dịu đi vẻ cứng cỏi của kiểu nói này. Như A. Marchadour gợi ý, cách trả lời của Đức Giêsu, phải chăng là “tạo một khoảng cách: Chúa muốn thúc giục thân mẫu Người đi xa hơn, vượt lên chức năng làm mẹ theo huyết nhục, để sinh ra làm người môn đệ nữa” (Sđd, tr. 56).
- “Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo”, Đức Maria nói ngay với những gia nhân. Hưởng ứng lời kêu gọi của con, Đức Maria đã vượt khoảng cách để trở thành người môn đệ đầu tiên.
Mấy lời trên đây mà bài tường thuật đặt vào môi miệng Đức Maria chứa chất biết bao ký ức xa xăm về Kinh Thánh:
+ Nó gợi nhớ lời vua Pharaô nói với dân Ai Cập đến xin lương thực: “Hãy đến cùng Giuse, người bảo gì, các anh cứ việc làm theo” (St. 41,55). Hình ảnh Đức Maria mờ nhạt đi trước Đấng đang làm ứng nghiệm những lời tiên tri loan báo, một Giuse mới đang cho dân ăn, đưa dân từ thiếu thốn đến sung túc.
+ Nó gợi nhớ lời đáp lại của dân Chúa trước đề nghị của Giao Ước khi tụ họp ở núi Sinai: “Mọi điều Đức Chúa phán bảo, chúng tôi xin làm theo” (Xh. 19,8). Ở đây, ngay lúc khởi đầu Giao Ước mới, thánh sử đặt vào môi miệng Đức Maria lời tuyên xưng đức tin của dân được tuyển chọn. Thánh sử giới thiệu ngài là hình ảnh của Israel mới.
- Bài tường thuật tiếp tục “Ở đó, có đặt sáu chum đá dùng vào việc thanh tẩy theo thói tục người Do Thái”. Thật là kỳ lạ, thay vì những vò đất nung hay những bình da người ta dùng đựng rượu trong tiệc cưới ở Cana, và những bình ấy chắc hẳn đã cạn hết rượu rồi, thì Đức Giêsu lại bảo những người giúp việc đổ đầy nước vào các chum đá vốn không đựng rượu, mà đựng nước dùng vào việc “thanh tẩy theo thói tục người Do Thái”. Và chính từ những cái chum đá đổ đầy nước “tới miệng” này (chừng 700 lít) mà các gia nhân sẽ múc rượu ngon ra, thứ rượu ngon hơn rượu đãi lúc đầu, “người quản tiệc” xác nhận như vậy.
Việc nước hóa thành rượu trong bữa tiệc cưới ở làng quê tượng trưng cho Luật cũ chuyển qua Luật mới. Rượu nho của thời đại cứu thế thay thế cho nước của giao ước đầu tiên.

3. Từ “khởi đầu các dấu lạ”.. đến “Giờ” thực hiện.
- Bài tường thuật về tiệc cưới Cana mở đầu “Sách các dấu lạ” sẽ kết thúc ở 12,50, để từ đó sẽ khởi đầu “Sách về Giờ của Đức Giêsu”.
+ Thánh sử lưu ý: chúng ta đang ở vào thời kỳ “khởi đầu các dấu lạ”. Khi làm “dấu lạ” đầu tiên này, Đức Giêsu bắt đầu tỏ cho các người thân của mình biết thân thế và sứ mệnh của Người. Cana đánh dấu bước thứ nhất trên con đường đức tin của các môn đệ: “Các môn đệ đã tin vào Người”.
Nhiều “dấu lạ” khác sẽ theo sau: hóa bánh ra nhiều (Ga 6), chữa người mù bẩm sinh (Ga 9), cho Ladarô sống lại (Ga 11) sẽ triển khai mạc khải ban đầu kia và góp phần làm nên những chặng đường trong hành trình đức tin của các môn đệ.
+ Nhưng “Giờ Người chưa đến”, Đức Giêsu tuyên bố như thế, Giờ nhiệm mầu ấy sẽ đan xen cả giờ Khổ nạn, giờ được tôn vinh, lẫn giờ tràn đầy ơn ban của Chúa Thánh Thần. Để rồi trong ánh sáng rạng ngời của mầu nhiệm Vượt qua, mọi ý nghĩa đều được sáng tỏ và các môn đệ sẽ trở thành những con người gắn bó hoàn toàn với Đức Giêsu, nhìn nhận Người là Đấng Mêsia, là Con Thiên Chúa.
+ Về phần “thân mẫu Chúa Giêsu”, Người “ở đó” để chứng kiến dấu lạ khai mào Giao Ước mới: “Thưa Bà, chuyện đó can gì đến Bà và con?”, cũng như Người sẽ “ở đó, gần thập giá” (19,25) lúc “Giờ” đóng ấn Giao Ước mới trong máu, sẽ điểm, lúc ấy, Đức Giêsu sẽ nói với thân mẫu Người rằng: “Thưa Bà, đây là con của Bà”. Thân mẫu Đức Giêsu có mặt lúc “khởi đầu” thì Người sẽ có mặt khi “hoàn tất” (cf. 19,30: “Thế là đã hoàn tất”).
- Bài tường thuật này được viết sau biến cố Phục sinh.
A. Marchadour kết luận: “Phép lạ ở Cana, được viết cho các tín hữu đọc, vì họ là những người đã có kinh nghiệm về niềm tin Chúa phục sinh và đã đoạn tuyệt với Do Thái giáo. Kết cấu câu chuyện cho ta thấy rõ điều đó. Mở đầu và kết luận đặt người đọc trong bối cảnh phục sinh... Toàn bộ bài tường thuật mô tả việc chuyển từ Do Thái giáo sang Kitô giáo được thực hiện như thế nào trong Đức Giêsu.
Thân mẫu Đức Giêsu có mặt ở đó có nghĩa là nhờ Người mà lễ hội giao duyên giữa Thiên Chúa và loài người trở thành khả dĩ. Người dẫn đưa Israel mới (mà các gia nhân ở đây là biểu tượng) đến cùng Đức Giêsu. Nhưng khi nói với gia nhân: “Người bảo gì, các anh cứ việc làm theo”, thì chính Người lại đóng vai người phụ nữ, hình ảnh Israel mới phải phục tùng con mình. Rượu vừa nhiều vừa ngon ám chỉ rằng thời đại Đấng cứu thế vui như ngày hội đã bắt đầu và từ nay rượu sẽ không bao giờ thiếu. Một giáo phụ tự hỏi: “Người ta đã uống cạn chăng? Không, vì hiện giờ chúng ta vẫn còn uống.” (Sđd, tr. 58).

 

II. BÀI ĐỌC THÊM

1. “Rượu nho mới” (G. Bessière, trong “Dieu si proche. Năm C”, DDB, trg 83-84).
Đức Giêsu có mặt trong tiệc cưới mừng cho tình yêu của cặp trai gái làng Cana. Người sắp làm phép lạ đầu tiên trong tiệc vui này. Bài tường thuật của thánh Gioan về tiệc cưới ấy dọi một tia sáng vào quá khứ của Israel, vào tương lai của Đấng Chúa sai đến và vào đời sống của Giáo Hội.
Thời Môsê, Êlia, Êlisê, Thiên Chúa đã làm những dấu lạ để củng cố sứ mệnh của các vị ấy thế nào, thì Người cũng sắp chứng thực sứ mệnh của Đức Giêsu như vậy khi cho Người thực hiện những việc lạ lùng: đó chính là những “dấu chỉ”. Trong Kinh Thánh, rượu nho thường là biểu tượng ơn khôn ngoan do Lời Chúa ban cho. Rồi đây Đức Giêsu sẽ là người được ban tặng ơn ấy một cách dồi dào và triệt để.
Đức Giêsu hóa nước thành rượu trong sáu chum đá dùng cho nghi thức thanh tẩy mà người Do Thái vốn tuân giữ rất cặn kẽ; chi tiết này ám chỉ rằng Đức Giêsu sắp mang đến một sự canh tân cho Do Thái giáo. Lúc ấy, ở đó có sáu cái chum: số sáu được coi như con số không hoàn toàn muốn chỉ tỏ rằng quá khứ phải nhường chỗ cho một tương lai mới.
Sách các Ngôn sứ thường ví dân được tuyển chọn như một hôn thê bất trung, bội tín. Nên với sự hiện diện của Đức Giêsu, bây giờ là lúc những tiệc cưới giữa Thiên Chúa và nhân loại đã dứt khoát bắt đầu. Đây là những tiệc cưới mà “Giờ” chưa đến: tiệc của rượu nho trong bữa Tiệc ly và của máu trên thập giá, tiệc Thánh Thể, trung tâm đời sống của Giáo Hội vẫn tiếp tục ca tụng thứ rượu nho của những tiệc cưới đời đời.
Đức Giêsu chính là rượu nho được Thiên Chúa ban một cách hào phóng và là giao ước luôn luôn mới.

2. “Vương quốc mới được khai trương” (F. Deleclos, trong “Prends et mange la Parole”. Centurion–Duculot, trg 217).
Ta phải vượt lên Cana và buổi lễ ở làng quê hôm đó để có thể nắm bắt được những luồng tư tưởng lớn của các ngôn sứ vẫn xuyên suốt Lịch sử Thánh. Phải tìm lại những dấu chỉ của Giao Ước và tất nhiên là những tiệc cưới giữa Thiên Chúa với dân Người.
Việc Đức Giêsu khởi sự làm những dấu lạ, rõ ràng loan báo vương quốc mới, triều đại của Đấng Mêsia. Ngày ấy được ngôn sứ Isaia mô tả là ngày mà “Đức Chúa toàn năng sẽ khoản đãi một bữa tiệc thịnh soạn đầy thịt cùng các món hảo hạng với rượu ngon nổi tiếng... Ngày ấy người ta sẽ nói: Đây là Thiên Chúa chúng ta! Chính Người là Đức Chúa chúng ta từng trông đợi” (Is. 25,9).
Vương quốc mới được khai trương. Đấng cứu độ được loan báo và được hứa cuối cùng thì cũng đã có mặt đây rồi. Đã hết rồi những lề luật khắc khe, những nghi thức thanh tẩy được tượng trưng bằng sáu cái chum, một con số nói lên sự bất toàn. Từ nay những cái đó không còn giá trị nữa. Phải nhường chỗ cho một giao ước tình yêu; với giao ước đó, Thiên Chúa trở nên rất gần gũi, gần gũi đến độ trở nên một người ở giữa chúng ta. Phải nhường chỗ cho những niềm vui của tiệc cưới và cho thứ rượu nho mới của Thần Khí Thiên Chúa, Đấng đến làm đảo lộn những tập quán, phá bỏ những truyền thống và không quan tâm đến những thói vụ luật.

 

CHÚA NHẬT III THƯỜNG NIÊN

HÔM NAY ĐÃ ỨNG NGHIỆM LỜI KINH THÁNH QUÝ VỊ VỪA NGHE
(Lc. 1,1-4 và 4,14-21)


I. VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI.
          1. Trang minh họa dự tính của Luca :…
           Vì là người ngoại đến với đức tin kitô giáo, Luca đã không được biết Đức Giêsu nhiều. Bởi vậy, trước khi viết về Đức Giêsu, Luca đã muốn “cẩn thận tra cứu đầu đuôi mọi sự” và cố gắng căn cứ vào những nguồn tài liệu có giá trị, để cho tác phẩm của mình hữu ích và có nét độc đáo đối với phần đông độc giả là những người cũng từ ngoại giáo trở lại như ngài, mà điển hình là “ngài Thêôphilê đáng kính”.
          Nếu Luca có ý “tuần tự viết ra câu chuyện” thì không phải là viết theo cách thức những nhà nghiên cứu lịch sử ngày nay vốn quan niệm, mà chỉ là để phục vụ và hỗ trợ cho một suy tư thần học mà thôi, như ngài sẽ nói lên điều đó trong tác phẩm thứ hai của mình. Dự tính của Luca là chỉ muốn kể lại “việc Thiên Chúa mở cửa cho các dân ngoại đón nhận đức tin như thế nào” (Cv. 14,27). Vì thế tác phẩm của Luca gồm hai cuốn sách trình bày chương trình cứu độ về mặt lịch sử và cũng cả về mặt địa lý nữa.
          - Chương trình cứu độ xét về mặt lịch sử :
          + Sau thời kỳ LỜI HỨA
          + thì đến thời kỳ THỰC HIỆN
với thời Chúa Giêsu, Thần Khí xưa đã tác động các ngôn sứ, thì nay càng tỏ hiện tràn đầy trong ngôn ngữ và hành động của Đức Giêsu.
với thời của Giáo hội, thời của Thần Khí được thông ban tràn đầy qua Đức Kitô phục sinh.
          - Chương trình cứu độ về mặt địa lý được diễn ra chung quanh Giêrusalem.
 + Giêrusalem , nơi mọi sự bắt đầu với lời Sứ thần báo tin cho ông Dacaria ở trong Đền thờ, sẽ là thành đô cho Đức Giêsu lên đó để sống trang sử “Xuất Hành” của Người và cũng là nơi, như cuối phúc âm Luca có ghi, để các Tông đồ ngày ngày sẽ lên Đền thờ mà chúc tụng Đức Giêsu như là Đức Chúa phục sinh (Phúc âm theo thánh Luca). Sách Tin mừng của Luca mở đầu từ trong Đền thờ thì cũng kết thúc ở đây.
 + Giêrusalem, nơi mọi sự bắt đầu với biến cố Thăng thiên, cũng sẽ là thành đô để từ đó các người phục vụ Lời Chúa sẽ bung ra trên mọi nẻo đường nhân loại để mang Tin Mừng “cho đến tận cùng trái đất” (Sách Công vụ Tông đồ).

2. … buổi hội họp ở hội đường…
          “Được đầy Thánh Thần” khi chịu phép rửa ở sông Giođan, và được Thánh Thần dẫn vào hoang địa để đối đầu quyết liệt với ma quỷ và Người đã chiến thắng, giờ đây Đức Giêsu đã trở về Galilê và đến Nadarét là “nơi Người sinh trưởng”. Như một người Do thái đạo đức, Người vào hội đường “như Người vẫn quen làm trong ngày sabát”.
          Khác với Mát-thêu và Mác-cô đặt biến cố này – thiết tưởng có vẻ đúng hơn – vào cuối thời kỳ thi hành sứ vụ ở Galilê, còn Luca thì đã đặt vào đầu thời kỳ, để phục vụ tốt hơn cho dự tính của mình và đã kết cấu bài tường thuật của mình như một “biến cố điển hình” khai mở và tóm tắt trước những gì sắp xảy ra, tức là việc Đức Giêsu bị dân Người chối bỏ và công cuộc loan báo Tin Mừng cho các dân ngoại.
          - Hôm đó là “ngày Sabát”, là ngày để nghe đọc Sách Thánh, ngày kỷ niệm cuộc giải phóng khỏi ách nô lệ Ai-cập, ngày mà người có lòng tin trong khi chúc tụng Thiên Chúa giải thoát dân Người thì cũng phải nghĩ đến việc giải thoát chính mình và người khác khỏi ách nô lệ.
          - Chúng ta đang “ở trong hội đường” và Luca đưa ra cho chúng ta một bức tranh quý giá về phụng vụ diễn ra vào mỗi ngày thứ bảy. Nếu như Luca bỏ qua phần nghi thức mở đầu (lời khái quát, kinh cầu nguyện, lời chúc lành), cũng như không gợi lại bài đọc thứ nhất, thì ngài lại mô tả cách rất tỉ mỉ và gần như khoan thai, mọi cử chỉ và nghi thức mà Chúa Giêsu đã làm.

            3. ... lúc ấy Chúa Giêsu loan báo “Tin Mừng” …
          Theo tập tục để lại từ bao đời (cf. Công vụ Tông đồ 13,15 và tiếp theo : Phao-lô và Banaba viếng thăm hội đường ở An-ti-ô-khi-a miền Pixidia), Đức Giêsu được cộng đồng tôn giáo Do thái tiếp đón, mời đứng lên đọc một đoạn sách thánh; sau đó Người ngồi xuống để giải thích đoạn sách Tiên tri vừa đọc.
          Đoạn sách của buổi phụng vụ hôm đó đúng là Isaia 61,1-2 :”Thần Khí Chúa ngự trên tôi v.v.” Đây là một trong những lời sấm lớn vốn nuôi dưỡng niềm hy vọng của dân tộc Do thái. Truyền thống của họ coi đây là lời loan báo về Đấng Thiên sai đến; Người đầy tràn Thần Khí, Người đem đến “Tin mừng”, là loan báo về thời đại mới bắt đầu khai mở, dân tộc Israel được giải phóng và khởi đầu triều đại của Thiên Chúa.

          4. … về “hôm nay” ứng nghiệm lời Kinh thánh.
          Bây giờ là lúc Chúa GIêsu đã cuộn sách lại và trả cho người giúp việc hội đường Người ngồi xuống và bắt đầu giải thích những lời vừa đọc. Một bài giải thích mà Luca đã tóm tắt lại bằng một câu tuyệt vời :”Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh thánh quý vị vừa nghe”. R. Meynet chú giải: Kinh thánh tuy là những lời nằm chết trong sách, lại có được sức sống nhờ được đọc lên lúc này. Được nói lại từ một cửa miệng, Kinh thánh lại trở thành lời mang ân sủng cho những ai nghe …Phép lạ của việc đọc sách thánh là làm cho những lời xưa của vị tiên tri đã chết rồi, trở thành lời sống động của Đấng được sai đến hôm nay” (“Phúc âm theo thánh Luca. Phân tích tu từ”, Cerf, tr. 62).
          Cùng với Đức Giêsu và trong Đức Giêsu, tất cả những lời tiên tri loan báo đều ứng nghiệm : Người là đấng Mêsia được sai đến (Is. 61) tràn đầy Thần Khí của Đức Chúa; bản thân và sứ điệp của Người là “Tin Mừng được loan báo cho kẻ nghèo hèn”. Cùng với Người và trong Người, thời đại mới của ân sủng, thời đại “công bố một năm hồng ân của Chúa” được khai trương. Cùng với Người và trong Người, Thiên Chúa ra tay hành động để giải thoát mọi người, “người bị giam cầm, người mù, người bị áp bức”, tất cả đều được Người ban ơn cứu độ và tha thứ. Cùng với Người và trong Người, “hôm nay” của hồng ân Chúa ùa tràn vào dòng lịch sử của loài người.
          Trong hội đường Nadarét, Đức Giêsu khởi đầu sứ mệnh của Người “với quyền năng Thánh Thần” của phép rửa Người chịu. Sứ mệnh đó, Người sẽ theo đuổi xuyên suốt dòng lịch sử trong Giáo hội của Người, “với quyền năng Thánh Thần” của ngày Hiện Xuống.
          Chúa nhật tuần tới, chúng ta sẽ chăm chú đọc nốt phần cuối của đoạn phúc âm này.

II. BÀI ĐỌC THÊM.
1. Một bản toát lược về sứ mệnh của Đức Giêsu. ( H. Vulliez, trong “Dieu si proche. Năm C”, DDB, trg 86)
          “Hành động mở màn cho sứ vụ của Đức Giêsu đã diễn ra ở Nadarét… Trong hội đường, vào ngày sabát. Vì là một người ngoại giáo trở lại, nên Thánh sử Luca chủ tâm nêu bật hai điều này : sứ điệp trước tiên đã được gởi đến cho người Do thái, sau đó nhờ một khúc quanh lịch sử nhiệm mầu, sứ điệp ấy sẽ được loan báo cho dân ngoại. Câu chuyện này giống như một việc làm trước thời hạn, diễn tả những gì sẽ sảy ra. Đúng là một bản toát lược về sứ mệnh của Đức Giêsu . Câu chuyện vay mượn quá khứ tôn giáo của dân tộc Do thái và sách tiên tri Isaia thứ ba được viết từ năm thế kỷ trước, như để nhấn mạnh rằng cội nguồn không bị đứt đoạn và truyền thống cũng chẳng bị mai một, có nghĩa là cội nguồn và truyền thống vẫn được tiếp nối và duy trì.
          Ba từ ngữ mang âm thanh vang dội và làm đảo lộn trật tự sẵn có là : kẻ nghèo, giải phóng, năm hồng ân. Người ta ngờ vực, cũng là điều dễ hiểu thôi. Các đồng bào và đồng hương Nadarét của Đức Giêsu sẽ chống đối quyết liệt. Làm sao mà chấp nhận được một đấng Mêsia cổ vũ việc giải phóng người nghèo và tuyên bố: “Năm hồng ân là chính hôm nay”.
 Nếu “theo sách Isaia thứ ba”, Tin Mừng là lời loan báo cho những người lưu đầy được hồi cư, thì với Đức Giêsu, Tin Mừng lại chính là lời loan báo cho những người nghèo biết rằng họ là “những người được Thiên Chúa yêu thương đặc biệt”, rằng họ được giải phóng. Với Đức Giêsu, hôm nay chấm dứt mọi kiếp nô lệ lầm than. Tóm lại, nhờ Thần Khí và Tình yêu, hôm nay là cuộc giải phóng toàn diện, giải phóng mọi hình thức bất công và tội lỗi.
          Sau cùng, loan báo Tin Mừng còn là loan báo “năm hồng ân”. Năm nay phải là năm đại xá, năm nợ nần sẽ được tha hết, nô lệ sẽ được giải phóng, là năm mà con người nhờ tuân theo luật Chúa sẽ lập lại được một trật tự trần gian ngày càng nên giống Nước Trời hơn”.

2. “Mầu nhiệm của Lời Chúa”. ( J. Thunus, “Dans vos assemblées”, tập 2, DDB, trg 395)
          “Hôm nay, bạn có nghe tiếng Người chăng?” Câu nói trong thánh vịnh 94 này đã là khởi điểm để bức thư gởi tín hữu Do thái triển khai rộng rãi về tính hôm nay của Lời Chúa (Dt. 3,7 – 4,11). Bài giảng của Đức Giêsu ở hội đường Nadarét càng làm cho tính cách “hôm nay” này mang ý nghĩa đặc biệt.
          “Đức Giêsu cuốn sách lại, trả cho người giúp việc hội đường, rồi ngồi xuống. Mọi người trong hội đường đều chăm chú nhìn Người. Rồi Người bắt đầu nói với họ: Hôm nay ứng nghiệm lời Kinh thánh quý vị vừa nghe” (Lc. 4,20-21).
          Mầu nhiệm sâu xa rõ ràng là nằm trong lời nói đó. Lời Chúa đã được ghi chép lại ở một thời điểm của lịch sử là Lời nói cho mọi thời và là lời hằng sống và thực tế cho người biết lắng nghe trong tâm tình thờ phượng. Sự sống của Lời Chúa là sự sống của Thần Khí, đấng sẽ “dẫn tới sự thật toàn vẹn” (Ga. 16,13)

3. “Loan báo Tin Mừng : một trách vụ của mọi tín hữu”. (M. Degraeve, trong “Unité des chrétiens”, tháng Mười 1994, số 96, trg 23 và 24)
          “Hiệp thông huynh đệ, sống trong cùng một mái nhà là một thực tại phải xây dựng không ngừng. Sự hiệp thông phải được thể hiện dần dần. Thực sự, sự hiệp thông đã có đó rồi. Rất nhiều khi chúng ta chỉ thấy được những mối chia rẽ giữa các tín hữu, giữa các Giáo hội cùng tin Đức Kitô, nhưng cũng thấy ngay trong nội bộ của mỗi Giáo hội, cả trong nội bộ của các cộng đoàn của chúng ta nữa. Nhìn kỹ vào những mối bất hòa kia, ta có thể nghiệm thấy rằng nếu biết dùng những phương tiện của sự hiệp thông, chúng ta sẽ xây dựng được cuộc sống huynh đệ. Để được như vậy, chúng ta phải biết nhìn nhận nhau là những con người khác nhau, nhưng đã được quy tụ lại bởi cùng một Lời và cùng tự nhủ là phải ráo riết thể hiện Nước Chúa bằng việc rao giảng Tin Mừng.
          Ý muốn chối bỏ những khác biệt thường dẫn tới sự từ chối người khác. Dẫu sao, giữa các cộng đoàn và các Giáo hội của ta cũng như giữa các Giáo hội cùng tin Đức Kitô, tính khác biệt là một quy luật chung, không ai chối cãi được. Phải tôn trọng tập thể khác đã đành, mà bản thân mỗi người cũng phải biết tôn trọng nhau nữa. Như thế, chúng ta mới có thể chia sẻ những đau khổ của nhau, giống như những phần mình của một thân thể cùng chung phần đau đớn với phần khác trong thân thể vậy : đó chính là giáo huấn cơ bản của thánh Phaolô. Nhận biết điều này và tôn trọng nhau như vậy không còn gì phù hợp với lẽ phải hơn, bởi lẽ chỉ một Thánh Thần sống trong ta và một Đức Kitô là đầu mới có thể cho phép ta thực hiện được điều này mà thôi. Chính Đức Kitô, Lời nhập thể là sự thiện chung mà mọi người cùng hưởng. Lời Chúa quy tụ chúng ta lại, cách riêng vào mỗi ngày Chúa nhật, ngày mà chúng ta cùng nhau chúc tụng tôn vinh Đức Kitô phục sinh, nên các Giáo hội kitô của chúng ta, dù khác biệt nhau thế nào, thì Lời này vẫn phải được chia sẻ, hiểu biết, để Lời mang lại hoa trái và hoa trái tồn tại.
          Nếu chúng ta thực sự ý thức một cách đầy đủ tầm quan trọng của Lời này, thì ta sẽ càng có khả năng hơn để thực hiện được việc rao giảng Tin Mừng cho những người nghèo khổ, việc giải thoát cho những kẻ bị giam cầm, bị áp bức và đem ánh sáng đến cho kẻ mù lòa. Đây là trách vụ chung mọi người cùng phải gánh vác, dù các Giáo hội và cộng đoàn của ta có là gì chăng nữa. Nếu chúng ta muốn sống tình bác ái huynh đệ giữa các kitô hữu với nhau, ta phải bắt tay xây dựng một thế giới chan hòa tình huynh đệ.

 

CHÚA NHẬT IV THƯỜNG NIÊN

ĐỨC GIÊSU, LỜI BAN ÂN SỦNG CHO MỌI NGƯỜI
(Lc. 4,21-30)


I. VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI.
          1. Một sứ mệnh không biên giới :
          Chúa nhật trước, chúng ta đã bắt đầu đọc trình thuật của thánh Luca vê việc Đức Giêsu đến thăm hội đường ở Nadarét. Trình thuật đó đã được thánh Luca đặt vào lúc Đức Giêsu bắt đầu thi hành sứ vụ và được trình bày như một cảnh khái quát chương trình, một biến cố-điển hình có dụng ý khai mở và tóm tắt những gì sắp xảy ra.
          Sau khi đứng lên đọc đoạn sách Isaia 61 :”Thần Khí Chúa ngự trên tôi…”, theo tập tục, Đức Giêsu ngồi xuống, giảng một bài và tuyên bố không úp mở rằng :”Hôm nay ứng nghiệm lời Kinh thánh quý vị vừa nghe”.
          Đầu tiên những người có mặt trong hội đường hôm ấy đều “tán thành và thán phục những lời ban ân sủng (= những lời hay ý đẹp) thốt ra từ miệng Người”. Họ bảo nhau: ”Ông này không phải là con ông Giuse đó sao ?”. (Đức Giêsu mà thánh sử đã ghi trong gia phả của Người, được coi là con của Giuse : 3,23).
          Đức Giêsu nắm lấy ngay vai trò chủ động của mình bằng hai giai đoạn.
          - Trước tiên, bằng cách tố giác hy vọng úp mở của những người đồng hương khi họ muốn Chúa làm cho họ, tại quê hương Người, những việc lạ lùng mà Người đã làm ở những nơi khác và muốn Người thi hành lời ban ân sủng để mưu ích cho họ. Dựa vào một câu tục ngữ, Người nói với họ :”Hẳn là các ông muốn nói với tôi câu tục ngữ : Thầy lang ơi, hãy chữa lấy mình. Tất cả những gì chúng tôi nghe nói ông đã làm tại Ca-phác-na-um, ông cũng hãy làm tại đây, tại quê ông xem nào!
Lẽ nào ta lại không có thể coi đây như điều báo trước về lời nhục mạ mà người ta sẽ nhắm vào Đức Giêsu khi Người hấp hối trên thập giá :”Hãy tự cứu mình đi, nếu ông là Đấng Kitô”(Lc. 23,35.7.39) ?
          - Rồi, bằng cách loan báo sứ mệnh của mình có tính phổ quát, Đức Giêsu đưa các thính giả của mình trở về với hai khuôn mặt lớn của Cựu ước là ngôn sứ Êlia và Êlisa; đây là hai vị ngôn sứ có những hoạt động vượt ranh giới về mặt lãnh thổ cũng như tôn giáo. Vị thứ nhất đã hóa bánh và dầu ăn ra nhiều giúp nuôi sống một góa phụ ở Sarepta là miền đất thuộc dân ngoại (1. CV. 17,7-27). Vị thứ hai là ngôn sứ Êlisa, môn đệ của Êlia đã chữa khỏi bệnh cùi cho một viên tướng người Syria đích thân tới gặp vị tiên tri ngay trên đất Israel (2 CV. 5,1-27). Góa phụ Sarépta và Naaman người Syria được coi như những người cầm đầu đoàn lũ đông đảo những dân ngoại mà công cuộc giải phóng họ đã được loan báo trong sách Isaia 61, thì “hôm nay” được ứng nghiệm nơi Người là Đức Giêsu.
          “Gương Êlia và Êlisa ban ơn huệ của Thiên Chúa cho dân ngoại, như J. Dupont nhận xét, cho người ta thấy trước rằng một khi Chúa Giêsu đã bị dân Israel cũng như các đồng hương của mình chối bỏ thì sứ điệp cứu độ sẽ chuyển sang cho các dân ngoại. Vì thế biến cố ở Nadarét là điềm báo trước những gì người ta thấy xảy ra đối với Phaolô ở Antiôkhia miền Pixiđia và ở Rôma khi ngài quay về phía các dân ngoại. Cách xử sự như vậy của Phaolô lúc này đã được hai vị ngôn sứ Êlia và Êlisa thực hiện trong thời buổi của các ngài như để tiên báo và biện minh cho hành động của Phaolô vậy”.

          2. Một sự chối bỏ báo trước sự chối bỏ khác :
          Lời loan báo Israel không còn được hưởng đặc ân và Thiên Chúa tiếp đón các dân ngoại đã khiến cho cử tọa của hội đường đầy phẫn nộ. Y hệt như thái độ của những người Do thái ở Antiôkhia Pixiđia lúc đầu còn thiện cảm, tử tế rồi không bao lâu sau chuyển thành giận dữ khi họ thấy dân ngoại “nghe Lời Thiên Chúa “ (Cv. 13,44-45).
          Thì này đây, những người đồng hương của Đức Giêsu đang đứng dậy lôi Người “ra khỏi thành” “để xô Người xuống vực”. Giống như những thù địch của Chúa rồi đây sẽ lôi Người “ra khỏi thành” Giêrusalem để đóng đinh Người. Chẳng khác gì những người Do thái sẽ lôi Stêphanô “ra khỏi thành” để ném đá ông vậy (Cv. 7,54).
          Nhưng giờ của Người chưa tới, nên “Người băng qua giữa họ mà đi”; Đức Giêsu còn phải tiếp tục con đường sẽ dẫn Người tới thành đô Giêrusalem, nơi sẽ diễn ra cuộc khổ nạn của Người, và là nơi Người sẽ sống lại và tỏ mình ra cho các môn đệ vào sáng ngày Lễ Vượt Qua.

II. BÀI ĐỌC THÊM.
1. “Một bài tường thuật để loan báo tương lai” ( H. Vulliez trong :Dieu si proche. Năm C”, DDB, trg 90)
          “Luca đã viết câu chuyện này để báo trước tương lai hơn là để tường thuật lại những gì sảy ra ở Nadarét. Biến cố xảy ra trong hội đường hôm ấy là một giai đoạn mào đầu bi thảm báo trước những gì sẽ xảy ra cho sứ mệnh của Đức Giêsu khi ở giữa loài người. Một sứ mệnh sẽ vươn tới mọi dân tộc. Một sứ mệnh sẽ dẫn Người tới cái chết : Người sẽ bị người nhà của mình lên án tử, nhưng phàm những ai thuộc mọi dân tộc, thuộc mọi mầu da nước tóc, đón nhận Người thì Người sẽ cho họ được làm con Thiên Chúa”.

2. “Con người luôn có khuynh hướng muốn giam hãm Thiên Chúa” (Deleclos, trong “Prends et mange la Parole”, Centurion-Duculot, trg 220)
Những con người ấy nhận mình là những kẻ tin Chúa chân thành, có lòng đạo đức và thực hành đạo, thế mà sau khi đã ca ngợi Đức Giêsu ở trong hội đường, chính họ lại “đầy phẫn nộ, đứng dậy, lôi Người ra khỏi thành… kéo Người lên tận đỉnh núi, để xô Người xuống vực”. Vậy có ai dám nhận mình giống những người ấy không?
Dù là ai chăng nữa, chúng ta thảy đều có khuynh hướng muốn giam hãm Chúa và Đấng Kitô của Người trong một phạm vi nhất định của Giáo hội ta, trong lời lẽ của những giáo điều, những truyền thống, những thực hành và ngay cả trong những cách sùng mộ của chúng ta nữa. Chúng ta lúc nào cũng sẵn sàng nắm độc quyền về các ân sủng, phép lạ, ánh sáng của Chúa và ngay cả đức ái mà Người là nguồn mạch nữa. Vậy mà Phúc âm hôm nay khẳng định mạnh mẽ với ta rằng những người thân của Đức Giêsu thường sẵn sàng tống cổ Người ra khỏi nhà thờ, nghề nghiệp, quyết định và gia đinh của họ, mỗi khi sứ điệp của Chúa không làm vừa lòng họ, mỗi khi cuộc viếng thăm của Người gây phiền hà cho họ. Còn chính Chúa Giêsu thì lại nhắc nhở ta rằng Thiên Chúa đã thực hiện được những sự lạ lùng nơi các dân ngoại, đã cho những người cùi, những người thù địch của Israel, dân Chúa, được lành sạch. Đối với Thiên Chúa tình yêu, chỉ có tình yêu là tiêu chuẩn cuối cùng làm nên giá trị và sự thật cho tư tưởng và hành động của ta.

3. “ Một sự hiểu lầm đáng sợ” (G. Boucher, trong “Le ciel sur terre”)
Tại sao người con của quê hương lại không thực hiện đuợc ở quê quán mình những việc lạ lùng mà người ấy đã làm ở những nơi khác ?…
Và rồi có thể đến lượt chúng ta cũng sẵn sàng trở mặt từ khen ngợi đến phẫn nộ đấy. Bởi lẽ, về phần Đức Giêsu thì Người nói rõ rằng điều cốt yếu mà Người muốn trình bày cho họ không phải chỉ có vấn đề các việc lạ lùng, mà Người muốn mạc khải cho họ tình yêu và lòng trung thành của Thiên Chúa . Cái đó mới là điều hạnh phúc và may mắn thực cho chúng ta.
Lẽ ra Đức Giêsu phải cung cấp cho những người đồng hương của mình tiền bạc hoặc chữa cho họ khỏi những bệnh này tật nọ mới đúng. Xem ra người ta ao ước một điều, thì Chúa lại đưa ra điều ngược lại. Bởi lẽ ai nấy đều thích được lãnh nhận … trong khi Đức Giêsu lại đòi hỏi phải cho đi, cho đi bản thân mình, cho đi mạng sống mình. Và kết cục sẽ là thành công và hạnh phúc.
Đức Giêsu có hy vọng những người đồng hương của mình sẽ hiểu biết và thông cảm hơn với Người không? Bởi vì họ là những người nhà của Người mà! Họ biết Người hơn, từng sát cạnh liền kề với Người, quý chuộng Người và yêu mến Người mà!
Vậy mà chỉ mới ngay trong buổi nói chuyện đầu tiên, họ đều nổi xung lên với Người. Cả đám đều đứng dậy xô đẩy Người ra ngoài, loại bỏ và trục xuất Người khỏi cộng đồng của họ. Là vì Đức Giêsu không đáp ứng điều họ mong đợi. Họ nghĩ là Người lừa gạt quần chúng!
Chừng nào sứ điệp của Người còn là lời kêu gọi hoán cải cuộc đời… và chừng nào người ta chỉ thích sống dễ dãi, thì việc chối bỏ Đấng Thiên Chúa sai đến đã khởi sự rồi…
        Họ muốn cho Người phải chết, nên họ tìm cách loại bỏ người con của quê hương này ra khỏi nhà họ bằng cách xô Người xuống vực thẳm.
Nhưng Đức Giêsu “băng qua giữa họ mà đi”. Người là kẻ tự do, hết sức tự do. Người cứ thảnh thơi đi con đường của mình lòng đầy tự tin và tin vào sự trung tín của Thiên Chúa Cha Người. Con đường Người đi đã được vạch sẵn. Không có gì sẽ làm cho Người phải lui bước!

 

CHÚA NHẬT V THƯỜNG NIÊN

BÊN BỜ HỒ GHEN-NÊ-XA-RÉT, NGƯ PHỦ SIMON
ĐƯỢC CHÚA KÊU GỌI TRỞ THÀNH PHÊRÔ,
KẺ BẮT NGƯỜI NHƯ BẮT CÁ
(Lc. 5,1-11)


 I. VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI.
        1. Một chiếc thuyền đánh cá
        Một lần nữa, chúng ta lại sắp được thấy Luca vẽ nên bức tranh này một cách rất tài tình. Khi đặt việc Đức Giêsu kêu gọi những môn đệ đầu tiên trong bối cảnh một mẻ lưới lạ lùng, mà ta sẽ gặp lại ở Phúc Âm Gioan 21,1-11, Luca có ý lấy Simon-Phêrô làm một nguyên mẫu, và dùng chiếc thuyền làm biểu tượng Giáo hội truyền giáo.
        - Theo phúc âm Máccô và Mátthêu, hành động đầu tiên của Đức Giêsu khi thi hành sứ vụ là kêu gọi các môn đệ. Còn trong phúc âm Luca, đầu tiên Đức Giêsu lại được giới thiệu xuất hiện một mình đứng trước đám đông, rồi chỉ sau đó Người mới kêu gọi các môn đệ.
        + Trước tiên là “Simon”, chủ chiếc thuyền mà lát nữa Đức Giêsu sẽ ngồi vào vị trí của ông. Chỉ trong có ít dòng mà tên ông được nói tới năm lần, trong đó có một lần và là lần đầu tiên ông được gọi là Simon-Phêrô. Lúc này ông là tâm điểm của bài tường thuật, mà cũng sẽ là tâm điểm trong phúc âm của Luca nữa.
        + Rồi đến “hai con ông Zêbêđê là Giacôbê và Gioan, bạn chài với ông Simon”
        + Cả ba ông, được kêu gọi trước tiên, sẽ là những chứng nhân đặc tuyển được chứng kiến việc hồi sinh cho con gái ông Giairô, việc Chúa biến hình sáng láng trên núi Taborê (Lc.9,28).
        - Khung cảnh là “ven bờ Biển hồ Ghennêxarét” : Đức Giêsu giảng dạy bên bờ hồ, bao quanh Người là đông đảo dân chúng chen lấn nhau “để nghe lời Thiên Chúa ”. Có hai chiếc thuyền đậu gần đó. Còn “những người đánh cá thì đã ra khỏi thuyền và đang giặt lưới”, sau khi đã đi đánh cá trở về.
        R. Meynet nhận xét: “Đức Giêsu giảng dạy bên bờ hồ, bao quanh Người là đông đảo dân chúng chen lấn nhau. Trong khi đó, những người dân chài đang lo toan công việc thường ngày của họ : họ đang giặt lưới. Đám đông có đó, nhưng họ lại không tham dự cùng với đám đông. Đám đông đang lắng nghe lời Chúa, còn họ đang lao động” (“L’Évangile selon saint Luc. Phân tích tu từ”, tập 2, trg 70).

          2…. Trở thành tòa giảng …
        Bỗng dưng mọi sự bắt đầu đảo lộn. Đức Giêsu xuống một chiếc thuyền, “thuyền đó của ông Simon và Người xin ông chèo thuyền ra xa bờ một chút”.
        Thế là từ đây hai người, Đức Giêsu và ông Simon, là những kẻ “đồng hội đồng thuyền” dấn thân vào cùng một cuộc phiêu lưu : Simon, người dân chài của Biển hồ sát cánh liền kề với Đức Giêsu, người đang “ngồi” trong tư thế của một vị tôn sư dạy dỗ các môn sinh của mình , để ngỏ lời với đám đông. “Con thuyền của Phêrô đã trở thành tòa để giảng dạy” (Sđd).

3. ... và cũng là biểu tượng Giáo hội truyền giáo.
        - “ Hãy chèo ra chỗ nước sâu, mà thả lưới bắt cá”, giờ đây Đức Giêsu lệnh cho ông Phêrô như vậy. “Bắt cá”, chuyện đó các ông đã vất vả “suốt cả đêm rồi mà không bắt được gì cả” dù rằng đêm tối vẫn là thời điểm thích hợp nhất cho việc đánh cá. Vậy mà, đang lúc các bạn chài người Nadarét của ông từ chối đề nghị kia của Đức Giêsu, thì Simon lại đầu hàng trước lệnh của người dân quê miền đồi núi ấy vốn chẳng biết gì về chuyện chài lưới cả, ông đáp: “Thưa Thầy, dựa vào lời Thầy, tôi sẽ thả lưới”.
        - Lời của Đức Giêsu tỏ ra rất hữu hiệu, vì mẻ lưới bắt được rất nhiều cá, đến nỗi lưới hầu như bị rách; họ phải “làm hiệu cho các bạn chài trên chiếc thuyền kia đến giúp”, dẫu sao hai thuyền đều đầy cá đến gần chìm.
        - Đối với người dân chài chân chất kia, chẳng có gì phải nghi ngờ nữa : trong Đức Giêsu Nadarét này, đúng là Thiên Chúa đã đột nhập vào đời sống của Người. Thế là ông liền quỳ gối sấp mặt dưới chân người hành khách trên thuyền của mình như sấp mặt trước “Đức Chúa” vậy. Con người ông giờ đây bỗng dưng giống như Isaia xưa khi được thị kiến ở trong Đền Thờ (bài đọc thứ nhất), đang ý thức được khoảng cách tách biệt ông với Đấng, mà như ông thấy, đang thực hiện những việc lạ lùng trong con thuyền của ông :”Lạy Chúa, xin tránh xa con, vì con là kẻ tội lỗi”.
        - Câu trả lời Simon nhận được từ Đức Giêsu sẽ đánh dấu một khúc quanh quyết định cho cuộc đời của ông :”Đừng sợ, từ nay anh sẽ bắt người như bắt cá”.
        + “Đừng sợ” : kiểu nói thường đi theo sau mọi loan báo quan trọng trong Kinh thánh : loan báo cho Ápraham trong sách Sáng thế 15,1; loan báo cho Zacaria trong Luca 1,13; loan báo cho Đức Maria trong Luca 1,30.
        + “Từ nay” cuộc đời của Simon, vị quan thầy-ngư dân bắt đầu mở sang trang mới. Cuộc đời của ông xoay chiều đổi hướng để hướng đến một bến bờ khác.
        + “Từ nay”: một giai đoạn mới của chương trình cứu độ, giai đoạn truyền giáo, được mở ra ngay tức thì.
+ “Anh sẽ bắt người” : sát nghĩa là : anh sẽ bắt những con người sống, có nghĩa là anh sẽ giựt lên những con người đang sống, anh sẽ kéo họ ra khỏi thế lực của sự ác để bảo đảm cho họ được sống an lành. Là “ngư dân”, Simon-Phêrô vẫn sẽ giữ nghề đánh cá, nhưng cái nghề đi tìm cá ban đêm của ông, một khi thay đổi đối tượng, thì cũng sẽ thay đổi ý nghĩa.
“Từ nay”, sứ mệnh của ông sẽ là lôi kéo người ta ra khỏi vòng kiềm tỏa của sự ác và cái chết, mà thời đó người ta vốn dùng hình ảnh biểu tượng là chỗ nước sâu, để đưa họ đến cõi sống nên R. Meynet có thể viết : “Mẻ lưới lạ lùng hôm nay, chỉ là hình ảnh báo trước mẻ lưới lạ lùng đích thực. Giống như mẻ lưới lạ lùng xưa, mẻ lưới lạ lùng đích thực cũng sẽ diễn ra dựa vào Lời của Đức Giêsu “ (Sđd, tr.68).

        - Thế rồi, sau khi đã đưa thuyền vào bờ, Simon-Phêrô, Giacôbê và Gioan “bỏ hết mọi sự mà theo Đức Giêsu “ “để dấn thân vào con đường mà theo kiểu nói của Ph. Bossuyt và J. Radermakers, sẽ là một cuộc thả lưới lâu dài nhất và phi thường nhất trong cả cuộc đời của các ông” (“Đức Giêsu, Lời ban Ân sủng theo thánh Luca”, tr.183).

II. BÀI ĐỌC THÊM.
1. “Tin là dám liều” (L. Sintas, trong “Parole de Dieu pour la méditation et l’homélie. Năm C”, Médiaspaul, trg 78-79).
        Bài Tin Mừng hôm nay tường thuật việc Đức Giêsu kêu gọi ông Phêrô. Chúa xuống thuyền của ông; Người đi vào đời ông. Đúng là sáng kiến từ phía Chúa. Mà điều Chúa yêu cầu Phêrô làm cũng chẳng có chi là hoàn toàn mới lạ cả. Người đòi Phêrô hành nghề của ông. Phêrô làm nghề đánh cá. Nghề này thì ông rành quá rồi; ông biết phải đánh bắt khi nào, đánh bắt ở đâu. Nên ông chẳng sợ hãi gì khi phải thưa với Chúa rằng ông gặp ngày không hên thôi. Dựa vào sự hiểu biết và tay nghề của mình, Phêrô thành thực nói cho Thầy biết rằng điều Thầy yêu cầu là hoàn toàn sai lầm. Vậy mà điều Chúa yêu cầu ông thực hiện lại là điều mới lạ : tin cậy vào lời của Người. Và thế là Phêrô, dù bụng dạ chẳng vững chút nào, ông vẫn mạnh dạn thả lưới. “Chúng tôi đã vất vả suốt đêm mà không bắt được gì cả, Nhưng dựa vào lời Thầy, tôi sẽ thả lưới”. Phêrô dám đặt cọc vào sự tin tưởng hơn cả uy tín của mình. Và cá đang ở điểm hẹn.Vai trò chủ động của con người trước sáng kiến của Chúa được phúc âm mô tả như vậy đó. Nó hệ tại ở một lòng tin tưởng. Lòng tin tưởng ấy không phải là thái độ thụ động, mà đôi khi là sự anh hùng và luôn luôn là sự dám liều, táo bạo. Lòng tin tưởng thường là một thái độ tình nguyện can đảm nhất, bởi lẽ lòng tin tưởng không bị ai chỉ huy nhưng là một sự tặng ban, một hành vi tự do”.

2. “Một bài tường thuật lúc nào cũng có tính thời sự” (F. Deleclos, trong “Prends et mange la Parole”. Centurion-Duculot, trg 221-222)
        Nếu bài tường thuật của Luca, chỉ là kể lại một phép lạ tỏ tường, thì chúng ta chỉ cần vỗ tay ca ngợi, và bày tỏ vẻ ngỡ ngàng cùng cảm tạ Chúa vì quyền năng của Người đã được biểu lộ ra trong Đấng Mêsia của Người, thiết tưởng cũng đủ rồi… Nhưng còn hơn một phép lạ nữa, “mẻ lưới lạ lùng” chính là một ẩn dụ mà “mỗi chi tiết của câu chuyện đều quy chiếu về một thực tại thiêng liêng”, và “mỗi nét biểu hiện đều đòi hỏi phải được cắt nghĩa bằng biểu tượng”. Không chỉ là một cú ngoạn mục diễn ra trên Biển hồ Ghennêxarét cách đây gần hai ngàn năm mà thôi, mà chính là một vấn đề lúc nào cũng mang tính thời sự.
        Ở thế kỷ XX hôm nay cũng như ở thế kỷ đầu, Đức Kitô vẫn luôn bồn chồn đi lại dọc theo các bờ sông, bờ biển và các nẻo đường của chúng ta. Người hòa mình với dân chúng, đi vào các nhà, năng lui tới các nơi làm việc hay các khu vui chơi giải trí. Gặp lúc thuận tiện hay không thuận tiện, Đấng Mêsia vẫn không mệt mỏi loan báo, đề nghị Tin Mừng kêu gọi sám hối, Tin mừng chữa lành, Tin mừng giải thoát. Như thời ngôn sứ Isaia, Người là Thiên Chúa làm cho những người mắc bệnh cùi dơ bẩn được lành sạch. Người tha thứ tội lỗi và muốn cho những người hối cải đáp ứng lời Người kêu gọi và tự nguyện hiến thân phục vụ Người…
        Hôm nay vị Tôn sư ấy vẫn còn gặp gỡ “những ngư phủ” do ơn gọi, có năng lực, giầu kinh nghiệm và đảm đang; họ đã neo thuyền không người của họ ở bến an toàn. Họ đã được huấn luyện rất sâu và kỹ, đã theo những lớp đào tạo lại, đã phác thảo một cách ý thức và thông minh những chương trình và kế hoạch, đã chọn nơi và những hoàn cảnh thuận lợi… Họ đã trở về tay không và chán nản; lưới chẳng dính lấy được một con tép; trái tim họ bị đâm xiên và lòng trí thật ê chề…
        Nhưng con thuyền của Phêrô không thể cứ trú ẩn mãi ở cảng, cũng chẳng được bỏ neo an toàn ở một vùng vịnh thanh bình không còn sợ gì nguy hiểm. Cùng với Chúa và theo lệnh Người, Giáo hội phải ra khơi, bất chấp những hiểm nguy của miền nước sâu gợi lên bao loài thủy quái cùng những hang sâu vực thẳm là vương quốc của những hung thần, của Satan và sự chết.
        Không thể nào đánh cá được, những chuyên viên từng tuyên bố và lặp đi lặp lại như vậy. Còn các vị “quân tử gàn” mà lòng tin đã què quặt, nỗi sợ đã làm họ tê liệt và phần họ lại chỉ muốn được an thân thì tuyên bố : thật là sự điên rồ giết người, là sự thiếu khôn ngoan và lệch lạc, là muôn vàn khó khăn nguy hiểm không sao tính được.
Nhưng ta phải tin tưởng vào Thầy chứ…
        Phêrô, các bạn đường của ông và các cộng đoàn kitô hữu tiên khởi cuối cùng đều đã hiểu rõ lời kêu gọi của Đấng-Phục-sinh là phải rời bỏ cái nôi của buổi ấu thơ đã được những truyền thống và luật lệ lỗi thời và trì trệ bao kín. Với sự can đảm, nếu không muốn nói là anh hùng, họ đã cất đi những hàng rào bao quanh khu vực khép kín của họ để liều lĩnh đi vào miền đất dân ngoại, đối đầu với thế gian, bất chấp những cám dỗ bị lây nhiễm, bị hiểu lầm, phải thất bại hay phải chết vì đạo…
        Hôm nay đức tin vẫn đủ để đương đầu với những khu vực nguy hiểm, dám đối thoại, mở toang những cánh cửa vẫn đóng kín, từ bỏ lối độc quyền cao ngạo về chân lý, về độc quyền rao giảng Tin Mừng và sự thánh thiện. Hãy tách những con thuyền của các bạn ra! Hãy ra xa bờ! Hãy tiến ra khơi và thả lưới ngay ở nơi mà bạn đã vất vả và thất bại ê chề!
        Tuy nhiên, ẩn dụ về mẻ lưới không phải là một công cuộc đi chinh phục để chiếm đất đai, hay quyền lợi hoặc bổng lộc. Không phải là vấn đề lôi kéo những con cá ra khỏi thiên đường của chúng, để cắt xẻ thịt nó, mà ăn cho thỏa, hoặc đem đi buôn bán. Những kẻ đánh bắt người như bắt cá phải là những con người cứu nhân độ thế, những người giải phóng nô lệ và tù nhân khỏi bóng tối, giải phóng những ai bị trói buộc vì những dục vọng mù quáng, hay bị bầm dập vì những bất công, những ai ngụp lặn trong vòng tư lợi nhỏ nhen bẩn thỉu, những ai bị chới với vì những thử thách gian truân. Chính trong những vực sâu tăm tối này, chính trong những ngục tù không chắn song kia mà lưới của nhà giải phóng ấy làm nên những việc thần kỳ. Nghĩa là một bầu khí tự do, một vùng trời đầy ánh sáng, một niềm hân hoan trở về miền đất hứa, nhưng luôn luôn là có các bạn chài của chiếc thuyền kia đến giúp”.

 

CHÚA NHẬT VI THƯỜNG NIÊN

TÌM ĐÂU RA HẠNH PHÚC THẬT?
LÒNG NGƯỜI CHỈ TOẠI NGUYỆN
KHI BƯỚC THEO ĐỨC GIÊSU
(Luca 6,17-26)


I. VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI.
1. Đường dẫn đến hạnh phúc thật…
Chỉ có Mátthêu và Luca tường thuật lại các mối phúc. Tuy hai ông có lẽ cùng truy cứu chung một nguồn, nhưng mỗi người lại khai thác dữ liệu một cách độc đáo, khiến cho hai bản viết, bên cạnh những nét tương đồng rõ rệt, vẫn có những dị biệt tỏ tường về nội dung và con số các mối phúc cũng như về cấu trúc, thể văn và ý hướng.
          - Nội dung các mối phúc theo thánh Luca rất khác với nội dung Bài giảng trên Núi của thánh Mátthêu.
        Đức Giêsu lên núi, nơi “Người đã thức suốt đêm cầu nguyện cùng Thiên Chúa”, trước khi chọn lấy mười hai ông trong số các môn đệ, mà Người gọi họ là “tông đồ” nghĩa là kẻ được sai đi. Giờ đây Người đóng vai một Môsê mới, “xuống núi”, mang theo sứ điệp của Thiên Chúa và “dừng lại ở một chỗ đất bằng”, đối diện với “đông đảo môn đệ của Người” và đoàn lũ “dân chúng”, tiêu biểu cho những con người đến từ “khắp miền Giuđê, Giêrusalem” lẫn lộn với những người từ những miền dân ngoại thuộc “miền duyên hải Tyrô và Siđôn”. Những lời Người sắp tuyên bố là các mối phúc, được dành cho hết mọi người, vì chỉ có mình Người mới có thể thỏa mãn được khát vọng hạnh phúc của con người. Cộng đoàn các môn đệ của Người, một khi đã lãnh hội và sống các mối phúc ấy, sẽ phải làm chứng về các mối phúc ấy cho mọi người.
- Con số các mối phúc trong Matthêu là chín. Còn trong Luca chỉ có bốn. Điểm khác biệt nữa là : Luca cho thêm vào bốn “mối họa” đặt rất song hành với bốn “mối phúc”; đây không phải là những lời “nguyền rủa”, mà chỉ là những lời thiết tha kêu gọi những “người bất hạnh” ăn năn hối cải khi họ lỡ bước lao mình vào con đường sa đọa.
- Sau cùng, thể văn và ý hướng của các mối phúc này đều rất khác nhau. Thánh Matthêu trình bày các mối phúc ấy ở ngôi thứ ba số nhiều và nhắm những thái độ nội tâm: “Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó…” Còn Luca lại diễn tả ở ngôi thứ hai số nhiều và chỉ ra những loại người trong xã hội, mà “bây giờ” đang thực sự phải nghèo khổ, phải đói, phải khóc, bị nguyền rủa hay bị ngược đãi :”Phúc cho anh em là những kẻ nghèo khóPhúc cho anh em là những kẻ bây giờ đang phải đói…” Nếu mối phúc thứ hai hay thứ ba loan báo một sự đảo ngược hoàn cảnh hoàn toàn thì tuyệt nhiên không phải có ý khuyến khích đương sự chịu đựng, luồn cúi vì hy vọng ở thế giới bên kia. Mối phúc thứ nhất và cuối cùng nói ở thì hiện tại :”Nước Thiên Chúa là của anh em”, “vì này đây, phần thưởng dành cho anh em ở trên trời thật lớn lao”; những mối phúc ấy tỏ cho biết rằng triều đại cứu thế đang được khai mở trong con người Đức Giêsu .
          R. Meynet viết: “Nước Thiên Chúa , không phải đợi tới ngày tận thế, Nước ấy đang ở đây, ngay hôm nay cho ai biết chọn lựa nước ấy… Cũng giống như Nước Chúa, thiên đàng (trời) không phải đợi mai sau mới có, thiên đàng là đây, ngay bây giờ, chứ không phải tìm kiếm ở nơi đâu khác; thiên đàng thuộc về một trật tự khác, trật tự của Thiên Chúa chứ không phải của loài người” (“L’Evangile selon saint Luc. Phân tích tu từ”, Cerf, trg 79).

2. … theo chân Đức Giêsu :
  “Các mối phúc-mối họa” là mạc khải có tính tiên tri thúc giục ta hoán cải những quan niệm phàm trần của ta về hạnh phúc, nghèo đói và than khóc, theo ánh sáng của mầu nhiệm được tỏ ra ở đây : mầu nhiệm về Thiên Chúa muốn tỏ mình cho người ta chiêm ngưỡng Người trong mầu nhiệm Đức Giêsu, nơi Người mầu nhiệm về con người được soi sáng.
 - Ở đây, người ta khám phá ra mầu nhiệm về Thiên Chúa đầy lòng xót thương những kẻ nghèo khổ. Ph. Bossuyt và J. Radermakers còn giải thích: “Thực vậy, những người này, được tuyên bố là “người hạnh phúc”, bởi vì Thiên Chúa quan tâm tới họ. Và Người quan tâm tới họ, không phải vì họ có công trạng gì, nhưng vì chính hoàn cảnh của họ : nghèo khổ, phải đói, phải khóc, bị ngược đãi…Đây chính là mầu nhiệm khơi nguồn cho hiến chương Nước Trời vậy” (Sđd, trg 241)
- Ở đây, chúng ta cũng được đưa vào chính trung tâm mầu niệm Đức Giêsu mà ngay từ bài giảng khai mạc ở hội đường Nadarét Người đã hé mở cho thấy trước số phận Con người sẽ phải chịu : số phận một người bị hiểu lầm, bị chối bỏ.
  Hai tác giả trên tiếp tục: “Vì vậy, chân lý của Thiên Chúa về các mối phúc, không tỏ ra tách biệt với số phận của Con người. Hơn nữa chân lý ấy còn có một nền tảng vững chắc là tin vào lòng trung tín của Thiên Chúa như vẫn được biểu lộ ra trong con người Đức Giêsu. Những kẻ nghèo khổ, đói khát, khóc than là những người có phúc, bởi lẽ, trong Đức Giêsu, Thiên Chúa đã hành động quyết liệt để bênh vực họ, khi cho Người sống lại từ trong kẻ chết…Người là đấng thực hiện niềm hy vọng của họ” (Sđd, trg 242).
  - Sau cùng, người ta thấy vén lên ở đây mầu nhiệm về con người, một sinh vật có một trang sử để sống, được kêu gọi để tự do lựa chọn, được mời gọi sống theo khuôn mẫu của Chúa được bày tỏ ra nơi Đức Giêsu Kitô, Con của Người. Tóm lại là dám nối gót theo chân Đức Giêsu chết và phục sinh.

II. BÀI ĐỌC THÊM.
1. “Đức Giêsu đã làm đảo lộn quan niệm về hạnh phúc cách khác thường” (F. Deleclos, trong “Prends et mange la Parole”, Centurion – Duculot, trg 223)
  Chẳng có gì là ngạc nhiên, khi thấy Đức Giêsu , Lời Thiên Chúa hóa thân, tự giới thiệu và khẳng định mình là “đường, sự thật và sự sống”. Ngay cả trước khi được gọi là kitô hữu, những ai đã đặt lòng tin cậy nơi Đức Giêsu đều được gọi là “người môn đệ của Đường”. Người là con đường tốt, là sự chọn lựa đúng cho ta, là đầu tư ngắn hạn và dài hạn rất tốt, vì thế mà thánh Phaolô mới nói rõ : “Nếu chúng ta đặt hy vọng vào Đức Kitô, chỉ để mưu ích cho cuộc sống này mà thôi, thì chúng ta là những kẻ đáng thương hơn hết mọi người”.
  Thực ra khi tuyên bố về các mối phúc, Đức Giêsu đã đảo ngược bậc thang truyền thống về các giá trị và đặc biệt làm đảo lộn cả quan niệm về hạnh phúc. Vậy mà thánh Luca vẫn không do dự giới thiệu các mối phúc ấy với các tín hữu ở thế kỷ đầu vốn đã phải gian nan vì bị ngờ vực, khinh bỉ và bách hại. Không chỉ coi đây là một lời hứa hay là quy tắc sống, phải chăng Luca còn muốn phác họa chân dung những con người bé mọn kia, họ đã nhờ Đức Kitô mà thay đổi hẳn ý nghĩa cuộc đời của họ? Kìa, những con người ấy cảm thấy hạnh phúc ngay trong những hoàn cảnh mà ta cho là không có mảy may khả năng nào để mà hạnh phúc và vui sướng được. Vậy mà đó lại là kinh nghiệm và chứng từ của những người nam cũng như nữ chịu để cho Thần Khí tác động và hướng dẫn, đặt niềm tin tưởng vào Người và đi theo con Đường của Người.

2. “Nguồn đích thực của tự do và hạnh phúc” ( “Théo”, trg 775)
Có những người đặt tất cả hy vọng và dùng hết sức lực của mình để đạt cho được tự do và hạnh phúc bao lâu còn sống ở đời này: họ chẳng hy vọng gì ở thế giới bên kia.
  Người khác đã có được niềm tin chắc chắn rằng cuộc sống trần gian chỉ là điểm xuất phát, là một chuyến đi hay là một cuộc tập nghề và cuộc sống ấy sẽ được viên mãn ở thế giới bên kia, sau khi chết. Vì thế không nhất thiết phải khinh chê những vui sướng phàm trần. Họ coi những vui sướng trần gian kia vừa mong manh vừa giới hạn nên chỉ là hình ảnh mờ nhạt tượng trưng cho cái được hứa cho con người. Hầu hết các tôn giáo đều ấp ủ niềm xác tín này.
  Ngay từ Cựu ước, Thiên Chúa đã được khẳng định là cội nguồn hạnh phúc đích thực và duy nhất : người công chính là kẻ “bước đi với Chúa”. Trong quan niệm cổ xưa của Kinh thánh, hạnh phúc ấy được thực hiện ngay ở đời này khi Thiên Chúa ban ân huệ cho người trung tín như được sống lâu, đông con nhiều cháu, khỏe mạnh, giàu có…Thế nhưng vẫn có những người công chính phải khốn khổ, bị khinh chê, bị bách hại : những người đó, Thiên Chúa hứa cho họ một sự đền bù mà bản chất thế nào thì còn bị che khuất.
Chính nhờ giáo huấn của Đức Kitô mà ta được biết rõ bản chất của hạnh phúc Thiên Chúa hứa ban cho con người, hạnh phúc của một tình yêu trọn vẹn, tuyệt đối, hoàn hảo : đó cũng chính là tình yêu hiệp nhất của Ba Ngôi trong tương quan với nhau.
Thư thứ nhất của thánh Gioan tông đồ, như bị chi phối hoàn toàn bởi một thứ tiếng lòng thổn thức “Thiên Chúa là Tình Yêu”, thường diễn tả và quảng diễn lời mời gọi này của Thiên Chúa gởi đến cho con người : “Ai ở lại trong tình yêu thì ở lại trong Thiên Chúa và Thiên Chúa ở lại trong người ấy. Tình yêu của Thiên Chúa đối với chúng ta được biểu lộ như thế này: Thiên Chúa đã sai Con Một đến thế gian để nhờ Con Một của Người mà chúng ta được sống. Tình yêu cốt ở điều này: không phải chúng ta đã yêu mến Thiên Chúa, nhưng chính Người đã yêu thương chúng ta và sai Con của Người đến làm của lễ đền tội, vì tội lỗi chúng ta. Thiên Chúa đã ban sự sống đời dời, và sự sống này ở trong Con của Người”.
Vậy con đường mà người con ấy là Đức Giêsu Kitô đề nghị cho con người để đạt được sự sống và tình yêu sung mãn (sự sống và tình yêu luôn liên kết với nhau) được diễn tả đặc biệt trong đoạn Phúc âm nổi tiếng thường được biết dưới cái tên là bài giảng trên Núi hay đúng hơn, là bài giảng về các mối phúc thật (phúc ở đây là hạnh phúc thật).
Thực ra, người ta có thể hiểu các mối phúc mà các phúc âm Mátthêu (5,3-11) và Luca (6,20 và tiếp) trình bày, là phần dẫn nhập vào luân lý kitô giáo, một nền luân lý chủ trương hạnh phúc là vì Thiên Chúa muốn cho con người được hạnh phúc, ngoài ra các mối phúc vừa đưa ra một lời hứa,vừa là con đường đưa đến hạnh phúc.
Lời hứa ban hạnh phúc bắt đầu được thực hiện ngay từ hôm nay, vì rằng thứ hạnh phúc Chúa ban cho con người đây, tiên vàn không phải là kết quả do sức riêng của con người, nhưng là sự cởi mở đón nhận ân huệ của Thiên Chúa, ân huệ mà Chúa ban cho hết thảy mọi người là được hiệp thông sự sống với Người. Sống luân lý theo kitô giáo là đáp lại ân sủng của Chúa một cách tự do tự nguyện.
Con đường hạnh phúc là một lược đồ gợi ra những thái độ nội tâm phải sống (tâm hồn nghèo khó, đơn sơ, tin tưởng), những cách xử sự đối với tha nhân (lòng thương xót, ý muốn hòa bình), những hoàn cảnh khó khăn phải đối phó (những thử thách về tâm hồn và vật chất, những sự bắt bớ). Tất cả những điều này đều hòa hợp chặt chẽ trong bản thân Đức Giêsu, Đấng được coi như thực hiện trọn vẹn nơi mình khát vọng hạnh phúc. Chính Người đã muốn sống cách hoàn hảo tinh thần của Mối Phúc trong cuộc sống của mình và đến cả trong cái chết của Người nữa.
Nếu như các mối phúc dẫn nhập vào một luân lý chủ trương hạnh phúc, thì không phải vì luân lý ấy có những lời khuyên thực hành rõ rệt, hoặc đòi hỏi phải tự mình cố gắng mới được, nhưng luân lý ấy chỉ muốn đưa ra cho người ta một ân huệ nhưng không của Thiên Chúa, ân huệ được hiệp thông trong sự sống và hoan lạc với Người. Ân huệ này, người ta sẽ bắt đầu tiếp nhận bằng cách ngày qua ngày sống hai giới luật về tình yêu của Chúa là yêu Chúa và yêu người. Giống như con đường hạnh phúc mà Đức Giêsu đã khởi sự và đi trước vậy.
Với người tín hữu, hãy hành động như Thiên Chúa, luôn sáng tạo và có sáng kiến như Người, biết hiến thân như Đức Kitô, đó là suối nguồn đích thực của tự do và hạnh phúc.

 

CHÚA NHẬT VII THƯỜNG NIÊN

“THƯƠNG XÓT NHƯ CHA LÀ ĐẤNG THƯƠNG XÓT”
(Luca 6,27-38)


 
I. VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI
1. Một tình yêu không loại trừ và vô vi lợi…
Thánh sử Luca đã nhập đề bài Chúa giảng “ở chỗ đất bằng” bằng những “mối phúc”/ “mối họa” Chúa gởi đến cho những người bị cuộc sống bầm dập hoặc phải chịu bách hại vì đức tin. Giờ đây Luca muốn đề cập đến một thái độ hoàn toàn đặc trưng của người môn đệ Đức Giêsu : lòng yêu thương những kẻ thù, những kẻ”ghét” họ, “nguyền rủa” họ, những kẻ muốn chiếm đoạt danh tiếng, của cải và thân xác họ.
  - Đức Giêsu bắt đầu trình bày đòi hỏi cơ bản này :”Hãy yêu kẻ thù và làm ơn cho kẻ ghét anh em. Hãy chúc lành cho kẻ nguyền rủa anh em và cầu nguyện cho kẻ vu khống anh em”.
  H. Cousin xác định :”Đây không phải là lòng quý mến ta có đối với người trong gia đình, hay là tình bằng hữu đối với người đồng trang lứa, càng không phải là tình yêu say đắm! Đó là vấn đề biết quý trọng và cư xử tốt với kẻ thù và biết biểu lộ tâm tình ấy bằng cử chỉ và lời nói” (“L’Evangile de Luc”, Centurion, tr. 96)
- Tiếp theo là những thí dụ Đức Giêsu đưa ra để mời gọi các môn đệ khi bị người ta đối xử hung bạo, thì đáp lại bằng thái độ bất hung bạo, hãy nhường nhịn hết mình :”Ai đoạt áo ngoài của anh, thì cũng đừng cản nó lấy áo trong…”  
- Sau cùng, Đức Giêsu đưa ra luật vàng cho cung cách cư xử của các môn đệ : không chỉ yêu thương kẻ yêu thương mình, bởi lẽ “ngay cả người tội lỗi cũng làm như thế”, hãy yêu thương nhau cách vô vị lợi, không tính toán, chỉ chờ đợi sự đáp trả ở một mình Chúa mà thôi : “Như vậy phần thưởng dành cho anh em sẽ lớn lao”.

2. … giống tình yêu của Chúa Cha :
- Khi cư xử như vậy, khi thực hành yêu thương kẻ thù, khi từ chối cướp quyền thẩm phán của Thiên Chúa, các môn đệ sẽ là “con Đấng Tối Cao, vì Người vẫn nhân hậu với cả phường vô ân và quân độc ác”; khi noi gương lòng nhân hậu của Thiên Chúa, họ sẽ nên giống Người.
- Khi cư xử như vậy, người môn đệ sẽ theo gương Thầy mình là Đấng, suốt cuộc đời và một cách trổi vượt trong cuộc Khổ nạn của Người, đã thực thi tình yêu thương và tha thứ, mà Người đã đòi hỏi nơi họ. R. Meynet bình giảng: “Đức Giêsu đã chịu để cho tên đầy tớ Thầy cả Thượng phẩm tát mình, và đã chịu để cho người ta đánh đòn, Người ta đã lột không chỉ áo ngoài của Người, mà cả áo trong nữa. Người đã giang hai tay và đưa cả hai chân ra cho người ta đóng đinh vào thập giá. Khi sắp trút hơi thở cuối cùng và phó linh hồn, Người còn cầu xin Cha tha thứ cho những kẻ hành hình Người. Thế mới biết, khi Chúa Cha yêu thương phường vô ân và quân độc ác, tình yêu ấy đã dẫn Người đi tới tận đâu : Người đã không từ chối ban chính Con Một mình. Tình yêu của Chúa Cha đối với mọi người đã hóa thân trong con người Đức Giêsu” (“L’Evangile selon saint Luc. Phân tích tu từ”, tập 2, trg 80).

 
II. BÀI ĐỌC THÊM
1. “Nếu chúng ta muốn bắt chước Chúa Giêsu” (L. Sintas, trong “Parole de Dieu pour la méditation et l’homélie. Năm C”. Médiaspaul, 1994, trg 83)
Nếu ta đọc những lời này vào lúc lòng ta không có điều chi ray rứt và ta đang vui tính, thì có thể thấy những lời ấy thật tuyệt vời. Trái lại trong trường hợp ta bị nhục mạ, phải cay đắng vì là nạn nhân của một bất công, thì những lời của Đức Giêsu xem ra không thể chịu nổi. Thế nhưng chính trong những giờ phút ấy, Lời Chúa mới tỏ cho thấy nó có sức mạnh và sự thật. Thế nghĩa là thế nào?
Chúa nói với ta rằng :”Ngay cả người tội lỗi cũng yêu thương kẻ yêu thương họ”. Bằng lời vắn gọn đó, Đức Giêsu ban cho ta một cái nhiệt kế để đo lường mức độ lòng tin của ta.
Thực ra, vấn đề đích thực là thế này: Lòng tin làm thay đổi cái gì trong cuộc sống của tôi? Có khi nào tôi đề ra những việc làm mà giả như không phải là kitô hữu, thì tôi sẽ không đặt ra chăng? Yêu thương kẻ làm hại tôi, việc làm đó, một người có lương tri bình thường không nghĩ ra đâu. Để gợi ý cho tôi, Thiên Chúa đã không nề hà, vì tự mình chúng ta sẽ không nghĩ ra được điều đó. Thiên Chúa đã xuống trần, sống kiếp phàm nhân giống hệt chúng ta. Người đã phải sống trong những hoàn cảnh đáng ghét, hoàn cảnh của một người mà chung quanh chỉ gặp toàn là thù địch. Trong hoàn cảnh như thế đó, Đức Giêsu đã xin tha thứ cho những kẻ làm khổ Người. Nếu ta muốn bắt chước Đức Giêsu, thì việc chọn sống những tâm tình và thái độ của Người đến độ biết tha thứ cho kẻ thù, thiết tưởng là điều khẩn thiết!
Là kitô hữu là tin rằng Đức Giêsu đã cuốn hút ta đến độ chính Người sống trong ta. Người muốn nhờ chính con người của ta, con tim và trí tuệ, ánh mắt và lời nói của ta để nói với những con người thời nay, điều mà Người đã nói cách đây hai ngàn năm, trước mặt những người đương thời với Người. Người đã nói gì? Chỉ một sự thật này thôi : Thiên Chúa thương xót tất cả những ai thù ghét Người. Làm sao những người đồng thời với chúng ta hôm nay sẽ nghe được lời này của Đức Giêsu, nếu chính chúng ta không nói cho họ biết ơn tha thứ của Thiên Chúa là như vậy đó?

2. “Chúng ta được mời gọi phải vượt thắng chính mình” (“Célébrer”, tạp chí của Trung tâm quốc gia về Mục vụ và Phụng vụ, số 216, trg 26)
Những lời Tin Mừng này có lẽ khiến ta phải hoài nghi, và xem ra càng không mấy thích hợp với những thực tại khắc nghiệt thường ngày bị chi phối bởi luật rừng. Có người sẽ bĩu môi cười : “giơ má kia à”.
Ta đừng lẫn lộn tử tế với ngu xuẩn… ! Há chính Đức Giêsu đã không vặn hỏi kẻ đánh Người rằng :”Tại sao anh đánh tôi?”, mà không giơ má bên kia đó sao?
  Ta thấy rõ rằng Đức Giêsu muốn kêu gọi ta vượt lên chính mình; Người thúc ép ta phải có lối cư xử ngoại hạng của người kitô hữu.
Sứ điệp của Người được gởi đến “cho anh em là những người đang nghe tôi đây”, những người đang đón nhận mạc khải của phúc âm. Đó là những người đã chịu phép rửa, những người đã trở lại để sống trong giáo hội và học dưới mái trường của vị Tôn sư dạy làm điều phi thường. Nhờ ánh sáng đức tin, họ am hiểu lời Người. Có khó tính chăng nữa cũng phải nhận rằng cách cư xử theo kitô giáo, việc noi gương bắt chước Đấng hằng tha thứ, dù là kẻ hành hình mình, bất quá chẳng phải là diều quá phi lý. Chẳng qua là con đường khôn ngoan vượt bực còn bí ẩn đối với “kẻ phàm trần” thôi.
Há chúng ta chẳng có được kinh nghiệm về niềm vui lớn lao khi ta xử sự theo lòng thương xót hoặc khi ta được chứng kiến những việc làm của tinh thần vị tha, tinh thần chia sẻ, tinh thần tha thứ và tinh thần yêu thương “điên rồ” đó sao?
Những lời của Đức Giêsu vẫn có thể được những người sống ngoài Giáo hội hữu hình “nghe ra” và thực hành. Không thiếu những lời nói và hành động phi thường nơi những con người “sống ngoài” Giáo hội. Đó phải là động cơ thúc đẩy ta dâng lên lòng biết ơn và niềm vui, vì chính họ cũng là con Đấng Tối Cao.
Chớ gì lòng thương xót luôn luôn là cái đấu để chúng ta đong cho người khác… nhưng phải là cái đấu đã dằn đã lắc và đầy tràn!.
 
 

CHÚA NHẬT VIII THƯỜNG NIÊN

NHÌN VÀ HÀNH ĐỘNG NHƯ MÔN ĐỆ ĐÍCH THỰC
CỦA ĐỨC GIÊSU
(Lc 6,39-45)


I. VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI:
1. Một cái nhìn sáng suốt và ân cần.
Hai tuần trước, với “các mối phúc” / “những lời than” ta khai mào Diễn từ trong bình nguyên. Chúa nhật tuần rồi, ta tiếp tục với giáo huấn về tình yêu không giới hạn, tình yêu, như Chúa Cha giàu lòng thương xót, đến độ yêu thương cả kẻ thù. Hôm nay, ta sẽ đọc đoạn kết gồm 4 câu riêng rẽ của Đức Giêsu mà Luca tập hợp lại do liên ý, rồi xếp chúng vào mục “các dụ ngôn”.
Ba câu đầu nói về cái nhìn. Cái nhìn phải sáng suốt và trước tiên phải nhìn vào chính mình. Với tha nhân, cái nhìn phải ân cần.
Đó là những lời “chỉ nam” cho đời sống cộng đoàn. Vì đôi khi cộng đoàn trở nên mù quáng, lôi kéo những người khác sa ngã theo. Những lời đó cũng có thể nói cho các môn đệ, lúc nào cũng vội vàng xét đoán và chỉ trích người khác hơn là sửa đổi chính mình. Sẽ sai lầm nếu muốn trở nên nhân chứng của lòng xót thương mà lại có trái tim và ánh mắt không thương xót.
Hugues Cousin viết: “Sống đức tin là một cuộc chuẩn bị lâu dài để nên hoàn thiện (“được đào tạo chu đáo”) theo câu nói “môn đệ sẽ giống như Thầy” là Đức Giêsu: Người tin rằng ai cũng có thể hoán cải, thay đổi lối sống. Ước gì mọi người đều được đào tạo trong trường học Đức Giêsu để lòng thương cảm đối với người tội lỗi sẽ khiến họ có khả năng hướng dẫn người khác. Thật là giả hình đóng kín, khi ca tụng một con đường chính trực mà bản thân không theo. Chỉ có sự hoán cải không ngừng nghỉ mới đưa tới nếp sống chân thực, giúp thoát khỏi cảnh mù tối và cho phép ta sửa lỗi người khác” (“L'Evangile de Luc”, Centurion, trg 98).

2. Một hành động thấm đẫm Tin Mừng:
Câu cuối cùng đề cập đến hành động của Kitô hữu: như ta biết “cây” nhờ “quả”, cũng thế hành vi và lời nói bộc lộ cho thấy trái tim người Kitô hữu có thực sự thấm nhuần Tin Mừng không. Louis Monloubou bình luận rất xác đáng rằng: “Vì, con người hành động theo bản chất của mình; dù giả dối, hành vi và lời nói cũng phản chiếu chính xác những gì sâu xa trong đáy lòng anh ta. Ai không có tinh thần Tin Mừng chẳng thể nói ra những lời lẽ mang âm hưởng Tin Mừng” (“L'Evangile de Luc”, Salvator, tr. 149).

II. BÀI ĐỌC THÊM:
1. Ánh mắt Đức Giêsu (Mgr. L. Daloz, trong “Thiên Chúa đã viếng thăm dân Người”, DDB, trg 50-51)
Ánh mắt Đức Giêsu nhìn khác ta và Người mong ánh mắt ta cũng được đổi mới: sao cho ánh mắt ấy không phải là ánh mắt đui mù dẫn người khác sa vào hố sâu. Sao cho ánh mắt ta không bị cây xà che kín nhưng được sáng tỏ. Ánh mắt Đức Giêsu, ánh mắt Thiên Chúa nhìn vào thực tế hiện hữu của ta, vào sự thực của nếp sống ta, là một ánh mắt khích lệ, khơi gợi, hoạt động. Lời lẽ mà ánh mắt ấy phiên dịch không chỉ là những chỉ dẫn cho trí khôn, nhưng đã trở nên lời lẽ động viên. Lời ấy dẫn đến hành động và xây dựng một đời sống mới trên nền đá vững chắc. Khi nhìn ai, Người thấy trong đó hình ảnh Thiên Chúa, Cha của Người, Người thấy những đứa con. Người tỏ cho họ biết họ là ai và phải sống như thế nào để trở nên những người con đích thực của Cha”.

2. Những người thực sự kiến tạo một thế giới mới. (“Sách lễ các Chúa nhật Emmaus”, trg 1012).
Ai chẳng mong muốn kiến tạo một thế giới mới chan hòa tình yêu và bình an?
Nhưng rất nhiều khi, hành động vì thế giới của ta bắt đầu bằng phê phán kẻ khác.
Thế là ta đã tự động chiếm chỗ của Thiên Chúa phán xử. Làm thế, ta chỉ chà đạp những người chung quanh và loại mình ra ngoài cuộc chơi mà thôi. Cứ nghĩ mình ngay tình, cứ tưởng mình hành động cho việc thiện ích, ta tiếp tục gây chia rẽ.
Khi tố cáo giới chức quyền Do Thái, những kẻ thực sự phản chứng do thái độ của họ, Đức Giêsu kết án xu hướng bản năng của mọi người. Chúng ta ai mà chẳng kết án tha nhân, khi cứ tự coi chân lý của riêng mình như là Chân Lý viết hoa. Như thế ta chỉ là những tiên tri giả, phá huỷ thế giới mới mà ta tự hào là góp tay kiến tạo.

3. “Lời lẽ và con tim” (Mgr. L. Daloz, trong “Nước Trời đã đến gần” DDB, 1994, trg 182-183).
“Điều nói ngoài miệng, tràn ra từ tâm hồn...”
Nhiều lần, Đức Giêsu đã phải lên tiếng về tầm quan trọng của lời nói.
Đức Giêsu mời ta khám phá lại nguồn cội của lời nói. Thật hữu ích khi nghe Người, nhất là trong thời buổi mà người ta dễ dãi cho rằng lời nói bay đi. Tìm lại tính chất nghiêm trọng của lời nói, nội dung và hệ quả của nó, là góp phần vào việc sám hối của Kitô hữu. Ngày nay lời nói thường hời hợt mau qua. Đức Giêsu tái lập trách nhiệm của con người với lời nói. Người truy nguyên lời nói từ trái tim. Lời nói mang dấu ấn của người nói. Lời nói chứa chất những ý hướng và tình cảm của người nói, ngay cả khi lời nói trung dung hoặc diễn tả dưới hình thức thật khách quan: luật Rôma, luật Napôlêon đều mang dấu ấn tinh thần của thời đại họ sống và quan niệm của những nhà làm luật!... Tin Mừng soi sáng mọi hoàn cảnh, kể cả những hoàn cảnh hiện thực nhất. Lối so sánh mà Đức Giêsu sử dụng thật mạnh mẽ: so sánh cây và quả. So sánh mạnh mẽ và rất ý nghĩa, vì quả lớn lên nhờ nhựa cây nên quả chứa đựng nhiều phẩm chất cũng như những khiếm khuyết của cây... Cũng vậy, lời lẽ không chỉ ở bên ngoài con người. Lời nói chính là sự bộc bạch của tâm hồn: “Vì lòng có đầy miệng mới thốt ra”. Lời nói cho biết con người. và những gì họ chất chứa trong lòng. Lời nói chứa đầy những tư tưởng, tình cảm, đam mê của người nói. Như thường lệ, Đức Giêsu kéo ta chú ý đến nội tâm con người. Người đi đến tận thâm tâm con người. Chẳng có luật lệ bên ngoài để xét xử lời nói. Chính lời nói biểu lộ phẩm chất, con người của họ. “Người tốt rút ra từ kho tàng tốt lành của mình những điều tốt đẹp. Người xấu, rút ra từ kho tàng xấu xa của mình những điều xấu xa”. Lời nói bộc bạch loại kho tàng mà người nói cất giấu trong mình.

 

CHÚA NHẬT XII THƯỜNG NIÊN

TUYÊN XƯNG ĐỨC TIN CỦA PHÊRÔ
VÀ LOAN BÁO CUỘC KHỔ NẠN LẦN THỨ NHẤT
(Lc 9,18-24)


I. VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI:
1. Một mạc khải ăn sâu vào tâm tình cầu nguyện hiếu thảo của Đức Giêsu...
Không có đoạn chuyển tiếp, từ cảnh hóa bánh ra nhiều để nuôi đám đông (Tin Mừng Chúa nhật vừa qua), qua đó Đức Giêsu tỏ mình như một vị ngôn sứ của thời kỳ sau hết sang cảnh Phêrô tuyên xưng đức tin và Đức Giêsu loan báo cuộc khổ nạn của Người lần thứ nhất.
Đức Giêsu đang cầu nguyện.
- Ghi chú câu này nói lên chủ ý của Luca muốn báo trước rằng: biến cố sắp được thuật lại là biến cố quan trọng. Thật vậy, ta đang ở vào bước ngoặt cuộc đời công khai của Đức Giêsu và hành trình đức tin của các môn đệ; thời kỳ bản lề giữa sự vụ rao giảng ở Galilê đang kết thúc, và hành trình lên Giêrusalem (bài Tin Mừng Chúa nhật tới 9,51) sau biến cố Hiển Dung trên núi cao. Còn lại một mình với nhóm môn đệ, Đức Giêsu cầu nguyện chuẩn bị bước vào giai đoạn mới này.
- Ghi chú này cũng muốn nêu bật một điều là người ta chỉ có thể thực sự nhận ra căn tính đích thực của Đức Giêsu là Con Thiên Chúa trong mối tương quan của Người với Ngôi Cha, mối tương quan mà các môn đệ dường như “được móc” vào, theo cách diễn tả của Ph. Bossuyt và J. Rademakers (“Jésus, Lời ân sủng theo thánh Luca”, tr. 263).

2. Một mạc khải về đường đi của Con Người...
Vấn đề căn tính của Đức Giêsu luôn vang lên theo nhịp điệu của lời giảng và các hoạt động của Người. Gioan Tẩy Giả từ trong ngục đã hỏi Người, qua trung gian các môn đệ được sai đi: “Ngài có thật là Đấng phải đến không hay chúng tôi còn phải chờ một vị khác?” (7,19). “Ông này là ai mà lại tha được tội?” (7,49) những khách dự tiệc ở nhà ông Simon biệt phái đã kêu lên như vậy. Rồi các môn đệ hỏi nhau khi họ thấy Người dẹp yên sóng gió: “Người này là ai mà ra lệnh cho cả sóng gió, và sóng gió phải tuân lệnh?” (8,25). Rồi chính vua Hêrôđê, người đã chém đầu Gioan Tẩy Giả cũng phải suy nghĩ: “Người này là ai mà ta nghe nói nhiều về ông như thế. Và ông tìm cách gặp Người”.
Câu hỏi này đôi khi đã được giải đáp. “Một vị ngôn sứ vĩ đại đã xuất hiện giữa chúng ta, và Thiên Chúa đã viếng thăm dân Người!”. Những người chứng kiến cảnh con trai bà góa Naim được sống lại đã đồng thanh tung hô như thế. Một ít người khác nói: “Đó là Gioan Tẩy Giả từ cõi chết sống lại” có người khác lại bảo: “Đó là ông Êlia đã xuất hiện”, cũng có người khác nói: “Đó là một trong các ngôn sứ thời xưa đã sống lại”.
- Giờ đây Đức Giêsu tự ý đặt câu hỏi về chính thân thế của mình với các môn đệ. Câu hỏi này có 2 thì:
+ Trước hết Người lên tiếng hỏi “Dân chúng bảo Thầy là ai?”. Và (như ta đã thấy) các môn đệ kể ra những ý kiến khác nhau, đồn thổi về thân thế của Người, như “Gioan Tẩy Giả”, “ngôn sứ Êlia” (vị ngôn sứ đến trước loan báo Đấng Mêsia), “một trong các ngôn sứ thời xưa nay sống lại”.
+ Đức Giêsu hỏi tiếp ngay “Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai?”. Như thế các môn đệ bị bắt buộc phải đưa ra ý kiến của mình.
Phêrô đáp: “Thầy là Đấng Kitô của Thiên Chúa”. Còn hơn Gioan Tẩy Giả, hơn cả Êlia hay một ngôn sứ nào thời xưa. Đức Giêsu là vị Thiên Sai của Chúa, Đấng đã được Thiên Chúa xức dầu, “Đấng Mêsia” (Mêsia tiếng Aram dịch sang tiếng Hy Lạp là Kitô = Đấng được xức dầu).
- Đức Giêsu liền nghiêm giọng truyền các ông “không được nói điều ấy với ai”. Không phải vì Người từ chối danh hiệu mà Phêrô vừa tặng cho Người. Nhưng bởi vì sử dụng danh hiệu đó là quá sớm, vì danh hiệu Mêsia lúc ấy còn rất hàm hồ trong ý nghĩ của những người đồng hương và ngay cả các môn đệ Người. H. Cousin nhắc lại rằng: “Một văn bản Pharisêu được soạn thảo 24 năm về trước, Thánh vịnh vua Salomon 17 - miêu tả Đấng Mêsia xua đuổi người di cư và ngoại kiều ra khỏi Đất Thánh để thanh tẩy mọi ô uế, và Người cai trị mọi dân nước trên hoàn cầu bắt đầu từ Giêrusalem” (“L'Evangile de Luc”, Centurion, trg 133-134).
Sẽ đến lúc khi thấy Thầy mình phải đi qua con đường thập giá, và trong ánh sáng phục sinh, thì các môn đệ mới thực sự hiểu được rằng Thầy mình được gọi là “Đấng Mêsia của Thiên Chúa” theo ý nghĩa nào. Không phải là Đấng Mêsia theo mơ ước phàm trần là áp đặt công cuộc khôi phục thời đại mới bằng dũng lực, nhưng là Đấng Mêsia khiêm tốn, hòa bình, mở đường cứu rỗi cho hết mọi người bằng đường lối phục vụ, cho đến độ hy sinh thân mình. Như thế Đức Giêsu tiếp nối việc tuyên xưng đức tin của Phêrô, bằng việc loan báo lần đầu tiên cuộc khổ nạn / sống lại của Người: “Con Người cần phải chịu đau khổ nhiều, bị các kỳ mục, thượng tế cùng kinh sư loại bỏ, bị giết chết và ngày thứ ba sẽ chỗi dậy”. Khi nói “Con Người cần phải...” là Chúa dùng một kiểu nói bày tỏ sự tuân phục tự nguyện trước kế hoạch nhiệm mầu của Chúa Cha đã được nói trước trong Sách Thánh. - Kỳ mục, thượng tế, kinh sư là ba thành phần của Thượng Hội Đồng.

3. ... đó cũng là con đường của mọi môn đệ Chúa.
Cho đến đây là lời Chúa nói với các môn đệ. Còn bây giờ, Người ngỏ lời với “mọi người”, H. Cousin chú giải, “tất cả những ai sau này sẽ đón nhận lời Phúc Âm. Họ cần phải biết rõ, việc đi theo Đức Kitô đòi hỏi những gì” (Sđd, tr. 134). “Mọi người” nếu muốn bước theo Người cũng sẽ phải liên kết với thân phận của Thầy mình. Người nói với họ: “Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo. Quả vậy, ai muốn cứu mạng sống mình thì sẽ mất; còn ai liều mạng sống mình vì tôi, thì sẽ cứu được mạng sống ấy”.
Những lời cứng rắn mạnh mẽ này đã không ngừng và còn không ngừng vang dội trong tâm hồn hàng ngàn hàng vạn người đã được Tin Mừng chinh phục. H. Cousin nhận xét: “Chính Người vừa loan báo mình sẽ bị giết, lại là người đặt điều kiện cho những ai muốn theo, phải đi trên cùng một con đường Người đã đi, và phải là môn đệ của Người dù phải lấy cái chết để làm chứng nếu hoàn cảnh đòi buộc.
Tuy nhiên, điều trước tiên ta nên tìm kiếm trong ba mệnh lệnh trên là trung tín mỗi ngày trong đời sống người Kitô hữu hơn là những điều đặc biệt, phi thường (câu 23). Dứt khoát nói “không” với chính mình không có nghĩa là phải ghét mình, bởi lẽ ta phải yêu tha nhân như chính mình (10,27); nhưng chính là không quy hướng mọi sự về mình. Dứt khoát nói “không” đó cũng chính là hiện tại hóa việc vác thập giá. Chính thập giá của riêng tôi mà tôi phái vác lấy, thập giá của cuộc sống đè nặng vai tôi; tôi đừng mơ tưởng một thập giá khác. Đó không phải là chứng bệnh tự hành hạ mình, tự làm khổ mình, nhưng chính là vì biết chắc rằng tôi không thể mến Chúa và yêu tha nhân, nếu không hy sinh cách này hoặc cách nọ, và nếu không đi qua đau khổ. Khi bắt chước Đức Kitô như vậy, tôi mới thật là môn đệ của Người” (Sđd, trg 135).

II. BÀI ĐỌC THÊM:
1. Đáp lại câu hỏi của Chúa bằng hành động, một câu hỏi luôn đặt ra cho ta (G.Bessière, trong “Dieu si proche”, DDB, trg 112-113).
Câu hỏi nổi lên từ giây phút Chúa cầu nguyện trong thinh lặng: Hôm đó “Chúa cầu nguyện một mình”.
Đức Giêsu thường tìm nơi thanh vắng. Người mau mắn đến đó, Người siêng năng đến đó để tìm gặp một Ai đó. Và chắc chắn cũng để bồi bổ sức lực để lại ra khơi.
Câu hỏi Người đặt ra cho các môn đệ Người, sẽ tồn tại qua các thế kỷ. Nó sẽ đánh động hàng ngàn hàng vạn lương tri. Bao lâu trái đất còn tồn tại, câu hỏi đó vẫn luôn luôn rộng mở “Đám đông nói Thầy là ai?”.
Đức Giêsu sẽ là nhân vật được yêu mến nhất trong lịch sử nhân loại. Người ta tuyên xưng tên Người khắp năm châu. Mọi cá nhân và tập thể đều ghi nhớ khuôn mặt của Người. Cả đến điện ảnh, ca nhạc, hoạt hình cũng nhắc lại hình ảnh bác thợ mộc thành Nadarét, vị ngôn sứ lữ hành, Đấng bị đóng đinh, Đấng phục sinh... Tuy nhiên, Người là ai đối với đám đông? Người là nhân vật mà người ta hân hoan mừng chúc mà không hề mảy may quan tâm đến lời nói, và hành động của Người, là nhân vật mà người ta trông đợi mọi sự ở đời sau, mà không muốn phấn đấu để đổi mới thế giới hiện tại chăng? Là nhân vật mà người ta gọi tên nhưng không hề tìm hiểu con đường Người đã khai mở chăng?
Các bạn hữu Người sẽ trả lời khi Người hỏi: “Còn các anh, các anh bảo Thầy là ai?”. Phêrô trả lời không ngần ngại: “Thầy là Đấng Mêsia của Thiên Chúa”. Nghĩa là: là Đấng người ta trông đợi, là Đấng khôi phục Israel, là Đấng đại diện Thiên Chúa quyền năng. Câu trả lời này chưa làm Đức Giêsu thỏa mãn.
Người sẽ đưa ra câu trả lời của mình, dường như người ta hỏi ngược lại Người. Nhưng Người sẽ không dùng một công thức, một danh hiệu hoặc một chức vụ làm câu giải đáp. Người sẽ nói lên những nguy hiểm mà Người đã trải qua. Nói lên cái chết mang lại cả ý nghĩa cho cuộc đời Người và cả sự phục sinh của Người nữa.
Người đi về phía đám đông và la to: Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo. Để cứu được mạng sống, Người đòi người ta phải liều mạng sống mình, phải hiến dâng mạng sống mình.
Ngày nay, trong thế giới này, dư dật và đói khổ, tiến bộ và thất vọng, khôn ngoan sáng suốt và vô tâm dửng dưng tất cả cùng chen vai sát cánh bên nhau, thì “theo Đức Giêsu” thế nào đây? Làm sao để được giải thoát, rồi trở thành người giải phóng đây? Làm sao đáp lại bằng hành động cho câu hỏi Chúa luôn đặt cho ta đây?
2. “Các anh bảo Thầy là ai?” Câu Chúa hỏi ta mỗi ngày (F. Deleclos, trong “Prends et mange la Parole de Dieu”, Centurion, trg 232-233)
Chính vào lúc vừa tâm sự thân mật với Cha Người xong, Đức Giêsu khởi đầu một giai đoạn mới trong việc đào tạo các môn đệ và đám đông dân chúng. Lòng tin, những ước mơ và niềm hy vọng được an thân của họ sắp bị lung lay tất cả. Đúng là “cớ vấp phạm cho người Do Thái, điên dại đối với dân ngoại”.
Sẽ cần phải từ từ dựng lên một cây thập giá trên hy vọng về một Đấng Mêsia toàn năng, được các tư tế hân hoan đón tiếp, được các nhà thông thái thừa nhận, công khai ủng hộ và nâng đỡ, được dân chúng tung hô đón rước và làm quân xâm lược Rôma sợ hãi, kính nể. Giờ đây, Đức Giêsu biết Ngài đi đâu. Trong thinh lặng cầu nguyện, Người đánh giá lại tình thế và lấy thánh ý Chúa Cha để sàng lọc tất cả. Người biết rằng mình sẽ không được những kẻ đang mong đợi, và những kẻ mà Người được sai đến hiểu biết và đón nhận. Còn phải chuẩn bị cho các tông đồ, các môn đệ và những người có cảm tình biết để sẵn sàng chấp nhận thử thách đáng sợ này.
Tin Mừng của Đức Kitô không phù hợp với tham vọng, và những giá trị trần tục, cũng không theo các lợi lộc, truyền thống và cách suy diễn của giới giàu có, thông thái và quyền thế, nên sẽ bị người ta nhân danh cả Thiên Chúa và chân lý mà tuyên bố là rối đạo, là nguy hại.
Các tông đồ và môn đệ đã tin chắc như đinh đóng cột rằng Đức Giêsu phải khải hoàn vào “thành đô” của Người cùng với vương miện hoàng tử trên đầu. Nhưng trong thành đô ấy sẽ chỉ có đồi Canvê và mão gai.
Thầy là Đấng Mêsia của Thiên Chúa! Một lời tuyên tín tuyệt vời. Nhưng liệu nó có thể có giá trị gì nếu ta không bước theo Đấng giải phóng, không luôn sẵn sàng từ bỏ cái nhìn hẹp hòi, cách suy diễn phiến diện, và những xác tín quá trần tục của ta?
Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai? Đó là câu Chúa hỏi ta mỗi ngày. Đó là lời mời gọi khẩn thiết để ta thường xuyên rà soát lại những ý tưởng ta có về Đức Giêsu và so sánh cách xử sự của ta với cách xử sự của Người.

 

CHÚA NHẬT XIII THƯỜNG NIÊN

ĐỨC GIÊSU LÊN GIÊRUSALEM
VÀ KÊU GỌI CÁC MÔN ĐỆ THEO NGƯỜI
ĐỪNG NGOÁI LẠI ĐÀNG SAU.
(Lc 9,51-62)


I. VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI:
1. Đường của Đức Giêsu, Người tôi tớ...
Đây là khúc quanh quyết định trong Tin Mừng thứ ba: cuộc hành trình lên Giêrusalem của Đức Giêsu mà chúng ta khởi sự đọc hôm nay và nó sẽ đưa ta đến đoạn 19,28, là đoạn tiêu biểu nhất trong “cuốn sách thứ nhất” của thánh Luca.
- “Khi đã tới ngày Đức Giêsu được rước lên trời”. “Rước lên trời” là cụm từ mà Luca đã sử dụng tới ba lần trong cuốn sách thứ hai của ông là “Công vụ Tông đồ” (1,2.11.22) ám chỉ cái chết cũng như cuộc thăng thiên của Đức Giêsu. Thoạt tiên, chúng ta được dẫn về hậu cảnh Kinh Thánh làm nền cho đoạn này: thời của ngôn sứ Êlia, vị ngôn sứ trước khi được “rước lên trời”, đã để áo choàng mình rơi xuống cho Êlisê, như dấu hiệu mời gọi (bài đọc I).
- “Đức Giêsu nhất quyết đi lên Giêrusalem”. Dịch sát là “Người trơ mặt ra” để đi lên Giêrusalem, theo gương Người Tôi Tớ của Giavê trong Isaia 50,7: “Đức Chúa đến cứu giúp tôi, nên tôi không hề hấn gì, nên tôi trơ mặt ra như đá”. Để được rước về bên Chúa Cha, Đức Giêsu, Người Tôi Tớ Giavê mà vị ngôn sứ đã loan báo, phải đi qua đau khổ và cái chết.
- “Người sai mấy sứ giả đi trước”, “họ vào một làng người Samaria để chuẩn bị cho Người đến”.
+ Để đi lên Giêrusalem, Đức Giêsu phải đi ngang qua Samaria, miền đất ngăn cách Galilê với Giuđê. Người sai các môn đệ đi chuẩn bị cho Người đến tại một làng Samaria. Hugues Cousin chú thích: “Đức Giêsu không giữ mối thù nghịch của người Do Thái đối với người Samaria, là một dân không còn thuần chủng nữa; họ coi Ngũ Kinh của Môsê là Sách Thánh, nhưng việc họ tôn thờ Thiên Chúa ở núi Garidim đã được coi như một thách thức liên tục đối với Đền thờ ở Giêrusalem. Đặc biệt, Đức Giêsu tiên báo tính cách phổ cập của việc truyền giáo của Hội Thánh, tính cách đó sẽ mở đầu tại chính Samaria (Cv 8,5...)” (“L'Evangile de Luc”, Centurion, tr. 145).
+ Không được dân làng đón tiếp, Giacôbê và Gioan nhớ đến gương của ngôn sứ Êlia, vị ngôn sứ đã khiến lửa trời thiêu rụi binh lính của vua A-khát-gia sai đến bắt ông (2V 1,10-12): “Thầy có muốn chúng con khiến lửa từ trời xuống thiêu huỷ chúng nó không?”. Các ông gợi ý như vậy.
Đức Giêsu quay lại quở mắng các ông, rồi đi sang làng khác. Người không phải là Đấng cải tổ cứng rắn mà Gioan Tẩy Giả mong đợi (3,16-18). Cũng giống như trường hợp Người bị người đồng hương Nadarét khước từ, Người lên đường đi “sang làng khác”.

2. ... đường của các môn đệ Người:
Ba cảnh tượng nhỏ nối tiếp đoạn trên nói lên những đòi hỏi của Đức Giêsu đối với những ai theo Người.
- Cảnh thứ nhất rất phổ biến trong giới ráp-bi Do Thái, nhắc đến trường hợp một người chọn một vị làm sư phụ, một khi đã lìa bỏ thân nhân được một hoặc hai năm, anh ta sẽ thụ giáo với vị sư phụ ấy.
Câu đáp của Đức Giêsu tỏ cho thấy Người khác với các vị ráp-bi kia. H. Cousin quảng giải: “Cuộc sống của Người là một cuộc hành trình liên tục, vì Người luôn bị khước từ như ta vừa thấy trong trình thuật trước. Bị xua đuổi, Người đã phải trốn chạy nhiều hơn là tựa đầu để nghỉ ngơi. Vì thế những ai muốn theo Người, muốn làm môn đệ Người, sẽ phải chia sẻ cuộc sống của một người không có nơi cư trú cố định phải lấy đêm làm ngày lấy ngày làm đêm.” (Sđd. trg 146-147).
- Trong cảnh thứ hai về ơn gọi, Đức Giêsu đi bước trước. Người nói với một người vừa mất cha: “Hãy theo tôi”. Và vì người ấy xin khoan giãn một ít ngày để hoàn tất việc tống táng cha (khoảng 1 tuần lễ), Đức Giêsu giáng một câu như búa bổ, kêu gọi người ấy phải dành ưu tiên cho tình hình khẩn trương của việc rao giảng Tin Mừng: “Hãy để kẻ chết chôn kẻ chết. Còn anh, anh hãy đi loan báo Triều Đại Thiên Chúa”.
- Cảnh sau cùng gợi ta nhớ lại trình thuật về ơn gọi của ngôn sứ Êlisê, ông đã xin phép Êlia về từ giã cha mẹ. Một người tự ý đến xin đi theo Đức Giêsu, nói với Chúa: “Xin cho phép tôi từ biệt gia đình trước đã”. Người đó được Chúa kêu gọi hãy dứt khoát với quá khứ và đừng ngoái lại đàng sau, giống như Êlisê thời xưa, hãy hiến dâng hoàn toàn cho việc rao giảng Nước Thiên Chúa.
H. Cousin vội giải thích thêm nhằm làm dịu những lời cứng cỏi của Đức Giêsu: “Các môn đệ đã chăm sóc thi hài của Đấng bị đóng đinh (25,53-56) và Hội Thánh thời xưa rất tôn trọng việc an táng người quá cố... Và nếu Phêrô cùng các bạn ông đã rời bỏ gia đình họ trong những năm Chúa thi hành sứ vụ, thì sau này các Ngài có đem theo bạn đời trong những chuyến đi truyền giáo (1Cr 9,5). Tin Mừng Luca ở đây chỉ muốn ta luôn tìm mọi cách để đặt việc rao giảng Tin Mừng bằng lời nói và bằng hành động lên hàng ưu tiên trong đời sống thường nhật.” (Sđd, trg 147-148).

II. BÀI ĐỌC THÊM:
1. Không thể làm môn đệ Đức Giêsu, nếu vừa hiến dâng vừa giữ lại (Đức cha Daloz “Dieu a visitéson peuple”, DDB, trg 83-84).
“Khi đã đến ngày Đức Giêsu được rước lên trời, Người nhất quyết đi lên Giêrusalem”. Đó là khúc ngoặc quyết định. Chúng ta đã được mời xem xét cụm từ “được rước lên trời”. Con đường Đức Giêsu phải đi thì lắm gian nan vất vả. Người “trơ mặt ra”: đó là cụm từ sát nghĩa, phải dịch ra là “Người nhất quyết...” Người đã biết điều gì đang chờ đợi Người. Một ngày nào đó Người sẽ nói: “Lạy Cha, nếu Cha muốn, xin tha cho Con khỏi uống chén này...” (22,42). Còn bây giờ Người phải lấy can đảm lên đường đi lên Giêrusalem “thành sát hại các ngôn sứ”.
Không đợi đến Giêrusalem mới gặp chống đối: Người ta đã từ chối đón tiếp Người ngay tại một ngôi làng trong miền Samaria. Người sẽ phải dạy cho các môn đệ hiểu rằng việc “nhất quyết” lên Giêrusalem không phải là muốn chiến thắng nhóm chống đối bằng vũ lực. Giacôbê và Gioan muốn khiến lửa từ trời xuống thiêu rụi dân làng đã từ chối đón tiếp các ông. Người quở trách các ông. Sau đó, đang khi đi đường, Người dần dần giải thích cho các ông hiểu thế nào là đi theo Người. Người đi lên Giêrusalem để bị nộp, bị cất khỏi thế gian này. Ai muốn theo Người thì không được tìm kiếm một cuộc sống yên hàn dễ chịu: “Con Người không có nơi để tựa đầu”. Ai muốn theo Người, cũng phải nhất quyết lên đường, và để kẻ chết chôn kẻ chết. Ai đã tra tay cầm cày theo Người thì đừng ngoái nhìn lại đàng sau. Đức Giêsu làm người “mặt dày mày dạn” bước đi đầu. Người đã chấp nhận để được cất khỏi thế gian và Người không ngoái lại phía sau. Người đang chỉ đường cho ai muốn theo Người. Người ta không thể làm môn đệ Người nếu vừa hiến dâng lại vừa giữ lại. Cái gì vốn giữ ta lại ta đều biết rõ. Thường chúng ta muốn theo Người mà không phải bỏ lại cái gì. Vậy thì theo Người còn có giá trị gì? Con đường mà Chúa bước vào là con đường đòi can đảm và hiến thân. Đó cũng là con đường mà Chúa mời gọi ta cùng đi để theo Người.

2. Ngoái lại đàng sau. (G. Boucher, “Le ciel sur terre”, trg 47).
Khi tôi ngoái lại đàng sau, tôi thấy con đường đã di qua, tiến bộ đã thực hiện, những mối quan hệ đã nối kết, những sự nghiệp đã xây dựng... Tưởng chừng chúng tôi đã cùng nhau lớn lên.
Được như vậy không phải là không cố gắng hay không thất bại. Chúng tôi đã có lúc trải qua nghi ngờ và vỡ mộng. Có những đường cắt ngang và những ngõ cụt. Có những vết thương và chết chóc. Nhưng chúng tôi đã sống.
Có lẽ cái ngoái nhìn lại đàng sau đồng hóa với việc hồi tưởng lại những gì đã qua. Có thể ta nuối tiếc thời đã qua và ước mong một thời khắc mới. Một thời kỳ có lẽ hạnh phúc. Mọi sự đều trôi chảy. Và không thiếu thói giả hình để che đậy cái quá khứ kia một cách lãng mạn. Ấy chính là cảnh thiên đàng dưới thế.
Không gì làm cạn kiệt năng lực hơn là mất quá nhiều thời giờ như vậy. Hiện tại xem ra chỉ lừa dối. Ta không còn ham muốn và thích hoạt động nữa. Ta triền miên nhung nhớ cái thời mà các giá trị hướng dẫn xã hội; thời mà người ta coi sự dấn thân là thần thánh, thời mà tôn giáo động viên quần chúng, thời mà đức tin là chuyện đương nhiên.
Ta xác tín những điều vừa nói đến như vậy sao? Và như thế, người Kitô hữu không quay lưng lại với mầu nhiệm căn bản của đức tin: mầu nhiệm nhập thể đó sao? Hãy sống thời giờ mình có. Hãy làm chứng ngày này qua ngày khác. Hãy lãnh lấy trách nhiệm của thế hệ mình. Cùng đồng hành với xã hội và giúp xã hội tiến lên...
Khi có được khôn ngoan nhờ tuổi tác và kinh nghiệm, người ta dễ bị cám dỗ nói rằng: thời của tôi đâu có như vậy!
Thời của tôi ư? Nhưng thời của tôi là hôm nay đây. Quá khứ đã qua rồi, nó đã chết. Ta hãy để kẻ chết chôn kẻ chết. Phần nào của quá khứ mà còn sống động thì ta đã hòa nhập nó rồi. Nó trở thành thịt, thành tim của ta. Nó được ghi chép vào những trang sử sách của ta, trên những tượng đài và trong ký ức của ta, trong tâm khảm của những tổ chức, trong những tiến bộ xã hội, và trong quá trình đức tin của ta...
Thời của tôi là hôm nay. Hôm nay với những rủi ro và may mắn của nó. Với vẻ nặng nề và duyên dáng của nó. Với những bóng tối và ánh sáng của nó... Ca ngợi thời xưa và nguyền rủa thời đại mình đáng lửa hỏa ngục và lửa trời, rốt cục phải chăng là tự nhận mình làm chúa tể tạo vật? Là tự phong mình làm Chúa giả đấy ư?
Hãy tin vào hôm nay. Hãy phấn đấu mỗi ngày. Hãy Phúc Âm hóa không ngừng thời đại của mình và lối sống đặc thù của nó. Hãy chứng tỏ đức tin trên mọi nẻo đường quanh co cũng như trên những con đường thẳng tắp. Hãy phân định Chúa Thánh Linh vẫn hoạt động trong lòng mọi người và trong thế giới hôm nay cũng như hôm qua... đấy là sứ mạng thường xuyên của Hội Thánh vậy.

 

CHÚA NHẬT XIV THƯỜNG NIÊN

SAI BẢY MƯƠI HAI MÔN ĐỆ LÀM SỨ GIẢ HOÀ BÌNH
(Lc 10,1-12)


I. VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI:
1. Từ ân huệ được gọi:
Sau khi gọi và sai Nhóm Mười Hai đi truyền giáo theo Luca 6,12-15 và 9,1, giờ đây đến việc gọi và sai nhóm Bảy Mươi Hai môn đệ lên đường đi rao giảng.
- Sau khi Đức Giêsu đã cầu nguyện suốt đêm trên núi, và trước khi giảng “Bài giảng ở đồng bằng”, Người đã tuyển lựa Mười Hai người trong nhóm các môn đệ, mà Người gọi là “tông đồ” (ý nghĩa của danh xưng đó là “người được sai đi”). Con số “Mười Hai” bằng số các chi tộc Israel, đó là một cách biểu trưng để loan báo việc thành lập một dân Thiên Chúa mới. Và Người đã sai họ đi “công bố Nước Thiên Chúa và chữa lành bệnh tật” (9,1-6). Khi các ông trở về, Đức Giêsu đã làm cho bánh hóa nhiều để nuôi dân chúng (9,10-17: Tin Mừng lễ Mình Máu Chúa Kitô), rồi sau đó đặt câu hỏi về căn tính đích thực của Người (cũng trong bối cảnh cầu nguyện): “Còn anh em, anh em bảo Thầy là ai?” Phêrô đã tuyên xưng: “Thầy là Đấng Mêsia của Thiên Chúa” (9,18-20).
- Chính khi vừa mới hiển dung trên núi “trong lúc cầu nguyện” (9,29) và “nhất quyết lên đường đi Giêrusalem” (9,51), là lúc Người chỉ định 72 người trong số các môn đệ và sai các ông cứ từng hai người một đi trước, vào tất cả các thành, các nơi mà chính Người sẽ đến.
+ Ở đây Luca tặng Đức Giêsu danh xưng mang âm sắc phục sinh “Đức Chúa”, bởi vì ông đọc lại sự kiện này dưới ánh sáng của biến cố phục sinh và việc Hội Thánh mở rộng cửa cho dân ngoại.
+ Số 72 phải hiểu là con số biểu trưng. Theo truyền thống Do Thái, dựa vào sách Sáng Thế chương 10, số 72 chỉ toàn thể dân ngoại. Ở đây dưới bút pháp của Luca, chính ông cũng từ dân ngoại mà đến, số đó chỉ tính phổ cập của sứ mạng truyền giáo được trao cho Hội Thánh, một sứ mạng được Đức Giêsu chỉ thị ngay lúc còn tại thế.
H. Cousin giải thích: “Bảy mươi hai ông thực ra không phải chỉ là những giao liên tiền trạm, nhưng họ chính là những đại sứ đặc mệnh toàn quyền, giống như Nhóm Mười Hai, có quyền lực trên các thần dữ (9,17) và có trách nhiệm công bố Nước Thiên Chúa (10,9.11). Như thế tác giả muốn xác định rằng không chỉ có Mười Hai ông mới được chính Đức Giêsu bổ nhiệm đi truyền giáo trước lễ Vượt qua. Nhưng khi Đấng Phục sinh hiện ra, thì cả Nhóm Mười Một với những người đồng hành sẽ là những người được Chúa trao cho sứ mạng truyền giáo.” (“L'Evangile de Luc”, Centurion, trg 150).
+ Đức Giêsu tuyển lựa họ không phải để làm tùy viên ở bên Người, mà để “sai đi” loan báo Tin Mừng Nước Thiên Chúa. R. Meynet giải thích: “Đức Giêsu không thành lập một triều đình, Người không chiêu mộ các đồng chí, mà Người thuê mướn lao công để làm việc, để cày bừa và gặt hái.” (“L'Evangile selon Saint Luc, Analyse rhétorique”, cuốn 2, trg 123).
+ Sứ mệnh của họ đồng hoá với sứ mệnh của Đức Giêsu: là loan báo rằng “Nước Thiên Chúa đang đến gần”, “mùa gặt” (một hình ảnh truyền thống của Sách Thánh ám chỉ ngày tận thế), thời “hòa bình” (sự thiện tối ưu của Đấng Mêsia), thời “cứu độ” của Thiên Chúa đã đến. Khẩn thiết phải lựa chọn và phải chọn cho đúng: “Ai nghe anh em là nghe Thầy, ai khước từ anh em là khước từ Thầy; mà ai khước từ Thầy; là khước từ Đấng đã sai Thầy”.
. Sứ mệnh không biên giới: “Họ được sai đi vào tất cả các thành và các nơi”. Sứ mệnh không cân xứng, quá lớn lao đối với một số thợ quá ít: nên “cần phải xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về”.
. Họ được sai đi “từng hai người một”, bởi vì theo truyền thống Kinh Thánh, người ta không được đặt tin tưởng vào lời xác quyết của một người duy nhất, mà phải cần có lời của hai hoặc ba nhân chứng.
H. Cousin quả quyết: “Con số hai không do ngẫu nhiên, bởi vì khi có tranh cãi (Đnl 19,15) câu nói đáng tin phải dựa trên lời của hai hoặc ba nhân chứng, trường hợp giả dụ được nói đến ở câu 10-11. Trong sách Công vụ Tông đồ, Luca sẽ minh họa công việc truyền giáo của “từng cặp”, như Phaolô với Barnaba (13,2-4), Barnaba với Máccô, Phaolô với Sila (15,39-40).” (Sđd, tr. 150-151).
. Sứ mệnh khẩn cấp không được trì hoãn. Giống như xưa kia người đầy tớ của ngôn sứ Êlisê trong sách 2V4,29, các sứ giả được lệnh đừng mất nhiều thời giờ trong việc chào hỏi, theo những nghi thức chào hỏi dài lê thê của người phương Đông.
. Sứ mệnh đòi hỏi gắt gao, thúc giục người sứ giả phải sống với thái độ từ bỏ liên lỉ và hoàn toàn phó thác vào bàn tay quan phòng của Thiên Chúa.
R. Meynet giải thích: “Người được sai chỉ có bạn đường đã được chỉ định cho anh, vừa là trợ thủ vừa là gánh nặng. Họ phải chờ đợi tất cả, nhận lãnh tất cả từ người khác, có khi là nơi trú ngụ và bữa ăn, có khi là chửi rủa và vết thương do chói sói cắn. Họ hoàn toàn tùy thuộc vào ý muốn của người khác. Và đồng thời, họ cũng được khuyên nhủ, lấy tâm tình cầu nguyện đặt mình lệ thuộc hoàn toàn vào Thiên Chúa. Mùa gặt mà họ đang lao động không phải của họ, mà của người khác. Họ không phải là chủ ruộng. Là thợ, luôn bận bịu với công việc, họ được thúc giục hãy xin thêm người giúp. Thiên Chúa là vị trợ lực duy nhất, chỉ có Người mới có thể sai thêm thợ khác” (Sđd, trg 123).
. Sứ mệnh “hòa bình”, bởi vì bình an của thời cứu thế, bình an của Vương quốc, bình an mà ông Giacaria ca ngợi trong bài “Chúc tụng Đức Chúa” (1,79), bình an mà ông Simêon mong đợi (2,29) từ nay được ban tặng trong Đức Giêsu. Người căn dặn các môn đệ: “Vào bất cứ nhà nào, trước tiên hãy nói: “Bình an cho nhà này””.

2. ... đến việc tạ ơn của người được sai đi.
Giống như người thợ gặt của Thánh Vịnh 125, Bảy Mươi Hai ông trở về, hớn hở, sự vui mừng hớn hở mà ta sẽ thấy bừng lên trong sách Công vụ Tông đồ, vì tốc độ phát triển của việc rao giảng Tin Mừng. Còn ở đây, các ông vui mừng hớn hở vì thành quả của sứ vụ, vì cảm nghiệm thấy hiệu lực lạ lùng của Lời Chúa: “Thưa Thầy, nghe đến danh Thầy, cả ma quỷ cũng khuất phục chúng con”, Triều đại Thiên Chúa đúng là đã đến gần.
Bấy giờ Đức Giêsu giúp các ông khám phá ra tầm quan trọng sâu xa của những việc mà các ông đã thực hiện. (“Thầy đã thấy Satan như một tia chớp từ trời sa xuống”) và nguồn gốc quyền năng mà các ông đã cảm nghiệm, cũng như động cơ đích thật của niềm vui tràn đầy nơi các ông, đều là ân huệ đặc biệt mà Thiên Chúa đã mạc khải cho các ông hết thảy; Người bảo các ông: “Anh em hãy vui mừng vì tên anh em đã được ghi trên trời”. Và Người đưa các ông đến tâm tình tạ ơn “nhờ tác động của Chúa Thánh Thần”: “Lạy Cha, là Chúa Tể trời đất, Con xin ngợi khen Cha, vì Chúa đã giấu kín không cho bậc thông thái biết những điều này, nhưng lại mạc khải cho những người bé mọn...” (lời tạ ơn này không có trong bài đọc của Chúa nhật XIV thường niên hôm nay).
Vào thời buổi mà biết bao cơ cấu trong cộng đoàn giáo hội bị tan rã, những cơ cấu đã được thiết lập rất công phu từ bao thế kỷ, vào thời buổi mà cơn cám dỗ bi quan ngự trị, trình thuật này của Luca thật rất hợp thời. Nó nhắc nhở ta rằng, từ ngày lễ Hiện Xuống, ta sống trong thời kỳ mùa gặt, rằng mỗi giờ mỗi khắc, ở một nơi nào đó, một trái cây đang chín và rằng Ông Chủ có thể kêu gọi những nhóm thợ gặt mới để thế chỗ cho những thợ đã kiệt sức. Trang Tin Mừng này thúc giục những ai muốn cho người ta nghe Tin Mừng hãy chia sẻ hoàn cảnh sống của mọi người, với thái độ cởi mở và giản dị, đồng thời hoạt động không mệt mỏi cho hòa bình và tình huynh đệ ngự trị, làm cho thế giới trở thành Nhà của Thiên Chúa, thành một Giêrusalem phong phú dư dật những của cải khác nhau của trái đất mà ngôn sứ Isaia loan báo trong bài đọc I. (“Assemblée du Seigneur”, trg 72, số 45).

II. BÀI ĐỌC THÊM:
1. Thiên Chúa cần con người, nên không ngừng kêu gọi và sai đi (Deleclos trong “Prends et mange la Parole”, Centurion, trg 236-237).
Vậy mùa gặt lúc nào cũng bội thu, nhưng thợ gặt luôn quá ít và được “sai đi như những con chiên vào giữa sói rừng”. Những con chiên này sẽ là những người loan báo tình huynh đệ và hoà bình, tình yêu thương và tha thứ. Họ được giao một sứ vụ, nhưng là sứ vụ chứng nhân. Họ không có nhiệm vụ phân phát những đồ chơi điện tử hoặc giấy bảo hiểm, các ngẫu tượng hoặc tượng thánh đem may mắn. “Điều quan trọng không phải là việc cắt bì, nhưng là việc làm nên tạo vật mới” (bài đọc 2).
Người môn đệ truyền giáo không phải tôn trọng luật về “quota”, cũng không phải bận rộn làm bản thống kê. Người môn đệ ấy không được biến những “thành công” của mình thành cớ khoe khoang háo danh bởi vì chỉ một mình Thiên Chúa thành công và hoạt động trong âm thầm.
Tuy nhiên, mùa gặt sẽ không thu hoạch được nếu không có thợ gặt. Thiên Chúa cần đến mọi người chúng ta, cả nam lẫn nữ. Bởi vậy, Người không ngừng kêu gọi. Cũng vì lý do đó, ta cần phải cầu xin. Nhưng cầu xin mà không ta thán. Cầu xin chứ đừng quan tâm đến con số như một kế toán viên hoặc như một nhà xã hội học.
Đàng khác, lời cầu xin không chỉ hệ tại việc xin xỏ, nhưng hệ tại việc để mình được soi sáng, lắng nghe và sẵn sàng đáp ứng. Dù là ai, có lẽ chúng ta đều là những thợ gặt mà chủ ruộng muốn sai đến để gặt hái cho ông. Chúa cần đến những tông đồ, những người môn đệ, những chứng nhân chứ không phải chỉ cần đến linh mục. Chúa không chỉ mướn những thợ thường trực là linh mục hay tu sĩ. Sẽ là một xỉ nhục cho Thần Khí nếu ta muốn áp đặt mơ tưởng và tính toán của ta cho Chúa Quan Phòng, hoặc muốn định đoạt số người, loại người làm thợ gặt.
Nhờ phép rửa, mọi người chúng ta đều đã được “chỉ định” cả. Mỗi khi cử hành Thánh Thể, Chúa xem xét tình hình, lập bản tổng kết, tăng cường lòng tin cậy của ta và sai ta đi như những con chiên, như những người kiến tạo hòa bình, ở giữa bầy sói rừng.

2. Mọi người đều được gọi vào làm việc ở đồng lúa chín (L. Sintas “Parole de Dieu pour la méditation et l'homélie, Anmée C”, Médiaspaul, trg 96).
Phương cách duy nhất để trở nên môn đệ của Đức Kitô, là đón nhận trong ta điều mà Đức Giêsu xưa đã trăn trở trong những năm tháng sống trên trần gian. “Lúa chín thì nhiều mà thợ gặt thì ít”. Trước đây người ta thường dành danh xưng “thợ gặt” cho các linh mục, các tu sĩ nam nữ, các nhà truyền giáo. Đây là một sự nhầm lẫn. Không ai có thể trở thành Kitô hữu mà lại không cảm nghiệm nơi mình nỗi lo âu của Đức Giêsu trước cánh đồng lúa chín mênh mông. Những tác vụ đa dạng sẽ làm nảy sinh những hình thức hoạt động khác nhau nơi mỗi người, nhưng ai nấy theo cách của mình, đều được gọi vào làm việc ở đồng lúc chín.

 

CHÚA NHẬT XV THƯỜNG NIÊN

THEO CHÂN ĐỨC GIÊSU,
TRỞ NÊN NGƯỜI THÂN CẬN VỚI BẤT CỨ AI GẶP NẠN
(Lc 10,25-37)


I. VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI:
1. Một giới luật yêu thương ...
Đức Giêsu đã lên đường đi Giêrusalem, nơi Người sẽ tự ý dâng hiến mạng sống vì yêu anh em mình. Lúc đó có một người thông luật đặt câu hỏi này để thử Người: “Thưa Thầy, tôi phải làm gì để được sự sống đời đời làm gia nghiệp?”.
Đức Giêsu đáp lại bằng một câu hỏi: “Trong luật đã viết gì? Ông đọc thế nào?”. Giống như một cậu học sinh trả lời cho người mà ông ta muốn thử tầm hiểu biết và tính chính thống về đạo lý, vị thông luật bắt đầu trích dẫn lệnh truyền của sách Đệ Nhị Luật 6,4, mà mọi người Do Thái đạo đức đọc mỗi ngày hai lần trong kinh Shema: “Người hãy yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết sức lực và hết trí khôn ngươi”. Và ông liền đọc tiếp Luật của sách Lêvi 19,18: “Và người thân cận như chính mình”. Trích dẫn câu Kinh Thánh ấy hoàn toàn phù hợp với giáo huấn của Đức Giêsu. Người vừa khen ngợi câu trả lời, lại vừa khuyên nhủ vị thông luật hãy thực thi giới luật yêu thương theo hai chiều kích ấy. “Làm” như vậy sẽ cho phép ông nhận được “sự sống đời đời” làm gia nghiệp, điều ông đã thắc mắc qua câu hỏi ban đầu.

2. ...để đem ra thực hành...
Cuộc đối thoại ngay sau đó được chuyển sang một câu hỏi mới của vị thông luật, “muốn chứng tỏ mình là người công chính”: “Nhưng ai là người thân cận của tôi?”. Ta càng hiểu rõ hơn tại sao có câu hỏi đó, nếu ta biết rằng có một vài khoản trong Lề Luật tương phản với nhau; trong một vài trường hợp - như phần tiếp theo của bản văn Tin Mừng sẽ cho thấy - lòng yêu mến Thiên Chúa và lòng yêu người thân cận xem ra loại trừ nhau.
Đức Giêsu tránh trả lời trực tiếp, để khỏi sa vào cái “mớ bòng bong” của khoa giải các nố luật. Người nêu ra cho nhà thông luật ấy một dụ ngôn... mở ra cho giới luật yêu thương tha nhân một lãnh vực không giới hạn.
Sự kiện xảy ra trên quãng đường dốc, rất thuận lợi cho đạo tặc phục kích; con đường sa mạc (dài 25 cây số) từ Giêrusalem đến Giêricô là nơi thấp hơn Kinh đô đến 1090 mét.
Ngoài tên đạo tặc và người chủ quán, ba nhân vật hết sức điển hình là một “thầy tư tế”, rồi một “thầy Lêvi”. Cả hai là khách qua đường, sau cùng là “người Samaria”. Cả ba người đều bất ngờ gặp “người bị kẻ cướp trấn lột, đánh như tử, rồi bỏ lại nửa sống nửa chết ở bên đường”; ta không biết thân thế trong đạo ngoài đời của người đó ra sao. Lối hành văn theo một khuôn mẫu định sẵn của dụ ngôn càng làm nổi bật nét giống nhau và khác nhau trong cách xử sự của các nhân vật.
- Người đầu tiên đi trên đường này là một “thầy tư tế”, người của phụng tự, người của Đền Thờ. Ông trông thấy kẻ bị thương, nhưng ông cũng nhớ đến lệnh cấm trong sách Dân Số 19,11-13,16: “Ai chạm vào xác chết... vào một người bị ám sát..., một người chết, sẽ mắc dơ trong bảy ngày”. Ông quên mất lời Chúa trong sách ngôn sứ Ôsê 6,6: “Ta muốn lòng nhân từ, chứ không muốn hy lễ”. Ông “tránh qua bên kia mà đi”.
- Sau đó tình cờ có thầy Lêvi, một nhân vật tượng trưng cho giới lãnh đạo Do Thái giáo, ông “cũng thấy, cũng tránh qua bên kia mà đi”, chắc hẳn cũng vì những lý do vừa nói.
- Sau cùng, “một người Samaria đi đường” cũng tới chỗ ấy. H. Cousin nêu rõ: “Người này là một người lạc giáo, chỉ công nhận bộ Luật viết, là Ngũ Kinh, mà phi bác Luật truyền khẩu. Dưới con mắt của vị thông luật, hẳn đó là người hoàn toàn đối chọi với hai vị tôi tớ đáng kính của Đền Thờ.” (“L'Evangile de Luc”, Centurion, tr. 158).
Vậy, trong khi hai vị kia tránh xa người mà họ coi như một xác chết, và có thể khiến họ thành ra dơ, thì người Samaria “chạnh lòng thương” - giống như chính Đức Giêsu chạnh lòng thương trước nỗi đau của bà góa Naim ở 7,13 - khi thấy bà đau khổ. Trong khi hai vị giáo sĩ kia, vì tôn trọng luật về thanh tẩy đã tách rời lòng mến Thiên Chúa với lòng yêu tha nhân, và ... đã tránh qua bên kia đường, thì người Samaria “lại gần, lấy dầu, lấy rượu đổ lên vết thương cho người ấy và băng bó lại, rồi đặt người ấy trên lưng lừa của mình, đưa về quán trọ mà săn sóc”. Bằng hành động, ông đã chứng tỏ, ông hiểu rõ ý Thiên Chúa mà ngôn sứ Ôsê đã diễn tả, hơn những vị đại diện Do Thái giáo chính thống kia nhiều.
R. Meynet còn lưu ý thêm: “Không ai là người ngoại trong số ba ứng viên cứu nạn kia, nhưng cả ba đều có đạo và tuân giữ Luật. Nhưng thầy tư tế, và thầy Lêvi đứng về phía quân cướp...; vì cũng như bọn đó, các ông bỏ đi, để mặc người ấy nửa sống nửa chết, các ông còn mang tội không cứu giúp người bị nạn. Còn người Samaria, là quân lạc đạo bị người Do Thái khinh miệt và khai trừ, thì lại yêu người bị thương như chính mình: ông hy sinh bản thân, hy sinh vật cỡi, hy sinh tiền bạc” (“L'Evangile de Luc. Analyse rhétorique”, cuốn 2, trg 126).

3. ... trở nên người thân cận với bất cứ ai gặp nạn.
Để kết thúc dụ ngôn, Đức Giêsu đổi ngược lại câu hỏi, mà vị thông luật đã đặt ra hồi nảy: “Vậy ai là người thân cận của tôi?”. Đức Giêsu hỏi lại ông ta: “Theo ông nghĩ, trong ba người đó, ai đã tỏ ra là người thân cận với người đã bị rơi vào tay kẻ cướp?”
Không do dự, vị tiến sĩ luật đáp rất chính xác: “Chính là kẻ đã thực thi lòng thương xót đối với người ấy”. Như vậy, theo ông, không cần biết ai là người thân cận của mình nữa, mà điều quan trọng là tìm cách nào để trở nên người thân cận, người gần gũi với bất cứ ai đang cần giúp đỡ. H. Cousin giải thích: “Hỏi ai là người thân cận của mình, vị thông luật tự đặt mình làm trung tâm thế giới, và nhìn mọi người như những vệ tinh quay chung quanh mình. Đức Giêsu đảo ngược vấn đề.. Người thân cận là người thực thi lòng thương xót, chứ không phải người hưởng thụ lòng xót thương”.
- Đến lúc này, Đức Giêsu chỉ cần kêu mời người đối thoại, hãy chứng tỏ tình thương huynh đệ nhưng-không, vô vị lợi, thực tế, giống như người Samaria lạc đạo: “Ông hãy đi, và cũng hãy làm như vậy!”
Chúa nhật XIII, chúng ta đã theo chân Đức Giêsu lên đường đi Giêrusalem. Hôm nay, chúng ta hiểu rằng con đường lên Giêrusalem phải qua tình thương huynh đệ, là luật vượt trên mọi luật.

II. BÀI ĐỌC THÊM:
1. “Hãy là người thân cận của mọi người” (Henri Denis, “100 mots pour dire la Foi”, trg 209-210).
Mọi người đều biết dụ ngôn người Samaria cho ta chứng kiến một sự đảo ngược. Câu hỏi được đặt ra lúc đầu là: “Ai là người thân cận của tôi?” cuối cùng lại trở thành “Ai đã tỏ là người thân cận với kẻ bị rơi vào tay bọn cướp?”.
Sự đảo ngược này mang đầy ý nghĩa và nhiều đòi buộc mới mẻ. Thật vậy, chỉ định trước ai là đối tượng của lòng xót thương nơi ta, thiết tưởng là thuận tiện hơn đấy. Hãy để ý xem tĩnh từ sở hữu: “của tôi” (thân cận của tôi) được đặt ở chỗ nào. Người ta đã chỉ trích khá nhiều công việc từ thiện của một vài mệnh phụ, chuyên làm việc từ thiện, các bà ấy có khách hàng của các bà (xin tạm gọi vậy). Người thân cận không phải một khách hàng, cũng không phải cơ hội để ta thực hành nhân đức. Người thân cận là người cải hóa ta, người bắt ta trở về với mình để kiến tạo ta nên một người thực sự gần gũi.
Trở nên gần gũi không dễ dàng đâu. Cần phải có trái tim, nếu không sẽ trở thành giả tạo. Cũng cần phải có sự sáng suốt, và nhất là sự tế nhị cao độ đến nỗi có thể cho đó là một chút nhẹ dạ. Điều đẹp đẽ nhất trong cử chỉ của người Samaria là tính vô-vị-lợi của ông; ông không màng tới một lời cám ơn.
Có những người khiến người khác phải mang nặng quyền lực của họ. Nhưng kẻ đặt trên vai người khác gánh nặng bác ái từ thiện của họ, thiết tưởng còn trầm trọng hơn. Chỉ có bác ái thật sự khi nó giải thoát, khi nó khiến tôi trở nên người gần gũi, nên người anh em vì vốn chẳng ai mắc nợ ai điều gì.
Hoàn toàn nhưng không.

2. Được mời gọi “hãy làm như vậy”, cùng với vị thông luật (Fabien Deleclos: “Prends et mange la Parole”, Centurion Duculot, trg 237)
Sao lại trách cứ vị tư tế thánh thiện và vị “phó tế” nhiệt thành này? Họ là những người có trách nhiệm phục vụ để Thiên Chúa được tôn vinh và phụng thờ trên hết mọi sự. Hai người tôi tớ trung thành ấy có lý do chính đáng để giữ sự trong sạch theo luật định, bởi vì “ai chạm vào xác chết (...), hoặc một người bị ám sát, một người chết (...) sẽ mắc dơ trong 7 ngày” (Ds 19, 11-13.16)... Trong trường hợp đó vị tư tế hoặc thầy Lêvi không được làm việc phượng tự.
Những người giữ luật như vậy lầm rồi. Vì khi giữ luật, họ lại phản bội luật. Khi tưởng rằng tôn kính Thiên Chúa, họ lại xúc phạm đến Người. Thiên Chúa ở đó kìa, Người ẩn mình dưới dạng một người bị thương nửa sống nửa chết trong cái hố bên đường.
Đấy không phải lúc tra vấn xem nạn nhân thuộc tôn giáo nào, quốc tịch nào, chủng tộc hoặc ngôn ngữ nào, cũng không phải là lúc nhút nhát ẩn mình sau tấm bình phong truyền thống để được an toàn. Việc đạo đức và lòng sùng kính chỉ là những phương tiện non yếu và tạm thời phải nhường chỗ cho đức bác ái là cái tuyệt đối nhất định. Đức ái bày tỏ ra trong tình yêu thương người thân cận là bằng chứng cụ thể tình yêu chân thành của ta đối với Chúa.
Kết cục có hậu, cái bẫy đã không hoạt động và viên tiến sĩ luật đã hiểu ra bài học thực hành. Ông ấy, và sau ông, cả chúng ta nữa, đều được mời gọi hãy làm như vậy. Không phải Lề Luật có thể cứu độ, cũng không phải các nghi thức và việc tuân hành luật, nhưng chính là việc hoán cải tâm hồn và Tình Yêu được phục vụ trước hết.
Hiểu Luật theo cách của Đức Giêsu, không cần tìm xem ai là người thân cận, nhưng đúng là làm thế nào để “trở nên người thân cận của ai đó?”, là biết “chạnh lòng thương” biết gạt bỏ mọi thành kiến về giai cấp và chủng tộc, về địa vị và tôn giáo.
Khi cử hành tiệc Thánh Thể, ta đã nhận biết và tiếp đón Chúa (Lời Chúa và Bánh), thì khi ra về, hãy cố gắng đừng giả bộ không nhận ra hoặc lẩn tránh Chúa khi ta gặp Người bên vệ đường.

 

CHÚA NHẬT XVI THƯỜNG NIÊN

TRÊN ĐƯỜNG LÊN GIÊRUSALEM,
ĐỨC GIÊSU DỪNG CHÂN TẠI NHÀ
CỦA MÁCTA VÀ MARIA.
(Luca 10, 38-42)


I. VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI:
1. Dừng chân trên đường lên Giêrusalem...
“Trên đường” lên Giêrusalem “cùng với các môn đệ”, Đức Giêsu vào một làng kia. Người được “một phụ nữ tên là Mácta” mời vào nhà, Người thực thi điều đã dạy các môn đệ: “Vào bất cứ thành nào mà được người ta tiếp đón, thì cứ ăn những gì người ta dọn cho anh em” (Tin Mừng Chúa nhật XIV).
Trình thuật về câu chuyện này tiếp liền với Dụ ngôn người Samaria nhân hậu, mà ta vừa đọc trong Chúa nhật trước, tạo nên một kết cấu hai mặt, một bộ tranh gồm hai bức. Như vậy nếu có ai nêu bản văn Tin Mừng này như lý lẽ làm chứng rằng đời chiêm niệm cao trọng hơn đời hoạt động, thì mạch văn mà Luca sử dụng sẽ thuyết phục họ từ bỏ ý định đó. Nếu sự việc hôm nay soi tỏ giới răn yêu mến Thiên Chúa, thì tấm gương của người Samaria nhân hậu cũng soi tỏ tuyệt vời giới răn thương người thân cận. Nó tỏ cho thấy, người môn đệ lắng nghe Lời Chúa sẽ đi đến những kết luận thực hành nào.

2. ... hai hình thức đón tiếp Đức Giêsu bổ túc lẫn nhau.
Chân dung hai chị em Mácta và Maria mà Luca phác họa nêu bật hai thái độ, hai cách đón tiếp Đức Giêsu trái ngược nhau.
- Mácta có mặt khắp nơi trong trình thuật vắn vỏi này. Trước hết, cô có mặt bằng sáng kiến của mình, Mácta mời Chúa vào nhà mình. Rồi cô có mặt bằng sự tất bật lo việc phục vụ. Và sau cùng, cô có mặt bằng vẻ bối rối xin Chúa can thiệp.
- Còn về Maria, cô luôn im lặng. “Cô ngồi bên chân Chúa” trong tư thế một đồ đệ thực thụ (Lc 7,38 và 8,35) “cô lắng nghe lời Chúa dạy”.
Cấu trúc văn chương cũng rất gợi ý. Trong khi “Maria hướng cái nhìn về Chúa (ngồi dưới chân, nghe lời Chúa), thì Mácta là người mời Chúa nên thực sự cô phải bận tâm đến việc phục vụ” (R. Meynet. “L' Evangile selon saint Luc”, cuốn 2, trg 125). Mácta tất bật lo lắng nhiều chuyện quá, đến độ muốn “lấy đi” phần tốt nhất mà cô em đã chọn.

3. ... thái độ lăng xăng không được lấn lướt thái độ lắng nghe.
Trước phản ứng tức tối của Mácta: “Em con để mình con phục vụ mà Thầy không để ý tới sao?”, câu trả lời của Đức Giêsu là đỉnh cao của trình thuật này. Ở đây, khi trách Mácta lo lắng và lăng xăng, Đức Giêsu nhắc lại đề tài đã nói nhiều trong Tin Mừng thứ ba: Khi Người mời gọi các nhà truyền giáo không nên lo lắng biện hộ cho mình trước tòa án của kẻ bách hại (11,12); khi Người khuyên nhủ các môn đệ đừng quá lo về của ăn, áo mặc (12,22-26); khi Người cảnh giác những kẻ theo Người đừng để những “lo lắng về cuộc sống” bóp nghẹt hạt giống Lời Chúa (8,14).
Tuy Đức Giêsu chấp nhận lòng hiếu khách của Mácta với lòng biết ơn, và đánh giá đúng mức những cố gắng cô thực hiện để tiếp khách cho tốt đẹp, nhưng dù sao Người cũng muốn cô khám phá một điều còn quan trọng hơn, một điều khẩn thiết bậc nhất và duy nhất, mà cô liều mình quên mất: đó là lắng nghe Lời Chúa. Và, vì đã bỏ tất cả để chỉ giữ “một chuyện cần thiết”, mà Maria, em cô, đã tỏ mình là một môn đệ gương mẫu hoàn hảo nhất.
R. Meynet chú giải thêm: “Mácta tiếp đón Đức Giêsu vào nha. Chúa vừa bước vào, thì cô đã bỏ Người đó, để lo trăm nghìn chuyện. Vịn cớ phục vụ Người, cô tất bật, cô lo lắng mọi sự chỉ trừ Chúa ra. Việc phục vụ của cô lấn lướt cả vị khách của cô. Cô lăng xăng, lo lắng, sợ rằng mình không tiếp đãi đúng mức với vị khách quí. Về phần Maria, cô giữ một thái độ xứng hợp nhất, ngồi bên chân Đức Giêsu, trong tư thế của người môn đệ. Cô không làm gì, không nói gì, cô chỉ ngồi và nghe. Cô đã quên tất cả mọi sự, ngoài Chúa. Cô quên chính mình. Cô dành cả con mắt, lỗ tai để nhìn và nghe lời Người. Cô cũng đón tiếp Đức Giêsu hơn ai hết, với phong cách tốt nhất. Nhìn cô, người ta dám nói rằng: chính cô được Người tiếp đón mới đúng.” (Sđd, tr. 125).
Chúa nhật vừa qua, khi đọc Dụ ngôn người Samaria nhân hậu, ta học biết rằng con đường lên Giêrusalem, theo chân Đức Giêsu, phải đi qua tình yêu thương người thân cận, đó mới là giới luật vượt trội mọi giới luật. Hôm nay, ta học biết thêm rằng con đường này không thể tách rời con đường lắng nghe lời Thiên Chúa.

II. BÀI ĐỌC THÊM:
1. Lắng nghe lời Chúa: thái độ tất yếu của người môn đệ. (“Célébrer”, revue du C.N.P.L., số 250, trg 33-34)
Tiếp nối câu chuyện về người Samaria nhân hậu, câu chuyện về Macta và Maria trong Tin Mừng được trình bày trong bối cảnh của giới luật yêu mến Thiên Chúa, và câu chuyện cho ta thấy người môn đệ đón nhận Lời Chúa sẽ rút ra những kết luận thực tiễn nào.
Đặt thái độ của Mácta và Maria đối chọi nhau và nghĩ rằng chỉ có một phía đúng, là quá vội vàng. Maria lắng nghe lời Chúa, còn Mácta tất bật lo phục vụ Chúa. Mỗi cô mỗi cách, họ đều muốn giữ chân Chúa nghỉ lại, trên đường lên Giêrusalem. Cô này bằng cách phục vụ, thì làm tất cả những gì có thể làm cho Người; cô kia bằng cách lắng nghe lời Chúa, thì cố gắng ghi nhớ lời Người, lời của Thiên Chúa.
Trong cuộc sống của người môn đệ, có lúc “tất bật”, và có lúc “lắng nghe”. Tuy nhiên, không thể có hoạt động tốt nếu không lắng nghe tốt. Maria đã thành công khi tạo cho mình thái độ không thể thiếu của một môn đệ: là ngồi dưới chân Đức Giêsu, cô quên mọi sự khác, để toàn tâm chú ý vào Chúa và lời Người... Nhưng sau đó, có lẽ cô sẽ là một tông đồ hoạt động vì Thầy mình.
Hết mọi tín hữu đều phải chọn lắng nghe. Trước hết, chính vì có biết lắng nghe lời Chúa một cách sâu sắc các môn đệ mới có thể đổi mới thế giới.

2. Maria và người Samaria nhân hậu: hai thái độ cùng minh họa huấn lệnh kép về yêu mến Thiên Chúa và yêu người thân cận (L. Sintas, “Parole de Dieu pour la méditation et l'homélie. Năm C”, Médiaspaul, trg 100-101)
Chính trong dụ ngôn người Samaria nhân hậu, ta thấy thái độ bổ xung cho thái độ của Maria. Một người gặp một nạn nhân bị thương nằm ở vệ đường. Ông săn sóc, đưa về quán trọ và xuất tiền túi để trả mọi chi phí. Người này thực thi giới luật thứ hai là “Ngươi hãy yêu người thân cận như chính mình”. Đây là dung mạo đẹp đẽ của người Kitô hữu mà Luca đặt đối diện với một dung mạo đẹp đẽ khác là Maria...
Thay vì đặt thái độ của người hao tốn sức lực để phục vụ anh em đối nghịch với thái độ của người ngồi dưới chân Đức Giêsu để nghe lời Người, hai trình thuật này bảo ra rằng Đức Giêsu phê chuẩn cả hai thái độ. Đúng là cả hai cùng minh họa Lề Luật. “Ngươi phải yêu mến Đức Chúa là Thiên Chúa ngươi... Ngươi phải yêu người thân cận”. Ta phải phân biệt hai giới luật này như hai lối sống được đề ra. Tuy nhiên, nếu phân biệt là điều cần thì không phải để tách biệt hoặc đối nghịch nhau. Hai giới luật này chỉ là một. Trong cuộc sống cụ thể của người tín hữu, nếu người ấy không nỗ lực nối kết hai giới răn ấy với nhau, thì đời sống của người ấy sẽ ra sao? Cầu nguyện ư, đúng, nhưng là để giúp đỡ và phục vụ. Đào sâu ý nghĩa của việc phục vụ trong lúc cầu nguyện. Giáo Hội sẽ ra sao, nếu Giáo Hội chỉ có chiêm niệm? Giáo Hội sẽ ra sao, nếu Giáo Hội chỉ gồm những tín hữu tự cho là “hoạt động?” Dĩ nhiên, là tùy theo tính khí và lịch sử của từng người, người này thì cảm thấy thích hợp hơn với đời sống nghiêng về chiêm niệm, người kia thích hợp hơn với đời sống hướng về hoạt động.
Tuy nhiên, dựa trên lời Đức Giêsu khen người Samaria nhân hậu, thì tất cả những ai tận hiến hoặc nghiêng về cầu nguyện, cần phải nhớ rằng phục vụ con người có tầm quan trọng rất lớn. Phần họ, họ cũng phải sống ơn gọi cầu nguyện của mình như là một việc phục vụ con người. Và người ta thấy có những đan viện mở cửa cơ sở, nhà thờ, cộng đoàn của mình để tiếp đón những người hoạt động ngoài xã hội đến bồi dưỡng trong cầu nguyện, tĩnh tâm và trong thinh lặng của chiêm niệm.
Nhưng dựa trên lời Đức Giêsu khen ngợi Maria, những ai sống ơn gọi được coi là hoạt động, phải coi đó như lời mời gọi họ tiên liệu một thời gian xả hơi trong thời biểu của mình, xóa đi trong nhật ký công việc một số trang, để có được một lúc đến ngồi dưới chân Đức Giêsu.
Đối với nhóm người này cũng như với nhóm người kia, việc tiên liệu những giờ phút bổ túc cho nhau như thế, sẽ cho phép họ nhận thức được rằng cuộc sống của họ không đơn thuần phó mặc cho sự tự phát của tính tình, nhưng cuộc sống phải được thực hiện như một lời đáp lại tiếng Chúa gọi.

 

CHÚA NHẬT XVII THƯỜNG NIÊN

LỜI CẦU NGUYỆN CỦA NGƯỜI CON THẢO
NƠI CÁC MÔN ĐỆ ĐỨC KITÔ
(Luca 11,1-13)


 

I. VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI

1. Như chúng ta đã học biết nơi Đấng Cứu Thế.
Tin Mừng theo thánh Luca, mở đầu bằng lời cầu nguyện của người Do Thái trong Đền Thờ và kết thúc bằng lời cầu nguyện của cộng đoàn các môn đệ “không ngừng chúc tụng Thiên Chúa trong Đền Thờ”, dành một vị trí ưu tiên cho cầu nguyện của Đức Giêsu.
+ Một lời cầu nguyện mà từ ngày chịu phép rửa ở sông Giođan, đánh dấu tất cả những thời điểm quan trọng trong sứ vụ của ngài.
+ Một lời cầu nguyện của con cái, dâng lên Thiên Chúa với sự đơn sơ và thân thiết của trẻ thơ: “Abba”, nghĩa là: “Lạy Cha”.
+ Một lời cầu nguyện, mà các môn đệ đã là những nhân chứng, không chỉ bằng mắt thấy, mà còn bằng tai nghe, vào thời đó, người ta không biết cầu nguyện nhỏ tiếng, và “cầu nguyện”, theo tiếng Do Thái, có nghĩa là “kêu lên”. Cha George viết: “Các môn đệ đã phải nghe Đức Giêsu cầu nguyện lớn tiếng, và chính trong các biến cố quan trọng, mà các ông đã có thể hình thành cho mình một ý tưởng cầu nguyện riêng. Đức Giêsu đã muốn người ta nghe Người cầu nguyện, Người muốn xác định lời cầu nguyện của chúng ta bắt nguồn từ lời nguyện của Người.” (Cahiers-Evangiles”, số 5, trg 43 ).
Trong khi thánh Mátthêu thuật việc truyền lại kinh “Lạy Cha” trong khuôn khổ Bài Giảng trên núi, thì thánh Luca lại đặt nó trong khuôn khổ của cuộc hành trình về Giêrusalem, thành phố mà ở đó, Đức Giêsu sẽ trút hơi thở cuối cùng trong lời nguyện sau cùng. Đức Giêsu, “ở một nơi nào đó”, “đang cầu nguyện”, và, khi Người đã cầu nguyện xong, một trong các môn đệ xin Người: “Lạy Chúa, xin dạy chúng con cầu nguyện”. Đây không phải là vấn đề cầu nguyện chung chung, mà là lời cầu nguyện, thêm vào những lời cầu nguyện chính thức của niềm tin do thái, sẽ nêu rõ nét đặc trưng nhóm các môn đệ của Người, theo cách thức - mà chúng ta không biết - mà “Gioan Baotixita dạy các môn đệ ông”. Một lời cầu nguyện tập trung vào điểm chính yếu của sứ điệp Người và xây dựng cộng đoàn các môn đệ chung quanh Người.
Đức Giêsu đáp lại lời cầu xin của ông bằng một lời cầu-nguyện-kiểu-mẫu. Một lời cầu nguyện mà từ nay, căn cứ vào đó, tất cả các lời cầu nguyện kitô giáo sẽ phải rập theo, cách nầy hay cách khác: đó là kinh “Lạy Cha”.
Louis Monloubou nhận xét: “Những hoàn cảnh, trong đó lời cầu-nguyện-kiểu-mẫu được phát biểu rất đặc biệt. Chúng giúp các kitô-hữu hiểu rằng, lời cầu nguyện của họ là sự nối dài lời cầu nguyện của Đức Giêsu; lời cầu nguyện đó phải là sự bắt chước, phản ảnh… Các môn đệ đã nhìn thấy Chúa cầu nguyện, nên đã xin Người hướng dẫn họ cầu nguyện; nói khác đi, đưa dẫn họ vào lời cầu nguyện của Người. Đức Giêsu đồng ý, bằng cách công bố kinh Lạy Cha. Khi cầu nguyện bằng kinh nầy, và khi hiểu thấu những tình cảm hay ý hướng nó diễn tả, các kitô-hữu cầu nguyện như Đức Giêsu: “Nhờ Người, với Người, trong Người” là một công thức về sau sẽ diễn tả điều mà thánh Luca gợi ý” (“ L’évangile de Luc “, Salvator, trg 194-195 ).

2.… chúng con dám nguyện rằng: “Lạy Cha”...
Khác với thánh Matthêu, “kinh Lạy Cha” của thánh Luca ngắn hơn, bao gồm một lời cầu khẩn, hai ước nguyện và ba lời xin ơn.
- Một lời cầu khẩn. Để thưa với Thiên Chúa, kinh này lấy lại từ ngữ mà Đức Giêsu, ngôi Con, dùng trong lời nguyện của riêng ngài: “Lạy Cha” (“Lạy Cha chúng con” trong thánh Mátthêu). Lập tức, lời này mạc khải cho chúng ta chiều sâu của mối liên hệ giữa Đức Giêsu Kitô và Thiên Chúa.
Jean-Luc Vesco cắt nghĩa: “Lời cầu nguyện kitô giáo, giúp môn đệ Đức Giêsu bước vào sự thân mật duy nhất liên kết Chúa Con với Chúa Cha. Trong lời cầu nguyện của người con thảo, người kitô hữu có thể lấy lại lời cầu khẩn này của Đức Kitô: “Lạy Cha” (Gal. 4, 6; Rom. 8,15 ). Tiếng kêu Cha đó có tính cách riêng biệt, cá nhân. Nó diển tả một sắc thái thân mật và cũng muốn nhấn mạnh là, mối liên hệ duy nhất và đặc biệt mà Chúa Con có với Chúa Cha cũng là mối liên hệ nối kết tất cả các kitô hữu với Thiên Chúa.” (“Jérusalem et son prophète“, Cerf, trg 72 ).
- Hai ước nguyện, cùng có song song trong lời nguyện Do Thái Qaddish.
+ Sự thánh hóa Danh Thiên Chúa: chớ gì Thiên Chúa can thiệp và tỏ rõ mình là Thiên Chúa, ước mong Người được mọi người nhận biết!
+ Nước Ngài trị đến: chớ gì Thiên Chúa đích thân ngự đến và tỏ lộ ra sự hiện diện cao cả và năng động của ngài !
Như thế, H. Cousin nhận xét, “, “Lạy Cha, xin ngự đến” đã được làm thành công thức dưới hai hình thức khác nhau; Thiên Chúa là “đối tượng” duy nhất của lời cầu nguyện dâng lên Thiên Chúa” (“L’Evangile de Luc”, Centurion, trg 162 ).
- Ba lời xin ơn, được diễn tả, không phải ở ngôi thứ nhất số ít: “Con”, nhưng ở ngôi thứ nhất số nhiều: “Chúng con”, các môn đệ thân thưa với Thiên Chúa cho chính họ với tư cách là một cộng đoàn.
+ Lời xin ơn thứ nhất hướng về “cơm bánh mà chúng con cần mỗi ngày” để tiếp tục cuộc hành trình. H. Cousin nhận xét: “Trước hết ở đó, có sự ám chỉ đến manna, bánh từ trời đã hồi phục dân Thiên Chúa trong thời kỳ Xuất Hành, và, theo sự mong đợi của dân Do Thái, bánh này sẽ lại được trao ban như là lương thực cho cộng đoàn của thời sau hết. Nơi thánh Luca, các tín hữu được mời gọi cầu xin Bánh hằng sống nầy hằng ngày” (Sđd).
+ Lời cầu xin thứ hai nhắm đến “sự tha thứ tội lỗi của chúng con”. Ơn tha thứ là ơn huệ nhưng không của Thiên Chúa, không có ơn tha thứ, chúng ta sẽ không thể nào sống trong tình thân với Thiên Chúa, vì chúng ta là những con nợ không có gì để trả. Ơn tha thứ đó cần thiết cho chúng ta còn hơn là cơm bánh. Hơn nữa, chúng ta còn phải tha thứ cho các con nợ của chúng ta, nếu không, Thiên Chúa sẽ không thứ tha cho chúng ta.
+ Sau cùng, lời xin ơn thứ ba liên hệ đến sự trợ giúp trong “cơn cám dỗ”. Một lời cầu xin mà bản tiếng Pháp dịch là: “xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ” có ý nghĩa mơ hồ. Chúng ta không xin cho chúng ta được miễn trừ khỏi cơn cám dỗ hay thử thách: Chính Đức Giêsu đã chẳng được Thánh Thần đưa đến hoang địa để chịu ma quỉ cám dỗ đó sao (Luc 4)? Chúng ta cầu xin đừng sa chước cám dỗ, theo ý nghĩa của lời cầu cho Phêrô, trong 22,32: “Thầy cầu nguyện cho con, để con không mất đức tin”. Chúng ta cầu xin cho thử thách không làm chúng ta ngã quị, cho chúng ta đừng sa vào kế hoạch của Tên Cám Dỗ.

3. … trong một lời nguyện tin tưởng và kiên trì:
Rồi, Đức Giêsu tiếp nối bằng một dụ ngôn và những lời cắt nghĩa.
- Dụ ngôn là dụ ngôn người bạn quấy rầy, nhân danh tình bạn, không sợ làm phiền một trong những người bạn của mình, ngay “lúc giữa đêm”, và không ngại nằn nỉ đến độ “sỗ sàng”, để giúp đỡ một người bạn khác, đường xa mới đến.
Cũng chính với sự tin tưởng, sự kiên trì, táo bạo, làm nền tảng cho tình yêu của Người mà chúng ta dám thân thưa với Thiên Chúa: “Đức Giêsu nhấn mạnh, các con hãy xin, thì sẽ được; hãy tìm thì sẽ thấy; hãy gõ, thì cửa sẽ mở cho các con ..”
Là người cha tốt lành, Thiên Chúa không thể không lắng nghe lời cầu nguyện của con cái Người. Tốt lành hơn mọi người cha trên trái đất, Chúa Cha trên trời sẽ trao ban cho những ai cầu xin Người ơn huệ tuyệt hảo: Chúa Thánh Thần.
Các nay hai tuần, khi đọc dụ ngôn Người Samaritanô Nhân Hậu, chúng ta biết rằng, để đi theo Đức Giêsu lên Giêrusalem, chúng ta phải bước qua con đường tình yêu tha nhân, một tình yêu vượt trên tất cả mọi thứ lề luật. Chúa Nhật vừa qua, trong nhà của Mátta và Maria, chúng ta khám phá ra rằng con đường nầy là con đường lắng nghe Lời Chúa. Hôm nay, chúng ta được báo cho biết, con đường nầy cũng là “con đường của lời cầu nguyện khiêm nhường, tin tưởng và kiên trì, con đường trao ban Thánh Thần và sẽ được Người tác động” (J.L. Vesco, sđd, trg 75).

II. BÀI ĐỌC THÊM.
1. “Vượt ra khỏi những thói quen của những kẻ xin xỏ tầm thường” (L.Sintas, “ Paroles de Dieu pour la méditation et l’homélie. Année C “, Médiaspaul, trg 101-103)
Ở đây, không phải những nhu cầu của con người là giai đoạn đầu tiên của hành trình tôn giáo. Chính Thiên Chúa đã trao cho Abraham một lời yêu cầu: “Ngươi hãy đi khỏi xứ sở của ngươi và đi đến xứ sở mà Ta sẽ chỉ cho ngươi.” Vai trò của con người trong tôn giáo mới nầy, rõ ràng là đón nhận lời Thiên Chúa, lắng nghe lời yêu cầu của ngài và vui lòng đáp lại. Điều đó thay đổi tất cả. Thiên Chúa không còn được kêu cầu để phục dịch con người nữa. Ngược lại, con người tìm đến phụng sự Thiên Chúa…
Lời cầu nguyện kitô giáo, rất có thể là lời xin ơn, nhưng không bao giờ bắt đầu từ chúng ta và những nhu cầu của chúng ta. Nó luôn luôn bắt đầu từ Thiên Chúa. Gọi Thiên Chúa là Cha, là nhìn nhận sự hiện hữu của Người cũng vững chắc như sự hiện hữu của một người cha bình thường của tất cả mọi người… Gọi Thiên Chúa là Cha, có nghĩa là, chúng ta từ chối làm cho đức tin chúng ta tùy thuộc vào cách thức chúng ta được nhậm lời. Nói với Người, chớ gì ý cha được thể hiện, cũng có nghĩa là, nhìn nhận rằng, ngay cả khi không thấy Người nhậm lời như mong muốn, chúng ta vẫn chắc chắn rằng, ý muốn của Người luôn luôn là tốt lành và có thể là chúng ta không hiểu biết hết điều chúng ta cầu xin…
Chúng ta đừng xấu hổ vì những lời xin ơn. Chúng ta hãy dám khẩn khoản Thiên Chúa cho những nhu cầu riêng tư của chúng ta, và những nhu cầu, cho dù rất ghê gớm, của anh em nhân loại. Đơn giản là chúng ta đừng làm điều đó theo cách thế của dân ngoại. Khi lời cầu xin của chúng ta hình như không được nhậm lời, chính lúc ấy, thái độ bên trong sẽ giúp chúng ta biết mình có phải là người có đức tin hay không, tình yêu của mình đối với Chúa có hoàn toàn dính liền với những lợi lộc hy vọng có được từ mối liên hệ nầy hay không, hoặc sự tin tưởng có vượt lên trên nổi thất vọng hay không.”

2. Lời cầu nguyện: mặt khác của mầu nhiệm Thiên Chúa (H. Denis, trong “100 mots pour dire la foi”, DDB, trg 15-16)
Cầu Nguyện ! đó là một từ ngữ của đức tin. Một tín hữu mà không cầu nguyện thì còn có nghĩa gì nữa!
Thế nhưng, phải nhận là, điều đó không dễ dàng gì. Cầu nguyện là một thử thách, nhất là khi lời cầu nguyện không được phụng vụ hoặc một cộng đoàn nâng đỡ. Cầu nguyện, như là mặt khác của mầu nhiệm Thiên Chúa, mầu nhiệm của Thiên Chúa sống động trong con người. Một dấu vết mờ nhạt và nóng bỏng.
Thiên Chúa là Đấng Thánh, đó là lời nguyện chúc tụng.
Thiên Chúa là Đấng Tốt Lành, đó là lời nguyện cầu xin.
Không cần phải nhấn mạnh đến lời chúc tụng. Nó nằm trong kinh Lạy Cha: nguyện Danh Cha được hiển thánh. Yêu mến ai, là nói với người ấy tất cả những từ ngữ tỏ lòng trân trọng. Huống chi là đối với Thiên Chúa.
Thế nhưng, lời nguyện xin ơn, có thể gây ra vấn đề. Trước hết, những người tinh thần mạnh mẽ thì cho rằng, thật là vô ích và ấu trĩ khi cầu xin Thiên Chúa điều mà Người biết rõ hơn chúng ta.
Đó cũng là cơn cám dỗ của những người yếu đuối, tôi muốn nói những người cầu xin Thiên Chúa những ơn lành một cách vụng về hay hiển nhiên lệch lạc. Làm gì đây ?.
Trước hết, đừng bao giờ xem Thiên Chúa như là một người phân phát ơn huệ một cách máy móc. Hay là theo kiểu đổi chác: “Tôi cho Ngài, Ngài cho tôi”.
Tệ hơn nữa: đừng bao giờ đặt Thiên Chúa trước một tối hậu thư…
Không đổi chác, không tối hậu thư, lời cầu xin đích thực trước hết chấp nhận chúng ta sẽ không được nhậm lời như chúng ta hiểu biết hay mong muốn. Như thế, không được điều mình cầu xin cũng có thể là một ơn huệ. Bởi vì Thiên Chúa luôn luôn ban cho chúng ta điều Người đã hứa: Thánh Thần của Người. Trong tất cả những gì anh em cầu xin, hãy cầu xin Thiên Chúa và Thánh Linh của Người, và anh em sẽ được tràn đầy.

 

CHÚA NHẬT XVIII THƯỜNG NIÊN

ĐỨC GIÊSU HIỂN DUNG TRÊN NÚI CAO
(Luca 9, 28-36)


I. VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI (giống Chúa Nhật II Mùa Chay)
1. Trong bước đi tăm tối về Giêrusalem...
Rõ ràng thánh sử Luca muốn nối kết đoạn này vào những biến cố và những đoạn văn trước đó:
. Câu hỏi then chốt của Hêrôđê về căn tính thực sự của Đức Giêsu: “Người này là ai mà ta nghe nói đến nhiều?”. Ông thắc mắc và “ông tìm cách gặp Người” (9,9).
. Lời tuyên xưng của Phêrô với Đức Giêsu như với “Đấng Mêsia của Thiên Chúa” (9,2) và lời tiên báo lần đầu về cuộc khổ nạn như một đoạn đường bắt buộc phải đi không chỉ đối với Đức Giêsu: “Con Người phải chịu đau khổ rất nhiều, chịu chối bỏ...; chịu chết nhưng đến ngày thứ ba Người sẽ sống lại” (9,22), nhưng còn đối với các môn đệ thân tín của người: “Ai muốn theo Ta, hãy bỏ mình, vác thập giá hằng ngày rồi theo Ta” (9,23).
Jean-Luc Vesco chú giải: “Định mệnh của trò cũng như của Thầy sẽ trải qua 2 giai đoạn, một giai đoạn khổ đau, một giai đoạn vinh quang. Các môn đệ khó mà hiểu được giai đoạn một. Nhưng Đức Giêsu vẫn kiên quyết. Ai muốn theo Người đều phải nối kết vận mệnh của mình vào cuộc Khổ nạn và Phục sinh của Người. Hai khía cạnh của mầu nhiệm cứu độ vẫn là bất khả phân ly” (“Giêrusalem và ngôn sứ của nó”, Cerf, trg 38).
Khoảng “8 ngày sau khi nói những lời này” là thời gian Luca đã định vị trình thuật về cuộc Hiển Dung, trong đó hai khía cạnh của mầu nhiệm vượt qua sẽ nối kết với nhau. Đó là khoảnh khắc thoáng qua lúc tấm màn che phủ căn tính Đức Giêsu được vén lên, lúc vinh quang tàng ẩn trong Người, nhờ qua đau khổ và cái chết, sẽ bừng lên vào buổi sáng lễ Phục sinh, sẽ từ thân thể Người chiếu toả ra.

2. ...một thị kiến chói loà trên núi.
Trừ hai ba chi tiết, Tin Mừng thứ ba lặp lại y nguyên những chi tiết giống như Máccô và Máthêu để gợi lại một kinh nghiệm không diễn tả được.
* Nơi biến cố diễn ra hoàn toàn có tính cách biểu tượng. Đó là 1 “ngọn núi”, theo truyền thống Kinh Thánh, là nơi gặp gỡ Thiên Chúa, nơi Thiên Chúa tỏ bày mạc khải của Người.
* Sự lựa chọn các môn đệ đi theo cũng mang tính chất biểu tượng: “Phêrô, Gioan và Giacôbê” những môn đệ được kêu gọi đầu tiên, những người tại nhà Zai-rô, đã là chứng nhân của sự toàn thắng trên cái chết (8,31-56).
* Khung cảnh của biến cố cũng mang tính chất biểu tượng: Đó là cảnh Đức Giêsu cầu nguyện. Chỉ mình Luca đề cập đến chi tiết này. Theo Tin Mừng thứ ba, lời cầu nguyện luôn đi theo những giây phút trọng đại trong sứ vụ Đức Giêsu.
Lúc Người “cầu nguyện” trong ngày chịu phép rửa, trời mở ra, Chúa Thánh Thần ngự xuống trên Người và có tiếng từ trời phán ra (3,21-22). Sau khi lánh vào “núi rừng để cầu nguyện”, Người đã chọn 12 môn đệ (6,12-16). Khi Người “cầu nguyện một mình” Người đã đưa ra câu hỏi dẫn tới lời tuyên xưng đức tin của Phêrô (9,18-20). Và chẳng bao lâu nữa, ta sẽ thấy Người cầu nguyện trong vườn Giệtsêmani để tìm sức mạnh đảm đương cuộc chiến cuối cùng; biến hơi thở cuối cùng thành lời cầu nguyện (23,34 và 46); phục sinh rồi, giã từ môn đệ khi đọc lời nguyện chúc phúc cho họ (24,50-51).
- Tại nơi đây, trên núi cao, chính “đang khi cầu nguyện” mà Đức Giêsu chiếu lên luồng ánh sáng thần linh. Khác với Máccô và Mátthêu, Luca không nói về sự biến hình biến dạng; Thánh sử chỉ nói “dung mạo Người trở nên khác thường”“y phục Người trở nên trắng rực rỡ”. Sau đó, Người viết rằng: “Phêrô và các bạn tỉnh giấc và được thấy vinh quang Đức Giêsu”.
Hugues Cousin xác định: “Mặc lấy “vinh quang” có nghĩa là tham dự vào ánh sáng huy hoàng của Thiên Chúa hằng sống, được nâng lên địa vị siêu tôn; y phục trắng như ánh chớp, có nghĩa là Đức Giêsu đã tiến vào khung cảnh thiên đàng. Như thế, Đức Giêsu như được tạm thời mặc trước nguồn vinh quang phục sinh mà Người sẽ được thừa hưởng khi sống lại. Tuy nhiên Luca nghĩ rằng có lẽ nguồn vinh quang này đã tiềm ẩn trong Đức Giêsu từ trước Phục sinh và do kết quả của việc cầu nguyện, Đức Giêsu không thể ngăn chặn luồng vinh quang ấy chiếu toả ra từ thân thể Người” (“Tin Mừng theo thánh Luca” Centurion, trg 137).
- Một chi tiết khác rất giàu biểu tượng đó là: Sự hiện diện của hai khuôn mặt lớn trong Cựu Ước: Môsê và Êlia, là hai nhân vật tóm tắt tất cả Lề Luật (Môsê) và các tiên tri (Êlia), hai nhân vật chính của Cựu Ước đã loan báo rằng: “Đức Kitô phải chịu đau khổ rồi mới bước vào vinh quang” (Lc 24,26-27).
Sự hiện diện của các ngài là chứng cớ sống động rằng lời tiên báo của Đức Giêsu về tương lại của Người hoàn toàn phù hợp với Kinh Thánh.
- Một chi tiết riêng của Tin Mừng thứ ba đó là “cuộc lên đường của Người” (theo sát nghĩa là: cuộc “Xuất hành” của Người: vừa chết, vừa phục sinh, vừa được tôn vinh) mà hai nhân vật Cựu Ước bàn tới. Môsê không phải là con người của cuộc Xuất hành, của núi Si-nai, của cuộc vượt qua Biển Đỏ sao? Và Êlia chẳng phải là vị tiên tri lớn đã phải chịu đau khổ vì Thiên Chúa và vì dân tộc trước khi được cất lên trong vinh quang thần thánh sao?
Như một Êlia mới, Đức Giêsu cũng được mời gọi chịu đau khổ trước khi được “cất lên” (9,51) trong vinh quang thiên quốc, Người cũng là Môsê mới trong cuộc Xuất hành mới, trong lễ Vượt Qua mới của một Giao ước mới, sẽ vượt qua biển sự chết để giải phóng dân Người và dẫn đưa họ đến Đất Hứa thật sự là Vương Quốc của Cha Người.
- Phêrô có lẽ nhớ đến lễ Lều như một biểu tượng báo trước sự chấm dứt của lịch sử, đã đề nghị nắm chặt khoảnh khắc hiện tại bằng cách dựng “ba lều”. Nhưng Luca đã ghi nhận rằng mong ước cuộc thần hiển này kéo dài “ông không biết phải nói gì” vì ông vẫn chưa nhìn thấy viễn tượng khổ nạn như một đoạn đường buộc phải đi qua.
- Lúc ấy Phêrô, Gioan và Giacôbê bị bao phủ trong “một đám mây” – Trong Kinh Thánh đó là dấu chỉ sự hiện diện của Thiên Chúa – giống như Đức Maria trong ngày truyền tin, đám mây ấy “phủ bóng che rợp” các ngài. Các ngài “sợ hãi”.
- Chính lúc ấy “một tiếng nói” vang lên trong đám mây. Cũng là tiếng nói khi Đức Giêsu chịu phép rửa ở sông Giođan. Nhưng hôm nay, tiếng ấy không còn nói với Đức Giêsu nữa (“Con là Con Ta, hôm nay Cha đã sinh ra Con”), nhưng nói với các môn đệ của Người: “Đây là Con Ta mà Ta đã tuyển chọn”. Người Tôi Tớ đau khổ (xem Is. 42,1-8), Đức Giêsu, Người đang đồng hành với họ, thường che giấu vinh quang của mình, nay đã thoáng tỏ ra cho họ, là Người Con, nơi Người, Cựu Ước được hoàn thành; Người là Đấng nói năng với một uy quyền lớn hơn Môsê và Êlia nên ta phải “lắng nghe” Người là Đấng ta phải đi theo trên con đường dẫn về Giêrusalem: về vinh quang, qua thập giá.

3. ... qui hướng về cuộc Xuất hành của Đức Giêsu
Giờ đây mọi sự trở lại bình thường; “họ chỉ còn thấy một mình Đức Giêsu”. Tạm thời, các môn đệ “im lặng” cho tới buổi sáng sau đêm khổ nạn, mọi sự chợt có ý nghĩa dưới ánh sáng ban mai ngày phục sinh, ngày mà Chúa Thánh Thần của Lễ Hiện Xuống sẽ tháo cởi miệng lưỡi để họ làm chứng về những gì đã thấy đã nghe. Nhưng “họ hiểu rằng từ nay họ sẽ cùng Người dấn thân vào một định mệnh vượt quá sức họ. Cần phải lên đường, đường đi về Giêrusalem chỉ mới bắt đầu. Định mệnh đó phải diễn ra trong niềm thao thức lắng nghe lời vị tiên tri, Con Thiên Chúa và Người Tôi tớ vừa mạc khải cho biết chuyến xuất hành lên Giêrusalem là thiết yếu. Giờ đây, Đức Giêsu chỉ còn một mình, nhưng ta phải bước theo Người. Con Người tiến về sự chết, nhưng cũng là tiến về vinh quang mà cuộc biến hình vừa biểu lộ và các tông đồ đều được mời gọi bước theo số phận của Người.” (J.-L. Vesco, sđd, trg 41-42)

 

II. BÀI ĐỌC THÊM

1. Một trong những trang Tin Mừng khi được công bố, lại làm người ta mong ước được thinh lặng. (H. Denis, trong “ 100 mots pour dire la foi “, DDB, trg 115-116).
Trên đường tiến đến cuộc Phục Sinh, có những đổi thay giống như thời tiết cũng như có sự luân chuyển của bóng tối và ánh sáng. Sau hoàn cảnh khắc nghiệt của sa mạc, thì đến sự bừng sáng của núi Taborê. Thật là uổng công che giấu bóng đêm của chết chóc đang đến. Thế nhưng, người ta không thể nào dập tắt những tia sáng mặt trời xuyên qua phát xuất từ Đấng Phục Sinh.
Hiển Dung ! Trang Tin Mừng nầy, một trang nóng bỏng như cách nói mà Mauriac ưa thích, là một trong những trang, khi được công bố, lại làm cho người ta mong muốn được thinh lặng. Trước tất cả mọi biểu hiện bằng hình ảnh, nó đã ở trong tinh thần và con tim chúng ta, như một loại icôn (hình tượng).
Tại sao ánh sáng đến từ Đức Giêsu lại quí giá đối với chúng ta như thế? Có thể là, vì nó không được cảm nghiệm như một ánh sáng chói loà trước mặt chúng ta (mạnh nhất trong những ngọn hải đăng chiếu sáng trên đại dương khắp thế giới), nhưng như một ánh sáng bên trong chúng ta (một niềm hy vọng tỏa sáng ăn rễ sâu tận thẳm sâu con người). Nhân tính đã trở thành con đường dẫn đến Thiên Chúa. Gặp được Thiên Chúa không phải là không qua thân xác, nhưng là trong thân xác máu thịt, đó là con đường Đức Giêsu đã vạch ra.
Ngày nay, chúng ta biết được điều ngày xưa các Tông đồ đã không biết: hành trình dài đằng đẵng của Đức Giêsu tiến đến khổ hình Người chịu, hành trình dài đằng đẵng của nhân loại tiến đến những đau khổ và kinh khiếp khó tả từ hai mươi thế kỷ qua…
 Tuy nhiên, Đám Mây chiếu sáng lôi cuốn và đưa chúng ta đến một ánh sáng huy hoàng rực rở không thể nào tả được. Môsê và Êlia ở đó như là hai nhân chứng đã được đưa về trời, mỗi người một cách.
Điều làm chúng ta say mê trong cảnh Hiển Dung nầy, chính là điều kinh tiền tụng lễ Giáng Sinh diễn tả, đó là sự mê mẩn. Không phải chỉ là bị mê mẩn, như bức tượng nhỏ trong hang đá Noel, mà nói văn chương một chút, là niềm vui phi thường và vô biên được Đức Giêsu bắt đi như trong một vụ bắt cóc. Đức Giêsu muốn rằng, nhân tính chúng ta cũng được hiển dung như nhân tính của Người.
Nếu chúng ta để Người hành động và nếu chúng ta tự do đồng ý, thì Người sẽ bắt chúng ta đi.
Người đã hứa “Vì Thầy ở đâu, các con cũng sẽ ở đó với Thầy”.

2. Làm sao lại không thinh lặng chứ? (G. Boucher, “ Le ciel sur la terre” (29820 BOHARS trg 26: 237).
Ngày hôm đó, Đức Giêsu được ba môn đệ thân tín nhất tháp tùng… Họ là Phêrô, Giacôbê và Gioan. Đó là ba con người mệt mỏi. Ba con người còn ngái ngủ. Ba con người không thể làm gì hơn nữa.
Và kìa Thiên Chúa bừng sáng nơi gương mặt Đức Giêsu. Thiên Chúa trong Đức Giêsu chiếu sáng bầu trời. Lời cầu nguyện của Đức Giêsu làm cho toàn bộ những đường nét trên khuôn mặt Người lóe sáng. Các vị tiền nhiệm quan trọng cách xa hàng bao thế kỷ đến gặp Người. Cuộc nói chuyện bàn đến tương lai được loan báo:… tại Giêrusalem sẽ… có sự ra đi quan trọng.
Bấy giờ, hết đờ đẫn, ba người kinh ngạc khám phá ra mình tham dự vào một biến cố lớn lao của thế kỷ: vinh quang của Đức Giêsu bộc phát mạnh mẽ, với tất cả những vị giải phóng của quá khứ và hiện tại, theo hình ảnh của Môsê. Với tất cả các vị ngôn sứ xưa và nay, theo hình ảnh của Êlia.
Điều mà họ đã không bao giờ dám nghĩ đến trong những giấc mơ điên rồ nhất, đã được thực hiện. Làm thế nào mà họ không cảm thấy bị cám dỗ muốn cho thời gian dừng lại. Cuộc hiển dung trên núi nầy sẽ vững bền mãi. Nó sẽ thành một thứ tượng đá vững chắc, nhưng với nguy cơ trở nên trơ trơ, không còn sức sống.
Chìa khóa của biến cố, chính Thiên Chúa trao ban nó cho chúng ta: Chính Thiên Chúa đã cho ta nghe thấy trong dấu chỉ hữu hình của đám mây. Thiên Chúa chói sáng trở thành lời nói cho ta nghe. Thiên Chúa giúp chúng ta đọc biến cố: Đức Giêsu mà anh em sống cận kề và chia sẻ cơm bánh với Người, Đấng mà anh em nghe và đi theo… chính là Con Ta. Đấng luôn luôn và mãi mãi được thánh hiến là Con Thiên Chúa. Đấng nói cho Ta và nhân danh Ta. Người là Lời của Ta. Anh em hãy nghe lời Người!
Trong giây phút này, Đức Giêsu Hiển dung xuất hiện trong vinh quang Con Thiên Chúa. Thế nhưng làm sao dám kể lại một kinh nghiệm thiêng liêng như thế ? Làm sao lại không thinh lặng: để kéo dài một cảm nghiệm như thế?

 

CHÚA NHẬT XIX THƯỜNG NIÊN

GIÁO HỘI, MỘT DÂN TỘC TỈNH THỨC CHỜ CHÚA TRỞ LẠI
(Luc 12, 32-48)


 

I. VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI

1. Một con tim gắn liền với một giá trị duy nhất…
Đang trên đường lên Giêrusalem, có người cầu khẩn Đức Giêsu phân xử một cuộc tranh chấp về gia tài. Nhân dịp này, Người cảnh báo đám đông thính giả, khuyên họ giữ mình khỏi :“mọi thứ tham lam”, và lập tức Người minh họa bằng dụ ngôn người giầu có khờ dại (12, 16-21) để đi đến kết luận: “Đó, kẻ nào thu tích của cải cho mình, mà không lo làm giàu trước mặt Thiên Chúa, thì số phận cũng như vậy.”
Rồi quay sang các môn đệ mà Người thường gọi là “đoàn chiên nhỏ bé”, Đức Giêsu kêu gọi hãy biết từ bỏ. Chúa Cha đã cho họ tất cả, đến lượt họ, tại sao họ lại không thể cho đi tất cả? Người nói với họ: “Hãy bán của cải mình đi mà bố thí”.
H. Cousin bình luận: “Cho người nghèo của cải mình có (dù là tất cả hay chỉ một phần nhỏ để chia sẻ), chính là làm giàu trước mặt Chúa (12,21), là xây dựng cho mình một kho tàng vô tận nơi Chúa; tóm lại, là bảo đảm cho mình một phần thưởng đời đời. Tuy nhiên, đó không phải là phần thưởng cuối cùng, nhưng biến cố Nước Chúa đến phải động viên các Kitô hữu và giúp họ dấn thân với cả tâm hồn, đó chính là giá trị duy nhất.” (Tin Mừng theo thánh Luca, Centurion, trg 184)

2. …Tích cực đón chờ Đức Giêsu trở lại.
Tiếp tục câu chuyện với các môn đệ, Đức Giêsu đề cập đến một đề tài mới: tỉnh thức và trung tín. Người đang trên đường lên Giêrusalem, nơi Người sẽ được “đưa lên cao”; bởi vậy, Người cần chuẩn bị cho các bạn hữu của mình sống trong một hoàn cảnh mới mà họ sẽ biết sau cuộc Phục Sinh của Người: Chúa của họ sẽ vắng mặt về thể lý, họ sẽ phải đón chờ Người trở lại trong vinh quang.
Ba dụ ngôn sẽ minh họa cho giáo huấn của Đức Giêsu:
- Trước hết là dụ ngôn những người đầy tớ sẵn sàng trong bộ đồ phục vụ, nghĩa là “thắt lưng gọn gàng”, vạt áo được săn lên và xiết chặt bằng dây thắt lưng như mọi người thường làm trong bữa tiệc Vuợt qua mà bài đọc thứ nhất đã thuật lại. Họ còn thắp đèn sẵn đợi chủ về. Họ tỉnh thức.
- Cũng như những người đầy tớ trong dụ ngôn, các môn đệ của Đức Giêsu sẵn sàng đón chờ ngày trở lại của Thầy mình, và họ sẽ kinh ngạc khi thấy Đấng họ trông đợi “thắt lưng, đưa họ vào bàn ăn, và đến bên từng người mà phục vụ.”
- Liền sau đó là dụ ngôn ông chủ nhà tỉnh thức, biết đề phòng kẻ trộm đến bất ngờ.
Cũng vậy, các môn đệ của Đức Giêsu phải sẵn sàng vì Chúa trở lại thật bất ngờ.
- Dụ ngôn viên quản lý trung tín và viên quản lý bất trung kết thúc toàn bộ đoạn Tin Mừng này. Qua câu hỏi của Phêrô, dụ ngôn này giúp nhận rõ Chúa muốn nói với ai: “Lạy chúa, Chúa nói dụ ngôn này cho chúng con hay cho tất cả mọi người?”
Trong khi hai dụ ngôn trước nhắm đến tất cả các môn đệ, thì dụ ngôn thứ ba nhắm đến những ai có trách nhiệm riêng trong cộng đoàn và vì trách nhiệm này, họ phải xử sự như những đầy tớ của Đức Kitô và như những người quản lý các mầu nhiệm của Thiên Chúa.
H. Cousin kết luận: “Câu hỏi của Phêrô khiến Đức Giêsu phải đề cập đến một điểm đặc biệt. Sau khi cảnh báo tất cả mọi Kitô hữu qua các câu 36-40, thì ở đây, Người đòi hỏi thái độ trung tín nơi một số các môn đệ là những người thi hành trách nhiệm mục vụ trên các anh em khác trong cộng đoàn… Vì những phận vụ được trao phó trước mặt mọi người, họ phải luôn sẵn sàng hơn những Kitô hữu khác để trả lời trước mặt Thầy mình, về những thái độ xử sự của họ khi Người bất ngờ đến” (Sđd, tr.187).

 

II. BÀI ĐỌC THÊM

1. “Một đức tin đâm rễ trong quá khứ, hướng về tương lai và thể hiện trong hiện tại như một bước tiến” (“Célébrer”, tạp chí của C.N.P.L., số 251, trg 18)
Nói đến hiện hữu của người Kitô hữu là nói đến đức tin. Đức tin hướng về quá khứ, dựa vào một lời nói, chỉ một lời, một lời hứa.
Đức tin cũng hoàn toàn hướng về tương lai, vì chờ đợi lời hứa được thực hiện dù lời hứa ấy chỉ được bảo đảm bằng một lời nói. Người tín hữu tin rằng Thiên Chúa có thể thực hiện điều Ngài đã nói. Nhưng đức tin là tiến bước từ lời hứa này đến lời hứa khác mà không nắm giữ hoặc chiếm hữu điều gì.
Trong giây phút hiện tại, đức tin là một cuộc lữ hành, một bước đi, giống như Abraham và các tổ phụ là những di dân, khách lữ hành và những người rày đây mai đó.
Như vậy, phải chăng chúng ta bị kết án là chẳng có gì, chẳng nắm giữ được gì? Đây chính là điều nghịch lý của đức tin: đức tin là “phương tiện giúp chiếm hữu được điều chúng ta mong đợi.”
Sự chờ đợi đã có đầy tràn tương lai rồi. Đức Kitô, Đấng sẽ đến, Đấng chúng ta đón chờ, đã hiện diện rồi. Người ở giữa chúng ta qua những ai phục vụ. Như vậy, công việc của đức tin là loại trừ khỏi chúng ta những gì chúng ta tin là đã nắm vững và đặt trong tay chúng ta giá trị duy nhất của tương lai. Chúng ta tiến về giá trị đó và trông đợi nó: giá trị đó là phục vụ và chia sẻ. Đó là cách thế tốt để đón chờ, để tỉnh thức trong đức tin.”

2. “Hãy thắt lưng sẵn sàng phục vụ”. (G. Boucher, trong “Le ciel sur terre”, trg 53)
“Thiên Chúa… gõ cửa nhà tôi. Người tỏ lộ qua các biến cố và lời khẩn nài của mọi người. Người còn tỏ lộ cho tôi qua lời kêu gọi của những người chung quanh và bè bạn. Người ước mong được ở với tôi. Và tôi có nguy cơ không quan tâm đến những ước muốn của Người. Người gọi tôi nhưng tôi không có mặt để trả lời. Tôi thuộc loại những kẻ thuê bao vắng mặt.
Đúng, từ lâu lắm, có thể nói là suốt cả cuộc đời, tôi đã là loại người như thế! Thiên Chúa không ngừng đi qua nhà tôi để chỉ thấy nơi tôi sự trống vắng và bóng tối…
Phải chăng chúng ta đã đánh mất sở thích chờ đợi và ước ao? Chúng ta muốn tất cả mọi sự và muốn chúng phải có ngay lập tức. Toàn bộ cuộc sống của chúng ta đã được hoạch định. Điều bất ngờ khó có chỗ đứng.
Chính Thiên Chúa ước ao đến nhà chúng ta. Vào bất cứ giờ nào. Ngay cả buổi tối khi chúng ta đã chuẩn bị lên giường. Hoặc thậm chí ban đêm khi chúng ta muốn được yên ắng nghỉ ngơi sau một ngày lao động mệt nhọc.
Thiên Chúa không để ý đến giờ giấc. Người luôn hiện diện. Người can thiệp thường xuyên, bất cứ lúc nào. Khi thấy chúng ta tỉnh thức và chờ đợi, Người sẽ sung sướng và vui mừng chia sẻ của ăn và những phương diện tốt đẹp nhất trong đời sống của chúng ta.
Nếu thấy chúng ta vì ao ước mà sẵn sàng. Người sẽ “đốt lên” trong ta ngọn lửa sự sống. Người sẽ trao cho chúng ta Lời của Người. Người sẽ liên kết chúng ta với sứ mạng loan báo Nước Thiên Chúa của Người.
Chúng ta phải thắt lưng sẵn sàng, đó là thái độ của người sẵn sàng tham dự. Không phải một giờ mỗi tuần. Cũng không phải vài phút mỗi ngày. Nhưng luôn luôn. Thường xuyên.
Đến nỗi Chúa đến bất cứ giờ phút nào cũng không bao giờ có thể làm chúng ta bất ngờ. Người sẽ thấy chúng ta luôn thắt lưng sẵn sàng. Và ngọn đèn của chúng ta luôn thắp sáng để nhận ra Đấng đang đến mà đón tiếp Người. Mọi lúc.
Một thái độ như vậy không có nghĩa là chúng ta không bao giờ kịp thở. Không có nghĩa là chúng ta không ngừng lại, không nghỉ ngơi. Nhưng có nghĩa là đôi mắt chúng ta luôn dò xét. Đôi tai luôn lắng nghe. Con tim luôn sẵn sàng. Tinh thần luôn tỉnh thức.

 

CHÚA NHẬT XX THƯỜNG NIÊN

THEO ĐỨC GIÊSU TRÊN ĐƯỜNG LÊN GIÊRUSALEM,
CHÍNH LÀ LIỀU MÌNH BIẾN THÀNH DẤU CHỈ
MÂU THUẪN NHƯ NGƯỜI
(Luca 12, 49-54)


 

I. VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI

1. Thiêu đốt bởi cùng một ngọn lửa …
Chúng ta đang trên đường lên Giêrusalem, nơi Đức Giêsu sẽ được đưa lên cao (enlèvement). Sau khi mời gọi phải tỉnh thức, minh họa bằng ba dụ ngôn (trong Tin Mừng chúa nhật trước), giờ đây, Đức Giêsu nói với những ai theo Người ba lời về lửa thử thách, có ý đề cập đến những nguy cơ của cuộc phiêu lưu theo Người: số phận của môn đệ sẽ không khác gì Thầy mình.
Lời thứ nhất loan báo Người “đến ném lửa xuống thế gian” Lửa ở đây là gì? Đó rất có thể là lửa phán xét của Thiên Chúa: sự hiện diện của Đức Giêsu và giáo huấn của Người không phải đã vạch trần nơi sâu thẳm của tâm hồn mọi người đó sao? Đó cũng có thể là “ngọn lửa thiêu đốt” của tình yêu Thiên Chúa: Tình yêu “ghen tương” này không đòi một sự gắn bó trọn vẹn, không một chút thỏa hiệp nào đó sao? Và tình yêu “ghen tương” ấy không ước ao mọi con tim đều rực cháy qua sự đáp trả bằng đức tin đó sao? Đó chắc chắn cũng là ân huệ của Thánh Linh: Thánh Luca đã không thuật lại sự bắt đầu của Hội Thánh, vào ngày lễ Ngũ Tuần , dưới hình thức những lưỡi lửa đó sao?
Ở đây, Đức Giêsu hoàn toàn hướng về sự rực cháy mà Người nhắm đến như là mục đích của sứ mạng đã được Chúa Cha trao phó: “Và Thầy ước mong phải chi lửa ấy đã bừng lên”.

2. …Nhận chìm trong cùng một nguồn nước…
Lời thứ hai của Đức Giêsu giới thiệu “cái chết” của Người như “một phép rửa” mà Người sẽ bị nhận chìm trong đó (đó cũng là nghĩa của chính từ “phép rửa”) để cứu rỗi dân Người: “Thầy còn một phép rửa phải chịu, và lòng Thầy khắc khoải biết bao cho đến khi việc này hoàn tất”.
Hugues Cousin giải thích: “Một loại phép rửa mới đang chờ Đức Giêsu: tử đạo. Dĩ nhiên, Đức Giêsu không mong ước cái chết; nhưng Người cũng không sợ nó. Người hướng về nó, vì cơn thử thách này đánh dấu sự kết thúc sứ mạng trần thế của Người và vì nó cần thiết để Chúa Thánh Thần ngự đến – dưới hình lưỡi lửa – và để thời kỳ của Hội Thánh bắt đầu, một thời kỳ thử thách cho những ai tin vào Đức Giêsu.” (“L’Evangile de Luc”, Centurion, trg 188)
Phép rửa này là một cuộc vượt qua bắt buộc đối với Đức Giêsu cũng như các môn đệ của ngài. Người đã hỏi Giacôbê và Gioan, hai người con của ông Giêbêđê: “Các con có thể uống chén mà thầy sẽ uống, chịu phép rửa mà thầy sẽ chịu không?”

3. … ký kết bằng cũng một thánh giá:
Lời thứ ba của Đức Giêsu quả quyết rõ ràng nếu chính Người phải trải qua cơn thử thách thì những ai theo Người cũng sẽ gặp thử thách trên bước đường họ đi.
Nếu Người đến đem bình an của Đấng Thiên Sai mà các tiên tri đã công bố (Is. 9,5-6; 11,6-9; Mikê 5,4; Luc 2,13 và 19,38), thì đây không phải là sự bình an dễ dãi do các tiên tri giả loan báo, sự bình an mà con người không ngừng mơ tưởng; nhưng là sự bình an Nước Trời mà người ta chỉ đạt được qua thập giá. Mỗi người đều được mời gọi lựa chọn thái độ của mình đối với Đức Giêsu, hoặc theo Người hoặc chống Người, như ông Simêon đã nói tiên tri (Lc 2,35). Lựa chọn này sẽ gây ra chia rẽ ngay trong một gia đình, cả trong một cộng đoàn sống chung hoặc huyết tộc mà đáng lẽ sự đoàn kết được coi là điều hiển nhiên như năm ngón tay trong một bàn tay. Đứng trước việc Đức Giêsu đến, không còn gì không bị đảo lộn.
Và các môn đệ của Đức Giêsu sẽ có cùng một kinh nghiệm đau đớn như vậy nếu họ trung thành với lời của Người: “Vì từ nay, năm người trong cùng một nhà sẽ chia rẽ nhau, ba chống lại hai, hai chống lại ba”.
H. Cousin cảnh báo: “Kinh thánh và Do thái giáo chắc chắn biết rõ chủ đề chia rẽ trong gia đình vào thời buổi cuối cùng; nhưng họ chờ đợi những thử thách như vậy vào thời kỳ trước khi Đấng Thiên sai đến. ‘Thế hệ lúc con vua Đavít đến là thế hệ mà con gái chống đối mẹ mình, nàng dâu chống đối mẹ chồng…’ (Talmud). Chính Đức Giêsu Kitô đã loan báo tình thế đầy thử thách này có liên hệ với chính việc Ngài đến. Và nó sẽ kéo dài. Sứ điệp của Ngài sẽ gây chia rẽ và như vậy, lời tiên tri của Mikê 7,6 về thời buổi cuối cùng được ứng nghiệm…
Sứ điệp Tin Mừng gây ra những đổ vỡ… Như ông Simêon đã nói tiên tri, sự đổ vỡ sẽ là điều quen thuộc đối với việc loan báo Tin Mừng vào thế kỷ thứ nhất (Xem 1 Cor, 11,18-19). Như vậy, lời cảnh báo của Đức Giêsu rất rõ ràng: Sự kiện Thiên Chúa đến trong lịch sử nhân loại… không làm cho thời kỳ của Hội thánh trở thành một kỷ nguyên hòa bình. Những thử thách là số phận của những kẻ tin” (Sđd).

 

II. BÀI ĐỌC THÊM

1. “Ném lửa vào mặt đất” ( H. Vullez, trong “Dieu si proche. Année C” Desclée de Brouwer, trg 135-136)
“Cái gì làm cho những đôi tai quen được ru bằng những câu thơ của Tin Mừng lấy làm chướng?…
Chính Ngài, Đấng cất lên bài ca Tám Mối phúc, Vị sứ giả hòa bình, sao lại có thể đưa ra những lời quá hiếu chiến, đầy bạo lực như vậy ? …
Phải hiểu thế nào đây? Và nếu Đức Giêsu chỉ đơn giản ghi nhận điều mỗi người chúng ta thường làm thì sao!
Khi đòi hỏi và thúc đẩy sự công bình, chúng ta đã gây ra bạo lực đối với những người không muốn như vậy. Khi đòi hỏi sự bình đẳng cho tất cả mọi người, chúng ta làm cho những người không muốn từ bỏ quyền lực và những lợi thế của họ tức giận. Khi muốn chân thành đối thoại, không đặt những câu hỏi để gài bẫy, chúng ta ta lại bị người khác dùng những mũi tên “chân lý” để bắn. Nhân danh hòa bình và để được bình yên, phải chăng im lặng thì tốt hơn?
Nhưng hòa bình của những người, lớn hay nhỏ, lạm dụng quyền lực và nền trật tự bảo đảm và duy trì sự bất công: hòa bình có ý che dấu bạo lực bằng cách hợp pháp hóa và thể chế hóa nó, phải chăng đó là hòa bình thực sự, hòa bình của Đức Giêsu Kitô? Tiên tri Giêrêmia đã tố cáo những người vừa băng bó các vết thương vừa hô lớn: “Hòa bình! Hòa bình!”, nhưng ngài thốt lên: “Làm gì có hòa bình!”
Phải tin tưởng vững chắc vào Thiên Chúa là Cha của mọi người. Phải hy vọng vững chắc Nước Trời sẽ đến. Trong nước ấy, tình huynh đệ sẽ tràn đầy, để ai nấy đều trở nên những con người hòa bình theo Đức Giêsu Kitô.

2. “Những tương quan mới” (Đức cha L. Daloz, trong “Dieu a visité son peuple”, DDB, trg 107-108)
“Đức Giêsu nói về việc Người đến: “Thầy đến ném lửa vào mặt đất..” Người nói với chúng ta về sự Người chờ đợi: “Thầy còn một phép rửa phải chịu và lòng Thầy khắc khoải biết bao cho đến khi việc này hoàn tất!” Đức Giêsu không chỉ là người đòi hỏi chúng ta chờ đợi và tỉnh thức. Chính Người cũng sống trong chờ đợi, trong khắc khoải âu lo về phép rửa mà Người sẽ chịu. Đối với Ngài cũng như các môn đệ, việc Người đến gây nên xung đột vì nó bắt ta phải quyết định. Việc Người đến vừa là ân sủng Thiên Chúa ban vừa là chính Thiên Chúa đến ở với loài người. Ân sủng của Thiên Chúa không ở ngoài ta, nó không thêm cho đời sống chúng ta một cái gì khác. Ân sủng đó đụng chạm tận đáy lòng ta, thâm nhập vào tâm hồn ta như lửa hồng, kêu gọi sự đáp trả. Chúng ta không thể đón nhận nó mà không đứng về phía Thiên Chúa. Mỗi người có bổn phận đáp trả, và đó là lý do tại sao việc Đức Giêsu đến cũng xác định chỗ đứng của mỗi người trong tương quan với người khác: “Ba chống lại hai và hai chống lại ba.”. Chính Đức Giêsu khi đứng về phía Thiên Chúa cũng đã chịu hậu quả gián tiếp là bị bạo lực đàn áp: “Dấu chỉ chống đối” mà ông Simêon đã nói. Đức Giêsu đúng là người gây xáo trộn. Người là Đấng đánh động lòng mỗi người tận nơi sâu kín nhất. Người là Đấng làm chúng ta phải đặt lại câu hỏi về cái cốt yếu nhất trong cuộc sống của ta đến nỗi cuộc gặp gỡ với Người không thể không ảnh hưởng sâu xa đến mọi tương quan của ta. Từ nay trở đi, những tiêu chuẩn mới sẽ xen vào đời sống của các môn đệ, không đơn giản chỉ là sự sám hối có tính cách cá nhân và kín đáo: nhưng nó cũng biến đổi những tương quan của ta với người khác, với gia đình, bạn bè… không phải là “chống” lại họ theo kiểu hiểu lời Đức Giêsu theo nghĩa đen, nhưng là đặt họ vào một tương quan mới, không thỏa hiệp dễ dãi, nhưng là mối tương quan đạt tới chỗ sâu kín nhất mà ngọn lửa (do Đức Giêsu đem đến) có thể chiếm hữu và làm thay đổi cuộc sống.”

2. “Can đảm giữ vững đức tin” (L. Sintas, trong “Parole de Dieu pour la méditation et l’homélie”, trg 109)
“Trận chiến này… Hội thánh đang trải qua ngày nay… được báo chí thuật lại. Cái chết của Mục sư Martin Luther King và Đức cha Romero, cũng như cái chết khủng khiếp của 17 nạn nhân người Rwanda vì đã che chở những người Tutsi trốn chạy vào mùa xuân trước, cùng biết bao nhiêu vị tử đạo khác chết vì đức tin và trách nhiệm… Tất cả những cái chết đó đều nói lên trận chiến này…
Trong tình hình hiện nay của Hội thánh ở Âu Châu, lúc mà chúng ta phải thừa nhận con số linh mục, tu sĩ ngày càng suy giảm, thảm kịch rồi sẽ ra sao, nếu chúng ta bán tống bán tháo Tin Mừng để có thể chiêu mộ ơn gọi dễ dàng hơn. Hãy can đảm giữ vững đức tin.”

 

CHÚA NHẬT XXI THƯỜNG NIÊN

DỤ NGÔN CỬA HẸP
(Lc 13,22-30)


I. VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI:
1. Vào qua cửa hẹp…
Một lần nữa Luca xác định Đức Giêsu đang “trên đường lên Giêrusalem”. Một nhận xét có tính thần học hơn là địa lý: Người đang tiến gần đến Thành Thánh, nơi chính Người phải đi trước qua “cửa hẹp” của cuộc khổ nạn để dẫn đưa anh em mình vào dự tiệc Nước Trời. Sau đó, Người còn tuyên bố trong câu 33: “Tôi phải tiếp tục đi, vì một Ngôn sứ mà chết ngoài thành Giêrusalem thì không được”.
Chính lúc đó một người đối thoại vô danh - Luca viết: “Có kẻ”- hỏi Đức Giêsu: “Thưa Ngài, những người được cứu thoát thì ít, có phải không?”. Một vấn nạn thường được đưa ra tranh luận giữa các kinh sư và luật sĩ thời đó: kẻ thì bảo “mọi người Israel sẽ được dự phần vào thế giới đang đến”, người khác lại quả quyết “chắc chắn số kẻ bị hư mất sẽ nhiều hơn số người được cứu”.
Theo thói quen thường làm trong tình thế tương tự, Đức Giêsu tránh không trả lời trực tiếp câu hỏi có tính lý thuyết của người đối thoại. Nhưng mượn một dụ ngôn, trong trường hợp này là dụ ngôn Cửa Hẹp, Người đưa ra một lời cảnh báo mạnh mẽ cho thính giả mọi thời, xưa cũng như nay. Thay vì đoán xa đoán gần về số lượng ít hay nhiều kẻ sẽ được chọn, tốt hơn họ nên lo cho phần rỗi của chính mình một cách sao cho thật thiết thực. “Hãy chiến đấu đề qua được cửa hẹp mà vào”, Người nói rõ như thế. Động từ Hy Lạp được Luca dùng ở đây và được dịch là “hãy chiến đấu”, chính là “agoonidzesthé”: một động từ gợi lên ý tưởng đấu tranh vật lộn, từ đó có chữ “agonie” (có nghĩa là “lâm chung”), cuộc vật lộn sau cùng. Như thế đủ thấy tầm quan trọng mà Đức Giêsu dành cho kiếp sống hiện tại của con người.

2. ... Trước khi cánh cửa được khoá lại:
Bởi cánh cửa, cái cửa chật hẹp ấy, sẽ được “khoá” lại, nên người ta cần phải khẩn trương đón nhận lời dạy của Đức Giêsu và đem ra thực hành. Thời giờ không còn nhiều.
Không hề có chế độ ưu tiên trong việc tham dự bàn tiệc Nước Trời. Đâu phải cứ thuộc giống nòi Abraham, “từng được ăn uống trước mặt Ngài”, từng được nghe Ngài giảng dạy trên các đường phố của mình, là đương nhiên được Đức Giêsu, vị chủ nhà, mở cho vào khi gõ cửa. Nhưng là phải biết đón nhận lời loan báo Nước Trời và mau mắn hoán cải, nếu không sẽ phải nghe tiếng trả lời từ trong nhà: “Ta không biết các anh từ đâu đến. Cút đi cho khuất mắt Ta, hỡi tất cả những quân làm điều bất chính”.
Thật đau đớn vỡ mộng cho những kẻ tưởng rằng cứ thuộc về dân của Chúa là đương nhiên nắm chắc trong tay tấm vé vào dự bàn tiệc Nước Trời. Họ sẽ phải đứng ngoài cánh cửa đã khép kín, trong lúc cả một đám đông dân ngoại “từ đông tây nam bắc đến dự tiệc trong Nước Thiên Chúa”.
Và để hoạ lại lời tiên tri của ông già Ximêon: “Cháu bé này làm duyên cớ cho nhiều người Israel ngã xuống hay đứng lên”, Đức Giêsu kết luận bằng một công thức cô đọng: “Có những kẻ đứng chót (dân ngoại) sẽ lên hàng đầu, và có những kẻ đứng đầu (dân Do Thái) sẽ xuống hàng chót”. Hugues Cousin lưu ý, “Lời cảnh báo được gởi đến trước hết cho những thính giả Do Thái cư ngụ ở Giuđê và Galilê trong những năm 28-30... Tuy nhiên chúng ta cũng đừng quên: những lời của Phúc Âm luôn luôn mang tính hiện tại và nhằm mời gọi một sự hoán cải. Không thể có một thứ ơn cứu độ dọn sẵn cho những Kitô hữu không lo thực hành ngay việc canh tân liên lỉ đời sống mình” (“L'Evangile de Luc”, Centurion, trg 198-199).

II. BÀI ĐỌC THÊM:
1. Quyền công dân Nước Trời (Mgr. L. Daloz, “Dieu a visité son peuple”, Desclée de Brouwer, trg 111).
“Nước Thiên Chúa là một thực tại mầu nhiệm. Nước ấy hiện diện như một hạt giống bé nhỏ đang vươn lên thành cây cao bóng cả. Nó được vùi vào trong bột như chút men làm dậy cả khối bột. Để được dự phần vào Nước ấy, con người phải để cho Nước ấy biến đổi, phải để cho men của Nước ấy làm dậy bột. Nếu chỉ đóng vai kẻ ngoài cuộc hay kính nhi viễn chi thôi thì không đủ. Phải bước vào, mà cánh cửa lại chật hẹp, nó chỉ mở ra cho những ai nỗ lực bước qua. Đức Giêsu đã đến giữa nhân thế, và loài người có thể lui tới gặp gỡ Người: “Chúng tôi đã từng được ăn uống trước mặt Ngài, và Ngài cũng đã từng giảng dạy trên các đường phố của chúng tôi”. Nhưng như thế không đủ. Nhưng sau đó phải bước theo Chúa, phải vào trong Nước Trời qua chính cửa hẹp đó, nếu không sẽ mãi là kẻ “xa lạ”: “Ta không biết các anh từ đâu đến”. Để gặp gỡ Đức Kitô, không nhất thiết ưu tiên cho những ai đã từng được gần gũi với Người. Dụ ngôn trực tiếp nhắm đến dân tộc đã sinh ra Người trên đời, nhưng đồng thời cũng liên can đến tất cả chúng ta. Thuộc thành phần “từ đông tây nam bắc đến dự tiệc”, chính chúng ta cũng dễ dàng tháo lui không dám bước qua cửa hẹp. Hành trình của sự hoán cải không có lối đi vòng nào khác: “Cút đi cho khuất mắt Ta, hỡi tất cả những quân làm điều bất chính”. Chỉ có một thứ giấy thông hành thôi, đó là phải đổi đời. Chính nó sẽ cấp cho chúng ta quyền công dân của Nước Trời. Khi điều đó được sáng tỏ, chúng ta mới thấy mọi thứ giả tạo sẽ lộ nguyên hình: “Có những kẻ đứng chót sẽ lên hàng đầu, và có những kẻ đứng đầu sẽ xuống hàng chót”.

2. Trở lại với nguồn mạch Tin Mừng: (F. Daleclos, “Prends et mange chaque dimanche la Parole”, Centurion-Duculot, trg 246)
Dựa vào lời dạy của Đức Giêsu, Thánh Luca muốn đưa ra câu trả lời chính xác cho một tình huống khá cụ thể, trong đó kẻ thuận người chống về vấn đề dân ngoại xin gia nhập Hội Thánh. Người thuận thì cho rằng Nước Thiên Chúa luôn mở rộng cho tất cả những ai tìm kiếm và muốn bước vào. Người chống thì chủ trương phải thuộc thành phần ưu đãi, nghĩa là phải được cắt bì theo luật Do Thái mới được gia nhập. Giáo huấn của Đức Giêsu đã quá rõ. Rõ đến nỗi đụng chạm và gây vấp phạm đến tất cả những ai từng bám vào những đặc ân và ngoại lệ, những “bảo hiểm an toàn” dành cho những tín hữu “ngoan đạo”. Nhưng Đức Giêsu lại chẳng để ý gì đến chuyện thuộc thành phần nào, chuyện đặc quyền đặc lợi hay việc giữ đúng phép đạo.
Nếu cánh cửa có hẹp, nó vẫn đủ rộng để đón mời mọi người và mỗi người. Nhưng lối vào không thênh thang. Để lọt được vào trong, đòi phải có sự mềm mại của tình yêu đáp trả tình yêu đang thao thức, đang xét xử và đón mời. Ở đây, chúng ta được nghe nhắc lại tầm quan trọng của đức tin và việc sống đạo, mà chủ yếu là thực hành hai giới răn chính mà thực tế chỉ là một giới răn tình yêu. Cần phải lên án cả lối nhìn nghiêm khắc của Jansénisme lẫn chủ trương dễ dãi buông thả, cả sự bối rối sợ hãi lẫn thái độ thoải mái vô tư. Hãy dẹp sang một bên những bảng thống kê và con số, những suy đoán vô ích, những nỗi lo lắng và tin tưởng vu vơ. Tốt hơn, chúng ta hãy trở về với nguồn suối Tin Mừng. Chính nơi đó người ta tìm được tất cả những gì mình phải là và phải làm, để trở nên và mãi là “công dân Nước Trời”.

 

CHÚA NHẬT XXII THƯỜNG NIÊN

ĐỨC GIÊSU ĐÃ ĐẢO LỘN TẤT CẢ
(Lc 14,1.7-14)


I. VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI:
1. Từ chuyện ăn uống...:
“Trên đường lên Giêrusalem” (13,22), nơi Người sẽ bị “hạ xuống chỗ thấp nhất”, trên thập giá, “giữa hai tên gian phi” (23,33), Đức Giêsu được mời dùng bữa, “vào một ngày Sabát”, “nơi nhà một ông thủ lãnh nhóm Pharisêu”. Một bữa ăn như thế cũng thường là dịp nổ ra những tranh luận tôn giáo.
Chuyện mời Chúa dùng bữa này chắc không phải là không có dụng ý, bởi Luca ghi nhận: “họ cố ý dò xét Người” (14,1).
Vừa vào bàn, Đức Giêsu đã gặp ngay “một người mắc bệnh phù thũng”, và Người không ngần ngại chữa lành nạn nhân, dù hôm đó là “ngày Sabát”, vậy mà các nhà thông luật và những người Pharisêu có mặt “không thể đáp lại lời nào” (14,6).

2. ... Mọi quy tắc về ngôi thứ bị đảo lộn:
Đến lúc vào bàn ăn, Người lại bỡ ngỡ trước cảnh những khách mời cứ lo tranh dành nhau “cỗ nhất mà ngồi”. Thực ra phải nói là gối nhất mà nằm, bởi vào thời đó, trong các bữa tiệc, người ta nằm mà ăn trên những bộ ghế dài. Nhưng chỗ nhất đó, theo lời giải thích của A. Stoger, “là những chỗ gần chủ nhà nhất. Các gối nằm được xếp theo ba nhóm. Vị trí danh dự ở vào phía trước hay ở chính giữa. Vào thời Đức Giêsu, ngôi thứ trong bàn tiệc được ấn định tuỳ tầm cỡ danh giá của thực khách, tức là phụ thuộc vào chức vị và tài sản của người đó” (“Assemblées du Seigneur”, số 53, trg 80).
Sử dụng lối nói dạy khôn ở đời, nói mà không gây tổn thương hay xúc phạm đến ai, Đức Giêsu ngỏ lời trước hết với những khách được mời: “Khi anh được mời đi ăn cưới, thì đừng ngồi vào cỗ nhất”.
Chúng ta đừng vội lầm! Ở đây Đức Giêsu không có ý dạy một bài học về nghệ thuật ứng xử ớ đời để nhằm thành đạt nhờ những thủ đoạn khéo léo. Đàng khác, để loại bỏ mọi hàm hồ, Luca xác định rõ Đức Giêsu diễn tả bằng “dụ ngôn” (c.7) và Người đề cập đến “những bữa tiệc cưới” (c. 8), một đề tài lớn trong truyền thống Kinh Thánh, gợi lên bữa tiệc cưới giữa Thiên Chúa và loài người. Thực thế, dựa vào một câu trong sách Châm Ngôn (“Chớ đứng vào chỗ của hàng vị vọng. Thà được người ta bảo: “Xin mời ông lên trên!” còn hơn bị hạ xuống trước mặt người quyền cao chức trọng”) (Cn 25,6), Người cho thấy việc hình thành Nước Thiên Chúa gây nên một sự đảo lộn như thế nào trong thái độ sống của con người – ngược lại với thói thích ăn trên ngồi trước trong xã hội Do Thái: “Trái lại, khi anh được mời, thì hãy ngồi vào chỗ cuối...”.
Trong suốt lịch sử dân Do Thái, sự thực cho thấy Thiên Chúa luôn đứng về phía những thành phần bé nhỏ và khiêm tốn: “Người thấp hèn sẽ được Chúa nâng lên, kẻ quyền thế sẽ bị Người hạ xuống”, ngôn sứ Êdêkien xưa đã loan báo như thế. Hôm nay, đến lượt Đức Giêsu cũng công bố: “Phàm ai tôn mình lên sẽ bị hạ xuống, còn ai hạ mình xuống sẽ được tôn lên”. Và con đường mà chính Người đang bước đi để tiến về Giêrusalem không gì khác hơn là con đường của sự khiêm nhường và hạ mình.
N. Quesson đưa ra nhận xét: “Chúng ta thấy, đây chẳng đơn giản chỉ là những lời dạy về phép lịch sự ở bàn ăn,. Chúng ta đang được mời gọi đến với Nước Thiên Chúa bằng cách noi gương Chúa là Đấng âm thầm, ẩn mình, khiêm tốn... Người đã tự nguyện làm kẻ cuối hết, làm đầy tớ phục vụ mọi người! Sự cao cả của Chúa là ở chỗ đó” (“Parole de Dieu pour chaque dimanche, năm C”, Droguet-Ardant, trg 261).

3. ... Thành phần được mời cũng bị xáo trộn:
Sau khi ngỏ lời với những khách được mời, giờ đây, câu chuyện của Đức Giêsu quay sang nói với những người đứng ra đãi tiệc. Cũng vẫn với kiểu nói dạy lẽ khôn ngoan: “Khi nào ông đãi khách ăn trưa hay ăn tối...”. Và nhân danh tính chất mới mẻ của Nước Trời, luôn luôn nhắm mời gọi phải có một cách sống ngược lại với lề lối thông thường của loài người chúng ta.
Theo lẽ thường, ai trong chúng ta cũng chỉ mời những người có liên hệ với mình cách nào đó: bà con họ hàng, thân hữu, những người gần gũi do yếu tố tinh thần, tư tưởng, hay một cái gì đó; và những người này đến lượt họ lại phải mời lại chúng ta để “đáp lễ”. “Trái lại”, theo lời kêu gọi của Đức Giêsu, chúng ta hãy mở rộng bàn tiệc cho tất cả những ai không có khả năng đáp lễ: người nghèo, kẻ bị loại trừ, thành phần bị coi như đồ bỏ. Tại sao? Bởi vì đó chính là cách xử sự của chính Thiên Chúa. Người tỏ lòng thương yêu đặc biệt đối với những người phận nhỏ, thấp hèn, và sẵn sàng mời vào bàn tiệc của Người những kẻ “tàn tật, đui mù, què quặt” (Lc 14,15-24). Những người này từng thuộc diện bị Lề Luật khai trừ khỏi sinh hoạt tế tự ở Đền Thờ (2 Sm 5,8 và Lv 21,18).
Khi thuật lại những lời này của Chúa, Luca có ý nhắc nhở cho mọi anh chị em Kitô hữu – xưa cũng như nay – phải cử hành nghi lễ Bẻ Bánh trong Ngày của Chúa với tinh thần nào: với cung cách của chính Đức tin, Đấng đã muốn sống giữa anh em như “một người phục vụ” (Lc 22,24-27). Bữa Tiệc của Chúa dứt khoát không chấp nhận những tranh dành ngôi thứ, nhưng ngược lại đòi hỏi thái độ phục vụ lẫn nhau vô vị lợi (x. 1Cr 11,17-22.33-34).

II. BÀI ĐỌC THÊM:
1. Một lô-gic mời, không ai ngờ. (G. Gessière, trong “Dieu si proche. Năm C”, Desclée de Brouwer, trg 142-143)
“Những ai mong sẽ tìm thấy nơi giáo huấn của Đức Giêsu một nền đạo lý bay bổng, sẽ phải thất vọng thôi. Điều Người dạy xem ra rất thường. Nó còn có vẻ như phát xuất từ một sự tính toán hơi vị kỷ: giả bộ ngồi vào chỗ cuối để cho thiên hạ chú ý, mà trong bụng thì nhắm chỗ khác ngon hơn”.
Lời Đức Giêsu dạy, bao giờ cũng vậy, rất tinh tế. Nó mang nhiều tầng lớp ý nghĩa khác nhau. Có thể hiểu như là một lời khuyên về cách xử thế, theo kinh nghiệm khôn ngoan về mối giao tiếp giữa người với người. Có thể hiểu như là lời mời gọi phải tránh thói thổi phồng chính mình, phải tập luôn luôn ăn ở khiêm tốn. Nhưng coi chừng... ở đây đang nói về những “bữa tiệc”: cho những đầu óc thấm nhuần Kinh Thánh và quen với tính chất ẩn dụ trong ngôn ngữ của Đức Giêsu, đây cũng chính là bữa tiệc cưới của Thiên Chúa với loài người, “Bữa Tiệc Nước Trời”, biến cố Thiên Chúa can thiệp để đổi mới địa cầu như hằng được mong đợi.
Một cách kín đáo, Đức Giêsu xác nhận lại điều Người đã từng nói: đối với Thiên Chúa, kẻ cuối hết là người trước hết. Bài Magnificat đã hát lên rằng: “Chúa hạ bệ những ai quyền thế, Người nâng cao mọi kẻ khiêm nhường”. Qua toàn bộ cách sống của mình, Người Thợ Mộc làng Nadarét kia đã chứng tỏ một sự quan tâm đặc biệt tới những người bệnh hoạn, tật nguyền, những người “nghèo” nhất trong số những người nghèo.
Theo cái lô-gic đó, Đức Giêsu bồi thêm một câu kết luận bất ngờ và khiến ai nấy kinh ngạc. Người quay sang phía chủ nhà và trách ông ta chỉ biết mời có bạn bè, bà con và láng giềng giàu có. Người ta có thể tưởng tượng những khách được mời sẽ phản ứng thế nào! Không lẽ phải rút lui hết để nhường chỗ cho hạng “tàn tật, què quặt, đui mù?”. Tiệc tùng như thế còn ra cái gì nữa?
Vẫn cứ mãi “hôm nay”, lời của Đức Giêsu tiếp tục giải phóng, mở rộng, mời gọi con người đi tới. Lời đó được gởi đến mỗi người, được gởi đến mọi người. Ai sẽ là người biết mời những kẻ không thể có khả năng đáp lễ lại? Cho đến bao giờ các dân tộc giàu có cứ ăn uống dư thừa trong lúc những dân tộc khác đang chết đói? Biết lúc nào chúng ta mới bắt đầu cử hành “tiệc cưới”, bữa tiệc của Thiên Chúa, bữa tiệc của mọi người? và sống ngay từ trần thế này “cuộc phục sinh của các kẻ lành?”.

2. Thiên Chúa tự tỏ ra trong sự ẩn mình. (“Missel Emmaus des dimanches”, trg 1091).
“Không gì ngăn cách con người khỏi Thiên Chúa cho bằng sự kiêu căng tự phụ, khi con người chỉ biết tìm kiếm vinh dự cho chính mình. Thói kiêu căng chỉ giam hãm con người trong những giới hạn của riêng mình, đồng thời chỉ mưu vùi dập người khác xuống. Nó ngược hẳn với cung cách của Thiên Chúa: Người biểu dương vinh quang của Người, tức là chính tình yêu, bằng cách tự xoá mình đi. Chính trong sự ẩn mình của Thiên Chúa, chúng ta lại càng khám phá ra được vẻ cao cả đích thực của Người. Đó là điều Đức Giêsu muốn tỏ cho chúng ta thấy khi Người hạ mình làm đầy tớ phục vụ loài người, khi Người vui lòng chịu đóng đinh vào thập giá. Đó cũng là điều Người mời gọi chúng ta nhận ra qua Bữa Tiệc Thánh Thể. Tuy nhiên, khiêm nhường thật không phải là chuyện dễ! Đôi khi chúng ta làm ra vẻ khiêm tốn chẳng qua để được thêm vinh quang danh dự mà thôi. Chỉ mình Thiên Chúa có thể giải gỡ chúng ta khỏi vòng vây của thói kiêu căng tự mãn”.

 

CHÚA NHẬT XXIII THƯỜNG NIÊN

NHỮNG ĐÒI HỎI ĐỂ ĐI THEO ĐỨC GIÊSU
(Lc 14,25-33)


I. VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI:
1. Để đi đến cùng...
“Trên đường lên Giêrusalem” (13,22), bằng một động tác có tính biểu tượng, Đức Giêsu “quay lại” phía “đám đông cùng đi đường” với Người, để dạy cho họ bài học về điều kiện phải có để làm môn đệ của Người.
Chỉ “đến với” Đức Giêsu thôi không đủ. Đi theo Người bao gồm việc phải chấp nhận để cho những đòi hỏi triệt để của Tin Mừng khuấy động lối sống của chúng ta: cách riêng trong phạm vi những mối liên hệ gia đình và sử dụng của cải vật chất, là đề tài quen thuộc của Luca.
- Những “liên hệ gia đình”:
. Đức Giêsu tuyên bố không úp mở “Ai đến với tôi, mà không dứt bỏ cha mẹ, vợ con, anh em, chị em, và cả mạng sống mình nữa, thì không thể làm môn đệ tôi được”. Ở đây, Luca dùng động từ Hy Lạp có nghĩa là “ghét bỏ” để diễn tả lối nói nguyên thuỷ bằng tiếng Aram, một thứ ngôn ngữ vốn không có từ so sánh. Một kiểu nói mạnh mà soạn giả Tin Mừng dịch là “dứt bỏ” hay “thương ít hơn”, “không thương hơn”. Tất cả những mối liên hệ nhân loại, dù chính đáng và thâm sâu đến đâu, ngay cả đến “mạng sống” con người đi nữa, đều phải phụ thuộc vào mối liên hệ của họ với Đức Kitô.
N. Quesson giải thích ngay, “Lẽ dĩ nhiên Đức Giêsu là một vị Ngôn sứ của tình thương chứ không phải của thù ghét. Lối nói thẳng thừng của Người ở đây không có nghĩa là cho chúng ta được phép xem nhẹ những liên hệ gia đình. Thay vì biện minh cho tính ích kỷ, Đức Giêsu mời gọi chúng ta phải có một sự từ bỏ mình triệt để. Hơn nữa, còn phải mến yêu Đức Giêsu hơn cả chính mạng sống mình. Cho nên không hề dạy người ta phải đoạn tuyệt một cách ích kỷ với mọi liên hệ nhân loại thiêng liêng nhất (như lòng hiếu thảo, nghĩa vợ chồng, tình bằng hữu...), Đức Giêsu kêu gọi mỗi người chúng ta phải nuôi dưỡng và đến với tất cả những tình cảm trên xuyên qua tình yêu tuyệt đối của Thiên Chúa. Quả thực, có những trường hợp người ta đành “phải” bỏ nhà, bỏ vợ, anh em, cha mẹ hay con cái “vì Nước Thiên Chúa” (Lc 18,29). Đó là sự từ bỏ của Đức Giêsu đối với chính gia đình của Người. Người đã tự nguyện làm thế trước khi đòi hỏi chúng ta, lúc Người hiến trọn thân xác và linh hồn cho sứ mạng rao giảng Tin Mừng.” (“Parole de Dieu pour chaque dimanche. năm C”, Droguet-Ardant, trg 268).
. Ngay sau đó, Đức Giêsu nói tiếp: “Ai không vác thập giá mình mà đi theo tôi, thì không thể làm môn đệ tôi được”. Vấn đề là người môn đệ phải đi theo con đường của Đức Giêsu, dẫn đến Giêrusalem và dẫn đến thập giá, dù phải bỏ mạng ở đó. Bởi vì điều thiết yếu là phải đồng số phận với Thầy mình. Và đó chính là thân phận của người môn đệ.
“Đối với các Kitô hữu thời thánh Luca, cũng như đối với chúng ta hôm nay sau 20 thế kỷ, lời dạy của Đức Giêsu vẫn là tiếng gọi thiết tha hãy đi theo Người trên con đường Canvê, hãy đích thân chia sẻ mọi đau đớn, khổ nạn và cái chết của Người” (J. Seynave, “Assemblées du Seigneur”, số 54, trg 70-71).
- Những của cải vật chất:
Đức Giêsu kết luận: “Ai trong anh em không từ bỏ hết những gì mình có, thì không thể làm môn đệ tôi được”. Từ chối không tôn thờ của cải vật chất, bằng cách sẵn sàng chấp nhận mất tất cả để trung thành với đức tin, đó chính là một đòi hỏi của Tin Mừng cho ai muốn đi theo Đức Giêsu.
R. Meynet chú thích, “Để đến với Đức Giêsu và vui sướng bước theo Người, phải tận dụng mọi phương tiện và dẹp bỏ mọi hành lý cồng kềnh vô ích. Noi gương Chúa, con người phải giải phóng mình khỏi tất cả những gì cản trở bước chân. Chỉ có thập giá là cái phải mang theo để đi theo Người” (“L’Evangile selon Saint Luc. Analyse rhétorique”, tập 2, Cerf, trg 157).

2. ...Trước tiên phải ngồi xuống tính toán:
Sau đó, để tránh mọi hàm hồ, Đức Giêsu ngỏ với những người đang nghe hai dụ ngôn nhỏ, nhằm cảnh giác họ phải coi chừng một kiểu dấn thân hời hợt: dụ ngôn người đàn ông nọ định xây một cái tháp và dụ ngôn vị vua kia sắp đi giao chiến với một vua khác. Cả hai đều sử dụng dạng câu hỏi: “Ai trong anh em muốn xây một cái tháp?... Có vua nào đi giao chiến...?”, để kêu gọi người ta phải “trước tiên ngồi xuống” suy tính đã, rồi mới dấn thân và chấp nhận mạo hiểm bước theo Đức Giêsu.
Theo tạp chí “Célébrer” số 251, trang 42, chắc đây là hai dụ ngôn nhỏ “vốn nằm riêng rẽ, nay được Luca xếp chung lại với nhau trong bài viết của ngài. Trong bối cảnh quãng đời công khai của Chúa, cũng giống như một số dụ ngôn khác tương tự có thể gọi chung là “những dụ ngôn về sự quyết định”, chúng là công cụ được Đức Giêsu dùng để giúp cho các thính giả của Người có dịp suy nghĩ, mời gọi họ cởi mở tâm hồn với Người, sẵn sàng sám hối trở về. Luca đã lấy lại hai dụ ngôn này và hướng ý nghĩa của chúng về mối bận tâm chính của ngài: phải dứt khoát rõ ràng, để làm môn đệ Đức Giêsu ở đây và lúc này. Có hai phạm vị áp dụng chính: tiền bạc và liên hệ gia đình. Cần phải suy tính kỹ, đo lường giá phải trả, đừng liều lĩnh nhắm mắt đưa chân”.

II. BÀI ĐỌC THÊM:
1. Động lực duy nhất hướng đến sự sống. (H. Vulliez, trong “Dieu si proche. Année C”, Desclée de Brouwer, trg 144-145).
“Trước lúc lên đường làm một chuyến leo núi, bạn phải ngồi tính toán xem nên mang theo những gì trong bị: lương khô, kẹo bánh, đường… Tóm lại, tất cả những gì là cần thiết, tuy nhiên chỉ những gì phải có để leo tới đỉnh núi rồi xuống. Chẳng ai dại gì ôm đồm nhiều cho nặng hay vướng vít khó đi, bởi vì vấn đề là làm sao đi đến nơi về đến chốn an toàn.
Muốn bước theo Đức Giêsu, cũng thế, bạn đừng để mình vương vấn bất cứ cái gì! “Ai đến với tôi mà không dứt bỏ cha mẹ, vợ con, anh em, chị em, và cả mạng sống mình nữa...”. Đúng là một danh sách dài! Chuyện này có khả thi hay không? Lẽ nào Đức Giêsu, một con người rất mực nhân lành, dịu dàng, lại có thể đòi hỏi một chuyện như thế? Ngộ nhận, gây vấp phạm! Không thiếu kẻ đã bị dội trước những lời yêu sách quá đáng này.
Một số môn đệ và ngay cả các tông đồ đã không đi theo Người đến tận đỉnh Gôngôtha. Họ run sợ khi thấy chính quyền và dân chúng lồng lên chống lại Người. Họ nhát. Họ chẳng dám liều mạng. Phải chăng họ có lý? Hy sinh, chết để mà chết, có ích gì?
Phải đợi đến sau biến cố Phục sinh họ mới sẵn sàng đón nhận cái chết. Khi đó, họ mới hiểu rõ rằng chết không phải là uổng đời, và cái biện chứng “chết – sống” chính là động lực duy nhất đưa đến sự sống. Sống cho tình yêu phải chăng là chết đi liên lỉ mỗi ngày trong suốt cuộc đời? Yêu mến Đức Giêsu hơn cả cha mẹ, vợ con, đâu phải là chê bỏ lòng hiếu thảo, nghĩa vợ chồng! Nhưng là yêu thương bằng một tình yêu mãnh liệt hơn và bao la hơn, nhân danh Đức Giêsu Kitô.
Đi theo Đức Giêsu chính là bước vào quỹ đạo của tình yêu tự trao ban đến cùng”.

2. Thiên Chúa, Đấng duy nhất tuyệt đối. (G. Boucher, trong “Le Ciel sur terre”, trg 58).
“Đức Giêsu đã đảo lộn tất cả mọi ý niệm về giá trị và tình cảm của chúng ta khi Người truyền phải yêu mến Người hơn cả cha mẹ, vợ con... Chúng ta vốn nhạy cảm với cái nghĩa thiêng liêng của gia đình nên không dễ gì hiểu ngay được lời mời gọi của Tin Mừng. Đối với chúng ta, cũng như đối với mọi định chế trong xã hội, có gì hiển nhiên cho bằng trước hết phải thương yêu vợ con mình? phải làm tất cả cho người thân trong gia đình mình?
Dường như Đức Giêsu đang có ý thách thức chúng ta. Người đề nghị cho chúng ta một lối đi đầy ngỡ ngàng, đòi phải có niềm tin lẫn quyết tâm. Người như muốn nói với chúng ta rằng chỉ một mình Thiên Chúa là Đấng Tuyệt Đối mà thôi.
Trước đòi hỏi gắt gao của Đức tin, chúng ta thường có xu hướng biện minh: mình phải lo cho gia đình, công việc, cửa nhà, ruộng đất... đã chứ!
Đi theo Đức Giêsu là phải dám đảo lộn lại trật tự mọi sự và mọi việc. Phải có can đảm đặt Thiên Chúa ở hàng đầu, ở trung tâm cuộc sống. Đúng chỗ của Người. Khi đó, chúng ta sẽ thấy mình yêu thương người thân cách chân thực hơn. Chu toàn mọi công việc có kết quả đích thật hơn. Lo lắng cho gia đình đúng nghĩa hơn.
Những gì chúng ta có thể làm cho mái ấm của mình, cho sự tôn trọng quyền con người, cho việc bảo vệ sự sống, cho sự nhìn nhận kẻ khác với lòng bao dung, cho cuộc đấu tranh chống lại mọi hình thức ngược đãi, cho tự do và dân chủ... chúng ta hãy qui tất cả một cách trọn vẹn vào mối tương quan với Thiên Chúa. Trong thái độ của Đức tin, chúng ta đặt Người vào trọng tâm của tất cả, ở nguồn mạch tất cả, nơi tận cùng của tất cả. Như là Đấng Tuyệt Đối.
Nhận ra Thiên Chúa là cái “nền” của toàn thể nhân loại, chúng ta mới gặp gỡ được ý định của Người. Khi đó chúng ta mới phục vụ và làm thăng tiến nhân loại”.

 

CHÚA NHẬT XXIV THƯỜNG NIÊN

XIN CHUNG VUI VỚI TÔI
(Lc 15,1-32)


I. VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI:
1. Bữa ăn chung với kẻ tội lỗi…
Trong bài suy niệm Chúa nhật IV Mùa Chay, chúng ta đã có dịp chú giải các câu từ 1 đến 3 của chương 15 Tin Mừng Luca. Nên hôm nay, chúng ta chỉ nhắc qua bối cảnh ở đây là một cuộc tranh luận, và tập trung chú ý vào lời mời gọi hãy chung vui vì tìm lại được những gì đã mất, được ghi lại trong cả ba dụ ngôn.
Đức Giêsu đang trên đường lên Giêrusalem, nơi Người sẽ phải đổ máu để cứu muôn người. Nhiều “người thu thuế và tội lỗi” đến để nghe Người giảng. Những người Biệt phái và kinh sư thì khó chịu “xầm xì với nhau” chống lại Người bởi vì không chỉ “đón tiếp phường tội lỗi”, Đức Giêsu còn “ăn uống đồng bàn với chúng”, một hành động tỏ ra cùng phe với bọn chúng!
Để trả lời, Đức Giêsu nói với họ ba dụ ngôn rất hay về lòng thương xót, làm thành chương 15 của Tin Mừng Luca. Để biện minh cho cách đối xử của mình, Đức Giêsu nêu lên lòng thương xót của Thiên Chúa đối với những kẻ tội lỗi. Qua những lời Người nói và các việc Người làm, từng là cớ vấp phạm cho đối phương, Người cho thấy lòng từ bi nhân hậu của Thiên Chúa đang được thể hiện và hoạt động. Và “tình yêu ấy của Thiên Chúa dành cho tất cả những ai chẳng được yêu và cũng chẳng đáng yêu, gián tiếp lên án sự cứng cỏi và khắc nghiệt mà những con người “đàng hoàng” hơn kia đã đối xử với họ” (Cousin, “L' Evangile de Luc”, Centurion, trg 211).

2. … Lời mời gọi chung vui
Cả ba dụ ngôn đều nêu bật sáng kiến của Thiên Chúa, Đấng đi bước trước trong việc tìm kiếm tội nhân (hai dụ ngôn đầu) và đã “chạy ra” đón đứa con hoang trở về (dụ ngôn thứ ba). Tuy nhiên đỉnh cao của mỗi dụ ngôn đều nằm ở lời mời gọi hãy chung vui vì đã tìm lại được:
. Niềm vui của người “chăn chiên” vác “con chiên lạc đã được tìm thấy” trên vai. Mời gọi bạn bè và hàng xóm đến chia sẻ: “xin chung vui với tôi!”.
. Niềm vui của “người phụ nữ” tìm lại được “đồng bạc đã đánh mất”, mời gọi bạn bè và chị em xóm giềng đến chia sẻ: “xin chung vui với tôi!”.
. Niềm vui của “người cha” khi đứa con trở về, “đã chết mà nay lại sống, đã mất mà nay lại tìm thấy”, mời gọi người con cả cố chấp của mình cùng chia sẻ: “chúng ta phải ăn mừng, phải vui vẻ!”.
Roland Meynet nhận định, “Những người Pharisêu và các kinh sư, coi thái độ xử sự của Đức Giêsu như một hành động phản lại họ. Bởi vì đón tiếp những kẻ tội lỗi cũng có nghĩa là bỏ rơi những người công chính, là để mặc những con chiên ngoan ngoài hoang địa. Như vậy, chính những người này đã tự tách riêng mình ra, đứng ngoài bữa tiệc vui của Đức Giêsu và những kẻ tội lỗi ăn năn trở lại: Niềm vui của người khác làm gai mắt ho, trong khi chính họ cũng được mời đến tham dự cuộc vui đoàn tụ của tất cả mọi người. Họ không hiểu rằng niềm vui đoàn tụ không chỉ riêng của con chiên lạc với chủ nó mà thôi, nhưng còn là niềm vui đoàn tụ chung của tất cả các con chiên với nhau, của con chiên lạc với 99 con kia, trong cùng một chuồng chiên, dưới cùng một chiếc gậy chăn của một chủ chiên duy nhất. Niềm vui còn phải được nới rộng ra đến mọi người hàng xóm và bạn bè, nếu không nó sẽ không trọn vẹn. Sẽ không thể có niềm vui đoàn tụ đích thực nếu có ai đó còn đứng ngoài. Tất cả đều được mời, và vòng tròn tham dự còn rộng mở đến tận trời cao, đến các thiên thần của Thiên Chúa. Như vậy làm sao tự cho phép mình đứng ngoài và tự tách rời khỏi cuộc hoà giải của tất cả? Từ chối chung vui với Đức Giêsu, không chia sẻ niềm vui của ơn tha thứ được trao ban và đón nhận, chính là khước từ niềm vui Nước Trời, là xầm xì chống lại Thiên Chúa” (“L' Evangile selon saint Luc. Analyse rhétorique”, tập 2, Cerf, trg 161-162).

II. BÀI ĐỌC THÊM:
1. Niềm vui cho tất cả. (G. Bessière, trong “Dieu si proche. Année C”, Desclée de Brouwer, trg 146-147)
“Một xã hội đang bị câu thúc. Nhiều phe cánh kình chống nhau. Cả một mớ những lời lẽ và ánh mắt thô tục. Ở giữa đó, hiện lên một khuôn mặt, đó là Đức Giêsu. Con người ấy đã dám đánh đổ mọi phép tắc đạo đức và tôn giáo của đất nước mình. Thử tưởng tượng xem: “Ông ta đón tiếp phường tội lỗi và ăn uống với chúng”. Tất cả bọn chúng tuôn đến để nghe ông ta. Trong lúc phía bên kia là những phần tử ưu tú trong dân về mặt trí thức, nhân đức và lòng đạo: nhóm Pharisêu và các kinh sư, những đấng bậc khả kính, những con người đủ tư cách sửa dạy người khác...
Sự thinh lặng được phá vỡ. Và đây con người lạ lùng kia, với biệt tài vô song, lên tiếng kể chuyện. Có ai ngờ được rằng suốt hai ngàn năm, và còn mãi về sau, người ta vẫn còn ngồi lại thuật cho nhau nghe những câu chuyện đó, và chúng sẽ mãi mãi là những gì quí báu nhất còn ghi lại trong ký ức của nhân loại...
Con chiên bị mất, không hề có chi tiết nào nói nó kêu be be, để gọi chủ. Nó chẳng có công gì xứng đáng để được chủ vác lên vai. Mọi sự đều phát xuất từ người chăn chiên mà niềm vui trong tim cứ muốn tràn sang đến tất cả. Và cả cõi thiên đình chẳng quan tâm bao nhiêu tới trật tự tốt đẹp nơi bầy chiên ngoan, lại tỏ ra vui mừng rộn ràng khi có một con người biết chỗi dậy và bắt đầu cuộc sống mới! Còn việc trở về của thằng con phung phá, ăn chơi và hư đốn? Tới bước đường cùng hắn mới chịu “hồi tâm suy nghĩ” : dù có cố tìm một lời lẽ gì đó để nói khi về đến nhà, thì chẳng qua chỉ vì đói nên hắn mới chịu mò về đó thôi. Cũng thế, tất cả đều khởi động từ cõi lòng người cha, “trông thấy con từ xa, ông chạnh lòng thương, chạy ra ôm cổ con và hôn lấy hôn để”. Thằng con có ráng ấp úng bài diễn văn tạ tội đã dọn sẵn trong đầu cũng vô ích thôi, bởi lúc này ai nấy đang tưng bừng chuẩn bị dọn tiệc ăn mừng. Có cả tiếng ca tiếng đàn nữa! Chắc chắn rồi. Đối diện trước cả hai cánh tốt xấu trên của nhân loại, Đức Giêsu tuyên bố mọi sáng kiến của Người dành cho những kẻ bị loại trừ, bị khinh miệt và tất cả những người tật nguyền về mặt tinh thần, đều là những sáng kiến của chính Đấng được tung hô ba lần Thánh. Người là Mục Tử của Israel, là Cha của dân tộc, là người đã chạy đi tìm con chiên lạc và ra đón đứa con hoang trở về.
Thiên Chúa, mà người nhân đức thánh thiện tưởng mình độc quyền sở hữu, kẻ tội lỗi thì nghĩ mình đã quá xa rời, chính Người đã lật đổ mọi thứ học thuyết và mọi lề lối sống đạo có sẵn.
Chúng ta có thực sự tin rằng nơi vị Thiên Chúa ấy có tình yêu mãnh liệt, khiến Người luôn mơ đến một thế giới trong đó mọi người đều là anh em, và làm dậy lên trong Người một niềm vui mong được chia sẻ với tất cả?”.

2. Khuôn mặt thật của Thiên Chúa. (“Missel Emmaus des Dimanches”, trg 1105).
“Thiên Chúa! Đấng chúng ta muốn là quan toà kết tội người khác, nhất là những kẻ thù nghịch, trong lúc chúng ta lại xin Người tỏ lòng nhân từ với chính mình: phải chăng đó là chuyện “hoàn toàn tự nhiên?”.
Do suy nghĩ như vậy, nên giữa chúng ta vẫn xảy ra thói xét đoán lẫn nhau, lên án lẫn nhau.
Thiên Chúa chúng ta mơ tưởng đó thực ra chỉ là một ngẫu tượng do chúng ta nhào nặn ra và nhằm phục vụ lợi ích của bản thân. Đó không phải là Thiên Chúa thật.
Phải, Thiên Chúa là Đấng giầu lòng xót thương. Chúng ta sẽ thấy rõ điều này khi xua tan đi lớp mây mù do trí khôn loài người bày ra che phủ khuôn mặt thật của Người. Tuy nhiên chỉ những ai nhận ra tình yêu nhưng không của Thiên Chúa, và những ai để cho ân sủng ấy chiếm hết đời mình, đồng thời phản chiếu ra bên ngoài qua cách ăn ở với mọi người xung quanh. Chỉ những người như vậy mới cảm nghiệm được khuôn mặt thật của Thiên Chúa. Ích kỷ chỉ biết đến mình là điều ai nấy đều không thể chấp nhận cho dù đó là những con người “ngoan đạo” nhất!

 

CHÚA NHẬT XXV THƯỜNG NIÊN

KHÔN KHÉO THẬT CỦA “CON CÁI ÁNH SÁNG”
(Lc 16,1-13)


I. VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI:
1. Sự khôn khéo của người quản gia bất lương…
Chúng ta đang ở trong bối cảnh chung của cuộc hành trình đi lên Giêrusalem của Đức Giêsu. Ở đó, Người sẽ hiến mạng sống vì tình yêu đối với Chúa Cha và anh em mình. Đáp lại lời chỉ trích của nhóm Pharisêu và các kinh sư về thái độ của Người đối với những kẻ tội lỗi, Đức Giêsu vừa kể cho họ nghe 3 dụ ngôn về lòng thương xót. Ba dụ ngôn này là một trong những viên ngọc quý của Tin Mừng Luca.
Trở lại với cử toạ là các môn đệ của Người, giờ đây Đức Giêsu trao đổi với các ông về một số chủ đề gom lại với nhau bằng những “từ móc nối”: “tiền của bất chính”, “khôn khéo”, “tín nhiệm”.
Bắt đầu là dụ ngôn người quản gia khôn khéo. Dụ ngôn này có thể được gợi lên từ một sự kiện nào đó trong đời thường. Thoạt đầu, dụ ngôn khiến chúng ta bỡ ngỡ vì nó mô tả một người quản gia, do cách quản lý lãng phí – “đã phung phá của cải nhà chủ” – nên bị ông chủ cho nghỉ việc. Lao động chân tay thì không nổi, ngửa tay ăn xin thì xấu hổ, anh ta đã khéo xoay xở, để tới đâu chăng nữa, vẫn bảo đảm được tương lai: “Mình biết phải làm gì rồi”, anh tự nhủ.
Thế là không một chút chần chừ, nhân vật của chúng ta cho gọi “từng con nợ” của chủ lại, và trước mặt mình, anh ta cho phép họ sửa lại số nợ. Đúng là dịp may ngàn năm một thuở, bởi vì thủ đoạn này cho phép giảm món nợ từ 100 phuy dầu xuống chỉ còn 50 (bớt khoảng 2000 lít), và từ 100 giạ lúa xuống chỉ còn 80 (bớt khoảng 6000 ký)!
Từ nay, mọi người đều đồng lõa với nhau giữ kín bí mật: đám con nợ dĩ nhiên sẵn lòng giữ thinh lặng để được hưởng một vụ làm ăn quá lời; còn người quản gia thì an tâm “sau khi mất chức quản gia, sẽ có người đón rước mình về nhà họ”.

2. …Một bài học cho “con cái ánh sáng”.
- “Chủ khen tên quản gia bất lương đó đã hành động khôn khéo!”. Chắc chắn không phải vì cái trò gian lận kia. Nhưng vì tài khôn khéo và nhanh nhạy đáng noi gương bắt chước của anh ta trước một tính thế khó khăn để bảo đảm tương lai cho mình.
Mong sao “con cái ánh sáng”, tức là những môn đệ của Đức Giêsu, hãy học đòi nơi “con cái đời này”, để có được sự khôn khéo và nhanh nhạy tương tự trong việc ưu tiên chọn lựa Nước Trời, và phục vụ Thiên Chúa và anh em hơn tất cả mọi sự!
J. Dupont giải thích: “Lên tiếng với đám đông hiếu kỳ và hoang mang bất định, Đức Giêsu tìm cách làm cho họ hiểu rằng sứ mạng Người lãnh nhận từ nơi Thiên Chúa đang đem lại cho con người một thời cơ trọng đại, phải khẩn trương có thái độ chọn lựa phù hợp với lời kêu gọi của Người. Người ta phải quyết định ngay, đừng để quá muộn: hạnh phúc đời đời của mỗi người tuỳ thuộc ở đây.” (“Assemblées du Seigneur”, số 56, trg 70-71).
- Như vậy, bài học dụ ngôn muốn dạy đã rõ ràng sáng sủa. Đức Giêsu nói tiếp: “Phần Thầy, Thầy bảo cho anh em biết, hãy dùng tiền của bất chính mà tạo lấy bạn bè, phòng khi hết tiền bạc, họ sẽ đón rước anh em vào nơi ở vĩnh cửu”. Nói cách khác, hãy xử sự khôn khéo làm sao để tiền của vật chất – mà chúng ta chỉ là kẻ quản lý – không trở thành một sức mạnh thống trị và làm nô lệ con người, nhưng trở thành phương tiện phục vụ tình nghĩa anh em, củng cố tình liên đới và sự chia sẻ, xây dựng mối hiệp thông giữa con người với nhau.
Tóm lại, theo nhận xét của H. Cousin, “Đây là một lời nhắn nhủ: các môn đệ phải biết cách sử dụng đồng tiền cho khôn khéo, theo viễn tượng của Nước Trời. Nếu người quản gia bất lương kia đã biết lợi dụng của cải trần thế để mua lấy bạn bè và phòng xa cho tương lai của mình trong cuộc đời này, thì người Kitô hữu càng phải biết chuẩn bị như thế nào cho cuộc sống vĩnh cửu mai sau bằng cách chia sẻ với người nghèo qua việc rộng tay làm phước, để sau này, chính những người nghèo đó sẽ đón tiếp họ vào cõi phúc của Thiên Chúa... Xử sự khôn khéo chính là biết xem tiền bạc như phương tiện chứ không phải là cứu cánh. Tiền là bạc, là gian dối... bởi vì nó dễ trở thành ngẫu tượng và so với của cải chân thật và bất diệt trên Nước Trời, nó chỉ mang giá trị mong manh tạm bợ: đến ngày mỗi người chúng ta phải từ giã cuộc đời, xuôi tay bỏ lại tất cả, khi ấy mới thấy rõ tiền của chẳng là gì cả. Triều đại của đồng tiền rồi cũng phải chấm dứt.” (“L' Evangile de Luc”, Centurion, trg 217).
Rồi, Đức Giêsu kết luận bằng một câu châm ngôn theo kiểu triết lý khôn ngoan: “Anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa, vừa làm tôi tiền của được!”. Giữa Thiên Chúa và tiền của không thể có chuyện bắt cá hai tay được! H. Cousin tiếp tục nhận xét: “Từ khi Thiên Chúa xuất hiện trên thế giới này, con người bị đặt trước một sự chọn lựa triệt để: qua cung cách sử dụng tiền của, người Kitô hữu phải chứng tỏ mình chỉ lệ thuộc vào một mình Thiên Chúa” (Sđd, trg 218).

II. BÀI ĐỌC THÊM:
1. Một trong những đoạn Tin Mừng bị hiểu sai nhiều nhất (“Missel Emmaus des dimanches”, trg 1113).
Dụ ngôn người quản gia bất lương là một trong những đoạn Tin Mừng từng bị hiểu sai nhiều nhất: bao nhiêu người đã xem đây như bằng chứng Đức Giêsu cho phép làm điều bất lương! Trong khi lời tuyên bố sau cùng của Người rất rõ: “Người ta không thể vừa làm tôi Thiên Chúa, vừa làm tôi tiền của được”. Người xót xa cho nhân loại bị đảo điên vì “tiền bạc gian dối”. Giá như con người biết khao khát tìm kiếm những phước lộc thiêng liêng giống như khi họ mê mải làm giàu! Hoặc ít ra họ biết sử dụng tiền của để xây dựng một chút tình liên đới! Chẳng lẽ tất cả khí khôn loài người chỉ để phục vụ cho lòng tham của cải vật chất thôi sao?”.

2. Sống chia sẻ, một chứng tá của đức tin hơn là một lối sống. (Mgr. L. Daloz, trong “Dieu a visité son Peuple”, Desclée de Brouwer, trg 123).
“Đức Giêsu dạy cho chúng ta một lối sống mới. Người chỉ cho chúng ta một cách sử dụng đồng tiền độc đáo: “Hãy dùng tiền của bất chính mà tạo lấy bạn bè...” và Người cắt nghĩa tại sao: “phòng khi hết tiền hết bạc, họ sẽ đón rước anh em vào nơi ở vĩnh cửu”. Vấn đề không chỉ đơn giản là một lời khuyên sống đạo đức. Vấn đề ở đây là phải biết cách sử dụng của cải trong tương quan với cuộc sống vĩnh cửu. Gương người quản lý bất lương lén sửa lại các món nợ để tranh thủ thêm bạn hữu không nhằm khuyến khích một thái độ vụ lợi: chia sớt chút đỉnh tiền của để được vào thiên đàng. Qua chính điều Người nói, Đức Giêsu muốn chúng ta hiểu rằng “con cái đời này khôn khéo hơn con cái ánh sáng khi xử sự với người đồng loại”. Sự khôn khéo mà Người muốn dạy chúng ta không phải là một thứ tính toán bần tiện, nhưng là lời mời gọi phải sáng suốt, phải thực sự là con cái ánh sáng. Đức Giêsu đề cập đến một thứ của cải đích thực “dành cho chúng ta”, đó là phụng sự Thiên Chúa: “không gia nhân nào có thể làm tôi hai chủ: vì hoặc sẽ ghét chủ này mà yêu chủ kia, hoặc sẽ gắn bó với chủ này mà khinh dể chủ nọ”. Sự giàu có thật vượt xa khỏi con người, nó ở nơi Thiên Chúa. Nếu chúng ta hiểu điều đó, chúng ta mới là con cái ánh sáng. Chúng ta phải tỏ ra thật khôn khéo, tỉnh táo để nhận ra những giá trị đích thực và sử dụng tiền của sao cho phù hợp với những giá trị đó. Sống chia sẻ không chỉ là một cách ăn ở tốt, nó còn là chứng tá của đức tin. Đức Giêsu muốn đổi mới cách chúng ta quan niệm và sử dụng mọi sự đời này”.

3. Phải cảnh giác trước tiền của. (H. Denis, “100 mots pour dire la foi”, DDB, trg 33-34)
Người ta nói rằng cho đến hôm nay, vị thánh được xem là gần gũi với gương mẫu Đức Giêsu nhất chính là Phanxicô Assisi, người đã kết duyên với Bà Chúa Nghèo. Và có thể nói tất cả sứ điệp của Đức Giêsu đều liên quan đến nhân đức Tin Mừng này. Nó nói nhiều về con người, tuy nhiên, có lẽ, nó cũng mạc khải cho biết về tấm lòng của Thiên Chúa. Hãy nhớ lại ý tưởng của cha Varillon: Khó nghèo, Khiêm hạ của Thiên Chúa.
Tôi chỉ xin lưu ý đến sự tương phản, hay đúng hơn là giằng co, khó dung hoà được trên cuộc đời này, giữa hai khía cạnh của Khó nghèo.
- Dĩ nhiên, Luca là người có lý hơn cả khi viết trong Tám Mối Phúc: “Phúc cho anh em là những kẻ nghèo khó” (không thêm gì sau đó), và cái vế sau đáng sợ: “khốn cho các ngươi là những kẻ giàu có”. Đúng là có một cái gì đó dễ làm cho con người ra hư hỏng nơi lòng ham muốn có của, thích vơ vét, gom góp. Nước Trời không thể mở ra cho những ai không cưỡng nổi lòng ham muốn.
- Nhưng Mátthêu đã bổ túc thêm bằng công thức rất quen thuộc: phúc thay ai, không phải có tinh thần, nhưng có tâm hồn nghèo kho. Nói cách khác, sửa đổi của Mátthêu có ý xác định hai điều. Trước hết, không bao giờ được phép biện minh cho sự nghèo nàn khốn cùng. Đó là điều xỉ nhục cho con người cũng như cho Thiên Chúa. Tiếp đến, phải coi chừng cách người ta tự nguyện khước từ của cải: động cơ thúc đẩy có thể là một thứ kiêu ngạo thầm kín. Madeleine Delbrêl đã thấy rõ điều đó khi tố giác một quan niệm lý tưởng hoá cái nghèo. Bà viết: “Nghèo không hẳn là điều hay”.
Không muốn đi sâu vào những vấn đề kinh tế, với vô số chuyện phức tạp, tôi chỉ xin nói đơn giản thế này: phải luôn luôn cảnh giác trước tiền của, ngay cả khi tiền của đó không nhiều, để tránh tình trạng bị nó sai khiến.
Tuy nhiên con người vẫn phải có vừa đủ để còn giữ được khả năng không bị tiền của sai khiến. Vẫn phải có một chút nào đó để có thể đi từ chỗ mình đến chỗ mình .
Còn Đức Giêsu, vốn dĩ là Thiên Chúa, nhưng đã không dành địa vị ngang hàng với Thiên Chúa.
Nhưng đã tự ý trở nên nghèo khó, để lấy cái nghèo của mình mà làm cho chúng ta trở nên giàu có”.

 

CHÚA NHẬT XXVI THƯỜNG NIÊN

GIỮA CHÚNG TA ĐÃ CÓ MỘT VỰC THẲM
(Lc 16,19-31)


I. VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI:
1. Đừng đào thêm vực thẳm.
Trên hành trình tiến về Giêrusalem – nơi Người sẽ tự nguyện hiến mạng sống cho anh em đồng loại – Đức Giêsu bắt đầu bằng việc kể cho các môn đệ dụ ngôn người quản gia bất lương. Trước sự ngỡ ngàng của mọi người, Người kết luận với lời khen tên quản gia ấy và mời gọi “con cái ánh sáng” phải biết hành động “khôn khéo” giống như “con cái đời này” : “Hãy dùng tiền của bất chính mà tạo lấy bạn bè, phòng khi hết tiền hết bạc, họ sẽ đón rước anh em vào nơi ở vĩnh cửu”.
Giờ đây, Người quay sang ngỏ lời với những người Pharisêu, “vốn ham hố tiền bạc” (họ quan niệm giàu có như dấu hiệu được Thiên Chúa chúc lành) và “cười nhạo Đức Giêsu”.
Trong lúc dụ ngôn trước dạy cho chúng ta biết cách sử dụng của cải trần gian sao cho đúng, thì dụ ngôn sau trình bày mặt trái, qua câu chuyện về một người đã sử dụng của cải mình có cách sai lầm. Đây là dụ ngôn của riêng Luca, gồm ba cảnh.
Mở màn, hai nhân vật xuất hiện: một giàu, một nghèo. Người thứ nhất, mặc dù là nhân vật chính, lại không được nêu tên: “một viên phú hộ kia”, thế thôi; nghĩa là mỗi người đều có thể nhận ra chính mình nơi ông. Kẻ thứ hai thì lại có một cái tên gọi – chuyện hy hữu trong tất cả những dụ ngôn của Đức Giêsu – và là một cái tên có nghĩa biểu tượng: “Ladarô”, có gốc từ chữ “Ê-lê-a-da”, nghĩa là “Thiên Chúa phù trợ”.
Không chỗ nào nói Ladarô là một con người nhân đức; anh chỉ được giới thiệu là “một người nghèo”, “người nghèo” nói chung, không ai thấy không ai nghe. Cũng vậy, không một chỗ nào nói rằng viên phú hộ kia là một kẻ “ác ôn”, rằng ông đã vơ vét của cải một cách mờ ám, rằng ông đã chiếm đoạt, đã bóc lột một cách bất chính, đã lợi dụng hay ngược đãi Ladarô. Dụ ngôn trong Tin Mừng chỉ lưu ý chúng ta ở chỗ ông đã không ngó ngàng gì tới “người nghèo khó nằm trước cổng nhà mình”, thế thôi.
Ở đây, chúng ta chứng kiến cảnh trái ngược trớ trêu của hai thế giới sát bên nhau. Một bên là thế giới cực kỳ xa hoa dư thừa, với viên phú hộ “mặc toàn lụa là gấm vóc, ngày ngày yến tiệc linh đình”. Bên kia là thế giới thiếu thốn đến thảm hại của người nghèo khó, “nằm trước cổng, mụn nhọt đầy mình”, “thèm được những thứ trên bàn ăn của viên phú hộ rơi xuống mà ăn cho no” cũng chẳng được; chỉ có “mấy con chó cứ đến liếm ghẻ chốc anh ta”. Giữa hai thế giới đó, chỉ có một “ngưỡng cửa”: một ranh giới, ngày càng được đào sâu một cách vô hình, được nới rộng cho tới một lúc tấm màn của cảnh một được buông xuống với cái chết đồng thời của cả hai nhân vật: “Thế rồi người nghèo này chết... ông nhà giàu kia cũng chết...”.

2. Một vực thẳm không thể vượt qua.
Cảnh hai cho thấy cả hai nhân vật của chúng ta ở thế giới bên kia. Cái chết thay vì làm cho họ xích gần lại với nhau, lại làm cho khoảng cách giữa họ trở thành vĩnh viễn. Sự thật cho thấy từ nay tình thế của họ đã hoàn toàn đảo ngược. Ladarô, kẻ ăn xin xưa kia trên trần gian, nay đã được thiên thần đem vào lòng ông Abraham, hưởng vinh phúc vô tận. Còn viên phú hộ thì trái lại, trước đây hưởng thụ giàu sang, chẳng đoái hoài gì đến người nghèo nằm trước cửa nhà mình, nay phải ở “dưới âm phủ, đang chịu cực hình”. Ông năn nỉ tổ phụ Abraham sai Ladarô – ông nêu rõ tên, cái tên mà ông chẳng thèm biết tới khi còn sống trên đời – “nhúng đầu ngón tay vào nước, nhỏ trên lưỡi con cho mát”.
Muộn quá rồi! Cuộc chơi đã mãn! Cả Abraham lẫn Ladarô chẳng ai làm được gì cho ông nữa. Một cách vô thức, ông đã từng bước đào sâu thêm, giữa sự giàu có ích kỷ của mình và cái khốn cùng của người nghèo trước cửa nhà một “vực thẳm” mà rốt cùng cái chết đã làm cho trở thành vĩnh viễn không thể vượt qua. Thua xa sự “khôn khéo” của người quản gia bất lương của Chúa nhật vừa qua, ông đã không biết “làm bạn” với Ladarô, để được anh “đón rước vào nơi ở vĩnh cửu”.
Theo nhận định của H. Cousin: “vực thẳm” chia cách giữa những người đang được hưởng hạnh phúc quanh Abraham và những kẻ phải chịu cực hình dưới âm phủ, thực ra chỉ là sự nối dài của vực thẳm đã được đào sâu giữa cổng nhà nơi Ladarô đã nằm và bàn tiệc cao lương mỹ vị, mà suốt đời viên phú hộ kia đã chẳng làm gì để lấp cho đầy” (L' Evangile de Luc”, Centurion, trg 222).

3. Hãy nghe Lời Chúa, đừng chần chừ nữa.
Câu chuyện lại chợt bừng lên với lời năn nỉ của ông phú hộ xin cho năm người anh em còn sống trên trần.
Họ có thể cũng đang rơi vào thói ăn chơi hưởng thụ, không quan tâm gì tới người nghèo đang nằm trước cửa nhà mình. Cả bọn năm người họ cũng đang lơ lửng trước tai hoạ nếu không có ai đó cảnh báo cho biết. “Xin tổ phụ sai anh Ladarô, ông ta nài xin, đến cảnh cáo họ, kẻo họ lại cũng sa vào chốn cực hình này”. Bởi nếu có sự can thiệp của ai đó “từ cõi chết” hiện về với họ, “thì họ sẽ ăn năn sám hối”.
Ảo tưởng thôi – câu trả lời cho ông – nếu nghĩ rằng chỉ cần có người từ cõi chết hiện về là họ sẽ chịu nghe, nếu “Môsê và các Ngôn sứ mà họ còn chẳng chịu nghe”. Luật Môsê và các Ngôn sứ đã chẳng từng dạy về việc sử dụng tiền của vật chất sao cho đúng ư? Các ngài đã chẳng khuyên phải bác ái đối với người nghèo, chia cơm sẻ áo với kẻ đói khát, niềm nở đối với khách lạ, đón tiếp kẻ bất hạnh sao? Sách Đệ Nhị Luật (15,7-11) truyền dạy: “Nếu giữa anh em có một người nghèo, thì anh em đừng có lòng chai dạ đá cũng đừng bo bo giữ của không giúp người anh em: hãy mở rộng tay giúp người anh em khốn khổ, nghèo khó của anh em, trong miền đất của anh em”. Và cả các Thánh vịnh cũng đã chẳng không ngừng lặp đi lặp lại rằng mọi kẻ nghèo khó, thấp cổ bé miệng, bị áp bức, bị bóc lột, đói khát, đều là những người bạn nghĩa thiết của Thiên Chúa sao? (xem TV 112 Chúa nhật trước và TV 145 hôm nay)
Bài học đã quá rõ. Nó được gởi đến tất cả những ai đang có nguy cơ bị tiền của làm cho điếc tai, mờ mắt. Mong sao đừng chờ cho đến khi có một biến cố nào đó lay động, buộc họ phải quyết định. Tốt hơn hãy coi Lời Chúa cảnh báo hôm nay là nghiêm trọng. Đừng chậm trễ. Chậm trễ biết đâu sẽ muộn màng.
H. Cousin kết luận: “Đại diện cho lối suy nghĩ khá phổ biến trong thế giới hôm nay, viên phú hộ tưởng tượng rằng một phép lạ sẽ làm được cái mà Kinh Thánh làm không được. Lầm to! Một phép lạ, cho dù là phép lạ người chết sống lại, cũng không thể thay lòng đổi dạ được những kẻ cứng lòng không đón nhận sứ điệp của Lề Luật và các Ngôn sứ với lòng tin. Ngay trong Hội Thánh, từng tuyên xưng Đức Giêsu chết và sống lại, cũng tồn tại một điều như thế. Biết bao phen chính chúng ta chẳng mơ tưởng giả như được chứng kiến phép lạ Chúa Phục sinh hiện ra, chắc chắn mình sẽ lo ăn năn sửa đổi đời sống... Trong lúc Tin Mưng đang có đó, ngày cũng như đêm, trong tầm tay chúng ta!... Chỉ khi biết lắng nghe Lời Chúa, con người mới có thể hoán cải... Đó chính là sứ điệp lưu truyền lâu đời có sẵn tại trung tâm Lề Luật và các Ngôn sứ” (Sđd, trg 223).

II. BÀI ĐỌC THÊM:
1. Sức mạnh của Tin Mừng. (Mgr. Lucien Daloz, trong “Dieu a visité son peuple”, Déclée de Brouwer, trg 124-125)
“Không mệt mỏi, Đức Giêsu nhiều lần đề cập đến sự đảo lộn những giá trị khi Nước Thiên Chúa đến. Trong thực tế, Người đã từng vấp phải sự cứng lòng của những người Pharisêu, thánh Luca nói, họ vốn “ham hố tiền bạc và... cười nhạo Đức Giêsu”. Họ như một bức tường trơ trơ do cái vẻ công chính bề ngoài dưới mắt thiên hạ. Họ không muốn để mình bị lay động. Đức Giêsu cảnh cáo họ: “Thiên Chúa biết lòng các ông”. Không phải tất cả những gì người đời ái mộ, khâm phục đều thực sự có giá trị. Chỉ có đôi mắt của Thiên Chúa mới thấu suốt được giá trị đích thực của mọi vật. Ngay cả Lề Luật, vững bền như “đất trời” vì là Lề Luật của Thiên Chúa, cũng không thể là cái cớ được đưa ra để khước từ Tin Mừng của Nước Trời: vượt qua cả Lề Luật là sức mạnh của Nước Trời, đòi con người phải đấu tranh với bản thân để phá vỡ cái vỏ bên ngoài giam hãm cái tâm tốt lành trong mỗi người.
Đức Giêsu còn dùng một dụ ngôn nữa để diễn tả sự đảo ngược tình thế mà Tin Mừng Nước Trời đến loan báo: số phận của viên phú hộ và anh Ladarô là một minh hoạ. Viên phú hộ, xưa kia sống xa hoa hưởng thụ, nay bị đày xuống âm phủ. Anh Ladarô, xưa bị quên lãng, khinh thường, nay được đem vào lòng Abraham. Tình thế đã hoàn toàn lật ngược, vô phương kêu trách. Và Đức Giêsu nhấn mạnh: phải lo tỉnh ngộ sớm. Sẽ chẳng có dấu hiệu phi thường nào, chẳng có một ai từ cõi chết hiện về để đánh thức chúng ta khỏi cơn mê. “Chúng đã có Môsê và các Ngôn sứ, thì chúng cứ nghe lời các vị đó!”. Chúng ta còn có hơn nữa: Tin Mừng của chính Đức Giêsu. Tuy nhiên, giống như những người Pharisêu xưa, chúng ta khó tránh được thói nô lệ vẻ bề ngoài, khó lột bỏ được những mặt nạ của mình xuống và biết nhìn mọi hoàn cảnh bằng cái nhìn của Thiên Chúa. Chúng ta sợ sức mạnh của Tin Mừng. Cầu xin Thiên Chúa, với tất cả lòng kiên trì của Người, ra sức mở mắt cho chúng ta, ban cho chúng ta lòng dũng cảm để dấn thân vào cuộc chiến của Tin Mừng!”.

2. Trên những nẻo đường của tình liên đới (G. Boucher, trong “Le ciel sur la terre”, trg 61).
Nỗi khổ đau của thế giới vẫn réo gọi chúng ta qua những hình ảnh trên tivi, với bao hình hài con người tàn tạ, những bộ mặt thờ thẫn và ánh mắt tuyệt vọng.
Tiếng than đói khổ của nhân loại vẫn hằng ngày vọng đến chúng ta qua tiếng kêu gọi không lời đáp ứng của những tổ chức nhân đạo đang xin mọi người rộng tay cứu giúp những con người đang chết lần chết mòn vì thiếu cả những nhu cầu tối thiểu, hiện đang sống không xa nơi ở quá đầy đủ tiện nghi của chúng ta.
Chúng ta thường xuyên phải chứng kiến hay nghe nhắc đến cái nghèo ở khắp nơi, xa xôi hay sát bên cửa nhà chúng ta.
Chúng ta cảm thấy đau lòng. Chúng ta muốn làm cái gì đó để vơi nhẹ nỗi khổ đau và lầm than. Nhưng biết làm gì đây?
Giúp tiền giúp bạc thì lại ngán nạn thất thoát ăn bớt. Trực tiếp hành động qua trung gian một ai đó chúng ta quen biết và tín nhiệm, thì lại không thấy được những nhu cầu cấp bách nhất, cũng như không giải quyết tận gốc rễ những bất hạnh.
Cống hiến một phần đời mình phục vụ trong các tổ chức liên đới và cứu trợ, mặc dù biết rằng đó chỉ là muối bỏ biển.
Bênh vực những phong trào và báo chí đấu tranh cho một thế giới tốt đẹp hơn, cũng như đấu tranh cho các dân tộc nghèo được làm chủ vận mạng của mình.
Chúng ta có bổn phận phải can thiệp để ủng hộ những người có uy tín không chịu khoanh tay đứng nhìn cảnh anh em mình đói khổ, bệnh tật, lấy cớ phải tôn trọng quyền lợi, luật pháp, công ước.
Góp tiếng nói với tất cả những ai đang đấu tranh cho một trật tự mới của thế giới, của nền kinh tế và của các quốc gia.
Thành tâm cầu nguyện xin Thiên Chúa cho chúng ta biết mở rộng đôi mắt và hướng chúng ta đến một trái đất thực sự là mái ấm cho mỗi người và là nơi Thiên Chúa có thể hiện diện.
Điều nào cũng phải làm, mỗi thứ một chút! Tuỳ ơn Chúa và phương tiện của mỗi người.
Sau hết, chúng ta cần có một quan niệm về hạnh phúc phù hợp với hồng ân mà Thiên Chúa muốn ban tặng cho muôn loài, hơn là việc chiếm hữu cho thật nhiều của cải, chỉ làm cho chúng ta đầy ứ về vật chất nhưng khô kiệt về tâm hồn...
Phải chăng Thiên Chúa mới đúng là “người từ cõi chết” đến kêu gọi chúng ta như thế?”.

 

CHÚA NHẬT XXVII THƯỜNG NIÊN

“NHỮNG ĐẦY TỚ BÌNH THƯỜNG”
CỦA ÔNG CHỦ TOÀN NĂNG
 (Lc 17,5-10)


I. VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI:
1. Với Đức tin, có thể làm được những việc không ai nghĩ tới.
Trên đường lên Giêrusalem, Đức Giêsu vừa mới giảng cho các môn đệ về đời sống huynh đệ: Người nói đến cớ vấp ngã cho những anh em yếu đuối (17,1-4), đến sự tha thứ lỗi lầm. Là những người gánh trách nhiệm của cộng đoàn, “các tông đồ” trăn trở về cách thế để thực hiện đời sống huynh đệ này, nên các ông cầu xin: “Xin thêm lòng tin cho chúng con”.
Như thường lệ, Đức Giêsu không trực tiếp trả lời, mà sử dụng một hình ảnh dường như không thể có - hình ảnh cây dâu vâng theo lời truyền của kẻ có lòng tin tự bật rễ, xuống dưới biển mà mọc. Người xác quyết rằng đức tin, “dù nhỏ bé bằng hạt cải”, cũng đủ để thực hiện việc coi như không có thể. H. Cousin giải thích: “Hình ảnh ngộ nghĩnh về cây dâu vâng lời, mà đi mọc dưới biển, có ý nói đức tin có thể làm được những việc không ai làm được. Tác giả còn nêu rõ: đã hẳn cần phải hiểu đức tin là việc con người đáp lại sáng kiến của Thiên Chúa, chứ không phải là cách phù phép nào đó bắt ép Chúa phải thực hiện những điều kỳ diệu”(“L' Evangile de Luc”, Centurion, trg 226).

2. Là những đầy tớ cần thiết, nhưng vô dụng.
Dụ ngôn sau đó nói tiếp bài học về đức tin và đặt ưu tiên cho sáng kiến của Thiên Chúa. Trong một bài viết, đăng ở “tạp chí Kinh Thánh” số tháng 4, 1992, Pierre Houzet nêu lên rằng: dịch thuộc từ chỉ phẩm chất người đầy tớ là “vô dụng” hay “tầm thường” như trong sách Bài đọc, dịch như thế là sai và hạ thấp giá trị của nó. Nên thay thế bằng từ “bình thường”: “những đầy tớ bình thường”.
Phải cảm ơn Pierre Houzet đã lưu ý chúng ta trong bài viết rất sáng sủa của ông. Ông còn trình bày lại cách Đức Giêsu lập luận để đáp lời cầu xin của các tông đồ như sau: “Nếu với đức tin yếu kém đáng phàn nàn, mà anh em còn có thể làm được điều coi như không có thể, (thì càng có lý tin rằng: cũng với đức tin yếu kém ấy) anh em cũng có thể chu toàn ơn gọi làm đầy tớ của mình bằng cách cảm thấy hài lòng trong khi thi hành chức vụ, mà không cần ông chủ phải bày tỏ lòng ưu ái đặc biệt”. Rồi tác giả kết luận: “Chúng ta là những đầy tớ bình thường, sung sướng được thi hành chức vụ và hạnh phúc được chu toàn chức vụ ấy, dưới ánh mắt của Chúa, mà vinh quang của Người không đòi hỏi điều gì nơi ta ở trên trời, nhưng chỉ muốn con người ở dưới thế lấy việc phục vụ nhau mà ca tụng vinh quang ấy” (Sđd, trg 364 và 372).

II. BÀI ĐỌC THÊM:
1. Đức tin, cái nhìn mới, sức mạnh mới (Đức Cha. Daloz, trong “Dieu a visité son peuple” DDB, trg 128).
“Xin thêm lòng tin cho chúng con”. Thánh sử Luca thuật lại khá dài những giáo huấn của Đức Giêsu liên quan đến mọi phương diện của đời sống mới, mà Người muốn đưa ta vào... Người mở cho ta thấy thực tại của một thế giới khác, mặt trái của các sự vật, mà mắt người phàm không thể thấy được. Đức tin mở cánh cửa của thế giới mới ấy, thế giới của Thiên Chúa. Đức tin trở nên nguồn sức mạnh khiến cho kẻ có lòng tin thực hiện được điều không có thể đối với sức người phàm. “Nếu anh em có lòng tin lớn bằng hạt cải, dù anh em có bảo cây sung này: Hãy bật rễ lên, xuống dưới biển mà mọc, nó cũng sẽ vâng lời anh em”. Đức tin làm nẩy sinh hoa quả của Nước Trời. Đức tin là cái nhìn mới và sức mạnh mới. Chúng ta thường đóng khung trong giới hạn sự khôn ngoan và trong khả năng quá ư phàm trần của ta. Giống như các tông đồ, ta cần phải không ngừng van xin: “Xin thêm lòng tin cho chúng con”.

2. “Một cọng cỏ dại” (B. Bessière trong “Dieu si proche”, DDB, trg 155-156).
Tôi biết một người nhờ một cọng cỏ mà sống. Tai họa đã dồn dập đổ trên người ấy, mọi sự chỉ là đen tối, nhiều phen người ấy muốn kết liễu đời mình cho xong.
Đang lê bước chân vô định trên lề đường, cô chợt trông thấy, một cọng cỏ vươn lên trong kẽ nứt lề bê tông. Sự sống, nhỏ nhoi, xanh tươi, mạnh mẽ hơn cả tấm “thảm” bằng xi măng nặng chịch đang ra dấu cho cô. Cô lấy lại can đảm để đương đầu với những năm tháng lê thê đầy khó khăn. Hỏi rằng trong số nhan nhản những người qua đường, có bao nhiêu người đã trông thấy cọng cỏ ấy. Chắc hẳn chỉ có cô là người duy nhất nhận ra sứ điệp.
Lời tâm sự khiêm tốn này luôn khích lệ tôi. Tôi luôn chăm chú nhìn trên lề đường và trên những bức tường, công trình can đảm của cây cỏ. Và trong cuộc sống con người, tôi cũng thích quan tâm đến biết bao sáng kiến nhỏ nhoi bất ngờ.
Hạt cải... Đức Giêsu thật là khéo khôi hài. Các tông đồ khổ sở muốn được “thêm” đức tin, muốn đo đếm được nó, muốn cảm thấy nó dư dật theo lòng sốt sắng của các ông. Vậy mà Đức Giêsu lại hướng chú ý của họ vào một hạt giống bé xíu, rồi lại đặt nó đối chọi với một cây lớn! “Nếu anh em chỉ có đức tin lớn bằng hạt cải thì dù anh em bảo cây to kia: Hãy bật rễ lên, xuống dưới biển kia mà mọc, nó sẽ vâng lời anh em”. Cọng cỏ và nền bê tông, Đavít và Goliát, cùng bà Sara cao niên hiếm muộn mà sinh đẻ trong nụ cười...
Đức Giêsu thường nói về cái hạt giống bé nhỏ, được gieo vào các loại đất khác nhau, xem như bị chết héo nhưng vẫn sinh hoa kết trái. Như vậy, Thiên Chúa gieo vung vãi, giống như một đứa trẻ đùa nghịch, và Người mời gọi ta hãy tiếp nhận để rồi lại đi gieo nhưng không. Đức tin, là một giọt nhựa trong cây, một hạt giống vô hình, một ngọn lửa âm ỉ trong ánh mắt. Nhưng đủ để thay đổi cả cuộc đời, để chuyển núi dời non. Tin thiết tưởng là chấp nhận một sự bất cân xứng không thể tưởng tượng nổi giữa sự ù lì của con người và năng lực siêu phàm của Thiên Chúa vốn mời gọi ta biến đổi tất cả, mời gọi ta hãy sáng tạo dù không ai nhận ra. Hãy làm như Chúa.
Có lẽ các bạn sẽ cười nhạo tính ngây thơ của tôi, vì tôi chỉ trông thấy những thuận lợi. Nhưng xin các bạn hãy để ý coi... Có biết bao người, nam cũng như nữ, đang làm như Thiên Chúa. Họ ở khắp mặt đất. Thế mà nhiều người có hay biết đâu. Nếu bạn nói cho họ biết điều ấy, họ sẽ hết sức ngạc nhiên và chính họ sẽ đơn giản đáp rằng: “Chúng tôi chỉ làm việc bổn phận của chúng tôi. Việc phục vụ là hoàn toàn nhưng không”.

 

CHÚA NHẬT XXVIII THƯỜNG NIÊN

NOI GƯƠNG NGƯỜI SAMARIA TRONG TIN MỪNG,
HÃY BIẾT QUAY TRỞ LẠI ĐỂ CẢM TẠ ĐẤNG CỨU ĐỘ TA
(Lc 17,11-19)


I. VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI:
1. Từ việc lành bệnh do lời Đức Giêsu phán...
“Đức Giêsu đang đi lên Giêrusalem”. Lời nhắc nhở đó như một thứ điệp khúc mà Luca đặt ở đầu mỗi chương. Người đi theo lộ trình dẫn Người về với Chúa Cha và cũng là con đường đưa ta tới ơn cứu độ nhờ Người. Thánh sử còn xác định rằng “Người đi qua Samaria và Galilê”, cả hai miền đều bị miền Giuđê khinh rẻ; Samaria là xứ sở của những chi tộc đã ly giáo, còn Galilê là miền biên giới, nơi người Do Thái và người ngoại giáo sống lẫn lộn. Vậy mà, ở miền đất bị khinh khi, ở cái thế giới bị khai trừ ấy, Đức Giêsu thực hiện phép lạ chữa lành một đám người mắc bệnh phong cùi, thứ bệnh thời đó bị coi là cấm kỵ hết sức nghiêm ngặt. Cấm kỵ không chỉ vì lý do phòng bệnh, để tránh lây nhiễm, mà còn vì lý do tôn giáo; vì bệnh cùi là dấu chỉ tội lỗi làm biến dạng con người, nên những ai mắc bệnh ấy phải sống tách biệt khỏi cộng đồng và bị loại khỏi những nơi thờ phượng.
Sự việc xảy ra ở lối vào một làng kia. Một nhóm 10 người phong cùi khốn khổ đón gặp Đức Giêsu. “Mười”: con số nhỏ nhất để họp thành một cộng đoàn hội đường; “Mười” tượng trưng cho cả một dân tộc, tượng trưng toàn thể nhân loại bị tội lỗi làm cho bệnh hoạn.
Họ cùng mang thương tật của một thứ bệnh, chịu đựng cùng hình phạt khai trừ, họ tiến lên đồng tâm nhất trí, không phân biệt chủng tộc. “Dừng lại đàng xa”, đúng theo Luật truyền, họ hô lớn tiếng: “Lạy Thầy Giêsu, xin đủ lòng thương chúng tôi”.
Thay vì chữa họ lành ngay tức khắc, Đức Giêsu muốn thử thách lòng tin của họ. Cũng như ngày xưa, ngôn sứ Êlisêô sai môn đệ nói với quan Naaman, người Siri rằng: “Quan hãy đi tắm ở sông Giođan bảy lần”, Đức Giêsu chỉ đáp lại bằng một câu đơn giản, như một lời hứa sẽ chữa lành: “Hãy đi trình diện với các tư tế”. Thật vậy, vào thời đó, các thầy tư thế có quyền chẩn đoán bệnh phong cùi và công bố người mắc bệnh ấy là “không sạch”, thì họ cũng có quyền kiểm tra khi người ấy khỏi bệnh (Lv 14,3) và công bố chính thức người ấy được tái hội nhập vào cộng đoàn.
Khác với vị tướng lãnh Siri, lúc đầu đã từ chối thi hành điều người của Chúa truyền dạy, mười người phong cùi ở đây tức tốc thi hành, không mảy may chần chừ.
Vậy “đang khi đi thì họ được sạch”. Một việc chữa bệnh từ xa, được Luca tường thuật cách hết sức kín đáo, làm nổi bật quyền năng của lời Đức Giêsu nói.

2. ... đến ơn cứu độ do tin vào Đức Giêsu Kitô.
Đến đây trình thuật làm nẩy sinh một vấn đề mới. Thật vậy, trong khi 9 người tiếp tục đi “trình diện với các tư tế”, thì riêng có một người, thay vì vâng lệnh Chúa và Luật dạy, “liền quay trở lại và lớn tiếng tôn vinh Thiên Chúa”. Thật ngạc nhiên, chỉ đến lúc này, lúc mà cách xử sự của anh đã gây ấn tượng tốt nơi chúng ta, thì chúng ta mới biết anh thuộc dòng tộc nào: anh là người Samaria. Đối với anh, tuy đã khỏi bệnh cùi, nhưng vẫn phải mang thân phận của người bị khinh khi vì lạc đạo, nên không có vấn đề đi đến Đền thờ,... hơn nữa, anh đã gặp Đấng Thiên Sai trên đường, Đấng vừa cứu chữa anh, như rồi đây ta sẽ thấy: chính nơi Đức Giêsu mà ta tôn vinh Thiên Chúa.
- Cử chỉ anh làm là một cử chỉ trong phụng vụ, “anh ta sấp mình dưới chân Đức Giêsu mà tạ ơn”. Anh nghĩ chắc hẳn đó là cách tuyên xưng công khai Đức Giêsu là người gần gũi với Thiên Chúa. Roland Meynet chú giải: “Người Samaria vừa khỏi bệnh đã kết hợp Thiên Chúa với Đức Giêsu trong cùng một lời ngợi khen và tạ ơn. Ơn cứu độ vừa đón nhận được anh công bố cho mọi người biết, đó là công trình của Thiên Chúa và của Đức Giêsu. Lòng tin của anh không phân biệt hai Đấng ấy, và anh sấp mình dưới chân Đấng đã làm cho anh nên sạch, như sấp mình dưới chân Đức Chúa (“L' Evangile selon saint Luc, analyse rhétorique”, cuốn 2, Cerf, trg 171).
- Đức Giêsu hỏi: “Không phải cả mười người đều được sạch sao? Thế thì 9 người kia đâu? Sao không thấy họ trở lại tôn vinh Thiên Chúa, mà chỉ có người ngoại bang này?”. Như vậy, để nhấn mạnh nét tương phản giữa sự vô ơn của chín người kia, là người Do Thái, và lòng biết ơn của người Samaria độc nhất này, Đức Giêsu gọi anh là người “ngoại bang”. Dưới ngòi bút của Luca, anh được coi như chứng tá sống động của ơn cứu độ được ban cho hết mọi người, vượt mọi biên giới; anh được coi như biểu tượng của những người ngoại giáo được vào Nước Thiên Chúa trước những người Do Thái, bởi vì những người này đã biết nhìn nhận Đức Giêsu là Cứu Chúa.
- “Đứng dậy về đi! Lòng tin của anh đã cứu chữa anh”, Đức Giêsu kết thúc bằng một câu đầy ý nghĩa, mà Luca muốn đặt làm chóp đỉnh của trình thuật.
+ “Hãy đứng dậy”: động từ này rất thường được Luca sử dụng không chỉ để động viên lòng can đảm trong chiến đấu (như trong cảnh hấp hối: “hãy dậy mà cầu nguyện” (Lc 22,45), mà cũng để chỉ việc sống lại (chỗi dậy từ cõi chết) nữa.
+ “Hãy đi”: Luca sử dụng động từ này nhiều lần để chỉ việc Đức Giêsu lên Giêrusalem. Étienne Charpentier giải thích: “Luca định nghĩa Kitô giáo như một con đường... Ở đây, đang trên đường lên Giêrusalem, Đức Giêsu nói với người được chữa lành: “Hãy chỗi dậy, lên đường!”. Và bởi vì trong toàn bối cảnh đi lên Giêrusalem, ta đã dịch động từ này là “đi lên”, nên, nếu ta cho đặt vào môi miệng Đức Giêsu câu nói: “Hãy chỗi dậy, hãy cùng ta lên thập giá và vinh quang”, thiết tưởng cũng hợp với tư tưởng của Luca.” (Assemblée du Seigneur, số 59, trg77)
+ “Đức tin con đã cứu chữa con”: mười người phong cùi vì tin vào lời Đức Giêsu, nên đã được chữa lành; nhưng chính người Samaria mới sống phép lạ như một cơ hội để tiến tới một đức tin sâu sắc hơn, một đức tin sẽ mang lại cho anh một kết quả hoàn toàn khác, đó là ơn cứu độ.
Hugnes Cousin kết luận: “Vì lúc nào Thiên Chúa cũng phải được quan tâm trên hết, nên Đức Giêsu tỏ ra bất bình với chín người phong cùi đã không đến tôn vinh Thiên Chúa. Nhưng lời Chúa nói về lòng tin mới là chóp đỉnh của trình thuật. Tất cả mười người phong cùi đều được khỏi bệnh, nhưng chỉ có người Samaria biết ơn Chúa mới công bố là được cứu. Vậy thì ơn cứu độ còn quan trọng hơn ơn chữa lành phần xác. Và đức tin trọn vẹn của người quay trở lại tạ ơn thì mạnh hơn lòng tin tưởng đã thúc đẩy mười người ra đi trình diện với các tư tế ngay cả trước khi họ được lành bệnh. Việc lành bệnh chỉ mở ra ơn cứu độ toàn diện cho con người, nếu họ nhìn nhận sáng kiến nhưng không của Thiên Chúa đối với mình, và nếu họ đáp trả bằng cách dấn thân vào mối tương quan thực sự với Đức Giêsu: như thế mới là đức tin trọn vẹn.” (“L' Evangile de Luc”, Centurion, trg 228-229).
Nhờ đức tin, dù là thuộc dân tộc nào, chúng ta đều được cứu độ. Vậy đến lượt chúng ta hãy lên đường theo chân Đức Giêsu. Không bao lâu sau, Đức Giêsu sẽ nói ở Lc 18,31 “Nào chúng ta lên Giêrusalem”. Lần này hiển nhiên bao gồm các môn đệ trong cuộc hành trình của Người tiến về cuộc Khổ nạn - Phục sinh.

II. BÀI ĐỌC THÊM:
1. Đường trở về dẫn đến lời tạ ơn: (Đức Cha. Daloz, trong “Dieu a visité son peuple” DDB, trg 130).
Câu chuyện mười người phong cùi được Đức Giêsu chữa lành mà chỉ có một người trở lại tạ ơn, cũng chính là hình ảnh thường xảy ra với chúng ta, khi lâm cảnh túng cực, chúng ta biết tìm đến sự cầu nguyện: “Lạy Thầy Giêsu, xin dủ lòng thương chúng tôi”. Đức Giêsu tiếp đón mười người phong cùi đứng đàng xa lớn tiếng van xin Người. Người sai họ đi trình diện với các tư tế, và họ đón nhận lời Người với lòng tin. Họ được khỏi bệnh đang lúc đi đường. Nhưng họ mới đi được nửa con đường họ phải đi. Tất cả mười người đều được khỏi bệnh, nhưng chỉ một người duy nhất nghe được câu nói khiến anh khám phá ra Đức Giêsu “Hãy đứng dậy, lòng tin của anh đã cứu anh”. Anh đã biết quay trở lại con đường cũ. Con đường ấy đã dẫn anh đến lời tạ ơn.
Như vậy, có nhiều con đường dẫn đến Đức Giêsu: có con đường đưa ta đến với Người khi ta lâm cơn quẫn bách, và có con đường dẫn ta quay trở lại với Người để nhận biết Người. Rất nhiều kẻ chỉ đi con đường thứ nhất. Họ không bị khước từ và được hưởng lợi từ chuyến đi ấy. Đó mới là bước đầu. Thiên Chúa không keo kiệt khi ban ân huệ của Người. Người không cân đo lòng biết ơn của ta. Nên có những kẻ tiến xa hơn và trở nên môn đệ. Họ được hưởng ân huệ quý giá hơn nhiều, đó là được mạc khải một đức tin cứu độ: “Lòng tin của anh đã cứu anh”. Họ cảm nhận được một điều gì đó thuộc về mầu nhiệm Đức Giêsu; họ tiến vào mối quan hệ hỗ tương với Người, mối tương quan của lời tạ ơn. Ước chi chúng ta thuộc về những người không dừng lại giữa đường!

2. Đức Giêsu, người chữa lành hay Đấng Cứu Độ? (H. Denis, trong “100 mots pour dire la foi” DDB, trg 183-184).
Đức Giêsu đã chữa lành nhiều người, đó là điều không thể hồ nghi. Mỗi trang sách Tin Mừng đều chứng thực điều đó. Ngoài ra, làm sao Đức Giêsu có thể làm cho người ta tin phục mình là Đấng Mêsia, nếu Người đã không chữa bệnh? Vì đó là điều kiện cần thiết, phải có ở thời buổi của Người, điều mà người ta còn gặp thấy nơi tất cả các vị lãnh đạo tôn giáo thời nay.
Vậy phải chăng Đức Giêsu chỉ là người chữa bệnh? Chắc chắn không phải như vậy! Đức Giêsu đến không phải để chữa bệnh, mà để cứu độ. Có thể nói rằng khi Người chữa bệnh là dấu chỉ Người cứu độ. Người không nói: “Lòng tin của anh đã chữa anh lành”, nhưng nói: “Lòng tin của anh đã cứu anh”.
Vậy, ơn cứu độ chính là khả năng sống cuộc sống của Đức Kitô, dù ta có yếu đau hay khỏe mạnh, sau khi chết cũng như trước khi chết. Việc chữa bệnh là một thứ dụ ngôn về sự sống lại.
Một nhà chú giải Kinh Thánh đương thời đã có một nhận xét mà về phần tôi, đã soi sáng tôi nhiều. Ông nói: ngay từ thời Giáo hội sơ khai, trong phụng vụ, người ta đã không bao giờ đọc một đoạn Tin Mừng về việc Chúa chữa bệnh để xin Người chữa các bệnh nhân (có vẻ phù phép), nhưng chỉ đọc để loan báo việc Chúa sống lại...

 

CHÚA NHẬT XXIX THƯỜNG NIÊN

KIÊN TRÌ CẦU NGUYỆN THEO GƯƠNG
NGƯỜI ĐÀN BÀ GÓA TRONG DỤ NGÔN
(Luca 17,11-19)


I. VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI:
1. Từ thái độ vụ lợi của vị thẩm phán bất lương…
Chúa Giêsu tiến bước về Giêrusalem, thành trì Người sẽ ra đi (9,32). Người không ngừng hướng lòng về với Chúa Cha trong cầu nguyện. Với những kẻ đi theo, Người dạy họ về ngày trở lại của Con Người. Bây giờ, Người khích lệ họ vững lòng: Hãy cầu nguyện luôn, đừng nản chí.
Minh họa cho bài học này bằng một dụ ngôn, Người dàn dựng hai nhân vật:
- “Một bà goá”, mà Kinh Thánh thường coi như mẫu người cần được bênh vực.
- “Một thẩm phán” chẳng có lòng tin, cũng chẳng quan tâm đến luật pháp, chẳng kính Chúa, cũng chẳng nể người. Bà góa tội nghiệp kêu mãi ông không nghe. Rồi, ông cũng cứu xét, không phải vì lương tâm, mà vì ích kỷ: “bà này quấy rầy ta quá, thôi thì xử cho bà, kẻo đến nhức óc vì bà”.

2. …Đến thái độ nhân hậu của Thiên Chúa Cha.
Và đây là áp dụng. Bản văn long trọng nhập đề: “Và Chúa thêm....”.
Bức tranh u ám vẽ về vị thẩm phán bất lương đã sáng lên khi Đức Giêsu phác họa Cha Người ân cần nhân ái với mọi người. Nếu một thẩm phán chẳng kính sợ Chúa, không tôn trọng con người, cuối cùng, cũng bênh vực quyền lợi chính đáng của bà goá, không lẽ Thiên Chúa nhân lành cả với kẻ bất lương (6,6) lại không nghe lời chúng ta cầu xin!
Như vậy, dụ ngôn không có ý dạy ta phải cư xử với Chúa thế nào, nhưng có ý mạc khải cho ta biết Chúa cư xử với chúng ta ra sao. Chiêm ngưỡng lòng nhân hậu của Chúa, Đấng hằng nghe lời ta kêu nài sẽ là một động lực khích lệ ta cầu nguyện tin tưởng hơn, kiên nhẫn hơn, và bắt chước bà góa mà không ngại kêu nài và quấy rầy Người.
Diễn từ kết thúc. Một lần nữa, Chúa Giêsu lại nhắc đến sự trở lại của Con Người vào ngày thế mạt. “Nhưng, khi Con Người trở lại, liệu còn thấy lòng tin trên mặt đất không?”. Một bài huấn dụ thật cảm động để các môn đệ vững vàng trong đức tin, bền chí trong đức cậy và kiên tâm cầu nguyện. Cơn cám dỗ làm lung lay Phêrô và các bạn ông (22,32 và 22,46) chính là cơn cám dỗ Đức Giêsu đã đối mặt trong cơn hấp hối ở vườn cây Dầu và đã chiến thắng thì Giáo Hội cũng sẽ đương đầu với nó suốt dọc lịch sử mình. Như vậy, cũng như Chúa Giêsu và các Tông đồ, Giáo Hội sẽ phải cảnh giác không ngừng trong cầu nguyện.
H. Cousin kết luận: “Đề tài cầu nguyện liên hệ với đề tài lòng tin, lòng trung thành. Sự liên hệ ấy rất cụ thể và bền chặt. Nếu suốt chiều dài lịch sử của mình, các Kitô hữu không liên lỉ cầu nguyện, không nuôi lòng tin của mình bằng những lời nài xin liên lỉ, thì khi Đức Giêsu trở lại, Người sẽ không nhận ra lòng tín trung nơi những kẻ tự xưng là thuộc về Người. Theo dòng thời gian, các thành phần Giáo Hội cần trả lời cho vấn đề Đức Giêsu đặt ra ở đây.” (“L'Evangile de Luc”, Centurion, trg 235).

II. BÀI ĐỌC THÊM:
1. Một Thiên Chúa, là Cha hơn một người cha, công minh hơn cả quan án (Đức Cha L. Daloz, trong “Dieu a visité son peuple”, DDB, trg 133).
Thánh Luca đã tường thuật giáo huấn của Đức Giêsu về lời cầu nguyện. Ngài còn nhấn mạnh để chúng ta thấy: cầu nguyện nhất thiết phải kiên trì, không được thất vọng. Dụ ngôn về viên quan tòa không có lòng kính sợ Chúa, chẳng tôn trọng con người, nhưng cuối cùng cũng nhượng bộ sự kiên trì của một bà góa cứ quấy rầy ông ta, tương tự như dụ ngôn về một người chịu thua ông bạn đến mượn ba chiếc bánh (11,5-8). Đức Giêsu không hư cấu những dụ ngôn này. Người lấy ngay trong đời thường những nhân vật với những tính tốt và nết xấu. Qua đó, Người tỏ bày Thiên Chúa là Cha còn hơn một người cha, công minh hơn cả một quan án. “Hãy nghe điều quan án bất lương đó nói. Và Thiên Chúa lại không đem điều chính trực lại cho những kẻ được chọn bằng kêu cầu Ngài ngày đêm sao?” Đức Giêsu không ngừng nói với chúng ta về Chúa Cha. Nhìn vào cách con người đối xử với tha nhân: một người làm phiền bạn mình lúc khuya, người cha nuôi con cái, quan án bênh vực người cô quạnh... Đức Giêsu lại nghĩ tới Chúa Cha. Ngay cả tật xấu của người đời, Đức Giêsu cũng dùng như một thí dụ để miêu tả sự săn sóc chu đáo của Chúa Cha: “Thiên Chúa lại không bênh vực...”. Người ta thấy trong con tim Chúa Con rạo rực lòng nhiệt thành đối với Chúa Cha. Và Đức Giêsu muốn chúng ta chia sẻ tâm tình đó với Người.

2. Cầu nguyện (H. Denis, trong “100 từ ngữ diễn tả đức tin”, DDB, trg 15-16).
Cầu nguyện! Đó là từ ngữ của lòng tin! Một tín hữu không cầu nguyện có còn là tín hữu không? Tuy nhiên, cần nhìn nhận cho đúng. Cầu nguyện không dễ đâu. Đó là một thách thức, nhất là khi không được lồng vào một cử hành phụng vụ, hay một tập họp của cộng đồng. Cầu nguyện, đó là mặt sau của mầu nhiệm Thiên Chúa, mầu nhiệm Thiên Chúa sống động trong con người. Một nét phác thảo vô định, nhưng cháy bỏng.
Thiên Chúa chí thánh. Cầu nguyện trở thành lời ca ngợi.
Thiên Chúa nhân lành. Cầu nguyện trở thành lời van xin. Chẳng cần nhấn mạnh đến lời ca ngợi. Ngay trong kinh Lạy Cha đã nói tới rồi! Nguyện Danh Cha cả sáng. Yêu ai, chúng ta nói đủ mọi lời tỏ lòng tôn kính. Huống hồ, đối với Thiên Chúa.
Còn đối với lời cầu xin. Có vấn đề đây. Trước hết, những tâm hồn mạnh chủ trương cầu xin là vô ích và ấu trĩ. Chúa biết rành hơn mình rồi. Còn đối với những tâm hồn yếu, tôi muốn nói tới những kẻ cầu xin ơn này, ơn khác một cách vụng về, có khi lệch lạc. Chúa đâu phải là cái máy phân phối tự động các ơn huệ, hoặc ban ơn theo kẻo trao đổi: “Tôi dâng thứ này, Chúa ban lại ơn kia”. Hoặc tệ hơn, đòi dồn Chúa vào chân tường. Người ta đọc thấy trong sách Judith: “Đừng đòi Chúa bảo hành những ý định của Ngài. Đừng dồn Ngài tới chân tường như một phàm nhân. Đừng thôi thúc Ngài.” (8,16)
Không trao đổi, không tối hậu thư. Lời cầu xin đích thực chấp nhận trước rằng: có thể không được chấp nhận như mình muốn hoặc hoạch định. Không được như ý cũng là một ân huệ đấy. Thiên Chúa luôn ban điều Người đã hứa: Thánh Linh. Hãy xin chính Chúa và Thánh Linh của Người. Xin như vậy, bao giờ bạn cũng nhận được.

3. Hiệp nhất để làm chứng (Tài liệu của Liên hiệp các nhà truyền giáo để cổ động Tuần lễ thế giới truyền giáo, trg 6)
“Đoạn Tin Mừng này dọi sáng chủ đề Hiệp Thông và Truyền Giáo dưới 3 khía cạnh:
1. Dụ ngôn có ý dạy: “Hãy cầu nguyện luôn, đừng ngã lòng” (Lc 18,1). Cầu nguyện là mệnh lệnh thứ nhất trong sứ mệnh truyền giáo. Nó kết hợp những người dấn thân truyền giáo. Nó nhắc người ta, đối với Chúa, đừng thất vọng bao giờ.
2. Thiên Chúa không điếc trước tiếng kêu của những người nghèo khổ đang khát khao công bình. Trao đổi thông tin về thế giới, đó là mệnh lệnh thứ hai về sứ mệnh Truyền giáo. Nó làm cho kinh nguyện phổ quát có hương vị của một tâm hồn không còn gì hy vọng nhưng vẫn vững lòng cậy trông (Rm 4,18).
3. Nhưng, khi Con Người trở lại, liệu còn thấy lòng tin trên trái đất? Đây là câu hỏi, không phải chúng ta đặt ra trước Chúa, mà là Chúa đặt ra trước chúng ta. Câu trả lời tùy thuộc một phần vào chúng ta, vào sự hiệp thông trong đức tin của chúng ta, vào ý chí chúng ta muốn trở thành chứng nhân cho Tin Mừng Đức Kitô trên khắp thế giới. Vấn đề là như vậy. Hy vọng câu trả lời sẽ tích cực. Mệnh lệnh thứ ba của sứ mệnh Truyền giáo là dâng hiến thời giờ, tài sản , và cả mạng sống cho Tin Mừng của Thiên Chúa.”

 

CHÚA NHẬT XXX THƯỜNG NIÊN

DỤ NGÔN NGƯỜI PHARISÊU VÀ NGƯỜI THU THUẾ
(Luc 18, 9-14)


I. VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI:
1. Người biệt phái nhìn vào bản thân và so sánh.
Trên đường lên Giêrusalem, sau dụ ngôn bà góa và vị thẩm phán bất lương, Đức Giêsu kể một dụ ngôn nữa. Chỉ có thánh Luca kể lại dụ ngôn này. Dụ ngôn nhắm đến ai? “Một số người tự cho mình là chính trực và khinh khi những người khác”. Một kiểu nói chung để đề tặng tác phẩm nhỏ này cho những người biệt phái mọi thời.
Dụ ngôn nêu lên hai nhân vật tương phản, cùng lên Đền thờ vào giờ cầu nguyện. Hai thái cực của xã hội Do Thái thời ấy: Biệt phái và thu thuế.
Biệt phái là hình mẫu của người giữ đạo tốt. Anh ta thuộc về nhóm đạo hạnh. Từ “biệt phái” dành để chỉ lớp người này rất thích hợp, vì những “vị thánh” này tách biệt khỏi quần chúng. Như cử chỉ quen thuộc thời ấy, anh đứng cảm tạ Thiên Chúa. Đọc bản thống kê công nghiệp, xướng lên các tội anh không phạm, những luật lệ anh chu toàn, anh còn giữ quá những điều luật yêu cầu: ăn chay 2 lần một tuần, góp 1/10 hoa lợi. Thật khó mà không tin vào những điều ấy! Anh không cần cầu xin gì. Anh cứ tràng giang đại hải như mình nói cho mình nghe. Thiên Chúa đóng vai phụ. Anh thấy mình vượt lên trên những kẻ trộm cắp, bất lương, ngoại tình. Những kẻ thật đáng khinh bỉ! “Tôi cảm tạ Chúa, vì tôi đã không như những người khác”.

2. Người thu thuế đặt mình dưới ánh mắt Thiên Chúa.
Người thu thuế, hình mẫu của loại tội nhân công khai, bởi làm nghề thu thuế, phục vu nền hành chánh xâm lược, anh bị xếp loại vào hàng ngũ bất hảo, chẳng còn gì để hy vọng.
Anh cũng đứng cầu nguyện. Ý thức mình là tội nhân, “anh đứng xa xa, không dám ngước mắt nhìn lên, anh đấm ngực mà nói: Lạy Chúa Trời tôi, xin thương xót tôi là kẻ có tội”.
Kết luận của dụ ngôn thật bất ngờ. Tình trạng của mỗi người lệ thuộc vào thái độ của họ trước mặt Chúa. Người thu thuế được nhận lời, được tha thứ và được Thiên Chúa tuyên bố là người công chính. Còn người biệt phái, hình như anh chẳng cần cầu xin gì, trở về với ý nghĩ mình là người công chính, nhưng sự công chính ấy lại không được Thiên Chúa chuẩn nhận.
H. Cousin chú giải rằng: “Đức Giêsu công khai tỏ bày tình trạng mới này. Người mời thính giả nhận ra cách cư xử của Thiên Chúa, trước khi kêu gọi bắt chước thái độ của người thu thuế. Cần vượt qua tính cách nghịch lý của sứ điệp. Người thu thuế được tha trước khi đền bù những tệ hại và làm hòa với tha nhân. Lòng nhân hậu của Thiên Chúa đối với tội nhân như thế đó... Tương tự thái độ của Đức Giêsu đối với tội nhân và những kẻ bị loại trừ là một thứ luật mới phải được thừa nhận.” (“l'Evangile de Luc”, Centurion, trg 216-217).
Chúa Giêsu kết luận về sự đảo ngược tình trạng này bằng một câu (đã trích ở 14,1) có hương vị thế mạt: “Ai nâng mình lên sẽ bị hạ xuống, ai hạ mình xuống, sẽ được nâng lên”. Thiên Chúa hạ kẻ tự phụ, và nâng cao kẻ khiêm nhu, vì “tư tưởng của Ta không gióng ý nghĩa của các ngươi, và đường lối Ta, cũng không giống lối ngõ của các ngươi.” (Is 55,8).

II. BÀI ĐỌC THÊM:
1. Nhân vật chính của dụ ngôn không phải chính Thiên Chúa ư? (G. Bessrère, trong “Dieu si proche”, DDB, trg 164-165).
“Một người tự nghe lời mình cầu nguyện, ngợi khen Thiên Chúa về nhân đức của mình, liệu có hợm hĩnh quá không? Chắc ông không nghĩ vậy! Ông ta nghĩ mình đã làm nhiều điều tốt. Ông phải có vị trí cao trong Nước Chúa, và ông có thêm thắt chút ít thì là để làm gương cho người khác. Cũng xứng đáng thôi. Ông có thể ngẩng cao đầu khi vào Đền thờ. Ông là người chính trực, thanh sạch!...
Còn ông kia? Thu thuế cho chính quyền Rôma. Có nâng mức thuế lên chút đỉnh để được phần trăm cao hơn cho chính mình. Ông khiêm tốn hơn. Nhưng, thay vì đấm ngực, có lẽ ông nên nhìn thẳng vào thu nhập của chính mình mà đổi nghề đi. Chỉ xin Chúa xót thương thôi thì quá dễ “…Không phải chỉ những kẻ kêu lạy Chúa, lạy Chúa...”.
Câu hỏi khác không khó trả lời: Ai là nhân vật chính trong dụ ngôn này? Người biệt phái đứng cầu nguyện trong gian thánh Đền thờ? Hay người thu thuế muốn thu mình lại, cúi xuống đấm ngực ở xa xa kia? Không phải! Hãy chú ý đến một chi tiết: Đền thờ! Vâng! Nhân vật trung tâm của dụ ngôn: chính Thiên Chúa. Để ý mà coi: “Khi người thu thuế ra về, anh trở nên công chính”, anh chứ không phải người biệt phái. Ai đã đong đầy tâm hồn anh sự chính trực? Và sự diễm phúc mà từ lâu anh không còn nhớ đến? Chúa chứ còn ai? Một Thiên Chúa quảng đại ban phát đến phí phạm, một Thiên Chúa điên điên chọn thương con chiên lạc, người què quặt tâm hồn và thể xác, Đức Giêsu qua cách cư xử, đã hiến tặng chính mình cho những ai bị loại trừ, bị gạt ra lề, bị coi là tội nhân.
Thiên Chúa như không bị trói buộc bởi tính cách luân lý. Ngài vẫn như thể đang khám phá, đón nhận mà không cần điều kiện tiên quyết nào hết! Cứ dịu dàng mà tạo nên những cuộc đổi đời, đổi ngàn lần đổi. Hãy luôn lại bắt đầu, dù là hàng ngàn lần, và rồi ta sẽ ngạc nhiên không cùng vì thấy mình vẫn được yêu thương.”

2. Chọn lựa giữa hai mẫu người tu sĩ? (Missel Emmaus des Dimanches, trg 1136).
Tính chất tu sĩ bao gồm những thực tại rất khác biệt, có khi mâu thuẫn nữa. Có những giới cho mình là tu sĩ khi nhận một hệ thống luật lệ và nghi thức mà họ nghĩ là ý Chúa. Và dựa trên hệ thống này để sống cho lương tâm được an ổn và cho liên hệ với Chúa được tốt lành. Có biết đâu rằng từ căn bản đã lệch lạc và quan hệ với tha nhân cũng xộc xệch.
Tu sĩ đích thực theo nghĩa Kitô giáo của danh xưng này là kẻ cảm nghiệm được sự hư không của mình và do đó, khám phá ra tình yêu nhưng không của Chúa. Đối với họ, luật lệ, nghi thức chỉ là phương cách diễn tả hành vi tạ ơn vì Chúa đã làm cho họ được sống và giải thoát họ khỏi tội lỗi. Lòng tin của họ không phải là một hệ thống cứng ngắc và loại trừ người khác.
Loại thứ nhất thuộc hạng công chính, nhưng thực tế tự khép kín chính mình, tự mãn và cố định, bởi đó, sai từ cơ bản. Loại thứ hai, đặt mình trước nhan Chúa, và bởi đó, được Chúa thánh hoá.
Chúng ta đón nhận con đường nên thánh theo nghĩa thứ hai chứ?

 

CHÚA NHẬT XXXI THƯỜNG NIÊN

TẠI GIÊRICÔ, HAI ÁNH MẮT GẶP NHAU
BẮT NGUỒN CHO MỘT KHỞI ĐẦU MỚI
(Lc 19,1-10)


I. VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI:
1. Giêricô, chặng dừng chân cuối cùng trước khi lên Giêrusalem:
Căn cứ vào Luca 9,51, chuyến đi Giêrusalem lần này là lần chót, nên Đức Giêsu đi tới Giêricô, thành phố giáp ranh và là cửa ngõ đưa vào Đất Hứa.
Đức Giêsu lại loan báo lần nữa về cuộc khổ nạn sắp tới của mình. Còn các môn đệ thì vẫn ngỡ ngàng, “không hiểu”, “không rõ” (18,31) gì cả. Nên khi gần tới Giêricô, Đức Giêsu đã mở mắt cho một người mù và lấy anh ta ra làm gương cho các ông: “Lập tức, anh ta nhìn thấy được và theo Người...” (18,35-43).
Chính trong chuyến đi ngang qua thành phố này, Luca kể lại câu chuyện mà chỉ riêng Tin Mừng ngài có, câu chuyện về cuộc gặp gỡ giữa Đức Giêsu và Giakêu, một người với cái tên có nghĩa là “người thuần khiết” thì quả là nghịch thường. Bởi lẽ tất cả cuộc sống xem ra phải đưa đẩy ông đến chỗ xa rời Nước Trời.
- Giakêu là người tội lỗi công khai. Ông làm nghề thu thuế, một nghề đáng khinh bỉ của những người “publicanô”, những tên thu thuế làm lợi cho đế quốc Rôma. Phải gọi ông là “đầu sỏ” publicanô mới đúng.
- Giakêu lại giàu có nữa. Câu chuyện kể lại trước đây về cuộc trò chuyện giữa Đức Giêsu và “người thanh niên giàu có” (18,18-30) càng làm sáng tỏ hơn sự giàu có có thể là trở ngại cho lời mời gọi của Tin Mừng.

2. Đám đông: vai trò quan trọng trong câu chuyện.
Thường thường bị quên lãng trong các chú giải, “đám đông” xem ra không có được vai trò quan trọng mấy để làm cho câu chuyện thêm phần sinh động.
- Trước tiên, đám đông cản trở ước muốn của Giakêu; ông muốn “xem cho biết Đức Giêsu là ai”, nhưng khổ nỗi dân chúng thì đông, mà “ông ta lại lùn”.
- Đám đông còn gây cản trở cho thái độ Chúa đã chọn đối với Giakêu. Họ giống như các người biệt phái và kinh sư vốn bất bình trước thái độ Chúa niềm nở tiếp đón và cùng ngồi ăn uống với những kẻ tội lỗi (Lc 15), và cũng giống như các Kitô hữu ở Giêrusalem sau này, đã tỏ thái độ bực bội trước cách xử sự của Phêrô khi vào nhà viên đại đội trưởng Rôma ở Xêdarê (Cv 10 và 11), họ nổi loạn, họ gầm lên: “Thấy vậy, mọi người xầm xì với nhau: Nhà một người tội lỗi, mà ông ấy cũng vào trọ” (19,7).

3. Những ánh mắt, cử chỉ, lời nói đầy ý nghĩa:
Chúng ta vừa mới quan sát những cái nhìn, thái độ, lời nói cuả đám đông, vốn chỉ dừng lại ở những dáng vẻ bên ngoài. Ta hãy đi sâu hơn vào chiều sâu của bài tường thuật bằng cách giờ đây chú ý đến những ánh mắt, thái độ và lời nói của Đức Giêsu cũng như của Giakêu.
- Suốt bài tường thuật này, Đức Giêsu không ngừng biểu lộ sáng kiến của lòng thương xót của Thiên Chúa đối với những con người tội lỗi.
+ Người “đi ngang qua Giêricô”, trước khi lên Giêrusalem nơi Người sắp tự ý hiến dâng mạng sống mình, có ý “tìm kiếm và cứu vớt những gì đã mất”.
+ Người “nhìn lên” Giakêu mà thường thường thì người ta nhìn xuống mới phải, vì ông lùn.
+ Người tự làm người khách không mời khi vào nhà một người thu thuế, đang khi thường thường chẳng có ai bước vào đó, trừ khi bị gọi đến vì chuyện thế má: “Hôm nay, tôi phải lưu lại nhà ông”.
+ “Niềm vui” gặp gỡ làm nẩy sinh nơi người tội lỗi ước vọng thiết tha được khởi đầu một cuộc sống mới: “Thưa Ngài, đây là phân nửa tài sản của tôi, tôi cho người nghèo, và nếu tôi đã cưỡng đoạt của ai cái gì, tôi xin đền bù gấp bốn”.
+ Sau cùng Chúa Giêsu tỏ cho chủ nhà biết rằng cuộc gặp gỡ này mang “ơn cứu độ” cho ông ta ngay “hôm nay”: nhà người tội lỗi đã trở nên nơi Thiên Chúa cư ngụ.
- Về phần Giakêu, việc ông di chuyển vị trí là dấu hiệu chứng tỏ nội tâm ông đang có sự chuyển biến, điều mà ông hằng mong muốn.
+ Vì người ta quá đông, mà ông lại thấp bé, nên ông “liền chạy tới phía trước, leo lên một cây sung”.
+ “Vội vàng”, ông tụt xuống khỏi cây, theo lời Chúa gọi.
+ “Mừng rỡ”, ông đón tiếp Chúa vào nhà ông.
+ Và lòng ông mở ra để biết sống chia sẻ và thực thi công bình với mọi người.
Giakêu, con người đã mất thanh danh, bị người đời coi rẻ, bởi cái nghề nghiệp đã xếp ông vào hạng “người tội lỗi” lại được nghe gọi tên mình: “Giakêu”, lại được Đức Giêsu công khai nhìn nhận mình là “con cháu tổ phụ Ápraham”.
Chính ông vì muốn tìm cách để “xem” cho biết “Đức Giêsu” ấy là ai khi Người đi ngang qua thành, thì giờ đây lại đứng ra thưa với “Chúa” về quyết định làm lại cuộc đời của mình, đồng thời chính ông cũng được nghe từ miệng “Con Người” nói cho ông biết rằng “ơn cứu độ đã đến cho nhà ông”.

II. BÀI ĐỌC THÊM:
1. Cùng với Giakêu, chúng ta hãy khám phá ra ơn tha thứ là gì (“Fêtes et Saisons” số 452, trg 15).
Làm sao để khám phá ra ơn tha thứ là gì? Trong lãnh vực này cũng như nhiều lãnh vực khác, Tin Mừng thường đi ngược với suy nghĩ của ta, bắt buộc ta phải nhìn từ khía cạnh ngược lại, nghĩa là không nhìn sự tha thứ, nhưng nhìn ơn được thứ tha.
Kẻ được ơn tha thứ sẽ ra sao? Giakêu chẳng phải là điển hình tốt hơn đó sao? (Lc 19,1-10). Điều gì đã xảy ra giữa Đức Giêsu với ông? Ồ, chẳng có gì to tát đâu. Chỉ một ánh mắt của Thầy khi đi ngang qua, chỉ một tia nhìn hướng về phía anh chàng lùn ấy đang núp trên cây sung thôi. Và rồi kìa, Đức Giêsu tự đóng vai người khách không mời, đến nhà Giakêu dùng bữa, mặc dầu ông chưa lên tiếng mời. Giakêu đã quay trở lại với Đức Giêsu. Cuộc sống ngày mai hẳn sẽ khác với nếp sống hôm nay lắm. Tưởng chừng như nghe dư âm của lời Chúa trong sách Êgiêkien: “Ta không muốn kẻ gian ác phải chết, nhưng muốn nó ăn năn sám hối và được sống” (Ez 18,23).
Những cảnh tha thứ thuộc loại này không phải chỉ trong Tin Mừng mới có mà thôi. Trong khung cảnh gia đình, thường khi xảy ra những “lỗi lầm” có lẽ không quá nghiêm trọng, chúng ta thảy đều đã sống kinh nghiệm của sự tha thứ. Các bậc làm cha mẹ khi biết tha thứ cho nhau, đều tìm lại được đà tiến sau khi đổ vỡ. Đôi khi chỉ cần một ánh mắt thôi, mà đứa trẻ cũng dần dần học được sự tha thứ. Lời Chúa cũng tỏ cho ta biết, trong nếp sống ngày qua ngày của ta, điều gì làm cho ta nên cao thượng.
Đối với hai người là vợ là chồng, thì việc tha thứ cho nhau không chỉ nhất thiết là đòi hỏi về mặt đạo đức, mà còn thuộc lãnh vực đức tin được hiểu là ơn tận hiến cho nhau. Được tha thứ, chính là tin rằng tha nhân vẫn còn yêu ta. Niềm vui bắt đầu nẩy sinh khi ta ngỡ ngàng khám phá ra rằng tha nhân có khả năng yêu thương ta thực sự, cũng như ta có khả năng, mặc dầu về phía ta cũng có những khía cạnh tăm tối khiến chính ta cũng phải khổ. Thanh thản có cái nhìn như thế về ta, cái nhìn làm cho thấy được con người, nguyện vọng và cả bên kia những lỗi lầm của ta, là một cái nhìn làm ta phát triển, mời gọi ta phát triển hơn nữa. Cái nhìn ấy hướng ta về tương lại, cứu thoát ta khỏi chính bản thân mình.
Tha thứ nói cho cùng là chuyện đơn giản lắm, là cứ tiếp tục yêu thương đi. Đôi khi chính là làm hồi sinh lại tình yêu nếu đang lụi tàn. Lúc ấy người ta đã giết chết sự hận thù. Sức mạnh của sự chết không chiến thắng được sức mạnh của sự sống nữa. Tha thứ chính là mở ra tương lai, là đặt lòng tin tưởng của mình nơi tha nhân, là tin vào ánh sáng cùng với sự rủi ro đi kèm. Hơn một lần sẽ có thể bị nhạo báng, hiểu lầm. Tin người vẫn luôn luôn là một rủi ro.
Phần nhiều sự tha thứ không chỉ là liên hệ giữa hai người mà thôi, mà còn có cả người thứ ba nữa. Trong Tin Mừng Luca (7,36-50), ngoài Đức Giêsu và người phụ nữ ngoại tình, còn có cả ông Simon tiêu biểu cho dư luận quần chúng. Dư luận này thích đóng vai quan toà, không ủng hộ cho việc tha thứ. Dẫu sao con người chỉ cảm thấy mình được tha thứ thực sự, sau khi đã được người chung quanh yêu mến và tin tưởng.
Với mỗi người chúng ta, tha thứ là hành trình lâu dài khám phá tha nhân. Còn Thiên Chúa chính Người là sự tha thứ. Người đã tha thứ cho ta trước khi ta cầu xin Người: vì Người yêu ta và biết rõ ta; vì Người yêu ta và tin tưởng ta. Giữa chúng ta với nhau, sự tha thứ luôn luôn là hỗ tương; một ngày nào đó, ta sẽ phải xin lỗi người ta tha thứ hôm nay. Đối với Thiên Chúa thì khác. Chính Người là nguồn ơn tha thứ và khi ta muốn cầu nguyện thì không phải nói: “xin tha thứ cho chúng con, như chúng con cũng tha thứ” mà tốt hơn nên cầu nguyện rằng: “Xin cho chúng con biết tha thứ, như Chúa hằng thứ tha”.

2. “Giakêu: tên người thu thuế ở Giêricô đã lưu danh hậu thế” (G. Boucher, trong “Le ciel sur terre”, trg 67).
“Đó là một anh chàng đã “quên” lớn lên, nên đành phải miễn cưỡng chấp nhận vóc dáng nhỏ thó của mình.
Vậy mà chàng ta cũng đã leo lên được nấc thang xã hội, đã đạt được vi trí ước mong, đã thu tích được một gia tài. Chàng có được gia tài này, một phần là nhờ trí tuệ, sự miệt mài làm việc; một phần cũng là nhờ bòn mót và kiếm chác của người khác. Bởi lẽ chàng là người thu thuế.
Chàng cũng đã không coi rẻ việc phải cộng tác nào đó với quân chiếm đóng, một phần vì không thể làm khác, một phần cũng vì “nồi cơm” của chàng.
Này kìa, chàng đã được ngồi ở một địa vị cao trong xã hội, đang khi chính chàng lại chỉ là con người nhỏ thó. Có địa vị, không thiếu gì, luôn được thoả mãn, giàu có... Mấy ai được như chàng.
Cùng lúc đó, từ một góc bé nhỏ của bản thân, chàng cảm thấy có một cái gì đó làm chàng không hài lòng mấy. Chàng thấy thiếu một cái gì đó mà không biết xác định rõ là cái gì.
Thế rồi, ngày hôm đó, trong thành phố của chàng có một vị ngôn sứ của Thiên Chúa đi qua. Giả như Thiên Chúa dạo chơi tới nhà bạn, hẳn bạn sẽ không bỏ lỡ cơ hội để xem Người thế nào, hoặc nghe Người nói gì!
Phố xá đầy người. Thật là náo nhiệt! Chàng là một viên chức cao cấp không lẽ lại trà trộn với đám lê dân kia. Hơn nữa chàng còn phải len lỏi lên được hàng đầu mới có cơ may trông thấy được vị ngôn sứ. Còn mặt mũi nào! Vả lại chàng cũng chẳng thích như vậy.
Có một cây lớn đây rồi, mà lại là cây sung! Thật là một đài quan sát tuyệt vời. Từ đó, chàng có thể nhìn thấy hết, mà không có nguy cơ bị người ta nhìn thấy mình.
Nhưng không! Sự thể lại hoàn toàn trái ngược: vị ngôn sứ của Thiên Chúa trông thấy chàng. Ngài chú ý đến chàng, như thể trước rày vẫn đang tìm chàng. Quan sát từ trên cây cao, chàng nghĩ là có thể hay biết hết, mà chẳng phải liên luỵ gì!
Nhưng không! Sự thể lại hoàn toàn trái ngược: Thiên Chúa bắt chàng phải liên lụy với đám đông. Thiên Chúa hỏi han chàng giữa đám dân phố của chàng. Tự Ngài ra dấu bảo chàng xuống khỏi cây... Rồi ngỏ ý muốn được mời đến nhà chàng. Thế là chàng buộc lòng phải quyết định!
Đừng ở trên đó mà nhìn như khách bàng quan nữa! Xuống mau lên! Nhập bọn với dân phố và chỉ cho họ biết bạn thấy Chúa thế nào, phản ứng ra sao khi nghe lời Người và bạn sống làm sao để chứng tỏ Chúa đã đi vào đời bạn.
Ngày hôm đó, một anh chàng nhiều tiền lắm của phần nào do kiếm ăn bất chính và tự mãn, với địa vị là chủ nhà đón tiếp Đức Giêsu. Nhà của anh ta trở thành nhà của Thiên Chúa.
Anh ta đã hiểu ra rồi. Anh cho đi của cải, cho đi bản thân mình. Đó chính là ơn cứu độ cho cả nhà anh, và tên của anh lưu danh hậu thế: Giakêu!”.

 

CHÚA NHẬT XXXII THƯỜNG NIÊN

ĐỜI SỐNG CỦA NHỮNG KẺ SỐNG LẠI:
MỘT THỰC TẠI MỚI LẠ TUYỆT VỜI
(Lc 20,27-38)


I. VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI:
1. Gài bẫy từ một trường hợp không thực:
Khi những kinh sư và trưởng tế phái các “tay sai” đến hỏi Đức Giêsu về việc nộp thuế cho hoàng đế Rôma, Người đã trả lời họ một cách quá khôn khéo đến độ họ “phải ngạc nhiên và làm thinh luôn”.
Bây giờ là chính những người thuộc nhóm Sađốc tới thay phiên. Những người này làm thành một “phe” thân với trưởng tế (Cv 5,17). Có nguồn gốc là quý tộc, thuộc giai cấp tư tế, và là những người bảo thủ trong vấn đề tôn giáo, họ rất quý chuộng bộ Ngũ Thư của Kinh Thánh, nhưng lại không đếm xỉa đến sách các ngôn sứ; còn về các trước tác gần đây hơn, họ chối bỏ uy tín của những sách ấy. Nếu nhóm này “chủ trương không có sự sống lại”, là vì họ không tìm thấy dấu vết nào trong bộ Ngũ Thư mà họ thường tham khảo. Họ coi niềm tin vào sự sống lại như một sự canh tân và lệch lạc, mà thực ra chỉ xuất hiện trong bối cảnh cuộc nổi dậy của anh em nhà Macabê khi những người Israel trung thành với luật Chúa đã can đảm chịu chết vì đạo (cf. Bài đọc I Chúa nhật này).
Vì thế, khi biết Đức Giêsu cũng như tất cả nhóm biệt phái và phần đông dân chúng đều tin có sự sống lại, thì những người thuộc nhóm Sađốc liền nêu ra cho Người một trường hợp không có thực chứng tỏ sự phi lý của niềm tin này, dựa vào câu chuyện kỳ cục mà họ đưa ra. Đó là câu chuyện hoang đường về một người phụ nữ hiếm muộn nọ, mà theo luật Lêvi (một luật đã bị huỷ bỏ ở thế kỷ I) đã lần lượt kết hôn với sáu người em chồng chết mà không có con. Họ hỏi Chúa: “Vậy trong ngày sống lại, người đàn bà ấy sẽ là vợ ai, vì cả bảy đều đã lấy nàng làm vợ?”.

2. Câu trả lời khiến đối phương phải rút lui:
Câu trả lời Chúa đưa ra hôm nay thật không ai ngờ, khiến đối phương phải rút lui, tuy nó vẫn thích nghi phần nào với não trạng của những người đối thoại, những người Pharisêu, và nhóm Sađốc.
- Với những người biệt phái, Chúa đả phá cái quan niệm quá duy vật mà họ đưa ra về vấn đề kẻ chết sống lại, quan niệm mà những người thuộc nhóm Sađốc hẳn cũng chế giễu: họ mường tượng sự sống lại như chuyện thân xác được hồi sinh để có một nếp sống sau này đại khái như nếp sống hiện nay ở trần gian: cũng sinh con đẻ cái, cũng làm công việc kia nọ vậy.
Đời sống của các kẻ sống lại được hiệp thông với Thiên Chúa hằng sống, Đức Giêsu khẳng định, là đời sống hoàn toàn mới lạ so với đời sống trần gian này. Đời sống đó không có một kiểu mẫu nào ở đời này cả. Đó là một cuộc sống không thể nào tưởng tượng ra nổi, một cuộc sống hoàn toàn được biến đổi, một cuộc sống của những người “con Thiên Chúa”, những “người được hưởng ơn phục sinh”: “Họ giống như các thiên thần”.
- Với những người thuộc nhóm Sađốc dựa vào Lề Luật Môsê để chối bỏ niềm tin kẻ chết sống lại, thì Đức Giêsu không trưng dẫn những sách gần đây hơn, như sách Đanien. Người dựa vào Luật Chúa mà khẳng định rằng: “Mọi kẻ chết đều phải sống lại”.
Trong bụi gai cháy sáng (Xh 3,6) Thiên Chúa tự xưng mình là “Thiên Chúa của tổ phụ Ápraham, Thiên Chúa của tổ phụ Isaac, Thiên Chúa của tổ phụ Giacóp”. Nếu Thiên Chúa làm bạn hữu với các tổ phụ, thì không phải chỉ trong thời gian của một đời người mà thôi. Giao ước Người đã ký kết với các tổ phụ không thể chết, mà phải tồn tại đến muôn đời, vì Thiên Chúa đời đời trung tín.
Tất cả “những ai được xét là đáng hưởng phúc đời sau và sống lại từ cõi chết” đều là những người sống mãi, sống muôn đời, họ hiện diện trước tôn nhan Thiên Chúa vì “Người không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, nhưng là Chúa của kẻ sống”.
H. Cousin chú giải: “Ý tưởng nền tảng là lòng trung tín của Đức Chúa đối với những kẻ Người tuyển chọn, thì ngay cả Thần Chết, kẻ thù của Thiên Chúa cũng không làm gì nổi. Do đó, lòng trung tín của Thiên Chúa đối với Giao Ước chính là động cơ thúc đẩy niềm tin vào sự sống lại của kẻ đã chết” (“L'Evangile de Luc”, Centurion, trg 271).

II. BÀI ĐỌC THÊM:
1. “Thiên Chúa hằng sống” (Đức Cha L. Daloz, trong “Dieu a visité son peuple”, Desclée de Brouwer, trg 161-162).
Đức Giêsu lợi dụng những vấn đề lắt léo người ta đưa ra chống đối Người để tiếp tục mạc khải của Đức Chúa Cha cho đến những ngày cuối cùng. Những người thuộc nhóm Sađốc vốn chủ trương không có sự sống lại đến đặt cho Người một trường hợp giả tưởng, mà theo họ nghĩ thì việc sống lại là điều phi lý không thể có được. Để tuân theo luật Môsê, bảy anh em lần lượt cưới cùng một người phụ nữ, và sau mỗi lần người phụ nữ ấy lại trở thành kẻ góa bụa. Sự sống lại hẳn sẽ đặt họ vào tình cảnh éo le: “Khi sống lại, người đàn bà ấy sẽ là vợ ai, vì cả bảy đều đã lấy bà làm vợ?”. Đức Giêsu dùng thời giờ trả lời đầy đủ cho vấn đề phục sinh, vì đó là điều rất hệ trọng. Không có sống lại, như thánh Phaolô nói, đức tin của chúng ta hóa ra “hão huyền”... Cũng đáng công cho chúng ta chăm chú lắng nghe lời Chúa phán về điều này. Thí dụ người ta đưa ra để chống đối Người, tạo cho Người cơ hội để giải thích tình trạng mới lạ của “những ai được xét là đáng hưởng phúc đời sau và sống lại từ cõi chết”. Đây không phải là vấn đề trở lại với cuộc sống đời này, để mà dựng vợ gả chồng, mà là một sự tham dự vào thế giới mai sau, ở đó người ta không còn chết nữa, không còn lấy vợ lấy chồng, người ta giống như thiên thần. Đó là một dạng sinh ra mới, làm cho người ta trở thành con cái của sự sống lại. Và do đó, hoàn toàn là con cái Thiên Chúa.
Sự sống lại là hành động của một Thiên Chúa hằng sống, Đấng bạn sự sống ngay cả bên kia cái chết; Thiên Chúa của bụi gai cháy sáng, tự giới thiệu mình là Thiên Chúa của tổ phụ Ápraham, Thiên Chúa của tổ phụ Isaac và là Thiên Chúa của tổ phụ Giacóp. Người đâu có giới thiệu mình là Thiên Chúa của kẻ chết? “Thiên Chúa không phải là Thiên Chúa của các kẻ chết, mà là của kẻ sống...”. Suốt cả cuộc đời Đức Giêsu luôn quy hướng về Đức Chúa Cha; chính Người là cội nguồn, là sự sống mà ngay cả thần chết cũng không có được tiếng nói cuối cùng. Vì có mấy vị kinh sư dám ngả về lập trường của Chúa – họ vui mừng thấy những người thuộc nhóm Sađốc phải bẽ mặt – nên chúng ta chỉ có thể ngợi khen Đức Giêsu vì đã loan báo cho chúng ta một vị Thiên Chúa như thế: “Thưa Thầy, chúng tôi biết Thầy nói và dạy cách thẳng thắn!”. Chẳng bao lâu nữa, sự phục sinh của chính Đức Giêsu sẽ tỏ cho thấy một tương lai mà chẳng bao giờ chúng ta dám mơ ước!”.

2. “Sự sống lại đã bắt đầu rồi” (F. Deleclos, trong “Prends et mange la Parole”, Centurion Duculot, trg 262).
“Đối với những người thuộc nhóm Sađốc, đây là cơ hội tốt để chế giễu có pha chút hài hước, những ai tin rằng sự sống lại là chuyển đổi nếp sống ở trần gian này lên thiên đàng.
Câu hỏi mà cũng là cái bẫy cho Đức Giêsu khiến Người phải nói rõ “giáo lý” của Người về sự sống lại từ cõi chết và thỏa mãn tính tò mò của đám thính giả? “Nếu các vị tin vào sự sống lại, thì cụ thể điều đó sẽ xảy ra như thế nào?”.
Đức Giêsu hẳn làm cho đối phương của Người phải rút lui bẽ mặt và bỏ đi những điểu tưởng tượng quá trớn cùng những câu chuyện trẻ con chỉ làm cho ngủ gật thôi. Thiết tưởng là vô ích, vả lại cũng không thể có được một ý niệm nào về “thế giới mai sau” dựa vào những thực tại trần gian này. Những “người được hưởng sự sống lại” sẽ được tham dự vào chính sự sống của Thiên Chúa. Họ sẽ “giống như các thiên thần”, và sẽ không có thể chết nữa. Thế nhưng với một điều kiện là “được xét là xứng đáng”.
Đức Giêsu cũng hướng thính giả của mình về tận cội nguồn Kinh Thánh. Chắc chắn là những người Pharisêu và những người thuộc nhóm Sađốc đều biết Kinh Thánh, nhưng còn phải giải thích cho đúng những dữ kiện của Mạc khải nữa. Phải quy chiếu về Môsê, nhưng để tìm ra những điều mà người khác đã không tìm thấy. Nếu Đức Chúa tự giới thiệu với Môsê là “Thiên Chúa của tổ phụ Ápraham, Isaác và Giacóp”, thì rõ ràng Người là Thiên Chúa của những kẻ “còn đang sống” chứ không phải của những “kẻ đã chết rồi”. Bởi lẽ, mọi người đều sống với Người, nhờ Người và vì Người. Và điều đó thiết tưởng phải đủ để ta hân hoan cùng với lòng tin tưởng mà hiểu biết rằng mầu nhiệm này thật khôn lường, trí con người không thể vươn tới được. Đời sống của kẻ sống lại là đời sống sung mãn tràn đầy, là kinh nghiệm về tình yêu trọn vẹn, là sự nối dài và phát triển mối tương quan đã được thiết lập và phát triển ngay ở đời này. Phần còn lại đều là tò mò hão huyền vô ích... Trang sử vĩ đại của tình yêu không thể “bị kết thúc và vùi sâu dưới nấm mồ”.
Còn hôm nay, mặc dầu Đức Kitô đã phục sinh, mặc dầu truyền thống Kitô giáo đã trải qua hai ngàn năm, mặc dầu trong kinh Tin chúng ta vẫn tuyên xưng rằng xác loài người ngày sau sẽ sống lại, thế mà nhiều Kitô hữu vẫn lo lắng, và bối rối; có những người còn để mình lạc lõng trong những chi tiết vụn vặt và những điều ấu trĩ. Lại còn có những người bày tỏ bất mãn hoặc tìm ánh sáng và ủi an bên ngoài nguồn ánh sáng và an ủi. Người thì đòi hỏi những chứng cứ lịch sử hoặc cho đó là những chuyện huyền thoại; người khác lại bám víu vào thế giới bên kia để tìm an ủi mình một cách rẻ tiền.
Hôm nay cũng như hôm qua, chúng ta không ngừng sẵn sàng lắng nghe Đức Kitô và đặt niềm tin tưởng nơi Người để luôn tin vào sự sống lại và sống như người đã sống lại rồi”.

3. “Một điều bất ngờ hoàn toàn” (“Fêtes et Saisons” số 468, “Que savons-nous de l'au-delà?”, trg 15 và 16).
“Người chết sống lại làm sao? Họ trở về với thân thể nào?”
Chẳng ai có thể đưa ra câu trả lời thỏa đáng. Đã hẳn, trong Tân Ước, có vài chỗ đề cập đến chủ đề này. Nhưng luôn luôn với chừng mực và giản dị hết sức. Một sự giản dị đến độ cuối cùng người ta chẳng biết được gì khá hơn! Thực ra những đoạn văn ấy chỉ muốn cảnh giác trí tưởng tượng của ta thôi. Bởi lẽ người ta luôn luôn có nguy cơ, đặc biệt trong những lãnh vực này, là thích phản ánh những điều ta mơ ước vào thế giới bên kia và mường tượng ra một thực tại, mà đúng ra, chúng ta tuyệt đối không thể nào hình dung ra được, bởi vì không ai trong chúng ta đã có lần nào được nhìn thấy thực tại ấy cả! Làm sao ta có thể mô tả một cây sồi mà suốt đời ta chưa bao giờ được nhìn thấy cây ấy hoặc có được trong tay chỉ một trái cây sồi thôi? Đó là lý do tại sao các tác giả Tân Ước, những người cũng chẳng biết gì hơn ta, mời gọi ta phải có sự khôn ngoan hết sức và dẫu sao cũng phải từ bỏ mọi cách trình bày duy vật.
Vì thế chúng ta hoàn toàn bất lực để nói về cái thực tại mà chúng ta hoàn toàn chẳng biết gì cả. Những điểm mốc ta quen dùng, rõ ràng là không đủ khả năng giúp ta tưởng tượng ra cái thế giới khác ấy, cái tình trạng “thân xác vinh hiển” mà thánh Phaolô nói đến ấy, những “trời mới, đất mới” mà sách Khải Huyền (21,1) hứa hẹn cho ta ấy, Thực tại đó chẳng có gì để so sánh với cái ta biết ở trên mặt đất này. Sẽ là một bất ngờ lạ lùng theo nghĩa mạnh nhất của từ ngữ này.
Và là một bất ngờ vui sướng! Một thế giới tuyệt vời diễn ra không ngừng những điều mới lạ, một cái gì đó không thể tưởng tượng nổi!”.

 

CHÚA NHẬT XXXIII THƯỜNG NIÊN

CÓ KIÊN TRÌ,
ANH EM MỚI GIỮ ĐƯỢC MẠNG SỐNG MÌNH
(Lc 21,5-19)


I. VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI:
1. Từ việc loan báo Đền thờ, dấu chỉ sự hiện diện của Thiên Chúa, bị phá huỷ...
Đức Giêsu giảng dạy trong Đền thờ. “Có mấy người” không thể không ngỡ ngàng trước vẻ đẹp của tòa nhà đồ sộ ấy; công trình kiến trúc này được vua Hêrôđê cả cho khởi công trùng tu từ năm 20 trước công nguyên và chỉ hoàn tất vào năm 63 sau Đức Giêsu Kitô. Những cuộc đào bới mới đây đã cho người ta thấy rõ cái nền móng khổng lồ của tòa nhà, mà một trong những khối đá cân nặng không dưới 370 tấn, khiến người xem hiểu được thế nào là lộng lẫy đồ sộ, như sử gia Rôma Taxít đã ghi lại trong tác phẩm của ông.
Một lần nữa vẫn đứng trên lập trường đối lập với đám thính giả đang nghe mình, Đức Giêsu loan báo cho họ biết Đền thờ sẽ bị phá huỷ, Người quả quyết: “Những gì anh em đang chiêm ngưỡng đó, có ngày bị tàn phá hết, không còn tảng đá nào trên tảng đá nào”.
Phải chăng sự mất đi dấu chỉ uy nghi về sự Chúa hiện diện giữa dân Người sắp đánh dấu ngày tận cùng của thế giới? Đám thính giả muốn được biết rõ hơn vấn đề, liền đặt ngay câu hỏi: “Thưa Thầy, vậy bao giờ các sự việc đó sẽ xảy ra, và khi sắp xảy ra thì có điềm gì báo trước?”. Đây cũng sẽ là câu hỏi mà nhiều Kitô hữu thuộc các cộng đoàn của Luca sẽ đặt ra khi họ sẽ được chứng kiến cảnh tàn phá thực sự đền thờ vào ngày 30 tháng 8 năm 70 và họ sẽ coi biến cố này như lời loan báo Đức Kitô sắp trở lại.
Đức Giêsu lập tức cảnh giác họ về một sự giải thích biến cố như thế, một sự giải thích được truyền đi từ các kẻ mạo danh đấng Mêsia và các tiên tri giả chỉ tìm “lừa gạt” dân chúng. Tận thế là điều chắc chắn xảy ra, nhưng việc Đền thờ bị phá hủy sẽ không hẳn là tận thế: “Chưa phải là chung cuộc ngay đâu”, Chúa Giêsu khẳng định rõ như vậy.

2. ... đến việc loan báo Đức Giêsu hiện diện trong Giáo Hội của Người mãi mãi:
Người Kitô hữu cùng với mọi người là anh em và cũng như họ sẽ phải đối mặt với những thăng trầm và biến động của lịch sử: “chiến tranh”, “nổi loạn”, “động đất”, “dịch hạch”, “đói kém”... Và vì họ là môn đệ của một Ông Thầy mà chính bản thân cũng bị ngược đãi vì lẽ công chính, thì đến lượt họ cũng sẽ phải chịu bắt bớ và ngược đãi thôi: “Người ta sẽ tra tay bắt bớ và ngược đãi anh em, nộp cho các hội đường và nhà tù và điệu đến trước mặt vua chúa, quan quyền vì danh Thầy”.
Lời trấn an “anh em đừng sợ hãi” chẳng qua là để động viên các môn đệ của mình đừng quá hoảng sợ.
- Để trong thời gian hiện nay của Giáo Hội, họ vững tin rằng kế hoạch của Thiên Chúa đối với trần gian cuối cùng sẽ thành công và họ kiên trì tiến bước: “Có kiên trì, Người nói với họ, anh em mới giữ được mạng sống mình”.
- Để họ giữ được niềm tin không lay chuyển vào sự hiện diện của Người: Từ sau khi sống lại, Người vẫn không ngừng nâng đỡ các bạn hữu mình, khi họ phải điệu đến trước mặt vua chúa quan quyền để làm chứng cho Người: “Anh em đừng lo nghĩ phải bào chữa cách nào. Vì chính Thầy sẽ cho anh em ăn nói thật khôn ngoan, khiến tất cả địch thù của anh em không tài nào chống chọi hay cãi lại được”.
H. Cousin có thể kết luận: “Người ta đã hiểu được rằng Luca viết chương 21 này không nhằm mục đích mô tả trước cho độc giả biết diễn biến của lịch sử, cho bằng muốn thổi cho họ một luồng sinh khí, để họ sống hiên ngang giữa những gian truân, thử thách, nhắc nhở cho họ biết rằng thời gian hiện tại có một giá trị tích cực. Chính ở đây và lúc này mà Thiên Chúa đang vẫy tay mời gọi ta... Một niềm hy vọng như thé không làm giảm thiểu tầm quan trọng của những trách vụ trần thế, nhưng đúng hơn còn giúp chu toàn những trách vụ ấy nhờ vào những động cơ mới” (Vatican II) (“L'Evangile de Luc”, Centurion, trg 278).

II. BÀI ĐỌC THÊM:
1. “Chứng nhân của niềm hy vọng”. (Đức Cha L. Daloz, trong “Dieu a visité son peuple”, Desclée de Brouwer, trg 168).
Các xáo trộn của những thời kỳ cuối cùng có thể xui khiến người ta đi tìm kiếm những sự an toàn sai lạc, sự hoảng loạn hoặc ngược lại có thể làm cho lòng can đảm lớn lên. Đức Giêsu dạy cho các môn đệ mình biết đọc ra điều mà các biến cố kia đang sửa soạn, cùng một cách như họ biết đoán trước mùa hè gần tới, khi thấy cây vả đâm chồi nẩy lộc vậy: “Nước Thiên Chúa đang tới gần”. Người khơi lên trong các ông niềm hy vọng: “Anh em hãy đứng thẳng, ngẩng đầu lên, vì sự giải thoát anh em đang gần kề”.
Phải chăng đó cũng là một chìa khóa Chúa trao cho ta, để ta biết giải mã lịch sử của ta, cùng với những đổi thay bất trắc của nó, và rồi nhân danh Nước Trời đang đến, ta sống làm những chứng nhân của niềm hy vọng giữa lòng lịch sử và những thăng trầm của đời ta chăng?...

2. “Một niềm hy vọng vô biên giữa những diễn biến của lịch sử”. (G. Boucher, trong “Le ciel sur terre”, trg 60).
Chỉ cần xem truyền hình chiếu cảnh một thành phố bị chiến tranh san bình địa, mới đo lường được khả năng tàn phá của con người. Lẽ nào khi nhìn cảnh thành phố đổ nát ấy, người ta lại không nghĩ bụng: tận thế chăng?
Khi trong đầu óc đã có những phác họa như thế, nhất định chúng ta đều hình dung tận thế và tận cùng lịch sử như một đại hoạ. Nhất định là một đại họa thôi. Nếu các vì sao biến mất, và nếu mặt trời không còn thì chẳng có thể còn sự sống nữa. Thế giới chỉ còn là ngày tàn.
Còn chính Đức Giêsu, Người lại đem đến cho chúng ta một niềm hy vọng vô biên giữa những đổ vỡ và uy hiếp này. Một bảo đảm mạnh hơn những đắng cay của ta. Người mời gọi ta sống làm chứng nhân, làm người có lòng tin, làm người tin chắc vào kế hoạch của Chúa đối với thế gian, người luôn vững tâm dù có xảy ra thế nào chăng nữa.
Những công trình xây cất, những nền văn hoá, những quốc gia cũng như mặt trời và các tinh tú đều phải tàn lụi và qua đi do tình trạng lỗi thời và lão hóa của vũ trụ.
Điều xảy đến cho con người có lòng tin thực sự bị hất ra bên lề xã hội, bị chỉ trích chối từ, ruồng rẫy lại thuộc về mầu nhiệm. Điều gì đang làm xáo trộn Giáo Hội hiện nay đều gợi nhớ lại những gì đã xảy đến cho Con Thiên Chúa khi còn tại thế…
Đức Giêsu mới là chỗ dựa an toàn của chúng ta.

3. “Tận thế... hay là “chuyển dạ sinh” ra thế giới mới?” (H. Denis, trong “100 mots pour dire la foi”, Desclée de Brouwer, trg 51-52).
Năm phụng vụ kết thúc cũng như sắp bắt đầu cùng thích nói về Tận Thế.
Mở đầu bằng nói về kết thúc quả không phải là chuyện tầm thường. Một phần nào, đó chính là cách thức Thiên Chúa dùng, để cho mọi người phải thấy rõ ràng thế giới ta đang ở sẽ nên hoàn bị nhờ sự can thiệp của Chúa, một sự can thiệp thần diệu sẽ vượt quá mọi hy vọng và vượt qua mọi thất vọng của ta.
Ta dám nói được rằng mạc khải của Đức Kitô đã làm thay đổi chiều hướng của Lịch Sử. Thực vậy, khi chúng ta nói về một người hay một nhóm nào rằng: “Rồi cũng có ngày phải kết thúc thôi!”, ta gán cho từ “kết thúc” này một ý nghĩa đức tin khá rõ ràng mà cũng khá nghèo nàn. Đúng là mọi sự phải kết thúc thôi. Vả lại trên đời này, hoa nào mà chẳng phải tàn, thân xác nào mà không tàn tạ. Thế nên sự chấm dứt hay kết thúc sẽ là dấu chỉ sự xuống cấp năng lượng, sự trở về hư vô.
Điều đáng quan tâm trong mạc khải Do Thái giáo chính là sự chết, sự tận cùng mang ý nghĩa trái lại. Chết cũng như tận cùng là nhân tố tạo ra chuyển động cho Lịch sử, như thể sự sinh tồn của thế giới và của nhân loại được lôi kéo về phía trước một cách hoàn toàn tự do để vươn tới sự hoàn bị mầu nhiệm này.
Đức Giêsu như ta vốn tin, vừa là người bạn đường sát cánh với ta vừa là điểm hẹn của đoàn người mà Người cầm đầu đã leo tới đỉnh. Thế nên, dù cuộc sống và những hệ thống kinh tế của ta có vô vàn cặn bã, thì người tín hữu vẫn là người tin rằng thế giới đang tiến đến cùng Đức Kitô, Đấng làm cho niềm tin của chúng ta được ứng nghiệm.
Có lẽ cũng nên thôi hát nay nói rằng Đức Giêsu lại-đến. Nói lời đó một phần nào giống như nói Người lại-bắt-đầu mầu nhiệm Nhập thể của người. Không, Đức Giêsu đang đến. Thiết tưởng cũng đúng hơn khi nói rằng: Chính chúng ta đang đi đến với Đức Kitô trong khi muôn loài thọ tạo cùng rên xiết và quằn quại như sắp sinh nở (cf. Rôma 8).
Vậy thì tận thế là gì, nếu không phải là sự “chuyển dạ sinh ra” một “Thế Giới Mới”. Cùng với những tiếng rên rỉ khôn xiết, chúng ta sẽ cùng với muôn loại thọ tạo tiến vào hưởng tự do thực sự dành cho những con cái của Chúa.

 

LỄ ĐỨC KITÔ VUA

TRÊN THẬP GIÁ, KHI BAN ƠN THA THỨ
CHO MỘT NGƯỜI BẠN CÙNG CHỊU KHỔ HÌNH VỚI MÌNH,
ĐỨC GIÊSU KHAI TRƯƠNG TRIỀU ĐẠI CỦA NGƯỜI
(Lc 23,35-43)


I. VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI:
1. Những lời nhục mạ mang hình thức bộ ba cám dỗ:
Khi đến nơi gọi là “Đồi sọ”, hay đồi Canvê, Đức Giêsu bị đóng đinh “vào thập giá, cùng lúc với hai tên gian phi, một tên bên phải, một tên bên trái”. Người vừa mới xin ơn tha thứ cho những tên lính có nhiệm vụ hành quyết Người, và họ cũng đã chia nhau xong những tấm áo của Người.
Đang lúc dân chúng đứng “nhìn” thì “những lời nhục mạ” – hai chi tiết này cùng ứng nghiệm lời thánh vịnh 21 – được “xổ” ra từ phía các thủ lãnh Do Thái, binh lính và một tên gian phi. Những lời nhục mạ của họ mang hình thức một bộ ba cám dỗ như dư âm của những cơn cám dỗ mà Đức Giêsu đã chiến thắng hồi Người mới bắt đầu thi hành sứ vụ. “Thời cơ” (Lc 4,13) cho cuộc chiến đấu cuối cùng nay đã tới.
- Các “thủ lãnh” Do Thái diễn đạt tư tưởng cùng một kiểu như quỷ Satan đã dùng xưa khi cám dỗ Chúa ở trong hoang địa: “Hắn hãy cứu lấy mình đã, nếu thật hắn là Đấng Kitô của Thiên Chúa, Người được tuyển chọn”; hắn hãy dùng quyền mình có mà mưu ích cho mình đi!
- “Lính tráng” cũng dựa vào bản án xử tội gắn trên đầu Người mà chế giễu Người rằng: “Nếu ông là vua dân Do Thái thì cứu lấy mình đi!”.
- Sau cùng, “một trong hai tên gian phi” lặp lại cùng một điệp khúc, tiếp thêm mấy lời “và cứu cả chúng tôi với”. Nếu Đức Giêsu yên lặng từ chối cho mình hưởng ơn cứu độ theo đúng nghĩa là ơn giải thoát, liệu Người có thể từ chối cứu thoát kẻ khác chăng, bởi lẽ Người “chỉ có thể tỏ mình là Đức Kitô thực sự khi thực thi quyền năng của mình để cứu thoát người ta” (cf. Dupont).

2. Ơn tha thứ vương giả của một kẻ bị đóng đinh:
Thế rồi, xen giữa những lời phỉ báng nhạo cười, thì một tiếng nói khác cất lên, khác với các tiếng nói kia, tiếng nói của một tên gian phi khác.
Anh chính là điển hình cho con người hối cải, con người khốn khổ biết nhìn nhận mình có tội và chịu nhận hình phạt. Anh trả lời người bạn nhục mạ Chúa Giêsu: “Chúng ta chịu như thế này là đích đáng, vì xứng với việc đã làm”. Cùng lúc ấy anh tuyên xưng Chúa Giêsu vô tội: “Ông này đâu có làm điều gì trái”. Hơn nữa, đang khi mọi người chế giễu tư cách là Đấng Mêsia và là Vua của Người, thì chính anh lại lên tiếng tuyên xưng niềm tin vào ông Giêsu này là Đấng Mêsia-Vua, mà vẫn nghĩ rằng quyền cứu thoát của Người sẽ chỉ được tỏ ra vào lúc tận cùng thời gian: “Ông Giêsu ơi, khi ông vào Nước của ông, xin nhớ đến tôi”.
Đáp lời anh thỉnh nguyện, Chúa Giêsu long trọng loan báo cho anh ơn giải thoát: “Tôi bảo thật anh...”. Và ơn giải thoát Chúa báo cho anh đây, không phải chỉ xảy ra vào cuối thời gian, mà diễn ra ngay “hôm nay”: “Hôm nay anh sẽ được ở với tôi trên thiên đàng”. Thiên đàng theo truyền thống Do Thái là nơi tượng trưng bằng cây sự Sống mà tất cả những ai sau khi chết được Chúa xét là công chính sẽ được hưởng. Thiên đàng ấy anh sắp được biết nó rồi, và cốt lõi của nơi hạnh phúc và được sống mãi ấy, chính là được “ở với Người” là Đức Giêsu.
J. Dupont kết luận: “Như thế, Đức Giêsu đã trả lời thách thức và coi khinh tất cả những gì mà người ta đã nhục mạ Người trước đó; Người đã cứu thoát một tên gian phi, một con người, không phải bằng cách cứu cho anh khỏi cái chết đời này, nhưng làm cho anh biết dùng cuộc sống này như bước vượt qua tiến đến sự sống thật và hạnh phúc thật”.

II. BÀI ĐỌC THÊM:
1. “Trên thập giá, tình thương mạnh hơn hận thù” (“Missel Emmaus”, trg 1158).
Cuộc đời Đức Kitô được hoàn tất trên thập giá. Vì thế một vấn đề căn bản được đặt ra, vấn đề tách biệt ai là kẻ tin và ai là người không tin.
Cuộc đời Người là một thất bại ư? Ngay cả một số người vốn ngưỡng mộ Người cũng nghĩ như thế. Đối với họ, Đức Giêsu là một người có một nhân cách tuyệt vời đấy. Nhưng Người đã sống trên một giấc mơ đã sụp đổ. Bất công đã chiến thắng và vẫn tiếp tục chiến thắng trong thế giới của ta đây. Rất tiếc! Nhưng đó là một thực tế.
Cũng là thất bại, dưới con mắt của những kẻ chống đối Người. Những con người này tỏ ra vui mừng, nhân danh lạc thú của họ, hoặc nhân danh Lề Luật và cả chính tôn giáo nữa.
Thế mà kìa, anh chàng bị đóng đinh bên cạnh Đức Giêsu, một tên cướp, lại đang mở to mắt, ngỡ ngàng: Ông này là ai vậy, mà phải chết như thế này? Nơi anh đang diễn ra cảnh đảo lộn cả một khung trời anh đang sống. Với con người như thế, Đức Giêsu, mặc dầu đang hấp hối lại dám hứa rằng: “Hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên thiên đàng”.
Ảo tưởng hết chỗ nói chăng? Hay là vén màn lên cho thấy một thực tại không thể ngờ được?
Đối với người có lòng tin, thì đây chính là thời điểm quang vinh. Tình thương đã chứng tỏ mạnh hơn hận thù. Triều đại của Đức Giêsu bắt đầu.
Phục vụ Đức Kitô-Vua, chẳng có sức mạnh nào cưỡng ép được, nó phải là tự trái tim. Quyền lực của Người là quyền lực của tình thương. Quyền lực của Người tuy là vô biên, nhưng lây lan dần nhờ những đốm lửa nhỏ của Tình yêu”.

2. “Một sử đảo ngược tình thế lạ thường” (A. Vanhoye, trong “Lire la Bible” số 55, trg 59-60).
Đức Giêsu bị ngay cả những người cùng chịu khổ hình với mình khinh chê, nhục mạ, sỉ nhục đến thế là cùng. Thế nhưng, ở đây lại xảy ra một sự đảo ngược tình thế lạ lùng: một trong hai tên gian phi từ chối hùa theo những lời xúc phạm mà tên kia tuôn ra; anh thú nhận cả hai đều có tội, nhìn nhận Đức Giêsu vô tội, rồi diễn tả lòng tin của anh bằng lời thỉnh cầu khiêm tốn. Đức Giêsu đáp lại lòng tin này bằng cách báo cho anh biết anh sẽ được như lời thỉnh cầu ngay lúc ấy: “Hôm nay anh sẽ được ở với tôi trên thiên đàng” (23,43).
Chính bằng cách đó, Luca đã chứng thực hiệu quả hy lễ của Đức Giêsu: thập giá Đức Giêsu biến đổi thế giới, khi làm nẩy sinh ơn sám hối nơi các tâm hồn và mở cửa thiên đàng cho họ. Cùng với người trộm lành, chính mỗi người chúng ta phải coi mình như được mời gọi gẫm suy cho kỹ những đau khổ của Đức Giêsu và tự vấn lương tâm: “Chúng ta chịu như thế này là đích đáng... chứ ông này, đâu có làm điều gì trái” (23,41).
Vừa khơi dậy lòng sám hối, thập giá Đức Kitô còn làm nẩy sinh sự đổi mới lạ lùng với lòng tin cậy của trẻ thơ: “Ông Giêsu ơi, khi Ông vào Nước của Ông, xin nhớ đến tôi” (23,42). Và câu trả lời của Chúa Giêsu chứng tỏ rằng lòng tin tưởng của trẻ thơ kia hoàn toàn có cơ sở: Đấng Chịu-đóng-đinh đang mở toang mọi cánh cửa của lòng thương xót (cf. Lc 6,36; 15; 18,9-14); Người thực hiện điều mà tên gian phi thứ nhất kia đã thách thức Người làm, nhưng ở một bình diện hoàn toàn khác, bình diện thiêng liêng, nơi tâm hồn: “Ông hãy tự cứu mình đi, và cứu cả chúng tôi với” (23,39).

 

LỄ ĐỨC MARIA, MẸ THIÊN CHÚA

“CÒN BÀ MARIA THÌ HẰNG GHI NHỚ MỌI
KỶ NIỆM ẤY VÀ SUY ĐI NGHĨ LẠI TRONG LÒNG”
(Lc 2,16-21)


I. VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI:
1. Ai cũng ngạc nhiên...
Bài Tin Mừng hôm nay tiếp theo trình thuật được đọc trong Lễ Đêm Giáng sinh. Hài nhi tuy vẫn là tâm điểm của câu chuyện, lại tự thu mình vào một vai trò thụ động: Người “nằm trong máng cỏ”“khi đã trọn tám ngày để cắt bì cho Hài nhi”, “người ta đặt tên cho Hài nhì là Giêsu, tên mà Sứ thần đã đặt, trước khi Hài nhi thành thai trong lòng mẹ”.
Vai trò chủ động được trao gởi cho những chứng nhân của sự việc.
- Sau khi đã được “thấy” Hài nhi đặt nằm trong máng cỏ, các người chăn chiên liền “kể lại đều đã được nói với họ về Hài nhi này”. Rồi các người chăn chiên, những nhà truyền giáo tiên khởi của Tin Mừng, thay phiên cho các Thiên Thần, “họ vừa đi vừa tôn vinh ca tụng Thiên Chúa, vì mọi điều họ đã được mắt thấy tai nghe, đúng như đã được nói với họ”. “Luca, như cha George nhận xét, luôn thích kể lại những lời tán tụng như vậy, từ miệng những người đã được chứng kiến sự việc và những người đã được hưởng ơn phép lạ của Đức Giêsu (5,25-26; 7,16; 13,13; 17,15; 18,43; 19,37), từ các Tông đồ khi được thấy Đấng Phục sinh hiện ra (24,53; Cv 2,47), từ những người lãnh nhận sứ điệp của các Tông đồ (Cv 13,48). Kể từ khi Đấng Cứu độ ra đời, việc tôn vinh ca tụng mang tính phụng vụ của các người chăn chiên nối tiếp việc phụng thờ ở trên trời của các Thiên thần và khơi mào cho việc phụng thờ của Giáo Hội” (“Assemblées du Seigneur” số 10, trg 59-60).
- Và “ai cũng ngạc nhiên” về điều các người chăn chiên kể lại. Chắc là số người đã nghe và đón nhận sứ điệp của họ chẳng có là bao, nhưng Luca, với lối phóng đại quen thuộc, thường nghĩ đến tất cả những ai sau này sẽ đón nhận sứ điệp của Tin Mừng.

2. ...Maria suy đi nghĩ lại những kỷ niệm ấy.
- Về phần Đức Maria, như Luca kể lại, Bà “hằng ghi nhớ mọi kỷ niệm ấy, và suy đi nghĩ lại trong lòng”.
Cha George quảng giải tiếp: “Đức Maria là “người đã tin”. Tin Mừng về thời thơ ấu cho thấy lòng tin của Đức Maria có tính thực tế: Tin Mừng ấy nói lên sự bối rối của Người khi nghe lời chào của Sứ thần (1,29), những câu Người hỏi (1,34; 2,48), vẻ ngạc nhiên khi nghe lời sấm của ông già Simêon (2,33) và khi thấy cách ứng xử của trẻ Giêsu với các thầy tiến sĩ ở trong Đền thờ (2,47), nỗi bất lực để thấu triệt được mầu nhiệm của con mình (2,50). Nhưng ở đây Luca cũng muốn tạo cho thái độ trung tín của Đức Maria hằng ghi nhớ mọi kỷ niệm, một nét tương phản với vẻ ngạc nhiên của những người tham dự (cf. 2,51 và 1,66). Lời diễn tả của Dan. 7,28 cũng như của nhiều sách khải huyền cho thấy rằng nhà tiên tri thường ghi nhớ mạc khải mà ông đã nhận được cho tương lại, đang khi những người chung quanh còn chưa được biết. Nhưng ở đây Đức Maria không phải là người duy nhất đón nhận sứ điệp của những người chăn chiên, mà Người là phụ nữ duy nhất hằng suy đi nghĩ lại sứ điệp của những người chăn chiên và cố gắng thấu hiểu với lòng tin. Ngay từ lúc này, Đức Maria quả là kiểu mẫu cho bất cứ ai nghe Lời Chúa, kiểu mẫu cho Giáo Hội vốn sẽ sống Lời Chúa cho đến muôn đời” (Sđd, trg 59).

II. BÀI ĐỌC THÊM:
1. “Đức Maria, kiểu mẫu của Giáo Hội, tiên khởi của các kẻ tin” (N. Quesson, trong “Parole de Dieu pour chaque dimanche. Năm A”, Droguet et Ardant, trg 41)
“Theo Luca, việc đặt tên này là một cơ hội phụ để làm nổi bật vai trò của Đức Maria; tác giả nhấn mạnh rằng Maria, mẹ hài nhi đã nhận cho con tên này, tên mà Sứ thần đã đặt cho “trước khi Hài nhi thành thai trong lòng mẹ...”.
Công Đồng Vatican II sau một truyền thống lâu dài của Giáo Hội, đã giới thiệu Đức Maria là “kiểu mẫu của Giáo Hội”, là “người tiên khởi của các kẻ tin”. Và trong trang Tin Mừng này, thực sự chúng ta vừa mới nhìn nhận rằng Đức Maria là người đầu tiên đó nhận và suy gẫm Lời Chúa trong lòng... Và Mẹ cũng là người đầu tiên nói lên lời tuyên xưng cốt yếu của lòng tin chúng ta: Thiên Chúa cứu độ!
Trong ngày đầu năm mới này, Đức Maria đã nhắc nhở cho ta đâu là một lòng tin mới mẻ của người Kitô hữu. Tính chất độc đáo của Đức tin nơi các Kitô hữu là họ không chỉ tin vào Thiên Chúa mà thôi. Phần đông người ta đều tin như thế, đặc biệt là các tín đồ của những tôn giáo lớn trên thế giới như Do Thái giáo, Hồi giáo cũng như những tôn giáo chủ trương mọi vật đều có hồn. Nét đặc trưng và đặc thù của người Kitô hữu là họ tin vào sự Thiên Chúa nhập thể trong con người Đức Giêsu Kitô.
Lòng sùng kính đối với Đức Maria, đặc biệt với tước hiệu Đức Maria Mẹ Thiên Chúa chỉ là nhắc lại cho chúng ta nét đặc trưng kia vậy”.

2. “Một cái tên tỏ rõ một căn tính” (L. Sintas, “Parole de Dieu pour la méditation et l'homélie. Năm C”, Médiaspaul, trg 24-25)
Ngay trong những phiên họp đầu tiên, Công Đồng Vatican II đã gọi Đức Maria bằng danh hiệu “Mẹ Thiên Chúa” là có ý đề cao vai trò của người. Thế là một danh xưng, một căn tính đã được tuyên dương. Phải, Mẹ Thiên Chúa là danh xưng của Người.
Lễ mừng danh xưng mới của Đức Maria cũng là lễ kính tên Đức Giêsu. Bởi vì Tin Mừng tường thuật về việc Chúa Giêsu chịu phép cắt bì: “Người ta đặt tên cho Hài nhi là Giêsu, đó là tên mà Sứ thần đã đặt, trước khi Hài nhi thành thai trong lòng mẹ”.
Sao ta lại không dám nghĩ đến danh xưng của mình. Khi ra đời làm người, chúng ta cũng được ông bà cha mẹ đặt cho một cái tên. Tên đó chỉ cho biết ta là hậu duệ của ai. Nhưng khi rửa tội, ta còn được mang một tên khác, tên của một vị thánh được chọn làm thánh bổn mạng. Chính tên đặt cho khi rửa tội này cho ta được mang danh là “Kitô hữu”. Phải, ta trở thành Kitô hữu có nghĩa là ta “thuộc về Chúa Kitô”. Giống như Đức Maria được mang danh hiệu là Mẹ Thiên Chúa nhờ mối liên hệ với Đấng mà Người được làm mẹ, thì chúng ta nhờ liên hệ với Đấng mà chúng ta được làm anh em với Người, chúng ta cũng được mang danh hiệu là Kitô hữu. Ta có được căn tính mới này chính là do ơn gọi Chúa ban cho ta mà thôi”.

 

ĐỨC MARIA HỒN XÁC LÊN TRỜI

THĂM VIẾNG: MỘT BÀI CA ĐƯỢC CẤT LÊN
BẰNG HAI GIỌNG HÁT
(Luca 1, 39-56)


 

I. VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI

1. Một cảnh tượng liên hệ chặt chẽ với biến cố Truyền tin…
 Sứ thần truyền tin rời khỏi Đức Maria sau khi cho Mẹ một dấu chỉ: “Kìa Êlisabét, người họ hàng với bà, tuy già rồi, mà cũng đang cưu mang một người con trai: bà ấy vẫn bị mang tiếng là hiếm hoi, mà nay đã có thai được sáu tháng…” Ngay lập tức, Maria “vội vã lên đường”, hình ảnh Hội Thánh đem Tin Mừng của Đức Giêsu-Kitô đến cho muôn dân, “đến miền núi, vào một thành thuộc chi tộc Giuđa.” Hugues Cousin ghi nhận : “Chủ đề lên đường xuất hiện lần đầu trong câu chuyện mà các nhân vật di chuyển rất nhiều; Lời Chúa bắt đầu cuộc hành trình của mình và cuối cùng, chẳng bap lâu đã được loan báo tới tận Rôma, tượng trưng nơi tận cùng của trái đất.” (Cvtđ 1,8; 28,30-31) (“L’évangile de Luc”, Centurion, trg 30).
Theo cha Lagrange, chúng ta không biết gì về cuộc hành trình kéo dài khoảng bốn ngày của Đức Maria. Mối quan tâm hàng đầu của thánh sử là quang cảnh khi Maria đến. Một quang cảnh trong đó Luca phối hợp hai chu kỳ mà từ đầu ngài đã khai triển tách biệt nhau: chu kỳ của Gioan và chu kỳ của Đức Giêsu.

2. … Nơi định mệnh bí ẩn của hai trẻ sắp sinh ra được mạc khải…
Maria vừa nhận lời chào của sứ thần trong biến cố Truyền tin, giờ đây lại chuyển lời chào ấy cho chị họ của mình: “Bà vào nhà ông Giacaria và chào bà Êlisabét”. Francois Bovon nhận xét : “Có rất nhiều lời chào hỏi trong những chương Tin Mừng này, vì có rất nhiều cuộc gặp gỡ và vì Thiên Chúa can thiệp và khai mở ơn cứu độ qua những tương quan nhân loại.” (“L’Evangile selon Saint Luc 1-9”, Labor et Fides, trg 86). Lời chào của Maria nối tiếp câu chuyện. Khi đôi tai bà nghe lời chào của Êlisabét, hài nhi trong lòng bà liền nhảy lên vui sướng; dịch như vậy vẫn chưa diễn đạt đúng ý của từ hy lạp có nghĩa: “nảy lên”, “nhảy lên”, “nhảy múa”.
- Được đầy tràn Thánh Thần, ngay cả trước khi sinh ra, Gioan đã thấy rạng đông của thời kỳ mới ló dạng và, vì cảm thấy trước sứ vụ của mình, ông đã nói tiên tri, không phải bằng ngôn từ nhưng bằng sự nhảy mừng, rằng Đấng mọi người trông đợi sẽ đến vào thời thế mạt, nay đã hiện diện. Cũng theo F. Bovon: “Thiên Chúa không chỉ dùng lời nói mà còn cả ngôn ngữ của thân thể.”
- Được tràn đầy Thánh Thần, Êlisabét hiểu được ý nghĩa sự nhảy mừng của đứa con còn trong bụng mẹ và ý nghĩa cuộc gặp gỡ bà đang sống.
+ Bằng tiếng kêu thán phục, bà nhìn nhận Maria và “hoa trái của lòng dạ Maria” được Thiên Chúa chúc phúc.
+ Rồi, với danh nghĩa “Mẹ Thiên Chúa”, bà loan báo đứa con của em mình là Đấng Thánh vịnh 109,1 đã báo trước, chính là Kitô, Đức Chúa.
+ Sau cùng, dưới hình thức mối phúc, bà ca tụng đức tin của Maria : “Em thật có phúc, vì đã tin rằng Chúa sẽ thực hiện những gì Người đã nói với em.” Thánh Augustinô chú giải : Maria “đã mang thai trong tinh thần trước khi mang thai trong thân xác.”

2. … Và nơi Bài ca của Đức Maria, ý nghĩa của biến cố được sáng tỏ:
 Như bức tranh ghép bằng những bản văn Cựu ước, Bài ca Đức Maria cất lên đóng vai trò gần giống vai trò của một điệu nhạc trong vở Ôpêra; nhờ tạm ngừng vở diễn, nó làm sáng tỏ ý nghĩa của biến cố.
 Bài ca này được khai triển thành ba đoạn thơ:
- Mở đầu, Bài ca diễn tả lý do Đức Maria ca tụng: “Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa… Đấng toàn năng đã làm cho tôi biết bao điều kỳ diệu: Danh Người thật chí Thánh”.
- Kế đó là minh họa về sự đảo ngược tình thế và giá trị, đánh dấu sự biến chuyển từ thế giới hiện tại sang thế giới mới : “Chúa hạ bệ những ai quyền thế, Người nâng cao mọi kẻ khiêm nhường. v.v.”.
- Để kết luận, Đức Maria công bố rằng sự can thiệp ban ơn cứu độ này là khởi đầu việc hoàn tất lời đã hứa cùng các tổ phụ, dành cho con cháu của Abraham.
 Nhưng qua Bài ca của Đức Trinh Nữ Maria, chính cộng đoàn kitô hữu là Hội Thánh cử hành mầu nhiệm của riêng mình; Hội thánh thấu hiểu, chiêm niệm và ca tụng kinh nghiệm về ơn cứu độ của chính mình. L. Monloubou giải thích: “Đức Maria xuất hiện như ca viên lý tưởng của một thánh vịnh mà cộng đoàn kitô hữu thấu hiểu cách sâu xa hơn và qua đó, nhận thức rõ ràng hơn ý nghĩa cuộc sống của chính cộng đoàn, khi vừa hát lên thánh vịnh đó vừa nhớ đến Mẹ của Đức Giêsu. Khi ấy, được soi sáng bởi những lời của Đức Maria, Hội thánh nhìn ngắm đời sống của chính mình; Hội thánh thấu hiểu hơn ý nghĩa của cuộc sống ấy; Hội thánh học để nhận biết rõ ràng hơn chính trong Hội thánh Thiên Chúa “làm những việc diệu kỳ”; Được Đức Maria dẫn dắt, Hội thánh dấn thân trên con đường ca ngợi, để chính Hội thánh nói lên : “Linh hồn tôi ngợi khen Chúa, thần trí tôi hớn hở vui mừng trong Thiên Chúa, Đáng cứu độ. Phận nữ tỳ hèn mọn, Người đoái thương nhìn tới…Danh Người là Thánh!” (“L’Evangile de Luc”, Salvator, trg 70)

 

II. BÀI ĐỌC THÊM

1. Đức khiêm nhường của Đức Maria. (G. Boucher, trong “Le ciel sur terre”, trg. 54)
“Hôm đó đã diễn ra một cuộc gặp gỡ đơn giản, bình thường giữa hai con người. Lịch sử không có một ghi nhận nào. Hai người phụ nữ, hai người mẹ tương lai. Hai người đàn bà hạnh phúc được cưu mang đứa con trong lòng mình. Những đứa con họ không hy vọng có được…
Đức Maria là trung tâm của câu chuyện. Người chị họ Êlisabét vui mừng đón tiếp em mình. Bà chào Maria, chúc phúc cho Mẹ theo truyền thống dân tộc. Bà công bố Mẹ và đứa con trong lòng được Thiên Chúa chúc phúc.
Chẳng mấy chốc, câu chuyện trao đổi hướng tới cầu nguyện. Thiên Chúa là trung tâm của lời cầu nguyện ấy. Cuộc nói chuyện của cả hai biến thành lời ca ngợi Thiên Chúa cứu độ. Lời Maria thốt lên là những lời tạ ơn.
Lạy Chúa, Ngài là Đấng kỳ diệu vượt xa hẳn những điều kỳ diệu trên thế giới này. Chúa đã thực hiện điều lạ lùng nơi tôi, một thiếu nữ yếu đuối. Lạy Chúa, toàn năng và là Đức Chúa, Ngài đã kêu gọi nữ tỳ của Ngài dù tôi chỉ là một thiếu nữ, chỉ là một phụ nữ.
Cuộc trao đổi lời chào giữa Maria và Êlisabét diễn tả một cuộc trao đổi khác giữa Thiên Chúa và một phụ nữ, thay mặt cho nhân loại. Maria nhìn thấy vinh quang và thánh thiện của Thiên chúa tỏ lộ trong giao ước lạ thường này.
Cũng trong chiều hướng ấy, lời cầu nguyện của Maria là lời ca ngợi những ai nhận biết và sẽ nhận biết sự can thiệp quá đỗi lạ lùng, rất khó tin của Thiên Chúa.
Lời cầu nguyện của Mẹ vừa dựa trên những nhận định đầy khôn ngoan về Thiên Chúa, vừa dựa trên những lý luận về bản tính hay hành động của Người. Nhờ đó, tâm hồn Mẹ luôn sẵn sàng vâng theo ý Chúa . Lời cầu nguyện của Mẹ nối kết với Thiên Chúa trên những con đường đầy bất ngờ, trong sự khiêm tốn nhận biết rằng chúng ta hành động là do Thiên Chúa thúc đẩy.
Lạy Mẹ Maria, Mẹ khiêm tốn loan báo những việc kỳ diệu Thiên Chúa thực hiện nơi Mẹ bởi vì những việc ấy không những là các dấu chỉ về hoạt động của Người mà còn nói lên vẻ huy hoàng và sự thánh thiện của Người nữa.
Lạy Mẹ Maria, sự khiêm tốn của Mẹ đã không hủy diệt gì khi loan báo sự hiện hữu của Thiên Chúa làm người và Đấng vĩnh cửu đi vào lịch sử nhân loại.
Lạy Mẹ Maria, sự khiêm tốn của Mẹ chính là nét đơn sơ trong tâm hồn khi Mẹ đón nhận chương trình của Thiên Chúa về Mẹ và về nhân loại một lần cho mãi mãi, dù về phương diện nhân loại, chương trình ấy khó có thể tưởng tượng nổi.
Lạy Mẹ Maria, sự khiêm tốn của Mẹ đã giúp Mẹ có mặt ngay trung tâm ơn cứu độ nhân loại do Thiên Chúa thực hiện và giúp Mẹ nhất trí với lời hứa của Thiên chúa từ ngàn xưa khi đồng ý trao ban một thân hình cho con Thiên Chúa.
Lạy Mẹ Maria, sự khiêm tốn của Mẹ mở cửa cho sự thần hóa lạ lùng chưa từng có: Mẹ lên trời ngự bên Thiên Chúa.

2. Hình ảnh cuộc biến đổi của chúng ta. (F. Deleclos, “Prends et mange la Parole”, Centurion-Ducolot, trg 269-270)
Sự sùng kính Đức Maria đích thực không hệ tại việc gia tăng và triển khai những lời ca ngợi và ngưỡng mộ đối với những đặc ân Mẹ đã lãnh nhận, nhưng là học ở Mẹ để trở nên và để là một người tin. Có thể nói thêm được rằng chúng ta chỉ có thể đề cập đến Đức Maria trong đức tin, “nghĩa là qua Mẹ, chúng ta tìm kiếm chính Thiên Chúa, hoặc nói rõ hơn chính Đức Giêsu con Mẹ”. Chính Grignon de Monfort, một người rất nổi tiếng về lòng sùng kính Đức Maria viết rằng: “Nếu chúng ta gọi tên Maria, tiếng vọng trả lời sẽ là Giêsu”.
Maria đã học trong cùng một ngôi trường khắc nghiệt như con mình. Nhiều trang Tin Mừng cho chúng ta thấy những đổ vỡ Mẹ gánh chịu để theo bước con mình trong đức tin. Maria đã sống đức tin cách sâu xa. Chính Êlisabét đã đề cao điều ấy một cách tuyệt diệu khi chúc mừng Mẹ: “Phúc cho em vì đã tin…” Đức cha Garron tự hỏi, Hội Thánh, Công đồng Vaticanô II và Phụng vụ đều đi ngược lại với khuynh hướng tự nhiên thúc đẩy chúng ta “tô vẽ thái quá cho Đức Maria khi gán cho Mẹ những vinh quang kỳ diệu. Với thái độ như vậy, chúng ta sẽ tiến tới tận đâu đây!”
Lộ trình thiêng liêng của Đức Maria có thể là lộ trình của chúng ta. Tiến bước theo Mẹ, chúng ta đến gần Đức Giêsu. Mặc lấy cái nhìn đức tin của Mẹ, chúng ta học theo Mẹ để nhìn ngắm Đức Giêsu như chính Mẹ đã chiêm niệm và từ từ khám phá. Như Mẹ, chúng ta có thể tiến triển qua niềm vui và nỗi khổ, phát hiện và ngạc nhiên, và thường ngay cả nỗi đau khổ và sự không hiểu, như trường hợp Đức Maria và thánh Giuse ở đền thờ (Lc 2,50). Đức cha Garron giải thích, cái nhìn của Maria về con mình rất tương hợp với những giai đoạn kế tiếp nhau của sự “lớn lên” mà thánh Luca đã nói rõ: Maria đã thấy Đức Giêsu “ngày càng lớn lên, thêm vững mạnh, đầy khôn ngoan và hằng được ân nghĩa cùng Chúa…” (Lc 2,52). Do đó, chúng ta sẽ tôn trọng chân lý của mọi sự và tư tưởng của chính Đức Maria khi cùng với Mẹ làm lại cuộc hành trình mà trước kia Mẹ đã không ngừng rảo bước.
Chính trong viễn ảnh này, chúng ta có thể đặt biến cố Mông Triệu như một kết luận. Biến cố ấy nói cho chúng ta biết cuộc phiêu lưu của đức tin sẽ kết thúc thế nào. Đức Maria, Hòm Bia của giáo ước mới, bước vào vinh quang của Chúa Cha. Đức Trinh Nữ được Thiên Chúa cho hưởng phúc vinh quang, chính là hình ảnh cho tương lai của chúng ta. Bài đọc thứ nhất so sánh Maria với Hòm Bia đích thực, nghĩa là nơi Thiên Chúa ngự, là lều tạm nơi để Lời Chúa và Bánh Thánh. Biến cố Mông Triệu giống như sự đảo ngược tình thế. Giờ đây, chính Đức Maria được đón tiếp trong Thiên Chúa, từ nay Mẹ ở trong Người. Chúng ta không còn ở phạm vi ưu đãi, nhưng bước sang phạm vi ơn gọi chung, vì đạt đến Đất Hứa sau cuộc phiêu lưu trên sa mạc là lời Thiên Chúa hứa cho mỗi người trong chúng ta.

 

LỄ CÁC THÁNH

CÁC MỐI PHÚC
(Mt 5,1-12)


I. VÀI ĐIỂM CHÚ GIẢI:
1. Trên núi Sinai mới.
Theo thánh Mátthêu, ngay sau khi Đức Giêsu gọi các môn đệ đầu tiên, “Người lên núi”. Đây được coi như núi Sinai, nơi Môsê mới công bố luật của Giao Ước mới.
Mở đầu cho bài giảng trên núi, thánh sử muốn đặt các mối phúc như vận hội diễm phúc cho các môn đệ: “Phúc thay kẻ nghèo khó trong lòng!.. Phúc thay kẻ hiền lành!... Phúc thay kẻ khóc lóc!...”
Phúc thay! Claude Tassin giải thích: “Trong ngôn ngữ Thánh Kinh, “Hạnh phúc” là tiếng kêu khen ngợi người biết làm cho ơn Chúa sinh hoa trái. Người ấy đã cảm thấy một thứ hạnh phúc ngay từ hôm nay và nếu luôn trung thành theo con đường đã chọn, người ấy sẽ được Chúa công nhận là người công chính vào ngày phán xét...
Đức Giêsu tuyên bố hạnh phúc cho những ai nghèo đói trong xã hội vào thời của Người (Lc 4,18-21). Vì theo Cựu Ước, chính vì lợi ích của những người yếu hèn, những kẻ nhỏ mọn mà Thiên Chúa tỏ lộ quyền năng của Nước Ngài.
Nhưng, có phải Đức Giêsu khuất dạng, thì lời hứa này cũng tan biến theo? Thánh Mátthêu không nghĩ thế. Với ngài, hạt giống Lời của Nước Trời (13,19) mà Đức Giêsu gieo có thể và phải nẩy mầm trong cộng đồng môn đệ là những kẻ được đào tạo theo giáo huấn và hành động của Đức Giêsu, và họ là những người bắt đầu cảm nghiệm được hạnh phúc của Nước Trời mà họ rao giảng. Như vậy, lời hứa của Đức Giêsu trở thành một chương trình, một thách đố dựa trên niềm xác tín là: trong Đức Giêsu, Thiên Chúa thực hiện điều Ngài đã phán. Chính trong ý nghĩa đó mà thánh Mátthêu san định và tu chính những mối phúc mà truyền thống để lại cho Người (“L'Evangile de Matthieu.” Centurion, 1991, trg 58-59).

2. Hiến chương của một dân mới.
a/ Bốn mối phúc đầu tiên khá giống nhau : ca ngợi những người mở rộng tâm hồn hướng về Chúa trong một bản tính nhân loại đầy tin tưởng và ca ngợi họ là những người khước từ bạo lực.
- “Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó!” Cl. Tassin chú giải: “Khác với Lc 6,20, mối phúc thứ nhất không nhằm sự khó nghèo có tính xã hội, nhưng là một thái độ của tâm hồn. Theo sát văn bản thì là những kẻ khó nghèo trong tinh thần, nghĩa là: người khiêm hạ, ngược với thái độ của kẻ kiêu căng, kẻ có mọi thứ, biết tất cả, tự cho mình có mọi quyền hành. Các ngôn sứ (Soph. 2,3; Is. 57,15) đã ngợi khen kẻ đặt mình trước Thiên Chúa như một người nghèo, không dám đòi hỏi gì, chỉ tin tưởng vào sự xét đoán công minh của Người.” (“L'Evangile de Matthieu”, Centurion, 1991, trg 59).
Hạnh phúc thay kẻ đặt mình trước nhan Chúa theo gương Đức Giêsu, như một người nghèo, không đòi hỏi gì, nhưng hoàn toàn phó thác vận mạng mình trong tay Chúa
- “Phúc thay ai hiền lành!” Mối phúc thứ hai này giải thích cho mối phúc thứ nhất, được rút ra từ thánh vịnh 36.
Hạnh phúc cho người sống trong tin tưởng, an vui nơi Chúa, trong tương quan với tha nhân, không áp đặt, không nổi loạn. Noi theo Đức Giêsu hiền hậu và khiêm tốn, sống như Người đầy tớ và như một ngôn sứ bất bạo động.
- “Phúc thay ai sầu khổ!” Hạnh phúc cho những tín hữu, dù trong vực thẳm của thử thách, vẫn đặt tương lai mình nơi lời hứa “được an ủi”. Theo cách hiểu của người Do Thái, là được Chúa ủi an.
- “Phúc thay ai khát khao nên người công chính!” Phúc cho ai mang nỗi ước mong da diết trong từng tiếng tơ lòng: Chúa hiển thắng nơi mình và trên thế gian: “Họ sẽ được thỏa lòng”, có nghĩa là “được Thiên Chúa cho thỏa lòng”, được Thiên Chúa ban dư dật vượt quá mọi mong ước thường tình.
b/ Bốn mối phúc sau nói lên thái độ cư xử mang đậm dấu ấn người môn đệ Đức Giêsu.
- “Phúc thay ai xót thương người!” Cl. Tassin giải thích tiếp: “Trong toàn thể Tin Mừng theo thánh Mátthêu, thương xót bao hàm hai hành vi: Trước hết là tha thứ cho nhau, đó là điều kiện để Thiên Chúa tha thứ cho ta... thứ đến là sự trợ giúp cụ thể cho người thiếu thốn mà người Do Thái gọi là “công việc từ thiện”. Đức Kitô s