GIÁO HỘI CHÚA KITÔ - Lm. Jos. Thân Văn Tường

Thứ hai - 18/09/2017 05:11
GIÁO HỘI CHÚA KITÔ - Lm. Jos. Thân Văn Tường
GIÁO HỘI CHÚA KITÔ - Lm. Jos. Thân Văn Tường

GIÁO HỘI CHÚA KITÔ

Lm. Jos. Thân Văn Tường

 

Imprimatur
Long Xuyên, 05.06.1974
… Micae Nguyễn Khắc Ngữ
Giám mục

 

Lời mở đầu. 1

Chương 1: Tôi tin Giáo Hội 1

Chương 2: Chúa Giêsu thành lập Giáo Hội 4

Chương 3: Giáo Hội thoát thai và trưởng thành. 10

Chương 4: Các đặc đim v Giáo Hi 17

Chương 5: Giáo Hội Công giáo. 21

Chương 6: Giáo Hội là Thánh. 23

Chương 7: Giáo Hội tông truyn. 25

Kết luận. 28

 

Lời mở đầu

 

Với Kitô hữu, Giáo Hội thật vẫn là Giáo Hội mình tin. Nhưng khách quan có nhiều Giáo Hội, và Giáo Hội nào cũng nhận rằng mình mới là Giáo Hội thật. Ngày nay, với phong trào đại kết, thiết tưởng không nên nhấn mạnh trên khía cạnh pháp lý Giáo Hội nào là Giáo Hội thật, nhưng phải nhấn mạnh trên khía cạnh Giáo Hội phải như thế nào mới theo đúng thánh ý Đấng sáng lập và truyền thống Phúc Âm. Nếu mọi Kitô hữu và mọi Giáo Hội đều quan tâm tìm hiểu và thể hiện đúng thánh ý Đấng sáng lập và truyền thống Phúc Âm thì ngày hiệp nhất sẽ không xa.

Vì thế, thiển nghĩ trong lúc này, khi viết về Giáo Hội, nên từ bỏ mọi xu hướng hộ giáo và những quan niệm thần học tiên thiên, để tìm hiểu Giáo Hội ngay trong lịch sử cứu rỗi. Vì xác tín như vậy, nên chúng tôi mới cho tập nhỏ này ra đời. Mục đích của chúng tôi không phải là tranh luận hay thuyết phục, nhưng là để góp một phần nào vào việc nhận diện khuôn mặt đích thực mà Chúa Kitô, Đấng sáng lập, muốn cho Giáo Hội có.

Long Xuyên Hè 1973

Lm. Giuse Thân Văn Tường

 

Về đầu trang
Chương 1: Tôi tin Giáo Hi

 

1. Giáo Hội học và Giáo Hội trong lịch sử

Giáo Hội học là giải thích thần học về Giáo Hội, do đó Giáo Hội học lệ thuộc rất nhiều vào tiến triển của lịch sử. Điều này không có gì đáng phải ngạc nhiên. Hoàn cảnh lịch sử biến chuyển không ngừng. Muốn cho người ở thời đại hiểu mình, làm thế nào mà Giáo Hội không bó buộc phải thích ứng theo ngôn ngữ và cách suy tư của họ. Ta chỉ cần nhìn vào lịch sử các quan niệm về Giáo Hội là ta thấy rõ điều ấy.

Trong các thế kỷ đầu, Giáo Hội luôn luôn phải các quốc gia ngoại đạo bách hại, vì thế người ta thường đối lập Giáo Hội với Nhà nước và nhắc đến sức mạnh siêu nhiên của Giáo Hội sẽ chiến thắng sức mạnh vật chất của Nhà nước vì số các người tin theo Giáo Hội bành trướng không ngừng trong các cuộc bách hại vô cùng tàn bạo. Chính trong lập trường này mà thánh Hypolitha đã coi đế quốc Roma như sức bạo tàn của ma quỷ chống lại vương quyền của Chúa Kitô.

Trái lại, trong những thế kỷ kế tiếp, khi hoàng đế Roma đã trở lại đạo và sự mở mang của Giáo Hội đi song song với sự mở mang của đế quốc Roma thì thế lực của đế quốc này lại trở nên lực lượng tiền phong mở đường cho Giáo Hội tiến. Ông Eusebio coi hoàng đế Roma như người che chở Giáo Hội khỏi bách hại của người vô đạo và rối đạo.

Không những suy tư về Giáo Hội khác nhau do thời cuộc chính trị khanh, mà còn do lãnh vực văn hoá khác nhau nữa. Với các giáo phụ Đông phương, thấm nhuần triết học Platon, Giáo Hội là một trường phái giúp người ta nhận biết chân lý và tham dự vào mầu nhiệm thần linh, vì thế công việc chiêm nghiệm và đạo lý là quan hệ chứ không phải tổ chức quản trị. Trái lại, các giáo phụ Tây phương, vì ảnh hưởng của các triết gia khắc kỷ, nên coi Giáo Hội như một tổ chức để giúp người ta tu thân, do đó cần có kỷ luật nghiêm minh, đường lối sáng sủa để hướng dẫn tín hữu trên con đường nên tháng mà Phúc Âm đã mô tả như đầy chông gai và chật chội.

Gần chúng ta trong thời gian hơn, các nghị phụ Vatican I cũng đã chỉ chú ý đến khía cạnh luật pháp của Giáo Hội, vì thế mà khi có nghị phụ đề nghị nên nghiên cứu Giáo Hội ở phương diện như là Nhiệm thể, thì các giáo phụ khác đã gạt đi, cho là một quan niệm hàm hồ. Nhưng Thông điệp “Mystici Corporis” của Đức Giáo Hoàng Piô XII lại đặt nền tảng Giáo Hội học trên Nhiệm thể và ngày nay các nghị phụ Công đồng Vatican II lại nghiêng về quan niệm Dân Thiên Chúa.

Từ lập luận trên, ta có thể suy diễn ra rằng: Giáo Hội sống giữa trần gian đã có một khuôn mặt mà Giáo Hội tự tạo cho mình do bối cảnh lịch sử gây nên, một số nhà thần học của thời đại “lý thuyết hoá” khuôn mặt ấy, thế là người ta có một quan niệm về Giáo Hội hay không?

Sự việc không đơn giản như vậy. Giáo Hội có một khuôn mặt biến đổi, nhưng có một thực chất tồn tại. Ta có thể ví Giáo Hội như một đời người. Đời người có thơ ấu, thiếu niên, thanh niên, cường tráng và tuổi già, nhưng suốt một đời người, ông A hay ông B vẫn có một cái gì để giữ cho họ là một người. Giáo Hội cũng vậy, qua các thời đại, Giáo Hội có thể có những khuôn mặt khanh, nhưng bao giờ thì Giáo Hội cũng vẫn là môi trường cứu rỗi nhân loại mà Chúa Kitô đã thành lập. Do đó, khi nghiên cứu về Giáo Hội, tìm hiểu bộ mặt của Giáo Hội ở một thời đại chưa đủ, phải tìm hiểu liên tục qua các đổi thay, thực chất dưới bộ mặt luôn luôn biến dạng.

Nói như trên, ta đừng lầm tưởng rằng Giáo Hội có một khuôn mặt và một thực chất riêng biệt. Đó chỉ là phân biệt cứ lý, còn trong thực tế, không thể có khuôn mặt mà không có thực chất, cũng như không có thực chất ở ngoài khuôn mặt. Người ta không có thể đi thẳng đến thực chất, nhưng phải khám phá nó qua nghiên cứu các khuôn mặt đổi thay trong lịch sử. Do đó, nghiên cứu về Giáo Hội mà khởi điểm từ một thực chất xác định bởi một quan niệm thần học trừu tượng thì không thực tế cũng như tìm hiểu Giáo Hội mà chỉ căn cứ vào một khuôn mặt nhất thời thì nông cạn, nếu không nói là sai lầm. Ta chỉ có thể khám phá ra thực chất qua khuôn mặt đổi thay và ngược lại ta chỉ hiểu khuôn mặt nhất thời căn cứ vào thực chất của Giáo Hội.

Mặt khác, nếu qua các thời đại, Giáo Hội học đã có đổi thay, tiến triển, con đường tiến triển ấy cũng đầy chông gai. Một mặt, không được máy móc bảo thủ những gì đã qua để đến nỗi không còn lưu tâm đến những yêu sách của hiện đại mới mẻ; mặt khác, cũng không được xu thời chỉ quan tâm đến mới lạ nhất thời mà bỏ quên quá khứ linh động vẫn ảnh hưởng trong Giáo Hội hôm nay. Giáo Hội học có mục đích tìm hiểu Giáo Hội, vì thế cũng như Giáo Hội, không được tự trói buộc mình vào một hoàn cảnh hay một thời đại nào, dù là quá khứ, hiện tại hay tương lai. Nhưng cũng như Giáo Hội bao giờ cũng vẫn phải là Giáo Hội theo thánh ý của Chúa Kitô, Giáo Hội học cũng không được vượt quá một số tiêu chuẩn. Vì có tính cách lịch sử, Giáo Hội học phải được quy định bởi nguồn gốc Giáo Hội. Nguồn gốc ấy chẳng phải là một hoàn cảnh lịch sử, cũng chẳng phải là một nguyên lý triết học trừ tượng, nhưng là dữ kiện cụ thể của hành động toàn năng của Thiên Chúa trong Chúa Kitô, giữa loài người và vì loài người. Nguồn gốc ấy không phải chỉ là hành động của Thiên Chúa lúc ban đầu khi mới lập Giáo Hội, nhưng là hành động ấy kéo dài trong suốt thời gian Giáo Hội tồn tại, chính nguồn gốc này tạo nên thực chất của giao hợp. Thực chất này không phải chỉ là một dữ kiện, mà còn là một trách nhiệm phải chu toàn, vì thế trung thành với thực chất nguyên thuỷ trong biến đổi của lịch sử không phải là bảo vệ một cái gì bất động, mà là thích nghi, đổi mới nhờ ở suy niệm về nguồn gốc nói trên để mà tuân theo trong khi hành động.

Về đầu trang

 

2. Thực chất và nguỵ chất trong Giáo Hội

Để phân tích được dễ hiểu, chúng tôi xin đưa ra một thí dụ. Không phải chỉ có những người công giáo Việt Nam ngoan đạo mới khen ngợi Giáo Hội Việt Nam một cách thành thực, như Giáo Hội Việt Nam đoàn kết, có tổ chức, gây được những công cuộc xã hội vĩ đại, những giáo đường rộng lớn, những sinh hoạt tôn giáo linh đình trọng thể... Nhưng tuy thành thực khen ngợi đó, mà các anh em ngoại giáo này vẫn không cảm thấy có liên hệ gì với Giáo Hội và không nghĩ đến việc trở lại đạo. Họ như người qua đường, thấy nhà thờ Đức Bà Sàigòn đẹp thì vào thưởng lãm rồi ra chứ không thấy có gì ràng buộc mình với ngôi nhà thờ ấy.

Những khen ngợi này và nhiều khen ngợi thuộc loại này không phải là Giáo Hội Việt Nam không xứng đáng, nhưng ta không thể phủ nhận rằng đó không phải là thực chất của Giáo Hội Việt Nam vì Giáo Hội Việt Nam sẽ vẫn còn là Giáo Hội nếu không có những khen ngợi ấy. Ba trăm năm cấm cách lúc ban đầu Giáo Hội Việt Nam làm gì có được những khen ngợi ấy, và biết đâu sau này Giáo Hội Việt Nam sẽ không còn được những khen ngợi ấy nữa. Những khen ngợi trên tuy rất thành thực, nhưng cũng rất hời hợt. Người ta đã nhìn Giáo Hội Việt Nam theo quan điểm nhà xã hội học, nhà sự học, nhà chính trị học... nhưng không theo quan điểm đức Tin, vì thế không đạt đến thực chất của Giáo Hội Việt Nam.

Trái lại, có những người công giáo thành thực mốn sống đức Tin của mình, đứng trước những sự kiện được khen ngợi nói trên lại tỏ ra tiêu cực. Với họ, đoàn kết chỉ là một hình thức sống cô lập, không hoà đồng với đồng bào, thiếu tinh thần Phúc Âm; có tổ chức chỉ là biểu hiệu một cấp lãnh đạo đầy tham vọng quyền hành và giàu sang; những cơ sở xã hội chỉ là những guồng máy trần tục để gây uy thế đời này chứ không chi phối bởi động lực siêu nhiên, giáo đường nguy nga, rước xách linh đình chỉ là một thứ đạo lỗi thời, nông cạn, theo cảm tình, không do một đời sống đức Tin sâu xa...

Đã đành, đứng trên phạm vi hộ giáo, người ta có thể đưa ra nhiều lý do xác đáng để chứng minh rằng những lời chỉ trích trên đầy bất công và thiên kiến. Nhưng những người chỉ trích vẫn có thể trả lời rằng họ không có ý bài bác vì họ là những người công giáo thiết tha với tiền đồ Giáo Hội, và chính vì thiết tha với tiền đồ Giáo Hội mà họ phải tự kiểm thảo một cách sáng suốt, những kiểm thảo này có lý do của nó và cần để Giáo Hội tiến.

Dẫu sao, sự kiện ta phải ghi nhận là Giáo Hội có thể được khen ngợi bởi những người không thấy cần vào Giáo Hội và bị chỉ trích bởi những người xưng là con cái Giáo Hội. Sự khen chê ở trên không liên hệ ở bản chất vào đức Tin và chỉ là một hiện tượng xã hội. Ta thấy ở lãnh vực đời cũng có những hiện tượng như vậy, chế độ miền Nam cũng có những người đả kích, nhưng họ chẳng muốn ra bưng và vẫn cặm cụi ngày hai buổi làm việc cho chế độ đã nhiều năm. Nói tóm lại, người chỉ biết khen hay chỉ biết chê như ở trên đều nông cạn vì không đạt đến thực chất của Giáo Hội. Chỉ có con mắt đức Tin mới đạt đến chiều sâu và những khía cạnh căn bản của Giáo Hội thôi.

Nói như vậy không phải là quả quyết rằng những lời khen chê ấy không đáng quan tâm, vì nếu nó không là thực chất thì nó cũng là nguỵ chất của Giáo Hội. Đối với thực chất nó là như bóng với hình, ở đâu có thực chất, thì ở đấy cũng có thể có nguỵ chất. Nó không đến bởi thánh ý Thiên Chúa, nhưng bởi là tâm con người và làm nên sự dữ trong Giáo Hội. Cũng như Giáo Hội có điều tồn tại và sự đổi thay, Giáo Hội cũng gồm có sự lành và sự dữ, thực chất và nguỵ chất. Nếu thiếu thực chất, Giáo Hội không còn là Giáo Hội nữa, nhưng có thực chất, Giáo Hội bao giờ cũng kèm theo ít hay nhiều nguỵ chất. Để Giáo Hội có được bộ mặt thanh xuân ngày càng rạng rỡ, thì các nhà thần học không thể không quan tâm đến yếu tố này. Các ông phải luôn luôn để ý tới sứ điệp nguyên thuỷ của Phúc Âm để mà thanh tẩy bộ mặt của Giáo Hội ở mỗi thời đại.

Về đầu trang

 

3. Giáo Hội hữu hình và vô hình

Những phức tạp phân tích ở trên có nguyên nhân ở Giáo Hội vừa vô hình vừa hữu hình. Vấn đề vô hình và hữu hình của Giáo Hội ngày nay không còn thuộc phạm vi tranh luận của thần học nữa, vì thế chúng tôi sẽ đi thẳng vào vấn đề.

Trong sách Bổn Công đồng Tridentinô, có nói đến Giáo Hội chỉ có thể nhận biết nhờ đức Tin (Fide solum). Người tín hữu dù bị ám ảnh bởi khía cạnh hữu hình của Giáo Hội đến đâu, cũng phải công nhận Giáo Hội vẫn có cái gì bí ẩn, vô hình mình không thể nhìn thấy được và buộc phải tin. Giáo Hội đích thực là Giáo Hội vô hình xuất hiện trong hữu hình. Hữu hình nơi Giáo Hội vó một tính chất rất đặc biệt vì là “dấu chỉ” thực tại vô hình. Hơn thế nữa, phần vô hình thấm nhuần và chi phối phần hữu hình đến nỗi ta có thể nói được rằng: Thiết yếu trong Giáo Hội không phải là phần hữu hình. Giáo Hội không phải chỉ là một dân tộc, nhưng là một dân tộc được tuyển chọn. Giáo Hội không phải chỉ là một thân thể nhưng là một Nhiệm thể...

Đã đành người đời, khi nhìn vào Giáo Hội, chỉ thấy một hiện tượng xã hội, một tổ chức tôn giáo như bất cứ một hiện tượng xã hội và một tổ chức tôn giáo nào. Người tín hữu đôi khi có thể dùng lời nói để thanh minh rằng Giáo Hội không phải chỉ có hữu hình, nhưng bao giờ thì họ cũng vẫn có thể sống đức tin của mình để người đời thấy mà ngạc nhiên và tự hỏi: Chẳng lẽ ngoài cái hữu hình, không còn gì nữa mà họ lại sống như vậy!

Đối với người tín hữu, không phải chỉ có Giáo Hội vô hình mới là đối tượng của đức Tin. Giáo Hội hữu hình nhiều lúc cũng phải lấy đức Tin để mà tin. Thật vậy, có những lúc người tín hữu băn khoăn bực dọc khi họ thấy Giáo Hội họ tin đáng lẽ phải có một hình thức khác thì ở phạm vi lịch sử, tâm lý, xã hội, họ chẳng thấy có gì khác với các tổ chức đời này, cũng tham quyền cố vị, cũng phe phái ghen tương... Nhưng chính trong lúc này, họ phải nhờ đến đức Tin để chấp nhận Giáo Hội hữu hình. Vì Giáo Hội được thiết lập cho loài người và gồm có loài người, do đó, hữu hình không phải là trái mà là thích hợp với thực chất của Giáo Hội. Cũng như một tín hữu, một cộng đồng tín hữu phải có trong thời gian và không gian thì mới giúp ích được cho thế gian, chỉ có một Giáo Hội hữu hình mới là quê hương của loài người.

Nhưng tuy hữu hình, Giáo Hội không được ngụp lặn trong hữu hình và quên đi vô hình. Kh Giáo Hội đặt mình ngang hàng với các tổ chức trần gian và tự coi mình như một thế lực kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội đối lập hay về phe với các thế lực ấy để thủ phần lợi, lúc ấy sự hữu hình của Giáo Hội đã mất đi thực chất làm nên Giáo Hội rồi, vì hữu hình nơi Giáo Hội phải được Thánh Linh luôn luôn nuôi dưỡng và làm cho phong phú thì mới đáng cho người ta tin.

Nói như trên, ta đừng giản lược và nghĩ rằng có hai Giáo Hội, một hữu hình và một vô hình. Chỉ có Giáo Hội mà hữu hình đã biểu lộ vô hình. Không có một Giáo Hội lý tưởng chỉ có trong cõi mơ, không thể thực hiện được điều gì, cũng không có một Giáo Hội quá thực tiễn không đáp lại được khát vọng vươn lên của con người. Giáo Hội thật là một môi trường trong đó con người cảm thấy khoan khoái vì không có những ảo tưởng hão huyền, nhưng cũng không buồn tẻ thiếu ngưỡng vọng chính đáng như gió căng cho cánh buồn hy vọng.

Về đầu trang

 

Chương 2: Chúa Giêsu thành lập Giáo Hội

 

1. Vương quyền Thiên Chúa

Ông Loisy đã viết: “Chúa Giêsu đã loan báo về Vương quyền Thiên Chúa, nhưng cái đã đến là Giáo Hội” (l’Evangile et l’Eglise, 1912). Có phải Chúa Giêsu đã định một đường và sự việc đã xảy đến một nẻo như ông Loisy quả quyết không?

Sau đây chúng ta sẽ tìm hiểu Vương quyền Thiên Chúa có đồng nhất với Giáo Hội được không, và nếu không, thì liên lạc giữa Vương quyền Thiên Chúa và Giáo Hội như thế nào.

a) Khi nói đến Vương quyền Thiên Chúa, Chúa Giêsu không bao giờ có ý nói đến quyền cai quản của Thiên Chúa trên tạo vật tự khi Người sáng tạo nên chúng. Quyền này Cựu Ước đã nói đến khá nhiều và người ta đều đã công nhận. Khi Chúa Giêsu nói đến Vương quyền Thiên Chúa, Người chỉ nói đến quyền cai quản có tính cách cánh chung của Thiên Chúa. Thế nào là quyền cai quản có tính cách cánh chung? Là quyền cai quản nhằm chấm dứt tình trạng sinh hoạt của thế giới ngày nay. Quyền ấy sẽ phá tan những quyền lực chống đối lại Thiên Chúa, đập gẫy ách ma quỷ đang đặt trên vai trên cổ nhân loại và giải thoát cho nhân loại khỏi đau khổ, túng cực và được hưởng những điều các tiên tri đã hứa cho dân riêng Thiên Chúa. “Thời giờ đã hoàn tất và Vương quyền Thiên Chúa đã đến” (Mc 1,15).

b) Vương quyền Thiên Chúa mà Chúa Kitô loan báo không do việc giữ luật lệ mà đến như các nhà luật sĩ Do Thái đã dạy, Vương quyền ấy đến do chính hành động toàn năng của Thiên Chúa. Không có ai có quyền để tự tham dự vào bữa tiệc của thời cánh chung, chỉ có những người Thiên Chúa mời gọi. Nếu hạt giống mọc và lớn lên, đó là nhờ sức mạnh và ân sủng của Thiên Chúa. Người ta chỉ có thể cầu nguyện cho Vương quyền Thiên Chúa đến (Mt 13,22-25; Lc 9,62). Nhưng người ta cũng vẫn phải tìm kiếm Vương quyền Thiên Chúa trước hết (Mt 6,33), phải luôn luôn sẵn sàng và tỉnh thức để đón nhận Vương quyền ấy (Mt 25,1,13). Vương quyền ấy không phải người ta tạo nên nhưng chính Thiên Chúa ban xuống (Lc 12,32) và chính Người xếp đặt (Lc 22,29). Nói tóm lại người ta không có thể chiếm đoạt, mà chỉ có thể đón nhận Vương quyền ấy một cách kính trọng như một đứa con (cf. 10,15).

c) Vương quyền Thiên Chúa có tính chất hoàn toàn tôn giáo, Chúa Kitô, phải luôn luôn sửa sai quan niệm của người Do Thái và của các môn đệ vì họ cứ nghĩ rằng Người đến để giải thoát họ khỏi quyền thống trị ngoại bang và lập lại nước Do Thái, vì thế mà họ đã nuôi những hy vọng trần gian rực rỡ, và muốn những địa vị danh giá trong nước Chúa Kitô sẽ lập (Lc 19,11.23,42.24,21; Mc 10,35-45). Chúa Giêsu cũng phải cải chính rằng Vương quyền Thiên Chúa không do bạo lực mà thành (Mc 14,17; Lc 13,1-3) nhưng do sự nhẫn nhục hy sinh và đau khổ của Người (Mc 8,31-33). Người cũng rất kín đáo về thời giờ Vương quyền ấy đến. Chỉ có một Ngôi Cha mới biết thời giờ ấy mà thôi (Mc 13,32). Điều kiện con người phải làm trong lúc chờ đợi là thống hối và tin: “Vương quyền Thiên Chúa rất gần, phải cải đổi và tin ở sứ điệp cứu rỗi” (Mc 1,15).

d) Vương quyền Thiên Chúa đến không phải để báo thù những người tội lỗi. Không như Gioan Tẩy Giả chỉ nói đến cơn thịnh nộ của Thiên Chúa, Chúa Giêsu chỉ nói đến ân sủng ngày Vương quyền Thiên Chúa đến. Khi nói về Thiên Chúa hiển trị, Phúc Âm cũng không nói riêng cho những người quyền thế và giàu có, nhưng nói cách riêng cho người nghèo hèn như bài giảng trên núi đã chứng tỏ. Vương quyền Thiên Chúa cũng không dành riêng cho người kính mến hay công chính, mà cho cả những người tội lỗi và không tin ở Thiên Chúa. Nói tóm lại, Tin Mừng và Vương quyền Thiên Chúa được loan báo cho mọi người, mọi người sẽ nhận được ân sủng, lòng nhân hậu và tha thứ của Thiên Chúa với điều kiện duy nhất là: “Hãy thống hối và tin ở Phúc Âm” (Mc 1,15).

e) Khi Chúa Giêsu rao giảng về Vương quyền Thiên Chúa, Người không có ý buộc người ta phải giữ một nền luân lý câu nệ hơn, điều Người mong đợi là người ta nhất quyết thuộc về Thiên Chúa, Chúa đặt người ta trước một lựa chọn thật dứt khoát: Thiên Chúa hay thế gian. Chúa Giêsu làm gương trước, Người đã lìa bỏ gia đình, nghề nghiệp, quê hương vì Vương quyền Thiên Chúa. Một số người cũng đã theo tiếng gọi của Người, sống theo gương Người. Nhưng Chúa không gọi hết mọi người từ bỏ gia đình, nghề nghiệp, quê hương, điều kiện căn bản chỉ là chọn Thiên Chúa hay thế gian. Tuy nhiên phải hiểu lựa chọn Chúa muốn ta có như thế nào? Thế gian chìm đắm trong tội lỗi, con người trở nên xấu xa; nhưng dẫu sao thế gian cũng vẫn là tạo vật của Thiên Chúa và con người cũng vẫn là con cái của Ngôi Cha. Người ta không có thể lìa xa thế gian, trốn tránh con người, người ta chỉ phải tuyệt đối vâng theo thánh ý Thiên Chúa thôi. Nói khác đi, người ta phải đặt Thiên Chúa trên hết chứ không đặt Người ngang hàng với tiền tài (Mt 6,19-21.24-34; Mc 10,17-27) danh vọng, quyền lợi (Mt 5,39-41; Mc 10,42-44) gia đình, vợ con (Lc 14,26; Mt 10,34-39) được.

Do đó Chúa không buộc người ta xa lánh thế gian hay người khác, nhưng buộc người ta phải giữ để khỏi bị thế gian và người khác chi phối đến nỗi không còn có tâm hồn sẵn sàng để mà làm theo thánh ý Chúa nữa. Nói tóm lại, Chúa đòi ta phải dứt khoát theo Chúa “Ai đã bắt tay vào cày mà còn ngoảnh cổ lại thì không đáng thuộc về Vương quyền Thiên Chúa” (Lc 9,62).

Trong thực tế nhất quyết thuộc về Thiên Chúa là gì? là vâng giữ giới răn Người cả bề ngoài trong hành động và bề trong nơi tâm tư. Không những ta không được giết người, nhưng ta cũng không được hờn giận nữa, không những ta không được làm điều tà dâm, nhưng ta cũng không được ước muốn điều xấu xa nữa, không những ta không được thề gian, nhưng ta cũng không được thiếu thành thực nữa (cf. Lc 11,41; Mt 5,21-48). Các giới răn của Chúa đều quy về hai điều sau đây:

“Người hãy kính mến Thiên Chúa ngươi hết lòng, hết tâm hồn, hết tinh thần, đó là giới răn quan trọng nhất và đầu tiên. Giới răn thứ hai cũng giống như trên: ngươi hãy yêu tha nhân như chính ngươi. Tất cả lề luật và tiên tri đều lệ thuộc vào hai giới răn ấy” (Mt 22,37-40). Nhưng ai là tha nhân? Hết cả mọi người, thân thích cũng như người dưng nước lã, bạn cũng như thù (Mt 5,44-48).

Khi ai đã thể hiện được những điều nói trên thì họ đã trở lại (métanoia). Như vậy trở lại không phải chỉ là một hành động thống hối bề ngoài như mặc áo nhặm, ăn năn khóc lóc mà là một thoát xác từ bên trong, thay đổi hẳn con người cho ra mới và tin ở Vương quyền Thiên Chúa đã đến. Do đó mà thánh Marcô đã viết: “Hãy hối cải và tin ở Phúc Âm” (Mc 1,15).

Về đầu trang

 

2. Thành lập Giáo Hội

Vương quyền Thiên Chúa có tính cách cánh chung, ai cũng phải công nhận điều đó, nhưng khi Chúa Giêsu ra rao giảng Phúc Âm, Vương quyền ấy đã đến chưa hay còn phải đợi chờ trong mai hậu. Các nhà chú giải Thánh Kinh còn đang tranh luận, nhưng theo một số lớn có những xu hướng giải thích khá dị biệt thì Vương quyền Thiên Chúa đã đến khi Chúa Giêsu ra rao giảng.

Dấu thứ nhất Vương quyền ấy đã đến là Chúa Giêsu đã lấy quyền Thiên Chúa mà xua đuổi ma quỷ, bắt chúng phải vâng theo lời Người truyền: “Nếu Ta dùng tay Thiên Chúa mà đuổi quỷ, đó là vì Vương quyền Thiên Chúa đã đến” (Lc 1,20). Dấu thứ hai là việc Chúa Giêsu chữa đã nhiều kẻ tật nguyền: “Người mù trông thấy, người bất toại đi được, người phong cùi được lành mạnh, người điếc nghe thấy, người chết sống lại và Tin Mừng cứu rỗi được loan báo cho người nghèo khó” (Mt 11,6). Sau hết, chính Chúa Giêsu quả quyết Ngài chấm dứt một chu kỳ và lập một chu kỳ mới. Đến Gioan, là chu kỳ luật pháp và các tiên tri, ngày nay Vương quyền Thiên Chúa được loan báo và mỗi người cố gắng bước vào (Lc 16,16).

Như trên khi Chúa Giêsu ra giảng đạo thì cánh chung đã đến. Phúc Âm của Chúa là những lời mời gọi khẩn thiết loài người phải có một định đoạt dứt khoát và tối hậu trước Thiên Chúa và Vương quyền của Người. Thời giờ định đoạt không phải là tương lai, nhưng là hiện tại. Thân phận con người trong ngày phán xét chung sẽ tuỳ thuộc ở như họ có hối cải và đón tiếp Chúa Giêsu hay không (Mc 8,38; Mt 19,28). Vì thế mà những người được trông thấy Chúa và nghe lời Chúa có phúc: “Phúc cho mắt các ngươi đã xem thấy, tai các ngươi đã nghe thấy. Ta nói thật, có nhiều tiên tri và thánh nhân đã ước ao thấy sự các ngươi thấy mà không được thấy, nghe những sự các ngươi nghe, mà không được nghe!” (Mt 13,16-17; Lc 16,23).

Đến đây, ta đã thấy khó rõ rằng theo Chúa Giêsu thì Vương quyền Thiên Chúa không những là một dữ kiện tương lai, mà cũng là một thực tại bây giờ. Do đó, việc Chúa Giêsu rao giảng Vương quyền Thiên Chúa vừa có tính cách một đợi chờ tương lai, vừa có tính cách loan báo hiện tại.

Tuy nhiên có những bản Phúc Âm nói về cánh chung như gần đến. “Ta nói thật, có người hiện diện ở đây sẽ chưa phải nếm sự chết trước khi Vương quyền Thiên Chúa đến trong uy quyền” (Mc 9,1). “Ta nói thật, lớp người này chưa qua đi thì những điều ấy đã xảy đến” (Mc 13,30). “Khi người ta bách hại anh em trong một thành, thì hãy chạy sang thành khác, vì Ta nói thật, con Người sẽ đến trước khi anh em trốn đi hết các thành nước Do Thái” (Mt 10,23). Chính các đoạn trên và nhiều đoạn tương tự đã làm cho các nhà diễn giải Phúc Âm băn khoăn về một ngày cánh chung rất gần. Thiết tưởng nên nhìn các đoạn trên trong tinh thần toàn bộ Phúc Âm. Chúa Giêsu nói đến ngày cánh chung đã gần kề cho người ta lo lắng mà ăn năn sửa mình. Nhưng có nhiều đoạn Phúc Âm chứng tỏ Chúa không muốn cho người ta biết ngày giờ ấy sẽ xảy đến lúc nào. “Anh em không biết ngày giờ” (Mt 25,13). “Còn ngày giờ ấy thì không ai biết, kể cả thiên thần trên trời và Ngôi Con, trừ Ngôi Cha” (Mc 13,32). “Vương quyền đến không để cho ai quan sát thấy” (Lc 17,20). Như vậy, ta có thể nghĩ rằng: đối với Chúa, vấn đề ngày giờ không quan hệ, vấn đề quan hệ là Vương quyền Thiên Chúa đã xâm nhập vào đời sống hiện tại và chi phối vào ý nghĩa của đời sống ấy chưa. Chúa không có ý muốn thoả mãn tò mò của loài người về ngày giờ và nơi chốn Vương quyền Thiên Chúa được thể hiện hay về những mầu nhiệm của ngày cánh chung. Người muốn thúc bách các tâm trí, loan báo cho họ biết ngày giờ ấy rất gần để họ lo lắng mà ăn năn trở lại. Không phải mai hay ngày kia, nhưng chính lúc hiện tại con người phải có thái độ trước Vương quyền Thiên Chúa: “Bây giờ, thời giờ đã hoàn tất” (Mc 1,15).

Nói như trên, ta đừng nghĩ rằng không có một ngày cánh chung phải đợi chờ. Một quan niệm về cánh chung mà chỉ thu hẹp vào hiện tại và không cống hiến một hy vọng nào cho tương lai thì không còn là cánh chung nữa. Đã đành coi ngày ấy như một cái gì thêm vào cho Vương quyền Thiên Chúa đã có trong hiện tại là thừa. Trong ngày cánh chung, Vương quyền ấy sẽ hoàn tất, nhưng trong hiện tại Vương quyền ấy vẫn có. Nói khác đi ngày cánh chung sau này chỉ là một mời gọi, một đòi hỏi con người phải quyết định thể hiện đời sống hiện tại theo đức Tin để chờ đón ngày Chúa đến: Hiện tại và tương lai chi phối lẫn nhau, quyết định hiện tại sẽ định đoạt về tương lai. Với Chúa Kitô, Vương quyền Thiên Chúa đã được loan báo và thiết lập, vì thế hy vọng Vương quyền Thiên Chúa sẽ hoàn bị và minh bạch là một hy vọng có nền tảng trên một thực tại đã thể hiện chứ không phải là một hoài vọng vu vơ. Với Chúa Giêsu, Vương quyền Thiên Chúa bắt đầu, với Chúa Giêsu, Vương quyền ấy sẽ hoàn tất. Thiên Chúa hành động trong hiện tại và tương lai, chính vì thế mà đức tin và đức cậy đi liền không phân chia được. Hai nhân đức ấy chỉ là hai phương diện của sự tùng phục duy nhất nơi con người đối với thánh ý Thiên Chúa trong hiện tại và tương lai. Vì tin trong hiện tại, chúng ta có thể hy vọng trong tương lai, và vì hy vọng trong tương lai, chúng ta có thể tin trong hiện tại. Hiện tại hướng về tương lai và tương lai quy về hiện tại. Vì thế mà ta không có quyền trông đợi tương lai mà bỏ bê hiện tại, không lo cho nó nên tốt đẹp hơn. Hiện tại không phải chỉ là lúc đợi chờ, mà là lúc thể hiện. Với con người, hiện tại chính là cánh chung của họ vậy.

Đến đây chúng ta vẫn chỉ nói tới Chúa rao giảng Vương quyền Thiên Chúa chứ chưa đả động đến Chúa lập Giáo Hội. Thực ra, trước khi phục sinh, Phúc Âm không có gì chứng tỏ Chúa đã lập Giáo Hội. Trong khi ra giảng đạo không có một hành động hay lời nói nào chứng tỏ Người muốn tự cô lập và lập một nhóm tôn giáo riêng. Người không có sự phân biệt của người biệt phái, Người không lập một nhóm riêng như người Esséniens. Người còn cho biết sứ mệnh Người không phải là tụ họp những người công chính và ngoan đạo, nhưng là tập hợp toàn dân Israel. Tất cả Israel đều là một đoàn chiên không chủ chăn và mọi người Israel đều đáng cứu rỗi. Chính vì Chúa không thiên vị ai và tỏ ra lòng thương hết mọi người mà đã có lần người ta lấy làm gai mắt vì Người gần gũi thân mật với những tội nhân.

Còn việc Chúa gọi 12 tông đồ và có một số môn đệ đông đảo thì chỉ là do nhu cầu đặc biệt của công việc rao giảng Phúc Âm, nhưng họ chẳng có một quy chế đời sống nào, và thuộc về nhóm của họ cũng chẳng là điều kiện để được cứu rỗi. Chính vì thế mà Phúc Âm không hề có một lời nào của Chúa báo cho công chúng biết Người sẽ lập một đoàn thể quy củ. Tất cả điều Người đòi hỏi là phải chấp nhận sứ điệp cứu rỗi của Người và tuyệt đối vâng theo thánh ý Thiên Chúa. Thánh truyền không để lại gì cho ta có thể quả quyết rằng Chúa Kitô đã đòi hỏi những người theo nghe lời Người ngoài những điều vừa nói trên.

Ở đây có lẽ người ta sẽ đưa ra hai câu Phúc Âm Mt 16,18 và 18,17. Câu Mt 16,18 chỉ nói riêng với các tông đồ như một tiên tri về tương lai, nghĩa là về Giáo Hội mà Phúc Âm quan niệm như dân Thiên Chúa sẽ thành hình sau khi Chúa chết và sống lại để thay thế cho dân Israel xưa. Còn câu Mt 18,17 sẽ vô nghĩa trong khung cảnh bè nhóm tôn giáo lúc ấy, nếu coi là lời để lập một tôn giáo đại đồng.

Nói tóm lại trước khi Chúa phục sinh, Người chưa lập Giáo Hội, nhưng tuy Người chưa lập Giáo Hội, Người cũng đã tạo trong lời giảng và việc làm, những điều kiện thuận tiện cho Giáo Hội xuất hiện sau này. Chúa đã quả quyết chỉ có người tin theo Phúc Âm và ăn năn thống hối mới thuộc Vương quyền Thiên Chúa, Chúa đã tuyên bố chỉ có những người vâng giữ luật Thiên Chúa mới là anh em chị em Người. Chúa đã gọi 12 tông đồ và đã quy tụ một số môn đệ: Họ theo Chúa, sống quanh quẩn bên Chúa như một cộng đồng. Chính những người đã sống với Chúa, nghe lời Người giảng dạy, ăn uống với Người... lại cũng cứ tiếp tục, sau khi Chúa sống lại, nhắc lại lời Người giảng dạy, ăn uống chung với nhau để đợi ngày Chúa vinh quang trở lại phán xét muôn dân.Việc Chúa sống lại không những làm cho họ vững lòng tin mà còn là yếu tố quyết định để họ tụ họp lại mong ngày Chúa đến. Có thể nói rằng: từ khi có những người cùng tin Chúa Giêsu đã sống lại, và cùng đợi ngày hoàn tất Vương quyền Thiên Chúa, thì ngày ấy đã có Giáo Hội. Như vậy, ngay từ ban đầu khi đức tin về sự sống lại đâm rễ trong lòng tín hữu thì Chúa đã lập Giáo Hội.

Như trên nguồn gốc Giáo Hội không những lệ thuộc vào sứ mệnh và ý hướng của Chúa Giêsu khi còn tại thế, mà còn lệ thuộc vào toàn thể biến cố do đời sống Chúa gây nên từ lúc sinh ra đến lúc sống lại và sai Chúa Thánh Thần hiện xuống. Không phải chỉ căn cứ vào, một số lời nói của Chúa cũng không phải căn cứ ở đạo lý của Người mà thôi, nhưng căn cứ ở Đức Giêsu Đấng thiên sai đã xuống thế làm người, đã chịu chết, sống lại và lên trời mà ta tìm ra nguồn gốc của Giáo Hội (Eccl. S. Chap. 5).

Về đầu trang

 

3. Liên hệ giữa Giáo Hội và Vương quyền Thiên Chúa

Giáo Hội trước hết là một cộng đồng, hay nói đúng hơn là một tập hợp (assemblée) vì Giáo Hội không phải là một sự vật như cái nhà xây xong là hết. Giáo Hội chỉ hiện hữu ở việc tập hợp cụ thể các tín hữu, nhất là ở tập hợp để cử hành phụng vụ. Chính vì thế mà ở đâu không có người quy tụ để cử hành phụng vụ bao giờ thì không thể nói rằng ở đấy Giáo Hội hiện diện được. Việc các tín hữu quy tụ vừa là biểu hiện vừa thể hiện Giáo Hội.

Tập hợp địa phương đã là Giáo Hội, vì thế mà trong Tông Đồ Công Vụ và các thư thánh Phaolô, ta thấy nói đến Giáo Hội ở Antioche, Césarée, Ephèse... Nhưng ta đừng nghĩ rằng Giáo Hội có nhờ ở một nhóm người tự ý quy tụ lại. Đã đành không có các cá nhân quy tụ lại thì không có Giáo Hội, nhưng trước hết phải có lời mời gọi của Thiên Chúa. Lời mời gọi này thiết yếu để người ta có thể đáp lại trong đức Tin. Chính vì thế mà để có Giáo Hội, lời mời gọi của Thiên Chúa vẫn là yếu tố đầu tiên. Và cũng chính vì thế mà ta không có thể nghiên cứu Giáo Hội thuần với phương pháp xã hội tâm lý học được.

Nhưng trong Tông đồ Công vụ cũng như trong thư thánh Phaolô (nhất là trong thư gởi cho người Êphêsô) ta còn thấy dùng tiếng Giáo Hội (Ecclesia) với một ý nghĩa tổng quát, siêu địa phương. Tân Ước không nói gì về những liên hệ thần học và giáo luật giữa Giáo Hội cùng với các Giáo Hội địa phương, nhưng chỉ cho ta biết các Giáo Hội địa phương đều tin như nhau, đều có một phương tiện để đón nhận ân sủng, đều chịu một phép rửa tội, đều quy tụ để “bẻ bánh” chung... Nói tóm lại, các Giáo Hội địa phương không những hết hợp bề ngoài, nhưng nhất là bề trong. Giáo Hội ở Ephèse, ở Calcedonia, ở Corintho là những cộng đồng của người Ephèse... nhưng đều thuộc về một Giáo Hội vì có cùng một Chúa là Đức Kitô và cùng những phương tiện để được cứu rỗi... Chỉ có Giáo Hội duy nhất là Giáo Hội của Chúa, dù ở Ephèse, ở Calcedonia, ở Corintho hay ở một cộng đồng nghèo nàn thưa thớt đến đâu đi chăng nữa, miễn là có các điều kiện nói trên (CE. 26).

Mặt khác, Giáo Hội bắt nguồn không phải từ một mơ tưởng hão huyền,nhưng từ kinh nghiệm thực vì một Đấng đã sống giữa chúng sinh. Không có đức Tin, ta có thể phủ nhận kinh nghiệm nói trên, nhưng nếu muốn giải thích kinh nghiệm ấy, ta phải căn cứ vào chứng từ của các môn đệ. Chứng từ ấy cho ta thấy với sự kiện sống lại, các môn đệ bước từ nghi nan sang tin vững vàng, từ linh cảm đến nhận thấy rõ. Và thế là lần hồi các môn đệ đã tản mác khi Chúa Giêsu bị bắt quy tụ về Giêrusalem và cử hành tiệc “bẻ bánh” (Factio Panis) trong hoan lạc (Ac 2,42-47) chờ ngày sống lại. Đã đành, họ không thể quên được Chúa đã phải chết trên thập giá, nhưng biến cố này ngày nay chỉ là điều kiện để được cứu rỗi và không thể tách biệt với sự sống lại hiển vinh được. Chính vì thế mà Giáo Hội luôn luôn là một cộng đồng có tính cách chung.

Đã đành trong thực tế, Giáo Hội có thể ý thức mạnh hay không về tính cánh chung của mình. Người tín hữu có thể chờ đơọi ít hay nhiều ngày Chúa trở lại. Nhưng bao giờ Giáo Hội cũng cảm thấy mình còn trên đường lữ thứ và người tín hữu bao giờ cũng không thoả mãn rằng mình đã có Chúa ở với mình vì nếu như vậy thì Giáo Hội không còn là Giáo Hội và người tín hữu sẽ không còn có đức Tin nữa.

Nếu tinh ý, trình bày trên đã cho ta thấy tất cả sự phức tạp của tương quan giữa Giáo Hội và Vương quyền Thiên Chúa.

Ngay trong Tân Ước ta đã thấy, nếu tiếng Besileia được thông dụng trong Phúc Âm thì tiếng Ecclesia được thông dụng trong Tông đồ Công vụ (và thư của thánh Phaolô), tại sao có sự thay đổi trọng tâm như vậy? Vì có sự kiện Chúa Giêsu sống lại. Đã đành sau khi Người sống lại thì đề tài Người giảng dạy là Vương quyền Thiên Chúa cũng còn phải truyền tụng, thế nhưng trước đây chính Người rao giảng, còn nay các tông đồ và môn đệ rao giảng về Người và đạo lý của Người. Người tín hữu, sau ngày Phục Sinh, cũng vẫn còn nhớ đến một cách khác: Vương quyền ấy đã trở nên Vương quyền của Chúa Kitô hiển vinh. Trong Vương quyền này, đã đạt được một số nguyện vọng là những ai tin và chịu phép Rửa tội thì đã được ơn tha tội và đã được Chúa Thánh Thần ngự xuống. Nói khác đi, sau khi Chúa Phục Sinh, Vương quyền Thiên Chúa đã đến trong thế gian một phần nào rồi.

Nhưng ta có thể vì lý do ấy mà đồng nhất Giáo Hội với Vương quyền Thiên Chúa sau sự kiện Ngôi Hai xuống thế làm người được không?

Một số nhà thần học đã nghĩ như vậy. Nhưng thiết tưởng giữa Vương quyền Thiên Chúa và Giáo Hội có một dị biệt nền tảng: Giáo Hội thể hiện ở trong hiện tại và sẽ được hoàn tất trong tương lai. Vương quyền Thiên Chúa đến trong hiện tại nhưng chỉ thể hiện trong tương lai. Giáo Hội có tính cách lữ thứ, tạm thời, Vương quyền Thiên Chúa vì là vinh danh Thiên Chúa nên có tính cách quyết định. Giáo Hội gồm có tội nhân và thánh nhân. Vương quyền Thiên Chúa chỉ gồm những tâm hồn công chính. Giáo Hội là một tổ chức trần gian, có thăng trầm có tiến triển. Vương quyền Thiên Chúa là một hành động không ai suy đoán được nhất định phải đến, vì là việc của Thiên Chúa. Những dụ ngôn nói trong Phúc Âm không ám chỉ Giáo Hội nhưng Vương quyền Thiên Chúa, như hại cải lớn lên, mùa gặt, bữa tiệc... mục đích của sự sáng tạo không phải Giáo Hội nhưng là Vương quyền Thiên Chúa, ta sẽ đi đến chỗ coi Giáo Hội như mục đích chứ không phải phương tiện vinh danh Thiên Chúa. Nhưng có gì phi lý hơn nghĩ rằng mọi lời hứa của Thiên Chúa đã thể hiện trong Giáo Hội, rằng ta có thể an Ngôi Hai trong Giáo Hội vì Giáo Hội không còn tính cách lữ hành, rằng lời giảng dạy, phép Rửa tội, phép Mình Thánh không có cái gì hoàn tất phải đợi chờ. Một quan niệm về Giáo Hội như vậy sẽ đưa đến một quan niệm về vương quốc Thiên Chúa nơi trần gian, làm cho ta lẫn lộn đạo đời, điều mà người thời nay không ai có thể chấp nhận.

Như vậy, Giáo Hội không thể đồng hoá với Vương quyền Thiên Chúa, nhưng như ta sẽ thấy, căn cứ vào Tân Ước ta cũng không thể tách rời Giáo Hội với Vương quyền Thiên Chúa. Giáo Hội phải quy về Vương quyền Thiên Chúa như về nguồn gốc và nền tảng của mình. Thực vậy, cộng đồng những người tín hữu tin ở cánh chung chỉ xuất hiện nhờ ở lời rao giảng về Vương quyền Thiên Chúa đó đến. Vương quyền Thiên Chúa là mục đích, là giới hạn, và là phán quyết của giao hợp. Giáo Hội không phải là Vương quyền Thiên Chúa, nhưng hướng về vương quyền ấy, chờ đợi vương quyền ấy đến. Ta còn có thể nói mạnh hơn: Như một nhóm hành hương, tín hữu hướng về Vương quyền Thiên Chúa mà tiến bước và rao giảng vương quyền ấy như những người lính tiền hô. Nhưng Giáo Hội không hành hương trong đêm tối, vì nếu có bóng tối của sự chết thì cũng có ánh sáng của sự phục sinh. Sự phục sinh này không phải ở thuần trong mai hậu, mà thiết yếu đã thể hiện trong quá khứ ở Chúa Kitô đã sống lại. Chúa Kitô đã sống lại sẽ luôn luôn ở với Giáo Hội cho đến ngày tận thế. Trong lúc chờ đợi ngày ấy, Giáo Hội đang ở dưới vương quyền của Chúa Kitô. Thực vậy, vương quyền Chúa Kitô mà cả thế gian phải quy phục một cách mầu nhiệm thể hiện trong Giáo Hội: Nhờ việc rao giảng Tin Mừng, ơn ban đức Tin, ơn tha tội, lễ tế Mình Thánh, người tín hữu đi từ sự chết đến sự sống lại trong linh hồn, và như vậy người ấy cũng đã sẵn sàng để đón nhận ngày cánh chung.

Giáo Hội không phải là bắt đầu của Vương quyền Thiên Chúa, nhưng chỉ là điềm báo về một thực tại đã thể hiện phần nào trong Chúa Kitô. Do đó Giáo Hội không có ý nghĩa bởi tự mình, trong tình trạng hiện tại của mình,nhưng ở sự mà Giáo Hội đưa đến. Giáo Hội loan báo, chứng thực và mong đợi Vương quyền Thiên Chúa. Giáo Hội chỉ là tiền hô chứ không nằm trong tay Vương quyền Thiên Chúa. Chính Thiên Chúa sẽ làm cho vương quyền ấy và Giáo Hội được lập ra để phụng sự vương quyền ấy.

Về đầu trang

 

4. Giáo Hội phải phục vụ Vương quyền Thiên Chúa

Với các giáo đoàn sơ khai, Chúa Giêsu chẳng những loan báo về Vương quyền Thiên Chúa mà còn tuyệt đối vâng theo các đòi hỏi của vương quyền ấy nữa. Vì thế nên Giáo Hội khi loan truyền sứ điệp của Chúa Kitô, thì không phải những muốn là một sứ đồ, mà còn muốn như Chúa Kitô trung thành với những đòi hỏi của sứ điệp ấy. Thật vậy nếu muốn cho lời rao giảng của mình không là một lời tuyên truyền nhạt nhẽo, Giáo Hội phải tin trước hết rằng Vương quyền Thiên Chúa đã đến và phải luôn luôn nhắc lại quyết tâm thể hiện vương quốc ấy trước hết nơi bản thân. Chỉ có như vậy thì lời giảng dạy của Giáo Hội mới đáng cho người đời để ý và tin theo.

Làm thế nào để Giáo Hội trung thành với đòi hỏi của Vương quyền Thiên Chúa?

a) Trước hết Giáo Hội không được đặt mình như là mục đích của việc rao giảng, mà phải hướng cuộc rao giảng ấy về Vương quyền Thiên Chúa. Giáo Hội không phải là cứu cánh và là hoàn tất của lịch sử, các định nghĩa và tuyên ngôn của Giáo Hội không phải sẽ đời đời trường cửu vì không phải là lời của Chúa. Các thể chế và quy luật của Giáo Hội không phải sẽ bất diệt vì không phải là Vương quyền Thiên Chúa. Cả đến con người cũng không phải là tạo nên cho Giáo Hội, nhưng Giáo Hội được tạo chính là vì phần rỗi con người. Vì thế Giáo Hội phải luôn luôn ý thức rằng mình chỉ là một cái gì tạm bợ chứ không phải là quê thật trường cửu. Ý thức này sẽ làm cho Giáo Hội khỏi tự mãn về mình, không bỡ ngỡ trước những nghi nan thử thách, không sờn lòng trong những khó khăn vì đã ý thức được tình trạng của mình, Giáo Hội sẽ có thể tin cậy ở tương lai, một tương lai mà Chúa đã hứa rằng hoả ngục sẽ không phá tan được.

b) Giáo Hội phải nhận thức rằng Vương quyền Thiên Chúa chỉ thể hiện nhờ ở hoạt động của chính Thiên Chúa. Do đó, dù đã hết sức phụng sự vương quyền ấy, Giáo Hội cũng vẫn phải khiêm nhượng đợi chờ kết quả không phải ở nỗ lực của mình, nhưng ở hoạt động của Thiên Chúa. Giáo Hội không tự mình thiết lập được Nước Thiên Chúa. Tất cả điều Giáo Hội có thể làm được là khẩn cầu Thiên Chúa và sửa soạn nhân loại trong nhọc nhằn và đau đớn. Đã không có thể tự mình thiết lập được Nước Thiên Chúa, Giáo Hội không bao giờ được tự mãn trước Thiên Chúa và loài người về sức sống và về tổ chức của mình. Giáo Hội không bao giờ được quyết định và đòi hỏi những gì không phải là quyết định và đòi hỏi của chính Thiên Chúa. Giáo Hội không được chiều theo sự kiêu căng của hàng giáo sĩ chạy theo những quyền thế, giàu sang tự Giáo Hội làm lấy cho mình, bất chấp sự soi sáng của Thánh Linh. Bao giờ Giáo Hội cũng phải có thái độ người tôi tớ bất xứng trước mặt Thiên Chúa, cả khi Giáo Hội đã làm tròn phận sự của mình.

Một Giáo Hội mà dám nghĩ rằng mình có thể sinh được cái gì hoàn hảo, hay rằng mình có thể nhờ ở sức riêng mình để thể hiện Nước Thiên Chúa, thì chắc chắn sẽ phải suy vong vì thiếu lòng vô tư lợi và sự trông cậy ở ân sủng của Thiên Chúa, không phải danh sách các công lao sự nghiệp cũng không phải các thống kê tốt đẹp của Giáo Hội sẽ xây dựng được Nước Thiên Chúa nhưng lòng tin khiêm tốn ở Thiên Chúa, vì Chúa đã hứa chỉ có đức Tin của Giáo Hội mới rời được núi lấp được sông.

c) Giáo Hội không thể mưu đồ để trở nên một quốc giáo, nghĩa là các thẩm quyền tôn giáo không thể dùng những phương tiện đời này để chiếm đoạt quyền thế, mua chuộc danh vọng ban phát chức tước trần gian. Giáo Hội không thể đồng hoá nổi bất cứ đoàn thể, hiệp hội trần gian nào như đảng phái chính trị, đoàn thể văn hoá, hiệp hội kinh tế... cũng không thể dung nạp như của mình một hệ thống nhất định về kinh tế, xã hội, văn hoá, chính trị nào. Chúa Kitô không lập Giáo Hội dưới hình thức một đế quốc vừa tinh thần vừa trần thế. Giáo Hội được thành lập như một cơ quan để phụng sự, phụng sự Thiên Chúa trong lúc phụng sự con người, phụng sự con người trong lúc phụng sự Thiên Chúa. Vì thế Giáo Hội không thể quên rằng mình phải phụng sự một cách vô tư con người, bạn cũng như thù, mình không thể trông cậy vào sự nâng đỡ của một chính thể và khi được nâng đỡ thì cũng trong những điều kiện và giới hạn nào đó thôi, mình sẽ phải thế gian quên lãng, khinh chê nếu không ước mong cho biến đi. Nhưng dù vậy, Giáo Hội cũng không ngã lòng vì Giáo Hội tìm thấy sức mạnh trong sự yếu đuối và ý thức rằng sự sống lại sẽ đợi chờ Giáo Hội sau những ngày giờ vác thập giá theo Chúa Kitô.

d) Giáo Hội được thiết lập để cứu rỗi tội nhân, vì thế thái độ của Giáo Hội đối với tội nhân không phải ra khinh khi, đe loi, nguyền rủa, nhưng là đại lượng, nâng đỡ, khuyến khích. Giáo Hội không loan báo tai hoạ và gây lo sợ, nhưng công bố lòng thương vô biên của Thiên Chúa và đem lại bình an cho tâm hồn người hối cải. Tuy Giáo Hội được đầy tràn ân sủng, nhưng Giáo Hội không coi mình là tháp ngà của những người công chính. Trái lại, Giáo Hội khiêm nhường nhận biết mình vẫn còn đầy dẫy phần tử xấu xa tội lỗi, và nếu có gì tốt đẹp trong Giáo Hội, thì điều ấy cũng vẫn còn giòn mỏng, có thể tan biến đi. Giáo Hội biết mình có những kho tàng châu báu thiêng liêng, nhưng những kho tàng ấy lại đựng trong những bình nhân loại giòn mỏng luôn luôn có thể đổ bể. Giáo Hội biết Chúa đã uỷ thách cho mình Mạc khải, nhưng đức Tin của mình yếu đuối, sự hiểu biết của mình tối tăm. Giáo Hội biết dù mình đã cố gắng để tránh xa tội lỗi, mình vẫn luôn luôn bị cám dỗ và vẫn có thể sa ngã bất cứ tội gì. Nhưng trong sự yếu hèn, Giáo Hội vẫn tin vì Chúa đã hứa nâng kẻ hạ mình xuống.

e) Vì Vương quyền Thiên Chúa, Giáo Hội không có thể lựa chọn vừa thế gian vừa Thiên Chúa được. Như vậy Giáo Hội phải luôn luôn thống hối (Act. 2,38) và sẵn sàng phụng sự Vương quyền Thiên Chúa đang đến trong trần gian. Vì phải phụng sự Vương quyền Thiên Chúa đang đến trong thế gian nên sống nhiệm nhặt tách rời với thế gian không đủ, nhưng phải vâng lệnh Thiên Chúa đem đức ái vào đời sống hằng ngày. Thế nào là đem đức ái vào đời sống hằng ngày? Là phải sống đời sống Phúc Âm trước chứ không phải cư xử như thể Phúc Âm chỉ dành cho người tội lỗi, còn chính Giáo Hội thì không ăn năn hãm mình. Là đừng lẫn lộn giới răn của Chúa với những tục lệ, bó buộc của riêng mình. Là đừng nuốt con lạc đà mà không để qua con ruồi con muỗi ở kẻ khác, là chỉ nên đòi hỏi sự vâng lời do tình kính mến Thiên Chúa chứ không ép buộc bằng đe loi sợ hãi. Nói tóm lại phải có sự trong sạch trong tâm hồn, chứ không phải chỉ phụng sự bằng môi miệng.

Một Giáo Hội, dù có luôn luôn sai lầm, nhưng vẫn luôn luôn tìm kiếm Vương quyền Thiên Chúa và không bao giờ nghĩ đến bắt cá hai tay: muốn cả Vương quyền Thiên Chúa và vương quyền của mình trên trái đất, thì sẽ có sự tự do thật. Sự tự do ấy ở tại bắt chước Chúa phụng sự thế gian. Phụng sự Thiên Chúa trong phụng sự con người và phụng sự con người trong phụng sự Thiên Chúa, vì chỉ có như vậy thì Giáo Hội mới thắng được đau đớn, tội lỗi, nhờ vào thánh giá của Chúa hiển vinh. Trái lại, nếu Giáo Hội đam mê thế gian và chỉ nghĩ đến mình, thì sẽ làm cho loài người khổ sở, nô lệ, vì ngoài ân sủng Thiên Chúa, Giáo Hội tìm đâu ra sức mạnh để giải phóng thế gian khỏi nô lệ. Chúa đã chẳng hứa với Giáo Hội rằng nếu Giáo Hội luôn luôn tùng phục, đón nhận thì chính Chúa sẽ thể hiện tất cả những điều mới lạ để là tất cả trong mọi sự sao?

Đã đành, để thể hiện sứ mệnh cao trọng của mình, Giáo Hội phải cầu xin mỗi ngày vì điều gì không thể làm được bằng sức tự nhiên thì phải do ân sủng. “Chớ gì vương quyền của Chúa đến” (Mt 6,10) “vì vương quyền, năng lực và vinh danh cho đến đời đời chỉ thuộc về Chúa” (Mt 6,13).

Về đầu trang

Chương 3: Giáo Hi thoát thai và trưởng thành

 

1. Giáo Hội thành hình

Đời Chúa Giêsu ra rao giảng Tin Mừng, trong đạo Do Thái, đã có nhiều nhóm: Saduceo, Zeloti, Esseni, nhưng người theo Chúa không phải một trong những nhóm nói trên. Thực ra, lúc ban đầu họ cũng vẫn tự coi mình như phần tử của dân Do Thái, vẫn tham dự vào việc phụng tự của dân này, vẫn giữ các lề luật Maisen, vẫn coi lịch sử dân Do Thái và hoài bảo của dân này như của mình. Nhưng từ nền tảng đã có một cái gì khác biệt: họ không còn là dân Do Thái cũ nữa mà là dân Do Thái mới vì họ đã tin ở một biến cố làm đảo lộn cả quan niệm cứu rỗi trong ngày thế mạt của họ: đó là biến cố Đức Kitô đã chết và sống lại. Sự kiện này làm cho họ thấy giao kết của Giavê đã thể hiện và ngày hoàn tất Vương quyền Thiên Chúa đã đến gần.

Mặt khác nhóm người này còn có những hình thức nghi lễ phong phú hứa hẹn nhiều phát triển rộng lớn.

a) Phép Rửa tội, nghi lễ để được thu nhận vào nhóm chứng tỏ không phải nhóm người này chỉ muốn là một phong trào những người cùng xác tín nhưng muốn là một đoàn thể có hình thức hẳn hoi. Phép Rửa tội tách họ ra khỏi những người Do Thái khác và sát nhập họ vào Giáo Hội. Sau ày, phép cắt bì cũng sẽ không còn, chỉ một phép Rửa tội chứng tỏ sự trở lại và ơn tha tội là đủ để được nhận vào Giáo Hội (Act 2,38-41.8,12.16.36.38.10,48 etc...).

b) Họ vẫn tham dự nghi lễ công cộng Do Thái nhưng họ cũng tụ tập riêng để cầu nguyện, đọc sách Thánh, nhắc lại lời Chúa Giêsu giảng dạy, kêu cầu Người là Đấng đã sống lại hiển vinh như Chúa mình (Act 2,46.12,12; 1 Cr 16,22). Ngày mà họ vì một lý do nào không được dự một cách công khai vào nghi lễ Do Thái, họ sẽ chỉ còn giữ các nghi lễ riêng của họ mà thôi.

c) Bữa tiệc tạ ơn thường dùng trong nghi lễ cầu nguyện nhắc lại bữa tiệc sau cùng của Chúa Giêsu (1 Cr 11,20-29). Đó là một bữa tiệc không phải để kỷ niệm việc dân Do Thái ra khỏi Ai Cập như trước, nhưng để nhắc lại bữa tiệc sau cùng của Chúa. Thánh Phaolô viết về bữa tiệc ấy là “bữa tiệc của Chúa”, có một ý nghĩa khác hẳn với bữa tiệc vượt qua người Do Thái.

d) Đoàn thể hình thành dần dần, có mười hai tông đồ đảm trách. Theo thánh Gioan, thánh Phaolô và các Phúc Âm thì Phêrô có địa vị hơn hết, nhưng bên cạnh Phêrô, Gioan và Giacôbê cũng rất có uy tín. Phaolô gọi ba ông này là “cột trụ” (cf. Gl 1,18.2,9). Khi Phêrô rời Giêrusalem thì Giacôbê đứng đầu thành này. Bên cạnh mười hai tông đồ, rất sớm đã thấy xuất hiện một tập thể các kỳ lão (Act 11,30.15.21,28). Còn về quyền hành thì họ có quyền trói buộc và cởi mở (Mt 16,18.18,15-8; Ga 20,22).

e) Tình gắn bó của đoàn thể được thể hiện bằng sự giúp đỡ lẫn nhau, sự đồng cam, cộng khổ và sự để chung tiền của (Act 2,24.4,32-36). Tình gắn bó ấy chứng thực một cách hiển nhiên nhất khi các Giáo Hội của dân ngoại phải đóng góp giúp đỡ Giáo Hội Giêrusalem.

Về đầu trang

 

2. Vượt ra ngoài lãnh vực dân Do Thái

Một nhóm Kitô hữu Do Thái bị bắt bớ ở Giêrusalem đã di cư sang phần đất người Hy Lạp và ở đó họ đã làm chứng có những người ngoại tin theo Chúa Giêsu, nhóm Kitô hữu sau đã từ dân ngoại trở lại nên không chịu phép cắt bì và không biết đến luật Maisen tuy rằng họ vẫn lấy Cựu Ước làm quan trọng. Họ đã được chính thức công nhận tại “Công đồng Giêrusalem” (Gl 2,1-10; Act 15,21-25).

Việc truyền đạo Do Thái cho người ngoại không phải chỉ có các Kitô hữu mới làm, người Pharisêu cũng đã làm, nhưng với người Pharisêu người ngoại trở lại phải chịu phép cắt bì và giữ luật Maisen – họ phải Do Thái hoá. Trái lại, các giáo đoàn Kitô hữu từ ngoại đạo trở lại không cần phải chịu cắt bì và giữ luật Maisen. Đây là điểm quan hệ đánh dấu sự phân tách giữa dân Thiên Chúa cũ và dân Thiên Chúa mới. Trong lúc dân Thiên Chúa cũ căn cứ vào huyết thống Abraham và vào luật Maisen thì dân Thiên Chúa mới chỉ đòi phải trở lại và làm theo thánh ý Thiên Chúa tình yêu mà thôi. Thánh Phaolô là người đầu tiên đã tuyên bố rằng: Vì Chúa Kitô đã chịu chết và sống lại, nên luật đạo cũ đã lỗi thời, để cứu rỗi chỉ cần tin ở Chúa Kitô chứ không còn buộc giữ luật ấy nữa. Dù bị những Kitô hữu gốc Do Thái phản đối, các giáo đoàn trở lại từ ngoại giáo không giữ luật Maisen cứ một ngày một đông và sau hết choán cả đường hướng sinh hoạt của Giáo Hội. Thế là cộng đồng Kitô hữu vượt ra ngoài phạm vi dân tộc Do Thái.

Các biến cố cũng ảnh hưởng không ít vào việc giáo đoàn Kitô hữu trở nên độc lập với di truyền Do Thái. Việc nổi loạn của dân Do Thái chống lại đế quốc Rôma, việc phá đền thờ Giêrusalem, vào các năm 66-70 đã làm cho giáo đoàn Giêrusalem tan vỡ, trung tâm thờ tự của dân Do Thái bị xoá bỏ. Việc chỉ huy trong Giáo Hội từ Giêrusalem rời sang Rôma. Trong các cuộc bách hại Kitô hữu, người ta đã phân biệt họ với những người Do Thái.

Như vậy Kitô giáo đầu tiên là một Giáo Hội gồm thuần người Do Thái nhưng sau gồm người Do Thái và người ngoại và sau cùng gồm thuần người ngoại.

Mặt khác, vì Do Thái giáo đã từ chối Chúa Kitô nên cũng tỏ ra ghen ghét Giáo Hội. Giáo Hội ban đầu còn yếu chỉ biết cầu nguyện cho kẻ thù mình. Khoảng năm 80 về sau, việc truyền đạt cho người Do Thái không còn tiến triển nữa. Mặt khác dân Do Thái cũng coi Kitô hữu như một nhóm “rối đạo” (nazaréens) phải nguyền rủa.

Với thời gian, sự xa cách cứ sâu xa thêm, nhưng dẫu sao, hai tôn giáo vẫn có một liên hệ mật thiết vì Giáo Hội vẫn thừa hưởng ơn cứu chuộc đã hứa cho dân Do Thái.

Về đầu trang

 

3. Từ dân Thiên Chúa hay Israel cũ đến dân Thiên Chúa hãy Israel mới

a) Theo nguyên nghĩ, Israel là “Thiên Chúa hiển trị” đó là từ ngữ dành để chỉ liên bang 12 chi họ. Như vậy Israel tiêu biểu vừa sự lệ thuộc vào một dân tộc vừa sự lệ thuộc vào một tôn giáo, từ ngữ ấy vừa nói lên những người được Chúa lựa chọn, vừa nói lên những kẻ kết hợp lại để phụng sự Người. Sau khi vương quốc của Đavít bị chia hai và nhất là sau khi bị lưu đày, tuy rằng từ ngữ Israel vẫn chỉ một nhóm người có một huyết thống, nhưng mỗi ngày có nặng một ý nghĩa phục lâm. Thiên Chúa sẽ lập lại mười hai chi họ trong ngày tận thế.

Trong Tân Ước, Israel vẫn là từ ngữ để chỉ dân Thiên Chúa trong Cựu Ước. Tác giả các Phúc Âm thư chưa nghĩ đến dùng tiếng Israel để chỉ Giáo Hội. Nhưng Tông đồ Công vụ đã có xu hướng dùng Israel để chỉ cả dân Thiên Chúa trong Cựu Ước và dân Thiên Chúa mà Chúa Kitô đã lập lại (I,6. Cf. 28,20, 13,23).

Thánh Phaolô mới phân biệt: Có huyết thống không đủ để thuộc về dân Thiên Chúa” (Rm 9,6), ông gọi “Israel theo huyết thống” là Israel bất trung, nhưng chỉ có một lần, và trong lúc tranh luận, ông mới nói đến “Israel của Thiên Chúa”, để ám chỉ Giáo Hội.

Như trên, Israel bao giờ cũng vẫn dùng để chỉ dân Thiên Chúa trong Cựu Ước, và nếu người ta có gọi Giáo Hội là Israel thì cũng chỉ là theo nghĩa rộng mà thôi.

b) Khi nói đến từ ngữ “dân Thiên Chúa” ta đã đạt đến trung tâm tín ngưỡng của Israel. Thật vậy, tất cả niềm tin của Israel có thể tóm tắt như sau: Giavê là Thiên Chúa Israel và Israel là dân của Người. Đó là ý nghĩa của sứ mệnh Thiên Chúa đã uỷ thác cho Maisen (Ex 6,6). Đó là ý nghĩa mạc khải của Giavê trên núi Sinai (Ex 19,5s). Đó còn là ý nghĩa của giao ước (Lv 21,9,11,12).

Các bản văn khác của Cựu Ước cũng thường nói lên rằng Thiên Chúa là Chúa, là Cha, là Đấng sáng tạo, là Vua, là Quan toà Israel. Người là khiên mộc chở che, nơi trú ẩn, thành trì và nền đá tảng của Israel và ngược lại Israel là dân và là phần tử của Giavê, người Israel là đoàn chiên, là vườn nho và là vị hôn thê của Giavê. Giữa Thiên Chúa và dân Người, có một giao ước làm cho việc của Israel là việc của Thiên Chúa, và việc của Thiên Chúa là việc của Israel. Nhưng liên lạc ấy tuy rất chặt chẽ cũng không bởi tự nhiên mà chỉ do lòng đại độ của Thiên Chúa. Người đã chọn các tổ phụ và đã giao hảo với họ, Người đã giải thoát mười hai chi họ khỏi tay ngoại bang để làm cho họ trở nên một dân tộc, Người đã ban cho họ một lề luật trên núi Sinai, đã cho họ vào đất Canaan, đã cho họ trở nên một vương quốc...

Nhưng nếu Thiên Chúa trung thành che chở, thì Israel lại luôn luôn phản bội. Lịch sử Israel là lịch sử những chuỗi diễn lại không ngừng những thất trung và tội lỗi, vì thế mà Israel mỗi ngày một đi sâu vào khủng hoảng chính trị và tôn giáo, và sau hết đưa đến sụp đổ hoàn toàn của cả quốc gia.

Trên bước đường suy vong, các tiên tri thường nhắc nhở đến hy vọng ở một tương lai (Ez 11,19-20.36,32; Gr 7,23-24,7). Điều xưa kia người ta coi như hiện có thì nay chỉ còn là một hoài bão. Giavê không còn là Thiên Chúa Israel và Israel không còn là dân của Người, nhưng Giavê sẽ là Thiên Chúa Israel và Israel là dân Người sẽ tha thứ tội lỗi cho và sẽ cứu vớt.

Hy vọng trong ngày phục lâm cũng không còn là hy vọng của quốc gia Israel mà là hy vọng của muôn dân (Za 2,14-15). Tôi tớ Giavê sẽ đến như “giao ước của dân và ánh sáng của muôn dân” (Is 42,6).

c) Cộng đồng quy tụ bởi tin ở Đấng Cứu Thế trong ngày cánh chung ý thức mỗi ngày một rõ ràng hơn mình là dân và là Israel mới của Thiên Chúa. Có lẽ vì thế mà bên cạnh từ ngữ “Ecclesia” xuất hiện từ ngữ “dân Thiên Chúa” để chỉ cộng đồng này (Act 11-26) trước các từ ngữ khác như nhiệm thể, đền thờ Thiên Chúa... Tước hiệu “dân Thiên Chúa” vẫn dành cho dân Do Thái, nhưng bên cạnh dân Do Thái, có một dân Thiên Chúa gồm cả người Do Thái và người ngoại. Từ nay, sẽ quy về dân này các lời tiên tri (Lv 26,12; Ez 37,27) về dân Do Thái (2 Cr 6,16). Dân này sẽ là dân được tuyển chọn, dân vương giả, dân tư tế, dân thánh thiện (1 Pr 2,9s).

d) Không bao lâu đã chớm nở một giáo lý về dân Thiên Chúa trong Tông đồ Công vụ và nhất là trong các thư thánh Phaolô như 1 Tx, Gl, 1 Cr và 2 Cr 3, Rm và nhất là Dt.

Dân Do Thái dấn bước trong sa mạc là hình bóng dân của Tân Ước (cf. Dt 3,7-4,13). Thiên Chúa đã phán dạy Israel cũ cũng như Israel mới (4,12s) nhưng các dân ấy có lời mạc khải không đủ, họ còn phải dấn bước trong gian nan thử thách và họ chỉ vào chốn nghỉ ngơi sau khi phải chiến đấu và chịu đau đớn.

Tuy nhiên, giao ước cũ và giao ước mới khác xa nhau. Giao ước cũ mới là tạm thời, giao ước mới đã là hoàn tất. Vì thế, tuy cũng có gian lao nguy hiểm, nhưng với dân giao ước mới, sự cứu rỗi chắc sẽ xảy đến vì đã được thể hiện một phần rồi. Thật vậy, Thiên Chúa hành động để cứu vớt dân Người trong ngày cánh chung, nhưng hành động ấy đã thể hiện trong Chúa Giêsu: Người là Ngôi Con hướng dẫn “nhiều con” đến ơn cứu độ, Người là người anh hướng dẫn “các em” đến vinh quang thiên quốc (Dt 2,1-18), Người là Thầy thượng tế vào nơi cực thánh với lễ tế đẫm máu của chính bản thân để mở lối vào nơi ấy cho dân mình và không ngớt cùng vào với họ (Dt 4,14-5,10.7,1-10,18).

Trong dân Thiên Chúa, cá nhân không bao giờ đứng ra cô độc, cá nhân là phần tử của cộng đồng dân Thiên Chúa (4,9) vì được “thông phần với Chúa Kitô” (3,14). Muốn có đức tin, sự sống và sự tiến triển, cá nhân không được tách biệt khỏi dân Thiên Chúa trên đường lữ thứ, nhưng phải sát cánh với các cá nhân khác để tiến về quê hương vĩnh cửu thì mới không sợ lầm đường, lạc lối, bỏ rơi trong sa mạc đời này.

Thế là Giáo Hội thay thế dân Do Thái để làm “dân Thiên Chúa”. Không phải thay thế Israel cũ vài Israel mới hoàn tất Israel cũ, nhưng thay thế dân Do Thái đã từ bỏ giao ước.

Về đầu trang

 

4. Giáo Hội là dân Thiên Chúa trong hiện tại

a) Ngày nay, người ta thuộc về dân Thiên Chúa không phải bởi huyết thống, nhưng vì được mời gọi. Vì cần có sự mời gọi của Thiên Chúa mà ta không thể có một quan niệm cá nhân về Giáo Hội được. Không bao giờ người ta có thể quan niệm Giáo Hội như sự đoàn kết của những người cùng có một tâm tình tôn giáo. Không có Giáo Hội nếu không có ân sủng và tình thương của Thiên Chúa. Lịch sử ơn gọi trong Cựu Ước chứng thực điều ấy. Các tiên tri đã nhắc lại ơn gọi của mình một cách rất màu sắc (Is. Gr. Ed.). Các tổ phụ như Abraham, Môsê, Salomon, Jeroboam... đều đã được mời gọi. Những cá nhân trên đã được mời gọi không phải cho mình nhưng vì dân Thiên Chúa. Trong Tân Ước những câu chuyện nói về ơn gọi của một vài môn đệ tuy vắn vỏ nhưng cũng tỏ cho ta thấy rằng ơn gọi là nhằm để phụng sự dân Thiên Chúa. Như vậy dân Thiên Chúa gồm những người “Chúa Giêsu Kitô mời gọi” (những đấng thánh vì thiên triệu” (Rm 1,6s; 1 Cr 1,2). Những người được gọi như vậy thường “yếu đuối” và “điên rồ” để không còn có ai tự hào trước mặt Thiên Chúa được (1 Cr 1,25-31).

Điểm này rất quan hệ vì nói lên sự độc đáo của Kitô giáo đối với các tôn giáo thời ấy. Trong các tôn giáo phương Đông thời ấy, mục đích ấy là phần rỗi của cả đoàn thể trong đó cá nhân chỉ là một phần tử. Vì lời mời gọi của Thiên Chúa có trước mọi hoạt động và đức tin của cá nhân và vì lời mời gọi ấy nhằm vào cả dân Thiên Chúa, nên các cá nhân không bao giờ cô độc nhưng thuộc về một đoàn thể.

Đã đành Giáo Hội gồm có nhiều cá nhân, nhưng trong Giáo Hội, không phải cá nhân với tính cách cá nhân, nhưng với tính cách là cá nhân được mời gọi để trở nên phần tử Giáo Hội mới là thiết yếu và chính vì thế mà Giáo Hội không phải là tổng cộng các cá nhân, càng không phải là kết quả của nỗ lực tôn giáo của đoàn thể. Lý do là có những nhóm người rất dị biệt, đối lập nữa mà vẫn kết hợp trong Giáo Hội. Chính Thiên Chúa quy tụ dân Người từ mọi dân tộc, mọi thứ bậc, mọi văn minh. Giáo Hội không bao giờ hoàn toàn là một thể chế nhân loại, nhưng bao giờ cũng là một “thể chế của Thiên Chúa” (CE. 9).

b) Tuy được mời gọi bởi Thiên Chúa, nhưng dân Thiên Chúa cũng chỉ có vì quyết định của con người. Thật vậy, tuy là một thể chế của Thiên Chúa, Giáo Hội không có nếu không có nhân loại, Thiên Chúa thương yêu và ban ân sủng, nhưng con người phải tin theo và vâng lời. Dân Thiên Chúa không phải là một đoàn chiên không có quyết định gì.

ta cứ nhìn vào Cựu Ước và Tân Ước thì sẽ thấy rõ: Abraham trong Cựu Ước, Maria trong Tân Ước đều đã được mời gọi và đều đã thưa lại. Lời “Fiat” của Đức Mẹ, của các tông đồ và của muôn vàn người tín hữu khác phải có thì mới có Giáo Hội. Vì thế, người ta không thuộc về Giáo Hội nếu không có đức tin và bí tích Rửa Tội, kể cả Rửa tội từ lúc sơ sinh, cũng không miễn cho người ta một hành vi tin cá nhân được.

tuy Giáo Hội không phải chỉ là tổng số các cá nhân, nhưng Giáo Hội vẫn là cộng đồng tín hữu mà Thiên Chúa đã quy tụ để làm nên dân Người; không có dân này, Giáo Hội không thể có được. Vì thế không thể phân biệt con người cụ thể với Giáo Hội lý tưởng. Không có một “Ecclesia quod substantiam” tách biệt khỏi cộng đoàn tín hữu (CE. 9). Một thí dụ cho chúng ta thấy rõ: Ta không thể phân biệt một bên là đức tin, các bí tích, giáo quyền và một bên là đời sống của cộng đoàn, không có thể chế nào lại có trước hay có ở trên con người. Thể chế chỉ có trong cộng đồng tín hữu là Giáo Hội.

c) Nếu Giáo Hội thật là dân Thiên Chúa, Giáo Hội không thể là một thực tại bất động, siêu lịch sử. Trái lại Giáo Hội phải là một dân tộc sống động không ngừng triển nở giữa các dân tộc khác và cùng với các dân tộc ấy hành trình trong thời gian. Giáo Hội tiếp tục lịch sử của dân Cựu Ước và hoàn hảo Cựu Ước trong một giao ước mới. Nhưng dẫu sao Giáo Hội cũng vẫn còn xa sự hoàn hảo của ngày cánh chung mà Thiên Chúa muốn đưa Giáo Hội đến. Do đó, phải có can đảm nhận diện Giáo Hội thật mà lịch sử cống hiến. Giáo Hội ấy hành trình giữa sai lầm và yếu đuối nên luôn cần đến lòng thương xót và ân sủng của Thiên Chúa. Giáo Hội ấy không phải là một Giáo Hội lý tưởng, không thực, xa vời với trần thế, nhưng là Giáo Hội luôn phải cám dỗ và chiến đấu để trung thành mỗi ngày một hơn với Chúa mình, Giáo Hội ấy là “Ecclesia semper reformande” (CE. 8).

Về đầu trang

 

5. Giáo Hội là nhiệm thể Chúa Kitô

a) Từ ngữ “nhiệm thể Chúa Kitô” diễn tả một cách đầy đủ hơn bản tính mới mẻ duy nhất của dân Thiên Chúa mới. Từ ngữ này do thánh Phaolô sáng tạo. Cái gì dun dủi thánh Phaolô chọn hình ảnh quen thuộc này của người Hy Lạp?

trong tiếng Hy Lạp, tiếng “thân thể” rất thông dụng để chỉ sự duy nhất của một vật gồm có nhiều bộ phận. Với thánh Phaolô, mình Chúa Kitô chịu đóng đinh có hiệu lực sinh ơn cứu độ, mình Chúa Kitô trong tiệc ly thông ban ơn ấy cho mọi người, từ đó đến gọi Giáo Hội là chi thể của mình Chúa Kitô chịu đóng đinh, tưởng cũng rất gần. Nhờ có phép Rửa tội, người tín hữu chết và sống lại với mình Chúa Kitô chết và sống lại, nhờ phép Mình Thánh, người tín hữu sát nhập vào mình Chúa để trở nên “một thân thể của Chúa Kitô” và với các tín hữu khác “một thân thể duy nhất của Chúa Kitô”.

nhưng dưới ngòi bút thánh Phaolô, “mình Chúa Kitô” đúng ra có nghĩa gì?

b) Căn cứ vào hai bản văn 1 Cr 12,12-27; Rm 12,4s, thánh Phaolô nói về Giáo Hội của một địa phương. Cũng cần phải nhắc rằng chỉ có một lần ông dùng từ ngữ: “mình Chúa Kitô”, còn thường ông dùng “một thân thể”, “một thân thể trong Chúa Kitô”. Mối quan tâm của ông không phải là diễn tả liên hệ siêu hình giữa đầu và thân thể, nhưng là nói lên tương quan phải có trong một thân thể gồm có nhiều chi thể dị biệt. Các phần tử của một cộng đồng phải là “một thân thể”, nhưng nếu họ là một thân thể, đó là vì trong Chúa Kitô họ đã là “một thân thể”. Nhờ phép Rửa tội, họ được sát nhập vào thân thể Chúa Kitô bởi Thánh Linh duy nhất và bởi phép Mình Thánh họ được kết hiệp trong một thân thể. Như vậy, mình Chúa Kitô không phải là do nỗ lực đoàn kết xây dựng của cộng đồng nhưng đã được Chúa Kitô ban ngay tự ban đầu. Chính vì thế mà thánh Phaolô viết: Các tín hữu là một thân thể “per Chistum”, “in Chisto” (CE. 7).

c) Trong hai thư gởi người Ephèse và Colosse, thánh nhân không chú ý đến tương quan giữa các cá nhân trong Giáo Hội bằng đến tương quan giữa đầu và thân thể: trong hai thư này, Chúa Kitô đã được diễn tả như “đầu” của Giáo Hội. Giáo Hội ở đây là Giáo Hội chung chứ không phải là Giáo Hội địa phương nữa.

trong thư gởi người Colosse (Cl 1,18.24.3,15) Chúa Kitô là đầu vũ trụ, nhưng không phải vì vũ trụ mà Giáo Hội mới được gọi là “mình” Chúa Kitô. Vũ trụ được làm hoà với Thiên Chúa không phải trên phương diện siêu hình, nhưng trên phương diện lịch sử nhờ có sự rao giảng Phúc Âm cho các dân tộc (1,23), mình Chúa Kitô phát triển là nhờ hoạt động rao giảng ấy.

trong thư gởi người Ephèse, cũng tóm tắt những ý tưởng trên (1,22s. 2,12-16. 4,4.12-16). Ngoài ra thánh nhân còn nhắc đến sự duy nhất giữa các phần tử trong Giáo Hội trên phương diện đức tin, bí tích, ân sủng (4,2-7) và Do thái với ngoại giáo (2,14-18), và tình thương yêu giữa Chúa Kitô và Giáo Hội mà ông ví như tình thương yêu giữa đôi vợ chồng (5,22-32) (CE. 7).

Ta có thể tóm tắt đạo lý của thánh Phaolô trong hai bức thư trên như sau:

1. Chúa Kitô và Giáo Hội không thể tách rời được vì Chúa Kitô là đầu của Giáo Hội và Giáo Hội là thân thể Người, một định mệnh gắn liền Chúa Kitô với Giáo Hội và Giáo Hội là “Pleroma” của Chúa Kitô.

2. Vì là đầu, Chúa Kitô vừa là nguồn gốc vừa là mục đích cho sự trưởng thành của Giáo Hội.

3. Vì là đầu, Chúa Kitô hướng dẫn Giáo Hội và Giáo Hội tùng phục Người (CE. 7).

Về đầu trang

 

6. Chúa Kitô và Giáo Hội

a) Đối với Giáo Hội, Chúa Kitô không phải chỉ là một biến cố trong quá khứ, mỗi ngày một xa xôi phai mờ, cũng không phải chỉ là một biến cố tương lai người ta mong đợi với ít nhiều chờ đón, Người luôn hiện diện trong Giáo Hội và Giáo Hội chỉ sống nhờ ở hoạt động hiện tại của Người. Đâu có hai ba người hội họp nhân danh Người, thì Chúa Kitô ở giữa họ (Mt 18,20) và Người sẽ ở bên chúng ta cho đến ngày tận thế (Mt 28,20). Giáo Hội có “per ipsum in ipso et pro ipso”.

Nhưng Chúa Kitô hiện diện cách riêng trong cộng đoàn phụng vụ. Thật vậy, trong cộng đoàn phụng vụ, Chúa Kitô mời gọi ta bằng Phúc Âm của Người, cho ta tham dự các mầu nhiệm nhờ phép Rửa tội, nhất là mầu nhiệm lễ tế tạ ơn, và ta được sai đi để phụng sự thế gian. Tất cả hoạt động dân Thiên Chúa quy tụ lại đó: Họ nhớ lại để chúc tụng và cảm tạ Thiên Chúa về tất cả việc lành và lời Người đã ban cho họ từ khi tạo thành vũ trụ, đến khi lựa chọn dân Do Thái, đến ngày Chúa Kitô chịu chết, sống lại và đến ngày Cánh chung. Vì Chúa Kitô hiện diện đầy đủ trong mọi tập hợp phụng vụ nên mỗi tập hợp phụng vụ của mỗi Giáo Hội địa phương đều có thể gọi là “Ecclesia Dei” và là nhiệm thể Chúa Kitô. Nhưng các Giáo Hội địa phương ấy, vì đều là Ecclesia Dei và nhiệm thể của Chúa Kitô, nên không tách rời khỏi nhau nhưng đều thông hưởng một mình Chúa Kitô (Koi nonia) và đều là Giáo Hội duy nhất của Thiên Chúa.

b) Chúa Kitô là một với Giáo Hội Người, nhưng Người là đầu của Giáo Hội ấy, vì thế, không thể có những Giáo Hội độc lập. Tuy Chúa Kitô hiện diện trong Giáo Hội nhưng Người vẫn là Chúa Giáo Hội, tương quan giữa Người với Giáo Hội vẫn là tương quan liên chủ thể, vì thế gọi Giáo Hội là “thần nhân” e sẽ đưa đến hiểu lầm. Cách nói ấy có thể đưa đến tư tưởng Chúa Kitô chỉ là một phần của Giáo Hội chứ Người không còn là đầu Giáo Hội nữa. Nhưng thực ra, Giáo Hội vẫn là tập hợp những người tin ở Chúa Kitô, thái độ tin không bao giờ hết.  Chúa Kitô thánh hoá Giáo Hội,  nhưng Giáo Hội vẫn là tập hợp những tội nhân, nên luôn luôn vẫn phải xưng với Chúa: “Domine non sum dignus”. Trong sự tồn vong của mình, Giáo Hội vẫn luôn luôn lệ thuộc vào Chúa: Giáo Hội sống nhưng không phải Giáo Hội sống, mà là Chúa Kitô sống trong Giáo Hội. Giáo Hội chỉ mạnh nhờ Đấng làm cho Giáo Hội mạnh trong sự yếu hèn của mình. Nói tóm lại, có sự duy nhất giữa Chúa Kitô và Giáo Hội, nhưng tuy có Chúa Kitô hiện diện trong Giáo Hội, Chúa Kitô và Giáo Hội vẫn có cá tính riêng biệt.

c) Mình Chúa Kitô lớn lên cho đến tầm vóc trưởng thành nhưng nhờ có đầu “cả thân thể nhận được của ăn và dính líu với nhau, bởi các khớp xương và đường gân, để thể hiện sự lớn lên trong Thiên Chúa” (Cl 2,19). Vì là “đầu của thân thể” và là trưởng tử giữa loài người”, Chúa Kitô là “nguyên lý” sự lớn lên ấy, lớn lên ở nội tâm trong đức tin, đức mến và những hy sinh để kiện toàn những gì “còn thiếu cho các thử thách của Chúa Kitô, vì thân thể Người là Giáo Hội” (Cl 1,29) lớn lên ở bên ngoài bởi có thêm phần tử chịu phép Rửa tội vì đã được nghe giảng Phúc Âm.

nhưng sự lớn mạnh của Giáo Hội chỉ thực sự khi Giáo Hội vâng phục Chúa Kitô là đầu mình, nếu không sự lớn mạnh ấy chỉ là giả dối. Do đó, nói đến Giáo Hội như “Chúa Kitô nối tiếp” hay như “một nhập thể trường kỳ” của Con Thiên Chúa đều sai lầm. Chúa Kitô luôn luôn là Chúa và là đầu Giáo Hội, Người không bao giờ thoại vị để Giáo Hội độc lập tự do lấy cho mình.

Tuy nhiên, Giáo Hội vẫn bị cám dỗ coi mình như “Chúa Kitô nối tiếp” vì lúc ấy thay vì phải tin thì Giáo Hội biết, thay vì thiếu thốn thì Giáo Hội có tư hữu, thay vì phải vâng lời thì Giáo Hội có quyền bính. Đã đành trong lý thuyết không Giáo Hội nào dám nhận như vậy, nhưng trong thực tế ta phải thú nhận là có những lúc Giáo Hội đã đồng hoá với Chúa Kitô và đã gây dựng quyền thế và danh vọng cho mình bởi tự sức mình. Một thí dụ cụ thể là quyền của Giáo Hội về phương diện đạo lý. Quyền ấy gián tiếp lệ thuộc vào lời Thiên Chúa là nguồn mạch nuôi dưỡng đạo lý của Giáo Hội. Khi Giáo Hội không nghe và công bố lời của chính mình, nhưng lời của Chúa Kitô thì Giáo Hội nhận được uy tín đến không phải do người ta. Trái lại, khi Giáo Hội thần hoá quyền của chính mình thì lời Giáo Hội sẽ vô ích vì không bắt nguồn từ lời hằng sống của Thiên Chúa.

Về đầu trang

 

7. Giáo Hội là đền thờ Chúa Thánh Thần

a) Chúa Thánh Thần là thần trí của Thiên Chúa khác hẳn thần trí loài người. Người không phải là một luồng mầu nhiệm siêu nhiên của thế giới phù phép, cũng không phải là một Đấng linh thiêng của thế giới các thần, nhưng Người là chính Thiên Chúa tự ban cho ta như một sức mạnh tác tạo đời sống. Người ngự trị trong tâm hồn để ảnh hưởng vào thần trí chúng ta.

Chúa Thánh Thần còn được thánh Phaolô gọi là thần trí của Chúa Kitô (Rm 4,6; Pl 1,19; Ga 4,6). Sau khi sống lại, Chúa Kitô là Chúa hiển vinh có quyền sử dụng “Pneuma” vì là chủ của “Pneuma”, vì thế mà Người được gọi là “Thần Trí ban sự sống” (1 Cr 14,45). Thánh Phaolô còn đi xa hơn nữa và đồng hoá Chúa Kitô với Chúa Thánh Thần “Chúa là Thánh Thần” (2 Cl 3,17). Đã đành hai ngôi vẫn là hai ngôi, nhưng một khi ta nhìn Chúa không phải ở cá vị, nhưng ở hành động để thánh hoá đoàn thể và cá vị, ta thấy Chúa đồng nhất với Thánh Thần... Thánh Thần là sự hiện diện của Chúa hiển vinh tại thế. Trong Chúa Thánh Thần, Chúa sống lại hoạt động để thánh hoá cá nhân và cộng đồng. Người không phải là một sức mạnh ma thuật người ta không cưỡng lại nổi, nhưng ban cho người ta khả năng chấp nhận hay không việc lành một cách ý thức. Vì là Thánh Thần của Thiên Chúa, Người khác hẳn thần trí riêng của mỗi người (1 Cl 2,10s) nhưng Người có quyền lực trên mỗi người nên có thể làm cho mỗi người không sống vì mình nữa mà chỉ sống vì Thiên Chúa (cf. Rm 8,9-15.26s).

Từ khi Chúa Kitô sống lại, sự sống lại của mỗi người không còn phải là một hy vọng suông nhưng là một điều chắc chắn, thực tại về Chúa Thánh Thần hiện diện bảo đảm cho sự hiện diện của hiển vinh trong tương lai. Chúa Thánh Thần là như ấn tín lời Thiên Chúa hứa và là như đấu đong hạnh phúc đời sau của ta (Rm 8,23; Ep 1,13s).

b) Giáo Hội là công trình của Chúa Thánh Thần, Người hiện diện trong Giáo Hội, vì thế mà Kinh Thánh gọi Giáo Hội là đền thờ Chúa Thánh Thần (cf. Mt 16,18; Mc 14,58; Ga 2,19; Dt 3,26.10,21). Muốn hiểu vấn đề này, cần hiểu ba đoạn Kinh Thánh sau đây:

1 Cr 3,16s – Đây không phải là hình ảnh lý tưởng dùng để chỉ một Giáo Hội lý tưởng, nhưng một hình ảnh áp dụng cho một Giáo Hội cụ thể: “Anh em không biết rằng anh em là đền thờ Thiên Chúa và Thánh Thần Chúa ở trong anh em ư?”. Như vậy, đoàn thể này với những yếu đuối của nó vẫn là đền thờ Thiên Chúa. Tuy phải cổ võ để đoàn thể ấy sống theo Thánh Thần, đoàn thể ấy vẫn có Chúa Thánh Thần: Quyền lực cải tạo của Thiên Chúa đã thấm nhuần và chiếm đoạt cuộc sinh tồn của đoàn thể ấy. Và cũng vì thế các phần tử của đoàn thể phải sống làm sao để xứng đáng là đền thờ Chúa Thánh Thần.

Ep 2,17-22 – Trong thư này cơ cấu nội tại của đền thờ Chúa Thánh Thần được diễn tả rõ ràng. Nền móng toà nhà ấy là “các tông đồ và các tiên tri” đã đem lời Chúa đến cho nhân loại. Những viên đá xây nên toà nhà ấy là các tín hữu, bất luận Do Thái hay ngoại đạo. Hòn đá hoàn tất vòm nhà là Chúa Kitô, vì như hòn đá ấy, Người ban cho Giáo Hội sự duy nhất và sự bền chặt. “Chúa” bảo vệ mọi sự và giữ cho mọi sự được bền vững và có phương hướng. Như vậy Giáo Hội là một toà nhà có nhờ ở Thánh Thần của Chúa.

1 Pr 2,4-7 -  Giáo Hội là nhà Thiên Chúa, một toà nhà thiêng liêng. Chúa Kitô là đá tảng nâng đỡ và làm cho toà nhà có duy nhất: Người là đá tảng sống vì Người đã bị loại bỏ, đóng đinh, nhưng Người đã sống lại không chết nữa. Trên đá tảng ấy Giáo Hội được xây bằng các tín hữu là viên đá sống. Hình ảnh toà nhà thiêng liêng biến thành hình ảnh chức tư tế thiêng liêng dâng lên Thiên Chúa không phải chiên bò nhưng của lễ thiêng liêng là những lời cầu xin cảm tạ ngợi khen. Người tín hữu không dâng lên bởi tự mình, nhưng nhờ Chúa Kitô là Thầy thượng tế.

Như trên, Thánh Thần Thiên Chúa mà Chúa Kitô hiển vinh sai đến đã là nền tảng, nguyên lý, đời sống và sức mạnh cải tạo Giáo Hội. Giáo Hội lệ thuộc vào Ngài ở tất cả những gì mình có. Vì thế mà Sách Thánh đã gọi Giáo Hội là “tạo vật” của Chúa Thánh Thần.

c) Tuy rằng Giáo Hội chỉ có lý do tồn tại nhờ ở Chúa Thánh Thần, nhưng giữa Chúa Thánh Thần và Giáo Hội vẫn có sự khác biệt. Để hiểu sự khác biệt ấy, cần phải nhớ bốn điều sau:

1. Chúa Thánh Thần không phải là Thần Trí Giáo Hội nhưng Thần Trí Thiên Chúa, Người đến không phải bởi Giáo Hội hay một tín hữu, nhưng bởi Thiên Chúa, Người không phải là ân huệ hay quyền lực Giáo Hội, nhưng ân huệ và quyền lực Thiên Chúa. Nhờ có Người, Thiên Chúa ảnh hưởng trên Giáo Hội, chứng thực về mình với Giáo Hội, lập nên và nâng đỡ Giáo Hội. Chúa Thánh Thần quản trị Giáo Hội, nhưng không phải là Thần trí của Giáo Hội.

Chúng ta thuộc về cộng đoàn những tín hữu Chúa Kitô, chúng ta làm nên Giáo Hội. Giáo Hội là hết mọi người chúng ta, được công chính hoá nhưng luôn luôn vẫn mang trong mình yếu đuối, tội lỗi. Giáo Hội đích thực không những là một Giáo Hội nhân loại, mà còn là một Giáo Hội tội lỗi. Nhưng Thánh Thần của Thiên Chúa thì không tội lỗi, Người chỉ là thánh, và vì thế Người thánh hoá Giáo Hội.

Phân biệt này rất quan hệ vì nếu Giáo Hội đồng hoá với Thánh Thần, bó buộc Giáo Hội không thể nhận rằng mình có tội và do đó Giáo Hội phải nhờ đến những mẹo vặt thần học và một nền minh giáo không làm cho ai khâm phục. Trái lại nếu Giáo Hội biết có dị biệt giữa mình và Chúa Thánh Thần thì sẽ đặt lòng tin cậy không phải ở mình, nhưng ở Thánh Thần của Thiên Chúa.

Vì những lý do trên mà chúng ta tin ở (Credo in) Chúa Thánh Thần như chúng ta tin ở Thiên Chúa (Credo in Deum) vì chúng ta không tin ở chính chúng ta.

2. Chúa Thánh Thần không chỉ tình cờ đến ngự tm Giáo Hội như thể rằng Giáo Hội đã được những người tổ chức lành nghề gây dựng rồi Chúa Thánh Thần mới đến hành động. Nhờ Chúa Thánh Thần Thiên Chúa đã tạo dựng Giáo Hội và ngày nay Người vẫn không ngớt tạo dựng Giáo Hội với những người có đức tin, nghĩa là những người đã chịu ảnh hưởng thánh hoá của Chúa Thánh Thần. Chúa Thánh Thần hoạt động, Giáo Hội được cấu tạo và được cấu tạo mỗi ngày một mới mẻ (1 Cr 12,3) Emitte Spiritum tuum et creabuntur? Đã đành không có Giáo Hội nếu các tín hữu không tự ý quây quần với nhau, nhưng các tín hữu quy tụ lại trong Giáo Hội không tự mình gọi nhau vào đức tin, nhưng chính Thiên Chúa bởi lời Chúa Kitô và bởi sức mạnh Chúa Thánh Thần đã mời gọi họ vào đức tin.

3. Giáo Hội không có quyền giới hạn hành động của Chúa Thánh Thần. Chúa Thánh Thần hoạt động trong tất cả dân Thiên Chúa, nơi Người muốn, chứ không phải chỉ nhờ ở thừa tác vụ của Giáo Hội. Chúa Thánh Thần, không những hoạt động trong Giáo Hội Công giáo, nhưng trong tất cả Kitô giáo, không những trong tất cả Kitô giáo, nhưng trong tất cả nhân loại.

Quyền lực của Chúa Thánh Thần chọc thủng mọi tường ngăn cách của mọi Giáo Hội. Đã đành Giáo Hội là đền thờ của Người, nhưng không phải là đền thờ đã được chỉ định cho Người, trong đền thờ ấy Người vẫn có toàn quyền tự do.

4. Tuy Chúa Thánh Thần là Chúa bình an chứ không phải hỗn độn, nhưng Người không thưởng vì bó buộc mà vì Người muốn, Thánh Thần hoàn toàn tự do, Người không bị ràng buộc bởi một luật lệ nào, Giáo Hội không thể sử dụng, giới hạn, kềm toả, hướng dẫn được sức mạnh của Chúa Thánh Thần. Tuy rằng Thiên Chúa buộc mình trong Chúa Thánh Thần, vào lời nói và bí tích của Giáo Hội, nhưng sự ràng buộc ấy không do một lề luật của Giáo Hội mà do sự tự do của Thiên Chúa, không do một quyền lợi của giáo phẩm, mà do một ân huệ của Thiên Chúa, không do quyền thế của Giáo Hội mà do một sự trung thành của Thiên Chúa. Ràng buộc của Thiên Chúa vào lời nói và bí tích không phải là một ràng buộc đối với Người, nhưng là một ràng buộc đối với ta, lời và bí tích không máy móc sinh hiệu quả, nhưng chỉ sinh hiệu quả trong người có đức tin.

Giáo Hội không có quyền truyền lệnh cho Thánh Thần, nhưng phải cầu khẩn Người đến. Chúa Thánh Thần ngự trong đền Người là Giáo Hội để mà thánh hoá, nhưng việc thánh hoá không phải là một bó buộc của luật lệ mà chỉ là ý muốn của lòng trung thành của Người.

Về đầu trang

Chương 4: Các đc đim v Giáo Hi

 

Bản chất Thiên Chúa ban cho Giáo Hội trong Chúa Kitô cũng là một trọng trách Thiên Chúa trao co Giáo Hội. Người tín hữu phải luôn luôn thể hiện bản chất này một cách mới mẻ và cho nó một hình thể mới nhờ ở các quyết định do đức tin của mình. Trong lịch sử, Giáo Hội không thể không biến đổi, và giữ được mãi khuôn mặt lúc ban đầu, tuy nhiên qua các biến đổi, Giáo Hội phải giữ cơ cấu nền tảng mà Thiên Chúa đã muốn về công cuộc cứu rỗi trong Chúa Kitô.

Như vậy, có biến đổi, nhưng biến đổi không tất yếu hợp với bản chất Giáo Hội, người ta có thể lạm dụng trách nhiệm của mình và tạo cho Giáo Hội một khuôn mặt không đúng với bản chất của Giáo Hội, nói khác đi có Giáo Hội thật và Giáo Hội giả. Do đó, đặt lên vấn đề gì là tiêu chuẩn để phân biệt Giáo Hội thật và Giáo Hội giả.

a) Bốn tiêu chuẩn nêu lên bởi Công đồng Nicée Constantinople đã được các Công đồng Ephèse và Chalcedonie nhắc lại là: duy nhất, thánh, công giáo và tông truyền”. Bốn tiêu chuẩn ấy có giá trị thế nào?

Đã đành, Giáo Hội thật cho một người là Giáo Hội mình tin: Không có thể biết Giáo Hội cách khác ngoài đức tin. Nhưng thâm tâm của con người thì chỉ có Thiên Chúa biết, ở đây chúng tôi không đặt vấn đề cá nhân, nhưng vấn đề Giáo Hội ở tự mình: một đoàn thể nhất định như Giáo Hội Công giáo Roma, Giáo Hội Anh quốc... có phải là Giáo Hội thật không? Nhìn như vậy, thì tình trạng và cơ cấu của một đoàn thể có thể biết được và có thể là dấu chỉ đoàn thể ấy có là Giáo Hội thật hay không. Là “dấu chỉ” ấy ai cũng có thể biết được, kể cả những người không tin , nhưng để đọc được “dấu chỉ” ấy thì phải những người đã thực sự dấn thân trong đức tin mà thôi.

 

A. Giáo Hội duy nhất

(Bản gốc chỉ thấy phần A, không có phần B)

 

1. Duy nhất trong “dị biệt”

a) Không ai có thể chối cãi rằng có nhiều Giáo Hội. Nguyên Hội đồng Đại Kết đã quy tụ được 200 Giáo Hội, đó là chưa kể Giáo Hội Công giáo và một số Giáo Hội Tin Lành không gia nhập hội đồng ấy. Việc có nhiều Giáo Hội đối chọi nhau gây ảnh hưởng rất xấu cho việc truyền giáo ở Á châu mà Kitô giáo chỉ là thiểu số lại còn phản tuyên truyền lẫn nhau. Nhưng ngày nay, ở Âu châu, với những phong trào tục hoá và vô thần, sự chia rẽ các Giáo Hội cũng làm cho ảnh hưởng tôn giáo bị giảm sút rất nhiều. Sự phân chia các Giáo Hội còn ảnh hưởng đến đời sống nhiều gia đình, các phần tử gia đình không được tham dự cùng một nghi lễ phụng vụ, không được cùng bẻ bánh...

nhưng điều đáng quan tâm nhất là theo ý muốn và lệnh truyền của Thiên Chúa thì Giáo Hội phải duy nhất: Chúa Kitô giao hoà không những Thiên Chúa và nhân loại, nhưng cả nhân loại với nhau nữa, Người là lý do hợp nhất trong Giáo Hội (D.Oe. 1).

Giáo Hội phải duy nhất, đó là điều Kinh Thánh luôn nhắc nhở tới:

1 Cr 1,10-30; 1 Cr 12; Ga 3,27s; Rm 12,3-8; Ac 2,42.4,32; Ep 4,1-16.

Căn cứ vào các bản văn trên, sự duy nhất của Giáo Hội không phải là một giá trị tâm lý, xã hội hay luân lý nhưng một giá trị siêu nhiên. Thiên Chúa duy nhất đã tập hợp thành một dân duy nhất loài người ở khắp mọi nơi và ở mọi thời đại để kính mến Người. Chúa Kitô duy nhất đã dùng lời mà nối kết mọi người trong một thông hảo duy nhất nhờ Thánh Thần Người. Giáo Hội chỉ có một và phải là một.

b) Duy nhất nhưng dị biệt. Thật vậy, ngay từ đời các thánh tông đồ đã nói đến các Giáo Hội địa phương như Giáo Hội Ephèse, Philippe, Thessalonique, Judée, Galilée, Samaria. Các Giáo Hội ấy có thể có phụng vụ, thần học, kỷ luật khác nhau vì ngôn từ, lịch sử, phong tục, cách sống và tư tưởng của các Giáo Hội ấy khác nhau. Vả lại, mỗi dân tộc cũng như mỗi người được một ơn gọi khác biệt và nhận được những ơn Thánh Thần khác, do đó không ai có quyền giảm lược các Giáo Hội trong một khuôn mẫu duy nhất được.

Nhưng dị biệt không có nghĩa là phải có cãi lộn, thù hằn. Bao giờ thì “sự duy nhất của Chúa Thánh Thần” và “liên hệ bình an” cũng phải được bảo đảm “trong khiêm nhượng, ngọt ngào, chịu đựng lẫn nhau trong đức ái” (Ep 4,2s). Bao lâu mà mọi người còn muốn cùng có một Thiên Chúa, một Chúa Kitô và một Chúa Thánh Thần thì còn duy nhất, nhưng khi mọi người đã muốn Thiên Chúa của riêng mình, Chúa Kitô của riêng mình và Chúa Thánh Thần của riêng mình, thì không còn duy nhất nữa.

Như trên dị biệt không làm cho mất tính cách duy nhất của Giáo Hội, trừ ra trường hợp dị biệt mà không liên lạc, giúp đỡ nhau, trái lại còn chống đối nhau. Những dị biệt giữa các Giáo Hội không có hại miễn là một Giáo Hội đừng coi sự dị biệt của mình như là đặc điểm của Giáo Hội thật, còn những dị biệt của các Giáo Hội khác như là rối đạo. Lúc ấy các Giáo Hội không còn là Giáo Hội địa phương đoàn kết trong duy nhất, nhưng là những Giáo Hội có những tuyên ngôn dị biệt về đức tin.

Tuy nhiên không phải hễ có chia ly giữa các Giáo Hội là có tinh thần bủn xỉn, trái tim hẹp hòi. Cũng có khi có chia ly vì người ta có xác tín rằng nếu hành động thế khác sẽ làm sai lạc Phúc Âm của Chúa. Trong trường hợp này, sự chia ly không phải chỉ cục bộ và còn hy vọng hàn gắn: đó là chia ly giữa Giáo Hội Đông phương và Giáo Hội Tây phương, giữa Giáo Hội Công giáo và các Giáo Hội Cải Cách.

c). Sự phân chia của Giáo Hội là một gương mù thảm khốc nhiều người muốn che đậy cách này hay cách khác. Thực ra, ta không có thể minh oan cho sự chia ly cũng như ta không co thể minh oan cho tội lỗi được vì chia ly tức là tội lỗi. Tất cả những ai đã gây ra, không ngăn cản đều chia phần lỗi phạm. Đã đành tội của tiền nhân không thể đơn giản gán cho người thời nay, tuy nhiên có một trách nhiệm chung vì đã gây ra chia ly, và cũng có một trách nhiệm chung vì đã bảo tồn sự chia ly ấy. Lỗi phủ trên các Giáo Hội chia ly như trên các gia đình chia ly mà không hàn gắn (D. Oc 3).

Đã đành các Giáo Hội không thể tự mình giải thoát khỏi tội, vì thế phải cầu xin Thiên Chúa. Do đó bước đầu tiên đi đến hiệp nhất là xưng tội mình ra và xin Chúa tha tội (D. Oc 7) không có “méta noia” (trở lại) thì không có sự hợp nhất được.

Về đầu trang

 

2. Phải hợp nhất

a) Phải nhận biết có một cái gì chung cho mọi Giáo Hội. Thực vậy dầu có nhiều điểm bất đồng đến đâu cũng vẫn có một Chúa Kitô là Đấng liên kết chúng ta; dầu có những tranh luận gay go đến đâu chúng ta cũng vẫn tin có một Ngôi Cha, một Ngôi Con, một Ngôi Thánh Thần, một Tin Mừng Phúc Âm và một phép Rửa tội. Khi các Giáo Hội tìm kiếm hợp nhất, đã có một nền tảng có sẵn, vì thế hợp nhất không phải là mục đích, nhưng là nguồn gốc cho nỗ lực của mọi Giáo Hội để thể hiện sự duy nhất mà Thiên Chúa muốn (D. Oc. 3).

b) Chính vì biết đã có duy nhất trong Chúa Kitô mà chúng ta phải tìm duy nhất. Nhưng vì chúng ta biết rằng tự sức chúng ta, chúng ta không tìm thấy được nên chúng ta phải cầu nguyện để được thoát khỏi chia ly, ngờ vực, lạnh nhạt với anh em, cầu nguyện không phải để thắng các Giáo Hội khác nhưng để hoà hợp theo như thánh ý Thiên Chúa (D. Oe. 8).

Kèm theo cầu nguyện còn phải hoạt động nữa. Nhưng hoạt động không có nghĩa là làm áp lực chính trị hay xã hội, cưỡng bức bằng vũ lực... Sự hợp nhất giữa các Giáo Hội không thể truyền từ trên xuống, nhưng phải phát triển từ trong ra từ dưới lên, từ các cộng đoàn và cá nhân.

Hoạt động là có kèm theo đau đớn, đau đớn vì sự chia ly trong Giáo Hội, đau đớn vì những thiết sót của chính Giáo Hội của mình. Chính sự đau đớn xem ra vô ích này sẽ trở nên hành động hợp nhất hữu hiệu (D. Oe 5,7; D. Oe 9,10,12).

c) Chúng ta không đánh giá đúng sự phân chia nếu chúng ta không ý thức được một cách sáng suốt những gì Giáo Hội chúng ta có chung với các Giáo Hội khác. Đừng nghĩ rằng bỏ Giáo Hội mình để sát nhập vào Giáo Hội khác là giúp cho duy nhất lịch sử cho thấy các trở lại cá nhân như vậy những làm tiến vấn đề hợp nhất một chút nào. Cũng đừng nghĩ rằng trung lập là giúp cho hợp nhất. Một là ta tỏ thái độ trung lập và như vậy không chóng thì là chúng ta gây thêm một Giáo Hội mới đối nghịch với các Giáo Hội khác, hay là chúng ta chẳng có một thái độ nào, và như vậy chúng ta chẳng giúp ích gì cho hợp nhất cả, chỉ có tìm hiểu Giáo Hội của mình một cách thật tình để biết nguồn gốc, ý nghĩa và đường hướng Giáo Hội ấy mới giúp ta tiến đến hợp nhất. Đã đành chú ý đến Giáo Hội của mình không có nghĩa là chỉ để ý đến một Giáo Hội ấy nhưng còn phải nhìn các Giáo Hội khác cũng nhận mình là Giáo Hội chính và ở một số điểm, có lý mà nói rằng Giáo Hội chính hơn Giáo Hội của ta. Chứng thực của ý muốn hợp nhất là cố gắng vượt khỏi giới hạn của Giáo Hội mình mà tiến tới đại kết, nghĩa là cải tạo Giáo Hội của ta để thể hiện nguyện vọng chính đáng của các Giáo Hội khác. Khi mỗi Giáo Hội biết hiến dâng và tiếp nhận một cách vô tư, thì những điểm chung của các Giáo Hội sẽ lớn dần thêm lên (D. Oe 6).

d) Không phải vì bất cần hay vì ngu dốt về đức tin mà người ta dễ hoà hợp với các Giáo Hội khác. Những niềm nở ngoại giao và những nhượng bộ về tín lý cũng không phải là con đường đạt đến mục đích ấy. Một Giáo Hội không thiết tha với chân lý, sẽ tự lên án tử cho mình (D. Oe 11).

Nhưng trung thành với chân lý, đòi ở chúng ta nỗ lực không ngừng để có thể khám phá thấy chân lý ở hình thức hiện đại của nó. Một thái độ cho ta thấy rõ. Những tín điều và những kinh Tín Kính đã được ghi chép không phải là những công thức chết, bất động không lệ thuộc gì đến lịch sử và thời gian. Trái lại vì các công thức ấy xuất hiện lệ thuộc vào một hoàn cảnh lịch sử, nên phải luôn luôn gột rửa các công thức ấy khỏi những dấu vết của một thời đại để thích hợp với thời đại này, trong một viễn tượng lịch sử cởi mở hơn: đó là trường hợp Công đồng Chalcedonie đối với Ephèse và Vatican II đối với Vatican I (D. Oe 11).

Vì lý do nói trên, nghiên cứu kỹ càng Kinh Thánh và lịch sử tín lý cần thiết để tiến đến chấp nhận sống chung giữa các nền thần học từ trước vẫn chống đối nhau. Không phải im đi những điểm bất đồng và bóp méo chân lý vì “bác ái”, nhưng nghe lời người khác một cách chăm chú, phán đoán một cách khôn ngoan, chất vấn một cách khiêm nhượng và giải thích một cách nhẫn nại là những điều cần để đi đến hợp nhất.

e) Tiêu chuẩn nào sẽ giúp ta đạt được hoà hợp? Không phải chấp nhận mọi yếu tố của các Giáo Hội vì như vậy các Giáo Hội vẫn giữ nguyên các yếu tố trái ngược. Cũng không phải loại trừ tất cả những gì đối lập vì cái gì còn lại sẽ rất mong manh và không có gì là đặc sắc. Tiêu chuẩn ấy phải là Phúc Âm của Chúa Kitô. Thật vậy chỉ có Phúc Âm mới là tiêu chuẩn vì muốn tìm thấy duy nhất thì mọi Giáo Hội đều phải vâng theo sứ điệp duy nhất của Chúa Kitô. Nếu Giáo Hội của ta có một thực chất nào thì đó cũng là nhờ Giáo Hội ta đã trung thành với Phúc Âm ở một số điểm nào đó, và nếu chúng ta phải cải tổ Giáo Hội chúng ta theo đòi hỏi chính đáng của các Giáo Hội khác, đó không phải vì tiên thiên ta cho các đòi hỏi ấy là chính đáng, nhưng vì trong lúc so với Tin Mừng Phúc Âm ta thấy các đòi hỏi ấy có nền tảng. Như vậy hợp nhất không do hàng đầu của một số Giáo Hội với một Giáo Hội khác, cũng không phải trở lại của một số Giáo Hội với một Giáo Hội khác, nhưng là sự trở lại của mọi Giáo Hội về với một Chúa và một đức tin.

Về đầu trang

 

Chương 5: Giáo Hi Công giáo

 

1. Giáo Hội trong đồng nhất

a) Từ ngữ công giáo dịch bởi “Catholicu” hay “universalis” có nghĩa là: chung, hướng về toàn thể. Tân Ước chỉ dùng đến từ ngữ này một lần (Ac 4,18) nhưng không phải là để chỉ Giáo Hội. Để hiểu nội dung của từ ngữ, thiết tưởng phải căn cứ vào lịch sử. Ở thế kỷ thứ II, Giáo Hội “công giáo” có nghĩa là toàn thể Giáo Hội chung để phân biệt với Giáo Hội địa phương (Smyrn 8,2; Martyr Polycap) Đến thế kỷ thứ III, trong các cuộc bút chiến, từ ngữ có nghĩa là “chính thống”, chỉ có Giáo Hội Công giáo mới là Giáo Hội chung của mọi người và có đức tin đúng, còn các Giáo Hội khác đều “rối đạo”| và “ly khai”. Đến thời vua Constantin, mọi người trong đế quốc Roma đều phải là công giáo, Giáo Hội “công giáo” không những là Giáo Hội chung, chính thống mà còn đông người nhất và lan rộng ra trên trái đất nhất! Nghĩa trên vẫn tồn tại sau khi phân chia Giáo Hội Đông phương và Tây phương.

Nhưng khi các Giáo Hội Tin Lành nổi dậy, sự duy nhất của Giáo Hội bị rạn nứt và cũng làm rạn nứt theo tính cách công giáo. Họ thấy ý nghĩa lưu truyền không còn áp dụng được nữa và họ giải thích: công giáo là mọi người ở mọi nơi và mọi đời tin đúng theo như Kinh Thánh.

b) Sự kiện lịch sử như trên, bây giờ ta hãy cố gắng có một giải thích thần học căn cứ vào Tân Ước.

Như ta đã thấy, Giáo Hội địa phương cũng vẫn có tính chất đầy đủ của Giáo Hội nhưng chưa phải là tất cả Giáo Hội. Chỉ khi nào các Giáo Hội địa phương quy tụ lại thì mới có toàn thể Giáo Hội. Quy tụ đây không hiểu nghĩa bên ngoài là cộng lại với nhau, nhưng hiểu nghĩa bên trong là kết hợp trong một Chúa Ba Ngôi, trong một phép Rửa, một phép Mình Thánh và một đức tin.

Theo ý nghĩa trên thì công giáo có nghĩa là “toàn thể”, “toàn vẹn”. Nhưng Giáo Hội địa phương, vì tiêu biểu cho Giáo Hội chung nên cũng có thể gọi là “công giáo”, vì thế một Giáo Hội địa phương chỉ không công giáo khi tách ra khỏi các Giáo Hội địa phương khác trong phạm vi sinh hoạt và đức tin như thể rằng tự mình đã đủ cho mình không cần thông báo với ai khác.

Ta có thể xác định một cách tiêu cực rằng:

1. Một Giáo Hội không công giáo chỉ vì lan tràn rộng rãi nhất vì lớn rộng mà làm chi khi sự lớn rộng ấy có nhờ những phương pháp bất chính như chính trị hay chuyên chế tinh thần.

2. Một Giáo Hội không công giáo chỉ vì có đông người theo nhất. Có đông làm chi nếu những người theo chỉ vì tục lệ chứ không vì đức tin.

3. Một Giáo Hội không công giáo chỉ vì gồm nhiều dân tộc văn minh khác nhau. Thật vậy, nếu thay vì sống trong dân tộc ấy, Giáo Hội trở nên lệ thuộc và là dụng cụ chinh phục của một văn minh dân tộc.

4. Một Giáo Hội không công giáo chỉ vì có lâu đời nhất, vì nếu có lâu đời nhưng nay Giáo Hội ấy đã bất trung và không còn bản thể Chúa Kitô muốn cho Giáo Hội của Người phải có thì lâu đời mà làm chi.

Nhưng nếu sự rộng lớn, số đông, nhiều văn minh dân tộc và sự có từ lâu đời không tự chúng làm cho một Giáo Hội có tính cách công giáo, thì thiếu những đặc tính ấy cũng không làm cho một Giáo Hội là công giáo, nhiều lúc còn làm cho một Giáo Hội không công giáo nữa; thí dụ một Giáo Hội trở nên tôn giáo dân tộc như Anh giáo sẽ không còn có thể gọi là công giáo được.

Nói tóm lại Giáo Hội sống trong lịch sử, có thể biến đổi, nhưng không có thể ra ngoài con đường mình phải theo, trở nên xa lạ với chính mình: Giáo Hội công giáo, là chính mình và đồng nhất với chính mình (CE. 13).

c) Sau hết phải nói đến một hiện tượng khác kỳ lạ cần phải giải thích: đó là có một Giáo Hội từ đời Ignatio d’Antioche cho đến nay vẫn dai dẳng giữa túc từ “công giáo”. Cũng có các Giáo Hội khác muốn gọi là công giáo, nhưng bao giờ họ cũng phải thêm một cái gì để phân biệt (“vieux cahtlique”, Chrétien catholique”, “anglo-catholic”) với Giáo Hội Công giáo. Trong thời các phái Tin Lành nổi dậy,người ta đã muốn đặt Giáo Hội ấy ngang hàng với các Giáo Hội khác và gọi là Giáo Hội Công giáo Roma hay Giáo Hội Roma nhưng, trước cũng như sau, rốt cuộc người ta vẫn gọi Giáo Hội ấy là công giáo. Thấy không thể truất được tiếng công giáo khỏi Giáo Hội ấy, nhiều giáo phái đã thay danh từ công giáo bằng hoàn vũ (Universel) và có lẽ cũng vì thế mà người ta đã dùng “Hội đồng Đại kết các Giáo Hội” (Consul oeumenique des Églises) tuy tiếng ekumen có một nghĩa hẹp hơn “catholique”. Phải giải thích thế nào về hiện tượng này?

Để trả lời câu hỏi này, chúng tôi sẽ tránh lý luận minh giáo và chỉ tìm một giải đáp lịch sử. Khi người ta hỏi các Giáo Hội lớn của người Kitô giáo như Chính Thống Đông phương, các Giáo Hội theo Luthero, các Giáo Hội Cải Cách, các Giáo Hội Anh giáo... về tên, về nguồn gốc, về bản thể... thì tất cả đều nói rằng bởi Chúa Kitô và Phúc Âm Ngài, họ không muốn là những giao hợp mới lập năm 1054, 1517 hay 1531... Thế nhưng để cắt nghĩa mình là Giáo Hội, họ đều phải đi đến chỗ đã tách ra khỏi một Giáo Hội duy nhất là Giáo Hội Công giáo, để chứng minh bởi các tông đồ đã lập ra, họ đều phải chấp nhận mình đã có liên hệ với Giáo Hội Công giáo từ khi các tông đồ thành lập đến lúc phân chia... Nói tóm lại, họ đều nhìn nhận đã có một thời kỳ họ sống chung dưới một mái nhà và một ngày nào đó, như một cô gái lớn tự lập, họ đã xa lìa người mẹ của họ.

Khi nói mẹ con, chúng tôi không muốn ưu đãi một phía nào trong tương quan, chúng tôi chỉ nói lên tính chất nguồn gốc của tương quan ấy thôi. Cách quan niệm này có nhiều lợi điểm. Trước hết là ta nhận thấy ngay khi các con đã khôn lớn xa lìa mẹ mình thì sẽ không còn bao giờ trở lại nữa, thứ là xếp các Giáo Hội bằng nhau như theo thứ tự mẫu tự là bất công vì các con dẫu lớn cũng vẫn là con, sau cùng vì là phân chia giữa ruột thịt, nên mới đau đớn thảm thương đến thế. Các con trách mẹ không còn là mẹ buổi ban đầu, sinh ra mê tín, quá lệ thuộc vào luật lệ, và trần tục, nhưng họ không chối cãi rằng đó là mẹ họ. Mẹ trách các con vô ơn, không vâng lời nên đã phải trả giá đắt sự tự do của chúng là luôn luôn thay đổi, nông cạn và nghèo nàn bản chất.

Để liên lạc bớt căng thẳng giữa các Giáo Hội và có một sự hoà hợp nào đó, thiết tưởng:

a. Các Giáo Hội cần phải quan tâm nghiên cứu nguyên nhân và liên hệ của mình đối với các Giáo Hội khác.

2. Các Giáo Hội ngoài công giáo phải nhận định rõ liên hệ của mình với Giáo Hội Công giáo.

3. Giáo Hội Công giáo phải nhận định rõ liên hệ của mình với các Giáo Hội khác.

Đặt vào tương quan lịch sử đích thực nói trên, các Giáo Hội sẽ có điều kiện hiểu biết nhau trong thông cảm. Đó là bước đầu để giải quyết các khó khăn thần học.

Về đầu trang

 

2. Ngoài Giáo Hội Công giáo không có phần rỗi

Châm ngôn này thành hình khi mà Giáo Hội bao gồm gần trọn (Oikouméné” nghĩa là “trái đất có người ở”. Số ít người ở ngoài Giáo Hội lúc ấy coi như không đáng kể. Nhưng ngay từ khi mới có châm ngôn này người ta cũng đã nhắc đến 1 Pr 3,20. Đoạn này nói đến phần rỗi của những người được chịu phép Rửa tội như phần rỗi của những người đã được vào tàu Noe, nhưng không loại trừ phần rỗi với người ở ngoài, vì họ cũng được Chúa Kitô cứu chuộc. Theo đoạn này người ta phpải nói ngoài Chúa Kitô, không có phần rỗi, chứ không phải ngoài Giáo Hội không có phần rỗi.

Ngày nay, sau khi đã tìm thấy những lục địa lớn lao, những dân tộc ngoại đạo có một nền luân lý tốt lành, người ta nhận thấy rằng “Oikouméné” không phải chỉ là các nước ven Địa Trung Hải và các Giáo Hội Kitô giáo chỉ là thiểu số trong không và thời gian. Hoàn cảnh này đã làm cho các nhà thần học phải đổi thái độ. Từ Công đồng Tridentinô đến Công đồng Vatican II, luôn luôn người ta đã đi về hướng giải thích rằng “ngoài Giáo Hội, vẫn có thể có phần rỗi”. Trước các nhà thần học đã phân biệt tín hữu  “in re” và “in voto”, phần tử của Giáo Hội bên ngoài và bên trong, nhưng đến Vatican II thì không còn úp mở gì nữa: “Thật vậy, những người không vì lỗi mình mà không biết Phúc Âm Chúa Kitô và Giáo Hội Người, nhưng vẫn chân thành tìm kiếm và cố gắng, nhờ ảnh hưởng ân sủng, hành động thế nào để hoàn thành ý muốn của Chúa như lương tâm họ cho họ biết. Những người này cũng có thể được rỗi linh hồn” (CE. 16). Thiết tưởng đã đến lúc cần phải rõ ràng, những lý luận thần học có thể cao siêu nhưng không minh bạch chỉ làm cho người ta bối rối thêm. Giáo Hội là đoàn thể những người tin ở Chúa Kitô, chịu phép Rửa tội, bẻ bánh chung với nhau và cố gắng sống theo tín thư Phúc Âm. Nói đến những người ở trong Giáo Hội vì “votum” mà có khi người ấy chẳng biết Giáo Hội là gì hay còn không muốn vào Giáo Hội nữa chẳng phải là biến Giáo Hội nên một cộng đoàn không biết Chúa hay không muốn biết Chúa và chỉ có một chút “thiện tâm” vu vơ thôi sao. Thiết tưởng ta phải tôn trọng sự tự do của con người. Không phải vì người ở trong Giáo Hội và ở ngoài Giáo Hội đều được Thiên Chúa ban ân sủng trong Chúa Kitô để được cứu rỗi mà kết luận rằng: Người ở ngoài Giáo Hội dù muốn dù không, hễ được cứu rỗi, cũng ở trong Giáo Hội.

Châm ngôn “ngoài Giáo Hội không có phần rỗi” phải hiểu theo bối cảnh lịch sử đã làm nó xuất hiện. Đó là một lời cảnh cáo những kẻ ở trong Giáo Hội, đã ở trong Giáo Hội mà vì lý do nào đó không còn thuộc về Giáo Hội thì sẽ không còn được rỗi linh hồn. Nhưng ngày nay, châm ngôn ấy có thể hiểu lầm bởi các Kitô hữu ngoài công giáo và lương dân; vì thế muốn bảo vệ cái gì tích cực ở châm ngôn ấy giữa người công giáo thì nên đổi là: “ở trong Giáo Hội, có phần rỗi”.

Chỉ có một Thiên Chúa và chỉ có một Đấng trung gian giữa Thiên Chúa và nhân loại là Chúa Kitô (1 Tm 2,4-6) còn Giáo Hội tuy ở trong thế gian, nhưng Giáo Hội chỉ muốn một điều là phụng sự một cách bất vụ lợi cho phần rỗi của hết mọi người, chứ không muốn thống trị thế gian; do đó, phải tránh bày tỏ Giáo Hội cho thế gian như một Hội đóng kín có phần rỗi của mọi người trong tay.

Về đầu trang

Chương 6: Giáo Hi là Thánh

 

1. Thánh trong cảnh huống tội lỗi

a) Giáo Hội không gồm những thực chất mà còn nguỵ chất nữa vì thế phải công nhận rằng Giáo Hội, như ta nhìn thấy trước mắt, là một Giáo Hội tội lỗi.

Về điểm này cần phải có một vài giải thích. Không phải hễ có thiếu sót, yếu đuối hay sai lầm là có tội, tội phải quy về một cá nhân mà trong lịch sử Giáo Hội có những điều không thể quy về một cá nhân nào được. Giáo Hội. Giáo Hội đã nhận được ở Cựu Ước một đức tin không bờ bến vào Thiên Chúa và Đấng thiên sai , một nền luân lý cao siêu, nhưng cũng nhận được ở Do Thái giáo một tinh thần nghi thức chật hẹp và một tinh thần luật pháp bề ngoài. Giáo Hội đã nhận được ở văn minh Hy Lạp sự khôn ngoan, ý thức thẩm mỹ, và những từ ngữ, ý niệm và hình thức tư tưởng mới mẻ, nhưng cũng nhận được một suy luận từ chương, một quan niệm nhân bản nhị nguyên quá phân biệt hai lãnh vực tinh thần và thể xác... Nói tóm lại Giáo Hội đã có một quá trình xây dựng gây phồn thịnh và trong lúc ấy cũng có một quá trình huỷ diệt gây thiệt hại và đổ nát.

Tuy nhiên cũng đừng quá giảm lược mà quy mọi thiếu sót vào định mệnh bất khả kháng của tiến hoá vì trong Giáo Hội có bao trạng thái suy vong do lòng kiêu ngạo, tính cố chấp của các cá nhân mà ra nghĩa là do tội lỗi và tính mê nết xấu của con người.

Ngoài ra, nhiều trường hợp sự yếu hèn của con người còn bị khai thác, khuếch trương đến một mức độ khủng khiếp làm cho ta phải nghĩ đến ảnh hưởng của chính thần dữ. Do đó, lịch sử Giáo Hội không phải chỉ là một lịch sử nhân loại, mà còn là một lịch sử ảnh hưởng sâu đậm bởi sự tội nữa.

Tân Ước đã chứng minh điều này. Ngoài những tội phải loại trừ (1 Cr 5) khỏi Giáo Hội, còn trong đoàn thể biết bao người thiếu đức tin, đức mến, còn biết bao ghen tương, nói dối, tham lam, kiêu căng (Ga 5,19-21; Rm 13,13s).

b) Người ta đã tìm cách biện minh cho những yếu hèn tội lỗi nói trên bằng những lý luận không thể chấp nhận được.

- Có những bè rối đã muốn loại ra khỏi Giáo Hội những phần tử tội lỗi, như vậy Giáo Hội sẽ chỉ còn lại những người trong sạch, thánh thiện thôi. Nhưng nếu như vậy thì còn lại được ai nữa vì “nếu chúng ta quả quyết rằng chúng ta vô tội, chúng ta đã tự dối mình và sự thật không có trong ta” (1 Ga 1,8). Mọi người đều có tội, Giáo Hội là “Communi peccatorum”, vì thế ai ai cũng phải xin Chúa tha tội cho mỗi ngày.

- Người ta cũng phân biệt trừu tượng Giáo Hội với các phần tử. Các phần tử có tội, còn Giáo Hội luôn thánh thiện. Nhưng Giáo Hội không phần tử, một dân tộc không người dân, một nhiệm thể không chi thể sẽ là cái gì. Không phải tội lỗi nhưng sự thiếu đức tin mới làm cho người ta mất thông hảo với các tín hữu khác. Vì thế người tội lỗi mà còn đức tin thì vẫn còn hy vọng được cứu rỗi.

- Người ta còn phân biệt khía cạnh thánh thiện và tội lỗi của người tín hữu. Người ta thuộc về Giáo Hội ở những gì trong sạch, thánh thiện và không thuộc về Giáo Hội ở những gì tội lỗi xấu xa. Nhưng con người là con người cụ thể, ta có thể phân chia giả tạo như vậy được không? Theo Kinh Thánh, người ta xấu tự trong lòng chứ không phải ở bên ngoài mà có thể giũ bỏ được, vì thế đã có tội, thì sự tội đầu độc cả bản thân ta.

Cần phải nhìn vào sự thật Giáo Hội là Giáo Hội những người tội lỗi. Giáo Hội không phải là một bản thể lý tưởng tách biệt khỏi mọi người, nhưng là thông hảo những người tín hữu, những người có tội. Đây là một sự thật cay đắng nhưng phải can đảm chấp nhận vì sự thật này sẽ giải thoát chúng ta.

c) Nhưng nếu như vậy thì phải nói gì về sự thánh thiện của Giáo Hội.

Trong Cựu Ước, từ ngữ “kadaol” có nghĩa là phân tách, để riêng ra khỏi những gì là phàm tục, không trong sạch, thánh tất cả những gì đã thánh hiến cho Thiên Chúa không còn được dùng vào việc trần tục nữa.

Trong Tân Ước, từ ngữ này cũng vẫn có ý nghĩa của Cựu Ước là dành riêng bởi Thiên Chúa.

Mặt khác, có sự thánh không phải nhờ hành động của con người, nhưng nhờ ý muốn và hành động của Thiên Chúa. Người ta sẽ được thánh hoá trong ngà Phục lâm bởi chính Thiên Chúa (Cf. Mt 6,9; Lc 11,2). Theo thánh Phaolô, “chính Thiên Chúa công chính hoá” (Rm 8,33), và cũng chính Người thánh hoá (1 Tx 5,23) nhờ Chúa Giêsu Kitô (Lc 1,30).

Như trên, người tín hữu chỉ “thánh” vì được “thánh hoá”. Không có ai thánh bởi tự mình nhưng vì “được mời gọi nên thánh” (1 Cr 1,2; Rm 1,7) “những kẻ được tuyển chọn, thánh và được quý yêu” (Cl 3,12). Để nên thánh phải có một hoạt động thánh hoá của Thiên Chúa trước, rồi con người mới có thể đáp lại sau bằng đời sống luân lý nghiêm chỉnh. “Nhưng cũng như Đấng đã gọi anh em nên thánh, chính anh em hãy trở nên thánh trong tất cả hành vi của anh em theo như lời chép rằng: Các ngươi hãy nên thánh vì Ta thánh” (1 Pr, 1,15s).

Trong Tân Ước, Ep 5,27 có nói đến bổn phận phải nên “Thánh và không tì ố” của Giáo Hội, nhưng không gọi Giáo Hội là “thánh” bao giờ. Trái lại các tín hữu của các giáo đoàn thì lại được gọi là “các thánh” (Rm 15,25s; Rm 1,7; 1 Cr 8,4) hay “dân thánh (1 Pr 2,9). Như vậy, người tín hữu được dành riêng không hoặc với tính cách cá nhân, nhưng vì là cá nhân được thánh hoá, người áy còn được thông hảo trong cộng đoàn các thánh. Mặt khác Thiên Chúa cũng dành riêng cộng đoàn trong đó Người soi sáng đức tin và thánh hoá cá nhân, vì thế cộng đoàn cũng gọi là thánh (CE. 39-40).

d) Giáo Hội loài người cũng là Giáo Hội của Thiên Chúa nhờ ở hồng ân của Người. Vì thế Giáo Hội vừa thánh vừa tội lỗi. Nếu ta chỉ nhìn Giáo Hội ở khía cạnh nhân loại mà không nhìn ân sủng Thiên Chúa ban cho Giáo Hội, ta sẽ chỉ coi Giáo Hội như một cộng đoàn tôn giáo nhân loại, hoàn toàn nhân loại, trái lại, nếu ta chỉ nhìn sự thánh của Thiên Chúa, ta sẽ thấy phần lý tưởng, siêu phàm của Giáo Hội. Cả hai lối nhìn đều phiếm diện chỉ có một Giáo Hội mà sự thánh là ánh sáng và sự tội là bóng tối, sự thánh là thực chất và sự tội là nguỵ chất. Chỉ có một Giáo Hội vừa thánh vừa tội lỗi. Giáo Hội là bãi chiến trường giữa Thánh Thần và thần dữ, giới tuyến không phải ở giữa Giáo Hội và thế tục, nhưng ở trong thâm tâm con người tội lỗi đã được ơn tha thứ của Thiên Chúa cảm hoá.

Cách trình bày trên còn quá “tĩnh” chưa mô tả được đúng thực chất của Giáo Hội, phải thêm rằng thánh và tội lỗi không phải chỉ là hai khía cạnh của Giáo Hội, trong lịch sử, (thánh và tội là quá khứ và tương lai của Giáo Hội). Giáo Hội đã được cứu chuộc, nhưng vẫn còn bị đe doạ, sự thánh Thiên Chúa ban cho Giáo Hội không làm cho Giáo Hội máy móc được tự do đối với tội lỗi, luôn luôn Giáo Hội vẫn phải dứt bỏ sự tội. Ta có thể nói rằng: tội là quá khứ và thán là tương lai của Giáo Hội, nhưng lúc hiện tại, quá khứ và tương lai đã hiện diện, người tín hữu phải phủ nhận quá khứ mình để hướng về tương lai, nhưng quá khứ không dễ gì dứt bỏ một sớm một chiều và tương lai tuy đã xâm lấn hiện tại nhưng vẫn là điểm phải hướng về cho tới khi tương lai trở nên hiện tại trong ngày giáng lâm (CE. 8).

Giáo Hội tuy tách biệt với các cộng đoàn nhân loại ở bản chất, phương tiện và mục đích, nhưng phân biệt không có nghĩa là cô lập. Trước hết là vì phần tử của Giáo Hội cũng là phần tử của các cộng đoàn khác như gia đình, dân tộc, quốc gia. Thứ đến là vì một khi đã được chọn lựa để thuộc về Thiên Chúa. Giáo Hội lại được gởi đến trong thế gian để thánh hoá thế gian. Như vậy, Giáo Hội thánh là vì trong đời sống thường nhật, người ta có thể vì hiện diện của Giáo Hội mà được nghe lời ân sủng và tình yêu của Thiên Chúa để tin theo và được hưởng nhờ những hoạt động thông ban ân sủng và tình yêu để thánh hoá. Cũng vì thế mà tuy thánh, Giáo Hội vẫn phải thống hối và xin ơn tha thứ như sẽ thấy ở sau.

Về đầu trang

 

2. Tình trạng thống hối và cải tiến không ngừng

a) Chúa Kitô đến trong thế gian để chữa người tật nguyền và tha thứ cho người tội lỗi, vì thế Người đã ăn uống với người tội lỗi (Mc 2,16; Mt 11,19; Lc 19,7) và đã hứa sẽ tha tội lỗi cho họ (Mc 2,5; Lc 7,48; Ga 8,11). Cũng vì thế sau này khi lập Giáo Hội, Người đã lập phép Rửa tội để tha tội cho người ta. Nhưng phép Rửa tội chỉ đánh dấu sự thống hối và đức tin của con người chứ không phải là một phù chú làm cho người ta không thể phạm tội được nữa, sau phép Rửa tội người ta vẫn có thể bị cám dỗ và phạm tội. Do đó người tín hữu luôn luôn phải chống trả tội lỗi, thống hối và xin ơn tha thứ. Bí tích “giải tội” là một kết quả của phép Rửa tội vì phép này không bao giờ phai mờ ở người tín hữu, cả khi người này phạm tội trọng, lời hứa ban ân sủng trong phép này không bao giờ Thiên Chúa rút lại, chỉ cần phải hồi tâm lại, có lại tâm tình lúc xin chịu phép Rửa tội, là được Chúa tha thứ. Như vậy, phép giải tội, là hành vi của người tín hữu trong đức tin để có lại ân sủng đã được khi chịu phép Rửa tội. Để được tha tội thì phải muốn, nghĩa là phải thú tội mình ra và ăn năn hối cải. Sự hối cải này nhiều khi người ta đã hiểu một cách quá hẹp hòi, nhưng thực ra phải là một trở lại toàn diện và liên tục khiến cho người tín hữu luôn xây lưng với tội lỗi mà người ấy đã từ bỏ với đức tin nhưng vẫn là một cám dỗ của mỗi ngày (Rm 12,2; cf. Ep, 4,20-24; Cl 3,10).

b) Không phải chỉ có người tín hữu phải biết thống hối ăn năn, nhưng Giáo Hội cũng  phải biết thống hối ăn năn về những lỗi lầm của mình và quyết tâm sửa chữa. Thật vậy, thiện chí của các cá nhân nhiều lúc chưa đủ để biến đổi một thực trạng xã hội. Như trường hợp rước Mình Thánh, có nhiều người có thiện chí, nhưng vì có những luật buộc rườm rà vô ích nên họ đã bị cản trở, điều cần là phải thay đổi luật lệ nghiêm khắc đó, như trường hợp Đức Giáo Hoàng Piô X đã làm.

Giáo Hội trong Tân Ước đã có những sửa chữa và cải tiến về phụng vụ (1 Cr 10-11) về kỷ luật (Mt 18) về đạo lý (1 Cr. Et Col). Điều này không có gì lạ vì như ta đã biết Giáo Hội là cộng đoàn những con người và những con người tội lỗi, nên vì yếu đuối của con người mà Giáo Hội chẳng ít thì nhiều luôn đi trệch con đường Phúc Âm của Chúa, nên cần phải trở lại.

Sự cải tiến này không có nền tảng ở sợ lỗi thời, muốn cấp tiến, biết thích nghi, nhưng vì Chúa Kitô đã truyền phải cải đổi. Vì thế thiện chí cải tiến chỉ xuất hiện khi người ta ý thức sâu xa rằng Giáo Hội luôn phải cải đổi, khi người ta cầu nguyện để Giáo Hội thoát khỏi sự dữ và khi người ta kính mến Thiên Chúa và thương yêu người ta. Cải tiến không phải là cách mạng vì người ta không đổi mới vì một học thuyết với những phương tiện bạo động và không đếm xỉa đến quá khứ. Cải tiến đổi mới căn cứ ở liên tục lịch sử... nhưng không đổi mới nguyên có những trục trặc bề ngoài vá víu lại các cơ cấu thể chế và quy luật. Đổi mới này là sáng tạo các cơ cấu để làm nổi bật thực chất của Giáo Hội hơn trước. Đã đành những gì Thiên Chúa đã thiết lập trong Giáo Hội bởi Chúa Kitô nhờ Thánh Linh thuộc về sự thánh của chính Thiên Chúa và không bao giờ cần cải tiến; nhưng, như chúng ta đã biết, thực chất và việc thể hiện thực chất ấy trong lịch sử không phân biệt trong thực tế cho nên chẳng có gì trong Giáo Hội mà lại không có thể thay đổi trong thời gian, chính nhờ ở những cải tiến không ngừng của Giáo Hội căn cứ ở Phúc Âm nguyên thuỷ mà Giáo Hội chứng tỏ rằng mình hằng trở lại và Thiên Chúa đã tha thứ cho mình (nói khác đi: mình là thánh).

c) Vì Thiên Chúa đã hứa, nên Giáo Hội sẽ thánh, Giáo Hội sẽ không mất đi tính chất làm cho mình được dành riêng, được tách biệt. Dù bị nhiều thương tích, Giáo Hội cũng vẫn sống, dù phạm tội lỗi, Giáo Hội cũng sẽ không thiếu ân sủng, dù sai lầm Giáo Hội cũng không đi đến phản bội chân lý. Đức tin Giáo Hội có thể yếu đuối, đức mến Giáo Hội có thể nguội lạnh, đức cậy Giáo Hội có thể le lói, nhưng nền tảng của đức tin, đức cậy, đức mến của Giáo Hội vẫn còn nguyên vẹn vì lòng trung thành của Thiên Chúa không bao giờ thay đổi. Bao giờ thì Giáo Hội cũng là nơi quy tụ của các thánh, dân Thiên Chúa, nhiệm thể Chúa Kitô và bạn Chúa Thánh Thần. Vì thế mà Giáo Hội sẽ muôn đời là thánh. Credo sanctam Ecclesiam.

Về đầu trang

Chương 7: Giáo Hi tông truyn

 

1. Tông đồ là gì?

Từ ngữ “tông truyền” dịch từ ngữ Latinh “apostolica” có một ý nghĩa hẹp hơn từ ngữ “apostolica”, và chỉ có ý nghĩa truyền lại từ các tông đồ, do đó để hiểu, ta cần phải nghiên cứu chính từ ngữ apostolica.

Từ ngữ “apostolica” không có trong Kinh Thánh và hầu như chỉ thông dụng trong Kitô giáo mà thôi. Nguyên nghĩa là “có liên hệ tới các tông đồ của Chúa”. Đến thế kỷ III, từ ngữ này có thêm một ý nghĩa tu đức và là “giống như các tông đồ” ở đời sống độc thân và khó nghèo. Còn ý nghĩa ngày nay thông dụng là “hoạt động mục vụ” thì đến khá muộn.

Như ta thấy “apostolica” chỉ là một thuộc từ, vì thế muốn hiểu đầy đủ, cần phải nghiên cứu từ ngữ “apostolica” vì đó mới là danh từ nguồn gốc của “Apostolus”.

Nếu “apostolica” không có trong Tân Ước thì “apostolua” (tông đồ) lại được sử dụng rất nhiều, nhất là ở thánh Luca (34 lần) và thánh Phaolô (29 lần), nghĩa nền tảng là “kẻ được sai đi”, nghĩa này có thể biến đổi ít nhiều, nó có thể chỉ 12 vị Chúa Kitô đã chọn (Mt 10,2; Mc 6,30 và nhất là Lc). Những người Thiên Chúa sai đến (Act 13,3s), những người Giáo Hội sai đến (Act 14,4; cf. 13,3) và có thể là chính Chúa Kitô nữa (Hé 3,1). Riêng dưới ngòi bút của thánh Phaolô, từ ngữ có thể chỉ chính ông, 12 tông đồ (Ga 1,17), những người rao giảng Phúc Âm (Rm 16,7; 1 Cr 12,28.15,7; 2 Cr 11,5) hay sứ giả của Giáo Hội (2 Cr 8,23; Pl 2,25). Vẫn căn cứ ở Tân Ước, nhất là ở thánh Phaolô, ta có thể nói rằng: nội dung từ ngữ “Apostolus” gồm 2 yếu tố:

- Người đã chứng kiến Chúa Kitô chịu chết và sống lại hiển vinh.

- Người đã được Chúa sai đi rao giảng Phúc Âm (Gl 1,15-17). Nhưng trong Tân Ước, cụ thể ai là người được gọi là tông đồ. Trước hết thánh Phaolô tự xưng mình là tông đồ bé nhỏ nhất (1 Cr 15,9) từ khi được gọi ở Damas (Gl 1,11-13). Thứ đến Phêrô là tông đồ (Gl 1,18s), còn ai là “các tông đồ khác”. Theo thánh Phaolô (1 Cr 15,5), thánh Marcô (3,14), và thánh Matthêu (Mt 19,28) thì 12 vị Chúa đã chọn giữa các môn đệ đều là tông đồ.

Theo Tân Ước thì tông đồ là đại diện không phải của cộng đoàn nhưng của Chúa Giêsu Kitô (Ga 1,15s; Act 9,27; Mt 28,19) người được đặt lên không phải bởi người ta (Ga 1,1) và không phải xét xử bởi loài người (1 Cr 6,13). Người không có quyền hành bởi tự mình như Chúa Kitô, nhưng người đã nhận được quyền ấy bởi Chúa Kitô và người phải thi hành quyền ấy theo Chúa Thánh Thần. Còn tự cá nhân ngài, thì ngài cũng chỉ là một người hèn yếu như những người khác, vì Thiên Chúa đã chọn, gọi và sai đi những người giữa người khác để trở nên dụng cụ của ân sủng ( 1 Cr 15,10; Rm 1,5) và chứng nhân của Chúa Kitô (Lc 24,48; Act 1,8). Trọng trách đầu tiên của ngài là rao giảng Phúc Âm (1 Cr 1,17). Lời ngài người ta phải coi như lời Thiên Chúa (1 Tx 2,12; 2 Cr 5,20).

Ngoài việc rao giảng Phúc Âm, ngài cũng phải quy tụ những tín hữu và bảo vệ đức tin, nói khác đi ngài có quyền lập và quản trị các Giáo Hội (2 Cr 10,13-16; 1 Cr 11,34). Ngài ban các bí tích, chỉ dẫn cách sống cụ thể cho bậc hôn nhân, bậc trinh nữ, bậc goá bụa (1 Cr 7,1-39) giải quyết các tranh chấp (1 Cr 6,1-11), giải thích về phụng vụ (1 Cr 11,2-32), thu tiền giúp giáo đoàn khác lâm nạn (1 Cr 16,1-4). Tuy ngài cai trị với quyền uy, nhưng ngài biết phải cần ơn Chúa và sẽ phải Chúa xét xử (1 Cr 4,4) nên ngài coi chức vụ mình chỉ là sự phục vụ (Rm 11,13.12,7).

Nói tóm lại các tông đồ là sứ giả, là chứng nhân và đại diện của Chúa Giêsu chịu chết và sống lại, các ngài không những rao giảng nhưng còn thiết lập và cai quản các Giáo Hội đầu tiên. Do đó thánh Phaolô, khi nói về các ơn đoàn sủng, đã đặt các ngài ở chỗ nhất (1 Cr 12,28) và cho rằng các ngài là nền tảng của Giáo Hội (Ep 2,20) mà Chúa Kitô là đá tảng và xà nóc (CE. 19).

Về đầu trang

 

2. Tông truyền là gì?

Nền tảng không thể thay thế được, vì thay thế toà nhà sẽ sụp đổ. Các tông đồ cũng không thể thay thế được. Lời giảng dạy của các ngài đã được ghi lại trong Tân Ước là chứng từ về Chúa Kitô nền tảng và khuôn mực cho mọi chứng từ về sau này, các ngài là những chứng nhân đầu tiên mà các thế hệ mai sau phải căn cứ vào.

Sự kiện Giuđa có người thay, nhưng Giacôbê (1 Cr 12,2) không có người thay sau khi người tử đạo sẽ không có giải thích nào khác.

Như vậy, khi nói đến các tông đồ như là những chứng nhân trực tiếp của Chúa chịu chết và sống lại thì các ngài không có người thay, nhưng sứ đồ các ngài đã đảm nhận và để lại lúc chết, thì phải có người thay vì sứ đồ ấy sẽ tồn tại cho đến tận thế, “sứ đồ thần thiêng Chúa Kitô uỷ thác cho các tông đồ có định mệnh tồn tại đến muôn đời (cf. Mt 28,20) vì Phúc Âm các ngài truyền lại với Giáo Hội là nguyên lý đời sống cho đến tận thế” (CE. 20).

Nhưng nối tiếp như thế nào? Có phải một vài cá nhân may mắn sẽ thừa hưởng sứ đồ của các tông đồ không? Không. Như ta thường đọc. Tôi tin Giáo Hội tông truyền; các tông đồ đã truyền lại sứ đồ của mình cho tất cả Giáo Hội. Thật vậy, toàn thể Giáo Hội làm nên dân mới của Thiên Chúa tập hợp bởi các tông đồ bằng lời giảng dạy Phúc Âm của Chúa, toàn thể Giáo Hội là đền thờ Chúa Thánh Thần xây dựng trên nền tảng các tông đồ, toàn thể Giáo Hội là nhiệm thể Chúa Kitô mà nhờ các tông đồ phục dịch đã có được sự hoà hợp. Vì thế sứ đồ và mọi quyền hành đã chuyển các tông đồ sang Giáo Hội mà các ngài đã phục vụ. Tông truyền ở đây không có nghĩa lịch sử, nhưng có nghĩa là chấp nhận nối tiếp thực sự từ bề trong. Giáo Hội chỉ cần lắng nghe và tin theo Chúa Thánh Thần là đã đi chấp nhận chứng từ của các tông đồ. chấp nhận ấy gồm hai khía cạnh chính sau đây:

 

a) Chấp nhận chứng từ tông truyền

Giáo Hội nhận được sứ điệp của Chúa Kitô, không phải trực tiếp nhưng gián tiếp qua các tông đồ. Đã đành Giáo Hội không phải chỉ nghe các tông đồ, qua chứng từ của các ngài, chính Chúa Kitô sẽ nói với Giáo Hội. Giáo Hội không có một con đường khác để đến với Chúa Kitô ngoài con đường các tông đồ, các tông đồ là chứng từ nguồn gốc và nền tảng mà Giáo Hội ở mọi nơi và mọi đời đều phải coi là nguồn gốc và quy luật cho cuộc sinh hoạt của mình trong đức tin, hành động và lời rao giảng. Tông truyền có khi đem so sánh, có sự trung thành trong đời sống của Giáo Hội với chứng từ của các tông đồ.

Chứng từ tông truyền có một hình thức lịch sử cụ thể. Tân Ước là chứng từ nguyên thuỷ nền tảng. Nói như vậy, không có nghĩa rằng cả Tân Ước phải viết bởi chính tay các tông đồ, nhưng chỉ có nghĩa là các bản văn ấy đều được công nhận bởi Giáo Hội như chứng từ nền tảng của sự điệp tông truyền. Còn những gì không gồm trong Tân Ước thì không thuộc về thánh truyền nguyên thuỷ và vì thế không gọi là tông truyền được.

Như trên, cụ thể mà nói, tông truyền chỉ thể hiện khi Giáo Hội luôn sống phù hợp với chứng từ nguyên thuỷ nền tảng và khuôn mực của Thánh Kinh. Sự trung thành trong đức tin, hành động và lời rao giảng với Thánh Kinh chứng thực Giáo Hội có tính cách tông truyền vì tông truyền không là gì khác sự tiếp nối trong đức tin của các tông đồ.

 

b) Chấp nhận phục vụ như các tông đồ truyền

Giáo Hội chỉ có thể trung thành với chứng từ tông truyền bằng việc phụng sự. Giáo Hội sẽ phụng sự Chúa Kitô như các tông đồ vì Người là Chúa của Giáo Hội như của các tông đồ. Tông truyền như vậy không phải là một tư hữu để Giáo Hội sử dụng, cũng không phải là một sức mạnh, quyền uy để Giáo Hội thống trị. Nhờ vào tông truyền, Giáo Hội sẽ hiểu biết thế nào là phụng sự thật. Trong lúc rao giảng Phúc Âm, trong lúc rửa tội, trong lúc bẻ bánh, trong khi xây dựng giáo đoàn và bảo vệ duy nhất của các Giáo Hội, Giáo Hội chỉ thể hiện sứ mệnh của mình khi hướng về và phụng sự nhân loại. Giáo Hội chỉ đáng danh hiệu của mình khi nhận biết và chứng thực rằng mình được sai đến với nhân loại như các tông đồ. Vì thế tông truyền cũng là chấp nhận phụng sự như các tông đồ.

Quan niệm và tông truyền như trên cho ta thấy tông truyền không phải là một đặc tính tĩnh, có một lần là đủ, cũng như các tính chất duy nhất, thánh và công giáo, Giáo Hội phải luôn thể hiện trong lịch sử tính chất tông truyền của mình. Giáo Hội không thể nhìn lịch sử một cách vô tư như người bàng quan, Giáo Hội phải đem vào phần của mình trong lịch sử, Giáo Hội phải biết, phải hiểu, phải sống, phải kinh nghiệm thế nào là tông truyền, vì thế khi người tín hữu trong Giáo Hội chưa học đòi các tông đồ, chưa nghe ngóng chứng nhân của họ, chưa tin ở sứ điệp của họ và chưa bắt chước sứ đồ của họ thì Giáo Hội chưa “tông truyền”. Chỉ khi nào tôi là phần tử thực sự tin yêu cộng đoàn tông truyền thì lúc ấy tôi mới có thể tin rằng: Credo Ecclesiam Apostolicam!

Về đầu trang

 

Kết luận

Ngày nay, thế giới đã tục hoá, con người tưởng rằng mình có thể tự đủ cho mình nhờ có các tiến bộ của khoa học và kỹ thuật. Vai trò của Giáo Hội đối với trần tục là gì?

Đã đành không phải là can thiệp vào các vấn đề trần thế bằng lời nói hay hành động vì các vấn đề trần thế như kinh tế, chính trị, xã hội, văn học, nghệ thuật, khoa học ngày nay không ai có thể biết được tường tận ngoài những nhà chuyên môn. Cũng không phải là bênh vực những quyền lợi xã hội ưu đãi xưa kia Giáo Hội đã được, nhưng ngày nay bênh vực không những lỗi thời mà còn làm cho người ta có phản ứng ghen ghét Giáo Hội. Nói tóm lại vai trò của Giáo Hội không phải là điều khiển thế giới, gây thanh thế giữa trần gian hay đoạt lấy những quyền lợi và đặc ân với các quốc gia.

Giáo Hội cũng chẳng có thể tự mình giải quyết được các vấn đề trọng đại của thời nay như vấn đề thực phẩm, vấn đề nhân mãn, vấn đề chiến tranh và hoà bình, vấn đề kỳ thị chủng tộc... vì thế Giáo Hội cũng phải tránh những từ ngữ quá to tát khiến người ta nghĩ rằng Giáo Hội có những tham vọng mà thực ra Giáo Hội không có thế lực để thể hiện.

Nhưng nếu như vậy thì vai trò của Giáo Hội là gì? Con người thời nay tuy biết rất nhiều, nhưng vẫn không biết mình bởi đâu đến, mình ở đâu và đi về đâu. Con người vẫn không biết Thiên Chúa và con người là gì? Nhờ đức tin, Giáo Hội biết Thiên Chúa mình cũng là Thiên Chúa của thế gian và thế gian cũng bởi Thiên Chúa mà có và sẽ đi về Thiên Chúa. Nhờ đức tin, Giáo Hội biết Thiên Chúa đã giao ước với nhân loại, Chúa Kitô đã chết và sống lại không những cho Giáo Hội mà cho tất cả nhân loại. Vì Giáo Hội biết và hiểu thế gian là gì, nên Giáo Hội không thể tách biệt khỏi thế gian. Không tách biệt, không có nghĩa là đồng hoá một cách đơn giản với thế gian. Cũng không phải là sống chung hoà bình. Thay vì ở bên cạnh thế gian, Giáo Hội phải hoạt động vì thế gian, nếu không những điều đức tin cho Giáo Hội biết về thế gian cũng nên vô ích. Như Chúa Kitô, Giáo Hội được gọi để phụng sự mọi người là anh em của ta vì là tạo vật của Thiên Chúa duy nhất. Một Giáo Hội sống và hoạt động nguyên cho mình không phải là Giáo Hội của Chúa Kitô. Thật vậy, một bài giảng có cao siêu đến đâu, một nghi lễ phụng vụ có trọng thể đến đâu, một lớp huấn luyện có công phu đến đâu, một hoạt động có hữu hiệu đến đâu cũng không đem lại gì nếu Giáo Hội chỉ sống cho mình và chỉ hưởng một mình. Làm thế nào Giáo Hội có thể giảng dạy, làm các bí tích, phụng vụ mà không nhớ đến những người không kết đoàn trong Hội Thánh nhưng cũng là con cái một Cha ở trên trời. Do đó, khi thế gian lưu ý đến Giáo Hội hoặc vì nghe hay vì bịt tai, hoặc vì tán thành hay vì phản kháng thì Giáo Hội đều phải vui mừng vì Giáo Hội chỉ hiện hữu khi là chứng nhân trước mặt mọi người.

Là cộng đồng những người tin ở Chúa Giêsu, Giáo Hội phải cố bố đức tin bằng lời nói, việc làm, và trở nên một “điểm” giữa muôn dân mời gọi thế gian kết hiệp với mình trong đức tin và đức mến để cảm tạ Thiên Chúa về những việc trọng đại Người đã làm không những cho Giáo Hội mà còn cho cả thế gian.

Trên con đường chứng nhân, ân sủng Thiên Chúa sẽ nâng đỡ Giáo Hội. Những gì đã thể hiện trong Chúa Giêsu làm cho Giáo Hội tin chắc sẽ được cứu rỗi vì ơn cứu rỗi mà Giáo Hội trông đợi đã thể hiện nơi Chúa Kitô khi Người sống lại trong vinh quang. Sự sống lại ấy là điềm báo và là hứa hẹn về sự sống lại cho cả nhân loại. Lúc ấy tội lỗi, đau đớn và sự chết sẽ bại trận hoàn toàn, lúc ấy vương quốc Thiên Chúa sẽ hoàn tất, và lúc ấy nhân loại sẽ trở về với Thiên Chúa một cách dứt khoát.


Về đầu trang

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây